📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tuyển Tập TRUYỆN KINH DỊ - Nhiều tác giả 🔒

25 trả lời, 3.747 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-10-12 03:45:54HanAn>
CUỘC SO TÀI
(The Duel)
Tác giả: Joen Vatsek
Biên dịch: Kim Lương
  
Khi Janine ngừng nói, một đôi khi như lúc này, thì hình như cô cũng ngưng thở luôn, như thể để lắng nghe. Sự yên lặng lọt vào qua những bức tường của ngôi nhà cũ kỹ ở Virginia và tự nó nén chặt vào giữa những bức tường.
- Em có tin chắc rằng nơi này không quá cô quạnh đối với em không? Laurence lại hỏi nữa.
- Em rất thoải mái, thực sự là em rất thoải mái - Janine nói với một nụ cười thoáng qua. Chớ bận tâm nữa, mọi sự đều tốt đẹp. Hơn nữa - cô nói thêm một cách hợp lý - chúng ta đã phải tới nơi đây. Không còn chỗ nào khác để đi nữa, còn nơi nào đâu, khi mà chúng ta đã tiêu sạch mọi đồng tiền vì em? Em muốn nói là còn nơi nào nữa hở anh yêu quý?
- Không còn - Laurence đồng ý sau một lúc yên lặng ngắn. Nhưng anh đã quên là nó hiu quạnh đến thế nào. Nếu em nghĩ…
- Đẹp lắm. Đây là một ngôi nhà cổ tuyệt vời. Có lẽ em còn sẽ thử lại tay nghề hội họa của em nữa.
Cô quay lại nhìn qua cửa sổ, những cánh tay nhỏ nhắn của cô tì lên ngưỡng của. Ô. Đó là một cái cửa sổ cao, có hình tròn trông giống như cái lỗ cửa ở thành tàu. Từ cửa sổ nhìn ra,  chẳng có một thứ gì để thấy ngoài những cánh rừng trải dài ra liên tu bất tận lên các ngọn đồi về hướng Tây.
Sau một lát, miệng cô chúm lại, cô quay lại phía anh, mặt rạng rỡ.
- Anh sẽ có rất nhiều ý tưởng ở đây -  cô nói. Và em sẽ cố gắng để yên cho anh một mình khi anh viết lách. Thật vậy.
Cô thướt tha đi tới cái bàn của nhà bếp, nơi mà anh đang ngồi nghỉ. Trong khi anh tiếp tục mở các thùng đồ thì cô sửa soạn bữa ăn tối. Thức ăn được lấy ra từ các lon, hộp; nhưng cô dọn chúng trong những đồ sứ đẹp đẽ được đặt trên khăn trải bàn bằng gấm đa-mát trắng. Trước hết cô đã mở thùng đồ và lau rửa các chén đĩa bằng sứ, trong lúc Laurence lấy ra những khăn trải giường và những cái mền để làm giường và dọn dẹp bếp núc cho ngăn nắp đâu ra đó.
Họ bị vây quanh bởi những cái thùng chưa khui trong phòng ăn, nhưng các món ăn ngon đều rực rỡ với màu tùng lam và màu vàng, và Janine thỉnh thoảng lại liếc nhìn chúng, lòng hả hê. Lúc nào cô cũng mang theo bên mình cái vẻ xa hoa này. Đó là một phần của con người cô, một phần của cái tinh hoa đã làm cho cô trở thành người phụ nữ độc nhất vô nhị và duyên dáng.
Mắt cô đảo quanh căn phòng trần trụi, không trải thảm, và một cách ngần ngại tới những căn phòng phía bên kia, trong đó những đồ đạc gia dụng của họ sẽ để lại nhửng khoảng trống rỗng.
Cô tránh không nhìn vào khuôn cửa sổ vì bây giờ buổi hoàng hôn màu xanh đã rơi xuống thung lũng quạnh hiu.
Ngôi nhà là tất cả những gì còn lại của cái sản nghiệp lâu đời ở Virginia. Nó được để lại cho Laurence ởi cha anh, ông này đã bị phá sản từ một thế hệ trước đây trong cách thức trưởng giả xa hoa với việc nuôi ngựa thuần chủng. Những sào đất bao quanh ngôi nhà đã được bán đi từ lâu rồi. Ngôi nhà và những khu đất quanh nó đã không thể bán được vì nó quá khuất nẻo. Do đó bây giờ, sau khi đã xa cách nó từ thời niên thiếu, anh đã trở về.
Bị che phủ một nửa trong đám cỏ dài đằng sau ngôi nhà, người ta còn có thể nhìn thay những tàn tích của các chuồng ngựa và khu nhà của bọn nô lệ - những tảng đá nền nhà đổ xiêu vẹo và những cái hố bất ngờ.
Một con suối chảy qua mạn xa của cánh đồng, mà ta có thể băng qua trên một cái cầu ván tự tạo; và ở phía bờ bên kia của con suối là một nghĩa địa cổ xưa với những bia đá chìm sâu dưới đất một nửa và bị che lấp bởi cỏ dại. Ở bên kia những tấm mộ chí bị lãng quên, một khu rừng chằng chịt đã chiếm chỗ.
Trong cái yên lặng của buổi tối họ có thể nghe thấy tiếng róc rách của con suối lớn hơn là khi họ đang bận rộn khui các thùng đồ.
Trong một khoảng khắc, từ Janine, từ cái đầu nghiêng đi của cô và cái nhìn có vẻ lo lắng, mơ hồ của cô, Laurence nghe thấy những tiếng thầm thì có điềm bất tường của nước rì rào trên các tảng đá. Anh cũng cảm thấy sự sợ sệt lo lắng của cô về đám sương mù bốc lên từ con suối, điều mà anh đã quen thuộc từ thời thơ ấu, vốn là một phần của buổi tối mùa hè :
- Chúng ta sẽ rời khỏi nơi này ngay, khi mà chúng ta có được một ít tiền - anh hứa một cách dứt khoát vào giữa sự im lặng và sự nín thở của cô.
- Được lắm - Cô nói thầm thào.
Sau đó, trên cái giường đồ sộ, cô nằm run rẩy bên cạnh anh.
- Lạnh hả? Anh hỏi. Nằm sát nữa lại đây.
- Em vẫn khỏe mà - cô chối - chỉ buồn ngủ thôi. Ngủ ngon nhé, Laurence.
- Chúc ngủ ngọn, em cưng của anh.
Cô ngắm ánh trăng đang oai vệ đi vào với những cái bóng dữ tợn ngang qua căn phòng không có màn che và đổ xuống trên tấm khăn trải giường. Với một hơi thở hít vào hung bạo, cô lăn mình ra khỏi ánh trăng, quay về phía người chồng cô, với nỗi lo sợ dị đoan khi nhớ ra rằng ánh trăng không được chiếu lên giường ngủ của người ta.
- Em không thể ngủ được - cô nói thì thào một cách tuyệt vọng. Laurence ơi, hãy che cửa sổ lại, che cửa sổ lại. Hãy đuổi ánh trăng ra ngoài. Xin hãy đuổi ánh trăng ra ngoài.
Trong một khoảng khắc anh đã hoàn toàn thức tỉnh và đi ngang qua một nửa căn phòng. Anh máng cái áo dài của anh lên cái sào màn và nói với một giọng binh thường.
- Tốt hơn rồi chứ, Janine?
- Tốt hơn rồi - cô nói với vẻ thư giãn. Tốt hơn nhiều, nhiều lắm, anh yêu của em.
- Bây giờ em có thể ngủ được không? Em có cần dầu thơm không? Hoặc một thứ gì khác?
- Không, anh yêu mến - cô nói với một tiếng cười khẽ, khi mà cô lại được an toàn trong bóng tối. Hãy quay lại đây và để cho em lấy tay ôm choàng lấy anh, và cả hai chúng ta sẽ cùng bỏ mặc sự đời.
 
* * *
(Còn tiếp)
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-10-02 05:16:23HanAn>
CUỘC SO TÀI (2)

Vào ngày cuối tuần, các hành trang của họ đều được xếp đâu vào đó các đồ đạc được sắp đặt những bức màn được treo lên. Người hàng xóm gần nhất của họ là một nông dân ở cách xa một dặm đường. Laurence thuê một trong những đứa con trai của ông ta để cắt luống cỏ, và đứa con gái của ông ta tên là Trisa, một bé gái mười bảy tuổi, để tới hàng ngày làm công việc dọn dẹp và lau quét nhà cửa. Anh và Janine mỗi tuần lái xe tới thành phố để mua các tạp phẩm, và thư từ và sữa của họ thì được giao tới tận nhà.
Mọi việc đều được thu xếp thành công việc thông thường có thứ tự, và Laurence đã bắt đầu làm việc lại một cách đều đặn. Janine cũng giữ lời hứa của cô. Cô không còn kiếm cớ để làm đứt đoạn công việc của anh, cô mang bữa ăn trưa của anh tới trong một cái khay và để nó ở cửa phòng anh.
Một buổi xế chiều anh đi xuống nhà dưới. Trời đã mưa tầm tã suất cả ngày, anh đã ít khi trông thấy Janine. Anh thấy cô trong phòng khách, đang ngồi xếp chéo chân trên tấm thảm cũ của Đông phương phía trước lò sưởi.
Anh bất chợt giật nẩy mình lên khi trông thấy cô ở đó. Đã bao nhiêu lần khi còn là một cậu con trai nhỏ, chính anh cũng đã từng ngồi như thế trong khi mẹ anh đọc cho anh nghe truyện Robin Hood và những chàng hiệp sĩ của Vua Arthur, và một ngọn lửa nổ lép bép trong lò. Nhưng bây giờ thì không có lửa, chỉ có một ít tro nguội lạnh.
Janine không nghe thấy tiếng bước chân anh mà vẫn cứ mê mải vào một vật gì trên sàn nhà, trước mặt cô. Trong cái ánh sáng lờ mờ kỳ quái, hơn hao giờ hết trông cô giống như một bức họa của Divier. Cô không đẹp trong cái ý nghĩa thông thường của từ ngữ, cô chỉ có sức hấp dẫn và làm người ta không thể quên được thôi.
Anh bị bối rối khi thấy rõ là điều gì đã làm cô mê mải. Trên sàn nhà, cô đặt một cái bàn cờ gỗ khảm cũ kỹ vốn đã có ở trong nhà từ thời mà anh có thể nhớ lại. Cô đã lật ngửa nó lên và trên mặt sau bóng lộn cô để một cốc rượu bằng pha lê úp sấp xuống.
Hai đầu ngón tay của bàn tay phải cô đặt nhẹ nhàng lên cái đế cốc. Khi anh quan sát, cái cốc hình như trượt đi ngang qua mảnh ván do ý muốn riêng của chính nó, nó trượt đi theo những vòng cung chậm chạp, uốn éo, mang bàn tay của cô đi theo nó.
- Em đang làm gì thế, Janine? Anh hỏi.
Cô giật nảy mình, rú lên, đập một nhát vào hông cái cốc, làm nó lăn ra khỏi mảnh ván xuống sàn nhà.
- Không, không! - cô gào lên.
Anh đi vào trong phòng một cách thận trọng, như thể có một người nào đang ngủ ở đó.
- Anh làm em hoảng kinh- anh nói. Tha lỗi cho anh. Anh chỉ không thể tưởng tượng được là em đang làm gì thôi.
- Ồ! Cô nói, tự mình trấn tĩnh lại, hơi thở của cô còn hổn hển. Cô nhặt cái cốc lên và để nó lại chỗ cũ. Lúc này anh mới nhìn thấy là cô đã kẻ một cách cẩn thận bằng mực những chữ của vần a, b, c lên mặt sau của cái bàn cờ.
- Đã có khi nào anh nhận được các tín điệp bằng cách này chưa? Cô hỏi với sự hững hờ giả bộ. Mẹ và em thường làm việc đó hàng giờ đồng hồ, khi em còn là một cô gái, trước lúc mẹ chết.
- Những tín điệp của ai? Laurence hỏi, cố tình giữ vẻ hờ hững trong giọng nói của anh.
- Ồ, từ thế giới bên kia - Janine nói với anh, có vẻ ngạc nhiên là anh phải cần sự giải thích. Mẹ và em thường nói chuyện với cha bằng cách này, và ông đã mang tới đủ mọi thứ bạn bè kỳ quái. Mẹ nói đúng là giống hệt ông - khi ông còn tại thế - bao giờ ông cũng đưa về nhà những người kỳ dị nhất.
- Nhưng, Janine này… Laurence bắt đầu.
- Em giả tỉ - Janine nói thêm, trong khi nhìn anh chằm chằm - anh và bác sĩ sẽ nói rằng đó chính là cách mà mẹ dùng để trốn tránh sự thật.
Anh thoáng nghĩ tới bà mẹ Janine, một người hào hoa và đa cảm. Vốn được nuôi dưỡng một cách tao nhã, không được thừa hưởng một chút gì khi chồng bà bị chết đuối trong lúc đi thuyền trên sông Charles, bà đã mở một nhà trọ cho các sinh viên. Bằng cách nào đó, bà đã gửi Janine tới những trường học tốt nhất. Bà đã truyền vào cô con gái bà giấc mơ của chính bà cho một ngày khi với sắc đẹp và trí thông minh của cô, Janine sẽ thực hiện được sự thành công huy hoàng về một ngành chưa xác định rõ ràng - như là một ca sĩ chẳng hạn, hoặc một nữ diễn viên, hoặc một họa sĩ.
Bà đã chết trong mỏi mòn, nhưng mãn nguyện một cách thanh thản với công việc của bà, khoảng ít lâu trước khi Janine và Laurence thành hôn.
Lúc này Janine chăm chú nhìn anh với một chút thách thức trong nụ cười của cô.
- Hãy thử đi - cô nói. Đây là một ngôi nhà cổ tuyệt diệu. Nó đã được xây cất năm 1690 - hãy nghĩ tới những người đã sống và đã chết ở đây từ khi đó. Và một vài người trong bọn họ vẫn còn quanh quẩn ở đây. Em không biết tại sao một vài người còn ở lại và một vài người khác thì không, nhưng bao giờ thì cũng như thế. Hãy thử đi và coi xem có ai trong bọn họ sẽ nói chuyện với anh.
- Được lắm.
Anh nói và gượng gạo mỉm một nụ cười. Anh ngồi phịch xuống tấm thảm bên cạnh cô và nắm lấy bàn tay cô. Bàn tay nàng tuột khỏi tay anh, vì vậy anh cầm mảnh ván gỗ lên và đặt nó trước mặt anh.
- Chỉ để hai ngón tay lên cái cốc thôi - cô giải thích. Hãy thư giãn và chờ đợi, khi cái cốc di chuyển, hãy để cho nó mang bàn tay anh đi với nó.
Anh làm như thế, đã chuẩn bị sẵn sàng khi không có điều gì xảy ra thì sẽ mỉm cười và đề nghị một bữa ăn tối sớm hơn và đi xem chiếu bóng. Nhưng khi anh chờ đợi với các ngón tay đặt nhè nhẹ lên trên cái cốc pha lê, thì hình như sự tĩnh mịch siêu nhiên mà anh đã cảm thấy khi anh nhìn Janine đang tập hợp lại.
Cái cốc bắt đầu di chuyển. Anh không cảm thấy một sự cố gắng về cơ bắp có chủ ý nào, nhưng cái cốc trượt đi trong một vòng cung đều đặn ngang qua mảnh ván gỗ tới chữ N, nó ngừng lại, rồi trượt mau lới chữ O. Từ chỗ đó nó quanh trở lại một cách còn nhanh hơn nữa tới chữ N, rồi chữ O một lần nữa. Tới chư N, tới chữ O. Rồi với một cái giật mạnh thình lình, cái cốc lôi bàn tay anh đi thẳng băng qua miếng ván gỗ và bật ra ngoài rìa.
- “Không, không, không” - Janine đọc lên. Em đoán rằng ông ấy không muốn nói chuyện với anh, anh yêu mến ạ.
Với một cố gắng giữ bình tĩnh, Laurence lấy ra một điếu thuốc lá và châm lửa.
- Ai không muốn nói chuyện với anh hả Janine?
- Roderick Jamieson - cô nói. Thiếu tá Roderick Jamieson. Đã có một thời ông sống ở đây. Vừa lúc em đang nói chuyện với ông ấy thì anh bước vào. Ông ấy bị giết chết trong cuộc Cách mạng, ông ấy nói với em, ở trận chiến Yorktown. Ông ấy được chôn cất trong cái nghĩa trang nhỏ ở đằng sau. Ngày mai em sẽ đi tìm mộ bia của ông ấy.
Laurence nín thở. Anh đã để cỏ mọc dài trong cái nghĩa địa nhỏ bé, và đã không nói với Janine là ngôi mộ ở đó.
Nhưng hẳn là cô đã tìm thấy nó và đã cạo sạch rêu trên phiến đá hoa cương có mang tên Roderick Jamieson trên đó, mặc dù không có người nào trong gia đình đã bao giờ biết chắc Roderick Jamieson là ai.
- Anh biết - Laurence nói trong khi cảm thấy một sức nặng đang đè lên hai vai anh. Dĩ nhiên là em biết, Janine ạ.  
Anh nói - một cách thận trọng như thể nói với một đứa trẻ con.
- Cái cốc được di chuyển bởi những cử động cơ bắp vô thức của chính em. Và bất kỳ một tín điệp nào nó có thể đọc ra đều xuất phát từ bên trong tâm hồn em.
- Cũng có thể - Janine nói. Nhưng nó không làm cho cái tín điệp kém phần hiện thực một chút nào, anh yêu quí ạ. Vì ai đã đặt nó vào đó? Hãy trả lời em việc đó.
Bỗng nhiên bộ điệu của cô thay đổi hẳn.
- Chớ bận tâm, anh yêu quí ạ. Em không có việc gì để làm và Thiếu tá Jamieson thích vui đùa, tất cả có thế thôi. Ông ấy đã quá huênh hoang về các thành tích của ông ấy. Theo lời ông thì ông đã đánh nhiều trận đấu kiếm và ăn nằm với rất nhiều đàn bà!
Cô khúc khích cười một cách khích động.
- Không ai có thể tin được tất cả những câu chuyện của ông ấy. Nó đã làm ông ấy phát điên lên khi em nói với ông ấy là ông ấy đã bịa ra các câu chuyện đó. Có lần ông ấy đã ném cái cốc băng qua căn phòng.
Trước sự kinh ngạc của anh, cô ngả vào vòng tay của anh, tựa vào ngực anh. Cả hai người bọn họ đều có thể nghe thấy tiếng đập của trái tim anh.
- Anh yêu em - anh nói một cách khẩn trương, trong khi vuốt ve lưng cô.  
- Em biết.
Cô quay lại phía anh và ngẩng mặt lên để nhận một cái hôn. Cặp môi cô ấm áp và mời mọc. Hình như đã không có sự chuyển tiếp cần thiết đối với cô. Cô có thể sống cùng một lúc trong thế giới thực tại và thế giới ảo huyền. Anh ôm cô trong vòng tay và giữ lấy cô một cách hung hãn, lần đầu tiên trong nhiều tháng nay cảm thấy sự gần gũi của cô.
- Anh không tưởng tượng được là điều này làm ông ấy tức giận như thế nào - cô nói thầm thào.
 
* * *
(còn tiếp)
0
Cuộc So Tài (3)
 
Đêm hôm đó anh nằm thao thức sau khi Janine đã ngủ lăn ra và thở đều hòa, hơi thở của cô êm dịu và ấm áp trên má anh.
Anh moi trong óc để kiếm một thứ gì làm cho cô ham thích, để kéo cô ra khỏi cái trò chơi với tấm ván và cái cốc này, và kẻ địch thủ trong tưởng tượng. Và với sự đau khổ anh nhớ lại niềm hạnh phúc của bốn năm đầu tiên sống chung của họ, khi mà anh và Janine ở trong một căn hộ tí hon nhìn xuống Quảng trường Washington, và anh đã viết hai cuốn sách, cả hai đều rất thành công.
Janine đã rất kiên cường và vui vẻ về nghề nghiệp của riêng cô, đi quanh khắp các văn phòng của các nhà đạo diễn sân khấu ở Broadway, mang theo quyển tập dán các bài báo ca ngợi các buổi trình diễn của cô trong các tiết mục mùa hè... rồi tới những năm nghiên cứu nghệ thuật một cách khốn khổ... thời kỳ thực tập ngắn ngủi viết các bản sao trong một hãng quảng cáo... tình cảm nồng nhiệt thoảng qua với thơ ca tiền phong, và tập thơ mỏng không bao giờ được xuất bản.
Rồi sự chán ghét New York của cô, sự khao khát đồng quê và cảnh quạnh hiu của cô. Họ đã chuyển tới New Hampshire theo ý muốn của cô, để cô có thể vẽ một cáchthật sự. Về phần Laurence, thì anh có thể viết ở bất cứ nơi nào.
Trong ngôi nhà cũ, duyên dáng từ thời thuộc địa, nhìn xuống đại dương, Janine đã sản xuất được nửa tá bức họa phong cảnh có giá trị. Sau những sự ngần ngại liên miền bất tận, cô đã đưa chúng vào một cuộc triển lãm mỹ thuật ở địa phương. Khi không một bức nào nhận được ngay cả một bằng khen danh dự, với một sự bẽ bàng không cần che đậy cô đã xếp vào một xó những hộp sơn và những tấm vải toan để vẽ của cô.
Rồi trong suốt mùa đông dài lê thê ở New England, lần thứ nhất của những cơn lãnh đạm, ngẩn ngơ đã xảy ra khiến cho họ phải đi tới hết bác sĩ chuyên khoa này tới bác sĩ chuyên khoa nọ ở Boston, New York, Washington...
Và bây giờ thì liền bạc của họ đã hết rồi, họ đang ở đây. Laurence cố gắng làm cho Janine tới thăm viếng mọi người. Cô từ chối không chịu đi. Họ đã lái xe ba mươi dặm đường đi xem chiếu bóng mỗi tuần hai lần, cho tới lúc cô ngại ngùng và nài nỉ anh hãy đi một mình.
Cô đoan chắc với anh rằng cô vui vẻ. Như để chứng tỏ điều này, cuối cùng cô đã khui những hộp sơn và vải toan để vẽ của cô ra và bắt đầu một bức phác họa linh tinh nào đó. Anh trông đợi là cô sẽ vứt bỏ chúng bất kỳ lúc nào, nhưng cô đã không vứt bỏ chúng. Trái lại, cô đã bất thần trở nên mê mải trong việc hội họa của cô. Cô bắt đầu công việc trên một tấm vải tuồn mà cô sẽ không cho anh xem, mà cô bắt anh phải hứa là sẽ không nhìn cho tới khi nó được hoàn tất.
Vui vẻ khi thấy cô bận rộn, mặc dù anh biết rằng cô vẫn còn sử dụng mảnh ván và cái cốc thường ngày, anh quay về làm việc. Anh quyết định đối phó một cách nhẹ nhàng với sự bận tâm của cô với các tín điệp, cho tới khi cô chán nó. Ngay cả thỉnh thoảng anh còn hỏi về Roderick Jamieson với điệu bộ đùa cợt.
Nhưng Janine không để ý tới sự đùa cợt, và đã trả lời một cách tự nhiên như thể Roderick Jamieson là một người có thật.
Một ngày Chủ nhật, khi Janine đang rửa những bát đĩa xinh đẹp bằng sứ sau bữa ăn tối - một công việc không bao giờ cô để cho Trisa làm - Laurence nói một cách hững hờ rằng anh sẽ đi tản bộ một lúc, và anh đi thẳng tới cái cầu nhỏ và nghĩa địa ở mạn bên kia. Anh thấy tấm bia ngay ở bờ rìa nghĩa địa, nơi mà anh nhớ là có nó ở đấy. Đám cỏ dài bên cạnh tấm bia đã bị dẫm nát. Hẳn là Janine đã tới đây nhưng rêu trên mộ bia lúc này làm cho tên tuổi hoàn toàn không thể đọc được. Bằng cách nào mà cô có thể biết được? Để tự làm vừa lòng mình, anh cạo bớt rêu đi để thấy rõ chữ Jamie...
Ngày Thứ hai anh một mình lái xe đi mười lăm dặm tới thành phố để mua các tạp phẩm.
- Trisa này, hãy ở lại đây cho tới khi tôi trở về - Anh nói với cô thôn nữ có cặp mắt to đen láy lúc nào cũng buồn ngủ, ở trong bếp. Nếu cô chủ muốn cho cháu về nhà thì hãy kiếm cớ để ở lại đây. Tôi sẽ trả gấp đôi tiền cho cháu khi tôi trở về.
Tới thành phố anh dừng lại ở Hiệp hội Lịch sử địa phương, một căn phòng mốc meo, nơi có một phụ nữ đứng tuổi, vui vẻ giữ các hồ sơ của thành phố và vùng phụ cận, trở ngược lên tới những ngày tiền Cách mạng.
Sau khi nhìn quanh với một sự bối rối vui thích, vì ít khi có ai tới đây, người quản thủ văn khố đã tìm ra một tiểu sử sơ lược được cắt ra từ một quyển lý lịch cũ kỹ nào đó và được dán vào một tập album cùng với những bài báo đã ngả màu vàng khác.
- Thiếu tá Roderick Jamieson - bà nói. Tôi biết là tôi đã nhớ ra cái tên này, ông ta đã tới từ một vùng quanh đây. Một tay đấu kiếm trứ danh, trong này nói thế, bị chết trận ở Yorktown. Được Lafrayette gắn huy chương.
Vậy là Roderick Jamieson đã thật sự hiện hữu, nhưng làm thế nào mà Janine lại biết rõ là ông ta đã được mai táng ở phía sau ngôi nhà, khi mà đám rêu trên tấm mộ bia không bị đụng chạm tới? Và chắc chắn là chưa bao giờ cô tới thăm Hiệp hội Lịch sử - không bao giờ cô tới thành phố một mình.
Chỉ còn có một khả năng khác. Trong những sách báo cũ trên gác xép, Laurence đoán chắc vậy, hẳn cô đã tìm thấy một vài cuốn sổ có nói tới Roderick Jamieson. Chính anh thì chưa bao giờ anh gặp một chứng liệu như vậy; nhưng lúc đó đã nhiều năm trôi qua từ khi anh lớn lên ở đó và không bao giờ anh lục lọi một cách rất kỹ lưỡng vào những tờ báo và những lá thư cũ nát, đầy bụi đã có ở đó có lẽ từ hai trăm năm nay.
Nhưng anh gác việc kiểm tra trong gác xếp lại trong khi tự mình không nhìn nhận rằng anh sợ sẽ không tìm ra hồ sơ của Jamieson ở đó.
- Anh yêu quí ạ. Roderick trở nên ghen tị một cách quái dị với anh.
Một buổi chiều Janine nói khi cô đu đưa một cách nhàn nhã trên cái võng. Laurence đem ra một ít nước chanh có pha hương vị bạc hà mà anh đã tìm thấy trong một khoảng đất bỏ hoang.
- Hừm - anh nói. Mới nhận được thư của người đại lý của anh hôm nay. Ông ấy thích quyển sách mới, nhưng ông ấy muốn rằng anh phải viết thêm nữa vào đó.
- Thật là bực mình.
- Có nghĩa là chúng ta phải ở yên tại đây trong lúc này?
- Ồ, thế à. Em không muốn rời khỏi nơi này.
- Em không muốn à? Anh hỏi một cách khó chịu.
- Không. Nó tuyệt vời, một cách đơn giản chỉ vì ta có thì giờ rảnh rỗi. Đã từ lâu chưa bao giờ em biết được một chỗ nào giống như nơi này. Em có thể mãi mãi bỏ mặc sự đời.
- Kẻ thích nhàn hạ- anh mỉm cười, lòng nhẹ nhõm.
Cô nhìn lại anh một cái nhìn chứa đầy u sầu bí ẩn.
- Phải - cô nói. Em không còn tranh đấu chống lại số mạng nữa đâu. Em là người đàn bà vô công rồi nghề và vô dụng.
- Janine, em không có vẻ gì là thứ người như thế.
- Nhưng em là thứ người đó - Cô bắt đầu làm cái võng đu đưa bằng cách đan những ngón tay cô vào các mắt võng. Những ngón tay cô thì cứng mạnh, cứng như xương. Những cái móng tay dài và trang nhã. Lúc nào cô cũng chải chuốt một cách không chê trách được. Cô ngồi hàng nhiều giờ đồng hồ trước cái bàn trang điểm nhỏ trong buồng rửa mặt mà anh đã lắp đặt cho cô.
- Lẽ ra anh đã phải nói với em từ nhiều năm trước rồi - Cô nói một cách gần như trách móc. Roderick nói rằng một người đàn bà không cần phải hữu dụng, ít nhất là một người đàn bà giống như em. Ông ấy nói nhiệm vụ duy nhất của người đàn bà là để làm đẹp.
- Ông ấy nói vây hả? Laurence đã không đùa cợt một chút nào. Ông ấy còn nói gì nữa? Anh tìm cách hiểu rõ vai trò mới mà cô đang đóng.
- Ồ, ông ấy nói liên tu bất tận về bản thân ông ấy, như em đã nói với anh, ông ấy nói với em về những trận đấu kiếm của ông ấy và về những cuộc tình ái của ông ấy. Em trách cứ ông ấy về việc chỉ có những cuộc tình vì ông ấy có hứng thú muốn loại trừ những người chồng, ông ấy không chối cãi điều này.
- Ông ấy đã sử dụng kiếm hay súng lục? Laurence hỏi, trong khi nhìn thật sát vào mặt cô mà làm ra vẻ như không nhìn vậy.
Cô ngần ngừ.
- Ông ấy nói mơ hồ về điều này. Ông ấy không nói rõ là ông ấy sử dụng loại võ khí nào. Có một lần ông ấy giận dữ và đã không nói chuyện với em trong nhiều ngày, khi em nói rằng không phải lúc nào ông ấy cũng là một người quân tử trong những cuộc so tài này. Khi ông ấy hết cáu giận rồi, ông ấy cho em biết là ông ấy đã nổi tiếng thần kỳ với những khẩu súng lục của ông ấy, và ông ấy đã một mình giết chết sáu người trước khi ông ấy bị tử trận ở Yorktown. Ông ấy mới có hai mươi bảy tuổi, và đôi khi ông ấy có vẻ như còn trẻ hơn thế nhiều - còn trẻ hơn anh nhiều đó, anh yêu quí ạ.
- Sáu người cơ à? Tất cả đều là những người chồng à?
Anh hỏi một cách khô khan. Đây là một luận điệu quen thuộc của Janine - chỉ khác là một tính chất mới thôi. Thật tình cô không thích những người chồng, hoặc thích làm một người vợ chủ yếu là cô muốn một tình trạng lúc nào cũng căng thẳng một cách lãng mạn, và kéo dài tới vô cùng lận.
- Ba hoặc bốn người là những người chồng - cô nói một cách thờ ơ. Nhưng khi em hỏi ông ấy sau đó những bà vợ ra làm sao - có lẽ tất cả đều được tự do kết hôn với ông ấy? -  ông ấy đánh trống lảng bằng cách tán tụng em về cặp lông mày, hoặc một điều gì cũng ngớ ngẩn như thế.
- Tại sao? Em có cặp lông mày rất đẹp - Laurence nói. Anh cho rằng ông ấy đã yêu em, phải không?
- Ồ yêu một cách điên cuồng. Ông ấy đã bỏ ra rất nhiều thì giờ để suy nghĩ về việc làm cách nào ông ấy có thể thực hiện một cuộc so tài với anh. Thật là một sự thất vọng lớn cho ông ấy khi không thể thách đấu trước mặt anh.-
- Ông ấy có thể ném cái cốc - Laurence nói.
- Điều đó không tệ đâu, anh yêu quí ạ - cô nói, làm như cô đã không trông đợi nhiều sự khôn ngoan ở anh. Em sẽ đưa ra ý kiến này. Anh có muốn nhìn xem ông ta ra sao không?
- Nhìn xem ông ta ra sao ư? Anh thoáng giật mình.
Cô nắm lấy tay anh và dẫn anh vào phòng khách. Trên một cái giá vẽ ở bên cửa sổ là một tấm vải tuồn mà không bao giờ cô để anh nhìn thấy. Bây giờ, khi cô kéo tấm vải che ra và quay bức hình lại phía anh với một nụ cười của một đứa trẻ tinh quái, thì anh đã hiểu.
Đó là cái đầu và hai vai của một người trẻ tuổi. Mái tóc vàng của chàng ta thì dài, và nó cuộn xuống trên hai tai và rủ xuống tới cổ áo chàng. Mặt chàng thì mỏng và ra vẻ quí tộc, môi chàng mím lại trong một nụ cười nhẹ nhàng, một nụ cười có thể là thích thú, ngoại trừ cặp mắt của chàng.
Cặp mắt chàng là một màu xanh đậm, gần như màu đen vậy. Chúng có vẻ như bắt lấy và giữ chặt cái nhìn của Laurence, làm như chàng ta đang ra một mệnh lệnh nào đó. Có những chiều sâu ở cặp mắt được vẽ ra này, những chiều sâu của sự tối tăm, và khi Laurence nhìn vào cặp mắt đó, anh thấy rằng Janine đã không vẽ Roderick Jamieson mỉm cười.
Chắc chắn đây là một việc tốt nhất mà cô đã làm từ trước đến nay.
- Thật là tuyệt vời - Laurence kêu lên. Rồi cố làm ra vẻ không quan tâm tới. Thế đây là Thiếu tá Roderick Jamieson à?
- Ông ấy nói đó là một bức hình toàn hảo - tiếng cười bi bô trên môi Janine - ngoại trừ việc nó không làm cho ông ấy đẹp trai hơn. Em nói với ông ấy rằng tính kiêu căng không thể chịu được của ông ấy đã bắt đầu làm em bực bội.
- Em phải thử một loại dầu khác - Laurence nói trong khi chọn lựa những từ ngữ để nói. Thật sự bức hình này rất đẹp.
- Có lẽ em sẽ thử một loại dầu khác. Với một cách đột  ngột, cô đậy bức họa lại. Giọng nói của cô điềm nhiên và hờ hững - Thật là buồn cười.
Tối hôm đó, sau khi Janine đã ngủ rồi, cuối cùng thì Laurence viết cho vị bác sĩ ở Washington, người đã điều trị cho cô.
Ở chốn hẻo lánh này, bệnh tâm thần của Janine đã chuyển sang một đổi mới. Cô để trọn thì giờ để mơ mộng. Cô đã có những cuộc trò chuuyện tưởng tượng qua một bàn cầu cơ tự làm lấy. Cô có vẻ mạnh khỏe.
Ngòi bút của anh xuyên qua tờ giấy, đâm xuống tới tờ giấy thấm màu xanh ở bên dưới. Anh đốt bức thư trên bếp lò.
 
* * *
(còn tiếp)
0
Cuộc So Tài (4)
 
- Roderick nói rằng em phải rời xa anh - Janine nói lúc ăn điểm tâm, trong khi ngáp dài và mỉm cười với anh. Ông ấy nói là anh không hiểu được em, ông ấy nói là anh không tin tưởng một câu nào ở những điều mà em nói với anh về ông ấy, và anh nghĩ rằng em sắp điên khùng. Anh có nghĩ thế không?
Laurence đặt hết sự chú tâm vào việc quậy cốc cà phê, không tin vào sự biểu lộ của mắt anh. Hai bàn tay anh run rẩy. Phải chăng Janine đã nhìn thấy anh vật lộn với bức thư, đã nhìn thấy anh đốt nó đi, đã đoán ra nội dụng của nó?
- Ông ấy nói vậy hả? Ông ấy còn nói gì khác nữa không?
- Ồ, chớ để ý đến ông ấy. Ông ấy luôn luôn bịa ra chuyện - cô nhún vai.
Cô đứng dậy và hôn anh. Suốt thời gian còn lại trong ngày cô tỏ ra hớn hở, vui vẻ, dí dỏm và cô khước từ không để bị kéo trở lại với Roderick Jamieson.
Đêm hôm đó, Laurence thức giấc và thấy là cô đã lén đi xuống dưới nhà. Anh ra khỏi giường và rón rén đi xuống cầu thang tới phòng khách. Ở đó anh dừng lại trong ô cửa, đứng lùi lại và ẩn mình trong bóng tối.
Janine đã đốt một ngọn lửa với một mảnh giấy và vài thanh củi nhóm lửa. Đó là ánh sáng duy nhất trong căn phòng. Cô đang cười và nói một mình, và cái cốc thì nằm yên gần mảnh ván.
Anh không thể nhận ra một tiếng nào trong những lời cô đang nói, vì cô nói với một giọng quá nhỏ khiến nghe giống như một người nào khác đang nói. Tiếng rì rầm yếu ớt có thể là tiếng gió thổi. Nhưng anh có thể nhìn thấy môi cô mấp máy và mắt cô long lanh với một sự hào hứng mà đã lâu rồi, từ rất lâu rồi cô không bộc lộ. Khác hẳn với sự tươi vui giả bộ trong suốt cả ngày của cô, đây là sự vui vẻ đích thật.
Cô mặc một cái áo ngủ trong mờ và một cái áo dài tương ứng rộng thùng thình. Cái áo này có những tay áo lớn chèn ở cổ tay và nó được khép lại ở cổ với một dải băng màu xanh. Có một lần cô nắm giữ lấy cổ họng cô với một vẻ bối rối, làm như có một người nào ở bên cạnh cô với tay tới để cởi nó ra.
Rồi cô nói một điều gì một cách đùa cợt, đầu cô lắc từ bên này sang bên kia theo kiểu từ chối.
Laurence có tiên cảm là cô sắp đứng dậy và quay trở về, vì vậy anh len lén đi về giường, tim anh đập thình thịch, và đầu anh nhức không thể chịu được.
Chốt lát sau đó Janine cũng trở về phòng, tất cả sự suy nhược ủ ê của cô đều trở lại. Khi cô nằm bên cạnh anh, anh có thể cảm thấy sự kiệt quệ của cô.
Bất kể đó là cái gì, nó cũng không phải là một sự diễn kịch. Nó đã lấy đi của cô rất nhiều.
Sau đó, trong giấc ngủ cô nói: “Chạy đi! Chạy đi! Chạy đi!”. Cô nói thầm thào. Rồi cô thốt ra một tiếng rên rỉ nhỏ, và đầu cô ngả về một phía trên chiếc gối.
Sáng hôm sau, Laurence viết thư cho ông bác sĩ, kể cho ông nghe toàn bộ câu chuyện, và không giao bức thư cho Trisa, anh tự mình đi gửi bức thư qua bưu điện.
Ông bác sĩ viết thư bảo đưa ngay Janine tới để điều trị thêm. Ông nhắc nhở Laurence một cách nghiêm khắc rằng ông đã không muốn để cho Janine đi, ông đã không nghĩ cô ấy đã khỏi bệnh. Laurence đã cầu khẩn một cách tuyệt vọng những lời khuyên bảo. Ông bác sĩ đã không cho một lời khuyên nào, ông chỉ nói là hãy tới Washington ngay tức thì.
Laurence bỏ mất một giờ đồng hồ để nhìn chăm chăm vào quyển sổ ngân hàng của anh. Anh đã khỏi cần mở nó ra để đọc những con số.
Anh nhìn ra ngoài cửa sổ thấy Janine. Xung quanh ngôi nhà là một tấm thảm cỏ mịn màng, nhưng bao giờ cô cũng thích đi trong đám cỏ dài kêu xào xạc ở phía bên kia con suối. Có đôi khi cô đã mất dạng hàng nhiều giờ đồng hồ trong rừng cây. Phải chăng cô đã gặp Roderlck Jamieson ở đó?
Anh giật mình, nắm tay anh nắm chặt lai. Phải chăng sự xuẩn ngốc của cô đã lây truyền cả sang anh nữa? Nhưng đúng là cô đã hành động như thể cô có một tình nhân.
Chưa bao giờ anh đã thấy cô duyên dáng như thế. Hình như một sự sung mãn trong nội tâm đã chiếm ngự toàn thể người cô. Cô không còn bị giày vò như trước đây bởi những câu tự vấn lương tâm, tự cáo buộc mình, và những tham vọng non yếu sớm bị xua tan chỉ để lại cho cô sự ủ ê và thất bại.
Bây giờ thì cô đi một cách kiêu hãnh, gần như cao ngạo, và không còn một chút nào của những dáng điệu nhút nhát và những cai giật mình, và những lúc khựng lại là những thứ đã biểu hiện căn bệnh trước đây của cô.
Anh lấy bức thư của ông bác sĩ ra để trả lời, nhưng anh lại gạt nó ra một cách vô vọng, và bắt đầu làm việc, bỏ ra  ngoài tâm trí anh cái mùa hè đầy sức cám dỗ ở Virginia, cái nền trời màu xanh nóng bức, cái hương thơm của cây kim ngân, và người vợ của anh đang đi giữa các bờ bụi.
Anh đã làm việc suốt cả buổi chiều và mệt lử khi ngồi vào bữa ăn tối mà Janine dọn ra dưới ánh sáng của những ngọn nến, trên các bát dĩa bằng sứ mỏng manh, như là trong mộng mị.
Laurence giật nẩy mình khi trông thấy cô đang uống từ cái cốc pha lê mà cô đã dùng để cầu cơ, và bàn tay cô gần như lúc nào cũng khư khư quấn chặt quanh cái chân cốc. Cô ăn rất ít, nhưng uống rượu kề cà, cặp môi cô mơn man một cách âu yếm vào miệng cái cốc.
Sau một ngày làm việc tận lực, cốc rượu nho đã làm cho Laurence buồn ngủ. Anh nhìn Janine qua cặp mắt nửa nhắm, nửa mở.
Cô mang lên những quả đào có đóng nhãn hiệu đặt trong những cái tô bằng pha lê màu hồng, mọi dáng điệu của cô đều cảnh vẻ và thanh thản, làm như thể cô đang phục vụ một tình nhân, nhưng anh biết rằng anh không phải là người mà cô đang nghĩ tới.
Khi họ đi nằm, mưa bắt đầu rơi với tiếng lộp độp của kim loại trên những ống máng bằng đồng của mái nhà, và một tiếng rì rầm êm nhẹ trên các ô cửa sổ. Tiếng sấm gầm ghì trên trời và chớp lóe lên mỗi lúc một tới gần hơn.
Janine đã lăn ra ngủ một cách nhanh chóng và thảnh thơi, nhưng anh thì quá âu lo. Giấc ngủ sẽ không tới được. Anh nằm  trằn trọc, anh châm những điếu thuốc lá và dụi chúng đi. Anh nằm và nhìn chằm chằm vào khoảng tối tăm đôi khi được rọi sáng bởi ánh phản quang của tia chớp, và nghe thấy cơn bão tố tiến tới gần hơn.
Cánh cửa chớp bắt đầu đập mạnh khi gió nổi lên. Anh bực bội đứng dậy để cột chặt nó lại. Khi anh đã đóng lại cái cửa sổ và trở lại giường thì anh trông thấy Janine đang đứng đối mặt với anh.
Anh đã không cử động hay nói năng gì, người anh lạnh toát như băng vì sắc diện của cô. Cô có vẻ như đang nhìn thẳng vào anh với một sự hận thù hiểm độc.
Sau một thoáng nhanh như điện, cô quay đi và đi xuống nhà dưới trong bóng tối tăm. Anh nhìn quanh để kiếm một cái đèn pin, nhưng không thấy cái nào cả, và anh lo sợ phải chờ đợi, đành lần mò bước theo cô.
Cô đã không quay đầu lại, ngay cả lúc anh bước một cách khó khăn trên hai cái cầu thang cọt kẹt, cái này sau cái nọ. Lúc đó anh tin chắc là cô đang đi trong giấc ngủ.
Cửa trước được mở ngỏ. Anh đi theo cô ra ngoài, mình run lẩy bẩy trong trận mưa lớn như roi quất vào người. Phía trước anh, Janine có vẻ như không có một chút cảm xúc nào, mái tóc và chiếc áo choàng trong mờ của cô bay lại đằng sau trong cơn gió khi tia chớp chập chờn làm hiện rõ người cô.
Laurence nghĩ tới những cái hố và những tâm đá tảng còn sót lại của khu nhà cũ của bọn nô lệ và những chuồng ngựa mà cô đang đi tới. Bất kể sự chấn động có lớn thế nào đi nữa, anh cũng phải làm cho cô thức tỉnh.
- Janine! Anh kêu lớn. Tiếng của anh hòa lẫn với tiếng gió ai oán. Janine!
Cô nghe thấy tên cô, dừng lại giữa chừng cuộc truy đuổi, và chắc hẳn cô đã nhận thấy sự chuyển động của cái hình dáng hối hả của anh đúng vào lúc mà anh chỉ có thể trông thấy cái ảo choàng trắng đáng chập chờn lảng ra.
- Hãy đợi đó! Anh gọi một cách oai nghiêm.
- Ông chậm quá, Roderick ạ! Cô gọi lại. Rồi cô thốt ra một chuỗi cười khích động và chiến thắng. Hãy bắt tôi đi - Cô nói lớn, giọng nói đỏm dáng, lẳng lơ.
Vọt đi xa khỏi anh, cô bắt đầu chạy.
- Chạy đi, chạy đi, chạy đi - cô gọi.
Anh nhớ lại những lời nói có tính cách ép buộc trong giấc mơ của cô.
Anh chạy, nhưng cô chạy đi một cách nhẹ nhàng phía trước anh, vòng qua những cái hố nguy hiểm với một tốc độ của những bước chân vững vàng kỳ diệu. Cô băng qua các cánh đồng và Laurence đuổi theo, bụng đã biết chắc nơi cô sắp đến. Cô chạy nhanh qua cây cầu nhỏ, có lẽ cô đang nhớ lại một cách mơ hồ về câu chuyện nói rằng các hồn ma không thể đi qua một con suối.
Khi đã yên ổn ở phía bờ bên kia rồi, cô cười lớn một cách khoái trá. Bây giờ không còn một vật gì giữa cô và những cụm rừng cây chằng chịt, trong đó cô có thể lẩn trốn anh suốt cả đêm. Anh đã thấm mưa thấu xương, và hẳn cô cũng bị ướt sũng như vậy. Cô sẽ mắc chứng viêm phổi.
- Janine! - anh gọi một cách tuyệt vọng. Đợi anh với!-
- Quá chậm chạp, quá chậm chạp! - Cô gọi lại. Nhưng rồi cô ngưng nghỉ một chốc lát. Chớp lóe lên ngang qua bầu trời. Trong ánh sáng trắng chói lọi, anh trông thấy Janine đang nhìn về phía anh, cặp môi cô hé ra, mắt cô mở lớn với một vẻ giống như cô đã bắt đầu nhận ra anh, mái tóc và cái áo choàng mỏng dính bết vào người cô vì nước mưa.
Laurence chạy qua những tấm ván trong ba bước như bay. Anh phải tới chỗ cô trước khi cô bắt đầu chạy nữa. Anh phải - anh vươn tay ra, về phía cô và rồi thì hình như có một bàn tay quỉ quái nào đã nắm lấy cổ chân anh một cách xảo trá. Anh cảm thấy chính người anh cũng đang bay trên không, làm như thể thân mình anh bị nhấc bổng lên, và khi anh lao đầu về phía trước, anh có thể trông thấy tấm đá hoa cương bị chìm sâu và nghiêng đi trong đám cỏ dài. Nhờ có tia chớp lóe lên anh có thể nhìn thấy cả những chữ mà đám rêu trên đó đã bị anh nạo sạch:
JAMIE...
Rồi trán anh đập xuống với hết sức mạnh lên cạnh của tảng đá hoa cương.
Khi Trisa, cô con gái làm mướn, tới vào buổi sáng hôm sau, thì cô thấy Janine ngồi co ro trên nền nhà phòng khách trong cái áo ngủ còn ướt đẫm của cô, đang than khóc với Laurence. Cái xác chết mà bằng cách nào đó cô đã lôi được vào trong nhà, và cái đầu đẫm máu của anh được ôm ấp trong lòng cô.  Trong lò sưởi nguội lạnh là một cái bàn cờ bị đốt cháy một nửa và những mảnh của một cái cốc vỡ nằm trong lò.
Janine nhìn lên một cách chậm chạp khi Trisa bước vào.
- Anh ấy đã không yêu tôi - Cô nói với một giọng khản đặc khiến cho Trisa khó có thể hiểu được cô muốn nói gì. 'Không bao giờ anh ấy lo cho tôi một chút nào. Không bao giờ anh ấy lo cho bất cứ một người đàn bà nào. Anh ấy chỉ muốn chém giết, muốn chém giết!
Đó là câu nói có mạch lạc cuối cùng mà cô đã nói.
 
HẾT

0
KINH HOÀNG
(Terrified)
Tác giả: C.B. Gilford
Người dịch: Kim Lương
 
 
Kinh Hoàng (1)
 
Ngày làm việc của Paul Santin đã trôi qua một cách tốt đẹp. Việc làm ăn của các y sĩ và các dược sĩ trong tỉnh rất phát đạt, và việc làm ăn của Paul Santin cũng phát đạt theo. Anh là đại diện cho các sản phẩm y dược. Nhưng ngày làm việc đã quá dài, bây giờ đã quá mười một giờ đêm, Santin lái xe với một tốc độ cao trên con đường nhánh vì anh muốn về tới nhà trước lúc nửa đêm.
Anh thấy mệt mỏi, anh buồn ngủ, và anh còn phải cố gắng giữ cho mình tỉnh táo trong một nửa giờ nữa. Nhưng anh đã không ngủ gà, ngủ gật. Anh vẫn hoàn toàn điều khiển được chiếc xe hơi của anh. Anh vẫn biết rằng anh đang làm gì.
Anh đã vượt qua vài chiếc xe khác, ngay bây giờ thì con đường có vẻ hiu quạnh. Chính vì lý do này mà anh đã chọn con đường này. Sự lưu thông thưa thớt, và đó là kiểu cách của con đường này -  một con đường gần như trống trơn - vừa lúc đó anh nhìn thấy một cái xe hơi khác.
Thoạt tiên anh nhìn thấy nó là hai ngọn đèn pha đang lượn vòng khúc cong chừng một phần tư dặm phía trước, những ánh đèn sáng rực một cách kỳ quái, và người lái xe đã không làm mờ được chúng. Santin nguyền rủa hắn ta, bất kể hắn ta là ai đi nữa. Anh vặn mờ các đèn của anh, nhưng anh không nhận được sự đáp ứng lịch sự nào. Anh lại nguyền rủa và như để trả thù anh vặn các ngọn đèn của anh trở lại ánh sáng chói chang của xa lộ, nhưng anh cảm thấy không có nỗi hiểm nguy thật sự trong việc này.
Anh ý thức một cách mơ hồ rằng cái xe kia đang vọt nhanh tới phía anh với một tốc độ cao, một tốc độ quá cao với loại con đường mà họ đang chạy ở trên. Một cách máy móc anh nhả cần gia tốc, tập trung tâm trí vào việc giữ nguyên mạn đường của mình, và không nhìn thẳng vào các ánh đèn đang xông tới đó.
Nhưng đã quá trễ rồi khi anh nhận thấy chiếc xe kia lấn qua vạch giữa của con đường. Và anh phải quyết định một cách rất mau lẹ. Hoặc là cứ vọt thẳng lên, có thể đồng thời nhận còi liên hồi, với hy vọng là gã lái xe kia sẽ tạt sang một bên. Hoặc là hích vai tung cánh cửa nhảy ra ngoài, đánh liều may rủi với đá sỏi và đất cát.
Anh chọn cách thứ nhì, nhưng không còn kịp nữa rồi. Anh trông thấy chiếc xe kia không nhượng bộ một tấc nào, vì vậy anh quẹo sang bên phải. Cái xe kia húc vào tấm cản bùn và bánh xe bên trái phía sau của xe anh. Phần sau của xe anh trượt đi trước phần đầu về phía cái mương. Rồi toàn bộ cái xe hình như bất chấp trọng lực, nó lăn lông lốt nhảy tung lên không, hất Santin ra ngoài ở độ cao của cái nhảy của nó.
Anh đã không trông thấy hoặc nghe thấy tiếng xụm đổ cuối cùng của cái xe. Tất cả ý thức của anh đều dồn vào sự va chạm của thân mình vào cái sườn đồi cứng như một bức tường, rồi anh trườn xuống phía dưới giữa một đống tuyết lở của những cục đá nhỏ và đất cát. Sau đó anh nằm im lìm, và cảnh vật chung quanh anh cũng im lìm như vậy.
Trong khoảnh khắc đầu tiên đó, anh không cảm thấy đau đớn. Sự va chạm đã làm anh chết lặng đi, nhưng anh biết là anh vẫn còn sống. Anh biết rằng anh vẫn còn một phần nào tỉnh táo. Anh cũng ý thức được một cách xa xôi, mơ hồ là thân thể anh bị giập gãy và đang bắt đầu chảy máu.
Nhưng ánh đèn làm lóa mắt đã tắt rồi. Anh đang nằmngửa trên một luống cỏ dại, phía trên anh là những ngôi sao và một vầng trăng tròn sáng rực. Chúng có vẻ gần gũi anh hơn là bất cứ khi nào trước đây. Có lẽ đó là một ảo giác lần đầu tiên đã cho anh cái ý nghĩ là anh đang sắp chết.
Vào lúc đó, anh không cảm thấy tức giận về việc này. Anh có thể nhớ lại sự tức giận của anh trước lúc xảy ra tai nạn, nhưng đó là một việc xa xôi, không có thật đối với anh. Cái ý nghĩ sắp chết lại thoáng qua trong đầu óc anh. Con người đang sắp chết thì không cảm nghĩ một chút gì về những kẻ khác. Họ chỉ hoàn toàn quan tâm tới bản thân mình thôi.
Rồi anh nghe thấy những tiếng nói, một sự tái tục các tiếp xúc với cõi đời. Đã có người trong cái xe kia. Anh nghĩ tới họ một cách bình tĩnh, không tức giận mà cũng không cảm tình, nhưng anh để hết sự chăm chú vào việc lắng nghe.
-  Hắn ta không có ở đây.
Một giọng nói đàn ông hơi trẻ.
Cái xe kia cũng bị đụng. Nó đã bị đứng lại, hoặc có lẽ người lái xe đã tự ý dừng xe lại. Dù thế nào đi nữa thì những người trên xe đó, bất kể họ là ai, cũng đã đi quay trở lại chỗ cái xe của anh và đang tìm kiếm anh.
Để tự giúp anh chăng? Bản năng đầu tiên của anh là cất tiếng gọi, hướng dẫn họ tới chỗ anh đang nằm. Họ đã là những kẻ ích kỷ khi chạy lấn đường, nhưng bây giờ thì họ là những người nhân từ muốn cứu giúp. Nhưng rồi một bản năng khác trỗi dậy chống lại bản năng thứ nhất. Họ có thật sự thân thiện không? Đột nhiên anh cảm thấy kinh hoàng đối với họ, mà không biết tại sao. Chắc chắn là ai cũng muốn cứu giúp những nạn nhân của tai nạn. Họ không làm vậy chăng?
-  Chắc là hắn ta đã bị hất văng ra ngoài
Tiếng nói của một thiếu nữ trả lời. Kinh hãi.
-  Tôi cũng đoán thế, chúng ta sẽ làm gì?
Cũng một tiếng nói của người đàn ông đó, thế là bọn họ chỉ có hai người thôi.
-  Hãy tìm kiếm hắn - người con gái nói.
Một lúc ngần ngừ:
-  Tại sao?
Một lúc ngần ngừ nữa.
-  Anh không muốn biết điều gì đã xảy ra cho hắn... hay cô ấy à?
-  Tôi không biết -  Tiếng nói run rẩy của người đàn ông. Tôi không biết...-
-  Tôi nghĩ rằng chúng ta phải nhìn chung quanh và tìm thấy hắn.
-  Được... nhưng trời tối quá đấy.
-  Anh có đèn pin mà, phải không?
-  Đúng vậy. Tôi sẽ đi lấy đèn pin.
Bước chân đi lên mặt đường. Gã con trai quay lại chỗ xe hơi của y để lấy đèn pin. Rồi thì lại một sự yên lặng.
Santin chờ đợi, mình run rẩy đổ mồ hôi ra, vì một nỗi sợ hãi mới. Anh không thích âm thanh của những tiếng nói đó. Cái gã con trai và cô con gái đó không phải là những người để tâm tới việc gì. Nếu anh sắp chết thì họ cũng không phải là người sẽ giúp đỡ được nhiều.
Nếu anh sẽ chết? Anh tin chắc vào việc đó. Bây giờ thì sự đau đớn đã bắt đầu. Anh có thể nhận ra nó ở nhiều chỗ, mặt anh, ngực anh, cả hai chân anh. Và một nơi nào đó nằm sâu trong người anh, nơi mà không một ai có thể sờ tới, ngoại trừ một ông bác sĩ. Đó là chỗ đau đớn làm cho anh tin chắc là sẽ chết.
Do đó không còn gì để quan tâm nữa, đúng vậy không?
Dù họ có tìm ra anh với cái đèn pin của họ hoặc không tìm ra?
-  Được, tôi đã lấy đèn pin rồi -  Tiếng nói của gã con trai. Chúng ta tìm ở chỗ nào đây?
-  Trong cái mương, em đoán vậy.
Những bước chân kéo lê làm xáo động những hòn đá sỏi, đi sột soạt qua những đám cỏ và những bụi cây. Rồi một tia sáng lóe lên, quét đi, quét lại. Cả tia sáng lẫn những tiếng bước chân càng mỗi lúc một gần hơn. Họ sẽ phát hiện ra anh một cách không thể lẫn tránh được. Anh có thể làm cho cuộc tìm kiếm của họ được mau lẹ hơn bằng cách lên tiếng gọi họ. Nhưng anh đã không làm thế. Anh chờ đợi.
-  Hầy!
Tia sáng rọi vào mặt anh, đang bị tê liệt anh không thể quay mặt đi khỏi tia sáng đó, những bước chân vội vã. Rồi thì họ đang đứng ở đó. Hai hình thù đang đứng bên trên anh, in rõ nét trên nền trời. Và tia sáng rực lên trong mắt anh. Anh chớp mắt, nhưng họ không có vẻ hiểu rằng ánh sáng đã làm anh khó chịu.
-  Hắn ta còn sống - cô gái nói - mắt hắn mở.
-  Phải, tôi biết.
- Nhưng hắn bị thương - cái hình thù là người con gái quì xuống bên cạnh anh, che chở anh khỏi ánh sáng đèn pin một cách từ bi. Nhờ ánh sáng rực rỡ của mặt trăng, anh có thể trông thấy mặt cô ta.
Cô còn trẻ, trẻ một cách kinh khủng, có thể độ mười sáu tuổi. Cô ấy cũng rất xinh nữa, mái tóc đen, nước da tái nhợt, có lẽ tái nhợt một cách không bình thường, tương phản lại cái miệng được tô điểm của cô trông thật khủng khiếp. Nhưng trên nét mặt cô không có một chút cảm xúc nào. Rất có thể là cô đang bị chấn động, nhưng khi cặp mắt cô lướt qua các vết thương của anh, không một chút cảm tình nào lóe lên trong ánh mắt.
- Ông bị thương rất nặng, phải vậy không? Câu hỏi nhằm thẳng vào anh.
- Vâng... - Anh phát hiện ra rằng anh còn có thể nói được mà không gặp khó khăn lắm.
- Ở nơi nào? Ông có biết không?
- Tôi đoán là ở khắp mọi chỗ, nhất là ở bên trong cơ thể.
Cô con gái có vẻ tư lự trước câu trả lời của anh. Câu hỏi tiếp theo của cô có vẻ lạnh lùng, có tính toán.
- Ông có nghĩ rằng ông có thể qua khỏi nếu chúng ta được sự giúp đỡ không?
Anh cũng nghĩ ngợi, tự cho mình thời gian để trả lời. Nhưng ngay cả như vậy, anh cũng đã phạm một sai lầm.
- Tôi nghĩ rằng tôi sẽ chết - anh nói và biết rằng mình đã phạm sai lầm ngay sau khi anh nói câu đó.
Nét mặt của cô gái hình như có thay đổi một chút, thay đổi mà người ta khó nhận thấy. Santin không thể đo lường được sự thay đổi đó. Anh chỉ biết rằng nó đã xảy ra. Cô lùi ra khỏi chỗ anh, đứng lên đi lại chỗ anh con trai.
- Hắn sắp chết rồi - cô nói. Làm như cô biết rõ chắc chắn điều này cũng như chính Santin vậy.
- Thế thì có tìm một ông bác sĩ cũng vô ích thôi, phải vậy không? Gã con trai tỏ vẻ nhẹ nhõm, làm như trách nhiệm của gã về toàn bộ vụ này lúc này đã chấm dứt.
- Em không nghĩ thế.
- Thế thì chúng ta sẽ làm gì?
- Không làm gì cả, em đoán thế. Chỉ việc chờ ở đây một lúc nào đó, sẽ có một cái xe hơi phải chạy tới.
- Lúc đó chúng ta có thể đi xe trở về thành phố hả?
Gã con trai có vẻ như hoàn toàn lệ thuộc vào cô gái về sự chỉ đạo.
- Nhất định thế. Chúng ta có thể cử một bác sĩ hay một người nào đó quay lại đây. Nhưng lúc đó rất có thể anh chàng này đã chết rồi. Và chúng ta sẽ phải báo cáo với cảnh sát.
- Cảnh sát ư?
- Chúng ta sẽ phải báo cáo. Anh đã giết chết một người.
Rồi lại một sự yên lặng. Satin nằm ở dưới chân họ, mắt ngước nhìn lên hai cái bóng người. Họ đang nói về anh như thể anh đã chết thật rồi. Nhưng, một cách nào đó, việc này chưa làm anh tức giận. Có thể tại vì chính anh cũng coi như mình đã chết rồi.
- Arlene này... họ sẽ làm gì với tôi?
- Ai, cảnh sát hả?
- Phải... Em đã nói rằng tôi giết chết một người.
- Đúng, anh đã giết chết một người, không phải là anh đã giết chết một người à?
Gã con trai ngần ngừ.
- Nhưng đó là một tai nạn - cuối cùng y cố nói lảng - Em biết rằng đó là một tai nạn, phải vậy không, Arlene? Tôi muốn nói, đúng là nó đã xảy ra...
- Nhất định là thế.-
Họ nói chuyện nhỏ nhẹ, nhưng Santin có thể nghe rõ từng tiếng họ nói. Và anh cảm thấy dù sao thì anh cũng phải lên tiếng nói. Anh nói với họ:
- Mọi tai nạn đều là do lỗi của một người nào đó.
Họ giật nảy người lên. Anh có thể trông thấy họ nhìn nhau rồi lại nhìn xuống người anh.
- Thưa ông, ông muốn nói gì với câu đó? Sau một lát gã con trai hỏi.
- Tai nạn này là lỗi của anh. Đó là điều tôi muốn nói.
Anh vẫn không giận dữ. Đó không phải là lý do tại sao anh tranh cãi, nhưng anh cảm thấy tội lỗi phải được xác định.
- Làm thế nào mà việc đó lại là lỗi của tôi?
- Trước hết anh đã không hãm bớt đèn xe của anh...
- Đúng, ông cũng không hãm bớt đèn xe của ông mà.
- Lúc đầu tôi đã tắt mà.
- Nhưng ông lại bật các ngọn đèn chạy trên xa lộ mà.
- Chỉ sau khi anh từ chối việc hãm bớt đèn.
Gã con trai lại im lặng trong một lúc. Rồi y nói:
- Nhưng khi chúng ta đụng vào nhau, ông vẫn còn để đèn sáng rực mà.
Santin phải nhìn nhận việc này.
- Tôi đã nổi nóng lên - anh nói - Nhưng đó không phải là điều quan trọng nhất. Anh đã lái xe chồm sang bên đường của tôi.
Bộ mặt gã con trai quay sang cô gái.
- Arlene này, tôi có đi sang bên đường của ông ấy không?
Hình như cô gái khúc khích cười. Hoặc một cái gì giống như tiếng cười.
- Làm thế nào mà tôi biết được? Chúng ta đang...
Cô đã không nói hết câu, nhưng Santin đoán ra phần còn lại của câu đó. Lúc đó họ đang âu yếm, vuốt ve nhau, hoặc làm một điều gì đó mà bọn trai trẻ thời nay gọi là vậy. Đó là lý do tại sao gã con trai đã không hãm bớt đèn. Và đó cũng là lý do tại sao y đã không điều khiển được cái xe của y một cách tốt đẹp. Và bây giờ thì chính anh, Santin, phải trả cái giá cho những giây phút mê ly của họ.
Cuối cùng thì điều này làm anh giận dữ, một sự giận dữ kỳ cục. Anh thấy đôi chút hững hờ, xa lạ với chính bản thân mình. Bởi vì lúc này, nói chung ra nó không còn thực sự là quan trọng đối với anh. Vì anh đang sắp chết.
Nhưng Santin cũng cảm thấy một sự mãn nguyện nào đó. Anh có thể nói một cách hằn học, và với một sự tin tưởng.
- Anh thấy đó, anh đã đi trái đường. Bởi vậy đó là lỗi của anh.
Gã con trai nghe anh nói, nhưng y cứ chằm chằm nhìn vào cô gái.
- Họ sẽ làm gì với tôi? Y hỏi cô gái. Tôi muốn nói là cảnh sát đó. Họ sẽ làm gì với tôi?
- Làm sao mà tôi biết được - cô ta cáu kỉnh trả lời y.
Cô ta đã rất bình tĩnh. Lúc này có lẽ sự chấn động ban đầu đã dịu đi. Bây giờ có thê là cô ấy đang trở nên sợ hãi và nhút nhát.
- Ngay dù tôi có chạy trái đường - gã con trai nói - thì đó vẫn chỉ là một tai nạn mà. Tôi đã không cố ý đâm vào cái xe của anh chàng này. Tôi không cố ý làm chết anh ta.
- Đúng thế...
- Tôi đã đọc về những vụ này trong các báo. Không có gì quá tệ xảy ra cho người lái xe đâu. Có thể là y sẽ bị phạt tiền. Nhưng ông già của tôi có thể đóng tiền phạt mà. Ngay cả nếu tôi có phải đi tù, thì cũng sẽ không phải ở lâu đâu phải thế không, Arlene? Em nghĩ nó sẽ ra sao? Ba mươi ngày chăng?
- Hoặc có thể là sáu mươi ngày, nó sẽ không đến nỗi tệ thế đâu.
Santin lắng nghe họ nói. Và với một cách chậm chạp sự tức giận trào dâng cao hơn trong lòng anh. Hoặc có thể ngay cả là chín mươi ngày, anh đã tính cộng thêm vào. Một công ty bảo hiểm nào đó sẽ trả tiền. Nhưng chính tên sát nhân sẽ gần như không đền đủ tội lỗi. Chín mười ngày cho một tội ngộ sát.
- Chỉ còn lại một điềm gã con trai đột ngột nói.
- Điều gì?
- Vụ này sẽ được gọi là một tai nạn. Và có thể nó sẽ được gọi là lỗi của tôi. Dù sao thì cũng là chút ít thôi. Điều này có nghĩa là nếu thằng cha này không tiết lộ với bất cứ một người nào.
- Về việc gì?
- Về việc ai đã vặn mờ đèn xe và ai đã không vặn. Và ai đã ở trên phía đường của ai. Nhưng tất nhiên là y sẽ không thể tiết lộ được nếu y chết?
- Đúng thế - Bỗng nhiên có một cái gì kỳ lạ trong tiếng nói của cô gái, một sự nhận thức.
- Vì vậy y sẽ phải chết. Em có thấy điều tôi định nói không, Arlene?
- Y nói là y sắp chết mà...
- Phải, nhưng y không biết. Và cả chúng ta cũng không biết, y sẽ phải chết. Chúng ta phải cầm chắc là y chết.
Giọng nói của gã con trai cất lên cao một cách đột ngột, tới âm độ của sự cuồng loạn.
Santin trông thấy cô con gái víu chặt lấy cánh tay gã con trai và ngẩng nhìn vào mặt hắn. Toàn thể tư thế của thân mình cô đều bộc lộ sự kinh hoàng.
- Còn có một điều nữa - Gã con trai nói một cách hấp tấp, gần như lối trẻ nhỏ bi bô - Ông già tôi đã nói với tôi về việc bảo hiểm. Họ phải trả nhiều tiền cho một người chỉ bị què quặt hơn là cho một kẻ đã chết. Họ trả những khoản tiền rất lớn cho những người bị què. Tôi không rõ việc bảo hiểm của chúng tôi có lớn đến thế không. Nếu anh chàng này không chết, mà chỉ bị thương thật sự rất nặng, thì nó có thể làm chúng ta tốn kém rất nhiều hơn là tiền bảo hiểm mà chúng ta lãnh được. Và lúc đó thì bố tôi sẽ làm gì tôi đây?
Lúc này thì cô gái bị kinh hoàng.
- Nhưng hắn đang sắp chết mà - Cô nói thì thào, giọng khàn khàn.
- Arlene này, làm thế nào mà ta biết được việc đó? Làm thế nào mà ta biết được?
Lúc này thì Santin không cảm thấy đau đớn nữa. Chỉ thấy tức giận thôi. Họ đã không trợ giúp anh. Họ còn muốn cho anh chết đi. Họ thật là ích kỷ? Ích kỷ một cách không thể tin được. Và họ đã quá ác độc khi bàn cãi tất cả việc này ngay trước mặt anh.
Bỗng nhiên gã con trai quì xuống, và ánh đèn pin lại soi đi soi lại vào mặt Santin. Santin chớp mắt trước ánh đèn, nhưng mặc dầu thế anh cũng có được cái nhìn đầu tiên vào gã con trai non trẻ, non trẻ như cô con gái. Nhưng không được bình tĩnh như cô ta, sự hốt hoảng nằm trong mắt cậu ta. Và cậu ta cũng bị thương, một vết thương ghê gớm ở trên da đầu làm cho mạn trái của đầu cậu ta xấu đi, và máu bết lại trong mái tóc cậu ta.
- Thưa ông, ông cảm thấy thế nào? - Gã con trai hỏi.
Santin không thèm trả lời. Anh sẽ không cho họ một sự mãn  nguyện như vậy nữa. Anh sẽ không nói với họ về cơn lũ nóng ran của sự đau đớn đang tràn ngập người anh trong những lớp sóng càng lúc càng lớn hơn. Anh sẽ không nói với họ là anh đã nghe thấy thần chết đang thì thầm trong xe của anh, dụ dỗ anh hãy để mạng sống bay đi.
Nhưng anh trông thấy vẻ hung hăng trên nét mặt gã con trai. Gã con trai dùng đèn pin sục tìm xa hơn nữa, lia đi, lia lại nó trên thân thể Santin. Rồi hắn ta đứng lên.
- Y không có vẻ gì là đã bị thương khá trầm trọng để chết - Hắn nói với cô con gái.
Không, không có vẻ như thế đâu. Santin nghĩ. Sự tổn hại là ở bên trong, nhưng đúng là có thể làm chết người. Tuy nhiên, chớ nói với họ. Hãy để cho họ sợ toát mồ hôi. Và ta có thể còn sống cho tới khi một người nào đó tới.
Một cơn đau đột ngột làm tan biến các ý nghĩ của anh chỉ để cho anh còn đủ tỉnh táo thôi.
Cô con gái kêu thét lên, và có vẻ như cô đã kêu thét lên vì anh. Hình như gã con trai đã đánh anh bằng một cách nào đó.
- Anh làm gì vậy? Cô ta hỏi.
Câu trả lời của gã con trai cũng gần như một tiếng kêu thét:
- Y sẽ phải chết. Tôi phải làm cho y chết.
Có một giọng điệu tao nhã ở nơi nào đó trong cô gái. Hoặc là lòng trắc ẩn của một phụ nữ.
- Nhưng anh không thể giết chết y - cô nói với gã con trai một cách hung hãn.
- Việc đó có gì là khác biệt đâu? Hắn ta cãi lại với sự cuồng loạn trong giọng nói của hắn. Tôi đã giết chết y rồi mà, có phải thế không? Y sẽ chỉ phải chết mau lẹ hơn thôi, tất cả là thế. Em không hiểu à. Arlene?
Rõ ràng là cô ta không hiểu. Cô ta níu chặt lấy hắn, giữ hắn lại.
- Không bao giờ có ai sẽ biết sự khác biệt cả - hắn nói với cô ta, luận điệu của hắn rất hợp lý. Y đã bị thương sẵn rồi. Người ta sẽ nghĩ rằng y chết vì tai nạn.
Có sự im lặng trong một khoảng khắc nhỏ. Bằng cách cố sức ngoẹo đầu đi, Santin có thể trông thấy họ. Họ là hai cái bóng đen trên cái hậu cảnh sáng hơn của bầu trời, họ đứng gần nhau quá khiến cho như họ đã hòa nhập lại với nhau. Santin có thể cảm thấy vẻ hung hãn trong cái ôm nhau của họ. Cô con gái với cái bản năng từ bi của phái nữ. Gã con trai thì không có gì hơn là một kẻ phũ phàng, điên dại với ý muốn tự bảo tồn. Vậy mà trong một cách nào đó, cô gái vẫn có thể yêu hắn. Và bởi vì cô yêu hắn, nên trong vụ này cô đồng tình với hắn.
- Được rồi, Vince ạ! Cuối cùng thì anh nghe thấy cô ta nói.
Tuy nhiên, tất cả những gì mà Santin có thể làm là cứ nằm yên ở đó. Rất có thể là anh sẽ bị đập và đá cho tới chết. Bị sát hại một cách có chủ tâm, một cách hợp lý để bảo vệ cho một thằng nhóc con yếu ớt, đồi bại. Dù sao anh cũng không quá sợ hãi cái chết kia, nhưng anh lại sợ hãi cái chết này. Cái chết này có một tính cách khủng khiếp trong nó.
- Không! Anh thét lên với họ với tất cả sức lực của anh. Không!
Tiếng thét của anh làm đứt đoạn cái ôm nhau của họ. Cái đèn piní trong tay gã con trai lại thăm dò bộ mặt anh. Trước đây thì Santin rất kiêu hãnh, nhưng lúc này thì anh hết kiêu hãnh rồi. Anh đã không quay mặt đi khỏi ánh đèn. Anh để cho họ nhìn thấy nỗi kinh hoàng của anh.
- Anh có nghĩ rằng anh có thể làm được việc này không, hở Vince? Cô con gái hỏi. Giọng nói của cô vững chắc.
Lúc này thì cô ta đã bị thuyết phục, cô ta sẽ là người dũng mãnh hơn trong hai người bọn họ.
- Tôi không biết - hắn nói - nhưng tôi sẽ phải làm.
Santin trông thấy hắn ta đi tới và anh nhắm mắt lại.
- Hãy đợi một phút.
Anh nghe thấy cô gái nói, như thể từ một đầu xa xôi của một đường hầm dài. Lúc này anh tồn tại trong một lớp sương mù đỏ của sự đau khổ cực độ, và tiếng nói của cô ta có vẻ như từ chỗ xa xăm.
- Có việc gì thế?
- Anh đang vấy máu trên người anh, có phải vậy không?
- Tôi không biết.-
- Hãy nhìn xem đi.
- Phải, tôi bị vấy máu rồi. Nhưng điều đó có sự khác biệt nào?
- Vince, Vince, anh phát khùng rồi à? Họ sẽ trông thấy máu. Và có thể là một kẻ nào đó sẽ nghi ngờ. Họ có thể phân tích máu và nói rằng máu đó thuộc về ai.
Một tia hy vọng, và Santin lại dám mở mắt ra nữa. Gã con trai cúi xuống bên trên người anh để đánh một nhát nữa, nhưng lúc này hắn ngần ngừ.
- Tôi biết phải làm gì rồi - cuối cùng hắn nói.
Đột nhiên hắn bỏ đi, ra khỏi tầm nhìn của Santin. Nhưng Santin có thể nghe thấy hắn khua đập vòng quanh trong đám cỏ dại. Rồi cuối cùng là tiếng kêu lớn của hắn.
- Arlene, lại đây giúp tôi nâng cái này lên.
Có nhiều tiếng khua đập hơn trong đám cỏ dại. Cô gái đi tới chỗ gã con trai.
Và giọng nói khích động của gã con trai.
- Anh chàng đó bị hất tung ra khỏi cái xe, có đúng vậy không? Vậy thì được rồi, y đập đầu vào cái này, thế là đủ rồi. Chúng ta sẽ sắp xếp lại chút ít cái xác chết. Bây giờ hãy tới đây, chúng ta hãy cùng nhau khiêng cái xác lên.
Có sự quay lại chậm chạp của những bước chân. Với một ý nghĩ vẩn vơ, Santin tìm kiếm họ. Anh trông thấy họ rồi. Họ đang cùng đi tới chỗ anh, lưng họ còng xuống, có vẻ đang gắng sức. Ở khoảng giữa ho, họ khiêng môt vật rộng, bẹt có vẻ rất nặng nề.
Lần nay thì anh không la hét nữa. Anh không có thể la hét được, ngay cả dây thanh âm của anh cũng bị lê liệt rồi. Nhưng anh có thể quan sát họ. Họ đi một cách chậm chạp, với sự cố gắng lớn lao. Họ đứng lại, mỗi người đứng về một bên của anh và cái vật kếch sù, nặng nề, bẹt mà họ giữ trong tay đã che khuất bầu trời phía trên mặt anh.
Rồi ngay vào cái giây phút cuối cùng của đời anh, anh mới nhận thấy một điều gì đó, một sự yên tĩnh dịu dàng tràn ngập người anh. Dù sao thì ta cũng sắp chết, anh nghĩ. Cái chết này mau lẹ hơn, dĩ nhiên là thế, có thể còn nhân đạo hơn nữa. Nhưng nó cũng vẫn là một vụ sát nhân.
Anh cầu nguyên, một lời cầu nguyện kỳ quái. Anh cầu nguyện cho một nhân viên cảnh sát tinh khôn.
 
(Còn tiếp)
0
Kinh Hoàng (2)
 
Trung sĩ Vanneck trong toán tuần tiễu xa lộ của tiểu bang là một nhân viên cảnh sát tinh khôn. Trong ánh sáng mờ xám của lúc bình minh, ông nghiên cứu các vết vỏ xe trên đường. Chúng rất khó thấy trên lớp nhựa đường đen sậm, và ông đã không thể hoàn toàn tin chắc.
Ông đã vững bụng hơn đôi chút khi ông cảm nghĩ thế nào về một đôi trai gái đang đứng gần xe ông và theo dõi ông khi ông tiến hành công việc của ông. Gã con trai tên là Vince và cô con gái tên là Arlene. Họ giống như hầu hết những thanh thiếu niên khác bị liên lụy vào những tai nạn chết người, và họ cũng có chỗ khác biệt nữa. Do đó, khi bình minh đã sáng tỏ hơn, ông tiếp tục sự lùng kiếm của ông.
Ông đã phát hiện nhiều hơn là những gì mà ông trông đợi sẽ phát hiện được. Xác chết đã được mang đi và hiện trường đã bị dẫm nát tơi bời. Tuy thế ông cũng vẫn tìm thấy bằng chứng. Bằng chứng đã rõ ràng, không còn nghi ngờ gì nữa.
Ông leo lên khỏi cái mương và đi lại chỗ cô con gái và gã con trai. Trên nét mặt ông hẳn phải có một cái gì khủng khiếp, vì nó làm cho gã con trai hỏi một cách lo lắng.
- Có việc gì đó, thưa Trung sĩ?
- Có hai cạnh ở một tảng đá - Trung sĩ Vanneck nói. Mặt trên thì vẫn sạch sẽ, được nước mưa rửa sạch. Mặt dưới chân thì bị bẩn thỉu vì đụng chạm với mặt đất. Bây giờ hãy nói cho tôi biết, cậu nhóc con, làm cách nào mà ông Santin bị hất tung ra từ cái xe của ông ấy khiến cho ông ấy đập đầu vào cạnh đáy của tảng đá này?
 
HẾT
0
TÌNH YÊU ĐÃ TỰ ÁP ĐẶT THẾ NÀO VỚI GIÁO SƯ GUILDEA (1)
(Comment l’amour s’imposa an professeur Guildea)
Tác giả: Robert S. HICHENS
Người dịch: Kim Lương
 
I
Những người có đầu óc kém bén nhậy thường tự hỏi rằng làm thế nào mà cha Murchison và giáo sư Frediric Guildea lai có thể là những người bạn thân thiết được. Một người thì lòng tràn đầy tín ngưỡng, còn một người thì hoàn toàn theo thuyết hoài nghi. Trong lòng cha Murchison chỉ có tình thương. Trên chiếc áo lễ dài màu đen của ông, ông nhìn thiên hạ với một sự trìu mến gần như ấu trĩ, và cặp mắt dịu hiền của ông, mặc dù đã hoàn toàn rũ sạch mọi âu lo, có vẻ như lúc nào cũng bận rộn chiêm ngưỡng sự lương hảo hiện hữu trong nhân loại và cảm thấy hân hoan trước những gì được nhìn thấy. Ngược lại, vị giáo sư có một bộ mặt khắc khổ, sắc bén, tận cùng bằng một chòm râu dê đen, dữ tợn. Cái nhìn của ông linh hoạt, sắc sảo và đầy vẻ khinh mạn, những đường nét bao quanh cái miệng nhỏ có cặp môi mỏng dính của ông trông gần như hiểm ác. Giọng nói của ông thô cục và khô khan, và đôi khi trong những lúc nóng giận của ông, nó vút cao lên thành tiếng the thé. Nó phát ra những tiếng với một sự khô khan sắc bén. Thái độ thường ngày của ông giáo sư là một sự pha trộn tính đa nghi và nhu cầu hiểu biết. Thật không thể nghĩ rằng ở giữa những việc bận rộn của ông còn có thể có một chỗ cho tình thương, dù là tình thương một người, dù là tình thương nhân loại nói chung. Tuy nhiên, ông đã sống một đời trong việc khảo cứu khoa học đã mang lại cho thế giới những lợi ích lớn lao.
Cả hai người đều sống độc thân. Cha Murchison thuộc về một phẩm chức của Anh-Quốc-Giáo nên bị cấm không được lập gia đình. Giáo sư Guildea thì có ý coi thường hầu hết mọi vật và mọi người, nhưng trên hết là các phụ nữ. Hồi trước đây ông đã giữ chức giảng sư ở Birmingham. Nhưng khi danh tiếng của ông lớn lên vì những phát minh của ông thì ông tới cư ngụ tại Luân Đôn. Chính ở đó, trong một buổi diễn thuyết ông thực hiện tại khu Đông, ông đã gặp cha Murchison lần đầu tiên. Họ đã trao đổi với nhau vài câu. Có lẽ sự thông minh sáng chói của vị linh mục đã thu hút được nhà khoa học, người mà lúc bình thường vẫn nhìn giới tăng lữ với đôi chút khinh khi. Cũng có thể là ông đã bị chinh phục bởi sự thành thực trong sáng của người giáo đồ có một lương tri vững chắc này. Khi ông rời khỏi phòng họp, ông đã đột ngột mời ông cha tới gặp ông tại nhà ông ở Công viên Hyde Park. Ông cha, người hiếm khi đi tới khu Tây, ngoại trừ khi đi giảng đạo, đã nhận lời mời.
- Khi nào thì cha tới? Guildea nói.
Ông gấp tờ giấy màu xanh trên đó ông đã viết những lời ghi chú với nét chữ viết nhỏ, rõ ràng. Tiếng sột soạt khô khan của những tờ giấy làm sự hòa điệu với giọng nói rõ ràng và khô khan của ông.
- Vào Chủ nhật, tám ngày sau tôi thuyết giảng buổi chiều ở Saint Sanveur, trong các khu vực của ông - Ông cha nói.
- Tôi không đi nhà thờ.
- Không - ông cha nói, không có mảy may một chút âm sắc của sự kinh ngạc hay trách cứ nào trong giọng nói của ông.
- Sau đó mời cha tới dùng bữa ăn tối.
- Vâng, cám ơn.
- Vào mấy giờ thì cha sẽ tới?
Ông cha mỉm cười.
- Sau khi tôi đã chấm dứt bài giảng. Buổi lễ vào sáu giờ rưỡi.
- Vây là độ tám giờ, tôi nghĩ vậy. Xin cha đừng giảng quá lâu. Tôi ở số 100, công viên Hyde Park. Chào tạm biệt.
Ông buộc quanh những tờ giấy của ông một sợi dây thun, và rảo bước đi khỏi, không bắt tay vị linh mục.
Vào ngày Chủ nhật đã ước định, cha Murchison thuyết giảng trước một đám đông đặc nghẹt những tín đồ ở Saint Sanveur. Đề luận bài giảng của ông là cảm tình và sự vô dụng tương đối của con người trên hành tinh, nếu con người đó không học được cách yêu thương đồng loại của mình như chính mình vậy. Bài giảng có phần dài dòng và khi mặc một cái áo lót bông màu đen rộng thùng thình, đội một cái mũ tròn và cứng có những cái vành dẹp, từ trên chóp mũ lủng lẳng những đầu của một sợi dây tơ đen, nhà truyền giáo đi về phía nhà của ông giáo sư, thì những cây kim trên mặt dạ quang của cái đồng hồ ở Marble Arch đã chỉ tám giờ hai mươi nhăm phút.
Ông cha rảo bước, mở một lối đi xuyên qua đám đông ồn ào, những người lính đứng bất động, những người đàn bà đang nói ba hoa và những đứa trẻ lang thang mặc quần áo ngày lễ cười nói om sòm. Đó là một buổi tối ấm áp của tháng Tư, và khi ông đi tới số nhà 100 ở Công viên Hyde Park thì ông đã thấy vị giáo sư để đầu trần, đứng trên bậc cửa nhìn về phía hàng rào song sắt của công viên và thích thú với không khí ấm áp và ẩm ướt, ở cuối cái hành lang có đèn sáng rực.
- A! bài giảng lâu quá! Ông nói lớn. Mời cha vào.
- Vâng, tôi cũng sợ như vậy - ông cha nói, vui vẻ theo lời mời. Tôi là một trong những kẻ nguy hiểm đó, một thầy giảng hay nói ứng khẩu.
- Khi ta có thể nói mà không cần những lời ghi chép mới thú vị hơn chứ. Xin cha hãy quặc mũ và áo khoác ngoài lên - không áo nhà tu của cha - ở đây. Chúng ta sẽ ăn buổi tối ngay tức thì. Đây là phòng ăn.
Ông mở một cái cửa phía bên phải và họ đi vào một căn phòng dài, hẹp, được trải một lớp giấy màu vàng, với một cái trần màu đen từ đó lủng lẳng một ngọn đèn điện với một cái chụp đèn màu vàng. Trong căn phòng có kê một cái bàn hình bầu dục trên đó người ta đã đặt sẵn hai bộ đồ để dùng trong bữa ăn. Ông giáo sư bấm chuông. Rồi ông nói.
- Hình như người ta nói năng thoải mái xung quanh một cái bàn hình bầu dục hơn là xung quanh một cái bàn vuông.
- Thật à ? Ông nghĩ thế à?
- Phải, tôi đã có hai lần mời cùng một người khách, một lần ngồi ở cái bàn vuông, một lần ở cái bàn hình bầu dục. Bữa ăn thứ nhất thật buồn nản, bữa thứ hai thật rạng rỡ. Xin mời cha ngồi xuống.
- Ông giải thích sự khác biệt đó ra sao? Ông cha nói, trong lúc ngồi xuống và thận trọng vén cái vạt áo nhà tu dưới chân ông.
- Hừ! Tôi biết là chính cha sẽ giải thích điểm này thế nào rồi.
- A! Phải. Vậy thì như thế nào?
- Ở một cái bàn hình bầu dục, vì không có các góc cạnh nên sợi dây đồng cảm của con người, luồng điện được liên lạc nhiều hơn. Xin phép cho tôi múc món súp cho cha.
- Cám ơn.
Ông cha chìa cái đĩa của ông ra, và khi làm cử chỉ đó, ông quay về phía người chủ nhà một cái nhìn rạng rỡ của đôi mắt màu xanh của ông. Rồi ông mỉm cười.
- Rồi sao nữa - ông nói với giọng cao nhẹ êm ái của ông - Ông có đôi khi đi nhà thờ không?
- Chiều nay, lần đầu tiên từ nhiều thế kỷ và hẳn cha đã biết rõ, tôi đã thấy bực bội một cách khủng khiếp.
Ông cha vẫn mỉm cười, và cặp mắt xanh của ông long lanh một cách duyên dáng.
- A! thật thế! - ông nói - Thật là uổng quá!
- Những bài giảng không dính dáng gì tới chuyện này. Guildea nói thêm. Đó không phải là một sự khen ngợi. Tôi nói lên một sự việc. Bài giảng đã không làm tôi bực bội. Nếu không, tôi đã nói ra điều này, hoặc là tôi sẽ nín thinh.
- Và trong hai phe đó thì ông đứng về phe nào?
Vị giáo sư mỉm cười với một vẻ gần như vui thích.
- Tôi không biết - ông nói. Cha uống rượu gì?
- Không uống rượu gì cả, xin cảm ơn ông. Tôi là người chống rượu. Trong nghề nghiệp và môi trường của tôi, đó là điều thiết yếu. Vâng, tôi sẽ uống một chút nước Sellz. Tôi tin rằng ông sẽ chọn phe thứ nhất.
- Rất có thể, và hẳn là đã chọn một cách sai lầm. Việc đó sẽ không làm cha quá xúc cảm.
- Không, tôi không tin.
Họ đã trở thành thân mật. Ông cha rất thoải mái dưới tấm trần nhà màu đen. Ông uống một chút nước Seltz và có vẻ thích thú nó hơn là vị giáo sư với rượu bordeaux của ông.
- Tôi thấy rõ, ông đã mỉm cười về cái thuyết sợi dây đồng cảm của con người này - ông cha nói. Vậy thì ông giải thích thế nào về sự thất bại của bữa ăn ở bàn vuông với các cạnh góc của ông, và sự thành công của bữa ăn ở bàn hình bầu dục, không có cạnh góc của ông?
- Có thể do sự kiện là vào dịp thứ nhất linh hồn tươi đẹp của cái bàn bị đau gan sau một cơn cảm lạnh, khi trong bữa ăn thứ hai thì nó hoàn toàn khỏe mạnh. Tuy nhiên, như cha đã thấy đó, tôi đã chọn cái bàn hình bầu dục.
- Điều này có nghĩa là...
- Không có gì quan trọng đâu. À, chiều hôm nay cha đã không đả động tới vai trò đáng kể của lá gan trong cảm tính. Đó là một khiếm khuyết nghiêm trọng.
- Trong đời sống của ông đã có một khiếm khuyết còn trầm trọng hơn nữa đó: sự thiếu vắng tất cả lòng ham thích, sự đồng cảm mật thiết của con người.
- Từ đâu mà cha có sự tin chắc rằng tôi không cảm nhận được lòng ham thích này?
- Tôi đoán ra việc đó. Ngôn ngữ của ông, thái độ của ông nói cho tôi biết rằng sự việc là như thế. Ông đã không tán thành bài giảng của tôi trong suốt thời gian tôi thuyết giảng, đúng thế phải không'?
- Một phần của thời gian đó.
Tên người hầu thay những cái đĩa. Đó là một người đàn ông đứng tuổi, tóc vàng hoe, gầy còm, với bộ mặt trắng, cương nghị, cặp mắt sáng, lồi ra, và một phong cách không chê trách được trong việc hầu hạ. Khi hắn ra khỏi, ông giáo sư nói tiếp.
- Những nhận xét của cha làm tôi thích thú, nhưng tôi đã xét thấy chúng là quá đáng.
- Thí dụ như thế nào?
- Xin cho phép tôi nói như một người ích kỷ trong chốc lát. Một phần lớn thời gian của tôi được dùng để làm việc vất vả, rất vất vả. Cha sẽ đồng ý về điều đó, nhân loại thủ lợi về các kết quả của sự làm việc này.
- Khá nhiều - ông cha công nhận trong khi nghĩ tới hơn một sự phát minh của Guildea.
- Và đối với nhân loại sự lợi ích do kết quả của công việc được thực hiện chỉ vì chính nhân loại cũng lớn lao như thể tôi đã hoàn tất nó vì tình thương các đồng loại của tôi, và nếu do tình cảm tôi muốn được thấy họ hưởng nhiều hạnh phúc hơn là họ đang có hiện nay. Tôi cũng rất hữu ích trong cương vị này của tôi... trong sự thiếu vắng cảm tính... cũng như nếu tôi vung vãi những sự biểu lộ giống như những nhà tình cảm chủ nghĩa là những người muốn thả các tên sát nhân ra khỏi nhà tù, hoặc như Tolstoi muốn bênh vực bạo quyền bằng cách phản đối sự trừng phạt những tên bạo chúa.
- Người ta có thể làm rất nhiều điều ác với cảm tính và rất nhiều điều thiện khi không có nó. Phải, thật vậy. Tôi vẫn biết rằng động lực tối thân tự thân nó không đủ. Tuy nhiên, tôi chủ trương rằng với với tài ba của ông, ông sẽ còn hữu ích hơn rất nhiều cho thế giới này nếu thay vì trong những tâm trạng này, ông cảm ứng được sự đồng cảm, lòng yêu thương đối với nhân loại. Tôi còn nghĩ cả tới điều là các công trình của ông sẽ chỉ huy hoàng hơn thôi.
Ông giáo sư tự rót cho mình một cốc bordeaux nữa.
- Cha đã để ý tới người đầu bếp của tôi phải không? Ông nói.
- Phải.
- Đó là một người đầy tớ hoàn hảo. Hắn ta săn sóc các tiện nghi của tôi một cách không chê trách được. Tuy nhiên, ở hắn ta không có một mảy may tình cảm đối với tôi. Tôi đối xử lễ độ với hắn ta. Tôi trả lương hắn ta hậu hĩnh nhưng không bao giờ tôi nghĩ tới hắn ta, và không bao giờ tôi bận tâm tới hắn ta trong tư cách một con người. Tôi không biết chút gì về tính tình của hắn ta ngoài những điều mà tôi đã đọc trong tờ chứng chỉ của người chủ cuối cùng của hắn ta. Hẳn cha sẽ nói là không có một chút liên hệ nhân bản thật sự nào giữa chúng tôi. Hẳn cha sẽ cho rằng công việc của hắn ta sẽ được làm tốt hơn nếu tôi làm cho bản thân tôi được yêu quí, như một người ở bất cứ một đẳng cấp nào có thể yêu mến một người của bất cứ loại đẳng cấp nào khác phải không?
- Chắc chắn là thế.
- Tôi cho rằng hắn ta sẽ không thể làm công việc của mình tốt hơn là hắn ta đang làm hiện nay.
- Nhưng nếu xẩy ra một tai biến?
- Tai biến gì?
- Một tai biến nào đó, một sự thay đổi trong tình trạng của ông. Nếu ông cần tới sự giúp đỡ của hắn ta, không còn là với  tư cách con người và anh đầu bếp, nhưng với tư cách con người và huynh đệ thì sao? Rất có thể là hắn ta sẽ không đáp ứng sự mong đợi của ông. Sẽ không bao giờ ông nhận được từ người đầy tớ của ông một sự phục vụ có phẩm chất cao mà động lực chỉ có thể là một tình cảm chung thủy.
- Cha nói xong chưa?
- Xong hết rồi.
- Vậy thì ta hãy lên trên lầu. Vâng, đây là những bức khắc chạm đẹp. Tôi đã tìm thấy chúng ở Birmingham khi tôi cư ngụ tại đó. Đây là phòng làm việc của tôi.
Họ đi tới một căn phòng đôi, hoàn toàn bị phủ kín bởi những quyển sách và được thắp sáng bằng điện mà cường độ gần như thái quá. Các cửa một phía nhìn công viên và phía kia thì nhìn xuống khu vườn của nhà hàng xóm. Cửa lớn mà họ đi vào thì từ phần thụt vào sâu nhất của căn phòng ta không thể nhìn thấy, phòng này cũng là gian nhỏ hơn, nó được che khuất bởi chỗ nhô ra của bức tường phòng thứ nhất. Trong phòng này có một cái bàn làm việc chất đầy những thư từ, những tập sách mỏng và những bản thảo viết tay. Ở giữa hai khung cửa sổ chỗ cuối phòng có một cái chuồng trong đó một con két lớn màu xám đang leo trèo, nó dùng cái mỏ và hai chân trong những bước leo cao chậm chạp và trầm mặc.
- Ông cũng có một người bạn - ông cha nói với vẻ kinh ngạc.
- Tôi có một con két - vị giáo sư trả lời bằng một giọng khô khan. Tôi đã mua nó với một mục đích rõ ràng khi tôi nghiên cứu về các khả năng bắt chước của loài chim, và tôi đã không bao giờ rũ bỏ được nó. Một điếu xì gà nhé?
- Cám ơn.
Họ cùng ngồi xuống. Cha Murchison liếc mắt nhìn con két. Nó đã dừng lại trong sự di chuyển của nó, hai chân bám vào các then sắt của cái chuồng. Nó ngắm nghía họ với những con mắt tròn xoe và chăm chú có vẻ tràn đầy sự suy tưởng và trí khôn, nhưng hoàn toàn không có một chút cảm tình nào. Sau đó ông quay lại nhìn về phía Guildea đang hút thuốc, đầu ngả về đằng sau, với cái cằm nhọn và bộ râu đen thưa thớt mọc lởm chởm vểnh lên vì lối ngồi đó. Ông mấp máy môi dưới một cách mau lẹ theo chiều đứng thẳng, điều này làm bộ râu rung động, và làm cho ông có một vẻ hung dữ khác thường. Bỗng nhiên ông cha bật lên một tiếng cười nhỏ.
- Tại sao? Guildea hỏi lớn tiếng. Ông ta để cho cằm hạ xuống, và ném cho vị khách một cái nhìn kém nhã nhặn.
- Tôi nghĩ rằng cần phải có một tai biến thật lớn lao để ông tìm tới sự hỗ trợ trong lòng cảm mến của người đầu bếp của ông.
Đến lượt Guildea mỉm cười.
- Cha nói đúng đó. Thực sự. Hắn ta đến kìa.
Người đầu bếp đi vào, mang cà phê tới, rồi lui ra như một cái bóng qua khỏi trên một bức tường.
- Đó là một người kỳ diệu, không có tính người. Guildea nói.
- Tôi ưa thích thằng nhỏ bụi đời ở khu Đông là đứa làm việc vặt cho tôi ở Báo Street. Ông cha nói. Tôi biết hết mọi chuyện buồn phiền của nó, nó cũng biết một vài chuyện buồn phiền của tôi, nó ít trầm lặng hơn là anh đầy tớ của ông. Ngay cả, có lúc nó còn thở phì phò khi nó quá bận rộn, nhưng đôi khi nó còn làm cho tôi nhiều hơn là việc cho than vào vỉ lò hoặc đánh xi những đôi giày mũi vuông của tôi.
- Mọi người đều khác nhau. Sự chăm chú quá đỗi của một cái nhìn trìu mến làm tôi khó chịu.
- Nhưng con chim này thì thế nào?
Ông cha lấy ngón tay chỉ vào con két. Nó đã leo lên cái cần đậu của nó, một bàn chân co lên, trong một thái độ uy nghi làm nẩy sinh một điều tốt lành, và mắt nó không rời khỏi vị giáo sư.
- Đó là cái nhìn chăm chú của sự bắt chước, nó che giấu một ẩn ý: sự mong muốn tái tạo những vẻ đặc thù của người khác. Không, chiều hôm nay tôi đã biết mùi vị của sự dịu dàng, óc thông minh trong bài giảng của cha, nhưng tôi không cầu mong sự cảm mến. Chắc chắn là ta có thể mong muốn một tình cảm vừa phải... (Ông giật mạnh bộ râu, như thể muốn đề phòng chống lại tình cảm) nhưng tất cả sự cảm mến mãnh liệt hơn đều làm bực bội và sẽ đẩy tôi tới sự tàn bạo, tôi biết chắc điều này. Và nó còn làm trở ngại công việc của tôi.
- Tôi không tin vậy.
- Phải, cái loại công việc của tôi. Tôi sẽ tiếp tục mang lại những lợi ích cho một người, mà không yêu họ, và họ sẽ tiếp tục chấp nhận các lợi ích này, mà không yêu tôi. Và đúng là như thế.
Ông uống tách cà phê của ông. Rồi với một giọng có vẻ hung hăng ông nói thêm.
- Tôi không có thì giờ rảnh rỗi, mà cũng không có khuynh hướng dành cho tình cảm.
Khi Guildea cùng đi với cha Murchison, ông đi theo ông cha tới tận bậc cửa lớn, và đứng ở đó một lát. Ông cha nhìn sang công viên ở phía bên kia lòng đường ẩm ướt.
- Tôi thấy là ông có một lối vào đúng ngay trước mặt nhà mình - ông nói một cách lơ đãng.
- Vâng, tôi thường bước qua lối vào đó và đi dạo chơi một lúc để làm tươi mát các ý nghĩ của tôi. Xin chúc cha ngủ ngon. Mời cha tới chơi vào một ngày khác.
- Rất hân hạnh. Chúc ngủ ngon.
Vị linh mục rảo bước đi khỏi, để lại Guildea đứng trên bậc cửa.
Cha Murchison thường trở lại số nhà 100 ở Quảng trường Hide Park. Ông có cảm tình với hầu hết những người đàn ông và đàn bà mà ông quen biết. Và sự trìu mến với tất cả mọi người, dù quen hay lạ, nhưng lại nuôi dưỡng một tình cảm đặc biệt với Guildea. Và đây là một điều khá kỳ cục, vì nó là một tình cảm của lòng thương xót. Ông ái ngại cho con người lao động hăng say này, người đã thành công một cách đáng cảm phục, người có một trí thông minh vĩ đại, một tấm lòng dũng cảm, không bao giờ tỏ ra chán nản, người không bao giờ cần tới sự giúp đỡ, không bao giờ ta thán về về hững sự phiền toái của cuộc sống, và luôn luôn đi thẳng trước cuộc sống, không bao giờ ngần ngại. Ông cha thực sự ái ngại cho Guildea vì ông ấy đã tỏ ra rất khó tính. Ông đã nói điều này với ông ấy, vì ngay từ lúc khởi đầu sự giao thiệp giữa hai người đã có một sự thành thực hiếm có.
Một buổi chiều nọ, khi họ trò chuyện với nhau, ông cha nói tới một trong những sự kỳ cục của cuộc sống: sự việc là những người không ham muốn của cải lại thường thường kiếm được của cải trong khi những  kẻ mưu cầu của cải với sự đam mê thì lại thất bại trong việc đi tìm của cải.
-  Trong trường hợp này thì vô vàn tình thương mến sẽ phải trút lên người tôi. Guildea nói với một nụ cười chua chát, vì tôi chán ghét tình thương mến.
- Có lẽ một ngày nào đó nó sẽ như vậy.
- Một cách rất thành thực tôi hy vọng rằng sẽ là không.
Cha Murchison im lặng một lúc. Ông xiết chặt thêm hai đầu của cái thắt lưng lớn buộc quanh áo dài lễ của ông. Khi ông nói, có vẻ như ông đang trả lời một người nào đó.
- Phải, ông nói một cách chậm chạp, phải, đó đúng là điều mà tôi oán hận: lòng thương xót.
- Tại sao? Ông giáo sư nói.
Rồi bỗng nhiên ông hiểu. Ông không nói là ông đã hiểu, nhưng cha Murchison cảm thấy, và nhìn thấy thật là hoàn toàn vô ích khi trả lời câu hỏi của người bạn ông, một cách khá kỳ quặc, cứ như thể Guildea tự thấy mình bị ràng buộc rất chặt với một người vốn là trái ngược với ông về mọi mặt và đã cảm thấy thương hại ông.
Sự việc Guildea không tỏ ý hoài nghi và gần như không bao giờ nghĩ tới điều này, có lẽ cũng chứng tỏ một cách rõ ràng sự thờ ơ hy hữu trong bản chất của ông.
 
(Còn tiếp)
0
TÌNH YÊU ĐÃ TỰ ÁP ĐẶT THẾ NÀO VỚI GIÁO SƯ GUILDEA (2)

II
Một buổi chiều mùa thu, một năm rưỡi sau lần gặp gỡ đầu tiên của cha Murchison và vị giáo sư, ông cha tới công viên Hyde Park và hỏi anh đầu bếp tóc vàng hoe và tính nết khô khan (anh ta tên là Pitting) xem ông chủ của anh ta có nhà không.
- Thưa cha, có - Pitting trả lời - Mời cha đi theo tôi có được không?
Không gây một tiếng động nào, anh ta đi trước ông cha trong cầu thang góc khá chật hẹp, nhẹ nhàng mở cánh cửa của phòng đọc sách, và với một giọng dịu dàng và lạnh lùng, thông báo:
- Cha Murchison.
Guildea đang ngồi trong một cái ghế bành, trước một ngọn lửa nhỏ, những bàn tay gầy guộc có những ngón tay dài thon duỗi ra trên đầu gối, đầu ông gục xuống ngực, ông có vẻ đang đắm chìm trong các ý nghĩ của ông. Pitting hắng cao giọng một cách nhẹ nhàng.
- Cha Murchison muốn gặp ông, thưa ông. Anh ta nhắc lại.
Ông giáo sư giật nẩy người lên và vội vã quay lại giữa lúc ông cha bước vào.
- A, ông nói, cha đấy à? Tôi rất hài lòng được gặp cha. Mời cha tới gần lò sưởi.
Ông cha ném cho ông một cái nhìn mau lẹ, và thấy ông có một vẻ mệt mỏi khác thường.
- Chiều nay ông có vẻ không khỏe đó, ông cha nói.
- Không đâu!
- Chắc ông đã làm việc quá nhiều. Có phải buổi diễn thuyết mà ông phải hực hiện ở Paris đã làm cho ông bị bệnh không?
- Hoàn toàn không phải, nó đã sẵn sàng rồi. Tôi sẽ có thể đọc cho cha nghe ngay tức thì từng chữ một, mời cha  ngồi xuống đây.
Ông cha vâng lời và Guildea lại ngồi phịch xuống cái ghế bành, mắt đăm đăm nhìn vào ánh lửa, không nói một lời nào. Ông có vẻ đang suy nghĩ miên man. Người bạn ông không muốn làm đứt đoạn sự suy tưởng của ông, nhưng lặng lẽ châm lửa vào ống vố của mình, và bắt đầu hút với vẻ mơ màng. Cặp mắt của Guildea không rời khỏi ánh lửa. Ông cha đảo mắt nhìn quanh phòng, những bức tường được phủ đầy những cuốn sách đóng bìa thường, cái bàn bừa bộn, những cửa sổ có những tấm màn nặng trĩu bằng gấm thêu cũ màu xanh đậm, và nhìn vào cái chuồn kê ở giữa hai cửa sổ. Một cái chăn dạ màu xanh phủ lên cái chuồng. Ông cha tự hỏi tại sao lại phủ như vậy. Chưa bao giờ ông nhìn thấy Napoléon (đó là tên của con két) bị che kín như thế vào những buổi chiều trước đây. Khi ông đang nhìn tấm dạ màu xanh thì Guildea bỗng giật nẩy người và ngẩng đầu lên, nhấc hai bàn tay ra khỏi đầu gối, ông chắp chúng lại với nhau và bỗng nhiên nói.
- Cha có thấy tôi là một người có sức quyến rũ không?
Cha Murchison giật nẩy người lên. Một câu hỏi loại này, xuất phát từ một người như thế này làm ông sửng sốt.
- Chao ôi! Ông kêu lên - Cái gì làm cho ông đặt ra câu hỏi đó? Ông muốn nói có sức quyến rũ đối với nữ giới phải không?
- Đó là điều mà tôi không biết, ông giáo sư nó, nét mặt u buồn và lại trầm ngâm nhìn vào ngọn lửa. Đó là điều mà tôi không biết!
Sự kinh ngạc của ông cha càng tăng thêm.
- Ông không biết điều đó à? Ông cha nói lớn.
Ông đặt cái ống vố xuống.
- Này, cha có tin rằng tôi có một sức quyến rũ, rằng có một cái gì đó trong tôi có thể lôi cuốn về phía tôi một cách không thể cưỡng lại được, một con người hay một con vật không?
- Bất kể ông có thích hay không?
- Đúng vậy, hoặc ta có thể nói một cách rõ ràng hơn: ngay cả khi tôi không muốn điều đó phải không?
Ông cha mím cặp môi đỏ hồng khá mập mạp của ông, làm lộ ra nhiều vết nhăn nhỏ ở góc cặp mắt xanh của ông.
- Dĩ nhiên điều đó không phải là không thể có, sau đó một lát ông nói. Bản chất con người là yếu đuối, một sự yếu đuối có tính hấp dẫn Guildea ạ, và ông có ý thích nhạo báng nó. Tôi hiểu rằng có những phụ nữ thuộc một loại nào đó, các phụ nữ trí thức, những người làm việc sưu tập các danh nhân, muốn cầu thân với ông. Sự nổi tiếng của ông, tên tuổi vang lừng của ông...
- Phải, phải. Guildea cắt ngang, không khỏi có sự bực bội. Tôi biết tất cả những điều đó, tôi biết.
Ông vặn vẹo những ngón tay dài của ông, để chìa lòng bàn tay ra phía bên ngoài, vặn mạnh đến nỗi làm các ngón tay ông kêu lách cách. Một cái cau mày làm trán ông nhăn lại.
- Tôi tưởng tượng - ông nói... (ông ngừng lại và ho một cái ho khô khan, gần như dữ dội) - Tôi tưởng tượng rằng thật rất khó chịu khi mà một vật gì ta không thích lại yêu mến ta, cứ lẽo đẽo theo ta, có phải đó đúng là điều mà người ta nói không?"
Ông xoay người một nửa vòng trong ghế bành, bắt chéo hai chân lại và dán mắt vào vị khách với một cái nhìn dò hỏi, gần như soi mói.
- Một vật gì à? Ông cha nói.
- Đúng, đúng, một người nào đó. Tôi tưởng tượng rằng không thể còn thứ gì là khó chịu hơn thế.
- Với ông thì không, ông cha trả lời, nhưng tôi xin lỗi ông, ông Guildea. Tôi không thể nghĩ rằng ông lại chấp thuận một sự xâm nhập như thế. Ông không khích lệ sự nịnh bợ mà.
Guildea lắc đầu với một vẻ ảm đạm.
- Không, ông nói đúng. Quả thật đúng là điều đó. Đó là một sự kỳ cục trong vụ này. Số là tôi...
Ông cắt ngang câu chuyện một cách có chủ ỷ, đứng lên và vươn vai.
- Tôi cũng phải đi hút một cối thuốc - ông nói.
Ông đi tới tận lò sưởi, cầm lấy ống vố của ông, cho thuốc vào và châm lửa. Khi ông đưa cây diêm tới gần mồi thuốc lá, cái nhìn của ông dừng lại trên tấm vải xanh che phủ cái chuồng của con Napoléon. Ông ném que diêm vào lửa, kéo một vài hơi thuốc trong khi tiến tới chỗ cái chuồng. Khi tới bên cái chuồng, ông cầm lấy tấm vải và bắt đầu kéo nó ra. Rồi thình lình ông để nó lại chỗ cũ, vẻ giận dữ.
- Không, ông nói, như thể nói với riêng ông, không.
Ông vội vã trở lại chỗ lò sưởi và buông phịch người xuống cái ghế bành của ông.
- Cha đã tự đặt cho mình nhiều câu hỏi - ông nói với cha Murchison - tôi cũng vậy. Tôi hoàn toàn không biết nghĩ ra sao về việc này. Tôi sẽ trình bày kỹ càng các sự việc với cha, và cha phải cho tôi biết ý kiến của cha. Chiều ngày hôm kia, sau một ngày làm việc cực nhọc, tuy cũng không cực nhọc hơn thường lệ, tôi đi ra chỗ cửa ra vào để hít thở một chút. Cha cũng biết rằng việc đó thường xảy ra với tôi.
- Phải tôi đã thấy ông đứng trên bậc cửa lần đầu tiên tôi tới đây.
- Đúng thế. Tôi đã không đội mũ, cũng không mặc áo choàng. Tôi đứng trên ngưỡng cửa. Tôi nhớ lại là đầu óc tôi, hãy còn đầy ắp công việc của tôi. Tối hôm đó trời có vẻ tối tăm hơn, nhưng không phải hoàn toàn tối tăm. Lúc đó vào khoảng gần mười một giờ, mười một giờ mười lăm phút. Tôi nhìn sang công viên và đột nhiên tôi nhận thấy cái nhìn của tôi hướng về phía một người nào đó đang ngồi trên một trong những chiếc ghế dài, quay lưng lại phía tôi. Tôi trông thấy người đó, nếu đó là một người, qua hàng rào song sắt.
- Nếu đó là một người? - Ông cha nói - Ông muốn nói gì về chuyện đó?
- Xin hãy đợi một chút. Tôi nói điều đó vì trời tối quá nên tôi không biết chắc chắn được. Tôi chỉ nhìn thấy trên chiếc ghế dài một hình thù mơ hồ đen mờ mờ mà tôi thoáng trông thấy bên trên chỗ dựa lưng của cái ghế. Tôi đã không thể nói đó là một người đàn ông, một người đàn bà hay một đứa trẻ nhỏ. Nhưng đúng là đã có một vật gì đó, và tôi đã kinh ngạc khi nhìn nó.
- Tôi hiểu.
- Dần dà tôi phát hiện ra rằng những ý nghĩ của tôi đã gắn chặt vào vật này hoặc người này. Thoạt tiên tôi tự hỏi người này làm gì ở đó, rồi những ý nghĩ của hắn ta ra sao, sau hết hình dạng hắn thế nào.
- Một gã lang thang nghèo khổ nào đó, tôi giả thiết. Ông cha nói.
- Đó chính là điều mà tôi tự nói với mình. Tuy nhiên tôi cảm thấy là tôi đã có một sự quan tâm khác thường đối với kẻ này, một sự quan tâm quá lớn khiến tôi cầm lấy cái mũ và đi qua đường để vào trong công viên, như cha đã biết, có một lối vào gần như ở ngay trước mặt căn nhà của tôi. Thưa cha Murchison, thế là tôi băng qua đường, bước qua cái cửa, tiến lại gần cái ghế, và phát hiện ra là... không có ai ngồi trên ghế.
- Trong khi đi ông có luôn luôn để mắt vào mục tiêu của ông không?
- Một phần thời giờ, nhưng tôi đã đảo mắt đi chỗ khác ngay đúng lúc tôi bước qua cái cửa, vì một cuộc ẩu đả đã xảy ra cách nơi đó một quãng. Khi tôi nhận thấy cái ghế trống không, tôi cảm thay bị tràn ngập bởi một cảm giác thất vọng, gần như giận dữ, thật hoàn toàn kỳ cục. Tôi đứng lại nhìn quanh mình xem có thấy một vật nào chuồn đi không, nhưng uổng công. Trời đêm lạnh lẽo và đầy sương mù, và hầu như không có một người nào ở bên ngoài cả. Với cái cảm giác thất vọng mà tôi cho là xuẩn ngốc và không bình thường này tôi quay bước trở lại hướng về căn nhà của tôi. Khi tôi về tới nhà, tôi mới phát hiện ra là trong thời gian vắng mặt ngắn ngủi của tôi, tôi đã để cửa ra vào mở ngỏ, nói một cách chính xác hơn là hé mở.
- Ở Luân Đôn như thế là không được khôn ngoan lắm.
- Phải, tất nhiên là tôi đã không biết gì cả về chuyện này cho tới lúc tôi trở về. Tuy nhiên tôi đã chỉ vắng mặt khoảng trong ba phút thôi.
- Phải, khả năng là có.
- Có rất ít khả năng một người nào đã lẻn vào.
- Tôi giả thiết là không có.
- Cha tin chắc vậy à?
- Tại sao ông lại hỏi tôi câu đó, ông Guildea?
- Được rồi, được rồi.
- Ngoài ra, nếu có một kẻ nào đã lẻn vào, thì chắc chắn là ông đã tóm được hắn rồi.
Guildea lại húng hắng ho, ông cha ngạc nhiên và ông không thể không nhận thấy là Guildea đang bực bội, và sự bực bội đã ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của ông ấy.
- Đêm hôm đó tôi bị cảm lạnh - ông nói như thể ông đã đọc được ý nghĩ của người bạn và vội vã chống lại ý nghĩ đó. Rồi ông nói tiếp - Tôi đi vào phòng phía trước, hay đúng hơn là đi vào trong hành lang.
Ông ngưng lại nữa, sự khó chịu của ông đã trở nên rất rõ ràng.
- Và ông đã bắt gặp một người nào đó à? Ông cha nói.
Guildea đằng hắng giọng:
- Đúng thế - ông nói - Chúng ta hãy đến chỗ đó, như cha đã biết, tôi không có một óc tưởng tượng dồi dào.
- Chắc chắn là không rồi.
- Không, thế rồi khi tôi vừa mới đi vào trong hành lang, tôi đã biết chắc là có một người nào đó đã lẻn vào trong nhà trong lúc tôi vắng mặt. Tôi tin chắc là có việc này, và hơn nữa tôi quyết đoán rằng kẻ đột nhập chính là người mà tôi đã nhìn thấy một cách mơ hồ ngồi trên cái ghế dài của công viên. Cha nói sao về chuyện này?
- Tôi bắt đầu tin rằng ông có rất nhiều óc tưởng tượng.
- Hừ! Tôi thấy hình như cái người ngồi trên ghế và tôi, chúng tôi trong một lúc cùng có ý định nói chuyện với nhau, và chúng tôi đồng thời cũng di chuyển để thực hiện ý định này. Sự tin chắc đó trở nên quá vững chắc trong tôi khiến tôi chạy vội lên lầu một. Trong gian phòng này, chắc mẩm rằng sẽ thấy người khách đang chờ tôi ở đó. Nhưng không có ai cả. Thế là tôi lại đi xuống và bước vào phòng ăn. Không có người nào cả. Tôi hết sức ngạc nhiên. Việc đó có kỳ lạ không?
- Rất kỳ lạ. Ông cha nói một cách nghiêm trọng.
Thái độ băng giá và ảm đạm của ông giáo sư, người đang bị quấy phá, o ép đã xua đuổi cái khí vị hào hứng là thứ mà lẽ ra đã rất có thể len vào một buổi chuyện trò loại này.
- Tôi lại lên lầu, ông tiếp tục, ngồi xuống và suy nghĩ về việc này. Tôi quyết định quên nó đi và cầm lấy một quyển sách. Có lẽ tôi đã có thể đọc được, nhưng bỗng nhiên hình như tôi thấy...
Ông ngưng lại. Cha Mulchison nhận thấy ông đảo mắt về phía tấm vải màu xanh phủ lên cái chuồng của con két.
- Nhưng ta hãy bỏ qua chuyện đó, ông nói. Chỉ biết rằng tôi đã không thể nào đọc được nữa. Tôi quyết định đi tìm tòi trong nhà. Cha cũng biết rằng căn nhà là nhỏ bé, đi quanh một vòng trong căn nhà là việc dễ dàng. Thế là tôi đã đi một vòng trọn vẹn trong căn nhà. Tôi đã vào tất cả mọi căn phòng, không bỏ sót một phòng nào. Tôi đã xin lỗi những người hầu lúc họ đang ăn bữa tối. Chắc chắn là sự xuất hiện của tôi đã làm họ kinh ngạc.
- Còn Pitting thì sao?
- Ồ! hắn ta đứng dậy một cách lễ độ khi tôi bước vào, hắn ta vẫn đang yên trong khi tôi ở đó nhưng tuyệt nhiên không nói một lời nào. Tôi nói thì thào: “Đừng bận tâm", hoặc một câu đại loại như vậy, rồi đi ra. Thưa cha Murchison, tôi đã không tìm thấy người lạ mặt nào trong căn nhà. Tuy nhiên, tôi trở lại căn phòng này, lòng vẫn định ninh rằng có một người nào đó đã vào trong nhà trong khi tôi ở trong công viên.
- Và hắn đã đi ra khỏi trước khi ông quay về?
- Không, hắn ở lại và vẫn còn ở trong nhà.
- Nhưng, ông bạn Guildea thân mến… Lúc này ông cha đã bắt đầu thấy rất kinh ngạc. Chắc chắn là...
- Tôi biết những gì cha muốn nói, những gì mà tôi sẽ định nói nếu tôi ở vào địa vị của cha. Những xin cha hãy đợi một chút. Tôi cũng tin chắc là người khách đó không rời khỏi căn nhà và vào lúc này vẫn còn ở trong nhà.
Ông nói với một sự thành thực hiển nhiên, với một vẻ nghiêm trọng cực kỳ. Cha Murchison nhìn thẳng ngay vào mặt ông và bắt gặp cái nhìn linh hoạt, mãnh liệt của ông.
- Không, ông nói như để trả lời một câu hỏi được đặt ra. Tôi hoàn toàn lành mạnh về tinh thần, tôi đoán chắc với cha như vậy. Đối với tôi, tất cả câu chuyện kỳ quái này có vẻ không thể tin được cũng như nó phải không thể tin được đối với cha. Nhưng, như cha biết đấy, không bao giờ tôi muốn tranh biện về những sự việc, dù chúng có thể kỳ dị tới thế nào đi nữa. Tôi chỉ cố gắng xem xét chúng thật kỹ càng thôi. Tôi đã hỏi ý kiến một bác sĩ, ông ấy nói là tình trạng thể chất của tôi thật hoàn hảo.
Ông ngừng lại như thể chờ đợi một lời nhận xét của ông cha.
- Tiếp tục đi, Guildea - ông cha nói - Ông chưa nói hết mà.
- Không, tôi tuyệt đối tin chắc là tối hôm đó có một người nào đó đã lẻn vào trong nhà, và sự xác tín của tôi cứ lớn dần lên. Như thường lệ, tôi đã đi nằm, và đã ngủ một cách bình thường. Tuy nhiên, sáng hôm qua, khi tôi thức dậy, tôi biết rằng có thêm một người nữa cư ngụ trong căn nhà.
- Tôi có thể ngắt lời ông một lát được không? Làm thế nào mà ông biết được điều này?
- Chính trí tuệ của tôi đã đoan chắc với tôi điều đó. Tôi không biết gì khác, ngoài việc tôi hoàn toàn ý thức rằng có một sự hiện diện mới trong căn nhà của tôi, ở ngay sát gần tôi.
- Thật là kỳ quái! Ông cha nói. Và ông có hoàn toàn tin chắc rằng không có sự làm việc quá sức trong trường hợp của ông không? Ông không có bộ óc bị mệt mỏi chứ? Đầu óc ông có hoàn toàn tỉnh táo không?
- Hoàn toàn. Chưa bao giờ sức khỏe của tôi được tốt như thế này. Sáng hôm đó, khi tôi đi xuống ăn sáng, tôi đã nhìn một cách thô bạo vào mặt của Pitting. Hắn ta vẫn lạnh lùng, vẫn trầm tĩnh và không lộ chút cảm xúc nào như thường lệ. Tôi thấy rất rõ ràng là tâm hồn hắn không bị xao động một chút nào. Sau bữa ăn sáng, tôi bắt đầu làm việc, trong lòng lúc nào cũng nghĩ tới sự việc của sự xâm nhập vào chỗ riêng tư của tôi. Tuy nhiên, tôi đã bực bội trong nhiều giờ, chờ đợi một diễn biến nào đó có thể xua tan sự tối tăm và bí ẩn của sự cố này. Tôi ăn bữa trưa, vào khoảng hai giờ rưỡi tôi phải đi để mở một buổi diễn thuyết. Thế là tôi cầm lấy cái mũ và áo khoác ngoài, mở cửa và đi ra vỉa hè, ngay chính vào lúc đó tôi có cảm giác là không còn có sự đột nhập nữa, và dù sao thì trong lúc này tôi đang ở ngoài phố, xung quanh có nhiều người. Lúc đó tôi tin chắc rằng con người đó, kẻ đang ở trong nhà tôi, phải đang nghĩ đến tôi, có lẽ đang rình mò tôi.
- Xin chờ một lát - ông cha cắt ngang - lúc đó ông cảm thấy thế nào? Có phải là sự sợ hãi không?
- Trời ơi! Không. Tôi đã bị hoàn toàn bối rối và bây giờ tôi vẫn còn bối rối, tôi thấy quan tâm một cách mê mải, nhưng không sợ hãi chút nào. Tôi thực hiện buổi diễn thuyết cũng với sự dễ dàng như mọi khi, và trở về nhà vào lúc tối. Ngay chính lúc tôi bước vào trong nhà, tôi có một cảm giác rất rõ ràng là kẻ đột nhập vẫn còn ở đó. Tối hôm qua tôi ăn bữa tối một mình, và sau đó tôi để ra vài giờ để đọc một tác phẩm khoa học đã làm tôi quan tâm một cách sâu sắc. Tuy nhiên, trong lúc đọc sách này, không có một phút nào mà tôi không biết rằng ở gần bên tôi có một linh hồn mà tất cả sự chăm chú đều hướng vào tôi. Tôi xin nói thêm điều này: cảm giác đó không ngừng phát triển, và khi tôi đứng dậy để đi ngủ thì tôi đi tới một kết luận rất lạ kỳ.
- Làm sao? Kết luận nào?
- Việc sinh vật này - cái vật này - bất kể nó là cái gì đi nữa, đã lẻn vào trong nhà của tôi trong thời gian vắng mặt ngắn ngủi của tôi, lúc mà tôi ở trong công viên, đã gây ra cho tôi một điều còn hơn là sự quan tâm.
- Hơn là sự quan tâm ư?
- Hẳn là nó đã yêu tôi, hoặc đã bắt đầu yêu tôi.
- Ủa! Ông cha kêu lên. Bây giờ thì tôi hiểu tại sao lúc nãy ông đã hỏi tôi là tôi có tin rằng trong người ông có một thứ gì có sức lôi cuốn một cách không thể kháng cự được một người hay một con vật theo ông.
- Đúng thế. Từ lúc tôi đi tới kết luận đó, cha Murchison ạ, tôi thú thật rằng một tình cảm khác đang tới hòa trộn vào tính hiếu kỳ mãnh liệt của tôi.
- Sự sợ hãi ư?
- Không, sự thù ghét, hoặc sự bực bội. Không, không, không có sự sợ hãi, không có sự sợ hãi.
Vừa nhắc lại một cách không cần thiết lời phản kháng này, Guildea vừa nhìn lại cái chuồng của con két.
- Có điều gì phải sợ hãi trong một vụ như thế? Ông nói thêm. Tôi không phải là một đứa trẻ con để phải run sợ trước những con ma.
Ông đột ngột cất cao giọng khi nói tiếng cuối cùng này. Rồi ông đi nhanh tới chỗ cái chuồng, và với một cử động mau lẹ, ông kéo tấm vải phủ cái chuồng ra. Con két Napoléon hiện ra, nó có vẻ đang gập gờ ngủ trên cái cần đậu của nó, đầu hơi nghiêng về một bên. Khi ánh sáng rọi vào nó, nó cựa quậy xù lông cổ lên, hấp háy đôi mắt, và bắt đầu chuyền một cách không vội vã theo chiều ngang, trong một hướng rồi trong hướng khác, chìa cái đầu về phía trước, rồi kéo cái đầu lại với một vẻ hăng say mãn nguyện, mặc dù vẫn còn thiếu hẳn ý nghĩa. Guildea đứng gần cái chuồng, nhìn con két rất gần, và thật tình mà nói, với một sự chăm chú mà cường độ tỏ ra đặc biệt, gần như không bình thường.
- Ồ! Sự kỳ cục của loại gia cầm này! Cuối cùng ông nói, trong khi trở lại gần lò sưởi.
- Ông không còn điều gì khác để nói với tôi à? Ông cha hỏi.
- Không, tôi luôn luôn có cảm giác về sự hiện diện của một vật nào đó trong nhà của tôi. Tôi luôn luôn có cảm tưởng minh là đối tượng của một sự chú ý trong mọi khoảnh khắc. Tôi luôn luôn bị cáu kỉnh, bị bực bội một cách nghiêm trọng, vì sự chú ý đó, tôi thú thực điều này.
- Ông nói là ông có cảm giác một sự hiện diện ngay cả lúc này à?
- Trong lúc này, phải.
- Ông muốn nói trong căn phòng này, trong lúc này, với chúng ta à'?
- Dù sao thì tôi cũng tin như thế. Ở rất gần chúng ta.
Một lần nữa ông lại ném một cái nhìn mau lẹ gần như nghi ngờ về phía cái chuồng của con két. Con chim vẫn còn đứng trên cái cần của nó. Đầu nó cúi xuống nghiêng về một bên, và nó có vẻ đang lắng nghe một cái gì đó với sự chăm chú.
- Con chim này sáng mai sẽ nhái lại sự uốn giọng của tôi một cách trung thực hơn bao giờ hết, ông cha nói trong khi ngắm nghía Guildea với tất cả sự dịu dàng của cặp mắt màu xanh của ông. Nó đã luôn luôn bắt chước tôi với rất nhiều sự khéo léo.
Vị giáo sư hơi giật mình.
- Phải, ông nói, phải, không còn nghi ngờ gì nữa. Này, cha nói sao về vụ này?
- Không có gì cả, nó hoàn toàn không thể giải thích được. Tôi có thể nói một cách thành thực với ông, tôi biết chắc điều đó.
- Đồng ý, chính vì thế mà tôi đã kể tất cả cho cha biết.
- Tôi tin rằng ông đã làm việc quá sức, cạn hết khí lực, mà ông không ngờ tới.
- Thế là ông bác sĩ đã lầm khi ông ta thấy tôi hoàn toàn bình thường à?
- Phải.
Guildea gõ cái ống vố của ông vào tấm che lò sưởi.
- Điều này có thể lắm, ông nói. Tôi sẽ không gàn dở đến độ phủ nhận khả năng này, dù rằng trong đời tôi chưa bao giờ cảm thấy khỏe mạnh hơn lúc này. Vậy cha khuyên tôi nên làm gì đây?
- Một tuần lễ nghỉ ngơi hoàn toàn bên ngoài Luân Đôn, đến nơi thật thoáng đãng.
- Đó là điều mà người ta thường chỉ định. Tôi chấp nhận. Ngày mai tôi sẽ đi Westgate và để con Napoléon ở lại coi nhà trong lúc tôi vắng mặt.
Vì một lý do nào đó mà ông không thể nói ra, sự thích thú mà cha Murchison cảm thấy khi nghe đoạn bắt đầu của câu trả lời đã giảm đi, gần như đã bị triệt tiêu bởi câu nói sau cùng.
Buổi tối hôm đó, ông đi bộ tới trung tâm thành phố, mải mê trong các ý nghĩ. Ông nhớ lại và suy ngẫm một cách tỉ mỉ cuộc diện kiến đầu tiên của ông với Guildea tại nhà ông này,  một năm rưỡi trước đây.
Sáng hôm sau, Guildea rời khỏi Luân Đôn.
 
(Còn tiếp)
0
TÌNH YÊU ĐÃ TỰ ÁP ĐẶT THẾ NÀO VỚI GIÁO SƯ GUILDEA (3)
 
III
Cha Murchison là một người quá bận rộn nên ông không có thì giờ để nghĩ ngợi về những việc của người khác. Tuy nhiên, trong tuần lễ mà Guildea sống ở bờ biển, ông thường nghĩ tới ông ta với rất nhiều ngạc nhiên và đôi chút kinh hoàng. Chẳng bao lâu sự kinh hoàng đã bị xua tan, vì ông cha có cái nhìn dịu dàng đó lại rất mau lẹ phát hiện ra sự yếu kém trong bản thân ông, mà lại còn mau lẹ hơn nữa để xua đuổi nó như một người khách bất hảo của tâm hồn. Nhưng sự kinh ngạc thì vẫn tồn tại, nó sẽ càng ngày càng lớn thêm. Guildea đã rời khỏi Luân Đôn vào một ngày thứ năm, ông trở về cũng vào một ngày thứ năm và đã gửi trước cho cha Murchison một lời để báo cho cha biết là ông sẽ rời khỏi Westgate vào một giờ nào đó. Khi xe lửa của ông chạy vào nhà ga Victoria, ông ngạc nhiên khi trông thấy cái bóng của người bạn ông trong chiếc áo lót bông đang đứng trên sân ga màu xám ngắt, phía sau một hàng những người phu khuân vác.
- Tại sao cha lại ở đây, thưa cha Murchison? Ông nói. Cha đã rời bỏ chức vụ tôn nghiêm mà cha đã tự dành cho mình một ngày nghỉ à?
Hai người bắt tay nhau.
Ông cha nói:
- Sự tình cờ đã xui khiến cho tôi có mặt ở đây hôm nay, tại chỗ này, để gặp một người bệnh. Chính vì thế mà tôi nghĩ tới việc tới đây đón ông.
- Và để xem có phải tôi vẫn còn bệnh hả?
Ông cha nhìn ông với con mắt hiền hậu, nhưng có kèm theo một tiếng cười khô khan.
- Ông vẫn còn bị bệnh à? Ông cha hỏi trong khi nhìn Guildea với sự quan tâm. Không, tôi không tin, ông có vẻ rất khỏe.
Thực ra, không khí mạn biển đã tô một chút nâu xạm và đỏ lên trên cặp má lúc nào cũng gầy ốm của Guildea. Cái nhìn sắc sảo của ông long lanh sức sống và khí lực, và ông tiến bước, mình mặc một bộ đồ xám nhạt và một áo khoác rộng thùng thình, với một sự tráng kiện mà ai cũng nhận thấy. Với bàn tay trái ông xách một cái vali đầy ắp mà không cần sự ráng sức nào.
Ông cha cảm thấy hoàn toàn vững bụng.
- Chưa bao giờ tôi thấy ông có sức khỏe tốt hơn thế, ông nói.
- Không bao giờ tôi cảm thấy khỏe hơn. Cha có thể dành cho tôi một giờ được không?
- Hai giờ.
- Tốt lắm. Tôi sẽ bảo một chiếc xe ngựa chở hành lý của tôi và chúng ta sẽ đi bộ qua công viên tới nhà, chúng ta sẽ uống một tách trà. Cha nghĩ thế nào?
- Điều đó làm tôi rất thích thú.
Họ đi ra khỏi nhà ga, đi qua bên cạnh những cô bé bán bia và những người bán hàng rong, và hướng về phía công viên Grosveur.
- Cuộc du ngoạn của ông có thoải mái không? Ông cha hỏi.
- Khá thoải mái, và cô đơn. Phải, tôi đã để người bạn của tôi ở lại, trong hành lang số 100.
- Và ông sẽ không gặp lại hắn, tôi biết chắc điều này.
- Hừm! Guildea kêu lớn. Theo ý cha thì tôi là một con số hoa mỹ à, thưa cha Murchison.
Ông đi những bước dài trong khi nói, làm như bị thúc đẩy phải nhấn mạnh cái cảm tưởng về sự cường tráng thể chất của ông.
- Một con số, không phải đâu, nhưng bất kỳ người nào muốn đòi hỏi bộ óc của mình một sự hoạt động liên tục như hoạt động của ông đều không thể tránh khỏi sự cần thiết của những chuyến nghỉ ngơi vào lúc này hay lúc khác.
- Và tôi rất cần được nghỉ ngơi phải không?
- Phải, tôi tin là ông cần được nghỉ ngơi.
- Được, đồng ý. Và bây giờ chúng ta sẽ thấy.
Chiều tối đổ xuống rất nhanh. Họ đi ngang qua đường phố ở góc công viên Hyde Park. Trong công viên lúc đó đang đông đảo một số người đi về nhà sau giờ làm việc, những người đàn ông mặc quần nhung kẻ sọc dính đầy bùn khô, vai đeo những thức ăn đóng hộp và những cái giỏ dẹp đựng các dụng cụ của họ, một vài người trong số những người trai trẻ nhất nói chuyện lớn tiếng, hoặc vừa nói vừa huýt sáo với một âm sắc cao vút.
- Mãi tới buổi tối, cha Murchison nói lẩm bẩm.
- Cái gì? Guildea hỏi
- Tôi chỉ nhắc lại những tiếng cuối cùng của bản văn, hình như đoạn này có liên quan tới đời sống, chủ yếu là đời sống khoái lạc: "Con người đi tới chỗ làm của y, và tới sự cực nhọc của y”.
- À! Một cử tọa gồm có những người đó tạo thành một đám công chúng còn lâu mới trở thành khó tính. Khi tôi gặp cha vào lần đầu tiên đã có một số lớn người trong buổi diễn thuyết mà tôi đăng đàn, tôi vẫn nhớ việc đó. Một người trong bọn họ cố ý làm tôi lúng túng vì các câu hỏi của ông ta. Ông ta có mái tóc đỏ hoe, những anh chàng tóc đỏ hoe bao giờ cũng đóng vai trò những kẻ hay nói trái ngược. Tôi đã làm cho ông ta im miệng lần đó. Cha Murchison này, bây giờ chúng ta đi xem.
- Xem cái gì?
- Xem có phải người bạn của tôi đã bỏ đi rồi không?
- Nói cho tôi biết đi, có phải ông vẫn còn tin rằng có một người nào đó ở trong nhà ông không?
- Hình như cha đắn đo lời nói đó! Không, tôi chỉ tự hỏi về việc đó thôi.
- Ông không có sự lo ngại à?
- Không một chút mảy may. Nhưng tôi thú nhận là tôi cảm thấy đôi chút kỳ dị.
- Vậy là không khí miền biển đã không làm được cho ông nhận thức rằng tất cả chuyện này đều là do sự làm việc quá sức ư?
- Không. Guildea nói với một giọng rất khô khan. Dù sao thì tôi cũng tin rằng sự làm việc quá sức đã có hiệu ứng này.  Thế ra chuyến đi nghỉ ngơi này đã chứng tỏ cho tôi thấy là tôi có một óc tưởng tượng bệnh hoạn, không lành mạnh, phải không? Này cha Murchison, tại sao lại không nói một cách thành thực là cha đã đẩy tôi đi Westgate để xua đuổi khỏi tôi cái điều mà cha coi là cơn kịch biến của bệnh thần kinh?
Sự công kích này không làm ông cha nao núng chút nào.
- Này, Guildea - ông cha trả lời - theo ý ông thì tôi có thể nghĩ thế nào? Tôi không thấy ở ông một triệu chứng nào của bệnh thần kinh. Tôi đã không bao giờ thấy triệu chứng đó. Ông là người sau cùng mà người ta có thể tin rằng có khả năng bị mắc căn bệnh này, nhưng nếu tôi tin là ở ông có bệnh thần kinh, hay tôi tin vào sự đích thực của câu chuyện vào loại câu chuyện mà ông đã kể với tôi, thì điều nào là điều tự nhiên hơn?
- Việc đó không trả lời được. Không, tôi không có quyền phàn nàn gì cả. Dù sao trong lúc này không có vấn đề bệnh thần kinh ở tôi.
- Và cũng không có kẻ lạ mặt trong nhà của ông, tôi hy vọng thế.
Cha Murchison bỏ cái giọng đùa cợt mà cả hai người bạn họ đều đã dùng, ông nói những từ này với một sự nghiêm trọng rất chân thật.
- Cha coi vụ này rất nghiêm trọng đó, tôi thấy thế - Guildea nói, chính ông cũng nói với vẻ nghiêm trọng hơn.
- Làm thế nào mà tôi lại có thể coi nó khác đi được? Hẳn là ông đã không muốn thấy tôi cười khi ông kể lại câu chuyện một cách nghiêm chỉnh.
- Không. Nếu chúng ta lại thấy người khách của tôi ở trong nhà thì tôi có thể đi tới việc nhờ cha khử trừ nó, nhưng trước hết tôi phải làm một việc đã.
- Việc gì?
- Chứng tỏ với cha, mà cũng chứng tỏ với chính tôi, là hắn ta vẫn còn ở đó.
- Việc đó sẽ khó mà thực hiện được - ông cha nói trong khi hết sức ngạc nhiên vì giọng nói chắc nịch của Guildea.
- Nếu vật đó còn ở trong nhà tôi, tôi tin rằng tôi có thể tìm ra một phương cách. Và tôi sẽ không kinh ngạc một chút nào là nó còn ở đó, bất kể không khí ở Westgate.
Khi nói lên những từ cuối cùng này, vị giáo sư đã trở lại giọng đùa cợt hơi khô khan mà ông vẫn thường có trước đây. Ông cha không tài nào biết được là Guildea đang nghiêm trọng một cách cực kỳ hay đang vui vẻ một cách cực kỳ. Khi hai người đi tới gần Công viên Hyde Park, cuộc đàm thoại của họ chấm dứt. Họ lặng lẽ cất bước đi trong sự tối tăm mỗi lúc một dầy đặc hơn.
- Chúng ta đã tới nơi rồi!
Cuối cùng thì Guildea nói. Ông cho chìa khóa vào ổ khóa, mở cửa, đưa cha Murchison vào trong hành lang, đi theo sát phía sau ông và làm cánh cửa kêu lạch cạch.
- Chúng ta tới nơi rồi! Ông nhắc lại với một tiếng nói lớn hơn. Đèn điện đã được thắp sáng để đón tiếp ông, ông dừng lại và nhìn quanh ông.
- Chúng ta sẽ uống trà ngay tức thì, ông nói. À! Pitting đâu?
Người đầu bếp mặt tái nhợt, vốn đã nghe thấy tiếng cánh cửa lạch cạch, thong thả bước tới từ bậc cao của cầu thang dẫn tới nhà bếp, chào một cách kính cẩn người chủ của y, đỡ lấy cái áo khoác của ông cũng như cái áo lót bông của cha Murchison, và quặc chúng từng cái một bên hai cái móc đóng trên tường.
- Mọi sự đều tết đẹp chứ, Pitting? Không có gì bất bình thường chứ? Guildea nói.
- Thưa ông, không ạ.
- Đem cho chúng tôi một ít trà ở trong phòng đọc sách.
- Thưa ông, vâng.
Pitting lui ra. Guildea đợi cho hắn ta đi khuất dạng rồi mới mở cái cửa của phòng ăn, thò đầu vào trong căn phòng, rồi cứ đứng yên như thế trong một lúc, hoàn toàn không động đậy. Sau một lúc ông đi ra, đóng cửa lại và nói:
- Chúng ta hãy đi lên.
Cha Murchison nhìn ông một cách dò hỏi, nhưng không đưa ra một lời phê phán nào. Họ đi lên cầu thang và đi vào phòng đọc sách. Với một cái nhìn mau lẹ, Guildea dò xét căn phòng. Lửa đang cháy trong lò sưởi, những tấm màn màu xanh được kéo ra. Ánh sáng chói chang của ngọn đèn điện cực mạnh chiếu vào kệ sách, cái bàn làm việc được sắp xếp rất gọn gàng sau những ngày vắng mặt của Guildea, và cái chuồng của con két không được che phủ. Guildea đi tới gần cái chuồng, con két Napoléon thu mình lại trên cái cần, lông nó xù lên, cái bàn chân dài của nó trông giống như được phủ một lớp da cá sấu, bám chặt lấy các song sắt. Đôi mắt tròn của nó hấp háy, chúng có vẻ như bị che phủ bằng một cái màng mỏng, như thể do hậu quả của tuổi tác.
Guildea chăm chú nhìn con chim rồi ông tặc lưỡi. Con Napoléon cựa quậy, nó giơ một bàn chân lên, đuôi dài các ngón chân quắp lại, đứng về một bên ở trên cái cần, sát cạnh những then sắt ở gần ông giáo sư nhất và nó tựa đầu vào đó. Guildea lấy ngón tay trỏ cà vào đầu nó hai hay ba lần, cái nhìn của ông vẫn chăm chú dán vào con két, rồi ông quay trở lại gần lò sưởi, vào đúng lúc này Pitting bước vào với khay trà.
Cha Murchison đã ngồi trong một cái ghế bành ở một bên của lò sưởi. Guildea ngồi vào một cái ghế khác và bắt đầu rót trà, trong khi Pitting rời khỏi căn phòng, nhẹ nhàng đóng cánh cửa lại phía sau y. Ông cha uống một hớp trà, thấy nó nóng quá và đặt cái tách lên trên một cái bàn nhỏ ở gần ông.
- Ông yêu con két này, phải không? Ông hỏi người bạn của mình.
- Không phải một cách đặc biệt. Đôi khi nó thật lý thú để nghiên cứu. Trí khôn và bản chất của những con két thật là kỳ cục.
- Ông đã có nó từ bao lâu rồi?
- Khoảng gần bốn năm. Ngay trước khi được quen biết cha, một chút nữa tôi đã tống nó đi rồi. Bây giờ tôi rất bằng lòng là đã giữ nó lại.
- A! phải. Vì lý do gì?
- Có lẽ tôi sẽ nói việc đó với cha trong vòng một hay hai ngày tới.
Ông cha lại cầm lấy tách trà. Ông không thúc ép Guildea phải ngay tức thì cho ông một lời giải thích, nhưng khi hai người đã uống trà xong, ông nói:
- Này, không khí vùng biển có tạo được kết quả mong muốn không?
- Không. Guildea nói.
Ông cha rũ mấy miếng bánh vụn còn dính trên áo thầy tu của ông xuống và ngồi thẳng lên trên chiếc ghế của ông.
- Người khách của ông hãy còn ở đây à? Ông biết việc này lúc nào? Khi ông thò đầu vào trong phòng ăn lúc nãy phải không?
- Không, không phải trước lúc bước vào phòng này. Y đã đón tiếp tôi ở đây.
- Đón tiếp ư? Đón tiếp bằng cách nào?
- Chỉ đơn giản bằng sự hiện diện của y ở đây, bằng cách làm cho tôi cảm thấy sự hiện diện này, cũng như tôi có thể cảm thấy sự hiện diện của một người nào nếu tôi đi vào trong bóng tối.
Rất làm chủ được mình, ông nói một cách trầm tĩnh, với một giọng khô khan vốn đã là thói quen của ông.
- Tốt lắm, ông cha nói, tôi không có ý định chống lại cái cảm tưởng đó, hoặc triệt tiêu nó bằng những lời giải thích. Những dĩ nhiên là tôi thấy kinh ngạc.
- Tôi cũng vậy. Trong đời tôi chưa bao giờ trải qua một sự kinh ngạc như thế, Murchison ạ. Rõ ràng là tôi không thể hy vọng là cha tin được một điều gì khác, nếu không phải là tôi giả tưởng - hay tưởng tượng - nếu cha thích nghĩ thế - là ở đây có một kẻ đột nhập. Nó thuộc loại nào? Tôi hoàn toàn không biết gì về điều này. Tôi không thể chờ đợi việc cha tin là quả thật đã có một vật gì đang hiện hữu. Nếu cha ở vào địa vị tôi, và tôi lại ở vào địa vị cha, thì chắc chắn tôi sẽ nghĩ rằng cha là nạn nhân của một sự ảo giác nào đó bắt nguồn từ bệnh thần kinh. Tôi sẽ không có thể suy nghĩ khác đi được, nhưng xin hãy kiên nhẫn. Đừng kết tội tôi là một tên mắc bệnh tâm thần, hoặc bị thần kinh rối loạn, trong hai hoặc ba ngày nữa. Tôi có sự vững tin rằng trừ phi tôi bịđau ốm thật sự, hoặc tôi bị rối loạn thần kinh. Chẳng bao lâu nữa tôi sẽ có thể đưa cha xem một bằng chứng nào đó về sự hiện diện của kẻ mới tới trong nhà của tôi.
- Ông không nói với tôi là loại bằng chứng nào chứ?
- Chưa nói, trước hết các sự việc phải được rõ ràng. Trong khi chờ đợi, tôi xin nói với cha: nếu kết cục tôi không thể mang lại cho cha một loại bằng chứng nào xác nhận rằng tôi không mơ mộng, tôi sẽ cho phép cha đưa tôi tới bất kỳ một nhà chuyên môn nào mà cha lựa chọn, và tôi sẽ cương quyết cố gắng chiều theo ý kiến của cha vào lúc đó: là không có điều gì khác ngoài một sự lầm lẫn xuẩn ngốc. Đó chính là ý kiến của cha phải không?
Cha Murchison nín thinh trong một lát. Rồi ông nói, với một giọng có vẻ ngần ngừ:
- Chắc đó phải là ý kiến của tôi.
- Thế đó không phải là ý kiến của cha à? Guildea ngạc nhiên hỏi.
- Ồ! Ông biết rằng thái độ của ông đã có sức thuyết phục ghê gớm. Tuy nhiên tôi vẫn còn hoài nghi, chắc chắn là thế. Làm thế nào mà nó có thể khác đi được? Tất cả những điều đó đều là vấn đề của óc tưởng tượng.
Ông cha nói như thể ông đang cố gắng thoát khỏi một quan điểm về tinh thần mà người ta ép buộc ông phải chấp nhận.
- Đây chỉ có thể là óc tưởng tượng, ông nhắc lại.
- Để thuyết phục cha, tôi sẽ dùng một lý luận vững vàng hơn là thái độ của tôi, hoặc là tôi sẽ không cố gắng thuyết phục cha nữa. Guildea nói.
Tối hôm đó, khi họ chia tay, ông nói:
- Trong một hay hai ngày nữa rất có thể là tôi sẽ viết thư cho cha. Tôi tin rằng bằng chứng mà tôi sẽ đưa cho cha đã hiện hình trong khi tôi vắng mặt. Nhưng chẳng bao lâu tôi sẽ biết nó.
Cha Murchison hết sức băn khoăn khi ông ngồi ở tầng trên của xe chở khách trở về nhà.
 
(Còn tiếp)
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-10-22 03:16:48HanAn>
TÌNH YÊU ĐÃ TỰ ÁP ĐẶT THẾ NÀO VỚI GIÁO SƯ GUILDEA (4) 

IV
Hai ngày đã trôi qua, vào cuối thời hạn đó ông nhận được một lời nhắn của Guildea, mời ông tới gặp ông ta ngay buổi chiều hôm đó, nếu có thể. Ông bị cản trở không tới được vì ông bị giữ lại bởi một cuộc hội họp ở khu Đông. Ngày hôm sau là ngày Chủ nhật, ông viết thư nói rằng ông sẽ tới vào ngày thứ Hai, và sau đó ít lâu ông nhận được một bức điện tín: :Được, ngày thứ Hai mời cha tới dùng bữa lúc bảy giờ ba mươi. Guildea”. Lúc bảy giờ rưỡi, ông đã đứng trước số nhà 100.
Pittng mở cửa cho ông.
- Pitting này, ông giáo sư vẫn hoàn toàn khỏe mạnh chứ? Ông cha vừa hỏi vừa cởi bỏ cái áo lễ của ông ra.
- Thưa ông, tôi tin rằng ông ấy vẫn khỏe ạ. Ông ấy không phàn nàn gì cả - người đầu bếp trả lời một cách trịnh trọng lễ phép. Thưa ông, ông có muốn lên trên lầu không ạ?
Guildea tiếp đón họ ở cửa phòng đọc sách. Ông rất nhợt nhạt và có vẻ ảm đạm, ông nắm lấy bàn tay người bạn một cách lơ đãng.
- Dọn bữa ăn tối cho chúng tôi. Ông nói với Pitting.
Khi người đầu bếp ra khỏi, Guildea đóng cửa lại với sự thận trọng. Chưa bao giờ cha Murchison nhìn thấy ông bối rối như thế.
- Ông đang lo lắng, ông Guildea, rất lo lắng.
- Phải, thật vậy. Hiệu ứng của chuyện này bắt đầu làm cho tôi cảm thấy một cách nghiêm trọng.
- Vậy là ông vẫn khăng khăng một mực tin vào sự hiện diện của một người nào đó trong nhà ông?
- Chắc chắn vậy. Phải, tôi không còn có một chút nghi ngờ nào về việc này. Buổi tối mà tôi ra khỏi nhà để đi tới tận công viên thì một vật nào đó đã vào trong nhà. Nhưng vật đó là cái quỉ quái gì vậy? Tôi vẫn thấy không thể phát hiện ra nó. Nhưng trước khi chúng ta đi xuống dùng bữa, tôi muốn tiết lộ với cha một vài điều về vấn đề cái bằng chứng này mà tôi đã hứa với cha. Cha có nhớ không?
- Dĩ nhiên là nhớ chứ.
- Cha không có ý nghĩ nào về vật đó có thể là cái gì chứ?
Cha Murchison ra dấu hiệu là không.
- Xin cha hãy nhìn trong căn phòng. Guildca nói. Cha trông thấy những gì?
- Không có gì khác thường cả. Chắc ông sẽ không nói với tôi rằng đã có một con ma nào đó...
- Ồ! Không, không. Không có ma dưới hình dạng thông thường được che phủ bằng màu trắng và thoảng như khói, như hơi, nhờ ơn Chúa độ trì, tôi không bị đọa đày đến thế đâu.
Giọng nói của ông bộc lộ một sự bực bội cao độ.
- Cha hãy nhìn nữa đi!
Cha Murchison nhìn ông, rồi quay lại phía mà cái nhìn của Guildea đang gắn chặt, và cha thấy con két màu xám đang leo trong cái chuồng một cách chậm chạp và bướng bỉnh.
- Làm sao? Ông nói một cách nôn nóng. Bằng chứng tới từ chỗ đó à?
Ông giáo sư gật đầu xác nhận.
- Tôi tin vào việc đó, ông nói. Bây giờ chúng ta hãy xuống ăn bữa tối đã. Tôi rất cần phải nắm lấy một vật gì.
Họ đi xuống phòng ăn. Trong lúc họ ăn và Pitting đứng hầu họ, vị giáo sự nói về loài chim, về những tập tục của chúng, về sự tò mò của chúng, về những nỗi sợ sệt của chúng, và về những năng khiếu bắt chước của chúng. Rõ ràng là ông đã nghiên cứu vấn đề này đến nơi đến chốn với một lương tâm vốn đã là đặc tính của ông trong mọi công việc mà ông đã làm.
Những con két có trí khôn phi thường về sự quan sát, ông nói sau một lúc yên lặng. Đáng tiếc là năng khiếu diễn đạt lại những gì chúng nhìn thấy lại quá hạn hẹp. Nếu không, tôi tin chắc rằng sự bắt chước các điệu bộ của chúng cũng sẽ tuyệt diệu như sự bắt chước tiếng nói của chúng vậy.
- Nhưng chúng thiếu những bàn tay.
- Phải, nhưng chúng làm rất nhiều việc bằng cái đầu, ngày trước tôi có biết một bà già ở gần Goring, bên sông Tamise. Bà ấy mắc bệnh bại liệt co giật chân tay. Lúc nào bà ấy cũng để đầu gục xuống và lúc lắc nó từ bên phải sang bên trái. Người con trai bà là một thủy thủ, anh ta mang về, sau một trong các chuyến hành trình cho bà một con két, con vật này diễn đạt lại một cách rất đúng cử động của cái đầu của người bị bại liệt. Những con két màu xám này lúc nào cũng rình rập.
Guildea nói ra câu sau cùng này một cách thong thả và quả quyết. Trong khi phóng ra bên trên cốc rượu của ông một cái nhìn sắc bén vào cha Murchison, nghe ông nói, ông hốt nhiên tỉnh ngộ. Ông mở miệng để nói một lời nhận xét ngắn gọn. Guildea quay cái nhìn long lanh của ông về phía Pitting giữa lúc người này mang một cách ân cần những đĩa phô-mai mà y vừa lấy từ cái máy nâng hàng nối liền phòng ăn với nhà bếp. Nhưng một lát sau đó, khi người đầu bếp đã đặt xong những trái táo lên trên bàn, đã bày biện một cách tỉ mỉ những cái bình pha lê, nhặt hết những mảnh bánh vụn và biến dạng, thì ông nói một cách sôi nổi:
- Tôi bắt đầu hiểu. Cha có nghĩ rằng con Napoléon nhìn thấy sự hiện diện này không? Tôi biết điều đó. Nó đã không ngưng rình mò người khách từ buổi tối mà hắn tới.
Vị linh mục đã có một linh cảm khác.
- Đó là lý do tại sao ông đã che kín nó bằng tấm vải vào một buổi tối nào đó phải không?
- Đúng là vậy. Do sự nhút nhát. Thái độ của nó bắt đầu làm tôi khó chịu.
Guildea mím cặp môi mỏng của ông lại, hạ thấp đôi chân mày xuống, dáng điệu này tạo cho bộ mặt của ông một sắc thái đau khổ bất thần.
- Nhưng bây giờ thì tôi lại muốn theo dõi nó trong các sự quan sát của nó. Ông nói thêm trong khi nét mặt ông lấy lại sắc thái tự nhiên.
- Tuần lễ mà tôi đã để mất đi ở Westgate, thì nó đã không để mất đi ở đây, tôi đoan chắc với cha điều này. Mời cha ăn một quả táo.
- Không, cám ơn.
Ông cha nói lời từ khước mà không nhận ra việc đó.
Guildea đẩy cái ghế ra.
- Vậy thì chúng ta hãy lên trên lầu.
- Không cám ơn, ông cha nhắc lại.
- Xin lỗi, cha nói gì thế?
- Tôi vừa nói gì nhỉ? Ông cha nói lớn trong khi đứng dậy. Tôi đang nghĩ về cái vụ kỳ dị này.
- A! Cha đã bắt đầu quên giả thuyết của bệnh thần kinh rồi à?
Họ đi ra ngoài hành lang.
- Ông đã hết sức khách quan về tất cả những gì dính líu tới vụ này.
- Tại sao lại không ? Đây là một việc rất kỳ lạ và không bình thường đã xảy ra trong cuộc sống của tôi. Ta phải có một thái độ thế nào nếu không phải là tìm hiểu nó một cách trầm tĩnh và tới tận cội nguồn?
- Thật thế, còn làm thế nào khác hơn được?
Ông cha bắt đầu cảm thấy khá bối rối, vì trong một cung cách nào đó, bởi một sự ức chế, ông đã buộc lòng phải dành một sự chú tâm mãnh liệt nhất vào một việc mà ông thấy đáng lẽ ông phải coi là hoàn toàn vô lý. Khi họ bước vào phòng đọc sách, ngay tức thì cặp mắt ông nhìn về phía cái chuồng của con két, với một sự tò mò sâu đậm. Một nụ cười nhẹ nhàng làm cong cặp môi của vị giáo sư. Ông đã nhận thấy hiệu ứng mà ông gây ra cho người bạn của ông. Ông cha nhìn thấy nụ cười mỉm.
- Ồ! Ông vẫn chưa làm cho tôi tin được mà. Ông nói như để trả lời.
- Tôi biết. Có lẽ tôi sẽ thành công trước khi hết buổi tối. Cà phê đây. Khi chúng ta uống cà phê, chúng ta sẽ tiến hành một thí nghiệm của chúng ta. Đặt cà phê lên bàn, Pitting, và đừng làm rộn chúng tôi nữa.
- Thưa ông, vâng ạ.
- Tối hôm nay tôi sẽ không uống cà phê đen, ông cha nói. Xin vui lòng cho nhiều sữa vào nhé. Tôi không muốn để người ta có thể đùa cợt với tôi.
- Nhưng nếu chúng ta không uống cà phê có được không? Guildea nói. Để cho cha không thể viện cớ là chúng ta đã không ở trong một tình trạng hoàn toàn bình thường. Tôi biết cha lắm, cha Murchison cũng hăng say trong tính hoài nghi như trong nghề nghiệp linh mục của cha.
Ông cười lớn và đẩy cái tách của ông ra.
- Được lắm, không uống cà phê.
- Chỉ một điếu thuốc lá thôi, rồi chúng ta sẽ chuyển sang những chuyện nghiêm chỉnh.
Làn khói xám xanh bốc lên cuồn cuộn.
- Chúng ta sẽ làm gì đây? Ông cha nói.
Ông ngồi rất thẳng, như kiểu đã sẵn sàng để hành động. Thật tình mà nói không có điều gì gợi ý một sự thư giãn trong thái độ của hai người.
- Chúng ta ẩn nấp và theo dõi con Napoléon. À, việc này làm tôi nhớ lại...
Ông đứng dậy, đi tới một góc của căn phòng, lấy ra một miếng dạ màu xanh và phủ nó lên cái chuồng.
- Tôi sẽ nhấc nó ra khi chúng ta đã ẩn nấp rồi.
- Trước hết ông hãy nói cho tôi biết phải chăng đã có một sự biểu hiện nào đó của sự hiện diện giả mạo này trong những ngày vừa mới qua đây.
- Chỉ đơn giản là sự cảm giác thôi, sự cảm giác mà cường độ luôn luôn gia tăng, là có một cái gì đó ở đây, mà vật này lúc nào cũng quan sát tôi không ngưng nghỉ, nó không ngừng theo dõi tất cả mọi cử chỉ của tôi.
- Ông có cảm tưởng là người ta đi theo ông mỗi khi ông di chuyển không?
- Không phải lúc nào cũng thế. Cái vật đó đã ở trong căn phòng này lúc cha tới. Bây giờ nó đang còn ở đây, nhưng lúc chúng ta đi xuống nhà ăn tối thì tôi có cảm tưởng là chúng ta đi xa khỏi nó. Tôi kết luận là nó ở lại nơi này. Trong lúc này chúng ta không nói tới nó nữa.
Họ nói chuyện về một vấn đề khác trong khi hút hết những điếu thuốc lá của họ. Rồi, khi họ quẳng những mẫu thuốc còn khói nghi ngút đi thì Guildea nói.
- Murchison này, bây giờ để hoàn thành mỹ mãn cuộc thí nghiệm này, tôi đề nghị là chúng ta hãy nấp sau những tấm màn, ở mỗi bên cửa cái chuồng, để cho sự chú ý của con chim không hướng về phía chúng ta nữa, và không rời khỏi cái vật mà chúng ta muốn biết rõ hơn. Khi chúng ta đã ẩn núp, tôi sẽ kéo tấm vải xanh ra. Xin cha hãy giữ hoàn toàn yên lặng. Hãy quan sát bộ điệu của con chim và sau đó nói cho tôi biết nó đã cho cha một cảm giác thế nào, và cha diễn giải cảm giác đó ra sao. Xin cha hãy đi rất nhẹ nhàng.
Ông cha tuân lời. Và họ đi những bước rất êm nhẹ về phía những tấm màn được treo ở mỗi bên của hai chuồng cửa sổ. Ông cha nấp sau những tấm màn ở mạn bên trái cái chuồng, và ông giáo sư ở phía sau những tấm màn bên phải. Ngay khi họ vừa ẩn nấp xong, ông giáo sư duỗi cánh tay ra kéo tấm vải và để nó rơi lên trên sàn gỗ.
Con két được khá ấm áp và rõ ràng là đã ngủ trong bóng tối. Khi ánh sáng chiếu vào nó, nó di chuyển trên cần đậu, xù lông cổ lên, và trước hết giơ một bàn chân lên, rồi tới bàn chân khác. Nó quay cái đầu trên cái cổ mềm mại mà người ta đã nói là có sức đàn hồi, rồi nó dúi cái mỏ vào lớp lông trên lưng nó, và tiến hành một vài sự tra xét cặn kẽ nào đó với một kết quả có vẻ làm nó hài lòng, vì ngay sau đó nó ngẩng đầu lên, rồi bắt đầu chiếu cố tới một trái hồ đào mà người ta đã nhét vào giữa các song sắt để làm thức ăn cho nó. Với cái mỏ không quằn, nó mân mê trái hồ đào, mổ vào nó, thoạt đầu thì nhẹ nhàng, rồi sau đó với sự mãnh liệt. Cuối cùng nó giật được trái hồ đào ra, quặp lấy nó trong bàn chân thô kệch màu xám cả nó, giữ nguyên nó một cách vững chắc trên cần đậu, đập vỡ nó ra, rồi mổ cái ruột ở bên trong, làm vương vãi những mảnh vụn trên nền của cái chuồng, và để cho cái vỏ vỡ nát rơi vào cái chậu tắm bằng sứ được gắn vào các song sắt. Ăn xong rồi, con chim có vẻ trầm tư, ngừng lại trong chốc lát, nó duỗi một bàn chân ra phía sau và bắt đầu làm công việc vận động đôi cánh của nó với đủ mọi kiểu khiến cho nó có vẻ quấy quá và dị hợm. Với cái đầu quay lại, nó lại tiếp tục tiến hành những cuộc nghiên cứu tế nhị và sâu xa trong những cái lông ở một bên cánh. Lần này thì sự khảo sát có vẻ liên miên, bất tận, và cha Murchison đã có thì giờ để thấy rõ sự vô lý của tình thế và để tự hỏi tại sao ông lại dấn thân vào vụ này. Tuy nhiên, trong vụ này tinh thần hài hước của ông đã không tìm ra một lý do để cười cợt. Ngược lại, bỗng nhiên ông lại có một cảm giác kinh hoàng. Khi ông nói chuyện với người bạn của ông và quan sát ông ta, nói chung thì thái độ của vị giáo sư rất bình tĩnh, rất thực tế, ngay cả rất đủ đảm bảo cho sự xác thực của câu chuyện của ông ta, và cho sự cân bằng rất mực thước trong tâm hồn ông ta. Nhưng khi ẩn nấp thì ông không còn nghĩ như thế nữa. Đứng sau bức màn, hai mắt dán chặt vào con Napoléon khi con này, không biểu lộ một mảy may cảm xúc, cha Murchison bắt đầu nói thì thào trước mặt ông ta một tiếng: điên khùng, với một cảm nghĩ mỗi lúc một mạnh thêm về lòng thương hại và sự lo sợ.
Với một cử động đột ngột, con két co một bên cánh của nó lại, một lần nữa xù những cái lông trên cổ nó, rồi duỗi bàn chân khác ra đằng sau, và tiến hành việc lau chùi cái cánh thứ hai của nó. Trong căn phòng yên tĩnh, người ta nghe được một cách rõ ràng tiếng động của những cái lông. Cha Murchison nghe thấy một tiếng rên rỉ nhẹ trong những bức màn xanh, mà ở đằng sau Guildea đứng nấp, tựa hồ như có một luồng không khí vừa lọt vào qua cái cửa sổ mà họ đang ẩn nấp. Đồng hồ đánh chuông trong căn phòng thứ hai, một cục than rơi trong vỉ sắt với một tiếng động giống như tiếng rơi của những chiếc lá khô mà cơn gió cuốn đi một cách phũ phàng trên mặt đất cứng. Ông cha lại cảm thấy bị tràn ngập bởi một làn sóng của sự thương cảm và kinh hoàng. Ông thấy hình như ông đã quá điên rồ, có thể còn là tội lỗi nữa, khi đã khích lệ những việc có vẻ đúng là sự điên khùng kỳ dị của người bạn ông. Lẽ ra ông đã phải từ khước sự tham dự vào một công cuộc, mà tự thân nó đã là lố bịch và ấu trĩ nữa, việc này rất có thể trở nên nguy hiểm vì nó khuyến khích một sự đợi chờ bệnh hoạn. Con Napoléon, một bàn chân duỗi về phía trước, cánh xòe ra, cổ ngoẹo đi, mang lại một sự ân cần vô ý thức cho việc chăm sóc bản thân nó, có vẻ nó tin chắc là đang được hưởng một sự cô quạnh hoàn toàn, một sự cô quạnh êm đềm. Tất cả những điều này đưa ông cha tới chỗ ý thức rõ ràng được cái trò hề và sự thiếu tư cách trong lối xử sự của ông, và cái trò hề còn đáng thương hơn nữa của người bạn ông. Ông nắm lấy các bức màn, và đang sắp sửa kẻo chúng ra và rời khỏi chỗ ẩn nấp thì ông bị chặn lại bởi một cử chỉ bất thần của con két. Tựa hồ như bị đột ngột lôi cuốn bởi một cái gì, con chim ngừng mổ, và cái đầu vẫn ngả về đằng sau và cong lại trên cái cổ, nó có vẻ đang nghe với một sự chăm chú khẩn trương nhất. Cái nhìn của con mắt tròn xoe của nó long lanh và căng thẳng như cái nhìn của một con bồ câu khi hoảng sợ. Cụp cánh lại, nó ngẩng đầu lên, và đứng rất thẳng trên cái cần trong một lát, nâng chân lên và bỏ chân xuống như thể một vật bằng máy. Ta có thể nói, là một cảm xúc mới nảy sinh đã khêu gợi một sự ham muốn cử động bất khả chế ngự trong người nó. Sau đó nó ngẩng đầu về phía xa nhất của căn phòng, và đứng yên bất động. Thái độ của nó gợi ra một cách mãnh liệt việc tập trung sự chú ý vào một vật rất gần đang đứng trước mặt nó, khiến cho tự nhiên cha Murchison phóng cái nhìn chung quanh căn phòng gần như chờ đợi nhìn thấy Pitting lặng lẽ bước tới, gã này sẽ đi vào bằng cái cửa bí mật. Nhưng y đã không tới và sự im lặng vẫn bao trùm. Tuy nhiên, rõ ràng là sự dao động và sự chú ý của con két vẫn mỗi lúc một tăng lên, mỗi lúc nó càng cúi thêm đầu nó xuống, vươn cổ ra rất dài, và vươn quá đến nỗi nó suýt nữa ngã xuống. Nó giương nửa chừng đôi cánh của nó, nâng chúng đôi chút lên cao bên trên lưng nó, làm như muốn bay đi, và nó đập nhanh đôi cánh, việc này kéo dài trong một thời gian mà cha Murchison thấy là bất tận. Cuối cùng, giơ đôi cánh lên tới mức thật cao mà nó có thể làm được, rồi nó để chúng hạ xuống trên lưng nó một cách thong thả và có chủ đích, nó lấy mỏ ngoạm vào cái mép bồn tắm, tự để cho mình nó tuột xuống trên nền của cái chuồng và lắc lư đi tới các chấn song và tì đầu vào đó. Nó đứng như thế một cách hoàn toàn lặng lẽ, trong thái độ mà nó vẫn có mỗi khi ông giáo sư lấy ngón tay gãi vào đầu nó. Tư thế của con chim gợi ra sự khoan khoái này, với một sự chính xác rõ rệt khiến cho cha Murchison có cảm tưởng đang nhìn thấy một ngón tay trắng trẻo đang êm ái lùa qua những sợi lông trên đầu nó một sự xác tín mãnh liệt đã chiếm ngự lòng ông: có một vật gì đó mà ông không nhìn thấy, nhưng con chim thì nhìn thấy và đón tiếp một cách hân hoan, đang đứng trước cái chuồng.
Sau một lát con két ngẩng đầu lên, làm như cái ngón tay vuốt ve nó đã bỏ đi, và những dấu hiệu hiển nhiên của một sự khoan khoái tột độ về thể xác ở trong nó đã nhường chỗ cho một vẻ chăm chú đặc biệt và hiếu kỳ cẩn trọng. Leo lên cao nhờ vào những cái chấn song, nó lại chuyền đi trên cái cần, di chuyển sang bên cạnh tới tận vách trái của cái chuồng, và có vẻ bắt đầu quan sát với một sự chú tâm sâu xa. Nó nghiêng đầu xuống một cách quái dị, ngừng lại một chốc, rồi lại nghiêng đầu xuống. Cha Murchison thấy mình đang dựa theo cái cử động được nghiên cứu của cái đầu con chim, nẩy sinh ra một ý niệm chính xác về một nhân vật nào đó, những cử chỉ của con chim gợi ý một tình cảm cực kỳ, kết hợp với một thứ quyết tâm vào loại này là một đặc tính rất thông thường của những người mắc bệnh ngu độn chưa trầm trọng. Cha Murchison nghĩ lan man tới những sinh linh khốn khổ này, họ thường quyến luyến một cách dai dẳng với những ai ít yêu mến họ. Giống như nhiều vị linh lục khác, ông đã biết khá nhiều về họ, vì một phụ nữ xuẩn ngốc có tính đa tình thường đặc biệt nhạy cảm với sức dẫn dụ của những người truyền giáo. Những cách chào đón của con két làm cho ông nhớ lại một phụ nữ xanh xao và kinh khủng trong một thời gian nào đó, đã lui tới tất cả mọi giáo đường mà ông hành lễ, lúc nào cũng cố gắng thu hút cái nhìn của ông. Và mỗi khi cô ta tới nơi, cô ta cúi đầu xuống, miệng mở một nụ cười quá mức lễ độ và xảo trá một cách cố ý. Con két cứ tiếp tục chào, phân ra một sự ngưng nghỉ ngắn giữa mỗi lần chào, giống như đang chờ đợi một tín hiệu bảo nó biểu diễn các năng khiếu bắt chước của nó.
- Đúng, đúng, nó bắt chước một tên ngốc nghếch. Cha Murchison bỗng nhiên nói, mà vẫn không ngừng sự quan sát của ông.
Ông lại phóng cái nhìn của ông xung quanh gian phòng, nhưng không trông thấy gì cả ngoại trừ các đồ đạc, ngọn lửa đang nhảy nhót, và những dãy sách xếp chật lèn. Rồi con két kết thúc sự đón chào và tỏ một thái độ tập trung và căng thẳng của một người đang lắng nghe với sự chăm chú: nó há mỏ ra, để lộ cái lưỡi đen của nó, rồi khép mỏ lại, rồi lại há mỏ ra nữa. Ông cha tưởng là nó sắp nói, nó vẫn câm lặng, nhưng rõ ràng là nó đang cố gắng nói lên một điều gì. Nó lại chào hai hay ba lần nữa, nó ngưng lại, rồi há mỏ ra, nói một câu gì đó. Ông cha không thể phân biệt được một tiếng nào cả, nhưng giọng nói thì yếu ớt và buồn bã; vừa ngọt ngào vừa than van. "Nó giống như giọng nói của một người đàn bà" - ông nghĩ. Ông áp tai vào sát tấm màn, lắng nghe với một sự chăm chú gần như nôn nóng, những cái chào đón lại tái diễn, nhưng lần này thì con Napoléon làm thêm một cử động phụ, thân thiết và kiểu sức giống như cử chỉ của một kẻ điên khùng và mê đắm đang nép vào lòng một người nào hoặc sẽ thúc trộm một cùi tay vào người đó. Vị linh mục lại nghĩ tới người đàn bà xanh xao và kinh khủng đó, người đã lui tới các giáo đường. Đã nhiều lần ông thấy bà ta trên đường đi của ông. Bà ta đã đợi ông sau khóa lễ buổi tối. Một lần bà ta đã cúi đầu xuống và cười mỉm, để cái lưỡi của bà ta thò ra lủng lẳng, và nép vào người ông trong bóng tối. Ông nhớ lại sự co rúm của da thịt ông khi chạm phải con người khốn khổ này, sự kinh tởm gần đi tới sự nôn mửa mà bà ta đã gây ra cho ông, mà ông không thể xua đuổi được ngay cả khi ông nhớ lại là bà ta bị rối loạn tâm thần.
Con két ngừng lại, lắng nghe, há mỏ ra, và lại nói một điều gì đó cũng với cái giọng tình tứ của con chim cu gáy, chứa đầy ý tưởng bệnh hoạn, tuy nhiên rất cứng cỏi, ngay cả rất nguy hiểm nữa trong âm điệu của nó. Một giọng nói gớm ghiếc, ông cha phán đoán. Nhưng lần này, mặc dầu ông đã nghe giọng nói rõ ràng hơn lúc trước, ông vẫn không thể xác định đó là giọng nói của đàn bà hay đàn ông, hoặc có thể là của trẻ con. Hình như đó là một giọng nói của con người, nhưng nó vô giới tính một cách kỳ lạ. Muốn giải quyết mối nghi ngờ này, ông lui vào trong bóng tối của những tấm màn, ngừng việc quan sát con Napoléon, đành chịu lắng nghe với sự chăm chú khẩn trương nhất, gắng sức để quên đi là ông đang nghe một con chim, và tưởng tượng rằng ông đang bắt gặp một tiếng nói của con người trong một cuộc đàm phán. Sau hai hay ba phút yên lặng, tiếng nói lại cất lên trong một khoảng thời gian khá dài, hình như nó diễn lại và nhắc lại một loạt những tiếng than thở tình tứ, với sự ngọt ngào được nhấn mạnh thêm, của sự nhạt nhẽo và khiếm nhã không thể mô tả được. Tính cách bệnh hoạn của giọng nói này, sự hạ thấp đột ngột giọng của nó, và sự tục tĩu kỳ lạ của nó kết hợp với sự dịu dàng của người đang hấp hối và sự thanh lịch của người kỹ nữ làm cho ông cha phải sởn gai ốc lên. Tuy nhiên ông không thể phân biệt được một lời nói nào, càng không thể phân biệt được tuổi tác và giới tính của người này.
Đứng bất động trọng bóng tối, ông chỉ có một sự xác quyết duy nhất: một giọng nói như thế chỉ có thể phát ra từ một kẻ hết sức đáng ghê tởm, nó chỉ có thể diễn tả là một người đối với ông, nếu không phải là đối với mọi người khác, là khả ố một cách không thể dung chấp được. Chả mấy chốc giọng nói tắt lịm đi trong một thứ nấc cụt khàn khàn, tiếp theo sau là một sự im lặng kéo dài. Sự im lặng bi cắt ngang  bởi ông giáo sư khi ông kéo mạnh các tấm màn mà ông ta đứng nấp ở đằng sau, và nói với ông.
- Bây giờ cha hãy đi ra và nhìn kìa.
Ông cha tiến bước vào nơi có đèn sáng, nhấp nháy mắt, nhìn về phía cái chuồng, và trông thấy con Napoléon đứng bất động, giữ thăng bằng trên một bàn chân, đầu rúc vào trong cánh. Nó có vẻ đang ngủ, ông giáo sư mặt tái mét, cặp môi động đậy của ông xệ xuống trong một biểu thị của sự ghê tởm tột độ.
- Hừm! Ông nói.
Ông đi tới chỗ cái cửa sổ của văn phòng ở xa nhất, kéo những lấm màn ra, mở phần dưới của cửa sổ để cho không khí lùa vào. Những cái cây trơ trụi, có thể nhìn thấy trong bóng tối xám nhạt ở bên ngoài. Guildea cúi xuống chỗ cái cửa sổ trong một phút, hít vào đầy phổi cái không khí trong đêm. Một lát sau, ông quay lại phía ông cha, và hốt nhiên kêu lên:
- Có mùi hôi tanh phải không?
- Phải, cực kỳ hôi tanh!
- Có bao giờ cha nghe nói về một điều gì giống vậy không?
- Không hoàn toàn đúng vậy.
- Tôi cũng không, việc đó làm cho tôi buồn nôn ọe, Murchison ạ, sự buồn nôn đúng với nghĩa đen của nó.
Ông đóng cái cửa sổ lại, và bắt đầu đi đi lại lại trong gian phòng một cách nôn nóng.
- Cha nghĩ thế nào về việc này? Ông ngoái cổ lại hỏi.
- Thật ra ông muốn nói gì?
- Đó có phải là giọng nói của một người đàn ông, một người đàn bà hay một đứa trẻ con?
- Tôi không biết gì về điều đó cả, tôi không thể đưa ra một ý kiến nào.
- Tôi cũng thế!
- Ông có thường nghe thấy nó không?
- Có, từ lúc tôi từ Westgate trở về. Và không bao giờ có những câu hỏi tôi có thể phân biệt được. Tiếng nói mới kỳ dị làm sao!
Ông nhổ vào ngọn lửa.
- Xin tha lỗi cho tôi, ông nói và ngồi phịch xuống một cái ghế bành. Tôi có những sự ghê tởm về việc này, nói theo nghĩa đen.
- Tôi cũng vậy. Ông cha nói một cách thành thật.
- Điều tệ hại là con người này hoàn toàn không có lý tính, y chỉ có sự xảo trá của kẻ ngu độn. Guildea nói tiếp bằng một giọng nôn nóng, sắc bén.
Ông cha giật nẩy người lên khi nghe từ miệng một người khác sự biểu thị chính xác điều mà chính ông đã tin chắc.
- Việc gì làm cho cha giật nẩy người lên như thế? Guildea nói với một sự nghi ngờ mà tính cách mau lẹ đã chứng thực tình trạng không bình thường trong hệ thần kinh của ông.
- Đó là vì chính ý nghĩ này đã nẩy ra trong tâm trí tôi.
- Ý nghĩa nào?
- Là tôi đã nghe tiếng nói của một kẻ ngu độn ngớ ngẩn.
- Phải, đó là sự âm độc, quỉ quái cho một người vào loại tôi. Tôi có thể chiến đấu chống lại óc thông minh, những cái đó...
Ông lại đứng phắt lên, nhóm lửa cháy dữ dội, đứng ở đằng trước bếp lửa, lưng quay vào sức nóng, hai tay đút vào những túi trên của cái quần.
- Đó là tiếng nói của kẻ đã lẻn vào trong nhà của tôi. Thích thú đấy, cha không cảm thấy à?
Và bây giờ thì thật sự đã có sự kinh hoàng trong cái nhìn và trong giọng nói của ông.
- Tôi phải đuổi nó đi, ông nói lớn, tôi phải đuổi nó đi. Nhưng đuổi bằng cách nào?
Với một bàn tay run rẩy ông giật chòm râu dê thưa, đen của ông.
- Làm thế nào? Ông nói tiếp. Đó là cái gì? Nó ở đâu?
- Ông có cảm giác là nó ở đây, trong lúc này à?
- Không một chút nghi ngờ. Nhưng tôi không thể nói với cha là trong chỗ nào của căn phòng.
Ông nhìn khắp chung quanh ông. Không một vật nào thoát khỏi cái nhìn mau lẹ của ông.
- Vậy ông cho là kẻ đó theo dõi ông? Cha Murchison nói.
Ngay cả ông cũng rất xúc động và rất bối rối, dù ông vẫn chưa cảm thấy một sự hiện diện ở gần họ, trong căn phòng.
- Không bao giờ tôi tin vào những chuyện nhảm nhí loại này, cha biết đó. Guildea nói. Tôi chỉ nói lên một việc mà tôi không thể hiểu được và nó bắt đầu trở nên rất khó chịu với tôi. Đã có một vật gì đó ở nơi đây: nhưng trong phần lớn các trường hợp có vấn đề, một chỗ có ma thì sự thù hận biểu lộ rõ ràng, còn tôi thì tôi biết rằng tôi được cảm phục, mến yêu, ưa thích. Điều này hoàn toàn khủng khiếp đối với tôi, Murchison ạ. Hoàn toàn khủng khiếp.
Đột nhiên cha Murchison nhớ lại buổi tối đầu tiên mà ông đã ngồi với Guildea, và thái độ gần như ghê tởm mà ông này tưởng tượng là đã gợi lên cho một người nào một tình cảm mến yêu nồng nhiệt. Dưới ánh sáng của cuộc trò chuyện xa xôi có sự cố hiện thời có vẻ như rất lạ lùng, nó gần như có kiểu cách một hình phạt được áp đặt cho một tội lỗi chống lại nhân loại mà vị giáo sư đã phạm phải. Nhưng khi nhìn bộ mặt nhăn nhó của người bạn, ông cha quyết định không tự để cho mình sa vào cái lưới của sự mê tín, gớm ghiếc này.
- Ở đây không thể có một cái gì cả, ông nói; không thể có được.
- Vậy thì con chim này bắt chước cái gì?
- Tiếng nói của một người nào đã tới đây.
- Điều này chỉ có thể xảy ra vào tuần lễ trước, vì trước đây không bao giờ nó nói như thế, và xin cha hãy nhớ kỹ rằng trước khi tôi khởi hành, tôi đã để ý thấy nó ngắm nhìn và cố gắng bắt chước một người nào đó, từ buổi tối mà tôi đi vào công viên, chớ không phải trước đó.
- Một kẻ nào có giọng nói loại này phải tới đây trong lúc ông vắng mặt, cha Murchison nhắc lại với một sự bướng bỉnh dịu dàng.
- Rồi tôi sẽ biết hắn ta.
Guildea bấm chuông. Gần như ngay tức thì, Pitting đi vào trong phòng.
- Pitting - ông giáo sư nói với một giọng sắc bén và khô khan. Trong khi tôi ở ngoài bờ biển có người nào đột nhập phòng này không?
- Thưa ông, chắc chắn là không, ngoại trừ những bà bồi phòng và chính tôi.
Giọng nói lạnh như băng của người đầu bếp có vẻ biểu lộ một sự ngạc nhiên gần cận với sự hận thù.
Với một bộ điệu hung hăng, ông giáo sư giơ tay về phía cái chuồng.
- Con két lúc nào cũng ở đây chứ?
- Thưa ông, vâng
- Người ta đã không di chuyển nó, mang nó đi nơi khác, dù là trong chốc lát, phải không?
Bộ mặt tái nhợt của Pitting đã gần như đánh mất vẻ lạnh lùng cố hữu, và y mím môi lại.
- Thưa ông, chắc chắn là không.
- Cám ơn. Thế là đủ rồi.
Người đầu bếp đi ra, cố ý biểu thị sự nghiêm chỉnh trong cách đi đứng của y với một vẻ phô trương rềnh ràng. Khi y đi tới cái cửa và sắp bước ra ngoài thì người chủ gọi y.
- Đơi một lát, Pitting.
Người đầu bếp dừng lại. Guildea cắn chặt hai môi, hai ba lần giật chòm râu với vẻ gượng gạo và nói:
- Anh có nhận thấy rằng... rằng con két mới đây đã bắt đầu nói với một... với một giọng đặc biệt, rất chói tai không?
- Có, thưa ông, như là từ một tiếng nói dịu dàng.
- À! Và từ bao giờ vậy?
- Thưa ông, từ ngày ông đi khỏi, nó không ngưng nói.
- Đúng vậy. Tốt. Và anh nói sao về việc này?
- Thưa ông sao ạ?
- Anh nghĩ thế nào về việc nó đã phỏng theo giọng nói đó?
- Ồ! Thưa ông, đó là chỉ để đùa chơi thôi.
- Tôi biết. Có thế thôi, Pitting.
Pitting đi khuất, và đóng cánh cửa không một tiếng động phía sau y. Guildea nhìn người bạn của ông.
- Này, cha thấy đó! Ông nói lớn.
- Chắc chắn là rất ly kỳ, ông cha nói, thật sự rất ly kỳ. Ông có tin chắc rằng ông không có người đầy tớ nào mà giọng nói làm ta nhớ lại giọng nói này không?
- Bạn Murchison thân mến ạ! Liệu cha có giữ ở gần cha, dù chỉ hai ngày thôi, một tên đầy tớ có giọng nói đó không?
- Không!
- Người đàn bà bồi phòng của tôi đã làm việc cho tôi từ năm năm nay, chị bếp từ bảy năm nay. Cha đã nghe thấy Pitting nói rồi. Ba người này làm thành tất cả ban nhân viên của tôi. Một con két không bao giờ nói một giọng mà nó không được nghe. Nó đã có thể nghe giọng nói đó ở đâu?
- Nhưng chúng ta không nghe thấy gì cả mà.
- Không, và chúng ta cũng không trông thấy gì cả. Nhưng nó thì có. Nó cảm giác thấy một vật gì. Cha không trông thấy cách thức nó chìa cái đầu ra để người ta gãi cho nó à?
- Nó có vẻ làm việc đó.
- Nó đã làm việc đó.
Cha Murchison không nói gì nữa. Ông cảm thấy bị tràn ngập bởi sự bực bội nó cứ lớn dần đến chỗ trở thành sự lo lắng.
- Cha đã tin chưa? Guildea nói với đôi chút bực bội.
- Chưa tin. Tất cả vụ này rất ly kỳ, nhưng khi mà tôi chưa nghe thấy, nhìn thấy hay cảm thấy như ông sư hiện diện của một kẻ nào đó, thì tôi không thể tin vào việc đó.
- Cha muốn nói là cha không muốn tin à?
- Có thể là vậy. Nhưng đã đến lúc tôi phải đi đây.
Guildea không cố giữ ông ở lại, nhưng khi đi theo ông ra tới cửa ông nói với ông cha.
- Xin cha vui lòng trở lại vào tối mai.
Ông cha đã có một buổi hẹn, ông ngần ngừ, nhìn chằm chằm vào mặt vị giáo sư và nói.
- Được. Vào lúc chín giờ tôi sẽ ở cạnh ông. Chúc ngủ ngon.
Khi ra tới vỉa hè đường, ông cảm thấy nhẹ nhõm, ông quay đầu lại, trông thấy Guildea đi vào trong hành lang, và ông rùng mình.
 
(còn tiếp)
0
TÌNH YÊU ĐÃ TỰ ÁP ĐẶT THẾ NÀO VỚI GIÁO SƯ GUILDEA (5) 

V
Tối hôm đó, cha Murchison đi bộ đoạn đường từ Quảng trường Hyde Park tới Bird Street. Ông cần có sự vận động sau buổi tối kỳ dị và mệt nhọc mà ông vừa trải qua, buổi tối mà ông đã nhớ lại như là một cơn ác mộng. Trong khi ông bước đi, sự ngọt ngào không thể dung chấp được của tiếng nói đó vẫn vang lên bên tai ông. ông cố sức gạt bỏ nó đi, và suy ngẫm một cách bình tĩnh về tất cả vụ này. Ông giáo sư đã dưa ra bằng chứng của một sự hiện diện ly kỳ trong nhà ông. Một người biết suy luận có thể chấp nhận được một bằng chứng như thế không? Cha Murchison tự nhủ rằng việc này không thể xảy ra được. Không có sự nghi ngờ nào là các bộ điệu của con két rất kỳ dị. Con chim đã làm được việc tạo ra một ảo giác thật sự của sự hiện diện vô hình trong căn phòng. Nhưng việc một sự hiện diện như thế có thật sự tồn tại thì ông cha nhất định phủ nhận trong thâm tâm của ông. Những người sùng đạo một cách cuồng nhiệt là những người mặc nhiên tin vào các kỳ tích ghi chép trong Thánh Kinh: và họ điều hành đời sống của họ theo những tín điệp mà họ cho là đã tiếp thu một cách trực tiếp từ vị Đại Tôn Sư của một thế giới ẩn tàng, rất ít khi họ sẵn lòng chấp nhận ý tưởng về một sự đột nhập siêu nhiên vào những công việc của đời sống hàng ngày. Họ cương quyết đẩy lui nó bằng tất cả sức lực của họ. Họ chăm chú nhìn nó, bởi nó như là một trò lừa phỉnh ấu trĩ, nếu không phải là tội lỗi.
Cha Murchison bị đưa tới chỗ tuân theo ý kiến bình thường của một linh mục chân thành. Ông nhất quyết y theo ý kiến này. Bây giờ ông tự nhủ, ông không thể chấp nhận ý nghĩ là bạn ông đã bị trừng phạt theo cách siêu tự nhiên về tội ông đã thiếu nhân tính, thiếu cảm xúc, bằng cách tự thấy mình phải chịu đựng tình yêu của một sinh vật khủng khiếp nào đó mà ta không thể trông thấy, mà cũng không thể nghe được. Tuy nhiên, tình trạng của Guildea có vẻ như là hiệu ứng của một sự trừng phạt. Những gì mà ông đã kinh sợ và xua đuổi một cách bất bình thường trong ý nghĩ thì bây giờ hình như ông bị ép buộc phải chịu đựng nó một cách bất bình thường. Đêm hôm đó ông cha cầu nguyện cho người bạn của ông trước cái bàn thờ nhỏ bé, khiêm tốn của căn phòng mà ông nằm ngủ. Căn phòng được bày biện quá nghèo nàn khiến người ta có thể nói đó là một phòng giam.
Chiều tối hôm sau, khi ông có mặt ở Quảng trường Hyde Park thì người đàn bà bồi phòng ra mở cửa cho ông. Cha Murchison đi lên thang gác, lòng tự hỏi điều gì đã tới với Pitting. Guildea đón ông ở cửa phòng đọc sách, và ông cha bị xúc động một cách đau xót vì sự biến đổi hiện ra trong dung mạo của ông. Bộ mặt là màu xám tro, những nếp nhăn hằn sâu dưới hai con mắt. Ngay cả cái nhìn cũng hiển thị sự dao động và một nỗi thống khổ khủng khiếp. Đầu tóc ông rối bù, quần áo xốc xếch, môi ông co giật không ngừng như thể ông bị đảo lộn bởi một sự lo sợ khích động nào đó.
- Pitting ra sao? Ông cha hỏi trong khi nắm lấy bàn tay nóng hổi và lên cơn sốt của Guildea.
- Y đã thôi việc rồi.
- Thôi không làm cho ông nữa à? Ông cha kêu lên hết sức kinh ngạc.
- Phải, mới chiều hôm nay.
- Ta có thể hỏi tại sao không?
- Tôi sẽ nói về việc này với cha. Sự ra đi của y có một sự liên hệ rất mật thiết với cái... cái vụ gớm ghiếc này. Cha có nhớ một hôm chúng ta bàn luận về những sự giao tiếp mà ta phải có với những kẻ hầu hạ không?
- À! Ông cha kêu lên, ông đã có một sự hốt nhiên tỉnh ngộ, sự kịch biến đã xảy ra à?
- Đúng thế, ông giáo sư nói với một nụ cười cay đắng. Cơn kịch biến đã xảy ra. Tôi đã gọi Pitting, yêu cầu y phải xử sự như một nam nhi và như một người anh em. Y đã trả lời bằng cách từ khước lời mời. Tôi đã quở trách y. Y xin thôi việc. Tôi đã trả tiền lương cho y và nói với y rằng y có thể đi khỏi ngay tức thì. Y đã đi khỏi. Tại sao cha lại nhìn tôi như thế?
- Tôi không cố ý làm điều này, cha Murchison nói trong lúc vội vã chập mắt xuống và nhìn đi chỗ khác. Nhưng, ông nói, cả con Napoléon cũng đi khỏi à.
- Hôm nay tôi đã bán nó cho một trong những người lái buôn ở đại lộ Shaftesburg.
- Tại sao vậy?
- Nó đã làm cho tôi phát ốm lên vì sự bắt chước đáng ghét cái.... Tóm lại, cha đã thấy nó làm gì tối hôm qua. Ngoài ra, tôi không còn cần nó mang lại cho tôi bằng chứng là tôi không mơ ngủ. Bây giờ tôi đã tin chắc như là tôi đang tin rằng tất cả những gì tôi tin là đã xảy ra là đã xảy ra thật sự. Tôi ít quan tâm tới việc làm cho những người khác tin. Xin thứ lỗi cho tôi đã nói với cha điều này, thưa cha Murchison, nhưng lúc này tôi biết chắc rằng nếu tôi hết sức mong muốn làm cho cha tin vào sự hiện diện ở nơi đây của một sinh vật nào đó. Đó là vì tôi vẫn còn giữ trong chính bản thân tôi một sự nghi ngờ mơ hồ nào đó. Tất cả mọi sự nghi ngờ đã bị xua tan.
- Xin hãy giải thích cho tôi bằng cách nào.
- Được.
Hai người đàn ông đứng ở gần lò sưởi. Họ vẫn giữ nguyên tư thế đó trong khi Guildea tiếp tục nói.
- Đêm hôm qua tôi có cảm giác thấy nó.
- Cái gì? Ông cha kêu lên.
Tôi nói với cha là đêm hôm qua, khi tôi lên lầu đi ngủ, tôi có cảm giác là một vật gì đi theo tôi và nép vào người tôi.
- Thật khủng khiếp! Ông cha thốt lên một cách không cố ý.
Guildea nở một nụ cười ảm đạm.
- Tôi không bác bỏ sự khủng khiếp của vật này. Tôi đã không thể bác bỏ được nó, vì tôi đã phải gọi Pitting tới tiếp cứu.
- Nhưng hãy nói cho tôi biết, nó là cái gì, hoặc ít nhất nó có vẻ là cái gì?
- Nó có vẻ là một con người. Có vẻ thôi, tôi nói thế, điều mà tôi muốn nói thật chính xác là hiệu ứng nó gây ra cho tôi là hiệu ứng của sự đụng chạm của con người chớ không phải là của tất cả một vật khác. Nhưng tôi không thể trông thấy cái gì cả, không thể nghe thấy cái gì cả. Chỉ duy có trong ba lần tôi cảm thấy cái sức ép nhẹ nhàng nhưng quyết liệt đó như để mơn trớn tôi và thu hút sự chú ý của tôi. Lần thứ nhất mà việc này xảy ra thì tôi đang ở đầu cầu thang, trước mặt phòng này, chân đứng trên bậc thứ nhất. Cha Murchison ạ, tôi thú thật với cha là tôi đã chỉ nhảy một bước lên tới tầng trên, như một kẻ bị người ta đuổi bắt. Sự thật như vậy đó, dù sao thì nó cũng chẳng vẻ vang gì. Ngay đúng lúc tôi bước vào trong phòng, tôi có cảm giác là cái vật đó cũng đi vào với tôi, và như tôi đã nói về điều này, nó ép chặt vào bên tôi với một sự âu yếm gớm ghiếc làm nôn mửa. Rồi thì...
Ông ngừng lại, quay về phía bếp lửa, và gục đầu lên cánh tay. Ông cha rất xúc động vì tính cách kỳ lạ của sự bất lực và sự tuyệt vọng mà thái độ này để lộ ra.
- Rồi thì sao nữa?
Guildea ngẩng đầu lên. Vẻ mặt ông hằn lên dấu vết của một sự kinh hoàng đau đớn.
- Rồi thì. Murchison ạ. tôi thấy hổ thẹn phải thú nhận điều đó, tôi mất hết can đảm một cách đột ngột, không thể giải thích được, mất một cách mà tôi nghĩ là hoàn toàn không,thể xảy ra được. Tôi dùng hai bàn tay để cố đẩy cái vật đó ra, nó càng nép chặt hơn vào người tôi. Sự ép chặt, sự đụng chạm trở nên không thể chịu đựng được đối với tôi. Tôi gọi Pitting với tất cả hơi sức của toi. Tôi… tôi nghĩ rằng tôi đã phải kêu lên. "Tiếp cứu!”
- Và tất nhiên là y phải tới chứ?
- Phải, với sự bình tĩnh cố hữu của y, được tạo thành bằng sự dịu dàng và sự thiếu vắng mọi thứ cảm xúc.. Sự bình tĩnh này, trái nghịch hẳn với sự ghê tởm và kinh hoàng đang làm tôi tức giận, làm tôi bực bội, tôi nghĩ vậy. Tôi không còn phải là chính tôi nữa, không, không!
Ông đột ngột ngừng lại, rồi nói tiếp:
- Nhưng, tôi có cần phải nói với cha về việc này không? Ông nói thêm với một sư mỉa mai đáng thương hại.
- Ông đã nói gì với Pitting?
- Tôi nói lẽ ra y đã phải tới mau lẹ hơn. Y xin lỗi. Vẻ lạnh lùng trong giọng nói của y làm tôi phát khùng lên và tôi nổ bung ra trong một cuộc chỉ trích ngu xuẩn và đáng khinh bỉ, bảo y như một cái máym ném lên y những lời mỉa mai và trách móc. Rồi cảm thấy cái vật đó lại tới nép vào người tôi, tôi năn nỉ y giúp đỡ tôi, ở lại với tôi, đừng để tôi một mình. Ý tôi muốn nói là đang sống cùng với tên đao phủ của tôi. Có phải y khiếp sợ, hay y tức bực về thái độ và những lời lẽ bất công và hung hãn mà tôi vừa nói ra thì tôi không biết. Dù sao mặc lòng y trả lời là y được mướn làm đầu bếp, chớ không phải để ngủ ban đêm với mọi người. Tôi nghĩ rằng y đã ngờ là tôi đã uống quá nhiều rượu. Phải, không còn nghi ngờ gì. Tôi tin rằng tôi đã chửi rủa y, bảo y là hèn nhát. Chính tôi! Sáng hôm nay y nói với tôi là y muốn thôi việc. Tôi đã trả cho y một tháng lương, một chứng chỉ tốt về nghề đầu bếp, và đã cho y nghỉ việc ngay tức thì.
- Nhưng ban đêm thì sao? Ông đã trải qua một đêm như thế nào?
- Tôi đã không ngả lưng một chút nào.
- Ông ở đâu? Trong phòng của ông à?
- Phải, cái cửa để ngỏ để cho nó ra đi.
- Ông có cảm giác là cái kẻ đó còn ở lại à?
- Nó đã không rời khỏi tôi một lúc nào, nhưng nó không chạm vào tôi nữa. Khi trời vừa hửng sáng, tôi đi tắm, tôi đã nằm duỗi dài ra trong ít lâu, nhưng tôi đã không nhắm mắt. Sau bữa điểm tâm, tôi đã đưa ra lời giải thích này với Pitting, và tôi trả tiền lương cho y. Rồi tôi đi lên đây. Tôi đã hết khí lực rồi. Tôi đã ngồi xuống. Tôi cố sức viết, cố sức suy nghĩ, nhưng sự yên lặng bị phá tan một cách gớm ghiếc hơn cả.
- Bằng cách nào?
- Bởi tiếng rì rầm của giọng nói đáng sợ đó, cái giọng nói tình tứ, xuẩn ngốc đa cảm nhưng quyết liệt đó. Hừm!
Ông run rẩy cả chân tay. Rồi ông trấn tĩnh lại, với một sự cố gắng bối rối, ông giữ thái độ quyết tâm nhất, hung hăng nhất, và nói thêm:
- Thật là quá đỗi rồi đó. Tôi không thể chịu đựng được nữa. Tôi đứng phắt lên, ra lệnh đi gọi một chiếc xe ngựa, nắm lấy cái chuồng và chở nó tới nhà một người buôn bán chim ở đại lộ Shaftesburg, và bán con két cho ông ta với một số tiền rẻ mạt. Murchison ạ, tôi tưởng vào lúc đó tôi đã gần đi tới chỗ điên cuồng, bởi vì sau khi ra khỏi cái cửa hiệu nghèo nàn đó, tôi dừng lại một lúc trên hè đường giữa những cái chuồng thỏ, chuồng lợn Ấn độ, chuồng chó con, và tôi đã cười rất lớn. Tôi thấy hình như hai vai tôi đã được thoát khỏi một gánh nặng, làm như khi bán được giọng nói đó là tôi đã bán được con người đáng nguyền rủa đã hành hạ tôi. Nhưng khi tôi trở về nhà, nó vẫn còn ở đó. Ngay lúc này nó vẫn ở đó. Tôi cho rằng nó sẽ ở đấy mãi mãi.
Ông co hai bàn chân lên mặt trước của bếp lửa.
- Tôi phải làm cái quỉ gì đây? Ông nói. Tôi lấy làm hổ thẹn cho mình, Murchison ạ. Nhưng tôi tin rằng trên đời này, phải có những điều mà một số người nào đó hoàn toàn không đủ sức chịu đựng. Này, tôi không thể chịu đựng được việc này. Tất cả chỉ có thế!"
Ông ngừng nói. Ông cha nín thinh. Sự đau khổ phi thường này làm ông câm nín. Ông nhìn nhận sự vô dụng của mọi cố gắng để an ủi Guildea. Ông vẫn ở đó, ngồi yên, cái nhìn hạ thấp xuống, dáng điệu gần như thảm đạm. Rồi ông cố tự phó thác mình cho những ma lực của căn phòng, ngõ hầu thấy được tất cả những gì hiện hữu ở đó. Ngay cả như nửa mê, nửa tỉnh, ông còn đi tới chỗ ép buộc óc tưởng tượng lừa gạt ông. Nhưng không một lúc nào ông có cảm giác là có một người thứ ba bên cạnh họ. Cuối cùng ông nói:
- Guildea này, tôi không thể có ý định nghi ngờ sự thật của cái khổ hình mà ông phải chịu ở đây, ông phải đi khỏi ngay tức thì. Buổi diễn thuyết của ông ở Paris vào ngày nào thế?
- Tuần lễ sau. Từ hôm nay tới đó còn chín ngày.
- Ngày mai ông đi Paris, ông nói rằng không bao giờ ông có cảm tưởng là cái... cái vật đó đi theo ông khi ông đã ra khỏi cửa à?
- Cho tới lúc này thì không bao giờ.
- Ông nên đi vào sáng mai, chỉ trở về sau buổi diễn thuyết của ông. Ta sẽ thấy rõ việc đó có chấm dứt được vụ này không. Hãy hy vọng đó, ông bạn thân của tôi, hãy hy vọng.
Ông đứng dậy. Bây giờ ông xiết chặt bàn tay của vị giáo sư
- Hãy tới thăm tất cả các bạn của ông ở Paris. Hãy tìm những cuộc giải trí. Tôi cũng muốn yêu cầu ông tìm... một sự trợ giúp khác."
Ông phát ra những tiếng cuối cùng này với một vẻ nghiêm trọng, một cách xác tín, một sự giản dị mang nét dịu dàng, vào tới đáy lòng. Guildea, cảm động, đến lượt ông nắm lấy bàn tay ông cha, gần như với sự nồng nhiệt.
- Tôi sẽ đi, ông nói. Tôi sẽ đi chuyến tàu mười giờ sáng, và tối nay tôi sẽ ngủ ở khách sạn Grosvenor ở ngay gần nhà ga. Ở đó sẽ tiện lợi hơn để lên xe lửa.
Trên đường về buổi tối hôm đó, cha Murchỉson luôn luôn nghĩ tới câu nói này: "Ở đó sẽ tiện lợi hơn để lên xe lửa."
Ông rất kinh ngạc với ý nghĩ về sự suy nhược đã đẩy Guildea tới chỗ phải nói ra câu này.
 
(Còn tiếp)
0
TÌNH YÊU ĐÃ TỰ ÁP ĐẶT THẾ NÀO VỚI GIÁO SƯ GUILDEA (6) 

VI
Trong một vài ngày tiếp theo, cha Murchison không nhận được một lá thư nào của ông giáo sư. Sự yên lặng này làm ông vững bụng. Nó có vẻ xác nhận rằng mọi việc đều tốt đẹp. Ngày của cuộc diễn thuyết đã tới và trôi qua. Sáng ngày hôm sau, ông cha mở tờ báo Times một cách thèm khát và đọc lướt của các trang để tìm trong đó một bài tường thuật về cuộc đại hội của các nhà bác học ở đó Guildea đã phát biểu. Với một cái nhìn nôn nóng, ông theo dõi các cột báo từ trên xuống dưới, bỗng nhiên, hai bàn tay ông co giật lại trên những tờ giấy nhỏ chúng cầm. Ông vừa chợt thấy mẫu tin như sau:
 
Chúng tôi rất buồn báo tin là giáo sư Guildea đã bỗng nhiên bị bệnh trầm trọng tối hôm qua trong lúc ông đang nói chuyện với một số thính giả gồm những nhà bác học ở Paris. Người ta đã nhận thấy ông rất xanh xao và rất kích động khi ông đứng lên. Tuy nhiên ông nói bằng tiếng Pháp với sự thoải mái trong khoảng mười lăm phút. Rồi hình như ông mất sự tự tin. Ông ngập ngừng, ông ném những cái nhìn ra xung quanh ông, như thể một người cảm thấy sự sợ hãi hay một sự lo lắng sâu xa. Một hai lần ỏng đã phải ngừng lại: hình như không đủ sức tiếp tục nữa, không đủ sức nhớ lại những gì ông định nói. Nhưng tự trấn tĩnh lại bằng một nỗ lực hiển nhiên, ông tiếp tục nói với cử tọa. Bỗng nhiên ông lại ngừng nữa, bước đi một cách lén lút dọc theo cái bục, như thể bị đuổi theo bởi một vật gì mà ông khiếp sợ. Ông vung vẩy hai bàn tay, thốt lên một tiếng kêu lớn khàn khàn và ngất xỉu đi. Hiệu ứng phát sinh trong phòng thật là không thể diễn tả được. Cử tọa đứng lên, những người đàn bà la hét trong một lúc, cảnh đó là một sự hoảng hốt thật sự. Người ta sợ rằng bộ óc của ông giáo sư bị suy yếu nhất thời sau khi làm việc quá sức. Người ta cho chúng tôi biết là ông sẽ trở về Anh quốc càng sớm càng hay, và chúng tôi chân thành hy vọng rằng chẳng bao lâu sự nghĩ ngơi và sự yên tĩnh bắt buộc sẽ có kết quả mong muốn, ông sẽ hoàn toàn hồi phục sức khỏe và ông sẽ đủ sức theo đuổi những cuộc nghiên cứu mà cả thế giới đã hưởng được những lợi ích như thế.
 
Ông cha để rơi tờ báo xuống, đi vội vã trong Bird Street, gởi một bức điện sang Pháp yêu cầu có những tin chính xác và ngay hôm đó ông nhận được câu trả lời như sau: “Ngày mai trở về, xin hãy tới buổi tối, Guildea”. Buổi tối được ấn định ông cha đi tới quảng trường Hyde Park, ông được đưa vào ngay tức thì và ông thấy Guildea ngồi gần bếp lửa trong phòng đọc sách. Ông có một sự tái nhợt của ma quái, một cái chăn dầy che phủ hai đầu gối. Diện mạo của ông là diện mạo của một người bị còm cõi vì một cơn bệnh dài, một sự biểu thị của nỗi kinh hoàng đã gắn chặt trong cặp mắt mở rộng của ông. Ông cha giật nẩy mình khi nhìn thấy ông, ông khó khăn lắm mới kìm lại được một tiếng kêu. Ông bắt đầu bày tỏ cảm tình thì Guildea chặn ông lại với một cử chỉ run rẩy.
- Phải, tôi biết. Guildea nói. Tôi biết câu chuyện này ở Paris... Ông ấp úng và ngừng lại.
- Lẽ ra không bao giờ ông nên đi, ông cha nói, tôi đã sai trái. Lẽ ra tôi đã không nên khuyên ông đi. Ông không đủ  sức lực.
- Tôi rất mạnh khỏe mà, ông trả lời với sự bực bội của một người đang bị bệnh. Nhưng cái vật khủng khiếp đó đã đi theo tôi tới Paris.
Ông đảo mắt nhìn quanh mình, chuyển dịch cái ghế bành của ông và kéo cái chăn lên trên hai đầu gối. Ông cha tự hỏi, tại sao ông ta lại tự bọc mình bằng vải ấm như thế. Lửa cháy bập bùng và trời đêm bên ngoài không lạnh lắm.
- Nó đã theo tôi tới Paris, ông nói tiếp, răng cắn chặt vào môi dưới.
Ông ngừng lại một lần nữa. Rõ ràng là ông đang cố gắng tự chế ngự mình. Nhưng sự cố gắng vẫn vô hiệu. Ông không còn sức đề kháng nữa. Ông quằn quại trong cái ghế bành và bỗng nhiên bật nói với một giọng than van tuyệt vọng.
Murchison này, cái con người đó, cái vật đó: bất kể nó là cái gì, đã không rời xa tôi nữa, không một giây phút nào. Nó không chịu ở lại đây nếu tôi không có mặt ở đây, vì nó yêu mến tôi, yêu với sự ngoan cố, yêu một cách xuẩn ngốc. Nó đã đi với tôi tới Paris, nó ở lại đó với tôi, nó đã theo chân tôi tới tận phòng hội họp, nó nép chặt vào người tôi, nó vuốt ve tôi khi tôi đang nói. Nó đã trở về đây với tôi. Bây giờ nó đang ở đây - Ông thốt lên một tiếng kêu thét - Bây giờ, khi mà chúng ta đang cùng ngồi với nhau. Nó nép vào người tôi, làm tôi bực bội vì những cái vuốt ve, nó sờ vào tay tôi. Ông bạn ơi, ông bạn ơi, ông không cảm thấy là nó đang ở đâv à?
- Không, ông cha trả lên với tất cả sự thành thật.
- Tôi cố tự bảo vệ cho mình chống lại sự đụng chạm ghê tởm này. Guildea nói tiếp, với một sự quá khích động hung tợn, hai bàn tay víu chặt lấy cái chăn dầy. Nhưng không làm được việc gì cả. Không được việc gì cả. Đó là cái gì? Cái đó có thể là cái gì? Tại sao đêm hôm nó nó lại tới bên cạnh tôi?
- Có lẽ đó là sự trừng phạt - ông cha nói một cách mau lẹ, nhưng dịu dàng.
- Trừng phạt về cái gì?
- Ông đã hận thù cảm tính. Ông đã xua đuổi cái tình cảm của con người với sự khinh bỉ. Ông đã không cảm thấy, ông đã không thích cảm thấy sự yêu thường với bất cứ người nào. Và ông cũng không thích tiếp nhận sự cảm mến của bất cứ ai. Có lẽ điều đó là sự trừng phạt.
Guildea nhìn ông với một cái nhìn kinh hoàng.
- Cha tin việc đó à? Ông kêu lên.
- Tôi không biết, ông cha nói. Nhưng không thể loại bỏ việc là nó có thể như vậy. Hãy cố chịu đựng cái vật đó hoặc ngay cả tiếp nhận nó. Có thể lúc đó sự sách nhiễu sẽ chấm dứt.
- Tôi biết rằng cái vật đó không muốn làm hại tôi. Guildea nói lớn. Nó theo đuổi tôi vì lòng thương mến Nó đã bị dẫn dụ tới tôi, bởi một sự hấp dẫn khủng khiếp mà tôi đã hướng vào nó trong lúc vô tình. Tôi biết điều đó, nhưng với một người có tính khí như tôi, đó chính là cái khía cạnh quái gở của sự việc. Nếu nó hận thù tôi thì tôi sẽ có thể chịu đựng được nó. Nếu nó tấn công tôi, nếu nó có ý định chơi cho tôi một vố kinh khủng thì tôi vẫn sẽ trở lại một con người, tôi sẽ sử dụng tất cả sức lực của tôi cho cuộc chiến đấu. Nhưng sự dịu dàng đó, sự năn nỉ gớm ghiếc đó, sự mến cảm ngu ngốc của một con người cô đơn, bướng bỉnh, ghê tởm, ham thích nhục thể một cách khủng khiếp đó, thì tôi không thể chịu được chúng. Nó muốn lấy được cái gì ở tôi? Tôi cảm thấy nó sờ nắn người tôi với một ngón tay nhẹ như một sợi lông, nó run rẩy tất cả xung quanh trái tim tôi, làm như nó tìm cách đếm các mạch đập của tim tôi, khám phá những sự bí ẩn kín đáo nhất của các hưng phấn, và dục vọng của tôi. Không còn một chút gì là riêng tư trong tôi nữa... (Ông chồm đứng dậy trong một sự dao động mạnh) - Tôi không có nơi che chở nữa, ông kêu lên. Tôi không thể cô đơn một mình mà không bị người ta đụng chạm vào tôi, phỉnh nịnh tôi, rình mò tôi, không được yên thân ngay cả trong một nửa giây đồng hồ. Murchison ạ, tôi chết về những chuyện đó, tôi chết mất thôi.
Ông lại để mình rơi phịch xuống cái ghế bành, ném ra khắp mọi phía những cái nhìn sợ sệt, với sự đam mê của một anh mù bị lạc đường bởi ảo tưởng các cố gắng mãnh liệt và liên tục sẽ làm cho hắn khôi phục lại được thị giác. Ông cha biết rõ bạn ông đang tìm cách chọc thủng những sự bí ẩn của thế giới vô hình, và biết được người đã yêu thương ông như thế.
- Guildea này, ông nói với một giọng sâu sắc và khẩn khoản, hãy cố gắng chịu đựng nó đi. Hãy làm hơn nữa, hãy cố ban cho cái vật đó những gì mà nó ưa thích.
- Nhưng nó lại ưa thích chính tình yêu của tôi.
- Hãy học cách cho nó tình yêu của ông và có lẽ nó sẽ đi khỏi sau khi đạt được những gì mà nó đã tới để kiếm.
- Ha, ha, ha! Cha nói với giọng điệu một linh mục: anh hãy chấp nhận những kẻ đã sách nhiễu anh, hãy làm điều thiện cho những kẻ đã lăng nhục anh. Cha đã nói với giọng điệu một linh mục.
- Với tư cách một người bạn. Tôi đã nói một cách tự nhiên từ đáy lòng tôi, ý nghĩ đã đột nhiên tới với tôi là tất cả vụ này, dù là có thật hay là chỉ ở bề ngoài, đều không quan trọng trong một cách nào đó, nó có thể là một bài học ly kỳ, những bài học đã được dạy cho tôi, chúng rất khó khăn. Tôi sẽ tiếp thu nhiều bài học khác. Nếu ông có thể đón nhận....
- Không thể được! Không thể được! Guildea la lên một cách hung tợn. Sự hận thù! Tôi có thể cho nó sự hận thù, không có thứ gì khác, lúc nào cung là sự hận thù, sự hận thù, sự hận thù.
Trong khi ông nói, sự tái nhợt của sáp ong càng hiện rõ lên trên cặp má ông, đến nỗi người ta phải nói ông là một thây ma nếu không có cặp mắt là thứ duy nhất còn sống. Ông cha sợ là sẽ trông thấy ông sụm xuống và ngất xỉu đi; nhưng bỗng nhiên ông ngồi thẳng lên trong cái ghế bành, và nói với một giọng the thé, lanh lảnh, chứa đầy sự khích động quá độ đang được kiềm chế.
- Murchison! Murchison!
- Có tôi đây, việc gì vậy?
Một vẻ vui mừng mê sảng, bất ngờ long lanh trong cái nhìn của Guildea.
- Nó muốn rời bỏ tôi! Ông kêu lên. Nó muốn ra đi! Đừng để mất một giây phút nào! Mở cửa sổ ra cho nó! Cửa sổ!
Ông cha ngạc nhiên. Ông đi tới cái cửa sổ gần nhất, kéo những tấm màn và mở nó ra. Người ta nghe thấy tiếng lắc cắc của những cành cây trong gió hiu hiu. Guildea cúi về phía trước, người tựa lên những cái tay ghế. Đã có một lúc yên lặng. Rồi nói thầm thì mau lẹ.
- Không, không, hãy mở cái cửa này, hãy mở cái cửa ra vào. Tôi có cảm tưởng. tôi có cảm tưởng là nó muốn đi khỏi bằng lối mà nó đã đi vào. Mau lên. mau lên, mở đi, tôi xin cha mở đi!
Ông cha tuân lệnh để làm yên lòng người bạn. Ông bước nhanh tới cửa lớn và mở toang cửa ra. Rồi ông ngoảnh cổ lại nhìn Guildea. Ông này đang đứng, mình cúi về đằng trước.
Cặp mắt ông sáng rực sự chờ đợi và nôn nóng. Khi ông cha quay trở lại, bằng một cử chỉ giận dữ của hai bàn tay gầy guộc, Guildea chỉ cho ông thấy cái hành lang. Ông cha vội vã đi ra bước xuống thang gác. Khi ông đi xuống thì trong bóng tối lờ mờ hình như ông nghe thấy từ phía sau ông một tiếng kêu nhỏ từ căn phòng đưa tới, nhưng ông không dừng bước. Với một cử chỉ mau lẹ ông mở cái cửa ra vào, và lùi lại tựa vào bức tường, ông đợi một lát để làm vui lòng Guildea. Ông sắp đóng cái cửa lại và khi đặt bàn tay lên chỗ tay cầm thì cái nhìn của ông đã bị thu hút một cách không thể cưỡng lại được về phía công viên trời đêm được soi sáng bởi mảnh trăng non lưỡi liềm. Cái nhìn của ông dừng lại trên một cái ghế dài ở phía bên kia hàng rào song sắt.
Trên cái ghế dài, một vật gì đó đang ngồi, một hình thù bị co cụm lại một cách quái dị.
Ngay tức thì ông cha nhớ lại sự mô tả mà Guildea đã nói với ông về cái đêm hôm trước đó, cái đêm của kỳ Trai giới trước lễ Giáng Sinh, và ông đã bị tràn ngập bởi một cảm giác hiếu kỳ và kinh hoàng.
Vậy thì có đúng thật là một vật gì đó đã thật sự tới bên cạnh vị giáo sư không? Cái vật đó đã làm xong công việc của nó chưa? Đã hoàn thành ý thích của nó chưa, và nó đã quay về lối sống trước đây của nó chưa?
Ông cha ngần ngừ một lúc trên bậc cửa. Rồi ông đi ra với một bước chân cương quyết, băng qua đường, mà mắt không rời khỏi cái vật đen hoặc xám đó đang ngồi tựa vào cái ghế dài một cách quái dị. Ông không thể đoán ra dung mạo của nó, nhưng ông thấy hình như nó không giống một chút nào với những gì mà tới lúc này ông đã từng nhìn thấy. Ông đi tới từ phía bên kia của đường phố, và khi ông sắp sửa bước qua cái cổng của công viên thì ông cảm thấy cánh tay ông bị chụp lấy một cách thình lình. Ông giật nẩy người lên, quay đầu lại, và trông thấy một nhân viên cảnh sát đang chầm chậm nhìn ông với một vẻ nghi ngờ.
- Ông đang có mưu đồ làm việc gì? Viên cảnh sát nói.
Ông cha bỗng nhiên nhớ ra rằng ông đang để đầu trần, và dáng dấp của ông - vì ông đã bước đi một cách lén lút trong cái áo thầy tu hai mắt dán chặt vào cái ghế dài - có lẽ đã khác thường để khêu gợi những nỗi nghi ngờ.
- Không có gì là bất bình thường cả, thưa ông nhân viên cảnh sát - Ông trả lời một cách mau lẹ và nhét một chút tiền vào tay viên cảnh sát.
Rồi ông cha rời khỏi viên cảnh sát, rất bực bội vì sự gián đoạn này, ông bước vội tới chỗ cái ghế dài. Khi ông tới nơi, không có gì ở đó cả. Cuộc phiêu lưu của Guildea vừa được lập lại gần đúng hệt. Lòng tràn đầy một sự thất vọng quá đáng, ông cha trở về căn nhà, bước vào và qua cái cầu thang chật hẹp, chạy vội tới phòng đọc sách.
Trên tấm thảm của lò sưởi, ngay gần bếp lửa, ông thấy Guildea nằm duỗi dài, đầu tựa vào cái ghế bành mà ông vừa rời khỏi, một sắc thái sợ sệt của sự kinh hoàng tỏa ra trên bộ mặt dúm dó. Xem xét ông, ông cha thấy là ông đã chết.
Vị bác sĩ mà người ta mời tới nói rằng cái chết là do bệnh suy tim.
Khi cha Murchison nghe thấy những lời này, ông lẩm bẩm:
- Một sự suy tim! Vậy ra là thế!"
Ông quay lại phía ông bác sĩ và nói:
- Ta có thể ngăn chặn được bệnh đó không?"
Ông bác sĩ xỏ tay vào găng và trả lời:
- Có thể nếu người ta biết chữa kịp thời. Một sự suy nhược về tim đòi hỏi những sự thận trọng lớn lao. Ông giáo sư bị quá say mê vì công việc của ông, lẽ ra ông phải sống một cuộc đời khác hẳn.
Ông cha gật đầu đồng ý.
- Phải, phải. Ông nói một cách buồn bã.
 
Hết
0
NHỮNG CON CHIM
THE BIRDS
Tác giả: Daphne du Maurier
Người dịch: Hà Trung Khâm
 

Vào ngày mồng 3 tháng 12, thời tiết đột ngột thay đổi. Chỉ qua một đêm là ta đã đang ở trong mùa đông. Những ngày cuối thu vừa qua thật ấm áp, dễ chịu. Những khoảng đất vừa cày lật lên trông thật màu mỡ.
Vì bị thương, bất lực một phần trong thời chiến, nên Nat Hocken được hưởng một phần trợ cấp mất sức lao đông. Ông đang làm việc ở một nông trại, nhưng không làm đủ giờ công, ngày công như những người bình thường. Ông chỉ làm việc ba ngày một tuần và người ta cũng chỉ giao cho ông những công việc nhẹ. Tuy ông cũng có gia đình và con cái, nhưng tính tình vốn trầm lắng, ông thích nhất là được làm việc một mình.
Ông rất vui khi được giao sửa một cái cổng, đắp một cái bờ, ở tận cùng cái mỏm của bán đảo này, ba phía bị nước vây quanh. Đến trưa, ông có thể nghỉ tay, ngồi trên một tảng trên vách đá, vừa ăn bánh nướng nhân thịt do vợ ông làm, vừa ngắm chim.
Vào mùa thu, các đàn chim lớn thường ghé vào bán đảo này. Chúng chẳng bao giờ chịu đậu yên một chỗ. Chúng luôn chuyển động, lúc thì cả đàn bay vòng vòng trên trời hoặc bay một đoạn rồi lại đổi hướng. Lúc thì chúng đáp xuống kiếm ăn trên những sườn đồi mới được cày lật lên, nhiều thức ăn. Chúng luôn nhảy nhót, mổ thức ăn như thể chúng không đói, không muốn ăn.
Vì hiếu động, chúng lại cùng nhau bay lên trời, vừa kêu, vừa hót như gọi nhau. Lúc vút lên cao, lúc nhào xuống thấp, chúng bay trên mặt biển trong xanh, cùng nhau bỏ đất liền bay tuốt ra khơi.
Chúng hấp tấp, vội vàng, bay cho thật nhanh rồi biến mất. Chúng bay đi đâu? Đến đó để làm gì chứ? Sức thôi thúc của mùa thu, bồn chồn, chưa thỏa, hơi nhuốm buồn, ám ảnh như cột lấy chúng. Chúng bay nhảy linh hoạt, như quá mức bình thường trước khi mùa đông đến.
Nat nghĩ, có thể một điềm gì đó, luôn báo hiệu cho bọn chim vào mùa thu. Đông sắp về, nhiều chim sẽ chết. Nhiều người bị ám ảnh một cái chết bất đắc kỳ tử, có những hành động điên khùng như thể ngày mai chúng ta sẽ chết hết, có lẽ bọn chim cũng vậy.
Mùa thu này, lũ chim có vẻ bất an hơn những năm trước. Ta rất dễ thấy điều này vì thời tiết thu này rất ổn định, bình yên. Nat đi dần về phía ông Trigg, chủ nông trại, trên chiếc máy cày, đang cày trên sườn quả đồi phía Tây. Chiếc xe và người cày lúc thì nhô lên, lúc hụp xuống hay quẹo đâu mất hút. Lâu lâu lại bị đám mây chim đang bay vần vũ trên trời che khuất. Đến cuối buổi cày, Nat nhận xét về lũ chim cho Trigg nghe, ông chủ đồng ý:
- Vâng, tôi cũng thấy năm nay nhiều chim hơn mọi năm. Tôi có linh tính là thời tiết sắp thay đổi và mùa Đông này có lẽ khắc nghiệt lắm. Có lẽ vì vậy mà lũ chim có vẻ bất an, xào xạc.
Ông chủ đã nhận xét đúng. ngay đêm đó, thời tiết đã thay đổi. Phòng ngủ trong căn nhà nhỏ Nat ở quay ra hướng Đông, nên thức giấc lúc hai giờ đêm, Nat cảm thấy ngay những cơn gió đông khô lạnh. Gió thổi vi vu trong ống khói và làm vài tấm đá lợp nhà long ra, khua lạch cạch. Nat dỏng tai nghe, ông thấy sóng biển ào ào trong vinh, ông kéo chăn quấn chặt vào mình, lăn sát vào lưng bà vợ đang ngủ say. Ông bắt đầu nghe những tiếng lộp độp ở cửa sổ. Đến khi ông khó chịu vì những tiếng lộp độp đó, ông tốc chăn, vùng dậy ra khỏi giường, đến bên cửa sổ. Ông mở cửa sổ, ngay tức thì có cái gì chạm phớt vào tay ông, đâm vào các lóng tay, cào vào da ông. Sau đó ông thấy một cặp cánh vỗ, bay qua mái ra phía sau nhà. Đó là một con chim, nhưng loại chim nào thì ông không nhận ra được. Có lẽ nó muốn đậu trên tấm che cửa sổ để tránh gió.
Ông đóng cửa sổ lại, định trở lại giường. Ông cảm thấy đốt ngón tay mình ướt ướt. Con chim đã làm ông chảy máu, ông đưa chỗ trầy lên miệng, nghĩ rằng con chim vì sợ, hoảng hốt tìm chỗ an toàn nên lao vào ông. Ông cố dỗ giấc ngủ lại.
Nhưng tiếng lộp độp ở cửa sổ lại vang lên, mạnh hơn, dồn dập hơn. Vợ ông đã thức dậy vì tiếng động, đang trở mình trong giường.
- Coi cửa sổ xem, anh Nat. Nó đang khua lộp độp đấy.
Ông trả lời vợ:
- Anh đã coi rồi, có vài con chim muốn bay vào nhà.
- Đuổi chúng đi anh, tiếng động của chúng làm em không ngủ được.
Ông Nat lại ra cửa sổ. Ông mở ra, lần này, không chỉ một con trên bậu cửa mà năm, sáu con. Chúng bay tung lên, lao thẳng vào mặt ông. Ông thét lên, hai tay đập túi bụi đuổi lũ chim ra. Giống như con chim trước, lũ chim bay túa qua nóc nhà rồi biến mất. Ông xập cánh cửa sổ xuống, gài chốt lại.
Một tiếng thét kinh hoàng thình lình vang lên từ phòng ngủ của lũ trẻ đối diện. Tiếng thét làm vợ ông thức dậy và nói:
- Đó là tiếng con Jill.
Rồi có những tiếng thét khác của cả hai đứa. Loạng choạng lần mò về phía phòng hai con, Nat nhận thấy nhiều con chim đang bay vù vù quanh ông trong đêm tối. Cửa sổ đang được để mở toang hoác. Lũ chim bay vào qua cửa sổ, bị trần và tường cản lại, chúng đổi hướng lao vào tấn công lũ trẻ đang ngủ trên giường. Nat lên tiếng:
- Các con sẽ không sao cả, có bố đây.
Hai đứa trẻ tung chăn, kêu thét lên, lao vào ôm chầm lấy ông, trong lúc đó, lũ chim bay lên cao hoặc ra xa, lấy đà lao vào ông từ mọi hướng. Tiếng vợ ông từ trong phòng ngủ vọng ra, hỏi:
- Chuyện gì đó, anh Nat? Cái gì bên đó vậy?
Nat vội đẩy hai đứa nhỏ ra khỏi cửa, vào lối đi giữa, rồi đóng cửa lại. Thế là chỉ còn một mình ông ở trong phòng với lũ chim.
Ông chộp lấy cái mền trên cái giường gần nhất, xoắn lại làm vũ khí, đập loạn xạ bên phải, bên trái và quanh ông. Ông nghe những tiếng 'bụp' khi chim bị đập trúng hay rơi xuống sàn, ông nghe những tiếng vỗ cánh. Nhưng lũ chim đâu đã chịu thua, chúng tấn công hết đợt này đến đợt khác. Mỏ của chúng sắc nhọn như những đầu nĩa, đâm vào đầu, vào tay ông. Cái chăn bây giờ chỉ là thứ vũ khí phòng thủ, ông quấn chăn quanh đầu và đập lũ chim bằng hai tay. Ông không dám lén ra khỏi cửa, sợ lũ chim bay theo ông ra. Không biết ông đánh nhau với lũ chim bao lâu rồi, nhưng tiếng chim vù vù quanh ông thưa dần rồi bọn chim rút lui. Qua bề dày tấm chăn, ông đã thoáng thấy ánh sáng, ông chờ đợi lắng nghe, nhưng không có tiếng nào lạ, ngoài tiếng rên nản lòng của một trong hai con ông ở phòng bên kia. Ông lột tấm chăn trùm đầu kín mít ra, quan sát quanh mình. Ánh sáng rạng đông của một ngày lạnh, ảm đạm màu chì, soi lờ mờ căn phòng. Mặt trời mọc và cái cửa sổ mở đã gọi lũ chim sống ra ngoài, lũ chết nằm trên sàn. Nat uể oải bước ra cửa sổ, qua miếng vườn nhỏ trước nhà, phóng tầm mắt ra xa, ngoài cánh đồng.
 
(còn tiếp)
0
NHỮNG CON CHIM (2)
 
Đó là một ngày lạnh thấu xương. Mặt đất cứng như đá do sương giá gió đông thổi về, xám như tro. Biển đang động dữ dội với cơn triều đang dâng, đỉnh sóng bạc đầu và rãnh sóng có vách thẳng đứng, đổ ầm ầm lên bờ biển. Còn lũ chim, chẳng thấy bóng dáng đâu cả. Nat đóng cửa sổ và cửa ra vào rồi bước qua phòng mình.
Vợ ông đang ngồi trên giường, ôm trong lòng đứa con nhỏ, mặt nó bị băng. Đứa lớn ngủ cạnh bà. Bà ấy cho biết:
- Nó đang ngủ, cái gì đó đã làm nó rướm máu ở cạnh hai khóe mắt. Con Jill thì nói là chim mổ em nó chảy máu. Khi nó thức dậy, đã có cả bầy chim trong phòng rồi.
Bà ngước nhìn chồng, xem ông có nét nào đồng tình là chim tấn công không. Nét mặt bà ấy hãi hùng và sửng sốt, nhưng Nat không muốn cho vợ mình biết, chính mình cũng rúng động, ngỡ ngàng vì biến cố trong mấy giờ vừa qua.
- Bên phòng chúng có chim thật, chim chết khoảng năm chục con. - Ông ngồi lên giường, bên cạnh vợ.
- Chỉ tại thời tiết thôi, chắc chắn vậy, chỉ vì thời tiết.
Ông chỉ dám nói lơ mơ như vậy với vợ.
- Chúng không phải là những loài chim ta thường thấy quanh đây, chúng là những con chim phương Bắc bị cái lạnh đuổi xuống đây.
Bà ấy nhỏ nhẹ:
- Nhưng mà, anh Nat này, trời mới trở lạnh tối nay thôi, nên chắc chắn lũ chim đâu có đói. Vả lại ngoài đồng, đất mới cày, thiếu gì hạt và côn trùng cho chúng.
- Anh đã bảo em rồi mà, chỉ vì thời tiết, thời tiết làm chúng như vậy.
Mặt ông cũng xị xuống, mệt mỏi, bất lực như vợ ông. Hai người nhìn nhau một lúc, chẳng nói năng gì.
Nat bước ra cửa sổ, nhìn ra ngoài. Trời nặng nề, xuống thấp và u ám. Những cánh đồng, những ngọn đồi màu nâu, mới hôm qua còn lấp lánh dưới ánh mặt trời, thế mà hôm nay chúng xám đen và trơ trụi. Mùa đông ảm đạm, chỉ qua một đêm đã chụp lên cảnh vật.
Bọn trẻ bây giờ đã thức dậy. Con Jill bây giờ đang nói tía lia, bé Johnny lại đang khóc thút thít. Khi xuống thang, Nat nghe thấy tiếng vợ ông đang an ủi, động viên các con.
Chẳng bao lâu, bọn trẻ cũng đã xuống tới dưới nhà. Nat đã dọn xong bữa ăn sáng cho chúng. Con Jill hỏi:
- Bố đã đuổi mấy con chim đi chưa, bố?
- Rồi. Chúng bay hết đi rồi, thấy không? Gió đông đã lùa chúng vào đây đấy."
- Con mong rằng chúng không bay trở lại đây nữa.
- Ừ. Bố sẽ đưa con ra xe buýt.
Con Jill có vẻ như đã quên hết cảnh hãi hùng đêm qua. Nó chạy thoăn thoắt trước mặt Nat, đuổi theo những chiếc lá. Cái mũ của cái áo trùm đầu đong đưa nhí nhảnh. Trong lúc đó Nat nhìn kỹ cái hàng rào cây xanh để tìm lũ chim, phóng tầm mắt qua hàng ráo quét cánh đồng, lướt qua cụm rừng nhỏ nhô lên sau căn nhà chính của chủ trại, nơi quạ to quạ nhỏ thường đậu, ông chẳng thấy con nào cả. Chẳng bao lâu, chiếc xe buýt qua trường đã leo lên đồi đến chỗ bố con ông.
Nat nhìn con lên xe, rồi quay gót đi về phía nhà ông chủ. Hôm nay ông không phải làm việc, nhưng muốn biết là mọi việc đều ổn cả. Ông tiến tới cửa sau, bà Trigg đang hát nghêu ngao ở đó, tiếng ra rả của cái radio như đệm đàn cho bà hát. Nat gọi lớn:
- Bà đó phải không, bà Trigg?
Bà ấy hiện ra ở cửa, miệng cười toe, phúc hậu.
- Chào ông Hocken. Ông có biết gió lạnh này từ đâu thổi tới không? Có phải từ Nga không? Tôi chưa thấy khi nào thời tiết lại thay đổi nhanh như vậy. Radio loan báo còn lạnh lâu. Dường như có biến động gì đó trên bắc cực khuyên.
- Sáng nay chúng tôi không nghe tin tức. Sự thực là đêm qua chúng tôi gặp chuyện chẳng lành.
- Mấy cháu nhỏ không mạnh giỏi phải không?
- Không đâu.
Nat chẳng còn biết nói thế nào nữa. Bây giờ đang là ban ngày ban mặt, nói tới chuyện bị chim tấn công đêm qua thì thật là tức cười. Nat cố nói sơ qua cho bà Trigg hiểu chuyện đêm qua, nhưng qua ánh mắt của bà ấy, Nat thấy chuyện của mình bà ấy cho cho là một cơn ác mộng do ăn phải đồ khó tiêu. Bà ấy vừa cười vừa hỏi:
- Ông có chắc là chim thật không đó?
- Bà Trigg này, còn có cả năm mươi con chim chết ở nhà tôi cơ mà, nào chào mào, nào hồng tước, đại loại là như vậy, còn nằm trên sàn phòng ngủ của các cháu. Chúng tấn công tôi, định mổ mắt thằng Johnny nữa.
Bà Trigg nhìn ông ra vẻ không tin.
- Thôi được, tôi cho rằng gió lạnh đã đưa chúng đến đây, khi lọt vào trong phòng, chúng chẳng còn biết chúng đang ở đâu nữa. Chắc là những con chim lạ, đến từ Bắc cực khuyên ấy.
- Không đâu, bà Trigg ạ, toàn là những loại chim thường thấy ở vùng này.
- Đúng là chuyện lạ.
- Lạ thật, không thể giải thích nỗi. Bà nên viết cho tờ Guardian. Họ có cách giải thích đấy. Nhưng thôi, tôi phải đi đây.
Nat theo con đường nhỏ về nhà. Vợ ông và Johnny đang ở trong bếp.
- Anh có gặp ai không?
- Tôi gặp bà Trigg. Bà ấy không tin chuyện của mình. Dẫu sao thì trên đó vẫn bình yên.
- Anh nên lượm mấy con chim chết đi. Em không dám vào đó dọn giường chiếu của tụi nhỏ. Thấy chúng em sợ lắm."
- Có gì mà phải sợ? Chúng chết rồi mà!
Nat cầm một cái túi lên lầu, bỏ mấy cái xác chết cứng vào từng con một, đúng năm mươi con tất cả. Toàn là những loại chim thường đậu ở hàng rào, chẳng con nào lớn hơn một con chim cu. Chắc là chúng phải sợ hãi lắm nên mới dữ tợn như đêm qua. Xách túi xác chim ra vườn. Nat mới thấy vấn đề. Mặt đất đông cứng như đá, tuy chỉ có gió đông, không có tuyết, chẳng có gì khác lạ trong mấy giờ qua. Thật là lạ, thật kỳ cục. Ông vẫn thấy cái đỉnh trắng của con đê chắn sóng. Ông quyết định mang lũ chim ra bờ biển chôn.
Ra tới đầu mỏm đất của bán đảo, sức gió quá mạnh, thiếu điều Nat không còn đứng vững được nữa. Triều đang xuống, bão biển trải ra xa. Ông tiến bước lạo xạo qua dải đá cuội, đến chỗ cát mềm còn ướt. Quay lưng ra hướng gió, ông mở túi ra.
Ông dùng gót chân xoáy một cái lỗ trên cát mềm, định vùi chúng ở đây. Nhưng cơn gió đã hất tung lũ chim lên, y hệt như chúng đã sống lại và bay trốn ông, nhẹ nhàng như lông và tỏa ra trước mặt. Ông tự nói với mình, thủy triều rút sẽ cuốn chúng theo ra biển.
Ông phóng tầm mắt ra biển khơi, nhìn những con sóng bạc đầu, trải trên mặt biển như những lọn tóc. Những con sóng lớn nhô lên như những vách thẳng đứng rồi gục đầu xuống, vỡ òa. Vì là lúc thủy triều xuống nên tiếng gầm của sóng ở xa, nghe xa xa, không ầm ầm sấm sét như thủy triều lên tràn bờ. Rồi thình lình ông thấy bọn chim. Những con hải âu, xa tít ngoài kia, đang cưỡi sóng. Những thứ lúc đầu ông cho là những đỉnh sóng bạc đầu thì lúc này ông thấy chính là lũ chim hải âu. Hàng trăm, hàng ngàn, hàng chục ngàn con... Chúng nhấp nhô theo đỉnh sóng và trũng sóng, đầu đổi hướng gió. Chúng như một hạm đội buông neo chờ triều lên.
Nat quay lưng, bỏ bờ biển, leo dốc về nhà. Phải có một ai đó biết chuyện này chứ. Phải có một người nói cho họ biết. Gió đông và thời tiết đã đang gây một biến cố, mà điều này thì Nat mù tịt.
Khi gần tới nhà, ông đã thấy vợ đón ở cửa. Bà ấy hào hứng báo cho ông biết:
- Anh Nat ơi, có tin ở trên đài. Họ mới đọc một thông báo đặc biệt. Chuyện mấy con chim không chỉ xảy ra ở đây, mà xảy ra ở khắp nơi, ở Luân Đôn, trên toàn quốc. Một chuyện gì đó đã xảy ra cho loài chim. Vào đây nghe, anh. Họ đang phát thanh lại thông báo.
Cả hai vợ chồng ông vào bếp nghe thông báo.
“Bản tin chính thức của Bộ nội vụ, lúc mười một giờ sáng nay. Các báo cáo mỗi đầu giờ của các nơi trên toàn quốc, gởi về Bộ nội vụ, cho biết một số lượng lớn khác thường chim chóc, tập trung vào các thành phố, thị xã, thị trấn, vào các làng và các vùng tự nhiên xung quanh. Chúng gây nên mọi thứ ách tắc, gây nhiều thiệt hại đôi khi còn tấn công cả những người đi lẻ loi. Hiện nay một luồng không khí lạnh từ Bắc cực đang thổi qua nước Anh, làm cho chim chóc, với số lượng rất lớn phải di trú về phương Nam ấm áp hơn. Vì quá đông, chúng bị đói trầm trọng, nên đôi khi tấn công cả người. Chính phủ khuyến cáo các chủ hộ phải tăng cường gia cố cửa sổ, cửa lớn, ống khói nhà, tìm các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ trẻ em. Bản tin chi tiết chính thức sẽ được phát thanh sau.
Bản tin làm Nat rất kích động, ông nhìn vợ với vẻ đắc thắng.
- Thấy chưa, sáng nay anh đã bảo ngay với em là phải có một cái gì không ổn mà. Và ngay lúc này đây, ở ngoài biển bãi mỏm, hàng ngàn hàng vạn con hải âu đang cưỡi sóng, chờ đợi một cái gì ấy?
- Chúng đợi cái gì, anh Nat?
Ông nhìn bà, nói nhỏ:
- Anh không biết.
Ông bước tới cái hộc tủ nơi ông cất cái búa và các dụng cụ khác.
- Anh đang định làm gì đó, Nat?
- Kiểm tra các cửa sổ và các ống khói như đài đã khuyên.
- Anh nghĩ là lũ chim sẻ, chim tước sẽ phá được cửa sổ đóng chắc để vào nhà à? Tại sao chúng phải vào nhà và làm cách nào chúng phá được cửa sổ?
Nat không trả lời. Ông không nghĩ tới lũ chim sẻ, chim ri, mà nghĩ tới lũ hải âu kia. Ông lặng lẽ lên lầu làm việc suốt buổi sáng còn lại, lấy gỗ bít kín các cửa sổ phòng ngủ, chặn ngang phía cuối ống khỏi.
- Ăn cơm, ông nó ơi! Vợ ông gọi vọng lên từ phía nhà bếp.
- Vâng, tôi xuống đây.
Cơm nước xong, trong khi vợ ông rửa bát, Nat mở radio nghe bản tin một giờ. Họ phát thanh lại bản thông báo nhưng phần tin tức được khai triển chi tiết hơn.
“Các bầy chim gây xáo trộn ở mọi vùng. Đặc biệt ở vùng London, vào mười giờ sáng nay, bầy chim đông nghẹt như một đám mây đen lớn. Chúng xà xuống đậu trên nóc nhà, cửa sổ, gờ tường, ống khói. Các loại chim gồm sáo, tước, chim sẻ nhà, ở nhiều vùng khác còn có các bầy bồ câu lớn, chim chích năm màu, hải âu đầu đen là loại thường thấy dọc sông London. Bầy chim tạo nên một cảnh tượng khác thường, người ta bỏ dỡ công việc trong sở, hàng quán, túa ra đông nghẹt các đường. Vỉa hè, xe cộ kẹt cứng trên nhiều trục giao thông chính."
Giọng phát ngôn viên rất mượt mà, lôi cuốn khiến Nat có cảm tưởng người ta nhìn vấn đề một cách hời hợt và cố tình viết thành một truyện vui hay. Chắc còn hàng trăm người như người xướng ngôn này, chưa biết thế nào là phải chiến đấu với bầy chim trong bóng tối. Nat tắt đài, đứng dậy, bắt đầu gia cố các cửa sổ nhà bếp. Vợ ông đứng đó xem ông làm việc, bé Johnny bám cạnh chân mẹ. Bà ấy gợi ý:
- Lẽ ra người ta phải điều động quân đội bắn vào bầy chim chứ.
- Để xem họ có thử giải pháp ấy không. Nhưng làm sao mà họ nảy ra được ý kiến đó chứ?
- Em chẳng biết nữa, nhưng họ phải có một biện pháp nào chứ. Phải làm một cái gì chứ?
Nat tự nghĩ, chắc chắn lúc này 'họ' đang suy nghĩ về vấn đề. Nhưng dù 'họ' có dùng biện pháp nào ở London và các thành phố lớn thì cũng chẳng giúp ích gì ở đây được, một nơi cách London đến ba trăm dặm. Nat hỏi vợ:
- Làm cách nào chúng ta đi mua thực phẩm được?
- Ngày mai là ngày đi chợ, anh biết đó. Em không có thói quen trữ thực phẩm. Đến ngày kia ông hàng thịt mới giao hàng. Ngày mai vào phố chợ thế nào em cũng mua về được một thứ gì.
Nat không muốn làm vợ sợ, ông đích thân mở chạn xem thịt mỡ, bơ... mở thùng bát đĩa nơi bà ấy để đồ hộp. Gia đình có thể cầm cự được vài ngày.
Ông tiếp tục đóng chặn các tấm ván qua cửa sổ, à còn nến nữa, ông thấy nhà mình còn rất ít nến. Phải bảo bà ấy ngày mai mua thêm mới được. Thôi, đành cho bọn trẻ đi ngủ sớm tối nay vậy. Vậy đó, nếu...
 
(Còn tiếp)
0
NHỮNG CON CHIM (3)

Ông đứng dậy, ra ngoài cửa sau nhà, đứng nhìn mông lung ra biển. Cả ngày hôm nay không có ánh nắng mặt trời, nên mới ba giờ chiều trời đã muốn tối rồi. Trời nặng nề xà xuống thấp, xám ngoét một màu. Ông nghe tiếng sóng quỉ quái của biển, rì rầm đập vào bờ đá. Ông tà tà theo lối mòn ra bờ biển. Được nửa đường. ông dừng lại, ông thấy triều đang dâng, lũ hải âu đã bay lên. Chúng đang quần đảo trên trời, nâng cánh đập ngược chiều gió. Chính lũ hải âu đã làm tối trời theo một sắc đặc biệt. Lạ là chúng rất yên lặng. Chúng bay vút lên, bay vòng vòng lên cao dần rồi lao thẳng xuống, lại vút lên, như chúng chỉ thử đôi cánh với sức gió. Nat quay gót, chạy nhanh lên dốc, vội về nhà.
Ông nói với vợ:
- Tôi đi đón con Jill.
Vợ ông thảng thốt hỏi:
- Anh làm sao vậy? Mặt anh trông nhợt nhạt lắm.
- Em giữ bé Johnny trong nhà, đóng kín cửa lại, thắp nến lên và kéo kín các màn cửa lại.
- Mới có ba giờ mà, anh.
- Em khỏi cần thắc mắc gì, cứ làm như anh dặn.
Ông ghé vào cái nhà nhỏ để nông cụ, cầm theo cái cuốc. Ông bước ra lộ, leo cái dốc lên trạm xe buýt. Lâu lâu ông lại ngoái đầu nhìn lại, ông thấy lũ chim bây giờ bay cao hơn, lượn vòng rộng hơn. Đàn chim trải rộng hơn thành một đội hình lớn vắt ngang bầu trời. Ông rảo bước, mặc dù biết rằng xe buýt không thể về ngang đây trước bốn giờ. Nhưng ông vẫn phải vội vã dấn bước. Ông đợi trên đỉnh đồi. Còn những nửa giờ nữa xe mới về.
Những luồng gió đông, từ những thế đất cao hơn quất mạnh ngang cánh đồng, ông có thể thấy đồi đất sét trắng và trơ trụi, tuy ở rất xa nổi bật lên nền trời xám. Một vật đen nhô lên từ sau những quả đồi ấy, lúc đầu chỉ như một vệt nhỏ, nhưng loang rộng dần, đậm màu dần. Vệt đen loang rộng thành một đám mây; đám mây đen chia thành bốn, năm đám mây khác, lan tỏa về các hướng Đông, Bắc, Tây, Nam. Và rồi chúng chẳng là mây gì cả, mà là chim.
Ông nhìn chúng bay qua, chỉ cách ông trên một trăm mét, ngang bầu trời. Căn cứ vào tốc độ của chúng, ông có thể đoán rằng chúng đang bay sâu vào đất liền. Chúng chẳng có chuyện gì với những người dân trên bán đảo này. Chúng là bọn quạ to, quạ nhỏ, quạ đen, quạ xám, ác là, chèo bẻo. Toàn những loài chim ưa tấn công những loài chim nhỏ hơn, nhưng chiều nay chúng có một nhiệm vụ khác. Ông đến một trạm điện thoại, mở cửa, bước vào, nhấc ống nói lên. Tổng đài có thể chuyển tiếp cú điện đi xa hơn, ông nói:
- Tôi gọi từ một trạm trên tỉnh lộ, gần trạm xe buýt. Tôi muốn báo cáo là có một bầy chim lớn đang bay vào sâu trong đất liền. Nhiều đàn hải âu khác đang tập trung trong vịnh.
Một giọng trả lời: “Được rồi”, ngắn gọn và buồn nản.
- Ông phải nhớ rõ và chuyển báo cáo này cho đúng nơi có thẩm quyền.
- Vâng, vâng!
Giọng lần này thì mất kiên nhẫn thực sự và chán ngấy. Tiếng o o liên tục vang lên, cho thấy người bên kia đã dập máy không muốn nghe nữa.
Nat nghĩ, lại thêm bà này nữa, chẳng thèm bận tâm. Xe buýt ì ạch bò lên đồi, Jill bước xuống:
- Bố mang cuốc đi làm gì thế bố?
- Bố chỉ mang phòng hờ vậy thôi. Bước rảo lên về cho nhanh thôi. Trời lạnh, bố con ta không nên rềnh rang ngoài đường. Xem con chạy nhanh đến mức nào?
Ông thấy lúc này bọn hải âu đang lượn vòng trên cánh đồng rồi tỏa ra bay sâu vào đất liền.
- Coi kìa bố! Phía kia kìa. Toàn hải âu là hải âu.
- Ừ, nhanh lên nào!
- Chúng sẽ bay đi đâu, bố? Chúng tới đâu nhỉ?
- Bay vào sâu trong đất liền, bố đoán vậy vì ở đó ấm hơn.
Ông nắm tay con gái, lôi nó chạy lúp xúp theo đường mòn.
- Đừng chạy nhanh vậy bố, con không chạy kịp đâu.
Lũ hải âu cũng học theo lũ quạ. Chúng cũng tản rộng đàn ra, chia thành bốn đội hình, mỗi đội hình hàng ngàn con rồi bay theo bốn hướng la bàn.
- Thế là sao bố? Bọn chim đang làm gì vậy bố?
Bọn hải âu không quyết định được hướng bay nhanh như bọn quạ, bọn ác là. Chúng vẫn lượn vòng vòng trên đầu. Chúng cũng không bay cao như trước. Dường như chúng còn đang đợi lệnh, dường như dấu hiệu chưa được ban ra.
Jill vừa thút thít khóc vừa nghẹn ngào nói:
- Ước gì lũ hải âu bay đi nơi khác, con không ưa chúng. Chúng càng ngày càng lượn gần đến đất nhà mình.
Ông bắt đầu chạy nhanh hơn, cắp con gái lắc lư ở bên sườn. Đến lối quẹo vào nhà chủ trại, ông thấy Trigg đang lùi xe vào gara. Nat gọi vọng vào:
- Ông có thể cho bố con tôi quá giang một chuyến về nhà không, ông Trigg?
Ông Trigg đang ngồi sau tay lái quay lại, nhìn bố con Nat mà ngạc nhiên, rồi nụ cười rạng rỡ nở trên khuôn mặt hồng hào.
- Có vẻ như chúng ta sắp có trò vui đấy, ông có thấy lũ hải âu không, Nat? Jim và tôi đã chuẩn bị đập chúng một trận. Mọi người như đang điên lên vì chuyện chim chóc. Chẳng ai nói chuyện gì khác. Tôi nghe ông bị chim tấn công đêm qua, ông cần một khẩu súng không?
Nat lắc đầu.
Chiếc xe nhỏ còn đang chất đầy đồ, nhưng cũng còn chỗ cho Jill ở ghế sau.
- Tôi không cần súng. Nếu chở giùm tôi bé Jill về nhà tôi cám ơn lắm lắm. Cháu sợ lũ chim.
- Được thôi, tôi sẽ đưa cháu về nhà nhưng ông sẽ nán lại đây cùng bắn chim với chúng tôi cho vui. Chúng ta sẽ làm cho lông bay tung tóe.
Jill leo lên xe và tài xế cho xe ra cổng, quẹo vào đường cái. Nat chạy theo sau. Trigg chắc điên rồi. Một khẩu súng làm sao mà đối phó được với một bầy chim đen kịt bầu trời?
Bọn chim bây giờ đến căn nhà chính của chủ trại. Chúng lượn sát mái nhà. Như vậy nông trại này chính là một mục tiêu của chúng. Nat cố sải bước cho nhanh về căn nhà nhỏ của mình, ông thấy chiếc xe từ nhà ông ra, quẹo lên đường cái trở về. Chiếc xe cặp sát ông rồi đậu khựng lại.
- Cháu đã vào nhà rồi. Bà ấy sẽ coi sóc cháu. Ê, còn ông, hiểu sao về vụ này? Trong thị xã người ta kháo nhau rằng người Nga làm ra vụ này. Người Nga đầu độc lũ chim.
- Làm sao mà họ đầu độc chim được?
- Đừng hỏi tôi. Ông biết các câu chuyện đồn đại lan truyền như thế nào mà.
- Ông đã lấy ván bít các cửa sổ chưa?
- Chưa. Chuyện tầm phào. Hôm nay tôi đã làm được khối chuyện quan trọng, hơn là đi bít cửa sổ.
- Nếu là ông, bây giờ tôi đi bít vẫn chưa muộn.
- Trời ơi, ông thật lãng xẹt. Ông có thích qua chỗ chúng tôi  ngủ đỡ không?"
- Không, dẫu sao cũng cám ơn ông.
- Thôi tạm biệt, hẹn gặp ông sáng mai. Tôi sẽ đãi ông bữa ăn sáng bằng chim hải âu.
Ông chủ nông trại nhăn răng cười rồi cho xe quẹo vào lối vào nhà. Nat vội vàng tiến bước về nhà, ông chạy qua khu rừng nhỏ, qua kho chứa nông sản cũ, leo qua những bậc gỗ vượt hàng rào vào khu trại còn lại phân cách ngôi nhà. Khi còn đang leo rào, ông nghe thấy tiếng quạt gió của những cánh chim. Một con hải âu lưng đen từ trời cao lao xuống người ông. Nó đánh hút, đổi hướng, lướt lên cao để đâm bổ xuống lần nữa. Tức khắc, các con khác đến trợ chiến với nó, sáu con, bảy con rồi hơn một chục con.
Nat quăng cái cuốc đi, cuốc thì làm gì được. Hai tay ông bu lấy đầu, ông chạy nhanh hơn vào nhà.
Lũ chim vẫn lao vào ông từ trên cao, lặng lẽ không một tiếng kêu, trừ tiếng gió đập cánh. Những đôi cánh khủng khiếp đang quạt ào ào. O^ng cảm thấy được máu chảy ở tay, cổ tay và sau gáy. Ước gì ông đừng trông thấy máu. Các chuyện khác thì có gì quan trọng đâu.
Sau mỗi lần lao xuống, sau mỗi lần tấn công, lũ chim càng bạo dạn hơn. Chúng chẳng nghĩ gì đến mạng sống của chúng cả. Khi chúng từ trên cao lao xuống đánh, đến một chiều cao quá ngắn như tầm thước người, nếu trượt, chúng sẽ cắm xuống đất. Chúng nằm giẫy đành đạch, gãy cổ, gẫy cánh, trầy trụa, dưới đất. Trong lúc chạy, Nat vấp phải những xác chim rót xuống vì đã kiệt sức. Ông loạng choạng chúi vào cửa nhà. Ông luống cuống đập bàn tay be bét máu vào cửa. Ông la lên thất thanh:
- Cho anh vào với, Nat đây. Cho anh vào!
Ngay sau đó, ông thấy một con ó biển đang lấy thế từ trên cao để lao xuống đánh ông. Lũ hải âu lượn vòng vòng trên trời, rút dần ra xa rồi lao vút lên không trung cao hơn. Chỉ còn con ó biển ở lại, con ó duy nhất đang lượn trên đầu ông. Thình lình nó xếp cánh dọc theo thân mình rồi lao xuống như một viên đạn.
Nat thét lên và cửa bật mở, ông cố lết qua ngưỡng cửa, vợ ông lấy cả thân mình chặn cửa lại. Họ còn nghe được tiếng 'phụp' của con ó biển cắm xuống đất.
Vợ ông băng bó các vết thương cho ông. Các vết thương không sâu. Hai mu bàn tay của ông bị thương nhiều nhất, rồi đến hai cổ tay. Nêu ông không đội cái mũ vải, thì chắc chắn lũ chim đã làm ông bị thương ở đầu rồi. Còn con ó biển, ó biển có thể đánh vỡ sọ người như chơi.
Lũ trẻ đương nhiên là đang khóc rồi, thấy hai tay bố máu me thì thương.
- Các con nín đi, bố không đau đâu. Bố khỏi ngay mà.
Vợ ông mặt mày sợ tái xanh, nói run run:
- Em đã thấy chúng bay vòng vòng trên nhà mình. Chúng tụ tập lại ngay khi con Jill và ông Trigg vào nhà. Em đã đóng chặt cửa và chèn lại, bởi vậy em không mở cửa ngay được khi anh gọi.
- Cám ơn trời, bầy chim đã nhắm vào anh, nếu không, con Jill nhà ta sẽ không thoát được. Anh trông thấy một bầy từ trạm xe buýt, toàn là những loại chim lớn cỡ quạ. Chúng bay về hướng thị xã.
- Nhưng lũ chim có thể làm những gì, anh Nat?
- Chúng tấn công. Chúng tấn công bất cứ ai ở ngoài đường phố. Sau đó chúng cố phá cửa sổ, chui qua ống khói vào nhà.
- Nhưng tại sao chính quyền chưa làm gì nhỉ? Tại sao họ không điều động quân đội, dùng súng máy?
- Họ không kịp làm. Chẳng có ai chuẩn bị sẵn sàng cả. Để xem họ sẽ nói gì trong bản tin sáu giờ chiều.
Jill thình lình nói:
- Con nghe tiếng chim bố ạ. Bố nghe đi!
Nat lắng tai nghe. Những tiếng vỗ cánh trầm trầm lọt qua khe cửa sổ, khe cửa lớn. Tiếng cánh chim xạt vào mặt gỗ, chúng cào, chúng mổ, chúng trượt, lách… cố tìm cách xông vào nhà. Âm thanh của nhiều cơ thẻ sống chen lấn, chồng chất lên nhau, lạo xạo, xột xoạt trên gờ cửa sổ. Lâu lâu lại nghe một tiếng 'phập', một tiếng 'phạch' khi một con lao xuống không thắng kịp, cắm xuống đất luôn. Đôi khi chúng cũng giết lẫn nhau vì thế, Nat nghĩ vậy. Nhưng chết cách đó bầy chim cũng không hề bớt, không đủ để giảm số lượng chim.
- Được. Nat nói lớn. Bố sẽ đóng thêm một lớp ván nữa chặn cửa sổ, bầy chim sẽ không lọt được vào nhà đâu Jill ạ.
Nat kiểm tra lại các cửa sổ rồi kiếm nêm, sắt thanh, sắt tấm, mảnh gỗ, mảnh kim loại, nêm chắc, đóng dính các mép cửa sổ vào tường. Sau đó mới chặn thêm một lớp ván nữa. Tiếng búa nên của Nat tạm thời làm ngưng tiếng cào, tiếng mổ, tiếng di chuyển xào xạt và át được tiếng động khủng khiếp nhất là tiếng cửa kính vỡ, nứt.
Nat gọi vợ:
- Em làm ơn mở radio đi.
Ông lên lầu củng cố, tăng cường các cửa sổ ở đó. Ông nghe thấy tiếng chim trên nóc nhà. Tiếng cào, mổ, tiếng lách, lạo xạo, sột soạt… ông quyết định cả nhà phải ngủ trong bếp, giữ lò sưởi cháy liên tục. Ông còn lo lắng về các ống thông hơi trong phòng ngủ. Lớp ván ông chặn chéo ở chân ống có thể bung, ống khói nhà bếp thì khỏi lo vì có lửa liên tục. Ông có thể tổ chức một trò vui tối nay để ngạo đời. Ông sẽ tổ chức cho hai đứa trẻ cắm trại trong bếp. Dù điều tệ hại nhất có thể xảy ra là lũ chim phá được lối vào nhà qua ống thông hơi trong phòng ngủ, chúng cũng phải mất nhiều giờ, thậm chí vài ngày. Sau đó mới sợ các cửa ra vào bị phá lủng. Bọn chim có thể bị nhốt kín trong hai phòng ngủ: chúng chẳng làm gì hại được trong bếp, dồn cục lại với nhau ở đây lũ chim sẽ ngộp thở mà chết. Nat bắt đầu ôm nệm xuống bếp.
Trông thấy Nat khệ nệ với cái nệm, vợ ông tròn xoe mắt nhìn ông với vẻ sợ sệt. Ông vui vẻ nói:
- Cứ an tâm, chúng ta tạm ngủ trong bếp tối nay. Ngủ ở đây có lò nấu bếp ấm hơn và ta chẳng còn phải khó chịu về tiếng cào mổ dễ sợ của bọn chim ở cửa sổ.
Ông bảo các con giúp sắp xếp lại đồ đạc trong bếp. Để phòng hờ trước ông xoay chiếc tủ đứng chắn ngay cửa sổ. Ông nghĩ giờ đây gia đình ông khá an toàn, khá gọn và chắc. Gia đình ông có thể qua khỏi trận hiểm họa chim này. Mình chỉ còn lo vấn đề thực phẩm thôi, thực phẩm và than là tối cần. Về lượng thực, mình chỉ còn cầm cự được hai, ba ngày nữa là nhiều, không hơn. Đến lúc đó thì... Nghĩ xa hơn lúc đó cũng chẳng ích gì. Và có thể Chính phủ có chỉ thị, hướng dẫn nào đó trên đài. Nhưng tiếu ngạo là trong hoàn cảnh có nhiều vấn đề rối bời này, đài lại chỉ phát nhạc khiêu vũ. Ông biết rõ lý do, vì các chương trình thường lệ, vẫn bị cúp ở vào những tình hình đặc biệt.
 
(Còn tiếp)
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-10-27 02:38:38HanAn>
NHỮNG CON CHIM (4)

Vào lúc sáu giờ chiều, đĩa nhạc khiêu vũ ngưng. Họ phát đài hiệu và báo giờ. Ngưng mất một lúc rồi phát ngôn viên lên tiếng. Giọng rất nghiêm trang, khẩn trương, không còn vẻ diễu như buổi trưa.
"Đây là đài tiếng nói London. Tình trạng khẩn trương toàn quốc đã được ban hành lúc bốn giờ chiều nay. Các biện pháp đặc biệt đã đang tiến hành để bảo vệ sinh mạng và tài sản của nhân dân. Tuy nhiên, quốc dân cũng nên hiểu rằng các biện pháp này không chắc có đem lại hiệu quả hay không, vì bản chất đặc biệt của tai họa này không lường trước được và từ trước tới nay chưa từng gặp. Các chủ gia đình phải thận trọng tìm ra cách tăng cường an toàn nhà mình. Nhiều người ở chung với nhau, như trong nhà trọ hay khách sạn, phải sát cánh với nhau, cố gắng ngăn cản lũ chim tràn vào nhà. Tuyệt đối, tối nay không ai được ra khỏi nhà.
Bọn chim nhìn thấy ai là tấn công ngay, ở cấp những đàn lớn. Chúng đã tấn công các tòa nhà, nhưng vì người ta đã có biện pháp phòng ngừa trước nên lũ chim không vào được.
Chúng tôi khẩn thiết kêu gọi đồng bào giữ bình tĩnh. Vì tính chất đặc biệt của thảm họa độc đáo này, sẽ không có chương trình nào được phát trên bất cứ đài nào trên toàn quốc cho đến bảy giờ sáng mai.
Bài quốc ca được trỗi lên rồi tắt đài, chẳng có tí gì nữa.
Nat tắt máy rồi nhìn vợ. Bà ấy cũng đang ngỡ ngàng, bâng khuâng nhìn ông chờ đợi. Nat đề nghị:
- Em làm một món gì đó ngon vào. Món chiên phết pho mát được không? Món nào mà cả nhà đều thích ấy.
Ông gục gặc đầu, nháy mắt với vợ, mong xóa tan những nét lo lắng, sợ muốn chết trên mặt bà ấy.
Nat giúp vợ làm bữa tối, huýt sáo hay hát luôn miệng. Ông cố tạo những tiếng động, càng nhiều càng tốt vì ông nhận thấy tiếng cào, tiếng mổ của bọn chim giảm hẳn so với lúc đầu. Ông leo nhanh lên lầu, đến nghe ngóng ở các cửa sổ trên phòng ngủ. Ông không còn nghe tiếng xào xạc của bọn chim tranh nhau chỗ đậu trên nóc nhà nữa. Nat nghĩ có lẽ bọn chim biết suy luận. Chúng thấy rằng khó mà phá vỡ được đá lợp mái, nên chúng kéo nhau đi phá ở những chỗ khác.
Bữa tối diễn ra suôn sẻ, nhưng lúc dọn chén bát đi, họ nghe thấy rõ ràng, tuy ở xa tiếng vo ve động cơ quen thuộc. Vợ ông nhìn ông, mặt mày sáng rỡ.
- Máy bay. Họ cho máy bay lên diệt bọn chim. Chắc là máy bay diệt chúng được. Tiếng đại bác, phải tiếng súng lớn không? Ông có nghe thấy không?"
Có thể là tiếng pháo lớn, xa tít ngoài khơi, nhưng Nat không dám quả quyết. Đại pháo của hạm đội hải quân có thể diệt được bọn hải âu ở ngoài biển, nhưng bây giờ lũ hải âu đang ở trong đất liền mà. Đại bác không thể nã vào bờ vì có nhiều dân cư.
- Đỡ quá! Nghe tiếng máy bay cũng an tâm phần nào phải không anh?
Bị lây cái hứng khởi của mẹ. Jill và Johnny nhảy lên tưng tưng.
- Máy bay sẽ diệt hết bọn chim.
Ngay lúc đó họ nghe thấy tiếng máy bay đâm sầm xuống đất cách khoảng hai, ba cây số. Tiếp theo đó là tiếng máy bay rớt thứ hai rồi thứ ba. Tiếng vo ve động cơ tắc dần, biến mất về phía biển.
- Những tiếng đó là gì vậy anh? - Bà Nat hỏi chồng.
- Anh không biết.
Nat không muốn cho vợ biết đó là những tiếng máy bay rơi. Nat biết chắc như vậy. Ông biết rằng Chính phủ đánh liều gửi lực lượng không thám lên. Nhưng lẽ ra các giới chức có thẩm quyền phải biết rằng đánh bạc cầu may kiểu đó chỉ là tự sát. Máy bay thì làm sao đối phó được với lũ chim nhào vô cánh quạt, lao thẳng vào thân máy bay, để rồi cuối cùng chính máy bay cũng lao xuống đất không thể tránh khỏi.
Con Jill hỏi:
- Máy bay đâu hết rồi bố?
- Về căn cứ rồi con à. Thôi, đi chuẩn bị giường chiếu đi, đến giờ đi ngủ rồi."
Không còn tiếng động cơ máy bay, tiếng pháo của hải quân cũng ngưng. Nat tự nghĩ chuyện Chính phủ làm chỉ phí công và uổng mạng. Quân đội có hơi ngạt mà. Tại sao không thử xịt hơi ngạt vào bọn chim. Ờ, mà Chính phủ có dùng hơi ngạt thì phải thông báo cho dân chúng biết trước chứ. Còn điều này nữa, phải huy động những bộ óc kỳ khôi nhất đêm nay.
Ở các phòng ngủ trên lầu hoàn toàn yên tĩnh, không còn những tiếng cào, tiếng mổ ở cửa sổ. Tạm thời có một khoảng đình chiến. Mặc dù gió vẫn chưa dịu, ông còn nghe tiếng gió hù hù trong ống khói, và tiếng sóng vỗ ì ầm vào bờ đá. Rồi thình lình Nat nhớ lại thủy triều. Có lẽ giờ này thủy triều đang lên. Hưu chiến là do thủy triều. Lũ chim cũng có những tập tính, tôn trọng một số qui luật, các qui luật này dính dáng đến thủy triều và gió đông. Ông liếc đồng hồ, gần tám giờ rồi. Có lẽ một giờ trước đây thủy triều đã lên cao nhất nên lũ chim tạm nghỉ. Lũ chim tấn công vào lúc triều dâng. Ông tính toán giờ giấc của tình trạng thủy triều trong đầu. Chúng còn nghỉ khoảng sáu giờ nữa. Khi triều đổi dòng, khoảng một giờ 20 phút sáng, chúng có thể trở lại tấn công.
Ông gọi vợ nho nhỏ và thì thầm với bà là ông muốn sang nhà ông chủ trại xem bên đó ra sao và xem đường điện thoại còn hoạt động tốt không. Nếu còn tốt, ông có thể hỏi tin tức ở tổng đài.
Bà ấy nói ngay:
- Anh không được đi. Để mình em ở nhà với lũ trẻ em không chịu được.
- Ừ, tôi không đi. Tôi đợi đến mai vậy. Lúc đó ta nghe tin tức từ radio luôn, lúc bảy giờ sáng. Nhưng lúc triều xuống vào buổi sáng, thế nào anh cũng sang bên đó. Họ có thể cho ta ít bánh mì và khoai tây.
Thế rồi đầu óc Nat bận rộn trù tính kế hoạch khẩn cấp. Bên đó có thể không có sữa bò vì lũ bò chắc phải đứng cả ngày ở cổng. Mọi người bên đó chắc cũng tự giam mình trong một phòng, cửa sổ bị bít ván, cửa ra vào bị tủ chẹn như ở đây.
Có lẽ thế đấy, nếu họ có bỏ chút thời giờ để phòng vệ.
Ông rón rén, nhẹ nhàng mở cửa sau nhìn ra ngoài. Trời tối đen như mực. Gió từng cơn mạnh hơn bao giờ hết, lạnh thấu xương, từ hướng biển thổi tới. Ông đổi chân, ông nhằm lên các xác chim. Coi kỹ, sát các bậc cửa là các đống xác chim. Đây là lũ chim cảm tử, lao thẳng xuống tấn công, con nào cũng gãy cổ. Nhìn kỹ, đâu đâu ông cũng thấy chim chết. Những con sống thì đã bay ra phía biển. Lũ hải âu có lẽ lúc này đang cưỡi sóng, hệt như chúng đã làm trước chính ngọ.
Phía xa xa, trên một ngọn đồi có cái gì đang chạy. Một chiếc máy bay rơi, cháy ở đâu đó, rồi gió thổi tàn lửa vào một cây cỏ khô. Nhìn những xác chim, Nat nảy ra ý kiến, nếu xếp xác chim cái nọ chồng lên cái kia trên bậu cửa sổ có thể tăng cường bảo vệ cửa sổ trong những đợt tấn công sắp tới.
Không giúp gì nhiều, nhưng ít ra còn hơn không. Bọn chim sống còn phải quắp hay ngậm các xác chim kéo ra nơi khác mới cào, mổ vào ván hay kính được. Ông bắt đầu làm việc trong đêm tối. Một điều lạ là ông ghê khi phải cầm xác chim chết, nhưng ông vẫn tiếp tục công việc. Ông thấy cửa sổ nào cũng tơi tả. Kính bể, chỉ còn lớp ván gỗ là còn cản được lũ chim vào nhà. Ông chèn xác những con chim còn đẫm máu vào giữa chấn song và hoa văn sát và lớp gỗ ông đã đóng chặn ngang. Ông muốn ói nhưng cố làm cho xong.
Ông vào nhà, lấy ván bít ngang hai lớp chặn cửa ra vào ở bếp lại. Vợ ông đã pha sẵn cho ông ly cô ca, ông uống lấy uống để cho đã khát. Ông quá mệt, ông cũng cố mỉm cười nói:
- Cứ yên trí, chúng ta sẽ qua khỏi thôi.
Ông ngả lưng xuống nệm, nhắm mắt lại rồi ngủ thiếp đi. Giấc mộng của ông đến không dễ dàng vì toàn là những cảnh hãi hùng đã quên khuấy từ lâu trong quá khứ có cả chuyện lẽ ra ông đã phải làm, có ít nhiều liên quan đến cái máy bay cháy.
Chính vợ ông lắc vai ông, sau cùng đánh thức hẳn ông dậy. Vợ ông thổn thức nói:
- Chim tấn công rồi. Chúng bắt đầu từ một giờ vừa qua. Em không thể nghe tiếng cào tiếng mổ đó lâu hơn được nữa. Cũng có mùi gì khó chịu quá, hình như cái gì cháy khét.
Bây giờ ông mới nhớ là đã quên đốt lò nấu. Lò lửa bây giờ chỉ còn than âm ỉ. Ông vùng dậy, đốt đèn. Những tiếng mổ ở cả cửa sổ lẫn cửa ra vào. Nhưng lúc này ông không quan tâm đến chúng. Nỗi lo của ông bây giờ là cái mùi khét lẹt của lông bị lửa táp.
Cả nhà bếp nồng nặc mùi lông cháy. Ông hiểu ngay chuyên gì đã xảy ra. Bọn chim đã chen nhau xuống ống khói, đè lên nhau đến mức ngang nóc nhà bếp. Ông lấy một nắm chà củi, vài tờ giấy báo và can dầu hôi.
- Em lùi ra xa một chút.
Ông ra lệnh lớn với vợ rồi vẩy dầu vào bếp. Ngọn lửa phụt lên, lùa vào ống khói, các xác chim bị lửa liếm, đen thui rơi xuống lò. Lũ trẻ đã thức dậy và la hoảng. Con Jill hỏi:
- Cái gì đó bố. Có chuyện gì vậy bố?
Nat chẳng có giờ mà trả lời con, ông còn phải cào xác chim ra khỏi ống khói, nhặt chúng từ lò đặt xuống sàn. Lửa sẽ xua đuổi lũ chim còn sống trên khúc đầu ống khói bay đi. Lũ chim ở khúc giữa ống khói mới khó tính. Chúng bị xác các con chim bị chết ngộp, hết hoảng quắp chắc lấy nhau, dồn cục lại. Ông chẳng cần phải quan tâm đến mặt trận cửa sổ và cửa ra vào. Cứ để cho bọn chúng đập cánh, gẫy lưng, gẫy cổ vì cố phá một lỗ chui vào nhà. Chúng sẽ không thể vào được. Ông la lũ trẻ:
- Nín đi, chẳng có gì phải sợ. Nín bặt ngay.
Ông tiếp tục nhặt các xác chim khi chúng lọt xuống lò bếp. Những thứ này sẽ đối phó với chúng, cả lửa dầu lẫn khói lùa lên ống khói. Chúng ta sẽ còn được an toàn chừng nào ống khói chưa bốc cháy. Cùng với tiếng miếng ván ở cửa sổ vỡ toác ra, tiếng đồng hồ báo giờ vang lên. Ba giờ sáng. Còn phải chịu đựng thêm bốn giờ đồng hồ nữa. Ông không biết đích xác giờ triều lên, ông chỉ đoán là nước chẳng dâng được bao nhiêu trước bảy giờ ba mươi sáng.
 
(Còn tiếp)
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-10-28 02:25:27HanAn>
NHỮNG CON CHIM (5)
 
Ông ngồi chờ đợi bên cái lò. Ngọn lửa đang lụi dần, nhưng xác chim đen thui không còn rơi xuống lò nữa. Ông thọc cây cời lửa vào ống khói, thọc lên được càng cao càng tốt nhưng ông không thấy gì cả.
- Nỗi lo ống khói bị nghẹt hay bốc cháy không còn nữa. Ta có thể cầm cự với chúng được tới lúc triều xuống. Cách này có vẻ hữu hiệu. Ta sẽ kiếm các thứ nguyên liệu khi triều đổi hướng. Tạm thời lúc này phải chiều theo hoàn cảnh. Vậy thôi.
Cả nhà uống trà, cô ca, nhâm nhi những lát bánh mì mỏng. Chỉ còn lại nửa ổ. Nat tinh ý nhận thấy. Không sao. Lũ chim sẽ đi thôi. Nếu gia đình ông cầm cự được bảy giờ sáng nghe xong bản tin tức thì cũng đã là điều không đến nỗi tệ. Ông nói với vợ:
- Làm ơn cho tôi một điếu thuốc, để đuổi mùi lông khét đi.
- Chỉ còn hai điếu trong bao thôi. Em đã tính mua thêm cho anh ít gói rồi.
- Tôi sẽ hút một điếu.
Ông ngồi hút thuốc, một tay ôm eo vợ, một tay trên vai Jill và Johnny trong lòng. Mền trùm chung quanh họ, trên nệm. Ông lên tiếng:
- Chúng ta phải phục những người ăn mày. Chắc họ cũng chán cái nạn chim chóc này lắm rồi. Nhưng chúng chẳng mảy may làm gì được họ, họ rất kiên trì.
Nhưng thời gian để thán phục ăn mày không kéo dài được lâu. Những tiếng mổ, tiếng cào liên tục vang lên. Nat không muốn nghe cũng không được. Một loại tiếng cào mới được phân biệt rõ, như thể một loài chim có mỏ sắc hơn đến thay thế cho đồng loại của chúng. Ông cố nhớ lại tên các loài chim và cố đoán loài chim nào đến để đảm nhận công tác đục lỗ qua ván.
Không phải tiếng gõ mỏ của loài gõ kiến vốn nhẹ và nhanh hơn. Với cách mổ của loài chim mới này, nếu chúng cứ tiếp tục mổ lâu dài thì rất nguy hiểm, gỗ nào cũng phải tưa ra rồi bục, cũng như kính đã vỡ. Thình lình ông nghĩ tới ó. Có lẽ lũ ó đã đến thay cho bọn hải âu. Liệu bọn diều hâu xám đậu trên bậu cửa sổ vừa dùng vuốt lẫn mỏ không nhỉ? Diều hâu nâu, diều hâu xám, ó, mồng, két. Ông quên mất lũ chim ăn thịt sống, ông quên phắt mất sức mạnh quắp bằng mỏ và vuốt của bọn chúng. Còn phải cầm cự ba giờ nữa, vẫn phải nghe những âm thanh hãi hùng của gỗ tách ra, âm thanh của câu vuốt bấu vào gỗ.
Nat nhìn quanh bếp xem có món đồ nào hy sinh được, để tăng cường chèn cửa. Các cửa sổ ở bếp thì an toàn rồi, vì được chẹn bằng cái tủ đứng. Ông lên lâu. Mới tới đầu cầu thang, ông dừng lại nghe ngóng. Có tiếng mổ nho nhỏ dưới sàn phòng ngủ của hai đứa nhỏ. Lũ chim đã lọt được vào nhà. Phòng ngủ kia vẫn yên tĩnh. Ông khuân đồ đạc ra chất chen ở đầu cầu thang, phòng khi lũ chim đục thủng được phòng ngủ của hai đứa nhỏ.
Tiếng vợ ông cất lên:
- Xuống đây anh Nat, anh làm gì ở trên đó?
- Anh xuống ngay đây, anh chỉ dời chỗ mấy món đồ để chèn trên này cho chắc thôi.
Ông không muốn vợ ông lên đây, ông không muốn bà ấy nghe tiếng mổ lộp độp trong phòng ngủ, tiếng cánh chim đập vào cửa.
Sau khi đê nghị bà ấy làm điểm tâm, ông chẳng biết mình đã nhìn chằm chặp vào đồng hồ từ lúc nào. Ông nhìn những chiếc kim quay chầm chậm trên mặt số. Nếu giả thuyết của ông sai, nếu bọn chim không ngừng tấn công lúc triều xuống, gia đình ông đành chịu thua bọn chim. Gia đình ông không thể tiếp tục một ngày nữa, thiếu không khí, không được nghỉ ngơi, thiếu nhiên liệu.
Một tiếng 'xẹc' xuyên qua tai ông, xua đuổi hẳn cơn buồn ngủ bất thần không thể cưỡng được.
- Cái gì đó, bây giờ đến chuyện gì? ông hỏi sẵng.
- Tiếng cái radio 'xẹc' đó. Em vẫn canh đồng hồ. Gần bảy giờ rồi.
Tiếng 'xec xẹc' quen thuộc của cái radio đem lại sức sống mới. Họ chờ đợi. Chiếc đồng hồ ở bếp điểm bảy giờ.
Tiếng xẹc xẹc tiếp tục, không có tiếng chuông London, không có nhạc. Họ đợi thêm mười lăm phút vẫn chưa có phát thanh, chẳng có bản tin. Cuối cùng ông nói:
- Chúng ta nghe lộn giờ rồi. Họ đã thông báo là đến tám giờ mới phát tin.
Họ cứ để radio mở. Nat cũng nghĩ tới mấy cục pin không biết còn xài được bao lâu. Nếu hết pin làm sao nghe được chỉ thị.
- Trời sáng rồi, anh Nat ơi. Em không nhìn thấy nhưng em cảm thấy rạng sáng và anh nghe mà xem, lũ chim không mổ mạnh như trước nữa.
Bà ấy nói đúng. Tiếng cào, tiếng gỗ rách giảm đi từng phút một. Tiếng lao xao tranh chỗ đậu trên gờ cửa sổ, trên bậc thềm cũng giảm rõ rệt. Đúng là triều đang rút.
Đến tám giờ, chẳng còn tiếng động nào nữa. Chỉ còn gió hú và những tiếng 'xẹc xẹc' từ radio. Yên lặng sau cùng cũng mơn trớn, ru ngủ những đứa bé. Chúng thiu thiu ngủ. Đến tám giờ ba mươi Nat tắt radio.
- Chúng ta sẽ lỡ bản tin mất.
- Sẽ chẳng có bản tin nào đâu. Ta phải lo liệu lấy thôi em ạ.
Nat ra cửa, từ từ gỡ những chướng ngại vật chẹn cửa ra. Ông kéo chốt cửa, lấy chân gạt những xác chim sang một bên lấy lối ra. Ông bước ra khỏi cửa, hít thở không khí trong mát.
Hôm nay ông phải làm việc sáu tiếng lúc trời còn sáng, ông phải dưỡng sức tối đa, không thể phí sức một chút nào.
Thực phẩm, ánh sáng và nhiên liệu cũng tối cần thiết. Nếu kiếm được đủ thì gia đình ông sẽ cầm cự được một đêm nữa.
Nat bước ra vườn. Lạ chưa, lũ chim sống còn đây. Những con hải âu đã bay ra biển cưỡi sóng như thường lệ. Chúng tìm thức ăn ngoài biển và đợi triều dâng lại tấn công.
Lũ chim đất liền thì khác hẳn, chúng quan sát, chờ đợi. Nat thấy chúng trong bờ rào cây xanh, trên nương rẫy, chen chúc nhau trên cây khắp cánh đồng, hàng hàng, lớp lớp chim, yên lặng, chẳng làm gì cả. Ông tiến đến cuối vườn.
Lũ chim không nhúc nhích, chúng yên lặng theo dõi ông.
 
(Còn tiếp)
0
NHỮNG CON CHIM (6)
 
Ta sẽ đi kiếm ít lương thực, ông tự nói với mình. Ta sẽ sang nhà ông chủ lấy ít lương thực. Ông quay gót vào nhà, xem xét các cửa sổ và cửa ra vào. Ông nói với vợ:
- Anh sẽ sang nhà ông chủ.
Thấy còn chim sống ở trước cửa, bà ấy sợ, ôm cứng lấy ông.
- Cho em và các con đi theo với. Các con và em không dám ở nhà mà không có anh. Chúng em sợ chết mất.
- Vậy thì chúng ta cùng đi, nhớ đem theo nhiều giỏ và cái xe nôi của bé Johnny; ta sẽ chất đồ lên đó.
Họ mặc thêm quần áo để chống cái lạnh cắt da. Bà ấy đặt bé Johnny vào xe. Nat dắt tay con Jill.
Jill nói không ra tiếng:
- Lũ chim, chúng đầy trên cánh đồng.
Nat trấn an con:
- Chúng chẳng làm gì ta đâu, đừng sợ.
Cả nhà từ từ đi qua vài thửa ruộng, đến chỗ leo rào. Lũ chim vẫn không động đậy, chúng hướng mỏ ra phía gió, chờ đợi.
Đến lối rẽ vào nhà chính, Nat bảo vợ và hai con đợi mình cạnh hàng rào. Nhưng bà ấy không chịu:
- Em cần gặp bà Trigg. Hôm qua bà ấy có đi chợ thì em có thể vay bà ấy vài món, và...
Nat nạt ngang:
- Đợi ở đây, tôi sẽ ra ngay.
Những con bò cái, vú căng sữa, cúi đầu, bồn chồn di động không yên. Lũ cừu đã húc thủng một lỗ ở hàng rào, chui vào và đi lung tung trong vườn trước nhà.
Không một chút khói nào bốc lên ống khói. Nỗi sợ hãi chụp lấy ông. Ông đã chẳng muốn vợ con ông sang đây chút nào. Ông tiến vào nhà, lách vào giữa bầy bò. Chúng đứng cúi đầu bụng căng sữa, tản ra bốn hướng như không còn sinh khí.
Ông thấy chiếc xe hơi nhỏ ở gần cổng, không nằm trong gara như thường ngày. Tất cả các cửa sổ trong tòa nhà bị phá tanh banh. Rất nhiều hải âu chết nằm hàng đống trong vườn và xung quanh nhà.
Những con chim sống đậu đầy trong các cây sau nhà và trên nóc nhà. Chúng im lặng, quan sát, theo dõi ông. Xác cậu Jim nằm trong vườn. Cậu chỉ còn là một xác chết. Khẩu súng của cậu nằm bên cạnh.
Cửa trước nhà đóng và cài then chắc, nhưng nâng một cánh cửa sổ lên và leo vào nhà dễ dàng.
Xác Trigg nằm gần điện thoại. Chắc là ông đã cố liên lạc với tổng đài khi lũ chim đánh ông sắp chết. Cái máy điện thoại bị giựt ra khỏi chỗ gắn trên tường, ống nghe văng ra khỏi giá.
Không thấy bóng dáng bà Trigg đâu. Có lẽ bà ấy ở trên lầu. Bây giờ lên lầu liệu có giúp được gì không? Ông rúng động, run sợ, ông đã đoán ra sẽ tìm thấy gì ở trên ấy. Cám ơn trời, ông bà Trigg không có những con thơ.
Ông cố luồn lách leo lên cầu thang, nhưng chỉ leo được nửa đường là ông lộn trở xuống. Ông đã thấy hai chân bà Trigg ló ra ngoài cửa phòng ngủ đã mở banh. Cạnh xác bà là hàng đống chim hải âu chết và một cái dù gẫy. Ông nghĩ, chẳng còn làm gì được nữa rồi. Ta chỉ còn năm tiếng đồng hồ. Ít hơn năm tiếng. Gia đình ông Trigg chắc sẽ thông cảm cho ta thôi, ta mạn phép lấy những thứ cần thiết ta tìm được.
Ông cố lết ra chỗ vợ và hai con. Ông nói:
- Tôi sẽ chất những thứ cần dùng kiếm được lên xe hơi chở về nhà rồi trở lại lấy chuyến nữa.
Bà vợ hỏi:
- Gia đình ông Trigg ra sao?
- Có thể họ đi thăm bạn bè ở đâu đó.
- Vậy em có thể vào khuân đồ giúp anh được không?
- Không được. Trong ấy bừa bộn lắm. Cừu và bò đi luông tuồng khắp vườn. Em cứ đợi ở đây, anh sẽ lái xe ra và em có thể ngồi trên xe về nhà.
Bà ấy nhìn ông chằm chằm trong lúc ông nói. Ông tin là bà ấy đã hiểu tình hình, nếu không thì chắc chắn bà ấy sẽ khăng khăng đòi theo ông để tìm lấy ít bánh mì và rau quả.
Hai vợ chồng cùng đi lại khu nhà chính vài ba chuyến, cho đến khi ông thấy đã đủ những thứ cần dùng tối thiểu. Điều kỳ lạ là ông giật mình, khi cái cần thiết nhất vẫn là ván để chẹn ngang cửa sổ. Ông đi quanh nhà lấy ván và quyết định sẽ chặn ngang các cửa sổ bằng ván mới.
Chuyến cuối cùng, ông đánh xe lên trạm xe buýt, ra khỏi xe, bước vào trạm điện thoại.
Ông đợi vài phút, nhấn điện loạn cái núm trên giá máy. Ông dập ống nghe xuống giá máy. Không khá được, đường dây chết. Ông leo lên một bờ cao, nhìn ra khắp vùng. Không nơi nào có vẻ còn sự sống. Chẳng có ai ngoài cánh đồng, trừ lũ chim đang theo dõi và chờ đợi.
Vài con chim có lẽ đang ngủ, đầu rúc dưới cánh. Ông tự hỏi, tại sao ta không nghĩ ra là chúng còn phải đi ăn nữa chứ, chúng không thể chỉ đậu im như thế mãi được. Rồi ông lại chợt nghĩ ra chúng đã no đầy tới cổ. Chúng đã ăn tối qua nên sáng nay không nhúc nhích.
Ông ngước mặt nhìn trời, chẳng có chút màu sắc, toàn là mênh mông xám ngoét. Cây cối trơ trụi, đen đúa một màu vì gió đông. Nhưng gió đông lại chẳng ảnh hưởng gì được đến lũ chim sống đang chờ đợi đầy cánh đồng.
Ông tự nói với mình, thế nào rồi người ta cũng diệt được chúng. Chúng đang là một mục tiêu dễ diệt. Có lẽ chúng đều đậu yên một chỗ chờ đợi trên khắp nước. Tại sao phi cơ không cất cánh lúc này và xịt hơi ngạt vào chúng nhỉ? Những người có chức có quyền ở đâu? Đang làm gì? Họ phải hiểu chứ, họ phải tận mắt xem xét tình hình chứ. Ông quay ra xe, ngồi sau tay lái.
Vợ ông thì thào:
- Đi nhanh qua cổng thứ hai, ông bưu tín viên nằm ở đó. Em không muốn Jill thấy.
Về đến nhà thì đã một giờ kém mười lăm. Chỉ còn khoảng một giờ để chuẩn bị.
- Tốt nhất là em nấu ăn trưa đi. Nấu vài món nóng sốt cho mấy mẹ con em, món súp ấy. Anh không còn giờ ăn, phải dỡ đồ vào nhà."
Họ mang mọi thứ vào nhà. Các thứ này sẽ rất cần và sẽ không còn. Thứ nào ông cũng dùng vào một việc phòng thủ trong mấy giờ dài vô tận sắp tới.
Trước hết ông phải xem xét các cửa sổ, cửa ra vào. Ông đi tuần tự quanh nhà, thử từng cái một, ông leo lên nóc nhà, đóng ván chặn ngang các ống khói thông hơi, trừ ống khói lò bếp.
Trời lạnh quá, ông không còn chịu đựng được nữa, nhưng phải cố làm cho xong. Lâu lâu ông lại ngước lên nhìn bầu trời xem có phi cơ chưa. Chẳng thấy bóng dáng cái nào. Ông thầm nguyền rủa chính quyền bất lực. Chặn xong các ống thông hơi, ông ngưng tay, nhìn ra biển. Một cái gì đang nhúc nhích ở đó, cái gì xám, trắng ở chỗ cái đê chắn sóng.
- Ồ, hạm đội. Hải quân không bao giờ làm công chúng thất vọng. Họ đã xuống eo biển và vào vịnh.
Ông chờ đợi: căng mắt nhìn ra biển, thực ra là ông lầm. Chẳng có hải quân nào ở đó cả. Đó là lũ hải âu nhấp nhô trên sóng, và những bầy lớn khắp cánh đồng. Lông xù lên rồi nhất loạt cất cánh thành những đội hình, vút lên trời cao. Triều lại lên. Nat tụt xuống mái nhà, vào nhà. Cả nhà ăn tối xong đã hơn hai giờ. Ông chốt cửa lại, đóng ván chặn và tủ chèn rồi đốt đèn.
Bé Johnny nói:
- Tối rồi.
Vợ ông mở radio chỉ có tiếng xẹc xẹc không có phát thanh.
- Em đã dò hết các băng tần, cả các đài ngoại quốc, chẳng đài nào phát thanh cả. Chỉ có tiếng máy xẹc xẹc.
- Có lẽ họ cũng gặp tai họa tương tự. Có thể là chim gây rối khắp âu châu.
Tiếng mổ, tiếng cào bắt đầu ở cửa lớn, cửa sổ. Tiếng xào xạc, tiếng tranh nhau chỗ đứng, tiếng 'phụp' đầu tiên của con chim cảm tử trên bậc cửa.
Nat trù tính sẽ xếp lương thực vào một góc gọn gàng. Ván chặc cửa sổ và ống thông hơi khá chắc. Trong nhà đã đủ thứ dự trữ, nhiên liệu, có thể cầm cự được vài ngày. Vợ ông và cả hai đứa trẻ nữa sẽ giúp ông. Họ sẽ mệt nhoài từ giờ cho đến chín giờ kém mười lăm, lúc triều rút. Sau đó sẽ cho chúng đi ngủ. Mong rằng chúng ngủ ngon đến ba giờ sáng.
Ông cũng có kế hoạch mới cho các cửa sổ: căng dây kẽm gai ở ngoài ván. Ông đã chở từ nhà chủ trại về một cuộn lớn. Có điều là ông phải căng trong bóng tối, lúc bọn chim hưu chiến, từ chín giờ tối đến ba giờ sáng. Tội nghiệp ông không nghĩ ra cách đó sớm. Nhưng miễn sao vợ con ông ngủ yên là được.
Những loài chim nhỏ hơn bây giờ đang ở cửa sổ vì tiếng mổ và tiếng chạm cánh vào gỗ nhỏ hơn. Bọn ó bỏ mặt trận cửa sổ, tập trung vào chính diện cửa ra vào.
Nat nghe tiếng mổ xước, tiếng xé ra từng cọng mà thắc mắc, không biết đã có kinh nghiệm mấy triệu năm chứa trong bộ óc nhỏ xíu, sau cái mỏ nhọn hoắt, sau đôi mắt xuyên thấu kia, khiến chúng có bản năng tiêu diệt loài người một cách chính xác như máy.
Ông nói với vợ
- Tôi sẽ hút điếu thuốc cuối cùng. Thật là khùng tôi đã không lượm vài gói ở nhà chính.
Ông với tay nhận điếu thuốc, mở cái radio "xẹc xẹc”.
Ông liệng cái bao thuốc rỗng vào lò và nhìn nó cháy.
 
HẾT
0
NGƯỜI ĐÀN ÔNG CÓ VẤN ĐỀ
MAN WITH A PROBLEM
Tác giả: Donald Honig
Người dịch: Hà Trung Khâm
 
I
 

Ông ta chỉ hơi tò mò nhìn đám người tụ tập ở tuốt phía dưới. Họ như một biển người thân hình ngắn ngủn ngước mặt lên. Đám đông tăng độ lớn rất nhanh, tràn cả xuống đường. Những người mới chạy đến vội vàng nhanh nhẹn như côn trùng, kéo theo những người khác nhập bọn như sức hút nam châm. Xe cộ lưu thông bắt đầu co cụm lại, những tiếng còi giận dữ inh ỏi. Họ trông nhỏ tí, lạ lùng đến không thể tin được, từ tầng lầu hai mươi sáu. Tiếng ồn ào dưới phố vang đến ông ta chỉ mơ hồ nhưng kích thích tột cùng.
Ông ta chẳng để tâm gì đến những khuôn mặt sững sờ kinh ngạc thò đầu ra cửa sổ hay thụt vào để xem ông ta mà ngỡ ngàng hoặc khuyên bảo ông ta. Trước nhất là người tùy phái trong khách sạn, nhìn ông ta một cách khinh bỉ, nhăn mũi lại. Sau đó là người điều khiển thang may, giọng ông ta thật nghiêm trọng muốn hỏi xem có chuyện gì đây.
Ông ta nhìn thẳng vào mặt người điều khiển thang máy, hỏi rất bình tĩnh:
- Ông nghĩ chuyện này là thế nào?
Người này hỏi lại hết sức buồn phiền:
- Ông sẽ nhảy xuống à?
Người đứng trên gờ tường bực mình nói:
- Xéo đi
Rồi nhìn xuống đường phố.
Dòng xe cộ dưới đường vẫn từ từ trôi êm ả, không có ùn tắc. Như vậy ông ta không được chú ý.
- Ông sẽ không sống nổi mà lết đi nơi khác nếu nhảy từ độ cao này.
Người coi thang máy càu nhàu vài lời đó rồi thụt đầu khỏi cửa sổ.
Một lúc sau, ông phụ tá quản lý thò đầu ra khỏi cửa sổ, cái màn cửa phất phơ quanh bộ mặt sắc sảo, nhẵn nhụi, đang tức giận của ông.
- Xin lỗi ông.
ông ta ngoắc tay đuổi phụ tá quản lý đi.
- Ông định làm một chuyện điên khùng.
Ông phụ tá nói vậy với vẻ mặt tự mãn và an tâm vì nhận xét của mình rất logic, không bắt bẻ vào đâu được.
Sau cùng ông quản lý thò đầu ra, mặt ông bụ bẫm hồng hào. Trước hết nhìn xuống dưới rồi mới liếc sang người đang đứng trên gờ tường, quan sát ông ta một lúc:
- Ông làm gì ở đây?
- Tôi sẽ nhảy.
- Ông là ai? Tên ông là gì?
- Carl Adams và lý do tôi nhảy chẳng dính dáng gì tới ông.
- Ông nên nghĩ lại việc ông làm.
Khi nói những ngấn cổ của ông quản lý núng nính và vì phải nhoài người ra, mặt ông càng đỏ hơn.
- Tôi đã nghĩ chán ra rồi, giờ thì đi đi để kệ tôi.
Cái gờ tường rất hẹp, chỉ khoảng bốn mươi centimet. Ông ta đứng giữa hai cửa sổ, nhưng không thể với tới ông ta từ bất cứ cửa sổ nào. Ông ta dựa lưng vào tường. Ánh nắng rọi thẳng vào ông ta càng nổi bật. Sơ mi trắng của ông mở cổ, ông ta giống như tử tù được sửa soạn để hành hình.
Những cái đầu khác vẫn tiếp tục lần lượt thò ra nói nhỏ nhẹ với ông ta, gọi ông ta là ông Adams. Nhiều người tự xưng là y sĩ, là các giới chức của khách sạn, một người mục sư. Tất cả đều nói với ông ta bằng giọng trịch thượng và dường như họ đều coi ông ta là người mắc chứng hoang tưởng.
Ông mục sư bảo:
- Tại sao ông không vào trong này nói chuyện cho có đầu có đuôi nhỉ?
Adams trả lời:
- Còn gì để mà nói nữa đâu.
- Ông muốn tôi ra dìu ông trở vào lại qua cửa sổ không?
Adams nói rất nghiêm túc:
- Nếu ông hay ai bước ra, càng làm tôi nhảy mau hơn nữa.
- Ông có thể cho chúng tôi biết ông đang gặp vấn đề gì không?
- Không.
- Vậy thì chúng tôi có thể giúp gì được ông không?
- Các ông không giúp gì được đâu. Đi đi.
Một lúc lâu không ai thò đầu ra, nhưng rồi tới đầu một ông cảnh sát, nhìn ông ta một lúc với vẻ khinh khỉnh:
- Ê, ông bạn.
Adams nhìn, xem xét khuôn mặt ông ta một lúc, rồi hỏi:
- Ông muốn gì đây?
- Họ kêu tôi từ tầng trệt lên, cho biết có người dọa nhảy lầu. Ông sẽ không nhảy thật chứ?
- Nhất đinh nhảy.
- Ông nhảy nhằm mục đích gì?
- Bản tỉnh tôi thích làm chuyện động trời.
- Ồ, ông có óc hài hước cao đấy.
Ông đội kê-pi lại lên đầu leo lên ngồi trên bậu cửa sổ.
- Tôi khoái óc hài hước lắm. Ông muốn hút một điếu không?
- Không.
Ông cảnh sát lắc bao thuốc cho một điếu thò ra. Ông đốt thuốc, kéo một hơi sâu rồi nhả khói vào vùng nắng. Gió tung khói lên:
- Hôm nay thật đẹp trời, đồng ý không?
Adams nhìn ông rồi nói
- Một ngày đẹp để chết.
- Ông hơi bi quan đấy. Có gia đình chưa?
- Không, còn ông?
- Có tôi có một vợ.
- Còn tôi chằng có ai gọi là gia đình cả.
- Tội quá.
- Vâng, rất tội nghiệp.
 
(Còn tiếp)
0
NGƯỜI ĐÀN ÔNG CÓ VẤN ĐỀ (2)
 
Adams nghĩ. Cách đây không lâu mình đã từng có một gia đình. Thực ra thì chỉ mới hôm qua đây thôi. Sáng qua, khi rời nhà đi làm, Karen đã nói tạm biệt với anh ở cửa, nhưng không hôn anh như lệ thường. Hôn nhân của họ bây giờ là hôn nhân không nụ hôn, nhưng cô ta vẫn là vợ ông ấy, ông ấy vẫn còn yêu mình nàng, từ trước đến giờ và mãi mãi. Ông ấy không bao giờ đồng ý ly dị Karen, luôn giữ vững quan điểm ngay cả khi Karen dọa trước sau gì cũng bỏ ông ấy. Và rồi khi về nhà lúc sáu giờ, không có vợ ở đó nữa, không tình yêu, chẳng còn gì hết, chỉ có một lọ thuốc ngủ trống rỗng, một mảnh giấy nhắn lời cuối, một căn phòng tĩnh mịch... và xác Karen nằm trên chiếc chõng đệm.
Lời trối trăn được viết sạch sẽ đầy suy nghĩ xâu xa và thanh minh rõ, để trên gối của ông ta. Steve đã nói với nàng là anh không thể cùng nàng trốn đi xa. Steve đã lừa gạt nàng như một tên sở khanh. Chính ở điểm nói toạc ra, thẳng thừng và tàn nhẫn về Steve như vậy để ông ấy hiểu - như ông ấy đã hiểu mấy tháng nay. Đã có lần ông ấy thấy họ (Steve và Karen) ngồi với nhau trong hầm rượu ở gần đó. Về phần nàng, chả còn gì phải lén lút chuyện cặp kè với Steve. Nàng đã nói thẳng với ông ấy là hôn nhân của ông ấy và nàng đã chấm dứt và nàng nói về Steve công khai với ông ấy.
Ông ta đã ra khỏi nhà đi lang thang qua các phố rồi về nhà ngủ. Lúc thức dậy buổi sáng, ý thức ngay là ông ta đã quyết định, phải làm ngay việc mà bây giờ ông đang âm mưu. Ông đã đến khu này của thành phố, đăng ký trọ ở khách sạn này, chọn một phòng sát nóc. Ông ta hiểu rõ sau đó chuyện gì sẽ xảy ra, sẽ rất tự nhiên như tình huống phải diễn ra như vậy.
Dưới các đường phố chung quanh, bây giờ đông nghẹt những người hoảng hốt, bệnh hoạn, hiếu kỳ. Cảnh sát đã đẩy đám đông ra xa vỉa hè, tạo một khoảng trống khá rộng trước khách sạn phòng khi ông ấy nhảy. Ông ta có thể thấy rõ những người lính cứu hỏa đang đang vòng quanh cái lưới cứu sinh bằng vải dày, tròn như một cái bánh tráng đen, có sơn một vòng tròn đỏ ở giữa. Ông ta biết rõ lưới cũng chẳng giúp ích gì được cho một người nhảy xuống từ tầng thứ hai mươi sáu. Chẳng có cách nào những người muốn cứu hộ tiếp cận ông ta được. Các cần cầu cứu hỏa cũng không vươn tới tầng này. Một gờ góc tường sát mái lại nhô ra che ngay trên đầu ông ta, đã đương nhiên vô hiệu hóa mọi cố gắng cứu ông ta từ mái nhà.
Một người lại thò đầu ra cửa sổ nói với ông ta:
- Thật là một chuyện làm vô ích, không có cái đầu.
Adams nói:
- Ông có thể nghĩ như vậy.
Ông này hăm hở:
- Tôi là bác sĩ. Tôi giúp ông được.
- Ông thuộc khoa nào?
- Tôi chẳng đưa ông vào khoa nào cả, tôi hứa đó, ông Adams.
- Quá trễ rồi, bác sĩ.
- Nếu ông nhảy thì mới quá trễ. Giờ này thì còn kịp đấy.
- Ông hãy di chăm sóc người khác đang cần ông. Tôi không cần ông, ông bác sĩ.
Ông bác sĩ biến. Adams nhìn xuống đám đông, tính toán. Tự nhiên ông ta có cảm giác xa cách độc đáo. Cận kề cái chết đã gây cho ông ta khoảng cách với những người khác. Giờ thì ông ta dửng dưng bất cần, giữ thãi độ xa vắng, an nhiên tự tại. Mọi người dưới kia vẫn chờ đợi và chờ đợi. Ông ta nghĩ họ sẽ được thấy một chuyện suôn sẻ thôi. Và cả những người trong phòng nữa, ông ta có thể nghe họ đang bàn tính sang sảng, đặt kế hoạch, phác họa phương pháp kích thích tâm tư và thuyết phục ông ta, có lẽ họ đang hoảng hốt gọi điện cho các chuyên gia về vấn đề tự tử.
Ông ta nhìn quanh, một khuôn mặt lại thò ra cửa sổ nhìn ông ta chằm chằm. Lại cái ông mục sư mặt tròn, lo lắng và thành thực.
- Chúng tôi có thể giúp gì được ông không?
- Không.
- Bây giờ ông có muốn trở vào nhà không?
- Cha chỉ mất thời giờ thôi, cha ơi.
- Tôi không mất thời giờ đâu.
- Ông có muốn chứng tôi tránh xa để ông suy nghĩ một mình không?
- Hãy làm như cha nói.
Ông mục sư biến mất. Ông ta lại chỉ còn một mình. Ông ta quan sát đám đông nhưng với một ánh mắt tinh nghịch thú vị. Độ cao chẳng làm ông ta ngần ngại chút nào nữa, không như lúc đầu ông ta mới men ra bờ tường. Ông ta cảm thấy ông ta gắn chặt với tòa khách sạn sau lưng hơn. Ông ta thắc mắc không biết người ta lập kế hoạch cứu trợ phức tạp ra sao. Nào thừng chão, nào thang, nào lưới, nào ghế treo. Ông ta biết họ phải thận trọng vì họ không biết rõ trạng thái tâm hồn ông ta ra sao.
Ông cảnh sát lại xuất hiện. Adams biết chắc ông cảnh sát sẽ trở lại. Ông ta đã trả lời ông cảnh sát nhiều hơn với bất cứ ai khác, bởi thế ông cảnh sát thể nào cũng trở lại cố thử thuyết phục một lần nữa. Ông cảnh sát leo lên cửa sổ, ngồi trên bậu hết sức tự nhiên.
- Này ông Adams, ông biết không, về một phương diện nào đó, ông đang giúp tôi một việc đấy.
- Sao mà tôi giúp được?
- Được, thường ngày tôi phải ở dưới kia điều khiển giao thông. Nhờ có ông mà tôi được lên đây ngồi thoải mái.
- Vậy sao?
- Đúng thế đó.
- Ông vẫn có thể lên đây cơ mà. Dẫu sao thì xe vẫn chạy, nhưng người thì không chịu đi.
Ông cảnh sát cười giòn, chỉ tay xuống dưới:
- Đúng vậy, những người dưới đo mong ông nhảy xuống và họ chờ đợi.
Adams nhìn ông cảnh sát:
- Họ đợi tôi nhảy?
- Chắc chắn. Họ quả quyết ông sẽ nhảy và họ thích xem. Ông sẽ cho họ thất vọng à?'
Adams ngó xuống, quét cặp mắt trên đám đông tụ tập rải rác khắp nhiều khu phố.
- Ở đây ông không nghe thấy gì đâu, thực ra ở dưới đó họ đang leo hò cổ vũ ông nhảy đấy.
- Họ cổ vũ sao?
- Đúng.  Họ nói rằng ông mãi nợ họ vì bắt họ đứng cả buổi trưa ở đây.
Adams nhận xét:
- Họ giống như bầy sói đói.
- Ông nhận xét đúng. Vậy thì tội gì thí mạng để cho họ hưởng một cảm giác mạnh?
Ông cảnh sát nhìn kỹ mặt Adams, tưởng rằng ông đã thấy một nét ngập ngùng. Ông nói tiếp bằng một giọng bông đùa:
- Thôi vào nhà đi, kệ xác cái bọn dưới kia.
- Ông co lý.
- Chắc chắn vậy rồi.
Adams nhấc tay, nhấc lưng khỏi bờ tường một lúc rồi lại tựa vào. Che mắt khoảng một giây.
- Ông bị sao vậy? Ông cảnh sát hỏi.
- Tôi thấy hơi chóng mặt. Tốt nhất là ông đưa tay cho tôi vịn.
Ông cảnh sát nhìn những nhà đối diện, có nhiều phóng viên trên các nóc nhà, máy ảnh sẵn sàng. Chắc chắn sẽ có một bức ảnh xứng đáng trên trang nhất tờ báo sáng mai. Ông nói:
- Được, nắm tay tôi đi.
Đám đông la lên kích động khi thấy ông cảnh sát leo ra khỏi cửa sổ, đứng tên tờ tường, cách con người bất động mặt sơ mi trắng có vài chục centimet. Họ nín thở theo dõi ông nhích dần tới, dang tay ra. Adams đưa tay về phía tay người cảnh sát và nói:
- Tôi biết thế nào sau cùng ông cũng ra đây, bởi vậy tôi mới chọn chỗ này.
- Sao? Ông cảnh sát hỏi nhưng vẫn cố giữ thăng bằng.
- Tên tôi không là Adams. Karen là vợ tôi. Ông biết không, hôm qua nàng..."
Ông cảnh sát kinh hãi, cố lùi lại nhưng tay ông đã bị ông ta nắm chặt, rồi thình lình một cú kéo, một cú đẩy làm ông muốn bệnh, một cú vặn tay khi thân mình ông lộn đầu nhẹ nhàng vào khoảng không, về hướng những tiếng la ó đang dâng lên, cảm giác cuối cùng ông còn ý thức được là bàn tay ông bị nắm chắc như một cái ngàm.
 
HẾT
0
CON CHỒN HÔI MA QUỶ
Sredni Vashtar
Tác giả: “Saki” (H. H. Munro)
Biên dịch: Kim Lương
 
Conradin đã được mười tuổi, và sự chẩn đoán của vị y sĩ là dứt khoát, rõ ràng: thằng bé chỉ còn sống được năm năm nữa thôi. Vị bác sĩ này là một người rất hiền lành, rất tự phụ và người ta đã không đặt quá nhiều tầm quan trọng vào ý kiến của ông, ngoại trừ bà Ropp. Và bà Ropp thì chính bà ta lại có nhiều tầm quan trọng.
Bà Ropp là chị họ của Conradin, và cũng là người giám hộ của nó nữa. Trước mặt thằng bé bà ấy là tiêu biểu cho gần tới ba phần năm thế giới; đó là một điều thiết yếu, khó chịu và rất thực tại; chỗ hai phần năm còn lại cho Conradin và nó đã lấy trộm của bà Ropp là cái phần thầm kín trong óc tưởng tượng của nó. Conradin có linh cảm rằng một ngày này hay một ngày khác, cuối cùng thì nó sẽ gục ngã dưới sức nặng kinh khiếp của những việc cực nhọc và không thể tránh khỏi được những tật bệnh, sự thiếu tình thương, sự độc ác. Lẽ ra nó đã gục ngã từ lâu rồi, nếu óc tưởng tượng của nó không trở nên phong phú vì được sự cô quạnh làm cho bén nhọn thêm.
Ngay cả vào lúc tự vấn lương tâm cẩn trọng nhất, bà Ropp cũng không bao giờ thú nhận là bà ghét Conradin. Không bao giờ bà nhìn nhận rằng làm trái ý nó “vì lợi ích của nó” là một trong những thú vui thầm kín của bà.
Conradin hận thù bà với sự tuyệt vọng thầm kín mà nó đã che dấu được một cách khôn khéo. Những sự thích thú nhỏ mà nó tự tạo ra không cho bà giám hộ của nó biết đều mang một tính cách mẫn nhuệ xảo diệu nhất. Bà Ropp đã bị vĩnh viễn gạt ra ngoài cái vương quốc của trí tưởng tượng của nó, như là một vật đáng ghét có thể sẽ hủy hoại sự hài hòa của nó.
Trong ngôi nhà của bà Ropp có một số lớn các cửa sổ mở ra một khu vườn âm u và không có sự vui tươi, ở đó có vài cây ăn quả còi cọc, những cây này Conradin không có quyền đụng chạm tới, những cây này nở hoa được trên mảnh đất còm cõi, hoang phế này cũng đã là một kỳ tích rồi. Còn về những quả trong vườn, chắc chắn là người ta sẽ không tìm ra một nhà trồng tỉa nào dám trả mười si- ling để mua tất cả vụ thu hoạch.
Tụy nhiên, trong một góc vườn bị quên lãng, bị che khuất một nửa phía sau một lùm cây ủ rũ, có một chỗ chứa đồ được cải dụng: vương quốc của Conradin chiếm ngự toàn bộ giữa các bức tường. Để làm bầu bạn, nó có một đoàn những hồn ma quen thuộc sổng ra từ những truyện lịch sử hay xông ra với đầy đủ võ khí từ đầu óc nó.
Nhưng nó cũng có hai tên bạn đang sống thực sự: một con gà mái già xứ Houdan đã bị vặt lông hết một nửa mình, với con gà này nó đã có một tình thương không giới hạn. Và mãi ở trong góc tận cùng của các nhà chứa đồ trong một cái chuồng lớn có chấn song sắt, một con chồn hôi lớn mà bạn nó, thằng bé con nhà hàng thịt, đã lén lút mang tới cho nó để đổi lấy vài đồng tiền được gom góp từ lâu.
Với con vật mình dài, nhanh nhẹ có những cái răng nhọn hoắt này, Conradin có một cảm giác phức tạp: gồm cả sự sợ hãi và sự cảm mến. Đó là cái kho tàng quí báu nhất của nó. Chỉ nguyên sự có mặt của nó trong căn nhà chứa đồ, cũng đã tạo thành một sự kỳ bí, và một niềm vui đáng sợ khiến cho nó phải bằng mọi giá dấu diếm người đàn bà; như khi có một mình, nó thường gọi là bà chị họ nó.
Và một ngày kia nó tìm cho con vật một cái tên khủng khiếp và tráng lệ - và cũng từ ngày hôm đó con vật trở thành ông thánh và Conradin thờ phụng nó.
Người đàn bà, cả bà ấy nữa, cũng có một tôn giáo và mỗi tuần một lần, bà ấy đi nhà thờ. Bà ấy dắt Conradin đi theo bà ấy, nhưng nó hoàn toàn hờ hững với buổi thánh lễ.
Trái lại, mỗi ngày Thứ năm, trong cái yên lặng sâu thẳm của nhà chứa đồ, và trong mùi mốc meo, Conradin đã cử hành với một sự thần bí thiêng liêng việc thờ phụng Sredni Vashtar - vị chồn hôi vĩ đại. Tùy theo từng mùa, những đóa hoa đỏ hoặc những trái cây đỏ sẫm được đặt trước cái chuồng, cái chuồng này có dáng cách một cái hương án. Vào dịp những ngày hội lớn, bột của trái nhục đậu khấu được rắc lên mặt đất - và muốn cho đồ lễ được vừa lòng Sredni Vashtar thì điều thiết yếu là nhục đậu khấu phải được lấy trộm của người đàn bà.
Những lễ hội lớn này không được cử hành vào những ngày nhất định và thường diễn ra vào dịp một sự cố nhất thời. Một bận, bà Ropp bị đau răng dữ dội trong ba ngày, Conradin kéo dài những ngày lễ hội trong suốt ba ngày đó và cuối cùng nó tin rằng nó nhờ ơn vị Sredni Vashtar vĩ đại mới có trận đau răng điên cuồng kỳ diệu này để loại mụ đàn bà ra khỏi tình trạng tác hại. Nếu cơn đau còn kéo dài thêm một ngày nữa thì kho chứa nhục đậu khấu đã cạn kiệt.
Con gà mái Houdan đã không bao giờ tham dự buổi lễ dành cho ông Chồn Hôi Vĩ đại. Đã từ lâu rồi, Conradin cho rằng nó là theo phái a- ma- bắp- tít (một phái trong Gia tô giáo đòi hỏi người theo đạo phải làm phép tẩy lễ lần thứ hai, ngoại trừ sự tẩy lễ lúc mới sơ sinh). Không phải là nó có một chút ý niệm nào về tôn giáo này, nhưng vì bà Ropp cho rằng tôn giáo đó là khả kính, nên Conradin chỉ có thể liệt điều khả kính này vào sự khinh bỉ.
Cuối cùng thì bà Ropp cũng khám phá ra sự hấp dẫn mà cái nhà chứa đồ đã hành xử trên đứa học trò của bà. “Việc này không thể nào tốt lành cho nó. Khi nó làm những việc vớ vẩn trong cái nhà chứa đồ này vào bất kỳ lúc nào”. Và một buổi sáng, trong lúc điểm tâm, bà nói cho Conradin biết rằng con gà mái xứ Houdan đã được bán rồi và người mua đã mang nó đi ngay ngày hôm đó.
Với cặp mắt lồi lên vì cận thị, bà nhìn kỹ nét mặt của thằng nhỏ. Bà chờ đợi thấy nó bùng lên sự điên cuồng hay nỗi tuyệt vọng và đã chuẩn bị sẵn những lời quở mắng và la rầy. Nhưng Conradin không nói gì cả, nó chẳng có gì để nói cả.
Có lẽ một vẻ gì đó trên bộ mặt xanh mét của nó đã thoáng làm cho bà Ropp có một vẻ giống như ân hận, vì buổi chiều hôm đó, thay vì nước trà, bà đã đặt những khoanh bánh nướng phết bơ trên bàn. Theo lệ thường thì món bánh ngon này đã bị cấm bởi vì Conradin rất khoái ăn nó, bà đã cho rằng chúng có hại cho sức khỏe của nó.
- Tao nghĩ rằng mày thích ăn bánh nướng phết bơ - bà nói với vẻ bẽn lẽn khi nhìn thấy Conradin không đụng tới những miếng bánh đó.
- Một đôi khi - Conradin trả lời.
Tối hôm đó, trong căn nhà chứa đồ, một sự cải cách đã được đưa vào phần nghi lễ để thờ phụng Sredni Vashtar. Khi đọc kinh trước cái chuồng, đây là lần đầu tiên Conradin cầu xin một ân huệ.
- Hỡi Sredni Vashtar, xin hãy làm cho tôi một việc!
Cái việc này không được xác định rõ ràng: một vị thánh sẽ biết rõ hơn nó cái-việc-đó là những gì. Cố nén lại một tiếng khóc nức nở, nó đưa ánh mắt u sầu nhìn vào cái xó trống không mà con gà mái Houdan đã chiếm ngự, và nó quay về phía cái thế giới mà nó hận thù - cái thế giới của bà Ropp.
Và mỗi đêm, trong sự tối tăm thân thương của căn phòng của nó, và mỗi buổi chiều trong sự tối tăm của cái nhà chứa đồ, Conradin đều nhắc lại lời cầu khẩn nhiệt thành của nó.
- Hỡi Sredni Vashtar, xin hãy làm cho tôi một việc gì đó!
Bà Ropp nhận thấy là những cuộc viếng thăm căn nhà chứa đồ đã không chấm dứt với sự ra đi của con gà mái Houdan, và một ngày nọ bà quyết định mở một cuộc thanh sát mới.
- Mày giữ cái gì ở trong cái chuồng đóng kín này thế? Bà hỏi thằng bé. Tao đoán rằng đó là những con lợn Ấn độ. Tao sẽ quét sạch tất cả những thứ đó.
Conradin nín thinh, nhưng mụ đàn bà đi lục lọi trong căn phòng và tìm thấy cái chìa khóa được cất dấu rất kỹ lưỡng. Bà ngay lập tức đi về phía cái nhà chứa đồ để đưa các ý định quét dọn sạch của bà ra thi hành.
Hôm ấy là một buổi chiều rất lạnh, Conradin được lệnh không rời khỏi nhà. Từ cửa sổ phòng ăn, nó có thể nhìn thấy cái cửa của căn nhà chứa đồ, phía bên kia lùm cây. Nó đứng ở chỗ đó để quan sát kẻ thù. Nó trông thấy bà ta đi vào. Nó tưởng tượng thấy bà ta mở cái cửa thiêng liêng và với cặp mắt cận thị nhìn soi mói vào cái ổ rơm trong đó vị thánh đang ẩn náu, trong sự nôn nóng bất kính của bà ta, ngay cả bà ta có thể đi tới chỗ lục lọi trong đống rơm chăng?
Một lần cuối cùng Conradin lẩm nhẩm bài kinh của nó, nhưng nó không còn tin tưởng là nó sẽ có thể được gia ân. Nó biết rằng mụ đàn bà sẽ đi ra trong một phút, với nụ cười ngạo mạn mà nó ghét cay, ghét đắng và rồi trong một hoặc hai giờ nữa anh thợ làm vườn sẽ mang vị thánh đi. Lúc đó Ngài chỉ còn là một con chồn hôi nâu, nhỏ bé, tầm thường trong một cái chuồng.
Và nó biết rằng mụ đàn bà bao giờ cũng sẽ thắng, và rằng nó sẽ mỗi ngày một ốm yếu hơn, mỗi ngày một bại hoại hơn cho tới ngày mà không có gì còn quan trọng với nó nữa và cuối cùng thì ông bác sĩ đã nói đúng.
Dưới vết thương của sự phiền muộn gây ra bởi sự thất bại của nó, Conradin bắt đầu ca hát, hát rất lớn, với một giọng đầy vẻ ngạo mạn, bài thánh ca dành cho vật sùng kính bị đe dọa.
Sredni Vashtar đã đi rồi
Những tư tưởng của Ngài là những tư tưởng đỏ chói và những cái răng của Ngài thì trắng toát
Những kẻ thù của Ngài cầu xin sự thanh bình nhưng Ngài đem lại cho chúng tử thần.
Sredni Vashtar đấng quang vinh!
Rồi bỗng nhiên nó ngưng hát và đi tới gần cái cửa sổ. Cái cửa của nhà chứa đồ lúc nào cũng mở lớn, như là nó đã được để vậy và những giờ phút trôi qua. Những giờ phút dài dặc, nhưng dù sao thì chúng vẫn cứ trôi qua.
Nó ngắm nhìn những con chim sẻ đá tập bay trên luống cỏ, nó đếm chúng, đếm đi, đếm lại, nhưng lúc nào mắt nó cũng nhìn vào cái cửa của căn nhà chứa đồ.
Bà vú già với bộ mặt ảm đạm đi vào và dọn bàn cho bữa uống trà, và Conradin vẫn không rời khỏi cái cửa sổ. Nó lặng lẽ canh chừng và chờ đợi. Niềm hy vọng len lỏi vào và lớn dần lên trong lòng nó, và ngọn lửa chiến thắng bùng lên trong các ước mơ của nó, những ước mơ mà cho tới lúc này chỉ biết có sự nhẫn nhục kiên trì của sự thất bại.
Nó lại bắt đầu, nhưng trong một tiếng lầm bầm và với sự phấn khởi mỗi lúc một gia tăng, bài thánh ca của sự chiến thắng và sự tàn phá. Và nó đã được tưởng thưởng: Công lý Cố hữu đã hiển linh trước mặt nó. Lẻn qua khuôn cửa, một con vật dài, uốn éo, hai mắt nhấp nháy trước ánh sáng ban ngày, với bộ lông vàng và hung hung đỏ có những vết đen sậm, đang rời khỏi căn nhà chứa đồ cũ.
Conradin quì xuống, con chồn hôi lớn đi xuống mạn cái suối nằm ở chỗ cuối vườn, nó uống nước một lát, rồi đi qua cây cầu nhỏ bằng gỗ và biến dạng trong những đám rừng cây. Sự ra đi của Sredni Vashtar là như thế.
- Trà đã pha xong - bà vú già với bộ mặt ảm đạm nói. Bà chủ đâu rồi?-
- Bà ấy đã đi vào trong nhà chứa đồ từ lúc nãy - Conradin nói.
Và trong khi bà vú già đi tìm bà chủ về uống trà thì Conradin lấy cái nĩa để ăn bánh nướng phết bơ trong ngăn kéo ra và bắt đầu phết bơ lên những cái bánh.
Trong lúc nó phết bơ lên các lát bánh, phết rất nhiều, và nó rất vui thích được nhấm nháp chúng thì Conradin nghe thấy những tiếng ồn ào và những lúc yên lặng - rồi những tiếng kêu the thé và kinh hoàng của bà vú già. Những tiếng kêu khác đưa tới từ nhà bếp, những tiếng kêu kinh ngạc vang vang lên, rồi tới những bước chân vội vã từ bên ngoài tới, và sau một khoảng khắc yên tĩnh, những tiếng khóc nức nở và hơi thở dồn dập của một người nào đang bê một vật nặng.
- Ai sẽ nói việc này cho thằng bé khốn khổ đó? Một tiếng nói thì thào. Tôi sẽ không bao giờ có can đảm nói việc này với nó...
Trong lúc họ bàn bạc về vấn đề thì Conradin phết bơ vào một cái bánh nướng khác.
 
HẾT
0
PHÉP LẠ LÚC BỐN GIỜ
(Four O’Clock)
Tác giả: Price Day
Biên dịch: Kim Lương
 

Những cây kim của cái đồng hồ báo thức để trên bàn trước  mặt ông Grangle đứng ở 3 giờ 47 phút, vào một buổi chiều mùa hè.
- Mi đã sai về điều đó, mi biết chứ? Ông nói, mắt không rời khỏi cái mặt đồng hồ. Mi đã hoàn toàn sai rồi, Pet ạ, như ta đã giải thích cho mi khá nhiều lần trước đây. Cái góc độ đạo đức không trưng ra những sự khó khăn nào cả.
Con két trong cái chuồng treo phía trên ông nghiêng đầu đi và nhìn xuống với một con mắt cứng cỏi, lạnh lùng của loài bò sát, một con mắt cổ xưa, một con mắt qua hết thời đại này tới thời đại khác đã cổ xưa hơn là loài người.
Nó nói:
- Quả hạt.
Ông Grangle, hai mắt vẫn còn nhìn vào cái đồng hồ, lấy một củ lạc trong cái bát nứt rạn ở chỗ khuỷu tay ông và giơ lên bên trên đầu ông, tới những chấn song của cái chuồng. Con Pet quắp lấy củ lạc bằng cái móng dài như da của nó, những cơ - bắp như lò xo bằng thép làm cái mỏ cứng như xương hé ra. Nó xiết chặt củ lạc và bóp vỡ nó ra, trong căn phòng bày biện đồ đạc, âm thanh hòa lẫn với các âm thanh của một thành phố lớn đang ùa vào qua cái cửa sổ mở ngỏ - tiếng còi xe hơi, tiếng bước chân trên vỉa hè, tiếng trẻ con gọi nhau, tiếng máy bay bên trên đầu giống như một con ong cần cù, mãn nguyện.
- Hoàn toàn thật vậy - ông Grangle nói lúc 3 giờ 49 phút. Chỉ có một người nào đứng trên tất cả mọi tình cảm riêng tư, chỉ có một người nào có thể nhìn vào toàn bộ sự việc như thể từ bên ngoài, thì mới có thể được tín nhiệm về mặt đạo đức để đưa ra một quyết định như thế.
Khi cây kim lớn chỉ tới 3 giờ 50, ông cảm thấy một ý thức về quyền lực tràn lên một cách sâu xa trong người ông.
- Hãy suy nghĩ đi, Pet. Trong mười phút. Trong mười phút ngắn ngủi, khi ta nói một lời tất cả những kẻ ác trên toàn thể thế giới sẽ trở thành một nửa cái tầm vóc hiện nay của họ, do đó họ có thể được nhận ra. Tất cả những tên sát nhân chưa bị bắt và những tên bạo chúa, và những kẻ kiêu hãnh và tội lỗi, tất cả những kẻ cuồng hung và những kẻ làm điều sai quấy,  và những kẻ lường gạt bắt bí thiên hạ, và những tên nghiện ngập thuốc sái, và những tên phạm pháp - Cặp mắt ông sáng long lanh với sự toàn năng - Tất cả bọn họ, tất cả mọi người.
Con Pet nói.
- Quả hạt.
Ông Grangle cho nó một củ lạc.
- Ta biết mi không hoàn toàn đồng ý với giải pháp một nửa tầm vóc này - ông nói - nhưng ta tin rằng nó là giải pháp tốt nhất, sau khi mọi việc đã được cứu xét kỹ càng.
Ông đã ngày đêm nghiên cứu về các giải pháp chọn lựa từ cái buổi sáng ba tuần lễ trước đây, khi ông ngồi trên một cái ghế dài trong công viên ngắm nhìn các hình ảnh trong những đám mây phía bên kia cái hồ. Ông có ý nghĩ là ông có quyền lực để làm điều này, là vào lúc này ông đã được ban cho đặc quyền đóng một cái dấu lên tất cả những kẻ gian ác trên đời, để cho mọi người có thể nhận ra chúng.
Sự ý thức này đã không làm ông ngạc nhiên chút nào. Đã có một lần trước đây, một việc như thế đã xảy ra. Đã có lần ông nắm giữ quyền uy để chặn đứng các cuộc chiến tranh. Đó là khi mà đài phát thanh nói về các cuộc không tập lớn vào những thành thị. Trong trường hợp này, điều đặc biệt mà ông có thể làm là lấy chất cứng ra khỏi những cánh quạt của máy bay, để cho vào một buổi sáng nào đó, các nhân viên phi hành đoàn, người mặc bó chặt quần áo giống như lũ trẻ con ăn mặc chống rét lạnh, đi ra để lên máy bay của họ, và họ sẽ thấy những cánh quạt rũ xuống mềm xìu giống như những cái vỏ chuối rỗng ruột vậy.
Bận đó ông đã trì hoãn quá lâu, đợi chờ cho thật đúng thời gian và cho thật đúng kế hoạch, và họ đã đánh lừa ông một cách thiếu công bằng. Họ đã chế ra máy bay phản lực với loại máy bay này thì quyền năng của ông không thi thố được.
Rồi cũng có vấn đề về các bánh xe nữa. Vấn đề các bánh xe tới với ông trong một quán cà phê khi ông đang xem một tấm ảnh trong tờ báo về một tai nạn giao thông tệ hại, ba người bị chết. Có nghĩa là quyền năng để biến đổi tất cả những cái bánh xe trên thế giới từ hình tròn thành hình vuông, hoặc ngay cả thành hình ba góc nếu ông muốn, khiến cho chúng sẽ vướng vào nhựa đường và dừng lại. Nhưng ông đã không được phép nắm giữ quyền năng đó. Trước khi ông có thể hoạch định một kế hoạch và một thời cơ, thì ông đã cảm thấy nó bị lấy đi khỏi ông.
Cái quyền năng đối với bọn gian ác thì vẫn còn ở lại. Mà nó còn mỗi ngày một lớn hơn nữa, nếu cái quyền năng giống như thế có thể lớn mạnh hơn lên. Và lần này ông đã vội vã, mặc dù tất nhiên là vẫn còn một vài vấn đề cần phải nghĩ cho thông suốt.
Một là, ai sẽ là người quyết định xem những kẻ nào là gian ác? Thật sự ra việc này không khó lắm, bất kể những sự nghi ngờ của con Pet. Một người gian ác là một kẻ tỏ ra có vẻ gian ác đối với một người, trong bản thân ông ta đã nắm giữ được sự hiểu biết về thiện và ác, nếu người đó có thể biết được tất cả những điều thầm kín trong tận đáy lòng của mọi người. Một người gian ác là một kẻ sẽ tỏ ra cỏ vẻ gian ác đối với một đấng thần thông quảng đại là ông Grangle.
Rồi thì thực hiện nó thế nào, phương pháp nào? Đánh dấu lên trán họ, thay đổi tất cả bọn họ thành một màu, thí dụ màu đỏ tía được không? Nhưng lúc đó họ sẽ có thể dễ dàng nhận ra nhau một cách chắc chắn hơn, và kéo bè kết đảng với nhau trong sự gian ác của họ.
Cuối cùng, khi ông chợt nảy ra ý kiến về sự biến đổi tầm vóc thì điều tới với ông trước tiên là ý nghĩ về sự tăng gấp đôi chiều cao và tầm vóc của tất cả những kẻ gian ác. Điều này sẽ làm cho họ mất hết hiệu năng. Họ không thể vận dụng các dụng cụ khoa học hoặc các máy đánh chữ, hoặc các máy tính, hoặc các mặt số điện thoại. Tới một lúc nào đó họ sẽ chết vì sự quá to lớn của họ, giống như những con khủng long trong bài báo của tờ báo Chủ nhật. Nhưng thoạt đầu họ sẽ chạy lung tung với trọng lượng và sức lực lớn lao của họ, và sẽ làm tổn thương những người khác. Ông Grangle nhất định không thích việc đó, ông vốn căm thù bạo lực.
Thật sự những người nửa cỡ tầm vóc cũng cỏ đủ khả năng để vận dụng một vài thứ máy. Họ vẫn còn có thể nguy hiểm. Nhưng họ sẽ phải tốn một thời gian dài để làm ra những dụng cụ và võ khí hợp với tầm cỡ của họ, và ta hãy nghĩ xem trong thời gian đó, trông họ sẽ buồn cười như thế nào với những quần áo lớn hơn gấp hai lần và những cái mũ chụp xuống đến tận tai của họ.
Lúc 3 giờ 54 ông Grangle mỉm cười với ý nghĩ là trông họ sẽ lố bịch thế nào.
- Quả hạt - con Pet nói.
Ông với tay lên và cho nó một củ lạc, mắt ông vẫn nhìn vào cái đồng hồ.
- Ta nghĩ rằng - ông nói - nơi thú vị nhất sẽ là một phiên tòa xử vụ sát nhân. Ở đó không ai biết là bị cáo có thật phạm tội hay không. Và rồi tới lúc 4 giờ, nếu y phạm tội...
Hơi thở của ông Grangle trở nên gấp hơn. Những cây kim đồng hồ đứng ở 3 giờ 56.
- Hoặc nhìn một gã say xỉn trong quán rượu - ông nói.
- Quả hạt - con Pet nói.
Và ông cho nó một củ lạc.
- Ồ! ông nói - có rất nhiều nơi, rất nhiều nơi cần tới. Nhưng Pet ạ, ta muốn ở gần mi khi việc đó xảy ra, ở ngay nơi này một mình với mi.
Ông ngồi xuống cái ghế, vẻ khẩn trương, ông có thể trông thấy một cách thực sự cây kim lớn của cái đồng hồ di chuyển, trong những cái nhảy nhỏ li ti, để lại một vệt trắng bằng sợi tóc giữa nó và chấm đen 3:57, và đang di chuyển tới chấm 3:58, thu hẹp khoảng trống lại, cho tới khi nó đứng thẳng ngay vào chỗ đó, rồi lại di chuyển qua khỏi về phía chấm 3:59.
- Thoạt đầu - ông Grangle nói - các báo chí sẽ không tin vào việc này. Ngay cả khi một việc như thế sẽ xảy ra ngay tại các văn phòng của tờ báo, họ cũng vẫn không tin vào chuyện đó. Thoạt đầu thì họ sẽ không tin. Và rồi khi họ bắt đầu hiểu rằng việc đó đã xảy ra cho rất nhiều người mà ai cũng biết là gian ác, lúc đó họ sẽ nhìn thấy ý đồ.
Đồng hồ chỉ 3 giờ 59 phút.
- Một chuyện lớn... - ông Grangle nói. Một chuyện lớn cho báo chí và sẽ không người nào biết là ai đã làm ra việc đó, Pet ạ. Không người nào ngoài mi và ta.
Cái mũi của cây kim lớn đã bò phân nửa đường qua khỏi cãi chấm 3:59. Tim của ông Grangle đập mạnh. Hai mắt ông mở to ra, môi ông hé ra, ông nói thì thào:
- Sẽ không có người nào biết!
Cái mũi cây kim lớn đã chạm tới cái chấm ở trên đỉnh cao của mặt đồng hồ. Chuông đánh thức đổ hồi, ông Grangle cảm thấy một sự trào dâng lớn của sức lực, giống như nước làm vỡ một cái đập, và một sự chấn động lớn, như thể một tiếng sét đánh. Ông nhắm mắt lại.
- Bây giờ! Ông nói nhỏ nhẹ, và năm vật xuống, kiệt sức.
Bằng cách đi tới cửa sổ và nhìn xuống đám đông dưới đường phố, hẳn là ông có thể nhìn xem phép lạ có hiệu lực hay không. Ông đã không đi tới cửa sổ, ông đã không cần làm việc đó, ông đã biết rồi.
Chuông báo thức hết rung.
Con Pet nghiêng cái đầu của nó và nhìn ông với một con mắt giống như cục đá bóng láng.
- Quả hạt - nó nói.
Bàn tay ông khi ông duỗi thẳng nó lên, thì nó còn cách xa tới một bộ rưỡi mới với tới cái chuồng..
 
HẾT
0
CHÚNG ĐỚP ĐẤY (1)
THEY  BITE
   Tác giả: Anthony Soucher
Người dịch: Hà Trung Khâm
 
 
I
 
 

Không có lối nào khác, chỉ còn cách leo lên vách thẳng đứng. Chỉ có vài chục thước đá nứt trước mặt, với những cây ngải đắng thọc rễ vào kẽ, hút được chút sự sống nghèo nàn. Tiếp đến là vạt vách lổm chỏm những đầu đá sắc nhọn, lâu lắm mới gặp một lỗ đặt chân hay một cành xô thơm thân dầu, lâu lâu lại gặp một bửng đá chìa ra, muốn vượt qua phải nhờ vào sức đu bám của bắp thịt và thiên khiếu giữ thăng bằng.
Những cây ngải đắng cũng xanh xám như đất đá nâu xỉn, màu duy nhất có thể gặp được là vài cây xương rồng thân ống hồng hồng.
Hugh Tallant đu mình vắt trên mỏm đá cuối cùng, có hình dáng rõ nét như thành đá của người khổng lồ, như tảng hibralta với người Pigknies Phi châu. Tallant ngồi chênh vênh trên bờ thành, đưa ống nhòm lên.
Thung lũng sa mạc trải dài phía dưới, những cụm nhà nho nhỏ kia là ốc đảo. Bụi chà là hiếm hoi kia dùng để đặt tên cho thị xã, che chở cho cái lều của anh và căn nhà nhỏ anh đang làm. Con đường lớn cụt, dẫn ngay ra hoang mạc mênh mông. Những con đường đổ dầu hắc, chồng chéo như bàn cờ, chia thung lũng khô cằn thành những ô hy vọng có dầu. Tallant không quan sát những thứ này, mà nhắm kính sang phía trên thị xã Ốc Đảo quanh cái hồ cạn.
Những chiếc tàu lượn hiện ra rõ ràng và linh hoạt, những người mặc đồng phục làm việc với chúng cũng đầy đủ chi tiết như quan sát một tổ kiến dưới kính lúp. Trường huấn luyện lái tàu lượn hoạt động rộn rịp hơn bao giờ hết. Tallant lấy làm lạ, một chiếc tàu lượn đang được mọi người chú ý. Người nào cũng đến cạnh nó xem xét rồi liếc nhìn lại các tàu kiểu cũ hơn để so sánh.
Nhưng góc mắt trái của anh không tập trung vào cái tàu lượn mới, nó nhận ra một cái gì đang di chuyển, một vật nhỏ, gầy tong teo, nâu như màu đất. Nó lớn hơn một con thỏ nhưng nhỏ hơn một người. Vật đó chạy xẹt qua góc mắt trái, anh không còn tập trung vào các tàu lượn dễ dàng nữa.
Anh buông ống nhòm xuống và chú tâm quan sát chung quanh. Từ đỉnh cao này, anh có thể nhìn bao quát dải đất hẹp, tương đối bằng quanh đỉnh. Không có gì động đậy, chẳng có gì nhô lên khỏi vài bụi ngải đắng, trừ một bụi xương rồng ống hồng hồng. Anh lại đưa ống nhòm lên quan sát. Khi đã có những nhận xét rõ rệt, anh ghi chú có phương pháp ngay vào cuốn sổ đen.
Tay anh vẫn còn trắng bệch, sa mạc thì lạnh và ít khi mặt trời ló ra vào mùa đông. Nhưng đó là bàn tay vững chãi, cũng được huấn luyện thành thạo như đôi mắt, có khả năng ghi lại những kiểu dáng và kích thước chính xác. Khi anh trượt tay một nét, anh phải bôi đi và vẽ lại, để lại trên hình một vết tẩy thì anh rất buồn. Cái vật tong teo màu nâu lại hiện ra ở trước mắt anh. Anh xác định được là nó di chuyển về hướng Đông, nơi những chóp đá nhọn hoắt nhô ra lởm chởm như gai trên lưng giống thằn lằn mái.
Chỉ sau khi ghi xong các nhận xét khi quan sát được, anh mới chiều theo thị hiếu tò mò, dù sao anh cũng tự trách mình còn tầm phào.
Cơ thể anh thực sự mệt nhọc là điều bất thường ở anh, sau một ngày leo núi và dọn đất làm nhà, các bắp thịt mắt mệt mỏi tạo ra những ảo giác thần kinh. Có lẽ chẳng có gì sau lớp da vẩy của con thằn lằn mái.
Không, chẳng có sinh vật sống nào động đậy, chỉ có xác một con chim bị xé banh, trụi một nửa lông như thể nó đã bị một con thú nhỏ nhai dỡ.
Xuống đến lưng chừng đồi - đồi theo ý nghĩa của phương Tây nhưng ở đây, phía Đông rặng Rockies, đồi là một ngọn núi khá lớn - Tallant lại thoáng thấy một hình thù chuyển động. Lần này thì không còn là ảo giác thần kinh mắt nữa, nó không nhỏ và nâu nữa. Nó cao, to, mặc một cái áo thợ rừng sặc sỡ đỏ đen. Cái hình nhân gọi lớn: "Tallant" bằng một giọng vui vẻ, đầy sinh lực.
Tallant đến gần người đó, chào rồi ngập ngừng:
- Ông biết tôi mà tôi không biết ông.
Người ấy cười lớn:
- Anh không biết tôi sao? Cứ cho là mười năm là dài và hoang mạc Cali không hẳn là đồng ruộng ở Trung Quốc. Chuyện đó ra sao rồi? Vẫn có nhiều bí mật để bán chứ?
Tallant cố bình tĩnh hết sức không phản ứng với "chưởng" này, nhưng anh cũng hơi cứng người:
- Rất tiếc, cách tổ chức của ông thăm dò địa chất làm tôi lầm. Vui mừng gặp lại anh, Morgan.
Người đó nheo mắt lại cười:
- Giỡn chút thôi mà. Nhưng thực ra bây giờ anh đâu có lý do nào đáng để anh phải leo núi xung quanh trường dạy lượn, đúng không nào? Anh lại còn cầm ống nhòm để theo dõi những 'con chim xinh' đó nữa chứ.
- Tôi đến đây để dưỡng sức thôi. - Chính Tallant cũng thấy giọng mình lạc hẳn.
- Vâng, anh làm việc gì cũng là để lo cho sức khỏe. Nói tới sức khỏe, gần đây tôi không được khá. Tôi có căn chòi nhỏ trên đường đi 'Địa ngục mai một' gần đây và lâu lâu tôi cũng làm vài chuyến khảo sát địa chất. Lâu lâu tôi cũng 'ngáp phải ruồi' Tallant ạ. Mới gần đây tôi trúng một mỏ kim loại khá lớn.
- Tầm phào. bạn cũ ạ. Anh phải thấy...
- Hiển nhiên tôi cũng đâu có thích nói cho đám quân nhân ở công trường này, những chuyện tôi biết về Trung Quốc và những nhân vật tôi gặp ở đó. Đừng phịa chuyện với bộ đội, họ không ưa. Nhưng khi quá chén tôi cũng nói linh tinh như...
- Thôi, để anh tự nói với anh ba hoa những gì. Cũng sắp tối rồi. Căn lều của tôi lạnh lẽo lắm không tiếp khách được. Sáng mai hãy ghé tôi, ta sẽ ôn lại chuyện xưa. Anh vẫn thích 'rum' đấy chứ?
- Vẫn vậy. Thứ đó bây giờ mắc lắm đấy, anh biết rằng...
- Tôi sẽ mua vài chai. Tìm ra chỗ tôi dễ dàng - bên kia ốc đảo. Và ta... chúng ta có thể nói về chuyện đào mỏ của anh nữa.
Khi bước đi, môi Tallant đanh lại.
Người phục vụ quầy rượu mở chai bia rồi dựng đứng nó cạnh mép quầy có vành ngoài luôn ẩm ướt.
- Hai mươi lăm xu - rồi lại thêm - cần ly không? Vài khách du lịch uống bằng ly.
Tallant quan sát những người khách khác đang ngồi ở quầy: ông già mắt đỏ, không chịu cạo mặt; ông trung sĩ phi hành đang đau khổ vì phải uống co ca vì hết giờ quân nhân được uống bia; cậu thanh niên với cái áo mưa nhà binh, ngậm píp, có bộ ria nâu mới để. Chẳng ai dùng ly.
- Tôi tự coi mình không phải là du khách.
Tallant trả lời người phục vụ.
Đây là lần đầu tiên Tallant ghé "Tụ điểm Thể thao Sa mạc" và đi vòng vòng thăm thị xã. Nếu không người ta lại thắc mắc - cái ông ở phía ngoài ốc đảo ấy là ai? Tại sao chẳng thấy ông ấy đi đâu bao giờ?
Tụ điểm đêm nay vắng khách: bốn người ở quầy, hai lính trẻ thụt bi da, sáu, bảy người địa phương quây quần ở bàn xì phé, có một công nhân xây dựng rất tỉnh táo, chú ý uống bia hơn là đánh bài.
- Chắc ông chỉ đi chơi qua đây?
Người quản quầy rượu thình lình hỏi một cách thân hữu.
Tallant lắc đầu:
- Tôi mới dọn đến đây, sau khi quân đội chê hai lá phổi của tôi. Tôi định chăm sóc hai lá phổi ở đây. Tôi đã nghe nói nhiều, không khí vùng các ông rất tốt, bởi thế tôi cũng thử xem…
- Điều đó hẳn nhiên rồi, khỏi phải thử. Ông cứ tin là trước khi có trường tàu lượn, mọi người ông gặp trong hoang mạc này, phần lớn là người đến đây dưỡng sức. Trước đây tôi bị viêm xoang, nhưng bây giờ, ông nhìn tôi mà xem, Cũng nhờ không khí đó.
Tallant hít một hơi cái không khí đầy khói thuốc và bia bọt nhưng không cười được.
- Tôi cũng đang trông chờ một phép lạ cho tôi khỏi bệnh.
- Chỉ có vậy thì chắc ông sẽ được thôi. Ông đang ở khu nào?
- Đầu đường này, nơi nhân viên địa ốc gọi là Ngôi nhà xưa Carker."
Tallant cảm thấy được mọi người nghe im bặt và chau mày. Người quản lý quầy rượu đã định nói gì nhưng lại thôi, để nghĩ kỹ đã. Thanh niên trẻ có râu nhìn anh một cách khác lạ. Ông già cố nhướng đôi mắt đỏ nhòa nước, nhìn anh có vẻ thương hại. Tallant thấy ớn lạnh không do cái lạnh ở hoang mạc.
Ông già cố gắng uống liên tục vài hớp hia cho hết, rồi nhăn trán như cố nghĩ để nói một câu gì đó. Sau cùng ông lau bọt bia trên đôi môi đanh lại vì sợ, nói:
- Ông không tính ở trong nhà đó chứ?
- Không ạ, nhà đó hầu như sắp rã rồi. Tốt nhất là tôi sẽ làm một cái chòi tạm: rồi tu bổ dần dần thành một cãi nhà ở được. Tạm thời, tôi ở trong một lều bạt.
- Thế là tốt đấy, nhưng đừng có lò mò đến quanh nhà đó nghe.
- Tôi sẽ chẳng lò mò đến đó làm gì. Nhưng tại sao lại không được coi cho biết. Cụ dùng thêm chai bia nữa?
Cụ già miễn cưỡng lắc đầu và tụt xuống khỏi ghế xuống đất:
- Không, cám ơn ông. Tôi không biết chắc, vì tôi…
- Sao ạ?
- Không sao cả, dầu sao cũng cám ơn ông.
Cụ quay mình lết ra cửa.
Tallant cười:
- Nhưng tại sao tôi không được héo lánh tới căn nhà đó chứ? Tallant hỏi với theo cụ.
Cụ già lẩm bẩm gì đó:
- Chúng đớp đấy!
Cụ run rẩy bước vào bóng đêm.
 

(Còn tiếp)
 
0
CHÚNG ĐỚP ĐẤY (2)
 
II
Người quản quầy rượu lại đóng vai trò mình.
- Tôi mừng là ông cụ không nhận chai bia ông mời. Vào khoảng giờ này buổi tối, tôi bắt buộc không bán cho cụ nữa. Vì có lần cụ đã tính bỏ rượu.
Tallant đặt chai bia đã hết của mình tới trước:
- Hy vọng là tôi đã không làm cụ sợ.
- Sợ! Thôi được đúng là ông đã làm ông cụ sợ đấy. Làm sao mà cụ dám nhận mời uống bia của người đến từ 'Nhà xưa Carker’ kia chứ. Theo mấy cụ đã ở đây lâu, uống như vậy là một trò cười.
Tallant cũng cười:
- Có phải nhà đó bị ma ám không?
- Không có chuyện ông mới nhắc là bị ma ám. Chẳng có con ma nào ở đó cả.
Ông ta lau mặt quầy bằng một nùi giẻ, như thể muốn bỏ đề tài này đi.
Ông trung sĩ phi hành bỏ chai cô ca xuống, lục túi tìm vài đồng bạc cắc. Ông bước sang chiếc máy bắn banh.
Cậu thanh niên trẻ nhoài lên cái ghế trống.
- Hy vọng già Jake không làm ông buồn.
Tallant cười vui:
- Tôi nghĩ rằng thành phố nào mà chẳng có những căn nhà hoang, được thêu dệt chuyện ma quái. Nhưng căn nhà ở đây lại hơi khác: không có ma, chúng lại đớp nữa. Anh có biết chuyện gì về nó không?
Cậu thanh niên nói ra vẻ quan trọng:
- Biết chút ít. Đủ để…
Tallant cố làm ra vẻ háo hức tò mò:
- Mời anh một chai và nói cho tôi nghe những gì anh biết.
Ông trung sĩ phi hành rủa cái máy đánh bạc một cách cay đắng.
Cậu thành niên nốc vài ngụm bia qua chòm râu, rồi bắt đầu:
- Sa mạc ở đây quá lớn, ông không thể ở đó một mình được đâu. Có bao giờ ông nhận thấy vậy không. Sa mạc trống lốc, trong tầm mắt chẳng có cái gì. Nhưng ở đó luôn có cái gì đó di động mà ta không thể thấy. Đó là một vật khô, tong teo và nâu, khi ông chú ý đi tìm lại không thấy. Ông đã thoáng thấy nó bao giờ chưa?
- Có thể là do thị giác mệt mỏi.
- Tôi biết là ông sẽ nói vậy. Mỗi người có cách giải thích cái chuyện hoang đường riêng. Chẳng có bộ lạc da đỏ nào không có những vật kỳ bí. Ông có nghe nói 'Ma xó' chưa? Vào thế kỷ hai mươi, người da trắng đến và cho là do mệt mỏi thần kinh thị giác, trông gà hóa cuốc. Nhưng vào thế kỷ mười chín thì có 'ma xó' thật. Còn có lũ Carkers nữa.
- Anh nói chuyện ma quái đó ở một địa phương nhất định.
- Cứ coi là vậy đi. Ông thoáng thấy vật nào đó trong trí óc giống như ông thoáng thấy những vật tong teo, khô đét qua khóe mắt. Ông đóng khung chúng vào một tình huống nhất định. Như vậy có gì tệ hại đâu. Điều đó người ta gọi là sự Mọc Lên Chuyện Truyền Thuyết, là ý thức Dân Gian Tác Động. Ông lấy chuyện lũ Carkers gắn vào với những sự vật ông không thấy rõ. Và chúng đớp.
Tallant không biết bộ râu của thanh niên này đã hút bia bao lâu rồi. Anh gợi chuyện:
- Và lũ Carkers là cái gì?
- Ông có nghe chuyện Sawney Bean ở Scotland chưa? Dưới trào James I hay James VI, tôi nghĩ tác giả truyện cổ Roughead lần này đã lầm. Hay lấy một ví dụ cận đại nhất. Ông có nghe chuyện Benders ở Kansas, thập niên 1870 chưa? Chưa phải không? Vậy thì có nghe chuyện Procrustes? Hay Polyphemus? Hay Freefifofum?
Có ba-bị, ông biết đó. Ba-bị không phải là hoang đường, chúng có thật. Một cãi lữ quán, cứ mười người khách vào thì chỉ có chín người ra. Một cái lán bằng gỗ trên núi để khách qua đường tránh tuyết; mùa xuân đến, tuyết tan, mới phát hiện xương của họ; một khúc đường vắng nhiều khách bộ hành chỉ đi được nữa đường... ông có thể tìm thấy những chuyện tương tự ở khắp nơi, ở khắp châu âu và rất nhiều trên đất nước này, trước khi có nhiều phương tiện đi lại, liên lạc như ngày nay. Một công việc đem lại rất nhiều lợi lộc. Nhưng không chỉ có lợi lộc đâu. Quán của bọn Benders kiếm được nhiều tiền thì hẳn rồi, nhưng tại sao chúng phải giết người cẩn thận tỉ mỉ như tên đồ tể (kosher) giết thịt theo đạo Do thái qui định. Sawney Bean cũng giết người, nhưng không để ý đến tiền, hắn chỉ cần có thêm thịt trong mùa Đông. Và ông thử nghĩ tới dịp may của ông có được trong một sa mạc.
- Vậy thì lũ Carkers mà anh nói tới là những ba-bị?
- Carkers, ba-bị... có lẽ họ giống như bọn Benders. Ông biết đó, chưa ai thấy bọn Benders sống bao giờ. Sau khi dân thành phố ở Kansas phát hiện các xác chết bị lóc thịt một cách khác thường, có tin đồn là chúng đã di chuyển sang miền viễn Tây này. Người ta đã kiểm tra từng thời điểm rất kỹ. Không có thành phố viễn Tây nào ở trong tình trạng của bang Kansas hồi thập niên 80. Chỉ còn vài gia đình cuối cùng, của một bộ tộc da đỏ, sống ở ốc đảo này. Rồi những gia đình này cũng biến mất, khi lũ Carkers vào ốc đảo. Điều này thì còn gì nữa mà ngạc nhiên. Giống dân da trắng dẫu sao cũng là siêu-ba-bị mà. Chuyện dân da đỏ chết thì chẳng ai bận tâm, nhưng họ lại thắc mắc tại sao nhiều khách lữ hành không vượt qua khỏi dải sa mạc này. Các lữ khách thường nghĩ trọ ở lữ quán Carkers. Ông biết không, vì lý do nào đó họ không còn đi xa hơn được (không đến được địa chỉ định đến). Xe bò của họ, xe hơi của họ có thể tìm thấy cách đây mười lăm dặm trong sa mạc. Đôi khi còn tìm thấy nắm xương trắng của họ, hầu như bị gặm nhấm nham nhở.
- Vậy mà chẳng có ai làm một việc gì với lũ Carkers à?
- Ồ, có chứ. Không có vua James VI - tôi vẫn nghĩ là James I - cưỡi trên một con ngựa trắng lớn, đến đây cho qua chuyện đâu. Mà đã hai lần quân đội được phái đến quét sạch bọn họ.
Tallant mỉm cười:
- Hai lần cơ à? Chỉ quét một lần thôi cũng đã giúp cho nhiều gia đình.
- Vâng. Không phải chỉ nói mép. Họ đã quét lũ Carkers hai lần. Như ông thấy đấy, một lần chẳng ăn thua gì. Lính đã quét sạch họ, nhưng vẫn còn lữ khách biến mất, vẫn còn xương người bị nhai, nên quân đội lại phải tảo thanh lần nữa. Sau đó thì bộ đội lại bỏ mặc. Lữ khách tránh ốc đảo này, tuy hành trình xa hơn, vất vả hơn, nhưng dẫu sao...
Tallant cười lớn:
- Nói như anh thì lũ Carkers này bất tử?
- Tôi không biết có gì bất tử không, nhưng lũ ấy không chết dễ dàng. Nếu chúng là bọn Benders - tôi vẫn nghĩ chính là chúng - có lẽ càng ngày chúng càng rút được nhiều kinh nghiệm về việc chúng làm ở sa mạc này. Có thể chúng phối hợp những hiểu biết của người da đỏ và những điều chúng biết, và chúng thành công. Không biết chúng phải hiến tế những gì và xem ra chúng hiểu cái hình nhân linh vật ấy hơn ở Kansas.
- Và những linh vật ấy làm những gì, ngoài việc ta chỉ thoáng thấy chúng ở khóe mắt?
- Từ sau hai vụ càn quét lũ Carkers, và nhóm cư dân mới ở ốc đảo này, đã bốn mươi năm rồi. Và dân chúng càng ít nói tới lũ Carkers hơn, so với những năm đầu định cư. Có điều họ tránh bén mảng đến ‘ngôi nhà xưa Carker’. Họ chỉ còn nói vài chuyện. Linh mục xứ đạo kể, vào một buổi chiều thứ Bảy sáng bức, ông nghĩ rằng đã có một người quì xưng tội. Cha đợi một lúc lâu,. sau đó vén bức màn che ngăn cách xem có ai không. Có một con gì ở ngoài và nó đã đớp ông. Nó đớp mất ba ngón tay trên bàn tay phải của cha, và trông thật tức cười khi cha giơ tay lên ban phép lành.
Tallant đặt hai vỏ chai bia trước mặt quản quầy,
- Kể chuyện này, bạn thanh niên đáng hưởng một chai nữa. Đồng ý không, chủ quầy? Anh ấy có luôn vui chuyện như vậy không, hay anh ấy mới sáng tác chuyện này để khuyên tôi?
Người phục vụ quầy đặt thêm hai chai mới, ra vẻ trịnh trọng:
- Tôi ấy à, tôi sẽ không kể chuyện này cho ông như vậy. Chính anh này cũng là người mới tới, không cảm nhận sự việc như chúng tôi. Với anh ta, sự việc chỉ còn như một câu chuyện cổ.
Anh thanh niên có râu tu một hơi bia dài.
- Cứ coi như vậy sẽ dễ chịu hơn.
Người phục vụ thêm:
- Ông đã nghe chuyện này, cũng nên nghe thêm vài chuyện ngộ nghĩnh vào mùa Đông. Bầy chó sói vào lán gỗ của người thăm dò địa chất chỉ để sưởi ấm thôi. Cũng như việc làm ăn của tôi không khá vào mùa Đông. Tôi không có giấy phép bán rượu mạnh, các thanh niên lại không thích uống nhiều bia khi trời lạnh. Nhưng dẫu sao họ vẫn cứ tới tụ điểm này vì có cái lò sưởi đốt dầu hôi to đùng kia.
Một đêm nọ, họ tụ tập khá đông ở đây, có cả cụ Jake mà ông đã nói chuyện với đó, cả con chó Jigger của cụ nữa. Lúc đó, tôi cảm thấy như có ai vào quán, cửa hơi hé mở nhưng tôi chẳng thấy ai. Bàn xì phé vẫn tiếp tục chơi, chúng tôi vẫn tán gẫu như chúng ta bây giờ đây. Thình lình tôi nghe một tiếng 'rắc!' ở góc kia, chỗ máy hát, sau lò sưởi.
Tôi bước đến xem chuyện gì, linh vật đã đi ra, tôi không nhìn được rõ. Cái hình nhân bé tẹo, gầy tong teo, không có quần áo. Đêm đó lại lạnh khủng khiếp.
Tallant chộp đúng chỗ để hỏi:
- Nhưng tiếng 'rắc' đó là cái gì?
- Cái đó à, cái xương! Nó đã xiết cổ con Jigger không một tiếng kêu. Nó chỉ là con chó nhỏ, linh vật đã ăn hết một phần thịt. Nếu nó không cắn vỡ xương để hút tủy, nó đã ăn hết rồi. Ông có thể nhìn thấy dấu vết ở bên đó. Cái vết máu không hề phai nhạt đi.
Khi chủ quầy kể chuyện này, quán im lặng như tờ. Nhưng khi hết chuyện, quán ồn ào như địa ngục dấy lên. Ông trung sĩ phi hành thét lên một tiếng ai oán, chỉ trỏ điên loạn cái máy đánh bạc. Đòi nó trả số tiền ông đã thua nhẵn túi. Người công nhân xây dựng đùng đùng đứng dậy khỏi bàn phé, làm đổ ghế cái rầm, to tiếng tố cáo những người cùng chơi thông đồng gian lận.
- Lũ bịp bợm! Các ông coi…
Bầu không khí kinh hoàng do Carker gây ra, bao giờ cũng hoảng loạn, trác táng.
Tallant, miệng huýt sáo, bước qua góc, nhét đồng xu vào máy hát. Anh vờ như vô tình nhìn thấy vết máu dưới sàn để đánh giá tình hình. Anh mỉm cười thích chí, cảm thấy phải cảm ơn lũ Carker. Chúng sẽ giúp anh giải quyết gọn nhẹ vụ bắt bí của Morgan.
 
(Còn tiếp)
0
CHÚNG ĐỚP ĐẤY (3)
 
III
Đêm đó anh mơ thấy mình nắm quyền lực giấc mộng thường xuyên của anh. Anh mơ mình cai trị quốc gia Liên Minh Mỹ, đang theo đường lối chiến tranh. Anh bảo người kia đến đây, người ấy đến, bảo người này đi, người này đi, bảo các phụ tá làm cái này, họ làm. Rồi chàng thanh niên để râu hiện ra trước mặt anh, chiếc áo khoác nhà binh của anh giống như áo choàng của một tiên tri trong Cựu Uớc. Anh nói: "Ông đã thấy ông vượt lên cao rồi, đúng không? Ông đang cưỡi trên đỉnh sóng, ông vẫn gọi là đợt sóng tương lai. Nhưng còn có những trũng sóng, giống nước ngầm ở dưới, đó là một phần của quá khứ. Và hiện tại, cả tương lai nữa, bao giờ cũng có ác tâm của con người. Thứ ác tâm còn đen tối hơn dã tâm của ông nhiều, kỳ cựu hơn của ông nhiều."
Và còn có cả một cái gì mờ mờ sau lưng thanh niên, một hình nhân tí teo, ốm nhom, màu nâu.
Sáng hôm sau, giấc mơ không hề khuấy động tâm trí Tallant. Anh cũng chẳng bận tâm đến chuyến viếng thăm sắp tới của Morgan. Anh chiên trứng với ba chỉ muối, ăn sáng ngon lành. Gió đã bớt mạnh, thời tiết cũng khá ấm. Anh xoay trần ra dọn cây làm nền nhà. Mã tấu của anh vung lên, lóe sáng trong không khí và phạt vào gốc các bụi cây.
Morgan đến, mặt càng tròn, đỏ gay và nhễ nhại mồ hôi. Tallant đề nghị:
- Dưới bóng nhà xưa lạnh lắm. Nhưng hy vọng chuyện ôn cố của chúng ta sẽ làm chúng ta thoải mái.
Dưới bóng mái nhà thoải mái đó, mã tấu vung lên, chẻ cái mặt bụ bẫm đỏ gay của Morgan ra làm hai.
Thật đơn giản, chẳng tốn công bằng cuốc đứt rễ một bụi cây. Và lại còn an toàn nữa. Morgan sống trong một túp lều cây, trên đường địa-ngục-mai-một, lại thường đi thăm dò địa chất. Chẳng ai để ý tới việc ông ấy đi vắng cả tháng. Như vậy, ai mà tưởng tượng ra ông ta đến liên hệ với Tallant. Và cũng chẳng ai đến 'nhà xưa' để tìm ông ta cả. Cái xác khá nặng, máu nóng hổi ròng ròng trên da thịt Tallant. Cuối cùng thì anh cũng quăng được cái khối nặng, vốn là Morgan xuống sàn nhà, như giải thoát một gánh nặng. Phòng không có sàn gỗ, chẳng có nền đá, chỉ có nền đất thường. Đào một cái huyệt chẳng khó khăn gì. Sẽ chẳng có ai lảng vảng đến gần cái nhà cấm kỵ này mà thấy được cái huyệt. Chỉ qua một năm là xương của hắn có thể gán cho "the Carkers."
Góc mắt của anh bắt đầu quấy rầy anh. Anh chú ý quan sát bên trong ngôi nhà. Chơ chỏng vài món đồ đạc sơ sài và nặng nề, chẳng thèm làm nhẵn những vết búa trên gỗ nữa. Đồ gỗ được ráp lại với nhau bằng chốt gỗ hay những dây da sắp mẻm. Có tro và vài mẩu củi cháy dỡ, vài mảnh sành trong lò. Một tảng đá có lỗ lõm xuống, đầy vết sét rỉ, như thể đá cũng bị rỉ như sắt. Sau cụm đá là một hình nhân còi, làm vụng về bằng đất sét và vài cành cây. Nó nửa giống người, nửa giống thằn lằn, giống như cái vật đã vụt thoáng qua khóe mắt anh ấy.
Càng tò mò, Tallant bước vào sâu hơn, đến một cửa sổ không kính, tuy có chút ánh sáng nhưng rất mờ. Anh há hốc miệng, nỗi sợ hãi chụp lấy anh khiến anh cứng người lại một lúc. Rồi anh nhếch mép cười khinh bỉ rồi phá ra cười sang sảng ngạo mạn.
Cái này đây đã giải thích tất cả. Chắc một người nào đó đã nhìn thấy thứ này và loan truyền chuyện ma quái ra. Bọn nhà Carkers đã học được vài bí thuật của người da đỏ, nhưng chung qui chỉ là thuật ướp xác thôi. Hoặc là họ đã ướp làm xác thu nhỏ lại, hoặc họ ướp một cái xác của bé trai mười tuổi. Cái xác ướp thật hoàn hảo. Xác không còn thịt, chỉ những xương và da, nối bằng những sợi gân co cứng. Mí mắt co lại trên cái hốc mắt sâu hoắm. Mũi teo quắt lại như thể đã biến mất. Cặp môi mỏng tanh co về phía lợi, khiến hàm răng trắng nhởn càng nhô ra đe dọa, trên nền da nâu đậm.
Cái xác ướp là một linh vật quí. Tallant đang tính toán để kiếm một món tiền, bằng cách bán nó cho một nhà nhân chủng học - dẫu sao sát nhân cũng tạo ra những vụ kiếm tiền thú vị bằng cách bán các sản phẩm phụ - anh thấy lồng ngực cái xác ướp phồng lên xẹp xuống.
Linh vật Carker không chết, nó chỉ ngủ! Tallant không dám nghĩ tiếp. Chẳng còn giờ đâu mà sửng sốt liệu chuyện ma quái này có thể xảy ra trong thời đại khoa học hay không. Không còn giờ nghĩ đến thủ tiêu cái xác Morgan, chỉ còn giờ lượm thanh mã tấu lên rồi chuồn.
Nhưng mới ra khỏi cửa anh đã phải dừng lại. Một phụ nữ đang băng qua sa mạc hướng về ngôi nhà. Anh làm một cử chỉ ngập ngừng vô ý thức là chạm cái lưỡi mã tấu leng keng vào bờ tường. Anh cảm thấy tiếng di chuyển của kẻ mới thức dậy sau lưng.
Anh quay lại, vung mã tấu lên giải quyết kẻ ở gần trước rồi sẽ đối phó với mụ ta sau. Chẳng có chỗ nào dành cho sợ hãi trong trí óc anh, mà phải tập trung vào hành động.
Cái hình nhân màu nâu, tong teo lao vào anh rất nhanh nhẹn. Anh bước tránh sang một bên, lấy thế đợi nó lao vào lần thứ hai. Nó lao vào, anh lùi một bước, cánh tay cầm mã tấu vung lên, xả dọc cái xác Morgan. Trước khi Tallant kịp dơ mã tấu lên, hình nhân đã đớp anh. Hàm răng sắc lẻm phập qua mu bàn tay trái. Đường mã tấu xẹt ngang, cái xác không đầu, khô đét của linh vật rơi xuống sàn, chẳng có chút máu nào.
Hàm răng vẫn xiết chặt không rời, đau đớn chạy dọc theo cánh tay trái anh - đau như xé, đau hơn bất cứ cái đau nào khi bị đớp - đau như thể có nọc độc...
Bỏ mã tấu xuống, bàn tay trắng của anh kéo, vặn, bẩy cái ngàm kẹp. Hàm răng trắng nhởn vẫn kẹp chắc, không hề lơi lỏng.
Anh ngồi dựa lưng vào tường, kẹp cái đầu lâu vào hai gối. Anh kéo cánh tay, thịt anh rách ra, máu chảy ròng ròng xuống nền nhà. Hàm răng vẫn nghiến chặt, không nhúc nhích.
Thế giới sinh hoạt của anh giờ đây chỉ thu gọn vào cái bàn tay và cái đầu lâu. Chẳng còn gì khác thành vấn đề nữa. Anh phải gỡ cái đầu lâu ra. Anh đưa bàn tay lên, cắn xé cái đầu lâu khô ngoạm chắc vào tay anh. Những mảng thịt khô bung ra nhưng hai hàm răng của cái sọ khô vẫn ngoạm cứng. Anh bị rách môi vì hàm răng của con quái. Anh nếm thấy vị ngọt của máu trong miệng và vài vị khác. Anh lồm cồm đứng dậy. Anh đã biết phải làm gì. Sau đó anh sẽ sát trùng, dây và que cột mạch máu, đến một bác sĩ với chuyện phịa là bị thằn lằn lửa cắn. Đầu của loại thằn lằn khổng lồ này cũng ngoạm chắc khi bị chặt rời, phải không nào. Nhưng anh biết rõ chỉ còn cách làm gì.
Anh giơ mã tấu lên làm một nhát. Bàn tay trắng của anh rụng xuống sàn đất nâu, vẫn bị hàm răng trắng nhởn của cải sọ khô ngoạm chắc.
Anh dựa lưng vào tường. Anh tạm thời không di chuyển được. Cánh tay cụt của anh thõng xuống ngay trên lỗ trũng trên hốc đá. Máu anh, sức lực anh và sức sống của anh đang tuôn hết ra trước cái hình nhân bằng que và đất sét. Mụ đàn bà gầy nhom đang đứng ở cửa, màu da nâu sáng lên trong vùng ánh sáng. Anh biết mụ ấy đang đợi cái hốc đá đầy máu.
 
HẾT
0
Những truyện kinh dị, Ct.Ly đã mang vào thư viện,

Thành thật cảm ơn HanAn đã góp sức cho thư viện

Chúc vui
0