📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Tia Chiếu Khủng Khiếp Của Kỹ Sư Garin - Aleksey Tolstoy 🔒

65 trả lời, 7.790 lượt xem — Trang 2 / 3


OK, để Ly đánh dùm cho há

Chúc vui
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-04-26 01:59:10Ct.Ly>
Trang 93 -

Rôlinh đứng dậy, liếc mắt nhìn Garin và bắt đầu đi đi lại lại, đôi giày bóng lộn ngập sâu vào lớp thảm lấp lánh ánh bạc. Đột nhiên, y rút tay khỏi túi và bật ngón tay đánh toách.
- Một trò chơi rẻ tiền, - y nói, - ông nói láo. Tôi đã suy nghĩ kỹ trước năm nước đi cho mọi thế cờ có thể có rồi. Chẳng có gì nguy hiểm hết. Ông chỉ là một gã bịp bợm rẻ tiền. Garin đã bị chiếu hết rồi (1). Ông ta biết như vậy nên cử ông đến mặc cả với tôi. Tôi sẽ không cho đến hai đồng kẽm để đổi lấy bằng sáng chế của ông ta đâu. Garin đã bị lần ra dấu vết và bị tóm cổ rồi. (Y thoáng nhìn đồng hồ rồi đút nhanh đồng hồ vào túi áo gilê). Xéo đi ngay!
       Đúng lúc đó, Garin cũng đứng dậy và đứng cạnh bàn, đầu cúi xuống. Khi Rôlinh tống cổ y đi, y đưa tay vuốt tóc và nói bằng giọng não nuột như một kẻ bất ngờ bị sa bẫy:
- Được, ngài Rôlinh ạ, tôi đồng ý mọi điều kiện của ngài. Ngài vừa nói đến con số mười vạn ...
- Không một xu nào hết! - Rôlinh thét to. - Xéo đi, hoặc người ta sẽ tống cổ ông khỏi cửa!
      Garin thò mấy ngón tay vào cổ áo, hai mắt y bắt đầu trợn ngược lên. Y lảo đảo. Rôlinh hét lớn:
- Đừng giở mánh khóe nữa! Cút ngay.
     Garin thờ khò khè và ngã ngiêng người xuống bàn. Tay phải y đập vào mấy tờ giấy đầy chữ và

_____________
(1) Trong cờ vua, bị " chiếu hết " (mat ) có nghĩa là bị thua - N.D



94 - 95


hối hả nắm chặt lấy. Rôlinh nhảy bổ đến chuông điện. Viên thư ký tức khắc xuất hiện ...
- Tống cổ thằng này ra!...

       Viên thư ký ngồi ghé xuống như con báo, bộ ria tao nhã dựng đứng lên, những bắp thịt cứng như sắt cuồn cuộn nổi lên dưới lần áo véttông mỏng. Nhưng Garin đã bước ra xa khỏi bàn và vừa đi nghiêng người vừa cúi chào Rôlinh. Sau đó y chạy như bay xuống cầu thang bằng đá hoa, bước ra đại lộ Mandéc, nhảy lên chiếc xe thuê cao mui, cho biết địa chỉ, kéo cả hai ô cửa lên, hạ tấm rèm xanh xuống và bật cười cộc lốc, gay gắt.
       Y rút trong túi véttông ra một mẩu giấy vò nát và cẩn thận vuốt thẳng ra trên đầu gối. Trên tờ giấy kêu sột soạt (xé từ cuốn sổ lớn ), bằng nét chữ to, Rôlinh phác họa những công việc cho ngày hôm nay. Có lẽ vào giây phút Garin bước vào phòng làm việc, bàn tay của ông vua hóa học đầy cảnh giác đã vô tình viết lên trên giấy, để lộ những ý nghĩ thầm kín của mình. Một dòng chữ viết ba lần liền, lần này dưới lần kia:" Phố Gôbêlênốp số sáu mươi ba,  ". (Đấy là địa chỉ mới của Lơnoa mà Xêmiônốp vừa thông báo qua điện thoại ...)
       Tiếp đó là dòng chữ " Đưa năm nghìn phơrăng cho Xêmiônốp"...
- May quá đi mất! May quá đi mất! Garin vừa thầm thì vừa vuốt thẳng tờ giấy trên đầu gối.
         Chừng mười phút sau, Garin nhảy xuống xe trên đại lộ Xanh Misen. Những ô cửa sổ bằng kính tấm trong tiệm cà phê " Păngtêông" đã nâng lên. Ở cuối tiệm, Lơnoa đang ngồi trên bàn. Trông thấy Garin, gã giơ tay lên và bật ngón tay đánh toách.
         Garin vội ngồi xuống bên cạnh, lưng quay về phía ánh sáng, có cảm giác như y ngồi đối diện với tấm gương. Lơnoa cũng để bộ râu dê như vậy, cũng đội mũ mềm như vậy, cũng thắt cà vạt kiểu con bướm như vậy, cũng mặc véttông kẻ sọc như vậy.
- Anh hãy chúc mừng tôi đi - thành công rồi! Thành công mỹ mãn là khác! - Garin vui vẻ nói. - Rônlinh sẵn sàng làm mọi việc. Cá nhân ông ta chịu một mình, mọi khoản chi phí sơ bộ. Khi nào bắt đầu sử dụng bộ máy thì năm mươi phần trăm thu nhập sẽ thuộc về ông ta, còn năm mươi phần trăm sẽ thuộc chúng ta.
- Anh đã ký hợp đồng rồi hay sao?
- Hai ba ngày nữa sẽ ký. việc đưa bộ máy ra giới thiệu sẽ phải hoãn lại. Rôlinh đặt điều kiện là sẽ chỉ ký hợp đống sau khi tận mắt thấy bộ máy làm việc.
- Ta đặt một chai sâm banh chứ?
- Hai, ba chai hoặc cả két cũng được.
- Dù sao cũng thật đáng tiếc là cái con cá mập ấy sẽ ngốn của chúng ta đến một nửa thu nhập, -
0
Đánh máy: piyemingo
 
-  Được,  Rôlinh trả lời, -  sáng mai tôi sẽ tiếp ông.. Tôi phải suy nghĩ lần nữa về những đề nghị của ông…
Dôia khẽ nói:
-  Rôlinh, ông đừng nói những câu ngu ngốc nữa.
-  Thưa bà!... - Rôlinh hồm dậy, chiếc mũ chụp xuống tận mũi y, -  Thưa bà… Bà càn rỡ quá lắm. bà là quân phản bội… là tòng phạm những vụ giết người…
Dôia đáp, vẫn khẽ như trước:
-  Quỉ tha ma bắt ông đi. Ông hãy nói chuyện với ông Garin ấy.
Rôlinh và Garin liền đi đến cây sồi kép. Đèn pin bật sáng lên ở đấy. Hai cái đầu cúi xuống. Trong vài giây chỉ nghe tiếng suối chảy róc rách giữa các tảng đá.
-  Nhưng chúng ta đâu chỉ có ba người mà có bốn người kia… Ở đây có người chứng kiến, -  giọng gay gắt của Rôlinh vang đến tai Senga.
-  Ai ở đây? - Senga rùng mình nói trong cơn mê. Hai mắt anh to ra.
Trước mặt anh, Khơlưnốp đang ngồi trên chiếc ghế màu trắng, mũ đặt trên đầu gối.
 
43
-  Tôi không thể dự đoán được diễn biến sự việc… Chẳng có lúc nào mà nghĩ nữa, -  Senga kể cho Khơlưnốp. - Tôi đã xử sự thật ngu ngốc.
-  Sai lầm của anh là ở chỗ anh đã đưa Rôlinh lên xe, -  Khơlưnốp nhận xét.
-  Tôi có đưa hắn lên đâu… Khi trong nhà trọ người ta bắt đầu bắn giết nhau thì Rôlinh ngồi thu lu trong xe, giữ chặt hai khẩu côn… Mà tôi thì không có vũ khí. Tôi trèo lên bao lơn và chứng kiến cảnh Garin tiêu diệt lũ cướp kia… Tôi báo cho Rôlinh biết chuyện ấy… Y phát hoảng, rên hừ hừ và dứt khoát không chịu ra khỏi xe… Sau đó, y định bắn Dôia. Nhưng tôi với Garin đã bẻ quặt hai tay y lại… Không còn thì giờ đâu mà trùng trình nữa, tôi nhảy lên xe, nắm lấy tay lái và cho xe chạy luôn…
-  Khi anh đã đến quãng rừng thưa và chúng thương lượng với nhau cạnh cây sồi, chẳng lẽ anh không hiểu ư?
-  Tôi hiểu là tôi lâm vào thế bí rồi. Nhưng biết làm thế nào được? Chạy trốn ư? Anh biết đấy, tôi là nhà thể thao kia mà… Trong kế hoạch của tôi đã đâu vào đó cả… Trong túi tôi là tấm hộ chiếu giả cho Garin với chia dấu thị thực… Bộ máy của hắn lại trong tầm tay, ngay trong xe… Trong hoàn cảnh như vậy, liệu tôi có quyền nghĩ nhiều đến tính mạng của mình không?
-  Thôi được… Chúng đã cấu kết với nhau.
-  Rolin ký một tờ giấy gì đó dưới gốc cây -  tôi thấy rồi như vậy. Sau đó, tôi nghe thấy hắn nói về nhân chứng thứ tư, tức là về tôi. Tôi liền khẽ bảo Dôia: “Bà Dôia ạ, vừa rồi, khi xe chúng ta chạy trước mặt viên cảnh sát, y đã nhận ra được số xe. Nếu bây giờ tôi bị giết thì đến sáng các người sẽ bị cùm tay hết. Anh có biết mụ ta trả lời tôi thế nào không? Mụ ta gớm thật đấy. Mụ ta không nhìn tôi, nói qua vai  “ Được, tôi sẽ lưu ý đến việc đó”. Thế đấy. Rồi Garin và Rôlinh trở lại xe. Tôi thản nhiên như không có gì xảy ra hết. Người đầu tiên bước lên xe là Dôia. Mụ ta thò đầu ra, nói một cây gì đó bằng tiếng Anh. Garin bảo tôi: “Đồng chí Senga, bây giờ đồng chí hãy cho xe phóng hết tốc lực theo đường cái về phía Tây”. Tôi ngồi xuống trước bộ tản nhiệt… Sai lầm của tôi là ở đây. Chúng chỉ đợi có giây phút này. Nếu xe đang chạy thì chắc chắn chúng sẽ không dám làm gì tôi, sẽ e ngại… Được, tôi cho xe nổ máy… Đột nhiên tôi bị giáng vào đầu, vào giữa đỉnh đầu - tôi cảm ghấy dường như cả một ngôi nhà đổ sụp xuống đầu tôi, xương kêu răng rắc, người như bốc cháy, tôi ngả sấp mặt xuống… Tôi chỉ nhìn thấy một thứ, đó là bộ mặt méo xệch đi của Rôlinh chợt thoáng qua. Đồ khốn khiếp! Hắn nã bốn viên đạn vào đầu tôi… Sau đó, khi tôi mở mắt ra thì thấy căn phòng này.
Senga mệt mỏi vì kể chuyện. Họ im lặng hồi lâu. Khơlưnốp hỏi:
-  Hiện nay Rôlinh có thể ở đâu được?
-  Còn ở đâu được nữa. Dĩ nhiên là ở Pari rồi. Hắn đang thao túng báo chí. Hắn đang mở cuộc tiến công lớn trên mặt trận hoá học. Tiền chảy như suối vào túi hắn. Tôi rất lo ngại vì bất cứ lúc nào cũng có thể nhận một phát đạn từ cửa sổ bắn vào hoặc uống phải chất độc trong tách nước trà. Nhất định hắn sẽ tìm cách thủ tiêu tôi.
-  Vậy tại sao anh lại im lặng? … Phải báo ngay cho giám đốc cảnh sát chứ.
-  Anh Khơlưnốp thân mến, anh điên rồi! Sở dĩ tôi còn sống sót cho tới nay chính là vì tôi im lặng đấy.
 
54[/size]55
Senga, vậy là anh tận mắt trông thấy hoạt động của bộ máy phải không?
-  Đúng thế, và bây giờ tôi hiểu rằng đại bác, hơi độc, máy bay đều chỉ là trò chơi của trẻ con. Anh đừng quên rằng trong chuyện này chỉ có một mình Garin… Garin và Rôlinh.  Một bộ máy gieo chết chóc và hàng tỷ đôla. Cái gì cũng có thể xảy ra hết.
Khơlưnốp nâng rèn lên, đứng hồi lâu bên cửa sổ, nhìn cây cối xanh tươi, nhìn người  làm công già đang vất vả kéo những ống dẫn nước bằng kim loại vào mé vườn rợp bóng mát, nhìn lũ sào đen đang bận bịu nhảy nhót dưới bụi mã tiên thảo để kiếm giun đất. Bầu trời xanh thẫm tuyệt đẹp, toát ra vẻ thanh bình vĩnh viễn trên khu vườn.
-  Nếu để cho Rôlinh và Garin mặc sức hành động thì kết cục chẳng mấy chốc sẽ đến - Khơlưnốp nói. - Thế giới này sẽ không tránh khỏi diệt vong… Ở đây chỉ có lũ sáo kia là sống khôn ngoan mà thôi. - Khơlưnốp quay người, rời khỏi cửa sổ. - Con người thuộc thế kỷ đồ đá hiển nhiên là đáng giá hơn… Họ vẽ đầy các hang không phải vì tiền mà chỉ do nhu cầu nội tâm, họ ngồi bên đống lửa suuy nghĩ về những con ma mút, về những cơn dông tố, về sự xoay vần lạ lùng của cái sống và cái chết, về bản thân họ. Chà, tất cả những cái đó mới đáng kính làm sao!... Óc còn nhỏ, xương sọ còn dày, nhưng nghị lực tinh thần toả ra như ánh chớp từ đầu họ… Còn những con người kia, những con người ngày nay thì thật không hiểu họ cần đến máy bay làm quái gì? Nếu như nhốt một gã công tử bột rong chơi ngoài phố vào hang, đặt gã ngồi trước mặt một người thuộc đời đồ đá cũ thì chắc hẳn các ông bác lông lá kia sẽ hỏi gã: “Anh hãy kể xem anh đã nghĩ được điều gì trong suốt mười vạn năm qua?” - Chà, thưa cụ (hay thưa kỵ gì đấy), - gã sẽ loay hoay cựa quậy, - cháu chẳng nghĩ ngợi gì nhiều, mà chủ yếu là hưởng thụ những thành quả của nền văn minh. Nếu như không có nguy cơ về việc bọn dân đen nổi lên làm cách mạng thì thế giới của chúng cháu sẽ thật sự tuyệt vời. Nhưng khổ một nỗi là các cuộc khủng hoảng và các cuộc cách mạng cứ thường xuyên nổ ra, thật mệt mỏi quá…” - “À ra thế, - con người tiền sử kia chắc hẳn sẽ vừa đáp lại vừa nhìn xoáy cặp mắt nóng bỏng vào gã công tử bột, -  Còn ta, ta lại ưa suy nghĩ kia, đấy, ta hiện đang ngồi suy nghĩ đây và kính trọng bộ óc thiên tài của ta… Ta muốn dùng nó để xuyên thấu vũ trụ.
Khơlưnốp yên lặng. Anh vừa nhếch miệng cười vừa như nhìn sâu vào bóng tối của hang động thời tiền sử. rồi anh lắc đầu:
-  Garin và Rôlinh tìm cách đạt được cái gì? Sự buồn nhột. Dù chúng có gọi cảm giác buồn nhột ấy là quyền lực đối với thế giới thì đó vẫn chỉ là sự buồn nhột cứ không hơn. Trong cuộc chiến tranh vừa qua (2)- Chiến tranh thế giới lần thứ nhất- ND , có ba mươi triệu người bị chết. Chúng sẽ cố tìm cách giết được ba trăm triệu người. Nghị lực tinh thần đang trong trạng thái mê man. Giáo sư Râykhe chỉ ăn bữa trưa vào các ngày chủ nhật, còn vào các ngày khác thì ông ăn hai khoanh bánh mì phết mứt cho bữa sáng và khoai tây ninh muối cho bữa trưa. Tiền công trả cho lao động trí óc là như vậy đó… Và sẽ cò như thế cho tới khi chúng ta phá toan toàn bộ nền “văn minh” của chúng, nhốt Garin vào nhà thương điên và đưa Rôlinh đi làm trưởng phòng quản trị hành chính tại một nơi nào đó trên đảo Vranghen… Anh nói đúng, cần phải chiến đấu… Tôi đã sằn dàng rồi. Bộ máy của Garin phải nằm trong tay Liên Xô.
-  Bộ máy áy sẽ thuộc về chúng ta, -  Senga nhắm mắt, lên tiếng.
-  Bắt đầu công việc từ đâu đấy?
-  Từ công tác trinh sát, theo đúng lệ thường.
- Nhắm hướng nào?
- Hiện nay chắc chắn là Garin đang ráo riết chế tạo bộ máy. Ở Vinlơ Đavrê, y chỉ có máy mẫu thôi. Nếu y kịp chế tạo một bộ máy thật sự thì khó mà chiếm đoạt nổi. Việc đầu tiên là phải tìm hiểu xem y chế tạo bộ máy ở đâu.
- Sẽ cần có tiền đấy.
- Ngay hôm nay, anh sẽ đến phố Grơnen, trao đổi với đại sứ nước ta, tôi đã thông báo cho đồng chí ấy ít nhiều rồi. Chúng ta sẽ có tiền. Việc thứ hai là phải tìm ra được Dôia. Điều này rất quan trọng. Đó là một mụ phụ nữ thông minh, nguy hiểm, giàu trí tưởng tượng. Chính mụ ta đã gắn liền Garin và Rôlinh lại cho đến chết. Mụ ta là kẻ chủ đạo trong mưu mô của chúng.
- Xin lỗi anh, nhưng tôi không ưa chiến đấu với phụ nữ.
- Anh Khơlưnốp ạ, mụ ta mạnh hơn tôi với anh… Mụ ta sẽ còn làm đổ nhiều máu nữa.
 
8687
Dôia mặc áo cắt theo kiểu lính thuỷ, màu trắng, đính cúc vàng mặc váy trắng, bước lên boong trên, nơi bữa ăn sáng đã dọn sẵn trên chiếcf bàn thấp đan bằng mây, đặt trong bóng râm.
Ả ngồi vào bàn, bẻ một mẩu bánh mì rồi ngắm nhìn quang cảnh xung quanh. Chiếc du thuyền gắn máy, thân hẹp, trắng toát, đang lướt trên mặt nước phẳng như gương; biển xanh dịu, sẫm hơn một chút so với bầu trời không gợn mây. Boong thuyền cọ rửa sạch sẽ toả lên làn hơi máy mẻ. Làn gió ấm nhè nhè thổi mơn man đôi má.
Trên boong thuyền hơi uốn cong, ghép bằng những ván gỗ hẹp như bọc da hươu, có kê một dãy ghế bành mây dọc theo hai mạn thuyền, ở giữa là một tấm thảm óng ánh bạc với những chiếc gối gấm vứt rải rác. Một lớp mái che bằng lụa xanh, viền riềm và tua ngù, kéo căng từ cầu chỉ huy đến mũi thuyền.
Dôia thở dài rồi bắt đầu ánh sáng.
Thuyền trưởng Gianxen, người Na Uy, vừa mỉm cười vừa nhẹ nhàng bước lại gần. Ông ta cạo râu nhẵn nhụi, mặt đỏ hồng, trông giống như một đứa bé cao lớn. Ông ta ung dung đưa hai ngón tay lên vành chiếc mũ đội lệch hẳn về một phía.
- Chào bà Lamôlơ, chúc bà một buổi sáng tốt lành. (Ả lấy tên là Lamôlơ trong khi lênh đênh trên chiếc du thuyền treo cờ Pháp)
Viên thuyền trưởng mặc bộ đồ trắng tinh được là cẩn thận; trông ông phong nhã một cách vụng về, theo kiểu thuỷ thủ. Dôia nhìn khắp người ông ta, từ mấy chiếc lá sồi thêu bằng chỉ vàng trên lưỡi trai mũ cho đến đôi giày trắng có đế bằng dây bện. Ả hài lòng:
- Chào ông Gianxen.
- Tôi được hân hạnh báo cáo với bà là du thuyền chúng ta đang đi theo hướng Tây - Tây  Bắc, kinh độ và vĩ độ (ông ta nêu những số liệu cụ thể), và ở chân trời là ngọn núi lửa Vêduyvơ (1) đang toả khói. Khoảng gần một giờ nữa sẽ trông thấy thành phố Naplơ (2)- Núi lửa Vêduyvơ ở gần thành phố Naplơ (Ý) là núi lửa duy nhất còn hạt động ở châu Âu. Đây là nơi thu hút nhiều khách du lịch. - ND
- Mời ông ngồi, ông Gianxe.
Ả đưa tay ra hiệu mời Gianxen cùng ăn sáng. Ông ta ngồi xuống, chiếc ghế mây kêu ken két lên dưới thân hình lực lưỡng. Ông ta từ chối lời mời vì đã ăn sáng vào lúc chín giờ rồi. Nhưng ông ta vẫn lịch sự cầm tách cà phê.
Dôia chăm chú nhìn khuôn mặt rám nắng với hai hàng mi nhạt màu của ông ta. Ông ta hơi đỏ mặt lên, tuy chưa uống hết nhưng vẫn đặt tách cà phê xuống bàn.
- Phải thay nước lã và lấy xăng cho động cơ, - Ông ta nói, không ngước mắt lên.
- Sao kia, phải rẽ vào Naplơ à? Thật chán quá đi mất! Nếu ông cần nước và xăng đến như vậy thì ta cho thuyền đậu ở vũng ngoài.
- Xin tuân lệnh, - Gianxen khẽ đáp.
- Ông Gianxen này, tổ tiên ông là cướp biển phải không?
- Thưa bà, vâng.
- Làm cướp biển mới thú làm sao! Nào những chuyến phiêu lưu, nào những cơn nguy hiểm, nào những bữa chè chén say sưa, nào những vụ bắt cóc các phụ nữ xinh đẹp… Ông có lấy làm tiếc vì ông không phải cướp biển không?
Gianxen im lặng. Hàng mi nhạt màu của ông ta hấp háy. Trán nhăn lại.
- Thế nào?
- Thưa bà, tôi được giáo dục tử tế.
- Tôi tin là như vậy.
- Chẳng lẽ trong con người tôi có một nét gì đó khiến bà nghĩ rằng tôi có thể làm những hành động phạm pháp và vô lễ hay sao?
- Chán cho ông quá, - Dôia nói, - Một người khoẻ mạnh, can đảm, tài giỏi, con cháu của dân cướp biển, vậy mà lại chịu lái thuyền cho một mụ đàn bà bẳn tính trong cái vũng nước ấm chán ngán này sao?
- Nhưng thưa bà…
- Ông hãy bày một trò ngu ngốc gì đi, Gianxen, tôi chán lắm rồi…
- Xin tuân lệnh.
- Khi nào có một trận bão khủng khiếp, ông hãy đưa du thuyền lao vào một tảng đá đi.
- Xin tuân lệnh.
- Ông có thực sự định làm việc đó không?
- Nếu bà ra lệnh…
Gainxen nhìn Dôia. Cặp mắt ông ta lộ vẻ bực bội và nỗi khâm phục cố nén lại. Dôia vươn người, đặt tay lên tay ao trắng tinh của Gianxen:
- Tôi không nói đùa với ông đâu. Tuy tôi biết ông có ba tuần lễ, nhưng tôi cảm thấy ông thuộc loại người trung thành với tôi (hàm Gianxen nghiến chặt). Tôi cảm thấy ông có khả năng làm những hành động vượt ra ngoài khuôn khổ pháp luật nếu như những hành động ấy tạo ra chất men say cuộc sống…
- Đúng lúc ấy, trên cầu thang bóng loáng ánh đồng từ cầu chỉ huy dẫn xuống, xuất hiện hai chân của một người đang chạy xuống. Gianxen vội nói:
- Đã đến giờ, thưa bà…
Người thuyền phó đã xuống đến nơi, giơ tay chào:
- Thưa bà Lamôlơ, đã mười hai giờ kém ba phút. Sắp đến giờ liên lạc vô tuyến.
 
164165
Gió thổi căng chiếc váy trắng. Dôia lên boong thượng, đi về phía buồng vô tuyến điện báo. Ả nheo mắt hít thở bầu không khí mằn mặn. Bên trên, đứng từ cầu chỉ huy mà nhìn, ánh nắng tương như vô tận toả xuống mặt biển lóng lánh tựa pha lê.
Dôia bám vào tay vịn, ngắm nhìn mãi không chán mắt. Chiếc du thuyền thân họp lao băng băng giữa cảnh gió nước mênh mông.
Tất cả quá khứ đen tối và u ám của Dôia như bị đẩy lùi lại, như tan đi trong làn ánh nắng này.
“Ta tươi trẻ, ta trẻ trung, - Ả cảm thấy như vậy lúc đứng trên boong thượng tràn ngập ánh nắng, - Ta xinh đẹp, ta tốt biết bao”.
Gió vuốt ve cổ ả, mặt ả. Ả hân hoan mong được hưởng hạnh phúc. Tuy chưa đủ sức rời khỏi ánh sáng, bầu trời, biển cả, ả vẫn xoay nắm đắm cửa lạnh lẽo, đi vào cái buồng con lắp kính trong suốt, nơi rèm che được hướng xuống ở phía ánh nắng chiếu vào. Ả cầm lấy ống nghe, chống khuỷu tay lên bàn lấy bàn tay che mất.
Chuông đồng hồ lanh canh điểm 12 tiếng. Mới có ba phút kể từ khi ả đứng dậy khỏi chiếc ghế bành dưới lớp mái che.
Ả đặt tay lên cần gạt, đẩy sang bên trái, vặn máy theo làn sóng ba mươi bảy mét rưỡi. Từ khoảng trống đen sẫm của ống nghe bỗng vang lên giọng nói sắng và chầm chậm của Rôlinh:
- Bà Lamôlơ, bà Lamôlơ, bà Lamôlơ… Hãy chú ý lắng nghe, hãy chú ý lắng nghe…
- Vâng, tôi nghe đây, cứ yên tâm, - Dôia thầm thì.
- Tình hình chỗ bà tốt đẹp cả chứ? Có bị giông bão gì không? Có thiếu thốn gì không? Hôm nay, cũng vào giờ như thường lệ, tôi sẽ rất sung sướng được nghe thấy giọng nói của bà… Bà hãy sử dụng làn sóng như mọi khi… Bà Lamôlơ, bà đừng đi xa quá khu vực mười một độ kinh Đông và bốn mươi độ vĩ Bắc. Không loại trừ khả năng gặp gỡ trong thời gian sắp tới. Mọi việc của chúng tôi đều ổn. Công việc rất tốt đẹp. Con người cần im lặng vẫn im lặng. Cứ yên tâm và hãy sống hạnh phúc, mọi chuyện đều thuận lợi…
Dôia gỡ ống nghe ra. Một nếp nhăn hằn ngang trán ả. Ả nhìn kim đồng hồ và rít răng nói : “Ớn lắm rồi!” Những lời tỏ tình hàng ngày qua làn sóng điện này khiến ả hết sức bực tức. Rôlinh không thể, không muốn để ả được yên…. Y sẵn sàng phạm bất kỳ tội ác nào, miễn là ả cho phép y hàng ngày rên rỉ vào micrô: “… Cứ yên tâm và hãy sống hạnh phúc, mọi chuyện đều thuận lợi”.
 
190191
Sau những vụ giết người ở Vinlơ Đavrê và Phôngtenơblô và sau chuyến đi hối hả cùng Garin trên những con đường cái vắng vẻ ngập ánh trăng để tới Havrơ (1) Một hải cảng lớn ở miền bắc nước Pháp – ND, Dôia và Rôlinh không gặp nhau nữa. Y đã bắn về phía ả vào đêm đó, đã toan lăng nhục ả, nhưng rồi y im lặng. Hình như lúc ấy y còn cúi gục trong xe mà thầm khóc nữa.
Đến Havrơ, ả lên chiếc du thuyền “Aridôna” của Rôlinh và lúc rạng đông thì ra đến ngoài vịnh Bixcai. Ở Lixbon (2) Thủ đô Bồ Đào Nha – ND, ả nhận được giấy tờ mang tên bà Lamôlơ và trở thành chủ nhân của một trong những chiếc du thuyền lộng lẫy nhất phương Tây. Từ Lixbon, ả đi đến Địa Trung Hải và tại đây, chiếc “Aridôna” lênh đênh ven bờ biển nước Ý, luôn luôn trong khu vực mười một độ kinh Đông và bốn mươi độ vĩ Bắc.
Mối liên lạc được thiết lập ngay giữa du thuyền và đài phát sóng riêng của Rôlinh ở Mêđông, ngoại ô Pari. Thuyền trưởng Gianxen thường xuyên báo cáo cho Rôlinh về mọi chi tiết của chuyến viễn du, Rôlinh hàng ngày liên lạc vớ Dôia. Tối nào ả cũng thông báo cho y về “tâm trạng” của ả. Đã mười ngày trôi qua trong cảnh đơn điệu như vậy và giờ đây, thiết bị vô tuyến trên chiếc “Aridôna”, sau khi sục sạo trong không gian, đã bắt được những làn sóng ngắn của một thứ tiếng khó hiểu. người ta báo cho Dôia biết, và ả nghe thấy một tiếng nói khiến tin ả lặng đi.
- Dôia, Dôia, Dôia, Dôia…
Giọng Garin vang lên trong ống nghe như mọt con ruồi lớn đập cánh vào cửa kính. Y nhắc đi nhắc lại tên ả và cứ cách quãng lại nói:
- Hãy trả lời trong khoảng từ một đến ba giờ đêm.
Bật lại:
- … Dôia, Dôia, Dôia… Hãy thận trọng, hãy thận trọng…
Ngay đêm đó, những làn sóng điện bay lướt trên mặt biển tối sẫm, lưới trên châu Âu đang ngủ và những đống tro tàn cổ kính của Tiễu Ả, lướt trên những bình nguyên châu Phi đầy cây cối khô héo để mang đi một giọng phụ nữ:
… Gửi đến người yêu cầu trả lời trong khoảng từ một đến ba giờ đêm…
Dôia nhắc đi nhắc lại lời nhắn gọi này nhiều lần. Rồi ả nói tiếp:
- … Em muốn gặp anh. Dù đó là một việc phi lý chăng nữa. Hãy hẹn đến bất kỳ một cảng nào của Ý. Không cần gọi đúng tên em, em sẽ nhận ra giọng nói của anh…
Ngay đêm đó, ngay phút đó, khi Dôia kiên nhẫn nhắc đi nhắc lại lời nhắn gọi, hy vọng rằng ở một nơi nào đó tại châu Âu, châu Á, châu Phi, Garin cũng đang dò tìm những làn sóng điện của chiếc “Aridôna” thì cách đây hai nghìn cây số, ở Pari, trên cái bàn con kê cạnh chiếc giường mà Rôlinh đang nằm, kéo chăn đến tận mũi và sắp sửa ngủ, chuông điện thoại bỗng reo vang. Rôlinh chồm dậy cầm lấy ống nghe. Giọng Xêmiônốp vội vã báo:
- Ngài Rôlinh, bà ấy đang nói chuyện.
- Nói chuyện với ai?
- Tôi không nghe rõ lắm, không thấy nêu tên.
- Được, ông cứ nghe tiếp đi. Ngày mai báo cáo cho tôi biết.
Rôlinh treo ống nghe lên, lại nằm xuống, nhưng không thể ngủ được nữa.
Nhiệm vụ thật khó khăn: giữa những tiếng nhạc phốcxtơrốt, giữa những lời quảng cáo ầm ĩ, giữa những bài thánh ca nhà thờ, giữa những bản báo cáo về nền chính trị quốc tế, giữ những vở nhạc kịch, giao hưởng, tin tức về thị trường chứng khoán và những câu đùa cợt của các nghệ sĩ hài hước nổi tiếng, giữa tất cả những âm thanh lan tràn khắp châu Âu như một trận cuồng phong ấy, phải bắt cho được giọng nói yếu ớt của Dôia.
Để làm việc đó, Xêmiônốp suốt ngày đêm ngồi ở Mêđông. Gã đã thu được vài câu nói của Dôia. Nhưng chỉ như vậy thôi cũng đã đủ khơi dậy trí tưởng tượng ghen tuông của Rôlinh.
Y cảm thấy mình thật đáng khinh bỉ sau cái đêm ở Phôngtenơblô, Senga sống sót, mối nguy hiểm đáng sợ lơ lửng trên đầu y. Y phải ký thoả ước với Garin, một kẻ mà y sẽ sung sướng được treo cổ lên cành cây như treo cổ một gã da đen có lẽ, Rôlinh sẽ tỏ ra bướng bỉnh vào lúc ấy- thà chết, thà lên máy chém còn hơn liên minh với một kẻ như thế, nhưng ý chí của y đã bị Dôia làm suy sụp. Bằng cách thoả thuận với Garin, y đã tranh thủ được thời gian, và biết đâu, mụ đàn bà điên rồ kia sẽ nghĩ lại, sẽ hối hận, sẽ trở về với y… Y đặt một trong những điều kiện của bản thoả ước là Dôia sẽ lên du thuyền đi du lịch một thời gian dài (Điều đó cần thiết để xoá sạch dấu vết). Y hy vọng sẽ thuyết phục, cảnh tỉnh, lôi kéo được ả bằng những cuộc trò chuyện hàng ngày qua đài phát sóng. Có lẽ, niềm hy vọng đó là chuyện ngu ngốc tệ hại nhất trong đời Rôlinh
Theo thoả thuận với Garin, Rôlinh lập tức bắt đầu “cuộc tổng tiến công trên mặt trận hoá học”. Ngay hôm Dôia lên chiếc du thuyền ở Havrơ, Rôlinh đáp tàu trở trở về Pari. Y báo cáo cảnh sát là y đã đến Havrơ và ban đêm, trên đường trở về, y bị một toán cướp tiến công (ba tên bịt kín mặt). Chúng cướp tiền và ô tô của y. (Trong lúc ấy, theo ước định với nhau, Garin phóng xe từ phía Tây sang phía Đông nước Pháp, vượt qua biên giới ở Lúcxămbua và dìm chiếc xe của Rôlinh xuống ngay con kênh đào đầu tiên mà y gặp).
“Cuộc tiến công trên mặt trận hoá học” mở màn. Báo chí Pari bắt đầu một chiến dịch gây náo động chưa từng thấy. “Tấn bi kịch bí ẩn ở Vinlơ Đavrê”, “Cuộc tiến công bí hiểm vào một người Nga trong công viên Phôngtenơblô”, “Vụ ăn cướp trắng trợn của ông vua hoá học”, “Hàng tỷ đô la Mỹ ở châu Âu”, “Sự diệt vong của nền kỹ nghệ quốc gia Đức”, “Rôlinh hoặc Mátxcơva”. Tất cả những chuyện ấy được làm rối tung lên một cách thông minh và khéo léo thành một mớ bòng bong mắc nghẽn ở cổ họng bọn người hủ lậu vốn là những kẻ cầm giữ các giá trị. Thị trường chứng khoán rung chuyển tận gốc. Giữa những hàng cột xám xịt của nó, cạnh các tấm bảng đen, nơi những bàn tay mắc chứng kinh giật đã dùng phấn viết viết xoá xoá các con số của những tờ chứng khoán đang mất giá, là những con người đã phát rồ đang lồng lộn, gào thét, mắt chực nổ tung, miệng sủi bọt màu máu.
Nhưng những kẻ đó chỉ là lũ tép riu, và tất cả những chuyện đó chẳng có ý nghĩa lắm. Những nhà công nghiệp kếch sù và chủ ngân hàng lớn nghiếm chặt răng giữ lấy những tập cổ phiếu. Không dễ gì mà đè bẹp họ dù có bằng đôi sừng của Rôlinh chăng nữa.
Đòn giáng từ phía Garin đang được chuẩn bị chính là để thực hiện chiến dịch quan trọng nhất này.
Đúng như Senga dự đoán, Garin đang ráo riết chế tạo ở Đức một bộ máy theo mẫu của y. Y đi hết thành phố này đến thành phố khác để đặt các nhà máy sản xuất các bộ phận khác nhau. Để liên lạc với Garin, y sử dụng mục tin riêng trong tờ báo xuất bản tại Côlônhơ. Về phần mình, Rôlinh thỉnh thoảng lại đăng trong một tờ báo lá cải ở Pari vài ba dòng chữ: “Hãy lập tức chú ý vào chất insulin, ‘Mỗi ngày đều đáng giá, đừng tiếc tiền…”, v.v…
Garin trả lời: “Tôi sẽ hoàn thành sớm hơn dự định…”, “Đã tìm được địa điểm…”, “Tôi đang bắt tay vào việc…”, “Một chuyện mắc míu không lường trước…”
Rôlinh: “Tôi rất lo lắng, hãy định ngày đi…”
Garin trả lời: “Hãy đếm đến ba mươi lăm hế sẽ ngày ký thoả thuận”.
Áng chừng vào quãng thời gian ấy, Rolinh nhận được in báo bằng điện thoại của Xêmiônốp vào ban đêm. Y giận điên lên – người ta dám xỏ mũi y. Những mối liên lạc bí mật với chiếc “Aridôna” ngoài một hậu quả khác, còn nguy hiểm nữa. Nhưng y không để lộ ý đồ của mình, dù chỉ là một lời, khi nói chuyện với bà Lamôlơ ngày hôm sau.
Giờ đây, trong lúc mất ngủ, y bắt đầu “ngẫm nghĩ” một lần nữa “ván cờ” của mình với kẻ thù hết sức nguy hiểm kia. Y thấy mình sai lầm. Hoá ra Garin không được “bảo vệ” chu đáo lắm. Sai lầm của y là ở chỗ đã đồng ý cho Dôia đi du lịch, kết cục ván cờ đã được quyết định trước đối với y rồi. Nước “chiếu hết” sẽ thực hiện trên chiếc “Aridôna”
 
256257
Nhưng trên chiếc “Aridôna”, tình hình diễn ra không hàon toàn như Rôlinh nghĩ. Y nhớ Dôia là một phụ nữ thông minh, bình tĩnh, tính toán, lạnh lùng và trung tàhnh. Y biết ả rất khinh bỉ đối với những nhược điểm của nữ giới. Y không thể cho phép kéo dài việc ả mê đắm cái gã lang thang không một xu dính túi kia, cái tên kẻ cướp Garin kia. Một cuộc du ngoạn thoải mái trên Địa Trung hải nhất định sẽ làm đầu óc ả tỉnh táo ra.
Dôia quả thật như trong cơn mê khi ả bước lên du thuyền ở Havrơ. Vài ngày cô độc giữa biển cả đã làm ả bình tĩnh lại. Ả thức dậy, nói năng, ăn uống và ngủ thiếp đi dưới bầu trời trong xanhm giữa cảnh mây nước rực rỡ và trong tiếng sóng êm đềm vỗ bất tận. Ả rùng mình vì ghê tởm khi nhớ lại căn phòng bẩn thịu và xác Lơnoa nhe răng ra, mắt trắng ã, nhớ lại dải khói ngùn ngụt chạy ngang ngực Mỏ Vịt, quãng rừng thưa ẩm ướt ở Phôngtenơblô và mấy phát súng bất ngờ của Rôlinh, dường như y giết một con chó dại.
Nhưng đầu óc ả không tỉnh táo ra như Rôlinh hi vọng. Cả lúc tỉnh lẫn lúc mơ, ả như nhìn thấy những hòn đảo tuyệt đẹp nào đấy cũng những lâu đài bằng đá hoa có các bậc thang chạy dài xuống biển. Ả như nhìn thấy những đám người xinh đẹp, nghe thấy tiếng nhạc du dương, trông thấy những lá cờ bay phần phật… Và ả là chúa tể của cái thế giới kỳ ảo này…
Những giấc mơ và những hình ảnh tưởng tượng của ả khi ả ngồi trong chiếc ghế bành dưới lớp mái che màu xanh ấy là sự tiếp nối cuộc trò chuyện với Garin ở Vinlơ Đavrê (một giờ trước khi xảy ra vụ tàn sát). Lúc này, Garin là người duy nhất trên thế giới có thể hiểu được ả. Nhưng gắn liền với y lại là cặp mắt trắng dã của Lơnoa và cái mồm há hốc khủng khiếp của Gaxtông Mỏ Vịt.
Chính vì thế mà tim Dôia như lặng đi khi ả bất ngờ nghe thấy giọng Garin trên làn sóng điện… Từ khi ấy, ngày nào ả cũng kêu gọi y, van xin y, đe doạ y. Ả vừa muốn gặp y lại vừa sợ gặp y. Ả mơ thấy y là một vệt đen ngòm trên nền trời biển xanh thẳm… Ả cần kể cho y nghe về những cảnh mơ mơ thực thực ấy. Ả cần hỏi y xem vòng đai ôlivin của y ở đâu? Ả lồng lộn đi lại trên du thuyền, làm thuyền trưởng Gianxen và viên thuyền phó khiếp đảm.
Garin trả lời:
- Em hãy đợi một chút. Tất cả những gì em muốn rồi em sẽ có. Chỉ có điều là hãy biết ham muốn. Em cứ mong muốn đi, cứ phát điên đi – như vậy càng tốt. Anh cần em là một phụ nữ như vậy. Không có em, trái tim anh sẽ mất hết sức sống. 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-22 17:38:45hathanh725>
Những chữ mình tô đỏ là mình không chắc, bạn huytran xem lại nhé!
****************************

(trang 106 - trang125)
 
Dôia cảm thấy một nỗi lo ngại khủng khiếp. Trước mặt ả, một đường hầm thấp, tối tăm, kéo dài. Ngọn đèn rọi sáng lờ mờ những bức tường mấp mô, sơn màu sẫm. Chỉ dẫn của Xêmiônốp là như thế này: đến cuối đường hầm thì rẽ trái, theo cầu thang xoáy trôn ốc lên tầng ba, bên trái là căn phòng số mười một.
Đến giữa đường hầm, Dôia dừng lại. Ả cảm thấy như đằng xa, phía bên trái, có người thoáng ló đầu ra rồi biến mất. Có nên quay lại không? Ả lắng nghe - không một tiếng động nào. Ả chạy đến chỗ rẽ vào đầu cầu thang hôi hám. Tại đây bắt đầu chiếc cầu thang xoáy ốc, hẹp, được rọi sáng lờ mờ từ đâu đó phía trên. Ả nhón chân bước, sợ chạm phải tay vịn nhớp nháp.
Mọi người trong nhà đều đang ngủ. Trên đầu cầu thang tầng hai, một nửa vòm tróc lở dẫn vào dẫy cầu thang tối tăm. Ả vừa bước lên tiếp, vừa ngoái lại, ả cảm thấy như từ trong cửa vẫn có ai đó ló ra rồi biến mất… Chỉ có điều đấy không phải là Gaxtông Mỏ vịt… “Không, hắn chưa kịp đến đây, hắn không thể đến nhanh thế được…”.
Đến đầu cầu thang tầng ba, Dôia lấy lại hơi thở. Nếu Garin không có ở nhà, ả sẽ đợi cho đến sáng. Nếu y có nhà, đang ngủ, ả sẽ không trở ra nếu không lấy được những tờ giấy y thủ trên bàn tại đại lộ Mađéc.
Dôia tháo găng, khẽ khàng sửa mái tóc dưới mũ rồi đi sang trái, theo dẫy hành lang gấp khúc. Trên cánh cửa thứ năm có con số “11” kẻ bằng sơn trắng. Dôia đẩy nắm đấm cửa, cửa nhẹ nhàng mở ra.
Ánh trăng lọt qua ô cửa sổ mở, chiếu vào căn phòng nhỏ. Trên sàn, một chiếc va li mở tung nằm vạ vật. Những tờ giấy trắng vương vãi khắp nơi. Cạnh tường, giữa bồn rửa mặt và tủ ngăn, là một người đang ngồi trên sàn, mặc độc chiêc sơ mi, hai đầu gối để trần hếch lên, hai bàn chân không giày không tất dường như quá lớn… Ánh trăng chiếu sáng nửa khuôn mặt, con mắt mở to lấp lánh, hàm răng trắng bóng - người đó đang mỉm cười. Dôia nín thở, miệng hé mở, nhìn khuôn mặt bất động đang mỉm cười, - đó là Garin.
Sáng nay, trong tiệm cà phê “Địa cầu”, ả bảo Gaxtông Mỏ Vịt: “Hãy đánh cắp các bản vẽ và bộ máy của Garin, và nếu có thể thì giết hắn đi”. Chiều nay, qua làn khói thuốc lá trên cốc sâm banh, ả nhìn thấy đôi mắt của Garin và cảm thấy, nếu con người ấy vẫy gọi ả thì ả sẽ vứt bỏ hết, sẽ quên hết và đi theo y. Đến đêm, hiểu rõ mối nguy hiểm và chạy bổ đi tìm Gaxtông để ngăn y lại, chính ả cũng chưa ý thức được rõ rệt cái gì đã kiến ả lo lắng như vậy, đã thúc giục ả lang thang giữa Pari ban đêm và cuối cùng, dẫn ả đến phố Gôbêlêlốp này. Những linh cảm gì đã buộc người  phụ nữ thông minh, lạnh lùng và tàn nhẫn đó mở cửa căn phòng của một kẻ bị ả đẩy tới chỗ chết?
Ả nhìn hàm răng và con mắt lồi ra của Garin. Ả khẽ thét lên khàn khàn, rồi bước lại gần, cúi người xuống thân hình y - Garin đã chết. Mặt xám ngoét. Trên cổ có những vết xước phồng lên. Đó chính là khuôn mặt ấy - hốc hác, hấp dẫn với cặp mắt đầy xúc động, với bộ râu mượt mà lẫn những vạn côngphétti sặc sỡ… Dôia nắm lấy thành đá hoa lạnh lẽo của bồn rửa mặt, gắng gượng đứng dậy. Ả quên bẵng mất mục đích đến nơi đây. Nước bọt đắng ngắt trào dâng trong miệng. “Mình đến ngã ngất đi mất”. Bằng nỗ lực cuối cùng, ả giật đứt chiếc khuy trên cổ áo khiến ả nghẹt thở. Rồi ả tiến về phía cửa. Trên ngưỡng cửa là Garin.
Y giống hệt kẻ đang ngồi trên sàn - răng y trắng bóng, nụ cười ngưng đọng trên môi. Y giơ ngón tay lên, dọa dọa. Dôia hiểu, ả lấy tay bịt chặt miệng để khỏi bật ra tiếng kêu. Tim ả đập mạnh, dường như vừa từ dưới nước ngoi lên… “Sống, anh ấy còn sống…”.
- Kẻ bị giết không phải là tôi đâu, - Garin thầm thì nói và vẫn tiếp tục đe dọa, - các người đã giết phụ tá của tôi là Nơnoa… Rôlinh sẽ bị treo cổ…
- Còn sống, vẫn còn sống - Dôia khàn khàn nhắc lại.
- Bà đến đây làm gì?
- Tôi tìm Gaxtông…
- Ai cơ?
- Người mà tôi đã ra lệnh giết ông…
- Tôi đã biết trước là như vậy, - Garin vừa nói vừa nhìn vào mắt ả.
Ả đáp lại như trong cơn mê:
- Nếu Gaxtông giết ông thì tôi sẽ tự tử mất…
- Tôi không hiểu…
Ả  mê mẩn nhắc lại theo y bằng một giọng dịu dàng dằn khẽ:
- Chính tôi cũng không hiểu…
Cuộc chuyện trò này diễn ra ở ngưỡng cửa. Ngoài cửa sổ, trăng đang lặn thấp xuống sau mái nhà bằng graphít. Garin đưa mắt nhìn khắp căn phòng rồi hỏi khẽ:
- Bà đến đây để lấy lại tờ giấy có bút tích của Rôlinh phải không?
- Vâng. Xin ông hãy thương hại.
- Thương hại ai? Rôlinh ư?
- Không. Thương hại tôi. Xin hãy thương hại, - ả nhắc lại.
Đột nhiên Garin vươn thẳng người lên, lắng nghe. Rồi y lôi mạnh Dôia ra ngoài. Vừa tiếp tục nắm chặt tay ả phía trên khuỷu tay, y vừa ngước nhìn cửa vòm dẫn ra cầu thang.
- Ta đi đi. Tôi sẽ đưa bà qua đường công viên… Bà thật là một phụ nữ tuyệt diệu, - mắt y lóe lên một vẻ hài hước điên dại, - hai con đường của chúng ta đã gặp nhau… Bà cảm thấy như vậy chứ?...
Y cùng Dôia chạy xuống theo cầu thang xoáy ốc. Ả không cưỡng lại.
Đến cầu thang dưới cùng, Garin rẽ vào đâu đó trong bóng tối, dừng lại, thắp nến lên, ráng sức mở chiếc khóa han gỉ trên chiếc cửa có lẽ đã nhiều năm nay không mở.
- Bà thấy đấy, mọi việc đều dự liệu trước cả rồi.
Sau đó, Garin và Dôia bước ra ngoài, đi dưới những hàng cây tối tăm, ẩm ướt của công viên. Đúng lúc đó, một toán cảnh sát từ ngoài phố đi vào cổng: mười lăm phút trước đây, Garin đã gọi điện yêu cầu cảnh sát tới.
 
32
 
Senga nhớ rõ “nước cờ hớ” tại ngôi nhà nghỉ trên đảo Crextốpxki. Khi ấy, (trên đại lộ Công Đoàn), anh hiểu rằng: Pítkêvích nhất định sẽ trở lại ngôi nhà nghỉ một lần nữa để lấy những thứ y cất giấu dưới hầm nhà. Lúc chập tối (cũng ngày hôm đó) anh lần tới nhà nghỉ, tránh chạm trán với người canh gác, thủ sẵn chiếc đèn pin bí mật, đi xuống hầm nhà. “Nước cờ” ấy bị thất bại ngay: cách cửa sập trong bếp khoảng hai bước chân là Garin. Một giây trước lúc Senga xuất hiện, y xách va li nhảy từ hầm nhà lên và đứng nép vào tường sau cánh cửa. Y đóng ầm cửa sập lại ngay trước mặt Senga rồi lấy những bao đựng than chất lên. Senga giơ cao đèn, nhếch miệng cười nhìn rác rưởi bụi bậm rơi lả tả qua các khe cửa sập. Anh định tiến hành thương lượng hòa bình với Garin. Nhưng đột nhiên, phía trên bỗng lặng tờ, vang lên tiếng chân người chạy rồi tiếng súng nổ và cuối cùng là tiếng thét man rợ. Đó là cuộc vật lộn với gã bốn ngón. Một giờ sau, các chiến sỹ công an xuất hiện.
Sau nước cờ đó, Senga đi được nước cờ hay. Từ ngôi nhà nghỉ, anh dùng ôtô công an phóng thẳng đến câu lạc bộ thuyền buồm, đánh thức người trực câu lạc bộ dậy (đó là một thủy thủ tóc rối bù, giọng khàn) và hỏi thẳng:
- Gió nào?
Người thủy thủ dĩ nhiên là không nghĩ ngợi gì hết, trả lời ngay:
- Gió Đông Nam.
- Cấp mấy?
- Cấp năm.
- Anh đảm bảo là tất cả các thuyền buồm đều đậu tại chỗ chứ?
- Tôi bảo đảm.
- Ai đang bảo vệ các thuyền?
- Pếtca đang gác.
- Được - người thủy thủ trả lời và vì ngái ngủ mới xỏ tay được vào chiếc áo thủy thủ.
- Pếtca! - anh ta vừa gọi to bằng một giọng sặc sụa hơi rượu vừa cùng Senga bước lên hàng hiên câu lạc bộ (không có ai trả lời) - Nhất định cậu ta vừa rúc vào đâu đó ngủ rồi, phải kéo chân cậu ta dậy mới được, - người thủy thủ nói và dựng cổ áo lên để che gió.
Họ tìm thấy Pếtca trong bụi cây gần đấy - cậu ta đang ngáy ngon lành, trùm kín đầu bằng cổ áo khoác lông. Người thủy thủ trực ban quát mắng ầm ĩ. Pếtca càu nhàu đứng dậy. Cả hai lên dẫy phao chắn. Cả một rừng cột buồm lắc lư trên mặt nước màu xám sẫm. Sóng vỗ mạnh. Gió to thổi giật từng cơn.
- Anh tin chắc là tất cả thuyền đều đậu tại chỗ chứ? - Senga hỏi.
- Thiếu chiếc “Ôriôn”, nó hiện đang ở Pitegốp… Và hai chiếc nữa đi Xtơrenna.
Senga bước theo những tấm ván làm nước bắn tung tóe, đi đến tận mép dẫy phao chắn và nâng đoạn dây buộc bến lên - một đầu dây buộc chặt vào vòng thép, còn đầu kia rõ ràng là bị cắt đứt. người thủy thủ trực ban thong thả xem xét đoạn dây. Anh ta ấn mũ sụp xuống mũi và không nói gì hết. Sau đó, anh ta đi dọc theo dẫy phao chắn, dùng ngón tay đếm số thuyền. Rồi anh ta chém mạnh tay vào không khí và giận dữ thét to:
- Pếtca, cậu là đồ rẻ rách! Đem dìm chết cậu đi cũng đáng! Trông nom cái quái gì mà chiếc thuyền đua tốt nhất là “Bibigôđa” cũng để chúng cuỗm mất…
Pếtca ồ lên ngạc nhiên, lấy hai tay áo lông tự quất vào người. Ở đây chẳng có việc gì làm nữa. Senga đi ra bến.
Ít nhất là ba tiếng đồng hồ đã trôi qua, vậy mà ca nô tuần tra của đội bảo vệ - loại ca nô chạy nhanh - vẫn không ra được ngoài khơi. Sóng lớn nổi lên dữ dội. Chiếc ca nô hết dâng lên lại chìm xuống. Bụi nước làm mờ ống nhòm. Khi mặt trời mọc lên, - trong vịnh Phần Lan, cách ngọn hải đăng khá xa, - thì họ thấy cánh buồm hiện ra ở gần bờ. Đấy là chiếc “Bibigônđa” bất hạnh đang quay cuồng giữa những tảng đá ngầm. Trên thuyền không có một người nào. Chiếc ca nô bắn mấy phát lấy lệ rồi đành quay mũi trở về, không thu được kết quả gì. Vậy là vào đêm đó, Garin đi thêm một nước cờ nữa và đã vượt biên giới. Về việc gã bốn ngón tham gia vào ván cờ này thì chỉ có y và Senga được biết. Vì lẽ đó, trên đường trở về bến, Senga tính toán như sau:
“Ở nước ngoài, Garin sẽ hoặc đem bán, hoặc được tự do sử dụng bộ máy bí ẩn kia. Đối với Liên Xô, sáng chế này tạm thời bị mất, và ai biết được là trong tương lai nó có nhất thiết đóng một vai trò tội lỗi gì không. Nhưng ở nước ngoài, Garin có một mối đe dọa - đó là gã bốn ngón. Cuộc chiến đấu với gã đó hiện chưa kết thúc. Garin sẽ không dám xuất hiện công khai với bộ máy của y. Nên trong trận đấu này mà đứng về phía Garin thì có thể thu được kết quả. Dù sao chăng nữa thì điều ngu xuẩn nhất có thể nghĩ ra được (và có lợi nhất cho Garin) - đấy là bắt ngay gã bốn ngón ở Lêningrát”. Kết luận rất đơn giản: Senga từ bến sông về thẳng nhà mình, thay quần áo khô, gọi điện đến Ban điều tra hình sự cho biết là “vụ án đã tự nó kết thúc”, ngắt mạch máy điện thoại và đi ngủ, vừa vừa nằm vừa mỉm cười giễu cợt khi hình dung thấy gã bốn ngón bị nhiễm độc, có lẽ còn bị thương nữa, hiện đang ba chân bốn cẳng chạy trốn khỏi Lênigrát. Đó là đòn phản công của Senga đối với “nước cờ hớ” kia.
Và đây là bức điện (từ Pari) “Người bốn ngón đang ở đây. Nhiều biến cố nguy hiểm”. Đó là tiếng gọi xin giúp đỡ.
Senga càng suy nghĩ thì càng thấy rõ là phải bay đi Pari. Anh gọi điện thoại hỏi giờ máy bay chở khách cất cánh rồi quay lại hàng hiên, nơi Taraskin và chú bé Ivan đang ngồi trong bóng tối mờ mờ. Sau khi Senga đọc được hàng chữ trên lưng chú thì chú lặng thinh và không rời Taraskin.
Qua khoảng trống giữa các cành cây, từ mặt nước màu vàng cam vọng lên những giọng nói lao xao, tiếng mái chèo khua nước và tiếng cười của phụ nữ. Những việc cổ xưa như trái đất đang diễn ra dưới những khóm cây rừng đen sẫm trên đảo, nơi lũ chim chóc chưa ngủ xao xác gọi nhau. Toàn bộ sinh vật vừa bừng dậy khỏi những trận mưa và bão tuyết của mùa đông dài dằng dặc, nay hối hả sống, vui vẻ khao khát tận hưởng vẻ mỹ lệ ngây ngất của đêm nay. Taraskin một tay ôm lấy vai Ivan, một tay tì khuỷu lên lan can, ngồi yên không nhúc nhích, ngắm nhìn dòng nước qua những khoảng trống. Những con thuyền đang lướt nhẹ trên sóng.
- Ivan này, - Senga vừa nói vừa dịch ghế lai gần, cúi xuống khuôn mặt chú bé, - cháu thấy thích ở đâu hơn, ở đằng ấy hay ở đây? Có lẽ ở Viễn Đông cháu sống khổ lắm, lúc nào cũng đói meo, có phải không?
Ivan nhìn Senga không chớp mắt. Trong ánh hoàng hôn, mắt chú có vẻ buồn bã như mắt người già. Senga rút trong túi áo gilê ra một chiếc kẹo, gõ nhẹ vào răng chú cho tới khi hai hàm răng chú tách ra và chiếc kẹo chui tọt vào miệng. Anh nói:
- Cháu Ivan này, các chú đối xử với thiếu nhi rất tử tế. Các chú không bắt làm việc, không viết thư lên lưng, không bắt phải đi đâu xa tít bằng cách nằm dưới gầm toa. Cháu thấy đấy, trên đảo này thật thú vị biết bao,và cháu có biết tất cả những thứ này là của ai không? Các chú trao hản cho thiếu nhi tất cả những thứ này rồi, trao vĩnh viễn. Cả con sông, cả hòn đảo, cả những chiếc thuyền, cả bánh mỳ cặp chả mà cháu cứ việc ăn thỏa thích - tất cả đều là của cháu hết…
- Anh định đánh lạc hướng chú bé chứ gì? - Taraskin hỏi.
- Đánh lạc hướng sao được, chú ta thông minh lắm, cháu từ đâu đến đây?
- Từ sông Amua, - chú bé miễn cưỡng trả lời, - Mẹ cháu chết, bố cháu bị giết trong chiến tranh.
- Vậy cháu sống như thế nào?
- Cháu đi làm thuê, làm việc…
- Bé tí mà cũng phải làm việc cơ à?
- Biết làm thế nào được… Cháu còn chăn ngựa nữa.
- Rồi sau đó thì sao?
- Sau đó người ta lấy cháu vào…
- Ai lấy?
- Một toán người. Họ cần một chú bé để sai trèo cây, hái quả, hái nấm, bắt sóc làm thức ăn, chạy đi làm việc này việc nọ…
- Tức là họ lấy cháu vào đoàn thăm dò chứ gì? (Ivan hấp háy mắt, yên lặng). Có xa không? Cháu trả lời đi, đừng sợ. Các chú không đem cháu đi nộp đâu. Bây giờ cháu là người thân của các chú rồi…
- Mọi người đi tàu thủy suốt tám ngày đêm, cứ tưởng không ai còn sống nổi nữa. Sau đó lại đi bộ thêm tám ngày nữa cho đến khi đến một ngọn núi thở ra lửa…
- À, ra thế đấy, - Senga nói, - Tức là đoàn thăm dò đã đến Camsátca.
- Đúng là Camsátca chú ạ… Ở đấy cả đoàn sống trong lều… Mãi lâu, không ai biết gì về cách mạng cả. Khi biết thì ba người đã bỏ đi, rồi thêm hai người nữa, thức ăn cạn hết. Chỉ còn ông ta và cháu…
- “Ông ta” là ai vậy? Tên ông ta là gì?
Ivan lại cau mày, Senga khích lệ chú hồi lâu, anh vuốt mái đầu cắt ngắn cúi thấp xuống của chú…
- Nếu cháu nói thì ông ta nhất định sẽ giết cháu. Ông ta cam đoan như vậy…
- Ai cơ?
- Manxep chứ còn ai nữa… Ông ta bảo: “Đây, bác viết thư lên lưng cháu rồi đấy, cháu không được tắm rửa, không được cởi áo ra, dù có một năm, hai năm chăng nữa. Cháu hãy đến bằng được Pêtơrôgrát, tìm kỹ sư Garin và cho ông ấy xem bức thư này, ông ấy sẽ thưởng cho cháu…”
- Vậy tại sao Manxep lại không đích thân đến Pêtơrôgrát nếu ông ta cần gặp Garin?
- Ông ta sợ những người Bônsêvích… Ông ta bảo: “Họ tệ hơn quỷ sứ. Họ sẽ giết bác. Họ đã tàn phá cả nước - tàu hỏa không chạy, bưu điện không hoạt động, chẳng có gì mà ăn, mọi người chạy hết ra khỏi thành phố…” Chẳng hiểu ông ta làm sao mà biết được - ông ta ngồi lì trong núi suốt sáu năm kia mà…
- Ông ta làm gì ở đấy?
- Đời nào ông ta lại nói? Cháu chỉ biết là…(Mắt Ivan sáng lên một cách vui vẻ, ranh mãnh). Ông ta tìm vàng dưới đất…
- Ông ta thấy rồi chứ?
- Ông ấy ư? Dĩ nhiên là tìm thấy rồi…
- Nếu cần thì cháu có thể chỉ đường đến chỗ ông ta không?
- Dĩ nhiên là được… Chỉ có điều các chú chớ để lộ ra đấy, ông ta hay nổi giận lắm…
Senga và Taraskin hết sức chăm chú lắng nghe câu chuyện của chú bé kể. Senga xem xét cẩn thận một lần nữa những dòng chữ trên lưng chú. Sau đó anh chụp ảnh những dòng chữ đó.
- Bây giờ cháu xuống nhà chú đi, chú Taraskin sẽ dùng xà phòng tắm rửa sạch sẽ cho cháu rồi cháu sẽ đi ngủ, - Senga nói - Trước đây cháu chẳng có gì hết, không có bố, không có mẹ, chỉ có cái bụng đói thôi. Bây giờ cháu có tất cả, thứ gì cũng thừa thãi - cháu hãy sống, hãy học tập, hãy lớn lên cho khỏe mạnh. Chú Taraskin sẽ bảo ban cháu điều hay lẽ phải, cháu phải vâng lời chú ấy mới được. Tạm biệt cháu. Hai ngày nữa, khi gặp Garin, chú sẽ kể cho chú ấy biết được nội dung bức thư của cháu.
Senga cười vang và ít phút sau, ánh đèn xe đạp của anh đã nhẩy nhót, lấp loáng sau những bụi cây đen sẫm.
 
33
 
Đôi cánh nhôm lóe sáng cao tít trên sân bay xanh rờn, và chiếc máy bay chở khách sáu chỗ ngồi biến mất sau những đám mây trắng như tuyết. Nhóm người ra tiễn đứng một lát, ngẩng đầu về phía bầu trời xanh thẳm, nơi con diều hâu đang uể oải lượn tròn và đàn én đang lao vun vút, nhưng con chim bằng đuyra đã không thấy nữa.
Sáu hành khách ngồi trong những chiếc ghế đan kêu ken két, nhìn mặt đất nhìn mặt đất màu xanh pha sắc tím đang thụt dần xuống. Những con đường uốn lượn trông như những sợi chỉ. Những khối nhà, những gác chuông tựa những đồ chơi hơi nghiêng. Xa xa ở bên phải là vùng nước xanh mênh mông trải rộng.
Một bóng mây lướt qua, che đi những chi tiết của tấm bản đồ mặt đất. Còn chính đám mây thì xuất hiện ngay bên dưới.
Áp mình vào ô cửa sổ, tất cả sáu hành khách đều nở nụ cười gượng gạo của những kẻ biết tự chủ. Việc đi lại bằng đường không lúc bấy giờ vẫn còn là điều mới mẻ. Mặc dù buồng máy bay đầy đủ tiện nghi, trên những chiếc bàn phụ ngổn ngang các tạp chí và catalô, và mọi vật đều toát ra vẻ an toàn, ấm cúng, nhưng các hành khách vẫn phải thường xuyên tự trấn an rằng, suy cho cùng thì việc giao thông bằng máy bay vẫn an toàn hơn nhiều so với việc đi bộ qua phố chẳng hạn. Huống hồ đây lại là trên trời. Mỗi khi gặp đám mây là lại như đang ngụp lặn, chỉ cần các kính cửa sổ trong buồng lái mờ hơi nước, mưa đá đập rào rào vào lớp đuyra hoặc máy bay rung lên như sa vào ổ gà là mọi người lại bíu chặt vào tay ghế, mắt trợn tròn, nhưng người bên cạnh đã nháy mắt, cười vang: ổ gà nông choẹt ấy mà! Mỗi khi ào đến cơn gió giật (loại gió có khả năng trong giây lát giật đứt cột buồm ngoài biển, bẻ gẫy bánh lái, cuốn thuyền bè và người vào những đợt sóng dữ dội) thì con chim sắt này lại tỏ ra chắc chắn và khéo léo - nó chao một bên cánh, gầm rít động cơ rồi vọt cao hàng nghìn mét bên trên trung tâm giông tố.
Tóm lại, trong vòng không đầy một giờ, các hành khách đã quen với khoảng trống rỗng dưới chân cũng như với sự chao đảo tròng trành. Tiếng ầm ầm của động cơ át đi tiếng nói. Vài người chụp lên đàu bộ ống nghe có mang micrô và cuộc trò chuyện bắt đầu. Ngồi đối diện với Senga là một người gầy gò, trạc ba mươi lăm tuổi, mặc chiếc măngtô đã sờn và đội chiếc mũ cát két kẻ ô, chắc hẳn anh ta đã mua chiếc mũ này cho chuyến du lịch ra nước ngoài.
Khuôn mặt anh ta tai tái, da mặt mỏng, nhìn nghiêng thì có vẻ cau có, nhưng thông minh, thanh nhã, bộ râu hoe vàng, miệng bình thản và cương nghị. Anh ta ngồi lom khom, hai tay đặt trên đầu gối. Senga mỉm cười ra hiệu. Anh ta đội bộ ống nghe lên. Senga hỏi:
- Anh đã từng theo học ở Iarôxláp phải không? (Gật đầu). Anh là đồng hương của tôi, tôi nhớ rõ như vậy. Anh là Alếchxây Xêmiônôvích Khơlưnốp? (Gật đầu). Hiện giờ anh làm việc ở đâu?
- Tại phòng thí nghiệm vật lý trường bách khoa, - giọng yếu ớt của Khơlưnốp, vì bị tiếng động cơ át đi, vang lên trong ống nghe.
- Anh đi công tác?
- Tôi đến chỗ Râykhe ở Béclin.
- Bí mật?
- Không. Hồi tháng ba năm nay, chúng tôi được biết rằng tại phòng thí nghiệm của Râykhe đã thực hiện việc phân hủy nguyên tử thủy ngân.
Khơlưnốp quay cả khuôn mặt về phía Senga - mắt anh ta chằm chằm nhìn người đối thoại với vẻ xúc động nghiêm nghị. Senga nói:
- Tôi không hiểu, tôi không phải là nhà chuyên môn.
- Hiện nay, công việc vẫn còn tiến hành trong các phòng thí nghiệm. Còn lâu mới áp dụng được trong công nghiệp… Mặc dù, - Khơlưnốp nhìn những khối mây cuồn cuộn như tuyết phủ sát mặt đất dưới thấp, - từ phòng thí nghiệm đến nhà máy cũng chẳng lấy gì làm xa lắm. Nguyên tắc phân hủy cưỡng bức nguyên tử chắc chắn là rất đơn giản, cực kỳ đơn giản. Tất nhiên, anh biết nguyên tử là gì chứ?
- Một vật nhỏ tí tẹo thế này, - Senga dùng ngón tay ra hiệu.
- Nguyên tử so với hạt cát chẳng khác gì hạt cát so với trái đất. Vậy mà chúng tôi vẫn đo được kích thước nguyên tử, trọng lượng, khối lượng, điện tích của nguyên tử. Chúng tôi đang đi sâu vào lõi nguyên tử, vào hạt nhân nguyên tử. Nó chứa đựng toàn bộ bí mật của quyền lực với vật chất. Tương lai của nhân loại phụ thuộc vào việc chúng ta sẽ có thể chế ngự được hạt nhân nguyên tử hay không, tuy đó chỉ là một hạt nhỏ của năng lượng vật chất và có độ lớn chỉ bằng một phần trăm tỷ centimét.
Ở độ cao hai nghìn mét trên mặt đất, Senga được nghe những điều kỳ lạ, kỳ lạ hơn cả những truyện cổ tích của nàng Sêhêradát, nhưng đó không phải là truyện cổ tích. Trong lúc dân tộc này bị lôi kéo vào một cuộc chiến tranh hủy diệt, còn dân tộc khác đang vùng dậy khởi nghĩa, trong lúc các thành phố bốc cháy, và tro tàn cùng những đám mây hơi độc cuồn cuộn bốc lên trên những luống cày và vườn cây, trong lúc chính trái đất cũng rung chuyển vì những tiếng gào thét của những kẻ bị tiêu diệt, và như xưa kia, kìm kẹp và bàn tra tấn của bọn đao phủ đã bắt đầu hoạt động trong các hầm ngục tăm tối, trong lúc cứ đêm đêm là cây cối ở các công viên lại sinh ra những thứ quái gở với những chiếc lưỡi lè ra, trong lúc những chiếc áo lễ duy tâm được trang điểm biết bao âu yếm đã tuột khỏi thân thể con người trong thập kỷ kỳ quái và khổng lồ ấy, trong những bộ óc kỳ diệu của các nhà bác học rực sáng lên như những ngọn đuốc đơn độc.
 
34
 
Máy bay hạ cánh thấp xuống trên bầu trời Cốpnô[1]. Cánh đồng xanh ướt đẫm nước mưa vun vút lao đến. Máy bay lăn bánh một quãng dài rồi đỗ lại. Người phi công nhảy xuống cỏ. Các hành khách ra ngoài duỗi chân tay. Họ châm thuốc hút. Senga lánh sang bên, nằm trên cỏ, chắp tay sau gáy và thích thú nhìn những đám mây xa xa, màu xanh nhạt. Anh vừa ở trên đó, vừa bay lượn giữa những ngọn núi nhẹ bồng bềnh và trắng như tuyết, bên trên những hố sâu màu thanh thiên.
Người bạn “nhà trời” của anh, Khơlưnốp, đang đứng hơi gù gù cạnh chiếc cửa của con chim sắt màu xám. Dù là bạn “nhà trời” thật nhưng anh ta cũng vẫn cứ là người, dù có đội chiếc mũ của công ty may mặc Lêningrát chăng nữa.
Senga cười vang:
- Được sống trên đời vẫn cứ tuyệt diệu như thường. Tuyệt diệu đến mức khó mà hiểu nổi!
Khi máy bay cất cánh từ sân bay Cốpnô, Senga đến ngồi cạnh Khơlưnốp và không nêu tên một ai hết, anh kể cho anh ta tất cả những điều mình biết về các thí nghiệm khác thường của Garin và về việc nước ngoài rõ ràng là rất quan tâm đến những thí nghiệm ấy.
Khơlưnốp hỏi xem Senga có trông thấy bộ máy của Garin hay không.
- Không. Chưa một ai trông thấy bộ máy ấy cả.
- Có lẽ tất cả những chuyện đó đều là những dự đoán và giả thuyết, lại được thêm thắt bằng trí tưởng tượng  nữa chăng?
Senga liền kể về gian hầm trong ngôi nhà nghỉ đổ nát, về những mẩu sắt bị cắt đứt, về những hòm đựng các khối chóp than. Khơlưnốp gật đầu, phụ họa theo:
- À ra thế. Những khối chóp nhỏ chứ gì? Giờ thì tôi hiểu rồi. Nếu không cần giữ bí mật lắm thì anh đang kể về kỹ sư Garin phải không?
Senga yên lặng một phút, nhìn vào mắt Khơlưnốp.
- Đúng, - anh trả lời, - tôi đang nói về Garin đấy. Anh biết anh ta chứ?
- Một người rất có năng lực, - Khơlưnốp nhăn mặt như ăn phải của chua. - Một người khác thường. Nhưng xa lạ với khoa học. Một kẻ hiếu danh, hoàn toàn tách biệt. Một kẻ phiêu lưu, vô đạo đức, có những mầm mống của thiên tài. Một khí chất thái quá. Óc tưởng tượng ghê gớm. Nhưng trí tuệ tuyệt vời của anh ta luôn luôn bị kích thích bởi những khát vọng thấp hèn. Anh ta sẽ đạt được nhiều thứ, nhưng sẽ kết thúc bằng một cái gì đó tựa như tình trạng say khướt hoặc anh ta sẽ tìm cách “làm nhân loại phải khiếp đảm”. Hơn ai hết, một thiên tài cần phải có kỷ luật hết sức nghiêm ngặt, Vì quá nhiều trách nhiệm.
Những vệt đỏ hồng lại xuất hiện trên mặt Khơlưnốp.
- Lý trí trong sáng, có kỷ luật, là vật thiêng liêng nhất, vĩ đại nhất, là điều kỳ diệu nhất. Trên trái đất - một hạt cát trong vũ trụ - con người chỉ là một phần tử vô cùng nhỏ. Nhưng các phần tử biết suy nghĩ và chỉ sống một thời gian trung bình là sáu mươi vòng quay của trái đất quanh mặt trời ấy lại có lý trí, một lý trí bao trùm được cả vũ trụ… Để hiểu được điều đó, chúng ta phải chuyển sang ngôn ngữ của toán học cao cấp… Vậy thì anh sẽ nói sao nếu có người lấy đi chiếc kính hiển vi hết sức quý báu trong phòng thí nghiệm của anh rồi dùng nó để đóng đinh?... Chính Garin đang xử sự với thiên tài của mình theo kiểu đó đấy… Tôi biết là anh ta đã thực hiện được một phát minh lớn trong lĩnh vực truyền các tia sáng hồng ngoại đi xa. Tất nhiên, chắc anh đã nghe nói đến những tia giết người của Grinđen Matiuđơ[2] chứ? Những tia giết người ấy hóa ra chỉ là chuyện hoàn toàn nhảm nhí. Nhưng nguyên tắc thì đúng. Những tia nhiệt nóng hàng nghìn độ được phóng đi song song là một vũ khí khủng khiếp để phá hủy và phòng thủ trong quân sự. Toàn bộ bí mật là ở chỗ làm thế nào để phóng đi được loại tia không bị tán xạ. Cho đến nay vẫn chưa thực hiện được việc đó. Theo lời kể của anh thì có lẽ Garin đã chế tạo được bộ máy như vậy. Nếu thế thì đó là một phát minh quan trọng.
- Từ lâu tôi đã cảm thấy rằng xung quanh phát minh này đã sặc mùi chính trị trên quy mô lớn rồi - Senga nói.
Khơlưnốp yên lặng một lát, rồi tai anh ta cũng đỏ bừng lên.
- Anh hãy tìm bằng được Garin, nắm lấy cổ anh ta và đưa anh ta cùng bộ máy kia về Liên Xô. Không được để bộ máy ấy lọt vào tay kẻ thù của chúng ta. Anh hãy hỏi Garin xem anh ta có nhận thức được nghĩa vụ của mình không? Hay anh ta quả thật là một kẻ hèn hạ?... Trong trường hợp như vậy thì anh hãy cho anh ta thật nhiều tiền, anh ta muốn bao nhiêu cứ cho anh ta ngần ấy… Hoặc giết anh ta đi…
Senga dướn mày lên. Khơlưnốp đặt ống nghe lên bàn, ngửa người ra, nhắm mát lại.
Chiếc máy bay bay trên những cánh đồng xanh vuông vắn, trên những con đường thẳng như kẻ chỉ. Từ xa tít trên cao thấy hiện lên thành phố Béclin màu nâu giữa những hồ nước xanh xanh. Tất cả nhỏ bé như trên bản vẽ.





[1] Cốpnô ( nay là Caunat) là một thành phố ở Lítva. (Chú thích của nguyên bản).
[/align]
[2] Grinđen Matiuđơ: một nhà sáng chế đã làm náo động dư luận giữa những năm 20 của thế kỷ XX xung quanh những “tia giết người” của ông ta. (Chú thích của nguyên bản).
[/align][/align][/align][/align][/align][/align]
0
(trang 126 -trang 147)
35
 
Lúc bảy rưỡi sáng, Rôlinh thức giấc như thường lệ ở phố Xenna, trong chiếc giường của hoàng đế Napôlêông. Mắt vẫn nhắm, y lấy chiếc khăn tay ở dưới gối và hỉ mũi.
Quả thật Rôlinh chưa hoàn toàn tỉnh táo nhưng đã làm chủ được các suy nghĩ và ý chí của mình, y ném chiếc khăn tay xuống thảm, ngồi dậy giữa đống gối lụa và nhìn quanh. Chiếc giường trống trải, trong phòng cũng trống trải.
Rôlinh ấn chuông, cô hầu phòng của Dôia xuất hiện. Không nhìn vào mặt cô ta, Rôlinh hỏi:
- Bà đâu?
Cô hầu phòng nhún vai, quay đầu hết phía này đến phía khác như con cú. Rồi cô ta nhón chân đi vào buồng vệ sinh, từ đó vội vã chạy sang phòng để quần áo, đóng sập cửa buồng tắm lại và xuất hiện trong phòng ngủ. Những ngón tay cô ta đặt hai bên chiếc tạp dề đăng ten run rẩy:
- Con không thấy bà ở đâu cả.
- Dọn cà phê lên, - Rôlinh ra lệnh.
Y tự mình xả nước đầy bồn tắm, tự mình mặc quần áo, tự mình rót cà phê. Trong lúc đó, khắp nhà lặng lẽ đầy kinh hoàng - ai cũng nhón chân, nói năng thầm thì. Khi ra khỏi khách sạn, y lấy khuỷu tay hích người gác cổng đang hốt hoảng lao đến mở cửa. Y đến văn phòng chậm mất hai mươi phút.
Sáng hôm đó, ở đại lộ Mandéc như tỏa mùi thuốc súng. Trên mặt viên thư ký hiện rõ vẻ nhẫn nhục. Từ chiếc cửa gỗ hồ đào bước ra, người khách nào cũng nhăn nhó mặt mày. Họ thì thầm cho biết: “Ngài Rôlinh hôm nay không được vui”. Đúng một giờ, Rôlinh nhìn đồng hồ treo tường và bẻ gẫy chiếc bút chì. Rõ ràng là Dôia không đến đón y đi ăn trưa. Y chùng chình cho đến một giờ mười lăm. Trong vòng mười lăm phút khủng khiếp này, trên mái tóc chải bóng lộn của viên thư ký xuất hiện vài sợi bạc. Rôlinh đành một mình đi ăn.Y đến hiệu “Griphông” như thường lệ.
Chủ hiệu ăn - ông Griphông - là một người đàn ông cao lớn, béo tốt, trước đây là đầu bếp và mở một quán bia nhỏ, nay là cố vấn về Đại Nghệ thuật Khẩu vị và Tiêu hóa. Ông ta đón Rôlinh bằng một cái vung tay hùng dũng. Áo đuôi tôm màu xám sẫm, bộ râu kiểu Átxiri chải mượt, vầng trán đầy vẻ cao quí, ông ta đứng giữa căn phòng nhỏ của hiệu ăn, tì một tay vào chiếc bệ bằng bạc, có cấu tạo đặc biệt, trông tựa như bàn thờ, bên dưới cái nắp vồng lên của nó là món ăn nóng hổi đang sủi sùng sục - đó là món thịt hông cừu hầm đỗ.
Ngồi trên những chiếc đi văng bằng da đỏ kê dọc theo bốn bức tường, sau những chiếc bàn hẹp liền khối, là đám khách thường xuyên thuộc thế giới doanh nghiệp của các Siêu Đại lộ, phụ nữ chỉ chiếm một số nhỏ. Khoảng giữa phòng để không, trừ khối bạc trông tựa bàn thờ kia. Ông chủ hiệu luôn luôn quay đầu để có thể nhìn thấy quá trình cảm nhận bằng vị giác của từng thực khách. Một cái nhăn mặt bực bội nhỏ nhất cũng không thoát khỏi mắt ông ta. Hơn thế nữa, ông ta còn thấy được nhiều thứ: những quá trình bí ẩn tiết các chất dịch, hoạt động xoáy ốc của dạ dày và toàn bộ tâm lý ăn uống dựa trên hồi ức về một món gì đó đã từng ăn, trên những linh cảm và sự tiếp máu đến các bộ phận khác nhau của thân thể - tất cả những cái đó đối với ông ta là một cuốn sách mở.
Ông ta thường bước lại gần với vẻ mặt nghiêm nghị và đồng thời lại rất ân cần, chu đáo, vừa nói bằng một giọng âu yếm bộc trực đến mê hồn: “Thưa ngài, khí sắc ngài hôm nay cần một ly rượu ngọt made và một thứ pui thật tinh khiết. Ngài có thể đưa tôi lên giá treo cổ cũng được, nhưng tôi sẽ không cho ngài một giọt rượu vang nào đâu. Sò này, một ít cá chim hoa ninh dừ này, cánh gà tơ này và vài lát măng tây nữa - thực đơn ấy sẽ đem lại sức khỏe cho ngài”. Trong trường hợp ấy thì chỉ có gã Patagôn[1] chuyên ăn chuột nước mới không thể khăng khăng phản đối thôi.
Trái hẳn dự đoán của nhiều người, ông Griphông không chạy đến chỗ ông vua hóa học với vẻ quỵ lụy. Không, ở đây, tại Viện hàn lâm Tiêu hóa này, bậc tỷ phú và viên kế toán quèn, người dúi chiếc ô ướt sũng cho nhân viên gác cổng cũng như người vừa thở phì phì vừa ra khỏi chiếc Rônxơ Rôixơ sực nức mùi xì gà La Habana - tất cả đều trả cùng một giá. Ông Griphông là một người cộng hòa và là một nhà triết học. Ông ta mỉm cười độ lượng đưa cho Rôlinh tờ thực đơn và khuyên nên lấy dưa bở cho món thứ nhất, tôm hùm trộn nấm cho món thứ hai và thịt hông cừu. Rượu thì ngài Rôlinh không uống về ban ngày, cái đó ai cũng biết.
- Một ly uýtxki pha xôđa và một chai sâm banh ướp lạnh - Rôlinh rít răng nói.
Ông Griphông lùi lại, mắt thoáng lộ vẻ sửng sốt, sợ hãi và khinh bỉ: người khách này bắt đầu bằng rượu trắng là thứ rượu làm tê liệt những chấm vị giác trên lưỡi và rồi lại tiếp tục bằng sâm banh là thứ rượu làm dạ dày phồng lên. Nhưng mắt ông Griphông lập tức dịu đi, ông ta kính cẩn kính cẩn cúi đầu: khách hôm nay không được tươi tỉnh, ta đành dung hòa vậy.
Sau cốc uýtxki thứ ba, Rôlinh bắt đầu vò nát tấm khăn ăn. Với một tâm trạng như vậy thì kẻ nào đứng ở bậc thang xã hội dưới cùng, chẳng hạn như Gaxtông Mỏ Vịt, chắc chắn sẽ tìm bằng được Dôia trước chập tối để cho ả một lưỡi dao vào hông. Nhưng Rôlinh thích hợp với những biện pháp khác. Trong óc Rôlinh, trong làn hơi uýtxki vàng vàng, những ý nghĩ trả thù hết sức tinh tế, bệnh hoạn, nẩy sinh ra, đan chéo nhau và uốn lượn. Mãi tới lúc này, y mới hiểu Dôia có giá trị như thế nào đối với y. Y đau khổ, bấm móng tay vào tấm khăn ăn.
Người hầu dọn đi đĩa thức ăn còn nguyên rồi rót sâm banh. Rôlinh vồ lấy ly rượu rồi uống ừng ực - mấy chiếc răng vàng của y chạm lanh canh vào thành ly. Đúng lúc đó, Xêmiônốp từ ngoài phố chạy nhanh vào hiệu ăn và trông thấy Rôlinh. Gã bỏ mũ, cúi người qua bàn, thầm thì:
- Ngài đọc báo rồi chứ?... Tôi vừa ở chỗ nhà xác… Đúng là hắn… Chúng tôi không có liên quan gì hết… Tôi xin thề như vậy… Người ta xác định là vụ giết người xảy ra trong khoảng từ ba đến bốn giờ sáng… đó là báo chí nói như vậy…
Trước mắt Rôlinh nhảy nhót một khuôn mặt xám xịt… méo xệch đi. Những người ngồi bên cạnh quay đầu lại. Người hầu đem ghế đến cho Xêmiônốp.
- Cút đi cho rảnh mắt, - Rôlinh nói qua làn hơi uýtxki - Anh làm tôi ăn mất ngon…
- Xin lỗi ngài… Tôi sẽ đợi ngài trong xe ở góc phố…
 
36
 
Vào những ngày đó, báo chí Pari lặng lẽ như mặt nước hồ trong rừng. Các nhà tư sản vừa ngáp dài vừa đọ những bài xã thuyết về văn học, những bài châm biếm về các vở diễn ở nhà hát, những tin vặt về cuộc đời giới nghệ sĩ.
Bằng vẻ bình lặng thờ ơ đó, báo chí chuẩn bị cho cuộc tiến công dữ dội vào ví tiền của giới tư sản bậc trung. Côngxoócxiom hóa chất của Rôlinh, sau khi tổ chức xong và tiêu diệt xong các đối thủ nhỏ bé, đang chuẩn bị một chiến dịch lớn nhằm nâng giá. Báo chí bị mua chuộc, các nhà báo được trang bị những hiểu biết cần thiết về công nghiệp hóa học. Những tài liệu chấn động được chuẩn bị sẵn cho các chính trị gia khoái xông lên hàng đầu. Hai ba cái bạt tai, hai ba trận quyết đấu đã loại bỏ những kẻ ngốc nghếch định bép xép những điều không phù hợp với kế hoạch chung của Côngxoócxiom.
Ở Pari đã đến thời kỳ sóng yên gió lặng. Số lượng báo chí phát hành hơi giảm sút. Bởi vậy, vụ giết người ở số nhà sáu mươi ba phố Gôbêlênốp quả là một của quý.
Sáng hôm sau, toàn bộ bảy mươi lăm tờ nhật báo đều đăng những hàng tít lớn về “vụ giết người bí ẩn và khủng khiếp”. Không xác định được người bị giết là ai - giấy tờ đều bị đánh cắp - và tên đăng ký ở khách sạn rõ ràng là tên giả. Hình như vụ giết người không phải nhằm mục đích cướp bóc, vì tiền bạc và tư trang bằng vàng còn nguyên trong người kẻ bị giết. Cũng khó dự đoán một sự trả thù - căn phòng số mười một có dấu vết của một cuộc lục soát kỹ lưỡng. Bí mật, tất cả đều nằm trong màn bí mật.
Những tờ báo ra lúc hai giờ chiều thông báo một chi tiết làm chấn động dư luận: trong căn phòng bất hạnh kia, người ta tìm thấy một chiếc trâm cài đầu của phụ nữ bằng mai rùa có đính năm hạt kim cương lớn. Ngoài ra, trên sàn đầy bụi còn phát hiện thấy dấu giày phụ nữ. Chiếc trâm cài đầu này khiến cả Pari rùng mình. Kẻ sát nhân hóa ra là một phụ nữ giàu sang. Một mệnh phụ quí tộc ư? Bí mật… Toàn là bí mật…
Những tờ báo ra bốn giờ chiều dành các trang báo của mình cho các cuộc phỏng vấn những phụ nữ nổi tiếng nhất Pari.
Tóm lại, trong khắp Pari, chỉ có một mình Rôlinh đang ngồi ở hiệu ăn Gripphông là không hay biết gì về biến cố ở phố Gôbêlênốp. Y đang rất bực tức và cố tình bắt Xêmiônốp phải đợi trong tắcxi. Cuối cùng, y xuất hiện ở góc phố, lặng lẽ chui vào xe và ra lệnh đưa y đến nhà xác. Dọc đường, Xêmiônốp vừa vung tay vừa kể cho y nghe nội dung các tờ báo.
Khi nhắc đến chiếc trâm đính năm hạt kim cương, ngón tay Rôlinh run run trên đầu can. Đến nhà xác, y bỗng rướn mình về phía người lái xe, định ra lệnh quay xe lại, nhưng y kìm được, chỉ thở phì phì một cách dữ dội.
Tại cửa nhà xác, cả một đám đông đang chen lấn nhau. Những phụ nữ mặc áo lông đắt tiền, những nữ nhân viên bán hàng mũi hếch, những kẻ đáng ngờ từ ngoại ô kéo vào, những bà quản gia tò mò choàng áo lên ngắn, những phóng viên săn tin vịt, mũi đẫm mồ hôi và cổ áo nhàu nát, - tất cả đều ra sức len vào nhìn kẻ bị giết mặc chiếc áo sơ mi rách nát, chân không giày không tất, nằm trên tấm đá thoai thoải, đầu quay về phía cửa sổ tầng hầm.
Đặc biệt khủng khiếp là hai bàn chân không giày không tất của tử thi - to lớn, tim tím, móng chân để dài. Bộ mặt vàng bủng “bị nhăn nhúm vì kinh hoàng”. Bộ râu vểnh lên.
Xêmiônốp mở đường cho Rôlinh. Gã len lỏi như con rắn qua đám đông để lại gần tử thi. Rôlinh nhìn chằm chằm vào mặt kẻ bị giết, quan sát chừng một giây. Mắt y nhíu lại, chiếc mũi to tướng hằn những nếp nhăn, mấy chiếc răng bọc vàng lấp lánh.
- Thưa ngài, thế nào ạ? Có đúng hắn không? - Xêmiônốp thầm thì hỏi.
Lần này thì Rôlinh trả lời gã:
- Lại kẻ giống hệt hắn.
Rôlinh vừa nói xong câu này thì từ sau vai y, một chiếc đầu có bộ tóc vàng nhạt bỗng xuất hiện, nhìn nhìn vào mắt y như chụp ảnh rồi biến mất trong đám đông.
Đó là Senga.
 
37
 
Bỏ Xêmiônốp lại nhà xác, Rôlinh đáp xe đến phố Xenna. Mọi thứ ở đây vẫn như cũ, vẫn là không khí lặng lẽ đầy kinh hoàng.
Rôlinh giam mình trong phòng ngủ, vừa đi đi lại lại trên thảm vừa quan sát mũi giày. Y dừng lại bên chiếc giường y thường nằm ngủ. Y xoa trán, nhắm mắt. Và y chợt nhớ ra điều đã dằn vặt y suốt ngày…
“…Rôlinh, Rôlinh… Chúng ta chết mất…”
Đó chính là giọng Dôia nói bằng một giọng khẽ, tuyệt vọng. Đêm qua, giữa chừng câu chuyện thì y đột nhiên ngủ thiếp đi. Giọng Dôia không đánh thức y, không đi đến tiềm thức y. Giờ đây, những lời tuyệt vọng ấy vang lên rành rọt trong tai y.
Rôlinh nhảy vọt lên như lò xo… Y lần lượt nhớ lại: cơn ngất lạ lùng của Garin tại đại lộ Mandéc, nỗi xúc động của Dôia trong quán “Bữa ăn của Vua”, những câu hỏi dai dẳng của Dôia, những giấy tờ gì của Rôlinh có thể bị Garin đánh cắp trong phòng làm việc? Rồi đến câu: “…Rôlinh, Rôlinh… Chúng ta chết mất…” Sau đó là việc ả biệt tăm. Rồi xác kẻ giống hệt Garin trong nhà xác. Rồi chuyện chiếc trâm đính kim cương. Đúng là hôm qua - y nhớ rõ - trên mái tóc dày của Dôia lấp lánh năm hạt đá quí.
Trong cả chuỗi biến cố ấy, có một điều rõ ràng. Garin lại dùng đến phương pháp đã được thử thách là bố trí một kẻ giống hệt mình để tránh đòn. Y đánh cắp mảnh giấy có bút tích của Rôlinh để ném vào chỗ xảy ra án mạng và đưa cảnh sát đến đại lộ Mandéc.
Mặc dù rất điềm tĩnh, Rôlinh vẫn cảm thấy lạnh sống lưng… “…Rôlinh, Rôlinh… Chúng ta chết mất…” Tức là Dôia đã dự đoán, đã biết về vụ giết người. Vụ giết người xảy ra trong khoảng ba giờ và bốn giờ sáng. (Cảnh sát ập đến vào lúc bốn rưỡi). Hôm qua, lúc sắp ngủ thiếp đi, Rôlinh nghe thấy đồng hồ điểm một giờ bốn lăm. Đấy là lần cuối cùng y nghe được những tiếng đọng bên ngoài. Sau đó Dôia biến mất. Rõ ràng Dôia vội vã chạy đến phố Gôbêlênốp để thủ tiêu những dấu vết có bút tích của y.
Làm sao Dôia lại biết được chính xác như vậy về vụ giết người sắp xảy ra? Chỉ có một khả năng là chính ả đã đích thân chuẩn bị cho vụ giết người đó. Rôlinh bước lại lò sưởi, chống khuỷu tay lên lớp đá hoa và lấy tay ôm mặt. Nhưng tại sao khi đó Dôia lại hết sức hoảng hốt thầm thì với y: “…Rôlinh, Rôlinh… Chúng ta chết mất…”. Một chuyện gì đó xảy ra ngày hôm qua đã làm đảo lộn các kế hoạch của ả. Song đó là chuyện gì? Và xảy ra vào phút nào?
Có thể giả thiết là ả cần sửa chữa một sai lầm nào đó. Ả có làm được hay không? Garin vẫn sống, bút tích của Rôlinh tạm thời chưa bị phát hiện, kẻ giống hệt Rôlinh bị giết. Những sự việc ấy có lợi hay có hại? Ai là kẻ giết người - kẻ tòng phạm của Dôia hay chính Garin?
Và tại sao, tại sao Dôia lại biến mất? Trong khi lục lọi trí nhớ cái giây phút này - giây phút khủng hoảng trong tâm trạng của Dôia, Rôlinh ra sức huy động trí tưởng tượng vốn quen với một công việc hoàn toàn khác. Đầu óc y như muốn vỡ toang ra. Y cố nhớ lại từng cử chỉ, từng lời lẽ của Dôia, cố nhớ lại toàn bộ thái độ của Dôia ngày hôm qua.
Y cảm thấy là nếu giờ đây, bên cạnh lò sưởi này, mà y không hiểu được toàn bộ câu chuyện đã xảy ra tới tận các chi tiết tỉ mỉ nhất thì đó là thất bại, là thua cuộc, là sụp đổ hết. Chỉ ba ngày nữa là đến cuộc tiến công lớn vào thị trường chứng khoán, chỉ cần tên y bị ràng buộc một cách bóng gió tới vụ giết người là nhất định sẽ xảy ra một vụ tai tiếng ầm ĩ và không thể cứu vãn được tình thế nữa… Đòn giáng vào Rôlinh sẽ là đòn giáng vào hàng tỷ đô la đang duy trì hoạt động của hàng nghìn xí nghiệp ở châu Mỹ, ở Trung Quốc, ở Ấn Độ, ở châu Âu và các thuộc địa châu Phi… Những tuyến đường sắt, những tuyến đường biển, những hầm mỏ, những nhà máy, nhà băng, hàng chục vạn viên chức, hàng triệu công nhân, hàng chục triệu người nắm giữ của cải - tất cả sẽ sững lại, sẽ kêu ken két, sẽ giãy giụa trong cơn kinh hoàng…
Rôlinh rơi vào tình thế của một người không biết dao kề từ phía nào. Mối nguy hiểm ấy quả là mối nguy hiểm chết người. Trí tưởng tượng của y hoạt động dữ dội, dường như mỗi đoạn ý nghĩ trôi qua trong một giây đáng giá tới một triệu đô la.
Cái trạng thái thật sự lạ lùng này của ông vua hóa học bị cắt đứt bởi tiếng hai đế giày chạm vào thảm. (Cửa sổ trông ra công viên của phòng ngủ - ở tầng một - vẫn mở toang). Rôlinh giật nẩy mình. Trong tấm gương trên lò sưởi xuất hiện bóng một người vạm vỡ, ria rậm, trán nhăn lại. Gã cúi đầu và nhìn chằm chằm vào Rôlinh.
- Anh cần gì? - Rôlinh rít lên, không thò tay nổi vào túi quần sau là nơi để khẩu súng braoninh.
Gã vạm vỡ rõ ràng chỉ chờ như vậy, gã liền nhảy vào sau bức màn cửa và từ đó lại thò đầu ra nhìn Rôlinh.
- Ngài cứ yên tâm. Và đừng có hét lên. Tôi không định giết người hay cướp của đâu, - gã giơ hai tay lên, - tôi đến vì công việc.
- Có công việc gì ở đây được? Nếu có công việc anh hãy đến đại lộ Mandéc, số bốn mươi tám “bê” từ mười một giờ đến một giờ… Anh trèo qua cửa sổ như một gã ăn trộm bất lương ấy.
- Xin lỗi ngài, - gã lạ mặt lịch thiệp đáp. - Tên tôi là Gaxtông. Tôi có huân chương quân đội và cấp bậc tôi là trung sĩ. Tôi không bao giờ là những chuyện vặt vãnh và chưa bao giờ đi ăn trộm. Tôi khuyên ngài nên xin lỗi tôi ngay lập tức, ngài Rôlinh ạ, nếu không chúng ta sẽ không tiếp tục nói chuyện được đâu.
- Cút ngay! - Rôlinh nói, giọng đã bình tĩnh hơn.
- Nếu tôi theo lệnh ngài thì bà Dôia mà chắc hẳn ngài rất quan tâm đến sẽ nguy hiểm đến tính mạng.
Hai má Rôlinh giật giật. Y lập tức bước lại gần Gaxtông. Gã nói tiếp, giọng kính cẩn như phép tắc đòi hỏi khi tiếp xúc với một nhà tỷ phú, nhưng đồng thời lại có phần thân mật suồng sã như khi nói năng với người chồng của tình nhân mình.
- Vây thưa ngài, ngài xin lỗi tôi chứ?
- Anh có biết Dôia biến đâu mất không?
- Thưa ngài, để tiếp tục câu chuyện của chúng ta, tôi khuyên ngài hãy xin lỗi tôi đã.
- Tôi xin lỗi, - Rôlinh gào lên.
- Tôi tiếp nhận lời xin lỗi của ngài, - Gaxtông rời khỏi cửa sổ, sửa lại bộ ria bằng một cử chỉ quen thuộc, đằng hắng rồi nói. - Bà Dôia hiện trong tay tên sát nhân mà cả Pari đang làm rùm beng lên.
- Tức là ở đâu? (môi Rôlinh run rẩy).
- Ở Vinlơ Đavrê, gần công viên Xanh Cla, ngay sát viện bảo tàng Gămbétta. Đêm qua, tôi đã ngồi xe hơi theo dõi họ đến tận Vinlơ Đavrê, và hôm nay tôi đã xác định được chính xác địa chỉ.
- Bà ấy tự nguyện chạy trốn cùng hắn ta à?
- Chính đó là điều tôi muốn biết hơn cả, - Gaxtông trả lời với một vẻ dữ dội đến nỗi Rôlinh phải sửng sốt nhìn gã.
- Xin lỗi, ông Gaxtông ạ, tôi không hiểu rõ lắm là tại sao ông lại tham gia vào tất cả những chuyện này? Ông có liên quan gì đến bà Dôia? Tại sao ban đêm ông lại theo dõi bà ấy và xác định nơi ở của bà ấy?
- Đủ rồi! - Gaxtông lịch thiệp giơ tay ra trước mặt. - Tôi hiểu ngài. Thế nào ngài cũng phải hỏi tôi câu ấy. Tôi xin trả lời ngài: tôi yêu bà ấy và tôi ghen…
- À ra thế, - Rôlinh nói.
- Ngài cần các chi tiết ư? Thì đây. Đêm qua khi ra khỏi tiệm cà phê là nơi tôi tạt vào uống một ly rượu rum, tôi nhìn thấy bà Dôia ngồi trong một chiếc xe thuê. Xe phóng như bay. Nét mặt bà ấy thật khủng khiếp. Tôi lập tức nhảy lên tắc xi và rượt theo. Bà ấy đỗ xe lại trên phố Gôbêlênốp và bước vào ngôi nhà số sáu mươi ba. (Rôlinh nháy mắt một cái như bị dao đâm). Tôi giận điên lên vì ghen tức, tôi đi đi lại lại trên hè phố trước ngôi nhà ấy. Đúng bốn giờ mười lăm phút, bà Dôia bước ra, nhưng không ra theo lối cổng như tôi chờ đợi mà lại theo lối ra ở tường khu công viên kế cận với ngôi nhà sáu mươi ba ấy. Dìu hai bên vai bà ấy là một người đàn ông râu đen, mặc áo khoác, đội mũ màu xám. Những chuyện gì xảy ra sau đó thì ngài biết rồi.
Rôlinh buông mình xuống chiếc ghế tựa (của thời kỳ các cuộc thập tự chinh) và im lặng hồi lâu, bíu chặt tay vào tay ghế khắc nổi… Những chi tiết mà y chưa biết là như vậy đấy… Hung thủ là Garin, Dôia là tòng phạm… Kế hoạch tội ác thật quá rõ ràng. Chúng giết kẻ giống hệt Garin trên phố Gôbêlênốp để lôi kéo y, Rôlinh vào câu chuyện bẩn thỉu này, và sau đó dùng cách đe dọa để moi tiền cho việc chế tạo bộ máy. Gaxtông, viên trung sĩ trung thực và một kẻ ngu ngốc điển hình, đã ngẫu nhiên phát hiện ra tội ác. Tất cả đều rõ ràng. Phải hành động quyết liệt và tàn nhẫn.
Mắt Rôlinh lóe lên ánh giận dữ. Y đứng dậy, đá phăng chiếc ghế đi.
- Tôi sẽ gọi điện cho cảnh sát. Ông sẽ cùng tôi đến Vinlơ Đavrê.
Gaxtông nhếch miệng cười, bộ ria rậm của gã lệch hẳn đi.
- Ngài Rôlinh ạ, tôi cảm thấy không nên để cảnh sát can thiệp vào chuyện này. Chúng ta sẽ giửi quyết bằng sức lực của chúng ta thôi.
- Tôi muốn bắt tên sát nhân và mụ tòng phạm của hắn để trao hai kẻ khốn kiếp cho pháp luật, - Rôlinh vươn thẳng người, giọng y vang lên sang sảng.
Gaxtông phác một cử chỉ mơ hồ.
- Phải xem sao đã… Nhưng trong tay tôi có sau gã trai từng trải, đáng tin cậy… Sau một giờ nữa, tôi có thể chở họ trên hai chiếc xe đến Vinlơ Đavrê… Còn cảnh sát thì tôi khuyên ngài không nên giây với họ.
Đáp lại. Rôlinh chỉ thở phì phì và cầm lấy máy điện thoại trên lò sưởi. Gaxtông nhanh hơn, gã nắm chặt lấy tay Rôlinh.
- Chớ gọi cảnh sát!
- Tại sao?
- Bởi vì đó là một chuyện ngu ngốc nhất… (Rôlinh lại với tay về phía máy điện thoại). Ngài Rôlinh ạ, ngài là một người hết sức thông minh, chẳng lẽ ngài không hiểu rằng có những vấn đề không thể nói thẳng ra được ư?... Tôi van ngài chớ gọi điện cho cảnh sát… Bởi vì sau khi ngài gọi điện, cả hai chúng ta đều sẽ lên máy chém hết… (Rôlinh giận điên lên, đẩy vào ngực gã và giằng lấy máy điện thoại). Gaxtông hối hả nhìn quanh và thì thầm vào tận tai Rôlinh. - Theo lệnh ngài, bà Dôia đã giao cho tôi nhiệm vụ thủ tiêu nhanh chóng một viên kỹ sư Nga ở số nhà sáu mươi ba phố Gôbêlênốp. Đêm qua nhiệm vụ đó đã được thực hiện. Giờ đây. Tôi cần một vạn phơrăng để ứng trước cho bọn tay chân của tôi. Ngài có sẵn số tiền trong người chớ?
Mười lăm phút sau, một chiếc xe mui kín chạy đến phố Xenna. Rôlinh lập tức nhảy vào xe. Trong khi chiếc xe tìm cách quay đầu lại trên đường phố hẹp này, Senga từ sau một ngôi nhà bước ra và bám vào phía sau xe.
Chiếc xe chạy theo con đường ven sông. Trên quảng trường Mácxơ, tại đúng chỗ mà khi xưa Rôbexpie cầm mấy bông lúa trong tay, thề trước bàn thờ Đấng Tối Cao là sẽ buộc nhân loại phải ký bản hòa ước vĩ đại nhằm thiết lập nền hòa bình và công lý vĩnh cửu, thì nay sừng sững ngọn tháp Épphen cao vút. Hai triệu rưỡi ngọn đèn điện sáng nhấp nháy trên bộ khung thép của ngọn tháp, chạy tứ tung thành những mũi tên, hiện thành những hình vẽ, và suốt đêm viết lên trên bầu trời Pari dòng chữ: “Hãy mua loại ôtô tiện lợi và rẻ tiền của ông Xitơrôen…”
 
39
 
Đêm ẩm ướt và ấm áp. Bên ngoài ô cửa sổ để mở - suốt từ lớp trần thấp cho đến tận sàn nhà - những chiếc lá vô hình hết rì rào lại khẽ dần đi. Căn phòng ở tầng một khách sạn “Sáo đen” tối tăm và yên tĩnh. Hương thơm ẩm ướt của công viên hòa lẫn với mùi nước hoa.
Cửa phòng kẹt mở, nghe thấy tiếng chân bước trên thảm. Một bóng người lờ mờ dừng lại giữa phòng. Y nói khẽ (bằng tiếng Nga):
- Phải quyết định đi thôi. Chỉ ba bốn mươi phút nữa là xe sẽ đến, bà trả lời đi: đồng ý hay không nào?
Người nằm trên giường động đậy, nhưng không đáp. Y bước lại gần hơn:
- Dôia, bà phải khôn ngoan hơn mới được.
Garin cúi đầu nhìn một cách chăm chú khuôn mặt Dôia rồi ngồi xuống cuối giường.
- Hôm nay, tôi cứ suy nghĩ mãi, hóa ra tôi cần đến tiền bạc, quyền lực, danh vọng chính là để chiếm được bà. Tôi không muốn chia tay với bà và nhất định tôi sẽ không chia tay với bà đâu.
- Ồ! - Dôia nói.
- Tiếng “ồ” chẳng thể hiện được gì hết. Tôi hiểu: một phụ nữ thông minh và kiêu kỳ như bà chắc hẳn rất phẫn nộ khi bị ép buộc. Nhưng biết làm thế nào được! Nếu bà bỏ đi với Rôlinh thì tôi sẽ không chịu ngồi yên. Tôi sẽ đưa lên máy chém. cả Rôlinh, cả bà và cả tôi nữa.
- Vậy ông đề nghị gì với tôi để thay cho Rôlinh? Tôi là một phụ nữ cao giá đấy.
- Tôi sẽ tặng bà vòng đai Ôlivin.
- Gì kia?
- Vòng đai Ôlivin. Hừm! Giải thích cho bà hiểu không phải đơn giản đâu. Cần phải có một buổi tối rỗi rãi và có nhiều sách chuyên môn trong tay mới được. Mà hai mươi phút nữa chúng ta phải đi rồi. Vòng đai Ôlivin - đó là khả năng thống trị thế giới. Tôi sẽ thuê gã Rôlinh của bà làm chân gác cổng - Vòng đai Ôlivin là như vậy đó. Hai năm nữa nó sẽ nằm trong tay tôi. Bà chẳng những sẽ trở thành một phụ nữ giàu có, mà mà phải nói là bà sẽ trở thành người phụ nữ giàu có nhất thế giới mới đúng. Cái đó thật chán ngán. Nhưng quyền lực? Bà sẽ được hưởng một quyền lực chưa từng có trên trái đất. Những phương tiện của chúng ta để đạt được quyền lực như vậy còn hoàn hảo hơn cả những phương tiện của Thành Cát Tư Hãn nữa. Bà có muốn những nghi thức tôn sùng như Chúa Trời không? Tôi sẽ ra lệnh xây cho bà những đền đài trên khắp năm châu và trang hoàng ảnh bà bằng những chùm dây nho.
- Thật tầm thường quá!...
- Tôi không nói đùa lúc này đâu. Nếu bà muốn thì bà sẽ trở thành kẻ kế vị Chúa Trời hoặc quỉ sứ - tùy thuộc vào sở thích của bà. Bà muốn tiêu diệt bất kỳ ai cũng được, vì bà sẽ thống trị cả nhân loại kia mà. Bà Dôia ạ, một phụ nữ như bà sẽ biết cách sử dụng những kho báu huy hoàng của vòng đai Ôlivin. Tôi sẽ đề nghị một ván bài có lợi đấy. Chỉ hai năm phấn đấu nữa là tôi sẽ đặt chân được đến vòng đai Ôlivin. Bà không tin ư?...
Dôia thở một hơi ngắn. Ả ngồi dậy, giơ hai tay sửa lại mái tóc (đó là một dấu hiệu tốt).
- Trong tương lai sẽ là vòng đai Ôlivin. Còn bây giờ ông có cái gì? - Ả hỏi, miệng ngậm chiếc trâm cài đầu.
- Bây giờ là bộ máy của tôi và những khối chóp than. Bà đứng dậy đi. Ta sang phòng tôi, tôi sẽ cho bà xem bộ máy ấy.
- Hơi ít. Được, tôi sẽ sang xem. Ta đi đi.
 
40
 
Trong phòng Garin, cửa sổ có chấn song bị bịt kín và che rèm. Cạnh tường là hai chiếc vali. (Y sống ở khách sạn “Sáo đen” này đã hơn tuần lễ). Garin khóa cửa lại. Dôia ngồi chống tay, che mặt để tránh ánh sáng của ngọn đèn trần. Chiếc măngtô lụa màu cỏ của ả đã nhàu nát, mái tóc chải cẩu thả, mặt lộ vẻ mệt mỏi - trông ả lại càng hấp dẫn hơn. Garin vừa mở vali vừa nhìn ả bằng cặp mắt long lanh, thâm quầng:
- Bộ máy của tôi đây - y nói và đặt tay lên bàn, hai chiếc hòm kim loại: một chiếc hẹp, trông tựa như đoạn ống, chiếc kia bẹt, mười hai mặt, đường kính rộng gấp ba.
Y đặt hai chiếc hòm gần nhau, dùng bulông siết chặt. Y hướng miệng ống về phía lò sưởi và tháo cái nắp hình cầu ở chiếc bao mười hai mặt. Bên trong bao là một vòng đồng có lắp mười hai chiếc chén sứ.
- Đây là máy mẫu, - y vừa nói vừa lấy hòm đựng các khối chóp than ra khỏi chiếc vali thứ hai, nó không thể chịu nổi quá một tiếng đồng hồ. Cần chế tạo bộ máy bằng những vật liệu cực rắn, bền chắc gấp mười thế này. Nhưng nhất định là nó sẽ quá nặng, mà tôi lại phải luôn luôn di chuyển.(Y đặt các chóp than vào mười hai chiếc chén sứ trên vòng đồng). Nhìn ngoài thì bà sẽ chẳng thấy gì và chẳng hiểu gì đâu. Đây là bản vẽ, là mặt cắt dọc của bộ máy. - Y cúi người xuống chiếc ghế bành của Dôia, hít mùi hương tóc của ả, trải rộng tấm bản vẽ để chỉ chỏ bằng nửa tờ giấy viết. - Dôia ạ, bà muốn tôi phải liều hy sinh hết trong ván bài của chúng ta đấy… Bà hãy nhìn vào đây… Đây là sơ đồ chính.
Thật đơn giản như hai với hai là bốn vậy. Nên cho đến nay vẫn chưa ai chế tạo ra bộ máy này chỉ là việc thuần túy ngẫu nhiên thôi. Toàn bộ bí mật là ở tấm gương hình hypécbôn (A) mà hình dạng tựa như tấm gương của chiếc đèn chiếu thông thường, và ở mẩu samônít (B) cũng được làm thành hình cầu hypécbôn. Qui tắc hoạt động của các tấm gương hypécbôn như sau:
Tất cả các tia sáng rơi vào mặt trong của gương hypécbôn đều hội tụ vào một điểm, vào tâm điểm của hình hypécbôn… Cái đó ai cũng biết rồi. Còn bây giờ là những điều còn chưa ai biết: tôi đặt vào tâm điểm của tấm gương hình hypécbôn một hình hypécbôn thứ hai (được vẽ lộn ngược lại) - đó là một mặt hypécbôn quay, được tiện bằng samônít, một khoáng chất khó nóng chảy, nhẵn bóng đến mức lý tưởng (B) và có trữ lượng vô tận ở miền Bắc nước Nga. Vậy tình hình các tia sẽ ra sao?
Những tia sáng hội tụ ở tâm điểm gương (A) sẽ rơi vào bề mặt của hình hypécbôn (B) và hắt nó lại theo chiều song song, - nói một cách khác, hình hypécbôn (B) hội tụ tất cả các tia thành một tia duy nhất, hoặc thành một “sợi tia” có độ dày bất lỳ.
Khi xoay vặn gương hypécbôn (B) bằng vít đo vi lượng, tôi có thể tùy ý làm tăng hay giảm độ dày của “sợi tia”. Việc hao tốn năng lượng của “sợi tia” khi nó đi qua không khí có thể coi là không đáng kể. Đồng thời, tôi có thể đưa “sợi tia” (thực tế là như vậy) mảnh tới mức bằng độ dày của chiếc kim.
Nghe đến đấy, Dôia đứng dậy, bẻ ngón tay răng rắc rồi lại ngồi xuống, hai tay ôm đầu gối.
- Trong những lần thí nghiệm đầu tiên, tôi lấy nguồn sáng là một vài ngọn bạch lạp thông thường. Bằng cách chỉnh gương hypécbôn (B), tôi đưa sợi tia đến độ dày của chiếc que kim đan và dễ dàng cắt đứt một tấm gỗ dày hai phân rưỡi. Tôi hiểu ngay rằng toàn bộ nhiệm vụ là tìm ra được những nguồn tia dày đặc và hết sức mạnh. Kết quả của ba năm làm việc - một công việc đã phải trả giá bằng sinh mệnh của hai người trợ thủ của tôi - là đã chế tạo ra khối chóp than này đây. Năng lượng của các khối chóp than lớn đến nỗi khi được đặt vào máy, - như bà thấy đấy - và được đốt cháy (chúng cháy chừng năm phút), thì chúng phát ra một “sợi tia” có khả năng cắt đứt một chiếc cầu sắt trong vài giây… Bà có hình dung nổi khả năng đang mở ra trước mắt chúng ta hay không? Trong thiên nhiên, không có một thứ gì chống lại nổi sức mạnh của “sợi tia” cả… Nhà cửa, pháo đài, chiến hạm, máy bay, đất đá, vỏ trái đất - tất cả đều bị cái tia của tôi xuyên thủng, phá hủy, cắt đứt…
Garin bỗng ngừng bặt và ngẩng đầu lên, lắng nghe. Bên ngoài cửa sổ có tiếng sỏi kêu lạo xạo, ken két, và tiếng động cơ lặng dần. Y nhảy đến cửa sổ và trườn ra ngoài rèm. Dôia nhìn thấy đằng sau lớp rèm nhung đỏ sẫm đầy bụi là hình bóng bất động của Garin, rồi hình bóng đó bỗng giật bắn lên. Y lại từ ngoài rèm chui vào.
- Ba ôtô và tám người, - y thì thào, - họ đến bắt chúng ta đấy. Ôtô hình như của Rôlinh thì phải. Trong nhà trọ chỉ có chúng ta và mụ gác cổng thôi. (Y nhanh nhẹn lấy khẩu súng lục trong ngăn bàn vẫn đặt cạnh giường và nhét vào túi áo véttông). Tôi thì đừng hòng được chúng cho sống sót mà thoát khỏi nơi đây… - Y bỗng vui vẻ gãi gãi cánh mũi. - Nào, Dôia, bà quyết định đi, đồng ý hay không nào? Không thể có một giây phút khác như thế này đâu.





[1] Patagôn - thổ dân còn trong tình trạng man rợ vùng Patagônnhia (Nam Mỹ). - (Chú thích của nguyên bản)
[/align][/align]
0
Bây giờ mới để ý, bạn huytran gửi tôi tiếp 2 gói TCKK13-224-243 và TCKK14-244-261 tôi sẽ gõ tiếp luôn hai gói này nhé.
0
Bạn hathanh725 cứ từ từ chia bớt cho mọi người đánh phụ. Sách còn dài lắm, còn đâu khoảng 150-200 trang nữa mới hết.
0



Đúng đấy hathanh ạ, hathanh cứ giao 1 phần cho bạn jessieanh đánh giúp đi, Ct.Ly thấy bạn ấy đang muốn giúp đánh phụ đó

Có gì hathanh cứ PM cho jess, hoặc đem link vào đây, để có người nhận đánh tiếp nhé

Chúc vui
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-30 17:40:30Ct.Ly>
206 đến 223

- Ở đây anh sẽ không phải thiếu thốn một thứ gì. Những người trông nom anh là những người lương thiện và họ đã được trả công hậu hĩnh. vài ngày nữa, tôi sẽ giải phóng cho anh. Anh Senga ạ, anh hãy hứa với tôi đi, anh hãy hứa là sẽ không tìm cách chạy trốn, gây huyên náo hoặc thu hút sự chú ý của cảnh sát.
Senga lắc đầu từ chối, Garin cúi xuống anh:
- Nếu không, sẽ khó mà bảo đảm cho sự yên ổn của anh ở đây đấy ... Thế nào, anh hứa chứ?
Senga chậm rãi nói khẽ:
- Tôi hứa lới hứa củ amột người cộng sản ...( Nghe nhứ thế, lớp da nhẵn bóng trên đầu tường Xubô tin lập tức co rúm lại, còn hai viên sĩ quan thì thoảng nhìn nhau, khó chịu nhếch mép cười ). Tôi hứa lời hứa của người cộng sản là sẽ giết chết anh ngay khi nào có dịp làm được việc đó, anh Garin ạ ... Tôi hứa là sẽ đoạt được bộ máy của anh và đưa nó vế Mátxcơva ... Tôi hứa là đến ngày hai mươi tám này ...
     Garin liền nắm lấy cổ anh, không cho anh nói nữa ...
Im đi ... Đồ ngốc! ... Đồ điên! ...
 
Rồi y quay lại, hách dịch nói:
- Các ngài sĩ quan ạ, tôi báo trước cho các ngài biết là con người này rất nguy hiểm, đầu óc luôn luôn bị ám ảnh bởi một tư tưởng ...
- Theo tôi thì tốt nhất là giam giữ hắn trong hầm rượu, - tướng Xubôbin nói giọng trầm. - Dẫn hắn đi!
    Garin ( ??? Không đọc được) lên. hai viên sĩ quan xốc nách Senga, đầy qua cửa bên và lôi xuống hầm rượu, Garin bắt đầu đeo đôi găng lái xe.
- Đêm hai tám rạng ngày hai chín, tôi sẽ đến đây. và tướng quân ạ, từ ngày ba mươi trở đi, ngàu có thể ngừng việc thử nghiệm nhân giống thỏ, có thể mua cho mình một căn buồng hạng nhất trên con tàu xuyên Đại Tây Dương và sống như một ông hoàng, dù là trên đại lộ Năm ở Níu Yoóc chăng nữa.
- Ông phải để lại một thứ giấy tờ gì đó cho cái tên khốn kiếp kia chứ? - viên tướng đề nghị.
- Đây, ngài chọn lấy hộ chiếu nào cũng được.
Garin rút trong túi ra một bó giấy buộc kỹ. Đấy là những giấy tờ y đánh cắp của Senga tại khu rừng Phôngtenơlô ( fontaineleau). Y chưa có lúc nào xem lại vì quá bận bịu.
- Chắc hẳn đây là những tấm hộ chiếu chuẩn bị sẵn cho tôi đây. Lo xa thật ... Ngài nhận lấy này ...
Garin quảng lên bàn cuốn hộ chiếu và tiếp tục lục lại trong chiếc ví. Y thấy một thứ gì đó đáng chú ý, liền đưa lại gần đèn. Lông mày y nhíu lại.
- Thật qèuỉ quái! - Vậy y lao đến cửa bên, nơi Senga vừa bị lôi đi.
 
58
 
Senga nằm trên tấm đệm trải trên sàn đá. Ngọn đèn dầu soi sáng căn hầm có mái vòm, soi sáng những chiếc thùng rỗng và những mạng nhện chằng chịt. Garin đưa mắt tìm Senga một lát. Y đứng trước anh, cắn cắn môi:
- Vừa rồi tôi nóng quá, anh Senga ạ, anh đừng giận nhé. Tôi nghĩ rằng chúng ta nhất định sẽ tìm được tiếng nói chung. Chúng ta sẽ thoả thuận được với nhau. Anh có muốn như thế không?
- Anh cứ nói thử đi.
Giọng Garin ngọt ngào, khác hẳn mười phút trước đây. Senga cảnh giác. Nhưng nỗi lo lắng anh trải qua đêm qua, chất hơi gây mê còn sót lại vẫn làm người anh bải hoải và cái tay đau đã làm yếu đi sự chú ý của anh, Garin ngồi ghé lên tấm đệm. Nom mặt y có vẻ trầm ngâm, cả người y tóat ra cái vẻ phong nhã, thiện ý.
"Cái thằng đê tiện này muốn gì? Hắn muốn gì đây? " - Senga thầm nghĩ, nhăn mặt lại vì đau đầu.
garin ôm đầu gối, châm thuốc hút, ngước mắt nhìn mái vòm căn hầm.
- Senga ạ, trước hết, anh cần biết rõ rằng tôi không bao giờ nói dối. Có lẽ do tôi khinh bĩ mọi người, nhưng điều đó không quan trọng. Sự thật là như thế này. Rôlinh với hàng tỷ đô la của hắn chỉ cần cho tôi đến một lúc nào đó thôi ... Tuy hắn ngốc nghếch thật, nhưng hình như hắn cũng hiểu như thế thì phải ... Rôlinh đến đây để biến châu Âu thành thuộc địa. nếu không làm được việc đó thì hắn sẽ bị phá sản ở Mỹ với cái gia tài hàng tỷ đô la của hắn. Hắn là một con vật toàn bộ nhiệm vụ của hắn là lao về phía trước mà húc, mà giẫm đạp. Hắn không có một chút trí tưởng tượng nào. Bức tường duy nhất khiến hắn có thể bị vỡ đầu là nước Nga Xô Viết. hắn hiểu như vậy, do đó toàn bộ nỗi cuồng nộ của hắn đều nhắm vào tổ chức yêu quí của anh ... Tôi không coi tôi là người Nga ( y vội vã nói thêm ) tôi là một kẻ theo chủ nghĩa thế giới ...(2)
- Dĩ nhiên rồi, - Senga nhếch mép cười khinh bỉ, nói:
- Mối quan hệ giữa chúng ta là như thế này: chúng ta sẽ làm việc cùng nhau đến một lúc nào đây.
- Đến ngày hai mươi tám...
Cặp mắt long lanh của Garin nhìn Senga với vẻ hiễu cợt:
- Anh đã tính như vậy à? Theo hảo chắc?
- Có lẻ thế ...
- Được ... Cứ cho là đến ngày hai mươi tám đi. Sau đó, chúng ta nhất định sẽ cắn xé nhau ... Khi Rôlinh thành công thì nước Nga Xô Viết sẽ lâm vào tình thế nguy hiểm gấp đôi, bộ máy của tôi sẽ rơi vào tay hắn và khi đó các anh sẽ phải đương đầu với hắn cực kỳ khó khăn ... Do đó, anh Senga ạ, anh nhớ ( đọc khg rõ )   anh nhớ ở đây với lũ hện chừng một tuần là
( Không đọc rõ, những hàng cuối và chú thích )
 


Senga nhắm mắt lại. Garin ngồi phía dưới chân anh và rít những hơi thuốc ngắn. Senga nói :
-        Anh có cần quái gì đến sự đồng ý của tôi đâu. Chẳng cần tôi đồng ý, anh cũng sẽ giam giữ tôi ở đây bao lâu tùy ý anh kia mà. Anh cần gì thì cứ nói đại đi …
-        Đáng lẽ phải như vậy từ lâu rồi … Nhất là anh là một đảng viên cộng sản nữa. Lạy Chúa, bao lâu nay đã gây cho tôi biết bao long đong, chìm nổi … giờ đây hình như anh đã bắt đầu hiểu ra được vấn đề. Tôi với anh là kẻ thù của nhau, quả đúng như thế thật … Nhưng chúng ta phải làm việc cùng nhau … Xét trên quan điểm của anh thì tôi là đồ quái thai, một kẻ cá nhân chủ nghiã tột độ … Rôi, Garin, nhờ ân huệ của những thế lức đã tạo ra tôi, với bộ óc của tôi, - xin anh đừng cười, anh Senga ạ, - với bộ óc thiên tài của tôi, đúng, đúng như vậy đấy, với những khát vọng cháy bỏng khiến chính tôi cũng cảm thấy nặng nề và khiếp sợ, với tính tham lam và tính vô nguyên tắc của tôi, tôi đối lập bản thân tôi, đúng thế đấy, tôi đối lập bản thân thôi với loài người.
-         Gớm nhỉ ! – Senga nói – Đúng là đồ súc sinh …
-        Anh nhận xét rất đúng, anh hiểu tôi đấy, anh Senga ạ. Tôi là một kẻ ưa hưởng lạc, tôi cố gắng dành từng giây từng phút của đời tôi cho sự hưởng lạc. Tôi vội vã, tôi hối hả tiêu diệt Rôlinh, bởi vì tôi đang bị mất đi những giây phút quý báu đó. Ở nước Nga xa xôi kia, những loại người như anh đại diện cho tư tưởng duy vật chiến đấu. Tôi không có một tư tưỏng gì hết, tôi căm thù một cách có ý thức, một cách cuồng tínbất cứ tư tưởng nào. Tôi đặt cho mình một mục đích là tạo ra một hoàn cảnh như thế nào đấy (tôi sẽ không kể tỉ mỉ, làm anh mệt), bao quanh mình một sự xa hoa như thế nào đấy để những khu vườn thượng uyển và những cảnh huy hoàng lộng lẫy khác ở phương Đông sẽ chỉ là trò trẻ con so với thiên đường của tôi. Tôi sẽ huy động toàn bộ khoa học, toàn bộ kỹ nghệ, toàn bộ nghệ thuật phục vụ cho tôi, Senga ạ, anh hiểu rõ rằng đối với anh, tôi là một mối ngy hiểm xa xôi, hết sức huyền hoặc, còn Rôlinh mới là mối nguy hiểm cụ thể, gần cận, đáng sợ. Bởi vậy, tôi với anh phải cùng đi với nhau đến một điểm nhất định, cho đến khi Rôlinh bị đè bẹp. Tôi chỉ yêu cầu có thế thôi.
-        Vậy anh muốn tôi giúp đỡ như thế nào ? – Senba hỏi với vẻ khinh bỉ.
-        Tôi cần anh ngao du một thời gian ngắn trên biển.
-        Nói cách khác, anh muốn tiếp tục giữ tôi chứ gì ?
-        Đúng thế.
-        Anh sẽ đánh đổi cái gì để tôi không kêu cứu viên cảnh sát đầu tiên mà tôi gặp khi anh chở tôi đi ra biển ?
-        Anh muốn lấy bao nhiêu tiền cũng được.
-        Tôi không muốn lấy tiền.
-        Anh khôn lắm – Garin nói và cữa quậy trên tấm đệm, - Thế anh có đồng ý đổi lấy bộ máy mẫu của tôi không ? (Senga thở phì phì).
Ánh sáng những thùng rỗng và những mạng nhện chằng chịt, Garin đưa mắt tìm Senga một lát. Y đứng trước anh, cắn cắn môi.
-        Vừa rồi tôi nóng quá, anh Senga ạ, anh đừng giận nhé. Tôi nghĩ rằng chúng ta nhất định sẽ tìm đuợc tiếng nói chung. Chúng ta sẽ thoả thuận được với nhau. Anh có muốn như thế không ?
-        Anh cứ hỏi thử đi.
Giọng Garin ngọt ngào, khác hẳn mười phút trước đây. Senga cảnh giác. Nhưng nỗi lo lắng anh trải qua đêm qua, chất hơi gây mê còn sót lại vẫn làm người anh bải hoải và cái tay đau đã làm yếu đi sự chú ý của anh. Garin ngồi ghé lên tấm đệm. Nom mặt y có vẻ trầm ngâm, cả người y toát ra cái vẻ phong nhã, thiện ý.
« Cái thằng đê tiện này muốn gì ? hắn muốn gì đây ? »- Senga thầm nghĩ, nhăn mặt lại vì đau đầu.
Garin ôm đầu gối, châm thuốc hút, ngước mắt nhìn mái vòm căn hầm.
-        Senba ạ, trước hết, anh cần biết rõ rằng tôi không bao giờ nói dối. Có lẽ do tôi khinh bỉ mọi người, nhưng điều đó không quan trọng. Sự thật là như thế này : Rôlinh với hàng tỷ đô la của hắn chỉ cần cho tôi đến một lúc nào đó thôi … Cũng hệt như tôi cần cho Rôlinh vậy … Tuy hắn ngốc nghếch thật, nhưng hình như hắn cũng hiểu như thế thì phải … Rôlinh đến đây để biến châu Âu thành thuộc địa. Nếu không làm được việc đó, thì hắn sẽ bị phá sản ở Mỹ với cái gia tài hàng tỷ đô la của hắn. Hắn là một con vật, toàn bộ nhiệm vụ của hắn là lao về phía trước mà húc, mà giẫm đạp. Hắn không có một chút trí tưởng tượng nào.Bức tường duy nhất khiến hắn có thể vị vỡ đầu là nước Nga Xô Viết. Hắn hiểu như vậy, do đó toàn bộ nỗi cuồng nộ của hắn đều nhắm vào tổ quốc yêu quí của anh .. Tôi không coi tôi là người Nga (y vội vã nói thêm ) tôi là một kẻ theo chủ nghĩa thế giới … ( ?)
-        Dĩ nhiên rồi, - Senga nhếch môi cười khinh bỉ, nói :
-        Mối quan hệ giữa chúng ta là như thế này : chúng ta sẽ làm việc cùngb nhau đến một lúc nào đó …
-        Đến ngày hai mươi tám …
Cặp mắt long lanh của Garin nhìn Senga với vẻ giễu cợt :
-        Anh đã tính như vậy à ? Theo bào chắc ?
-        Có lẽ thế …
-        Được … Cứ cho là đến ngày hai mươi tám đi ( Kan đô) chúng ta nhất định sẽ cắn xé nhau … Khi Rôlinh thành công thì nước Nga Xô Viết sẽ làm sau tình thế nguy hiểm gấp đôi, bộ máy của tôi sẽ rơi vào tay hắn và khi đó các anh sẽ phải đương đầu với hắn cực kỳ khó khăn … Do đó, anh Senga ạ, anh sẽ ở đây với lũ nhện chừng một tuần ( …Đọc khg rõ …….. ) anh sẽ làm tăng thêm rất nhiều khả năng thắng lợi ( …   Đọc khg rõ lẫn chú thích )
( Trang 212)
Không tin chứ gì ? Anh cho rằng tôi sẽ đánh lừa sẽ không trao cho anh chứ gì ? Được, anh cứ suy nghĩ đi, cứ suy nghĩ xem tôi có đánh lừa hay không đi, (Senga nhún vai). vấn đề là thế này … Ý tưởng sáng tạo bộ máy cực kỳ đơn giản … Tôi không tài nào có thể giữ bí mật được lâu. Số phận các sáng chế thiên tài là như vậy. Sau ngày hai mươi tám, tất cả các báo sẽ miêu tả hoạt động của các tia hồng ngoại, và chỉ nửa năm nữa là người Đức chứ không phải ai khác sẽ chế tạo được bộ máy hệt như vậy. Tôi không liều lĩnh gì hết. Anh cứ giữ lấy mô hình mà đưa về nước Nga Xô Viết. À, tôi vẫn giữ hộ chiếu và giấy tờ của anh đây. Anh cầm lấy, tôi không cần đến nữa … Xin lỗi anh vì tôi đã lục
lọi mớ giấy tờ của anh. Tôi tò mò quá mà … Em bé xăm mình trong tám ảnh mà anh có ấy là em bé nào vậy ?
-        Một em bé không nhà cửa chứ có gì đâu. – Senga đáp lại ngay lập tức, vì tuy đau đầu nhưng anh vẫn hiểu được rằng Garin đang lần mò đến vấn đề chính, vấn đề đã thúc y xuống hầm rượu.
-        Ở mặt trái tấm ảnh có ghi ngày hai mươi tháng trước, tức là anh chụp em bé trước hôm ra đi phải không ? Ở Leningrát, anh chưa cho ai xem tấm ảnh này chứ ?
-        Chưa, Senga khinh khỏnh đáp.
-        Thế anh giấu em bé đó ở đâu ? Chà, thế này mà lúc nãy tôi không nhận ra : Anh chụp trên gác sân của câu lạc bộ đua thuyền phải không ? Tôi nhận ra ngay, địa điểm quen thuộc quá … Em bé đã kể những gì cho anh nghe ? Manxép còn sống chứ ?
-        Vẫn còn sống.
-        Ông ta có tìm được những thứ mà người ta đi tìm ở đây không ?
-        Hình như đã tìm được thì phải.
-        Anh thấy chưa, tôi bao giờ cũng tin vào Manxép.
Garin tính đúng. Y đã chuẩn bị trước cho Senga để anh tin rằng y không thể nói dối được – do chỗ y khinh bỉ người đời và còn do chỗ y coi chuyện dối trá là phương pháp rẻ tiền trong cuộc chơi và trong chiến đấu. Một phút sau, Garin đã biết toàn bộ câu chuyện về việc em bé Ivan xuất hiện tại câu lạc bộ đua thuyền và tất cả những gì em kể lại về công việc của Manxép.
-        Như vậy là – Garin đứng dậy, vui vẻ xoa tay - nếu đêm hai mươi chín mà chúng ta lên xe ra đi thì bộ máy mẫu sẽ ở bên chúng ta, anh muốn tạm thời giấu bộ máy ở bất cứ nơi nào cũng được. Bảo đảm như vậy đối với anh đã đủ chưa ? Anh đồng ý chứ ?
-        Đồng ý.
-        Anh sẽ không tìm cách giết tôi nữa ?
-        Trước mắt thì không.
-        Tôi sẽ ra lệnh đưa anh lên trên, ở đây quá ẩm thấp. Anh sẽ ăn uống thỏa thích và sẽ được bình phục.
Garin nháy mắt và bước ra
( 213)


 
 59
 
-        Họ và tên ngài là gì ?
-        Tôi là Alếchxanđrơ Ivanovich Vônsin, đại úy trung đoàn Cunnépxki, - viên sĩ quan cắm bạnh ưởn thẳng người trước mặt Garin, trả lời 59

-        Họ và tên ngài là gì ?
-        Tôi là Alếchxanđrơ Ivanovich Vônsin, đại úy trung đoàn Cunnépxki, - viên sĩ quan cắm bạnh ưởn thẳng người trước mặt Garin, trả lời.
- Ngài sống bằng cách nào?
- Tôi làm công nhật cho tướng Xubôtin. Tôi kể thức ăn. Trước đây tôi làm nghề lái xe, tiền kiếm được cũng kha khá nhưng rồi bọn bạn cùng trung đoàn thuyết phục tôi làm đại biểu đi dự đại hội quân chủ. Ngay trong phiên họp đầu tiên, tôi đã tát tai đại tá Séctôbítốp trong lúc nổi nóng. Tôi bị tước quyền và bị mất việc.
- Tôi đề nghị với ngài một công việc nguy hiểm, nhưng được trả công rất hậu. Ngài đồng ý không?
- vâng.
- Ngài sẽ đi Pari. Ngài sẽ nhận giới thiệu. Ngài sẽ được nhận việc. Ngài sẽ đem theo giấy tờ và thư ủy nhiệm về Lêningrát ... Ở đấy, ngài sẽ căn cứ tấm ảnh mà tìm kiếm một thằng bé ...


60

Năm ngày trôi qua. Không có một biến cố gì phá vỡ cảnh thanh hình của thị trấn K. trên bờ sông Ranh, trong một thung lũng xanh tươi và ẩm ướt cạnh những nhà máy nổi tiếng của Cộng ty hóa chất anilin.
   Trên những đường phố ngoằn ngoèo và hè phố hẹp, suốt từ sáng rộn rã tiếng guốc dép của các em học sinh, tiếng bước chân nặng nề của các công nhân, và nhiều phụ nữ đẩy xe nói về phía sông trong bóng râm của rặng cây đoạn ... Từ trong hiệu cắt tóc, người thợ cạo mặc chiếc gilê bằng vải thô bước ra phố, đặt chiếc thang xếp lên hệ. Người thợ phụ trèo lên thang, lau sạch tấm biển hàng vốn đã bóng loáng, vẽ hình chiếc thau đồng và bộ đuôi ngựa màu trắng. Trong tiệm cà phê, người ta cũng đang lau chùi các tấm kính. Chiếc xe tải bánh to tướng , chở những thùng bia rỗng lăn ầm ầm trên mặt đường.
Thật lạ lùng. Trong vòng vbốn thế kỷ, có trời mới biết nước Đức đã giàu có lên bằng cách nào, những đứa con của nó đã biết đến vinh quang như thế nào và những cặp mắt xanh lơ của người dân Đức đã rạng rỡ những nioềm hy vọng nào ...

   Vậy mà giờ đây, tất cả đều hóa thành vô ích. Trong những căn bếp nhỏ xíu là những túm hành đặt trên bàn lát gạch men, và trong ánh mắt thiếu đôi của các phụ nữ lại lộ rõ nỗi buồn bã xưa cũ.
      Heurich và Khơlưnốp, giày lắm đầy bụi, áo vét lông vắt tay, trán ướt đẫm mồ hôi, đi qua chiếc cầu vồng lên rồi tiến theo con đường cái mát bóng cây, về phía thị trấn K.
Mặt trời đang khuất sau rặng núi thấp. Trong ánh chiều vàng óng, khói vẫn cuồn cuộn bốc ra từ những ống khói của Công ty hóa chất anilin. Những tôn nhà, những ống khói, những tuyến đường sắt, những mái lợp ngói của nóc nhà kho - tất cả cứ nhấp nhô theo dọc hai bên các ngọn đồi mà tiến sát tới thị trấn.
- Tôi tin là ở chỗ kia kìa - Henrich nói và chỉ tay về phía những ngọn núi đá hồng lên trong ráng chiều, - Nếu chọn địa điểm thích hợp nhất cho việc hắn phá các nhà máy thì tội sẽ chọn nơi đó.
- Đồng ý thôi, nhưng ta chỉ còn ba ngày nữa. Henrich ạ ...
- Mạn Nàm khi không có gì nguy hiểm cả vì quá xa. Các khgu vực phía Bắc và phía Đông thì ta đã lục lọi đến viên đá cuối cùng rồi. Chúng ta chỉ cần ba ngày là đủ.
   Khơlư nốp quay về phía những ngọn đồi rậm rạp cây cối đã ngả sang màu tím ở man Bắc. Suốt năm ngày đêm qua , anh và Henrich đã tìm kiếm từng lòng chảo, nơi có thể ẩn giấu một cơ ngơi gì đó - một tòa biệt thự hoặc một túp lều - có cửa sổ hướng về các nhà máy.
  Suốt năm ngày đêm họ không thay quần áo, và khí trời đã khuya thì ( hạ dân) ngủ đấy. Thấm chí, họ không còn cảm thấy đau chân nữa. Họ đi theo các con đường đá và các con đường hẻm, họ băng qua các khe núi và các bờ giậu, họ ngang dọc các ngọn núi xung quanh thành phố, họ đã vượt qua phải đến cả trăm cây số. Nhưng không một nơi đâu họ thấy dấu vết Garin. Họ gặp nhiều nông dân, nhiều chủ trại, nhiều người làm công tại các nhà nghĩ, nhiều người thợ kiểm lâm và gác rừng, nhưng ai cũng vung tay ngạc nhiên.
- Khắp vùng này không có một ai từ nơi khác đến, còn những người ở đây thì chúng tôi đều biết hết.

61

Chỉ còn lại khu vực phía Tây là khu vực gian nan nhất. Căn cứ theo bản đồ thì ỏ đấy có một con đường đi bộ được, dẫn đến một vạt đất cao bằng phẳng có núi đá bao quanh, tại đấy có di tích nổi tiếng của lâu đài "Bộ xương cùm xích" và gần đó, như thường thấy trong những trường hợp như vậy, có quán rượu "Trên đường đến bộ xương cùm xích"  
Tại khu dic tích hoang tàn ấy, quả thật có thể nhìn thấy những phần còn lại của một đường hầm ngầm và đằng sau dãy chấn song sắt là một bộ xương đồ sộ bị chặt trong mớ xích han gỉ, ở tư thế ngồi. Hình vẽ bộ xương ấy trên những tấm bức ảnh, trên nhũng con dao cắt và cộc vại đựng bia được bày bán khắp nơi. Thậm chí có thể mất hai đồng để chụp ảnh cạnh bộ xương và gửi bức ảnh cho những người quen biết hoặc cô gái mình yêu mến. Cứ vào ngày chủ nhật là nơi di tích này lại chen chúc những tiều thị dân đến nghỉ ngơi, và quán rượu tấp nập người ra vào. Thường có cả khách nước ngoài nữa.
Nhưng sau chiến tranh, niềm ham thích bộ xương nổi tiếng kia giảm hẳn đi. Giới tiểu thị dân đã sa sút, vào những ngày hội hè, họ ngại trèo lên ngọn núi dốc đứng và ưa thích nằm dài trên bờ sông, dưới rặng cây doạn, nhấm nháp bia và những khoanh bánh mì kẹp thịt hơn ..
  Chính di tích ấy là nơi Henrich và Khơlưnốp hiện đang đi đến. Họ tạt vào quán điểm tâm trên quảng trường thành phố để ăn uống một lát, nghiên cứu hồi lâu tấm bản đồ địa phương và hỏi han tỉ mỉ người hầu bàn.
  Hóa ra ở mạn Tây của thung lũng, ngoài khu di tích và quán rượu kia, còn một thắng cảnh nữa: đó là tòa biệt thự của chủ xưởng sán xuốt máy chữ đã bị phá sản trong những năm qua. Tòa biệt thự nằm ở sườn đối phía Tây, từ thành phố không nhận thấy được. Viên chủ xưởng sống ở đây một mình, gần như không ra ngoài.


62


Mãi đến quá nửa đêm trăng tròn mới mọc lên. Những gì mà trước đây hình như là một sự chồng đống lờ mờ những tảng đá và núi đá, thì nay hiện ra lồ lộ dưới ánh trăng: bóng mượt mà của những mái vòm còn lành lặn trải dài xuống phía dưới vào tận hẻm núi, những phần còn lại của bức tường pháo đài mọc đầy những cây nhỏ cong queo và đám đũm hương chằng chịt, ngọn tháp hình vuông như bừng sống dậy: đây laàphần cổ nhất của lâu đài do những người Noócmang xây dựng nên, hoặc "Tháp tra khảo", như tên gọi ghi trên các bưu ảnh.
       Ở mạn Đông, tiếp giáp với ngọn tháp này là những mái vòm bằng gạch, chắc hẳn khi xưa đó là đường hành lang nối liền ngọn tháp cổ với tòa lâu đài dùng để ở . Dưới chân ngọn tháp ấy chính là nơi có "Bộ xương cùm xích".
     Henrich tì khuỷu tay vào dãy chấn song nhìn bộ xương hồi lâu rồi quay về phía Khơlưnốp nói:
- Bây giờ anh hãy nhìn phía dưới kia!
   Mãi nhìn bên dưới là dải thung lũng chìm ngập trong ánh trăng mờ mờ. Dòng sông lấp lánh vẩy bạc tại những nơi nước chảy qua các bụi cây, Thị trấn như một thứ đồ chơi huyền ảo. Không một ô cửa sổ nào sáng ánh đèn. bến kia thị trấn, mạn bên trái, là hàng trăm ánh đèn rực sáng của Công ty hóa chất anilin. Những cột khói trắng bốc cao, lửa hồng phát ra từ các ống khói. văng vẳng  vọng đến tiếng còi tàu và tiếng ầm ầm gì đó .
- Tôi nói đúng, - Henrich lên tiếng, - chỉ từ khoảng đất cao này mới có thể bắn phá bằng tia được. Anh nhìn xem, kia là những kho chứa nguyên liệu, sau con đê bằng đất kia kìa là những kho chứa bàn thành phẩm, chúng hoàn toàn phơi mình ra, còn kia là những tòa nhà dài, nơi sản quất axít xuynphuyrich theo phương pháp Nga, từ hợp chất xuynphua. Còn nhũng mái nhà tròn đứng riêng hẳn ra là nơi sản xuất anilin cùng tất cả những chất quỉ quái khác, những chất đó sẵn sàng nổ tung lên, đôi khi chỉ là do tính đỏng đảnh của chúng thôi.
- Cứ cho là thế đi, Henrich ạ. Nhưng nếu dự đoán rằng Garin sẽ chỉ bố trí bộ máy của y vào đêm hai mươi bảy rạng ngày hai mươi tám thì nhất định phải có dấu hiệu chuẩn bị sơ bộ chứ.
- Phải xem xét kỹ khu di tích đổ nát này mới được. Tôi sẽ điều tra kỹ tình hình ngọn tháp, còn anh hãy điều tra kỹ tình hình các bức tường và mái vòm ... Thật ra, không thể tìm được chỗ nào tốt hơn chỗ bộ xương này đâu.
- Đến bảy giờ, chúng ta sẽ gặp lại nhau ở quán ăn.
Đồng ý .


63


     Vào lúc tám giờ, henrich và Khơlưnốp ngồi uống sữa tại hàng hiên bằng gỗ của quán ăn "Trên đường đến bộ xương cùm xích". Những cuộc tìm kiếm đêm qua không đem lại kết quả gì hết. họ ngồi im lặng, hai tay đỡ lấy đầu. Trong những ngày qua, họ đã hiểu nhau đến nỗi có thể đọc được ý nghĩ của nhau. Vốn là người mẫn cảm hơn và ít tự tin hơn, Khơlưnốp nhiều lần bắt đầu xem xét lại toàn bộ quá trình suy nghĩ đã đưa anh và Henrich từ Pari đến nơi đây, một nơi hình như vô hại này. Dựa vào đâu mà họ lại làm như vậy? Dựa vào hai ba dòng chữ trên hóc.
- Henrich, liệu chừng chúng ta bị mắc lỡm không?

Henrich đáp:
- Trí tuệ con người chỉ có hạn. nhưng đối với công việc thì dựa vào trí tuệ bao giờ cũng hợp lý hơn là nghi ngờ. Hơn nữa, nếu chúng ta không tìm thấy gì hết và hành động quỉ quyệt của Garin chỉ là sự tưởng tượng của chúng ta thì thật may mắn quá. Chúng ta đã làm tròn nghĩa vụ của mình.
   Người hầu bàn mang đến dĩa trứng tráng và hai cốc vại bia. Rồi chủ quán xuất hiện, đấy là một người đàn ông to béo, hồng hào. Ông ta huyên thuyên hồi lâu về lịch sử trong vùng, rồi quay ra quảng cáo những tấm bưu ảnh in hình "bộ xương cùm xích". Thấy hai người khách không tỏ ra quan tâm, ông ta bỏ đi, nhưng lập tức trở lại ngay với một chiếc hộp nhỏ tựa như hộp xì gà. Trên nắp hộp bằng gỗ cũng khắc hình bộ xương nổi tiếng kia.
  - Các ngài có muốn thử không? Bộ máy này hoạt động không thua kém gì những bộ máy chạy bằng đèn âm cực đâu - Ông ta nhanh nhẹn lắp dây dẫn và các ống nghe rồi cắm máy thu thanh vào ổ cắm bố trí dưới gầm bàn. - Chỉ cần ba mác rưỡi thôi, - ông ta nói tiếp và đưa bộ tai nghe cho Khơlưnốp, - là có thể ta nghe thấy Béclin, Hămbua, Pari nếu như ngài thích nghe. Tôi sẽ thu xếp để ngài nghe thấy nhà thờ lớn Còlônhơ, tại đấy đang có buổi lễ, và ngài sẽ nghe thấy tiếng đàn đại phong cầm, thật ghê gớm, phải không? ... Ngài hãy quay cần gạt sang bên trái ... Có chuyện gì thế? Hình như gã Stuphe khốn khiếp lại gây trở ngại rồi thì phải?
-        Ai gây trở ngại kia ? Henrich hỏi, cúi xuống bộ máy.
-         Stuphe, gã chủ xưởng sản xuất máy chữ đã phá sản, một kẻ say rượu và điên rồ … Hai năm trước đây, gã ta đã lắp một đài phát sóng trong biệt thự của gã. Rồi gã bị phá sản. Nhưng đài phát sóng lại mới bắt đầu hoạt động trở lại …
 
        Mắt Khơlưnốp sáng lên một cách lạ lùng, anh đặt ống nghe xuống.
-        Henrich, ta trả tiền rồi đi đi.
Một vài phút sau, khi đã thoát được ông chủ quán lắm lời, họ bước ra đường, Khơlưnốp nắm chặt tay Henrich :
-        Tôi nghe thấy rồi, tôi nhận ra giọng Garin …
 

     Sáng hôm đó trước đấy một tiếng đồng hồ, tại ngôi biệt thự của Stuphe nằm trên sườn đồi phía Tây, trong phòng ăn lờ mờ tối, Stuphe ngồi ở bàn và nói chuyện với một người đối thoại vô hình. Đúng hơn đấy là những câu nói và những lời chửi rủa rời rạc, đứt đoạn. Trên chiếc bàn phủ đầy tàn thuốc lá, lăn lóc những chai rượu rỗng không, những đầu mẫu xi gà, chiếc cổ áo và chiếc cà vạt của Stuphe. Ông ta chỉ mặc bộ đồ lót, tay gãi gãi bộ ngực mềm nhẽo, mắt chằm chằm nhìn vào ngọn đèn điện duy nhất còn cháy sáng trong cả bộ đèn chùm đồ sộ bằng sắt, và vừa cố kìm cơn sợ vừa khe khẽ chửi rủa những hình bóng người hiện lên trong đầu óc say khướt của ông ta bằng các lời lẽ tục tằn nhất.
          Chiếc đồng hồ trong phòng ăn trang trọng đánh bảy tiếng như bảy tiếng cồng. Gần như ngay lập tức vang lên tiếng xe hơi chạy đến. Garin bước vào phòng ăn, khắp người y đẫm mùi gió sớm, vẻ mặt y đầy hiễu cợt, răng y nhe ra, chiếc mũ da đội sụp sau gáy :
-        Ông lại say suốt đêm phải không ?
        Stuphe đưa cặp mắt đỏ ngầu liếc nhìn Garin. Ông ta thích y. Y trả tiền thứ gì cũng thật hào phóng, y không hề mặc cả, thuê luôn mấy tháng hè ngôi biệt thự này cùng hầm rượu, nhưng vẫn để Stuphe tha hồ sử dụng các loại rượu mùi và các loại sâm banh lâu đời của Pháp và của vùng sông Ranh. Có trời mới biết y làm nghề gì, chắc hẳn là nghề đầu cơ, nhưng y chửi mắng tàn tệ hơn bọn người Mỹ là những kẻ đã làm Stuphe phá sản hai năm trước đây, y khinh bỉ chính phủ và gọi mọi người là đồ súc sinh - Điều đó cũng thật hợp ý Stuphe.
-        Còn ông thì có lẽ suốt đêm cầu Chúa chắc ? – Stuphe khàn khàn hỏi lại.
Garin cười phá lên một hồi ngắn. Rồi y vỗ vào tấm lưng núc ních của Stuphe.
-        Mỗi chúng ta đều giải trí theo cách riêng của mình. Mà này, trong lúc tôi vắng mặt, không có hai người nào đến hỏi tôi chứ ?
-        Không.

 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Vậy tôi sẽ gõ TCKK13-224-243, bạn jessieanh gõ TCKK14-244-261 nhé link download đây (hình tôi đã sử lý): http://www.4shared.com/file/249057252/2e0b3571/tckk14-244-261.html
0


Đã gủi PM cho Jessienh rồi, nếu Jess bận, thì Ct.Ly sẽ nhờ bạn khác há

Chúc vui
0
Mình nhận được PM rồi, mình sẽ gõ phụ phần đó nhé.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-29 15:48:53Ct.Ly>
Mình vừa nhận được hai gói nữa: tckk15-262-281 và tckk16-282-295.

Đã giao cho một bạn thành viên mới tinh của Thư quán là samhaivan gõ gói: tckk15-262-281.

Bạn nào rảnh gõ gói Hatdau đã hoàn tất tckk16-282-295 này nhé link: http://www.4shared.com/file/250012706/c9b6d479/tckk16-282-295.html
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-27 13:14:46Thanh Vân>
Mình vừa nhận được phần hình chụp còn lại từ bạn huytran, xin đưa link download cho các bạn:

Đã gửi Nva _85 - tckk17-296-313: http://www.4shared.com/file/250490772/807247fb/tckk17-296-313.html

Đã gửi Piyemingo- tckk18-314-335: http://www.4shared.com/file/250490996/13028366/tckk18-314-335.html

  Đã gửi cunhoi- tckk20-356-375: http://www.4shared.com/file/250491205/ef20e111/tckk20-356-375.html

Đã gửi uyên khanh- TCKK21-376-het: http://www.4shared.com/file/250492154/f5a33475/TCKK21-376-het.html

Bạn Ly phân công nhé, bạn nào nhận phần nào thì viết bài nhé để tránh bị gõ trùng.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-27 13:15:40Thanh Vân>
OK, nếu có ai nhận sis Ly sẽ ghi lên cho rõ nhá

Chúc vui


****

Đã gửi đi rồi, chỉ chờ hồi âm

Chúc cả nhà những ngày cuối tuần vui vẻ
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Giờ mới xem lại, còn thiếu gói :tckk19-336-355, không biết bạn huytran đã gửi cho ai chưa nhỉ?
0
Xin gửi các bạn phần cuối cùng mà bạn huytran vừa gửi tôi: TCKK19-336-355, link: http://www.4shared.com/file/251122892/3ece4ed5/tckk19-336-355.html.
 
Bạn nào gõ nốt đi nhé, mấy hôm nay tôi đang bận nên sẽ kết thúc việc gõ cuốn này ở sau phần tôi vừa hoàn thành dưới đây:
 
*************************
(TCKK13-224-243)
 
- Tốt lắm. Ông đưa cho tôi chìa khóa nhà kho nào.
Garin vừa quay quay chiếc chìa khóa vừa bước ra vườn, nơi có một ngôi nhà kho nhỏ lắp kính dưới những dàn ăng ten ngang dọc. Y đẩy cửa ra vào, bước vào trong và mở toang các ô cửa sổ. Chống khuỷu tay lên bậu cửa, y đứng một lát, hít thở bầu không khí mát mẻ buổi sáng. Y đã ngồi trên ôtô gần hai mươi tiếng đồng hồ để thu xếp công việc với các ngân hàng và các nhà máy. Giờ đây, mọi chuyện đã đâu vào đấy trước ngày hai mươi tám.
Y không nhớ là đã đứng như vậy bao nhiêu lâu bên cửa sổ. Rồi y vươn vai, châm thuốc hút, mở máy phát điện, xem xét và điều chỉnh các bộ máy. Sau đó, y đứng trước micrô và chậm rãi gọi to:
- Dôia, Dôia, Dôia, Dôia… Hãy nghe đây, hãy nghe đây, hãy nghe đây… Tất cả những gì em muốn rồi sẽ có. Chỉ có điều là hãy biết ham muốn. Anh cần có em. Không có em, công việc của anh sẽ mất hết ý nghĩa. Vài ngày nữa, anh sẽ đến Naplơ. Đến mai anh sẽ báo chính xác cho em biết. Em đừng lo lắng gì hết. Mọi việc đều tốt đẹp.
Y im lặng một lát, hít một hơi thuốc rồi lại bắt đầu gọi: “Dôia, Dôia, Dôia…”. Y nhắm mắt lại. Chiếc máy phát điện ầm ì kêu khe khẽ, những tia chớp vô hình lần lượt thoát ra khỏi ăng ten.
Dù đoàn xe kéo pháo có ầm ầm lăn bánh qua lúc này thì chắc hẳn Garin cũng không nghe thấy. Y cũng không nghe thấy ở cuối bãi cỏ có tiếng sỏi đá lăn rào rào xuống sườn dốc. Rồi bụi cây cách tòa nhà năm mươi bước chân bỗng tách ra và nòng đen nhánh của một khẩu súng côn nâng lên ngang tầm mắt.
 
65
 
Rôlinh cầm lấy ống điện thoại:
- Nói đi.
- Tôi là Xêmiônốp đây. Tôi vừa bắt được làn sóng của Garin. Ngài có cho phép đọc chứ?...
- Được.
- “Tất cả những gì em muốn rồi sẽ có, chỉ có điều là hãy biết ham muốn…” - Xêmiônốp vội vã dịch những câu nói của Garin từ tiếng Nga sang tiếng Pháp. Rôlinh lặng im nghe, không thốt ra một lời nào.
- Hết rồi chứ?
- Vâng ạ.
- Ông hãy ghi chép đi, - Rôlinh bắt đầu đọc: - điều chỉnh ngay đài phát sang làn sóng bốn trăm hai mươi mốt. Ngày mai, mười phút trước lúc ông bắt được bức điện hôm nay, hãy bắt đầu phát những câu sau đây: “Dôia, Dôia, Dôia… Xảy ra một tai họa bất ngờ. Cần phải hành động. Nếu bà coi trọng tính mạng người bạn của bà thì thứ sáu này hãy lên bờ ở Naplơ, dừng chân tại khách sạn “Xplenđiđơ” và chờ tin tức cho đến trưa thứ bảy”. Ông hãy nhắc đi nhắc lại liên tục, ông nghe thấy chứ. Ông nhắc đi nhắc lại bằng một giọng to và thuyết phục. Có thế thôi.
Rôlinh bấm chuông.
- Tìm ngay Tưclinxki và đưa đến đây gặp tôi, - y bảo viên thư ký vừa hối hả chạy bổ vào. - Rồi ra ngay sân bay. Thuê hoặc mua một chiếc máy bay chở khách. Mướn phi công và thợ máy. Đến ngày hai mươi tám, mọi thứ đều phải sẵn sàng cho chuyến bay…
 
66
 
Suốt ngày còn lại, Henrích và Khơlưnốp lang thang trong thị trấn K. Họ đi dạo khắp các đường phố, tán gẫu về mọi chuyện linh tinh với những người dân địa phương, tự xưng là khách du lịch. Khi thành phố đã lặng yên, họ lại đi vào núi. Quãng nửa đêm, họ đã leo lên con đường dốc thoải dẫn vào khu vườn của Stuphe. Họ quyết định sẽ khai là những khách du lịch bị lạc đường, nếu như cảnh sát chú ý đến họ. Nếu họ bị bắt thì cũng chẳng có gì nguy hiểm: cả thành phố có thể xác nhận tình trạng ngoại phạm của họ. Sau phát súng bắn từ bụi cây, khi đã nhìn thấy Garin vỡ tan thành từng mảnh và chỉ bốn mươi phút sau là cùng, họ đã có mặt ở thành phố.
Họ đã bò qua hàng dậu thấp, lẩn sau các bụi cây, đi vòng quanh quãng rừng thưa rồi bước về phía nhà Stuphe. Họ dừng lại, liếc nhìn nhau, không hiểu gì hết. Trong vườn và trong nhà vẫn yên tĩnh và bình lặng. Một vài ô cửa sổ sáng ánh đèn. Chiếc cửa lớn dẫn thẳng vào vườn vẫn mở toang. Ánh sáng dìu dịu tỏa xuống hàng bậc đá. Ở bậc thềm trên cùng, một người to béo đang khe khẽ thổi sáo. Bên cạnh ông ta là một chai rượu đặt trong lưới bện. Đấy chính là người mà sáng nay đã bất ngờ xuất hiện trên con đường hẻm gần đài phát sóng và khi nghe thấy tiếng súng đã lảo đảo chạy về phía ngôi nhà. Giờ đây, ông ta đang ung dung, dường như chẳng có gì xảy ra hết.
- Ta đến đi, - Khơlưnốp thầm thì, phải tìm hiểu mới được.
Henrích lầu bầu:
- Tôi không thể bắn trượt đâu.
Họ đi về phía bậc thềm. Đến nửa chừng, Khơlưnốp thấp giọng hỏi:
- Xin lỗi vì đã làm phiền ông… Ở đây có chó chứ?
Stuphe buông sáo xuống, quay đầu lại, vươn cổ ra nhìn hai bóng người lờ mờ.
- Có đấy, - ông ta kéo dài giọng, - chó ở đây dữ lắm.
Khơlưnốp giải thích:
- Chúng tôi bị lạc đường, chúng tôi muốn tham quan khu di tích “Bộ xương cùm xích”… Ông cho phép ngồi nghỉ một lát.
Xtuphe đáp lại bằng một tiếng ầm ừ mơ hồ. Henrích và Khơlưnốp cúi chào rồi ngồi xuống bậc thềm phía dưới - cả hai đều cảnh giác, hồi hộp. Stuphe từ bên trên nhìn họ.
- Các ông biết không, - ông ta lên tiếng, - hồi tôi còn giàu có, tôi cho thả chó vào vườn. Tôi không ưa những kẻ càn rỡ và những vị khách ban đêm. (Khơlưnốp nhanh nhẹn bóp chặt tay Henrích ra ý bảo: đừng nói gì hết). Bọn Mỹ đã làm tôi phá sản và khu vườn biến thành con đường qua lại của những kẻ vô công rồi nghề, mặc dù đâu đâu cũng treo biển cảnh cáo là phạt đến một nghìn mác. Nhưng nước Đức không còn là đất nước của những người dân tôn trọng luật pháp và quyền sở hữu nữa. Tôi đã bảo người thuê biệt thự của tôi như thế này: hãy dùng dây thép gai bao quanh khu vườn và hãy thuê lấy một người gác. Nhưng ông ta không chịu nghe tôi và chính ông ta có lỗi…
Henrích nhặt một viên đá ném vào bóng tối và hỏi:
- Ông đã gặp một chuyện gì khó chịu vì những vị khách ấy phải không?
- Nói “khó chịu” thì quá nhấn mạnh, nhưng buồn cười thì có. Và mới sáng hôm nay thôi. Dù sao chăng nữa thì quyền lợi kinh tế của tôi không bị động chạm đến, và tôi sẽ đắm mình trong trò giải trí của tôi.
Ông ta đưa sáo lên môi và thổi vài âm thanh chói tai.
- Suy đến cùng thì việc ông ta ở đây hay say sưa ở Côlônhơ nào có quan hệ gì đến tôi. Ông ta trả tiền sòng phẳng… Không một ai dám trách móc ông ta điều gì hết. Nhưng ông ta hóa ra là một người nóng nảy. Lẽ ra trong thời gian chiến tranh đã phải quen với tiếng súng rồi… Ông ta thu xếp hết đồ đạc rồi từ biệt tôi… Được thôi, xin cứ việc mà đi…
- Ông ta đi hẳn rồi à? - Khơlưnốp bỗng hỏi to.
Stuphe nhỏm dậy nhưng lại ngồi xuống. Có thể thấy rõ má ông ta được ánh sáng trong phòng hắt ra chiếu sáng bỗng nhòa ra, béo phị - ông ta mỉm cười giễu cợt. Chiếc bụng phệ của ông ta rung rung.
- Quả đúng như ông ta đã báo cho tôi biết trước: nhất định sẽ có hai quí ông đến hỏi tôi về việc ông ta ra đi. Ông ta đi hẳn, đi hẳn rồi, các quí ngài ạ. Nếu các ngài không tin, tôi sẽ cho các ngài xem phòng của ông ta. Nếu các ngài là bạn ông ta thì xin các ngài cứ việc mà xem… Đấy là quyền của các ngài vì căn phòng đã được trả tiền rồi…
Stuphe lại định đứng dậy, nhưng hai chân ông ta chỉ chực khuỵu xuống. Không thể khai thác được gì có ích ở ông ta nữa. Henrích và Khơlưnốp trở lại thành phố. Suốt dọc đường, họ không nói với nhau một lời nào. Mãi khi đến chiếc cầu qua dòng sông đen sẫm phản chiếu ánh đèn, Henrích mới đột ngột dừng lại, bóp chặt nắm tay:
- Quỉ quái thật! Chính tôi nhìn thấy đầu y vỡ tan kia mà…
 
67
 
Một người nhỏ bé, rắn chắc, bộ tóc hoa râm chải mượt, đeo đôi kính xanh che lấp cặp mắt đau, đứng cạnh lò sưởi lát gạch men và cúi đầu nghe Khơlưnốp nói.
Lúc đầu, Khơlưnốp ngồi trên đi văng, sau đó anh chuyển sang ngồi trên bậu cửa sổ, anh bắt đầu rảo bước đi đi lại lại trong phòng khách nhỏ của sứ quán Liên Xô.
Anh kể chuyện Garin và Rôlinh. Câu chuyện của anh chính xác và nhất quán, nhưng chính anh cũng cảm thấy tất cả những biến cố lộn xộn ấy thật khó lòng tin nổi.
- Cứ giả dụ tôi và Henrích sai lầm đi. Thế thì tuyệt quá, chúng tôi có những kết luận sai lầm. Nhưng dù sao thì khả năng xảy ra tai nạn vẫn là năm mươi phần trăm. Chúng ta phải quan tâm đến năm mươi phần trăm ấy. Với tư cách là đại sứ, đồng chí có thể thuyết phục, gây ảnh hưởng, giải thích… Tất cả những chuyện đó đều hết sức nghiêm trọng. Bộ máy kia có thực. Đồng chí Senga đã sờ tận tay rồi. Cần phải khẩn trương hành động ngay lập tức. Đồng chí chỉ còn có hơn một ngày đêm thôi. Đêm mai, tất cả những chuyện đó nhất định sẽ xảy ra. Henrích ở lại K. Anh ấy đang làm tất cả những gì có thể làm được để báo cáo trước công nhân, các công đoàn, nhân dân thành phố và ban quản trị các nhà máy. Đương nhiên là không một ai tin cả… Đấy, ngay cả đồng chí nữa…
Đại sứ vẫn cúi đầu im lặng.
- Tại tòa soạn báo địa phương, họ đã cười giễu chúng tôi đến chảy nước mắt. May lắm thì họ coi chúng tôi là hai gã điên rồ…
Khơlưnốp ôm chặt lấy đầu - những món tóc rối bù nhô lên qua kẽ ngón tay. Mặt anh hốc hác, dính đầy bụi. Cặp mắt trắng nhợt dừng lại, như trước một ảo ảnh ghê sợ. Đại sứ thận trọng ngước nhìn anh qua đôi kính:
- Tại sao đồng chí không đến gặp tôi sớm hơn?
- Chúng tôi chưa có các sự việc cụ thể… Những giả thuyết, những kết luận - những thứ đó rất gần với trí tưởng tượng huyễn hoặc, điên rồ… Ngay bây giờ tôi cũng luôn có cảm giác là tôi sắp thức tỉnh và sẽ thở phào nhẹ nhõm. Nhưng tôi cam đoan với đồng chí là đầu óc tôi hoàn toàn tỉnh táo. Đã tám ngày đêm nay tôi và Henrích không ngủ.
Sau một lát im lặng, đại sứ nghiêm trang nói:
- Tôi tin rằng đồng chí không phải là kẻ lừa gạt, đồng chí Khơlưnốp ạ. Chắc hẳn đồng chí đã bị ám ảnh bởi một ý tưởng gì đó, - ông lập tức giơ tay lên để chặn cử chỉ tuyệt vọng của Khơlưnốp, - nhưng tôi bị thuyết phục vì khả năng năm mươi phần trăm của đồng chí. Tôi sẽ làm tất cả những gì thuộc khả năng của tôi…
 
68
 
Ngày hai mươi tám, từ sáng sớm, trên quảng trường thành phố K, dân chúng tụ tập lại thành từ nhóm, người thì nghi hoặc người thì có phần sợ hãi, họ thảo luận về những bản cáo thị lạ lùng dán bằng bột mì nhão trên các bức tường tại khắp các ngã tư.
“Cả chính quyền lẫn ban quản trị các nhà máy và các nghiệp đoàn đều không muốn lắng nghe lời kêu gọi khẩn thiết của chúng tôi. Hôm nay, - chúng tôi tin chắc như vậy, - các nhà máy, thành phố và toàn thể dân chúng đứng trước một tai họa chết chóc. Chúng tôi đã cố gắng ngăn chặn nó, nhưng lũ khốn kiếp bị bọn chủ ngân hàng Mỹ mua chuộc đã tỏ ra quá xảo quyệt. Đồng bào hãy tự cứu lấy mình, hãy rời khỏi thành phố, chạy ra vùng đòng bằng ngay. Vì cuộc sống của đồng bào, vì tính mạng của con cái đồng bào, hãy tin chúng tôi”.
Cảnh sát đã đoán ra ai là người viết các bản cáo thị này, họ lùng kiếm Henrích. Nhưng anh đã biến mất. Đến trưa, chính quyền thành phố ra thông báo, cảnh cáo là trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được rời bỏ thành phố và gieo rắc kinh hoàng, bởi vì rõ ràng rằng đêm nay bọn vô lại có ý định cướp phá các ngôi nhà bỏ trống.
“Thưa toàn thể dân chúng, các người đang bị lừa gạt. Hãy tỏ ra tỉnh táo. Ngay hôm nay, bọn vô lại sẽ bị phát hiện, bị bắt giữ và bị xử lý theo pháp luật”.
Chính quyền đã đạt được mục đích: điều bí ẩn đe dọa kia hóa ra thật giản dị. Dân chúng lập tức yên tâm và thậm chí còn tự giễu cợt nữa: “Mưu mẹo kể cũng khá thật đấy - bọn vô lại sẽ tha hồ mà làm mưa làm gió trong các nhà, các cửa hàng. Còn lũ ngu muội chúng ta thì sẽ sợ run lên suốt đêm ngoài đồng bằng, ha ha”.
Buổi tối hôm ấy cũng hệt như hàng nghìn buổi tối khác, ánh hoàng hôn soi sáng các ô cửa sổ trong thành phố. Chim chóc đã im tiếng trên các cây cối. Ngoài sông, ếch nhái kêu ộp oạp trên đôi bờ ẩm ướt. Ánh sáng êm dịu chiếu qua cửa sổ các hàng quán, đám khách quen ung dung nhúng bộ ria trong bọt bia. Cả người chủ quán ăn ngoại thành “Trên đường dẫn tới bộ xương cùm xích” cũng đã dịu bớt, ông ta vừa đi đi lại lại trên khu gác sân vắng vẻ vừa nguyền rủa chính phủ, nguyền rủa bọn đảng viên xã hội và dân Do Thái, ra lệnh đóng kín rồi lên xe đạp đi về thành phố.
Đúng lúc đó, trên sườn đồi phía Tây, một chiếc xe hơi không bật đèn, gần như không có tiếng động cơ, lao vun vút trên con đường ít người qua lại. Hoàng hôn đã tắt, các ngôi sao vẫn chưa thật sáng, phía sau các ngọn núi tỏa lan một vừng ánh sáng lạnh - trăng lên. Ở vùng đồng bằng, đây đó lập lòe ánh lửa vàng vàng. Chỉ có ở phía các nhà máy là vẫn rộn ràng, nhộn nhịp.
Henrích và Khơlưnốp ngồi bên dốc đứng ở cuối khu di tích lâu đài cổ. Họ đã một lần nữa lục soát mọi ngõ ngách và trèo lên ngon tháp vuông - không hề thấy chỗ nào có dấu vết công việc chuẩn bị của Garin. Đã có lúc họ cảm thấy như xa xa có tiếng xe hơi chạy. Họ lắng nghe, chăm chú nhìn. Buổi tối êm ả, đượm vẻ thanh bình cổ xưa của trái đất. Đôi lúc, những dòng không khí chuyển động mang đến hơi ẩm của hoa lá từ phía dưới.
- Tôi đã xem bản đồ rồi, - Khơlưnốp nói, - nếu chúng ta đi xuống theo hướng Tây thì chúng ta sẽ cắt ngang con đường sắt tại một ga xép, nơi chuyến xe thư thường đỗ lại, vào lúc năm rưỡi. Theo tôi thì ở đấy không có cảnh sát gác đâu.
Henrích đáp:
- Toàn bộ câu chuyện này đã kết thúc một cách lố bịch và ngu ngốc, Con người chỉ mới chuyển từ tư thế bò bằng tứ chi lên tư thế đứng thẳng bằng hai chân và nó còn bị đè nặng bởi hàng triệu thế kỷ sống trong tình trạng man rợ tăm tối. Đám đông dân đen không được một tư tưởng hướng dẫn thì thật đáng sợ. Không thể để mặc mọi người chịu cảnh không có người hướng dẫn được. Họ luôn luôn có khuynh hướng trở lại tư thế bò.
- Ý anh muốn nói gì đấy, Henrích?
- Tôi mệt rồi, - Henrích ngồi xuống đống đá, tì chiếc cằm rắn chắc vào hai nắm tay, - Chẳng lẽ anh không một giây nào nghĩ rằng vào ngày hai mươi tám, chúng ta sẽ bị bắt như những tên bịp bợm và ăn cướp hay sao? Nếu như anh nhìn thấy những kẻ đại diện chính quyền đã đưa mắt nhìn nhau như thế nào khi tôi ra sức chứng minh cho họ thấy tai họa có thể xảy ra… Chà! Sao tôi lại ngu ngốc đến thế. Và họ có lý, vấn đề là như vậy. Họ không bao giờ biết được chuyện gì đang đe dọa họ…
- Nếu như không có phát súng của anh, Henrích ạ…
- Thật quái quỉ… Nếu như tôi không bắn trượt… Tôi sẵn sàng chịu án mười năm khổ sai, miễn là chứng minh được cho lũ ngốc ấy…
Giọng Henrích giờ đây âm vang trong khu thành quách đổ nát. Cách họ ba mươi bước - hệt như người đi săn lần mò theo tiếng gà rừng - Garin đang men theo bóng tối của bức tường đã đổ một nửa. Y nhìn rõ bóng hai người bên dốc đứng, nghe rõ từng câu nói của họ. Đến khoảng trống giữa ngọn tháp và cuối bức tường, y nằm xuống bò. Ở chỗ giáp giới giữa hai chân ngọn tháp và chiếc hang vòm “Bộ xương cùm xích” còn sót lại một khúc cột bằng sa thạch Garin lần ra sau khúc cột đó. Có tiếng đá lạo xạo và tiếng sắt gỉ kêu ken két. Henrích nhảy bật dậy:
- Anh nghe thấy gì không?
Khơlưnốp nhìn đống đá, nơi Garin vừa độn thổ. Họ chạy đến chỗ đó. Họ đi một vòng quanh ngọn tháp.
- Ở đây, có cáo, - Henrích nói.
- Không, chắc đấy là tiếng chim đêm.
- Ta phải đi thôi. Chúng ta bắt đầu mắc chứng ảo giác rồi đấy…
Khi họ bước đến gần con đường núi thì một tiếng gì đó rơi xuống và lặng đi. Henrích run bắn lên. Họ nín thở lắng nghe hồi lâu. Hình như bản thân sự tĩnh mịch cũng vang lên trong tai họ.
- Ta đi đi.
- Đúng đấy, thật ngu ngốc.
Lần này, họ quả quyết rảo bước, không ngoái đầu lại. Và do đó một người đã thoát chết.
 
69
 
Henrích không hoàn toàn sai lầm khi đoán chắc rằng anh đã nhìn thấy những mảnh xương sọ của Garin bắn tóe ra. Khi Garin im lặng khoảng một giây trước micrô, vươn người lấy điếu xì gà đang tỏa khói ở mép bàn, thì chiếc ống nghe bằng êbônít mà y áp chặt vào tai mình, bỗng tan ra từng mảnh. Đồng thời, y nghe thấy một tiếng súng đanh gọn và cảm thấy đau nhói bên trái đầu. Y lập tức ngã nghiêng xuống rồi nằm sấp và lặng đi không nhúc nhích. Y nghe thấy tiếng Stuphe rú lên và tiếng chân người chạy đi.
“Ai - Rôlinh hay Senga?” - y cố sức giải đáp câu hỏi đó khi ngồi trên xe phóng về Côlônhơ khoảng hai giờ sau. Nhưng chỉ bây giờ, khi nghe thấy câu chuyện của hai người ngồi bên dốc đứng, y mới đoán ra được. Senga khá thật… Nhưng dù sao cũng không nên dùng những thủ pháp không cho phép như vậy…
Y đẩy khúc cột sang bên - khúc cột này che lấp một nắp cửa sập han gỉ, rồi y bò xuống và bật đèn pin, đi theo những bậc vỡ nát lên “túi đá” - một hốc nhỏ ăn sâu vào bức tường của ngọn tháp thời Noócmăng. Đấy là một ngăn xà lim, dài mỗi bề chừng hai bước chân. Trong tường còn giữ lại những chiếc vòng và cùm xích bằng đồng. Cạnh bức tường đối diện, bộ máy đặt trên một chiếc bệ gỗ ghép thô lại với nhau. Phía dưới là bốn nắp hộp sắt tây chứa đinamít. Phần tường đối diện với nòng bộ máy bị đục thủng, nhưng lỗ thủng bị “Bộ xương cùm xích” che kín từ phía ngoài.
Y tắt đèn pin, đẩy nòng bộ máy sang bên, rồi thò tay qua lỗ hổng, gạt bộ xương đi. Chiếc sọ tung lên, lăn lông lốc. Qua lỗ hổng, có thể nhìn thấy ánh đèn của các nhà máy. Mắt Garin rất tinh. Y thấy được cả những bóng người nhỏ bé đang đi đi lại lại giữa các tòa nhà. Cả người y run lên. Răng y nghiến chặt. Y không ngờ rằng tới được giây phút này lại khó khăn như vậy. Y lại chĩa nòng bộ máy vào lỗ hổng và lắp khít vào. Y tháo nắp phía sau ra kiểm tra các khối chóp than. Mọi việc đều đã chuẩn bị xong xuôi trước đó một tuần lễ. Bộ máy thứ hai và mô hình cũ nằm trong chiếc xe đỗ ở phía dưới, trong rừng.
Y đóng nắp lại và đặt tay lên cần động cơ điện dùng để đốt cháy tự động các khối chóp than. Người y run lên suốt từ đầu đến chân. Không phải lương tâm (còn lương tâm gì được nữa sau chiến tranh thế giới), cũng không phải nỗi sợ hãi (y quá khinh suất) cũng không phải lòng thương xót đối với các nạn nhân của y (họ ở quá xa) đã khiến y cảm thấy vừa ớn lạnh vừa nóng bừng bừng. Y hiểu hết sức rõ rệt rằng chỉ cần quay một vòng tay lên thôi là sẽ trở thành kẻ thù của nhân loại.
Y thậm chí bỏ bàn tay khỏi cần gạt và thò vào lấy thuốc lá. Nhưng khi ấy, bộ óc hồi hộp của y trả lời cử chỉ của tay y: “ngươi trùng trình, ngươi thích thú, đấy là sự điên rồ”.
Y quay nhanh manhêtô. Lửa trong bộ máy bùng lên, kêu xèo xèo. Y chậm rãi vặn chiếc vít đo vi lượng.
 
70
 
Khơlưnốp là người đầu tiên chú ý đến luồng ánh sáng trên trời cao.
- Kia lại thêm một luồng sáng nữa, - anh khẽ nói.
Họ dừng lại giữa đường và ngẩng đầu nhìn. Phía dưới luồng sáng đầu tiên, bên trên các vòm cây đã xuất hiện luồng lửa thứ hai, nó vừa để rơi những tia lửa như chiếc pháo sáng đang tắt vừa hạ thấp xuống.
- Đó là chim bị bốc cháy đấy, - Henrích thầm thì, - anh nhìn kìa.
Bên trên khu rừng, một con chim đang bay thong thả, loạng choạng trên dải sáng của bầu trời. Nó bốc lửa, chao đảo rồi rơi xuống.
- Chúng bị chạm dây điện.
- Dây điện nào kia?
- Chẳng lẽ anh không nhìn thấy ư. Henrích?
Khơlưnốp chỉ một sợi dây lấp lánh thẳng tắp như một mũi tên. Nó chạy từ khu di tích trên cao phía các nhà máy của Công ty hóa chất alinin. Đường đi của nó được đánh dấu bằng những chiếc lá bốc cháy, bằng những con chim biến thành lửa. Giờ đây, nó sáng chói lọi, một đoạn dài của nó đang cắt đứt hàng thông đen dày đặc.
- Nó hạ xuống kìa! - Henrích hét lên.
Cả hai đã hiểu sợi dây đó là gì. Họ chỉ có thể sững sờ theo dõi hướng đi của nó. Đòn đầu tiên của tia sáng giáng vào ống khói nhà máy - ống khói đung đưa, gẫy đôi rồi rơi xuống. Nhưng cảnh đó xảy ra rất xa, không nghe thấy tiếng rơi.
Gần như ngay lập tức, ở phía bên phải ống khói một cột hơi nước bốc lên, bên trên mái tòa nhà dài, nó đượm hồng và trộn lẫn với khói đen. Dịch sang bên trái một chút là tòa nhà năm tầng. Đột nhiên, tất cả các ô cửa sổ của nó đều tắt phụt. Khắp bề mặt tòa nhà, suốt từ trên xuống dưới là những đường chữ chi lửa chạy vùn vụt…
Khơlưnốp la hét như điên dại… Tòa nhà đổ sụp, bộ khung nhà chìm trong lửa khói.
Mãi đến lúc này, Henrích và Khơlưnốp mới lao ngược về phía núi, về phía tòa nhà đổ nát. Họ chạy qua con đường ngoằn ngoèo, bò lên những bờ dốc dựng đứng rậm rạp cây cối. Họ ngã xuống rồi lại bò tiếp. Họ la hét, chửi rủa - một người nói bằng tiếng Nga, một người bằng tiếng Đức. Rồi bỗng vọng đến tai họ là một tiếng động âm vang như tiếng thở dài của trái đất.
Họ quay đầu lại nhìn. Giờ đây đã nhìn rõ toàn bộ nhà máy trải dài nhiều cây số. Một nửa các tòa nhà đang bốc cháy như làm bằng bìa cứng. Bên dưới, ngay sát thành phố, khói vàng sẫm bốc lên như chiếc nấm khổng lồ. Tia sáng của bộ máy khủng khiếp lồng lộn giữa cảnh đổ nát này, lần tìm con mồi chính là các kho chứa chất nổ bán thành phẩm. Ánh hồng loang ra đến nửa bầu trời. Những đám khói dày đặc, những bó tia lửa màu vàng, màu hung, màu trắng bạc cuồn cuộn bốc cao hơn núi.
- Chà, chậm mất rồi! - Henrích kêu lên.
Họ nhìn thấy một khối gì đó sống động tràn ra từ thành phố theo những dải đường trắng mờ. Đoạn sông phản chiếu toàn bộ đám cháy khủng khiếp hình như gợn lăn tăn vì những chấm đen. Đấy là dân cư trong thành phố hốt hoảng bỏ chạy ra vùng đồng bằng.
- Chậm rồi, chậm mất rồi! - Henrích tiếp tục kêu lên. Bọt và máu tràn ra cằm anh.
Chạy trốn lúc này quả là đã muộn. Cánh đồng cỏ nằm giữa thành phố và khu nhà máy lợp những hàng mái ngói chạy dài đột nhiên như dâng cao lên. Mặt đất phình ra. Đấy là cảnh tượng đầu tiên mà mắt họ nhìn thấy. Ngay lập tức, từ trong lòng đất, những lưỡi lửa phụt lên qua các kẽ nứt. Rồi cũng ngay lập tức, lửa bùng cao thành một cột lửa và hơi đốt nóng bỏng, chói lọi và rực rỡ đến mức chưa ai thấy bao giờ. Bầu trời dường như bay lên cao tít bên trên toàn bộ đồng bằng. Khắp khoảng không tràn ngập làn ánh sáng xanh xanh, hồng hồng. Trong làn ánh sáng đó, hệt như vào lúc nhật thực, hiện rõ từng cành cây, từng bụi cỏ, từng tảng đá và hai mặt người trắng bệch như hóa đá.
Một tiếng nổ dữ dội. Những tiếng ầm ầm vang rền. Đất toác ra. Núi non rung chuyển. Trận cuồng phong làm cây cối chao đảo và rạp xuống. Đất đá cùng những khúc gỗ cháy vỡ bay tứ tung. Những đám khói dầy đặc phủ kín vùng đồng bằng.
Trời tối lại, và trong bóng tối vang lên tiếng nổ thứ hai, còn khủng khiếp hơn nữa. Cả bầu không khí mờ khói đều thấm đượm một thứ ánh sáng ảm đạm, ghê sợ.
Gió, những mảnh đá và những cành cây khiến Henrích và Khơlưnốp ngã lộn nhào kéo băng họ xuống chỗ dốc đứng.
 
71
 
- Thuyền trưởng Gianxen, tôi muốn lên bờ.
- Xin tuân lệnh.
- Tôi muốn ông đi cùng với tôi.
Gianxen đỏ bừng mặt vì vui sướng. Một phút sau, chiếc xuồng sáu mái chèo sơn bóng được nhẹ nhàng hạ từ du thuyền “Aridôna” xuống làn nước trong suốt. Ba thủy thủ có nước da màu đồng hun trượt theo một dây chão xuống xuồng. Họ nâng mái chèo lên, ngồi bất động.
Gianxen đứng chờ bên thang du thuyền. Dôia trùng trình, ả vẫn lơ đãng nhìn hình bóng chập chờn vì không khí nóng rực của thành phố Naplơ với những gác sân lên cao dần, nhìn những bức tường đất nung và những ngọn tháp của pháo đài cổ kính trên mặt nước, nhìn đỉnh Vêduyvơ đang lững lờ bốc khói. Trời lặng gió, mặt biển phẳng lặng như gương.
Rất nhiều thuyền bè chậm chạp trôi trong vịnh. Trên chiếc thuyền, có một lão già cao to, nom giống như hình vẽ của Mikenlangiêlô[1], đang đứng chèo. Bộ râu bạc rũ xuống chiếc áo khoác màu sẫm, rách rưới, vá chằng vá đụp, những món tóc bạc bù xù như tổ quạ. Khoác qua vai là một chiếc túi bằng vải gai.
Đó là Péppô, lão ăn mày mà người nào cũng biết.
Lão thường đi ăn xin trên chiếc thuyền riêng của lão. Hôm qua, Dôia đứng trên du thuyền đã ném cho lão tờ giấy bạc một trăm đô la. Hôm nay, lão lại chèo thuyền đến chiếc “Aridôna”. Péppô là kẻ lãng mạn cuối cùng của nước Ý cổ xưa, được các vị thần và các nàng thơ say đắm. Tất cả những chuyện đó đã qua đi không bao giờ trở lại. Không một ai còn vừa khóc vừa đưa cặp mắt sung sướng nhìn những khối đá cổ nữa. Những họa sĩ thường trả bằng tiền vàng để vẽ Péppô giữa những di tích đổ nát của ngôi nhà Xêxili Giucunđut ở Pompây, nay họ đã thối rữa trên các bãi chiến trường. Thế giới đã trở nên buồn tẻ.
Péppô vừa chậm rãi chèo vừa cho con thuyền bơi dọc theo mạn du thuyền “Aridôna” đượm màu xanh vì những làn ánh sáng phản chiếu. Rồi lão ngẩng khuôn mặt nhăn nheo, lông mày bù xù, tuyệt đẹp như một tấm huy chương, và giơ tay ra, xin của bố thí. Dôia cúi mình xuống, hỏi bằng tiếng Ý:
- Péppô, lão hãy đoán chẵn hay lẻ?
- Chẵn, thưa bà.
Dôia ném xuống thuyền lão một tập giấy bạc mới tinh.
- Xin cảm ơn quí bà xinh đẹp, - lão trang trọng nói.
Chẳng có gì phải trùng trình nữa. Dôia đã dự tính rằng nếu lão ăn xin già lại chèo thuyền đến và trả lời “chẵn” thì có nghĩa mọi chuyện sẽ tốt đẹp.
Tuy nhiên, ả vẫn lo ngại vì những linh cảm gở: nếu đột nhiên cảnh sát mai phục sẵn ở khách sạn “Xplenđiđơ” thì sao? Nhưng giọng nói oai vệ lại vang lên trong tai ả: “… Nếu bà coi trọng tính mạng của người bạn của bà…”. Không còn một sự lựa chọn nào khác.
 
72
 
Đến khách sạn, Dôia hỏi người gác cổng xem có thư từ gì gửi bà Lamôlơ hay không? Người gác cổng đưa cho ả một bức điện không có chữ ký: “Hãy chờ đến tối thứ bẩy”. Ả nhún vai, đặt phòng rồi cùng Gianxen đi thăm thành phố. Họ đi hết cửa hàng này đến cửa hàng khác. Dôia mua tất cả những thứ mà đám quản lý lắm lời giới thiệu. Cuối cùng ả thấy chán.
- Ta đến Pompây đi, ả bảo.
Họ phóng xe hơi đến chân núi Vêduyvơ và lang thang ở đó hồi lâu, trên những đường phố đã quét dọn sạch tro tàn của thành phố cổ kính.





[1] Buônarôti Mikenlangiêlô (1475-1564): nhà điêu khắc, họa sĩ, nhà kiến trúc, nhà thơ Ý nổi tiếng . N.D.
[/align][/align]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-29 22:18:14Ct.Ly>
Đánh máy: Hatdau


&lt;282-295&gt;
 
84
 
Chú bé Ivan sống ở nhà Taraskin, chú nửa như con nửa như em trai của anh. Taraskin dạy chú học chữ và những điều hay lẽ phải.
Chú tỏ ra hết sức sáng trí và chăm chỉ khiến anh rất vui mừng. Cứ tối tới là họ lại uống trà và ăn bánh với nhau, mỗi khi Taraskin thò tay vào túi lấy thuốc lá thì anh lại chợt nhớ là đã hứa bỏ thuốc với tập thể Câu lạc bộ, anh ậm ừ, vò vò tóc và bắt đầu câu chuyện đại loại như:
- Cháu có biết chủ nghĩa tư bản là gì không?
- Không, cháu không biết.
- Chú sẽ giải thích thật dễ hiểu nhé. Mười người cùng làm việc nhưng người thứ mười lấy tất, bụng béo nứt ra, trong khi chín người kia bị đói. Đó là chủ nghĩa tư bản. Cháu hiểu chứ?
- Cháu chưa hiểu
- Cháu chưa hiểu điều gì?
- Tại sao họ lại cho hắn lấy tất?
- Hắn bắt họ phải cho, hắn là kẻ bóc lột.
- Bắt là thế nào? Họ chín người, còn hắn chỉ có một mình kia mà…
- Hắn có vũ khí, những người kia không có vũ khí…
- Vũ khí thì lúc nào mà chẳng tước lấy được. Tức là họ vụng về quá đấy, chú ạ…
Taraskin khâm phục, há miệng nhìn Ivan.
- Đúng đấy… Cháu lập luận theo kiểu Bônsêvích đấy. Ở nước ta, chúng ta đã làm như vậy, chúng ta tước lấy vũ khí, tống cổ bọn bóc lột đi, và ở nước ta, cả mười người cùng làm việc, cùng no đủ…
- Và cùng béo nứt bụng ra nữa.
- Không, không nên béo nứt bụng làm gì, chúng ta là người chứ có phải lợn đâu. Chúng ta ăn no để phát triển trí tuệ.
- Để làm gì hả chú?
- Để trong thời gian ngắn nhất chúng ta sẽ trở thành một dân tộc thông minh nhất, có học thức nhất… Cháu hiểu chứ? Bây giờ, đem vở toán ra đây.
- Vâng, - I van đáp, rồi lấy vở toán và bút chì ra.
- Không được nhấm nước bọt bút chì. Như vậy là không văn hóa… cháu hiểu chứ?
Tối nào họ cũng học như vậy cho tới quá nửa đêm, khi cả hai đều díp mắt lại.
 
85
 
Cạnh cổng câu lạc bộ chèo thuyền có một người đàn ông cằm bạnh, ăn mặc sang trọng, đứng đợi. Y ngẩng đầu lên và nhìn Taraskin cùng Ivan đang lại gần với một vẻ lạ lùng đến nỗi Taraskin phải rùng mình. Ivan nép vào người anh. Người kia nói:
- Tôi đã chờ ở đây từ sáng. Chú bé này là Ivan Guxép phải không?
- Nhưng ông cần gì mới được chứ? - Taraskin thở phì phì và hỏi.
- Xin lỗi, tôi xin tự giới thiệu đã. Tên tôi là Áctua Lêvi.
Y rút một tấm thẻ và giở ra cho Taraskin thấy:
- Tôi là nhân viên sứ quán Liên xô ở Pari. Đồng chí biết như vậy đủ rồi chứ?
Taraskin càu nhàu một câu gì đó. Áctua Lêvi rút trong ví ra tấm ảnh mà Garin lấy của Senga.
- Đồng chí có thể xác nhận rằng tấm ảnh này chụp chú bé kia chứ?
Taraskin đành phải đồng ý. Ivan định lẩn đi, nhưng Áctua Lêvi đã nắm chặt vai chú giữ lại.
- Đồng chí Senga trao cho tôi tấm ảnh này. Tôi được giao nhiệm vụ mật là phải đưa chú bé đến một địa điểm đã quy định. Nếu chú bé chống cự thì tôi phải dùng vũ lực. Đồng chí có đồng ý phục tùng không?
- Giấy ủy quyền của ông đâu? - Taraskin hỏi.
Áctua Lêvi đưa ra giấy ủy quyền của sứ quán Liên Xô tại Pari với đủ các dấu và chữ ký. Taraskin đọc một lúc lâu rồi thở dài, gập lại.
- Có trời mới hiểu nổi nhưng dường như mọi thứ đều đúng hết. Liệu người khác đi thay có được không? Em bé này còn phải học…
Áctua Lêvi nhe răng mỉm cười:
- Đồng chí chớ ngại. Đi với tôi thì chẳng việc gì phải lo cả…
 
86
 
Taraskin bắt Ivan phải hứa là dọc đường sẽ viết thư về. Anh đỡ lo lắng ít nhiều khi nhận được một tấm bưu ảnh gửi từ Trêliabinxcơ:
“Chú Taraskin yêu quí, cháu đi tàu hạng nhất chú ạ. Cháu được ăn uống ngon lành và đối xử tử tế. Ở Mátxcơva bác Áctua mua cho cháu một chiếc mũ, một áo độn lông và một đôi ủng mới. Chỉ có điều là cháu buồn lắm: bác Áctua suốt ngày chẳng nói một lời. Đến nhà ga ở Xamara, cháu gặp một đứa bạn cũ cũng lang thang như cháu trước kia. Cháu có cho nó địa chỉ của chú, chắc là nó sẽ đến chỗ chú, vậy chú đợi nó nhé.”
 
87
 
Vônsin đến Liên Xô bằng tấm hộ chiếu mang tên Áctua Lêvi và giấy tờ của Hội địa lý Pháp. Tất cả những giấy tờ này đều hợp lệ (Garin đã phải chạy vạy nhiều mới xoay nổi), chỉ có giấy ủy quyền và giấy của sứ quán Liên Xô là giả mạo. Nhưng Vônsin chỉ đưa hai loại giấy này cho Taraskin xem. Còn chính thức thì Áctua Lêvi đến Liên Xô để nghiên cứu hoạt động núi lửa ở Camsatca.
Vào trung tâm tuần tháng chín, y cùng Ivan đến Vlađivôxtốc. Những hòm dụng cụ và đồ đạc cần thiết cho chuyến thăm dò đã đến trước từ Xan Phranxixco bằng đường biển. Áctua rất vội. Trong vài ngày, y đã mộ xong được đoàn thăm dò và ngày hai tám tháng chín đáp tàu Liên Xô từ Vlađivôxtốc đến Pêtơrôpavlốpxcơ. Chuyến đi rất vất vả. Mãi đến ngày thứ mười một, họ mới tới nơi.
Từ Pêtơrôpavlốpxcơ, họ đi bộ. Họ đi xuyên qua rừng núi, sình lầy, men theo những con đường nhỏ và lòng suối.
Ivan dẫn đường, chú có trí nhớ tốt và trực giác thính nhạy. Áctua luôn luôn khẩn trương, họ lên đường lúc trời còn mờ sáng và dừng chân lúc đã tối mịt. Người ngựa mệt lử, nhưng Áctua rất nghiệt ngã. Y không thương hại một ai, song trả tiền hậu hĩnh.
 
88
 
Gió bấc thổi suốt ngày, những đám mây dầy đặc bay là là trên khu rừng. Đám thông cao vút xào xạo một cách buồn bã, những ngọn bá hương đen sẫm cong xuống. Những giọt mưa lạnh giá rơi lộp bộp. Rừng taiga vắng vẻ. Hình như giữa cảnh vắng lặng này không thể nghe thấy gì hết ngoài tiếng xạo xạc trang trọng của cây cối và tiếng gió rít. Chim chóc đã bay đi, thú vật cũng bỏ đi hoặc ẩn nấp một chỗ. Nếu con người đến chốn này thì chắc hẳn chỉ để cầu cái chết.
Nhưng con người đã xuất hiện. Ông ta mặc bộ quần áo tã nát, râu ria xồm xoàm che kín mặt, mớ tóc hạc buông xõa xuống hai vai, chống ta vào khẩu súng mà lê bước quanh ngọn đồi, thỉnh thoảng lại khuất bóng sau đám rễ cây to tướng.
Bảy năm trước đây, ông ta tìm cách sử dụng những ý đồ thiên tài của mình. Lúc đó, ông ta còn khỏe mạnh, lực lưỡng. Vào một ngày tai hại, ông ta đã gặp Garin. Y vẽ lên cho ông ta thấy những kế hoạch đồ sộ đến nỗi ông ta vứt bỏ hết để đến đây, đến chân núi lửa này.
Những người cùng ông ta đến đây hoặc đã chết, hoặc đã bỏ trốn. Nhà cửa đã hư hỏng, con đê của trạm thủ điện đã bị lũ xuân cuốn trôi. Toàn bộ lao động trong bảy năm trời, tất cả những lập luận lạ lùng cùng những cuộc nghiên cứu các lớp đất sâu - vòng đai ôilvin - nhất định sẽ mai một đi cùng với ông ta.
Trước đây, đi bộ ba trăm cây số trong rừng taiga để đến nơi có người ở chỉ là chuyện chơi đùa đối với ông ta. Giờ đây, chân tay đã bị tê thấp nặng, răng rụng hết vì chứng hoại huyết. Mùa đông lại sắp đến, mà mùa đông là cái chết. Tim ông ta đau thắt lại… Chẳng lẽ ông ta sẽ không còn bao giờ được nhìn thấy mặt người, được ngồi cạnh lò sưởi, được hít thở hương vị bánh mì, hương vị cuộc sống nữa hay sao? Ông ta lặng lẽ bật khóc.
- Ông Manxép, ông Manxép! - đột nhiên ông ta nghe thấy một giọng thanh thanh của trẻ con gọi lẫn vào tiếng gió.
Ông ta sững sờ lắng nghe. Một lát sau lại vang lên tiếng gọi:
- Ông Manxép? Ông ở đâu đấy? Ông còn sống không?
Bộ râu Manxép run rẩy, môi run rẩy, ông ta dang tay ra và nhắc đi nhắc lại không thành tiếng:
- Tôi đây… Manxép đây… Tôi còn sống đây…
Những súc gỗ ám khói của chốn trú thân này chưa bao giờ được chứng kiến một cảnh tượng huy hoàng như vậy. Lửa cháy rực trong chiếc lò sưởi xây bằng đá núi lửa, nước reo vui trong các soong nồi. Manxép hít lấy hít để mùi trà, mùi bánh mì, mùi mỡ - những hương vị ông ta đã quên mất từ lâu.
Những con người ăn nói oang oang hết ra lại vào, đem vào và tháo gỡ các gói bọc. Một người đàn ông cằm bạnh đưa cho Manxép ca trà bốc khói nghi ngút và một khoanh bánh mì… Bánh mì! Manxép run rẩy, vội vã nhai bằng lợi. Một chú bé ngồi xổm xuống, nhìn Manxép với vẻ thương cảm khi thấy ông ta lúc thì cắn một mẩu bánh, lúc thì áp bánh vào bộ râu xồm xoàm như e sợ: cái cuộc sống ồn ào xộc vào chỗ trú thân đổ nát này của ông ta có phải là một giấc mơ không?
- Ông Manxép, ông không nhận ra cháu hay sao?
- Không, không, ta đã xa lạ với mọi người rồi, - Manxép lẩm bẩm, - ta không ăn bánh mì đã từ rất lâu rồi.
- Cháu là Ivan đây mà… Cháu đã làm tất cả những điều bác căn dặn… Bác có nhớ là bác còn dọa chặt đầu cháu không?
Manxép không nhớ ra hết, chỉ giương mắt nhìn những khuôn mặt xa lạ bừng lên dưới ánh lửa. Ivan liền kể lại toàn bộ cuộc hành trình gian nan của mình tới đây.
- Cháu giữ lời hứa với bác, bác Manxép ạ, cháu đã đưa người ta đến tìm bác đây. Chỉ có điều là hồi đó bác không nên viết lên lưng cháu mới phải. Bác chỉ cần bảo: “Ivan, cháu hứa chứ?” - “cháu xin hứa”. Thế là đủ. Vậy mà hình như bác lại viết lên lưng cháu những dòng chữ gì đó chống lại chính quyền Xô viết ấy. Thật không hay chút nào. Bây giờ bác đừng trông cậy vào cháu nữa, cháu là đội viên thiếu niên tiền phong rồi.
Manxép cúi xuống chú bé và phều phào hỏi:
- Những người này là ai thế?
- Đoàn thăm dò khoa học Pháp đấy. Họ đã ra sức tìm kiếm cháu ở Lêningrát để cháu đưa họ đến chỗ bác đấy.
Manxép bóp chặt vai Ivan:
- Cháu gặp Garin rồi chứ?
- Bác đừng có dọa cháu, bây giờ sau lưng cháu có chính quyền Xô Viết rồi… Bức thư bác viết trên lưng cháu đã rơi vào những bàn tay tin cậy… Garin chẳng có liên quan gì đến cháu cả.
- Thế họ đến đây làm gì? Họ cần gì ở bác?.. Bác sẽ không nói một điều gì với họ, không cho họ biết một điều gì đâu.
Khuôn mặt Manxép đỏ bừng lên, ông ta kích động nhìn quanh. Áctua Lêvi ngồi xuống tấm ván nằm ở bên cạnh ông ta.
- Bác phải bình tĩnh mới được, bác Manxép ạ. Bác hãy ăn uống đi, hãy nghỉ ngơi đi… Chúng ta còn nhiều thời gian, chúng tôi sẽ không đưa bác đi khỏi đây trước tháng mười một đâu.
Manxép từ tấm ván nằm bước xuốn, hai tay ông ta run run…
- Tôi muốn nói chuyện riêng với ông.
Ông ta tập tễnh đi về phía cửa, đẩy cửa ra. Ngọn gió ban đêm thổi tung mớ tóc bạc trắng. Áctua Lêvi bước theo vào khoảng đêm tới, nơi những làn tuyết ẩm quay cuồng.
- Khẩu súng của tôi còn băng đạn cuối cùng… Tôi sẽ giết ông! Ông đến để cướp bóc tôi! - Manxép hét lên, run rẩy vì giận dữ.
- Ta ra chỗ khuất gió đi, - Áctua Lêvi nói và kéo Manxép tới dựa vào bức tường gỗ, - Đừng có nói mê sảng nữa. Tôi được Garin phái đến đây tìm bác.
Manxép vội vàng nắm lấy hai tay Lêvi. Khuôn mặt phù thũng của ông ta rung rung, hai mí mắt lộn lên, chiếc miệng móm mém nức nở:
- Garin còn sống?... Ông ta không quên tôi ư? Chúng tôi đã cùng nhau chịu đói khát, cùng nhau xây dựng những kế hoạch đồ sộ… nhưng tất cả những cái đó đều vớ vẩn, đều nhảm nhí… Tôi đã khám phá được gì ở nơi đây?... Tôi đã lục soát vỏ trái đất… Tôi đã xác nhận được những dự đoán lý thuyết của tôi… Tôi không chờ đợi những kết luận rực rỡ như vậy… Ôlivin ở đây, - Manxép giậm đôi ủng tã nát, - có thể khai thác thủy ngân và vàng không bao giờ hết… Ông biết không, tôi đã dùng sóng ngắn thăm dò lõi trái đất… Ở đây có quỉ mới biết đang diễn ra chuyện gì… Tôi đã đảo lộn nền khoa học thế giới… Nếu như Garin có thể xoay được mười vạn đô la thì chúng tôi sẽ làm được biết bao nhiêu chuyện.
- Ông Garin hiện có hàng tỷ đôla trong tay, báo chí khắp thế giới đều làm om xòm lên về ông ta, - Lêvi nói, - ông ta đã chế tạo được bộ máy phát tia khủng khiếp, ông ta đã chiếm lấy một hòn đảo ở Thái Bình Dương và chuẩn bị làm những việc lớn. Ông ta chỉ chờ đợi những công trình nghiên cứu vỏ trái đất của bác. Một chiếc khí cầu máy sẽ đến đón bác. Nếu như thời tiết thuận lợi thì một tháng nữa chúng ta sẽ có thể đến nơi đấy.
Manxép dựa người vào tường, im lặng hồi lâu, đầu cúi gục.
- Garin, Garin, - ông ta nhắc đi nhắc lại với một vẻ trách móc não nuột, - tôi đã gợi cho Garin ý tưởng chế tạo bộ máy phát tia khủng khiếp. Tôi đã gợi cho ông ta ý nghĩ về vòng đai Ôlivin. Tôi đã bàn với ông ta về hòn đảo ở Thái Bình Dương. Ông ta đã đánh cắp bộ óc tôi, đã làm tôi thối rữa trong vùng Taiga đáng nguyền rủa này… Bây giờ tôi sẽ lấy được gì từ cuộc sống?... Garin, Garin… Ông ta đã ăn cắp những tư tưởng của người khác!...
Manxép ngẩng mặt lên nhìn những làn tuyết quay cuồng:
- Chứng hoại huyết đã làm răng tôi rụng hết, nấm mốc đã tàn hại da tôi, tôi đã gần như đui mù, óc tôi đã khô kiệt... Muộn rồi, Garin nhớ đến tôi quá muốn rồi.
 
89
 
Garin đánh điện báo cho các tờ báo của Cựu Thế Giới và Tân Thế Giới biết rằng y, Piốt Garin, đã chiếm ở Thái Bình Dương, khoảng ba mươi độ kinh Tây và hai mươi độ vĩ Nam, một hòn đảo có diện tích năm mươi lăm cây số vuông cùng những hòn đảo nhỏ phụ cận, và y coi hòn đảo này là lãnh địa của mình, y sẵn sàng bảo vệ chủ quyền của mình đến giọt máu cuối cùng.
Ấn tượng do bức điện đó gây ra thật khôi hài. Hòn đảo nhỏ xíu này ở Nam Thái Bình Dương là hòn đảo không có người ở và chỉ được mỗi một điều là phong cảnh đẹp. Thậm chí còn xảy ra lẫn lộn nữa, không hiểu nó thuộc về nước nào: Mỹ, Hà Lan hay Tây Ban Nha? Nhưng với người Mỹ thì từ lâu rồi không nên tranh cãi làm gì, người ta chỉ càu nhàu rồi tránh cho xa.
Hòn đảo không đáng giá lượng than phải tiêu hao đến đến đó, nhưng nguyên tắc là trước hết, và do đó, một chiếc khinh hạm rồi Xan Phranxixcô để bắt gã Garin này và đặt vĩnh viễn trên hòn đảo một cột buồm sắt có gắn lá cờ sao sọc của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Chiếc khinh hạm đã ra đi. Về câu chuyện hài hước với Garin ấy, người ta đã sáng tác điệu phốcxtơrốt. “Chàng Hary tội nghiệp” kể lại rằng chàng Pie Hary nhỏ bé, tội nghiệp, yêu một cô gái da trắng và yêu tha thiết đến nỗi muốn biến cô ta thành hoàng hậu. Gã dẫn cô ta đến một hòn đảo nhỏ và cặp vua - hoàng hậu nhảy một mình điệu phốcxtơrốt ở đấy. Bỗng hoàng hậu yêu cầu: “Anh Hary tộ nghiệp ơi, em đói quá rồi”. Hary chỉ biết thở dài đáp lại và tiếp tục nhảy - than ôi, ngoài vỏ sò và hoa thì gã chẳng có gì hết. Nhưng rồi một chiếc tàu cặp bờ. Viên thuyền trưởng đẹp trai giơ tay đỡ hoàng hậu và đưa đến một bữa ăn thịnh soạn, hoàng hậu cười vui vẻ, ngồi ăn. Còn Hary tội nghiệp chỉ còn một cách là nhảy một mình... Vân vân... Tóm lại, toàn là những câu đùa cợt.
Khoảng mười ngày sau, khinh hạm đánh điện báo cáo:
 “Chúng tôi đã nhìn thấy hòn đảo. Chúng tôi chưa đổ bộ vì được cảnh cáo là hòn đảo đã tăng cường phòng thủ. Đã gửi tối hậu thư cho Garin, kẻ tự xưng là chủ nhân hòn đảo. Thời hạn là bảy giờ sáng mai. Sau đó sẽ cho đổ bộ lên đảo”.
Chàng Hary tội nghiệp mà lại giơ nắm đấm nhỏ xíu ra đe dọa những khẩu pháo sáu đuim[1] - thật nghe cũng đã buồn cười rồi. Nhưng ngày mai và cả những ngày sau đó nữa, không có tin tức gì thêm từ khinh hạm điện về.
Nó cũng không trả lời cả câu chất vấn gần đây nữa. Chà! Một vài người ở bộ chiến tranh cau mày.
Sau đó, các báo đăng một bài phỏng vấn giật gân với Mắc Linnây. Ông ta khẳng định rằng Pie hary chính là kỹ sư nổi tiếng, một kẻ phiêu lưu người Nga mà tên tuổi gắn liền với những lời đồn đại về cả một loạt tội ác, trong đó có vụ giết người bí ẩn ở Vinlơ Đavrê gần Pari. Câu chuyện chiếm hòn đảo còn làm Linnây ngạc nhiên hơn bởi vì trên chiếc du thuyền chở Garin đến đảo lại có mặt chính ngài Rôlinh, người đứng đầu tơrớt “Anilin Rôlinh”. Tiền bạc của ông ta đã được sử dụng để mua những lượng hàng hóa lớn ở châu Mỹ và châu Âu cũng như để thuê đoàn tàu chở vật liệu đến hòn đảo. Trong khi mọi chuyện diễn ra hết sực hợp pháp thì Linnây im lặng, nhưng giờ đây ông ta khẳng định rằng nét nổi bật của ông vua hóa học Rôlinh là tuyệt đối tôn trọng luật pháp. Bởi vậy, rõ ràng rằng việc chiếm lĩnh hòn đảo một cách láo xược là ngoài ý muốn của Rôlinh và chỉ chứng tỏ rằng Rôlinh hiện đang bị cầm tù trên đảo và nhà tỷ phú đang bị lợi dụng nhằm tạo nên một sự đe dọa chưa từng thấy.
Những chuyện đùa cợt lập tức chấm dứt. Điều thiêng liêng nhất đã bị chà đạp. Các nhân viên cảnh sát thu thập được mọi tin tức về các vụ mua hàng của Garin trong tháng tám. Kết quả là những con số kinh hoàng. Trong lúc ấy bộ Chiến Tranh ra sức tìm kiếm chiếc khinh hạm nhưng vô ích - nó đã biến mất. Thêm vào đó, báo chí đăng bài mô tả vụ án phá nổ các nhà máy anilin ở Đức theo lời kể của một nhân chứng người Nga là Khơlưnốp.
Dư luận xôn xao, thật vậy, ngay dưới mũi chính phủ mà một kẻ phiêu lưu đã mua những lượng hàng khổng lồ phục vụ cho mục đích quân sự, đã chiếm lấy hòn đảo, đã cầm tù người công dân vĩ đại nhất của nước Mỹ, hơn thế nữa, đó lại là một kẻ khốn kiếp vô liêm sỉ, một kẻ giết hại nhiều tính mạng và một gã độc ác gớm ghiếc.
Điện báo còn đem đến một tin gây chấn động nữa: một chiếc khí cầu máy bí mật, kiểu mới nhất, đã bay trên quần đảo Haoai rồi hạ xuống cảng Ghilô lấy xăng và nước ngọt, sau đó bay trên quần đảo Curin và đảo Xakhalin, rồi hạ xuống cảng Alếchxanđơrốp lấy xăng và nước ngọt, cuối cùng biến mất theo hướng tây - bắc. Trên vỏ kim loại của khí cầu máy có ghi hai chữ P và G.
Mọi chuyện thế là rõ ràng: Garin là tay sai của Mátxcơva. “Chàng Hary tội nghiệp” là như thế đó. Nghị viện thông qua những biện pháp kiên quyết nhất. Một hạm đội gồm tám thiết giáp hạm tiến về phía “Đảo Khốn Khiếp” - theo tên đặt của báo chí Mỹ.
Vào ngày hôm đó, các đài vô tuyến trên khắp thế giới nhận được một bức điện hết sức láo xược và kệch cỡm phát đi trên làn sóng ngắn:
“Alô, alô! Đây là tiếng nói của đài phát thanh trên đảo Vàng, một hòn đảo bị mệnh danh một cách ngu ngốc là Khốn Kiếp. Alô! Pie Hary thành thật khuyên các chính phủ của tất cả các nước không nên thọc mũi vào công việc của ông ta. Pie Hary sẽ tự vệ, và bất kỳ một chiếc tàu quân sự hay hạm đội nào xâm nhập vào vùng biển của đảo Vàng sẽ chịu chung số phận như chiếc khinh hạm Mỹ đã bị đánh chìm trong vòng không quá mười lăm giây. Pie Hary thành thật khuyên nhân dân trên trái đất hãy vứt bỏ chính trị và vui vẻ nhảy điệu phốcxtơrốt mang tên ông ta”.

[1] Một đium (duim) bằng 2.54 centimét – N.D
[/align] [/align]
0
http://www.4shared.com/file/251122892/3ece4ed5/tckk19-336-355.html.


Đã gửi cho bạn Hatdau đánh máy dùm rồi


0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-29 20:12:14hathanh725>
Tôi vừa đọc đoạn (282 - 295), thấy có khá nhiều lỗi chính tả. Tôi đã copy vào word và đã sửa hết lỗi rồi, gửi bạn Ly để thay lại ở bài trên nhé.

Link: http://www.4shared.com/file/252140321/5cc70ef3/282-295.html
P.S.
- Từ đium có lẽ là insơ (inch) nhỉ
- Sao diễn đàn không cho đính file word lên nhỉ?
0

Cảm ơn hathanh nhiều nhé

Ly đã sửa lại rồi
0
Đánh máy: hatdau:

336 -  355


Trên đảo, trên biển và trên trời lại trở nên yên tĩnh. Chiếc thang máy ở tháp chạy vụt từ trên xuống. Cửa nhà đóng sập lại, vang lên tiếng huýt sáo lạc giọng điệu phốcxtơrốt, rồi Garin chạy ra góc sân. Khuôn mặt y mệt mỏi, phờ phạc, tóc dựng đứng lên.
Không nhân thấy Rôlinh, Garin bắt đầu cởi quần áo rồi theo bậc thang xuống sát tận mặt nước, lấy chân thử xem nước ấm hay lạnh và bơi ra. Nhưng y lập tức quay lại, lên bờ, và chỉ khi đó mới trông thấy Rôlinh.
-          Kìa! – y kêu dài giọng – Ông cũng định tắm hay sao đấy? Nước lạnh quá đi mất.
Đột nhiên y cười vang, vơ lấy quần áo rồi vừa vung vẩy vừa bước vào nhà.
Khi mở chiếc cửa lớn bằng đồng, y quay lại:
-          Ông bạn già ạ, ta đi ăn sáng đi. Ta phải mở một chai sâm banh mới được.
107
Điều lạ lùng nhất trong thái độ tiếp theo đây của Rôlinh là việc y ngoan ngoãn lẽo đẽo đi ăn sáng. Quanh bàn ăn, ngoài Garin và Rôlinh, chỉ có thêm Dôla, ả tái nhợt và lặng lẽ vì nỗi xúc động vừa trải qua. Khi ả đưa ly lên miệng thì miệng ly chạm lanh canh vào hàm răng đều đặn trắng bóng của ả.
Rôlinh thì dường như sợ mất thăng bằng, y căng thẳng nhìn vào một điểm, đó là chiếc nút chai bằng vàng tạc hình bộ máy khủng khiếp nhất mà mới vài phút trước đây đã phá tan mọi khái niệm cũ của Rôlinh về sức mạnh, về sự hùng mạnh.
Garin, với mái tóc mới không chải và mặc chiếc áo véttông nhàu nát, sau khi uống liền một hơi mấy ly rượu, đang vừa ba hoa một chuyện vớ vẩn gì đó vừa nhai sò.
-          Mãi đến bây giờ tôi mới hiểu mình đói đến mức nào.
-          Anh đã làm việc rất có hiệu quả đấy, - Dôla khẽ nói.
-          Đúng thế. Thú thật là đã có giây phút anh cảm thấy hơi hoảng sợ, khi chân trời bao phủ đầy khói đại bác... Dù sao thì họ cũng đã đi trước anh một bước... Cái bọn quỉ quái ấy. Chỉ cần chúng tiến gần thêm chút nữa thôi thì cả hòn đảo sẽ tan thành tro bụi...
Y uống thêm một ly rượu nữa, và mặc dù y nói là y đói, nhưng y vẫn lấy khuỷu tay gạt người hầu bàn đem thức ăn đến.
-          Thế nào, ông bạn già? – y bất ngờ quay sang phía Rôlinh, và không cười nữa, nhìn chằm chằm vào Rôlinh, - đã đến lúc chúng ta cần nói chuyện nghiêm chỉnh rồi. Hay ông bạn vẫn còn chờ những ấn tượng chấn động hơn?
Rôlinh nhẹ nhàng đặt đĩa và chiếc móc bạc để khều sò xuống đĩa rồi cụp mắt xuống.
-          Ông cứ nói đi, tôi nghe đây.
-          Đáng lẽ phải như vậy từ lâu rồi chứ... Tôi đã hai lần đề nghị ông hợp tác. Tôi hi vọng là ông còn nhớ? Nhưng tôi không trách ông đâu; ông không thuộc loại biết suy nghĩ mà chỉ biết húc bừa đi như trâu ấy. Bây giờ tôi lại đề nghị ông hợp tác một lần nữa. Ông ngạc nhiên ư? Tôi sẽ giải thích cho ông nghe. Tôi là nhà tổ chức. Tôi sẽ cải tạo lại toàn bộ hệ thống tư bản chủ nghĩa kềnh càng, nặng nề, đầy những thành kiến ngu ngốc của các ông. Ông hiểu chứ? Nếu tôi không làm được việc đó thì bọn cộng sản sẽ ăn tươi nuốt sống các ông và sẽ thích thú nhổ nước bọt nữa là khác. Chủ nghĩa cộng sản không phải là thứ duy nhất trên đời mà tôi căm ghét... Tại sao? Nó hủy diệt tôi, Piốt Garin, hủy diệt cả một vũ trụ ý đồ trong óc tôi... Ông có quyền hỏi: vậy thì tôi cần đến ông để làm gì, khi dưới chân tôi là nguồn vàng vô tận?
-          Đúng thế, - Rôlinh khàn khàn nói.
-          Ông bạn ạ, ông hãy uống ly rượu gin[1] với ớt Cayen[2] đi, sau đó trí tưởng tượng của ông sẽ sinh động hơn. Chẳng lẽ ông lại có giây phút nào nghĩ rằng tôi định biến vàng thành phân bón hay sao? Quả thật, tôi sẽ tổ chức vài ngày nóng bỏng cho nhân loại, khi một cân vàng trong tay họ chỉ đáng giá mấy xu.
Rôlinh đột ngột ngẩng đầu lên, cặp mắt mờ đục của y lóe lên đầy vẻ trẻ trung, miệng y há ra thành một nụ cười méo xệch...
-          Ái chà! – y kêu lên.
-          Ồ, đúng thế đấy. Cuối cùng ông hiểu rồi chứ? ... Và khi ấy, vào những ngày vô cùng kinh hoàng ấy, chúng ta – tức là tôi, ông và ba trăm con trâu như ông, hoặc ba trăm tên khốn kiếp cỡ thế giới, hoặc ba trăm ông vua tài chính, ông muốn gọi thế nào thì gọi, - chúng ta sẽ nắm lấy cổ họng thế giới... Chúng ta sẽ mua tất cả các xí nghiệp, các nhà máy, các đường sắt, các máy bay và các tàu biển... Tất cả những gì chúng ta cần và thích hợp với chúng ta sẽ là của chúng ta. Đến lúc đó, chúng ta sẽ làm nổ tung hòn đảo cùng giếng mỏ này và sẽ tuyên bố rằng dự trữ vàng của thế giới là có hạn, vàng ở trong tay chúng ta và vàng được trả lại giá trị cũ của nó, tức là, là thước đo giá trị duy nhất...
Rôlinh lắng nghe, ngả người vào lưng ghế, cái miệng có mấy chiếc răng vàng của y há ra như mồm cá mập, mặt y đỏ tía lên.
Y cứ ngồi như vậy, không động đậy, cặp mắt nhỏ long lanh. Dôla thậm chí thoáng nghĩ: đòn giáng quá mạnh.
-          Chà! – y lại kêu lên, - một tư tưởng thật táo bạo... Ông có thể hy vọng thành công được... Nhưng ông chưa lưu ý đến mối nguy hiểm của những cuộc đình công, những cuộc nổi loạn...
-          Điều ấy được tôi lưu ý đến trước tiên, - Garin nói xẵng, - Bước đầu, chúng ta sẽ xây dựng các trại tập trung lớn. Tất cả những kẻ nào bất mãn với chế độ của chúng ta  đều bị nhốt vào sau hàng rào dây thép gai. Sau đó, chúng ta sẽ thi hành bộ luật về “hoạn não”. Như vậy, ông bạn thân mến ạ, ông có bầu tôi làm lãnh tụ không?... Ha ha! (Y bất chợt nháy mắt và trông thật đáng sợ).
Rôlinh cúi đầu, cau mày. Người ta đã hỏi y, y phải suy nghĩ.
-          Ông Garin, ông cưỡng bức tôi phải không?
-          Thế ông nghĩ sao, ông bạn thân mến? Tôi phải quì xuống van xin ông chắc? Nếu  ông vẫn còn chưa hiểu rằng ông đã từ lâu chờ đợi tôi như chờ đợi một cứu tinh thì tôi cưỡng bức ông đấy.
-          Tốt lắm, - Rôlinh nói với vẻ khinh bỉ và đưa bàn tay sần sùi qua bàn cho Garin.
-          Tốt lắm, - Garin nhắc lại. – Các biến cố đang diễn ra hết sức nhanh chóng. Cần chuẩn bị sẵn cho lục địa tiếp nhận ý kiến của ba trăm ông vua. Ông hãy viết thư cho họ nói về toàn bộ sự điên rồ của các chính phủ đã phái hạm đội đến nhằm tiêu diệt hòn đảo của tôi. Ông hãy cố chuẩn bị cho họ đón nhận “cơn sốt vàng” đi. (Y bật ngón tay đánh toách, người hầu lập tức xuất hiện). Rót thêm sâm banh! Vậy thì, ông Rôlinh ạ, ta hãy cạn ly chúc mừng cho bến cố lịch sử vĩ đại...
Piốt Garin đã thỏa thuận với Rôlinh... Lịch sử đã bị giật dây cương, lịch sử đã lồng lên, bộ móng vàng kêu xoang xoảng trên sọ lũ người ngu ngốc.
108
Việc đoàn tàu chiến Mỹ bị hủy diệt ở Thái Bình Dương gây ra cho châu Mỹ và châu Âu một ấn tượng thật kinh hoàng, ghê gớm. Hợp chủng quốc Bắc Mỹ đã bị một hòn đảo làm rung chuyển trái đất. Các chính phủ Đức, Pháp, Anh và Ý bỗng tươi tỉnh lên: biết đâu đấy, nhỡ năm nay (và có thể là mãi mãi) sẽ không phải trả nợ lãi cho nước Mỹ béo nứt ra vì vàng thì sao? “Tên khổng lồ hóa ra là chân đất sét, - các báo viết, - chinh phục thế giới đâu phải chuyện đơn giản...”
Ngoài ra, những bản tin về các vụ cướp biển của chiếc “Aridôna” đã gây rối loạn trong ngành buôn bán đường biển. Các chủ tàu từ chối việc vận chuyển, các thuyền trưởng không dám đi qua đạ dương, các hãng bảo hiểm nâng giá, trong hệ thống ngân phiếu xảy ra sự hỗn loạn, một vài hãng buôn bán bị phá sản. Nhật Bản vội vã đưa những loại hàng hóa kém phẩm chất và rẻ mạt vào các thị trường thuộc địa của Mỹ.
Trận hải chiến thảm bại đã khiến mỹ mất những món tiền lớn. Uy tín, hay như người ta thường gọi “niềm kiêu hãnh dân tộc” của Mỹ bị thương tổn. Các nhà công nghiệp đòi hỏi phải động viên toàn bộ lực lượng hải quân và không quân – quyết tiến hành chiến tranh đến cùng bằng bất kỳ giá nào. Báo chí Mỹ đe dọa sẽ không “gỡ băng tang” (tên các báo được lồng trong khung đen, điều đó gây được ấn tượng cho nhiều người mặc dù về mặt in ấn thì chẳng tốn kếm là bao) cho đến khi Pie Hary bị nhốt trong lồng sắt chở đến Niu Yoóc và bị xử tử trên ghế điện.  Ở các thành phố lan truyền nhưng tin đồn khủng khiếp về bọn điệp viên của Garin dường như được trang bị những bộ máy phát tin loại bỏ túi. Đã xảy ra những vụ đánh đạp những kẻ lạ mặt và những cơn hốt hoảng chốc lát trong các rạp chiếu bóng, các tiệm ăn và trên các đường phố. Chính phủ Mỹ trấn an bằng những lời lẽ đao to búa lớn, nhưng về thực chất chỉ bộc lộ nỗi bối rối đến tột độ. Chiếc tàu chiến duy nhất còn lành lặn sau cuộc hải chiến gần đảo Vàng – một chiếc tàu phóng ngư lôi – đã trình một bản báo cáo cho bộ trưởng chiến tranh với những chi tiết ghê gớm đến nỗi không ai dám công bố.
Tất cả những biến cố bất lợi ấy đã buộc chính phủ Mỹ phải triệu tập một cuộc hội nghị ở Oasinhtơn.
Khi ngày diễn ra hội nghị được công bố, tất cả các báo và đài phát thanh khắp thế giới đều nhận được thông báo cho biết rằng kỹ sư Garin sẽ đích thân đến dự buổi khai mạc.
109
Garin, Sécmắc và kỹ sư Sêphe đáp thang máy xuống đáy giếng mỏ chính. Bên ngoài cửa sổ bằng mica, thấp thoáng những dãy đường ống dài vô tận, những dây dẫn, những thiết bị gia cố, những  băng nâng, những mặt bằng hẹp, những cửa sắt.
Họ đi qua mười tám vành đai của vỏ trái đất, mười tám lớp đất đánh dấu những thời kỳ biến đổi của hành tinh. Và bây giờ thang máy đang đưa họ qua lớp đất cuối cùng, thứ mười chín.
Garin sốt ruột cắn cắn móng tay. Cả ba đều im lặng. Ai cũng cảm thấy khó thở. Trên lưng mỗi người đều đeo thiết bị dưỡng khí. Vang động tiếng gầm rú của các bộ máy phát tia và những tiếng nổ.
Sêphe lấy một nắm bụi màu xám trong chiếc gầu xúc bay vụt qua. Garin nghiền nát nó trong long bàn tay. Y nôn nóng đòi đưa cho y chiếc bút chì rồi viết lên hộp thuốc lá:
“Xỉ nặng. Phún thạch”.
Sêphe gập chiệc mũ chụp tròn. Họ thận trọng men theo rìa một mặt bằng chạy vòng và dừng lại trước một hệ thống đồng hồ to. Đó là những khí áp kế, chấn động kế, địa bàn, con lắc và đồng hồ đo điện từ.
Sêphe chỉ vào con lắc, cầm lấy hộp thuốc lá ở tay Garin và thong thả viết lên trên:
“Gia tốc trọng lực đã tăng lên chín phần trăm từ sáng hôm qua. Tại độ sâu này, gia tốc phải giảm xuống đến 0,98, nhưng chúng ta lại thấy gia tốc tăng đến 1,07...”
“Nam châm chăng?” – Garin viết.
Sêphe trả lời:
“Từ sáng hôm nay, các dụng cụ đo từ tính đứng ở số không. Chúng ta đã xuống dưới trường từ”
Tì hai tay vào đầu gối, Garin nhìn hồi lâu xuống dưới. Từ sáng nay, giếng mỏ bắt đầu đi vào vòng đai Ôlivin.
110
-          Thế nào, sức khỏe cháu ra sao, Ivan?
Senga xoa đầu chú bé. Ivan ngồi trong căn nhà nhỏ của anh bên bờ biển, cạnh cửa sổ và nhìn ra đại dương.
Khi được đưa từ khí cầu máy về đây, Ivan gần như ngắc ngoải. Senga không rời em một bước. Nếu như không có anh trên đảo thì chưa chắc em đã sống nổi. Em bị rét cóng, bị cảm lạnh nặng, và thêm vào dó là tâm hồn em bị thương tổn: em tin vào người khác, em đã cố gắng hết sức, vậy mà chỉ chuốc lấy tai họa.
-          Chú Senga ạ, bây giờ thì cháu chẳng về được Liên xô nữa, cháu sẽ bị kết án mất.
-          Đừng nói vớ vẩn. Cháu chẳng có lỗi gì hết.
Khi Ivan bình phục, Senga bắt đầu thận trọng giải thích cho em biết về tình hình công việc và cũng như Taraskin hồi ở Lêningrát, anh thấy em sáng ý, chỉ cần nói nửa lời đã hiểu và tính tình rất kiên quyết, không khoan nhượng, theo đúng kiểu người Xô Viết. nếu như em không buồn nhớ Lêningrát quá thì em quả là một chú bé vàng ngọc.
-          Ivan này, - một lần Senga vui vẻ bảo em, - Chú sắp đưa cháu về nhà đấy.
-          Cảm ơn chú.
-          Chỉ có điều là trước hết phải làm một việc đã.
-          Cháu sẵn sàng.
-          Cháu leo trèo giỏi chứ?
-          Hồi ở Xibia cháu đã từng trèo lên  những cây bá hương cao đến năm mươi mét, cao đến nỗi không nhìn được mặt đất nữa.
-          Khi nào cần chú sẽ bảo cháu phải làm gì. Và cháu đừng lang thang khắp đảo nữa. cháu hãy lấy cần câu mà câu cầu gai còn hơn.
111
Giờ đây, Garin đang tin tưởng điều hành công việc theo bản kế hoạch tìm thấy trong các ghi chép và nhật ký của Manxép.
Các gàu múc đã qua lớp Mắcma mạnh. Ở đấy giếng mỏ vang lên tiếng ầm ầm của đại dương ngầm dưới đất đang sôi sục. Thành giếng vốn đã được làm lạnh cứng tới một độ dày ba mươi mét và tạo thành một khối trụ hết sức vững chắc, vẫn rung lên và bị rung chuyển dữ đội đến nỗi phải tung mọi lực lượng vào việc làm lạnh cứng nhiều hơn nữa. Các máy nâng bắt đầu chuyển lên mặt đất sắt, kền và ôlivin.
Bắt đầu xảy ra những hiện tượng kỳ lạ. Khi đất đá trong lòng đất được chuyển theo những băng tải bằng thép và phao ra ngoài biển thì phát sáng. Hiện tượng đó mạnh lên suốt mấy ngày đêm. Cuối cùng, những khối lớn nào nước, nào đá, cát và một phần cầu phao nổ tung, bay vột lên không trung. Tiếng nổ mãnh liệt đến nỗi như một trận cuồng phong quét sạch các lán gỗ của công nhân và một đợt sóng dữ dội ập lên đảo,  suýt tràn ngập giếng mỏ.
Người ta phải chuyển thứ nham thạch đó lên các sà lan và nhận chìm nó ở ngoài khơi xa, nơi đó lại tiếp tục phát sáng và nổ. Việc này được giải thích là do các hiện tượng chưa từng biết của sự phân rã nguyên tử của nguyên tố M.
Một hiện tượng không kém phần lạ lùng khác xảy ra ở đáy giếng. Những dụng cụ đo từ tính mà mới đây thôi vẫn đứng ở vạch số không thì nay bỗng cho thấy một trường từ cực mạnh. Kim các dụng cụ đo vọt lên mức cao nhất.
Garin hầu như không ra khỏi giếng mỏ. Chỉ đến bây giờ y mới bắt đầu hiểu toàn bộ sự điên rồ của công việc y đang làm. Niềm an ủi đối với y chỉ là những tin tức từ chiếc “Aridôna” gửi về. Vào một đêm, chiếc du thuyền ấy, sau khi đã lại bắt đầu ngang dọc trên mặt biển dưới cờ cướp biển, đã xông vào cảng Menbuốc[3], đốt cháy các kho chứa hàng để báo tin về sự hiện diện của mình và đòi năm triệu bảng Anh. Bộ máy phát tia còn quét sạch một đại lộ trên bờ biển nhằm đe dọa. Trong vài giờ, thành phố trở nên vắng ngắt, các ngân hàng đêm tiền ra nộp. Khi rời khỏi cảng, chiếc “Aridôna” bị một tàu tuần biển Anh bắt gặp. Chiếc tàu Anh nổ súng. Chiếc “Aridôna” bị đạn pháo bắn thủng một lỗ phía trên đường mớn nước, liền phản công và tiêu diệt chiếc tàu Anh. Cuộc chiến đấu do Dôla chỉ huy từ đỉnh tháp có đặt bộ máy phát tia khủng khiếp.
Tin tức này làm Garin vui hẳn lên. Trong thời gian qua, y bắt đầu có những ý nghĩ u ám. Nhỡ Manxép tính toán sai thì sao? Hệt như trong ngôi nhà hẻo lánh ở khu vực pêtơrôgrátxcaia trước kia, bộ óc mệt mỏi của y tìm kiếm những khả năng thoát thân nếu công việc đào giếng mỏ bị thất bại.
Ngày hai mươi lăm tháng tư, Garin quan sát thấy một hiện tượng khác thường. Từ phía trên, từ chiếc phễu thu khí, thủy ngân chảy ra. Đành phải ngừng hoạt động của các bộ máy phát tia và giảm việc làm đông cứng ở đáy giếng mỏ. Các gầu múc đã đi qua lớp nham thạch ôlivin và bây giờ đang múc thủy ngân nguyên chất. Theo bảng tuần hoàn Menđenlêép thì sau thủy ngân là kim loại tali. Còn vàng (nguyên tử lượng là 197,2 và sô thứ tự là 79) thì nằm trên thủy ngân trong bảng đó.
Vậy là không có vàng – tai họa khủng khiếp đó chỉ có hai người hiểu được, đó là Garin và kỹ sư Sêphe. Lão Manxép khốn kiếp kia đã tính lầm.
Garin cúi đầu. Y chờ đợi mọi chuyện, nhưng không chờ đợi một kết thúc như vậy... Sêphe bối rối giơ tay ra, ngửa bàn tay lên bắt những giọt thủy ngân chảy từ phễu xuống. Đột nhiên y nắm lấy khuỷu tay Garin và lôi tới cầu thang chênh chếch. Khi cả hai đã lên trên, ngồi vào thang máy và bỏ mũ chụp bằng cao su ra thì Sêphe giậm giậm đôi giày nặng trịch. Khuông mặt xương xẩu của y rạng rỡ niềm vui.
-          Đó là vàng chứ còn gì nữa! – y vừa cười vang vừa kêu lên, - Chúng ta thật ngốc nghếch... Vàng và thủy ngân sôi bên cạnh nhau. Và do đó, đây là vàng thủy ngân! Ông hãy nhìn xem! – Sêphe mở bàn tay ra, trên đó có những hạt nhỏ lấp lánh, - Trong thủy ngân có ánh vàng, có tới chín mươi phần trăm vàng nguyên chất!
112
Vàng cứ từ dưới đất trào lên như dầu mỏ. Công việc đào sau thêm giếng mỏ tạm đình lại. Những hệ thống gia cố tạm thời giếng mỏ được gỡ bỏ đi. Thay vào đó người ta hạ xuống suốt chiều sâu của giếng những hình  trụ bằng thép mà bên trong là hệ thống ống làm mát.
Từ giếng mỏ đến mạn Đông – Bắc, một đường ống dẫn thủy ngân được khẩn trương xây dựng. Ở cánh trái lâu đài là nơi tiếp giáp với chân ngọn tháp có đặt bộ máy phát tia lớn, người ta xây lò và lắp đặt những lò nổi bằng sứ để làm vàng bốc hơi.
Garin dự tính là trong thời gian đầu sẽ đưa sản lượng vàng một ngày đên lên tới 160 tấn, tức là lên tới một triệu đô la một ngày đêm.
Chiếc “Aridôna” được lệnh trở về đảo. Dôla đánh điện chúc mừng và tuyên bố qua đài phát thanh cho toàn thế giới biết là sẽ ngừng những cuộc tiến công kẻ cướp trên Thái Bình Dương.
113
Một ít lâu trước khi khai mạc cuộc hội nghị ở Oasinhtơn, có năm chiếc tàu xuyên đại dương đi vào cảng Xan Phranxixcô. Năm chiếc tàu này trương cờ Hà Lan và thả neo cạnh bờ biển, giữa hàng nghìn chiếc tàu buôn, tương tự, trong cái vịnh rồng đầy khói và chói chang nắng hà.
Các thuyền trưởng lên bờ. Mọi việc đều đúng phép tắc. Các thủy thủ phơi quần áo lót và cọ rửa boong tàu. Các viên chức hải quan chỉ hơi ngạc nhiên về hàng hóa trên các con tàu treo cờ Hà Lan này. Nhưng họ được giải thích rằng những thỏi kim loại màu vàng được đúc thành từng khối năm cân này chính là vàng được trở đến để bán.
Các viên chức hải quan cười giễu khi nghe thấy câu nói đùa ngộ nghĩnh như vậy.
-          Thế các ông bán vàng theo giá nào?
-          Bán theo giá thành, - các thuyền phó trả lời. (Trên tất cả năm chiếc tàu đều diễn ra cuộc đối thoại hệt như vậy).
-          Cụ thể là bao nhiêu?
-          Hai đô la rưỡi một cân.
-          Các ông tính giá vàng của mình hơi thấp đấy.
-          Chúng tôi bán rẻ thôi, hàng nhiều lắm, - các viên thuyền phó vừa ngậm tẩu thuốc vừa trả lời.
Các viên chức hải quan liền ghi vào sổ. “Hàng hóa là những thỏi kim loại màu vàng được gọi là vàng”, rồi cười giễu, bỏ đi. Nhưng chẳng có gì đáng cười cả.
Hai ngày sau, ở Xan Phranxixcô, trên các tờ báo buổi sáng, trong bản tin cáo thị, trên các tờ áp phích màu trắng chen màu vàng dán đầy trên các cột quảng cáo, và ngay trên các hè phố cũng thấy viết bằng phấn bản thông báo sau:
“Kỹ sư Piốt Garin coi cuộc chiến tranh dành độc lập cho đảo Vàng đã chấm dứt và rất lấy làm ân hận về những thiệt hại mà đối thủ phải chịu đựng. Để mở đầu những quan hệ buôn bán hòa bình, kỹ sư Garin bày tỏ lòng  kính trọng đối với dân chúng Mỹ và đem đến cho họ năm con tàu chất đầy  vàng mười. Những thỏi vàng năm cân được đem bán với giá là hai đo la rưỡi một cân. Những ai muốn mua xin hãy đến các quầy thuốc lá, các quầy hóa chất, các cửa hàng sữa, các quán báo và các em bé đánh giày, v.v... Tôi cam đoan đó là vàng thật, và tôi có trong tay một số lượng vàng vô tận. Xin gửi các bạn lời chào kính trọng. Garin”.
Dĩ nhiên, không một ai tin những lời quảng cáo ngu ngốc đó. Đa số những người được ủy thác đều đem giấu những thỏi vàng đó đi. Nhưng cả thành phố bắt đầu nói đến Piốt Garin, tên cướp biển và tên khốn khiếp kỳ lạ này lại làm xáo động cuộc sống yên ổn của những người lương thiện. Các báo buổi tối đòi phải hành quyết Garin. Vào lúc sáu giờ tối, những đám người nhàn rỗi kéo ra cảng, tổ chức những cuộc họp chớp nhoáng và ra quyết nghị - đánh đắm đội tàu của Garin và treo cổ các thủy thủ trên cột đèn. Cảnh sát phải vất vả lắm mới kìm giữ được các đám đông.
Trong lúc đó, các nhà chức trách ở cảng cũng tiến hành điều tra. Tất cả giấy tờ trên năm chiếc tàu đều hợp lệ, bởi vì chủ nhân là một công ty vận tải Hà Lan nổi tiếng. Song chính quyền đòi phải cầm việc buôn bán những thỏi kim loại màu vàng đã gây náo động trong nhân dân. Nhưng không một viên chức nào đứng vứng nổi trước sự cám dỗ khi mỗi người được đút vào túi hai thỏi vàng. Người ta thử bằng răng, xem xét màu sắc, trọng lượng, và đều xác nhận đấy là vàng thật. Vấn đề bán đành để ngỏ, tạm thời lờ ỉm đi.
Khắp ba mươi hai tòa soạn báo hàng ngày đều có những thủy thủ vác đến một bao đựng thứ thỏi kim loại bí ẩn kia. Họ chỉ nói: “Xin biếu các ông”. Các biên tập viên phẫn nộ, kêu la một cách khủng khiếp. Thợ kim hoàn được triệu đến. Người ta  đề nghị những biện pháp đãm màu choóng lại thái độ trắng trợn của Pie Hary. Nhưng các thỏi đó đã biến mất tiêu khỏi ba mươi hai tòa soạn.
Trong đêm đó, các thỏi vàng được đem vứt lung tung ngay trên các hè phố. Dến chính giờ sáng, các hiệu cắt tóc và các quầy thuốc lá đều treo biển: “Ở đây bán vàng mười với hai đô la rưỡi một cân”.
Dân chúng kinh hoàng.
Điều tệ hại nhất là không ai hiểu người ta bán vàng với giá hai đô la rưỡi một cân để làm gì. Nhưng không mua là dại. Trong thành phố bắt đầu diễn ra những cảnh xô đẩy và náo loạn.
Hàng nghìn người đứng trước năm chiếc tàu ngoài biển và hét to: “Vàng, vàng, vàng... ”. Vàng được đem bán ngay trên các cầu tàu. Xe điện và xe điện ngầm ngừng chạy. Trong các văn phòng và các cơ quan chính phủ xảy ra tình trạng hỗn loạn, viên chức vứt bỏ công việc, chạy khắp các quầy thuốc lá hỏi mua vàng. Các kho và các cửa hàng đóng cửa, các viên quản lý chạy tứ tung, trộm cắp tha hồ hoành hành trong thành phố.
Có tin đồn là dường như số vàng chở đến để đem bán chỉ có hạn và sẽ không có tàu nào chở đến nữa.
Đến ngày thứ ba, khắp các hang cùng ngõ hẻm của nước Mỹ đều lên cơn sốt vàng. Các tuyến đường sắt chở sang phía tây những kẻ mưu tìm hạnh phúc đầy xúc động, hoang mang, nghi ngờ và kích động. phải đánh nhau mới lên được các toa. Ai cũng bối rối, ngơ ngác trong làn sóng ngu ngốc đó của con người. Từ Oasinhtơn gửi đến một cách muộn mằn mệnh lệnh của chính phủ: “Dùng lực lượng cảnh sát ngăn chặn dan chúng đến những con tàu chất đầy thứ kim loại gọi là vàng, bắt giữ các thuyền trưởng và thủy thủ, niêm phong các con tàu”. Mệnh lện được thi hành.
Những người phẫn nộ đổ đến mưu tìm hạnh phúc từ các nơi trong nước, những kẻ đã bỏ việc làm, nhiệm sở để tràn ngập vùng biển nóng nực của Xan Phranxixcô, nơi tất cả những thứ gì ăn được đều bị ngốn sạch, - những kẻ hung dữ đó chọc thủng các hàng rào cảnh sát, điên cuồng đánh lộn nhau bằng súng lục, bằng dao, bằng răng, và đã ném một số lớn cảnh sát xuống biển, giải phóng đoàn  thủy thủ trên các con tàu của Garin, sau đó tổ chức việc xếp hàng có vũ trang để nhận vàng.
Thêm ba con tàu nữa đến từ đảo Vàng, cần cẩu bốc dỡ ngay những hòm vàng lên bờ và chất thành từng đống. Cảnh đó chứa đựng một nỗi kinh hoàng không sao tả xiết. Những người đứng xếp hảngun lên khi nhìn những kho tàng lấp lánh ngay trên mặt đường.
Vào lúc đó, đám nhân viên của Garin đã kết thúc việc lắp đặt những hệ thống loa phóng  thanh ngoài phố tại những thành phố lớn. Vào ngày thứ bảy, khi dân chúng các thành phố đã hoàn tất công việc và đổ ra ngoài phố thì khắp nước Mỹ vang lên một giọng nói to, âm sắc lạ tai nhưng hết sức tự tin:
“Hỡi dân chúng Mỹ! Người đang nói chuyện với các bạn là Kỹ sư Garin, kẻ đã bị đặt ra ngoài vòng pháp luật và bị đem ra để hù dọa trẻ con. Hỡi dân chúng Mỹ, ta đã phạm nhiều trọng tội nhưng tất cả những việc làm đó đều giúp ta đạt đến một mục đích: đó là hạnh phúc của nhân loại. Ta đã chiếm cứ một mảnh đất, một hòn đảo nhỏ bé để tại đó thực hiện đến cùng một công việc lớn lao chưa từng có. Ta quyết định xâm nhập vào lòng đất, vào các lớp vàng chưa một ai động đến. Tại độ sau tám cây số, giếng mỏ đã đi vào một lớp vàng vô tận sôi sùng sục. Hỡi dân chúng Mỹ! Mỗi người đều  có quyền buôn bán những gì người đó có. Ta đề nghị các người mua thứ hàng hóa của ta, đó là vàng. Ta chỉ lấy lãi 10 xu một đô la, với giá là hai đô la rưỡi một cân vàng. Như vậy là rất ít ỏi. nhưng tại sao ta lại bị cấm đem bán thứ hàng hóa của ta? Đâu là quyền tự do buôn bán của các người. Chính phủ các người đã chà đạp lên những cơ sở thiêng liêng của tự do và tiến bộ. ta sẵn sàng bồi thường thiến phí. Ta sẽ trả lại cho các quốc gia, các công ty và tư nhân tất cả số tiền mà chiếc “Aridôna” đã tịch thu trên các con tàu  và trong các nhà băng trong thời gian chiến tranh. Ta chỉ yêu cầu một điều thôi là hãy để ta được tự do buôn bán vàng. Chính phủ các người cấm ta làm việc đó và ra lệnh bắt giữ tàu của ta. Ta nguyện sẽ bảo vệ toàn bộ dân chúng Mỹ”.
Ngay đêm đó, các loa phóng thanh đều bị dỡ bỏ. Chính phủ kêu gọi đến lý trí của nhân dân:
“... dù những điều mà kỹ sư Garin, tên kẻ cướp khét tiếng xuất thân từ Nga Xô, vừa nói qua loa phóng thanh có là đúng chăng nữa thì vẫn cần lấp đi các giếng mỏ trên đảo Vàng, vẫn cần loại trừ khả năng có nguồn trữ lượng vàng vô tận. Cái thước đo lao động, hạnh phúc và cuộc sống sẽ ra sao nếu vàng sẽ được múc lên như đất sét? Nhân loại nhất định sẽ trở về những thời kỳ mông muội, trở về chế độ buôn bán vật đổi vật, trở về tình trạng dã man và hỗn loạn. Kỹ sư Garin là một tên khiêu khích bất trị, là tay sai của quỉ sứ. Mục tiêu của y là làm mất giá đồng đôla. Nhưng nhất định y sẽ không đạt được mục đích đó...”
Chính phủ cố vẽ ra một bức tranh thảm hại nếu hủy bỏ hệ thống kim bản vị. Nhưng những kẻ biết lý lẽ thật ít ỏi, khắp nước Mỹ đã phát điên. Sinh hoạt trong các thành phố khác cũng đình trệ như ở Xan Phranxixcô. Các đoàn tàu hỏa và hàng triệu ô tô để sang phía Tây. Càng gần đến bờ biển Thái Bình Dương thì thực phẩm càng đắt đỏ. Không có phương tiện chuyên chở thực phẩm. Những kẻ tìm kiếm hạnh phúc bị đói lả, tiến công các cửa hàng ăn uống. Ở Xan Phranxixcô người chết đói nằm la liệt trên đường phố.
Tại các ga lớn và trên các giao điểm đường sắt ngôn ngang những xác chết khi các đoàn tàu bị tiến công. Trên các con đường, trên các đường hẻm qua núi, qua rừng, chạy ngược lại về phía Tây, nườm nượp những toán người cõng các bị vàng trên lưng. Những kẻ chậm chân lập tức bị dân chúng địa phương và các toán cướp giết chết.
Bắt đầu cuộc săn đuổi những kẻ chở vàng, thậm chí họ bị cả máy bay tiến công.
Rốt cuộc, chính phủ phải thi hành những biện pháp gắt gao. Hạ nghị viện thông qua các đạo luật tổng động viên những người từ mười bảy đến bốn lăm tuổi, ai  trốn tránh sẽ bị đưa ra tòa án binh. Trong các khu phố nghèo ở Niu yoóc, hàng trăm người đã bị bắn chết. Binh lính xuất hiện tại các nhà ga, nào bắt bớ, nào bắn chỉ thiên, nào bắn vào dân chúng. Nhưng các đoàn tàu vẫn đầy ắp. Các công ty đường sắt tư nhân thấy tốt hơn là cứ phớt lờ mệnh lệnh của chính phủ.
Thêm năm chiếc tàu nữa của Garin đến Xan Phranxixcô và chiếc “Aridôna” – “mối đe dọa của biển cả” – bỏ neo ngay ngoài khơi với đầy vẻ lộng lẫy, khắp vịnh đều nhìn thấy. Hai bộ máy phóng tia khủng khiếp của nó bảo vệ các con tàu bốc dỡ hàng.
Ngày khai mạc hội nghị Oasinhtơn đã đến trong hoàn cảnh như vậy. Một tháng trước đây, nước Mỹ sở hữu một nửa số vàng của toàn thế giới.

[1] Một thứ rượu đỏ từng phổ biến ở Tây Âu và Mỹ - N.D.
[/align] [2] Một vùng ở Guyan thuộc Pháp – N.D.
[/align] [3] Một hải cảng ở Úc – N.D.
[/align] [/align]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-03-31 14:56:50hathanh725>
samhaivan gõ

262-281
 
- Đúng một nửa, ông bạn già ạ, như chúng ta đã thỏa thuận ở Phôngtenơblô ấy. Người làm chứng đây, - y hất bộ râu về phía Senga đang ủ rũ gõ móng tay liên miên xuống bàn - tôi sẽ không tọc mạch vào sổ sách kế toán của ông đâu. Nhưng ước tính cũng phải đến một tỷ đô la. Đối với ông thì chuyện này sẽ chẳng có gì ghê gớm lắm. Ông đã vơ hàng đống tiền ở châu Âu còn gì.
- Một tỷ đô thì khó thanh toán ngay được - Rôlinh đáp - Để tôi suy nghĩ đã. Được, hôm nay tôi sẽ đi Pari. Tôi hy vọng là đến thứ năm ở Mácxây[1] chẳng hạn, tôi có thể trả phần lớn số tiền này.
- Chà, - Garin nói, - ông bạn già ạ, ông chỉ có thể được tự do sau khi thanh toán xong thôi.
Senga đưa mắt nhìn nhanh y, yên lặng. Rôlinh nhăn mặt như nghe thấy một câu thiếu lịch sự.
- Tôi phải hiểu rằng ông có ý định giam giữ tôi trên chiếc du thuyền này, có đúng thế không?
- Đúng
- Tôi xin nhắn rằng với tư cách là công dân Hoa Kỳ, tôi có quyền bất khả xâm phạm. Tự do của tôi và quyền lợi của tôi sẽ được toàn bộ hạm đội Mỹ bảo vệ.
- Càng hay, - Dôia phấn chấn thốt lên, đầy giận dữ, - Càng sớm càng tốt…!
Ả đứng dậy, giơ hai tay ra, nắm chặt lại đến nỗi khớp xương kêu răng rắc.
- Toàn bộ hạm đội của ông cứ việc chống lại chúng tôi, toàn thế giới cứ việc chống lại chúng tôi. Càng tốt!
Ả cử động nhanh quá khiến chiếc váy cũn cỡn bay tung lên; chiếc áo cắt theo kiểu lính thủy có đính khuy vàng của ả, mái đầu nhỏ nhắn cắt tóc theo kiểu con trai của ả, hai tay nắm lại mà ả định dùng để siết chặt số phận của thế giới, cặp mắt xám đen sẫm lại vì xúc động và khuôn mặt phấn chấn của ả - tất cả thật ngộ nghĩnh và đáng sợ.
- Thưa bà, hình như tôi không nghe rõ thì phải, - Rôlinh quay cả người về phía ả, - Bà định chiến đấu với hạm đội của Hoa Kỳ? Bà vừa mới nói vậy đúng không?
Senga ngừng gõ móng tay xuống bàn. Lần đầu tiên trong suốt tháng nay, anh cảm thấy vui vẻ. Thậm chí anh duỗi hai chân ra và ngà người như đang ngồi trong nhà hát.
Dôia nhìn Garin, ánh mắt ả càng sẫm hơn nữa.
Garin đút hai tay vào túi, kiễng gót giầy đứng dậy, vừa lắc lư vừa mỉm cười bằng cặp môi đỏ như tô son. Cả người y hình như toát ra vẻ nông nổi, điệu bộ. Chỉ riêng Dôia là đoán được ý chí tội lỗi sắt đá của y.
- Thứ nhất, - y nói và nhón chân lên, - chúng tôi không có gì đặc biệt thù địch với nước Mỹ. Chúng tôi sẽ cố gắng đánh tan bất kỳ hạm đội nào có ý định thực hiện những hành động xâm lược chống lại chúng tôi. Thứ hai, - y lại chuyển sang thế đứng bằng gót giầy, - chúng tôi hoàn toàn không muốn xảy ra chiến sự. Nếu các lực lượng quân sự của Mỹ và của châu Âu thừa nhận chúng tôi có quyền thiêng liêng chiếm bất cứ lãnh thổ nào cần thiết cho chúng tôi cũng như chủ quyền đối với lãnh thổ đó và các quyền tương tự thì khi đó, chúng tôi sẽ để họ yên, ít nhất là về mặt quân sự. Nếu không các lực lượng trên biển và trên bộ của nước Mỹ và của châu Âu, những pháo đài, căn cứ quân sự, kho tàng quân sự, các bộ tổng tham mưu.. v.. v… sẽ bị đối xử thẳng tay. Tôi hy vọng rằng số phận các nhà máy của Công ty anilin khiến ông có thể tin được rằng tôi không nói để mà nói.
Y vỗ vai Rôlinh
- Ông bạn già ạ, đã có thời gian tôi đề nghị ông hợp tác trong công việc của tôi… Nhưng ông đã không đủ trí tưởng tượng, mà đó là vì trình độ văn hóa của ông không cao lắm. Ông chỉ biết làm khánh kiệt giới chứng khoán và vơ lấy vơ để các nhà máy thôi. Thật hủ lậu quá… Còn kẻ có tài thực sự thì ông lại bỏ qua… Ông đã bỏ qua kẻ tổ chức thực sự cho hàng tỷ đô la ngốc nghếch của ông.
Rôlinh bắt đầu giống như một xác chết đang thối rữa. Y vất vả lắm mới rít lên được thành lời:
- Ông là một kẻ vô chính phủ.
Nghe thấy thế, Senga lập tức dùng bàn tay lành lặn ôm lấy đầu và cười phá lên to đến nỗi bên trên, sau lớp trần bằng thủy tinh, xuất hiện khuôn mặt hốt hoảng của thuyền trưởng Gianxen. Garin lại quay người bằng gót giày và bảo Rôlinh.
- Không phải đâu, ông bạn ạ, đầu óc ông kém đi rồi đấy. Tôi không phải là kẻ vô chính phủ. Tôi chính là nhà tổ chức vĩ đại mà trong thời gian rất ngắn nữa thôi ông sẽ phải thắp đèn ban ngày mà tìm đấy… Về chuyện đó thì lúc nào rỗi rãi ta sẽ nói sau. Ông hãy viết séc đi và cho thuyền chạy hết tốc lực về Mácxây…
 
 
79
 
 
Trong mấy ngày tiếp theo xảy ra các biến cố sau: du thuyền “Aridôna” thả neo tại vũng tàu ngoài của hải cảng Mácxây. Garin đến ngân hàng tín dụng Liông đưa tấm séc của Rôlinh để lĩnh hai mươi triệu bảng Anh. Giám đốc ngân hàng hốt hoảng đi Pari ngay. Người ta thông báo trên du thuyền là Rôlinh bị ốm. Y bị giam trong phòng riêng của y và Dôia suốt ngày đêm theo dõi việc cách ly y. Trong suốt ba ngày đêm, du thuyền “Aridôna” chất nguyên liệu lỏng, nước ngọt, đồ hộp, rượu và các thứ khác. Các thủy thủ và đám người vô công rồi nghề trên bờ hết sức ngạc nhiên khi thấy một chiếc sà lan chất đầy những bao cát tiến lại gần du thuyền. Người ta đồn là dường như du thuyền đi đến quần đảo Xalômông[2] lúc nhúc những kẻ ăn thịt người. Thuyền trưởng Gianxen thì mua trữ vũ khí - súng lục, mặt nạ phòng hơi ngạt và hai mươi khẩu súng trường.
Vào ngày đã định, Garin và Gianxen lại đến nhà băng. Đón hai người là trợ lý bộ trưởng tài chính vừa khẩn cấp từ Pari đến. Tuy tỏ ra hết sức nhã nhặn và không dám nghi ngờ gì về tấm séc, ông ta vẫn mong muốn được gặp đích thân Rôlinh. Ông ta được đưa lên du thuyền. Rôlinh đón ông ta với vẻ rất ốm yếu, mắt trũng sâu. Vất vả lắm y mới đứng dậy nổi. Y xác nhận rằng tấm séc đó do chính tay y viết, y sắp mở một chuyến viễn du và yêu cầu mau chóng hoàn tất mọi thủ tục.
Trợ lý bộ trưởng tài chính nắm lấy tay ghế bành, hoa chân hoa tay như Camin Đơmulanh[3] nói về tình anh em vĩ đại giữa các dân tộc, về kho tàng văn hóa nuớc Pháp và yêu cầu hoãn việc thanh toán.
Rôlinh mệt mỏi nhắm mắt lại, lắc đầu. Rốt cuộc, hai bên thỏa thuận với nhau là ngân hàng tín dụng Liông sẽ thanh toán một phần ba số tiền bằng bảng Anh, số còn lại sẽ trả bằng đồng phơrăng theo thời giá.
Vào lúc chiều tối, tiền được trở đến trên một chiếc tàu quân sự. Sau đó, khi những nguời ngoài đã đi hết, trên cầu chỉ huy xuất hiện Garin và Gianxen.
- Tất cả tập hợp lại trên boong.
Đoàn thủy thủ xếp hàng lại. Garin nói bằng một giọng cứng cỏi và cương quyết:
- Các bạn thủy thủ, du thuyền “Aridôna” sắp mở một chuyến viễn du hết sức gian nan và mạo hiểm. Tôi sẽ là một kẻ khốn khiếp nói tôi dám đảm bảo tính mạng cho một người nào đó, cho tính mạng của những nguời chủ du thuyền và cho sự bình an của chính du thuyền. Các bạn là những con sói biển, các bạn biết tôi đấy... Tôi sẽ tăng gấp đôi tiền luơng cũng như tăng gấp đôi các khoản tiền thưởng thường lệ. Tất cả những ai mà sau này trở về được quê hương sẽ được bảo đảm trợ cấp hưu trí suốt đời. Tôi để các bạn suy nghĩ cho đến sẩm tối. Những ai không muốn dấn thân vào con đường mạo hiểm thì có thể cuốn gói khỏi đây.
Buổi tối, một số thủy thủ lên bờ. Cũng trong đêm đó, đoàn thủy thủ được bổ sung thêm tám kẻ liều lĩnh mà thuyền truởng Gianxen đích thân tìm kiếm được trong các quán rượu ở cảng.
Năm ngày sau, chiếc du thuyền bỏ neo ở Saohemtơn[4]. Garin và Gianxen đến ngân hàng Hoàng gia Anh xuất trình tờ séc của Rôlinh để nhận hai mươi triệu bảng Anh. (Tại Nghị viện, thủ lĩnh Công đảng đã chất vấn một cách mềm mỏng về chuyện này). Tiền được trao đầy đủ. Báo chí làm rùm beng lên. Trong nhiều thành phố nổ ra các cuộc biểu tình của công nhân. Các nhà báo đổ xô đến Saohemtơn. Rôlinh không tiếp một ai hết. Chiếc “Aridôna” lấy nhiên liệu lỏng rồi vượt qua đại dương.
Mười lăm ngày sau, du thuyền đỗ tại kênh Panama và qua làn sóng điện triệu tổng giám đốc của công ty “Anilin Rôlinh” là Linnây đến đài thu. Vào giờ cố định, Rôlinh ngồi trong buồng phát sóng, dưới họng súng lục, ra lệnh cho Linnây phải giao cho người cầm séc là ngài Garin một trăm triệu đô la. Garin đi Niu Yoóc và trở về cùng tiền và chính Linnây. Đó là một sai lầm: Rôlinh nói chuyện với viên tổng giám đốc đúng năm phút với sự hiện diện của Dôia, Garin và Gianxen. Do đó, khi ra đi, Linnây tin chắc rằng đây là một việc mờ ám.
Sau đó, chiếc “Aridôna” bắt đầu chạy ngang dọc trên biển Caribê vắng vẻ. Garin đến nhiều nhà máy ở khắp nước Mỹ, thuê tàu, mua trữ máy móc, thiết bị, thép, xi măng, thủy tinh. Việc xếp hàng xuống tàu diễn ra ở Xan Phranxixo. Đại diện của Garin ký hợp đồng với các kỹ sư, kỹ thuật viên và công nhân. Một đại diện khác của Garin ở châu Âu và mộ năm trăm nguời trong đám bạch vệ cũ để làm nhiệm vụ cảnh sát.
Gần một tháng trôi qua như vậy. Rôlinh nói chuyện hàng ngày qua điện thoại với Niu Yoóc, Pari, Béclin... Những mệnh lệnh của y hết sức nghiêm khắc và nghiệt ngã. Sau khi công ti Anilin bị Đức hủy diệt, nền công nghiệp hóa chất châu Âu đã quy hàng. Dấu hiệu của công ty “Anilin Rôlinh” xuất hiện trên mọi chế phẩm. Đó là một vòng tròn vàng có ba sọc đen, bên trên là hai chữ “Thế giới”, bên dưới là hàng chữ "Công ty Anilin Rôlinh". Có vẻ như bất kỳ người châu Âu nào đều phải bị đóng triện bằng vòng tròn nhỏ màu vàng này. Vậy là công ty “Anilin Rôlinh” đang triển khai cuộc tiến công qua đống hoang tàn và đầy khói của các nhà máy thuộc công ty Anilin ở Đức.
Khắp châu Âu sặc sụa mùi thuộc địa khủng khiếp. Các niềm hy vọng tắt dần. Không khí vui tươi không trở lại. Vô vàn kho tàng tinh thần bị mục nát trong các thư viện đầy bụi. Mặt trời màu vàng có ba sọc đến tỏa thứ ánh sáng ảm đạm lên các thành phố, các ống khói và vô số các biển quảng cáo chuyên hút máu người. Trong các đường phố và ngõ hẻm, giữa các quầy hàng, các biển quảng cáo, các vòng tròn lớn và nhỏ màu vàng là những khuôn mặt nhăn nhúm vì đói, vì buồn bã và tuyệt vọng.
Tiền xuống giá. Thuế khóa tăng. Nợ nần chồng chất. Và luật pháp thiêng liêng đòi hỏi phải tôn trọng nghĩa vụ và pháp luật đã bị chiếc vòng tròn màu vàng đập một cú vào giữa trán. Hãy trả tiền đi!
Tiền bạc chảy thành suối, thành sông vào các két sắt của công ty Anilin Rôlinh. Các giám đốc của công ty thọc tay vào công việc nội bộ của các quốc gia, can thiệp vào nền chính trị quốc tế. Dường như họ tạo thành mội hội những kẻ cầm quyền bịt mặt. Garin ngang dọc khắp nước Mỹ với hai viên thư ký, các kỹ sư, các nữ nhân viên tốc ký và một đám tùy phái. Y làm việc hai mươi giờ một ngày. Y không bao giờ hỏi giá hoặc mặc cả.
Linnây lo lắng và ngạc nhiên theo dõi y. Ông ta không hiểu y mua tất cả những thứ đó và chất lên tàu nhằm mục đích gì, ông ta không hiểu y phung phí khắp nơi hàng triệu đô la của Rôlinh để làm gì. Một viên thư ký của Garin, một nữ nhân viên tốc ký và hai tùy phái là điệp viên của Linnây. Ngày nào họ cũng gửi báo cáo chi tiết về Niu Yoóc cho ông ta. Nhưng thật khó mà hiểu được điều gì đó trong cơn lốc những vụ mua hàng, đặt hàng và ký hợp đồng này.
Đầu tháng chín, du thuyền “Aridôna” lại xuất hiện trên kênh đào Panama để đón Garin và sau khi ra đến ngoài khơi Thái Bình Dương thì biến mất về hướng Tây nam.
Hai tuần sau, mười chiếc chất nặng hàng hóa cũng tiến theo hướng đó.
 
80
 
Biển động, chiếc “Aridôna” căng buồm chạy. Lúc thì nó khuất sau giữa các ngọn sóng, lúc thì nó nổi lên trên đỉnh sóng ngầu bọt.
Lớp mái che đã bỏ đi. Các cửa mạn đóng kín. Mấy chiếc xuồng được đưa lên boong và buộc chặt. Các bao cát xếp dọc theo hai thành du thuyền, buộc bằng dây chắc. Trên sàn mũi và tầng lái trên, người ta dựng hai chiếc tháp có chấn song với hai buồng nhỏ hình tròn. Những chiếc tháp phủ kín vải bạt này khiến chiếc “Aridôna” có hình dáng lạ lùng của một chiếc tàu quân sự.
Đứng trên cầu chỉ huy, nơi chỉ có các những vụn nước là bắn tóe lên được, là Garin và Senga. Cả hai đều mặc áo khoác da và đội mũ. Tay Senga đã không bị bó thạch cao nữa, nhưng vẫn chỉ có thể dùng để lấy bao diêm hoặc cầm dĩa ở bàn ăn.
- Đại dương đây, - Garin nói, - và con thuyền nhỏ xíu, kết tinh của thiên tài và ý chí con người.. Dù anh có nói gì đi nữa thì anh Senga ạ, chúng ta vẫn đang bay.. đang chiến đấu… Anh nhìn xem, những đợt sóng trào lên cao vút như ngọn núi vậy.
Một đợt sóng lớn xuất phát từ mạn phải du thuyền. Ngọn sóng sôi sục, dâng dần lên, ngầu bọt. Phiá dưới, mặt nước trong xanh mỗi lúc một uốn cong hơn, gầm réo… Chiếc “Aridôna” nghiêng hẳn sang trái. Gió hung dữ rít lên giữa các cánh buồm, đưa con thuyền từ vực thẳm lên. Con thuyền ngả hẳn ra, để lộ đáy thuyền màu đỏ. Nước gầm réo quanh cầu chỉ huy.
- Tuyệt quá, - Garin reo lên.
Chiếc “Aridôna” vươn thẳng dậy, nước trào qua boong, và con thuyền lại lao xuống dưới.
- Hệt như con người vậy, anh Senga ạ, hệt như con người trong biển người vậy! Sao tôi lại mê con thuyền này đến thế… Chẳng lẽ chúng tôi không giống nhau ư?... Ngực cả hai đều căng đầy gió… Có phải thế không?
Senga nhún vai, không trả lời. Chẳng hơi đâu mà tranh cãi với y, một kẻ say mê bản thân mình đến mức mù quáng… Mặc cho y cứ khoái trái đi, cái kẻ tự coi mình là siêu nhân ấy… Không phải vô cớ mà y và Rôlinh tìm thấy nhau: tuy là những kẻ thù không đội trời chung của nhau, nhưng chúng không thể thiếu nhau được.
Thật khó hiểu là tại sao cho đến nay Rôlinh chưa bị làm mồi cho cá mập. Y đã làm xong phần việc của y rồi. Garin chưa nhận được một tỷ đô la, nhưng cũng đã nhận được ba trăm triệu đô la. Bây giờ đã đến lúc thủ tiêu đầu mối rồi mới phải. Nhưng không, một cái gì đó vững chắc hơn đã liên kết hai kẻ đó lại.
Senga cũng chưa hiểu sao anh chưa bị đẩy xuống biển. Hồi ở Naplơ, anh cần cho Garin với tư cách là nhân vật thưa ba và người làm chứng. Nếu Garin lên chiếc “Aridôna” một mình thì có thể xảy ra những chuyện bất ngờ khó chịu. Nhưng Rôlinh sẽ khó hơn nhiều nếu định tiêu diệt cả hai một lúc. Mọi chuyện đã đều rõ ràng. Garin đã thắng cuộc. Nhưng giờ đây y cần đến Senga để làm gì?
Cuộc vượt biển này giống như một cuộc du lịch thú vị. Các bữa ăn, - sáng, trưa, tối, - đều hết sức thịnh soạn. Ngồi quanh bàn là Garin, bà Lamôlơ, Rôlinh, thuyền trưởng Gianxen, thuyền phó Senga, kỹ sư Sécmắc người Tiệp (phụ tá của Garin), một người đàn ông ốm yếu, tóc bù, cặp mắt chăm chú trắng dã, râu thưa và cuối cùng là nhà hóa học Sephe người Đức (phụ tá thứ hai của Garin), một thanh niên gầy giơ xương rụt rè, mới đây còn đang chết đói ở Xan Phranxixco.
Thật là một đám người lạ lùng. Ngồi bên phải Senga là kẻ đã có lần nhả bốn phát đạn vào anh, ngồi bên trái anh là kẻ đã giết chết ba nghìn người, còn đối diện anh là một ả đàn bà cực kỳ nguy hiểm.
Hôm nay, trái với thường lệ, Garin theo Senga lên cầu chỉ huy và bắt chuyện với anh một cách thân mật, dường như không có chuyện gì xảy ra từ hôm hai người ngồi trên ghế đá ở đại lộ Công Đoàn tại Lêningrát.
- Anh Senga ạ, - y lên tiếng, - tôi có một đề nghị với anh.
- Anh cứ nói đi.
- Anh có nhớ là chúng ta đã thỏa thuận chơi bài một cách trung thực không? Vậy mà một trợ thủ của anh đã làm tôi suýt tan sọ.
- Tôi chẳng biết gì hết…
Garin liền kể về phát súng tại ngôi nhà nghỉ của Stuphe, Senga lắc đầu:
- Tôi chẳng can dự gì đến chuyện ấy… Và đáng tiếc là phát súng đó lại bắn trượt.
- Tức là tại số chăng?
- Đúng thế
- Anh Senga ạ, tôi đề nghị anh hãy lựa chọn, - đôi mắt tàn nhẫn và sắc sảo của Garin ghé gần lại, nét mặt y ngay lập tức trở nên độc ác, - hoặc là anh hãy vứt cái trò đóng vai một kẻ nguyên tắc đi, hoặc là tôi sẽ quẳng anh xuống biển. Anh hiểu chứ?
- Hiểu
- Tôi cần đến anh. Tôi cần đến anh để làm những việc lớn… Chúng ta có thể thỏa thuận được với nhau. Anh là người duy nhất mà tôi tin cậy…
Y không nói hết - một đợt sóng dữ dội hơn những đợt sóng trước kia đổ ụp lên du thuyền. Bọt sóng sôi sục phủ kín cầu chỉ huy. Senga bị hất tung lên tay vịn, đôi mắt mở to của anh, cái miệng há ra của anh và bàn tay với những ngón tay tẽ ra của anh thoáng hiện rồi biến mất dưới nước. Garin nhảy vèo xuống chỗ nước xoáy…
 
81
 
Về sau, Senga nhiều lần nhớ lại biến cố đó.
Garin liều mình nắm lấy vạt áo anh và vật lộn với sóng cho đến khi họ bay qua du thuyền. Senga mắc lơ lửng trên tay vịn. Phổi anh đầy nước. Anh nặng nề ngã xuống sàn du thuyền. Các thủy thủ vất vả lắm mới làm cho anh tỉnh lại được rồi đưa anh vào buồng.
Một lát sau, Garin cũng bước vào. Y đã thay quần áo, vẻ mặt tươi tỉnh. Y ra lệnh đem đến hai ly rượu rum pha nước nóng và sau đó hút hết điếu thuốc, lại tiếp tục câu chuyện dang dở.
Senga ngắm nhìn khuôn mặt giễu cợt của y và tấm thân dẻo dai ngả trong ghế bành da của y. Một kẻ lạ lùng, đầy mâu thuẫn. Một tên ăn cướp, một tên khốn khiếp, một tên phiêu lưu đen tối. Nhưng không hiểu vì rượu hay vì cơn chấn động vừa trải qua, Senga cảm thấy dễ chịu khi thấy Garin bắt chéo chân ngồi trước mặt anh, vừa hút thuốc vừa tán gẫu về đủ thứ chuyện, dường như không có chuyện gì xảy ra hết.
Y đã thay đổi nhiều từ hồi ở Lêningrát, y tỏ ra hết sức tự tin, hay cười đùa, vẻ sảng khoái và hiền hậu, vẻ mà chỉ có ở những kẻ ích kỷ rất thông minh và tự tin.
- Sao anh lại bỏ lỡ cơ hội thuận lợi như vậy? - Senga hỏi y - hay là anh quá cần đến tính mạng của tôi? Tôi không hiểu đấy.
Garin ngửa đầu, phá lên cười vui vẻ
- Senga, anh kỳ cục thật… Tại sao tôi lại phải hành động theo lô gíc mới được chứ?... Tôi không phải là giáo viên dạy toán… Anh đâm lẩn thẩn rồi, không hiểu được một biểu hiện đơn giản của lòng nhân đạo!
- Khi anh làm nổ tung các nhà máy anilin thì hình như anh không nghĩ đến lòng nhân đạo thì phải.
- Không! - Garin hét to - Không. Tôi không nghĩ đến… Anh vẫn chưa thoát khỏi những tàn tích của đạo đức… Nhân đạo là cái quái gì mới được chứ!.. Các anh cứ có thói quen bắt lên cân đong cái gì tốt, cái gì xấu. Vậy theo anh cái gì là tốt, cái gì là xấu nào?
- Tất cả những gì dẫn đến việc thiết lập chính quyền Xô viết trên trái đất đều là tốt, những gì ngăn cản quá trình đó đều là xấu.
- Thật tuyệt… Nhưng cá nhân anh thì có quan hệ gì đến chuyện đó? Cái gì gắn bó anh với chính quyền Xô viết, kinh tế ư?... Vớ vẩn. Tôi đề nghị trả lương cho anh năm vạn đô la… tôi nói hoàn toàn nghiêm túc đấy. Anh đồng ý chứ?
- Không, - Senga thản nhiên đáp.
- Vậy là không phải yếu tố kinh tế đã gắn bó anh với chính quyền Xô viết mà là một yếu tố khác - tư tưởng, lòng trung thực, tóm lại là một vật chất cao… Các anh muốn đảo lộn thế giới. Các anh muốn làm trong sạch những quy luật kinh tế khỏi những rác rưởi đã bám vào hàng nghìn năm, các anh muốn làm nổ tung những thành trì đế quốc chủ nghĩa. Được thôi. Tôi cũng muốn làm đảo lộn thế giới, nhưng theo kiểu riêng của tôi. Và tôi nhất định sẽ đảo lộn được chỉ bằng sức mạnh của thiên tài tôi mà thôi.
- Chà, gớm nhỉ?
Garin ngồi sâu hơn vào ghế và co hai bàn chân lên. Khuôn mặt luôn luôn tái nhợt của y đỏ hồng lên.
- Tôi đề nghị anh một việc khác. Kẻ thù của tôi, anh hãy nghe đây… Tôi sắp nắm trong tay toàn bộ quyền lực trên trái đất. Nếu không có lệnh của tôi thì không một ống khói nào được nhả khói, không một con tàu nào được rời cảng, không một chiếc búa nào được nện xuống. Tất cả mọi thứ - ngay cả quyền được thở nữa - đều phục tùng, đều lệ thuộc vào trung tâm quyền lực. Trung tâm đó là tôi. Tất cả đều thuộc về tôi. Tôi sẽ cho khắc hình của tôi lên mặt phải các đồng tiền vàng và mặt trái là hình bà Lamôlơ. Rồi tôi sẽ chọn lọc khoảng hai - ba triệu cặp nam nữ gì đấy làm tầng lớp tinh hoa của xã hội. Họ được quyền hưởng thụ và sáng tạo. Sau đó, chúng tôi sẽ tổ chức một lực lượng lao động cần thiết, đủ để phục vụ hoàn toàn cho văn hóa. Ở đây cũng phải tiến hành chọn lọ. Để cho lịch sự chúng tôi gọi đó là những người lao động…
- Dĩ nhiên rồi
- Anh bạn ạ, anh chớ cười vội, cứ nghe tôi nói hết đã… Họ sẽ không nổi loạn đâu, đồng chí Senga thân mến ạ. Khả năng xảy ra cách mạng sẽ bị loại trừ tận gốc rễ. Sau khi phân loại và trước khi cấp sổ lao động, người lao động sẽ bị làm một phẫu thuật nhỏ, hết sức kín đáo, ở hộp sọ, chỉ choáng váng một lát thôi, nhưng khi tỉnh lại thì đã biến thành nô lệ. Và cuối cùng, chúng tôi sẽ chọn lọc một nhóm người rồi đưa đến một hòn đảo tuyệt đẹp để chuyên làm nhiệm vụ sinh sản. Tất cả những người khác sẽ bị loại bỏ vì không cần thiết. Đó, cấu trúc nhân loại tương lai theo ý định của Garin sẽ như vậy đó.
Bọn người chuyên lao động đó vì miếng ăn sẽ nhẫn nhục hầu hạ và làm việc như trâu bò vậy. Họ không còn là con người nữa, họ không còn điều gì lo sợ ngoài cái đói. Họ sẽ cảm thấy sung sướng khi được tiêu hóa thức ăn. Còn nhóm người chọn lọc kia cũng cảm thấy gần như thần như thánh ấy rồi. Mặc dù nhìn chung mà nói, tôi coi khinh con người, nhưng dẫu sao sống giữa một tầng lớp ưu việt cũng sẽ thấy dễ chịu hơn. Tôi khẳng định với anh, anh bạn ạ, đó sẽ là một thế kỷ tột cùng và thực sự hoàng kim mà các nhà thơ đã từng mơ ước. Những ấn tượng kinh hoàng trong việc tiêu trừ lớp quần chúng cặn bã khỏi mặt đất này sẽ được mau chóng xóa bỏ.
- Đúng là chủ nghĩa không tưởng kiểu phát xít - Senga nói - Anh có kể cho Rôlinh về ý tưởng đó không?
- Không hề không tưởng chút nào - điều lạ lùng là ở chỗ đó. Tôi chỉ hết sức lô gíc thôi, tất nhiên là tôi không kể gì cho Rôlinh biết vì hắn ta chỉ là đồ súc vật… Mặc dù Rôlinh và những Rôlinh khác trên đời này đang mù quáng làm tất cả những gì mà tôi phát triển thành một chương trình hoàn chỉnh và rành mạch.
- Vậy anh định bắt đầu từ đâu? Từ việc khắc hình anh lên đồng tiền vàng chứ?
- Không. Tôi sẽ bắt đầu từ việc phòng thủ. Tôi sẽ củng cố hòn đảo đồng thời ráo riết xâm nhập đến vòng đai ôlivin. Khi tôi lật đổ được hệ thống kim bản vị[5] thì thế giới sẽ bị đòn đe dọa đầu tiên. Tôi sẽ có thể khai thác vàng bao nhiêu tùy ý. Rồi tôi sẽ chuyển sang tiến công. Sẽ xảy ra chiến tranh, một cuộc chiến tranh hết sức khủng khiếp. Nhưng thắng lợi của tôi là chắc chắn. Sau đó sẽ bắt đầu phân loại người như tôi đã nói với anh.
Garin lại cười vang. Senga nhắm mắt lại để không phải nhìn y. Trò chơi đã bắt đầu ở đại lô Công Đoàn, nay đang biến thành một ván cờ quan trọng. Anh nằm suy nghĩ. Vẫn còn lại một nước cờ nguy hiểm, nhưng là nước cờ độc nhất có thể dẫn tới thắng lợi. Dù sao chăng nữa thì lúc này không được cự tuyệt lời đề nghị của Garin.
Senga với tay lấy thuốc lá, Garin mỉm cười giễu cợt theo dõi anh.
- Quyết định rồi chứ?
- Quyết định rồi
- Tuyệt lắm. Tôi lật bài cho anh biết nhé: tôi rất cần có anh. Senga ạ, xung quanh tôi toàn là những kẻ đần độn, không có óc tưởng tượng. Chúng ta sẽ cãi nhau, nhưng tôi sẽ thuyết phục bằng được để anh làm việc với tôi. Dù chỉ cho đến lúc chúng ta đánh bại được bọn Rôlinh… Tiện đây tôi xin báo trước là anh nên đề phòng Rôlinh. Y rất bướng bỉnh, và nếu y quyết định giết anh thì y sẽ thực hiện bằng được đấy.
- Lâu nay tôi vẫn ngạc nhiên là tại sao anh chưa xô hắn xuống biển cho cá mập.
- Tôi cần một con tin. Vả lại dù sao hắn cũng nằm trong danh sách giới tinh hoa của nhân loại tương lai… Thôi anh mặc quần áo rồi đi ăn đi.
 
82
 
Những đám mây dông đã lùi lại mạn Đông Bắc. Đại dương xanh thẳm vừa bao la vừa êm đềm. Xa xa, hiện lên hình bóng xanh xanh như ảo ảnh của một hòn đảo lô nhô núi đá.
Trên du thuyền, một người thủy thủ kêu to: “Đất liền!”. Và những người đứng trên boong giật mình. Đó là mảnh đất của tương lai vô định. Nó giống như một đám mây dài nằm ở chân trời. Những cánh buồm căng gió đưa chiếc “Aridôna” lại gần hòn đảo xa lạ.
 
83
 
Ánh hoàng hôn mùa thu rực rỡ trên đảo Vaxiliépxki.[6] Làn ánh sáng đỏ rực và ảm đạm trùm lên những xà lan chở củi, những người đánh cá và những làn khói mờ mờ.
Từ phía Tây, từ sau những làn khói đó, một chiếc tàu thủy đang tiến lại gần theo dòng sông Nêva đen sẫm.
Một hành khách hạng nhất, da ngăm đen, vai rộng và trong hộ chiếu ghi là cộng tác viên khoa học của Hội Địa lý Pháp, đứng cạnh mạn tàu. Y nhìn thành phố Lêningrát bị màn sương mù buổi tối bao phủ. Vẫn còn ánh sáng trên mái vòm nhà thờ Ixắcxki, trên những tháp vàng nhọn hoắt của trụ sở Bộ tư lệnh Hải quân và nhà thờ Pêtơrôpavlốpxki.
Người hành khách vai rộng nghển cổ nhìn tháp nhọn của tòa nhà thờ. Hình như y sửng sốt và xúc động, chẳng khác gì người lữ khách lại nhìn thấy mái nhà thân thuộc sau bao năm xa cách.
Tại trạm hải quan, y xuất trình hộ chiếu mang tên Áctua Lêvi, và trong lúc khám xét y rầu rĩ đứng cúi đầu để không lộ ra ánh mắt long lanh giận dữ.
Sau đó, y choàng khăn lên, xách chiếc vali nhỏ đi xuống đường ven bờ của đảo Vaxiliépxki. Những ngôi sao mùa thu rực rỡ. Y vươn thẳng người lên kèm theo tiếng thở dài đã nén lại từ lâu.
Một người cao lớn, mặc áo khoác vải thô, chậm rãi đi ngược lại. Khi đi ngang qua y, người này nhìn vào mặt ý, thầm thì: “Trời!”, rồi bỗng hỏi với theo:
- Anh Vônsin phải không?
Người xưng tên ở trạm hải quan là Áctua Lêvi giật mình, nhưng không quay đầu lại, y rảo bước nhanh hơn.

[1] Một hải cảng ở miền Nam nước Pháp.
[/align] [2] Một quần đảo ở tây nam Thái Bình Dương.
[/align] [3] Camin Đơmulanh( 1760 – 1791) nhà cách mạng tư sản Pháp, nhà báo và nhà viết văn đả kích. Về sau, ngả về phía phản động, và cuối cùng gia nhập nhóm của Đăngtông. Bị hành hình cùng Đăngtông hồi tháng 3 -1791.
[/align] [4] Một hải cảng ở miền Nam nước Anh.
[/align] [5] Giá trị cố định của vàng trên khắp thế giới. Nhiệm vụ của Garin là làm vàng bị mất giá để gây hỗn loạn trong giới tài phiệt của thế giới tư bản, do đó mà chiếm lấy quyền lực.
[/align] [6] Một quận của Lêningrát.
[/align] [/align]
0


Vâng, Ly cũng rõ, nhưng lúc đưa, là chỉ nhờ ba người chia nhau ra đánh cho nhanh, nhưng ba người này lại chia như vậy, cho nên khi đưa bài Vo Uyen vào rồi mới thấy ....

Vậy Ly sẽ xóa bớt bài của Vo Uyên, nhưng khi ghi tên người đánh thì nhờ Huytran đưa tên Vo Uyên luôn, vì Vo Uyên cũng đang đánh tiếp thêm nữa đấy

Cảm ơn HaThanh đã " nhìn suốt " dùm Ly há [8D]

0
Đánh máy: Vo Uyên

y nổi cuồn cuộn, cổ phồng lên, móc vài trên cổ áo đứt phựt. Đột nhiên, động cơ đãmở được kêu rộn rã. Đám người trên hàng hiên chạy theo bậc thang xuống dưới và vừa tung vũ khí vừa hét to: “Dừng lại ! Dừng lại !”.
            Bằng một nổ lực cuối cùng, Gianxen giật tung sợi xích, đẩy chiếc ca nô ra xa và bò theo thành ca nô đến chỗ lái.
            Sau khi ngoặc một vòng gấp, chiếc ca nô  lao vụt đi. Nhiều phát sung bắn đuổi theo.
-       Thang đâu? Đồ quỉ sứ! – Gianxen quát to trên chiếc ca nô đang bập bềnh bên dưới thành du thuyền “Aridôna”. – Thuyền phó đâu? Ngủ chắc ? Ta sẽ treo cổ!
-       Tôi đây, thưa thuyền trưởng !
-       Chặt đứt dây cáp ! Mở máy động cơ ! Tắt đèn đi !
-       Xin tuân lệnh !
Dôia là người đầu tiên bước lên chiếc “Aridôna”. Khom người qua thành tàu, ả thấy Gianxen cố đứng dậy rồi lại ngã xuống, mặt nhăn lại vì đau đớn.
-       Gianxen, ông làm sao thế?
-       Tôi bị thương.
      Bốn thủy thủ nhày xuống canô, dìu Gianxen lên. Y ngã ngất đi và được đưa vào buồng.
Chiếc “Aridôna” rẽ sóng, phóng hết tốc lực rời khỏi đảo vàng. Viên thuyền phó đảm nhận nhiệm vụ chỉ huy. Dôia đứng trên cầu chỉ huy, cạnh viên thuyền phó, tay bíu chặt vào lan can. Nước chảy từ mặt ả xuống, chiếc áo bó chặt lấy người ả. Ả nhìn ánh hồng mỗi lúc một rực rỡ (các doanh trại bốc cháy) và những làn khói đen cuồn cuộn bốc lên che kín hòn đảo. Nhưng rồi, hình như ả nhận thấy một chuyện gì đó, ả nắm lấy tay áo viên thuyền phó.
-       Quay về mạn Tây – Nam.
-       Có đá ngầm, thưa bà.
-       Im đi, không phải việc của ông ! … Luôn luôn cho thuyền chạy ở mạn trái đảo.
Ả chạy lên chiếc tháp nhỏ có đặt bộ máy phát tia.
Trên đảo, mãi tít bên trên đám khói lửa, lấp lánh một ngôi sao chói lọi – đấy là bộ máy phát tia chính đang săn lùng chiếc “Aridôna”.
Dôia quyết định chiến đấu, dù sao cũng không tài nào thoát khỏi tia sang có khả năng khống chế nhiều hải lý đang phát ra từ ngọn tháp kia. Tia sang lúc đầu lồng lộn trên các ngôi sao rồi chúc xuống đường chân trời, chỉ trong vài giây đã vẽ nên một vòng tròn chu vi bốn cây số. Nhưng giờ đây, nó kiên nhẫn sục sạo khu vực phía Tây đại dương, lướt trên các ngọn sóng, để lại dấu vết là những cột hơi nước nghi ngút.
Chiếc “Aridôna” chạy hết tốc lực dọc theo đảo Vàng. Nhưng một lần, khi nó cưỡi lên một ngọn sóng thì trên đảo đã nhận thấy nó. Tia sáng trắng chói lóa nhảy nhót quanh nó, lượn ngoằn ngoèo từ trên xuống dưới, xích lại gần, lúc thì đằng sau, lúc thì đằng trước.
Dôia cảm thấy ngôi sao chói lọi kia như chiếu thẳng vào mặt ả, và à cố hướng nòng bộ máy phát tia vào ngôi sao trên ngọn tháp đằng xa. Động cơ chiếc “Aridôna” gầm rít dữ dội, đuôi thuyền lộ ra, mũi chiếc thuyền bắt đầu chúc xuống, trườn theo lưng sông. Đúng lúc đó, tia sang kia bắt được mục tiêu, nó rung rẩy như ướm thử rồi không do dự, chiếu thẳng vào thân chiếc du thuyền. Dôia nhắm mắt lại. Chắc hẳn, tất cả những ai có mặt trên boong và chứng kiến cuộc chiến đấu sống mái này, đều thấy tim mình như ngừng đập.
Khi Dôia mở mắt ra, trước mặt ả là một bức tường nước, là vực thẩm mà chiếc “Aridôna” trượt xuống. “Vẫn chưa chết”, - ả thầm nghĩ. Ả rời tay khỏi bộ máy phát tia và kiệt sức buông thõng tay xuống.
Khi chiếc “Aridôna” lại cưỡi lên một đợt sóng, ả mới hiểu là tại sao ả thoát chết. Những đám khói lớn, dày đặc, bao phủ cả hòn đảo và ngọn tháp – chắc là các bể chứa dầu bị nổ tung. Sau màn khói như vậy, chiếc “Aridôna” có thể bình tĩnh trốn thoát.
Chiếc du thuyền tiến về hướng Tây – Bắc. Gió đã yếu đi, nhưng biển vẫn chưa yên hẳn. Mỗi ngày, chiếc “Aridôna” phát đi nhiều lần những tín hiệu qui ước để tìm cách bắt lien lạc với Garin, và hang chục vạn đàu phát thanh trên khắp thế giới nghe thấy giọng nói của Dôia :“Phải làm gì, phải đi đâu bây giờ? Du thuyền đang ở tọa độ này… chờ mệnh lệnh”.
Những con tàu xuyên đại dương khi bắt được tín hiệu ấy liền vội vã tránh xa địa điểm khủng khiếp, nơi lại xuất hiện chiếc “Aridôna” – “mối đe dọa của biển cả”.


119
Những đám dầu hỏa chat ngùn ngụt bốc lên, phủ kín dảo Vàng. Sau cơn dông bão là những giờ phút tĩnh mịch, và làn khói đen tỏa lên bầu trời trong trẻo, hắt xuống mặt biển một bong đen khổng lồ rộng vài cây số.
Hòn đảo dường như hoang tàn, chỉ ở phía mỏ là những gầu xúc của các máy nâng vẫn không ngừng kêu ken két như thường lệ.
Sau đó, giữa không khí yên tĩnh bỗng vang lên tiếng nhạc : một điệu hành khúc chậm, trang trọng. Qua màn khói, có thể nhìn thấy khoảng hai trăm người :  họ ngẩng đầu bước, nét mặt nghiêm nghị và quả quyết. Phía trước, bốn người khiêng một vật gì đó phủ lá cờ đỏ. Họ trèo lên núi đá, nơi sừng sững ngọn tháp có đặt bộ máy phát tia chính, và khi đến chân núi thì từ phía trên hạ xuống một bọc dài.
Đây là thi hài chú Ivan. Em hy sinh hôm qua, trong lúc chiến đấu với chiếc “Aridôna”. Sauk hi khéo léo trèo lên đỉnh tháp, em mở bộ máy phóng tia chính và sục sạo tìm chiếc “Aridôna” giữa những đợt song lớn.
Sau một hồi tìm kiếm, em bắt được mục tiêu. Em chiếu tia sáng hết đằng trước lại đằng sau chiếc “Aridôna” để điều chỉnh cho chính xác. Đột nhiên, tia sáng từ chiếc “Aridôna” biến thành ngôi sao chói lóa và lấp lánh, đâm vào mắt em. Bị tia sáng xuyên qua người, em ngã vào bộ máy phát tia chính…
-       Ivan yêu quí, em đã hy sinh anh dũng, và em hãy yên giấc nhé, - Senga nói. Anh quỳ xuống trước thi hài chú bé, lật mép là cờ ra và hôn vào trán em.
Kèn đồng nổi lên và hai trăm người cất tiếng hát bài “Quốc tế ca”.
Ít lâu sau, một chiếc máy bay bay vụt ra khỏi các cột khói. Nó tăng tốc rồi quay về phía Tây…


120


-       Thưa ngài, tất cả mệnh lệnh của ngài đã được thực hiện…
Garin khóa trái cửa ra vào, bước lại gần tủ sách và đưa tay sang bên phải tủ.
Viên thư ký nhếch mép cười.
-       Nút ấn cửa bí mật ở bên trái kia, thưa ngài…
Garin thoáng nhìn viên thư ký với vẻ lạ lung và ấn nút. Chiếc tủ sách lặng lẽ dịch sang bên, để lộ một lối đi hẹp dẫn đến khu phòng bí mật của lâu đài.
-       Xin mời ông, - Garin vừa nói vừa ra hiệu cho viên thư ký đi trước. Mặt viên thư ký tái nhợt đi. Với vẻ lịch thiệp lạnh như băng, Garin giơ khẩu sung lục lên, chĩa vào trán viên thư ký. – Thưa ông thư ký, phục tùng là khôn ngoan hơn…


 
121


Cửa phòng thuyền trưởng mở toang. Gianxen nằm trên giường.
Mong muốn của Gianxen đạ được thực hiện – y lại ở giữa đại dương, lại một mình với bà Lamolơ. Y biết rằng y sắp chết. Suốt mấy ngày nay y vật lộn với cuộc sống – một viên đạn xuyên qua bụng y – và nay, cuối cùng y đã dịu đi. Y nhìn những ngôi sao qua chiếc cửa mở.
Bỗng một bóng đen che mờ các ngôi sao và Dôia bước vào. Ả cúi xuống hỏi thăm sức khỏe của Gianxen. Y nhấp nháy mí mắt đáp lại, và Dôia hiểu rằng y muốn nói : “Anh rất hạnh phúc, em đang ở bên anh”. Khi ngực y giần giật mấy lần để hít không khí, ả ngồi cạnh giường y và ngồi im,  không nhúc nhích. Chắc hẳn những ý nghĩ buồn bã đang ám ảnh đầu óc ả.
-       Anh bạn thân mến, anh bạn duy nhất của tôi, - ả khẽ nói với vẻ tuyệt vọng âm thầm, - anh là người duy nhất trên đời này yêu quí tôi. Anh sẽ chết mất… Ôi, lạnh quá…
Gianxen không trả lời, chỉ có mí mắt động đậy, dường như muốn xác định rằng y đang cảm thấy lạnh dần… Ả nhìn thấy mũi y nhọn lại và miệng y hé ra thành một nụ cười yếu ớt. Khuôn mặt y mới đấy thôi còn hồng hào đầy sức sống thì nay đã tựa như bằng sáp. Ả chờ đợi them nhiều phút nữa rồi chạm môi vào tay y. Nhưng y vẫn chưa chết. Y chầm chậm hé mở mắt, mấp máy môi. Dôia cảm thấy như y nói : “ Tốt quá…”.
Sau đó, mặt y biến đổi hẳn. Ả quay đi và thận trọng kéo rèm cửa.


122
Viên thư ký – con người thanh nhã nhất nước Mỹ - nằm sấp mặt, những ngón tay cứng đờ bám vào thảm : hắn chết ngay tức khắc, không kịp kêu một tiếng. Garin vừa cắn cắn đôi môi run rẩy vừa từ từ đút vào túi khẩu súng lục phát tia. Rồi y bước đến cánh cửa thép thấp lè tè. Y quay trên chiếc đĩa đồng một tập hợp con số mà chỉ riên y biết – cửa lập tức mở toang. Y vào trong căn phòng kín mít, không có cửa sổ, xây bằng bê tong cốt sắt.
Đấy là một loại tủ sắt riêng của nhà độc tài. Nhưng ở đấy không có vàng, cũng không có giấy tờ gì hết mà có một thứ quí giá hơn nhiều đối với Garin : một kẻ thứ ba giống hệt y, được y đem theo từ Châu Âu, lúc đầu bí mật giấu ở đảo Vàng rồi ở đây, trong căn phòng bí mật này của lâu đài. Kẻ thứ ba giống hệt y này là nam tước Coócphơ một dân lưu vong người Nga đã bán mình để lấy một món tiền lớn.
-       Vậy là rốt cuộc ông đã đến, - nam tước Coócphơ thốt lên và lười nhác quay về phía Garia. – Quỉ tha ma bắt ông đi, ông biến đâu vậy?... Ông còn định giam hãm tôi trong cái nhà mồ này bao lâu nữa? Thà tôi chết đói ở Pari còn hơn…
Garin không đáp, y giật dải băng và quẳng đi bộ lễ phục vùng với mớ huân chương, huy chương.
-       Ông cởi quần áo ra.
-       Để làm gì ? – nam tước Coócphơ tò mò hỏi.
-       Đưa quần áo của ông cho tôi.
-       Có chuyện gì thế ?
-       Đưa cả hộ chiếu và mọi giấy tờ nữa… Bộ đồ cạo râu của ông đâu ?
Garin ngồi vào chiếc bàn trang điểm. Y không sát xà phòng vào mặt, nhanh chóng cạo râu ria, mặt nhăn lại vì đau đớn.
-       Trong phòng bên cạnh có một người đang nằm. Ông phải nhớ rằng đó là viên thư ký riêng của ông. Nếu hắn bị bắt, ông có thể bảo rằng ông đã phái hắn đi làm một nhiệm vụ bí mật… Ông hiểu chứ ?
-       Có chuyện gì đấy ông ? – nam tước Coócphơ vừa hỏi to vừa bắt lấy chiếc quần Garin quăng đến.
-       Từ đây tôi sẽ theo lối bí mật vào công viên, đến chỗ chiếc xe của tôi. Ông sẽ giấu viên thư ký vào lò sưởi và sang phòng làm việc của tôi. Sau đó ông lập tức gọi điện cho Rôlinh. Tôi hy vọng là ông nhớ rõ toàn bộ cơ chế nền độc tài của tôi chứ ? Đầu tiên là tôi, rồi đến phó thứ nhất của tôi – giám đốc cảnh sát bí mật, rồi đến viên phó thứ hai của tôi – trưởng ban tuyên truyền, rồi đến viên phó thứ ba của tôi – trưởng ban khiêu khích. Rồi đến hội đồng bí mật ba trăm người, đứng đầu là Rôlinh… Ông cởi quần mau lên chứ !... Ông hãy gọi điện cho Rôlinh bảo rằng ông, tức là Piốt Garin, sẽ đứng đầu quân đội cảnh sát. Ông sẽ phải chiến đấu dữ dội đấy, ông bạn than mến ạ… Còn tôi thì chuồn đây.
123
Khi Garin ngồi một mình trên chiếc xe bịt kín và phóng như bay qua những đường phố trung tâm thì y hiểu ngay rằng y đã bỏ chạy kịp thời. Tại các khu công nhân và các vùng ngoại ô, hang chục vạn người đổ ra đương… Đây đó đã tung bay những lá cờ cách mạng. Trên các phố xá vội vã dựng lên những chiến lũy bằng ô tô bị lật nhào, bằng đồ đạc ném qua cửa sổ, bằng cột đèn, bằng cánh cửa, bằng chấn song…
Con mắt giàu kinh nghiệm của Garin nhận thấy công nhân được vũ trang đầy đủ… Trên các xe tải lướt qua các đám đông, chất đầy lựu đạn, và các loại sung… Rõ rang đây là bàn tay của Senga.
Giá như trước đây mấy tiếng đồng hồ, hẳn Garin đã cương quyết ra lệnh tung quân đội đán áp những người khởi nghĩa. Nhưng lúc này y chỉ bực dọc đạp mạnh chân ga. Chiếc xe lao vùn vụt giữa những tiếng hô và những lời nguyền rủa : “Đả đảo tên độc tài ! Đả đảo hội đồng ba trăm người !”
Máy phát tia nằm trong tay Senga. Mọi người đều biết rõ điều đó, những người khởi nghĩa đã tuyên bố ầm lên như vậy. Senga đang lãnh đạo cuộc cách mạng như một người chỉ huy dàn nhạc đang điều khiển bản hợp xướng anh hùng.
Loa phóng thanh đặt khắp mọi nơi theo lệnh của Garin trước đây, trong thời kỳ bán vàng nay chống lại chính y, đang loan báo cho toàn thế giới biết về cuộc tổng khởi nghĩa.
Ngược với mọi sự chờ đợi của Garin, nam tước Coócphơ, kẻ giống hệt Garin, bắt đầu hành động một cách kiên quyết và thậm chí, còn có kết quả nữa. Những đội quân tinh nhuệ của y tiến công các chiến lũy. Kỵ binh xéo chết nhiều người trên các ngã tư. Nhưng toán quân đặc biệt bẻ gãy các khóa cửa, xông vào nhà các công nhân, thẳng tay bắn giết.
Nhưng những người khởi nghĩa bền bỉ chiến đấu. Tại các thành phố khác, tại các trung tâm công nghiệp lớn, họ kiên quyết chuyển sang tiến công. Đến trưa thì cả nước đã vùng dậy khởi nghĩa…
Garin cho xe chạy hết tốc lực, lao băng băng qua các thị trấn, đè chết lợn, gà, chó… Thỉnh thoàng y chỉ dừng lại vài phút để lấy xăng, đổ nước lạnh vào bộ chế hóa khí… Y chạy suốt đêm.
Vào năm giờ sáng hôm sau, xe y bị nã sung…
Vào bảy giờ sáng, khi lướt qua một thị trấn nào đó, y nhìn thấy những lá cờ cách mạng và nhưng đám người đang cất tiếng hát…
Y chạy trốn suốt hôm sau về phía Tây, về phía bờ biển Thái Bình Dương. Lúc tảng sáng, khi tiếp xăng, y nghe thấy giọng nói quen thuộc của Senga phát ra từ loa phóng thanh.
-       Thắng lợi, thắng lợi rồi… Thưa các đồng chí, trong tay tôi là thứ vũ khí ghê gớm của cách mạng – bộ máy phát tia khủng khiếp…
Garin nghiến răng, không nghe hết, cho xe lao đi tiếp. Lúc mười giờ sáng, y thấy tấm biểu ngữ đầu tiên ở vệ đường vời những dòng chữ in đậm :
“… Các đồng chí… Tên độc tài đã bị bắt sống. Nhưng đó chỉ là kẻ giống hệt Garin… Garin đã trốn mất. Y đang chạy sang phía tây… Các đồng chí, hãy cảnh giác, hãy bắt giữ chiếc xe của tên độc tài… (Ghi rõ đặc điểm). Garin không được phép thoát khỏi tòa án cách mạng…”.
Đến giữa trưa, Garin phát hiện thấy một chiếc mô tô đang đuổi theo. Y không nghe thấy tiếng sung, nhưng cách đầu y mười phân, kính xe bị một viên đạn bắn thủng. Y cảm thấy lạnh gáy. Y dận hết ga, phóng ra sau một quả đồim ngoắt về phía những ngọn núi rậm rạm cây cối. Một giờ sau, xe y lao vào khe núi. Động cơ bắt đầu trục trặc và im bặt. Garin nhảy ra, vặn tay lái, đẩy xe lăng xuống vực, rồi vất vả lê bước, leo theo triền dốc dựng đứng về phía rừng thông.
Từ trên cao y nhìn thấy ba chiếc mô tô phóng vùn vụt trên đường cái. Chiếc cuối cùng dừng lại. Một người cởi trần, đeo súng, nhảy khỏi mô tô và cúi người bên vực thẳm, nơi chiếc xe vỡ tan của tên độc tài đang lăn xuống. Đến ngày thứ tư, y đã cuốc bộ đến một xóm hẻo lành ven biển, gần Lốt Angơlét. Tại đây, chiếc khí cầu riêng của y đã chờ sẵn.
 
124
Bình minh bừng dậy trên bầu trời không một gợn mây. Làn hơi nước hồng hồng tỏa lan khắp mặt biển. Garin cúi người qua cửa sổ khí cầu máy nhìn qua ống nhòm và vất vả lắm mới thấy mấy tia chính và giếng nhỏ. Y tự tin, kiên quyết và vui vẻ - tâm trạng sảng khoái đã trở lại với y.
Sáng hôm sau, viên thuyền phó chịu trách nhiệm chỉ huy con tàu sau khi Gianxen chết, lo lắng chỉ những đám mây khí quyển. Chúng nhanh chóng kéo đến từ phía Tây, phủ kín bầu trời tại một độ cao chừng mười cây số. Cơn dông và có lẽ là cơn bão biển lớn tiến lại gần.
Đang miên man suy nghĩ, tính toán, Garin đuổi viên thuyền trưởng đi.
-       Bảo biển thì đã sao, chuyện vặt. Tăng tốc độ lên…
Từ cầu chỉ huy, viên thuyền trưởng rầu rĩ nhìn bầu trời đang phủ đầy mây đen. Y ra lệnh bịt kín. Các cửa mạn, neo chặt xuồng và tất cả những gì có thể bị cuốn đi.
Đại dương tối sầm lại. Gió ào đến từng cơn, gầm rít, báo trước cho các thủy thủ về tai họa sắp đến. Biển nổi sóng dữ dội.
Rồi từ mạn Đông, một đám mây đen lớn, nặng nề, lan dần tới. Những cơn gió trở nên hung dữ hơn, sóng tràn qua boong du thuyền. Sóng nổi lên cao ngất.
Viên thuyền trưởng bào Dôia và Garin:
-       Ông bà xuống dưới đi. Mười lăm phút nữa chúng ta sẽ ở trung tâm cơn bảo. Các động cơ không cứu nổi chúng ta đâu.
Cơn bão ập xuống chiếc “Aridôna” với tất cả sự ghê gớm của cơn bão cấp mười một. Chiếc du thuyền bị vùi lấp giữa các cột song, nghiêng hẳn đi, đáy lộ ra đến tận sống đuôi, không thể điều khiển được nữa, bị cuốn băng băng theo những vòng của một hình xoắn ốc càng thu hẹp về phía trung tâm cơn bão hay “mắt bão” như các thủy thủ thường gọi.
Những đám mây đen chạm đến boong du thuyền. Trời tối đen như mực. thành du thuyền kêu răng rắc. Mọi người phải bám vào bất kỳ thứ gì vớ được để khỏi bị tan xương.
Chiếc “Aridôna” bị hất tung lên đỉnh các ngọn sóng, lật nghiêng rồi ném xuống vực thẳm. Đột nhiên mặt trời chói lòa hiện ra, trời im gió một thoáng lát, và những đợt sóng trong xanh, lấp lánh như bằng thủy tinh lỏng, cao bằng tòa nhà mười tầng, dập vào nhau, phát ra những tiếng ầm inh tai nhức óc, dường như thần Hải Vương đang giận dữ vỗ tay…
Đó chính là “mắt bão”, nơi nguy hiểm nhất của cơn bão. Trên boong chiếc “Aridôna”, mọi thứ đều bị cuốn sạch : mấy chiếc xuồng, cả hai ngọn tháp có đặt bộ máy phát tia, các ống khói và cầu chỉ huy cùng với viên thuyền trưởng…
Động cơ bị cháy hỏng, tay lái bị gãy.
-       Em không thể chịu nổi nữa, - Dôia rên rỉ.
-       Rồi sẽ kết thúc chứ… Chà, thật ma quỉ! – Garin khan khan trả lời.
-       Cả hai bị tơi tả, bị đau đớn vì va đập lien tục vào tường, vào bàn ghế, giường tủ. Trán Garin nứt toác. Dôia nằm trên sàn, bíu chặt vào chân chiếc giường bắt chặt bằng vít. Lăn đi lăn lại trên sàn cùng với người là vali, các cuốn sách đổ ra từ trong tủ, gối đệm, cam, bát đĩa vỡ…
-       Garin, em không thể chịu nổi nữa, quăng em xuống biển đi.
Một cú giật khủng khiếp hất Dôia ra khỏi giường, lăn tròn đi. Garin ngã lộn nhào qua người ả, đập vào cửa.
Vang lên tiếng răng rắc dữ dội. Nước đổ ào ào xuống. Tiếng người la thét. Căn phòng vỡ làm đôi. Một đợt sóng mạnh cuống Garin và Dôia đi, ném xuống vực nước ngầu bọt…
Khi Garin mở mắt ra, cách mũi y mười phân là một con tôm nhỏ ẩn dật, náu một nửa mình trong chiếc vỏ sò óng ánh, đang giương mắt nhìn và ngạc nhiên vẫy vẫy râu. Garin cố gắng lắm mới hiểu : “Vậy là ta sống sót…”. Nhưng y hồi lâu vẫn chưa gượng dậy nổi. Y nằm nghiêng trên cát. Tay phải y bị thương. Nhăn mặt vì đau đớn, y cố co chân lại, ngồi dậy.
Cách không xa là một cây cọ đứng cong tấm thân mảnh dẻ, làn gió mát thổi xào xạc vẫy lá… Garin đứng lên, lảo đảo bước đi. Khắp xung quanh, dù y có nhìn đâu chăng nữa.\, vẫn chỉ thấy những làn sóng rực rỡ ánh nắng lan đãng, ào ào đạp vào dải bờ thấp… Đó là tất cả những gì còn sót lại của chiếc “Aridôna” bị vỡ tan cùng đoàn thủy thủ khi va vào những tảng đá ngầm của đảo san hô.
Garin khập khiễng đi sâu vào đảo, nơi những chỗ cao hơn phủ đầy các bụi cây thấp và cỏ xanh rờn. Dôia nằm ngửa ở đó, dang hai tay ra. Garin ngồi xuống bên cạnh, không dám đụng vào người ả để khỏi cảm thấy hơi lạnh của cái chết. Nhưng Dôia vẫn sống, mí mắt ả giật giật, đôi môi khô khốc mấp máp.
Trên hòn đảo san hô này có một hồ nước mưa, tuy hơi mằn mặn nhưng vẫn uống được. Trên các bãi bồi là sò, hến, thủy tức, tôm nhỏ, tóm lại là tất cả những gì mà khi xưa đã dung làm thức ăn cho người nguyên thủy, lá cọ có thể dung làm quần áo và vật che nắng ban trưa.
Hai kẻ trần truồng bị ném lên mảnh đất trơ trụi vẫn có thể sống lay lắt qua ngày… Và chúng bắt đầu sống trên hòn đảo heo hút giữa Thái Bình Dương này. Thậm chí, cũng không hề có hy vọng là một con tàu nào đó chạy qua, nhận thấy chúng và đưa lên tàu n ữa.
Garin chuyên bắt sò hến và dung áo bắt cá trong hồ nước ngọt, Dôia tìm thấy trong một chiếc hòm bị ném lên bờ từ chiếc “Aridôna” có năm mươi bảy cuốn sách in lòe loẹt các bản xẽ hệ thống lâu đài và những khu nhà giải trí trên đảo Vàng. Ở đó cũng có những bản đạo luật và bản qui định nghi thức trong cung của bà Lamôlơ, nữ chúa tể thế giới…
Suốt ngày này sang ngày khác, dưới bóng lều dựng bằng lá cọ, Dôia lật giở từng trang cuốn sách này, cuốn sách do trí tưởng tượng mãnh liệt của ả thêu dệt nên. Còn lại muốn mươi chín bản đóng bìa cứng bằng da dê và mạ vàng thì Garin dung làm vách chắn gió.
Garin và Dôia không trò chuyện gì với nhau hết. Chuyện trò để làm gì? Và về cái gì ? Chúng đã suốt đời cô độc và nay rốt cuộc, đã nhận được sự cô độc hoàn toàn.
Chúng lẫn lộn ngày tháng rồi không đếm ngày tháng nữa. Mỗi khi bão tố tràn qua đảo thì chiếc hồ nhỏ lại tràn đầy nước mưa mới. Có nhiều tháng ròng rã trời nắng chang chang như thiêu đốt, bầu trời không một gợn mây. Vào những lúc ấy, chúng phải uống thứ nước hôi thối…
Chắc hẳn là Garin và Dôia vẫn bắt thủy túc và sò hến trên hòn đảo này. Sauk hi đã no nê, Dôia lại ngồi giở cuốn sách có in những bản vẽ tuyệt đẹp các lâu đài, nơi pho tượng đá hoa cương tuyệt trần tạc hình ả nổi cao lên giữa các hàng cột đá và các bồn hoa, còn Garin thì chúi đầu vào cát, lấy chiếc áo vét tong cũ nát đắp lên người, khe khẽ ngáy, có lẽ cũng đang mơ thấy những chuyến phiêu lưu kỳ thú.
 
ĐẶNG NGỌC LONG dịch.

0
Tôi vừa soát lỗi chính tả đoạn trang 86 - đến trang 95. Xin gửi bạn Ly nhé: http://www.4shared.com/file/254382318/4fd7542f/86_-_95.html
 
Tôi nghĩ là chúng ta nên làm thêm một bước nữa là kiểm tra và sửa lỗi chính tả chéo nhau và bạn huytran sẽ chỉ sửa nốt ở những chỗ hình scan sách quá mờ thôi. Không nên phó mặc hoàn toàn cho MOD.[:D]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-04-01 13:49:20Ct.Ly>
Cảm ơn bạn hathanh nhiều

Hathanh cũng có  " tình người " há , như HuyTran cũng vậy, mỗi khi làm 1 cuốn sách nào, là do HuyTran nhận sửa lỗi chính tả, vì đôi khi đưa cho thành viên đánh, Ct.Ly còn thưa thớt tùm lum, phải nhờ HuyTran nhắc nhở mãi đó hihihi

Đúng là một cây làm chẳng nên non,
Nhiều người giúp đỡ mới thành cuốn sách chứ [8D]

Hình như truyện này còn 2 người đã nhận mà chưa đánh xong thì phải

Nếu khg, chác hathanh cùng Ly chia nhau đánh nốt quá .....
0
Đúng là "một cây làm chẳng nên non", thông thường thì người ta rất ngại hoặc vì lý do gì đó mà không tự soát lỗi trước khi gửi đi, cái này mình đã gặp khá nhiều vì cũng từng làm leader của nhiều dự án type sách trên trang thuvien-ebook.com và theo kinh nghiệm thì dù soát có kỹ đến đâu vẫn còn có thể có lỗi. Thường thì mình sẽ chia công việc thành nhiều khâu và sẽ phân công cụ thể cho thành viên tham gia làm và lập bảng theo dõi cụ thể ở mặt tiền của Topic và sẽ cập nhật thường xuyên. Ví dụ: Một dự án rất dài hơi được phân công từ khâu chụp ảnh đến khâu cuối cùng: http://thuvien-ebook.com/forums/showthread.php?t=26248 và vẫn chưa kết thúc.
 
P.S.
- Nick của mình bên kia là 4DHN
- Mình thấy còn thiếu nhiều đấy chứ đâu phải chỉ 2 gói, còn thiếu đoạn nào thì bạn cứ gửi hết lên diễn đàn nhé, riêng mình thì biết đang có bạn samhaivan lúc nào cũng sẵn sàng đánh.
0


Không biết thiều gì khg??? hỏi HuyTran xem sao

Chứ những chương thấy hathanh đưa lên, thành viên đánh xong hết rồi, nhg chỉ còn Piyemingo và Lam thôi
để Ly PM cho hai người xem sao ????

nếu thiếu chắc phải nói HuyTran gửi bản scan nhờ mọi người đánh giúp vậy
0
Theo mình thống kê thì như sau:
 
?????: đầu - 27 chưa có
 
Hathanh725: 28 - 47 hoàn tất
 
????: 48 - 67 chưa có
 
????: 68 - 85 chưa có

pddk1987: 86 - 95 hoàn tất

Vo uyên: 96 - 105 chưa có [1]

Hathanh725: 106 - 125 hoàn tất

Hathanh725 126 - 147 hoàn tất

Lam:  148 - 167 hoàn tất

Piyeamigo:   168 - 187 hoàn tất

Lam: 188 - 205 đã nhận

Thanh Vân: 206 - 223 hoàn tất

Hathanh725: 224 - 243 hoàn tất
 
?????: 244 - 261 chưa có

samhaivan: 262 - 281 hoàn tất

Hatdau:  282 - 295 hoàn tất

Nva _85: 296 - 313 hoàn tất

Piyenmingo: 314-335 đã nhận

Hatdau : 336-355  hoàn tất

Cunhoi:  356 -  375 hoàn tất
 
Vo Uyên: 776 - hết: hoàn tất





[1] Chỗ này cũng có thể mình nhầm, bạn Ly xem lại kỹ coi, vì Vo uyen và pddk1987 gõ trùng một gói (86 - 95) và mình không tìm thấy gói 96 - 105 ở đâu cả.
[/align][/align]
0