📢 Diễn đàn Việt Nam Thư Quán đã hoạt động trở lại! Xem chi tiết »

Diễn Đàn » Thơ Sáng Tác

Tập làm sử Việt Nam qua thơ!( phần một)

0 trả lời, 1.065 lượt xem — Trang 1 / 1
 
"Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gôc tích nước nhà Việt Nam":
KỶ HỒNG BÀNG THỊ
(2879-258 tr CN)
Kế sau trời đất mở mang
Kinh Dương Vương họ Hồng Bàng dựng nước.
Long quân nối đời vua trước
Lấy Âu Cơ mà sinh được trăm con.
Năm mươi theo mẹ lên non,
Năm mươi xuống biển đều con tiên rồng.
Dựng nên nước Việt –Lạc hồng
Văn Lang – quốc hiệu vua Hùng đặt ra.
Nước chia các bộ gọi là:
Chu Diên, Giao Chỉ rồi là Cửu Chân
Lục Hải, Cửu Đức, Bình Văn
Văn Lang, Vũ Định, Hoài Hoan, Việt Thường
Ninh Hải, Phúc Lộc, Tân Hưng
Dương Tuyển rồi đến sau cũng Vũ Ninh.
Châu Phong là đất đóng kinh (*1)
Lập nên phong tục xăm mình, nấu xôi…
Đặt ra quan tướng các nơi
Lạc hầu, Lạc tướng trông coi cơ đồ.
Bấy giờ trời đất hoang sơ
Nên còn nhiều việc mơ hồ khó tin
Như Sơn Tinh với Thủy Tinh
Đánh nhau chỉ để tranh giành Mị nương
Chẳng qua dân nước "Việt Thường"
Đắp đê chống lũ lấy đường sinh nhai.
Rồi như câu chuyện thứ hai:
Thiếu niên Phù Đổng đánh loài xâm lăng
Cũng là truyền thuyết không bằng
Thôi thì chép lại để tăng tự hào.
Truyền nhau ngự ở ngôi cao
Tiếc rằng đức của vua sau không nhiều
Bỏ bê việc chính, việc triều
Ham mê tửu sắc sớm chiều say sưa.
Trải qua mười tám đời vua
Thục vương đến đánh thì thua cơ đồ.
Hai ngàn năm mở cõi bờ
Nhân dân trong nước mãi thờ công lao.
KỶ THỤC VƯƠNG
(257-208 tr CN)
Hùng vương đã đánh cho thua,
An Dương Vương đến,xưng vua xây thành.
Rồi thay quốc hiệu Văn Lang
Đổi sang Âu Lạc, Loa thành định đô.
Cũng còn những chuyện mơ hồ
Kim qui- giang sứ mơ hồ khó tin
Loa thành kia khéo đắp nên
Là do trong nước dưới trên một lòng.
Còn như trong việc bố phòng
Linh Quang thần nỏ e rằng cũng sai
Là do Cao Lỗ có tài
Chế ra binh khí chồng loài nhiễu nhương.
Nhưng rồi thế sự vô thường,
Mệnh trời ai biết tai ương đã thành?!
Tai ương cũng tại điềm lành
Vua vì cậy có rùa vàng sinh kiêu
Vũ bị lơi lỏng ít nhiều,
Lại thêm nhi nữ vì yêu dại khờ,
Cho nên phải mất cơ đồ
Anh hùng một thuở ai ngờ bại vong
Năm mươi năm giữ non sông
Đến giờ thất bại biển Đông gieo mình
Mị Châu khờ dại vì tình
Lí thì đáng trách còn tình đáng thương
Trên đây là kỉ Thục Vương
Đời sau là kỉ Vũ vương Triệu Đà
KỶ NHÀ TRIỆU
(207-111 tr CN)
Vũ vương tên húy là Đà
Nhân nhà Tần loạn thuận đà dấy lên.
Tuy là người ở nước bên
Thế mà trị nước dưới trên một lòng.
Kinh đô đóng ở Phiên Ngung
Cũng là vương giả anh hùng biết bao!
Diệt Âu Lạc bởi mưu cao
Trị dân lấy đức, bang giao hữu hòa.
Xưng Hoàng đế, đánh Trường Sa
Là do quân Hán bức mà ra tay
Bảy mốt năm giữ đất này
Lấy nhân nghĩa dạy dân cày làm ăn
Trồng dâu rồi lại chăn tằm
Nước giàu, binh mạnh, băn khoăn không còn.
Một trăm hai mốt tuổi tròn
Băng rồi để cháu đích tôn thay mình.
Văn vương nối nghiệp trị bình(*2)
Dùng nhân cảm nước láng giềng lui quân,
Biết nghe lời của trung thần,
Là vua có đức nên dân theo về.
Nối ngôi con trường: Anh Tề
Yên vui buông thả bỏ bế chính triều,
Cù hậu người Hán được yêu
Về sau mới có lắm điều tai ương.
Băng rồi đặt thụy Minh vương
Vua hèn trẻ tuổi Ai vương nối dòng.
Bang giao không biết dự phòng
Cho nên nước loạn cả trong lẫn ngoài.
Lữ Gia kể cũng có tài
Nhưng vì cả giận thành loài bất trung.
Không lo giữ nước tới cùng
Gốc nghiêng, rễ đổ, ngọn không vững vàng.
KiếnĐức kế nối ngai vàng(*3)
Một năm chưa đủ đã hàng Hán quân.
Than ôi! Số kiếp người dân
Ngàn năm Bắc thuộc thành thân ngựa lừa.!
Kể bao đau đớn cho vừa
Nước thì đã mất, ngôi vua không còn.
Năm đời chín bảy năm tròn
Sử xanh nhà Triệu không còn ghi thêm.
KỶ THUỘC TÂY HÁN
(110 tr CN-39 sau CN)
Trăm năm nội thuộc nước bên
Trước là Thạch Đái giữ yên đất này.
Kế là Đặng Nhượng sang thay
Dạy cho dân biết kéo cày làm ăn.
Đến khi Tô Định tham tàn
Để dân ai oán tiếng than ngút trời
Bấy giờ nhi nữ ở đời
Hai bà Trưng được lòng người dấy lên.
KỶ TRƯNG NỮ VƯƠNG
(40-42)
Bà Trưng quê ở Mê Linh
Vượt xa nhi nữ thường tình xưa nay.
Đàn bà dễ có mấy tay
Giận quân tham bạo ra tay cứu đời?
Hai bà nhi nữ ở đời
Chị là Trưng Trắc, Nhị thời làm em
Nhân khi cờ nghĩa phất lên
Bốn lời thề ước làm nên cơ đồ:
"Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng (*4)
Bốn cho vẹn vẹn sở công lênh này!"
Anh hùng như thế ai hay
Ba năm chưa đủ đã ngày tai ương.
Mã Viện sang đánh Trưng vương
Toàn quân thua chạy tìm đường tháo thân
Hai bà giữ tiết vương nhân
Bên bờ sông tại Hát Môn trẫm mình
Thác rồi vẫn cứ anh linh
Giúp dân những lúc thái bình về sau. (*5)
KỶ THUỘC ĐÔNG HÁN,
NGÔ, TẤN, TỐNG, TỀ LƯƠNG
(43-540)
Mã Viện đặt lại Giao Châu (*6)
Cột đồng cho khắc mấy câu ác thề (*7)
Dân ta qua đó đi về
Đắp thành gò đống là vì biết lo
Biết mưu giành lại cơ đồ
Tiếc rằng phải đến họ Ngô mới thành.
Trăm năm nước chẳng thái bình
Hán quan vơ vét dân mình đau thương
Ví như mục thú Chu Ngung
Để cho dân phải khốn cùng li tan
Có người cũng thực yêu dân
Chúc Lương, Lí Tiến, Giả Tung thực lòng.
Đến khi Sĩ Nhiếp được phong
Mấy mươi năm ấy hưởng trong thái bình.
Vốn người tư chất thông minh
Khoan dung, độ lượng dân mình đều theo.
Cũng như vương giả ít nhiều
Lễ nghi đầy đủ, lập triều thì không.
Lí Cầm lời nói thật lòng
Mà người đất Việc được dùng làm quan.
Riêng về hai chữ Nhật Nam
Trương Trọng khí khái phát ngôn hào hùng
Vừa lời, lí khéo khôn cùng
Cũng vì thể diện Lạc hồng nước Nam.
Sĩ Huy kế đến làm càn
Lữ Đại thất tín, ôi toàn vết nhơ. (*8)
Đến đời thái thú Tiêu Tư
Bà Triệu khi ấy dựng cờ khởi binh
Chẳng làm nên nghiệp thái bình
Nhưng mà cũng đáng anh linh thánh thần.
Đào Hoàng thái thú yêu dân
Uy quyền, ân huệ đều phân rõ ràng
Chết rồi muôn tiếng khóc than
Cả châu dân chúng để tang tôn thờ.
Trăm năm sau lại mịt mờ
Binh đao loạn lạc dân nhờ cậy ai?
May mà Tuệ độ đại tài
Dẹp yên Lâm Ấp kéo dài bình yên
Là quan phụ mẫu thanh liêm
Cơm rau, áo vải giữ yên thái bình
Ba trăm năm động đao binh
Để cho con đỏ cực hình lầm than.
Đinh Mùi cho đến Canh Thân (*9)
Thuộc Ngô, Tống, Tấn… mấy lần can qua.
KỶ TIỀN, HẬU LÝ NAM ĐẾ,
TRIỆU VIỆT VƯƠNG
(541-602)
Bấy giờ người giỏi nước ta
Anh hùng họ Lý húy là chữ Bôn
Dựng cờ xoay chuyển càn khôn
Tinh Thiều, Triệu Túc… đem quân theo về.
Tiêu tư sợ hãi trốn về.
Dẹp yêu Lâm Ấp trở về lên ngôi
Cũng là việc thuận đạo trời
Vạn Xân – tên nước muôn đời không suy.
Tự xưng Nam đế uy nghi
Niên hiệu Thiên Đức triều nghi rõ ràng
Vạn Thọ là điện họp bàn
Cái điềm nghé trắng dở dang cơ đồ.(*10)
Bá Tiên sang lấn cõi bờ
Nước chưa vững gốc đã giờ bại vong.
Bảy năm mà đã dở dang
Sông Tô thua chạy về thành Gia Ninh,
Điển Triệt là chỗ đóng binh
Rồi vào Khuất Lão mộ binh phục thù.
Quang Phục nắm giữ binh phù
Khi nam đế mất xưng là Việt Vương (*11)
Giữ Dạ Trạch trước cần vương
Rồi sau xưng hiệu, cương thường phải chăng.
Quân mình sĩ khí càng hăng,
Bá Tiên vì cứu Kiến Khang phải về,
Dương Sàn chẳng thể so bì,
Quốc thống khi ấy lại về tay vương.
Anh Nam đế - Đào Lang Vương
Dựng nên nước mới Dã Năng đối đầu,
Phật Tử kế nối hiểm sâu
Đánh vương (Việt Vương) không được lại cầu thông gia
Vua thì đã lượng hải hà
Niệm tình Nam đế giảng hòa đã cho
Mà nay lại chẳng biết lo
Nhã Lang xin cưới lại cho thỏa lòng.
Cảo Nương khờ dại tin chồng
Để Lang tráo mất móng rồng tại ai?
Dương Vương trước cũng đại tài
Rồi sau mất nước bởi tay Triệu Đà
Mà nay cũng tại đàn bà
Việt vương mất nước cũng là tai ương?
Cũng do thế sự vô thường
Làm vua mà lại vấn vương tư tình.
Phật Tử gian trá dấy binh
Lại xưng Nam đế thật tình đáng chê,
Là vua mà chẳng ra gì,
Đánh chưa một trận đã đi xin hàng.
Vua thì đã loại làng nhàng,
Quan văn, quan võ không bàn hay sao?
Thật là chẳng có mưu cao
Lẽ nào khi ấy nước ta không người ?
KỶ THUỘC TÙY – ĐƯỜNG
( 603-906)
Lưu Phương đích thực hơn người
Ân, uy rõ rệt ở đời hiếm khi
Đánh cho họ Lý ( Phật Tử) suy vi
Nước ta lại thuộc Tùy, Đường từ đây.
Nhà Đường đổi lại đất này
An Nam tên gọi từ đây mà thành
Trăm năm trong tiếng lầm than
Mai Hắc Đế tự Thúc Loan chiếm thành
Dương, Quang đến đánh tan tành (*12)
Đến năm Mậu Tuất (758) đổi thành Trấn Nam.
Phùng Hưng quê ở Đường Lâm
Giận loài tham bạo xưng làm Đô quân
Cùng em ( Đô bảo Phùng Hải) thu phục dân quân
Bao vây chiếm phủ, dùng nhân trị đời
Cũng là việc thuận lòng người
Tiếc là lại sớm qua đời, thương thay!
Dân ơn công đức sâu dày
Lập đền thờ cúng đến nay vẫn còn
Lại vì cảm mến công ơn
Tôn làm Bố cái đại vương họ Phùng.
Phùng An nối nghiệp Phùng Hưng
Đỗ Anh Hàn cũng đáng dùng lắm thay.
Tiếc rằng chẳng được mấy ngày,
Triệu Xương vừa đến đã quay giáo hàng.
Xương cho xây đắp La Thành
Cũng vì có đức dân mình đều theo
Bùi Thái gây loạn ít nhiều
Khi Xương quay lại thì đều dẹp yên.
Trương Chu cũng thực thanh liêm.
Thế rồi Tượng Cổ gây phiền cho dân.
Nguyên Gia đánh dẹp xa gần.
Đến đời Hàn ước hai lần can qua.
Vũ Hồn bóc lột dân ta
Ép dân làm loạn cũng là quan tham.
Vương Thức vốn muốn anh nhàn
Giặc man kéo đến, khuyên can cho về.
Lí Trác có kể làm gì
Gây ra loạn lạc cũng vì tham lam.
Lí Hồ rồi đến Vương Khoan.
Sái Kinh thảm độc oán than ngút trời,
Bị quân lính đuổi phải rời,
Biếm quan không chịu, hết đời phải thôi.
Sái Tập trí dũng hơn người
Cả nhà bỏ mạng, thực trời không thương!
Nam Chiếu gây sự nhiễu nhương
Trương Nhân nhút nhát nhà Đường cho thay,
Cao Biền đích thực cao tay,
Đánh cho Nam Chiếu hồn bay vía lìa
Duy Chu gièm mới phải về (*13)
Nửa đường quay lại tu tề ba quân
Hết Nam Chiếu lại Thổ man
Đánh cho tan hết dễ dàng như không
Trị dân nhân đức rộng lòng
Về sau mới đắp La thành xưng vương (*14)
Đào kênh có chuyện dị thường
Vì dân trời giúp lẽ thường xưa nay.
Cao Cầm cháu họ kế thay
Mười ba năm ấy những ngày bình yên.
Tăng Cổn chẳng được như Biền
Vỗ dân cũng khá, trị yên không bằng.
Toàn Dục chẳng có tài năng
Tự xin bãi bởi Toàn Trung nhà Đường ( Trung là em Dục).
Chú thích:
*1: Theo tranh cãi thì Châu Phong là địa danh sau này mới có chứ thời Hùng Vương nơi đây được đặt là Bộ Văn Lang
*2: Văn Vương nhà Triệu là Cháu của Vũ Vương Triệu Đà, là con trai Trọng Thủy
*3:Kiến Đức là con trưởng của Minh Vương và Việt Cơ
*4: Chồng của bà Trưng Trắc là Thi Sách con nhà lạc tướng, bị Tô Định giết
*5:Theo tương truyền về sau mỗi khi ngừoi ta đến cầu mưa, cầu tự ở đền thờ Hài bà Trưng đều linh nghiệm
*6:Mã Viện sang lần bờ cõi, đánh bại Hai bà Trưng rồi đặt nước ta thành Giao Châu
*7: Cột đồng không rõ ở đâu theo dã sử thì nó có lời thề cột đồng gãy giao châu diệt
*8:Sĩ Huy là con trai Sĩ Nhiếp, khi cha chết không xin mà tự lập, Lữ Đại dụ hàng rồi sau lại giết Sĩ Huy
*9:Theo dương lịch thì là từ năm
*10: tương truyền thời đó có con trâu đen đẻ ra con nghé trắng nên dân ta coi đó là điểm gở
*11: Nam đế dẫn quân vào Khuất Lão rồi bị bệnh chết, Triệu Quang Phục xưng là Việt Vương.
*12: Dương Tư Húc và Quang Sở Khách
*13: Theo nhiều tài liệu thì Duy Chu báo với triều đình nhà Đường là Cao Biền thua trận nên có chiếu gọi về
*14: Theo các tài liệu thì về sau do cảm ơn đức nên mới phong vương cho Cao Biền chứ lúc còn sống ông chỉ đắp La Thành thôi.
Đăng nhập để trả lời
0