Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Đào Tấn và Tuồng Đào Tuấn

4 trả lời, 887 lượt xem — Trang 1 / 1

Tuồng Đào Tấn (1) (1845-1907)


A. Đôi nét về tiểu sử

Đào Tấn tự Chỉ Thúc, hiệu Mộng Mai, khi ông về ẩn trên núi có thêm một tên hiệu nữa là Mai Tăng. Ông sinh ngày 27 tháng 2 năm ất Tỵ (1845 - Thiệu Trị năm thứ 5) tại làng Vinh Thạnh, tổng Nhơn Ân, phủ Tuy Phước, Tỉnh Bình Định. Thuở nhỏ Đào Tấn theo học ông Nguyễn Diêu, tức cụ Tú tài Nhơn Ân. Nguyễn Diêu vốn là một nhà soạn tuồng nên Đào Tấn sớm chịu ảnh hưởng ở thầy. Năm 1867 (Tự Đức thứ 20) Đào Tấn đỗ Cử nhân, lúc đó ông mới 22 tuổi. Bốn năm sau ông được thọ hàm Kiểm tịch sung vào Ban Hiệu thơ ở Huế. Ban Hiệu thơ thực chất là Ban Sáng tác tuồng do chính vua Tự Đức làm chủ. Năm 1874 ông được thăng Biên tu rồi Tu soạn kiêm Tri phủ Quảng Trạch (Quảng Bình), sau đó thăng Thừa chỉ rồi Thị độc nội các. Năm Tự Đức thứ 33 (1880) Đào Tấn được thăng Thị giảng học sĩ - Tham tá các vụ. Năm 1881 ông được thăng Hồng Lộ tự khanh, lãnh Phủ doãn Thừa Thiên. Sau khi Tự Đức chết, Đào Tấn bỏ quan về nhà nên bị triều đình hạ 4 bậc. Thời gian ở quê nhà có lãnh tụ Cần vương Mai Xuân Thưởng đến mời Đào Tấn tham gia nghĩa quân, nhưng ông lấy cớ phải phụng dưỡng mẹ già. Đào Tấn bỏ đi tu ở chùa Linh Phong (tục gọi là chùa ông Núi).

Năm 1886 Đồng Khánh lên ngôi cho triệu Đào Tấn ra làm Tham tá các vụ, năm sau được bổ nhiệm Phủ doãn Thừa Thiên rồi Tham tri Bộ Hộ (1888).

Năm Thành Thái thứ nhất (1889) Đào Tấn được bổ nhiệm Tổng đốc An Tịnh (Nghệ An - Hà Tĩnh) rồi Thượng thư Bộ Công (1894), Thượng thư Bộ Hình (1896). Năm 1898 Đào Tấn được thăng Hiệp tá Đại học sĩ lãnh Nam Nghĩa Tổng đốc (Quảng Nam - Quảng Nghĩa) rồi lại làm An Tịnh Tổng đốc lần thứ hai . Năm 1902 Đào Tấn trở về Huế lại lãnh Thượng thư Bộ Công. Năm 1904 nhưng có mâu thuẫn với Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Thân, Đào Tấn về hưu, lúc đó ông vừa tròn 60 tuổi. Ông mất vào ngày rằm tháng 7 năm 1907 (Thành Thái thứ 19), thọ 63 tuổi. Phần mộ của ông đặt trên núi Hoàng Mai tại quê nhà.

Về tác phẩm, Đào Tấn đã để lại gần 40 vở tuồng bao gồm cả những vở sáng tác chung và cải biên, chỉnh lý - Trong đó có giá trị về tư tưởng cũng như văn học, ví như: Trầm Hương Các, Hộ sanh đàn, Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan, Trương Phi Cổ Thành... Đào Tấn còn để lại gần 1000 bài thơ, từ, tản văn và liễn đối trong các tập: Mộng Mai ngâm thảo, Mộng Mai thi tồn, Mộng Mai từ lục, Mộng Mai văn sao. Năm 1987 Sở văn hoá Thông Tin Nghĩa Bình cho in cuốn Hý trường tuỳ bút của Đào Tấn . Đây là tập sách có tính chất lý luận, tập hợp những bài viết, thư từ trao đổi của Đào Tấn xung quanh nghệ thuật Tuồng.

Theo gia phả họ Đào thì Đào Tấn còn sáng tác âm nhạc. Ông từng đã được nhà vua giao soạn nhiều Nhạc chương khúc điệu để phục vụ triều đình. Tiếc rằng những nhạc chương khúc điệu đó ngày nay đã bị thất truyền.

B. Những Đặc Điểm Của Tuồng Đào Tấn

Do chịu ảnh hưởng của thầy học là cụ Nguyễn Diêu, năm 19 tuổi Đào Tấn đã bắt đầu sáng tác Tuồng. Vở Tuồng đầu tay của ông là Tán Dã đồn, còn gọi là Từ Thứ qui Tào. Thời gian ở Ban Hiệu thơ cũng như suốt chặng đường bôn ba làm quan, ông không lúc nào ngừng bút sáng tác. Đương thời Đào Tấn được đánh giá là một nhà soạn Tuồng xuất sắc. Tác phẩm của ông chẳng những đã phản ánh sâu sắc những vấn đề xã hội đương thời mà còn bộc lộ quá trình diễn biến tư tưởng cũng như những mâu thuẫn trong thế giới quan của ông. Đặc biệt là quan niệm về chữ Trung và nỗi lòng của ông đối với quê hương đất nước.

Đối với nghệ thuật sân khấu, Đào Tấn có quan niệm rất tiến bộ. Ông đã đề đôi câu đối trong rạp Như Thị Quan của ông ở Vinh khi ông làm Tổng đốc An Thịnh như sau:
Thiên bất dữ nhàn, thả hướng mang trung tầm tiểu hạ
Sự đô như hí, hà tu giả xứ tiếu phi chân.
(Trời chẳng cho nhàn vào bận rộn này tìm chút rảnh.
Việc đời như kịch, há trong chốn giả bảo không chân).
Mịch Quan dịch

Từ quan niệm đó, trong mỗi tác phẩm của mình Đào Tấn luôn đặt ra những vấn đề mang tính cập nhập của xã hội. Khi thì thẳng thắn phê phán những kẻ tôi gian hại nước, thậm chí cả nhà vua. Khi thì ca ngợi những đấng anh hùng xả thân vì đại nghĩa, vì xã tắc và muôn dân, hoặc nêu những tấm gương về đạo lý làm người. Tuy khá nhiều tác phẩm của ông mượn trích truyện từ Trung Quốc, nhưng thực chất là ông đã khéo léo nêu ra những vấn đề của triều đình nhà Nguyễn lúc đương thời. So với những vở Tuồng cổ trước đó, đúng hơn là sự kiện triều đình Huế đã đầu hàng thực dân Pháp, Tuồng Đào Tấn có sự tiến bộ hơn hẳn về mọi mặt.

Trước hết là sự thay đổi trong nội dung phản ảnh, biểu hiện ở đề tài và chủ đề tư tưởng các vở Tuồng. Nếu như ở các vở Tuồng cổ trước đó phần lớn là đề tài Quân Quốc, với chủ đề phò Vua diệt ngụy. Ở đó mối quan hệ giữa Quân (Vua) và Quốc (Nước), giữa chính thống và chính nghĩa là đồng nhất - Khẳng định sự bền vững, tất thắng của triều đại chính thống, đề cao huyết thống đế vương, đặc biệt là đạo trung quân. Hình tượng các nhân vật chính diện là những mẫu người lý tưởng của đạo lý nho gia. (Xin xem thêm phần giới thiệu văn học Tuồng (hát Bội) của giáo sư Hoàng Châu Ký ở tập trước).

Đến Tuồng Đào Tấn, những vấn đề nêu trên dường như đã hoàn toàn đảo ngược. Tuy nhiên, đó là không kể những vở tuồng mà Đào Tấn phụng chỉ nhà vua mà sáng tác như: Đãng Khấu, Bình Địch, Tam bảo Thái giảm thủ bửu (năm Tự Đức thứ 25 - 1872), Tứ quốc lai vương, Quần Trân hiếu thụy, viết tiếp Vạn bửu trình tường (năm Tự Đức 31 - 1878).

Nội dung Tuồng Đào Tấn đã không phản ánh cuộc đấu tranh giữa hai phe Trung - Nịnh để bảo vệ ngai vàng của triều đại chính thống. Mối quan hệ giữa Quân và Quốc, giữa chính thống và chính nghĩa đã bị phá vỡ. Nhân vật Hoàng Phi Hổ (Tuồng Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan) đã thốt lên:

Trung quân chi chí cánh nam thành
(Cái chí trung quân không thực hiện được nữa rồi!)

Hoặc: Cực lòng chịu oán cùng ân
Đành cam một nỗi vi thần bất trung.
Ân tình liệt phụ sao quên được.
Cái chí trung quân vỡ nát rồi.

Các nhân vật chính diện như: Tiết Cương, Kỷ Lan Anh, Ngũ Hùng, Tần Hán (tuồng Hộ sinh đàn), Triệu Khanh Sanh (tuồng Diễn võ đình), đều chống lại triều đình. Ông Mịch Quang cho rằng soạn tuồng Trương Phi Cổ Thành là Đào Tấn gián tiếp lên án thuyết Quyền biến giả đầu hàng thật của phe chủ hòa trong triều Nguyễn trước sự kiện xâm lược của Pháp. Căn cứ vào tên vỡ Hộ Sanh đàn (tức Đàn đỡ đẻ) và câu hát kết thúc vở:
Thế cục nam bình duy hữu hận
Tha hương trương khế khởi vô tình
Thiên Sơn tác tam hùng hội
Hải võ tùng kim tứ biểu thanh (2)

Ông Mịch Quang còn khẳng định Đào Tấn soạn vở Hộ Sanh đàn là ẩn ý ca ngợi sự ra đời của một anh hùng cứu quốc. Là ước mong của Đào Tấn về sự xuất hiện một mầm mống anh hùng phục quốc trong thời ấy (tức các lãnh tụ Cần vương). Kết thúc vở tuồng Diễn võ đình, Đào Tấn để nhân vật Triệu Khánh Sanh - Một người đang chống lại triều đình hát:
Chừ tôi biết đi đường nào đây:
Hương quan hà xứ thị?
Yêu qua giang thượng sử nhơn sầu
Tấm thân liền gửi cung dâu
Đố con lương mã biết đâu là nhà

Triệu Khánh Sanh bơ vơ không biết về đâu bởi Hương quan hà sứ thị? (Quê hương ở đâu?).

Rõ ràng hình tượng các nhân vật chính diện trong tuồng Đào Tấn không còn là những anh hùng an nguy trị loạn để bảo vệ triều đại phong kiến chính thống, là mẫu người lý tưởng của đạo lý Nho giáo. Tiết Cương, Lan Anh, Triệu Khánh Sanh, Hoàng Phi Hổ... Nếu như ở các vở tuồng cổ trước đó thì đều là nhân vật phản diện, là những nghịch thần, tặc tử bị lên án. Nhưng ở Tuồng Đào Tấn họ là những nhân vật chính diện được ca ngợi. Họ có lý tưởng hoàn toàn khác với Đổng Kim Lân, Khương Linh Tá, Tạ Ngọc Lân, Phàn Định Công v.v... ở tuồng cổ trước Đào Tấn.

Hơn ba mươi năm sống và làm quan to dưới triều đình nhà Nguyễn, Đào Tấn đã hiểu rõ cái triều đình ấy. Nhất là từ khi Pháp xâm lược, vua quan nhà Nguyễn hết nhượng bộ này đến nhượng bộ khác, rồi cuối cùng đi đến đầu hàng.Triều Nguyễn đã bước vào giai đoạn suy tàn, rồi trở thành phản động. Vua và triều đình không còn là đại diện chính nghĩa, cho dân cho nước nữa. Dẫu không cam đảm đứng hẳn về phía các nghệ sĩ Cần vương nhưng Đào Tấn không thể ca ngợi hoặc hô hào mọi người phải tận trung với vua. Bởi trung quân đâu còn là ái quốc nữa. Nhận xét về Tuồng Đào Tấn , chủ đề trung quân, cái chủ đề vốn có sức sống mãnh liệt trong tuồng cổ không còn là chủ đề chúa tể nữa... Trong những vở tuồng sáng tác vào cuối đời của Đào Tấn, nhân vật Vua xuất hiện ít dần và hễ xuất hiện thì lại là những tên bạc nhược thối nát, dâm dục đốn mạt kiểu như Trụ Vương - thế giới quan lại triều đình đã được tái hiện trong Tuồng Đào Tấn như một thế giới ma quỷ lộn người, thế giới hỗn loạn đến kinh thường, khi mà mọi luân thường đạo lý đều bị đảo ngược, hoặc bị đem ra để bôi nhọ - và cái thế giới vua quan ấy đã lùi đi biến mất đến nhường chỗ cho một thế giới khác: thế giới của những Tiết Cương, Lan Anh, Hồ Nô, Dương Tú Hà, những con người của cuộc sống ngoài môi trường quan lại triều đình”. (Kỷ yếu hội thảo về Đào Tấn).
Đặc điểm thứ hai là những bố cục Tuồng Đào Tấn rất gọn gàng, phần lớn chỉ có một hồi. Trong mỗi vở, Đào Tấn đã tránh được phần giới thiệu (giao đãi) dài dòng như Tuồng cổ trước đó, những điều cần phải nhắc đến để khán giả tiện theo dõi cốt truyện Tuồng của ông chỉ tóm gọn trong một số câu, thậm chí là khéo léo lồng vào hành động của nhân vật. Mở đầu vở tuồng Hộ Sanh đàn, sau khi Võ Tam Tư nói mấy câu xưng danh rồi vào chuyện ngay:
Phụng minh đinh thống lãnh binh nhung
Đáo biên địa truy tầm Tiết thị.

Võ Tam Tư cử binh đi, rồi Tiết Cương ra ngay nói:
Kinh địa từ tế tảo sinh linh
Triều binh phút công vi vạn đội

(Nhưng cũng may là):

Ơn Tần thị phu thê cứu giải:
(Nên chi) Khiến Tiết gia tính mạng bảo toàn
(Bây chừ) Chốn Long San bao xá dặm ngàn
Theo điều tích ngõ toan lần lối.

Rõ ràng chỉ cần mấy câu trên, kịch được vào đầu rất nhanh mà khán giả cũng đủ hiểu để tiếp tục theo dõi cốt truyện Tuồng. Ở những vở khác của Đào Tấn cũng vậy, tuy mỗi vở có kiểu vào đầu khác nhau, nhưng nhìn chung là giao đãi nhanh, vào kịch sớm và kết thúc không theo lối có hậu. Lối kết cấu ấy đã làm cho tuồng Đào Tấn hấp dẫn hơn so với Tuồng cổ ở giai đoạn trước rất nhiều.

Bố cục hồi, màn, ngắn gọn và giao đãi nhanh, trong khi đó Đào Tấn lại rất chăm chút khai thác tâm trạng của nhân vật. Các nhân vật Tuồng Đào Tấn thường chất chứa đầy tính bi tráng và trữ tình. Thế giới nội tâm của nhân vật được Đào Tấn khai thác và miêu tả một cách phong phú, tinh tế. Hãy nghe đoạn bộc bạch của nhân vật Trương Phi trong tuồng Trương Phi cổ thành.

Trương phi: Vọng nhãn mông lung
Trung trường nhất uất
Tâm tự thất, tâm tự thất
Ý như si, ý như si
(Xướng) Lạc lạc cô tình chỉ tự bi
Hàn lâm tiêu tác dạ thanh tri
Hốt vân hổ mã tê phong cấp
Không sử an hùng lụy mãn y
Nhớ ca ca lụy võ lâm li
Tưởng Tào tặc tâm ba đảng dạng

Từ khi chiếm cứ Cổ Thành, tích thảo dồn lương cũng đã kha khá, Phi trông ca ca sao mà:

Tin tức một ngày một vắng
Kẻ nói ở Nhữ Nam người dồn sang Hà Bắc:
Huyên truyền nữa thiệt, nữa hư
Phi biết mô mà tìm, ấy là ca ca Phi. Còn như Nhị ca Phi:
Thuở Hạ Bì phò nhị tẩu xa.
Phi có nghe rằng:
Đầu Tào Tháo... (vậy là) Phụ tam nhân ước à?
Buồn! Buồn cha chả này, quân rượu đây!
Bài khai nhất chước
(Đặng) Nhuận ngã thiên sầu.
(Trương Phi uống rượu)
Nghĩ quái cho Nhị ca Phi... Đầu! Đầu! Đầu! là đầu làm sao hè?
Thương hại ca ca Phi... Khổ! Khổ! Khổ lắm ca ca à:
(Ngâm) Nhất nhạn hoành phi vân tế lộ.
Cô đăng trường chiếu nguyệt biên thành
Nghĩ lại Nhị ca Phi thân phò nhị tẩu, qui thuật Tào man, hay là người quyền giả nhất thời? Ừ ừ! Quyền phải, biến phải...
Anh hùng tự hữu quyền nghi xứ.
Nhưng sao Phi lại nghe rằng: Tào Tháo trọng đãi Nhị ca
Phi... Thượng mã đề kim, hạ mã đề ngân, tam nhật tiểu yến, thất nhật đại yến. Hừ! yến, ẩm... ấy ấy...
Khả hận đô vong thủ túc tình (3)
(Trương Phi uống rượu say rồi ngủ)

Thông qua ngòi bút của Đào Tấn , người đọc và người xem không còn chỉ nhận thấy một Trương Phi nóng nảy cục cằn, mà một Trương Phi trĩu đầy tâm trạng.

Còn đây là tiếng gào thét của Hoàng Phi Hổ khi nghe tin vợ là Giả Thị bị Trụ Vương loạn dâm đã tự vẫn (Tuồng Hoàng Phi Hổ):

Chao ôi!
Kham thán Thành Thang chi tôn xã!
Nan mai Thương Thọ chi tiết danh!
Màn đây! Trướng đây! Giả Thị em ơi!
Liệt phụ hữu ân hà nhãn phế
Trung quân chi chí cánh nan thành (4)

Kiều Quan dạy Bích Đào học thêu (Tuồng Diễn võ đình)
“Kiều Quang: Luồn chỉ thắm...
Bích Đào: ... chắp tơ mành
Kiều Quang: Dong thẳng đường ngay...
Bích Đào: ... Nhận nẻo quanh
Kiều Quang: Cúc trắng mai vàng thưa thớt nhụy
Bích Đào: Chi xanh lá đỏ ngẩn ngơ tình
Cùng ngâm: Uyên ương chếch bạn còn lơ láo
Phỉ thuý chiều duyên khéo rập rình
Kiều Quang: Dệt phụng, thêu rồng tài đáng mấy
Bích Đào: Dừng kim sực nhớ hẹn bình sinh”.
V.v... và v.v...

Đặc điểm thứ ba cũng là đặc điểm nổi bật nhất trong Tuồng Đào Tấn đó là ngôn ngữ văn học, là giá trị văn chương của các kịch bản Tuồng.

Vốn là một nhà thơ, nhà Nho, lại là một thầy Tuồng vì thế Đào Tấn không chỉ giỏi về âm luật thơ nói chung mà còn rất sành về âm luật của văn thơ Tuồng. Ngôn ngữ Tuồng Đào Tấn rất mượt mà, giàu hình tượng, khái quát, một thứ ngôn ngữ bác học.
Ví dụ:
- Lao xao sóng vỗ ngọn tùng
Gian nan là nợ anh hùng phải vay...
- Hai vai thắt chặt tang hồ
Bể oan chưa lấp mật thù càng ngon...
- Mảnh vương phút đã tan tành
Xuân vi gió lạnh, thu đình trăng trong...
Bước non sông ngại ngùng đâu xiết
Nợ phong trần trả hết từ đây...
Hoặc: - Xắn tay lần gỡ mối sầu
Tóc lo đã trổ trên đầu hùng anh...
- Ớ Bàng Hồng này! Tao nói thiệt:
Cánh hạc hồng gặp gió liệng mây xanh
Xương Ưng Khuyển nghiền tro quăng biển bạc...
(Tuồng Diễn Võ Đình)

Bài hát của Phương Cơ giả dại để kích động lòng người:
Mây che bóng nguyệt
Bụi lấp đài gương
Cúc nguyệt phi sương
Tam niên bất võ
Nực cười khỉ nọ
Thương bấy rồng kia
Kêu khóc đêm khuya
Khoe khoang ngày rạng
Nhân tâm tư Hán
Thiên ý vong Tần
Cân quắc phụ nhân
Tu mi nam tử.

Nghe câu hát, lão quan trung thần Lý Khắc Minh vô cùng đau xót:
Nghe tiếng ca cuồng nữ
Dường lời nói hữu tình
Xét tình riêng mình lại hổ mình
Ngẫm việc nước thế âu yếu thế
(Tuồng Khuê các anh hùng)

Ngôn ngữ văn học kịch bản Tuồng là thứ ngôn ngữ để hát, múa và biểu diễn, vì thế tính hành động (động tác) là rất cần thiết đối với người diễn viên. Nói như các lão nghệ sĩ khi diễn Tuồng Đào Tấn là: Mình hát mà cũng thấy sướng tai, không thể bỏ đi một chữ nào được.

Cứ đọc qua đoạn độc bạch của Trương Phi (chúng tôi đã có dịp dẫn ở trên) thì cũng có thể hình dung được những điệu bộ (múa) của Trương Phi sẽ hấp dẫn đến thế nào. Hoặc những câu hát như:
Xét thân hổ với cao dày
Phơi gan giúp chúa chau mày phụ cha
Tưởng oan gia càng ra nước mắt
Gan anh hùng trổ mặt từ bi.
(Tuồng Khuê các anh hùng)

Thế sự đoản ư xuân mộng
Nhân tình bạc tựa thu vân
Nghiến răng cười, cười cũng khó khăn
Ôm lòng chịu chịu càng vui sướng.
(Tuồng Hộ sanh đàn)

Không chỉ ở những thể thơ, hay biền văn mà ở những lời thoại bằng văn xuôi, Đào Tấn cũng rất lựa chọn ngôn từ để cho diễn viên dễ dàng thể hiện tính cách và tâm trạng nhân vật. Trong Tuồng Hộ sanh đàn khi Tiết Cương đến nhà Tiết Nghĩa, Tiết Nghĩa định bắt Tiết Cương nộp cho triều đình để lĩnh thưởng. Vợ Tiết Nghĩa là Tú Hà can ngăn chồng, khuyên chồng hãy nhớ các ân đức ngày trước Tiết Cương đã cứu mạng Tiết Nghĩa. Tiết Nghĩa nói:

Đức chi mà kể đức, số mình sống, không có thằng Cương này cứu thì có thằng Cương khác cứu. Nó với mình không có bà con hơi hám chi, nó cậy tài nó tới nó cứu chứ mình có mời nó đi cứu mình đâu mà kể đức kia chứ!

Tiết Cương hỏi vợ kham khổ như vậy thì lấy đâu sữa cho con bú, Lan Anh nói:
Có bữa có, có bữa không! Một hôm em đang cho hắn bú, không có sữa, hắn cắn cái vú em một cái, em đau hoảng đi, em phát hắn một phát, hắn nhăn răng ra cười... Em khóc, em nghĩ không biết chừng nào gặp lại anh...

Ngôn ngữ Tuồng Đào Tấn mang đậm tính nhạc điệu của Tuồng, đặc biệt là sự vận dụng các thanh bằng trắc ở biền văn và thể lục bát. Đặc điểm này đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho diễn viên nói và hát. Thậm chí người không biết hát Tuồng chỉ đọc lời thơ thì người nghe đã cảm thấy như lối Tuồng rồi. Ví dụ:
Dấu thương tích - bịnh này chưa đỡ
(Răng mà):
Nỗi oán thù lòng nọ - khôn nguôi
(Song thân ôi!)
Ngóng tùng thu - non nước luống xa xôi
Nhìn chung kiếm mặt mày thêm - tủi hổ...

Hoặc điệu hát Nam:
Câu Trống dùng nhiều vần trắc để hát với lên cao:
Lơ láo biệt từ thành Tạ
Tưởng mẹ già lã chã châu sa

Câu tiếp theo là Mái, nhiều vần bằng để hát xuống thấp:
Hai vai bên nước bên nhà
Hiếu trung không trọn lòng ta không đành

Câu thứ ba Trống nhiều vần trắc và hát nhanh:
Bơ thờ ngó lại Tạ thành
Bóng cờ nghiêng ngả gập ghềnh vó câu.
v.v....

Đào Tấn không chỉ tạo một bước ngoặc lớn trong lĩnh vực kịch bản Tuồng mà ông còn ham muốn cách tân nghệ thuật trình diễn. Những ngày về nghỉ hưu tại quê nhà, thỉnh thoảng Đào Tấn lại dựng giữa làng một kiểu sân khấu điền dã. Ông không cho diễn Tuồng trên sàn gỗ nhỏ hẹp nữa mà đưa ra giữa không gian thiên nhiên. Chẳng hạn, để diễn lớp đoạt đò (cướp thuyền) ông đã cho đắp cao bờ một khoảng ruộng rồi tát nước vào cho đầy, thế rồi diễn viên bơi thuyền thật và sau đó đoạt thuyền như thật. Khi diễn tuồng Tây Du ông đã bố trí một đoạn đường dài chừng một cây số. Trên đoạn đường đó ông bố trí những cái động, nhà dân... (Kiểu như bối cảnh trong phim) để thầy trò Đường Tăng đi thỉnh kinh. Mỗi lần nghe tin Đào Tấn tổ chức diễn Tuồng như thế, dân trong vùng rủ nhau cơm nắm cơm đùm đến để xem.

Các nhà nghiên cứu nghệ thuật Tuồng đều khẳng định Đào Tấn là người đã bác học hoá ngôn ngữ ngữ kịch bản Tuồng. Tuồng Đào Tấn là đỉnh cao, là tinh hoa của nghệ thuật Tuồng truyền thống. Do tài năng và đóng góp của Đào Tấn trong lĩnh vực nghệ thuật Tuồng, ông được ngành Tuồng cả nước đương thời suy tôn là bậc Hậu tổ.

Khẳng định giá trị của Tuồng Đào Tấn, trong hội thảo về ông do Bộ Văn hoá và Sở Văn hoá Thông tin Nghĩa Bình tổ chức năm 1978, Giáo sư Hoàng Châu Ký viết: “Đến thế kỷ XIX, nhất là nửa sau thế kỉ này và đầu thế kỉ XX, xã hội ta có những biến động lớn: Pháp xâm lược, triều đình đầu hàng. Nhân dân chống Pháp và chống cả triều đình. Trí thức Nho học phân hoá, trung quân với ái quốc không còn đi đôi với nhau nữa. Một số loại người mới xuất hiện trong xã hội mà trước kia chưa có. Kinh tế công thương có bước phát triển nhất định theo hướng tư bản chủ nghĩa.... Trên cơ sở bối cảnh này, tình cảm con người có nhiều biến động, phát triển mới, tác phẩm nghệ thuật yêu cầu phải phản ánh được hiện thực đó. Tuồng cổ với những nhân vật nặng về lý tính, cao thượng, nhưng có vẻ siêu phàm không đáp ứng được yêu cầu đó. Đối với nhân dân đó là những nhân vật kính nhi viễn chi. Đào Tấn đã giải quyết vấn đề này với những tác phẩm của mình, đáp ứng được yêu cầu của thời đại. Chỗ lớn của Tuồng Đào Tấn là ở đó. Cũng chính điểm đó Đào Tấn sẽ trường tồn”.

-------------
Ghi chú:
(1). Xem Khải luận tập 11
(2). Ở đời chỉ có cái hận là khó san bằng mà thôi. Người khác xứ mà kết bạn với nhau há là chuyện vô tình. Núi Thiên Sơn làm chỗ họp ba khách anh hùng, non nước từ nay bốn cõi thanh bình.
(3). Xin xem phần chú ở vở.
(4). Xin xem phần chú ở vở.


Nguồn trích: Tổng tập văn học Việt Nam. T. 12.- H., 2000.- Tr. 7 - 18;


Đăng nhập để trả lời
0


Nghiên cứu Đào Tấn để phát triển tuồng

Bao nhiêu lâu nay, chúng ta đề cập đến vấn đề cách tân và phát triển nghệ thuật tuồng và một định hướng rõ ràng được nêu ra: Cách tân trên cái nền truyền thống. Song đi vào từng vấn đề cụ thể, truyền thống của tuồng có gì hay, viên ngọc nào còn sáng, viên ngọc nào đã mờ cần mài cho nó sáng, cái gì rườm rà không thích hợp với người thời nay... thì chúng ta chưa làm được bao nhiêu. Từ đó tôi nghĩ rằng công tác nghiên cứu tuồng hiện nay phải đi vào từng việc cụ thể để giúp các đoàn nghệ thuật không chỉ phương hướng nghệ thuật chung mà còn rất cụ thể từng chi tiết nhỏ cấu thành nghệ thuật tuồng. Càng mang nhiều tính ứng dụng cụ thể thì công tác nghiên cứu càng có giá trị và bổ ích.

Trong tình hình sân khấu tuồng hiện nay đang diễn ra những biểu hiện của sự cách tân tuỳ tiện "tuồng không ra tuồng" mà ta thường gọi là phá tuồng thì công tác phê bình, nghiên cứu càng trở nên quan trọng. Rõ ràng ở các đơn vị nghệ thuật đang thiếu một phương pháp cách tân khoa học. Ai góp phần xây dựng phương pháp đó? Những nhà nghiên cứu với những công trình cụ thể sẽ đóng góp một phần lớn. Tất nhiên những công trình nghiên cứu phải là cụ thể, đi sâu vào nghề tổ chức không thể chung chung. Tôi rất tâm đắc với ý kiến của nhà nghiên cứu lão thành Mịch Quang cần có một thế hệ riêng cho sân khấu Đào Tấn. Phương pháp nghiên cứu sân khấu châu Âu là rất cần thiết để chúng ta tham khảo song không thể là tất cả. Sân khấu của ông cha ta có những quy luật phát triển riêng, nguyên tắc cấu thành riêng. Cái sân khấu đó nằm trong một thế hệ độc đáo của nghệ thuật dân tộc.

Để có thế hệ đó, chúng ta không thể tự mình nghĩ ra rồi phát to lên mà phải đi từ nội tại sân khấu dân tộc. Tôi muốn nhắc lại là đi từ những chi tiết cụ thể nhất. May thay trong nghệ thuật tuồng, chúng ta đã có Đào Tấn một nghệ sĩ lớn của dân tộc. Ông đã cho ta những bài học rất quan trọng, rất bổ ích, những bài học trực quan qua hơn 30 vở diễn do ông sáng tác và nhuận sắc mà vua Tự Đức đã ca ngợi là "bút pháp như thần". Nghiên cứu từng vở diễn, chúng ta chắc chắn tìm ra những nguyên tắc phát triển của sân khấu dân tộc, những chiếc chìa khoá để mở đường cho sự cách tân mà chúng ta hằng mong mỏi làm sao chất tuồng có nền tuồng chứ không phải cái bóng của tuồng để thể hiện lời của Bác Hồ dạy "Đừng gieo vừng ra ngô". Thật đáng tiếc chúng ta chưa có một công trình nghiên cứu xứng đáng để tìm ra những nguyên tắc và những chiếc chìa khoá đó qua các vở diễn của Đào Tấn.

Khi ngành văn hoá thông tin Nghĩa Bình nay là Bình Định tìm ra cuốn sách "Hý trường tuỳ bút" của Đào Tấn thì mọi người càng thêm sửng sốt về quan điểm lý luận hết sức sâu sắc của ông - Đó là tài sản quý giá cho các nhà nghiên cứu, ở đó tư tưởng cách tân, phương pháp cách tân bộc lộ rất rõ khi ông viết "Ôi tuồng đồ tức là lấy chất liệu của người xưa mà diễn thành tuồng. Đồ là con đường vậy... Tuy vậy còn tuỳ vào văn tài của tác giả có thể làm cho màu xanh rút ra từ màu chàm mà đẹp hơn màu chàm rất nhiều. Do đó tuồng đồ không thể không kể đến công lao của người soạn sau. Thế nào gọi là "Cương"? Cương là thẳng vậy, không theo khuôn mẫu cũ, không theo con đường cũ của người xưa mà đi. Đó tức là cương. Nói cách khác, là soạn giả tự mở con đường mà đi. Nhưng người xem lại không thích tuồng cương là vì nệ cổ của họ quá nặng vậy. Theo tôi cạn nghĩ trong tuồng đồ nên có tuồng cương, trong tuồng cương nên có tuồng đồ thì mới hợp tâm tình xưa nay. Chúng ta học người xưa mà diễn ra thì có gì mới lạ? nhưng theo ý của người xưa, không có phép có lệ cũng là kẻ không có học, không có thuật vậy? Thật là sâu sắc và thâm thuý và rất mới nữa - Đào Tấn trước mắt ta là một kho tàng quý báu khổng lồ cả về trí tuệ, tài năng và tài hoa nghệ sĩ lớn. Mong rằng Viện Sân khấu có những công trình xứng đáng về ông và luôn luôn nghĩ rằng: nghiên cứu không phải để nghiên cứu rồi xếp vào đống sách vở, mà nghiên cứu để ứng dụng để tiếp tục thực hiện những suy nghĩ, những ước mơ của vị hậu tổ tuồng để lại. Việc nghiên cứu đã trở nên rất cấp bách, nghiên cứu để phát triển cách tân nghệ thuật tuồng cho phù hợp với nhịp điệu cuộc sống hôm nay./.

Tác giả: Trung Đông;
Nguồn trích: Phương Mai.- 1995.- Số 7 (Xuân Ất Hợi).- Tr. 26 (649);
KHPL: BĐ.04(91) + BĐ.75 (Thư viện Bình Định)

Đăng nhập để trả lời
0


Đào Tấn với Sông Hương


L.T.S: Đào Tấn (1845-1907) nhà thơ, nghệ sĩ Tuồng xuất sắc. Ông đã ở Huế nhiều năm (hiện nay ngôi nhà lưu niệm của ông vẫn còn soi bóng bên ao hồ thơ mộng), ông đã viết nhiều vở tuồng có giá trị trong văn học sử Việt Nam. Cảnh sắc thiên nhiên và con người Huế cũng là nguồn cảm hứng của thơ, từ của ông.

Chúng tôi xin giới thiệu một số thơ, từ của Đào Tấn viết về miền đất sông Hương qua bản dịch của nhà nghiên cứu tuồng Vũ Ngọc Liễn .

HƯƠNG GIANG THUỶ HỮU SỞ KÝ

Cộng thức Hương Giang thuỷ
Vô nhân thức thuỷ hương
Nguyệt lương thiên vị hiểu
Giai minh (dánh) dữ quân thường .

Dịch thơ :

CÓ ĐIỀU NHẮN GỬI DÒNG SÔNG HƯƠNG

Nào ai biết hương nước
Dù biết nước sông Hương
Trăng sáng trời chờ sáng
Pha chàng ấm trà ngon .

QUÁ KIM LONG DỊCH (Từ)

Lãng tích niên thiên thán vị thân
Trùng quá Kim Long dịch
Ức đồng du
Thuỳ dương hà xứ hệ biên chu
Hương Giang thuỷ
Y cựu hướng đông lưu
Tịch mịch chuyển thiêm sầu
Nhàn âu tuỳ lãng ánh
Tự du du
Tà dương tận xứ viễn sơn phù
Tây phong lý
Vô số lục hoa thu

Dịch theo nguyên điệu :
QUA TRẠM KIM LONG

Bước chân phiêu bạt vẫn chưa thôi
Trạm Kim Long lại đến
Nhớ bạn đời
Đâu cành liễu rũ buộc thuyền côi
Nước sông Hương
Vẫn mãi chảy về đông
Lặng lẽ sầu không vơi
Chim âu nương ánh sóng
Mãi mù khơi
Bóng chiều thăm thẳm , núi xa vời
Gió tây thổi
Hoa nội nở đầy trời .

GIANG TRUNG VŨ

Hương giang giang thượng phùng thu vũ
Phà tản già đầu quá dã kiều
Thử cảnh thở thời thuỳ hội đắc
Thanh như song hạ thính ba tiêu

Dịch thơ :
GẶP MƯA GIỮA SÔNG

Qua sông Hương gặp cơn mưa
Cầu tre vội bước dù the che đầu
Cảnh tình ai thấu cho nhau ?
Nghe như bên của tiếng tàu chuối khua
(Nguyễn Khuê dịch)

QUA HẢI VÂN

Hải Vân quan thượng ngọ phong vi
Tế vụ hàn yên bạn khách y
Hô hấp vạn sơn thanh lãnh khí
Trường an gia cận hải huề qui

Dịch nghĩa
QUA ĐÈO HẢI VÂN

Trên đỉnh Hải Vân gió trưa thoảng nhẹ
Khói lạnh cùng sương vây như bận bịu áo kẻ
qua đường
Mặc sức mà hít thở không khí trong lành của
muôn núi
Trường an , nhà gần đó, cùng dắt nhau về

KINH SƯ ĐẮC GIA THƯ

Giang thuỷ tạm thiên lý
Gia thư thập ngũ hàng
Hàng vô biệt ngữ
Chỉ đạo tảo hoàn hương

Dịch thơ :
Ở KINH ĐƯỢC THƯ NHÀ

Sông nước ba ngàn dặm
Thư nhà mươi lăm hàng
Lời lời chẳng chi khác
Chỉ nói sớm hoàn hương
(Xuân Diệu dịch)

VÔ ĐỀ

Tiên đế uỷ vi kim nhật dụng
Cô thân hoàn tác cố sơn mưu
Cân xa yểu điệu trường an cận
Ưng trưởng hoa phong chúc miện lưu


Dịch nghĩa :
KHÔNG ĐỀ

Vua trước có ý để hôm nay dùng vào việc nước
Nhưng kẻ làm tôi này ngược lại cứ toan tính chuyện về quê

Bọn quan trường hèn nhát lẫn quẫn mãi ở kinh đô
Phải giải chiêu tập nhân tài mới mong thạnh trị

ĐẮC TRIỆU HỒI KINH

Tái đáo Hoàn Thành kim kỹ xuân
giang sơn phong nguyệt cửu tương thân
Thông thông hưu hướng ngọc kinh khứ
Tàm quí nhân hổ đế cựu thần .

Dịch thơ :
ĐƯỢC TRIỆU VỀ KINH

Trở lại Hoàn Thành đã mấy xuân
Núi sông trăng gió luống quen thân
Giờ ta phải vội về kinh ngọc
Thẹn lắm ai ơi, tiếng cựu thần .

ĐẮC QUI, THƯ THỬ LƯU ĐƯƠNG BIỆT GIẢN

Hồng nhẫn du quan tứ tải trì
Tân thu nhất dạ phú hoài qui
Ly đình khẳng khái tiên ưu tửu
Hành lý trân tàng mật tuyến y
Viên thất hoa tình thiên thước hỷ
Tùng giang phong tế ức lư phì
Cố hương tiên quá trường an lộ
Mộng đối quân thiều nhập trúc phi

Dịch thơ :
ĐƯỢC VỀ HƯU VIẾT BÀI NÀY
GỬI BẠN BÈ CÒN Ở LÀM QUAN

Cách nhau đã bốn năm chầy
Non hồng cảnh cũ còn ghi nỗi niềm
Đầu thu hoa rụng nửa thềm
Thơ hưu trằn trọc suốt đêm mỗi mình
Thế là rày đã dứt tình
Tiên ưu cạn chén, ly đình tiễn nhau
Hành trang, biết xếp ngăn nào
Áo khâu nhặt mũi mẹ bao mong chờ
Hoa vườn lặng ngóng tin thơ
Tiếng con chim khách líu lo bên hè
Sóng Tùng thoảng ngọn gió quê
Khiến ai nhớ gỏi cá mè, bỏ quan
Nước non xa mấy dặm ngàn
Hồi hương trước phải đi ngang kinh thành
Quẩn quanh cái mộng thanh bình
Về nơi cửa trúc mộng mình mình mang.

Tác giả: Đào Tấn, Vũ Ngọc Liễn;
Nguồn trích: Sông Hương.- 1984.- Số 6.- Tr. 87 - 90 (1.404);
KHPL: BĐ.04(91) TV Bình Định
Đăng nhập để trả lời
0

Đào Tấn - Một danh nhân kiệt xuất


(Bài phát biểu tại lễ kỷ niệm 150 năm ngày sinh danh nhân Đào Tấn tại Hà Nội)
Từ trước tới nay Đảng và Bác Hồ rất quan tâm tới các nghệ sĩ tiền bối, những nghệ sĩ tài năng đã sáng tạo và để lại cho nhân dân ta những di sản quý báu, trong đó có Đào Tấn, nhà thơ, nhà soạn tuồng, nhà nghệ sĩ xuất sắc của thế kỷ 19.

Đào Tấn tự là Chỉ Trúc, hiệu Mộng Mai, Mai Tăng sinh ngày 27 tháng 2 năm Ất tỵ tức ngày 3 - 4 - 1845 ở Vinh Thạnh, Tuy Phước, Bình Định. Từ thuở nhỏ, đã yêu hát tuồng và đã thụ giáo cụ Tú Nhơn Ân (Nguyễn Văn Diêu) một nhà Nho đã sáng tác những vở tuồng nổi tiếng như Ngũ hổ Bình Tây, Võ Tam Tư chém cáo và đào tạo nhiều nghệ sĩ tuồng xuất sắc. Năm 1860 Đào Tấn thi đỗ Cử nhân và 3 năm sau được bổ nhiệm làm quan ở Huế.

Trong cuộc đời quan trường của mình, Đào Tấn đã có dịp quan hệ với nhiều nhà yêu nước Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu; từng bày tỏ thái độ với lệnh của triều đình đàn áp Cần Vương, dẹp nghĩa quân Phan Đình Phùng, từng bày tỏ nỗi bất bình với bọn phản dân hại nước lúc thực dân Pháp xâm chiếm Hà Nội, nên có lúc bị triều đình giáng 4 cấp - Tuy sau này giữ đến chức Thượng thư bộ lại, nhưng trước âm mưu của bọn quyền thần, cụ Đào Tấn đành xin về trí sĩ năm 1904 và mất năm 1907.

Như chúng ta đã biết, nghệ thuật tuồng đã ra đời rất sớm. Vào đầu thế kỷ thứ 18 đã có nhiều tác phẩm lớn như Sơn Hậu, Tam nữ đồ vương, Đào Phi Phụng v.v... mặc dù những vở tuồng này không có lý lịch xuất xứ, không mang tên họ tác giả và nghệ sĩ biểu diễn. Điều đó nói lên rằng những thế kỷ trước Đào Tấn, nghệ thuật tuồng mới định hình chưa thành tổ chức mang tính chuyên nghiệp hoàn chỉnh. Chỉ đến thời kỳ Đào Tấn mới xuất hiện các tổ chức như "Ban Hiệu thư" (Tổ chức sáng tác ở triều đình Huế), như trường đào tạo diễn viên "Học bộ đình" ở Bình Định. Các tổ chức này đều do Đào Tấn lập ra và đã đào tạo ra rất nhiều tài năng cho đất nước. Từ những trung tâm nghệ thuật này, Đào Tấn đã nâng nghệ thuật tuồng từ hình thức không chuyên nghiệp, nửa chuyên nghiệp lên chuyên nghiệp. Cũng có thể nói Đào Tấn là người đưa nghệ thuật tuồng từ sân đình vào nhà hát, vào cung đình, nhưng sau đó lại đưa nghệ thuật tuồng từ cung đình trở lại dân gian, sau khi đã nâng lên thành nghệ thuật cổ điển và bác học.

Đến thời kỳ Đào Tấn đội ngũ sáng tác tuồng và biểu diễn đã khá đông. Hàng trăm vở tuồng hay nối tiếp nhau xuất hiện, trong đó có tới gần 30 vở của Đào Tấn, mà đến hôm nay chúng ta chiêm ngưỡng nó như những viên ngọc quý, như: Hộ sanh đàn, Trầm Hương Các, Diễn vô đình, khuê các anh hùng, Quan Công hồi cổ thành, Hoàng Phi Hổ quá giới bài quan v. v ... và cao hơn là những vở tuồng dài tới 100 hồi, diễn ngót 100 đêm như Vạn bửu trình tường, Quần Trân hiếu thuỵ, với kết cấu kịch liên hoàn hấp dẫn, văn chương trau chuốt, nhân vật sống động.

Mặc dù đa số kịch bản tuồng của Đào Tấn đều mượn từ các truyện cổ của Trung Quốc, do chế độ kiểm duyệt vô cùng hà khắc của triều đình nhà Nguyễn và do cái thế khó nói của một vị đại thần đang ở giữa vòng vây của thực dân pháp và bọn vua quan phản động, nhưng qua lăng kính tiến bộ của Đào Tấn, qua ý đồ phản ánh hiện thực rất khéo léo với ngôn ngữ sinh động, Đào Tấn đã Việt Nam hoá những câu chuyện nước ngoài một cách tài tình, không chỉ đổi tên nhân vật, như Kỷ Lan Anh thành Trần Thị Lan Anh, Tiết Nghĩa thành Tiết Bất Nghĩa (Tuồng Hộ sanh đàn) mà còn biến chúng thành những nhân vật như có thật trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, thông qua đó mà biểu dương nhân nghĩa, lòng yêu nước, yêu dân, phê phán mạnh mẽ bọn nịnh thần, đạo đức xấu của vua quan phong kiến, phác hoạ nên những tính cách và đề cao những con người thẳng thắn, trung thực, những người hùng có nghĩa khí, sẵn sàng hy sinh tính mệnh của mình cho sự nghiệp cao cả đồng thời biếm hoạ, đả kích không thương tiếc bọn quan lại hèn nhác, Ngu trung, chạy theo lợi danh, làm nên bao nhiêu việc bỉ ổi, nhục nhã. Nói đến Đào Tấn ta lại nhớ đến Nguyễn Du đã sáng tạo "Kim Vân Kiều truyện" thành Tuyện Kiều. Và Xếchxpia đã biến những truyện nước ngoài thành những truyện bất hủ của nước Anh. Một điều ta chưa thể kết luận chính xác, song đối chiếu với thực tiễn Việt Nam, phải chăng, Đào Tấn đã vẽ chân dung, lý lịch của tên phản bội Tạ Kim Hùng (Tuồng Khuê các anh hùng) hoặc tên Tiết Bất Nghĩa (Tuồng Hộ sanh đàn) có nhiều nét như lý lịch và tính cách của tên ôm gót thực dân pháp Nguyễn Thân. Phải chăng hình dáng, bản chất của vua Trụ trong tuồng Trầm Hương Các có nhưng nét phảng phất sinh hoạt, tính cách của vài vị vua xấu trong triều Nguyễn. Phải chăng hình tượng của Triệu khánh Sanh (trong tuồng Diễn vô đình), vai Tiết Cương (tuồng Hộ sanh đàn) gợi nên hình ảnh của những nghĩa sĩ Cần Vương đầy dũng khí chống giặc nhưng luôn luôn bị lưới thù vây hãm, bắt bớ. Chính vì vậy mà xem tuồng Đào Tấn, khán giả Việt Nam như đồng tình, đồng cảm và khâm phục trước những hành động cao cả của những nhân vật anh hùng, nghĩa sĩ, những người ái quốc, trung quân.

Có thể nói, hiện thực xã hội Việt Nam trong cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 đã được nhà thơ yêu nước, nhà viết kịch thiên tài Đào Tấn phản ánh trong các tác phẩm của ông. Xem tuồng của ông, đọc văn, thơ của ông, càng thấy rõ tuy phải ra làm quan nhưng ông không hề tiếp tay cho thực dân pháp và triều đình đàn áp phong trào yêu nước, trái lại còn tìm cách giúp đỡ các phong trào đó. Càng thấy rõ tư tưởng yêu nước, yêu đồng bào của ông, đồng thời cũng thấy rõ bộ mặt của bọn vua quan phản động lúc bấy giờ. Rõ ràng, tác phẩm của ông không những đã sáng tạo nên những hình tượng điển hình sâu sắc, giàu giá trị hiện thực, nhân văn mà còn có giá trị văn học rất cao trong văn thơ và trong kịch bản tuồng.

Có thể nói, trong lịch sử tuồng Việt Nam, Đào Tấn là tác giả viết nhiều nhất và cũng thành công nhất, tạo nên một bước nhảy vọt của văn học tuồng. Vì vậy, vị trí của ông rất lớn trong toàn bộ sự nghiệp sân khấu dân tộc. Đào Tấn còn là nhà đạo diễn, người đào tạo diễn viên xuất sắc. Thời trước ông, chưa có diễn viên tài ba như Đội Hiệp, Cửu Khi, Bát Phàn, Quản ca Trường, Cai Tám, Chánh ca Hoạ, Chánh ca Nghiêm...

Ngày nay các thế hệ diễn viên tuồng khi được tuyển vào các đoàn và các trường đào tạo tuồng đều phải học các vai mẫu mà Đào Tấn dã dựng lên cách đây trên dưới trăm năm, từ kép, đến đào, mụ, tướng, lão v. v...

Đào Tấn cũng là người có công trong việc hoàn thiện về âm nhạc tuồng với việc nâng tuồng nói lối (tuồng cổ) lên các thể hát nam, hát khách, hát tẩu mã vv... Ông còn là người đã soạn ra 40 "Nhạc chương khúc điệu" quan trọng trong âm nhạc tuồng, trong đó đặc sắc nhất là : "Gia ban khấu", "gia ban thán", "Gia ban cửu", bài "Lý hồ nô" v.v... Ông còn là người cách tân nghệ thuật tuồng, vừa giữ vững nguyên tắc cổ điển của dân tộc, vừa làm cho nó luôn luôn được đổi mới. ông là người đầu tiên hệ thống hoá toàn bộ vấn đề mỹ thuật sân khấu tuồng từ phục trang, hoá trang, trang trí và đạo cụ biểu diễn. Các binh khí, đạo cụ khác nhau trong tuồng cũng được Đào Tấn khai thác từ võ thuật dân tộc và nâng lên thành nghệ thuật. Do đó các thế hệ diễn viên theo trường phái Đào Tấn đều thành thạo nhiều mặt từ diễn xuất, trang phục, sử dụng võ thuật và kỷ xảo biểu diễn tuồng.

Về mặt lý luận sân khấu, Đào Tấn cũng là người đầu tiên với những luận điểm sâu sắc và tiến bộ, được thể hiện trong tập Hý trường tuỳ bút mà tỉnh Nghĩa Bình đã sưu tầm và xuất bản trước đây hơn 10 năm. Do đó không phải ngẫu nhiên mà từ lâu ngành tuồng trong cả nước đã suy tôn Đào Tấn là bậc "hậu tổ".

Sinh thời Bác Hồ kính yêu của chúng ta rất thích xem tuồng của Đào Tấn. Đồng chí Phạm Văn Đồng cũng thường về thăm Nhà hát tuồng Đào Tấn, xem tuồng của Đào Tấn và luôn luôn nhắc nhở cán bộ Nghĩa Bình phải quan tâm khai thác, học tập, tiếp thu di sản quý báu của Đào Tấn, xây dựng bảo tàng Đào Tấn. Để thể hiện tấm lòng tôn kính đối với vị "hậu tổ" của mình, trong những năm gần đây, nhà hát tuồng Khánh Hoà đã thể hiện thành công hình tượng và tư tưởng của danh nhân Đào Tấn trong vở Thanh gươm hát bội (1). Nhà hát tuồng Đào Tấn cũng đã có vở Hồn tuồng (2) và nhiều bài hát, nhiều đoàn tuồng cả nước đã phục hồi được nhiều vở tuồng hay của Đào Tấn... Những hội nghị khoa học về Đào Tấn cũng đã tiến hành ở Nghĩa Bình, ở Hà Nội và đã phát hiện được nhiều tư liệu quý, nhiều bài học quý về sáng tạo nghệ thuật của Đào Tấn.

Phải nói hoạt động văn học nghệ thuật của Đào Tấn rất phong phú và đa dạng. Ông đã để lại cho đời những di sản tuồng đồ sộ, những giá trị văn hoá mà ngày nay ta chưa có dịp sưu tầm, nghiên cứu và phát triển một cách đầy đủ và hoàn chỉnh.

Vì vậy, theo chúng tôi, việc khai thác các di sản quí báu của danh nhân Đào Tấn cần phải được tiếp tục làm nhiều hơn nữa. Những vở tuồng hay của Đào Tấn cần được phục hồi và phổ biến rộng rãi trong nhân dân, mặt khác cũng phải từng bước giới thiệu ra thế giới để nhân dân thế giới đợc thưởng thức tác phẩm hay của Đào Tấn, như chúng ta được thưởng thức những sáng tạo của Xếchxpia, của Môlie, của Tchékôp v. v... Và quan trọng hơn nữa là phải đưa những tác phẩm văn thơ, kịch bản và vở diễn của Đào Tấn vào chương trình giảng dạy ở các trường văn học nghệ thuật, trong các trường Đại học và phổ thông để sinh viên, học sinh dần dần tiếp thu được tinh hoa của văn nghệ dân tộc. Đây cũng là một hình thức, một cách thức chấn hưng văn hoá dân tộc, là trách nhiệm của những người hoạt động văn hoá, văn nghệ và sân khấu ngày nay.

Thưa các vị đại biểu, hôm nay, chúng ta vô cùng tự hào kỷ niệm 150 ngày sinh của Đào Tấn, một danh nhân kiệt xuất, một nghệ sĩ sân khấu toàn diện trong lịch sử sân khấu Việt Nam, người đã nâng cao và hoàn thiện những nền móng cho bộ môn tuồng, một di sản văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc. Tưởng nhớ đến con người đã cống hiến đời mình cho sự nghiệp phát triển nền văn hoá dân tộc, chúng ta kính cẩn dâng lên ông những lời tri ân sâu sắc và kính trọng của những thế hệ tiếp nối và nguyện tiếp bước ông, đóng góp hết sức mình cho sự nghiệp phát triển nghệ thuật tuồng Việt Nam nói riêng và sự nghiệp văn học nghệ thuật nói chung, phụng sự tổ quốc, nhân dân và chủ nghĩa xã hội./.

---------
(1) Tác giả: Mịch Quang; Đạo diễn: Hoàng Chương
(2) Tác giả: Lê Duy Hạnh; Đạo diễn: Hoàng Ngọc Bình

Tác giả: Đặng Hiếu Trưng;
Nguồn trích: Phương Mai.- 1995.- Số 8.- Tr. 6 (647);
KHPL: BĐ.04(91) Thư viện Bình Định
Đăng nhập để trả lời
0

Cõi Phật trong thơ Đào Tấn

Nếu có một cõi Phật trong thơ Đào Tấn, thì đó cũng là cõi trần mà thôi. Đào Tấn có bài Tự Phật - nghĩa là Phật ở mình - Phật tự ta, và lại có hai câu thơ trong bài Tặng Tăng: “Một mình ngồi ở cửa quan khốn khổ không việc gì làm - bèn đem trà núi tặng sư núi, buồn cười thật”. Vậy là thấp thoáng trong ông quan Đào Tấn, đã thấy ông sư. Có điều, ông sư đây không tu ở chùa, mà tu tại gia, tu tại tâm, tu chính trong nụ cười của mình, phảng phất nụ cười vô vi của Phật Di Lặc: “Việc xưa nay xếp an bài cả- Dâu biển, phù vân, cười như không”. Cảm được cái “nhất tiếu không” như một công án của Di Lặc, Đào Tấn đã như đạt đạo. Có điều, ông không hé lộ nhiều về khả năng tham thiền của mình, không tự nhận mình đạt đạo. Ông chỉ viết những bài thơ đượm mùi thiền này như một đối tượng với những phiền lụy tuế toái của một đời làm quan. Và về thi pháp, có thể coi phần thơ thiền này như một phía khác với những lời thơ bi hùng trong các vở tuồng nổi tiếng của Đào Tấn.

Là nhà thơ dù ở thời nào, đều có những khoảng lặng, đều có “lòng giếng” riêng trong tâm hồn mình như Nguyễn Du từng viết. Cái tâm “lặng như đáy giếng” ấy đã có trong ông quan Đào Tấn ngay từ lúc ông “đại ẩn” - ở ẩn giữa chốn quan trường. Một ông quan đầu tỉnh, một ông thượng thư trong triều mà chỉ đau đáu nghĩ về những nhân vật tuồng của mình, về những vở tuồng và những bài thơ nhỏ của mình, đó chẳng là điều lạ sao? Thiếu gì nhà thơ, khi đã “bén mùi” quan, đã vùng vẫy trong chốn quan trường, đều hốt nhiên quên… thơ, hoặc coi thơ chỉ còn là những trò thù tạc, hay là những câu giảng giải đạo lý, những khẩu hiệu ghép vần (?) Đào Tấn làm quan đến mấy chục năm, mà tác phẩm tuồng của ông có thể diễn liền mấy chục đêm không hết, mà những bài thơ của ông còn lưu truyền lại hàng trăm năm sau, đủ biết ông quan này không phải “quan chay” cũng không phải kiểu “quan văn nghệ”, mà chỉ là anh nghệ sĩ là nhà thơ đội lốt… “quan”, mượn chốn quan trường để hành nghề… văn nghệ. Và sống chết vì một vở tuồng, một tập thơ. Phần thơ tạm gọi là “thơ thiền” trong toàn bộ tác phẩm thơ Đào Tấn không nhiều.

Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn đã cẩn trọng chọn ra được 13 bài, trong đó có bài như “Hoa Triêu dạ dữ nội hữu Diêu Tiên khanh du Diệc Cổ tự” chỉ là một cảm thức thời gian man mác, khi “Hai kẻ thanh xuân giờ đây đầu đều đã bạc”. Không biết về sau cụ Phan Khôi có được gợi hứng từ bài này cho bài thơ được coi là mở đầu phong trào thơ Mới, bài Tình già: “Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa….”. Bài thơ của Đào Tấn thì viết: “Hai mươi bốn năm trước cũng đêm nay chúng ta cùng dạo chơi…”. Cái có thể gọi là Cõi Phật trong thơ Đào Tấn nhiều khi chỉ là cõi hoài niệm, và nhà thơ không hề quên mình là khách giang hồ đã mấy mươi năm chưa có dịp quay về ngôi chùa cũ. Hoài niệm ấy có khi là hình ảnh một bậc tiền bối, một ông quan ngất ngưởng cưỡi bò vàng mà có lẽ Đào tiên sinh hết sức ngưỡng mộ nhà thơ Nguyễn Công Trứ:

Khách cưỡi bò vàng nay khuất bóng
Ai người với núi hẹn tao phùng

(Yến Lan dịch thơ)

Trong nguyên tác, Đào Tấn đã gọi thi sĩ họ Nguyễn này là “Hoàng độc thi nhân” - tức nhà thơ cưỡi bò vàng, với cốt cách và không khí hư hư thực thực như Lão Đam cưỡi trâu trong truyền thuyết. Và mơ hồ trong những bài thơ thiền là cái phong vị riêng của Đào Tấn. Không phải cõi Phật mơ hồ, mà vì mơ hồ vốn là bản chất của thơ. Đào thi sĩ đã dồn thi lực cho những bài thơ tứ tuyệt xinh nhỏ, và trong những bài tứ tuyệt ấy, ông lại dồn cho hai câu kết sức nặng của sự lơ ngơ, của cái rỗng không, của “vô vi chi đạo”.

Cười đáp: “Bên trong có tảng băng,

Chẳng ăn chi cả, toàn rỗng tuếch”

(Xuân Diệu dịch, bài Tự Phật)

Cái “rỗng tuếch” (không không) ở đây hoàn toàn khác với cái “rỗng tuếch” của những anh “lỏng chữ” hay “loãng tâm hồn”. Ngược lại, nó là cái rỗng không của khoảng trắng giữa hai dòng thơ, phần để trắng của bức tranh thủy mặc, cái rỗng không của bầu trời chan chứa… Thơ Đào Tấn đã có những bài tứ tuyệt tinh tế, nhưng hơn cả tinh tế, ông còn có những bài thơ tự nhiên nhi nhiên, những bài thơ khinh khoái như thể gió viết nắng làm cây lưu đá giữ: “Khối đá im lìm nằm giữ lấy chuông hư” (Vô ngôn ngọa thạch thủ tàn chung), một câu thơ ở vào hàng tuyệt bút. Cứ đi vào “Cõi Phật” trong chùm thơ Đào Tấn, người ta lại gặp… Cõi người với đầy những xúc cảm miên man, đứt nối của nhân duyên, của phận người. Có thể nói Đào Tấn chưa một ngày thoát khỏi cái “cõi tục” mà ông đã lựa chọn hay bị lựa chọn. Nhà thơ ấy không từ chối những hệ lụy của phận người, nhưng luôn biết vượt lên để nhìn lại, vượt lên để nhìn từ trên cao những hệ lụy ấy:

Một trăm lẻ tám tiếng chuông
Nỗi đau nhân thế đau từng đọt cây.

(Vũ Ngọc Liễn dịch, bài Vô đề)

Đọc lại câu thơ nguyên tác, rồi đọc câu thơ dịch lục bát, thầm cảm ơn người dịch thơ đã thấu hiểu lòng Đào Tấn: 108 tiếng chuông trong cõi Phật kia liệu có đối trị, có giải thoát được 108 sự phiền não, 108 nỗi đau trong thế gian này? Hay khi những tiếng chuông buông nỗi đau lại như được nhắc lại, được mở vào một không gian xa hơn, bao trùm hơn? Cứ như những bài thơ ngắn này mà xét, Đào Tấn cũng đủ thi lực để được người đời công nhận là một nhà thơ lớn. Nhưng dường như Đào tiên sinh không mấy quan tâm đến sự công nhận này. Ông cứ bình thản với thơ mình, bình thản với phận mình. Đời làm quan có thể sướng, có thể khổ, có thể vinh, có thể nhục. Đào Tấn đã không thể từ chối cái “phận làm quan”, nhưng ông cũng không từ chối số phận làm một nhà thơ, dẫu số phận ấy đầy bất trắc. Hiến mình cho những vở tuồng, cho những nhân vật mình sáng tạo, cho những câu thơ mình chợt viết trong đêm, Đào Tấn đã tự mình tạo cho mình một cõi. Đó không phải cõi Phật, chẳng phải cõi trần hay cõi… quan, đó là cõi… văn nghệ, cõi thơ. Đã vào cõi ấy tức là đã thiền, một cách tự nhiên, một cách dễ dàng.

Sư Mai Nam quốc lõi tham thiền
Tương nhạt dưa suông đặt yến diên

Say khướt, mũ sen rơi xuống đất

Các cô gái nấp rũ cười điên.

(Tặng Mai Tăng - Đỗ Văn Hỷ dịch thơ)

Đây là bài thơ tự trào của một người luôn tỉnh táo trước các chức danh, dù đó là chức danh thượng thư hay chức danh cao tăng. Nghĩ cho cùng, quên được cái danh của mình cũng khó, nhưng khi quên được rồi thì cái thực mới hiện ra!.
Đăng nhập để trả lời
0