📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Thần nhân và thần thoại Tây Phương.

54 trả lời, 11.315 lượt xem — Trang 2 / 2
Các thần Lares và Pénates.
 
 
Các thần Lares và Pénates do dân gian ở La Mã thờ phụng, du nhập từ xứ Etrurie. Các thần Lares là thần Thổ công, bảo vệ cho những con người trong từng gia đình, nếu gia đình đó biết thờ cúng cho đúng phép tắc. Mỗi gia đình có một thần Lare, tức là vị thần chủ của gia đình đó ( Còn các tổ tiên đã chết đi của gia đình đó lại thuộc vào số những thần Mânes ). Các thần Pénates thì lo bảo vệ cho chính căn nhà, cho sự trù phú của nhà đó và nhất là những thực phẩm dùng trong nhà. Các thần Pénates bao giờ cũng đi một cặp và cùng với nữ thần Vesta là biểu tượng của bếp lửa gia đình.  Dân gian được tùy ý lựa chọn các vị thần Lares và Pénates của mỗi nhà. Tại đền Atrium, hai bên bàn thờ nữ thần Vesta có tạc hình tượng các thần Lares và Pénates. Ở giữa hai vị thần Pénates giống nhau như hai anh em sinh đôi, thần Lare bận áo choàng ( toge ) có một con chó nằm dưới chân. Mỗi sáng, người chủ gia đình cùng với con cái và các tôi tớ trong nhà, tới trước bàn thờ cùng cầu nguyện. Trước mỗi bữa ăn lại dâng cúng mâm cơm của cả nhà trước bàn thờ, có kèm theo rượu nho. Vào những dịp lễ lớn, dân gian lại dâng cúng một con cừu non, một con dê đực hay một con bò non. Vào những dịp lễ thường, chỉ dâng cúng trái cây đầu mùa. Gia đình nào cũng giữ gìn một ngọn lửa riêng, ngọn lửa này chỉ tắt khi nào gia đình đó tuyệt diệt.
Cũng như các gia đình, mỗi tập thể đều có thần Lare và hai thần Pénates rie6ng. Gặp trường hợp một thành phố bị tiêu hủy, chẳng hạn như thành Troie, dân gian lại đem bàn thờ đi nơi khác, cùng với bếp lửa. Enée khi rời bỏ Troade di cư tới Latium cũng đem theo bàn thờ và bếp lửa như vậy.
Đăng nhập để trả lời
0
Các nữ thần Nymphes ( Sơn Thủy ).
 
 
Các nữ thần này chủ trì sự phong nhiêu, ẩm ướt, cũng như các thần sông ngòi ( các thần sông ngòi được tượng hình có sừng mọc ở trên trán ). Do thần vương Jupiter sinh ra, các nữ thần Nymphes rời khỏi Thiên cung dưới hình thức những đám mưa để xuống trị vì dưới Hạ giới. Các nữ thần ngự tại các rừng già, trên ngọn các dòng sông, hoặc giữa các cánh đồng phong nhiêu, cỏ mọc xanh rờn. Các nữ thần Nymphes bảo vệ cho cây cỏ và loài người. Số thần linh này lên tới ba ngàn, cũng sống chết như thường nhân tuy mỗi đời dài chừng mấy ngàn năm. Thường các nữ thần Sơn Thủy đi theo Diane hay Bacchus, họp thành những ban hợp xướng hay hợp vũ, lo việc bảo vệ người trong dân gian. Cũng có khi các nữ thần này ở lại trong các thạch động chuyên lo việc kéo chỉ và dệt vải.
Các nữ thần Sơn Thủy chia làm ba loại khác nhau:
Thứ nhất là các Thủy thần, có phép màu nói ra được chuyện tương lai được dân gian tôn sùng thờ cúng theo môt nghi thức riêng. Đó là các nữ thần ở biển ( Océanides ), ở các eo biển ( Néréides ) hay ở suối và sông, ngòi ( Naiades ).
Thứ nhì là các Sơn thần, ngự trị ở các đồi núi và thung lũng. Đó là các Oréades và các Napées. Các thần Oréades ưa săn bắn chạy đuổi ở trên các ngọn núi cao; các thần Napées ôn hòa hơn nô dỡn trên các sườn đồi, dưới thung lũng hay trên các cánh đồng.
Thứ ba là các thần Cây cối ( Dryades ). Vừa có sức mạnh vừa uyển chuyển, các nữ thần Dryades khiêu vũ quanh các gốc cây Chéne là loại cây dành dâng cúng các nữ thần này. Các rừng sâu được bảo vệ do các nữ thần Dryades cho nên dân gian vì tôn kính và nể sợ không ai dám tới đốn cây tại đó. Những cây to trong rừng sâu chỉ được hạ xuống khi nào các tu sĩ nói chắc rằng các nữ thần Dryades đã bỏ không ở đó nữa. Các nữ thần Hamadryades khác ở điểm các nữ thần đó cầm bản mệnh cho một cây Chéne trong rừng, sống chết cùng với cây đó. Mỗi nữ thần Hamadryades bởi vậy không bao giờ ra khỏi cái cây của mình, như chôn chặt cùng với cây đó. Trong ngôn ngữ Hy Lạp gốc chữ Dryades có nghĩa là cây Chéne.
Dân gian lập đền thờ các nữ thần Dryades ở bờ biển, trong rừng sâu hay bên các ngọn suối. Lễ vật dâng cúng thường có dê cái, cừu non, có kèm theo rượu nho, mật ong, dầu ép ở trái cây hoặc cũng có nơi chỉ dâng cúng sữa, trái cây và hoa.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Thần Đại dương.
 
 
Thần Océna là con của Uranus và Titéa, là vị thần linh đầu tiên chủ trì các vùng nước ngập. Từ chiếc bình mà vị thần linh này mang trên tay mãi mãi có một giòng nước chảy xuôi tạo thành biển cả và các sông ngòi cùng khe suối. Dân gian thờ cúng vị thần linh già này và dâng cúng mỗi khi sắp xuống thuyền vượt biển để cầu xin được phù hộ. Các thần linh ở sông ngòi cũng thờ kính thần Đại dương là vị thủy tổ.
Tiền nhân cùng truyền thuyết rằng thần Đại dương ngự trị trên một con sông lớn bao quanh mặt đất ( hồi đó chưa biết trái đất tròn ) phân ranh giới giữa mặt đất với cõi bao la. Trên mặt sông đó bốc lên những đám mây, những đám mây này lại hóa thành mưa và rớt xuống thành một chu kỳ vĩnh viễn
Đăng nhập để trả lời
0
Nữ thần Téthys.
 
 
Thần Đại dương lấy nữ thần Téthys là em gái, sinh ra ba ngàn nữ thần Océanides. Téthys tuần du trên khu vực của mình ngồi trên một chiếc vỏ ốc xà cừ có một bầy hải mã kéo. Chung quanh có đàn hải trư nhào lộn, các nhân ngư thổi kèn và các Océanides trên đầu có kết lá, mái tóc buông xõa, phất phơ bay trong gió. Các nữ thần Océanides cũng được dân gian thờ cúng riêng.
Đăng nhập để trả lời
0
Nérée.
 
 
Thần Nérée là con của nữ thần Téthys có trước thần Nepturne. Nérée lấy em gái  là nữ thần Doris sinh ra năm mươi vị thần Néréides. Nérée bản tính thuần hậu, hiếu hòa, luôn luôn sẵn sàng dìu dắt các thần linh hay thường nhân nào cần tới, đem kinh nghiệm lâu đời cùng sự khôn ngoan ra chỉ vẽ cho họ. Chính Nérée chỉ cho Hercule biết nơi các nữ thần Hespérides giấu các trái táo bằng vàng. Chính Nérée kiếm cách ngăn Pâris không cho cướp Héléne của Ménélas. Nérée ngự trị ở biển Egée, chung quanh có năm chục nữ thần Néréides xinh đẹp như ánh nắng. Các cô con gái của Nérée cỡi trên lưng các con hải trư để ca hát làm vui cho cha. Thétis là một trong số con gái của Nérée, sau này Thétis lấy con trai Eaque, tên là Pélée làm vua ở Phthiotide ( Thessalie ) sinh ra Achille.
Đăng nhập để trả lời
0
Neptune hay Poséidon.
 
 
Neptune là con của Saturne và Cybèle. Vì không được quyền có con trai, mỗi khi sinh con Saturne đều ăn thịt hết bất kể là trai hay gái ( xem Saturne ). Khi sinh hạ Neptune Cybèle đem giấu trong chuồng ngựa ở Arcadie và nói dối Saturne là sinh ra một con ngựa, Saturne tin lời nên Neptune thoát chết. Sau đó, khi Jupiter phải đương đầu với lũ thần khổng lồ, Neptune giúp đỡ Thần vương được nhiều, nhưng rồi Neptune nghe lời Junon đứng vào phe chống đối Jupiter  và bị đầy xuống trần. Trong thời gian phải xa Thiên cung, Neptune cùng với Apollon, cùng cảnh, lo dựng lại những thành lũy bị sụp đổ của thành Troie. Sau khi được tha thứ, Neptune không bao giờ phản bội anh là Jupiter nữa. Jupiter giao cho Neptune cai quản khu vực đại dương cùng với các hải đảo và các bờ biển.
Neptune là vị thần thống trị toàn thể các mặt nước. Khi thì Neptune ngự trị ở dưới đáy biển sâu, an nhàn nhưng không lọt khỏi mắt một chuyện gì xảy ra trên mặt nước; khi thì tay cầm chĩa ba, Neptune oai  nghi, trầm lặng ngồi trên chiếc xe đi qua khắp khu vực thần cai quản, chiếc xe do những con hải trư dũng mãnh kéo chạy trên mặt nước như những luồng sóng dữ. Mỗi khi gió vô ý làm mặt nước động sóng, Neptune dùng lời truyền phán sóng liền dẹp hết khiến cho các tay thủy thủ có thể yên tâm vượt biển. Nhưng khi nào nóng giận, Neptune lại vung cây chĩa ba lên và mặt biển lại bị nhồi sóng, bão tố nổi lên dữ dội. Chính tay Neptune chặt ngang các lục địa để tạo thành những eo biển, những cửa sông. Neptune cũng tự tay phát ra những mạch nước nguồn, làm nổi lên những hải đảo. Chính Neptune lo giữ gìn các lục địa khỏi sụp đổ, trong số đó có Hy Lạp cùng các hải đảo xung quanh ( Cyclades ).
Dân gian thờ cúng vị thần linh này rất chăm chỉ vì Neptune đã khiến cho các thường nhân khiếp sợ vì tính cách bí mật và khắc nghiệt của mình. Tại các vùng biển như Hy Lạp, Ý đại lợi, có rất nhiều đền thờ Neptune. Dân gian ở Hy Lạp mở hội dâng cúng Neptune vào dịp tháng bảy dương lịch ( Neptunales ), còn dân gian La Mã dâng cúng vào dịp tháng hai. Ngoài ra mỗi kỳ hội mở tại Corinthe ( Jeux Isthmiques ) dân gian Hy lạp đua nhau trẩy hội.
Sinh vật dành riêng cho Neptune là con ngựa, tiêu biểu cho những nhịp sóng vùng vẫy. Vào dịp Neptune tranh với Minerve trong việc đặt tên cho thủ đô mới của xứ Altique, Neptune cũng cỡi trên lưng ngựa từ dưới biển nhảy vọt lên.
Neptune cưới Amphitrite là con gái của Doris và Nérée. Vụ hôn nhân này khiến cho Neptune sung sướng quá đỗi nên thần nhân này đem con hải trư đã có công khuyến dụ cô con gái của Nérée bằng lòng lấy Neptune lên hàng một tinh đẩu. Con trai của Neptune và Amphitrite là Triton, một thần linh hay ghen tuông và dữ tợn. Chiếc tù và bằng ốc của Triton, tùy tâm trạng của Triton mỗi khi thổi có thể phát ra những âm thanh êm dịu, vui tai, cũng có thể phát ra những âm thanh khiến cho các thủy thủ phải khiếp hãi. Tiếng ốc êm đềm của Triton không một thứ âm nhạc nào trên trần thế có thể sánh kịp. Triton sinh ra một số đông những thần linh nữa người nửa cá để hợp thành đoàn với các Néréides bơi theo các thần linh của biển cả trong cuộc tuần du
Đăng nhập để trả lời
0
Eole.
 
 
Thần gió Eole trị vì trên các mỏm cao của các hải đảo Eoliennes ở giữa Ý đại lợi và đảo Sicile. Thần gió chịu mệnh lệnh của Jupiter, mỗi khi có lệnh phải thả ra trong một thời gian những vị thần hung hãn mà Eole thường nhốt trong các hang đá lớn.
Các thần gió hầu hết đều ưa thích vùng vẫy, nổi những trận bão táp, làm xiêu đổ hết thảy mọi vật trên đường gió thổi qua, có khi lên vút tận từng mây, có khi lại ào xuống đồng bằng hay trên mặt biển. Dân gian rất sợ hãi các thần gió nên thường khấn cầu và dâng cúng. Tổng số các thần gió do Eole canh giữ không kể xiết được. Dân gian ở Hy Lạp nhìn nhận tám thần gió và thường xây những ngôi đền tám cạnh để thờ cúng thần gió. Tám vị thần gió tương đương với tám hướng trời mỗi vị từ một hướng thổi lại. Dân gian La Mã chỉ thờ cúng có bốn vị thần gió: Eurus, Borée, Notus hay Auster và Zéphyre.
Eurus từ hướng đông thổi lại, có người cho rằng thần Euros đầu tóc rũ rượi, tính hung hãn; có người lại cho rằng thuần hòa, dịu nhẹ.
Borée thổi từ hướng bắc, qua vùng Thrace và đem theo khí lạnh cùng băng giá. Borée có khi bị lẫn với Aquilon hung hãn, mau lẹ như con đại bàng.
Notus hay Auster là luồng gió nóng từ miền Nam thổi lại như bão táp. Đem theo những cơn mưa làm ngập lụt.
Zéphyre từ hướng tây thổi lại. Vì thổi qua đại dương nên Zéphyre đem lại hơi mát dịu ban cho cỏ cây và loài người. Nhờ hơi Zéphyre thiên nhiên trở nên tươi thắm. Tuy rất dũng mãnh, Zéphyre lướt nhẹ, mơn trớn mặt đất khiến cho đất phải hé mở dưới hơi mát của Zéphyre, do đó lướt tới đâu hoa mọc tới đó và nở thắm cả cỏ cây.
Đăng nhập để trả lời
0
Pluton hay Adés.
 
 
Pluton là em của Jupiter, ngự trị một cách khắc nghiệt ở Diêm cung. Pluton là một vị thần linh giầu có lớn, cũng như Plutus, nhưng Pluton giầu có nhờ của cải lấy được của những người chết bị đày xuống Diêm cung. Pluton còn có tên là Adés, vị thần linh vô hình; hay Orcus vị thần linh cai ngục không bao giờ chịu rời tội nhân của mình giam giữ ra. Pluton có toàn quyền trên đám những thuộc hạ, không bao giờ e sợ bị thuộc hạ chống báng hay không vâng lệnh. Pluton bị dân gian thù ghét, rất ít nơi có lập đền thờ. Một ngôi đền ở Elis ( Hy Lạp ) mỗi năm mới mở cửa một lần. Tại Pylos, Nisa, Coronée và Olympie đều có đền thờ hay có những cánh rừng dành dâng cúng cho Pluton. Tại Athènes, Pluton được thờ phụng chung tại một ngôi đền thờ các nữ thần Đại Nộ. Tại Trézène, Pluton được thờ chung với nữ thần Diane. Mỗi khi dâng cúng Pluton, người ta làm lễ vào buổi tối và lấy hai tay vỗ xuống mặt đất. Lễ vật gồm có bò đực hay dê cái lông đen trên mình có mang những sọc màu sậm. Trầm hương được đốt ở khoảng giữa hai cái sừng của sinh vật dâng cúng sau khi đã ấn đầu nó cúi xuống đất.
Các tu sĩ, giữa sự im lặng tuyệt đối, bén bỏ nón và lất dao nhọn mổ bụng các sinh vật để cho máu chảy xuống một cái hồ đã đào sẵn, trên đó lại tưới thêm rượu nho. Sau cùng các sinh vật đều bị đốt cháy thành than; dân gian không bao giờ giữ lại một món lễ vật nào vì không muốn có một chút gì liên lạc với vị thần cai quản Địa phủ. Các sinh vật dâng cúng bao giờ cũng từng đôi, trái lại với thói quen khi dâng cúng các vị thần linh khác. Truyền thuyết còn nói rằng tại Latium ban đầu người ta dâng cúng sinh vật người. Các tội nhân bị hành tội đều được dâng cúng cho Pluton bằng cách bất kỳ ai gặp đó cũng có thể tự tay giết chết được, khi họ được đưa tới nơi hành hình.
Ngồi trên chiếc ngai vàng bằng gỗ mun hay bằng lưu hoàng. Pluton chỉ biết ngự trị tại Địa phủ, chứ không hề hay biết một chuyện gì tên dương thế hết. Mỗi khi Jupiter làm lay động núi Olympe hay khi Neptune tức giận làm chuyển động quá mạnh trái đất, Pluton rời ngai vàng và lo ngại cho giang sơn u tối của mình. Điều mà Pluton e ngại nhất là mặt đất có thể nứt rạn do đó các thần nhân và loài người có thể dòm ngó tới Địa phủ được. Tuy vậy Pluton có hồi cùng với anh tham dự cuộc chiến đấu chống lại anh em Titan. Dân gian ở La Mã coi Pluton là một trong số mười hai thần nhân đứng đầu trên Thiên cung, thay thế chỗ của Mercure.
Đăng nhập để trả lời
0
Proserpine.
 
 
Proserpine là con gái của nữ thần Cérés mà Pluton đã cướp được. Tại âm cung Proserpine ngồi kế bên ngai đen của Pluton. Nhiệm vụ của Proserpine là đến đúng ngày giờ do Định mệnh đã ghi rõ cắt sợi tóc định mệnh của người tới số. Một khi sợi tóc đó chưa bị cắt đứt thì con người đó còn liên quan tới đời sống. Dân gian ở Hy Lạp, La Mã và Sicile rất tôn sùng Proserpine. Họ dâng cúng nữ thần của bóng tối này cùng với mẹ là Cérés . Tại Sicile mỗi khi thề thốt điều gì người ta lại viện tới sự chứng giám của Proserpine. Đền thờ Proserpine rất lộng lẫy, nghi lễ cúng thì có vẻ bí mật, đôi khi chỉ riêng có phụ nữ cúng lễ mà thôi. Lễ vật là những con chó con lông đen ( như dâng cúng Hécate ) hay những con dê cái không chửa đẻ, lễ vật này coi như tiêu biểu cho vị nữ thần không có con gái này.
Đăng nhập để trả lời
0
Các thần Mânes.
 
 
Giang sơn của Pluton là khu vực của các thần Mânes. Danh từ Mânes có nghĩa là Tốt. Ban sơ các thần Mânes là linh hồn của những thường nhân có đức tốt. Bởi dân gian tin tưởng rằng dưới Địa phủ những linh hồn tốt được biệt đãi và được trở thành thần nhân cho nên họ thờ cúng các vị này nhiều lắm, coi như các thần nhân khác. Bởi lẽ đó số thần Mânes lên rất nhiều.
Mặt khác dân gian cũng tin rằng các thần Mânes là hết thảy các linh hồn người đã chết, dù tốt hay xấu.  Các thần nhân này có nhiệm vụ bảo vệ mồ mả. Trên mỗi tấm bia ký đều có ghi một hàng “ Kính dâng các thần Mânes “. Cây dương liễu là loại cây dành riêng cho chư thần Mânes. Mỗi năm có ba kỳ cúng thần Mânes. Lúc đó, Địa phủ lại hé mở một lối cho các thần Mânes ra đi dự lễ cúng. Lỗ hổng đó ngày thường được bịt kín bằng một phiến đá, mệnh danh là đá Manale.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Địa phủ ( Les Enfers ).
 
 
Mỗi tác giả miêu tả Địa phủ theo quan điểm riêng của mình. Dưới đây la hai đoạn trích trong cuốn Odyssée, thiên XI, của thi sĩ Hy Lạp Homére ( thế kỷ thứ IX trước Công nguyên ), và trong cuốn Enéide, thiên VI, của thi sĩ Virgile ( 71 – 19  trước Công nguyên ).
Đăng nhập để trả lời
0
 
A. Địa phủ theo Homére.
 
 
Bên kia bờ sông Océan, tại ranh giới phía Tây của thế giới, nơi xứ sa mù u tối, không bao giờ thấy ánh mặt trời, bao la một cánh đồng bằng phẳng, vô bờ bến, trên đó lang thang vô định những hình bóng vạt vờ của những người đã chết; không hay biết chi hết về hiện tại, các hình bóng đó tuy vậy vẫn còn giữ được những kỷ niệm về quá khứ, luôn luôn vật vờ, buồn nản, trên cánh đồng u uất, không cây cỏ, ngoại trừ những lùm cây nhật quang lan. Đó là thầy cúng Tirésias, là nàng trinh bạch Pénélope, là Agamemnon vua trong các vị vua, là con người cuồng nhiệt Ajax, con người hung dữ Achille muốn được làm một tên chăn dê quèn trên dương thế hơn là trị vì nơi xứ sở buồn chán của những người Cimmériens. Tại đó còn chen chúc quanh Minos đang tay cầm quyền trượng khu xử cho các thần Mânes; nào là Orion, con người khổng lồ đang giết thì giờ bằng cách săn đuổi những muôn thú kỳ quái; nào là Tityus, con người xưa kia đã từng chửi mắng Latone, hồi mà nàng chạy cùng mặt đất để trốn con rắn Python đang nằm, mình che kín tới chín sào đất, trong khi bị hai con diều hâu ham hố đời đời mổ xẻ lá gan; nào là Tantale, đang đứng giữa hồ nước không ngừng chịu cực hình của sự đói và sự khát; nào là Sisyphe, đang ra sức vận dụng hai cánh tay và hai bắp vế đẩy hòn đá lên tới đỉnh núi, mỗi khi tới đó hòn đá lại lăn xuống lũng sâu; nào là Hercule ngang lưng đeo một đai gươm rất dễ sợ, cung đã giương sẵn, mũi tên cũng sẵn sàng, đang khiến cho đám cô hồn chạy tán loạn khi Hercule tiến tới gần, khác nào một bày chim sợ sệt vậy. Xa chút nữa trong quãng cùng thẳm của không gian, là Erèbe, nơi tối tăm nhất trong khu vực đã tối tăm này, nơi ngự trị của Adés, của Proserpine, của đám Harpyes, của Cerbère và của các nữ thần Furies. Không một con người nào có thể ngó sâu tới nơi đó, nơi mà ta có thể trong thấy những cái bóng, đứng trên thuyền ta có thể nói chuyện với những cái bóng đó và nghe thấy, như có lần Ulysse cũng nghe thấy, những cái bóng đó đáp lại bằng những lời than van não ruột. Những cái bóng đó than van não ruột vì còn muốn được sống lại. Mỗi khi ở gần đó có dâng cúng sinh vật gì là những cái bóng đó đổ xô tới, với hy vọng tha thiết uống được một chút máu mà trong huyết quản của chúng không còn chảy nữa.
Đăng nhập để trả lời
0
B. Địa phủ theo Virgile.
 
 
Người ta có thể xuống Địa phủ bằng những lỗ hổng bí mật tại đó phu ra những hơi độc. Những cái vực thẳm ở dưới hồ Averne ở gần Cumes tại Ý; cũng như những cái vực khác ở gần mỏm Ténare, ở tại nam Péloponèse, là những vực nổi tiếng là cửa đưa xuống Địa phủ. Tại nơi tiền đình, những hang hốc đầu tiên đưa tới những nơi tối tăm nằm la liệt những mối Thương cảm hay Hối hận đang chờ rửa hận. Tại đó cũng là nơi trú ngụ của các bệnh tật gầy guộc, xanh lướt và của tuổi già buồn bã, của sự Sợ hãi, Đói thiếu thường hay xui bẩy chuyện bậy bạ, của sự Nghèo đói xấu xí, của sự Đau đớn và sự Chết trông như những quái vật gớm khiếp, của Giấc ngủ anh em với sự Chết, và những Thú vui độc hại. Xa hơn nữa, ngay gần cửa vào Địa Phủ, thần Chiến tranh đứng bên ba nàng Đại Nộ đang ngồi trên những ghế sắt. gần đó còn có mụ Bất hòa đang cơn thịnh nộ, mái tóc gồm một bầy rắn độc đang uốn éo bên vành khăn bằng những sợi băng nhuộm máu. Ở giữa có một cây du tàn lá vĩ đại có treo lủng lẳng những Mộng ước không thành. Ngoài ra còn có cả ngàn quái vật khác nữa: những Centanres nằm dài dưới đất. Briarée khổng lồ một trăm tay. Con Hydre ở lerne, con Chimère với những tia lửa làm khí giới, những Gorgones, Harpyes và Géryon ba mình.
Rồi người ta tới sông Achéron, một cái vực mênh mông toàn những bùn lầy, lúc nào cũng sôi sục. Nước sông Achéron trộn lẫn với nước sông Styx. Sông Achéron thực ra là một nhánh của sông Styx, con sông rộng lớn này bao quanh bảy vòng khu vực Địa Phủ. Các thần nhân một khi đã viện sông Styx ra để thề thốt thì sẽ không bao giờ dám phụ lời thề, vì làm như vậy sẽ bị trong vòng một trăm năm mất hết bao nhiêu quyền phép của một thần nhân. Styx xưa kia là một nữ thần Sơn Thủy đã từng lập công rất nhiều với thần vương Jupiter cho nên Jupiter dành cho Styx uy quyền đặc biệt đó.
 Thần linh phụ trách việc phòng vệ cho các giòng sông ở Địa phủ là Charon, con của thần Đêm Tối có một bộ râu trắng dài, lởm chởm và rất bẩn. Đứng trên một chiếc thuyền thoi sơn đen, thần nhân này tay cầm một cây sào dùng để vớt những cái bóng ma từ bờ sông này qua bờ sông bên Địa Phủ. Các bóng ma chen chúc bên bờ sông đông đảo như lá mùa thu rụng trong rừng. nhưng thần Charon thẳng tay gạt những bóng ma nào không được chôn cất trên trấn thế, họ sẽ phải đứng đợi ở đó một trăm năm nữa. Các bóng ma khác lại bị xét xem có ngậm trong miệng trong khi sắp chết đủ số tiền để quá giang hay không, ít nhất là phải có một đồng tiền ( obole ), nhiều nhất là ba đồng. Còn những người sống muốn xuống thăm Địa phủ thì phải đưa trình cành lá bằng vàng của Định Mệnh cho Proserpine, cành lá này chỉ tìm được trên Dương thế nếu có sự ưng thuận của Proserpine. Charon chỉ vì tội đã cho Hercule ngồi trên thuyền của mình không có cành lá bằng vàng Định Mệnh đó mà phải lưu đày xuống đáy vực Tartare trong vòng một năm trời.
Phía bờ Địa Phủ, giữa đám lau lách mọc trên đồng lầy, con chó ba đầu vĩ đại Cerbére thò đầu ra khỏi chuồng mà ngó, cái cổ mọc tua tủa những đầu rắn. Do thần khổng lồ Typhon và Echidna quái vật đuôi rắn sinh ra, con chó Cerbére là anh em với nhân sư Sphinx, con Chimère, con Hydre ở Lerne và con sư tử ở Némée. Móng nhọn của con Cerbére dữ tợn này màu huyền và có nọc như nọc rắn. Các bóng ma đã tới đó mà còn muốn đi ra khỏi Địa Phủ bị con chó lớn tiếng sủa vang, còn những người sống nào táo gan lần mò xuống Địa Phủ thì bị nó chồm lên cắn xé. Tuy nhiên, thần Orphèe đã dùng tiếng đàn Ly Tao làm con chó ngủ mê mệt khi xuống Địa Phủ tìm Eurydice. Nhưng sau đó khi nàng Sibylle ở Cumes đưa Enée xuống thăm bóng ma của cha là Anchise phải ném cho con chó một miếng bánh có tẩm thuốc ngủ mới đưa con của nữ thần Vénus qua khỏi miệng nó. Ít nhất có một lần con chó phải hoảng sợ, đó là bữa Hercule xuống Địa Phủ. Bữa đó nó run lên, sợ hãi chạy núp dưới chân của Diêm vương Pluton. Thần Hercule lúc đó đưa hai bàn tay hộ pháp nắm lấy cổ con chó và lôi nó lên tới mặt đất trong khi nó sợ hãi hai tai cúp xuống.
Qua vùng lầy đó thì tới khu vực mênh mông của các bóng ma. Ban đầu người ta qua một cánh đồng rộng, tại đó linh hồn của những trẻ sơ sinh chết yểu than khóc. Sau đó tới một cánh đồng khác đầy những bóng ma nạn nhân của những vụ án oan uổng, bất công. Giữa đám đó, Minos có Eaque phụ giúp, đung đưa chiếc bình định mệnh. Ở Diêm cung không phải ai cũng có một chỗ ở nếu chưa được phán xét tội trạng rõ rệt. Minos là một phán quan cứng cỏi chuyên việc xét định công tội của các bóng ma mới tới. Xa hơn nữa là cánh đồng của những bóng ma chết vì tự sát. Rồi tới cánh đồng Than Thở, tại đó những linh hồn đã từng đau khổ vì không được yêu đi lang thang trong những ngõ ngách bí mật. Tại đây dưới gốc thâm u của những cây sim, Enée đã gặp cô nàng than thở Didon. Xa hơn nữa là cánh đồng của các tử sĩ, tại đó họ vẫn tiếp tục như trên trần thế cuộc giao tranh cao quý của họ.
Từ đó con đường chia thành hai ngã. Bên tay trái, ở xa xa có một khu vực có ba bức thành bao quanh và phía ngoài có một con sông, sông Phlégéthon chảy quanh. Con sông không có nước mà cuồn chảy những giòng lửa, bên những tảng đá sóng vỗ vang động. Ngay tại phía trước có một khuôn cửa rộng hai bên có những hàng cột bằng kim cương. Bên trên cửa có một cái lầu canh bằng sắt cao vút trong không trung. Tisiphone, một trong ba nàng Đại Nộ, mình bận một chiếc áo màu máu, ngày đêm đứng gác không hề ngủ.
Ba nàng Đại Nộ, cũng có tên là Erinyes, sinh ra do máu của Saturne rớt xuống đất sau khi bị Jupiter chém. Chuyên thi hành mọi sự thịnh nộ của thần nhân, nhiệm vụ của ba nàng là tiễu trừ tội ác và báo cừu cho những người lương thiện vô tội. Quyền lực của ba nàng không riêng ở Địa Phủ mà còn cả ở trên Dương thế và trên Thiên cung nữa. Nàng hung dữ nhất, đến Pluton cũng phải nhìn nhận như vậy, là Alecton. Alecton cùng với Mégère trong số ba chị em, đi đi lại lại trên tòa thành, không ngớt hành hạ các tội phạm bằng những chiếc roi mình rắn hay những bó đuốc hừng hực cháy, để trừng trị những sự độc ác của chúng trên trần thế. Nơi đây phát ra những tiếng rên xiết, la  hú kinh hoàng chính là vực Tartare vậy. Tại đây Rhadamanthe ban ra những luật phép gắt gao, ở kế bên giòng Cocyte, chứa đầy nước mắt quá muộn của những kẻ độc ác. Tại đây, ta có thể trông thấy bọn anh em Titan phản loạn, nàng Salmonée đáng tội vô đạo, cùng với Tityus và Ixion, những người đã bội lời thề, những kẻ keo kiệt, phản bội, đang phải chịu những cực hình vô kể.
Phía tay mặt là con đường đưa tới những cánh đồng tươi đẹp, những cánh rừng xanh tốt, nơi an lạc ngự trị. Một bầu không khí trong lành bao phủ, ánh sáng đỏ hồng hồng. Các bóng ma được hưởng ở đây cả không khí lẫn ánh sáng mặt trời, cùng những vì sao như trên trần thế. Tại khu vực của những người sung sướng, tại cánh đồng Elysée, các bóng ma tập luyện chân tay hay chơi đùa vật lộn trên cát vàng. Tại đó, Orphée, mình choàng chiếc áo rộng, dùng ngón tay và mảnh ngà voi gẩy chiếc đàn Ly Tao. Trong khi các bóng ma nằm dài trên cỏ, bên bờ suối Eridan, cùng nhau hợp xướng một bài ca mừng Apollon, Bacchus hay Mars. Tận cùng thung lũng cây cỏ xanh tốt, một dòng suối lững lờ chảy qua những lùm cây râm mát, vang vang những âm thanh. Đó là dòng suối Léthé, đầu con sông Quên Lãng phân ranh giới giữa Địa Phủ và Dương gian. Hai bên bờ sông, vô số những bóng ma của những quốc gia và những dân tộc bị xóa tên trên bản đồ trên bản đồ thế giới bay lượn và thỉnh thoảng xà xuống uống nước trên sông Lãng Quên cho khuây khỏa sự nhớ tiếc địa vị cũ. Xưa kia những linh hồn này chuyên kích động những tâm hồn ngay thẳng cũng như những tâm hồn bạo ngược trên trần thế, nhưng bao nhiêu tội lỗi đã trả, nhiều linh hồn lại muốn trở về dương gian một lần nữa. Chừng bao nhiêu vết tích của tội lỗi cũ đã được sạch hết nhờ nước trên giòng Quên Lãng, các thần nhân có thể sẽ ưng chịu cho những bóng ma này thử trở lại nhân gian để thử thách một lần nữa.
Tới đó là hết khu vực Erèbe, xứ mênh mông của các bóng ma. Ở đó ta có thể ra khỏi nhờ qua hai cửa Giấc Ngủ; một cửa bằng sừng qua đó những giấc mơ thật sự tìm tới mọi người trên trần thế; một cửa nữa bằng ngà và đem tới cho loài người những giấc mộng vô ích.
 
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Phần thứ hai.
 
 
Các thần thoại.
 
 
Những sự tích kể trong phần này căn cứ vào những truyền thuyết về những nhân vật thời tiền sử, nửa thường nhân nửa thần nhân, đã từng nêu cao tên tuồi do những hành động đặc sắc. Theo P. Decharme, trong cuốn Mythologie de là Grèce antique, các thần nhân trực tiếp đi trước loài người này được thần vương Jupiter dành riêng cho một khu vực ở giữa Thiên cung và Hạ giới, tại đó các bán thần ( demi – dieux ) sống tiêu dao sung sướng đời đời.
Đăng nhập để trả lời
0
Sự tích Prométhée.
 
 
Thời đó trên mặt đất chưa có dấu chân người. Sau trận chiến tranh chống bọn khổng lồ, thần vương Jupiter nửa muốn ghi công Prométhée, con của một trong số anh em Titan là Japet, nửa lại sợ trí thông minh siêu việt của kẻ tay chân này có khi vượt quá quyền phép của thần vương chăng, cho nên Jupiter đã không ngần ngại xô Prométhée té xuống mặt đất hoang vu, không cho ở trên khu vực nhà trời nữa. Bị đày xuống trần, Prométhée vẫn giữ được cốt cách thần nhân, giữ được bản chất sáng tạo, bèn lấy một tảng đất sét và nặn thành con người. Đó là một sinh vật thông minh và hình thù cân đối, biết nhìn nhận cái đẹp của vũ trụ và biết đem quyền phép và ý chí của mình chế ngự tạo vật và thiên nhiên. Minerve thấy vậy rất thán phục kết quả của sự sáng tạo này và đề nghị tham gia vào việc cấu tạo đó bằng cách đưa Prométhée đi dạo khắp khu vực Thiên cung để kiếm xem những gì cần ích cho sinh vật mới tạo nên đó, Prométhée  - kẻ lo xa – chỉ lấy một tia sáng trên chiếc xe Mặt Trời, giấu trong một cành ferule đem về cho loài người. ngọn lửa thiêng đó là nguồn gốc cho bao nhiêu công cuộc sau này của loài người.
Nhưng Jupiter khám phá ra vụ đánh cắp này bèn nổi giận, tính đem sấm sét đập tan dòng giống mới mà thần vương xem ra sẽ gây nhiều hậu họa. Nhưng Prométhée tỏ ra khôn khéo quá khiến cho Jupiter thôi không trừng phạt nữa. Tuy nhiên, sự giận dữ của Jupiter chưa kịp nguôi thì Prométhée lại làm cho tăng bội lên nữa. Muốn thử xem Jupiter có thật sự xứng đáng với những oai quyền trên núi Olympe hay không. Prométhée giết hai con bò mộng, đem lột da, lóc thịt và xương riêng ra một nơi. Rồi Prométhée xương của cả hai con nhồi trong bộ da của một con, còn bộ da kia thì nhồi bao nhiêu thịt, mỡ cùng tủy của cả hai con. Sau đó Prométhée  đem tới dâng cho Jupiter và yêu cầu Jupiter chọn lấy một con. Chẳng may cho Jupiter chọn nhầm con chỉ có da và xương không. Sau khi đã biết là bị Prométhée lừa gạt. Jupiter quyết tâm trừng trị thẳng tay. Thần vương bèn sai Vulcain chế tạo ra một người đàn bà. Vulcain bèn tạo ra một người đàn bà rất mỹ lệ rồi đưa tới trình diện tại bàn tiệc của các thần nhân. Các thần nhân đều khen gợi tài hoa của Vulcain và ai nấy đều vui lòng ban cho linh vật đó một món đặc biệt. Minerve choàng lên vai cho một chiếc áo trắng sáng ngời, chụp lên đầu cho một mảnh the mỏng bên trên có đai miện bằng vàng, cho thêm trí thông minh và dạy cho biết hết thảy mọi ngành nghệ thuật thích hợp với người đàn bà. Vénus lại choàng trên thân mình người đàn bà cái duyên dáng đáng sợ nó gây nên ở chung quanh những sự thèm muốn e ấp. Mercure ban cho tài hùng biện khiến cho người nghe phải lọt tai. Các nữ thần Duyên Dáng lại ban cho những vòng vàng. Được hết thảy chư thần ban cho tặng vật, vì vậy người đàn bà mang tên là Pandore, tức là kẻ được chư thần ban ơn. Khi tới trước mặt Jupiter, Pandore được Thần vương ban cho một chiếc hộp đậy nắp kín và dặn rằng đem xuống trần trao cho Prométhée.
Prométhée vốn khôn ngoan không mắc mưu Thần vương. Prométhée xua đuổi người đàn bà vừa đẹp vừa duyên dáng đó đi và cũng không nhận lãnh cái hộp gắn kín. Bị xua đuổi, Pandore đi kiếm người con khác của thần Japet là Epiméthée. Epiméthée – kẻ dại dột – tuy đã được báo trước là không nên nhận một vật tặng gì của Jupiter, vẫn bị mê hoặc bởi duyên dáng của Pandore.
Epiméthée nhận con người xinh đẹp đó làm vợ và tiếp nhận cái hộp kín. Khi mở hộp ra, một đám mây những tội ác cùng thói xấu bay ra, bao trùm lấy toàn thể mặt đất. Epiméthée muốn vội đậy nắp hộp lại, nhưng bao nhiêu cái xấu xa đã bay ra hết, trong hộp chỉ còn lại có Hy Vọng. Vì thế, người đàn bà đầu tiên trên trần thế này là Pandore đã đem tới cho nhân loại về sau hết thảy mọi điều cơ cực từ đó tàn hại loài người.
Đã thế Jupiter vẫn chưa nguôi cơn giận vì thật sự chưa trừng trị được đích thân kẻ đã sáng tạo ra loài người. Jupiter bèn sai Vulcain cùng với thần Lực đi bắt tên Titan Prométhée đem tới ngọn núi Caucase cột lại đó. Thêm nữa, Thần vương lại sai khiến một con đại bàng đang đói từ trên trời sà xuống lấy mỏ phanh ngực của kẻ bị tội, và liên tiếp không ngừng, ngày đêm , trong vòng ba mươi ngàn năm, rỉa nát lá gan của Prométhée, mỗi khi đại bàng ăn hết, là gan lại mọc ra để bị rỉa nữa. Nhưng một ngày kia, Prométhée vì có tài tiên tri nhờ nói với Jupiter rằng nếu Thần vương cứ giữ ý định lấy Thétis sẽ sinh ra một đứa con dũng mãnh hơn cha và sẽ truất ngôi của Jupiter. Tri ân Prométhée, Jupiter đích thân đi cởi trói cho kẻ bị tội trên ngọn núi Caucase. Có thuyết khác thì nói Jupiter sai Hercule đi làm công việc đó. Nhưng vì đã trót có lời nguyền là không bao giờ thả Prométhée ra, Jupiter buộc Prométhée phải luôn luôn mang trên ngón tay một vòng nhẫn bằng sắt cột một mẫu đá lấy ở núi Caucase. Tục đeo nhẫn còn lại tới ngày nay, nguyên do từ đó.
Không còn truyền thuyết nào nói rõ thêm về các thần linh này, ngoại trừ chuyện Prométhée lấy Pyrrha, con gái của Epiméthée sau sinh ra Deucalion
 
Đăng nhập để trả lời
0
Sự tích Thésée.
 
 
Egée, con trai Pandion, ngự trị tại Athènes, tới Trézène, một đô thị ở Péloponèse, để cưới Ethra, con gái vua Pitthée. Sau  khi cưới Ethra và trước khi trở về nước để Ethra lại đó. Egée đem giấu dưới một tảng đá lớn thanh gươm và một chiếc giầy của mình. Egée căn dặn vợ nếu sinh con trai, khi nào đứa con thành người sẽ bảo nó nhấc tảng đá lên và đem gươm cùng giầy tới Athénes kiếm cha. Ethra sinh con trai thật, đặt tên là Thésée và trao cho nhân mã Chiron nuôi dạy. Khi Thésée vừa khôn lớn, Ethra bèn đưa tới tảng đá và nói rõ cho biết ý định của Egée. Thésée hất nhẹ tảng đá, lấy thanh kiếm và chiếc giầy, đi tới Athènes ra mắt cha. Trong khi đi đường qua eo biển Corinthe, Thésée giết chết tên đạo tặc Sinnis chuyên bóc lột các hành khách. Thésée uốn cong hai cây thông lớn đem Sinnis cột ở giữa rồi thả cho cây đứng thẳng lên, Sinnis bị treo cổ ở giữa. Một tên đạo tặc khác tên là Procuste, lại chuyên đặt những hành khách mắc vào tay hắn trên một cái giường sắt, nếu chân tay người đó thừa quá thành giường thì hắn chặt cụt bớt, nếu chân tay quá ngắn thì hắn lấy dây chão căng cho dài ra. Thésée tóm cổ tên tàn ác và bắt hắn chịu cực hình đó. Sisyphe, chuyên ăn trộm và ăn cướp ở Altique, cũng bị Thésée hành tội. Sau cùng Thésée tới Athènes, giúp Egée đặt vững lại ngôi báu đang bị phản loạn ở bên trong. Xong việc, Thésée lại tới cánh đồng Marathon trị con bò mộng điên đang tàn phá. Thésée tóm cổ con vật lôi về Athènes  làm lễ vật dâng cúng thần Apollon.
Thời đó xứ Altique phải dâng nộp hàng năm cho Minos, ngự trị tại đảo Crète bảy thanh niên và bảy thiếu nữ để dâng cúng cho thứ quái nhân mình người đầu bò tên là Minotaure bị nhốt trong tòa Mê cung ( Labyrinthe ). Đám người đáng thương này đã được chỉ định và đang sửa soạn lên đường. Trước cảnh thảm thương, Thésée nguyện thay thế một thanh niên trong bọn để sang đảo Crète giết cho được quái nhân. Chiếc thuyền chở mười bốn người trẻ tuổi qua đảo Crète trương một cánh buồm đen. Nhưng vua Egée, khi đó đã già, có ước hẹn với con trai nếu thành công trở về thì sẽ trương một cánh buồm trắng cho vua cha sớm hay tin thành công.
Mười bốn thanh niên thiếu nữ đổ bộ lên đảo Créte được Minos cùng con gái là công chúa Ariane ra đón. Trông thấy Thésée, nàng Ariane xinh đẹp đâm mê ngay và dự định cứu Thésée khỏi chết. Ariane lén giấu cha đưa cho Thésée một cuộn dây, dặn chàng khi bước vô tòa Mê cung thì cột một đầu dây ở cửa ngoài. Nhờ sợi dây đó, sau khi giết chết Minotaure chàng mới thoát khỏi Mê cung.
Sau khi bước vào Mê cung, tới một chỗ ngoặt thì Thésée gặp con quái vật Minotaure đang sùi bọt mép vì tức giận. Con quái nhân lao lên người Thésée những muốn ăn thịt chàng thanh niên. Nhưng Thésée ra sức vật lộn, lát sau đạp ngã ngửa Minotaure rồi nhảy lên mình đập chết con quái nhân. Nhờ đó Athénes thoát khỏi nạn cống hiến hằng năm.
Con người chiến thắng vinh quang trở về nước với mười ba thanh niên và thiếu nữ, và kèm theo cô nàng tuyệt sắc Ariane nữa. Nhưng Thésée vốn ham chơi, chẳng bao lâu, nhân một cuộc đổ bộ khi đi qua đảo Naxos, trong quần đảo Cyclades, đã bỏ rơi nàng Ariane ở đó. Về sau Bacchus gặp Ariane và cưới cô nàng bị bỏ rơi trong bao lâu không người an ủi.
Khi thuyền về gần tới Altique, Thésée mải vui quên lời giặn của cha khi ra đi, không trương cánh buồm trắng lên. Đứng trên mỏm đá ở bờ biển ngóng trông con trai, vua Egée khi trông thấy cánh buồm đen tưởng con mình đã chết. Quá thất vọng, Egée lao mình xuống biển tự trầm, biển này từ đó mang danh là biển Egée.
Đăng nhập để trả lời
0
Chiếc thuyền chiến thắng được dân chúng Athènes chăm chút giữ gìn, hễ có bộ phận nào bị hư nát họ liền thay thế bằng những bộ phận mới. Hằng năm dân Athènes dùng thuyền đó đem lễ vật tới dâng cúng vị thần linh ở đảo Delos và mệnh danh thuyền đó là Paralienne.
Thay thế cha trị vì, Thésée đem hết thảy các thị trấn lớn nhỏ ở Altique họp thành một đô thị lớn, tại đó bao nhiêu quyền hành đều trao trong tay dân chúng. Thésée dâng đô thị đó cho thần Minerve, lập lệ hằng năm dâng cúng, lễ dâng cúng mệnh danh là Panathénée. Sau khi thu xếp như vậy xong, Thésée liền thoái vị.
Từ đó tiếp tục các cuộc trổ tài vũ dũng, Thésée tới Pont-Euxin ( tên xưa của biển Đen ) tiếp tay với Hercule trong việc chinh phạt các nữ tướng Amazones. Những nữ tướng nay ngụ trị tại Cappadoce. Mỗi khi sinh hạ con trai họ đều đem giết chết chỉ giữ lại con gái. Muốn dễ dàng sử dụng cung nỏ không bị vướng, các nữ tướng Amazones lấy lửa đốt một bên vú tay mặt. Tên Amazones do tục lệ đó và có nghĩa là: những người đàn bà không có một bên vú. Thésée sát hại gần hết các nữ tướng, bắt bà chủ tể của họ đem giam lại và lấy Antiope, là em gái bà chủ tể làm vợ. Antiope sau sinh ra Hippolyte.
Cùng với Méléagre, Thésée đi săn con heo rừng phá hoại mùa màng tại Etolie, vùng Calydon. Sau đó Thésée lại cùng các thủy thủ của chiến thuyền Argo ( các Argonautes ) đi tới Colchide. Tại đó, Thésée hợp lực cùng Jason và các Argonautes cướp được tấm lông con cừu của Phrixos do một con rồng dữ tợn canh giữ. Tấm lông đó mệnh danh là Tấm lông Vàng ( La Toison d’or ). Trên đường về, khi qua xứ Lapithes, Thésée lại đụng độ với vua Pirithoűs. Pirithoűs vì ghen với những vũ công của Thésée nên kiếm chuyện, lấy mất một bầy cừu của Thésée để buộc Thésée phải theo mình. Nộ khí xung thiên, Thésée nhào vô người Pirithoűs. Nhưng trong cuộc vật lộn kinh khủng giữa hai tay thần lực, cả hai đều thấy cảm mến nhau và cùng nguyện làm bạn với nhau mãi mãi. Do đó, về sau Thésée chỉ cần xin viện trợ của Pirithoűs là cướp được nàng Hélène xinh đẹp, con của Tyndare, trị vì ở Sparte. Nhưng sau đó Thésée lại trả nàng cho hai em của nàng là Castor và Pollux. Sau đó Thésée lại cùng Pirithoűs xuống âm cung để giúp Pirithoűs cướp nàng Proserpine. Bị bắt giao cho các nàng Đại Nộ, hai người phải chờ hai năm ở cửa vực Tartare, cho tới khi Hercule xuống đó bắt trói con chó Cerbère mới đưa tay nắm hai người và cứu thoát.
Vào thời kỳ đó Thésée lấy nàng Phèdre nồng nàn, con gái của Minos và Pasiphaé.
Mòn mỏi trông đợi chồng, con người nồng nàn đau khổ và cho rằng chồng đã chết nên nuôi ý định lấy con riêng của Thésée là Hippolyte. Nhưng chàng thanh niên này bản tính ghét sự chung đụng với mọi người, chỉ ưa săn bắn cùng luyện tập võ nghệ. Nhưng Phèdre cũng có vinh dự dụ dỗ được anh chàng lạnh lùng đó. Bất đồ Thésée trở về. Cáu giận vì không được thỏa mãn lòng ham muốn, vì không khiến cho Hyppolyte nghe theo lời mình làm việc sằng bậy, Phèdre tâu trình với Thésée là Hyppolyte đã mưu toàn làm công việc mà chính Phèdre có dã tâm tính làm.
Thésée tin lời, trong cơn nóng giận mù quáng đã xua đuổi Hyppolyte, nguyền rủa con và bỏ mặc cho Neptune tự ý trả thù, tuy rằng hồi trước Thésée đã có phen làm ơn với Neptune. Kính trọng cha và không muốn nói ra sự thật, Hyppolyte trèo lên chiếc xe ngựa của mình và bỏ đi. Trong khi giong ruổi theo ven biển, Hyppolyte bị một con quái vật do Neptune sau tới nhảy chồm ra khiến cho ngựa khiếp hãi làm lật nhào chiếc xe, Hyppolyte vị văng mình vào núi đá tan thây thành nhiều mảnh. Xác Hippolyte đem về cho Thésée thì vừa lúc Thésée đã quá muộn cũng hay biết sự thật. Phèdre khi bị xử giảo cũng tự ý tiết lộ sự thật đó ra.
Dân chúng Athènes, tức giận vì số phận oan uổng của Hyppolyte ra một đạo luật cấm chỉ Thésée không được lui tới Athènes nữa. Ông già Thésée buồn rầu đi tới đảo Scryros. Tại đây vua xứ đó một bữa tạ sự đưa Thésée lên một ngọn núi để chỉ cho Thésée thấy phạm vi nơi ông ta trị vì, khi tới đầu núi bèn xô Thésée ngã xuống vực và lăn xuống biển chết.
Nhiều thế kỷ sau, dân chúng thành Athènes nhớ tới bực anh hùng đã có thời góp phần làm vang danh xứ sở. Bà phù thủy Pythie ( hay Pythonisse ) ra lệnh đi tìm kiếm xương tàn của Thésée. Nhưng ở Scyros không có ai còn nhớ rõ nới Thésée bị ngã chết củng là nơi chôn xác Thésée. Mãi sau tướng Cimon ( con trai Miltiade, chết năm 449 trước Công Nguyên ) mới tìm được nơi chôn xác Thésée. Vì trông thấy một con đại bàng đang lấy mỏ rỉa một mỏm đất, tướng Cimon sai đào đất lên và tìm thấy một chiếc quan tài trong đó có xác một người to lớn cùng với một thanh gươm và một ngọn mác. Tướng Cimon lập tức chở cỗ quan tài lên thuyền và đem mớ di cốt quý báu đó về Athènes. Tại đây dân chúng Athènes làm lễ mai táng Thésée rất là trọng thể, xác của Thésée được chôn trong một khu vực cấm mệnh danh là Théséium. Xác của Thésée được đặc biệt ký gởi tại đó mặc dầu đạo luật trục xuất hồi trước.
Các nhà điêu khắc thời cổ tượng hình Thésée gần giống với Hercule. Một đời Thésée quả thật nhiều khi người ta có thể coi đó là hình bóng gần phàm nhân hơn là của Hercule.
 
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Sự tích Cécrops.
 
 
Có hai truyền thuyết về Cécrops. Thuyết thứ nhất cho rằng Cécrops từ Ai Cập cùng một đám dân di cư tới Attique rồi lập nên một thị trấn. Thuyết thứ hai cho rằng Cécrops là dân bản xứ Attique, lập nên một đô thị và đặt ra những phép tắc cho dân chúng theo; cấm không dùng lễ vật sống lấy bột mì thay thế để dâng cúng thần linh. Cécrops đầu, ngực và tay là người còn phần dưới là một con rồng. Như vậy Cécrops giống như những thần Khổng Lồ do Trái Đất sinh ra.
Dưới thời Cécrops, Neptune muốn chiếm lấy khu vực đó và đem tên mình đặt cho thị trấn do Cécrops lập nên, đã lấy mũi chĩa ba tạo nên một con ngựa hung hãn nhảy vọt lên từ mõm  Acropole khi đó mệnh danh là Cécropie. Một thuyết khác lại nói rằng không phải là con ngựa mà là một ngọn suối nước mặn. Về sau ngọn suối đó thuộc khu vực ngôi đền Erectheion. Nhưng thật ra không ai dám nói chắc là có chuyện đó. Ngược lại, nữ thần Minerve ( hay Athéné ), khi muốn chiếm lĩnh khu vực này đã ngay trước mắt Cécrops, lấy ngọn thương đâm xuống đất ở mõm núi Cécrops và từ đó mọc lên một cây ô – liu rất lớn. Cây ô – liu này, về sau , quân lính của vua Ba Tư Xerxès nổi lửa đốt đi, nhưng đốt xong cây lại mọc, và mọc thêm nhiều cây nhỏ chung quanh. Cuộc tranh chấp giữa hai vị thần linh về khu vực của Cécrops phải đưa tới hội nghị của mười hai vị thần linh trên núi Olympe xét xử. Jupiter khước từ lời xin của Neptune, cho nên thành phố Cécropie được đổi tên thành Athènes, do tên của nữ thần Athéné.
Đăng nhập để trả lời
0
Erichthonius và những con cháu.
 
 
Erichthonius hay Erechthée là con của thần Vulcain và nữ thần Trái Đất. Erichthonius sinh ra mình người đuôi rắn. Vừa lọt lòng, Erichthonius được Minerve đem giấu một nơi không một vị thần linh nào hay biết. Minerve sai một con rồng canh gác chiếc hộp trong đó nhốt quái nhân Erichthonius. Sau Minerve trao chiếc hộp đó cho Pandrose, con gái lớn của Cécrops canh giữ với lời căn dặn không được mở ra coi. Pandrose hứa như vậy và giữ lời. Nhưng hai cô em gái Aglaure và Hersé lại nóng nảy muốn biết bên trong chiếc hộp có đựng món chi lạ. Khi mở chiếc hộp ra trông thấy đứa nhỏ quái lạ có một con rồng quấn quanh hai cô gái kinh hoàng la lên. Nỗi kinh hoàng còn được các nữ thần Đại Nộ tức giận làm tăng thêm đến độ hai cô gái cùng nhau lao mình từ trên mỏm núi xuống biển.
Erichthonius sau khi trở thành vua xứ Athènes khuyên dân chúng thờ phụng nữ thần Minerve, và xây một ngôi đền trên ngọn đồi Acropole dành riêng cho nữ thần Minerve. Về sau chính Erichthonius cũng được thờ cúng tại đó, trong một ngôi đền mệnh danh là Erechthéion. Erechthée sinh thời có gây một trận chiến tranh với Eleusis. Erechthée chiến thắng nên thành phố đó phải chịu thần phục Athènes.
Sau khi Pandrose chết, dân chúng Athènes ghi nhớ sự vâng lời của nàng đối với nữ thần Minerve đã xây một ngôi đền thờ cô con gái lớn của Cécrops ở kế bên đền thờ Minerve.
Trong số các con gái của Erichthonius nổi tiếng nhất có Orithyie. Một bữa Orithyie cùng bầy thể nữ dạo chơi trên bờ suối Ilissus. Borèe, thần gió Bắc, chợt đâu tới ôm ngang lưng Orithyie đem đi mất. Orithyie được đưa về xứ lạnh lẽo băng tuyết Thrace. Khi vua Ba Tư Xerxès đem quân tới đánh Hy Lạp ( thế kỷ thứ V trước CN ), dân chúng Athènes hoảng sợ đi hỏi kế ở thày tiên tri. Nhà tiên tri khuyên nên cầu sự trợ giúp của hoàng tức. Dân chúng Athènes hiểu ý và lập đàn cúng lễ thần gió Bắc Borée. Quả nhiên một trận gió bắc kinh khủng nổi lên đánh đắm hết đoàn chiến thuyền của vua Ba Tư.
Con trai của Erichthonius là Pandion, nối nghiệp trị vì Athènes. Pandion sinh được ba người con gái Procris, Procné và Philoméle. Hai cô con gái nhỏ chịu nhiều cảnh khổ sở quá khiến cho Pandion đau lòng mà chết.
 Cô gái lớn Procris cưới một chàng trai trẻ có một sắc đẹp đặc biệt tên là Céphale mà nử thần Aurore vốn say mê từ lâu. Để trả hận, Aurore quyết tâm gây chuyện lục đục giữa hai vợ chồng. Aurore bèn xui Céphale thử đo lòng chung thủy của vợ bằng cách giả dạng làm một du khách tìm tới kiếm Procris đưa tặng rất nhiều bảo vật và yêu cầu Procris thuận lấy mình. Động lòng tham, Procris ưng thuận. Tới khi vỡ ra rằng khách thương đó chẳng ai khác là Céphale, Procris xấu hổ quá trốn chạy tới đảo Crète và tìm sự an ủi ở đó với Artémis. Nữ thần Artémis động lòng trước sự hối cải của Procris dự tính cách hòa giải cho hai vợ chồng. Artémis cho Procris một cây cung bắn phát nào đều trúng đích và một con chó, rồi cải trang cho Procris không ai nhận ra được và gửi Procris về với Céphale. Céphale ham cây cung bách phát bách trúng cho nên cũng phạm một lỗi giống hệt như vợ. Procris liền ra mặt và hai vợ chồng trở nên đoàn tụ như trước. Aurore vẫn không nguôi, luôn luôn theo gót Céphale và gây trong tâm Procris  một mối ghen khiến cho Procris ngày một mỏi mòn. Một buổi sáng, trong khi Procris đang rình rập chồng vì ghen, Céphale thấy động trong bụi cây lại nghi rằng có con vật nào ở đó vội lấy cây cung ra nhắm bắn và giết chết người vợ thương yêu Procris. Đau khổ quá, Céphale nhảy xuống biển tự vẫn.
Đăng nhập để trả lời
0
 
Nhân nhắc đến nữ thần Aurore ta nên biết thêm đó là con gái của Titan và nữ thần Trái Đất . Ban đầu Aurore thương yêu Tithon, một vị hoàng tử bảnh trai, con của Laomédon vua sáng lập ra thành phố Troie. Aurore sinh với Tithon một con trai tên Memnon. Vì yêu mê chồng, Aurore hứa sẽ ban cho chồng bất kỳ điều gì mà chàng ước muốn. Tithon ước ao được sống lâu mãi. Được như nguyện, Tithon sống lâu quá đến trở nên già cỗi, thân thể hao mòn đến độ biến thành con ve sầu thỉnh thoảng lại lột xác. Memnon làm vua ở Abydos, sau bị Achille giết chết dưới chân thành Troie. Pho tượng của Memnon theo lời dân gian đồn đại mỗi buổi sáng, khi hừng đông chiếu rạng lại phát ra những âm thanh êm tai. Dân gian lại truyền tụng rằng những hạt sương buổi sáng là những hạt lệ của nữ thần Aurore thất tình.
 
 
 
Sự tích những đau khổ của những cô con gái nhỏ cùa Pandion là Philomèle và Procné rất đáng thương tâm. Pandion gây chiến tranh với Labdacus, vua xứ Thèbes, có yêu cầu Térée, vua xứ Thrace trợ giúp. Để trả ơn Térée, Pandion gả Procné cho Térée. Nhưng Térée lại mê Philomèle. Térée bắt cóc Philomèle lấy làm vợ. Sợ Philomèle có dịp tiết lộ sự tình, Térée cắt mất lưỡi Philomèle và nhốt nàng trong một cái tháp cao. Philomèle tuy vậy không nản lòng, dùng kim thêu một bức thư gửi cho em kể hết sự tình. Nhân một dịp lễ cuồng ẩm, Procné cầm đầu một đoàn nữ binh tới bao vây tòa tháp và giải cứu cho Philomèle. Khi trở về hoàng thành, chính tay đang cơn nóng giận lại giết chết Itys là con ruột của mình với Térée. Dùng thịt con, Procné sửa soạn bữa ăn cho chồng. Sau khi Térée ăn uống no say, Procné mới cho lăn chiếc đầu Itys tới trước mặt Térée. Điên cuồn vì tức giận và khiếp hãi, Térée vớ lấy chiếc búa chạy đuổi theo hai chị em. Khi Térée sắp chụp bắt được hai người thì một vị thần linh can thiệp biến Térée thành một con chim rẽ quạt, Procné thành một con chim họa mi và Philomèle thành một con chim én. Dân gian tin tưởng rằng từ đó giọng hót của chim họa mi bao giờ cũng như than van. Đó là người mẹ than tiếc đứa con chết thảm vậy.
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Sự tích Hercule hay Héraklès.
 
 
Trong số các nhân vật trong thần thoại nổi tiếng nhất có lẽ là Hercule vì không một thần linh nào lại một mình đóng vai chính trong nhiều cuộc phiêu lưu ly kỳ như Hercule. Không nơi nào ở khắp Hy Lạp và khu vực Địa trung hải không có dấu chân của Hercule. Những chuyện phiêu lưu kỳ thú của Hercule xảy ra ở khắp các thế giới tiền sử.
Vị bán thần có thể coi như nhân vật điển hình của hết thảy các vị anh hùng trong thần thoại. Đó là một nhân vật dũng mãnh, nhưng tốt lành trọn đời đi từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc để cứu khốn phò nguy, không ngại tổn thương tới sinh mạng, hy sinh giao chiến với bất kỳ một thứ quái vật nào với mục đích duy nhất là trừ hại cho thường nhân. Nhờ những công lao hiển hách đó, sau cùng Hercule được dự vào hàng ngũ các thần linh.
Amphitryon là con trai Alcée và là cháu nội của Persée, và do Percée là chắt của Thần vương Jupiter. Amphitryon trị vì tại Thèbes. Đồng thời với Amphitryon, Sthénélus, trị vì tại Argos và Mycènes, cũng là con của Percée. Vào dịp đó cả Amphitryon lẫn Sthénélus đều sắp sửa có con trai. Đúng lý ra thì con của Amphitryon sẽ sinh trước vì thụ thai trước. Tại hội đồng chư thần trên núi Olympe, Jupiter – với hậu ý đặc biệt đối với đứa nhỏ sắp do Alcmène, vợ của Amphitryon, sinh ra – nên phát lời nguyền rằng đứa cháu của Percée sắp sinh ra trước sẽ có một sức mạnh vô địch trên mặt đất. Nhưng Junon biết Jupiter vì lẽ gì lại biệt nhãn đối với Alcmène nên nổi cơn ghen khiến cho con của Sthénélus tuy non tháng hơn cũng sinh ra trước Hercule. Do sự trước sau này mà về sau Hercule có phen phải thần phục Eurysthée là con của Sthénélus.
Muốn cho Junon đừng ghét bỏ Hercule, Mercure mới đem Hercule lên Thiên cung và theo ý muốn của Jupiter, nhân khi Junon ngủ say đặt Hercule đặt Hercule nằm bên cho bú sữa bà nữ chủ tể trên Thiên cung. Không may Hercule khỏe quá, bú sữa ham hố đến nỗi Junon chợt tỉnh dậy. Nổi giận, Junon đạp phăng đứa nhỏ xuống, khiến cho dòng sữa bắn tung lên và hóa thành Con đường sữa ( La voie lactée ) tức là đám đông các vì sao tụ thành một giải vắt ngang trời.
Cơn thịnh nộ của Junon vẫn chưa nguôi. Khi Hercule được tám tháng, Junon sai hai con rắn tới sát hại. Nhưng Hecule nằm trong nôi bình tĩnh dùng hai nắm tay bóp chết hai con rằn.
Lớn lên, Hercule ngày một to lớn và dũng mãnh. Năm mới mười tám tuổi, Hercule đã giết chết con sư tử ở Cithéron chuyên tàn sát bầy cừu của Amphitryon. Đồng thời với sức mạnh, Hercule cũng ngày một tinh khôn và đứng đắn. Một bữa, Hercule thơ thẩn một mình kiếm nơi hoang vắng để suy nghĩ về những phép tắc sẽ tự buộc cho mình từ nay về sau, có hai phụ nữ rất xinh đẹp hiện ra. Một phụ nữ bận đồ trắng, gương mặt oai nghiêm, tia mắt thanh khiết và dáng điệu khiêm nhượng; đó là nàng Đạo Đức. Nàng thứ hai mình mẩy nở nang, quần áo hoa hoét và dáng dấp khêu gợi; đó là nàng Hoan Lạc. Cả hai cùng chào mời chàng thanh niên đi theo mình. Nhưng Hercule không đáp lời nàng Hoan Lạc mà nhất định bước theo cô nàng Đạo Đức.
Hồi đó Amphitryon gây chiến tranh với một dân tộc láng giềng và bị tử trận. Créon nối ngôi Amphitryon. Muốn đền đáp công ơn của Hercule trong việc gián tiếp giúp đỡ triều đình và giang sơn của mình nên gả con gái là Mégare cho Hercule. Nhưng Junon vẫn chưa nguôi cơn giận khiến cho Hercule bỗng nổi cơn điên. Trong cơn điên dại, Hercule đem bao nhiêu đứa con có với Mégare liệng vô đống lửa. Khi trở lại sáng suốt, Hercule lấy làm kinh khủng về hành động của mình bèn tới hỏi nhà tiên tri ở Delphes. Nhà tiên tri cho biết nên tới Mycènes thần phục Eurysthée và chịu ở đó phụng sự cho Eurysthée trong vòng mười hai năm. Nhưng con trai của Sthénélus, và cũng là anh em thúc bá với Hercule, rất kinh sợ sức dũng mãnh của Hercule và lại sợ Hercule đòi lại quyền của mình về ngôi vua ở Argolide, nên kiếm hết cách hãm hại Hercule. Eurysthée bày cho Hercule phải làm những công việc khó khăn ghê gớm. Đó là mười hai kỳ công của Hercule còn truyền tụng đời đời. Sở dĩ Hercule có thể thắng trong đủ mười hai vụ khó khăn một phần là tài vũ dũng của mình, một phần cu4hng nhờ được sự trợ giúp của các thần nhân. Mercure cho một cây bảo kiếm, Apollon một mớ tên, Vulcain một bộ giáp vàng, Minerve một chiếc áo choàng. Còn chính tay Hercule tự tạo cho mình một cây chùy bằng gốc cây trong rừng Némée ở Elide.
Đăng nhập để trả lời
0
Mười hai kỳ công của Hercule.
 
 
1. Con sư tử ở Némée.
 
Lệnh đầu tiên của Eurysthée sai Hercule là tới rừng Némée giết con sư tử vô địch ở đó, lột da đem về. Con sư tử này không phải là một con vật thường. Nó từ trên mặt trăng rớt xuống đất và do Junon chăm nuôi từ nhỏ. Không có sức nào làm tổn thương được con sư tử của thần nhân nuôi đó. Hercule đuổi con sư tử tới một cái hang đá có hai cửa vào. Cửa kia đã bị Hercule chặn lại trước. Không lối thoát, con linh sư bị Hercule tóm cổ bóp chết.
 
2. Con Giao Long ( Hydre ) ở Lerne.
 
Xứ Lerne ở Argolide bị một con rắn quái dị chín đầu tàn phá. Hercule được lệnh tới trừ hại cho dân vùng đó. Hercule tới đó ra sức trừ con rắn quái, nhưng hễ Hercule dùng chùy đập hay dùng lưỡi hái bằng vàng chặt được một đầu con rắn thì nó lại mọc ra hai ba đầu khác. Nhờ cháu là Iolas giúp sức. Hercule mỗi khi chặt đứt một đầu rắn lại lập tức lấy cục than hồng đốt chỗ đầu vừa đứt khiến cho rắn không mọc được thêm đầu khác nữa. Hercule lại biết rằng cái đầu ở chính giữa có thể cứ mọc ra mãi nếu còn nguyên vẹn dù bị cắt đứt. Hercule bèn dùng một  tảng đá lớn đập nát cái đầu cuối cùng. Giết xong con rắn quái, Hercule nhúng đầu những mũi tên của mình vào máu con rắn. Do đó những mũi tên của Hercule mỗi khi găm trúng người hay vật nào, vết thương không bao giờ có thể lành được.
3. Con nai chân bằng đồng.
 
Trên ngọn núi Ménale, xứ Arcadie, có một con nai chân bằng đồng và sừng bằng vàng do dân gian dâng cúng Diane. Eurysthée muốn có con nai đó nên sai Hercule đi bắt đem về. Hercule mất cả một năm trường theo dõi mới bắn trúng con nai đó một mũi tên. Sau khi năn nỉ nữ thần Diane để nữ thần khỏi giận, Hercule vác con nai về Mycènes.
Đăng nhập để trả lời
0
4. Con heo rừng ở Erymanthe.
 
Từ trên núi Erymanthe, ở xứ Arcadie, xuống một con heo rừng có sức mạnh kinh khủng và dữ tợn, tàn phá một vùng Psophis, Hercule được lệnh đi bắt con heo đó, đã dùng một chiếc thòng lọng bắt sống rồi dẫn về Mycènes. Eurysthée trông thấy con vật khiếp đảm bỏ chạy ra bờ biển, trốn xuống dưới thuyền không dám ló mặt lên.
Trên đường đi bắt con heo rừng, Hercule giao đấu với bọn nhân mã ( Centaures ) ở Thessalie. Khi đi ngang Thessalie, Hercule được một trong số nhân mã mời về nhà chơi. Trong khi khoản đãi Hercule chủ nhà mời uống một thứ rượu nho rất ngon do chính thần Bacchus đã cho y. Mùi rượu thơm ngon khiến cho các nhân mã ở chung quanh vùng kéo tới. Chúng kéo tới tay mang chùy, mang đá tảng, mang gậy bằng cây thông với ý định được uống thứ rượu thần.. Nhưng Hercule lấy cung tên ra bắn chết một mớ, số còn lại bỏ chạy xa tắp tới tận cùng của xứ Péloponèse.
5. Những tàu ngựa của Augias.
 
 
Augias trị vì ở xứ Aulide là một xứ sở có bầy ngựa phong nhiêu nhất, phong nhiêu đến nỗi những tàu ngựa không thể lấy sức người mà cọ rửa được cho sạch được. Eurysthée ra lệnh cho Hercule tới đó xem sao. Hercule đề nghị với Augias rửa sạch hết các tàu ngựa trong một ngày. Augias bằng lòng chia cho Hercule một phần mười bầy ngựa của mình nếu Hercule làm đúng hẹn. Biết rằng Hercule không thể nào làm xong việc trong thời hạn một ngày nên Augias không nề hà gì nhận lời của Hercule. Hercule liền lấy nước của hai con sông Alphée và Pénée cho chảy qua các tàu ngựa. Trong vòng một ngày các tàu ngựa mênh mông đều sạch trơn. Augias bội ước có ý rút bớt không trả công cho Hercule đúng như đã hứa. Hercule tức giận, lấy một đội quân tới đánh Augias. Hercule chiến thắng và giết chết Augias.
6. Đàn chim ở Stymphale.
 
 
Tại Stym, thuộc xứ Arcadie, có một vùng đầm lầy bên trên có gai góc mọc đầy; tại đó có một đàn chim quái dị: cánh, mỏ và đầu toàn bằng thép, móng rất nhọn. Chống với kẻ địch chim có thể dùng lông cánh phóng ra như mũi tên. Loài chim này chuyên ăn thịt người. Bầy chim đông đảo đến nỗi mỗi khi chúng bay lên tối rợp trời, che cả ánh nắng. Được lệnh cúa Eurysthée, Hercule tới Stymphale. Hercule chế tạo một cặp chũm chọe bằng đồng khua vang lên khiến bầy chim hoảng sợ bay khỏi vùng đồng lầy rồi dùng cung nỏ bắn chết hết.
7. Con bò mộng ở Créte.
 
 
Minos trị vì ở đảo Créte, một bữa có hứa với thần Neptune sẽ dâng cúng sinh vật đầu tiên từ dưới biển nhô lên. Neptune liền khiến một con bò mộng tuyệt đẹp từ dưới biển nhô lên. Minos không giữ lời hứa, đem con vật đó thả ra cánh đồng để nuôi còn đem một con bò khác không được tốt bằng dâng cúng Neptune để thay thế. Tức giận vì thái độ đó, Neptune khiến cho con bò mộng thành điên. Con bò reo rắc sự khủng khiếp trong toàn cõi. Hercule tới, giáo đầu một trận kinh khủng với con bò. Sauk hi hạ được nó, Hercule bèn dùng dây cột bốn chân nó lại và vác lên vai đi qua biển trở về Argolide. Tại đây Hercule thả con vật ra cho sống. Sau này Thésée sẽ giết chết con vật đó tại cánh đồng Marathon.
8. Đàn ngựa cái của Diomède.
 
 
Diomède, trị vì tại Tharce ( không phải là Diomède tay anh hùng trong trận chiến tranh tại Troie ) có một bầy ngựa cái hung hãn, bất trị, chuyên ăn thịt người. Bất kỳ người nào bị bão trôi dạt vào bờ biển xứ đó đều làm mồi cho bầy ngựa. Hercule, do Eurysthée sai tới, hạ hết đám lính canh, đem bầy ngựa từ trong chuồng ra ngoài, rồi liệng cho chính chủ của chúng là Diomède. Diomède bị đàn ngựa ăn thịt. Sau đó Hercule dẫn đàn ngựa về trình với nhà vua ở Mycènes. Đàn ngựa này sau được thả lên núi và bị các thú dữ ăn thịt hết.
Đăng nhập để trả lời
0
9. Chiếc đai lưng của Hippolyte.
 
 
Hippolyte, chủ tể của những nữ tướng Amazones ở Cappadoce được thần Mars tặng cho một tấm mạng che mặt và môt chiếc đai lưng, để biểu tượng quyền hành của nữ tướng đó. Con gái của Eurysthée lại ước muốn có, Hercule được lệnh tới Cappadoce. Nữ chúa Hippolyte đích thân ra đón Hercule, sau khi Hercule ngỏ ý muốn, Hippolyte sẵn lòng làm toại ý Hercule. Nhưng Junon, vốn thù ghét Hercule mà nữ thần nghi là con rơi của Jupiter, nên lấy làm bực mình sự thành công quá dễ dàng của Hercule nên hóa thành một nữ tướng Amazone, vu vạ rằng kẻ lạ mặt muốn bắt cóc Hippolyte để cướp đất, và động viên toàn thể các nữ tướng tới đánh Hercule. Hercule bèn trổ thần lực đánh ngã hầu hết các nữ tướng hùng hổ từ khắp nơi cỡi ngựa xông tới. Hercule giết gần hết các nữ tướng Amazone trong trận này.
10. Đàn bò của Géryon.
 
 
Tại ven biển Epire có một quái nhân khổng lồ rất dũng mãnh tên là Géryon, con của Chrysaor và là dòng giõi con Giải Gorgone. Géryon từ bụng trở lên phân thành ba mảnh, vì vậy đồng thời xử dụng được mười hai chân tay. Tài sản chính của Géryon là một đàn bò rất đẹp lông đỏ, do một quái nhân và một con chó hai đầu canh giữ. Eurysthée nghe tiếng rất ham muốn có đàn bò tuyệt đẹp đó, bèn sai Hercule đi bắt về. hercule tới giết chết quái nhân khổng lồ cùng con chó hai đầu và bắt lấy đàn bò. Sau đó Hercule lại ba phen giết chết Géryon bằng tên rồi chở đàn bò về cho Eurysthée. Eurysthée đem đàn bò này dâng cúng cho nữ thần Junon.
Khi từ Epire trở về, Hercule chăn đàn bò tới vùng sông Tibre nằm ngủ bên bờ sông trong khi đàn bò gặm cỏ bên sườn núi Avetin. Nơi đó gần hang đá của Cacus, con của thần Vulcain, là một quái nhân nửa người nửa vật, miệng phun ra lửa và khói. Ở ngoài cửa hang lúc nào cũng có máu người chảy, đầu người thì đóng vào vách đầy vết máu ghê tởm. Trong khi Hercule ngủ say, Cacus thừa cơ đánh cắp mất bốn cặp bò đẹp nhất. Để phi tang, Cacus nắm đuôi tám con bò kéo đi đi giật lùi vào hang. Khi sắp lên đường, Hercule bỗng nhiên nghe thấy tiếng bò kêu trong hang nên biết là bị mất cắp. Tức giận Hercule quay lại kiếm Cacus, Cacus hoảng sợ chạy trối chết lên đỉnh núi để trốn, rồi lại lẩn xuống lấy một phiến đá lớn che cửa hang ẩn bên trong. Hercule lấy vai hất ngửa quả núi lên rồi nhảy vào giữa hang khi đó khói bốc lên nghi ngút, tóm cổ Cacus rồi bóp chết. Dân gian ở vùng đó thoát nạn Cacus mỗi năm mở hội một lần để dâng cúng Hercule và ăn mừng thoát nạn. Tại đó Hercule cũng lập một bàn thờ riêng, đặc biệt vĩ đại để dâng cúng Thần vương Jupiter, mệnh danh là Đại Ban ( Grand Autel ). Bàn thờ sau này trở thành một di tích lịch sử của dân chúng La Mã. Di tích này còn lại tới thế kỷ IV trước CN, và được Virgile nói đến trong cuốn Enéide.
11. Những trái táo bằng vàng của các nàng Hespérides.
 
 
Ba nàng Hespérides là con gái của Atlas. Đó là những nữ thần Sơn Thủy có tiếng nói du dương. Nhiệm vụ của ba nàng là trông coi một khu vườn bí mật trong đó có trồng những cây táo có trái bằng vàng. Khu vườn có một con rồng giữ việc bảo vệ những trái táo. Hercule được lệnh phải đi kiếm khu vườn Hespérides và đoạt lấy những trái táo. Được Nérée chỉ cho biết khu vườn, Hercule bèn đi kiến thần Atlas có nhiệm vụ do Jupiter sai phái là đội trời ở trên vai. Nhiệm vụ đó thực ra là một hình phạt để trị tội Atlas đã đi theo đám anh em Titan, chống lại thần vương. Khu vực của Atlas bao gồm cả một vùng biển. Atlas còn có những bầy cừu đông đến nỗi không nhớ là bao nhiêu nữa, và những khu vườn cây tái trù mật, trái toàn là vàng.
Hercule tới kiếm Atlas, đề nghị Atlas đi hái táo cho mình, trong khi đó Hercule sẽ thay thế Atlas đội vòm trời trên vai. Atlas thuận. Nhưng khi hái táo đem về Atlas lại đổi ý muốn để Hercule thay thế luôn công việc nặng nề đó. Hercule thản nhiên không từ chối, chỉ yêu cầu Atlas tạm đỡ cho mình một lát để Hercule thay cái đệm kê vai. Khi Atlas gánh vòm trời trên lưng rồi, Hercule lẳng lặng lấy táo đem đi.
Eurysthée dùng những trái táo đó làm lễ vật dâng cúng nữ thần Minerve. Nhưng Minerve lại đem trả cho ba chị em Hespérides. Ba cô con gái của Atlas lại tiếp tục công việc canh giữ những trái táo vàng.
Vao dịp này thần thoại còn ghi một công việc của Hercule. Hồi đó Địa trung hải và Đại tây dương bị ngăn cách bởi hai dãy núi: núi Abila ở phía nam và núi Calpé ở phía bắc. Nhân đi ngang vùng đó Hercule bèn lấy vai hích hai dãy núi ra hai bên, do đó hai biển bắt đầu giao nhau. Nơi giao tiếp đó về sau được mệnh danh là eo biển Gibraltar. Những mõm núi nhô ra gần mặt biển được dân gian gọi là những cột đá của Hercule ( les colonnes ďHercule ) để ghi nhớ kỳ công đó.
Đăng nhập để trả lời
0
12. Du Địa phủ.
 
 
Mười một phen sai phái Hercule đi làm những việc động trời với thâm ý gián tiếp dùng kẻ khác hại Hercule giúp mình. Eurysthée đều không được mãn ý vì mười một lần nguy hiểm Hercule đều thoát khỏi và thành công hiển hách. Nhiệm vụ thứ mười hai Eurysthée dành cho hercule mười phần chắc nguy hại. Hercule phải xuống Địa phủ bắt sống con chó Cerbère đem về.  Con chó Cerbère sở dĩ được Pluton dùng vào việc gác cổng Địa phủ vì có nhiều đức tính hung dữ đặc biệt. Tiếng sủa của nó nghe ghê rợn, nó lại có tới ba đầu với ba cái mõm nhiều nanh nhọn lại có nọc độc như nọc rắn, cái đuôi dữ như đuôi con rồng, quanh cổ lại tua tủa một bầy rắn độc. Chạm trán với nó là một điều đáng sợ, đằng này phải bắt sống được nó và đem lên mặt đất.
Nhưng Hercule cũng phải đi. Biết rằng ở xứ Laconie, tại Ténare có một hang đá có đường đi xuống Địa phủ. Hercule tới đó và kiếm được lối đi xuống Địa phủ, Hercule tới đó và đi xuống âm cung. Tới gần cửa vào Địa phủ Hercule trông thấy Thésée và Pirithous bị cột chặt xuống đất đang đứng đó đưa tay ra chờ Hercule kéo lên. Hercule bắt đầu kéo Thés lên nhưng Thésée  bị cột vào tảng đá chặt đến nỗi khi thoát ra còn dính một mảng da trên phiến đá. Khi  đến lượt Pirithous thì xảy ra một trận động đất khiến cho Hercule không kéo Pirithous lên được. Về trường hợp của Pirithous, trong đoạn nói về Thésée ở trên câu chuyện hercule giải cứu Thésée và Pirithous có khác đôi chút, vì theo một truyền thuyết khác.
 Trong khi đó con Cerbère đã hờm sẵn. Nó nhảy ra trước mặt Hercule chu ba cái mõm và sủa dữ dội. Hercule lao tới trước mõm con chó ra sức đánh. Con Cerbère trước sự dũng mãnh của Hercule phải hoảng sợ bỏ chạy trốn dưới ngai của Pluton. Hercule lôi con chó từ dưới chỗ ngồi của Pluton ra cột nó lại rồi kéo nó lên mặt đất. Sau khi đem nó tới cho Eurysthée coi. Hercule lại thả con chó Cerbère cúp tai đi về âm cung. Con chó khiếp sợ nhưng cũng căm giận nên bọt mép rớt dài dọc đường, truyền nọc độc cho nhiều cây cỏ. Sau bọn phù thủy chuyên hái những giống cây cỏ đó dể làm độc dược.
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»