LỜI NÓI ĐẦU
Trong những sách cổ của nền văn minh Đông
phương, người ta thường nói đến những phương pháp ứng
dụng được thực hiện với một thời gian tính bằng thiên niên kỷ cho hầu
hết mọi lĩnh vực trong xã hội Đông phương cổ: thiên văn, địa lý, y lý,
lịch số và cả trong dự đoán tương lai cho số phận của mỗi con người
một cách hiệu quả. Những phương pháp ứng dụng này đều có phương
pháp luận của nó, nhưng lại thiếu hẳn một hệ thống lý thuyết căn bản.
Do đó, người ta không thể so sánh giữa phương pháp luận được thể
hiện trên thực tế ứng dụng với một hệ thống lý thuyết cần có để tìm ra
tính hợp lý, dù chỉ là một tính hợp lý với chính nó. Người ta chỉ có thể
căn cứ vào hiệu quả của những phương pháp ứng dụng trên thực tế và
liên hệ về mặt hiện tượng với khoa học hiện đại để khám phá. Nhưng
trong thực tế ứng dụng của nền văn minh phương Đông có những hiện
tượng mà khoa học hiện đại chưa thể lý giải được. Bởi vậy, đó là
nguyên nhân để đến tận ngày hôm nay khi bạn đang đọc cuốn sách
này, việc tìm hiểu những bí ẩn của nền văn hóa cổ Đông phương vẫn
đi vào bế tắc. Giáo sư Lê Văn Sửu – một học giả có nhiều công trình
nghiên cứu văn hóa cổ Đông phương – đã nhận xét trong tác phẩm
Nguyên lý thời sinh học cổ phương Đông của ông như sau:
Gần đây có rất nhiều nhà khoa học ở đủ mọi ngành và ở nhiều
nơi trên thế giới, với các phương tiện hiện đại có nhiều đặc tính ưu việt
như: tinh vi, nhanh chóng, chính xác trong tay, họ đã và đang nghiên
cứu nền tảng của di sản văn minh phương Đông này. Thế nhưng, sự
tiếp cận thực chất của nó còn đang là một khó khăn to lớn.
Sự huyễn ảo của nền văn minh Đông phương không phải chỉ đối
với các học giả Tây phương, mà ngay với những nhà nghiên cứu Đông
phương cũng chưa hiểu được nó. Bởi vậy cho đến tận ngày hôm nay,
những cuộc tranh luận, phản bác, minh chứng vẫn chưa kết thúc. Không
ít những học giả đơn giản hóa vấn đề bằng cách cho rằng sự huyền bí
của văn minh Đông phương mang tính mê tín dị đoan. Đương nhiên
với một nhận xét như trên thì chỉ có thể kết luận rằng những thành tựu
của nền văn minh Đông phương liên quan đến một học thuyết còn bí
ẩn là Âm dương – Ngũ hành như thiên văn, y lý, lịch số, dự đoán
6869
tương lai… đều chỉ là do kinh nghiệm tích lũy và không còn gì để bàn.
Nhưng với nhận xét như vậy, không lý giải được sự tồn tại của những
phương pháp luận cho sự ứng dụng có hiệu quả trên thực tế của nền
văn minh Đông phương đã trải hàng thiên niên kỷ. Bởi vậy, nhận xét
cho rằng nền văn minh Đông phương mang tính mê tín dị đoan là
không thuyết phục.
Cũng không ít những học giả hoài nghi nhận xét trên và đi tìm
cội nguồn của nền văn minh Đông phương đầy bí ẩn. Tính hợp lý của
những học giả đi theo hướng này chính là sự ứng dụng trên thực tế trải
hàng ngàn năm của học thuật Đông phương, đã chứng tỏ một sự tồn tại
khách quan mà tri thức khoa học hiện đại chưa nắm bắt được. Một thí
dụ cho những hiện tượng bí ẩn của văn minh phương Đông là sự tồn tại
của những đường kinh Lạc và những huyệt vị trên cơ thể con người.
Hoặc hiện tượng các thuật sĩ Yoga có thể tự chôn sống, vượt quá giới
hạn cho phép mà những tri thức khoa học hiện đại phát hiện được
trong sự vận động tâm sinh lý của con người. Điều đặc biệt đáng lưu ý
ở đây là: năng lực của những thuật sĩ Yoga không phải do bẩm sinh,
mà là một sự luyện tập có phương pháp hẳn hoi. Nguyên lý lý thuyết
căn bản nào đã tạo ra phương pháp để đạt được hiệu quả vượt ngoài
khả năng của tri thức hiện đại?
Nếu kinh Lạc và Yoga chỉ là những hiện tượng trong đời sống thì
trong nền văn minh Đông phương đã tồn tại những giá trị văn hóa lớn
đầy bí ẩn. Một trong những sự bí ẩn lớn của nền văn hóa Đông phương
chính là Bát quái của Dịch học. Sự vận động của Bát quái đã thách đố
tri thức của nhân loại kể từ khi nó được phát hiện đến nay trải đã hàng
ngàn năm. Đã hàng ngàn cuốn sách chồng lên nhau (*), thậm chí gần
đây Unesco đã tổ chức bốn cuộc hội nghị về kinh Dịch, tập trung hầu
hết những nhà nghiên cứu Dịch học trên thế giới, cũng chưa lý giải
được những bí ẩn của nó. Hiện nay, Unesco và ngay tại những nước có
nền khoa học tiên tiến như: Anh, Pháp, Đức, Mỹ đều có những hội
nghiên cứu kinh Dịch. Mặc dù với một qui mô lớn như vậy, nhưng có
* Chú thích: Theo tư liệu từ cuốn “Kinh dịch & cấu hình tư tưởng Trung Quốc” (tác
giả Lê Ngọc Dũng & Lê Anh Minh, Nxb Khoa học xã hội, 1999) thì cho đến năm 1993
có tất cả 1171 bộ,4397 cuốn sách viết bằng chữ Hán về kinh Dịch, trong đó có 9 bộ
được coi là viết trước thời Tần. Riêng sách viết về Lạc thư Hà đồ - cũng tính đến thời
gian nói trên - có 153 bộ, 156 cuốn. Chưa tính đến sách viết về kinh Dịch ngoài chữ
Hán.
144145
thể nói rằng sự nghiên cứu về kinh Dịch chính thức phát triển từ thời
Hán cho đến tận ngày hôm nay – trải hơn 2000 năm – hầu như vẫn bế
tắc.
Nguyên nhân của sự bế tắc này vì phạm trù của kinh Dịch bao
trùm từ sự vận động của vũ trụ cho đến những hiện tượng liên quan
đến con người, đáp ứng được những nhu cầu của con người trong xã
hội Đông phương cổ. Nhưng kinh Dịch lại thiếu hẳn một hệ thống lý
luận căn bản. Hay nói đúng hơn là đã thất truyền, những cái còn lại thì
rất mơ hồ, không đủ chứng tỏ tầm cỡ của một học thuyết mà Bát quái
chỉ là đồ hình ký hiệu tổng hợp của một hệ thống lý thuyết cần có. Do
đó, những bản văn và hệ thống ký hiệu của kinh Dịch lưu truyền hiện
nay chỉ có thể coi là một phương pháp ứng dụng đã có sẵn. Người ta
không thể so sánh tính hợp lý giữa những vấn đề được đặt ra trong
kinh Dịch với hệ thống lý thuyết bản nguyên là tiền đề cần có của nó.
Đây là nguyên nhân sự bí ẩn của kinh Dịch. Bởi vậy, mặc dù rất nhiều
công phu trải hàng ngàn năm, nhưng hầu hết các sách nghiên cứu từ
thời Hán trở lại đây gần như chỉ căn cứ vào những vấn đề được đặt ra
trong kinh Dịch để cố gắng giải thích những cái đã có sẵn. Có thể
đúng và cũng có thể sai, đôi khi trái ngược nhau không có cách nào
kiểm chứng để tìm hiểu về bản chất của nó. Kinh Dịch được coi là một
kỳ thư đã tạo nên sự bí ẩn hàng thiên niên kỷ. Mặc cho sự thăng trầm
của lịch sử, kinh Dịch vẫn là một sự bí ẩn kỳ vĩ, sừng sững thách đố trí
tuệ của con người.
Từ sự bế tắc trong việc tìm hiểu kinh Dịch trải hơn 2000 năm
qua, đã dẫn đến một giả thuyết về những sai lệch có thể có trong kinh
Dịch với thực tế nguyên thủy đã tồn tại của nó được trình bày trong
sách này. Bởi vì, nếu có sự sai lệch giữa thực tế tồn tại nguyên thủy
của kinh Dịch với bản văn kinh Dịch được lưu truyền qua cổ thư chữ
Hán; trong khi thiếu hẳn một hệ thống lý thuyết bản nguyên cần có để
so sánh, thì người ta không thể nào khám phá được những bí ẩn của
nó. Không ai có thể đạt được một sự hoàn thiện mà bắt đầu bằng sự sai
lệch bất hợp lý.
Khi khoa học hiện đại bắt đầu nhìn lại quá khứ, những nhà khoa
học trên thế giới đã xem xét kinh Dịch với tri thức của con người hiện
đại và liên hệ với những thành tựu hiện nay. Trong cuốn Kinh Dịch với
vũ trụ quan Đông phương (Giáo sư Nguyễn Hữu Lượng. Nxb TP. Hồ
218219
Chí Minh – 1992) phần thay lời giới thiệu có tựa là “Tìm hiểu về kinh
Dịch” do ông Trần Nguyên (viết theo De R. Wilhem. Yi King – với
chú thích: đăng trong Phụ san Khoa học phổ thông số 190, tháng 6 –
1992) đã viết :
“Kinh Dịch đã được ứng dụng dần dần vào khoa học kỹ thuật
phương Tây.
Người thực hiện sớm nhất có lẽ là Leibniz, triết gia và toán học
gia người Đức (1646 – 1716). Ông đã quan sát Bát quái, nghĩ ra phép
nhị phân thay cho phép thập phân bằng cách chỉ dùng hai con số: 1
làm dương và 0 làm âm để mã vào máy tính điện tử. Hai con số này
thành mỗi nhóm 6 số và gồm 64 nhóm, khi có điện vào đèn bật là 1
và điện tắt là 0, cứ như thế để truyền các tín hiệu.
Còn C. G. Jung là một người gốc Thuỵ Sĩ đã cùng với Freud tạo
ra khoa phân tâm học (Psychanalyse). Ông cũng là bạn thân của
R.Wilhem, người đã dịch kinh Dịch ra tiếng Đức. Jung cho là có thể sử
dụng kinh Dịch để tìm hiểu tiềm thức con người, trong đó có việc bói
toán.
Lưu Tử Hoa, một nhà bác học Trung Quốc ở Anh cũng nói là đã
vận dụng nguyên lý “Bát quái’’ từ năm 1930, đã tìm ra quỹ đạo hành
tinh thứ 10 trong hệ Mặt trời.
Hai nhà vật lý học người Mỹ gốc Trung Hoa là Lý Chính Đạo
(Tsung Tao Lee) giáo sư Đại học Princeton và Dương Chấn Ninh
(Tchen Ning Ang), giáo sư Đại học Columbia đã tuyên bố nhờ nghiên
cứu kinh Dịch mà biết rằng trong thế giới điện tử, phía trái và phía phải
không như nhau, dương thì 9 mà âm thì 6, có tỷ số là 3/2. Hai ông
chứng minh khi hạt nguyên tử nổ thì bắn ra những ly tử âm và ly tử
dương, tia dương bắn xa hơn tia âm theo tỷ lệ 3/2 tạo ra định luật cơ
ngẫu. Hai ông đã được giải Nobel Vật lý năm 1957.
Các bác sĩ Âu Tây ngày nay muốn học qua Đông y đều phải
thuộc lý thuyết sinh khắc của Âm dương Ngũ hành, đặc biệt là khoa
châm cứu. Họ đều ngạc nhiên về kinh huyệt có thể châm tê để giải
phẫu một cách không đau cho người bệnh.
Ngày nay người ta đã đem đối chiếu kinh Dịch với nhiều lý
thuyết triết học, khoa học Tây phương như lý thuyết về nguyên tử,
thuyết sinh vật tiến hóa của Lamark Darwin, biện chứng pháp của
Hegel, Karl Marx, thuyết tương đối của Einstein với phương trình E =
mc2, lý thuyết quan trọng, người ta hy vọng qua kinh Dịch sẽ ước đoán
để tìm ra những cái mới rồi sẽ dùng khoa học để kiểm chứng lại. Như
vậy là đúng với lời của nhà toán học Pháp H. Poincaré đã nói: “Phỏng
đoán trước rồi hãy chứng minh! Tôi có cần nhắc lại chăng rằng chính
300301
như vậy mà đã có những phát minh quan trọng’’.
Hiện nay, chưa có một công trình khoa học nào chứng minh được
sự tồn tại một hệ thống lý thuyết căn bản là tiền đề dẫn đến sự hình
thành của Bát quái và sự vận động của nó. Thậm chí cũng chưa hề có
một công trình nghiên cứu nào chứng minh được tính hợp lý trong sự
tương quan giữa những vấn đề được đặt ra trong kinh Dịch. Vậy trên
cơ sở lý thuyết nào để có sự liên hệ như đã trích dẫn ở trên? Phải chăng
đây là một sự liên hệ khiên cưỡng do những hiện tượng trùng lặp? Hay
là kinh Dịch với những ký hiệu của nó chính là một siêu công thức
phản ánh một chân lý bao trùm lên mọi sự vận động trên mọi lĩnh vực
từ vũ trụ đến những hiện tượng liên quan đến con người. Do đó, những
sự phát hiện của khoa học hiện đại đều nằm trong phạm trù của nó.
Bởi vậy, có sự liên hệ về mặt hiện tượng, mặc dù người ta chưa khám
phá được bí ẩn của kinh Dịch? Nhưng nếu như Bát quái và 64 quẻ là
một siêu công thức thì đó là một công thức không có nguyên lý lý
thuyết khởi nguyên và đó cũng là điều bí ẩn lớn nhất của Bát quái.
Các nhà khoa học hiện đại đang mơ ước:
“Tạo ra một lý thuyết thống nhất các định luật vũ trụ! Một
siêu công thức bao trùm mọi định luật của thiên nhiên, hoàn toàn
có thể giải thích được mọi sự kiện bao quanh con người từ những
hạt vật chất cực nhỏ đến những thiên hà khổng lồ” (*).
Trong lịch sử văn minh cổ Đông phương tồn tại một cách huyễn
ảo thuyết Âm dương và Ngũ hành. Về mặt hiện tượng, phải chăng
thuyết Âm dương Ngũ hành chính là một học thuyết hoàn chỉnh và
nhất quán với chính nó, một siêu lý thuyết bao trùm mà các nhà khoa
học đang mơ ước và kinh Dịch chỉ là một hệ thống ký hiệu? Hay đúng
hơn là một công thức tổng hợp của học thuyết này? Phải chăng chính
nền văn minh cổ Đông phương đã đạt đến điều mà khoa học hiện đại
đang mơ ước theo cái nhìn của thời đại đó?
Cuốn Tìm về cội nguồn kinh Dịch được biên soạn xuất phát từ
giả thuyết cho rằng: Học thuyết Âm dương – Ngũ hành là một học
thuyết vũ trụ quan nhất quán và hoàn chỉnh của một nền văn minh cổ
đã bị hủy diệt và kinh Dịch chính là một siêu công thức của học thuyết
* Chú thích: Trích đoạn trong bài “Ba thách thức lớn của khoa học trong thế kỷ 21”
- Kiến thức ngày nay số 314 - 1/5/1999)
372373
này. Giả thuyết này cho rằng: Bản văn kinh Dịch được lưu truyền qua
cổ thư chữ Hán là một bản văn không hoàn chỉnh và trong đó đã sai
lệch so với thực tế nguyên thủy của nó. Nền văn minh cổ đó chính là
nền văn minh Văn Lang dưới triều đại của các vua Hùng, tổ tiên của
người Việt.
Trên cơ sở của giả thuyết đã nêu, cuốn Tìm về cội nguồn kinh
Dịch nhằm tìm về thực tế đã tồn tại của kinh Dịch trên cơ sở sự tương
quan một cách hợp lý với những hiện tượng thuộc phạm trù của nó.
Một trong những sai lệch lớn nhất có tính chất tiên quyết cần hiệu
chỉnh: đó chính là nền văn minh xuất xứ của kinh Dịch. Tìm về cội
nguồn đích thực của kinh Dịch sẽ là một điều kiện cần thiết để tái tạo
chiếc chìa khóa mở kho tàng đầy bí ẩn của văn minh Đông phương.
Văn hóa và những giá trị nhân bản của nó là tài sản chung của
nhân loại. Sự phục hồi và gìn giữ những giá trị văn hóa đã thất truyền
trong quá khứ là một trong những cố gắng của con người và cũng là
nhu cầu cho sự phát triển xã hội. Tìm về cội nguồn đích thực của
những giá trị văn hóa Đông phương là một phương tiện quan yếu nhằm
chứng minh quan điểm cho rằng: Thời đại Hùng Vương chính là cội
nguồn lịch sử nền văn hiến gần 5000 năm của dân tộc Việt Nam. Đó
chính là cái nôi của nền văn minh Đông phương cổ đại. Quan điểm
này đã được trình bày trong cuốn Thời Hùng Vương qua truyền thuyết
và huyền thoại (Nxb Văn hóa thông tin 2002) và cuốn Thời Hùng Vương
và bí ẩn Lục thập Hoa giáp (Nxb Văn hóa thông tin 2002). Sự chứng
minh tính bất hợp lý trong bản văn kinh Dịch và những vấn đề liên
quan được lưu truyền qua cổ thư chữ Hán, dẫn đến sự hiệu chỉnh lại
kinh Dịch thông qua ca dao tục ngữ, truyền thuyết và những trò chơi
trẻ em mà ông cha còn truyền lại trong nền văn hóa Việt Nam, sự tiếp
nối của nền văn minh Lạc Việt sẽ minh chứng cho quan điểm trên.
Nhưng đây là một công việc rất khó khăn vì sự bí ẩn của Bát
quái đã thách đố trí tuệ những ai quan tâm đến nó từ hàng ngàn năm.
Bởi vậy, với khả năng có hạn, công việc thì quá lớn lao, do đó vấn đề
chưa thể giải quyết rốt ráo trong cuốn sách này. Rất mong được bạn
đọc quan tâm đóng góp ý kiến. Hy vọng cuốn Tìm về cội nguồn kinh
Dịch sẽ là những đóng góp nhỏ tiếp nối với những công trình nghiên
cứu đồ sộ của các học giả cổ kim.
Xin chân thành cảm tạ bạn đọc quan tâm.
PHẦN DẪN NHẬP
Cuốn Tìm về cội nguồn kinh Dịch không nhằm giới thiệu nội
dung của kinh Dịch theo cách hiểu phổ biến từ trước đến
nay qua cổ thư chữ Hán, mà là một sự cố gắng làm sáng tỏ một trong
những hiện tượng bí ẩn của nền văn hóa Đông phương, đó là căn nguyên
của Bát quái. Bởi vậy, cuốn sách này sẽ không trình bày toàn bộ nội
dung kinh Dịch, mà chỉ giới thiệu lịch sử và tóm lược nội dung của nó
thông qua các tài liệu của các học giả nghiên cứu về kinh Dịch để
chứng minh cho giả thuyết nêu trên. Cuốn sách này cũng không nhằm
mục đích chứng minh tính khoa học hoặc phi khoa học của thuyết Âm
dương - Ngũ hành, mà chỉ chứng minh sự tồn tại trên thực tế của học
thuyết này, một thực tế đã bị khuất lấp hàng thiên niên kỷ. Người viết
hy vọng việc tìm lại căn nguyên của Bát quái và những bí ẩn trong lịch
sử kinh Dịch sẽ là phương tiện chứng minh một giai đoạn huyền sử của
Việt Nam đó là thời Hùng Vương, quốc gia đầu tiên của người Lạc
Việt.
Nội dung cuốn sách được chia làm bốn phần:
Phần một: Giới thiệu tóm lược lịch sử, nội dung của kinh Dịch
với những diễn biến và ý kiến của các nhà nghiên cứu cổ kim. Trong
phần này là những tư liệu được tóm lược, trích dẫn trên cơ sở những tài
liệu sưu tầm được.
Phần hai: Trình bày những mâu thuẫn trong sự diễn biến và
hình thành kinh Dịch và những vấn đề liên quan, trên cơ sở sự tương
quan hợp lý theo cách nhìn của người viết, từ đó chứng minh cho cơ sở
của giả thuyết nêu trên.
Phần ba: Hiệu chỉnh lại những sai lầm căn bản của kinh Dịch từ
cổ thư chữ Hán trên cơ sở sự tương quan hợp lý của những vấn đề đã
đặt ra ở phần hai, từ những di sản văn hóa còn lưu truyền trong dân
gian Việt Nam và Trung Quốc.
Phần bốn: Từ những nguyên lý căn bản của thuyết Âm dương -
Ngũ hành và Bát quái đã được hiệu chỉnh, lý giải những hiện tượng bí
ẩn khác liên quan và là sự minh chứng tiếp tục cho giả thuyết đã nêu.
512513
[size=2]Kinh Dịch bắt đầu được sự chú ý của các nhà nghiên cứu lưu
truyền từ đời Hán, có hai bộ phận chính là ký hiệu của 64 quẻ và phần
kinh văn . Theo truyền thuyết và cổ thư chữ Hán thì phần kinh văn này
do Chu Văn Vương, Chu Công và Khổng tử viết (sẽ được trình bày kỹ
hơn ở phần I, chương I – Lịch sử kinh Dịch theo cổ thư chữ Hán). Do
phần kinh văn quá dài, những bản dịch có đôi chỗ khác nhau. Thậm
chí do nhiều đoạn kinh văn tối nghĩa, nên các học giả nghiên cứu Dịch
học đôi khi mâu thuẫn nhau trong cách dịch và lý giải. Vì vậy, chỉ xin
giới thiệu nội dung và trích dẫn những đoạn cần thiết nhằm minh chứng
cho giả thuyết đặt ra. Bởi vậy, để tiện tham khảo và so sánh với những
vấn đề được nêu ra trong cuốn sách này, bạn đọc có thể tham khảo
cuốn Kinh Dịch với vũ trụ quan Đông phương của Nguyễn Hữu Lượng
(Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1992) và một trong ba cuốn sau đây: Kinh
Dịch của Ngô Tất Tố (Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1992); Kinh Dịch - Đạo
của người quân tử, Nguyễn Hiến Lê (Nxb Văn học, 1994); Kinh Dịch
và đời sống, Hải Ân (Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 1996) - để tham
khảo và đối chiếu.
Những bản văn kinh Dịch được dịch ra chữ quốc ngữ hiện lưu
hành thường không thống nhất về danh từ, thí dụ như trong kinh văn:
phần được coi là của Chu Văn Vương soạn thảo có sách viết là Soán
từ, có sách viết là Thoán từ, nhưng trong sách này thống nhất chung là
Soán từ. Lời kinh văn được coi là của Khổng tử, có sách gọi là Thoán
từ (thượng, hạ) truyện, có sách gọi là Soán từ (thượng, hạ) truyện;
trong sách này gọi là Thoán từ (thượng, hạ) truyện.
Bát quái đôi khi được diễn đạt là 8 quẻ; nhưng những quẻ kép
cũng được gọi là quẻ… Trong cuốn sách này có một số qui ước như
sau:
Tám ký hiệu căn bản của Dịch học (tức Bát quái) mỗi ký hiệu
đều được gọi là “quái”.
Hai “quái” chồng lên nhau (tức “trùng quái”) được gọi là “quẻ”.
Trong các sách, khi trình bày những đồ hình liên quan đến kinh
Dịch thì phương Bắc thường đặt ở phía dưới, phương Nam đặt ở phía
trên. Trong sách này, tất cả những đồ hình trưng dẫn để chứng minh
những vấn đề thuộc phạm trù kinh Dịch liên quan đến phương vị đều
được sắp xếp phù hợp với những qui ước về phương vị bản đồ hiện đại
584585
để bạn đọc dễ dàng phân định, như: phương Bắc ở phía trên, phương
Đông ở bên phải, phương Nam ở phía dưới và phương Tây ở bên trái;
ngoại trừ sự trích dẫn thì phương vị để nguyên theo tư liệu đã trích
dẫn.
Trong sách này, phần trích dẫn tư liệu được thể hiện bằng kiểu
chữ “Vni-Helve 10”. Trong phần trích dẫn, để lưu ý bạn đọc, những chữ
in đậm là do người viết thực hiện. Phần chính văn của người viết được
thể hiện bằng kiểu chữ “Vni-Times 12”.
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do khả năng có hạn, chắc chắn
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Mong được quí độc giả lượng
thứ.
