(trang 126 -trang 147)
35
Lúc bảy rưỡi sáng, Rôlinh thức giấc như thường lệ ở phố Xenna, trong chiếc giường của hoàng đế Napôlêông. Mắt vẫn nhắm, y lấy chiếc khăn tay ở dưới gối và hỉ mũi.
Quả thật Rôlinh chưa hoàn toàn tỉnh táo nhưng đã làm chủ được các suy nghĩ và ý chí của mình, y ném chiếc khăn tay xuống thảm, ngồi dậy giữa đống gối lụa và nhìn quanh. Chiếc giường trống trải, trong phòng cũng trống trải.
Rôlinh ấn chuông, cô hầu phòng của Dôia xuất hiện. Không nhìn vào mặt cô ta, Rôlinh hỏi:
- Bà đâu?
Cô hầu phòng nhún vai, quay đầu hết phía này đến phía khác như con cú. Rồi cô ta nhón chân đi vào buồng vệ sinh, từ đó vội vã chạy sang phòng để quần áo, đóng sập cửa buồng tắm lại và xuất hiện trong phòng ngủ. Những ngón tay cô ta đặt hai bên chiếc tạp dề đăng ten run rẩy:
- Con không thấy bà ở đâu cả.
- Dọn cà phê lên, - Rôlinh ra lệnh.
Y tự mình xả nước đầy bồn tắm, tự mình mặc quần áo, tự mình rót cà phê. Trong lúc đó, khắp nhà lặng lẽ đầy kinh hoàng - ai cũng nhón chân, nói năng thầm thì. Khi ra khỏi khách sạn, y lấy khuỷu tay hích người gác cổng đang hốt hoảng lao đến mở cửa. Y đến văn phòng chậm mất hai mươi phút.
Sáng hôm đó, ở đại lộ Mandéc như tỏa mùi thuốc súng. Trên mặt viên thư ký hiện rõ vẻ nhẫn nhục. Từ chiếc cửa gỗ hồ đào bước ra, người khách nào cũng nhăn nhó mặt mày. Họ thì thầm cho biết: “Ngài Rôlinh hôm nay không được vui”. Đúng một giờ, Rôlinh nhìn đồng hồ treo tường và bẻ gẫy chiếc bút chì. Rõ ràng là Dôia không đến đón y đi ăn trưa. Y chùng chình cho đến một giờ mười lăm. Trong vòng mười lăm phút khủng khiếp này, trên mái tóc chải bóng lộn của viên thư ký xuất hiện vài sợi bạc. Rôlinh đành một mình đi ăn.Y đến hiệu “Griphông” như thường lệ.
Chủ hiệu ăn - ông Griphông - là một người đàn ông cao lớn, béo tốt, trước đây là đầu bếp và mở một quán bia nhỏ, nay là cố vấn về Đại Nghệ thuật Khẩu vị và Tiêu hóa. Ông ta đón Rôlinh bằng một cái vung tay hùng dũng. Áo đuôi tôm màu xám sẫm, bộ râu kiểu Átxiri chải mượt, vầng trán đầy vẻ cao quí, ông ta đứng giữa căn phòng nhỏ của hiệu ăn, tì một tay vào chiếc bệ bằng bạc, có cấu tạo đặc biệt, trông tựa như bàn thờ, bên dưới cái nắp vồng lên của nó là món ăn nóng hổi đang sủi sùng sục - đó là món thịt hông cừu hầm đỗ.
Ngồi trên những chiếc đi văng bằng da đỏ kê dọc theo bốn bức tường, sau những chiếc bàn hẹp liền khối, là đám khách thường xuyên thuộc thế giới doanh nghiệp của các Siêu Đại lộ, phụ nữ chỉ chiếm một số nhỏ. Khoảng giữa phòng để không, trừ khối bạc trông tựa bàn thờ kia. Ông chủ hiệu luôn luôn quay đầu để có thể nhìn thấy quá trình cảm nhận bằng vị giác của từng thực khách. Một cái nhăn mặt bực bội nhỏ nhất cũng không thoát khỏi mắt ông ta. Hơn thế nữa, ông ta còn thấy được nhiều thứ: những quá trình bí ẩn tiết các chất dịch, hoạt động xoáy ốc của dạ dày và toàn bộ tâm lý ăn uống dựa trên hồi ức về một món gì đó đã từng ăn, trên những linh cảm và sự tiếp máu đến các bộ phận khác nhau của thân thể - tất cả những cái đó đối với ông ta là một cuốn sách mở.
Ông ta thường bước lại gần với vẻ mặt nghiêm nghị và đồng thời lại rất ân cần, chu đáo, vừa nói bằng một giọng âu yếm bộc trực đến mê hồn: “Thưa ngài, khí sắc ngài hôm nay cần một ly rượu ngọt
made và một thứ
pui thật tinh khiết. Ngài có thể đưa tôi lên giá treo cổ cũng được, nhưng tôi sẽ không cho ngài một giọt rượu vang nào đâu. Sò này, một ít cá chim hoa ninh dừ này, cánh gà tơ này và vài lát măng tây nữa - thực đơn ấy sẽ đem lại sức khỏe cho ngài”. Trong trường hợp ấy thì chỉ có gã Patagôn
[1] chuyên ăn chuột nước mới không thể khăng khăng phản đối thôi.
Trái hẳn dự đoán của nhiều người, ông Griphông không chạy đến chỗ ông vua hóa học với vẻ quỵ lụy. Không, ở đây, tại Viện hàn lâm Tiêu hóa này, bậc tỷ phú và viên kế toán quèn, người dúi chiếc ô ướt sũng cho nhân viên gác cổng cũng như người vừa thở phì phì vừa ra khỏi chiếc Rônxơ Rôixơ sực nức mùi xì gà La Habana - tất cả đều trả cùng một giá. Ông Griphông là một người cộng hòa và là một nhà triết học. Ông ta mỉm cười độ lượng đưa cho Rôlinh tờ thực đơn và khuyên nên lấy dưa bở cho món thứ nhất, tôm hùm trộn nấm cho món thứ hai và thịt hông cừu. Rượu thì ngài Rôlinh không uống về ban ngày, cái đó ai cũng biết.
- Một ly
uýtxki pha
xôđa và một chai sâm banh ướp lạnh - Rôlinh rít răng nói.
Ông Griphông lùi lại, mắt thoáng lộ vẻ sửng sốt, sợ hãi và khinh bỉ: người khách này bắt đầu bằng rượu trắng là thứ rượu làm tê liệt những chấm vị giác trên lưỡi và rồi lại tiếp tục bằng sâm banh là thứ rượu làm dạ dày phồng lên. Nhưng mắt ông Griphông lập tức dịu đi, ông ta kính cẩn kính cẩn cúi đầu: khách hôm nay không được tươi tỉnh, ta đành dung hòa vậy.
Sau cốc
uýtxki thứ ba, Rôlinh bắt đầu vò nát tấm khăn ăn. Với một tâm trạng như vậy thì kẻ nào đứng ở bậc thang xã hội dưới cùng, chẳng hạn như Gaxtông Mỏ Vịt, chắc chắn sẽ tìm bằng được Dôia trước chập tối để cho ả một lưỡi dao vào hông. Nhưng Rôlinh thích hợp với những biện pháp khác. Trong óc Rôlinh, trong làn hơi
uýtxki vàng vàng, những ý nghĩ trả thù hết sức tinh tế, bệnh hoạn, nẩy sinh ra, đan chéo nhau và uốn lượn. Mãi tới lúc này, y mới hiểu Dôia có giá trị như thế nào đối với y. Y đau khổ, bấm móng tay vào tấm khăn ăn.
Người hầu dọn đi đĩa thức ăn còn nguyên rồi rót sâm banh. Rôlinh vồ lấy ly rượu rồi uống ừng ực - mấy chiếc răng vàng của y chạm lanh canh vào thành ly. Đúng lúc đó, Xêmiônốp từ ngoài phố chạy nhanh vào hiệu ăn và trông thấy Rôlinh. Gã bỏ mũ, cúi người qua bàn, thầm thì:
- Ngài đọc báo rồi chứ?... Tôi vừa ở chỗ nhà xác… Đúng là hắn… Chúng tôi không có liên quan gì hết… Tôi xin thề như vậy… Người ta xác định là vụ giết người xảy ra trong khoảng từ ba đến bốn giờ sáng… đó là báo chí nói như vậy…
Trước mắt Rôlinh nhảy nhót một khuôn mặt xám xịt… méo xệch đi. Những người ngồi bên cạnh quay đầu lại. Người hầu đem ghế đến cho Xêmiônốp.
- Cút đi cho rảnh mắt, - Rôlinh nói qua làn hơi uýtxki - Anh làm tôi ăn mất ngon…
- Xin lỗi ngài… Tôi sẽ đợi ngài trong xe ở góc phố…
36
Vào những ngày đó, báo chí Pari lặng lẽ như mặt nước hồ trong rừng. Các nhà tư sản vừa ngáp dài vừa đọ những bài xã thuyết về văn học, những bài châm biếm về các vở diễn ở nhà hát, những tin vặt về cuộc đời giới nghệ sĩ.
Bằng vẻ bình lặng thờ ơ đó, báo chí chuẩn bị cho cuộc tiến công dữ dội vào ví tiền của giới tư sản bậc trung.
Côngxoócxiom hóa chất của Rôlinh, sau khi tổ chức xong và tiêu diệt xong các đối thủ nhỏ bé, đang chuẩn bị một chiến dịch lớn nhằm nâng giá. Báo chí bị mua chuộc, các nhà báo được trang bị những hiểu biết cần thiết về công nghiệp hóa học. Những tài liệu chấn động được chuẩn bị sẵn cho các chính trị gia khoái xông lên hàng đầu. Hai ba cái bạt tai, hai ba trận quyết đấu đã loại bỏ những kẻ ngốc nghếch định bép xép những điều không phù hợp với kế hoạch chung của
Côngxoócxiom.
Ở Pari đã đến thời kỳ sóng yên gió lặng. Số lượng báo chí phát hành hơi giảm sút. Bởi vậy, vụ giết người ở số nhà sáu mươi ba phố Gôbêlênốp quả là một của quý.
Sáng hôm sau, toàn bộ bảy mươi lăm tờ nhật báo đều đăng những hàng tít lớn về “vụ giết người bí ẩn và khủng khiếp”. Không xác định được người bị giết là ai - giấy tờ đều bị đánh cắp - và tên đăng ký ở khách sạn rõ ràng là tên giả. Hình như vụ giết người không phải nhằm mục đích cướp bóc, vì tiền bạc và tư trang bằng vàng còn nguyên trong người kẻ bị giết. Cũng khó dự đoán một sự trả thù - căn phòng số mười một có dấu vết của một cuộc lục soát kỹ lưỡng. Bí mật, tất cả đều nằm trong màn bí mật.
Những tờ báo ra lúc hai giờ chiều thông báo một chi tiết làm chấn động dư luận: trong căn phòng bất hạnh kia, người ta tìm thấy một chiếc trâm cài đầu của phụ nữ bằng mai rùa có đính năm hạt kim cương lớn. Ngoài ra, trên sàn đầy bụi còn phát hiện thấy dấu giày phụ nữ. Chiếc trâm cài đầu này khiến cả Pari rùng mình. Kẻ sát nhân hóa ra là một phụ nữ giàu sang. Một mệnh phụ quí tộc ư? Bí mật… Toàn là bí mật…
Những tờ báo ra bốn giờ chiều dành các trang báo của mình cho các cuộc phỏng vấn những phụ nữ nổi tiếng nhất Pari.
Tóm lại, trong khắp Pari, chỉ có một mình Rôlinh đang ngồi ở hiệu ăn Gripphông là không hay biết gì về biến cố ở phố Gôbêlênốp. Y đang rất bực tức và cố tình bắt Xêmiônốp phải đợi trong tắcxi. Cuối cùng, y xuất hiện ở góc phố, lặng lẽ chui vào xe và ra lệnh đưa y đến nhà xác. Dọc đường, Xêmiônốp vừa vung tay vừa kể cho y nghe nội dung các tờ báo.
Khi nhắc đến chiếc trâm đính năm hạt kim cương, ngón tay Rôlinh run run trên đầu can. Đến nhà xác, y bỗng rướn mình về phía người lái xe, định ra lệnh quay xe lại, nhưng y kìm được, chỉ thở phì phì một cách dữ dội.
Tại cửa nhà xác, cả một đám đông đang chen lấn nhau. Những phụ nữ mặc áo lông đắt tiền, những nữ nhân viên bán hàng mũi hếch, những kẻ đáng ngờ từ ngoại ô kéo vào, những bà quản gia tò mò choàng áo lên ngắn, những phóng viên săn tin vịt, mũi đẫm mồ hôi và cổ áo nhàu nát, - tất cả đều ra sức len vào nhìn kẻ bị giết mặc chiếc áo sơ mi rách nát, chân không giày không tất, nằm trên tấm đá thoai thoải, đầu quay về phía cửa sổ tầng hầm.
Đặc biệt khủng khiếp là hai bàn chân không giày không tất của tử thi - to lớn, tim tím, móng chân để dài. Bộ mặt vàng bủng “bị nhăn nhúm vì kinh hoàng”. Bộ râu vểnh lên.
Xêmiônốp mở đường cho Rôlinh. Gã len lỏi như con rắn qua đám đông để lại gần tử thi. Rôlinh nhìn chằm chằm vào mặt kẻ bị giết, quan sát chừng một giây. Mắt y nhíu lại, chiếc mũi to tướng hằn những nếp nhăn, mấy chiếc răng bọc vàng lấp lánh.
- Thưa ngài, thế nào ạ? Có đúng hắn không? - Xêmiônốp thầm thì hỏi.
Lần này thì Rôlinh trả lời gã:
- Lại kẻ giống hệt hắn.
Rôlinh vừa nói xong câu này thì từ sau vai y, một chiếc đầu có bộ tóc vàng nhạt bỗng xuất hiện, nhìn nhìn vào mắt y như chụp ảnh rồi biến mất trong đám đông.
Đó là Senga.
37
Bỏ Xêmiônốp lại nhà xác, Rôlinh đáp xe đến phố Xenna. Mọi thứ ở đây vẫn như cũ, vẫn là không khí lặng lẽ đầy kinh hoàng.
Rôlinh giam mình trong phòng ngủ, vừa đi đi lại lại trên thảm vừa quan sát mũi giày. Y dừng lại bên chiếc giường y thường nằm ngủ. Y xoa trán, nhắm mắt. Và y chợt nhớ ra điều đã dằn vặt y suốt ngày…
“…Rôlinh, Rôlinh… Chúng ta chết mất…”
Đó chính là giọng Dôia nói bằng một giọng khẽ, tuyệt vọng. Đêm qua, giữa chừng câu chuyện thì y đột nhiên ngủ thiếp đi. Giọng Dôia không đánh thức y, không đi đến tiềm thức y. Giờ đây, những lời tuyệt vọng ấy vang lên rành rọt trong tai y.
Rôlinh nhảy vọt lên như lò xo… Y lần lượt nhớ lại: cơn ngất lạ lùng của Garin tại đại lộ Mandéc, nỗi xúc động của Dôia trong quán “Bữa ăn của Vua”, những câu hỏi dai dẳng của Dôia, những giấy tờ gì của Rôlinh có thể bị Garin đánh cắp trong phòng làm việc? Rồi đến câu: “…Rôlinh, Rôlinh… Chúng ta chết mất…” Sau đó là việc ả biệt tăm. Rồi xác kẻ giống hệt Garin trong nhà xác. Rồi chuyện chiếc trâm đính kim cương. Đúng là hôm qua - y nhớ rõ - trên mái tóc dày của Dôia lấp lánh năm hạt đá quí.
Trong cả chuỗi biến cố ấy, có một điều rõ ràng. Garin lại dùng đến phương pháp đã được thử thách là bố trí một kẻ giống hệt mình để tránh đòn. Y đánh cắp mảnh giấy có bút tích của Rôlinh để ném vào chỗ xảy ra án mạng và đưa cảnh sát đến đại lộ Mandéc.
Mặc dù rất điềm tĩnh, Rôlinh vẫn cảm thấy lạnh sống lưng… “…Rôlinh, Rôlinh… Chúng ta chết mất…” Tức là Dôia đã dự đoán, đã biết về vụ giết người. Vụ giết người xảy ra trong khoảng ba giờ và bốn giờ sáng. (Cảnh sát ập đến vào lúc bốn rưỡi). Hôm qua, lúc sắp ngủ thiếp đi, Rôlinh nghe thấy đồng hồ điểm một giờ bốn lăm. Đấy là lần cuối cùng y nghe được những tiếng đọng bên ngoài. Sau đó Dôia biến mất. Rõ ràng Dôia vội vã chạy đến phố Gôbêlênốp để thủ tiêu những dấu vết có bút tích của y.
Làm sao Dôia lại biết được chính xác như vậy về vụ giết người sắp xảy ra? Chỉ có một khả năng là chính ả đã đích thân chuẩn bị cho vụ giết người đó. Rôlinh bước lại lò sưởi, chống khuỷu tay lên lớp đá hoa và lấy tay ôm mặt. Nhưng tại sao khi đó Dôia lại hết sức hoảng hốt thầm thì với y: “…Rôlinh, Rôlinh… Chúng ta chết mất…”. Một chuyện gì đó xảy ra ngày hôm qua đã làm đảo lộn các kế hoạch của ả. Song đó là chuyện gì? Và xảy ra vào phút nào?
Có thể giả thiết là ả cần sửa chữa một sai lầm nào đó. Ả có làm được hay không? Garin vẫn sống, bút tích của Rôlinh tạm thời chưa bị phát hiện, kẻ giống hệt Rôlinh bị giết. Những sự việc ấy có lợi hay có hại? Ai là kẻ giết người - kẻ tòng phạm của Dôia hay chính Garin?
Và tại sao, tại sao Dôia lại biến mất? Trong khi lục lọi trí nhớ cái giây phút này - giây phút khủng hoảng trong tâm trạng của Dôia, Rôlinh ra sức huy động trí tưởng tượng vốn quen với một công việc hoàn toàn khác. Đầu óc y như muốn vỡ toang ra. Y cố nhớ lại từng cử chỉ, từng lời lẽ của Dôia, cố nhớ lại toàn bộ thái độ của Dôia ngày hôm qua.
Y cảm thấy là nếu giờ đây, bên cạnh lò sưởi này, mà y không hiểu được toàn bộ câu chuyện đã xảy ra tới tận các chi tiết tỉ mỉ nhất thì đó là thất bại, là thua cuộc, là sụp đổ hết. Chỉ ba ngày nữa là đến cuộc tiến công lớn vào thị trường chứng khoán, chỉ cần tên y bị ràng buộc một cách bóng gió tới vụ giết người là nhất định sẽ xảy ra một vụ tai tiếng ầm ĩ và không thể cứu vãn được tình thế nữa… Đòn giáng vào Rôlinh sẽ là đòn giáng vào hàng tỷ đô la đang duy trì hoạt động của hàng nghìn xí nghiệp ở châu Mỹ, ở Trung Quốc, ở Ấn Độ, ở châu Âu và các thuộc địa châu Phi… Những tuyến đường sắt, những tuyến đường biển, những hầm mỏ, những nhà máy, nhà băng, hàng chục vạn viên chức, hàng triệu công nhân, hàng chục triệu người nắm giữ của cải - tất cả sẽ sững lại, sẽ kêu ken két, sẽ giãy giụa trong cơn kinh hoàng…
Rôlinh rơi vào tình thế của một người không biết dao kề từ phía nào. Mối nguy hiểm ấy quả là mối nguy hiểm chết người. Trí tưởng tượng của y hoạt động dữ dội, dường như mỗi đoạn ý nghĩ trôi qua trong một giây đáng giá tới một triệu đô la.
Cái trạng thái thật sự lạ lùng này của ông vua hóa học bị cắt đứt bởi tiếng hai đế giày chạm vào thảm. (Cửa sổ trông ra công viên của phòng ngủ - ở tầng một - vẫn mở toang). Rôlinh giật nẩy mình. Trong tấm gương trên lò sưởi xuất hiện bóng một người vạm vỡ, ria rậm, trán nhăn lại. Gã cúi đầu và nhìn chằm chằm vào Rôlinh.
- Anh cần gì? - Rôlinh rít lên, không thò tay nổi vào túi quần sau là nơi để khẩu súng
braoninh.
Gã vạm vỡ rõ ràng chỉ chờ như vậy, gã liền nhảy vào sau bức màn cửa và từ đó lại thò đầu ra nhìn Rôlinh.
- Ngài cứ yên tâm. Và đừng có hét lên. Tôi không định giết người hay cướp của đâu, - gã giơ hai tay lên, - tôi đến vì công việc.
- Có công việc gì ở đây được? Nếu có công việc anh hãy đến đại lộ Mandéc, số bốn mươi tám “bê” từ mười một giờ đến một giờ… Anh trèo qua cửa sổ như một gã ăn trộm bất lương ấy.
- Xin lỗi ngài, - gã lạ mặt lịch thiệp đáp. - Tên tôi là Gaxtông. Tôi có huân chương quân đội và cấp bậc tôi là trung sĩ. Tôi không bao giờ là những chuyện vặt vãnh và chưa bao giờ đi ăn trộm. Tôi khuyên ngài nên xin lỗi tôi ngay lập tức, ngài Rôlinh ạ, nếu không chúng ta sẽ không tiếp tục nói chuyện được đâu.
- Cút ngay! - Rôlinh nói, giọng đã bình tĩnh hơn.
- Nếu tôi theo lệnh ngài thì bà Dôia mà chắc hẳn ngài rất quan tâm đến sẽ nguy hiểm đến tính mạng.
Hai má Rôlinh giật giật. Y lập tức bước lại gần Gaxtông. Gã nói tiếp, giọng kính cẩn như phép tắc đòi hỏi khi tiếp xúc với một nhà tỷ phú, nhưng đồng thời lại có phần thân mật suồng sã như khi nói năng với người chồng của tình nhân mình.
- Vây thưa ngài, ngài xin lỗi tôi chứ?
- Anh có biết Dôia biến đâu mất không?
- Thưa ngài, để tiếp tục câu chuyện của chúng ta, tôi khuyên ngài hãy xin lỗi tôi đã.
- Tôi xin lỗi, - Rôlinh gào lên.
- Tôi tiếp nhận lời xin lỗi của ngài, - Gaxtông rời khỏi cửa sổ, sửa lại bộ ria bằng một cử chỉ quen thuộc, đằng hắng rồi nói. - Bà Dôia hiện trong tay tên sát nhân mà cả Pari đang làm rùm beng lên.
- Tức là ở đâu? (môi Rôlinh run rẩy).
- Ở Vinlơ Đavrê, gần công viên Xanh Cla, ngay sát viện bảo tàng Gămbétta. Đêm qua, tôi đã ngồi xe hơi theo dõi họ đến tận Vinlơ Đavrê, và hôm nay tôi đã xác định được chính xác địa chỉ.
- Bà ấy tự nguyện chạy trốn cùng hắn ta à?
- Chính đó là điều tôi muốn biết hơn cả, - Gaxtông trả lời với một vẻ dữ dội đến nỗi Rôlinh phải sửng sốt nhìn gã.
- Xin lỗi, ông Gaxtông ạ, tôi không hiểu rõ lắm là tại sao ông lại tham gia vào tất cả những chuyện này? Ông có liên quan gì đến bà Dôia? Tại sao ban đêm ông lại theo dõi bà ấy và xác định nơi ở của bà ấy?
- Đủ rồi! - Gaxtông lịch thiệp giơ tay ra trước mặt. - Tôi hiểu ngài. Thế nào ngài cũng phải hỏi tôi câu ấy. Tôi xin trả lời ngài: tôi yêu bà ấy và tôi ghen…
- À ra thế, - Rôlinh nói.
- Ngài cần các chi tiết ư? Thì đây. Đêm qua khi ra khỏi tiệm cà phê là nơi tôi tạt vào uống một ly rượu rum, tôi nhìn thấy bà Dôia ngồi trong một chiếc xe thuê. Xe phóng như bay. Nét mặt bà ấy thật khủng khiếp. Tôi lập tức nhảy lên tắc xi và rượt theo. Bà ấy đỗ xe lại trên phố Gôbêlênốp và bước vào ngôi nhà số sáu mươi ba. (Rôlinh nháy mắt một cái như bị dao đâm). Tôi giận điên lên vì ghen tức, tôi đi đi lại lại trên hè phố trước ngôi nhà ấy. Đúng bốn giờ mười lăm phút, bà Dôia bước ra, nhưng không ra theo lối cổng như tôi chờ đợi mà lại theo lối ra ở tường khu công viên kế cận với ngôi nhà sáu mươi ba ấy. Dìu hai bên vai bà ấy là một người đàn ông râu đen, mặc áo khoác, đội mũ màu xám. Những chuyện gì xảy ra sau đó thì ngài biết rồi.
Rôlinh buông mình xuống chiếc ghế tựa (của thời kỳ các cuộc thập tự chinh) và im lặng hồi lâu, bíu chặt tay vào tay ghế khắc nổi… Những chi tiết mà y chưa biết là như vậy đấy… Hung thủ là Garin, Dôia là tòng phạm… Kế hoạch tội ác thật quá rõ ràng. Chúng giết kẻ giống hệt Garin trên phố Gôbêlênốp để lôi kéo y, Rôlinh vào câu chuyện bẩn thỉu này, và sau đó dùng cách đe dọa để moi tiền cho việc chế tạo bộ máy. Gaxtông, viên trung sĩ trung thực và một kẻ ngu ngốc điển hình, đã ngẫu nhiên phát hiện ra tội ác. Tất cả đều rõ ràng. Phải hành động quyết liệt và tàn nhẫn.
Mắt Rôlinh lóe lên ánh giận dữ. Y đứng dậy, đá phăng chiếc ghế đi.
- Tôi sẽ gọi điện cho cảnh sát. Ông sẽ cùng tôi đến Vinlơ Đavrê.
Gaxtông nhếch miệng cười, bộ ria rậm của gã lệch hẳn đi.
- Ngài Rôlinh ạ, tôi cảm thấy không nên để cảnh sát can thiệp vào chuyện này. Chúng ta sẽ giửi quyết bằng sức lực của chúng ta thôi.
- Tôi muốn bắt tên sát nhân và mụ tòng phạm của hắn để trao hai kẻ khốn kiếp cho pháp luật, - Rôlinh vươn thẳng người, giọng y vang lên sang sảng.
Gaxtông phác một cử chỉ mơ hồ.
- Phải xem sao đã… Nhưng trong tay tôi có sau gã trai từng trải, đáng tin cậy… Sau một giờ nữa, tôi có thể chở họ trên hai chiếc xe đến Vinlơ Đavrê… Còn cảnh sát thì tôi khuyên ngài không nên giây với họ.
Đáp lại. Rôlinh chỉ thở phì phì và cầm lấy máy điện thoại trên lò sưởi. Gaxtông nhanh hơn, gã nắm chặt lấy tay Rôlinh.
- Chớ gọi cảnh sát!
- Tại sao?
- Bởi vì đó là một chuyện ngu ngốc nhất… (Rôlinh lại với tay về phía máy điện thoại). Ngài Rôlinh ạ, ngài là một người hết sức thông minh, chẳng lẽ ngài không hiểu rằng có những vấn đề không thể nói thẳng ra được ư?... Tôi van ngài chớ gọi điện cho cảnh sát… Bởi vì sau khi ngài gọi điện, cả hai chúng ta đều sẽ lên máy chém hết… (Rôlinh giận điên lên, đẩy vào ngực gã và giằng lấy máy điện thoại). Gaxtông hối hả nhìn quanh và thì thầm vào tận tai Rôlinh. - Theo lệnh ngài, bà Dôia đã giao cho tôi nhiệm vụ thủ tiêu nhanh chóng một viên kỹ sư Nga ở số nhà sáu mươi ba phố Gôbêlênốp. Đêm qua nhiệm vụ đó đã được thực hiện. Giờ đây. Tôi cần một vạn phơrăng để ứng trước cho bọn tay chân của tôi. Ngài có sẵn số tiền trong người chớ?
Mười lăm phút sau, một chiếc xe mui kín chạy đến phố Xenna. Rôlinh lập tức nhảy vào xe. Trong khi chiếc xe tìm cách quay đầu lại trên đường phố hẹp này, Senga từ sau một ngôi nhà bước ra và bám vào phía sau xe.
Chiếc xe chạy theo con đường ven sông. Trên quảng trường Mácxơ, tại đúng chỗ mà khi xưa Rôbexpie cầm mấy bông lúa trong tay, thề trước bàn thờ Đấng Tối Cao là sẽ buộc nhân loại phải ký bản hòa ước vĩ đại nhằm thiết lập nền hòa bình và công lý vĩnh cửu, thì nay sừng sững ngọn tháp Épphen cao vút. Hai triệu rưỡi ngọn đèn điện sáng nhấp nháy trên bộ khung thép của ngọn tháp, chạy tứ tung thành những mũi tên, hiện thành những hình vẽ, và suốt đêm viết lên trên bầu trời Pari dòng chữ:
“Hãy mua loại ôtô tiện lợi và rẻ tiền của ông Xitơrôen…”
39
Đêm ẩm ướt và ấm áp. Bên ngoài ô cửa sổ để mở - suốt từ lớp trần thấp cho đến tận sàn nhà - những chiếc lá vô hình hết rì rào lại khẽ dần đi. Căn phòng ở tầng một khách sạn “Sáo đen” tối tăm và yên tĩnh. Hương thơm ẩm ướt của công viên hòa lẫn với mùi nước hoa.
Cửa phòng kẹt mở, nghe thấy tiếng chân bước trên thảm. Một bóng người lờ mờ dừng lại giữa phòng. Y nói khẽ (bằng tiếng Nga):
- Phải quyết định đi thôi. Chỉ ba bốn mươi phút nữa là xe sẽ đến, bà trả lời đi: đồng ý hay không nào?
Người nằm trên giường động đậy, nhưng không đáp. Y bước lại gần hơn:
- Dôia, bà phải khôn ngoan hơn mới được.
Garin cúi đầu nhìn một cách chăm chú khuôn mặt Dôia rồi ngồi xuống cuối giường.
- Hôm nay, tôi cứ suy nghĩ mãi, hóa ra tôi cần đến tiền bạc, quyền lực, danh vọng chính là để chiếm được bà. Tôi không muốn chia tay với bà và nhất định tôi sẽ không chia tay với bà đâu.
- Ồ! - Dôia nói.
- Tiếng “ồ” chẳng thể hiện được gì hết. Tôi hiểu: một phụ nữ thông minh và kiêu kỳ như bà chắc hẳn rất phẫn nộ khi bị ép buộc. Nhưng biết làm thế nào được! Nếu bà bỏ đi với Rôlinh thì tôi sẽ không chịu ngồi yên. Tôi sẽ đưa lên máy chém. cả Rôlinh, cả bà và cả tôi nữa.
- Vậy ông đề nghị gì với tôi để thay cho Rôlinh? Tôi là một phụ nữ cao giá đấy.
- Tôi sẽ tặng bà vòng đai Ôlivin.
- Gì kia?
- Vòng đai Ôlivin. Hừm! Giải thích cho bà hiểu không phải đơn giản đâu. Cần phải có một buổi tối rỗi rãi và có nhiều sách chuyên môn trong tay mới được. Mà hai mươi phút nữa chúng ta phải đi rồi. Vòng đai Ôlivin - đó là khả năng thống trị thế giới. Tôi sẽ thuê gã Rôlinh của bà làm chân gác cổng - Vòng đai Ôlivin là như vậy đó. Hai năm nữa nó sẽ nằm trong tay tôi. Bà chẳng những sẽ trở thành một phụ nữ giàu có, mà mà phải nói là bà sẽ trở thành người phụ nữ giàu có nhất thế giới mới đúng. Cái đó thật chán ngán. Nhưng quyền lực? Bà sẽ được hưởng một quyền lực chưa từng có trên trái đất. Những phương tiện của chúng ta để đạt được quyền lực như vậy còn hoàn hảo hơn cả những phương tiện của Thành Cát Tư Hãn nữa. Bà có muốn những nghi thức tôn sùng như Chúa Trời không? Tôi sẽ ra lệnh xây cho bà những đền đài trên khắp năm châu và trang hoàng ảnh bà bằng những chùm dây nho.
- Thật tầm thường quá!...
- Tôi không nói đùa lúc này đâu. Nếu bà muốn thì bà sẽ trở thành kẻ kế vị Chúa Trời hoặc quỉ sứ - tùy thuộc vào sở thích của bà. Bà muốn tiêu diệt bất kỳ ai cũng được, vì bà sẽ thống trị cả nhân loại kia mà. Bà Dôia ạ, một phụ nữ như bà sẽ biết cách sử dụng những kho báu huy hoàng của vòng đai Ôlivin. Tôi sẽ đề nghị một ván bài có lợi đấy. Chỉ hai năm phấn đấu nữa là tôi sẽ đặt chân được đến vòng đai Ôlivin. Bà không tin ư?...
Dôia thở một hơi ngắn. Ả ngồi dậy, giơ hai tay sửa lại mái tóc (đó là một dấu hiệu tốt).
- Trong tương lai sẽ là vòng đai Ôlivin. Còn bây giờ ông có cái gì? - Ả hỏi, miệng ngậm chiếc trâm cài đầu.
- Bây giờ là bộ máy của tôi và những khối chóp than. Bà đứng dậy đi. Ta sang phòng tôi, tôi sẽ cho bà xem bộ máy ấy.
- Hơi ít. Được, tôi sẽ sang xem. Ta đi đi.
40
Trong phòng Garin, cửa sổ có chấn song bị bịt kín và che rèm. Cạnh tường là hai chiếc vali. (Y sống ở khách sạn “Sáo đen” này đã hơn tuần lễ). Garin khóa cửa lại. Dôia ngồi chống tay, che mặt để tránh ánh sáng của ngọn đèn trần. Chiếc măngtô lụa màu cỏ của ả đã nhàu nát, mái tóc chải cẩu thả, mặt lộ vẻ mệt mỏi - trông ả lại càng hấp dẫn hơn. Garin vừa mở vali vừa nhìn ả bằng cặp mắt long lanh, thâm quầng:
- Bộ máy của tôi đây - y nói và đặt tay lên bàn, hai chiếc hòm kim loại: một chiếc hẹp, trông tựa như đoạn ống, chiếc kia bẹt, mười hai mặt, đường kính rộng gấp ba.
Y đặt hai chiếc hòm gần nhau, dùng bulông siết chặt. Y hướng miệng ống về phía lò sưởi và tháo cái nắp hình cầu ở chiếc bao mười hai mặt. Bên trong bao là một vòng đồng có lắp mười hai chiếc chén sứ.
- Đây là máy mẫu, - y vừa nói vừa lấy hòm đựng các khối chóp than ra khỏi chiếc vali thứ hai, nó không thể chịu nổi quá một tiếng đồng hồ. Cần chế tạo bộ máy bằng những vật liệu cực rắn, bền chắc gấp mười thế này. Nhưng nhất định là nó sẽ quá nặng, mà tôi lại phải luôn luôn di chuyển.(Y đặt các chóp than vào mười hai chiếc chén sứ trên vòng đồng). Nhìn ngoài thì bà sẽ chẳng thấy gì và chẳng hiểu gì đâu. Đây là bản vẽ, là mặt cắt dọc của bộ máy. - Y cúi người xuống chiếc ghế bành của Dôia, hít mùi hương tóc của ả, trải rộng tấm bản vẽ để chỉ chỏ bằng nửa tờ giấy viết. - Dôia ạ, bà muốn tôi phải liều hy sinh hết trong ván bài của chúng ta đấy… Bà hãy nhìn vào đây… Đây là sơ đồ chính.
Thật đơn giản như hai với hai là bốn vậy. Nên cho đến nay vẫn chưa ai chế tạo ra bộ máy này chỉ là việc thuần túy ngẫu nhiên thôi. Toàn bộ bí mật là ở tấm gương hình hypécbôn (A) mà hình dạng tựa như tấm gương của chiếc đèn chiếu thông thường, và ở mẩu samônít (B) cũng được làm thành hình cầu hypécbôn. Qui tắc hoạt động của các tấm gương hypécbôn như sau:
Tất cả các tia sáng rơi vào mặt trong của gương hypécbôn đều hội tụ vào một điểm, vào tâm điểm của hình hypécbôn… Cái đó ai cũng biết rồi. Còn bây giờ là những điều còn chưa ai biết: tôi đặt vào tâm điểm của tấm gương hình hypécbôn một hình hypécbôn thứ hai (được vẽ lộn ngược lại) - đó là một mặt hypécbôn quay, được tiện bằng samônít, một khoáng chất khó nóng chảy, nhẵn bóng đến mức lý tưởng (B) và có trữ lượng vô tận ở miền Bắc nước Nga. Vậy tình hình các tia sẽ ra sao?
Những tia sáng hội tụ ở tâm điểm gương (A) sẽ rơi vào bề mặt của hình hypécbôn (B) và hắt nó lại theo chiều song song, - nói một cách khác, hình hypécbôn (B) hội tụ tất cả các tia thành một tia duy nhất, hoặc thành một “sợi tia” có độ dày bất lỳ.
Khi xoay vặn gương hypécbôn (B) bằng vít đo vi lượng, tôi có thể tùy ý làm tăng hay giảm độ dày của “sợi tia”. Việc hao tốn năng lượng của “sợi tia” khi nó đi qua không khí có thể coi là không đáng kể. Đồng thời, tôi có thể đưa “sợi tia” (thực tế là như vậy) mảnh tới mức bằng độ dày của chiếc kim.
Nghe đến đấy, Dôia đứng dậy, bẻ ngón tay răng rắc rồi lại ngồi xuống, hai tay ôm đầu gối.
- Trong những lần thí nghiệm đầu tiên, tôi lấy nguồn sáng là một vài ngọn bạch lạp thông thường. Bằng cách chỉnh gương hypécbôn (B), tôi đưa sợi tia đến độ dày của chiếc que kim đan và dễ dàng cắt đứt một tấm gỗ dày hai phân rưỡi. Tôi hiểu ngay rằng toàn bộ nhiệm vụ là tìm ra được những nguồn tia dày đặc và hết sức mạnh. Kết quả của ba năm làm việc - một công việc đã phải trả giá bằng sinh mệnh của hai người trợ thủ của tôi - là đã chế tạo ra khối chóp than này đây. Năng lượng của các khối chóp than lớn đến nỗi khi được đặt vào máy, - như bà thấy đấy - và được đốt cháy (chúng cháy chừng năm phút), thì chúng phát ra một “sợi tia” có khả năng cắt đứt một chiếc cầu sắt trong vài giây… Bà có hình dung nổi khả năng đang mở ra trước mắt chúng ta hay không? Trong thiên nhiên, không có một thứ gì chống lại nổi sức mạnh của “sợi tia” cả… Nhà cửa, pháo đài, chiến hạm, máy bay, đất đá, vỏ trái đất - tất cả đều bị cái tia của tôi xuyên thủng, phá hủy, cắt đứt…
Garin bỗng ngừng bặt và ngẩng đầu lên, lắng nghe. Bên ngoài cửa sổ có tiếng sỏi kêu lạo xạo, ken két, và tiếng động cơ lặng dần. Y nhảy đến cửa sổ và trườn ra ngoài rèm. Dôia nhìn thấy đằng sau lớp rèm nhung đỏ sẫm đầy bụi là hình bóng bất động của Garin, rồi hình bóng đó bỗng giật bắn lên. Y lại từ ngoài rèm chui vào.
- Ba ôtô và tám người, - y thì thào, - họ đến bắt chúng ta đấy. Ôtô hình như của Rôlinh thì phải. Trong nhà trọ chỉ có chúng ta và mụ gác cổng thôi. (Y nhanh nhẹn lấy khẩu súng lục trong ngăn bàn vẫn đặt cạnh giường và nhét vào túi áo véttông). Tôi thì đừng hòng được chúng cho sống sót mà thoát khỏi nơi đây… - Y bỗng vui vẻ gãi gãi cánh mũi. - Nào, Dôia, bà quyết định đi, đồng ý hay không nào? Không thể có một giây phút khác như thế này đâu.
[1] Patagôn - thổ dân còn trong tình trạng man rợ vùng Patagônnhia (Nam Mỹ). - (Chú thích của nguyên bản)
[/align][/align]