Chương 71
Vatican hay CIA, dù là ai sắp xếp cuộc hành trình này thì quả là họ đã làm việc rất tốt. Chiếc trực thăng bay đến một căn cứ không quân gần Karacasu, không xa lắm phía Bắc nơi Reilly được đón lên. Ở đó, anh và de Angelis lên chiếc phản lực G-IV chờ sẵn đã bay từ Dalaman đến đón họ và sau đó thực hiện cuộc hành trình chớp nhoáng về phía Tây đến Ý. Thủ tục nhập cảnh và hải quan được nhanh chóng thông qua ở Rome, và chưa đầy ba tiếng đồng hồ kể từ khi ông khâm sứ Tòa Thánh bất chợt hiện ra giữa đám mây bụi đất trong vùng rừng núi Thổ Nhĩ Kỳ, họ đã lao nhanh qua Thành phố Vĩnh cửu[58] trong một chiếc Lexus màu đen đầy đủ tiện nghi với điều hòa và cửa kính đen.
Reilly cần tắm rửa và thay quần áo sạch, nhưng vì de Angelis tỏ ra rất vội nên anh phải rửa tay ngay trên chiếc phản lực và thay bộ đồ lặn bằng chiếc quần nhà binh[59] và áo phông xám kiếm vội ở trung tâm tiếp liệu của căn cứ không quân. Anh chẳng phàn nàn một câu. Thay cho bộ lặn, thứ đồng phục tác chiến này rõ là một sự thoải mái quá sức mong đợi rồi, và hơn nữa, Reilly cũng rất nôn nóng. Càng lúc anh càng cảm thấy lo lắng cho Tess. Reilly muốn tìm thấy nàng, dù cố không đào xới quá sâu những động cơ của mình. Anh cũng có những suy nghĩ linh tính khác về việc đã đồng ý với sự mời mọc của ông khâm sứ Tòa Thánh; anh không chắc về những gì chờ đợi anh ở cái đích cuối cùng của họ, và Reilly nghĩ càng sớm càng thoát khỏi nơi đó và trở về Thổ Nhĩ Kỳ càng tốt. Nhưng quá trễ để rút lui rồi. Qua thái độ im lặng bí mật của de Angelis, Reilly cảm nhận rõ ràng cuộc thăm viếng này không chỉ là một sự ngẫu nhiên vớ vẩn.
Từ trên máy bay, Reilly đã nhận ra Thánh đường Thánh Peter, lúc này, khi chiếc Lexus len lỏi giữa dòng xe cộ, anh lại thấy nó, lù lù ở phía trước, những mái vòm đồ sộ kiêu hãnh vươn cao khỏi sự rối rắm và hỗn loạn của cái thành phố lúc nhúc người với người này. Mặc dù cảnh quan của một công trình kiết trúc đồ sộ như vậy chắc chắn khơi gợi cảm giác kính sợ ngay cả đối với những kẻ bất tín lì lợm nhất nhưng Reilly chỉ thấy gợn lên trong lòng cảm giác bị phản bội và tức giận. Anh không biết nhiều về nhà thờ lớn nhất thế giới này, trong đó còn có Nhà Nguyện Sistine và nó được xây dựng ngay trên phần mộ Thánh Peter, Giáo hoàng đầu tiên của Giáo hội, người đã bị đóng đinh lộn ngược trên thánh giá đến chết vì đức tin của mình. Khi chiêm ngưỡng nhà thờ, Reilly nhớ đến những tác phẩm nghệ thuật và kiến trúc tuyệt vời mà chính đức tin này là nguồn cảm hứng, những bức tranh, tượng và địa điểm thờ phụng do các tín đồ Cơ đốc sáng tác và tạo dựng khắp thế giới. Reilly nhớ đến không biết bao nhiêu đứa trẻ con cầu nguyện hàng đêm vào giờ đi ngủ, hàng triệu người mộ đạo đi nhà thờ vào mỗi ngày Chủ nhật, người bệnh tật thì cầu nguyện mong được chữa lành, và người sống cầu nguyện cho linh hồn của người quá cố. Phải chăng tất cả mọi người đều bị lừa dối? Phải chăng tất cả đều là một sự dối trá? Và, tệ hơn – phải chăng Vatican đã biết ngay từ đầu?
Chiếc Lexus chạy xuống khu Via de Porta Angelica đến cổng Thánh Anne, chiếc cổng gang lớn được Đội Vệ binh Thụy Sĩ trong trang phục đủ màu sắc mở ra ngay khi chiếc xe trờ tới. Chỉ vài cái khẽ gật đầu của vị khâm sứ, chiếc Lexus được khoát tay cho tiến vào cái quốc gia nhỏ nhất trên hành tinh này, đưa Reilly vào trung tâm của cái thế giới tâm linh rắc rối của mình.
Chiếc xe dừng lại bên ngoài tòa nhà xây bằng đá có mái tạo thành cửa vào, de Angelis nhanh nhẹn ra khỏi xe. Reilly theo ông ta lên những bậc tam cấp ngắn, bước vào sự im lặng uy nghi của cái tiền sảnh rộng thênh thang. Họ đi dọc theo những hành lang lát đá phiến, ngang qua những căn phòng có trần cao và lờ mờ tối, lên cái cầu thang rộng bằng đá cẩm thạch và cuối cùng đến một cánh cửa gỗ chạm khắc cầu kỳ. Ông khâm sứ Tòa Thánh gỡ cặp kính phi công ra, mang lại cặp kính trắng cũ kỹ. Reilly đứng nhìn de Angelis – thoải mái như một đại kịch sĩ sắp bước ra sân khấu, vẻ mặt ông ta chuyển từ vẻ mặt của tay điệp viên cải đạo tàn nhẫn thành vị linh mục hiền lành lịch sự như cái ngày mà ông ta xuất hiện ở New York. Trước sự ngạc nhiên của Reilly, ông Cha cố hít một hơi thở thật sâu trước khi gõ mạnh lên cánh cửa.
Tiếng trả lời vang lên ngay tức khắc, một giọng nói êm nhẹ.
“Mời vào.”[60]
De Angelis mở cửa, bước vào trước.
Căn phòng sâu hun hút, các giá kệ cao từ nền đến trần nằm dọc theo các bức tượng và xếp đầy sách. Nền phòng không lót thảm, lát gỗ sồi theo hình chữ chi. Trong góc phòng, ngay cạnh lò sưởi xay bằng đá, một chiếc tràng kỷ lớn bọc vải trang trí nằm giữ hai chiếc ghế bành. Phủ sau hai cánh cửa sổ cao kiểu Pháp là một cái bàn, sau bàn là một ghế đệm lớn, phía trước là ba chiếc ghế bành khác đối diện với cái bàn. Vị chủ nhân duy nhất của căn phòng, một người to lớn, oai vệ, tóc hoa râm bước quanh bàn để chào đón de Angelis và vị khách do ông ta đưa đến. Nét khắc khổ u sầu hằn sâu trên gương mặt vị chủ nhân.
De Angelis giới thiệu Hồng y Brugnone với Reilly, họ bắt tay nhau. Cái bắt tay của vị Hồng y mạnh và chặt đến không ngờ. Reilly cảm thấy mình đang bị quan sát bởi một cái đầu mình mẫn đáng sợ khi ánh mắt của ông Hồng y im lặng rà đi soát lại trên người anh. Vẫn không rời mắt khỏi người khách của mình, Brugnone trao đổi với ông Cha cố vài lời bằng tiếng Ý mà Reilly không hiểu.
“Xin mời ngồi, đặc vụ Reilly,” rốt cuộc ông ta cũng mở miệng với Reilly, ra hiệu về phía chiếc tràng kỷ. “Tôi hy vọng anh chấp nhận lòng biết ơn của tôi về tất cả những gì anh đã và sẽ tiếp tục làm trong trục trặc không may này. Và cũng như việc anh đã đồng ý đến đây ngày hôm nay.”
Ngay khi Reilly ngồi xuống một cái ghế và de Angelis yên vị trên chiếc ghế kia, Brugnone tỏ rõ là ông ta không muốn phí thời gian trò chuyện không đâu và đi ngay vào vấn đề. “Tôi đã được cung cấp vài thông tin cơ bản về anh.” Reilly liếc de Angelis, ông Cha cố không nhìn lại anh. “Tôi nghe nói anh là người có thể tin cậy và không bao giờ vi phạm những quy tắc đạo đức của mình.” Con người to lớn đó dừng lại, đôi mắt nâu nghiêm khắc của ông ta đè nặng xuống Reilly.
Reilly cảm thấy không gì sung sướng hơn là được đi thẳng vào vấn đề. “Tôi chỉ muốn biết sự thật.”
Brugnone chồm người về phía trước, đôi tay bè bè to lớn của ông ta chắp vào nhau. “Tôi e rằng sự thật đúng như anh đang e sợ.” Sau một lát im lặng, ông ta bật dậy khỏi ghế, bước những bước nặng trịch về phía cánh cửa sổ kiểu Pháp. Nhìn đăm đăm ra ngoài, mắt nheo lại vì ánh nắng gay gắt ban trưa. “Chín tên… chín ác quỷ. Chúng xuất hiên ở Jerusalem và vua Baldwin đã cho chúng tất cả những gì chúng muốn, vì nghĩ rằng chúng cùng phe với chúng ta, vì nghĩ rằng chúng ở đó để giúp truyền bá thông điệp của chúng ta.” Ông Hồng y nấc lên, một âm thanh mà trong những trường hợp khác có thể ngộ nhận là tiếng cười, nhưng Reilly biết rằng đó chỉ là biểu hiện bên ngoài của cái suy tư đầy đau đớn. Giọng ông ta trầm xuống lầm bầm trong cổ họng. “Ông ta quả là xuẩn ngốc khi tin tưởng bọn chúng.”
“Bọn họ đã tìm thấy gì?”
Hồng y Brugnone hít một hơi, giống như nuốt ngược vào lòng tiếng thở dài, rồi quay lại nhìn thẳng vào mặt Reilly. “Một cuốn nhật ký. Một cuốn nhật ký rất riêng tư và chi tiết, một kiểu sách Phúc âm. Tác phẩm của một người thợ mộc tên Jeshua ở Nazareth.” Ông ta dừng lại, nhìn chằm chằm Reilly với ánh mắt sắc lạnh trước khi nói thêm, “tác phẩm…của một con người.”
Reilly cảm thấy không khí đã không còn trong phổi nữa. “Chỉ là một con người?”
Brugnone ủ rũ gật đầu, đôi vai to lớn của ông ta chợt chùng xuống như thể không chịu nổi gánh nặng đang đè lên chúng. “Theo cuốn Phúc âm của chính ông ta thì Jeshua ở Nazareth – tức Jesus – không phải là Con trai Thượng đế.”
Những lời nói đó cứ mãi quay cuồng trong đầu Reilly trước khi rơi tọt vào lòng anh, nặng như khối đá ngàn cân. Reilly xòe hai tay, làm cử chỉ như đã xong xuôi mọi việc. “Và tất cả chuyện này…?”
“Tất cả chuyện này,” Brugnone kêu lên, “là điều tốt nhất mà con người kia, con người trần tục tầm thường sợ hãi kia có thể tạo ra. Tất cả đã được tạo ra với những mục đích cao quý nhất. Đây là điều anh phải tin tưởng. Anh đã làm gì? Anh muốn chúng tôi phải làm gì bây giờ? Đã gần hai ngàn năm, chúng ta đã được tin tưởng giao phó những niềm tin này, những niềm tin vô cùng quan trọng đối với những người đã khai sáng Giáo hội, những niềm tin mà ngày nay chúng ta vẫn tiếp tục tin tưởng. Phải ngăn chặn bất kỳ điều gì có thể làm suy yếu chúng. Không còn sự lựa chọn nào khác, bởi chúng ta không thể bỏ mặc người của chúng ta, từ trước đã vậy và chắc chắn giờ cũng vậy. Ngày nay, sẽ càng thảm họa hơn nếu tiết lộ với mọi người rằng tất cả là…” Ông Hồng y nhún vai, không thể nói cho hết câu.
“Một sự lừa dối vĩ đại?” Reilly kết luận một cách cộc lốc.
“Nhưng phải chăng đó thực sự là một sự lừa dối? Đức tin là gì, rốt cuộc, nếu không phải là niềm tin vào cái không cần phải có bằng chứng, niềm tin vào lý tưởng. Và đức tin đó cũng là một lý tưởng xứng đáng để người ta tin tưởng. Chúng ta cần phải tin vào một điều gì đó. Tất cả chúng ta đều cần có đức tin.”
Đức tin.
Reilly cố gắng thấu hiểu những ý nghĩa ẩn chứa trong điều mà Hồng y Brugnone vừa nói. Trong trường hợp của anh, chính đức tin đã giúp anh, từ lúc còn là một cậu bé, đối phó với cái chết để lại nhiều hậu quả kinh khủng của người cha. Chính đức tin đã dẫn dắt anh qua giai đoạn trưởng thành. Và bây giờ, trong số tất cả mọi nơi, ở đây, ngay chính giữa trái tim của Giáo hội Công giáo La Mã, anh được người ta cho biết rằng tất cả đức tin đó là một sự vờ vịt giả dối to tổ bố.
“Nhưng chúng ta cũng cần sự trung thực,” Reilly giận dữ phản bác. “Chúng ta cần sự thật.”
“Nhưng trên tất cả, hơn bao giờ hết, giờ đây con người cần có đức tin,” Brugnone nhấn mạnh, giọng cương quyết, “và cái chúng ta hiện có còn tốt hơn rất nhiều so với việc chẳng hề có đức tin nào cả.”
“Đức tin vào sự phục sinh chưa từng xảy ra ư?” Reilly vặc lại. “Đức tin vào một thiên đàng không có thực ư?”
“Cứ tin tôi, đặc vụ Reilly, nhiều người đáng kính đã từng trăn trở như vậy bao nhiêu năm, và rồi tất cả đều đi đến một kết luận: đó là điều cần phải gìn giữ. Quá khủng khiếp khi nghĩ đến giải pháp thay thế.”
“Nhưng chúng ta không đề cập đến những lời phán truyền và những giáo huấn của Ngài, chúng ta chỉ đề cập đến những phép lạ và sự sống lại của Ngài.”
Giọng Brugnone vẫn bình thản. “Cơ đốc giáo không xây dựng trên ý niệm chứa đựng trong những lời thuyết giáo của một người thông minh. Nó được xây dựng trên một ý niệm vang dội hơn nhiều – những lời phán truyền của Con trai Thượng đế. Sự phục sinh không chỉ là một phép lạ – nó chính là nền móng của Giáo hội. Phá bỏ nền móng này, Giáo hội sẽ sụp đổ. Hãy nghĩ đến những phán truyền của Thánh Paul trong Kinh Corinthian Đệ Nhất: “Và nếu Chúa không sống dậy thì sự rao giảng của ta chẳng ích gì, và đức tin của người cũng vô ích mà thôi.”
“Những người sáng lập Giáo hội – chính họ đã chọn những lời đó,” Reilly trả lời, gần như nổi cáu. “Toàn bộ ý nghĩa của tôn giáo là giúp chúng ta cố gắng thấu hiểu việc chúng ta đang làm ở đây, đúng không? Nhưng làm sao chúng ta có thể hiểu được nếu chúng ta khởi đầu với một tiền đề sai lạc? Chính sự dối trá này làm méo mó mọi khía cạnh trong cuộc sống chúng ta.”
Brugnone thở dài, gật đầu ngầm đồng ý với Reilly, “Có lẽ là vậy. Có lẽ, nếu sự dối trá này chỉ mới khởi đầu từ bây giờ chứ không phải từ hai ngàn năm trước, mọi việc có thể đã được xử lý khác hẳn. Nhưng nó đâu có bắt đầu từ bây giờ. Nó tồn tại, đã được truyền lại cho chúng ta và chúng ta phải gìn giữ nó; hành động ngược lại sẽ hủy hoại chính chúng ta – và tôi e rằng, còn phải đối phó với tai họa khủng khiếp giáng xuống cái thế giới mỏng manh này của chúng ta.” Mắt ông Hồng y không còn chăm chăm vào Reilly nữa, mà nhìn vào cái gì đó xa xăm, cái gì đó dường như gây ra nỗi đau thể xác cho ông ta. “Chúng ta đã luôn phòng ngự kể từ khi chúng ta bắt đầu. Tôi cho điều đó là tự nhiên, dựa vào vị thế của ta, nhưng tình hình càng lúc càng khó hơn, khoa học và triết học hiện đại không cổ vũ cho đức tin. Và chúng ta phần nào đang bị đổ lỗi, trách móc. Kể từ khi Giáo hội non trẻ thuở sơ khai thực sự bị Constantine và sự nhạy bén chính trị của ông ta chiếm đoạt, đã có qua nhiều chia rẽ và bất đồng. Quá nhiều sự soi mói về giáo lý, quá nhiều kẻ suy đồi và lừa lọc gian trá bu quanh, quá nhiều lòng tham. Thông điệp nguyên thủy của Jesus đã bị những kẻ theo thuyết duy ngã tự cao tự đại và những kẻ mù quáng xuyên tạc, nó cũng bị suy yếu bởi những đối thủ nội bộ hèn hạ, và bởi những người theo trào lưu chính thống cứng đầu cứng cổ. Ngoài ra, chúng ta còn phạm phải những sai lầm chẳng ích lợi gì cho chính nghĩa của chúng ta. Tránh né những vấn nạn thực sự mà người dân đang phải đối mặt. Tha thứ cho những lạm dụng đáng xấu hổ, những hành động kinh khủng chống lại những con người hoàn toàn vô tội, thậm chí còn âm mưu che đậy chúng. Chúng ta quá lề mề không hòa nhịp được với thế giới đang biến đổi vô cùng nhanh chóng này, và bây giờ, vào thời điểm mà chúng ta đặc biệt dễ bị tổn thương, tất cả lại bị đe dọa, chẳng khác gì cách đây chín trăm năm. Chính ngay lúc này, cái dinh thự mà chúng ta xây dựng đã vĩ đại hơn kỳ vọng của bất kỳ người nào, vì vậy sự sụp đổ của nó sẽ vô cùng thảm khốc.”
“Có lẽ, nếu chúng ta bắt đầu thành lập Giáo hội bây giờ, với câu chuyện thực sự về Jeshua xứ Nazareth,” Brugnone bổ sung, “có lẽ chúng ta có thể làm khác đi. Có lẽ chúng ta sẽ tránh được những giáo điều sai lạc và hành động một cách đơn giản. Cứ nhìn đạo Hồi mà xem. Họ cũng đã khởi phát với sự lừa dối, gần bảy trăm năm sau ngày Chúa bị đóng đinh trên thập giá. Một kẻ bỗng xuất hiện rồi nói: “Không có Đấng Cứu Thế, chẳng có ai là Con trai Thượng đế, chẳng có Cha của Chúa Thánh Thần, chẳng có Chúa Ba Ngôi rối rắm gì hết, chỉ có sứ giả của Thượng đế. Chỉ vậy thôi. Và thế là đủ. Cái thông điệp đơn giản đó nhanh chóng được mọi người chấp nhận. Chưa đến một trăm năm, tín đồ của ông ta hầu như có mặt khắp nơi trên thế giới, và tôi đau đớn khi nghĩ rằng cho đến giờ, trong thời đại ngày nay, Hồi giáo là tôn giáo lớn mạnh nhất trên thế giới… mặc dù so với chúng ta, họ bắt nhịp với thực tại và nhu cầu của thời hiện đại chậm hơn, và điều đó đương nhiên sẽ gây ra cho họ những vấn nạn trong tương lai. Nhưng chúng ta cũng rất lề mề, vừa lề mề vừa ngạo mạn… và giờ chúng ta đang phải trả giá cho điều đó, ngay khi người dân cần chúng ta nhất.”
“Bởi họ cần,” ông ta tiếp tục. “Họ cần chúng ta, họ cần điều gì đó. Hãy nhìn vào sự lo âu xung quanh anh, nỗi giận dữ, lòng tham, sự mục nát tiêm nhiễm cả thế giới, từ trên xuống dưới. Hãy nhìn vào cái khoảng trống luân lý, sự khao khát tâm linh, sự thiếu vắng những chuẩn mực. Càng ngày thế giới càng trở nên yếm thế, thụ động và đáng thất vọng hơn. Con người trở nên thờ ơ, thiếu lòng trắc ẩn, và ích kỷ hơn bao giờ hết. Chúng ta cướp bóc và giết chóc lẫn nhau ở một quy mô chưa từng có. Những vụ nhũng lạm tập thể đến hàng tỷ dôla. Những cuộc chiến được phát động chẳng cần lý do nào, hàng triệu sinh mạng bị tàn sát trong những cuộc diệt chủng. Khoa học có thể cho phép chúng ta thoát khỏi các loại bệnh tật như bệnh đậu mùa, nhưng khoa học cũng buộc chúng ta trả giá nhiều hơn bằng cách hủy hoại hành tinh của chúng ta và biến chúng ta thành những sinh vật nóng nảy, cô đơn và hung bạo. Những người may mắn trong chúng ta có thể sống thọ hơn, nhưng phải chăng cuộc sống của chúng ta được thỏa mãn hay an bình hơn? Phải chăng thế giới thực sự văn minh hơn so với hai ngàn năm trước?”
“Hàng trăm năm trước, chúng ta chẳng biết gì nhiều. Mọi người chỉ biết đọc và viết. Ngày nay, trong cái thời đại gọi là khai sáng của chúng ta, có lý do nào để biện minh cho cách cư xử vô cùng tệ hại trên? Trí tuệ và khả năng hiểu biết của con người có thể đã tiến triển, nhưng tôi e rằng phần hồn của họ đã bị bỏ lại phía sau – và, thậm chí tôi dám khẳng định phần hồn con người còn bị thoái hóa nữa kìa. Không ít lần, con người đã thể hiện bản chất mình chỉ là con thú hoang, thậm chí cả khi Giáo hội dạy bảo chúng ta phải chịu trách nhiệm với năng lực nhận thức cao hơn, chúng ta cuối cùng vẫn hành xử một cách độc ác. Thử tưởng tượng sẽ ra sao nếu không có Giáo hội. Nhưng rõ ràng chúng ta đang mất dần khả năng truyền cảm hứng. Chúng ta không hiện diện ở đó vì quần chúng, chúng ta đang bị sử dụng như một cái cớ cho các cuộc chiến tranh và giết chóc. Chúng ta đang bị cuốn vào một cuộc khủng hoảng tâm linh đáng sợ, đặc vụ Reilly à. Phát hiện này không thể xảy ra vào thời điểm tồi tệ hơn nữa đâu.”
Brugnone bỗng im bặt và nhìn vào Reilly từ đầu bên kia căn phòng.
“Có lẽ đó là điều không thể tránh khỏi, đồng thời,” Reilly nói, giọng nhỏ nhẹ tỏ vẻ chấp nhận. “Có thể cũng là một chuyện chẳng đặng dừng.”
“Có thể Giáo hội đang chết dần chết mòn,” Brugnone tỏ vẻ đồng ý. “Rốt cuộc, tất cả mọi tôn giáo đều lụi tàn và biến mất vào một thời điểm nào đó, và tôn giáo của chúng ta đã tồn tại lâu hơn hầu hết các tôn giáo khác. Nhưng với một phát hiện bất ngờ như thế này… Bất chấp những khuyết điểm của mình, Giáo hội vẫn là một phần to lớn trong cuộc sống con người. Hàng triệu người ngoài kia nhờ vào đức tin đưa họ sống qua ngày. Đức tin giúp mang lại niềm an ủi, ngay cả đối với những tín đồ lầm lạc, trong những lúc họ cần đến chúng. Và cao hơn cả, đức tin mang lại cho tất cả chúng ta cái gì đó thực sự thiết yếu đối với sự tồn tại đích thực của chúng ta: giúp chúng ta vượt qua nỗi sợ hãi cố hữu về cái chết và nỗi kinh sợ những gì có thể đang chờ đợi ở thế giới bên kia. Không có đức tin vào một vị Chúa phục sinh, hàng triệu linh hồn con người sẽ lang thang phiêu bạt không nơi nương tựa. Đừng nghĩ là tôi nói sai, đặc vụ Reilly à, để cho phát hiện này lộ ra là đẩy thế giới vào tình trạng tuyệt vọng và tan vỡ ảo tưởng không giống như bất kỳ điều gì mà chúng ta từng chứng kiến.”
Sự im lặng ngột ngạt tràn ngập căn phòng, đè nặng lên Reilly. Anh vẫn chưa thoát ra khỏi những ý nghĩ lo âu bực bội đang ngự trị trong đầu mình. Reilly nhớ lại nơi mà cuộc hành trình này đã bắt đầu với anh, từ lúc anh đứng trên bậc thềm của Viện Bảo tàng Met cùng với Aparo trong cái đêm bạo loạn của bọn kỵ sĩ, và tự hỏi làm sao mình lại đến được đây, ở ngay trung tâm đức tin của mình, tham gia vào cuộc trò chuyện vô cùng khó chịu mà lẽ ra anh đừng bao giờ dấn vào thì tốt hơn.
“Đức Cha biết bao lâu rồi?” cuối cùng, Reilly hỏi vị Hồng y.
“Ta à, cá nhân ta à?”
“Vâng.”
“Từ khi ta nhận chức vụ hiện tại. Ba mươi năm.”
Reilly gật gù. Quả là quãng thời gian dài khủng khiếp phải làm việc với những hồ nghi giống như những điều giờ đang hành hạ anh. “Nhưng Đức Cha đã thỏa hiệp với nó.”
“Thỏa hiệp?”
“Đức Cha đã chấp nhận điều đó,” Reilly giải thích.
Hồng y Brugnone nghiền ngẫm một lúc khá lâu, ánh mắt phiền muộn. “Ta sẽ không bao giờ thỏa hiệp với điều đó, theo cái ý nghĩa mà ta tin là anh đang nói đến. Nhưng ta đã học cách để thích ứng với nó. Đó là cách tốt nhất ta có thể làm.”
“Còn ai khác biết không?” Reilly có thể nhận ra sự lên án trong giọng nói của mình, và anh biết là Brugnone cũng nhận ra điều đó.
“Một vài người trong chúng ta.”
Reilly băn khoăn về câu trả lời đó. Đức Giáo hoàng thì sao? Giáo hoàng có biết không? Anh nhận ra mình thực sự muốn biết – anh không thể tưởng tượng là Giáo hoàng không biết – nhưng Reilly cố ngăn không nêu ra câu hỏi đó. Đã có quá nhiều cú đánh choáng váng dồn dập cùng một lúc rồi. Thay vì đó, một ý tưởng khác vẫy gọi sự chú ý của anh. Bản năng điều tra cựa quậy, nhe nanh múa vưốt chực chờ thoát khỏi vũng lầy trong cái đầu óc tù mù của Reilly.
“Làm sao Đức Cha biết nó là thật?”
Đôi mắt Brugnone bừng sáng, khóe miệng hé ra nụ cười nhạt. Ông ta dường như được khuyến khích bởi lời biện hộ đầy hy vọng của Reilly, nhưng giọng nói tàn nhẫn của ông Hồng y đã nhanh chóng bóp chết bất kỳ sự hy vọng nào như vậy. “Giáo hoàng đã cử ra những chuyên gia ưu tú nhất sang Jerusalem ngay khi các Hiệp sĩ Đền Thánh phát hiện ra cuốn sách đó. Họ đã xác nhận đó là cuốn sách thật.”
“Nhưng đã gần một ngàn năm rồi,” Reilly phản bác. “Họ có thể bị lừa một cách dễ dàng. Nếu đó là giả mạo thì sao? Từ những gì mà tôi nghe được thì các Hiệp sĩ Đền Thánh thừa khả năng thực hiện những việc như thế. Tuy nhiên, Đức Cha có sẵn sàng chấp nhận điều đó là sự thực khi thậm chí chẳng nhìn thấy nó không…” Cái hàm ý bất chợt hiện ra trong đầu Reilly ngay khi những lời nói tuôn ra khỏi miệng anh. “Điều này có nghĩa là Đức Cha luôn nghi ngờ câu chuyện trong những cuốn Phúc âm đúng không?”
Brugnone đáp lại sự kinh ngạc của Reilly bằng vẻ tươi cười, trấn an. “Có những người tin câu chuyện chỉ có ý nghĩa ẩn dụ: vì vậy để thực sự hiểu được đạo Cơ đốc cần phải hiểu được cái cốt yếu nằm bên trong thông điệp. Tuy nhiên, vì muốn có được sự hòa hợp tốt hơn, hầu hết các tín đồ thường xem từng câu từng chữ trong Kinh Thánh như là chân lý. Tôi cho là mình nằm đâu đó ở giữa. Có lẽ tất cả chúng ta đều ở trên cái lằn ranh tốt đẹp giữa giải phóng trí tưởng tượng của mình đối với những điều kỳ diệu của câu chuyện và cho phép đầu óc duy lý của chúng ta hoài nghi tính xác thực của nó. Nếu cái mà các Hiệp sĩ Đền Thánh tìm thấy thực chất chỉ là thứ đồ giả mạo, chắc chắn nó sẽ giúp chúng ta thoải mái hơn khi bỏ thêm thời gian vào bên gây cảm hứng hơn của lằn ranh đó, nhưng cho đến khi chúng ta khám phá ra cái mà bọn họ mang theo trên con tàu đó…” Ông Hồng y trừng trừng nhìn Reilly. “Anh sẽ giúp chúng tôi chứ?”
Mất một lúc Reilly vẫn không trả lời. Anh quan sát khuôn mặt hằn sâu những nếp nhăn của người đàn ông trước mặt. Dù thấy những lời nói của vị Hồng y chứa đựng sự thành thật ẩn sâu bên trong, Reilly không hề ảo tưởng về động cơ của de Angelis, và anh biết rằng việc giúp họ đương nhiên có nghĩa là phải làm việc với tay khâm sứ Tòa Thánh kia, một viễn cảnh chẳng thích thú chút nào đối với anh. Reilly liếc nhìn de Angelis. Chẳng có gì trong những điều anh đã nghe giảm bớt sự ngờ vực của anh đối với ông linh mục lá mặt lá trái kia, cũng như không hề làm vơi bớt sự khinh thường của anh đối với phương pháp làm việc của con người đó. Reilly biết, anh sẽ phải tìm ra cách đối phó với ông ta vào thời điểm nào đó trong tương lai. Nhưng có những vấn đề bức bách hơn cần phải giải quyết ngay. Tess đang ở đâu đó ngoài kia, đơn độc với Vance, và có một khám phá có khả năng hủy diệt đang lù lù đe dọa hàng triệu tâm hồn vô tư chưa hề biết đến hoài nghi.
Anh nhìn chằm chằm vào Brugnone. “Vâng,” là câu trả lời đơn giản của anh.
Chương 72
Cơn gió Đông Nam nhẹ nhàng mơn man trên mặt nước quanh chiếc Savarona, tạo nên làn sương mù mằn mặn mà Tess gần như có thể nếm thử khi đứng trên boong sau của chiếc tàu đánh cá đã được sửa sang lại. Tess rất thích sự tươi mát của những buổi bình minh trên biển cả, cũng như vẻ êm ả thanh bình đến cùng với mỗi buổi hoàng hôn. Khoảng thời gian dài đằng đặc giữa hai thời điểm đó mới là lúc khó khăn.
Họ đã gặp may khi tìm được chiếc Savarona trong khoảng thời gian ngắn như vậy. Từ vùng biển Caribê đến vùng duyên hải Trung Hoa, nhu cầu về những loại tàu thăm dò đáy biển đã tăng vọt trong những năm gần đây, việc tìm thuê được một chiếc tàu như vậy là rất khó khăn và giá cả thường cũng trên trời. Ngoài các nhà hải sinh học, hải dương học, các công ty dầu lửa, và những người làm phim tư liệu – theo truyền thống là những người chiếm tỷ lệ sử dụng hầu hết nhu cầu này, hai nhóm khách hàng mới giờ đang dẫn đầu thị trường là: những người lặn mạo hiểm, cả một đội ngũ càng lúc càng đông đảo những người sẵn sàng bỏ ra mười ngàn đôla để có cơ hội được đến gần và đích thân tiếp cận con tàu Titanic hoặc ủ ấm cơ thể trong các ống nhiệt độ ở độ sâu ba ngàn mét dưới mặt nước biển gần quần đảo Azore[61]; và những kẻ săn lùng kho báu hay là những người mà ngày nay thích được gọi là những nhà khảo cổ thương mại.
Mạng lưới Internet đã đóng vai trò chủ yếu giúp tìm ra chiếc tàu khảo sát trên. Chỉ vài cuộc điện thoại và sau đó là một chuyến bay ngắn, Vance và Tess đã đến cảng Piraeus ở Athens, nơi chiếc Savarona đang bỏ neo. Thuyền trưởng – một tay phiêu lưu mạo hiểm người Hy Lạp tên George Rassoulis, dáng cao lớn trông rất ấn tượng, có làn da rám nắng trông như thể ăn sâu vào tận xương – đã bác bỏ ngay từ đầu đề nghị của Vance vì không thống nhất về lịch trình. Những công việc chuẩn bị đang được tiến hành để đón một nhóm nhỏ các nhà sử học và một đoàn làm phim đi vào phía Bắc biển Ege để tìm kiếm một đội tàu chiến cổ ba tầng chèo bị thất lạc của Ba Tư. Rassoulis chỉ có thể phục vụ Vance trong thời gian không quá ba tuần trước khi phải đón nhóm người kia, và ba tuần, ông ta giải thích, chẳng thể làm được gì. Tàu ông ta đã được đặt trước trong hai tháng, nhưng thời gian dó là tương đối ngắn vì xác định thành công vị trí các vụ đắm tàu cổ cũng chẳng khác gì mò kim đáy biển. Tuy vậy, hầu hết các cuộc tìm kiếm đều thiếu cái mà Vance đang có trong tay: chiếc máy đo độ cao thiên thể, với cái máy này, anh ta hy vọng sẽ thu hẹp khu vực của chiếc tàu đắm trong vòng mười sáu mét vuông.
Vance bảo Rassoulis là họ săn lùng một chiếc tàu của quân Thập tự chinh, nói bóng gió về khả năng con tàu có chở vàng và những thứ quý giá khác đã biến mất khỏi Đất Thánh sau khi thành Acre sụp đổ. Bị kích thích, Rassoulis miễn cưỡng nhận lời, một phần bị cuốn theo lòng nhiệt thành của Vance cũng như niềm tin dễ lây của vị giáo sư vào khả năng của cái dụng cụ cổ xưa kia, rằng nó sẽ mang lại cho họ chiếc Falcon Temple trong quãng thời gian giới hạn, và phần khác cũng vì một chút lòng tham. Viên thuyền trưởng tỏ ra vô cùng sung sướng khi thỏa mãn yêu cầu phải hoàn toàn thận trọng giữ bí mật của Vance. Ông ta đã quá quen với dân săn lùng kho báu – những nhà khảo cổ thương mại – và yêu cầu tránh không cho thiên hạ biết đến của họ. Và do vậy, tay thuyền trưởng đã thương lượng để chia một phần giá trị kho báu, đó cũng là thứ lợi ích tốt nhất để bảo đảm không có kẻ ngoài cuộc phá vỡ liên minh của họ. Ông ta giải thích cho Vance biết con tàu sẽ rà soát hiện trường từ ngoài vào trong, mỗi lần vài giờ đồng hồ trước khi di chuyển qua vị trí khác, ngoài ra còn có những địa điểm tìm kiếm “dỏm” nhằm đánh lạc hướng sự chú ý khỏi khu vực mục tiêu của họ, một chiến thuật hoàn toàn thích hợp với Vance.
Điều mà Tess lại phát hiện ra – lần trước nàng đã trải qua, Tess nhớ lại, ngoài khơi cảng Alexandria của Ai Cập, lúc Clive Edmondson đang giở trò tán tỉnh nàng một cách vụng về – là quá trình rà soát đòi hỏi phải kiên nhẫn, điều mà ngay lúc này Tess không thể nào có được. Nàng vô cùng nôn nóng muốn tìm ra những bí mật nằm dưới lớp sóng cồn nhấp nhô dưới chân mình, và Tess biết rằng những bí mật đó đang ở rất gần. Tess có thể cảm nhận điều đó, và nó làm cho những quãng thời gian dài đứng bên lan can tàu trở nên khó chịu hơn.
Đã nhiều giờ trôi qua, Tess đắm chìm trong suy tư, ánh mắt vô thức dán vào hai sợi cáp kéo theo đằng sau con tàu cũ kỹ, chìm dưới hai đường bọt nước. Một sợi kéo theo máy định vị bằng sóng âm tần số thấp có thể vẽ bản đồ từng vị trí lồi lõm đáng chú ý ở đáy biển; sợi kia kéo máy cộng hưởng từ có khả năng phát hiện bất kỳ vật dụng bằng sắt nào trong con tàu đắm. Cũng đã có đôi ba khoảnh khắc đầy phấn khích trong những ngày trước. Mỗi lần chiếc máy định vị phát hiện ra cái gì đó, chiếc ROV của con tàu – tàu lặn robot điều khiển từ xa gọi thân mật là Dori, theo tên của chú cá đãng trí trong phim Đi tìm Nemo – được thả xuống để thám sát. Mỗi lần như vậy, Tess và Vance chạy ùa vào phòng điều khiển chiếc Savarona, tim đập thình thịch, lòng tràn đầy hy vọng. Họ ngồi đó, mắt dán chặt vào màn hình, đăm đăm nhìn vào những hình ảnh mờ mờ truyền từ máy quay của Dori, trí tưởng tượng của họ căng lên, rồi tia hy vọng cũng vỡ tan khi biết rằng thứ mà máy định vị phát hiện không phải là cái họ mong mỏi: khi thì một tảng đá nhô lên có dáng giống một con tàu đắm, lúc lại là tàn tích của một tàu đánh cá thế kỷ hai mươi.
Thời gian còn lại là để đứng ở lan can tàu chờ đợi và hy vọng. Theo từng ngày qua đi, Tess thả cho tâm trí lan man nhớ về những sự kiện gần đây trong cuộc đời mình. Nàng nhận ra mình liên tục hồi tưởng lại khoảnh khắc đã dẫn nàng đến đây, cách bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ sáu mươi cây số, trên một con tàu với gã đàn ông từng chỉ huy một vụ cướp có vũ trang tại Viện Bảo tàng Met khiến bao người phải chết. Quyết định bỏ rơi Reilly để đi với Vance đã ám ảnh nàng trong mấy ngày đầu. Tess cảm thấy đau đớn vì cảm giác tội lỗi và hối hận, và thường lâm vào tình trạng hoảng hốt, sợ hãi; mỗi lần như vậy, Tess thường vùi đầu vào việc gì đó để khỏa lấp cái thôi thúc muốn rời khỏi con tàu bằng bất cứ giá nào và bỏ đi. Nhưng rồi những mối bận tâm lo lắng từ từ giảm xuống theo từng ngày trôi qua. Đôi khi, Tess tự hỏi liệu mình nên hay không nên làm tất cả những việc này, nàng cố hết sức lý giải quyết định của mình và xua đi những ý nghĩ lo lắng, tự thuyết phục bản thân rằng những gì mà nàng đang làm là cần thiết. Không chỉ đối với bản thân nàng, dù rằng, như nàng đã nói với Reilly, một phát hiện như thế này chắc chắn không chỉ có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự nghiệp của nàng, thêm nữa, còn là sự bảo đảm về tài chính cho nàng và Kim – mà còn có ý nghĩa đối với hàng triệu người trên khắp thế giới, một thế giới mà Kim sẽ lớn lên. Tess hy vọng đó sẽ là một thế giới tốt đẹp hơn, chân thực hơn. Nhưng rốt cuộc, Tess biết rằng dù cố gắng biện minh cho điều đó bao nhiêu đi nữa cũng vô ích mà thôi. Đó là điều Tess thấy cần phải làm mà không thể giải thích được.
Mối lo lắng về Reilly là điều mà Tess không thể khỏa lấp được. Nàng nghĩ về anh rất nhiều. Tess băn khoăn không biết giờ này anh ra sao, và ở đâu. Tess nghĩ đến cái cách mà nàng đã bỏ rơi anh và trốn trong đêm tối như kẻ trộm, và nhận ra rằng quả thực khó mà biện minh cho hành động đó. Quả là sai lầm, sai lầm khủng khiếp, nàng biết vậy. Nàng đã đẩy Reilly vào tình thế nguy hiểm. Nàng đã bỏ anh ngoài đó, giữa chốn đồng không mông quạnh – với một tên bắn tỉa đang chạy loăng quăng bên ngoài. Làm sao Tess có thể làm một việc vô trách nhiệm như vậy? Nàng mong ước được biết chắc là Reilly vẫn bình yên, nàng muốn nói lời xin lỗi với anh, cố gắng giải thích vì sao nàng đã làm việc đó. Tess cảm thấy đau đớn khi nghĩ rằng đó quả là một cú đánh chí mạng mà nàng sẽ không thể nào bù đắp lại được. Ít nhất không phải là về phía Reilly. Nhưng Tess cũng biết là Vance đã đúng khi nói rằng Reilly sẽ trao khám phá của họ cho những người sẽ chôn vùi nó mãi mãi – và đó là điều nàng không thể chịu đựng nổi. Dù sao chăng nữa, nàng nhận thấy rằng mối quan hệ của Reilly và nàng đã tan vỡ – điều mỉa mai là, do chính nguyên nhân đã mang họ đến với nhau.
Hiện giờ, với con sóng cồn cao gần hai mét đang lờ đờ lướt cuộn bên dưới, chiếc Savarona bắt đầu cuộc dò tìm theo hướng đã vạch sẵn. Tess rời mắt khỏi những sợi cáp và đăm đăm nhìn về phía chân trời, những cuộn mây đen hiện rõ mồn một và nổi bật trên nền trời trong trẻo. Tess bỗng cảm thấy nhoi nhói trong lồng ngực. Còn có cái gì đó khác nữa làm Tess thấy bứt rứt kể từ đêm nàng bỏ chạy cùng Vance. Một cảm giác bất an luôn hiện hữu, cào cấu bên trong nàng, chưa bao giờ biến mất, và sau mỗi chuyến dò tìm của chiếc Savarona, càng khó tránh né nó hơn: nàng hành động vậy có đúng không? Nàng đã suy nghĩ thấu đáo chưa? Phải chăng có những bí mật nếu bị quên lãng hoặc chôn vùi thì tốt hơn? Trong trường hợp này, liệu việc theo đuổi theo sự thật là cuộc truy tìm sáng suốt và đáng khâm phục, hay là nàng đang giúp tháo cũi sổ lồng cho thứ tai ương khủng khiếp vào một thế giới ngây thơ chưa từng bao giờ biết đến hoài nghi?
Những nghi ngờ của Tess bị cắt ngang khi bóng dáng cao cao của Vance xuất hiện. Anh ta bước ra khỏi buồng lái và đến gặp nàng ở lan can tàu. Vance có vẻ lo lắng.
“Vẫn chưa có gì à?” Tess hỏi.
Anh ta lắc đầu. “Sau chuyến đi này, chúng ta phải biến khỏi đây ngay.” Vance nhìn đăm đăm ra ngoài, hít một hơi thật dài như muốn làm căng phồng lồng ngực bằng thứ không khí của biển cả. “Dù sao, tôi không lo lắm. Thêm ba ngày nữa chúng ta sẽ bao phủ hết khu vực cần tìm kiếm.” Vance quay qua Tess và mỉm cười. “Chúng ta sẽ tìm ra nó. Nó ở đâu đó ngoài kia. Chỉ có điều là hơi khó lấy một chút, tất cả chỉ có vậy thôi.”
Ánh mắt anh ta bị phân tán bởi một âm thanh ù ù vọng lại từ xa. Vance nhíu mắt, nhìn về phía chân trời, trán hằn lên những vết nhăn khi nhận ra nguồn gốc của âm thanh đó: một chấm nhỏ, một chiếc trực thăng, đang lượn trên mặt biển cách xa vài cây số, dường như đang tiến song song với chiếc tàu. Mắt họ dán chặt vào chiếc trực thăng, dõi theo khi nó tiếp tục bay theo một đường thẳng trước khi lượn vòng. Chỉ trong vài giây, chiếc trực thăng biến mất khỏi tầm nhìn.
“Chắc là vì chúng ta, đúng không?” Tess hỏi. “Bọn họ đang tìm kiếm chúng ta.”
“Bọn chúng chả làm được gì ngoài này đâu,” Vance nhún vai, “chúng ta đang ở trong hải phận quốc tế. Vả lại, người ta cũng đâu có chơi theo luật, phải không nào?” Vance liếc nhìn về phía đài chỉ huy, nơi viên kỹ sư đang bước vào phòng điều khiển. “Cô có biết điều gì buồn cười không?”
“Tôi chẳng nghĩ ra,” Tess đáp lại, cộc cằn.
“Thủy thủ đoàn. Bảy người bọn họ và hai người chúng ta, làm thành bộ chín,” anh ta mơ màng. “Chín người. Giống như Hughes de Payens và phe đảng ông ta. Thi vị đấy chứ, cô không nghĩ thế à?”
Tess nhìn lảng đi, chẳng nhận thấy bất cứ điều gì thi vị – dù chỉ là chút xíu thôi. Trong những gì họ đang làm ở đây. “Tôi băn khoăn không biết họ có những điều hoài nghi như chúng ta hay không.”
Vance cau mày, hếch mặt lên và nhìn nàng vẻ thách thức. “Cô không suy đi tính lại đấy chứ?”
“Anh không thế à?” Tess nhận ra sự dao động trong giọng nói của mình và cũng thấy là Vance đã nhận ra điều đó. “Việc mà chúng ta đang làm ở đây, những gì mà chúng ta có thể tìm thấy… ít ra cũng làm anh băn khoăn lo lắng chứ?”
“Lo lắng à?”
“Anh biết ý tôi muốn nói gì mà. Anh không nghĩ đến sự chấn động và hỗn loạn mà việc này có thể gây ra hay sao?”
Vance chế giễu một cách thô bạo. “Con người là sinh vật đáng thương, Tess à. Luôn tìm kiếm trong vô vọng cái gì đó hoặc người nào đó để tôn thờ, và chẳng phải chỉ riêng cho bản thân họ, không phải vậy, nó còn phải được thờ phụng bởi tất cả mọi người, ở khắp mọi nơi, bằng bất kỳ giá nào. Đó chính là nguyên nhân tàn lụi cho sự tồn tại của loài người từ thời khai thiên lập địa… Lo nghĩ về điều đó ư? Tôi đang trông ngóng nó đây. Tôi đang mong ngóng giải phóng hàng triệu con người khỏi một sự dối trá bị áp đặt. Điều mà chúng ta đang làm một bước tiến tự nhiên trong quá trình tiến hóa của tâm linh con người. Đó sẽ là bước khởi đầu của một thời đại mới.”
“Anh nói như thể nó sẽ được chào đón bằng pháo hoa và những đoàn diễu hành vậy, nhưng chính xác là điều ngược lại, anh biết mà. Sự việc đã từng xảy ra rồi. Từ thời người Sassanid[62] cho đến dân tộc Inca[63] lịch sử đầy rẫy những nền văn minh đã sụp đổ sau khi những vị thánh của họ bị hạ bệ.”
Vance vẫn tỉnh bơ. “Đó là những nền văn minh được xây dựng trên sự giả dối, trên cát chảy – giống như nền văn minh của chúng ta. Nhưng cô đã lo lắng quá mức rồi đấy. Thời thế đã đổi thay. Thế giới ngày nay phức tạp hơn thời đó nhiều.”
“Nhưng đó là những nền văn minh tiến bộ nhất trong thời đại đấy.”
“Hãy tin tưởng vào những linh hồn khốn khổ ngoài kia một chút, Tess ạ. Tôi không nói là sẽ không đau khổ, nhưng… người ta có thể đối phó được.”
“Điều gì sẽ xảy ra nếu người ta không làm được?”
Vance xòe lòng bàn tay ra, làm điệu bộ bất lực nhạo báng, nhưng chẳng có chút gì bất lực trong giọng anh ta. Anh ta hoàn toàn nghiêm túc. “Nhưng vậy cũng đâu có sao.”
Tess nhìn sững Vance một lát rồi quay đi, đăm đăm nhìn về phía chân trời. Những đám mây màu xám dường như chẳng biết từ đâu hiện ra, và xa xa, những ngọn sóng bạc đầu nhấp nhô trên mặt nước chỉ tuyền một màu đen thẳm.
Vance dựa vào lan can tàu bên cạnh Tess. “Tess, tôi đã suy nghĩ rất nhiều về chuyện này, và cân nhắc kỹ càng tôi không hề mảy may nghi ngờ rằng liệu việc chúng ta đang làm có đúng đắn hay không. Tự đáy lòng mình, cô cũng biết là tôi đúng.”
Tess không hề hoài nghi anh ta đã suy nghĩ rất nhiều về chuyện này. Tess biết Vance đã héo hon vì chuyện này cả về mặt học thuật lẫn cá nhân, nhưng anh ta luôn nhìn nhận nó dưới quan điểm sai lạc, qua lăng kính méo mó bởi cái chết bi thảm của những người thân yêu. Nhưng liệu anh ta đã suy nghĩ cặn kẽ chưa, một chuyện như thế này sẽ ảnh hưởng ra sao đến hầu hết các linh hồn sống trên hành tin này? Làm thế nào nó lại đặt ra vấn đề không chỉ về đức tin đạo Cơ đốc mà là về chính ý niệm đức tin? Chuyện này sẽ được kẻ thù của Giáo hội chộp lấy như thế nào, nó sẽ phân hóa người dân ra sao, và hàng triệu tín đồ chân chính sẽ mất đi cái cốt lõi tâm linh từng nâng đỡ họ trong cuộc sống như thế nào?
“Người ta sẽ chiến đấu chống lại điều này, anh biết đấy,” Tess tuyên bố, ngạc nhiên về dấu hiệu hy vọng trong giọng mình. “Người ta sẽ đưa các chuyên gia ra khỏi tủ để phủ nhận nó, họ sẽ sử dụng mọi thứ họ có thể nghĩ đến để chứng minh đó chỉ là một trò lừa, và cho dù câu chuyện của anh…” Bất chợt, Tess cảm thấy khó lòng nói ra hết quan điểm của mình.
Vance gật đầu. “Tôi biết,” anh ta vẫn bình thản đồng ý. “Đó là lý do vì sao tôi muốn cô nói điều này ra với thế giới.”
Tess cảm thấy mặt nàng trắng bệch, như không còn chút máu. Nàng trố mắt nhìn anh ta, sửng sốt vì lời đề nghị kia. “Tôi…?”
“Dĩ nhiên. Xét cho cùng, đó là phát hiện của cả cô và tôi, và, như cô nói, căn cứ vào hành vi gần đây của tôi không hẳn là…” anh ta dừng lại, như đang tìm kiếm từ thích hợp nhất “… đáng tán thưởng…”
Trước khi kịp trả lời, Tess nghe thấy tiếng động cơ dừng và con tàu như đột nhiên bị kéo trì lại trước khi lướt đi nhẹ nhàng. Nàng thấy Rassoulis vọt ra khỏi đài chỉ huy, trong tâm trí hoang mang rối bời, Tess nghe ông ta hét to về phía họ. Vance nhìn sững nàng một lát rồi quay về phía viên thuyền trưởng đang tỏ ra rất kích động, ngoắc họ lại và gào lên cái gì đó mà nàng nghĩ dường như là, “Chúng ta tìm thấy cái gì đó.”
Chương 73
Đứng lặng im sau đài chỉ huy, Reilly nhìn de Angelis và viên thuyền trưởng chiếc Karadeniz, một anh chàng hộ pháp tên Karakas với mái tóc đen dày và bộ ria mép rậm rịt, đang chồm trên màn hình rađa của chiếc tàu tuần tra để lựa chọn mục tiêu kế tiếp của họ.
Có quá nhiều mục tiêu. Màn hình rada nhấp nháy hàng chục đốm sáng màu xanh lá. Một số đốm sáng này có kèm theo các mã nhỏ gồm cả chữ và số đã được số hóa cho biết đó là một con tàu có hệ thống thu phát tín hiệu hiện đại. Khi sử dụng cơ sở dữ liệu tàu thuyền và của Đội Bảo vệ Bờ biển, việc nhận dạng và loại trừ những con tàu như vậy dễ dàng hơn rất nhiều, nhưng rất ít, năm thì mười họa mới có một chiếc như vậy. Chiếm số lượng áp đảo, những tiếp điểm trên màn hình chỉ là những đốm sáng không tên biểu thị cho hàng trăm chiếc tàu đánh cá và thuyền buồm tập trung dày đặc trong vùng biển nổi tiếng này. Tìm được chiếc tàu có Tess và Vance trong hàng trăm chiếc tàu đó, Reilly biết, không phải là chuyện dễ.
Đây là ngày thứ sáu Reilly lênh đênh ngoài biển, anh thấy, như vậy quá nhiều. Reilly nhanh chóng nhận ra chắc chắn rằng mình không phải một thủy thủ dày dạn kinh nghiệm, hoàn toàn không, nhưng Reilly vẫn trụ vững chỉ vì trời yên biển lặng kể từ khi họ bắt đầu công việc truy tìm và, may thay, được quay trở lại đất liền lúc đêm về. Mỗi ngày, họ dong thuyền ra khỏi Marmaris từ sáng sớm và chạy đi chạy lại dọc theo bờ biển từ vịnh Hisaronu đến phía Nam khu vực Mười Hai Đảo. Chiếc Karadeniz, một chiếc tàu tuần tra dòng SAR – 33, màu trắng đục có sọc đỏ rộng ở bên hông, kế bên dòng chữ kẻ đậm Sahil Gũvenlik, những con chữ không thể lầm lẫn – tên chính thức Đội Bảo vệ Bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ – loại tàu siêu tốc, khá tiện nghi, và có thể hoạt động bao phủ vùng biển rộng lớn một cách đáng kinh ngạc trong một ca tuần tiễu trong ngày. Những chiếc tàu khác đóng căn cứ tại hai cảng Fethiye và Antalya thì lùng sục xa hơn về hướng Đông. Những chiếc trực thăng Agusta A-109 cũng tham gia, thực hiện những chuyến bay quan sát bằng mắt thường ở cao độ thấp và báo động cho các xuồng máy cao tốc về những phát hiện đầy hứa hẹn.
Sự phối hợp giữa các thành phần khác nhau từ trên không, dưới biển và trên mặt đất trong cuộc truy tìm gần như không có một khiếm khuyết nào; Đội Bảo vệ Bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ rất dày dạn kinh nghiệm trong công tác tuần tra vùng biển náo nhiệt này. Quan hệ giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ bao giờ cũng là mối quan hệ dưới mức thân thiện, vùng phụ cận quần đảo Dodecanese của Hy Lạp luôn là nguồn gốc của những cuộc tranh chấp về khai thác cá và du lịch. Thêm vào đó, bọn buôn người bất hợp pháp – chuyên tổ chức nhập cư lậu cho những đám di dân tuyệt vọng vào Hy Lạp và phần còn lại của Liên minh châu Âu từ nước Thổ vẫn chưa gia nhập EU – rất ưa chuộng cái eo biển hẹp ngăn cách giữa hai quốc gia này. Hơn nữa, có quá nhiều khu vực cần phải kiểm soát, và hầu hết tàu bè lưu thông đều là những du thuyền bình thường, không có người trực liên lạc bằng máy vô tuyến, việc sàng lọc chúng quả là một nỗ lực nặng nề và khổ ải.
Khi tay kỹ thuật viên rađa mải mê nhìn vào mấy tấm biểu đồ bên cạnh màn hình và anh chàng nhân viên đài trao đổi với phi hành đoàn của một trong các trực thăng, Reilly bước xa khỏi màn hình, nhìn qua cửa lính chắn gió chiếc Karadeniz. Anh ngạc nhiên khi thấy dường như thời tiết đang trở nên xấu đi ở hướng Nam. Một bức tường mây tối sầm nằm ngay trên chân trời, ngăn cách ở giữa là một dải sáng vàng rực rỡ. Cảnh tượng trông có phần hư hư ảo ảo.
Reilly gần như cảm nhận được sự hiện diện của Tess, và việc biết nàng đang ở đâu đó ngoài kia, vừa như trong tầm tay vừa như không thể với tới được khiến anh bực tức. Reilly băn khoăn tự hỏi không biết ngay lúc này Tess đang ở đâu và làm gì. Nàng và Vance đã tìm ra chiếc Falcon Temple chưa? Họ đang trên đường đến… đâu nhỉ? Họ sẽ làm gì với “nó” nếu tìm được? Họ sẽ công bố khám phá của họ với thế giới như thế nào? Reilly đã suy nghĩ rất nhiều về những gì sẽ nói khi gặp lại Tess, nhưng, cũng thật ngạc nhiên khi anh nhận ra rằng nỗi giận dỗi trước đây do bị bỏ rơi đã nguôi ngoai từ lâu. Tess có những lý do của nàng. Anh không đồng ý với nàng, nhưng tham vọng của Tess là một phần bản chất của nàng và chính nó đã tạo nên con người nàng.
Reilly nhìn xuyên qua buồng lái ra phía đầu kia con tàu, những gì nhìn thấy làm anh cảm thấy không yên tâm. Xa về hướng Bắc, bầu trời tối sầm lại một cách đáng ngại. Mặt biển như một lớp vân cẩm thạch màu xám, những con sóng bạc đầu nhấp nhô ở phía xa. Reilly nhận thấy người lái chiếc tàu liếc nhìn một người đàn ông khác trên đài chỉ huy, anh đoán là viên thuyền phó, gật đầu ra dấu về hiện tượng đang xảy ra. Dường như họ bị kẹp giữa hai kiểu thời tiết xấu đối ngược nhau. Những cơn bão xuất hiện cùng lúc ở hai hướng và cùng tiến về phía họ. Reilly lại nhìn thấy người lái tàu, lúc này tỏ ra khá mất bình tĩnh. Trong khi đó, tay thuyền phó đã đến bên Karakas và rõ ràng đang thảo luận với viên thuyền trưởng về cơn bão.
Viên thuyền trưởng nhìn phong vũ biểu và rađa báo thời tiết rồi trao đổi vài câu với hai thuyền viên của mình. Reilly liếc về phía de Angelis, ông cha cố hiểu ra và dịch lại cho anh những lời trao đổi đó.
“Tôi nghĩ, hôm nay chúng ta phải về sớm hơn so với dự định. Có vẻ như chúng ta không chỉ có một mà là hai cơn bão khá hung dữ, cả hai đang tiến nhanh về phía chúng ta.” Ông khâm sứ Tòa Thánh nhìn Reilly, nhíu mày, ngập ngừng lên tiếng. “Nghe quen quen đúng không?”
Reilly cũng đã nghĩ đến mối liên hệ này trước khi de Angelis đề cập đến. Nó giống một cách đáng lo ngại với những gì Aimard mô tả trong lá thư. Anh thấy Plunkett đang hút thuốc trên boong, ánh mắt có vẻ lo lắng khi nhìn thấy cơn bão tụ lại. Quay về phía buồng lái, Reilly nhìn thấy viên thuyền phó và tay lái tàu chăm chú vào một mớ màn hình và các con số trên đồng hồ. Việc đó và những cái liếc thường xuyên về phía những đám mây đen tích tụ dần đang nói với Reilly rằng những cơn bão làm cả hai lo lắng. Ngay lúc đó, anh chàng kỹ thuật viên rađa kêu to về phía viên thuyền trưởng và lắp bắp cái gì đó bằng tiếng Thổ. Karakas bước vội về phía bảng điều khiển, de Angelis cũng vậy. Reilly không nhìn vào cơn bão trước mặt nữa mà đi cùng với họ.
Theo sự diễn giải tóm tắt của viên thuyền trưởng thì tay kỹ thuật viên chỉ cho họ biểu đồ anh ta đã đánh dấu được hoạt động của vài con tàu mà anh ta đang theo dõi. Anh ta đặc biệt chú ý một con tàu có cách di chuyển kỳ lạ. Nó dành khoảng thời gian đáng kể chỉ chạy lên chạy xuống trong một vùng biển hẹp. Chuyện này, về căn bản, cũng không phải là bất thường. Có khả năng đó là một tàu đánh cá, đang cào vét khu vực ưa thích theo lệnh của viên thuyền trưởng. Nhiều điểm trên màn hình cũng biểu lộ y như vậy. Nhưng anh chàng kỹ thuật viên nhận thấy ngược lại với vài ngày trước, cái điểm sáng mà anh ta cho là con tàu đó, hẳn phải chạy lên chạy xuống vài giờ đồng hồ trong vùng biển đặc biệt đó trước khi đổi hướng và rà soát khu vực khác, nhưng con tàu mà giờ anh ta đang theo dõi lại đứng yên suốt hai giờ đồng hồ qua. Hơn nữa, trong bốn chiếc tàu ở khu vực đó thì ba chiếc đang rời khỏi đó, có lẽ chúng đã phát hiện ra những cơn bão đang đến gần. Chiếc thứ tư – cái điểm sáng nghi vấn kia – vẫn cứ ì ra ở đó.
Reilly vươn tới để nhìn gần hơn. Anh thấy ba điểm sáng khác quả thực đang di chuyển. Hai cái hướng về phía đất liền Thổ Nhĩ Kỳ, cái thứ ba hướng về đảo Rhodes của Hy Lạp.
Trán de Angelis nhăn tít lại lúc nghiền ngẫm thông tin vừa nhận được. “Bọn chúng đấy,” ông ta nói với vẻ cả quyết lạnh người khi Plunkett bước vào. “Và nếu chúng không di chuyển, đó là vì chúng đã phát hiện ra cái mà chúng tìm kiếm.” Ông ta quay sang Karakas, trừng mắt lên. “Bọn chúng cách bao xa?”
Karakas nhìn màn hình bằng con mắt nhà nghề. “Khoảng bốn mươi hải lý. Trong vùng biển này, tôi ước lượng có thể mất hai giờ rưỡi. Nhưng thời tiết sắp biến chuyển tồi tệ hơn. Chúng ta có lẽ phải quay về trước khi đến được chỗ họ. Kim phong vũ biểu đang xuống rất nhanh, tôi chưa bao giờ gặp tình trạng như thế này cả.”
De Angelis chen vào ngay tức khắc. “Tôi không quan tâm. Gọi một chiếc trực thăng để quan sát gần hơn, và đưa chúng tôi đến đó nhanh hết mức có thể.”
Chương 74
Chiếc máy quay lướt trong bóng tối đầy đe dọa, ngang qua những quần thể sinh vật phù du, chúng làm màn hình lóe sáng lên trước khi nhanh chóng trôi ra khỏi vùng ánh sáng của đèn pha máy quay.
Hình ảnh truyền về từ chiếc ROV lần lượt hiện ra trước đám khán giả đang ngồi lặng yên gần như nín thở trong phòng chỉ huy chiếc Savarona, một khoảng không gian ngột ngạt ngự trị phía sau đài chỉ huy. Tess và Vance đang đứng, chồm qua vai Rasoullis và hai kỹ thuật viên ngồi trước mấy cái màn hình. Bên trái màn hình hiển thị những hình ảnh truyền về từ máy quay của Dori, màn hình định vị GPS nhỏ hiển thị vị trí hiện tại của chiếc tàu, trong khi nó quay vòng vòng và đột ngột quay ngược lại, cố giữ vững vị trí trong dòng nước mạnh không ngờ. Cái màn hình nhỏ hơn bên phải hiển thị kết quả dò tìm bằng sóng âm được đưa vào máy tính, một vòng tròn lớn với nhiều vòng đồng tâm màu xanh biển, xanh lá cây, vàng; một màn hình khác là la bàn kỹ thuật số, hiển thị hướng đi của họ – hướng chính Nam. Nhưng chẳng ai chú ý đến những màn hình đó, dù chỉ là cái nhìn thoáng qua. Ánh mắt của tất cả mọi người đều tập trung vào màn hình chính hiển thị những hình ảnh truyền về từ máy quay của chiếc ROV. Họ yên lặng quan sát khi đáy biển đột ngột hiện ra, chỉ số độ sâu trong góc màn hình nhanh chóng lên đến con số 173 mét, độ sâu đáy biển do máy đo độ sâu trong chiếc ROV ghi nhận.
Ở độ sâu 168 mét, những đốm sáng hình sao dày đặc hơn. Ở 171 mét, một cặp tôm giật mình búng ra khỏi vùng sáng, và rồi, ở 173 mét, màn hình đột nhiên tràn ngập thứ ánh sáng màu vàng. Chiếc ROV đã chạm đáy biển.
Người bảo vệ mẫn cán của Dori, anh chàng kỹ sư người đảo Corse tên Pierre Attal, dồn hết tâm trí khi sử dụng cần gạt và bàn phím nhỏ để vận hành chú robot thân yêu của mình. Anh ta rê bi lăn ở rìa bàn phím và theo lệnh của các ngón tay anh ta, cái máy quay xoay một vòng, quét qua đáy biển. Giống như những hình ảnh truyền về từ tàu thăm dò vũ trụ trên sao Hỏa, những hình ảnh cho thấy một thế giới kỳ lạ, nguyên sơ chưa từng bị bàn tay con người xâm phạm. Bốn bề xung quanh vị khách robot chẳng có gì ngoài mặt cát bằng phẳng trải rộng chìm sâu trong một thứ bóng tối thê lương.
Người Tess như nổi da gà vì cảm giác bồn chồn. Nàng không thể không thấy xúc động, dù biết rằng họ không nhất thiết phải xúc động đến vậy, dù theo bất kỳ nghĩa nào. Máy quét siêu âm tần số thấp chỉ xác định được vị trí tương đối của những mục tiêu triển vọng; vậy là phải cho ROV lâm trận, thiết bị siêu âm tần số cao của con robot cho phép định vị chính xác và khảo sát những hiện trường như thế này. Tess biết nhiều vị trí ở đáy biển bên dưới chiếc Savarona sâu đến 250 mét và bị bao phủ bởi những dải san hô rải rác, nhiều dải có kích thước và hình dạng làm họ lầm tưởng là chiếc Falcon Temple. Việc rà quét bằng sóng âm không đủ khả năng giúp phân biệt con tàu đắm với những loại gò ụ tự nhiên này và đây là lúc cái từ kế phải tham gia. Các chỉ số trên mặt đồng hồ từ kế sẽ giúp phát hiện những vật bằng sắt còn lại trên con tàu đắm, và như Rassoulis và đội của ông ta tính toán thì sau bảy trăm năm bị nước biển ăn mòn vẫn còn tối thiểu là gần năm trăm cân sắt trong tàn tích của chiếc Falcon Temple – họ vẫn có nguy cơ bị báo động giả do những túi địa từ tự nhiên hoặc thông thường hơn là do những con tàu đắm trong thời gian gần đây.
Tess chăm chú theo dõi cái quy trình mà nàng đã hai lần chứng kiến trong những ngày vừa qua, giờ lại đang tái diễn. Kéo thật khẽ chiếc cần gạt, Attal tự tin điều khiển chiếc ROV di chuyển trên đáy biển. Khoảng chừng mỗi phút, anh ta lại cho nó hạ xuống, làm tung lên một đám cát khác. Sau đó, anh ta lại bấm một nút, và chiếc ROV lại bắt đầu một cuộc rà quét 360 độ khu vực bao quanh kề cận. Cả đội cùng phân tích kỹ lưỡng kết quả rà quét trước khi Attal quay trở lại bàn điều khiển, khởi động lại động cơ thủy lực, đẩy con tàu robot nhỏ tiếp tục tiến tới trong cuộc truy tìm lặng lẽ.
Attal đã lặp lại động tác trên khoảng năm sáu lần thì một vệt lờ mờ xuất hiện ở góc màn hình. Điều khiển chiếc ROV đến vị trí đó, anh ta lại bắt đầu một cuộc rà quét khác. Phải mất vài ba giây màn hình mới thu được kết quả trước khi nhận ra cái vệt mờ kia hiện thành một khối chữ nhật màu hồng nhạt, vẫy gọi nàng giữa cái màu xanh biếc bốn bề xung quanh.
Tess liếc nhìn Vance, anh ta đón nhận ánh mắt của nàng một cách bình thản.
Không thèm ngước lên nhìn họ, Rassoulis nói với Attal, “Đến gần hơn chút nữa.”
Chiếc ROV lại di chuyển, lướt là là trên đáy biển như một chiếc tàu đệm không khí khi Attal khéo léo điều khiển nó hướng về phía mục tiêu. Ở thao tác tiếp theo, cái khối hồng hồng kia đã rõ góc cạnh hơn.
“Anh nghĩ đó là cái gì?” Vance hỏi.
Rassoulis nhìn lên Vance và Tess. “Chỉ số từ kế khá cao, nhưng…” Ông ta trỏ một ngón tay vào hình ảnh trên màn hình. “Các người thấy nó vuông vức ở đầu này và méo mó ở đầu kia không?” Viên thuyền trưởng nhướn hàng lông mày, vẻ tràn trề hy vọng. “Nhìn nó chẳng giống một tảng đá chút nào.”
Căn phòng rơi vào im lặng khi chiếc ROV tiến đến gần hơn. Đôi mắt Tess dán chặt vào màn hình khi chiếc máy quay lơ lửng trên một đám thực vật biển khẽ đong đưa theo dòng nước dưới đáy biển hoang vắng. Khi chiếc ROV lại một lần nữa đáp xuống và chạm vào lớp cát, cái gì đó hiện ra trong tầm nhìn. Các cạnh của vật đó đều có góc cạnh, những chỗ cong cũng đều đặn. Trông nó có vẻ là sản phẩm của bàn tay con người.
Chỉ trong vài giây, những dấu vết còn lại không thể nhầm lẫn của một con tàu đã trở nên rõ ràng. Con tàu robot lượn quanh hiện trường, cho thấy khung sườn của một chiếc tàu, những thanh sườn gỗ trống hoác, bám đầy hà.
Tess nghĩ là nàng đã phát hiện ra một cái gì đó. Nàng chỉ vào một góc màn hình đầy kích động. “Cái gì kia? Anh có thể cho nhìn rõ hơn một chút không?”
Attal điều khiển con tàu robot như chỉ dẫn. Tess chồm tới để nhìn rõ hơn. Trong ánh sáng chói lòa của những đèn pha, nàng nhìn thấy một vật tròn tròn, giống như cái thùng. Hình như nó được làm bằng kim loại và đã gỉ sét. Khó mà xác định được tỉ lệ tương đối của các đồ vật trên màn hình, trong một lát Tess băn khoăn không biết vật mà nàng đang nhìn thấy có phải là một khẩu đại bác không. Ý nghĩ đó lại gợi lên một mối lo lắng bất chợt khác trong tâm trí nàng – Tess biết tàu trong các đợt Thập tự chinh sau cùng không thể nào trang bị súng đại bác. Nhưng khi chiếc ROV lượn đến gần hơn, cái khối kim loại cong cong kia trông khác hẳn. Trông nó phẳng và rộng hơn. Và từ khóe mắt, Tess nhìn thấy một cái nhăn mặt đau khổ thoáng hiện trên gương mặt Rassoulis.
“Tàu bọc thép,” ông ta nhún vai. Nàng hiểu ý viên thuyền trưởng trước khi ông ta nói thẳng ra. “Không phải chiếc Falcon.”
Chiếc ROV lượn quanh, cho thấy xác con tàu từ góc khác. Attal gật đầu xác nhận một cách không thương tiếc. “Và nhìn này, ở đây này. Đó là lớp sơn.” Anh chàng kỹ sư nhìn lên Tess, lắc đầu chán nản. Khi chiếc tàu robot đi sát quanh thân con tàu đắm, rõ ràng thứ mà họ tìm thấy là tàn tích của một con tàu thời cận đại.
“Giữa thế kỷ mười chín,” Rassoulis xác nhận. “Rất tiếc.” Ông ta liếc nhanh qua ngoài cửa sổ. Biển đang càng lúc càng sôi lên, những đám mây đen to tướng cuộn lên từ hai phía trước mặt với tốc độ đáng lo ngại. “Dù sao, chúng ta nên rời khỏi chỗ này, quay lại thôi. Trông chẳng tốt chút nào.” Viên thuyền trưởng quay sang Attal. “Đưa Dori lên. Xong việc ở đây rồi.”
Tess uể oải gật đầu, buông tiếng thở dài thất vọng. Nàng sắp quay đi và rời khỏi phòng thì cái gì đó ở rìa màn hình đập vào mắt nàng. Tess cảm thấy run lên vì kích động và nhìn chăm chăm vào màn hình, mắt mở trừng trừng và chỉ tay vào cạnh trái màn hình. “Cái gì đây? Ngay ở đây này? Anh có thấy không?”
Rassoulis nghển cổ vào, chăm chú nhìn màn hình trong khi Attal điều khiển con robot hướng về vị trí Tess chỉ. Ngồi giữa hai người đàn ông, Tess chăm chú quan sát màn hình. Ở cuối luồng sáng lờ mờ của chiếc ROV, một vật nhô ra trong tầm nhìn. Trông giống như một cái gốc cây, nhô lên khỏi một ụ nhỏ. Khi con robot men đến gần hơn, Tess có thể nhận ra cái ụ kia gồm những thứ có vẻ như là cột buồm, một số đoạn cột bám đầy những dải rong tảo, nhưng trí tưởng tượng của nàng lại hy vọng đó thực ra là hệ thống dây dợ trên tàu. Một số mảnh bị cong lại, như xương sườn của một xác chết cổ. Hàng thế kỷ các loại sinh vật biển đã bao phủ những tàn tích ma quái còn lại.
Tim nàng đập rộn ràng. Đó là một chiếc tàu. Một chiếc tàu khác xưa hơn, bị che lấp một phần bởi con tàu đắm sau này, nằm phía trên nó.
Chiếc ROV tiến gần hơn, lướt trên cái đống đổ nát đã bị lớp san hô bao phủ bên ngoài, chiếu rọi lên cái đống lù lù kia thứ ánh sáng trắng đục nhờ nhờ.
Đột nhiên, Tess cảm thấy như không khí xung quanh như bị hút hết ra khỏi căn phòng.
Ở đó, tắm mình trong ánh sáng chói lòa của chiếc đèn pha, và nhô lên khỏi đáy đại dương đầy thách thức, ngạo nghễ, hình chạm chim ưng ở mũi tàu sừng sững hiện ra.
Chương 75
Trong buồng lái như đang chực vỡ òa vì vui sướng. Rassoulis, Vance và Tess nhìn chằm chằm ra bên ngoài, càng lúc càng lo ngại vì các cơn bão ở trước mặt đang tiến lại. Gió đã lên đến ba mươi hải lý, con sóng cồn quanh chiếc Savarona đã biến thành những con sóng vỡ, mặt biển sôi sùng sục hợp cùng những đám mây đen kịt trở thành một mối đe dọa đáng sợ đối với họ.
Phía dưới đài chỉ huy, chiếc ROV được một cái cần cẩu nhỏ hạ xuống boong giữa. Attal và hai thủy thủ đứng ở đó, họ có vẻ như không màng đến thời tiết khi đợi buộc chặt chiếc ROV vào boong tàu.
Tess gạt mớ tóc gió thổi che lấp gương mặt. “Không phải chúng ta nên quay về sao?” nàng hỏi Rassoulis.
Vance nhảy vào ngay, nói một cách quả quyết. “Bậy bạ nào. Thời tiết đâu có tệ hại lắm đâu. Tôi chắc rằng chúng ta còn đủ thời gian để đưa chiếc ROV xuống khảo sát thêm lần nữa,” anh ta quay qua Rassoulis, cười vẻ quyết đoán, “anh không đồng ý à?”
Tess nhìn viên thuyền trưởng trong khi ông ta quan sát bầu trời tím bầm, giận dữ chực chờ đổ ập xuống đầu họ. Ở hướng Nam, những tia chớp xé rách màn mây, thậm chí ngay từ khoảng cách này họ đã nhìn thấy những màn mưa đang quét khắp mặt biển. “Tôi không thích việc này lắm. Một cơn bão thì chúng ta còn đối phó được, nhưng hai… Chúng ta có thể thoát khỏi chúng nếu rời khỏi đây ngay bây giờ.” Ông ta quay qua Vance. “Đừng lo. Những cơn bão ở ngoài này không kéo dài quá lâu đâu, vả lại thiết bị định vị GPS của chúng ta chính xác đến từng mét một. Chúng ta sẽ quay lại khi cơn bão qua đi, có thể chỉ sáng mai thôi.”
Vance nhăn nhó với chính mình. “Tôi thực sự chẳng muốn rời khỏi nơi đây với hai bàn tay không,” anh ta nói tiếp với vẻ bình thản. “Phải lấy được cái gì đó, như cái hình chạm chim ưng chẳng hạn. Chắc chắn là chúng ta có đủ thời gian để lấy lại nó trước khi rời khỏi nơi đây, đúng không nào?” Rassoulis nhíu mày lo lắng, rõ ràng ông ta chẳng thích thú cái ý tưởng kia chút nào. “Tôi chỉ ngại rằng cơn bão sẽ kéo dài hơn anh dự kiến,” Vance tiếp tục nài ép, “và lúc đó, cái hợp đồng đã kí kết kia của anh thì sao, có thể phải mất cả mấy tháng chúng ta mới quay trở lại được và ai mà biết chuyện quái quỷ gì xảy ra trong thời gian đó.”
Rassoulis cau mày nhìn những cơn bão tụ lại, rõ ràng viên thuyền trưởng đang cân nhắc xem chiếc Savarona có thể chịu đựng nổi không khi neo lại hiện trường chiếc tàu đắm.
“Tôi sẽ đền công anh xứng đáng,” Vance nhấn mạnh. “Anh hãy mang con chim ưng lên và tôi xong việc ở đây. Anh có thể lấy hết những thứ còn lại ở dưới đó.”
Rassoulis nhướn hàng lông mày, vẻ ngạc nhiên. “Đó là tất cả những gì anh muốn? Con chim ưng?” Viên thuyền trưởng ngưng lại, nhìn Vance với vẻ soi mói. Tess nhìn ông ta và có cảm giác như đang tham dự vào một ván bài nguy hiểm. “Tại sao?”
Vance nhún vai, và rồi vẻ mặt anh ta trở nên xa cách. “Chỉ là chuyện cá nhân. Hãy xem việc đó như là chuyện đã… kết thúc.” Ánh mắt Vance đanh lại, nhìn thẳng vào Rassoulis. “Chúng ta đang lãng phí thời gian. Tôi chắc chắn là nếu nhanh lên chúng ta sẽ làm được việc đó. Và sau đó, tất cả là của anh.”
Tay thuyền trưởng dường như chỉ mất vài giây để cân nhắc những chọn lựa của mình, ông ta gật đầu và bước đi, hét to ra lệnh cho Attal và các thủy thủ khác.
Vance quay sang Tess, vẻ mặt bồn chồn căng thẳng. “Gần tới nơi rồi,” anh ta thì thầm. “Chúng ta gần tới nơi rồi.”
“Còn bao xa nữa?” de Angelis gào to về phía tay thuyền trưởng.
Reilly có thể cảm nhận âm thanh bị dội lại trong đài chỉ huy chiếc Karadeniz rất chát chúa, chát chúa nhiều hơn bình thường. Đã hơn một giờ đồng hồ, họ cắt xéo qua những con sóng đang đập dồn dập vào mạn phải và thân chiếc tàu tuần tra, càng lúc càng ác liệt hơn. Giữa những tiếng gió rú rít, tiếng động cơ gầm rú cùng với tiếng sóng biển, họ phải gào to lên mới nghe được nhau.
“Chưa đến hai mươi hải lý.” Karakas trả lời.
“Thế còn chiếc trực thăng?”
Viên thuyền trưởng hỏi tay kỹ thuật viên rađa rồi lại hét to lên. “Thời điểm tiếp xúc ước lượng chưa tới năm phút nữa.”
De Angelis phì phò thở ra, sôi lên vì nôn nóng. “Cái đồ chết tiệt mày không chạy nhanh hơn được sao?”
“Không phải trong vùng biển này.” Karakas trả lời cộc lốc.
Reilly bước gần hơn đến chỗ viên thuyền trưởng. “Thời tiết sẽ xấu như thế nào khi chúng ta đến chỗ họ?”
Karakas lắc đầu, mặt đanh lại. Ông ta không hét to câu trả lời nhưng dù sao Reilly vẫn nghe được.
“Có Chúa mới biết,” viên thuyền trưởng nhún vai.
Tess chăm chú nhìn những ngón tay của Attal khéo léo điều khiển cánh tay máy của chiếc Dori tròng sợi dây đai cuối cùng vào cái hình chạm chim ưng. Bất chấp những điều kiện khó khăn, thủy thủ đoàn đã làm việc rất nhanh và chính xác theo kiểu nhà binh, trang bị cho chiếc ROV những thiết bị cần thiết trước khi thả nó lại cái mặt biển đang sôi sục kia. Attal như biểu diễn ảo thuật với chiếc cần gạt của mình khi điều khiển chiếc ROV lặn xuống và định vị chiếc lưới thu hồi với mức độ hiệu quả đáng kinh ngạc. Tất cả việc còn lại là phải kéo nó lên, sử dụng hệ thống điều khiển từ xa kích hoạt bơm căng cùng lúc ba cái túi nặng, và trông chừng để cái hình chạm nhẹ nhàng nổi lên trên mặt nước.
Attal gật đầu ra hiệu sẵn sàng. “Chúng ta có thể đưa nó lên được rồi, nhưng…” Anh ta nhún vai một cái đặc sệt kiểu Pháp, liếc mắt về phía kính chắn gió đang đưa mình chịu đựng những cơn gió gầm rít.
Rassoulis cau mày, nhìn chăm chăm vào vũng nước xoáy cuồn cuộn xung quanh. “Tôi biết. Việc đưa nó lên boong khi nó nổi lên chẳng dễ dàng lắm đâu.” Viên thuyền trưởng quay qua Vance, vẻ mặt rất cương quyết. “Chúng tôi không thể đưa chiếc Zodiac xuống trong tình trạng biển cả như thế này, tôi cũng không muốn mạo hiểm đưa thợ lặn xuống bây giờ, thu hồi lại chiếc ROV cũng là việc khó khăn rồi, nhưng ít ra nó còn cơ động và có cáp kết nối.” Viên thuyền trưởng ngừng lại, dường như để đánh giá những điều kiện đang xấu đi nhanh chóng trước khi quyết định. “Hôm nay chúng ta không thể đưa nó lên được. Chúng ta sẽ để những cái phao ở lại dưới đó và quay lại khi bão tan.”
Vance tỏ vẻ ngờ vực. “Chúng ta phải đưa nó lên ngay bây giờ,” anh ta gằn giọng. “Có thể chúng ta không còn cơ hội khác đâu.”
“Anh nói cái gì vậy?” Rassoulis vặc lại. “Chẳng ai ra đến đây để đánh cắp nó khỏi tay chúng ta trong cái thời tiết như thế này. Chúng ta sẽ quay lại ngay khi thời tiết cho phép.”
“Không!” Vance hét to một cách giận dữ. “Chúng ta phải đưa nó lên ngay bây giờ!”.
Rassoulis ngã ngửa ra sau, ngạc nhiên vì giọng nói giận dữ của Vance. “Nghe này, tôi sẽ không hy sinh mạng sống của bất kỳ ai vì việc này. Chúng ta sẽ trở về, và chỉ vậy thôi.” Ông ta nhìn xoáy vào Vance bằng ánh mắt sắc lạnh trước khi quay qua Attal. “Đưa Dori lên càng nhanh càng tốt,” viên thuyền trưởng quát lên. Nhưng trước khi kịp đưa ra những mệnh lệnh khác, có cái gì đó làm Rassoulis chú ý. Đó là âm thanh đùng đục quen thuộc của cánh quạt trực thăng. Tess cũng nghe thấy nó, và qua cái quắc mắt cau có của Vance, rõ ràng anh cũng thế.
Họ khoác vội áo gió và bước ra khoảng boong nhỏ hẹp bên ngoài đài chỉ huy. Gió đã biến thành cuồng phong, những màn mưa quét theo từng cơn gió giật. Tess dùng tay che mắt, nhìn lên bầu trời quay cuồng bên trên, và nhanh chóng phát hiện ra chiếc trực thăng.
“Kia kìa.” Tess gào lên và chỉ tay vào chiếc trực thăng.
Nó đang lượn là là sát mặt nước, hướng thẳng về phía họ. Chỉ trong vài giây, chiếc trực thăng đã ở phía trên đầu họ trước khi lao vụt lên và lượn thêm một vòng. Chiếc trực thăng giảm tốc độ khi đến gần chiếc tàu, rồi treo lơ lửng trong gió, các cánh quạt trực thăng làm đảo điên mặt biển, cuốn lên một cột nước xoáy trên đầu những ngọn sóng ngầu bọt. Tess có thể nhận ra rõ ràng các dấu hiệu của Đội Bảo vệ Bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ trên thân máy bay và thấy người phi công đang nói vào chiếc micrô trong khi đảo mắt nhìn xuống chiếc tàu.
Sau đó, anh ta chỉ vào bộ ống nghe điện đài của mình, ra hiệu thúc giục họ bật điện đài lên.
Trên đài chỉ huy chiếc Karadeniz. Reilly nhìn thấy gương mặt de Angelis sáng bùng lên. Báo cáo từ chiếc trực thăng khẳng định cái điểm sáng đó là một tàu lặn. Bất chấp điều kiện thời thiết đang xấu đi một cách trầm trọng, chiếc tàu vẫn ở yên tại chỗ. Viên phi công có thể nhận ra hoạt động trên boong tàu quanh chiếc cần cẩu, cho thấy sắp có việc thu hồi lại một thứ tàu lặn gì đó. Anh ta cũng phát hiện hai người trên boong và những mô tả về họ rõ ràng đã quét sạch mọi nghi ngờ trong đầu vị khâm sứ Tòa Thánh.
“Tôi vừa mới yêu cầu anh ta thiết lập liên lạc với họ bằng điện đài.” Karakas báo với de Angelis. “Ông muốn tôi nói gì với họ?”
De Angelis trả lời không chút do dự. “Nói với chúng là chúng sắp gặp một cơn bão có tầm cỡ như trong Kinh Thánh.” Ông ta trả lời một cách dứt khoát. “Báo với chúng là nên cút khỏi đó ngay nếu chúng muốn sống.”
Reilly quan sát khuôn mặt de Angelis, và nó chỉ càng khẳng định sự đe dọa không thể nào thỏa hiệp mà anh đã đọc thấy trong câu trả lời của ông cha cố. Ông ta đã hạ quyết tâm không để cho họ thoát với những gì mà họ phát hiện bằng bất cứ giá nào. Ông ta lộ rõ sự nhẫn tâm xem thường mạng sống con người của mình khi phải bảo vệ cái bí mật sống còn của Giáo hội. Tất cả mọi người đều có thể là con tốt thí. Ông ta đã không ngần ngại tuyên bố như vậy, lúc còn ở Thổ Nhĩ Kỳ.
Reilly phải can thiệp vào. “Ưu tiên hàng đầu của chúng ta là sự an toàn của họ,” anh lên tiếng phản đối. “Còn có cả một đội thợ lặn ngoài đó.”
“Quan điểm của tôi, chính xác là như vậy.” de Angelis bình thản đáp trả.
“Họ không có nhiều chọn lựa đâu,” Karakas chỉ tay ra ngoài. Viên thuyền trưởng quan sát màn hình rađa, nhiều đốm sáng đang chạy ra khỏi khu vực đó. Những cơn bão từ hướng Nam và Bắc đã kẹp họ vào giữa. Họ chỉ có thể hoặc chạy về hướng Đông, ở đó đã có hai tàu tuần tra chờ sẵn để hốt họ, hoặc chạy về hướng Tây và gặp chúng ta. Dù theo đường nào, chúng ta cũng sẽ bắt được họ. Tôi cho rằng họ không có đủ may mắn thoát khỏi chúng ta trong tình huống này.” Nụ cười của Karakas xem ra chẳng có gì là hài hước cả. Reilly chợt nghĩ Karakas có thể thực sự hứng thú với một cuộc săn đuổi như thế này và quả là chẳng báo trước điều gì tốt lành khi kết hợp điều này với cái thiên hướng ưa giết chóc của de Angelis.
Reilly liếc về phía mũi tàu và khẩu đại bác tự động 23 li sừng sững ở đó, trong lòng trào dâng một cảm giác bất an. Anh phải báo động cho Tess và những người đang ở bên nàng về những gì mà họ sắp phải đối phó.
“Để tôi nói chuyện với họ,” Reilly thốt lên.
De Angelis nhìn Reilly, lộ vẻ lúng túng vì yêu cầu của anh.
“Ông muốn tôi giúp kia mà.” Reilly tiếp tục dồn ép. “Họ không biết chúng ta đang ở ngoài này. Càng có thể họ không ý thức đầy đủ về quy mô của cơn bão sắp ập vào họ. Để tôi nói chuyện với họ, thuyết phục họ theo chúng ta vào bờ.”
Karakas trông không có vẻ như là quan tâm lắm đến việc này, tay thuyền trưởng nhìn de Angelis chờ lệnh.
Ông khâm sứ Tòa Thánh đón nhận ánh mắt trừng trừng của Reilly bằng đôi mắt lạnh tanh, đầy toan tính, rồi gật đầu đồng ý. “Đưa micro cho anh ta,” de Angelis ra lệnh.
Tess cảm thấy như tim mình bị bóp nghẹt khi nghe giọng Reilly trên điện đài. Nàng chộp cái micrô từ tay Rassoulis.
“Sean, Tess đây.” Nàng hổn hển, hai bên thái dương giật giật. “Anh đang ở đâu?”
Chiếc trực thăng đã tách ra, bay ngược trở lại rồi nhanh chóng biến mất trong bầu trời tối đen và mưa như trút.
“Bọn anh không ở xa lắm,” giọng Relly lại vang lên. “Anh đang ở trên một tàu tuần tra, cách em mười lăm hải lý về hướng Tây. Bọn anh có hai tàu khác ở hướng Đông. Nghe anh đây Tess. Em cần phải ngưng ngay mọi việc em đang làm và ra khỏi đó ngay. Hai cơn bão sắp va chạm nhau ngay trên đầu em. Em phải chạy về hướng Tây ngay tức khắc, theo hướng,” Reilly ngưng lại, dường như để chờ đợi lấy thông tin, rồi lại nói tiếp, “hai bảy không. Hướng hai, bảy, không. Bọn anh sẽ đón em và hộ tống em về Marmaris.”
Tess nhận thấy Rassoulis đang nhìn Vance vẻ như dò hỏi, giờ rõ ràng anh chàng giáo sư đang nổi cáu. Trước khi Tess kịp trả lời Reilly, viên thuyền trưởng lấy lại micrô trên tay nàng. “Đây là George Rassoulis, thuyền trưởng tàu Savarona. Tôi đang tiếp chuyện với ai?”
Kế tiếp là vài âm thanh nhiễu tĩnh điện, rồi giọng của Reilly lại vang lên. “Tôi là Sean Reilly. Tôi là nhân viên FBI.”
Tess thấy vẻ mặt Rassoulis tối sầm lại khi ném về phía tay giáo sư một cái nhìn không tin cậy. Vance chỉ đứng đó, bất động, rồi quay người bước vài bước về phía sau đài chỉ huy.
Vẫn không rời mắt khỏi Vance, viên thuyền trưởng cất tiếng hỏi. “Chuyện quái quỷ gì mà FBI phải cảnh báo một chiếc tàu lặn Hy Lạp về cơn bão ở giữa Địa Trung Hải như thế này?”
Vẫn đứng xoay lưng lại, Vance trả lời. “Họ đến đây là vì tôi,” anh ta nói với vẻ dửng dưng đáng ngạc nhiên. Khi Vance quay lại, Tess thấy anh ta đang cầm khẩu súng ngắm chĩa thẳng vào Rassoulis. “Tôi nghĩ chúng ta đã nghe mấy ông bạn FBI đủ rồi đó.” Nói xong câu đó, anh ta nã hai phát vào điện đài. Tess thét lên khi ánh lửa và những mảnh vụn điện đài văng tung tóe. Âm thanh rè rè phát ra từ những chiếc micrô tắt hẳn.
“Nào,” Vance rít lên, đôi mắt long sòng sọc giận dữ, “tất cả chúng ta quay lại với công việc trước mắt được chưa?”
Chương 76
Tess cứng đờ cả người. Nàng có cảm giác như bị đóng đinh xuống sàn buồng lái, và chỉ có thể đứng lặng yên trong góc, nhìn Vance hằm hằm bước về phía Rassoulis và ra lệnh bắt đầu lại việc trục vớt cái hình chạm mũi tàu.
“Chẳng ích gì đâu,” viên thuyền trưởng cãi lại, “tôi đã nói với anh là không thể đưa nó lên tàu được, nhất là trong điều kiện thời tiết này.”
“Bấm cái nút khốn kiếp kia đi,” Vance khăng khăng, “nếu không tôi sẽ bấm thay anh đấy.” Vance trừng mắt nhìn Attal, vẫn đang ngồi trước bảng điều khiển chiếc ROV, các ngón tay anh ta như đông cứng lại trên cần điều khiển.
Anh chàng kỹ sư liếc về phía viên thuyền trưởng, Rassoulis dịu lại khẽ gật đầu. Attal đẩy nhẹ vào các cần điều khiển. Trên màn hình, hình ảnh truyền về từ máy quay của Dori thu nhỏ lại khi chiếc ROV lùi ra xa, rồi, chỉ trong vài giây, hết cái này đến cái khác, những túi nâng màu cam bắt đầu căng phồng lên hết cỡ. Thoạt tiên, con chim ưng trông không có vẻ như là đã dịch chuyển, ngoan cố chống lại lực kéo lên của những chiếc phao khổng lồ. Rồi bỗng nhiên, trong đám bụi cát bốc tung lên, con chim ưng nhích lên như một thân cây bị tróc gốc, kéo theo một đám xoáy trầm tích lắng đọng quanh nó hàng bao thế kỷ nay. Attal điều khiển chiếc ROV trồi lên theo một đường song song để giữ cho hình ảnh mờ mờ như đến từ một thế giới khác của cái hình chạm đang nổi lên vẫn hiện trên màn hình.
Tess nghe tiếng lách cách phát ra từ cánh cửa buồng lái khi một thủy thủ bước vào. Nàng nhận thấy Vance bị mất tập trung, anh ta đảo đôi mắt mê mẩn từ màn hình qua người mới xuất hiện. Đột nhiên, Rassoulis lao vào Vance, bắt đầu vật nhau với anh ta để đoạt lấy khẩu súng. Tess lùi lại, thét lên. “Đừng!” Attal và một kỹ sư khác bật dậy, nhào vào hỗ trợ viên thuyền trưởng thì một tiếng nổ chát chúa vang lên trong khoảng không gian khép kín, súng đã nổ.
Trong một lát, Vance và Rassoulis đứng im, bất động và dính chặt vào nhau, rồi Vance lùi ra còn viên thuyền trưởng thì sụm xuống sàn, máu ứa ra từ miệng, đôi mắt trừng trừng trợn ngược lên rồi khép lại.
Hoảng sợ, Tess chằm chằm nhìn xuống thân hình viên thuyền trưởng, khẽ co giật trước khi bất động hẳn. Nàng giận dữ nhìn Vance. “Anh làm cái gì vậy?” nàng gào lên và quỳ xuống cạnh Rassoulis, bối rối, không biết phải làm gì, rồi bắt mạch và nghe hơi thở của Rassoulis.
Không có gì cả.
“Ông ta chết rồi,” Tess bật khóc. “Anh giết ông ta rồi.”
Attal và người thủy thủ kia như đông cứng người lại, không tin những gì đang xảy ra trước mắt. Ngay lúc đó, theo phản xạ, người lái tàu lao vào Vance, vồ lấy khẩu súng. Nhưng với tốc độ đáng kinh ngạc, Vance quật báng súng vào mặt anh ta, anh chàng lái tàu ngã vật xuống sàn. Chỉ trong tích tắc, Vance hiện nguyên hình là một kẻ tâm thần mê loạn, đôi mắt anh ta trừng trừng, mặt đanh lại.
“Đem con chim ưng lên đây cho tôi, và chúng ta đều được về nhà,” anh ta ra lệnh. “Ngay bây giờ.”
Lưỡng lự, viên thuyền phó và Attal chuẩn bị quay trở lại với công việc chuẩn bị cho việc thu hồi, truyền mệnh lệnh đến các thủy thủ, nhưng những lời nói đó chỉ thoáng qua tai Tess một cách mơ hồ, rối rắm không thể hiểu được. Tess không thể không nhìn chằm chằm vào Vance, đôi mắt anh ta trở nên cực kỳ linh hoạt. Chúng không còn thuộc về vị giáo sư uyên bác mà nàng gặp gỡ lần đầu mấy năm trước đây, cũng không thuộc về con người đầy thiên kiến và đau khổ mà nàng đã cùng dấn thân vào chuyến đi lầm lạc này. Tess nhìn thấy trong đôi mắt ấy sự nhẫn tâm, vô cảm, lạnh lùng. Nàng đã nhìn thấy ánh mắt đó lần đầu tiên ở Bảo tàng Met, trong đêm xảy ra vụ cướp. Lúc đó, nó đã làm nàng sợ hãi, và giờ đây cùng với một xác chết kề bên, nó càng làm nàng kinh sợ.
Nhìn lại thi thể Rassoulis, Tess chợt nhận ra rằng nàng rất có thể cũng bỏ mạng ở đây. Và trong khoảnh khắc đó, nàng nhớ đến con gái mình, và băn khoăn tự hỏi không biết có được gặp lại Kim không.
Reilly nói như quát khi giọng Rassoulis ngưng bặt và loa điện đài còn vang lên tiếng rít ầm ầm. Một cơn rùng mình sợ hãi chạy dọc sống lưng anh. Reilly nghĩ mình đã nghe thấy cái gì đó như tiếng súng nổ qua điện đài nhưng không chắc lắm.
“Thuyền trưởng? Tess? Có ai không?”
Không có tiếng trả lời.
Reilly quay qua người kỹ thuật viên điện đài, người đang nghịch nghịch vẩn mấy cái nút bấm bàn điều khiển, anh ta lắc đầu, báo cáo với viên thuyền trưởng bằng tiếng Thổ.
“Mất tín hiệu,” Karakas xác nhận, “có vẻ như bọn chúng đã nghe những gì chúng muốn.”
Reilly giận dữ nhìn trừng trừng về phía trước, những cần gạt nước cũng không giúp anh nhìn rõ hơn. Chiếc Karadeniz đang nổ lực chống chọi lại những cơn sóng càng lúc càng trở nên hung bạo. Tất cả các lời chuyện trò, trao đổi trong đài chỉ huy đều bằng tiếng Thổ, nhưng Reilly vẫn nhận ra là đám thủy thủ chiếc tàu vũ trang này chú ý đến mặt biển nổi cơn thịnh nộ hơn là chiếc tàu kia, có vẻ như nó vẫn đang đứng im tại chỗ. Mặc dù bây giờ chiếc Savarona theo lý thuyết thì đã ở trong tầm quat sát, nhưng làn mưa dày đặc và tình trạng biển động như thế này không cho phép nhìn thấy nó thường xuyên được, đồng thời lớp sóng cồn dưới cả hai con tàu cũng bắt đầu dựng đứng lên. Khi Reilly thoáng thấy chiếc Savarona, anh chỉ có thể nhận ra một hình bóng lờ mờ xa xôi. Reilly cảm thấy như có một nắm đấm chẹn ngang họng khi nghĩ đến Tess đang ở ngoài đó, trên con tày bị sóng gió vùi dập kia.
Reilly thấy Karakas và tay thuyền phó trao đổi với nhau dăm ba câu rời rạc, sau đó viên thuyền trưởng quay qua de Angelis, những nếp nhăn vì lo lắng hằn sâu trên trán anh ta. “Con tàu đang dần mất kiểm soát. Gió gần đến năm mươi hải lý, và với tình trạng thời tiết như thế này, chúng ta không thể làm gì để buộc họ phải theo chúng ta.”
Kỳ lạ là de Angelis có vẻ như không hề bối rối. “Chừng nào chúng còn ngoài đó, thì chúng ta cứ tiếp tục ra đó.”
Viên thuyền trưởng thở nặng nề. Ánh mắt ông ta đảo về phía Reilly, như muốn tìm hiểu những suy nghĩ trong đầu Angelis nhưng không thấy gì. “Tôi không cho rằng chúng ta nên ở lại đây lâu hơn nữa,” Karakas tuyên bố thẳng thừng, “không còn an toàn nữa rồi.”
De Angelis quay mặt đối diện với tay thuyền trưởng. “Sao hả,” ông cha cố nói, giọng tức giận, “anh không đối phó với mấy con sóng à?” Ông ta giận dữ trỏ tay về chiếc Savarona. “Tôi không thấy chúng cụp đuôi xuống bỏ chạy cơ mà. Rõ ràng là chúng đâu có sợ ở lại ngoài này.” Miệng ông cha cố méo lại trong rất kỳ dị. “Anh sợ à?”
Reilly nhìn Karakas đứng đó, mạch ông ta đập nhanh hơn trước lời chế nhạo đó. Viên thuyền trưởng quắc mắt nhìn ông cha cố rồi ngoác miệng quát mấy câu ra lệnh cho người thuyền phó. De Angelis gật đầu, liếc nhanh về phía Plunkett rồi quay qua nhìn trừng trừng về phía trước, nhìn khuôn mặt nghiêng nghiêng của de Angelis, Reilly có thể nói ông khâm sứ Tòa Thánh đang cực kỳ khoái trá.
Tess đứng bên cạnh Vance, đăm đăn nhìn ra ngoài, bụi nước dội ào ào như vãi đạn lên tấm kính chắn gió trong lúc tiếng gió mưa gào rú bốn bề xung quanh buồng lái. Những mảng bọt trắng tung tóe xung quanh họ, boong chiếc Savarona tràn ngập nước.
Và đúng lúc đó chúng hiện ra.
Ba chiếc túi nặng màu cam, phóng lên khỏi mặt nước như những con cá voi ở mạn phải con tàu.
Tess căng mắt, cố nhìn xuyên qua màn mưa, và nàng thấy nó, khối gỗ lớn, đen, tròn nhấp nhô giữa những chiếc phao. Dù đã bị bào mòn sau bao thế kỷ, không thể nhầm lẫn là nó đã được chạm khắc theo hình một con chim ưng và làm người ta liên tưởng mạnh mẽ đến quá khứ vinh quang của nó.
Tess liếc nhìn Vance, gương mặt anh ta rạng rỡ hẳn lên. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi phù du nàng chợt rùng mình, cảm nhận cơn khích động dâng trào lấn át cả cảm giác sợ hãi và căm ghét trước đây.
Và rồi tất cả lại vội vã quay trở lại.
“Cho thợ lặn xuống,” Vance gào lên với viên thuyền phó đang lo chăm sóc cái má đầy máu của người lái tàu. Nhìn thấy vẻ do dự trong mắt anh ta, Vance vung tay ra, thúc mũi súng vào gương mặt hoảng hốt của viên thuyền phó. “Làm ngay. Chúng ta sẽ không rời khỏi đây mà không có nó đâu.”
Ngay lúc đó, một con sóng khổng lồ đập ầm vào đuôi tàu. Chiếc Savarona nặng nề nghiêng hẳn về một bên, người lái tàu lảo đảo đứng dậy, cầm lái thay viên thuyền phó đang khiếp đảm, vật lộn với bánh lái giữ cho con tàu quay lưng về hướng sóng và gió, điều khiển con tàu ra khỏi vòng nguy hiểm và tiến đến gần các túi phao nâng. Khéo léo cưỡi trên những con sóng, anh ta giữ vững vị trí của con tàu đã bị tơi tả vì sóng gió trong khi hai thủy thủ khác mặc đồ lặn vào và miễn cưỡng nhảy xuống khỏi boong tàu, cầm chặt những sợi cáp thu hồi nặng nề trong tay.
Tess lo lắng nhìn những người thợ lặn vùng vẫy tiến đến mục tiêu, những phút căng thẳng nặng nề cũng trôi qua khi họ đưa ngón tay cái lên ra hiệu đã hoàn thành công việc. Viên thuyền phó bấm vào một công tắc và trên boong trước, chiếc cần cẩu ầm ĩ thức dậy, căng lên với trục kéo của con tàu và cú đập dự dội của những con sóng. Cái hình chạm, vẫn còn dính với các túi nặng, nhô lên khỏi mặt nước ngầu bọt trắng, quay vòng lại rồi hướng về phía boong tàu đang chờ sẵn.
Vance chợt cau mày, sự chú ý của anh đã bị cái gì đó phía bên kia sợi cáp đang treo lơ lửng thu hút. Gương mặt Attal sáng bừng lên khi anh ta chộp lấy tay Tess và hất đầu về hướng sợi cáp, hướng Tây. Tess nhìn qua mũi tàu, một hình bóng mờ mờ ở phía xa. Đó là chiếc Karadeniz đang nỗ lực vượt qua những cơn sóng, tiến về phía họ.
Vance giận dữ quay về phía tay lái tàu. “Đưa chúng ta thoát khỏi đây,” anh ta ra lệnh, điên cuồng huơ huơ khẩu súng.
Nhiều vệt mồ hôi lẫn những vệt máu giàn giụa trên khuôn mặt người lái tàu, khi anh ta vật lộn giữ cho mạn tàu không xoay về phía những con sóng. “Trước tiên, chúng ta phải lấy hai thợ lặn lên đã,” anh ta phản đối.
“Mặc bọn họ,” Vance rống lên. “Tàu tuần tiễn sẽ vớt họ lên. Nó sẽ giúp làm bọn chúng chậm lại.”
Người lái tàu đảo mắt, đọc những chỉ số trên rađa báo thời tiết. Anh ta chỉ về hướng chiếc Karadeniz. “Lối thoát duy nhất ra khỏi cơn bão này là hướng về phía họ.”
“Không. Không được đi về hướng đó.” Vance hét lên.
Tess nhìn chiếc Karadeniz đang nhích đến gần hơn, quay quaVance. “Xin anh đấy, Bill. Kết thúc rồi. Họ đã bao vây chúng ta, và nếu không thoát ra khỏi đây ngay bây giờ, cơn bão sẽ giết tất cả chúng ta mất.”
Vance ném cho Tess cái nhìn ngụ ý câm miệng lại. Anh ta lo lắng nhìn ra ngoài trời rồi nhìn xuống rađa thời tiết. Ánh mắt Vance lạnh tanh. “Hướng Nam,” anh ta quát người lái tàu. “Chạy về hướng Nam.”
Người lái tàu trợn tròn đôi mắt tưởng chừng như vừa nhận một cú đấm vào bụng. “Hướng Nam? Đâm ngay vào cơn bão à,” anh ta phản đối. “Ông điên rồi.”
Vance hướng mũi súng vào mặt anh chàng lái tàu đang lưỡng lự, không một lời cảnh báo, bóp cò, vừa khẽ hất nhẹ mũi súng qua một bên khi nó phát nổ. Viên đạn đi sượt qua người lái tàu, cắm vào vách ngăn phía sau. Vance trừng mắt nhìn những người còn lại trong đài chỉ huy, ánh mắt đe dọa rồi lại chĩa súng vào mặt anh chàng lái tàu khiếp sợ.” Mày có thể thử vận may với con sóng hay… với một viên đạn. Tùy mày đấy.”
Tay lái tàu chỉ trừng mắt đáp trả Vance một lúc rồi lướt nhìn những thiết bị của mình, anh ta quay bánh lái, đẩy cần ga về phía trước. Con tàu chồm lên, bỏ lại những người thợ lặn đang thì thụp vô vọng trong sóng nước và lao đầu vào cơn thịnh nộ.
Chỉ đến khi Vance cuối cùng rời mắt khỏi người lái tàu, anh ta mới nhận ra Tess đã biến mất.
Chương 77
Trên đài chỉ huy chiếc Karadeniz, de Angelis nhìn đăm đăm qua cặp ống nhòm chuyên dụng đi biển Fujinon với vẻ nghi ngờ giận dữ.
“Chúng lấy được rồi,” ông cha cố nói qua hàm răng nghiến chặt. “Không thể tin được. Chúng đã mang nó lên được rồi.”
Reilly cũng nhận ra điều đó, và một cảm giác lo lắng chạy dọc sống lưng. Như vậy, rốt cuộc tất cả đều là sự thật. Như vậy, sau hàng trăm năm, nó đã được lôi lên khỏi lòng biển cả sâu thẳm bởi sự ngoan cố lì lợm của một con người.
Tess. Em đang làm gì vậy?
Reilly kinh hoàng nhận ra rằng, giờ đây de Angelis sẽ không dừng lại vì bất cứ chuyện gì.
Viên thuyền phó đứng bên cạnh họ, cũng dán mắt vào chiếc tàu lặn nhưng có những mối lo âu khác. “Chúng chạy về hướng Nam. Chúng bỏ rơi những người thợ lặn.”
Ngay khi nghe được điều đó, Karakas bắt đầu quát to và ra lệnh cho mọi người. Ngay lập tức, một hồi còi vang lên, tiếp theo là những mệnh lệnh dồn dập trên loa phóng thanh chiếc tàu tuần tra. Các thợ lặn mặc đồ lặn vào ngay tức khắc, trong lúc đó, ở trên boong, các thủy thủ hối hả chuẩn bị sẵn chiếc xuồng phao.
De Angelis nhìn hoạt động hối hả kia với thái độ hoàn toàn dửng dưng. “Kệ xác bọn thợ lặn,” ông ta quát nhặng lên, chỉ tay thẳng về chiếc Savarona. “Chúng đang chạy trốn kìa. Phải bắt chúng lại.”
“Không thể bỏ họ ở đây được,” Karakas vặc lại, sự khinh bỉ hiện rõ trong mắt viên thuyền trưởng. “Vả lại, con tàu kia không bao giờ thoát được cơn bão này. Sóng quá lớn. Chúng ta phải biến khỏi nơi này ngay khi cứu xong các thợ lặn.”
“Không,” ông khâm sứ Tòa Thánh thẳng thừng quạt lại. “Ngay cả khi chỉ còn xác suất một phần triệu là họ thoát được cơn bão này, chúng ta cũng không thể cho phép điều đó xảy ra.” Ông ta cau có nhìn ra ngoài kính chắn gió, rồi quay lại đối mặt với viên thuyền trưởng vạm vỡ, mắt toát lên vẻ đe dọa. “Bắn chìm chúng đi.”
Reilly không thể chịu được hơn nữa. Anh lao đến de Angelis, tóm lấy ông cha cố rồi nặng nhọc xoay ông cha cố đối mặt với mình. “Ông không được làm như vậy không…”
Reilly bỏ dở câu nói giữa chừng.
Vị khâm sứ Tòa Thánh rút khẩu súng lục tự động to tổ bố ra, chĩa mũi súng vào mặt Reilly. “Đừng có dính vào chuyện này,” ông ta hét lên, đẩy Reilly về phía sau buồng lái.
Reilly nhìn chằm chằm qua cái nòng súng bằng thép lạnh lẽo đang xoay xoay trước mặt anh chỉ vài li rồi nhìn thẳng vào mắt de Angelis. Chúng rực lên vẻ điên cuồng đầy sát khí.
“Anh đã vượt quá mục đích của anh ở đây rồi đấy,” ông cha cố rít lên the thé. “Anh hiểu ý tôi chứ?”
Vẻ cả quyết trên mặt de Angelis làm Reilly tin rằng ông ta vẫn sẵn sàng bóp cò không một chút do dự. Reilly cũng biết rằng chỉ cần nhúc nhích anh sẽ chết trước khi chạm được vào ông ta.
Anh gật đầu và nhẹ nhàng bước lui, đều đặn theo nhịp lắc lư của con tàu. “Bây giờ thì thoải mái nào,” ông ta nói giọng bình thản. “Thoải mái nào.”
De Angelis vẫn dán mắt vào Reilly. “Dùng đại bác ấy,” ông ta ra lệnh cho viên thuyền trưởng. “Trước khi chúng ra khỏi tầm bắn.”
Reilly có thể nhận ra Karakas vô cùng khó chịu vì những gì xảy ra trên tàu của mình. “Chúng ta đang ở trong hải phận quốc tế,” tay thuyền trưởng phản đối, “và nếu điều đó là chưa đủ đối với ông thì ông nên biết là chúng ta đang đề cập đến một chiếc tàu Hy Lạp đấy. Chúng tôi đã có quá đủ rắc rối với…”
“…Tôi không quan tâm,” de Angelis nổi điên lên, ông ta quay qua đối mặt với Karakas, điên cuồng huơ huơ khẩu súng. “Con tàu này hoạt động dưới quyền chỉ huy của NATO và với tư cách sĩ quan cao cấp ở đây, tôi ra lệnh trực tiếp cho anh. Thuyền Trưởng…”
Lần này, chính Karakas cắt ngang. “Không,” viên thuyền trưởng tuyên bố dứt khoát, nhìn de Angelis trừng trừng. “Tôi thà ra trước tòa án binh.”
Hai người gườm gườm nhìn nhau trong một khoảnh khắc căng thẳng, ông cha cố vương cánh ta ra hết cỡ, chĩa thẳng súng vào mặt viên thuyền trưởng. Trước sự tự tin của Karakas, ông ta không hề nao núng. Karakas vẫn không có ý định nhượng bộ cho đến lúc tay cha cố xô ông ta qua một bên, quay qua ra lệnh cho Plunkett canh chừng họ và nhảy xổ về phía cửa mở ra mũi tàu. “Quỷ tha ma bắt chúng bây,” ông ta giận dữ gào lên. “Tao sẽ tự làm lấy.”
Plunkett bước vào vị trí, rút khẩu súng ra khỏi bao khi ông cha cố đẩy tung cửa ra. Cơn gió mạnh ùa vào đài chỉ huy. De Angelis chuẩn bị sẵn sàng rồi bước ra ngoài cơn bão giận dữ điên cuồng.
Reilly lia một cái nhìn thăm dò về phía Karakas, ngay lúc một con sóng lớn ập vào mạn phải tàu, đập vào đài chỉ huy làm mọi người phải chụp lấy thanh tay cầm. Reilly nhận ra cơ hội và chộp ngay lấy nó. Anh nhào đến Plunkett, túm lấy gã đặc vụ CIA khi gã đang với tay chụp lấy bảng điều khiển bên cạnh để giữ thăng bằng. Reilly cố khóa chặt bàn tay cầm súng của Plunkett vào thành tàu, đồng thời tung ra một cú đấm móc cực mạnh từ dưới lên làm Plunkett buông lỏng tay ra, đủ để Reilly tước khẩu súng khỏi tay gã. Plunkett đánh trả bằng một cú tạt ngang hung tợn và điên cuồng, nhưng Reilly đỡ được dễ dàng cú tạt và không một chút do dự, quật mạnh khẩu súng vào tên sát thủ, cùng với cú đánh hiểm ác trúng vào trán. Plunkett quỵ xuống sàn, bất tỉnh.
Reilly nhét khẩu súng vào thắt lưng, bước ngang qua viên thuyền trưởng, chộp lấy cái áo phao, hối hả mặc vào và bước ra ngoài theo de Angelis.
Ngay lập tức, những cơn gió quật dữ dội vào Reilly, ném anh vào vách buồng hoa tiêu như một con búp bê làm bằng giẻ rách. Reilly tìm cách trụ vững lại, rồi dùng tay lần dọc theo lan can tàu, anh nhận ra sau làn mưa cái bóng đen lờ mờ của de Angelis đang lần mò dọc theo thành tàu tiến về phía trước, hướng về phía boong trước, nơi có khẩu súng đại bác tự động.
Lấy tay che mắt khi tiến tới, Reilly nhìn qua mũi tàu và thoáng thấy chiếc Savarona. Nó đang tròng trành dữ dội, chỉ cách chiếc tàu tuần tra chưa đến hai trăm mét, nhưng giờ ngăn cách giữa con tàu đó và chiếc tàu tuần tra là cả một khối nước khổng lồ cao như núi.
Reilly chợt cảm thấy tê cứng người lại. Trên mặt boong trước buồng lái, một bóng người nhỏ nhắn có vẻ như đang di chuyển, bị vùi dập dưới những cột nước dữ dội, tuyệt vọng bám vào đám dây dợ trên tàu.
Reilly cảm thấy như nghẹt thở.
Anh chắc chắn đó là Tess.
Tess vội vàng đi xuống cầu thang dẫn xuống bên dưới hầm tàu, những ý nghĩ lờ mờ tràn ngập trong đầu và tiếng tim đập nghe lùng bùng trong tai. Nàng nhìn kỹ những tấm vách, tuyệt vọng cố nhớ lại xem đã thấy chiếc rìu ở đâu.
Cuối cùng Tess cũng tìm thấy chiếc rìu, gắn trên một bức vách ngay ngoài gian bếp. Chỉ trong vài giây, nàng cũng tìm ra một cái áo phao và mặc nó vào. Hít một hơi thật sâu và cố trấn tĩnh để sắp xếp những việc sẽ làm, Tess giật tung cánh cửa ngăn nước và bước lên đường viền quanh hầm tàu, lao người vào cơn cuồng nộ đang hoành hành bên ngoài.
Tess biết Vance không dám mạo hiểm rời khỏi buồng lài. Một tay cầm chặt chiếc rìu, tay kia giữ cho khỏi ngã, nàng cẩn thận men qua boong chính, vừa dò dẫm đi vừa thả thêm những cái đai cứu sinh, hy vọng chúng sẽ có ích đối với những người thợ lặn bị bỏ rơi kia.
Tess nhìn thấy một con sóng khổng lồ ập lên mũi tàu và vòng tay bám chặt vào lan can, gồng mình khi bước tường ấy đập thẳng vào người nàng và chôn vùi cả boong tàu. Rồi Tess cảm thấy boong tàu như trượt đi dưới chân mình khi chiếc Savarona bay trên đầu ngọn sóng, dốc ngược trở lại rồi rơi phịch xuống đáy con sóng. Tess chồm dậy rồi qua mớ tóc rối bù quất vào mặt đau rát, nàng thấy con chim ưng, lủng lẳng trên không, cách mặt boong cả mét, lắc qua lắc lại điên cuồng. Tess bò về phía chân cần cẩu, sợi cáp hiện ra trong trục tời.
Đến nơi, Tess liếc nhìn lên cửa sổ buồng lái. Qua màn nước, nàng nhìn thấy khuôn mặt hoảng sợ của Vance. Thu hết can đảm, Tess nâng chiếc rìu lên và dùng hết sức bình sinh để bổ xuống. Nàng gần như tuột tay khi chiếc rìu nảy lên khỏi sợi cáp căng cứng. Tess ngẩng lên thấy Vance đã nhào ra khỏi buồng lái và đang chống chọi lại cơn gió như muốn thổi bật anh ta đi. Vance điên cuồng ra dấu và hét cái gì đó giống như những tiếng “Không!” liên tục bằng tất cả sức lực của mình, nhưng tiếng gió rít làm Tess không nghe rõ. Không chịu thua, Tess lại vung rìu lên, chặt, rồi lại vung lên. Một sợi dây đứt nghe đánh tách một tiếng, rồi một sợi khác khi nàng liên tục vụt mạnh lưỡi rìu xuống với những nhát chặt hối hả điên cuồng.
Nàng sẽ không để Vance có được nó. Không phải theo cách này. Không phải bằng cái giá này. Nàng đã quá ngu ngốc khi hoàn toàn tin tưởng hắn, và giờ là lúc bắt đầu sửa sai.
Sợi dây cuối cùng đứt khi chiếc Savarona tròng trành nghiêng về bên trái, con chim ưng đột ngột rơi xuống, nặng nề lao thẳng xuống lòng biển.
Tess men theo boong tàu dốc tuột, tránh xa buồng lái, cúi đầu xuống tránh tầm nhìn của Vance. Liếc nhanh về phía sau, nàng thấy những túi phao nâng nổi lên trên mặt biển ngầu bọt. Tim Tess cũng ngừng đập khi nàng chờ xem liệu chúng vẫn còn dính với con chim ưng không, và buông một tiếng thở dài nặng trịch khi thấy khối nâu đen tròn của cái hình chạm nhấp nhô giữa những phao nâng căng phồng.
Sự phấn khích vì thành công của Tess chẳng kéo dài được bao lâu vì, ngay lúc đó, một loạt vụ nổ nhỏ làm rung chuyển chiếc Savarona. Hụp xuống tìm chỗ nấp, Tess liếc nhìn về chiếc tàu tuần tra đang bám đuổi theo họ, sửng sốt khi thấy khẩu đại bác ở mũi tàu đang khạc ra một loạt đạn chết người.
Bị bầm dập tơi tả vì mưa gió, Reilly đuổi theo sau de Angelis.
Chiếc Karadeniz vất vả giữ vững vị trí, những người thợ lặn giải cứu đã lôi được một trong hai người thợ lặn bị bỏ rơi lên xuồng phao, người kia đang cố bám vào một dây đai cứu sinh cho đến khi được kéo lên xuồng.
Ông cha cố rốt cuộc cũng đến được boong trước. Chỉ vài giây, ông ta đã yên vị giữa các giá đệm vai hình bán nguyệt của khẩu súng. Mở chốt an toàn cái thứ vũ khí đáng sợ rồi quay vòng khẩu súng một cách điệu nghệ, ông ta nhanh chóng phát hiện ra chiếc tàu lặn đang chạy trốn và điên cuồng nhả ngay loạt đạn 23 li.
“Không!” Reilly gào lên, trèo qua lan can, xông đến chỗ đặt khẩu súng. Giữa những tiếng gió gào thét, tiếng súng nổ vẫn vang lên chát chúa.
Reilly lao vào de Angelis, kéo súng lệch khỏi hướng ngắm khiến những viên đạn vạch một đường vòng cung cách xa chiếc Savarona trước khi biến mất một cách vô hại trên mặt biển. Ông khâm sứ Tòa Thánh lách một bên vai ra khỏi giá đỡ của khẩu súng, chộp lấy tay Reilly, vặn tréo ngược các ngón tay anh trước khi đấm một cú tạt ngang vào giữa má làm Reilly bật ngược ra sau, loạng choạng trên boong tàu đang nghiêng ngả và đầy nước.
Mất thăng bằng, Reilly trượt ngã dọc sàn tàu và bị cuốn ra xa khỏi de Angelis. Anh tuyệt vọng cố chụp cái gì đó để không bị trượt đi nữa. Tay anh tóm được một mẩu dây và anh giữ chặt lấy nó. Reilly cuối cùng cũng nâng mình dậy được nhưng chỉ có thể đợi lúc con tàu tuần tra tròng trành dữ dội leo lên đầu núi nước cao ngất. Khi con tàu đang cưỡi trên đầu ngọn sóng, de Angelis đã trở lại vị trí, và con tàu lặn lại hiện ra trong tầm ngắm. Ông cha cố nhả một loạt đạn khác. Kinh hoàng, Reilly tuyệt vọng nhìn hàng chục viên đạn lần theo con đường sáng loáng, chết chóc của chúng xuyên qua màn đêm đổ như mưa xuống con tàu lặn. Lửa và những cuộn khói phụt lên khi những viên đạn chạm vào phần đuôi không được che chắn của chiếc Savarona.
Cúi thấp phía sau một thùng sắt, tim Tess đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực khi chiếc Savarona rung lên dưới cú va đập không thương tiếc từ khẩu súng liên thanh với tốc độ cực nhanh. Với tốc độ 1000 phát mỗi phút, thậm chí một loạt bắn ngắn cũng đủ tạo ra sức mạnh hủy diệt.
Những viên đạn cày xới sàn tàu xung quanh nàng, một tiếng nổ bục ở sâu bên trong con tàu làm chấn động cả người Tess, khiến nàng thét lên. Gần như ngay lúc đó, một cuộn khói đen cuồn cuộn bốc lên từ phía đuôi tàu và ống khói. Con tàu tròng trành nghiêng sang một bên, gần như thể ai đó đã hãm phanh lại. Tess biết động cơ của con tàu đã bị trúng đạn. Nàng đoán – và hy vọng – rằng thùng nhiên liệu của chiếc tàu đã hết vì con tàu đã không nổ tung từ dưới chân nàng. Tess đếm từng giây trôi qua, chờ cho điều đó xảy ra, nhưng không, chẳng có gì cả.
Nhưng chính điều này cũng thật tồi tệ.
Không còn nhiên liệu, con tàu thương tật vô vọng chống cự lại biển cả đang cơn thịnh nộ. Những con sóng xô đến từ đủ mọi phía, đập thùm thụp làm con tàu tròng trành, quay mòng mòng như chiếc xe bị đụng trong trò chơi xe đụng.
Tess kinh hoàng nhìn một núi nước khổng lồ dâng lên phía sau chiếc Savarona, xô đến con tàu và đổ ập lên buồng lái. Nàng chỉ kịp quấn vội dây cứu sinh vào lan can tàu rồi vòng tay ôm chặt lấy nó trước khi cột nước đổ ập xuống con tàu, tràn ngập hoàn toàn boong tàu, đập vỡ những cửa kính Lexan dày mười hai milimet của buồng lái.
Tess vén mái tóc ướt nhèm che phủ trên mặt rồi ngước nhìn lên buồng lái đã bị phá hủy. Không còn dấu vết của Vance và những người khác. Tess cảm thấy nước mắt như sắp tuôn trào, co rúm người lại và chờ đợi được cứu mạng. Tess nhìn về nơi đã thấy chiếc tàu tuần tra, hy vọng giờ nó đã ở gần hơn, nhưng nàng không thấy nó ở đâu cả.
Và rồi nàng thấy nó. Một con sóng khổng lồ, cao ba mươi mét. Gần như là thẳng đứng, miệng sóng khổng lồ ở phía trước tưởng như có thể nuốt chửng chiếc Savarona.
Nó sắp đập xuống mạn trái của con tàu thương tật.
Tess nhắm mắt lại, thật chặt. Không nhiên liệu, chẳng có cách nào để hướng con tàu lặn đối mặt với con sóng hoặc chạy trốn khỏi nó, cũng không còn ai ở tay lái. Dù làm theo cách nào thì vẫn có thể khiến con tàu nhận một cú va đập mạnh và bị nước nhấn chìm nhưng nó vẫn sẽ lại nổi lên được.
Con quái vật này sắp đập vào mạn tàu.
Và khi va vào, nó nhấc bổng con tàu thép 130 tấn dễ dàng rồi cuốn trôi nó như một món đồ chơi trẻ con.
Reilly nhìn những viên đạn nổ tung ở phía đuôi chiếc tàu lặn và đám khói đen cuộn lên, anh lấy hết sức gào thật to về phía de Angelis, nhưng Reilly biết ông cha cố không cách nào nghe được vì tiếng rú rít của gió và tiếng súng nổ chát chúa.
Reilly chợt cảm thấy kiệt sức và hoàn toàn thất vọng, và cũng chính lúc đó, anh nhận ra mình cần phải làm gì.
Dựa người vào lan can tàu, Reilly rút khẩu súng tự động ra, cố giữ vững nòng súng trước sức gió dữ dội, và liên tiếp bấm cò. Những tia máu đỏ phụt ra từ lưng ông cha cố, ông ta cong người về phía sau rồi gục về đằng trước dựa lên cây súng máy, nòng súng ngóc lên bầu trời giận dữ.
Reilly bỏ khẩu Glock qua một bên, chăm chú nhìn ra từ boong chiếc tàu tuần tra. Rồi căng mắt nhìn vào màn mưa gió dày đặc, anh dõi tìm chiếc Savarona, nhưng tất cả những gì anh nhìn thấy qua màn mưa chỉ là những núi nước điên cuồng và các trũng xoáy ngầu bọt trắng xóa.
Những tay thợ lặn giải cứu bằng cách nào đó đã trở lại tàu cùng với những người họ kéo lên từ biển cả. Reilly nhận ra chiếc tàu tuần tiễu đang chạy ra khỏi hướng đi cũ, các động cơ gầm lên khi cố thực hiện một cú quành gấp và hạn chế thời gian nó ở trong tình trạng đối đầu với những ngọn sóng và phơi mình trước sóng gió. Cảm giác hoảng loạn túm chặt Reilly khi anh nhận ra họ đang quay đầu về, chạy ra khỏi cơn bão.
Ngay sau đó, những con sóng tan đi trong vài giây, mắt Reilly mở to trước cảnh tượng con tàu lặn đã lật úp , thân tàu loang lổ dơ dáy bập bềnh dưới những con sóng đang dồn dập đổ về.
Không một dấu vết của những người sống sót.
Reilly ngoái lại phía đài chỉ huy và thấy viên thuyền trưởng nôn nóng ra hiệu cho anh vào bên trong. Reilly che mắt, trỏ tay về hướng chiếc Savarona, nhưng Karakas khoát tay tỏ ý từ chối và chỉ tay về hướng khác hàm ý rằng họ phải rời khỏi nơi này khi còn có thể.
Reilly bám chặt lan can tàu bằng đôi tay trắng bệch, đầu óc rối tung sàng lọc qua những lựa chọn của mình, nhưng thực sự chỉ có một điều duy nhất anh nghĩ mình có thể làm.
Reilly bò về hướng chiếc xuồng máy cao su của con tàu tuần tra mà những người thợ lặn vẫn để nguyên chưa buộc lại vào mạn phải tàu. Mọi móc hết mọi điều đã học trong khóa huấn luyện thường lệ của FBI với Đội Bảo Vệ Bờ Biển Mỹ còn đọng lại trong trí nhớ, anh nhảy vào chiếc xuồng máy cứu sinh, kéo cần thả, và bám vào các tay nắm, anh nín thở khi chiếc xuồng tách ra khỏi con tàu tuần tra, đi vào giữa biển cả cuồng nộ.
Chương 78
Reilly khởi động được động cơ chiếc xuồng máy cao su, lao vào màn mưa mịt mù hơi nước, hướng về nơi anh nghĩ là đã thấy chiếc tàu Savarona bị lật úp. Anh lao như bay đến đó trong cái khung cảnh liên tục biến đổi xung quanh, cầm lái theo bản năng và chỉ biết hy vọng vì anh đã mất cảm giác về phương hướng. Mặt nước ngầu bọt và không khí ẩm đến mức gần như không còn biết đâu là trời đâu là biển.
Mặt biển dâng lên rồi sụp xuống với những con sóng cao đến chóng mặt, một con sóng đổ ập đến làm chiếc xuồng bé nhỏ ngập nước, rồi ngay sau đó một con sóng khác lại ùa đến quét sạch nước khỏi xuồng. Reilly kiên trì chịu đựng khi chiếc xuồng leo lên sụp xuống theo những bức tường nước, động cơ rú lên dữ dội mỗi lần chiếc xuồng bị ném qua một con sóng, chân vịt của nó quay tròn trong khoảng không.
Sau những phút giây tưởng như dài vô tận đó. Reilly đã thấy nó, một khối nâu đen góc cạnh nhô lên ở giữa hai con sóng, một khoảng trống nhìn giống như một cái hang giữa lòng biển cả. Mọi cơ bắp căng lên, Reilly trực chỉ chiếc xuồng máy về hướng đó, nhưng vẫn bị lệch ra khỏi hướng đi vì những con sóng hung hăng, bất hợp tác. Reilly phải liên tục điều chỉnh hướng đi trong khi vẫn nhìn về phía con tàu bị lật úp giữa những núi nước.
Vẫn không có dấu vết gì của Tess.
Càng đến gần, cảnh tượng càng kinh hoàng hơn. Những mảnh vụn rải rác xung quanh thân tàu, nổi bập bềnh dọc theo mạn tàu trong vũ điệu chết chóc kỳ dị. Đuôi tàu giờ đã hoàn toàn chìm trong nước, mũi tàu nhô lên khỏi mặt nước như một tảng băng nhọn, lừ đừ trôi bên dưới những con sóng liên tục đập vào nó.
Reilly vẫn tìm kiếm Tess và những người sống sót một cách vô vọng, hy vọng tàn lụi dần, và lại bùng lên khi anh nhìn thấy Tess ở phía bên kia thân tàu, bập bềnh trong áo phao cứu sinh màu da cam, đang vẫy tay một cách điên cuồng.
Lái chiếc xuồng cao xu về hướng Tess, anh thận trọng điều khiển xuồng quanh thân tàu bám đầy những vỏ hà, men dần đến gần nàng, mắt anh đảo từ chỗ nàng ra phía những con sóng phản trắc đang chực chờ vùi dập họ một cách không thương tiếc. Khi đến đủ gần, Reilly với tay ra để chụp lấy cánh tay vươn ra của Tess, hụt, rồi nỗ lực vươn ra lần nữa, và lần này các ngón tay của họ đã đan chặt vào nhau và anh cố giữ chặt.
Reilly kéo nàng về xuồng, nụ cười liều lĩnh yếu ớt thoáng hiện trên mặt anh và anh thấy gương mặt nàng bừng lên, nhưng rồi đột nhiên vẻ mặt đó bỗng chuyển qua sợ hãi. Tess đang nhìn về phía sau anh. Reilly cũng quay lại, vừa kịp nhận ra một khúc gỗ lớn rơi ra từ chiếc Savarona theo một con sóng giật, đập thẳng vào mình.
Và rồi thế giới trước mắt anh biến thành màu đen.
Mất phương hướng và hoang mang cùng cực, Tess đinh ninh là nàng sắp chết và hầu như không thể tin vào mắt mình khi thấy Reilly tiến về phía nàng trên chiếc xuồng cứu sinh.
Với chút sức lực sót lại, nàng đã túm được bàn tay đang vươn ra của Reilly, rồi vắt được nửa người lên chiếc xuồng mong manh, đó cũng là lúc nàng thấy một tấm ván gỗ quay cuồng theo một con sóng và đập vào Reilly. Nó đập thẳng vào đầu Reilly, đẩy anhh văng khỏi xuồng.
Tess lại nhào vội xuống nước, vươn tay túm lấy Reilly, giữ chặt anh trong khi vật lộn giữ tay kia bám chặt vào tay cầm của chiếc xuồng. Qua làn nước dội vào liên tục, nàng thấy mắt Reilly nhắm nghiền, đầu ngoẹo xuống bất động trên phần nâng cổ của áo cứu sinh. Máu từ vết thương sâu hoắm trên trán ứa ra thành vệt, tan đi rồi lại trào ra mỗi khi nước tràn lên lau sạch vết thương.
Tess cố kéo Reilly vào xuồng nhưng nhanh chóng nhận ra đó là một việc nằm ngoài khả năng của nàng. Tệ hại hơn, nó đang hủy hoại chút sức lực ít ỏi còn lại của nàng. Chiếc xuồng đã trở thành một thứ của nợ hơn là một cứu tinh, nó ngập đầy nước và có nguy cơ lao vào họ theo từng cơn sóng giật. Lòng trĩu nặng, Tess buông tay cầm, và ôm choàng lấy Reilly.
Nhìn chiếc xuồng cứu sinh bị cuốn đi, Tess cố nâng đầu Reilly lên trên mặt nước. Có cảm giác như thể việc này sẽ kéo dài mãi mãi, Tess lấy hết quyết tâm giữ cho mình khỏi bị ngất đi. Cơn bão chưa có dấu hiệu dịu lại, Tess biết rằng nàng phải hết sức cảnh giác, nhưng đây quả là một cuộc chiến cầm chắc cái thua. Sức lực nàng đang nhanh chóng tàn dần.
Đó là lúc Tess nhìn thấy một tấm gỗ lớn, nàng đoán là một loại tấm đậy gì đó. Tess nôn nóng lao về phía tấm gỗ, một tay vẫn ôm quàng Reilly, sau cùng, nàng cũng vươn được tay kia ra tóm lấy sợi dây thừng gắn với tấm ván. Khó nhọc và đau đớn, Tess lết người lên rồi kéo Reilly lên tấm gỗ, dùng sợi dây thừng buộc chặt hết mức có thể cả hai người vào tấm gỗ. Nàng còn móc đai áo phao của hai người vào với nhau. Dù bất kỳ chuyện gì xảy ra. Reilly và nàng sẽ không rời xa nhau nữa. Và cũng thật kỳ lạ, ý nghĩ đó lại làm dấy lên trong lòng Tess một niềm hy vọng nhỏ bé.
Cơn bão vẫn tiếp tục khoe khoang sức mạnh xung quanh nàng, Tess nhắm mắt, hít thở từng hơi thật dài, cố trấn áp những nỗi lo sợ. Dù chuyện gì xảy ra đi nữa, nàng không được phép hoảng loạn. Nàng phải tìm ra đủ sức lực cần thiết để giữ cho nàng và Reilly không tuột ra khỏi cái miếng gỗ mỏng manh này. Nhưng nàng hoàn toàn vô vọng. Tất cả những gì Tess có thể làm là ngả mình, mặc cho trời đất đưa đẩy đến đâu thì đến.
Cái bè dã chiến dường như đứng yên lại một lúc, Tess mở choàng mắt, tự hỏi không biết thời gian yên ắng này có phải là một dấu hiệu cho những điều tốt đẹp hơn sắp đến hay không. Tess không phải chờ đợi lâu trước khi sự thật hiện ra. Dựng đứng lên trước họ là một con sóng khổng lồ, so với nó, con sóng đã lật úp chiếc Savarona chỉ là một chú lùn nhỏ bé. Nó hiện ra sừng sững, bất động, gần như chế giễu nàng.
Tuyệt vọng ôm chầm lấy Reillly, Tess nhắm nghiền mắt, chờ đợi cuộc tấn công, và rồi nó đến, con sóng như một vách núi đổ sập xuống, nuốt chửng họ dễ dàng như với những chiếc lá khô.
Chương 79
Tuscany [64], tháng Giêng năm 1293
Quay lưng lại với ngọn gió rét buốt thổi xuống từ phương Bắc, Martin de Carmaux cúi thấp xuống bên cạnh đống lửa nhỏ. Tiếng gió rú rít hòa lẫn trong tiếng gầm rú của dòng thác đổ xuống những vực sâu đầy bóng tối của một khe núi hẹp. Bên cạnh Martin, ủ trong những mảnh áo choàng rách tả tơi tước đoạt của một tên Mameluke bị giết chết ở Beer el Sifsaaf mấy tháng trước đây. Hugh rên khe khẽ trong giấc ngủ chập chờn.
Trong cuộc hành trình dài trên đất liền, kể từ lúc họ dạt vào bờ sau khi chiếc Falcon Temple chìm, Martin càng lúc càng yêu mến người thủy thủ già. Ngoại trừ Aimard de Villiers, Martin chưa bao giờ gặp một người nào tận tụy và có lòng quyết tâm như vậy, đó là chưa kể đến việc Hugh chấp nhận không một lời than vãn tất cả những gian khổ xảy đến với họ. Trong những ngày dài dằng dặc và khổ cực của cuộc hành trình, người thủy thủ già đã nhận nhiều vết thương trong những cuộc chiến đấu cũng như những tai họa rơi xuống đầu họ, dù vậy, Hugh vẫn miệt mài những dặm đường khổ ải không một lời than vãn.
Ít ra là cho đến vài ngày gần đây. Mùa đông khắc nghiệt giờ đã ôm chặt lấy họ trong vòng tay chết chóc của nó, những luồng gió lạnh giá từ dãy núi chia cắt họ với nước Pháp bắt đầu tác động đến người thủy thủ đau yếu.
Vào mấy tuần đầu sau khi rời Beer el Sifsaaf, Martin đã giữ bốn người sống sót ở cùng nhau, tin rằng chừng nào họ còn ở trong tầm với của những kẻ thù Hồi giáo thì họ sẽ cần đến sức mạnh của cả bốn người. Tuy nhiên, sau khi rời lãnh thổ của người Mameluke, Martin quyết định đã đến lúc thực hiện kế hoạch của Aimard, tách thành hai nhóm, mỗi nhóm hai người. Những nguy hiểm mà họ vẫn phải đối mặt, đặc biệt là từ những băng cướp lang thang đây đó dưới những chân núi vùng Stara Planina, và còn cả hơn một ngàn năm trăm cây số phải đi trước khi đến được Venice, là hoàn toàn có thực.
Martin lập ra một kế hoạch đơn giản. Sau khi chia thành hai cặp, họ sẽ theo một lộ trình định sẵn, mỗi nhóm cách nhau nửa ngày. Bằng cách này, người đi trước có thể cảnh báo cho người đi sau bất kỳ nguy hiểm nào; và người phía sau có thể giúp giải thoát cho người dẫn đầu bất kỳ sự hãm hại nào có thể xảy ra. “Không bao giờ,” anh nhấn mạnh, “được để cho những lá thư rơi vào vòng nguy hiểm. Ngay cả khi điều đó có nghĩa là phải bỏ mặc số phận của ai đó trong chúng ta.”
Không ai phản đối.
Martin đã không tính đến sự khắc nghiệt của địa hình. Chặn ngang đường đi của họ là những ngọn núi và vực thẳm, những dòng sông chảy xiết và những cánh rừng rậm rạp. Họ buộc phải đi nhiều đoạn đường vòng ra ngoài con đường đã định. Sau khi tách nhóm, với anh và Hugh đi trước dẫn đường, chỉ một lần duy nhất Martin thấy được dấu hiệu của các đồng đội. Cũng đã nhiều tháng trước rồi.
Dọc đường đi, họ đã không còn ngựa do chúng hoặc bị chết hoặc phải trao đổi để lấy thực phẩm, và chuyển sang đi bộ từ nhiều tuần qua. Nhiều đêm, nằm mệt nhoài và thao thức bên đống lửa, Martin băn khoăn không biết những người kia có may mắn hơn không, liệu họ có thể tìm ra một con đường dễ dàng, an toàn hơn và đã đến Paris rồi chăng.
Nhưng nó chẳng làm thay đổi gì kế hoạch của Martin. Anh không thể bỏ cuộc. Phải tiếp tục thôi.
Lúc này đây, nhìn gương mặt say ngủ của Hugh, một ý nghĩ chán nản bỗng trỗi dậy trong lòng Martin. Anh nghĩ, không chắc gì người thủy thủ già sẽ đến được Paris cùng anh. Thời tiết mùa đông sẽ khắc nghiệt hơn, địa hình sẽ khó khăn hơn, và những cơn ho khò khè của người bạn đường càng lúc càng tệ hại hơn. Vào lúc chạng vạng chiều hôm kia, Hugh đã lên cơn sốt dữ dội, và lần đầu tiên người thủy thủ già ho ra máu. Dù không muốn chấp nhận nhưng Martin biết sắp đến lúc phải bỏ Hugh lại để tiếp tục hành trình một mình. Nhưng anh không thể để Hugh cô đơn bất lực ở đây, giữa trùng điệp rừng núi hoang sơ này. Hugh chắc chắn sẽ chết cóng. Anh phải tìm một nơi trú ẩn, ở đâu đó, để người bạn đồng hành ở lại trước khi tiếp tục cuộc hành trình.
Hôm trước, họ thoáng thấy một thị trấn nhỏ, bên kia dãy núi. Thị trấn nằm gần một mỏ đá mà họ đã đi men qua bên ngoài, nơi họ thấy có những bóng người nhỏ bé thấp thoáng giữa những đám bụi đất và những phiến đá cẩm thạch đồ sộ. Có lẽ Martin nên tìm ai đó trong thị trấn mà anh có thể để Hugh lại nhờ người ta chăm sóc.
Khi Hugh tỉnh dậy khỏi giấc ngủ nặng nhọc, Martin nói ra những suy nghĩ của mình. Viên thuyền trưởng lắc đầu một cách dứt khoát. “Không được,” ông phản đối. “Anh phải tiếp tục đi đến Pháp. Tôi sẽ cố gắng theo anh đến lúc nào không được nữa thì thôi. Chúng ta không thể tin cậy những người xa lạ này được.”
Quả đúng như vậy. Dân vùng này nổi tiếng không đáng tin cậy vì những trò đổi chác mua bán, ngoài ra ở đây, ở xứ sở phương Bắc xa xôi này, những băng cướp và những tay buôn nô lệ cũng góp phần vào cái tiếng tăm không mấy tốt đẹp của khu vực này.
Bất chấp những lời phản đối của người bạn đồng hành, Martin leo xuống những tảng đá nằm dọc theo rìa thác. Một lớp tuyết mỏng đã rơi vào đêm qua, trùm lên ngọn núi một tấm chăn ma quái. Khi đi ngang qua một khe núi hẹp, Martin dừng lại nghỉ và nhận thấy một trong các tảng đá có những khe nứt giống như một cây thánh giá loe đầu, rất giống với hình thánh giá mà các Hiệp sĩ Đền Thánh dùng làm biểu tượng. Anh ngắm những khe nứt kỳ lạ kia một lát, nhìn thấy trong chúng một điềm báo đầy hy vọng. Có lẽ, rốt cuộc Hugh sẽ có được những ngày cuối cùng bình yên, thanh thản trong cái thung lũng yên tĩnh và hoang vắng này.
Khi đến thị trấn, chẳng bao lâu Martin đã đứng trước cửa nhà ông thầy lang địa phương, một người đàn ông đẫy đà có đôi mắt giàn giụa nước vì cái lạnh đang bủa vây lấy họ. Chàng Hiệp sĩ kể lại với ông ta câu chuyện mà anh vừa nghĩ ra trong lúc đi xuống thị trấn: anh và người bạn đồng hành là những du khách đến Đất Thánh.
“Bạn tôi đang bệnh và cần ông cứu giúp,” Martin van nài.
Người đàn ông lớn tuổi nhìn anh với vẻ cảnh giác. Martin biết mình chắc chắn trông giống một gã cầu bơ cầu bất không một xu dính túi. “Anh có trả tiền chứ?” ông ta hỏi thẳng thừng.
“Chúng tôi còn một ít tiền,” Martin gật đầu, “nhưng vẫn đủ để thanh toán tiền ăn ở vài ngày.”
“Rất tốt,” ánh mắt ông ta dịu lại. “Trông anh có vẻ cũng sắp quỵ đến nơi rồi. Vào nhà ăn uống một chút gì đó, và cho tôi biết anh để bạn anh ở đâu. Tôi sẽ tìm vài người giúp đưa anh ta xuống núi.”
Được an ủi trước sự thay đổi thái độ đột ngột của ông thầy thuốc. Martin bước vào căn phòng trần thấp lè tè và sẵn lòng ăn một ít bánh mì và phô mai. Quả thật, anh cũng sắp quỵ ngã, lúc này thức ăn và rượu đúng là thứ thuốc bổ mà cái cơ thể tả tơi của anh nồng nhiệt tiếp nhận. Vừa ngốn ngấu ăn, Martin vừa chỉ cái chỏm núi nơi anh để Hugh lại; người đàn ông vạm vỡ ra khỏi nhà.
Khi đã vét sạch đĩa thức ăn, Martin chợt cảm thấy một cảm giác khó chịu cồn cào trong lòng. Như thể vừa bừng tỉnh, anh bước nhẹ đến bên cửa sổ, thận trọng nhô đầu nhìn ra bên ngoài. Cách chỗ con đường lầy lội bùn đất một chút, ông thầy lang đang nói chuyện với hai gã đàn ông khác, tay chỉ về phía ngôi nhà. Martin vội thụt vào sau cửa sổ. Khi Martin nhìn ra lại, gã thầy lang đã biến mất, nhưng hai gã đàn ông giờ đang đi về phía anh.
Martin cảm thấy cơ bắp trong người căng lên. Anh biết, có thể có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc này, nhưng anh lo sợ cái nguyên nhân tồi tệ nhất. Martin thử liều nhìn ra ngoài lần nữa và thấy một trong hai tên rút ra một con dao găm to tướng.
Trong lúc nhanh nhẹn di chuyển khắp nhà tìm vũ khí, Martin nghe có tiếng thì thầm từ bên ngoài cửa sau. Bước nhẹ trên nền nhà, anh áp tai vào cánh cửa và lắng nghe. Martin thấy chiếc móc sắt trên cánh cửa nhấc lên, và anh ép sát vào tường khi cánh cửa từ từ cọt kẹt mở ra.
Ngay khi tên thứ nhất vừa thận trọng len vào, Martin vung tay tóm lấy gã đàn ông, đánh bật lưỡi dao găm khỏi tay gã rồi quăng mạnh hắn vào bức tường đá. Đồng thời, anh đá cánh cửa đập thẳng vào kẻ xâm nhập thứ hai, làm hắn ngã vật vào khung cửa gỗ. Nhanh như chớp, Martin chụp lấy cây dao găm, lao đến gã đàn ông đang sững sốt, một tay siết chặt quanh cổ, tay kia đâm lưỡi dao vào sườn hắn.
Rút lưỡi dao găm ra, để mặc thân hình tên thứ hai quỵ xuống nền đất, Martin nhanh chóng quay về nơi gã thứ nhất đang lồm cồm bò dậy. Martin nhảy đến, đá gã ngã xuống, cắm ngập lưỡi dao vào lưng.
Nhanh chóng, Martin vơ lấy bất cứ thứ thức ăn nào mà anh tìm thấy rồi nhét chúng vào một cái túi nhỏ, trong lòng nghĩ thầm đây là sự giúp đỡ tốt nhất đối với Hugh. Vọt ra khỏi cánh cửa sau, Martin rón rén vòng quanh thị trấn cho đến lúc tìm thấy con đường mòn dẫn lên núi.
Không bao lâu sau, bọn chúng đã đuổi theo Martin. Bốn, hoặc có thể là năm tên, anh phán đoán qua những giọng nói giận dữ, vang vọng khắp vùng núi rừng hoang vắng.
Những bông hoa tuyết bắt đầu rơi xuống từ bầu trời u ám khi Martin đến chỗ vách đá mà trước đó anh đã dừng lại nghỉ ngơi. Martin dừng lại, nhìn đăm đăm vào những vệt nứt đầy liên tưởng kia, hồi tưởng lại những lời dặn dò của mình với những người bạn chiến đấu trước đây vài tháng. Không bao giờ để cho lá thư của Aimard rơi vào vòng nguy hiểm. Đầu óc căng thẳng, Martin chăm chú quan sát những vệt nứt tạo thành cây thánh giá loe đầu.
Martin biết, anh không bao giờ quên được nơi này.
Sử dụng lưỡi dao găm, Martin nạy phía dưới chân tảng băng, lấy ra vài cục đá to bằng nắm tay, rồi nhét lá thư đựng trong túi vào sâu trong cái lỗ vừa mới đào rồi lấp lại bằng những viên đá, và dùng mũi giày nện lên chúng. Sau đó, anh tiếp tục leo lên, không buồn che dấu chân của mình.
Chẳng bao lâu, tiếng hò hét của những gã đàn ông phía sau anh giảm dần trong tiếng đổ ầm ầm đều đặn của dòng thác. Nhưng khi đến địa điểm cắm trại, Martin không thấy dấu vết của Hugh. Ngoái lui, anh thấy những kẻ săn đuổi mình, giờ hiện ra rõ ràng. Năm tên tất cả. Đứng sau cùng là tên thầy thuốc phản trắc.
Chụp lấy thanh đao, Martin men dần về phía rìa sườn núi, nơi dòng thác đổ xuống. Chính ở đây, Martin quyết định, là vị trí mà anh sẽ chống trả lại chúng.
Tên đầu tiên, ít tuổi và khỏe hơn những gã kia, đứng trước cả bọn một đoạn, cầm một cây chĩa dài, nhào đến. Martin ngả về phía sau, tạt ngang thanh đao, chém đứt cán cây chĩa như chém một cọng rơm. Gã chúi về phía trước, nhưng vẫn nhanh nhẹn xoay lại. Martin hạ thấp người xuống, chúc vai vào bụng gã đàn ông, nhấc bổng gã lên và ném xuống vực thẳm bên dưới dòng thác.
Tiếng thét của gã đàn ông kia vẫn còn vang vọng trong tai Martin khi hai tên khác xông lên. Dù lớn tuổi và có vẻ nhát gan hơn, nhưng hai tên này được trang bị tốt hơn. Tên thứ nhất mang một thanh gươm ngắn và huơ huơ nó trong không trung phía trước Martin. Đối với một hiệp sĩ được huấn luyện bài bản như Martin thì việc này chẳng khác gì đùa giỡn với một đứa trẻ. Một cú gạt đơn giản rồi một cái giật ngược lên trên, thanh gươm của gã biến mất dưới dòng thác. Bằng cú quật ngược trở lại, Martin xả thanh đao vào vai, gần chém đứt lìa cánh tay gã. Anh lách qua một bên để tránh đòn tấn công của tên thứ ba, đồng thời xoạc chân ngáng chân gã. Gã đàn ông khuỵu xuống, Martin nện thẳng chuôi đao xuống, đập đầu gã xuống đất. Rồi anh trở ngược thanh đao và bằng một nhát tạt ngang như nhát chém của đao phủ chẻ dọc thân hình gã từ xương sống lên đến tận cổ.
Nhìn xuống phía dưới, Martin thấy gã thầy lang bỏ chạy ngược về phía con đường hắn đã đến, và, đột nhiên anh cảm thấy đau nhói ở lưng. Martin quay lại, cái gã bị anh đánh văng mất gươm đã đứng dậy, tay run run cầm cây chĩa của tên đầu tiên. Máu nhỏ từng giọt từ những cái răng chĩa. Martin loạng choạng chúi về phía trước, cơn đau nhói trong lưng khiến anh thở hổn hển. Thu hết tàn lực, Martin vung một nhát gươm về phía trước, xé toạc cổ họng tên đánh lén.
Martin đứng bất động một lúc lâu, sự mệt mỏi như một tấm vải liệm dày cộp trùm kín người anh, rồi bên trên tiếng nước chảy ầm ầm như sấm, anh nghe thấy một âm thanh và quay người lại, thở hổn hển đầy đau đớn. Kẻ săn đuổi cuối cùng đang xông về phía anh, tay cầm chặt một thanh gươm cũ và gỉ sét. Martin không thể phản ứng kịp, nhưng trước khi gã chạm đến được người anh, Hugh lảo đảo bước ra khỏi một bụi cây. Tên kia nhìn thấy Hugh, hắn quay khỏi Martin, cầm chặt thanh gươm bằng cả hai tay, rồi vung thẳng lưỡi gươm vào thân hình người thủy thủ già.
Máu ứa ra từ miệng Hugh, nhưng không hiểu vì sao. Hugh không chỉ vẫn đứng thẳng được mà còn loạng choạng bước về phía trước, đẩy lưỡi gươm thọc sâu hơn vào lồng ngực mình, trong khi ông vòng tay ôm chặt lấy kẻ tấn công đang kinh ngạc. Từ từ và đau đớn, Hugh cứ đẩy tới, đẩy tên kia lùi về phía sau, từng bước một, không hề nới lỏng vòng tay cứng như gọng kìm mặc dù gã đàn ông kia cố vùng vẫy để thoát ra, cho đến khi cả hai đến sát mép cái khe núi nhìn xuống dòng thác. Gã kia đoán biết được điều gì sắp xảy ra nên càng la hét, vùng vẫy dữ dội trong vòng tay Hugh.
Trong khoảnh khắc đó, như quên mất số phận của mình, Martin nhìn lên nơi Hugh đang đứng vững vàng bên mép ngọn thác, gã đàn ông kia vùng vẫy vô vọng trong vòng tay xiết chặt. Ánh mắt Martin bắt gặp ánh mắt Hugh, anh nhìn thấy cái gì đó như nụ cười mở rộng trên môi người thủy thủ già, và với cái gật đầu tỏ tình thân thiện cuối cùng, vị thuyền trưởng của chiếc Falcon Temple bước ra khỏi mép vực, đưa gã đàn ông đang vùng vẫy kia và bản thân mình vào cõi vĩnh hằng.
Một cú đánh bất ngờ và thô bạo vào gáy làm Martin cảm thấy một cơn buồn nôn trào lên trong cổ họng. Quay cuồng vì đau đớn, và trước khi ngất đi, anh còn kịp nhận ra khuôn mặt lờ mờ của gã thầy lang đứng ở phía trên, hòn đá trong tay hắn.
“Một kẻ mạnh khỏe như ngươi sẽ bán rất được giá ở mỏ đá, và cũng cảm ơn ngươi, ta chẳng phải chia chác gì với ai khác,” gã thầy lang nhếch mép châm chọc. “Và có lẽ ngươi cũng muốn biết là một vài kẻ mà ngươi giết hôm nay là họ hàng của mấy tay đốc công ở mỏ đá đấy.”
Gã thầy lang giơ cao hòn đá và Martin biết rằng anh không thể làm gì để tránh được cú đánh tiếp theo, để không bị bắt giữ rồi chịu cảnh nô lệ, để lấy lại lá thư, và tiếp tục cuộc hành trình đến Paris. Anh nằm đó, trên nền tuyết trắng, những hình ảnh của Aimard de Villiers và William de Beaujeu lướt vào tâm trí trước khi hòn đá đập xuống, và khuôn mặt của họ biến mất, chỉ còn lại một màu đen.
Chương 80
Tiếng sấm nổ rền liên tục đổ xuống kéo Tess ra khỏi giấc ngủ. Nàng thức dậy, nhưng vẫn nửa tỉnh nửa mê, không biết mình đang ở đâu. Tess có thể cảm nhận cơn mưa đang trút xuống sau gáy. Toàn thân đau nhức, tưởng chừng nàng đã bị một con voi giày xéo. Khi những giác quan dần hồi phục, Tess nghe tiếng gió rú rít và tiếng sóng đập ầm ầm xung quanh, nàng cảm thấy lo sợ. Điều cuối cùng Tess nhớ lại là một bức tường nước sắp sửa chôn vùi nàng. Toàn thân tê cóng vì nỗi kinh hoàng trào dâng trong người lúc nàng băn khoăn không biết phải chăng nàng vẫn đang lênh đênh ngoài biển cả, bị thất lạc trong cơn bão, bị những con sóng vùi dập, nhưng... có cái gì đó không đúng. Tess cảm thấy hoàn toàn khác hẳn. Và rồi nàng nhận ra tại sao như vậy.
Nàng đang ở yên một chỗ. Đang ở trên đất liền.
Nỗi kinh hoàng nhường chỗ cho sự khuây khỏa, Tess thử mở mắt, nhưng chúng nhói lên dữ dội, nàng nhanh chóng quyết định là sẽ làm từ từ. Những hình ảnh xung quanh đều lờ mờ, nhạt nhòa. Tess hoảng loạn một lát trước khi kịp nhận ra có cái gì đó che khuất tầm nhìn của nàng. Mò mẫm bằng những ngón tay run rẩy, Tess vén mớ tóc ướt rối bù trên mặt và đưa tay sờ nhẹ lên mi mắt. Cả hai mắt sưng phù, đôi môi cũng vậy. Nàng thử nuốt nước miếng, nhưng không thể. Tess có cảm tưởng như có một quả bóng đầy gai nhọn mắc kẹt trong cổ họng. Nàng cần nước, một loại nước không có vị mặn chát.
Dần dần, những hình ảnh lờ mờ cũng hiện ra rõ ràng hơn. Bầu trời vẫn xám xịt, nhưng Tess có thể cảm nhận được mặt trời đang hiện lên phía sau nàng, và qua tiếng sóng vỗ Tess có thể phán đoán được biển nằm hướng nào. Nàng cố ngồi dậy, nhưng cánh tay kia dính chặt vào một cái gì đó, không cử động được. Tess thử kéo cánh tay đó ra, một cơn đau nhói lan khắp toàn thân. Vươn cánh tay còn lại ra sờ soạng, Tess thấy cánh tay kia bị buộc vào một sợi dây thừng và chính sợi dây thừng ấy đã cứa vào da thịt nàng. Nằm xuống trở lại, Tess nhớ ra nàng đã tự buộc mình vào Reilly vào một tấm nắp đậy bằng gỗ.
Reilly. Reilly đâu rồi?
Tess chợt nhận ra Reilly không có bên cạnh nàng trên tấm gỗ, và nỗi kinh hoàng lại bùng lên. Nàng ngồi dậy, vật lộn để gỡ cánh tay ra và cuối cùng rút được nó ra khỏi sợi thừng. Tess quỳ lên và từ từ đứng dậy, xem xét xung quanh. Một bãi cát trải dài và nhấp nhô lên xuống dọc theo bờ biển, băng qua hai mỏm đá ở hai đầu. Tess do dự bước vài bước, quan sát bãi biển hoang vắng không một bóng người bằng đôi mắt nửa nhắm nửa mở, nhưng nàng không thấy gì cả. Tess muốn kêu to lên tên Reilly, nhưng cổ họng rát bỏng không cho phép nàng làm điều đó. Và rồi nàng chợt cảm thấy một cơn buồn nôn và mê sảng kéo tới. Tess hơi lảo đảo, rồi ngã khuỵu xuống, cảm thấy chút sức lực mỏng manh còn lại trượt đi. Tess muốn khóc, nhưng chẳng có giọt nước mắt nào.
Không còn chút sức lực, nàng ngã xoài ra trên cát, bất tỉnh.
Khi Tess tỉnh lại, mọi thứ khác hẳn. Đầu tiên là xung quanh hoàn toàn yên lặng. Không có tiếng gió rú rít. Không còn tiếng sóng gầm thét. Dù vẫn có tiếng mưa rơi đâu đó, nhưng sự yên ả như thiên đường đang vây bọc xung quanh nàng. Và rồi nào là gối, chăn, nệm, ga trải giường... Không phải là một tấm ván, cũng không phải là một cái gối cát. Đây là một cái giường, một cái giường thực sự.
Tess nuốt nước miếng và nhận ra ngay cảm giác dễ chịu hơn trong cổ họng, nhìn quanh, nàng hiểu được vì sao. Lù lù phía trên là một bình truyền dịch, mắc lủng lẳng vào một giá sắt mạ chrom đặt cạnh giường, sợi dây truyền ngoằn ngoèo chạy xuống cánh tay nàng, Tess đảo mắt nhìn quanh. Nàng đang ở trong một căn phòng nhỏ, bài trí đồ đạc đơn giản. Bên cạnh giường là một ghế gỗ mộc mạc và một bàn nhỏ kê sát tường. Trên bàn có một bình nước nhỏ và chiếc ly, đặt trên tấm lót bằng vải ren trắng mà các mép đã khá sờn. Những bức tường quét vôi trắng và không trang trí gì cả, ngoại trừ một thánh giá nhỏ, bằng gỗ trên bức tường cạnh nàng.
Tess cố ngồi dậy, nhưng đầu nàng vẫn còn cảm giác bồng bềnh. Chiếc giường kêu cọt kẹt dưới sức nặng lúc nàng nhúc nhích, âm thanh đó vang vọng ra khỏi phòng. Tess nghe có tiếng bước chân và những tiếng nói ngắt quãng, giọng phụ nữ, khẩn trương, và rồi một người phụ nữ xuất hiện, mỉm cười nhìn nàng với vẻ lo lắng. Đó là một phụ nữ to béo, khoảng gần năm mươi, có làm da màu ôliu, mái tóc nâu xoăn buộc lại dưới cái khăn quàng màu trắng in những cánh hoa nhiều màu sặc sỡ. Đôi mắt bà ta toát lên sự thân thiện và ấm áp.
“Doxa to Theo. Pos esthaneste?”
Trước khi Tess kịp trả lời, một người đàn ông chạy vội vào, lộ vẻ vui mừng khi nhìn thấy nàng. Ông ta mang một cặp kính gọng kim loại, da rám nắng màu đồng, tóc từng đốm màu lông chuột trông như một lớp men sứ màu đen. Người đàn ông liến thoắng trao đổi với người phụ nữ, cũng bằng thứ tiếng xa lạ kia rồi mỉm cười, quay qua hỏi nàng cái gì đó mà nàng không hiểu được.
“Xin lỗi,” nàng lầm bầm, giọng run run. Tess hắng giọng. “Tôi không hiểu...”
Người đàn ông có vẻ lúng túng, trao cái nhìn đầy vẻ trêu ghẹo cho người phụ nữ rồi quay sang Tess. “Xin lỗi, tôi nghĩ cô là – cô là người Mỹ?” ông ta hỏi bằng một giọng Anh nặng trịch trong khi đưa tay ra trao cho nàng ly nước.
Tess nhấp một ngụm và gật đầu. “Vâng.”
“Chuyện gì xảy ra với cô vậy?”
Tess tìm từ giải thích. “Tôi đang ở trên một chiếc tàu, chúng tôi gặp một cơn bão, và...” Nàng bỏ lửng câu nói. Tess cố nhớ lại những gì đã xảy ra, và những câu hỏi lại chợt nảy ra “Tôi đang ở đâu? Làm sao tôi đến đây được?”
Người đàn ông cúi xuống, sờ lên trán nàng và nói. “Tên tôi là Costa Mavromaras. Tôi là bác sĩ địa phương này, và đây là Eleni, vợ tôi. Vài ngư dân tìm thấy cô trên bãi biển ở Marathounda và đã đưa cô đến đây.”
Những cái tên và giọng nói vẫn làm Tess mù mờ, chưa hiểu. “Đây là... đâu?”
Mavromaras mỉm cười, trả lời vẻ đùa cợt. “Nhà chúng tôi. Ở Yialos.”
Vẻ mặt Tess chắc hẳn vẫn còn đầy bối rối, bởi trán ông bác sĩ hằn lên những nếp nhăn, phản chiếu lại vẻ mặt nàng. “Yialos, ở Symi,” ông ta giải thích, chợt ngưng lại rồi hỏi nàng. “Vậy cô cho là mình đang ở đâu?”
Tâm trí Tess vẫn mù mờ.
Symi?
Nàng làm cái quái quỷ gì trên một hòn đảo Hy Lạp? Những câu hỏi ùa đến, tràn ngập tâm trí. Tess biết Symi thuộc về quần thể Mười Hai Đảo của Hy Lạp, đâu đó gần bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng nàng muốn biết chính xác nó ở đâu và làm sao nàng lại ở đây. Tess muốn biết hôm nay là ngày bao nhiêu, đã bao lâu kể từ khi cơn bão hạ gục chiếc Savarona, nàng đã trôi dạt trên biển bao lâu – nhưng tất cả những điều đó có thể gác lại. Còn một điều khác mà Tess nôn nóng muốn biết.
“Còn một người đàn ông cùng đi với tôi,” Tess hỏi, giọng run run, nghẹn ngào. “Các ngư dân có tìm thấy ai nữa không...?” Nàng ngưng lại khi nhìn thấy vẻ mặt ông bác sĩ tỏ ra thận trọng và càng lo lắng hơn khi ông ta liếc nhìn bà vợ. Ông ta nhìn nàng rồi gật đầu, và vẻ buồn rầu rõ ràng trên nét mặt ông ta làm Tess cảm thấy đau nhói trong lòng.
“Vâng, họ cũng tìm thấy một người nữa, trên cùng một bãi biển với cô, nhưng tôi e rằng tình trạng của anh ta trầm trọng hơn cô một chút.”
Tess đã bỏ cả hai chân xuống khỏi gường.
“Tôi cần phải gặp anh ấy,” nàng nài nỉ. “Xin ông đấy!”
Đôi chân Tess, vốn đã yếu và chỉ có thể giúp nàng đi một đoạn ngắn từ hành lang đến căn phòng kế cận, gần như khuỵu xuống khi nàng nhìn thấy Reilly. Đỉnh đầu Reilly quấn chặt trong một lớp băng to đùng nhưng không có vết máu. Một vết bầm vừa đen vừa vàng trên má và quanh mắt trái, hai mí mắt nhắm nghiền và sưng phồng. Môi nứt nẻ, thâm tím. Một bình dung dịch với dây truyền tĩnh mạch chạy ngoằn ngoèo trên cánh tay, mặt nạ thở úp trên mặt Reilly, chiếc máy bơm khí kêu ro ro bên cạnh. Tệ hại nhất là màu da của Reilly. Xanh lè, tái nhợt chết chóc.
Tess cảm thấy dòng nước mắt chảy ngược vào trong lúc Mavromaras giúp nàng ngồi vào chiếc ghế đặt cạnh gường Reilly. Bên ngoài, trời đã tạnh mưa. Ông bác sĩ giải thích, các ngư dân tìm thấy hai người khi đang đi kiểm tra tàu bè của họ ở mạn Đông hòn đảo. Trong lúc thời tiết vẫn còn rất tồi tệ, bất chấp những con đường chìm ngập trong nước mưa, họ đưa ngay cả hai trở về thị trấn và đến phòng khám của ông ta.
Đã hai ngày rồi.
Tình trạng của Tess không làm ông bác sĩ thực sự lo lắng lắm, bởi mạch của nàng phản ứng ngay với dung dịch truyền tĩnh mạch, dù không nhớ ra nhưng nàng đã rơi vào tình trạng lúc tỉnh lúc mê trong suốt quãng thời gian đó. Tuy nhiên, tình trạng của Reilly thì tồi tệ hơn. Anh đã mất quá nhiều máu, phổi cũng yếu nhưng không trầm trọng lắm. Cú đánh vào đầu rõ ràng mới là vấn đề chính. Mavromaras không nghĩ là cú đánh đó làm nứt sọ anh, dù ông không thể nói chắc bởi chẳng có máy chụp X-quang nào trên đảo cả. Nhưng dù gì đi nữa, Reilly đã bị một chấn thương nghiêm trọng ở đầu, và vẫn chưa hồi tỉnh kể từ lúc anh được tìm thấy trong tình trạng gần như chết đuối trên bờ biển.
Tess cảm thấy mặt nàng cắt không còn chút máu nào. “Ông nói gì vậy?”
“Những dấu hiệu hồi sinh đã rõ ràng và ổn định, huyết áp tốt hơn, hơi thở còn yếu nhưng ít ra là anh ta đã tự thở được, không cần phải trợ giúp nữa – máy thở vẫn duy trì ở đó chỉ để giữ anh ta đừng thở quá nhanh, và để đảm bảo não được cung cấp đầy đủ máu trong khi anh ta vẫn còn bất tỉnh. Ngoài ra...”
Mặt nàng như tối sầm lại khi cố xua đi cái ý nghĩ kinh hoàng. “Bác sĩ cho rằng anh ấy bị hôn mê?”
Mavromaras nhìn Tess, vẻ buồn bã, “Đúng.”
“Ông có đủ mọi phương tiện cần thiết để chữa trị cho anh ấy ở đây chứ? Ý tôi là, sao chúng ta không chuyển anh ấy vào bệnh viện?”
“Đây là một hòn đảo nhỏ, tôi e rằng chúng ta không có bệnh viện ở đây. Bệnh viện gần nhất ở trên đảo Rodos – tức đảo Rhodes. Tôi đã liên lạc với họ, nhưng không may là chiếc trực thăng cứu thương bị hỏng ba ngày trước, khi cố gắng đáp xuống trong cơn bão, và họ đang chờ một số phụ tùng gửi đến từ Athens để sửa chữa. Hơn nữa, trực thăng cũng không thể bay đến đây vì vẫn còn bão. Người ta hy vọng thời tiết sẽ tốt hơn vào ngày mai, nhưng cũng xin nói thẳng với cô, tôi không chắc việc chuyển anh ấy đi là một ý kiến hay, vả lại, ở đó anh ấy cũng chẳng khá hơn chút nào đâu, người ta cũng không thể làm gì hơn là nối anh ấy một vài thứ màn hình tối tân mà chúng ta không có ở đây thôi.”
Tess cảm thấy màn sương mù bao trùm căn phòng trở nên dày hơn. “Bác sĩ không thể làm gì hơn sao?” nàng lắp bắp.
“Tôi sợ rằng không thể, không thể làm gì khác với tình trạng hôn mê. Tôi chỉ có thể theo dõi huyết áp, nồng độ dưỡng khí trong máu, nhưng không có cách nào,” ông ta dừng lại, như để tìm lời thích hợp. “đánh thức một người đang hôn mê. Chúng ta chỉ có thể chờ đợi thôi.”
Nàng gần như là e sợ khi phải đưa ra một câu hỏi. Nhưng rốt cuộc nàng cũng thốt lên. “Phải bao lâu?”
Ông bác sĩ xòe tay ra, tỏ ý không chắc chắn. “Có thể chỉ vài giờ, vài ngày, hoặc hàng tuần... Thực sự không có cách nào để biết được...” Ông ta bỏ lửng câu nói, ánh mắt như nói thay cho câu nói dở dang. Đó rõ ràng không chỉ là vấn đề “bao giờ”.
Tess gật đầu, thầm biết ơn ông ta đã không nói thành lời cái khả năng khủng khiếp đã hiện ra và ngự trị chắc chắn trong đầu óc nàng, ngay giây phút nàng bước chân vào căn phòng này.
Chương 81
Tess cứ chạy qua chạy lại giữa phòng nàng và phòng Reilly suốt cả ngày hôm đó, lo lắng nhìn vào và lần nào cũng thấy Eleni ở đó. Bà y tá luôn dịu dàng đưa nàng trở lại giường, và bằng thứ tiếng Anh sai bét nhè, luôn miệng an ủi Tess là Reilly sẽ khỏe trở lại thôi.
Tess đã kể lại với ông bác sĩ và bà vợ câu chuyện khác đi một chút về những biến cố đã đưa đẩy Reilly và nàng đến hòn đảo này, loại bỏ bất kỳ chi tiết nào nhắc đến lý do họ lênh đênh ngoài đó hoặc con tàu vũ trang Thổ Nhĩ Kỳ đã nã súng vào họ. Tess cẩn thận đề cập đến việc còn có những người khác trên chiếc thuyền lặn, đề phòng khi có ai đó được tìm thấy, dù sống hay chết, nhưng Mavromaras buồn bã báo cho nàng biết là dù có vài mảnh vụn, được cho là của chiếc thuyền lặn, trôi dạt vào đảo, nhưng ông ta không nghe nói có người nào khác sống sót, hoặc là tìm thấy những thi thể nào.
Tess đã điện thoại về Arizona, gọi thẳng về nhà dì nàng để gặp Kim và mẹ nàng, bà Eileen, cả hai đều lo lắng vì đã nhiều ngày không có tin tức của nàng. Nỗi ngạc nhiên của họ có thể cảm nhận rất rõ ràng dù đường dây điện thoại bị vọng âm, kêu lạo xạo, khi nghe Tess nói là đang ở trên một hòn đảo nhỏ xíu của Hy Lạp. Tess thận trọng không nói tên hòn đảo, và sau đó nàng tự hỏi vì sao nàng lại phải làm vậy trước khi nhận ra rằng nàng chưa sẵn sàng đối mặt với thế giới bên ngoài và những câu hỏi của nó. Sau khi gác máy, Tess nghĩ nàng đã làm một việc hợp lý nhằm xoa dịu những lo lắng của mẹ nàng và con gái về sự an toàn của mình, Tess nói với họ là chỉ đang tìm kiếm cơ hội làm việc tình cờ trong khu vực này và sẽ sớm liên lạc với họ.
Lúc chạng vạng, hai phụ nữ địa phương xuất hiện tại nhà vị bác sĩ và được dẫn vào phòng Tess. Dù cả hai chỉ lõm bõm được vài câu tiếng Anh, nhưng rốt cuộc Tess cũng hiểu được họ là vợ của những ngư dân đã tìm thấy nàng trên bờ biển. Họ mang đến cho nàng vài bộ quần áo; hai cái quần vải, một cái váy ngủ, hai áo choàng trắng, một áo len đan tay dày dặn mà Tess thích thú mặc vào ngay. Hai người cũng mang đến một cái nồi bằng đất sét chứa đầy món giouvetsi vẫn còn nóng hổi, bà Eleni giải thích đó là món thịt cừu hầm với mì ống. Tess cắm đầu cắm cổ vào món ăn với vẻ biết ơn, và ngạc nhiên khi thấy mình ngốn được cả một đĩa to tướng và cảm thấy món ăn mới này hoàn toàn hợp khẩu vị nàng.
Được một lát, sau khi tắm rửa bằng nước nóng Tess cảm thấy hoàn toàn thoải mái, Mavromaras đã thay băng ở cánh tay cho nàng, vết bầm thâm tím do sợi dây thừng gây ra hiện rõ mồn một trước mắt nàng như thể nó sẽ đồng hành với nàng suốt đời. Rồi sau đó, bất chấp sự phản đối nhẹ nhàng của các vị chủ nhà, Tess ngồi bên cạnh giường Reilly suốt thời gian còn lại đêm đó, mặc dù nàng cảm thấy rất khó nói chuyện với anh theo cái cách mà nàng biết là những người khác vẫn làm đối với người thân đang bị hôn mê của họ. Tess băn khoăn không biết điều này có thực sự giúp được anh hay không, và nàng cũng không chắc là sau những chuyện đã xảy ra, giọng nói của nàng có còn là giọng nói mà Reilly muốn nghe nhất. Tess tự trách bản thân vì những gì cả hai đã trải qua, và mặc dù có quá nhiều chuyện muốn kể lại với Reilly, nhưng nàng chỉ muốn kể khi anh ở trong tình trạng có thể phản ứng lại những gì nàng nói, dù tán thưởng hay không. Tess không muốn ép anh phải nghe nàng lúc anh trong trường hợp tốt nhất, là người nghe bất đắc dĩ, và trường hợp xấu nhất là chẳng nghe thấy gì cả.
Gần nửa đêm, rốt cuộc không thể chống cự lại sự mệt mỏi cả về thể xác lẫn tinh thần, Tess trở về phòng mình. Nàng ngủ thiếp đi một cách dễ dàng, đầu rúc vào giữa hai chiếc gối bốc mùi ẩm mốc.
Sáng hôm sau, Tess cảm thấy khá khỏe, đủ để mạo hiểm ra khỏi nhà và dạo quanh cho bớt cảm giác tê cứng. Gió vẫn còn thổi mạnh dù mưa đã ngớt, và nàng cảm thấy một cuộc đi dạo ngắn sẽ rất tốt cho mình.
Tess mặc quần áo và nhìn vào phòng Reilly. Eleni đã ở đó nhưng thường lệ, đang nhẹ nhàng xoa bóp hai chân cho anh. Sau đó, Mavromaras xuất hiện để kiểm tra tình hình. Tình trạng của Reilly ổn định, ông ta nói với Tess, nhưng không có tiến triển nào nào đáng kể. Ông bác sĩ giải thích là trong những tình trạng như thế này, sự tiến triển cũng không diễn ra từ từ. Thông thường, sự bình phục thuờng xảy ra rất bất chợt. Reilly sẽ bất tỉnh một khoảng thời gian, và nếu hết bị hôn mê, đơn giản là anh ấy sẽ tỉnh lại, chẳng có bất kỳ triệu chứng tâm sinh lý nào báo trước.
Mavromaras phải đi khám cho một bệnh nhân khác ở bên kia đảo, ông bác sĩ bảo sẽ trở về trong vòng vài giờ đồng hồ. Tess đề nghị tiễn ông ta ra xe.
“Dịch vụ cứu thương hàng không ở Rodos đã gọi tôi sáng nay,” ông ta nói với Tess lúc cả hai bước ra khỏi nhà. “Họ sẽ bay được vào ngày mai.”
Mặc dù trước đây nàng nóng lòng muốn đưa Sean vào một bệnh viện đúng nghĩa, nhưng giờ nàng không còn chắc là mình muốn vậy nữa. “Tôi đã suy nghĩ về những gì ông nói. Ông có thực sự nghĩ là chúng ta cần đưa anh ấy đến đó?”
Nụ cười nhân hậu thoáng hiện trên mặt vị bác sĩ, ông ta trả lời, “Thành thật mà nói, tuỳ nơi cô thôi. Đó là một bệnh viện rất tốt và tôi cũng quen với người phụ trách ở đó, họ sẽ chăm sóc anh ấy cẩn thận, tôi có thể cam đoan với cô như vậy.” Vẻ hoang mang chắc hẳn hiện rõ trên mặt Tess, vì ông ta lại nói tiếp. “Bây giờ chúng ta chưa cần quyết định vội. Hãy chờ xem tình trạng anh ấy sáng nay như thế nào đã, lúc đó chúng ta sẽ quyết định.”
Họ băng qua đường, vòng ra tránh hai vũng nước to tướng, đến bên một chiếc Peugeor cũ kỹ, hơi gỉ sét. Mavromaras mở cửa xe, Tess để ý thấy cửa xe không khoá.
Tess đảo mắt nhìn lên nhìn xuống suốt con phố hẹp. Ngay cả trong lúc trời mây u ám như thế này, thị trấn trông vẫn rất hấp dẫn. Những dãy nhà gọn ghẽ, kiến trúc nửa cổ nửa tân sơn các màu ấm và nhạt nối tiếp nhau, chễm chệ dọc sườn núi dốc đứng xuống tận bến cảng nhỏ bên dưới. Nhiều nhà có đầu hồi hình tam giác, mái ngói đỏ với một phong cách đồng nhất tinh tế, dễ chịu. Nước chảy tràn ngập các rãnh nước hai bên đường, đổ xuống những bậc dốc đứng chia cắt ngọn núi thành nhiều tầng bậc khác nhau. Ở bên trên, bầu trời thâm tím dường như vẫn sẵn sàng một cuộc tấn công ác liệt khác.
“Cơn bão khủng khiếp thật,” Tess nhận xét.
Mavromaras nhìn lên những đám mây, gật đầu. “Khủng khiếp hơn bất cứ cơn bão nào mà người ra còn nhớ được, thậm chí là những người già nhất trong thị trấn. Và đặc biệt là vào thời điểm này trong năm..."
Tess hình dung lại cơn bão đã đánh đắm con tàu Falcon Temple những năm xa xưa đó, rồi gần như tự nói với chính mình, nàng thì thầm, "Một hành động của Thượng đế.”
Ông bác sĩ nhướn mày, vẻ tò mò ngạc nhiên trước lời bình luận. “Có thể. Nhưng nếu cô muốn suy nghĩ theo chiều hướng đó, hãy nghĩ về nó như là một phép lạ thì hơn.”
“Một phép lạ?”
“Tất nhiên. Một phép lạ mà cô và bạn cô bị dạt vào hòn đảo của chúng tôi. Ngoài kia là biển cả bao la. Chỉ cần nhích lên phía Bắc một chút nữa, cô sẽ dạt vào bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ, và trong khu vực đó, chỉ toàn đá và hoàn toàn không có người ở. Tất cả các thị trấn đều nằm ở phía bên kia bán đảo. Nếu xa hơn một chút về phía Nam, cô sẽ trệch khỏi hòn đảo này và lọt vào biển Egé rồi …” Ông ta lại nhướn hàng lông mày, gật gù ra vẻ hiểu biết, bỏ lửng câu nói lại cho nàng tự hoàn thành rồi nhún vai, quẳng túi thuốc vào ghế sau. “Tôi đi đây. Chiều tôi sẽ về.”
Tess không muốn ông bác sĩ bỏ đi ngay lúc đó. Sự hiện diện của ông ta có điều gì đó mang lại cảm giác yên tâm hơn. “Tôi không làm được gì giúp anh ấy sao?”
“Anh bạn cô đang được chăm sóc tốt. Vợ tôi là một y tá tuyệt vời và dù ở đây chẳng có gì giống như những bệnh viện mà cô vốn quen thuộc ở Mỹ, nhưng cứ tin tôi khi tôi bảo với cô là tôi có rất nhiều kinh nghiệm xử lý tất cả các chấn thương. Ngay cả trên những hòn đảo nhỏ như thế này, người ta vẫn bị thương.” Ông ta dừng lại, suy nghĩ một lúc về điều đó trong khi quan sát nàng, rồi nói tiếp, “Cô đã nói chuyện với anh ấy chưa?”
Tess sửng sốt vì câu hỏi, “Nói chuyện với anh ấy?”
“Cô nên làm như vậy. Nói chuyện với anh ấy. Khơi gợi lại những ký ức, truyền cho anh ấy sức mạnh.” Giọng ông bác sĩ gần như giọng của một người cha, rồi ông ta mỉm cười, khẽ lắc đầu. “Hẳn cô nghĩ là cô đã gặp phải một ông lang vườn nào đấy. Nhưng tôi cam đoan với cô không phải vậy. Nhiều công trình nghiên cứu của các bác sĩ nổi tiếng đều ủng hộ ý tưởng đó. Đơn giản là vì anh ấy bị hôn mê không có nghĩa là anh ấy không nghe được. Nó chỉ có nghĩa là anh ấy… chưa thể phản ứng lại.” Ông ta lại dừng lại, đôi mắt ngời lên vẻ hy vọng và sự thông cảm. “Nói chuyện với anh ấy… và nguyện cầu điều tốt lành nhất.”
Tess buột ra một tiếng cười khúc khích rồi nhìn lảng đi đầy buồn bã. “Tôi lại không giỏi làm việc đó lắm.”
Mavromaras không có vẻ như bị thuyết phục. “Bằng cách của riêng mình, dù cô không nhận ra nhưng thực sự cô đang cầu nguyện. Cô cầu nguyện cho anh ấy bằng cách mong ước anh ấy bình phục. Đã có rất nhiều lời nguyện cầu được nói ra vì anh ấy.” Ông bác sĩ chỉ tay về bên kia đường hướng về phía một nhà thờ nhỏ, một số đi ra một số lại đi vào. “Nhiều người trên hòn đảo này kiếm sống nhờ biển cả. Trong cái đêm cơn bão nổi lên, có bốn chiếc thuyền đánh cá đang ở ngoài khơi. Gia đình họ đã cầu nguyện Chúa và Tổng Thiên Thần Michael, thần hộ mạng của những người đi biển, cầu xin họ được trở về bình an và những lời cầu nguyện đó đã được đáp lại. Tất cả cuối cùng đã trở về với chúng tôi bình yên vô sự. Bây giờ, đang có thêm nhiều lời cầu nguyện, những lời cầu nguyện cảm tạ. Và những lời nguyện cầu cho bạn cô bình phục.”
“Tất cả mọi người đều cầu nguyện cho sự hồi phục của anh ấy sao?”
Ông bác sĩ gật đầu. “Vâng, tất cả chúng tôi”.
“Nhưng thậm chí ông còn không quen biết anh ấy.”
“Đâu có sao. Biển cả đã đưa anh ấy đến đây với chúng tôi, và bổn phận của chúng tôi là chăm sóc anh ấy khỏe mạnh trở lại để anh ấy có thể tiếp tục cuộc sống của mình.” Ông ta leo vào xe. “Giờ tôi thực sự phải đi rồi.” Và với cái vẫy tay khẽ và cái nháy mắt đầy chia sẻ, ông bác sĩ lái xe đi, băng qua những vũng nước mưa lầy bùn và khuất dạng dưới chân núi.
Tess đứng lặng yên một lúc lâu, nhìn theo ông bác sĩ. Nàng quay lại căn nhà rồi lưỡng lự dừng lại. Tess không thể nhớ ra lần sau cùng mình ở trong một nhà nguyện hoặc nhà thờ hoặc tòa nhà tôn giáo nào đó là khi nào, ngoại trừ vì công việc và dĩ nhiên, ngoại trừ cả quãng thời gian ngắn ngủi trong tàn tích còn lại của ngôi nhà thờ bị cháy rụi ở Manhattan. Lội lõm bõm qua con đường sũng nước, băng qua khoảng sân nhỏ rải sỏi, Tess đẩy cánh cửa và bước vào.
Một nửa nhà nguyện kín chỗ, với những con người đang nghiêm trang cầu nguyện, họ ngồi tụm lại với nhau, trên những chiếc ghế dài cũ kỹ và bị mài mòn trơn nhẵn qua bao năm tháng sử dụng. Tess đứng ở phía sau, nhìn quanh quan sát. Căn nhà nguyện rất đơn sơ, bức tường quét vôi trắng treo đầy những bức bích họa thế kỷ mười tám, lung linh dưới ánh sáng của những ngọn nến. Rào quanh nhà nguyện, nàng chú ý đến một hốc tường có các bức tượng Thánh Gabriel và Michael làm bằng bạc có nạm những đá quý. Bị cuốn đi trong những ánh nến lung linh và tiếng rì rầm cầu nguyện, một cảm giác kỳ lạ tràn ngập trong lòng nàng. Bất chợt, Tess cảm thấy muốn cầu nguyện. Nhưng rồi nàng cũng cảm thấy không thoải mái vì ý tưởng đó và cố rũ bỏ cảm giác bất an khỏi bản thân, tự nhủ rằng cầu nguyện như vậy là đạo đức giả.
Lúc quay người rời khỏi nhà nguyện, Tess chợt nhìn thấy hai người đàn bà đã mang quần áo và thức ăn đến cho nàng hôm trước. Họ cùng đi với hai người đàn ông. Cả hai ùa đến khi thấy nàng, họ huyên thuyên đủ thứ chuyện hết sức tự nhiên và tỏ ra vui mừng vì Tess đã hồi phục.
Hai phụ nữ cứ liên tục lặp đi lặp lại cùng một câu, “Dona to Theo,” dù không hiểu họ đang nói gì nhưng Tess vẫn cười với họ và gật đầu, cảm động về sự quan tâm lo lắng chân thành của họ. Tess biết hai người đàn ông kia là chồng họ, cũng là những người ngư dân đã thoát khỏi sự cuồng nộ của cơn bão. Hai người đàn ông cũng chào hỏi nàng rất niềm nở. Một trong hai người phụ nữ chỉ vào một bó nến nhỏ trong hốc tường phía sau nhà nguyện và nói cái gì đó mà thoạt tiên Tess chưa hiểu, nhưng rồi nàng cũng đoán ra. Cô ta đang kể với Tess là cả hai đã thắp những ngọn nến để cầu nguyện cho Reilly.
Tess cảm ơn họ rồi liếc xuống gian giữa của nhà nguyện, nhìn vào những người dân thị trấn đang ngồi đó cùng nhau cầu nguyện trong ánh nến mờ dần. Nàng đứng đó lặng yên một lúc lâu, rồi quay về nhà ông bác sĩ.
Suốt thời gian còn lại của buổi sáng, Tess ngồi bên cạnh giường Reilly, và sau đoạn đầu khá ngần ngại, Tess nhận ra nàng có thể trò chuyện với anh. Nàng tránh không đề cập đến những biến cố gần đây, và vì biết quá ít về cuộc đời Reilly, Tess quyết định sẽ nói về quá khứ của mình, kể với Reilly câu chuyện về những cuộc thám hiểm của nàng tại các hiện trường khảo cổ, những thành công và nỗi xấu hổ của nàng, những chuyện linh tinh về Kim, bất cứ điều gì thoáng hiện ra trong tâm trí nàng.
Khoảng gần trưa, Eleni bước vào phòng và mời nàng xuống ăn trưa. Quả là đúng lúc, bởi Tess cũng vừa hết chuyện để nói và bị đẩy vào tình thế vô cùng hiểm nghèo là buộc phải thực sự đối mặt và nói về những gì mà Reilly và nàng đã cùng nhau trải qua. Tess vẫn cảm thấy không thoải mái với cái ý nghĩ phải thảo luận những điều quan trọng với Reilly khi anh ấy vẫn còn mê man bất tỉnh.
Mavromaras trở về, Tess nói với ông ta là nàng đã suy nghĩ về ý định chuyển Reilly đến Rhodes, và giờ nàng muốn giữ Reilly ở lại đây, miễn là ông bác sĩ và bà vợ vẫn vui vẻ cho họ ở lại. Quyết định của Tess có vẻ làm hai vợ chồng bác sĩ hài lòng, nàng cảm thấy an lòng khi nghe họ cả quyết là nàng và Reilly có thể ở lại cho đến khi nào phải đưa ra quyết định trọng đại dựa trên tình trạng sức khỏe của anh.
Thời gian còn lại của ngày hôm đó và phần lớn thời gian sáng hôm sau, Tess vẫn ở bên cạnh giường Reilly, và sau bữa trưa, nàng cảm thấy cần hít thở một ít không khí ngoài trời. Nhận thấy cơn bão đã dịu đi khá nhiều, Tess quyết định mạo hiểm đi xa hơn một chút.
Lúc này, gió chỉ còn thổi hơi mạnh một chút và cuối cùng thì cơn mưa dai dẳng cũng đã chấm dứt. Mặc dù những đám mây đen còn vần vũ trên bầu trời hòn đảo, Tess vẫn cho rằng mình khá thích thị trấn này. Nó không hề bị hủy hoại chút nào vì sự hiện đại hóa mà vẫn giữ được nét quyến rũ của thời quá khứ hoang sơ. Tess tìm thấy những ngõ hẻm nhỏ hẹp và những ngôi nhà đẹp như tranh nằm trong yên ả, nụ cười của những người xa lạ bất chợt đi ngang qua vô cùng thân thiện. Mavromaras kể với Tess là Symi đã phải trải qua những giai đoạn khó khăn sau Thế Chiến II, phần lớn dân cư khăn gói bỏ đi sau khi hòn đảo bị ném bom bởi cả phe Đồng Minh lẫn phe Trục Berlin-Rome-Tokyo, vốn là những lực lượng thay phiên nhau chiếm hòn đảo này. May thay, số phận hòn đảo đã có những bước cải thiện đáng kể trong những năm gần đây. Giờ đây, hòn đảo đã thịnh vượng trở lại khi người Hy Lạp và người ngoại quốc bắt đầu chú ý đến sự hấp dẫn của nó và mua sạch những ngôi nhà cổ rồi hết lòng mang chúng về với quá khứ vinh quang trước đây.
Tess leo lên những bậc cấp bằng đá của khu vực Kali Strata[65], ngang qua viện bảo tàng cũ và bước đến những tàn tích còn lại của một lâu đài do các Hiệp sĩ dòng Thánh John xây dựng từ đầu thế kỷ mười lăm ngay trên nền một pháo đài cũ, và mới bị nổ tung trong thời kỳ được trưng dụng làm kho vũ khí tạm thời của Đức Quốc xã hồi chiến tranh. Tess đi vơ vẩn trong cái hiện trường cổ xưa đó, dừng lại trước tấm bảng tưởng niệm, Filibert de Niallac, Đại thủ lĩnh người Pháp của Đoàn Hiệp sĩ. Vẫn là những hiệp sĩ, ngay cả trong cái góc nhỏ bé bị quên lãng này của thế giới. Tess trầm ngâm suy nghĩ khi nhớ lại những Hiệp sĩ Đền Thánh rồi đăm đăm nhìn ra quang cảnh hùng vĩ trên bến cảng và mặt biển ngoài xa đầy những con sóng bạc đầu. Tess ngắm nhìn cảnh vật trong lúc đàn én bay lượn trên các rặng cây bên những cối xay gió và thấy một chiếc thuyền đánh cá đơn độc lướt ra khỏi bến cảng còn đang say ngủ. Khoảng không gian xanh trải rộng bao quanh hòn đảo khơi gợi lên trong lòng Tess một cảm giác bất an. Cố quên đi nỗi lo lắng, Tess cảm thấy bị thôi thúc muốn nhìn thấy lại bãi biển, nơi người ta đã tìm thấy nàng và Reilly.
Đi về quảng trường chính, Tess gặp một người lái xe cũng chạy về hướng tu viện Panormitis, phía bên kia khu dân cư nhỏ bé ở Marathounda. Sau một quãng đường ngắn, gập ghềnh, anh ta thả nàng xuống ngay lối vào thị trấn. Lúc rảo bước giữa những dãy nhà, Tess va vào hai ngư dân đã tìm thấy nàng và Reilly. Mặt họ tươi hẳn lên khi trông thấy Tess và khẩn khoản mời nàng cùng đi uống cà phê với họ ở một quán rượu địa phương, Tess vui vẻ nhận lời.
Dù cuộc nói chuyện rất khó khăn do rào cản ngôn ngữ giữa họ, nhưng Tess vẫn hiểu được là người ta đã tìm thấy thêm nhiều mảnh vụn của chiếc tàu lặn. Hai người dẫn nàng đến một bãi rác nhỏ ngay phía sau quán rượu, chỉ cho nàng thấy những mẩu gỗ và nhựa thủy tinh nhặt được trên các bãi biển hai bên bờ vịnh. Hình ảnh cơn bão và vụ đắm tàu lại hiện lên trong tâm trí Tess, nàng cảm thấy đau buồn khi nghĩ đến những người đã mất mạng trên chiếc Savarona mà thi thể không bao giờ tìm lại được.
Tess cảm ơn hai người đàn ông và chẳng bao lâu sau nàng đã bước trên bãi biển hoang vắng và lộng gió. Làn gió nhẹ mang theo hương vị tươi nguyên của mặt biển dậy sóng, nàng cảm thấy dễ chịu khi mặt trời lẩn khuất sau những đám mây và chiếu những tia nắng yếu ớt qua lớp mây sau một quãng thời gian dài vắng bóng. Tess chầm chậm bước dọc theo mép nước, lê chân trong lớp cát biển, những hình ảnh mơ hồ của buổi sáng định mệnh kia ngập tràn tâm trí.
Ở đầu kia bãi biển, vượt qua khỏi tầm nhìn của khu dân cư nhỏ bé ngay cửa vịnh, Tess tìm đến một bãi đá đen nhô lên ngay mép nước. Nàng trèo lên, tìm một tảng đá bằng phẳng, rồi ngồi xuống, hai tay bó gối, đăm đăm nhìn ra mặt biển phẳng lặng. Cách một khoảng xa, một tảng đá lớn nhô lên khỏi mặt nước, những con sóng bạc đầu trào lên xung quanh. Trông có vẻ gì đó đầy hăm dọa, như một mối hiểm nguy khác mà nàng và Reilly đã thoát khỏi. Tess bắt đầu nhận ra tiếng kêu của những con mòng biển và khi nhìn lên, nàng thấy hai con trong đàn đang tinh nghịch lao xuống, giành nhau một con cá chết.
Bất chợt, Tess nhận ra những giọt nước mắt đang lăn dài trên má. Không phải thổn thức hay thậm trí là khóc, thực sự vậy. Chỉ là những giọt nước mặt tự nhiên trào ra không duyên cớ. Và cũng bất chợt, mắt nàng đột nhiên ráo hoảnh không còn một giọt. Tess cảm thấy mình đang run rẩy, nhưng không phải vì lạnh. Một cái gì đó nguyên sơ hơn, trỗi dậy từ trong sâu thẳm đáy lòng nàng. Cảm thấy cần phải rũ bỏ tâm trạng nặng nề kia đi, Tess đứng dậy, tiếp tục chuyến đi dạo, leo qua những tảng đá và tìm thấy một lối nhỏ chạy ngoằn ngoèo dọc theo bờ biển.
Theo con đường kia, vượt qua ba con rạch nhỏ đầy đá, Tess đến một cái vịnh khác, xa hơn, ở đầu mũi phía Nam hòn đảo. Hình như không có con đường nào dẫn xuống đó. Một dải cát hình trăng lưỡi liềm vẫn còn trinh nguyên chưa có dấu chân người chạy vòng từ chỗ nàng đứng cho đến một mũi đất khác nhô ra tạo thành một mũi nhọn cao lởm chởm cát đá.
Tess nhìn xuống bãi biển trong ánh sáng nhá nhem của buổi hoàng hôn, một khối hình dáng kỳ lạ thu hút sự chú ý của nàng. Nó nằm ở đầu bên kia vịnh, ngay chỗ rìa bãi đá. Nheo mắt, Tess cố điều chỉnh thị giác để nhìn rõ vật đó, và Tess thấy hơi thở mình bỗng dồn dập, cổ họng bỗng khô khốc. Tim nàng như đánh trống trong lồng ngực.
Không thể nào, Tess nghĩ. Không thể nào.
Và rồi Tess chạy dọc theo bãi cát cho đến khi, cái vật kia chi cách vài bước chân và nàng dừng lại, hổn hển thở, tâm trí quay cuồng trước sự thật hiển hiện trước mắt.
Đó là cái hình chạm con chim ưng ở đầu mũi tàu, quấn đủ loại dây nhợ nhằng nhịt, những chiếc phao nâng màu da cam, đã xì hết một nửa, nằm xung quanh.
Nó trông vẫn nguyên vẹn.
Chương 82
Ngập ngừng, Tess đưa tay sờ vào con chim ưng. Nàng vuốt ve, đôi mắt mở to, chớp liên hồi, trí tưởng tượng như lôi tuột nàng trở về thời đại của các Hiệp sĩ Đền Thánh, về với Aimard cùng những người bạn chiến đấu và chuyến hải trình định mệnh cuối cùng của họ trên chiếc Falcom Temple.
Những hình ảnh mơ hồ, rối rắm tràn ngập tâm trí khi Tess cố nhớ lại những dòng chữ của Aimard. Chính xác, ông ta đã nói gì nhỉ? Cái tráp được đặt vào lỗ hổng khoét ở phía sau đầu chim ưng. Các chỗ trống còn lại đổ đầy nhựa thông rồi đậy lại bằng một miếng gỗ vừa khít và nêm chặt bằng các cục chèn. Nó cũng được bịt kín lại bằng nhựa thông.
Tess cẩn thận quan sát sau đầu chim ưng. Nàng chỉ có thể phân biệt những vệt lằn nơi nhựa thông được đổ vào, và cẩn thận sờ khắp đầu chim bằng những ngón tay chuyên nghiệp, Tess nhận ra các cạnh của miếng gỗ dùng làm nắp đậy và các cục chèn đã giúp giữ nó ở đúng vị trí. Tất cả những chỗ bít lại nhìn vẫn còn nguyên vẹn, có vẻ như nước không thấm qua được lớp nhựa thông phủ lên các lỗ hốc. Qua những gì quan sát được, rất có khả năng là dù vật gì được giấu trong cái tráp đi nữa thì nó vẫn còn an toàn và chưa bị hư hại.
Nhìn quanh, Tess tìm được hai cục đá và sử dụng chúng như là búa và đục để đột phá cái hốc kia. Vài lớp gỗ đầu được bóc ra một cách dễ dàng, nhưng phần gỗ còn lại tỏ ra cứng một cách ngoan cố. Tìm quanh bãi biển, Tess bắt gặp một thanh sắt gỉ và dùng một đầu gãy còn sắc của nó để cạo lớp nhựa thông. Luống cuống vì háo hức, và hoàn toàn bất chấp mọi nguyên tắc bảo tồn mà chỉ vài tuần trước đó nhà khảo cổ học trong nàng vẫn khăng khăng tuân thủ, chẳng bao lâu, Tess đã luồn được cây sắt vào lỗ trống dưới cái nắp gỗ. Lúc này, nàng đã thấy được cạnh chiếc tráp nhỏ và có trang trí hoa văn. Lau mồ hôi trên trán, Tess tiếp tục cậy lớp nhựa thông xung quanh tráp và dùng thanh sắt để bẩy nó ra. Bấu các ngón tay xung quanh tráp, cuối cùng Tess cũng lôi được cái hộp nhỏ ra ngoài.
Toàn bộ cảm giác phấn khích trỗi dậy trở lại và Tess cố trấn tĩnh nhưng gần như không thể. Nàng đã thực sự có nó trong tay mình. Dù trang trí phức tạp bằng những hình nạm bạc, cái tráp xem ra có vẻ nhẹ một cách bất ngờ. Tess mang nó vào chỗ khuất, sau một tảng đá lớn, để có thể xem xét kĩ hơn. Có một cái yếm khóa bằng sắt, không phải là cái khóa, chỉ là một đai tròn bằng sắt. Dùng cục đá đập cho cái yếm khóa bật ra khỏi chiếc tráp gỗ, Tess đã có thể mở nắp tráp lên và nhìn vào bên trong.
Cẩn trọng, Tess nhẹ nhàng lấy ra những thứ bên trong chiếc tráp. Đó là một cái gói, quấn trong một lớp có vẻ như là da thú tẩm dầu giống như loại mà Aimard dùng để bọc chiếc máy đo độ cao thiên thể, và cũng được cột lại bằng những sợi dây da. Vô cùng chậm chạp, Tess mở tấm da ra. Nằm trong đó là một quyển sách, quyển sách chép tay bọc da.
Vừa nhìn thấy quyển sách, Tess đã biết nó là gì.
Quyển sách có nét quen thuộc không thể giải thích được, sự giản dị khiêm tốn của nó ngược hẳn lại với những nội dung phi thường chứa đựng bên trong. Bằng những ngón tay run run, Tess khẽ lật tấm bìa rồi chăm chú nhìn vào những hàng chữ trên trang giấy da đầu tiên của cuốn sách. Nét chữ đã mờ nhưng vẫn đọc được, và theo Tess thì nội dung quyển kinh không bị hư hại. Tess biết, hoàn toàn chắc chắn, rằng nàng là người đầu tiên nhìn thấy nó, cái kho báu huyền thoại của các Hiệp Sĩ Đền Thánh, từ khi nó được William de Beaujeu bỏ vào tráp và tin tưởng giao phó cho Aimard de Villiers bảy trăm năm trước.
Ngoại trừ việc nó không còn là một huyền thoại nữa.
Nó có thực.
Hết sức cẩn trọng, hiểu rằng việc xem xét cuốn sách cần phải thực hiện trong một phòng thí nghiệm hoặc tối thiểu là phải ở trong nhà, nhưng không thể cưỡng lại thôi thúc muốn ngắm kỹ hơn, Tess thận trọng mở cuốn sách rộng hơn một chút, lật một trang giấy da. Nàng nhận ra màu nâu sẫm quen thuộc của loại mực được sử dụng vào thời đó, loại mực chế biến từ hỗn hợp gồm bồ hóng, nhựa thông, cặn rượu vang, và mực lấy từ con mực. Khó mà giải mã được những dòng chữ viết tay kia, nhưng Tess nhận diện được vài từ, đủ để biết là cuốn kinh được viết bằng ngôn ngữ Xyri[66]. Trước đây, thỉnh thoảng nàng vẫn gặp thứ tiếng này, đủ để nhận ra được nó.
Tess dừng lại, mắt dán chặt vào bản viết tay mộc mạc đang nằm trong tay mình.
Tiếng Xyri.
Ngôn ngữ của Jesus.
Tim đập thình thịch, lùng bùng trong tai, Tess đăm đăm nhìn cuốn sách viết trên giấy da, nhận ra đây đó nhiều con chữ khác.
Rất chậm rãi, gần như là miễn cưỡng, Tess bắt đầu đáng giá vật mà nàng cầm trong tay. Và để cảm nhận ai là người đầu tiên chạm vào những trang giấy da này, bàn tay ai đã viết ra những dòng chữ này.
Chúng là những dòng chữ của Jeshua xứ Nazareth.
Những dòng chữ của người mà cả thế giới gọi là Jesus.
Chương 83
Cầm chặt miếng da gói cuốn kinh, Tess chậm rãi quay trở về, dọc theo bãi biển. Mặt trời đang lặn, những tia sáng yếu ớt cuối cùng le lói xuyên qua những cụm mây xám che kín chân trời.
Tess quyết định không thể mang chiếc tráp về, thay vì vậy, nàng giấu nó sau một tảng đá lớn để tránh thu hút sự chú ý không mong muốn. Nàng sẽ trở lại lấy nó sau. Tâm trí nàng vẫn bối rối về những ý nghĩa của cái vật mà mình nắm giữ trong tay. Nó không phải là một mảnh sành, cũng không phải là thành Troy hay lăng mộ vua Tutankhamen. Đây là thứ có thể làm biến đổi cả thế giới. Nó phải được xử lý, ít ra là, với tinh thần cẩn trọng tuyệt đối.
Khi gần đến mấy ngôi nhà ở Marathounda, Tess cởi chiếc áo len và cuốn xung quanh cái bao nhỏ. Hai ngư dân đã rời khỏi quán rượu, nhưng nàng nhờ được một người đàn ông đã nhận ra nàng từ hôm trước chở về nhà ông bác sĩ.
Khi Tess bước vào, Mavromaras chào nàng với nụ cười rộng mở trên gương mặt. “Cô ở đâu vậy? Chúng tôi đang mong cô đây.” Trước khi Tess kịp buông ra vài lời nói dối, ông bác sĩ đã lôi nàng vào nhà, hướng về các phòng ngủ. “Nào, nhanh lên. Có người muốn gặp cô đấy.”
Reilly đang nhìn nàng, chiếc mặt nạ thở đã được lấy đi, dũng cảm và nỗ lực nở một nụ cười trên đôi môi khô khốc của mình. Reilly nửa nằm nửa ngồi, dựa vào ba chiếc gối lớn. Nàng cảm thấy xao xuyến trong lòng.
“Chào em,” Reilly lên tiếng, giọng yếu ớt.
“Đi mà chào anh ấy,” Tess trả lời, cảm giác nhẹ nhõm trên gương mặt. Nàng cảm thấy lâng lâng theo một cảm giác nàng chưa bao giờ trải nghiệm. Tess quay đi và cố không làm Eleni hoặc ông bác sĩ chú ý, làm như ngẫu nhiên cái áo len bị cuộn lại xuống chiếc tủ nhỏ phía trước giường, rồi tiến về phía Reilly và hôn nhẹ lên trán anh. Mắt nàng lướt nhìn gương mặt tím bầm của Reilly, nàng cắn chặt môi dưới, cảm thấy những giọt nước mắt đang trào dâng.
“Em mừng là anh đã trở lại.” Tess nói giọng lí nhí.
Reilly nhún vai, mặt từ từ tươi tỉnh trở lại. “Từ nay trở đi, anh sẽ chọn địa điểm để chúng ta đi nghỉ, được chứ?”
Mặt Tess sáng lên, và nàng không sao ngăn được giọt nước mắt ứa ra lăn xuống gò má. “Vâng, em đồng ý.” Nàng quay lại, đôi mắt nhòe lệ tươi tắn nhìn vợ chồng ông bác sĩ. “Cảm ơn,” Tess lẩm bẩm. Họ chỉ gật đầu và mỉm cười. “Tôi – cả hai chúng tôi đều chịu ơn cứu mạng của ông bà. Làm sao tôi có thể đền đáp cho ông bà?”
“Vớ vẩn,” Mavromaras trả lời. “Người Hy Lạp chúng tôi có câu tục ngữ Den hriazete euharisto, kanthikon mou. Nghĩa là không cần thiết phải có những lời cảm ơn dành cho cái được coi là trách nhiệm.” Ông ta liếc nhìn Eleni, trao đổi một dấu hiệu không lời. “Chúng tôi đi đây,” ông bác sĩ nhẹ nhàng nói, “tôi chắc cả hai có nhiều chuyện để nói với nhau.”
Tess nhìn họ quay đi, nàng hấp tấp chạy đến, ôm chầm lấy ông bác sĩ và hôn lên má ông. Làn da rám nắng ửng đỏ lên, nhưng Mavromaras vẫn nở một nụ cười khiêm tốn, bước ra khỏi phòng, để họ lại với nhau.
Khi quay lại đến bên Reilly, Tess nhìn cái áo len đang chễm chệ trên chiếc tủ nhỏ như một quả bom chưa nổ. Nàng cảm thấy thất kính vì đã không trung thực với cả hai vợ chồng ông bác sĩ – những người đã cứu mạng nàng, và cả với Reilly. Tess khao khát được nói với Reilly về quyển sách, nhưng cũng nhận ra rằng bây giờ chưa phải là thời điểm thích hợp.
Tuy vậy, sẽ không bao lâu.
Tâm tư trĩu nặng, Tess gượng nở một nụ cười và bước đến bên cạnh giường Reilly.
Reilly có cảm giác như đã đi xa hàng tuần lễ. Anh cảm thấy toàn bộ cơ bắp như tê liệt, nhói buốt một cách kỳ lạ, và cơn choáng vẫn cứ bồng bềnh trong đầu. Một phần mí mắt anh vẫn sụp xuống, khả năng thị giác cảm nhận chiều sâu cũng chưa hồi phục.
Reilly không nhớ gì nhiều, ngoài việc anh đã bắn đe dọa de Angelis và tự đâm đầu xuống biển. Anh đã hỏi Mavromaras làm sao anh đến được nơi này, ông bác sĩ cũng chỉ biết nói lại với Reilly những chi tiết đại khái nghe được từ Tess. Tuy nhiên, việc tỉnh lại và thấy Tess vẫn ở đó bình yên vô sự, là một niềm an ủi quá lớn đối với anh.
Reilly thử nâng mình dậy một cách thận trọng để ngồi hẳn lên, nhưng động tác này khiến anh phải nhăn mặt vì đau đớn. Anh buộc phải dựa lại vào gối.
“Làm sao chúng ta đến được nơi này?” Reilly hỏi.
Anh lắng nghe Tess kể lại những gì nàng nhớ. Vẫn có một khoảng trống trong ký ức Tess, từ lúc con sóng dị thường kia ập đến cho đến lúc tỉnh lại trên bờ biển. Nàng kể lại với Reilly về cú đập vào đầu anh, nàng đã buộc áo phao cứu sinh của họ lại với nhau như thế nào, và về con sóng. Tess cũng kể về tấm ván và đưa cho Reilly xem vết cắt sâu trên cánh tay mình. Nàng muốn biết tại sao chiếc tàu của Đội Bảo vệ Bờ biển lại bắn vào họ và Reilly kể cho nàng nghe về cuộc hành trình của anh, từ lúc de Angelis bước ra khỏi chiếc trực thăng ở Thổ Nhĩ Kỳ.
“Em xin lỗi,” Tess cũng thốt lên đầy hối hận khi kết thúc câu chuyện. “Em không biết chuyện gì xảy đến với mình nữa. Em thực sự không biết, giống như là – chắc hẳn em đã bị mất trí, bỏ anh ở lại đó như vậy. Toàn bộ cái đống hỗn tạp này, chỉ là...” Tess không tìm được lời lẽ để bảy tỏ sự ân hận của mình.
“Được rồi,” Reilly cắt ngang, nụ cười yếu ớt hiện trên đôi môi nứt nẻ. “Giờ đừng nhắc lại chuyện đó nữa. Cả hai chúng ta đều sống sót trở về, và đó là vấn đề chính, phải không nào?”
Tess miễn cưỡng gật đầu và tươi cười biểu lộ lòng biết ơn của mình. Reilly tiếp tục giải thích tay khâm sứ Tòa Thánh đã giết những kỵ sĩ ở New York như thế nào, thậm trí hắn đã tự tay sử dụng khẩu đại bác trên chiếc Karadeniz ra sao. Anh cũng kể với nàng anh đã phải bắn de Angelis như thế nào.
Và rồi anh kể với nàng những tiết lộ của Hồng y Brugnone.
Tess cảm thấy dằn vặt kinh khủng vì cảm giác tội lỗi khi Reilly kể lại những gì anh đã phát hiện ở Tòa Thánh Vatican. Cái sự thật ghê gớm mà nàng đã phát hiện trên bãi biển, được chính những người mà sự thật đó có thể gây tổn hại nhiều nhất xác nhận với Reilly, làm toàn thân nàng nổi da gà, nhưng Tess chưa thể đưa cuốn kinh ra được. Nàng cố hết sức tỏ vẻ sửng sốt, nêu ra những câu hỏi này nọ, và càng cảm thấy căm ghét chính mình vì những phản ứng giả dối. Tess muốn lôi bản kinh chép tay kia ra để cùng trao đổi, bàn luận với Reilly ngay lúc này, ngay tại đây. Nhưng Tess không thể làm được điều đó. Vẻ lo lắng hằn sâu trên mặt Reilly và nàng biết những gì Brugnone nói với anh, lời nói dối ngay tại trung tâm Giáo hội, đã là một vết thương gây đau đớn lắm rồi. Ngay lúc này, Tess không thể giáng cái bằng chứng xác thực cuối cùng này xuống đầu Reilly. Ngay lúc này, thậm trí Tess còn không chắc có nên hoặc khi nào có thể làm được điều đó. Anh ấy cần có thời gian. Nàng cũng cần có thời gian để suy nghĩ thấu đáo về chuyện này.
“Anh khỏe chứ?” Tess hỏi, giọng đắn đo.
Nhìn chằm chằm vào khoảng không xa xăm trước mắt, vẻ mặt Reilly đăm chiêu khi anh rõ ràng đang gắng bày tỏ những cảm xúc trong lòng thành lời.
“Thật kỳ lạ, nhưng toàn bộ chuyện này, Thổ Nhĩ Kỳ, Vatican, rồi cơn bão... nó chỉ như một giấc mơ tồi tệ. Có lẽ, anh chưa tỉnh hẳn hoặc là vì gì đó, nhưng... anh chắc chắn nó sẽ đến đích lúc nào đó. Ngay bây giờ thì anh rất mệt, anh cảm thấy hoàn toàn kiệt sức, nhưng anh không biết bao nhiêu phần là sự mệt mỏi về thể xác và bao nhiêu phần là do những thứ khác nữa.”
Tess chăm chú nhìn gương mặt mệt mỏi của Reilly. Không, rõ ràng lúc này không phải là thời điểm để nói với anh điều đó. “Vance và de Angelis đã nhận những gì họ đáng phải nhận,” nàng thốt lên, nét mặt tươi tỉnh, “và anh vẫn sống. Trong việc này có lý do để tin vào đức tin, phải không nào?”
“Có thể,” anh cười nửa miệng, vẻ không bị thuyết phục lắm.
Ánh mắt Reilly lướt trên khuôn mặt Tess, và mặc dù gật gù muốn thiếp ngủ anh vẫn thấy mình đang suy nghĩ về tương lai. Tương lai không phải là cái mà Reilly từng thực sự phải đắn đo suy nghĩ, và Reilly ngạc nhiên khi nó chợt hiện ra trong tâm trí mình ngay lúc này, ở đây, hoàn toàn sống động trên bờ biển xa xôi này.
Trong khoảnh khắc thoáng qua, Reilly tự hỏi không biết mình còn muốn tiếp tục làm nhân viên FBI nữa không. Anh từng luôn mong muốn được làm việc cho Cục, nhưng vụ án này đã làm anh tổn thương nặng nề. Lần đầu tiên, Reilly cảm thấy mệt mỏi vì cuộc sống mà mình đã chọn lựa, mệt mỏi vì những ngày căng thẳng đầu óc với đủ mọi thứ tội phạm điên khùng, mệt mỏi vì phải nếm trải những thứ tệ hại nhất trên hành tinh này. Anh vu vơ tự vấn không biết liệu việc thay đổi nghề nghiệp có giúp mình lấy lại được niềm vui sống – thậm trí có thể cả niềm tin vào con người.
Reilly cảm thấy hai mí mắt sụp xuống.
“Xin lỗi,” anh gắng gượng thốt lên, “anh nghĩ chúng ta sẽ nói chuyện này sau.” Tess nhìn Reilly chìm vào giấc ngủ, nàng cũng cảm thấy kiệt sức.
Tess nhớ đến câu nói đùa của Reilly, về việc chọn nơi nghỉ ngơi. Nó mang lại nụ cười trên môi Tess và nàng khẽ lắc đầu. Nàng trầm ngâm khi nhận ra rằng một kỳ nghỉ đúng là thứ nàng đang cần và cũng biết chính xác nơi mình sẽ chọn để nghỉ. Đột nhiên, Arizona dường như là thiên đường, Tess quyết định sẽ đi thẳng đến đó. Nàng thậm trí còn không buồn nghĩ đến việc trở lại văn phòng. Chỉ cần đổi máy bay ở New York, và bay đến gặp con gái nàng. Và nếu lão Guiragossian hoặc bất kỳ ai khác ở Viện không thích chuyện này thì cũng mặc xác họ.
Tess chợt nhận thấy có quá nhiều việc thú vị mà một nhà khảo cổ có thể làm ở các tiểu bang Tây Nam, và nàng nhớ là thành phố Phoenix cũng có một viện bảo tàng tầm cỡ thế giới. Nàng liếc nhìn Reilly. Sinh ra và lớn lên ở Chicago, được nhận về New York làm việc, hiển nhiên anh đã quen với cái chốn phồn hoa đô hội kia. Nàng không biết liệu Reilly có thể từ bỏ tất cả để đổi lấy cuộc sống bình lặng trong một tiểu bang sa mạc hay không. Và khá bất ngờ, không hiểu sao điều này đối với nàng dường như có ý nghĩa quan trọng. Rất quan trọng. Có lẽ quan trọng hơn bất cứ vấn đề nào khác.
Bước ra ban công phía ngoài phòng Reilly, Tess nhìn lên những vì sao trên bầu trời, nhớ lại cái đêm chỉ có nàng và Reilly bên nhau ở địa điểm cắm trại trên đường đến hồ. Hòn đảo vốn đã yên tĩnh vào ban ngày nhưng về đêm nó còn trở nên êm ả như cõi thần tiên. Nàng cảm nhận sâu sắc về sự tĩnh mịch của nơi này. Có thể có những đêm như thế này ở Arizona, nhưng New York thì không thể. Nàng nghĩ đến Reilly, không biết anh sẽ nói và làm gì nếu nàng rời bỏ Viện Manoukian để chuyển tới Arizona. Có lẽ, vào lúc nào đó nàng sẽ nói với anh chuyện này.
Nhìn ra ngoài mặt biển lờ mờ sáng, Tess nghĩ đến việc phải làm với bản kinh chép tay. Không còn nghi ngờ gì nữa, nó quả là một trong những phát hiện khảo cổ học và tôn giáo quan trọng nhất mọi thời đại, một phát hiện có thể gây xáo động và chia rẽ hàng trăm triệu con người.
Công bố phát hiện này sẽ làm nàng trở thành người nổi tiếng nhất trong nghề, kể từ các khám phá về Đại Kim Tự Tháp ở Ai Cập gần tám mươi năm về trước. Nhưng nó sẽ tác động đến phần còn lại của thế giới như thế nào?
Nàng muốn thổ lộ với một người nào đó chuyện này.
Nàng cần phải thổ lộ với Reilly chuyện này.
Tess cau mày, nhận ra cần phải nói với Reilly ngay, nói ngay. Nhưng bây giờ, anh cần nghỉ ngơi, và nàng cũng vậy. Tess nghĩ đến việc trở về giường mình, nhưng khi bước vào trong, nàng lại nằm xuống bên Reilly. Nàng nhắm mắt lại và rất nhanh, nàng chìm vào giấc ngủ.
Chương 84
Vài ngày kế tiếp trôi qua trong tình trạng mê mụ. Tess dành thời gian buổi sáng ở bên Reilly trước khi ra ngoài đi dạo, rồi trở về vào giờ ăn trưa. Đến cuối chiều, nàng lại thang thang bên ngoài, thường là đến khu tàn tích của lâu đài, nơi Tess có thể nhìn ngắm mặt trời chìm dần vào sóng nước lung linh của biển Egé. Tess yêu thích khoảng thời gian này trong ngày nhất. Ngồi ở đó, trầm ngâm suy tư trong tĩnh lặng, cùng với hương ngải đắng và hoa cúc dại thoang thoảng từ lưng chừng đồi, Tess cảm thấy khung cảnh hoang dã giữa những tảng đá vô tri vô giác phần nào mang lại cho nàng chút bình tâm, một khoảnh khắc nhẹ lòng ngắn ngủi quên đi cái gói nhỏ trong phòng, vốn lúc nào cũng ám ảnh tâm trí nàng.
Trong những lần đi dạo, Tess gặp rất nhiều người dân địa phương, họ luôn mỉm cười và lúc nào cũng có thời gian để trò truyện cùng nàng. Đến ngày thứ ba, nàng đã thông thạo hầu hết các đường ngang lối dọc của thị trấn và bắt đầu lang thang xa hơn. Lần theo những âm thanh của đồng nội như tiếng lừa kêu, tiếng chuông của những con dê, Tess sục sạo khắp các xó xỉnh bị che giấu của hòn đảo. Sau một quãng đi bộ thật xa, nàng đến hòn đảo nhỏ San Emilianos, ở đó Tess thơ thẩn giữa các biểu tượng trong ngôi nhà thờ quét vôi trắng và lang thang dọc theo bờ biển đầy đá cuội, cô đơn ngắm nhìn những con nhím biển đang xếp những viên đá dọc theo mép nước. Tess cũng đến thăm tu viện ở Panormitis, ở đấy nàng ngạc nhiên khi gặp ba doanh nhân người Athens khoảng trên bốn mươi đang ở trong những phòng khách trống trải; họ thổ lộ với Tess là họ ở đây vài ngày để nghỉ ngơi, suy tưởng, và làm cái mà họ gọi là “làm mới lại bản thân”. Trên thực tế, hầu như không thể thoát khỏi sự hiện diện của Giáo hội trên hòn đảo này. Nhà thờ là điểm tập trung của các ngôi làng, và giống như tất cả những hòn đảo của Hy Lạp, Symi có hàng chục nhà thờ rải rác gần như khắp các đỉnh núi. Dù ở bất cứ nơi đâu, luôn luôn có cái gì đó nhắc nhở đến ảnh hưởng của Giáo hội ở trong tầm mắt, tuy nhiên điều kỳ lại là Tess không có cảm giác ngột ngạt. Ngược lại là khác. Dường như đó là một phần nội tại hữu cơ gắn liền với cuộc sống của hòn đảo, một khối nam châm kéo các cư dân trên đảo gần gũi với nhau hơn, ban tặng cho họ sức mạnh và nguồn an ủi trong cuộc sống.
Tình trạng sức khỏe của Reilly đang không ngừng cải thiện. Hơi thở của anh đã bớt nặng nhọc, môi và vùng quanh mắt cũng bớt sưng, màu xanh tái cũng biến mất trên hai má. Bây giờ Reilly đã đi được quanh nhà, và sáng hôm đó anh đã nói là họ không thể lẩn tránh thế giới mãi được. Lúc này, Reilly đã đủ sức, anh cần thu xếp cho sự trở lại của họ. Ra khỏi nhà với cảm giác như thế giới nặng trĩu trên vai, Tess biết rằng mình sẽ sớm phải đối mặt với vấn đề và thảo luận với Reilly về điều nàng đã phát hiện.
Tess đã dành thời gian còn lại của buổi sáng để trở lại bãi biển Marathounda, lấy và mang chiếc tráp đựng cuốn kinh về, và giờ đang trên đường trở về nhà ông bác sĩ thì bất ngờ gặp hai phụ nữ đã mang quần áo và thức ăn đến cho nàng. Cả hai vừa mới ra khỏi nhà thờ và rõ ràng rất vui mừng khi gặp lại Tess. Họ nói với nàng là đã được nghe kể về sự hồi phục của Reilly và nồng nhiệt ôm lấy Tess, họ vừa khoa chân múa tay vừa gật đầu biểu lộ sự vui mừng chân thành. Hai anh chồng cũng ở đó. Hai người đàn ông bắt tay nàng, mặt rạng rỡ vẻ đồng cảm như đã trút được nỗi lo lắng, rồi cả bốn người vừa lướt đi, vừa ngoái lại tươi cười vẫy tay chào. Tess đứng đó, nhìn theo, miên man suy nghĩ.
Và chính lúc ấy, nó đã đến. Cái ý thức kêu gào trong sâu thẳm tâm can nàng từ bao ngày qua, cái cảm giác lẫn lộn đã vượt qua những bản năng của một đời hoài nghi, nhưng nàng vẫn đang phủ nhận nó. Cho đến tận bây giờ.
Mình không thể hành động như vậy với họ được.
Không thể với họ, không thể với hàng triệu người khác như họ. Cái ý nghĩ đã ngày đêm giày vò tâm trí nàng, từ lúc tìm được bản kinh viết tay. Những con người mà nàng đã gặp trong vài ngày qua, tất cả những con người đã trao tặng cho nàng không khác gì ngoài lòng tốt và sự hào hiệp. Họ là như vậy. Tất cả họ, và vô số những người khác nữa trên thế giới này.
Hành động này có thể làm tan vỡ cuộc sống của họ.
Ý nghĩ đó bỗng làm Tess cảm thấy đau nhói trong lòng. Nàng nghĩ, nếu Giáo hội có thể khơi gợi con người sống như thế kia, dâng hiến thế nọ, nhất là trong thời buổi hiện nay, trong thời đại này, chắc hẳn Giáo hội đang làm một điều đúng đắn. Giáo hội xứng đáng được duy trì. Có gì là nghiêm trọng nếu Giáo hội được xây dựng dựa trên một câu chuyện thêm mắm giặm muối? Tess băn khoăn tự hỏi liệu còn có thể sáng tạo ra điều gì đó với khả năng khơi gợi phi thường như vậy, mà không đi lạc khỏi những giới hạn khắt khe của thế giới thực hay không?
Nàng đứng đó, dõi mắt theo hai cặp vợ chồng bước đi và hòa vào cuộc sống của họ, Tess không tin mình có thể suy tính đến bất kỳ một lựa chọn nào khác.
Tess biết mình không thể làm việc đó.
Nhưng nàng cũng biết là không thể né tránh việc thổ lộ với Reilly lâu hơn nữa.
Chiều hôm đó, sau khi tránh mặt anh hầu như suốt buổi chiều, Tess dẫn Reilly đến khu phế tích lâu đài. Nàng cầm tay anh trong bàn tay đẫm mồ hôi, tay kia kẹp chặt một gói nhỏ được quấn trong chiếc áo len. Mặt trời gần như đã lặn, bầu trời chỉ còn le lói một ít ánh mờ mờ màu hồng, níu kéo những tia nắng cuối cùng trong ngày.
Tess đặt gói áo len lên một bức tường đã sụp đổ một phần và quay sang Reilly. Nàng cảm thấy khó khăn khi nhìn vào mắt anh, miệng nàng khô khốc.
“Em…” Đột nhiên, Tess cảm thấy như mất hẳn sự tự tin. Điều gì sẽ xảy ra nếu nàng cứ che giấu, lờ nó đi, và chẳng bao giờ đề cập chuyện đó với Reilly nữa. Sẽ tốt hơn chăng nếu Reilly không hay biết gì, nhất là sau chuyện đã xảy ra với cha anh? Phải chăng sẽ tốt hơn cho anh nếu nàng không bao giờ nói ra sự thật là mình đã tìm được, đã thấy, đã chạm tay vào nó?
Không. Tuy rất muốn làm như vậy nhưng Tess biết hành động đó sẽ là một sai lầm. Nàng không muốn phải giả dối với Reilly lần nữa. Suốt cả đời, nàng đã làm đủ mọi điều tệ hại rồi. Trong thâm tâm, Tess vẫn hy vọng là, bất chấp mọi điều đã xảy ra, nàng và Reilly sẽ có một tương lai gắn bó cùng nhau, và Tess cũng biết rằng nàng và Reilly sẽ không thể nào trở nên thân thiết với nhau hơn khi vẫn còn một điều dối trá to lớn như vậy chưa được nói ra giữa hai người.
Tess chợt nhận ra sự im lặng nặng nề bao trùm xung quanh. Tiếng chim sẻ cũng ngưng bặt như muốn hòa vào sự tĩnh lặng. Nàng trấn tĩnh và cố thử lại lần nữa. “Mấy ngày nay, em muốn nói với anh một chuyện, em thật sự rất muốn, nhưng lại phải chờ cho anh khỏe lại.”
Reilly ngập ngừng nhìn Tess, Tess biết vẻ lo lắng đang hiện rõ trên mặt mình. “Chuyện gì vậy?”
Tess có cảm giác gan ruột quặn thắt lại và chỉ nói gọn lỏn, “Em cần cho anh xem cái này.” Rồi nàng quay lại, mở những lớp áo len, bày ra bản kinh chép tay giấu trong đó.
Thoáng ngạc nhiên hiện lên trên mặt Reilly, anh đưa mắt nhìn Tess vẻ dò hỏi. Sau khoảnh khắc mà Tess tưởng chừng như dài vô tận, Reilly hỏi, “Em tìm thấy nó ở đây vậy?”
Tess không thể trả lời ngay dù cảm thấy nhẹ lòng vì rút cuộc đã trút được tâm tư nặng trĩu trong lòng, “Con chim ưng bị cuốn trôi dạt lên một bãi biển, cách nơi người ta tìm thấy chúng ta một hai cái vịnh. Những chiếc áo phao nâng vẫn còn dính với nó.”
Reilly quan sát tấm bìa da và thận trọng cầm cuốn kinh lên, liếc nhìn vào một trang bên trong. “Lạ thật. Trông nó có vẻ… đơn sơ quá.” Anh quay qua Tess. “Ngôn ngữ. Em đọc được không?”
“Không. Em chỉ có thể nói đó là tiếng Xyri.”
“Anh cũng đoán chừng là như vậy, chỉ có thể là thứ ngôn ngữ đó thôi.”
Nàng bối rối gật đầu. “Đúng vậy.”
Reilly lơ đãng nhìn tấm bìa sách cũ kỹ, tâm trí miên man suy nghĩ, ánh mắt rà soát từng chỗ trên tấm bìa. “Vậy em nghĩ gì? Nó là thật chứ?”
“Em không biết. Trông nó dứt khoát là sách thật rồi, nhưng không thể kết luận thực sự khi không gửi đến phòng thí nghiệm – có nhiều thí nghiệm cần phải thực hiện: xác định niên đại bằng phương pháp các bon, phân tích thành phần cấu tạo của giấy và mực, kiểm tra tự dạng…” Tess dừng lại, hít một hơi dài đầy vẻ lo lắng. “Sean, ở đây, vấn đề là thế này. Em không nghĩ là chúng mình nên gửi nó đến phòng thí nghiệm. Em không nghĩ chúng ta nên để ai đó làm thử nghiệm này nọ với nó.”
Reilly nghiêng đầu, sửng sốt. “Ý em là?”
“Em nghĩ là chúng ta nên quên là chúng ta đã tìm thấy cuốn kinh,” Tess tuyên bố, giọng dứt khoát. “Chúng ta nên đốt cuốn sách quái quỷ này đi và chỉ…”
“… và chỉ cái gì?” Reilly vặc lại. “Cư xử như nó chưa từng tồn tại chứ gì? Chúng ta không thể làm chuyện đó. Nếu nó không phải là cuốn kinh thật, nếu nó là thứ đồ giả mạo của các Hiệp sĩ Đền Thánh, hoặc chỉ là một trò lừa thì chẳng có gì phải lo lắng. Nếu nó là thật, vậy thì sau đó…” anh cau mày, bỏ lửng câu nói.
“Thì không ai nên biết đến nó,” Tess nhấn mạnh. “Lạy Chúa, ước gì em không kể chuyện này với anh.”
Reilly nhìn nàng, vẻ bối rối. “Anh có quên điều gì ở đây không nhỉ? Vậy chuyện gì đã xảy ra với cái quan điểm ‘mọi người xứng đáng được biết’ vậy?”
“Em đã sai. Em không còn cho đó là điều quan trọng nữa.” Tess buông một tiếng thở dài nặng nề. “Anh biết đấy, theo những gì em còn nhớ thì từ trước tới nay em chỉ thấy những điều sai trái của Giáo hội. Lịch sử đẫm máu, lòng tham, những giáo điều hủ lậu, tính không khoan dung, những vụ tai tiếng vì lạm dụng… Bao nhiêu thứ đó đã làm Giáo hội trở thành một trò hề. Em vẫn nghĩ mà không một chút hoài nghi là có vô số những điều quái quỷ mà rõ ràng Giáo hội cần phải chấn chỉnh. Thế nhưng, không có gì là hoàn hảo, đúng không? Nếu anh nhìn vào những gì Giáo hội thực hiện được, khi anh nghĩ đến tình thương, lòng trắc ẩn và sự độ lượng mà nó khơi gợi lên… Đó chính là nơi phép màu đích thực ngự trị.”
Tiếng vỗ tay chậm rãi nhịp nhàng đột ngột vang lên xung quanh nàng, giữa khu phế tích hoang vắng, Tess giật mình.
Quay về nơi phát ra tiếng vỗ tay, nàng thấy Vance bước ra từ phía sau một bức tường đá. Hắn vẫn tiếp tục vỗ tay, mỗi tiếng vỗ tách biệt dứt khoát với tiếng vỗ kế tiếp, mắt hắn dán chặt vào nàng, miệng ngoác ra một nụ cười nhăn nhở đáng sợ.
Chương 85
“Vậy là cô đã nhìn thấy ánh sáng rồi đấy. Tôi thực sự xúc động, Tess ạ. Cái Giáo hội không thể lầm lạc của chúng ta lại vừa có thêm một kẻ cải đạo.” Giọng hắn không thể ngầm chứa sự giễu cợt hay đe dọa nhiều hơn thế. “Halleluja! Vinh danh Thiên Chúa trên trời!”
Reilly nhìn hắn tiến đến gần và cảm thấy cơ bắp toàn thân căng lên. Vance trông có vẻ dơ dáy, ốm và hốc hác hơn trước. Hắn mặc bộ quần áo tuềnh toàng, chắc chắn là đồ cho của một người dân đảo rộng lượng nào đó. Điều quan trọng hơn, hắn không mang vũ khí và họ thở phào nhẹ nhõm. Reilly không hứng thú lắm với ý tưởng phải tước vũ khí của gã giáo sư này, nhất là trong tình trạng sức khỏe suy sụp của anh. Tuy nhiên, vì không có súng, và rõ ràng cũng kiệt quệ vì bị cơn bão hành hạ tơi tả như Tess và anh nên gã giáo sư có vẻ không còn là mối đe dọa đáng kể.
Vance vẫn tiến đến phía Tess, lúc đó hắn mới chú ý đến bản kinh trong tay Reilly. “Cứ như thể cuốn kinh muốn được phát hiện, đúng không? Nếu là người ngoan đạo,” giọng Vance nhạo báng, “hẳn tôi sẽ bị cám dỗ để nghĩ rằng chúng ta có số mệnh phải đi tìm kiếm cuốn kinh này.”
Tess nhìn hắn sửng sốt. “Làm sao anh…”
“Ồ, cũng như cô thôi, tôi đoán vậy,” Vance nhún vai. “Tôi tỉnh dậy, mặt vùi trong cát, và hai chú cua thì đang tò mò nhìn vào tôi, và tôi đã cố lết đến được cái tu viện ở Panormitis. Cha Spiros đã đem tôi vào nhà cứu tế của tu viện. Cha không hỏi lấy một câu, và tôi thấy cũng chẳng cần làm rắc rối thêm sự việc. Tôi đã thấy cô ở đó. Tôi vui mừng vì cô cũng đã sống sót trở về, còn hơn những gì tôi kỳ vọng nữa, nhưng chuyện này…” Ánh mắt Vance chuyển qua quyển kinh, như thể bị mê hoặc. “Một món quà thực sự. Cho phép tôi chứ?”
Reilly giơ tay lên, điệu bộ ngập ngừng. “Không được. Thế là đủ gần rồi.”
Vance dừng lại, mặt lộ vẻ ngạc nhiên. “Coi nào. Nhìn chúng ta mà xem. Dù gì đi nữa, tất cả chúng ta ai mà không chết. Chẳng lẽ điều đó không nói lên với các người điều gì hay sao?”
Reilly tỉnh bơ. “À, điều đó nói với tôi là anh có thể phải ra tòa và làm khách vài năm trong nhà tù của chúng tôi đấy.”
Vance có vẻ như muốn buông trôi, ánh mắt lộ vẻ thất vọng, gần như bị tổn thương, rồi đột ngột hắn lao về phía Tess, kẹp một tay quanh cổ, tay kia gí con dao găm thợ lặn lớn vào cổ nàng.
“Xin lỗi, Tess,” Vance nói, “nhưng tôi đồng ý với ngài đặc vụ Reilly về chuyện này. Chúng ta không thể làm ngơ điều mà định mệnh đã vượt qua cả chặng đường dài để giao phó vào tay chúng ta. Lần đầu tiên anh nói đúng. Thế giới quả thật xứng đáng được biết.” Mắt hắn long lên, đảo tới đảo lui để canh chừng Reilly. “Đưa cuốn kinh cho tôi,” Vance ra lệnh. “Nhanh lên.”
Reilly lượng định nhanh tình thế, lưỡi dao gí quá sát cổ họng Tess, anh sẽ không có đủ thời gian để ra tay, nhất là trong tình trạng vẫn còn khá yếu như thế này. Sẽ an toàn hơn nếu trao cho Vance cuốn kinh rồi tìm cách đối phó với hắn sau, khi Tess không còn bị nguy hiểm. Reilly bình thản khoát tay hướng về gã giáo sư. “Bình tĩnh nào, được chứ? Anh có thể có cái thứ quỷ quái này kia mà.” Reilly đưa bàn tay kia ra, bàn tay cầm cuốn kinh. “Đây này. Cầm lấy.”
“Không,” Tess chen vào, giọng giận dữ, “đừng đưa cho anh ta. Chúng ta không thể để anh ta công bố cuốn sách. Bây giờ đó là trách nhiệm của chúng ta. Trách nhiệm của em.”
Reilly lắc đầu. “Nó không đáng giá bằng mạng sống của em.”
“Sean…”
“Không đáng đâu,” Reilly khăng khăng, ném cho Tess một cái nhìn nghiêm khắc.
Vance cười nhạt. “Để nó trên bức tường rồi rút lui. Từ từ thôi.”
Reilly đặt cuốn sách trên mặt đá gồ ghề, bước lui mấy bước. Vance nhích dần về phía bức tường, lúng túng đẩy Tess theo.
Hắn nhìn xuống cuốn kinh một lúc, gần như sợ hãi không dám chạm tay vào, rồi vươn những ngón tay run run thận trọng lật mở bìa sách. Vance im lặng xem xét lại, lật từng trang giấy da và lẩm bẩm, “Veritas vos liberabit – Sự thật sẽ giải phóng cho ngươi,” vẻ bình thản hạnh phúc hiện rõ trên gương mặt mệt mỏi của hắn.
“Tess, tôi thực sự muốn cô tham gia vào việc này,” hắn nói với nàng, giọng mềm mỏng. “Rồi cô sẽ thấy. Mọi chuyện sẽ rất tuyệt vời.”
Ngay lúc đó, Tess quyết định hành động. Nàng gạt mạnh cánh tay đang kẹp cổ mình, xoay người lách ra. Vance bỗng bị mất thăng bằng, trong khi chới với lấy lại thăng bằng hắn đánh rơi con dao xuống vách đá bên dưới, con dao vang lên một tiếng keng rồi biến mất trong những bụi cây khô sau vách đá.
Vance đứng thẳng người lên, gập quyển kinh lại, cầm chặt cuốn sách bằng cả hai tay và nhận ra Reilly đã đứng chặn giữa hắn và lối đi dẫn ra bên ngoài khu phế tích, chặn hắn lại bên trong. Tess đứng bên cạnh.
“Mọi chuyện kết thúc rồi.” Reilly lạnh lùng tuyên bố.
Đôi mắt Vance trợn ngược lên như thể vừa mới lãnh một cú đấm vào bụng. Hắn liếc nhanh xung quanh, thoáng chút lưỡng lự rồi nhảy qua bức tường đá thấp, lao vào những lối nhỏ chằng chịt trong khu phế tích.
Reilly phản ứng rất nhanh, anh nhảy qua bức tường và lao theo hắn. Trong thoáng chốc, cả hai biến mất sau những bức tường đá cổ xưa.
“Quay lại đi!” Tess gào lên. “Mặc xác hắn, Sean! Anh chưa khỏe mà. Đừng làm thế.”
Dù nghe rõ tiếng hét của Tess, Reilly vẫn không dừng lại. Thay vì đó, anh tiếp tục len lỏi trên nền đất mềm, kiên trì leo lên, thở hổn hển, bám sát gót Vance.
Chương 86
Vance chạy rất nhanh, băng qua một lối mòn dốc đứng cắt vào sườn núi. Chẳng bao lâu, những rặng cây thưa và lùm cây ôliu biến mất, nhường chỗ cho một khoảng trống rải rác những tảng đá lởn chởm và bụi cây khô. Liếc về phía sau, thấy Reilly vẫn bám theo, hắn thầm chửi thề. Hắn quan sát khu vực xung quanh. Không thấy bóng dáng thị trấn, thậm chí cả khu phế tích lâu đài và những chiếc cối xay gió bỏ hoang cũng đã khuất tầm nhìn. Sườn núi bên phải gần như dựng đứng, sườn trái đầy sỏi đá và dường như lao thẳng xuống biển phía bên dưới. Không còn lựa chọn nào khác. Hoặc là đối đầu với Reilly hoặc là chạy tiếp. Vance chọn phương án sau.
Phía sau, Reilly thở hổn hển khi anh cố bắt kịp Vance. Đôi chân anh có cảm giác nhũn như cao su, các bắp thịt đùi đã nóng ran dù chỉ mới chạy một khoảng cách tương đối ngắn. Vấp phải một hòn đá nhưng Reilly gượng giữ được thăng bằng, mắt cá chân suýt bị thương. Reilly cảm thấy hoa mắt khi đứng thẳng người lên. Hít thở thật sâu, nhắm mắt lại để tập trung tinh thần, anh cố gom chút tàn lực còn lại trong người. Nhìn về phía trước, Reilly thấy bóng Vance đang dần nhỏ lại, sắp khuất khỏi tầm nhìn. Gom hết sức lực, anh đẩy chân mình lao về phía trước, trở lại với cuộc săn đuổi.
Chạy xa hơn, dọc theo mặt đá trơn tuột, sau cùng Vance đã đến một đỉnh dốc đá và nhận ra là đã tự chui đầu vào một cái bẫy. Trước mặt hắn là một vách đá gần như dựng đứng, thăm thẳm phía dưới là những tảng đá nhọn lởm chởm. Từng đợt sóng cồn xô đẩy nhau đập vào các tảng đá, đều đặn vỡ thành những lớp bọt nước trắng ngầu.
Hối hả quay đầu lại, Vance thấy Reilly đã xuất hiện trong tầm mắt.
Reilly đến bên vách đá, anh trèo lên một tảng đá lớn. Giờ anh đã ở ngang tầm với Vance, chỉ cách hắn chưa đến mười bước chân. Hai người đàn ông nhìn nhau chằm chằm.
Vance hít một hơi thật sâu, rồi nín thở. Hắn giận dữ nhìn xung quanh, liếc từ trái sang phải. Nhận thấy phía đất bên phải có vẻ cứng hơn, hắn quyết định chạy về hướng đó.
Reilly áp sát theo.
Vance chạy dọc theo vách đá dựng đứng, nhưng chỉ được khoảng hai mươi mét, hắn bị lọt chân vào một khe đá, bàn chân mắc kẹt giữa hai tảng đá. Cố lấy lại thăng bằng, hắn rướn người về phía trước.
Đau đớn nhận ra mình chỉ còn chút ít sức lực trong đôi chân, Reilly chớp ngay cơ hội vào nhào đến, chụp vào mắt cá chân của Vance. Chỉ khẽ chạm vào thôi, nhưng như thế là đủ. Vance mất thăng bằng và té xuống. Trườn tới bằng cả hai tay lẫn đầu gối, Reilly lao vào ôm chân Vance, nhưng hai tay anh cũng yếu ớt chẳng khác gì đôi chân. Vance lăn người lại và lết giật lùi, tay vẫn nắm chặt quyển kinh. Hắn đạp chân vào mặt Reilly khiến anh lăn mất một hai mét xuống sườn dốc. Rồi Vance lùi lại, đứng lên.
Reilly như muốn mê đi, đầu nặng như chì. Anh cố trấn tĩnh và ngồi dậy, chỉ nghe thấy tiếng của Tess vang lên từ phía sau.
“Sean,” nàng đang gào lên với anh. “Cứ để cho hắn đi. Anh đang tự giết mình đấy.”
Reilly thấy nàng leo lên và anh lại nhìn theo Vance, hắn vẫn chưa cách xa bao nhiêu. Anh quay người về phía Tess, vung tay điên cuồng. “Về đi. Về gọi người hỗ trợ.”
Nhưng Tess đã đến bên Reilly. Nàng cũng thở hổn hển, bám chặt lấy anh. “Xin anh. Ở đây không an toàn. Chính anh cũng nói mà. Nó không đáng giá bằng cuộc sống của chúng ta.”
Reilly nhìn Tess rồi mỉm cười, và chính giây phút đó, anh hoàn toàn biết chắc rằng mình sẽ sống quãng đời còn lại bên người phụ nữ này. Cũng trong khoảnh khắc ấy, Reilly nghe có tiếng hét hoảng hốt từ phía Vance. Anh quay lại vừa kịp nhìn thấy Vance trượt khỏi một tảng đá trơn phẳng mà hắn đang trèo qua, những ngón tay co quắp chới với không tìm được chỗ bám nào trên mặt đá đen trơn láng.
Cuối cùng, chân Vance chạm vào được một gờ đá nhỏ, trong lúc Reilly lao về phía trước, đến bên chỗ tảng đá nhô ra và nhìn xuống. Vance đang ôm chặt vách đá bằng một bàn tay run rẩy, tay kia vẫn nắm chặt cuốn kinh.
“Nắm lấy tay tôi,” Reilly thét to trong lúc cúi xuống, vươn lên tầm tay.
Vance nhìn lên, vẻ kinh hoàng cực độ hiện ra trong ánh mắt. Hắn với tay có cầm cuốn kinh lên, nhưng vẫn còn cách tay Reilly vài phân. “Tôi không thể,” hắn lắp bắp.
Đúng lúc ấy, gờ đá dưới chân Vance rơi xuống, điểm tựa dưới chân trái của hắn không còn nữa. Gã giáo sư chới với, các ngón tay, theo bản năng, buông vật đang cầm ra. Quyển kinh rơi khỏi bàn tay xòe rộng của Vance, bật mở khi nảy ra khỏi một tảng đá. Những trang nhật ký bay lượn trên không, trong bầu không khí đậm mùi nước biển, quay tròn rơi lả tả xuống mặt biển cuồng nộ bên dưới.
Reilly thậm chí không kịp hét lên tiếng “Đừng…”
Giọng của Vance vỡ ra thành một tiếng “Không!” đau đớn lúc hắn tuyệt vọng chụp bắt những tờ giấy. Rồi hắn rơi xuống thật nhanh, hai cánh tay dang rộng quơ quào những trang giấy đang chập chờn xung quanh như thể trêu tức hắn. Vance bất lực rơi vào khoảng không rồi đập mạnh vào những tảng đá bên dưới.
Tess đến bên Reilly, ôm choàng lấy anh. Cả hai nhích ra phía ngoài, nhìn xuống vách đá dựng đứng bên dưới. Thi thể của Vance nằm đó, cong queo một cách kỳ dị. Những con sóng đập vào tứ phía, nâng hắn lên và xoay xoay hắn như thể con búp bê làm bằng giẻ rách. Xung quanh cái xác tả tơi của Vance, những trang sách cổ cũng chìm dần xuống lòng biển, những con sóng như nuốt sạch dòng mực đang tan ra trên các trang giấy và vết máu ứa ra từ những vết thương há miệng của Vance.
Reilly ôm chặt lấy Tess. Anh nhìn xuống, vẻ tiếc nuối khi những trang giấy cuối cùng chìm vào lòng biển cả. Anh chắc chắn chúng ta sẽ không bao giờ biết được, anh nghiến chặt răng, buồn rầu nghĩ đến điều đó.
Và ngay lúc ấy, Reilly phát hiện ra cái gì đó.
Buông Tess ra, anh hấp tấp quay trở lại mép núi, leo xuống vách đá.
“Anh làm gì vậy?” Tess gào lên, chồm ra để xem Reilly ở đâu, giọng như muốn khóc vì lo lắng.
Một lát sau, Reilly xuất hiện trên mép vách đá. Tess với tay xuống giúp anh leo lên và nhìn thấy Reilly đang cắn chặt cái gì đó giữa hai hàm răng.
Một tờ giấy da.
Một trang duy nhất còn lại của bản kinh viết tay.
Tess trân trối nhìn tờ giấy như không tin vào mắt mình khi Reilly trao nó cho nàng. Reilly nhìn Tess. “Ít ra cũng có cái để chứng minh chúng ta đã không tưởng tượng ra mọi chuyện,” anh gượng nói, vẫn còn hổn hển vì nỗ lực thu hồi trang sách vừa rồi.
Tess chăm chú quan sát trang sách đang cầm trong tay một lúc lâu. Tất cả mọi điều nàng đã trải qua từ cái đêm ở Viện bảo tàng Met, tất cả những cuộc giết chóc đổ máu, nỗi sợ hãi và xáo trộn bỗng như hiển hiện, tràn ngập tâm trí nàng. Và chính trong giây phút ấy, Tess biết. Nàng biết, không một mảy may nghi ngờ, nàng phải làm gì với trang giấy này. Và không một chút lưỡng lự, Tess mỉm cười nhìn Reilly, rồi vo tròn và ném tờ giấy da xuống cái vách đá dựng đứng kia.
Nàng nhìn tờ giấy rơi xuống biển rồi quay lại, vòng tay ôm lấy Reilly.
“Em đã có tất cả những gì em cần,” nàng thỏ thẻ với Reilly, rồi cầm tay anh, bước ra khỏi gờ đá.
Chương kết
Paris, tháng Ba năm 1314.
Khán đài gỗ trang hoàng lộng lẫy đã được dựng lên bên rìa mỗi bãi đất trống trên đảo Île de la Cité. Những lá cờ đuôi nheo rực rỡ sắc màu bay phấp phới trong làn gió nhẹ, tia nắng mỏng manh lấp lánh trên những bộ trang phục lòe loẹt của các triều thần và đám hầu cận đã tề tựu ở đó.
Phía sau đám đông dân chúng phấn khích đang lao xao bàn tán, Martin de Carmaux mệt mỏi đứng khom người. Ông mặc chiếc áo choàng nâu đã sờn, món quà của một thầy dòng ông gặp vài tuần trước.
Dù mới chỉ qua tuổi bốn mươi được vài năm, Martin trông đã già sọm. Gần hai thập kỷ qua, ông đã lao động quần quật trong mỏ đá ở Tuscan dưới ánh nắng cháy da cháy thịt và đòn roi tàn bạo của bọn đốc công. Ông gần như đã từ bỏ hy vọng trốn thoát thì một trận lở đá, kinh hoàng hơn tất cả những trận lở đá chẳng mấy hiếm hoi trong khu mỏ này, xảy ra giết chết mười hai nô lệ cùng vài lính gác. Nhờ một may mắn bất ngờ, Martin cùng người bị xích chung với ông đã lợi dụng tình trạng hỗn loạn và đám cát bụi mù mịt để trốn thoát.
Không hề ngã lòng bởi những năm tháng dằng dặc sống trong cảnh nô lệ cùng cực cùng hoàn cảnh bị cách ly khỏi những tin tức bên ngoài thung lũng đáng nguyền rủa đó, trong tâm trí Martin chỉ có duy nhất một thứ. Ông đi thẳng đến thác nước, tìm tảng đá có những khe nứt giống như cây thánh giá loe đầu của các Hiệp sĩ Đền Thánh, lấy lại bức thư của Aimard, rồi bắt đầu cuộc hành trình dài xuyên qua núi non tiến vào nước Pháp.
Martin mất vài tháng để hoàn thành quãng đường, nhưng chuyến hồi hương muộn màng chỉ mang đến cho ông sự thất vọng tột cùng. Ông nghe tin về những thảm họa đã giáng xuống đầu những Hiệp sĩ Đền Thánh, và khi tới gần Paris, ông biết đã quá muộn để ông có thể làm bất cứ điều gì hòng thay đổi số phận của Giáo đoàn.
Ông đã tìm kiếm và hỏi han với tất cả sự thận trọng của mình, nhưng không tìm thấy gì hết. Tất cả Huynh đệ Chiến hữu của ông đều biến mất, hoặc đã chết hoặc đang lẩn trốn. Lá cờ của nhà vua đã tung bay trên Trụ sở dòng Đền Paris.
Ông chỉ còn lại một mình.
Lúc này đây, đứng đó và chờ đợi giữa đám đông đang xì xào bàn tán, Martin nhận ra dáng vẻ của Giáo hoàng Clement trong chiếc áo choàng xám, đang bước trên những bậc thang lên khán đài và vào chỗ của mình giữa đám quần thần áo quần sặc sỡ.
Trong khi Martin đang quan sát, Giáo hoàng hướng sự chú ý đến chính giữa bãi đất, nơi có hai cái cột được cắm giữa đống củi. Mắt Martin bị hút theo khi người ta kéo vào bãi đất hai thân hình tơi tả gầy mòn mà ông nhận ra là Jacques de Molay, Đại Thủ lĩnh dòng Đền, và Geoffroi de Charnay, Thủ lĩnh dòng Đền của Normandy.
Không còn lại chút khả năng kháng cự nào, cả hai kẻ bị kết án nhanh chóng bị trói vào cột. Một gã đàn ông lực lưỡng bước lên phía trước, cầm theo thanh gương sáng lóa, rồi nhìn nhà vua chờ mệnh lệnh.
Một bầu không khí im lặng đột ngột bao trùm đám đông, và Martin nhìn thấy nhà vua hờ hững giơ tay lên.
Đống củi được châm lửa.
Khói bắt đầu bốc lên, và ngay sau đó, lưỡi lửa liếm khắp đống củi, các cành khô nổ lốp bốp và vỡ ra tanh tách khi sức nóng tăng lên. Ghê tởm và hoàn toàn bất lực không thể can thiệp, Martin những muốn quay người bỏ đi, nhưng ông cảm thấy mình cần phải theo dõi, cần phải chứng kiến hành động xấu xa này. Một cách miễn cưỡng, Martin len lên phía trước đám đông. Và rồi, trước sự ngạc nhiên của ông, Martin nhìn thấy Đại Thủ lĩnh ngẩng cao đầu nhìn thẳng vào nhà vua và Giáo hoàng.
Ngay cả từ khoảng cách này, cảnh tượng đó vẫn khiến Martin bối rối. Đôi mắt de Molay cháy bùng lên ngọn lửa còn mãnh liệt hơn cả ngọn lửa chẳng bao lâu nữa sẽ nuốt chửng ông.
Bất chấp bộ dạng tả tơi yếu ớt, giọng nói của Đại Thủ lĩnh vẫn vang lên mạnh mẽ và vững vàng. “Nhân danh Dòng tu các Hiệp sĩ Đền Thánh,” ông khàn giọng nói, “ta nguyền rủa ngươi, Philippe de Bel, cùng gã hề giáo hoàng của ngươi, và ta cầu xin Đấng Toàn năng sẽ bắt cả hai ngươi trong vòng một năm phải đến cùng ta trước nhan Người, để chịu sự phán xét của Người và vĩnh viễn bị thiêu cháy trong lò lửa địa ngục…”
Nếu de Molay có nói thêm gì nữa thì Martin cũng không nghe thấy, vì ngọn lửa đã bừng bừng vươn cao, xóa sạch bất kỳ tiếng la hét nào của hai kẻ hấp hối. Rồi gió đổi chiều, và khói trùm lên khán đài và đám đông, mang theo mùi thịt cháy hôi thối kinh tởm. Vừa ho vừa phun nước bọt phì phì, nhà vua loạng choạng bước xuống bậc thang, Giáo hoàng lê bước theo sau. Khi họ đi qua gần nơi Martin đứng, vị Hiệp sĩ Đền Thánh già nhìn Giáo hoàng. Ông cảm thấy dòng giận dữ đang dâng lên thiêu đốt trong cổ họng, và chính lúc đó, ông nhận ra nhiệm vụ của mình vẫn chưa kết thúc.
Có lẽ chưa kết thúc trong cuộc đời ông. Nhưng, có thể, một ngày nào đó, mọi thứ sẽ khác.
Đêm đó, ông lên đường, rời khỏi thành phố và thẳng tiến về phương Nam, tới miền đất của tổ tiên ông, Carmaux. Ông sẽ định cư ở đó, hoặc một nơi nào đó ở Languedoc, sống những ngày còn lại của cuộc đời. Nhưng trước khi chết, ông phải đảm bảo rằng chắc chắn lá thư đó sẽ không biến mất vĩnh viễn. Dù thế nào chăng nữa, ông phải tìm cách để nó tiếp tục tồn tại.
Nó phải tồn tại.
Nó phải hoàn thành vận mệnh của mình.
Đó là món nợ của ông với những người đã khuất, với Hugh, với William de Beaujeu và trên hết là với người bạn Aimard de Villiers, để đảm bảo rằng họ đã không hy sinh vô ích.
Giờ đây nó là tất cả đối với ông. Ông nhớ lại tiết lộ cuối cùng của Aimard đêm hôm đó, ở tít sâu trong ngôi nhà thờ bên cây liễu. Về những nỗ lực không ngừng của các bậc tiền bối của họ, những người đầu tiên dựng lên điều dối trá đó. Về chín năm trời dành cho một tác phẩm tỉ mỉ tinh vi. Về kế hoạch cẩn thận chu đáo phải mất gần hai trăm năm mới đơm hoa kết trái.
Chúng ta đã gần đến rồi, ông nghĩ, gần lắm rồi. Đó là một chiến thắng huy hoàng. Nó xứng đáng với tất cả công lao khó nhọc, tất cả hy sinh, tất cả đớn đau.
Ông biết mình phải làm gì.
Ông phải đảm bảo chắc chắn rằng ảo tưởng đó vẫn tồn tại. Cái ảo tưởng rằng nó vẫn ở ngoài kia, đang chờ đợi.
Cái ảo tưởng rằng nó là sự thật.
Và đến thời điểm thích hợp, chắc chắn không phải trong cuộc đời ông, có thể, chỉ là có thể thôi, một người nào đó sẽ sử dụng kiệt tác thất lạc của họ để hoàn thành điều mà họ đã sắp đặt.
Và rồi, một nụ cười vừa sung sướng vừa cay đắng bừng nở trên khuôn mặt người hiệp sĩ khi một ý nghĩ chan chứa hy vọng trôi vào tâm trí ông. Có thể một ngày nào đó, ông mơ màng, nó sẽ trở nên lỗi thời. Có thể kế hoạch của họ không còn cần thiết nữa. Có thể mọi người sẽ tìm được cách khắc phục những khác biệt nhỏ của họ, và vượt lên trên những tranh cãi vớ vẩn nhưng chết người về niềm tin cá nhân.
Ông giũ suy nghĩ này ra khỏi đầu, tự trách mình vì sự ngây thơ mơ mộng đó, và tiếp tục cất bước.
Lời cảm ơn
Rất nhiều người hào hiệp cống hiến tri thức, nghiệp vụ chuyên môn và sự ủng hộ nhiệt tình cho cuốn sách này, và tôi muốn được bắt đầu bằng việc cảm ơn người bạn vĩ đại của tôi, Carlos Heneine, vì đã giới thiệu với tôi về các Hiệp sĩ Đền Thánh và luôn luôn tranh luận với tôi những ý tưởng thú vị; Bruce Crowther, người đã đưa tôi đến với lĩnh vực mới mẻ này; và Franc Roddam, người đã lao vào và tặng cho nó đôi cánh bay lên.
Cá nhân tôi cũng muốn cảm ơn Jon Wood và Susan Lamb, cùng với Juliet Ewers, Jenny Page, và tất cả mọi người tại nhà xuất bản Orion vì sự nhiệt tình ủng hộ của họ. Đó thực sự là sự đối xử tuyệt vời.
Cũng xin vô cùng cảm ơn anh, đại diện Eugenie Furniss của tôi, nếu không có niềm say mê, những năm tháng khích lệ và ủng hộ không biết mệt mỏi của anh thì cuốn sách này sẽ không bao giờ trở thành hiện thực. Xin cảm ơn cả Jay Mandel, Tracy Fisher, Lauren Heller Whitney, Lucinda Prain, Rowan Lawton, và toàn thể William Morris Agency.
Chân thành cảm ơn Olivier Granier, Simon Oakes, Cephas Howard, Eric Feliner, Leon Friedman, Maître François Serres, Howard Ellis, Adam Goodman và mọi người ở hãng Mid-Alantic Films tại Budapest vì đã ủng hộ không ngừng, cả Dotty Irving và Ruth Cairus tại Colmal Getty, Samantha Hill, Kevin và Linda Adeson (xin lỗi vì đã chọc tức Mitch), Chris và Roberta Hanley, Tiến sĩ Philip Saba, Matt Filosa, Carolyn Whitaker, Tiến sĩ Amin Milki, Bashar Chalabi, Patty Fanouraki, và Barbara Roddam.
Cuối cùng, như thiên hà luôn bắt nguồn từ vật chất nhỏ bé nhất, tôi muốn được cảm ơn Suellen vợ tôi, người đã sống cùng dự án này bao lâu nay; một người đàn ông không thể đòi hỏi người ủng hộ, người bạn đời và người bạn tâm giao nào tuyệt vời hơn thế.
*** HẾT***
[1] Acre, thành phố nằm ở phía Bắc Jerusalem, là chiến trường nơi quân Hồi giáo và quân Thập tự chinh (lần 3) giao đấu năm 1190, và cũng là nơi vua Richard I vương quốc Anh (Richard The Lion Hearted – Richard Tim Sư tử) ra lệnh chém đầu tập thể 3,000 người Ả rập Hồi giáo.
[2] Hiệp sĩ dòng Đền (Thánh), các chiến binh thuộc một giáo đoàn Thiên Chúa giáo trong các cuộc Thập tự chinh, được thành lập trong cuộc Thập tự chinh thứ ba, đầu thế kỷ thứ mười hai, có nhiệm vụ bảo vệ các đoàn hành hương và Đền Thánh ở Acre-jerusalem.
[3] Hiệp sĩ hoặc chiến binh dòng Cứu Tế, thành lập sau và có nhiệm vụ tương tự như dòng Đền (Thánh).
[4] Giáo đoàn hoặc Dòng tu. Giáo đoàn của các Hiệp sĩ Đền Thánh lúc mới thành lập chỉ có chín hiệp sĩ tự nhận có sứ mệnh bảo vệ người hành hương đến đất Thánh Jerusalem. Về sau giáo đoàn này phát triển thành hàng vạn người, như một binh đoàn giáo phái rất giàu có và thế lực.
[5] Viết tắt của limousine, loại xe sang trọng có kính ngăn cách giữa lái xe và hành khách, còn gọi là xe hòm.
[6] Tức Lila Bell Wallace (1890-1984), người Mỹ, đồng sáng lập tạp chí Reader’s Digest cùng với chồng là DeWitt Wallace, xuất bản số đầu tiên vào năm 1922.
[7] Andrea della Robbia (1415 – 1525): điêu khắc gia người Ý.
[8] Tương truyền đó là cái chén mà Jesus đã dùng trong bữa ăn tối cuối cùng trước khi bị đóng đinh trên thập tự giá, hoặc cũng tương truyền là cái chén dùng để hứng mấy giọt máu khi ngài bị một tên lính dùng lao đâm vào sườn lúc đang bị đóng đinh trên thập tự giá. Có chỗ nói hai cái chén đó là một. Trong hai thiên niên kỷ qua, không ai biết chính xác cái chén đó lưu lạc ở đâu.
[9] Tiếng Latinh: Sự thật sẽ giải phóng cho ngươi – hoặc: Sự thật sẽ cứu rỗi ngươi.
[10] Đây là trường đại học tư thục Notre Dame ở South Bend, bang Indiana, Mỹ (chứ không phải nhà thờ Notre Dame nổi tiếng ở Pháp). Đây là trường đại học liên kết với Giáo hội Công giáo La Mã.
[11] Giống như môn bóng chày của Mỹ nhưng sân chơi hẹp hơn với quả bóng lớn và mềm hơn.
[12] Dải băng của cảnh sát điều tra để giới hạn và bảo vệ phạm vi hiện trường.
[13] CSI: viết tắt của Crime Scene Investigator – Nhân viên điều tra nghiên cứu phạm trường.
[14] ERT: viết tắt của Evidence Response Team – Đội Đặc trách Bằng chứng.
[15] CPP: viết tắt của Central Park Precinet – Phân khu Công viên Trung tâm.
[16] Hồng y Giám mục (Cardinal – Bishop) là một Hồng y đồng thời giữ chức vụ Giám mục, danh nghĩa của một trong bảy giáo phận xung quanh Vatican
[17] Hồng y Phó tế (Cardinal – Deacon), cấp bậc Hồng y thấp nhất trong ba cấp dưới bậc Giáo hoàng. – Cấp thứ hai là Hồng y Linh mục (Cardinal Priest)
[18] Nguyên văn tiếng Pháp: Mais non, mais non, voyons.
[19] Nguyên văn tiếng Pháp: Mon dieu, mon dieu.
[20] Nguyên văn tiếng Pháp: Non mais, it est complétement tané, ce mec
[21] Nguyên văn tiếng Pháp: Non mais
[22] Ý tác giả ám chỉ nhà văn người Anh Author Conan Doyle (1859 – 1930), cha đẻ của một số tiểu thuyết trinh thám và nhân vật thám tử lừng danh Sherlock Holmes.
[23] Pederal Plaza: Trung tâm Thương mại Liên bang, cũng là nơi đặt bộ chỉ huy của Phân Cục FBI New York.
[24] Nguyên văn viết tắt ASAC – Assistant Special Agent in Charge – Đặc vụ trợ tá thường trực.
[25] Vị trí của hai toà tháp Trung tâm Thương mại Thế giới trong vụ khủng bố 11/9/2001.
[26] Nguyên văn “their M.O.”, viết tắt của tiếng Latinh “Modus operandi” – cung cách hành động điên rồ.
[27]
Aryan Nations là một tổ chức Tân quốc xã quốc tế, bài Do Thái, và chủ trương người da trắng thuộc giống người thượng đẳng.
[28] Tức Giáo hội
Sons of Yahweh – Yahweh, thường gọi là Jesus, nghĩa là Đấng Cứu Rỗi.
[29] Tổng hành dinh của CIA tại thị trấn Langley, bang Verginia.
[30] Một địa danh ở miền Đông Nam nước Pháp
[31] Ý nói tình trạng nhục nhã giống như thành Jerusalem bị người Babylon chiếm đóng và lưu đầy hàng ngàn người dân của thành này sang vùng Mesopotamia (Lưỡng Hà) từ năm 566 đến 538 trước Công Nguyên.
[32] Phoenicia: Một vùng lãnh thổ duyên hải, ngày nay là đất nước Syria. Dân tộc sinh sống tại đây có lịch sử từ trước Công nguyên, còn gọi là người Phoenicia, ảnh hưởng của họ lớn mạnh và trải dài đến phía Đông Địa Trung Hải, suy tàn vào thế kỷ thứ mười ba Công Nguyên.
[33] Umberto Eco (1932-?) nhà văn nổi tiếng người Ý, tác giả của tiểu thuyết “The name of the Rose – Tên của Hoa Hồng” (xuất bản năm 1983).
[34] Special Agent in Charge: tạm gọi là Đặc viên Thường trực, chức vụ của nhân viên FBI có thẩm quyền tại một hiện trường tội phạm hoặc trong một cuộc điều tra.
[35] FDR viết tắt của Franklin Delana Roosevelt, tổng thống Mỹ từ 1933-1945.
[36] Dead Sea Scrolls: Các bản kinh chép tay Biển Chết – tập hợp các bản kinh chép tay được tìm thấy trong các hang động gần Biển Chết từ năm 1947- 1956, cung cấp nhiều cứ liệu quan trong cho các học giả và sứ giả chuyên về Kinh Thánh.
[37] Giáo phái Ngộ Đạo, một giáo phái xuất phát từ Thiên Chúa giáo dạy rằng sự cứu rỗi đến từ chân lý tâm linh bí truyền, những chân lý có thể giải thoát nhân loại khỏi thế giới vật chất.
[38] tiếng Pháp, những người hoàn hảo, ở đây chỉ những người thay thế cho hàng linh mục trong giáo phái Cathar.
[39] kilim: một loại thảm dệt, không sử dụng lông cừu, thêu trang trí bằng hoa văn kỷ hà, sản phẩm của vùng Trung Đông.
[40] Những từ trên dùng để chỉ chung một khái niệm là Chén Thánh.
[41] Mameluke: một tầng lớp những người Thổ Nhĩ Kỳ bị bán làm nô lệ, đã thống trị Ai Cập từ thế kỷ mười ba đến thế kỷ mười sáu, và duy trì quyền lực cho đến đầu thế kỷ mười chín.
[42] MapQuest: công ty của Mỹ, chuyên cung cấp và vẽ các loại bản đồ theo yêu cầu của cá nhân và cả của các quốc gia, bằng những kỹ thuật tiên tiến nhất.
[43] Theo Kinh Cựu Ước: David giết tướng Uriah để cướp vợ của Uriah là Bathsheba. Sau này Bathsheba là mẹ của vua Solomon.
[44] NSA: viết tắt của National Security Agency – Cơ quan An ninh Quốc gia.
[45] Al-Idrissi (1110-1165), nhà vật lý và nhà thực vật học người Ả Rập, sống ở Tây Ban Nha, thời thuộc quyền cai trị của đế quốc Hội giáo.
[46] Xe SUV: viết tắt của sport utility vehicle, xe thể thao đa năng hai cầu, lái được bốn bánh, có thể di chuyển trên mọi địa hình.
[47] Prozac: một loại thuốc trị bệnh suy nhược thần kinh.
[48] Nguyên văn tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: “Orada, Orada! Shte!”
[49] Xe pickup: loại xe bán tải hai chỗ ngồi, có thùng chở hàng phía sau cabin.
[50] GPS: Viết tắt của Global Positioning System – Hệ thống định vị toàn cầu, dùng để xác định vị trí (tọa độ) của vật thể (có gắn thiết bị phát sóng) qua vệ tinh viễn thông. Hệ thống này do Bộ Quốc phòng Mỹ thiết kế và quản lý, nhưng cho phép sử dụng trên toàn thế giới.
[51] Genesis: tức Sáng Thế kỷ, cuốn đầu tiên của Kinh Cựu Ước
[52] Dallas: tên một phim truyền hình nhiều tập ở Mỹ, tương tự như kiểu “Trong nhà ngoài phố” của truyền hình Việt Nam.
[53] Thomas Jefferson (1743-1826) tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ (từ 1801-1809) và cũng là tác giả bản Tuyên ngôn Độc lập của đất nước này.
[54] Gandhi, Mohandas Karamchand (1869-1948), lãnh tụ Ấn Độ, chủ trương tranh đấu bất bạo động chống lại sự đô hộ của thực dân Anh và đã giành được độc lập cho Ấn Độ vào năm 1947. Năm 1948, ông bị một tên cực đoan theo đạo Hindu ám sát.
[55] Kabbalah còn gọi là Cabala, một giáo phái nhỏ tin vào sự diễn dịch những ý nghĩa ẩn tàng bị che giấu trong Kinh Thánh Cựu Ước Do Thái.
[56] Langley: địa danh thuộc bang Washington của Mỹ, nơi đặt đại bản doanh Bộ Quốc phòng Mỹ, còn gọi là Lầu Năm Góc.
[57] SDI: viết tắt của Strategic Defence Initiative – Chương trình Sáng kiến Phòng Thủ Chiến Lược.
[58] Eternel City: Thành phố Vĩnh cửu, ám chỉ địa phận Tòa Thánh Vatican ở thủ đô Rome nước Ý.
[59] Nguyên văn, BDU pants: viết tắt Battle Dress Uniform: quần trận, quần tác chiến.
[60] Nguyên văn tiếng Ý: Avonti.
[61] Azore: quần đảo nằm ở phía Bắc Đại Tây Dương, phía Tây Bồ Đào Nha.
[62] Triều đại phong kiến cai trị Ba Tư (Iran) từ năm 224-651 Công nguyên, có nền văn minh rực rỡ xây dựng trên nền tảng Bái Hỏa giáo.
[63] Dân tộc có nguồn gốc ở Peru, Nam Mỹ. Nền văn minh của họ phát triển được rực rỡ từ thế kỷ mười hai đến giữa thế kỷ mười sáu, trên toàn bộ khu vực núi Andes. Ngày nay, hậu duệ người Inca chiếm tỷ lệ khoảng 50% dân số Peru.
[64] Tuscany: vùng miền Bắc nước Ý, thủ phủ là thành phố Florence, trung tâm văn hóa của thời kỳ Phục Hưng.
[65] Một trong hai khu vực dân cư chính của hòn đảo Symi, khu vực kia là Katarratktes. Cả hai đều có kiến trúc bậc thang, nằm hai bên cảng chính của hòn đảo. Bị tàn phá nặng nề trong Thế Chiến II, nay là một địa điểm du lịch nổi tiếng của vùng Địa Trung Hải.
[66] Nguyên bản “Aramaic language”, là một nhóm các ngôn ngữ thuộc họ Xê mít, có 3000 năm lịch sử và được coi là “ngôn ngữ của Jesus”.