Nguyên tác: Life and Death in Shanghai
Dịch: Đặng Thiền Mẫn
TẬP I
Chương 1: CUỘC SĂN BẮT PHÙ THỦY
Đối với tôi, dĩ vãng - mà tôi nhớ rõ từng chi tiết - đã trở thành vĩnh cửu. Bằng hồi ức, tôi có thể quay lại - cả trong thời gian lẫn không gian - để trở về thời điểm của một đêm hè oi bức tháng 7 năm 1966 và nhìn ngắm lại ngôi nhà cũ của tôi ở Thượng Hải. Lúc đó con gái tôi đã ngủ trong phòng riêng của nó. Đám gia nhân cũng đã ở yên trong khu nhà dành riêng cho họ. Chỉ còn lại một mình tôi trơ trọi trong thư phòng. Ngay lúc này, tôi vẫn còn nghe tiếng thấy tiếng vù vù của chiếc quạt trần, vẫn nhìn thấy trên bàn giấy, những bông hoa cẩm chướng - trắng muốt và ủ rũ vì thời tiết nóng bức - cắm trong chiếc bình cổ đời Càn Long cũng màu trắng. Ngọn đèn đọc sách rọi sáng nửa căn phòng và chiếc nệm bọc lụa màu đỏ thêu chỉ kim tuyến lấp lánh trên ghế tràng kỷ.
Một ông bạn người Anh vẫn thường đến chơi đã gọi căn nhà ấy là “một ốc đảo tiện nghi và sang trọng trong một thành phố nhếch nhác”. Thật ra căn nhà của tôi chẳng những không phải là một lâu đài, mà so với tiêu chuẩn phương Tây thì cũng còn rất khiêm nhường nữa là khác. Nhưng tôi vẫn dành thời gian và tâm tư để làm cho ngôi nhà ấy thành một tổ ấm, một thiên đường cho tôi và cho con gái tôi, để có thể tiếp tục hưởng được những tiện nghi trong khi cả thành phố đang trải qua thực trạng vô sản.
Mười bảy năm sau ngày Đảng Cộng sản chiếm được lục địa Trung Hoa, thành phố Thượng Hải chỉ còn rất ít gia đình vẫn giữ được mức sống như gia đình tôi. Trong thành phố mười triệu dân này, có lẽ chỉ khoảng mười gia đình là còn giữ được lối sống cũ, ngôi nhà cũ và còn gia nhân, đầy tớ phục dịch. Thực ra, Đảng cũng không chính thức qui định người dân sống như thế nào. Năm 1949, khi quân đội Cộng sản tiến vào thành phố Thượng Hải, chúng tôi còn bị cấm không được sa thải gia nhân, đầy tớ, để khỏi làm cho tình trạng thất nghiệp thêm trầm trọng. Nhưng những đợt vận động chính trị làm rung chuyển đất nước này và làm cho những người trước kia giàu có nay trở thành nghèo mạt. Họ trở thành nạn nhân của sự bần cùng hóa ấy vì họ đã buộc phải trả những khoản “tiền phạt” khổng lồ, hoặc ít ra thì lợi tức của họ cũng sụt giảm ghê gớm. Nhiều nhà doanh nghiệp tư sản đã ở lại lục địa cùng với gia đình khi xí nghiệp của họ đã rời khỏi Thượng Hải. Tôi không có ý thay đổi lối sống của mình. Không những vì tôi còn đủ phương tiện để duy trì mức sống cũ, mà còn vì - thông qua “Tổ chức Mặt trận đoàn kết” - chính quyền thành phố đã đối xử với tôi một cách lịch thiệp, đàng hoàng. Tuy nhiên, tôi và con gái tôi cũng phải sống một cách lặng lẽ và trong sự bị nghi ngờ. Chúng tôi tin rằng cuộc cách mạng vô sản là một diễn biến lịch sử không thể tránh được đối với Trung Hoa, do đó chúng tôi đã chuẩn bị để nương theo diễn biến ấy.
Tôi thường nhớ lại cái khoảnh khắc lúc nửa đêm ngày 3 tháng 7 năm 1966. Không phải vì tôi chỉ hoài tưởng đến chuỗi ngày tôi còn được sống chung với con gái tôi, mà chủ yếu đó là khoảnh khắc cuối cùng của cuộc sống thường nhật mà tôi đã từng sống từ bao năm trước đó. Khí hậu nóng bức vẫn đè nặng lên thành phố, dù là ban đêm. Mở toang cửa sổ mà trong phòng vẫn không thoảng một cơn gió nhẹ. Mình mẩy tôi ướt đẫm mồ hôi. Chiếc áo lót dính sát vào lưng khi tôi cúi xuống tờ báo, đọc những bài báo chứa đựng những lời tố cáo dữ dội. Những bài báo như vậy luôn luôn là những lời tiên báo nhằm chuẩn bị dư luận cho một đợt vận động chính trị sắp tới. Đó là những nỗ lực tuyên truyền nhằm tạo ra bầu không khí căng thẳng thích hợp và kích động quần chúng. Thường khi chỉ cần đọc kỹ các bài báo do các nhà hoạt động ưu tú của Đảng viết ra và thông qua những lời bóng gió xa xôi của họ, người ta cũng có thể đoán được mục tiêu và nạn nhân của cuộc vận động sắp tới. Bởi trước đó, tôi chẳng hề dính dáng đến một phong trào chính trị nào, nên tôi đã không tiên cảm được những tai họa mà cuộc vận động sắp tới sẽ ảnh hưởng đến tôi. Nhưng, cũng như trong mọi trường hợp trước đó, những lời lẽ dữ dội được dùng trong các bài báo tuyên truyền ấy đã làm cho tôi cảm thấy khó chịu. Người lão bộc - lão Triệu - bưng đến cho tôi bình trà ướp nước đá và đặt lên bàn. Vừa nhấm nháp ly trà mát lạnh, tôi vừa đưa mắt nhìn tấm hình người chồng quá cố của tôi. Từ ngày nhà tôi mất, thấm thoắt đã chín năm qua, khoảng trống do cái chết của anh để lại trong lòng tôi vẫn còn đó. Tôi vẫn luôn luôn cảm thấy bị bỏ rơi và trơ trọi mỗi khi tôi khó chịu vì tình hình chính trị, và tôi cảm thấy sự nâng đỡ của nhà tôi là quá cần thiết cho tôi.
Năm 1935, tôi gặp nhà tôi, khi anh đang soạn luận án Tiến sĩ ở Luân Đôn. Sau đó chúng tôi thành hôn và trở về Trùng Khánh, thủ đô thời chiến của Trung Hoa. Năm 1939, anh trở thành viên chức Bộ Ngoại giao của chính quyền Quốc Dân Đảng. Năm 1949, khi quân đội Cộng sản tiến vào Thượng Hải, lúc đó, anh làm giám đốc văn phòng Bộ ngoại giao của chính quyền Quốc Dân Đảng tại Thượng Hải. Khi đại diện Cộng sản - ông Chương Hán Phu - đến tiếp quản văn phòng, ông này đã mời nhà tôi ở lại làm việc với chính quyền mới trong lúc giao thời với tư cách là cố vấn ngoại giao cho thị trưởng thành phố mới được chỉ định, tức là nguyên soái Trần Nghị. Một năm sau đó, nhà tôi được phép rời khỏi chức vụ trong chính quyền nhân dân để nhận chức vụ tổng quản lý chi nhánh Thượng Hải của công ty dầu khí Shell. Công ty này là một trong số rất ít xí nghiệp của Anh có tầm vóc quốc tế - chẳng hạn như công ty “Kỹ nghệ hóa chất Imperial”, Ngân hàng tổ hợp Hồng Kông - Thượng Hải,... - còn cố để giữ các chi nhánh ở Thượng Hải. Bởi hãng Shell là công ty độc nhất cỡ quốc tế về dầu khí muốn ở lại làm ăn tại lục địa Trung Hoa, nên những viên chức Đảng có khuynh hướng ủng hộ cuộc giao thương với phương Tây đã đối đãi với công ty và với bản thân chúng tôi một cách lịch sự, đàng hoàng.
Năm 1957, nhà tôi qua đời vì bệnh ung thư, một người Anh được chỉ định làm tổng quản lý thay nhà tôi. Và bản thân tôi được hãng Shell mời làm phụ tá cho ông ta với chức vụ cố vấn quản trị. Tôi làm việc cho hãng Shell với chức vụ ấy cho đến năm 1966.
Những vị tổng quản trị người Anh kế tiếp đã nhờ cậy vào tôi để lèo lái công ty qua khỏi những hầm bẫy chập chùng đối với một xí nghiệp tư bản ngoại quốc còn giao thương với Trung Hoa dưới quyền của Mao. Tôi đã phải tìm cho ra đường lối giải quyết các vấn đề để làm sao không phải hy sinh thể giá của công ty Shell hoặc không làm mất thể diện các quan chức người Trung Hoa. Công việc của tôi là quản trị nhân viên, làm trung gian liên lạc giữa ông tổng quản lý và “Hiệp Hội công nhân hãng Shell”, phân tích những đòi hỏi của Hiệp Hội và làm sao để đi đến chỗ có thể thỏa hiệp được. Tôi đã thảo tất cả các văn thư giao dịch với chính quyền Trung Hoa bằng tiếng Hoa. Mỗi khi ông tổng quản lý người Anh về nước nghỉ hè hoặc đi Bắc Kinh để thương thảo với chính quyền Trung ương thì tôi lại phải hành xử quyền tổng quản lý. Tôi nghĩ mình cũng may mắn có được một công việc làm ăn thích hợp và tự hào là một phụ nữ duy nhất ở Thượng Hải được giữ một chức vụ trung cấp của một công ty nổi tiếng nhất thế giới.
Mùa xuân năm 1966, sau khi thương thảo và đạt được thỏa hiệp với chính quyền Trung Hoa về “Những tài sản được dùng để thanh toán các khoản nợ”, công ty Shell đã đóng cửa văn phòng chi nhánh Thượng Hải. Công ty đã bàn giao tài sản của công ty ở Trung Hoa và chính quyền tiếp nhận các công nhân viên của công ty với lời cam kết vẫn để họ tiếp tục làm việc và trả hưu bổng cho họ. Với tư cách là thành viên trong ban quản trị, tôi không bị chi phối bởi thỏa hiệp ấy như các nhân viên khác trong “Hiệp Hội công nhân hãng Shell” chi nhánh Thượng Hải. Thực ra Hiệp Hội này chỉ là tổ chức của chính quyền thiết lập ra nhằm kiểm soát các công nhân của hãng mà thôi.
Khi thỏa hiệp được ký kết, con gái tôi - một diễn viên trẻ của xưởng phim Thượng Hải - đang đi trình diễn cùng với cơ quan của nó ở miền Bắc Trung Hoa. Tôi nghĩ là khi nó trở về, tôi sẽ làm một chuyến du lịch Hồng Kông. Nhưng, trong khi tôi chờ đợi nó trở về, cuộc Cách mạng Văn hóa được phát động. Đoàn diễn viên, trong đó có con gái tôi, được cơ quan gọi về Thượng Hải gấp để các thành viên của cơ quan tham gia vào cuộc Cách mạng Văn hóa. Vì biết rằng mỗi khi có cuộc vận động chính trị thì các viên chức chính quyền thường rất ngần ngại khi phải quyết định, do đó mọi công việc trong tất cả guồng máy chính quyền chậm lại đến độ có thể nói là hoàn toàn bị ngưng đọng. Bởi vậy tôi quyết định không nộp đơn xin đi Hương Cảng, để khỏi bị từ chối. Vì cứ mỗi lần bị từ chối như vậy thì đều được ghi vào hồ sơ cá nhân mà mỗi người đều có ở công an. Và cá nhân đó có thể bị làm khó dễ sau này. Tôi quyết định ở lại Thượng Hải vì tin rằng cuộc Cách mạng Văn hóa chắc cũng không kéo dài quá một năm, một khoảng thời gian thông thường cho mỗi cuộc vận động chính trị.
Ly nước trà đã làm cho tôi mát mẻ phần nào. Tôi đứng dậy đi vào phòng ngủ bên cạnh để tắm một cái rồi lên giường ngủ. Mặc dù trời nóng, tôi cũng cố để ngủ. Điều cuối cùng mà tôi biết được là người vú của tôi - má Trần - đã nhè nhẹ đánh thức tôi dậy.
Nhìn đồng hồ trên bàn ngủ, mới có sáu giờ rưỡi sáng nhưng bên ngoài cửa sổ, rạng đông đã cháy rực và nhiệt độ trong phòng đã lại bắt đầu tăng lên. Má Trần nói:
- Quí và một người nữa ở sở cũ của bà lại thăm bà.
- Họ cần gì vậy? - Tôi hỏi, giọng còn ngái ngủ.
- Họ không nói. Nhưng cái cung cách đối xử của họ lạ lắm. Họ cứ đi thẳng vào phòng khách và ngồi xuống ghế tràng kỷ, chứ không đợi mời mọc như trước kia, khi sở chưa đóng cửa.
- Người kia là ai - tôi thò đầu ra khỏi phòng tắm và hỏi tiếp - ông Quí, tôi biết, là phó chủ tịch Hiệp Hội công nhân hãng Shell chi nhánh Thượng Hải. Thương thảo với ông ta là một phần trong những công việc của tôi. Ông là người đàng hoàng biết điều và dễ thỏa hiệp.
- Tôi không biết tên người kia. Tôi chưa gặp ông ta lần nào, tôi nghĩ có lẽ ông ta là một vệ binh. Ông ta cao nhưng mảnh khảnh.
Theo sự mô tả của má Trần, tôi đoán có lẽ ông ta là một trong số những người “hoạt động” trong Hiệp Hội công nhân hãng Shell. Ở mặt chìm thì không biết sao, nhưng ở mặt nổi thì trong hãng không có đảng viên. Qua cung cách cư xử của một số người “hoạt động” trong hãng, tôi hiểu rằng những người này được khuyến khích để làm “chó săn” cho “Hiệp Hội công nhân Thượng Hải”. Vì không trực tiếp tiếp xúc với những người “hoạt động” này - hầu hết họ đều là bảo vệ hay công nhân tạp dịch, quét dọn - nên tôi chỉ biết các hoạt động của họ chủ yếu là qua bộ phận đầu não.
Có tiếng gõ cửa phòng tắm. Lão Triệu, người lão bộc già của tôi trao cho má Trần một cái khay và nói với tôi:
- Họ nói bà chủ nhanh lên.
- Được - tôi nói - nói với họ là tôi sắp xuống ngay bây giờ. Lấy thức uống và thuốc lá ra mời họ đi.
Nói như vậy chứ tôi cũng chẳng vội vã gì. Tôi cần có thì giờ để suy nghĩ đối phó với bất cứ điều gì sắp tới. Hai người ấy đến vào giờ này hẳn là phải có cái gì đó bất thường. Tuy nhiên, ở Trung Hoa khi được mời đến để tham gia học tập chính trị, ít có người được nói cho biết trước. Trong những trường hợp như vậy, các quan chức ra lệnh mọi người ngưng ngay - bất cứ là đang làm việc gì - để tham gia học tập chính trị cái đã, công việc mặc kệ, muốn ra sao thì ra. Tôi tự hỏi không biết có phải hai người này đến mời tôi tham gia học tập chính trị hay không. Tôi biết là “Hiệp Hội công nhân Thượng Hải” đang tổ chức những lớp học tập cho các công nhân viên của hãng Shell để chuẩn bị tư tưởng cho những người này tiếp tục làm việc với đồng lương thấp kém hơn.
Trong lúc ngồi ăn sáng và uống trà, tôi duyệt lại những sự kiện dẫn đến việc đóng cửa văn phòng hãng Shell và xét lại mọi ngôn ngữ cử chỉ của mình trong cuộc thương nghị giữa công ty và đại diện chính quyền Trung Hoa. Mặc dù tôi có mặt cùng với ông tổng quản lý trong tất cả các buổi họp, tôi đã không dự phần vào cuộc bàn cãi nào. Công việc của tôi chỉ là ngồi đó quan sát ghi nhận để sau đó, khi trở về văn phòng mới đưa ra ý kiến và khuyến nghị cho ông tổng quản lý. Tôi quyết định là nếu họ có hỏi tôi về những vấn đề liên quan đến hãng Shell tôi sẽ trì hoãn bằng cách đề nghị để tôi viết thư hỏi thăm tin tức của hãng.
Tôi mặc áo sơ mi vải trắng, chiếc quần rộng màu xám và mang đôi dép đen. Đó là bộ y phục phổ biến của phụ nữ ở chỗ công cộng. Để khỏi bị dòm ngó, để ý. Vừa đi xuống thang, tôi vừa suy nghĩ rằng những người sai hai người kia đến gặp tôi vào lúc sáng sớm như thế này là cố ý để làm cho tôi phải bối rối. Tôi cứ việc thong thả bước xuống và cố giữ một vẻ bình thường.
Bước vào phòng khách, tôi thấy cả hai người ngồi ưỡn ra trên ghế tràng kỷ. Hai ly nước cam bày trước mặt còn nguyên không đụng đến. Thấy tôi, theo thói quen, Quí đứng dậy. Nhưng nhìn thấy người kia vẫn tiếp tục ngồi ưỡn ra, Quí đỏ bừng mặt, có vẻ bối rối và lại ngồi xuống. Người kia cứ tiếp tục ngồi ưỡn ra, khi tôi bước vào là một cử chỉ bất lịch sự có tính toán. Năm 1949, không lâu sau khi quân đội Cộng sản tiến vào Thượng Hải, anh cảnh sát khu phố tôi ở đến thăm nhà tôi đầu tiên và không hẹn trước. Anh ta gạt lão gia bộc của tôi đang đứng ở cửa và tiến thẳng vào phòng khách - lúc đó, tôi đang ở trong đó - và nhổ toẹt xuống tấm thảm trải nhà. Đó là lần đầu tiên tôi thấy quyền uy được biểu hiện một cách quái gở và thô bỉ như vậy. Từ đó, tôi nhận ra là các quan chức cấp dưới của Đảng vẫn thường có những cử chỉ thô bỉ quá đáng thực ra chỉ là cách thức họ dùng che đậy cái mặc cảm tự ti của họ.
Làm như không biết đến sự bối rối của Quí và sự thô lỗ của người kia, tôi ngồi xuống ghế trước mặt họ và thản nhiên hỏi:
- Mấy ông có việc gì mà đến tôi sớm vậy?
- Chúng tôi đến yêu cầu chị đến dự buổi mít tinh - Quí nói.
- Mít tinh về vấn đề gì? - tôi hỏi tiếp - Ai tổ chức? Ai sai các ông đến yêu cầu tôi tham dự? - giọng có vẻ bực bội.
- Không cần phải hỏi nhiều như vậy - người “hoạt động” kia nói gắt gỏng - chúng tao sẽ không có mặt ở đây giờ này nếu chúng tao không có quyền như vậy. Tất cả các công nhân viên cũ của hãng Shell đều phải tham dự cuộc mít tinh này. Đó là điều rất quan trọng. Thế mày không biết cuộc Đại Cách mạng Văn hóa đã được phát động rồi sao?
- Cuộc đại Cách mạng Văn hóa thì có liên can gì đến tôi? Tôi đã làm việc cho một xí nghiệp thương mại chứ không phải cho một cơ sở văn hóa?
- Mao Chủ tịch đã dạy tất cả mọi người ở Trung Hoa phải tham gia vào cuộc Cách mạng Văn hóa, - Quí nói.
Rồi cả hai cùng nói một cách nóng nảy:
- Trễ rồi, phải đi ngay lập tức.
Họ đứng dậy. Tôi nhìn đồng hồ treo tường: 7h15’, người vú già đứng đợi tôi ở cửa và trao cho tôi cái túi xách và cây dù. Tôi cầm lấy và mỉm cười cám ơn. Nhưng vú không mỉm cười đáp lại. Vú nhìn tôi đăm đăm. Vẻ lo lắng hiện rõ trên nét mặt.
-Tôi sẽ về ăn cơm trưa ở nhà. - Tôi nói để trấn an vú. Và vú chỉ lặng lẽ gật đầu.
Lão gia bộc đứng đợi để mở cổng. Lão cũng nhìn tôi với vẻ mặt lo lắng, nhưng không nói gì, chỉ lặng lẽ đóng cổng khi chúng tôi đã ra khỏi.
Gia nhân của tôi lo sợ là điều hoàn toàn dễ hiểu. Họ đều biết từ mười bảy năm nay, dưới quyền của Mao Trạch Đông, đã có biết bao người ra khỏi nhà của họ trong các cuộc vận động chính trị và không bao giờ trở về nữa.
Ngoài đường phố có ít người qua lại. Nhưng các xe buýt thì đông nghẹt những người, mặt mày có vẻ trang trọng. Vì cứ phải đi vòng vo nên mãi đến chín giờ chúng tôi mới tới nơi đã định.
Một số thanh niên nam nữ tụ tập ở cổng trường kỹ thuật, nơi tổ chức cuộc mít tinh. Khi thấy chúng tôi từ trạm xe buýt đi tới, một số chạy vào bên trong trường, la lớn: “Chúng đã tới, chúng đã tới”.
Một người đàn ông chạy ra và nói với hai người “áp tải” tôi:
- Làm gì mà lâu vậy? Cuộc mít tinh được tổ chức từ lúc 8 giờ?
Hai người kia quay đầu về phía tôi và nói:
- Cứ hỏi con mụ ấy!- Rồi họ vội vã đi vào toà nhà. Căn phòng đông nghẹt người. Trong số những người ngồi trên những ghế dài bằng gỗ ở hàng đầu, tôi thấy ông bác sĩ và các viên chức trung cấp của hãng Shell. Những tài xế, gác cổng, gác thang máy, quét dọn, thư ký... ngồi lẫn lộn trong đám đông thanh niên - có lẽ là học sinh trường này - ở phía sau. Một số nữa đứng ở lối đi giữa hai hàng ghế và ở khoảng trống phía sau. Xuyên qua những cửa sổ mở toang, mặt trời như đổ lửa vào trong phòng. Nóng và ngột ngạt! Nhưng rất ít người dám dùng quạt, không khí trong phòng có vẻ nặng nề và căng thẳng.
Mặc dầu suốt chín năm qua, chúng tôi cùng làm chung trong một hãng và nhìn thấy nhau hàng ngày, nhưng lúc này không có một viên chức trung cấp nào chào tôi hoặc tỏ dấu hiệu nhận ra tôi khi tôi đi ngang, chạm vào họ để tới chỗ dành cho mình ở băng ghế thứ hai.
Hầu hết mọi người đều cố tránh nhìn vào mặt tôi, chỉ có một số ít nhìn tôi ánh mắt có vẻ bối rối, lo lắng.
Tôi tự hỏi mấy tháng nay từ khi hãng đóng cửa thì những người này sống ra sao. Họ đúng là những người bị thua thiệt trong thỏa hiệp “những tài sản được dùng để thanh toán các khoản nợ” đã đạt được giữa công ty Shell và đại diện chính quyền nhân dân. Hầu hết những người này đã làm việc lâu năm cho hãng. Có những người làm từ thập niên 1920: Trong thời Nhật chiếm đóng Thượng Hải, một vài trong số những người này đã để lại nhà cửa và gia đình ở Thượng Hải để theo hãng xuống Trùng Khánh, thủ đô thời chiến của Trung Hoa. Những người ở lại, nhiều người chẳng thà chịu đựng những khó khăn về kinh tế hơn là làm việc với công ty dầu của Nhật hoạt động ngay trên sản nghiệp chiếm đoạt công ty Shell. Hầu hết những người này đã xấp xỉ hoặc hơn lục tuần. Thỏa hiệp nhấn mạnh ở điểm những người này vẫn được quyền làm việc trong cơ sở mới. Điều mà thỏa hiệp lờ đi là trong cơ sở mới họ có thể không được giữ chức vụ cũ mà có thể giao chức vụ như thư ký hoặc thông dịch với mức lương thấp hơn nhiều, kể cả lương hưu. Không một người nào dám phản đối những điều khoản này trong thỏa hiệp. Bởi vì, chính quyền muốn vậy. Cả tổng quản lý và tôi đều hết sức tranh thủ sự đảm bảo từ phía chủ tịch công đoàn cho quyền lợi của công nhân. Nhưng chúng tôi được cho biết là toàn thể công nhân của chúng tôi đều lấy làm hài lòng với những điều khoản này. Trong lần gặp gỡ cuối cùng của chúng tôi - phía công ty - và chủ tịch công đoàn, chính vị này đã nói với tôi:
- Toàn thể công nhân đều rất hài lòng trước viễn tưởng được giải phóng khỏi cái địa vị tồi tệ là công nhân trong một xí nghiệp của ngoại quốc. Tất cả đều hướng về tương lai và tích cực góp phần mình vào việc xây dựng xã hội chủ nghĩa, với tư cách là người công nhân trong tổ chức chính quyền - Đó là đường lối chính thức, của nhà nước. Nhưng, trong thâm tâm, ngay chủ tịch công đoàn có lẽ cũng không tin tưởng sự đúng đắn của đường lối ấy. Vào những ngày cuối cùng trước khi hãng đóng cửa, những công nhân thường, cấp thấp đến gặp tôi cũng lắc đầu thất vọng và thì thầm than thở: “Vô kế khả thi”, “vô vọng”, “đường cùng”...
Từ lúc chín giờ sáng cho đến giờ cơm trưa - cuộc mít tinh tạm ngưng - còn tới hơn ba tiếng đồng hồ. Căn phòng càng lúc càng trở nên nóng bức. Tôi biết, trong lúc chờ đợi những biến cố sắp tới, tôi phải dành sức để biện hộ cho họ. Chiếc ghế dài bằng gỗ cứng ngắc ngồi đau ê ẩm chẳng khác gì chiếc ghế tôi đã ngồi dưới hầm để tránh bom của máy bay Nhật oanh tạc lúc tôi ở Trùng Khánh. Mồ hôi chảy ròng ròng trên mặt. Tôi mở túi xách tính lấy khăn tay lau mặt thì thấy bà vú đã cẩn thận để sẵn ở đó một cái quạt nhỏ xíu làm bằng gỗ trầm hương. Tôi lấy chiếc quạt ra quạt, cố mong xua đuổi cái mùi hôi nồng nặc. Thình lình có tiếng ồn ào phía sau lưng tôi. Vài người đàn ông mặc áo tay ngắn, quần vải thùng thình, từ phía dưới tiến lên trên bục ngồi. Một trong số ấy tiến tới chiếc bàn nhỏ phủ khăn trắng đàng hoàng, kê phía trước dãy ghế. Ở Trung Hoa lúc đó người ta không thể dựa trên cái bề ngoài của một người để đoán được hoàn cảnh, địa vị của họ. Vì mọi người ăn mặc vừa hợp thời trang vừa an toàn của người dân Trung Hoa lúc đó là làm sao cho có vẻ nghèo nàn. Bởi vậy, nhìn những người tổ chức mít tinh này, tôi không tài nào đoán được cấp bậc hay địa vị của họ. Nhưng tôi nghĩ rằng chắc chắn họ phải là các viên chức của “Hiệp hội công nhân Thượng Hải”, một tổ chức công nhân của chính quyền nhân dân.
- Các đồng chí - ông ta bắt đầu nói - Mao Chủ tịch, chủ tịch vĩ đại của chúng ta đã phát động và hiện đang đích thân điều khiển cuộc “Cách mạng Văn hóa vô sản vĩ đại”. Dưới sự lèo lái của người cầm lái vĩ đại, chúng ta sẽ thắng lợi vượt qua mọi trở lực. Tình hình vô cùng thuận lợi về phía chúng ta, giai cấp vô sản!
“Cuộc Cách mạng Văn hóa vô sản vĩ đại” là một thời cơ vô cùng thuận lợi cho tất cả mọi người chúng ta học tập tư tưởng Mao Trạch Đông một cách cẩn thận và chăm chú hơn bao giờ hết. Nhờ đó sự hiểu biết về chính trị của chúng ta thêm sâu sắc. Có như vậy chúng ta mới có khả năng phân biệt và phát hiện ai đứng trong hàng ngũ nhân dân với ai đứng về phía kẻ thù.
“Kẻ thù của chủ nghĩa xã hội rất quỉ quyệt. Trong số chúng có đứa giương cao ngọn cờ đỏ để chống lại ngọn cờ đỏ, có đứa làm bộ hiền lành, mỉm cười thân thiện với ta để che dấu ý đồ hiểm độc, xấu xa của chúng. Chúng cấu kết với bọn đế quốc ngoại bang và giai cấp tư sản trong nước để cố phá hoại xã hội chủ nghĩa và đẩy lùi nhân dân Trung Hoa trở lại cái ngày xưa nghèo đói và đau khổ. Chúng ta có thể nào cho phép chúng thành công? Dĩ nhiên là không! Không! Một trăm lần không!”
“Nhân dân thành phố Thượng Hải đã được giải phóng 17 năm rồi. Ấy vậy mà cho đến gần đây, những xí nghiệp ngoại quốc vẫn còn tồn tại trên thành phố này. Các văn phòng của chúng chiếm những tòa nhà đẹp nhất của chúng ta, xe cộ của chúng cũng chạy vùn vụt trên phố xá của chúng ta. Những tên ngoại quốc và một số ít những tên, tuy là Trung Hoa nhưng đã quên hay là làm lơ quốc tịch để làm việc cho bọn ngoại quốc - tất cả bọn ấy - đã nghênh ngang, vênh váo, xấc xược trên thành phố của ta. Tất cả chúng ta đều biết những xí nghiệp này là những cơ sở tay sai của bọn đế quốc. Chúng nuôi hy vọng tiếp tục bóc lột nhân dân Trung Hoa. Chúng ta không thể tha thứ cho tình trạng này. Vì vậy chúng ta đã đóng cửa các xí nghiệp này và tống cổ bọn ngoại bang về nước chúng. Hầu hết những người Trung Hoa làm việc trong các xí nghiệp ấy đều bị lây nhiễm, cái cách suy nghĩ của họ bị sai lệch. Nhưng phải nhìn nhận sự kiện là một vài người trong số ấy rõ ràng là phản động. Nhiệm vụ của chúng ta là thực hiện chính sách của Mao Chủ tịch, nhà lãnh đạo vĩ đại, là giáo dục và cải tạo họ. Trong mấy tháng qua, chúng ta đã tổ chức những lớp học chính trị cho họ. Nhưng không một ai có thể được cải tạo nếu chính bản thân người đó không chịu đối diện với thực tiễn nhận ra và nhìn nhận sự sai lầm của chính mình. Tự phê và tự thú là những bước đầu tiên dẫn đến sự cải tạo. Để có những nỗ lực tự phê thật sự, một người phải được những người khác giúp đỡ bằng cách phê bình chính người đó. Cuộc mít tinh được triệu tập hôm nay để chúng ta phê bình tên Đào Phương và nghe hắn tự phê.
Tất cả chúng ta đều biết Đào Phương là ai. Trong gần 35 năm, hắn là một con chó săn trung thành của công ty dầu khí Shell, một công ty quốc tế khổng lồ với những cái vòi vươn tới tận những nơi xa xôi hẻo lánh trên thế giới để thâu hút lợi nhuận. Theo Lênin, đó là một hình thức xấu xa nhất của xí nghiệp tư bản.
“Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa như nước với lửa hoàn toàn đối nghịch nhau. Đào Phương đã không thể vừa phục vụ lợi ích của xí nghiệp Anh, đồng thời lại là một công dân Trung Hoa tốt dưới chế độ Xã hội Chủ nghĩa. Trong một thời gian lâu dài chúng ta đã cố gắng giúp hắn nhìn thấy ánh sáng...”
Tôi ngạc nhiên khi thấy Đào Phương, cựu trưởng ban kế toán của xí nghiệp Shell, là mục tiêu của cuộc mít tinh này. Bởi vì tôi cứ nghĩ là Đảng đã nhìn ông ta với con mắt ưu ái. Con trai lớn nhất của ông ta được gởi đi du học ở Liên Xô, rồi ở Tiệp trong những năm năm mươi, và người thanh niên này đã được kết nạp vào Đảng. Tôi cũng biết là khi chọn một thanh niên để cho ra nước ngoài du học, Đảng điều tra xem xét rất kỹ quá trình của người ấy, kể cả hạnh kiểm chức vụ và quan điểm chính trị của ông thân sinh ra người ấy. Đào Phương đã qua được tất cả những “xét nghiệm” ấy, khi con của ông ta được gởi đi du học ở nước ngoài. Bởi vậy tôi không hiểu tại sao ông ta lại bị đem ra làm mục tiêu cho cuộc phê bình.
Ngay từ lúc chế độ Cộng sản mới bắt đầu, tôi đã nghiên cứu cẩn thận sách vở về chủ nghĩa Mác và các lời tuyên bố của các nhà lãnh đạo Cộng sản Trung Hoa. Đối với tôi hình như Chủ nghĩa xã hội ở Trung Hoa còn đang trong giai đoạn dò dẫm. Và đường lối phát triển đất nước vẫn chưa được quyết định dứt khoát.
Bởi vì, theo tôi nghĩ, đó là lý do khiến nhà cầm quyền cứ thay đổi chinh sách mãi. Cũng giống như cái quả lắc đồng hồ, cứ từ tả qua hữu, hữu qua tả. Khi những sự việc diễn ra và nảy sinh những vấn đề, thì Bắc Kinh lại đưa ra những biện pháp sửa sai. Rồi chính những biện pháp sửa sai này đi quá xa và lại có biện pháp để sửa sai. Dĩ nhiên, cái khó khăn thực sự là tình trạng nhà nước kiểm soát quá chặt chẽ nền kinh tế đã khiến cho mức sản xuất sụt giảm hoặc bị bóp nghẹt. Những kế hoạch kinh tế do Bắc Kinh hoạch định đã bất chấp điều kiện cụ thể của địa phương và giết chết mọi sáng kiến, tiêu hủy mọi kích thích tính năng động.
Khi một chính sách được thay đổi từ bên trên thì những tiêu chuẩn đánh giá cũng phải thay đổi theo. Cái đúng hôm qua có thể trở thành sai hôm nay và ngược lại. Bởi vậy, những lời nói và hành động của các viên chức cấp thấp trong Đảng chỉ có giá trị trong một thời gian rất giới hạn. Bởi vậy, tôi cho là cuộc mít tinh mà tôi đang tham dự hôm nay cũng chẳng quan trọng lắm và diễn giả kia cũng chỉ là một viên chức cấp thấp trong Đảng được chỉ định đứng hướng dẫn cuộc Cách mạng Văn hóa cho các công nhân viên cũ của hãng Shell. Đối với tôi, cuộc Cách mạng Văn hóa dường như chỉ là cuộc chuyển mình của Đảng về phía tả. Sớm hay muộn, khi sự việc đã đi quá xa thì sẽ lại có những biện pháp sửa sai. Nhân dân lại sẽ có một vài tháng hay một vài năm tạm ổn trước khi có một cuộc vận động khác. Mao Trạch Đông tin rằng những cuộc vận động chính trị sẽ tạo ra những đà lực thúc đẩy tiến bộ. Bởi vậy, tôi nghĩ cuộc Cách mạng Văn hóa chỉ là một cái khâu trong cái chuỗi dài vô tận những đợt vận động mà người dân Trung Hoa phải tập chịu đựng cho quen.
Tôi đưa mắt nhìn quanh phòng trong khi đó vẫn lơ đãng nghe hàng chuỗi, hàng tràng những khẩu hiệu của diễn giả tuôn ra, lúc đó tôi mới để ý đến tấm biểu ngữ treo trên tường ghi câu: “Đả đảo tên chó săn của đế quốc Đào Phương”. Tên của ông ta được gạch chéo bằng mực đỏ để chỉ rõ ông ta bị tố giác là kẻ thù. Tôi đã không chú ý đến biểu ngữ này ngay khi bước vào phòng vì ngoài biểu ngữ ấy ra còn có vô số biểu ngữ khác của cuộc Cách mạng Văn hóa treo kín các bức tường. Khẩu hiệu, biểu ngữ là một phần trong toàn bộ đời sống của người dân Trung Hoa. Những biểu ngữ ấy ca ngợi Mao Trạch Đông, tán tụng Đảng, tán tụng Chủ nghĩa Xã hội và tán tụng tất cả những gì mà Đảng muốn người dân phải tin tưởng. Những biểu ngữ, khẩu hiệu ấy thúc đẩy người dân phải làm việc cực nhọc hơn nữa, học tập tư tưởng Mao Trạch Đông cho thấm nhuần hơn nữa và tuyệt đối phục tùng Đảng. Khi có cuộc vận động chính trị thì ngoài những biểu ngữ, khẩu hiệu tán tụng nói trên, còn có các biểu ngữ tố cáo kẻ thù mục tiêu của cuộc vận động đó. Từ lúc bắt đầu cuộc Cách mạng Văn hóa, một số khẩu hiệu đã được nhân ra hàng ngàn, hàng ngàn và được treo, dán khắp nơi. Không thể nào đọc được hết các biểu ngữ, khẩu hiệu mà ta thường gặp. Người ta dễ dàng nhìn thấy bất cứ ở đâu đều có khẩu hiệu mà chẳng cần thực sự xem khẩu hiệu ấy nói cái gì.
Một người đàn ông đứng lên kể lể lối sống sa đọa của Đào Phương là kết quả của sự chung đụng lâu ngày của ông ta với tư bản chủ nghĩa. Dường như ông đã phạm tội vì những chuyện mèo mỡ, vì đã uống rượu nho, rượu mạnh, vì thích ăn ngon, nghĩa là tất cả những hành động dung dưỡng thân xác mà Đảng không ưa. Những lời tố cáo đó không làm cho tôi ngạc nhiên, vì tôi biết, khi một người bị tố cáo, người ấy bị mô tả hoàn toàn xấu và mọi hành động cử chỉ sai trái của người ấy đều bị gán cho ảnh hưởng của Chủ nghĩa Tư bản.
Sau khi đã moi móc chi li về đời tư của Đào Phương và vạch trần cái hậu quả tai hại của chủ nghĩa tư bản nơi ông ta thì người đứng lên tố cáo đã nghiêm giọng quay sang vấn đề chủ nghĩa đế quốc và sự gây hấn, xâm lược Trung Hoa do các thế lực ngoại bang gây ra. Theo ý ông ta thì Đào Phương sa đọa không phải vì Đào là người tham ăn và không kiềm chế được dục vọng của mình mà vì Đào đã làm việc cho một xí nghiệp thuộc về một quốc gia đã có những hành động tội ác, thô bạo xâm lược và chống lại nhân dân Trung Hoa từ hơn một trăm năm qua. Ông ta nhắc đến cuộc chiến tranh nha phiến năm 1839-1842, cứ như thể cuộc chiến này vừa mới xảy ra cách lúc ông ta nói mới chỉ chừng một năm.
Ông ta dùng những lời lẽ nặng nề để tố cáo và chốc chốc ông ta lại cao giọng nói lớn. Ông ta nói một cách trơn tru, dễ dàng. Thỉnh thoảng lại ngừng để uống một hớp nước hoặc nhìn vào bản ghi chú. Chắc hẳn ông ta nghĩ mình là một diễn giả lôi cuốn. Bởi vì, không một ai dám bỏ về khi cuộc mít tinh còn đang tiếp diễn. Một viên chức Đảng, dù ở cấp thấp đến thế nào chăng nữa, cũng vẫn là đại diện cho Đảng. Khi ông ta nói thì chính là Đảng nói. Tỏ ra không chú ý nghe là một điều không thể hiểu được. Tuy nhiên ông ta đã nói dai quá, nói dài quá. Căn phòng nóng đến không thể chịu nổi. Và chính người nghe cũng trở nên “bất trị” rồi. Tôi nhìn đồng hồ và thấy gần 12 giờ trưa. Có lẽ chính diễn giả cũng cảm thấy mệt và đói bụng, vì thình lình, ông ta ngưng và nói với chúng tôi là buổi mít tinh tạm ngừng cho đến 13h30. Mọi người rần rần đứng dậy và chen nhau ra ngoài trước khi ông ta dứt lời hẳn.
Bên ngoài, mặt trời giữa trưa như đổ lửa xuống vỉa hè, phía xa, tôi thấy một chiếc xích lô đậu dưới bóng cây. Tôi chạy lại, cho người phu xích lô địa chỉ, hứa trả gấp đôi tiền để ông ta đạp nhanh nhanh chở tôi về nhà.
Người đàn ông sáng nay dẫn tôi đến đây vội chạy ra, la lớn bảo tôi dừng lại. Ông ta muốn tôi ở lại đó, kiếm cái gì ăn trong bếp của nhà trường để tôi khỏi bị trễ trong cuộc mít tinh buổi chiều. Ông ta tỏ ra lo lắng cố giữ tôi ở lại đến nỗi đã giữ lấy chiếc xích lô. Tôi phải hứa đi hứa lại là tôi sẽ đến trước giờ, lúc đó ông ta mới chịu để cho xe chạy.
Căn nhà nhỏ của tôi, mặc dù có rêu phong bám bên thành cửa sổ và bóng tre ở mái hiên thì cũng là một thiên đường đối với tôi sau buổi mít tinh trong căn phòng nóng bức ngột ngạt thiếu không khí ấy. Chiếc áo phía sau lưng tôi ướt đẫm mồ hôi, và tôi khát đến khô cả cổ. Tôi vội đi tắm. Uống một ly trà đá và thưởng thức những món ăn ngon lành mà người bếp đã nấu cho tôi. Nằm nghỉ lưng trên giường chừng nửa giờ rồi lại đi xích lô - Tôi dặn ở lại chờ - tới chỗ mít tinh.
Tôi đến căn phòng của cuộc mít tinh tuy hơi trễ một chút. Nhưng tôi không phải là người đến trễ nhất. Tôi tìm được một chỗ ngồi ở hàng ghế thứ hai, gần một cây cột để tôi có thể dựa vào đó khi quá mệt. Tôi xách theo cái túi đựng chai nước và cái ly và hai thanh sô cô la. Yên trí là mình đã chuẩn bị đầy đủ, tôi ngồi xuống, chờ và tự hỏi không hiểu rồi ra diễn giả sẽ nói gì nữa.
Căn phòng từ từ đông người thêm. Lúc hai giờ trưa, cũng mấy người ban sáng bước lên bục và ngồi vào chỗ cũ. Diễn giả vẫy tay ra dấu cho một người nào đó phía sau ông ta. Tôi ngạc nhiên khi thấy Đào Phương bị dẫn vào phòng. Trên đầu ông ta đội một cái mũ có ghi chữ “con bò yêu quái và đầu óc rắn độc”. Nếu đừng có cái vẻ mặt hết sức sợ hãi thì nom ông ta thật buồn cười. Trong thần thoại Trung Hoa có chuyện yêu quái hiện hình thành con bò để đánh lừa người ta. Nhưng khi bị phát hiện là yêu quái thì chúng đành trút bỏ hình con bò để trở lại thành yêu quái. Mao Trạch Đông là người đã dùng kiểu nói này để mô tả người trí thức trong cuộc vận động chính trị chống cánh hữu năm 1957. Ông ta nói người trí thức cũng giống như yêu quỉ hiện hình người và làm bộ ủng hộ Đảng. Khi họ phê bình Đảng thì lúc đó họ mới lộ nguyên hình là yêu quỉ. Từ đó, mau lẹ xử dụng ngôn ngữ của Mao, các quan chức trong đảng đã áp dụng kiểu nói đó cho tất cả những ai bị coi là không trung thực về mặt chính trị. Trong cuộc Cách mạng Văn hóa, kiểu nói đó được áp dụng cho tất cả những kẻ được gọi là kẻ thù gồm 9 loại: cựu địa chủ bị tố cáo trong phong trào cải cách ruộng đất năm 1950-52; phú nông bị cảnh cáo trong phong trào xây dựng hợp tác xã nông nghiệp năm 1955. Các tên phản cánh mạng bị tố cáo trong cuộc vận động tiêu diệt phản cách năm 1950 và cuộc vận động loại trừ phản cách mạng năm 1955; “phần tử xấu” bị bắt kể từ khi Đảng Cộng sản nắm chính quyền; phe hữu bị tố cáo trong cuộc vận động chống phe tả năm 1957; bọn phản bội (các viên chức Đảng bị nghi ngờ bí mật phản bội Đảng trong lúc bị giam trong các nhà tù của Quốc Dân Đảng); gián điệp (đàn ông và đàn bà có quan hệ với nước ngoài); tay sai cho tư sản (các viên chức Đảng không theo đúng đường lối, chính sách thiên tả và chủ trương đi theo đường lối (phát triển kinh tế) tư bản và trí thức có nguồn gốc gia đình tư sản, trưởng giả.
Kiểu nói “yêu quái hiện hình con bò...” thường được rút gọn là chỉ còn chữ “bò”. Và nơi giam giữ những người thuộc các diện xấu trên - trong thời kỳ có cuộc Cách mạng Văn hóa - thường được gọi là “chuồng bò”. Khi làn sóng khủng bố dâng cao thì trong mọi cơ quan trên nước Trung Hoa đều có những phòng, những nơi được dành riêng ra để làm “chuồng bò”. Và các “Vệ binh cách mạng” trong mỗi cơ quan mình. Những cung cách đối xử vô nhân đạo, những phương pháp tàn bạo đều được dễ dàng sử dụng để bắt các “bò” phải tự thú. Trong nhiều trường hợp, những “chuồng bò” này còn tàn tệ hơn cả nhà tù thứ thiệt.
Nom Đào Phương thay đổi quá chừng! Khi còn làm trong công ty, ông ta là người luôn luôn tự tin. Bây giờ, nom ông ta thất thểu và hoàn toàn rã rời, thảm não. Ông ta gầy tọp hẳn đi và mới chỉ trong vài tháng mà nom ông ta già đi đến cả chục tuổi. Những thanh niên ngồi phía sau tôi khúc khích cười. Khi ông Đào bị dẫn lên bục cao, đám người ở phía sau tôi đã đứng dậy để nhìn cho rõ hơn và vỗ vào ghế rầm rầm. Một người đã đem một cái ghế lên bục và bảo ông Đào đứng lên đó để những người ngồi dưới nhìn rõ hơn nữa. Khi ông ta đứng lên ghế, cái mũ giấy trên đầu, dáng điệu cóm róm thì tiếng cười nhạo đã rầm rĩ nổi lên. Một vài người đứng ở góc phòng - hiển nhiên là đã được bố trí sẵn - đã đứng dậy. Tay giơ cao cuốn “Sách đỏ” - trích những lời dạy của Mao và bọc bìa plastic màu đỏ - mà mỗi người phải luôn mang theo trong người, họ hướng dẫn những người ngồi nghe hô lớn các khẩu hiệu:
“Đả đảo tên Đào Phương”, “Đả đảo tên Đào Phương chó săn của đế quốc !”, “Đả đảo đế quốc !”, “Đả đảo giai cấp tư sản”, “Cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản vĩ đại muôn năm”, “Mao Chủ tịch, vị lãnh tụ vĩ đại muôn năm !”
Tiếng cười đang ầm ĩ tưởng như không kiểm soát được, ấy thế mà mấy người kia chỉ hô lên khẩu hiệu là lập tức tiếng cười im bặt và biến thành tiếng hô như sấm rền, mỗi tiếng hô là những cuốn “sách đỏ” lại được những cánh tay đưa lên cao. Tôi không mang theo cuốn sách đó. Tôi cũng từ từ dứng dậy và đưa mắt bối rối nhìn khắp. Tôi xúc động và ngạc nhiên khi thấy chính Đào Phương cũng giơ nắm tay lên và hô to khẩu hiệu, kể cả khẩu hiệu “đả đảo” chính ông ta. Trong lúc mọi người đứng hô khẩu hiệu, tôi lo lui cui xếp quạt, thu gom bình và ly uống nước để vào túi xách đặt trên ghế và vừa đứng lên thì mọi người đã hô khẩu hiệu xong, và ngồi xuống. Thế là tôi lại lấy túi xách đặt xuống đất để lấy chỗ ngồi. Người ngồi bên cạnh đã nhìn tôi một cách khó chịu. Ông ta ngồi xích ra như thể sợ ngồi gần sát tôi, sẽ bị lây những cử chỉ xấu của tôi.
Khi đám đông đã biểu lộ xong sự tức giận và khinh bỉ đối với tội nhân thì tội nhân mới được phép ngồi trên chính cái ghế mà ông ta vừa đứng. Khi ông ta cúi đầu để nhìn đặng bước xuống thì cái mũ giấy trên đầu bị rớt ra. Đám học sinh lại cười rần. Ông Đào Phương đưa mắt sợ hãi nhìn người chủ trì buổi mít tinh. Rõ ràng ông ta sợ bị tố là đã cố ý làm rớt cái mũ giấy. Ông ta thở dài buồn bã khi một người khác đến lượm cái mũ và chụp lại vào đầu ông.
Người chủ trì buổi mít tinh cho gọi một vài công nhân khác đã làm cho hãng Shell, kể cả hai người sáng nay đã đến nhà tôi và những người thư ký cấp thấp đã làm trong phòng kế toán với Đào Phương. Lần lượt từng người ra trước bục, đứng trước mặt ông ta, bằng giọng tức tối, giận dữ, đã gần như nhắc lại những lời tố cáo mà diễn giả ban sáng đã nói.
Mục tiêu và tầm mức của sự phê bình - theo tôi biết - đã được các viên chức Đảng sắp đặt trước cả rồi. Tỏ ra tích cực, nhiệt tình trong cách phê bình tố cáo - để cho mình nổi bật, độc đáo - thì cũng bị coi là “không đạt yêu cầu” như là phê bình yếu, chưa đúng mực. Người dân Trung Hoa đã rút được kinh nghiệm là Đảng sẽ tin cậy và thích họ hơn nếu họ đừng tự mình suy nghĩ gì cả mà chỉ lặp lại những gì Đảng đã nói với họ. Cuộc phê bình Đào Phương của những công nhân làm trong hãng Shell kéo dài khá lâu. Tất cả những người được phép lên phê bình đều chỉ là công nhân hoặc thư ký cấp thấp. Không một công nhân viên chức trung cấp nào của hãng được phép tham gia “phê bình”. Họ chỉ cúi đầu lặng lẽ nghe.
Người chủ trì tuyên bố cuộc “phê bình” tạm ngưng để cuộc mít tinh được tiếp tục. Ông ta nói với những người nghe là sau nhiều tuần lễ được các người “hoạt động” “giúp đỡ” và giáo dục cho, Đào Phương đã nhận ra sự kiện mình đã là nạn nhân của chủ nghĩa đế quốc. Quay về phía Đào, bằng giọng nghiêm khắc của thầy giáo rầy la học trò phạm lỗi, ông ta hỏi:
- Phải vậy không? Chính đồng lương của bọn đế quốc ngoại bang trả cho mày đã biến mày thành nô lệ của chúng. Mày đã bán mình cho chúng và mày sẵn lòng làm bất cứ việc xấu xa bẩn thỉu nào để lấy đồng lương cao và số tiền mà chúng hứa sẽ cho mày? Phải vậy không?
Trong phòng lặng như tờ. Mọi người chờ xem phản ứng và câu trả lời của Đào. Không có bi kịch ! Không có những tiếng nói đẫm nước mắt ăn năn, hối lỗi. Ông ta chỉ lặng lẽ gật đầu, nom còn thảm hơn!
Theo ý tôi thì Đào Phương thật ngu đần khi nhận đã bán mình cho ngoại bang để lấy tiền. Bởi vì, khi nhận như vậy, ông ta đã tự khoác vào mình một chuỗi những tố cáo khác nặng nề hơn mà ông ta rất khó gỡ cho ra. Theo tôi, cứ nói là hãng Shell đã trả cho tất cả công nhân của mình ở Thượng Hải cùng một mức lương dù là trước hay sau khi Đảng Cộng sản nắm chính quyền ở thành phố này thì có lẽ hay hơn và đúng sự thật hơn. Bởi vì, chính quyền không can thiệp thì hãng chẳng cần phải đặt ra vấn đề giảm lương công nhân làm gì. Hoặc ông ta có thể nói một cách khéo léo là làm việc cho một hãng ngoại quốc thì cũng chẳng vì thế mà mất đi cái nhân cách như những công nhân trong chính quyền khi phục vụ nhân dân. Đó là một quan điểm mà các viên chức Đảng khó mà phủ nhận.
Người chủ trì cuộc mít tinh loan báo: “Bây giờ đến lượt Đào Phương tự phê”.
Vẫn trong dáng điệu cóm róm và không dám nhìn vào những người nghe, ông Đào rút trong túi ra một tờ giấy và bắt đầu đọc những gì đã được soạn sẵn bằng giọng trầm trầm, cố tránh xúc động. Ông ta khiêm tốn nhận tất cả “tội lỗi” mà những người trước đó đã kể ra. Đồng thời ông ta cũng chấp nhận phán quyết cho rằng sự suy đồi sa đọa của ông ta là do ông ta không đủ “cảnh giác Xã hội Chủ nghĩa” (?). Ông ta tỏ ra hối tiếc vì đã làm việc cho một hãng ngoại quốc trong hơn ba mươi năm trời mà vì vậy mà uổng phí đời mình. Ông ta tuyên bố lấy làm hổ thẹn nhục nhã vì đã đui mù vì sự tuyên truyền của bọn tư bản và bị nô lệ hóa vì sự đối xử tốt của hãng Shell đã dành cho ông. Ông cầu xin giai cấp vô sản khoan hồng, tha thứ và cho ông cơ may để ăn năn và đái tội lập công. Ông ta có nhắc đến sự kiện anh con trai ông ta là đảng viên và đã được học bổng của nhà nước để du học nước ngoài. Lối sống sa đọa và trụy lạc của ông ta là một hành động vong ân thô bỉ đối với chính quyền nhân dân. Ông ta đoan quyết với toàn thể thính giả là lúc này ông ta đã nhận ra mưu sâu kế độc, ý đồ đen tối của bọn tư sản đế quốc ngoại bang nhằm chống nước Trung Hoa Cộng sản. Ông xin hứa sẽ làm hết sức để lột trần những âm mưu đen tối bẩn thỉu của chúng để chứng tỏ sự ăn năn hối lỗi thực sự của ông. Ông cũng nói với sự “giúp đỡ” và giáo dục của viên chức trong Đảng hiện ông đang viết lại một cách chi tiết, cụ thể và đầy đủ bản tự thú những hành động tội ác mà ông đã làm để phục vụ hãng Shell.
Trong suốt bài tự thú của ông ta tràn đầy những lời tự sỉ và cường điệu. Thỉnh thoảng giọng ông ta lại run run, thỉnh thoảng miệng ông ta mở mà không thốt nên lời. Mỗi khi lật trang giấy, tay ông run rẩy. Tôi không tin rằng sự thất thần hốt hoảng của ông ta là do quá sợ hãi. Bởi vì, ông ta dư biết là ông ta chẳng hề phạm một thứ trọng tội nào. Nói cho cùng hãng Shell mà có ở lại nước Trung Hoa thì cũng là do chính quyền nhân dân chấp nhận và cho phép. Có thể nói chính quyền ấy còn muốn, thậm chí còn cần hãng ở lại nữa. Và tôi biết là hãng đã tuân thủ một cách rất kỹ lưỡng, cẩn thận mọi qui định của chính quyền ấy nữa. Ông Đào đã phải biết rõ điều đó. Theo tôi vấn đề chủ yếu của ông ta là sự suy kiệt cả về tinh thần lẫn thể xác. Để khiến ông ta bị khuất phục và để chắc chắn là ông ta đã bị khuất phục chẳng những người “giúp đỡ” ông ta đã tốn khá nhiều thì giờ và công sức. Họ đã thường xuyên thẩm vấn, thay phiên nhau gây sức ép và đồng thời không cho ông được ngủ. Mọi người đều biết, trong những trường hợp như vậy, nạn nhân rã rời và chịu khuất phục khi tâm thần bị hỗn loạn và thể xác bị kiệt quệ. Những người theo Mao đã đặt cho chủ thuyết này cái tên là “thả bom hút khí”. Nhiều người tôi quen biết, trong đó có cả em trai tôi, đã trải qua kinh nghiệm này trong chiến dịch chống phe hữu năm 1957. Các viên chức đảng đứng sau hội trường điều khiển các “nhà hoạt động” thực thi lệnh của họ. Khi sự tàn bạo đến mức qua đáng và gây ra chết chóc, các viên chức đảng qui trách nhiệm ấy là tai nạn do sự phẫn nộ của quần chúng.
Khi ông Đào Phương đọc xong bản tự thú của mình, người chủ trì buổi mít tinh nói với các người tham dự là Đào sẽ được xem xét coi những lời tự thú của Đào là thành khẩn không. Ông ta còn thêm rằng buổi mít tinh này mới chỉ là buổi đầu tiên thuộc loại này. Sẽ còn nhiều người khác giống như Đào sẽ được đem ra giải quyết và chính Đào cũng sẽ phát biểu nữa. Ông ta ngưng nói và đưa mắt quét một lượt trên đám người tham dự. Tôi tự hỏi không hiểu cái nhìn của ông ta có dừng lại ở tôi trong một khoảnh khắc cực kỳ ngắn không? Rồi ông ta kết luận rằng nghĩa vụ của giai cấp vô sản là tẩy sạch nước Trung Hoa Xã hội chủ nghĩa ra khỏi những cặn bã của ảnh hưởng đế quốc và trừng phạt kẻ thù của nhân dân. Một lần nữa tôi lại có cảm tưởng cái nhìn ông ta hướng về phía tôi.
Dĩ nhiên là tôi không nghĩ mình lại quan trọng đến mức là tất cả những cuộc dàn dựng rắc rối ấy lại chỉ dành cho một mình tôi. Nhưng nếu đúng như vậy thì cái ý đồ hù dọa, làm cho tôi sợ của họ đã không thành công.
Cái cảm xúc do kinh nghiệm của một cuộc “mít tinh đấu tranh” là cảm xúc ghê tởm và nhục nhã đối với một hành động man rợ nhằm chống lại đồng loại – vô phước thay - lại diễn ra ngay trên quê hương yêu quí của tôi, một đất nước có năm ngàn năm văn hiến. Với tư cách là người Trung Hoa, tôi cảm thấy tự sỉ.
Lại hô khẩu hiệu. Nhưng đồng thời mọi người cũng nhấp nhổm đứng lên để vọt ra cửa cho nhanh.
Vẫn chính người cản tôi đừng về nhà ăn cơm đứng chờ tôi trên lối đi. Ông ta nói với tôi:
- Bà đi lối này và lại đây một chút. Có vài đồng chí có vài điều muốn nói với bà.
Tôi theo ông ta đi vào một phòng học trong đó bàn ghế đã được xếp vào một góc. Người chủ trì cuộc mít tinh và một người khác lúc nãy ngồi trên bục – lúc tôi bước vào - đang ngồi trên chiếc bàn thầy giáo. Người chủ trì cuộc mít tinh hỏi tôi:
- Chị đã nghe mọi điều trong cuộc mít tinh chứ?
Tôi gật đầu.
- Chị nghĩ sao về cuộc mít tinh này? Tôi tin đây là lần đầu tiên chị được dự một cuộc mít tinh thuộc loại này.
Hiển nhiên là tôi chẳng để lộ cái ý nghĩ thật của tôi về cuộc mít tinh. Đồng thời, tôi cũng chẳng muốn nói dối và lấy lòng ông ta. Bởi vậy, tôi nói:
- Tôi xin được hỏi ông về một vài vấn đề làm cho tôi bận tâm cả ngày hôm nay, được không?
Ông ta có vẻ khó chịu vì bị trái ý, nhưng vẫn nói:
- Chị cứ hỏi.
- Ông đại diện cho cơ quan, tổ chức nào? Ông lấy quyền gì để tổ chức cuộc mít tinh như thế này? Ngoài những công nhân viên chức cũ của hãng Shell, những người có mặt trong phòng là những ai?
Rõ ràng là ông ta cảm thấy câu hỏi của tôi đụng chạm đến uy quyền của ông ta. Cho thấy rõ là ông ta phải cố dằn lòng, ông ta nói:
- Chúng tôi đại diện cho giai cấp vô sản, cuộc mít tinh được phép tổ chức của ban lãnh đạo cuộc Cách mạng Văn hóa ở Thượng Hải.
Tôi yêu cầu ông ta giải thích mục tiêu của cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản. Ông ta đáp là cuộc cách mạng ấy nhằm quét sạch khỏi xã hội Trung Hoa những nhân tố gây trở ngại cho sự phát triển của Xã hội chủ nghĩa. Ông ta nhắc đi nhắc lại nhiều lần câu nói của Mao Trạch Đông: “Nếu cỏ độc không bị nhổ đi thì hoa thơm không thể mọc được”. Ông ta nói với tôi bất kỳ người Trung Hoa nào cũng phải tham gia cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản vĩ đại.
- Chị nên có một thái độ thành thật hơn và hết sức cố gắng noi gương Đào Phương để tự cải tạo.
- Tôi thấy mình chẳng làm điều gì sai quấy - Tôi nói, giọng đượm vẻ ngạc nhiên.
- Có lẽ chị sẽ thay đổi thái độ khi chị có thì giờ để suy nghĩ cho chín mọi điều – người lúc nãy đón, dẫn tôi đến đây nói chen vào – nếu chị cứ tiếp tục bao che lũ đế quốc thì hậu quả sẽ trầm trọng đấy.
- Che dấu cái gì mới được kia chứ? Mọi hành vi đế quốc đều được ghi đầy đủ và rõ ràng trong sách vở.
- Chị nói gì vậy – người kia lớn tiếng nói - chúng tôi không có ý gì nhắc tới những gì xảy ra trong quá khứ. Chúng tôi nói bây giờ đây này, nói về cái xí nghiệp mà chị làm cho nó kia. Thằng Đào Phương đã thú nhận mọi sự. Chúng tôi biết chi nhánh hãng Shell ở Thượng Hải chỉ là “treo đầu dê bán thịt chó”. Chúng tôi cũng thừa biết chị thủ vai trò gì trong những công việc bẩn thỉu của chúng. Thế chị nghĩ tụi tôi điên chắc?
- Tôi hoàn toàn không hiểu các ông định nói gì. Cứ như tôi được biết, công ty mà tôi làm việc không hề làm bất cứ việc gì bất hợp pháp hay phi pháp luân lý. Chính quyền nhân dân có lực lượng công an rất giỏi. Và như vậy, chắc chắn là những gì sai quấy đã bị họ phát hiện từ lâu rồi.
Cả hai người trừng trừng nhìn vào tôi. Hầu như đồng thời, cả hai cùng la lên:
- Chị cố tình bao che cho bọn đế quốc.
- Các ông hiểu lầm tôi rồi – tôi cũng nổi cáu, nói lại – tôi chỉ nói những gì tôi biết. Mắc mớ gì tôi phải bao che cho ai. Văn phòng công ty Shell ở Thượng Hải đã đóng cửa. Tổng quản lý người Anh cũng đã rời đây rồi, chẳng còn ai cần tôi phải bao che nữa.
- Đúng, đúng, thằng tổng quản lý người Anh đã rút khỏi đây rồi. Nhưng chị còn ở đây. Và chị cũng biết chẳng kém gì nó. Ông chồng của chị cũng đã làm tổng quản lý nhiều năm. Sau khi ông ta chết, chị tiếp tục, vậy thì chị phải biết mọi sự của chi nhánh công ty ấy!
- Chính vì tôi biết rõ mọi sự của cái chi nhánh công ty ấy nên tôi biết là nó không bao giờ làm điều gì sai trái, bậy bạ.
- Bây giờ, tôi đề nghị chị về nhà và suy nghĩ cho kỹ đi. Chúng tôi sẽ cho gọi chị khi nào chúng tôi có điều cần nói với chị. Điện thoại của chị số mấy?
Tôi cho số điện thoại và rời khỏi phòng.
Bên ngoài, trời đã sẫm tối. Cơn gió nhẹ thổi, mát mẻ, dễ chịu. Tôi quyết định cứ theo vỉa hè đi bộ về nhà cho giãn gân cốt đồng thời có thì giờ suy nghĩ.
Khi đi ngang qua trường Trung học Y tế số 1, tôi thấy bạn của tôi - chị Winnie - cũng vừa ra khỏi cổng. Đi sau chị là đồng nghiệp. Chúng tôi vẫy tay chào nhau và chị theo tôi về nhà. Nhà chị ở gần nhà tôi.
- Đi đâu mà lội bộ vào giờ này? - Chị Winnie hỏi.
- Tôi vừa đi dự cuộc mít tinh tranh đấu về. Tôi được yêu cầu tham gia “Cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản vĩ đại”.
- Có phải là vì công ty Shell đã đóng cửa chi nhánh Thượng Hải? Nói tôi nghe nào!
- Rồi, về nhà mình ăn cơm nhé?
Được nghe Winnie nói cũng là điều hay, chị ấy đã “qua khỏi” sau nhiều cuộc vận động chính trị. Vậy hẳn là chị giàu kinh nghiệm đối với tình hình hơn tôi.
- Được thôi – chị cười đáp – Hân hạnh. Đến nhà chị tôi gọi điện thoại về nhà. Hôm nay anh Henry về nhà rất trễ. Để được làm giáo sư, anh phải trả một cái giá rất đắt mỗi khi có một chiến dịch chính trị nào đó. Giáo sư luôn luôn trở thành những mục tiêu.
Henry, chồng chị, là giáo sư dạy kiến trúc ở Đại học Đồng Tế.
- Henry có gặp rắc rối gì không? - tôi băn khoăn hỏi chị.
- Tạ ơn Trời Phật, chưa – Winnie vừa đáp vừa lấy từ túi xách ra cái lược để chải đầu - Mấy người làm của chị có thể ngất đi được nếu họ thấy tôi đến ăn cơm đầu bù tóc rối như con điên.
Mặc dầu đã ngoài bốn mươi và đã có ba con, chị Winnie vẫn giữ được nét mặt thon thon và vẻ hấp dẫn trong chiếc áo ngoài kiểu “đại cán” rộng thùng thình và chiếc quần cũng rộng thùng thình. Đó là thứ y phục chị bắt buộc phải mặc khi dạy môn tiếng Anh và tiếng Latin ở trường Trung học Y tế. Sau khi tốt nghiệp khoa văn học Anh ở trường Đại học New England, chị và người chồng – Tốt nghiệp Đại học Cambridge – đã trở về Trung Hoa vào cuối thời chiến tranh Trung – Nhật. Henry được mời làm giáo sư môn kiến trúc của trường Đại học Đồng Tế và ít lâu sau thì làm khoa trưởng khoa này. Nhưng trong thời kỳ lạm phát phi mã, đồng lương của giáo sư – dù là giáo sư khoa trưởng - đâu có kịp bén gót thời giá leo thang. Để tăng thêm thu nhập cho gia đình, Winnie đã phải mở lớp dạy thêm tiếng Anh cho những người Âu đang sống ở Thượng Hải lúc bấy giờ. Thất vọng trước sự bất lực của chính quyền Quốc Dân Đảng trước những vấn đề kinh tế hậu chiến và các định chế cải cách, hai vợ chồng Winnie đã hoan hỉ đón chào chiến thắng của Cộng sản năm 1949 và coi đó là cơ hội tái lập hòa bình và ổn định.
Vào thời đó, chính quyền Quốc Dân Đảng đã bưng bít mọi tin tức về cộng sản, nên rất ít người sống ở Thượng Hải có được những hiểu biết đúng đắn về chủ nghĩa Mác, về Đảng Cộng sản Trung Hoa, về Mao Trạch Đông. Hầu hết chẳng ai biết gì về sự ngược đãi các trí thức diễn ra ở Diên An năm 1942 hay là những cuộc “săn bắt phù thủy” định kỳ diễn ra để bắt “gián điệp của Quốc Dân Đảng và của đế quốc” ngụy trang chui vào Đảng và quân đội Cộng sản Trung Hoa. Nguồn tin tức duy nhất của trí thức Trung Hoa về Đảng Cộng sản Trung Hoa lại do những bài báo lờ mờ nghèo nàn tin tức xác thực của vài ký giả hoặc nhà văn phương Tây thăm viếng chớp nhoáng vùng cộng sản chiếm đóng. Và hầu hết những ký giả và nhà văn này đều thiên tả. Họ bị ấn tượng bởi đời sống khắc khổ, kỷ luật và chỉ nhằm vào một mục tiêu duy nhất của những nhà lãnh đạo Cộng sản. Nhưng họ không có được những hiểu biết đúng đắn, sâu xa, đầy đủ về cá tính của những nhà lãnh đạo Cộng sản Trung Hoa lúc đó cũng như cái triết lý hành động của các nhà lãnh đạo này. Trong khi đó, Đảng Cộng sản đẩy mạnh tuyên truyền ngầm trong các thành thị dưới quyền kiểm soát của Quốc Dân Đảng. Nỗ lực của tuyên truyền ấy tập trung vào các điểm nhằm đoạt được chiến thắng quân sự tối hậu. Họ hứa sẽ kiến tạo hòa bình đất nước, hứa lập mặt trận đoàn kết bao gồm mọi thành phần xã hội Trung Hoa, thành lập một chính quyền dân chủ thay thế cho chính quyền thối nát, bất lực, vô năng của Quốc Dân Đảng. Người trí thức Trung Hoa sống dưới chế độ Quốc Dân Đảng lúc đó đã coi những lời lẽ tuyên truyền ấy như là những lời tuyên bố thành thật và lương thiện về đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Trung Hoa.
Sau khi quân đội Cộng sản tiến chiếm Thượng Hải, phụ nữ được khuyến khích đi làm việc ngoài xã hội. Winnie đi dạy học ở trường Trung học Y tế năm 1950. Năm sau, để thiết lập quyền kiểm soát của Đảng ở đại học, Mao Trạch Đông đã phát động cuộc vận động “cải tạo tư tưởng”. Hai vợ chồng Winnie là những người đầu tiên được “chiếu cố”, cả hai – tuy có bị tổn thương ít nhiều – cũng đã “qua khỏi”. Họ cũng đau khổ vì cái kinh nghiệm nhục nhã là phải tự phê về nguồn gốc gia đình, đã du học nước ngoài và nhân sinh quan biểu hiện qua các đồ án kiến trúc và qua phương pháp dạy học của mình. Họ cứ phải viết đi viết lại tiểu sử của mình một cách gay gắt mỗi khi các viên chức Đảng yêu cầu họ soi rọi lại bản thân mình. Hành hạ và làm nhục cho đến bầm dập, nhừ tử ra rồi, Henry còn bị đánh giá là không đáp ứng yêu cầu trong chức vụ khoa trưởng kiến trúc. Đến lúc đó, khoa kiến trúc chỉ chuyên dùng các tài liệu và kinh nghiệm của Liên Xô để giảng dạy. Những công trình kiến trúc theo truyền thống độc đáo của cả Trung Quốc lẫn của phương Tây đều bị coi là phong kiến và suy đồi.
Sau khi cuộc vận động cải tạo tư tưởng kết thúc vào năm 1951, ở tất cả mọi cấp quản lý của Đại học đều có bí thư Đảng. Các bí thư này kiểm soát tất cả mọi khía cạnh sinh hoạt và làm việc của hội đồng giảng dạy. Hầu hết các bí thư này đều ít học thức và chưa từng giảng dạy bao giờ. Vợ chồng Winnie –Henry sống trong căn nhà được chỉ định, lãnh đồng lương được quy định và làm những công việc theo yêu cầu của các bí thư Đảng. Hai vợ chồng – một cặp thanh niên - có học thức cao, hoạt động, giàu sáng tạo, đầy thiện chí và hảo cảm với chế độ cộng sản. Ấy vậy mà vẫn bị sự nghi ngờ và hành hạ trí thức của Mao Trạch Đông biến thành một cái máy dạy học. Tuy nhiên, họ vẫn còn được coi là những người may mắn. Bởi vì có rất nhiều người khác, trong khắp các đại học ở Trung Hoa lúc bấy giờ – không được như vậy. Một số bị ném vào trại lao động cải tạo, một số bị đuổi ra khỏi đại học.
Khi cuộc chiến tranh Triều Tiên chấm dứt, cuộc săn đuổi phù thủy của Mao Trạch Đông được tạm thời nới lỏng. Nhận thức được cảnh ngộ khốn khổ, khốn nạn của tầng lớp trí thức Trung Hoa lúc đó, Thủ tướng Chu Ân Lai đã cố gắng cải thiện thân phận của họ. Do hệ quả của chính sách khoan hồng, vợ chồng Winnie –Henry được cấp cho một chỗ ở khác, tương đối rộng rãi hơn, ở gần nhà tôi. Hoạt động nghề nghiệp của họ cũng ít bị gò bó hơn. Thỉnh thoảng Winnie lại tạt qua nhà tôi để đọc sách và báo chí mới mua được ở Hồng Kông và ở bên Anh thông qua văn phòng của tôi, hoặc để nghe nhạc.
Năm 1956, Mao Trạch Đông lại phát động chiến dịch “bách hoa tề phóng bách gia tranh minh” nói nôm na là trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng. Chữ “trăm nhà” ở đây hiểu theo nghĩa “Bách gia chư tử” nghĩa là các trường phái tư tưởng. Các bí thư ở các cấp, các cơ quan và ngay bản thân Mao đã khuyến khích thúc đẩy người dân cứ thành thật phê bình xây dựng Đảng Cộng sản. Tin tưởng vào sự thành thật của Đảng muốn cải thiện sự nghiệp của mình, hàng trăm ngàn trí thức, hàng triệu người dân đã thơ ngây tranh nhau đưa những than phiền chỉ trích và những gợi ý của họ. Nhưng vợ chồng Winnie-Henry đã đủ khôn ngoan để ậm à. Nhờ đó họ đã thoát khỏi bị hành hạ, ngược đãi khi Mao Trạch Đông sập bẫy vào năm 1957 và lại phát động chiến dịch tảo thanh phe hữu. Tất cả những ai đã dám đưa ra lời phê bình chiến dịch “trăm hoa đua nở” đều bị Mao gán cho là “phe hữu”. Nhiều người trong số ấy mất việc, mất chức, trở thành “phó thường dân”, thậm chí bị ném vào trại lao động cải tạo, hay bị giảm lương, bị hạ tầng công tác. Sự lừa lọc của Mao Trạch Đông khi khuyến khích thúc đẩy người dân nói thẳng, nói thật rồi sau đó trừng phạt tàn nhẫn những ai đã dại dột đáp ứng lời khuyến khích ấy, đã khiến cho giới trí thức Trung Hoa “rụt rè như gà phải cáo”. Và vì vậy đời sống văn hóa của Trung Hoa đi đến chỗ gần như đình trệ.
Khi Winnie và tôi về đến nhà, tôi chưa kịp bấm chuông thì cánh cổng đã mở ra. Lão gia bộc lo lắng đứng đó chờ tôi về. Lão nói con gái tôi gọi điện thoại về cho biết tối nay nó không ăn cơm ở nhà.
- Lão nói với anh bếp có bà Henry ở lại dùng cơm tối nay - tôi nói với lão và dắt Winnie lên lầu để đi tắm.
Lão Triệu dọn bàn cho hai chúng tôi. Bàn trải khăn trắng, thêu. Có bình hoa cẩm chướng trắng muốt.
- Anh bếp nói là bữa nay có món cá quít hấp và rau xà lách tươi, thì dọn bàn ăn như vậy được không, thưa bà? – lão gia bộc hỏi tôi vậy. Vì tôi thường được dọn bàn ăn theo kiểu truyền thống Trung Hoa hay kiểu Âu, tùy theo món ăn mua được hôm đó ở ngoài chợ.
Tôi nhìn Winnie như hỏi ý kiến và Winnie trả lời “Thế thì hay quá! Tôi vẫn thích món cá quít”.
Khi ngồi xuống bàn ăn, Winnie đưa mắt nhìn tấm tranh vẽ khuôn mặt một phụ nữ màu xanh nhạt. Tác giả bức tranh đó là Lâm Phong Miên, một họa sĩ nổi tiếng đã có thời đứng đầu Viện Nghệ thuật Hàng Châu. Bức tranh này là tác phẩm trang trí trọng tâm cho phòng ăn sơn màu trắng và xanh nhạt của tôi. Và nó cũng hòa hợp với chiếc đĩa Xuande màu xanh - trắng và chiếc bình Khang Hy bày trên kệ đặt kế bên.
- Chị biết không – Winnie nói với tôi – Lâm Phong Miên đang gặp khốn đốn nghiêm trọng.
Tôi ngạc nhiên. Tôi biết họa sĩ này bán tranh và đã kiếm được những món ngoại tệ lớn cho chính quyền nhân dân. Thật ra chính quyền đã “mua” những bức tranh này với giá rẻ mạt, rồi đem sang Hồng Kông bán lại với cái giá gấp hơn bốn năm chục lần, và lại bằng ngoại tệ. Winnie nói:
- Ông ta bị tố cáo là đề xướng hình thức nghệ thuật đồi trụy của phương Tây. Nhưng cái tội nặng hơn là tội có liên lạc với người ở nước ngoài và cung cấp tin tức tình báo cho thuyền trưởng các tàu ngoại quốc ở Thượng Hải. Những người “hoạt động” hàng xóm đã dò xét những người ngoại quốc thường đến nhà ông ta.
- Phải, vợ và con gái ông ta hiện đang ở Brazil – tôi nói - tôi biết việc các thuyền trưởng người nước ngoài thường đến nhà ông ta. Nhưng là chỉ để mua tranh.
- Nhiều họa sĩ khác cũng bị rắc rối vì vậy nữa. Giáo sư cũ của chị – bà Lung Tiểu Muội đó - cũng bị phê bình. Người ta nói là có lần bà đã vẽ một cành mai chúc xuống thay vì nhỏng lên, để ám chỉ Đảng Cộng sản Trung Hoa.
Tôi đặt nĩa xuống và nói với Winnie:
- Chúng nó điên rồi. Trong các bức họa của các danh sư cổ điển thì cành mai thường được vẽ chênh vênh bên sườn núi. Như vậy thì Lung có tự bịa đặt ra cái gì khác đâu.
- Đúng vậy, nhưng chị thì chị biết tại sao, còn các đấng đảng viên trong cơ quan có lẽ chưa bao giờ được nhìn thấy các tác phẩm của các bậc danh sư. Các đấng đảng viên phụ trách về nghệ thuật nhưng không phân biệt nổi màu nước với in thạch bản ra sao kia mà! Hầu hết số đảng viên trông coi về nghệ thuật lại chẳng biết nghệ thuật là cái quái gì.
Cuộc trò chuyện của chúng tôi về vần đề đáng buồn ấy đã làm bữa ăn của chúng tôi kém ngon đi. Chúng tôi chẳng còn cảm nhận được mùi vị thơm ngon của các thức ăn nữa.
Trong lúc uống trà, tôi đã kể lại cho Winnie cuộc mít tinh đấu tranh mà tôi vừa dự. Sau khi trầm ngâm suy nghĩ, chị nói:
- Dường như chị cũng sắp sửa bị đối xử như vợ chồng tôi, văn phòng chi nhánh hãng Shell bị đóng cửa rồi mà. Bởi vậy, họ khỏi sợ người nước ngoài nào biết chị bị đối xử ra sao.
- Chị nghĩ sao về cái mục đích của họ khi bắt tôi phải tham dự một cuộc mít tinh đấu tranh như vậy?
- Dĩ nhiên là để hù dọa, trấn áp tinh thần, khủng bố tinh thần, làm cho chị sợ.
- Tôi đâu có dễ bị hù dọa.
- Ấy, theo ý tôi, đó là điều họ không biết. Họ chỉ biết là chị giàu có, sống một đời sung sướng và trước đó chưa hề bị vướng vào một chiến dịch chính trị nào. Có lẽ họ nghĩ là dễ hù dọa chị. Nói chung họ đánh giá thấp sự can đảm của hạng người như chị em mình.
- Tại sao chị lại nghĩ là họ muốn hù dọa tôi? Để làm gì?
- Cũng khó mà nói được trong tình hình này. Dù sao chăng nữa, chị cũng cứ phải chuẩn bị để đón chịu những khó khăn sắp tới. Cứ cảnh giác và giữ mồm giữ miệng. Đừng nói cái gì hồ đồ thiếu cân nhắc kỹ lưỡng, dù có bị khiêu khích, chọc tức hay gì gì đi nữa.
- Thế còn anh chị, lúc này làm ăn xoay xở sao?
- Tụi này tả tơi, kiệt quệ rồi chị ơi. Suốt ngày, cứ hết mít tinh, họp rồi lại đến viết bích báo đại tự. Lớp học thì bị bỏ bê. Nhiều giáo sư và chuyên viên y tế bị tố. Tình hình xem chừng còn nghiêm trọng hơn cả hồi năm 1957, lúc khởi đầu chiến dịch chống phái hữu.
- Liệu anh chị có lại bị đem ra làm mục tiêu phê bình nữa không?
- Dĩ nhiên là chẳng có ai dám chắc mình có khỏi bị không. Nhưng tôi nghĩ mình đâu có gì quan trọng để đáng bị. Trong suốt 16 năm ròng rã, mình chỉ là giảng viên lèng xèng, không tăng lương, cũng chẳng thăng cấp. Tôi luôn luôn thỉnh thị sự chỉ đạo của bí thư chi bộ và chẳng dám bao giờ dám chơi sang là đưa ra sáng kiến gì ráo. Tôi cứ thi hành đúng chỉ thị, dù biết nó là sai. Trong các buổi học tập chính trị, không bao giờ tôi phát biểu. Nếu vì lý do nào đó thì tôi phát biểu y boong sách vở kinh điển hoặc lập lại ý kiến “chính thống” nghĩa là của nhóm lãnh đạo hay là của chính vị bí thư Đảng. Tôi nghĩ là cái phong cách cư xử của mình có thể được coi như là vô hại. Dù sao, nói cho cùng “càng cao danh vọng càng dày gian nan”. Chị viết: “sét đánh gãy cây cao” vậy mà đúng.
- Thế còn Henry thì sao?
- Tôi lo cho anh ấy. Tôi nghĩ anh ấy thế nào cũng sẽ bị tố là “bò” như nhiều giáo sư khác. Và có thể sẽ bị lôi ra tố lần nữa – Winnie nói buông xuôi và chị nhắm mắt lại. Thở dài.
- Tôi nghĩ anh ấy đâu có bao giờ làm cái gì khác ngoài dạy học và cũng chẳng nói gì ngoài những chuyện dạy dỗ. Thì thế đấy, anh ấy đã học được bài học rút ra từ những bè bạn bị gán là “hữu phái” của anh ấy. Nhưng anh ấy là giáo sư chính thức. Có vậy thôi. Ngoài ra, gia đình anh ấy đã rất giàu có. Và một người chị thì đang ở Đài Loan.
- Nhưng anh chị có liên lạc gì với người chị ấy bao giờ đâu. Anh chị không thư từ gì cho chị ấy mà.
- Cái đó ăn nhằm gì. Vấn đề là chị ấy đang ở đó. Và là chị của Henry. Nếu Đảng muốn đặt vấn đề ấy ra thì tụi này đành... Mà đặt ra hay không, đâu có phải mình muốn mà được.
Người lão bộc bước vào phòng châm thêm trà, và lão nói:
- Anh bếp muốn thưa với bà chuyện gì đó trước khi về nhà.
- Được, - tôi nói - bảo anh ấy cứ vào.
Cả lão bộc và anh bếp cùng bước vào.
- Phó chủ tịch “Hiệp hội công nhân hãng Shell” – ông Quí - đã đến đây lúc bà chưa về. Có nhắn tôi thưa lại với bà...
- Ông ấy nói gì? - tôi hỏi:
- Ông ấy dặn chúng tôi thưa lại với bà là phải rất cẩn thận khi nói năng với các viên chức của Đảng. Ông ấy nói là sau khi bà ra về, họ đã rất bực bội vì bà đã nói cứng quá đối với họ. Quí muốn bà biết là các viên chức của Đảng bực bà lắm đó.
- Quí là người tốt – lão gia bộc chép miệng, nói chen vào.
- Người tốt? Giá lão được thấy ông ta tố Đào Phương trong cuộc mít tinh đấu tranh thì chắc lão sẽ không nói vậy nữa.
- Ông ta không thể làm sao khác hơn được, ông ta bị bắt buộc phải nói ra những điều người ta muốn ông ta nói. Nếu không phải người tốt thì tội vạ gì ông ta cất công đến đây để báo trước cho bà biết vậy - Lão gia bộc ra sức để bênh vực Quí.
- Lão có lý. Tôi sẽ nhớ, để cẩn thận hơn. Đúng, ông Quí là người tốt, đã mất công đến báo cho tôi biết vậy. Cám ơn cả anh bếp và lão bộc vì đã nói lại cho tôi hay.
Khi họ ra khỏi phòng ăn, Winnie nói:
- Họ nói đúng đấy. Chị phải cẩn thận. Chống lại những người trực tiếp phụ trách về mình trong cuộc vận động chính trị thì chỉ có thiệt thôi. Họ có quyền tuyệt đối để quyết định số phận của mình. Nếu họ tống chị vào trại cải tạo là chị phải vào.
- Làm sao họ lại có thể tống tôi vô trại cải tạo được kia, Winnie? – tôi nói - tôi đâu có làm việc cho nhà nước? Hơn thế nữa, tôi đâu có phạm luật?
- Đừng ngây thơ! Nếu họ muốn thì họ có thể tống chị vào trại lao động cải tạo. Dễ dàng, chị làm gì được họ. Đi kiện? Toà nào xử? Chị sống ở đây, và chị không thể rời khỏi nước này! Có khác gì cá chậu chim lồng? Chị chỉ có một lợi điểm khi không làm việc cho chính quyền là họ không thể cắt lương của chị. Thế thôi.
Winnie đứng lên, ra về. Tôi đưa chị ra đến tận cổng.
- Sao năm qua, lúc văn phòng Shell đóng cửa, chị không đi Hồng Kông cho rồi? - Winnie hỏi tôi.
- Làm sao tôi có thể làm như vậy được – tôi đáp – ông Tổng quản lý rất cần tôi trong thời gian thương lượng. Khi mọi sự đều được nói bằng tiếng Hoa mà ông ta lại không biết. Tôi không thể bỏ đi để ông ta ở lại một mình như thế được. Hãng Shell đã đối đãi với tôi quá tốt, quá hậu. Tôi không thể bỏ rơi họ trong lúc họ cần đến tôi như vậy.
- Mong rằng họ đánh giá đúng được cái ý thức trách nhiệm của chị. Nhưng bây giờ dù có muốn, họ cũng chẳng giúp đỡ gì cho chị được nữa. Lẽ ra chị phải ra đi mới phải.
- Tôi mong là chị và Henry cũng tai qua nạn khỏi sau chiến dịch này như anh chị đã qua khỏi sau các chiến dịch trước đây, chiến dịch chống phe hữu đó.
- Đôi lúc tôi linh cảm thật sự về một tai họa – Winnie buồn bã nói - Cứ nghĩ đến tất cả những năm tháng đã qua mình phải vật lộn để sống còn, tôi thấy kinh sợ.
Chúng tôi đứng ở phía ngoài cổng để từ biệt nhau. Đi được vài bước Winnie quay lại và nói với tôi:
- Có thể tôi sẽ không trở lại thăm chị cho đến khi tình hình sáng sủa hơn. Cứ gọi điện thoại cho tôi, nếu chị cần tôi.
- Tôi hiểu, chị cũng nên cẩn thận giữ mình đấy.
- Chị cũng vậy! - và Winnie khoát tay chào từ biệt.
Sau khi đóng cửa, tôi quay vào trong nhà. Trời không có mây. Hàng ngàn ngôi sao lấp lánh trên nền trời. Một đêm mùa hạ đẹp. Cảm thấy mệt mỏi và chán nản, tôi vào phòng, sửa soạn đi ngủ. Con gái tôi về trong lúc tôi đang nằm trên giường, thao thức và có cảm tưởng những hình ảnh trong ngày đang lần lượt hiện ra trước mắt tôi.
- Má ơi, má à! - Con gái tôi vừa nhảy hai bậc thang một vừa la gọi tôi. Nó đã đến tuổi cập kê rồi chứ đâu ít? Tôi lên tiếng để nó biết tôi đang ở trong phòng ngủ. Vú già đi theo nó vào phòng, tay bưng ly sữa và bánh săng uých.
- Hay quá! Con đang đói rã ruột ra nè! Từ sáng đến giờ con đã được ăn gì đâu. - Nó cầm ly sữa, uống. Tôi nhìn mấy ngón tay nó, thấy dính mực.
- Coi, mấy ngón tay con kìa! Con ăn uống mà tay vẫn còn dính mực thế kia kìa. Con đã hai mươi ba tuổi đầu rồi chứ còn nhỏ bé gì nữa. Ngày xưa con gái bằng con ấy hả? Đã chồng con cả rồi – Bà vú cằn nhằn nó. Bà đã ở với chúng tôi từ lúc nó còn nhỏ xíu. Bà chiều nó hết sức.
- Dạ, mà bây giờ đâu phải ngày xưa nữa đâu, vú? Mấy bà già xưa, eo ôi! Mai Bình - tên con gái tôi – vui vẻ phản đối bà vú nhưng vẫn đứng lên vào phòng tắm rửa tay.
Bà vú đặt khay bánh lên bàn và ra khỏi phòng. Bà nói với tôi:
- Bà chủ đừng lo, lão bộc, anh bếp và tôi. Lúc nào chúng tôi cũng ủng hộ bà chủ.
- Cám ơn vú! Cám ơn sự quan tâm của vú, lão bộc và của anh bếp, vú cũng nói lại với mấy người kia đừng lo gì hết. - Tôi trả lời bà vú và trong lòng hết sức cảm động vì tấm lòng của họ.
- Chúng tôi lo lắng cho bà là vì thấy bà trơ trọi có một mình. Tôi mong giá ông chủ vẫn còn sống đến giờ thì có phải là....
Bà vú thì thầm nói với tôi và khép cửa đi ra.
Bà vú đúng là vẫn sống theo lối xưa, trong thời kỳ có khó khăn lộn xộn, bà cứ tin vào khả năng ưu thế của đàn ông. Thật ra, nằm trên giường trong căn phòng mờ tối này, tôi cũng đang nghĩ đến nhà tôi trước khi con gái tôi về. Lần đầu tiên kể từ ngày nhà tôi mất, tôi không thấy tiếc vì anh ấy đã mất, trái lại xem đó là may cho anh ấy. Nhờ vậy, anh ấy không bị sỉ nhục, bị ngược đãi, chứ nếu anh ấy còn sống thì chắc chắn không thể nào thoát khỏi.
Cửa phòng tắm đóng và nước chảy ào ào nên con gái tôi không nghe thấy câu chuyện trao đổi giữa tôi và bà vú.
Mai Bình – con gái tôi - là một thanh nữ đẹp, hấp dẫn, thông minh. Lớn lên trong một nước Trung Hoa Cộng sản, tất nhiên nó phải hiểu là cái xã hội trong đó con cái những nhà giàu có được hưởng nhiều lợi điểm đã không còn nữa. Thay vào cái xã hội ấy chẳng phải là một xã hội bình đẳng, trong đó mọi người đều có cơ may và quy chế như nhau, mà là một hệ thống kỳ thị mới nhằm chống lại những đứa trẻ như nó và gia đình nó. Trong mỗi giai đoạn cuộc đời trẻ trung của mình, nó đều bị cái nguồn gốc gia đình gây trở ngại khó khăn. Chẳng hạn, để được đậu vào trường trung học tốt tốt một chút thì nó phải đạt điểm 80 trong khi những con cái công nhân chỉ cần 60 thì cũng đủ.
“Làm như vậy là bất công”, - bực bội vì thấy con mình bị kỳ thị như vậy, tôi đã phải kêu lên thế. “Vì lý do gì mà lại có sự phân biệt đối xử bất công như vậy?”
“Đừng lo, má à. Con sẽ đạt điểm 80. Có gì khó!” – Đó, con gái tôi, năm nó 12 tuổi – đã trả lời tôi như vậy khi tôi bực bội vì sự kỳ thị mà nó phải chịu. Và tôi vẫn còn bực bội, nên đã nói: “Sự bất công dù thế nào đi chăng nữa cũng vẫn là sự bất công!”
“Nhưng má ơi, các thầy nói là mấy đứa con nhà công nhân, nông dân sau khi đi học về còn phải làm việc nhà, nấu cơm. Rồi ba má nó lại không thể chỉ, dạy thêm cho nó. Cho nên, nếu má nhìn sự việc theo quan điểm đó thì má sẽ thấy cái quy định mà con phải chịu không còn bất công nữa”. A, thế là con gái tôi đã được triết lý ngay từ lúc nó còn bé kia đấy!
Sự kỳ thị bất công này theo đuổi con gái tôi trong mọi lãnh vực mà nó phải thi thố. Mỗi khi đụng chạm đến vấn đề thi thố, nó đều được người ta làm cho phải có mặc cảm tội lỗi và phải lấy làm hổ thẹn vì cái nguồn gốc gia đình của mình. Con gái tôi - cũng như những đứa trẻ khác cùng hoàn cảnh – đều phải phấn đấu nhiều hơn gấp bội so với những đứa trẻ của gia đình công nhân hoặc nông dân. Ngay từ lúc còn nhỏ xíu nó đã được dạy cho biết rằng xã hội “vô giai cấp” của chế độ Cộng sản thật ra lại phân chia thành “tầng lớp” hay “đẳng cấp” một cách khắc nghiệt hơn hệ thống tư bản mà họ đã khinh miệt. Ở xã hội Tư bản, bằng những nỗ lực cá nhân, một người ở đẳng cấp thấp vẫn có thể vươn lên tới đẳng cấp cấp cao. Con gái tôi sở dĩ thi đậu vào được trường đó vì nó đã phải phấn đấu gấp bội. Ở trường nữ Trung học số 2 khá nổi tiếng của thành phố, con gái tôi là một học sinh xuất sắc và đoạt được nhiều giải thưởng. Dường như nó đã may mắn thích ứng được. Nó có nhiều bè bạn, trong số đó có nhiều đứa là con gia đình lao động. Mặc dù bản tính nó hòa ái và rộng rãi, hào phóng, nhưng tôi vẫn nghĩ là chính vì cái mặc cảm tội lỗi – do sự tuyên truyền Cộng sản bằng lối lập luận cho rằng người giàu, sở dĩ giàu là do áp bức bóc lột người nghèo – đã khiến con gái tôi thấy muốn giúp đỡ các bạn nghèo của nó. Nó thường rủ những bạn này về nhà để chia sẻ phần ăn của mình giúp đỡ bạn học tập, và thậm chí đến tận nhà bạn để giúp bạn làm việc vặt. Trong khi tôi thấy những việc làm ấy của nó là đáng khen ngợi, đáng khuyến khích thì bà vú Trần của nó lại phản đối kịch liệt, nhất là khi nó lấy quần áo của nó cho bạn mượn, đến khi mặc dơ thì đem về cho bà vú giặt.
Từ lúc còn nhỏ xíu, nó đã tỏ ra thích thú môn âm nhạc. Chúng tôi mua cho nó một chiếc piano và thu xếp để nó giờ học đàn sau các buổi học văn hóa ở trường. Năm lên mười tuổi nó đã là thành viên của cung thiếu nhi Thượng Hải, một loại câu lạc bộ đặc biệt, tuyển chọn dành cho các học sinh đạt điểm tốt trong học tập và có phẩm hạnh tốt. Ở đó, nó được vui chơi và tham gia các hoạt động âm nhạc. Biết hai thứ tiếng nên nó đã là thông dịch viên mỗi khi có khách ngoại quốc nói tiếng Anh đến thăm cung thiếu nhi. Trong thời gian chúng tôi ở Úc, nó đã được tập bơi từ lúc chập chững biết đi nên nó đã là huấn luyện viên “nghiệp dư” về bơi lội trong lớp nó. Năm 15 tuổi nó đã được hội vận động viên tuyển chọn cho tập luyện trong câu lạc bộ bơi thuyền Thượng Hải. Và nó đã được chọn cầm lái trong đội bơi thuyền nữ đầu tiên của Thượng Hải.
Mặc dầu sống trong một thời buổi đầy những xáo trộn và náo loạn chính trị và phải buồn khổ vì số phận bi thảm của một số bạn bè thân quen, nhưng chưa bao giờ tôi phải lo lắng cho số phận của con gái tôi. Tôi coi chuyện đương nhiên khi nó được theo học ở một trường đại học tốt, và sau khi tốt nghiệp sẽ có công ăn việc làm tốt, bởi vì nó đã đạt điểm cao, và nó sẽ có một người chồng xứng đáng. Có thể là đồng lương của nó chẳng đủ sống – nhất là khi có gia đình – nhưng tôi sẽ trợ cấp cho nó như thói quen rất tốt lành của các gia đình Trung Hoa.
Tôi hy vọng sau khi tốt nghiệp nó sẽ có việc làm ở ngay Thượng Hải để nó được ở nhà. Nhưng, tôi chắc chắn được điều này. Tôi biết, một thanh niên có gốc gác gia đình như nó thường bị cố ý đẩy đi làm việc ở một nơi xa xôi, điều kiện sinh sống lạc hậu và nghèo nàn cùng cực. Điều này đã xảy ra cho vài đứa con của bạn tôi. Nhìn con gái tôi, từ đứa bé dần dần lớn lên thành một thanh nữ mơn mởn xinh đẹp, tôi tự hỏi tương lai sẽ dành cho nó cái gì? Dù sao trong những lúc lạc quan, tôi vẫn ước mơ được biến cái lầu hai căn nhà tôi một “hộ” cho vợ chồng con cái nó. Cái viễn tượng được ôm ấp, nuôi dưỡng cháu ngoại đã làm cho tôi tràn ngập nỗi sảng khoái. Tôi nhìn vào tương lai màu hồng trong mơ và cảm thấy được sự ấm áp của một tạo vật nhỏ bé - đứa cháu ngoại - mà tôi bồng ẵm trong tay.
Tôi lấy làm ngạc nhiên khi con gái tôi cho biết hai diễn viên điện ảnh nổi tiếng và là giảng viên của trường điện ảnh Thượng Hải đã gợi ý nó phấn đấu dự thi đạt danh hiệu “tài năng”. Tôi thấy rõ nó cảm thấy hãnh diện vì đã được tuyển chọn. Nhưng tôi lại muốn khác với nó. Tôi muốn nó có sự nghiệp qua đó năng lực tinh thần của nó được triển khai hơn là những đóng góp về mặt vật chất.
- Trường điện ảnh ở trên đường Hồng Kiều, gần câu lạc bộ và sân gôn cũ. Con hy vọng cuối tuần có thể về nhà dễ dàng. Hai giảng viên đó nói là tất cả những học viên tốt nghiệp sẽ được phân công tác tại xưởng phim Thượng Hải. Hiện thời nhà trường là một chi nhánh của xưởng phim. Xưởng sẽ phái những chuyên viên có tài phát hiện mầm non đi khắp nước tuyển sinh. Sẽ rất gay vì con số thi vào sẽ rất lớn mà con số học viên lại rất hạn chế. Và vì ai cũng muốn ở Thượng Hải cả.
- Thế con muốn làm một tài tử điện ảnh thật sao?
- Con không có ý nói vậy. Nhưng nếu con thi thì con có thể đậu, không khó lắm - Đó là cái cách phản ứng của con gái tôi trước bất cứ vấn đề gì.
- À, mà chắc chắn là con thi thì dễ đậu thôi. Nhưng thực sự thì con muốn làm gì? – Tôi tin rằng đó là điều quan trọng. Vì theo tôi, để được hạnh phúc, ta phải được làm và làm được cái công việc ta muốn làm.
- A, con chưa bao giờ nghĩ là con thực sự muốn làm gì. Con không quen nghĩ như vậy khi con biết là chính quyền sẽ chỉ định công tác cho con. Nghĩ về cái điều mình thực sự muốn làm chỉ thêm buồn nản và thất vọng. Bạn bè của con chẳng ai nghĩ như vậy cả. Con sẽ cố để tìm niềm vui trong các công tác mà chính quyền sẽ phân cho con. Nếu con cố gắng đủ để làm công tác ấy cho tốt thì có lẽ cuối cùng con sẽ thấy thích công việc ấy.
Tôi cho là thái độ của con gái tôi chỉ là do hoàn cảnh. Nhưng liệu một người được phân công tác suốt đời là đêm đêm vác đất thì có thể nào yêu được cái nghề vác đất bằng cách dồn hết sức lực để làm công việc ấy không nhỉ?
- Thế con đã quyết định thi vào trường ấy chưa?
- Dạ, nếu má chấp thuận. Các thầy cô cũng đã chính thức nói với con. Khó mà nói không mà lại chẳng tỏ ra không ưa thích. Ngoài ra con cũng thấy ưa thích với cái ý tưởng được làm việc ở Thưọng Hải. Con không thích rời xa má, để má sống một mình ở đây rồi cả năm mới được vài ngày về ở với má vào tết Nguyên Đán.
- Đúng vậy đó con. Đó nhất định phải là điểm quan trọng mà ta phải xét tới. Má cũng rất không muốn con phải đi xa tít mù tắp đến cái xứ hóc bà tó nào đó để làm việc.
Và nó đã theo học trường điện ảnh. Ba năm sau, tốt nghiệp và được phân công tác ở xưởng phim Thượng Hải do Văn phòng điện ảnh của Bộ Văn hóa điều hành.
Diễn viên điện ảnh là một nghề hấp dẫn lắm, ngay cả ở nước Trung Hoa Cộng sản. Nhưng những người làm việc ở đó chẳng nhận được đồng lương cao hoặc điều kiện làm việc tốt hơn một công nhân xí nghiệp hay một giáo viên cùng trạc tuổi. Chức năng của một nữ diễn viên trước tiên là giúp cho quần chúng giải trí bởi vậy ngoài việc đóng phim, người diễn viên ấy chủ yếu là phải đến các cơ quan, xí nghiệp – dù là xí nghiệp, cơ quan đó là một hầm mỏ ở nơi heo hút, xa xôi nào đó trên đất nước Trung Hoa – để trình diễn cho công nhân nông dân xem.
Đó là một đời sống cực khổ. Nhưng nó lại nghĩ rằng nhờ vậy kinh nghiệm sẽ làm cho sự hiểu biết của nó thêm phong phú, cũng như kiến thức về “dân tôi, nước tôi” thêm sâu sắc. Và nó tin như thế là phục vụ, vì đã góp phần giải trí cho người dân. Theo con gái tôi thì đó là môt lối sống có ý nghĩa cao đẹp.
Đang khi tóp tép nhai bánh săng uých, nó kể lại cho tôi biến cố ngày hôm đó tại xưởng phim của nó:
- Suốt ngày con viết báo cáo đại tự cho cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản vĩ đại. Người ta nói rằng viết báo cáo đại tự càng nhiều bao nhiêu thì càng bày tỏ được nhiệt tình cách mạng bấy nhiêu. Bởi vậy ai nấy viết, viết, viết miết, cho đến khi tất cả những chỗ nào dán được thì cũng đều có báo đại tự dán kín hết.
- Có phải vì vậy mà trưa nay con không về nhà ăn cơm phải không?
- Chúng con nhịn cơm trưa và cơm tối luôn, để bày tỏ nhiệt tình cách mạng. Hiện thời ai cũng đói meo, nhưng chẳng ai dám là người đầu tiên bỏ ra về.
- Thế con viết cái gì?
- Khẩu hiệu và tố cáo những người bị quy cho là “bò” và tất cả những kẻ thù của Trung Hoa như Đài Loan, Nhật Bản, Anh, Mỹ và cả Liên Xô nữa.
- Làm thế nào để con biết viết về cái gì? Hay là con cứ phịa ra?
- Thì cũng có người phịa ra. Nhưng con nghĩ làm vậy rất nguy hiểm. Hầu hết tụi con đều lấy tài liệu từ ban lãnh đạo. Con tập trung vào kẻ thù nước ngoài. Ban lãnh đạo cho phép con làm vậy, vì họ nghĩ là con ra đời ở nước ngoài, nên con biết nhiều về nước ngoài. Con đâu biết gì về cuộc sống của những người bị tố cáo. Mà con cũng không muốn nói láo hay là nói bóng, nói gió, nói xiên, nói xéo. Những diễn viên lớn tuổi hơn, các giám đốc, thư ký ... đều phải viết bản tự phê. Một số lớn những người này bị tố. Thỉnh thoảng họ lại bị những người “hoạt động” lôi ra đấu trong các cuộc mít tinh đấu tranh hoặc bị để đầu trần, bắt đứng hay quỳ ở giữa trời nắng.
- Thật khủng khiếp!
- Dạ, khủng khiếp thật! Cũng rất tội nghiệp cho họ. Con nghe nói hầu hết trong đám ấy là kẻ thù của Giang Thanh ngày xưa. Con nghe nói là Mao Chủ tịch đã trao cho bà vợ toàn quyền để hoành hành trong số người làm nghệ thuật.
- Hình như mụ ta đang cho trình diễn một vở nhạc kịch theo kiểu tân thức ở sân khấu Bắc Kinh mà, phải không?
- Dạ, hình như lúc bà ấy bất đồng gì đó với Ban lãnh đạo Bộ Văn hóa. Tuy nhiên con nghe nói là tất cả diễn viên nào có tài năng và nổi tiếng hơn bà ấy ngày xưa, lúc bà ấy còn là diễn viên ở Thượng Hải, đều đang chuẩn bị khăn gói để vô trại lao động cải tạo. Người ta nói là bà ấy rất độc ác và hay ganh tài. Tốt hơn hết là đừng nói đến bà ta.
- Tất nhiên là phải dè dặt vậy đó. Bây giờ mụ ấy là đệ nhất phu nhân Trung Hoa. Tại sao mụ ấy lại chĩa vào một số ít các nữ diễn viên lớn tuổi vậy?
- Có lẽ họ là người biết rõ cái quá khứ của bà ta. Người ta nói là trước khi đi Diên An và lấy Mao Chủ tịch, bà ta đã có cả đống nhân tình và cả mấy đời chồng nữa.
- Thì Mao Chủ tịch cũng có cả đống vợ chứ kém gì. Làm sao mụ lại không có nhiều chồng được kia chứ. Mụ cũng ưa làm rùm beng như mấy cô đào hát bên Hollywood vậy – tôi cười - Con được giáo dục theo truyền thống Trung Hoa nên con có cái quan niệm thanh khiết chủ nghĩa về những vấn đề như vậy. Riêng con, con nghĩ sao? Con có thể bị phê bình như vậy không?
- Má kỳ quá hà. Cá nhân con chẳng có gì là quan trọng. Con chỉ là một phần tử bé tẻo teo của quần chúng. Dĩ nhiên cái gốc gác gia đình của con và việc con ra ở nước ngoài đều có thể bị lôi ra phê bình. Cũng may là con ra đời ở Úc chứ nếu ở Anh hay ở Mỹ thì chưa biết sao à.
- Tất nhiên là không ai có thể nói Úc là một nước đế quốc.
- Dạ, trong xưởng phim, hầu hết mọi người vẫn cứ nghĩ Úc là một thuộc địa của người Anh và người dân ở đó vẫn còn bị áp bức. Họ đâu biết dân Úc cũng là dân Anh thứ thiệt, chỉ có những con kangaru mới là dân bản xứ.
Con gái tôi cười vui vẻ.
Nó ăn bánh xong và đứng dậy đi vào phòng riêng. Thình lình nó quay ra hỏi:
- Cả ngày hôm nay má làm gì?
- Má được mời đi dự một buổi mít tinh để tố khổ một cựu trưởng ban kế toán của văn phòng hãng ngày trước. Hình như chính má cũng phải tham gia Cách mạng Văn hóa. Và má có thể bị trở thành mục tiêu tấn công nữa là khác.
- Trời đất! Như thế thì nguy lắm. Sao nãy giờ má không nói cho con hay trước.
Mai Bình rõ ràng là rất xúc động về điều mà tôi vừa cho nó biết. Nó lại ngồi xuống và yêu cầu tôi kể lại hết đầu đuôi cho nó nghe. Sau khi tôi kể lại những gì tôi phải trải qua trong ngày, nó tỏ ra hết sức lo lắng. Nó hỏi:
- Từ trước tới giờ văn phòng của má làm ăn đàng hoàng chứ? Có làm gì lươn lẹo hay là sai trái không?
- Không, dĩ nhiên là không bao giờ!
- Tại sao họ lại lựa ông kế toán trưởng? Hay là ông ta vi phạm cái gì trong vấn đề qui định ngoại tệ? Hay là hãng của má không trả thuế?
- Hãng trả thuế đàng hoàng, đầy đủ và đúng luật. Tất nhiên là hãng cực kỳ cẩn thận tuân thủ các qui định về ngoại tệ.
Hai mẹ con tôi đều lo lắng bối rối, nhưng đều đồng ý là có lo lắng cũng vô ích. Tôi hối thúc nó đi ngủ. Nó cứ đứng lại, im lặng một lúc lâu rồi chào tôi và đi ngủ. Dường như chỉ trong một chốc lát đó thôi mà nó thay đổi hẳn, già dặn hẳn so với lúc mới bước chân vào phòng này, nó chỉ là cô gái nhí nhảnh, vô tư.
Tôi tắt đèn, nhưng vẫn tỉnh như sáo. Tôi nghĩ cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản cũng là một kinh nghiệm đầu tiên của con gái tôi về một cuộc vận động chính trị. Tôi tự hỏi không hiểu sau này, cuộc vận động ấy sẽ tác động vào nó ra sao. Lát sau, cửa phòng ngủ của tôi nhè nhẹ mở. Tôi bật đèn lên.
- Má à, con không tài nào ngủ được. Con xuống dưới nhà dạo vài bài đàn, nghe? - Mai Bình mặc quần áo ngủ, đứng giữa cửa hỏi tôi vậy.
- Để má cùng đi xuống với con.
Fluffy, con mèo Ba Tư thật bự của Mai Bình đang làm gì đó huỳnh huỵch trên mái nhà. Khi thấy chúng tôi nó kêu meo meo đòi vào. Tôi mở cửa cho Mai Bình đi ra ôm nó. Nó đặt Fluffy xuống, mở nắp đàn piano ra và gõ vài nốt. Nó quay lại hỏi tôi:
- Má muốn con chơi bài nào?
- Gì cũng được, xin miễn đừng nhạc Cách mạng là được!
Nó bắt đầu chơi bản dạ khúc của Chopin và ghé vào tai tôi thì thầm “vậy, nhé!”
Tôi gật đầu. Con mèo vươn ra khỏi chân Mai Bình ở dưới cây đàn.
Đó là khung cảnh một gia đình an vui đầm ấm. Nhưng trong không khí đã thấp thoáng bóng dáng của sự đe dọa.