📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Người có trái tim trên miền cao nguyên- William Saroyan 🔒

33 trả lời, 4.020 lượt xem — Trang 2 / 2
NGƯỜI PHI LUẬT TÂN VÀ GÃ SAY
Em tôi, Henry kể cho nghe chuyện này, chính em đã chứng kiến ngay trên đường về sau khi tan sở. Tôi thích lắm, viết một mạch và sau đó thấy đăng trên tờ Story. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi nghe ông chủ nhiệm Whit Bernett bảo rằng, bằng với truyện ngắn này, tôi đã viết một bài trả lời thật tuyệt diệu thẳng vào Ernest Hemingway, nhà văn đã công kích tôi trên tờ Esquire, chẳng qua vì tình cờ tôi viết chạm đến ông trong một truyện có tựa là Bảy mươi ngàn người Assyria. Tôi bảo viết Whit Bernett là tôi không quan tâm, cũng như từ chối đề nghị của chủ nhiệm của tờ Esquire, là đọ bút với Hemingway ngay trên trang báo của ông. Và đây chỉ là một truyện ngắn thuần tuý, giản dị như vậy thôi, chứ không phải là một bài trả lời về một điều gì và cho bất cứ với một ai cả.
Vào những năm hai mươi, khi quản trị một chi nhánh của Ty Bưu Điện, gọi là sở U, ở đường Branman, San Francisco, tôi tuyển mộ một số tuỳ phái người Phi, chẳng qua chỉ vì họ mới làm được công việc khó nhọc ấy thôi, nhờ vậy tôi lại càng hiểu và mến phục họ. Và khi cậu em tôi vừa kể chuyện này ra, tôi cảm biết được giá trị của nó và không sao cưỡng lại được việc chuyển tải thành một truyện ngắn.
 
Gã to mồm mặc áo lông lạc đà nâu này, thật ra thì không đến nỗi đê tiện lắm đâu, gã say. Không dưng gã cứ thấy thậm ghét cái cậu bé người Phi ăn mặc bảnh choẹ kia, gã gầm rú đuổi cậu bé chạy vòng quanh phòng đợi, bảo cậu ta trở ra, không được chen chúc giữa những người da trắng. Tất cả đang đợi để lên tàu qua vịnh đến Oakland. Nếu như gã không say thì chẳng ai hơi đâu mà để ý tới, nhưng mà thế đấy, gã làm náo động cả phòng đợi, trong khi mọi người đều có vẻ thuận tình với cậu bé người Phi, nhưng cũng không ai muốn dây vào gã say mà ra tay cứu nguy cho cậu bé. Cậu sợ chết khiếp.
Cậu đứng chơ vơ giữa mọi người, gã say được thể xông đến như con bò điên và nói, Tao đã chiến đấu hai mươi bốn tháng ở Pháp. Tao là dân Mỹ chính cống. Tao muốn mày xéo ngay, đi khuất mắt những người da trắng ở đây.
Cậu bé vẫn rụt rè cam chịu và lễ phép nép mình tránh gã say, luồn vội qua đám đông, không nói năng một lời nào và luôn cố tỏ ra hết sức lễ độ. Cậu vẫn tránh né và gã say vẫn lảo đảo theo sau, thời gian thì trôi qua cùng cơn ghét bỏ của gã say mỗi lúc tăng lên theo và gã bắt đầu chửi thề nham nhở. Tụi bay là những thằng ăn mặc đỏm đáng gồ ghề nhất San Francisco, tui bay suốt ngày sấp mặt rửa chén lau bát kiếm tiền, tụi bay không có quyền chưng diện phách lối như vậy.
Gã chửi luôn miệng, tục tĩu đến nỗi nhiều phụ nữ phải giả như điếc để khỏi bị lọt vào tai những gì gã phun ra.
Khi cánh cửa lớn mở, cậu bé người Phi lướt nhanh trong đám đông, tránh khỏi gã say và lên tàu trước hơn ai hết. Cậu chạy  trốn vào một góc, ngồi xuống giây lát, đoạn lại đứng lênxem có còn chỗ nào khuất kín hơn không. Phía đàng cuối tàu là gã say. Cậu vẫn còn nghe gã chửi thề ong óng. Cậu lấm lét ngó quanh để tìm một chỗ an toàn, cậu quyết định tạm lánh vào một phòng rửa mặt còn trống. Cậu đóng chặt cửa lại.
Gã say đi xiêu vẹo vào một phòng rửa mặt khác và hỏi mọi người có thấy thằng nhỏ đâu không. Mọi người im lặng. Gã tự khoe mình là một người Mỹ chính hiệu con nai vàng, đã từng chiến đấu và bị thương hai lần trong chiến tranh Âu châu hay nơi gì gì đó.
Trong phòng rửa mặt gã chửi đổng tàn canh gió lạnh, những lời lẽ hôi hám như bùn, như...rồi gã cúi xuống nheo mắt nhìn qua các khe cửa hở những phòng khác. Xin lỗi, gã nói với những người mà gã không muốn tìm, rồi gã đến phòng có cậu bé tội nghiệp đứng chết lặng trong đó, gã chửi toáng lên và đòi cậu kia phải bước ra ngoài.
Gã nói, Mày đừng hòng thoát khỏi tay tao. Mày không có quyền chiếm dụng một chỗ của người da trắng. Ra ngay không ông phá cửa.
Cậu kia nói, Đi đi.
Gã say bắt đầu nện cửa.
Rồi cũng có lúc mày phải ra con ạ. Tao đợi xem mày...
Cậu bé khốn khổ nói, Tôi có làm gì ông đâu.
Cậu thật không hiểu, tại sao chẳng có một ai trong phòng rửa mặt có chút lòng tử tế làm dịu gã say và đem gã đi chỗ khác, và rồi cậu nhận ra mọi người phút chốc đã lánh biến khỏi phòng rửa mặt. Tệ thật.
Cậu nói, Đi đi.
Gã say chửi lại và nện ầm ầm.
Sau cánh cửa, cậu bé từ bi thương đã biến thành giận dữ. Cậu bắt đầu run lên bần bật, không phải vì sợ gã cuồng kia mà là sợ chính cái giận đang sôi lên trong lòng mình. Cậu rút dao trong túi ra, và bật lưỡi sắc loang loáng. Cậu nắm con dao chặt đến nỗi các móng đâm lún sâu vào lòng bàn tay.
Cậu nói chắc nịch, Đi đi, tôi có dao đấy. Tôi hết chịu nổi và không muốn lôi thôi gì nữa.
Gã say nói, Tao là một người Mỹ, hai mươi bốn tháng ngang dọc chinh chiến trên sa trường châu Âu, bị thương hai lần, một ở chân một ở đùi. Tao không việc gì phải đi đâu cả, tao sá gì phải sợ bất cứ một thằng nhãi ranh da vàng nào có dao. Thằng Phi kia, ra đi, tao là...
Cậu kia nói một cách khẩn khoản, Xin ông đừng gây sự.
Cậu còn nghe cả tiếng máy tàu rầm rập, khác nào cơn giận của cậu đang dồn lên. Cái cảm giác bị hạ nhục, bị săn đuổi vòng quanh, ngột ngạt trốn chui trốn nhủi, và giờ đây nó ứ đầy lên cái ước muốn được thông thoáng tự do, cho dù phải giết người đi nữa.
Cậu cửa, cố chạy vượt qua gã say, tay lăm lăm con dao, nhưng gã say chộp được cổ tay và hất cậu té ngược lại. Tay áo cậu rách toạc, cậu liền quay người và ấn dao vào hông gã say, cảm thấy như lưỡi dao đang lạo xạo trúng xương sườn. Gã say kêu thét lên đoạn tóm lấy cổ họng cậu, và cậu bé bắt đầu thọc dao lia lịa vào hông gã, như một võ sĩ quyền anh đấm móc vào bị cát vậy.
Khi gã say không còn sức để nắm cổ nữa, đổ sụp xuống sàn, cậu bé ùa chạy khỏi căn phòng, tay vẫn cầm dao, máu rỏ từng vệt, mũ cậu đâu mất, tóc tai bù xù, tay áo rách bươm.
Mọi người đều biết cậu đã làm  gì, nhưng chẳng ai động đậy.
Cậu bé chạy về phía trước tàu, kiếm một lối đi, rồi chạy trở lại một góc, chẳng ai dám nói với cậu, nhưng hết thảy đều biết tỏng tội ác của cậu.
Không một nơi lẩn trốn, và trước khi nhân viên tàu kịp đến, cậu bỗng dừng lại và hét tướng vào đám đông.
Cậu nói, Tôi đâu có muốn đả thương ổng. Tại sao các cô bác không ngăn ổng lại giùm? Rượt đuổi một con người như đuổi chuột không bằng, như thế coi sao được chớ? Cô bác biết là ổng say quá đi mà. Tôi không muốn đả thương ông ấy chút nào, nhưng ổng không để tôi yên, ổng  xé áo và định bóp cổ tôi. Tôi đã nói rồi, nếu ổng không tránh ra tôi sẽ giết ngay. Khổ quá, đâu phải lỗi tại tôi. Tôi phải gấp đi  Oakland để thăm anh tôi đang bệnh nặng. Đời thuở nào lại đi gây sự khi mà anh mình đang đau chứ? Tại sao các cô bác không ngăn ông ấy lại giùm cho?
Và một niềm im lặng dâng lên, đắng cả lòng.
0
CON GÁI NGƯỜI CHĂN CỪU
Bà ngoại tôi, LucyGaroghlanian, kết hôn với Bitlis Saroyan hơn một trăm năm trước , dù bà không được học hành gì cả, nhưng là một người kể chuyện hết sức duyên dáng và hấp dẫn. Đây là một trong những  truyện nhỏ có lần bà kể cho nghe. Tôi gắng viết một phần nào những truyện do bà và những huynh trưởng, những cô chú bác trong họ tộc kể cho nghe, dù vậy cho đến nay cũng không sao viết hết được, tôi cứ tiếc mãi vì sự thất tán miên viễn đó
 
Đó là chính kiến của bà tôi, lạy trời phù hộ cho bà, rằng tất cả mọi người đều phải lao động. Vừa rồi, tại bàn ăn, bà nói với tôi, Cháu ạ, cháu cần phải học một việc gì, làm một đồ vật gì có ích cho con người, bằng đất sét hay bằng gỗ, bằng kim loại hoặc vải vóc các thứ. Một người trẻ chẳng nên không biết đến một nghề thủ công đáng quý. Cháu làm được gì không? Một cái bàn sơ sài, một cái ghế, một cái đĩa dung dị, một tấm thảm hay một bình nước, cháu có làm được không?
Bà nói, Bà biết và nghe đâu cháu là một nhà văn, bà cũng tin và nghĩ rằng cháu hẳn là nhà văn gì đó. Chắc chắn là cháu hút đủ thứ thuốc để nặn óc sinh thành ra một cái gì, và cả nhà thôi thì mù mịt khói, nhưng dù gì đi nữa thì cháu cũng phải học tập làm một vật dụng gì xác thực, có thể dùng được, thấy và sờ chạm được.
Bà tôi kể, Có một ông vua Ba Tư, ông có một con trai, gọi là hoàng tử, và chàng trai phải lòng con gái người chăn cừu. Chàng đến trước vua cha để tâu trình, Thưa phụ vương, con yêu con gái người chăn cừu, và con xin cưới nàng làm vợ. Đức vua nói, Ta là vua và con là hoàng tử, đến khi ta băng hà thì con sẽ nối ngôi lên làm vua, vậy thử hỏi làm sao con có thể đi lấy con gái của một gã chăn cừu cho được? Người con nói, Thưa phụ vương, điều đó con chưa nghĩ đến nhưng con biết rõ là con yêu cô gái này và con ước ao đón nàng về làm hoàng hậu sau này.
Ông vua cảm thấy rằng mối tình của con trai ông với cô gái là do trời định, và ông nói, Được rồi, ta sẽ trao tin đến cho nàng, rồi ông truyền sứ giả đến và hạ chỉ, Hãy đến với con gái người chăn cừu và nói rằng, con trai ta yêu nàng và sẽ cưới nàng về làm vợ. Vị sứ giả đến gặp cô gái và nói, Hoàng tử, con trai đức vua, yêu cô và tỏ lòng muốn lấy cô làm vợ. Và cô gái hỏi, Chứ chàng lao động việc gì? Vị sứ giả đáp, Ngài là hoàng tử, con vua, đâu cần phải lao động. Và cô gái nói, Chàng phải học một việc tay chân nào đó mới được.
Vị sứ giả trở về gặp nhà vua và đạo đạt lại ý nguyện của con gái người chăn cừu.
Nhà vua bảo con trai, Con gái người chăn cừu muốn con học một nghề thủ công nào đó. Con vẫn còn muốn cưới nàng làm vợ đấy chứ? Và chàng trai nói, vâng, con sẽ học dệt thảm rơm. Và chàng được dạy học dệt thảm rơm, theo mẫu và màu vẽ trang trí có sắn. Ba ngày sau chàng dệt được một tấm thảm rơm tuyệt đẹp, và vị sứ giả trở lại nhà cô con gái người chăn cừu, và nói, Những thảm rơm này là công trình lao động của hoàng tử đấy.
Và cô gái theo sứ giả về cung vua, nàng trở thành vợ của hoàng tử.
Bà tôi kể tiếp, Một hôm, hoàng tử tản bộ qua các đường phố Baghdad, tình cờ thấy một tiệm ăn sạch sẽ và tươi tắn xinh đẹp, nên chàng vào tiệm và ngồi xuống bàn.
Chỗ này, bà tôi nói, là sào huyệt của bọn cướp cửa giết người, và chúng liền ra tay bắt cóc hoàng tử, nhốt vào ngục tối cùng với nhiều danh gia vọng tộc trong thành phố, bọn chúng  giết những người béo mập, lấy thịt nuôi những người gầy yếu, và coi đây như một trò giải tri ưa thích nhất. Hoàng tử thuộc tạng người gầy, và vì không biết chàng là con vua Ba Tư, nên chúng chỉ nhốt mà không hành hạ gì chàng. Chàng nói với bọn sát nhân, Tôi là thợ dệt thảm rơm, thảm tôi làm được giá lắm. Vậy là chúng đem rơm cùng các thứ đến và bảo chàng làm việc. Chỉ trong ba ngày, cho chàng dệt được ba tấm, và chàng nói, Hãy đem những tấm thảm này đến cung vua Ba Tư, nhà vua sẽ trả cho các ông mỗi tấm một trăm đồng tiền vàng. Thế là chúng đem thảm đến cung vua, và khi nhà vua nhìn thấy tấm thảm, ông nhận ra ngay đó là tác phẩm của con trai mình, ông bèn đem đến cho con gái người chăn cừu, và nói, Chúng đem những tấm thảm này đến cung điện của ta, ta nhận ra ngay đó là do con trai ta làm ra, mà nó thì đang mất tích. Con gái người chăn cừu lấy từng tấm ra xem thật kỹ, nàng thấy nơi hình vẽ, cạnh những chữ Ba Tư có một mật hiệu riêng của chồng nàng, và nàng thuật lại cho vua cha nghe.
Bà tôi nói, Nhà vua bèn điều động binh lính đến sào huyệt bọn cướp, giải thoát cho tất cả mọi người, tận diệt kẻ hung tàn, và hoàng tử được đưa an toàn về cung điện, về với vua cha, và vợ, cô con gái nhỏ của người chăn cừu.
Khi hoàng tử bước vào cung điện gặp lại vợ hiền, chàng tự hạ mình trước nàng, và nói, Yêu  dấu ơi, nhờ nàng mà ta được sống sót, vua cha rất hài lòng với con gái người chăn cừu.
Bà tôi nói, Giờ thì cháu đã thấy là tại sao mọi người phải học lấy một nghề cao quý chưa?
Tôi nói, Cháu thấy rõ lắm bà ạ, và ngay khi kiếm được đủ tiền để mua một cái cưa, một cái búa, và một tấm ván, cháu sẽ cố hết sức để đóng một cái ghế sơ sài, một cái kệ sách hay bất cứ một cái gì khác, được vui mắt bà hơn.
0
TUYÊN NGÔN CỦA MỘT NHÀ VĂN
Đây không phải là một truyện ngắn, mà là lời bạt cho một tuyển tập truyện ngắn. Tôi để nó ở phần cuối sách vì tôi tin rằng, đó mới thực sự đúng chỗ của nó. Nó sẽ tự nói cho chính nó.
 
Vào ngày mười lăm tháng mười, năm 1934, cuốn sách đầu tay của tôi được ra mắt: Chàng Tuổi Trẻ Gan Dạ Trên Chiếc Đu Bay, Và Những Truyện Ngắn Khác. Năm 1934, nghe có vẻ gần lắm, nhưng thực sự thì đã hai mươi năm qua rồi, giữa thời điểm tôi đang viết những dòng này. Quá nhiều những biến cố và sự kiện xảy ra trong thế cuộc và cho đời riêng tôi.
Tôi chẳng thể kiếm được một đồng nào với các công việc gì khác hơn là viết lách. Tôi viết đủ các thể loại, nào truyện ngắn, kịch, tiểu luận, điểm sách, phê bình linh tinh, thư từ riêng chung các loại, và  cả viết ca khúc nữa.
Những gì tôi viết ra hoàn toàn không theo một mệnh lệnh hay ước hội nào cả, cũng không phải vì hơi hám đồng tiền nó làm cho mê muội, cho dù phần lớn những gì tôi viết ra đều kiếm được khá tiền. Nếu một ông chủ bút tỏ ra ưa thích một thể truyện ngắn nào đó mà tôi đã viết, ông có thể mua nó, nhưng nếu ông chỉ gợi ý hay đề nghị tôi viết lại một vài phần trong đó, tôi từ chối ngay. Chả ai lại đi làm như vậy bao giờ. Một vị chủ bút nọ có lần đã tự tiện xào nấu lại một bài tôi viết về Giáng Sinh, và tác giả một cuốn sách về ẩm thực mà tôi đã viết cho Lời Tựa miễn phí, không lấy tiền, lại còn vẽ vời thêm thắt mấy hàng để biến tôi thành một chiến sĩ ái quốc. Tôi phản đối kịch liệt vị chủ bút lẫn tác giả sách ẩm thực kia, nhưng dĩ nhiên thì sự cũng...đã rồi!
Suốt cả thời kỳ Thế Chiến thứ hai, tôi không hề viết một loại văn tuyên giảng nào cả, mặc dù nhiều lần họ mời tôi cộng tác. Đó cũng là điểm chính yếu khiến tôi vẫn là một nhà văn Mỹ hoàn toàn độc lập và tự do, suốt hai mươi năm nay.
Hai mươi năm, tôi coi đó như là một nửa trước của đời viết văn và xuất bản của tôi, và hai mươi năm tới đây sẽ là một nửa sau. Lúc đó vị chi tôi sáu mươi sáu tuổi, có thể là già lắm, cũng có thể là không.Hy vọng trong hai mươi năm tới, tôi sẽ sáng tạo được nhiều hơn hai mươi năm trước, cho dù tôi khởi sự với quá nhiều trắc trở. Trước tiên là tôi nợ thuế lút đầu, đến nỗi không thể san bằng con số bằng nghề viết được, trong khi còn có những trách nhiệm tinh thần, cá nhân và tài chính khác nữa.
Tôi chưa từng được trợ cấp, chưa nhận các món tiền có dính dáng đến một giải thưởng văn chương nào cả, tôi chưa từng được cấp dưỡng, và cũng không bao giờ nhận phụ cấp hoặc quyền lợi gì ráo. Một hai năm, sau khi cuốn sách đầu tay của tôi được xuất bản, bạn bè thúc giục tôi nộp đơn xin học bổng Gugenheim. Vạn bất đắc dĩ tôi phải nộp, không phải là cố tình cầu may mà là vì hoàn cảnh. Chả hạn, làm sao tôi biết tôi muốn viết gì? Có lẽ tôi không sao diễn tả ra cho được. Đơn xin bị bác, và tôi thở phào nhẹ nhõm.
Nợ nần lút đầu, và tôi hy vọng sẽ trang trải bằng nghề viết, hoặc không gì cả. Tôi không có trương mục tiết kiệm, không cổ phần, không trái phiếu, chẳng bất động sản cũng không bảo hiểm hay tiền mặt và tài sản để có thể chấp được một số tiền ích dụng chẳng hạn. Tôi chỉ có thân trần, chen vai thích cánh để sống. Tôi kể những việc đó một cách bình thường, như những sự kiện tự nhiên chứ không để gây thiện cảm. Tôi chẳng muốn thiện cảm gì cả.
Phải như bản tính của tôi thực tế một chút, thì giờ đây hẳn đã biết cái mà người ta gọi là bảo đảm tài chánh. Tôi thiết nghĩ, sự bảo đảm đó cũng chả có gì là xấu, nhưng tôi thích một sự bảo đảm khác hơn. Tôi thích nhìn nhận cái sự thật rằng tôi phải viết, và rằng tôi viết được.
 
Tôi phung phí phần lớn tiền tôi kiếm được bằng nghiệp văn chương, lại còn thua bạc một số vốn đáng kể. Hình như bản tính tôi là phung phí và cờ bạc. Tôi cũng cho đi một ít, có lẽ là một con số lớn. Chẳng phải tôi không biết cái ý nghĩa của nó, hiềm ngặt một điều là mỗi khi trong túi rủng rỉnh ít tiền là tôi cảm thấy ngứa ngáy khó chịu và có một động lực bắt tôi bằng cách này hoặc cách khác phải tống khứ nó ra. Tôi nghĩ rằng tôi đã cảm nhận ra cái cần thiết của đời mình, cần thiết chỉ là một nhà văn thôi, một nhà văn viết, chứ không phải một thành công theo kiểu cách nào khác.
Cái khả năng hay động lực vơ vét tiền nong, đối với tôi hình như luôn luôn là điều rối rắm, nếu không nói là đáng tởm. Thế nhưng tôi rất nể mặt những kẻ thành thạo vơ vét, bằng những phương tiện hợp pháp, biết lao vào đúng lúc các khu vực làm tiền mới và sinh lợi, chẳng hạn như đầu tư, bất động sản, phát minh, dầu hoả, các quặng mỏ, các khế ước chính phủ, ủng hộ kịch trường, chế tạo, và tìm kiếm thị trường...Sự khôn lanh đáng chú ý của những kẻ đó luôn luôn làm tôi thú vị, ngay cả khi kể bị lường gạt lại chính là....tôi. Chẳng hạn, như khi còn ở trong quân đội, giữa mùa đông tuyết giá Ohio, một ông rất giàu, còn trẻ, có nhiều khả năng làm tiền, và không ở trong quân ngũ, bay từ New York ấm áp đến Ohio băng giá để bàn cãi với tôi về các thứ loại văn chương thơ phú, về một vài chi tiết mà ông ta thấy cần sửa đổi trong một vở kịch của tôi mà ông đã lỡ ứng trước một ngàn đô. Tôi gặp ông trong giờ nghỉ, ông ta làm mất nhiều thời gian quý hiếm của tôi bằng cách thuyết giảng huyên thuyên từ đầu đến cuối. Ông nói vòng vo tam quốc khiến tôi lùng bùng lỗ tai, rồi bỗng nhiên tôi chợt nhận ra điều ông muốn nói mà dù cho có nói mãi cũng không sao nói ra được là, ông cảm thấy vở kịch chắc sẽ không được ăn khách cho lắm, và nếu mất toi một ngàn đô thì cũng...kỳ lắm. Điều này không làm tôi ngạc nhiên. Tôi cầm tờ ngân phiếu một ngàn, đến khách sạn ông đang ở, để trên bàn và viết lại vài chữ. Tôi chỉ muốn thử xem điều mình nghĩ cảm có đúng vậy không. Và quả vậy thật. Chúng tôi lại hẹn gặp nhau vào tối hôm sau. Gặp để dứt điểm và không còn trông thấy nhau nữa. Ông ta nhẹ nhõm bay về New York với tờ ngân phiếu, và chúng tôi bặt tin nhau như một thoả thuận ngầm. Chẳng có lý do pháp lý hay đức lý gì buộc tôi phải hoàn trả lại tờ ngân phiếu. Lý do duy nhất chỉ bởi tôi không sao chịu nổi khi thấy ông quá đau khổ vì số tiền nhỏ đó, đau khổ đến buộc ông ta phải đóng giả, đóng dở vai trò một người chỉ vì quá yêu và hết sức quan tâm đến nghệ thuật.
Tại một trong những hãng phim lớn nhất Hollywood, khi tôi khám phá ra rằng tôi bị thiệt thòi, bị lừa bịp trong một chuyện làm ăn. Tôi tìm gặp nhóm người đã dàn cảnh ra vụ lừa mị khôn ranh đó, tôi nhận ra chân tướng họ và tôi bỏ đi, lái xe một mạch về San Francisco. Vài năm sau, tôi còn được biết thêm rằng mình đã bỏ lại số lương còn thiếu theo điều khoản của bản khế ước bịp bợm đó gần mười ngàn đô la. Biết vậy, nhưng tôi chẳng bao giờ bận tâm tra xét. Hãng phim và những ông chủ hưởng lợi, vơ vét hàng triệu bạc, làm việc cần mẫn và có lợi cho chính phủ về những loại phim tầm phào rẻ rúng, thế mà sáu bảy ông điều khiển lại thấy tuyệt đối cần thiết phải hành động nhất trí với nhau để đánh lừa tác giả một truyện mà họ mong muốn ghê lắm, để nhờ đó họ tóm thâu thêm ba hay bốn triệu nữa. Tôi không hiểu họ đã dùng tiền ấy để làm gì, nhưng tôi chắc họ đã tiêu xài một cách cẩn mật và vô ích.
Trước khi có sách được xuất bản, tôi không phải là một tay uống rượu, nhưng chả mấy lúc sau, tôi khám phá ra cái minh triết của ẩm chác, và tôi cho đó là một cái gì cũng đáng cứu xét lắm chứ.
Năm 1935, khi đi Âu châu lần đầu, tôi uống cũng vừa phải thôi, nhưng chín năm sau đó, cho đến khi nhập ngũ, tôi uống thả cửa, uống đều đều mỗi lần chín mươi tiếng đồng hồ.
Tuy vậy, tôi ít khi say bí tỉ. Tôi khoái cái thú uống và nói chuyện ồn ào với các bạn bè, những văn sĩ, họa sĩ, điêu khắc gia, nhà báo và đàn bà con gái mà chúng tôi quen ở San Francisco.
Chè chén với bạn tốt có thể là điều hay cho một nhà văn, nhưng xin nhà văn lưu ý cho lời cảnh báo khiêm nhượng và có lẽ thừa thãi này: đừng nốc thêm nữa khi uống đã có xu hướng chính nó trở thành mục đích, vì đó là một mục đích vô ích. Tôi tin tôi học hỏi được nhiều trong khi uống với bạn bè, cũng như hầu hết chúng ta thường nói rằng, chúng ta học hỏi được nhiều trong khi ngủ. Tuy nhiên, một giới hạn có thể nhận ra của những cái mà ta học hỏi được bằng cách uống. Uống vừa đủ cho niềm khinh khoái và cảm hứng giữa lòng nhân thế.
Trong những gì tôi đã viết ra suốt hai mươi năm qua, tôi có hối tiếc gì không?
Không gì cả. không một chữ.
Tôi viết có đủ không?
Không. Không một nhà văn nào đã viết đủ cả.
Lẽ ra, phải chăng tôi nên viết khác đi? Một cách thông minh hơn, chẳng hạn?
Không.
Trước hết, tôi luôn luôn cố gắng hết sức, theo như tôi hiểu chữ cố gắng. Thứ đến, tôi tin rằng lúc nào mình cũng thông minh.
Thế còn cái lý lẽ của một số nhà phê bình và cả độc giả cho rằng, tôi viết không thực tế và tình cảm quá, thì sao?
Chà chà, tôi cho là họ lầm. Vì với tôi, viết ra những gì có hiệu quả tôi thấy chẳng có gì là phi thực cả. Còn như việc viết lách của tôi, tôi cho là luôn luôn thực tế. Tôi cũng chẳng tin là văn cách của mình lại tình cảm quá đáng, cho dù con người là một sinh vật nhiều cảm tính.
Khi viết những dòng này, tôi đang trở về San Francisco, nơi tôi từng sống khi cuốn sách đầu tiên được xuất bản, nơi tôi rời bỏ đã sáu bảy năm trời. Tôi lái xe tạn vùng Malibu để về thăm lại căn nhà trên bãi biển đang được sơn phết chỉnh trang. Tôi sẽ đến nhưng chưa vội về ngay San Francisco nhân kỷ niệm năm thứ hai mươi, ngày xuất bản cuốn sách đầu tay. Tôi tản bộ khắp các miền lân cận, nhìn lại lần nữa những nơi chốn, thôn ổ mình đã gửi thân, 384 đường Karl, 1707 Divisadero, 2378 Sutter, 123 Natoma và các nơi tôi làm việc trước khi có truyện được đăng trên một tạp chí phổ  biến khắp nước, các chỉ sở bưu điện, các hàng chợ, các khách sạn, nhà hát...tôi sung sướng  lắm, cảm động và hãnh diện vì đã lui tới hay làm việc ở những nơi trên, thuở còn trai tráng.
Hôm qua tôi đi bộ qua Crystal Palace Market và thăm lại chỗ có lần tôi đẩy khoai và cà chua, gian hàng Fiore d'Italia.
Tôi vào cao ốc ở Market và Six, nơi đặt văn phòng của hãng mai táng Cypress Lawn Cemetery Company. Tôi cũng có làm việc ở đó ít lâu.
Có lần, ông phó chủ tịch nói, Anh có định làm cho Cypress Lawn suốt đời không.
Tôi nói, Dạ có.
Và tôi làm việc.
Một tháng sau tôi xin thôi, nhưng làm việc ở đó cũng là một kinh nghiệm đáng giá. Tôi nhớ, tuần lễ Giáng Sinh đến và ông Phó than phiền một cách chua chát rằng, Vì không có dịch cúm nên năng suất của hãng trong tháng chạp đã giảm thấp hai mươi phần trăm so với năm ngoái.
Tôi nói, nhưng rồi mọi người sẽ bắt kịp thôi chứ?
Ông Phó nâng cặp mục kỉnh lên trán để nhìn tôi lần nữa.
Tôi nói, Tôi là nhà văn, nhà văn chưa in sách.
Ông bảo tôi đọc vài khẩu hiệu do ông sáng tác cho công ty, chẳng hạn: Chôn cất tại đây, ngắn ngày ít tốn.
Tôi nói ông ta có năng khiếu.
Tôi đi dọc theo đường Embarcadero đến nhà kho Dodd, bên kia bến 17, nơi tôi đã từng làm việc khoảng một tháng. Lương hướng đem được về nhà cũng chẳng bao nhiêu, công việc ở đó có phần rắc rối vì những cuộc chơi đổ  xúc xắc của các phu phen bến tàu. Tôi quen với một người da đen to lớn, ông thường đứng tụ nhà cái, tên là Doughbelly. Ông để lòng ưu ái chăm sóc tôi. Hôm qua tôi thả bộ qua đó, và hầu như còn nghe tiếng ông già to khoẻ gọi điểm cho trò chơi, và tôi nhớ như in là mỗi khi ông không thấy tôi chen vai chơi trò đen đỏ, ông đoán trúng phóc là tôi bị cháy túi, ông liền ném cho tôi mấy đồng để có thể nhập cuộc cho đỡ tủi thân. Trên một phố cận biển, dưới ánh mặt trời ấm áp mà có chút tiền ngồi đổ xúc xắc suốt thì thật là không gì tuyệt thú cho bằng.
Có lần, tôi tránh không chơi trong ba ngày, hy vọng có dư được vài đô trong hầu bao để tiêu pha những đêm cuối tuần. Doughbelly cứ dọ hỏi mọi người mãi, xem tôi có hề hấn gì không. Mấy cha có thấy thằng bé người Abyssinian đâu không?
Tôi trốn vào trong kho hàng, vừa ăn săng uých vừa đọc Jack London.
Chính là ở số 348, đường Karl này, hai mươi năm trước cũng vào ngày 13 tháng mười này, tôi hồi hộp mở gói bưu phẩm nhà xuất bản Random gửi đến, và thấy một bản đặc biệt cuốn sách đầu tya của tôi. Thật là một giây phút kỳ diệu. Tôi xúc động đến nỗi không sao vấn được một điếu thuốc Bull Durham. Vấn đi vấn lại phải ba lần mới xong, và ngồi ghếch chân lên bàn, phì phà một cách hơi điên điên trong khi tôi quan sát cái phẩm vật nghệ thuật (và cũng là cái hoá phẩm phi lý) gần như không thể nào tin được. Một cuốn sách mới lạ làm sao, cái bìa sặc sỡ duyên dáng làm sao, những con chữ thơm tâm hồn kỳ ảo làm sao, cả tấm ảnh chân dung cũng mới lạ làm sao. Bây giờ ta thử ngắm và nghía những người đàn bà xumg quanh ra sao. Vì thực ra, một nhà văn trẻ quả có viết để mong những người đàn bà đẹp vây quanh.
Nhưng than ôi, những người đàn bà vây quanh lại thường không được đẹp cho lắm. Đó là một bí mật vẫn tiếp tục làm cho tôi điên đầu. Đàn bà đẹp vây quanh những tên béo phệ, làm áp phe vặt. Họ sấn tới những gã sửa sắc đẹp chỉ thích khoe mẽ về mình. Họ xum xoe quanh những tên ăn mặc bóng loáng, sống lông bông vô công rồi nghề, bỏ phí hàng giờ để tán dóc những chuyện tầm phào, nhạt nhẽo.
Đàn bà đẹp bu quanh hết thảy mọi người, trừ nhà văn.
Đàn bà mộc mạc, thông minh cũng có bu quanh nhà văn.
Nhưng không phải chỉ vì muốn có đàn bà đẹp bu quanh mà tôi vội in cuốn sách đầu tiên. Tuyệt nhiên không phải chỉ vì vậy.
Tôi cũng có ý muốn làm cách mạng văn chương Mỹ.
Vào đầu những năm ba mươi, chữ "cách mạng" được phổ cập lắm và hoàn toàn đáng kính trọng. Một cuộc thăm dò dư luận để đo lường sự thành công của tôi trong văn chương cận đại Mỹ và nếu cho rằng tác phẩm của tôi chẳng có tí ảnh hưởng gì tới nền học thuật này thì thật là bất công và sai lầm. Phiền một nỗi, phần lớn tác phẩm của tôi ảnh hưởng tới các nhà văn chưa và vẫn chưa xuất bản, và để đo lường thứ ảnh hưởng đó đòi hỏi nhiều tưởng tượng và táo bạo. Một số đã có sách xuất bản , cũng biểu hiện một xu hướng chịu ảnh hưởng trên chữ nghĩa của tôi, bằng sự bắt đầu cải thiện hầu như lập tức và không phải chỉ nhận thấy trong thể truyện ngắn, mà ngay cả trong tiểu thuyết, kịch và trên điện ảnh nữa.
Việc viết lách của tôi có cái gì khả dĩ có lợi ích cho văn chương, nói chung?
Tự do.
Tôi nghĩ là tôi đã chứng tỏ nếu ta có một nhà văn, có tác phẩm, và chính nhà văn quan trọng hơn tác phẩm của hắn nhiều – trừ phi khi hắn ta tự bỏ ngang, hoặc là nửa đường đứt gánh, chết.
Vì vậy, nếu bạn đã là nhà văn, bạn không cần phải tự tử mỗi khi bạn viết xong một truyện ngắn, một vở kịch hay một cuốn tiểu thuyết.
Nhưng tại sao tôi lại muốn làm cách mạng văn chương Mỹ chứ?
Tôi phải cách mạng, vì tôi không thích việc đó, thế nhưng lại muốn cải thiện lộ trình trước mặt.
Và tại sao là một nhà văn tôi lại không sẵn lòng tỏ vẻ trịnh trọng? Chẳng lẽ tôi không thừa biết rằng nếu tôi không ra vẻ nghiêm nghị một chút thì các nhà phê bình lớn sẽ ngại viết về tác phẩm của m`inh sao? Biết quá đi chứ. Nhưng tôi không thể, chỉ vì cảm thấy chẳng có gì đáng phải trịnh trọng cả. Tôi không nên như thế chút nào, vì ra vẻ nghiêm trang chỉ là chiếc bóng biến tướng của hợm hĩnh. Một số nhà văn có bản tính trịnh trọng, nghiêm trang hay hợm hĩnh, nhưng như thế không có nghĩa là hẳn nhiên họ cũng vĩ đại, hoặc có thực tài.
Chẳng hề có chút liên hệ huyền bí nào giữa trịnh trọng và văn chương vĩ đại. Một vài nhà văn vĩ đại trịnh trọng lắm, nhưng phần đông hầu như họ chả có trịnh trọng tí nào. Họ có một cái gì khác.
Đời sống điều khiển thế gian, đời sống tự do bình thường. Những người sống vô danh kể chuyện đời họ mỗi ngày, với sự trợ giúp của những nhà văn chuyên nghiệp hay tài tử, nhưng người kể chuyện vĩ đại nhất của tất cả chúng ta là thời gian và sự biến dịch, hoặc là sự chết. Nhưng chết chưa phải là tận vong cũng không phải là kẻ thù của chúng ta. Nó là quà tặng quý báu cho chúng ta sau khi chào đời, và là bạn tốt nhất của chúng ta, sau chân lý.
Tôi trở lại San Francisco vào dịp kỷ niệm lần sinh nhật thứ hai mươi, ngày xuất bản cuốn sách đầu tiên của mình – bắt đầu đời sống nhà văn, là một sức mạnh trong sinah hoạt, như một đại diện được bầu lên từ cái ngã- vô-danh của tôi, cũng như của tất cả những người khác mà nguyện vọng của họ tương tự với nguyện vọng của tôi – sống một cách sáng tạo, sống một cách vẻ vang, tận lòng tận sức mà không phải mưu hại ai, hân thưởng thân phận con người, không sợ chết cũng chẳng sợ bất tử, yêu mến những kẻ điên dại và thất bại hơn cả những người khôn ngoan và bậc thánh nhân, chẳng qua những hạng người trên có nhiều hơn, tin tưởng, hy vọng, làm lụng, và sinh hoạt như thế một cách trào lộng.
Chấp nhận, chứ không nói lời phủ nhận.
Tôi có lời khuyên gì đối với các nhà văn mầm non?
Chả có gì cả, vì thực ra chẳng có ai là mầm non hay mầm già, nhà văn là nhà văn, không cần khuyên răn và cũng chẳng phải kiếm lời khuyên răn làm gì.
Thế còn những giờ dạy viết văn ở trung và đại học thì sao?
Vô bổ, hoàn toàn vô bổ.
Nhà văn là một kẻ vô chính phủ trên phương diện tâm linh cũng như tận sâu thẳm linh hồn của hắn. Hắn bất mãn với mọi sự và mọi người. Nhà văn là bạn thiết, cũng là kẻ thù thực sự và duy nhất – kẻ thù lương thiện và vĩ đại – của con người. Hắn không đi với quần chúng và cũng không a dua hô hoán với họ. Một nhà văn đúng nghĩa một nhà văn là, một kẻ nổi loạn không ngừng. Hắn không hơi đâu tuân theo một phép tắc nào. Ngay cả nghỉ ngơi và ngủ ngáy cũng vậy, chẳng giống ai. Khi chết, có lẽ hắn cũng sẽ chết như những người khác, nhưng khi còn sống hắn sống khác với mọi người, cũng không giống bất cứ một nhà văn nào. Nhà văn đúng như một nhà văn, cũng là một tên ngu nữa. Hắn là kẻ dễ bị xem thường ,dễ bị chế giễu, bị bỏ rơi, và dễ bị khinh thị nhất. Điều đó cũng dễ hiểu và cũng phải vậy thôi. Nhà văn cũng hơi điên một chút, nhưng lại sáng suốt hơn ai hết, một sự sáng suốt bậc nhất, sự sáng suốt sống động, sáng tạo, can đảm, vô uý, và ngạo mạn của một con người tự do. Tự do bát ngát.
Tôi là một nhà văn đúng nghĩa một nhà văn, như tôi đã là hai mươi năm nay, và hy vọng sẽ là như vậy, hai mươi năm tới.
Tôi đến đây, quyết định ở lại đây như bao người trong thiên hạ. Tôi không cần phải làm oai làm phách với ai hết. Biết và tin vậy, nhà văn chân chính phải liều liệu giữ sức khoẻ cho mình được thư thái, và viết tác phẩm càng lúc càng tinh vi, có khí sắc và đầy tình thương hơn.
Tôi hãnh diện về hai mươi năm qua của tôi, dù không màu mè gì lắm. Tôi hãnh diện là một nhà văn, nhà văn như đã, và tôi chẳng cần phải biết người khác hãnh diện về cái gì nữa.
 
HẾT
0


Đã mang vào thư viện

Cảm ơn tumbleweend đã góp sức cho thư viện

Chúc tumbleweed luôn vui




📎 chauhoa
0
«« « 1 2 » »»