Diễn Đàn » Thể Thao

Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc, đặc trưng võ cổ truyền Bình Định

10 trả lời, 1.913 lượt xem — Trang 1 / 1


Phương pháp luyện tập, sử dụng côn (roi)


Cách nắm roi:

- Giới thiệu roi: Roi có chiều cao ngang lông mày người tập (tề mi). Roi tròn và to vừa tay nắm, đường kính khoảng 3cm. Khi tập cầm roi trơn và láng. Phần roi ở trước gọi là đầu roi, phần roi ở sau gọi là đốc roi.

- Cách nắm roi: Cách nắm âm-dương: Đứng theo "ngựa kim kê" chân trái trước, chân phải sau.

+ Tay trái ở trước nắm cách 1/3 đầu roi với qui cách: Lòng bàn tay úp xuống đất (âm), bốn ngón: Trỏ, giữa, đeo nhẫn và út nắm ở phần trên roi, ngón cái nắm ở phần dưới roi.

+ Tay phải ở sau, nắm cách 1/3 đốc roi với qui cách: Lòng bàn tay ngửa lên trời (dương), ngón cái nắm ở phần trên roi, các ngón trỏ, giữa, đeo nhẫn và út nằm ở phần dưới roi.

+ Ngược lại, khi chuyển sang đứng "ngựa kim kê" nửa chân phải ở trước, chân trái ở sau thì cách nắm roi cũng tương tự như bên trái.

* Cách xê dịch đôi bàn tay trên roi

Cách chong roi:

- Đứng ở tư thế, cách nắm roi tay trái ở trước. Đầu roi ở trước hơi cao hơn đốc roi ở sau. Đầu roi ở hướng ra phía trước, hai mắt nhìn theo đầu roi. Đấy là cách chong roi.

- Tập xê dịch hai bàn tay để đốc roi dài ra phía trước: Tay trái ở trước xê dịch về phía đầu roi, tay phải ở sau đẩy đốc roi dựng đứng lên trời, tiếp đến, tay phải xê dịch gần về phía tay trái gạt đốc roi theo chiều từ trên xuống và đầu đốc roi hướng thẳng về phía trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.

Tập xê dịch hai bàn tay đẩy đầu roi dài ra phía trước: Tay phải ở sau xê dịch về phía đốc roi ở trước. Tay trái ở trước xê dịch gần về phía tay phải ở sau, đồng thời đẩy bắn đầu roi theo chiều từ dưới lên, và dừng lại khi đầu roi hướng thẳng về trước ngang tầm nhìn thẳng của hai mắt.

Cứ thế ta tập nhiều lần trong mỗi buổi tập.

* Ngựa roi

- "Ngựa" phải trên đất, ngựa roi không được bám chặt hai bàn chân xuống mặt đất, mà phải xê dịch tiến lùi, qua lại trên đất, nhẹ nhàng như lá rơi.

- Đứng ngựa roi: Đứng theo tư thế "ngựa kim kê", hay "ngựa bát quái" và đứng theo cách "đơn trọng".

* Tập 12 thế căn bản theo 3 nhóm

Nhóm 1: ĐÂM, BẮT, LẮC, ĐÁNH.

Nhóm 2: BÁT, BẮT, TRIỆT, CHẬN.

Nhóm 3: HOÀNH, KHẮC, LẮC, TÉM.

Hai nhóm thế 2 và 3 thuộc về 8 phách cơ bản nêu trên.

Nhóm 1:

Tập: ĐÂM, BẮT, LẮC, ĐÁNH.

a) Đâm: Đứng "chong roi", theo tư thế chân phải ở sau bước tới một bước, tay phải nắm roi chỉ đầu đốc roi xuống đất, chỏ phải tỳ vào hông phải, tay trái nắm đầu roi ở sau chỉ đầu roi lên trời. Ở tư thế này, hai tay đâm roi thẳng từ dưới lên và đẩy thẳng ra phía trước. Hai mắt nhìn thẳng phía trước.

- Tiếp đến chân trái bước tới trước một bước, tay trái nắm roi tỳ chỉ vào hông trái, đầu roi chỉ xuống đất, tay phải ở sau nắm roi chỉ đốc roi lên trời, ở tư thế này, hai tay đâm roi thẳng từ dưới lên và đẩy đầu roi thẳng ra phía trước. Hai mắt vẫn nhìn thẳng phía trước. Cứ thế ta tập đều 2 bên trái, phải và tập nhiều lần trong mỗi buổi tập.

b) Bắt: Đứng "chong roi" theo tư thế chân phải sau bước tới trước một bước. Tay trái nắm đầu roi ở trước hạ xuống chỉ đầu roi xuống đất. Tay phải nắm đốc roi ở sau theo chiều roi chỉ đầu đốc roi lên trời. Ở tư thế này, hai tay bắt roi từ trên xuống, hai mắt nhìn theo roi phía trước.

- Ở bộ vị, chân trái bước lên trước một bước, đồng thời tay trái bắt đốc roi theo chiều từ trên xuống. Hai mắt nhìn theo roi phía trước, cứ thế ta tập đều hai bên trái, phải và tập nhiều lần trong mỗi buổi tập.

c) Lắc: Đứng "chong roi" theo tư thế, chân phải bước tới trước một bước. Tay phải nắm đốc roi ở sau, hạ đầu đốc roi chỉ xuống đất, tay trái nắm roi, theo chiều roi chỉ đầu roi lên trời. Bấy giờ tay phải lắc đầu roi ra trước mặt và từ phải qua trái.

Tiếp đến tay phải kéo dựt hạ về sau và theo chiều từ trái qua phải. Hai mắt nhìn theo roi ra trước.

Ở bộ vị, chân trái bước tới trước một bước tay trái nắm roi hạ xuống chỉ đầu roi xuống đất, đồng thời lắc đầu roi ra trước từ trái sang phải. Tiếp đến tay trái lại kéo dựt đầu roi về sau từ phải sang trái. Hai mắt nhìn theo ra phía trước. Cứ thế ta tập đều hai bên trái, phải và tập nhiều lần trong mỗi buổi tập.

d) Đánh: Đứng "chong roi" theo tư thế chân phải bước tới trước một bước, tay phải nắm roi chỉ đầu roi xuống đất, cho tỳ vào hông, tay trái nắm roi theo chiều roi chỉ lên trời ở tư thế này, hai tay đánh đầu roi từ dưới lên. Hai mắt nhìn về trước theo roi. Ở bộ vị, chân trái bước tới trước một bước, đồng thời tay trái đánh đầu roi theo chiều từ dưới lên, hai mắt nhìn về trước theo roi. Cứ thế ta tập đều hai bên trái, phải và tập nhiều lần trong mỗi buổi tập.

Nhóm 2: Tập: BÁT, BẮT, TRIỆT,CHẬN.

* Tập một đầu (đầu roi) (tập đơn):

a) Bát (đơn): Đứng theo cách "chong roi" ở tay trái roi ở trước hạ đầu roi xuống rồi "bát" từ dưới lên và từ trái sang phải. Hai mắt nhìn về trước theo roi. Ta tập nhiều lần trong mỗi buổi tập.

b) Bắt: Đứng "chong roi" theo tư thế, tay trái kéo đầu roi sang bên trái, đồng thời "bắt" đầu roi từ trên xuống và từ trái sang phải. Hai mắt nhìn về trước theo roi. Ta tập nhiều lần trong mỗi buổi tập.

c) Triệt: Đứng theo cách "chong roi" ở tay trái nắm đầu roi ở trước, chỉ đầu roi xuống đất, tay phải nắm roi ở sau theo chiều roi chỉ đốc roi lên trời. Ở tư thế này, hai tay "triệt" roi về sau và từ phải sang trái. Hai mắt nhìn về trước theo roi. Cứ thế tập nhiều lần trong mỗi buổi tập.

d) Chận: Ở tư thế giữ y bộ vị, tay trái chận roi ra phía dưới và từ trái sang phải. Hai mắt nhìn về trước theo roi. Ta tập nhiều lần cho mỗi buổi tập.

* Tập cả hai đầu (tập đầu roi và đốc roi) (tập kép):

a) Bát (kép): Đứng "chong roi" theo tư thế tay phải nắm roi ở sau, hạ đầu đốc roi chỉ xuống đất, tay trái nắm roi ở trước theo chiều đầu roi chỉ lên trời. Ở tư thế này, tay phải "bát" đốc roi từ dưới lên, và từ phải qua trái thẳng về phía trước.

Ở bộ vị, tay trái tiếp tục hạ đầu roi chỉ xuống đất, tay phải theo chiều đốc roi chỉ lên trời. Ở tư thế này, tay trái, "bắt" roi từ dưới lên và từ trái qua phải thẳng về phía trước. Hai mắt nhìn về phía trước theo roi. Cứ thế tập nhiều lần trong mỗi buổi tập.

b) Bắt: Ở bộ vị, tay trái nắm phần đầu roi ở trước hạ đầu roi chỉ xuống đất, tay phải nắm phần đốc roi ở sau "bắt" thẳng roi từ sau ra trước và từ trên xuống.

- Ở bộ vị, tay phải hạ đầu đốc roi chỉ xuống đất, tay trái "bắt" đầu roi từ sau ra trước, và từ trên xuống. Hai mắt nhìn về phía trước theo roi. Cứ thế ta tập nhiều lần cho mỗi buổi tập.

c) Triệt: Ở bộ vị, tay trái hạ đầu roi chỉ xuống đất, tay phải theo chiều đốc roi chỉ lên trời. Ở tư thế này, tay trái "triệt" roi về sau và từ phải sang trái. Hai mắt nhìn về trước theo roi. Cứ thế ta tập nhiều lần trong mỗi buổi tập.

d) Chận: Ở bộ vị, tay trái nâng đầu roi chỉ lên trời, tay phải nắm roi theo chiều đốc roi chỉ xuống đất. Ở tư thế này "chận" đốc roi từ sau ra trước và từ trái qua phải. Hai mắt nhìn về phía trước theo roi. Cứ thế ta tập nhiều lần trong mỗi buổi tập.

Nhóm 3: Tập: HOÀNH, KHẮC, LẮC, TÉM.

(Riêng nhóm 3 theo liên hoàn, kết hợp động tác hoành khắc, hoành lắc, hoành tém)

a) Tập hoành khắc: Đứng "chong roi" theo tư thế chân trái ở trước bộ ngang qua bên trái một bước đồng thời tay trái "khắc" đầu roi từ trên xuống và từ trái qua phải. Sau đó, thu ngựa roi về vị trí cũ. Hai mắt nhìn về phía trước theo roi, và tập nhiều lần cho mỗi lần tập.

Tiếp đến ta tập chân trái ở trước bộ ngang qua phía bên phải đồng thời tay trái ở trước "bắt" đầu roi từ trên xuống và từ phải qua trái. Hai mắt nhìn về trước theo roi. Sau đó, thủ ngựa roi về như cũ. Và tập nhiều lần cho mỗi buổi tập.

b) Tập hoành lắc: Đứng "chong roi" theo tư thế chân trái ở trước bổ ngang qua bên trái một bước, đồng thời tay trái cắm đầu roi chỉ xuống đất "lắc" từ trái qua phải và từ sau ra trước. Hai mắt nhìn về phía trước theo roi. Sau đó, thu ngựa về như cũ, và tập nhiều lần trong mỗi buổi tập.

Tiếp đến, ta tập chân trái ở trước bỏ ngang qua bên phải một bước, đồng thời tay trái cắm đầu roi chỉ xuống đất, "lắc" ngược lại từ trước ra sau và từ phải qua trái. Hai mắt nhìn về trước theo roi. Sau đó thu ngựa roi lại như cũ, và tập nhiều lần trong mỗi buổi tập.

c) Tập hoành tém: Đứng "chong roi" theo tư thế chân phải ở sau, bước ngang qua bên phải một bước đồng thời tay phải ở sau hạ đầu đốc roi chỉ xuống đất, tay trái nắm roi theo chiều đầu roi chỉ lên trời. Ở tư thế này, tay phải "tém" đầu đốc roi, từ dưới lên và từ phải qua trái. Hai mắt nhìn về phía trước theo roi. Sau đó trở về thu ngựa roi như cũ, và tập nhiều lần cho mỗi buổi tập.

Ở bộ vị, thủ roi như chân phải ở sau, bỏ ngược ngang qua bên trái một bước, đồng thời tay trái ở trước hạ roi xuống cắm đầu roi chỉ xuống đất, tay phải nắm roi ở sau theo chiều đốc roi chỉ lên trời. Ở tư thế này, tay trái "tém" đầu roi từ dưới lên và từ trái qua phải. Hai mắt nhìn về trước theo roi. Sau đó thu ngựa roi lại như cũ và tập nhiều lần trong mỗi buổi tập

Tập một số phách roi đấu đơn giản

1. Tập phách bắt chân:

- "Chong roi" theo tư thế hai tay nắm roi chặt. Lực tay trái ở trước "bắt" roi từ trên xuống và từ trái qua phải. Đồng thời, tay trái hạ đầu roi chỉ xuống đất "chận" đầu roi từ dưới lên và từ trái qua phải. Hai mắt nhìn về phía trước theo roi. Cứ thế ta tập nhiều lần trong mỗi buổi tập.

2. Tập phách bắt bắt:

Đứng "chong roi" theo tư thế chân phải ở sau bỏ ngược ngang qua phía bên trái một bước. Đồng thời, tay trái ở trước "bắt" roi từ trái qua phải và từ trên xuống. Tiếp đến chân phải ở sau lại bước ngang qua bên phải một bước. Đồng thời, tay trái ở trước "bắt" ngược đầu roi lại từ phải qua trái và từ trên xuống. Hai mắt nhìn về trước theo roi, và tập nhiều lần trong mỗi buổi tập.

. Tập phách bát bắt:

- Đứng "chong roi" theo tư thế chân trái ở trước bỏ lui về sau một bước. Đồng thời tay phải ở sau "bát" đầu đốc roi từ sau ra trước, và từ dưới lên. Tiếp đến chân trái lại bước đồng thời tay trái ở trước "bắt" đầu roi từ trên xuống, và từ trái qua phải. Hai mắt nhìn về phía trước và tập nhiều lần trong mỗi lần tập.

4. Tập phách bắt bát:

- Đứng "chong roi". Tay phải ở sau "bắt" đầu đốc roi từ sau ra trước và từ trên xuống. Tiếp đến tay trái ở trước "bát" đầu roi từ dưới lên. Hai mắt nhìn về trước theo roi và tập nhiều lần cho mỗi buổi tập.

5. Tập phách đâm hạ, đâm thượng:

- Đứng "chong roi". Tay trái ở trước hạ đầu roi đâm xuống đất, tiếp đến tay trái ở trước nâng đầu roi đâm lên trên "bộ thượng". Hai mắt nhìn về trước theo roi và tập nhiều lần cho mỗi buổi tập.

* Phần các lời thiệu và những động tác minh họa bài roi Thái-Sơn

Lời thiệu của bài roi Thái-Sơn được trích trong tập tư liệu cổ bằng chữ Hán-Nôm, vừa sưu tầm được tại võ đường của võ sư Phan Thọ ở Bình Nghi, huyện Tây Sơn, do ông Đào Thống ký chỉ trên lời thiệu. Điều này đã góp phần khẳng định các đặc trưng về nội dung, địa danh ở vùng đất Tây Sơn, Bình Định và được phổ biến khá rộng rãi trong các dòng tộc, môn phái và nhân dân Bình Định.

Bản phiên âm và bản dịch nghĩa ca bài thiệu cổ "Thái Sơn Thảo Pháp" bằng chữ Hán.

Phần phiên âm:

1. Thái Sơn trích thủy, địa xà liên.
2. Thương lượng lộng ky (cơ), lân thoái bạch viên
3. Huy ky (cơ) độc giác trung bình hạ
4. Thượng thích đại đăng tấn thừa thiên
5. Hồi đầu trực chỉ liên tam thích.
6. Đồng tân thuận thế gián vân biên
7. Tẩu độc thố, Trưng Sơn hoành gián kiếm
8. Linh miêu mai phục tấn thích ngưu
9. Thừa châu bố địa khai côn thích
10. Hồi tiểu kim kê đả trung lan
11. Phi phong tẩu võ khai ngưu giác
12. Tiểu tử tam phiền giá mã an.
13. Bái tổ sư, lập như tiền.

Dịch nghĩa:

1. Thế "Thái sơn trích thủy" (giọt nước núi Thái) liền với thế "địa xà" (con rắn đất).
2. Thế "thương thượng lộng ky" (đầu ngọn thương mà cũng là lưỡi cuốc) lui gần khu vườn trống.
3. Tia sáng lưỡi cuốc như con vật một sừng trong thế "trung bình hạ".
4. Đâm lên, nhảy mạnh như tiến lên trời.
5. Ngoảnh lại, ngắm thẳng, đâm liền ba bận.
6. Thuận thế "Lã Đồng Tân (tên vị tiên) ngăn ven mây".
7. Chạy thế "độc thố" (con thỏ đơn độc), ngọn núi Trưng xoay ngang ngăn lưỡi kiếm.
8. Thế "con mèo linh mai phục" rồi tiến thế "đâm trâu".
9. Ra roi đâm thế "thừa châu bố địa" (theo hạt châu rơi vãi dưới đất)
10. Trở về thế "tiểu kim kê" (con gà vàng nhỏ) đánh ngọn "trung lan"
11. Bay như gió, chạy như mưa, ra thế "sừng trâu".
12. Thế "tiểu tử tam phiền" (đứa trẻ quậy phá ba bận) rồi ung dung lên ngựa...
13. Vái tổ sư, đứng như trước.

* Những động tác kỹ thuật cụ thể của bài roi Thái Sơn

a) Những động tác bái tổ bắt đầu bài roi:

- Đứng thẳng người, hai bàn chân song song, cách nhau khoảng 30 cm. Hai mắt hướng thẳng về phía trước, đầu đốc roi tỳ lên lòng bàn tay trái, năm ngón tay của bàn tay trái giữ chặt roi, roi dựa vào vai trái. Tay phải xuống thẳng, căn chưởng bàn tay mắt hướng xuống đất.

Ở bộ vị, chân trái bỏ qua trái một bước trụ xuống theo ngựa "tứ bình", tay phải thủ ngang hông.

- Ở bộ vị, chân phải bước lên phía trước một bước, tay phải xòe cương đao "bắt" ra phía trước thủ ngang ngực.

- Ở bộ vị, tay phải đưa vào nắm 1/3 roi kể từ đốc roi lên.

- Ở bộ vị, hai tay đưa thẳng roi ra phía trước.

- Ở bộ vị, hai tay đưa roi vào gác phần đốc roi lên vai mặt, ngựa trụ đứng theo "kim kê".

- Ở bộ vị, chân trái bước tới trước một bước, trụ theo ngựa "kim kê", tay trái đưa ra trước nắm roi và nắm úp lòng bàn tay hướng xuống đất, nắm cách đầu roi 1/3 roi.

b) Những động tác trong bài roi:

1. Thái sơn trích thủy địa xà liên:

- Thái sơn trích thủy: Ở bộ vị, chân phải bước tới trước một bước, tay trái hạ đầu roi xuống, tay phải đánh đốc roi từ sau ra trước, và từ trên xuống. Hai mắt nhìn về phía trước theo roi.

Ở bộ vị, hai tay đâm thẳng đầu roi ra phía trước. Hai mắt nhìn về trước theo roi.

- Địa xà liên: Ở bộ vị, ngồi xuống trọng lượng toàn thân dồn quá chân trái, tay phải ở trước đánh đầu roi sát đất, tay trái ở sau nắm phần đốc roi thủ trước mặt. Hai mắt nhìn thẳng về trước theo roi.

2. Thương Thượng Lộng Ky Lân thoái bạch viên:

- Thương Thượng Lộng Ky Lân: Ở bộ vị, giữ y bộ vị, tay phải đâm thẳng ra đầu roi ra trước và từ dưới lên. Hai mắt nhìn về trước theo roi.

Ở bộ vị, chân trái bước tới trước một bước, hai tay nắm roi chỉ đầu roi lên trời và hơi nghiêng về phía sau vai phải, đốc roi chỉ xuống đất, và hơi hướng về phía trước. Hai mắt nhìn về phía trước.

- Thoái bạch viên: Ở bộ vị, chân phải bước lên một bước, tay phải đánh đầu roi từ sau ra trước và từ trên xuống. Hai mắt nhìn ra trước theo roi.

Ở bộ vị, giữ y bộ vị, thân, mình "triển" nghiêng về phía sau, tay phải nắm roi hạ đầu roi chỉ xuống đất theo chiều chân phải ở trước. Tay trái nắm roi chỉ đốc roi lên trời và thủ roi ngang mặt. Hai mắt nhìn về trước.

3. Huy kỵ độc giác trung bình hạ:

Ở bộ vị, chân trái bước lên một bước. Tay trái nắm phần đốc roi chỉ xuống đất. Tay phải nắm phần đầu roi chỉ lên trời. Hai tay đưa roi thủ gần vai, bên phải. Hai mắt nhìn về phía trước.

Ở bộ vị, chân phải bỏ ngược qua sau, chân trái bỏ về phía trước, đồng thời hai tay nắm roi đâm đầu roi thẳng ra phía trước. Hai mắt nhìn về trước theo roi.

Ở bộ vị, chân phải lại bỏ nhảy về sau một bước ngồi xuống trọng lượng toàn thân dồn về chân phải. Hai tay nắm roi đặt nằm ngang sát đất ở phía sau. Hai mắt nhìn về phía trước.

4. Thượng thích đại đăng tấn thừa thiên:

Ở bộ vị, hai tay đâm thẳng roi từ sau ra trước và từ dưới lên. Hai mắt nhìn thẳng về trước theo roi.

Ở bộ vị, nhổm ngựa đứng lên, đồng thời tay phải ở sau đánh đốc roi, thẳng từ sau ra trước và từ trên xuống. Hai mắt nhìn về trước theo roi.

Ở bộ vị, giữ y ngựa, tay trái ở trước đánh móc roi thẳng từ dưới lên. Hai mắt nhìn về trước theo roi.

5. Hồi đầu trực chỉ liên tam thích:

Ở bộ vị, chân trái bỏ về sau một bước, đồng thời tay phải ở sau đánh thẳng đốc roi từ sau ra trước và từ trên xuống. Bây giờ, đầu roi chỉ thẳng về phía trước. Hai mắt nhìn về trước theo roi.

Ở bộ vị, chân trái ở sau đưa lên sát chân phải ở trước, đồng thời chân phải bước tới trước một bước, cùng lúc hai tay đâm thẳng đầu roi ra phía trước. Hai mắt nhìn về trước theo roi.

Tương tự như thế, ta đâm tiếp hai bộ nữa.

6. Đồng tân thuận thế gián vân biên:

Ở bộ vị, chân phải bỏ nhảy về sau một bước, đứng theo tư thế ngựa "kim kê", chân trái ở trước, đồng thời hai tay nắm sát gần nhau ở phần đốc roi, và roi được vác lên vai phải, đầu roi chỉ lên trời. Hai mắt nhìn phía trước.

Ở bộ vị, giữ y ngựa, hai tay nắm phần đốc roi, quơ đầu roi về phía trước giáp một vòng, và dừng roi ở vị trí cũ (vai bên phải). Hai mắt nhìn về phía trước theo roi.

Ở bộ vị, chân phải bước về phía trước một bước, tay phải xê dịch về phía đầu roi. Hai tay nâng roi thủ roi xiên theo người. Hai mắt nhìn về phía trước.

7. Tẩu độc thố, Trưng Sơn, hoành gián kiếm:

Ở bộ vị, chân phải bỏ về sau một bước, tay trái cắm đầu roi xuống, tay phải nắm roi theo chiều đốc roi chỉ lên trời, hai tay nâng roi, thủ rồi xiên theo người. Hai mắt nhìn về phía trước.

Ở bộ vị, chân phải lại bước tới trước một bước, đồng thời tay phải đánh đầu đốc roi từ sau ra trước và từ trên xuống. Hai mắt nhìn về phía trước theo roi.

Ở bộ vị, chân phải bỏ ngang qua phía bên phải một bước, đồng thời tay phải cắm đầu roi chỉ xuống đất và xê dịch roi sát theo chân phải. Hai mắt nhìn về trước.

Ở bộ vị, chân phải lại bước về phía trước một bước, đồng thời tay phải đánh đầu roi từ phải qua trái, và từ trên xuống, hai mắt nhìn về phía trước theo roi.

8. Linh miêu mai phục tấn thích ngưu:

- Ở bộ vị, chân phải bỏ về phía sau một bước đứng theo tư thế "Ngựa kim kê" thấp bộ, tay trái ở trước nắm roi chỉ đầu roi theo chiều đốc roi chỉ lên trời. Hai tay nâng roi, thu roi dọc đứng theo thân người. Hai mắt nhìn về phía trước.

- Ở bộ vị, giữ y tư thế ngựa, tay mặt ở sau "bát" đốc roi, từ sau ra trước và từ phải qua trái. Hai mắt nhìn về phía trước.

Ở bộ vị, giữ y tư thế ngựa, tay trái ở trước "bát" đầu roi từ sau ra trước và từ trái qua phải. Hai mắt nhìn phía trước.

9. Thừa châu bố địa khai côn thích:

- Ở bộ vị, chân trái bỏ ngang qua trái một buớc, đồng thời tay trái "bát" đầu roi ngược theo phía trái. Hai mắt nhìn về trước và liếc theo roi.

- Ở bộ vị, chân phải bước tới trước một bước, đồng thời tay phải đánh đốc roi từ sau ra trước, từ trên xuống, và hạ thấp ngựa để đầu roi đánh sát mặt đất. Hai mắt nhìn về trước theo roi.

- Ở bộ vị, nhóm ngựa đứng lên, chân trái bước về phía trước một bước, hai tay xê dịch lại gần nhau, và nắm nơi phần giữa của roi, là lang ngang roi một vòng theo kiểu số 8 . Hai mắt nhìn về trước.

- Ở bộ vị, giữ y cách nắm roi, chân phải bước tới phía trước một bước, hai tay lạng roi như trên một vòng nữa. Hai mắt nhìn về trước.

- Ở bộ vị, giữ y cách nắm roi, chân trái lại bước về trước một bước, đồng thời hai tay vẫn lạng roi theo kiểu số 8 như cũ. Hai mắt nhìn về phía trước.

- Ở bộ vị, chân phải bước tới trước một bước, đồng thời hai tay đâm thẳng đầu roi từ sau ra trước. Hai mắt nhìn về phía trước.

10. Hồi tiểu kim kê đả trung lang:

bộ vị, chân phải bỏ về sau một bước làm chân trụ, chân trái ở trước dở lên khỏi mặt đất và cong gối lại, đồng thời tay trái đâm đầu roi nhanh về phía trước, sau đó, hai tay nắm roi thu roi xiên theo thân người bên trái. Hai mắt nhìn về trước theo roi.

- Ở bộ vị, chân trái chấm xuống đất, đồng thời tay phải ở sau đánh đầu đốc roi từ sau tới trước và từ dưới lên trên. Hai mắt nhìn về trước theo roi.

- Ở bộ vị, giữ y tư thế ngựa, tay trái ở trước, đánh đầu roi từ sau ra trước và từ dưới lên trên. Hai mắt nhìn về trước theo roi.

11. Phi phong tẩu võ khai ngưu giác:

- Ở bộ vị, chân phải ở sau bước tới trước một bước, đồng thời tay phải ở sau đánh đầu đốc roi từ sau ra trước, từ trên xuống và áp sát roi xiên theo bên phải của thân mình đã triển từ trước ra sau. Hai mắt nhìn về trước.

- Ở bộ vị, hai đầu gối chuyển dịch ra phía trước, đồng thời hai tay nắm roi đâm thẳng ra phía trước và đầu roi móc từ dưới lên. Hai mắt nhìn về trước theo roi.

- Ở bộ vị, chân phải ở trước, bỏ ngang qua bên phải một bước, đồng thời tay phải ở trước cắm đầu roi chỉ xuống đất, và xê dịch ngang theo chiều chân phải. Hai mắt nhìn về phía trước.

- Ở bộ vị, chân trái bước tới phía trước một bước, đồng thời tay trái theo chân trái, đánh đầu roi từ sau ra trước và từ dưới lên. Hai mắt nhìn về trước theo roi.

12. Tiểu tử tam phiền giá mã an:

- Ở bộ vị, chân phải ở sau bỏ ngược theo chiều sau lưng về phía trước một bước, đồng thời tay trái đâm đầu roi theo chiều chân phải về phía trước. Hai mắt nhìn về trước theo roi.

- Ở bộ vị, chân phải bỏ ra phía sau và nhảy về sau một bước, ngồi xuống, roi đặt nằm ngang ở phía sau. Hai mắt nhìn về phía trước.

- Ở bộ vị, giữ y tư thế "tọa ngựa" hai tay đâm thẳng đầu roi từ sau ra trước. Hai mắt nhìn về trước theo roi.

- Ở bộ vị, chân phải bước về phía trước một bước ngồi xuống, roi được chuyển theo từ phải sang trái và đặt nằm ngang roi ở phía sau. Hai mắt nhìn về trước.

- Ở bộ vị, giữ y tư thế "tọa ngựa" hai tay đâm thẳng đầu roi từ sau ra trước. Hai mắt nhìn về trước theo roi.

- Ở bộ vị, chân trái bước tới phía trước một bước ngồi xuống, rồi được chuyển theo từ trái sang phải và đặt roi nằm ngang ở phía sau. Hai mắt nhìn thẳng về phía trước.

- Ở bộ vị, giữ y tư thế "tọa ngựa" hai tay đâm thẳng đầu roi từ sau ra tới phía trước, hai mắt nhìn về phía trước theo roi.

c) Những động tác bái tổ hết bài roi: Bái tổ sư, lập như tiền

- Ở bộ vị, chân phải bước tới phía trước một bước đồng thời tay phải đánh đầu đốc roi từ sau ra trước, từ trên xuống. Hai mắt nhìn tới trước theo roi.

- Ở bộ vị, giữ y tư thế ngựa. Hai tay đâm đầu roi thẳng ra phía trước. Hai mắt nhìn về phía trước theo roi.

- Ở bộ vị, chân trái ở sau bước tới phía trước một bước, đồng thời hai tay đánh đầu roi ngang qua từ trái sang phải. Hai mắt nhìn về phía trước.

- Ở bộ vị, chân phải bỏ ngược ra phía trước theo chiều sau lưng, đồng thời xoay người từ trái sang phải theo chiều kim đồng hồ. Cùng lúc hai tay đánh ngang roi từ sau ra trước. Hai mắt nhìn về trước theo roi.

- Ở bộ vị, tay phải ở trước cắm đầu roi chỉ xuống đất, tay trái ở sau nắm đốc roi theo chiều chỉ lên trời. Ở tư thế này, tay phải đánh đốc roi từ dưới lên. Hai mắt nhìn về trước theo roi.

- Ở bộ vị, chân trái bước tới trước một bước trụ theo ngựa kim kê, nắm phần đốc roi sau, chỏ tì vào hông phải, tay trái xê dịch ra phía trước nắm 1/3 phần đầu roi. Hai mắt nhìn thẳng về phía trước.

- Ở bộ vị, chân trái bỏ về đặt ngang với chân phải. Hai bàn chân đặt song song với nhau. Tay phải nắm giữa roi, chống roi xuống đất ở phía nên phải thẳng đứng theo thân người. Tay trái duỗi thẳng, tỳ căn chưởng trước bắp vế và lòng căn chưởng hướng xuống mặt đất. Hai mắt nhìn về phía trước và hơi nhìn xiên xuống mặt đất.


Theo "Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc, đặc trưng võ cổ truyền Bình Định"
Đăng nhập để trả lời
0

Bắn ná - Môn thể thao truyền thống của đồng bào vùng cao Bình Định



Cây ná mà đồng bào các dân tộc phía Bắc gọi là cây nỏ được các già làng, các nghệ nhân có nhiều kinh nghiệm cất công lên tận núi cao để chọn được những lõi cây chắc có độ nhún thật dẻo, thật bền để làm thân ná, tìm những sợi dây rừng phải thật bền, thật dẻo để làm dây cung. Cái lẩy làm cò ná cũng đảm bảo chắc chắn có độ trơn để bật mũi tên đi xa trúng đích. Mũi tên được vuốt trau chuốt tỉ mỉ bằng tre già nhọn hoắc đủ sức xuyên qua tấm ván mỏng và nếu tẩm thêm thuốc độc gia truyền ở đầu tên thì khả năng sát thương rất cao, có thể hạ được những con heo rừng hàng tạ. Cây ná của đồng bào H'rê An Lão có thân thon thả mà sức bật của mũi tên thật xa. Còn ná của đồng bào Bana Vĩnh Thạnh thì chắc chắn, dây ná cứng có sức mạnh tên lao vun vút. Và dù đích 15 hay 20 mét xa phía trước, mũi tên cũng được các xạ thủ đưa đúng vào mục tiêu. Vào dịp hội làng, ngày hội văn hoá - thể thao ở các xã vùng cao bao giờ cũng có cuộc thi môn bắn ná trúng đích thu hút đông đảo bà con tham gia thi đấu và cổ vũ nhiệt tình cho các xạ thủ của mình. Bia bắn tự tạo được gắn trên các thân cây chuối ghép lại ngăn được sức xuyên của mũi tên bay xa. Các xạ thủ là những chàng trai khoẻ mạnh quen với những cuộc săn thú quanh năm, là những cô gái có đôi mắt sáng long lanh, tinh anh để nhìn rõ mục tiêu phía trước. Cánh tay xạ thủ thật rắn chắc mới lên được dây ná, nếu không phải nhờ người khác lắp tên thì sẽ mất uy. Khoảng cách bắn ná từ chỗ đứng bắn đến tấm bia có độ dài 15 mét. Ở các cuộc thi tại buôn làng thường sử dụng bia di động rất linh hoạt đòi hỏi các chàng trai, cô gái Bana, H'rê nhanh mắt nhanh tay lảy cò trúng đích. Trong ngày hội văn hoá - thể thao dân tộc tỉnh Bình Định lần thứ tư tổ chức tại Hoài Ân vừa qua, cuộc thi bắn nỏ của các vận động viên nam nữ rất sôi nổi diễn ra từ sáng đến 12 giờ trưa. Mặc trời nắng nóng, mặc gió thổi mạnh các xạ thủ trầm tĩnh dang thẳng cây ná về phía trước, nheo mắt, nín thở, bóp cò. Các xạ thủ Bana huyện Tây Sơn với tay ná xuất sắc Đinh Nhon chàng trai làng Vĩnh An ba phát trúng đích giành giải nhất. Cô gái Đinh Thị phước (Vân Canh) và Đinh Thị Đoài (Vĩnh Thạnh) đồng điểm cao nhất giành phần thưởng xứng đáng của hội thi. Cũng phải kể đến các nữ đấu thủ Đinh Thị quanh (Hoài Ân), Nam xạ thủ Đinh Diêm của Tây Sơn đạt tới 25 điểm ở các lần bắn chính thức. Theo vận động viên Đinh Thị Đoài thì bắn ná ở nhà dễ trúng đích hơn, đỡ run hơn và đã bắn là trúng hồng tâm. Đây là những nữ xạ thủ rất xuất sắc và có truyền thống gia đình được hưởng tài bắn ná bách phát bách trúng của ông cha trong nhà. Nhiều gia đình bà con người H'rê, Bana coi cây ná cũng là một bảo vật trong nhà được truyền qua nhiều đời và nó được giữ gìn, nâng niu, trau chuốc kỹ lưỡng. Cái ná của anh Đinh Kri (An Lão) người đạt huy chương bạc toàn quốc đã được anh chăm sóc, bảo quản thật hết ý. Anh kể rằng từ đời ông nội đã làm ra cây ná này, đây là ná được thay nhiều lần nhưng cánh ná, thân ná và lẫy ná vẫn như cũ, đen bóng, ánh lên những nét lóng lánh như gương thật đẹp, thật quý. Đinh Kri được cha truyền lại cây ná và kỹ thuật bắn siêu hạng nên đẫ giành được huy chương trong cuộc thi bắn ná toàn quốc vừa qua trước các tay ná hàng đầu của Việt Bắc, Tây bắc và Tây Nguyên.

Hàng năm cứ vào mùa xuân, mùa lễ hội, lũ làng lại tập trung cùng nhau múa hát, cùng nhau uống rượu cần và bây giờ các chàng trai, cô gái còn biết đánh bóng chuyền, chơi nhiều trò chơi dân gian: đẩy gậy, kéo co, leo núi... rất vui vẻ nhưng sôi nổi nhất vẫn là cuộc thi bắn ná của buôn làng. Người già làm trọng tài, lũ con gái đứng trầm trồ chỉ trỏ với trái tim, đuôi mắt hướng về các tay ná tài giỏi với nụ cười e thẹn. Các buổi thi bắn ná ở các xã vùng cao huyện An Lão, Vĩnh Thạnh, Vân Canh đã làm tăng thêm niềm vui, tăng thêm sức mạnh của lũ làng, của đồng bào vùng cao tỉnh ta.
Đăng nhập để trả lời
0


Kỹ thuật căn bản của một số môn võ cổ truyền Bình Định:


Phương pháp tập phối hợp tay, chân


"Thảo bộ" là bài quyền nhiều thế võ chính, phụ được phối hợp tập luyện liền nhau và liên tục của "bộ pháp", "thủ pháp", "thân pháp" và "nhãn pháp".

Ta đã biết "thảo" là bài quyền phối hợp của nhiều thế võ, nhiều bộ pháp, thủ pháp, thân pháp… và đi từ đơn giản đến phức tạp. Biết vậy, ta phải chú tâm luyện tập cho thuần phục, chính xác, công phu. Từ đó, chắc chắn sức khỏe và võ công của người luyện tập sẽ tiến bộ nhiều.

Sau đây, chúng tôi giới thiệu hai bài "thảo bộ" đơn giản ở phần phối hợp này.

- Thảo Bộ Liên Ba: Thảo gồm ba bộ. Mỗi bộ đánh liền ba lần:

Bộ một: Đánh một "Ngọn Mộc" đâm hai "Ngọn Kim".

Bộ hai: Đánh một "Ngọn Mộc" xóc hai nắm quyền lên theo "Ngọn Thủy".

Bộ ba: Bắt đâm ba "Ngọn Thổ".

a) Những động tác Bái tổ:

Trụ "Ngựa Tứ Bình".

Tiếp đến, đặt ngang bàn chân phải, chân trái bước lên, đứng theo tư thế "Ngựa Kim Kê" tay trái nắm quyền lại, tay phải xòe cương đao, nắm cú quyền tay trái ép sát vào lòng bàn tay cương đao (tay phải) rồi thủ dưới vú bên ngực trái. Mắt nhìn về phía trước.

b) Những động tác ở bộ một:

- Lần 1:

Ở tư thế "bái tổ" chân phải bước lên phía trước một bước và đứng theo "Ngựa Kim Kê" đồng thời tay phải đánh "Ngọn Mộc" xuống, tay trái giật chỏ về phía sau, thủ ngang hông.

Kế tiếp tay trái đâm quyền thẳng ra phía trước và tay phải lại giật chỏ về sau, quyền thủ ngang hông.

Thủ vào hông xong, tay phải lại đâm quyền thẳng ra phía trước, tay trái lại giật trỏ về sau. Thủ quyền ngang hông. Thủ quyền khi đánh, mắt nhìn thẳng về phía trước.

- Lần 2:

Đưa bàn chân trái ở phía sau lên thế chỗ bàn chân phải ở trước dời về sau thế chỗ bàn chân trái ở sau, đồng thời tay trái đánh "Ngọn Mộc" xuống, tay phải giật chỏ về sau. Thủ quyền ngang hông.

Rồi tay phải tiếp tục đâm quyền thẳng ra phía trước, tay trái giật chỏ về sau. Thủ quyền ngang hông. Tiếp đến, tay trái lại đâm thẳng quyền ra phía trước, tay phải giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông. Khi đánh, mắt nhìn thẳng về phía trước.

- Lần 3:

Hoán vị bàn chân phải ở sau lên trước thế chỗ bàn chân trái, bàn chân trái rút về sau thế chỗ bàn chân phải, đồng thời tay phải đánh "Ngọn Mộc" xuống. Tay trái đâm quyền thẳng ra, tay phải giật chỏ về sau. Thủ quyền ngang hông.

Tiếp đến, tay phải lại đâm quyền ra, tay trái rút về thủ quyền ngang hông. Mắt nhìn về phía trước trong lúc đánh.

Sau đó xoay "ngựa" và người theo chiều tay trái chuyển về phía sau, và chỉnh "ngựa" đứng đúng theo "Ngựa Kim Kê", tay quyền thủ lên.

c) Những động tác ở bộ hai:

- Lần 1:

Ở tư thế bộ một, ta bước chân phải lên một bước, đồng thời tay phải đánh "Ngọn Mộc" xuống, tay trái giật chỏ về sau. Thủ quyền ngang hông.

Tiếp đến, hai nách kẹp lại, đồng thời xòe thẳng hai nắm quyền lên trên và dừng lại ở vị trí dước cằm. Mắt nhìn thẳng về phía trước mặt.

- Lần 2:

Tay phải bắt qua và dừng lại bên tai phải, bàn chân trái từ sau đưa lên thế chỗ bàn chân phải ở trước, và bàn chân phải rút về thế chỗ bàn chân trái, đồng thời tay trái đánh "Ngọn Mộc" xuống, tay phải rút về thủ quyền ngang hông.

- Tiếp đến, hai nách kẹp lại, xóc thẳng hai nắm quyền lên trên và dừng lại ở vị trí cằm. Mắt nhìn thẳng phía trước.

- Lần 3:

Tay trái bắt qua bên trái, bàn chân phải đưa lên trước thay chỗ bàn chân trái và bàn chân trái chuồi về sau thay chỗ bàn chân phải, đồng thời tay phải đánh "ngọn mộc" xuống, tay trái rút về thủ quyền ngang hông.

Kế tiếp, hai nách kẹp sát lại, xóc hai nắm quyền thẳng lên và dừng lại dưới cằm.

Ở tư thế bộ hai, ta xoay "ngựa" và người theo chiều tay trái chuyển ngược mặt trước (mặt tiền lúc bái tổ), chỉnh lại "ngựa Kim Kê", hai tay thủ quyền.

d) Những động tác ở bộ ba:

- Lần 1: Tay phải đâm "ngọn thổ" xuống đất, tay trái giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.

- Lần 2: Chân phải đưa ra trước thế chỗ bàn chân trái, bàn chân trái chuồi về sau thay chỗ bàn chân phải, đồng thời tay phải đưa lên ngang tai phải, tay trái đâm "ngọn thổ" xuống đất, tay phải giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.

- Lần 3: Chân trái lại đưa lên trước, bàn chân trái thế chỗ bàn chân phải, bàn chân phải về sau thế chỗ bàn chân trái, đồng thời tay trái bắt lên dừng ngang tai trái, tay trái đâm "ngọn thổ" xuống đất, tay trái rút về thủ quyền ngang hông.

e) Những động tác bái tổ hết bài quyền:

Ở tư thế bộ ba, ta xoay ngược bàn chân trái theo chiều vai bên trái, chân phải bước lên một bước, đứng theo "Ngựa Kim Kê", tay trái nắm quyền lại, tay phải xòe cương đao, tay quyền áp sát vào lòng bàn tay cương đao, thủ ngay dưới vú bên phải, "bái tổ".

. Theo "Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc, đặc trưng võ cổ truyền Bình Định"

Đăng nhập để trả lời
0


Phương pháp tập luyện về tay


Tập về tay là cách tập luyện đôi cánh tay và đôi bàn tay trong đánh võ. Luyện tập để có đôi bàn tay nhanh nhẹn, biến hóa linh động, rắn chắc... Muốn được như vậy, cần phải ra công luyện tập đúng phương pháp và khoa học. Có đôi bàn tay làm khí giới đa dạng thì trong tự vệ, chiến đấu phần chủ động có thể thuộc về ta.

* Tập phần bàn tay:

Đôi bàn tay là một khí giới đa dạng trong đánh võ vì lúc dùng quyền, khi dùng trảo, lúc đánh chưởng, khi dùng chỉ..., người có võ công cơ bản biết phối hợp, tập luyện và sử dụng đôi bàn tay thì thật là đáng sợ.

1. Tập quyền:

"Quyền" là nắm tay, tập hai nắm quyền, ta phải nắm bàn tay thật chặt, ngón cái ép sát vào đốt giữa của ngón trỏ và ngón giữa.

Trong tập luyện, ta nên xòe bàn tay ra rồi nắm cú lại thật chặt. Ta tập nhiều lần trong mỗi bài tập. Những lần sau nắm chặt hơn những lần trước. Khi tập, ta nên tì hai chỏ vào hông để luyện tập nắm quyền.

2. Tập Cương Đao:

Bàn tay xòe thẳng, ngón cái cong, ép vào lòng bàn tay, bốn ngón tay kia xếp kín lại. Lúc luyện tập, ta nắm chặt, đấm, xỉa vào các vật mềm rồi dần dần đến vật cứng.

Nên nhớ không gây chấn động nhiều ở các đầu ngón tay.

3. Tập Trảo:

Bàn tay xòe ra, năm ngón tay hơi cong, vươn tới trước. Bàn tay có 5 ngón nên gọi là "Ngũ Trảo". Khi tập ta nên dồn lực vào đầu năm ngón tay.

4. Tập Chưởng:

Bàn tay xòe ra, lòng bàn tay hướng về trước, ngón cái tách riêng hướng thẳng lên trên, bốn ngón khép kín, hơi cong. Lực phát ra dồn ở lòng bàn tay.

5. Tập Chỉ:

Chỉ là cách luyện tập và sử dụng các ngón tay. Ta thường dùng "đơn chỉ" và "hợp chỉ".

a) Tập Đơn chỉ: Tập "Đơn chỉ" là tập ngón cái và ngón trỏ.

- Luyện tập ngón cái: Nắm cú tay thật chặt. Ngón cái chỉ thẳng tới trước và ép sát vào đốt giữa của ngón trỏ. Lực phát ra dồn ở đầu ngón tay cái.

- Luyện tập ngón trỏ: Ngón trỏ chỉ thẳng tới trước, ba ngón: giữa, đeo nhẫn và út nắm lại, ngón cái ép sát vào đốt tay ngón giữa và nắm chặt lại. Lực phát ra dồn vào đầu ngón tay trỏ. Đơn chỉ thường gây chấn thương ở các chỗ nhỏ, hẹp và mềm...

b) Tập hợp chỉ:

"Hợp chỉ" là cách tập phối hợp để tạo lực ở các ngón tay hay một vài nơi trên bàn tay. Hợp chỉ có nhiều cách, ở đây ta chỉ tập một số "Chỉ" cơ bản thường dùng.

- Tập Xà thao: Bốn ngón: trỏ, giữa, đeo nhẫn và út khép kín, hơi cong "Chỉ" ra trước, ngón cái chỉ thẳng ra trước, mặt trong ngón cái hướng vào lòng bàn tay như miệng con rắn đang há. Lực phát ra, lúc dồn vào ngón cái, lúc dồn vào đầu bốn ngón, lúc phân đều ở các ngón để chụp, kẹp, giữ.

- Tập Long giác: Ngón đeo nhẫn, ngón út và ngón cái gập lại, ép chặt. Hai ngón trỏ và giữa tách thành hình chữ V. Lực dồn ở hai ngón trỏ và giữa.

- Tập Hố trảo: Năm ngón tay cong đều, hơi hở ra như năm móng cọp. Lực phát ra dồn đều ở năm đầu ngón tay, chỉ này dùng để chụp, cấu, xé...

Hoặc ngón cái cong lại, ép sát vào lòng bàn tay, bốn ngón kia khép kín cong lại, tì bốn đầu ngón tay vào ngón cái, siết chặt lại hoặc đôi khi nhô đốt thứ nhất của ngón giữa cao hơn. Chỉ này, lực phát ra dồn ở đầu đốt thứ nhất của ngón giữa.

- Tập Hạc chỉ: Năm ngón tay chúm lại, các đầu ngón tay bằng nhau duỗi thẳng ra trước. Lực phát ra dồn ở điểm chúm của năm đầu ngón tay hay phần đốt xương nhô lên ở mu bàn tay của ngón trỏ.

- Tập Hầu chỉ: Bàn tay dựng đứng thẳng góc với đầu xương trụ và xương quay, năm ngón tay khép kín và cong lại.

Hoặc bàn tay để nhô phần cổ tay và mu bàn tay. Lực phát ra ở chưởng này là phần tiếp giáp ở cổ tay và hai gò bàn tay hay phần cổ tay và mu bàn tay, sau mới dồn đến các "Chỉ".

* Tập đôi cánh tay:

1. Tay Bắt, Chần căn bản:

Trụ "Ngựa Tứ Bình". Hai cú quyền thủ ngửa vào hông. Sau đứng ngựa thủ quyền tập Bắt, Chần.

- Tập Bắt - Chần thượng bộ:

Trụ "Ngựa Tứ Bình" thủ quyền vào hông, tay phải thủ yên nơi hông, tay trái đưa úp lên ngang tai bên phải rồi vặn ngửa tay ra hắt đến ngang tai bên trái thì dừng lại. Bàn tay có thể nắm quyền hay dùng chỉ, cạnh xương trụ ở ngoài (BẮT).

Tiếp đến, úp ngón tay lại, đưa qua tai bên phải. Lúc va chạm nơi cạnh bàn tay hay cạnh xương trụ (CHẦN). Tiếp đến, thủ tay trái lại nơi hông rồi tập tay phải BẮT, CHẦN như tay trái. Sau đó, đứng "Ngựa Kim Kê" thủ quyền tập BẮT, CHẦN.

BẮT CHẦN trung bộ:

Vẫn tư thế "ngựa" như trên, tay phải thủ nơi hông, tay trái đưa úp lên ngang vai bên phải rồi lật ngược lại đến khỏi hông trái thì dừng lại, bàn tay dùng Hổ trảo (BẮT)

Giữ nguyên tư thế BẮT, đưa úp tay qua hông bên phải. Điểm va chạm là mu bàn tay phần mặt trên của xương trụ và xương quay.

2. Tập Ngũ Hành Tay:

a) Tập Ngọn Kim Đâm: Trụ "Ngựa Tứ Bình". Hai tay thủ ngửa ở hai bên hông. Đưa tay phải lên, bắt qua bên tai phải. Bấy giờ tay trái đưa xoáy ra trước, đồng thời tay phải giật chõ về sau. Thủ quyền lại ngang hông.

Tay trái lại tiếp tục bắt lên và dừng lại ngang tai bên trái, tay phải lại đâm xoáy ra trước, tay trái giật chõ về sau. Thủ quyền ngang hông.

Cứ thế ta tập đâm nhiều lần trong mỗi lần tập. Nhớ nắm chắc cú quyền khi đâm ra. Hai mắt nhìn về phía trước.

b) Tập Ngọc Mộc đánh: Trụ "Ngựa Tứ Bình". Hai nắm quyền thủ hai bên hông. Đưa tay phải lên, bắt qua đến bên tai phải, bấy giờ tay trái đưa úp lên tới chân mày, đánh mu nắm quyền hướng xuống dưới rồi hất ngược mu nắm quyền lên, dừng ở vị trí cánh tay thẳng góc với ngực, đồng thời giật chỏ phải về sau. Thủ quyền ngang hông.

Tiếp đến tay trái lại bắt ngang tai trái, chân phải giở úp lên ngang chân mày, đánh mu nắm quyền xuống dưới rồi hất mu nắm quyền lên dừng lại ở vị trí cánh tay thẳng góc với ngực, đồng thời giật trỏ trái về sau và thủ quyền ngang hông.

Cứ thế ta tập đánh nhiều lần trong mỗi lần tập. Nhớ cú quyền nắm chặt trong khi đánh xuống và hất lên. Mắt nhìn thẳng về phía trước.

c) Tập Ngọn Thủy Móc: Ở tư thế trụ "Ngựa Tứ Bình", tay phải bắt lên ngang tai bên phải, tay trái móc thẳng quyền từ hông lên và dừng lại ở vị trí dưới cằm đồng thời tay phải giật chỏ về sau. Thủ quyền lại ngang hông.

Ở tư thế vị trí đó, tay trái bắt qua dừng lại nơi bên trái, tay phải móc thẳng nắm quyền, tay trái giật chỏ về sau, thủ quyền ngang hông.

Cứ thế ta tập nhiều lần trong mỗi lần tập. Nhớ quyền nắm chặt khi tập. Mắt nhìn thẳng về phía trước.

d) Tập Ngọn Hỏa né: Trụ "Ngựa Tứ Bình", hai tay thủ vào hông. Triển người, lắc vai trái né sang bên phải, rồi triển người lắc vai phải né sang bên trái.

- Khi né sang bên phải: Tay trái ép sát vào hông trái, nắm quyền thủ ngang hạ bộ. Tay phải thủ kề má bên trái. Mắt liếc ngó về bên trái.

- Khi né sang bên trái: Tay phải ép sát vào hông bên phải, nắm quyền thủ ngang hạ bộ. Tay trái thủ kề má bên phải. Mắt liếc, ngó về bên phải.

Cứ thế ta tập nhiều lần trong mỗi lần tập luyện.

e) Tập ngọn Thổ đâm xuống đất: Trụ "Ngựa Tứ Bình". Thủ hai nắm quyền ngang hông. Tay phải bắt ngang tai bên phải. Tay trái nắm quyền đâm thẳng xuống đất, đồng thời tay phải giật chõ về sau. Thủ quyền lại ngang hông.

Ở tư thế đâm đó, tay trái bắt quyền lên ngang tai bên trái, tay phải nắm quyền chặt đâm thẳng xuống đất, đồng thời chỏ trái giật về sau và thủ quyền ngang hông.

Nhớ tập đâm xuống nhiều lần trong mỗi buổi tập. Mắt ngó thẳng về phía trước.

3. Tập Ngũ Hành cùi chỏ:

Hai chỏ, nếu được tập luyện công phu, thuần thục, rắn chắc... thì tác dụng trong bảo vệ và chiến đấu rất lợi hại. Chỏ ở phần căn bản cũng tập theo "Ngũ Hành".

a) Tập "Ngọn Kim" giật chỏ thẳng ra theo chiều vai:

Trụ "Ngựa Tứ Bình" thủ hai nắm quyền ngang hông, đưa nắm quyền tay trái lên ngang vai bên phải giật úp chỏ thẳng ra ngang vai trái.

b) Tập "Ngọn Mộc" đập chỏ ngang ra phía trước:

Ở tư thế "Ngọn Kim" của chỏ bên trái, ta đập chỏ thẳng ra phía trước mặt, dừng ở vị trí ngực và tay thẳng góc.

c) Tập "Ngọn Thủy" giật chỏ ra phía sau lưng:

Ở tư thế "Ngọn Mộc" của chỏ trái, ta giật thẳng chỏ ra sau lưng.

d) Tập "Ngọn Hỏa" tước trỏ lên ra phía trước mặt:

Ở tư thế đang tập đánh "Ngọn Thủy" ta đánh tước chỏ lên từ sau ra trước và dừng lại ở góc 45 độ tại nách.

e) Tập "Ngọn Thổ" găm nhỏ xuống đất: Ở tư thế "Ngọn Hỏa", ta găm xuống đất, nhưng găm lệch sang phía bên phải.

Tập xong tay trái, ta thủ quyền tay trái lại nơi hông rồi tập đến tay phải, như vừa tập ở tay trái. Lúc tập, mắt nhìn thẳng về phía trước.

. Theo "Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc, đặc trưng võ cổ truyền Bình Định"

Đăng nhập để trả lời
0

Phương pháp luyện tập đôi chân và đôi tay trong môn quyền


Người xưa nói rằng: Học võ không phải để biết bài quyền, ngọn roi, thế đá là đủ, mà mục đích của học võ là nắm vững phương pháp luyện tập, tập đúng phương pháp theo chỉ dẫn của võ sư. Học võ không những chỉ để biết mà quan trọng là biết để sử dụng nó vào đúng mục đích đã chọn.

Đối với người học võ, đôi tay và bộ chân là vũ khí chủ lực và cực kỳ lợi hại để tự vệ và đánh trả đối phương. Nếu luyện tập công phu, có khoa học, có phương pháp đúng sẽ tạo ra sự hoàn thiện của đôi tay và đôi chân, làm cho nó tự chủ và biến hóa khôn lường.

* Phương pháp luyện tập về chân

- Tập ngựa: "Ngựa" là phần căn bản trọng yếu trong việc luyện tập võ công. Bởi vì "ngựa" phải mang thân thể của ta trong xê dịch, tránh né, lúc sang phải, khi qua trái, lúc tấn, lúc thối hoặc bám trụ để sử dụng thân pháp hay xuất phát khí lực... Các thế tấn (tức ngựa) là phần căn bản của chân. Do đó, ta cần chú tâm luyện tập công phu.

Ngựa trong võ có nhiều loại, ở đây ta chỉ tập một số loại cơ bản.

1. Ngựa Tứ Bình: Một loại ngựa cơ bản quan trọng. Ngựa Tứ Bình có thể gọi là "ngựa" cốt lõi, vì những "ngựa" này sau này là sự biến dạng của "Ngựa Tứ Bình".

- Lúc tập: Người đứng thẳng, hai bàn chân đặt sát nhau và song song. Ta dịch chuyển bốn lần như sau:

+ Lần 1: Tì hai góc chân vào mặt đất, xoay hai đầu bàn chân ngang với chiều vai.

+ Lần 2: Bấm hai đầu ngón chân cái vào mặt đất, banh hai gót chân ra ngoài và dừng lại ở vị trí hai bàn chân song song.

+ Lần 3: Tì hai gót chân vào mặt đất, xoay hai đầu bàn chân ngang với chiều hai vai lần nữa.

+ Lần 4: Bấm hai đầu ngón chân cái vào mặt đất, banh hai gót chân ra ngoài và dừng lại ở vị trí hai bàn chân song song.

+ Lần 5: Bây giờ ta ngồi xuống và dừng lại ở vị trí hai bắp vế ngang với gối.

CHÚ Ý: Trong lúc tập Ngựa Tứ Bình, xương sống phải giữ thẳng. Hai vai không nhúc nhích. Mắt nhìn thẳng về phía trước. Hai tay nắm cú chặt thủ vào hai bên hông. Răng hàm cắn chặt. Môi khép lại. Đầu lưỡi tì vào chân hàm răng trên. Chỉ thở bằng mũi. Khi tập, chú ý dồn trọng lượng vào chân bằng lối song trọng và đơn trọng.

2. Ngựa Kim Kê:

Bàn chân phải ở sau đặt nằm ngang, gối chân phải rùn thấp, trọng lượng toàn thân dồn về chân phải. Bàn chân trái ở trước duỗi xuôi và chấm đầu ngón chân cái xuống đất. Hai tay nắm cú thủ vào hai bên hông. Mắt nhìn thẳng về phía trước. Nên nhớ phải tập đều phía trái và phía phải và khi chuyển ngựa sang phía trái, phải chỉnh ngựa đúng với tư thế "Ngựa Kim Kê".

3. Ngựa Chữ Đinh:

Cách đứng ngược với "Ngựa Kim Kê". Bàn chân trái ở trước đặt nằm ngang (mũi bàn chân hướng về phía tay phải), gối trái rùn thấp xuống, chân phải ở sau chõi thẳng, đầu các ngón chân phải hướng thẳng giữa cạnh trong bàn chân trái ở vị trí trực giao.

Trọng lượng toàn thân, lúc đầu dồn về chân trái, lúc dồn về chân phải. Hai cú tay thủ vào hai bên hông. Mắt nhìn thẳng về phía trước.

4. Ngựa Bát Quái:

Một biến dạng của "Ngựa Tứ Bình". Ta trụ "Ngựa Tứ Bình", sau đó xê dịch đầu bàn chân trái sang trái và vai trái cũng chuyển dịch theo. Trọng lượng toàn thân dồn vào chân phải sau nhiều hơn (khoảng bảy phần). Hai cú tay thủ vào hai bên hông. Mắt nhìn thẳng về phía trước. Tập phía trái xong, ta chuyển sang tập phía chân bên phải.

5. Ngựa Định Thân:

Trụ "Ngựa Tứ Bình". Sau đó, bấm giữ đầu hai ngón chân cái vào mặt đất, chuyển dịch hai gót chân vào phía trong và đưa dần ra phía trước mặt đến khi hai gót chân và hai đầu ngón chân cái thẳng hàng nhau (nằm trên một đường thẳng). Nghĩa là hai bàn chân nằm ngang theo chiều hai vai và ngực. Hai cú tay thủ vào hông. Mắt nhìn thẳng về phía trước.

6. Tọa ngựa:

Trụ "Ngựa Tứ Bình", sau đó ép sát hai gối lại, đầu hai ngón chân cái xê dịch ra phía ngoài, ngồi sát xuống đất, hai mông đít hơi kề sát vào hai gót chân. Hai đầu gối phải sát mặt đất.

Trọng lượng toàn thân dồn vào hai ngón chân cái. Nhớ phải tập theo cách "đơn trọng" và "song trọng". Hai cú tay thủ vào hai bên hông. Mắt nhìn thẳng về phía trước.

7. Ngựa Độc Cước:

Trụ "Ngựa Tứ Bình". Một chân co lên, gối ngang với vế, bàn chân dưới thẳng và đặt song song với vế chân trụ. Trọng lượng toàn thân dồn về chân trụ. Hai cú tay thủ ngang hông. Mắt nhìn thẳng về phía trước.

Chú ý: Tập đều hai bên trái và phải.

8. Ngựa đôi:

Một kiểu "ngựa" dùng để di chuyển. Đứng "Ngựa Kim Kê" hay "Bát Quái". Đứng chân trái trước, chân phải sau hay ngược lại. Khi tập luyện, đưa chân sau đến sát chân trước, đồng thời rút chân trước rút về phía trước. Khi lui ra, rút chân trước về sát chân sau, đồng thời chân sau xê dịch về sau. Tương tự khi sang trái hay phải. Bỏ chân trước qua thì kéo chân sau theo, hoặc tránh chân sau qua phải thì kéo chân trước theo. Trong luyện tập nên nhớ "Đi như lá", "Đứng như đá". Hai tay thủ quyền kín, chỉnh "ngựa" cho thích hợp với tư thế "ngựa" mới.

9. Ngựa Âm-Dương:

Đứng như "Ngựa Định Thân" sau đó đưa bàn chân trái đặt trước bàn chân phải. Khoảng cách giữa hai bàn chân khoảng 30 cm. Hai tay vẫn thủ ngang hông. Mắt nhìn thẳng về phía trước.

. Theo "Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc, đặc trưng võ cổ truyền Bình Định"

Đăng nhập để trả lời
0

Kỹ thuật căn bản của một số môn võ cổ truyền Bình Định:


Nhãn pháp và Khí pháp


* Nhãn pháp: (đôi mắt)

Cấu tạo một bài quyền bao gồm lời thiệu và động tác, từ các bộ phận riêng lẻ liên kết với các bộ phận toàn cầu. Một bài quyền không những thể hiện đúng động tác, mà còn yêu cầu thể hiện cho được sức sống (linh hồn) của bài quyền đó, mà yếu tố quan trọng là thể hiện ở đôi mắt. Đôi mắt có lúc nhìn thẳng, có lúc phải liếc ngang, liếc dọc, có lúc phải nhìn ngược lên, tùy theo yêu cầu đối với từng động tác của bài quyền. Tốc độ nhanh hay chậm, cường độ mạnh hay yếu đều thể hiện ở đôi mắt. Có một số võ sĩ thực hiện một bài quyền rất trọn vẹn, động tác đúng, dứt khoát, nhưng xem ra bài quyền đó không có hồn vì chưa thể hiện được sức sống và phong thái nhịp nhàng của đôi mắt (chưa làm cho đôi mắt biết nói). Trái lại, có một số võ sĩ vì quá chú ý đến cái nhìn của đôi mắt nên quá cường điệu vai trò của đôi mắt mà không thể hiện yêu cầu và phối hợp được các động tác toàn bài, như vậy cũng không thể hiện được trọn vẹn cái hồn của bài quyền.

Nét mặt thể hiện vui vẻ, tươi sáng, hay buồn bực trầm lặng qua cái nhìn của đôi mắt, cũng góp phần thể hiện sức sống mãnh liệt, cương nghị hay im lìm yếu ớt.

Khi tập luyện đôi mắt đủ uy lực, sắc sảo thì chính nó trở thành vũ khí sắc bén để uy hiếp tinh thần hoặc đánh lừa đối phương, làm cho đối phương khiếp sợ, lúng túng, mất tinh thần dẫn đến giảm sút ý chí chiến đấu và rơi vào thế bị động, hoang mang.

Để tăng cường sự sôi động, hay thể hiện sức mạnh của động tác, có võ sĩ kết hợp la hét hay dậm chân, cũng góp phần thể hiện sức sống mãnh liệt của bài quyền. Không nên quá lạm dụng kỹ xảo này mà làm giảm ý nghĩa và tính nghệ thuật của bài quyền.

* Khí pháp (thở)

Mỗi tế bào, mỗi tổ chức và mọi hệ thống trong cơ thể đều cần đến năng lượng. Muốn có năng lượng, cơ thể cần được tiếp nhận các chất dinh dưỡng như: đường (gluxit), đạm (Protít), mỡ (Lipit), ôxy (lấy từ không khí khi ta hít vào), các tổ chức cơ quan và các hệ thống trong cơ thể luôn luôn cần ôxy. Nếu thiếu ôxy thì các tế bào trong cơ thể sẽ hoạt động rối loạn và có thể dẫn đến ngừng hoạt động. Trong đó, tế bào thần kinh bị ảnh hưởng sớm nhất, chỉ cần 5-10 phút thiếu ôxy, hệ thống hô hấp không hoạt động được có thể dẫn đến tử vong.

Thở còn là hoạt động tống khí cacbonic ra ngoài cơ thể, các cặn bã của cơ thể được máu vận chuyển sang hệ thống hô hấp và hệ thống bài tiết để thải ra ngoài. Trong lúc làm việc khẩn trương hay vận động cơ thể với cường độ cao, hoặc đánh một bài võ với tốc độ nhanh, đòi hỏi hệ thống hô hấp làm việc khẩn trương, thở nhiều lên, nhịp thở tăng lên 30-40 lần, hay nhiều hơn nữa so với lúc cơ thể hoạt động bình thường. Tập võ nhẹ nhàng buổi sáng để khởi động toàn diện cho cơ thể, thở nhẹ nhàng, phối hợp lúc này là nạp đủ năng lượng ôxy cho máu, chuẩn bị đầy đủ năng lượng cho một ngày lao động mới.

Động tác thở sâu trong lao động cung cấp đầy đủ ôxy cho cơ thể, đặc biệt là bù đắp lượng lớn ôxy tiêu hao do cơ thể làm việc với cường độ cao. Nghỉ giữa giờ tập võ chú ý luyện thở và thở sâu để nhanh chóng thải khí cacbonic ra ngoài, đồng thời thu khối lượng ôxy thiêu đốt lượng axit lactic sinh ra trong quá trình tập luyện và lao động, để có đủ năng lượng phục hồi cho chất đường của tế bào trong cơ thể và bù đắp lượng ôxy trong máu hao hụt. Nhờ vậy, các cơ bắp, tứ chi sẽ bớt mệt mỏi, thần kinh trở lại minh mẫn và linh hoạt. Ngoài ra, thở sâu còn làm giảm áp lực trong lồng ngực để tim hút máu tĩnh mạch về nhanh hơn.

Đi một bài quyền có lúc nhanh, lúc chậm, thở cũng phải có lúc nhanh, lúc chậm, thậm chí có lúc nín thở tạm thời là để thể hiện tốc độ, biên độ, mật độ và cường độ của động tác. Thực hiện động tác nhanh với mật độ cao, biên độ hẹp hòi đòi hỏi nhịp thở phải nhanh. Trái lại, thực hiện động tác chậm, cường độ thấp, biên độ rộng và mật độ thưa thì nhịp thở chậm. Có lúc động tác ngừng gấp đột ngột, là thể hiện trước hết ở các cơ bắp tay, chân và khống chế vùng cơ bụng, thì lúc này bắt buộc phải nín thở tạm thời.

Luyện thở cũng như luyện khí công, phải tập trung chú ý cao độ ở tâm, đặt trọng tâm ở bụng thì phải thở bằng lồng ngực, tận dụng tối đa hết cả khoang bụng để thở. Lúc này yêu cầu phải thở đều và sâu, hít vào bằng mũi thở ra bằng miệng. Điều này nói lên khi biên soạn một bài võ nên cấu tạo cương nhu phối hợp hài hòa giữa động tác tấn công nhanh, mạnh với động tác linh hoạt nhẹ nhàng. Ra đòn phải nhanh, bất ngờ, phòng thủ phải kín đáo, thể hiện cho được ba yếu tố như: nhanh, mạnh, cứng như đá, kín chặt, nhẹ như lá, và nửa thật, nửa hư, nhằm đánh đối phương cho nên quá trình luyện thở có vị trí cực kỳ quan trọng khi thực hiện động tác võ.

Luyện thở là một bộ phận trong phương pháp luyện tập nội lực (khí công), tăng sức chịu đựng trong cơ thể.

Thở đầy đủ và đúng phương pháp không những ảnh hưởng tốt đến hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, mà còn ảnh hưởng đến hệ thần kinh và quá trình trao đổi chất trong cơ thể. Vì vậy, cần luyện thở để nâng cao chức năng hô hấp, đáp ứng yêu cầu hoạt động bền bỉ, chống mệt mỏi trong cơ thể khi luyện tập và thi đấu võ thuật, đặc biệt là trong thi đấu đối kháng đỉnh cao.

. Theo "Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc, đặc trưng võ cổ truyền Bình Định"

Đăng nhập để trả lời
0

Võ Tây Sơn - Bình Định



Tây Sơn - Bình Định là một địa danh Võ thuật của cả nước, và còn lan rộng ra cả nước ngoài vì võ Tây Sơn - Bình Định mang dáng dấp dòng võ cổ truyền dân tộc :

“Ai về Bình Định mà coi
Con gái Bịnh Định cầm roi đi quyền”


Điều này đã nói lên, người Bình Định ai cũng biết đánh võ. Võ thời trước mang tính chất sát phạt, thể hiện ở các đòn thế hiểm hóc. Võ sĩ thách đấu và thủ đài sẵn sàng gặp bất cứ võ sĩ, võ sư nào không phân biệt tuổi tác, giới tính, hễ ai hạ được là chiến thắng. Võ lúc ấy chưa hình thành bài bản như ngày nay không mang tính chất biểu diễn và ít có võ đường. Dòng, phái truyền cho nhau là chính. Vì thế nó mang tính chất đặc thù của mỗi dòng, phái, có sự truyền bí và mai danh ẩn tích khoe khoang. Tinh thần thượng võ rất cao và không hạ thủ khi đối phương đầu hàng.

Ngày trước, hàng năm thường tổ chức ngày hội “Để giàng” trên đài cao có đặt một con heo quay; trai gái tranh nhau bằng mưu lược võ nghệ làm sao giành được heo đem về làng mình. Từ đó chúng ta thấy rằng Võ Bình Định đã ra đời sớm, quy tụ những võ sư tài giỏi mọi miền về đây và hình thành các môn phái, sáng tạo những bài quyền, bài kiếm, bài roi độc đáo...

Thường thường trước khi học võ phải học văn vì biết võ mà không biết văn là võ biền, biết võ mà không lễ nghĩa đạo đức sẽ trở thành vô dụng, cường bạo. Do đó, nhân, lễ, nghĩa, trí, tín là những quy pháp trong võ đạo.

Quang Trung - Nguyễn Huệ là người đã tinh lọc những tinh hoa độc đáo của các dòng võ khác sáng tạo nên dòng võ Tây Sơn - Bình Định với những đặc điểm sau:

1/ Tính dân tộc:
Võ Tây Sơn - Bình Định nghiên cứu khá công phu với sự chọn lọc các môn võ khác kinh qua nhiều cuộc chiến tranh giữ nước. Trong các chiến công của Quang Trung, người ta nhận thấy võ thuật và binh pháp đã đóng một phần hết sức quan trọng. Các đòn thế võ Tây Sơn rất hiểm hóc. Ra đòn nhanh, biến hoá nhanh, lấy thủ làm công lấy công giữ thủ song toàn, hư thực khó phân minh làm cho đối phương khó bề chống đỡ. Cấu tạo một bài quyền, bài thảo rất đơn giản nhưng rất chặt chẽ và sắc bén có sự hoạt động toàn thân, mang màu sắc dân tộc, không pha tạp lai căng. Ví dụ: Bài Hùng kê quyền của Nguyễn Lữ. Qua nhiều lần xem đá gà, giữa gà chọi to lớn và gà trống bé hơn, ông thấy rằng gà chọi ỷ to cao đã ra đòn phủ đầu đối phương, nhưng chú gà trống đã nhanh nhẹn né tránh, thỉnh thoảng trả đòn cắn vào diều gà chọi và núp vào cánh đối phương để bất thần đá những cú hiểm vào gà chọi, chủ yếu lấy nhu để thắng cương. Và từ đó ông rút ra những đòn thế hay nhất sáng tạo bài Hùng kê quyền lưu lại sau này.

Một ví dụ khác như bài “Song Phượng Kiếm” của Bà Bùi Thị Xuân. Hàng ngày bà cùng dân tập luyện ở thao trường bên núi. Buổi tập nào bà cũng thấy một đôi chim phượng đậu trên cành cây đùa nhau, bay lượn xem bà tập. Từ đó hằng đêm bà cố mô phỏng động tác bay lượn, đùa nhau của đôi chim phượng mà soạn và tập bài kiếm có tên Song Phượng Kiếm.

Bài kiếm này mới tìm được trong tập sách “Tây Sơn danh tướng mộ hồn thao” do tướng Nguyễn Trung Như thời Tây Sơn sáng tác . Tài liệu này do thầy Hạnh Hoà ở chùa Long Phước ( xã Phước Sơn, Huyện Tuy Phước Bình Định) cung cấp.

2/ Tính truyền thống:
Võ Tây Sơn- Bình Định đã được hệ thống hoá các bài và truyền lại như bài quyền Thiền sư, Ngọc Trân, roi Ngũ Môn, trực chỉ, kiếm Mai Hoa... Hầu hết dân Bình Định đều biết võ, biết để tự vệ không mang tính biểu diễn như ngày nay, nên võ thể hiện khá rõ nét tính quần chúng. Họ truyền cho nhau trong cha con, chồng vợ, anh em, cho người thân trong thôn xóm bản ấp; thậm chí những bài võ từ thời xa xưa vẫn còn được lưu truyền. Phương pháp truyền dạy vẫn giữ truyền thống võ đạo xưa. Những điều nên làm, những điều cấm đối với môn sinh vẫn giữ nguyên. Kính tổ, trọng thầy, mến bạn là ba điều tâm niệm chính.

3/ Tính đa dạng và liên hoàn:
Nội dung võ Tây Sơn - Bình Đinh rất đa dạng và phong phú trong việc sử dụng 18 ban binh khí. Mỗi một đòn thế, một bài thảo, bài roi hay bài quyền đều có sự liên hoàn, trước sau và kết thúc trọn vẹn, kết hợp hài hào giữa yếu và mạnh, nhanh và chậm, tấn và thủ, thể hịên trí thức trong võ thuật, vì vậy bắt buộc văn võ phải song toàn.

Võ Tây Sơn - Bình Định rất đa dạng và phong phú, các đòn thế rõ ràng đơn giản nhưng tầm sát hạch hữu hiệu, bộ tay và chân phối hợp liên hoàn, không sơ hở. Ba môn phái tiêu biểu là Thuận Truyền, An Thái, An Vinh và một số võ đường lấy tên một số võ sư đại diện cho môn phái.

Đến với võ Tây Sơn-Bình Định là đến với dòng võ mang tính dân tộc thuần tuý. Dù có trải qua thời gian dài của lịch sử và nhiều thay đổi nhưng võ Tây Sơn - Bình Định vẫn giữ nguyên truyền thống, giá trị và bản sắc của nó.
Đăng nhập để trả lời
0

Đất võ



Âm vang những hồi trống trận hào hùng của đoàn quân nghĩa dũng Tây Sơn một thời lừng lẫy với những cuộc hành binh thần tốc, những trận đánh dữ dội mà chớp nhoáng, tốc chiến tốc thắng... gắn liền với tên tuổi bất diệt của Quang Trung - Nguyễn Huệ, cho đến nay vẫn còn bàng bạc trong tâm tưởng người Bình Định. Vâng, chính võ thuật là một trong những nhân tố làm nên kỳ tích Tây Sơn. Pháp dụng binh lấy ít đánh nhiều, lấy yếu chống mạnh; Thủ để công, công để thủ ; lấy tĩnh chế động, lấy động khắc tĩnh; cương nhu phối hợp; vững vàng, biến hóa thần tốc, bất ngờ... của Quang Trung cũng chính là những nguyên tắc cốt lõi của võ thuật Tây Sơn. Chính Nguyễn Huệ là người có công đưa nền võ thuật Tây Sơn - Bình Định lên đến đỉnh cao chói lọi, đưa võ thuật vào cuộc sống chiến đấu chống ngoại xâm, thống nhất đất nước. Và nếu chỉ lấy cái mốc từ thời Tây Sơn thì đến nay cái tên gọi "Đất võ" đã gắn liền với vùng đất địa linh nhân kiệt, biển núi trùng trùng này ngót trên 200 năm. Từ đó không phải ngẫu nhiên mà câu ca dao:

Ai về Bình Định mà coi
Con gái Bình Định múa roi đi quyền

đã phổ biến khắp đất nước và trở thành tiêu biểu cho một địa phương mà từ hình sông dáng núi đến con người đều mang âm hưởng của tinh thần thượng võ, bắt nguồn từ Nguyễn Huệ, Bùi Thị Xuân, Trần Quang Diệu, Đô đốc Long, Đô đốc Tuyết...

Muốn làm tàn lụi một dòng họ oai hùng, một dòng võ "Đối nghịch". Nhà Nguyễn - Gia Long, cấm lưu truyền và phổ biến võ thuật Tây Sơn, đặc biệt là các môn binh khí Tây Sơn. Nhưng làm sao cấm hẳn được khi mà lòng người mãi còn lưu luyến triều đại sáng ngời tinh thần dân tộc tự cường. Người Bình Định dưới triều Nguyễn thờ nhà Tây Sơn trong tận cùng sâu thẳm trong tâm hồn mình và lưu truyền, kế thừa phát triển võ thuật Tây Sơn trong giòng họ. Bằng cách này cách khác, bộ môn võ cổ truyền của đất võ Tây Sơn vẫn sống mạnh mẽ từ đời này sang đời khác để rồi thăng hoa thành một trong hai loại đặc sản văn hoá (võ thuật và hát bội) của Bình Định hôm nay. Chỉ tiếc rằng trong một thời gian quá dài bị cấm đoán nên nhiều miếng tuyệt chiêu đã bị thất truyền hoặc "tam sao thất bổn".

Có lẽ bất kỳ một người Bình Định nào cũng có thề kể lại một vài truyền thuyết thật đẹp về võ thuật, về tên tuổi của dăm vị võ sư nổi tiếng. Thời gian không còn lại nhưng vẫn còn đó những tên tuổi vang bóng một thời trong một quá khứ gần lưu truyền trong ký ức đậm nét hào hùng của làng võ Bình Định. Những cái tên mộc mạc, chân chất gắn liền với rặng tre, đồng lúa, bãi mía, nương dâu nằm sát biển Đông và giữa ba đèo (Cù Mông, An Khê, Bình Đê): Hồ Ngạnh, Tàu Sáu, Ấm Hổ, Hương mục Ngạc, Vương Kiến Mỹ, Hương kiểm Lài, Xã Hào, Năm Nghĩa, Đoàn Phong, Chín Giác, Mười Đậu, Hai Tửu, Năm Hà, Tám Cảng, Hai Tòng... Kể sao xiết những tên tuổi được tô đậm bằng bản lĩnh võ nghệ đã trở thành quen thuộc với người Bình Định từ đầu nguồn sông Côn đến cuối dòng sông Lại rợp bóng dừa xanh. Có những lão sư hiên nay đã trên thất thập vẫn còn cống hiến hết sức mình cho võ thuật như: Hà Trọng Sơn, Phan Thọ, Đặng Vĩnh Nghê... Có nhiều võ sư đang "hành võ" trên quê hương mình như Kim Đình, Đinh Văn Tuấn, Hà Trọng Nghị, Lý Xuân Hỷ... và cũng có nhiều võ sư đang phổ biến bộ môn võ Tây Sơn - Bình Định ở khắp nơi trong nước, kể cả nước ngoài. Làng võ cả nước có thể nào quên được cố võ sư Kim Dũng - người đã một "mình một ngựa" dong ruổi khắp mọi nơi trên đất Bình Định để làm công tác phong trào, góp dức khơi dòng mạch võ Tây Sơn. Tiếc rằng anh "ra đi" quá sớm, ngay khi đang làm nhiệm vụ trên đất võ đài toàn quốc. Những người yêu mến bình luận rằng cái chết của võ sư Kim Dũng là một cái chết đẹp là vì vậy. Tất cả, kẻ mất, người còn, kể cả các võ sư chưa có điều kiện nêu tên trong bài báo này vì trang báo có hạn đều góp phần mài bóng thêm cái tên ĐẤT VÕ!

Nhiều người cho rằng, đến Bình Định mà chưa thăm Bảo tàng Quang Trung thì chưa hiểu biết về "đất võ". Ngoài việc tham quan những di tích , di vật lịch sử ở nhà bảo tàng mang tầm vóc quốc gia được đặt ngay trên khu vườn nhà "Tây Sơn tam kiệt" ngày xưa, mời bạn dừng chân lại dưới gốc me già - chứng tích tồn tại gần 300 năm, để xem đội võ nhạc của nhà bảo tàng biểu diễn những bài võ Tây Sơn điêu luyện, hiểm hóc nhưng không kém phần hoa mỹ. Chắc chắn bạn sẽ cảm nhận rõ ràng hơn về cấu ca "... Con gái Bình Định múa roi đi quyền". Về Bình Định, đêm dừng chân trên bãi cát sông Côn lồng lộng ánh trăng, soi bóng thành Hoàng đế và những ngôi tháp cổ trầm mặc, bên ly rượu Bàu Đá nồng nàn tình bằng hữu, vừa xem những chàng trai, cô gái Bình Định luyện võ, khách lãng du sẽ được nghe lại những huyền thoại hoành tráng và ăm ắp tinh thần thượng võ. Chuyện về cố võ sư Hồ Ngạnh với ngọn roi bí truyền vang danh Roi Thuận Truyền, quyền An Dinh, hoặc chuyện nữ võ sư Tám Cảng một mình chiến đấu với vài chục trai làng trong ngày hội "Đổ giàn" năm xưa. Nếu còn thời gian lưu lại, xin mời bạn đến chùa Long Phước - ngôi chùa được xem như là một "Thiếu Lâm Tự" của Việt Nam. Ngồi dưới tán lá vú sữa rợp bóng mát, bên ly nước dừa ngọt ngào tình quê, bạn sẽ được thưởng thức những môn võ nhà chùa độc đáo và hấp dẫn. Chắc rằng khi chia tay "đất võ" bạn sẽ lưu giữ những ấn tượng khó phai mờ.

5 năm trở lại đây, võ Bình Định có phần "lặng tiếng"trên võ đài quốc gia. Còn đối với người dân "đất võ" thì truyền thống võ Tây Sơn - Bình Định vẫn được lưu truyền, kế thừa và phát triển mạnh mẽ trong nhiều gia đình, giòng tộc, trong gần 200 võ đường rải rác khắp toàn tỉnh với phương châm gìn giữ truyền thống tốt đẹp của địa phương, góp phần làm phong phú thêm các giòng võ Việt Nam, rèn luyện thân thể, khoẻ để phụng sự tổ quốc. Bao giờ cũng vậy, nền võ học Tây Sơn - Bình Định luôn hội đủ các yếu tố đồng nhất: võ lý, võ thuật, võ đức và võ đạo.
Đăng nhập để trả lời
0
Bác tieuboingoan!... Tui hỏi thăm về Source của topic này cho rõ ràng hơn một chút. Bác bảo trích từ:"Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc, đặc trưng võ cổ truyền Bình định"?!?... Vậy "tác phẩm" này của tác giả nào?... Nó có phải là ấn phẩm đã từng xuất bản? (năm xuất bản?)... Mong sớm nhận được phúc đáp của Bác...
Đăng nhập để trả lời
0

Tây Sơn, Bình Định là cái nôi của môn võ cổ truyền.
Tư liệu này tôi trích từ tài liệu số: 642/2004/9/14450/ ;
KHPL: BĐ.693 và các số tiếp theo của Thư viện Bình Định. Bạn muốn biết rõ hơn, có thể liên hệ với người phụ trách thư viên theo hộp thư: thuvienbinhdinh@dng.vnn.vn
Tôi nghĩ là họ sẽ sẵn lòng giải đáp mọi thắc mắc cho bạn. Chúc lành.
Tieuboingoan.



Đăng nhập để trả lời
0

Tập Ngũ Hành Chân (Cước pháp)

Khi tập luyện võ công, ta thường nghe: "Quyền ba, cước bảy". Từ đó, ta có thể nhận thấy rõ công dụng của "Ngũ Hành Chân". Xét về chiều dài, chân phải dài hơn tay. Do đó, phải luyện tập "Ngũ Hành Chân" cho thuần thục và công phu.

1. Ngọn Kim: (Tập đạp)

Đứng "Ngựa Kim Kê" hay "Bát Quái". Thủ quyền lên trước, co chân trước lên, gối cao hơn vế, mình nghiêng về phía sau, phóng chân đạp ra. Lực phát ra dồn ở gót chân. Đặt chân trước xuống đất, rút gối chân sau, xoay người đưa ra phía trước, nghiêng người, phóng chân đạp ra. Cứ thế ta tập liên hoàn. Hai tay thủ quyền, không dang ra.

2. Ngọn mộc:

Tập gạt chân từ trên xuống dưới. Đứng "Ngựa Kim Kê", đưa chân trước lên hơi xéo về phía trước bụng, dừng ở độ cao thích hợp, phát lực gạt chân xuống. Lựa phát ra, dồn ở gót chân và phải luyện đều hai chân.

3. Ngọn Thủy:

Tập đá trước, từ dưới lên. Đứng "Ngựa Kim Kê", gối chân sau rùn thấp, đá tước chân trước lên. Chấm chân trước xuống đất, dồn trọng lượng về chân trước, gối chân trước rùn xuống thấp, đá tước chân sau lên và cứ thế tập liên hoàn. Nên nhớ lực phát ra dồn ở hai gót chân, tay quyền thủ kín.

4. Ngọn Hỏa:

Tập rút chân về, tập bỏ chân tránh né. Đứng "Ngựa Kim Kê", rút gối thủ đòn, hoặc xê dịch chân tránh sang phải hoặc trái, hoặc triển chân, đưa người về phía sau, tay quyền thủ kín, tập đều hai bên.

5. Ngọn Thổ:

Tập đạp gót chân hay bàn chân xuống đất, hoặc găm gối xuống đất. Đứng "Ngựa Kim Kê", thủ quyền, chân trước rút gối cao hơn vế, phóng chân đạp xuống đất. Lực phát ra dồn ở gót chân hay cạnh bàn chân, tiếp đến tập chân sau và tập liên hoàn.

- Tập Di chuyển Ngựa: Di chuyển "ngựa" tức là tập cách hoán vị "ngựa" để thích nghi trong tập luyện và chiến đấu. Di chuyển "ngựa" có nhiều cách. Ở đây, ta tập một vài cách đơn giản.

1. Di chuyển theo Ngựa Biên (2 điểm)

Đứng "Ngựa Kim Kê" hay "Bát Quái". Thủ quyền chỉnh về phía trước. Khi tập, ta đưa bàn chân sau (B) đến vị trí bàn chân trước (A) và bàn chân trước (A) bỏ vào vị trí bàn chân sau (B). Cứ thế, ta tập liên tục và tập từ chậm đến nhanh dần lên.

2. Di chuyển theo Ngựa Tứ Bình: (4 điểm)

Đứng "Ngựa Kim Kê" hay "Bát Quái", chân trái trước, chân phải sau, bàn chân trái trước là điểm A, bàn chân phải sau là điểm B. Khi tập xê dịch, ta đưa B lên B' và A xuống A', và ngược lại A' lên A, và B' xuống B. Cứ thế ta tập đến khi thuần thục. Trong khi tập, tay quyền vẫn thủ.

3. Di chuyển theo Ngựa Ba Chân Hổ: (3 điểm)

Đứng "Ngựa Bát Quái" hay "Kim Kê", chân trái trước, chân phải sau, chân sau hơi xê qua bên mặt độ 5 cm, bàn chân trái là A, bàn chân phải là B. Khi tập di chuyển, ta đưa B lên C và A xuống B rồi ngược lại B lên A và C xuống B. Cứ thế, tập di chuyển cho thuần thục trên ba đỉnh của một đỉnh của một hình tam giác BCA rồi BAC.

Theo "Bước đầu nghiên cứu nguồn gốc, đặc trưng võ cổ truyền Bình Định"

Đăng nhập để trả lời
0