📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Sống và chết ở Thượng Hải

9 trả lời, 3.498 lượt xem — Trang 1 / 1
Sống và chết ở Thượng Hải là một trong những cuốn sách bán chạy nhất năm 1987 tại Mỹ, chỉ riêng lần in đầu đã bán hết ngay 200.000 bản. Tác phẩm được in đi in lại nhiều lần, dịch và xuất bản ở nhiều nước. Tác giả của tác phẩm này là Trịnh Niệm, bà tên thật là Du Niệm Viên, sinh năm 1915, từng du học tại nước Anh. Bút danh Trịnh Niệm hình thành từ họ của chồng và chữ đệm của tên bà. Chồng bà, ông Trịnh Thái Kỳ làm Tổng Giám đốc hãng Shell tại Thượng Hải. Sau khi ông qua đời vì bệnh ung thư, Hãng Shell mời bà Trịnh Niệm làm cố vấn cho Hãng. Từ năm 1966, khởi đầu thời kỳ Cách mạng Văn hoá, bà Trịnh Niệm bị bắt giam và đày đọa đến năm 1973 mới được trả tự do. Vậy mà mãi bảy năm sau, tháng 9-1980 bà mới rời Trung Quốc – Tổ quốc yêu thương của mình - sang sống ở Canada, và ba năm sau định cư tại Oasinhtơn (Hoa Kỳ).

Sống và chết ở Thượng Hải là một tiểu thuyết tự truyện, nguyên gốc tiếng Anh, do Nhà xuất bản Penguin Books xuất bản năm 1987. Tác phẩm như một bức tranh toàn cảnh về Trung Quốc thời kỳ Cách mạng Văn hoá đầy bi kịch, đầy máu và nước mắt. Thông qua lối kể chuyện dung dị bằng những chi tiết chân thực, những hình ảnh vô cùng sống động về cuộc đàn áp khổng lồ trên toàn cõi Trung Quốc, người đọc khi thì run sợ, lúc thì hồi hộp, lo lắng, lúc thì bùng lên căm giận… như chính mình đang sống trong Cách mạng Văn hoá. Tác phẩm làm ta hiểu rõ được thân phận của giới trí thức Trung Quốc, cũng như của toàn thể nhân dân lao động – những người lương thiện, yêu nước, những người lao động bị chà đạp, bị nghiền nát bởi bè lũ Giang Thanh.

Sống và chết ở Thượng Hải được viết bởi một con người tràn đầy lòng nhân hậu. Nhờ thế mà tác phẩm có tính nhân văn cao, sức thuyết phục, hấp dẫn lớn.
Đăng nhập để trả lời
0
Nguyên tác: Life and Death in Shanghai

Dịch: Đặng Thiền Mẫn


TẬP I



Chương 1: CUỘC SĂN BẮT PHÙ THỦY


Đối với tôi, dĩ vãng - mà tôi nhớ rõ từng chi tiết - đã trở thành vĩnh cửu. Bằng hồi ức, tôi có thể quay lại - cả trong thời gian lẫn không gian - để trở về thời điểm của một đêm hè oi bức tháng 7 năm 1966 và nhìn ngắm lại ngôi nhà cũ của tôi ở Thượng Hải. Lúc đó con gái tôi đã ngủ trong phòng riêng của nó. Đám gia nhân cũng đã ở yên trong khu nhà dành riêng cho họ. Chỉ còn lại một mình tôi trơ trọi trong thư phòng. Ngay lúc này, tôi vẫn còn nghe tiếng thấy tiếng vù vù của chiếc quạt trần, vẫn nhìn thấy trên bàn giấy, những bông hoa cẩm chướng - trắng muốt và ủ rũ vì thời tiết nóng bức - cắm trong chiếc bình cổ đời Càn Long cũng màu trắng. Ngọn đèn đọc sách rọi sáng nửa căn phòng và chiếc nệm bọc lụa màu đỏ thêu chỉ kim tuyến lấp lánh trên ghế tràng kỷ.
Một ông bạn người Anh vẫn thường đến chơi đã gọi căn nhà ấy là “một ốc đảo tiện nghi và sang trọng trong một thành phố nhếch nhác”. Thật ra căn nhà của tôi chẳng những không phải là một lâu đài, mà so với tiêu chuẩn phương Tây thì cũng còn rất khiêm nhường nữa là khác. Nhưng tôi vẫn dành thời gian và tâm tư để làm cho ngôi nhà ấy thành một tổ ấm, một thiên đường cho tôi và cho con gái tôi, để có thể tiếp tục hưởng được những tiện nghi trong khi cả thành phố đang trải qua thực trạng vô sản.
Mười bảy năm sau ngày Đảng Cộng sản chiếm được lục địa Trung Hoa, thành phố Thượng Hải chỉ còn rất ít gia đình vẫn giữ được mức sống như gia đình tôi. Trong thành phố mười triệu dân này, có lẽ chỉ khoảng mười gia đình là còn giữ được lối sống cũ, ngôi nhà cũ và còn gia nhân, đầy tớ phục dịch. Thực ra, Đảng cũng không chính thức qui định người dân sống như thế nào. Năm 1949, khi quân đội Cộng sản tiến vào thành phố Thượng Hải, chúng tôi còn bị cấm không được sa thải gia nhân, đầy tớ, để khỏi làm cho tình trạng thất nghiệp thêm trầm trọng. Nhưng những đợt vận động chính trị làm rung chuyển đất nước này và làm cho những người trước kia giàu có nay trở thành nghèo mạt. Họ trở thành nạn nhân của sự bần cùng hóa ấy vì họ đã buộc phải trả những khoản “tiền phạt” khổng lồ, hoặc ít ra thì lợi tức của họ cũng sụt giảm ghê gớm. Nhiều nhà doanh nghiệp tư sản đã ở lại lục địa cùng với gia đình khi xí nghiệp của họ đã rời khỏi Thượng Hải. Tôi không có ý thay đổi lối sống của mình. Không những vì tôi còn đủ phương tiện để duy trì mức sống cũ, mà còn vì - thông qua “Tổ chức Mặt trận đoàn kết” - chính quyền thành phố đã đối xử với tôi một cách lịch thiệp, đàng hoàng. Tuy nhiên, tôi và con gái tôi cũng phải sống một cách lặng lẽ và trong sự bị nghi ngờ. Chúng tôi tin rằng cuộc cách mạng vô sản là một diễn biến lịch sử không thể tránh được đối với Trung Hoa, do đó chúng tôi đã chuẩn bị để nương theo diễn biến ấy.
Tôi thường nhớ lại cái khoảnh khắc lúc nửa đêm ngày 3 tháng 7 năm 1966. Không phải vì tôi chỉ hoài tưởng đến chuỗi ngày tôi còn được sống chung với con gái tôi, mà chủ yếu đó là khoảnh khắc cuối cùng của cuộc sống thường nhật mà tôi đã từng sống từ bao năm trước đó. Khí hậu nóng bức vẫn đè nặng lên thành phố, dù là ban đêm. Mở toang cửa sổ mà trong phòng vẫn không thoảng một cơn gió nhẹ. Mình mẩy tôi ướt đẫm mồ hôi. Chiếc áo lót dính sát vào lưng khi tôi cúi xuống tờ báo, đọc những bài báo chứa đựng những lời tố cáo dữ dội. Những bài báo như vậy luôn luôn là những lời tiên báo nhằm chuẩn bị dư luận cho một đợt vận động chính trị sắp tới. Đó là những nỗ lực tuyên truyền nhằm tạo ra bầu không khí căng thẳng thích hợp và kích động quần chúng. Thường khi chỉ cần đọc kỹ các bài báo do các nhà hoạt động ưu tú của Đảng viết ra và thông qua những lời bóng gió xa xôi của họ, người ta cũng có thể đoán được mục tiêu và nạn nhân của cuộc vận động sắp tới. Bởi trước đó, tôi chẳng hề dính dáng đến một phong trào chính trị nào, nên tôi đã không tiên cảm được những tai họa mà cuộc vận động sắp tới sẽ ảnh hưởng đến tôi. Nhưng, cũng như trong mọi trường hợp trước đó, những lời lẽ dữ dội được dùng trong các bài báo tuyên truyền ấy đã làm cho tôi cảm thấy khó chịu. Người lão bộc - lão Triệu - bưng đến cho tôi bình trà ướp nước đá và đặt lên bàn. Vừa nhấm nháp ly trà mát lạnh, tôi vừa đưa mắt nhìn tấm hình người chồng quá cố của tôi. Từ ngày nhà tôi mất, thấm thoắt đã chín năm qua, khoảng trống do cái chết của anh để lại trong lòng tôi vẫn còn đó. Tôi vẫn luôn luôn cảm thấy bị bỏ rơi và trơ trọi mỗi khi tôi khó chịu vì tình hình chính trị, và tôi cảm thấy sự nâng đỡ của nhà tôi là quá cần thiết cho tôi.
Năm 1935, tôi gặp nhà tôi, khi anh đang soạn luận án Tiến sĩ ở Luân Đôn. Sau đó chúng tôi thành hôn và trở về Trùng Khánh, thủ đô thời chiến của Trung Hoa. Năm 1939, anh trở thành viên chức Bộ Ngoại giao của chính quyền Quốc Dân Đảng. Năm 1949, khi quân đội Cộng sản tiến vào Thượng Hải, lúc đó, anh làm giám đốc văn phòng Bộ ngoại giao của chính quyền Quốc Dân Đảng tại Thượng Hải. Khi đại diện Cộng sản - ông Chương Hán Phu - đến tiếp quản văn phòng, ông này đã mời nhà tôi ở lại làm việc với chính quyền mới trong lúc giao thời với tư cách là cố vấn ngoại giao cho thị trưởng thành phố mới được chỉ định, tức là nguyên soái Trần Nghị. Một năm sau đó, nhà tôi được phép rời khỏi chức vụ trong chính quyền nhân dân để nhận chức vụ tổng quản lý chi nhánh Thượng Hải của công ty dầu khí Shell. Công ty này là một trong số rất ít xí nghiệp của Anh có tầm vóc quốc tế - chẳng hạn như công ty “Kỹ nghệ hóa chất Imperial”, Ngân hàng tổ hợp Hồng Kông - Thượng Hải,... - còn cố để giữ các chi nhánh ở Thượng Hải. Bởi hãng Shell là công ty độc nhất cỡ quốc tế về dầu khí muốn ở lại làm ăn tại lục địa Trung Hoa, nên những viên chức Đảng có khuynh hướng ủng hộ cuộc giao thương với phương Tây đã đối đãi với công ty và với bản thân chúng tôi một cách lịch sự, đàng hoàng.
Năm 1957, nhà tôi qua đời vì bệnh ung thư, một người Anh được chỉ định làm tổng quản lý thay nhà tôi. Và bản thân tôi được hãng Shell mời làm phụ tá cho ông ta với chức vụ cố vấn quản trị. Tôi làm việc cho hãng Shell với chức vụ ấy cho đến năm 1966.
Những vị tổng quản trị người Anh kế tiếp đã nhờ cậy vào tôi để lèo lái công ty qua khỏi những hầm bẫy chập chùng đối với một xí nghiệp tư bản ngoại quốc còn giao thương với Trung Hoa dưới quyền của Mao. Tôi đã phải tìm cho ra đường lối giải quyết các vấn đề để làm sao không phải hy sinh thể giá của công ty Shell hoặc không làm mất thể diện các quan chức người Trung Hoa. Công việc của tôi là quản trị nhân viên, làm trung gian liên lạc giữa ông tổng quản lý và “Hiệp Hội công nhân hãng Shell”, phân tích những đòi hỏi của Hiệp Hội và làm sao để đi đến chỗ có thể thỏa hiệp được. Tôi đã thảo tất cả các văn thư giao dịch với chính quyền Trung Hoa bằng tiếng Hoa. Mỗi khi ông tổng quản lý người Anh về nước nghỉ hè hoặc đi Bắc Kinh để thương thảo với chính quyền Trung ương thì tôi lại phải hành xử quyền tổng quản lý. Tôi nghĩ mình cũng may mắn có được một công việc làm ăn thích hợp và tự hào là một phụ nữ duy nhất ở Thượng Hải được giữ một chức vụ trung cấp của một công ty nổi tiếng nhất thế giới.
Mùa xuân năm 1966, sau khi thương thảo và đạt được thỏa hiệp với chính quyền Trung Hoa về “Những tài sản được dùng để thanh toán các khoản nợ”, công ty Shell đã đóng cửa văn phòng chi nhánh Thượng Hải. Công ty đã bàn giao tài sản của công ty ở Trung Hoa và chính quyền tiếp nhận các công nhân viên của công ty với lời cam kết vẫn để họ tiếp tục làm việc và trả hưu bổng cho họ. Với tư cách là thành viên trong ban quản trị, tôi không bị chi phối bởi thỏa hiệp ấy như các nhân viên khác trong “Hiệp Hội công nhân hãng Shell” chi nhánh Thượng Hải. Thực ra Hiệp Hội này chỉ là tổ chức của chính quyền thiết lập ra nhằm kiểm soát các công nhân của hãng mà thôi.
Khi thỏa hiệp được ký kết, con gái tôi - một diễn viên trẻ của xưởng phim Thượng Hải - đang đi trình diễn cùng với cơ quan của nó ở miền Bắc Trung Hoa. Tôi nghĩ là khi nó trở về, tôi sẽ làm một chuyến du lịch Hồng Kông. Nhưng, trong khi tôi chờ đợi nó trở về, cuộc Cách mạng Văn hóa được phát động. Đoàn diễn viên, trong đó có con gái tôi, được cơ quan gọi về Thượng Hải gấp để các thành viên của cơ quan tham gia vào cuộc Cách mạng Văn hóa. Vì biết rằng mỗi khi có cuộc vận động chính trị thì các viên chức chính quyền thường rất ngần ngại khi phải quyết định, do đó mọi công việc trong tất cả guồng máy chính quyền chậm lại đến độ có thể nói là hoàn toàn bị ngưng đọng. Bởi vậy tôi quyết định không nộp đơn xin đi Hương Cảng, để khỏi bị từ chối. Vì cứ mỗi lần bị từ chối như vậy thì đều được ghi vào hồ sơ cá nhân mà mỗi người đều có ở công an. Và cá nhân đó có thể bị làm khó dễ sau này. Tôi quyết định ở lại Thượng Hải vì tin rằng cuộc Cách mạng Văn hóa chắc cũng không kéo dài quá một năm, một khoảng thời gian thông thường cho mỗi cuộc vận động chính trị.
Ly nước trà đã làm cho tôi mát mẻ phần nào. Tôi đứng dậy đi vào phòng ngủ bên cạnh để tắm một cái rồi lên giường ngủ. Mặc dù trời nóng, tôi cũng cố để ngủ. Điều cuối cùng mà tôi biết được là người vú của tôi - má Trần - đã nhè nhẹ đánh thức tôi dậy.
Nhìn đồng hồ trên bàn ngủ, mới có sáu giờ rưỡi sáng nhưng bên ngoài cửa sổ, rạng đông đã cháy rực và nhiệt độ trong phòng đã lại bắt đầu tăng lên. Má Trần nói:
- Quí và một người nữa ở sở cũ của bà lại thăm bà.
- Họ cần gì vậy? - Tôi hỏi, giọng còn ngái ngủ.
- Họ không nói. Nhưng cái cung cách đối xử của họ lạ lắm. Họ cứ đi thẳng vào phòng khách và ngồi xuống ghế tràng kỷ, chứ không đợi mời mọc như trước kia, khi sở chưa đóng cửa.
- Người kia là ai - tôi thò đầu ra khỏi phòng tắm và hỏi tiếp - ông Quí, tôi biết, là phó chủ tịch Hiệp Hội công nhân hãng Shell chi nhánh Thượng Hải. Thương thảo với ông ta là một phần trong những công việc của tôi. Ông là người đàng hoàng biết điều và dễ thỏa hiệp.
- Tôi không biết tên người kia. Tôi chưa gặp ông ta lần nào, tôi nghĩ có lẽ ông ta là một vệ binh. Ông ta cao nhưng mảnh khảnh.
Theo sự mô tả của má Trần, tôi đoán có lẽ ông ta là một trong số những người “hoạt động” trong Hiệp Hội công nhân hãng Shell. Ở mặt chìm thì không biết sao, nhưng ở mặt nổi thì trong hãng không có đảng viên. Qua cung cách cư xử của một số người “hoạt động” trong hãng, tôi hiểu rằng những người này được khuyến khích để làm “chó săn” cho “Hiệp Hội công nhân Thượng Hải”. Vì không trực tiếp tiếp xúc với những người “hoạt động” này - hầu hết họ đều là bảo vệ hay công nhân tạp dịch, quét dọn - nên tôi chỉ biết các hoạt động của họ chủ yếu là qua bộ phận đầu não.
Có tiếng gõ cửa phòng tắm. Lão Triệu, người lão bộc già của tôi trao cho má Trần một cái khay và nói với tôi:
- Họ nói bà chủ nhanh lên.
- Được - tôi nói - nói với họ là tôi sắp xuống ngay bây giờ. Lấy thức uống và thuốc lá ra mời họ đi.
Nói như vậy chứ tôi cũng chẳng vội vã gì. Tôi cần có thì giờ để suy nghĩ đối phó với bất cứ điều gì sắp tới. Hai người ấy đến vào giờ này hẳn là phải có cái gì đó bất thường. Tuy nhiên, ở Trung Hoa khi được mời đến để tham gia học tập chính trị, ít có người được nói cho biết trước. Trong những trường hợp như vậy, các quan chức ra lệnh mọi người ngưng ngay - bất cứ là đang làm việc gì - để tham gia học tập chính trị cái đã, công việc mặc kệ, muốn ra sao thì ra. Tôi tự hỏi không biết có phải hai người này đến mời tôi tham gia học tập chính trị hay không. Tôi biết là “Hiệp Hội công nhân Thượng Hải” đang tổ chức những lớp học tập cho các công nhân viên của hãng Shell để chuẩn bị tư tưởng cho những người này tiếp tục làm việc với đồng lương thấp kém hơn.
Trong lúc ngồi ăn sáng và uống trà, tôi duyệt lại những sự kiện dẫn đến việc đóng cửa văn phòng hãng Shell và xét lại mọi ngôn ngữ cử chỉ của mình trong cuộc thương nghị giữa công ty và đại diện chính quyền Trung Hoa. Mặc dù tôi có mặt cùng với ông tổng quản lý trong tất cả các buổi họp, tôi đã không dự phần vào cuộc bàn cãi nào. Công việc của tôi chỉ là ngồi đó quan sát ghi nhận để sau đó, khi trở về văn phòng mới đưa ra ý kiến và khuyến nghị cho ông tổng quản lý. Tôi quyết định là nếu họ có hỏi tôi về những vấn đề liên quan đến hãng Shell tôi sẽ trì hoãn bằng cách đề nghị để tôi viết thư hỏi thăm tin tức của hãng.
Tôi mặc áo sơ mi vải trắng, chiếc quần rộng màu xám và mang đôi dép đen. Đó là bộ y phục phổ biến của phụ nữ ở chỗ công cộng. Để khỏi bị dòm ngó, để ý. Vừa đi xuống thang, tôi vừa suy nghĩ rằng những người sai hai người kia đến gặp tôi vào lúc sáng sớm như thế này là cố ý để làm cho tôi phải bối rối. Tôi cứ việc thong thả bước xuống và cố giữ một vẻ bình thường.
Bước vào phòng khách, tôi thấy cả hai người ngồi ưỡn ra trên ghế tràng kỷ. Hai ly nước cam bày trước mặt còn nguyên không đụng đến. Thấy tôi, theo thói quen, Quí đứng dậy. Nhưng nhìn thấy người kia vẫn tiếp tục ngồi ưỡn ra, Quí đỏ bừng mặt, có vẻ bối rối và lại ngồi xuống. Người kia cứ tiếp tục ngồi ưỡn ra, khi tôi bước vào là một cử chỉ bất lịch sự có tính toán. Năm 1949, không lâu sau khi quân đội Cộng sản tiến vào Thượng Hải, anh cảnh sát khu phố tôi ở đến thăm nhà tôi đầu tiên và không hẹn trước. Anh ta gạt lão gia bộc của tôi đang đứng ở cửa và tiến thẳng vào phòng khách - lúc đó, tôi đang ở trong đó - và nhổ toẹt xuống tấm thảm trải nhà. Đó là lần đầu tiên tôi thấy quyền uy được biểu hiện một cách quái gở và thô bỉ như vậy. Từ đó, tôi nhận ra là các quan chức cấp dưới của Đảng vẫn thường có những cử chỉ thô bỉ quá đáng thực ra chỉ là cách thức họ dùng che đậy cái mặc cảm tự ti của họ.
Làm như không biết đến sự bối rối của Quí và sự thô lỗ của người kia, tôi ngồi xuống ghế trước mặt họ và thản nhiên hỏi:
- Mấy ông có việc gì mà đến tôi sớm vậy?
- Chúng tôi đến yêu cầu chị đến dự buổi mít tinh - Quí nói.
- Mít tinh về vấn đề gì? - tôi hỏi tiếp - Ai tổ chức? Ai sai các ông đến yêu cầu tôi tham dự? - giọng có vẻ bực bội.
- Không cần phải hỏi nhiều như vậy - người “hoạt động” kia nói gắt gỏng - chúng tao sẽ không có mặt ở đây giờ này nếu chúng tao không có quyền như vậy. Tất cả các công nhân viên cũ của hãng Shell đều phải tham dự cuộc mít tinh này. Đó là điều rất quan trọng. Thế mày không biết cuộc Đại Cách mạng Văn hóa đã được phát động rồi sao?
- Cuộc đại Cách mạng Văn hóa thì có liên can gì đến tôi? Tôi đã làm việc cho một xí nghiệp thương mại chứ không phải cho một cơ sở văn hóa?
- Mao Chủ tịch đã dạy tất cả mọi người ở Trung Hoa phải tham gia vào cuộc Cách mạng Văn hóa, - Quí nói.
Rồi cả hai cùng nói một cách nóng nảy:
- Trễ rồi, phải đi ngay lập tức.
Họ đứng dậy. Tôi nhìn đồng hồ treo tường: 7h15’, người vú già đứng đợi tôi ở cửa và trao cho tôi cái túi xách và cây dù. Tôi cầm lấy và mỉm cười cám ơn. Nhưng vú không mỉm cười đáp lại. Vú nhìn tôi đăm đăm. Vẻ lo lắng hiện rõ trên nét mặt.
-Tôi sẽ về ăn cơm trưa ở nhà. - Tôi nói để trấn an vú. Và vú chỉ lặng lẽ gật đầu.
Lão gia bộc đứng đợi để mở cổng. Lão cũng nhìn tôi với vẻ mặt lo lắng, nhưng không nói gì, chỉ lặng lẽ đóng cổng khi chúng tôi đã ra khỏi.
Gia nhân của tôi lo sợ là điều hoàn toàn dễ hiểu. Họ đều biết từ mười bảy năm nay, dưới quyền của Mao Trạch Đông, đã có biết bao người ra khỏi nhà của họ trong các cuộc vận động chính trị và không bao giờ trở về nữa.
Ngoài đường phố có ít người qua lại. Nhưng các xe buýt thì đông nghẹt những người, mặt mày có vẻ trang trọng. Vì cứ phải đi vòng vo nên mãi đến chín giờ chúng tôi mới tới nơi đã định.
Một số thanh niên nam nữ tụ tập ở cổng trường kỹ thuật, nơi tổ chức cuộc mít tinh. Khi thấy chúng tôi từ trạm xe buýt đi tới, một số chạy vào bên trong trường, la lớn: “Chúng đã tới, chúng đã tới”.
Một người đàn ông chạy ra và nói với hai người “áp tải” tôi:
- Làm gì mà lâu vậy? Cuộc mít tinh được tổ chức từ lúc 8 giờ?
Hai người kia quay đầu về phía tôi và nói:
- Cứ hỏi con mụ ấy!- Rồi họ vội vã đi vào toà nhà. Căn phòng đông nghẹt người. Trong số những người ngồi trên những ghế dài bằng gỗ ở hàng đầu, tôi thấy ông bác sĩ và các viên chức trung cấp của hãng Shell. Những tài xế, gác cổng, gác thang máy, quét dọn, thư ký... ngồi lẫn lộn trong đám đông thanh niên - có lẽ là học sinh trường này - ở phía sau. Một số nữa đứng ở lối đi giữa hai hàng ghế và ở khoảng trống phía sau. Xuyên qua những cửa sổ mở toang, mặt trời như đổ lửa vào trong phòng. Nóng và ngột ngạt! Nhưng rất ít người dám dùng quạt, không khí trong phòng có vẻ nặng nề và căng thẳng.
Mặc dầu suốt chín năm qua, chúng tôi cùng làm chung trong một hãng và nhìn thấy nhau hàng ngày, nhưng lúc này không có một viên chức trung cấp nào chào tôi hoặc tỏ dấu hiệu nhận ra tôi khi tôi đi ngang, chạm vào họ để tới chỗ dành cho mình ở băng ghế thứ hai.
Hầu hết mọi người đều cố tránh nhìn vào mặt tôi, chỉ có một số ít nhìn tôi ánh mắt có vẻ bối rối, lo lắng.
Tôi tự hỏi mấy tháng nay từ khi hãng đóng cửa thì những người này sống ra sao. Họ đúng là những người bị thua thiệt trong thỏa hiệp “những tài sản được dùng để thanh toán các khoản nợ” đã đạt được giữa công ty Shell và đại diện chính quyền nhân dân. Hầu hết những người này đã làm việc lâu năm cho hãng. Có những người làm từ thập niên 1920: Trong thời Nhật chiếm đóng Thượng Hải, một vài trong số những người này đã để lại nhà cửa và gia đình ở Thượng Hải để theo hãng xuống Trùng Khánh, thủ đô thời chiến của Trung Hoa. Những người ở lại, nhiều người chẳng thà chịu đựng những khó khăn về kinh tế hơn là làm việc với công ty dầu của Nhật hoạt động ngay trên sản nghiệp chiếm đoạt công ty Shell. Hầu hết những người này đã xấp xỉ hoặc hơn lục tuần. Thỏa hiệp nhấn mạnh ở điểm những người này vẫn được quyền làm việc trong cơ sở mới. Điều mà thỏa hiệp lờ đi là trong cơ sở mới họ có thể không được giữ chức vụ cũ mà có thể giao chức vụ như thư ký hoặc thông dịch với mức lương thấp hơn nhiều, kể cả lương hưu. Không một người nào dám phản đối những điều khoản này trong thỏa hiệp. Bởi vì, chính quyền muốn vậy. Cả tổng quản lý và tôi đều hết sức tranh thủ sự đảm bảo từ phía chủ tịch công đoàn cho quyền lợi của công nhân. Nhưng chúng tôi được cho biết là toàn thể công nhân của chúng tôi đều lấy làm hài lòng với những điều khoản này. Trong lần gặp gỡ cuối cùng của chúng tôi - phía công ty - và chủ tịch công đoàn, chính vị này đã nói với tôi:
- Toàn thể công nhân đều rất hài lòng trước viễn tưởng được giải phóng khỏi cái địa vị tồi tệ là công nhân trong một xí nghiệp của ngoại quốc. Tất cả đều hướng về tương lai và tích cực góp phần mình vào việc xây dựng xã hội chủ nghĩa, với tư cách là người công nhân trong tổ chức chính quyền - Đó là đường lối chính thức, của nhà nước. Nhưng, trong thâm tâm, ngay chủ tịch công đoàn có lẽ cũng không tin tưởng sự đúng đắn của đường lối ấy. Vào những ngày cuối cùng trước khi hãng đóng cửa, những công nhân thường, cấp thấp đến gặp tôi cũng lắc đầu thất vọng và thì thầm than thở: “Vô kế khả thi”, “vô vọng”, “đường cùng”...
Từ lúc chín giờ sáng cho đến giờ cơm trưa - cuộc mít tinh tạm ngưng - còn tới hơn ba tiếng đồng hồ. Căn phòng càng lúc càng trở nên nóng bức. Tôi biết, trong lúc chờ đợi những biến cố sắp tới, tôi phải dành sức để biện hộ cho họ. Chiếc ghế dài bằng gỗ cứng ngắc ngồi đau ê ẩm chẳng khác gì chiếc ghế tôi đã ngồi dưới hầm để tránh bom của máy bay Nhật oanh tạc lúc tôi ở Trùng Khánh. Mồ hôi chảy ròng ròng trên mặt. Tôi mở túi xách tính lấy khăn tay lau mặt thì thấy bà vú đã cẩn thận để sẵn ở đó một cái quạt nhỏ xíu làm bằng gỗ trầm hương. Tôi lấy chiếc quạt ra quạt, cố mong xua đuổi cái mùi hôi nồng nặc. Thình lình có tiếng ồn ào phía sau lưng tôi. Vài người đàn ông mặc áo tay ngắn, quần vải thùng thình, từ phía dưới tiến lên trên bục ngồi. Một trong số ấy tiến tới chiếc bàn nhỏ phủ khăn trắng đàng hoàng, kê phía trước dãy ghế. Ở Trung Hoa lúc đó người ta không thể dựa trên cái bề ngoài của một người để đoán được hoàn cảnh, địa vị của họ. Vì mọi người ăn mặc vừa hợp thời trang vừa an toàn của người dân Trung Hoa lúc đó là làm sao cho có vẻ nghèo nàn. Bởi vậy, nhìn những người tổ chức mít tinh này, tôi không tài nào đoán được cấp bậc hay địa vị của họ. Nhưng tôi nghĩ rằng chắc chắn họ phải là các viên chức của “Hiệp hội công nhân Thượng Hải”, một tổ chức công nhân của chính quyền nhân dân.
- Các đồng chí - ông ta bắt đầu nói - Mao Chủ tịch, chủ tịch vĩ đại của chúng ta đã phát động và hiện đang đích thân điều khiển cuộc “Cách mạng Văn hóa vô sản vĩ đại”. Dưới sự lèo lái của người cầm lái vĩ đại, chúng ta sẽ thắng lợi vượt qua mọi trở lực. Tình hình vô cùng thuận lợi về phía chúng ta, giai cấp vô sản!
“Cuộc Cách mạng Văn hóa vô sản vĩ đại” là một thời cơ vô cùng thuận lợi cho tất cả mọi người chúng ta học tập tư tưởng Mao Trạch Đông một cách cẩn thận và chăm chú hơn bao giờ hết. Nhờ đó sự hiểu biết về chính trị của chúng ta thêm sâu sắc. Có như vậy chúng ta mới có khả năng phân biệt và phát hiện ai đứng trong hàng ngũ nhân dân với ai đứng về phía kẻ thù.
“Kẻ thù của chủ nghĩa xã hội rất quỉ quyệt. Trong số chúng có đứa giương cao ngọn cờ đỏ để chống lại ngọn cờ đỏ, có đứa làm bộ hiền lành, mỉm cười thân thiện với ta để che dấu ý đồ hiểm độc, xấu xa của chúng. Chúng cấu kết với bọn đế quốc ngoại bang và giai cấp tư sản trong nước để cố phá hoại xã hội chủ nghĩa và đẩy lùi nhân dân Trung Hoa trở lại cái ngày xưa nghèo đói và đau khổ. Chúng ta có thể nào cho phép chúng thành công? Dĩ nhiên là không! Không! Một trăm lần không!”
“Nhân dân thành phố Thượng Hải đã được giải phóng 17 năm rồi. Ấy vậy mà cho đến gần đây, những xí nghiệp ngoại quốc vẫn còn tồn tại trên thành phố này. Các văn phòng của chúng chiếm những tòa nhà đẹp nhất của chúng ta, xe cộ của chúng cũng chạy vùn vụt trên phố xá của chúng ta. Những tên ngoại quốc và một số ít những tên, tuy là Trung Hoa nhưng đã quên hay là làm lơ quốc tịch để làm việc cho bọn ngoại quốc - tất cả bọn ấy - đã nghênh ngang, vênh váo, xấc xược trên thành phố của ta. Tất cả chúng ta đều biết những xí nghiệp này là những cơ sở tay sai của bọn đế quốc. Chúng nuôi hy vọng tiếp tục bóc lột nhân dân Trung Hoa. Chúng ta không thể tha thứ cho tình trạng này. Vì vậy chúng ta đã đóng cửa các xí nghiệp này và tống cổ bọn ngoại bang về nước chúng. Hầu hết những người Trung Hoa làm việc trong các xí nghiệp ấy đều bị lây nhiễm, cái cách suy nghĩ của họ bị sai lệch. Nhưng phải nhìn nhận sự kiện là một vài người trong số ấy rõ ràng là phản động. Nhiệm vụ của chúng ta là thực hiện chính sách của Mao Chủ tịch, nhà lãnh đạo vĩ đại, là giáo dục và cải tạo họ. Trong mấy tháng qua, chúng ta đã tổ chức những lớp học chính trị cho họ. Nhưng không một ai có thể được cải tạo nếu chính bản thân người đó không chịu đối diện với thực tiễn nhận ra và nhìn nhận sự sai lầm của chính mình. Tự phê và tự thú là những bước đầu tiên dẫn đến sự cải tạo. Để có những nỗ lực tự phê thật sự, một người phải được những người khác giúp đỡ bằng cách phê bình chính người đó. Cuộc mít tinh được triệu tập hôm nay để chúng ta phê bình tên Đào Phương và nghe hắn tự phê.
Tất cả chúng ta đều biết Đào Phương là ai. Trong gần 35 năm, hắn là một con chó săn trung thành của công ty dầu khí Shell, một công ty quốc tế khổng lồ với những cái vòi vươn tới tận những nơi xa xôi hẻo lánh trên thế giới để thâu hút lợi nhuận. Theo Lênin, đó là một hình thức xấu xa nhất của xí nghiệp tư bản.
“Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa như nước với lửa hoàn toàn đối nghịch nhau. Đào Phương đã không thể vừa phục vụ lợi ích của xí nghiệp Anh, đồng thời lại là một công dân Trung Hoa tốt dưới chế độ Xã hội Chủ nghĩa. Trong một thời gian lâu dài chúng ta đã cố gắng giúp hắn nhìn thấy ánh sáng...”
Tôi ngạc nhiên khi thấy Đào Phương, cựu trưởng ban kế toán của xí nghiệp Shell, là mục tiêu của cuộc mít tinh này. Bởi vì tôi cứ nghĩ là Đảng đã nhìn ông ta với con mắt ưu ái. Con trai lớn nhất của ông ta được gởi đi du học ở Liên Xô, rồi ở Tiệp trong những năm năm mươi, và người thanh niên này đã được kết nạp vào Đảng. Tôi cũng biết là khi chọn một thanh niên để cho ra nước ngoài du học, Đảng điều tra xem xét rất kỹ quá trình của người ấy, kể cả hạnh kiểm chức vụ và quan điểm chính trị của ông thân sinh ra người ấy. Đào Phương đã qua được tất cả những “xét nghiệm” ấy, khi con của ông ta được gởi đi du học ở nước ngoài. Bởi vậy tôi không hiểu tại sao ông ta lại bị đem ra làm mục tiêu cho cuộc phê bình.
Ngay từ lúc chế độ Cộng sản mới bắt đầu, tôi đã nghiên cứu cẩn thận sách vở về chủ nghĩa Mác và các lời tuyên bố của các nhà lãnh đạo Cộng sản Trung Hoa. Đối với tôi hình như Chủ nghĩa xã hội ở Trung Hoa còn đang trong giai đoạn dò dẫm. Và đường lối phát triển đất nước vẫn chưa được quyết định dứt khoát.
Bởi vì, theo tôi nghĩ, đó là lý do khiến nhà cầm quyền cứ thay đổi chinh sách mãi. Cũng giống như cái quả lắc đồng hồ, cứ từ tả qua hữu, hữu qua tả. Khi những sự việc diễn ra và nảy sinh những vấn đề, thì Bắc Kinh lại đưa ra những biện pháp sửa sai. Rồi chính những biện pháp sửa sai này đi quá xa và lại có biện pháp để sửa sai. Dĩ nhiên, cái khó khăn thực sự là tình trạng nhà nước kiểm soát quá chặt chẽ nền kinh tế đã khiến cho mức sản xuất sụt giảm hoặc bị bóp nghẹt. Những kế hoạch kinh tế do Bắc Kinh hoạch định đã bất chấp điều kiện cụ thể của địa phương và giết chết mọi sáng kiến, tiêu hủy mọi kích thích tính năng động.
Khi một chính sách được thay đổi từ bên trên thì những tiêu chuẩn đánh giá cũng phải thay đổi theo. Cái đúng hôm qua có thể trở thành sai hôm nay và ngược lại. Bởi vậy, những lời nói và hành động của các viên chức cấp thấp trong Đảng chỉ có giá trị trong một thời gian rất giới hạn. Bởi vậy, tôi cho là cuộc mít tinh mà tôi đang tham dự hôm nay cũng chẳng quan trọng lắm và diễn giả kia cũng chỉ là một viên chức cấp thấp trong Đảng được chỉ định đứng hướng dẫn cuộc Cách mạng Văn hóa cho các công nhân viên cũ của hãng Shell. Đối với tôi, cuộc Cách mạng Văn hóa dường như chỉ là cuộc chuyển mình của Đảng về phía tả. Sớm hay muộn, khi sự việc đã đi quá xa thì sẽ lại có những biện pháp sửa sai. Nhân dân lại sẽ có một vài tháng hay một vài năm tạm ổn trước khi có một cuộc vận động khác. Mao Trạch Đông tin rằng những cuộc vận động chính trị sẽ tạo ra những đà lực thúc đẩy tiến bộ. Bởi vậy, tôi nghĩ cuộc Cách mạng Văn hóa chỉ là một cái khâu trong cái chuỗi dài vô tận những đợt vận động mà người dân Trung Hoa phải tập chịu đựng cho quen.
Tôi đưa mắt nhìn quanh phòng trong khi đó vẫn lơ đãng nghe hàng chuỗi, hàng tràng những khẩu hiệu của diễn giả tuôn ra, lúc đó tôi mới để ý đến tấm biểu ngữ treo trên tường ghi câu: “Đả đảo tên chó săn của đế quốc Đào Phương”. Tên của ông ta được gạch chéo bằng mực đỏ để chỉ rõ ông ta bị tố giác là kẻ thù. Tôi đã không chú ý đến biểu ngữ này ngay khi bước vào phòng vì ngoài biểu ngữ ấy ra còn có vô số biểu ngữ khác của cuộc Cách mạng Văn hóa treo kín các bức tường. Khẩu hiệu, biểu ngữ là một phần trong toàn bộ đời sống của người dân Trung Hoa. Những biểu ngữ ấy ca ngợi Mao Trạch Đông, tán tụng Đảng, tán tụng Chủ nghĩa Xã hội và tán tụng tất cả những gì mà Đảng muốn người dân phải tin tưởng. Những biểu ngữ, khẩu hiệu ấy thúc đẩy người dân phải làm việc cực nhọc hơn nữa, học tập tư tưởng Mao Trạch Đông cho thấm nhuần hơn nữa và tuyệt đối phục tùng Đảng. Khi có cuộc vận động chính trị thì ngoài những biểu ngữ, khẩu hiệu tán tụng nói trên, còn có các biểu ngữ tố cáo kẻ thù mục tiêu của cuộc vận động đó. Từ lúc bắt đầu cuộc Cách mạng Văn hóa, một số khẩu hiệu đã được nhân ra hàng ngàn, hàng ngàn và được treo, dán khắp nơi. Không thể nào đọc được hết các biểu ngữ, khẩu hiệu mà ta thường gặp. Người ta dễ dàng nhìn thấy bất cứ ở đâu đều có khẩu hiệu mà chẳng cần thực sự xem khẩu hiệu ấy nói cái gì.
Một người đàn ông đứng lên kể lể lối sống sa đọa của Đào Phương là kết quả của sự chung đụng lâu ngày của ông ta với tư bản chủ nghĩa. Dường như ông đã phạm tội vì những chuyện mèo mỡ, vì đã uống rượu nho, rượu mạnh, vì thích ăn ngon, nghĩa là tất cả những hành động dung dưỡng thân xác mà Đảng không ưa. Những lời tố cáo đó không làm cho tôi ngạc nhiên, vì tôi biết, khi một người bị tố cáo, người ấy bị mô tả hoàn toàn xấu và mọi hành động cử chỉ sai trái của người ấy đều bị gán cho ảnh hưởng của Chủ nghĩa Tư bản.
Sau khi đã moi móc chi li về đời tư của Đào Phương và vạch trần cái hậu quả tai hại của chủ nghĩa tư bản nơi ông ta thì người đứng lên tố cáo đã nghiêm giọng quay sang vấn đề chủ nghĩa đế quốc và sự gây hấn, xâm lược Trung Hoa do các thế lực ngoại bang gây ra. Theo ý ông ta thì Đào Phương sa đọa không phải vì Đào là người tham ăn và không kiềm chế được dục vọng của mình mà vì Đào đã làm việc cho một xí nghiệp thuộc về một quốc gia đã có những hành động tội ác, thô bạo xâm lược và chống lại nhân dân Trung Hoa từ hơn một trăm năm qua. Ông ta nhắc đến cuộc chiến tranh nha phiến năm 1839-1842, cứ như thể cuộc chiến này vừa mới xảy ra cách lúc ông ta nói mới chỉ chừng một năm.
Ông ta dùng những lời lẽ nặng nề để tố cáo và chốc chốc ông ta lại cao giọng nói lớn. Ông ta nói một cách trơn tru, dễ dàng. Thỉnh thoảng lại ngừng để uống một hớp nước hoặc nhìn vào bản ghi chú. Chắc hẳn ông ta nghĩ mình là một diễn giả lôi cuốn. Bởi vì, không một ai dám bỏ về khi cuộc mít tinh còn đang tiếp diễn. Một viên chức Đảng, dù ở cấp thấp đến thế nào chăng nữa, cũng vẫn là đại diện cho Đảng. Khi ông ta nói thì chính là Đảng nói. Tỏ ra không chú ý nghe là một điều không thể hiểu được. Tuy nhiên ông ta đã nói dai quá, nói dài quá. Căn phòng nóng đến không thể chịu nổi. Và chính người nghe cũng trở nên “bất trị” rồi. Tôi nhìn đồng hồ và thấy gần 12 giờ trưa. Có lẽ chính diễn giả cũng cảm thấy mệt và đói bụng, vì thình lình, ông ta ngưng và nói với chúng tôi là buổi mít tinh tạm ngừng cho đến 13h30. Mọi người rần rần đứng dậy và chen nhau ra ngoài trước khi ông ta dứt lời hẳn.
Bên ngoài, mặt trời giữa trưa như đổ lửa xuống vỉa hè, phía xa, tôi thấy một chiếc xích lô đậu dưới bóng cây. Tôi chạy lại, cho người phu xích lô địa chỉ, hứa trả gấp đôi tiền để ông ta đạp nhanh nhanh chở tôi về nhà.
Người đàn ông sáng nay dẫn tôi đến đây vội chạy ra, la lớn bảo tôi dừng lại. Ông ta muốn tôi ở lại đó, kiếm cái gì ăn trong bếp của nhà trường để tôi khỏi bị trễ trong cuộc mít tinh buổi chiều. Ông ta tỏ ra lo lắng cố giữ tôi ở lại đến nỗi đã giữ lấy chiếc xích lô. Tôi phải hứa đi hứa lại là tôi sẽ đến trước giờ, lúc đó ông ta mới chịu để cho xe chạy.
Căn nhà nhỏ của tôi, mặc dù có rêu phong bám bên thành cửa sổ và bóng tre ở mái hiên thì cũng là một thiên đường đối với tôi sau buổi mít tinh trong căn phòng nóng bức ngột ngạt thiếu không khí ấy. Chiếc áo phía sau lưng tôi ướt đẫm mồ hôi, và tôi khát đến khô cả cổ. Tôi vội đi tắm. Uống một ly trà đá và thưởng thức những món ăn ngon lành mà người bếp đã nấu cho tôi. Nằm nghỉ lưng trên giường chừng nửa giờ rồi lại đi xích lô - Tôi dặn ở lại chờ - tới chỗ mít tinh.
Tôi đến căn phòng của cuộc mít tinh tuy hơi trễ một chút. Nhưng tôi không phải là người đến trễ nhất. Tôi tìm được một chỗ ngồi ở hàng ghế thứ hai, gần một cây cột để tôi có thể dựa vào đó khi quá mệt. Tôi xách theo cái túi đựng chai nước và cái ly và hai thanh sô cô la. Yên trí là mình đã chuẩn bị đầy đủ, tôi ngồi xuống, chờ và tự hỏi không hiểu rồi ra diễn giả sẽ nói gì nữa.
Căn phòng từ từ đông người thêm. Lúc hai giờ trưa, cũng mấy người ban sáng bước lên bục và ngồi vào chỗ cũ. Diễn giả vẫy tay ra dấu cho một người nào đó phía sau ông ta. Tôi ngạc nhiên khi thấy Đào Phương bị dẫn vào phòng. Trên đầu ông ta đội một cái mũ có ghi chữ “con bò yêu quái và đầu óc rắn độc”. Nếu đừng có cái vẻ mặt hết sức sợ hãi thì nom ông ta thật buồn cười. Trong thần thoại Trung Hoa có chuyện yêu quái hiện hình thành con bò để đánh lừa người ta. Nhưng khi bị phát hiện là yêu quái thì chúng đành trút bỏ hình con bò để trở lại thành yêu quái. Mao Trạch Đông là người đã dùng kiểu nói này để mô tả người trí thức trong cuộc vận động chính trị chống cánh hữu năm 1957. Ông ta nói người trí thức cũng giống như yêu quỉ hiện hình người và làm bộ ủng hộ Đảng. Khi họ phê bình Đảng thì lúc đó họ mới lộ nguyên hình là yêu quỉ. Từ đó, mau lẹ xử dụng ngôn ngữ của Mao, các quan chức trong đảng đã áp dụng kiểu nói đó cho tất cả những ai bị coi là không trung thực về mặt chính trị. Trong cuộc Cách mạng Văn hóa, kiểu nói đó được áp dụng cho tất cả những kẻ được gọi là kẻ thù gồm 9 loại: cựu địa chủ bị tố cáo trong phong trào cải cách ruộng đất năm 1950-52; phú nông bị cảnh cáo trong phong trào xây dựng hợp tác xã nông nghiệp năm 1955. Các tên phản cánh mạng bị tố cáo trong cuộc vận động tiêu diệt phản cách năm 1950 và cuộc vận động loại trừ phản cách mạng năm 1955; “phần tử xấu” bị bắt kể từ khi Đảng Cộng sản nắm chính quyền; phe hữu bị tố cáo trong cuộc vận động chống phe tả năm 1957; bọn phản bội (các viên chức Đảng bị nghi ngờ bí mật phản bội Đảng trong lúc bị giam trong các nhà tù của Quốc Dân Đảng); gián điệp (đàn ông và đàn bà có quan hệ với nước ngoài); tay sai cho tư sản (các viên chức Đảng không theo đúng đường lối, chính sách thiên tả và chủ trương đi theo đường lối (phát triển kinh tế) tư bản và trí thức có nguồn gốc gia đình tư sản, trưởng giả.
Kiểu nói “yêu quái hiện hình con bò...” thường được rút gọn là chỉ còn chữ “bò”. Và nơi giam giữ những người thuộc các diện xấu trên - trong thời kỳ có cuộc Cách mạng Văn hóa - thường được gọi là “chuồng bò”. Khi làn sóng khủng bố dâng cao thì trong mọi cơ quan trên nước Trung Hoa đều có những phòng, những nơi được dành riêng ra để làm “chuồng bò”. Và các “Vệ binh cách mạng” trong mỗi cơ quan mình. Những cung cách đối xử vô nhân đạo, những phương pháp tàn bạo đều được dễ dàng sử dụng để bắt các “bò” phải tự thú. Trong nhiều trường hợp, những “chuồng bò” này còn tàn tệ hơn cả nhà tù thứ thiệt.
Nom Đào Phương thay đổi quá chừng! Khi còn làm trong công ty, ông ta là người luôn luôn tự tin. Bây giờ, nom ông ta thất thểu và hoàn toàn rã rời, thảm não. Ông ta gầy tọp hẳn đi và mới chỉ trong vài tháng mà nom ông ta già đi đến cả chục tuổi. Những thanh niên ngồi phía sau tôi khúc khích cười. Khi ông Đào bị dẫn lên bục cao, đám người ở phía sau tôi đã đứng dậy để nhìn cho rõ hơn và vỗ vào ghế rầm rầm. Một người đã đem một cái ghế lên bục và bảo ông Đào đứng lên đó để những người ngồi dưới nhìn rõ hơn nữa. Khi ông ta đứng lên ghế, cái mũ giấy trên đầu, dáng điệu cóm róm thì tiếng cười nhạo đã rầm rĩ nổi lên. Một vài người đứng ở góc phòng - hiển nhiên là đã được bố trí sẵn - đã đứng dậy. Tay giơ cao cuốn “Sách đỏ” - trích những lời dạy của Mao và bọc bìa plastic màu đỏ - mà mỗi người phải luôn mang theo trong người, họ hướng dẫn những người ngồi nghe hô lớn các khẩu hiệu:
“Đả đảo tên Đào Phương”, “Đả đảo tên Đào Phương chó săn của đế quốc !”, “Đả đảo đế quốc !”, “Đả đảo giai cấp tư sản”, “Cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản vĩ đại muôn năm”, “Mao Chủ tịch, vị lãnh tụ vĩ đại muôn năm !”
Tiếng cười đang ầm ĩ tưởng như không kiểm soát được, ấy thế mà mấy người kia chỉ hô lên khẩu hiệu là lập tức tiếng cười im bặt và biến thành tiếng hô như sấm rền, mỗi tiếng hô là những cuốn “sách đỏ” lại được những cánh tay đưa lên cao. Tôi không mang theo cuốn sách đó. Tôi cũng từ từ dứng dậy và đưa mắt bối rối nhìn khắp. Tôi xúc động và ngạc nhiên khi thấy chính Đào Phương cũng giơ nắm tay lên và hô to khẩu hiệu, kể cả khẩu hiệu “đả đảo” chính ông ta. Trong lúc mọi người đứng hô khẩu hiệu, tôi lo lui cui xếp quạt, thu gom bình và ly uống nước để vào túi xách đặt trên ghế và vừa đứng lên thì mọi người đã hô khẩu hiệu xong, và ngồi xuống. Thế là tôi lại lấy túi xách đặt xuống đất để lấy chỗ ngồi. Người ngồi bên cạnh đã nhìn tôi một cách khó chịu. Ông ta ngồi xích ra như thể sợ ngồi gần sát tôi, sẽ bị lây những cử chỉ xấu của tôi.
Khi đám đông đã biểu lộ xong sự tức giận và khinh bỉ đối với tội nhân thì tội nhân mới được phép ngồi trên chính cái ghế mà ông ta vừa đứng. Khi ông ta cúi đầu để nhìn đặng bước xuống thì cái mũ giấy trên đầu bị rớt ra. Đám học sinh lại cười rần. Ông Đào Phương đưa mắt sợ hãi nhìn người chủ trì buổi mít tinh. Rõ ràng ông ta sợ bị tố là đã cố ý làm rớt cái mũ giấy. Ông ta thở dài buồn bã khi một người khác đến lượm cái mũ và chụp lại vào đầu ông.
Người chủ trì buổi mít tinh cho gọi một vài công nhân khác đã làm cho hãng Shell, kể cả hai người sáng nay đã đến nhà tôi và những người thư ký cấp thấp đã làm trong phòng kế toán với Đào Phương. Lần lượt từng người ra trước bục, đứng trước mặt ông ta, bằng giọng tức tối, giận dữ, đã gần như nhắc lại những lời tố cáo mà diễn giả ban sáng đã nói.
Mục tiêu và tầm mức của sự phê bình - theo tôi biết - đã được các viên chức Đảng sắp đặt trước cả rồi. Tỏ ra tích cực, nhiệt tình trong cách phê bình tố cáo - để cho mình nổi bật, độc đáo - thì cũng bị coi là “không đạt yêu cầu” như là phê bình yếu, chưa đúng mực. Người dân Trung Hoa đã rút được kinh nghiệm là Đảng sẽ tin cậy và thích họ hơn nếu họ đừng tự mình suy nghĩ gì cả mà chỉ lặp lại những gì Đảng đã nói với họ. Cuộc phê bình Đào Phương của những công nhân làm trong hãng Shell kéo dài khá lâu. Tất cả những người được phép lên phê bình đều chỉ là công nhân hoặc thư ký cấp thấp. Không một công nhân viên chức trung cấp nào của hãng được phép tham gia “phê bình”. Họ chỉ cúi đầu lặng lẽ nghe.
Người chủ trì tuyên bố cuộc “phê bình” tạm ngưng để cuộc mít tinh được tiếp tục. Ông ta nói với những người nghe là sau nhiều tuần lễ được các người “hoạt động” “giúp đỡ” và giáo dục cho, Đào Phương đã nhận ra sự kiện mình đã là nạn nhân của chủ nghĩa đế quốc. Quay về phía Đào, bằng giọng nghiêm khắc của thầy giáo rầy la học trò phạm lỗi, ông ta hỏi:
- Phải vậy không? Chính đồng lương của bọn đế quốc ngoại bang trả cho mày đã biến mày thành nô lệ của chúng. Mày đã bán mình cho chúng và mày sẵn lòng làm bất cứ việc xấu xa bẩn thỉu nào để lấy đồng lương cao và số tiền mà chúng hứa sẽ cho mày? Phải vậy không?
Trong phòng lặng như tờ. Mọi người chờ xem phản ứng và câu trả lời của Đào. Không có bi kịch ! Không có những tiếng nói đẫm nước mắt ăn năn, hối lỗi. Ông ta chỉ lặng lẽ gật đầu, nom còn thảm hơn!
Theo ý tôi thì Đào Phương thật ngu đần khi nhận đã bán mình cho ngoại bang để lấy tiền. Bởi vì, khi nhận như vậy, ông ta đã tự khoác vào mình một chuỗi những tố cáo khác nặng nề hơn mà ông ta rất khó gỡ cho ra. Theo tôi, cứ nói là hãng Shell đã trả cho tất cả công nhân của mình ở Thượng Hải cùng một mức lương dù là trước hay sau khi Đảng Cộng sản nắm chính quyền ở thành phố này thì có lẽ hay hơn và đúng sự thật hơn. Bởi vì, chính quyền không can thiệp thì hãng chẳng cần phải đặt ra vấn đề giảm lương công nhân làm gì. Hoặc ông ta có thể nói một cách khéo léo là làm việc cho một hãng ngoại quốc thì cũng chẳng vì thế mà mất đi cái nhân cách như những công nhân trong chính quyền khi phục vụ nhân dân. Đó là một quan điểm mà các viên chức Đảng khó mà phủ nhận.
Người chủ trì cuộc mít tinh loan báo: “Bây giờ đến lượt Đào Phương tự phê”.
Vẫn trong dáng điệu cóm róm và không dám nhìn vào những người nghe, ông Đào rút trong túi ra một tờ giấy và bắt đầu đọc những gì đã được soạn sẵn bằng giọng trầm trầm, cố tránh xúc động. Ông ta khiêm tốn nhận tất cả “tội lỗi” mà những người trước đó đã kể ra. Đồng thời ông ta cũng chấp nhận phán quyết cho rằng sự suy đồi sa đọa của ông ta là do ông ta không đủ “cảnh giác Xã hội Chủ nghĩa” (?). Ông ta tỏ ra hối tiếc vì đã làm việc cho một hãng ngoại quốc trong hơn ba mươi năm trời mà vì vậy mà uổng phí đời mình. Ông ta tuyên bố lấy làm hổ thẹn nhục nhã vì đã đui mù vì sự tuyên truyền của bọn tư bản và bị nô lệ hóa vì sự đối xử tốt của hãng Shell đã dành cho ông. Ông cầu xin giai cấp vô sản khoan hồng, tha thứ và cho ông cơ may để ăn năn và đái tội lập công. Ông ta có nhắc đến sự kiện anh con trai ông ta là đảng viên và đã được học bổng của nhà nước để du học nước ngoài. Lối sống sa đọa và trụy lạc của ông ta là một hành động vong ân thô bỉ đối với chính quyền nhân dân. Ông ta đoan quyết với toàn thể thính giả là lúc này ông ta đã nhận ra mưu sâu kế độc, ý đồ đen tối của bọn tư sản đế quốc ngoại bang nhằm chống nước Trung Hoa Cộng sản. Ông xin hứa sẽ làm hết sức để lột trần những âm mưu đen tối bẩn thỉu của chúng để chứng tỏ sự ăn năn hối lỗi thực sự của ông. Ông cũng nói với sự “giúp đỡ” và giáo dục của viên chức trong Đảng hiện ông đang viết lại một cách chi tiết, cụ thể và đầy đủ bản tự thú những hành động tội ác mà ông đã làm để phục vụ hãng Shell.
Trong suốt bài tự thú của ông ta tràn đầy những lời tự sỉ và cường điệu. Thỉnh thoảng giọng ông ta lại run run, thỉnh thoảng miệng ông ta mở mà không thốt nên lời. Mỗi khi lật trang giấy, tay ông run rẩy. Tôi không tin rằng sự thất thần hốt hoảng của ông ta là do quá sợ hãi. Bởi vì, ông ta dư biết là ông ta chẳng hề phạm một thứ trọng tội nào. Nói cho cùng hãng Shell mà có ở lại nước Trung Hoa thì cũng là do chính quyền nhân dân chấp nhận và cho phép. Có thể nói chính quyền ấy còn muốn, thậm chí còn cần hãng ở lại nữa. Và tôi biết là hãng đã tuân thủ một cách rất kỹ lưỡng, cẩn thận mọi qui định của chính quyền ấy nữa. Ông Đào đã phải biết rõ điều đó. Theo tôi vấn đề chủ yếu của ông ta là sự suy kiệt cả về tinh thần lẫn thể xác. Để khiến ông ta bị khuất phục và để chắc chắn là ông ta đã bị khuất phục chẳng những người “giúp đỡ” ông ta đã tốn khá nhiều thì giờ và công sức. Họ đã thường xuyên thẩm vấn, thay phiên nhau gây sức ép và đồng thời không cho ông được ngủ. Mọi người đều biết, trong những trường hợp như vậy, nạn nhân rã rời và chịu khuất phục khi tâm thần bị hỗn loạn và thể xác bị kiệt quệ. Những người theo Mao đã đặt cho chủ thuyết này cái tên là “thả bom hút khí”. Nhiều người tôi quen biết, trong đó có cả em trai tôi, đã trải qua kinh nghiệm này trong chiến dịch chống phe hữu năm 1957. Các viên chức đảng đứng sau hội trường điều khiển các “nhà hoạt động” thực thi lệnh của họ. Khi sự tàn bạo đến mức qua đáng và gây ra chết chóc, các viên chức đảng qui trách nhiệm ấy là tai nạn do sự phẫn nộ của quần chúng.
Khi ông Đào Phương đọc xong bản tự thú của mình, người chủ trì buổi mít tinh nói với các người tham dự là Đào sẽ được xem xét coi những lời tự thú của Đào là thành khẩn không. Ông ta còn thêm rằng buổi mít tinh này mới chỉ là buổi đầu tiên thuộc loại này. Sẽ còn nhiều người khác giống như Đào sẽ được đem ra giải quyết và chính Đào cũng sẽ phát biểu nữa. Ông ta ngưng nói và đưa mắt quét một lượt trên đám người tham dự. Tôi tự hỏi không hiểu cái nhìn của ông ta có dừng lại ở tôi trong một khoảnh khắc cực kỳ ngắn không? Rồi ông ta kết luận rằng nghĩa vụ của giai cấp vô sản là tẩy sạch nước Trung Hoa Xã hội chủ nghĩa ra khỏi những cặn bã của ảnh hưởng đế quốc và trừng phạt kẻ thù của nhân dân. Một lần nữa tôi lại có cảm tưởng cái nhìn ông ta hướng về phía tôi.
Dĩ nhiên là tôi không nghĩ mình lại quan trọng đến mức là tất cả những cuộc dàn dựng rắc rối ấy lại chỉ dành cho một mình tôi. Nhưng nếu đúng như vậy thì cái ý đồ hù dọa, làm cho tôi sợ của họ đã không thành công.
Cái cảm xúc do kinh nghiệm của một cuộc “mít tinh đấu tranh” là cảm xúc ghê tởm và nhục nhã đối với một hành động man rợ nhằm chống lại đồng loại – vô phước thay - lại diễn ra ngay trên quê hương yêu quí của tôi, một đất nước có năm ngàn năm văn hiến. Với tư cách là người Trung Hoa, tôi cảm thấy tự sỉ.
Lại hô khẩu hiệu. Nhưng đồng thời mọi người cũng nhấp nhổm đứng lên để vọt ra cửa cho nhanh.
Vẫn chính người cản tôi đừng về nhà ăn cơm đứng chờ tôi trên lối đi. Ông ta nói với tôi:
- Bà đi lối này và lại đây một chút. Có vài đồng chí có vài điều muốn nói với bà.
Tôi theo ông ta đi vào một phòng học trong đó bàn ghế đã được xếp vào một góc. Người chủ trì cuộc mít tinh và một người khác lúc nãy ngồi trên bục – lúc tôi bước vào - đang ngồi trên chiếc bàn thầy giáo. Người chủ trì cuộc mít tinh hỏi tôi:
- Chị đã nghe mọi điều trong cuộc mít tinh chứ?
Tôi gật đầu.
- Chị nghĩ sao về cuộc mít tinh này? Tôi tin đây là lần đầu tiên chị được dự một cuộc mít tinh thuộc loại này.
Hiển nhiên là tôi chẳng để lộ cái ý nghĩ thật của tôi về cuộc mít tinh. Đồng thời, tôi cũng chẳng muốn nói dối và lấy lòng ông ta. Bởi vậy, tôi nói:
- Tôi xin được hỏi ông về một vài vấn đề làm cho tôi bận tâm cả ngày hôm nay, được không?
Ông ta có vẻ khó chịu vì bị trái ý, nhưng vẫn nói:
- Chị cứ hỏi.
- Ông đại diện cho cơ quan, tổ chức nào? Ông lấy quyền gì để tổ chức cuộc mít tinh như thế này? Ngoài những công nhân viên chức cũ của hãng Shell, những người có mặt trong phòng là những ai?
Rõ ràng là ông ta cảm thấy câu hỏi của tôi đụng chạm đến uy quyền của ông ta. Cho thấy rõ là ông ta phải cố dằn lòng, ông ta nói:
- Chúng tôi đại diện cho giai cấp vô sản, cuộc mít tinh được phép tổ chức của ban lãnh đạo cuộc Cách mạng Văn hóa ở Thượng Hải.
Tôi yêu cầu ông ta giải thích mục tiêu của cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản. Ông ta đáp là cuộc cách mạng ấy nhằm quét sạch khỏi xã hội Trung Hoa những nhân tố gây trở ngại cho sự phát triển của Xã hội chủ nghĩa. Ông ta nhắc đi nhắc lại nhiều lần câu nói của Mao Trạch Đông: “Nếu cỏ độc không bị nhổ đi thì hoa thơm không thể mọc được”. Ông ta nói với tôi bất kỳ người Trung Hoa nào cũng phải tham gia cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản vĩ đại.
- Chị nên có một thái độ thành thật hơn và hết sức cố gắng noi gương Đào Phương để tự cải tạo.
- Tôi thấy mình chẳng làm điều gì sai quấy - Tôi nói, giọng đượm vẻ ngạc nhiên.
- Có lẽ chị sẽ thay đổi thái độ khi chị có thì giờ để suy nghĩ cho chín mọi điều – người lúc nãy đón, dẫn tôi đến đây nói chen vào – nếu chị cứ tiếp tục bao che lũ đế quốc thì hậu quả sẽ trầm trọng đấy.
- Che dấu cái gì mới được kia chứ? Mọi hành vi đế quốc đều được ghi đầy đủ và rõ ràng trong sách vở.
- Chị nói gì vậy – người kia lớn tiếng nói - chúng tôi không có ý gì nhắc tới những gì xảy ra trong quá khứ. Chúng tôi nói bây giờ đây này, nói về cái xí nghiệp mà chị làm cho nó kia. Thằng Đào Phương đã thú nhận mọi sự. Chúng tôi biết chi nhánh hãng Shell ở Thượng Hải chỉ là “treo đầu dê bán thịt chó”. Chúng tôi cũng thừa biết chị thủ vai trò gì trong những công việc bẩn thỉu của chúng. Thế chị nghĩ tụi tôi điên chắc?
- Tôi hoàn toàn không hiểu các ông định nói gì. Cứ như tôi được biết, công ty mà tôi làm việc không hề làm bất cứ việc gì bất hợp pháp hay phi pháp luân lý. Chính quyền nhân dân có lực lượng công an rất giỏi. Và như vậy, chắc chắn là những gì sai quấy đã bị họ phát hiện từ lâu rồi.
Cả hai người trừng trừng nhìn vào tôi. Hầu như đồng thời, cả hai cùng la lên:
- Chị cố tình bao che cho bọn đế quốc.
- Các ông hiểu lầm tôi rồi – tôi cũng nổi cáu, nói lại – tôi chỉ nói những gì tôi biết. Mắc mớ gì tôi phải bao che cho ai. Văn phòng công ty Shell ở Thượng Hải đã đóng cửa. Tổng quản lý người Anh cũng đã rời đây rồi, chẳng còn ai cần tôi phải bao che nữa.
- Đúng, đúng, thằng tổng quản lý người Anh đã rút khỏi đây rồi. Nhưng chị còn ở đây. Và chị cũng biết chẳng kém gì nó. Ông chồng của chị cũng đã làm tổng quản lý nhiều năm. Sau khi ông ta chết, chị tiếp tục, vậy thì chị phải biết mọi sự của chi nhánh công ty ấy!
- Chính vì tôi biết rõ mọi sự của cái chi nhánh công ty ấy nên tôi biết là nó không bao giờ làm điều gì sai trái, bậy bạ.
- Bây giờ, tôi đề nghị chị về nhà và suy nghĩ cho kỹ đi. Chúng tôi sẽ cho gọi chị khi nào chúng tôi có điều cần nói với chị. Điện thoại của chị số mấy?
Tôi cho số điện thoại và rời khỏi phòng.
Bên ngoài, trời đã sẫm tối. Cơn gió nhẹ thổi, mát mẻ, dễ chịu. Tôi quyết định cứ theo vỉa hè đi bộ về nhà cho giãn gân cốt đồng thời có thì giờ suy nghĩ.
Khi đi ngang qua trường Trung học Y tế số 1, tôi thấy bạn của tôi - chị Winnie - cũng vừa ra khỏi cổng. Đi sau chị là đồng nghiệp. Chúng tôi vẫy tay chào nhau và chị theo tôi về nhà. Nhà chị ở gần nhà tôi.
- Đi đâu mà lội bộ vào giờ này? - Chị Winnie hỏi.
- Tôi vừa đi dự cuộc mít tinh tranh đấu về. Tôi được yêu cầu tham gia “Cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản vĩ đại”.
- Có phải là vì công ty Shell đã đóng cửa chi nhánh Thượng Hải? Nói tôi nghe nào!
- Rồi, về nhà mình ăn cơm nhé?
Được nghe Winnie nói cũng là điều hay, chị ấy đã “qua khỏi” sau nhiều cuộc vận động chính trị. Vậy hẳn là chị giàu kinh nghiệm đối với tình hình hơn tôi.
- Được thôi – chị cười đáp – Hân hạnh. Đến nhà chị tôi gọi điện thoại về nhà. Hôm nay anh Henry về nhà rất trễ. Để được làm giáo sư, anh phải trả một cái giá rất đắt mỗi khi có một chiến dịch chính trị nào đó. Giáo sư luôn luôn trở thành những mục tiêu.
Henry, chồng chị, là giáo sư dạy kiến trúc ở Đại học Đồng Tế.
- Henry có gặp rắc rối gì không? - tôi băn khoăn hỏi chị.
- Tạ ơn Trời Phật, chưa – Winnie vừa đáp vừa lấy từ túi xách ra cái lược để chải đầu - Mấy người làm của chị có thể ngất đi được nếu họ thấy tôi đến ăn cơm đầu bù tóc rối như con điên.
Mặc dầu đã ngoài bốn mươi và đã có ba con, chị Winnie vẫn giữ được nét mặt thon thon và vẻ hấp dẫn trong chiếc áo ngoài kiểu “đại cán” rộng thùng thình và chiếc quần cũng rộng thùng thình. Đó là thứ y phục chị bắt buộc phải mặc khi dạy môn tiếng Anh và tiếng Latin ở trường Trung học Y tế. Sau khi tốt nghiệp khoa văn học Anh ở trường Đại học New England, chị và người chồng – Tốt nghiệp Đại học Cambridge – đã trở về Trung Hoa vào cuối thời chiến tranh Trung – Nhật. Henry được mời làm giáo sư môn kiến trúc của trường Đại học Đồng Tế và ít lâu sau thì làm khoa trưởng khoa này. Nhưng trong thời kỳ lạm phát phi mã, đồng lương của giáo sư – dù là giáo sư khoa trưởng - đâu có kịp bén gót thời giá leo thang. Để tăng thêm thu nhập cho gia đình, Winnie đã phải mở lớp dạy thêm tiếng Anh cho những người Âu đang sống ở Thượng Hải lúc bấy giờ. Thất vọng trước sự bất lực của chính quyền Quốc Dân Đảng trước những vấn đề kinh tế hậu chiến và các định chế cải cách, hai vợ chồng Winnie đã hoan hỉ đón chào chiến thắng của Cộng sản năm 1949 và coi đó là cơ hội tái lập hòa bình và ổn định.
Vào thời đó, chính quyền Quốc Dân Đảng đã bưng bít mọi tin tức về cộng sản, nên rất ít người sống ở Thượng Hải có được những hiểu biết đúng đắn về chủ nghĩa Mác, về Đảng Cộng sản Trung Hoa, về Mao Trạch Đông. Hầu hết chẳng ai biết gì về sự ngược đãi các trí thức diễn ra ở Diên An năm 1942 hay là những cuộc “săn bắt phù thủy” định kỳ diễn ra để bắt “gián điệp của Quốc Dân Đảng và của đế quốc” ngụy trang chui vào Đảng và quân đội Cộng sản Trung Hoa. Nguồn tin tức duy nhất của trí thức Trung Hoa về Đảng Cộng sản Trung Hoa lại do những bài báo lờ mờ nghèo nàn tin tức xác thực của vài ký giả hoặc nhà văn phương Tây thăm viếng chớp nhoáng vùng cộng sản chiếm đóng. Và hầu hết những ký giả và nhà văn này đều thiên tả. Họ bị ấn tượng bởi đời sống khắc khổ, kỷ luật và chỉ nhằm vào một mục tiêu duy nhất của những nhà lãnh đạo Cộng sản. Nhưng họ không có được những hiểu biết đúng đắn, sâu xa, đầy đủ về cá tính của những nhà lãnh đạo Cộng sản Trung Hoa lúc đó cũng như cái triết lý hành động của các nhà lãnh đạo này. Trong khi đó, Đảng Cộng sản đẩy mạnh tuyên truyền ngầm trong các thành thị dưới quyền kiểm soát của Quốc Dân Đảng. Nỗ lực của tuyên truyền ấy tập trung vào các điểm nhằm đoạt được chiến thắng quân sự tối hậu. Họ hứa sẽ kiến tạo hòa bình đất nước, hứa lập mặt trận đoàn kết bao gồm mọi thành phần xã hội Trung Hoa, thành lập một chính quyền dân chủ thay thế cho chính quyền thối nát, bất lực, vô năng của Quốc Dân Đảng. Người trí thức Trung Hoa sống dưới chế độ Quốc Dân Đảng lúc đó đã coi những lời lẽ tuyên truyền ấy như là những lời tuyên bố thành thật và lương thiện về đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Trung Hoa.
Sau khi quân đội Cộng sản tiến chiếm Thượng Hải, phụ nữ được khuyến khích đi làm việc ngoài xã hội. Winnie đi dạy học ở trường Trung học Y tế năm 1950. Năm sau, để thiết lập quyền kiểm soát của Đảng ở đại học, Mao Trạch Đông đã phát động cuộc vận động “cải tạo tư tưởng”. Hai vợ chồng Winnie là những người đầu tiên được “chiếu cố”, cả hai – tuy có bị tổn thương ít nhiều – cũng đã “qua khỏi”. Họ cũng đau khổ vì cái kinh nghiệm nhục nhã là phải tự phê về nguồn gốc gia đình, đã du học nước ngoài và nhân sinh quan biểu hiện qua các đồ án kiến trúc và qua phương pháp dạy học của mình. Họ cứ phải viết đi viết lại tiểu sử của mình một cách gay gắt mỗi khi các viên chức Đảng yêu cầu họ soi rọi lại bản thân mình. Hành hạ và làm nhục cho đến bầm dập, nhừ tử ra rồi, Henry còn bị đánh giá là không đáp ứng yêu cầu trong chức vụ khoa trưởng kiến trúc. Đến lúc đó, khoa kiến trúc chỉ chuyên dùng các tài liệu và kinh nghiệm của Liên Xô để giảng dạy. Những công trình kiến trúc theo truyền thống độc đáo của cả Trung Quốc lẫn của phương Tây đều bị coi là phong kiến và suy đồi.
Sau khi cuộc vận động cải tạo tư tưởng kết thúc vào năm 1951, ở tất cả mọi cấp quản lý của Đại học đều có bí thư Đảng. Các bí thư này kiểm soát tất cả mọi khía cạnh sinh hoạt và làm việc của hội đồng giảng dạy. Hầu hết các bí thư này đều ít học thức và chưa từng giảng dạy bao giờ. Vợ chồng Winnie –Henry sống trong căn nhà được chỉ định, lãnh đồng lương được quy định và làm những công việc theo yêu cầu của các bí thư Đảng. Hai vợ chồng – một cặp thanh niên - có học thức cao, hoạt động, giàu sáng tạo, đầy thiện chí và hảo cảm với chế độ cộng sản. Ấy vậy mà vẫn bị sự nghi ngờ và hành hạ trí thức của Mao Trạch Đông biến thành một cái máy dạy học. Tuy nhiên, họ vẫn còn được coi là những người may mắn. Bởi vì có rất nhiều người khác, trong khắp các đại học ở Trung Hoa lúc bấy giờ – không được như vậy. Một số bị ném vào trại lao động cải tạo, một số bị đuổi ra khỏi đại học.
Khi cuộc chiến tranh Triều Tiên chấm dứt, cuộc săn đuổi phù thủy của Mao Trạch Đông được tạm thời nới lỏng. Nhận thức được cảnh ngộ khốn khổ, khốn nạn của tầng lớp trí thức Trung Hoa lúc đó, Thủ tướng Chu Ân Lai đã cố gắng cải thiện thân phận của họ. Do hệ quả của chính sách khoan hồng, vợ chồng Winnie –Henry được cấp cho một chỗ ở khác, tương đối rộng rãi hơn, ở gần nhà tôi. Hoạt động nghề nghiệp của họ cũng ít bị gò bó hơn. Thỉnh thoảng Winnie lại tạt qua nhà tôi để đọc sách và báo chí mới mua được ở Hồng Kông và ở bên Anh thông qua văn phòng của tôi, hoặc để nghe nhạc.
Năm 1956, Mao Trạch Đông lại phát động chiến dịch “bách hoa tề phóng bách gia tranh minh” nói nôm na là trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng. Chữ “trăm nhà” ở đây hiểu theo nghĩa “Bách gia chư tử” nghĩa là các trường phái tư tưởng. Các bí thư ở các cấp, các cơ quan và ngay bản thân Mao đã khuyến khích thúc đẩy người dân cứ thành thật phê bình xây dựng Đảng Cộng sản. Tin tưởng vào sự thành thật của Đảng muốn cải thiện sự nghiệp của mình, hàng trăm ngàn trí thức, hàng triệu người dân đã thơ ngây tranh nhau đưa những than phiền chỉ trích và những gợi ý của họ. Nhưng vợ chồng Winnie-Henry đã đủ khôn ngoan để ậm à. Nhờ đó họ đã thoát khỏi bị hành hạ, ngược đãi khi Mao Trạch Đông sập bẫy vào năm 1957 và lại phát động chiến dịch tảo thanh phe hữu. Tất cả những ai đã dám đưa ra lời phê bình chiến dịch “trăm hoa đua nở” đều bị Mao gán cho là “phe hữu”. Nhiều người trong số ấy mất việc, mất chức, trở thành “phó thường dân”, thậm chí bị ném vào trại lao động cải tạo, hay bị giảm lương, bị hạ tầng công tác. Sự lừa lọc của Mao Trạch Đông khi khuyến khích thúc đẩy người dân nói thẳng, nói thật rồi sau đó trừng phạt tàn nhẫn những ai đã dại dột đáp ứng lời khuyến khích ấy, đã khiến cho giới trí thức Trung Hoa “rụt rè như gà phải cáo”. Và vì vậy đời sống văn hóa của Trung Hoa đi đến chỗ gần như đình trệ.
Khi Winnie và tôi về đến nhà, tôi chưa kịp bấm chuông thì cánh cổng đã mở ra. Lão gia bộc lo lắng đứng đó chờ tôi về. Lão nói con gái tôi gọi điện thoại về cho biết tối nay nó không ăn cơm ở nhà.
- Lão nói với anh bếp có bà Henry ở lại dùng cơm tối nay - tôi nói với lão và dắt Winnie lên lầu để đi tắm.
Lão Triệu dọn bàn cho hai chúng tôi. Bàn trải khăn trắng, thêu. Có bình hoa cẩm chướng trắng muốt.
- Anh bếp nói là bữa nay có món cá quít hấp và rau xà lách tươi, thì dọn bàn ăn như vậy được không, thưa bà? – lão gia bộc hỏi tôi vậy. Vì tôi thường được dọn bàn ăn theo kiểu truyền thống Trung Hoa hay kiểu Âu, tùy theo món ăn mua được hôm đó ở ngoài chợ.
Tôi nhìn Winnie như hỏi ý kiến và Winnie trả lời “Thế thì hay quá! Tôi vẫn thích món cá quít”.
Khi ngồi xuống bàn ăn, Winnie đưa mắt nhìn tấm tranh vẽ khuôn mặt một phụ nữ màu xanh nhạt. Tác giả bức tranh đó là Lâm Phong Miên, một họa sĩ nổi tiếng đã có thời đứng đầu Viện Nghệ thuật Hàng Châu. Bức tranh này là tác phẩm trang trí trọng tâm cho phòng ăn sơn màu trắng và xanh nhạt của tôi. Và nó cũng hòa hợp với chiếc đĩa Xuande màu xanh - trắng và chiếc bình Khang Hy bày trên kệ đặt kế bên.
- Chị biết không – Winnie nói với tôi – Lâm Phong Miên đang gặp khốn đốn nghiêm trọng.
Tôi ngạc nhiên. Tôi biết họa sĩ này bán tranh và đã kiếm được những món ngoại tệ lớn cho chính quyền nhân dân. Thật ra chính quyền đã “mua” những bức tranh này với giá rẻ mạt, rồi đem sang Hồng Kông bán lại với cái giá gấp hơn bốn năm chục lần, và lại bằng ngoại tệ. Winnie nói:
- Ông ta bị tố cáo là đề xướng hình thức nghệ thuật đồi trụy của phương Tây. Nhưng cái tội nặng hơn là tội có liên lạc với người ở nước ngoài và cung cấp tin tức tình báo cho thuyền trưởng các tàu ngoại quốc ở Thượng Hải. Những người “hoạt động” hàng xóm đã dò xét những người ngoại quốc thường đến nhà ông ta.
- Phải, vợ và con gái ông ta hiện đang ở Brazil – tôi nói - tôi biết việc các thuyền trưởng người nước ngoài thường đến nhà ông ta. Nhưng là chỉ để mua tranh.
- Nhiều họa sĩ khác cũng bị rắc rối vì vậy nữa. Giáo sư cũ của chị – bà Lung Tiểu Muội đó - cũng bị phê bình. Người ta nói là có lần bà đã vẽ một cành mai chúc xuống thay vì nhỏng lên, để ám chỉ Đảng Cộng sản Trung Hoa.
Tôi đặt nĩa xuống và nói với Winnie:
- Chúng nó điên rồi. Trong các bức họa của các danh sư cổ điển thì cành mai thường được vẽ chênh vênh bên sườn núi. Như vậy thì Lung có tự bịa đặt ra cái gì khác đâu.
- Đúng vậy, nhưng chị thì chị biết tại sao, còn các đấng đảng viên trong cơ quan có lẽ chưa bao giờ được nhìn thấy các tác phẩm của các bậc danh sư. Các đấng đảng viên phụ trách về nghệ thuật nhưng không phân biệt nổi màu nước với in thạch bản ra sao kia mà! Hầu hết số đảng viên trông coi về nghệ thuật lại chẳng biết nghệ thuật là cái quái gì.
Cuộc trò chuyện của chúng tôi về vần đề đáng buồn ấy đã làm bữa ăn của chúng tôi kém ngon đi. Chúng tôi chẳng còn cảm nhận được mùi vị thơm ngon của các thức ăn nữa.
Trong lúc uống trà, tôi đã kể lại cho Winnie cuộc mít tinh đấu tranh mà tôi vừa dự. Sau khi trầm ngâm suy nghĩ, chị nói:
- Dường như chị cũng sắp sửa bị đối xử như vợ chồng tôi, văn phòng chi nhánh hãng Shell bị đóng cửa rồi mà. Bởi vậy, họ khỏi sợ người nước ngoài nào biết chị bị đối xử ra sao.
- Chị nghĩ sao về cái mục đích của họ khi bắt tôi phải tham dự một cuộc mít tinh đấu tranh như vậy?
- Dĩ nhiên là để hù dọa, trấn áp tinh thần, khủng bố tinh thần, làm cho chị sợ.
- Tôi đâu có dễ bị hù dọa.
- Ấy, theo ý tôi, đó là điều họ không biết. Họ chỉ biết là chị giàu có, sống một đời sung sướng và trước đó chưa hề bị vướng vào một chiến dịch chính trị nào. Có lẽ họ nghĩ là dễ hù dọa chị. Nói chung họ đánh giá thấp sự can đảm của hạng người như chị em mình.
- Tại sao chị lại nghĩ là họ muốn hù dọa tôi? Để làm gì?
- Cũng khó mà nói được trong tình hình này. Dù sao chăng nữa, chị cũng cứ phải chuẩn bị để đón chịu những khó khăn sắp tới. Cứ cảnh giác và giữ mồm giữ miệng. Đừng nói cái gì hồ đồ thiếu cân nhắc kỹ lưỡng, dù có bị khiêu khích, chọc tức hay gì gì đi nữa.
- Thế còn anh chị, lúc này làm ăn xoay xở sao?
- Tụi này tả tơi, kiệt quệ rồi chị ơi. Suốt ngày, cứ hết mít tinh, họp rồi lại đến viết bích báo đại tự. Lớp học thì bị bỏ bê. Nhiều giáo sư và chuyên viên y tế bị tố. Tình hình xem chừng còn nghiêm trọng hơn cả hồi năm 1957, lúc khởi đầu chiến dịch chống phái hữu.
- Liệu anh chị có lại bị đem ra làm mục tiêu phê bình nữa không?
- Dĩ nhiên là chẳng có ai dám chắc mình có khỏi bị không. Nhưng tôi nghĩ mình đâu có gì quan trọng để đáng bị. Trong suốt 16 năm ròng rã, mình chỉ là giảng viên lèng xèng, không tăng lương, cũng chẳng thăng cấp. Tôi luôn luôn thỉnh thị sự chỉ đạo của bí thư chi bộ và chẳng dám bao giờ dám chơi sang là đưa ra sáng kiến gì ráo. Tôi cứ thi hành đúng chỉ thị, dù biết nó là sai. Trong các buổi học tập chính trị, không bao giờ tôi phát biểu. Nếu vì lý do nào đó thì tôi phát biểu y boong sách vở kinh điển hoặc lập lại ý kiến “chính thống” nghĩa là của nhóm lãnh đạo hay là của chính vị bí thư Đảng. Tôi nghĩ là cái phong cách cư xử của mình có thể được coi như là vô hại. Dù sao, nói cho cùng “càng cao danh vọng càng dày gian nan”. Chị viết: “sét đánh gãy cây cao” vậy mà đúng.
- Thế còn Henry thì sao?
- Tôi lo cho anh ấy. Tôi nghĩ anh ấy thế nào cũng sẽ bị tố là “bò” như nhiều giáo sư khác. Và có thể sẽ bị lôi ra tố lần nữa – Winnie nói buông xuôi và chị nhắm mắt lại. Thở dài.
- Tôi nghĩ anh ấy đâu có bao giờ làm cái gì khác ngoài dạy học và cũng chẳng nói gì ngoài những chuyện dạy dỗ. Thì thế đấy, anh ấy đã học được bài học rút ra từ những bè bạn bị gán là “hữu phái” của anh ấy. Nhưng anh ấy là giáo sư chính thức. Có vậy thôi. Ngoài ra, gia đình anh ấy đã rất giàu có. Và một người chị thì đang ở Đài Loan.
- Nhưng anh chị có liên lạc gì với người chị ấy bao giờ đâu. Anh chị không thư từ gì cho chị ấy mà.
- Cái đó ăn nhằm gì. Vấn đề là chị ấy đang ở đó. Và là chị của Henry. Nếu Đảng muốn đặt vấn đề ấy ra thì tụi này đành... Mà đặt ra hay không, đâu có phải mình muốn mà được.
Người lão bộc bước vào phòng châm thêm trà, và lão nói:
- Anh bếp muốn thưa với bà chuyện gì đó trước khi về nhà.
- Được, - tôi nói - bảo anh ấy cứ vào.
Cả lão bộc và anh bếp cùng bước vào.
- Phó chủ tịch “Hiệp hội công nhân hãng Shell” – ông Quí - đã đến đây lúc bà chưa về. Có nhắn tôi thưa lại với bà...
- Ông ấy nói gì? - tôi hỏi:
- Ông ấy dặn chúng tôi thưa lại với bà là phải rất cẩn thận khi nói năng với các viên chức của Đảng. Ông ấy nói là sau khi bà ra về, họ đã rất bực bội vì bà đã nói cứng quá đối với họ. Quí muốn bà biết là các viên chức của Đảng bực bà lắm đó.
- Quí là người tốt – lão gia bộc chép miệng, nói chen vào.
- Người tốt? Giá lão được thấy ông ta tố Đào Phương trong cuộc mít tinh đấu tranh thì chắc lão sẽ không nói vậy nữa.
- Ông ta không thể làm sao khác hơn được, ông ta bị bắt buộc phải nói ra những điều người ta muốn ông ta nói. Nếu không phải người tốt thì tội vạ gì ông ta cất công đến đây để báo trước cho bà biết vậy - Lão gia bộc ra sức để bênh vực Quí.
- Lão có lý. Tôi sẽ nhớ, để cẩn thận hơn. Đúng, ông Quí là người tốt, đã mất công đến báo cho tôi biết vậy. Cám ơn cả anh bếp và lão bộc vì đã nói lại cho tôi hay.
Khi họ ra khỏi phòng ăn, Winnie nói:
- Họ nói đúng đấy. Chị phải cẩn thận. Chống lại những người trực tiếp phụ trách về mình trong cuộc vận động chính trị thì chỉ có thiệt thôi. Họ có quyền tuyệt đối để quyết định số phận của mình. Nếu họ tống chị vào trại cải tạo là chị phải vào.
- Làm sao họ lại có thể tống tôi vô trại cải tạo được kia, Winnie? – tôi nói - tôi đâu có làm việc cho nhà nước? Hơn thế nữa, tôi đâu có phạm luật?
- Đừng ngây thơ! Nếu họ muốn thì họ có thể tống chị vào trại lao động cải tạo. Dễ dàng, chị làm gì được họ. Đi kiện? Toà nào xử? Chị sống ở đây, và chị không thể rời khỏi nước này! Có khác gì cá chậu chim lồng? Chị chỉ có một lợi điểm khi không làm việc cho chính quyền là họ không thể cắt lương của chị. Thế thôi.
Winnie đứng lên, ra về. Tôi đưa chị ra đến tận cổng.
- Sao năm qua, lúc văn phòng Shell đóng cửa, chị không đi Hồng Kông cho rồi? - Winnie hỏi tôi.
- Làm sao tôi có thể làm như vậy được – tôi đáp – ông Tổng quản lý rất cần tôi trong thời gian thương lượng. Khi mọi sự đều được nói bằng tiếng Hoa mà ông ta lại không biết. Tôi không thể bỏ đi để ông ta ở lại một mình như thế được. Hãng Shell đã đối đãi với tôi quá tốt, quá hậu. Tôi không thể bỏ rơi họ trong lúc họ cần đến tôi như vậy.
- Mong rằng họ đánh giá đúng được cái ý thức trách nhiệm của chị. Nhưng bây giờ dù có muốn, họ cũng chẳng giúp đỡ gì cho chị được nữa. Lẽ ra chị phải ra đi mới phải.
- Tôi mong là chị và Henry cũng tai qua nạn khỏi sau chiến dịch này như anh chị đã qua khỏi sau các chiến dịch trước đây, chiến dịch chống phe hữu đó.
- Đôi lúc tôi linh cảm thật sự về một tai họa – Winnie buồn bã nói - Cứ nghĩ đến tất cả những năm tháng đã qua mình phải vật lộn để sống còn, tôi thấy kinh sợ.
Chúng tôi đứng ở phía ngoài cổng để từ biệt nhau. Đi được vài bước Winnie quay lại và nói với tôi:
- Có thể tôi sẽ không trở lại thăm chị cho đến khi tình hình sáng sủa hơn. Cứ gọi điện thoại cho tôi, nếu chị cần tôi.
- Tôi hiểu, chị cũng nên cẩn thận giữ mình đấy.
- Chị cũng vậy! - và Winnie khoát tay chào từ biệt.
Sau khi đóng cửa, tôi quay vào trong nhà. Trời không có mây. Hàng ngàn ngôi sao lấp lánh trên nền trời. Một đêm mùa hạ đẹp. Cảm thấy mệt mỏi và chán nản, tôi vào phòng, sửa soạn đi ngủ. Con gái tôi về trong lúc tôi đang nằm trên giường, thao thức và có cảm tưởng những hình ảnh trong ngày đang lần lượt hiện ra trước mắt tôi.
- Má ơi, má à! - Con gái tôi vừa nhảy hai bậc thang một vừa la gọi tôi. Nó đã đến tuổi cập kê rồi chứ đâu ít? Tôi lên tiếng để nó biết tôi đang ở trong phòng ngủ. Vú già đi theo nó vào phòng, tay bưng ly sữa và bánh săng uých.
- Hay quá! Con đang đói rã ruột ra nè! Từ sáng đến giờ con đã được ăn gì đâu. - Nó cầm ly sữa, uống. Tôi nhìn mấy ngón tay nó, thấy dính mực.
- Coi, mấy ngón tay con kìa! Con ăn uống mà tay vẫn còn dính mực thế kia kìa. Con đã hai mươi ba tuổi đầu rồi chứ còn nhỏ bé gì nữa. Ngày xưa con gái bằng con ấy hả? Đã chồng con cả rồi – Bà vú cằn nhằn nó. Bà đã ở với chúng tôi từ lúc nó còn nhỏ xíu. Bà chiều nó hết sức.
- Dạ, mà bây giờ đâu phải ngày xưa nữa đâu, vú? Mấy bà già xưa, eo ôi! Mai Bình - tên con gái tôi – vui vẻ phản đối bà vú nhưng vẫn đứng lên vào phòng tắm rửa tay.
Bà vú đặt khay bánh lên bàn và ra khỏi phòng. Bà nói với tôi:
- Bà chủ đừng lo, lão bộc, anh bếp và tôi. Lúc nào chúng tôi cũng ủng hộ bà chủ.
- Cám ơn vú! Cám ơn sự quan tâm của vú, lão bộc và của anh bếp, vú cũng nói lại với mấy người kia đừng lo gì hết. - Tôi trả lời bà vú và trong lòng hết sức cảm động vì tấm lòng của họ.
- Chúng tôi lo lắng cho bà là vì thấy bà trơ trọi có một mình. Tôi mong giá ông chủ vẫn còn sống đến giờ thì có phải là....
Bà vú thì thầm nói với tôi và khép cửa đi ra.
Bà vú đúng là vẫn sống theo lối xưa, trong thời kỳ có khó khăn lộn xộn, bà cứ tin vào khả năng ưu thế của đàn ông. Thật ra, nằm trên giường trong căn phòng mờ tối này, tôi cũng đang nghĩ đến nhà tôi trước khi con gái tôi về. Lần đầu tiên kể từ ngày nhà tôi mất, tôi không thấy tiếc vì anh ấy đã mất, trái lại xem đó là may cho anh ấy. Nhờ vậy, anh ấy không bị sỉ nhục, bị ngược đãi, chứ nếu anh ấy còn sống thì chắc chắn không thể nào thoát khỏi.
Cửa phòng tắm đóng và nước chảy ào ào nên con gái tôi không nghe thấy câu chuyện trao đổi giữa tôi và bà vú.
Mai Bình – con gái tôi - là một thanh nữ đẹp, hấp dẫn, thông minh. Lớn lên trong một nước Trung Hoa Cộng sản, tất nhiên nó phải hiểu là cái xã hội trong đó con cái những nhà giàu có được hưởng nhiều lợi điểm đã không còn nữa. Thay vào cái xã hội ấy chẳng phải là một xã hội bình đẳng, trong đó mọi người đều có cơ may và quy chế như nhau, mà là một hệ thống kỳ thị mới nhằm chống lại những đứa trẻ như nó và gia đình nó. Trong mỗi giai đoạn cuộc đời trẻ trung của mình, nó đều bị cái nguồn gốc gia đình gây trở ngại khó khăn. Chẳng hạn, để được đậu vào trường trung học tốt tốt một chút thì nó phải đạt điểm 80 trong khi những con cái công nhân chỉ cần 60 thì cũng đủ.
“Làm như vậy là bất công”, - bực bội vì thấy con mình bị kỳ thị như vậy, tôi đã phải kêu lên thế. “Vì lý do gì mà lại có sự phân biệt đối xử bất công như vậy?”
“Đừng lo, má à. Con sẽ đạt điểm 80. Có gì khó!” – Đó, con gái tôi, năm nó 12 tuổi – đã trả lời tôi như vậy khi tôi bực bội vì sự kỳ thị mà nó phải chịu. Và tôi vẫn còn bực bội, nên đã nói: “Sự bất công dù thế nào đi chăng nữa cũng vẫn là sự bất công!”
“Nhưng má ơi, các thầy nói là mấy đứa con nhà công nhân, nông dân sau khi đi học về còn phải làm việc nhà, nấu cơm. Rồi ba má nó lại không thể chỉ, dạy thêm cho nó. Cho nên, nếu má nhìn sự việc theo quan điểm đó thì má sẽ thấy cái quy định mà con phải chịu không còn bất công nữa”. A, thế là con gái tôi đã được triết lý ngay từ lúc nó còn bé kia đấy!
Sự kỳ thị bất công này theo đuổi con gái tôi trong mọi lãnh vực mà nó phải thi thố. Mỗi khi đụng chạm đến vấn đề thi thố, nó đều được người ta làm cho phải có mặc cảm tội lỗi và phải lấy làm hổ thẹn vì cái nguồn gốc gia đình của mình. Con gái tôi - cũng như những đứa trẻ khác cùng hoàn cảnh – đều phải phấn đấu nhiều hơn gấp bội so với những đứa trẻ của gia đình công nhân hoặc nông dân. Ngay từ lúc còn nhỏ xíu nó đã được dạy cho biết rằng xã hội “vô giai cấp” của chế độ Cộng sản thật ra lại phân chia thành “tầng lớp” hay “đẳng cấp” một cách khắc nghiệt hơn hệ thống tư bản mà họ đã khinh miệt. Ở xã hội Tư bản, bằng những nỗ lực cá nhân, một người ở đẳng cấp thấp vẫn có thể vươn lên tới đẳng cấp cấp cao. Con gái tôi sở dĩ thi đậu vào được trường đó vì nó đã phải phấn đấu gấp bội. Ở trường nữ Trung học số 2 khá nổi tiếng của thành phố, con gái tôi là một học sinh xuất sắc và đoạt được nhiều giải thưởng. Dường như nó đã may mắn thích ứng được. Nó có nhiều bè bạn, trong số đó có nhiều đứa là con gia đình lao động. Mặc dù bản tính nó hòa ái và rộng rãi, hào phóng, nhưng tôi vẫn nghĩ là chính vì cái mặc cảm tội lỗi – do sự tuyên truyền Cộng sản bằng lối lập luận cho rằng người giàu, sở dĩ giàu là do áp bức bóc lột người nghèo – đã khiến con gái tôi thấy muốn giúp đỡ các bạn nghèo của nó. Nó thường rủ những bạn này về nhà để chia sẻ phần ăn của mình giúp đỡ bạn học tập, và thậm chí đến tận nhà bạn để giúp bạn làm việc vặt. Trong khi tôi thấy những việc làm ấy của nó là đáng khen ngợi, đáng khuyến khích thì bà vú Trần của nó lại phản đối kịch liệt, nhất là khi nó lấy quần áo của nó cho bạn mượn, đến khi mặc dơ thì đem về cho bà vú giặt.
Từ lúc còn nhỏ xíu, nó đã tỏ ra thích thú môn âm nhạc. Chúng tôi mua cho nó một chiếc piano và thu xếp để nó giờ học đàn sau các buổi học văn hóa ở trường. Năm lên mười tuổi nó đã là thành viên của cung thiếu nhi Thượng Hải, một loại câu lạc bộ đặc biệt, tuyển chọn dành cho các học sinh đạt điểm tốt trong học tập và có phẩm hạnh tốt. Ở đó, nó được vui chơi và tham gia các hoạt động âm nhạc. Biết hai thứ tiếng nên nó đã là thông dịch viên mỗi khi có khách ngoại quốc nói tiếng Anh đến thăm cung thiếu nhi. Trong thời gian chúng tôi ở Úc, nó đã được tập bơi từ lúc chập chững biết đi nên nó đã là huấn luyện viên “nghiệp dư” về bơi lội trong lớp nó. Năm 15 tuổi nó đã được hội vận động viên tuyển chọn cho tập luyện trong câu lạc bộ bơi thuyền Thượng Hải. Và nó đã được chọn cầm lái trong đội bơi thuyền nữ đầu tiên của Thượng Hải.
Mặc dầu sống trong một thời buổi đầy những xáo trộn và náo loạn chính trị và phải buồn khổ vì số phận bi thảm của một số bạn bè thân quen, nhưng chưa bao giờ tôi phải lo lắng cho số phận của con gái tôi. Tôi coi chuyện đương nhiên khi nó được theo học ở một trường đại học tốt, và sau khi tốt nghiệp sẽ có công ăn việc làm tốt, bởi vì nó đã đạt điểm cao, và nó sẽ có một người chồng xứng đáng. Có thể là đồng lương của nó chẳng đủ sống – nhất là khi có gia đình – nhưng tôi sẽ trợ cấp cho nó như thói quen rất tốt lành của các gia đình Trung Hoa.
Tôi hy vọng sau khi tốt nghiệp nó sẽ có việc làm ở ngay Thượng Hải để nó được ở nhà. Nhưng, tôi chắc chắn được điều này. Tôi biết, một thanh niên có gốc gác gia đình như nó thường bị cố ý đẩy đi làm việc ở một nơi xa xôi, điều kiện sinh sống lạc hậu và nghèo nàn cùng cực. Điều này đã xảy ra cho vài đứa con của bạn tôi. Nhìn con gái tôi, từ đứa bé dần dần lớn lên thành một thanh nữ mơn mởn xinh đẹp, tôi tự hỏi tương lai sẽ dành cho nó cái gì? Dù sao trong những lúc lạc quan, tôi vẫn ước mơ được biến cái lầu hai căn nhà tôi một “hộ” cho vợ chồng con cái nó. Cái viễn tượng được ôm ấp, nuôi dưỡng cháu ngoại đã làm cho tôi tràn ngập nỗi sảng khoái. Tôi nhìn vào tương lai màu hồng trong mơ và cảm thấy được sự ấm áp của một tạo vật nhỏ bé - đứa cháu ngoại - mà tôi bồng ẵm trong tay.
Tôi lấy làm ngạc nhiên khi con gái tôi cho biết hai diễn viên điện ảnh nổi tiếng và là giảng viên của trường điện ảnh Thượng Hải đã gợi ý nó phấn đấu dự thi đạt danh hiệu “tài năng”. Tôi thấy rõ nó cảm thấy hãnh diện vì đã được tuyển chọn. Nhưng tôi lại muốn khác với nó. Tôi muốn nó có sự nghiệp qua đó năng lực tinh thần của nó được triển khai hơn là những đóng góp về mặt vật chất.
- Trường điện ảnh ở trên đường Hồng Kiều, gần câu lạc bộ và sân gôn cũ. Con hy vọng cuối tuần có thể về nhà dễ dàng. Hai giảng viên đó nói là tất cả những học viên tốt nghiệp sẽ được phân công tác tại xưởng phim Thượng Hải. Hiện thời nhà trường là một chi nhánh của xưởng phim. Xưởng sẽ phái những chuyên viên có tài phát hiện mầm non đi khắp nước tuyển sinh. Sẽ rất gay vì con số thi vào sẽ rất lớn mà con số học viên lại rất hạn chế. Và vì ai cũng muốn ở Thượng Hải cả.
- Thế con muốn làm một tài tử điện ảnh thật sao?
- Con không có ý nói vậy. Nhưng nếu con thi thì con có thể đậu, không khó lắm - Đó là cái cách phản ứng của con gái tôi trước bất cứ vấn đề gì.
- À, mà chắc chắn là con thi thì dễ đậu thôi. Nhưng thực sự thì con muốn làm gì? – Tôi tin rằng đó là điều quan trọng. Vì theo tôi, để được hạnh phúc, ta phải được làm và làm được cái công việc ta muốn làm.
- A, con chưa bao giờ nghĩ là con thực sự muốn làm gì. Con không quen nghĩ như vậy khi con biết là chính quyền sẽ chỉ định công tác cho con. Nghĩ về cái điều mình thực sự muốn làm chỉ thêm buồn nản và thất vọng. Bạn bè của con chẳng ai nghĩ như vậy cả. Con sẽ cố để tìm niềm vui trong các công tác mà chính quyền sẽ phân cho con. Nếu con cố gắng đủ để làm công tác ấy cho tốt thì có lẽ cuối cùng con sẽ thấy thích công việc ấy.
Tôi cho là thái độ của con gái tôi chỉ là do hoàn cảnh. Nhưng liệu một người được phân công tác suốt đời là đêm đêm vác đất thì có thể nào yêu được cái nghề vác đất bằng cách dồn hết sức lực để làm công việc ấy không nhỉ?
- Thế con đã quyết định thi vào trường ấy chưa?
- Dạ, nếu má chấp thuận. Các thầy cô cũng đã chính thức nói với con. Khó mà nói không mà lại chẳng tỏ ra không ưa thích. Ngoài ra con cũng thấy ưa thích với cái ý tưởng được làm việc ở Thưọng Hải. Con không thích rời xa má, để má sống một mình ở đây rồi cả năm mới được vài ngày về ở với má vào tết Nguyên Đán.
- Đúng vậy đó con. Đó nhất định phải là điểm quan trọng mà ta phải xét tới. Má cũng rất không muốn con phải đi xa tít mù tắp đến cái xứ hóc bà tó nào đó để làm việc.
Và nó đã theo học trường điện ảnh. Ba năm sau, tốt nghiệp và được phân công tác ở xưởng phim Thượng Hải do Văn phòng điện ảnh của Bộ Văn hóa điều hành.
Diễn viên điện ảnh là một nghề hấp dẫn lắm, ngay cả ở nước Trung Hoa Cộng sản. Nhưng những người làm việc ở đó chẳng nhận được đồng lương cao hoặc điều kiện làm việc tốt hơn một công nhân xí nghiệp hay một giáo viên cùng trạc tuổi. Chức năng của một nữ diễn viên trước tiên là giúp cho quần chúng giải trí bởi vậy ngoài việc đóng phim, người diễn viên ấy chủ yếu là phải đến các cơ quan, xí nghiệp – dù là xí nghiệp, cơ quan đó là một hầm mỏ ở nơi heo hút, xa xôi nào đó trên đất nước Trung Hoa – để trình diễn cho công nhân nông dân xem.
Đó là một đời sống cực khổ. Nhưng nó lại nghĩ rằng nhờ vậy kinh nghiệm sẽ làm cho sự hiểu biết của nó thêm phong phú, cũng như kiến thức về “dân tôi, nước tôi” thêm sâu sắc. Và nó tin như thế là phục vụ, vì đã góp phần giải trí cho người dân. Theo con gái tôi thì đó là môt lối sống có ý nghĩa cao đẹp.
Đang khi tóp tép nhai bánh săng uých, nó kể lại cho tôi biến cố ngày hôm đó tại xưởng phim của nó:
- Suốt ngày con viết báo cáo đại tự cho cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản vĩ đại. Người ta nói rằng viết báo cáo đại tự càng nhiều bao nhiêu thì càng bày tỏ được nhiệt tình cách mạng bấy nhiêu. Bởi vậy ai nấy viết, viết, viết miết, cho đến khi tất cả những chỗ nào dán được thì cũng đều có báo đại tự dán kín hết.
- Có phải vì vậy mà trưa nay con không về nhà ăn cơm phải không?
- Chúng con nhịn cơm trưa và cơm tối luôn, để bày tỏ nhiệt tình cách mạng. Hiện thời ai cũng đói meo, nhưng chẳng ai dám là người đầu tiên bỏ ra về.
- Thế con viết cái gì?
- Khẩu hiệu và tố cáo những người bị quy cho là “bò” và tất cả những kẻ thù của Trung Hoa như Đài Loan, Nhật Bản, Anh, Mỹ và cả Liên Xô nữa.
- Làm thế nào để con biết viết về cái gì? Hay là con cứ phịa ra?
- Thì cũng có người phịa ra. Nhưng con nghĩ làm vậy rất nguy hiểm. Hầu hết tụi con đều lấy tài liệu từ ban lãnh đạo. Con tập trung vào kẻ thù nước ngoài. Ban lãnh đạo cho phép con làm vậy, vì họ nghĩ là con ra đời ở nước ngoài, nên con biết nhiều về nước ngoài. Con đâu biết gì về cuộc sống của những người bị tố cáo. Mà con cũng không muốn nói láo hay là nói bóng, nói gió, nói xiên, nói xéo. Những diễn viên lớn tuổi hơn, các giám đốc, thư ký ... đều phải viết bản tự phê. Một số lớn những người này bị tố. Thỉnh thoảng họ lại bị những người “hoạt động” lôi ra đấu trong các cuộc mít tinh đấu tranh hoặc bị để đầu trần, bắt đứng hay quỳ ở giữa trời nắng.
- Thật khủng khiếp!
- Dạ, khủng khiếp thật! Cũng rất tội nghiệp cho họ. Con nghe nói hầu hết trong đám ấy là kẻ thù của Giang Thanh ngày xưa. Con nghe nói là Mao Chủ tịch đã trao cho bà vợ toàn quyền để hoành hành trong số người làm nghệ thuật.
- Hình như mụ ta đang cho trình diễn một vở nhạc kịch theo kiểu tân thức ở sân khấu Bắc Kinh mà, phải không?
- Dạ, hình như lúc bà ấy bất đồng gì đó với Ban lãnh đạo Bộ Văn hóa. Tuy nhiên con nghe nói là tất cả diễn viên nào có tài năng và nổi tiếng hơn bà ấy ngày xưa, lúc bà ấy còn là diễn viên ở Thượng Hải, đều đang chuẩn bị khăn gói để vô trại lao động cải tạo. Người ta nói là bà ấy rất độc ác và hay ganh tài. Tốt hơn hết là đừng nói đến bà ta.
- Tất nhiên là phải dè dặt vậy đó. Bây giờ mụ ấy là đệ nhất phu nhân Trung Hoa. Tại sao mụ ấy lại chĩa vào một số ít các nữ diễn viên lớn tuổi vậy?
- Có lẽ họ là người biết rõ cái quá khứ của bà ta. Người ta nói là trước khi đi Diên An và lấy Mao Chủ tịch, bà ta đã có cả đống nhân tình và cả mấy đời chồng nữa.
- Thì Mao Chủ tịch cũng có cả đống vợ chứ kém gì. Làm sao mụ lại không có nhiều chồng được kia chứ. Mụ cũng ưa làm rùm beng như mấy cô đào hát bên Hollywood vậy – tôi cười - Con được giáo dục theo truyền thống Trung Hoa nên con có cái quan niệm thanh khiết chủ nghĩa về những vấn đề như vậy. Riêng con, con nghĩ sao? Con có thể bị phê bình như vậy không?
- Má kỳ quá hà. Cá nhân con chẳng có gì là quan trọng. Con chỉ là một phần tử bé tẻo teo của quần chúng. Dĩ nhiên cái gốc gác gia đình của con và việc con ra ở nước ngoài đều có thể bị lôi ra phê bình. Cũng may là con ra đời ở Úc chứ nếu ở Anh hay ở Mỹ thì chưa biết sao à.
- Tất nhiên là không ai có thể nói Úc là một nước đế quốc.
- Dạ, trong xưởng phim, hầu hết mọi người vẫn cứ nghĩ Úc là một thuộc địa của người Anh và người dân ở đó vẫn còn bị áp bức. Họ đâu biết dân Úc cũng là dân Anh thứ thiệt, chỉ có những con kangaru mới là dân bản xứ.
Con gái tôi cười vui vẻ.
Nó ăn bánh xong và đứng dậy đi vào phòng riêng. Thình lình nó quay ra hỏi:
- Cả ngày hôm nay má làm gì?
- Má được mời đi dự một buổi mít tinh để tố khổ một cựu trưởng ban kế toán của văn phòng hãng ngày trước. Hình như chính má cũng phải tham gia Cách mạng Văn hóa. Và má có thể bị trở thành mục tiêu tấn công nữa là khác.
- Trời đất! Như thế thì nguy lắm. Sao nãy giờ má không nói cho con hay trước.
Mai Bình rõ ràng là rất xúc động về điều mà tôi vừa cho nó biết. Nó lại ngồi xuống và yêu cầu tôi kể lại hết đầu đuôi cho nó nghe. Sau khi tôi kể lại những gì tôi phải trải qua trong ngày, nó tỏ ra hết sức lo lắng. Nó hỏi:
- Từ trước tới giờ văn phòng của má làm ăn đàng hoàng chứ? Có làm gì lươn lẹo hay là sai trái không?
- Không, dĩ nhiên là không bao giờ!
- Tại sao họ lại lựa ông kế toán trưởng? Hay là ông ta vi phạm cái gì trong vấn đề qui định ngoại tệ? Hay là hãng của má không trả thuế?
- Hãng trả thuế đàng hoàng, đầy đủ và đúng luật. Tất nhiên là hãng cực kỳ cẩn thận tuân thủ các qui định về ngoại tệ.
Hai mẹ con tôi đều lo lắng bối rối, nhưng đều đồng ý là có lo lắng cũng vô ích. Tôi hối thúc nó đi ngủ. Nó cứ đứng lại, im lặng một lúc lâu rồi chào tôi và đi ngủ. Dường như chỉ trong một chốc lát đó thôi mà nó thay đổi hẳn, già dặn hẳn so với lúc mới bước chân vào phòng này, nó chỉ là cô gái nhí nhảnh, vô tư.
Tôi tắt đèn, nhưng vẫn tỉnh như sáo. Tôi nghĩ cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản cũng là một kinh nghiệm đầu tiên của con gái tôi về một cuộc vận động chính trị. Tôi tự hỏi không hiểu sau này, cuộc vận động ấy sẽ tác động vào nó ra sao. Lát sau, cửa phòng ngủ của tôi nhè nhẹ mở. Tôi bật đèn lên.
- Má à, con không tài nào ngủ được. Con xuống dưới nhà dạo vài bài đàn, nghe? - Mai Bình mặc quần áo ngủ, đứng giữa cửa hỏi tôi vậy.
- Để má cùng đi xuống với con.
Fluffy, con mèo Ba Tư thật bự của Mai Bình đang làm gì đó huỳnh huỵch trên mái nhà. Khi thấy chúng tôi nó kêu meo meo đòi vào. Tôi mở cửa cho Mai Bình đi ra ôm nó. Nó đặt Fluffy xuống, mở nắp đàn piano ra và gõ vài nốt. Nó quay lại hỏi tôi:
- Má muốn con chơi bài nào?
- Gì cũng được, xin miễn đừng nhạc Cách mạng là được!
Nó bắt đầu chơi bản dạ khúc của Chopin và ghé vào tai tôi thì thầm “vậy, nhé!”
Tôi gật đầu. Con mèo vươn ra khỏi chân Mai Bình ở dưới cây đàn.
Đó là khung cảnh một gia đình an vui đầm ấm. Nhưng trong không khí đã thấp thoáng bóng dáng của sự đe dọa.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 2: SỰ YÊN TĨNH TRƯỚC CƠN BÃO TÁP


Những tuần lễ sau buổi mít tinh lần đầu tiên, tôi bị mấy người bữa trước đến thẩm vấn nhiều lần. Nội dung cũng chẳng khác với lần thứ nhất là mấy. Khi thì họ bảo tôi cung cấp danh sách tên những người Mỹ và người Âu mà tôi quen biết cùng với chức vụ của họ. Khi thì họ yêu cầu tôi cho biết những hoạt động của văn phòng chúng tôi. Nhưng khi trao cho họ những trang giấy tôi đã viết, họ chỉ liếc sơ qua. Trong khi thúc đẩy tôi phải tố chủ nhân cũ của tôi, họ lại chẳng hỏi tôi một vấn đề cụ thể nào về công ty. Không khi nào họ vượt quá những lời nói bóng gió là hãng Shell đã làm một cái gì đó sai trái và rằng trong tất cả những tội ác ấy tôi đều có dự phần. Thật ra, tôi có cảm tưởng là họ trì hoãn để có thêm thời gian, xin chỉ thị của cấp trên, trước khi tiến xa hơn, sự trì trệ các hoạt động của chiến dịch là do cuộc đấu tranh gay gắt giữa các nhà lãnh đạo của Đảng, một bí ẩn vượt quá tầm hiểu biết của tôi cũng như của dân tộc Trung Hoa. Điểm tranh luận là ai sẽ lãnh đạo cuộc Cách mạng Văn hoá: guồng máy của Đảng hay nhóm người đặc biệt theo Mao, được Mao chỉ định làm Chủ tịch ủy ban.
Về sau này mới được tiết lộ là vào đầu khoảng tháng 8, tại cuộc họp của Ủy ban Trung ương, Mao đã viết bích báo đại tự nhan đề là “Năm phát đạn thần công bắn vào Bộ tư lệnh”. Qua đó ông ta kịch liệt tố cáo guồng máy chính quyền (đứng đầu là Lưu Thiếu Kỳ, Chủ tịch nước) và Ban Bí Thư Trung Ương Đảng (đứng đầu là Đặng Tiểu Bình, Tổng bí thư). Nội dung của các cáo giác ấy cho biết đó là những Bộ tư lệnh của giai cấp tư sản Trung Hoa bởi vì – theo lời ông ta – các bộ phận này đã thực thi những chính sách bảo vệ và phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản. Đó là lời tố cáo nặng nề và gây xúc động nhằm chống lại guồng máy Đảng và tổ chức chính quyền của Trung Hoa cộng sản. Sở dĩ Mao có thể tố cáo chống lại Lưu và Đặng vì ông đã kiểm soát được quân lực thông qua người được ông ta bảo trợ là Lâm Bưu, Bộ trưởng Quốc phòng. Trong hoàn cảnh đó, nhằm cố gắng vớt vát lại địa vị của mình, Lưu Thiếu Kỳ đã đưa ra một bản tự phê có tính cách hình thức trong đó nói rằng chính sách kinh tế của ông ta cho phép người nông dân có một mảnh ruộng tư và một hình thức thị trường tự do là để đáp ứng nhu cầu của người dân thành thị. Chính sách đã khuyến khích sự phục hồi Chủ nghĩa Tư bản ở Trung Hoa và là bước thụt lùi trên đường xây dựng Xã hội Chủ nghĩa. Có lẽ Lưu Thiếu Kỳ tin rằng khi chấp nhận như vậy, ông ta đã giữ thể diện cho Mao. Sự thật thì chính sách kinh tế của Lưu đã cứu nước Trung Hoa khỏi sự sụp đổ về kinh tế sau sự thất bại thảm hại của Bước Nhảy Vọt vĩ đại của Mao năm 1958-60. Tuy nhiên, sự chấp nhận ấy của Lưu đã mau chóng tỏ ra là một chiến thuật sai lầm đã khiến ông ta ở vào thế rất bất lợi và mở đường cho những người theo Mao đẩy mạnh cuộc tấn công nhằm vào chính ông ta và những người theo ông ta trong guồng máy chính quyền.
Thắng lợi của Mao tại cuộc họp Ủy ban Trung Ương Đảng là quyền lãnh đạo của Cách mạng Văn hóa được trao cho một ủy ban đặc biệt gồm những người cánh tả theo Mao. Lần lần, cả guồng máy chính quyền lẫn guồng máy Đảng bị tê liệt vì sự tấn công của các Vệ binh đỏ và các người cách mạng. Và ủy ban này đã trở thành cơ quan chính quyền cao nhất. Các thành viên của ủy ban này – trong đó có bà vợ của Mao là Giang Thanh – hành xử những quyền đặc biệt. Và tất cả được bầu vào Bộ Chính Trị. Trong suốt những năm diễn ra cuộc Cách mạng Văn hoá. Giang Thanh đã dùng cái địa vị là vợ của Mao để trở thành người phát ngôn và đại diện cho Mao để truyền đạt các lệnh và ý kiến được coi là của Mao nhưng thật ra trong nhiều trường hợp chỉ là xuất phát từ chính bà ta. Là một người đàn bà đầy tham vọng và tàn nhẫn mà bị đứng chầu rìa bên ngoài đời sống chính trị của Trung Hoa cả mấy thập niên, nay nắm được quyền nên Giang Thanh không tha cho bất cứ sự chống đối nào dù là có thật hay tưởng tượng. Hàng trăm hàng ngàn các viên chức Đảng, văn nhân, nghệ sĩ, các nhà khoa học và ngay cả thường dân rơi vào trong cái bóng sự nghi ngờ của bà ta thì đều bị bà ta hành hạ tàn nhẫn. Một số rất lớn những người đó đã bỏ mạng bởi những tay chân thân tín của bà ta. Trong cuộc họp của Ủy Ban Trung Ương Đảng vào tháng 8 năm đó, Lâm Bưu đã nổi bật lên như một người tích cực nhiệt tình ủng hộ Mao. Lời tán tụng Mao qua bản thông báo kết thúc hội nghị đăng tải báo chí, Lâm Bưu đã gọi Mao là “người Mác-xít vĩ đại nhất đang sống trong thời đại chúng ta” và hàm cái ý đặt Mao lên trên các nhà lãnh đạo Liên Xô – kể cả Stalin – và là người kế tục chân chính của Lênin. Trong suốt mười năm diễn ra cuộc Cách mạng Văn hoá – kể cả khi Lâm Bưu bị thất sủng – danh hiệu ghê gớm ấy vẫn được những người theo Mao duy trì.
Một hôm, chỉ ít lâu sau khi bản thông báo kết thúc hội nghị của Ủy ban trung ương Đảng Cộng Sản Trung Hoa được phổ biến, ông Hồ, một người bạn của nhà tôi – đã đến thăm tôi. Theo truyền thống Trung Hoa, tình bạn của người chồng không bao gồm người vợ trong đó. Bởi vậy khi người chồng chết thì bạn của chồng sẽ không đến nhà nữa. Cho nên kể từ khi nhà tôi mất thì bạn bè của anh ấy không lui tới nhà tôi như khi anh ấy còn sanh tiền. Chỉ riêng có ông Hồ thì hàng năm vào tết Nguyên Đán vẫn đến thăm xã giao gia đình tôi. Và ông ta cũng chỉ lưu lại giây lát, hỏi thăm con tôi và tôi, đồng thời chúc sức khỏe và hạnh phúc trong năm mới. Ông thường nhắc đến ông nhà tôi, nói rằng rất quý mến và lấy làm vinh hạnh được làm bạn với ông nhà tôi. Rồi ông ra về, để lại phong bì nhỏ đựng tiền “lì xì” cho đám gia nhân trong nhà. Đó là tục lệ cổ mà chỉ những người theo lối xưa mới còn giữ sau khi Cộng sản nắm chính quyền ở Trung Hoa. Tôi cũng lấy làm thích thú về sự viếng thăm của ông và nghĩ ông tuy nệ cổ một cách ngộ nghĩnh nhưng là người có tình cảm dễ thương.
Khi được lão bộc báo tin ông tới thăm – bất ngờ và không phải ngày tết – tôi ngạc nhiên. Nhưng vẫn bảo lão bộc mời ông ta vào phòng khách, rót nước mời.
Ông Hồ, trước giải phóng, là chủ nhân một hãng sơn. Sản phẩm của ông nổi tiếng trong nước, được xuất khẩu sang Hồng Kông và các nước Đông Nam Á. Sau khi quân đội tiếp quản Thượng Hải, ông vẫn tiếp tục sản xuất dưới sự giám sát của chính quyền Cộng sản. Năm 1956, trong cuộc vận động “xã hội hoá các xí nghiệp Tư bản” – theo đó tất cả các nhà tư sản hàng năm sẽ được hưởng bảy phần trăm định mức trị giá tài sản của họ và hưởng trong mười năm – trị giá tài sản theo sự đánh giá của nhà nước chỉ là một phần nhỏ giá trị thực sự của tài sản, nhưng các nhà tư bản không có sự lựa chọn nào khác hơn là chấp nhận. Nhờ có kỹ năng, tay nghề cao, ông Hồ vẫn được ở lại làm việc ngay tại xí nghiệp của mình với tư cách là kỹ sư trưởng và trợ lý Giám đốc cho viên chức Đảng tiếp quản xí nghiệp.
Là người thấm nhuần Nho học, ông Hồ không hề bị ảnh hưởng văn hoá phương Tây. Ông viết chữ Hán rất đẹp. Trong ngôn ngữ thông thường của ông vẫn còn đầy những trích cú trong văn chương cổ điển Trung Hoa. Ông chẳng thấy có gì phải buồn bực trước thái độ bài ngoại của Cộng sản. Bởi vì sự hiểu biết và sự quan tâm của ông chưa bao giờ vượt quá biên giới Trung Hoa. Nói chung là ông không khó khăn gì nhiều trong các chiến dịch chính trị. Bởi vì các viên chức Đảng ít nghi ngờ những người như ông Hồ – tức là những người không có mối liên hệ nào với người ngoại quốc – cho bằng những người đã du học ở nước ngoài. Cái thái độ “triết lý” của ông trước sự mất sản nghiệp và sự sẵn sàng chấp nhận một địa vị thấp kém ngay trong xí nghiệp của mình đã làm cho tôi phải kinh ngạc. Đã có lần ông nhà tôi nói với tôi là trong lúc hầu hết các nhà tư sản khác đã bị các viên chức Đảng tiếp quản xí nghiệp làm khó làm dễ đủ thứ thì ông Hồ lại tạo được một quan hệ thân hữu với Bí thư Đảng được chỉ định đứng đầu xí nghiệp của ông.
- Tôi nghe tin bà bị gặp rắc rối trong chiến dịch chính trị mới nhất này, tức là cuộc Cách mạng Văn hoá vô sản vĩ đại, tôi tự hỏi không biết bà tự đối phó như thế nào, - ông Hồ nói để giải thích lý do ông đến thăm tôi.
- Gay go lắm. Tôi sợ. Văn phòng hãng Shell chi nhánh Thượng Hải hiện đang bị điều tra. Và tôi cũng bị thẩm vấn. Tôi cũng đã phải tham dự một cuộc mít tinh đấu tố ông cựu trưởng ban kế toán của công ty. Những người thẩm vấn tôi có nói xa nói gần đến những hoạt động bất hợp qui nào đó của xí nghiệp. Nhưng họ chưa nói rõ là họ muốn nhắm cái gì. Tôi thật sự bối rối. Tôi chưa hề dính dáng đến một phong trào chính trị nào trước đây.
Lão bộc bưng vào phòng cho chúng tôi bộ đồ uống trà kiểu Trung Hoa đẹp nhất của tôi và một khay nhỏ đựng bánh mà tôi vẫn thường dành cho những ông bà bạn người Anh hoặc người Úc nào của tôi vẫn giữ được cái thú thưởng thức bữa trà buổi chiều. Dọn ra những món này là lão bộc có ý trọng đãi ông Hồ lắm lắm đấy. Khi lão vừa đặt khay lên bàn bên cạnh ghế tràng kỷ thì chuông điện thoại reo, lão đi nghe điện thoại và quay trở lại ngay lập tức và nói: “Cũng chính mấy cái nguời hôm nọ. Họ yêu cầu bà đến đó ngay lập tức để thẩm vấn”.
- Nói với họ tôi đang bận. Ngày mai tôi sẽ đến.
Lão bộc đi ra. Tôi nghe lão nói gì đó trong điện thoại và có vẻ như biện giải gì đó dữ lắm. Rồi lão lại trở lại và nói:
- Họ nhấn mạnh bà phải đến ngay lập tức. Họ nói là rất quan trọng.
Ông Hồ chen vào và nói với tôi:
- Xin lỗi bà, cho phép tôi hỏi: ai gọi điện thoại đó? Nếu đó là nhân vật quan trọng thì xin đừng vì tôi đang ở đây mà bà không tới đó.
- Thì cũng vẫn mấy cái ông viên chức Đảng đang thẩm vấn tôi đó, chứ ai!
- Ồ, thế thì bà phải đi ngay. Làm sao mà bà có thể từ chối, không đến khi họ đã gọi bà! Xin bà gấp gấp lại đó đi. Tôi sẽ ở lại đây chờ. Tôi muốn biết rõ hơn về tình hình của bà hiện nay. Chính vì cái mối thâm tình của ông nhà đối với tôi mà tôi muốn được giúp bà một vài ý kiến. Tôi coi đó là nghĩa vụ của tôi đối với ông nhà. Tôi biết, bà không có kinh nghiệm để đối phó với những người này. Chúng nó khốn nạn và hèn hạ lắm. Nhưng bà không nên chống lại bọn chúng – ông Hồ nói và tỏ ra hết sức lo lắng.
Tôi lấy làm sung sướng khi biết ông ta vui lòng chờ. Bởi vì, tôi rất muốn nghe những gì ông ta nói về cuộc Cách mạng Văn hóa và về cuộc họp của Ủy ban Trung ương Đảng vừa rồi. Tôi ra đi lúc mới hơn bốn giờ chiều một chút mà mãi đến tám giờ tối mới về đến nhà, ông Hồ vẫn còn đó chờ tôi. Khi tôi vào đến nhà, ông Hồ mới ra khỏi phòng khách đón chào tôi về. Trên khuôn mặt ông lộ vẻ vừa sung sướng vừa lo lắng.
- Xin lỗi, tôi để ông phải chờ lâu.
- Bà ngồi xuống và nghỉ đi rồi hãy nói cho tôi biết sự thể ra sao!
Lão bộc bưng vào cho tôi một ly trà nóng. Vừa nhấm nháp ly trà tôi vừa kể lại cho ông Hồ nghe cuộc thẩm vấn.
Thêm vào hai người cũ, có một người mới. Có lẽ là cấp trên của hai người kia. Có lẽ để gây ấn tượng cho người mới kia, hai người cũ tỏ ra “hắc” hơn mọi khi. Thoạt khi tôi vừa bước vào phòng, một trong hai người nghiêm giọng hỏi:
- Tại sao lúc nãy chị không muốn tới ?
- Tôi bận. Các ông mới gọi điện thoại cho tôi sáng nay mà!
Mấy lần trước, một trong hai người chỉ tay vào cái ghế và bảo tôi ngồi xuống. Nhưng hôm nay sao họ cứ để cho tôi đứng.
- Chúng tôi không tổ chức một bữa tiệc mà là đang tiến hành một cuộc thẩm vấn. Bởi vậy, bất cứ khi nào chúng tôi cần hỏi thì chị phải đến ngay. - Hắn nói vậy, kèm theo một cái nhếch mép khinh bỉ. Và tôi quyết định, họ không mời cũng cứ ngồi xuống.
- Nhìn vào cái danh sách mấy người bạn ngoại quốc của mày đây này! Sao mà nhiều bạn ngoại quốc quá vậy? Chắc mày phải khoái tụi nó lắm, mê văn hoá của tụi nó lắm?
Hắn nhìn tôi với cái kiểu cách như hạch tội. Rồi hắn tiếp:
- Mày nói bọn chúng đều thân thiện với nước và dân Trung Hoa. Một vài đứa trong số đó đã sinh đẻ ở đây hoặc hồi nhỏ đã sống ở đây. Và có đứa đã khâm phục văn hoá Trung Hoa và còn nói được cả tiếng Hoa nữa. Vậy là trong số này có đứa đã có tổ tiên làm giàu bằng buôn bán thuốc phiện. Chúng đã chiếm hữu các nhà máy, xí nghiệp, kho tàng, ghe tàu và mọi thứ khác nữa trên đất Trung Hoa này. Bây giờ chúng mất sạch những thứ đó. Vậy thì làm sao chúng cảm thấy thân hữu với chính quyền nhân dân Trung Hoa được kia chứ? Ờ, có thể là chúng khoái Trung Hoa khi bọn Quốc Dân Đảng còn ở đây kia, khi mà chúng còn tha hồ bóc lột nhân dân Trung Hoa, khi mà chúng còn được thả dàn thu góp của cải của nhân dân Trung Hoa. Nhưng bây giờ thì khỏi, vĩnh viễn chúng không thể “khoái” Trung Hoa được nữa. Mày nói là mấy thằng cha ngoại giao nước ngoài nó cảm thấy hữu nghị với Trung Hoa. Cái đó mới lại là kỳ quái hơn. Bọn ngoại giao chỉ là bọn gián điệp được chính quyền của tụi nó phái đến đây thu lượm tin tức chống lại ta, làm sao chúng lại thân hữu với ta được? Dù có sơn son thiếp vàng lên mặt chúng cũng không thể biến chúng thành Phật từ bi được. Dứt khoát chúng là kẻ thù của ta. Vậy mà chúng lại là bạn của mày. Như vậy, đã rõ là mày đứng về phía nào, chứ còn gì nữa?
- Tôi quen biết mấy người này chẳng phải vì tôi cố tình chạy theo làm quen, làm thân với họ. Tôi gặp và quen họ – hầu hết – là trong thời gian ông nhà tôi lúc còn sinh thời làm ở bộ ngoại giao.
- Văn phòng chi nhánh Bộ Ngoại Giao ở Thượng Hải dưới thời bọn Quốc Dân Đảng! Thằng chồng mày là viên chức cao cấp của chính quyền phản động Quốc Dân Đảng và về sau nó làm tổng quản lý cho một xí nghiệp tư bản ngoại quốc. - Hắn nói, giọng chế nhạo – cái nghề của thằng chồng có ra cái chó gì đâu mà tự hào.
- Ông nhà tôi làm tổng quản lý cho công ty Shell ở Thượng Hải là có sự thỏa thuận của Bộ Công – Thương nghiệp của chính quyền nhân dân chứ đâu phải khơi khơi. Còn về việc ông nhà tôi làm viên chức của chính quyền Quốc Dân Đảng, thì ông thấy đấy, năm 1949, nhà tôi đã ở lại Thượng Hải chứ đâu có chạy sang Đài Loan theo Quốc Dân Đảng. Vậy không đủ chứng tỏ ông nhà tôi ủng hộ cuộc Cách mạng của cộng sản và hoan nghênh chính quyền nhân dân hay sao?
- Có nhiều lý do khiến hắn ở lại. Ta sẽ xét đến vấn đề này sau. Bây giờ tao muốn là mày tố bọn đế quốc Anh và tự thú tất cả những gì mà mày đã làm cho hãng Shell với tư cách là một nhân viên trung thành của nó.
- Tất cả những gì tôi đã làm thì đều đúng luật pháp và quy định của chính quyền nhân dân, - tôi nói, giọng nhấn mạnh.
Người mới đến không nói một tiếng nào, cứ ngồi hút thuốc liên miên làm cho căn phòng sặc sụa mùi khói thuốc. Hắn ta vất mẩu thuốc xuống sàn và lấy gót chân nghiền ra. Hắn nhìn trừng trừng vào tôi mấy giây như để đe dọa tôi trước khi hắn cất tiếng nói:
- Chị đã sống hoàn toàn không có gì chê trách chứ? Cả đời sống chung đụng với bọn ngoại quốc, nhất là bọn Anh, chị có dám nói là chị không bao giờ làm hoặc nói điều gì không đúng chứ?
- Tôi có làm hoặc nói điều gì sai quấy hay không thì chưa biết. Nhưng điều tôi chắc chắn là tôi không làm điều gì chống lại chính quyền nhân dân – Tôi nói một cách mạnh dạn như vậy.
- Có hay không làm gì chống lại chính quyền nhân dân thì chúng tôi sẽ xét sau. Nhưng ít nhất chị cũng nhận là có thể chị đã làm hoặc nói điều gì sai quấy.
- Phi lý, tôi không hề nhận một điều như vậy.
Tôi thấy hình như người mới đến này tinh khôn xảo quyệt hơn hai người cũ. Hắn nói một cách điềm đạm chứ không la lối dọa nạt, nhưng tôi dám chắc là hắn tìm cơ hội để gài bẫy tôi. Bây giờ, hắn đổi đề tài bằng cách yêu cầu tôi viết bản tóm tắt các hoạt động văn phòng của tôi. Tôi đã nói vắn tắt về công việc của tôi ở văn phòng. Khi tôi nói xong, hắn nói:
- Những điều chị vừa nói với chúng tôi đúng y những gì chị đã viết.
Tôi tin là chị đã cố gắng nhớ lại những gì chị đã viết. Sao lại phải cẩn thận vậy?
- Thì những gì tôi nói và những gì tôi viết là giống nhau bởi vì đó là những sự kiện có thật, dù tôi có nói với các ông bao nhiêu cũng vậy thôi.
Cảm thấy cuộc thẩm vấn này còn kéo dài và tôi nghĩ đến ông Hồ đang đợi tôi ở nhà, nên tôi xem giờ ở đồng hồ đeo tay.
- Chị vội về hả. Có lẽ chị thấy cuộc nói chuyện này làm cho chị không dễ chịu? - Người mới đến khoái chí cố xoay lời nói và tình hình cho hợp với ý đồ của mình.
- Tôi nghĩ là các ông mất thì giờ thôi – tôi nói.
- Chị khỏi phải lo cho chúng tôi mất thì giờ. Chúng tôi có đủ kiên nhẫn. Chúng tôi, Đảng Cộng Sản, đã mất hai mươi hai năm để lật đổ bọn Quốc Dân Đảng mà. Nhưng, cuối cùng chúng tôi đã thành công. Khi mục tiêu đã đề ra, chúng tôi theo đuổi cho đến cùng.
Im lặng chết người đè nặng căn phòng. Chúng tôi cũng đi đến ngõ cụt.
Thình lình, cái người đã nói trong cuộc mít tinh đấu tố đã giở lại cái trò “cổ điển” của hắn là la lối, dọa nạt:
- Chúng tao đâu có để cho mày về như thế được, mày phải liệt kê những gì mày đã làm, đã nói đúng, sai, chứng tỏ mày đã thành thật thay đổi quan điểm. Nếu không, hậu quả dành cho mày sẽ nghiêm trọng. Chúng tao biết khá chắc mày là tên “gián điệp” của bọn Anh!
Từ đầu không có người nào trong bọn nói tới cái từ gián điệp. Cho đến lúc đó, họ chỉ nói bóng gió vậy thôi. Có lẽ là do nổi nóng nên hắn đã vượt quá chỉ thị. Vì vậy hai nguời kia liếc nhìn hắn một cách ngạc nhiên.
Tôi cười trước sự tức giận của hắn và bình thản nói:
- Ông lầm rồi. Nếu tôi có là “gián điệp” thì cũng không “gián điệp” nhiều hơn mấy ông đâu.
Người mới đến vội nói:
- Có lẽ có những điều chị đã làm hay đã nói mà chị không kịp nhớ ra ngay bây giờ. Chị cứ về nhà suy nghĩ thêm đi. Chị cứ viết tất cả những gì chị đã làm đã nói bất kể là tầm thường, nhỏ bé, vô nghĩa. Chúng tôi để cho chị có đủ thì giờ. Khoảng hai tuần lễ, liệu đủ không?
- Hai năm thì cũng vậy thôi. Tôi không có ý bịa đặt điều gì.
- Thôi được, cứ hai tuần đi. Phải nhìn nhận sự sai lầm thì kể ra cũng đau khổ thật đấy. Lãnh tụ vĩ đại của chúng ta đã so sánh sự tự thú như một cuộc giải phẫu. Giải phẫu thì hẳn phải bị đau rồi nhưng phải có vậy thì ta mới trở thành con người mới, lành bệnh, chắc chị muốn là một công dân tốt của một nước Xã hội Chủ nghĩa chứ, phải không? Nếu vậy thì chị không nên tụt lại đàng sau những người khác. Chúng tôi muốn chị tự thú không phải vì chúng tôi chưa biết những sự việc đâu, mà vì chúng tôi muốn dành cho chị một cơ may để tỏ ra thành thật.
Tôi muốn nói với hắn là hắn là một thằng điên. Nhưng tôi kịp nín và im lặng. Hi vọng để khỏi kéo dài cuộc đối thoại vô nghĩa lý này mãi.
Hắn coi sự im lặng của tôi như một dấu hiệu tôi sẵn lòng làm cái điều hắn muốn, vì vậy, hắn để tôi ra về, và nói;
- Thôi, đã trễ rồi. Chị về nhà suy nghĩ về những gì mà tôi vừa nói.
- Hai tuần sau, chúng tôi sẽ mời chị.
Tôi giận sôi lên và thấy căm phẫn. Tôi bước ra khỏi tòa nhà. Ngoài đường không còn một cái xích lô nào. Đứng đợi xe buýt thật lâu mà chẳng có. Tôi đi bộ về nhà.
Ông Hồ lặng im ngồi nghe tôi kể. Lão bộc bước vào và mời chúng tôi đi ăn cơm. Anh bếp đã nấu những món ăn Tàu thật ngon vì anh ta biết ông Hồ không thích món ăn Tây. Trong lúc ăn, chúng tôi không nói gì về cái đề tài khó chịu là cuộc Cách mạng Văn hóa mà chỉ đàm luận về công việc của đứa con gái tôi và của đám con cái ông Hồ. Cả tôi lẫn ông Hồ đều hãnh diện và hài lòng vì con cái mình cũng đã hòa hợp được với Trung Hoa Xã hội Chủ nghĩa mặc cái gốc gác gia đình của chúng.
Khi cả hai chúng tôi lại ngồi vào phòng khách, tôi hỏi ông Hồ về vấn đề vẫn canh cánh trong lòng trong lúc tôi bị thẩm vấn:
- Mấy người này đã khiến tôi có cái cảm tưởng là họ muốn tôi tự thú, kể cả việc tôi bịa đặt ra cũng được. Thế nghĩa là gì, để làm gì?
- À, vậy đó. Trong lúc họ thẩm vấn, họ muốn chị tự thú càng nhiều càng tốt và không quan tâm đến những điều chị thú nhận có đúng hay không. Sau này họ mới xét đến cái đó.
- Nhưng, làm thế để làm gì? Thế họ không rối tinh rối mù lên nếu ai ai cũng tự thú bịa đặt ra như vậy?
- Bắt người khác tự thú là công việc chủ yếu của họ. Nếu họ không bắt buộc người khác tự thú là họ sẽ bị coi là không tích cực với phong trào. Kết quả là hễ khi nào có một cuộc vận động chính trị diễn ra thì sẽ có nhiều người bị qui vào thành phần đối tượng của cuộc vận động, và do đó có nhiều lời tự thú. Sau đó, những náo động của phong trào sẽ lắng chìm khi đã “phân loại” xong. Sau đó, nếu có một vài sai lầm nào đó thì … sửa sai, phục hồi!
- Phải đợi bao lâu mới được phục hồi?
- Có thể là hai năm sau. Có thể là chẳng bao giờ. Cứ mỗi một chiến dịch như vậy thì mỗi cơ quan phải có từ ba đến năm phần trăm nhân viên bị coi là “kẻ thù” nghĩa là đối tượng của chiến dịch. Đó là con số mà Mao Chủ tịch đã nói tới trong một bài phát biểu của ông ta.
- Dễ sợ!
- Phải, quá tệ, đúng là quá tệ! Thật ra thì làm gì có một tỉ lệ người dân cao như vậy dám chống lại chính quyền nhân dân. Nhưng, phải đạt chỉ tiêu! Và ở mỗi cơ quan các viên chức Đảng thường đưa những người mà họ không ưa – vì những người này ưa “nhiều chuyện” ưa “bất bình” về những sai quấy của các vị này – vào danh sách “kẻ thù”. Nhưng chớ có bao giờ tự thú tầm bậy tầm bạ, tự thú “đại đi cho rồi”, dù có bị áp lực đến thế nào đi nữa cũng chớ có tự thú ẩu.
Ông Hồ nói điều này một cách hết sức nghiêm túc và nhấn mạnh. Ông ta nhìn đăm đăm vào tôi như thể muốn cho tôi lĩnh hội hết sức tầm quan trọng của điều mà ông ta vừa nói. Rồi, ông ta nói tiếp:
- Tôi luôn luôn theo đúng sách đó trong bất cứ cuộc vận động chính trị nào.
Tôi hiểu đây chính là lời khuyên chủ yếu mà ông muốn nói với tôi. Và ông ta không nói huỵch toẹt ra là “bà chớ có bao giờ tự thú ẩu, dù bị áp lực đến thế nào cũng vậy”, vì, trong những gia đình khá giả mà có lập gia nhân đầy tớ thì trong đám đó thế nào cũng có những đứa được “huấn luyện đặc biệt” để ghé tai lắng nghe, nhất là khi nhà có khách. Ông Hồ không muốn lão bộc nghe thấy ông nói với tôi là đừng có tự thú. Ông ta là người cẩn thận và không hoàn toàn tin một ai.
- Có những khi một người đã tới mức chịu đựng cuối cùng rồi, không chịu được nữa nên thôi đành, đồng thời bị khích, bị thúc đẩy phải viết đại ra một cái gì đó, dù là không có thể để làm thỏa mãn các người thẩm vấn “cho nó rồi đi” để khỏi bị hành hạ, tra tấn gây sức ép hơn nữa. Nhưng như thế là bắt đầu chui đầu vào thòng lọng đấy. Bởi vì những người thẩm vấn không bao giờ thỏa mãn với lời khai của mình hết. Một khi đã bắt đầu khai hoặc tự thú, họ sẽ tiếp tục làm tới, tới nữa, mình sẽ nhận tội thêm, thêm nữa kể cả những tội mình không có. Và những người thẩm vấn cứ làm tới nữa cho đến khi họ đạt được cái họ muốn. Cuối cùng nạn nhân sẽ bị rối mù lên và không còn phân biệt gì được là thực với hư, hư với thực nữa. Tôi đã thấy nhiều người bị như vậy.
Ông Hồ vẫn cứ nói theo cái kiểu “người ta” chứ ông vẫn không nói thẳng ra với tôi là “bà chớ có khai ẩu”.
Lời khuyên của ông thật đúng lúc và rất có giá trị. Tôi cám ơn ông đã không ngại khó, cất công tới nhà tôi. Và chỉ do cái lòng ông quí mến đối với chồng tôi mà ông đã đưa tay ra cứu vớt tôi. Khi ông nghĩ là tôi hiểu cái điều đã khiến ông phải đến để nói với tôi thì ông quay ra nói một cách chung chung các chiến dịch, các cuộc vận động chính trị. Ông nói ông là một tay “lọc lõi đầy kinh nghiệm” qua những chiến dịch vận động ấy và ông đã học được bài học ấy nhờ những kinh nghiệm cay đắng mới biết cách để đối phó.
- Thế ông nghĩ sao về bản thông cáo chung của cuộc họp Ủy ban trung ương vừa rồi?.
Ông Hồ lắc đầu, thở dài. Một lát sau ông mới nói:
- Chủ tịch Mao đã thắng. Điều đó cũng chẳng phải là bất ngờ gì. - Và ông nói tiếp: - giai đoạn mở đầu một cuộc vận động bao giờ cũng là một giai đoạn đáng sợ nhất. Cơn cuồng phong kéo dài vài tháng mới giảm xung lượng và thường phải mất một năm mới êm dịu trở lại.
- Một năm kia à? Một thời gian quá dài!
Ông Hồ mỉm cười vì sự bực tức của tôi và nói:
- Đối với người Trung Hoa chúng ta thì một năm nào có nghĩa lý gì. Nó chỉ là một cái nháy mắt của một lịch sử bao nhiêu ngàn năm của chúng ta mà thôi. Thời gian đối với chúng ta không mang cùng một ý nghĩa như đối với người Âu. Và người Âu thì bà biết quá rõ.
- Tôi bị tố là gián điệp bởi vì họ nghĩ là tôi biết người Anh nhiều.
- Họ kết bà vào cái tội làm gián điệp thật ra đó chỉ là một cái cớ, để lừa bịp đám quần chúng vậy thôi. Sớm muộn gì thì họ cũng sẽ “đụng” đến tất cả những ai mà họ không tin. Và bây giờ họ thấy là thời gian thuận tiện để “giải quyết” bà vậy thôi.
Ông Hồ đứng dậy để ra về và nói tôi cứ điện thoại cho ông ta bất cứ khi nào tôi muốn gặp để nói cho cặn kẽ hơn. Như một lời khuyên cuối cùng, ông nói với tôi:
- Hầu hết mọi viên chức Đảng ở cấp thấp đều có mặc cảm tự ti. Mặc dù họ có quyền hơn mình thật đấy nhưng tự trong đáy lòng, họ vẫn cảm thấy họ thấp kém. Ấy, tai họa là ở chỗ đó. Bởi chính vì vậy mà họ cảm thấy phải tự khẳng định bằng cách dùng quyền thế của họ, đặng làm cho cuộc đời mình khốn đốn hoặc làm nhục mình. Khi bị thẩm vấn, bà cứ vững tâm. Nhưng nói năng, cử chỉ phải lễ độ. Đừng có chống lại họ. Nhất là đừng có chọc giận họ. Họ rất đê tiện, hằn học và thù dai. Họ cũng rất độc ác, tàn nhẫn.
- Khổ nỗi, tính tôi lại không khúm núm, quỵ lụy được. Nhưng cám ơn ông đã cho tôi biết như vậy. Tôi sẽ nhớ kỹ điều này. - Tôi cứ mải mê với vấn đề của mình đến nỗi tới lúc đó tôi mới hỏi đến những vấn đề của ông ta. Ông Hồ đã nói một cách bình thản và nhẫn nhục:
- Tôi đã gia nhập hàng ngũ những người lao động. Một người khác đã được chỉ định thay thế vào chỗ cũ của tôi. Khi trình lá đơn từ chức cho ông bí thư chi bộ, tôi nói là với cái nguồn gốc tư sản của tôi, tôi cảm thấy không thích hợp với địa vị lãnh đạo xí nghiệp – Cái suy nghĩ phải trở thành một người lao động tạp dịch ngay trong xí nghiệp của chính mình đã làm cho tôi kinh hoảng. Nhưng, đối với ông thì đó chẳng phải là điều chua chát:
- Như thế cũng chưa phải là tệ lắm đâu, thưa bà. Bên Liên Xô, khi Đảng Cộng sản nắm chính quyền thì hình như tất cả các nhà tư sản đều bị xử bắn hết ráo. Ấy vậy mà ở đây, tôi vẫn còn được sống để trông nom đám con cháu mình. Tôi đã xin ông bí thư chi bộ, cho tôi một chân lao động tạp dịch, không cần đến một tí chuyên môn nào. Ấy thế là tôi được làm cu li, đẩy xe chở nguyên liệu hoặc chở than, chẳng ai ghen ghét và tranh giành với một người làm cái công việc ấy. Bà biết không, khi tôi xin được công việc ấy, ông bí thư chi bộ đã hết sức ái ngại với tôi. Ấy chính vì vậy giữa ông ta và tôi vẫn thuận thảo, không có vấn đề gì.
Tôi nhớ lại ông nhà tôi đã có lần nói với tôi cái lý do ông Hồ và ông bí thư chi bộ thuận thảo với nhau được. Ấy là nhờ việc thì ông Hồ làm, mà thành tích công lao thì ông bí thư chi bộ hưởng. Xí nghiệp của họ mỗi năm đã được lãnh cờ khen thưởng thành tích quản lý tốt, năng suất cao.
- Có nghĩa là ông làm hết mọi việc cho ông ta?
- Phải, phải, tôi cho là tôi làm hết mọi việc. Tôi đã mất gần cả đời người để xây dựng cái xí nghiệp của tôi. Năm 1930 khi mới bắt đầu, tôi chỉ có vài ba người làm. Đến năm 1956, lúc tôi hiến cho nhà nước thì xí nghiệp có cả phòng thí nghiệm và cũng là trung tâm đào tạo các chuyên gia trẻ.
- Sao ông lại xin đi làm cu li như vậy? Với những hiểu biết và kinh nghiệm của ông thì chắc chắn là ông sẽ giúp ích nhiều hơn là ông làm cu li chứ?
- Làm cu li trong thời buổi này không phải là tệ đâu, thưa bà! Là cu li, mình ở ngoài nhà máy thì mình còn được yên thân trong cái chòi lá của mình. Nếu trong xí nghiệp có xảy ra cái gì thì cũng chẳng ai tố cáo mình là cố ý phá hoại nhà máy, thiết bị. Trong bất cứ một cuộc vận động chính trị hay chiến dịch nào thì cái anh cựu tư sản cũng là đứng đầu trong danh sách những người bị nghi ngờ. Và mọi người thì sợ tái xanh tái xám đi – Sau khi đưa ra nhận định khôn ngoan ấy, ông ta ra về. Khi bắt tay tôi, ông còn nói thêm:
- Ăn theo thuở, ở theo thì, thưa bà. Có thế mới sống được. Nếu trời cho còn sống, ta có thể thấy được sự thay đổi ở đất nước này.
Nhìn vào cái thái độ của đám gia nhân và những món ăn mà họ đã dọn ra mời ông Hồ, tôi hiểu là họ rất hoan nghênh cuộc viếng thăm của ông ta. Khi tôi lên lầu để vào phòng ngủ, bà vú đã làm giường sẵn cho tôi rồi. Bà đã nghe không sót một lời khuyên nào của ông Hồ mà – theo như lời bà vú – ông ta là một người bạn chân thành và là người đàng hoàng. Bà khuyên tôi nên nghe lời ông ta.
Được nói chuyện với người mà mình có cảm tình thì mình cũng cảm thấy thoải mái. Lúc này tôi lại càng cương quyết hơn bao giờ hết, nhất định không viết một điều gì bịa đặt để thỏa mãn yêu cầu của các ông đảng viên kia.
Được mấy ngày khỏi phải nghe mấy ông đảng viên hạch hỏi, tôi thấy nhẹ nhõm và lấy lại tinh thần. Sinh nhật của con gái tôi là ngày 18 tháng 8. Tôi quyết định làm một bữa tiệc nhỏ để mừng dịp này, đồng thời để xua tan cái bóng u ám đang bao phủ gia đình tôi. Tôi bảo con gái tôi mời một số ít bè bạn của nó. Tôi gọi điện thoại cho Lý Chân, một người bạn lâu năm của tôi và mời chị ấy đến tham dự.
Lần đầu tiên tôi gặp Lý Chân là vào mùa thu năm 1953, lúc tôi đến Luân Đôn với tư cách là một du học sinh. Chị ấy vừa tốt nghiệp ở Nhạc viện Hoàng gia. Ít lâu sau, chị lập gia đình với một viên chức trong chính quyền Trung Hoa và theo ông về nước. Chị lại dạy âm nhạc ở chính ngôi trường mà xưa kia chị đã theo học, tức là Nhạc viện Thượng Hải, và chị đã làm chủ nhiệm khoa dương cầm. Tô Lôi, chồng của chị, là con của một thương gia giàu có ở Hồng Kông. Ông ta đã theo học ở các trường trung và đại học có khuynh hướng tự do. Ông ta rất ghét cái không khí thuộc địa ở Hồng Kông, nơi ông ta sinh trưởng. Thêm vào đó, những sách báo với những bài vở nồng nhiệt tán dương một xã hội mới kiểu xô viết, do các ký giả và văn nhân nổi tiếng viết ra, lúc đó đang tràn ngập các đại học bên Anh đã tác động rất mạnh đến tâm trí Tô Lôi. Ông ta trở nên một người theo chủ nghĩa ái quốc cuồng nhiệt và đồng thời cũng tin vào chủ nghĩa Mác.
Khi quân đội tiến vào thành phố Thượng Hải, Tô Lôi đã hớn hở tuyên bố một thời đại mới đã mở ra, đất nước đã hồi sinh và một chính quyền lương hảo đã xuất hiện như bình minh của Trung Hoa. Ông ta không chịu đi theo Quốc Dân Đảng sang Đài Loan. Đồng thời còn khuyến dụ bạn bè đừng đi, và ông đã nồng nhiệt nghênh đón những người cộng sản đến tiếp quản thành phố Thượng Hải. Năm 1950, trong cuộc vận động cải tạo tư tưởng ở đại học, bà vợ của ông ta mất chức chủ nhiệm khoa dương cầm ở Nhạc viện. Tô Lôi ngạc nhiên khi thấy người thay thế vợ mình là một đảng viên nhưng chẳng biết tí gì về âm nhạc. Năm 1935, tai họa giáng xuống khi Mao Trạch Đông mở màn chiến dịch “Tam phản ngũ phản” nhằm chống tệ tham nhũng, hối lộ và đối tượng là những nhà công nghiệp và các viên chức, như Tô Lôi đã làm việc trong các địa hạt kinh tế của chính quyền Quốc Dân Đảng. Mặc dù là người rất trong sạch, Tô Lôi vẫn cứ bị là một mục tiêu của chiến dịch. Ông ta bị giam lỏng tại cơ quan và các viên chức đảng đã thay phiên nhau thẩm vấn ông ta. Và một cuộc mít tinh được tổ chức để đấu tố ông ta nữa.
Người như Tô Lôi thật không thể nào hiểu nổi đối với người Cộng sản Trung Hoa vốn là những người nghèo và bị áp bức. Tuy nhiên vì cuộc chiến tranh Triều Tiên và bị Hoa Kỳ “tẩy chay” nên chính quyền nhân dân phải tìm cách giao thương với Hồng Kông. Những thân nhân giàu có của Tô Lôi ở cái thuộc địa của Anh này đã lợi dụng cơ hội ấy để thương lượng với Bắc Kinh, đặng “vớt” ông khỏi Thượng Hải để đi Hồng Kông. Và Bắc Kinh đã chấp thuận yêu cầu của thân nhân ông ta.
Hụt không trừng phạt nặng nề ông con trai nhà giàu này – giàu nứt đố đổ vách mà lại dám chơi sang bằng cái vỏ mác xít – các viên chức cộng sản ở Thượng Hải bèn chơi khăm: cho ông chồng và hai đứa con đi, chị vợ ở lại, lấy cớ là “rất cần thiết cho Nhạc Viện Thượng Hải”. Thế là Lý Chân chẳng bao giờ được gặp lại chồng lúc ông ta còn sống. Mãi đến khi ông ta chết – năm 1957 – và nhờ sự tương đối nới lỏng hơn do Đại Hội 8 của Đảng vào năm 1956, nên Lý Chân đã được phép đi Hồng Kông cho đến năm 1960 thì chị được mời trở lại Nhạc viện Thượng Hải, một nơi chị rất quyến luyến. Trong khi hai đứa con của chị đi theo chú nó sang bên Úc.
Lý Chân trở về Thượng Hải khi thành phố này đang lâm vào tình trạng khan hiếm lương thực trầm trọng, một hậu quả thê thảm sự thất bại của “Bước Đại Nhảy Vọt” do Mao Trạch Đông phát động vào năm 1958. Từ lúc tờ mờ sáng, những hàng người nối dài chầu chực trước Ty Công An Thượng Hải để xin xuất cảnh. Tình hình đó làm cho nhà cầm quyền Thượng Hải bối rối. Cho nên, sự kiện Lý Chân rời bỏ đất Hồng Kông no ấm, giàu sang để trở về với Thượng Hải đang sắp chết đói đã là cơ hội bằng vàng để nhà cầm quyền tuyên truyền. Tôi đọc tin chị trở về đăng trên báo, một điều đặc biệt hiếm có. Thông thường, báo chí đăng tin những cuộc thăm viếng của các nhân vật quan trọng và cao cấp trong Đảng, hoặc của các chính khách ngoại quốc nổi tiếng. Nhà cầm quyền Thượng Hải đã “thổi” chị lên như một người yêu nước. Và chị được chỉ định làm ủy viên trong Hội đồng Tư vấn Chính trị của thành phố, một tổ chức gồm nhiều người được nhà cầm quyền Cộng sản chọn lựa trong đám các văn nhân nghệ sĩ, các lãnh đạo tôn giáo, các nhà doanh nghiệp nổi tiếng, các viên chức Quốc Dân Đảng vang bóng một thời. Đám người này chịu nhận làm cái loa lên tiếng ủng hộ tất cả các đường lối chính sách của Cộng sản. Đồng thời, trước mắt những người cùng giới và nhất là trước dư luận ngoại quốc, đó là điển hình cho sự ủng hộ và đoàn kết rộng rãi của mọi tầng lớp quần chúng đối với các đường lối chính sách của Đảng. Để đổi lại, nhà cầm quyền cũng thí cho đám người này chút ân huệ. Chẳng hạn như được cấp một căn nhà tương đối rộng rãi, được cấp phiếu để ăn ở các nhà hàng đặc biệt.
Nhà cầm quyền Cộng sản chỉ ưu đãi những người nào họ xét ra còn xài được – chẳng phải là xài cái tài năng của người ấy như họ vẫn thường rêu rao, mà chỉ vì tác dụng tuyên truyền của người đó. Sáu năm trước đó, Lý Chân đã từng bỏ Hồng Kông no ấm để trở về với Thượng Hải đang gặp khó khăn nghiêm trọng về kinh tế và đang thiếu lương thực trầm trọng, Lý Chân có tác dụng tuyên truyền, cho nên Lý Chân được đưa vào làm thành viên của Hội đồng Tư vấn Chính trị. Nhưng nay, tác dụng tuyên truyền của chị đã hết. Ngoài ra, Đảng chỉ thích “xài” những người chỉ biết mù quáng tuân phục và ca ngợi các đường lối chính sách – bất kể đường lối chính sách nào – của Đảng. Và, Lý Chân đã không đáp ứng được hai yêu cầu đó. Chị cảm thấy bực bội vì cứ phải tham dự các buổi họp nhàm chán. Người ta trông chờ chị lên tiếng ca ngợi chính sách giáo dục và âm nhạc của Mao thì chị lại im lặng! Chị chẳng thấy hứng khởi gì trong cái vai trò ủy viên của Hội đồng Tư vấn Chính trị. Tất cả những thái độ đó của chị đã làm cho các viên chức Đảng nổi giận.
Tất cả những ý nghĩ trên đây cuồn cuộn tuôn ra trong trí não tôi khi tôi điện thoại cho chị. Tôi lấy làm vui thích khi chị Lý Chân đã mau mắn nhận lời mời của tôi.
Sáng hôm kỷ niệm sinh nhật con gái tôi, tôi dậy sớm. Tuy vậy, bà vú cũng đã đi rồi. Là một phật tử sùng tín, hôm đó, bà đến chùa Thanh An để đặc biệt cầu nguyện cho Mai Bình mà bà rất thương mến. Nghĩ rằng, là một người theo đạo Tin lành nên tôi sẽ không thích cho bà đi lễ chùa, bà cũng “lén” tôi. Bà đi từ sáng sớm và lặng lẽ khi trở về, hy vọng tôi không biết bà vắng nhà. Thực ra tôi đâu có ngăn cản bà đi lễ chùa. Và tôi biết bà vắng nhà nhưng cứ làm như không biết.
Bà trở về lúc tôi đang cắm hoa trong phòng ăn. Tôi nghe bà nói gì với anh bếp bằng giọng xúc động khác thường. Khi bà đi vào phòng, tôi thấy bà lấy khăn lau nước mắt. Tôi hỏi:
- Cái gì vậy, bà vú?
Bà vú đi vào phòng ăn nhưng im lặng không trả lời. Tôi hỏi lại:
- Ở chùa xảy ra cái gì vậy, bà vú?
- Tụi nó đang phá chùa!
- Ai đang phá chùa? – Tôi hỏi tiếp – chắc chắn không phải nhà cầm quyền rồi à?
- Bọn thanh niên! Có lẽ bọn sinh viên! Chúng nó nói là Mao Chủ tịch bảo chúng phải ngăn chặn những trò mê tín. Chúng nó nói tăng ni là phản Cách mạng, chống Mao Chủ tịch.
- Thế các tăng ni đối phó như thế nào?
- Không dám làm gì hết. Chúng trói các vị lại. Có vài vị còn bị chúng đánh đập ngoài sân chùa. Có đông thật là đông người đứng coi. Một trong số những người đứng coi nói là chúng sắp phá chùa và đốt hết kinh kệ như chúng đã làm ở nhiều nơi khác. Chính mắt tôi đã thấy một vài đứa trèo lên mái chùa, lấy ngói ném xuống đất. - Bà vú vừa nói vừa nức nở khóc.
- Thôi, đừng lo lắng quá mà làm gì. Vú có thể thờ phụng ở nhà, từ mấy năm nay, nhà thờ bị đóng cửa, các tín đồ đạo Thiên Chúa cũng thờ phụng tại nhà. Thì bây giờ vú cũng vậy, có sao đâu. Mà dù sao, ngày sinh nhật của Mai Bình, vú cũng không nên khóc lóc chứ!
- Dạ, dạ! Tôi không nên khóc lóc vào ngày sinh nhật của Mai Bình. Nhưng thấy những sự phá phách bậy bạ như vậy, tôi không thể không lo lắng.
Bà vú xếp khăn tay lại và ra khỏi phòng. Rồi đến anh bếp bước vào than phiền là những món tôi dặn mua để làm tiệc thì không sao tìm được. Anh ta nói thêm là trong lúc anh ta mua đồ ngoài chợ, anh ta đã bị sỉ vả, chế nhạo vì ở đợ cho mấy nhà giàu có. Anh nói tiếp:
- Tôi cho là họ không muốn thấy nhà mình ăn sang hơn họ. Bà chẳng nên để tâm, buồn vì chuyện đó làm chi. Còn về bữa tiệc thì đành phải chịu cái cảnh mình mua được cái gì ngoài chợ thì làm cái đó thôi. Nhưng, đảm bảo với bà là ngày sinh nhât của Mai Bình chắc chắn vẫn có đồ ăn ngon!
Tôi nói vài câu để anh bếp an tâm.
Anh bếp bị chế nhạo, sỉ vả ngoài chợ – theo tôi hiểu - là do quần chúng bị tuyên truyền, thúc đẩy phải căm thù và chống lại giai cấp tư sản.
Nhưng điều tôi không hiểu là tại sao nhà nước lại cho phá hủy chùa miếu như vậy. Nếu quyết định thay đổi chính sách, nhà nước chỉ việc đóng cửa chùa và chuyển các tăng ni sang “một dạng công nhân viên” khác, như đã làm trong thời kỳ “Đại nhảy vọt”. Ngày nay chùa Thanh An thật ra cũng chỉ là để trang trí, trình diễn cho các quốc khách Đông Nam Á, để tạo cho họ cái cảm tưởng là Cộng sản Trung Hoa khoan dung đối với Phật giáo. Tôi nhớ là đã đọc trên báo, sau “Đại nhảy vọt”, ngôi chùa này đã được mở cửa lại và các “tăng ni” lại được trở về đó. Tôi tự hỏi tại sao sinh viên lại được phép làm cái điều họ đang làm ở Thanh An tự. Hay là nhà cầm quyền ở thành phố không biết.
Lý Chân đến lúc sáu giờ chiều. Mái tóc bạc trắng, nụ cười lặng lẽ, chị đúng là một tiêu bản của người trí thức: nghiêm túc, trầm mặc và cao quí. Chỉ những người bạn cố cựu của chị – như tôi chẳng hạn, mới biết rằng đằng sau cái vẻ bình lặng ấy là một tâm hồn sôi nổi, tình cảm dạt dào, đến nỗi chị có thể buồn bã hoặc phấn khởi những sự kiện mà người khác coi là tầm thường chẳng có gì để ý.
Lý Chân là một nghệ sĩ lớn và là một nhà giáo có khả năng. Từ thuở xa xăm nào đó, truyền thống “tôn sư” đã dành cho họ một vị trí đặc biệt trong xã hội. “Một ông thầy tốt, cống hiến đời mình cho sự nghiệp giáo dục được ví như một cây đâm bông kết trái”, câu ấy áp dụng cho chị thật không sai. Rất nhiều môn sinh của chị đã trở thành nhạc sĩ dương cầm, hoặc giáo viên dạy nhạc trên toàn cõi Trung Hoa. Trong số đó có nhiều người đoạt giải trong các cuộc thi quốc tế và được hoan nghênh ở nước ngoài. Tôi rất mến Lý Chân và khâm phục sự hiến thân hoàn toàn cho âm nhạc và cho các môn sinh của chị. Kể từ khi chị từ Hồng Kông trở về, chúng tôi vẫn thường hay gặp nhau. Chị vẫn thường để ra cả buổi chiều để cho chúng tôi thưởng thức tài nghệ của chị hoặc để cùng chúng tôi nghe đĩa hát. Tôi biết chị cảm thấy cô đơn và mất những đứa con. Cũng may, kể từ năm 1960, Lưu Thiếu Kỳ làm chủ tịch nước và Mao Trạch Đông đã rút khỏi các công việc thuộc chính quyền, nên nước Trung Hoa đã giảm được những cuộc xáo trộn chính trị to lớn và nhờ đó, chị đã có thể thư từ cho con cái mình ở bên Úc.
Sau khi lão bộc dọn nước trà ướp đá cho chúng tôi, tôi đã hỏi chị:
- Sao, công việc của chị ở Nhạc viện lúc này ra sao?
- Tôi sợ là sẽ có chuyện không hay – chị buồn bã đáp – các lớp học đều ngưng hết. Chúng tôi được bảo cho biết là phải dành trọn thời gian cho cuộc Cách mạng Văn hóa. Mọi người đều phải viết báo tường. Những giáo sư như tôi đều phải viết bản tự phê và đọc những báo tường viết nhằm chống lại chúng tôi.
- Có nhiều người chống lại chị không, - tôi lo lắng hỏi lại.
- Báo tường thường là chống lại các giáo sư hơn là chống lại những người khác. Tôi không biết là tôi có bị chống lại nhiều hơn những giáo sư khác hay không, vì tôi không đếm. Nhưng cho đến nay thì vẫn chưa có một cuộc mít tinh nào tổ chức để đấu tố tôi. Lý lịch của tôi tương đối đơn giản. Tôi chưa bao giờ làm một việc gì ở đâu khác ngoài Nhạc viện.
- Ở Nhạc viện có nhiều cuộc đấu tố các giáo sư khác không?
- Có, khá nhiều! Có cuộc đấu tố nhằm vào một cựu đảng viên Quốc Dân Đảng, có cuộc nhằm vào người trước kia đã bị tố cáo là “cánh hữu”. Có những cuộc nhằm vào những người ở các khoa khác, tôi không biết lai lịch của họ. Có hai người, trong các cuộc vận động trước, đã bị tố rồi – Lý Chân giải thích thêm – tôi thật ghét các cuộc đấu tố. Không hiểu sao mà ai nấy cư xử với nhau mọi rợ quá!
- Chị nghĩ liệu chị có được yên thân không?
- Tôi chưa bao giờ chống lại Đảng Cộng sản Trung Hoa. Tôi hoàn toàn phi chính trị. Tốt nghiệp Nhạc viện ở Thượng Hải, tôi du học sang bên Anh, cũng lại học nhạc. Tốt nghiệp Nhạc viện Anh, tôi trở về nước. Cũng lại làm ở Nhạc viện. Đời tôi chẳng có gì mà Đảng không biết. Có thể tôi được yên thân, sao lại không nhỉ? Nhưng, tôi cũng không thể biết những gì có thể xảy ra. Trong chiến dịch chính trị này dường như có một cái gì khác với những chiến dịch trước kia.
- Cái gì khác?
- Đó là thái độ của các viên chức Đảng. Từ những chiến dịch trước họ còn có sự tin tưởng. Nhưng lần này, họ có vẻ lo lắng như thể họ không biết thực sự họ phải làm gì. Sự kiện họ phải giới hạn cuộc tấn công của họ vào những người trước kia đã bị tố dường như là một dấu ấn chỉ cho thấy họ không muốn mở rộng mục tiêu. Có lẽ sau “Bước Đại nhảy vọt” thất bại của Mao, các viên chức Đảng không dám chắc Mao có còn đủ quyền hành để lèo lái các chiến dịch chính trị nữa hay không.
Điều Lý Chân vừa nói với tôi thật đáng quan tâm. Dĩ nhiên, lúc đó, chúng tôi không biết rằng cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản thực chất chỉ là cuộc tranh giành quyền lực giữa phe Mao và một phe khác ôn hòa hơn do Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình đứng đầu. Sau này người ta mới biết bí thư chi bộ Đảng ở Nhạc viện là người thuộc phe Lưu. Ông ta đã bị những “người cách mạng” của Giang Thanh sát hại khi bà ta quyết định đưa một người trẻ trung thành, sủng ái của bà ta thay vào chức bí thư chi bộ Nhạc viện.
- Những báo đại tự ủng hộ Mao, đối với tôi, xem ra có vẻ lãng phí – Lý Chân nói – biết bao nhiêu giấy, bút, mực được đem ra dùng. Trong khi đó, chúng tôi xin tăng thêm ánh sáng cho phòng học và mua thêm nhạc cụ thì chẳng bao giờ được.
- Những báo đại tự chống chị nói những gì?
- Cứ chĩa vào cái chỗ tôi đã du học bên Anh, tôi đã cho con đi Úc và phương pháp giảng dạy của tôi. Khi Trung Hoa còn thân thiện với Liên Xô thì người ta thúc đẩy chúng tôi dạy âm nhạc Tây phương và huấn luyện các thí sinh để cho đi dự thi các cuộc thi tài quốc tế. Khi cắt đứt tình hữu nghị với Liên Xô thì Mao Chủ tịch bắt đầu chê nhạc phương Tây. Chúng tôi hoàn toàn chỉ được dùng các bản hòa tấu của Trung Hoa. Chỉ đi tìm tư liệu giảng dạy cũng đã chiếm mất phân nửa thời gian, rồi thì các sinh viên cũng chống lại tôi nữa. Chị biết không, có sinh viên nói nhỏ với tôi là chúng nó phải viết báo đại tự chống lại tôi để thủ thân.
- Đúng thế, bởi vậy chị đừng quan tâm đến điều chúng chống lại chị. Đừng để những điều ấy làm cho chị phải thương tổn. Đám trẻ đáng thương ấy bị bắt buộc phải làm như vậy mà thôi.
- Tôi cảm thấy rất buồn. Như thế cả cuộc đời tôi hóa ra vô ích. - Lý Chân thở dài.
- Đừng chán nản vì những chuyện ấy! Trong chiến dịch “Đại nhảy vọt” năm 1958, những học sinh con em các gia đình tư sản học cùng trường với con cháu Mai Bình đó, cũng phải chỉ trích gốc gác gia đình chúng. Tôi nói với cháu là con cứ đi đầu, cứ phê bình ngay chính má đi. Và nó đã làm như vậy. Thầy giáo và bè bạn nó hoan hô nó. Đó chỉ là hình thức, đóng kịch, buồn làm quái gì!
- Tôi sợ là tôi không thể cười bỏ qua như chị – Lý Chân nói – làm vậy bất công quá!
- Cái địa vị ủy viên trong Hội đồng Tư vấn Chính trị của chị không che chở được cho chị sao?
- Tôi nghe những người phe Mao nói là họ muốn dẹp quách cái Hội đồng ấy. Họ gọi cơ quan ấy là trong xanh, ngoài đỏ. Họ nói là tất cả các ủy viên đều là “miệng nam mô, bụng một bồ dao găm”, nghĩa là ngoài miệng thì nói ủng hộ nhưng trong lòng thì chống Đảng.
- Thật vậy sao?
- Ai biết đâu! Khi mà sự nói thẳng nói thật bị trừng phạt nặng nề thì chẳng ai biết trong lòng người khác nghĩ gì.
Lý Chân nói vậy. Và tôi đồng ý với chị. Thật vậy, sau nhiều năm sống ở Trung Hoa Cộng sản, tôi nhận thấy một chính quyền dân chủ khi cho phép tự do phát biểu thì có lợi là chính quyền ấy biết rõ ai ủng hộ, ai chống lại mình. Trong khi đó, chính quyền độc tài chuyên chế thì chẳng biết rõ người dân thật sự nghĩ gì về chính quyền.
Khi tôi bắt đầu làm việc ở hãng Shell, những công nhân viên trung cấp đã như có vẻ bất bình khi bị một phụ nữ không có chút kinh nghiệm quản trị nào lãnh đạo. Tôi đã phải nhiều phen chứng tỏ năng lực của mình mà dần dần mới chinh phục được sự trọng nể và tin cậy của họ. Lúc đó không có gì làm cho tôi thích thú bằng phải đương đầu với những thách đố và thắng vượt được những khó khăn. Tôi hài lòng và hãnh diện vẫn duy trì được nếp sống cũ của tôi mặc dù nhà tôi đã mất. Nhưng trong đời, tôi chưa bao giờ gặp phải tình hình bối rối khó xử như cuộc Cách mạng Văn hóa. Tôi biết chắc điều này là bất cứ một người Trung Hoa ở quốc gia nào – nghĩa là không phải đảng viên Cộng sản – muốn được chỉ định làm một nhân viên trung, cao cấp của một xí nghiệp ngoại quốc thì đều phải duyệt y được sự chấp thuận trước của Bộ Công Thương nghiệp. Vì công an có hồ sơ của mỗi người, nên chính quyền biết rõ mọi điều về tôi. Dường như không có lý do nào hợp lý để thình lình buộc tội tôi. Trong khi đó Winne, Lý Chân và cả ông Hồ dường như đều nghĩ rằng tôi sẽ là mục tiêu của cuộc bạo hành. Tôi không biết cách nào tốt nhất để hành xử trong mấy ngày sắp tới ngoại trừ cách kiên quyết chống lại tất cả mọi nỗ lực thúc ép tôi phải viết bản tự thú những tội mà tôi không hề vi phạm. Điều này có thể dẫn tôi đến chỗ phải đối đầu với các viên chức Đảng. Đối đầu như vậy thì có lợi lộc gì đâu? Và sự đối đầu ấy sẽ ảnh hưởng tới con tôi như thế nào? Đứng ngoài phòng ngủ của nó, tôi cảm thấy hết sức bối rối và bất lực. Tôi đã dâng lời cầu nguyện xin ơn trên dẫn dắt tôi.
Sau những ngày Mao Trạch Đông duyệt đạo quân Hồng Vệ Binh đầu tiên ở Bắc Kinh và chúc phúc cho chúng thì đường phố Thượng Hải tràn ngập Hồng Vệ Binh. Báo chí loan tin sứ mệnh của Vệ binh đỏ là thanh trừng khỏi đất nước “Bốn cái cũ”: văn hóa cũ, phong tục cũ, y phục cũ và lối tư duy kiểu cũ. Nhưng không có một định nghĩa rõ ràng như thế nào là “cũ”, cái đó để cho Hồng Vệ Binh mặc tình quyết định.
Trước hết chúng đổi tên đường phố. Đại lộ chính xuyên suốt Thượng Hải, chạy dọc theo bờ sông ngày trước được gọi là “Bến cảng”, nay được chúng đặt cho cái tên là “đại lộ Cách mạng”. Một đại lộ chính khác được đặt tên là “đại lộ 1/8” để kỷ niệm ngày thành lập quân đội. Đường phố có tòa Tổng Lãnh sự Anh được đổi là đường “Chống Đế Quốc”. Và con đường đi ngang qua nhà tôi cũng được đổi lại là đường “Âu Dương Hải”, tên một người lính đã hy sinh mạng sống để cứu một con lừa cho khỏi bị xe lửa cán. Và các Vệ binh đỏ cũng bàn nhau xem có nên đổi lại các đèn hiệu giao thông, chẳng hạn “đỏ” có nghĩa là “đi” chứ không phải là”ngừng”. Và trong lúc chúng đang bàn luận thì mọi đèn hiệu giao thông đều không hoạt động.
Chúng phá các tiệm bán hoa và đồ cổ vì chúng bảo là chỉ có bọn nhà giàu mới có tiền để mua những thứ phù phiếm đó. Những cửa tiệm bị khám xét. Những hàng hoa bị chúng coi là chướng mắt hoặc “không thích hợp với Xã hội Chủ nghĩa” thì bị chúng phá hoặc tịch thu và cái tiêu chuẩn “Xã hội Chủ nghĩa” của chúng rất ngặt nghèo. Bởi chúng không thể nghĩ được rằng một người theo Chủ nghĩa Cã hội lại có thể ngồi lên ghế trường kỷ. Thế là tất cả các ghế trường kỷ đều bị coi là vật cấm kỵ. Tất cả những thứ nệm giường, nệm ghế, những đồ bằng nhung, lụa, những thứ son phấn, dầu thơm, những quần áo may theo thời trang Tây phương… tất cả đều bị ném ra đường và tập trung đến một chỗ để đốt, đập phá. Theo truyền thống Trung Hoa, bảng hiệu của các cửa tiệm đều mang những tên có ý nghĩa tốt lành và phù hợp với ngành nghề của mình. Chẳng hạn tiệm bán khăn, nón cho các cụ thì bảng hiệu thường có ý nghĩa xa gần với chữ Trường Thọ, tiệm bán đồ gỗ, bàn ghế thì bảng hiệu thường có nghĩa là sang đẹp, tiệm ăn thì mang bảng hiệu có ý nghĩa thơm, ngon… Khi nhà nước tiếp quản các nhà hàng, cửa tiệm thì các bảng hiệu này cũng vẫn không thay đổi. Nhưng nay các Vệ binh đỏ kết án và bắt phải đổi lại thành những cái tên nghe có vẻ “cách mạng”. Chẳng biết phải chọn cái tên hiệu nào cho phù hợp ý ông chủ tiệm đặt tên bảng hiệu là “Phương Đông hồng”, tên một bài hát ca tụng Mao Trạch Đông và trong thời cơ có cuộc Cách mạng Văn hóa, bài hát này được dùng thay cho quốc ca. Thế là khắp Thượng Hải đi đâu cũng thấy nhan nhản cửa tiệm mang tên “Phương Đông hồng”... Từ bán kẹo cho đến bán giày dép… đều là “Phương Đông hồng” cả! Những tủ kính trưng bày hàng mẫu… đều bị Vệ binh đỏ dẹp tuốt và thay bằng chân dung Mao Chủ tịch. Trên khắp các đường phố, chỗ nào người ta cũng thấy chân dung Mao Chủ tịch từ tủ kính trong cửa tiệm nhìn ra đường, khách bộ hành đi đường có cảm tưởng mình bị hàng trăm hàng ngàn ông Mao nhìn trừng trừng.
Mỗi ngày các gia nhân của tôi lại kể cho tôi nghe những việc làm động trời của mấy ông Vệ binh đỏ khiến tôi tò mò muốn tận mắt nhìn xem.
Tại một chi nhánh ngân hàng thuộc khu phố tôi ở, tôi có hai chương mục tài khoản đáo hạn. Tôi quyết định rút bớt một để có chút tiền mặt trong nhà. Và kinh nghiệm cho biết là cứ mỗi khi có một cuộc vận động chính trị nào thì y như rằng sẽ có sự khan hiếm lương thực và mọi thứ khác. Để sống được, người ta phải mua chợ đen với giá cắt cổ. Tôi nhớ có lần anh bếp của tôi đã phải trả 50 đồng để mua miếng thịt heo mà lúc thường chỉ giá 2 hay 3 đồng. Ấy là lúc sau “Bước nhảy vọt vĩ đại” của Mao Chủ tịch thất bại.
Cả lão bộc lẫn bà vú đều khuyên tôi nên ăn mặc xuềnh xoàng khi đi ra đường vì một bà ở bên cạnh đã gặp rắc rối với các ông Vệ binh đỏ. Bọn này tịch thu giày, cắt ống quần túm bà ta đương mặc khi chúng bắt gặp bà từ trên đường đến thăm người bạn. Bởi vậy, trước khi ra ngân hàng, tôi phải mượn bà vú cái áo, cái quần cũ mèm và đôi dép cà khổ cà tàng. Nắng tháng tám cũng còn gay gắt lắm nên bà vú đã trao cho tôi cái nón rơm thẩm mỹ con gái tôi đã mang về sau chuyến công tác ở nông thôn theo chương trình “sinh viên phục vụ nông dân”.
Đường phố hoạt động náo nhiệt. Chỗ nào cũng thấy các ông Vệ binh đỏ. Cũng có nhiều người rảnh rỗi đứng xem. Trong giai đoạn này của cuộc Cách mạng Văn hóa, “kẻ thù” là giai cấp tư sản nên đa số người dân thường cũng còn được yên thân. Đối với họ, hoạt động của Vệ binh đỏ vừa vui mắt vừa đáng tán thưởng. Nhiều người đi theo chúng hết đường này sang đường khác để xem chơi.
Nhiều nhóm Vệ binh đỏ đang giải thích cho đám người đi xem ý nghĩa và mục tiêu của cuộc Cách mạng Văn hóa. Tôi ngừng lại một lát để nghe. Tôi lấy làm bối rối ngạc nhiên khi một diễn giải Vệ binh đỏ nói là cuộc Cách mạng Văn hóa sẽ “giải phóng” nhân dân. Nói vậy thì chẳng hóa ra kể từ khi Đảng Cộng sản lên nắm chính quyền ở Trung Hoa năm 1949, nhân dân chưa được “giải phóng”? Hay là cuộc “giải phóng” ấy chưa “ngon” nên bây giờ phải “giải phóng lại”? Đối với tôi thì hình như cuộc Cách mạng Văn hóa là cuộc tự phê của chính Đảng Cộng sản Trung Hoa. Nhưng đó là điều không thể hiểu được. Tôi không coi điều mà tôi nghe được đó là quan trọng, mà có lẽ đó chỉ là một câu nói lỡ trớn của một anh chàng phát ngôn trẻ tuổi nổi hứng bất tử nói phứa đi. Mà đúng thật, “giải phóng lại” giai cấp vô sản đã là một trong những chủ đề của cuộc Cách mạng Văn hóa. Mao tuyên bố ông ta chống lại ban lãnh đạo Đảng – đứng đầu là Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình – vì bọn này đã làm sống lại Chủ nghĩa Tư bản ở Trung Hoa. Nhưng mãi những năm về sau tôi mới biết điều này.
Một đám Vệ binh đỏ khác chặn xe buýt lại, phân phát truyền đơn thuyết giảng chính trị cho những người đi xe và trừng phạt những người ăn mặc mà chúng không ưa. Hầu hết các xe đạp đều có tấm bảng nhỏ ghi lời của Mao gắn trên ghi đông. Xe nào không có đều bị chặn lại và bị cảnh cáo. Trên lề đường, Vệ binh đỏ bắt người đi đường phải hô khẩu hiệu. Mỗi đoàn Vệ binh đỏ đều có một đội trống, phèng la và rất nhiều khung hình chân dung Mao Trạch Đông có cán cầm cẩn thận. Ở khắp các góc phố, loa phóng thanh từng chập vang lên ầm ĩ những bài ca Cách mạng. Trong bộ quần áo cũ mèm, tôi đã lẫn lộn trong đám đông và chẳng bị ai để ý.
Tôi cứ thủng thẳng đi về phía chi nhánh ngân hàng.
Thình lình tôi giật mình vì đám Vệ binh đỏ ở trước mặt đang nắm giữ một cô gái khá xinh. Một tên nắm giữ cô bé, một tên lột giày, tên thứ ba cắt ống quần túm. Lũ Vệ binh đỏ reo hò và hỏi:”Tại sao mày mang giày mũi nhọn và mặc quần ống túm?”
- Tôi là công nhân! Tôi không phải là thành phần giai cấp tư sản. Các anh hãy để tôi đi. - Cô bé vừa chống cự vừa lên tiếng phản đối.
Trong lúc chống cự, bọn Vệ binh đỏ lột quần cô ta ra. Để làm trò vui cho những người đứng xem hơn là làm gì khác. Những người đứng coi cười rỡn, chọc ghẹo. Một Vệ binh đỏ đập vào mặt cô ta để cô ta không chống cự. Cô gái ngồi xệp xuống đất, hai tay che lấy mặt. Vừa khóc nức nở cô ta vừa rên rỉ “tôi đâu phải là phần tử tư sản”. Một tên Vệ binh đỏ mở túi xách của cô ta lấy thẻ công nhân ra coi. Rồi nó ném tấm thẻ và cái quần trả cô. Cô gái vội vã mặc quần vào. Chẳng đợi chúng trả lại giày, và cứ chân mang vớ không mà vội vã đi khỏi. Cũng ngay lúc đó một tên Vệ binh đỏ khác nắm lấy một anh chàng thanh niên và la lớn:
“Tại sao mày chải đầu bằng dầu xức tóc?”
Tôi không đứng lại để nhìn xem những gì sau đó mà đi thẳng đến chi nhánh ngân hàng, ở Trung Hoa, tất cả các loại ngân hàng chỉ là một thứ “chi nhánh” của ngân hàng nhân dân và thuộc về nhà nước. Chẳng còn bảng đồng, cửa kính. Nhân viên ngồi sau một cái quầy tồi tàn bằng gỗ để giao dịch với khách hàng. Tôi đến gần một nữ nhân viên và đặt phiếu rút tiền trước mặt cô ta.
Lúc ở nhà ra đi, tôi nghĩ xem cách nào để rút tiền ra. Hai chương mục quá thời hạn: một chương mục 6.000 đồng (vào khoảng 2.400 đô) và một chương mục 20.000 (khoảng 8.000 đô). Mức lương bổng và giá sinh hoạt ở Trung Hoa rất thấp. Vào năm 1966 thì 6.000 đồng (nhân dân tệ) đã là một món tiền lớn, và 20.000 đồng đã là một sản nghiệp nho nhỏ rồi. Ngân hàng chỉ là một bộ phận của chính quyền. Những nhân viên ngân hàng có nhiệm vụ khuyến khích nhân dân tiết kiệm để gởi tiền vào ngân hàng đặng nhà nước xài. Trong lúc có các cuộc biến động chính trị, nhân viên ngân hàng có quyền từ chối trả tiền cho chủ mặc dù tài khoản đã đáo hạn. Đôi khi chương chủ phải làm đơn, có sự chứng thực của nơi chương chủ làm việc hoặc của công an địa phương nơi chương chủ cư ngụ xác nhận cái lý do cần thiết đáng để chương chủ rút tiền. Và cũng chỉ rút một số tiền giới hạn trong mức cần thiết đã được công nhận mà thôi. Để tránh khỏi bi từ chối – rất có thể – tôi đã rút tài khoản chương mục nhỏ 6.000đ và gia hạn chương mục kia lên một năm nữa. Nhưng tôi đã không gặp trở ngại gì. Nhân viên ngân hàng trao tiền cho tôi và không hỏi một tiếng nào. Trước khi tôi đếm tiền xong thì cô ta đã lúi húi đan len rồi. Mặc dầu quanh tường của chi nhánh ngân hàng đã dán biểu ngữ và các báo đại tự, không khí trong ngân hàng cũng trái hẳn với tình hình căng thẳng bên ngoài đường do các Vệ binh đỏ gây ra.
Tôi dừng lại một chút ở thềm cửa ngân hàng và hối hận vì mình đã nhút nhát không dám rút món tiền lớn hơn. Đồng thời tôi lại sung sướng vì đã không bị làm khó dễ gì khi rút tiền. Tôi quay về nhà. Nhưng đến góc đường tôi bị té bởi đám vệ binh đang dẫn một ông lão già bị trói bằng sợi dây dài. Chúng la hét và lấy gậy đánh đập ông lão. Tôi lập tức đứng lại, nép sát vào tường để chúng đi qua. Thình lình ông lão té lăn ra đất có lẽ vì mệt quá không thể đi tiếp được. Nom ông ta thật thảm thương. Áo bị rách. Túm tóc bạc lòa xòa trên đôi mắt lờ đờ. Đám Vệ binh đỏ cứ thế kéo sợi dây thừng giật dậy. Khi ông ta dậy không nổi, chúng đá, đạp. Ông lão kêu la đau đớn.
- Đồ tư sản bẩn thỉu! Đồ bóc lột công nhân! Mày đáng chết! - Lũ Vệ binh đỏ la om như vậy.
Tim tôi đập thình thịch loạn như trống làng. Sự kiện bất chợt gặp đám Vệ binh đỏ và chứng kiến nỗi đau đớn của ông lão đã làm cho tôi sợ và khiến cho tôi nghĩ tới ông Hồ. Tôi tự hỏi không biết lúc này ông ra sao? Kể từ khi tôi gặp ông ta đến nay đã gần hai tuần lễ trôi qua. Tôi nhẹ nhàng chuồn êm khỏi đám Vệ binh đỏ và rảo bước về nhà. Đường phố bây giờ còn đông hơn trước đó một giờ. Vệ binh đỏ đang bắt người bừa bãi. Những tiếng la lối phản đối xen lẫn với tiếng bào chữa nghẹn nước mắt của nạn nhân. Khi tôi thấy chúng bắt những phụ nữ uốn tóc quăn và xén tóc họ, tôi thầm cảm ơn bà vú đưa cho tôi cái nón rơm để chụp lên đầu che mái tóc quăn của tôi. Đường phố có thiếu gì cảnh sát đứng đó. Nhưng họ cũng chỉ đứng nhìn vậy thôi.
Rời khỏi khu phố ồn ào đầy cửa tiệm đó, tôi thấy lòng nhẹ nhàng. Khu phố cư xá yên tĩnh hơn. Tuy nhiên, khi về đến nơi tôi ở, tôi thấy trước cổng nhà có đám đông tụ tập. Họ đang đọc báo đại tự dán ở cổng đối diện với nhà tôi. Ông ta là kỹ sư trưởng công ty Nhôm Thượng Hải. Trước kia xí nghiệp này là của người Thụy Sĩ, bị chính quyền tiếp quản mấy năm trước đó. Công nhân xí nghiệp này dán báo đại tự tố cáo ông ta là “chó săn cho đế quốc Thụy Sĩ”, bên cạnh báo đại tự có một tờ nhỏ hơn, nét chữ còn trẻ con đã kết hợp với công nhân tố cáo chính cha mình và thề quyết cắt đứt quan hệ với ông ấy, chính tờ báo đại tự bất thường của hai đứa trẻ – một đứa mười lăm và đứa kia mười một tuổi – đã khiến cho đám đông tụ tập ở đó để coi.
Khi lão bộc mở cửa cho tôi, tôi hỏi về tờ báo của hai đứa trẻ kia. Lão nói với tôi là người đầy tớ trong gia đình ấy nói đó là ý kiến của chính ông già hai đứa trẻ kia, cốt để hai đứa khỏi bị hành hạ.
Hoạt động của đám vệ binh tăng lên từng giờ. Ngay ngày hôm sau chúng đã xông vào nhà đối diện với nhà tôi. Bà vợ không chịu mở cửa và phun nước vào đám Vệ binh đỏ để ngăn chúng vào. Chúng phá cổng, giật vòi nước trong tay bà ta phun vào chính bà cho ướt như chuột lột. Rồi, đè bà ta xuống mà đánh vì tội đã ngăn cản “hành động Cách mạng” của chúng. Mấy đứa con cố bảo vệ cha mẹ chúng và đánh nhau với đám Vệ binh đỏ. Mấy đứa trẻ cũng bị tố cáo là “chó săn con của đế quốc Thụy Sĩ” và bị bắt đứng chứng kiến Vệ binh đỏ đốt sách vở của cha chúng.
Ngày và đêm, lúc nào thành phố cũng vang lên tiếng trống và phèng la. Những tin tức về các cuộc cướp phá và lục soát đã từ nhiều nguồn lọt vào tai tôi. Và chắc với bạn bè tôi thì cũng vậy. Tôi cố gọi điện thoại cho ông Hồ nhưng không được. Và với các bạn bè khác của tôi, cũng vậy. Sự bạo hành của Vệ binh đỏ dường như leo thang. Tôi nghe nói các nạn nhân bị làm nhục, bị hành hung và bị giết chết nếu dám chống lại. Những bài báo và những bài chỉ đạo của Mao đã khuyến khích và ca ngợi những hành động phá phách tàn bạo của Vệ binh đỏ, chúng được tâng bốc là những người thật sự kế tục sự nghiệp cách mạng vô sản. Chúng được khuyến khích đừng sợ vì trong hành động lật đổ chế độ thế giới cũ và xây dựng thế giới mới theo lời dạy của Mao Chủ tịch.
Tôi cảm thấy bất lực một cách chua chát. Tôi không thể làm gì để có thể ngăn cản chúng phá nhà tôi và cướp bóc tài sản của tôi. Con gái tôi cũng hết sức lo lắng. Đã hơn một lần nó nói là nó không thể sống nổi bằng đồng lương chết đói của nó. Tôi quyết định đã đến lúc phải nói cho nó biết chương mục của tôi ở ngân hàng Hồng Kông, ở những nơi khác, do đó có đủ để chúng tôi chi dùng hàng ngày. Hiện thời, chính tôi cũng lo lắng về số phận của nó sau cuộc Cách mạng Văn hóa. Nếu lại có một xã hội mới trong đó con, cháu giai cấp tư sản trở thành một tầng lớp xã hội đặc biệt ở Trung Hoa như tầng lớp tiện dân bên Ấn Độ thì đời của nó thật không sao hình dung nổi. Đối với tôi, điều này còn quan trọng hơn sự mất, còn tài sản của tôi.
Để cẩn thận đề phòng cho gia nhân, tôi quyết định phân phát cho họ 6.000đ mà tôi vừa rút ở nhà băng về trước khi bọn Vệ binh đỏ đến phá nhà tôi. Để lỡ ra có bề gì thì họ cũng có phương tiện để phòng thân mai sau. Lúc đầu họ từ chối không chịu nhận tiền, cứ nhất quyết đòi ở lại để trông nom cho cô Mai Bình và cho chính tôi. Họ cũng đề nghị tôi đem dấu những đồ tư trang quí giá trong nhà của họ. Không muốn để họ bị phiền lụy vì tôi nên tôi đã không thuận. Tôi gọi bà vú, lão bộc và anh bếp đến thư phòng của tôi để bàn tính với nhau làm sao để chia nhau số tiền mà tôi vừa rút ra ở nhà băng về. Ông làm vườn thì chỉ thỉnh thoảng mới đến làm cho nên tôi quyết định cho ông ta 400đ thôi. Bà vú xin nhận số tiền ít hơn hai người kia vì theo lời bà “họ còn có vợ có con”. Sau khi chia tiền cho ba người, tôi để ra 400đ vào bì thư và định khi nào ông làm vườn đến thì đưa cho ông ta.
Tôi cũng nói với mấy gia nhân là nếu họ sợ thì họ có thể rời khỏi nhà này bất cứ lúc nào. Khi cuộc Cách mạng Văn hóa đã vãn màn thì tôi sẽ cho họ thêm ít tiền vì tất cả đều ở với tôi từ lâu.
Làm những việc ấy xong, tôi bình tĩnh chờ lũ Vệ binh đỏ.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 3: HỒNG VỆ BINH


Trong lúc cơn bão Cách mạng Văn hóa vô sản tập trung xung lực thì những buổi học tập chính trị kéo dài suốt đêm được tổ chức trong tất cả các cơ quan. Chiều tối ngày 30 tháng 8, khi bọn Vệ binh đỏ đến cướp phá nhà tôi thì con gái tôi cũng đang học tập chính trị tại phim trường và sắp sửa tham dự một cuộc đấu tố. Tôi ngồi một mình trong thư phòng và đang đọc cuốn “Sự hưng vong của Đức Quốc xã” mà tôi mới gởi mua được bên Anh. Trong suốt những năm tôi làm việc cho hãng Shell tôi vẫn đặt mua sách báo. Phòng kiểm duyệt Thượng Hải thường cho qua mà không mở ra khám xét những kiện hàng gởi cho cơ quan và hãng Shell nhận được một số khá lớn sách báo tài liệu khoa học để sau đó phân phối lại cho các cơ quan nghiên cứu ở Trung Hoa. Vì vậy, kiện sách báo gởi cho tôi nằm lẫn lộn trong số sách báo trên nên đã không bị để ý.
Căn nhà tôi lúc bấy giờ yên tĩnh, lặng lẽ. Tôi biết là lão bộc đang nằm trong phòng đựng chén đĩa như mọi khi. Bà vú thì đang nằm trên cái giường rộng mênh mông trong phòng của bà và còn đang thức, trong nhà không có tiếng động nhẹ hoặc một hoạt động cỏn con nào. Cứ như thế mọi thứ trong nhà này đều nín thở và bất lực chờ đợi sự tàn phá sắp đến.
Cửa sổ thư phòng của tôi mở toang. Mùi hương hơi gắt của hoa mộc lan ngoài vườn và mùi ẩm của buổi chiều chớm thu dịu mát lan tỏa trong không gian. Từ phía ngoài đường phố, tiếng ồn ào lúc đầu nghe xa xa không rõ nhưng lớn và rõ dần. Nghe rõ cả tiếng xe ô tô chạy chầm chậm đang lại gần. Tôi lắng nghe và cầu cho những thứ ấy đi qua cửa nhà tôi lẹ lẹ cho rồi. Nhưng, chẳng những nó không “lẹ lẹ” mà trái lại còn chậm chậm, chẳng những nó không “qua cho rồi” mà trái lại, còn dừng lại. Tiếng máy xe tắt. Tôi biết là nhà bên cạnh đang bị Vệ binh đỏ ruồng xét. Đặt quyển sách xuống, ngồi ngay người lại, tôi lắng nghe và tự hỏi không hiểu nhà nào hay nhà tôi là mục tiêu.
Bỗng chốc, tiếng chuông ngoài cổng reo lên không ngừng. Đồng thời những tiếng đập vào cánh cổng nhà tôi vang lên rầm rầm pha lẫn với tiếng hô khẩu hiệu gay gắt. Những âm thanh đa tạp và dữ dội ấy cho tôi biết thời gian tôi chờ đợi đã hết. Và đã đến lúc tôi phải đương đầu với sự đe đọa của Vệ binh đỏ và sự tàn phá ngôi nhà của tôi. Lão bộc thở hổn hển muốn đứt hơi, chạy lên lầu. Mặc dầu trước đó lão đã biết là thế nào Vệ binh đỏ cũng sẽ đến và đêm này qua đêm khác, lão đã chờ đợi nó đến – cũng như tôi vậy – ấy thế mà khi nó đến thì lão vẫn sợ, mặt mày tái mét.
Thưa bà, chúng nó đến đấy, - lão nói, tiếng nói bị đứt quãng vì sợ, vì run, vì khiếp đảm.
- Lão cứ bình tĩnh. Cứ ra mở cửa cho chúng, nhưng đừng nói gì, gọi bà vú cho vào cùng phòng với lão và cứ ở im đó. Để tôi nói với tụi nó.
Phòng của lão là tầng trên của nhà xe. Tôi muốn cả hai người đó ở cách xa lúc xảy ra sự việc để họ đừng vì quá trung thành và thương mến tôi mà nói năng bậy bạ khiến cho đám Vệ binh đỏ nổi giận.
Ở bên ngoài, tiếng la lối càng lớn hơn “Mở cổng ra! Mở cổng ra! Tụi bay chết hết rồi hả? Sao tụi bay không mở cổng ra”. Có đứa chửi thề và đạp vào cánh cổng rầm rầm. Tiếng kèn xe hơi vang lên inh ỏi.
Lão bộc đi xuống dưới nhà. Tôi đứng dậy và cất sách vào kệ. Lúc đó tình cờ mắt tôi liếc qua cuốn “Hiến pháp của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”. Tôi cầm cuốn Hiến pháp, lượm chùm chìa khóa để trên bàn giấy và đi xuống dưới nhà.
Mặc dù trước đó tôi đã nhiều lần sống trong cảnh này bằng trí tưởng tượng, vậy mà lúc thực tế ấy xảy ra, tôi vẫn bàng hoàng, tim tôi đập thình thình. Tuy nhiên, nhờ từ lâu sống có khuôn phép, nên dù trong lòng như thế nào tôi vẫn giữ được vẻ mặt bình tĩnh. Cứ thế, tôi đi xuống thang. Lúc đó, tôi đúng là hiện thân toát lược của thuyết số mệnh theo quan niệm Trung Hoa.
Cũng lúc đó, bọn Vệ binh đỏ đã phá được cánh cổng và tràn vào trong nhà. Có vào khoảng ba bốn chục tên – chắc là từ 15 đến 20 - do hai người đàn ông và một người đàn bà hướng dẫn. Mặc dù cả ba người này đều mang băng tay ghi chữ Vệ binh đỏ, nhưng tôi nghĩ họ là thầy cô giáo thường đi theo bọn nhóc Vệ binh đỏ khi chúng cướp phá các tư gia. Khi tràn vào phòng khách thì một đứa đập ngay bình hoa lài đặt trên cái đôn sứ. Những bông lài nhỏ xíu, trắng muốt nằm tung tóe trên sàn nhà và bị những bàn chân thô bạo giẫm nát.
Tên “thủ lĩnh” Vệ binh đỏ, cao lênh khênh, đôi mắt tóe lửa giận dữ bước tới và nói với tôi:
- Chúng ông là những Hồng Vệ binh. Chúng ông đến để tiến hành Cách mạng chống lại mày.
Mặc dù biết là vô ích, tôi vẫn giơ cao bản Hiến pháp lên và bình tĩnh nói:
- Không có lệnh hợp pháp mà ngang nhiên vào nhà người ta lục soát là trái với Hiến pháp của nước Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa.
Anh chàng thanh niên đó giật bản Hiến pháp trên tay tôi, ném xuống sàn. Hai mắt tóe lửa, hắn nói:
- Đéo cần Hiến pháp. Hiến pháp này bị hủy bỏ rồi. Đó là văn kiện do bọn xét lại trong Đảng Cộng sản viết ra. Chúng ông chỉ cần biết lời dạy của Mao Chủ tịch, nhà lãnh đạo vĩ đại là đủ rồi.
- Chỉ có Quốc hội mới có quyền thay đổi Hiến pháp, tôi nói.
- Chúng ông hủy bỏ đấy. Mày làm gì được, làm đi coi? - hắn đáp.
Một đứa con gái lại gần sát bên tôi và nói:
- Mày giở cái trò lừa bịp ấy ra làm gì vậy? Mày chỉ có một cách là cúi đầu xuống, tuân phục. Nếu không, đời mày sẽ khốn nạn.- Nó dí ngón tay vào mũi tôi và nhổ toẹt nước miếng xuống sàn.
Một đứa khác vác gậy đập tấm gương lồng trong khung, đặt trên chiếc tủ gỗ mun ở ngay cửa ra vào phòng. Mảnh kính vỡ, rớt loảng xoảng xuống chiếc bình cổ đời Khang Hi màu xanh trắng. Nhưng, cái khuôn kiếng chạm trổ thì vẫn còn treo lủng lẳng trên tường. Nó gỡ cái khung xuống đập mạnh vào lan can. Rồi nó lấy từ tay tên một vệ binh khác một tấm bảng đen nhỏ treo thế vào đó. Tấm bảng ghi câu nói của Mao Trạch Đông: “Kẻ thù có súng đã bị tiêu diệt, kẻ thù không có súng vẫn còn. Ta đừng coi thường kẻ thù không súng này!”
Cả đám Vệ binh đỏ đồng thanh đọc câu đó lớn tiếng như thể chúng đọc lời tuyên thệ. Sau đó, chúng bắt tôi đọc. Rồi một đứa chỉ vào mặt tôi, nói:”Kẻ thù không súng là mày! Đưa chùm chìa khóa đây!”. Tôi đặt chùm chìa khóa trên mặt tủ ngổn ngang những miếng kính vỡ. Một đứa cầm lấy. Cả bọn chia nhau túa đi khắp nơi trong nhà. Một đứa con gái đẩy tôi vào phòng ăn khóa trái cửa lại.
Tôi ngồi bên cạnh chiếc bàn ăn và nhìn xung quanh. Thật kỳ lạ khi biết là sau đêm hôm ấy có thể tôi sẽ không bao giờ còn được nhìn lại căn phòng được xếp đặt như thế này nữa. Tôi chưa bao giờ thấy căn phòng đẹp như lúc này. Chiếc bàn bằng gỗ mun bóng loáng nhẵn thín, không chê vào đâu được. Cặp ngà voi chạm trổ đứng kiêu hãnh chỗ góc phòng là một công trình thủ công tuyệt xảo. Những đĩa cổ, bình cổ đặt trên giá, trên kệ bằng gỗ mun kê ở góc để làm nổi bật vẻ đẹp của chúng. Ngay cả các tấm màn cửa cũng bằng nhau tăm tắp, không có tấm dài tấm ngắn. Tất cả những đồ đạc bày biện trong phòng này đều đẹp, đều quí giá, mà tôi đã mất nhiều năm, tốn nhiều tiền để sưu tập. Những nét chạm trổ bậc thầy! Tôi đưa mắt vuốt ve, nhìn chúng lần cuối! Nghe Winnie nói họa sĩ Lâm Phong Miên đang gặp rắc rối nghiêm trọng, tôi biết là bức họa của ông đang treo trên tường kia – màu xanh, hình một người đàn bà – rồi cũng sẽ bị phá hủy một cách thô bạo. Nhưng, những bức tranh thủy mặc của Tề Bạch Thạch thì sao? Ông là một nghệ sĩ lớn vẽ theo lối truyền thống cổ điển Trung Hoa. Ông vốn xuất thân là một thợ mộc nên được Đảng Cộng sản trọng vọng. Liệu bọn Vệ binh đỏ có nhìn nhận giá trị của Tề Bạch Thạch và tha không phá hủy bức họa kia chăng? Tôi ngắm nhìn bức họa thật kỹ, mắt tôi quét qua quét lại trên nét vẽ bút lông của một tài hoa bậc thầy. Bức họa vẽ bông sen, một đề tài rất được ưa chuộng của các họa sĩ Trung Hoa theo trường phái truyền thống Hoa Sen tượng trưng cho sự thanh khiết. Thi sĩ Đào Uyên Minh (376-427 sau CN) đã dùng hoa sen để tượng trưng người quân tử trong những bài thơ rất nổi tiếng của ông. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn!
Tôi lẩm nhẩm câu thơ ấy của Đào và tự hỏi có thật là có người sống trong cảnh đời tanh hôi mà vẫn giữ cho mình được thanh cao? Người mác xít thì chủ trương hoàn cảnh khuôn đúc nên con người! Tôi đang trầm tư như vậy thì nghe tiếng cười rỡn của lũ Vệ binh đỏ đang ở trên lầu. Dường như chúng tìm được vui thú sảng khoái trong sự đập phá vì chúng biết chắc là chúng đang làm điều mà ông Chúa của chúng – Mao Trạch Đông – rất bằng lòng. Hành vi của chúng là hậu quả nền giáo dục của Đảng Cộng sản Trung Hoa. Chúng bị nhiễm tuyên truyền đến mức không còn có ý kiến riêng, không thể suy nghĩ độc lập được nữa.
Những tiếng huỳnh huỵch của những vật nặng bị vật đổ trên lầu đã khiến tôi không còn suy nghĩ được nữa. Tôi nghe thấy tiếng người rầm rập lên, xuống thang, tiếng vật thủy tinh vỡ và tiếng đập phá tường. Tiếng động càng lúc càng mạnh. Như thế lũ Vệ binh đỏ không chỉ cướp của mà chúng còn muốn phá nhà ra nữa mới chịu. Tôi đâm hoảng và quyết định cố gắng để cứu mình thoát khỏi mánh khóe lừa bịp này.
Tôi gõ cửa. Trong nhà, những tiếng động rầm rầm đến nỗi chẳng ai nghe tiếng tôi gõ cửa. Càng lúc tôi càng gõ mạnh. Nghe tiếng động ở phía ngoài tôi la lớn:”Mở cửa! Mở cửa!”.
Nắm đấm cửa từ từ vặn và cửa hé mở ra. Một con nhỏ Vệ binh đỏ, tóc kết đuôi sam hỏi tôi muốn gì? Tôi nói muốn đi tiểu. Nó để tôi ra sau khi cẩn thận dặn tôi không được can thiệp vào các “hoạt động Cách mạng” của chúng.
Lũ Vệ binh đỏ khuân từ trong phòng kho ra những thùng đựng sách vở, giấy tờ của ba tôi và dùng kìm nạy ra. Qua song cửa, tôi thấy một đứa đang đứng trên thang gỡ màn cửa ra. Hai cái bàn dùng để chơi bài bị kéo ra giữa phòng. Chúng chất lên đó nào đồng hồ, máy ảnh, ống nhòm và các đồ bằng bạc mà bọn chúng gom từ khắp nơi trong nhà lại. Đó là những thứ chúng cho là “có giá trị” và có ý tịch thu làm tài sản nhà nước.
Lên lầu, tôi ngạc nhiên thấy nhiều tên Vệ binh đỏ đang làm tung tóe, lộn xộn các bộ sưu tập đồ sứ của tôi được xếp, lót cẩn thận trong hộp. Một đứa đem bộ ly uống rượu đời Khang Hi ra sàn xếp thành hàng trên sàn rồi dẫm đạp lên. Tôi vừa kịp nghe tiếng lạo xạo vỡ của món đồ sứ tinh tế ấy dưới gót giày của nó, tim tôi đau nhói. Tôi nhảy chồm lên giữ chân nó lại khi nó đang đưa chân dẫm lên chiếc kế tiếp. Nó té và tôi cũng té. Tôi đưa mắt nhìn những chiếc ly kia xem có chiếc nào bị vỡ lúc chúng tôi té không, nhưng cũng ngay lúc đó, tôi không nhúc nhích gì được thì thằng bé té rút được chân ra và cứ thế đạp vào ngực tôi. Tôi kêu lên, đau đớn. Những tên vệ binh khác bỏ ngang những gì chúng đang làm và xúm lại quanh chỗ tôi, la hét giận dữ là tôi đã dám can thiệp vào “hành động Cách mạng” của chúng. Một tên hình như là thầy giáo kéo tôi dậy. Thằng nhỏ bị té đã giơ nắm tay dứ dứ trước mặt tôi, đe dọa cho tôi một trận nên thân. Cô giáo đã lên tiếng lập lại trật tự. Cô ta nói với tôi:
- Mày định làm gì vậy? Định bảo vệ của cải của mày phải không?
- Không, các người muốn làm gì thì làm. Nhưng các người không nên phá hủy những món đồ sứ kia. Đó là những đồ cổ quí giá và không tìm được ở đâu.
Tôi hổn hển ngắt quãng, nói từng tiếng rời rạc như đứt hơi, ngực tôi đau như rần.
- Câm ngay! Câm ngay! - Tất cả đồng thanh la át tiếng tôi.
Tôi tập trung tất cả sức lực và tận lực nói lớn để chúng nghe được tiếng tôi nói: “Nhà lãnh đạo vĩ đại đã nói: Hãy sắp đặt các sự kiện, nêu rõ lý do”.
Tôi lượm chiếc ly độc nhất còn lại và đặt trên lòng bàn tay giơ cao bàn tay lên nói:
- Chiếc ly uống nước này có từ gần ba trăm năm. Có lẽ mấy người tưởng là máy ảnh, đồng hồ, ống nhòm… mới có giá trị. Hàng năm người ta chế tạo ra biết bao máy ảnh, đồng hồ… tốt hơn nữa. Nhưng, trên thế giới này dù với những máy móc kỳ diệu hiện đại đến thế nào đi chăng nữa cũng không ai có thể chế tạo được một cái ly như thế này. Đây là một phần di sản văn hóa của chúng ta, mà mọi người Trung Hoa đều lấy làm hãnh diện.
Tên Vệ binh đỏ bị tôi can ngăn “hành động Cách mạng” của y đã giận dữ cắt ngang: “Câm ngay! Những cái này là thuộc về văn hóa cũ, là những thứ đồ chơi vô dụng của lũ vua chúa phong kiến, không có ý nghĩa gì đối với chúng tao, giai cấp vô sản. Những thứ này không thể so sánh với máy ảnh, ống dòm là những thứ hữu dụng cho chúng tao trong cuộc chiến đấu, chúng tao có thể dùng được trong cuộc chiến tranh. Mao Chủ tịch, nhà lãnh đạo vĩ đại của chúng tao đã nói: “Nếu không phá hủy thì không xây dựng được”. Phải phá hủy nền văn hóa cũ, để xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa”.
Một Vệ binh đỏ khác nói: “Mục tiêu của cuộc Cách mạng Văn hóa vô sản vĩ đại là phá hủy nền văn hóa cũ. Mày không được cản trở chúng ông!”
Tôi lo lắng run rẩy và cuống cuồng tìm lý lẽ thuyết phục chúng ngưng những hành động phá hoại điên rồ, vô nghĩa của chúng. Nhưng chưa kịp thốt ra được lời nào thì tôi thấy một Vệ binh đỏ từ lầu hai xuống tay cầm tượng Phật Bà Quan Âm bằng sứ trắng của tôi. Tôi quay về phía nó và hỏi: “Ông định làm gì với bức tượng đó?”
Nó cầm bức tượng vung vẩy trong tay một cách hết sức vô ý vô tứ, tinh nghịch và nói: “Đây là tượng Phật, mê tín dị đoan. Tao sẽ ném nó vào đống rác!”.
Tượng Quan Thế âm là một tiêu bản tuyệt vời và là sản phẩm cực kỳ công phu của lò Delura tỉnh Phúc Kiến. Tượng do nhà điêu khắc thiên tài Trần Vĩ nhà Minh ở thế kỷ 17 làm, có dấu ấn của các tác giả sau lưng bức tượng. Bức tượng quá đẹp. Nét khắc chạm quá tinh vi, tài hoa, sinh động. Bức tượng vẫn được bọc kỹ để trong hộp không dám đem ra trưng bày vì nó quá quí giá. Thật ra chỉ mãi đến khi một người bạn rất sành về đồ cổ chỉ cho tôi biết, tôi mới nhìn kỹ tượng này và mới cảm nhận được vẻ đẹp và sự quí giá của bức tượng.
- Đừng, đừng làm như vậy, tôi xin ông! - Tôi cuống quýt, xúc động đến nỗi tiếng nói của tôi run run. Tên Vệ binh đỏ cứ nhìn trừng trừng vào tôi và tay cứ tiếp tục vung vẩy bức tượng. Và hắn lại chỉ cầm bức tượng bằng hai ngón tay thôi chứ. Có lý lẽ biện giải thì cũng chẳng ăn thua với lũ này. Nếu muốn cho chúng cảm thông được thì phải dùng đúng cái ngôn ngữ của chúng. Đến lúc tôi phải dùng thuật ngoại giao. Nếu tụi Vệ binh đỏ nghĩ là tôi chống lại chúng thì sẽ không bao giờ tôi cứu vãn được kho tàng văn hóa quí giá này. Tôi không nghĩ kho tàng này là của riêng tôi. Tôi không cần biết, sau đêm nay, những món đồ cổ quí giá này thuộc về ai. Nhưng chỉ biết phải làm sao để chúng không bị phá hủy.
- Các ông Vệ binh đỏ xin vui lòng nghe tôi nói cái đã, rồi muốn làm gì thì làm. Tôi đâu có chống lại mấy ông. Mấy ông đến đây với tư cách là đại diện cho nhà lãnh đạo vĩ đại. Làm sao tôi dám chống lại các đại biểu của Mao Chủ tịch? Tôi hiểu mục tiêu của cuộc Cách mạng Văn hóa vô sản. Chẳng thế mà khi các ông hỏi, tôi đã tự trao ngay chìa khóa cho mấy ông đó sao?
- Ờ, đúng, mày có ngoan ngoãn trao chìa khóa – một Vệ binh đỏ có vẻ là thầy giáo đã gật đầu xác nhận. Các Vệ binh đỏ khác đã ngưng tay phá hoại, xúm lại quanh tôi, nhìn, tò mò. Như được khuyến khích, tôi nói tiếp:
- Tất cả những đồ cổ này đều thuộc về thời đại dĩ vãng. Dĩ vãng rất xưa. Tất nhiên nó phải nhường chỗ cho nền văn hóa mới Xã hội chủ nghĩa. Nhưng ta có thể đem nó đi chỗ khác, chứ không cần phá hủy. Nên nhớ là những món đồ này không có dính dáng gì đến giai cấp tư sản. Chính những bàn tay của những người lao động đã tạo ra. Các ông không tôn trọng sức lao động, thành quả của người lao động hay sao?
Một tên Vệ binh đỏ đứng đằng sau nói lớn lên:
- Đừng nghe những lời hoa mỹ của nó. Nó đang cố để làm rối trí chúng ta, để bảo vệ tài sản, của cải của nó đấy thôi.
Tôi lập tức quay trở lại và nói với nó:
- Không, không phải thế. Các ông đang ở trong nhà tôi. Sự kiện các ông đang ở trong nhà tôi bây giờ đủ tỏ ra là tôi có sự giác ngộ Xã hội chủ nghĩa. Đúng, thật là sai lầm khi tôi giữ những món đồ quí giá và đẹp đẽ này làm của riêng tôi. Chúng phải thuộc về nhân dân. Tôi đề nghị các ông hãy mang những món đồ cổ này về Viện bảo tàng Thượng Hải. Các ông có thể hỏi ý kiến của chuyên gia về đồ cổ. Nếu những chuyên gia đó bảo các ông phá hủy đi thì lúc đó các ông phá hủy. Cũng không muộn kia mà!
Một đứa con gái Vệ binh đỏ nói:
- Bảo tàng viện Thượng Hải bị đóng cửa rồi. Bọn chuyên gia đồ cổ đang bị điều tra. Trong số chuyên gia có một vài tên thuộc giai cấp thù nghịch. Trong mọi trường hợp, chúng nó đều là tụi trí thức. Nhà lãnh đạo vĩ đại của chúng ta dạy: “Giai cấp tư sản là da, bọn trí thức là lông mọc trên da đó, khi da chết thì lông cũng hết sống”. Giai cấp tư sản nuôi dưỡng bọn trí thức, bởi vậy chúng thuộc về cùng một bè, một lũ với nhau. Bây giờ chúng tao đang tiêu diệt giai cấp tư sản. Dĩ nhiên bọn trí thức cũng phải bị tiêu diệt theo.
Câu nói của Mao mà con bé nêu ra không phải là mới lạ gì đối với tôi. Nhưng lúc đó không phải là lúc tranh luận về điều đó, mục đích của tôi là làm sao cứu được những món đồ cổ cho khỏi bị phá hủy. Tôi nói:
- Trong trường hợp này, thì xin cứ hỏi ý kiến những người mà Vệ binh đỏ tin cậy, những người có thẩm quyền hoặc hỏi một vị phó chủ tịch thành phố Thượng Hải. Chắc chắn, trong thành phố này còn nhiều bộ sưu tập. Tất nhiên phải có chính sách đối với những thứ này chứ?
- Không, không! Mày là đồ ngu xuẩn, kẻ thù của giai cấp. Mày đéo biết gì hết. Mày chỉ bẻm mép và còn khuyến dụ chúng ông đến hỏi ý kiến một tên kẻ thù giai cấp khác, tức là một tên quan chức theo bè phái xét lại. Mày nói đến chính sách. Chỉ còn một thứ chính sách duy nhất, ấy là quyển sách này! - Một tên Vệ binh đỏ vừa nói vừa rút cuốn sách đỏ trong túi, giơ cao lên và nói tiếp:
“Lời dạy của Mao Chủ tịch, nhà lãnh tụ vĩ đại là chính sách duy nhất đúng và có giá trị!”
Tôi phải xoay lý lẽ biện luận theo một hướng khác:
- Tôi đã thấy trên một tấm biểu ngữ có ghi khẩu hiệu: Cách mạng thế giới muôn năm. Hiện giờ các ông đem ngọn cờ đỏ của Mao Chủ tịch, nhà lãnh đạo vĩ đại của chúng ta đi khắp thế giới, phải vậy không?
- Dĩ nhiên! Những cái đó thì có dính dáng gì đến mày? Mày là kẻ thù giai cấp, - một đứa con gái nói giọng khinh khỉnh chế nhạo. Nó quay sang mấy đứa khác, nói tiếp: “Con mẹ này quỷ quyệt lắm, tụi bay. Đừng thèm nghe mụ nói làm xàm, tầm bậy, tầm bạ!”
Thất vọng, tôi nói:
“Thế mấy ông mấy bà vệ binh không biết là những thứ này rất có giá sao? Đem sang Hồng Kông mà bán, được khối tiền, rồi dùng tiền đó mà làm Cách mạng thế giới có phải hơn là đập phá đi không?”
Nói thế mà Vệ binh đỏ lại nghe ra. Cái viễn tượng đóng vai anh hùng có tầm cỡ thế giới đã vuốt ve lòng tự ái, nhất là lúc này chúng đang say men quyền lực. Nắm bắt được tâm lý ấy, tôi nói tiếp:
- Xin các ông vui lòng xếp các đồ cổ này vào hộp và để vào một nơi mà các ông cho là an toàn. Sau đó, các ông đem bán hoặc đem để vào bảo tàng viện hay làm bất cứ cách nào mà các ông cho là đúng, theo lời dạy của nhà lãnh đạo vĩ đại của chúng ta.
Có lẽ nhờ lớn tuổi hơn, tên Vệ binh đỏ có thể là cô giáo cảm thấy cái ý thức trách nhiệm. Cô ta hỏi tôi:
- Có chắc là những sưu tập này có giá không? Nếu có thì nó đáng giá bao nhiêu?
- Cô có thể tìm cuốn sổ ghi ngày bán đấu giá và số tiền mà tôi phải chi ra để mua món đó. Giá cả cứ tăng lên từng tháng một, nhất là ở thị trường thế giới. Đánh giá bét nhất – theo tôi – thì nó cũng phải ít ra là một triệu đồng.
Mặc dù những người vô sản không thẩm định được giá trị nhưng họ hiểu được giá cả. Lũ Vệ binh đỏ nghe con số một triệu thì có ấn tượng ngay. Cô giáo Vệ binh đỏ nãy giờ cũng như tôi băn khoăn muốn cứu vãn các đồ quí giá đó nhưng sợ lũ nhóc Vệ binh đỏ kia bắt bẻ này nọ không dám lên tiếng bảo vệ. Tuy nhiên cô ta đã tìm ra cách để bọn Vệ binh đỏ rút lại ý kiến mà không bị mất mặt.
- Các Tiểu tướng Cách mạng, ta họp và bàn lại vấn đề này.
Cô ta khôn khéo gọi các ông nhóc Vệ binh đỏ là “Tiểu tướng Cách mạng”, một danh hiệu do chính Mao đặt ra để khích lũ Vệ binh đỏ nhóc con thi hành mệnh lệnh của ông ta. Lũ Vệ binh đỏ nhóc con khoái chí thấy rõ và sẵn sàng nghe theo gợi ý cô ta. Cô ấy dẫn cả bọn xuống phòng ăn. Tôi qùi xuống, nhặt những mảnh vỡ của chiếc ly bể xếp vào hộp. Tượng Phật Bà Quan Âm được bỏ lại trên bàn. Tôi cầm bức tượng đó, lên lầu và đi tới tủ đựng các đồ cổ tôi sưu tập được. Tôi thấy các hộp đựng đều bị lôi ra hết. Trên sàn tung tóe những mảnh sứ màu huyết dụ, màu hoàng kim, màu xanh ngọc bích và màu lam nhạt… Tim tôi se thắt khi tôi thấy là mặc dầu những cố gắng tuyệt vọng của tôi nay cũng có kết quả, nhưng đã là quá muộn: nhiều hộp rỗng không. Món đồ đựng bên trong đã bị đập vỡ rồi!
Quang cảnh lầu hai nom như sau cơn động đất, chỉ khác là không có xác người chết. Rượu vang đỏ từ các chai vỡ chảy thấm trên các khăn bàn trắng nom chẳng khác gì máu.
Bởi chúng tôi luôn phải sống trong tình trạng thường xuyên thiếu thốn hoặc khan hiếm cho nên những gia đình nào có chỗ ở tương đối rộng rãi một chút thì đều có chỗ để dự trữ các nhu yếu phẩm như đường, bột mì… Trước kia khi còn làm việc cho hãng Shell, mỗi khi đi Hồng Kông về tôi đều mang theo những thùng thực phẩm, xà bông để bù vào sự thiếu hụt, mặc dù phải chịu thuế nhập nội cao khủng khiếp. Bọn Vệ binh đỏ đã tung hê cái tủ đựng đồ dự trữ của tôi. Đường, bột, đồ hộp chúng mở ra vứt lẫn lộn với áo quần của tôi mà chúng lôi từ tủ áo ra. Áo lông và các áo ngủ của tôi chúng lấy kéo cắt nát ra. Quạt trần quay vù vù, những mảnh lông – từ chiếc áo – những mảnh lụa, những mảnh giấy… bị gió cuốn bay tứ tung.
Đồ đạc bị lôi ra khỏi chỗ cũ. Bàn ghế bị lật ngược lên hoặc chồng lên nhau để làm cái thang. Bởi bây giờ đang là mùa hè nên các thảm trong nhà đều được rắc bột chống dán, mối và được cuộn lại cất trên lầu hai. Phía trong cuốn thảm lớn nhất, tôi thấy một cái túi xách của tôi nhét đầy hai trong số áo len và nhiều đồ lót còn mới. Có lẽ một Vệ binh đỏ nào đó đã lén dấu vào đó để sau này dùng riêng.
Trong phòng ngủ dành cho khách, Vệ binh đỏ đã thực hiện sự tàn phá dữ dội nhất. Chiếc radio do chúng mở và bắt làn sóng của một đài địa phương đang ông ổng tuôn ra một bài ca cách mạng dựa trên ý một trích đoạn của Mao “chủ nghĩa Mác có thể tóm lại trong một câu như thế này: Cách mạng sẽ biện chính cho mọi sự”. Giọng ca hối thúc, dồn dập khiến người nghe phải chú ý, bài hát đó không những trở thành một bài hát thúc quân của Vệ binh đỏ mà còn cho cả các “nhà Cách mạng Vô sản” được tổ chức ở giai đoạn sau của cuộc Cách mạng Văn hóa. Tôi tính tắt cái radio ấy nhưng không được vì chúng đã để lên cao quá mặc dù tôi đã đứng lên cái đống đổ vỡ gom giữa nhà.
Tôi nhìn vào những gì đã xảy ra cho các đồ đạc của cải của tôi một cách vô vọng. Nhưng tôi cũng thấy dửng dưng, chúng thuộc về một giai đoạn khác của đời tôi, một giai đoạn bị đột ngột cắt đứt khi lũ Vệ binh đỏ tràn vào nhà. Mặc dầu tôi không nhìn về tương lai nhưng tôi cũng không quay lại nhìn về dĩ vãng. Tôi cho là bọn Vệ binh đỏ đã lấy làm khoái chí. Phải chăng nơi bản chất con người của mỗi chúng ta không ít thì nhiều đều có cái khuynh hướng phá hoại? Cái lớp vỏ văn minh thật là mong manh. Bên dưới cái vỏ mỏng manh đó, mỗi chúng ta chỉ là con vật? Nếu tôi còn trẻ và nếu gốc gác gia đình tôi cũng lao động bần hàn, nếu tôi đã bị giáo dục để chỉ biết tôn thờ Mao và được dạy dỗ để tin rằng ông ta không bao giờ sai lầm thì biết đâu tôi cũng lại chẳng hành xử như các Vệ binh đỏ kia?
Cuộc đấu tranh bảo vệ các đồ sứ kia đã làm cho tôi mệt nhoài. Ngực tôi đau nhói. Tôi tự hỏi không hiểu có cái xương sườn nào của tôi bị gãy chăng. Nhìn ngực tôi trong gương phòng tắm, tôi thấy vết bầm lớn ở sườn bên phải. Tôi xuống lầu một và tìm một chỗ nằm nghỉ. Tôi mở cửa phòng tắm của tôi. Ở đây cũng lại cảnh bừa bãi, tung tóe, hỗn độn như ở lầu hai. Qua cửa thư phòng hé mở, tôi thấy đồ nữ trang của tôi được quăng bừa bãi trên mặt bàn. Vệ binh đỏ đang còn trong phòng ăn để bàn nhau cách xử lý những đồ sứ cổ, tôi vội vã rút lui để chúng khỏi nghi là tôi đã có dấu đi một món gì. Tôi quay sang phòng ngủ của con gái tôi và thấy phòng này còn nguyên không suy suyển gì. Luồng gió thổi qua cửa sổ hất tung tấm màn cửa bằng sa. Tôi qua phòng đó để móc lại, và từ cửa sổ dòm xuống tôi thấy một đống lửa nhúm giữa sân cỏ. Bon Vệ binh đỏ đang đứng quanh đống lửa và cẩn thận xé sách vở của tôi ném vào đống lửa. Tim tôi se thắt đau đớn. Tôi quay mặt lại, nhắm mắt tựa lưng vào cửa sổ. Hy vọng xóa tan được những hình ảnh mà tôi đã nhìn thấy, nghe thấy trong mấy giờ qua, tôi cố gắng tập trung sự suy nghĩ vào nội tâm để tìm lấy một khoảnh khắc bình an và để cầu nguyện.
Thình lình cô gái Vệ binh đỏ xuất hiện ở khuôn cửa và bật đèn lên:
- Mày làm gì ở đây? Ai cho mày đến đây? Mày định giở trò bịp bợm gì đây? – Nó tuôn ra một tràng câu hỏi, tới tấp và không đợi tôi trả lời thì đã nói: - Theo tao, chúng tao cần mày.
Tôi theo nó, đến thư phòng. Nhiều Vệ binh đỏ đã đứng quanh bàn giấy của tôi. Ngồi trên ghế là một cô gái ốm nhom với mái tóc buông xõa trên cái áo màu lam đã bạc phếch. Trong một xã hội mà cái ăn là mối quan tâm số một, thì những người hoàn toàn lệ thuộc vào khẩu phần do nhà nước quy định, không xoay sở vào đâu được thường nom người hốc hác, da dẻ tái mét. Và cô gái đó đúng là như vậy. Tôi cho là cô ta thuộc thành phần gia đình lao động chỉ sống bằng đồng lương chết đói, trong gia đình lại không có anh em, bà con là đảng viên. Cô ta ngồi đó, đầu gục xuống. Tôi đoán là những vệ binh kia – lúc tôi bước vào thì chúng im lặng – đang thẩm vấn cô ta. Một trong hai vệ binh – thầy giáo đang đứng gần cô gái – cũng Vệ binh đỏ – nói với tôi: “Kéo ghế lại ngồi gần đây”.
Mấy Vệ binh đỏ đem ghế từ trong phòng ngủ lại. Tôi và cả ông vệ binh – thầy giáo đều ngồi xuống. Tôi ngồi đối diện thẳng với cô gái. Khi tôi ngồi xuống cô ta liếc tôi một cái thật nhanh và nhìn một cách vừa lo âu, vừa cầu khẩn. Trên bàn, trước mặt tôi là số nữ trang.
- Tất cả nữ trang của mày đều cất ở trong hộp này phải không?
- Kiểm lại xem có đủ không? - Ông vệ binh – thầy giáo nói. Mở hộp ra, tôi thấy mấy chiếc cà rá, vòng đeo tay và chiếc đồng hồ cẩn kim cương của tôi bị mất. Ông vệ binh – thầy giáo lại hỏi tôi: “Đủ tất cả không? Nói cho thật. Chúng tao sẽ cho đi kiểm lại ở gia nhân của mày nữa. Mày có giấu đi vài món nào không? Vài gia đình tư sản đều tìm cách dấu nữ trang quí ở các chậu kiểng ở ngoài vườn”.
Lúc đó trong phòng thật căng thẳng. Những ông nhóc Vệ binh đỏ đang vặn đĩa hát ở cuối phòng cũng chạy lại để nghe câu trả lời của tôi. Tôi hiểu rõ tình hình. Cả bọn chúng đều nghi con bé này – có lúc nó tưởng chỉ có một mình – nên đã lén dấu một vài món nữ trang. Thật ra thì có lẽ đúng là con bé đã làm như vậy. Nếu tôi nói dối để che chở cho cô gái này và nếu là các gia nhân của tôi – họ biết rõ tôi có những món gì – lại không nói dối để che chở cho cô gái thì có thể chúng sẽ đổ cho tôi lén dấu đi vài món. Tôi không có cách nào khác hơn là nói thật. Và cô gái đã nhìn tôi thật tội nghiệp đến nỗi tôi thấy ghét vì phải buộc tội cô ta.
Những món chính thì đủ cả - tôi nói - những món có giá trị nhất chẳng hạn như vòng đeo cổ bằng cẩm thạch, cây trâm gắn hột soàn đều có đủ. Mất một ít đồ nho nhỏ, không có giá trị lắm.
Tôi cố làm giảm nhẹ tội đi cho cô gái. Nhưng ông vệ binh – thầy giáo hỏi tiếp:
- Mất những món gì kể rõ ra.
- Vài cái cà rá, một cái đồng hồ và cái vòng đeo tay.
- Cái đồng hồ ấy như thế nào? Làm bằng gì? Có giống cái này không?
Hắn vừa nói vừa giơ chiếc đồng hồ đeo tay của hắn ra. Đó là chiếc đồng hồ nhập cảng của Thụy Sĩ, một bảo tượng “tầm cỡ” của đảng viên Cộng sản Trung Hoa. Hắn nghĩ là tôi cũng có một cái đồng hồ kiểu đàn ông như hầu hết mọi người phụ nữ Thượng Hải có đồng hồ đeo tay lúc đó. Họ cho như vậy là bình đẳng với đàn ông. Nhưng tôi không theo “mốt” mới đó.
- Không, cái đồng hồ mất đó nhỏ hơn, có gắn hột soàn, vỏ bằng Platin. Đồng hồ của Pháp. Hiệu Ebel.
- Mong rằng mày không nói dối. Tại sao mày lại có một cái đồng hồ khác thường như vậy? Đồng hồ Thụy Sĩ là nhất phải không?
Trong khi nói với tôi, ông vệ binh – thầy giáo ra dấu cho một Vệ binh đỏ đi xuống phòng khách xem xem một cái đồng hồ như vậy có lẫn trong đám máy ảnh, ống nhòm… Tên Vệ binh đỏ chạy xuống và chạy lên ngay, lắc đầu ra dấu không có.
- Cái đồng hồ Ebel ấy mua ở Hồng Kông năm 1957 lúc ông nhà tôi còn sinh thời và lúc đó tôi đang ở đó. Đó là tặng phẩm cuối cùng của nhà tôi tặng tôi. Ông cứ hỏi bà vú mà coi. Bà biết rõ chuyện đó và biết tất cả các nữ trang của tôi có.
Không ai nói gì thêm. Cô gái gần như khóc. Mặt nó lợt lạt, buồn thảm và sợ hãi. Ông vệ binh – thầy giáo còn hỏi tôi về cà rá và vòng đeo tay. Trong lúc đang mô tả cho hắn nghe những món ấy, tôi chợt có ý nghĩ. Trên sàn trong thư phòng tôi hiện nay vương vãi bề bộn đủ thứ nhất là quanh bàn giấy của tôi giấy má, sách vở, báo chí bị xé và quăng lung tung, cao ngập đến gần đầu gối. Lẫn lộn ở đó có cả đống sách đang chờ được khiêng xuống sân để đốt. Mô tả cho ông vệ vệ binh – thầy giáo nghe những món đồ nữ trang bị mất xong, tôi nhìn cô gái đang ngồi trước mặt tôi và nói:
- Lúc nãy các ông làm lung tung, đảo lộn xà ngầu lên hết, đồ đạc, sách vở vất lung tung thế này thì có thể những món ấy bị lẫn lộn trong cái đám hỗn độn ấy rồi.
Cái mặt tái xanh của cô gái từ từ hồng lên. Thoáng một cái cô ta đã ngồi thụp xuống phía bàn giấy làm bộ tìm. Những Vệ binh đỏ khác cũng làm theo gợi ý của tôi. Ông vệ binh – thầy giáo vẫn ngồi trên ghế, nhìn tôi đôi lông mày nhíu lại, có vẻ bối rối. Theo tôi, hình như hắn ta hiểu cái cách đỡ gạt đó nhưng không hiểu cái động lực khiến tôi bao che một tên ăn cắp. Khổng Tử nói “Lòng trắc ẩn là cái mà mọi người đều có”. Nhưng ngày nay câu nói ấy không còn đúng ở Trung Hoa, nơi mà xã hội bị dìm ngập trong chủ nghĩa duy vật thì mọi hành vi, hành động của con người hầu như đều bị thúc đẩy bởi lòng ích kỷ, vị kỷ. Có lẽ ông vệ binh – thầy giáo nghĩ rằng làm như vậy, tôi hy vọng thu được lợi lộc gì đó nơi các Vệ binh đỏ.
Sau khi sục tìm trong đống sách báo tung tóe trên sàn nhà, các Vệ binh đỏ đã tìm thấy mấy cái cà rá, vòng đeo tay. Nhưng cái đồng hồ thì không thấy. Có lẽ do một người khác không phải cô gái này đã lấy chiếc đồng hồ. Cô gái mỉm cười.
Trong phòng ngủ của tôi, các ông Vệ binh đỏ lấy búa đập phá đồ đạc. Ngay trước mắt tôi, chúng cũng đang đập phá các đĩa hát. Tôi đứng dậy và nói với ông vệ binh – thầy giáo: “Đó là những đĩa nhạc cổ điển của các danh sư châu Âu vào thế kỷ 18 và 19. Nhạc đó đâu có bị cấm. Trong các nhạc viện của ta loại nhạc Tây phương này cũng đem giảng dạy kia mà. Sao không giữ những đĩa này rồi đem cho Hội Nhạc?”
- Mày cứ sống trong dĩ vãng. Mày không biết là nhà lãnh đạo vĩ đại của chúng ta đã dạy rằng nhạc phương Tây, bất cứ loại nào, đều là đồi trụy. Chỉ có một vài đoạn của một vài bài là được. Còn thì … không được một bài nào trọn vẹn là không đồi trụy.
- Mỗi đoạn của bất cứ tác phẩm nào cũng là thành phần của một toàn bộ chỉnh thể, - tôi nói lầm bầm.
- Câm ngay! Dù sao đi nữa thì nông dân, công nhân đâu có cần Mozart, Chopin, Beethoven hay là Tchaikovsky phải không? Chúng tao sẽ sáng tác nhạc cho riêng người vô sản chúng tao. Còn cái Hội Nhạc ấy hả, giải tán mẹ nó rồi!
Đêm dường như vô tận. Tôi mệt đến nỗi đứng không nổi nữa. Tôi xin phép ông vệ binh – thầy giáo nằm nghỉ một chút.
- Mày có thể vào phòng con gái mày. Cô ta sẽ là một công nhân điện ảnh độc lập, sống bằng đồng lương của mình. Phòng của cô ấy không bị hành động Cách mạng của chúng ông động đến. - Tôi quay vào phòng con gái tôi và nằm trên giường của nó. Đêm vẫn còn dài. Nhưng qua cửa sổ tôi thấy phía đông, trời đã rạng. Tôi nhắm mắt lại và từ từ chìm vào giấc ngủ.
Khi tôi thức dậy thì ánh nắng mặt trời đã rọi vào phòng. Căn nhà im ắng hơn thường lệ, vẫn có tiếng hát phát ra từ máy radio nhưng không còn những tiếng xô đẩy bàn ghế đồ đạc rầm rầm trên lầu nữa. Tôi vào phòng tắm của con gái tôi. Tắm xong tôi lấy quần áo của nó bận luôn. Bên ngoài phòng ngủ, tôi thấy các ông nhóc Vệ binh đỏ, đứa thì ngồi ở ghế, đứa thì ngồi ở bậc thang, mỗi đứa nhai cái bánh bao mà ở trường vừa gởi lại. Chỉ còn lại một ít Vệ binh đỏ. Và không thấy một ông Vệ binh đỏ – thầy giáo nào. Tôi đi xuống bếp để ăn sáng.
Tôi ngồi xuống bàn kê cạnh bếp. Anh bếp dọn cho tôi một phin cà phê, bánh mì nướng, bơ, bình mứt cam hiệu Cooper.
Một cô Vệ binh đỏ – mặt mày nom cũng xinh xắn, hai cái đuôi sam lõng thõng hai vai – đi vào trong bếp và ngồi xuống bàn ăn đối diện với tôi. Sau khi hớp một hớp, tôi đặt ly cà phê xuống. Nó cầm lấy ly ấy, trong ly còn một chút cà phê. Cô bé hít hít. Nhăn mặt xem ra khó ngửi, cô ta hỏi tôi:
- Cái gì vậy?
- Cà phê! – tôi đáp.
- Cà phê là cái gì?
Tôi nói cho cô ta hay cà phê là một thức uống, cũng như trà, khác cái là cà phê thì đậm đặc hơn.
- Thức uống ngoại quốc hả? - Cô ta đặt mạnh cái tách xuống.
- Cô muốn gọi đó là thức uống ngoại quốc thì gọi!
Tôi cầm miếng bánh mì lên, phết bơ vào, cô gái Vệ binh đỏ nhìn vào hũ bơ, đưa tay cầm hũ mứt có dán nhãn hiệu tiếng Anh. Rồi cô ta tựa vào lưng ghế mở to đôi mắt đen láy nhìn chòng chọc vào tôi.
- Tại sao mày cứ phải ăn uống đồ ngoại quốc vậy? Tại sao mày có nhiều sách tiếng nước ngoài vậy? Tại sao cái gì của mày cũng là đồ ngoại vậy? Trong các phòng của mày la liệt đồ ngoại là đồ ngoại. Ấy thế mà một cái chân dung vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu thì lại không có. Chúng tao đã lục soát nhiều nhà của bọn giai cấp tư sản rồi. Nhà mày là tệ nhất, phản động nhất. Mày là người Hoa hay cũng là người nước ngoài luôn?
Tôi mỉm cười trước sự nổi giận của cô bé. Ngôi nhà của tôi chắc hẳn phải khác xa những ngôi nhà mà chúng đã cướp phá. Lúc mới mở màn cuộc Cách mạng Văn hóa, lão bộc đã gợi ý tôi nên treo cái chân dung Mao Chủ tịch. Nhưng vì nhiều người cũng có cái ý nghĩ như vậy, nên chân dung Mao trở nên hiếm, tôi tìm mua không có. Tôi nghĩ là tôi nên giúp cô gái xinh xắn này nhìn sự việc theo đúng trong bối cảnh và viễn tượng của nó.
- Cô có ăn cà tô mát không? Cà chua ấy mà? - Tôi hỏi cô gái.
- Dĩ nhiên là có! Cà tô mát rất phổ biến ở Thượng Hải này. Đến mùa, giá cà tô mát sụt xuống cứ gọi là vài đồng thì khối, mấy kí. Người lớn, con nít ở Thượng Hải ai mà chẳng ăn cà tô mát.
- Ờ thế mà cà tô mát là thức ăn ngoại đấy, nó được người nước ngoài đem vào Trung Hoa đấy. Dưa hấu cũng vậy – từ nước Ba Tư, theo con đường tơ lụa mà nhập vào Trung Hoa đấy. Còn về sách tiếng nước ngoài hả. Chính ông Karl Marx là người nước ngoài, người Đức đó. Nếu nhân dân đừng đọc sách do người nước ngoài viết thì làm gì có phong trào Cộng sản quốc tế. Không ai có thể bưng bít mãi những điều, những lý tưởng trong biên cương của một nước, một xứ. Ngay cả thời xưa, lúc giao thông còn khó khăn thì cũng đã thế. Ngày nay, cái chuyện bưng bít tin tức hầu như là không thể thực hiện được nữa rồi. Tôi dám chắc chắn là nhân dân trên toàn thế giới đã nghe biết rằng học sinh trung học ở Trung Hoa đã được tổ chức thành Vệ binh đỏ.
- Thật không? – cô gái trở nên mơ màng suy tư. Rõ ràng là tôi đã hé cho cô ta thấy một chân trời mới. Lát sau cô ta nói:
- Bà thật là hay, bà làm cho mọi sự sáng tỏ ra. Bà đã học đại học chưa?
Tôi đang nhai đầy miệng bánh nên chỉ gật đầu. Cô gái nom đăm chiêu:
- Cháu hi vọng hết trung học, cháu sẽ được học đại học. Nhưng bây giờ thì khỏi còn đại học gì nữa. Bọn trẻ tụi cháu sẽ thành lính hết ráo!
- Cô là con gái. Thành lính sao được?
- Là con gái nên cái đó mới lại càng khốn nạn. - Cô bé thở dài, thất vọng.
- Dù sao, không có chiến tranh, vậy thì cô đừng lo. Tôi cố an ủi cô gái.
Con mắt cô ta liếc nhanh ra cửa và ném cái nhìn “thông cảm” về phía anh bếp đang lom khom rửa rau, cô gái đặt tay lên vai tôi và thì thào nói với tôi: “Bà chớ có nói vậy, nói vậy nguy hiểm lắm đấy. Lãnh tụ vĩ đại của chúng ta bảo chúng ta phải chuẩn bị chiến tranh nhân dân để chống lại bọn đế quốc Mỹ, bọn xét lại Liên Xô, bọn Quốc Dân Đảng phản động ở Đài Loan. Bà không được tuyên truyền chủ hòa, như vậy là trái với lời dạy của lãnh tụ vĩ đại đấy”.
Tôi mỉm cười và gật đầu đồng ý.
Cánh cửa bếp mở ra, một ông nhóc Vệ binh đỏ thò đầu vào và hỏi anh bếp tủ lạnh đã chuẩn bị xong chưa. Cô bé đang đặt tay lên vai tôi và thì thầm to nhỏ bèn vội vã rụt tay lại, đứng lên. Mặc dầu ông nhóc vệ binh kia đã đi khỏi, cô gái vẫn đứng nghiêm, nói lớn:
- Mày là kẻ thù giai cấp, tao không thèm nghe những lời tầm bậy của mày!
Cô gái quay ra bỏ đi. Nhưng đến cửa, cô ta quay lại, mỉm cười dịu dàng với tôi.
Anh bếp đang đứng ở chỗ rửa chén. Anh ta nói: “Đám trẻ này không phải tất cả đều điên cả”. Nhớ là thằng con trai út của anh cũng là học sinh trung học, tôi hỏi anh là thằng nhỏ có được kết nạp vào Vệ binh đỏ không.
- Dạ, có chứ, không sao được? Nó đâu dám để cho tôi bị coi là kẻ phản bội và bị trừng phạt. Ngoài ra, lũ trẻ luôn luôn muốn làm đúng y như những đứa khác. Nhưng về đến nhà là vợ tôi khám xem nó có lấy của người ta cái gì để đem về nhà không.
- Sự thể vẫn thường xảy ra như vậy lắm hay sao?
- Dạ, cơn cám dỗ mạnh lắm, nhiều bậc cha mẹ khuyến khích con cái mình ăn cắp đồ của người ta. Nhưng tôi sẽ không để cho con tôi bị biến thành một thằng ăn cắp quen tay.
- Những đứa trẻ, con cái gia đình tư sản lúc này ra sao?
- Lúc này là lúc khó khăn cho chúng. Chúng bị làm cho cảm thấy hoặc là bị xã hội ruồng bỏ hoặc là phải cắt đứt liên hệ với gia đình. Chắc bà biết rõ là tụi nhỏ có thể đối xử với bà rất tàn bạo, con số tự tử ngày càng tăng.
Ở bên ngoài bếp tôi nom thấy một người đàn ông mà đêm hôm trước không thấy có mặt trong đám Vệ binh đỏ. Tôi thấy rõ cái vẻ tự tin của anh ta, vẻ tự tin của một người đảng viên. Có lẽ hắn ta là một cựu chiến binh thời nội chiến vì nom hắn đã ngoại tứ tuần.
- Tôi là quan chức liên lạc của chính quyền thành phố – hắn tự giới thiệu với tôi – công việc của tôi là giám sát các hành động Cách mạng của các Hồng vệ binh. Chị có bị đánh đập hay ngược đãi gì không?
Thật là một sự ngạc nhiên thích thú khi được biết chính quyền thành phố đang cố gắng để kiểm tra lại những hành vi quá lạm dụng của bọn Vệ binh đỏ. Những cố gắng nhằm tiết chế hành động quá lạm của Vệ binh đỏ đã bị ngay chính những người theo Mao tại Bắc Kinh ngăn chặn. Cái chức năng quan chức liên lạc cũng chẳng tồn tại được bao ngày. Ngay đang khi nói với chúng tôi, cái anh chàng quan chức liên lạc này cũng chưa biết là hắn cũng sắp bị lật nhào, bởi vậy hắn nói năng còn dõng dạc, oai vệ lắm.
- Không, không có gì hết – tôi trả lời cho ông quan chức liên lạc – các Vệ binh đỏ đã tiến hành các hành động Cách mạng đúng theo lời dạy của lãnh tụ vĩ đại Mao Chủ tịch. Tôi đã được phép ăn và ngủ.
Nghe tôi báo cáo với quan chức liên lạc như vậy, các nhóc Vệ binh đỏ sướng ra mặt. Quan chức liên lạc nói với tôi:
- Vậy tốt, chủ đích của giai cấp vô sản không phải là hủy hoại hình hài của mấy người. Chúng tôi sẽ cứu vớt tâm hồn các người bằng cách cải tạo tư duy của mấy người.
Mặc dầu Mao và những người theo ông ta vẫn tự xưng là vô thần nhưng họ cũng rất ưa nói đến linh hồn, nhắc đến tâm hồn. Trong cuộc Cách mạng Văn hóa, từ “linh hồn” (soul) vẫn được nhắc đến luôn. Nhiều lần đứng trên khán đài ở Thiên An Môn và phát biểu nhân danh đại diện của Mao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng – Lâm Bưu – đã nói với đám Vệ binh đỏ đứng dưới là về tinh thần Cách mạng có thể tác dụng cải thiện linh hồn con người. Chẳng ai dám xin Mao hoặc Lâm giải thích rõ “linh hồn” theo họ hiểu là như thế nào. Ông quan chức liên lạc đưa tay lên, ra dấu vòng vòng quanh ngôi nhà của tôi và nói:
- Chỉ có một mình chị và cô con gái ở trong một ngôi nhà chín phòng với bốn bồn tắm, trong khi ấy thành phố Thượng Hải, dân thiếu nhà ở, như vậy có hợp lý không? Trong nhà chị trải thảm len, đồ đạc thì bằng gỗ mun, gỗ hồng tâm, trong khi ấy những nhà khác, ngay cả những món đồ nhật dụng cần thiết cũng không có. Mùa hè chị mặc đồ lụa là, mùa đông chị mặc áo len, áo lông, ngủ giường nệm êm ấm, như vậy có được không? Một gia đình gồm hai người nhà chị mà lại phải tới ba người hầu hạ. Như vậy, có được không?
Nói rồi hắn nhìn chòng chọc vào người tôi. Khi thấy tôi không có ý cãi hắn, thì hắn nói tiếp:
- Như tôi đã nói lúc nãy, mục tiêu của chúng tôi không phải là tiêu diệt cái hình hài thể xác của mấy người. Chúng tôi vẫn để lại cho mấy người quần áo đồ đạc đủ để sống một cuộc đời bình thường, chứ không được giữ một mức sống cao hơn mức sống của một người lao động trung bình.
Hắn nhìn xem phản ứng của tôi ra sao. Không thấy tôi phản ứng hắn tiếp:
- Lúc này trời còn ấm nhưng mùa đông sắp đến rồi. Vệ binh đỏ sẽ đưa chị lên lầu, để cho chị tự sắp xếp lấy một va li nhỏ quần áo. Nhớ lấy cả áo ấm nữa. Trong nhà này rồi sẽ không còn khí đốt để sưởi ấm nữa đâu. Than còn để dùng trong công nghiệp chứ không phải để cho giai cấp tư sản xài sang. - Hắn vào phòng ăn và đóng cửa lại. Tôi theo Vệ binh đỏ lên lầu hai để thu lượm quần áo ấm trong đống đồ đổ vỡ kia. Một thằng Vệ binh đỏ đêm trước có ở đây, lúc sáng sớm nay về nhà hắn và nay quay trở lại. Nó nhảy hai nấc thang một, lên lầu và nói với một con bé vệ binh đang thu dọn đồ cho tôi:
- Thật không thể tin được! Không thể tin được! Tao về nhà tao thấy nhà tao làm sao mày biết không? Chúng nó cướp phá nhà tao luôn. Làm sao có thể như thế được. Ông già tao, ông nội tao đều là công nhân chứ đâu phải…
Thật vậy đó là một sự khác thường, tôi và cô bé vệ binh ngưng xếp quần áo và bảo nó nói đầu đuôi nghe.
- Cũng là do dì tao. Lúc Nhật chiếm đóng, tụi nó đốt cháy rụi cả nhà của bà. Bà trắng tay đâu còn gì. Sau chiến tranh, bà ấy vay mượn vốn liếng mở một quầy bán trái cây. Bà làm ăn khấm khá nuôi đủ bản thân và nuôi mấy đứa con. Nhưng bà nghỉ cách nay hai năm rồi. Vì già quá, không trông nom được, ấy thế mà bây giờ tụi nó bảo bà thuộc thành phần tư sản bởi vì bà có “cơ sở làm ăn riêng”. Nhà tao bị đánh là vì lúc này, mấy đứa con không còn ở Thượng Hải, nên bà lại ở đằng gia đình tao.
Thằng Vệ binh đỏ này tỏ ra căm phẫn và gần như suýt khóc. Sự việc bất ngờ này là một vố đau cho tên Vệ binh đỏ vẫn kiêu hãnh tự cho mình là đúng lắm, gia đình ba đời là công nhân. Và sự việc đó cũng mở mắt cho tôi như vậy, tôi phải công nhận là có nhiều thứ tư sản thật. Nếu có một quầy bán trái cây cũng là tư sản thì Vệ binh đỏ ở Thượng Hải này làm mệt nghỉ mà còn chưa hết việc.
Nhiều Vệ binh đỏ cũng xúm lại nghe câu chuyện của anh chàng kia.
Nhớ tới con gái tôi, tôi đã yêu cầu các Vệ binh đỏ cho tôi được thu góp quần áo mùa đông cho nó nữa. Chúng đã cho tôi biết:
- Cô ta không bị hành động Cách mạng chi phối. Chúng tao không đụng đến phòng của cô ấy.
- Những quần áo mùa đông của nó đâu có để trong phòng của nó. Mùa hè, quần áo mùa đông của nó xếp ở đây!
Có lẽ do ảnh hưởng từ kinh nghiệm gia đình vừa nếm trải nên cậu Vệ binh đỏ nhà bị cướp phá đã mau mắn đáp:
- Phải dành cho cô ấy hai va li nữa!
Con gái tôi và tôi mỗi người được hai va li quần áo và được một bọc mùng màn để ngủ.
Cuộc tàn phá đã xong. Các Vệ binh đỏ sắp sẵn để rời đi. Đến buổi chiều thì có hơn một chục Vệ binh đỏ nữa rời đi. Một trong số các Vệ binh đỏ gọi tôi vào phòng ăn.
Quan chức liên lạc và hai vệ binh thầy giáo đã ngồi sãn ở đó, bên bàn ăn, trên đó bừa bộn những giấy tờ, thư từ mà ông nội tôi đã viết cho ba tôi khi ba tôi theo học trường hàng hải bên Nhật Bản, từ trước cuộc cách mạng Tân Hợi (1911). Đó là những giấy tờ mang từ nhà ông nội tôi đến khi má tôi dọn nhà từ Nam Kinh đến đây năm 1962. tôi cũng chưa hề mở ra xem nó chứa những giấy tờ gì nữa, bởi vì những thứ này rồi sẽ phải gởi đến cho anh trai tôi hiện nay đang ở Bắc Kinh. Theo tập tục truyền thống Trung Hoa, anh là con trai cả nên anh được quyền hưởng gia tài. Tôi thấy giấy tờ và bì thư đã quá cũ và ố vàng nhưng nét mực của ông nội tôi viết thì vẫn rõ, không phai.
Sau khi chỉ cái ghế trống và bảo tôi ngồi xuống, ông quan chức liên lạc chìa những bức thư ra và hỏi tôi:
- Chị đã đọc những bức thư của ông nội chị gửi cho ba chị chưa?
- Ba tôi đưa cho tôi coi những bức thư ấy đâu hồi tôi mười hai mười ba gì đó, lâu lắm rồi!
- Tuy là một đại địa chủ nhưng ông nội của chị cũng là người yêu nước. Ông gửi con trai của ông sang Nhật Bản học để làm sĩ quan hải quân. Bởi vì Trung Hoa đã bị bại nhục nhã trong trận hải chiến với Nhật năm 1895. Ông cũng tham gia vào cuộc cách mạng đẻ non tức là cuộc vận động Cải cách Định chế. Khi cuộc vận động này thất bại, ông lui về tỉnh nhà để chuyên tâm vào việc dạy học. Chị có biết kính trọng ông nội chị không?
Tôi nghĩ quan chức liên lạc này phải “gồ” lắm mới nói ông nội tôi là người yêu nước mặc dù ông là đại địa chủ. Bởi vì tất cả các đại địa chủ đều bị coi là kẻ thù nhân dân và bị bắn chết trong cuộc cải cách ruộng đất năm 1950 kia rồi. Chẳng có ai rỗi hơi để xét lại xem trong số đại địa chủ ấy có ai là yêu nước không. Tôi nhớ ba tôi có nói là cũng may chú ba tôi – người đã trực tiếp trông nom đất đai ấy – đã chết từ mấy năm trước khi Cộng sản nắm chính quyền, nhờ đó ông nội tôi mới khỏi cái ô danh có người con bị xử tử.
Người Trung Hoa có lòng tôn kính tổ tiên. Mặc dù chưa bao giờ gặp ông nội tôi, nhưng tôi cũng kính trọng người lắm. Bởi vậy tôi đã trả lời ông quan chức liên lạc rằng dĩ nhiên tôi kính trọng ông nội tôi lắm.
- Chị kính yêu ông mà chị lại đi làm việc cho một xí nghiệp ngoại quốc? Ông quan chức liên lạc hỏi vặn tôi – Thế chị không biết là chẳng bao giờ bọn ngoại quốc lại có ý tốt đối với dân mình hay sao? Chúng bóc lột nhân dân Trung Hoa về kinh tế hoặc nô dịch nhân dân Trung Hoa về chính trị. Chỉ có bọn người Hoa cặn bã mới đi làm việc cho bọn ngoại quốc. Chị nên biết thế. Người ta đã đề nghị chị đi dạy tiếng Anh ở Viện Ngoại ngữ chị không nhận mà lại đi làm cho hãng Shell. Tại sao vậy?
Tôi không thể nói cho hắn biết là tôi quyết định đi làm cho hãng Shell bởi vì tôi sợ mình bị lôi thôi vì những cuộc vận động chính trị do Mao Trạch Đông phát động. Năm 1957, khi tôi hỏi ý kiến để chọn lựa hoặc đi dạy ở Viện Ngoại ngữ hoặc đi làm cho hãng Shell thì chiến dịch chống cánh hữu đang được triển khai rầm rộ. Chiến dịch ấy nhằm trước tiên vào đám trí thức, đặc biệt là nhóm trí thức đã được du học ở nước ngoài đều bị nghi là nuôi dưỡng ý tưởng thù nghịch với Chủ nghĩa Cộng sản. Nhiều người bạn và người quen biết của tôi đã bị tố cáo và bị hành hạ. Có một số bị gửi đi các trại lao động cải tạo. Một số khác bị tống giam trong các nhà tù. Tất cả các trường đại học và cơ quan nghiên cứu – kể cả Viện Ngoại ngữ – đều trong tình trạng xáo trộn. Trong trường hợp ấy, ai điên khùng gì mà đâm đầu vào đi dạy ở Viện Ngoại ngữ. Tôi chẳng hối tiếc gì khi nhận đi làm cho hãng Shell mặc dù tôi thừa biết làm việc cho một xí nghiệp nước ngoài chẳng phải là một vinh dự và cũng chẳng có một địa vị gì trong xã hội Trung Hoa.
- Có lẽ là chị ham số lương lớn mà xí nghiệp nước ngoài trả cho chị chứ gì? Hắn ta hỏi tôi.
Lập tức, tôi biết ngay là mình đang đứng trên hiểm địa. Ở Trung Hoa lúc đó, do ảnh hưởng của sự tuyên truyền liên tục, nói chung, người ta tin rằng giai cấp tư sản sẵn lòng làm tất cả mọi sự – kể cả tội ác – chỉ vì tiền.
- Không! Tôi đáp - trước khi đi làm cho hãng Shell thì tôi đã có một số vốn khá lớn. Tôi đi làm cho hãng Shell chỉ vì điều kiện làm việc của hãng này. Chẳng hạn như số giờ làm việc tương đối ít, có xe cộ… Tôi cho là tôi cũng làm biếng nữa.
Tôi cảm thấy nên thêm câu “làm biếng” này vào cho nó có vẻ “tự phê” một chút. Làm biếng cũng là một tính chất khác được gán cho giai cấp tư sản.
Hắn đứng dậy, nhìn đồng hồ:
- Tôi còn phải đi nhiều chỗ nữa – hắn nói – chị phải suy nghĩ kỹ hơn nữa về việc chị làm cho bọn ngoại quốc và sẵn sàng thay đổi quan điểm để đứng vào quan điểm của nhân dân. Chính sách của chúng tôi không phải là tiêu diệt hình hài thể xác của các phần tử tư sản. Chúng tôi muốn cải tạo tư sản. Chị không muốn đứng vào hàng ngũ giai cấp vô sản vinh quang sao? Chị chỉ có thể đứng vào hàng ngũ ấy sau khi đã lột xác, đã từ bỏ tất cả những của cải và thay đổi lối sống. Mục đích của cuộc cách mạng vô sản là thiết lập một xã hội vô giai cấp trong đó mọi cá nhân hành động vì lợi ích chung và thụ hưởng thành quả lao động của mình, một xã hội trong đó không có ai “làm cha” ai.
Đó là một hình ảnh hấp dẫn và lý tưởng. Khi còn là sinh viên, tôi cũng đã tin như vậy. Nhưng sau 17 năm dưới chế độ Cộng sản Trung Hoa, tôi biết là một xã hội như vậy chỉ có trong các giấc mơ thôi. Bởi vì tất cả những ai đã nắm được quyền thì đều trở thành giai cấp thống trị mới. Họ sẽ dùng quyền đó để kiểm soát đời sống và uốn nắn nguyện vọng nhân dân theo ý họ. Bởi vì, nhân danh nhà nước, họ kiểm soát sự sản xuất và phân phối hàng hóa cũng như dịch vụ, cho nên họ sẽ hưởng thụ một đời sống xa hoa vượt quá mức rất xa một người dân lao động bình thường. Trong chế độ cộng sản Trung Hoa, mọi chi tiết về đời sống tư của các lãnh tụ đều được giữ bí mật an ninh quốc gia. Nhưng có người Trung Hoa nào mà không biết các đấng lãnh tụ của mình sống trong các dinh thự rộng rãi, tôi tớ cả bầy, mua hàng hóa sang trọng, quí hiếm, xa xỉ… ở những cửa hàng riêng với cái giá tượng trưng, con cái có xe đưa đón đi học ở trường riêng, có thầy giáo tuyển lựa để dạy. Và cho dù người Trung Hoa có biết các lãnh tụ của mình sống thế nào thì cũng chẳng ai dám hé răng. Nếu lỡ đi qua một cửa hàng dành riêng cho các cơ quan quân sự và lãnh tụ cao cấp thì cũng nên rẽ lối khác, tránh đi để khỏi có ai cảm tưởng là có một thứ cửa hàng như vậy.
Ở Trung Hoa, ai nấy đều biết chính Mao Trạch Đông “ngự” trong một lâu đài trước kia là lâu đài mùa đông của hoàng đế nhà Thanh. Xung quanh ông ta cũng có vô số cô gái trẻ đẹp, để phục dịch, hầu hạ. Ông ta ra lệnh cho lũ Vệ binh đỏ xé hiến pháp, đánh đập nhân dân, cướp phá nhà cửa của họ… Không có ai – kể cả các lãnh tụ đảng – dám chống lại ông ta. Ngay cả một quan chức liên lạc – một thứ cắc kè kỳ nhông trong Đảng – cũng đã được phép quyết định cho tôi chỉ được giữ lại mấy cái áo – mặc dù tất cả đều là của tôi – và sau này tôi phải sống như thế nào. Hắn qui định một cách độc đoán cách tôi phải sống, ra lệnh cho tôi, thậm chí tố cáo tôi những tội hoàn toàn bịa đặt, tưởng tượng. Hắn làm được những chuyện ấy chỉ vì hắn là một viên chức đảng, còn tôi chỉ là một dân thường. Hắn có quyền, còn tôi thì không. Làm gì có bình đẳng, dù là bình đẳng tưởng tượng.
Sau khi viên chức liên lạc đi khỏi, các Vệ binh đỏ được biết là ngày hôm đó sẽ không có xe đến đón chúng đi cướp phá nhà khác nên chúng đã đem tất cả những đồ nữ trang của tôi vào thư phòng của Mai Bình rồi niêm phong cửa phòng. Chúng cũng giao cho các gia nhân của tôi cái trách nhiệm phải canh chừng tôi để tôi không dấu bớt đi món nào.
Khi tên Vệ binh đỏ cuối cùng ra khỏi cổng thì trời đã tối lắm. Lão bộc và anh bếp cố gắng dọn dẹp những mảnh gãy, vỡ bề bộn trên khắp các phòng – kính, ly, tách vỡ, khung hình và sách báo xé ra thành từng đống ngồn ngộn. Tôi nói họ đừng thèm cất, dọn bất cứ thứ gì đề phòng trường hợp những gì lũ Vệ binh đỏ muốn nhưng lại mất đi thì chúng lại đổ vạ cho mình cố ý cất, dấu đi. Bởi vậy, họ chỉ dẹp lấy một lối đi và dồn vào một góc.
Lên phòng ngủ của tôi để xem sự tàn phá ở đó, tôi đã thấy bà vú ngồi đó, nhìn đăm đăm vào đống gãy vỡ, bị xé vứt bừa bãi quanh chỗ bà ngồi. Tôi nói với bà giúp tôi lượm những quần áo bị xé gom vào một góc để có chỗ trống mà đặt chân lên. Tấm vải phủ giường của tôi lấm bê bết dấu giày của Vệ binh đỏ. Mở tấm phủ giường lên, tôi thấy tấm nệm bị rạch nát. Bức tranh vẽ bình hoa treo phía trên giường tôi đã bị kẻ nào đó lấy cây son tô môi viết vào đó khẩu hiệu: “Đả đảo chó săn đế quốc”. Vệ binh đỏ lấy vật nhọn chọc thủng lỗ bức bình phong bằng sơn mài.
Một mảnh giấy màu dán chèn lên bức bình phong đó viết khẩu hiệu: “Vô sản chuyên chính muôn năm” và “Đả đảo giai cấp tư sản”. Tôi xếp bức bình phong thủng đó lại, để sang một bên và cẩn thận để phía có khẩu hiệu quay ra. Tôi nhặt cái chụp đèn bằng lụa trắng lên trong khi bà vú quét mảnh vụn của cái chậu đèn bằng sứ. Trong phòng tắm, cái bông sen tắm bị tháo gỡ ra, dính đất và ném thành đống, bồn tắm còn lưng lửng nước và dính đủ thứ màu. Thì ra các ông Vệ binh đỏ đã lấy tất cả thuốc men ở tủ thuốc ném vào đó. Tôi lại tháo nút để nước trong bồn tắm chảy đi.
Thình lình chuông ngoài cổng reo lên ầm ĩ. Lão bộc chạy vội lên lầu kêu lớn tiếng: “Lại một toán Vệ binh đỏ khác tới!”
Tôi vội vã lau tay vào cái khăn treo ở vòi nước và đi xuống lầu. Tôi nói với lão bộc: “Cứ bình tĩnh và ra mở cửa cho họ”.
- Anh bếp ở ngoài đó – Lão trả lời như muốn hụt hơi.
Tôi thong thả đi xuống thang. Có tám người mặc quần áo màu lam bạc thếch của những nông dân hoặc công nhân làm ngoài trời đang đứng trước đại sảnh. Tất cả đều tuổi cỡ trung niên. Tất cả mang băng ghi chữ Hồng Vệ Binh. Người lãnh đạo bọn này – một người đàn ông có cây roi da cầm tay – đến trước mặt tôi và nói “Chúng ông là Vệ binh đỏ! Chúng ông đến tiến hành hành động Cách mạng chống lại mày!”
Sự thể phi lý quá đến nỗi tôi không thể không thấy bật cười “Thế ra các ông là Vệ binh đỏ thật sao? Tôi thấy dường như các ông là cha cái đám Vệ binh đỏ ấy chứ. Sao Vệ binh đỏ kia là con nít nhỏ xíu mà Vệ binh đỏ này già quá vậy?”. Tôi đứng ở nấc thang cuối cùng và nói vậy. Tên cầm roi da quất tôi một cái vào cổ tay, gần chỗ khuỷu. Cú đánh làm cho tôi đau nhói và mím môi lại. Mấy người còn lại có vẻ tức giận. “Đưa chìa khóa đây! Chúng ông không có thì giờ đứng đây nói lôi thôi với mày”, tên lãnh đạo thét lên.
- Chìa khóa thì những Vệ binh đỏ đến trước các ông đã lấy đi mất rồi!
- Nói láo! - Hắn giơ cây roi da lên tính quất tôi nhưng chỉ để ngọn roi chạm vào vai tôi.
Một tên khác nói vẻ băn khoăn:
- Chúng đã lấy đi hết rồi hả?
- Chưa – tôi đáp – chưa lấy hết tất cả!
Một tên đã xô tôi và đám gia nhân vào bếp, khóa trái cửa lại. Hắn đứng bên ngoài cửa để canh chừng và nhìn những tên kia đi gom đồ đạc còn lại trong nhà. Rồi chúng vội vã rút lui, quên hay là cố ý quên không mở cửa cho chúng tôi. Anh bếp phải trèo qua cửa sổ ra vườn rồi quay trở vào mở cửa bếp cho chúng tôi ra.
Bà vú vội lên phòng ngủ làm giường cho tôi ngủ. Tôi ngồi ở bàn bên cạnh bếp để uống café anh bếp làm cho tôi. Anh ngồi phía bàn bên kia đối diện với tôi và bắt đầu tách quả đậu.
- Không biết rồi còn xảy ra những gì nữa – anh nói – thật chẳng còn luật pháp, kỷ cương trật tự gì nữa. Bất cứ thằng cha nào vớ được cái băng đỏ và tự xưng là Vệ binh đỏ là có thể vào bất cứ nhà nào để tha hồ hoành hành!
- Vệ binh đỏ dán báo đại tự ở cổng nhà mình. Để tôi ra xem nó nói gì? - Ông lão bộc hỏi tôi.
- Ờ, ra coi.
Lão bộc quay trở lại và nói tôi bị tố là “âm mưu với ngoại bang”. Trong thời Cách mạng Văn hóa “thuật ngữ” này có nghĩa là tôi bị tố cáo làm gián điệp cho ngoại bang. Dịch đúng từng chữ: “tư thông với ngoại quốc”, ở một nơi nào khác thì điều này là thông thường và vô hại. Nhưng ở Trung Hoa của Mao, trực tiếp giao thiệp với người nước ngoài không thông qua nhà nước thì đó là một trọng tội. Tôi đang ngẫm nghĩ về cái tiếng Trung Hoa sao mà nó bị bẻ queo bẻ quẹo đi như vậy thì nghe thấy con gái tôi mở cổng khép lại rồi đẩy xe vào nhà xe.
- Mimi đã về! Chắc cô ta tức lắm! - Cả anh bếp và lão bộc đều reo lên. (Các gia nhân người Trung Hoa thường đặt tên cho con cái chủ nhà những cái tên thân mật để tỏ lòng quí mến. Vì vậy từ lúc nhỏ, con gái tôi đã được gọi là Mimi).
Tôi cố để tỏ ra dửng dưng và ngồi dậy để gặp con tôi.
Nó mở cửa, đứng đó và sững sờ nhìn cảnh hỗn độn. Thấy tôi, nó chạy lao tới, ôm tôi và thì thầm “Má, má không sao chứ?”
- Con đừng rối rít lên như thế! – tôi cố gắng nói bằng giọng diễu diễu vui vui – Cách mạng Văn hóa xong xuôi thì mình sẽ làm lại một cái nhà mới đẹp bằng, ứ, đẹp hơn cái nhà này nữa!
- Không, má à, sẽ chẳng ai để cho má một cái nhà như thế này chứ đừng nói gì đẹp hơn cái này, - nó nói, giọng nhẫn nhục, cam phận. Mẹ con tôi khoác tay nhau lặng lẽ lên lầu. Tôi theo nó vào phòng ngủ của nó. Ít nhất thì trong phòng của nó vẫn còn nguyên vẹn. Tôi ngồi xuống ghế trong khi nó đi vào phòng tắm. Khi chúng tôi trở ra, lão bộc đã dọn dẹp được một khoảng trống trong thư phòng của tôi và đặt một cái bàn ra để dọn ăn tối. Anh bếp đã dọn một đĩa nui, nước xốt và đậu ve. Mãi cho đến lúc đó tôi mới thấy mệt và đói.
Trong khi ăn, tôi nói cho con gái tôi nghe những gì mà ông quan chức liên lạc đã nói. Đại khái là tôi còn được để lại một số đồ đạc, đồ dùng để sống như một công nhân bình thường. Tôi có thể xin giữ lại cái lầu hai, còn tất cả thì phải nhượng lại cho nhà nước để phân cho những gia đình khác. Tôi cũng còn một phòng ngủ, phòng làm việc, phòng tắm. Con gái tôi cũng vậy. Bao nhiêu đó cũng đủ cho tôi còn được sắp xếp, lo xa còn là tốt. Tôi phải sống ở mức thấp hơn. Không có gì nhiều để phải quan tâm thì cũng là điều hay. Tinh thần con người ta cũng uyển chuyển và bản chất tôi là một người lạc quan.
Tôi để ý thấy là khi tôi đang nói kế hoạch cho tương lai sau này của chúng tôi, Mai Bình đã trở nên thư thái. Nó nói là ngoài việc chỉ định những quan chức liên lạc để giám sát các Vệ binh đỏ, Ban Bí Thư thành ủy Thượng Hải đã thông qua Nghị quyết 10 điểm nhấn mạnh tầm quan trọng phải bảo vệ di sản văn hóa và chỉ ra rằng lục soát tư gia người ta là trái hiến pháp. Đang làm gì đó, lão bộc cũng ngừng tay để nghe. Bà vú cũng từ phòng ngủ đi ra, vỗ tay. Họ vui mừng vì mẩu tin này. Nhưng, đã chứng kiến hành vi của Vệ binh đỏ và nghe chúng nói về những quan chức mà chúng gọi là “bọn xét lại” trong chính quyền nên tôi hoài nghi về hiệu năng của nghị quyết mười điểm vừa nói đó.
Tôi biết con gái tôi hết sức lo lắng cho tôi. Nó nhìn tôi với vẻ lo âu. Để làm cho nó bớt băn khoăn, lo âu, tôi nói là trong thời chiến tranh Trung Nhật, tôi đã mất bao nhiêu tài sản của cải rồi chứ đâu phải đây là lần thứ nhất.
- Ở Trùng Khánh – tôi nói – vào mùa hè năm 1941, lúc đó ba má đang sắp sửa đi Canberra cùng với một nhóm các nhà ngoại giao và cả gia đình họ để mở một tòa lãnh sự mới của Trung Hoa ở đó. Hai ngày trước khi đi, thì có một cuộc oanh tạc phi cơ dữ dội và kéo dài. Bom rớt trúng ngay sân quần vợt cạnh nhà, mái nhà bay, một phần nhà bị sập.
- Trời đất lúc đó má ở đâu? - Con gái tôi hỏi.
- Má ở dưới hầm, ngay trong căn nhà ấy. Còn ba thì đang trong hầm ở văn phòng của ba. Hầm trú ẩn ở Trùng Khánh thì được khoét sâu vào trong sườn núi, rất sâu và an toàn.
- Trong nhà có hư hại gì nhiều không?
- Cũng may là lúc có báo động thì mình để mấy cái va li ở dưới gầm cầu thang. Cầu thang sập và đè mấy cái va li đó. Phải đào bới và moi ra được ba cái. Dĩ nhiên là những gì đựng trong ấy đã hư hỏng gần hết. Đến Hồng Kông, gần như là phải sắm lại hết. Ba má không còn đủ thì giờ mà lôi đồ đạc ra khỏi đống gạch vụn. Ấy thế mà má cũng chẳng còn nhớ những gì đã xảy ra ngày hôm đó. Như con thấy, thực tế là ba má đã mất hết.
- Thế mà chẳng bao giờ má nói với con về điều đó.
- Xảy ra lâu rồi, từ trước ngày con ra đời kia mà. Má đã quên rồi. Chỉ khi Vệ binh đỏ đến cướp phá nhà này má mới chợt nhớ lại chuyện ấy!
- Ô, sao má lại có thể quên được một biến cố khủng khiếp như vậy? Má mất hết mọi thứ kia mà?
- Phải, má đã quên. Nhưng, đó là thời chiến. Người ta bị bom đạn khắp nơi. Những kinh nghiệm tệ hại xấu nhất cũng vẫn chịu được, nếu mình không phải là kẻ duy nhất phải chịu.
- Sẽ không bao giờ con quên được cái cảnh nhà mình ngày hôm nay, cho dù có đến một triệu năm nữa.
- Tốt hơn hết là nên nhìn tới chứ đừng nhìn lui. Của cải không quan trọng đâu. Cứ nghĩ đến những món đồ sứ đẹp mà má đã sưu tập được, trước khi vào tay má thì nó đã phải qua tay biết bao nhiêu người khác, nó đã thoát khỏi cái tai họa chiến tranh hay các thiên tai. Má có được nó thì cũng có nghĩa là người khác đã mất nó. Bởi vậy bao lâu mình có nó thì cứ thưởng thức. Bây giờ đến lượt người khác thưởng thức. Cuộc đời này cũng tạm bợ, chuyển dịch hoài mà con! Của cải không quan trọng lắm đâu!
- Con lấy làm sung sướng là má có một quan điểm triết lý như vậy đó – con gái tôi mỉm cười, nụ cười đầu tiên từ lúc nó về nhà cho đến lúc này – dĩ nhiên, ta không nên để cho hạnh phúc của ta lệ thuộc vào tài sản, của cải vật chất. Ta còn có những cái khác, ngay cả lúc ta nghèo khó, ta vẫn sung sướng được kia mà.
- Ta sẽ không nghèo khổ. Má đã nói cho con về những chương mục của má ở nước ngoài. Ta vẫn còn hơn chán vạn người ở Trung Hoa này. Con mệt rồi đó. Má thấy mắt con lờ đờ rồi. Thôi, con phải đi ngủ đi.
Mai Bình ngồi im lặng một lúc lâu, chìm trong suy tư. Khi đứng dậy, nó nói:
- Má à, ta sẽ vượt qua cơn giông bão này. Con còn tin vào tương lai đất nước chúng ta, mọi sự rồi sẽ đổi thay, không thể nào bất công như thế này mãi được. Trong Đảng cũng có những lãnh tụ tốt, như thủ tướng Chu Ân Lai và nhiều người khác nữa chứ?
- Phải, má tự hỏi lúc này những người ấy đang làm gì mà lại để cho bao người dân vô tội phải đau khổ.
- Đừng ngã lòng! Chắc chắn họ sẽ làm một cái gì đó khi thời cơ tới. Con yêu nước Trung Hoa. Con yêu đất nước của con dù nó đúng hay nó sai.
Lời nói của nó làm tôi rơi nước mắt. Tôi cũng yêu đất nước của tổ tiên tôi, mặc dù, tôi bị ruồng bỏ chỉ vì cái thân phận giai cấp của tôi.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 4: GIAM LỎNG


Tôi chợt thức giấc vì tiếng mưa nặng hột. Một lát sau, giọt mưa nhỏ đi nhưng trở thành rền rền đều đặn. Thửa vườn bừa bãi tro tàn và những cuốn sách cháy dở dang nom buồn thảm. Tôi đứng trên sân hiên nhìn cảnh não lòng này và tự hỏi phải làm gì.
Buổi sáng trôi qua chậm chạp, không có dấu hiệu nào của Vệ binh đỏ. Tôi đi lang thang qua nhà, không chủ đích, chẳng còn sách để đọc. Trên những giá sách kê kín tường thư phòng của tôi, nay chỉ còn bốn tập của bộ “Mao Trạch Đông toàn tập” một cuốn Mao tuyển “bìa đỏ” cũng của ông ta. Tôi cũng chẳng may vá, đan lát gì được, vì lũ Vệ binh đỏ đã vứt lung tung bừa bãi, đến nỗi chẳng còn biết kim, chỉ, len… ở đâu nữa. Tôi cũng không thể viết thư, hay là vẽ vời gì được, vì giấy má, bì thư bị xé nát hết, và cũng chẳng biết bút bị quăng nơi nào. Cũng chẳng thể nghe radio, vì cái “đài” được xếp chung vào những món đồ có “giá trị” được để trong phòng, niêm phong. Tôi chỉ còn có thể ngồi nhìn những đống thù lù các mảnh gẫy, bể, xé nát gom ở mỗi phòng mà tôi không dám dẹp bỏ.
Đến chiều, tạnh mưa. Mặt trời lại ló ra khỏi đám mây. Nhiều đám diễu hành đã đi qua đường phố ngang nhà tôi. Nhưng không có Vệ binh đỏ nào quay trở lại. Lão bộc đem cho tôi tờ nhật báo “Thượng Hải giải phóng” luôn luôn ra buổi chiều, mặc dù trên danh hiệu đó là báo sáng. Trên trang nhất, trang trong in lại bài xã luận chỉ đạo của tờ Nhân Dân nhật báo ở Bắc Kinh, cơ quan chính thức của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng Sản Trung Hoa. Mọi tờ báo ở Trung Hoa đều là chính quyền phát ngôn các chính sách của chính quyền, của Đảng, nhất là tờ Nhân Dân nhật báo. Tôi nhận thức được tầm quan trọng của bài xã luận và chăm chú đọc. Được viết bằng thứ ngôn ngữ cách mạng sôi nổi, bài xã luận nhằm chủ yếu kích động lòng căm thù đối với giai cấp tư sản và thúc đẩy quần chúng tích cực tham gia các hoạt động của cuộc Cách mạng Văn hóa. Nhưng tôi cũng lưu ý đến chỗ bài xã luận có nhắc đến việc một số các viên chức trong Đảng và chính quyền không nêu rõ tên – ở nhiều nơi trên đất Trung Hoa đã đi theo đường lối, chính sách tư bản chủ nghĩa và chống lại lời dạy của Mao Trạch Đông. Người viết đã gọi các viên chức không nêu tên ấy là những tên “cò mồi” của bọn tư sản.
“Quần chúng cách mạng – bài báo viết – phải vạch mặt chỉ tên những kẻ thù này“ bởi vì “lãnh tụ vĩ đại Mao Chủ tịch đã tin tưởng quần chúng cách mạng và Người đã nói “con mắt của quần chúng cách mạng sáng như sao, tâm hồn của quần chúng cách mạng trong trắng như tuyết”.
Bài báo cũng cảnh cáo trước cho “quần chúng cách mạng” hay rằng giai cấp tư sản vô cùng xảo quyệt và đã bí mật trữ sẵn vàng bạc, vũ khí trong nhà để khi có cuộc tấn công chống lại Trung Hoa từ bên ngoài vào thì chúng trở thành đạo quân thứ năm, cộng tác với kẻ thù. Bài báo đã ca ngợi những hành động Cách mạng của Vệ binh đỏ, gọi chúng là “tiểu tướng cách mạng ”, chống lại Vệ binh đỏ là chống lại cuộc Cách mạng Văn hóa. Bài xã luận nhắc nhở mọi người phải có cảnh giác trước trào lưu phản nghịch đó và tránh, đừng để trào lưu có ảnh hưởng. Những tên “cò mồi” cho tư sản sẽ bị “quần chúng cách mạng thẳng tay trừng trị, bị quét sạch và bị ném vào sọt rác lịch sử”.
Bài báo vô trách nhiệm dễ sợ, vì nó không đưa ra một định nghĩa rõ ràng ai là quần chúng cách mạng được quyền nhận diện và trừng trị kẻ thù, ai là “cò mồi” cho tư sản phải bị tiêu diệt và ném vào sọt rác lịch sử. Bài báo ấy đã khiến tôi tin chắc rằng Mao Trạch Đông và cái ủy ban được đặc biệt tuyển chọn để lãnh đạo cuộc Cách mạng Văn hóa đã có ý định mở rộng mục tiêu tấn công và gia tăng cường độ bạo lực chống lại những kẻ mà họ liệt vào hàng ngũ kẻ thù. Cũng không nên bỏ qua cái lạnh lùng tàn nhẫn của bài xã luận ấy. Tuy là một bài xã luận, nhưng cái ý nghĩa thực sự của nó là những chỉ thị chỉ đạo. Do đó, nó được lập tức tuân thủ và triển khai ngay: nhịp độ của cuộc Cách mạng Văn hóa ở Thượng Hải tăng nhanh, tăng mạnh thấy rõ. Ban Bí thư và chính quyền thành phố không thể thi hành nghị quyết mười điểm. Tôi biết các “ông” Vệ binh đỏ sắp quay lại nhà tôi. Và tôi cũng biết lần này thái độ của các “ông” sẽ không khoan nhượng và còn thù nghịch hơn. Tôi cho là nên hối thúc các gia nhân của tôi sớm rời khỏi nhà này và trở về nhà họ thì hay hơn.
Anh bếp nói là vì anh không ngủ lại tại nhà tôi, cho nên anh có thể đi hay đến tự do, cho đến khi các Vệ binh đỏ bảo không được đến nữa thì thôi. Lão bộc thì nói: “Tôi chả sợ gì mà không ở lại. Bà cũng cần có ai đi chợ cho bà chứ. Bây giờ mà bà đi ra ngoài là không có yên thân đâu. Tôi, gốc gác gia đình nghèo. Con trai tôi ở trong quân đội và là đảng viên. Chúng tôi đúng là vô sản thứ thiệt. Vệ binh đỏ phá phách và tịch thu hết rồi, chúng nó còn làm gì được nữa? Nếu chúng nó bắt tôi phải rời khỏi đây, ừ, thì lúc đó tôi đi. Nếu không, tôi cứ ở lại”. Bà vú khóc lóc và cứ đòi ở lại với con gái tôi.
Trong những lúc như thế này, lòng trung hậu của các gia nhân của tôi thật là một cái gì cao quí, khiến tôi hết sức cảm động. Tôi cũng không nhấn mạnh đòi họ phải đi ngay lập tức. Bởi vì, có họ trong nhà lúc này dầu sao cũng hơn là một mình chờ đợi các “ông” Vệ binh đỏ đến. Tuy nhiên khi anh bếp đi chợ về và mua cho tôi vài tờ giấy, tôi đã viết thư cho con gái của bà vú lúc đó đang sống trong thành phố khác, nói chị ta đến đón bà già về. Tôi cảm thấy có trách nhiệm lo cho bà vú hơn là lão bộc và anh bếp.
Con gái tôi về nhà và cho biết lúc đó trụ sở của chính quyền thành phố đang bị Vệ binh đỏ bao vây và đòi rút lại nghị quyết mười điểm, tố cáo nghị quyết ấy là một văn kiện nhằm bao che cho bọn tư sản. Tôi không lấy làm ngạc nhiên. Con gái tôi cho biết là một tay chân thân tín của Giang Thanh đã được chỉ định lãnh đạo cuộc Cách mạng Văn hóa ở Thượng Hải.
“Tên y là Trương Xuân Kiều. Vài người ở xưởng phim nói là trong những năm thập niên ba mươi, Giang Thanh là diễn viên thì y là nhà báo. Mấy người trong xưởng phim biết rõ hai người này đều rất lo sợ. Có người đã sẵn sàng khăn gói để vào tù. Dường như họ tin rằng Trương Xuân Kiều sẽ tống họ vào tù để bịt miệng những người này, để những người này không nói gì được về y và Giang Thanh trong những năm ba mươi. Má à, má có nghĩ là những nam nữ diễn viên vô tội này sẽ bị tống giam không, má?”
Con gái tôi vừa bối rối vừa xúc động vì những gì nó nghe được ở xưởng phim. Nó đâu biết gì về Thượng Hải vào thập niên ba mươi. Tôi cũng chẳng hiểu Giang Thanh và Trương Xuân Kiều sợ cái gì và cũng chẳng hiểu các nam nữ diễn viên kia đã biết những gì về họ đến nỗi phải nguy hiểm như vậy.
- Tối nay con có thể ngủ ở nhà được không? – tôi hỏi và hy vọng có được một buổi tối để trò chuyện cùng nó về tình hình.
- Con sợ là không được đâu má à! Thật ra, con phải lén về nhà chút xíu xem má làm sao và Vệ binh đỏ có quay trở lại không mà thôi. Tất cả những người khác đều ở lại xưởng phim, một cuộc họp khẩn được tổ chức để học tập bài báo quan trọng của tờ Nhân dân nhật báo. Con nghe nói là bài ấy là do một tay thân cận của Mao Chủ tịch viết, vì vậy rất quan trọng và phản ánh lập trường, quan điểm của Mao Chủ tịch.
Nó nói và vội nhìn đồng hồ: “Trời đất, thôi con phải đi ngay thôi”.
Lão bộc bưng vào một tô mì và nói: “Ăn chút đi đã, nguội rồi đó. Cô không ăn cái gì thì không đi được đâu!”
Con gái tôi cầm đũa và gắp vài sợi mì bỏ vào miệng, nhai rồi nói với lão: “Cám ơn lão nhiều lắm. Con phải đi ngay thôi”.
Nó hôn phớt tôi một cái rồi vọt ra cửa. Tôi có nhiều điều muốn nói với nó nhưng chẳng có thì giờ.
Lão bộc mang cho tôi cái radio của lão để tôi nghe bản tin buổi chiều. Trên tất cả các làn sóng, độc chỉ có phát thanh bài báo đăng trên tờ Nhân Dân nhật báo. Người xướng ngôn đã đọc bằng một giọng the thé, gay gắt mà có đến bao nhiêu năm sau tôi cũng có thể nhận ra. Tôi cứ mở radio, để dò sóng hi vọng may ra nghe được tin gì mới chăng. Nhưng cũng chẳng có gì khác, ngoài bài báo đó được đọc đi đọc lại mãi, tôi cảm thấy trằn trọc, khó ngủ. Tôi nghe đi nghe lại bài báo đó, nhiều lần đến nỗi gần như thuộc lòng.
Sáng hôm sau, anh bếp cho tôi biết ngoài chợ rất khan hiếm thực phẩm vì những người nhà quê quanh thành phố từ trước tới giờ vẫn đem rau, cá, tôm… ra bán nay đã hưởng ứng lời kêu gọi của Mao Chủ tịch về tham gia hàng ngũ “quần chúng cách mạng” để tiến hành cuộc “Cách mạng Văn hóa”. Họ ồ ạt kéo nhau vào thành phố, chiếm ngụ nhiều khách sạn ở những khu doanh nghiệp của Thượng Hải. Những người lãnh đạo của họ đã đòi hỏi – và đã được thỏa mãn – các quản lý khách sạn ấy phải lo cho họ ăn uống và dịch vụ miễn phí. Nghe tin là những tiện nghi sang trọng như vòi tắm nước nóng, giường nệm, lò xo, những căn phòng trải thảm được dùng thả dàn khỏi mất tiền nên đám nhà quê – kể cả đàn bà con nít – rần rần kéo nhau đi theo đám đàn ông thanh niên ra thành phố, lợi dụng mấy ngày để rong chơi cho thỏa thích và thỏa trí tò mò. Trong khi đó, các Vệ binh đỏ đáp xe lửa từ Bắc Kinh và từ các tỉnh phía Bắc kéo xuống Thượng Hải để “trao đổi kinh nghiệm cách mạng” với Vệ binh đỏ Thượng Hải. Cùng lúc đó thì Vệ binh đỏ Thượng Hải lại rần rần kéo nhau đáp tàu đi Bắc Kinh với hy vọng được Mao Chủ tịch tiếp kiến. Vệ binh đỏ chiếm và bắt buộc xe lửa, tàu thủy phải chở chúng. Hành khách thường bị đuổi xuống, đứng ngơ ngáo, sớ rớ chật ních sân ga, bến tàu, không ai dám phản đối các ông “Vệ binh đỏ”. Bị bài báo trên tờ Nhân Dân nhật báo ám chỉ là “cò mồi của tư sản”, các viên chức chính quyền thành phố “teo” hết và không dám làm gì ngăn cản, các “ông kẹ” Vệ binh đỏ mặc sức tự tung tự tác.
Bị thêm đòn lên án nghị quyết mười điểm nữa, thế là chính quyền thành phố Thượng Hải lâm vào thế tự vệ. Để khỏi bị lôi thôi, rắc rối, nguy hiểm rất có thể và dễ dàng xảy ra, chính quyền thành phố Thượng Hải đã cấp phát lương thực, thực phẩm miễn phí cho tất cả các Vệ binh đỏ tới và rời khỏi Trung Hoa. Các quầy thực phẩm được thiết lập dài dài trên khắp các nhà ga, bến tàu. Tất cả các cửa tiệm làm mì sợi và làm bánh mì đều được trưng dụng để sản xuất bánh mì và mì sợi để cung cấp cho Vệ binh đỏ. Cố ý moi ra cho được những “sai, lỗi” của chính quyền thành phố Thượng Hải, các “ông kẹ” Vệ binh đỏ đã tố cáo là các lò bánh mì sản xuất bánh mì theo kiểu phương Tây và coi đó là “thức ăn ngoại quốc” nên từ chối không ăn. Trong lúc đó thì công nhân các xí nghiệp cũng “hợp đồng” gia nhập “quần chúng cách mạng ” và tổ chức thành Vệ binh đỏ của công nhân. Để làm cho chính quyền thành phố Thượng Hải thêm bối rối, họ đưa ra những yêu sách kinh tế quá đáng. Vừa để thủ thân vừa tranh thủ sự ủng hộ của “Vệ binh đỏ công nhân”, các viên chức chính quyền thành phố đã tăng vô tôi vạ các khoản tiền thưởng và lợi ích cho công nhân. Chỉ sau vài ngày, ngân quỹ của thành phố sạch bách. Những yêu sách của công nhân không được thỏa mãn, thế là đám “Vệ binh đỏ công nhân” nổi giận và liên kết với Vệ binh đỏ “chính thống” tấn công chính quyền địa phương và các viên chức lãnh đạo chính quyền thành phố. Đằng sau các hoạt động của các Vệ binh đỏ “chính thống” và Vệ binh đỏ “công nhân” là bàn tay của Trương Xuân Kiều, y ngự trong khách sạn quan trọng là khách sạn Hoà Bình để lãnh đạo cuộc Cách mạng Văn hóa. Khách sạn này lúc đó biến thành tổng dinh của những người theo Mao khi bọn này đến Thượng Hải, mãi cho đến khi chính quyền và Ban Bí thư thành ủy Thượng Hải bị “những người cách mạng” lật nhào vào tháng giêng năm sau đó.
Một số ít bạn của con gái tôi là giáo viên trung học. Nhờ họ cũng mang băng tay đỏ nên thỉnh thoảng họ tạt qua ghé thăm tôi, mà không bị chú ý. Lão bộc cũng lợi dụng thời gian tạm lắng dịu – không có Vệ binh đỏ đến nhà tiến hành các “hoạt động cách mạng” – để đi thăm bạn bè của lão và để trà trộn vào đám đông ngoài đường phố. Con trai của anh bếp, một công nhân xí nghiệp cũng đến thăm ba nó tại nhà tôi và kể cho ba nó nghe về tình hình trong xí nghiệp của nó. Những chuyện nó kể lại thật đáng ngạc nhiên. Sự miễn cưỡng của Đảng ủy và của các viên chức chính quyền trong thành phố khi phải thi hành quyền lực của mình là một sự hết sức bất thường khiến tôi phải tự hỏi là phải chăng có một cái gì khác hơn cái mục tiêu của cuộc Cách mạng Văn hóa đã được công khai nói ra, tức là tiêu diệt tàn dư giai cấp tư sản và thanh lọc hàng ngũ viên chức chính quyền và trí thức?
Một hôm, anh Tiêu Tú một giáo viên bạn của Mai Bình đến nhà thăm nó nhưng nó lại ở xưởng phim, không có nhà. Anh đã cho tôi biết là Vệ binh đỏ đã cho phá hủy ngôi nhà thờ chính tòa công giáo. Ngôi nhà thờ có hai tháp cao và là một trong những tiêu điểm của thành phố. Ban đêm, Vệ binh đỏ đã đột nhập thư viện thành phố và phá hủy một số lớn sách quí hiếm. Đến viện bảo tàng lịch sử, chúng không phá được cửa sắt quá vững chắc của viện, chúng bèn đến nhà riêng ông giám đốc, ông già đang bệnh nằm liệt giường bị chúng dựng dậy để đấu tố.
“Ông ấy bây giờ phải vào nằm nhà thương. Có người nói ông bị chết rồi, Vệ binh đỏ thật quá dã man. Cháu nghĩ là bác nên cố gắng đem Mai Bình trốn qua Hồng Kông ngay đi.” Tiêu Tú nói với tôi như vậy.
- Cháu nghĩ là Mai Bình có chịu đi không? - Tôi hỏi như thế vì đã có lần, nó ở nhà tôi lúc đang sửa soạn đi Hồng Kông, con gái tôi nói là chúng không muốn sống như là một công dân hạng nhì ở cái xứ thuộc địa ấy.
- Tình hình bây giờ khác rồi. Sau cuộc Cách mạng Văn hóa thì đám con cái của gia đình có gốc gác không phải là giai cấp lao động sẽ chẳng có tương lai gì cả. Trước kia, chúng cháu – nghĩa là con cái các gia đình không phải là giai cấp lao động – đã phải nỗ lực làm việc gấp hai những đứa cùng tuổi thuộc gia đình lao động mà cũng chẳng tiến thân được, nhưng ít ra chúng cháu cũng có một đời sống riêng tư tương đối thoải mái. Nhưng mai đây, chúng cháu sẽ là một thứ tiện dân cùng mạt như bên Ấn Độ. Con, cháu, chắt, của tụi cháu rồi sẽ đau khổ như vậy thôi, chỉ còn có một đường trốn đi. Bác có nhiều bè bạn ở nước ngoài. Tại sao bác không đem Mai Bình đi? - Hắn thúc giục tôi vậy.
- Bác nghĩ bây giờ mà trốn đi là trễ rồi. Cháu biết hình phạt nào dành cho kẻ trốn sang Hồng Kông chứ? Nặng lắm, cháu ơi, mười lăm, hai mươi năm tù gì đó.
- Không quá trễ đâu. Cháu đã thăm dò rồi. Hệ thống đường sắt bây giờ lộn xộn, chẳng có ai mua vé hay là giấy phép đi đường gì nữa. Vệ binh đỏ ở khắp các nơi trên đất nước này cứ nhảy đại lên xe lửa. Chẳng ai hỏi han gì, cháu đã thăm dò cả ở nhà ga và bến tàu, không có người thu vé, bán vé gì cả. Chẳng ai có quyền gì ráo.
- Bác nghĩ là lúc ở trên tàu, bác sẽ bị nhận diện và bị hất xuống hay là bị đánh đập.
- Thì cả bác lẫn Mai Bình đều hóa trang làm Vệ binh đỏ. Cháu sẽ kiếm cho bác cái băng tay. Cháu đã làm như vậy cho mấy đứa bạn cháu.
- Bác nghĩ là bác già rồi, giả làm Vệ binh đỏ không được.
- Bác chỉ việc cắt tóc ngắn đi, tay cầm cuốn sổ đỏ giả bộ chăm chú đọc. Bác lấy cái nón chụp kín lên đầu. Có ai hỏi thì bác nói là giáo viên. Còn Mai Bình thì thành Vệ binh đỏ quá dễ. - Khi tôi lắc đầu nó nói:
- Cháu nói thật, có bác điên mới không nghĩ đến chuyện chạy trốn đi. Dù sao đi nữa, khi Mai Bình về, bác cứ dắt chị ấy đi.
(Năm 1980, tôi gặp lại Tiêu Tú tại Hồng Kông. Anh ta nói với tôi là anh đã quay trở lại bờ bên này khi anh ta cố gắng đi xe lửa để đến Hồng Kông. Về sau anh ta bơi qua Ma Cao. Ít năm sau anh qua Hồng Kông. Anh ta làm việc cật lực để dành tiền. Năm 1980 anh ta đã có cổ phần ở xí nghiệp sản xuất đồ chơi ở Cửu Long. Sản phẩm xí nghiệp của anh ta được xuất khẩu bán nhiều nơi trên thế giới. Sau khi Mao chết, tình hình ở lục địa Trung Hoa thay đổi khá hơn, anh ta có ý định làm một chuyến đi Thượng Hải để thăm bà mẹ còn ở đó).
Tôi đang ở trong nhà tắm thì nghe tiếng ngoài cổng đập rầm rầm giận dữ. Xuống được nửa cầu thang thì tôi đụng đầu với cô gái khoảng 15 tuổi. Cô ta bận đồng phục bằng vải kaiki, trên đầu có chiếc mũ đội ngay ngắn, nhưng cái “lưỡi trai” chụp xuống tận ngang mày khiến cho đôi mắt cô ta phải nhướng lên, cái áo của cô ta bị túm chặt trong dây lưng bằng da to bản, có khóa sáng loáng, tay cầm roi da.
- Mày là kẻ thù giai cấp trong nhà này phải không? Sao mày mập thế? Hai gò má mày núng nính, hai mắt mày híp. Mày mập ú vì mày đã hút máu và sức lực của công nhân, nông dân. Nhưng, cho mày hay, bây giờ mọi sự đã khác rồi. Mày sẽ phải đền các tội ác mà mày đã phạm. Đi theo tao!
Cứ theo giọng nói thì tôi biết cô bé này là Vệ binh đỏ từ Bắc Kinh xuống, cũng tương tự như cô bé kia đang đứng trong phòng khách, trước cửa phòng ăn. Cô bé đi vào phòng ăn, tôi đi theo. “Quỳ xuống”, một trong những “ông lỏi” Vệ binh đỏ thét lên. Đồng thời cây gậy của nó quất tới tấp vào lưng tôi. Một “ông lỏi” khác phang bể tấm kính của phòng tắm. Nó vung gậy quất lung tung và quất vào chỗ nhượng của tôi. Tôi đang lưỡng lự không biết có nên theo lệnh mà quỳ xuống hay không thì cú đập vào nhượng làm cho tôi khuỵu xuống.
- Tủ sắt ở đâu? - Một tên trong bọn hỏi.
- Những Vệ binh đỏ đã đến đây trước lấy đi rồi!
- Chúng lấy đi hết sao?
- Không, còn để lại cho tôi hai trăm đồng để sống.
- Hai trăm ấy đâu?
- Trong ngăn kéo trên bàn giấy của tôi ở trên lầu!
Một ông lỏi vệ binh đi ngang đá tôi một cái rồi chạy lên lầu cùng với những đứa khác, để cô bé có roi da ở lại canh chừng tôi. Cô bé nhứ roi vun vút trong không khí suýt chạm vào đầu tôi mấy lần. Mấy đứa kia ôm cả ngăn kéo xuống và thẩy tiền trên mặt bàn ăn. Chúng bảo tôi quay lại, đứng úp mặt vào tường. Tôi nghe thấy chúng đếm tiền.
Có tiếng động của nhiều người nữa đi vào. Tôi tự hỏi không hiểu có phải là cổng mở toang ra hay sao. Nhưng tôi nghe tiếng một người đàn ông ra lệnh cho lão bộc gọi bà vú và anh bếp đến. Rồi tiếng nói ấy với một người nào đó: “Đem chúng lên lầu để thẩm vấn”.
Những ông Vệ binh đỏ ấy đi vào trong nhà và tới phòng ăn. Có tiếng nói: “Con mụ ấy ở đây”.
Cũng cái tiếng nói đàn ông lúc nãy: “Bây giờ các đồng chí có thể đi được. Để mụ đó cho chúng tôi xử lý”.
Tôi nghe thấy các ông các bà Vệ binh đỏ đi ra, vừa đi vừa quất roi, quất gậy vào đồ đạc vào tường chan chát. Chúng xô mạnh cửa ra vào rầm rầm khiến cả nhà rung lên.
- “Đứng dậy! Lại đây!”, tiếng người đàn ông ra lệnh.
Tôi đứng dậy và quay mặt về phía những người mới đến. Người đàn ông vừa nói là một người tầm thước, hơi mảnh khảnh mang cặp kính râm có cả hai người đàn ông khác nữa và một người đàn bà trong phòng. Tất cả đều mặc quần vải, áo sơ mi rông thùng thình và chiếc áo ngoài của dân lao động. Họ nói năng thì nghe có vẻ có chút học thức. Băng tay của họ có chữ “Cách mạng”. Họ ngồi xuống thành hình vòng cung đối diện với tôi. Người đàn ông nói:
- Mày là kẻ thù giai cấp ở trong nhà này. Mày có tội âm mưu với ngoại bang như trên báo đại tự dán trước cổng nhà mày viết đó. Mày có phủ nhận điều đó không?
- Dĩ nhiên là tôi phủ nhận! Nhưng các ông là ai mới được chứ? Các ông muốn gì?
- Chúng ông là những người Cách mạng vô sản.
- Tôi chưa bao giờ nghe thấy cái danh hiệu ấy!
- Rồi sẽ nghe thôi, nghe nhiều nữa kìa! Chúng ông là những người cách mạng đại diện cho giai cấp công nhân, là giai cấp đang thống trị ở Trung Hoa. - Hắn nói và hất cái cằm lên, vênh váo.
- Chứ không phải là Đảng Cộng sản Trung Hoa đại diện cho giai cấp công nhân ở Trung Hoa sao? Tôi hỏi.
- Câm ngay! Chúng tao không thèm lý sự với mày. Mày là kẻ thù giai cấp công nhân ở Trung Hoa. Chúng tao hưởng ứng lời Mao Chủ tịch, tham gia cuộc Cách mạng Văn hóa vô sản vĩ đại. Bấy nhiêu là quá tốt rồi! - Mụ đàn bà áp đảo tôi bằng một tràng như vậy.
Người đàn ông nói tiếp:
- Mày là kẻ thù giai cấp và là chó săn đế quốc Anh, Mỹ. Mày đã theo học trường đại học do bọn Mỹ tài trợ ở Bắc Kinh, rồi theo học đại học ở Luân Đôn. Từ lúc còn bé mày đã được huấn luyện để phục vụ cho bọn đế quốc!
Tôi im lặng vì chẳng có gì phải nói với họ.
- Mày mắc cỡ quá, nói không được phải không? - Mụ đàn bà lên tiếng hỏi.
- Việc gì tôi phải mắc cỡ! Có thiếu gì người tốt nghiệp đại học Điêu Ninh (Yanjing) bây giờ cũng là lãnh tụ Đảng Cộng sản. Theo học ở đó không có nghĩa là chó săn cho bất cứ ai. Trường Đại Học Kinh Tế là một trường có khuynh hướng tả do tổ chức Xã hội Fabian – chi nhánh nước Anh thiết lập nên. Chính trường này lần đầu tiên tôi đọc Tuyên ngôn của người cộng sản do Marx - Engels viết đó.
- Ha, ha, ha diễu quá ta ơi! Kẻ thù giai cấp, con chó săn của bọn đế quốc mà lại đọc tuyên ngôn của người Cộng sản. Tiếp sau đây mày sẽ nói là mày muốn gia nhập Đảng Cộng sản nữa! - Người đàn ông mang kính râm cười và nói mỉa mai, chế diễu như vậy.
Người đàn bà nói:
- Lênin đã tố cáo bọn Fabian là bọn cơ hội, bọn cải lương. Chúng không phải là các nhà xã hội thứ thiệt bởi chúng không chủ trương cách mạng bằng bạo lực. Đừng hòng tranh thủ tình cảm chúng tao. Mày chỉ còn có một con đường là thú nhận tội lỗi.
- Tôi là một công dân tôn trọng luật pháp - tôi nói – tôi làm việc cho xí nghiệp ngoại quốc và không cơ hội nào để lui tới chỗ bí mật quốc gia. Tôi không biết một chính quyền ngoại quốc nào. Và cũng chẳng chính quyền nào biết tôi.
- Mày biết quá ấy chứ – một người đàn ông khác nói – mày giao du thân mật với nhiều quan chức ngoại quốc.
- Mày khỏi cần làm bộ tức tối – người đàn ông thứ ba nói chen vào – tất cả các công nhân cao cấp của xí nghiệp ngoại quốc đều là gián điệp chứ không chỉ riêng mày đâu!
- Làm sao mà các chính quyền ngoại quốc lại tin chúng tôi được – tôi hỏi vặn lại – họ nắm vào cái gì để sai khiến chúng tôi, những người sống trên đất Trung Hoa này?
- A, hầu hết tụi mày đều có tiền gởi ngân hàng ngoại quốc. Mày có chối là mày không có tiền gởi ngân hàng ở nước ngoài không nào?
- Đó, chúng nó nắm vào chỗ đó đó – mụ đàn bà nói – nắm vào cái chỗ tiền của tụi mày gởi ngân hàng ngoại quốc đó.
- Các vị chẳng hiểu gì cả. Chính phủ nước ngoài không xía vào chuyện làm ăn của một ngân hàng tư. Họ không được phép tịch thu tiền của ai gởi trong chương mục.
- Tại sao mày lại gởi tiền ở nước ngoài? Một người dân Trung Hoa sao lại phải gởi tiền ở ngân hàng nước ngoài?
- Tôi thường có những chuyến đi Hồng Kông để lo liệu công việc. Lúc ở đó, tôi phải trả tiền ăn, tiền khách sạn. Các vị cũng biết, qua đó, tôi đâu có được đem tiền từ trong nước đi. Phải qua ngoại hối. Mỗi lần đi ra khỏi nước, tôi chỉ được đổi năm đô. Ngoài ra, tôi phải có tiền để mua than, mua nhiều thứ khác nữa ở cửa hàng Trung Hoa Hải Ngoại. Ngay trên đất Trung Hoa, cửa hàng ấy lại chỉ bán hàng và thu bằng ngoại tệ. Tôi gởi tiền ở ngân hàng nước ngoài ít hơn gởi ngân hàng Thượng Hải. Tôi có nhà cửa ở đây. Tôi chỉ có một đứa con ở đây. Đối với tôi, con tôi là cái gì đáng quí hơn hết mọi sự trên đời này. Nó là Đoàn viên Thanh niên Cộng sản. Vậy thì tôi chống Đảng Cộng sản, chống chính quyền nhân dân để làm gì, để được gì?
- Dù con mày có là Đảng viên thì mày vẫn có thể chống lại Đảng Cộng sản như thường. Đó là bản năng giai cấp, - người mang kính râm nói. Dường như y là người lãnh đạo của nhóm này.
Thêm mấy người đàn ông và đàn bà khác đi vào trong phòng theo sau là mấy gia nhân của tôi. Người đàn ông mang kính nhìn họ. Những người mới đến lắc đầu. Hiển nhiên họ không đạt được điều họ muốn nơi các gia nhân của tôi.
Người đàn ông mang kính râm nghiêm giọng hỏi tôi:
- Mấy giấu vàng và vũ khí ở đâu?
- Vàng nào? Vũ khí nào?
Tôi ngạc nhiên vì câu hỏi. Nhưng tôi nhớ lại bài báo chỉ đạo của Nhân Dân nhật báo.
- Vàng nào? Vũ khí nào mày biết thừa đi rồi còn cứ vờ vĩnh mãi, khai ra đi.
- Tôi không có vàng mà cũng chẳng có vũ khí nào cả. Vệ binh đỏ đã đến đây. Trong nhà này, từ trên xuống dưới, không một xó xỉnh nào không bị lục xét. Họ chẳng tìm thấy vàng, thấy vũ khí nào hết.
- Bọn bay quái lắm chứ. Bọn bay dấu đi hết. Nhưng lãnh tụ vĩ đại của chúng ông đã dạy là giai cấp thù nghịch giấu vàng và vũ khí. Và người không thể sai lầm được. Chúng ông sẽ tìm ra – người đàn ông lãnh đạo nhóm hầm hè – Mày không khai, lúc đó mày sẽ biết. Chúng ông sẽ trừng trị mày đến nơi đến chốn. Nói đi! Giấu những thứ đó ở nơi nào trong nhà này.
Tôi tự hỏi không hiểu bọn này thực sự tin vào bài báo chỉ đạo hay chỉ làm bộ tin vậy thôi. Sau khi cộng sản nắm chính quyền vào năm 1949, sự sở hữu vũ khí bị coi là bất hợp pháp. Những ai có vũ khí phải giao nạp chính quyền và nhà cửa bị lục soát. Quân nhân và cảnh sát của chế độ Quốc Dân Đảng bị bắt và đưa vào các trại lao động cải tạo. Gia đình họ bị đuổi khỏi nhà. Bởi vậy, năm 1966 mà còn nói là có người thường dân Trung Hoa nào cất giấu vũ khí trong nhà là phi lý.
Tuy nhiên, các “ông cách mạng” đã dẫn tôi và các gia nhân đi lục khắp trong nhà. Họ rạch giường, nệm ghế, cạy gạch tường phòng tắm, ngoáy trong bếp, quậy lò sưởi, leo lên trần, cạy ván sàn, trèo lên mái nhà, khoắng thùng nước trên nóc trần, luồn xuống dưới sàn để xem các ống (dẫn nước, khí đốt). Trong khi họ lục soát như vậy, họ luôn luôn nhìn vào nét mặt tôi và nét mặt các gia nhân để dò phản ứng.
Tôi không còn biết giờ giấc lúc đó ra sao nữa. Nhưng trời tối lâu rồi. Vậy mà họ vẫn quyết định đào xới vườn. Bầu trời u ám. Trời tối đen. Họ bật đèn chỗ sân hiên lên và bảo lão bộc đưa cây đèn pin. Khi họ đến chỗ để than, họ bảo tôi và đám gia nhân dẹp than ra chỗ góc vườn mà họ đã lục soát. Bãi cỏ ẩm ướt dính đầy tro than, bị dẫm nát, biến thành đám bùn nhão nhoét. Các luống hoa bị đào tung lên. Họ nhấn xẻng xuống đất quanh các bụi cây. Cây cảnh bị nhổ khỏi chậu, không tìm thấy gì hết. Bởi vì có gì đâu mà tìm. Các “ông cách mạng”, các gia nhân của tôi lại lấp lại tất cả. Bùn, tro than và mồ hôi!
Sau cùng, sự mệt nhoài đã thắng được nhiệt tình cách mạng của các ông cách mạng. Họ giận sùi bọt mép, mất mặt và không tìm thấy gì hết. Tôi biết, nếu tôi không làm một cái gì để vớt vát thể diện của mấy ông thì chắc mấy ông sẽ trút cơn lôi đình lên đầu tôi. Nếu tôi chỉ cần hé ra một cái gì đó coi như là vàng vàng, chẳng hạn cái cà rá hay cái vòng đeo tay thì chắc tránh được sấm sét. Tôi nhớ lại đồ nữ trang của tôi bị niêm trong thư phòng của Mai Bình.
- Các Vệ binh đỏ đã gom cà rá, vòng tay, nữ trang của tôi và để trong phòng đã bị niêm phong kia kìa. Các ông có thể mở ra và lấy đi. Và nếu vậy thì xin làm ơn báo cho các ông Vệ binh đỏ biết kẻo các ông ấy lại nghi ngờ tôi. - Tôi nói với “bà cách mạng” như vậy.
- Đừng làm bộ khùng, chúng tao tìm vàng khối, vàng nén kia.
Chúng tôi đứng trong phòng khách. Ông mang kính râm đã chịu gỡ cặp kính ra, để lộ đôi mắt đỏ ngầu. Ông liếc đám gia nhân đứng co ro cóm róm ở cửa bếp. Ông nhìn các đồng sự cách mạng đứng quanh ông. Rồi trừng trừng nhìn vào tôi. Bỗng ông quát lớn “Mày dấu vàng và vũ khí ở đâu?”, ông bước một bước về phía tôi, dáng điệu hầm hè.
Tôi rất mệt mỏi, đến nỗi đứng không muốn vững nữa. Cố gắng lắm tôi mới nói được: “Giản dị là không có. Nếu có thì các ông đã tìm thấy”.
Sự kiện chứng tỏ ông sai lầm là điều ông không sao chịu được. Nhìn trừng trừng vào tôi, căm giận: “Khỏi cần, chúng ông chưa đập tường ra mà!”.
Ông đứng rất gần tôi. Tôi nhìn rõ từng chi tiết trên khuôn mặt có vẻ chế nhạo của ông. Mặc dầu tôi thấy ông có vẻ giận dữ cực điểm và tôi muốn lùi lại một, hai bước, nhưng tôi vẫn không thèm nhúc nhích vì tôi không muốn ông nghĩ là tôi sợ. Tôi chỉ chậm rãi nói, bằng một giọng bình thường và có vẻ thân thiện nữa là khác:
- Ông nên bình tĩnh. Nếu tôi có dấu cái gì trong tường thì tôi cũng không thể tự làm được. Cũng cần có thợ hồ để tô lại mảnh tường đó. Tất cả các công nhân đều làm việc trong các xí nghiệp do nhà nước kiểm soát. Họ phải báo cáo cho ông bí thư chi bộ về loại công việc họ làm.
Tôi mệt quá đến nỗi tôi thật sự phải cố gắng lắm mới nói được.
Ông cách mạng giận phát điên lên bởi vì tôi hàm cái ý ông nói phi lý. Ông giận, mặt ông trắng nhợt ra, môi ông run run. Tôi thấy mạch máu trên thái dương ông giựt giựt. Ông giơ tay lên tính đánh tôi.
Ngay lúc đó con Fluffy – tên con mèo của Mai Bình – từ cửa bếp nhảy ra, nhảy lên phía sau chân ông cắn một miếng cắm ngập vào ngay bắp chân ông. Đau quá, ông thét lên, cuống cuồng nhảy lò cò và cố giẫy con mèo ra. Mấy người kia cố túm lấy con mèo, nhưng nhanh như một tia chớp, nó đã vượt qua cửa sổ để ngỏ và ra ngoài. Tất cả đều đổ xô chạy ra vượt theo. Nhưng con mèo đã tót lên cành cây mộc lan, ngoài tầm với của mọi người. Từ trên cành cao đó, mèo ta dòm xuống, kêu meo meo như chọc tức. “Ông cách mạng” bị thương tức gần như phát điên lên. Quần bị rách, máu chảy ròng ròng, ông nhào tới cái cây và ra sức rung. Còn mèo tót lên cành cao hơn và đảo đôi mắt khinh thị nhìn một vòng rồi tót sang mái nhà bên cạnh và mất hút trong bóng tối. Chúng tôi quay trở vào phòng khách. “Ông cách mạng” ngồi xuống ghế tràng kỷ mà các ông lỏi Vệ binh đỏ đã đập cho gẫy. Ông bảo bà vú đem thuốc hoặc iốt nhưng bà nói là các ông Vệ binh đỏ đã liệng đi hết ráo rồi.
Các “ông bà cách mạng” ấy tỏ ra rất bối rối khi thấy vị lãnh đạo của mình đã mất cái vẻ oai phong – ông lấy khăn tay ra chùi vết máu do mèo cắn – và “xìu” thấy rõ. Mấy gia nhân của tôi đã khôn khéo lợi dụng lúc ấy để chuồn êm vào bếp. Một “bà cách mạng” đã đẩy tôi vào một phòng bên cạnh và nói: “Chúng tao không thèm sự giúp đỡ và sự ái ngại của mày. Mày đã nuôi con mèo dại trong nhà để tấn công những người cách mạng. Mày sẽ bị trừng trị. Còn con mèo, chúng tao sẽ báo cho ban liên gia tìm cho ra và đập chết. Mày tưởng cho mèo cắn chúng tao, chúng tao sẽ rút lui thì mày lầm to. Chúng tao sẽ còn tìm gắt hơn nữa vàng và vũ khí của mày”. “Bà cách mạng” đẩy tôi vào phòng, khóa trái cửa lại. Thế là một lần nữa tôi bị biệt giam trong phòng ăn.
Có thật sự họ tin là tôi có vàng và vũ khí không? Tôi băn khoăn tự hỏi, hay họ chỉ tuân lệnh Mao mà đi lùng sục vậy thôi? Và nếu họ chỉ tuân lệnh Mao thì họ làm bấy nhiêu tưởng đã đủ.
Tôi nghe thấy lão bộc đứng ngoài vườn thì thào khẽ gọi tôi. Tôi ra mé cửa sổ: “Anh bếp đã đến xưởng phim nói Mimi tối nay đừng về nhà – lão thì thào với tôi – được không bà?”
- Cám ơn lão, nghĩ vậy rất đúng. Tối nay nó đừng có mặt ở nhà là hay nhất.
Thình lình tôi nghe thấy tiếng búa động rầm rầm vào cánh cổng. Lão vội chạy ra mở. Và lão quay lại cho tôi biết đám Vệ binh đỏ đã đến trước kia nay quay trở lại.
- Lão quay về phòng của lão đi. Và bảo cả bà vú nữa – tôi cũng thấy lo âu thêm.
Có tiếng nhiều người chạy lên chạy xuống cầu thang và tiếng quát tháo rầm rĩ. Những tiếng cãi cọ xen lẫn tiếng đánh lộn. Tôi chẳng thể làm gì khác hơn là cam chịu, nhìn nhà cửa của mình bị phá phách. Tôi kéo ba cái ghế kê sát lại và nằm lên. Tôi mệt nhừ, đến nỗi trong nhà đang ầm ầm như vậy mà tôi thiếp đi lúc nào không biết.
Tảng sáng, một Vệ binh đỏ, mấy vị cách mạng mở bật cửa ra. Dường như họ đã cãi cọ gì với nhau nhưng lúc này đã giải quyết êm rồi. Một đứa con gái quát lên “Dậy đi! Dậy đi”.
“Bà cách mạng” bảo tôi vào bếp kiếm cái gì ăn gấp đi rồi lên lầu “để làm việc cần thiết”. Tôi vào phòng tắm rửa tay. Nhìn vào tấm kính, tôi giật mình vì thấy tóc tai rối bù, mặt mũi sưng húp lên, lợt lạt, bơ phờ, bùn dính trên trán, trên má. Bước lùi lại, tôi thấy mình như cái xác chết của người đàn bà mà người ta moi lên được trong đống gạch vụn sau trận oanh tạc trong tời kỳ chiến tranh Trung – Nhật. Hình ảnh xác chết ấy đã ám ảnh tôi nhiều ngày. Cái xác ấy xuội lơ, không phác được một cử chỉ nhỏ để phản đối nỗi bất hạnh mà số mạng đã bắt mình phải chịu. Hình ảnh cái xác chết, bất lực và rũ rượi đó đã khiến tôi quyết phải sống. Tôi nghĩ cuộc Cách mạng Văn hóa sẽ là một cuộc chiến đấu để tôi giữ gìn thanh danh của tôi. Không những tôi phải sống, mà tôi còn phải cứng như đá tảng, để dù có bị đánh đập tơi bời tôi cũng không bị bể. Mặt tôi sưng húp lên vì lâu quá tôi không uống nước. Tôi chỉ còn có một quả thận mà nay lại không hoạt động được điều hòa. Tôi cần phải uống thuốc ngay.
Vào bếp, tôi uống liền một lúc hai ly nước trước khi ăn cơm với rau mà lão bộc dọn cho tôi. Thật kỳ lạ, sao mà bát cơm đã biến thành sinh lực mau lẹ đến thế và khiến tôi vững tinh thần. Tôi cảm thấy trong người đã dễ chịu hơn.
Một “ông” Vệ binh đỏ mở cửa bếp và quát lên: “Ăn tiệc hay sao mà lâu thế? Nhanh lên!”.
Lão bộc và tôi theo “ông” Vệ binh đỏ lên lầu. Bà vú cũng đi theo. Thì ra các ông bà cách mạng và Vệ binh đỏ bảo chúng tôi giúp các vị gói đồ đạc của tôi để các vị … đem đi! Mong cho các vị ra khỏi nhà cho mau, nên tôi cũng mau mắn giúp. Sự có mặt của các ông bà cách mạng và Vệ binh đỏ làm cho tôi khó chịu hơn là sự mất của cải. Đối với tôi, họ như những sinh vật xa lạ từ một thế giới khác không nói cùng với ngôn ngữ với tôi.
Đối với ông bà cách mạng và Vệ binh đỏ thì lão bộc không phải là kẻ thù giai cấp mặc dù họ có thể cho là lão bị lầm lạc và không có sự giác ngộ Xã hội Chủ nghĩa nên đi làm cho tôi. Họ nói với lão một cách thoải mái. Tôi thấy lão còn có vẻ xăng xái để tỏ ra thân mật với họ. Trong khi chúng tôi đang ngồi trên sàn đóng gói đồ đạc vung vãi tứ tung trong phòng thì các “ông” Vệ binh đỏ tranh luận sôi nổi về cuộc hành trình đi Bắc Kinh sắp tới để diện kiến Mao Chủ tịch. Trong số ấy có mấy “ông” đã được diện kiến lãnh tụ vĩ đại tại quảng trường Thiên An Môn ngày 18 tháng 8 và đang hãnh diện nói lại những gì mình đã thấy đã nghe cho các đồng chí chưa được dự.
Họ nói tới vai trò của quân đội trong việc tổ chức đón tiếp, cung cấp các vật dụng như đồng phục kaki, tập luyện cách chào, cách trình diện. Chính các sĩ quan đã chọn các câu nói của Mao và các khẩu hiệu mà họ sẽ phải hô.
Tôi chăm chú nghe những gì họ nói. Vậy là hình như quân đội đứng trong hậu trường để ủng hộ và giật dây các hoạt động của Vệ binh đỏ.
Khi mọi thứ đã được đóng gói xong thì xe tải cũng tới. Nhưng, buồn hết sức: xe chở đồ đi mà Vệ binh đỏ vẫn ở lại. “Bà cách mạng” đã nói với tôi:
- Mày phải ở trong nhà. Cấm ra khỏi nhà. Vệ binh đỏ sẽ thay phiên nhau canh chừng mày.
Tôi ngạc nhiên và giận dữ hỏi chị ta: “Chị lấy quyền gì mà giam tôi trong nhà chứ?”
- Tao có quyền! Quyền của những người Cách mạng Vô sản!
- Mày đi ra ngoài làm gì? Mày đi đâu? Cái thứ mày đi ra đường ấy hả, cứ gọi là người ta xé xác ra. Giam lỏng mày trong nhà này là chúng tao làm ơn cho mày đó, biết chưa. Lão bộc được phép ở lại và chợ búa cho mày. Mày có biết bây giờ ở ngoài đường ra sao không? Cuộc cách mạng đang ở cao điểm, đang sôi sục.
- Tôi không muốn đi đến một nơi nào rõ rệt hết. Nhưng đó là vấn đề nguyên tắc.
- Nguyên tắc là gì? Không muốn đi ra ngoài thì mày giở lý sự ra với tao làm gì? Mày phải ở trong nhà cho đến khi chúng tao quyết định xử lý mày như thế nào. Đó là lệnh.
Nói xong “bà cách mạng” oai nghiêm đi ra khỏi nhà. Tôi giận tái người đi nhưng không biết phải làm sao.
Họ quăng cho tôi tấm nệm để ngủ. Những bộ quần áo sạch để thay đổi và quần áo lót treo trong tủ bây giờ rỗng tuếch. Hai va li đựng quần áo ấm và một bao bố đựng mùng mền xếp ở góc nhà. Ngoài bộ bàn ghế trong bếp, tôi còn được để lại cho hai cái ghế và một cái bàn nhỏ để uống café. Vệ binh đỏ được phân công ở lại canh chừng tôi đã lấy hai cái ghế này kê ngay ngoài cửa phòng tôi và ngồi đó. Thế là, ở trong phòng, nếu muốn ngồi, tôi chỉ còn có thể ngồi lên cái nệm ngủ. Thỉnh thoảng lại có một “ông lỏi” Vệ binh đỏ mở cửa dòm vào xem tôi đang làm gì trong phòng. Tôi chỉ còn có mỗi một chỗ riêng tư kín đáo, ấy là cái phòng tắm.
Con gái tôi vẫn được giữ phòng riêng của nó. Nhưng tôi không được đặt chân vào đó. Và nếu nó có về nhà – lúc đó, nó ít khi về nhà lắm vì càng lúc nó càng phải ở lại xưởng phim ban đêm để tham gia Cách mạng Văn hóa Vô sản – tôi cũng không được trò chuyện với nó trong những lúc hiếm hoi nó có mặt ở nhà. Chiều chiều, tôi mở toang cửa phòng, hi vọng được thoáng trông thấy nó lúc nó lên thang. Khi nó về nhà, mẹ con cũng cố làm cách nào đó để ít ra cũng nhìn thấy nhau. Được nhìn thấy nhau, mẹ con tôi cũng cảm thấy an ủi và an tâm. Ban đêm, nói chung tôi vẫn ngủ ngon.
Lão bộc đi chợ mua thức ăn. Nhưng cả lão lẫn con tôi đều không được ngồi ăn chung với tôi. Vệ binh đỏ thay phiên nhau đi ăn cơm để lúc nào cũng có người canh chừng tôi. Ban đêm, có một hai Vệ binh đỏ nằm ngay ngoài cửa phòng tôi.
Hai ngày sau khi tôi bị giam lỏng thì người con gái của bà vú đến đón bà về. Chúng tôi chia tay nhau trong nước mắt. Bà vú muốn cho tôi một cái áo len tự tay bà đan. Nhưng họ rầy la bà vì bà đã không có ý thức giai cấp và cấm bà cho tôi cái áo ấy.
- Bà sẽ không đủ ấm – bà vú năn nỉ đám vệ binh – bà ấy không được khỏe, tôi biết mà!
- Bà không thấy nó là kẻ thù giai cấp sao? – Vệ binh đỏ quát lên – việc gì mà bà ta phải có đủ hay không đủ quần áo?
Cô con gái của bà vú cũng sợ đám Vệ binh đỏ quá nên hối bà rời khỏi nhà ngay. Nhưng bà vú nói: “Tao phải chào cô Mimi đã!” bà nói mà nước mắt chảy ròng ròng trên hai gò má.
Một đứa trẻ trong đám đâm quạu. Nó nghiêm sắc mặt nhìn trừng trừng vào bà vú và nói: “Bà ở trong nhà này hầu hạ chúng nó lâu như vậy chưa đủ sao? Cô ta là con của kẻ thù giai cấp. Việc gì mà phải chào với hỏi nó?”. Khi tôi choàng tay quanh vai bà ôm hôn giã biệt thì bà khóc òa lên. Các Vệ binh đỏ xúm lại gỡ tay tôi ra và đẩy bà cùng với cô gái ra khỏi cổng. Lão bộc xách hành lý của họ đi theo. Tôi nghe lão gọi xích lô cho họ.
Nóng lòng muốn biết những gì đang xảy ra ngoài đường phố mỗi ngày tôi ngấu nghiến đọc tờ báo mà lão bộc để trên bàn kê trong bếp. Vào một buổi chiều, lúc tôi vào bếp để ăn cơm, tôi thấy một tờ “báo” in ấn rất thô thiển, cẩu thả nhan đề “Tin Vệ binh đỏ” trên ghế. Hàng tít lớn “Đập tan cuộc phản công của kẻ thù giai cấp” đã làm tôi phải suy nghĩ nhiều. Tôi nóng lòng muốn biết nhiều hơn, rõ hơn nữa. Không có ai ở đó, tôi lén dấu tờ báo vào túi. Sau đó, tôi vào phòng tắm, đọc. Đọc xong, để đề phòng, tôi xé nát tờ báo ấy ra. Tờ báo – đúng hơn gọi nó là bản tin – của Vệ binh đỏ gồm hầu hết chỉ là những “sáo ngữ” khoa trương và cường điệu thông thường chửi giai cấp tư sản và bọn “chủ trương xét lại”. Tuy nhiên, qua những lời tố cáo, nó cho ta biết vài sự kiện về một vài lãnh tụ từ ít lâu nay không công khai xuất hiện trước quần chúng. Tôi đặc biệt quan tâm đến tin tức về một vài quan chức trong guồng máy chính quyền và ban Bí thư Thành ủy Thượng Hải đang cố gắng “lờ” đi hay là tìm cách phá những mệnh lệnh của Mao. Sự khác biệt về chính sách trong ban lãnh đạo Đảng ngày càng lớn và do đó sự tranh chấp ngày càng căng, hơn tôi tưởng. Vì không bị kiểm duyệt nên “bản tin” của Vệ binh đỏ đã vô tình hay cố ý để lộ sự giành quyền giữa ban lãnh đạo Đảng và góp phần đập tan sự huyền hoặc về khối đoàn kết nhất trí trong Đảng – nhất là giữa các lãnh tụ – để cùng nhằm vào mục tiêu chung.
Sau một tuần lễ bị giam lỏng trong phòng, tôi đã hỏi Vệ binh đỏ xem có ra ngoài trời, như ra vườn chẳng hạn, để tập thể dục. Sau khi gọi điện thoại để hỏi cấp trên, các “ông bà” Vệ binh đỏ đã cho phép tôi đi dạo ngoài vườn hoặc ngồi trên bậc thềm, ôm con mèo Fluffy trong lòng. Dường như các vị hồng vệ binh đã không coi cái “tội” đã cắn “ông cách mạng” là nặng lắm nên các vị vẫn thường chơi rỡn với con mèo.
Mai Bình cũng sớm nhận ra tôi đã được phép đi dạo và tập thể dục ngoài vườn mỗi buổi sáng. Mỗi khi nó về ngủ ở nhà, nó đều lén ném cho tôi mảnh giấy nhỏ để sáng hôm sau khi đi tập thể dục tôi lượm, đọc. Trời tháng chín hay mưa nên mảnh giấy bị mục, nát rất khó gỡ ra và bị lòe khó đọc ra chữ. Trên mảnh giấy nhỏ xíu đó, nó cũng không nói gì được nhiều mà chỉ là những câu chẳng hạn như “con thương má lắm”, “má cố giữ gìn sức khỏe, ta càng phải can đảm trong lúc đương đầu với bão táp”. Tuy nhiên, chỉ như vậy cũng đã an ủi tôi rất nhiều và làm cho tôi bớt cảm thấy bị cách ly.
Khi tôi vào bếp ăn cơm mà có lão bộc ở đó thì luôn có Vệ binh đỏ đi theo để ngăn ngừa không cho chúng tôi trò chuyện gì với nhau. Những Vệ binh đỏ vẫn trò chuyện vui vẻ với lão bộc. Nhưng lần lần qua câu chuyện lão nói với Vệ binh đỏ, tôi hiểu lão cũng thông tin cho tôi về tình hình ngoài đường phố. Chẳng hạn có lần lão hỏi một ông Vệ binh đỏ là “các đồng chí có thường hay đánh đập thầy cô giáo không?”
Câu hỏi của lão bộc làm cho tôi ngạc nhiên vì trong cuộc cướp phá nhà tôi vào ngày 30 tháng 8 tôi thấy các “ông, bà” Vệ binh đỏ đối xử với thầy cô giáo cũng thân thiện chứ đâu có đánh đập gì. Tôi nín thở chờ câu trả lời của “ông” Vệ binh đỏ và “ông” đã thản nhiên trả lời:
- Đánh nhiều, nhất là mấy thằng cha, mấy con mẹ bị tụi này bắt gặp nói ra những điều có vẻ tư sản. Nhất là khi các cha bắt ép tụi này phải học hành chăm chỉ và không “hoạt động cách mạng” một cách tích cực. Có nhiều thằng cha con mẹ thầy cô giáo đếch hiểu được tầm quan trọng phải tiến hành Cách mạng Văn hóa. Bọn nó cứ tin rằng học trong sách vở mới là quan trọng. Nhưng, Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại của chúng ta đã dạy “vừa bơi vừa học bơi”. Bởi vậy tụi tôi học tập bằng cách tham gia các hoạt động cách mạng và tham gia lao động tích cực. Tụi tôi không cần học theo lối cũ, học ở nhà trường nữa. Bởi vậy thầy cô giáo nào còn tin vào sách vở thì rõ ràng chống lại lãnh tụ vĩ đại, và như vậy thì phải xem nó như kẻ thù thôi.
Lần khác, lão bộc lại hỏi: “Nghe nói các đồng chí Hồng vệ binh vây hãm trụ sở Ủy Ban Nhân dân Thành phố, phải không?”
- Đúng, và không phải chỉ là một lần. Toàn bộ bọn nắm chính quyền trong thành phồ Thượng Hải này đều thối nát, đều là bọn xét lại hôi thối.
Qua câu chuyện trao đổi giữa lão bộc và Vệ binh đỏ và qua những bản tin, thông cáo của họ, tôi hình dung ra tình hình đại cương là hàng ngày hàng chục ngàn người gia nhập hoặc liên kết với Vệ binh đỏ, và các “tổ chức công nhân” mọc lên như nấm gặp mưa đầu mùa. Hoặc vì mục đích tư lợi hoặc vì sợ bị gán cho là có tư tưởng lạc hậu, ai nấy cảm thấy phải tham gia vào Cách mạng Văn hóa Vô Sản Vĩ Đại.
Sự cướp phá nhà của những người bị gán cho là tư sản, sự tấn công tầng lớp trí thức đã khiến cho Vệ binh đỏ và các “ông bà Cách mạng” vênh vang tự đắc và càng làm họ say men bạo lực. Họ nóng lòng muốn tiến xa hơn nữa. Tôi thấy hình như các lãnh tụ theo Mao đã lợi dụng tâm lý ấy, hướng sự tức giận và sức mạnh của họ để gây sức ép vào Ủy Ban Nhân Dân và Đảng bộ thành phố Thượng Hải. Cả hai cơ quan này bị tố cáo là đã bao che giai cấp tư sản và chống lại đường lối chính sách của Mao. Họ bị tố cáo là trong nhiều năm đã làm lơ không chấp hành lệnh của Mao. Nhưng các quan chức trong chính quyền và Đảng bộ thành ủy Thượng Hải cũng đâu phải những tay mơ. Họ cũng là những người cộng sản dày dạn kinh nghiệm và đã sống sót sau nhiều cơn bão tố chính trị và các cuộc thanh trừng. Họ đâu có lạ gì thủ đoạn của Mao. Mao dùng lực lượng quần chúng thì họ cũng dùng lực lượng quần chúng để chơi lại, chứ kém cạnh gì! Họ cũng mau lẹ tổ chức Vệ binh đỏ và tổ chức cách mạng CỦA RIÊNG HỌ để tung vào cuộc Cách mạng Văn hóa. Các tổ chức mới này cũng thi đua với Vệ binh đỏ và tổ chức Cách mạng CỦA MAO, để giành quyền kiểm soát tình hình ở Thượng Hải. Các tổ chức Vệ binh đỏ và cách mạng của mỗi phía – của Mao và của thành ủy Thượng Hải – đều tỏ ra “đỏ” hơn bên kia, nghĩa là cách mạng hơn, tả hơn, tàn bạo hơn trong hành động cũng như trong khẩu hiệu. Bởi vậy lúc đó chẳng những khó mà phân biệt được nhóm Vệ binh đỏ, cách mạng nào thuộc phe Mao, nhóm nào thuộc phe thành ủy trừ phi nội chiến bùng nổ. Hơn thế nữa cái gọi là giai cấp tư sản và tầng lớp trí thức càng thêm khốn khổ vì cái cảnh một cổ hai tròng, tròng nào cũng cố siết cho chặt hơn tròng kia để chứng tỏ cái chính danh của mình.
Bạo lực càng lúc càng tăng. Đối tượng của Cách mạng Văn hóa càng lúc càng mở rộng, càng lúc con số “kẻ thù giai cấp” càng đông. Những khẩu hiệu mới được đưa ra, nhằm vào đám con, cháu gia đình tư sản. Chẳng hạn: “Rồng lớn sinh rồng con – Phụng lớn sinh phụng con – Chuột lớn sinh chuột con mới nứt mắt đã biết đào hang khoét ngạch”. Nghĩa là nếu cha mẹ là kẻ thù giai cấp thì con cái họ cũng đương nhiên trở thành kẻ thù giai cấp. Tôi nghĩ: Thật quái gở khi miệng thì bô bô duy vật biện chứng ấy thế mà khẩu hiệu ấy lại hoàn toàn đặt cơ sở trên quan niệm hết sức phản động về huyết thống như vậy. Sau khi tiêu chuẩn mới này được đưa ra – nghĩa là khi đối tượng của Cách mạng Văn hóa được mở rộng – Mai Bình cùng với nhiều người khác trong hãng phim đã bị chuyển từ hàng ngũ “quần chúng” sang hàng ngũ “bò” – theo kiểu nói “yêu quái lấy hình con bò” của Mao – và bị nhốt vào “chuồng bò” để viết bản tự thú và tự phê. Viết đi viết lại hoài để thanh tẩy và khu trừ khỏi đầu óc mình những tư tưởng “lạc đạo”, những tư tưởng chống Mao. Tôi được biết điều này qua cuộc trò chuyện trao đổi giữa lão bộc và các “ông” Vệ binh đỏ cho phép mở cửa phòng Mai Bình đặng lấy quần áo thay đổi vào cho Mai Bình, vì nó đang bị nhốt trong “chuồng bò” ở hãng phim để viết bản tự thú và tự phê. Sau đó, lúc vào bếp ăn cơm, tôi không còn lòng dạ nào mà nuốt trôi miếng cơm nhưng vẫn cứ làm bộ ăn để dò la tình hình Mai Bình. Lão bộc đã không làm tôi thất vọng. Khi tôi vừa ngồi xuống, lão đã bắt chuyện với “ông” Vệ binh đỏ và làm bộ vô tình đề cập tới Mai Bình.
- Tôi đã gặp nó lúc đến hãng phim để đưa quần áo cho nó. Nom nó cũng còn chưa đến nỗi nào và vẫn còn vui vẻ. Nó nói với tôi là nó đang viết bản tự phê về gốc gác lai lịch gia đình của nó. Nó nói là tất cả những người bị nhốt trong “chuồng bò” đều thân thiện. Nói đúng ra thì nó cũng vẫn bình thường, nói năng vẫn khôn ngoan, lý sự. Này, tôi hỏi đồng chí, tôi có chỗ này không hiểu tại sao nó là đoàn viên Thanh niên Cộng sản, đi công tác ở đâu nó cũng được tuyên dương, vậy mà sao nó vẫn phải viết bản tự phê nhỉ? Nó cũng có cảm tình đối đãi thân thiện với giai cấp vô sản. Có lần, chính nó đã cứu sống một người đàn bà nhà quê bệnh nặng bằng cách tình nguyện chèo thuyền – ngày trước nó chả là tay đua trong hội đua thuyền thành phố mà, nên nó chèo giỏi lắm, chở người đàn bà ấy kịp thời đến nhà thương ở tỉnh, nên kịp cứu sống – “Nó là con gái một gia đình như gia đình này – “ông” Vệ binh đỏ đáp – mà lại sanh ở ngoại quốc nữa thì phải viết bản tự phê là đáng quá rồi còn gì nữa. Nó có là đoàn viên Thanh niên Cộng sản thì cũng chỉ là “xanh vỏ đỏ lòng”, nín thở qua sông thôi. Vả lại, Đoàn Thanh niên Cộng sản đã bị giải tán mẹ nó rồi còn đếch đâu. Thằng cha Hồ Diệu Bang, Tổng Bí thư Trung ương Đoàn ấy mà, là một tên xét lại”
Chỉ vài ngày sau đó, nhóm “cách mạng” của hãng phim đã đến tận phòng Mai Bình và hốt sạch những gì mà các “ông” Vệ binh đỏ trước đó vẫn để lại cho nó. Tôi cảm thấy vô cùng khổ tâm khi thấy tình hình xoay chiều một cách hắc ám như vậy. Nếu cuộc tấn công chỉ nhắm vào một mình tôi thôi thì tôi còn có thể giữ vững được tinh thần lạc quan, vui vẻ phần nào. Nhưng bây giờ con gái tôi cũng trở thành đối tượng của sự bạo hành, làm sao tôi không khỏi đau đớn thất vọng cho được.
Chiều tối ngày 27 tháng 9, tôi bị các “ông” Vệ binh đỏ và các “ông bà cách mạng” lôi đến cũng cái ngôi trường học mà tôi đã “bị” tham gia cuộc mít tinh đấu tố ông Đào Phương hồi tháng 7 trước đó. Lúc tôi đến thì đã có rất đông người tụ họp sẵn ở đó, chờ. Lần này chính tôi là đối tượng của cuộc đấu tố. Tham gia cuộc đấu tố tôi không những gồm các “ông bà” Vệ binh đỏ, các “ông bà cách mạng” đã từng đến cướp phá nhà tôi mà còn có các công nhân trước kia làm ở hãng Shell và những người đã thẩm vấn tôi. “Ông cách mạng – mang - kính - râm” chủ trì cuộc đấu tố này.
Căn phòng được xếp đặt khác với lần đấu tố Đào Phương nghĩa là ghế ngồi không đặt đối diện với bục của chủ tọa mà là được xếp theo hình bán nguyệt. Tôi bị đặt đứng ở giữa có hai Vệ binh đỏ áp giải hai bên. “Ông – cách – mạng – mang – kính – râm” là một diễn giả ăn nói cũng lưu loát. Cũng như trong cuộc đấu tố Đào Phương, ông cũng mở màn bằng một lịch sử Trung Hoa từ cuộc chiến nha phiến trở về sau. Theo tôi, nội dung cũng giống y như nội dung của diễn giả trong cuộc đấu tố Đào Phương mà có lẽ họ đã học thuộc lòng để bất cứ khi nào có đấu tố người bị coi là giai cấp tư sản thì họ giở cái “bài” ấy ra. Đại khái, “ông cách – mạng – mang – kính - râm” mô tả một cách sinh động cuộc bắn phá vào bờ biển Trung Hoa của bọn đế quốc Anh. Bản báo cáo của ông đầy những điều bịa đặt hoặc xuyên tạc nhằm tạo ra sự căm thù nơi lòng người nghe nhắm vào tôi, làm tôi phải chịu cái tội do hành động của người Anh chống lại Trung Hoa trước đó cả trăm năm trước. Ông nói như thể chính tôi đã dẫn quân Anh ngược dòng Châu Giang trước đó. Ông tuyên bố Shell là một xí nghiệp đa quốc gia có chi nhánh trên khắp thế giới. Ông nói Lênin đã khẳng định những công ty như vậy là kẻ thù tệ hại nhất của chủ nghĩa xã hội. Ông kể cho thính giả hay rằng từ cái thuở xa xăm mịt mù nào đó mà hãng Shell đã lợi dụng cơ hội đem dầu hôi bán cho dân quê để đưa các tên mại bản vào tận những vùng quê xa xôi hẻo lánh của Trung Hoa để thu lượm tin tức cho bọn đế quốc. Ông cũng đưa ra những con số để chứng minh lợi nhuận khổng lồ mà công ty Shell đã thu được khi giao thương với Trung Hoa. Qua miệng ông, người nghe được biết là bọn Anh thì tinh tế, khéo léo hơn bọn Mỹ. Bọn Mỹ công khai chống lại chính phủ nhân dân Trung Hoa và bảo trợ bọn Quốc Dân Đảng ở Đài Loan. Bọn Anh thì một mặt công nhận ngoại giao chính quyền nhân dân, một mặt lại hiệp đồng với Mỹ bỏ phiếu chống, không để Trung Hoa giành lại cái ghế của mình tại Liên Hiệp Quốc.
Sau đó “ông - mang – kính - râm” lại tố cáo ông nội tôi là một tên địa chủ bẩn thỉu, ủng hộ chế độ phong kiến. Bởi vì các sách lịch sử do ông nội trước tác đã ca ngợi nhiều vị hoàng đế Trung Hoa. Hơn thế nữa – ông còn hoan hỉ nhấn mạnh – bằng chứng hiển nhiên là trong đống giấy tờ của ông tôi để lại đã có giấy tờ chứng minh ông nội tôi là sáng lập viên và có cổ phần trong tổ hợp than thép Hán Dã Bình trong đó có mỏ than An Dương, nơi chủ tịch Mao Trạch Đông, lãnh tụ vĩ đại đã có lần đích thân tổ chức lãnh đạo công nhân đấu tranh chống bọn tư sản. Lời tố cáo này được coi như một bằng chứng hiển nhiên việc ông nội tôi đối nghịch với Mao Chủ tịch, trong khi đó, trên thực tế thì hai người này thuộc hai thế hệ khác nhau. Đề cập đến cha tôi, “ông - mang – kính - râm” nói cha tôi là công chức cao cấp của chính quyền cũ và lúc còn trẻ đã theo học bên Nhật Bản. Ông cũng nhắc nhở mọi người rằng Nhật Bản đã phạm trọng tội xâm lược Trung Hoa và trong tám năm chiếm đóng Trung Hoa người Nhật đã tàn sát hàng chục triệu người dân Trung Hoa gồm đàn ông, đàn bà và trẻ em vô tội. Và, ông cũng cẩn thận cố ý không nêu rõ chi tiết là cha tôi đã sang Nhật du học từ những năm 1937. thay vào đó, ông lại cố ý gây cho người nghe cái ấn tượng là cha tôi cố tình du học Nhật Bản bất cần biết người Nhật đã tác hại Trung Hoa như thế nào. Rồi, chỉ tay vào mặt tôi, ông dõng dạc nói năm tôi mới hai mươi tuổi đã du học bên nước Anh, được huấn luyện trong các đại học của họ để thành một “con chó săn trung thành”. Ông chồng đã mãn phần của tôi được mô tả như một “cặn bã của chế độ thối nát Quốc Dân Đảng”, may mắn đã chết và thoát khỏi sự phán xét của Cách mạng.
Trong khi diễn giả đang nói thì từng chập người nghe lại biểu lộ sự nhất trí và ủng hộ lời của diễn giải bằng những đợt nhất tề hô các khẩu hiệu. Thêm vào những khẩu hiệu quen thuộc trong cuộc Cách mạng Văn hóa, có một số khẩu hiệu mới tố cáo tôi là “gián điệp” âm mưu với chính quyền ngoại bang để chống lại Trung Hoa, hoặc tố cáo tôi là “chó săn” của người Anh.
Sau khi “ông – cách – mạng – mang – kính - râm” nói xong thì “ông” Vệ binh đỏ lãnh đạo nhóm Vệ binh đỏ đến cướp phá nhà tôi đã cầm lấy máy ghi âm để mô tả sự “xa hoa, sang trọng” trong nhà tôi. Kế tiếp đó, có các “ông”, các “bà” Vệ binh đỏ – toàn là mấy cô cậu học sinh trung học – thay phiên nhau ra tố tôi đã cố gắng làm “xói mòn” ý chí cách mạng tiến công của họ bằng cách thuyết phục họ bảo vệ “văn hóa cũ”. Một “bà” cách mạng nhảy ra tố tôi là ngoan cố, là kiêu căng và tôi đã nuôi một con mèo “dại” trong nhà để tấn công những người cách mạng. Chẳng ai chịu thấy cái chi tiết phi lý ở chỗ con mèo đã “dại” thì làm sao mà “nuôi” được nữa. Những công nhân cũ hãng Shell được yêu cầu lên tiếng “cung cấp thêm” những bằng chứng nhằm chống lại tôi. Tôi dễ dàng nhận ra là họ run rẩy sợ hãi và tôi tự hỏi không hiểu họ đã bị những gì mà đâm ra sợ hãi mặt trắng bệch ra, tay cầm tờ giấy, đọc mà run bần bật. Không có người nào nhìn thẳng vào mặt tôi. Họ chẳng nói được những “dữ kiện”. Những điều họ nói tựu trung lại chỉ là tôi có những quan hệ thân mật với những người Anh cư ngụ tại Thượng Hải. Màng lưới ngờ vực được cẩn thận giăng ra. Có những lời tố cáo ngô nghê đến buồn cười chẳng hạn người gác thang máy đã nói mỗi lần tôi đi ngang thang máy là anh ta phải đứng tránh sang một bên. Anh tài xế thì nói mỗi lần tôi đi xe chung với ông tổng quản lý người Anh thì bao giờ ông ta cũng nhường để tôi lên xe trước. Đây có lẽ là để chứng tỏ tôi là một người có vai vế quan trọng đối với người Anh nên được người Anh nể trọng. Một số người khác nói về cái phòng nhỏ đựng tài liệu bên cạnh phòng tổng quản lý mà chỉ ông ta và tôi được lui tới. Một viên chức cấp trung của công ty đã nói là bản đồ địa chất các vùng ở Trung Hoa có thể có mỏ dầu thường được giữ kín trong các văn phòng bởi vì nó rất có giá trị được gán cho là từ các báo cáo của các chi nhánh hãng Shell trên khắp các vùng ở Trung Hoa trong cuộc nội chiến 1946-1949, khi quân đội Quốc – Cộng đang giao tranh ác liệt. Các cuộc chuyển quân của cả hai bên đều được các bản báo cáo này nhắc tới. Và điều này nhằm bác bỏ lời khai tôi khẳng định hãng Shell chỉ quan tâm đến thương mại và không để ý tới chính trị.
Ông chồng đã quá cố của tôi cũng bị đem ra chỉ trích. Người ta ám chỉ là mỗi khi lợi ích của hãng Shell và của nhà nước đụng chạm nhau thì bao giờ vợ chồng tôi cũng đứng về phía hãng Shell. Những lời tố cáo trên đây pha trộn thực hư, xuyên tạc hoặc phóng đại… tất cả được tính toán sao cho những người không biết gì về vấn đề này đã bị lừa hoặc bị bóp méo để hiểu sai đi.
Cuộc đấu tố kéo dài trong bầu không khí nặng nề. Đêm đã khuya nhưng tấn bi kịch về sự bất hạnh của tôi cũng vẫn còn lôi cuốn được sự chú ý, đến nỗi không một “ông, bà” Vệ binh đỏ hay cách mạng nào rời khỏi phòng họp. Theo ý tôi thì một số lớn những người này tin những điều nói về gián điệp này nọ đều là đúng sự thật cả, chỉ có một số ít cho đó là những lời vu cáo. Tôi thấy những đạo diễn tấn tuồng này có vẻ hả hê ra mặt vì họ coi đó là thành công.
Mấy năm sau tôi mới được biết là cuộc đấu tố này đã được trì hoãn nhiều lần vì những người dàn dựng vở tuồng này hy vọng chính con gái tôi sẽ tham gia đấu tố tôi. Mặc dầu bị áp lực hết sức dữ dội, con gái tôi nhất định từ chối. Nhưng lễ Quốc Khánh – ngày 1 tháng 10 – sắp tới gần. Những lãnh tụ theo Mao ra lệnh cho các “ông, bà cách mạng” ở Thượng Hải phải tạo ra được một thành quả cụ thể để mừng ngày kỷ niệm này. Để thi hành lệnh đó, những tổ chức chịu trách nhiệm về trường hợp của tôi đành quyết định tổ chức đấu tố tôi mà không có con gái tôi tham gia.
Khi “ông – mang – kính - râm” ước đoán rằng những lời tố cáo đó đủ để gây xúc động trong số người tham dự, ông đã ngỏ lời khen những người tham gia tố cáo tôi và cho là sự giác ngộ Xã hội chủ nghĩa của họ đã đạt mức cao. Ông cũng có vài lời vuốt ve các công nhân viên cũ của hãng và khen rằng sau đợt học tập chính trị, hầu hết họ đều “sáng ra”, nhìn rõ hơn bộ mặt thật của kẻ thù và có ý chí phấn đấu vươn lên. Và ông cũng không quên cảnh cáo những cái đầu còn “u mê” và thúc đẩy họ phải tăng cường phấn đấu tự phê nhiều hơn nữa để rũ bỏ xiềng xích của bọn tư sản.
Quay về phía tôi “ông – cách – mạng – mang – kính - râm” nói: “Mày đã thấy hàng núi những bằng chứng hiển nhiên chống lại mày chưa. Tội ác chống lại nhân dân Trung Hoa của mày rất nghiêm trọng. Mày chỉ có thể được cải tạo bằng cách tự thú đầy đủ mọi mưu ma chước quỉ của mày đã cùng bọn đế quốc thực hiện để phá hoại ngầm chính quyền nhân dân Trung Hoa. Mày có thú tội không?”
- Tôi chưa từng làm bất cứ điều gì chống lại chính quyền nhân dân Trung Hoa. Hãng Shell hoạt động ở đây được là bởi vì chính nhà nước đã muốn cho họ ở lại đây. Lệnh cho phép hãng Shell đặt chi nhánh văn phòng ở Thượng Hải là do Hội Đồng chính phủ và được không ai khác hơn chính là Thủ tướng Chu Ân Lai ký. Hãng Shell rất có thiện chí đối với đất nước và nhân dân Trung Hoa, luôn luôn tuân thủ một cách đúng đắn và tỉ mỉ mọi luật lệ, qui định. Chính sách của hãng Shell là không quan tâm vào chính trị…
Mặc dầu tôi nói nghe rõ ràng và lớn tiếng nhưng không có ai ở trong phòng nghe rõ được lời nói của tôi vì nó bị át đi bởi những tiếng la hét phẫn nộ “thú tội đi” hoặc không cho kẻ thù giai cấp giở lý sự ra! Cùng lúc đó, các “ông, bà” Vệ binh đỏ và các “ông, bà cách mạng” hùng hổ quấn lấy tôi hăm he, dọa nạt, giơ nắm đấm dứ dứ vào mặt tôi, giật quần áo tôi, la hét “đồ gián điệp dơ bẩn!”, “đồ chó săn dơ bẩn!”, “chúng ông sẽ giết mày” vân vân… Nhiều lần rồi tôi phải vịn chặt vào ghế để khỏi bị xô té.
Chứng kiến quang cảnh cuồng nhiệt đó, các vị chủ trì buổi đấu tố đã mỉm cười, đặc biệt, “ông – mang – kính – râm” ra vẻ hài lòng khi thấy tôi bị “đòn hội chợ” như vậy. Tôi phải làm sao bây giờ? Có cố gắng giải thích với họ thì cũng vô ích và nhất là cố gắng kháng cự lại thì càng vô ích và có thể còn tệ hại hơn. Nhưng nếu tôi cứ đứng im không nhúc nhích thì chắc đám đông kia sẽ nhảy chồm lên tôi. Tôi chỉ còn có có nước đứng nhìn thẳng vào bức tường trước mặt, hy vọng cơn giận của đám đông kia sẽ nguôi dần đi.
Dần dần, những tiếng la hét, quát tháo, chửi bới cũng giảm. “Ông – mang – kính – râm” nói: “Chúng tao đã hết kiên nhẫn rồi. Mày có tội. Chúng tao có thể kết án tử hình mày. Nhưng chúng tao muốn giành cho mày một cơ may để cải tạo. Mày có chịu tự thú?”
Mọi người chòng chọc nhìn vào tôi, chờ đợi. Tôi đứng đó chịu đựng sự sỉ vả, lăng mạ của họ thật lâu. Tôi coi như là mình đã bị mọi người căm thù. Bây giờ, tôi nhớ lại, cái tình cảm mạnh nhất của tôi lúc đó là buồn ghê gớm. Cùng lúc đó tôi nóng lòng muốn gặp con gái tôi. Tôi buồn vì tôi biết là không thể nào làm cho những người này hiểu được rằng tôi vô tội và họ đã sai lầm vì đã bị lừa bịp. Sự tuyên truyền về đấu tranh giai cấp mà họ bị nhồi nhét – không phải chỉ mới bắt đầu từ lúc có Cách mạng Văn hóa vô sản mà ít ra từ năm 1949, ở nhiều vùng có thể còn trước đó nữa, khi quân đội Cộng sản tiến vào Thượng Hải - đã dựng lên một bức tường ngăn giữa chúng tôi với nhau. Bức tường tuyên truyền ấy không phải là cái mà tôi có thể chốc lát phá đổ được.
Sau khi nhìn trừng trừng vào mặt tôi một lúc và thấy tôi vẫn cứ im lặng trước lời hối thúc “thú tội” của ông ta, ông – mang – kính – râm ra dấu cho thanh niên đứng đằng sau đám đông. Mọi người đứng rẽ ra, dành một lối cho anh ta đi lên. Anh ta cầm một cặp còng số 8 sáng loáng giơ cao lên cố ý cho tôi nhìn thấy. Khi anh ta đứng sát bên tôi thì viên chức chủ trì cuộc đấu tố lại hỏi tôi lần nữa.
- Bây giờ thì mày có chịu thú tội không?
- Tôi chưa bao giờ làm điều gì chống lại chính quyền nhân dân, - tôi bình tĩnh đáp, - tôi không có dính dáng gì đến bất cứ chính quyền ngoại bang nào.
Người thanh niên cầm còng nói với tôi: “”Đi theo đây”
Tôi đi theo anh ta ra khỏi trường học và ra đến tận ngoài đường. Những người khác cũng đi theo tôi. Không khí ban đêm mát lạnh và tôi cảm thấy đầu óc tôi minh mẫn kỳ lạ.
Đậu đằng trước cửa vào trường học là một chiếc xe jeep sơn đen, chiếc xe của công an Thượng Hải. Đây là một cách quen thuộc ở Thượng Hải. Ở cao trào của mọi cuộc vận động, chiến dịch chính trị, người ta thấy những chiếc xe màu đen này rúc còi inh ỏi và chạy vun vút trên đường phố để chở các nạn nhân – hay là các đối tượng – đến nhà tù. Tôi còn đứng bên cạnh xe jeep với Vệ binh đỏ. Các “ông bà cách mạng”, các cựu công nhân hãng Shell và một số người đi đường đứng lại nhìn. Lúc đó, ông cách - mạng – mang – kính – râm lại hỏi tôi: “bây giờ mày có chịu thú tội không?” Tôi nín thinh, trong lòng đọc thầm bài Thánh Vịnh số 23:”Chúa là mục tử của tôi, có Chúa, tôi không còn thiếu gì, tôi không lo sợ gì nữa”
- Mày hóa câm rồi hả?
- Mày á khẩu rồi hả?
- Nói!
- Thú tội đi! - đám đông ấy thét lên.
Ông mang – kính – râm và ông công an nhìn tôi chòng chọc. Họ hiểu lầm, coi sự im lặng của tôi như dấu hiệu của sự yếu đuối tinh thần. Tôi biết tôi đã tỏ ra can đảm. Thật ra tôi đã cảm thấy vững tâm hơn khi đọc bài Thánh Vịnh. Suốt cả buổi chiều hôm đó, có lúc tôi cũng cảm thấy sợ hãi. Nhưng lúc đứng bên chiếc xe jeep, một bảo tượng của sự đàn áp thì quả là tôi không hề sợ hãi gì cả.
Tôi ngửa mặt lên, nói lớn tiếng, rành rọt:
- Tôi không có tội, do đó tôi không có gì để thú tội cả.
Lần này thì không còn tiếng la hét nữa. Dường như từng người đi đường đứng xem cho đến các “ông, bà” Vệ binh đỏ, các “ông bà cách mạng” đều thấy sợ trước quang cảnh nghiêm trọng này. Sau khi tôi nói, ông mang – kính – râm đã ra dấu cho người công an bẻ quặt hai cánh tôi ra sau lưng và tra còng số 8 vào cổ tay tôi. Có tiếng thở dài trong số những người lớn tuổi.
Thình lình, một cô gái Vệ binh đỏ rẽ đám đông đến trước mặt tôi và nói bằng giọng rất kích động: “Thú tội đi! thú tội mau đi! Nếu không mày sẽ bị đem tới nhà tù đó!”. Giọng cô ta vang lên như chuông giữa tiếng ồn ào của đường phố. Đó là cô gái tóc ngắn bị Vệ binh đỏ thẩm vấn vì tình nghi là ăn cắp đồ nữ trang bữa nọ. Sự cố gắng của cô ta để cứu tôi khỏi vào tù đã bị một người đàn bà phát hiện ngay và lôi tuột trở vào trong nhà trường.
Người tài xế xe jeep khởi động máy. Người công an tay đẩy tôi, miệng nói “Lên xe”.
Đứng mãi bây giờ được ngồi – dù là ngồi lên xe tù – sao thấy dễ chịu quá. Tôi nhìn ra ngoài, nhìn những khuôn mặt đàn ông, đàn bà đang chứng kiến bi kịch này. Tôi nhìn thấy nỗi buồn, lo trong đôi mắt của các công nhân của hãng Shell. Có lẽ họ nghĩ rằng với cách ứng phó của tôi, họ sẽ không còn bị gây sức ép nữa. Một số người khác trong đám đông nom có vẻ khích động.
Người công an lên xe ngồi cạnh tài xế. “Ông mang – kính – râm” cũng chui vào xe, ngồi cạnh tôi. Chiếc xe jeep vọt đi, chạy lao vào những đường phố tối mò.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-10-21 22:07:11huytran>
Chương 5: BIỆT GIAM


Thông thường cứ 9 giờ tối thì đường phố ở Thượng Hải đã vắng người. Nhưng lúc đó lại là một biển người. Dưới bầu trời thu trong vắt, làn gió thổi mát lạnh, hàng ngàn hàng ngàn người đổ xô ra đường để xem các hoạt động ngày càng nhộn nhịp của Hồng vệ binh. Trên những”sân khấu” sơ sài dựng tạm khắp nơi, các “ông” cách mạng trẻ tuổi đã hùng hồn kêu gọi nhân dân hãy tham gia cách mạng, hoặc đang tổ chức một cuộc đấu tố ở quy mô nhỏ những người mà chúng bắt bừa bãi trên đường phố vì không mang trong mình cuốn “sách đỏ” (trích những “lời dạy” của Mao) hoặc chỉ vì mặc những kiểu quần áo chúng không ưa. Đằng trước một số tư gia và chung cư sang trọng, khói bốc lên nghi ngút, chắc các “ông bà” Vệ binh đỏ và các “ông bà Cách mạng” đang đốt sách. Bất cứ sách gì.
Những xe chứa đầy đồ đạc tịch thu của các gia đình tư sản đậu dài dài bên lề đường, sẵn sàng chở đi. Những đám đông chen chúc nhau, đi ngược đi xuôi, tứ tung khiến đường sá nghẹt cứng. Xe cộ – nhất là xe buýt – chỉ có thể nhích từng chút. Đời sống hàng ngày của thành phố đã bị ngưng đọng để nhường chỗ cho các hoạt động của Cách mạng Văn hóa đang mở rộng mục tiêu và gia tăng cường độ.
Loa phóng thanh ở góc phố ông ổng tuôn ra những bài hát cách mạng mới được sáng tác. Chẳng hạn bài “Chủ nghĩa Mác được tóm gọn trong một câu: cách mạng biện chính cho mọi sự” – “Muốn vượt biển, ta phải nhờ người hoa tiêu, muốn tiến hành cách mạng ta phải dựa vào tư tưởng Mao Trạch Đông” – “Tư tưởng Mao Trạch Đông tỏa sáng chói lọi”. Nếu chỉ nghe điệu nhạc quân hành mà đừng nghe thấy lời của bài ca, nếu chỉ nhìn thấy đám đông vần vũ trên đường mà đừng nhìn thấy những nạn nhân và những Vệ binh đỏ thì người ta sẽ tưởng đó là quang cảnh buổi hội chợ mùa thu được tổ chức cho nhân dân vui chơi giải trí, chứ không phải là một chiến dịch chính trị chứa đầy những hành động tàn bạo và những lời lẽ ác độc nhằm kích mọi người ngờ vực lẫn nhau, các tầng lớp nhân dân thù hận lẫn nhau.
Cả tinh thần lẫn thể xác tôi như bị tê liệt bởi quá mệt do những cố gắng và căng thẳng liên tục kéo dài, vì không những trong mấy tiếng đồng hồ bị đấu tố mà còn bị những biến cố đã diễn ra trong hai tháng rưỡi trời. Tôi không nghĩ đến chỗ mà tôi sắp bị chở tới, nói đúng ra tôi không còn có thể suy nghĩ gì được nữa. Nhưng tôi cảm thấy căm phẫn, tức giận vì cách người ta đối xử với tôi. Bởi, tôi không hề làm điều gì chống lại đất nước tôi, thật quá ngô nghê, thô thiển, đến nỗi tôi không phải nghĩ rằng đó chỉ là những cái cớ họ đưa ra để trừng phạt tôi, chỉ vì tôi dám sống một cách đàng hoàng khá giả. Rõ ràng, tôi là nạn nhân của cuộc đấu đá. Đúng như lời cô bạn Winnie của tôi đã nói, chỉ vì hãng Shell đã đóng cửa văn phòng chi nhánh Thượng Hải cho nên những người theo Mao trong số các quan chức Đảng ở Thượng Hải tin rằng họ có thể bắt tôi hạ thấp mức sống xuống cho ngang với đám quần chúng.
Mỗi khi chiếc xe cảnh sát chở tôi phải ngừng lại vì nghẹt đường thì đám đông tò mò lại chen chúc nhau bu quanh xe để dòm “kẻ thù giai cấp” trong xe. Trong số đó có những người hoan hô thắng lợi của giai cấp vô sản bằng cách tố cáo thêm những “kẻ thù” khác nữa, một số khác chỉ tò mò nhìn. Một số ít tỏ ra lo lắng, hoặc ái ngại và đã quay ngoắt đi khi phải chứng kiến cái cảnh ngộ bất hạnh đau buồn của đồng loại. Bị tù ở Trung Hoa, dưới chế độ Mao Trạch Đông, không phải như bị tù ở các nước dân chủ. Người bị đưa vào tù đương nhiên bị coi là có tội, cho đến khi chính họ tự chứng minh là vô tội. Bị cáo có thể bị xét xử không phải vì những hành động chính mình đã làm. Đám mây nghi ngờ luôn luôn lơ lửng trên đầu những người bị gán cho là thuộc giai cấp “tội lỗi”. Hơn thế nữa đã có lần Mao nói là có từ 3 đến 5 phần trăm dân số là kẻ thù của Chủ nghĩa Xã hội. Để chứng tỏ là ông ta đúng thì trong mỗi chiến dịch chính trị, ở mỗi cơ quan, nhà máy, các trường học… phải moi cho ra những “tội phạm” hoặc “có tư tưởng lạc đạo” trái với tư tưởng Mao Trạch Đông và phải đạt chỉ tiêu 3 đến 5 phần trăm. Những người bị gán cho là “tội phạm” hoặc “lạc đạo” này, một số sẽ bị đưa vào trại cải tạo lao động cưỡng bách, một số bị tù đày.
Trong những trường hợp này, oan khiên là chuyện rất phổ biến. Đi tù ở Trung Hoa không còn bị coi là đáng hổ thẹn. Bởi đâu có phải bị sa đọa tinh thần hay bị vi phạm luật mà đi tù. Chỉ cần bị “ông” nhà nước nghi ngờ về một tội gì đó thì cũng đủ để bị ở tù rồi. Những người gặp số phận hẩm hiu ở Trung Hoa cộng sản đã nhìn những tù chính trị với rất nhiều cảm tình.
Kể từ lúc tôi bị dính vào cuộc Cách mạng Văn hóa hồi đầu tháng 7 và quyết định không thú tội ẩu, tôi đã không loại trừ việc tôi có thể bị tù. Tôi biết có nhiều người, kể cả những Đảng viên dày dạn kinh nghiệm và thành tích đã vì bị làm áp lực mà long trọng thú tội ẩu với hy vọng tránh khỏi đối đầu với Đảng hoặc giảm được sự phục hồi. Nhưng đa số thì không. Trong những trại cải tạo bằng lao động ở những nơi xa xôi, đất đai cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt như ở Thanh Hải và Cam Túc, có nhiều người đàn ông đàn bà vô tội đã bị đày ở đó, chỉ vì họ thú nhận những tội mà họ không bao giờ phạm. Theo tôi nghĩ, thú nhận những tội lỗi mình không phạm là điên khùng. Cách hợp lý nhất và khôn ngoan nhất là đương đầu với sự hành hạ mà mình phải chịu.
Xem xét lại tình trạng của tôi, tôi hiểu là giai đoạn sơ khởi của cuộc hành hạ tôi đã qua. Bất kể những gì đã xảy ra, tôi cũng sẽ phải tăng cường nỗ lực để vô hiệu hóa các ý đồ của những kẻ ngược đãi tôi, hòng buộc cho tôi những tội không phạm. Bao lâu họ chưa giết chết tôi, tôi còn đương cự. Bởi vậy, khi ngồi trong xe jeep, tôi không sợ hãi cũng không chịu khuất phục, trái lại, kiên định hơn.
Khi chiếc xe chạy đến khu vực công nghiệp thành phố, đường sá lại đông nghẹt người hơn, khiến xe phải chạy rất chậm, đôi lúc phải dừng lại. “Ông mang – kính – râm” bảo người tài xế bật còi hụ. Tiếng rú trầm bổng, gay gắt, hối hả rú lên rền vang vừa gây kinh ngạc vừa nghe tức cười, đã át cả tiếng hát cách mạng từ các loa phóng thanh, át cả tiếng ồn khác ngoài đường phố. Mọi người vừa tránh đường cho xe chạy vừa quay ra nhìn chiếc xe. Không gặp trở ngại gì nữa, chiếc xe tăng tốc chạy nhanh qua các đường phố. Chẳng mấy chốc, chiếc xe jeep đã ngừng lại trước cánh cửa sắt đen ngòm, có lính cầm súng gắn lưỡi lê sáng loáng đứng gác. Ở một bên mé cổng có tấm bảng gỗ sơn trắng, viết chữ đen: “Nhà giam số 1”.
Cánh cửa mở ra cho xe chạy vào. Bên trong tối om. Nhưng nhờ ánh đèn pha của chiếc xe, tôi thấy hai hàng liễu mọc hai bên đường. Con đường lượn từ từ về phía bên phải. Một bên là sân bóng rổ, bên kia là một bãi rộng có những hình nhân cột vào các cây cọc. Mãi về sau này, khi được trở đi bệnh viện, tôi mới được nhìn thấy những hình nhân này lúc ban ngày và hiểu ra đó là bãi tập bắn của lính gác tù.
Tôi biết “nhà giam số 1” là nơi giam giữ sơ khởi các tù chính trị của Thượng Hải. Nhà giam đã từng “hân hạnh” đón tiếp những vị giám mục công giáo, nhiều quan chức cao cấp của Quốc Dân Đảng, nhiều văn nghệ sĩ tên tuổi… Điều mỉa mai là nhà tù này không phải do Cộng sản lập nên, mà là do chính quyền Quốc Dân Đảng lập nên để giam giữ các Đảng viên và những người có cảm tình với Cộng sản.
Nhà giam các tù nhân chính trị là một khía cạnh bất cứ chính thể nào. Từ trước cho đến lúc đó (lúc tôi bị đưa vào tù), tôi chỉ là kẻ bàng quan ngồi tại ngôi nhà đầy đủ tiện nghi của mình để nghiên cứu chế độ Cộng sản Trung Hoa. Nhưng lúc này, tôi ở một vị thế thuận lợi hơn – tiếp cận và không còn là kẻ bàng quan, mà là nạn nhân – để nghiên cứu chế độ ấy. Điều trớ trêu là cái khung cảnh nhà tù lúc ấy đã kích thích trí tò mò và làm cho tôi tạm quên những giây lát nguy hiểm của tôi.
Chiếc xe vượt qua một cổng sắt nữa, qua trại lính gác tù rồi ngừng lại trong sân trước mặt ngôi nhà. Hai người trên xe bước xuống, đi vào trong nhà. Một mụ coi ngục đội mũ kaki có gắn quốc huy màu đỏ giữa trán, đến dẫn tôi vào một phòng trống. Tại đó có một mụ cai ngục nữa cũng đồng phục kaki đứng chờ. Mụ mở khóa còng và nói với tôi: “Cởi quần áo ra”.
Tôi cởi quần áo ra và đặt lên bàn, một bộ đồ duy nhất. Hai mụ cai ngục khám quần áo tôi rất kỹ. Trong túi quần có một bì thư đựng 400đ mà tôi định cho người làm vườn nhưng chưa kịp trao.
- Làm gì mà mày đem nhiều tiền quá vậy? - Một mụ hỏi.
- Tôi định cho người làm vườn của tôi. Tôi chờ ông ta tới nhà lấy nhưng ông ta chưa đến thì thình lình tôi bị bắt đi. Có thể có ai dám đem đến cho ông ấy dùm tôi được không?
Mụ trao lại quần áo cho tôi, trừ cái nịt vú, một món y phục mà những người theo Mao coi như là dấu hiệu của sự suy đồi vì ảnh hưởng phương Tây. Mặc quần áo vào rồi, tôi được mụ cai ngục dẫn qua một hành lang ánh sáng lờ mờ đến một căn phòng khác.
Một người đàn ông – mặt mày và dáng điệu có vẻ người nhà quê miền Bắc Trung Hoa - ngồi đằng sau một cái quầy, dưới bóng đèn treo lủng lẳng phía trên. Mụ cai ngục chỉ vào cái ghế đặt hơi cách xa phía quầy và bảo tôi ngồi xuống đó. Ông ta ngẩng đầu lên, nhìn tôi. Rồi bằng giọng điềm đạm, nhẹ nhàng đáng ngạc nhiên, ông ta hỏi tôi tên, tuổi, địa chỉ.
Và ghi tất cả chi tiết ấy vào một cuốn sổ, ông ta viết chậm chạp, kỹ lưỡng như thể đếm từng nét. Rõ ràng là ông ta ít học. Nhưng điều đó không làm cho tôi đáng ngạc nhiên. Bởi vì tôi biết rằng Đảng Cộng sản Trung Hoa cắt đặt công tác cho một người không phải trên cơ sở học vấn mà là trên cơ sở mức độ đáng tin cậy của người đó về mặt chính trị. Viết xong, ông ta nói với tôi:
- Khi nào chị còn ở đây thì chị được gọi bằng số, chứ không bằng tên của chị nữa. Chị hiểu chưa?
Tôi gật đầu. Một anh chàng thanh niên mang theo máy ảnh đi vào. Anh ta nói với tôi: “Đứng dậy”. Anh ta chụp ảnh tôi nhiều kiểu khác nhau, rồi lại đi ra. Tôi ngồi xuống và mong họ làm các thủ tục nhanh nhanh lên vì tôi mệt muốn chết rồi.
Người đàn ông đứng sau quầy giọng ề à buồn tẻ đọc từng con số “một ngàn tám trăm lẻ sáu. Từ nay chị phải nhớ chị là 1806. Cố mà nhớ lấy”.
Tôi lại gật đầu. Mụ cai ngục chỉ vào một tấm giấy lớn dán trên tường và bảo: “Đọc đi, đọc lớn tiếng lên!”
Đó là bản nội quy của nhà tù. Điều thứ nhất: hàng ngày mọi tù nhân phải học tập theo sách của Mao Trạch Đông để cải tạo tư duy của mình. Điều thứ hai là phải thú thật mọi tội lỗi, không được giấu giếm tội nào, đồng thời tố cáo những kẻ dính dáng đến tội đó. Điều ba là phải báo cáo cho “giám thị” mọi sự vi phạm nội quy của tù nhân cùng bị giam với mình. Những điều còn lại liên quan đến các vấn đề ăn uống tắm rửa cho mọi vấn đề vệ sinh trong nhà tù. Tôi đọc xong, mụ cai tù nói: “Cố mà nhớ nội quy và tránh đừng vi phạm”.
Người đàn ông lấy dấu tay của tôi áp vào cuốn sổ. Lấy dấu tay xong, tôi xin ông ta một mảnh giấy lau tay.
Mụ cai ngục đứng ở ngoài cửa sốt ruột, đã quay đầu vào và quát lên: “Nhanh lên”. Nhưng, người đàn ông – có lẽ là tâm địa tốt – cũng mở ngăn kéo, lấy ra mảnh giấy nhầu nát trao cho tôi. Tôi lau vội tay và theo mụ cai ngục ra khỏi phòng và ra khỏi tòa nhà.
Cuộc tiếp nhận tôi vào nhà tù số 1 được thực hiện một cách nhẹ nhàng thoải mái. Thái độ của người đàn ông và mụ cai ngục là một thái độ lạnh lùng thường lệ. Đối với họ, việc tôi vào tù cũng như hàng trăm hàng ngàn trường hợp khác. Thường quá. Còn đối với tôi qua ngưỡng cửa nhà tù là bước vào giai đoạn khác của cuộc đời, qua đó, nhờ đấu tranh để sống còn và giành lấy công lý, tôi đã mạnh dạn hơn về tinh thần và trưởng thành hơn về mặt chính trị. Tôi có những thời gian dài ngồi một mình để kiểm điểm lại chính cuộc đời mình và những gì đã diễn ra trên đất Trung Hoa mà tôi biết được – kể từ năm 1949, khi Đảng Cộng sản Trung Hoa nắm chính quyền, nhờ đó tôi hiểu rõ hơn chính mình và chế độ chính trị trong đó tôi đang sống. Mặc dù, vào đêm 27 tháng 9 năm 1966 tôi bị bắt giam trong nhà tù số 1, tôi không biết tương lai của mình rồi sẽ ra sao, nhưng lúc đó tôi cũng không thấy sợ hãi gì cả. Tôi tin nơi Đức Chúa Trời công chính và lân tuất và nghĩ rằng Người sẽ dẫn dắt tôi khỏi vực thẳm nguy hiểm.
Bên ngoài tòa nhà, trời tối đen như mực. Mặt đất gồ ghề. Theo mụ cai ngục đi ra khỏi tòa nhà, tôi hít thật sâu không khí mát mẻ ban đêm.
Chúng tôi đi qua tòa nhà chính, qua một chiếc cửa sơn đỏ đã bạc màu, có ngọn đèn yếu ớt lù mù soi đường. Vào đến sân trong, nhỏ hơn, tôi thấy một tòa nhà hai tầng khác. Đây là nơi giam giữ các tù nhân nữ.
Từ một phòng gần lối vào, một mụ cai ngục khác đi ra, vừa đi vừa ngáp dài. Hai mụ lặng lẽ trao và nhận tù.
“Theo đây”, mụ cai tù ngái ngủ nói. Mụ dẫn tôi qua một hành lang dài có những cánh cửa đóng kín, cài then và đóng kỹ. Tôi đã không bao giờ quên được cái hình ảnh đầu tiên mà tôi có được về cái nhà tù này. Những năm sau đó, dù trong lúc ngủ mơ hay trong cơn ác mộng tôi vẫn còn nhìn thấy hành lang, ánh sáng lờ mờ, hàng cửa đóng kín cài then khóa kỹ. Tôi cảm thấy mãi nỗi bất lực, vô vọng, vỡ mộng của những con người bị nhốt bên trong.
Đi đến cuối hành lang, mụ cai ngục mở cửa một xà lim còn trống.
- Đi vào – mụ nói – có đồ dùng cá nhân gì không?
Tôi lắc đầu.
- Để sáng mai sẽ báo cho gia đình gửi đồ dùng cá nhân vào cho. Giờ thì đi ngủ.
Tôi hỏi mụ chỗ đi vệ sinh, mụ chỉ cho một cái cầu tiêu đặt ở góc trái xà lim rồi nói: “Tao sẽ cho mượn ít giấy vệ sinh”.
Mụ cài then cửa rồi lịch kịch khóa lại. Tôi nghe tiếng chân mụ đi về phía cuối hành lang.
Tôi đưa mắt nhìn quanh phòng. Trái tim tôi muốn rụng. Mạng nhện giăng kín từ trên trần xuống. Bức tường trước kia quét vôi trắng nay vàng ệch, bám đầy bụi trắng và lù mù. Nền xi măng vá loang lổ và ẩm ướt, không khí nằng nặc mùi ẩm mốc. Tôi vội vã mở cánh cửa sổ độc nhất và nhỏ xíu với chấn song sắt han rỉ. Tôi phải kiễng chân lên mới mở được cánh cửa. Khi tôi đẩy được cái chốt và cánh cửa ra, những vụn sơn cũ tróc ra và bụi rơi xuống như mưa. Đồ đạc độc nhất trong phòng là ba chiếc giường gỗ hẹp. Vạt giường là những mảnh ván nhám, hai chiếc chồng lên nhau còn chiếc kia sát mé tường. Tôi chưa bao giờ cư ngụ và cũng chưa bao giờ tưởng tượng ra được một nơi cư ngụ có thể thô sơ, dơ dáy đến thế này.
Mụ cai ngục trở lại với mấy tờ giấy vệ sinh, thứ xấu nhất. Mụ tuồn mấy tờ giấy đó cho tôi qua khuôn gỗ vuông khoét ngay trên cánh cửa xà lim và nói:
- “Giấy vệ sinh đây. Khi nào được tiếp tế là phải trả lại nhà nước đủ số đấy. Thôi, ngủ đi. Nằm phải quay đầu ra phía cửa sổ. Đó là nội qui”. Tôi không dám đụng vào chiếc giường bụi đóng thành lớp đó. Nhưng tôi cần phải nằm xuống vì hai chân tôi đã sưng phù lên. Tôi kéo cái giường tách ra khỏi bức tường dơ bẩn và lấy giấy vệ sinh lau. Nhưng bụi bám đầy và dính cứng vào đến nỗi tôi chỉ phủi được bụi bên trên. Rồi tôi nằm đại xuống và nhắm mắt. Chiếc đèn treo lủng lẳng trên trần chiếu thẳng xuống đầu tôi. Mặc dù là đèn lù mù nhưng vẫn làm cho tôi khó chịu. Tôi nhìn quanh phòng nhưng không thấy công tắc đèn đâu cả.
Tôi lấy tay gõ mạnh vào cửa và nói lớn: “Xin vui lòng cho tôi hỏi”.
- Im ngay! Im ngay! - Mụ cai ngục vội vã chạy lại và hé cánh cửa sổ.
- Tôi không thấy chỗ công tắc đèn đâu cả.
- Buổi tối ở đây không tắt đèn. Từ nay về sau muốn nói với giám thị phải nói “xin báo cáo”. Không được gõ cửa. Không được nói cách khác.
- Làm ơn cho tôi mượn cái chổi để quét phòng này một chút được không? Dơ quá
- Khùng! Quá hai giờ đêm rồi đó! Ngủ đi!
Mụ đóng cửa lại nhưng vẫn đứng ở ngoài dòm qua khe cửa để biết chắc là tôi đã tuân lệnh.
Tôi đành nằm xuống giường và quay mặt về phía bức tường dơ bẩn để tránh ánh đèn. Tôi nhắm mắt lại để khỏi nhìn thấy bức tường. Nhưng tôi không thể tránh được cái mùi ẩm mốc khó chịu và bụi bậm. Xa xa tôi nghe văng vẳng tiếng ồn ào của đám đông ngoài phố. Đám đông ấy không còn đe dọa tôi nữa nhưng tôi lo lắng cho con gái tôi. Tôi hy vọng là nay tôi đã bị giam cầm thì người ta sẽ không còn áp lực để bắt con tôi phải tố tôi nữa. Nếu đúng như vậy thì nó cũng sẽ được đối xử như một thành phần quần chúng. Tôi chuẩn bị để chịu đựng bất cứ sự gì.
Thình lình một đàn muỗi đói bay sà đến tấn công tôi. Tôi ngồi dậy và cố gắng lấy tay quạt muỗi. Nhưng bầy muỗi gan lì đến nỗi tôi đành chịu thua. Muỗi cắn ngứa ngáy lại càng làm cho tôi khó chịu, bực bội.
Đến lúc tờ mờ sáng, điện tắt. Trong bóng tối, sự dơ bẩn và xấu xí của căn phòng cũng vụt biến mất, tôi có thể tưởng tượng ra mình đang ở một nơi nào đó. Đó là khoảnh khắc tôi cảm thấy được sống riêng tư và cảm thấy nguôi ngoai phần nào. Tôi cảm thấy như khúc dây cột chặt quanh người tôi đã được nới lỏng ra. Nhưng, chẳng được lâu. Mảnh trời qua khe cửa biến thành màu xám rồi màu trắng. Ánh nắng ban mai ùa vào xà lim làm cho cái vẻ xấu xí của xà lim lộ ra. Tuy nhiên suốt trong những năm bị giam cầm trong xà lim này, khoảnh khắc tối om sau khi tắt đèn và trước khi rạng đông luôn luôn là những giây phút tôi tìm lại được phẩm cách con người của tôi và cảm thấy như được đổi mới, chỉ vì tôi có được một khoảnh khắc quí báu tự do, không bị mấy vị cai ngục dòm chừng.
Tiếng bước chân người lại gần, “Dậy! Dậy! Dậy ngay!” cũng vẫn tiếng mụ cai ngục đó giục giã ở cửa mỗi xà lim. Tôi chỉ nghe tiếng động của những con người câm nín nổi lên ở khắp tòa nhà, những tiếng xì xào và tiếng của cái gì đó vận động ở những xà lim tầng trên.
Cánh cửa sổ nhỏ ở cửa xà lim được mở ra. Một phụ nữ trẻ lên tiếng gọi “Nước này”. Và cô ta đẩy ca nước qua cửa sổ đó.
Tôi nói với cô ta không có cái gì đựng nước. Cô ta rút cái ca nước ra và ghé cái mặt xanh xao tuy còn trẻ của cô ta để dòm vào mặt tôi. Ánh mắt chúng tôi chạm vào nhau, cô ta mỉm cười. Vài ngày sau tôi thoáng nhìn thấy trên vạt áo cô ta một mảnh vải trắng nhỏ viết chữ, đại khái cho biết cô cũng chỉ là một tù nhân phải lao động cải tạo. Sau đó, mỗi khi có dịp, chúng tôi đều mỉm cười với nhau thông cảm cái số phận khốn nạn, đau khổ mà chúng tôi cũng phải chịu đựng trong tư cách là những người bị nhà nước bắt tù. Sự tiếp xúc thầm lặng và nụ cười lén lút trên khuôn mặt xanh xao của cô ta đã có một ý nghĩa rất lớn đối với tôi trong những năm tôi bị giam giữ. Khi cô không còn xuất hiện nữa – có lẽ là cô đã mãn hạn tù – tôi cảm thấy sâu sắc một sự mất mát và buồn bã trong nhiều ngày.
Cánh cửa sổ nhỏ lại mở ra. Một cái cà men bằng nhôm hình chữ nhật xuất hiện. Tiếng người đàn bà nóng nảy nói: “Cầm lấy! Cầm lấy!”
Khi tôi cầm lấy chiếc cà men, chị ta nói: “Lần sau đến giờ ăn, thì phải đứng sẵn ở chỗ này, chờ!” Chị ta cũng đưa cho tôi một đôi đũa tre dùng nhiều đến nỗi đã tua cả ra.
Cái cà mèn méo mó đựng đầy đến ba phần tư thứ cháo tuy âm ấm nhưng lỏng với vài cọng dưa chua nổi lều bều. Tôi lấy giấy lau mép cà mèn và húp thử. Cháo mùi hôi khói và dưa vừa chua vừa mặn. Thức ăn tệ đến mức tôi không thể tưởng tượng được. Nhưng tôi cũng cố ăn được nửa. Khi người đàn bà kia lại mở cửa sổ ra, tôi trao trả lại chị ta cái cà mèn và đôi đũa.
Lát sau môt mụ cai ngục khác tới. Mụ hỏi tôi:
- Sao mày không ăn cháo?
- Có, tôi ăn một ít! Tôi có thể gặp nhà chức trách được không ?
Các quan chức công sản Trung Hoa không thích người ta gọi họ là “quan chức” trừ khi gọi đúng bằng danh hiệu chức vụ. Chẳng hạn “Bộ Trưởng Vương” hay “Giám đốc Chương”. Nói chung, các quan chức đều được gọi là “cán bộ”.
- Làm gì mà vội vậy, – mụ đáp – Mày mới nhập trại mà. Khi nào các điều tra viên sẵn sàng thì người ta sẽ gọi. Điều mà bây giờ mày phải lo làm đi là xét lại mình đã phạm những tội gì. Khi được gọi tới, mày phải tỏ ra ăn năn hối lỗi bằng cách thú thật hết các tội để được khoan hồng. Nếu mày tố thêm những người khác thì mày được kể như có thành tích.
- Tôi nào có phạm tội gì đâu!
- A, khối người lúc mới đến đây cũng nói như mày vậy. Nhưng, đó là thái độ ngu xuẩn. Nghĩ xem, thành phố này có cả chục triệu người. Sao những người kia không bị bắt mà mày lại bị. Như vậy, chắc chắn là mày có tội chứ còn gì nữa.
Lý sự với mụ già làm gì, vô ích. Nhưng qua lời mụ, tôi hiểu rằng tôi còn phải ở đây một thời gian. Bụi bặm, dơ bẩn trong phòng này thật không sao chịu nổi. Dù chỉ phải ở trong xà lim này một đêm nữa thôi thì tôi cũng phải quét dọn cho sạch. Ngoài ra, tôi cũng thấy là công việc tay chân sẽ làm cho thần kinh bớt căng thẳng. Vì tôi cảm thấy bứt rứt và bồn chồn lo lắng cho con gái tôi nên tôi thấy cần phải làm một cái gì đó. Tôi hỏi mụ cai ngục cho tôi mượn cây chổi để quét xà lim.
- Chỉ được mượn chổi quét vào ngày chủ nhật. Nhưng vì mày mới đến đây, cho nên hôm nay tao sẽ cho mày mượn.
Lát sau mụ quay trở lại với cây chổi cùn và mụ luồn qua cửa sổ đưa cho tôi. Tôi kéo lê cái giường quanh xà lim để quét cả mạng nhện trên trần nhà. Khi tôi quét tường thì cả xà lim bụi mịt mù.
Cửa sổ lại mở ra. Một mảnh giấy được luồn qua cửa sổ đưa cho tôi. Nhìn ra ngoài, tôi thấy người đàn ông hôm qua đang đứng đó. Ông ta nói:
- Số tiền chị mang theo hôm qua đã được gởi vào ngân hàng dùm chị. Đây là biên lai. Chị được phép dùng tiền đó để mua những yếu phẩm hàng ngày như giấy vệ sinh, xà bông, khăn rửa mặt.
- Đúng là tôi cần những thứ đó. Tôi có thể mua ngay bây giờ được không?
- Chị có thể mua tất cả những gì chị cần.
- Làm ơn mua dùm cho tôi một cái thau, hai cái ca tráng men để ăn và để uống, một ít kim chỉ, xà bông, khăn mặt, bàn chải và kem đánh răng, một ít giấy vệ sinh. Tôi có được mua kem ăn không?
- Không, chỉ những thứ cần thiết thôi.
Lát sau ông trở lại với cái thau tráng men in hình hai bông hồng, sáu cái khăn rửa mặt in sọc màu sặc sỡ, một xấp giấy vệ sinh, sáu cục xà bông giặt thứ rẻ tiền, hai cái ca tráng men có nắp đậy, bàn chải đánh răng, kem đánh răng, hai cuộn chỉ thô. Ông ta nói là tù nhân không được giữ kim trong xà lim nhưng ngày chủ nhật thì có thể nói cai ngục cho mượn.
Cai ngục mở cửa xà lim để trao cho tôi cái thau. Trong khi cửa còn đang mở thì cai ngục đàn ông đã mang đến cho tôi chăn, mền, quần áo mà các “ông bà” Vệ binh đỏ đã để lại cho tôi và cả bộ Mao Trạch Đông toàn tập và quyển Mao tuyển (tức là cuốn “sách đỏ”). Sau khi tôi ký nhận những thứ này, hai người khóa cửa lại và đi.
Tôi kiểm lại mọi thứ một cách cẩn thận, hy vọng con gái tôi có dấu vào đó được vài hàng chữ dặn dò gì không. Nhưng không có gì. Tôi ngồi bên mép giường, thất vọng và buồn. Tôi nóng lòng nghĩ đến con tôi và cầu nguyện cho nó được bình an. Một lát sau, tôi cảm thấy tâm hồn bình lặng. Tôi quyết định phải “giải quyết” cái xà lim bẩn thỉu. Cái mà tôi cần bây giờ là một ít nước. Tôi đi ra cửa và lớn tiếng gọi “Báo cáo”.
Một mụ cai ngục khác chạy tới đẩy cánh cửa sổ ra và nghiêm giọng nói:
- Mày không được la lớn lên như vậy! Mày muốn gì?
Qua giọng của mụ, tôi hiểu là mụ sẽ từ chối bất cứ điều gì tôi yêu cầu. Để ngăn ngừa sự từ chối ấy, tôi đã chặn họng mụ ngay bằng một câu trích của Mao Trạch Đông: “Sống vệ sinh là vinh quang. Sống dơ bẩn là đáng xấu hổ”. Rồi tôi mới hỏi mụ: “Chị cho tôi chút nước để lau xà lim này được không?”
Mụ quay đi mà không nói gì cả. Tôi chờ và chờ. Sau cùng cô gái tù lao động cải tạo đến và đổ nước đầy thau. Trước tiên, tôi lau chùi thật kỹ cái giường và lau chùi cái cửa sổ dính đầy mạng nhện và bụi bậm để trong xà lim sáng hơn một chút. Tôi lau rửa cầu tiêu ở góc phòng. Và còn đủ nước để tắm và giặt cái áo. Khi được phân phát nước nóng để uống, tôi đã ngồi trên cái giường được lau chùi sạch sẽ và uống một cách khoan khoái. Chỉ là nước đun sôi nhưng chưa bao giờ tôi lại cảm thấy mùi vị thơm ngon như thế.
Đến trưa là buổi cơm chính: cơm với vài cọng bắp cải luộc. Tôi lấy cơm làm hồ dán giấy vệ sinh dọc theo tường kế bên giường để quần áo và đồ ngủ của tôi không bị dính bẩn khi tôi ngủ, lỡ chạm phải. Tôi cảm thấy dễ chịu hơn. Mụ cai tù đến và bảo tôi phải đi đi lại lại trong xà lim để vận động tập thể dục. Tôi nói:”Chị làm ơn cho tôi trả lại cây chổi”.
Mụ mở cửa sổ nhỏ để dòm vào trong xà lim, thấy tôi dán giấy vệ sinh vào tường, mụ nói: “Làm thay đổi trong xà lim là trái nội qui”. Tôi lặng thinh và tự hỏi đối phó như thế nào nếu như mụ bắt xé đi. nhưng mụ chỉ cầm cây chổi quay ra đóng cửa lại rồi đi. Lát sau, tôi thấy tiếng mụ eo éo trên lầu và gõ vào mỗi cửa xà lim “Tập thể dục! Tập thể dục!”.
Tôi nghe tiếng bước chân người đi tới đi lui ở các phòng bên, ở trên lầu. Hết giờ tập thể dục, mụ cai ngục nói mọi người ngồi xuống, tôi nghe thấy nhiều tù nhân ngồi phịch ngay xuống sàn. Như vậy, rõ ràng là trong nhiều xà lim, không có giường ngủ gì cả. Bức tường ngăn xà lim của tôi với xà lim bên cạnh dầy đến nỗi không thể nghe được tiếng động gì bên ấy. Nhưng những tiếng nói lớn lớn một chút ở tầng trên thì nghe rõ mồn một. Tiếng của những tù nhân đàn bà đi lại trên lầu và tiếng họ thì thào với nhau khi không có cai ngục ở gần. Tất cả những tiếng ấy cũng đã làm dịu được những cảm nghiệm sâu sắc về nỗi cô đơn, cách biệt của tôi.
Sự tương phản về màu sắc, hình dáng và những âm thanh xô bồ rất quen thuộc với các giác quan của ta trong đời sống bình thường thì trong nhà tù, thiếu hẳn những thứ này. Nhìn vào đâu tôi cũng chỉ thấy những hình dạng u ám, những bộ đồng phục nhàu nát, xám ngắt và dơ bẩn. Không có gì khác ngoài gịong nói lạnh lùng, tẻ nhạt và oai quyền của cai ngục phá tan bầu không khí lặng lẽ. Ngồi trong xà lim, tôi thấy mình thường đưa mắt nhìn lang thang ra phía cửa sổ. Tôi cũng thường đăm đăm nhìn dải trời qua khe cửa hẹp, qua chấn song sắt lâu có đến hàng tiếng đồng hồ. Xuyên qua cửa sổ hẹp này không phải chỉ có không khí và ánh sáng để giữ cho sự sống của tôi tồn tại mà qua đó tôi còn thấy mình có chút liên lạc với thế giới bên ngoài. Trong khi thân xác tôi bị giam hãm trong xà lim thì tinh thần tôi thường thoát qua khỏi cửa sổ để vươn tới tự do. Một trong những ký ức rõ nét và sống động nhất mà tôi còn giữ được về cái nhà tù ấy là nhìn bóng của những chấn song từ từ dời chỗ trên nền nhà. Qua sự chuyển dịch chậm chạp của những cái bóng ấy tôi chờ đợi, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, có đôi khi từ bữa ăn này đến bữa ăn khác, có khi từ cuộc thẩm vấn này đến cuộc thẩm vấn sau. Nhưng trên hết, tôi chờ đợi một biến động chính trị nào đó xoay chuyển được hay kiềm chế được quyền lực chính trị của “các ông bà cách mạng” theo Mao.
Ngày tàn, ngọn đèn điện vàng vọt lại được bật lên. Lại một bữa cơm nữa cũng vẫn với rau bắp cải luộc. Cai ngục đêm hôm sau là mụ khác. Mụ đưa cho tôi tờ báo. Ghé sát mặt vào cửa sổ, mụ nhìn vào trong xà lim và quát lên “Mày làm gì trong cái xà lim thế này?” Tôi đáp: “Tôi dọn sạch sẽ theo lời dạy của Mao Chủ tịch về vệ sinh”.
- Nếu mày chăm chú đến lời kêu gọi của Mao Chủ tịch, vị lãnh tụ vĩ đại như vậy thì tại sao mày lại bị tù? Chủ tịch đã chẳng nói là mày có tội sao?
- Tôi chưa bao giờ phạm tội hết. Bị bắt lầm. Rồi các cuộc thẩm vấn, điều tra sẽ làm sáng tỏ thôi.
- Tao thấy mày bẻm mép lắm. Vào đến đây mà mày cũng không bỏ được cái thói sống tư sản của mày. Tao khuyên mày nên bớt nghĩ đến lối sống dung dưỡng xác thịt của mày đi mà nên nghĩ nhiều đến những việc làm tội lỗi của mày thì hơn. Chớ có coi thường vấn đề. Khi được gọi thì hãy thành thật thú hết các tội ra thì có thể được khoan hồng – Nói rồi mụ đóng sập cửa lại không để cho tôi đối đáp được gì hết.
Tôi phát mệt cái chuyện tự thú, và làm thế nào để được khoan hồng. Tôi nghĩ có lẽ đúng là những người thật sự có tội nếu tự thú tội thì có thể được bản án khoan hồng. Nhưng tôi nào có tội gì đâu. Thật dễ giận khi cứ bị gán cho là có tội trong khi mình chẳng phạm tội gì.
Tôi lượm tờ báo lên và đứng ngay ở chỗ khe cửa để đọc. Cũng giống mọi tờ báo khác ở Trung Hoa, tờ nhật báo Trung Hoa Giải Phóng đã được chính quyền nhân dân in ấn, hoàn toàn tài trợ và kiểm soát. Các ký giả chỉ là những viên chức được cơ quan tuyên truyền của Đảng chỉ định. Công việc của họ chỉ là chọn lọc và thường là bóp méo, xuyên tạc tin tức, đặc biệt là tin ngoại quốc nhằm mục đích tuyên truyền và viết bài ca ngợi các chính sách của Đảng và chính quyền. Ở khắp mọi nơi trên đất Trung Hoa, kể cả trong nhà tù, báo chí được sử dụng như một tài liệu giáo dục chính trị cho nhân dân.
Từ lâu, nhân dân Trung Hoa đã học được cái cách đọc báo, nhất là đọc giữa hai hàng chữ và chú ý đến những tin bị cắt xén, đục bỏ như là những tin chính xác nhất. Thật ra báo chí không phải là nguồn tin của nhân dân Trung Hoa mà là những tin đồn, nhưng câu chuyện rỉ tai từ người này sang người khác thường được kể lại bằng thứ ngôn ngữ tượng trưng, bằng biểu tượng và không nêu rõ danh tính đối tượng nội dung. Những “tin tức” này thường được mệnh danh là “tin hậu trường”, tin bán chính thức, nghĩa là không công khai, do đường lối chính thức, do các viên chức nhà nước có thẩm quyền đưa ra. Trước kia, khi Cộng sản chưa nắm chính quyền, các tổ chức bí mật của họ đã vận dụng rất hữu hiệu lối tuyên truyền rỉ tai, tung tin đồn để xói mòn niềm tin của nhân dân Trung Hoa vào chế độ Quốc Dân Đảng. Và bây giờ thì gậy ông lại đập lưng ông. Khi nhân dân còn tin báo chí chính thức và không được tự do thông tin, (họ chỉ còn tin?) vào bất cứ thứ “tin tức” nào họ thu lượm được trong các câu chuyện ngồi lê đôi mách về chính trị.
Trong nhà tù thì tờ Thượng Hải Giải Phóng là nguồn tin duy nhất của tôi về những gì đang diễn ra bên ngoài bức tường nhà tù. Tôi đọc rất kỹ, rất cẩn thận, đôi khi đọc đi đọc lại hai ba lần một mẩu tin, một bài xã luận để theo dõi diễn biến của cuộc Cách mạng Văn hóa và đánh giá các biến chuyển chính trị đang diễn ra. Theo cái cách một tin được trình thuật, cái đề tài của một bài báo đặc biệt, cái giọng điệu của bài xã luận và các câu chỉ trích của Mao được sử dụng, tôi thường đoán được những người theo Mao muốn cái gì và cái gì không phù hợp với đường lối kế hoạch của họ. Tuy nhiên chỉ sau khi được thả ra tôi mới hiểu được các chi tiết của cuộc đấu tranh giành quyền lực trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Hoa. Tôi cũng thu thập được một số sưu tập các ấn bản không bị kiểm duyệt của Hồng Vệ Binh và có cơ hội được hỏi chuyện những thanh niên đã tham gia các “hoạt động Cách mạng” trong thời kỳ cuộc Cách mạng Văn hóa.
Ngày chủ nhật, tôi mượn được của cai ngục cây kim để may vá lặt vặt. Chẳng hạn, lấy cái khăn tay may thành các băng che mắt để ngủ không bị ánh đèn rọi vào mắt. Tôi cũng mượn được cái kéo và cai ngục đứng ở cửa nhìn tôi làm. Khi làm xong, cai ngục lấy lại cây kéo liền. Được làm gì đó cho cuộc sống của tôi thêm “tiện nghi” khiến tôi thấy dễ chịu hơn. Đặc biệt, tôi thấy việc may vá là công việc làm cho tôi bớt căng thẳng hơn cả.
Nhiều ngày trôi qua, ngày nào tôi cũng yêu cầu được gặp các người thẩm vấn nhưng không có kết quả. Một buổi sáng trời nắng, các tù nhân được cho biết chuẩn bị để ra tập thể dục ngoài trời. Cai ngục đến từng xà lim và la lên “Fanfeng!”[1]
Nóng lòng muốn được tắm nắng và hít thở không khí thoáng đãng, tôi đặt ngay cuốn sách của Mao mà tôi đang đọc xuống, nhảy vội và chạy ra đứng trực sẵn. Nhưng tôi phải đợi một lúc thật lâu mới được dẫn ra. Nhà tù số 1 có một hệ thống quy định tỉ mỉ để ngăn ngừa các tù nhân trong các xà lim khác không được gặp nhau. Tôi phải đợi cho tù nhân xà lim bên cạnh tôi đi đến góc sân và không còn nhìn thấy được nữa lúc đó tôi mới được dẫn ra. Các cai ngục chia nhau đứng thành khoảng cách để canh chừng và dẫn họ đến sân tập thể dục.
Sân tập thể dục là một bãi đất trống nhưng không được chăm sóc, nên nom bê bối, bệ rạc. Bức tường bao xung quanh bị tróc lở để lộ cả gạch ra. Mặt đất trải đá sỏi đầy rác rến. Ở góc sân tôi thấy có cái gì đó xanh xanh. Nhìn kỹ mới thấy đó là một đám cỏ cố sức vươn lên khỏi sỏi đá để giành lấy sự sống. Nhìn thấy một cái gì đó đang mọc lên ở một nơi bất nhân này thì cũng đủ để cảm thấy ấm lòng. Bởi vậy, tôi bước lại gần và nhìn thật kỹ. Đó là một bụi hoa nho nhỏ. Những bông hoa màu hồng nhỏ xíu, mỗi bông là năm cánh hoa không lớn hơn một hạt lúa. Những cây nhỏ xíu ấy kiên nhẫn vươn lên khỏi rác rến và sỏi đá, để kiêu hãnh đứng dưới ánh mặt trời, chứng tỏ sức sống của mình ở nơi đất chết này. Nhìn những bông hoa nhỏ xíu đó tôi thấy nó đẹp vô cùng và thấy mình lên tinh thần.
- “Đi! Không được vừa đi vừa cúi mặt xuống! Không được đứng dừng lại!” Tiếng quát tháo của cai ngục đứng trên bục cao ở giữa sân để giám sát tù nhân đi dạo. Hôm nay đẹp trời. Tôi bắt đầu đi dạo trong sân và cảm thấy dần dần ngực bớt nặng đi, và tôi thở dễ dàng hơn. Không khí mùa thu khô và mát mẻ. Mặt trời rọi nắng ấm trên mặt. Trong xà lim, thời gian trôi đi sao mà chậm thế. Một ngày mà tưởng như dài vô tận nhưng thời gian tập thể dục ngoài trời thì sao lại trôi mau thế. Ngay cả trong mùa đông, áo quần không đủ che ấm cho cái xác ve của tôi, cơn gió bấc làm cho tôi run rẩy, nhưng tôi vẫn thấy thời gian tập thể dục ngoài trời trôi qua quá mau lẹ.
Gã cai ngục dẫn tôi trở lại xà lim. Hắn không tìm được ngay đúng cái chìa khóa nên cứ loay hoay thử hết chìa này đến chìa kia. Tôi lợi dụng dịp này để hỏi xem chừng nào tôi sẽ được thẩm vấn. Tôi nói với hắn:
- Tôi ở đây đã quá lâu rồi? – Hắn dằn giọng rồi quay về phía tôi – mày nói phi lý, tao biết là mày ở đây mới chưa được một tháng. Một tháng chưa phải là lâu. Có người ở đây cả năm rồi mà trường hợp của họ cũng chưa được giải quyết nữa là. Sao mà mày nóng ruột quá vậy? Lúc nào cũng thấy mày đợi xin gặp điều tra viên. Gặp họ, mày sẽ nói năng những gì, khai báo những gì? Mày đã sẵn sàng thú hết mọi tội lỗi chưa?
- Tôi xin gặp các điều tra viên để họ điều tra và làm sáng tỏ sự hiểu lầm về tôi.
Hắn tỏ ra thật sự bối rối. Hắn hỏi:
- Hiểu lầm gì?
- Thì vì hiểu lầm nên mới bắt tôi giam vào đây!
- Mày bị giam ở đây là vì mày đã phạm tội chống lại chính quyền nhân dân. Không có chuyện hiểu lầm. Mày đứng có ăn nói dấm dớ.
- Cả đời tôi chưa bao hề phạm tội gì chống lại chính quyền nhân dân!
- Xí, nếu mày không bị phạm tội thì sao mày lại bị tù? Mày đã bị tù, vậy là chứng tỏ mày đã bị tội.
Lập luận của hắn làm cho tôi kinh hoàng. Lập luận ấy đặt cơ sở trên sự khẳng định rằng Đảng và chính quyền không bao giờ sai lầm, không thể nào biện giải với hắn mà tránh khỏi xúc phạm với Đảng và chính quyền nhân dân. Bởi vậy, tôi chỉ nói đơn giản là tôi chưa hề phạm tội ác nào, bắt giam tôi là do hiểu lầm mà thôi.
- Chắc chắn là mày đã phạm một tội gì đó mà mày không nhớ hay là chưa nhớ ra – hắn nói, giọng cả quyết – các tù nhân thường được sự giúp đỡ và hướng dẫn của các điều tra viên mới biết đường để thú nhận tội lỗi.
- Tôi không tin là mình đã phạm một tội gì mà nay đã quên đi. - Tôi nói với hắn như vậy. Tôi nhớ lại đã có lần được nghe trường hợp các điều tra viên mớm cung để tội nhân nhận những tội mà điều tra viên muốn họ nhận. Bản cung đó được viết ra giấy và sẽ được dùng lại để chống lại chính tù nhân.
- Có lẽ lúc này mày chưa nhận ra tội mày đã phạm. Mày hãy còn quá u mê. - Gã cai ngục nói với một vẻ rất chân thành.
Có thể nào một hành vi mà tôi coi là vô hại và vô tội lại bị người khác coi là những hành vi tội ác chống lại nhà nước được nhỉ? Mặc dù tôi đã theo dõi sự phát triển, sự diễn biến ở Trung Hoa về mặt kinh tế, chính trị một cách rất cẩn thận nhưng tôi có cái sơ sót là chưa nghiên cứu bộ luật hình của chính quyền cộng sản. Tôi quyết định phải gấp rút sửa chữa và bổ khuyết thiếu sót ấy. Bởi vậy, tôi nói với gã cai ngục:
- Trong trường hợp đó, tôi sẽ nghiên cứu sách luật để xem xét có đúng là tôi đã vô tình phạm tội ác mà không biết chăng. Ông vui lòng cho tôi mượn sách về luật của các ông được không?
- Sách luật nào? Thật, mày giống y như lũ trí thức bị tố cáo trong Cách mạng Văn hóa. Mở miệng ra là chúng mày nói luật lệ với chả quy định, quy tắc. Chúng tao, giai cấp vô sản, chẳng thèm có những thứ ấy.
Hắn có vẻ hết sức bực bội. Cứ như thể bảo rằng Cộng sản thì cũng phải có luật, có lệ là một điều sỉ nhục hắn không bằng.
- Nếu không có luật pháp thì các ông xét xử làm sao, căn cứ vào đâu mà xét xử người nào có tội hay không có tội?
- Căn cứ vào lời dạy của Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại. Lời dạy của Người là tiêu chuẩn. Nếu người dạy một hạng người nào đó là có tội và mày thuộc về hạng người đó thì đúng là mày có tội. Như vậy, giản tiện hơn là luật này nọ rắc rối – Đối với hắn thật là quá tốt và quá hợp lý khi chỉ căn cứ vào lời dạy của Mao để quyết định một cách độc đoán số phận của mọi người. Và lời dạy ấy thay đổi tùy theo yêu cầu của tình hình lúc đó và thường là rất mơ hồ đến nỗi các viên chức địa phương có thể diễn giải tùy theo ý họ. Niềm tin vào sự bất khả ngộ tuyệt đối (không thể sai lầm) các lời dạy của Mao là một phần tất yếu trong sự tôn thờ cá nhân ông ta. Nhưng tôi tự hỏi không hiểu sao gã cai ngục lại không cảm thấy chính hắn – chứ không phải chỉ riêng tôi – cũng là nạn nhân?
Từ sau lần ấy, không bao giờ tôi đòi gặp điều tra viên nữa. Thay vào đó, tôi tập trung nghiên cứu cuốn “Mao Trạch Đông toàn tập” một cách hết sức kỹ lưỡng và nghiêm chỉnh. Tôi muốn biết lời dạy của ông ta đã được sử dụng để chống lại tôi như thế nào, đồng thời cũng muốn xem có thể dùng chính những lời ấy để phản công lại, để phủ nhận những lời cáo buộc tôi được không. Tôi nghĩ là nên học thuộc những câu nói của Mao và sử dụng cho nhuần nhuyễn, trôi chảy để có thể đến lúc đối diện với các điều tra viên, tôi có thể đối đáp ngon lành.
Nhiều tuần lễ nữa qua đi. ngày lại ngày trôi qua. Sự cô độc triền miên đã làm cho tôi thêm chán nản, phiền muộn. Tôi nóng lòng muốn biết tin tức con gái tôi. Tôi thấy nhớ kinh khủng, lúc nào cũng canh cánh lo lắng vì nó. Tôi thường bị xúc động đến nghẹt thở. Nhiều lần, tôi cảm thấy như có cái cục gì đó trong bao tử đến nỗi nuốt miếng cơm vào cũng thấy khó chịu lắm.
Ở bên ngoài tường nhà tù, dường như Cách mạng Văn hóa đang diễn ra sôi nổi và ác liệt. Loa phóng thanh ở bên trường trung học bên cạnh ra rả suốt ngày. Loa phóng thanh ngày đêm ông ổng tuôn ra – thay vì những bài hát cách mạng – những lời lẽ gay gắt tố cáo hết viên chức địa phương này đến học giả danh tiếng kia. Tôi vểnh tai nghe, lắng nghe, tiếng được tiếng mất, những lời từ máy phóng thanh, mỗi khi có cơn gió thuận văng vẳng đưa những tiếng đó lại. Trong xà lim ánh sáng lờ mờ, mỗi ngày tôi để ra nhiều giờ để nghiên cứu sách của Mao, cho đến khi mắt mờ đi.
Một hôm, vào khoảng xế trưa con mắt tôi mệt quá cho đến nỗi không nhìn rõ nét chữ, tôi buông sách đứng dậy nhìn ra cửa sổ. Một con nhện nhỏ đang giăng tơ trên song cửa sắt hoen rỉ. Sinh vật nhỏ bé không bằng hạt đậu. Chắc tôi chẳng nhìn thấy nó nếu cái khuôn cửa không sơn màu đen. Tôi lặng lẽ ngắm nó bò chậm chạp nhưng vững chắc từ dưới lên trên thanh chấn song, một quãng đường hẳn là dài đối với nó. Lên đến chóp đỉnh, đột nhiên nó buông mình rơi xuống và một sợi tơ mong manh từ thân của nó cũng theo đó từ trên buông xuống. Vừa rơi xuống vừa đong đưa, chới với, sau cùng, nó cũng rớt xuống an toàn ở dưới cuối chiếc chấn song và dính sợi tơ vào đó. Con nhện lại leo lên, rớt xuống… nhiều lần. Tôi say mê nhìn con vật nhỏ bé ấy làm việc. Dường như nó biết chắc nó phải làm gì, làm thế nào, sợi tơ kế đó phải đặt vào đâu… Nó không có vẻ do dự, lầm lẫn và vội vã. Nó biết việc nó làm và làm một cách tự tin. Khi cái khung lưới đã làm xong, con nhện bắt đầu đan các mắt lưới. Đẹp đẽ, đều đặn, tuyệt hảo, không sai lỗi! Đan xong chiếc lưới, con nhện bò vào giữa và ở đó.
Tôi vừa được một bữa no nê thưởng thức tài khéo kiến trúc của một nghệ sĩ tài năng. Trong đầu óc tôi, một loạt các câu hỏi dồn dập nảy ra. Ai đã dạy cho con nhện giăng tơ? Phải chăng do một chuỗi tiến hóa, nó đã được hình thành kỹ xảo đó? Hay là Chúa đã tạo dựng nên con nhện và phú cho nó có khả năng giăng tơ đan lưới để bắt mồi và lưu truyền khả năng ấy cho chủng loại? Con nhện hoạt động theo bản năng hay là đã học tập và tích lũy kiến thức, kinh nghiệm đan lưới? Có lẽ, một ngày nào đó, tôi sẽ hỏi các nhà côn trùng học. Lúc đó tôi đã biết là tôi đã được chứng kiến một cái gì đó tuyệt đẹp và làm cho tinh thần tôi phấn chấn. Dù Chúa có tạo dựng nên con nhện hay không , tôi cũng tạ ơn Ngài đã cho tôi được nhìn thấy cái đẹp mà tôi vừa chiêm ngưỡng. Một cảnh kỳ diệu của cuộc sống đã được tỏ lộ cho tôi thấy. Nó giúp cho tôi vững tin rằng mọi sự xảy ra không ngoài ý Chúa. Mao Trạch Đông và cuộc Cách mạng của ông ta vì vậy xem ra bớt đi tính chất đe dọa của nó. Tôi cảm thấy niềm hy vọng được đổi mới và trở nên tự tin hơn.
Xà lim của tôi trông về hướng Nam. Trong khoảnh khắc, mặt trời đã làm cho chiếc mạng nhện kia như một cái đĩa ánh lên sắc cầu vồng trước khi nó ngả về phía Tây và chìm khuất vào dưới chân trời. Tôi không dám đi lại quá gần cửa sổ vì sợ làm kinh động con nhện khiến nó sẽ chạy đi mất. Tôi cứ đứng im một chỗ đứng nhìn. Tôi sớm nhận ra rằng con nhện không những ở đó để rình mồi mà còn luôn cảnh giác. Cứ mỗi khi ở bất cứ chỗ nào trên lưới bị rung động hay một sợi dây nào đó trên lưới bị gió làm đứt ra thì ngay lập tức nhện ta đã có mặt hoặc sửa chữa lại tức khắc. Ngày ngày cứ thế qua đi con nhện cứ từng lúc từng lúc vá lại lưới nhện, có lúc vá lại cả mảng lưới lớn, có lúc làm lại nguyên một tấm lưới mới.
Tôi trở nên hết sức cố gắng cùng với sinh vật nhỏ bé ấy sau khi ngắm nhìn các hoạt động và có vài hiểu biết về tập tính của nó. Việc làm đầu tiên của tôi khi sáng mới ngủ dậy, mới mở mắt ra, rồi suốt cả ngày, và việc cuối cùng trước khi tôi đi ngủ là ra nhìn con nhện và cảm thấy an tâm khi nó còn ở đó. Con nhện nhỏ xíu đó là bạn đồng hành của tôi. Có nó, tôi cảm thấy tinh thần sáng suốt. Cái cảm tưởng cô đơn lẻ loi đã tan biến vì tôi đã có một sinh vật ở gần mặc dù sinh vật đó bé tí teo và không trò chuyện gì với tôi.
Thế là đã qua tháng 11. Ngọn gió bắt đầu thổi rốc về hướng Bắc. Cứ thêm một ngày mưa thì nhiệt độ lại giảm thêm. Trời trở nên lạnh hơn. Tôi nhìn con nhện, lo lắng. Tôi không dám mở cửa sổ để nó phải ở ngoài. Nó vẫn tiếp tục vá lưới bị gió làm rách và kiên nhẫn làm lại tấm lưới khác. Tuy nhiên, một buổi sáng thức dậy, tôi thấy con nhện đã đi đâu mất rồi. Mảnh lưới rách bươm tan tác bị bỏ lại. Tôi cảm thấy buồn nhưng vẫn cứ để ngỏ cánh cửa sổ với hy vọng nó sẽ quay lại và tình cờ một cách may mắn, tôi đưa mắt nhìn lên và thấy người bạn của tôi đã nằm trọn giữa tấm lưới mới giăng ở góc trần nhà. Tôi vội đóng cửa lại và cảm thấy sung sướng vì người bạn đã không bỏ rơi tôi.
Một buổi sáng vào cuối tháng 11, tôi thức dậy, lạnh run và đầu nhức như búa bổ. Tôi bị sổ mũi và cảm thấy rất khó chịu, tôi ngồi ở mép giường và tự hỏi có nên xin thuốc uống không. Khi bữa cháo được phân phát, tôi cố húp cho hết, hy vọng nước cháo nóng sẽ làm cho tôi dễ chịu hơn. Nhưng đến trưa thì tôi không sao nuốt nổi cơm với rau bắp cải luộc nữa. Tôi đưa lại nguyên đồ ăn không đụng đến cho người dọn cơm. Trong suốt buổi xế chiều, cứ chốc chốc, cai ngục lại đến dòm qua cửa sổ xà lim để nhìn tôi. Nhưng mụ không nói gì cho đến chiều, thình lình mụ mở tung cửa sổ ra và nói:
- Mày tuyệt thực để phản đối phải không?
- Không phải vậy, tôi đang bị cảm lạnh.
- Rõ ràng mày đang phản đối. Mày phản đối vì mày không quen sống trong điều kiện như thế này. Mày thấy là mọi sự đều là không thể chịu được. Chứ gì nữa? Tao đã quan sát thấy mày chứng tỏ điều ấy. Mày phản đối vì mày nhớ đến đứa con gái của mày. Mày thắc mắc không hiểu bây giờ nó ra làm sao?
- Không, phải vậy, đúng là tôi đang bị cảm lạnh. Chị có Átpirin không?
- Átpirin thì cũng chẳng ăn thua gì với mày bây giờ. Vì cái làm cho mày khó chịu nó nằm trong đầu óc của mày chứ đâu phải là… Mày cứ nghĩ kỹ lại lập trường của mày đi. Hãy có thái độ đúng đắn. Hãy ăn năn, hối lỗi!
Tôi ngồi nghĩ trong xà lim suốt buổi chiều, tối hôm đó, không quay mặt ngó ra cửa và cố gắng không hỷ mũi, không dụi mắt. Buổi chiều khi đem cơm đến, tôi cố ăn một chút, còn bao nhiêu đổ vào cầu tiêu và đổ nước cho nó trôi đi. Tuy nhiên, bọn cai ngục đinh ninh tôi phản đối có lẽ là vì tôi không chịu nổi đời sống tù đày cực khổ, nên chúng cho tôi là tinh thần bắt đầu suy sụp và thế là đến lúc chúng có thể gọi tôi lên để bắt đầu thẩm vấn.
Và ngày hôm sau tôi đã được gọi lên để thẩm vấn (điều tra).






[1] Phóng phong: đi ra ngoài thay đổi không khí.
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 6: THẨM VẤN


Buổi sáng hôm ấy, ánh bình minh rực rỡ, chói lòa, khi tôi mở cửa sổ thì luồng gió lạnh có hơi sương ùa tràn vào xà lim. Mùa đông đang tới gần. Cai ngục đến từng xà lim để gọi tù nhân đem chăn chiếu ra giặt như thường lệ mỗi tháng một lần vào ngày chủ nhật có nắng. Nước lạnh được đưa đến các xà lim. Các tù nhân nhúng nước mền, chiếu, chà xà bông, giặt sạch, sau đó luồn qua cửa sổ xà lim, các cô gái cải tạo lao động sẽ gom lại và xả nước cho sạch xà bông tại phòng giặt. Trong khi tôi đang chà xà bông tấm chiếu thì một gã cai ngục mở toang cửa xà lim và quát “Đi ra!”
- Tôi đang giặt đồ, - tôi đáp,
- Đừng có cãi, tao bảo ra là ra!
Mụ cai tù cũng đến và nói:
- Cứ để đấy rồi về giặt sau cũng được. Bây giờ mày phải đi để thẩm vấn.
Thẩm vấn! Thế là tôi sắp được mặt đối mặt với địch thủ của tôi. Tôi vội vã lau tay vào khăn lau khô. Gã cai ngục nói gắt gỏng, bực bội:
- Nhanh lên, mang theo cuốn Mao tuyển của mày.
Tôi theo hắn ra khỏi xà lim, đi qua sân khu giam tù đàn bà và đến một tòa nhà đằng trước có tấm bảng gỗ sơn trắng, trên đó có hàng chữ viết bằng mực đen: “Khoan hồng cho kẻ thành thật khai báo. Trừng phạt nặng nề kẻ ngoan cố. Thưởng cho kẻ có công tố giác kẻ thù”. Tim tôi đập mạnh. Bước chân tôi xăng xái hơn là tôi tưởng. Tôi chờ đợi từ lâu cái cơ hội để trả lời những câu hỏi và trường hợp của tôi được xem xét một cách vô tư. Tôi tin là các điều tra viên thì không thể cư xử, hành động ẩu tả như đám Vệ binh đỏ hay như các “ông bà Cách mạng” kia được. Họ phải là những người được huấn luyện hẳn hoi và có ý thức trách nhiệm, có đủ khả năng để phân biệt người có tội với người vô tội.
Mấy người giám thị ngồi uể oải trên những chiếc ghế gỗ kê ở một phòng nhỏ bên ngoài lối ra vào tòa nhà. Tôi được trao cho một trong số giám thị này. Tên này dẫn tôi qua một dãy hành lang dài phía trước các phòng điều tra cạnh nhau. Hầu hết các phòng này đều bị đóng cửa. Nhưng tôi cũng nghe thấy tiếng người ú ớ như bị bóp nghẹt và thỉnh thoảng cũng có tiếng la hét, quát tháo vang lên từ những phòng đó. Tên giám thị ngừng lại ở một cửa phòng. Hắn mở cửa ra và quát lên: “Đi vào”.
Căn phòng hẹp, dài và khá tối. Chỉ có một cửa sổ nhỏ – cũng chỉ bằng cửa sổ xà lim của tôi – ở tuốt cao trên tường phía sau. Cả hai người đàn ông mặc quần áo cũng rộng thùng thình và bằng vải màu xanh bạc phếch. Đó là đồng phục của hầu hết mọi người Trung Hoa ngoại trừ các viên chức trung cao cấp. Hai người ngồi sau một cái “quầy” kê ngay phía dưới cửa sổ. Trước mặt và cách hai điều tra viên chừng hai thước, có một cái ghế kê quay về phía điều tra viên. Căn phòng thiếu ánh sáng cửa sổ từ trên cao rọi vào. Tôi để ý thấy bức tường dính đầy bụi bậm, sàn xi măng có những vết đen ẩm ướt, cái “quầy” gỗ và chiếc ghế cũ tróc sơn không còn màu đen hay màu xám nữa.
Sau khi tôi vào trong phòng, một trong hai điều tra viên nói: “Lấy sách trích tuyển lời Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại ra!”. Câu mà hắn bảo tôi đọc cũng chính là câu mà bọn Vệ binh đỏ đã trưng dẫn khi chúng đến cướp phá nhà tôi:
- Kẻ thù có súng đã bị tiêu diệt, kẻ thù không có súng vẫn còn. Chớ coi thường những kẻ thù này.
Tôi đọc trích dẫn một cách rắn rỏi vì biết rằng hai người kia đang chòng chọc nhìn vào tôi. Tôi cố không để lộ ra một dấu hiệu hốt hoảng nào kẻo họ lại hiểu đó là dấu hiệu của mặc cảm có tội. Một trong hai người đưa tay chỉ vào cái ghế và nói: “Ngồi xuống”.
Khi tôi quay lại để nhìn vào cái ghế để ngồi xuống, tôi thấy ở chỗ bức tường phía sau lưng tôi có một cửa sổ nhỏ – chỉ lớn hơn cái cửa sổ xà lim của tôi chút xíu – tôi hiểu là cuộc thẩm vấn tuy hai điều tra viên thực hiện, nhưng lại do người nào đó đàng sau cửa sổ kia giám sát.
Tôi ngồi xuống chiếc gỗ nặng nề thô kệch và nhìn thẳng vào hai người ngồi phía sau “quầy”. Nước da mặt của họ là nước da của những người làm việc trong nhà và ít có vận động ngoài trời, khác với người đàn ông làm thủ tục khi tôi mới bị bắt đưa đến nhà tù, hai điều tra viên này tuy có nét mặt tiều tụy nhưng cũng toát ra cái vẻ oai quyền của các “ông” viên chức Đảng có tí quyền lực trong tay. Họ có vẻ thoải mái, tự nhiên. Dĩ nhiên, thẩm vấn tù nhân là công việc hàng ngày của họ. Tôi cho là người ra lệnh cho tôi mới là người điều tra còn người cầm xấp giấy trong tay chỉ là thư ký.
Sau khi tôi ngồi xuống, người điều tra nhướng mắt nhìn qua vai tôi để có lẽ là nhìn vào cửa sổ phía sau tôi và khẽ gật đầu. Lúc đó tôi thấy thất vọng và chán quá. Dường như điều tra viên này cũng chỉ là một thứ trung gian chứ tôi không được nhìn thấy đối thủ thật sự của tôi. Tôi muốn đương mặt đối mặt với kẻ đã đối xử với tôi một cách bất công như vậy và muốn ghi khắc cái hình ảnh của hắn sâu vào tâm trí tôi, để không bao giờ tôi quên được đối thủ của mình.
Bằng một giọng trầm trầm đến độ như buồn bã, điều tra viên đã hỏi tôi tên, tuổi và những chi tiết cá nhân khác. Rồi hắn nhìn thẳng vào mặt tôi, cất cao giọng và nạt nộ phủ đầu:”Mày có biết đây là đâu không?”.
- Tôi cho rằng đây là nhà tù hay trại tập trung gì đó, vì tôi thấy mọi người đều bị nhốt, khóa kỹ cả.
- Mày nói đúng đấy, đây là nhà tù số 1, nơi giam giữ tù nhân chính trị. Đây là nơi bọn phản cách mạng chống lại chính quyền nhân dân bị giam giữ và điều tra.
- Trong trường hợp đó thì lẽ ra tôi không bị đem đến đây.
Hắn ta không tỏ ra bối rối vì câu đối đáp của tôi, trái lại còn bình tĩnh nói tiếp:
- Mày bị giam giữ ở đây rõ ràng là vì mày đã phạm tội chống lại chính quyền nhân dân.
- Vậy thì hẳn là có sự nhầm lẫn rồi.
- Chính quyền nhân dân không bao giờ nhầm lẫn.
- Các ông không phải hạng người ẩu tả, vô trách nhiệm như những Vệ binh đỏ chứ? Các ông đại diện cho chính quyền. Các ông không được cáo buộc người ta một cách “rừng rú” như vậy.
- Đó không phải là lời cáo buộc rừng rú.
- Vậy thì các ông hãy đưa ra bằng chứng đi.
Tôi chán hết sức, vì tưởng đâu cuộc thẩm vấn điều tra của thẩm sát viên chính quyền thì phải có khác với lối vu oan giá họa càn rỡ của bọn Vệ binh đỏ chứ, ai dè đâu cùng một luận điệu.
- Dĩ nhiên là có bằng chứng. - Tên thẩm sát viên nói láo một cách trâng tráo như chẳng biết hổ thẹn là gì.
- Thì các ông cứ đưa ra đi – tôi nói mỉa mai cố ý gợi cho hắn thấy sự láo toét của hắn – và nếu có bằng chứng xác thực thì còn điều tra làm gì cho mất thời giờ? Cứ đưa bằng chứng ra trừng phạt kẻ phạm tội.
- Mày chớ nên coi thường quần chúng. Hồng Vệ Binh và những người Cách mạng đã thu lượm được đủ bằng chứng cần thiết. Chẳng có gì có thể giấu giếm được. Những kẻ đã phạm sai lầm hoặc đã phạm tội đều thú nhận và tố giác những người khác nữa. Họ tố cáo để được hưởng sự khoan hồng hoặc được thưởng.
- Tôi không tin là các ông lại có bằng chứng xác thực để đưa ra chứng minh cho lời buộc tội tôi. Chẳng phải vì tôi không hiểu được bản chất của cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản hoặc vì tôi coi thường, đánh giá thấp quần chúng. Tôi không tin các ông có bằng chứng xác thực chỉ là vì tôi không nghĩ các ông hoặc bất cứ ai khác lại có thể có bằng chứng về một điều không bao giờ có. Tôi chưa hề phạm một tội nào. Làm sao có thể có bằng chứng xác thực về một điều mà tôi chưa hề làm?
Bởi hắn đã nói láo về vấn đề bằng chứng cho nên tôi có một lợi thế tinh thần hơn đối với hắn. Lợi thế làm cho tôi thêm tự tin.
- Đưa ra bằng chứng và trừng phạt mày là điều quá dễ. Nhưng đó không phải là chính sách của lãnh tụ vĩ đại. Mục tiêu của cuộc thẩm vấn này là giúp cho mày thay đổi được cách tư duy và cho mày một cơ may để được hưởng khoan hồng bằng sự thú tội thành khẩn, nhờ đó mày dứt khoát với quá khứ tội lỗi của mày và trở nên con người mới!…
- Cám ơn, nhưng có điều rất tiếc, tôi không phải là phù thủy. Tôi không biết phải thú nhận như thế nào về cái điều mà tôi chưa hề làm.
- Có lẽ lúc này mày chưa sẵn sàng. Nhưng chúng tao cũng có đủ kiên nhẫn, chúng tao có thể chờ đợi được.
Hắn nhìn trừng trừng vào tôi và nói dằn từng chữ như thể hàm cái ý cuộc cầm tù này sẽ còn kéo dài bao lâu nếu tôi càng tỏ ra “ngoan cố”. Tôi cũng đáp lại một cách từ tốn nhưng không kém cứng rắn rằng họ đừng hòng đe dọa tôi:
- Một triệu năm cũng thế thôi. Một điều gì sẽ không xảy ra thì nó đã không xảy ra rồi. Các ông chẳng thay đổi được sự kiện, cho dù các ông có đợi bao lâu cũng vậy thôi.
- Thời gian sẽ làm thay đổi thái độ con người. Một mụ đàn bà như mày sẽ không sống nổi quá năm năm ở một nơi như thế này. Sức khỏe của mày sẽ suy sụp. Lúc đó mày sẽ lạy van để xin được thú tội. Nếu không thì mày sẽ chết mà thôi.
- Tôi chẳng thà chết còn hơn nói dối.
- Chưa chắc. Bản năng sinh tồn là bản năng cơ bản của mọi sinh vật, kể cả con người.
- Tôi sẽ tuân hành lời dạy của Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại. Người đã dạy rằng “thứ nhất, đừng sợ khó khăn gian khổ, thứ hai, đừng sợ chết”.
– Lời dạy đó không phải dành cho hạng người như mày. Lời dạy đó dành cho Quân đội Giải phóng Nhân dân. - Hắn bực bội đáp. Nhưng tôi đã sẵn sàng phản công ngay.
- Nguyên Soái Lâm Bưu nói: Lời dạy của lãnh tụ vĩ đại có ý nghĩa và giá trị bao trùm và có thể áp dụng được trong mọi hoàn cảnh.
Một sự thay đổi âm thầm tinh tế đã diễn ra trong tâm tư tôi kể từ lúc thẩm sát viên – bằng sự nói dối của hắn – đã tạo cho tôi được một lợi thế tinh thần. Tôi bắt đầu cảm thấy thích thú với cuộc thẩm vấn này. Bởi vì dù sao thì cũng còn hơn là thui thủi một mình bơ vơ trong xà lim, chẳng trò chuyện với ai.
Một khoảnh khắc im lặng. Điều tra viên lại nhìn qua vai tôi, rồi nói:
- Mày bẻm mép lắm. Và cũng táo gan đấy. Nhưng, cho mày hay dù có bẻm mép thì cũng chẳng xoay chuyển được khó khăn của mày đâu. Cái cách hay nhất của mày là có một thái độ thành khẩn, đúng đắn. Bổn phận của chúng tao là giúp cho mày hiểu rõ được đường lối, chính sách của chính phủ và cho mày thấy là không có lựa chọn nào khác tốt hơn là tỏ ra thành thật ăn năn hối cải, bằng cách khai hết các tội lỗi ra. Đừng coi thường chuyên chính vô sản! Phòng thẩm vấn này cũng ngang với tòa án nhân dân. Mày phải coi những điều mày nói ở đây là đúng đắn, nghiêm túc!
- Tôi được quyền trông đợi sự công chính nơi chính quyền nhân dân chứ.
- Công chính? Công chính là cái đếch gì? Đó chỉ là một kiểu nói. Đó chỉ là kiểu nói trừu tượng chẳng có ý nghĩa cụ thể nào. Giai cấp khác nhau hiểu công chính theo ý nghĩa khác nhau. Giai cấp tư sản coi việc bóc lột công nhân là công chính, trong khi giai cấp công nhân coi việc mình bị bóc lột là hết sức bất công. Dù sao đi nữa, mày là cái thá gì mà đòi công chính? Trong khi mày đang ngồi sung sướng trong căn phòng có máy sưởi thì người khác phải lặn lội ngoài mưa tuyết, lúc đó mày có nghĩ đến công chính không?
- Ông lẫn lộn công bằng xã hội với công bằng pháp lý rồi. Tôi cần phải nói rõ để các ông thấy là chính vì nhà tôi – nay đã quá vãng – và tôi mong muốn, hy vọng chính quyền cải thiện điều kiện sống cho nhân dân Trung Hoa để không còn ai phải đói, phải rét, nên năm 1949, vợ chồng tôi ở lại đây chứ không theo Quốc Dân Đảng sang Đài Loan.
- Dù sao thì chúng tao cũng không dính dáng gì đến cái khái niệm công bằng trừu tượng vớ vẩn của mày. Quân đội, công an, tòa án chỉ là những công cụ giai cấp này dùng để trấn áp giai cấp kia. Những cái đó chẳng liên quan gì đến công bằng, công chính gì cả. Cái xà lim đang nhốt mày bây giờ cũng là cái xà lim bọn Quốc Dân Đảng đã dùng để nhốt những đảng viên Cộng sản khi bọn phản động ấy còn nắm chính quyền. Ngày nay, chuyên chính vô sản cũng dùng chính những công cụ trấn áp ấy để chống lại kẻ thù của mình. Các nước tư bản dùng những từ hoa mỹ hấp dẫn như “công bằng” “tự do” để lừa bịp nhân dân và ngăn chặn sự giác ngộ cách mạng. Cái thái độ đúng đắn mà mày phải có là tẩy xóa khỏi đầu óc mày mấy cái khái niệm lừa bịp ấy đi. Nếu không thì mày sẽ còn tiếp tục bị giam giữ hoài.
Những gì hắn nói thật chẳng phải là mới lạ gì đối với tôi cũng như với bất cứ ai đã sống từ năm 1949. Người ta đã chấp nhận thuyết đấu tranh của Marx. “Quân đội, công an, tòa án, là những công cụ giai cấp này dùng để đàn áp giai cấp kia” đã được chính Mao Trạch Đông nói đến trong bài chính luận “Bàn về nền chuyên chính dân chủ nhân dân”. Trong những năm thập niên năm mươi, Mao Trạch Đông và guồng máy tuyên truyền của ông ta đã dùng kiểu nói “chuyên chính dân chủ nhân dân” để chỉ chế độ Cộng sản ở Trung Hoa. Tuy nhiên, những sự kiện lịch sử đã chứng tỏ chế độ Cộng sản ở Trung Hoa là chế độ độc tài của chính Mao – chứ chẳng phải của nhân dân nào cả – cho đến khi ông ta chết vào năm 1976. Bài chính luận “Bàn về nền chuyên chính dân chủ nhân dân” được xuất bản ngày 1 tháng 7 năm 1949 để kỷ niệm ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Hoa vào năm 1921. Bản chính luận ấy đã tiên báo và biện chính cho một chuỗi những chiến dịch chính trị và sự bắt giam đại qui mô những đàn ông, đàn bà bị nghi là thù nghịch với chế độ Cộng sản Trung Hoa.
Tôi biết là cuộc thẩm vấn sẽ chẳng đi đến đâu. Bao lâu điều tra viên còn không đề cập đến một vấn đề cụ thể nào thì chẳng làm sáng tỏ được cái gì. Tranh luận lý thuyết về chủ nghĩa Cộng sản ở đây cũng chẳng ăn cái giải gì. Tin hoặc không tin vào Chủ nghĩa Cộng sản, thế thôi, không có giải pháp trung gian. Quan điểm và nấc thang giá trị của tôi đã được hình thành từ lâu rồi. Tôi không tin rằng có thể phân định rạch ròi nhân dân thành những giai cấp. Và tôi cũng không tin rằng đấu tranh giai cấp là phương cách tốt nhất để thúc đẩy tiến bộ. Tôi tin rằng, để tái thiết nước Trung Hoa sau nhiều năm bị chiến tranh tàn phá thì cái mà Trung Hoa cần là một khung cảnh hòa bình, ổn định và sự đoàn kết của mọi giai tầng xã hội, chứ Trung Hoa không cần cuộc cách mạng thường trực, cách mạng “dài”. Và tôi không thể thay đổi tin tưởng đó được. Bất hạnh thay, điều tra viên lại không thấy được điều đó, ít ra là trong lúc đó. Hắn chỉ muốn làm cho tôi rối trí, muốn bẻ gãy sức đề kháng của tôi bằng cách phối hợp sự đe dọa với sự khuyến dụ bằng lý sự cùn. Cuộc thẩm vấn kéo dài và tẻ nhạt. Đầu óc tôi choáng váng vì bị cảm lạnh. Tôi quyết định để cho hắn nói, còn mình ngồi nghe. Sau một khoảnh khắc yên lặng, điều tra viên nói tiếp:
- Điều kiện thiết yếu đầu tiên để thú tội là nhận ra tội của mình đã. Mày phải nhận ra tội của mày, không phải chỉ là tội đối với chính quyền nhân dân mà còn là tội đối với chính mày. Sự nhìn nhận ra tội cũng giống như là khai cống. Khi mày nhìn nhận thật sự là mày có tội, rằng mày đã chống lại chính quyền nhân dân – mặc dù mày cứ tưởng là không - thì lúc đó mày sẽ thấy lời thú tội của mày sẽ tuôn chảy ra dễ dàng thôi.
Hắn ngưng lại, không nói nữa và nhìn chòng chọc vào tôi như để dò xem phản ứng của tôi thế nào. Hắn nói “chống lại chính quyền nhân dân”, dĩ nhiên là tôi chống lại một vài biện pháp của chính quyền nhân dân. Chẳng hạn như bắt giam bừa bãi những người vô tội, gán ghép cho người ta là kẻ thù nhân dân chỉ vì nguồn gốc giai cấp của người ta… Nhưng không bao giờ tôi nói những điều đó ra với bất cứ một ai, và chắc chắn là tôi chưa bao giờ làm bất cứ điều gì để biểu lộ sự chống đối đó. Tôi chỉ hi vọng rằng một khi chế độ này trưởng thành và có đủ kinh nghiệm thì những cái đó sẽ giảm đi, dịu đi. Điều tra viên cứ cố nhồi nhét vào đầu óc tôi cái cảm tưởng có tội, bởi vì hắn biết rất rõ mọi công dân ở bất cứ nước nào vào lúc này hay lúc khác cũng chống lại một vài biện pháp nào đó chính quyền của họ. Hắn hy vọng sẽ lung lạc tôi về mặt tâm lý. Nhưng tôi hiểu ngay cái ý đồ của hắn. Bởi vậy tôi ngồi đó, không có một biểu hiện nào lộ ra trên nét mặt. Trong đầu óc tôi, tôi nghĩ tốt mọi khía cạnh về tất cả những gì mà chính quyền đã làm mà tôi đã phải chịu đựng hay đã được hưởng. Chẳng hạn như vấn đề cải thiện vệ sinh công cộng và sắp đặt lại vấn đề nhà ở cho những người vô gia cư. Nói chung, tôi thấy chính mình là kẻ ủng hộ chính quyền nhân dân. Sự khẳng định thái độ tích cực của tôi đối với chế độ Cộng sản lại giúp tôi thêm can đảm để kháng cự lại cái ý đồ của điều tra viên muốn gây cho tôi cái cảm thức tội lỗi. Ý dồ ấy đã tỏ ra vô ích trong suốt những năm tôi bị giam trong tù. Điều tra viên tiếp tục:
- Điều mà mày phải làm bây giờ là kiểm điểm lại tất cả cuộc đời mày và xem xét cái nguồn gốc lai lịch gia đình mày. Hãy tìm ra cho mày chỗ đứng đúng đắn trong cơ cấu chính trị, kinh tế của một đất nước theo Chủ nghĩa Xã hội. Mày đang đứng ở phía nào? Ở phía nhân dân lao động và những người cách mạng hay ở phía kẻ thù giai cấp. Tao chẳng cần phải nói cho mày biết là mày xuất thân từ một gia đình phong kiến làm chủ nhiều đất đai canh tác màu mỡ. Qua bao nhiêu thế hệ, gia đình mày đã bóc lột nông dân và sống trên công lao mồ hôi của họ, sống bằng những của cải do họ tạo ra. Ông nội mày, ông già mày cho chí đến thằng chồng mày cũng đều là viên chức cao cấp của các chế độ phản động thối nát đã cộng tác với bọn đế quốc ngoại bang, bóc lột nhân dân và chống lại Đảng Cộng sản, và bản thân mày cũng cứ nhất định làm việc cho một công ty ngoại quốc mặc dù mày đã được đề bạt làm giáo viên trong một cơ sở giáo dục của nhân dân. Mười bảy năm nay, kể từ khi quân đội cộng sản giải phóng Thượng Hải, biết bao người Trung Hoa trước kia cũng giàu có, cũng có gốc gác phong kiến phản động như mày, nhưng nay đã thay đổi lối sống và cũng sống ngang như chúng tao. Trong khi ấy, mày thì sao? Mày vẫn cứ tiếp tục sống như chẳng có gì xảy ra. Mày cứ nghênh ngang ngạo nghễ tiếp tục lối sống cũ, ăn mặc vẫn cứ quần áo như lối tư sản, thậm chí còn dám nói tiếng Anh ở nơi công cộng và tiếp tục giữ liên lạc hữu nghị với một số lớn người ngoại quốc đang sống ở đây hoặc ở nước ngoài.
Bộ mày cứ tưởng là không ai để ý đến thái độ “kên kên”, chai lì bướng bỉnh của mày sao? Giai cấp vô sản đã để ý mày từ nhiều năm nay rồi. Lãnh tụ vĩ đại đã dạy: “Con mắt của quần chúng tinh tường và sáng suốt lắm”. Mày tưởng là mày giấu được tụi tao cái gì sao?
Mày là người đàn bà thông minh đấy. Có thật là mày nghĩ rằng tụi tao sẽ vẫn cứ thả mày ra, cho dù không cải tạo được đường lối tư duy của mày sao?
Mày đã bị giam gần hai tháng rồi. Tao phải công nhận là tụi tao đã ngạc nhiên về cái khả năng thích ứng của mày. Tuy nhiên, cho dù mày có tỏ ra tỉnh bơ đi chăng nữa thì mày cũng phải thấy là cuộc sống trong nhà tù này rất gay, rất cực khổ. Mùa đông sắp tới rồi. Tao không tin rằng từ lúc mày lọt lòng mẹ đến giờ lại có một mùa đông nào mà mày sống trong nhà lại không có lò sưởi, và mùa đông này thì lạnh lắm đấy. Rồi lại còn ăn uống kham khổ, khó nuốt lắm. Tụi tao biết chứ. Rồi, con gái của mày ra sao? Mày không nhớ nó chắc? Mày không thường xuyên tự hỏi lúc này nó ra sao ư?
Hắn ngừng lại. Nhưng khi tôi vẫn tiếp tục làm thinh thì hắn lại nói tiếp:
- Trước hết, chúng tao muốn mày viết bản tự thuật tiểu sử của đời mày. Cả nước này gần như người nào cũng đã làm vậy rồi. Nhưng chúng tao không có một bản nào như thế về mày trong hồ sơ. Viết ra đầy đủ, rõ ràng mọi sự. Đừng cố gắng tự bào chữa hay thanh minh gì ráo. Cũng đừng có giấu giếm gì cả. Chúng tao sẽ tự kiểm tra lại những gì mày viết so với các tài liệu chúng tao đã thu thập được về mày. Nếu mày bỏ qua cái gì, chúng tao sẽ cho là mày không thành thật. Hãy viết theo thứ tự thời gian, bắt đầu từ gia đình mày trước. Chúng tao sẽ căn cứ trên những gì mày viết để thẩm định quan điểm chính trị và sự thành thật của mày.
Tên thẩm sát viên làm công việc ghi chép đứng dậy và trao cho tôi một xấp giấy. Đợi cho tôi nhận giấy rồi, tên điều tra viên kia mới nói:
- Nếu không đủ giấy để viết thì nói với người trực phiên đưa thêm cho. Họ sẽ đưa cho mày bút và mực. Mày không được viết bản nháp, cũng không được vứt bỏ những tờ mày viết sai, viết lộn. Viết không hết, phải trả lại đầy đủ giấy dư.
Hắn nghiêm nét mặt, nhìn tôi và nói: “Mày hãy suy nghĩ cho thật kỹ tất cả những gì tao vừa nói, khi mày viết xong tiểu sử lý lịch của mày rồi thì trao cho giám thị trực phiên. Chúng tao sẽ cho gọi mày sau”.
Cánh cửa phòng thẩm vấn được mở ra. Tên giám thị xuất hiện. Tôi lại theo hắn đi qua hành lang có các phòng điều tra để về xà lim. Tôi không có cách nào để biết cuộc thẩm vấn kéo dài trong bao lâu. Nhưng hình như là lâu. Tôi đã mệt và rất thất vọng.
Cái chiếu đang giặt dở dang lúc nãy vẫn còn vắt trên những chiếc giường chồng lên nhau. Tôi cầm cục xà bông chà trên cái chiếu ấy. Chà, giặt xong, tôi gọi cai ngục “báo cáo”.
Mụ tới và luồn qua cửa sổ nhỏ trao cho tôi bút mực.
- Tôi có thể giặt cho xong cái chiếu được không?
- Hết giờ giặt rồi. Để đến lần sau.
- Nhưng đã lỡ nhúng nước mất rồi. Và cũng đã chà xà bông nữa. Để cái chiếu ướt và dính xà bông như vậy cả tháng trời là không vệ sinh.
Mụ cai ngục không đợi tôi nói hết câu đã đóng sập cánh cửa sổ lại và bỏ đi.
Tuy nhiên đến xế trưa mụ quay lại, qua khe cửa dòm vào xà lim của tôi. Sau khi đi một vài vòng nữa, mụ quay lại mở cánh cửa sổ ra và hỏi tôi:
- Sao mày không viết đi?
- Làm sao mà viết được? Tôi đang băn khoăn về cái chiếu ướt. Nó sẽ mốc ra mất thôi. Và tôi không có cái gì khác để mà dùng.
Có lẽ để cho tôi có thể tiếp tục viết bản “tiểu sử lý lịch” như điều tra viên muốn, nên mụ cai ngục đành “nhượng bộ” và cho tù cải tạo lao động đến phòng tôi lấy tấm chiếu ướt đi. Hôm sau tấm chiếu được trao trả lại cho tôi sau khi đã giặt sạch và phơi khô.
Cai ngục cứ tiếp tục đều đặn đến dòm qua khe cửa nhìn vào trong xà lim của tôi. Tôi cứ làm bộ như chăm chú viết. Tôi để một cuốn trong bộ sách của Mao lên đùi, để xấp giấy lên trên cuốn sách, bên cạnh là bình mực. Thấy thế là cai ngục lại đi để tôi một mình.
Trước khi viết, tôi cố đoán xem điều tra viên muốn gì khi ra lệnh cho tôi phải viết lý lịch tiểu sử của mình. Tôi phải kê khai lý lịch tiểu sử của mình bởi vì mọi người dân Trung Hoa đã làm như vậy. Thật ra đó chỉ là một cái cớ. Và lại là một cái cớ không chính đáng. Mặc dầu chưa bao giờ người ta yêu cầu tôi kê khai lý lịch, nhưng tôi tin rằng công an khu vực đã nắm rõ từng chi tiết lý lịch của tôi như họ đã nắm từng chi tiết của tất cả mọi người trong khu phố thuộc trách nhiệm của họ. Như vậy rõ ràng điều tra viên hy vọng bản kê khai lý lịch của tôi sẽ cung cấp cho hắn một vài dữ kiện để hắn nắm vào đó mà xoay tôi, mà chống lại tôi.
Điểm làm cho tôi thắc mắc là tôi đâu phải là một phụ nữ duy nhất ở Thượng Hải này vẫn cứ giữ nếp sống thoải mái như cũ, vẫn ăn mặc kiểu quần áo cổ truyền người Trung Hoa thay vì đồng phục kiểu Mao, vẫn giữ liên lạc với bạn bè người nước ngoài. Ấy thế mà lại chỉ có một mình tôi bị tù. Dĩ nhiên là những người phụ nũ kia cũng bị “các ông các bà Hồng vệ binh” và “các ông các bà Cách mạng” làm cho khốn đốn đủ điều, nhà cửa của họ cũng bị cướp phá và có lẽ bản thân họ cũng bị đánh đập. Nhưng tôi nghĩ là họ không bị bỏ tù. Tình hình này vẫn còn có cái gì đó bí mật, khó hiểu đối với tôi. Bởi vậy thật là điên khùng, dại dột khi thành thật kê khai hết những gì liên can đến cuộc sống của mình, tỏ lộ ra hết những ý nghĩ thầm kín của mình và xác định quan điểm của mình. Ngoài ra tôi còn biết có những người cứ bị bắt buộc phải viết đi viết lại lý lịch của mình nhiều lần. Trong những lần kê khai ấy nếu có sự khác nhau – dù là trong chi tiết – thì người ấy sẽ bị nghi ngờ. Như vậy điều rõ ràng mà tôi phải làm là chỉ kê khai sơ sài những sự việc rõ ràng của đời tôi theo thứ tự thời gian. Nếu tôi có bị bắt buộc phải bị viết lại, kê khai lại một hay nhiều lần nữa thì tôi cũng chẳng khó khăn gì mà không khai lại y như lần đầu tiên.
Đến chiều tối, thời tiết thay đổi đột ngột, nhiệt độ xuống thấp thật nhanh. Mới chập tối, cơn gió lạnh tê tái bắt đầu thổi, cánh cửa sổ xà lim không khít nên đập phành phạch mỗi khi gió thổi mạnh. Không khí lạnh lọt qua khe cửa theo từng cơn gió thổi vào. Tôi lấy giấy vệ sinh nhét vào các kẽ hở để chắn gió. Bởi vậy các mạng nhện của chú nhện nhỏ bé của tôi đã bị rách bươm ra. Thay vì làm một mạng nhện mới một cách mau lẹ như mọi khi, nhện ta kéo sợi tơ, buông mình rớt xuống, khi đã chạm nền nhà, nó bò qua phòng một cách chậm chạp và khó khăn. Tôi cúi xuống để nhìn cho thật sát và tự hỏi xem nhện sắp làm gì. Người bạn nhỏ xíu của tôi có vẻ yếu sức lắm. Nó ngần ngại, bước vài bước chậm chạp rồi dừng lại. Có lẽ nhện bị bệnh. Hay chỉ vì quá lạnh? Tôi nhìn nó, lo lắng. Tôi thấy nó bò từ góc này đến góc kia có lẽ để tìm một nơi khuất gió. Sau cùng nó biến vào góc chỗ cầu tiêu và bức tường. Và nó bắt đầu lại giăng tơ giữa cái “hẻm” ấy. Một cái lưới không đẹp bằng những cái lưới trước. Nhưng sợi tơ lớn và chắc hơn. Không, hình như nó đang làm một cái kén thì phải. Tôi nghĩ là người bạn nhỏ bé của tôi sẽ được bảo vệ kỹ hơn. Khi dùng cầu tiêu, tôi đã cẩn thận ngồi né sang một bên để khỏi làm xáo trộn người bạn nhỏ.
Sáng hôm sau, tôi kê khai lý lịch mau chóng hơn và viết hết vài trang giấy. Đến chiều thì xong. Tôi đứng ra phía cửa sổ và lớn tiếng “báo cáo”. Cũng vẫn mụ cai ngục ngày hôm trước tới. Tôi đưa cho mụ mấy tờ giấy tôi đã viết và tất cả giấy còn dư.
- Mày đã viết xong rồi kia à? - Mụ hỏi tôi, giọng ngờ vực, nhìn vào năm trang giấy chi chít chữ viết tay của tôi.
- Phải, tôi viết xong rồi!
- Sao ngắn vậy? Mày đã khai hết chưa?
- Rồi!
- Sao ngắn vậy?
- Ô, vậy mà ngắn hả? Dù sao tôi cũng đã viết hết rồi.
Mụ không nói gì nữa và bỏ đi. Dường như tôi cũng chờ đợi một phản ứng tức thời nào đó của mụ. Nhưng, không. Tôi cảm thấy tâm hồn nhẹ nhõm thơ thới. Tôi để ra cả buổi chiều ngắm nghía chú nhện bé nhỏ của tôi. Chú đã bỏ “cái nhà” chú mới làm và lại bò một cách khó khăn qua phòng, ì ạch, chậm chạp mỗi bước mỗi ngừng lại. Sau cùng nó đi thẳng về phía tôi. Khi nó tới chỗ chân tôi, tôi tự hỏi không hiểu có phải là nó muốn trèo lên đùi tôi để sưởi ấm không. Nhưng nó đã bò qua chân tôi và biến mất dưới gầm giường. Tôi phải đợi cho đến lúc đó mới đứng lên và ra cửa sổ nhìn xem. Nhưng cả mấy tiếng đồng hồ sau cũng chưa có gì xảy ra. Cai ngục vẫn chưa quay trở lại. Có lẽ chỗ ngồi của tôi là chỗ an toàn nhất trong xà lim này nên người bạn nhỏ bé của tôi đã quyết định ở đó cho qua mùa đông.
Sáng hôm sau, cai ngục gọi tôi dậy, trước khi đặt chân xuống đất, tôi cẩn thận nhìn kẻo lỡ dẫm phải con nhện nhỏ bé. Thực ra khi ngồi ăn cháo tôi đã đưa mắt dò tìm khắp trên trần nhà chỗ gần giường tôi với hy vọng được xem nó giăng xong cái lưới mới. Nhưng chẳng có gì. Nhìn lên trần, tôi thấy lưới nhện bị rách. Không một chút dấu vết nào chứng tỏ con nhện còn sống. Tôi tưởng tượng ra đủ thứ. Khi còn sống, chú hết sức nỗ lực làm việc và giành giựt lấy sự sống bằng cách làm đi làm lại lưới nhện của chú. Chú nhện nhỏ bé ấy theo sự thúc đẩy của bản năng sinh tồn. Lẽ nào tôi lại không làm như vậy? Bao lâu tôi còn giam trong nhà tù số 1 này, tôi sẽ chiến đấu một cách ngoan cường, bền bỉ và bằng hết khả năng của tôi.
Dòng suy nghĩ miên man của tôi bị tiếng mở khóa cửa xà lim ngắt đứt. Gã cai ngục mở cửa ra và quát: “Đi ra”.
Tôi cầm cuốn “Mao tuyển” và đi theo hắn, tự nhủ lòng sẽ dốc hết nghị lực để đương đầu với điều tra viên trong cuộc thẩm vấn đầy sóng gió sắp tới. Mụ cai tù có lẽ cũng đồng quan điểm với điều tra viên cho rằng bản kê khai lý lịch của tôi là không đạt yêu cầu.
Tôi được dẫn đến một phòng điều tra khác tuy cũng giống y phòng lần trước. Cũng vẫn hai người bữa nọ, có khác chăng là bên ngoài cái áo ka ki kiểu Mao có thêm chiếc áo thun len và cổ quàng khăn xù ra, lôi thôi lốc thốc. Căn phòng lạnh và ẩm thấp. Bên ngoài ngọn gió bắc từ Sibêrie thổi về lạnh buốt làm tê cóng cả thành phố, thổi qua khe cửa, rít lên, rú lên. Điều tra viên cau mặt lại, nhìn tôi, khi ra lệnh cho tôi đọc lời trích dẫn của Mao, hắn đã nói bằng giọng lạnh tanh, sắc gọn và nhìn bằng cái nhìn mà hắn cố cho tôi thấy sự bất mãn, bực bội của hắn. Tôi biết là hắn cố ý làm như vậy để làm cho tôi ngợp, dễ bị hù dọa.
Tuy nhiên tôi tảng lờ như không biết cái thái độ và ẩn ý của hắn mà trái lại tôi thấy có vẻ vui vui vì cái lối đe dọa con nít của hắn. Tôi đọc lời trích dẫn của Mao một cách đường hoàng, rắn rỏi như lần trước: “Bọn đế quốc cùng với lũ chó săn và bè lũ phản động chưa chịu chấp nhận sự thất bại của chúng ở Trung Hoa. Chúng còn tiếp tục âm mưu và dùng mọi thủ đoạn để chống lại nhân dân Trung Hoa. Chẳng hạn, chúng tung gián điệp vào Trung Hoa để phá rối. Đó là điều chắc chắn. Chúng sẽ quên đã làm những việc như vậy”.
Hắn không bảo tôi ngồi xuống và hỏi ngay:
- Mày hiểu ý nghĩa của lời dạy ấy không?
- Đối với tôi thì lời dạy ấy chẳng có gì là khó hiểu.
- Nói xem mày hiểu như thế nào?
- Đây là câu mà hầu như mọi người Trung Hoa đều biết. Câu này được trích trong bài diễn văn của Mao Chủ tịch đọc tại hội nghị hiệp thương chính trị, nhóm họp ngày 15 tháng 7 năm 1949 tại Bắc Kinh. Người nhắc nhở mọi người dân Trung Hoa phải đề cao cảnh giác, vì người tin rằng bọn đế quốc và bọn Quốc Dân Đảng vẫn chưa thôi tìm cách tung người của chúng để gây rối.
- Rất đúng! Những biến cố đã xảy ra trong mười bảy năm qua đã chứng tỏ lời cảnh cáo của Người là đúng và luôn hợp thời. - Hắn nhìn tôi trừng trừng một chút, rồi nói tiếp: “Mày nghĩ sao?”.
Dĩ nhiên tôi đâu có ngu gì mà nói Mao là kẻ hoang tưởng và đa nghi đến mức bệnh hoạn. Nhưng tôi tỏ ý tán đồng với lời của ông ta thì hắn có thể diễn dịch ra là tôi đã biết những hoạt động nào đó của chế độ thù nghịch. Mà không công nhận lời ông ta là đúng thì cũng không xong và có khi còn nguy hiểm nữa. Bởi vậy tôi dùng lối nói ngoại giao để trả lời: “Ồ, tôi tin vào mọi lời dạy của Mao Chủ tịch bất cứ lời dạy nào. Người luôn luôn đúng, phải vậy không?”.
Điều tra viên chòng chọc nhìn tôi. Lát sau hắn mới nói: “Ngồi xuống”.
Tôi nghe thấy tiếng mở cánh cửa sổ phía sau lưng tôi. Điều tra viên nhìn xem tôi có nghe thấy tiếng động nhẹ do mở cửa sổ vừa rồi hay không. Tôi nhìn thẳng vào cửa sổ ở phía sau lưng hắn và làm bộ suy nghĩ. Tôi không muốn hắn biết tôi luôn chăm chú và cảnh giác trước bất cứ tiếng động nào. Qua thái độ của điều tra viên, tôi biết họ không muốn tôi biết có người đang ở ngoài hành lang lắng nghe lời cung khai của tôi.
Bản kê khai lý lịch của tôi được đặt trước mặt điều tra viên. Hắn cầm lên và nói: “Như thế này mà mày nói là đã phấn đấu tự kiểm điểm đây à?”.
Vì chẳng có gì để nói nên tôi làm thinh.
- Mày viết một cái bản tự kiểm điểm về cuộc đời của mày mà cứ như thằng buôn làm bản kết toán hằng ngày vậy. Mày gọi cái này là bản kê khai lý lịch, là bản tiểu sử đây hả? – hắn ném mấy tờ giấy ấy về phía tôi.
- Vậy chưa được sao? Thì tôi đã kê khai lý lịch hay là viết tiểu sử bao giờ đâu mà biết. - Tôi có vẻ ngây thơ.
- Mày chưa bao giờ viết tiểu sử. Nhưng mày đã đọc nhiều bản tiểu sử rồi. Tủ sách của mày có vô số tiểu sử do cả người Trung Hoa lẫn cả người ngoại quốc viết.
- Phải, đúng là tôi đã đọc tiểu sử của nhiều nhân vật quan trọng. Tất cả họ đều có sự nghiệp quan trọng ở lãnh vực này, lãnh vực kia. Nhưng tôi chẳng làm được cái gì đáng nói. Trừ chín năm trở lại đây, từ ngày nhà tôi mất, còn trước đó tôi chỉ làm công việc nội trợ.
- Nội trợ? Mày làm nội trợ? – điều tra viên hỏi giọng châm chọc.
Hắn khịt khịt mũi và nói tiếp: “Chắc là suốt ngày may vá, đan lát và nấu nướng? Không, mày nghiên cứu chủ nghĩa Mác, đọc đủ thứ tạp chí, sách, báo và chép lại những lời phát biểu của các lãnh tụ Đảng và chính quyền, sưu tập các nghị quyết của các hội nghị Trung ương Đảng. Khi đến nhà máy để tiến hành hoạt động Cách mạng chống lại mày, các Hồng vệ binh đã thấy trên tủ sách của mày đầy các sách chính trị và trong ngăn kéo bàn giấy mày đầy các bản chép tay. Ngay đầu giường mày có một máy thu thanh sóng ngắn cực mạnh. Các đầy tớ của mày nói là mày đều đặn bắt đài ngoại quốc để nghe. Những cái đó là công việc nội trợ đó hả? Một người nội trợ chỉ quan tâm đến cái nhà của mình, đến gia đình của mình. Còn mày thì chỉ quan tâm đến chính trị. Còn lâu mày mới là nội trợ!”
- Tôi thấy chẳng phải là điều đáng hổ thẹn khi sự quan tâm của mình vượt ra khỏi cái nhà của mình, gia đình của mình. Tôi thấy ngay chính quyền nhân dân và Đảng Cộng Sản Trung Hoa cũng khuyến khích phụ nữ nghiên cứu chủ nghĩa Mác và quan tâm đến các hoạt động chính trị. Tôi chỉ làm cái điều mà tôi cho là đúng và nên làm, vì chính Đảng Cộng Sản Trung Hoa đã giải phóng phụ nữ kia mà.
- Chúng tao khuyến khích nghiên cứu chủ nghĩa Mác là nghiên cứu dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của chúng tao kia. Nếu mày say mê nghiên cứu chủ nghĩa Mác để nâng cao nhận thức chính trị, sao mày không tham gia các tầng lớp học chính trị. Chúng tao được báo cáo cho biết là không bao giờ mày tham gia các hoạt động do Ủy ban khu phố tổ chức để giáo dục chính trị cho phụ nữ ở đó. Nếu mày quan tâm đến chính trị chỉ vì muốn trở nên một công dân tốt, thì tại sao hôm bầu cử Hội đồng Nhân dân Thượng Hải, mày lại đến trễ tới hai tiếng đồng hồ. Thôi, đừng hòng vải thưa che mắt thánh. Cứ nói mẹ nó ra mày quan tâm đến chính trị là mày có hậu ý, có ý đồ xấu cho rồi!
- Tôi không tham dự các buổi học tập chính trị do Ủy ban khu phố tổ chức là vì tôi thấy tôi tự nghiên cứu tốt hơn. Ngoài ra các lớp ấy lại là tổ chức vào buổi chiều là thời gian mà tôi không thể tham gia được, vì lúc đó tôi mới đi làm về. Tôi đi bỏ phiếu trễ, tôi công nhận là tôi quên, cho đến khi có người nhắc tôi. Nhưng tôi cũng nghĩ là tôi có bỏ phiếu hay không thì cũng chẳng quan trọng gì. Tôi đâu biết là tất cả công nhân hãng Shell phải cùng bỏ phiếu một lúc với nhau, cho nên tôi đến trễ làm mọi người phải chờ đợi. Dù sao thì cũng chỉ có một ứng cử viên do Đảng chỉ định thì dù có lá phiếu của tôi hay không có lá phiếu của tôi, ông ta cũng vẫn đắc cử kia mà. Vậy thì cái việc tôi đi bỏ phiếu hay không, có quan trọng gì.
Hắn lượm mấy tờ giấy ném lúc nãy lên.
- Tao nói là mày viết tiểu sử lý lịch. Mày viết như thế này đây. Sao vậy? Bởi vì mày có cái gì đó cần phải giấu giếm, chứ gì nữa?
- Xin ông vui lòng nói rõ cho tôi biết ông có ý định nói cái gì? Riêng tôi, tôi không có ý định giấu giếm điều gì hết. Nếu có điều gì ông muốn biết về cuộc đời tôi – bất cứ điều gì – tôi sẽ sung sướng nói để ông rõ.
- Thế có phải hay không. Kể từ lúc bắt đầu thẩm vấn đến giờ, đây là lần đầu tiên mày tỏ ra thành thật. Tao mong là mày đã nhận ra được tình hình vô vọng của mày rồi và mày sẽ tự thú đầy đủ.
- Ông lại nói năng khó hiểu rồi. Tôi nói là tôi sung sướng được nói cho ông biết tất cả mọi sự việc về cuộc đời tôi là vì tôi tin rằng sự kiện thì minh bạch và chắc chắn hơn là lý sự, cãi cọ. Tôi tin rằng khi ông nắm được đầy đủ mọi sự kiện thì ông sẽ thấy là tôi vô tội. Tôi chẳng làm điều gì có hại cho chính quyền nhân dân và Đảng Công sản Trung Quốc.
- Tao muốn mày trả lời rõ ràng đầy đủ vào thẳng vào các câu hỏi của tao. Nếu mày muốn được hưởng sự khoan hồng thì đừng cố gắng giấu giếm gì cả.
- Tôi hứa là sẽ không giấu giếm gì. Tôi hiểu rất rõ quyền lực của chính quyền nhân dân cũng như là điều tra viên có thừa khả năng để đưa ra sự thật, tìm ra sự thật. Thật ra tôi còn trông cậy vào ông trong việc làm sáng tỏ những lới tố giác sai lầm nhắm vào tôi và phục hồi danh dự cho tôi.
- Tao sẽ chấp nhận lời khai thành thật của mày. Bây giờ mày được phép trở về xà lim, chiều nay mày đến nói cho chúng tao biết mối quan hệ của mày với hai tên người Anh là Scott và Austin, nói sự thật về công ty mà mày làm việc và kẻ có trách nhiệm giới thiệu tên Bạch Nga – một nhân viên hai mang – cho tên tổng quản lý của mày.
Tôi gần như không tin vào lỗ tai của tôi nữa. Tôi định nói nhưng nhân viên điều tra ra dấu bảo tôi im lặng. Hắn đứng dậy.
- Đừng có nói gì bây giờ hết. Chiều nay mày sẽ có cơ hội đầy đủ để cung khai.
Tên giám thị đứng sẵn bên ngoài đã mở cửa đợi và dẫn tôi về xà lim. Tôi ngạc nhiên vì lời nói của tên điều tra viên đến nỗi tôi không nhớ là mình đã quay về phòng giam như thế nào nữa.
Thay vì ngồi trong phòng ở lối vào, mụ cai ngục ra tận bên ngoài trời lạnh đứng đợi tôi trở về. Hai tay đút túi quần, hai vai co ro, hai chân nhấp nhỏm có vẻ bồn chồn nóng nảy. Từ lúc nhìn thấy tôi đến lúc đi hết cái hành lang tới xà lim của tôi, mụ thường liếc tôi như thể dò xem phản ứng trên nét mặt tôi. Sau khi nhốt tôi vào xà lim, khóa cửa lại, mụ còn đứng dòm qua khe cửa. Qua cử chỉ của mụ tôi đoán chừng mụ được chỉ thị quan sát phản ứng của tôi sau khi nghe lời điều tra viên nói. Chính vì vậy mà tên điều tra viên này lại đột ngột cắt đứt cuộc thẩm vấn và đưa tôi trở lại xà lim. Mặc dù tôi bị kích động mạnh khi tên điều tra viên nhắc tới hai nhân viên người – Anh, thực ra là hai người bạn của tôi – và cô thư ký người Bạch Nga của ông tổng quản lý, tôi biết rằng là điều cực kỳ quan trọng – quan trọng đến mức sinh tử – là tôi phải cứ tỉnh, cứ như thường, như không có gì xảy ra. Bất cứ dấu hiệu bối rối nào cũng bị coi như dấu hiệu tội lỗi.
Tôi đổ nước vào thau rửa mặt, rửa tay. Rồi cầm quyển sách của Mao lên và ngồi bên cửa sổ, cúi đầu xuống trang sách, thỉnh thoảng lại lật qua trang làm bộ như chăm chú đọc sách. Sau khi đứng dòm qua khe cửa một lúc thật lâu, mụ cai ngục mới bỏ đi, một cai ngục khác đã đến thay thế. Đến bữa cơm trưa, tôi ăn cơm với rau bắp cải luộc thật nhanh. Bởi vì, quả thật là tôi thấy đói. Khi người tù phụ bếp thu dọn cà men, tôi thấy chị ta nói với mụ cai ngục: “ăn hết”. Sau khi tù nhân đi dạo trong xà lim để tập thể dục chừng mười phút, cai ngục đi đến từng xà lim bảo mọi người ngồi xuống. Mụ đến chỗ tôi sau cùng và đứng ngay vào vị trí cũ là cái khe cửa. Mặc dù mụ đến rất nhẹ nhàng, rất khẽ, nhưng tôi phân biệt được mọi thứ tiếng động và do đó dễ dàng nhận ra sự hiện diện của mụ. Nhưng tôi làm bộ như không biết mụ có mặt ở đó. Tôi nằm tựa trên gối, nhắm mắt làm bộ ngủ. Ngủ ngày là vi phạm nặng nội qui thường bị cai ngục la rầy dữ dội lắm. Tôi vẫn thường nghe thấy cai tù la rầy những vụ như vậy. Có lẽ vì không muốn để cho tôi biết mụ đang rình tôi nên mụ đã không lên tiếng đánh thức tôi dậy.
Sau đó một hay hai giờ gì đó, tôi bị đưa lên phòng điều tra. Tôi vẫn phải đọc câu trích của Mao mà tôi đã đọc ban sáng.
- Ta hãy bắt đầu bằng tên nhân viên của Scott, mang bí số M15. Mày có quen biết nó, gặp gỡ nó như thế nào? Mày có quen biết nó trước khi đến Trung Hoa này không? Mày cung cấp những tin gì cho nó?
- Trước khi tôi báo cáo cho ông biết tôi đã gặp Scott như thế nào, tôi xin minh xác điều này đã: tôi chỉ biết ông ta trong tư cách nhà ngoại giao mà thôi.
- Mày muốn minh xác cái gì thì minh xác. Chúng tao có tin hay không lại là chuyện khác. Tiếp tục khai đi.
- Lần đầu tiên tôi gặp ông Scott là vào tháng 9 năm 1961 trong một bữa dạ tiệc ở nhà một người nào đó. Tôi không nhớ rõ ông bà chủ nhân bữa tiệc đó là ai nữa.
- Là ông bà tổng lãnh sự Ấn Độ – tên điều tra viên nói – chúng tao có danh sách các thực khách hôm đó. Nhưng cái đó không quan trọng. Mày có biết tên Scott trước khi có bữa tiệc ở nhà ông tổng lãnh sự Ấn Độ không đã.
- Không.
- Sau bữa tiệc một thời gian ngắn mày đi Hồng Kông. Và trong thời gian mày ở Hồng Kông, mày có gặp gỡ nhân viên khác mang bí số M15. Trong đại chiến thứ hai, hắn là sĩ quan trong không lực hoàng gia Anh. Ở Hồng Kông người ta biết rõ hắn là gián điệp mặc dầu hắn đóng vai nhà doanh nghiệp. Có phải là Scott đã sai mày đến tên kia để nhận chỉ thị phải không?
- Ở Hồng Kông, tôi gặp gỡ rất nhiều người, tôi không biết trong số ấy, người nào là gián điệp. Chuyến đi của tôi đã được dự tính từ trước khi tôi gặp Scott. Thường thì hai năm tôi lại đi Hồng Kông một chuyến. Như ông đã biết, muốn đi Hồng Kông thì phải được phép của công an. Và tôi đã xin phép ấy từ lâu trước khi tôi gặp Scott.
- Thế mày muốn tao tin là cuộc gặp gỡ của mày với tên Scott hoàn toàn là tình cờ sao? Nhưng, sự kiện chứng tỏ khác hẳn. Tên Scott đến Thượng Hải ngay trước khi mày đi Hồng Kông. Hắn đi Bắc Kinh ngay sau khi mày đi Hồng Kông. Hắn quay trở lại khi mày ở Hồng Kông trở về và hắn đã ở lại Thượng Hải mấy tháng. Khi tầu thủy chở mày về bị trở ngại trên sông vì gặp bão thì chính hắn đã lên tầu gặp mày nhiều lần. Đó không phải là hành động thông thường của những người mới chỉ gặp nhau có một lần trong bữa dạ tiệc. Hơn thế nữa, trong thời gian hắn ở lại Thượng Hải, mày và hắn đã cùng nhau đi đây đó nhiều lần. Mỗi lần đi với mày thì hắn tự lái xe, trong khi đó, nếu đi với người khác, thì hắn luôn dùng tài xế. Bọn ngoại quốc sống ở Thượng Hải này đồn đại với nhau là tụi mày dan díu tình ái lăng nhăng với nhau. Nhưng những người được phái để theo dõi mày không có báo cáo gì chứng tỏ đây là chuyện dan díu lăng nhăng bậy bạ. Chúng tao tin rằng sự liên lạc giữa mày và tên Scott là có nguyên do và mục đích chính trị. Mày cố ý tạo ra cái liên lạc có vẻ bất chính ấy chỉ là để đánh lạc hướng những người xung quanh mày. Bọn người Anh là kỳ thị chủng tộc gớm lắm. Và kỷ luật tổ chức của nó không cho phép một nhân viên của nó có những ràng buộc tình cảm với đàn bà bản xứ, nơi mà nó đang phục vụ. Thật ra, chúng tao cũng biết là trong thời gian ở Thượng Hải, hắn có quan hệ bất chính với vợ của một tên quản lý ngân hàng người Anh ở đây. Bây giờ thì chắc mày đã thấy rõ là chúng tao biết cả những việc bẩn thỉu và kín đáo như vậy nữa. Vậy mày còn hi vọng tránh né không khai sự thực nữa hay thôi? Mày hãy khai thật: thằng Scott đã bảo mày làm gì và mày đã làm gì cho nó?
Tên điều tra viên kết thúc những lời tố giác của y và chòng chọc nhìn vào tôi.
- Các ông đang biến những việc hết sức bình thường thành một sự nghi ngờ có cơ sở – tôi nói – tôi gặp ông Scott khá thường. Chủ yếu là vì ông ta xã giao rất rộng, rất tích cực và rất thích thú với lối sống đó. Ông ta thường chiếu phim của Anh sau bữa cơm tối. Dĩ nhiên, điều đó thì luôn luôn hấp dẫn. Bởi vì chúng ta đâu có cơ hội để xem những phim như vậy. Tôi nhớ là ông ta cũng đã nhiều lần mời các viên chức ở văn phòng vụ ngoại giao người Trung Hoa mình đến xem nữa kia mà. Đổi lại, mình có lòng mến khách thì cũng là chuyện thường thôi. Tôi có những bộ sưu tập đồ sứ. Tôi tổ chức một bữa cơm tối và mời mấy người bạn trong đó có cả ông Scott đến xem bộ sưu tập thẩm mỹ tôi mới mua được. Ông ta ngắm nghía xem xét kỹ mấy bộ sưu tập của tôi. Chắc hẳn Hồng Vệ Binh đã phải báo cáo cho các ông là tôi có nhiều bộ sưu tập đồ sứ cổ. Tôi nghĩ là ông ta thường tự lái xe lấy hơn là những người Âu khác ở Thượng Hải này. Bởi vì ông ta nói được tiếng Hoa, vì vậy không sợ. Còn về việc ông ta đến Thượng Hải ngay trước khi tôi đi Hồng Kông, và quay lại đây nhưng ngay lúc trước khi tôi trở về thì đó hoàn toàn là tình cờ. Tầu bị trở ngại vì bão, ông ta lên tầu đâu phải là để gặp tôi mà là gặp ông thuyền trưởng. Cũng có một hành khách từ Thượng Hải – tôi nghĩ – ông ta là một nhà buôn người Đan Mạch thì phải. Họ uống rượu và trò chuyện với nhau. Tôi không đến để gặp họ. Khi có tầu ngoại quốc đậu trên sông thì cũng có nhiều lính và nhân viên quan thuế ở trên tầu. Sao các ông không hỏi mấy người đó xem là Scott lên tầu gặp tôi hay là gặp ông thuyền trưởng là biết liền chứ gì!
- Sự liên lạc giữa mày với tên Scott còn là cái gì khác hơn một sự quen biết thông thường.
- Nó là cái gì chăng nữa thì lối giải thích sự việc của các ông cũng là gượng ép không đúng.
Tên điều tra viên nhìn chòng chọc vào tôi, và nói:
- Tao khuyên mày là đừng có cố thoát ra khỏi khó khăn bằng cách nói là mày chỉ có quan hệ tình ái với thằng cha Scott. Một phụ nữ Trung Hoa làm ô danh đất nước mình vì tình ái lăng nhăng bậy bạ với một tên mọi rợ phương Tây thì cũng đáng tống vào trại lao động cải tạo rồi.
Qua bao đời nay rồi, người Trung Hoa đã bị đau khổ vì cái thói tự tôn chủng tộc ngu xuẩn. Những người chưa bao giờ ra nước ngoài hoặc có quan hệ với người nước ngoài thường nghĩ về những người sống ở nước khác nhau như là những kẻ ngoại tộc xa lạ, những tên man di mọi rợ với những tập tục kỳ quái, và thường gọi họ là “đồ ngoại tộc”. Sự tự cô lập dưới ách cai trị của Mao và sự tuyên truyền của Đảng Cộng sản Trung Hoa về “bọn quỉ tư bản” đã càng làm củng cố cái tình trạng tự huyễn hoặc khốn kiếp của nhân dân Trung Hoa. Khi Đặng Tiểu Bình thực hiện chính sách mở cửa ra với thế giới thì làn sóng người “ngoại tộc” giàu có và nhiều thiện chí đã ùa vào Trung Hoa cùng với tiền bạc đầu tư và những tư tưởng để trao đổi, thì nhân dân Trung Hoa lại cũng đau khổ vì sự tỉnh ngộ sau cơn chấn thương, đến nỗi họ lấy làm nhục nhã, tự trách mình và đi đến chỗ quá khích là vứt bỏ hết bất cứ cái gì là Trung Hoa đi để được làm một người “văn minh” thứ thiệt. Tôi chẳng biết phải nói sao với tên điều tra viên nữa! Thái độ của hắn tôi hiểu rằng dù có tống tôi vào trại lao động cải tạo thì cũng chưa phải là đã mãn ý họ đâu, trừ phi tôi bị tống vào đó như là một tên “gián điệp”. Thông thường, muốn lôi cổ một nạn nhân để trừng trị, Đảng chẳng cần quan tâm đến chuyện phải tạo ra một cái cớ gì đó. Thật ra nhiều khi cũng đưa ra cái cớ này cớ kia, nhưng cớ nào cũng hết sức mơ hồ và bịa đặt. Mục đích là sự trừng trị. Trong trường hợp tôi, qua thái độ của điều tra viên, dường như tôi phải bị trừng trị với cái cớ “là một tên gián điệp”, chứ không vì một cái cớ nào khác.
- Tao thấy mày đang cố để nói dối thêm nữa. Thôi, bây giờ hãy khai thằng Scott đã nói gì với mày khi chúng mày gặp nhau.
- Các ông chẳng nên hy vọng tôi nhớ được những câu chuyện đã trao đổi với nhau từ bao nhiêu năm trước đây. Thật ra, thì cũng chẳng có gì có ý nghĩa lắm. Chúng tôi nói về sách vở, âm nhạc, đồ sứ Trung Hoa, về những nơi mà cả hai chúng tôi đều biết, về gia đình v.v…
- Trong lúc nói chuyện, chúng mày không đả động gì đến chính trị sao?
- Đôi khi chúng tôi có trao đổi quan điểm về một vài sự việc đang diễn ra, hầu hết những biến cố có tính chất quốc tế. Scott là nhà ngoại giao. Ông ta không muốn bình luận với một người Trung Hoa về những gì đang diễn ra trên đất Trung Hoa.
Đối với những người Âu mà tôi đã gặp – dù là nhà ngoại giao hay chỉ là nhà buôn – Trung Hoa dưới quyền Mao Trạch Đông là một đề tài hấp dẫn đối với họ, chủ yếu vì chính sách bưng bít của Đảng Cộng sản Trung Hoa đã bao phủ đất nước trong một tấm màn bí mật. Cũng có người đến Trung Hoa vì quan tâm đến nền văn hóa Trung Hoa. Khi họ có dịp gặp được một người Trung Hoa mà họ nói chuyện được thì họ đặt nhiều câu hỏi. Nhưng, những câu hỏi ấy cũng chẳng dính dáng gì đến bí mật chính trị của Trung Hoa. Là một người Trung Hoa, tôi tin rằng giúp cho một người ngoại quốc hiểu được đất nước, lịch sử, di sản văn hóa thì đó không phải là một điều xấu. Nhưng các viên chức thuộc cánh tả trong Đảng Cộng sản Trung Hoa lại không nhìn sự việc ấy dưới ánh sáng và góc cạnh như vậy. Họ cho rằng bất cứ người Trung Hoa nào không nhắc lại như con vẹt những lời tuyên truyền chính thức thì đều là thù nghịch với chế độ. Và, cũng theo họ, bất cứ một người ngoại quốc nào đến Trung Hoa cũng chỉ để cố gắng tìm ra những sai, lỗi của chế độ Cộng sản Trung Hoa. Bởi vậy , họ luôn nghi ngờ bất cứ người Trung Hoa nào làm việc cho một xí nghiệp ngoại quốc hay là có giao tiếp với người ngoại quốc.
Trước Cách mạng Văn hóa, cái cảm tưởng được an toàn của tôi được đặt trên cơ sở là tôi không hân hạnh quen biết một viên chức tầm cỡ nào đó, và tôi cũng chẳng ở vào cái vị thế có thể biết được cái gọi là bí mật quốc gia. Và tôi cũng hết sức cẩn thận, không bao giờ hỏi về những vấn đề tế nhị liên quan đến bí mật quốc gia. Không hỏi bất cứ ai – dù là bạn bè hay bà con quen thuộc – nhất là hỏi các vị đảng viên thì khỏi, không bao giờ dám. Kết cuộc thì chính sách này có kết quả. Bởi vì trong cuộc Cách mạng Văn hóa, khi bạn bè, bà con anh em tôi bị thẩm vấn cũng đều xác nhận là tôi không bao giờ tỏ ra để ý đến bí mật quốc gia.
- Thằng Scott là một sĩ quan tình báo. Nhiệm vụ của nó là moi tin. Nó đã bảo mày làm những gì. Nó không bảo mày cung cấp tin tức cho nó sao?
- Không, không bao giờ, làm sao tôi có thể lấy tin để cung cấp cho ông ta kia chứ? Tôi làm ở hãng Shell, một xí nghiệp ngoại quốc. Tôi cũng không biết gì nhiều hơn một người ngoại quốc biết về những gì trên đất nước này.
- Không đời nào một sĩ quan tình báo lại không tập trung cố gắng vào việc thu thập tin tức tình báo có lợi cho chính quyền của nó.
- Các ông có chắc chắn ông Scott là sĩ quan tình báo không chứ? - Tôi hỏi tên điều tra viên.
- Mày không được phép nghi ngờ tin tức của chúng tao.
- Nếu vậy sao các ông không bắt ông ta, hoặc tuyên bố ông ta là “bất thân thiện”, rồi trục xuất ông ta khỏi Trung Hoa?
- Tốt hơn là nên để cho nó không biết là chúng tao biết. Chúng tao theo dõi nó thật sát và biết hết mọi việc nó làm. Bọn Anh không chỉ làm việc cho riêng nước nó, mà còn làm cho bọn Mỹ nữa. Bởi vì bọn Mỹ không được công khai đến đây. Bọn Mỹ cộng tác mật thiết với bọn Quốc Dân Đảng, vì vậy, bọn Anh cũng giúp bọn Quốc Dân Đảng nữa.
Bỏ cái giọng nói trầm trầm đều đều, hắn lên giọng:
- Năm 1962, khi Scott đến Thượng Hải lần thứ hai, bọn Quốc Dân Đảng đang chuẩn bị tấn công chúng tao. Tên Scott này đã liên lạc với mày, bởi vì mày có liên hệ với bọn Quốc Dân Đảng.
- Vô lý, tôi chưa bao giờ dính dáng gì đến Quốc Dân Đảng.
- Thằng chồng của mày là quan chức cao cấp của chính quyền Quốc Dân Đảng. Nhưng, đó cũng chưa phải là đã hết chuyện. Cái nguồn gốc giai cấp của mày đã khiến mày phải có cảm tình với bọn Quốc Dân Đảng. Lời dạy của Lãnh Tụ Vĩ Đại về đấu tranh giai cấp có thể coi như cái kính chiếu yêu. Dù yêu quái có hiện hình giả dạng làm con thú gì đi nữa thì kính chiếu yêu cũng nhìn ra bản chất yêu quái của nó. Cũng thế, được võ trang bằng tư tưởng Mao Trạch Đông, chúng tao nhìn xuyên thấu qua hiện tượng đến tận tâm can của vấn đề.
Tôi biết, luận điệu tuyên truyền của Bắc Kinh trong năm 1962 là Quốc Dân Đảng đang chuẩn bị phát động một cuộc tấn công vào lục địa. Nhưng các báo chí nước ngoài vào thời đó mà tôi đọc được, chẳng có từ nào đả động gì về cuộc chuẩn bị của Đài Loan cả. Ngoài ra, tôi dám chắc Đài Loan không thể nào dám khởi phát cuộc tấn công vào lục địa nếu không được Mỹ bật đèn xanh cho. Và vào năm 1962, xem ra Mỹ không sẵn lòng cho phép một cuộc phiêu lưu như vậy. Tuy nhiên, tại Thượng Hải tôi thường được nghe thấy các cuộc chuyển quân của quân đội Trung Hoa, cuộc di tản gia đình binh sĩ khỏi Phúc Kiến, một tỉnh đối diện với Đài Loan. Nhiều người tin rằng chính Mao đã hoạch định kế hoạch tấn công Đài Loan, chứ không phải là ngược lại. Ở Thượng Hải có tin đồn rằng vì sự suy sụp trầm trọng kinh tế, hậu quả sự thất bại của Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại và vì có sự không nhất trí trong lãnh đạo Đảng nên Mao mới đành xếp xó kế hoạch tấn công Đài Loan của ông ta.
Trong lúc tôi đang hồi tưởng lại xem những người ngoại quốc đang sống ở Thượng Hải lúc đó – kể cả ông Scott –có ai hỏi tôi về Đài Loan gì không, thái độ của tôi trở nên đăm chiêu. Tên điều tra viên lại hiểu sai cái vẻ đăm chiêu của tôi và lợi dụng ngay để nói:
- Bây giờ mày có chịu khai hay không. Chúng tao đã ghi âm được câu chuyện của mày với thằng Scott kia rồi.
- Nếu vậy thì hay quá còn gì! Nếu vậy, các ông càng biết chắc là chúng tôi không bao giờ nói đến chính trị!
- Rõ ràng là lúc này mày không chịu cung khai. Mày cần có thêm thời gian để suy nghĩ và để nhớ lại. Cái đó cũng đúng thôi. Chúng tao sẽ dành cho mày đầy đủ thời gian để khai cho hết, khai cho thành thật. Sau cuộc điều tra này thì mày đã biết là tất cả những nỗ lực để chối cãi của mày đều vô ích. Thôi, bây giờ nói đến tên nhân viên nữ, tên Austin. Mày hãy báo cáo những cuộc giao tiếp của mày với con mụ này.
- Như các ông đã biết, bà Austin là vợ một nhà doanh nghiệp. Sự giao tiếp của tôi với bà ta là hoàn toàn có tính xã giao. Chúng tôi đánh bài hoặc ăn cơm tối với nhau thôi, ngoài ra không có ý gì khác.
- Mày đã sắp xếp để nó tiếp xúc với một tên cựu sĩ quan của bọn Quốc Dân Đảng!
- Cái gì, tiếp xúc với ai?
Tôi thật sự bị xúc động và tỏ ngạc nhiên. Điều tra viên nhìn tôi, dáng điệu đắc ý thấy rõ.
- Tên thày lang thuốc bắc mà mày chở mụ ta đến nhà đó, trước kia là một sĩ quan trung cấp của Quốc Dân Đảng.
- Tôi đâu biết gì về lai lịch gốc của ông ta. Tôi chỉ biết ông ta là một thày lang rất giỏi về y học cổ truyền. Austin tâm sự với tôi bà rất buồn vì không có con. Các bác sĩ Tây y nói là họ không phát hiện được trục trặc nào trong cơ thể của bà ta khiến có thể gây nên chứng hiếm muộn. Tôi cũng buồn cho bà ta. Bởi vậy, tôi hỏi ông thày lang là có thể giúp được gì cho bà ta được hay không. Ông ta nói là ông ta không thể nói chắc gì được nếu không bắt mạch cho bà ta. Thế là tôi giới thiệu họ với nhau. Ông cứ hỏi ngay ông thày lang đó là biết ngay chứ gì. Dễ quá mà!
- Thằng khốn ấy đã tự tử khi Hồng Vệ Binh tiến hành các hoạt động Cách mạng chống lại nó rồi.
Vậy là bọn Vệ binh đỏ đã hành hạ ông ta chỉ vì ông đã có tiếp xúc với một người Anh? Chúa ơi, sao tôi lại đi giới thiệu ông ta cho bà người Anh này? Sao tôi lại ngu đần đến nỗi không nhận ra tính chất phức tạp của cuộc sống dưới chế độ Mao kia chứ? Vì thiện ý và tình cảm với người khác mà ta có thể hại họ. Chính vì thế mà người Trung Hoa đã đặt ra một phương châm mới: “làm ít, rắc rối ít, làm nhiều, rắc rối nhiều; đừng làm gì cả thì sẽ là công nhân gương mẫu”. Tại sao tôi lại không chú ý đến kinh nghiệm của người khác? Tôi cảm thấy buồn vì cái chết của ông già tội nghiệp kia.
- Mày bố trí cho thằng lang kia gặp mụ, mày còn đi Bắc Kinh với mụ ấy nữa. Chúng mày làm gì và gặp ai ở đó?
- Lăng tẩm của Hoàng Đế nhà Minh vừa được mở cửa ở Bắc Kinh năm 1957. Năm 1960, chúng tôi đến đó tham quan. Khi du lịch với người nước ngoài, tôi được mướn những khách sạn tốt hơn, chứ với tư cách là người Trung Hoa thì tôi chỉ được phép thuê phòng “nhà khách” hạng ba. Vì thế mà tôi đi với bà Austin và với cả một bà bạn người Anh khác nữa. Đối với họ, có tôi cùng đi thì rất tiện, vì tôi biết rõ tiếng Bắc Kinh - hồi nhỏ tôi đã sống ở đó mà – và tôi nói được tiếng họ.
- Mày có giới thiệu nó cho ai ở Bắc Kinh không?
- Không, bản thân tôi cũng không quen biết nhiều người ở Bắc Kinh.
- Thằng anh mày đó thì sao? Chúng tao biết, nó đến khách sạn gặp mày!
- Bữa hôm anh tôi đến thì hai bà bạn người Anh kia đi tham quan đền Ngọc. Ông anh tôi không muốn gặp họ.
Có tiếng động nhẹ ở phía sau lưng tôi. Tên điều tra viên nhìn chồm qua vai tôi và rồi nhìn đồng hồ. Nó nói vài tiếng với người có nhiệm vụ ghi chép, sau đó, hắn đứng dậy.
- Bây giờ mày trở về xà lim. Lần sau tao gọi mày, tao sẽ nói về những việc làm bẩn thỉu của mày ở cái công ty đã mướn mày và cái lý do cái công ty ấy bố trí cho một con Bạch Nga làm thư ký. Con mụ này cũng là một nhân viên mật vụ của bọn Liên Xô. Mày sẽ khó mà chối được sự dính dáng của mày vào công việc của xí nghiệp đã thuê mướn mày.
Ngưng một lát, hắn nói tiếp “Suy nghĩ cho kỹ về mối liên hệ của mày với tên Scott. Nên nhớ là chúng tao đã biết chuyện hắn sử dụng mày để thu thập tin tức, chúng tao cũng biết khá rõ về những gì nó đã nói với mày”.
- Tôi chẳng bao giờ nói với ai nhiều hơn những gì mà tôi biết được. Mà tôi không biết gì cả thì làm sao có thể giúp ích gì cho ông ta được?
- Được, hắn đã đến Thượng Hải gặp mày, rồi cả hai đứa chúng mày cùng đi Hồng Kông, sau đó mày trở về. Thế nó điên hay sao mà làm như vậy khi nó chẳng có lợi lộc gì?
Trở về xà lim, tôi vẫn bị cai ngục tiếp tục dòm chừng. Tôi cảm thấy buồn và cảm thấy có trách nhiệm về cái chết của ông thày lang khốn khổ tội nghiệp kia. Tôi ao ước giá đừng bao giờ gặp gỡ quen biết Scott và Austin. Họ là nhân viên tình báo Anh thật sao? Mà dù họ có là nhân viên tình báo đi chăng nữa thì cũng vẫn chưa giải thích được tại sao lại bỏ tù tôi. Những người ngoại quốc đang ở Thượng Hải và cả những nhân viên cao cấp người Trung Hoa tại một xí nghiệp ngoại quốc đều bị các nhân viên người Trung Hoa làm trong xí nghiệp canh chừng, dò xét. Ở nơi công cộng, luôn luôn có công an mặc sắc phục và thường phục, những người ganh ghét với mình lúc nào cũng hăm hở rình mò để báo cáo những hành động không bình thường. Những bí mật cá nhân ở Thượng Hải không được tôn trọng như ở những thành phố lớn khác trên thế giới. Nếu chính quyền nhân dân nghi ngờ mối liên lạc giữa tôi và ông Scott và bà Austin thì công an Thượng Hải đã ra tay lâu rồi. Thật ra vẫn có nhiều điều tôi chưa hiểu được.
Dường như điều tra viên sẽ từ từ “duyệt” lại danh sách toàn bộ những người ngoại quốc bạn tôi và tuyên bố tất cả họ đều là gián điệp. Scott và Austin chỉ là hai người đầu tiên được nêu ra để làm cho tôi sợ. Tôi phải cẩn thận kẻo trượt chân là rớt xuống vực thẳm liền.
Kể từ khi tôi bị bắt giam vào đây, tôi thường tự hỏi tại sao tôi bị bắt. Và đó cũng là vấn đề làm tôi thắc mắc hơn hết. Kẻ giấu mặt nào đã ra lệnh bắt giam tôi? Có thật là họ đã nghi ngờ tôi phạm tội ác hay họ chỉ muốn hù tôi, đặng bắt tôi nhận tội đại đi và dùng cái đó để chống lại tôi. Dường như Winnie đã nghĩ rằng vì hãng Shell đã đóng cửa chi nhánh Thượng Hải thì đến lượt tôi phải bị trừng phạt. Chị ta có lý chăng?
Trong khi tôi đang suy nghĩ về cuộc đấu trí của tôi với tên điều tra viên, tôi không thể không nghĩ tới trường hợp những người vô tội bị giam giữ vô kỳ hạn trong các nhà tù và trong các trại lao động cải tạo mà tôi đã được nghe nói. Tôi cảm thấy như nhụt nhuệ khí và tôi thực sự cảm thấy sợ, không phải vì cảm thấy mình có tội mà sợ vì không đủ khả năng để bảo vệ chính mình.
Đến chiều tôi thu xếp để có một thời gian bình tâm để cầu nguyện như thường lệ thì bỗng tiếng nói lạnh lùng, nghiêm khắc của điều tra viên lại văng vẳng trong đầu óc tôi. Tôi cảm thấy ngã lòng và buồn khổ. Tôi cảm thấy dường như chính Chúa cũng quay lưng lại với tôi nữa.
Đêm đó, tôi bị cơn ác mộng lần đầu tiên kể từ ngày tôi vào tù. Tôi nằm mơ thấy mình đứng chênh vênh trên mỏm một vách đá cao ngất bên bờ biển. Tiếng gào thét của sóng thủy triều đang dâng lên và nuốt chửng tôi đi. lúc đó, trời tối đen như mực. Quanh tôi vắng lặng. Tôi trơ trọi có một mình. Và tôi đã hóa đá. Theo bản năng, tôi kéo mền phủ kín mặt để làm giảm tiếng kinh hãi của tôi. Tôi mở mắt ra thấy ngọn đèn điện đang rọi thẳng vào mắt tôi. Tôi chợt đưa mắt nhìn xuống sàn nhà. Nhớ lại là có mụ cai tù đứng ngoài dán hai con mắt vào khe cửa, dòm vào thấy như vậy chắc sẽ diễn giải ra đó là dấu hiệu của tâm trạng phạm tội. Tôi run lên vì sợ hãi. Nhưng nghe có tiếng động lục cục của then cửa xà lim trên lầu, tôi hiểu rằng mụ ta đang ở đâu đó trên lầu và chắc là vừa nhốt vào thêm một tù nhân mới, nên mụ đã không có mặt để nghe tiếng la khiếp đảm của tôi trong cơn ác mộng.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-10-21 22:05:29huytran>
Chương 7: CUỘC CÁCH MẠNG THÁNG GIÊNG VÀ SỰ KIỂM SOÁT CỦA QUÂN ĐỘI


Tôi chờ đợi điều tra viên gọi lên thẩm vấn lần nữa. Tuy nhiên mấy ngày trôi qua mà vẫn êm re. Tôi cảm thấy trong không khí có một cái gì đó căng thẳng. Đám cai ngục coi bộ mệt mỏi, đờ đẫn, lo lắng khi chúng chạy tới chạy lui trên các hành lang. Hình như bên ngoài tường nhà tù đang xảy ra một cái gì đó. Tôi đoán chắc như vậy. Thỉnh thoảng tôi đứng sát cửa hi vọng nghe được bọn cai ngục nói chuyện với nhau ở phòng cuối dãy hành lang. Nhưng tôi chỉ nghe được cái giọng gay gắt, cáu kỉnh, the thé của chúng. Có lúc chúng cãi nhau về một vấn đề gì đó, có lúc chúng lại thì thầm cái gì đó nghe không được. Tuy nhiên, sự im lặng chết chóc vẫn bao trùm khắp nhà tù. Tôi vẫn không sao đoán được chúng nói với nhau về vấn đề gì. Không biết tôi sẽ bị chúng cáo buộc về tội gì. Điều này khiến tôi lo sợ.
Khoảng đầu tháng 12 nghĩa là chỉ ít lâu sau lần thẩm vấn thứ nhất, bọn cai ngục đã ngưng không cung cấp báo cho tôi nữa. Vì báo chí được coi là một tài liệu quan trọng trong việc giáo dục chính trị cho tù nhân và tù nhân luôn bị cai tù hối thúc phải đọc báo cẩn thận, nên việc không cung cấp báo phải được coi là điều bất thường. Sau khi đợi ít ngày, tôi đã hỏi về vấn đề này. Lúc đầu, cai ngục làm lơ câu hỏi của tôi. Khi tôi hỏi lại thì cai ngục đáp gọn lỏn và có vẻ bực bội: “Thế mày không biết là đang có cuộc cách mạng hay sao?”
Khoảng giữa tháng 12, mùa đông lạnh ghê gớm. Những cơn gió bấc thổi từng cơn lạnh buốt như nước đá, nhiệt độ xuống thấp đến nỗi nước đóng băng. Cửa sổ và cửa xà lim của tôi kêu răng rắc và rít lên mỗi khi có cơn gió. Gió thổi mạnh đến nỗi giấy vệ sinh tôi dùng để nhét vào khe cửa đã nhiều lần bị gió thổi bật ra, rớt xuống sàn. Có bao nhiêu quần áo tôi quấn hết vào người, thế mà hàm răng vẫn cứ run lập cập, cơ thể run rẩy như bị chứng co giật. Trong xà lim lạnh như nước đá ấy, tôi thở ra trắng xóa hơi nước và tôi phải xoa năm ngón chân ngón tay cho máu chạy đều.
Một hôm trời lạnh, đám cai ngục vẫn ra lệnh cho tù nhân phải sẵn sàng để ra ngoài tập thể dục. Tôi nghĩ chắc chúng phải ghét tù nhân ghê gớm lắm thì mới bắt tù nhân ra ngoài tập thể dục trong những ngày thời tiết giá lạnh như thế này. Nhưng mặc dù trời gió, bên ngoài lại ấm hơn là trong xà lim ẩm thấp. Hơn nữa, được đi đứng, vận động làm cho máu lưu thông điều hòa hơn. Nhưng những cơn gió cuốn bụi, cát bay lên mịt mù, đến nỗi tôi khó mà mở mắt ra được.
Bỗng nhiên tôi thấy bọn cai ngục và lính gác ùa ra từ căn nhà đóng kín cửa và chạy lên chỗ căn nhà cửa mở toang – nơi chúng vẫn thường đứng để canh tù nhân trong lúc tập thể dục – rồi chúng lại đi xuống và đi đâu mất hút. Cùng lúc đó những tiếng ầm ầm la thét ngoài đường, càng lúc nghe càng gần và càng rõ. Như thể một đám đông hàng bao nhiêu ngàn người đang như giông như bão kéo đến nhà tù. Ở trên chòi canh, tên lính cầm súng máy đang nghển cổ nhìn về phía lối đi vào nhà tù, nhưng nó vẫn không rời vị trí. Một nữ tù nhân ở sân tập thể dục bên cạnh nói thì thầm nhưng vẫn đủ để cho các tù nhân khác nghe “Có lẽ bọn Hồng Vệ binh đang cố gắng đến để giải cứu đồng bọn bị chính quyền thành phố bắt giam“.
Cùng lúc ấy, có tiếng la của con gái từ sân tập thể dục bên cạnh: “Thả tao ra! Thả tao ra! Tao là Hồng Vệ Binh! Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại muôn năm“.
Cùng với tiếng la hét đòi trả tự do là tiếng đập cửa rầm rầm.
Tiếng ầm ầm ở phía lối đi vào nhà tù tiếp tục cho đến khi chúng tôi nghe thấy tiếng súng nổ. Có lẽ là do lính canh bắn. Tiếng của đám đông kia lùi lại. Một lát sau các cai ngục quay trở lại và lùa tù nhân ra khỏi sân tập thể dục. Rõ ràng là cái ý định của Vệ binh đỏ định xông vào nhà ngục đã khiến bọn lính gác phải hoảng hồn và ngạc nhiên. Khi tên cai ngục mở cửa sân thể dục ra, hắn có vẻ “nhũn”, không quát tháo “đi ra” như mọi khi mà là đứng ở cửa đợi tôi đi ra.
Những ngày sau đó, tôi nhận thấy có sự thay đổi trong cử chỉ, hành động của bọn cai ngục. Chúng chểnh mảng với công tác hơn và thường vắng mặt ở vị trí công tác. Có khi hàng mấy tiếng đồng hồ chẳng nhìn thấy hay nghe thấy tiếng của chúng. Cũng may, người đàn bà ở nhà bếp vẫn tiếp tục đem thực phẩm và nước uống cho tù nhân. Và cô gái tù lao động cải tạo vẫn đem nước lạnh để cho chúng tôi rửa ráy. Khi bọn cai ngục quay trở lại làm bổn phận thì chúng cũng túm tụm với nhau trong cái phòng nhỏ và tranh cãi nhau kịch liệt.
Nghe câu được câu chăng, tôi đoán là chúng cũng đang bàn về cuộc Cách mạng Văn hoá vô sản và đang thành lập tổ chức cách mạng riêng của chúng, để có thể gia nhập hàng ngũ cách mạng đang tăng dần lên. Đối với các tù nhân thì sự lơ là của bọn cai ngục được coi như là trút bỏ được gánh nặng. Đôi khi tôi nghe thấy những người tù nói chuyện với nhau lớn tiếng như bình thường, thỉnh thoảng còn nghe thấy tiếng cười rúc rích nữa.
Khi báo bị ngưng cung cấp vào ngày 2 tháng 12, tôi bắt đầu vạch lên tường để đánh dấu ngày. Tôi đã vạch được 23 gạch. Và tôi biết đó là ngày vọng lễ Giáng Sinh. Mặc dù giờ ngủ đã qua lâu rồi mà cai ngục trực phiên vẫn chưa nhắc tù nhân đi ngủ. Tôi đang chờ đợi trong cơn lạnh tái tê ấy thì bỗng ở phía trên lầu vang tiếng hát giọng nữ kim – trước còn có vẻ e dè, sau thì lớn tiếng tự nhiên – hát bản “Silent Night” lời bằng tiếng Trung Hoa. Tường nhà tù vang tiếng hát của cô. Giọng ca trong vắt, du dương, bồng bềnh trôi trên các hành lang tối tăm của nhà tù. Tôi như bị tiếng hát đó hớp hồn và chìm trong cơn xúc động khi nghe tiếng hát của cô. Qua cách hát của cô, tôi biết cô là một ca sĩ chuyên nghiệp đã làm mất lòng mấy ông theo Mao, nên mới lâm cảnh tù tội thế này. Chưa có một buổi hòa nhạc sinh nhật nào mà tôi đã dự lại có ý nghĩa và thấm thía đối với tôi hơn là lúc ngồi trong xà lim lạnh lẽo, nghe bài “Silent Night” do một ca sĩ mà tôi không nhìn thấy mặt, hát lên. Khi biết là không có cai ngục nào ở đó để ngăn cản, cô gái đã hát thật hay và không có dấu hiệu gì là hốt hoảng, e dè. Nhà tù lặng lẽ như tờ. Mọi tù nhân đã nghe cô hát, lòng thổn thức bồi hồi. Nét nhạc cuối cùng còn văng vẳng trong không gian thì người ta cũng nghe thấy bước chân của cai tù gõ trên nền xi măng vang lên. Chúng đến từng xà lim và hỏi: “Đứa nào? Đứa nào vừa hát? Đứa nào vừa vi phạm nội qui?” Không một tù nhân nào lên tiếng đáp lại.
Mấy ngày sau Tết dương lịch, loa phóng thanh ở các hành lang đã được bật lên. Tù nhân được bảo cho biết im lặng để nghe một thông báo quan trọng.
Tiếng đàn ông đọc bản tuyên bố của Bộ Tư lệnh công nhân Cách mạng Thượng Hải. Bản tuyên bố cho biết Hồng Vệ Binh và lực lượng Cách mạng trong Thành phố, được sự cổ vũ của ban chỉ đạo Cách mạng Văn hoá ở Bắc Kinh đã nắm chính quyền ở Thượng Hải kể từ ngày 4 tháng 1 và đã lật đổ Thành ủy và chính quyền “phản động” của thành phố “từ lâu đã chống lại chính sách đúng đắn của Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại và theo đuổi đường lối xét lại để phục hồi Chủ nghĩa Tư bản ở Trung Hoa”.
Sau đó báo chí đã tiết lộ cho biết cuộc “đảo chính” này được thực hiện dưới sự lãnh đạo của vị “anh hùng” nguyên là cựu trưởng ban an ninh của một xí nghiệp dệt. Vương Hồng Văn đã thành công trong việc liên kết tất cả những tổ chức quần chúng cách mạng tự phát nổi lên khắp thành phố vào thành một tổ chức duy nhất mệnh danh là Bộ Tư lệnh công nhân Cách mạng Thượng Hải do chính anh ta đứng đầu. Anh ta được sự ủng hộ của Trương Xuân Kiều, một “người bạn lâu đời” của Giang Thanh và đại diện cho Ban chỉ đạo Cách mạng Văn hoá tại Bắc Kinh. Thật ra, Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn và Diêu Văn Nguyên – một “nhà văn” cánh tả khá nổi tiếng – hợp lại thành một cánh khá chặt chẽ và nổi tiếng dưới cái danh hiệu “Lũ bốn tên” (tứ nhân ban).
Dường như bất cứ ai không bị gọi là “kẻ thù giai cấp” thì đều gia nhập tổ chức cách mạng và đều trở thành “ông” hay “bà” cách mạng. Các người theo Mao đã nắm được quyền lãnh đạo của những tổ chức như vậy.
Người đàn ông cũng đọc trên máy phóng thanh một tài liệu của Hội đồng Bộ trưởng tán thành những hoạt động khởi loạn nhưng đồng thời cũng thúc đẩy công nhân chớ xao lãng sản xuất. Lời tuyên bố của Hội đồng Bộ trưởng – do văn phòng Thủ tướng – dường như đã dành cho những hoạt động cách mạng của cách tả quá khích theo Mao một cái vẻ hợp pháp. Sự kiện Thủ tướng Chu Ân Lai đã dành sự ủng hộ và tán thành các hoạt động của bọn “phản loạn” đã khiến cho tôi bị khích động. Tôi không thể nào tin được rằng ông đã thực sự đồng tình với những hoạt động của bọn này. Tuy nhiên, tôi nghĩ, lời ông kêu gọi công nhân chớ xao lãng sản xuất cũng là dấu hiệu lành mạnh trong bầu không khí điên loạn. Mãi sau này khi được thả ra rồi tôi mới được biết là đám quá khích đã gây sức ép ghê gớm lên Thủ tướng và hết sức cố gắng để hất ông ra khỏi cái ghế ấy. Nhờ khéo léo nắm và điều khiển tình hình một cách tế nhị và tự trình bày mình như một kẻ theo Mao nên Thủ tướng Chu Ân Lai mới may mắn sống sót trong cuộc Cách mạng Văn hoá và bảo vệ được cho một số chiến sĩ lão thành của Đảng.
Vài ngày sau khi công bố cuộc “đảo chính”, mụ cai ngục lại đưa cho tôi tờ nhật báo Thượng Hải Giải Phóng được tái bản với một bộ biên tập mới. Dưới hàng tít lớn chạy bằng mực đỏ, bài báo tường thuật lại tình hình ngày 2 tháng 12, các “ông bà Vệ binh đỏ” và các “ông bà Cách mạng” đã “nắm” tờ báo sau cuộc đấu tranh quyết liệt và dai dẳng. Và đó là “khúc nhạc mở đầu” cho cuộc lật đổ chính quyền thành phố.
Đọc cẩn thận các tin tức và các bài tường thuật, tôi biết rằng chỉ mãi đến khi hai quan chức cao cấp trong thành phố đã chuyển hướng lòng trung thành (chuyển sang phe Mao) thì “các ông các bà” cách mạng mới đạt được thắng lợi sau cùng. Trong cuộc họp quần chúng để đấu tố cựu Bí thư thành ủy và Thị trưởng thành phố, hai ông “trở cờ” này – để tranh thủ sự chấp nhận của phe những người theo Mao – đã bày tỏ ủng hộ phe Mao bằng cách quay lưng lại sỉ vả các đồng sự cũ của mình và trước sự cổ vũ lớn tiếng và nồng nhiệt của “các ông các bà Hồng vệ binh” và “các ông các bà cách mạng” (hai quan chức “trở cờ” này là Ma Tianshui và Xu Jingxian đã được “lũ bốn tên” trao cho quyền cai trị Thượng Hải cho đến lúc “lũ bốn tên” bị bắt. Năm 1982, cả hai bị kết án tù dài hạn vì nhiều tội ác – trong đó có nhiều vụ giết người – đã phạm theo lệnh của “lũ bốn tên”. Về sau Ma Tianshui[1] hóa điên).
Sự kiện nhóm quá khích lật đổ chính quyền thành phố Thượng Hải đã làm tiêu tan mọi hi vọng của tôi là sớm được xét xử và làm sáng tỏ mọi ngộ nhận, vu cáo cho tôi. Tôi biết rằng sẽ phải đợi cho đến khi các cơ quan “mới” được tổ chức, sắp xếp lại – trong đó kể cả Ban an ninh phụ trách quản lý và xét xử các tù nhân ở nhà tù số 1. Tiến trình này cần phải có thời gian, đặc biệt nếu có sự kháng cự công khai hoặc ngấm ngầm đối với các quan chức mới. Tôi cũng nghĩ là chính quyền mới của Thượng Hải mà có sống được và hoạt động trơn tru thì cũng phải tùy thuộc vào việc trên khắp nước các ông các bà cách mạng “cướp” được chính quyền có nhanh hay không. Qua các bài tố cáo những quan chức ở các tỉnh, thành khác trên đất Trung Hoa, tôi cũng thấy là ở những nơi khác “các ông các bà Hồng vệ binh” và “các ông các bà Cách mạng” đã gặp sự chống đối, kháng cự mạnh hơn ở Thượng Hải.
Vào mùa xuân 1967, nhật báo Giải Phóng đã ấn hành lời Mao Trạch Đông kêu gọi quân đội hãy ủng hộ cánh tả. Lời kêu gọi ấy nằm trong lời trích dẫn của Mao nói rằng Quân đội Giải phóng nhân dân không những là một cơ quan quân sự mà còn là một cơ quan chính trị nữa. Qua lời kêu gọi ấy thì rõ ràng là “các ông các bà Hồng vệ binh” và “các ông các bà Cách mạng” không thể chỉ bằng sức lực riêng của mình mà chiếm được guồng máy chính quyền địa phương ở nhiều nơi trên đất Trung Hoa. Dù sao, sự can thiệp của quân đội cũng không tức khắc mang lại kết quả mong muốn.
Trong nhiều trường hợp, quân đội đã không thể nào phân biệt Vệ binh đỏ và tổ chức Cách mạng do những người theo Mao tổ chức với Vệ binh đỏ và tổ chức cách mạng của các quan chức Đảng mà Mao muốn tiêu diệt. Vì cả hai bên đều tuyên bố đi theo đường lối chính sách của Mao. Hơn thế nữa, nhiều vị chỉ huy quân sự đã đối nghịch với các quan chức dân sự ở địa phương, chẳng hạn như ở Tân Cương, ở Tây Tạng. Họ chỉ giản dị tuyên bố chính họ là tả phái “thứ thiệt” và dẫn quân của mình sang phe các “ông kẹ” Hồng vệ binh và các “ông bà Cách mạng”. Nhiều cuộc đấu tranh gay gắt đã diễn ra và đổ máu cũng lắm. Sợ phạm phải những sai lầm chính trị – ở nhiều vùng – nhiều vị chỉ huy quân sự đã làm ngơ để cho những băng phái cánh tả khác nhau đến cướp phá kho quân dụng. Tuy nhiên, ở hầu hết các địa phương, các vị chỉ huy quân sự – chắc là theo đấu sách “tọa sơn quan hổ đấu” của Mao – cứ án binh bất động chờ cho các băng phái “chơi” nhau, cho đến khi tình hình ngã ngũ, lúc bấy giờ mới ló đầu đứng về phe thắng để nắm chính quyền.
Vai trò nổi bật của quân đội trong việc trợ lực cho các “ông kẹ” Hồng Vệ binh và các “ông bà” cách mạng “cướp” chính quyền, đã nâng cao thế giá của quân đội và của vị “xếp sòng” của nó là ngài Bộ trưởng Quốc phòng Lâm Bưu. Trên báo chí xuất hiện nhiều tấm hình chụp ông ta hoặc Mao. Ở Trung Hoa đó là chắc chắn của sự đề cao địa vị của một người nào đó. Ông ta thường được nhắc đến như là một “người bạn chiến đấu thân cận của Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại”. Một câu hàm ý nâng ông ta lên vị trí hàng nhì trong cấp bậc Đảng chỉ sau Mao và trước cả Chu Ân Lai. Lâm Bưu không chậm trễ trong việc thanh trừng các lãnh tụ quân sự nào có thể là đối thủ của ông ta và thay thế bằng những tay chân tin cẩn của mình. Báo chí đã tường thuật những vụ thành công trong việc loại bỏ nhóm sĩ quan chống Mao trong hàng ngũ những lãnh tụ quân sự chóp bu và dày công hãn mã, tức là các tướng lãnh lão thành. Danh sách tên của những khuôn mặt mới trong các chức vụ tư lệnh các quân chủng hải, lục không quân và hậu cần đã được nêu ra. Lâm Bưu đã được các báo chí do phe tạo phản kiểm soát nồng nhiệt tán dương.
Ở Thượng Hải, các “ông kẹ” Hồng vệ binh và các “ông bà” cách mạng đã bắt đầu lần lượt nắm lấy quyền kiểm soát các cơ quan trực thuộc sau khi đã “cướp” chính quyền thành phố. Hàng ngày, báo chí cho thấy không những họ phải đấu tranh chống lại những cuộc kháng cự quyết liệt và sự phá hoại của những kẻ mà họ lật đổ (tức là thành ủy và chính quyền cũ của thành phố) và họ cũng bị phân hoá thành những băng phái chống đối lẫn nhau để giành giật nhau “chiến lợi phẩm”, kể cả tài sản lẫn chức vị. Cuộc đấu tranh diễn ra trên mọi khu vực của thành phố. Quyền kiểm soát các cơ quan cứ bị thay thầy, đổi chủ hoài. Thành phố chìm trong hỗn loạn. Những tiếng ồn ào la hét của đám đông ngoài phố vang vọng vào tới tận xà lim của tôi. Trong sân tập thể dục, chúng tôi nghe thấy rất rõ những lời tố cáo phát ra từ các loa phóng thanh. Những tiếng la hét giận dữ của đám đông gợi lên quang cảnh chết chóc và tàn phá. Tôi rất sợ cho sự an toàn của con gái tôi.
Thay vì kiểm soát, các lãnh tụ phái tạo phản dường như lại cổ vũ bạo lực và giết chóc đổ máu. Một hôm, tôi đọc được một bài báo nhan đề “Có đôi tay đẫm máu kẻ thù là một niềm vinh dự”. Hôm khác, báo đăng bài tuyên bố được gán cho Lâm Bưu: “Cuộc cách mạng nào cũng phải có chết chóc. Bởi vì ta chẳng nên cường điệu tính chất nghiêm trọng của tình hình ấy. Nhiều người đã tự tử hoặc bị giết. Nhưng so với số người chết trong thời kháng Nhật, thời nội chiến hoặc trong các thiên tai thì chết như vậy còn là ít. Có nghĩa là cái ta được thì nhiều hơn cái ta mất nhiều”.
Những lời nhẫn tâm, lạnh lùng ấy làm cho tôi phát bệnh vì lo sợ cho sự an toàn của con gái tôi, khiến tôi không thể ăn ngủ bình thường được nữa.
Buổi chiều – sau khi hai bữa tôi không ăn được cơm – mụ cai ngục đã tới, mở bật cửa sổ ra, chõ miệng vào hỏi:
- Mày bệnh hay sao vậy, mà hai bữa rồi không ăn?
- Tôi lo cho con gái tôi quá! Liệu người ta có thể đem nó đến đây giam cùng với tôi trong cùng một xà lim này được không?
- Dĩ nhiên là không! Nó phạm tội gì đâu mà giam nó?
- Thì tôi cũng có phạm tội gì đâu mà cũng vẫn cứ bị giam?
- Tao không có thì giờ để lý sự với mày. Sắp tới sẽ có người đến đây xét hỏi mày. Ngoài ra, cho mày hay bây giờ mà mày được ở đây thế này thì không phải là tệ đâu. Ít ra, ngày mày cũng có cơm ăn, đêm mày cũng được ngủ tám tiếng đồng hồ. Còn chính chúng tao đây này đêm đâu có được ngủ tám tiếng. Ban ngày làm việc quần quật, hết giờ làm việc là đến khuya lắc khuya lơ. Mệt đến bã người ra. Chứ đâu được như mày!
Mụ đóng ập cửa lại bỏ đi. Thái độ của mụ làm tôi ngạc nhiên. Đây là lần đầu tiên tôi thấy một cai ngục tỏ ra cũng chỉ là một con người như chán vạn người khác. Cũng chán nản, cũng bực bội! Tôi kết luận: vậy là cuộc đấu đá giữa các vị lãnh tụ chóp bu trong Đảng đã có tác dụng làm mất tinh thần, làm nản chí đám lau nhau bên dưới. Được làm việc ở những nơi như thế này phải là những con người có niềm tin sắt đá vào Đảng và Ban lãnh đạo Đảng. Những đám cấp dưới lau nhau chắc hẳn đang hoang mang – nếu không muốn nói là rối trí khi được biết, theo chính lời của Mao Trạch Đông chứ không ai khác, là lòng nhiệt tình và hi sinh cho lý tưởng của Đảng nơi nhiều sĩ quan và lãnh đạo cao cấp cũng chẳng hơn gì đám quần chúng. Thậm chí có nhiều lãnh đạo gộc còn tìm cách làm sống lại Chủ nghĩa Tư bản ở Trung Hoa nữa. Nhiều cai ngục thờ ơ, chẳng còn quan tâm đến công việc. Nhà tù lần lần biến thành một nơi mất trật tự, tù nhân la hét, kêu gào, chửi bới đánh đấm nhau, và đập thình thịch sàn gác khi cai ngục không có ở đó. Một đêm, tôi bị thức giấc vì tiếng cười rú lên từ một xà lim biệt giam khác. Cai ngục trực phiên – nếu có mặt ở đó – dường như cũng chẳng làm gì để ngăn chặn.
Tôi bắt đầu để ý quan sát các cai ngục một cách sít sao hơn và coi họ cũng như một con người, bình thường. Tôi nhận thấy nhiều cai ngục nom có vẻ khốn khổ và ra chiều khép nép. Trong nhà tù, xuất hiện một số cai ngục trẻ mang băng tay đỏ “Cách mạng”. Bọn này đi đứng nghênh ngang, vênh váo, ra vẻ ta đây quan trọng. Chúng tỏ ra có oai quyền không những bằng cách quát tháo, nạt nộ tù nhân mà còn nói ra cái giọng sai khiến ngay cả các cai ngục khác.
Năm 1967, trong khi sự hỗn loạn vô chính phủ đang bao trùm thành phố Thượng Hải, thì trong nhà tù số 1, sự kiểm soát cũng từ từ rệu rã. Đến mùa thu các cai ngục kết thành băng, phái khác nhau và quay ra đánh nhau: Lúc tù nhân được ra khỏi xà lim để đến sân tập thể dục, tôi thấy trên tường, trên lối đi tráng xi măng ra sân, viết nguệch ngoạc những khẩu hiệu có từ thời nội chiến. Từ trong xà lim, tôi vẫn thường nghe tiếng nói quen thuộc của các cai ngục la lối, cãi cọ nhau và có lần nghe tiếng họ gấu ó, cấu xé nhau. Điểm tranh cãi dường như là về đường lối, chính sách của Mao và về ai trong các quan chức là “chó săn, cò mồi cho bọn tư sản” cần phải lật đổ.
Thường thì các cai ngục phải ở dưới quyền của các điều tra viên và các quan chức hành chính. Nay, bọn này bị coi là dân “trí thức” do đó, bị quần chúng cách mạng – tức là các cai ngục, lính canh – gạt ra khỏi các tổ chức cách mạng. Trong thời gian có cuộc Cách mạng Văn hoá, tất cả trí thức – bất kể là đảng viên hay không – đều bị tố là “rác rưởi hôi thối”. Các “ông kẹ” Hồng Vệ binh và các “ông bà” Cách mạng phân chia số “rác rưởi hôi thối” ra làm chín hạng – may mắn thay, trí thức “được” đứng hạng chín. Tám hạng kia là: địa chủ phú nông, phản cách mạng, phần tử xấu, hữu phái, phản bội, tay sai ngoại bang và cò mồi cho tư sản. Loại thứ chín – tri thức –gồm các giáo sư, các nhà nghiên cứu và luôn cả các thầy cô giáo, chuyên viên và dân “cổ trắng” (white collar), dân thầy[2]. Có lẽ là do mặc cảm tự ti nên các “ông bà” cứ cho là người tri thức phách lối, ngạo mạn, kiêu căng vì có học hoặc vì có chuyên môn. Trong truyền thống Trung Hoa, người trí thức – “Kẻ sĩ” – vẫn được dành cho một địa vị tôn quí và lòng trọng vọng của xã hội. Bởi vậy, các “ông bà” cách mạng dùng kiểu nói “rác rưởi hôi thối” để tỏ lòng khinh bỉ, ghê tởm đối với cả trí thức, lẫn truyền thống Trung Hoa.
Đầu mùa đông thứ 2 của thời gian ở tù, tôi bị cảm lạnh, nặng đến nỗi uống bao nhiêu thuốc átpirin ông bác sĩ trẻ của nhà tù cho mà vẫn chưa khỏi. Khi bệnh cảm biến chứng thành viêm phế quản thì cơ thể tôi bị giật và rung lên từng hồi vì những cơn ho dữ dội, nhất là ban đêm, khi xà lim trở nên quá lạnh. Có bao nhiêu quần áo tôi quấn vào người hết: mặc luôn một lúc hai cái quần jean, hai cái áo len, đắp mền. Vậy mà tôi vẫn không dằn được cơn ho. Lúc bấy giờ vào khoảng nửa đêm, nhà tù yên lặng như tờ từ lâu. Tôi ho và hắt hơi liên tục đến nỗi không thể nào nằm xuống được. Tôi tưởng uống nước lạnh vào để cho nó thông cuống họng, ai dè đâu còn tệ hơn. Tôi vùi đầu vào cái gối để cơn ho bớt vang lên, đồng thời hi vọng cái gối làm cho ấm thì cơn ho sẽ giảm đi.
Tôi nghe tiếng cửa sổ nhỏ mở ra. Có tiếng nói lạ không phải là tiếng cai ngục mọi khi. Rồi tôi nghe thấy tiếng đàn ông nói nhỏ nhẹ: “Ra đây!”
Tôi ra khỏi giường, ngạc nhiên không hiểu người đàn ông này muốn nói gì giữa lúc đêm khuya khoắt này. Tôi bước tới cửa sổ nhỏ, nhìn ra. Tôi kinh ngạc khi tên thẩm sát viên đã thẩm vấn tôi trước đó đang đứng ở đó, tay cầm cái bình thủy nước nóng.
- Chị có cái ca uống nước không, đem ra đây?
Tôi lấy cái ca thò ra cửa sổ. Y rót nước nóng vào đó.
Tôi đã đợi một năm nay mà chẳng thấy được y tiếp tục thẩm vấn. Đây là dịp tốt cho tôi. Vừa ho rũ rượi tôi vừa hỏi:
- Chừng nào thì ông xét đến trường hợp của tôi.
Sau một chút ngần ngại hắn đáp:
- Khi cuộc Cách mạng sắp xếp đâu ra đó rồi thì chắc họ sẽ gọi đến chị. Điều quan trọng bây giờ là phải đứng vững. Chị nên kiên nhẫn. Bây giờ thì uống nước nóng đi. Uống nước nóng có thể bớt ho đấy. Ngày mai, báo cáo với bác sĩ, ông ta sẽ cho chị thuốc.
Nói vậy là y không còn xử lý trường hợp của tôi nữa. Tôi tự hỏi không hiểu y còn coi tôi là có tội, hoặc giả, có bao giờ y thật sự nghĩ rằng tôi có tội không. Thốt nhiên, tôi nghĩ, thật là đáng kinh sợ khi phải làm điều tra viên trong những trường hợp như thế này, những trường hợp mà công việc của mình là phải tìm cho ra tội. Tôi uống nước nóng thật nhanh, nhưng lại bị một cơn ho rũ rượi làm cho nước vừa uống vào đã phải ói ra.
- Không sao! Không sao! Tôi sẽ rót cho chị ca nước khác.
Y lại mở cửa sổ ra. Cùng đến với y còn có một người đàn ông khác nữa, mang kính trắng, mà y gọi là “giám đốc Liên”. Tôi vừa ho, vừa hỏi:
- Làm ơn cho tôi mượn cái giẻ lau nhà được không?
- Để đấy đến mai lau cũng được – giám đốc Liên nói – bẩn lắm hay sao? Ngoài nước ra, còn có gì nữa không?
Tôi nhìn xuống nền nhà. Thật ra thì chỉ có nước. Và nền xi măng xấu nên nước cũng đã ngấm đi hết rồi. Chắc chắn giám đốc Liên biết rõ hơn ai hết tình hình cái bao tử của tù nhân nó rỗng như thế nào rồi. Bởi vì dù sao thì ông ta cũng là giám đốc nhà tù này trước khi các “ông kẹ” Hồng Vệ binh và các “ông bà” Cách mạng đến đây và hạ tầng công tác ông ta và cả điều tra viên xuống làm một tên cai ngục bình thường. Thảo nào họ đã nói năng với tôi nhỏ nhẹ và đối đãi với tôi tử tế như vậy. Họ vẫn đứng chờ cho tôi uống nước xong rồi mới đóng cửa sổ lại và bỏ đi.
Tôi trở lại giường và ngẫm nghĩ về cuộc Cách mạng Văn hoá đang tạo ra những hiện tượng lạ thường. Bởi vì có bao giờ điều tra viên và giám đốc nhà tù nửa đêm nửa hôm, gió rét căm căm thế này mà lại đi rót nước nóng từ chính bình thủy của mình cho tù nhân. Cử chỉ nhân đạo đó thật trái với tin tưởng của họ, coi nhà tù số 1 này là “công cụ đàn áp của giai cấp này dùng để trấn áp giai cấp kia” như lời chính tên điều tra viên đã nói với tôi. Có lẽ các “ông kẹ” Hồng Vệ binh và các “ông bà” Cách mạng đã mở rộng diện hành động Cách mạng của “các vị”, và “các vị” đang mất dần những người có thể ủng hộ và đang đẩy các trí thức của Đảng sang hàng ngũ kẻ thù.
Sáng hôm sau, bác sĩ cho tôi vài viên thuốc sulfadiazine. Nhưng đến đêm xà lim trở nên lạnh lẽo, tôi vẫn bị cơn ho dữ dội hành hạ cho đến nỗi không tài nào ngủ được. Một buổi sáng sớm kia tôi nghe thấy loáng thoáng tiếng nói chuyện ở phía ngoài cửa xà lim. Hôm đó, một “cựu” điều tra viên nữ làm công tác “cai ngục”. Đêm rồi, chị ta cho tôi vài viên thuốc và bảo tôi ngủ đi. Bây giờ tôi nghe thấy chị ta nói chuyện với một người đàn bà khác bị nhốt trong xà lim đối diện với xà lim của tôi. Mặc dù họ nói với nhau rất nhỏ, nhưng nhờ nhà tù rất im lặng cho nên tôi vẫn loáng thoáng nghe được câu chuyện của họ. Tôi kinh hoàng khi nhận ra rằng người tù ở xà lim bên kia nguyên là một sĩ quan công an cùng khoá với điều – tra – viên – cai – ngục khi họ học ở trường sĩ quan công an. Họ nói về những cuộc đấu tranh gay gắt và thô bạo ở cơ quan công an Thượng Hải sau khi mụ vợ của Mao Trạch Đông là Giang Thanh lên tiếng kêu gọi các Hồng Vệ binh và “quần chúng Cách mạng” hãy “nghiền nát cơ quan an ninh, tòa án và viện kiểm sát”. Họ nói là trong cơ quan, có người nhảy lầu tự tử chết, có người bị đánh đập đến chết, có người bị đánh nhừ tử phải chở đi bệnh viện. Rõ ràng là cơ quan công an bây giờ đang rối beng và không còn điều hành gì được.
Nghe câu chuyện của họ, tôi đoán chừng là cuộc Cách mạng Văn hoá sẽ còn dài dài. Vì các viên chức Đảng bị Mao hạ bệ đời nào lại ngồi im đợi chết. Họ sẽ chống trả quyết liệt để bảo vệ mạng sống của chính họ, dù rằng đấy là cuộc chiến tuyệt vọng. Trong lúc này thì phe cực đoan đang thắng, vì họ được sự ủng hộ của Mao và của quân đội. Nhưng, ngoại trừ trường hợp giết sạch những viên chức bị gạt ra – trường hợp này không thể xảy ra – bọn này cũng sẽ nhẫn nhục mai phục chờ đợi cơ hội quật lại. Trong lúc đó, họ sẽ làm mọi sự, bằng mọi cách trong quyền hạn và khả năng của họ để phá tất cả các hoạt động của cánh cực đoan. Tôi nghĩ tình hình sẽ còn cực kỳ phức tạp và còn lâu mới ổn định được.
Mấy ngày sau đó, ngay trước lúc giờ tù nhân đi ngủ, cai ngục trực phiên đã đến từng xà lim bảo phải im lặng ngồi nghe phát thanh thông báo. Qua loa phóng thanh, tiếng người đàn ông loan báo “từ nay nhà tù số 1 được đặt dưới quyền kiểm soát của quân đội”.
“Tất cả tù nhân hãy lắng nghe đây! Tình hình Cách mạng thắng lợi đã rõ rệt. Những người thực sự ủng hộ Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại và người bạn chiến đấu gần gũi của Người là Phó tư lệnh tối cao Lâm Bưu, đã vượt qua được mọi trở ngại và lật đổ được chính quyền phản động của thành phố… Chúng tao đang lần lượt thắng lợi và chiếm quyền trên toàn đất nước và tiếp tục tiêu diệt kẻ thù. Bọn cặn bã rác rến do xã hội cũ để lại bị quét, bị hót và bị ném vào sọt rác lịch sử. Thắng lợi của chúng tao là vĩ đại, vĩ đại! Tổn thất của chúng tao là nhỏ nhoi, nhỏ nhoi, nhỏ nhoi! Có kẻ dám nói là chúng tao gây ra xáo trộn. Xáo trộn là một cách nói đấu tranh giai cấp. Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại của chúng tao đã dạy: “Cuộc cách mạng không phải là một bữa tiệc, cũng không phải là làm văn, là vẽ tranh hay làm đồ trang sức. Cách mạng không thể là nhẹ nhàng, thoải mái, dễ chịu, ôn hòa, từ tâm, lịch sự, dè dặt và đại lượng. Cách mạng là bạo loạn, là một hành động bạo lực giai cấp này dùng để lật đổ giai cấp khác, không có gì là sai lầm khi gieo hỗn loạn để gây rối quân thù”. Có kẻ dám nói rằng chúng tao đã giết nhiều người quá. Phi lý! Hết sức phi lý! Chúng tao đã giết ít người hơn là trong cuộc kháng chiến chống Nhật và trong cuộc chiến tranh giải phóng. Đúng ra phải nói là chúng tao giết bấy nhiêu cũng chưa đủ. Hãy còn nhiều kẻ thù vẫn còn lẩn trốn trong các hang hốc xó xỉnh. Phải lôi cổ chúng ra, chớ có đánh giá thấp lòng quyết tâm của chúng tao, chớ có coi thường khả năng tiêu diệt kẻ thù của chúng tao. Chúng tao, những người cách mạng, lẽ dĩ nhiên là phải có sự quá đáng. Sự quá đáng ấy sẽ gây hứng khởi cho chúng tao, thúc đẩy chúng tao làm tới, đồng thời sẽ gieo rắc kinh hoàng, khiếp sợ vào đến tận tim gan kẻ thù. Trời sập chúng tao cũng không sợ. Trời có sập thì lời dạy của Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại của chúng tao cũng đủ sức để chống trời lên”.
Đồng chí Giang Thanh kính yêu của chúng tao đã nói với chúng tao: “Phải nghiền nát hệ thống an ninh pháp lý, phải hoàn toàn đập tan các cơ quan an ninh, kiểm sát và tư pháp”. Và chúng tao đã làm như vậy.
Sở công an Thượng Hải và các cơ quan phụ thuộc của nó nay đã nằm trong sự kiểm soát của chúng tao. Trước đây, nhà tù này bị bọn xét lại, bọn cò mồi cho tư sản của Sở công an quản lý. Thật là phi lý khi bọn tù nhân ở đây lại được đối đãi tốt như vậy. Ngày ba bữa cơm. Bọn tù sống còn sướng hơn cả các bần nông. Điều đó chứng tỏ bọn xét lại ở sở công an đã thương yêu bọn phản cách mạng hơn thương yêu chính nông dân. Lý do vì chính chúng nó – bọn xét lại – là những tên phản cách mạng. Từ nay trở đi, khẩu phần của tù nhân sẽ bị giảm bớt để tiết kiệm lúa gạo. Tù nhân không phải lao động. Bởi vậy, ngày hai bữa là quá rồi. Tù nhân không được ăn một thứ gì khác ngoài cơm gạo ra: ăn vậy bọn tù tụi bay cũng không chết được đâu. Và nếu tụi bây có chết thì Cách mạng cũng chẳng mất mát thiệt thòi gì. Trung Hoa đông dân lắm. Có chết hết bọn phản cách mạng đi thì cũng chẳng ăn thua gì, và càng hay.
Đa số tụi bay ở tù cũng khá lâu rồi. Nhưng có một số tụi bay vẫn chưa chịu thú tội. Tụi bay tưởng lọt lưới được sao? Một ý nghĩ ngu xuẩn, một ước vọng hão huyền. Nếu tụi bay không chịu thú tội thì nắm tay sắt của chuyên chính vô sản sẽ nghiền nát tụi bay. Tụi bay ngẫm nghĩ lời cảnh báo đó.
Chính sách của Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại của chúng tao là: đối xử khoan hồng kẻ nào tự thú, trừng trị nghiêm khắc kẻ nào ngoan cố và thưởng cho kẻ nào có công tố giác kẻ khác. Đêm nay, chúng tao sẽ xử lý vài trường hợp nổi cộm để chứng tỏ đường lối chính sách của Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại.
Sau một lúc im lặng, hắn lần lượt nêu từng tên những người bị chúng kết án tử hình vì họ đã không chịu thú tội. Hắn nêu rõ chi tiết từng người như tên, tuổi, địa chỉ, chức vụ hoặc nghề nghiệp, lý lịch gia đình phản động và mô tả những “tội” cũng có khi chỉ là những lời nói chống lại cuộc Cách mạng Văn hóa hoặc chỉ là chê bai Giang Thanh, Lâm Bưu và Mao Trạch Đông.
Im lặng một chút, máy phóng thanh lại oang oang: “Lôi cổ nó ra đây! Xử tử ngay lập tức!”
Tiếng gầm thét của hắn, cái giọng độc ác tàn nhẫn của hắn, nghe không còn phải là tiếng người nữa! Mặc dù cố trấn tĩnh tôi vẫn không thể không run sợ.
Tên của những người bị xử tử vẫn tiếp tục được nêu ra: kế đó là tên những người bị kết án chung thân, những người bị kết án 20 năm hay hơn nữa. Tất cả để nêu gương sự trừng trị nghiêm khắc đối với những người không chịu thú tội hay có thú tội nhưng “chưa đạt yêu cầu” hoặc chưa thành khẩn. Sau cùng, hắn đọc danh sách những người được “khoan hồng” vì không những đã thú tội mà còn có “công” tố giác những người khác. Một người đàn bà được tuyên bố trả tự do ngay tức khắc vì đã cung cấp tin tức, nhờ đó đã bắt giữ được nhiều người âm mưu trốn đi Hồng Kông. Những người khác được giảm án từ ba đến năm năm tù.
Tiếng máy phóng thanh đã tắt rồi mà tiếng của hắn vẫn còn lùng bùng trong lỗ tai tôi. Trong đời, chưa bao giờ tôi thấy xúc động như vậy. Cứ nghĩ đến con người này mà cai quản nhà tù số 1 và quyết định số phận của tôi nữa, tôi thấy rùng mình và lo sợ. Đêm khuya, trời đã lạnh xem chừng còn lạnh hơn, tôi rùng mình nổi da gà từng phen trong khi chờ đợi cai ngục cho lệnh lên giường nằm. Tôi nghĩ những tù nhân khác cũng run lên vì sợ hãi như vậy nữa, bởi vì trong nhà tù không có một tiếng động nhẹ.
Có tiếng cánh cửa mở lịch kịch ở cuối hành lang. Và tôi nghe thấy tiếng giầy da khua lộp cộp trên hành lang. Những tiếng đóng, mở những cánh cửa sổ xà lim dọc theo dãy hành lang. Có tiếng quát tháo “Mày thì sao đây? Trước đây mày không khai, không thú tội gì hết? Bây giờ mày có khai, có thú tội hay không?”. Những bước chân nặng nề càng lúc càng tới gần xà lim của tôi. Cánh cửa sổ mở bật ra. Tôi nghe có tiếng giấy tờ sột soạt và tiếng gã cai ngục nói: “Đây cũng là một”.
“Lại đây”, tiếng tên cai ngục nghe cứng cỏi hơn mọi khi, có lẽ là để gây ấn tượng cho sĩ quan kiểm sát quân sự.
Qua chỗ cửa hở, tôi chỉ thấy đôi giày da đen và phần dưới của bộ quân phục của sĩ quan không quân chứ không nhìn thấy phần trên ngực và mặt anh ta. Nhưng trong trí tưởng tượng, tôi hình dung ra cái mặt lưỡi cày của một tên đểu cáng, xảo quyệt: Người Trung Hoa tin tưởng vào tướng mạo, cho rằng tướng mạo một người phản ánh cuộc đời của người đó. Chẳng hạn, một tên độc ác, đểu cáng, xảo quyệt thì thế nào cũng có cái mà người Trung Hoa gọi là “mặt lưỡi cày”. Hình dung ra cái khuôn mặt của hắn như vậy đã khiến tôi thêm can đảm. Tôi cảm thấy dù hắn có sắp nói cái gì đi nữa thì tôi cũng đủ sức đối đáp.
- Tại sao mày lại không thú tội – À, thì ra giọng nói này cũng là giọng nói lúc nãy đã nói trên máy phóng thanh.
- Tôi có phạm tội gì đâu mà thú? Không phạm tội thì biết thú tội gì?
- Đừng có giả vờ! Mày là gián điệp của bọn đế quốc. Thế mày muốn bị xử bắn hay sao chứ?
- Tôi hy vọng nhà cầm quyền mới của nhà tù này sẽ thả tôi ra sau khi đã xem xét lại những sự kiện và thấy tôi vô tội.
- Mày đang nằm mơ hay sao? Mày nghĩ là chúng tao điên chắc? Mày sẽ không bao giờ được thả ra nêu không tự thú. Mày không nghe trường hợp những đứa không chịu thú tội? Chúng đã bị xử bắn rồi. - Hắn quát lên “Chết! Mày nghe rõ chưa?.” Rồi hắn nói gì đó với tên cai ngục, lấy chùm chìa khoá và mở khoá cửa ra. Tên cai ngục ra lệnh:
- Ra đây!
Tôi bước ra khỏi xà lim, không hiểu tên mặc quân phục sĩ quan không quân kia sẽ làm gì tôi. Hắn đã quay lưng lại, đi dọc hành lang để đi ra. Tôi và tên cai ngục đi theo hắn. Nhưng mới chưa đi được hai bước thì nghe thấy tiếng huỳnh huỵch và tiếng gì đó chuyển động trên tầng lầu. Có vài tiếng la lớn”Báo cáo! Báo cáo!” Những tiếng la hét: “Đến nhanh lên! Cô ta đang chảy máu!”.
Có tiếng cười như điên dại phát ra từ một phía khác và biến thành tiếng la hét khiếp đảm. Dãy hành lang chập chờn trong ánh đèn vàng vọt lờ mờ, khiến cho quang cảnh lại càng thêm hắc ám. Tên cai ngục ngừng lại tức khắc, đẩy tôi trở lại xà lim, khoá lại và chạy vội lên lầu.
Tôi nghe thấy tiếng bước chân của nhiều cai ngục chạy rầm rầm trên lầu và nghe thấy tiếng của tên sĩ quan không quân quát tháo ầm ĩ “Lôi nó ra! Tại sao mày dám tự tử, để đe dọa nền chuyên chính Vô sản hả? Hành động của mày chứng tỏ là mày có tội. Mày sẽ bị trừng trị không chút thương xót!”
Có tiếng khóc nức nở và tiếng nói lầm bầm gì đó của một cô gái. Rồi tiếng bước chân người đi khỏi. Nhà tù lại chìm trong yên lặng.
Lát sau có mụ cai ngục đến từng xà lim bảo tù nhân đi ngủ. Đến chỗ tôi thấy tôi đứng ở cửa sổ, mụ hỏi:
- Tại sao mày đứng đây?
- Tôi đang chờ bị hỏi cung.
- Không có hỏi cung bây giờ nữa! Đi ngủ đi.
Có lẽ những náo động trên lầu đã khiến họ quên tôi đi. Tôi tự hỏi không biết số phận tôi sẽ ra sao nếu cô gái trên lầu đã không chọn đúng lúc đó để đập đầu vào tường tự tử. Phương cách cô ta đã dùng không giúp cô tránh khỏi sự hành hạ ngược đãi nhưng nó chứng tỏ nỗi tuyệt vọng của cô sau khi đã nghe những lời phát thanh lúc nãy. Thật ra, cái ý định tự tử ở nhà tù số 1 rất ít khi thành đạt được. Tôi chỉ nghe được một trường hợp duy nhất thành công là trường hợp một bác sĩ trẻ và có tài – bác sĩ Song – con trai của Phó thị trưởng thành phố Thượng Hải. Người ta cho tôi biết là ông ta đã lấy cái bàn chải chà răng mài cho nhọn đi rồi đâm vào động mạch. Chỉ sau khi Mao chết đi rồi người ta mới được biết là các “ông bà” Cách mạng đã bắt giam ông ta vào nhà tù số 1 để làm áp lực bắt ông ta phải tố cáo chính ông bố mình.
Hôm sau, mãi đến gần trưa, tù nhân mới được ăn. Cũng vẫn chỉ là cơm và rau bắp cải luộc. Đến xế chiều, một bữa nữa. Nhưng lần này là chỉ vài củ khoai luộc. Những ngày sau, quanh đi quẩn lại chỉ sáng cơm chiều khoai. Nhưng khoai chỉ là mấy lát khoai khô mốc đen và luộc lên, thế thôi. Tôi không sao nuốt được và có nuốt được thì cũng cứ anh ách không tiêu hoá được. Tôi đành lòng chỉ ăn một bữa cơm. Bữa khoai chiều đành bỏ. Sau một thời gian cái cảm giác đói thường xuyên hành hạ tôi và không chỉ là đói mà thôi mà là cái cảm giác trống rỗng, cồn cào. Tôi sút cân mau lẹ, thịt da teo đi trông thấy, mắt trũng sâu xuống, và chỉ những hoạt động đơn giản như giặt quần áo cũng làm cho tôi rất mau mệt và rã rời, kiệt sức.
Một vài gã cai ngục cũ không còn thấy xuất hiện nữa. Những cai ngục mới đến thay. Những tên này mang băng tay đỏ của các “ông bà” Cách mạng. Cứ sáng sớm, trưa, tối tôi lại thấy chúng hô lớn tiếng với nhau: “Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại muôn năm!” và đọc các lời dạy của Mao trong tập “Mao tuyển”. Báo chí tường thuật một “nghi lễ” mới được người dân Trung Hoa tuân thủ là “Sáng học hỏi lời dạy của Mao Chủ tịch, trưa căn cứ vào lời dạy của Mao Chủ tịch để tự kiểm hành động của mình, tối báo cáo mọi sự trong ngày”. Tất nhiên, mọi người phải thực hành “nghi lễ” này trước chân dung của Mao. Sáng học hỏi có nghĩa là đọc một số câu trích tuyển của Mao in trong quyển “sách đỏ”. Trưa tự kiểm cũng có nghĩa là mở “sách đỏ” ra đọc vài đoạn. Tối báo cáo cũng chỉ mở quyển sách đó ra đọc vài đoạn.
Tóm lại, hằng ngày mỗi ngày ba lần, mọi người Trung Hoa – có lẽ trừ con nít sơ sinh – đều phải tụng lời của Mao. Trên báo chí có những bài báo bàn xem có nên “tụng” như vậy tại nhà, vào ngày chủ nhật, trong lúc chỉ có một mình không? Kết luận của bài báo ấy là người ta không được phép lơ là với “nghi lễ” đó, dù là đang nằm trên giường bệnh. May thay cho chúng tôi – những tên tù, những kẻ thù giai cấp – đã không phải thực hành cái “nghi lễ” quái gở ấy vì nó là một ưu tiên chỉ dành riêng cho những quần chúng tiến bộ!
Kiểm sát quân sự đã tái lập trật tự trong nhà tù. Không còn cái cảnh đánh lộn, cãi lộn với nhau giữa đám cai ngục. Và bọn này đã mau chóng thực hiện công tác một cách “có chất lượng cao”. Nhưng cũng chính vì vậy mà không khí ngột ngạt hơn. Cai ngục không còn dám nói chuyện đùa dỡn với nhau như trước đây. Nếu chỉ có một mình cai ngục với tù nhân thì y tỏ ra thoải mái. Nhưng nếu có hai cai ngục làm việc cạnh nhau thì dường như họ canh chừng nhau như thể người nọ sợ người kia báo cáo mình với ban kiểm sát quân sự.
Có nhiều mục mới dành cho tù nhân ngoài mục giảm và thay đổi giờ ăn. Chẳng hạn, mỗi buổi sáng, tất cả các tù nhân phải nghe đọc báo cáo, trước hết từ đài phát thanh Bắc Kinh, kế đó từ đài phát thanh thành phố Thượng Hải. Tiếp theo là danh sách những tù nhân được hưởng “khoan hồng” và những tù nhân bị “nghiêm trị”. Mục đích là để thúc đẩy tù nhân tự thú. Khi đang phát thanh như vậy, các cai ngục đi tuần, dòm vào từng xà lim để đảm bảo là tất cả các tù nhân chăm chú nghe.
Một cái loa đặt ngay trước cửa xà lim của tôi. Âm thanh phát ra làm cho tôi đinh tai nhức óc, nhưng có cai ngục nhòm chừng nên tôi không dám bịt lỗ tai lại để bớt bị âm thanh ấy hành hạ. Chủ nhật kế đó, tôi mượn cây kéo cắt một miếng vải nhỏ, gỡ ra từng sợi vê thành một cục tròn tròn nho nhỏ và nhét vào lỗ tai khi đến giờ phát thanh. Tuy nó không ngăn được hết tiếng ồn, nhưng cũng đỡ, cũng còn chịu đựng được.
Thỉnh thoảng tôi cũng bị gọi lên phòng điều tra để được học tập chính trị đặc biệt và được “các vị” cai ngục mà kiểm sát quân sự tin cậy điều tra. Tôi thấy hình như chỉ có một số tù nhân đặc biệt nào đó được tuyển chọn mới được hưởng (hay bị) chế độ đối xử này. Không biết có phải vì chúng tôi – những kẻ được “tuyển” – là những kẻ thù giai cấp bị căm thù nhất hay vì chúng tôi là những tên ngoan cố nhất, tôi cũng không biết. Và chẳng có cách nào để biết. Các cai ngục đã dùng cơ hội này để mặc sức thóa mạ tôi, gọi tôi là “đồ bóc lột công nhân một cách bẩn thỉu” hoặc “đồ chó săn của bọn đế quốc ngoại bang”. Họ tấn công tôi vì cái gốc gác lý lịch gia đình của tôi, vì tôi đã làm việc cho hãng Shell và vì tôi “ngoan cố không chịu cải tạo”, nghĩa là tôi không chịu thú tội. Họ dồn dập đặt những câu hỏi không để cho tôi trả lời. Họ cứ hăm he, nào là đem ra xử bắn, nào là sẽ cầm tù tôi suốt đời trong xà lim…
Tôi sớm nhận ra rằng họ không cần tôi làm cái gì khác ngoài việc ngồi nghe cai ngục cứ thay nhau nói, thi nhau nói từ lúc tôi đặt chân vào phòng thẩm vấn cho đến lúc tôi được dắt trở lại xà lim. Sau vài lần thẩm vấn như vậy tôi phát hiện ra là những cuộc thẩm vấn này thực chất là để họ “trình diễn” cái thành tâm thành ý của chính họ cho các “ông bà” Cách mạng xem vậy thôi. Bị đưa lên đó để làm cái sân khấu cho họ “biểu diễn” các “cử động”, tôi đã đi đến kết luận là thì ra chính các vị cai ngục tiến bộ này trong thâm tâm cũng không cảm thấy an tâm – mặc dù bên ngoài thì tỏ ra rất tin tưởng – trong bầu không khí đầy nghi ngờ, đố kỵ do Cách mạng Văn hóa tạo ra. Cũng phải thôi, vì ai mà an tâm mỗi khi mà ngay cả những lãnh tụ gộc của Đảng đã dày công hãn mã và từ lâu được Đảng tin cậy – ấy vậy mà trong đầu hôm sớm mai đã bị kết án là “kẻ thù dấu mặt của Chủ nghĩa Cộng sản”, “những kẻ đã giương lên ngọn cờ đỏ để chống lại ngọn cờ đỏ“.
Một hôm, các tù nhân được ra ngoài để tập thể dục. Khi tôi ra khỏi khu giam giữ tù phụ nữ, tôi đã trông thấy cựu giám đốc Liên và nhiều người khác nữa đang đào xới các luống hoa để bỏ đi. Quang cảnh này chẳng làm cho tôi ngạc nhiên vì một ngày trước đó, tôi đọc báo thấy Mao tuyên bố là hoa hoét và các thứ đồ trang trí chỉ làm suy yếu và xói mòn tinh thần cách mạng của quần chúng. Cũng bài báo đó nói rằng ngay tại hoa viên riêng của Mao tại cung điện cũ của hoàng đế Trung Hoa – tức là khu Trung Nam Hải – thì chỉ có trồng cây táo và hoa hướng dương vì giá trị kinh tế của nó. Trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, sự tôn thờ cá nhân Mao đã lên tới mức mỗi lời nói của Mao – dù là chẳng có nghĩa lý gì cả – cũng được sốt sắng triển khai thực hiện. Ngược lại, không ai dám làm gì nếu chưa được Mao chỉ đường chỉ cách cho.
Cách chỗ cựu giám đốc Liên một khoảng xa, tôi thấy những người đàn bà khác đang quét đường hoặc gánh nước vào trong bếp. Cứ nhìn vào cách làm việc lóng ngóng của họ thì biết ngay đó là các trí thức của Đảng tại nhà tù này – cũng như cựu giám đốc Liên ấy – đang được cải tạo bằng lao động chân tay. Chính Mao đã nói là một người càng hiểu biết nhiều bao nhiêu càng phản động bấy nhiêu trừ khi hắn ta tự thanh tẩy mình bằng sự tận lực lao động chân tay.
Mấy năm sau tôi được nghe nói là trong thời kỳ có cuộc Cách mạng Văn hóa, hàng triệu, hàng triệu đàn ông, đàn bà đã được lệnh bỏ công việc đang làm ở thành thị về nông thôn để tự cải tạo qua lao động tay chân. Những trí thức nào được phép ở lại thành phố thì cũng bị chỉ định phải làm những công việc của lao động tạp dịch trong cơ quan của mình. Cũng chính vì vậy mà trong thời gian ấy, các bác sĩ y khoa phải đổ bô trong nhà thương, các giáo sư phải rửa cầu tiêu cầu tiểu trong các trường đại học, các nhạc sĩ, nghệ sĩ đi làm thợ nề xây tường hoặc đi quét đường, sửa đường. Trong thời gian làm những công việc như vậy họ cũng phải tham dự các cuộc mít tinh, tự “thú tội” của mình. Sự lăng nhục mà Mao đã dành cho giới trí thức Trung Hoa lên đến mức chưa từng có trong lịch sử và nó đến mức tàn bạo trong cuộc Cách mạng Văn hóa. Nó đã gần như phá hủy lòng tôn kính mà truyền thống Trung Hoa đã dành cho “kẻ sĩ”. Trong thời kỳ đó nếu một người nào bị bắt gặp đọc một cuốn sách nào không phải là do Mao viết ra thì có thể bị khép vào tội chống Mao.
Ra đến sân tập thể dục, các cai ngục bảo tôi lấy tay không mà làm cỏ. Bấy giờ là mùa đông nên chỉ có những chỗ mé chân tường có ánh mặt trời rọi vào thì mới có cỏ ngăn ngắn nhú lên. Và đất thì khô cứng lại. Tay không mà làm cỏ trong những trường hợp như vậy thì làm chậm. Khi cai ngục trở lại, hắn đá vào dúm cỏ mà tôi vừa làm, gom lại thành đống nho nhỏ mà quát lên: “Mày làm như thế đấy hả? Sao không nhổ cả rễ lên?”.
- Tôi không có đồ gì hết làm sao mà nhổ cả rễ lên?
- Thế mày cụt tay à? Nhổ rễ lên bằng tay mà không được à? Đồ lười biếng.
Hắn lại đá tung đống cỏ lên cho vương vãi tứ tung. Khi tôi đứng lên tôi thấy xây xẩm cả mặt mày, suýt té. Tuy nhiên tôi cũng loạng choạng bước theo hắn trở về xà lim được.
Có hai tên lính đứng ở hành lang. Cửa phòng xà lim của tôi bị mở tung ra. Tôi thấy mụ cai ngục “tiến bộ” đang lục xét đồ của tôi. Mền, chiếu gối… vứt bừa bãi trên nền nhà bụi bậm. Mụ lôi và ném tung những gì đựng trong túi xách bằng vải của tôi. Trông thấy tôi, mụ túm ngực áo tôi và lôi xồng xộc vào xà lim.
Cởi áo ra, - mụ quát tôi, khi tôi vừa cởi nút áo xong thì mụ lột áo tôi ra ném xuống nền nhà. Nắm vai tôi, mụ kéo tôi vào góc xà lim và xoay úp mặt tôi vào tường. Tôi đứng đó run rẩy và ho. Sau khi đã khám xét xong cái áo của tôi, mụ lại quát “cởi quần ra”. Trước khi cởi quần ra, tôi nói:
- Xin vui lòng cho tôi mặc áo vào trước khi tôi cởi quần ra. Tôi đã bị cảm lạnh rồi.
- Mày vẫn còn giữ cái thói nuông chiều dung dưỡng thân xác. Đời sống trong tù này không làm thay đổi mày được tí nào hay sao? Tao thấy là có cởi áo và quần ra thì mày cũng chẳng chết vì lạnh đâu. Cởi quần ra!
Tôi vừa mỉm cười khinh bỉ vừa ho trong lúc mụ khám xét cái quần của tôi. Rồi mụ cũng ném cái quần xuống sàn và chế nhạo tôi. Mụ xé những miếng giấy vệ sinh tôi dán lên tường chỗ phía sát giường tôi, và cố ý dẫm đạp lên quần áo, mùng mền của tôi. Mụ lấy chân đá miếng vải tôi vẫn dùng để che mắt cho khỏi chói mắt. Mụ đá nó ra khỏi xà lim. Đi ra và khóa cửa xà lim lại. Tôi nghe thấy tiếng mở khóa xà lim bên cạnh và tiếng quát tháo ra lệnh cho tù nhân trong xà lim: “Lại đây”.
Tôi lượm áo quần lên và mặc vào. Tôi ngồi xuống giường để trấn tĩnh lại cho bớt run và tim bớt đập trước khi lượm những thứ khác bị vứt tung tóe bừa bãi trên nền nhà và phải phủi bụi đi, sạch được chừng nào hay chừng đó. Hôm sau, khi có cơm, tôi lấy một nhúm để làm hồ dán lại mảnh giấy vệ sinh trên tường. Đó cũng là một hy sinh lớn vì mỗi hạt cơm bây giờ là rất cao quí cho sự sống còn của tôi. Và để làm một cái che mắt khác, tôi phải đợi đến chủ nhật mới mượn được kim chỉ để may.
Lục soát các xà lim của tù nhân đã trở thành một qui lệ. Sự lục soát ấy do các mụ cai ngục thực hiện bất thường chứ không theo một thời biểu cố định nào. Tuy nhiên, cai ngục nào thì cũng giống cai ngục nào. Tôi đã phải dán giấy lên tường, làm băng che mắt nhiều lần, cứ mỗi lần là tôi lại phải đếm từng hột cơm để sao cho vừa đủ dán chứ không để dư một hột.
Sau khi bị ho suốt đêm và không tài nào ngủ được vì nhức đầu quá, hôm sau hầu như tôi không còn đủ sức để ra khỏi giường. Cố gắng lắm tôi mới đi ra được đến cửa sổ và lên tiếng “báo cáo”.
Một cai ngục dịu dàng mở cửa sổ nhỏ ra.
- Tôi chắc là bị bệnh. Cho tôi gặp bác sĩ, được không?
Mụ lấy một cái cặp nhiệt độ và đặt vào miệng tôi. Sau ít phút, lấy ra, mụ nhìn kỹ và nói:
- Mày bị sốt! Sốt cao lắm!
Mụ cho tôi hai viên aspirine và bảo uống nhiều nước, tôi đợi bác sĩ hoài nhưng ông ta không tới. Ngay lúc mụ cai ngục hết phiên trực, tôi lại nói xin gặp bác sĩ nữa. Sau một phút có vẻ ngần ngừ, mụ nói: “Bác sĩ đã về nông thôn để học tập lao động cải tạo rồi. Tao cũng không biết chừng nào ông ấy sẽ quay trở lại. Cũng có thể sẽ có một bác sĩ khác đến. Ngày mai báo cáo lại. Nếu mày cảm thấy khó chịu thì cứ lên giường nằm”. Mụ cho tôi thêm hai viên aspirine nữa. Được lên giường mà nằm lúc đó thì còn gì bằng. Nhưng đầu tôi nhức như búa bổ. Thân thể tôi run lên cầm cập và tôi biết mình bị sốt dữ lắm. Tôi vẫn nghe thấy tiếng hai cai ngục bàn giao ca trực cho nhau và tiếng họ “chào” nhau: “Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại muôn năm!”. Tiếng bước chân của cai ngục mới thay ca gõ trên hai hành lang và đang đi về phía tôi, vừa đi vừa dòm qua của sổ xà lim để kiểm tra tù nhân – mỗi cửa sổ chỉ đứng lại dòm một cái lại rảo bước đi ngay. Khi tới xà lim của tôi, mụ quát lên:
- Sao, đã nằm khểnh rồi kia à? Mày thật không chừa được cái thói dung dưỡng xác thịt, đứng dậy! Chưa đến giờ ngủ. - Qua giọng nói tôi nhận ra đây chính là mụ cai ngục đã lục soát quần áo của tôi.
- Tôi bị bệnh. Vị giám thị lúc nãy đã cho phép tôi lên giường nằm!
Tôi định cứ nằm ì trên giường trừ phi bị bắt buộc phải ra khỏi giường. Nhưng mụ cũng chẳng buồn đặt chân vào xà lim. Mụ đứng đó một chút rồi quay lưng đi. Lát sau tôi thấy mụ quát tháo những tù nhân khác trên lầu.
Sáng hôm sau một gã thanh niên đã đem thuốc xuống cho tôi. Tôi nói với gã tôi bị nóng sốt dữ dội và bị ho từ hai tháng nay. Gã nói: “Có lẽ mày bị viêm gan. Trong trại giam này có nhiều người bị như vậy lắm. Để tao lấy máu, thử”.
Tôi ngạc nhiên. Dù ngu dốt chẳng biết tí gì về y khoa thì cũng có thể biết là tôi bị viêm cuống phổi hoặc bị viêm phổi chứ không phải bị viêm gan. Triệu chứng bệnh viêm gan hoàn toàn khác với triệu chứng bệnh tôi hiện nay. Gã thanh niên này là loại “bác sĩ” gì vậy? Tôi dòm qua cửa sổ thấy đó là một gã nhà quê, chưa quá hai mươi tuổi, mặc quân phục. Tôi cho là gã chẳng có được học hành, huấn luyện y khoa gì cả mà vẫn cứ được giao công việc này. Bởi vì, Mao Trạch Đông đã nói “cứ làm đi, sai thì sửa, vừa làm vừa học. Ta học bơi bằng cách cứ bơi đại đi”. Cứ theo lời “dạy” ấy mà những người chẳng có chút xíu hiểu biết nào về chuyên môn, nhưng đáng tin cậy về mặt chính trị, vẫn được giao những công việc đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật. Chắc gã thanh niên này cũng áp dụng lời của Mao “học làm bác sĩ bằng cách cứ trở thành bác sĩ!”
Trên báo chí có nhiều bài tường thuật nhiều trường hợp các lao công tạp dịch trong nhà thương không có tí ti chuyên môn nghiệp vụ nào, nhưng chỉ nhờ đọc các lời dạy của Mao Trạch Đông mà vẫn giải phẫu thành công trong nhiều ca mổ. Trong một ca mổ, để chứng tỏ tính chất thần diệu lời dạy của Mao, các “ông bà Cách mạng” đứng đọc lời dạy của Mao trong khi các ông bà “bác sĩ” không hề được huấn luyện giải phẫu cho bệnh nhân! Tuy nhiên, khi chính bản thân Mao hoặc một đấng lãnh tụ gộc cần chăm sóc sức khỏe thì lại cứ nhất định đòi cho bằng được các bác sĩ tốt nghiệp bên Tây trước thời Đảng cộng sản nắm chính quyền ở Trung Hoa, chứ không chịu cho mời mấy bác sĩ “vừa làm vừa học” của họ. Trong nhiều trường hợp những chuyến chuyên cơ được phái đến tận nơi “bốc” ông bác sĩ tốt nghiệp đại học phương Tây và đang được đi học tập cải tạo ở một nơi xa xôi nào đó, đưa về Bắc Kinh để chữa bệnh cho các vị đó.
Vị “bác sĩ” trẻ tuổi của nhà tù đã đưa tôi đến một phòng dành riêng cho cai ngục. Trong phòng có lò sưởi ấm áp, đầu óc tôi cũng bớt nhức, cơ thể tôi bớt run. Sau khi mở đồ nghề, lấy ống chích ra, gã bảo tôi săn tay áo lên. Cắm cây kim vào tay rồi mà thò thụt, dò dẫm mãi gã vẫn không tìm ra mạch máu. Sau mấy lần rút ra đâm vô, khoảng thịt chỗ đó đã bầm tím và tôi đau chết đi được. Rõ ràng là gã bực bội. Mồ hôi nhỏ giọt trên trán. Tay gã run run. Tôi thấy tội nghiệp cho chú em này vì bị ép làm một công việc quá khả năng mình. Tôi biết, nếu tôi không tìm cách trấn an gã, có thể gã còn làm cho cánh tay tôi thêm đau hơn nữa. “Mạch máu của tôi nhỏ lắm. Ông bác sĩ chích “ven” cho tôi cũng thấy khó!” Tôi nói thế để làm cho gã thêm tự tin và bớt run. Hắn liếc nhìn tôi một cái với cái vẻ biết ơn và tôi nín thở để gã thử thêm một lần nữa. Sau cùng thì gã cũng tìm được mạch máu và rút đầy một ống chích.
Qua mấy ngày sau, cơn sốt nóng của tôi dữ dội đến nỗi trong xà lim lạnh lẽo như thế mà tôi không thấy lạnh nữa thì đủ biết. Cai ngục cho phép tôi nằm trên giường. Ngày hai lần, - dưới sự giám sát của cai ngục đứng ngoài cửa sổ dòm vào – cô gái bị lao động cải tạo đã được phép đem cháo và nước nóng vào xà lim cho tôi. Trong suốt thời gian ấy tôi nằm li bì, nửa tỉnh nửa mê, thấy mình bồng bềnh trôi ra trôi vào xà lim xuyên qua các khe song cửa sổ, cứ như thể mình là hồn ma bóng quế không bằng. Một buổi sáng, gã “bác sĩ” trẻ tuổi kia quay lại nói: “Mày không bị viêm gan. Có lẽ là bị sốt ho lao. Cũng có nhiều tù nhân bị ho lao lắm, mặc áo vào. Mày có thể được chở đi nhà thương để “xạ trị” (fluoroscope)”. Mặc dù tôi biết chẳng phải tôi bị ho lao nhưng tôi cũng lấy làm mừng đón nhận cái ý kiến đưa tôi đi nhà thương.
Đến chiều, mụ cai ngục đến mở cửa xà lim bảo tôi đi ra. Tôi yếu quá, bước đi chuệnh choạng, xiêu vẹo. Nhưng mụ cũng không quát tháo hoặc hối thúc tôi đi nhanh – lối ra vào trại giam, một gã cai ngục, tay cầm cái còng số tám đứng đó chờ sẵn. Mụ cai ngục hất đầu ra dấu và nói nhỏ: “Yếu sức quá!”. Tôi không hiểu mụ nói vậy là có ý nói tôi yếu quá không đủ sức trốn dọc đường cho nên khỏi cần phải còng tay hay là tôi quá yếu nên họ phải lưu ý đến tôi. Nhưng gã cai ngục vẫn cứ còng hai tay tôi. Chiếc xe Jeep sơn đen đã đậu sẵn trước sân. Tôi và mụ cai ngục lên xe.
Lối đi vào nhà ngục đã quá thay đổi so với mười sáu tháng trước khi tôi bị chở đến đây lần đầu. Chỗ nào bây giờ cũng lòe loẹt màu sắc và tíu tít hoạt động. Nhưng tấm bảng sơn đỏ gắn trên những cây cọc ghi những “lời dạy” của Mao về việc tiêu diệt kẻ thù giai cấp được đặt dài dài bên những gốc cây dọc theo bên đường. Nhưng tấm bảng ấy được đặt ngoảnh ra cổng có lẽ để cho đập ngay vào mắt tù nhân vừa bị xe chở đến đây. Những tấm băng vải đỏ chăng ngang trại lính gác tù. Trên những tấm băng này là các khẩu hiệu viết chữ lớn màu vàng “Đả đảo đế quốc Mỹ!” – “Đả đảo bọn xét lại Xô Viết!”- “Giải phóng Đài Loan!”. Những hình nhân làm bia tập bắn cho lính gác tù đều mang những tên của Tổng thống Mỹ, Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản Liên Xô, nhà lãnh đạo Quốc Dân Đảng ở Đài Loan. Bọn lính tập đâm lê vào những hình nhân ấy. Cứ mỗi khi đâm một nhát lê vào hình nhân thì cả bọn lính đều đồng thanh hét lên “giết! giết! giết!”
Dưới bầu trời u ám, phố xá Thượng Hải nom hoang vắng, điêu tàn. Dọc theo con đường từ nhà tù số một, xuyên qua thành phố đến bệnh viện của nhà tù Thúy Lan Kiều, tôi chỉ thấy một số ít người co ro trong tấm áo ngự hàn mong manh để chống lại ngọn gió bấc lạnh thấu xương. Tôi mệt quá. Nhưng đã lâu không được nhìn lại phố xá nên cũng gắng để nhìn xem những đổi thay của cuộc Cách mạng Văn hóa đã tạo ra như thế nào. Tôi hy vọng những cái mà tôi thấy cũng cho tôi hình dung được – dù chỉ là những bóng dáng rất mờ nhạt – đời sống của con gái tôi trong hoàn cảnh này.
Rõ ràng là đâu đâu cũng thấy những dấu vết của sự tàn phá: những tòa nhà tróc lở, đổ vỡ, những khung cửa sổ cháy đen, cây cối bụi kiểng tróc góc chỏng chơ, những xe cộ bị phá phách… Rác rến cuốn lên theo cơn gió. Những khuôn mặt tái ngắt, cúi gằm xuống lúi húi đào bới đống rác hi vọng tìm được một cái gì đó. Đèn giao thông ngưng hoạt động. Khẩu ngữ và các “lời dạy” của Mao dán kín các bức tường của các tòa nhà tôi đi qua, dán cả hai bên sườn xe cộ. Cũng có đôi ba người đứng túm tụm bên lề đường nói năng chuyện trò gì đó. Thay vì cảnh sát, quân đội có vũ trang đi tuần tiễu trên đường. Chúng tôi đi qua một chỗ có nhiều xe tải trên đó có “các ông các bà Cách mạng” đội nón sắt, tay mang vũ khí hoặc gậy sắt, miệng hô khẩu hiệu om sòm. Chắc là sắp sửa đi “hành động Cách mạng” để chống lại băng phái đối nghịch nào đó. Chân dung Mao Chủ tịch đặt trong những khuôn gỗ thật lớn được đặt ở mỗi góc phố chính. Chân dung của một ông già được vẽ sao cho nom trẻ trung, khỏe mạnh, béo tốt (đối với người Trung Hoa, béo tốt là dấu hiệu của một con người có hạnh phúc). Những bức chân dung ấy trái ngược một cách mỉa mai với mặt mày xanh xao, hình dạng tiều tụy của những người lặng lẽ, lờ đờ đi bên đường.
Thúy Lan Kiều là tên một quận, nơi có nhà tù chính của Thượng Hải. Danh xưng này cũng được dùng để gọi chính nhà tù đó. Khu nhà tù rất rộng có đến mấy mẫu tây. Bị đưa về đây là những người đã bị giam qua nhiều nhà tù khác của Thượng Hải đã bị xét xử, có án rồi. Tù nhân ở đây gồm cả tù chính trị lẫn tù thường phạm cũng có nhưng đều là những người không thích hợp để đưa đi các trại lao động cải tạo ở các nơi khác. Hoặc vì các tù nhân ấy có tay nghề chuyên môn cao có thể dùng được trong các cơ xưởng nhà tù. Không ai biết rõ số tù nhân trong nhà tù ấy, nhưng nhiều người tin rằng có ít ra là hai chục ngàn nam, nữ tù nhân làm trong các cơ xưởng của nhà tù, để sản xuất ra từ cái máy tính điện tử thô sơ cho đến cái nút áo. Có nhiều món hàng sản xuất tại nhà tù này được đem xuất khẩu trên thị trường thế giới.
Bệnh viện của nhà tù được đặt bên trong khu nhà tù. Tôi nhận thấy an ninh ở đây chặt chẽ hơn nhà tù số 1. Chiếc xe Jeep chở tôi phải qua hai trạm kiểm soát – mỗi trạm, giấy tờ được xem xét rất cẩn thận trước khi được phép đi qua một cổng sắt lớn có nhiều lính võ trang đứng gác. Lính gác nhìn vào xe chở tôi cũng đeo súng lục đàng hoàng. Toàn bộ khu nhà tù nom ảm đạm, buồn thảm, không một bóng cây bụi kiểng. Khu nhà tù gồm nhiều dãy nhà trong đó tiếng máy chạy rầm rầm, nhiều dãy nhà để làm phòng điều tra và các văn phòng. Nơi nào cũng chằng chịt, kín mít những thông cáo và nhất là tiêu ngữ viết bằng những màu mạnh tố cáo kẻ thù giai cấp và thúc đẩy tù nhân lao động sản xuất và coi đó như biện pháp cải tạo tốt nhất. Cách đó một quãng xa là một tòa nhà sáu tầng. Cửa sổ bằng gỗ sơn đen đóng kín mít. Tôi chắc đó là chỗ tù nhân ngủ.
Mụ cai tù của nhà tù số 1 dẫn tôi đến bệnh xá. Các bức tường bên trong của bệnh xá cũng đầy những khẩu hiệu và những “lời dạy” của Mao. Những người làm công tác “trang trí” cũng trang trí “đến nơi đến chốn” bởi vì ngay cả kính cửa sổ cũng vẽ chân dung của Mao nữa kia mà. Dưới chân dung đó là một trái tim rướm máu có mũi tên xuyên qua và viết chữ Trung bên cạnh (tỏ ý Trung thành, Trung tín với Mao).
Chỉ có hỏa ngục mới có thể sánh được với phòng đợi của bệnh xá nhà tù, mặc dù nơi đây không có dã thú cắn xé người ta, không có vạc dầu sôi, không có lò lửa. Đây là hỏa ngục của nghèo đói, của đau thương câm nín. Nơi đây, lúc nhúc những con người áo dơ bẩn, rách tả tơi. Nỗi đau đớn và sự hấp hối hiện rõ trên nét mặt. Bất kể vì bệnh tật hay vì đói khát hay vì cả hai thứ, tất cả họ đã đều vượt quá cái giai đoạn mà những người thày thuốc giỏi nhất, tận tâm nhất cũng đành bó tay. Tôi đã nghe thấy tỉ lệ người chết rất cao ở nhà tù Thúy Lan Kiều này. Nay tôi mới được chứng kiến sơ sơ những trường hợp góp phần nâng cao tỉ lệ ấy.
Ngoài những khuôn mặt cúi gục trên những cái ghế dài còn có những người quấn tấm mền dơ bẩn nằm la liệt trên nền nhà. Ngay trước một cái ghế mà mụ cai ngục bảo tôi ngồi xuống đó, cũng có một bà già tóc rụng hết, trơ cái sọ dừa nhẵn thín. Nếu không có những cơn co giật liên hồi và hơi thở dồn dập đến nỗi phải há miệng ra mà thở thì phải nói đó là một cái xác chết. Hai mắt nhắm nghiền, nước da vàng bủng căng lên vì phù thũng.
Mọi cửa sổ đều đóng nên trong phòng nồng nặc mùi hôi thối do phân và nước tiểu của các bệnh nhân bất tỉnh nhân sự vung vãi ra đến nỗi nghẹt thở. Tôi phải nhắm mắt lại để khỏi nhìn thấy cái cảnh quá ư thê thảm và đồng thời nín thở trong lúc chờ đợi đến lượt khám bệnh.
“Số 1806!”, cô hộ lý lên tiếng gọi. Cái mũ nghề nghiệp trên đầu cô ta trước kia màu trắng nhưng đã rách và ngả màu mà bây giờ ta cũng khó xác định được nó là màu gì và nó dơ bẩn quá. Tôi theo cô hộ lý đi vào phòng khám, ở đó mụ cai ngục của nhà tù số 1, người đã dẫn tôi đến đây, đang ngồi nói chuyện với một bà bác sĩ trạc tuổi trung niên. Trong văn phòng rộng ấy có một cái lò trên có ấm nước sôi. Quanh cái lò ấy là bàn làm việc của các bác sĩ khác đang khám bệnh cho các bệnh nhân. Thôi thì chẳng còn cái e thẹn thông thường truyền thống Trung Hoa nữa. Bệnh nhân, đàn ông cũng như đàn bà, đều cởi hết quần áo, đứng tô hô trần truồng trước mặt mọi người. Những câu hỏi – đáp giữa thầy thuốc và bệnh nhân nghe rõ mồn một. Lúc đó, tôi nghĩ rằng cái lối khám bệnh thô bỉ này sở dĩ được thực hiện và cả người thầy thuốc lẫn con bệnh đều không được coi là con người nữa. Nhưng sau khi tôi được thả ra, tôi được biết là trong thời Cách mạng Văn hóa, ở tất cả các nhà thương Thượng Hải, lối khám bệnh này đã được áp dụng rộng rãi. Và tất cả các nhà thương ở Thượng Hải cũng đều suy thoái đến mức đó. Ôi, Cách mạng Văn hóa!
Tôi đang mải mê suy nghĩ xem phải nói thế nào với các thầy thuốc nếu họ bảo tôi phải cởi hết quần áo ra thì bác sĩ đã đưa cho tôi một ống đo nhiệt độ. May quá, bà ta chỉ bảo tôi có vậy thôi chứ không bắt tôi cởi quần áo ra. Nhìn nhiệt độ bà bác sĩ quay ra nói với mụ cai ngục: “Người này sốt cao lắm, nên để cho nằm lại đây ít ngày. Nằm ở lầu năm. Tôi nghĩ là bà ta đi không nổi, chắc phải cho cáng đi”.
- Xin cứ để tôi cố đi thử, - tôi nói với bà bác sĩ. Cứ nghĩ đến việc phải nằm trên những cái cáng dơ bẩn kinh khủng ấy cũng đủ làm cho tôi chết khiếp.
Mặt bà bác sĩ đã hằn sâu những nếp nhăn. Mớ tóc mai hai bên thái dương của bà đã bạc… Đôi mắt hiền hậu của bà lộ rõ lòng từ tâm và sự hiểu biết thông cảm. Có lẽ bà cũng nhận ra sự ngần ngại của tôi là vì cái cáng quá ư dơ dáy, vì vậy bà quay ra nói với mụ cai ngục “chị có thể dùng thang máy của nhân viên. Như vậy hơn là chờ cáng. Bà ta bệnh dữ lắm. Có lẽ là sưng phổi!”
Mụ cai ngục dẫn tôi đến trị bệnh ở lầu năm. Sau khi cẩn thận dặn tôi không được trò chuyện với ai về trường hợp của tôi, mụ nói khi nào có cai ngục khác dẫn tù tới đến khám bệnh, mụ sẽ gởi cho tôi thau rửa mặt, ca uống nước và các thứ đồ dùng cá nhân cần thiết khác. Rồi mụ giao tôi cho một cô gái trẻ có gắn tấm phiếu “tù cải tạo lao động” trên ngực áo. Tên lính gác đứng đó nhìn chúng tôi chòng chọc.
Thật sung sướng biết chừng nào khi cái thân thể nóng hầm hập và cái đầu nhức như búa bổ của tôi lại được nằm trên cái giường được gọi là cái giường. Tấm vải phủ giường tuy là vải thô nhưng sạch sẽ. Mặc dù phòng lạnh lẽo nhưng nệm dày. Tôi cởi quần jean và áo ngoài ra, chỉ mặc áo lót và quần dài mỏng. Cô gái tù cải tạo đem đến một cái gối khác nữa đặt ngang giường. Tôi nằm xuống và lập tức ngủ thiếp đi ngay.
Suốt mấy ngày hôm sau, tôi mê man bất tỉnh, chỉ thỉnh thoảng mơ hồ thấy lờ mờ quanh mình. Nhưng thấy thì thấy, cũng chỉ như trong cơn mơ mà thôi. Khi tôi tỉnh lại, tôi thấy tay mình bị cột vào giường, một cây kim cắm vào tay và chai nước biển treo lủng lẳng trên một cái giá. Đó là cách cung cấp thức ăn cho tôi. Cô gái tù cải tạo nhét ống đo nhiệt vào miệng tôi. Khi cô ta thấy tôi mở mắt ra và đã tỉnh, cô đã tháo cây kim và đem tất cả đi. Mặc dù tôi đã tỉnh lại nhưng tôi cảm thấy thân thể rã rời, yếu ớt và ngầy ngật. Một lát sau cô gái tù cải tạo trở lại bưng bát cháo nóng và nói với tôi: “Ăn đi”.
Mặc dù cánh tay tôi tê dại, cứng đờ, tôi cũng cầm được chén cháo một cách vững chắc. Ngẩng đầu lên, tôi húp chén cháo, mùi vị cháo thật khác thường. Thì ra đó chỉ là sữa đậu nành. Từ lâu tôi chẳng biết mùi vị miếng đường nó ra làm sao nên lúc uống sữa đậu nành có đường, tôi không cảm nhận ngay được vị ngọt.
Cũng có thể miệng lưỡi tôi đắng, chát ngắt vì mấy ngày liền có chà răng súc miệng gì đâu.
Tôi cảm thấy đã khá hơn. Tôi không còn thấy hoa mày, chóng mặt, đầu óc quay cuồng nữa. Đầu óc đã tỉnh táo hơn. Tôi đặt tay lên trán và cảm thấy đã mát mát hơn và xâm xấp mồ hôi. Cô gái tù cải tạo trở lại. Tay cầm ống chích trong đựng thuốc gì màu trắng đục. Cô ta bảo tôi nằm sấp. Tôi cố gắng nằm lật lại đồng thời nhớ tới gã “bác sĩ quân y” trẻ tuổi ở nhà tù số 1. Nhưng tôi chẳng cảm thấy đau gì cả vì cô ta chích rất nhanh và thành thạo. Cô ta đi đứng cũng nhanh nhẹn gọn gàng hệt như những y tá chuyên nghiệp, được huấn luyện kỹ và tự tin vào nghiệp vụ của mình. Tôi tự hỏi, và trong lòng cảm thấy buồn thấm thía, không hiểu nguyên nhân nào đã khiến cô gái phải làm tù cải tạo trong bệnh xá của nhà tù này.
Đến bữa cơm chiều, cô mang đến cho tôi một chén cơm, một đĩa rau lại có con cá nhỏ chiên vàng dằm trong chén nước tương có hành, tỏi. Tôi ăn con cá đó và nhớ đời. Chao ôi, sao mà ngon thế. Trong suốt đời tôi chưa bao giờ cảm thấy ăn ngon như khi ăn con cá đó mặc dù trước kia tôi đã từng ăn sơn hào hải vị. Tôi ăn hết tất cả những gì cô gái đó đem đến cho tôi. Những đồ để đánh răng rửa mặt của tôi cũng được đặt trên cái ghế nhỏ cạnh giường. Dưới gầm giường là cái bô nhưng tôi vẫn cố gắng đi ra cầu tiêu, để đi tiêu, tiểu.
Sau khi cô gái tù cải tạo đem khay thức ăn trống đi, tên lính khóa cửa sắt ngăn trại bệnh và rút về phòng dành cho y ở cách đó không xa. Một người đàn bà nằm ở giường khác đến giường tôi lân la trò chuyện.
- Chị bất tỉnh nhân sự luôn một mạch sáu ngày liền. Tụi nó nghĩ là chị sắp chết. Bây giờ chị cảm thấy đã khá chưa?
Bà ta gầy đét, khô như con mắm, hai má hóp lại, nước da khô và lợt lạt nhưng đôi mắt còn sáng. Bà ta bận chiếc áo ấm nhưng vá đùm vá đụp. Nom dễ thường bà ta đã đến tuổi sáu mươi nhưng nghe tiếng nói thì chừng như mới chỉ ba mươi. Giọng nói thì thào và chốc chốc lại lấm lét nhìn ra phía cửa. Tôi gật đầu và mỉm cười với bà ta, sung sướng vì có một người bạn nhưng còn quá yếu nên chưa thể trò chuyện gì được. Bà ta ngồi cạnh mép giường tôi.
- Chị vừa mới được chuyển đến Thúy Lan Kiều này hả? Chị bị kết án từ hồi nào vậy?
Nhớ lời cảnh báo của mụ cai ngục: “Chớ có nói năng với ai về trường hợp của mình” nên tôi không nói gì mà chỉ mỉm cười.
- Đừng sợ! Em không báo cáo chị đâu! Ở đây các tù nhân đều bảo vệ lẫn nhau, chị biết vậy không? - Ngưng một chút, chị ta lại hỏi – “Chị bị ho lao hả? Đây là trại bệnh ho lao. Bởi vậy mà mình được ăn uống khá hơn chút xíu. Nhưng ngày mai em phải trở về xà lim rồi vì em lại không còn thổ huyết nữa. Khi nào bệnh tình của em trở lại và chỉ chích thuốc streptomycine. Họ chẳng muốn chữa trị cho mình đâu. Có điều là họ không cho mình chết”. Chị ta thở dài.
Tôi thấy có cảm tình với chị ta nên đã nói: “Tôi thật lấy làm buồn cho chị vì chị bị lao!”
- Sớm hay muộn – chị ta đáp – rồi mọi người cũng sẽ phải nhập trại. Thật, không thể tránh được. Tù nhân truyền bệnh cho nhau. Trong xà lim của em, hai chục người chen chúc nằm xếp như cá hộp thì chị bảo sao tránh được? Ăn uống thì cực khổ, thiếu thốn mà làm việc thì cực nhọc!
- Chị phải làm việc? Chị làm gì?
- May! Mỗi ngày 10 tiếng đồng hồ. Có khi hơn. Tuần sáu ngày. Em làm khuy và làm nút áo len. Để xuất khẩu nên phải làm kỹ lắm. Kiếm được vài đồng bạc một tháng để mua xà bông và giấy vệ sinh. Nhà em không thể nào tiếp tế cho em được, chúng em có ba đứa con.
Nói về mình khiến cho chị ta buồn bã. Chị ta cúi đầu và rơm rớm nước mắt. Nhưng chị ta vẫn cứ tiếp tục ngồi bên giường tôi. Tôi nghĩ chắc chị ta cần một người để tâm sự. Phần tôi, sau một thời gian dài bị biệt giam, cấm cố, thì chỉ riêng sự hiện diện của chị bên cạnh cũng đủ để thấy lòng tôi ấm áp dễ chịu.
- Em làm kế toán cho một xí nghiệp. Ở đó, nhà em cũng là kỹ thuật viên – chị ta rỉ rả nói – đó là một chỗ tốt. Ấy thế mà em lại tự mình đạp đổ!
- Chị có sai lầm gì về tiền bạc không?
- Không! Không phải vấn đề đó! Em phê bình lão bí thư chi bộ! Có kẻ báo cáo em trong chiến dịch “Đập tan âm mưu phản Cách mạng” vào hồi năm 1955. Em bị tố cáo nhưng em phản công lại. Thay vì ca ngợi lão bí thư chi bộ thì em lại nói hơi quá. Em thật ngây thơ, không có chút kinh nghiệm nào. Lão bí thư chi bộ hận lắm, nên ghi em vào sổ đen, vào danh sách phản cách mạng mà lão thiết lập trong xí nghiệp. Em bị bắt và bị kết án 12 năm tù.
- Sao chị không khiếu nại lên tòa cao hơn? Phê bình bí thư chi bộ thì đâu phải là một sai lầm nghiêm trọng? Mười hai năm là một bản án quá nặng cho một “tội” như vậy.
- Ăn thua gì? Có lên tòa trên thì cũng hỏi lại ý kiến của bí thư chi bộ. Công an và bí thư chi bộ ăn cánh với nhau ghê lắm mà. Câu tục ngữ “phủ bênh phủ, huyện bênh huyện”, chị còn lạ gì?
- Ừ, thế là chị ở đây quá lâu rồi đấy. Nhưng cái “xui” cũng gần qua rồi. Chị cũng sắp được sum họp với gia đình. - Tôi nói để cố gắng an ủi chị ta.
- Cũng không lâu nữa thật. Em mong là khi gặp lại gia đình, con cái em nó còn nhận ra và chồng em cũng chưa tằng tịu với người đàn bà nào khác.
- Thế gia đình chị không đến thăm gì sao?
Tôi biết là một khi đã lãnh án và bị đưa về nhà tù Thúy Lan Kiều thì tù nhân hàng tháng được gặp và nhận đồ tiếp tế của gia đình. Thật ra, có nhiều tù nhân bị giam hết ở nhà tù này đến nhà tù kia lâu ngày rồi nên đành thú nhận một cái tội nào đó để được ra tòa, được kết án, để được về “Thúy Lan Kiều”. Có vậy họ mới được gặp gia đình, được gia đình thăm nuôi.
- Không, - chị ta nói tiếp – em bảo gia đình em phải cắt đứt mọi liên hệ với em bao lâu em còn ở trong tù. Có như vậy mới may ra nhà em còn giữ được chỗ làm để nuôi mấy đứa con của chúng em. Chị cũng biết là các gia đình phản cách mạng bị đối xử tàn tệ như thế nào! Nhà em và em thương yêu nhau lắm. Cuộc hôn nhân của chúng em đâu phải là do mẹ cha sắp đặt. Ấy vậy mà em đành phải bảo anh ấy ly dị, đừng bao giờ gặp em nữa. Cũng chỉ để nhà em có thể nuôi con được. Lúc đầu, anh kêu la, phản đối. Nhưng khi hiểu ra, anh ấy nói là anh sẽ giả ly dị nhưng vẫn cứ ở vậy chờ em.
Tôi thấy buồn kinh khủng cho chị ta. Nhưng tôi cũng không biết phải nói làm sao cho chị ta vơi, dịu đi nỗi buồn nặng trĩu trong tâm tư, chị ta lại như chìm đắm trong những ý nghĩ riêng của mình, lát sau chị ta thay đổi đề tài.
- Chị thật may phước lắm mới được gặp cô bác sĩ dễ thương này – chị ta nói tiếp – cô bác sĩ này có nghiệp vụ cao lắm đó. Cô ấy tốt nghiệp ở trường Đại Học Y Khoa rất danh tiếng bên Mỹ. Cô ấy tốt và quan tâm đến người khác. Lần đầu tiên em đến đây, cô ấy cũng là tù nhân như em. Sau đó, cô ấy được thả rồi mà vẫn quay trở lại đây làm việc. Em nghe nói cô ấy tự nguyện trở lại. Một khi đã thoát khỏi nơi đây rồi thì khó mà có ai dám tình nguyện quay trở lại. Người bên ngoài nhà tù không ai dám dây dưa với người đã bị tù, dù đã được thả ra rồi. Họ sợ bị nghi ngờ, liên lụy. Cấp trên của chị chắc cũng chả dám phân công lại cho chị công việc trước kia. Đã thế dù có được làm lại thì cũng đừng hòng thăng quan tiến chức, và tăng lương cũng khỏi. Nếu chị đã bị bỏ tù thì chị là người đã có tì vết. Luôn luôn chị sẽ là đối tượng để cho người ta lăng mạ, phê bình. Đã một lần bị coi là phản cách mạng thì trọn đời cũng sẽ vẫn cứ bị coi là phản cách mạng. Trong tù, chị đã bị đau đớn tụi nhục. Chị tưởng được thả về nhà là chị hết sao? Không! Không bao giờ. Và nếu chị bị ở tù không phải chỉ riêng mình chị bị lăng nhục, bị đối xử tàn tệ, bị đau đớn tủi hổ mà là tất cả gia đình chị cũng bị lăng nhục, bị đối xử tàn tệ… Bây giờ, em là một trong số những người như vậy đó. Đôi lúc, em nghĩ đến cái ngày mà em được thả ra em thấy kinh sợ.
Tôi cực kỳ xúc động. Nói cho đúng ra thì phải nói là cả tâm hồn lẫn thể xác tôi – nghĩa là trọn vẹn con người tôi – đều rung động vì những tiết lộ của chị ta. Thật ra trước kia tôi cũng xúc động đến tận đáy lòng khi nghe tin có một nữ bác sĩ bị cầm tù ở Thúy Lan Kiều. Thật tôi không ngờ rằng bên dưới bộ mặt dịu dàng hiền hậu của cô bác sĩ ấy là một nỗi buồn kinh khủng như vậy. Ấy vậy mà nỗi buồn ấy cô cũng giữ được để cho nó khỏi lộ ra qua đôi mắt. Trong khi đó, đôi mắt của cô ta lại chỉ lộ ra một sự hiền hậu, thông cảm. Hầu như cô đã hiểu chắc chắn và đầy đủ thế nào là cuộc đời, cho nên cô có thể sống như bậc hiền giả khoan dung đại lượng đến như vậy.
- Cô bác sĩ ấy đã hưởng ứng lời của chính quyền nhân dân Trung Hoa kêu gọi những người con yêu của tổ quốc về để xây dựng tổ quốc, phục vụ nhân dân. Cô đã từ nước Mỹ trở về. Em biết là bên Mỹ cô cũng có công ăn việc làm tốt chứ đâu phải không. Nhưng cô đã bỏ tất cả để quay về Tổ quốc. Ngay lần đầu tiên em gặp cô bác sĩ này, cô nói năng với em cũng rất chân thành. Dĩ nhiên chính vì vậy mà cô bị gặp rắc rối to.
Vào khoảng những năm đầu thập niên 1950, chính quyền nhân dân đã tuyên truyền ngầm – qua nhân viên gián điệp và các cảm tình viên – để lôi kéo Hoa Kiều ở hải ngoại, nhất là trí thức Hoa Kiều sống ở Mỹ, quay về Trung Hoa để giúp “xây dựng lại tổ quốc”. Đối tượng chính của cuộc tuyên truyền này là lôi cuốn các nhà vật lý học có thể giúp cộng sản Trung Hoa chế tạo bom nguyên tử. Nhưng giọng điệu tuyên truyền đã được uốn nắn khéo léo – nói chung chung – để tránh sự chú ý quốc tế. Những lời kêu gọi mạnh mẽ đánh vào lòng yêu nước của các trí thức Hoa Kiều làm ăn sinh sống ở khắp nơi trên thế giới nhưng đặc biệt nhằm vào trí thức Hoa Kiều ở Mỹ. Có một số khá đông trí thức thuộc các ngành nghề khác nhau đã đáp ứng lời kêu gọi đó. Họ từ bỏ chỗ làm tốt và tiện nghi sinh hoạt hiện đại để đáp lại lời kêu gọi của đất mẹ, trở về Trung Hoa để rồi sau đó họ mới ngã ngửa ra vì nhận thấy rằng thật ra họ không phải là người mà “đất mẹ” muốn. Các viên chức Đảng Cộng sản Trung Hoa đầy lòng nghi ngờ – Nghi ngờ đến mức bệnh hoạn – Đối với những ai đã có “liên hệ với ngoại bang” cộng thêm vào đó là cái thành kiến của Đảng đối với tất cả mọi trí thức. Thế là các ông trí thức yêu nước nhưng ngây thơ kia bị sập bẫy. Vì mối quan hệ giữa Oa sinh tơn và Bắc Kinh rất căng thẳng – mà lại không có quan hệ chính thức, quan hệ công khai – nên các ông trí thức yêu nước hết đường quay trở lại nước Mỹ. Họ phải trốn được qua Hồng Kông. Còn đại đa số bị “kẹt” lại Trung Hoa. Và đành nhận bất cứ công việc nào Đảng trao cho. Rất nhiều trong số đó bị hành hạ, đau đớn, tủi nhục từ chiến dịch chính trị này qua cuộc vận động chính trị kia, nhất là trong chiến dịch “chống phái hữu” năm 1957. Những người còn sống sót cho đến năm 1966 thì cũng không thoát được cái lưới của cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản. Chỉ có những nhà vật lý học làm việc cho kế hoạch vũ khí nguyên tử của Trung Hoa là được Thủ tướng Chu Ân Lai bảo vệ cho.
Đó là câu chuyện buồn và nhẫn tâm chà đạp lên nhân quyền và những thí dụ cho thấy Đảng Cộng sản Trung Hoa không hề ngần ngại “thí” con người cho những mục tiêu.
Chúng tôi ngồi lặng lẽ bên nhau trong khu bệnh lao của nhà tù, mỗi người theo đuổi ý nghĩ của mình. Người bệnh ở những giường khác bắt đầu rên rỉ vì ho rũ rượi. Nghe tiếng cửa mở lịch kịch ở phía xa, người tù ngồi nói chuyện với tôi giật mình sợ hãi. Chị chúc tôi ngủ ngon và mau lẹ chuồn về giường mình.
Tôi nằm đó, rất tỉnh táo. Tôi nghĩ đến con gái tôi. Lúc này nó ra sao? Nó có khỏe không và có đương đầu với tình huống vô cùng khó khăn phức tạp do cuộc Cách mạng Văn hóa gây ra không. Tôi cầu xin Chúa hướng dẫn, phù hộ, độ trì cho nó.
Sáng hôm sau, thức dậy ra khỏi giường. Tôi vẫn còn rất yếu. Tim tôi đập loạn lên khi tôi cố cất bước đi. Sau đó tôi cố tập mỗi ngày vài bước vài bước cho đến khi tôi có thể đi lại dễ dàng. Có thức ăn bổ dưỡng, có thuốc men tôi lần lần thấy khỏe ra.
Trong phòng chỉ còn lại hai bệnh nhân trong đó có tôi, người kia đau rất nặng và chẳng bao giờ rời khỏi giường được. Có lần tôi đi lại giường chị ta, nhưng chị ta không mở mắt và dường như cũng chẳng nhận ra sự hiện diện của tôi nữa. Bên cạnh cái gối là một cái ống nhổ đầy một nửa những đờm, dãi và máu. Mặt của chị ta như là da khô và đã cũ rồi. Chị nằm thiêm thiếp, không nhúc nhích trừ khi chị ta ho. Đến bữa ăn, cô gái tù lao động cải tạo phải lấy muỗng đút cơm cho chị ta.
Tôi không bao giờ hỏi cô gái tù lao động cải tạo và cô ta cũng chẳng dám phiêu lưu để nói năng gì với tôi. Nhưng chúng tôi vẫn mỉm cười với nhau để bày tỏ cho nhau tình hữu nghị. Mặc dù cô mang đến cho chúng tôi thức ăn bổ dưỡng nhưng tôi để ý thấy chính bản thân cô lại chỉ ăn cơm với rau bắp cải luộc hoặc khoai luộc. Cô ăn bận rất tồi tàn và dường như là lạnh lắm. Môi tím thâm vì rét và vai so lại. Tôi cho cô một cái áo len dài tay mà tôi đã cởi ra lúc cô không có trong phòng. Khi cô vào, tôi đưa cho cô mà không dám nói gì vì tên lính đang đứng ở ngoài. Tuy nhiên cô sợ quá không dám nhận. Cô nhìn người đàn bà bệnh đang nằm úp mặt xuống giường ở cuối phòng và đẩy cái áo trả lại tôi.
Một năm sau khi tôi bị đau lần nữa và trở lại bệnh xá này thì cô gái tù lao động cải tạo không còn ở đó nữa. Tôi ao ước cho cô được làm trong một nhà thương bình thường của Thượng Hải. Tôi hình dung ra cô bước chân thoăn thoắt, tay cầm ống chích săn sóc bệnh nhân.
Một tuần lễ sau nhiệt độ tôi trở lại bình thường. Bác sĩ nói tôi có thể trở về nhà tù số 1. Cô bác sĩ nói nhẹ nhàng. Đôi mắt cô hiền từ, nhân hậu, cứ như thể cô đang nhìn một cái gì tốt lành và đáng yêu trên người tôi mà chính tôi không biết. Có một cái gì thánh thiện nơi người phụ nữ này, tôi nghĩ vậy. Tôi không tin rằng cô đã quay trở lại làm việc tại bệnh xá này bởi vì sau khi ra tù, cô đã không thể đương đầu nổi những khó khăn của cuộc đời bên ngoài nhà tù. Tôi tin rằng cô đã quay trở lại bởi vì cô biết các tù nhân cần đến cô. Cô đã tìm được cái sứ mệnh, cái lý tưởng để cống hiến đời mình, mặc dù trước mắt người đời việc làm của cô không được khen, được thưởng, dường như cô có một sức mạnh tinh thần. Rõ ràng cô đã trở nên một con người uyển chuyển, tinh tế bởi vì cô đã từng phải chịu nhiều đau khổ.
Vài ngày sau có cai ngục từ nhà tù số 1 tới và chở tôi trở lại nhà tù số 1.








[1] Trong bản dịch của Trịnh Khải, tên hai nhân vật này bị lược bỏ, nên không rõ âm Hán Việt của tên họ ra sao.

[2] “dân thầy” (white collar: cổ áo trắng để phân biệt với “dân thợ” blue collar: cổ áo xanh). Bộ quần áo bảo hộ lao động của dân thợ (ở Âu Mỹ) thường là màu xanh chàm và của công nhân văn phòng, dân thầy thì mặc áo blu trắng. Nói bóng bảy, dân thầy có nghĩa là ăn trắng mặc trơn, nhàn hạ mà lại được ăn trên ngồi trước, lương bổng hậu, trong khi đó dân thợ làm hùng hục mà vẫn bị chèn ép, lương thấp. Dân thợ khi nói đến “white collar” thì hàm cái ý ganh ghét. Dân thầy khi nói đến “blue collar” thì hàm cái ý dè bỉu (chú thích của người dịch).
Đăng nhập để trả lời
0
Chương 8: ĐẢNG VÀ PHÁI


Cơn bệnh sưng phổi mà tôi trải qua mùa đông năm 1967 đã đánh dấu sự khởi đầu quá trình suy nhược cơ thể của tôi. Lâu ngày, thiếu thức ăn bổ dưỡng, thiếu ánh mặt trời và không khí trong lành đã khiến cho tôi không những không phục hồi được sức khỏe mà trái lại càng làm cho tôi mau già. Và nó cũng làm suy nhược cả năng lực tinh thần của tôi, đến nỗi tôi thấy khó mà tập trung được lâu sự chú ý một vấn đề. Sự suy nghĩ phân tích và lý luận đòi hỏi rất nhiều nỗ lực của ý thức. Lúc đó tôi mới bắt đầu hiểu tại sao sự nghèo đói thiếu thốn triền miên đã khiến cho đôi mắt người ta có vẻ xa vắng, đờ đẫn chứ không tinh anh, đã làm cho cử động của người ta lờ đờ chậm chạp chứ không nhanh nhẹn. Tôi biết, tôi đang bắt đầu trải qua các triệu chứng suy kiệt về thể chất lẫn tinh thần, một triệu chứng sẽ dẫn tới tình trạng sụp đổ toàn diện. Cái viễn tưởng sẽ không còn khả năng suy nghĩ một cách sáng suốt nữa đã khiến tôi sợ hãi hơn là khi tôi thấy tóc mình rụng cả nùi hoặc chân răng chảy máu, và sụt cân. Hiệu ứng tâm lý của tình trạng bị biệt giam và cô lập cũng gây tai hại. Tôi thường có tâm trạng thất vọng. Tôi thường thấy khó nuốt được thức ăn mà người ta mang đến cho tôi, mặc dù trong bụng tôi rất đói.
Bên ngoài tường nhà tù, tình hình chung vẫn còn rất rối dù bụng tôi rất đói.
Bên ngoài tường nhà tù, tình hình chung vẫn còn rất rối ren. Mặc dù quân đội đã nắm quyền kiểm soát, bạo động và các cuộc đánh lộn giữa các băng phái Vệ binh đỏ và các “tổ chức quần chúng Cách mạng” vẫn cứ diễn ra dài dài trong suốt cả năm 1968. dường như Mao Trạch Đông đã không còn kiểm soát được các “ông kẹ” Vệ binh đỏ và các “ông bà” Cách mạng sau khi đã thả lỏng cho bọn này phá phách theo ý đồ chính trị của mình. Chừng nào tình hình chính trị không ổn định thì kỷ luật trong nhà tù hoạt động cũng không bình thường. Dường như chẳng có ai quan tâm đúng mức để có thể giải quyết dứt khoát trường hợp của tôi. Tôi bị “bỏ quên” trong tình trạng chờ đợi trong xà lim. Trước đó, tôi chỉ mới nghĩ rằng tôi sẽ bị chết trước khi trường hợp của tôi được làm sáng tỏ, thì nay, với tình hình sức khỏe như thế này, nỗi lo xa đó đang trở thành sự thật.
Một hôm, cô gái tù cải tạo đem nước lại cho tôi. Chỉ bưng thau nước đi từ cửa sổ đến chỗ để thau nước, nghĩa là chỉ vài ba bước thế mà tôi đã thấy hết sức khó khăn và mệt nhọc. Tay tôi run lẩy bẩy. Tim tôi đập loạn. Hai chân loạng choạng, xiêu vẹo đến nỗi tôi phải đặt ngay thau nước xuống ngồi nghỉ. Trong lúc ngồi nghỉ tôi suy nghĩ, nếu muốn sống sót cho qua được “cơn” Cách mạng Văn hóa thì tôi phải nghiêm ngặt tuân thủ một thứ kỷ luật do chính tôi đặt ra. Đó là tôi phải tập vận động đều đặn cả về thể xác lẫn tinh thần. Quyết định đó làm tôi phấn khởi. Tôi đứng dậy một cách khá nhanh nhẹn. Nhưng tôi bỗng thấy mặt mày xây xẩm, phải ngồi thụp xuống ngay. Nhưng từ hôm đó về sau, mỗi ngày hai lần tôi tập các cử động cho tất cả mọi phần thân thể của tôi, từ đầu cho đến mười ngón chân. Lúc đầu tập như vậy làm cho tôi mệt lắm. Mỗi buổi tập tôi phải ngưng lại nhiều lần để nghỉ. Tôi cũng phải tránh con mắt soi mói của cai ngục. Bởi vì ngoại trừ đi đi lại lại vài phút sau bữa ăn, tất cả mọi sự tập thể dục khác đều bị cấm. Tuy nhiên, tôi vẫn cứ thu xếp để tập cho được mỗi ngày. Và chỉ ít tháng sau tôi cảm thấy đã phục hồi được phần nào sức khỏe và cảm thấy dễ chịu hơn.
Để tập vận động tinh thần, trước hết tôi nhớ những luận điểm chính trị của Mao để tôi có thể nắm được cái tinh thần “học thuyết” của ông ta, đồng thời dùng những lời trích dẫn của ông ta một cách linh hoạt hơn khi tôi phải đối đáp với các điều tra viên. Tôi thích nhất các luận điểm của ông ta về chiến tranh du kích, theo đó ông chủ trương phải có sáng kiến để bất cứ ở đâu, bất cứ khi nào cũng có thể chỉ với một số nhỏ quân du kích trang bị nghèo nàn mà vẫn gây được tổn thất cho quân địch trang bị tốt hơn, quân số đông hơn. Mao là một nhà độc tài rất đáng căm thù vì ông ta đã giết và bỏ tù hàng triệu hàng triệu người Trung Hoa qua các chiến dịch chính trị của ông ta. Đã nhiều lần, Mao đưa nền kinh tế Trung Hoa đến bờ vực thẳm của sự phá sản bằng những chính sách tàn phá ngu xuẩn của ông ta. Tuy nhiên, không thể không nhìn nhận ông ta là một tay kiệt xuất về chiến thuật du kích. Những hiểu biết của ông ta về chủ nghĩa Mác có thể là còn nông cạn, thô thiển. Nhưng, theo ý tôi, những bài viết của ông ta về du kích chiến phải là một công trình của bậc thầy về sự suy nghĩ rõ ràng, mạch lạc, dựa trên nền kinh nghiệm xương máu của quân đội Cộng sản Trung Hoa. Nhưng, suy nghĩ cho đến cùng, cứ mỗi ngày để ra nhiều giờ để nghiên cứu sách vở của Mao cũng là một điều làm cho tôi, nạn nhân của ông ta, phải chán nản, bực bội. Bởi vì, điều ấy đã nhắc cho tôi nhớ các quyền lực độc ác quỷ quái của ông ta đã “khuôn định” số phận của tôi và nhắc cho tôi nhớ sự bất lực của tôi khi muốn thắng vượt cái quyền lực độc ác ấy.
Để thay đổi, tôi không tập vận động bằng cách nghiên cứu sách vở của Mao nữa mà quay ra cố để nhớ lại những bài thơ Đường mà tôi đã học lúc còn là học sinh. Tôi thật sự kinh ngạc vì mình đã có thể đào sâu trong kí ức xa xăm của tôi và "moi" ra được những bài thơ mà tôi đã học từ mấy chục năm trước đó. Cố để nhớ lại một bài thơ nào đó đã là một công việc làm cho tôi say mê và vui thích. Mỗi khi tôi "moi" ra được toàn bộ một bài thơ nào đó, tôi cảm thấy sung sướng như vừa hoàn thành được một công trình. Những lời bất tử của các đại thi hào đời Đường chẳng những đã giúp tôi chứng tỏ rằng trí nhớ của tôi còn tốt, mà còn đem tôi - đang sống trong xà lim tăm tối này – đến một thế giới tươi đẹp và tự do. Tất nhiên là tươi đẹp tự do trong tâm tưởng.
Những nỗ lực kiên trì dể giữ cho tôi được lành mạnh – cả về thể xác lẫn tinh thần – đã đem lại kết quả tốt. Nhưng cũng có nhiều lúc – khi quá mệt mỏi vì đói khát khổ cực – tôi có ý định buông xuôi cho dòng đời đẩy đưa, muốn ra sao thì ra. Những lúc như vậy, tôi lại tìm cách "tranh chấp" với cai ngục để kết thúc và nuôi dưỡng chiến đấu tính của tôi.
"Báo cáo", tôi đi ra cửa xà lim và hét lớn lên như vậy.
- Mày muốn gì? - tiếng bước chân kéo lê tiến lại gần và tiếng hỏi mệt mỏi, lười biếng của cai ngục – "Đã nhiều lần tao bảo mày không được hét tướng lên vậy kia mà?"
- Sao tôi đợi lâu quá mà chính quyền không điều tra trường hợp của tôi vậy? Giam một người vô tội trong nhà tù là bất hợp pháp, là chống lại lời dạy của Mao Chủ tịch. - Thật ra trong cả bốn tập sách của Mao viết, có điều nào nói như vậy đâu, nhưng tôi biết chắc chắn là bọn cai ngục học hành chữ nghĩa như vậy thì hiểu sao thấu đáo được lời của Mao và cũng thì giờ đâu mà đọc được, nhớ được cả bốn tập sách đó.
- Xuỵt! Chớ có la lên như vậy! Lúc nào chính quyền thấy xét giải quyết được, người ta sẽ giải quyết, khỏi cần hối thúc. Không phải riêng một mình mày đâu.
- Nhưng mà tôi đã bị giam ở đây lâu quá rồi. Tôi muốn được gặp điều tra viên. - Không những tôi không nói nhỏ đi mà còn cố ý nói lớn hơn nữa.
- Nói nhỏ thôi! Không được la lên như vậy! Điều tra viên đang mắc bận!
Tôi biết thừa là lúc đó làm gì có điều tra viên nào làm việc. Mụ cũng biết là tôi biết như vậy, nhưng cả hai chúng tôi đều làm bộ lờ đi. Nhà tù rất im lặng. Do đó tiếng nói của tôi lại càng vang lớn hơn. Tôi cũng biết là những tù nhân khác cũng đang lắng nghe, vì họ có gì khác để làm đâu. Tôi cũng biết là họ lấy làm khoái chí vì sự thí mạng, bất chấp của tôi, cũng như tôi cảm thấy phấn khởi khi nghe thấy những tù nhân khác đủ can đảm để đối đáp lại bọn cai ngục, sự kiện đó đã củng cố mối quan hệ giữa họ và tôi. Tôi không còn cảm thấy trơ trọi, lẻ loi. Được cổ vũ bằng sự im lặng lắng nghe của họ, tôi như được tăng thêm sinh lực, mặc dù chỉ la hét sơ sơ như vậy mà tôi cũng thấy mệt.
- Tôi vô tội, – tôi tiếp tục nói lớn – tôi chẳng có tội gì hết, tôi chưa bao giờ làm điều gì để chống lại chính quyền nhân dân. Các ông không có quyền bắt giam một công dân thượng tôn pháp luật! Tôi đòi hỏi phải được phục hồi và xin lỗi. - Tôi còn la lớn hơn nữa.
- Mày khùng rồi đấy hả? Có câm mồm đi không nào? - Cai ngục cũng bắt đầu la lên và giận dữ.
- Tôi không có khùng! Chính cái kẻ ra lệnh bắt giam tôi, kẻ ấy mới là khùng!
- Mày muốn bị trừng phạt vì gây rối phải không?
Tôi nghe có tiếng nhiều bước chân dồn dập đi về phía xà lim của tôi. Một cai ngục khác nói:
- Nếu mày chưa phạm tội thì bây giờ mày đang phạm tội đấy. Mày đang phạm tội gây rối!
- Mao Chủ tịch lãnh tụ vĩ đại của chúng ta đã dạy: sắp đặt sự kiện, nói năng hợp lý. Tôi chỉ theo lời dạy của người. Tôi vô tội. Tôi chưa hề phạm tội gì. Tôi chỉ nói vậy thôi.
Và tôi đã vẫn lớn tiếng cãi lại bọn cai ngục như vậy.
- Ra đây.
Có tiếng mở khóa xà lim của tôi. Và tôi bị bọn cai ngục dẫn đến một cái buồng tuốt dưới góc xa của khu trại giam. Ở đó tôi và bọn cai ngục cứ việc lớn tiếng đối đáp với nhau mà tù nhân chẳng nghe thấy được. Tôi bị dẫn trở lại xà lim sau khi đã mệt nhoài không đủ sức để la lối nữa. Cũng có lần sự lì lợm của tôi đã làm cho bọn cai ngục mất bình tĩnh. Trong những trường hợp như vậy họ dùng bạo lực để bắt tôi im lặng, họ đánh vào người tôi, đá vào chân tôi. Họ gọi tôi là “con mẹ già khùng” và thường phàn nàn bực bội vì cái “thói điên” của tôi. Nhưng họ đâu có hiểu được cái ý đồ thực sự của tôi khi “khiêu khích” họ như vậy. Trong sáu năm rưỡi trời biệt giam cấm cố, nhiều lần tôi cố ý gây ra những cảnh như vậy. Cứ mỗi khi sự buồn bực lên đến mức khiến tôi không ăn ngủ được là tôi lại tìm cách “nổi khùng”.
Mặc dù cánh tay tôi bị bầm tím và chân tôi bị đau đớn vì bọn cai ngục dùng giày da để đá, để đạp, tôi cũng thấy vui vui và tâm hồn tôi cũng thấy bình tĩnh sau mỗi lần gây gổ với bọn cai ngục. Hễ khi nào thần kinh bị căng thẳng là tôi lại gây. Cứ mỗi lần như vậy xong, tâm hồn tôi lại thấy thư thái. Tôi tin rằng cái mà tôi cần là sự giao tiếp với người khác – dù chỉ là sự đấu trí với bọn cai ngục – chẳng thà như vậy còn hơn là vò võ, cô độc, lẻ loi. Ngoài ra đấu trí với bọn cai ngục cũng là một hoạt động tích cực, nó kích thích và an ủi tâm trí con người hơn là nhẫn nhục cắn răng chịu đựng sự cực khổ (mà người Trung Hoa coi là một đức hạnh). Nhiều người bạn và người quen của tôi nhờ đức hạnh này mà sống sót được sau những thử thách gay cấn, khốn khổ, khốn nạn của cuộc Cách mạng Văn hóa. Nhưng tôi, cái phao cứu sống tinh thần của tôi lại là những cuộc đấu trí và đấu tranh gay go cực khổ nhưng cũng rất kích thích.
Ngày 6 tháng 8, một ngày hè nóng bức lạ thường, báo chí đưa đến rất trễ. Tôi loáng thoáng nghe thấy gã cai ngục đem báo đến cho tù nhân nói rằng: “tin tức rất quan trọng” Tôi tự hỏi không hiểu là tin quan trọng gì. Mãi đến lúc tới giờ đi ngủ, báo mới được chuyển đến cho tôi.
Trên trang nhất, hàng tít in chữ lớn và bằng mực đỏ là chính cái tin ấy. Nếu không phải là người Trung Hoa đã sống trên đất nước Trung Hoa Cộng sản, đã quen với thứ “ngôn ngữ” của các ông Cộng sản Trung Hoa, đã biết cách “đọc” báo của cộng sản Trung Hoa thì không thể nào hiểu được cái tin ấy lại được coi là quan trọng, chạy tít chữ lớn ở trang nhất. Bởi vì, bài báo ấy chỉ loan tin ngày hôm trước đó, Mao Trạch Đông đã tặng một giỏ trái măng cụt cho công nhân và nông dân tham gia vào việc giáo dục chính trị cho sinh viên của đại học Thanh Hoa, một đại học nổi tiếng ở Bắc Kinh. Trái măng cụt ấy là quà biếu của ngài Bộ trưởng Ngoại giao nước Pakistan trong cuộc thăm viếng chính thức Bắc Kinh. Đấy cái tin quan trọng ấy có vẻ bề ngoài ngớ ngẩn đến độ kỳ cục, nếu ai không biết cách “đọc” báo của Cộng sản Trung Hoa. Bài báo đã mô tả nỗi vui mừng, phấn khởi của công nhân và nông dân khi nhận được quà tặng của Mao Chủ tịch. Họ hớn hở vui mừng và xúc động đến phát khóc vì lòng biết ơn của Mao Chủ tịch. Họ ca hát lên bằng những lời dạy của Mao và họ thề nguyện trung thành với Mao. Gớm khiếp!
Mặc dù, tôi không biết rằng mấy ngày trước đó Mao đã không dùng Hồng Vệ binh nữa khi ông ta cho gọi tất cả các thủ lãnh Vệ binh đỏ về Bắc Kinh để phê bình các hành vi bạo động của họ, tôi cũng thấy ngay là việc báo chí loan tin ầm ĩ một cách trang trọng hành vi ấy của Mao là một ý nghĩa chính trị. Chắc là công nhân và nông dân đã được đưa đến đại học Thanh Hoa – một đại học hàng đầu của Cộng sản Trung Hoa, nơi phát sinh đầu tiên của các “ông kẹ” Vệ binh đỏ hung hăng và ngỗ nghịch – để kiềm chế các “ông Cách mạng con nít” này. Tặng quà cho công nhân và nông dân, đó là lời cảnh cáo hùng hồn và rõ ràng cho các Vệ binh đỏ của đại học Thanh Hoa biết là chớ có dại dột chống lại các hành động kỷ luật của những người đã được sai đến để thuần hoá họ.
Vài ngày sau, báo chí lại đưa tin về sự mới ra đời của một tổ chức mang tên là “Đội Công nhân – Nông dân truyền bá tư tưởng Mao Trạch Đông”. Báo chí in hình những đội này đang tiến vào các trường đại và trung học. Mặc dù mang danh là tổ chức của công nhân và nông dân, những đội truyền bá tư tưởng này lại chẳng có ông bà nông dân nào, công nhân thì cũng có, nhưng rất ít. Chủ yếu, các ông ấy gồm các ông nhà binh mặc áo dân sự và các đảng viên được coi là trung thành với lãnh tụ của “phái theo Mao” như Giang Thanh và Bộ trưởng quốc phòng Lâm Bưu chẳng hạn.
Chế độ chuyên chính của Cộng sản Trung Hoa, tự bản chất, là một chế độ độc tài quân phiệt. Tuy nhiên, kể từ năm 1949 – nghĩa là từ khi nắm trọn quyền trên lục địa Trung Hoa – Đảng Cộng sản Trung Hoa đã luôn luôn cẩn thận giữ cho “khẩu súng” ở đàng sau hậu trường chính trị và bằng sự thuyết phục, họ cố tạo ra cái cảm tưởng chính quyền nhân dân là một chính quyền dân sự. “Giáo dục chính trị” là phương pháp thường được ưa dùng để lèo lái, uốn nắn ý chí của người dân. Chỉ trong những trường hợp cực đoan – như sự nổi dậy có võ trang của các dân tộc thiểu số ở các vùng xa xôi hẻo lánh chẳng hạn – thì quân đội mới được gọi tới để đàn áp. Dùng đội “Công Nông tuyên truyền” – nghĩa là một phương tiện “không phải là quân sự” (non military) thay vì dùng biện pháp nhanh hơn tức là phái quân đội đến – để đè bẹp sự kháng cự của các “ông kẹ” Vệ binh đỏ và để tái lập trật tự, điều đó có nghĩa là một lần nữa Mao đã quan tâm kỹ đến việc cẩn thận gìn giữ cho chính quyền Cộng sản Trung Hoa cái hình ảnh của một chính quyền dân sự hiền hòa.
Trong khi các “ông kẹ” Hồng Vệ binh dẹp tiệm, các lãnh tụ phái theo Mao ở Bắc Kinh đã tiếp tục nỗ lực để tổ chức “Ủy ban Cách mạng” – tỉnh hoặc thành phố, và nhất là tổ chức Ban bí thư tỉnh hoặc thị bộ Đảng. Báo chí thường đăng những bài báo trình bày này được xúc tiến mau lẹ, tạo điều kiện thuận lợi cho Đại hội Đảng lần thứ 9. Qua đó, tôi nhận định rằng phái theo Mao tuy đã nắm được chính quyền, nhưng cũng vẫn lo lắng làm sao để họ có được một quy chế hợp pháp bằng cách được cử vào Ủy ban trung ương Đảng, nhất là vào bộ chính trị. Một quan tâm khác nữa của những lãnh tụ phái theo Mao là làm sao để khai trừ khỏi Đảng tất cả các cựu viên chức đảng đã bị hắt ra khỏi các chức vụ. Có như vậy – phe theo Mao khỏi lo sợ quyền lực của họ mới nắm được không bị các cựu đảng viên bị hất cẳng đe dọa.
Thời gian tiếp tục trôi đi. Và đã là mùa thu. Cứ thêm một ngày mưa thì nhiệt độ lại hạ thấp thêm. Tôi nghĩ rằng nhớ tuân thủ một chế độ tập luyện – cả thể xác lẫn tinh thần – nên tôi đã mau chóng chặn đứng được sự suy sụp sức khỏe. Bởi vậy khi có một cái gì đó mới và nguy hiểm xảy ra thì nó sẽ gây ra một xúc động nơi tôi. Kinh nguyệt của tôi hàng tháng đã làm cho tôi mất nhiều máu, hơn thường lệ bội phần. Kinh nguyệt ra nhiều, ra liên miên và kéo dài có tới mười ngày. Tôi bắt đầu lo sợ. Nhưng nhớ đến cái kinh nghiệm về ông “bác sĩ quân y” trẻ tuổi, tôi đã không dám xin khám bệnh. Một lần nữa lòng tôi lại nặng trĩu nỗi buồn chán, thất vọng và thường hay có ác mộng khiến tôi đang ngủ phải giật mình thức dậy, mồ hôi đầm đìa và thở dồn dập.
Một đêm vào khoảng tháng 10, trong lúc tôi đang phải vật lộn với vấn đề bệnh hoạn của tôi thì cai ngục đã đến từng xà lim cho biết phải im lặng để nghe phát thanh cho biết một tin “giật gân” là cuộc họp của Ủy ban trung ương Đảng do Mao chủ trì đã ra nghị quyết khai trừ Lưu Thiếu Kỳ, Chủ tịch nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, ra khỏi Đảng Cộng sản Trung Hoa, đồng thời truất hết mọi chức vụ của ông ta.
Lưu Thiếu Kỳ là một lãnh tụ lão thành của Đảng Cộng Sản Trung Hoa, là người thứ hai – đứng sau Mao – trong cấp bậc Đảng. Vào những năm thập niên 30, trong lúc Mao đang lãnh đạo cuộc chiến tranh du kích ở núi Tỉnh Cương thì Lưu Thiếu Kỳ điều khiển lực lượng cộng sản ngầm ngay tại những vùng do Quốc Dân Đảng kiểm soát. Năm 1949, Mao kiêm hai chức vụ cùng một lúc là Chủ tịch Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng sản Trung Hoa và Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Lưu Thiếu Kỳ giữ chức vụ Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Hoa. Hai người hợp tác mật thiết và không có dấu hiệu gì cho thấy Lưu có ý định tiếm quyền của Mao. Chẳng những thế, kiểu nói “Tư tưởng Mao Trạch Đông” là một “sáng chế” của Lưu trong báo cáo của ông ta đọc với tư cách là Tổng bí thư tại Đại hội Đảng lần thứ 7, năm 1945. Tuy nhiên, năm 1960, sau “Bước đại nhảy vọt” của Mao đã đẩy Trung Hoa đến bờ vực thẳm của sự sụp đổ kinh tế, Mao đành phải nhả cái chức vụ Chủ tịch nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa cho Lưu Thiếu Kỳ. Nhân dân Trung Hoa xì xầm đồn đại với nhau rằng có sự tranh đấu gay gắt trong nội bộ lãnh đạo Đảng, và Mao đã bị hạ nhục bằng cách bị bắt buộc phải làm bản tự kiểm trước cuộc họp của trên bảy ngàn cán bộ lãnh đạo của Đảng.
Lưu Thiếu Kỳ lập tức chấp hành hàng loạt những biện pháp trái ngược với những biện pháp của thời kỳ “Đại nhảy vọt” để tức tốc chặn đứng đà suy thoái và cứu nền kinh tế Trung Hoa khỏi sụp đổ. Những chính sách kinh tế của Lưu đã thành công trong khi các chính sách của Mao thất bại thê thảm. Lưu đã được lòng của đa số đảng viên và của đông đảo quần chúng. Lưu đã làm mờ Mao, và có ảnh hưởng và quan trọng hơn Mao. Mao bắt đầu cảm thấy bị đe dọa địa vị của mình, vì chẳng những ông ta sợ mất hết tất cả những gì ông ta từng tin tưởng và dày công tu tạo mà còn mất luôn cả chỗ đứng của ông ta trong lịch sử.
Trong lúc diễn biến, đối với tùy từng người và tùy từng giai đoạn, cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản có khác nhau. Nhưng nội bộ vẫn chỉ là một. Đó là cuộc chiến đấu dai dẳng và khốc liệt giữa hai chính sách của Đảng được hiện thân nơi hai con người là Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ. Mao Trạch Đông đã hành hạ, ngược đãi Lưu Thiếu Kỳ cho đến chết và mặc dù dường như Mao đã thắng trong cuộc Cách mạng Văn hóa, nhưng sau khi Mao chết thì Đặng Tiểu Bình lại lãnh đạo Trung Hoa theo đường lối kinh tế tự do hóa mà Lưu Thiếu Kỳ đã khai sáng hai mươi năm trước đó, và còn đi xa hơn thế đến nỗi không có ai ở Trung Hoa và trên thế giới dám tưởng tượng ra trong lúc có cuộc Cách mạng Văn hóa.
Trong nghị quyết của Ủy ban Trung Ương Đảng Cộng sản Trung Hoa, Lưu Thiếu Kỳ bị gán cho là “tên phản bội, tên tay sai bí mật, tên phá hoại”. Tuy nói thế, nhưng cũng không đưa ra bằng chứng nào để đảm bảo cho lời buộc tội. Và, cũng là một thủ tục đặc biệt của cộng sản Trung Hoa: nạn nhân không được quyền tự biện hộ. Hơn thế nữa, Lưu bị Ủy Ban Trung Ương Đảng chứ không phải là Đại hội Đảng khai trừ khỏi Đảng, như vậy cũng không hoàn toàn hợp lý. Nhưng, ngồi trên đỉnh quyền lực, Mao có thể bất chấp điểm tế nhị đó.
Sau khi công bố nghị quyết của Ủy Ban Trung Ương Đảng chống lại Lưu Thiếu Kỳ, guồng máy tuyên truyền của nhà nước được sử dụng để tố ông ta. Ngày ngày, trên báo chí, hết bài báo này đến bài báo kia hài “tội” Lưu Thiếu Kỳ. Đủ thứ tội nhưng “nội dung cơ bản” của những “tội” ấy là “chống lại các chính sách của lãnh tụ vĩ đại”. Báo chí cũng mô tả những cuộc biểu tình vĩ đại quần chúng trên khắp nước để nhân dân bày tỏ sự “ủng hộ mạnh mẽ và nhất trí” đối với nghị quyết của Trung Ương Đảng và lòng căm thù sâu sắc đối với Lưu Thiếu Kỳ. Tôi cho rằng mục tiêu sơ khởi của các báo chí do cánh cực đoan kiểm soát là hăm dọa và răn đe những kẻ có cảm tình với Lưu, bắt họ phải im lặng. Trong khi báo chí trên toàn quốc gây cho người ta cái cảm tưởng là cả nước Trung Hoa đều căm thù sâu sắc Lưu Thiếu Kỳ, tôi đã biết rằng không phải hoàn toàn là như vậy. Bởi vì, từ lâu tôi đã học được cách “đọc” báo của Cộng sản Trung Hoa cũng như nhiều đồng bào của tôi đã học được cách “đọc” báo ấy. Tôi biết rằng những công nhân viên chưa thuộc hạng “bá tánh”, nghĩa là không phải Đảng viên, đa số đều dửng dưng, chẳng có cảm tình đặc biệt với cả Mao lẫn Lưu. Trong khi đó, các Đảng viên – ngoại trừ một số rất nhỏ theo Mao – thì chắc chắn là rất bối rối bởi vì cuộc đấu tranh một mất một còn giữa hai băng phái trong nội bộ Đảng – đại biểu bằng Mao và Lưu – đã bộc lộ rõ cái bản chất xấu xa trong đường lối giải quyết vấn đề của Đảng.
Khi những cơn gió bấc lạnh lẽo từ phương bắc kéo về, rít lên qua khe cửa sổ, để lại những đám sương giá lạnh buốt trên các song cửa sắt, “Đội Công Nông tuyên truyền” đã đến nhà tù số 1 để hỗ trợ Ban kiểm soát quân sự tiến hành cuộc Cách mạng Văn hóa. Sự có mặt của đội này đã không được chính thức loan báo trên loa phóng thanh của nhà tù như khi nhà tù được đặt dưới quyền kiểm soát của ban kiểm soát quân sự. Tuy nhiên, khi được cho ra ngoài tập thể dục, tôi đã thấy các biểu ngữ dăng dọc ngang và những tờ giấy lớn đủ màu sắc ghi lời hoan hỉ chào đón “Đội Công nông tuyên truyền” dán la liệt trên tường. Đặc biệt, tiêu ngữ “Giai cấp công nhân phải nắm quyền lãnh đạo toàn diện và triệt để” – một khẩu hiệu của chính Karl Marx – đã được treo cao ở chỗ nổi bật nhất để chào đón đội truyền bá.
Vài tuần lễ sau đó, các cuộc hỏi cung lại được tiếp tục trở lại. Tôi nghe tiếng lịch kịch đóng mở then cửa xà lim để dẫn tù nhân và về sau khi bị lấy cung đã làm cho tôi vừa hy vọng vừa mong đợi. Tôi xin phép cai ngục được viết thư trần tình cho “Đội Công Nông tuyên truyền” của nhà tù. Tôi cũng nghĩ là xin thì xin chứ mụ cai ngục sẽ từ chối. Ai dè mụ đưa cho tôi xấp giấy, cây bút và bình mực. Tôi đã dùng những câu trích dẫn trong “Mao tuyển” – một thông lệ phải có của người viết để chứng tỏ quan điểm, lập trường chính trị của mình – để viết một bức thư lễ phép xin cứu xét trường hợp của tôi. Rải rác trong bức thư trần tình cũng có những luận điểm, lý chứng của các bài báo mới. Khi trao cho cai ngục bức thư trần tình, tôi hi vọng sẽ được hỏi cung sau một thời gian dài bị bỏ qua.
Một hôm, tôi bị xuất huyết tử cung dữ dội, ướt hết cả quần. Lúc tôi đang giặt thì mụ cai ngục mở cửa sổ dòm vào và nói:
- Mày bị làm sao vậy? Sao mà quần áo mày máu me đầm đìa thế kia?
- Tôi có kinh?
- Ra nhiều máu quá! Bình thường có vậy không?
Mụ mở cửa ra và đi vào trong xà lim. Cầu tiêu đầy giấy vệ sinh bê bết máu mà tôi đã dùng. Máu chảy ra nhiều đến nỗi dù đã dùng rất nhiều giấy vệ sinh mà vẫn còn ngấm ra cả quần áo của tôi.
- Tại sao mày không báo cáo tình hình? - Mụ hỏi vậy, hai mắt nhìn tôi chòng chọc một lúc, sau đó đi ra và khóa cửa lại.
Lát sau mụ dắt ông bác sĩ đến. Ông bác sĩ trước kia đã làm ở nhà tù này. Sau thời gian dài đi “lao động cải tạo” ở nông thôn nay được trở lại nhiệm sở.
Sau khi hỏi tình hình lượng máu bị chảy ra, thời gian xuất huyết nhiều như vậy xảy ra từ bao giờ, mỗi lần kéo dài bao lâu, tôi bao nhiêu tuổi… ông bác sĩ nói: “Có lẽ chị đến thời kỳ mãn kinh. Nhưng cũng có thể chị bị khối u, chị phải đi bác sĩ phụ sản khám mới được. Nhưng trong nhà tù này làm gì có bác sĩ như vậy. Tạm thời, tôi cứ chích cho chị để ngăn chặn xuất huyết gia bội cái đã”.
Những mũi thuốc chích đã có kết quả. Nhưng tôi vẫn lo ngay ngáy vì sợ có khối u và khối u này có thể là khối u ác tính. Hơn bao giờ hết, tôi lại sợ bị đuổi ra khỏi nhà tù số 1.
Tháng giêng năm 1969, thời tiết khắc nghiệt, lạnh căm căm. Cuộc thẩm vấn cuối cùng của tôi xảy ra cũng đã cách đó hơn hai năm và nay mọi sự đang bắt đầu hoạt động trở lại.
Tôi đang ngồi co ro trên giường, cuốn sách Mao tuyển đặt trên đầu gối thì cánh cửa xà lim mở ra. Hai cô gái tù cải tạo lao động bước vào xà lim của tôi. Đằng sau họ là mụ cai ngục đã lục soát xà lim của tôi đứng trấn ngay ở cửa ra vào, hai tay chống nạnh đứng nhìn. Một mụ cai ngục khác đứng đằng sau. Hai cô gái tù cải tạo lao động thu dọn tất cả đồ đạc của tôi, cả những thứ để trên hai cái giường bỏ không chồng lên nhau và đem ra để ngoài cửa. Rồi họ khiêng một cái giường kê cho quay ra cửa sổ.
- Nhặt đồ đạc lên. Thế mày đợi mấy người đầy tớ già của mày đến lượm lên hầu mày sao? - Mụ cai ngục nói lớn bằng một giọng mỉa mai như vậy.
Trong lúc tôi đang lui cui dọn đồ và đặt lên cái giường còn lại thì hai cô gái tù cải tạo đem đến một cái thau và những thứ khác đi vào xà lim. Một tù nhân khoảng chưa đến ba mươi tuổi cũng theo họ đi vào. Người tù mới này cũng ôm theo đồ dùng cá nhân của mình và cúi đầu chậm chạp đi vào cứ y như những cung cách mà mọi tù nhân phải có.
Hai cô gái tù cải tạo cùng với cai ngục đi ra, khóa cửa, để người tù mới ở lại với tôi trong xà lim.
Sau một thời gian dài bị biệt giam, tôi khao khát được tiếp xúc với người khác cũng như những người bị lạc trong sa mạc khát nước. Nhưng phản ứng đầu tiên của tôi đối với người tù mới đến là phải cảnh giác, tinh thần sáng suốt nhưng cũng sẵn sàng tỏ ra thân thiện đối với cô ta. Nhưng sự cảnh giác đối với cái thói ưa sử dụng những thủ đoạn quỷ quyệt của những người theo Mao cũng khiến tôi chớ nên phán đoán giá trị dựa trên hình thức bên ngoài. Tôi quay trở về giường của tôi và cúi đầu xuống giả bộ đọc sách trong khi tôi cũng cố đoán chừng những bất ngờ có thể sắp xảy ra. Từ khi ban kiểm soát quân sự quản lý nhà tù và từ khi cuộc Cách mạng Văn hóa bước sang giai đoạn mới thì những công việc trong nhà tù này xem ra lơ là. Không có những đợt lớn tù nhân được đưa thêm vào. Thật ra tôi dự đoán số lượng tù mới nhập có ít đi là do căn cứ vào tiếng chân của người đi trên lầu trong lúc ra ngoài tập thể dục. Vì vậy, việc đưa thêm một tù nhân mới vào xà lim của tôi không phải là do quá đông tù nhân mới nhập. Tôi chờ đợi những biến cố mới.
Người tù mới đến lo sắp xếp đồ đạc trên giường của mình nhưng thỉnh thoảng cô ta cũng lén liếc nhìn về phía tôi, hy vọng sẽ bắt gặp cái nhìn của tôi.
- Chị bị giam ở đây lâu chưa? – cô ta bắt đầu gợi chuyện làm quen – ở đây có tệ lắm không? - Cô ta ghé ngồi lên giường tôi, thì thào tuôn ra những chuỗi câu hỏi như vậy.
Tôi ngạc nhiên vì cái ẩn ý trong những nhận xét của cô ấy. Thật vụng về, lộ liễu một cách thô thiển. Tuy cô ta nom chẳng có vẻ gì của một người mới bị bắt và được ăn uống đầy đủ. Nét mặt của cô ta nom cũng xanh xao, ốm yếu, đúng với đặc điểm của người tù bị giam nhốt khá lâu. Tóc cô ta xơ xác, vàng khè và khô cứng vì ăn uống thiếu chất protêin. Quần áo trên người cô ta cũng rách bươm, y như quần áo của tôi. Cô ta nhìn tôi bằng đôi mắt lờ đờ và có vẻ sợ sệt.
- Đừng nói chuyện, bị cấm đấy! - Tôi nói với cô ta, mắt liếc nhanh ra cửa và thấy con mắt đen nhánh nhìn qua lỗ khóa và con mắt ấy bị vụt biến đi. Thật là lạ khi cai ngục không mở cửa sổ để lên tiếng la rầy khi nhìn thấy cô ta ghé ngồi vào giường tôi. Khi chúng tôi được cung cấp bữa ăn chiều, cô ta đã ăn phần khoai của cô ta thật là nhanh. Nhìn thấy tôi chỉ lấy vài lát khoai trong cái ca để ăn, cô ta đã hốt phần còn lại và ăn hết. Cô ta vừa ăn vừa nói thì thầm “mình đừng có để phí lương thực”.
Trong khi tôi không phản đối việc cô ta đã hốt hết phần khoai của tôi, điều đó khiến tôi chẳng còn phải nghi ngờ gì việc cô ta cũng đang bị bắt giam và bị giam cũng đã khá lâu chứ không phải là mới đây như qua những câu hỏi lúc mới đầu cô ta hỏi tôi. Bởi vì cô ta cũng đói quá. Nếu không quen với những cung cách thủ tục của nhà tù thì tôi cũng phải nghi ngờ ngay lập tức người tù mới được đưa tới này. Nhưng qua nhiều năm tù, tôi hiểu ra rằng một trong những quy cách của công an là không bao giờ nhốt hai người tù trong một xà lim. Con số tối thiểu cho một số đông tù trong một xà lim là con số 3. Bởi vì nhà cầm quyền trong nhà tù tin rằng 3 người thì khó âm mưu thông đồng với nhau hơn là 2 người. Tôi ngồi trên giường rồi xem cô ta sắp giở trò gì nữa. Nhưng ngoài việc hỏi xin xà bông và giấy vệ sinh ra, cô ta không gạ gẫm trò chuyện với tôi nữa. Sáng hôm sau, sau giờ phát thanh, cô ta lại đến ngồi lên giường cạnh bên tôi.
- Em không biết chị sao chứ em ghét cái Cách mạng Văn hóa này kinh khủng. Chị có ghét không? Nhà cửa của em bị lũ ôn dịch Vệ binh đỏ phá nát, cướp sạch. Nhà chị có bị tụi nó cướp phá không?
Qua máy phóng thanh của nhà tù, tôi thường được nghe nhiều người bị kết án tù dài hạn vì đã phê bình Cách mạng Văn hóa và các hành động của các “ông kẹ” Vệ binh đỏ. Tôi cũng biết sự phê bình như vậy bị coi là xúc phạm nặng. Chắc chắn cô ta sẽ chẳng dám bộc lộ ý nghĩ và tình cảm về Vệ binh đỏ một cách dễ dàng như vậy trừ phi cô ta đã được bọn cai ngục hoặc điều tra viên bảo làm để có thể mau chóng được sự đồng tình của tôi. Bởi vậy tôi đã trả lời cô ta:
- Cô chớ nên kêu ca, oán trách. Sao cô không đọc sách của Mao Chủ tịch đi có phải hơn là ngồi đó mà nói lung tung không? Nếu cai ngục thấy mình ngồi nói chuyện với nhau như thế này là bị phạt đó.
Tôi nhìn quanh xà lim và phát hiện ra là tuy cô ta có đem theo đồ dùng cá nhân nhưng lại không có cuốn Mao tuyển. Kể từ lúc khởi đầu cuộc Cách mạng Văn hóa, cuốn “Mao tuyển” đã trở thành một thành phần quan trọng của mỗi người dân Trung Hoa, quan trọng không thua gì cái áo cái quần. Bởi vì có hay không có “Mao tuyển” được coi là đáng hay không đáng tin cậy về mặt chính trị. Ngoài ra, tôi nhớ rằng một trong những qui định của nhà tù số 1 mà tôi đã được nhắc đọc ngay khi đặt chân đến đây – lúc vừa làm thủ tục nhập trại – là “mọi tù nhân phải học tập theo sách Mao tuyển”. Như vậy, làm sao cô này lại có thể vào ở tù nơi đây mà lại không có sách đó. Lý do thứ nhất để giải thích là cô ta bị chuyển vội vã từ một xà lim khác sang xà lim tôi, do đó chưa kịp gom hết đồ đạc cá nhân. Có lẽ vì vậy cô ta đã phải dùng xà bông và giấy vệ sinh của tôi.
- Sách Mao tuyển của cô đâu? - Tôi hỏi – Họ không bắt cô đem theo khi họ bắt giam cô à? Làm sao họ có thể bỏ qua được một điều như vậy nhỉ?
Mặt cô ta đỏ bừng lên. Tôi đề nghị cho cô ta mượn cuốn của tôi nhưng cô ta từ chối.
- Em không muốn đọc sách của lão. Em ghét, em hận lão ta lắm. Lão ta đã phá nhà cửa của em. Em nghĩ là Quốc Dân Đảng họ đối xử còn tốt hơn Đảng Cộng sản này nhiều. Chị thấy vậy không?
Do bản năng, tôi đưa mắt nhìn về khe cửa. Không có ai đang rình chúng tôi, nhìn trộm chúng tôi. Ca ngợi Quốc Dân Đảng là một tội rất nặng. Vì vậy tôi lại càng tin rằng cô ta đã được bọn cai ngục cài vào đây để bẫy tôi. Có lẽ vì bọn người theo Mao muốn kết tội tôi quá mà chưa tìm ra được cái cớ nào để cáo buộc tôi. Bởi vậy, tôi nói: “Ấy chết, cô đừng có nói bậy như vậy. Tôi có thể báo cáo về cô đấy, cô biết không?”
Nhưng cô ta làm như không thèm để ý đến lời cảnh cáo của tôi mà cứ cố để làm cho tôi nói chuyện. Cô ta tiếp tục nói:
- Trước năm 1949, chị không sống ở Thượng Hải này sao? Quốc Dân Đảng lại không khá hơn thật sao?
Tôi đáp: - Tôi có biết gì về đời sống ở đây vào thời kỳ trước 1949 đâu. Lúc đó tôi đang ở nước ngoài.
- Thế thì may cho chị, chị đã được sống ở nước ngoài! Em ghét sống ở Thượng Hải, dưới chế độ Cộng sản này lắm. Mình không có tự do gì hết. Chị không ghét tụi cộng sản này sao?
- Tôi là tín đồ đạo Thiên Chúa. Đạo dạy phải yêu mọi người chứ không được ghét bất cứ ai. Thậm chí chúng ta còn phải tha thứ cho những người đã làm hại ta nữa.
Tôi thấy cô ta có vẻ hoài nghi tôi có thể tha thứ cho người ta đã làm hại tôi và tôi thấy cô ta mỉm cười một cách kiêu kỳ và diễu cợt. Rồi có lẽ để gây tín nhiệm với tôi, đột nhiên cô ta nói.
- Em cũng là tín đồ đạo Thiên Chúa!
- Thế thì hay quá! Nào chúng ta cùng nhau đọc kinh “lạy cha” nhé, - và tôi cất tiếng đọc – “Lạy cha chúng con ở trên trời…” Tôi ngừng và cô ta không đọc tiếp được.
- Cô đừng giả làm “con chiên” khi cô không phải. Nhưng, không sao, tôi sẽ dạy cô bài cầu nguyện ấy.
Cô ta lắc đầu, bỏ qua cơ hội báo cáo về tội tuyên truyền tôn giáo. Tôi nhận thấy cô ta không đủ thông minh để biết rằng “những người theo Mao” sai cô đến đây chắc cũng hài lòng nếu bắt được tôi dạy cho cô bài kinh “lạy cha” như là khi bắt được tôi nói những điều xúc phạm Đảng Cộng sản. Ngay cả trước khi có cuộc Cách mạng Văn hóa, Đảng Cộng sản rêu rao là Nhân dân Trung Hoa được tự do tôn giáo, nghĩa là được truyền giáo và thi hành các lễ nghi tôn giáo, nhưng trên thực tế thì việc truyền giáo và hành giáo bị cấm một cách triệt để. Khi cuộc Cách mạng Văn hóa khởi sự, hình phạt rất nghiêm khắc cho bất cứ sự thực hành hình thức tôn giáo nào. Hành động đầu tiên của các “ông kẹ” Vệ binh đỏ là phá nát đền chùa, nhà thờ và hành hạ ngược đãi tăng ni giáo sĩ.
Đến chiều, cũng vẫn mụ cai ngục có giọng nói gắt gỏng mở cửa xà lim và gọi người tù cùng ra xà lim với tôi “đi ra để thẩm vấn”.
Tôi băn khoăn chờ xem cái gì khi họ thấy cô ta đã không tìm được cách để cáo tội tôi. Khoảng hai giờ sau, cô ta trở về lau nước mắt như thể cô ta vừa khóc. Mỗi khi nhìn thấy nước mắt của một người - bất cứ là ai – lòng tôi đều xốn xang, bứt rứt, buồn khổ. Tôi buồn khi cô ta phải đau khổ vì không dụ tôi vào cái bẫy của họ. Nhưng tôi cũng kịp dằn lại không tìm cách an ủi cô ta vì tôi không muốn tạo ra cho cô ta cái cơ hội lừa cho tôi nói một điều gì đó hớ hênh. Tôi chờ xem cô ta giở trò gì nữa. Nhưng tôi ngạc nhiên khi cô ta không quan tâm đến việc gạ chuyện với tôi. Suốt ngày hôm qua, cô ta cũng không tìm cách gạ chuyện với tôi mà cứ thẫn thờ đăm đắm nhìn ra cửa sổ như chìm đắm trong suy tư. Tuy nhiên có nhiều lúc dường như cô nghĩ tôi đang chăm chú đọc sách nên cô ta đã nhìn về phía tôi và tôi đã bắt gặp được cái nhìn lén lút ấy.
Đến chiều tối cô lại bị gọi thẩm vấn lần nữa. Và một lần nữa, cô trở về xà lim nước mắt đầm đìa. Cứ như vậy ba ngày liên tiếp, sang ngày thứ tư cô ta không trở về xà lim nữa. Khi đem bữa ăn chiều, người đàn bà nấu bếp chỉ dọn một phần khoai cho tôi. Tôi hỏi chị ta về người tù cùng xà lim với tôi, chị ta chỉ lặng lẽ lắc đầu. Tuy nhiên tôi cũng vẫn để dành một ít khoai của tôi lại cho cô ta trong cái ca của tôi.
Tiếng máy phát thanh lại vang lên. Có hai người cai ngục đến tận xà lim của tôi để đảm bảo chắc chắn rằng tôi đã ngồi lắng nghe phát thanh. Máy phóng thanh công bố một số bản án đã được công bố, trong đó có bản án tử hình “được thi hành ngay tức khắc” người tù bị kết án tử hình mang số tù của chính cô gái đã được cài vào xà lim với tôi mấy hôm nay. Bản thông báo cho biết cô ta là gián điệp cho đế quốc và Quốc Dân Đảng “được cài lại“ từ lâu nhưng không bị phát hiện cho mãi đến khi có cuộc Cách mạng Văn hóa thì các “ông kẹ” Vệ binh đỏ và các “các ông bà” cách mạng đã “moi” ra được. Cô ta đã được dành cho cơ hội để thú tội và được đối xử khoan hồng. Nhưng cô ta đã ngoan cố không chịu thú tội vì tưởng là có thể qua mặt “được con mắt của cách mạng”. Do đó, cô ta bị bàn tay sắt của nền chuyên chính vô sản trừng trị, “nghiền nát ra thành bột”.
Phản ứng đầu tiên của tôi là sự xúc động. Lời loan báo án tử hình nào cũng làm cho người ta phải hãi hùng. Tôi ngẩng đầu và bắt gặp ngay cặp mắt đang dán vào khe cửa để quan sát tôi. Như một tia chớp, tôi hiểu ra ngay là cô gái kia chẳng phải là gián điệp cho ai hết và cô ta cũng chẳng bị buộc tội nào hết. Nếu tôi tỏ ra sợ hãi khi nghe án tử hình cô ta thì “những người theo Mao” sẽ diễn dịch ra đó là dấu hiệu tôi có phạm tội. Tôi cứ đăm đăm nhìn thẳng ra cửa làm như đang chăm chú nghe phát thanh trong khi cố tìm một thế dựa vào tường cho thoải mái. Buổi phát thanh chấm dứt. Mụ cai ngục mở cửa sổ, gọi tôi lại gần và hỏi:
- Mày có nghe rõ bản án tử hình này rồi đấy chứ?
- Dạ, nghe!
- Mày nghĩ thế nào về bản án tử hình dành cho con nhỏ vừa giam chung với mày?
- Cô ta là gián điệp cho đế quốc và Đảng Quốc Dân, vậy tử hình là đúng!
- Mày không thấy số phận của nó cũng có liên can đến cái tội như của chính mày sao?
- Tôi chẳng liên can gì cả. Cô ta là gián điệp, còn tôi thì không. Tôi hy vọng chính quyền nhân dân sẽ làm sáng tỏ trường hợp của tôi, phục hồi mọi quyền lợi công dân của tôi đúng lúc.
- Mày không thực tế chút nào!
- Tôi không đồng ý. Tin tưởng vào chính quyền nhân dân sao gọi là không thực tế?
Mụ đóng cửa sổ nhỏ lại nhưng vẫn cứ đứng dòm qua khe cửa để quan sát tôi. Tôi cầm quyển sách lên, ngồi vào giường và lặng lẽ đọc sách.
Ngay trước lúc đi ngủ, một mụ “lính cái” tới, mở cửa xà lim ra. Cô gái tù cải tạo đi vào và dọn hết đồ đạc của người tù giam cùng phòng với tôi đi. Hai cái giường trống lại được chồng lên nhau. Điều đó chứng tỏ là tù nhân bị giam cùng xà lim với tôi bị kết án tử hình và “án được thi hành ngay lập tức” thực ra vẫn còn sống. Trời rét căm. Cô ta cần mền gối, nếu không sẽ chết cóng. Vì vậy, họ phải đến lấy những thứ đó cho cô ta.
Cô ta được cai ngục tin tưởng đủ có thể trao cho cái nhiệm vụ tìm cách buộc tội tôi, chắc hẳn cô ta phải là một tù nhân họ cảm thấy có thể kiểm soát được. Có lẽ cô ta đã được hứa một ân huệ nào đó. Nhưng cô ta đã thất bại, bên họ phải đổi “chiến thuật” bằng cách giả vờ công bố án tử hình cô ấy để dọa tôi. Sau khi cô gái tù cải tạo đem hết đồ đạc của cô tù nhân cùng phòng với tôi đi rồi, con mụ “lính cái” kia mới đi vào xà lim của tôi.
- Đứng dậy! - Mụ quát nạt – Chỉ được đứng một chân thôi, và đứng cách xa tao ra!
Khi tôi đứng dậy, mụ giang tay tát trái vào mặt tôi mấy cái như trời giáng. Tôi đau đến chảy nước mắt ra. Nhưng tôi chỉ chớp mắt. Tôi đứng đó ngửng đầu nhìn thẳng như không có gì xảy ra và như mụ không có ở đó. Cử chỉ đó khiến mụ nổi giận hơn nữa. Mụ lại tát tôi liên hồi và chân mang giày da đá, đạp vào chân, vào người tôi túi bụi.
- Đứng dậy! Mày đáng bị trừng trị. Bọn đế quốc huấn luyện mày khá đấy, được, mày sẽ không bao giờ rời khỏi nơi này. Giai cấp vô sản sắp tiêu diệt mày! Đứng nghiêm!
Mụ quay ngoắt ra cửa, đóng sập cửa, khóa lại và lộp cộp đi trên hành lang và ra khỏi khu giam tù đàn bà.
Lát sau, mụ cai ngục phiên trực đêm đi tới. Mụ thực hiện kiểm tra thường lệ tất cả các xà lim. Đến xà lim của tôi mụ hỏi:
- Sao mày đứng đó?
- Tôi bị một giám thị khác trừng phạt.
- Giám thị khác nào? Giám thị phiên trực ngày hả?
- Không! Một giám thị khác nữa.
- Mày chỉ tưởng tượng vớ vẩn! Lên giường nằm đi!
Chắc mụ ta không nắm được toàn bộ vấn đề. Có lẽ cái mưu mô giăng bẫy chỉ do một số người theo Mao trong nhà tù này hoạch định. Tôi tự nhủ “mình sẽ chẳng bao giờ biết được sự thật của việc này”. Nhưng tôi cũng lấy làm sung sướng vì không bị bắt đứng suốt đêm.
Trong khi con mụ “lính cái” nhắm mắt nhắm mũi túi bụi đá, đạp vào người, vào giò, vào cẳng tôi thì có một cú đá trúng vào đúng mắt cá chân của tôi. Chỗ đó bị bầm tím, tét da và đau nhức. Đôi vớ len tôi đang mang lúc đó không được sạch lắm, còn đôi kia giặt rồi nhưng chưa khô. Vì vậy, tôi sợ vết thương sẽ làm độc. “Phải làm gì bây giờ”, tôi tự hỏi và đưa mắt nhìn quanh xà lim trống trải và mớ đồ đạc ít ỏi của tôi. Nhìn thấy ống thuốc đánh răng, tôi chắc thế nào nó cũng có chất thuốc sát trùng. Thế là tôi lấy kem đó phết một lớp mỏng lên chỗ da bị tét và lấy một miếng vải sạch xé từ chiếc áo rách băng lại. Và lấy cái khăn tay mù soa độc nhất quấn chặt lấy vết thương.
Mắt cá chân tôi đau nhức đến nỗi suốt đêm tôi không ngủ được. Cứ chốc lại choàng tỉnh vì những giấc mơ trong đó hoặc tôi bị tê liệt không cử động nhúc nhích được hoặc tôi bị con mụ lính cái kia đá, đạp liên hồi.
Nỗi khốn khổ vì đói và lạnh, vì những ngày dai dẳng căng thẳng chờ đợi, vì nỗi khao khát đến cháy bỏng sự tự do, vì nỗi lo lắng khắc khoải cho con gái tôi và nhất là sự bạo hành do con mụ “lính cái” kia vừa gây ra. Tất cả những cái đó chồng chất lên nhau, khiến tôi hết sức căm phẫn. Nhưng sáng hôm sau lúc thức dậy ra khỏi giường, tôi lại không cảm thấy buồn chán nữa, nhưng tôi lại cảm thấy có một cái gì đó trong tôi sắp bùng nổ. Tôi tự nhủ: trong hoàn cảnh hiện nay, tôi không thể chơi sang, xài toàn những đức hạnh của người văn minh như sự khoan dung, sự tha thứ và ngay cả sự khôi hài mà tôi khó lòng cáng đáng nổi. Bọn người theo Mao rất quyết tâm trong cái ý định tiêu diệt tôi, vậy thì tôi cũng phải quyết tâm trong nỗ lực vô hiệu hóa ý định đó.
Mặc dù tôi bị mệt vì thiếu ngủ, vậy mà lúc đặt lưng nằm xuống thì lại ngủ không được. Mắt cá chân tôi sưng vù lên và đau nhức nhưng tôi vẫn cứ sải bước đi đi lại lại dọc ngang trong xà lim, nôn nóng để được đọ sức đấu trí với bọn theo Mao. Tôi càng nghĩ về những gì Mao đã gây cho tôi, cho bạn bè tôi và cho vô vàn những người đau khổ khác thì tôi lại càng căm phẫn, tôi thề rằng tôi phải tìm cách chơi lại bọn chúng đích đáng.
Thình lình cửa xà lim mở ra. Dường như Chúa cũng mau mắn đáp lời tôi van xin một cuộc đọ sức đấu trí với bọn người theo Mao. Có tiếng đàn ông quát lên: “Đi lấy khẩu cung”.
Tôi cầm lấy cuốn “Mao tuyển” và theo gã đi dọc theo hành lang, cố rảo bước để theo kịp gã.
Loa phóng thanh đang oang oang phát ra bài xã luận trên Nhân Dân nhật báo nhằm giải thích chỉ thị mới nhất của Mao: “Đào sâu đường hầm trữ hạt giống khắp nơi và đừng bao giờ mưu bá đồ vương!” cái giọng trang trọng của người xướng ngôn đã theo tôi từ cái loa phóng thanh này đến cái loa phóng thanh kia qua suốt dãy xà lim và khu nhà tù. Trong lúc tôi đang nghe những lời tán tụng Mao, tôi cũng nhớ tới cái quyền lực dễ sợ của ông ta. Thật chẳng khác nào một tấm lưới giăng trên khắp đất nước Trung Hoa và sẵn sàng chụp lấy kẻ mà ông ta đã chọn để bắt phải chết ngạt. Tôi tự nhắc nhở mình phải cẩn thận trong mọi lời ăn tiếng nói để không có lời nào có thể suy diễn thành những lời chống báng cá nhân Mao, chống báng Đảng Cộng sản hay là chính quyền nhân dân. Nếu tôi để cho lời của tôi có thể bị suy diễn như vậy thì tôi sẽ trở thành “một tên phản cách mạng” và bọn người theo Mao sẽ tiêu diệt tôi tức khắc. Chiến thuật của tôi là cứ nhấn mạnh vào chỗ các vị có trách nhiệm điều tra trường hợp của tôi đã sai lầm, vì đã không hiểu đúng đường lối chính sách của Mao. Phải khẳng định là đường lối chính sách của Mao là đúng. Nếu nó có sai là do cán bộ thực hiện không hiểu đúng và do đó đem vận dụng sai. Nếu cần, tôi sẽ nói dối và tuyên bố là mình ủng hộ Mao thậm chí còn tôn sùng ông ta nữa cũng như bao nhiêu người Trung Hoa khác hàng ngày vẫn phải làm như vậy mới mong sống sót. Chiến đấu, chưa đủ còn phải chiến đấu giỏi, chiến đấu thông minh nữa kia. Tôi tự nhủ lòng mình như vậy. Tôi tự cảnh cáo mình như vậy.
Tấm màn vải thô màu xanh chàm che kín lối vào tòa nhà điều tra. Bọn cai ngục không còn ngồi ườn ra trên những chiếc ghế đặt ở cửa ra vào nữa. Chúng đứng lấm lét, trong khi đám lính võ trang đi đi lại lại trên các hành lang. Nhiều người mặc đồng phục màu xanh chàm đi ra đi vào các phòng điều tra để ngỏ cửa. Dường như ngày làm việc vừa mới bắt đầu và tôi là một trong số những người đầu tiên bị gọi. Nhớ lại những gì xảy ra chiều tối hôm qua, tôi biết là cuộc đọ sức của tôi hôm nay sẽ gay cấn lắm lắm. Bọn người theo Mao hi vọng sẽ lừa tôi, để tôi nói hớ ra một điều gì là chụp lấy đặng đe dọa tôi. Họ đã thất bại. Trong lúc đó, tôi rất cảnh giác và can đảm. Tôi nóng lòng muốn nghe xem họ nói năng làm sao, và dù gì đi nữa họ cũng phải bộc lộ để tôi thấy chính họ, càng để lộ cho tôi thấy rõ bao nhiêu, tôi càng có cơ may hiểu được họ muốn cái gì nơi tôi và tại sao họ lại muốn vậy. Trong sự việc này vẫn có nhiều điều tôi còn mù mờ chưa hiểu.
Tên cai ngục mở cửa một trong những phòng thẩm vấn và nói: “Vào đi”.
Bức tường của căn phòng thẩm vấn đã được quét vôi lại. Màu trắng, nên nom sáng sủa và sạch sẽ hơn. Hai bên cửa sổ là hai dải băng màu đỏ trên viết chữ màu trắng. Một bên là hai khẩu hiệu “Nền chuyên chính vô sản muôn năm”. Dải băng bên kia ghi “Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại muôn năm”.
Năm người, trong đó có một người mặc quân phục, ngồi nhìn ra phía cửa ra vào. Tôi cố gắng đoán xem cấp bậc và qui chế của họ. Năm 1963, ngài Bộ trưởng quốc phòng Lâm Bưu đã ra lệnh hủy bỏ mọi cấp hiệu, quân hàm. Do đó, mọi quân nhân đều mặc như nhau, nghĩa là những bộ quân phục rộng lùng thùng. Mục đích là để sống lại cái truyền thống của thời chiến tranh du kích. Bởi vậy thật khó mà đoán được cấp bậc một thanh niên mặt non choẹt đang ngồi dạng tè he trên ghế trong căn phòng điều tra ánh sáng lờ mờ yếu ớt này. Nhưng cứ nhìn cái áo bốn túi của y, tôi cũng biết y thuộc hàng sĩ quan, bởi vì hàng binh sĩ và hạ sĩ quan thì áo chỉ có hai túi ngực thôi. Bốn người kia thì mặc đồ kiểu Mao, màu xanh chàm nhưng đã bạc phếch. Một trong số bốn người ấy nom trọng tuổi hơn hết. Nếp nhăn trên mặt ông ta khá sâu, hai bàn tay ông ta đặt trên bàn là hai bàn tay chai cứng của một công nhân công nghiệp. Tôi đoán anh chàng mặt nom choẹt mặc quân phục kia chắc là đại diện cho Ban kiểm soát quân sự, người công nhân già và có lẽ thêm một hay hai người nữa có thể là đại diện cho “Đội Công Nông tuyên truyền”, một người nữa có thể là đại diện cho các “ông bà” Cách mạng Văn hóa đang nắm quyền ở Sở Công an Thượng Hải.
Nhìn vào năm vị đang ngồi trong phòng, tôi biết các vị đều là những người đã được ơn nhờ của Cách mạng Cộng sản năm 1949. Thái độ của họ đối với Mao Trạch Đông tất nhiên là không giống với thái độ của tôi. Tôi cũng biết là ông công nhân già kia – trí nhớ đã suy thoái – nên chắc cũng chẳng còn nhớ gì nhiều về những ngày trước khi Đảng Cộng sản lên nắm chính quyền. Còn bốn vị trẻ kia thì lại quá trẻ nên cũng chẳng biết gì nhiều về những ngày tiền Cách mạng ấy. Nhưng, tôi cũng không chờ đợi để họ coi tôi – một góa phụ của cựu viên chức chế độ cũ đồng thời là con gái một gia đình có thế lực thời trước – như là một kẻ thù. Hơn thế nữa, vì Trung Hoa tự đóng cửa và tự cô lập với thế giới phương Tây từ những năm 1949 nên tôi cũng biết rằng tất cả những gì mà năm vị này biết về thế giới phương Tây đều cũng chỉ là nhắc lại như con vẹt những điều họ đã nghe được trong các lớp học chính trị. Phương Tây – đối với họ – chỉ vẻn vẹn là tư bản và đế quốc. Và, phải quyết liệt chống lại phương Tây, đặc biệt là Mỹ trong cuộc chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam. Tôi thật sự đau lòng vì phải làm công việc khủng khiếp là làm sao hạ được bức màn sắt tạo nên bởi thành kiến hẹp hòi, sai lạc và ngu dốt. Nhưng, nếu muốn ra khỏi nhà tù số 1 này, được tự do không bị cáo giác tội gì thì tôi phải hết sức cố gắng làm công việc khủng khiếp kia.
Khi vào trong phòng, tôi đứng bên chiếc ghế dành cho tù nhân, tay cầm cuốn “Mao tuyển”, chờ đợi cho năm người kia ra lệnh cho tôi phải đọc câu nào. Điều tra viên khoát tay ra dấu cho tôi nhìn về phía chân dung Mao treo trên tường và nói:”Mày hãy kính chào Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại và tạ lỗi người vì những tội lỗi mày đã phạm”.
Xin lỗi Mao vì những tội tôi đã phạm? Tôi quyết định dùng cơ hội này để tỏ cho họ biết sự đề kháng của tôi và phá vỡ cái thủ tục quái gở của họ. Tôi vẫn đứng thẳng và đáp lại:
- Tôi có phạm tội gì đâu? Tôi không thể nào tạ lỗi về cái tội mà tôi chưa phạm!
- Cái gì? Mày dám không cúi đầu chào Lãnh Tụ Vĩ Đại hả? Mày dám như vậy hả? Mỗi buổi sáng khi thức dậy, mỗi buổi tối khi đi ngủ, mọi người Trung Hoa đều cúi đầu chào trước chân dung Lãnh Tụ Vĩ Đại. Vậy mà mày dám không hả? - Tên điều tra viên quát lớn tiếng, gay gắt và đứng nhỏm dậy khỏi ghế ngồi. Còn những tên kia nhìn sững vào tôi, ngạc nhiên và bất bình. Lần đầu tiên sáng hôm đó tôi thật sự cảm thấy dễ chịu.
- Không, các vị hiểu lầm tôi rồi. Tôi chỉ nói là tôi chưa phạm tội gì. Tôi không thể nào tạ lỗi về một điều mà tôi chưa làm, chứ tôi đâu có nói là tôi không cúi đầu kính chào chân dung Mao Chủ tịch. Dĩ nhiên, tôi sẵn lòng cúi đầu chào chân dung người để tỏ lòng biết tôn trọng của tôi đối với người chứ. - Tôi nói với họ bằng giọng điềm tĩnh. Và tôi cảm thấy thoải mái hơn nữa.
- Vậy thì còn đợi gì mà không cúi đầu kính cẩn chào chân dung người đi?
Và tôi đã cúi đầu chào cái chân dung ông Mao. Nhưng sự đề kháng của tôi không phải là hoàn toàn vô ích. Những lần thẩm vấn sau đó, không có ai nhắc tôi phải tạ lỗi Mao Trạch Đông nữa. Mỗi khi tôi bước vào phòng điều tra viên chỉ khoát tay ra dấu về phía chân dung của Mao mà không nói thêm gì cả.
Câu trích lời của Mao mà điều tra viên bắt tôi đọc cũng là câu mà tôi đã phải đọc trong những lần trước đó. Câu đó rất ưa dùng tới trong thời gian có cuộc Cách mạng Văn hóa. “Khi kẻ thù có súng đã bị tiêu diệt, kẻ thù không có súng vẫn còn tồn tại. Chớ coi thường những kẻ thù này”. Sau đó tên điều tra viên lại bắt tôi đọc đoạn khác liên quan đến quân đội: “Không có quân đội nhân dân thì nhân dân không có gì hết”. Trong thời kỳ của cuộc Cách mạng Văn hóa, sự kiện câu này thường xuyên được nhắc tới đã phản ánh cái thế đang lên của quân đội và của ngài Bộ trưởng quốc phòng Lâm Bưu trong cấu trúc quyền lực của Đảng.
Tôi ngồi xuống ghế dành cho tù. Trước mặt tôi là một cái “quầy”. Sau “quầy” ấy là các vị điều tra viên ngồi. Cái “quầy” bây giờ đã được sơn trắng. Trên nền trắng của cái “quầy” ấy có ghi dòng chữ “Khoan hồng cho kẻ tự thú, trừng trị nghiêm khắc kẻ ngoan cố”. Ở bên cạnh chân dung Mao Chủ tịch còn ghi dòng chữ thúc đẩy tù nhân tự thú.
Tôi nghe tiếng mở cửa sổ nhỏ phía sau lưng, và thấy điều tra viên nghểnh nhìn qua vai tôi khẽ gật đầu ra dấu trước khi nói:
- Mày nạp đơn xin “Đội Công Nông tuyên truyền” thẩm vấn mày. Vậy mày đã sẵn sàng tự thú các tội lỗi của mày chưa?
- Tôi chỉ xin “Đội Công Nông tuyên truyền” điều tra trường hợp của tôi và làm sáng tỏ những lời cáo giác vu khống nhằm vào tôi. Tôi hiểu rằng “Đội Công nông tuyên truyền” đại diện cho Mao Chủ tịch. Tôi mong các vị vận dụng đúng đường lối chính sách của Mao Chủ tịch để phân định rõ người vô tội với kẻ có tội. Tôi bị giam giữ ở đây đã hơn hai năm rồi. Một thời gian như vậy lại chưa đủ lâu đối với một người vô tội bị giam giữ trong tù hay sao?
- Mày giam ở đây đã hơn hai năm rồi mà cái thái độ của mày cũng chẳng cải thiện được chút nào. Mày vẫn nuôi hy vọng có thể “lọt lưới” được. Thế mày không nhận ra thắng lợi vĩ đại mà những người Cách mạng Vô sản đã đạt được sao? Tình hình bây giờ đã khác, hoàn toàn khác với thời gian mày bị thẩm vấn lần cuối cùng cách đây hai năm rồi. Mày không nghe công bố nghị quyết Ủy Ban Trung Ương Đảng đã thông qua chống lại Lưu Thiếu Kỳ sao? Đến nó mà không lọt lưới của những người Cách mạng Vô sản được, mày là cái thá gì mà mong lọt lưới?
- Tôi chẳng có điều gì phải giấu giếm hết. Tôi chỉ xin các ông căn cứ vào sự kiện, nghĩa là những cái có thật, xảy ra thật.
- Chúng tao đã thu lượm được tất cả các sự kiện về mày cũng như chúng tao đã thu lượm được các sự kiện về tên Lưu Thiếu Kỳ. Nó là một tay sai của đế quốc ngoại bang của Quốc Dân Đảng ở Đài Loan và của giai cấp tư sản ở Trung Hoa. Nó là tên cò mồi – chó săn số một và là thằng to đầu nhất của bọn chúng bay. Bây giờ mày đã quá biết là toàn bộ âm mưu của nó nhằm phá hoại Chủ nghĩa Xã hội ở Trung Hoa đã bị lột trần và bị đập tan.
- Ai muốn phá hoại Chủ nghĩa Xã hội ở Trung Hoa? Tôi không hiểu các ông đang nói về ai đấy!
- Tất cả những đứa thuộc về giai cấp tư sản đều đã hoặc sắp là tay sai của đế quốc ngoại bang và của Quốc Dân Đảng. Lưu Thiếu Kỳ và bè lũ là những tay sai đã ngụy trang để chui vào Ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản Trung Hoa.
Luận điệu của tên điều tra viên thật quá phi lý. Và những lời tố giác của y nhằm chống lại Lưu Thiếu Kỳ thật quá ngô nghê đến nỗi tôi phát tởm. Mao Trạch Đông và các lãnh tụ cực đoan khác đã phỉ báng trí thông minh của nhân dân Trung Hoa khi họ hi vọng người dân Trung Hoa tin nghị quyết của Ủy Ban Trung Ương nhằm chống lại Lưu Thiếu Kỳ là đúng đắn, là thật. Tôi nhìn những người ngồi điều tra tôi với một lòng khinh bỉ, coi thường. Vì rõ ràng là họ quá hèn nhát khi tự biến mình thành một phần quan trọng cái ý đồ hèn hạ nhằm chống lại Lưu Thiếu Kỳ. Lúc đó tôi chỉ muốn chọc tức họ. Cứ làm như mình ngu dại, tôi nói:
- Tôi luôn luôn hết lòng tôn kính ngài Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ. Tôi không chắc ngài có thật sự đã phạm những tội mà người ta vu cáo cho ngài. Có thể là có một sự nhầm lẫn nào đó. Ai lại không biết rõ ràng ngài đã đấu tranh chống lại bọn đế quốc, bọn Quốc Dân Đảng, giai cấp tư sản. Và ngài đã suýt mất mạng trong cuộc đấu tranh đó.
Tôi lấy làm hài lòng khi thấy những nhận định có vẻ ngây thơ của tôi đã có tác dụng như quả bom lửa. Cả bọn đều đứng lên và quát lớn.
- Sao mày dám bênh vực một tên phản Đảng? Sao mày dám chống lại nghị quyết của Ủy Ban Trung Ương Đảng? Sao mày dám chống lại Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại?
Trong vai trò đại diện cho các “ông bà” Cách mạng, họ nhảy nhổm như thế là phải rồi. Nhưng, lạ lùng thay, trong số năm vị đang hùng hùng hổ hổ lại chỉ có “ông” công nhân trẻ và “ông” sĩ quan trẻ là có vẻ thực sự tức giận, còn ba vị kia nhìn chòng chọc vào tôi, vừa ngạc nhiên vừa thích thú, chứ dứt khoát là không có vẻ giận dữ, bất bình gì. Theo tôi nghĩ, xem ra họ hài lòng khi nghe thấy tôi bênh vực Lưu Thiếu Kỳ. Và hẳn là họ ngạc nhiên khi thấy một người bị coi là chống lại Cộng sản có cảm tình mạnh mẽ với vị lãnh tụ đã thất thế của họ đến thế.
Được gợi hứng bởi sự phát hiện trong số những người tỏ ra tích cực ủng hộ phe cực đoan – “những người theo Mao” – lại có kẻ ngấm ngầm có cảm tình với Lưu Thiếu Kỳ, tôi bèn quyết định kéo dài cuộc đối thoại “ngây thơ” này thêm chút nữa.
- Tôi đâu có chống đối Ủy ban Trung ương Đảng, lại càng không chống đối Mao Chủ tịch. Ai dám làm chuyện đó. Tôi chỉ gợi ý là những bằng chứng đưa ra để chống Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ có thể là chưa đáng tin cậy lắm. Thế thôi.
- Câm ngay! Mày không được nhắc đến tên phản bội đó là chủ tịch này nọ. - Tên công nhân trẻ kia quát lên dữ dằn lắm. Tên điều tra viên nhìn vào tờ giấy trước mặt y. Và như vậy, y là người thư ký luôn. Ông công nhân già coi bộ khoái với tình hình này lắm. Nhìn ông ta nhếch mép mỉm cười tinh quái là biết liền. Tên điều tra viên nhắc lại:
- Mày không được gọi cái thằng mà Ủy ban Trung ương đã bị buộc tội đó là “chủ tịch”.
- Dạ, bị lỡ quen rồi – Tôi vẫn giữ giọng ngây thơ – mười sáu năm trời ngày nào đài phát thanh cũng ra rả, rồi báo chí, rồi sách vở do nhà nước ấn hành chứ ai, cứ mở ra đọc là một điều Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ, hai điều Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ, mãi rồi quen bỏ chưa được…
Tôi ngừng nói khi thấy cái nhìn của tên điều tra viên sáng lóe lên và thấy ông công nhân trẻ đứng bật dậy. Tôi cứ rỉ rả nói tiếp:
- Thì trước kia, lúc nào mà Lưu Thiếu Kỳ chẳng được giới thiệu như là vị anh hùng Cách mạng đã góp phần to lớn vào sự nghiệp của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, kể cả việc xây dựng và phát triển guồng máy Đảng và giáo dục đảng viên. Trong các sách vở do Mao Chủ tịch viết có nhiều đoạn Mao Chủ tịch cũng nồng nhiệt tán dương Lưu Thiếu Kỳ. Bởi vậy, cũng khó mà nói ngược lại và nghĩ là ông ta hoàn toàn xấu. Có thể là ông ta có sai lầm. Và nếu vậy tôi tưởng là Mao Chủ tịch sẽ bỏ qua cho ông ta được chứ. Dù sao là hai vị cũng là đồng chí với nhau lâu năm.
- Đúng là mày đang mơ – tên công nhân trẻ nói – Mao Chủ tịch sẽ không bao giờ tha thứ cho thằng ấy!
- À, vậy chắc thế giới bên ngoài đang cười chúng ta dữ lắm. Làm sao mà một nhân vật quan trọng như Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa bỗng nhiên thình lình bị phát hiện là một tên phản bội từ bao nhiêu năm nay. Thật không thể nào tin được là ông ta có thể lừa, có thể qua mặt tất cả các vị lãnh đạo khác trong suốt mấy chục năm trời, kể cả Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại và anh minh cũng bị ông ta bịt mắt sao? Nói vậy chẳng hóa ra mình làm mất thể diện Mao Chủ tịch còn gì?
- Chúng ông đếch cần để ý đến bọn đế quốc, bọn tư bản ở các nước kia nói gì. Có bao giờ chúng nói được điều gì tốt về đất nước này đâu – “ông” công nhân trẻ tuổi kia đã sôi nổi phát biểu tiếp – Và những gì xảy ra ở Trung Hoa này cũng đếch việc gì đến chúng nó. Hễ cứ bênh vực thằng Lưu Thiếu Kỳ là có tội rồi, không có lôi thôi gì cả. Nó là một tên phản cách mạng. Mày cũng vậy!
- Tôi đâu phải là phản cách mạng. Tôi ủng hộ chính quyền nhân dân, ủng hộ Đảng Cộng sản kia mà. Tôi thách các ông đưa ra được bằng chứng cụ thể nào chứng tỏ tôi đã nói, đã làm điều gì chống lại chính quyền nhân dân và Đảng Cộng sản Trung Hoa đấy. - Tôi nói bình tĩnh và chắc nịch như vậy.
- Mày tưởng là mày có thể dùng cái tài lẻo mép của mày để lừa bịp và tránh né đó hả. Đó, mày đang chơi cái trò bịp đó. Mày nghĩ mày là ai mà dám thách thức chính quyền nhân dân? Cho dù mày chưa có hề phạm một tội ác nào đi chăng nữa thì mày cũng là tên bóc lột bẩn thỉu đã sống bằng mồ hôi và máu của giai cấp lao động. Dù sao, chúng ông vẫn có bằng chứng không thể chối cãi được mày là gián điệp của bọn đế quốc. - Tên điều tra viên vừa nói vừa đập bàn thình thình.
Tôi cũng nổi sùng và tởm bọn họ quá đến nỗi tôi đứng dậy, đến sát trước cái “quầy” họ đang ngồi và cũng dang tay đập lên mặt “quầy” rầm rầm. Quá ngạc nhiên vì hành động của tôi, bọn họ đứng cả dậy. Tên lính rút súng lục ra khỏi bao, chĩa mũi súng về phía tôi quát lên: “Mày nghĩ thế nào mà mày dám làm như vậy?”
Tôi đứng giữa phòng, nhìn thẳng vào mặt họ, và nói:
- Các ông cứ việc bắn chết tôi đi nếu các ông đưa ra được bằng chứng cụ thể chứng tỏ tôi có tội.
Trong phòng, sự im lặng đột ngột, sững sờ. Tôi và họ cùng im lặng nhìn nhau.
- Bình tĩnh! Bình tĩnh – tên điều tra viên ra dấu cho tôi quay về chỗ ghế ngồi dành cho tù nhân – “Mày là con mụ khùng đang nổi cơn. Tao đã nghe rồi. Hãy bình tĩnh lại. Nếu mày còn dám đứng dậy khỏi cái ghế, tao sẽ xiềng mày vào đó”
Tên lính nhét khẩu súng lục vào bao nhưng vẫn nhìn tôi trừng trừng. Trong lúc lộn xộn như vậy, chỉ có mình ông công nhân già là vẫn bình tĩnh. Ông ta nhìn tôi như có vẻ có cảm tình. Có lẽ ông ta bắt đầu nhận ra rằng tôi thực sự vô tội. Tôi quay về chỗ ngồi của tù nhân và ngồi xuống. Tên điều tra viên làm ra cái vẻ trang trọng, nghiêm nghị và “giáo huấn” tôi vài câu:
- Bênh vực cho một tên mà Ủy ban Trung ương Đảng đã ra nghị quyết buộc tội thì rõ ràng đó là một vi phạm rất nặng nề. Chỉ một điều đó thôi cũng đủ kết án mày nhiều năm tù rồi. Nhưng, xét vì mày đã không có dịp để theo dõi sự phát triển của cuộc Cách mạng Văn hóa, vì vậy mày không nắm bắt được diễn tiến của tình hình, cho nên chúng tao bỏ qua sự sai lầm ấy của mày.
Những người Cách mạng – dưới sự lãnh đạo của Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại – đã quyết định vạch mặt tất cả những kẻ thù của Xã hội Chủ nghĩa lẩn lút trà trộn trong nhân dân, bất kể kẻ thù ấy giữ địa vị cao như thế nào và khéo che dấu ngụy trang như thế nào. Mày không được nghi ngờ gì về điểm này. Mày nên từ bỏ ảo tưởng thì mới nhận ra được là mày không thể nào thoát được.
- Tôi hiểu rất rõ sự việc – tôi đáp lại, bình tĩnh và thành thật – Và tôi nghĩ rằng trừng trị kẻ thù thực sự khác với người vô tội chưa hề chống lại chính quyền nhân dân chứ. Tôi chỉ xin các ông hãy điều tra thấu đáo trường hợp của tôi. Nếu các ông tìm thấy được bằng chứng thật sự là tôi đã nói dối hoặc tôi đã có hành động tội ác chống lại chính quyền nhân dân hoặc chống lại Đảng Cộng sản Trung Hoa thì tôi sẵn lòng chịu xử bắn. Nhưng nếu các ông thấy rõ ràng là tôi vô tội thì chính quyền nhân dân phải xin lỗi tôi, và các ông phải xin lỗi tôi công khai trên báo chí để mọi người biết.
- Trời đất! Chính quyền nhân dân phải xin lỗi mày? – tên công nhân trẻ cười chế nhạo – mày nghĩ mày là ai mà dám đòi chính quyền nhân dân, dám đòi chúng ông phải xin lỗi mày? Mày phóng đại cái tầm quan trọng của mày đến mức bệnh hoạn rồi!
- Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, dù là công nhân viên chức, đảng viên cũng vậy thôi. Tôi là công dân của nước này.
- Mày vừa lập lại câu nói của bọn xét lại. Thảo nào, mày bênh vực Lưu Thiếu Kỳ. Nó cũng là thằng to đầu bao che cho bọn mày. Không phải là mọi người đều bình đẳng. Loài người thuộc về những giai cấp khác nhau đấu tranh với nhau. Giai cấp thắng sẽ áp đặt ý chí của giai cấp mình trên giai cấp bại – ngưng một chút, tên điều tra viên hùng hồn nói tiếp – bao lâu xã hội còn giai cấp, bấy lâu không có sự bình đẳng thật sự giữa các con người.
- Nói vậy phải chăng ông có ý nói là ông không cần biết đến luật pháp và ông trừng trị một người vô tội chỉ vì người đó thuộc về giai cấp tư sản, phải vậy không?
- Sao lại không? Nếu cần trừng trị một tên nào đó, chúng tao chắc chắn sẽ làm ngay. Giai cấp tư sản là kẻ thù của chúng tao. Có điều chúng tao muốn giáo dục và làm cho giai cấp tư sản phải tự lao động để tự làm ra mà ăn. Bất cứ kẻ nào dám chống lại chúng tao chắc chắn sẽ bị tiêu diệt. Dù sao giai cấp vô sản chiến thắng cũng đã đặt ra những đạo luật phù hợp với mục tiêu và phục vụ lợi ích của giai cấp mình.
- Thôi được, nói vậy thì vấn đề đơn giản đi rất nhiều. Bởi vì các ông đã liệt tôi vào thành phần giai cấp tư sản, và tôi lại quá già quá yếu rồi không tự làm lụng ra được thực phẩm để mà ăn nữa. Vậy thì cứ đem tôi ra, bắn cái đùng cho rồi, còn bày đặt điều tra, thẩm vấn chi cho mất công, mất thời giờ vô ích?
- Chúng tao muốn mày thú tội bởi vì có nhiều người khác cũng liên can, dính dáng đến tội ấy nữa – tên điều tra viên lạnh lùng nói – chứ cá nhân mày thì chẳng có gì quan trọng. Mày sống hay mày chết, cái đó chúng tao đếch cần quan tâm.
Hắn nói có những người liên can. Hắn muốn ám chỉ ai vậy kia? Càng lúc tôi càng thấy thắc măc.
- Ai liên can – tôi hỏi – ông muốn nói những công nhân cũ của chi nhánh hãng Shell ở Thượng Hải chắc?
- Không, dĩ nhiên là không – Họ có gì là quan trọng đâu. Cũng như mày vậy. Chúng tao quan tâm đến những kẻ giật dây mày và những đứa khác như mày để sai khiến tụi mày làm xói mòn. Làm suy sụp an ninh Trung Hoa để phục vụ lợi ích của bọn đế quốc.
- Các ông nói thế nghĩa là gì? Ông muốn ám chỉ Lưu Thiếu Kỳ? Ông quá biết, biết chắc chắn là tôi chưa bao giờ được gặp ông ta kia mà
- Lưu Thiếu Kỳ cũng chỉ là một trong lũ đó. Nhưng bây giờ thì thằng đó khỏi có nhúc nhích cục cựa gì được nữa rồi. Nhưng hãy còn những đứa giương cao ngọn cờ đỏ để chống lại ngọn cờ đỏ. Chúng nó vẫn chưa bị vạch mặt chỉ tên, thủ đoạn của chúng nó là thúc đẩy và làm thế nào để bọn người như mày tiếp tục cái công việc bẩn thỉu của chúng, để chống lại nước Trung Hoa theo ý đồ của bọn đế quốc.
Không thể ngờ được! Thật ra họ hành hạ tôi và kết tội hãng Shell không chỉ đơn giản là thái độ bài ngoại hay là vì chấp nhận nguyên tắc đấu tranh giai cấp. Vấn đề phức tạp hơn tôi tưởng rất nhiều. Mục tiêu của họ - theo ý tôi - là tất cả những viên chức Đảng nào chấp nhận đường lối kinh tế cho phép các công ty ngoại quốc được hoạt động trên đất Trung Hoa. Nên họ làm cho tôi và những người khác tự thú nhận mình là gián điệp của ngoại bang thì hoặc xin lấy cái câu ấy để rêu rao lên là cho phép các công ty ngoại quốc hoạt động ở Trung Hoa cũng có ý nghĩa là cung cấp “cái dù” an toàn cho bọn tình báo, gián điệp nước ngoài được hoạt động dù muốn hay không. Tôi cũng chỉ là một con cờ, một con tốt thí trong cuộc đấu tranh giữa hai đường lối đối nghịch không thể khoan nhượng của chính Đảng Cộng sản Trung Hoa. Khi tôi tranh cãi, đấu lý với họ, thế nào tôi chẳng bênh vực một vài quan chức trong Đảng mà tôi không biết họ và họ cũng không biết tôi. Tình hình đó kì cục đến mức buồn cười cũng giống như một bức tranh siêu thực chỉ những ai được chỉ dạy mới có thể hiểu được.
Tiếng nói của điều tra viên đã cắt ngang dòng suy tư của tôi:
- Rồi, mày hãy hồi tưởng lại từ năm 1949, ngay lúc Quân đội giải phóng nhân dân tiếp quản Thượng Hải. Trong hoàn cảnh nào bọn Quốc Dân Đảng đã ra lệnh cho thằng chồng mày ở lại Thượng Hải? Chúng có ra lệnh cho nó xoay sở kiếm cách chui vào chính quyền nhân dân và phá hoại chính quyền từ bên trong không?
- Chồng tôi ở lại Thượng Hải bởi vì ông hy vọng chính quyền nhân dân sẽ cứu nước Trung Hoa khỏi cảnh hỗn loạn về kinh tế và rối loạn về chính trị sau nhiều năm chiến tranh, đồng thời, tái thiết một nước Trung Hoa giàu mạnh, hai vợ chồng tôi nói cho thực đều là những người duy tâm và dốt nát vì chẳng hiểu gì về đấu tranh giai cấp. Những luận văn chính trị do Mao Chủ tịch viết ra được các cán bộ Cộng sản bí mật lưu truyền ở Thượng Hải cũng đã được các bạn của chúng tôi lúc đó là giáo sư ở các trường đại học chuyền cho đọc. Các luận văn ấy không hề đả động đến đấu tranh giai cấp. Mao Chủ tịch kêu gọi thành lập mặt trận đoàn kết và hợp tác quy tụ tất cả mọi người Trung Hoa yêu nước.
- Đó là chính sách đúng đắn trong thời điểm lịch sử đó. Đường lối đó có nghĩa là tranh thủ sự ủng hộ của giai cấp tư sản để làm xói mòn chế độ Quốc Dân Đảng. Sau khi bọn này bị lật nhào rồi thì lẽ dĩ nhiên đường lối chính sách ấy không còn cần thiết nữa. Tùy theo hoàn cảnh, chúng tao đoàn kết, liên minh hoặc hoà hoãn với kẻ thù yếu hơn để chống lại kẻ thù mạnh hơn. Một khi kẻ thù mạnh hơn đã bị khuất phục rồi thì một trong số các kẻ thù yếu hơn lại trở thành kẻ thù chính. Cứ như thế cuộc đấu tranh diễn ra cho đến lúc không còn kẻ thù nào nữa. Đó, duy vật biện chứng pháp là như thế đó.
Tôi chẳng còn gì để mà nói nữa. Tên điều tra viên đã tóm tắt gọn bằng triết lý của chế độ Mao. Trước kia tôi đã không hiểu điều đó thì đó hoàn toàn là do lỗi của tôi. Ngưng một lát, tên điều tra viên hỏi tiếp:
- Thằng chồng mày có bàn tính kế hoạch với ai ở Trung Hoa này không? Có lẽ nó phải bàn với một số thằng bạn ngoại quốc của nó?
- Không, hoàn toàn là do ý kiến của ông nhà tôi. Khoảng đầu năm 1949, lúc đó tôi và con gái tôi đang ở Hồng Kông. Nhà tôi đã bảo chúng tôi trở về Thượng Hải. Về đến nơi, nhà tôi nói ông quyết định ở lại Trung Hoa. Dường như ông chịu ảnh hưởng của các bạn cũ tại Đại Học – trong Liên minh Dân chủ – các ông cũng đã biết là Liên minh Dân chủ ủng hộ và cộng tác chặt chẽ với Đảng Cộng sản và đã nuôi dưỡng tình cảm đối với Cộng sản trong giới trí thức và các quan chức Quốc Dân Đảng nhưng khuynh tả. Tôi biết vào lúc đó có một số trí thức quyết định ở lại Trung Hoa là do kết quả nỗ lực của những người trong liên minh dân chủ lèo lái, khuyến dụ.
- Liên minh Dân Chủ là công cụ của đế quốc Mỹ. Bọn lãnh tụ của liên minh ấy đòi thiết lập một chế độ dân chủ đại nghị và đòi Đảng Cộng sản Trung Hoa chia sẻ quyền lãnh đạo cho chúng. Bọn chúng là một lũ mơ mộng với một mơ tưởng hảo huyền. Không có quân đội ấy hả, bọn chính khách dân sự nỏ mồm và lẻo mép kia làm được cái đếch gì? Trong chiến dịch chống phe hữu năm 1957, hầu hết bọn lãnh tụ của liên minh này đã bị vạch mặt là phe hữu. Chúng bị như vậy là đáng lắm.
- Họ đã phục vụ Đảng Cộng sản Trung Hoa vào năm 1949, - tôi đã nhắc cho tên điều tra viên điều đó.
Số phận các lãnh tụ của Liên minh Dân Chủ là một thí dụ hùng hồn cho lối ăn cháo đá bát, vắt chanh bỏ vỏ của Mao Trạch Đông.
- Khi hoàn cảnh đổi thay thì… - tên điều tra viên lại tiếp tục giảng bài. Nhưng tôi đã vội vã đọc tiếp ngay để tôi khỏi phải nghe hắn giảng bài tiếp. Tôi nói:
- Tôi hiểu rồi! Đó cũng là một trường hợp khác trong cách vận dụng duy vật biện chứng vào thực tế cuộc sống chứ gì?
- Chúng tao đã kết luận là thằng chồng mày ở lại Thượng Hải là do lệnh của bọn Quốc Dân Đảng và của bọn đế quốc để chui vào Bộ ngoại giao của chính quyền nhân dân.
- Chính ông Chương Hán Phu – sau này làm thứ trưởng ngoại giao ở Bắc Kinh – là người tiếp quản văn phòng ngoại giao của nhà tôi ở Thượng Hải khi quân đội giải phóng tiến vào. Khi ông Chương đi Bắc Kinh nhận nhiệm vụ Thứ trưởng, chính ông ta đã mời ông nhà tôi tham gia chính quyền nhân dân và đi làm việc với ông ta tại Bộ Ngoại giao ở Bắc Kinh. Ông nhà tôi đã từ chối lời mời của ông Chương. Nếu ông nhà tôi muốn chui vào chính quyền nhân dân thì tại sao năm 1950, lại từ chối đi Bắc Kinh?
Trong lúc tôi đang trả lời hắn, tôi cũng đồng thời chợt nhớ đến một số ít các nhà ngoại giao của Quốc Dân Đảng trở cờ và làm việc cho Bộ ngoại giao của Cộng sản. Ông cựu đại sứ tại Miến Điện đã bị tố là phản cách mạng và bị tù rồi. Và nhiều người khác đã bị hành hạ, làm khổ nhục trong các chiến dịch chính trị liên tiếp. Tôi thường cảm ơn ông nhà tôi đã sáng suốt từ chối lời mời của Chương Hán Phu năm 1950.
- Thằng Chương Hán Phu là một trong những thằng của bè lũ Lưu Thiếu Kỳ khốn kiếp. Trước ngày giải phóng, nó đã bị bọn Quốc Dân Đảng bắt và đã phản lại Đảng Cộng sản. Bây giờ, nó cũng bị bắt rồi.
Tôi thật sự xúc động vì sự tiết lộ này. Bởi vì, Chương là người đi theo Thủ tướng Chu Ân Lai kia mà.
- Chương Hán Phu là thứ trưởng bộ ngoại giao của chính quyền nhân dân là một sự kiện có thật. Khi là Thứ trưởng, ông ta đã mời nhà tôi đi Bắc Kinh để làm việc cho Bộ Ngoại giao chính quyền nhân dân là một sự kiện có thật. Ông nhà tôi từ chối lời mời của ông Chương cũng là một sự kiện có thật. Các ông có thể dễ dàng kiểm chứng các sự kiện đó. Bây giờ, tôi hỏi các ông, nếu muốn chui vào chính quyền nhân dân thì tại sao nhà tôi lại từ chối lời mời của ông Thứ Trưởng ngoại giao của chính quyền nhân dân?
Luận điệu tôi đưa ra đó quá ư hợp logic đến nỗi điều tra viên đâm ú ớ không biết đối đáp sao cho xuôi. Lợi dụng lúc cả bọn chưa biết ăn nói làm sao đó tôi nói luôn để giải quyết luôn một lần cho xong:
- Thật ra khi chọn ở lại Thượng Hải chứ không theo Quốc Dân Đảng đi Đài Loan là vì ông nhà tôi đã có thiện cảm và thiện chí với Đảng Cộng sản Trung Hoa. Ông nhà tôi là quan chức của chính quyền Quốc Dân Đảng? Đúng! Nhưng ông nhà tôi đã không tuân lệnh của họ. Vậy thì, lẽ ra chính Quốc Dân Đảng ở Đài Loan phải kéo đến để cướp phá nhà tôi và tống chúng tôi vào tù mới phải chứ. Nhưng chúng đã bất lực, không làm được chuyện đó. Và các ông, các ông đã làm việc đó giùm cho họ. Vậy ai là kẻ hoạt động cho Quốc Dân Đảng?
Bị cáo buộc là hoạt động cho Quốc Dân Đảng là một sỉ nhục mà mấy “ông bà” Cách mạng không thể tha thứ. Tôi thấy mặt của ông điều tra viên tái nhợt đi, mạch máu trên thái dương hắn giật giật dường như hắn đang hết sức cố gắng để tự kiềm chế. Tên lính đứng bật dậy, đưa tay rút súng ra khỏi bao.
- Câm! Câm ngay! - Hắn quát lớn đến lạc cả giọng.
Nhưng ông công nhân già đã lên tiếng bằng giọng điềm đạm và giải hòa:
- Chị được quyền phát biểu lập trường của chị. Lãnh tụ vĩ đại của ta đã dạy: sắp đăt sự kiện, nói năng hợp lý. Chúng tôi cho phép tự biện hộ. Nhưng chị không được phỉ báng những người cách mạng bằng cách cáo buộc họ là hoạt động cho Quốc Dân Đảng.
Tên điều tra viên nhìn đồng hồ và thì thầm gì đó với mấy người kia.
Rồi hắn nói với tôi: “Bây giờ cho mày trở về xà lim. Chiều nay ta lại bắt đầu!”.
Tôi bị gọi lên thẩm vấn từ sáng sớm, không có một chút gì trong bụng.
Bởi vậy, bây giờ tôi đói và kiệt sức. Tôi đứng dậy, thấy mặt mày xây xẩm. Trời đất quay cuồng và tối xầm. Tôi phải vịn chặt vào cái ghế để khỏi té. Hai chân tôi run run đứng đi loạng choạng cũng không nổi. Nhưng tôi không muốn cho mấy tên kia hiểu sai sự yếu ớt của tôi như một dấu hiệu của sự hốt hoảng. Bởi vậy, tôi chỉ vào chỗ mắt cá chân sưng vù của tôi và nói:
- Tôi muốn trao cho các ông lời phản đối một cai ngục đã đến tận xà lim tôi tối hôm qua để đánh đập tôi, đá vào chân tôi như thế này đây.
- Phi lý – tên điều tra viên nói – giám thị không được phép đánh đập hay là đá vào chân!
- Chắc chắn đã có một giám thị làm như vậy!
Tôi khập khễnh đi theo một gã cai ngục đi ra khỏi phòng điều tra. Tôi cảm thấy đói và sợ là đã hụt mất bữa cơm duy nhất trong ngày vì đã quá giờ ăn. Bữa ăn chiều chỉ là mấy lát khoai luộc và ăn vào là tôi cứ anh ách, không tiêu hóa được. Nhưng khi dẫn tôi về xà lim mụ cai ngục trực phiên hôm đó đã nói với tôi là mụ đã ủ phần cơm dành cho tôi và còn nói thêm: “Nếu chị cần, tôi sẽ đem nước nóng cho chị uống”. Mụ nói nhỏ nhẹ, không có mày tao không có quát tháo. Thật ra trong số các cai ngục thì mụ cai ngục này xưa nay vẫn là người “hiền” nhất. Nhưng đối đãi với tù nhân “điệu nghệ” như đối với tôi hôm nay thì thật là điều tôi chưa bao giờ nghe nói. Tôi thấy phần cơm và rau bắp cải dành cho tôi được đổ vào cà men và ủ trong tấm mền của tôi. Vì vậy, lúc tôi về cơm vẫn chưa bị nguội. Mụ cai ngục xách bình thủy nước nóng đến tận cửa xà lim và rót cho tôi đầy một ca nước nóng. Tôi ngồi xuống mép giường vừa nhai cơm vừa hồi tưởng lại những gì sáng hôm nay. Rõ ràng tên điều tra viên là một tay có học thức và thông minh nhất so với mấy tên kia. Căn cứ vào cái vẻ tự tin của hắn, tôi chắc chắn phải là một đảng viên dày dạn kinh nghiệm. Hắn có phải là một “người theo Mao” thứ thiệt hay không thì tôi không dám nói chắc. Nhưng chắc chắn hắn được coi là “người theo Mao” bởi vì hắn được giao công tác điều tra viên kia mà, ông già công nhân thì rõ ràng không phải là người “ theo Mao”. Theo ý tôi có lẽ ông ta được chọn là vì ông ta là một công nhân công nghiệp thâm niên, loại người được đặt vào “đội Công Nông tuyên truyền” cho có phần hình thức vậy thôi. Tên trẻ ngồi dửng dưng ghi ghi chép chép rõ ràng chỉ là thư ký và hắn ngồi đấy là vì công việc của hắn là ghi chép. Tôi không tài nào phát hiện ra được nỗi buồn phiền thật sự trong giọng nói của hắn hoặc trong nét mặt của hắn khi tôi nói về Lưu Thiếu Kỳ. Hai tên còn lại, - tên công nhân và tên sĩ quan non choẹt – thì đúng là“ người theo Mao” thứ chính phẩm. Chúng có cái vẻ mặt cũng như cử chỉ, đúng là thanh niên thời đại Mao Trạch Đông, xuất thân từ một gia đình nghèo khổ được học tập chính trị nhiều hơn là văn hoá, nên không có khả năng tư duy độc lập. Nói, nghĩ và hành động như con vẹt, như con khỉ. Hoàn toàn rập khuôn! Không bản sắc! Không cá tính!
Nhưng động thái của mụ cai ngục mới là lạ lùng hơn hết. Sáng hôm đó, tôi đã làm gì mà được lòng mụ đến như vậy. Đó là câu hỏi khiến tôi thắc mắc khi nhai những cọng rau cải bắp già, dai nhách. Điều duy nhất tôi đã làm và được coi là bất thường, ấy là nói vài câu bênh vực Lưu Thiếu Kỳ. Mụ thưởng tôi phải chăng vì tôi đã nói ra cái điều mụ nghĩ nhưng không giám nói, vì sự mất công ăn việc làm, có khi mất mạng.
Liên hệ cảm tình cá nhân rất quan trọng đối với người Trung Hoa và là một truyền thống có từ hàng mấy ngàn năm trước. Người Cộng sản Trung Hoa cũng không tránh khỏi khi một lãnh tụ Cộng sản bị “thất sủng” thì tất cả những “đàn em”, và ngay cả những người chỉ cùng làm việc với ông ta bất kể là có liên hệ lâu đời và sâu xa hay không cũng bị thất sủng hết… vì toàn bộ sở công an Thượng Hải bị “những người theo Mao” tố, vậy thì ở nhà giam số 1 – trực thuộc sở công an – cũng sẽ có một số người mà số phận bị liên lụy với số phận của Lưu Thiếu Kỳ và những người này có cảm tình với Lưu Thiếu Kỳ. Nếu việc tôi bênh vực Lưu Thiếu Kỳ làm cho tôi được đối đãi tử tế hơn, nhân đạo hơn thì đó cũng là việc đáng làm. Tăng thêm cơ may sống sót phải được coi là ưu tiên hàng đầu. Nhưng không phải vì vậy mà tôi bênh vực Lưu Thiếu Kỳ mà chính vì cái ý thức về sự công bằng của tôi bị xúc phạm.
Khi tôi lại bị đưa lên phòng điều tra vào buổi chiều, tên điều tra viên chỉ khoát tay ra dấu về phía chân dung Mao, tôi cúi đầu chào. Rồi hắn chọn cho tôi một trích đoạn của Mao, bảo tôi đọc: “bọn phản động chỉ là những con hổ giấy. Nhìn bề ngoài thì bè lũ phản động có vẻ hùng mạnh, nhưng thực ra chúng không có sức mạnh như ta tưởng”.
Tôi đọc xong, tên điều tra viên nói:
- Mày tiếp tục khai. Nói về trường hợp thằng chồng mày đến tiếp xúc với cơ quan gián điệp của nước Anh.
- Ông nhà tôi không khi nào dính líu gì đến bất cứ cơ quan gián điệp nào: Shell là một công ty dầu lửa quốc tế có danh tiếng tốt.
- Chi nhánh Thượng Hải của nó là một cơ quan gián điệp.
- Không phải.
Điều tra viên cầm lấy xấp giấy trước mặt bàn và lặng lẽ đọc trong khi hai “ông” công nhân nhìn tôi chòng chọc. Cứ mỗi lần lật qua trang, hắn lại nhìn tôi, lắc đầu như thể hắn thấy một điều gì đó trên tờ giấy đó nói về tôi làm cho hắn xúc động. Tôi biết là hắn chỉ giả bộ đọc. Cái tờ giấy trước mặt hắn có thể là tài liệu về chiêm tinh theo như tôi dự đoán, bởi vậy, tôi cứ tỉnh bơ và bình tĩnh, lặng lẽ chờ điều tra viên lên tiếng. Lát sau, hắn đặt giấy xuống và nói:
- Những công nhân viên hãng Shell sáng suốt hơn mày. Họ biết lợi ích của họ nằm chỗ nào. Họ đã thú nhận tất cả rồi – hắn chỉ vào xấp giấy – đây là vài bản tự thú của họ. Có những bản do các nhân viên cấp cao của công ty viết – kể cả cựu trưởng phòng kế toán – đã cung cấp nhiều chi tiết hữu ích về hoạt động gián điệp của văn phòng này.
- Thế càng hay. Nếu các ông có đủ những điều các ông cần biết, sao còn ép tôi phải nhận tội ẩu làm gì nữa?
- Mỗi người đều phải xưng tội mình ra.
- Nếu các ông muốn tôi nói, tôi chỉ có thể nói sự thật. Shell là một hãng doanh nghiệp. Nó không có dính dáng gì đến chính trị, Shell đã ở lại Trung Hoa, vì Shell muốn phát triển giao thương với Trung Hoa. Và dù gì đi nữa, nó đã có mặt ở Thượng Hải chính là vì chính quyền nhân dân đã cho phép nó có mặt ở đấy. Các quan chức chính quyền nhân dân mà chúng tôi tiếp xúc, tất cả đều đã cho chúng tôi cái cảm tưởng là chính quyền nhân dân đã khuyến khích hãng Shell duy trì chi nhánh của nó ở Thượng Hải.
- Đúng! Bọn cò mồi của giai cấp tư sản trong Đảng đã cố bao che cho tổ chức gián điệp của ngoại bang, – tên điều tra viên nói - điều đó đã rõ.
- Tôi khuyên ông nên cẩn thận lời ăn, tiếng nói của mình. Chính Hội đồng Bộ trưởng đã cho phép hãng Shell ở lại Trung Hoa chứ không phải ai khác đâu.
Điều mà tôi không nói rõ là lệnh cho phép hãng Shell duy trì chi nhánh đầu não của nó ở Thượng Hải do chính ngài thủ tướng Chu Ân Lai ký. Hẳn điều tra viên đã biết điều đó. Tôi không thể nào không tự hỏi phải chăng sắp tới, ngài Thủ tướng cũng sẽ là một trong những lãnh tụ hàng đầu mà lãnh tụ nhóm theo Mao muốn lật đổ hay không. Nhưng họ chưa dám tung ra những lời tố cáo công khai khi mà Chu Ân Lai còn ngồi ở ghế Thủ Tướng.
- Shell là một công ty đa quốc. Và như vậy – theo chủ nghĩa Mác – đó là hình thức tệ hại nhất của xí nghiệp Tư bản Chủ nghĩa. Nó bóc lột giai cấp công nhân của nhiều quốc gia. Xét về mặt chính trị, những công ty như vậy luôn luôn là chống cộng nhất và phản động nhất. Lẽ ra, không bao giờ được phép cho nó ở lại Trung Hoa sau ngày giải phóng.
- Tôi không đồng ý với ông. Tôi cho đó là một biện pháp hết sức khéo léo và tế nhị khi ta cho phép công ty dầu lửa của nước Anh được ở lại Trung Hoa, trong khi nước Mỹ thực hiện biện pháp cấm vận dầu lửa cho Trung Hoa để chống Trung Hoa. Có nghĩa là biện pháp ấy đã gây chia rẽ trong hàng ngũ địch. Còn gì khéo léo hơn? Qua đọc sách của Mao Chủ tịch, tôi hiểu rằng người đã chủ trương việc tạo ra chia rẽ, gây xích mích trong hàng ngũ địch là một chiến thuật rất hữu hiệu trong đấu tranh giai cấp.
Tên công nhân trẻ tuổi xía ngang vào một câu:
- Mao Chủ tịch lãnh tụ vĩ đại đã dạy chúng tao phải tự túc, tự lực, tự cường. Vì vậy, chúng tao đếch cần các công ty ngoại quốc.
Tôi cũng trích dẫn lời của Mao Trạch Đông để đối đáp lại tên công nhân trẻ tuổi kia:
- Cũng chính Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại của chúng ta đã dạy: “chúng ta không từ chối ngoại viện, nhưng chúng ta dựa vào sức mình là chính”. Người đâu có loại trừ việc nhận ngoại viện?
- Mày không được xếp việc giao thương với một công ty như công ty Shell với việc ngoại viện của các nước đồng minh thân hữu, - tên điều tra viên nói.
- Từ nhiều năm nay, công ty Shell đâu có giao thương với Đài Loan hoặc đặt văn phòng nào ở đó – tôi đáp lại lời của điều tra viên – vậy còn cái gì hữu nghị với chính quyền nhân dân hơn nữa nào?
- Mày thật lẻo mép! Cái lưỡi của mày như lưỡi rắn! Quay quắt. Lúc đầu mày bênh vực Lưu Thiếu Kỳ. Bây giờ mày quay ra bênh vực một công ty đa quốc phản động. Ngay cả trường hợp mày chưa phạm tôi gì thì chỉ nguyên những điều mày nói hôm nay trong phòng điều tra này cũng đủ để chúng tao kết án mày, - tên điều tra viên nói thế.
- Tất cả những điều tôi đã nói đều là sự thật. Tất cả những gì các ông đã nói đều là những cáo giác ẩu, dựa trên tưởng tượng. Các ông được coi là những người Cách mạng sáng suốt, đại diện cho chính quyền nhân dân và Đảng Cộng sản, còn tôi, chỉ là mụ già lạc hậu.
Tức giận trước nhận xét của tôi, tên điều tra viên đập bàn, thét lớn:
- Mày đang quên mày là ai. Đây là phòng điều tra của nền chuyên chính Vô sản.
Tên công nhân trẻ nói tiếp bằng giọng hết sức gay gắt, phẫn nộ:
- Đứng dậy! đứng dậy! Cứ đứng đó, mày bị trừng trị vì dám tỏ ra khinh nhờn chuyên chính vô sản.
Và tôi đứng dậy. Tên điều tra viên nói:
- Mày nói tiếp trường hợp thằng chồng mày đến gặp cơ quan gián điệp ngoại bang tức là nước Anh đi.
- Nếu ông còn đặt vấn đề theo lối đó thì tôi đành chịu không trả lời ông được.
- Mày thận trọng quá. Bọn đế quốc huấn luyện mày kỹ quá. Mày không chịu nhượng bộ một điểm nào hết, - tên điều tra viên nói.
Ông công nhân già lúc này mới ôn tồn lên tiếng:
- Mày hãy trả lời vài câu hỏi của điều tra viên. Chúng tao sẽ bỏ ra ngoài vấn đề “cơ quan gián điệp” trong lúc này.
- Đúng – tôi đáp – chỉ nên kết luận sau khi đã điều tra, đó là điều Mao Chủ tịch đã dạy chúng ta. Người nói: “không điều tra nghiên cứu thì không được quyền nói!”
Tên điều tra viên đập bàn lần nữa và quát lên:
- Chúng tao không cần mày dạy chúng tao. Mày đừng có xấc láo, mày quên rằng mày là tù, còn tao là đại diện cho chính quyền nhân dân.
- Tôi được quyền trông đợi đại diện của chính quyền nhân dân nói năng cho hợp lý, tôn trọng lời nói và tìm ra sự thật trong trường hợp của tôi. Được chứ?
- Đúng là chúng tao đang tìm sự thật, nhưng mày từ chối không chịu thú tội.
- Tôi có thể bị ghép cho là thiếu tinh thần trách nhiệm nếu tôi khai gian. Tôi không tin rằng những lời khai gian, thú tội ẩu lại có thể phục vụ cho lợi ích của chính quyền hay bất cứ ai khác. Những lời khai gian thú tội ẩu ấy chỉ làm cho thêm rối mà thôi. Tôi chưa bao giờ làm điều vì chống lại luật pháp. Để giúp các ông tìm hiểu chắc chắn những sự kiện có thật, tôi rất sung sướng được trả lời bất cứ câu hỏi nào mà các ông muốn hỏi tôi. Tôi sẽ nói sự thật. Nếu tôi nói dối hoặc cố tình giấu giếm, tôi xin chịu trừng phạt nặng nề. Thực ra, tôi sẽ rất sung sướng ký vào một bản cam kết như vậy nếu các ông cho tôi tờ giấy để viết ngay ở đây, ngay bây giờ.
Sau khi hỏi ý điều tra viên, tên thư ký trao cho tôi tờ giấy. Tôi bước lại chỗ “quầy” và viết tại chỗ những dòng chữ đại khái như thế này:
“Tôi là một công dân Trung Hoa yêu nước và tôn trọng luật pháp. Tôi chưa bao giờ làm điều gì chống lại chính quyền nhân dân. Nếu điều tra viên của chính quyền nhân dân tìm ra được bất cứ người nào trên cả nước Trung Hoa này đã được tôi tìm cách để moi tin tức thuộc loại mật, tôi sẵn lòng bị xử tử. Sau khi kết thúc cuộc điều tra trường hợp của tôi và thấy là tôi vô tội, Chinh quyền Nhân dân phải phục hồi đầy đủ cho tôi, kể cả việc xin lỗi tôi công khai trên báo chí”.
Tôi đề ngày, tháng, ký tên rồi trao tờ giấy ấy cho tên điều tra viên. Hắn đọc và chuyền tờ giấy ấy cho những người khác. Ông công nhân già lấy mắt kính, lau kính cẩn thận. Ông vừa đọc vừa gật đầu tỏ ý tán thưởng. Đưa tay chỉ vào ghế ngồi dành cho tù nhân ông ta nói với tôi: “Ngồi xuống đi, cứ ngồi xuống đi”.
Cả tên lính lẫn tên công nhân trẻ đều không đọc tờ cam kết đó của tôi. Tên công nhân trẻ nói bằng giọng chế nhạo:
- Mày đúng là đồ bịp bợm, láu cá như thằng tráo bài ba lá ngoài chợ!
Tên điều tra viên nói tiếp:
- Trong trường hợp nào thằng chồng của mày trở thành tổng quản lý của chi nhánh hãng Shell ở Thượng Hải?
- Kể từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai, công ty Shell áp dụng chính sách công dân mới của quốc gia mà họ hoạt động ở đó làm tổng quản lý.
- Chứ không phải vì chúng tin rằng, là một người Trung Hoa thằng chồng mày lấy được, thu nhập được tin tức dễ hơn là một tổng quản lý người Anh?
- Lợi thế duy nhất chồng tôi có mà một tổng quản lý người Anh không có, ấy là ông nhà tôi không cần có thông ngôn khi phải thương lượng với đại diện của công ty xuất nhập khẩu của chính quyền nhân dân.
- Thằng chồng mày đã đi Hồng Kông nhiều chuyến. Và năm 1956, cả hai vợ chồng mày cùng đi sang nước Anh và nhiều nước ở châu Âu – tên điều tra viên hỏi – chúng tao đặc biệt quan tâm đến chuyến đi châu Âu của mày, vì chúng tao biết chúng mày đến tổng hành dinh của cơ quan tình báo của nước Anh để nhận chỉ thị.
- Các ông vô tình hay cố ý lẫn lộn cái nọ với cái kia, thành thử ra lộn xộn rối mù. Chúng tôi đi Luân Đôn để thăm trụ sở chính của công ty Shell. Rồi chúng tôi đi La Haye (Hà Lan) cũng trong mục tiêu ấy. Vì công ty Shell có hai trụ sở chính một nước ở Anh, một nước ở Hà Lan. Ông nhà tôi đàm luận với giám đốc về viễn tượng giao thương với Trung Hoa. Công ty xuất nhập khẩu và công ty hoá chất ở Bắc Kinh đều cùng lo cho ông nhà tôi có chuyến đi này. Họ muốn thương lượng nhiều vấn đề với hãng Shell. Viễn tượng giao thương xem chừng đầy hứa hẹn. Các chuyên gia người Anh đã được mời sang Trung Hoa để giúp Trung Hoa tổ chức thăm dò tìm dầu. Nhưng ngay sau khi chúng tôi về nước thì “chiến dịch chống phe hữu” được phát động kế tiếp ngay sau đó là “Bước nhảy vọt vĩ đại”. Thế là mọi sự, mọi việc điều ngưng lại hết. Các quan chức ở Bắc Kinh hứng khởi về kế hoạch này đã không còn được quyền quyết định gì hết. Các chuyên gia người Anh đã lên đường sang Trung Hoa rồi, cũng phải quay trở lại. Rồi, không còn làm được cái gì thêm nữa.
- Làm thế nào mà chúng mày có được giấy thông hành? Ai cho phép mày đi châu Âu trong khi mà thường thường lúc đó, tư nhân không được phép xuất ngoại?
- Vợ chồng tôi nạp đơn xin xuất ngoại ở bộ ngoại giao. Chúng tôi được phép xuất ngoại – theo ý tôi – vì chính quyền nhân dân lúc đó cho rằng chuyến đi của chúng tôi hữu ích cho quyền lợi của Trung Hoa.
Tôi nhớ tới lúc đó đã cùng với nhà tôi đi Bắc Kinh khi ông nhà tôi được công ty Xuất nhập khẩu mời lên để bàn về việc cung cấp thuốc trừ sâu và phân bón hoá chất của công ty Shell. Mao Trạch Đông muốn làm cho trầm trọng thêm tình hình sản xuất lúa gạo ở Trung Hoa vốn đã bị thiếu hụt, để chứng tỏ ưu thế của các hợp tác xã nông nghiệp. Hôm trước ngày chúng tôi từ Bắc Kinh về Thượng Hải, ông nhà tôi đã đến công ty xuất nhập khẩu lần chót để trao đổi. Những người mà ông nhà tôi đã bàn tính công việc suốt một tuần lễ qua đã cho ông nhà tôi biết giấy thông hành của chúng tôi đã được chấp nhận và đã được gởi về Thượng Hải cho chúng tôi rồi. Họ nói thêm “Đích thân ngài thủ tướng chấp thuận giấy thông hành” cho chúng tôi. Khi trao đổi với người ngoài đảng như ông nhà tôi, các quan chức trong đảng thường không tiết lộ gì ngoài những tin tức cần thiết. Cho nên, khi cho biết “Đích thân ngài thủ tướng chấp thuận…” là có ý khuyến khích ông nhà tôi, trong chuyến đi thương lượng với công ty Shell ở Luân Đôn, phải có đạt được những gì mà Trung Hoa cần.
Tên điều tra viên đã nhằm khẳng định chuyến đi Luân Đôn của vợ chồng tôi là nhằm mục đích “thăm tống hành dinh của tổ chức tình báo Anh quốc để nhận chỉ thị”. Nếu đúng như vậy - và họ đã cố làm sao để tôi thú nhận như vậy – thì ngài thủ tướng đã chấp thuận chuyến đi ấy sẽ có thể bị gán cho là đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động gián điệp. Phải chăng bọn người theo Mao tính “chơi” cả Thủ tướng Chu Ân Lai? Làm vậy khiên cưỡng và phi lý. Nhưng luận điệu buộc tội Lưu Thiếu Kỳ đâu phải là không khiên cưỡng và không phi lý? Khi điều tra viên nói hắn muốn tôi thú tội bởi vì cũng còn nhiều người khác liên can đến “tội” ấy nữa và cũng còn “nhiều tên giương cao ngọn cờ đỏ để chống lại ngọn cờ đỏ”, câu đó có thể ám chỉ đến cả ngài Thủ tướng Chu Ân Lai? Tôi chỉ có thể dự đoán chứ có lẽ không bao giờ biết được sự thật. Nhưng tôi không loại trừ ý kiến cho rằng cả Lâm Bưu lẫn mụ vợ của Mao là Giang Thanh đều muốn gạt Chu Ân Lai ra. Có lẽ Lâm Bưu coi Chu Ân Lai như một trở ngại cho tham vọng của y.
Tôi đang miên man suy nghĩ thì tiếng nói của điều tra viên đã lôi tôi trở lại với thực tế của phòng thẩm vấn.
- Mày dám nói chuyến đi của mày là có ích cho quyền lợi của nước Trung Hoa?
- Các quan chức mà nhà tôi gặp ở Bắc Kinh đã cho nhà tôi hay rằng nếu nhà tôi tranh thủ được nơi hãng Shell những gì mà nhà nước đang cần thì ấy là đã phục vụ nước nhà không ít đâu. Họ cũng nói giao thương với nước ngoài có lợi cho Trung Hoa.
- Đó là chính sách của “bọn cò mồi cho tư bản” nằm trong Đảng và nhằm chống lại chính sách của Mao Chủ tịch lãnh tụ vĩ đại.
- Các ông không nên đòi hỏi những người ngoài Đảng như chúng tôi phải biết những điều đó. Chúng tôi như con sâu, cái kiến, làm sao biết được “các vị thần trên núi Olimpic” làm gì. Đối với chúng tôi chính quyền nhân dân là chính quyền nhân dân, và chúng tôi có bổn phận phải nghe, phải tin các vị đại diện của chính quyền nhân dân. Chúng tôi làm sao biết được vị nào là chó săn, cò mồi, vị nào là đại diện chân chính của chính quyền nhân dân?
- Mày hãy báo cáo thật và đầy đủ về hoạt động của vợ chồng mày lúc đang ở Anh và nhiều nước châu Âu khác mà tụi mày đến thăm. Báo cáo luôn những tin tức mà tụi mày đã tiết lộ ra.
- Ông nhà tôi đã thăm trụ sở chính của công ty đặt trên nước Anh và nước Hà Lan. Ông nhà tôi đã gặp nhiều vị giám đốc và những người trông coi tài sản, quyền lợi của công ty ở vùng viễn đông. Ông cũng thăm nhiều nhà máy lọc dầu và chế biến phó sản dầu lửa. Chúng tôi có gặp một vài bạn bè cũ.
- Tụi mày có gặp các quan chức trong chính quyền nước Anh không?
- Có một vài bạn của chúng tôi bây giờ là viên chức của bộ ngoại giao Anh.
- Chúng nó có hỏi tụi mày về tình hình Trung Hoa không?
- Tình hình Trung Hoa năm 1956 – 1957, trước khi có chiến dịch chống phe hữu, thì rất là tốt. Chúng tôi rất sung sướng để kể lại cho họ điều đó. Lần đầu tiên sau nhiều năm chiến tranh. Ta đã kiểm soát được tình hình lạm phát. Kế hoạch năm năm lần thứ nhất đã hoàn thành có kết quả. Nhân dân hài lòng, có hòa bình, và những điều đó thì họ cũng biết.
- Nhất định là chúng bay phải tiết lộ cho chúng những gì chúng chưa biết. Mày phải khai tất cả những điều đó ra!
- Chúng tôi có thể nói gì với họ? Nếu các ông cứ rà soát lại những bạn bè quen biết của chúng tôi ở Trung Hoa, các ông sẽ thấy ngay là trong số ấy không có ai có thể nói với chúng tôi bất cứ điều gì quan trọng, bởi lẽ giản dị là chẳng có ai trong số ấy giữ địa vị quan trọng để có thể biết được những gì quan trọng. Và cũng đã rõ ràng là chúng tôi đâu có được lai vãng đến những văn phòng quan trọng của nhà nước để mà lén coi tài liệu. Tóm lại bản thân chúng tôi không thể biết được điều gì quan trọng thì lấy gì để nói cho họ. Bịa ra à?
- Điều nào quan trọng, điều nào không quan trọng chỉ có chúng tao mới có quyền thẩm định, chứ thứ hạng chúng bay không có quyền đó. Tao muốn mày viết một báo cáo chi tiết cụ thể về chuyến đi Âu châu của chúng bay 1956 – 1957. Lập danh sách tất cả những người mày đã gặp, viết ra những điều mày đã nói với chúng nó. Chúng tao sẽ xét xem trong những điều mày nói với chúng nó điều nào là quan trọng.
- Đó là một công việc không thể làm được và chẳng lợi ích gì. Thứ nhất bản thân ông có nhớ được, cũng ngày này cách đây mười mấy năm, ông đã gặp những ai và đã nói những điều gì với họ không. Nếu ông còn nhớ tôi xin bái phục cái trí nhớ tuyệt vời siêu đẳng của ông. Riêng tôi, rất tiếc tôi không có cái trí nhớ siêu phàm ấy. Thứ hai, khi ông nhà tôi đến gặp các nhân viên của hãng Shell hoặc đi thăm các nhà máy của họ thì ông nhà tôi đi một mình, tôi không đi theo. Do đó tôi đâu biết ông nhà tôi nói gì với họ? Thứ ba, làm sao ông kiểm chứng được sự thật của những gì tôi nói ra. Ông sang nước Anh và hỏi từng người mà tôi đã nói chuyện với họ được chăng? Vậy cái điều mà ông có thể làm, có thể dò xét, kiểm chứng là các ông cứ kiểm tra những quan hệ của tôi ngay trên đất Trung Hoa để xem xem chúng tôi có thể nào có được nguồn tin mật nào không. Tôi dám bảo đảm với các ông là tôi không biết một người nào có thể nói với chúng tôi điều gì có thể được coi là tin tức “tình báo”.
Tên điều tra viên tức giận hỏi tôi:
- Ở đây, mày hay là tao, hướng dẫn cuộc điều tra?
Dĩ nhiên, tôi biết điều tra viên muốn “bẫy ” tôi, tôi mà ăn nói hớ hênh một chút là hắn “chụp” liền. Một lời nói có vẻ rất ngây thơ cũng có thể bị xuyên tạc, bị bẻ quẹo đi, nếu cứ lượm lặt đây một chữ, kia một câu, rồi chắp nối lại. Và nếu ta viết về những cuộc làm ăn, sinh hoạt hàng ngày, có mấy khi ta chú ý cẩn thận? Bởi vậy, tôi chỉ nói:
- Dĩ nhiên, ở đây ông là điều tra viên, và như chính ông đã nói với tôi, ông là đại diện của chính quyền nhân dân. Tôi sẽ làm bất cứ điều gì ông bảo làm. Tuy nhiên theo tôi thì chỉ mất thì giờ vô ích.
- Chúng tao không quan tâm đến việc mất thì giờ hay không, nếu chúng tao “khui” được một thằng gián điệp của bọn đế quốc. Chúng tao tin rằng tất cả các xí nghiệp ngoại quốc hoạt động ở Trung Hoa đều “hai mang” hết. Chúng giao thương để kiếm tiền vì tiền là chúa trời của tụi tư sản. Nhưng chúng cũng thu lượm tin tức cho chính quyền của chúng.
- Biết vậy các ông còn giao thương với chúng làm gì? Ai chớ không phải chính các ông đã cầu cạnh giao thương với chúng nó?
- Các nước tư bản sẽ không bao giờ từ bỏ nỗ lực tìm cách lật đổ Trung Hoa vì Trung Hoa là một Xã hội Chủ nghĩa – tên điều tra viên làm lơ câu hỏi của tôi và nói tiếp – bây giờ, chúng tao mạnh rồi. Chúng nó không còn hi vọng tiêu diệt chúng tao bằng phương tiện quân sự. Vì thế chúng đặt hy vọng của chúng vào sự phân hóa nội bộ. Tất cả tụi bay, những đứa đã được huấn luyện trong trường đại học của chúng nó, đều có thể là đồng minh ngầm của chúng nó. Nước Anh là một cường quốc đế quốc đầu tiên xâm lăng Trung Hoa. Ngay bây giờ chúng vẫn còn đang chiếm giữ Hồng Kông kia mà. Trong khi chúng thừa nhận chính quyền nhân dân về mặt ngoại giao, thì mặt khác, tại Liên Hợp Quốc, nó lại hùa với bọn Mỹ để bỏ phiếu ngăn cản không cho Trung Hoa dành lấy ghế của mình tại tổ chức quốc tế này. Trong khi bọn Mỹ công khai ủng hộ bọn Quốc Dân Đảng thì bọn Anh lại chơi trò lá mặt lá trái, như vậy còn nguy hiểm hơn nhiều. Bởi vì như vậy nó có thể lừa gạt được người ta.
- Ông nói quá!
- Tốt hơn, mày đừng cố bênh vực bọn đế quốc Anh nữa. Làm như vậy, tội trạng của mày chỉ thêm nặng ra mà thôi.
Rõ ràng là có tranh luận với bọn này về vấn đề quốc tế thì chẳng khác gì vạch đầu gối ra mà nói chuyện. Tôi lặng thinh và chờ xem hắn có nói gì khác hơn không.
- Trước khi mày viết bản tự thú, mày nên chỉnh lại những ý kiến của mày về thằng Lưu Thiếu Kỳ. Mày nên biết là bọn chó săn cò mồi này đã hết thời rồi. Tất cả những đứa bị “khui” ra, đã bị vạch mặt chỉ tên, sẽ không còn đủ sức để lật ngược tình thế nữa rồi. Chúng tao đang “khui” tiếp những thằng còn lẩn trốn chui rúc. Chính sách của lãnh tụ vĩ đại của chúng tao sẽ dứt khoát thắng lợi. Bởi vậy, con đường duy nhất của mày là khai ra, khai ra hết và đứng về phía những người Cách mạng Vô sản. Mày sẽ “hố” to nếu mày nghĩ rằng Trung Hoa có thể quay trở lại những ngày tiền Cách mạng Văn hóa, cái ngày mà lũ chó săn cò mồi có thể bao che cho mày.
Vậy mà hóa ra tôi lại lấy làm thích thú với những ngày bị điều tra, thẩm vấn. Bởi vì tôi đã có cơ hội để nói – và theo ý tôi – tôi đã làm sáng tỏ được nhiều điểm. Bởi vậy tôi quyết định dùng cái dịp tốt mà tên điều tra viên đã vô tình tạo ra cho tôi để bênh vực Lưu Thiếu Kỳ thêm chút nữa. Tôi cần xem tôi đã đúng hay không khi nghĩ rằng trong số những “người theo Mao” ở nhà tù số một này có lẫn một ít “người theo Lưu”. Lại giả bộ ngây thơ, ngốc nghếch, tôi nói:
- Thú thật tôi vẫn chưa hiểu chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ đã làm điều gì sai lầm và tại sao Mao Chủ tịch lại muốn trừng trị ông ta. Trong các sách vở “người” đã viết, Mao Chủ tịch đã dành nhiều chỗ để ca ngợi Lưu chủ tịch. Tôi đã đếm được những đoạn ấy trong khi đọc sách do Mao Chủ tịch viết, tôi hy vọng Mao Chủ tịch có thể bỏ qua những sai lầm nếu có của Lưu chủ tịch. Các ông không nghĩ đó là một điều hay cho Đảng Cộng sản và đất nước Trung Hoa hay sao? Ngoài ra, ai, nếu chẳng phải là Lưu chủ tịch, đã sáng tạo ra kiểu nói “tư tưởng Mao Trạch Đông” và thúc đẩy Đảng viên phải nghiên cứu, học tập các sách do Mao Chủ tịch viết đó sao? Và như vậy, Lưu chủ tịch đã tỏ ra tôn sùng Mao Chủ tịch lắm đấy chứ?
Chúng nó gầm lên:
- Mày không được phép gọi thằng phản bội ấy là “chủ tịch”. Mày không được phép bênh vực thằng Lưu Thiếu Kỳ!
Đợi cho chúng hết “sủa”, ngồi xuống, vẫn cứ bằng cái giọng ngây thơ, tôi đủng đỉnh nói tiếp:
- Dĩ nhiên, đời nào tôi dám bênh vực Lưu Thiếu Kỳ nếu ông ta có tội. Nhưng tôi tự hỏi không biết những tài liệu dựa vào đó Ủy ban Trung ương xét đoán, những tài liệu ấy có thật sự tin cậy hay không? Các ông cũng biết thừa đi là nhiều người bị đe dọa này nọ nên đành khai gian, thú ẩu. Tôi cho là tình hình đó thời nào cũng có.
(Sau khi Mao chết và kế đó là mụ Giang Thanh bị bắt, nhân dân Trung Hoa được chính thức cho biết qua một tài liệu của Ủy ban Trung ương là những bằng chứng đưa ra để buộc tội Lưu Thiếu Kỳ là do một nhóm đặc biệt của Giang Thanh và Lâm Bưu ngụy tạo ra. Tài liệu ấy nói “lũ người theo Mao” đó là Giang Thanh và Lâm Bưu tuyển chọn đã vây bắt những “đồng bọn” của Lưu, hành hạ họ và bức bách họ phải cung cấp những “chứng cớ” mà chúng cần thiết. Để chứng minh cho Giang Thanh biết “lũ người theo Mao” này đã thực thi chỉ thị của mụ một cách trung thực như thế nào, bọn đó đã cho thu thanh những tiếng la hét đau đớn của nạn nhân khi bị chúng tra tấn để mớm cung và ghi lại cho Giang Thanh nghe).
Khi tôi rỉ rả nói xong, tên điều tra viên kêu lên và có vẻ kinh sợ vì nhận định có vẻ “ngây ngô” của tôi:
- Câm ngay! Câm ngay! Mày là con mụ điên – thằng Lưu Thiếu Kỳ là có tội. Và mày cũng vậy nữa.
- Tôi chưa phạm tội gì hết. Đó là điều tôi còn chắc chắn. Và tôi có cảm tưởng là chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ cũng chẳng có tội gì hết.
- Câm ngay! Câm ngay! Khoá cái mồm nó lại! – tên điều tra viên vội vã nói tiếp – Mày không được phép nói nữa!
Tôi nghe tiếng động mạnh phía sau lưng. Lần này người ta chẳng cần thận trọng nhè nhẹ đóng cửa sổ phía sau lưng tôi để khỏi gây tiếng động. Dường như người ngồi nghe ở phía ngoài cảm thấy bực bội và mệt mỏi vì cái “trò chơi” này. Hắn dằn mạnh cái cửa sổ để biểu lộ sự khó chịu. Điều tra viên vội vã đứng dậy và đi ra khỏi phòng.
Lúc quay trở lại, hắn không vào chỗ ngồi nữa mà đứng ngay gần chỗ tôi ngồi trao cho tôi một xấp giấy và nói:
- Mày về xà lim, viết lại mọi sự về chuyến đi châu Âu của mày. Ghi rõ, ghi đủ tên của tất cả những người mày đã gặp và những điều mày đã nói với chúng. Cung khai cho đầy đủ.
Một cai ngục đứng chờ tôi ở cửa phòng điều tra đã mở sẵn. Tôi theo hắn quay về xà lim.
Nước nóng đã được phân phối trong lúc tôi vắng mặt. Nhưng nó vẫn được ủ nóng cho tôi. Cũng như bữa cơm sáng này vậy. Sự tử tế ấy do tôi đã bênh vực Lưu Thiếu Kỳ chăng? Hoặc “lũ người theo Mao” nghĩ rằng lòng tử tế sẽ làm cho tôi động lòng, để tôi ngoan ngoãn thực hành mệnh lệnh của chúng? Tôi vừa ngồi ở mép giường uống nước nóng vừa ngẫm nghĩ. Trong trường hợp bình thường thì uống nước nóng cũng chẳng có gì đáng kể. Nhưng, ở trong tù, vào giữa mùa đông lạnh buốt như thế này mà được uống nước nóng thì sẽ thấy mùi vị – dù chỉ là nước đun sôi – ngọt ngào lạ thường.
Thình lình cửa sổ mở bật ra, anh bác sĩ trẻ ló mặt ở đó và nói “ra đây”. Tôi lại gần cửa, anh ta hỏi:
- Chỗ mắt cá chân của chị có sao không?
Lạ lùng! Tôi chưa từng nghe nói trường hợp tù nhân chưa xin mà bác sĩ đã đến khám bệnh, mà chỉ được nghe tiếng tù nhân lo lắng, khẩn thiết nhắc đi nhắc lại xin khám bệnh mà bác sĩ vẫn không tới.
Mụ cai ngục đứng bên ngoài. Sau khi nói là mắt cá chân tôi bị bầm tím và sưng vù, mụ cai ngục đã mở cửa xà lim ra. Anh bác sĩ bước vào. Anh ta xem xét chỗ bị thương, tay nắn nắn vào chỗ sưng:
- Xương không bị bể. Chỉ bị sưng thôi. Chắc là bị làm độc. Tôi sẽ cho băng và pommade (thuốc mỡ).
Sau đó, mụ cai ngục đưa cho tôi một ống thuốc pommade Auréomycin và một cuộn băng. Chưa hết ngạc nhiên về sự thay đổi trong cách đối xử này, tôi lại thấy buổi ăn chiều của tôi lại là cơm và rau bắp cải luộc chứ không phải là khoai luộc như mọi khi. Khi tôi đưa chén đũa lại cho người dọn cơm, chị ta nói nhỏ với tôi: “Bác sĩ bảo phải dọn cơm chứ không dọn khoai”.
Nhiều lần, tôi ôn đi ôn lại những biến cố và những lời đối đáp giữa tôi và điều tra viên, tôi cảm thấy hài lòng. Điều tra viên mới này là một viên chức Đảng nhưng nghiệp vụ không bằng tên điều tra viên đã thẩm vấn tôi trước kia. Tôi nghĩ là trong nhiều trường hợp, hắn không phải là một tay ăn nói hàm hồ. Ít ra hắn cũng nghe những điều tôi nói và mọi điều đã được ghi lại cẩn thận. Dù vậy, tôi vẫn nghĩ rằng “lũ người theo Mao” ở nhà tù số 1 này vẫn làm tất cả những gì trong quyền hạn của chúng để bắt tôi phải nhận điều gì đó mà tôi không hề làm. Tôi cũng hy vọng ít ra những người không phải “lũ theo Mao quá khích” sẽ có lúc nhận ra là tôi vô tội. Lúc lên gường nằm tôi cảm thấy an tâm, bình tĩnh, thanh thản hơn mọi khi. Tuy nhiên, sự cố gắng và sự kích động trong suốt cả một ngày bị thẩm vấn và tranh cãi đã là quá tải đối với cơ thể suy yếu, hao mòn của tôi. Đêm hôm đó, tôi bị xuất huyết tử cung dữ dội hơn bao giờ hết. Chỉ trong một lúc mà bao nhiêu giấy vệ sinh và khăn tôi có trong xà lim đã bị đem ra dùng hết và máu vẫn tiếp tục ra. Chỗ nào cũng có máu. Máu ướt nhẹp cả trên sàn xi măng. Tôi vội vã báo động cho cai ngục. Mụ cũng vội vã đi gọi bác sĩ. Anh ta chích thuốc và bảo tôi phải nằm yên trên tấm ny lông trải trên giường. Sáng sớm tôi được xe cứu thương chở đi bệnh xá ở nhà tù Thúy Lan Kiều.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2009-10-21 22:08:39huytran>
Chương 9: TIẾP TỤC BỊ HÀNH HẠ

Chiếc xe cứu thương cũ mèm bấm còi chạy vun vút qua các đường phố Thượng Hải. Tôi được đặt nằm trên cáng và đặt ngay trên sàn xe. Bên cạnh tôi là mụ cai ngục ngồi ngay trên ghế xếp. Xe cứu thương nhưng bên trong xe chẳng sạch sẽ chút nào. Tôi nhắm mắt lại, phần để tránh cái nhìn của cai ngục cứ nhìn tôi chằm chặp, phần để có thể tập trung suy nghĩ.
Tôi hết sức thất vọng và buồn chán vì tôi lại bị xuất huyết ngay vào lúc cuộc thẩm vấn tôi chờ đợi từ lâu bắt đầu tiến đến giai đoạn gây cấn nhất. Và tôi cũng lo lắng tự hỏi không hiểu có phải tôi bị khối u ác tính hay không? Ý nghĩa về cái chết lởn vởn trong đầu óc tôi. Xem ra cái chết cũng không đáng sợ đối với tôi. Dù sao, tôi có chết thì đó cũng là lẽ tự nhiên và không thể tránh được. Tôi đã sống thì tất có ngày phải chết. Là một người Trung Hoa, tôi tin là cái chết của tôi cũng chỉ là một sự ngưng nghỉ tạm thời. Bởi vì tôi sẽ còn tiếp tục sống nơi con tôi, cháu tôi, từ thế hệ này qua thế hệ khác, như một giòng nước trôi chảy không cùng, không dứt. Nhưng cứ mỗi khi nghĩ đến con gái tôi là trái tim tôi lại se sắt buồn đau! Nó có còn sống không? Số phận tương lai của nó sau cuộc Cách mạng Văn hóa sẽ ra sao?
Chiếc xe cứu thương thình lình thắng gấp. Tôi nghe tiếng loa từ xa đang phát thanh chỉ thị của Mao “Đào sâu đường hầm, trữ hạt giống khắp nơi và đừng bao giờ mưu bá đồ vương”. Khi chiếc cáng được đưa ra khỏi xe, tôi thấy một số nam tù nhân tuổi còn trẻ, đầu bị cạo trọc lóc đang bị cai ngục dẫn đi gần chỗ bệnh xá. Họ vác cuốc, xẻng và những cái sọt lớn. Mỗi người đeo lủng lẳng trên vai cuốn “Mao tuyển” cột vào một sợi dây nhỏ. Hình như họ đang trên đường đi “Đào sâu đường hầm” ở đâu đó đằng sau bệnh xá. Chỉ thị của Mao luôn luôn được tuân thủ và được thực hiện ngay lặp tức. Nhưng nom họ gầy ốm hốc hác thế kia thì không hiểu làm thế nào họ có thể đảm đương được công việc tay chân nặng nhọc. Hình dạng tiều tụy, nét mặt tuyệt vọng đầu cúi gầm. Tất cả những cái đó gợi cho tôi nhớ mình cũng giống y như họ – một phi bản vị (non-person) – không một chút quyền gì và hoàn toàn không thể làm chủ vận mệnh của mình. Tôi ngoảnh mặt đi để khỏi phải nhìn cảnh những người đang tàn tạ sụp đổ. Và lần đầu tiên tôi sung sướng vì đã được biệt giam trong một xà lim không có kính soi, để khỏi nhìn thấy khuôn mặt tiều tụy, thảm đạm của chính mình, để giữ được cái ảo tưởng mình cao giá lắm.
Tôi được đặt nằm trong khu những trường hợp cần giải phẫu trong một phòng nhỏ, giường được kê khít khít chỉ cách nhau chừng một tấc. Giường tôi nằm gần ngay cửa. Gió lạnh thổi vào cũng mạnh nhưng không đủ sức để xua tan mùi máu, mùi nước tiểu, mùi thối, mùi hôi hám của những cơ thể lâu ngày không được tắm, giặt. Phía bên kia giường tôi là một người đàn bà nằm nửa tỉnh nửa mê đang rên rỉ. Rõ ràng là mới đưa từ phòng mổ về. Tôi tự hỏi không hiểu sao tôi lại bị đưa vào phòng hồi sinh của những người mới bị giải phẫu như thế này. Hay bác sĩ bệnh xá nhà tù có ý định sẽ giải phẫu tôi? Nếu vậy thì cực kỳ nguy hiểm. Trong một xã hội phân cấp một cách chặt chẽ này thì sự săn sóc y tế dành cho một người tù nhất định là phải hạng bét, rất tệ hại.
Tuy nhiên, mấy ngày liền, tôi chỉ được chích thuốc. Các bác sĩ đã kiểm soát được sự xuất huyết. Tôi cảm thấy đã khoẻ hơn vì được nằm nghỉ và được ăn uống khá hơn. Một buổi chiều, cùng với bữa cháo, tôi được trái chuối chín nhừ đến nỗi vỏ đã thâm đen rồi. Tôi ngạc nhiên vì chính phản ứng của mình trước trái chuối nom tệ hại như vậy. Và, ôi sung sướng, ngon ngọt biết bao nhiêu khi được ăn trái chuối đó.
Vài ngày sau, chứng xuất huyết tử cung của tôi đã ngừng hẳn. Chính cô bác sĩ đã săn sóc cho tôi khi tôi bị sưng phổi vào mùa đông năm 1967 đến tận trại bệnh thăm tôi. Cô dắt tôi vào một căn phòng nhỏ và nói với tôi cô đang vận động để đưa tôi đến một bác sĩ chuyên khoa phụ sản tại một bệnh viện thành phố. Nhưng lúc đó các bệnh viện ở Thượng Hải do các “ông kẹ” Vệ binh đỏ và các “ông bà Cách mạng” kiểm soát, nên đã từ chối điều trị cho “kẻ thù giai cấp”.
- Theo bác sĩ thì tôi bị bệnh gì? - Tôi hỏi cô bác sĩ.
- Có thể là khối u nhưng cũng có thể chỉ là triệu chứng mãn kinh.
- Có thể là khối u độc không, thưa bác sĩ?
- Không thể kết luận gì được khi chưa làm thử nghiệm sinh thiết (Biopsie).
- Tôi không thể chết – tôi nói – nhưng tôi không nên chết khi trường hợp của tôi chưa được làm sáng tỏ. Tôi không thể để cho cái đám mây đen nghi ngờ độc hại kia che phủ đời con, đời cháu tôi. Nó có thể phá hủy hạnh phúc của chúng. Ngoài ra, tôi muốn nóng lòng được gặp mặt con tôi. Tôi nhớ nó quá sức. - Tiếng nói của tôi thổn thức, run rẩy và nghẹn ngào đến nỗi không thể nói tiếp được nữa.
Cô bác sĩ đặt tay lên vai tôi tỏ dấu thông cảm và nói:
- Trong báo cáo gởi về cho nhà tù số 1, tôi sẽ nhấn mạnh việc phải cung cấp cho bà những thức ăn khá hơn.
- Thưa bác sĩ, xin bác sĩ làm ơn cho tôi biết phải làm sao để có thể khỏi chết trong lúc này?
- Họ dọn cho cái gì ăn thì cố mà ăn cho hết dù đó là thức ăn không ngon lành. Không ngon nhưng ít nhiều nó cũng có chất bổ dưỡng. Giữ tinh thần lạc quan.
Lòng tôi cay đắng đến nỗi khóc cũng không khóc được nữa. Và cô bác sĩ cũng rơm rớm nước mắt, khẽ nói với tôi: “Chúa phù hộ cho bà”.
Một tuần lễ sau, tôi bị đem trả lại nhà tù số 1. Mỗi ngày tôi được hai bữa cơm và một chút thịt hoặc cá lẫn trong bắp cải luộc vào bữa ăn sáng. Thịt thường khi nhiều mỡ quá, cũng có khi da heo làm lông vẫn chưa sạch, cá thì chẳng bao giờ tươi. Nhưng nhớ lời bác sĩ dặn, tôi cố ăn bằng hết.
Anh bác sĩ trẻ ở nhà tù đã cho phép tôi dùng tiền mà tôi mang theo lúc bị bắt để mua thuốc Vitamin. Một gã cai ngục đến ngân hàng rút tiền và mua cho tôi dầu cá viên và vitamin B1. Tôi rất cần vitamin C nhưng lùng khắp Thượng Hải mua không ra.
Phản ứng của cai ngục không giống nhau trước sự kiện tôi được đối xử khá hơn chút. “Bọn người theo Mao” không giấu giếm sự bực bội của chúng trước sự kiện nhà cầm quyền nhà tù cho phép tôi cải thiện bữa ăn và được mua thuốc vitamin. Mỗi khi có dịp, không khi nào chúng quên chửi bới, la hét, xô đẩy thô bạo, nghĩa là chúng ngược đãi tôi mỗi khi có thể. Khi tôi rời xà lim để đi tập thể dục hoặc đi để bị điều tra, chúng xô đẩy cho tôi ngã dúi ngã dụi, chúng bẻ tay, chúng đá đạp. Tôi có nhờ chúng mua thuốc vitamin, chúng chẳng những từ chối mà còn la lên: “Mày ăn vitamin như ăn cơm ấy hả?” hoặc “Mày tưởng nơi đây là viện điều dưỡng chắc ?”.
Những cai ngục “hiền hậu” thì vẫn cứ tuân lệnh bác sĩ, mua thuốc cho tôi mà không có vấn đề gì. Mỗi khi tôi hết vitamin và nhờ là họ mua giúp liền và họ mua có khi hai ba hộp một lúc. Một số ít cai ngục – mà tôi nghĩ là “thân Lưu Thiếu Kỳ” còn mua cho tôi nhiều chai vitamin một lúc. Có khi họ còn mua cho tôi cả gói bột Glucose và nhét vội qua cửa sổ xà lim để bọn cai ngục khác khỏi nhìn thấy.
Một ngày sau khi tôi ở bệnh viện về xà lim, cai ngục đã đem giấy, bút, mực đến và bảo: “Viết tự thú đi. Điều tra viên đang chờ đấy!”.
Mở xắp giấy ra, tôi thấy thay vì là giấy trắng như hồi năm 1966, khi tôi phải kê khai lý lịch thì lần này, ở trang một, phía dưới chữ “chỉ thị tối cao” có đoạn trích của Mao được đóng khung cẩn thận:
“Chúng chỉ được phép tỏ ra quỵ lụy và tuân phục, không được để cho chúng hành động, nói năng lộn xộn, tùy tiện”. Ở dưới cuối trang giấy, chỗ tù nhân ký, có ghi “chữ ký của phạm nhân”.
Phản ứng tức khắc của tôi trước chữ “phạm nhân” là sự tức giận. Tôi quyết định sẽ không ký tên tôi dưới chữ đó. Nhưng sau một vài phút đắn đo suy nghĩ tôi đã tìm ra cách để trả đũa bọn này. Dưới câu trích của Mao đã được in sẵn phía dưới chữ “chỉ thị tối cao”, tôi viết thêm một câu trích khác cũng của Mao trước khi viết gì thì viết. Câu trích của Mao tôi lấy ra từ bài chính luận “Bàn về mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân” câu đó như thế này: “Nếu là phản cách mạng thì dứt khoát ta phải đàn áp. Nếu là ta sai lầm thì dứt khoát ta phải sửa sai”.
Tôi đã viết lại chuyến đi châu Âu sau cùng với ông nhà tôi năm 1956. tôi đã kê khai những nước mà tôi đã đến trong chuyến đi đó, những hoạt động mà tôi còn nhớ cũng như tên những người tôi đã gặp. Về những câu chuyện mà chúng tôi đã nói, tôi chỉ nói rằng: chỉ nói chung chung, không đề cập đến vấn đề chính trị. Lúc viết gần xong, tôi chợt nhớ ra hai biến cố quan trọng có tầm cỡ quốc tế đã xảy ra vào thời điểm đó: Vụ nổi dậy ở Hungari và vụ kênh đào Suez[1]. Tôi không “bình luận” nhiều về vụ Hungari nhưng về vụ thứ hai được tôi cho là đề tài của hầu hết các câu chuyện với các bạn bè tôi. Và coi như biến cố này không liên quan gì đến Trung Hoa Cộng sản. Ở cuối trang chỗ ghi “chữ ký của phạm nhân” tôi đã ghi thêm “chưa bao giờ phạm tội”. Rồi mới ký tên. Và trao lại xấp giấy cho cai ngục khi trực. Ngay chiều hôm đó tôi bị gọi lên thẩm vấn.
Trừ tên lính trẻ, cũng vẫn mấy người hôm trước có mặt trong phòng. Mặt người nào cũng tỏ ra cau có khó chịu, một phản ứng mà tôi dự đoán trước khi tôi quyết định phản đối sự cố ý gán ghép tôi là tội phạm trong khi tôi chẳng phạm tội gì. Không đợi điều tra viên ra dấu, tôi cúi đầu chào chân dung của Mao ngay. Câu trích của Mao mà điều tra viên bắt tôi đọc là “để chống lại lũ chó săn của đế quốc và những kẻ đại diện cho quyền lợi của bọn địa chủ và bè lũ Quốc Dân Đảng phản động, chúng ta phải sử dụng chuyên chế để trấn áp chúng. Chúng chỉ được phép tỏ ra quỵ lụy và tuân phục, không được để cho chúng hành động, nói năng lộn xộn, tùy tiện”.
Trước mắt điều tra viên là những trang giấy tôi đã viết. Sau khi tôi ngồi xuống, tên điều tra viên đập bàn, nhìn trừng trừng vào tôi. Rồi hắn đập bàn và quát to, tay chỉ vào tờ giấy:
- Mày làm gì thế này? Mày tưởng đây là chỗ để chơi đấy hả?
Tôi làm thinh. Ông công nhân già nói:
- Thái độ của mày không nghiêm túc.
Tên công nhân trẻ tiếp liền:
- Nếu mày không thay đổi thái độ thì mày đừng hòng ra khỏi nơi này.
Trước khi tôi kịp nói gì thì tên điều tra viên đã liệng tập giấy tôi viết rớt tung toé xuống sàn và đứng lên, nói: “Về xà lim, viết lại!”. Một gã cai ngục đứng sẵn ở cửa nói vọng vào “đi ra!”. Tôi theo hắn quay về xà lim. Lần này cuộn giấy trao cho tôi cũng giống cuộn giấy trước, nghĩa là vẫn câu trích của Mao ở đầu trang và vẫn “chữ ký của tội phạm” ở cuối.
Tôi quyết định cứ tiếp tục cuộc chiến đấu cho tới cùng. Tôi không ngần ngại lặp lại y nguyên: cũng thêm câu trích bữa trước, cũng vẫn thêm “chưa phạm tội gì” vào chỗ “chữ ký của phạm nhân”. Và nội dung lời khai cũng tương tự như lần trước vì tôi có một trí nhớ khá tốt. Ngày hôm sau, tôi trao lời khai cho cai ngục. Và cũng hầu như ngay sau đó tôi được gọi lên thẩm vấn. Cũng y như lần trước, sau các “thủ tục”, điều tra viên đã liệng các tờ khai của tôi tung toé xuống đất và bắt về viết lại.
Tôi trở về xà lim và lặp lại y nguyên. Và cũng được gọi lên liền. Lần này, điều tra viên nói với tôi:
- Mày khùng hả? Có lẽ phải đưa mày đến bệnh viện tâm thần, nhốt mày vào cùng với lũ người điên!
- Tôi chẳng khùng mà cũng chẳng điên – tôi đủng đỉnh đáp – nếu các ông không thỏa mãn với những gì tôi viết thì các ông cứ chỉ ra những chỗ sai lầm của tôi. Tôi rất sung sướng để sửa chữa lại nếu nó sai thật!
- Tại sao mày còn thêm một câu trích của Mao Chủ tịch vào chỗ đã có một câu in sẵn ở đó? Tại sao mày thêm vào cái gì ở cái chỗ chữ ký ấy nữa?.
- Tôi chỉ cố gắng làm cho lời khai của tôi phản ánh một cách chính xác hơn những sự kiện có thật, đã xảy ra – tôi nói – tôi muốn nhắc nhở các ông rằng Mao Chủ tịch lãnh tụ tối cao của chúng ta đã kể rằng phải sửa sai nếu ta có sai lầm. Tôi mong các ông thực thi chỉ thị của Mao Chủ tịch và sửa chữa sai lầm của các ông trong trường hợp của tôi. Còn về việc thêm vào chỗ chữ ký thì đúng là câu đó của tôi vì thực sự tôi không phải là phạm nhân. Hay nếu các ông cứ muốn gọi là phạm nhân thì phải là phạm nhân chưa phạm tội gì. Bởi vì tôi thật sự chưa phạm tội gì.
Điều tra viên không quát tháo nữa. Hắn nói:
- Thay vì cung khai tội lỗi của mày, mày lại đi giở lý sự cùn cho mất thì giờ.
- Tôi chưa phạm tội gì bao giờ. Nếu các ông cứ nhấn mạnh vào cho tôi phạm tội thì tôi cũng phải tích cực chứng minh là tôi chưa phạm tội gì, tôi vô tội. Và đồng thời các ông cũng nên tích cực đưa ra bằng chứng chứng minh tôi phạm tội gì.
- Chúng tao sẽ đưa ra bằng chứng! Chúng tao sẽ chứng minh. Nhưng chúng tao muốn mày tự giác, muốn cho mày một cơ may hưởng sự khoan hồng.
- Tôi đã chẳng từng nói đi nói lại với các ông bao nhiêu lần rồi là tôi chưa phạm tội gì? Tôi đã chẳng ký vào một tờ cam kết sẵn lòng bị xử bắn nếu các ông đưa ra được bằng chứng chứng minh tôi có tội?
- Mày định giở trò tháu cáy, bịp bợm ra đây hả – tên công nhân trẻ nóng nảy cắt ngang vào một câu – Được, chúng ông sẽ xử bắn mày đúng lúc.
Điều tra viên nói tiếp:
- Về xà lim, viết lại bản cung khai.
Tên thư ký trao cho tôi xấp giấy. Tôi theo cai ngục về xà lim. Nhìn vào xấp giấy lần này, tôi thấy là một xấp giấy trắng từ đầu đến cuối, không có câu trích của Mao và cũng chẳng có “chữ ký của phạm nhân” ở dưới. Tôi lại viết bản cung khai. Hai ngày sau tôi trao xấp giấy viết cho cai ngục.
Đối với những ai chưa đụng đầu với hạng người như “lũ người theo Mao” thì nỗ lực kiên trì chống lại những kẻ hành hạ ngược đãi tôi thật vô ích chẳng đi đến đâu. Nhưng chúng là một thứ “du côn” loại đặc biệt. Nếu cứ để cho chúng mặc sức, tùy thích chửi bới, nhục mạ mình thì chẳng khác nào khuyến khích chúng làm tới. Đời sống của tôi ở trong nhà tù này có thể nói là đã đến mức cùng rồi. Đằng nào phải chết dại gì câm nín mà chết? Ngoài ra, mỗi lời tôi nói ra điều được ghi lại. Là một người lạc quan, tôi hi vọng rằng một ngày nào đó, có những người đàng hoàng, hiểu biết, được chỉ định để điều tra trường hợp của tôi thì những gì tôi đã nói sẽ giúp họ đi tới kết luận đúng đắn.
Mấy ngày trôi qua, ngày nào tôi cũng chờ để bị kêu lên thẩm vấn, nhưng vẫn không thấy bị gọi. Một hôm vào buổi sáng, một gã cai ngục thuộc vào loại thô bạo cùng với một mụ “lính cái” đánh đập tôi bữa nọ đã tới cửa xà lim của tôi. Chúng mở toang cửa xà lim ra và quát lên: “Đi ra”.
Tôi đang lúi húi tìm cuốn Mao tuyển thì con mụ “lính cái” bước vào xà lim, giật cuốn sách trên tay tôi, ném xuống giường, mụ xô tôi một cái. Vì bị bất ngờ, nên tôi suýt té. Mụ nói: “Đến đó mày không cần đến cái này nữa”. Mụ bẻ quặt hai cánh tay tôi ra sau lưng. Gã cai ngục vào xà lim, choàng còng số 8 vào cổ tay tôi. Con mụ “lính cái” xô tôi một cái thật mạnh làm tôi ngã chúi xuống. Khi tôi lấy lại được thăng bằng, đứng lên, mụ lại dúi tôi một cái nữa và quát: “Nhanh lên!”.
Tôi theo mấy tên cai ngục ấy ra khỏi khu giam giữ nữ tù nhân đi ra phía cổng chính. Điều tra viên, tên công nhân trẻ tuổi và những người khác đã đứng đợi. Một chiếc xe đã nổ máy chờ sẵn ở đó. Tên điều tra viên nói: “Lên xe, ngồi vào giữa!”.
Tôi lên xe, chui vào hàng ghế sau, ngồi chỗ giữa. Hai tay bị còng quặt ra sau lưng khiến tôi phải ngồi rướn thẳng người lên. Cảm tưởng đầu tiên của tôi là ngạc nhiên về tấm nệm xe: sao nó êm quá, nhún quá! Lâu lắm rồi tôi không được ngồi trên cái nệm êm như vậy. Tên kiểm tra viên và tên công nhân trẻ ngồi hai bên, kẹp tôi ở giữa. Người kia ngồi ghế trước với tài xế. Chiếc xe vọt nhanh qua khỏi cổng nhà tù.
Họ chở tôi đi đâu vậy? Có phải chúng thực hiện lời đe dọa là nhốt tôi vào nhà thương điên? Tôi không nghĩ là chúng đem tôi đi xử tử vì một hoạt động như vậy sẽ được thực hiện vào ban đêm ngay trong khuôn viên nhà tù, và lại nếu có giết tôi thì chúng hết hi vọng tôi tự khai tự thú gì cả. Nhất định chúng sẽ để tôi sống và hành hạ đủ điều để hy vọng đạt được mục đích của chúng. Tôi nghĩ rất có thể chúng sẽ đưa tôi đến nhà thương điên. Tôi sẽ khó khăn hơn khi phải tiếp tục cuộc chiến. Tiếng la hét, khóc lóc trong nhà thương điên sẽ làm cho tôi rầu phát bệnh mà chết. Tuy nhiên tôi cũng nhận ra ngay là chiếc xe không chạy trên đường phố dẫn ra ngoài thành phố để đến nhà thương điên.
Đây là một chiếc xe của quan chức cấp cao, có màn lụa xanh căng che cửa kính xe. Qua tấm màn tôi thấy thấp thoáng xe chạy qua khu thương mại, hướng về phía tây thành phố. Chỉ có ít xe cộ và người qua lại trên đường phố. Những phố xá quen thuộc đã làm sống dậy trong lòng tôi biết bao kỷ niệm. Xe chạy chỉ cách ngôi nhà của tôi có một khu phố, và qua chỗ trường Cao đẳng y tế số 1. Chỉ mới đây, vào một buổi chiều chạng vạng, tôi gặp Winine ở đây, sau đó tôi bị dính lôi thôi vào cuộc Cách mạng Văn hóa. Vậy mà giờ đây tôi có cảm tưởng như việc ấy đã xảy ra trước. Tôi tự hỏi không hiểu lúc này chị ấy ra sao hay là chị ấy cũng đã phải đi tới một trong những “Trường Cảnh Bộ” mà tôi đã đọc thấy trên báo. Chiếc xe từ từ chạy chậm lại và rẽ vào trường kỹ thuật, nơi tôi đã phải dự một cuộc mít tinh đấu tố đầu tiên mà đối tượng là Đào Phương, trưởng phòng kế toán cũ của tôi. Và cũng từ nơi đây, tôi đã bị chở thẳng đến nhà tù số 1 vào đêm 27 tháng 9 năm 1966. Bây giờ đã đầu tháng 3 năm 1969. Những lời tố cáo quàng xiên, bậy bạ là tôi đã phản bội quê hương vẫn còn treo lơ lửng trên đầu.
Vài người đang dửng dưng trong ánh nắng vẫn còn lợt lạt, tuy là nắng đầu xuân. Một trong số ấy mở cửa xe và dẫn tôi vào một phòng nhỏ. Một người khác đi sau, nhấn cho đầu tôi cúi gục xuống mà đi. Vì vậy, tất cả những gì tôi thấy chỉ là những cái cẳng người ta bước trước mặt tôi. Tôi nghe thấy tiếng mở khóa khi tôi vừa đến cửa một văn phòng. Tôi bị nhốt một mình trong căn phòng ấy.
Cả căn phòng chỉ có một cái ghế dài bằng gỗ kê ở một chỗ đầy bụi. Cửa sổ bị dán kín mít không cho nhìn ra ngoài. Trong phòng, trên các bức tường, báo “đại tự” dán kín từ trên trần nhà xuống đến sàn nhà. Và còn cả đống gom ở góc phòng. Có những tờ báo xem chừng viết đã từ lâu. Có những tờ bị xé dở dang. Các tờ báo lộn xộn, chồng chất lên nhau. Khi cánh cửa mở ra để cho tôi vào, gió đã thổi làm một vài tờ rớt xuống nền nhà.
Tôi ngồi lên ghế đưa mắt nhìn các “báo đại tự”. Dần dần tôi nhận ra là có nhiều tờ báo mới được viết, dán vào đây để “dành riêng” cho tôi đọc. Cũng có những tờ đã viết từ cách đó hai năm rưỡi rồi. À, thì ra bây giờ họ bắt đầu “tâm lý chiến” với tôi đây. Tên của những người ký trên các báo ấy phần lớn là tên của những nhân viên cũ của hãng Shell. Có vài tờ chỉ do một người ký tên. Có vài tờ do một nhóm ký tên. Nội dung của các bài báo ấy là tố cáo hãng Shell, tố cáo ông nhà tôi và tố cáo chính tôi. Những cái gọi là “tội” được kể ra thì nhiều lắm. Có những sự kiện bị bóp méo, bị xuyên tạc. Có những sự kiện hoàn toàn bịa đặt. Tên của những người bạn của vợ chồng tôi, tên của ba công dân Anh kế tục nhà tôi làm tổng quản lý đều được nêu ra như là những “sĩ quan tình báo” đã được cho là hợp tác với tôi rất mật thiết. Trên một vài tờ, có hài danh của ông Scott và bà Austin. Người phụ nữ gốc Bạch Nga, thư ký tại hãng Shell thì được vinh dự tặng cho cái danh hiệu rất xôm là “gián điệp hai mang” của Liên Xô và Anh quốc.
Tôi nhắm mắt lại để khỏi phải nhìn những lời láo toét thô bỉ ấy. Trong lúc nhắm mắt ngồi đợi, tôi lắng nghe những tiếng động để cố đoán xem những gì đang diễn ra ngoài kia. Khi nghe tiếng chân người, tôi gõ cửa.
- Mày muốn gì? - Tiếng đàn ông hỏi.
- Làm ơn cho tôi đi tiểu.
Cánh cửa do một mụ đàn bà mở và mụ dẫn tôi ra sân sau. Chúng tôi đi qua một khu có lẽ là nơi dùng làm phòng ngủ vì tôi thấy các dãy giường cá nhân kê khít rịt. Sau này tôi được biết là nơi đây được dùng làm nơi giam giữ và cải tạo, giáo dục chính trị cho các cựu công nhân hãng Shell năm 1966. Những buổi nhồi sọ chính trị lê thê bất tận. Những buổi hành xác bằng “lao động chân tay” rã rời một cách vô ích. Trong phòng ngủ lúc này không có ai hết. Cách đó xa xa, tôi thấy có tiếng đàn ông đang nói trong một buổi họp. Tôi đoán có lẽ những người ở phòng ngủ này đang họp mít tinh.
Ra khỏi cầu tiêu, tôi không bị dẫn trở lại phòng có báo đại tự lúc nãy nữa mà thẳng đến hội trường, nơi mà năm 1966 các cựu công nhân hãng Shell và tôi đã họp. Lại có một người đàn ông đi sau lưng tôi và nhấn cho đầu tôi phải cúi gục xuống. Hai mụ đàn bà nắm hai cánh tay tôi và đẩy tôi đi tới cho nhanh, bởi vậy cái còng số 8 cà mạnh vào cổ tay làm cho tôi cảm thấy đau. Họ làm cho có vẻ động tác quân sự. Những mụ đàn bà nào ở Trung Hoa lúc đó muốn tỏ ra “cách mạng cùng mình” thì cũng đều có lối hành xử lố bịch và thô bạo như vậy cả.
Tôi bị đưa đến trước hội trường, vừa bị lôi kéo vừa bị xô đẩy cứ như thể tôi là một cái bao cát. Gã đàn ông liên tục nhấn cho đầu tôi cúi gục xuống để không nhìn thấy gì xung quanh. Tôi được nhấn cho ngồi xuống. Gã đàn ông kia cũng ngồi xuống cạnh tôi, không ngừng nhấn đầu tôi xuống và còn nhấn cho mạnh thêm nữa là khác.
Ngay khi vừa ngồi xuống, tôi liếc xéo được một cái thật nhanh và thấy trong phòng đầy những người ngồi xệp xuống sàn. Những người trong phòng hô lên những khẩu hiệu đã quá nhàm tai tôi rồi. Có đến khoảng hơn một phút, dường như họ hô những khẩu hiệu đả đảo tôi và đòi tiêu diệt tôi. Tôi nghe thấy tiếng bước chân đi tới. Tiếng hô khẩu hiệu tắt lịm. Tiếng nói của một thanh niên nam cất lên, phát biểu với đám mít tinh.
- Nó đây! - hắn gầm lên – tôi hình dung hắn đang lấy tay chỉ vào tôi đang bị bẻ cúi đầu cho gục xuống – Chúng tao đã đem con mụ tới đây để những lời tố cáo sẽ bóc trần con mụ đó ra cho nó thấy nó là đứa nào. Con mụ đó sẽ được cho thấy là chúng tao đã biết tất cả mọi bí mật, mọi ý đồ sâu hiểm, độc địa của nó. Tất cả tụi chúng đều đã dính dáng xa gần đến cái ý đồ của bọn đế quốc nhằm phá hoại Chủ nghĩa Xã hội ở Trung Hoa. Ở một mức độ nào đó, tất cả tụi bay đều có tội, bởi vì tụi bay đều đã làm việc cho một xí nghiệp đã bóc lột nhân dân Trung Hoa từ đầu thế kỷ tới giờ, và cái xí nghiệp ấy vừa bóc lột lại vừa thu thập tin tức tình báo cho bọn đế quốc. Chức vụ bay càng cao, tội bay càng nhiều. Xí nghiệp ấy đánh giá bay càng cao, tội bay càng nặng. Nhưng, chúng tao, những người làm Cách mạng, chúng tao rất công minh. Nếu tội chúng bay chỉ là 50 phần trăm, chúng tao không trừng phạt đến 50 phần trăm. Nhưng dĩ nhiên, chúng tao có tiêu chuẩn đánh giá riêng của chúng tao. Tiêu chuẩn ấy căn cứ trên lời dạy của Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại của chúng tao.
Trong suốt hai năm rưỡi qua, chúng bay đã được tăng cường giáo dục chính trị kết hợp với cải tạo bằng lao động. Nhiều đứa trong bọn bay đã tiến bộ tốt và chứng tỏ sự giác ngộ Xã hội Chủ nghĩa. Bay hãy tự cởi trói cho mình bằng cách tố cáo kẻ thù để lập công chuộc tội. Trong số tụi bay vẫn có đứa còn ngần ngại. Những đứa đó cũng giống như một ống kem đánh răng vậy, cứ bóp thì mới lòi ra, bóp mạnh thì lòi càng nhiều, không bóp thì tịt. Như vậy – phải bóp, bóp mãi cho đến khi nào ra bằng hết, cho đến khi nào chúng bay khô kiệt mới thôi.
Sắp tới đây sẽ có một số trong tụi bay được cho trở về sum họp gia đình. Đó là tin mừng cho tụi bay. Nhưng nên nhớ là chỉ những đứa nào được chúng tao coi là đáng thì mới được cho về. Những đứa khác sẽ vẫn cứ tiếp tục được giáo dục, cải tạo tiếp. Chúng bay được về sớm hay muộn là tùy chúng bay, hoàn toàn tùy chúng bay.
Tôi biết, tuy diễn giả nói tại hội trường cho tất cả đám cựu công nhân hãng Shell nhưng chủ yếu là nhắm vào tôi. Nhưng đó là lời ăn nói của một thanh niên vô học, hãnh tiến kiếm chác được chút lời địa vị và có tí ti quyền hành nhờ tham gia tích cực vào “hoạt động Cách mạng” của “lũ người theo Mao”. Mấy “ông bà Cách mạng” kiểu này đều là những kẻ ủng hộ hết mình bởi vì chúng đã vớ được một “cơ hội bằng vàng” để leo lên thang tiến thân những địa vị mà trước đó chúng không dám mơ… Cái tên đúng nhất để gọi tụi này là “lũ cơ hội chủ nghĩa ngu xuẩn”, nói nôm na ra là “theo đóm ăn tàn” “theo voi ăn bã mía”. Chúng coi những lãnh tụ của “lũ người theo Mao” – chẳng hạn như mụ Giang Thanh – như là đấng cứu tinh đã nâng chúng lên từ rác rưởi mà chỉ vì không có khả năng nào khác ngoài cái bản năng thấp hèn trí sơ, tài mọn nên chúng phải đời đời trầm luân kiếp rác rưởi nếu chúng không được Giang Thanh Cứu Tinh đưa tay ra tế độ.
Qua những điều “diễn giả” vừa nói, tôi biết những người đang ngồi bệt dưới sàn kia là những cựu công nhân hãng Shell. “Diễn giả” đã kêu gọi, thúc đẩy họ tự cứu bằng cách “tố cáo” và “kết án” tôi. Bất hạnh thay, họ cũng đã hùa theo. Nhưng tôi cũng biết thừa đi, đây chỉ là dàn cảnh, dựng vở. Những công nhân sắp sửa “diễn” đã được “tập” trước và học thuộc lòng “vở” mà các “ông bà cách mạng theo Mao” đã soạn sẵn cho. Mọi động tác, mọi lời nói đều đã được chuẩn bị từ trước. Bởi vì, ngay cả trước khi có cuộc Cách mạng Văn hóa cũng đã có tình hình là không có ai được phát biểu trước quần chúng, nếu nội dung phát biểu chưa được cấp trên, tức là ông bí thư chi bộ “duyệt” trước. Trong thời kỳ “Trăm hoa đua nở” (1956) và sau đây, thời kỳ “Bức Tường Dân Chủ” (1978-1979) Đảng đã “ra lệnh” cho toàn dân phát biểu ý kiến riêng của mình và viết báo “đại tự”. Trong cả hai chiến dịch đó, vì Đảng đã cố ý không – hay là không thể – kiểm duyệt tất cả mọi bài phát biểu và mọi tờ “báo tường”, nên người dân đã “xé rào”, nói quá lằn ranh mà Đảng cho phép và do đó vượt quá tầm kiểm soát của Đảng. Thế là, lập tức Đảng “tốp” trò chơi dân chủ ấy liền.
Những người mà trước kia trong hơn 8 năm trời liền tôi đã từng gặp, từng làm việc chung này, đứng lên – người nọ nối tiếp người kia – để lặp lại những gì đã được viết trên “báo tường” mà tôi đã được đọc lúc ngồi ở phòng đầu tiên, khi mới được chở đến đây. Cái giọng ngập ngừng và sợ sệt của họ đã phát ra những lời dối trá, bịa đặt một cách thô thiển, vụng về với những từ ngữ hết sức xa lạ, kỳ cục đối với họ, đã khiến cho tôi hiểu rằng họ phải trải qua biết bao đau khổ, đắng cay, nhục nhằn. Thống khổ cả về thể xác lẫn tinh thần! Nỗi xúc động nơi tôi không phải là giận hờn các cựu công nhân hãng Shell đã nhục mạ, vu cáo lố bịch cho tôi. Nỗi xúc động nơi tôi là một nỗi buồn da diết, vì “bọn người theo Mao” đã nặng tay xô đẩy nhân dân Trung Hoa. Tôi tập trung tinh thần để lắng nghe, cố gắng để thăm dò cái ý định của “lũ người theo Mao” mà họ đã vô tình lộ ra từng lời từng chữ mà họ đã đặt vào miệng những cựu công nhân hãng Shell. Sàn nhà thì cứng, cổ tôi bị đau vì bị bàn tay thô bạo của gã đàn ông ấn mạnh để cho gục xuống quá lâu. Tôi ngồi xuống co hai giò lên và úp mặt xuống vào hai đầu gối. Trong cái thế ngồi như vậy, tôi liếc nhìn được một phần tấm áo màu xanh chàm bạc phếch của người đàn ông đứng bên cạnh. Vì tôi không có ý ngẩng đầu lên nhìn về phía trước mà cứ úp mặt xuống đầu gối nên bàn tay của gã đàn ông cũng hơi nới lỏng ra một chút. Càng lúc những lời “phát biểu” của các cựu công nhân hãng Shell càng thêm kỳ quái, đến mức trở thành hoang đường. Những điều họ nói ra phi lý và không sao tin được đối với một người có chút ít hiểu biết về thế giới bên ngoài (không phải là Trung Quốc). Tóm tắt lại thì nói chung, đó là những lời tố cáo của những tay mơ hồ không hiểu biết một tí gì về hoạt động gián điệp nhưng lại thích nói về gián điệp. Một “bi kịch về gián điệp” không ra đầu cua tai nheo gì cả. Ngây ngô và ngu xuẩn.
Tôi nghe tiếng anh chàng thanh niên diễn giả lúc này lên tiếng gọi ông cựu trưởng phòng kế toán của tôi, ông Đào Phương. Cái áo xanh mà tôi thấy lúc nãy đứng bên cạnh tôi bỗng bước đi. À, thì ra họ để cho Đào Phương đứng bên cạnh tôi. Tôi tự hỏi tại sao “lũ người theo Mao” lại bố trí ông ta đứng bên cạnh tôi là có ý gì nhỉ?
Ông Đào Phương nói, giọng ấp úng, lắp bắp:
- Như mọi người đều biết, tôi bị bắt ngay từ lúc cuộc Cách mạng Văn hóa khởi phát và bị đưa về nhà tù số 2. Trong lúc tôi ở đó, các giám thị và điều tra viên rất tử tế với tôi, đã giáo dục chính trị cho tôi, nhờ đó tôi đã nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa. Dần dần, tôi đã nhận ra sự nghiêm trọng của những tội ác mà tôi đã phạm là chống lại Xã hội Chủ nghĩa và chống lại Đảng. Lòng tôi ao ước được hưởng sự khoan hồng. Vào lúc đó, những cán bộ cách mạng tốt bụng và thông cảm đã đưa tôi về đây và cho phép gia đình được thăm nuôi tôi…
Có lẽ vì quá xúc động, ông không thể nói tiếp. Ngưng một chút, ông nói tiếp: “Thằng con trai lớn của tôi là Đảng viên, con dâu tôi cũng là Đảng viên. Con tôi đã được học cao, hoàn toàn là nhờ ơn Đảng và chính quyền nhân dân đã tạo cho cơ hội. Cả gia đình tôi đời đời nhớ ơn Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại. Tôi không thể tả được ra đây sự thống hối mà tôi đã trải qua khi nhìn thấy vợ, con, dâu, cháu nội… tôi”.
Ông hít một hơi dài, cố nén nhưng không được và đã bật thành tiếng khóc nghẹn ngào, nức nở.
Trong phòng, im lặng – sự im lặng chết chóc – bao trùm. Ánh nắng xuân nhợt nhạt xuyên qua cửa sổ để lại cái bóng của song cửa trên sàn ngay bên cạnh tôi. Tôi cứ ngắm cái bóng ấy từ từ nhích đi, đổi chỗ. Tôi tự hỏi không biết cuộc mít tinh này sẽ kéo dài cho đến bao giờ nữa. Tôi thấy mệt và đói. Nhưng tôi vẫn cứ cố giữ cho mình tỉnh táo, cảnh giác. Chẳng hiểu tại sao tôi lại không nghĩ rằng ông Đào Phương được gọi lên đây không phải chỉ để treo một tấm gương cho tôi soi. Nói cho cùng, tôi làm gì có đứa con nào được Đảng đặc biệt giáo dục.
Khi ông Đào Phương kết luận bài “Từ” của ông, dường như ông đã phải cố gắng lắm lắm mới nói được, như thể một người đã hoàn toàn kiệt sức rồi. Giọng ông run run khi nói: “Vợ tôi, con trai tôi, con dâu tôi đã phê bình quở trách tôi. Các cán bộ cách mạng đã phê bình quở trách tôi. Các cán bộ đại diện cho Đảng và cho Mao Chủ tịch, lãnh tụ vĩ đại đã phê bình, quở trách tôi… Các vị ấy đã cho tôi thấy chỉ còn có một con đường giải thoát là vâng theo lời dạy của Mao Chủ tịch. Tôi đâu thể nào bỏ qua, bất chấp được lời khuyên nhủ, chỉ bảo đúng đắn, chân tình của các vị. Tôi xin tự thú và xin dứt khoát với quá khứ của tôi. Tôi muốn được trở về sống với gia đình tôi. Thú hết các tội của mình ra, đó là con đường độc nhất…”
Ông ta ngưng lại như thể ngập ngừng, do dự không dám tiến tới. Nhưng rồi ông ta quyết định lao vào và nói lớn tiếng, rắn rỏi:
- Tôi đã là một gián điệp cho đế quốc Anh. Tôi gia nhập cơ quan gián điệp đế quốc Anh thông qua sự giới thiệu của chồng người đàn bà này, tức là tên tổng quản lý họ Trịnh. Nay y đã chết. Khi chồng người đàn bà này chết, thì mụ làm chỉ huy của tôi. Khi cuộc Cách mạng Văn hóa vừa khởi phát, mụ dặn tôi không được khai, được thú tội gì hết và hứa cho tôi một một món tiền lớn, nếu tôi kiên trì, đừng tố cáo…
Có chối hay là có đôi co tranh cãi với Đào Phương lúc này, dù có thắng đi nữa, cũng chẳng đi đến đâu. Nhưng tôi thấy cần chấm dứt cái trò hề rẻ tiền này đi. Tôi ngửa mặt lên và cười sằng sặc.
Phản ứng của tôi bất ngờ quá. Trong khoảnh khắc, cả phòng đều lặng như tờ vì choáng váng, sững sờ. Có vài người chạy lại chỗ tôi. Gã đàn ông ngồi đằng sau vẫn nắm đầu tôi lôi xuống. Có tiếng hỏi: “Mày cười cái gì?”. Tiếng người khác hỏi: “Sao mày dám cười?”. Có tiếng ồn ào từ dưới cuối phòng vọng lên, thậm chí còn có cả tiếng cười khúc khích nữa.
Bầu không khí căng thẳng từ lúc đầu đến giờ bỗng như một quả bóng xì hơi. Tiếng người đàn ông chủ trì cuộc mít tinh quát lên át tiếng ồn ào “Tại sao mày cười? Trả lời tao đi!”
- Khi ông đóng tuồng diễn, ông có mong cho khán giả cười không? Nếu ông đóng hay, người ta cười thì đó là lẽ tự nhiên, và ông phải lấy thế làm thích mới phải chứ? - Tôi đã trả lời như vậy nhưng cái đầu tôi bị bẻ quặp cho cúi gầm xuống đất, hóa ra tôi nói cho cái sàn nhà nó nghe. Tuy nhiên, tôi cũng cố nói cho lớn, nói cho rõ ràng để mọi người trong phòng này cùng nghe thấy tiếng tôi nói. Tôi muốn chứng minh cho các cựu nhân viên hãng Shell biết việc quái gì mà phải sợ “lũ người theo Mao” kia chứ.
- Lôi cổ đi! Lôi cổ đi! - tiếng người đàn ông quát lên. Rồi hắn hô những khẩu hiệu đả đảo tôi để cho mọi người trong phòng hô theo.
Tôi bị kéo xềnh xệch ra khỏi phòng và bị lôi qua sàn. Mà nào tôi có thể trì kéo gì cho cam. Nhưng chúng nó cố ý làm như vậy chỉ cốt để làm nhục. Tôi bị đẩy lên xe. Một bà “cách mạng” đã lấy tay bịt chặt miệng tôi không cho tôi nói trong khi “ông” cách mạng vẫn cứ tiếp tục nhấn mạnh cho đầu tôi cúi gập xuống cằm chạm vào cổ. Đau quá! Tôi bị nhét vào một chỗ ngồi trong xe và phải ngồi cái thế co quắp không được nhúc nhích quậy cựa gì được. Tôi bị kẹp cứng giữa “ông” và “bà” cách mạng. Nhưng tôi cảm thấy khoái trá, thấy lòng thơi thới, nhẹ nhõm hân hoan vì đã biến một cuộc mít tinh được chúng chuẩn bị hết sức kỹ càng, chu đáo thành một trò hề. Tôi tự hỏi không hiểu rồi sự thể sẽ ra sao nếu tôi tiếp tục giữ im lặng thụ động. Tôi không loại trừ khả năng ông Đào Phương đã được “mớm” ý để phê phán và vu cáo cho tôi đặng làm cho những lời dối trá của ông ta có cơ sở. Theo ý tôi có thể đó là lý do khiến cho “Lũ người theo Mao” đã sắp xếp để ông Đào Phương đứng cạnh tôi.
Thật không may cho tôi là lúc trở về xà lim lại nhằm phiên trực của con mụ “lính cái” hách dịch và độc ác. Chẳng cần phải nói là mụ chẳng thèm để phần cơm cho tôi, mụ còn không thèm mở khóa còng cho tôi nữa. Vừa mở cửa xà lim là mụ xô tôi một cái thật mạnh khiến tôi lảo đảo xuýt té và đẩy tôi vào xà lim và khóa nghiến cửa lại. Tôi nằm phục xuống giường. Nhưng ngay lúc đó, tôi thấy tiếng bước chân người chạy tới trên hành lang. Gã cai ngục đã áp tải tôi trên xe lúc trở về nay lại xuống gọi tôi lên thẩm vấn. Gã có vẻ rất tất bật vội vã. Tôi thấy khó đi đứng vì gã luôn xô đẩy, lôi kéo. Tới phòng thẩm vấn, tôi mệt muốn đứt hơi và tim tôi đập loạn.
Có không dưới tám người trong phòng thẩm vấn. Bốn người ngồi trên những chiếc ghế đặt đối diện với chân dung của Mao, còn những người khác ngồi quanh điều tra viên.
Tên điều tra viên khoát tay ra dấu cho tôi về phía chân dung Mao. Tôi cúi đầu chào và chệnh choạng gần như mất thăng bằng. Tôi bỗng cảm thấy như trần nhà bồng bềnh trôi. Tôi nhắm mắt lại.
“Đứng nghiêm”. Tôi nghe thấy tiếng nói đó nhưng nghe như văng vẳng từ một nơi nào đó xa xăm. Tôi cố để nói một cái gì đó nhưng không sao nói thành lời được. Tôi ngất đi! Vì đói quá! Khi mở mắt ra, thấy mình nằm trên nền nhà, mụ cai đã đỡ ngang người tôi. Cánh tay tôi bị cái còng số 8 cứa làm cho rớm máu trong lúc tôi bị lôi kéo xô đẩy. Ống tay áo tôi bị xắn lên. Anh bác sĩ trẻ đang đứng cạnh và đang gỡ mũi kim khỏi ống chích. Anh ta gật đầu chào điều tra viên rồi ra khỏi phòng. Mụ cai ngục dựng tôi dậy, lôi tôi lại chỗ ghế ngồi của tù. Và mụ cũng rời khỏi phòng. Tim tôi còn hồi hộp, môi miệng khô rang. Nhưng tôi cảm thấy đã khá hơn, tên điều tra viên thấy tôi đã tỉnh nên hỏi liền:
- Trả lời câu hỏi của tao. Mày có thấy là mấy đứa kia – những công nhân cũ của hãng Shell – sáng suốt hơn mày không? Chúng nó đứng về phía cách mạng vô sản. Chúng nó đã thú nhận hết mọi tội lỗi. Còn mày thì sao? Mày có chịu là như vậy không, có chịu thú nhận tội lỗi của mày không?
Tôi cảm thấy đã khỏe hơn chút. Không hiểu ông bác sĩ đã chích thuốc gì cho tôi. Chắc là “thuốc khoẻ” (Glacose) hay là một loại thuốc kích thích. Nhưng dù thuốc gì đi nữa thì bây giờ tôi đã tỉnh táo, sáng suốt và sẵn sàng chiến đấu. Trước khi tôi kịp trả lời câu hỏi của điều tra viên thì một người nào đó đã hỏi chen vào:
- Lúc nãy mày cười cái gì? Tại tao mày cười? Đâu phải chỗ để mày cười? Đâu phải chuyện để mày cười? Bị tố cáo làm gián điệp cho đế quốc là một tội nặng lắm.
À, ra tiếng nói đó là của chàng thanh niên đã chủ trì và phát biểu trong buổi mít tinh đấu tố vừa rồi. Tôi nhìn anh ta với sự tò mò, ngạc nhiên, thì ra đây không phải là “Ông” công nhân trẻ đã có mặt trong các buổi thẩm vấn trước của tôi. Vậy mà nghe cái giọng và những từ ngữ của họ, tôi lại tưởng cũng chính là một. “Ông” thanh niên trẻ này mặc cái áo cũng may theo kiểu áo của sĩ quan quân đội nhưng trên vè cổ áo không có cấp hiệu quân hàm gì cả. Cái quần của anh ta màu xám đậm may bằng thứ hàng nỉ giá ít nhất cũng 30 đồng (nhân dân tệ – đơn vị tiền tệ của Trung Quốc) nghĩa là bằng một tháng lương của một công nhân công nghiệp. Tóc chải sáp (bi dăng tin) láng coóng, chân mang giầy da đánh xi bóng lộn. Chiếc đồng hồ đeo tay vàng lấp ló trên cổ tay áo. “Ông” thanh niên này vào khoảng hai mươi lăm tuổi và làm ra vẻ rất quan trọng. Tôi thắc mắc không hiểu hắn là ai, thuộc người nào mà ngay trong lúc có cuộc Cách mạng Văn hóa thế này mà dám ăn mặc sang như vậy. Bộ quần áo của hắn dám bị tố là giai cấp tư sản lắm. Hắn là gì mà lại không lo sợ bị lầm tưởng là “kẻ thù giai cấp”?
Mấy năm về sau tôi được biết ăn diện như vậy là dấu hiệu của “con ông cháu cha”, con của các “ông bự” trong quân đội giải phóng nhân dân. Cái áo ngoài bằng vải ka ki là dấu hiệu của một liên hệ nào đó với quân đội và quan trọng hơn nữa nó là dấu hiệu của cái quyền được ngồi xổm lên luật pháp. Cái địa vị và quyền năng “siêu phàm” của cha ông bọn này đã cho phép chúng được có cái đặc quyền khác với những “ông bà” cách mạng mà chúng lãnh đạo. Nhờ thân thế của cha, ông, bọn này được đưa thẳng vào chính quyền, nắm những trọng trách, những địa vị then chốt và béo bở. Có thể nói bọn “cóc” (con ông cháu cha) là một thứ mafia của Cộng sản Trung Hoa. Bởi vì chúng được quyền cưỡng đoạt tài sản, hãm hiếp phụ nữ, tổ chức chợ đen và ăn chơi thác loạn, thả đàn.
Những đứa con ông cháu cha giữ những địa vị chóp bu trong quân đội, nắm quyền sinh quyền sát, những đứa đó là cái “cổng hậu”, những kẻ “ra giá” đắc lực nhất, “chắc ăn” nhất. Chúng “sắp xếp” được tất cả mọi sự từ cấp phát nhà ở cho đến chỗ làm, từ hàng nhập cho đến hàng xuất tất cả mọi sự, thượng vàng hạ cám, đều có thể thông qua “cửa” này. Mau lẹ, an toàn, bảo đảm, không “thằng nào, con nào” “dám làm khó dễ”. Ngay cả các thương gia Hồng Kông cũng đều “bắt mối” làm ăn với các “cóc” bằng cách tạo cho chúng các “công ăn việc làm” để chúng có thể qua lại Hồng Kông. Chúng buôn lậu vàng, bạc và đặc biệt đồ cổ Trung Hoa, tivi, cassette, máy ảnh, đồng hồ…
- Trả lời! Trả lời! - Ông thanh niên ăn diện bảnh bao quát lên, tôi nhìn vào “ông” rồi nhìn vào điều tra viên cứ cúi gầm xuống đọc tờ giấy đặt trước mặt hắn, coi bộ khó chịu vì thấy “ông” thanh niên kia ngang nhiên nắm lấy quyền thẩm vấn.
- Tôi cười bởi vì buồn cười quá, - tôi đáp.
- Cái gì buồn cười?
- Tất cả những gì mà mấy ông đã công phu dàn cảnh đều đáng buồn cười cả.
- Giải thích!
- Dễ thôi, mấy ông không thấy sao? Lão Đào Phương nói láo, nói dối, mà lại nói dối, nói láo dở ẹc, vụng về, tồi. Ấy vậy mà các ông tin lão ta mà còn sắp sửa thả cho lão ta về nhà nữa. Vậy mà không đáng buồn cười à?
- Thằng Đào Phương không nói dối!
- Ông ta không nói dối, nói láo hả? Vậy có nghĩa là ông ta là gián điệp thứ thiệt? Nếu vậy sao các ông lại thả cho gián điệp thứ thiệt về mà không xử bắn, hay ít ra cho chung thân khổ sai? Thế có lạ không, có buồn cười không?
- Mày không cần biết thằng Đào Phương sẽ bị làm sao, phần mày kìa. Mày có muốn được thả không?
- Dĩ nhiên là tôi muốn, muốn quá đi chứ. Tôi còn muốn phục hồi đầy đủ. Tôi còn muốn chính quyền xin lỗi tôi công khai trên báo Thượng Hải giải phóng và Nhân Dân Nhật Báo Bắc Kinh kia. Nhưng tôi sẽ không nói dối, nói láo. Tôi không thể nói dối bởi vì tôi quan tâm đến sự thật. - Tôi đăm đắm nhìn vào anh thanh niên ăn diện bảnh bao nhưng khá ngu đần này, và tự hỏi sao hắn không nhận ra tôi cười chỉ vì làm hỏng cuộc mít tinh mà hắn đã công phu dàn dựng. Thình lình hắn đứng dậy, quát lên giận dữ:
- Gục mặt xuống! Gục mặt xuống! Tao không để cho kẻ thù giai cấp chõ hai con mắt thô lố ra nhìn chòng chọc vào tao như thế!
- Ấy cái thói quen của tôi là khi nói với ai thì phải nhìn vào mặt người ấy. Nếu điều ấy trái ý ông, thì cho tôi xin lỗi. Vậy ông muốn tôi ngồi quay lưng lại ông chắc?
Tôi xoay người ngồi quay mặt vào chân dung của Mao. Cái ghế dành cho tù ngồi bị đóng đinh chặt xuống sàn nên không xoay được. Tôi liếc xéo và cái nhìn của tôi đã chạm cái nhìn thật nhanh của điều tra viên. Tôi thấy môi hắn khẽ nhếch mép mỉm cười. Tên thanh niên ăn mặc bảnh bao hỏi tiếp:
- Trả lời câu hỏi của tao đây. Mày có phải là gián điệp của đế quốc Anh hay không? Mày có chịu thú tội hay không?
- Tôi chẳng phải là gián điệp của bất cứ ai. Tôi chẳng có tội gì để phải thú cả.
Tôi cứ nhìn thẳng vào chân dung Mao mà trả lời chứ không quay lại nhìn vào chàng thanh niên ăn mặc bảnh bao kia. Nhìn vào cái bản mặt cố nặn ra nụ cười có vẻ nhân hậu nhưng thực sự ra đầy tự mãn và hiểm độc của Mao, tôi tự hỏi làm sao mà chỉ có một con người như vậy lại có thể gây ra cho nhân dân Trung Hoa nỗi đau khổ ghê gớm chưa từng có trong lịch sử. Theo ý tôi, dường như trong cá tính của mỗi người Trung Hoa chúng tôi thiếu một cái gì đó mới để cho một con người như vậy khống chế.
- Mày là gián điệp, - tên thanh niên ăn mặc bảnh bao gầm lên giận dữ.
Tôi lắc đầu, đáp:”Không, tôi không là gián điệp”
- Chúng tao có bằng chứng mày là gián điệp!
Tôi quay mặt lại nhìn hắn:
- Thì cứ đưa ra.
- Mày không nghe những công nhân cũ của mày nói sáng nay sao?
- Đó không phải là bằng chứng. Đó chỉ là những lời khai ẩu, khai đại đi cho qua, để khỏi bị ngược đãi, khỏi bị tra tấn!
- Mày khỏi lo! Chúng ông sẽ cho mày coi bằng chứng cụ thể. Một, hai, ba, bốn… Một danh sách rất dài những gì mày nói, đã làm. Nhưng đến lúc đó thì quá trễ để mày xin được hưởng khoan hồng.
- Nếu là gián điệp thật thì không nên cho hưởng khoan hồng. Một gián điệp đích thực thì chỉ nên bắn bỏ, dù nó có thú tội hay không thú tội cũng vậy, phải đem bắn bỏ.
Tên điều tra viên đứng dậy nói chen vào:
- Cho mày về xà lim và suy nghĩ về những gì mày đã nghe thấy trong cuộc mít tinh sáng nay, đó không phải là những lời khai dối trá, bịa đặt đâu. Có một vài điều rất nghiêm trọng. Tình hình của mày không phải là điều có thể cười được đâu.
Hắn đứng lên và ra khỏi phòng. Cai ngục lại dẫn tôi về xà lim. Khi tới gần khu giam tù nhân nữ, tôi thấy người dọn thức ăn cho tù nhân đang đẩy những cà mèn đựng khoai luộc. Chị ta cũng được cô gái tù cải tạo phụ giúp. Rõ ràng là trong nhà tù cũng có những tù nhân khác không phải ăn khoai, mà được ăn cơm chiều như tôi. Bởi vì tôi thấy ít ra cũng có hai cà mèn cơm và rau bắp cải luộc đặt ở giữa màu vàng của cà mèn khoai. Khi tôi về đến xà lim, phần cơm của tôi đã được đưa qua cửa sổ nhỏ.
Chân răng của tôi thường xuyên bị chảy máu. Tôi phải súc miệng trước khi ăn cơm, nếu không thức ăn sẽ có mùi máu. Tôi nhai càng thấy khó khăn. Cải bắp thì thường quá dài, quá cứng. Phải lâu lắm tôi mới ăn xong một bữa cơm. Bởi vì tôi phải trao lại đũa và cà mèn cho nhà bếp trước khi tôi ăn xong, nên tôi nhờ mua một cái muỗng bằng nhựa, còn cơm thì tôi đổ vào cái ca của tôi. Tôi vừa ngồi trên giường vừa “ôn lại” những gì đã xảy ra trong ngày.
Mặc dù tay bị còng, chân bị đá, bị đạp, thân thể bị xô đẩy, lôi kéo, tôi vẫn nghĩ rằng đã không uổng phí một ngày. Tôi được biết những gì xảy ra cho các công nhân viên cũ của hãng Shell và tôi cũng có thể nhìn thấy tình hình gay go của tôi trong viễn tượng sẽ giảm bớt. Tôi chỉ tiếc là trong một số công nhân cũng của hãng Shell đã không chịu nổi áp lực – chắc là rất dữ dội – nên phải khuất phục. Nhưng tôi thấy lo lắng cho những người mà tên không thấy trong những báo đại tự và trong số những người đứng ra tố cáo tôi. Không hiểu những người đó có còn trên cõi đời này hay không. Còn về ông Đào Phương, tôi cho ông là người hèn nhát. Nhưng tôi cũng chẳng chấp. Giọng nói thổn thức nghẹn ngào ấy chính là tiếng than khóc của một tâm hồn đã bị hành hạ đến mức cùng cực rồi.
Thời tiết trở nên ấm áp hơn. Tôi không còn run rẩy vì lạnh nữa. Tôi phân vân không biết có nên đem giặt cái áo len mà tôi đang mặc để cất dành đến mùa đông năm sau hay không. Tôi có cảm tưởng phải giữ gìn cẩn thận quần áo mùa đông, một thứ đồ dùng như vậy không có bán trong nhà tù. Và chỉ có trời mới biết tôi còn bị giam giữ trong nhà tù này cho đến bao giờ. Cuộc đấu tranh giữa “lũ người theo Mao” và tôi là cuộc đấu tranh của sự kiên trì, dẻo dai chịu đựng. Chỉ có điều là làm sao tôi đừng có chết.
Tôi mới vừa lên giường nằm được một chút thì mụ cai ngục “nhân từ” – hôm nay là phiên trực của mụ – đến mở cửa sổ nhỏ ra và hỏi: “Chị có muốn tắm nước nóng không?”. Thật là một bất ngờ thú vị. Tù nhân được phép tắm nước nóng tháng một lần. Mùa đông, tắm nước lạnh trong xà lim chịu không nổi nên tôi đếm từng ngày để được tắm nước nóng. Chiều hôm đó, sau khi bị thẩm vấn trở về tôi thấy các mụ cai ngục lần lượt thay nhau đi tắm. Lúc này chắc tất cả đã tắm xong, mụ cai ngục “nhân từ” đã cho tôi cái may mắn được hưởng chút nước nóng còn dư. Nghe mụ nói đi tắm, tôi quơ vội cục xà bông và khăn tắm theo mụ đến phòng tắm. Trong lúc đang gội đầu và tắm, tôi suy nghĩ về sự thay đổi thái độ của một số cai ngục kể từ khi tôi lên tiếng bênh vực Lưu Thiếu Kỳ. Tắm xong, tôi lặng lẽ trở về xà lim. Lát sau mụ cai ngục “nhân từ” mới đến khóa cửa xà lim.
Ngày hôm sau trời mưa. Không phải là cơn mưa mùa đông lạnh lẽo như đổ từng thùng nước đá vụn xuống mặt đất. Cũng không phải là cơn mưa mùa hè giận dữ ầm ầm như thác đổ. Cơn mưa xuân rỉ rả, lất phất từ từ ngấm dần xuống đất để đánh thức cây cối cỏ hoa thức dậy sau giấc ngủ đông dài và báo tin cho chúng biết nàng xuân đã tới. Tôi vẫn thích cái mùi ẩm ướt của mặt đất sau một ngày mưa xuân. Mưa xuân như một hi vọng tràn trề, một lời hứa hẹn hoa nở thơm ngát rực rỡ cùng với màu xanh non của cỏ cây, lại nhờ được ăn nóng khá hơn và có thuốc vitamin cùng với thái độ nương tay của một vài cai ngục, tất cả những yếu tố đó đã góp phần làm cho tôi cảm thấy đỡ bực bội. Tôi thấy mình lạc quan hơn trước cơ may sống sót sau những thử thách cam go và bớt lo lắng hơn cho tương lai.
Cái cảm tưởng hứng khởi ấy được kéo dài đến ngày hôm sau. Khi được gọi đi thẩm vấn, tôi bước đi đã nhanh gọn hơn. Lần này chỉ có hai chàng thanh niên trẻ tuổi – chàng ăn mặc bảnh bao và chàng công nhân – ngồi ở “quầy”. Sau khi tôi bước vào phòng thẩm vấn, cai ngục đóng cửa lại, chàng thanh niên khoát tay ra dấu về phía chân dung Mao. Tôi cúi chào. Hắn bảo tôi đọc câu trích sau đây của Mao: “Làm cách mạng không phải là đi dự tiệc, làm văn, vẽ tranh hay làm đồ trang sức. Cách mạng không thể là tế nhị, dễ chịu, lịch sự, ôn hòa, tốt bụng, hào hiệp, có mức độ và rộng lượng khoan dung. Cách mạng là hành động bạo lực mà giai cấp này dùng để lật đổ giai cấp kia”.
Sau khi đọc xong “lời vàng” của Mao rồi, chàng thanh niên hỏi tôi:
- Mày yêu nước Anh hơn yêu Trung Hoa?
- Tôi là công dân Trung Hoa, dĩ nhiên tôi yêu Trung Hoa hơn!
- Bỏ ra ngoài vấn đề công dân, mày còn yêu Trung Hoa hơn không?
- Giòng máu Trung Hoa đang chảy trong huyết quản tôi. Dĩ nhiên, tôi vẫn yêu Trung Hoa hơn. Tôi luôn luôn là một người Trung Hoa yêu nước.
- Năm 1940, mày ở bên Mỹ phải không?
- Phải, tôi ở đó vài tháng.
- Lúc ở đó mày đã phát biểu cái gì?
- Có, tôi đã phát biểu vài điều về cuộc xâm lăng Trung Hoa của quân Nhật.
- Chúng tao có tin tức cho biết mày đã phát biểu ca ngợi nỗ lực chiến tranh của bọn đế quốc Anh. Mày đã nói trong một chương trình truyền thanh ở New York. Một vài người bạn cùng học với mày ở đại học đã thú nhận và cung cấp cho chúng tao tin này. Như vậy thì mày cũng đã có thể tuyên bố này nọ ở nhiều nơi khác nữa. Dù sao đi nữa, lúc trở về Trùng Khánh mày đã phát biểu tuyên truyền cho bọn Quốc Dân Đảng trên đài phát thanh của chúng. Mày đã nói đế quốc Anh là một dân tộc anh hùng, đầy can đảm nhất định không bao giờ đầu hàng, quyết chiến đến cùng. Thế chính quyền bảo mày tuyên truyền cho chúng? Mày đã được tụi đế quốc Anh tuyển từ năm 1940? Trả lời tao đi.
- Tôi từ nước Anh sang nước Mỹ trên một tàu thủy chở hành khách. Một số hành khách đã được một chương trình truyền thanh phỏng vấn. Người phỏng vấn hỏi tôi về vấn đề nước Anh. Dĩ nhiên, tôi đã nói một cách thành thật.
- Mày tuyên truyền cho tụi Anh.
- Trong chiến tranh, nước Anh và Trung Hoa đứng về một phía.
- Không phải như vậy, năm 1940 bọn Anh vẫn còn giúp bọn Nhật. Mày có gì để đánh tan được sự nghi ngờ mày là gián điệp cho bọn Anh ngay từ năm 1940?
- Phi lý! Lúc đó, tôi chỉ là một du khách tại nước Anh. Tôi cảm thấy phục lòng can đảm và kiên quyết của nhân dân Anh trước sự chênh lệch áp đảo cán cân lực lượng khi nước Anh đã phải một mình chống chọi với kế hoạch xâm lăng Âu châu của Hitler.
- Thấy chưa, cho đến ngay lúc này tại đây mà mày còn lớn tiếng tuyên truyền cho bọn đế quốc Anh kia mà. Tao thấy rõ là mày yêu nước Anh hơn yêu nước Trung Hoa.
- Ông muốn nghĩ sao thì nghĩ, tùy ông, quyền ông. Nhưng có điều không bao giờ ông chứng minh được lời tố cáo của ông nhằm chống lại tôi.
- Tao sẽ chứng minh. Tao sẽ chứng minh mày nói là mày yêu nước chỉ là nói láo, nói dối, yêu ngoài môi ngoài mép để che đậy những hành động xấu xa, độc địa của mày.
Hắn cầm lấy cái cặp giấy màu nâu ở dưới bàn và cầm lên coi. Tôi chỉ thấy cái bìa của cặp giấy ấy. Không biết hắn nhìn cái gì ở đó mà có vẻ chăm chú lắm. Bỗng hắn đưa cái cặp ấy ra cho mọi người cùng xem. Tôi thấy chỉ có mỗi tấm hình đen trắng chụp tôi đang khiêu vũ với một người Thụy Sỹ vào khoảng những năm đầu thập niên 1950. Lúc đó một câu lạc bộ của người Pháp hãy còn được mở cửa ở Thượng Hải. Một người thất nghiệp đã chụp hình cho các khách đến chơi ở câu lạc bộ và bán lại cho khách mỗi tấm một đồng (nhân dân tệ). Tôi đã mua những tấm hình ấy chỉ để giúp đỡ người chụp hình thất nghiệp kia mà thôi. Khi Vệ binh đỏ đến cướp phá nhà tôi, chúng đã lấy đi nhiều thứ trong đó có tấm hình ấy. Anh bạn người Thụy Sỹ của tôi khiêu vũ rất giỏi. Ông ta biết nhiều bước cách điệu rất bay bướm. Trong hình ông ta đang chỉ cho tôi vài điệu mới và cả hai chúng tôi cùng đang cười.
- Mày gọi thế này là yêu nước đấy hả? - Chàng thanh niên nói, giọng nghiêm khắc như thể hắn đã chộp được cái gì ghê gớm lắm. Tôi thấy bối rối thật sự.
- Khiêu vũ thì có mắc mớ gì đến yêu nước hay không yêu nước, - tôi hỏi ngược trở lại.
- Mày khiêu vũ với một thằng ngoại quốc. Thấy mày rất sung sướng khi nhảy nhót với một thằng ngoại quốc. Vậy dứt khoát là mày không yêu nước rồi!
- Khiêu vũ với một người ngoại quốc là không yêu nước? – tôi hỏi – thế thì hay đấy nhỉ? Vậy mà tôi đâu có biết là khiêu vũ với người ngoại quốc là không yêu nước. Nhưng tôi phải công nhận phán đoán của ông là hay, vì ông là người Mác xít và là nhà Cách mạng sáng suốt. Tuy nhiên, nếu tôi không là người yêu nước thì ít ra tôi cũng là người hữu ích. Và đó cũng đủ làm vẻ vang cho tôi lắm. Ông đồng ý chứ?
- Mày nói thế nghĩa là gì? Mày là người hữu ích?
- Phải đúng như ông vừa nói, khiêu vũ với người ngoại quốc là không yêu nước. Khi khiêu vũ với một người Thụy Sỹ, tôi cũng đã làm cho ông ta thành một người không yêu nước Thụy Sỹ nữa. Như vậy chỉ cần khiêu vũ với người ngoại quốc nào là tôi có thể làm cho người đó không yêu nước ông ta nữa, vì ông ta khiêu vũ với người ngoại quốc mà. Như vậy thì có phải là tôi có ích không nào? Ông nghĩ coi, cứ sai tôi đến các nước thù địch với Trung Hoa, để họ khiêu vũ với tôi, họ sẽ trở thành không yêu nước của họ nữa, như vậy chẳng phải tốn một viên đạn mà ta vẫn hạ được kẻ thù. Như vậy, tôi quả có ích, khỏi tốn một đồng xu?
Tôi cảm thấy buồn cười quá đến nỗi không nói được rõ ràng mấy tiếng sau cùng nữa. Nhưng chàng thanh niên kia lại không cảm thấy vui và tán thưởng ý kiến dí dỏm của tôi. Mặt hắn đỏ bừng lên vì giận quá. Hắn chỉ tay ra cửa và thét lên:”Cút ngay! Cút ngay! Tao sẽ xử bắn mày!”
Nom hắn hầm hè thật dễ sợ khi hắn tiến về phía tôi, do đó tôi phải đi nhanh ra khỏi phòng điều tra. Nhưng trong hành lang không có cai ngục nào để dẫn tôi về xà lim. Tôi đợi, cố nín cười. Tôi thấy nếu tôi bật cười ở một nơi hung hiểm như thế này thì thật không khôn ngoan chút nào. Chúng có thể cho là tôi hóa điên và gởi tôi đến nhà thương điên mất. Vả lại, không thể cười, làm mất mặt “ông kẹ” trong chính quyền mà không phải trả giá đắt. Ngay ngày hôm sau, điều này được chứng minh rõ ràng.
Ngày hôm sau, tôi được gọi đến phòng điều tra ngay trước bữa ăn. Sau những thủ tục thường lệ, cũng “ông” thanh niên đó trao cho tôi tập 4 trong bộ sách Mao Trạch Đông viết, mở trang in lại bức thư phát thanh gởi cho tướng lãnh, sĩ quan binh sĩ Quốc Dân Đảng. Bức thư ấy do Mao Trạch Đông viết năm 1948 khi Quốc Dân Đảng bị quân Cộng sản bao vây ở phía bắc sông Dương Tử, gần Nam Kinh, thủ đô của Quốc Dân Đảng. Qua thư đó, Mao đã chỉ ra tình hình tuyệt vọng của quân đội Quốc Dân Đảng và kêu gọi họ đầu hàng.
- Đứng nghiêm và đọc lớn tiếng bức thư đó, - “ông” thanh niên ra lệnh.
Tôi lớn tiếng đọc thật to bức thư đó. Khi đọc xong, tôi đang định trao cuốn sách cho hắn thì hắn lại nói: “Đọc lại để cho từng lời, từng chữ ngấm vào cái đầu óc ngu muội của mày!”
Tôi lại đọc lại. Khi đọc xong lần thứ hai, hắn nói:
- Những lời ấy đã ngấm vào đầu mày chưa? Mày đã nhận ra tình hình vô vọng của mày chưa? Mày chịu đầu hàng như bọn tướng tá Quốc Dân Đảng chưa? Không có gì có thể giúp đỡ mày được. Chỉ còn một con đường là đầu hàng!
Tôi không nói gì. Hắn chòng chọc nhìn vào tôi một lúc rồi quát lên:
“Đọc lại”. Khi tôi đọc xong, tôi và hắn lườm nhau. Hắn quát lên: “Đọc lại! Để cho những lời đó ngấm vào đầu óc bằng đá của mày!”
Ngày hôm đó, tôi cứ đứng hàng bao nhiêu tiếng đồng hồ, đọc đi đọc lại mãi cho đến khi đầu óc tôi choáng váng, mắt hoa cả lên, khô cổ khan giọng, hai tay rụng rời, hai chân muốn sưng vù. Mãi đến chiều tối, tôi mệt lừ người đến nỗi giọng của tôi lí nhí và tôi đọc ngập ngừng, ngắc ngứ, rời rạc đứt quãng. Đến lần này nữa thì tôi đã thuộc lòng bức thư. Tôi không cần phải nhìn vào sách, cứ nhắm mắt lại mà đọc cũng được. Hai tay mỏi quá không nâng nổi quyển sách, nên cứ từ từ ngả xuống hai bên. Nhưng cứ mỗi lần tôi ngập ngừng không đọc thì hắn lại hét lớn lên: “Mày chịu đầu hàng rồi hả?” Hắn đợi tôi trả lời. Tôi không trả lời, hắn lại hét lên: “Đọc lại”
Lúc đầu tên công nhân còn chòng chọc nhìn vào tôi đọc. Bây giờ tôi thấy hắn đã hết cái hứng thú ấy rồi. Đầu hắn gục vào hai cánh tay và như có vẻ muốn ngủ. Hai đứa thay phiên nhau đi ăn. Tôi cứ phải tiếp tục đọc mà không được ăn uống gì cả. Đói và kiệt sức. Mắt hoa lên. Miệng khô rang đến nỗi tiếng nói của tôi nghe chỉ còn là tiếng thì thào. Nhưng cứ mỗi lần tôi đọc xong thì hắn lại quát lên “Đọc lại”. Mãi đến tối mịt tôi mới được đưa về xà lim. Tôi không biết chắc chắn là mình đã đứng như vậy trong bao nhiêu tiếng đồng hồ để đọc đi đọc lại cái thư của Mao. Có lẽ phải hơn tám tiếng đồng hồ liền. Chẳng có ai để dành cơm cho tôi. Suốt một ngày tôi chỉ được uống nước lúc buổi sáng trước khi bị gọi đi thẩm vấn cho đến lúc trở về xà lim. Không ăn, không uống và cứ đứng mà đọc cái thư ấy trong suốt hơn tám tiếng đồng hồ! Để có cái gọi là bồi dưỡng, tôi nuốt vài viên dầu cá thu và vitamin B complex.
Nhục hình đày đọa ấy kéo dài ba ngày liền, chỉ khác là hai ngày sau tôi được cho về vào đúng giờ cơm chiều. Con mụ cai ngục trực phiên những ngày đó đã tích cực cộng tác với hai “ông” thanh niên kia để hành hạ tôi. Về đến xà lim, ăn uống rồi đâu có được nằm nghỉ. Mụ bắt tôi đi đi lại lại trong xà lim hàng giờ đồng hồ nữa. Lên giường nằm rồi mụ cũng không để yên. Chốc chốc lại đóng, mở cửa sổ hoặc động vào cửa rầm rầm để cố phá giấc ngủ của tôi. Mặc dù bị mụ đánh thức dậy nhiều lần trong một đêm, nhưng nói chung lúc nào tôi ngủ được là vẫn ngủ say.
Đến cuối ngày thứ ba, tôi gần sụm. Tôi nghĩ là hai tên kia cũng thấy rõ như vậy nữa. Đến chiều tối ngày thứ ba, cả hai tên cùng hỏi tôi:
- Thế nào, mày đã chịu đầu hàng chưa?
Tôi cố để nói, nhưng quá yếu sức, cổ họng khô rang đến nỗi âm thanh chỉ còn là tiếng khào khào. Tên thanh niên ăn mặc bảnh bao quát lên:
- Nói lớn lên! Nói rõ ràng! Mày đã chịu đầu hàng chưa?
Tôi tận lực dùng sức để nói:”Không có tội gì hết”
- Thế thì chắc chắn mày sẽ bị xử bắn!
Hắn hầm hầm ra khỏi phòng, đóng cửa đánh sầm. Tôi ngồi xuống ghế dành cho tù nhân để nghỉ và chờ cai ngục đến dẫn về xà lim.
Tên công nhân trẻ cau mày lại nhìn tôi hậm hực. Lát sau, hắn hỏi tôi:
- Mày đang nghĩ gì vậy! Mày hy vọng vào cái gì?
Tôi làm thinh. Cai ngục đến dẫn tôi ra khỏi phòng.
Mấy ngày qua đi, tôi không bị gọi lên phòng thẩm vấn, mỗi ngày, nhiều lần tôi cứ ôn đi ôn lại những gì tôi đã trao đổi, đối đáp với tất cả các điều tra viên kể cả với tên thanh niên ăn mặc bảnh bao. Lặp đi lặp lại trong đầu từng câu hỏi của chúng và từng câu trả lời của tôi. Tôi có thể trả lời hay hơn nữa không? Tôi có thể trả lời cách khác được không? Tôi đi đến kết luận là mặc dù đôi lúc chúng tỏ ra quan tâm đi tìm những sự kiện đã xảy ra thực, nhưng nói chung những câu hỏi chỉ là dồn tôi đến chỗ phải thú nhận tội, chỉ là một phần của cái ý đồ của chúng là tìm ra “tội” của tôi. Những câu hỏi gợi ý để trả lời và qua câu trả lời đó chúng hy vọng tìm được một cái gì đó chống lại tôi. Cùng lúc chúng dùng những phiên điều tra, thẩm vấn để tỏ uy quyền đối với tôi hầu như làm cho tôi phải khiếp sợ, khuất phục. Những cuộc thẩm vấn không giúp chúng giải quyết được trường hợp của tôi, chúng quay qua biện pháp hành xác. Thật ra, có thẩm vấn thêm thì cũng chẳng hy vọng moi ra được cái gì.
Cùng với khí hậu ấm áp, sức khỏe của tôi nói chung được cải thiện. Mỗi lần một cái, tôi đã lần lượt giặt hết quần áo mùa đông của tôi, từ áo len cho đến các đôi tất. Tôi tự nhủ phải chuẩn bị để sống lâu năm trong tù. Bao lâu tôi còn giữ cho mình sống được, tôi còn hi vọng. Triết lý của Lão Tử là cùng tắc biến, hết hồi bĩ cực đến hồi thái lai. Tôi phải chờ đợi, hằng ngày tôi tập thể dục và để ra hàng giờ để ngâm thơ cho chính mình nghe. Thường, tôi ngồi đó, cuốn sách của Mao đặt trên đùi làm bộ chăm chú đọc nhưng đầu óc tôi lại đang nghĩ đến các khổ thơ của Lý Bạch, Đỗ Phủ.
Ngày 1 tháng 4 năm 1969, hai năm rưỡi sau ngày tôi bị bắt, đại hội Đảng lần thứ 9 – được chờ đợi từ lâu – đã được triệu tập ở Bắc Kinh. Báo chí tường thuật Lâm Bưu đã đọc một bản báo cáo chính trị quan trọng, ca ngợi cuộc Cách mạng Văn hóa, hứa không ngừng cố gắng trong cuộc đấu tranh giai cấp. Trong số 1500 đại biểu thì một phần lớn là người ủng hộ anh ta và từ quân đội đủ mặt quân binh chủng hải lục không quân. Trong định chế mới của Đảng, Lâm Bưu đã được chính thức tôn vinh lên làm người kế vị Mao. Cả Lâm Bưu lẫn Giang Thanh đều thành công trong việc đưa “đàn em” của mình vào Ủy ban trung ương gồm 279 ghế. Nhiều quan chức nổi tiếng và lão thành của Đảng bị “tuột dù”. Chỉ còn rất ít các công thần hàng đầu như Chu Ân Lai và Trần Nghị là còn giữ được “ghế”. Nhưng ảnh hưởng của các “đấng quốc phụ” sụt giảm một cách thê thảm, kể cả những đấng khai sơn phá thạch, nếm mật nằm gai, công lao hãn mã cũng bị chìm vào tăm tối như thường. Trong bức hình chụp cuối cùng sau khi bế mạc và in trên báo, người ta thấy Mao đứng giữa. Bên trái “Người” là tất cả lãnh tụ của phái “theo Mao”. Bên phải “Người” là vài vị lão thành đứng đầu là Chu Ân Lai.
Trong lúc Đại hội Đảng lần thứ 9 đang họp, báo chí hàng ngày bày tỏ lòng phấn khởi và sự ủng hộ của “toàn dân”. Trong nhà tù, từ sáng đến tối, các tù nhân bắt buộc phải nghe phát thanh các bài phát biểu cùng tất cả các tin tức liên quan đến Đại Hội. Thậm chí cả cái danh sách dài thậm thượt phương danh của mấy trăm vị ủy viên trung ương chính thức và dự khuyết. Có nhiều tên của nhiều vị quen biết đã biến mất. Nhiều ngôi sao mới mọc lên phản ánh cấu trúc mới quyền lực của Đảng và mối tương quan quyền lực giữa các phe cánh trong Đảng, nhất là trong ban lãnh đạo chóp bu của Đảng. Vào ngày Lâm Bưu đọc báo cáo chính trị, tất cả các tù nhân đang ngủ đều bị dựng dậy và bắt phải đứng nghiêm để nghe.
Một hôm, lúc tôi vừa ngồi xuống để ăn cơm sáng, cửa xà lim mở bật ra. Một cai ngục quát lên: “Đi ra!”
Tên này lạ mặt lắm, tôi chưa từng thấy mặt hắn bao giờ. Tôi cố để nuốt trửng lấy vài miếng cơm. “Đi ra!” hắn lại quát lên nhưng vẫn không bước vào trong xà lim. Đôi đũa cứ như bay lên để lùa vội những hạt cơm vào miệng. Tôi quyết định phải có cái dằn trong bao tử để đương đầu với bất cứ những gì sắp xảy ra. Tôi ngờ rằng chúng chú ý nhằm vào giờ cơm của tôi để gọi tôi đi thẩm vấn đặng làm cho tôi hụt bữa ăn. “Đi ra”, hắn quát lên đến lần thứ ba và bước vào trong xà lim. Hắn lẳng lặng giật lấy lon cơm của tôi, đặt lên giường và nói “Để đấy, trở về ăn cũng được”. Tôi nhanh tay cầm lấy ca múc nước lạnh súc miệng.
- Nhanh lên! Mày chậm quá! - Hắn hối thúc.
- Ông làm ơn ra ngoài cho tôi đi tiểu chút.
Hắn ra khỏi xà lim. Mụ cai ngục bước vào để canh chừng. Tôi rửa tay và lau miệng. Khi tôi vừa cúi lượm cuốn “Mao tuyển” lên, mụ cai ngục lắc đầu khẽ nói “khỏi”. Tôi để cuốn sách xuống và đi theo.
Mụ “lính cái” cai ngục hắc ám chạy huỳnh huỵch trên hành lang, tới và quát lớn: “Mày làm cái gì mà lâu thế?”
Tôi theo mụ ra khỏi khu giam giữ tù đàn bà. Một cai ngục đứng chờ sẵn với cái còng số tám. Gã còng tay tôi, mụ “lính cái” xô mạnh làm tôi suýt té, khi tôi lấy lại được thăng bằng và sửa soạn bước đi, mụ lại xô tôi một cái nữa. Và cứ thế, tôi thất thểu đi ra đến cổng lớn nhà tù. Tại đó cũng vẫn chiếc xe hôm nọ, có tài xế ngồi chờ. Hắn nhấn còi inh ỏi cho đến khi trông thấy tôi ra gần đến nơi. Chàng thanh niên ăn diện bảnh bao đang đi đi lại lại cạnh đó. Cũng có cả ông công nhân già nữa. Khi thấy tôi, cả hai vội vã bước tới “đón”. Qua nét mặt chàng thanh niên ăn diện bảnh bao, tôi biết cái sắp xảy ra với tôi ngày hôm đó, không gì khác hơn là sự hành phạt vì sự bất khoan nhượng của tôi. Hắn rít lên qua kẽ răng:
- Mày sắp được đưa đến dự cuộc họp mít tinh để mừng kết thúc thắng lợi Đại Hội Đảng lần thứ 9 và cuộc bầu cử Ủy ban Trung ương mới của Đảng. Mày phải xử sự cho đàng hoàng nghiêm túc. Bỏ cái trò xấc láo của mày đi. Nếu không những người làm Cách mạng họ sẽ xé xác mày ra đấy.
Hắn có vẻ khoan khoái như thể cái viễn tượng tôi bị xé ra từng mảnh làm cho hắn thú vị lắm lắm. Ông công nhân già nói ôn tồn hơn:
- Ở nhà tù số 1 còn có quy tắc, nội quy về việc đối xử với tù nhân. Chúng tao đã đối xử hết sức khoan hồng và tự kiềm chế đối với mi. Ở bên ngoài bức tường nhà tù này, tình hình khác hẳn. Quần chúng Cách mạng muốn làm gì thì làm. Tốt hơn là mi nên cẩn thận, đừng có nói năng bậy bạ, tùy tiện. Tốt hơn là tỏ ra quỵ lụy và tuân phục. Nếu không, họ sẽ giết mi. Nhiều người bị giết cũng chỉ vì vậy thôi đó.
Có thật là họ đã quan tâm bảo vệ sự sống của tôi không? Tôi nghĩ là không. Chúng chỉ lo sao cho khỏi bị phê bình vì đã không “thuần hóa” được một tên tù dưới quyền kiểm soát của chúng. Có thể có một viên chức cao cấp nào đó có mặt trong cuộc mít tinh này mà chúng muốn gây cho ông ta một cảm tưởng tốt đẹp về chúng. Tên thanh niên diện bảnh hỏi tôi:
- Mày đã nắm được tình hình như vậy chưa?
- Tôi sẽ không nói, không làm gì nếu tôi không bị khiêu khích. - Tôi nói.
- Có lẽ chúng ông phải cho mày một bài học trước khi dẫn mày đi, - hắn vừa nói vừa lấy nắm tay nhứ nhứ vào trán tôi.
- Ông đã dư biết là bạo hành thể xác cũng không bịt miệng được tôi kia mà. Các ông càng khiêu khích tôi thì tôi càng cãi lại!
- Rồi, muốn thế cũng dễ thôi. Ông sẽ để cho quần chúng cho mày một bài học, lúc bấy giờ mày mới sáng mắt ra. Mày cãi lại là chúng nó giết mày liền!
- Có nghĩa là ông muốn tôi phải im lặng ngay cả khi người ta hỏi tôi phải không?
- Ừ, cứ cúi đầu xuống mà nhận tội!
- Chết thì chết chứ tôi không nhận những gì không đúng sự thật.
- Vậy thì cứ câm mồm đi! Người ta nói gì thì nói, cứ câm cái mồm đi! - Lúc đó ông công nhân già mới lên tiếng. Và rõ ràng trong hai người – ông ta và chàng thanh niên – thì ông ta là người quyết định.
- Được, vậy thì tôi sẽ im lặng, họ muốn nói gì thì nói. Nhưng như vậy không có nghĩa là tôi nhận tội đâu à!
- Người quyết định mày có tội hay không không phải là quần chúng! – Ông công nhân già trấn an tôi.
Chàng thanh niên ăn vận bảnh bao thúc tôi lên xe. Tôi ngồi vào ghế sau, bị kẹp giữa ông công nhân già và một người khác. Tên thanh niên ngồi lên ghế trước cạnh tài xế. Chiếc xe lao vun vút trên đường phố. Một chiếc xe khác chở những người đã tham gia phiên điều tra mới nhất của tôi.
Tháng tư là một tháng đẹp ở thành phố Thượng Hải. Lá xanh non của những hàng cây hai bên đường làm cho không khí ô nhiễm của thành phố này hóa ra mát mẻ trong sạch. Có cái gì đổi mới sau mùa đông khắc nghiệt. Màn cửa trên xe không kéo kín lại nên tôi có thể nhìn thấy phố xá. Chiếc xe chạy qua phố hướng về phía Bắc. Thỉnh thoảng chúng tôi phải ngừng lại vì gặp một đoàn diễu hành “mừng” Đại Hội 9 kết thúc thắng lợi. Biểu ngữ, băng rôn đỏ, khẩu hiệu viết trên vải giấy đủ màu chăng, dán la liệt. Trống, phèng la om sòm và chân dung của Mao lển nghển. Cũng y như mọi cuộc diễu hành khác kể từ lúc khởi đầu cuộc Cách mạng Văn hóa. Nhưng tôi nhận thấy người tham dự trong cuộc diễu hành này khác với đám đông cuồng nộ ba năm trước đó. Không ồn ào náo nhiệt, trái lại còn có vẻ buồn rầu. Họ bước đi chậm chạp, kéo lê bước chân như không muốn bước. Tiếng họ hô khẩu hiệu cũng yếu ớt và nhạt nhẽo. Có người còn không thèm hô theo. Dường như họ đau khổ vì mệt mỏi sau ba năm liên tục hăm hở đấu tranh giai cấp. Đúng hơn có lẽ là họ đã tỉnh ngộ khi cuộc Cách mạng Văn hóa được triển khai. Nhiều người trước kia có con là Vệ binh đỏ – vốn đã đau khổ – nay còn phải gửi lương thực và quần áo cho con. Bởi vì các “ông kẹ” Vệ binh đỏ nay đã bị phân tán đưa đi các vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh. Cũng có người gặp khó khăn, rắc rối hoặc thiếu thốn vì Cách mạng Văn hóa đã chồng thêm gánh nặng lên cuộc sống đã rất vất vả của họ.
Thông thường, đường phố Thượng Hải đầy những kẻ vô công rồi nghề đi lang bang. Nhưng, vào ngày xuân này, ngoài những người tham gia diễu hành, đường phố ít có kẻ nhàn du đứng coi đám diễu hành. Tôi thắc mắc vì tôi chưa nhận định được hết tầm mức của sự tàn phá, bạo hành mà các “ông kẹ” Vệ binh đỏ và các “ông bà” Cách mạng đã gây ra khiến cho bà con không dám ra đường. Súng bắn tứ tung, bừa bãi gây ra đạn lạc chết người. Các “ông kẹ” Vệ binh đỏ và các “ông bà” Cách mạng tùy thích đánh đập người ta để gây hứng khởi đẩy Cách mạng Văn hóa đi đến nữa. Các cuộc bắn nhau giữa các phe phái Vệ binh đỏ và “quần chúng Cách mạng” cũng tạo ra nhiều nạn nhân.
Khi chiếc xe đi tới khu đại học và phi trường quân sự ở bên ngoài thành phố thì có cuộc diễu hành của không lực tiến về phía chúng tôi. Dẫn đầu là đoàn diễu hành là một đoàn quân gồm toàn các thiếu nữ xinh đẹp. Nom họ có vẻ là những diễn viên điện ảnh cực kỳ xinh đẹp đi đóng phim cho không lực hơn là đi diễu hành thực sự. Sau này khi được thả ra và khi Lâm Bưu đã bị hạ bệ và bị chỉ trích công khai tôi mới được biết lai lịch của “binh đoàn người đẹp” này. Lúc bấy giờ nhân dân Trung Hoa mới được nói cho biết rằng Lâm Bưu đã phong cho ông con trai cưng là Lâm Lập Quốc làm tư lệnh phó không lực Trung Hoa khi thằng này mới hai mươi lăm tuổi, vừa mới tốt nghiệp học viện quân sự dành riêng cho các con ông bự của quân đội Trung Hoa. Từ khắp nơi trên nước Trung Hoa, những kẻ theo “phò” Lâm Bưu đã tuyển những cô gái xinh đẹp nhất trong vùng lãnh thổ của mình để gởi về cho công tử Lâm Lập Quốc thành lập một đạo quân gồm 300 “bông hoa đẹp trong tư dinh”, rập y khuôn của Hoàng đế Trung Quốc khi xưa lập cung A phòng. Các cô gái ấy được trao cho những công việc trong không lực, gọi là để lấy tiếng chứ thực chất chẳng phải làm gì cả. Vì tình hình tham gia quân đội là một đảm bảo cho bản thân cá nhân một địa vị cao hơn, đời sống vật chất thoải mái hơn đồng thời gia đình cũng được biệt đãi hơn, cho nên các cô gái kia hăm hở lăn xả vào chứ đâu biết rằng họ được chọn để làm đồ chơi cho Lâm Lập Quốc. Những cô gái ấy được tập trung về Thượng Hải, nơi Quốc lập bản doanh bí mật và đặc biệt. Những cô gái nào không vừa mắt Lâm Lập Quốc sẽ được đẩy vào làm việc thật sự trong không lực. Đó là gốc gác của “quân đội người đẹp” mà tôi gặp sáng hôm đó ở gần phi trường quân sự Thượng Hải.
Chiếc xe đi qua cổng khuôn viên một khu gồm nhiều tòa nhà xây bằng gạch nung cao cấp. Bên ngoài không có biển đề tên chức năng của khu này, cũng chẳng có lính gác mà chỉ có một người đàn ông, mở cổng cho xe chạy vào và đóng lại ngay. Khung cảnh nơi đây có vẻ huyền bí và tôi quyết định quan sát kỹ mọi sự. Dường như họ không muốn cho tôi biết nơi này là gì.
Sau khi đi qua thảm cỏ rộng cùng với các cây cảnh được cắt xén cẩn thận, chiếc xe ngừng lại trước một trong các tòa nhà. Hai mụ đàn bà vạm vỡ mặc đồng phục may theo “kiểu Mao” có băng tay “Cách mạng” chờ sẵn ở đó. Một trong hai mụ mở cửa xe. Ông công nhân già nhảy ra trước. Tôi còn đang sửa soạn bước xuống thì mụ đàn bà thứ hai vươn tay ra lôi tuột tôi khỏi xe một cách thô bạo. Hai mụ kẹp hai cánh tay tôi, xốc nách lôi tôi vào bên trong tòa nhà. Làm như thể hai mụ sợ tôi chạy đi được hay sao mà hai mụ kẹp chặt lấy tôi quá. Vào một phòng nhỏ, hai mụ đẩy tôi vào một góc tường.
- Úp mặt vào tường! Cấm nhúc nhích! - Một trong hai mụ quát lên.
Tôi nghe tiếng hai mụ nặng nề ngồi xuống. Không ai nói với ai một tiếng. Sau một lúc khá lâu, tôi thấy tiếng đàn ông nói vọng vào bảo họ đi ăn cơm. Sau vài tiếng xì xào trao đổi, một trong hai mụ đi ra. Khi mụ này quay trở lại, mụ kia đi ra. Trong lúc đó tôi cứ đứng úp mặt vào tường.
Im lặng. Chờ đợi. Mỏi chân quá. Tôi cứ đứng một chân, co một chân cho khỏi mỏi. Và thay đổi như thế cả trăm lần. Bỗng cánh cửa mở ra. Tiếng người đàn ông có vẻ sợ sệt và bí mật – cũng giống như các tôi tớ trong nhà quyền quí Trung Hoa thuở xưa khi nói về chủ nhân của mình – “Ngài đã tới rồi”, căn cứ vào giọng nói, tôi đoán người tới đó là một nhân vật quan trọng.
Hai mụ bật lên khỏi cái ghế ngồi, nhanh như tên bắn, mỗi mụ chộp một cánh tay của tôi, vừa xốc nách vừa lôi tôi ra khỏi tòa nhà. Đi qua một sân bóng rổ, dọc theo con đường hai bên trồng cây và đi vào một tòa nhà khác. Nách tôi bầm tím vì mấy ngón tay cứng như sắt của hai mụ kẹp chặt.
Cứ mỗi lúc tôi lại càng thêm tò mò. Nơi này là nơi nào? Cách sắp xếp bố trí có vẻ như khu đại học. Nhưng sự sạch sẽ và các sân cỏ được xén cắt kỹ lưỡng… thì dường như lại không phải là môi trường học viện cấp cao thông thường. Những người đi cùng với tôi trên xe, nay đi trước tôi vài bước. Tôi thấy họ có vẻ e dè, khép nép. Tôi chắc – mặc dù không có lính gác cổng – nơi đây phải là một khu dinh thự của bộ phận chính quyền quan trọng hoặc một cơ quan quân sự cao cấp. Đặt chân đến những nơi quan quyền, người dân Trung Hoa thường chỉ dám rón rén.
Bước vào đại sảnh, ở đó đã có hàng trăm người tụ tập ngồi thành hai cánh đối mặt với nhau. Ở phía cuối lối đi giữa có một bục ca, có một số người mặc quần áo dân sự đã ngồi sẵn thành hình bán nguyệt sau cái bàn trên bục đó. Những người từ nhà tù số 1 cũng lên ngồi đó. Trên các bức tường, các băng biểu ngữ giăng đầy. Chữ màu trắng viết trên vải màu đỏ. Các biểu ngữ ấy ca tụng thắng lợi của “lũ người theo Mao” và đòi diệt bọn “chó săn cò mồi trong Đảng”. Đại hội 9 “lịch sử” được tuyên bố là một thành công vĩ đại của “tư tưởng Mác – Lênnin – Mao Trạch Đông”. Tôi nhận thấy chân dung Lâm Bưu, người chính thức kế vị Mao, được treo bên cạnh chân dung Mao.
Mọi sự trong phòng đều gọn ghẽ, sạch sẽ và sang trọng, chứng tỏ tòa nhà này là của một cơ quan có ngân sách rất rộng rãi và rất có kỷ luật. Như vậy thì chỉ có thể là một cơ quan của quân đội. Tôi nhìn vào đám “khán giả”. Bọn này ăn mặc tươm tất đẹp đẽ hơn đám đông ngoài phố, có nhiều “áo bốn túi”, nhiều “quần nỉ” chứ không chỉ toàn là thứ quần áo vải xanh chàm như trong cuộc mít tinh thông thường ở Thượng Hải.
Hai mụ đàn bà dắt tôi đến dãy micro đặt trước bục. Tất nhiên vẫn có một mụ nhấn đầu cho tôi cúi gục mặt xuống. Tôi chỉ nhìn thấy dây điện micro ngoằn ngoèo trên mặt đất. Có một sợi dây micro dẫn ra bên ngoài. Đi đâu kìa? Có thể nào có những người ở phòng khác đang theo dõi nghe cuộc đấu tố này? Họ là ai? Tại sao họ phải hành xử một cách kín kín hở hở như vậy? Có lẽ họ muốn tôi không nhìn thấy họ? Ngoài tên công an khu vực và cô gái phụ trách giao dịch đối với xí nghiệp nước ngoài – tức là cô thông ngôn – của vụ Công Thương Nghiệp Thượng Hải, tôi ít có quen biết các viên chức nhà nước và Đảng. Trong những cuộc tiếp tân của một số ít phái bộ Tây phương ở Thượng Hải mà tôi được mời, tôi chỉ được gặp một trong các phó thị trưởng và một vài quan chức khác trong vụ Ngoại Giao Thượng Hải, chắc chắn những người này đều trở thành nạn nhân của cuộc Cách mạng Văn hóa khi chính quyền thành phố bị lật đổ. Vậy chỉ còn một cách giải thích ấy là người của Lâm Bưu đã đảm nhiệm việc thẩm vấn tôi. Những người nghe cuộc đấu tố này hẳn phải là “nhà binh”. Cái mà họ không muốn tôi nhìn thấy chẳng phải là cái mặt của họ mà là cái bộ đồ nhà binh của họ.
Các “khán giả” hô to khẩu hiệu và giơ cao cuốn “Mao tuyển” lên. Sau khẩu hiệu “Mao Chủ tịch lãnh tụ vĩ đại muôn năm” là khẩu hiệu “chúc Phó Tư lệnh tối cao Lâm Bưu luôn luôn mạnh khỏe”. Đối với tôi, điều này phản ánh địa vị đang lên của Lâm Bưu sau Đại hội 9, đồng thời cũng xác nhận sự kiện những người tổ chức cuộc mít tinh đấu tố này là người của Lâm đang tìm cách nâng cao lòng tôn sùng cá nhân của Lâm Bưu.
Tôi chỉ nhìn thấy chân của người đứng trước mặt. Tiếng nói của một người đàn ông “giới thiệu” tôi với “khán giả”. Hắn nói về gốc gác lai lịch gia đình của tôi, của chồng tôi và đời sống cá nhân riêng tư của tôi. Tôi để ý thấy cứ mỗi lần “lý lịch tiểu sử” của tôi được các “ông bà” Cách mạng kể lại là mỗi lần tôi giàu có hơn và đời sống của tôi sa đọa và xa hoa hơn. Bây giờ cái trò chơi phát ngôn ba hoa bông phèng, gán ghép bịa đặt bậy bạ vô liêm sỉ – trong mọi trường hợp – không được phép có nơi miệng một người có giáo dục bình thường, chứ đừng nói là do một quan chức nhà nước, “trò chơi” thô bỉ ấy đã đến cái mức quái gở. Tôi đã hứa giữ im lặng không cãi lại, vì vậy, tôi cảm thấy thoải mái và dửng dưng hơn là trong các cuộc đấu tố mà tôi đã bị tham dự vào năm 1966. Tuy nhiên cũng có “khán giả” nhảy chồm chồm lên giận dữ khi “báo cáo viên” nói tôi là gián điệp của đế quốc. Họ đã biểu lộ giận dữ của họ bằng cách vây quanh lấy tôi và sỉ vả mắng nhiếc thậm tệ.
Ác hiểm đến như vậy thì thật tởm không chịu nổi. Theo bản năng, tôi tính ngẩng đầu lên để cãi lại. Nhưng hai mụ đàn bà đã kịp thời, một mụ bẻ gục đầu tôi xuống, một mụ giật ngược cái còng ở cổ tay. Đau quá, phần cái cổ bị bẻ quặp làm cho tôi nghẹt thở gần chết. Và hai mụ cứ ghìm chặt như thế cho đến khi gã đàn ông tuôn ra hết “bài” tố của y. Lúc đó mụ giật ngược còng tay mới từ từ hạ xuống cho tôi đỡ đau một chút. Trong lúc đó “khán giả” hô khẩu hiệu om sòm. Sau này tôi được biết cái đòn bẻ quặp đầu xuống, giật ngược hai cánh tay bị còng sau lưng lên gọi là “thế phóng hỏa tiễn” do các “ông kẹ” Vệ binh đỏ và các “ông bà” Cách mạng sáng tạo ra để tăng thêm phần đau đớn cho nạn nhân và bắt họ phải cúi đầu xuống trong tư thế lụy phục.
Một “diễn giả” khác lên “báo cáo” tiếp. Diễn giả này đã nói về sự “bất phục tùng” của tôi đối với quyền lãnh đạo của các “ông bà” Cách mạng, đại diện chân chính của Đảng Cộng sản Trung Hoa. Đây là lần đầu tiên tôi thấy sự thất bại của chúng khi không bắt ép tôi cung khai tội lỗi theo ý chúng, đã bị chúng gán cho là một hành động thách thức chống lại Đảng, “khán giả” lại tỏ ra cuồng nộ hơn nữa. Có lẽ “tội” không phục tùng Đảng còn nặng hơn “tội” làm gián điệp? Tôi chưa kịp xem tội nào nặng hơn thì tôi đã bị xô té xuống sàn. Tuy nhiên mụ đàn bà vạm vỡ bên cạnh, bằng đôi cánh tay mạnh mẽ của mụ, đã dựng ngay tôi đứng dậy.
“Diễn giả” thứ ba lên “báo cáo”. Hắn tố cáo tôi đã bênh vực Lưu Thiếu Kỳ. Sau nghị quyết của Ủy ban trung ương Đảng chống lại ông ta và hàng loạt những bằng chứng không thể nghi ngờ được là Lưu đã làm tất cả những gì mà nghị quyết đã vạch ra, “đề tài” Lưu Thiếu Kỳ đã trở thành một đề tài khiến mọi người không muốn có những xáo trộn chính trị phải tức giận. Khi người ta phải cố gắng bày tỏ một cảm xúc mà họ không cảm thấy thì thường người ta hay làm lố đi đến chỗ quá đáng, cường điệu. Trong trường hợp này các “khán giả” cũng vậy. Hai mụ đàn bà kề hai bên nách tôi luôn luôn kịp thời kéo, giật tôi lên đúng lúc. Có một hay hai lần, hai mụ đã phải đưa tay đỡ gạt đòn hội chợ đánh nhứ vào tôi.
Các khán giả tỏ ra tức giận như điên. Họ la át cả tiếng “báo cáo viên” có khán giả còn “nhiệt tình” xô lưng vào tôi. Tôi loạng choạng suýt té đụng cả micro. Một trong hai mụ cố gắng dựng micro lên nhưng vướng phải dây và té lăn queo kéo theo cả tôi. Hai bàn tay bị trói – quặt sau lưng – không đưa tay đỡ được nên tôi bị té sấp mặt xuống đất. Nhiều người khác cũng té đè lên tôi. Các “khán giả” ai nấy đều cố gắng la hét, sỉ vả có vẻ tận tình. Cảnh hỗn loạn kéo dài có tới mấy phút. Sau cùng tôi cũng được lôi dậy. Mệt lả người ra, tôi ao ước cuộc mít tinh này chấm dứt cho rồi. Nhưng các “diễn giả” còn “báo cáo” tiếp. Dường như tất cả các vị ngồi đằng sau cái bàn kê trên bục đều muốn “đóng góp”. Họ thôi không tố tôi nữa mà quay ra tán tụng Lâm Bưu bằng tất cả lời lẽ tâng bốc, nịnh bợ mà kho từ ngữ phong phú của Trung Hoa có được. Họ cố bộc bạch lòng tận trung, tận hiếu với Lâm Bưu – theo tôi nghĩ – có lẽ chỉ vì họ biết là có sự hiện diện của một tay sai thân cận và tín cẩn của Lâm Bưu đang ngồi nghe họ ở căn phòng kia.
Bỗng nhiên, cánh cửa phía sau lưng mở ra và có tiếng người đàn ông kêu lên “đi rồi!” có nghĩa là “nhân vật quan trọng ấy” đi rồi. Hai âm thanh ngắn gọn ấy có tác dụng nhanh như điện. “Diễn giả” đang thao thao bỗng ngưng ngang câu hỏi. Bởi vì nhân vật (hay những nhân vật) quan trọng ngồi nghe ở phòng đằng kia đã đi rồi, họ chẳng cần phải “trình diễn” nữa. Vài “khán giả” đã đứng dậy vọt ra cửa. Các “khán giả” đứng dậy, người lượm áo kẻ lượm túi xách lật đật ra về. “Diễn giả” vội vã hô khẩu hiệu nhưng dường như chẳng ai thèm để ý. Chỉ có lác đác vài tiếng hô theo của vài người đang vội vã rời khỏi phòng. Dường như chẳng ai còn giận dữ gì đối với tôi nữa. Tuy họ chẳng mỉm cười với tôi, nhưng nhìn thẳng vào tôi thì cũng chỉ là cái nhìn dửng dưng, thờ ơ. Tôi cũng chỉ là một trong số những nạn nhân của cuộc đấu tố mà họ đã phải tham dự. Khi có người đụng mạnh vào tôi làm cho tôi loạng choạng muốn té thì thậm chí có “khán giả” còn đỡ tôi khỏi té nữa.
Phút chốc, phòng họp vắng tanh. Tôi nghe thấy vài “khán giả” khi rời phòng trò chuyện với nhau chẳng hạn: “Trời hôm nay mát mẻ nhỉ” hoặc “Tối nay ông ăn cơm ở đâu?” hoặc “Vậy mà trời không mưa à?”. Và cũng y như đám khán giả ở một rạp chiếu bóng sau buổi chiếu, bầu không khí căng thẳng là thế trong phút chốc như một quả bóng xì hơi. Các “khán giả” vừa mới hùng hùng hổ hổ, cuồng nộ là thế mà chỉ phút chốc đã lại nói cười vui vẻ, nhìn tôi như không có gì xảy ra. Hai mụ đàn bà nặc nô dẫn tôi ra xe. Lần này các mụ để tôi đi thong thả chứ không “kè” tôi đi nữa. Đối với họ, cuộc “trình diễn” xong rồi.
“Mừng” kết quả của Đại hội 9 còn kéo dài nhiều tuần lễ nữa. Cứ vài ngày tôi lại bị lôi đến một nơi đang có cuộc mít tinh đấu tố để “khán giả” biểu diễn niềm phấn khởi đối với kết quả đại hội, biểu diễn lòng căm thù đối với đế quốc, biểu diễn lòng căm thù đối với Lưu Thiếu Kỳ và bè lũ chó săn cò mồi cho ngoại bang, biểu diễn lòng tận trung tận hiếu đối với lãnh tụ vĩ đại và “người bạn chiến đấu thân cận của Người”. Thường thì các cuộc mít tinh mà tôi bị lôi đến về sau không có cuộc mít tinh nào khán giả tỏ ra có “trình độ diễn xuất cao” bằng các “khán giả” của buổi mít tinh đầu tiên. Cũng có những cuộc mít tinh ở đó có khán giả “hung hăng” hơn, nhiệt tình với lãnh tụ hơn, căm thù lũ chó săn cò mồi sâu sắc hơn và do đó tôi cũng được chiếu cố tận tình hơn, nghĩa là nếm đòn no hơn, đau hơn. Cứ sau mỗi cuộc đấu tố như vậy, tôi lại được gọi lên phòng thẩm vấn để được một câu hỏi duy nhất “Mày chịu đầu hàng chưa? Mày chịu thú tội chưa?” và tôi cũng chỉ có một câu trả lời duy nhất “Tôi không có tội! Tôi không có gì để tự thú” hoặc đơn giản hơn, tôi làm thinh. Và sau cuộc thẩm vấn là tôi lại bị lôi đi “đấu tố”. Bị đem ra đấu tố trong hết cuộc mít tinh này đến cuộc mít tinh khác được gọi là “xa luân chiến” có mục đích làm tê liệt tinh thần người bị đấu tố. Ngày này qua ngày khác, lỗ tai tôi lùng bùng những âm thanh cuồng nộ, những lời tố cáo gay gắt, mắt tôi mờ đi vì hình ảnh của những khuôn mặt đằng đằng sát khí, thân thể tôi đau ê ẩm vì những xô đẩy, lôi kéo, bạo hành thể xác. Tôi không còn cảm thấy giống như một con người mà như một đồ vật vô tri, vô hồn. Có lúc tâm hồn tôi như rời bỏ thân xác để quay ra nhìn quang cảnh ấy như một khách bàng quan, thờ ơ. Mặc dù tôi không suy nghĩ hoăc quan sát những gì đang diễn ra lúc đó và rút sâu vào tâm thức tôi, nhưng tôi không khi nào cảm thấy bối rối và run sợ.
Kinh nghiệm cá nhân của tôi về “xa luân chiến” thành thật mà nói đã có lúc là một kinh nghiệm đau khổ. Nhưng về sau quen rồi thì đó lại là kinh nghiệm tương đối êm dịu. Sau khi Mao Trạch Đông chết năm 1976, người ta đã dám nói ra miệng một cách tương đối công khai những kinh nghiệm về cuộc Cách mạng Văn hóa. Tôi đã gặp một ông già da nhăn nheo nói về kinh nghiệm “xa luân chiến” của ông một cách cực kỳ linh động, hấp dẫn và dí dỏm. Ông nói với tôi ông đã được hân hạnh dự trên một trăm lần xa luân chiến và thường là với sợi dây xiềng cột vào cổ để trừng trị những kẻ bướng bỉnh không chịu cúi đầu. Ông lão bình thản như không khi kể về kinh nghiệm xa luân chiến của mình. Chỉ khi nói về những người bạn hay những người đồng tù với ông bị giết chết ngay trong các cuộc đấu tố, ông mới tỏ ra bùi ngùi xúc động. Tôi hỏi ông về cái đòn “phóng hỏa tiễn” đã làm cho nạn nhân nhức buốt, đau thốn hết toàn thân, ông xoa cổ tay và cười đáp “thế rồi cũng quen”.





[1] Vụ kênh đào Suez: sau khi lật đổ hôn quân Farouk, đại tá Nasser lên làm Tổng Thống Ai Cập. Mặc dù đã được độc lập, kênh đào Suez vẫn bị nước Anh thuê với cái giá 5% lợi tức thu vào. Và phần lớn số tiền này chạy vào túi Farouk. Đại tá Nasser đã ra lệnh quốc hữu hoá kênh đào.
Thực dân Anh và Pháp – với sự tiếp tay của Israen – đã đem quân đổ bộ vào để “bảo vệ” kênh đào. Trước áp lực của Liên Xô, liên quân Anh Pháp đã phải rút (chú thích của người dịch).


(HẾT TẬP I)

Đăng nhập để trả lời
0