Diễn Đàn » Khoa Học Huyền Bí

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ : SINH LỘ CHO NHÂN LOẠI

0 trả lời, 356 lượt xem — Trang 1 / 1
CAO thượng Chí Tôn Ðại Ðạo hòa bình dân chủ mục,
ÐÀI tiền sùng bái Tam Kỳ cộng hưởng tự do quyền.

KÍNH DÂNG LÊN : ĐỨC ĐẠI TỪ PHỤ, ĐỨC ĐẠI TỪ MẪU & CÁC ĐẤNG THIÊNG LIÊNG




Thay Lời Tựa

  Có  độ hơn năm triệu người trên thế giới theo Đạo Cao Đài, một nền tôn giáo mà các bạn có lẽ chưa biết đến. Có thể bạn đã một lần nghe tên tôn giáo này hoặc nghe ai đó nhắc tới Đạo thờ “ một mắt”. Vì đây là nền tôn giáo mới, xuất phát từ một nước Việt Nam bé nhỏ nên ít ai biết rõ nền giáo lý và triết lý đầy từ bi và trí tuệ của tôn giáo này.
Thật vậy, Đạo Cao Đài hay gọi chính xác hơn là ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ, một tôn giáo mới tổng hợp tinh hoa chơn truyền của các nền tôn giáo lớn có trước đó, đồng thời bổ túc thêm những gì mà các Đấng Giáo chủ trước đây chưa thể giảng hết. Tôn giáo là cơ quan giúp con người hiểu rõ nguồn gốc, biết sống theo tinh thần đạo đức và là kim chỉ nam giúp cho con người tìm đường thoát khỏi nẻo luân hồi. Những nền văn minh chính trên thế giới như Ấn độ, Trung Hoa, Hi Lạp, La Mã, Trung đông đều chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các nền tôn giáo như: Bà la môn, Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo, Hỏa giáo, Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo...
Một Đấng Giáo chủ xướng lên một nền Tôn giáo đều là để giảng minh đạo đức; thương đời nên chỉ cho con người con đường giải thoát. Ngày xưa, phương tiện liên lạc truyền bá khó khăn cho nên ở mỗi thời điểm các Ngài phải tùy theo trình độ tiến hóa lúc đó mà giảng cho vừa hiểu, cho đời dễ noi theo. Nếu các Ngài cùng sanh một thời tất cũng đồng tình cùng nhau vì “ không tôn giáo nào có thể qua chơn lý.” Chỉ vì cõi tục mơ màng, lòng người mê muội, không hiểu sự sâu xa ấy nên mới gây ra trường ngôn luận. Tôn giáo nọ đối với tôn giáo kia hình như chẳng có cảm tình gì, đến nỗi sanh lòng ác cảm mà công kích, giết hại lẫn nhau. Để cứu vớt nhơn loại trong kỳ Hạ ngươn, hầu bước vào thời Thượng ngươn Thánh đức theo chu kỳ vũ trụ, Đức NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ mới lập ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ.
  CAO ĐÀI là danh hiệu CHÍ TÔN của Đức NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ, ĐẠI ĐẠO là mối Đạo lớn, TAM KỲ PHỔ ĐỘ là cứu độ chúng sanh lần thứ ba. Ra đời, tồn tại và phát triển gần một thế kỷ, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ độ là một tôn giáo với đầy đủ các thành tố: giáo lý, giáo hội với hệ thống chức sắc, luật lệ, lễ nghi; Đền Thánh và hàng ngàn Thánh Thất làm cơ sở thờ tự khắp nơi trên thế giới. Đạo Cao Đài tuy là một tôn giáo phát sinh tại Việt Nam, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và tín ngưỡng truyền thống, gắn bó với đất nước nhưng cứu cánh là phổ độ tất cả nhơn loại với tinh thần đại đồng, khoan dung; coi nhau như anh em, không phân biệt màu da sắc tóc, cùng dìu dẫn nhau  trở về ngôi nhà ánh sáng Thiêng liêng của Thượng Đế.  
Mục đích cao cả là thế nhưng ra đời trong một nước nghèo, bị đô hộ gần 100 năm bởi thực dân Pháp, đổ xương máu giành được độc lập thì đi vào cuộc nội chiến hơn 20 năm, nên người đời chưa kịp hiểu về Đạo Cao Đài đã gặp phải nhiều ngộ nhận: nào là một tổ chức chính trị đội lốt, nào là một quốc gia trong một quốc gia, nào là lộng giả thành chơn… Người muốn công kích thì sa đà vào những mảng tối mà tôn giáo nào cũng có. Nặng nề hơn, có tác giả còn bôi nhọ lịch sử, xúc phạm đến chư vị Chức sắc tiền khai, tìm mọi cách để Đạo Cao Đài không thể phát triển. Những cảm nhận chủ quan, thành kiến đôi khi ngô nghê thô bạo làm cho người tín đồ chỉ biết mỉm cười, xót xa dùm.
Nền tôn giáo mới này chủ trương tiếp nhận tất cả các dòng tư tưởng lớn của nhân loại, Kinh sách viết bằng Quốc ngữ dễ hiểu, đề cao NHƠN NGHĨA & ĐẠI ĐỒNG.  Thế thì vì sao sự ra đời của mối Đạo Trời lại làm nhiều phía lo ngại?
Đức Chí Tôn đã biết trước “ Đạo khai, Tà khởi”. Ngài muốn ban cho nhơn loại cơ hội chót nhưng nếu con người quá hung dữ, bội bạc, quay lưng lại với Đại Từ Phụ thì về nơi cõi Thiêng liêng không thể nào than trách được nữa.
 Ngày 06 tháng 12 năm 1926 ( 2 tháng 11 năm Bính Dần), Đức Chí Tôn dạy:
“ Ta vì lòng Ðại Từ, Ðại Bi, vẫn lấy đức háo sanh mà dựng nên mối Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ, tôn chỉ để vớt những kẻ hữu phần vào nơi địa vị cao thượng, để tránh khỏi số mạng luân hồi, và nâng những kẻ tánh đức bước vào cõi nhàn, cao hơn phẩm hèn khó ở nơi trần thế nầy.”
              
“ …Đời hằng đổi nước non không đổi
                               Giữ nhơn luân nhờ mối Đạo truyền
     Nhẫng lo trọng tước cao quyền
 Đem thân trần cấu gieo miền trầm luân.
 Biệt cành lá rụng đầy rừng
       Con thuyền “Bát Nhã ” lỡ chừng độ duyên
Sắc
Tài
Tửu
Khí
      Lưng vơi lấy chí anh hùng
     Mượn gươm Thần huệ dứt lần trái oan…”
                                                               
                                           ( trích “Ngụ đời” - Đức Lý Thái Bạch )
    
       Quyển sách này được viết ra trong cẩn trọng, trung thực, và dành cho những ai tha thiết tìm về nguồn cội, tìm về với đời sống tâm linh. Nếu có gì sơ sót ngoài ý muốn, xin quý đọc giả vui lòng tha thứ và chỉ giáo. 







PHẦN I
GIỚI THIỆU ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

      CHƯƠNG I: THẦN LINH HỌC &  PHÉP THÔNG CÔNG
          TIẾT 1: THẦN LINH HỌC & CÁC ĐẲNG CẤP SIÊU HÌNH
          TIẾT 2: THẦN LINH HỌC VÀ Đ.Đ.T.K.P.Đ.
      CHƯƠNG II:  LỊCH SỬ THÀNH LẬP Đ.Đ.T.K.P.Đ.
          TIẾT 1: QUY TỤ & DẠY ĐẠO CÁC SỨ ĐỒ
          TIẾT 2: KỶ NGUYÊN ĐẠO LỊCH
      CHƯƠNG III:  LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN Đ.Đ.T.K.P.Đ.



    CHƯƠNG I
    THẦN LINH HỌC & PHÉP THÔNG CÔNG
     
     
    TIẾT 1: THẦN LINH HỌC & CÁC ĐẲNG CẤP SIÊU HÌNH
    I.                    NGUỒN GỐC THẦN LINH HỌC
                       A. Thần Linh Học là một nền khoa học
                       B. Thần Linh Học ở Hoa kỳ
                       C. Thần Linh Học ở Âu Châu
    II.                 CÁC ĐẲNG CẤP TRONG THẾ GIỚI SIÊU HÌNH
    A.        Nhóm thể xác ngự trị linh hồn
    B.        Nhóm linh hồn ngự trị thể xác
    TIẾT 2: THẦN LINH HỌC VÀ ĐẠO CAO ĐÀI 
     
    TIẾT 1: THẦN LINH HỌC VÀ CÁC ĐẲNG CẤP SIÊU HÌNH
     
    I. NGUỒN GỐC THẦN LINH HỌC 
     
        A.THẦN LINH HỌC LÀ MỘT NỀN KHOA HỌC
     
            Thần Linh Học (Spiritisme), còn được gọi là Thông Linh Thuyết, Thông Thần Học, Chiêu Hồn Thuật, Giáng Thần Thuật, là môn khoa học nghiên cứu về cách thông công giữa con người đang sống nơi thế giới hữu hình với các Đấng Thần Thánh Tiên Phật ở thế giới vô hình để chứng minh rằng: Có sự hiện hữu của thế giới vô hình, có sự hiện hữu của Đấng Thượng Đế, các Đấng Thần Thánh Tiên Phật, và có sự hiện hữu của Linh hồn của con người. Con người khi thể xác chết đi, không phải là mất hết, mà còn có linh hồn tồn tại. Linh hồn xuất ra khỏi xác để chuyển sống trong thế giới vô hình. Chính thế giới vô hình nầy điều khiển thế giới hữu hình.
    Về mặt khoa học và triết lý, Thần Linh Học rất có ích cho các tôn giáo vì giúp cho con người dù có đức tin hay không phải nhìn nhận sự huyền bí, thay vì chỉ chấp nhận những sự vật mà giác quan của họ biết được. Thần Linh Học giúp cho ta biết một cách chắc chắn rằng Linh hồn có thật, giữa  người sống và  người chết vẫn giao cảm với nhau được ( ngoại cảm )
                
        B. THẦN LINH HỌC Ở HOA KỲ
             Vào năm 1847, ở tiểu bang New York, nơi nhà của Ông Veekman trong một nông trại tại Hydesville, hằng đêm, Ông Veekman nghe có tiếng đập cửa hay tiếng gõ vào vách, nhưng khi mở cửa ra xem thì không thấy ai cả, làm cho gia đình Ông hoảng sợ, cho là có hồn ma phá khuấy, nên không dám ở đó nữa. Sau đó có gia đình Ông thợ may nghèo tên là John Fox đến mướn ở. Mấy tháng đầu, Ông Fox chẳng thấy chi lạ  nhưng sau thì hiện tượng gõ cửa hay đập vách lại xảy ra, và đặc biệt ban đêm, đồ đạc trong nhà tự nhiên xê dịch . Ban đầu, Ông bà Fox cũng hoảng sợ, nhưng thấy các hiện tượng lạ nầy không có hại chi đến gia đình nên bỏ qua không để ý đến nữa, dần dần rồi cũng quen với các hiện tượng kỳ bí đó.
     Ông bà Fox có 2 đứa con gái, đứa lớn tên Margaret 15 tuổi và đứa nhỏ tên Kate 12 tuổi. Một hôm, Ông bà Fox định đi ngủ sớm, nên không để ý đến tiếng đập vách. Khi vào phòng ngủ thì Kate còn thức và vỗ tay chơi. Liền sau đó, bà Fox nghe có tiếng gõ vách lại. Cô bé vỗ tay 3 tiếng thì có 3 tiếng gõ vách đáp lại.
    - Bà Fox nói thử : Hãy gõ 10 tiếng coi.
    Liền đó có 10 tiếng gõ vách đáp lại.
    - Bà Fox kinh ngạc nói tiếp : Nếu linh hiển, hãy gõ đúng tuổi của Kate.
    Liền đó tiếng gõ đáp lại đếm đúng 12 tiếng.
    - Bà Fox lại nói : Nếu là người thật thì gõ 1 tiếng trả lời.
    Hoàn toàn yên lặng.
    - Chờ một chút, Bà Fox nói tiếp : Nếu là hồn linh thì gõ 2 tiếng trả lời,
    Tức thì có 2 tiếng gõ đáp lại.
    Hiện tượng lạ lùng nầy ngày hôm sau được lan truyền ra khắp nơi rất nhanh, khiến nhiều người hiếu kỳ tấp nập đến xem. Giới tu sĩ, giới khoa học, đều tìm đến tận nơi để quan sát, thử nghiệm, nghiên cứu. Sau đó, có một nhà nghiên cứu tên là Issa’s Post đến xem, nảy ra sáng kiến là bảo hồn linh gõ theo thứ tự các mẫu tự A, B, C... Gõ 1 tiếng là chữ A, gõ 2 tiếng là chữ B, gõ 3 tiếng là chữ C, v..v… để sau đó ráp lại thành câu văn mà nói chuyện với nhau. Vong linh liền gõ 2 tiếng để tỏ sự đồng ý .
    Thế là nhờ phương cách nầy, tuy mất nhiều thời giờ, nhưng Ông Issa’s Post và ông Fox có thể nói chuyện được với hồn linh. Báo chí hay tin, liền cử người đến quan sát, rồi đăng tin lên báo, khắp nước Mỹ đều hay biết. Giới tu sĩ và giới trí thức rất chú ý hiện tượng bí ẩn nầy. Hậu quả của việc thông linh nầy là gia đình Ông Fox không làm ăn được, nên Ông Fox đưa gia đình đến ở Rochester, nhưng vong hồn  Charles Haynes cũng theo gia đình Ông. Hai chị em Margaret và Kate phải làm trung gian để những người sống muốn nói chuyện với linh hồn ông Haynes. Rất nhiều người trước đây không biết gì về hồn ma, nay chứng nghiệm được hiện tượng hiển nhiên như vậy thì rất tin tưởng. Nhiều cuộc trình diễn được tổ chức trước công chúng, kết quả tốt đẹp khiến nhiều người phải xác nhận linh hồn vẫn tồn tại nơi thế giới vô hình. Hội Đồng Thành phố Rochester thành lập Ban điều tra đặc biệt nầy về hiện tượng thông linh nầy. Sau mấy năm nghiên cứu, 3 lần họp, có đến hàng trăm diễn giả thuyết trình, tranh luận sôi nổi. Sau gia đình Ông Fox, hiện tượng thông linh “gõ cửa hay gõ vách” vẫn tiếp tục xuất hiện ở nhiều nơi trên đất nước Mỹ. Luật Sư J. Edmonds, Giáo Sư E. Mapes thuộc Hàn Lâm Viện Hoa Kỳ, Giáo Sư Robert Hare tại Đại Học đường Pensylvania, sau nhiều năm nghiên cứu, thông công được với nhiều người trong thế giới vô hình, đã có những kết luận rất xác đáng, nên tổ chức các buổi thuyết trình, viết ra nhiều sách để phổ biến, xác nhận sự hiện hữu của linh hồn và của thế giới vô hình.
    Năm 1852, một Hội Nghị Thần Linh Học đầu tiên được tổ chức tại Cleveland nước Mỹ. Năm 1854, số người theo Thần Linh Học ở Hoa Kỳ lên đến con số 3 triệu người, trong đó có hơn 10 ngàn Đồng tử.
     
    C. THẦN LINH HỌC Ở ÂU CHÂU
     
    Từ năm 1852, một Phái đoàn Thần Linh Học từ Mỹ qua nước Anh, và đã gây được môt phong trào Thần Linh Học mạnh mẽ ở nước Anh.
    Năm 1853, một nhóm Thần Linh Học khác lại đi từ Mỹ qua nước Pháp và Đức, cũng gây được những phong trào Thần Linh Học đáng kể ở 2 nước nầy.
    Năm 1854, Ông Chevreul thuộc Hàn Lâm Viện Khoa Học Pháp và Ông Faraday ở nước Anh, đã phá kịch liệt Thần Linh Học, nhưng không kết quả.Bà Giradin, một Đồng tử Thần Linh Học ở nước Pháp đã giúp cho Văn hào Victor Hugo thông công được với linh hồn người chết lúc Victor Hugo đang tị nạn, sống lưu vong ở đảo Jersey của nước Anh. Đêm 11-9-1853, tại đảo Jersey, Bà Giradin tổ chức xây bàn, có mặt quí Ông: Victor Hugo với 2 cậu con trai là Charles Hugo, Francois Hugo và cô con gái là Madelène Hugo, ngoài ra còn có Đại Tá Le Flot, Ông De Tréveneuse, Ông Gustave Vacquerie. Đêm ấy vong linh Bà Charles Vacquerie, nhũ danh là Léopoldine Hugo  (cùng với chồng đi tắm biển và cả 2 vợ chồng đều bị chết đuối), giáng bàn nói chuyện với Victor Hugo, hỏi thăm cha mẹ, và có tiết lộ nhiều điều huyền bí nơi cõi vô hình. Nhờ vậy, Victor Hugo bắt đầu tin tưởng Thần Linh Học.
    Đêm 13-9-1853, Victor Hugo tiếp tục tổ chức xây bàn để thông công với cõi vô hình, có một Vong linh xưng là Bóng Hư Linh giáng bảo Ông Victor Hugo hãy đặt trọn đức tin vào Thượng Đế. Tiếp tục xây bàn, nhóm Victor Hugo thông công được với các Đấng :
    Các Đấng Giáo chủ : Socrate, Moise, Jésus, Mahomet, Luther
    Các danh nhân :  André Chénier, Shakespeare, Molière, Dante, Racine,…
    Các vong linh ẩn danh : Bóng Hư Linh, Bóng dưới mồ, Sứ giả Thượng giới,.
    Đêm 11-10-1853, nhận thấy những điều tiết lộ, những điều khuyên bảo, những giáo lý, triết lý, nhận được từ các Đấng Thiêng liêng nơi cõi vô hình qua hiện tượng thông linh xây bàn, rất hữu ích cho nhơn loại, nên văn hào Victor Hugo hỏi Vong linh đang giáng bàn :
    - Những lời vàng tiếng ngọc mà chúng tôi hân hạnh đón nhận từ cõi Hư Linh bấy lâu nay, thật đáng xem là những Chơn truyền quí báu hiếm có, chúng tôi có nên in thành sách xuất bản để phổ biến cho mọi người cùng học được hay không, xin cho biết ?
    - Vong linh ấy đáp : Không ! Vì chưa đến ngày giờ.
    - Victor Hugo hỏi tiếp : Đến bao giờ ? Chúng tôi còn sống đến ngày đó không ?
    - Vong linh đáp : Nếu không thấy nơi nầy thì sẽ gặp ở nơi khác. Chừng đến ngày giờ sẽ có lịnh. Hiện tại, có thể phổ biến hạn chế cho những người đã có đức tin.
    Những Thánh giáo nhận được từ những cuộc xây bàn của Victor Hugo ở đảo Jersey, sau nầy được Ông Gustave Simon in thành sách “ Les Tables tournantes de Jersey chez Victor Hugo”, được tái bản nhiều lần, làm chấn động dư luận nước Pháp và thế giới. 
    Giáo Sư Charles Richets tại Đại Học Đường Sorbonne Paris, sau nhiều năm nghiên cứu Thần Linh Học, đã cho xuất bản quyển sách tựa đề là Traité de Métaphysique (Khái luận về Huyền bí học).
    Trong lúc đó, ở nước Anh, nhà bác học William Crookes, trước đây không tin Thần Linh, nhưng sau gần 20 năm nghiên cứu và chứng nghiệm việc thông công với thế giới vô hình, đã viết một cuốn sách dầy trình bày các kết quả nghiên cứu của ông.Trong một bài thuyết trình tại Đại Hội Thần Linh Học Thế giới họp tại Luân Đôn, ông khẳng định :” Tôi không nói là những điều tôi đã nghe, những việc tôi đã thấy, có lẽ có được, mà tôi dám nói chắc chắn rằng có hiển nhiên như vậy.” Chính lời nói xác định mạnh mẻ nầy của một nhà bác học nước Anh làm cho nhiều người giựt mình thức tỉnh.
    Ở nước Pháp, nhà Thần Linh Học Léon Rivail tức là Allan Kardec, nhờ được học hỏi nhiều nơi các Đấng vô hình, nên đã hệ thống hóa được lý thuyết về Thần Linh Học, để môn Thần Linh Học trở thành một ngành khoa học. Năm 1853, Ông Allan Kardec lập thành Học Thuyết Thần Linh Học với 2 tác phẩm căn bản là : Le livre des Esprits Le livre des Médiums, với những bằng chứng thực nghiệm về tâm linh. Nhờ đó Thần Linh Học được truyền bá rộng rải khắp thế giới. Nhiều cuộc Hội Nghị Quốc Tế về Thần Linh Học đã được mở ra, gây một phong trào Thần Linh Học sâu rộng. Sau Allan Kardec có Camille Flammarion (1842- 1925), nhưng phong trào không được rầm rộ như trước.
     
    Tóm lại, Thần Linh Học phát khởi từ nước Mỹ vào năm 1847, sau đó truyền qua Âu Châu, nhứt là ở nước Anh và Pháp, tạo thành một phong trào Thần Linh Học mạnh mẽ và sâu rộng, ảnh hưởng lên toàn thế giới. Với phong trào Thần Linh Học, Thượng Đế muốn nhắn nhủ với nhơn loại là con người không phải chết là hết, mà mỗi người đều có một linh hồn và linh hồn nầy làm chủ nhơn của thể xác. Khi thể xác chết đi, linh hồn xuất ra khỏi thể xác, chuyển qua cõi vô hình và có một đời sống trong thế giới vô hình.
        
      
    II. CÁC ĐẲNG CẤP TRONG THẾ GIỚI SIÊU HÌNH
     
    Nội dung căn bản trong học thuyết thông linh là phân tích sự khác biệt giữa các linh hồn về hai mặt trí tuệ và tinh thần. Các linh hồn không phải mãi  thuộc một đẳng cấp nhất định, và sự phân  chia đẳng cấp không có nghĩa tạo các thứ hạng rõ ràng mà là định ra các cấp bậc tiến hoá. Linh hồn cũng đi theo những bước tiến triển tự nhiên. Những linh hồn ở cấp thấp vẫn còn chưa hoàn thiện, họ sẽ tiến lên đẳng cấp cao  hơn khi tự làm mình thanh sạch hơn. Càng tích lũy thêm  phẩm chất, kinh nghiệm và hiểu biết, linh hồn càng tiến cao hơn trên bậc thang tiến hoá. Tương tự như con người lúc nhỏ khác với lúc trưởng thành. Linh hồn được phân cấp dựa trên mức độ tiến hoá, phẩm chất, và những mặt chưa hoàn thiện của mình. Trong số các linh hồn cũng có một số lớn những linh hồn kém cỏi, và vì thiếu hiểu biết nên người ta luôn có xu hướng tin rằng đã là linh hồn thì biết tất cả!  Không phải vậy, những kẻ ít hiểu biết ở thế giới siêu hình khó có thể có được sự hiểu biết hoàn chỉnh.
                     Nói chung, các linh hồn đều cho rằng có 3 nhóm linh hồn chánh.               
             

    A.     NHÓM THỨ NHẤT:THỂ XÁC NGỰ TRỊ LINH HỒN
     
     1. NHỮNG LINH HỒN Ô TRỌC 
    Nhóm này luôn hướng đến các điều xấu xa, kéo theo đó là sự ngu ngốc, thói kiêu ngạo, ích kỷ và những dục vọng xấu. Các linh hồn này cảm giác được sự hiện hữu của Thượng đế, nhưng không hiểu được Người. Tất nhiên  không phải tất cả họ đều hoàn toàn xấu xa. Có một số hời hợt, vô hại và ranh ma hơn là thực sự gian ác. Có những kẻ khác luôn thích làm điều ác và cảm thấy thoả mãn mỗi khi có cơ hội để thực hiện. Ở họ, trí tuệ có thể đi liền với thói gian ác hay ranh ma, nhưng dù trí tuệ có phát triển tới đâu, họ cũng đều có tư tưởng chậm tiến, ích kỷ và tâm hồn ít nhiều ti tiện. Họ hiểu biết rất hạn chế về thế giới siêu hinh, luôn lẫn lộn nó với những thành kiến, quan niệm của thế giới hữu hình. Là linh hồn, họ đưa ra các chỉ dẫn bất nghĩa, xúi giục ngưới ta bất hoà chia rẽ, và dùng mọi cách để lừa phỉnh được nhiều hơn. Chúng luôn lôi kéo những người có tâm hồn yếu đuối, xúi giục đẩy họ đi đến sự thất bại, và lấy làm thoả mãn khi làm chậm được bước tiến của họ bằng cách làm họ ngã gục trước thử thách. Ta có thể nhận ra chúng qua các biểu hiện về ngôn ngữ. Linh hồn cũng như con người, câu từ thô lỗ cục cằn là biểu hiện của sự thấp kém về tinh thần cũng như trí tuệ. Ngôn ngữ giao tiếp của chúng luôn có hơi hướng đê tiện xấu xa, đôi khi muốn thay đổi, chúng ăn nói có vẻ biết điều, nhưng không giữ được bao lâu, cuối cùng vẫn để lộ ra bản chất của mình. Có dân tộc goi chúng là hung thần, số khác  gọi là quỷ sứ, ma quỷ hay ác hồn. Khi tái kiếp, những cơ thể sống do những linh hồn này hiện thân... có đủ mọi thói xấu đến những đam mê hạ đẳng đê tiện như thói dâm dục, tàn bạo, hung ác, xảo quyệt, đạo đức giả, tham lam, bần tiện...
     
    2. NHỮNG LINH HỒN CHƯA TRỌN LÀNH
    Linh hồn thuộc đẳng cấp này đã đạt được những hiểu biết khá rộng, nhưng thường cho mình hiểu biết nhiều hơn khả năng thực sự của mình. Những tiến hoá đạt được ở một số mặt đã làm ngôn ngữ của họ trở nên nghiêm túc hơn, văn phong súc tích. Tuy nhiên, ngôn ngữ đó luôn chỉ là sự biểu hiện các thành kiến, quan điểm hình thành một cách hệ thống của cuộc sống hữu hình; đó là sự pha trộn một chút sự thật với những sai lầm phi lý nhất, trong đó bộc lộ thói tự phụ, kiêu ngạo, ghen ghét, bướng bỉnh mà họ không thể tự lột bỏ.
     
    3. NHỮNG LINH HỒN TRUNG DUNG
    Không đủ tốt để làm điều thiện, không đủ xấu để làm điều ác, nhóm này nghiêng cả về hai phía; và không tiến hoá hơn trình độ phổ biến của con người cả về tinh thần và trí tuệ. Họ luôn nhớ đến những sự việc của thế giới hữu hình và nuối tiếc những niềm vui xác thịt.
     
    B. NHÓM THỨ HAI: LINH HỒN NGỰ TRỊ THỂ XÁC
     
    Mong muốn điều thiện là những phẩm chất cơ bản của nhóm. Một số hiểu biết sâu rộng về khoa học, số khác lại thông thái nhân từ. Các linh hồn tiến hoá nhất đạt được cả sự hiểu biết cùng với phẩm chất tốt đẹp. Dưới hình thức ngôn ngữ hoặc thói quen của họ, ta có thể thấy trong đó một số định kiến mà nếu không có chúng họ sẽ trở thành các linh hồn hoàn thiện. Họ hiểu được Thượng Đế cùng sự vô biên, và thụ hưởng những hạnh phúc lớn lao của điều thiện.  Họ sung sướng vì những điều thiện họ đã làm, và những điều ác họ đã tránh. Nhưng tất cả họ vẫn cần phải trải qua nhiều thử thách để đạt được mức hoàn thiện tuyệt đối. Là linh hồn, họ khuyến khích những suy nghĩ hướng thiện, dẫn người ta ra khỏi những con đường lầm lạc, bảo vệ cuộc sống của những con người xứng đáng được hưởng, hoá giải ảnh hưởng của các linh hồn ô trọc ở những người không chịu khuất phục chúng. Giống như bản chất của mình, những con người họ hoá thân đều tốt bụng và khoan dung. Họ làm điều thiện chỉ vì điều thiện.
     Nhóm này bao gồm những linh hồn mà dân gian gọi là Thần minh, Thần hộ mệnh hay thiện linh. Người ta chia nhóm này thành 4 đẳng cấp chính:
     
    1. NHỮNG LINH HỒN TOÀN MỸ : Phẩm chất chính của đẳng cấp này là lòng nhân ái. Họ luôn sẵn lòng giúp đỡ và bảo vệ mọi người, nhưng hiểu biết lại hạn chế. Họ đạt được tiến bộ về mặt tinh thần nhiều hơn về mặt trí tuệ.
     
    2. NHỮNG LINH HỒN TOÀN THIỆN: Tính chất đặc biệt để phân biệt đẳng cấp này là sự hiểu biết sâu rộng. Các linh hồn thuộc đẳng cấp này quan tâm nhiều đến các vấn để khoa học, đề tài mà họ có trình độ và khả năng hơn là những vấn đề tinh thần. Họ nghiên cứu khoa học theo quan điểm là tìm ra các thuộc tính hữu ích cho con người, không hề pha lẫn những dục vọng riêng như các linh hồn ô trọc.    
             
    3. NHỮNG LINH HỒN THANH KHIẾT: Phẩm chất tinh thần ở mức độ hoàn thiện nhất là bản tính đặc trưng của đẳng cấp này. Tuy không có những hiểu biết vô hạn, họ có đủ thông thái để đưa ra những suy xét kiểu mẫu về con người và sự vật.
     
     4. NHỮNG LINH HỒN THƯỢNG ĐẲNG:
     Những linh hồn thuộc đẳng cấp này vừa hiểu biết khoa học, thông thái, lại có lòng nhân ái. Ngôn từ của họ luôn tràn đầy sự khoan dung. Họ thuộc tầng lớp cao quí, rất cao thượng và luôn được trọng vọng. Hơn các đẳng cấp khác, với bản chất ưu việt, họ đưa đến cho chúng ta, trong khuôn khổ mà con người được phép biết, những khái niệm chính xác nhất về thế giới siêu hình. Họ sẵn lòng giao tiếp với những người thực tâm đi tìm sự thật, mà tâm hồn đã thoát khỏi những ràng buộc của thế gian ở mức độ đủ để hiểu được nó, nhưng sẽ rời xa những kẻ tò mò hay vì ảnh hưởng của vật chất mà quay lưng lại với việc thực hành việc thiện.
     
    C. NHÓM THỨ BA: CÁC ĐẤNG THIÊNG LIÊNG
     
     Các linh hồn thuộc nhóm này không còn chịu bất cứ ảnh hưởng nào của vật chất. Họ đạt được mức độ ưu việt hơn hẳn về trí tuệ và tinh thần so với các đẳng cấp khác. Các linh hồn đã đạt đến cấp bậc tiến hoá cao nhất. Vì đạt mức độ hoàn thiện nhất có thể được, họ được miễn trừ mọi thử thách và hình phạt. Không còn phải tái kiếp luân hồi, họ sống cuộc sống vĩnh cửu trong lòng Thượng Đế. Nhưng niềm hạnh phúc đó không có nghĩa là họ sẽ sống nhàn rỗi tẻ nhạt trong trạng thái tham thiền vĩnh cửu. Họ là sứ giả, đại diện của Thượng Đế, thực hiện những mệnh lệnh của Người để gìn giữ sự hoà hợp của Vũ trụ.
    Họ có thể ra lệnh cho tất cả các linh hồn ở những đẳng cấp dưới, giúp đỡ những linh hồn này tự  hoàn thiện và giao phó cho họ các sứ mệnh. Giúp đỡ con người thoát khỏi ưu phiền, khích lệ khi họ làm việc tốt, trừng phạt khi họ phạm những lỗi lầm vì điều đó có thể khiến họ không được hưởng hạnh phúc sau khi chết, đó là những sự quan tâm nhân từ của các linh hồn này. Đôi khi, người ta gọi họ là các Thiên sứ, các vị phò trợ vô hình.
     
     
    VÒNG TIẾN HÓA & ĐẲNG CẤP CÁC LINH HỒN
     
    Theo tương quan nội tại, các linh hồn có thể chia vào nhiều thứ bậc. Đó là những cấp bậc mà họ phải vượt qua trong quá trình tự thanh lọc. Còn về thể trạng, linh hồn có thể hiện thân, tức là tồn tại trong một cơ thể sống, hoặc vô hình, nghĩa là rời khỏi thân thể vật chất, và chờ đợi lần tái kiếp tiếp theo để tiếp tục tự hoàn thiện.
     
     





    ĐẲNG CẤP LINH HỒN


    VÒNG TIẾN HÓA



    1.CÁC ĐẤNG THIÊNG LIÊNG


    Hạng nhất


    Các Đấng Thiêng liêng (đã được miễn trừ vòng luân hồi sinh-tử)


    Cỏi Trời - Bạch Ngọc Kinh - Thiên đàng - Cỏi Hằng sống - Cực lạc - Niết bàn...



    2. CÁC ĐẤNG SIÊU LINH
     


    Hạng nhì
    Hạng ba
    Hạng tư
    Hạng năm


    Linh hồn thượng đẳng.
    Linh hồn thanh khiết
    Linh hồn toàn thiện
    Linh hồn toàn mỹ.


    Còn tiếp tục chuyển kiếp để tiến hóa  hầu được thoát kiếp luân hồi ...


    Vòng luân hồi : nơi các đẳng linh hồn luân phiên chuyển kiếp để bồi đắp công đức, tiến hóa  hơn nữa để thoát khỏi vòng sanh-tử, tử sanh ...



    3. CÁC LINH HỒN Ô TRƯỢC
     


    Hạng sáu
    Hạng bảy
    Hạng tám
    Hạng chín


    Linh hồn trung dung.
    Linh hồn chưa trọn lành.
    Linh hồn thấp kém.
    Linh hồn ô trược.


     


    Cỏi trần ai :  khởi điểm của một linh hồn ...
     
    Các siêu linh, đặc biệt là thuộc các đẳng cấp tiến hóa, luôn muốn chứng minh cho ta thấy họ không bao giờ phải tuân theo ý muốn của chúng ta, dù ta có tha thiết cầu gọi. Các vị chỉ đến khi nhận thấy cần hướng dẫn điếu gì đó hữu ích cho sự tiến hóa tâm linh của nhân loại.
     
     
    TIẾT 2: THẦN LINH HỌC VÀ  ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
     
    Đạo Cao Đài được thành lập chánh thức từ năm Bính Dần (1926), nhưng từ sáu năm trước đã có một người thờ phụng Đấng Cao Đài: đó là ông Đốc Phủ Ngô Văn Chiêu. Là Quận Trưởng hành chánh vào năm 1919 tại đảo Phú Quốc, Ngài Chiêu  sống cuộc đời hiền đức theo đúng điều luật của Lão giáo. Thỉnh thoảng, ông Phủ Chiêu tổ chức các đàn cơ Cầu Tiên, nhận được những lời giáo huấn tâm linh. Trong số những Đấng tiếp xúc được, có một Đấng tự xưng là “Cao Đài”, quan tâm đặc biệt đến ông Phủ Chiêu. Ông Chiêu đã nhận ra rằng đó là biệt danh của Thượng Đế bởi những khải thị và những giáo huấn triết lý ở trình độ cao mà ông đã lãnh hội được nhiều lần. Ông Phủ Chiêu xin phép Đấng Cao Đài cho ông được phụng thờ Ngài dưới một hình thức xác thực. Sau đó, trên biển Dương Đông ( Phú Quốc), Ngài được chứng kiến một cảnh tượng siêu nhiên: một con mắt hiện lên ở đường chân trời và ngày càng lớn dần, lớn dần với màu sắc chói lọi.. Ông hiểu ông được lịnh thờ Ngài bằng biểu hiệu hình một con Mắt trái.
           
    Trong lúc Phong trào Thần Linh Học khởi lên rầm rộ và sôi nổi ở khắp các nước Âu Mỹ thì trong nước Việt Nam, báo chí và sách vở của Pháp được đưa sang, nhờ đó, phong trào Thần Linh Học truyền đến Việt Nam. Đầu thế kỷ 20, trong dân chúng nổi lên các nhóm xây bàn nói chuyện với các Vong linh hay Cầu Cơ thỉnh Tiên xin thuốc chữa bịnh nan y hoặc hỏi về vận nước. Vào giữa năm Ất Sửu (1925), tại Sàigòn có một nhóm nhỏ các thơ ký gồm quí ông Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang, tiêu khiển vào mỗi buổi tối bằng việc thông công với người vô hình theo lối Thần linh học. Họ dùng cái “bàn gõ” (table frappante). Với những câu hỏi đặt ra cho các Đấng chơn linh, hoặc bằng thơ, hoặc bằng văn xuôi, họ nhận được những câu trả lời đáng kinh ngạc. Cha mẹ hay bạn bè quá cố của họ hiển linh để nói với họ những việc gia đình và đồng thời khuyên họ hy sinh quên mình.
    Những phát hiện xúc động ấy giúp họ nhận biết sự hiện hữu của thế giới huyền bí. Có một Đấng Thiêng liêng rất đáng chú ý vì sự ân cần của Ngài và những điều giáo hóa của Ngài về đạo đức và triết lý ở một mức độ rất cao. Đấng ấy  tên là “A à ”. Sau đó, những ông thơ ký Việt Nam khác đến tham gia làm đông đảo thêm nhóm xây bàn tài tử. Những đàn Cầu Tiên được tổ chức nghiêm túc hơn và đều đặn hơn. Vì việc dùng cái “bàn gõ” không tiện lợi, nên một Đấng thiêng liêng bảo phải thay thế bằng “Ngọc cơ”. Với Ngọc cơ, các Đấng có thể viết chữ trực tiếp, việc thông công tự nhiên được nhanh hơn và các đồng tử phò cơ đỡ mệt hơn.
           
    Ngày 24-12-1925, nhân dịp Lễ Noel, Đấng Thiêng liêng dẫn dắt bấy lâu nay  tiết lộ với các vị phò cơ, Ngài là Đấng Thượng Đế đến dưới tên gọi là Cao Đài để truyền dạy chơn lý tại nước Việt Nam.  Ngài nói đại ý như sau:
    “ Hãy vui hưởng ngày lễ nầy. Đây là lễ kỷ niệm ngày Ta đến Âu châu để dạy Đạo. Ta rất vui lòng gặp các con, những tín đồ đầy lòng kính trọng và yêu mến Ta. Ngôi nhà nầy của một trong các vị phò cơ sẽ có tất cả ơn phước của Ta. Những biểu hiện Toàn Năng của Ta sẽ khiến các con còn kính mến Ta hơn nữa.”
            Từ đó, Đấng Cao Đài truyền thụ nền Tân giáo lý cho các tín đồ. Đây chính là sự tuyển chọn các vị sứ giả đầu tiên có phận sự tiếp nhận các Thánh Ngôn.                                                        
                                                                       ( Lịch sử Đạo Cao Đài của Gabriel Gobron )
     
    Đạo CAO ĐÀI, một tôn giáo mới mà chính Đức THƯỢNG ĐẾ, còn được gọi là God, Gott, Dieu, Jehova, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đức Chí Tôn hay Cha Chung Nhân Loại, đã mở ra tại Việt nam vào năm 1926 bằng phương tiện cơ bút. Đây là kỹ thuật truyền thông giữa con người với thế giới vô hình mà Thượng Đế đã chuẩn bị trước cho nhân loại làm quen qua các Hội Thần Linh học....
    Nhân loại ngày nay tiến hóa cao, nền kỹ thuật truyền thông tiên tiến giúp con người trên thế giới thông tin và liên hệ nhau chỉ trong giây phút nên nhân loại cần một nền tôn giáo mới, khoa học hơn, khoan dung hơn, đại đồng hơn. Nếu tháo gỡ đi hết những sợi dây xiềng xích các Giáo lý cơ bản đã được diễn giảng theo giáo điều độc đoán, thì những giáo lý  của các tôn giáo sẽ giống nhau về phần nội môn. Osiris, Chrisna, Buddha, Christ là những danh từ khác nhau để chỉ con đường thánh thiện duy nhất đưa đến Niết Bàn tự tại. Tất cả chúng ta đều phải thoát khỏi phàm nhân ảo ảnh để trực nhận Chân ngã trong đời sống siêu việt, nhận chân ra cái thực tại của Chân ngã siêu việt đó chính là Phật tánh, là Christ,  là Chơn Linh mà các bực truyền đạo đã dạy
     
    Trái đất này theo chu kỳ đang đi vào cuối Hạ ngươn. Hạ ngươn là ngươn điêu tàn, ngươn tiêu diệt để chuyển qua thời Thượng ngươn Thánh đức. Thượng Đế mở Đạo Cao Đài, một nền tôn giáo thế giới vừa tổng hợp tinh hoa của các tôn giáo lớn, vừa thêm vào những hiểu biết mới cho nhơn loại để truyền bá nền siêu triết lý. Đây cũng là kỳ Đại Ân Xá lần ba của Ngài để giúp những người biết thức tỉnh  dễ dàng có cơ hội giải thoát và hiệp nhứt với Đấng Cha Trời.









    CHƯƠNG II
     
    LỊCH SỬ THÀNH LẬP ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
        
                  TIẾT 1: QUY TỤ & DẠY ĐẠO CÁC SỨ ĐỒ
                       TIẾT 2: KỶ NGUYÊN ĐẠO LỊCH 
     
            Tôn giáo Cao Đài có danh hiệu là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Muốn hiểu rõ tại sao có hai danh hiệu cùng một lúc, chúng ta cần trở lại những ngày đầu tiên trong lịch sử lập giáo. Đạo Cao Đài vốn phát xuất từ một hiện tượng có tính cách thần quyền. Vị Giáo chủ vô hình của Đạo Cao Đài ban đầu xuất hiện dưới danh hiệu là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ tát Ma Ha Tát. Người đệ tử đầu tiên là Ông Ngô văn Chiêu được Ngài giảng dạy về Đạo và truyền cho bí pháp luyện Đạo (1920). Trong giai đoạn thứ hai từ năm 1925 trở đi,  qua sự thông công của nhóm các Ông Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư, Lê văn Trung, Cao Hoài Sang…, Đức Thượng Đế đầu tiên xưng danh AĂÂ, sau đó danh xưng chính thức là:
     
                                                    NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ
                          viết CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT
                   
    và tôn giáo có danh hiệu  Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ra đời.
     
    Danh xưng ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ được dùng đến trong giai đoạn thứ hai đánh dấu sự trưởng thành của một tôn giáo, khởi sự truyền bá sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân.
            Tổ chức tôn giáo buổi đầu chưa thành hình tướng rõ rệt, nhưng về sau được Ơn Trên chỉ dạy tổ chức chặt chẽ và qui mô, có giáo lý, triết lý, Hội Thánh và Luật, Pháp Đạo. Phần sau đây được ghi lại một cách tóm tắt các sự kiện theo niên biểu để bạn đọc có một nhận định tổng quát về sự thành lập và phát triển Đạo Cao Đài của Đức Thượng Đế trong buổi sơ khai.  
     
     
    TIẾT 1: QUI TỤ & DẠY ĐẠO CÁC SỨ ĐỒ
     
     
    Năm Canh Thân ( 1920) : đệ tử đầu tiên
            26.10.1920 ( rằm tháng 9 Canh Thân) Quan Phủ Ngô văn Chiêu được bổ nhiệm làm chủ quận Phú Quốc, một đảo ở cuối miền Nam  nước Việt Nam. Ông thường cùng các thân sĩ tổ chức cầu cơ ở chùa Quan Âm. Có một vị Tiên Ông giáng cơ không chịu xưng tên, dạy Ngài chịu làm đệ-tử thì Tiên Ông sẽ dạy Đạo cho và khuyên Ngài ngưng tụng Minh-Thánh kinh, ăn chay mỗi tháng mười ngày.
     
    Năm Tân Dậu ( 1921):  biểu tượng Thiên Nhãn
            Ngày 8.2.1921 ( mùng 1 Tết)  trong một đàn cơ, vị Tiên Ông ban lệnh:
                                             “ Chiêu, tam niên trường trai
    Ông trả lời rằng:“ Bạch Tiên Ông, Tiên Ông đã dạy thì đệ tử phải vâng, song xin Tiên Ông bảo hộ đệ tử, chứ trường trai ba năm lâu quá chẳng biết đệ tử có chịu nỗi hay không? Và cầu xin Tiên Ông bảo lãnh, nếu đệ tử vâng theo lời dạy xin phải có chứng quả chi mới được.”  Tiên Ông bảo: “Cứ làm theo lời dạy, sau rồi sẽ hiểu.”Tuy là đệ tử đầu tiên của Cao Đài Tiên Ông, song ngài Ngô văn Chiêu vẫn chưa biết cách thờ phượng. Tiên Ông dạy Ngài hãy tìm một biểu tượng để thờ, biểu tượng ấy phải thể hiện đầy đủ triết lý siêu việt của nền Đạo. Đến sáng ngày 20.4.1921 (13.3 Tân Dậu), Ngài ngồi phía sau dinh quận, nhìn hướng ra biển, chợt thấy một CON MẮT lớn chói ngời hào quang thật lâu. Ngài khấn rằng:“ Bạch Tiên Ông, đệ tử biết rõ huyền diệu của Tiên Ông rồi. Đệ tử xin Tiên Ông đừng làm vậy, đệ tử sợ lắm. Như phải Tiên Ông bảo thờ Thiên Nhãn thì xin biến mất tức thì.”
    Vài ngày sau, Ngài lại thấy y như vậy nữa. Ngài đến Quan Âm Tự hầu đàn, Tiên Ông dạy Ngài vẽ Thiên Nhãn ( CON MẮT trái ) để thờ. Trong buổi đàn này, Tiên Ông cho biết danh xưng của Thượng đế trong kỳ này là
                                 
                             CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT.
     
    Năm Giáp Tý ( 1924): cảnh Bồng lai
            Vào khoảng tháng Giêng năm Giáp Tý, Tiên Ông muốn ban ân để khích lệ. Ngài Chiêu bạch: nghe rằng cảnh Bồng lai đẹp vô cùng. Thầy có thể nào cho đệ tử thấy cảnh ấy được không? Tiên Ông không trả lời. Vài ngày sau, vào một buổi chiều, Ngài Chiêu ngồi phía ngoài Dinh Cậu, bờ biển Dương Đông, Phú Quốc.
    Bỗng chốc, Ngài trông thấy từ chổ trời nước giáp nhau, lộ ra một cảnh thiệt là xinh đẹp. Cảnh ấy vừa khuất lại lộ ra cảnh khác. Chót hết, Ngài thấy cảnh trên có Thiên Nhãn, sổ ngay xuống một hàng có Nhựt, Nguyệt, Tinh cũng đẹp đẽ vô cùng…” 
            29.7.1924 Chính quyền Pháp thuyên chuyển Ngài Ngô văn Chiêu về Sàigòn. Ngài làm việc ở dinh Thống Đốc Nam Kỳ nhưng tan sở thì về nhà tịnh luyện. Tiên Ông  tuy truyền phép tu luyện nhưng khuyên Ngài giữ bí-truyền cho đến ngày đạo khai. Trong hai năm 1925, 1926 Ngài  hướng dẫn được bốn ông: Quan phủ Vương Quan Kỳ, ông phán Nguyễn văn Hoài, ông phán Võ văn Sang, ông đốc học Đoàn văn Bản thờ Thiên Nhãn và đọc các bài Cửu Thiên, Nhụy Châu … nhưng không truyền pháp môn tịnh luyện, xem như chưa chính thức phổ truyền mối Đạo Ngài đã học. Sau đó, các ông này cũng có độ thêm một số đệ tử nữa cùng tu luyện với Ngài, nhưng những hoạt động giai đoạn nầy vẫn còn trong phạm vi một nhóm tu chơn tịnh luyện, chứ chưa phát triển thành một Tôn giáo.
     
    Năm Ất Sửu  (1925): dùng phương pháp xây bàn khai mở Đạo
                                   
     
                     Bắt đầu từ năm này là giai-đoạn chuẩn bị kéo dài trên năm năm, đây là thời gian Thượng Đế huấn luyện đồng tử, dùng cơ bút qua trung gian của Đồng tử để thâu nhận và dạy dỗ những môn đồ đã chọn làm nòng cốt để thành lập và phát triển mối Đạo.
     
      5.6. Ất Sửu (  25.7.1925 ), xây bàn  tại  nhà Ngài Cao Hoài Sang.
    Ba ông gồm Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang vốn là người đồng hương nên thường họp nhau tại nhà ông Sang ở gần chợ Thái Bình, phố Hàng dừa ( nay là đường Cống Quỳnh quận 1) Sài Gòn để cùng nhau hòa nhạc hoặc ngâm thơ vịnh phú. Ông Cao Quỳnh Diêu cũng tình cờ đến chơi.“ Vốn là những thi sĩ chất chứa nơi tâm hồn nỗi căm hờn vì nước nhà bị đô hộ, các vị mượn thú xây bàn theo lối Thần Linh học Tây phương, mời vong linh những người quá vãng để cầu hỏi về vận mạng tương lai của tổ quốc”.
    Bốn ông ngồi quanh một cái bàn tròn một trụ ba chân đặt nơi hàng ba, một chân bàn kê lên cho gập ghình, hai bàn tay đều xòe ra úp lên mặt bàn, im lặng định thần. Lát sau, cái bàn rung động, nghiêng qua lại gõ nhẹ lên gạch. Các ông biết là có vong linh nhập vào bàn, tuy nhiên khi ghi lại các tín hiệu  thì không đọc được ra câu gì hết, có chữ Việt, có chữ Pháp lộn xộn, dường như các vong linh tranh nhau nói. Đến quá khuya mà chưa có được kết quả cụ thể nào, các ông mệt quá, đành đi nghỉ.
     
    6.6. Ất Sửu ( 26.7.1925 ): chơn linh Ngài Cao Quỳnh Tuân về.
              Vào giờ Tý, các ông khởi sự xây bàn và ráp lại được 3 chữ: Cao Quỳnh  Lượng. Bốn ông rất vui mừng, vì Cao Quỳnh Lượng là con của ông Cao Quỳnh Diêu và đã chết mấy năm rồi. Ông Cư thử xem có thiệt là Cao Quỳnh Lượng không, liền nói:  Nếu phải là Cao Quỳnh Lượng thì gõ bàn cho biết tên của những người đang ngồi xây bàn nơi đây. Cao Quỳnh Lượng liền gõ bàn đúng tên các vị. Ông Diêu biểu Lượng đi mời ông Nội đến. Chờ một lúc thì chơn linh ông CAO QUỲNH TUÂN (thân phụ của hai ông Diêu và Cư) nhập, gõ cho bài thi :
                         “ Ly trần tuổi đã quá năm mươi,
                          Mi mới vừa lên ước đặng mười …”
    Kết quả buổi xây bàn nầy thật là mỹ mãn, làm cho các ông suy nghĩ rất nhiều, tin tưởng là có thế giới vô hình và có thể nói chuyện với những vong linh đã khuất.
     
    10.6. Ất Sửu ( 30-7-1925 ): cô Đoàn  thị Quế  giáng cho thi
    Bốn ông lại tổ chức xây bàn tại nhà ông Sang. Tối nay, chiếc bàn chuyển động khoan thai nhẹ nhàng, gõ bàn cho một bài thi, tựa là “Thác vì tình”: Nỗi mình tâm sự tỏ cùng ai, . . . “,
              xưng tên là Đoàn Ngọc Quế.
    12.6. Ất Sửu ( 1.8.1925 ): xây bàn tại nhà Ngài Cao Quỳnh Cư.
    Nhà ông Cư số 134 đường Bourdais ( nay là đường Calmette, quận 1) Sàigòn. Cô Quế đàm luận và kết nghĩa với ba ông.
    -         Ông Cư là trưởng ca
    -         Ông Tắc là nhị ca
    -         Ông Sang là tam ca
    Cô cho biết tên thật là V.T.L. Quí ông yêu cầu Cô cho biết phần mộ của Cô ở đâu đặng đến viếng. Cô cho biết, mộ của Cô ở trong vườn Bà Lớn, gần Ngã Bảy.
    Chúa nhật 13.6.Ất Sửu (2.8.1925) ba ông Cư, Tắc, Sang đem đèn nhang đi viếng mộ  thì đúng y, nhà mồ có bia khác hình và đề tên Vương thị Lễ.
     
    4.7 Ất Sửu ( 22.8.1925 ); cô Hớn Liên Bạch cho thi
           Cô Vương thị Lễ giới thiệu cô Hớn Liên Bạch. Cô Bạch giáng cho 2 bài thi
     
    7.7.Ất Sửu ( 25.8.1925 ): Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm giáng cho thi
         Đức Thanh Sơn Đạo sĩ ( Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ) giáng mỗi đêm cho vài bài. Tất cả được 10 bài thơ nói về vận nước Việt Nam.
                 Âm dương tuy cách cũng trời chung,
                                  Thấy trái nên đây mới tỏ cùng…
     
    10.7. Ất Sửu ( 28.8.1925 ): Ngài AĂÂ giáng cho thi.
    Tại nhà ông Cư, ba ông Cư, Tắc, Sang xây bàn như thường lệ. Khi tay vừa đặt vào bàn, bàn liền chuyển động, cho bốn câu thi “ Ớt cay cay ớt gẫm mà cay, . . .“ và xưng danh là “ A Ă Â ”.
    Khi ông Cư hỏi ông AĂÂ được bao nhiêu tuổi, bàn gõ hoài đến mấy trăm cái chưa dứt. Ông  Cư ngưng lại và không dám hỏi tiếp.
     
    5.8. Ất Sửu ( 22.9.1925): Thất Nương giảng về Diêu Trì Cung
    Cô Vương Thị Lễ nhập bàn tiết lộ cho ba ông biết, Cô là Thất Nương của Diêu Trì Cung nơi cõi thiêng liêng, trên có Cửu Thiên Nương Nương cai quản, còn Cô Hớn Liên Bạch là Bát Nương. Ba ông xin Cô dạy cách cầu Cửu Thiên Nương Nương. Thất Nương bảo ba ông phải ăn chay trước 3 ngày và phải có ngọc cơ mới cầu Nương Nương đặng. Thất Nương chỉ vẽ cho 3 ông cách cầu bằng ngọc cơ.
     
     
    8.8. Ất Sửu ( 25-9-1925): Đấng AĂÂ dạy tổ chức Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung.
    Đấng A Ă Â giáng bàn, dạy ba ông nhân đó mà làm một cái tiệc chay vào đêm Trung Thu để đãi Diêu Trì Kim Mẫu và Cửu vị Tiên Nương.
     
    15.8. Ất Sửu ( 2-10-1925) : HỘI YẾN DIÊU TRÌ CUNG.
     
    Ba ông Cư, Tắc, Sang thiết lễ Hội Yến DTC tại tư gia của ông Cư. Quí ông lập bàn hương án, chưng những thứ hoa thơm, xông trầm trọn ngày (nhà không tiếp khách). Sắp đặt tiệc ấy do bà Hiếu, hiền thê của ông Cư vâng lịnh lập thành. Trên là bàn thờ Đức Phật Mẫu, dưới đặt một bàn dài, sắp 9 cái ghế như có người ngồi vậy; có chén, đũa, muỗng, ly, tách, đều giống y như đãi người hữu hình. Đến giờ Tý, quí vị lên nhang đèn, quì lạy thành kỉnh, rồi đem ngọc cơ ra cầu. Đức Phật Mẫu và Cửu vị Tiên Nương giáng chào mừng.
    Ba ông, mỗi người đều có chuẩn bị sẵn một bài thi mừng do Thất Nương dặn trước, lần lượt ngâm lên để hiến lễ Nương Nương. Đức Phật Mẫu và chín Cô an vị lắng nghe. Chừng nhập tiệc, Thất Nương mời ba ông ngồi chung vào tiệc cho vui. Ba ông thấy không thể chối từ nên sắp 3 cái ghế sau lưng  chín Cô, ba ông xá rồi ngồi xuống. Cách chừng nửa giờ sau, như là mãn tiệc, ba ông phò cơ tái cầu. Lịnh Nương Nương và chín Cô để lời cảm tạ, mỗi vị cho một bài thi bốn câu, lại hứa rằng: “Từ đây có ngọc cơ rồi thì tiện cho Diêu Trì Cung Cửu Nương đến dạy việc.” Xong, mỗi vị cho một bài thi 4 câu làm kỷ niệm. Bài thi của Ðức Phật Mẫu khoán thủ bốn chữ: Cửu Thiên Huyền Nữ như sau:




     


     
    CỬU kiếp Hiên Viên thọ sắc Thiên,
    THIÊN Thiên cửu phẩm đắc cao huyền.
    HUYỀN hư tác thế Thần Tiên Nữ,
    NỮ hảo thiện căn đoạt Cửu Thiên.

     
     Kể từ ngày nầy, quý ông sử dụng ngọc cơ cầu các Đấng theo lối Cầu Tiên của Đạo gia, nhận các Thánh giáo rất nhanh so với lối Xây Bàn của Thần Linh học.
              
    Chú thích: Cửu Thiên Huyền Nữ là một trong những danh hiệu của Đức Phật Mẫu. Cửu vị Tiên Nương là chín vị Nữ Tiên nơi Diêu Trì Cung hầu cận Ðức Phật Mẫu. Dưới quyền của Phật Mẫu có Cửu vị Tiên Nương trông nom về Cơ giáo hóa cho vạn linh, còn ngoài ra có hằng hà sa số Phật trông nom về Cơ phổ độ mà Quan Âm Bồ Tát là Ðấng đứng đầu
     
    Ngày 27.10. Ất Sửu ( 12-12-1925): ban lịnh Vọng Thiên cầu Đạo
    Đấng Cửu Thiên Huyền Nữ giáng đàn truyền lịnh:
            “ Mùng 1 nầy, tam vị đạo hữu Vọng Thiên cầu Đạo.”
    Ba ông không biết Vọng Thiên cầu Đạo là làm gì, bèn cầu hỏi Thất Nương. Thất Nương trả lời: Không phải phận sự của em, xin hỏi ông AĂÂ. Ba ông bèn cầu hỏi các Đấng khác, nhưng các Đấng ấy cũng trả lời tương tự như Thất Nương.
     
     30.10  Ất Sửu ( 15.12.1925 )
    Ba ông cầu Đấng AĂÂ, Ngài giáng dạy: “ Ngày mùng 1 tháng 11 nầy, tam vị phải vọng Thiên cầu Đạo, tắm gội cho tinh khiết, ra quì giữa trời, mỗi người cầm 9 cây nhang mà vái rằng:“ Ba tôi là Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang vọng bái Cao Đài Thượng Đế ban ơn đủ phước lành cho ba tôi cải tà qui chánh.”
     
    1.11  Ất Sửu ( 16.12.1925 ) : VỌNG THIÊN CẦU ĐẠO
    Ba vị Cư, Tắc, Sang mặc quốc phục nghiêm chỉnh, lập bàn hương án trước sân nhà ông Cư. Mỗi ông cầm 9 cây nhang quì giữa trời cầu nguyện y như Đấng AĂÂ dạy. Lúc đó khoảng 10 giờ đêm, người hiếu kỳ bu lại xem ba ông cầu cúng gì mà lạ vậy. Sau khi tàn 9 cây nhang, ba ông trở vô nhà, đem ngọc cơ ra cầu. Đấng Cao Đài Thượng Đế giáng, viết chữ nho, ba ông không hiểu:
                           Vọng niệm phân kỳ sự sự phi
                           Cá lý Thiên tâm thường thế nhẫn.
                           Thiên tâm tu hướng cá trung cầu.
                           Quân vấn Thiên tâm mạc tri tường
     Khi Đấng Cao Đài thăng rồi, ba ông liền cầu Đấng AĂÂ. Ngài giáng dạy : Đức Cao Đài Thượng Đế nói, tam vị chưa đủ đức tin về Ngài nên hỏi gạn lại, tam vị phải nghĩ cho thấu. Rồi Ngài cho bài thi bốn câu:
      Cứ níu theo phan Đức Thượng Hoàng,
      Tự nhiên tu tánh được bình an.
      Nguyệt hoa căn cội tua xa lánh,
      Vịn lấy nhành dương hưởng cảnh nhàn.
     
    4.11  Ất Sửu ( 19.12.1925 )
    Ba ngày sau khi Vọng Thiên Cầu Đạo, Đấng AĂÂ giáng cho ba ông bài thi :
           Mừng thay gặp gỡ  Đạo Cao Đài,
           Bởi  đức  ngày  xưa  có  buổi  nay.
          Rộng mở cửa răn năng cứu chuộc,
          Gìn  lòng  tu  tánh,  chớ  đơn  sai.
            Như vậy, Đấng Thượng Đế đã chấp nhận lời Vọng Thiên cầu Đạo của ba ông Cư, Tắc, Sang. Danh từ “ ĐẠO CAO ĐÀI ” được Đấng AĂÂ nói ra lần đầu tiên và dặn:
    “ nếu muốn cho Ngài tận tâm truyền dạy đạo lý thì thảy đều phải kính Ngài làm Thầy mới tiện bề đối đãi nhau.”  
     
    9.11 Ất Sửu (  24.12.1925 ): Đêm NOEL 1925.
            24/12/1925   Hôm nay, Đức AĂÂ không về chỉ có Thất Nương giáng và nói rằng:
    " Rất mừng vui, đêm nay là đêm kỹ niệm của Thầy giáng sinh 2000 năm trước mà khai thánh giáo nơi miền Thái Tây. Giờ này, Thầy đương hội chư Phật Tiên Thánh Thần dự lễ nên không đến đặng cùng mấy anh. Vậy mấy anh nên cầu nguyện cho cả bá tánh trong đêm này rồi nghỉ. Bữa khác Thầy sẽ đến dạy việc cần yếu ".
    Nghe đến đó, hồn vía các ông dường như bay bổng, nửa mừng nửa sợ.   
        
    Ngày 10.11 Ất Sửu ( 25.12.1925 ): Đấng AĂÂ xưng Cao Đài Thượng Đế
            Đến đêm Noel năm 1925, Đấng AĂÂ mới cho biết chính Ngài là Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế. Ngài đến để lập Đạo Cao-Đài. Thượng Đế xưng danh đầy đủ là:
     
                 NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ VIẾT CAO ĐÀI TIÊN ÔNG
                  ĐẠI BỒ TÁT  MA HA TÁT GIÁO ĐẠO NAM PHƯƠNG
     
             Tại nhà ông Cư, Ðức AĂÂ thu nhận Ngài Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc và Cao Hoài Sang làm đệ tử:" AĂÂ Cao Ðài đã hiểu lòng của ba đệ tử . Ngài đã ban đầy ân cho mỗi người. Ðêm nay phải vui mừng vì là ngày của Thượng Ðế xuống trần dạy đạo bên Thái Tây. Ta rất vui lòng đặng thấy ba đệ tử kính mến Ta như vậy. Nhà nầy sẽ đầy ân của Ta. Ngày giờ gần đến, đợi lịnh, Ta sẽ làm cho thấy huyền diệu đặng kính mến Ta hơn nữa
             Muôn kiếp có Ta nắm chủ quyền,
            Vui lòng tu niệm hưởng ân Thiên.
            Ðạo mầu rưới khắp nơi trần thế,
            Ngàn tuổi muôn tên giữ trọn biên.
            Trước đây Thượng Đế phải ẩn danh, xưng là A Ă Â,  hạ mình làm một chơn linh thường để dễ bề gần gủi, cảm hóa đệ-tử. Từ đó, Đức Chí-Tôn thường giáng cơ dạy Đạo, thâu nhận môn đồ. Đức Chí Tôn cũng dạy nhóm này dùng biểu tượng Thiên nhãn để thờ phụng Ngài. Ngày 16.11 Ất Sửu ( 31.12.1925), Đức Chí Tôn dạy:
           “ Ba con thương Thầy lắm há? Con thấy đặng sự hạ mình của AĂÂ là thế nào chưa? Con có thấu đáo cái quyền năng của Thầy chưa? Người quyền thế lớn nhứt như vậy có thể hạ mình bằng AĂÂ chăng? Bấy lâu Thầy vẫn tá danh A Ă Â là cốt để dìu dắt các con vào đường đạo đức, hầu chẳng bao lâu đây, các con phải ra giúp Thầy mà khai đạo. Các con có thấy Thầy khiêm nhượng là dường nào chưa ? Các con nên bắt chước Thầy trong mảy múng thì mới xứng đáng là người có đạo đức."
     
     17.11 Ất Sửu ( 1.1.1926 ): ban đức tin cho người Công giáo
            Một số tín đồ Công giáo nghe tin Đức Cao Đài xác nhận là Chúa mới đến xin rằng:
    "Cho tôi để thử trên bàn cầu cơ với một tấm hình của Đức Chúa Jésus và cây Thánh giá. Nếu Đức Cao Ðài thiệt là Thượng Ðế thì mới giáng cơ, bằng là quỷ vương thấy hai vật báu ấy tự nhiên phải tránh.”
    Ông Cư và ông Tắc  bằng lòng. Ðức Thánh Pierre giáng cho bài thi như sau :
            "Thiên đàng giữ cửa góc trời Tây,
            Truyền đạo cho dân biết mặt Thầy.
            Cứu chuộc đã hai ngàn tuổi lẽ,
            Cao Ðài phú thác dắt dìu bây”.
           
    Tiếp theo, Đức Chí Tôn giảng Đạo và ban đức tin cho những người có mặt.
    Con hiểu Jésus là ai chăng?
    Trước Ta đã đổ máu cho loài người vì thương yêu.
    Nay Ta đến cứu loài người cũng vì thương yêu.
    Bây đủ thương yêu Ta dường ấy chăng?
    Ta cần bây biết ăn năn hầu cứu chữa bây.
     
    - Trước mặt ba con: Cư, Tắc, Sang, Thầy hỏi rằng: Thầy muốn dùng các con mà khai Đạo, các con có dám nhận lãnh trọng  nhậm ấy chăng?
    - Trong các con, từ bé chí trưởng chẳng thông đạo lý chi, duy nhờ Thầy dạy bảo bấy lâu thì sự biết chưa đặng trong muôn một, e chẳng xứng đáng để lảnh trách nhiệm lớn lao ấy.
    -  Chi chi có Thầy gần bên các con, miễn là các con khứng chịu, gắng để trọn tấc lòng thì chẳng hề chi.
     
    18.11 Ất Sửu ( 2.1.1926 ) : Thầy bắt đầu dạy Đạo.
            Đức Chí Tôn khởi sự dạy Đạo cho ba ông Cư, Tắc, Sang và căn dặn hai ông Cư, Tắc mỗi việc chi đều phải triệt để tuân lịnh Thầy.
     
    22.11 Ất Sửu ( 6.1.1926): dạy Đạo cho ông Lê văn Lịch tại Vĩnh Nguyên Tự
            Ông Cư và ông Tắc được lịnh đem ngọc cơ xuống Vĩnh Nguyên Tự để Đức Chí Tôn dạy Đạo cho ông Lịch. Ông Lịch là con Ngài Lê văn Tiểng, Trưởng lão Đạo Minh Sư. Khi còn tại thế, Ngài đã di ngôn rằng: ngôi Vĩnh Nguyên Tự sau này sẽ có Thập nhị Khai Thiên đến mở Đại Đạo Tam kỳ Phổ độ.
     
    23.11 Ất Sửu ( 7.1.1926 ): dạy Đạo cho Ông Lê văn Trung
           Đức Chí Tôn dạy 3 ông Cư, Tắc, Sang đem Đại ngọc Cơ đến nhà ông Trung ở Chợ Lớn  để độ ông Trung. Ông Trung lúc bấy giờ là Hội đồng Quản hạt Nam kỳ ( Conseiller Colonial de Cochinchine), và là Nghị viên Hội đồng tư vấn chính phủ thuộc địa Đông Dương (Membre du Conseil du Gouvernement de l’Indochine), được tặng thưởng huân chương Bắc Đẩu Bội tinh ( Chevalier de la Legion d’Honneur). Ông là người sáng lập ra trường nữ trung học Áo Tím ( đổi tên Gia Long, sau có tên Nguyễn thị Minh Khai )
     
     
    27.11 Ất Sửu ( 11.1.1926 )
    Ông Lê Văn Trung đến hầu đàn tại nhà ông Cư, được Đức Chí Tôn ban cho bốn câu thi.
    Một Trời, một Đất một nhà riêng,
    Dạy dổ nhơn sanh đăng dạ hiền.
    Cầm mối Thiên thơ lo cứu chúng,
    Đạo người vẹn vẻ mới thành Tiên.
    Ông Trung trước đó đã được ông Nguyễn Hữu Đắc hướng dẫn đến hầu đàn Chợ Gạo ở Phú Lâm, tại đây Đức Lý Thái Bạch giáng đàn, độ ông Trung, làm cho cặp mắt của ông hết bịnh, thấy rõ trở lại)
     
    5.12 Ất Sửu ( 18.1.1926): độ ông Lê văn Trung
            Đức Chí Tôn giáng cơ dạy 2 Ông Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc đi vô nhà ông Lê văn Trung, Cựu Nghị viên Hội Đồng Thượng Nghị Viện Đông Dương để Đức Chí Tôn dạy việc. Hai Ông Cư và Tắc phò Ngọc cơ, Đức Chí Tôn liền giáng, dạy Ông Trung lo tu hành.Đức Chí Tôn lại phân rằng : Ngài đã sai Lý Thái Bạch dìu dắt Ông Trung nơi đàn Chợ Gạo lâu rồi. Ngài dạy tiếp:
         " Trung, nhứt tâm nghe con ! Sống cũng nơi Thầy, thành cũng nơi Thầy, mà đọa cũng nơi Thầy. Con lấy sự sáng của con mà suy lấy. (Ông Trung bị lòa 2 mắt, Đức Chí Tôn dùng huyền diệu làm cho 2 mắt của Ông sáng trở lại).
             Một Trời một Đất một nhà riêng,
                                        Dạy dỗ nhơn sanh đặng dạ hiền.
                                       Cầm mối Thiên thơ lo cứu chúng,
                                       Đạo người vẹn vẻ mới thành Tiên.

    Trong dịp nầy, Đức Chí Tôn dạy ông Trung phải hiệp với hai ông Cư và Tắc lo việc mở Đạo. Đức Chí Tôn nói chuyện với ngài Lê văn Trung, nói với nhau rồi  hiểu với nhau mà thôi.“ Một người đang là nghị viên của Thượng-Nghị-viện, một cái gia-nghiệp đủ vinh-hiển, đủ cao-trọng, đủ đương đầu với thiên-hạ trong 24 giờ bỏ hết. Cho tới một cái lạ hơn hết là đương hút á-phiện, người phong-lưu như ai kia vậy bỏ một cái một, cả sự ăn chơi cũng thế. Đức Chí-Tôn kỳ hạn có 24 giờ mà thôi. 24 giờ Anh Cả chúng ta phải trường trai. 24 giờ Anh Cả phải dâng cả sự-nghiệp cho thiên-hạ. 24 giờ Anh Cả chúng ta phải từ bỏ chức Thượng-Nghị-viện, dâng mảnh thân phàm cho Đức Chí-Tôn làm ngọn cờ cứu-khổ.”
     
    8.12 Ất Sửu (21.1.1926): giảng Đạo cho các vị Phật tử
     
    Nhiều vị Phật tử đến xin hỏi về việc qui Tam giáo hiệp ngũ chi trong Đại đạo Tam kỳ Phổ độ cùng những thắc mắc khác được Đức Thượng Đế giảng dạy và cho bài thi:   
     Chín Trời mười Phật cũng là ta
    Truyền Đạo chia ra nhánh nhóc ba
    Hiệp một chủ quyền tay nắm giữ
    Thánh Tiên, Phật Đạo vốn như nhà
     
     
    14.12 Ất Sửu  (  27.1.1926 ): kết hợp với Ngài Ngô văn Chiêu.
            Quí ông bạch hỏi Đức Chí Tôn về cách thờ phượng. Đức Chí Tôn dạy đến gặp ông Ngô Văn Chiêu để xem cách thức và kết hợp với nhau để truyền giáo. (Ông Chiêu lúc đó ngụ tại lầu 2, số nhà 110 đường Bonard, nay là đại lộ Lê Lợi, Sài Gòn).
     
     18.12  Ất Sửu ( 31-1-1926 ): lễ khai đàn Thượng tượng
            Ông Lê Văn Trung tổ chức lễ Khai đàn Thượng tượng tại nhà, đường Quai Testard ( nay ở khoảng 115-117 đường Châu văn Liêm quận 5 )
            “Trung, con thờ Thầy trên hết là phải. Con đem tượng Quan Trường qua bên trái Thầy, Quan Âm bên mặt, còn thờ Lý Thái Bạch dưới Thầy”.
                  Phép truyền thụ lập Thiên bàn Chí Tôn kể từ đây.
                    
    30.12  Ất Sửu ( 12.2.1926) :  ban Thánh giáo đầu tiên nhắc nhở Ngài Chiêu
    Đức Chí Tôn dạy Ngài Chiêu hiệp với quí ông lập phái đoàn đi viếng thăm nhà các môn đệ của Đức Chí Tôn trong dịp giao thừa cuối năm Ất Sửu.
    Ngài Chiêu làm pháp đàn, hai Ngài Cư và Tắc phò loan, ông Nguyễn Trung Hậu làm độc giả và ông Tuyết Tân Thành làm điển ký. Phái đoàn lần lượt đi đến từng nhà của 12 môn đệ đầu tiên, đến mỗi nhà thì phò loan cho Đức Chí Tôn giáng dạy. Khi phái đoàn đến nhà Ngài Lê Văn Trung thì vừa kịp đón lễ Giao thừa. Đúng giờ Tý năm mới Bính Dần, Đức Chí Tôn giáng ban Thánh giáo đầu tiên rất quan trọng.
            “Chư đệ tử  nghe,
    CHIÊU buổi trước hứa lời truyền Đạo cứu vớt chúng sanh, nay phải y lời mà làm chủ, dìu dắt cả môn đệ Ta vào đường đạo đức, đến buổi chúng nó lập thành, chẳng nên tháo trút. Phải thay mặt Ta mà dạy dỗ chúng nó. TRUNG, KỲ, HOÀI, ba con phải lo thay mặt cho CHIÊU mà đi độ người. Nghe và tuân theo. BẢN, SANG, GIẢNG, QUÍ  lo dọn mình đạo đức đặng truyền bá cho chúng sanh. Nghe và tuân theo. ĐỨC tập cơ, HẬU tập cơ, sau theo mấy anh đặng độ người. Nghe và tuân theo. ”
     
    Đây là bài Thánh giáo đầu tiên. Ngày giờ mà Đức Chí Tôn khởi lập Đạo Cao Đài  là giờ Tý  mùng 1 Tết  năm Bính Dần ( 13.2.1926).
     
    Vì thế, Đạo Cao Đài lấy ngày mùng1 tháng giêng năm Bính Dần làm kỷ nguyên Đạo lịch của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
     
     
    * * * * *
                                    
    TIẾT 2: KỶ NGUYÊN ĐẠO LỊCH
     
    Đạo lịch 1 - Năm Bính Dần (1926)
     
     8.1 Bính Dần ( 20.2.1926 ) : Lễ Vía Đức Chí Tôn.
     
    Lễ Vía Đức Chí Tôn đầu tiên được tổ chức tại nhà ông Vương Quan Kỳ, 80 đường La Grandière ( nay là Lý Tự Trọng) Sài Gòn. Sau phần cúng lễ, quí vị lập đàn cầu Đức Chí Tôn. Ngài Chiêu làm pháp đàn, hai Ngài Cư, Tắc phò cơ. Đức Chí Tôn giáng dạy.
              Bửu tòa thơ thới trổ thêm hoa,
              Mấy nhánh rồi sau cũng một nhà.
              Chung hiệp rán vun nền Ðạo đức
              Bền lòng son sắc đến cùng Ta !
            "Cái nhánh các con là chính mình Thầy làm chủ, sau các con sẽ hiểu. Thầy vui muốn cho các con thuận hòa nhau hoài, ấy là lễ hiến cho Thầy rất là trân trọng. Phải chung lo cho danh đạo Thầy. ÐẠO THẦY TỨC LÀ CÁC CON, CÁC CON TỨC LÀ THẦY. Phải làm cho nhau đặng thế lực. Ðừng ganh gỗ nghe. Các con giữ phận làm tùy ý Thầy muốn. Ngày kia sẽ rõ ý muốn của Thầy”:
     Nhân dịp nầy, Ngài Chiêu bạch xin Đức Chí Tôn lấy tên các môn đệ hiện diện hầu đàn kết thành bài thi để kỷ niệm. Đức Chí Tôn ban cho 4 câu thi:
                     
                        CHIÊU KỲ TRUNG độ dẫn HOÀI sanh,
            BẢN đạo khai SANG QUÍ GIẢNG thành.
            HẬU ÐỨC TẮC CƯ  thiên địa cảnh.
            Huờn Minh Mân đáo thủ đài danh (Huờn Minh Mân 3 vị hầu đàn)
    trong đó có đủ tên của 12 môn đệ đầu tiên của Đức Chí Tôn.
            Tạm dịch:   
                      
                         Phất cờ lên không trung độ dẫn chúng sanh ( dù còn là thai nhi)
                         Bản Đạo được mở ra cao quí, rõ ràng.
                         Người có đức độ sau sẽ được ở cảnh Trời.
                         Người sáng suốt sẽ trở về với Đài nêu danh
     
     
    13.1 Bính Dần (  25-2-1926 ): Khổng Tử là Văn Xương Tiên giáng trần và
    dạy phương pháp hành lễ.
            "Trung vô giữa bái lễ cho Thầy coi. Con làm lễ trúng, song mỗi gật con nhớ niệm câu chú của Thầy: Nam mô CAO ÐÀI TIÊN ÔNG ÐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT”.
            Dâng Tam Bửu " Tinh Khí Thần ".
                 Lần đầu dâng hương và hoa
                 Lần giữa dâng rượu
                Lần chót dâng trà
            Ðức Cao Ðài dạy chấp tay ấn Tý, Ðạo phục và cách lạy hành lễ cho Ngài Lê văn Trung như sau : " Khi bái lễ hai tay con chấp lại, song phải để tay trái ấn Tý, tay mặt ngửa ra nắm dưới tay trái để lên trên. Từ đây con phải may riêng bộ áo lễ, tay rộng cổ trịch như áo đạo, nhưng giải gài chín mối mầu xanh da trời. Con nhớ mang giày gai để hầu Thầy, còn nhứt nhứt đều để chân không hết ”.
           
           Ðức Cao Ðài giải thích về Thánh Tượng Thiên Nhãn và nghĩa TAM KỲ PHỔ ÐỘ
            " Tam Kỳ Phổ Ðộ là gì ? Là phổ độ lần thứ ba. Sao gọi là Phổ Ðộ ?Phổ là bày ra. Ðộ là cứu chúng sanh. Chúng sanh là toàn cả nhân loại chớ không phải là lựa chọn một phần người như ý phàm các con tính rổi.  Muốn trọn hai chữ phổ độ phải làm như thế nào ? Phải bày Bửu pháp chớ không đặng dấu nữa”.
            Như vậy, tại nhà ông Cư, Đức Chí Tôn giáng dạy cách bắt Ấn Tý, cách lạy, mỗi gật phải niệm  câu chú của Thầy:   Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.
            Ngài còn dạy cách dâng Tam bửu (hương và hoa, rượu, trà). Bà Hiếu được dạy cách may Thiên phục Đầu Sư phái Thượng. Ðức Chí Tôn mới giải nghĩa vì sao chọn biểu tượng Thiên Nhãn:
    “…Chưa phải hồi các con biết đặng tại sao vẽ Thánh tượng “ con Mắt” mà thờ Thầy, song Thầy nói sơ lược cho hiểu chút đỉnh:
               NHÃN THỊ CHỦ TÂM  ( Mắt là chủ của Tâm Linh ).
                LƯỠNG QUANG CHỦ TỂ  ( Hai luồng sáng của mắt là Chủ Tể)
                QUANG THỊ THẦN   ( Ánh sáng là Thần ).
                THẦN THỊ THIÊN  ( Thần là Thượng Ðế )
                THIÊN GIẢ, NHà Dà ( Thượng Ðế là Ta vậy ).
            Thần là khiếm khuyết của cơ mầu nhiệm từ ngày Ðạo bị bế. Lập " Tam Kỳ Phổ Ðộ ” nay duy Thầy cho " Thần hiệp Tinh Khí ” đặng hiệp đủ " Tam Bửu”  là cơ mầu nhiệm siêu phàm nhập Thánh.”
     
            Cũng trong ngày này, Đức Chí Tôn tiết lộ cho biết: Trọng Ni là Văn Xương Tiên hạ trần đặng thừa mạng lịnh Thầy làm Chưởng Giáo Nhơn đạo.
    14.1.Bính Dần ( 26.2.1926 ): độ Thái Lão Sư Trần Đạo Quang
    Ngài Trung, Cư, Tắc được lịnh lập đàn nơi Linh Quang Tự ở Gò Vấp để độ Thái Lão Sư Trần Đạo Quang đang trụ trì tại đây. Sau khi trả lời nhiều câu hỏi, Đức Chí Tôn dạy Ngài Thái Lão Sư qui hiệp về Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để độ chúng sanh kịp thời kỳ Đại ân xá. Tuy đột ngột nhưng Ngài Đạo Quang đọc qua Kinh sách Trung Hoa đã tiên tri:
                              CAO như Bắc khuyết nhân chiêm ngưỡng
                              ĐÀI tại Nam phương Đạo thống truyền
    nên Ngài tâm phục và bằng lòng làm môn đệ.
     
    Ngày 15.1.Bính Dần ( 27.2. 1926 ): độ ông Nguyễn Ngọc Tương
            Tại nhà ông Nguyễn Ngọc Tương, chủ quận Cần Giuộc, Ông Lê văn Trung lập đàn, có ông Cư và  ông Tắc phò loan. Đức Chí Tôn dạy:
    “ Tương, từ đây con trấn nhậm nơi nào thì là hồng phúc của nơi ấy.
             Con trị ai, Thầy cũng trị ai
            Một lòng đạo đức chớ đơn sai.
            Năm năm công quả tua bền chí
            Chỉ dẫn nhơn sanh bước lạc loài ”
     
    Ngày 20.1.Bính Dần ( 4.3.1926): độ Ông Lê văn Lịch
            Tại Vĩnh Nguyên Tự, ông Trung, Ông Cư, Ông Tắc lập đàn, có mặt Ông Phủ Tương. Thái lão Sư Lê Đạo Long ( thế danh Lê văn Tiểng ) là cha của ông Lịch đã về cho biết:
     Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế cảm xúc công quả của ta rất nhiều, không để ta luân hồi trở lại thế gian, giao cho Thái Ất Chơn Quân độ dẫn ta, nên được sắc phong Như ý đạo thoàn Chơn Nhơn tại cõi Tây phương cực lạc.Ngươi gặp được minh sư dạy tu luyện, hãy thỉnh cầu Ngài giáo hóa vậy. Chỉ có một Thầy là Ngọc Hoàng Thượng Đế. Hãy kính vâng theo. Rất mừng! rất mừng!
            Nền Đạo mới siêu việt, chỉ hai tuần lẽ đầu đã phổ độ được các giới trí thức, chuyên viên, học giả, ký giả, nhà văn, quan trường, binh nghiệp, thương gia, giáo viên, kỹ nghệ, nông nghiệp, Phật giáo, Công giáo, Lão giáo và Nho giáo như :  Nguyễn Ngọc Tương, Lê Bá Trang, ông bà Nguyễn Ngọc Thơ, Lê văn Lịch, Trần Đạo Quang, Nguyễn văn Kim, Cao Quỳnh Diêu, Trần Duy Nghĩa, Trương văn Tràng, Ca Minh Chương, Phạm văn Tươi, Phạm Tấn Ðãi, Huỳnh văn Mai, Võ văn Nguyên, Nguyễn Phát Trước, Nguyễn văn Tương, Nguyễn văn Kinh, Ngô Tường Vân, Huỳnh văn Giỏi, Võ văn Kỉnh, Mạc văn Nghĩa, Nguyễn văn Mùi, Nguyễn văn Ðạt, Ðoàn văn Bản, Lê văn Giảng, Nguyễn văn Tường, Ngô văn Ðiều, Trần văn Tạ và Trần văn Hoằng v.v ...
     
    7.3 Bính Dần ( 18.4.1926 ):Thầy bảo Ngài Chiêu sắm Thiên phục Giáo Tông
    Đức Chí Tôn dạy 3 ông: Trung, Cư, Tắc lên nhà ông Chiêu bảo ông may Thiên phục Giáo Tông. Bà Hiếu lãnh may và làm mão. Đức Chí Tôn giáng dạy bà Hiếu từng chi tiết, dự bị phong ông Chiêu chức Giáo Tông.
     
     11.3 Bính Dần ( 22.4.1926 ): chuần bị sắp đặt cho cuộc Thiên phong
    Đức Chí Tôn dạy cách sắp đặt ghế bàn, bài vị, và dặn: các con phải cho thanh tịnh, kể từ nay diệt tận phàm tâm chớ nhơ một điểm, thì ngày ấy  thề mới đặng.
     
    13.3 Bính Dần ( 24.4.1926 ):
    Đức Chí Tôn cho biết : ông Chiêu không lãnh chức Giáo Tông được.
     Mãi đến ngày 25.6 Bính Dần (3.8.1926), trong một đàn cơ tại nhà Ngài Nguyễn Ngọc Thơ, Đức Chí Tôn tiết lộ cho biết lý do.
            Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao Đài Giáo Đạo Nam phương
            Chư môn đệ nghe dạy:
            Vốn từ trước trong Thiên thơ Tam Kỳ Phổ độ này, nền Chánh giáo phải có nhứt Phật, tam Tiên (3), tam thập lục Thánh (36), thất thập nhị Hiền (72), tam thiên đồ đệ (3000) chưởng quản thâu Tam giáo hiệp nhứt.
            Chiêu thiệt là nhứt Phật đó. Vậy, trước ngày định lập Thiên phong đăng lập chức Giáo Tông cho nó thì Chúa Quỉ sai tam thập địa giới kêu nài với Ta rằng cựu phẩm nó chẳng xứng ngôi ấy, và kiện rằng nó chẳng nhứt tâm thờ phượng Ta. Ta có cãi lẽ, Quan Thánh Đế và Quan Âm giúp lời, Ta nhứt định phong chức Giáo Tông cho nó.
            Chúa Quỉ xin lịnh Ta mà khảo nó và phải để cho tam thập lục động hành xác. Ta không nở nên cho khảo mà không cho hành xác. Rủi thay! Đau đớn thay! Buổi khảo, nó phải bị tà quái áp chế nên phải mất ngôi, song Ta cũng còn thương yêu chẳng nỡ, nhưng mà có mặt chư Thần, Thánh, Tiên, Phật thì khó bề bào chữa đặng. Đại lụy! Ta phải dùng quyền Chí Tôn mà tha thứ, song buộc nó phải tịnh thất…  ( trích Thánh ngôn chép tay của Ngài Đầu sư Thái Thơ Thanh, tr 237)
           Kể từ ngày 24.04.1926,  Ngài Ngô văn Chiêu chính thức tách rời, không còn tham gia cơ phổ độ nữa, mà chỉ lo phần tu luyện theo hướng nội giáo tâm truyền đã được Đức Cao Đài ban cho trước đây, vì vậy sau này Ngài không đứng tên trong tờ Khai Đạo.
     
    14.3 Bính Dần ( 25.4.1926 )
            Quí vị được dạy Đạo ở buổi đầu đều cầu xin Đức Chí Tôn tha thứ cho ngài Chiêu nhưng Ngài tự ý tách riêng ra khỏi nhóm của quí ông: Trung, Cư, Tắc, Sang, Hậu, Đức và lập nhóm Cơ Tuyển độ Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi.
            Ngài Chiêu hiệp cùng bốn ông: Trung, Cư, Tắc, Sang từ ngày 14-12-Ất Sửu đến ngày 14-3-Bính Dần thì ông Chiêu tách ra, sự hội hiệp chỉ được ba tháng tròn. 
     
     15 . 3 Bính Dần (  26.4.1926 ): Lễ Thiên phong Chức sắc đầu tiên
            Tổ chức tại nhà Ngài Lê Văn Trung ở Chợ Lớn, khởi đúng giờ Tý ngày rằm. Đức Chí Tôn giáng phong :
    - ĐứcHậu :       Tiên Đạo Phò Cơ Đạo Sĩ.
    - :                      Tá Cơ Tiên Hạc Đạo Sĩ.
    - Tắc :                     Hộ Giá Tiên Đồng Tá Cơ Đạo Sĩ.
    - Trung, Lịch         đã thọ sắc, cứ tước vị mà theo sắc mạng Ta.
     (Hai vị nầy đã được Đức Chí Tôn phong Đầu Sư).
    - Kỳ :                       Tiên Sắc Lang Quân Nhậm Thuyết Đạo Giáo Sư.
    - Bản :                     Tiên Đạo Công Thần Thuyết Đạo Sư.
           
    Đặc biệt trong cuộc lễ Thiên phong nầy, Đức Chí Tôn trục thần của Phạm Công Tắc để đưa chơn linh Hộ Pháp nhập vào xác thân của Phạm Công Tắc.
     
    Đức Chí Tôn dạy: "Cư, đem 3 bộ Thiên phục để vọng trên 3 cái ngai, rồi con chấp bút bằng nhang như mọi lần, đặng Thầy trấn thần 3 bộ Thiên phục và 3 cái ngai ấy. Rồi mới kêu 2 vị Đầu sư đến quì trước bửu ngai của nó đặng Thầy vẻ phù vào mình, xong cho giảng xướng lên "Phục vị" thì 2 người leo lên ngồi. Cả thảy chư môn đệ đều quì xuống, bảo Tắc nó leo bàn, con chấp bút bằng nhang đến bàn Ngũ Lôi đặng Thầy trục xuất chơn thần nó ra. Rồi bảo hai vị Đầu sư xuống ngai đến trước mặt Ngũ Lôi, hai tay chấp trên đầu cúi ngay bùa Kim Quang Tiên mà thề như vầy :
    “Tôi là Lê văn Trung  tự Thiên ân là Thượng Trung Nhựt và Lê Văn Lịch tự Thiên ân là Ngọc Lịch Nguyệt thề Hoàng thiên Hậu thổ trước bửu tháp Ngũ Lôi rằng:
     Làm tròn Thiên đạo và dìu dắt mấy em chúng ta đều là môn đệ của Đức Cao Đài Ngọc Đế. Nhứt nhứt do lịnh Thầy phân định chẳng dám chuyên quyền mà lập thành tả Đạo. Như ngày sau hữu tội, thì thề Ngũ Lôi tru diệt.
     Đến bàn Hộ Pháp cũng quì xuống vái y như vậy nhưng thề:
    như ngày sau có phạm Thiên điều thề có Hộ Pháp hành đoạ Tam đồ bất năng thoát tục.          Rồi mới bảo Giảng xướng lại nữa "Phục vị” thì nhị vị Đầu sư trở lại ngồi trên ngai. Chư môn đệ mỗi người đều đến lạy mỗi người hai lạy. Tới phiên các môn đệ, từ người đến bàn Ngũ Lôi mà thề rằng:
    Tên gì …..họ gì….thề từ đây biết một Đạo Cao Đài Ngọc Đế chẳng đổi dạ thay lòng, hiệp đồng chư môn đệ, gìn luật lệ Cao Đài. Như ngày sau có lòng hai thì Thiên  tru Địa lục.
    Tới trước bàn Hộ Pháp cũng thề như vậy, rồi mới đến lạy nhị vị Đầu sư.
           
    Đó là những nghi lễ bí truyền, về sau Đạo cứ theo đó mà thi hành tuỳ theo chức sắc hay đạo hữu mà lời thề được biến đổi như trên.
     
    Từ cuối tháng 3 đến tháng 5 năm Bính Dần (1926); lập 6 đàn cơ phổ độ và 1 đàn cơ trị bịnh:
            Đức Chí Tôn cho thiết lập nhiều đàn cơ phổ độ để thâu nhận tín đồ gia nhập Đạo Cao Đài. Trong vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định có 6 đàn cơ phổ độ:
            1. Đàn Cầu Kho tại nhà ông Đoàn Văn Bản, ông Vương Quang Kỳ chứng đàn, phò cơ: Nguyễn Trung Hậu – Trương Hữu Đức.
    2. Đàn Chợ Lớn tại nhà Ngài Lê Văn Trung, Ngài Trung chứng đàn, phò cơ : Cao Quỳnh. Diêu - Cao Hoài Sang.
    3. Đàn Tân Kim, Cần Giuộc tại nhà ông Nguyễn văn Lai, ông Nguyễn Ngọc Tương và ông Lê Văn Lịch chứng đàn, phò cơ:  Ca Minh Chương - Phạm Văn Tươi.
            4. Đàn Lộc Giang, Chợ Lớn, tại chùa Phước Long của Yết Ma Giống, chứng đàn là ông Mạc Văn Nghĩa và Yết Ma Giống, phò cơ: Trần Duy Nghĩa - Trương văn Tràng.
            5. Đàn Tân Định tại nhà ông Nguyễn Ngọc Thơ, phò cơ: Cao Quỳnh Cư - Phạm Công Tắc.
            6. Đàn Thủ Đức tại nhà ông Ngô Văn Điều, ông Điều chứng đàn, phò cơ : Huỳnh văn Mai - Võ văn Nguyên.
            7 - Ðàn cơ chữa bệnh do Ngài Trần văn Tạ và Trần văn Hoằng chăm lo .
     
     Ngày 28. 4. Bính Dần ( 8.6.1926 ): lập Hội Thánh Phái Nữ.
     
            Ðức Chí Tôn dạy rằng :
            "Ðường thị ! Thầy giao nữ phái cho con lập thành, chẳng phải vì đàn bà mà sớm nồi canh, chiều trả cháo hoài. Phần các con truyền đạo phần phổ độ nầy cũng lắm nặng  nề, bao nhiêu nam tức bao nhiêu nữ. Nam biết thành Tiên Phật chớ nữ lại không sao ? Thầy đã nói Bạch Ngọc Kinh có cả nam cả nữ, mà có phần nữ lấn quyền thế hơn nam nhiều .”
     
    1 . 7  Bính Dần ( 8.8.1926 ): ban tịch Đạo Nam phái
      
                         Tại Vĩnh Nguyên Tự, Cần Giuộc, Đức Chí Tôn giáng cơ dạy:      
            “Quỉ vương đến trước Bạch Ngọc Kinh xin hành xác và thử thách các con. Thầy chẳng chịu cho hành xác. Chúng nó hiệp tam thập lục động toan hại các con nên Thầy sai Quan Thánh và Quan Âm đến gìn giữ các con, nhưng phần đông chưa lập Minh thệ nên chư Thần Thánh Tiên Phật không muốn nhìn nhận…
    Đức Chí Tôn  ban Tịch đạo Chức sắc nam phái:
                                      
                                        THANH ĐẠO TAM KHAI THẤT ỨC NIÊN
                             THỌ NHƯ ĐỊA HUYỄN THẠNH HÒA THIÊN
                             VÔ HƯ QUI PHỤC NHƠN SANH KHÍ
                             TẠO VẠN CỔ ĐÀNG CHIẾU PHẬT DUYÊN..
     
    Tạm dịch:                     Đạo Trời khai lần ba kéo dài đến 700.000 năm.
                                         Thọ như Đất, thạnh như Trời.
                                         Khí Hư Vô đem lại sanh khí cho người.
                                         Lập rất nhiều đường để dẫn độ người có duyên tu.
     
    12 . 7 Bính Dần ( 19.8..1926 ): ấn tống Kinh, Thánh tượng Thiên nhãn
    Vào thời điểm này, chư vị chức sắc theo lịnh dạy đã thỉnh các Kinh:
     
            - Niệm hương, Khai Kinh, 4 bài chú, Kinh sám hối, bài khen ngợi Kinh Sám hối, Kinh cầu siêu, bài xưng tụng công đức Thần, Thánh, Tiên, Phật.
                       Các bài này thỉnh nơi Tam Tông Miếu thuộc chi Minh Lý. 
            - Kinh Ngọc Hoàng Thượng Đế, ba bài dâng Hoa, dâng rượu, dâng trà, bài  Mừng thay và bài Trời còn dùng khi cầu cơ: do ngài  Ngô văn Chiêu đưa qua.
            - Kinh Tam giáo: Phật giáo, Tiên giáo, Nho giáo do ngài Ngọc Lịch Nguyệt chọn ra từ các bài Kinh của chi Minh sư.
          Bổn kinh nhật tụng do ngài Thái Thơ Thanh ấn tống, in tại nhà in Xưa và Nay năm 1926  gồm có các bài trên ( trừ Kinh cầu siêu và bài xưng tụng công đức). Đến 1927, bà Hương Thanh in lần nhì tại nhà in Union mới có thêm bài Kinh Ngũ nguyện vì bài này được các Đấng cho vào cuối năm Bính Dần.  
     
    Ngày 16.7.Bính Dần ( 23.8.1926 ): độ Hòa thượng Như Nhãn
     
            THÍCH CA MÂU NI PHẬT tá danh CAO ĐÀI TIÊN ÔNG
                            Đại Bồ Tát Ma Ha Tát   Giáo đạo Nam Phương
                Như Nhãn hiền đồ, nghe dạy:
            Vốn từ Đạo bị bế lại thì phần nhiều hữu công tu mà thành thì ít thành, Ta rất yêu thương. Hiền đồ có lòng giữ gìn Phật tông Chánh pháp, cái địa vị cao thượng của Ta ban cho hiền đồ từ thử là cốt để đợi cho tới ngày khởi định lập pháp Tam Kỳ Phổ Độ, cho hiền đồ có đủ quyền thế mà hành pháp với Ta.
            Thiên cơ khó lậu, nếu tỏ tường chơn pháp của Lôi Âm Tự và Bạch Ngọc Kinh ra thì chưa ắt ngày nào Đạo đặng mở, Tam giáo qui nhứt. Hiền đồ cũng hằng trông mong cho Đạo đặng vậy. Thánh đạo Gia Tô lập đạo sau hết mà Thánh quyền cao thượng là chừng nào? Tiếc cho Tiên đạo, Phật đạo là mối Đại đạo đã khai từ mới tạo Thiên lập Địa. Mỗi sự chi cũng hữu chung hữu thỉ, cái tận tất là đến cái cuối cùng, mà hễ cuối cùng chẳng dứt thì phải qui nguyên lại trước nên gọi là tuần hoàn. Ngày nay là buổi tuần hoàn Đại Đạo, Thiên Địa hoằng khai, Ta trông công hiền đồ mà lập thành cho nước Nam làm chủ nền Chơn đạo của Ta…
            Hòa thượng Như Nhãn, trước đây là thầy của ông Nguyễn ngọc Thơ và bà Lâm thị Hương, bằng lòng vào Đạo. Hòa Thượng Như Nhản ( Nguyễn văn Tường pháp danh Từ Phong )  hiến Từ Lâm Tự cho Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ làm Thánh Thất ( Thánh Thất Gò Kén tỉnh Tây Ninh). Đây là một ngôi chùa Phật-giáo thuộc phái Đạo Thiền, do Ngài Hòa-Thượng Như-Nhãn làm trụ-trì, đứng ra lạc-quyên xây cất chưa hoàn-thành, chỉ mới vỏn-vẹn có ngôi chánh điện. Ngài Như Nhãn và một số đồ đệ của Ngài nhập-môn vào Đạo Cao-Đài, nên hiến cho Đạo làm cơ-sở đầu-tiên của Tôn-giáo Cao-Đài.
            Trong ba tháng nền Đạo đặt cơ-sở Trung-ương tại đây, Đức Chí-Tôn đã giáng-cơ lập Pháp Chánh-truyền (Hiến-pháp của Đạo), tấn-phong Giáo-phẩm thành-lập Hội-Thánh Cửu-Trùng-Đài, Hiệp-Thiên-Đài để làm Thánh-thể của Ngài tại thế, và dạy Hội-Thánh lập Tân-luật để dâng lên Thiêng-liêng phê-chuẩn.
     
    Ngày 5.8. Bính Dần ( 11.9.1926 ) Lập Ðồng nhi để tụng kinh khi cúng Thầy
            Thầy dạy hai bà Trần thị Lựu và Nguyễn thị Hiếu tập cho 36 đồng nhi nữ; các ông Cư, Tắc, Sang, Phú dạy 36 đồng nhi nam cách đọc kinh khi cúng.
     
    Ngày 11 . 8 Bính Dần ( 17-9-1926 )
            Đức Chí Tôn dạy Giáo Hữu Thượng Kiệt Thanh (Nguyễn Văn Kiệt) làm 7 cái ngai; Giáo Sư Thái Bính Thanh làm Trái Càn Khôn có vẽ Thiên Nhãn để thờ.
     
    Ngày 12.8. Bính Dần ( 18.9.1926 ): Tam Kỳ Phổ Độ là Quốc Đạo
     
            "Thầy lại qui Tam giáo, Lập Tân Luật, trong Rằm tháng Mười có đại hội cả Tam giáo nơi Thánh Thất. Các con hay à ! Sự tế tự sửa theo Tam Kỳ Phổ Ðộ cũng nơi ấy mà xuất hiện ra, rõ à ! Thầy nhập ba chi lại làm một là chủ ý qui tụ các con trong đạo Thầy lại một nhà, Thầy làm Cha chưởng quản, hiểu à!Từ đây trong nước Nam duy có một Ðạo chơn thật là Ðạo Thầy, Thầy đã đến lập cho các con, gọi là QUỐC ĐẠO, hiểu à !”
     
    23 . 8 Bính Dần ( 29.9.1926 ) : lập Tờ Khai Đạo.
     
            Đức Chí Tôn ra lịnh cho Ngài Đầu Sư Lê Văn Trung, cùng với ông Cư và ông Lịch họp các môn đệ tại nhà ông Nguyễn Văn Tường ở hẽm 237bis đường Galliéni (nay là đường Trần Hưng Đạo) để lập Tờ Khai Đạo gởi lên nhà cầm quyền Pháp.
            Có mặt tất cả 247 vị nhưng khi ký vào Tờ Khai Đạo thì chỉ ký tên 245 vị, còn 2 vị chưa kịp ký. Tờ Khai Đạo nầy không phải là Đơn xin Khai Đạo, mà là Tuyên ngôn chánh thức thành lập Đạo Cao Đài.  Sau khi Ngài Lê văn Trung viết xong Tờ Khai Đạo bằng tiếng Pháp, vài ngày sau, lập đàn tại nhà Ngài Cư, Ngài Trung dâng Tờ Khai Đạo lên Đức Chí Tôn duyệt xét. Đức Chí Tôn biểu Ngài Cao Quỳnh Diêu đọc tên từ người trong danh sách, khi cơ gỏ tên tín đồ nào thì đưa tên ấy đứng vào TỜ KHAI ĐẠO tổng cộng có 28 vị được điểm danh.
            Về nội dung, Đức Chí Tôn phê rằng: Mấy con không nói một điều gì đến Thầy hết, nhưng thôi, cứ gửi đi. Thầy dặn con Trung, nội thứ năm tuần tới phải đến Le Fol mà khai cho kịp nghe.
    Ngày 1 . 9 Bính Dần ( 7.10.1926 ) : Nạp Tờ Khai Đạo.
     
    Ngài Lê Văn Trung vâng lịnh Đức Chí Tôn, đến dinh Thống Đốc Nam Kỳ nạp Tờ Khai Đạo cho Thống Đốc Nam Kỳ Le Fol, được Le Fol vui vẻ tiếp nhận văn kiện  nhưng không cam kết công nhận chính thức mối Đạo. Đây là một tờ tuyên-ngôn khai-sáng một Tôn-giáo mới lấy tên là là Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.
    Ngay những giới-chức cầm quyền người Pháp cũng xem đây là một tờ Tuyên-ngôn, vì chỉ đính-kèm một bản sao các Thánh-ngôn của Thượng-Đế dạy liên-quan đến việc lập Đạo, bản sao Kinh-nguyện, và một tờ Đạo-tịch mà thôi
     
            “Le 7 Octobre 1926, le Gouverneur de la Cochichine recoit la Déclaration Officielle de la Fondation du Caodaisme. Prudent il se contente d’en prendre acte, sans toute fois s’engager formellement à reconnaitre”
                                                                           
                                                                                Gustave Meillon 
     7 . 9 Bính Dần ( 13.10.1926 ): Phổ cáo chúng sanh
     
            Ngài Cư biên soạn và dâng tập “Phổ Cáo Chúng Sanh“ lên Đức Chí Tôn duyệt xét, được chấp thuận và cho phép ấn hành.
     
      18-9-Bính Dần ( 24.10.1926 ): Đức Chí Tôn giải thích về cách thờ phượng:
     
            Vì Tân luật chưa ra nên Thầy phải giải, đã có Thánh Tượng Thầy thì cốt Ngọc Hoàng còn để lại chẳng nghĩa chi hết. Thầy nói cho các con con rõ, vì cớ nào trước từ Nhứt Tổ chí Lục Tổ thì Thầy ngồi trước; vì trước là lớn phải vậy.
            Khai thiên địa vốn Thầy, sanh Tiên Phật cũng Thầy. Thầy đã nói một chơn thần mà biến hoá càn khôn thế giới và cả nhân loại. Thầy là chư Phật, chư Phật là Thầy. Các con là chư Phật, chư Phật là các con. Có Thầy mới có các con, có các con rồi mới có chư Thần, Thánh, Tiên, Phật..Nên Thầy khai bát quái mà tạo càn khôn thế giới nên mới gọi là Tăng. Thầy là Phật của Pháp và Tăng lập thành các Đạo, mà phục hồi các con hiệp một cùng Thầy. Thầy lập Phật giáo vừa khi khai Thiên lập Địa nên Phật giáo là trước, kế Tiên giáo, rồi mới tới Nho giáo. Nay Hạ ngươn ngươn hầu mãn, phải phục lại như buổi đầu, nên phải phản tiền vi hậu. Tỉ như Tam giáo qui nhứt thì : Nho là trước, Lão là giữa, Thích là chót. Nên Thầy phải ngồi sau chư Phật, Tiên, Thánh mà đưa chúng nó lại Vô vi chi khí, chính là Niết bàn đó vậy. "
     23.9.Bính Dần ( 29.10.1926 ) Ðức Chí Tôn trao quyền cho Ðức Lý Thái Bạch làm Giáo Tông.
            Đức Chí Tôn giao cho Ðức Lý Thái Bạch là Nhứt Trấn Oai Nghiêm kiêm Giáo Tông Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ và dạy rằng:
    Vậy từ đây, quyền thưởng phạt đã giao vào tay Lý Thái Bạch. Các con liệu mình mà cầu rỗi nơi người. Thầy dạy dỗ, các con không nghe, đợi có hình phạt thì các con chịu lấy.”
     
     Từ tháng 9 đến mùng 9.10 Bính Dần: phổ độ lục tỉnh
     
        Khai Ðạo xong rồi, các chức sắc lo việc phổ độ, truyền giáo miền Lục Tỉnh.
    - Quí ông Lê Văn Trung, Nguyễn Ngọc Thơ, Trần Ðạo Quang, lo phổ độ các tỉnh: Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Long Xuyên, Châu Ðốc, Hà Tiên, Rạch Giá. Ông Cao Quỳnh Cư và Phạm Công Tắc phò loan.
    - Quí ông Lê Văn Lịch, Nguyễn Ngọc Tương, Yết Ma Luật lo phổ độ trong mấy hạt: Chợ Lớn, Gò Công, Tân An, Mỹ Tho, Bến Tre.
            Ông Nguyễn Trung Hậu và ông Trương Hữu Ðức phò loan.
    - Quí ông Lê Bá Trang, Vương Quan Kỳ, Yết Ma Nhung lo phổ độ trong mấy hạt: Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Gia Ðịnh, Biên Hòa, Bà Rịa, Sa Ðéc.
            Ông Cao Quỳnh Diêu và ông Cao Hoài Sang phò loan.
    - Ông Nguyễn Văn Tương và ông Nguyễn Văn Kinh là người rõ thông đạo lý, đi khắp nơi giảng Ðạo để độ rỗi người quen.
    Kết quả cuộc truyền giáo, chỉ có hơn một tháng mà có mấy vạn người nhập môn cầu Ðạo. Mùng 10 tháng 10 là ngày tạm ngưng việc phổ độ, để lo sắp đặt lễ khánh thành Thánh Thất ở Từ Lâm Tự (Gò Kén, Tây Ninh).
     
    12 . 10 Bính Dần ( 16.11.1926 )
    Đức Chí Tôn dạy lập Lễ Khai Đạo nơi Thánh Thất Gò Kén trong 3 ngày: 14, 15 và 16.10 Bính Dần. Đức Chí Tôn phong thưởng 3 vị  Trang, Tương, Thơ lên làm Chánh Phối Sư ba phái.
     
    14 . 10 Bính Dần ( 18.11.1926 ): lập Tịch Đạo Nữ phái 
     
                                          Đức Chí Tôn lập Tịch đạo nữ phái:
     
                  "HƯƠNG TÂM NHỨT PHIẾN CẬN CÀN KHÔN,
                    HUỆ ĐỨC TU CHƠN ĐỘ DẪN HỒN.
                    NHỨT NIỆM QUAN ÂM THÙY BẢO MẠNG,
                    THIÊN NIÊN ĐẲNG PHÁI THỦ SANH TỒN”.
     
     Tạm dịch:                 Một tấm lòng thành hiểu Đạo sẽ gần được Trời Đất.
                          Đức sáng của người chánh tu  độ được linh hồn.
                          Một lòng niệm Quan Âm, tính mạng được bảo vệ.
                          Vĩnh cửu ngàn năm Nữ phái vẫn tồn tại
    và phong:          
                                - Bà Lâm Thị Thanh:  Giáo Sư Hương Thanh.
                    - Bà Ca Thị Thế:  Giáo Hữu Hương Thế.
     
            Đạo dưới thời Lý Giáo Tông thì Nam lấy chữ THANH, Nữ lấy chữ HƯƠNG làm tịch. Đến đời Giáo Tông kế thì Nam sẽ lấy chữ ÐẠO, Nữ lấy chữ TÂM.
    Trong tịch-đạo Thanh Hương này, phái Nam lấy chữ Thanh còn phái  Nữ lấy chữ Hương đặt vào tên tộc của mỗi chức-sắc, sẽ trở thành Thánh-danh.
            Ví dụ: Hương Hiếu là thánh danh của bà Nguyễn thị Hiếu.
    Còn Nam phái thì  sắc phái đặt trước, kế đến là tên tộc, sau cùng là tịch-đạo Thanh.
            Ví-dụ:  Dương văn Thế , đắc phong phái Thái,
                       Thánh-danh sẽ là Thái Thế Thanh.
     
            Riêng trong thời khai Đạo, có ba vị Đầu-Sư có Thánh-danh mang chữ: NHỰT, NGUYỆT, TINH,  là Tam bửu của trời:
     
       - Thượng Đầu-Sư  Thượng Trung NHỰT     ( Lê văn Trung)
       - Ngọc Đầu-Sư     Ngọc  Lịch       NGUYỆT  ( Lê văn Lịch )
         - Thái Đầu-Sư        Thái     Minh     TINH          ( Thiện Minh)
     
     Khi nào hết Tịch Đạo thì Đấng Chí Tôn sẽ giáng cơ cho Tịch Đạo khác. Lớn nhỏ, trước sau nhờ chữ Tịch Đạo này mà phân biệt. Đấng Chí Tôn lại giải:
     
            "Có kẻ hỏi : Thí dụ như đời Giáo Tông thì Tịch Đạo của chư Đạo hữu Nam Nữ đời trước, dù chức sắc hay tín đồ cũng vậy, có buộc phải thay đổi Tịch Đạo hay không? Ta nói : không, vì chính mình Giáo Tông kế vị cũng phải giữ Tịch Đạo trước. Kỳ dư những tín đồ của đời Ngài độ rồi , tức là chi tộc của Ngài mới đặng thay đổi mà thôi. Còn những chức sắc cùng là tín đồ của Giáo Tông đời trước còn sót lại thì thuộc về chi tộc của Giáo Tông ấy không đặng phép thay đổi Tịch Đạo.
            Tỷ như có Tân Giáo Tông sẽ lên kế vị cho Lý Giáo Tông thì cả tín đồ nam nữ mới nhập môn đều phải lấy Tịch Đạo TÂM.
            Dù trong hàng tín đồ ấy sẽ có một chơn linh xứng đáng địa vị Chánh Phối Sư, mà Thầy giáng cơ phong chức đi nữa thì cũng phải chịu Tịch Đạo TÂM như các tín đồ khác. Còn chức sắc và tín đồ trong đời Lý Giáo Tông còn lại thì giữ Tịch Đạo THANH  HƯƠNG  không đặng thay đổi."
     
    15. 10. Bính Dần ( 19.11.1926 ) cử hành Ðại Lễ KHAI ÐẠO ( Khai Tịch Ðạo ) tại Thánh Thất Gò Kén ( Từ Lâm Tự, Tây Ninh)
                            
                               Đêm nay giờ Tý, rằm tháng mười Bính Dần khởi  Đại Lễ
     
               KHAI MINH ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
           
           Buổi lễ này đánh dấu kết thúc giai đoạn Đức Thượng Đế giáng trần dùng cơ bút để độ dẫn chư chức sắc Tiền khai từ hạnh đức đến hiểu biết biểu tượng và nghi lễ thờ phượng; pháp môn, tôn chỉ và triết lý cho nền tôn giáo mới. Ý nghĩa buổi đại lễ là chính thức ra mắt việc khai sáng mối Đạo Trời trước nhân sanh.
            Buổi  lễ được tổ chức rất long trọng trong ba ngày 18-19-20/1926. với sự hiện diện của Toàn Quyền Ðông Dương, Thống Ðốc Nam Kỳ và nhiều viên chức cao cấp Pháp, Việt Nam được mời tham dự.  Ông Lê Văn Trung thay mặt cho Hội Thánh tiếp đãi khách một cách ân cần trọng hậu. Ngoài cúng phẩm ra thì không thâu tiền bạc của ai cả. Những ngày đầu khai đạo trên 20.000 người xin nhập môn cầu Ðạo.
            “Khi Đức Chí Tôn đến với chúng tôi, Đức Chí-Tôn mở ĐẠI-ĐẠO TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ chớ không phải mở Đạo Cao-Đài” và cũng nhờ dịch-bản có kèm theo chữ Hán làm bằng chứng, nếu không thì do sự  nhầm-lẫn của người Pháp, họ sẵn-sàng làm khó dễ, diệt Đạo từ khi còn trong thời kỳ trứng nước …” ( Lời của Đức Hộ Pháp)
     
    Hình-thức chữ Hán   大 道 三 期 普 渡.
     
     
    Sau đây là danh sách và ngày tháng các vị Chức sắc được Thiên phong trước khi khai Đạo chính thức.
     
     
     GIÁO TÔNG ( vô vi)          Nhứt Trấn Oai nghiêm               NGÀY THIÊN PHONG
       Đức Lý Thái Bạch                                                                          23.9.Bính Dần                            




    CHƯỞNG PHÁP



    Phái Thượng
    Nguyễn văn Tương (Đại lão sư, chi Minh sư)


    Thuyết Pháp Ðạo Sư Chưởng Quản Oai Linh Ðạo Sĩ
     


                24.07.Bính Dần.



    Phái Thái
    Như Nhãn
       (Hòa Thượng chùa Giác Hải)


    Quan Pháp Truyền Sư Thích Ðạo Chuyển Luật Linh Diệu Ðạo Sĩ
     


        29.7. Bính Dần (5.9.1926)



    Phái Ngọc
    Trần văn Thụ
    ( Thái Lão sư, chi Minh Sư )


    Nho Tông Chưởng Giáo Tuyến Ðạo Thuyền Sư Ðại Ðức Ðại Hòa Ðạo Sĩ


            Ngày 10-9-Bính Dần.



    ÐẦU SƯ



    Phái Thượng
    Lê  văn Trung


    Thượng Trung Nhựt


          Rằm tháng 3 Bính Dần.



     
    Phái Ngọc
    Lê văn Lịch


     
    Ngọc Lịch Nguyệt


     
           Rằm tháng 3 Bính Dần.



    Phái Thái
    H.T.Thiện Minh


    Thái Minh Tinh


    Ngày 13-10-Bính Dần.



    PHỐI SƯ



    Phái Thượng
    Nguyễn NgọcTương


    PHỐI SƯ, CHÁNH PHỐI SƯ
        Thượng Tương Thanh


     17.05.Bính Dần
    03.07.Bính Dần
     



    Lê văn Hóa


    Thượng Hóa Thanh


    19.08.Bính Dần.



    Phái Ngọc
    Lê Bá Trang              PHỐI SƯ, Q.CHÁNH PHỐI SƯ          03.07.Bính Dần
                                       Ngọc Trang Thanh



    Phái Thái
    Nguyễn Ngọc Thơ


    PHỐI SƯ, Q. CHÁNH PHỐI SƯ           Thái Thơ Thanh


     03.07.Bính Dần
     



    Phò Loan



    Ðức, Hậu


    Tiên Ðạo Phò Cơ Ðạo Sĩ


     



    Nghĩa, Tràng


    Tiên Ðạo Phò Cơ Ðạo Sĩ


     



    Tươi, Chương


    Tiên Ðạo Phò Cơ Ðạo Sĩ


     



    Kim, Ðãi


    Tiên Ðạo Phò Cơ Ðạo Sĩ


     



    Mai, Nguyên


    Tiên Ðạo Phò Cơ Ðạo Sĩ


     



    Mạnh, Phước


    Tiên Ðạo Phò Cơ Ðạo Sĩ


     



     
    Hiệp Thiên Đài
    1.Phạm Công Tắc


            
     
            HỘ PHÁP
    Hộ Giá Tiên đồng Tá Cơ Đạo sĩ


     
     
    15.3. Bính Dần



    2.Cao Quỳnh Cư


          THƯỢNG PHẨM
    Tá Cơ Tiên Hạc Đạo sĩ


    15.3. Bính Dần 



    3.Cao Hoài Sang


          THƯỢNG SANH

     


     15.3. Bính Dần



    Nữ Phái



    Lâm Thị Thanh


     GIÁO SƯ, ĐẦU SƯ
      Hương Thanh.


     14.10 Bính Dần



    Ca Thị Thế


     GIÁO SƯ
     Hương Thế.


     14.10. Bính Dần



    Ðường Thị
    Lê thị Ngân
     


    Ðã thọ Thiên sắc, cứ giữ địa vị mình.
    GIÁO SƯ


     

     
     
    Hòa thượng Như Nhãn đòi chùa lại.
             
            Vài ngày sau buổi lễ Khai Minh Đại Đạo, Hòa thượng Như Nhãn đòi chùa lại do áp lực từ phía đệ tử- những người đã đóng góp tiền bạc cho chùa; và từ phía chánh quyền Pháp ở Tây Ninh xúi giục do thấy buổi lễ Khai Đạo đông đảo ngoài sức tưởng tượng của họ, và cuối cùng do bản thân Hòa thượng đã không giữ vững đức tin.
            Ngài Đầu sư Thượng Trung Nhựt yêu cầu cho thời hạn 3 tháng, đến rằm tháng giêng Đinh Mão sẽ di dời. Hội Thánh chưa mua kịp đất thì Hòa thượng đưa đơn nơi tòa án tỉnh Tây Ninh để yêu cầu trục xuất. 
     
    16 . 10 Bính Dần ( 20 . 11 . 1926 )  lập Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài.
     
            “Thầy định-quyết cho Người ( Giáo-Tông ) có quyền dạy-dỗ mà thôi, song quyền-hành có rộng thêm đôi chút là dạy-dỗ trọn cả đường Đạo và đường đời. Nghĩ cũng chẳng chi làm lạ, vì cả Chức-sắc Hội-Thánh Cửu-Trùng-Đài của Thầy lập, phải tùy theo tôn-chỉ Đạo, nghĩa là xu-hướng về phần giáo-dục mà thôi. Thầy đã xưng là Thầy đặng dạy-dỗ, còn tên của Chức-sắc đủ chỉ rõ-ràng phận-sự giáo-hóa, là chánh vai của mỗi người, như Giáo-hữu, Giáo-sư, Phối-sư, Đầu-sư, Giáo-Tông…Xem rõ lại thì tên mỗi vị chẳng mất chữ “Giáo” hay chữ “Sư”. Cơ Đạo từ cổ chí kim vẫn vậy, lại hiệp lời này “Thiên mạng chi vị tánh, suất tánh chi vị Đạo, tu Đạo chi vị giáo”. Thầy chỉ cậy Hội-Thánh Thầy đã đến lập, thay quyền cho Thầy  mà dạy-dỗ cả con cái của Thầy, nghĩa là chúng-sanh đặng lành, ấy là phận-sự cần nhứt của Hội-Thánh đó”                                                                                                  (PCT)
     
    26 . 10 Bính Dần ( 30.11.1926 ): Từ Giáo hữu trở lên phải do hai Ngài Cư, Tắc
     
    Đức Lý dạy: Bần đạo dặn Cư, Tắc rằng chọn Lễ sanh mấy cặp kia chọn đặng, duy từ chức Giáo hữu trở lên thì tại nơi cặp cơ Phong Thánh của nhị vị Hiền hữu mà thôi.
     
    2.11. Bính Dần ( 6.12.1926 ):
            Nghe Thầy dạy: Khởi đầu lập luật tu gọi là  Tịnh Thất Luật, lập luật trị gọi là  Đạo- pháp Luật, lập luật đời gọi là  Thế -Luật
     
    13.12 Bính Dần ( 16.1.1927 ): lập Tân luật
            Tân Luật lập xong, ba Chánh Phối Sư thay mặt Hội Thánh, đủ 6 bàn tay cầm bộ luật dâng lên ba Đầu Sư, ba  Đầu Sư cũng đủ 6 bàn tay tiếp luật rồi dâng lên ba Chưởng Pháp, ba Chưởng Pháp tiếp luật dâng lên Đức Lý Giáo Tông, đặt tại tượng của Ngài. Ngày hôm sau, Đức Lý mượn hai vị Đầu Sư lên đại điện cầm bộ luật nơi tượng của Ngài, đem giao cho Hộ Pháp. 
     
                                    Đạo lịch 2 - Năm Đinh Mão (1927)
     
    01.1   Đinh Mão ( 2.2.1927 ) Đức Lý Giáo Tông lập Pháp Chánh Truyền nữ phái Cửu Trùng Đài.
            Kiểm điểm một năm truyền đạo, độ được 40. 000 tín đồ.
     
    14.1 Đinh Mão ( 15.2.1927 ): Cơ phong thánh nữ phái lần thứ nhứt gồm có 38 vị 

    PHỐI SƯ
    Lâm Ngọc Thanh, Lê thị Ngân ( thường gọi là cô sáu Minh Đường)
    GIÁO SƯ
    Bùi thị Giàu                        ( bà Phủ Tương)
    Trịnh thị Huệ                    ( bà thân Ngài Cao Quỳnh Cư )
    Nguyễn thị Hiếu               ( bạn đời Ngài Cao Quỳnh Cư )
    Đãi thị Huệ                       ( bạn đời Ngài Lê văn Trung )
    Huỳnh thị Hồ                    ( ái nữ của bà Lâm Ngọc Thanh )
    Lê thị Lộc                         ( cô của ông Phủ Tương)
    Huỳnh Khiếu Chênh, Đào thị Bốn
     
    GIÁO HỮU
    Trần  thị Chọn                   ( thân mẫu Ngài Lê Thế Vĩnh )
    Nguyễn thị Hương             ( ái nữ Ngài Nguyễn Ngọc Thơ )
    Nguyễn  thị Huyền            ( ái nữ Ngài Nguyễn văn Tương )
    Trần thị Lựu                       ( bạn đời Ngài Cao Quỳnh Diêu )
    Nguyễn thị Nhiều               ( bạn đời Ngài Phạm Công Tắc )
    Trương thị Tròn                 ( bạn đời ông Trần văn Tạ )
    Ca thị Thế                          ( ái nữ Ngài Ca Minh Chương )
    Lâm thị Tiếng                      ( ái nữ Ông Lâm Quang Bính)….
     

    12.1 Đinh Mão  ( 13.2.1927 ) Đức Chí Tôn lập Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Đài.
     
            - Phong chức cho Thập nhị Thời Quân.
     
    18.1.Đinh Mão ( 19.2.1927 ) trả Từ Lâm Tự, lập Tòa Thánh tại làng Long Thành,Tây Ninh
             Hội Thánh đã được cơ bút Thiêng liêng cùa Đức Lý hướng dẫn, đến tìm mua lại một khu đất 96 mẫu, còn rừng rậm hoang vu, của một người Pháp tại làng Long Thành. Tại đây, Hội Thánh và những tín đồ buổi đầu đã xây cất Đền Thánh và các dinh thự để làm cơ quan Trung ương của tôn giáo Cao Đài, truyền bá mối Đạo Trời trên khắp thế-gian. Ðức Lý Thái Bạch giáng cơ tại Thánh Thất Gò Kén dạy Ngài Thượng Ðầu Sư Lê văn Trung ( Thượng Trung Nhựt ) rằng :
            " …Lão nhứt định trả lại chùa nầy. Song, trước khi trả, phải cất Thánh Thất cho xong y như  lời dạy. Chư đạo hữu phải hiệp sức nhau đặng lập  thành Tòa Thánh. Chi chi cũng ở tại Tây Ninh này mà thôi, vì là Thánh Địa, vả lại phong thổ thuận cho nhiều nước ngoại quốc đến đây học Đạo. ”
            Đến ngày 19.1. Đinh Mão ( 20.2.1927) Đức Chí Tôn cũng định quyết:
                                 Chi chi cũng tại Tây Ninh đây mà thôi.
     
     23.1 Đinh Mão ( 24.2.1927 ): Thánh địa có Lục Long phò ấn
     
           Hội Thánh xem đất xong, tối lại cầu Đức Lý. Đức Lý khen, nói đất ấy là Thánh địa: Lão cắt nghĩa vì sao cuộc đất ấy là Thánh địa: sâu hơn 300 thước, như con sông giữa trung tim đất giáp lại trúng giữa 6 nguồn làm như 6 con rồng đoanh nhau, nguồn nước ấy trúng ngay đỉnh núi, gọi là Lục Long phò ấn.
     
    27.1 Đinh Mão ( 28.2.1927 )
     
    Đức Lý Giáo Tông dạy kích thước xây cất Tòa Thánh, và phải mua Bàu Cà Na để làm Động Đình Hồ. Đức Chí Tôn giáng dạy:
     Cả chư Thần Thánh Tiên Phật đều để mắt xem các con đua nhau trên đường Đạo, các con liệu lấy mà giữ mình. Thầy để một lời này cho các con yên dạ, dầu cho ai có quyền phép tiêu diệt Càn Khôn đi nữa, cũng khó ngăn được Đạo Thầy. Như ai buộc các con đóng cửa chùa thì cứ tuân mạng. Đợi chừng nào các sắc con cái Thầy đến mở cửa sẽ hay.
     
    5.2.Đinh Mão ( 8.3.1927 ) : Đạo là Đạo, còn chính trị là chính trị
     
            Tại Từ Lâm Tự, Ðức Chí Tôn giáng cơ dạy  Thánh Lịnh :
            "Thầy tưởng các con đã hiểu vì cớ nào Chính Phủ Lang-sa nghi ngờ như vậy. Vì các con chẳng tỏ ra rõ ràng rằng Đạo là Đạo, còn chính trị là chính trị. Các con chỉ vì Đạo làm phận sự của các con. Các con cũng chỉ biết Đạo mà thôi. Các con cũng nên bạo gan mà nói trước mặt vạn quốc cùng chính phủ rằng các con là người Đạo biết giúp đỡ nhơn sanh, dạy dỗ nhơn sanh, chớ chẳng biết chính trị là gì. Dầu ai buộc các con cam đoan thì Thầy tưởng các con cũng không ái ngại. Trong Đạo duy có một điều làm cho chánh phủ không vừa lòng là mỗi nước muốn cho phân cách nhau mà đạo lại hiệp thì các con cũng nên làm ơn nói với người Lang-sa rằng nhờ Đạo mà các sắc dân đặng yêu mến nhau ; phải lấy sự yêu mến mà buộc tình người thì quyền hành kia mới bền vững  ...
    Ngài Thượng Trung Nhựt vâng theo Thánh Lịnh đến Thống Ðốc Nam Kỳ gặp Blanchard de La Brosse để kêu nài sự bắt bớ, và cho in bố cáo cùng chư đạo hữu .
     
     7.2.Đinh Mão ( 10.3.1927 ): người nhập Đạo phải minh thệ.
             Tân luật đã ban hành, những môn đệ mới phải lập thệ mà nhập Đạo. Như ngày nay về sau không cơ bút thì cứ theo Luật mà hành sự đến ngày Thầy định đoạt sẽ hay.
     
     13.2. Đinh Mão (16.3.1927 ) di chuyển cốt tượng Phật Thích Ca
     
             Vào lúc 6 giờ chiều, khởi thỉnh cốt tượng Phật Thích Ca đi từ Gò Kén về đến đất mới ở Long Thành đúng 2 giờ sáng, do Tín hữu Cao Ðài Miên Quốc phụ trách .
     
    20.2. Đinh Mão (23.3.1927 ) Hội Thánh rời khỏi chùa Từ Lâm Tự về vùng đất mới mua, làng Long Thành, quận Phú Khương, tỉnh Tây Ninh .
     
             Chức sắc Thiên Phong cùng toàn đạo khởi nghiệp công quả phá rừng xây dựng Tòa Thánh lập Thánh Ðịa, dưới sự quản lý của Ngài Cao Quỳnh Cư. Ngài Chánh Phối Sư Nguyễn Ngọc Thơ ( Thái Thơ Thanh ) phụ trách tiếp tế lương thực và nhu yếu phẩm. Hằng vạn tín đồ Cao Ðài thi đua làm công quả không phân biệt mầu da và ngôn ngữ. Nền chánh trị thuộc địa bởi Pháp Quốc nhận thấy Ðạo Cao Ðài đem tín ngưỡng truyền bá chân lý Công bình, dân chủ, tự do cho dân tộc Việt Nam tạo một môi trường giác ngộ mới nên bắt đầu dùng những biện pháp khủng bố và nghiêm cấm đạo Cao Ðài ở khắp nơi.
     
     12.4 Đinh Mão ( 12.5.1927 ) Văn hào Victor Hugo giáng cơ xưng là Chưởng Ðạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn.
                   Ngài cho biết nay nhận sắc chỉ của Ngọc Hư Cung đến làm Chưởng Giáo cho nhơn loại buổi Hạ nguơn nầy, tạo lập Hội Thánh Ngoại Giáo ( Mission Étrangère ) và ký " THIÊN NHƠN HÒA ƯỚC” cùng với Ngài Tôn Trung Sơn và Ngài Nguyễn Bỉnh Khiêm.
    Cùng ngày này, Đức Chí Tôn ban chức Phối Sư Phái Thái cho ông Đốc Phủ Nguyễn văn Ca.
     
     16.5 Đinh Mão ( 15.6.1927 ) Ðức Chí Tôn  ngưng cơ bút phổ độ.
           
           Trong thời-kỳ tiền khai Đạo Cao-Đài, Thương-Đế đã giáng-linh dùng cơ bút thâu nhận lương-sanh lập thành Thánh-thể của Ngài tại trần gian tức là Hội thánh. Đến 15 tháng 06 năm 1927, Đức Chí Tôn ban lịnh không dùng cơ bút để thâu nhận tín đồ nữa, mà công việc phổ độ chúng sanh giao lại cho Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ căn-cứ vào Pháp Chánh Truyền,Tân Luật và Thánh ngôn, Thánh giáo. Chỉ  duy trì cơ bút tại Tòa Thánh Tây Ninh do Đức Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh và Thập nhị Thời Quân phò cơ trong những trường-hợp đặc-biệt có liên-quan đến Đạo-pháp mà Hội-Thánh không thể giải-quyết được mà thôi.
    " Từ nền Ðạo khai sáng đặng gieo truyền mối Thánh giáo đến nay thì phần nhiều môn đệ đã trọn tất thành mà dìu dắt sanh linh và đấp vun mối Ðạo Trời. Ấy là những đứa Thầy đã tin cậy đặng gia công dọn lối chông gai để mở trống nẻo thiêng liêng, dẫn lần nhân sanh khỏi sông mê, bến khổ. Cuối kỳ tháng 6 Âl thì Thầy  ngưng hết cơ bút truyền Ðạo. Các con phải lấy hết chí thành để un đúc bấy lâu mà lần hồi lập cho hoàn toàn mối Ðạo. Này là mấy lời đinh ninh sau rốt khá lưu tâm. Ai vạy tà nấy có phần riêng, cứ giữ nẻo thường đường ngay bước đến thẳng thiêng liêng, chờ ngày hội hiệp cùng Thấy. Ấy là điều quí báu đó ! ”
     
     29 . 6 Đinh Mão  ( 27.7.1927 ): lập HỘI THÁNH NGOẠI GIÁO
     
            Ngài Phạm Công Tắc làm việc ở sở Thương Chánh, Sàigòn. Đến cuối tháng 3 Đinh Mão là hết hạn nghỉ phép 6 tháng. Chính quyền không muốn Ngài ở Sàigòn nên đổi lên Nam Vang. Ngài tạm trú tại nhà ông Cao Đức Trọng, kế bên là nhà ông Trần Quang Vinh. Đến ngày 29.6 Đinh Mão( 27.7.1927) Đức Chí Tôn mới phong chức sắc đầu tiên tại Nam vang:
                          “ Bảy, Lắm, Sự, Thầy phong cho ba con chức Giáo Hữu.
                           Chữ, Vinh, Của, Thầy phong cho ba con chức Lễ Sanh.”
    Đức Hộ Pháp lập Cơ quan Truyền giáo Hãi ngoại, thường gọi là Hội Thánh Ngoại Giáo của Cao Đài ( Mission Étrangère du Caodaisme), cử Giáo Hữu Thượng Bảy Thanh làm Chủ Trưởng, trụ sở đặt tại Nam Vang, thủ đô của nước Cam Bốt, dưới quyền chưởng quản của Đức Chưởng Đạo Nguyệt Tâm Chơn Nhơn.
     
     30.10. Đinh Mão (23.11.1927 ) phát hành Thánh Ngôn Hiệp Tuyển
     
            TNHT. in lần thứ nhứt, nội dung là những lời vàng ngọc do Ðức CAO ÐÀI THƯỢNG ĐẾ và các chư Thần, Thánh, Tiên, Phật dạy nhân loại từ ngày 24/12/1925 đến 15/10/1927; và sau in thêm cuốn thứ hai gồm những bài dạy đến ngày 13/11/1935 ( toàn bộ hai cuốn ).
     Ngày phát hành, Ðức Hộ Pháp dạy :
     " Quyển Thiên Thơ của Ðức Chí Tôn để lại thế gian nầy, Ngài giao cho con cái của Ngài gìn giữ mà làm của báu không gì bằng, tức là Quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển. Những lời dạy vàng ngọc của Thầy Thượng Ðế đã được ghi vào bộ Thiên Thơ. Chúng ta phải thận trọng tôn kính và nghiêm chỉnh tuân theo mới tròn hiếu Ðạo.  
              
    Đạo lịch 3 - Năm Mậu Thìn (1928)
     
     26 . 2 . Mậu Thìn ( 15.4.1928 )
     
          Đức Cao Thượng Phẩm bị bịnh nặng, Đức Chí Tôn giao cho Đầu sư Thượng Trung Nhựt chưởng quản Toà Thánh. Từ trước, Ngài Thượng Đầu Sư tuy là chức sắc cao cấp bên Cửu Trùng Đài nhưng phải phổ độ khắp lục tỉnh. Còn Đức Hộ Pháp lo mở Đạo ở Kim Biên ( Nam Vang), Ngài Ngọc Lịch Nguyệt đi lập các Tịnh Thất ở các nơi. Tại Toà Thánh chỉ có Đức Cao Thượng Phẩm và Giáo sư Thái Bính Thanh lo việc xây dựng Toà Thánh tạm .
                                           
    Đạo lịch 4 - Năm Kỷ Tỵ (1929)
     
    1 . 3 Kỷ Tỵ  ( 10.4.1929 )  Đức Cao Thượng Phẩm mất
            Đức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư đăng Tiên, lúc 11 giờ trưa. Ngài thọ 42 tuổi.
            Bài thơ Ngài cho được dùng làm bài thài hiến lễ:
                                                  Ngoảnh lại mà  đau cảnh đoạn tràng,
    Cõi Thiên mừng đặng dứt dây oan.
    Nợ trần đã phủi lòng son sắt,
    Ngôi vị nay vinh nghĩa đá vàng.
    Cởi tấm chơn thành lòa nhựt nguyệt,
    Phơi gan chí sĩ nhuộm giang san.
    Bốn mươi hai tuổi sanh chưa phỉ,
    Để mắt xanh coi nước khải hoàn                                             
     
    8 . 3 Kỷ Tỵ  ( 17.4.1929 )
     
          Đức Lý Giáo Tông thăng bà Phối Sư Hương Thanh lên phẩm Nữ Chánh Phối Sư.
     
    15 .5 Kỷ Tỵ  (  21. 6. 1929 )
            Đức Chí Tôn duyệt và chấp thuận cuốn “ Nghi Tiết Đại Đàn và Tiểu Đàn” và ba bài Dâng Tam Bửu mới do Tiếp Lễ Nhạc Quân Cao Quỳnh Diêu đặt ra để thống nhất về nghi lễ của Đạo, nhưng đến ngày 17.6.Canh Ngọ (12.7.1930), Ngài Thượng Đầu Sư mới ban hành.
    “…Đạo là chánh lý mà chánh lý thì có một, nên cách hành lễ của Đạo phải y nhau như một mà thôi. Ai canh cải bày biện coi cho huê mỹ thì tội trọng. Từ đây, nếu còn đạo hữu nào không biết hành lễ thì lỗi về Giáo Hữu, Lễ Sanh, Chánh Phó Trị Sự và Thông sự.”
     
                              Đạo lịch 5 - Năm Canh Ngọ (1930)
     
     17.1.1930 Hội Thánh Ngoại Giáo thuộc Tòa Thánh Tây Ninh khởi công xây cất:
     
            Văn phòng HTNG được xây cất trên một diện tích bề dài 200 thước, bề rộng 100 thước do ông Groslier người Pháp bán lại cho Lễ sanh Thượng Vinh Thanh 400 đồng. Lễ sanh Thượng Vinh Thanh hiến lại cho Hội Thánh Ngoại Giáo làm Thánh Thất, cách chợ Nam Vang một cây số, mãi đến 21-23/5/1937 mới làm lễ khánh thành và kỹ niệm ngày Victor Hugo đăng Tiên.
            Thánh Thất tọa lạc tại số 226 Phlauv Preak Bat  Norodom, Phnom-Penh.3
     
    3.10. Canh Ngọ ( 22.11.1930): Đầu Sư Thượng Trung Nhựt được phong Quyền Giáo Tông:
            Ðức Lý Giáo Tông hiệp với Đức Phạm Hộ Pháp ban hành 6 Ðạo Nghị Ðịnh để chỉnh đốn nền Đạo. Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt được Đức Lý Giáo Tông chính thức ban quyền hành thay mặt cho Ngài mà thi hành các phận sự Giáo Tông về phần xác, còn phần thiêng liêng Đức Lý giữ.
     27/11/1930  Tòa Thánh ra châu tri số 61 lập sổ bộ toàn đạo trên 350.000 tín hữu và 105 Thánh Thất toàn quốc, xây dựng hạ tầng cơ sở, tổ chức hành chánh đạo…         28/11/1930 Ðức Lý Giáo Tông giáng lịnh ban hành Thập hình, tức là phạm Pháp Chánh Truyền và Ðạo Nghị Ðịnh.
            29/11/1930 Khai giảng khóa Hạnh Ðường đầu tiên đào tạo Giáo hữu và Lễ sanh, mỗi khóa 20 vị thời gian 15 ngày.
     
    02.10    Canh Ngọ ( 21.11.1930 ): giao quyền Thượng Phẩm cho Đức Hộ Pháp
     
            “Qua vâng mạng Thầy đến truyền quyền Thượng Phẩm cho em…Những chức sắc nào chẳng thọ phong nơi cơ phong Thánh thì chẳng bảo hộ”
     
    03.10  Canh Ngọ (  22.11.1930 ): Đức Lý Giáo Tông hiệp với Đức Phạm Hộ Pháp lập 6 Đạo Nghị Định để chỉnh đốn nền Đạo
            Đức Lý Giáo Tông hiệp cùng Đức Phạm Hộ Pháp lập 6  Đạo Nghị Định, từ  Đạo Nghị Định 1 đến 6. Đặc biệt, trong Đạo Nghị Định 2, Đức Lý ban cho Đầu Sư Thượng Trung Nhựt cầm quyền Giáo Tông tại thế.
            Ban quyền hành cho Thượng Đầu Sư thay mặt cho Lão mà thi hành các phận sự Giáo Tông về phần xác, còn phần Thiêng liêng có Lão
     
    08.10 Canh Ngọ ( 27.11.1930 ) Tòa Thánh ra châu tri số 61 lập sổ bộ toàn đạo trên 350.000 tín hữu và 105 Thánh Thất toàn quốc.
            Xây dựng hạ tầng cơ sở, tổ chức hành chánh đạo, lập Nông, Công, Lương, Thương, Phòng trù, Văn hóa, Xã hội, Bệnh viện, Khoa học, Kỹ Thuật, Mỹ thuật, Giáo dục, Âm nhạc, Hạnh đường, Nhà in, Ðài phát thanh và phố xá Thánh Ðịa rộng trên 246 mẫu đất.
     
    10.10 Canh Ngọ ( 29.11.1930 ): Khai giảng khóa Hạnh Ðường đầu tiên
           Dành riêng cho Giáo hữu và Lễ sanh theo học, mỗi khóa 20 vị, thời gian 15 ngày.
     
    05.11 Canh Ngọ ( 24.12. 1930 ): Đức Lý tái thủ quyền hành.
             Trước đây, Đức Lý vì không thi hành quyền Giáo Tông được nên xin với Đức Chí Tôn được từ chức. Nguyên do có vài Chức sắc muốn thành lập chi phái, không tùng mạng lịnh của Hội Thánh Tây Ninh. Đó là các ông Nguyễn văn Chính, Vương Quang Kỳ, Nguyễn văn Ca. Đức Lý muốn trục xuất nhưng bị Đức Chí Tôn cản vì lòng từ bi muốn kêu gọi các vị ấy hồi tâm. Sau một thời gian, không thấy ai trở về nên Đức Chí Tôn phải triệu Đức Lý trở lại cầm quyền Giáo Tông để xử trị những chức sắc không tuân theo luật pháp Đạo.
     
    30.11 Canh Ngọ ( 18.12.1930 )
            Đức Lý Giáo Tông ban cho Thập Hình để Tòa Đạo xử phạt Chức sắc và Đạo hữu vi phạm luật pháp của Đạo ( Pháp Chánh Truyền, các Đạo nghị định )
     
     
    Đạo lịch 6 - Năm Tân Mùi (1931)
     
    28.2. Tân Mùi ( 15.4.1931 ) Lễ đặt viên đá xây Ðền Thánh chính thức
           Đền Thánh xây bằng xi măng cốt sắt, dưới sự trông coi của Đức Hộ Pháp Phạm công Tắc.
     
    0 1.3.Tân Mùi ( 18.4.1931 ):  châu tri 15 nhắc nhở chức sắc.
           Đức Quyền Giáo Tông ra châu tri nhắc nhở: nhiều chức sắc Thiên phong tự tôn, tự đại, chấp bút cầu cơ, rồi in Thánh ngôn, kinh sám không màng không do Hội Thánh. Như quyển Tu Chơn thiệp quyết, Thánh giáo chơn truyền, Thánh ngôn về chánh tà yếu lý cũng lấy danh là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đề ngoài bìa cho chư Đạo hữu lưỡng phái và nhơn sanh tưởng lầm của Đại Đạo Tam Kỳ làm ra…
     
    04.10. Tân Mùi ( 13.11.1931 ) Ngài Godwin. gửi thư cho Ngài Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt ( Lê văn Trung )
                                                                      Ký tên GODWIN
            Thánh Cha và Trưởng Lão của Giáo Hội  Église Gnostique Ðức Quốc
            Grand Maitre de l'Ordre des Chevaliers de la Rose mystique.
                             Ðịa chỉ: H.GodwinStuermer Tuets (Grenzmard) Allemagne
                                                 
    15.10.Tân Mùi ( 24.11.1931 ): Đại hội nhơn sanh lần thứ nhất
     
            Chánh Phối sư Thượng Tương Thanh trình bày Đạo sự, cho biết số tín đồ có ghi trong sổ bộ là 350.000 người, cất được 62 Thánh Thất và 42 Thánh Thất lập nơi nhà của Đạo hữu hiến cúng, tổng cộng là 105 Thánh thất ở Nam kỳ. …Hội Thánh mua được 96 mẫu để làm Thánh địa cất Tòa Thánh và các viện, một sở kế cận 50 mẫu để cho Đạo hữu cất nhà ở và lập nghĩa địa,…một sở ruộng 100 mẫu tại Bến Sỏi, Tây Ninh để làm của chung trong Đạo.
     
    26.10.Tân Mùi ( 5.12.1931 ): Châu tri 35 qui định 7 Đại lễ: 
     
    ·            Vía Đức Chí Tôn ……..                                       mùng 9 tháng giêng Âm lịch.
    ·            Vía Đức Thích Ca…….                                       mùng 8 tháng 4 Âm lịch
    ·            Vía Đức Thái Thượng Lão Tổ…….                      14 tháng 2 Âm lịch.
    ·            Vía Đức Chúa Jésus Christ giáng sanh….              25.12 Dương lịch
    ·            Vía Đức Văn Xương Đế Quân Khổng Phu Tử chuyển kiếp…27.8 Âl
    ·            Vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu…..                            15.8 Âm lịch
    ·            Kỷ niệm lễ Khai Đạo…… ………..    …………15.10 Âm lịch.
     
    Đạo lịch 7 - Năm Nhâm Thân (1932)
     
     13.3 Nhâm Thân  (  18.4.1932 ): Ngài Ngô văn Chiêu qui liễu
            Ngài Ngô Văn Chiêu qui liễu khi ngồi xe du lịch qua phà Cần Thơ, định đi về Tân An. Năm đó, Ngài 55 tuổi. Đám tang của Ngài tổ chức rất long trọng tại Cần Thơ.
     
    18.5 Nhâm Thân  ( 21.6.1932 ) Kinh Tán tụng công đức Diêu Trì Kim Mẫu
            Ngài Bảo Văn Pháp Quân theo lịnh của Đức Hộ Pháp, viết bài Kinh “Tán Tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu” lấy ý từ bài thi của Phật Mẫu
                            “ Từ Hỗn độn, Chí Tôn hạ chỉ,..”
     
    28.11 Nhâm Thân ( 25.12.1932 ): họp Thượng hội tại Tòa Thánh sắp đặt việc Đạo
     
            Quyền Ngọc Đầu sư Ngọc Trang Thanh đọc thơ của Đức Quyền Giáo Tông gửi cho 4 Chánh Phối sư và đề nghị phân quyền để tránh bất hòa. Các chức sắc Đại Thiên Phong cầu hỏi Đức Lý và được dạy: muốn cho đủ chức sắc bây giờ thì chưa tiện vì nhơn cách chưa một ai được gia tăng phẩm vị…Sau đó Đức Quyền Giáo Tông mời hết chư Thiên phong đặng bàn luận và quyết định như sau:
    -   Quyền Giáo Tông không còn quyền Thượng Đầu sư.
    -   Ba ngôi Chưởng Pháp thì do các vị Hiệp Thiên Đài thay thế.
    -   Ba vị Quyền Đầu sư Thượng Tương Thanh, Ngọc Trang Thanh và Thái Thơ Thanh ở địa vị Đầu sư mà thôi.
    -   Ba chức Chánh Phối sư chưa có ai thì Quyền Giáo Tông phải lo chọn gấp,…Hiện có một vị đã được Đức Chí Tôn phong rồi là Phối sư Thượng Hóa Thanh.
    -     
    Ngày 29.12.1932: có người Việt nam đến thì Đạo mới thành
     
            Đức Lý Giáo Tông dạy: Thiên ý đã định vậy, bất kỳ nơi nào, hễ có dấu chơn người Việt Nam đến thì Đạo mới thành được.
                           
     
                                       Đạo lịch 8 - Năm Quí Dậu (1933)
     
              Vào đầu năm Quí Dậu, bổ nhiệm vị chức sắc đầu tiên ra truyền Đạo tại miền Bắc Việt nam. Đó là Giáo hữu Thượng Tuất Thanh ( Nguyễn văn Tuất). 
     
    28.2 Nhâm Thân ( 4.3.1932 )
             Ông Ernest Outrey là luật sư tòa án Sàigon trực tiếp can thiệp chính phủ Ðông Dương và chính phủ Pháp Quốc, được quyền tự do truyền bá tín ngưỡng Ðạo Cao Ðài ở khắp nơi.
     
    4.2 Nhâm Thân ( 10.3.1932 ) Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ truyền vào nước Pháp
     
              Những nhà trí thức yêu mến tinh thần đại đồng, chân lý Từ Bi Bác Ái Công Bình như: Luật sư Tozza tòa thượng thẩm Paris khởi đầu mở ra một trang sử mới của Đạo Cao Ðài tại Pháp, ông qui tụ và diễn thuyết soi sáng chân lý ánh Đạo Cao Ðài.
    Ông Charles Bellan và ông Abadi de Lestrac nhập môn cầu đạo được Thiên phong chức Giáo hữu. Những tín đồ Cao Ðài ở phương Tây đem tất cả lòng thành kính, phụng sự Thượng Ðế và xin Tòa Thánh Tây Ninh thành lập Hội Thánh Ngoại Giáo tại Paris để hoạt động tín hữu Cao Ðài Âu Châu. Ngoài ra, có những tờ báo dành nhiều cột lớn chuyên đề về tín ngưỡng đạo Cao Ðài như sau: La Presse Indochinoise, La Libre Opinion,  Progrès Civique, Droits de l'Homme,  Revue Spirite,  L'Au-de là.
     
    26 . 2 Quí Dậu  ( 21.3.1933 ): Bà Đoàn Thị Điểm viết quyển Nữ Trung Tùng Phận.
             Đức Hộ Pháp và Tiếp Thế Lê Thế Vĩnh phò loan. Về sau, Ngài Cao Tiếp Đạo, thay Ngài Tiếp Thế  phò  loan  cùng  Đức Hộ Pháp để  Bà  viết  tiếp phần  Học Đạo
     
    20. 9  Quí Dậu  ( 7. 11. 1933 ) :  tà  quái mượn danh Cao Đài
     
            Đức Hộ Pháp thắc mắc không biết tại sao khắp nơi đều có cơ bút, mà mỗi lần đều xưng danh Thầy? Đức Chí Tôn dạy:  Duy có ngôi của Thầy chúng nó không dám dựa, chớ danh Đạo Thầy nó có phép dùng, nên dặn rằng: đừng nghe Cao Đài nơi này, Cao Đài nơi khác, mà tin cho ra thất thệ. Đến đỗi hồn ma Chiêu chúng nó cũng còn lợi dụng lừa gạt các con thay, thì còn danh ai mà từ bỏ.
     
    1.10 Quí Dậu  ( 18.11.1933 ): một tín đồ đắc Thánh
            Ông Phạm Văn Màng, Cai sở Bàu Sen thuộc Phạm Môn, mất tại Sở Quảng nghệ do bịnh nặng, thọ 46 tuổi. Thần Hoàng làng Long Thành báo cho biết ông Màng đắc Thánh vị, gọi là Phối Thánh Phạm Văn Màng.
     
    27.10 Quí Dậu ( 14.12.1933 ) Khai trừ khỏi Thượng giới kẻ nào vi phạm luật Hội Thánh
            Đức Chưởng Đạo Nguyệt Tâm hay Victor Hugo cho biết: phán quyết của Ngọc Hư Cung lên án khai trừ khỏi Thiên Đường tất cả những người nào vi phạm kỷ luật của Hội Thánh.
    29.12 Quí Dậu  ( 12.2.1933 ): Hiệp Thiên Đài cầm quyền Đạo
     
    - Bát Quái Đài là linh hồn.
      - Cửu Trùng Đài là xác thịt.
         - HiệpThiên Đài là chơn-thần.
            “Hồn đặng tương-hiệp cùng xác phải nhờ chơn-thần. Chơn-thần lại là bán hữu-hình tiếp vô-vi mà hiệp cùng hình thể, cũng như Đạo tiếp Thánh-Đức của các Đấng thiêng-liêng mà rưới chan cho nhơn-loại”.
    Bát Nương và Lục Nương giáng cơ báo cho biết Ngọc Hư Cung trở Pháp, truất quyền của Cửu Trùng Đài, giao cho Hiệp Thiên Đài cầm quyền nền Đạo, bởi vì:
     
                           “Cửu Trùng không kế an thiên hạ,
                             Phải để Hiệp Thiên đứng trị vì.”
     Đức Quyền Giáo Tông biết rằng nhiệm vụ của Đức Ngài sắp chấm dứt.
     
    Đạo lịch năm 9 - Năm Giáp Tuất (1934)
     
     16.7 Giáp Tuất  ( 25.8.1934 ): Đạo Nghị Định 7 & 8
     
    Đức Lý Giáo Tông và Đức Phạm Hộ Pháp hợp nhau lập thành hai Đạo Nghị Định 7 và 8. Theo Đạo Nghị Định 8:
     “Những Chi phái nào do bởi Đại ĐạoTam Kỳ Phổ Độ làm gốc lập thành mà không do nơi mạng lịnh của Hội Thánh thì cả chúng sanh chẳng đặng nhìn nhận là của Chí Tôn và phải định quyết là Bàng môn Tả đạo.”
     
     13.10 Giáp Tuất  ( 19.11.1934 ): Đức Quyền Giáo Tông đăng Tiên
     
             Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung đăng Tiên tại Giáo Tông Đường, thọ được 59 tuổi. Bài thài hiến lễ Ngài như sau:
                       Càn khôn quen thú phước Linh Tiêu,
                       Thấy khổ trần gian nghịch Thánh điều.
                       Mượn xác phàm riêu cây Phất chủ,
                       Nương cơ tạo xủ phướn Tiêu Diêu.
                       Bầu linh khổ hải đưa thiêu cạn,
                       Gậy sắt nhơn sanh chóng dắt dìu.
                       Muôn dặm cửa Tiên chờ bước tục,
                       Cõi lau trở gót ruột trăm chìều
    Tính từ ngày 14-10 Bính-Dần ( dl 19.11.1926) là ngày vào Đạo đến ngày mất  13-10 Giáp-Tuất (19.11.1934):  tám năm tròn.
    - Ông Gabriel Gobron người Pháp là một nhà giáo kiêm nhà văn. Ông đắc phong Tiếp Dẫn Đạo Nhơn, được cử làm đại diện của Đạo Cao Đài tại Châu Âu.
    Các hội nghị mà Ông đã tham dự gồm:
    ·            Hội nghị quốc tế về Thần Linh Học Barcelone 1934
    ·            Hội nghị Tôn giáo thế giới ở London    1936
    ·            Hội nghị Thần Linh Học thế giới ở Glasgow    1937
    ·            Hội nghị  thế giới về tín ngưỡng ở Paris 1939  
     
     21.11 Giáp Tuất ( 27.12.1934 ) Toàn Quyền Mr. Réné Robin thay mặt chính phủ Pháp Quốc ban hành quyền tự do tín ngưỡng cho Ðạo Cao Ðài.
     
            Bãi bỏ hẳn chế độ bắt buộc phải xin phép xây cất Thánh Thất mới và nơi nhận quyền tự do nầy tại Tòa Thánh Tây Ninh. Báo chí khắp nơi trong và ngoài nước Việt Nam loan tin, ca ngợi tinh thần công bình tín ngưỡng của chính phủ Pháp Quốc tuy vẫn còn  trói buộc, không được phổ truyền như ý muốn của Đạo Cao Ðài:
     " Chỉ có dân chúng thuộc địa ở Nam Kỳ và các thành phố Hà Nội, Hải Phòng và Ðà Nẳng mới được hưởng quyền tự do tín ngưỡng. Trái lại dân chúng đặt dưới quyền bảo hộ của Pháp như ở Bắc Việt, Trung Việt, Ai Lao và Cao Miên thì người dân không được hưởng quyền tự do nói trên”.
                                            Nhựt báo La Tribune Indochinoise ( Diễn Ðàn Ðông Dương ) 
     
    Đạo lịch 10 - Năm Ất Hợi (1935)
     
     16 . 2 Ất Hợi  ( 20 . 3 . 1935 ) lập thêm phẩm chức sắc dưới Thập Nhị Thời Quân
     
    Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn (Victor Hugo) vâng lịnh Đức Chí Tôn giáng cơ lập 7 phẩm Chức sắc Hiệp Thiên Đài từ Sĩ Tải đến Tiếp Dẫn Đạo Nhơn, dưới Thập nhị Thời Quân, để giúp chư  vị Thời Quân cầm quyền Tư  Pháp của Đạo.
     
    23 . 7. Ất Hợi   ( 21 . 8 . 1935 ): ban cho Kinh Tận Độ
     
            Tại Thánh Thất Kim Biên (Cam Bốt), Đức Phật Mẫu, Cửu vị Tiên Nương Diêu Trì Cung, Đức Quan Âm Bồ Tát, Đức Phật Thích Ca, Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn giáng cơ ban cho Kinh Tận Độ (Tân Kinh), từ ngày 23.7 đến mùng 4 tháng 8 Ất Hợi mới chấm dứt.
     
    13.10 Ất Hợi ( 8.11.1935 ):  Đức Phạm Hộ Pháp chưởng quản Nhị Hữu hình đài
     
           Ngày lễ cúng giỗ của Đức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung được thiết lập vào ngày 8-11-1935, đồng thời Đại Hội Nhơn Sanh gồm tất cả nhơn sanh và Hội Thánh nhóm họp tại Toà Thánh Tây Ninh vào ngày 8,9,10 tháng 11 năm đó, có hàng vạn tín đồ các nơi về tham dự. Toàn Đại Hội đã đồng thanh tín nhiệm Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc cầm quyền thống nhất Chánh Trị Đạo cho đến ngày có Đầu sư chánh vị.
    Tờ của Hội Nhơn Sanh đã biểu quyết như sau:
            "Nghị viên nam nữ Hội Nhơn Sanh nhóm Đại Hội thường niên tại Toà Thánh ngày 17 tháng 10 Ất Hợi, đồng lòng bỏ thăm tín nhiệm chánh sách độc tài của Đức Hộ Pháp và xin đem hết tâm trí giúp Ngài đoạt thành sở vọng, đưa cả chúng sanh đi tận trên con đường Thánh Đức của Đức Chí Tôn. Thoảng như phải dụng hết khổ tâm để làm màu cho Thiên thơ thì chúng tôi cũng đều vui lòng hiến thân cho nền Chánh giáo, đặng Hội Thánh cầm vững quyền hành và nhặt giữ pháp luật”
                                                                                       ( Ban Đạo Sử : Tài liệu lưu trữ)
            Tờ của Hội Thánh ghi như sau : " Nghị viên nam nữ Hội Thánh nhóm Đại Hội bất thường tại Toà Thánh ngày 18 tháng 10 Ất Hợi, sau khi nghe Đức Hộ Pháp giải bày về tình hình hiện thời của Đạo, đồng lòng bỏ thăm tín nhiệm chánh sách độc tài của Ngài, hầu  giúp Ngài có đủ quyền hành giữ nghiêm Pháp luật của Đạo ”.
            Đó là quyền Vạn Linh, một giải pháp tình thế. Tạm thời, Đức Lý giao Quyền Giáo Tông hữu hình cho Đức Hộ Pháp.Thế là, từ đó (1935), Đức Phạm Hộ Pháp Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài, Hiệp Thiên và Cửu Trùng để lo xây dựng Chánh Pháp và Đạo sự đặng bảo tồn chơn truyền dìu dắt con cái Đức Chí Tôn trên đường Thánh Đức
     
    Đạo lịch 11 - Năm Bính Tý (1936)
     
     1 . 11 Bính Tý  (14.2.1936) Đức Hộ Pháp tiếp nối  việc xây cất Tòa Thánh.
     
    Đức Ngài huy động 500 công quả hiến thân Phạm Môn làm lực lượng công thợ nồng cốt. Các Đầu Họ Phước Thiện trong 21 tỉnh Nam phần VN lo lương thực chở về Tòa Thánh. Các Khâm Châu và Đầu Tộc Đạo lo quyên góp tiền bạc của bổn đạo đưa về mua vật liệu xây dựng. Đức Hộ Pháp nói: Chỉ cần mỗi Đạo hữu góp 1 đồng thì Hội Thánh đủ tiền cất Tòa Thánh và nhứt định kỳ nầy thành công. 
     
                                     Đạo lịch 13 - Năm Mậu Dần (1938)
     
    7. 3 Quí Dậu ( 1.4. 1933 ) ba vị Thời Quân cầm quyền Chánh Phối sư.
     
    -         Vị Khai Pháp Trần Duy Nghĩa giữ quyền      Ngọc Chánh Phối sư.
    -         Vị Khai Đạo Phạm Tấn Đãi      giữ quyền     Thái Chánh Phối sư.
    -         Vị Khai Thế  Thái văn Thâu     giữ quyền     Thượng Chánh Phối sư.
    Chiếu y Đạo nghị định thứ 2,3,4 của Đức Lý Giáo Tông thì mỗi việc chi thuộc quyền chánh trị đều giao cho Chánh Phối sư như quyền giao tiếp cùng chính phủ, phổ độ giáo dục nhơn sanh, xem xét các nơi chăm nom đạo hữu, quyền trị chức sắc về phần Đạo và Đời, quyền chủ trưởng Hội Thánh và Hội Nhơn sanh… 
     
    16 . 1 Mậu Dần  (  16 . 2 . 1938 ) Lập Đạo luật Chánh trị Đạo
     
            Hội Thánh lập Đạo Luật năm Mậu Dần, Đức Hộ Pháp phê chuẩn, và giao trở lại cho Hội Thánh ban hành. Bộ Ðạo Luật chính thức ban hành nền Chánh Trị Ðạo gồm có 4 cơ quan : Hành Chánh, Phước Thiện, Tòa Ðạo và Phổ Tế. (Tòa Đạo sau được đổi tên là Pháp Chánh)
     
    19 . 10. Mậu Dần  ( 10 . 12 . 1938 ): lập Cơ quan Phước Thiện
     
             Đức Phạm Hộ Pháp hợp với Đức  Lý Giáo Tông lập Đạo Nghị Định số 48 thành lập Cơ Quan Phước Thiện.
     
    Đạo lịch 14 - Năm Kỷ Mão (1939)
     
     18.9 Kỷ Mão ( 30.9.1939 )
            Ngài Tiếp Dẫn Ðạo Nhơn Gabriel Gobron đại diện Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ Toà Thánh Tây Ninh. Tham dự Ðại Hội nghị quốc tế về Tôn giáo tại Paris France.
     
    Đạo lịch 16 - Năm Tân Tỵ (1941)
     
    4 . 6 Tân Tỵ  ( 28 .6 . 1941 )
            Đúng 8 giờ sáng, lính mật thám Pháp vào Tòa Thánh bắt Đức Hộ Pháp giải về Sàigòn, giam vào Khám lớn. Ngày 17.6 Tân Tỵ  (11.7.1941), lính mật thám Pháp lại vào Tòa Thánh bắt thêm 4 vị Chức sắc nữa là Phối Sư Ngọc Trọng Thanh, Giáo Sư Thái Gấm Thanh, Giáo Sư Thái Phấn Thanh, Sĩ Tải Đỗ Quang Hiển; đồng thời ở Sài Gòn, chúng đến bắt Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa.
    Ngày 4.6 nhuần Tân Tỵ ( 27.7.1941), nhà cầm quyền Pháp đưa Đức Phạm Hộ Pháp và 5 vị Chức sắc lưu đày sang đảo Madagascar ở Phi Châu…
           
    Đạo lịch 21 – Năm Bính Tuất ( 1946)
     
     26 . 7  Bính Tuất ( 22.8.1946 )
            Sau 5 năm, 2 tháng bị đồ lưu nơi hãi ngoại, Đức Hộ Pháp được trở về Việt Nam. 
     
    1.12 đến 15.2.Bính Tuất ( 1946 ): Hội nghị Nhơn sanh và Phước Thiện
     
            Khai Hội Nhơn Sanh và Phước Thiện, vừa thông báo chính thức cho toàn thể con cái Đức Chí Tôn hay rằng Đức Hộ Pháp tái thủ quyền Vạn Linh khuyên toàn Đạo chung hiệp xây dựng tổ đình và chơn truyền Đại Đạo.
     
    15/12/1946 Ðại Hội Phước Thiện khai mạc, Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc truyền dạy rằng:
            "Hội Thánh có 2 cơ quan Hành Chánh và Phước Thiện thường tương khắc nhau, song chưa tìm được chơn lý hòa nhau. Ngày nào chưa hòa nhau là còn thất sách, bất lực thì không thi thố phận sự cho ra thiệt tướng được. Ấy vậy, mấy em phải ráng sức định tâm, lấy tinh thần vi chủ, nêu gương cho mấy em sau này đi theo. Nếu khối phàm còn trong óc mấy em thì không bao giờ đạt mục đích tối cao tối trọng ”.
     
    Ngày 27.12.Bính Tuất ( 18.1.1947) Lễ rước quả càn khôn an vị Toà Thánh
     
            Quả Càn Khôn được Thánh giáo chỉ vẽ từ lâu, nhưng chưa thực hiện được như Thánh ý. Đến 18/1/1947, lễ rước Quả Càn Khôn an vị tại Ðền Thánh, Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc thuyết giảng rằng:
            "Ngày nay đã dời Quả Càn Khôn về Ðền Thánh. Ðức CHÍ TÔN đã ngự nơi ngai của Ngài. Chúng ta nên mừng cho nhân loại được ảnh hưởng nơi Ðền Thánh này mà tiến hóa. Ðền Thánh kể từ đây, không cón ai xem nó là vôi, cát, xi măng nữa, mà là một khối đức tin của toàn con cái Ðức CHÍ TÔN đã dựng nên hình vậy. Nhờ những bàn tay khéo léo của mấy em, mấy con thợ hồ, thợ mộc đã chịu đói rách cực khổ hơn 10 năm trường mới tạo nên. Từ đây mọi sắc dân nào có đủ đức tin nơi Chí Tôn là chúa tể vạn loại thì dầu nơi phương trời náo, họ sẽ hướng về Ðền Thánh mà cầu nguyện hằng ngày hằng giờ để mong hưởng phước lành của Ngài. Ðền Thánh làm xong, nền đạo đã vững vàng chúng ta sẽ đem hạnh phúc lại cho thiên hạ trong buổi chuyển thế này ”.
     
    Đạo lịch 22 – Năm Đinh Hợi ( 1947)
     
    Ngày 6.1 Đinh Hợi ( 27.1.1947 ): đúng 9 giờ, Đức Phạm Hộ Pháp làm lễ trấn thần Đền Thánh.
     
           Toà Thánh khởi công năm 1933, bị ngưng trệ vì ảnh hưởng lủng củng nội bộ. Năm 1936, Đức Ngài ra lệnh khởi công tạo tác lại. 27.7.1941 Đức Hộ Pháp bị đày sang Madagascar. Đến 22.8.1946 Đức Hộ Pháp được trở về VN sau hơn 5 năm bị lưu đày. Sau đó, Ngài ra lịnh tiếp tục xây cất Tòa Thánh. Ngày 3 tháng giêng năm Đinh Hợi, các công thợ làm lễ bàn giao Đền Thánh cất xong cho Hội Thánh.
    27/1/1947   Ðức Hộ Pháp Phạm công Tắc chủ lễ Trấn Thần Tòa Thánh vào lúc 9 giờ .
    Đến 11 giờ cùng ngày: lễ An Vị Ðền thờ Phật Mẫu ( Báo Ân Từ ). Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc dạy rằng:
            "Từ đây chúng ta rất hân hạnh thờ Phật Mẫu tại Báo Ân Từ. Mới mở đạo, Bần đạo biết công nghiệp của Phật Mẫu thế nào. Ngài và Cửu Vị Nữ Phật dìu dắt con cái của Ðức Chí Tôn từ ban sơ đến ngày đem chúng ta giao cho Thầy. Ngày mở đạo, vì cái tình cảm ấy, các vị Ðại Thiên Phong xin thờ Phật Mẫu ở Ðền Thánh. Phật Mẫu cho biết quyền của Chí Tôn là Chúa, còn Phật Mẫu là tôi, mà tôi thì làm sao ngang hàng với Chúa. Chúng ta thấy Phật Mẫu cung kính Chí Tôn đến dường ấy ".
            14 giờ  cùng ngày: khánh thành văn phòng Hiệp Thiên Ðài .
    Ngày 14.01 Đinh Hợi ( 4.2.1947 ): Đức Hộ Pháp giảng PHƯƠNG LUYỆN KỶ đặng vào con đường thứ ba Đại Đạo, con đường tu chơn. 
     
    Đạo lịch 23 –  Năm Mậu Tý ( 1948)
     
            12.8.1948 Ngài Tiếp Dẫn Ðạo Nhơn Gabriel Gobron đại diện Toà Thánh Tây Ninh dự hội nghị quốc tế Tâm Linh Học tại Lausanne ( Thụy Sĩ ) lần thứ ba.Ông Henri Reynault tuyên bố như sau:" Không hội viên nào ở đây biết đạo Cao Ðài. Tất cả chúng ta phải tìm hiểu đạo Cao Ðài vì lý tưởng thống nhứt dung hợp các Tôn giáo của nó có thể đem lại hòa bình tại thế gian, đó cũng chính là mục đích mà chúng ta đang theo đuổi hôm nay ”.
                      
    Đạo lịch 24 –  Năm  Kỷ Sửu ( 1949)
     
            26.3.1949 Tòa Thánh Tây Ninh đề cử ngài Phối Sư Thượng Vinh Thanh ( Trần quang Vinh ) đại diện Cao Ðài dự hội nghị Tâm Linh Học quốc tế tại Ý Ðại Lợi.
            10.4.1949 Lễ lục tuần của Ðức Hộ Pháp Phạm công Tắc, có mười một Ðại Sứ các quốc gia Âu Á đến Tòa Thánh Tây Ninh chúc mừng thọ tại Hộ Pháp Ðường và nhận Ðiện Văn chúc mừng 60 quốc gia trên thế giới gửi đến cùng ngày.
           19.4.1949 Tòa Thánh Tây Ninh đón rước Chi Phái Tiên Thiên trở về nguồn đạo.
     Ðức Hộ Pháp Phạm công Tắc ban Thánh lịnh số 380 dạy rằng: " Bần đạo đã ân xá cho toàn cả chi phái, bất cứ là ai, nếu nhập môn lại và vâng y luật pháp Tòa Thánh sẽ là tín đồ chính thức của Ðạo Cao Ðài ".
                                  
    Đạo lịch 25 –  Năm Canh Dần ( 1950)
     
    Ngày 12.2.Canh Dần ( 29.3.1950 ): Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đến Miên Quốc
            Ngài trao đổi tình hình của hai Quốc gia, tín ngưỡng, cũng như Việt kiều đang sinh sống trên Miên Quốc. Vua và toàn dân Vương Quốc Miên đón tiếp Ðức Hộ Pháp Phạm công Tắc theo nghi lễ Tôn giáo của Hoàng Gia.
     
    Ngày 15.2. Canh Dần ( 1.4.1950 ):  trấn thần Tịnh Thất và Trí Huệ Cung
     
            Ngoài Thánh Thất ra, Cao Đài giáo còn có Tịnh Thất để cho những tín đồ cần tĩnh dưỡng tiếp điển với các Đấng. Ngày 15 tháng 12 Canh Dần (1950), Đức Hộ Pháp đã trấn pháp Trí Huệ Cung, trong có Thiên Hỉ Động, là ngôi Tịnh Thất đầu tiên đúng theo kiểu mẫu của nền Đại Đạo do Đức Hộ Pháp chỉ vẻ xây cất. Trí Huệ Cung là Tịnh Thất của Nữ phái, còn Nam phái thì có Vạn Pháp Cung, trong có Nhơn Hoà Động ở  dưới chân núi Điện Bà. Ngoài ra, còn có tịnh thất  Trí Giác Cung trong có Địa Linh Động. Trí Huệ và Trí Giác Cung đều ở xã Trường Hòa, cách Tòa Thánh độ 10km.
     
    Đạo lịch 26 –  Năm Tân Mão ( 1951)
    Ngày 27.4.1951
     
            Hội Thánh Ngọai Giáo, Thánh Thất Kim Biên chánh thức lập Bộ Ðạo có trên 73.164 Ðạo Hữu.
    Ngày 1.5.Tân Mão ( 5.6.1951 ):
     
            Ðức Hộ Pháp ban phép lành và trấn thần  chợ Long Hoa, Tây Ninh . Chợ được xây cất kiểu mẫu đặc biệt theo Bát Quái     
      
     
    Đạo lịch 28 – Năm  Quý Tỵ ( 1953)
     
    Ngày 16.11.Nhâm Thìn ( 1.1.1953 )
            Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ Tòa Thánh Tây Ninh tổng kết trước Nhơn Sanh toàn Ðạo, nay phổ độ trên 1.5OO.000 Tín Ðồ.
     
    Ngày 29.4.Quý Tỵ ( 10.6.1953 ): Lễ đăng điện Xá Lợi Phật.
     
             Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc thuyết giảng rằng:"Phật Thích Ca là người như ta, có xác thân như ta, sống chết như ta, chớ không phải là người thần thoại. Nhưng cái cao siêu về tâm hồn của Ngài là tiền căn thiêng liêng của Ngài đã lên tới Phật vị. Trước kia Đức Phật Thích Ca đã thành Phật đặng, thì chúng ta cũng thành Phật đặng. Bần đạo mong mỏi cả con cái Ðức Chí Tôn cố gắng học như Ngài”
     
    Ngày  26.12.Quý Tỵ ( 30.12.1953 ): Ðức Lý Giáo Tông cho phép Thành lập BAN THẾ ĐẠO
            Hội Thánh thành lập Ban Thế Ðạo nhằm mục đích mở rộng trường công quả tiếp đón những bậc nhân tài có khả năng phụng sự cho Ðạo mà không thể phế đời hành Ðạo. Ban Thế Ðạo là là dây nối cho Ðạo đời tương đắc. Nhiệm vụ của Ban Thế Ðạo là độ Ðời nâng Ðạo, hành sự trực tiếp với Cửu Trùng Ðài về mặt chuyên môn trong xã hội và trực thuộc Chi Thế Hiệp Thiên Ðài về mặt chơn truyền và luật Pháp. Ban Thế Ðạo gồm có bốn phẩm ( từ dưới lên trên ): Hiền Tài, Quốc Sĩ, Ðại Phu, Phu Tử.
             Ban Thế Đạo thuộc Chi Thế Hiệp Thiên Ðài và Đức Hộ Pháp duyệt qua qui điều ngày 13/3/1956.
     
                                 Đạo lịch 29 – Năm  Giáp Ngọ ( 1954)
     
                Chánh quyền Pháp Quốc chính thức mời Ðức Hộ Pháp đến Pháp.
     
             Chánh phủ Pháp Quốc và Tổng Thống René Coty, Thủ Tướng Laniel, Phó Thủ Tướng Paul Renaud cùng các Thượng nghị sĩ và chính giới tiếp đón Ngài theo nghi lễ thượng khách, sự tiếp kiến Đức Ngài mở ra một lịch sử mới cho Việt Nam. Ðức Ngài mở cuộc hợp báo tại Paris cho báo giới và ký giả phóng vấn về Tôn giáo Cao Ðài.
     
    22.1.Giáp Ngọ ( 24.2.1954) Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa đăng Tiên
     
               Ngày  2-3-1954, trong buổi lễ di Liên đài của Ngài Khai Pháp nhập bửu tháp. Đức Hộ Pháp có phát biểu để tưởng niệm và tuyên dương công nghiệp của Ngài Khai Pháp, xin trích ra một đoạn sau đây:" Đức Khai Pháp Chơn Quân, cả toàn Thánh Thể và con cái Đức Chí Tôn đều hiểu là ai? Trong 12 vị Chơn Quân của 12 con Giáp là cơ huyền bí tạo Càn Khôn Vũ Trụ thế nào, có lẽ cả tinh thần của toàn thể con cái Đức Chí Tôn hiểu thấu. Bần đạo lại thêm một điều trọng hệ hơn hết, người không phải xa lạ với nhơn loại nơi mặt Địa cầu nầy, người đã cùng làm bạn với nhơn loại và chịu khổ cùng nhơn loại. Ngài là một bậc yếu nhân đã giúp Đức Chí Tôn tạo dựng một nền văn minh hiện tại…  Ngài tái kiếp, sứ mạng của Ngài không chi khác hơn là làm thế nào cho nền văn minh ấy chung hiệp các nền văn minh tối cổ trên mặt Địa cầu nầy, làm cho thiên hạ thống nhứt về tâm hồn, thống nhứt về đạo đức. . . .
            Theo lời Đức Phạm Hộ Pháp, chúng ta hiểu rằng, Ngài Trần Duy Nghĩa là Thánh Pièrre (Phê-rô) chiết chơn linh giáng phàm để làm tướng soái cho Đức Chí Tôn khai Đạo. Thánh Pièrre là một trong số 12 môn đồ của Đức Chúa Jésus, là người mà Đức Chúa Jésus tin cậy, đặt nền tảng của Hội Thánh truyền giáo của Ngài.
     30.12.1954:  Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ Tòa Thánh Tây Ninh lập bộ đạo có trên 2.500.OOO Tín đồ trên toàn nước Việt Nam và 120.000 Tín đồ của Hội Thánh Ngọai Giáo khắp nơi trên thế giới.
     
        Đạo lịch 29 – Năm  Ất Mùi ( 1955)
     
     Ngày 6 đến 16.1 Ất Mùi (1955 ): Lễ khánh thành Toà Thánh Tây Ninh
            Cuộc lễ kéo dài đến 10 ngày, từ ngày 29.1.1955 đến 8.2.1955. Số người dự lễ lên đến hơn một triệu và số người đến xem lễ và quan sát lên đến non triệu người. Đúng 24 giờ, Đức Ngài cắt dây băng mở cửa Đền Thánh và khởi hành Đại lễ. Hôm sau là lễ khánh thành Đền thờ Phật Mẫu ( Báo Ân Từ).
     
    30. 12.1955 Ngài Bảo Sanh Quân  Lê văn Hoạch tham dự Hội nghị tại Atamis,  Nhật Bản. Có một giáo sĩ Nhật phát biểu như sau:
    " Tôn giáo, từ xưa đến nay, mắc ba chứng bịnh trầm kha là: tự tôn tự đại, và độc thiện kỳ thân, không chịu tham gia các cuộc hội thảo chung. Nếu không sớm sửa chữa, sẽ suy yếu và tự diệt. Thế giới đang mắc phải đám cháy to lớn, nếu Tôn giáo cứ tiếp tục hoạt động riêng rẻ thì chỉ là một gáo nước, còn hợp lại sẽ trở thành một khối nước khổng lồ để cứu nhơn sanh và chúng ta khuyên Cao Ðài Giáo tiếp tục sứ mạng của họ ".
     
    Đạo lịch 31 – Năm Bính Thân ( 1956)
     
     5.1.Bính Thân ( 16.2.1956 ): Đức Phạm Hộ Pháp lưu vong sang Campuchia
     
            Vào đầu tháng 8 năm Ất Mùi, Nguyễn Thành Phương, vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội Cao Đài, sau khi được chính phủ quốc gia hóa đã theo lịnh chánh quyền lập Ban Thanh trừng, bắt nhiều đạo hữu giam cầm. Một số thiếu nữ trong Đạo bị câu lưu mấy tháng và ép buộc phải khai nhiều điều khiếm nhã cho Đức Ngài. Đức Ngài bị giam lỏng tại Hộ Pháp Đường, xung quanh có quân đội võ trang canh phòng từ 20.8.Ất Mùi (1955). Vì quá buồn lo cho vận nước bị chia đôi, cho cảnh đồng đạo tương tàn, Đức Hộ Pháp cùng vài vị chức sắc rời Thánh địa lúc 3 giờ khuya ngày mùng 5 tháng1 Bính Thân (1956) đi sang Miên quốc. Đức Hộ Pháp có ra tuyên ngôn về việc này:
    Bần đạo buộc mình phải xuất ngoại đăng bảo thủ tự do cá nhân của Bần đạo, hầu đem ra một giải pháp mới mẻ có thể thống nhất hoàng đồ  chủng tộc với phương pháp Hòa bình và Chung sống”
     
    17.01 Bính Thân ( 28-2-1956 ): Thỏa ước Bính Thân
           Đại diện Hội Thánh Cao Đài và Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ký thỏa ước Bính Thân nhằm xác nhận chủ quyền của Đạo và tách rời chánh trị ra khỏi Đạo Cao Đài.
     
    Ngày 1.10.Bính Thân ( 8.11.1956): Thư khuyên nhủ của Đức Hộ Pháp viết từ Nam Vang ( trích đăng)
            “Bần Đạo tự lưu đày qua Miên quốc vì muốn tránh cho giống dòng dân tộc Việt Nam khỏi cái cảnh của giống dân Do Thái trước đây bị tiêu diệt mất nước…Bần Đạo cấm không có một vị chức sắc nào đủ quyền sửa đổi luật lệ của Đạo Cao Đài…Hãy chờ đến ngày nào có một Hội thánh đầy đủ uy quyền hiệp cùng Nhơn sanh cầu nài xin Chí Tôn sửa đổi mới hợp pháp. Bằng không, cả con cái Đức Chí Tôn bất tuân không thi hành việc sửa đổi của một người hay một nhóm nào đó. Bần đạo ước vọng cả con cái Đức Chí Tôn khôn ngoan giữ Đạo như thế đó đặng bảo tồn mối Đạo Cao Đài đến thất ức niên không ra phàm giáo...Bần đạo thấy một điều rất ngộ nghĩnh: Đức Đại Từ Phụ muốn đem con cái của Người  về ngôi vị bằng cách ở nơi mặt thế này phải chịu đựng nhiều đau khổ, chịu nhục nhã đó vậy…
     
    Đạo lịch 34 – Năm Kỷ Hợi ( 1959)
     
    Ngày 10.4.Kỷ Hợi ( 17.5.1959 ): Đức Hộ Pháp Triều Thiên 
     
            Trong 2 lần xây dựng 2 Đền thờ vĩ đại để trả hiếu cho Đại Từ Phụ và Đại Từ Mẫu, Đức Hộ Pháp đều gặp những thử thách lớn lao:
    - Khi Tòa Thánh Tây Ninh xây sắp xong thì chính quyền Pháp bắt Ngài đày đi Madagascar ( 1941) hơn 5 năm.
    - Khi cất Đền Thờ tại Nam Vang sắp xong, chỉ còn lợp ngói, lót nền thì chánh quyền Cam Bốt cấm đoán không cho tiếp tục và làm khó dễ đủ điều. Điều này đã ảnh hưởng lên sức khỏe của Ngài.
    Đức Ngài quy thiên vào lúc 13giờ 30 phút, ngày mùng 10-4 Kỷ Hợi (17-5- 1959) tại bịnh viện Calmette, Nam Vang, hưởng thọ 70 tuổi. Ngài mất vào ngày rước Thánh lễ Pentecôte. Lễ an táng được tổ chức tại Thánh Thất  Kim Biên ( Nam Vang). Sự linh ứng về cuộc triều Thiên của Đức Hộ Pháp không chỉ được người Cao Đài cảm nhận, mà những người có năng khiếu ngoại cảm cũng nhận thấy. Một thí dụ cụ thể là trên tạp chí Le Lien des Cercles d"Etudes số 4 tháng 5-6 năm 1959, nữ đồng tử Sarah Barthel tại Paris, Pháp có viết bài chứng nghiệm:
    … Một tiếng nói trên không trung, nói với tôi: "Sở dĩ đạo đức đưa tới một đời sống hạnh phúc là vì đạo đức là một tình thương yêu cao cả. Tình yêu này chỉ là một với tình yêu cả nhân loại lẫn vũ trụ.” Tiếng nói ấy thoát ra ngoài vật thể và nó ở khắp nơi trên thế giới địa hoàn, để cho các tâm hồn yên lặng và mở rộng đều có thể nghe được. Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc vừa quy Thiên ngày 17.5.1959 hồi 13giờ 30 phút (giờ Cao Miên). Đúng giờ đã định, những vị Thiên thần cầm lọng vàng tới đón rước Ngài, và các hung thần bị xua đuổi ra xa tít…Những Đấng đã liễu đạo, lớp mặc thiên phục đỏ, lớp thiên phục xanh dương, lớp nữa, thiên phục vàng, và cũng còn hàng ngàn và hàng ngàn mặc thiên phục trắng tiếp rước Ngài. Tiếng nói của Đấng Thượng Đế, tiếng nói trong tâm mỗi người, dầu ở thiên giới, địa giới hay trung giới, đã phán: "Trong bốn màu hiệp lại thành một. Con đã xuống thế, hạ mình một cách cao cả… Hộ Pháp Phạm Công Tắc, con hãy trở về trong lòng Ta và góp phần trong lời Thánh huấn của Ta.”
    Ngày 17.5.1959, trong toàn địa giới, trung giới, yên tịnh hay phiêu lãng, tất cả những người nam nữ trong đại cơ quan đồng tử đều được nhìn thấy và nghe rõ tất cả những sự việc mà tôi ghi chép y như trên”.
    Ký tên: Nữ Đồng tử Sarah Barthel - Paris Xème
    (Trích trong quyển "Hình ảnh Đức Hộ Pháp Quy Thiên", biên soạn bởi Lê Minh Cảnh và Nguyễn Văn Hảo xuất bản năm 1967)
     
    Bài thi để thài trong lễ kỷ niệm ngày mất của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc như sau:
                                     
    Trót đã bao năm ở xứ người
    Đem thân đổi lấy phút vui tươi.
    Ngờ đâu vạn sự do Thiên định,
    Tuổi đã bảy mươi cũng đủ rồi.
    Nhớ tiếc sức phàm thừa chống chỏi,
    Buồn nhìn cội Đạo luống chơi vơi.
    Rồi đây ai đến cầm chơn pháp,
    Tô điểm non sông Đạo lẫn Đời. 
            Đức Ngài lưu vong sang Cam bốt ngày 16.2.1956, qui Thiên ngày 17.5.1959. Thời gian sống nơi đất người là 3 năm 3 tháng. Đức Ngài gần như là môn đệ yêu ái nhứt của Đức Chí Tôn trong Tam Kỳ Phổ Độ. Từ 37 tuổi, thể xác Phạm Công Tắc được Hộ Pháp giáng linh và kể từ đó, Đức Ngài đã xả thân hành Đạo cho đến ngày trở về Thiêng liêng vị.
     
    Nhận xét:                    
    SỰ HUYỀN DIỆU CỦA NỀN ĐẠI ĐẠO
     
    - Đức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư,       tuổi Mậu TÝ (số 1)         nắm chi ĐẠO.
    - Đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang,        tuổi Tân  SỬU (số 2)      nắm chi THẾ.
    - Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc,              tuổi Canh DẦN (số 3)    nắm chi PHÁP.
              Chính ba vị Tướng-soái của Chí-Tôn đã có đủ yếu-tố để khởi-đoan cho mối Đạo Trời: Phải chăng tất cả đều có một sự sắp xếp huyền diệu? Ngoài ra, tuổi của 12 vị Thời Quân tương ứng với 12 con giáp: chúng ta thấy thêm một sự sắp xếp tế vi của Đấng Tạo Hóa...
     
     




    STT


    PHẨM VÀ HỌ TÊN


    NĂM SANH


    ĐĂNG TIÊN


    THỌ



    1


    KHAI PHÁP Trần Duy Nghĩa


    Mậu         1888


    1954


    67t



    2


    KHAI ĐẠO Phạm Tấn Đãi


    Tân Sửu       1901


    1976


    76t



    3


    HIẾN PHÁP Trương Hữu Đức


    Canh Dần    1890


    1976


    67t



    4


    TIẾP THẾ Lê Thế Vĩnh


    Quý Mão     1903


    1945


    43t



    5


    BẢOPHÁP Nguyễn Trung Hậu


    Nhâm Thìn  1892


    1961


    70t



    6


    TIẾP PHÁP Trương Văn Tràng


    Quý Tỵ        1893


    1965


    73t



    7


    HIẾN THẾ Nguyễn Văn Mạnh


    Giáp Ngọ     1894


    1970


    77t



    8


    BẢO THẾ Lê Thiện Phước


    Ất Mùi         1895


    1975


    81t



    9


    HIẾN ĐẠO Phạm Văn Tươi


    15.12BínhThân
    ( 17-1-1897)


    1976


    80t



    10


    TIẾP ĐẠO Cao Đức Trọng


    20.4.Đinh Dậu
    ( 21-5-1897


    1958


    62t



    11


    BẢO ĐẠO Ca Minh Chương


    Canh Tuất   1850


    1928


    79t



    12


    KHAI THẾ Thái Văn Thâu


    Kỷ Hợi        1899


    1981


    83t

     
     
    Phụ lục 1                
    THỎA ƯỚC BÍNH THÂN (1956)
     
            Sau các cuộc hội đàm ngày 22, 26 và 28 tháng 2 năm 1956, Đại diện Chánh Phủ VNCH và các đại diện Đạo Cao Đài Tây Ninh đồng đi đến sự thỏa thuận hoàn toàn các điểm sau đây:     
    I.           Đạo Cao Đài Tây Ninh được tự do truyền bá và được tự do hội họp cúng kiếng theo phép Đạo trong khắp nước VN.
         Đạo Cao Đài Tây Ninh do các Chức sắc cao cấp trong Đạo đại diện và dìu dắt trong lúc vắng mặt Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, nhìn nhận chỉ biết hành đạo mà thôi, không làm chánh trị trên toàn lãnh thổ VN và về mặt pháp lý, chịu hệ thống luật lệ hiện hành của Chánh phủ VNCH do Ngô Tổng Thống lãnh đạo.
     
    II.        Những phần đất nào của Đạo Cao Đài ở Tây Ninh đã làm chủ vĩnh viễn bằng cách hoặc khẩn, hoặc mua, hoặc hưởng của cho, thì Đạo Cao Đài đặng toàn quyền sử dụng.
            Những đất quốc gia nào trong vùng Tây Ninh, khi trước là rừng cấm hay đất hoang, đã được tín đồ Cao Đài khai phá và được trong Đạo Cao Đài phân chia theo cách tiểu sản, sẽ được hợp thức hóa đúng theo tinh thần chương trình cải cách điền địa của Chánh phủ đang thi hành bằng cách sẽ cấp phát bằng khoán vĩnh viễn đúng theo thủ tục và thể lệ hiện hành cho mỗi người, để cho các tín đồ đóng thuế mỗi năm cho Chánh phủ theo số đất mình sẽ làm chủ.Trong thời hạn không quá 3 tháng kể từ ngày Thỏa Ước nầy được chấp thuận, Ông Tỉnh Trưởng Tây Ninh và đại diện Cao Đài phải khởi sự hợp thức hóa sự cấp đất và phát bằng khoán vĩnh viễn cho  người choán đất.
     
    III. Trong 6 làng : Long Thành, Hiệp Ninh, Cẩm Giang, Trường Hòa, Phước Hội, Ninh Thạnh, bao trùm 13 Phận đạo hiện hữu, Đạo Cao Đài được cử ra 2 hay là 3 tín đồ tùy theo chỗ để đại diện Đạo và cộng tác với mỗi Ban Hội Đồng Hương chính.
     
    IV. Trừ tiền hỷ cúng của tín đồ, Đạo Cao Đài bãi bỏ những thuế có thâu thuở giờ, hoặc trên đất Đạo làm chủ, hoặc trên đất quốc gia, còn trong vùng ảnh hưởng của Đạo. Những Chợ hiện hữu trong vùng Đạo thuộc 6 làng kể trên do Đạo Cao Đài tạo ra, dầu trên đất Đạo cũng là nguồn lợi của quốc gia và chỉ có quốc gia mới được phép sắp đặt, sử dụng và hưởng huê lợi. Dầu vậy, Chánh phủ cũng bằng lòng để Đạo Cao Đài thâu những chợ nầy trong khoảng 4 năm liên tiếp (1956, 1957, 1958, 1959) bằng cách đóng góp cho làng sở tại một số tiền mỗi tháng :
     
    - Năm đầu bằng 1 phần 5 số thâu góp hằng tháng.
    - Năm thứ 2 bằng 1 phần 4 số thâu góp hằng tháng.
    - Năm thứ 3 bằng 1 phần 3 số thâu góp hằng tháng.
    - Năm thứ 4 bằng 1 phần 3 số thâu góp hằng tháng.
         Số tiền thâu góp chợ mỗi ngày hay mỗi tháng do bên Đạo và Ông Tỉnh trưởng Tây Ninh thỏa thuận nhất định một năm 2 lần, trong tháng 6 và tháng 12 dương lịch.
         Về phần Chợ Long Hoa, Đạo Cao Đài đang cất, Hành Chánh tỉnh đảm nhận tiếp tục theo bản đồ đã có. Những tổn phí của Đạo Cao Đài đã xuất phát tới ngày nay, Hành Chánh tỉnh chịu trả lại, sau khi được đôi bên xác nhận tánh cách chi phí và số tiền. Số tiền nầy được trả phân kỳ không quá 4 năm, mỗi năm đóng một lần nhằm trong tháng 4 dương lịch.
     
    V. Trật tự an ninh trong 13 Phận đạo theo tổ chức hiện thời của Đạo sẽ đặt dưới hệ thống của Ban Hội Đồng Hương chính của 6 làng nói trên. Các Ban nầy hành sự với những toán, từ 20 đến 30 người "Dân Vệ", gốc người tín đồ Cao Đài, được Ông Tỉnh Trưởng chọn với sự đề cử của Ban Hội Đồng Hương chính. Những toán Dân Vệ nầy được võ trang và trả lương theo thể lệ hiện hành. Hành Chánh tỉnh cấp súng, công nho làng trả lương.
     
    VI. Cơ Thánh Vệ hiện hữu chỉ có phận sự về nghi lễ, giữ vẻ tôn nghiêm cho Đạo trong các cuộc hành lễ lớn nhỏ trong Nội Ô. Số người có thể lên không quá 160 người do Đạo Cao Đài hoàn toàn chọn lựa và trả lương (nếu không phải làm công quả). Người trong cơ Thánh Vệ có thể có võ trang nhưng phải xin phép sắm và giữ súng theo luật lệ hiện hành. Súng ống đạn dược do Đạo Cao Đài đài thọ. Trong Nội Ô, các lực lượng quân sự và cảnh sát quốc gia không được xâm nhập, trừ khi phải can thiệp hoặc để thi hành phận sự theo luật lệ hiện hành hoặc để đem trật tự an ninh lại, hoặc vì xảy ra thường tội hay trọng tội.
     
    VII. Được miễn thuế (đủ các sắc) theo thể lệ hiện hành :
    - Những Tu viện, Trường học cùng Dưỡng đường của Đạo Cao Đài Tây Ninh cất ra hoặc trên đất Đạo hoặc trên đất quốc gia.
    - Những đất trên đó có những bất động sản nói trên. Hiện hữu những bất động sản có tên trong bản đính theo đây, được miễn thuế.
     
    VIII. Các công trình của Đạo Cao Đài về mặt xã hội, y tế, mở mang hay tu bổ kiều lộ trong vùng Đạo, sau khi giao cho Hành chánh Tỉnh Tây Ninh đảm nhận, thì sẽ được tiếp tục tiến hành với sự hợp tác của các Chức sắc chuyên môn của Đạo Cao Đài.
                                                                                                   
                                                              Làm tại Tây Ninh, ngày 28 tháng 2 năm 1956.
                                                           ĐẠI DIỆN CHÁNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA
                                                                              (ký tên)     Nguyễn Ngọc Thơ
     

    HIỆP THIÊN ĐÀI:       Bảo Thế    (ký tên)   Lê Thiện Phước
                                        Tiếp Pháp  (ký tên)   Trương văn Tràng
                                        Hiến Pháp  (ký tên)   Trương Hữu Đức
                                        Tiếp Đạo    (ký tên)   Cao Đức Trọng
     
    CỬU TRÙNG ĐÀI:  Thái Chánh Phối Sư         (ký tên)  Thái Bộ Thanh
                                     Thượng Chánh Phối Sư   (ký tên)   Thượng Sáng Thanh
                                       Ngọc Chánh Phối Sư       (ký tên)   Thượng Tước Thanh
     
    PHƯỚC THIỆN:       Chơn Nhơn                       (ký tên)    Trịnh Phong Cương
                                       Đạo Nhơn                         (ký tên)    Nguyễn văn Phú
                                       Đạo Nhơn                         (ký tên)    Trần văn Lợi
                                       Đạo Nhơn                         (ký tên)    Đỗ văn Viên
     
                                                                                    Số 337-BNV/VP CHUẨN Y
                                                                                 Sàigòn, ngày 1 tháng 3 dl 1956.
     
                                                         BỘ TRƯỞNG NỘI VỤ (ấn ký) Bùi văn Thinh









    CHƯƠNG III
     
    LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
                   
            Lịch sử phát triển của Cao Đài Giáo có thể tạm chia thành nhiều thời kỳ như sau:
     
        1.          THỜI KHAI PHÁP (1920-1926):
            Hai chữ Khai Pháp có ý nghĩa là khai chánh pháp, Đức Chí Tôn quy tụ và dạy dỗ những tông đồ đầu tiên để lập cơ phổ độ. Chọn niên đại này vì đến ngày 18-11-1926 (14-10-Bính Dần) thì Khai Đạo tại Gò Kén.
     
        2.    THỜI ÐẠO PHÁP ( 1926-1929):
            bắt đầu từ ngày Khai Đạo đến cuối đời Đức Cao Thượng Phẩm. Gọi "Thời Đạo Pháp" là vì trong thời này, cơ sở nền tảng của Đạo được lập nên như ban hành Tân luật, Pháp Chánh Truyền. Theo Thánh ngôn, Đức Chí Tôn ra lệnh cuối tháng 6-1927 thì bế cơ, không được cầu cơ tự do như  trước, chỉ còn cầu cơ tại Cung Đạo, Tòa Thánh Tây Ninh.
     
        3.  THỜI CHÁNH PHÁP ( 1929-1956):
            là thời kỳ do Đức Quyền Giáo Tông và Đức Phạm Hộ Pháp chưởng quản, chấn chỉnh cơ cấu của Đạo đúng theo Pháp Chánh Truyền. Thời  kỳ này được chia làm 4 giai đoạn:
    ·        1929 - 1934: Đức Quyền Giáo Tông cầm quyền nền Đạo.
    ·        1935 -1941: Đức Hộ Pháp chưởng quản nhị hữu hình Đài đến khi bị lưu đày sang đảo Madagascar, Phi Châu.
    ·        1942 -1946: Giáo sư Trần Quang Vinh vâng lịnh  Đức Lý Giáo Tông lập quân đội Cao Đài để bảo vệ nền Đạo và đòi thả Đức Hộ Pháp. Đức Hộ Pháp trở về sau 5 năm, 2 tháng bị lưu đày.
    ·        1947 -1956: Đức Hộ Pháp tiếp tục lãnh đạo. Trong thời gian này, Tòa Thánh được tiếp tục xây cất và khánh thành.
     
        4.  THỜI THẾ PHÁP ( 1957-1971):
             do Đức Thượng Sanh chưởng quản. 
     
        5. THỜI HIẾN PHÁP (1957-1975):
            do Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Đức chưởng  quản. Sau đó lần lượt là các vị Thời Quân khác.
     
        6. CƠ THỬ THÁCH & GẠN ĐỤC KHƠI TRONG (1975-20…)
             Đạo Cao Đài trở thành một tôn giáo lớn có khoảng năm triệu tín đồ đang hoạt động tích cực tại Việt nam và trên khắp thế giới. Cơ sở Trung ương đặt ở tỉnh Tây-ninh gọi là Tòa Thánh Tây-ninh. Từ một khu rừng rậm hoang vu chỉ có 96 mẫu, sau đó nhờ mua thêm và khai khẩn, đến nay đã rộng 20.363 mẫu. Về mặt tôn giáo, nơi đây đã trở thành một Thánh địa với đô thị đông đúc trù phú, chia thành 18 Phận Đạo.
            Tôn giáo Cao Đài có một hệ thống tổ chức hành chánh Đạo khá chặt chẽ, từ Trung-ương đến địa-phương gồm có 5 cấp, chia ra Trấn-Đao (gồm có nhiều tỉnh), Châu Đạo (tỉnh),Tộc Đạo hay Họ Đạo (quận, huyện), Hương Đạo (Xã). Để truyền giáo các nước thì  trước đây có Hội Thánh Ngoại-Giáo (Mission Étrangère) đặt tại Phnom-Penh (Cambodge). Vì nhìn thấy sự tổ chức chặt chẽ nầy, mà từ khi được thành lập, các chính quyền đều lo ngại Cao Đài là một tổ chức chính trị, mưu đồ lập một quốc gia trong một quốc gia! Sau sự áp bức của thực dân Pháp, từ năm Ất Mùi (1955) cho đến nay, Đạo Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh tiếp tục trải qua những cơn thử thách nặng nề. Niềm ưu tư đè nặng lên trái tim của những tín đồ trung kiên bởi “ khoa thi dường như kéo dài vô tận”.
            8.6. Ất Mão ( 16.7.1975) Chính quyền đóng cửa ra vô vùng Nội ô Tòa Thánh. Sau đó, do có phái đoàn quốc tế đến tham quan nên cho mở cửa lại.
            23.4.Bính Thìn ( 21. 5.1976) Nguyễn văn Phú và Trương Ngọc Anh, đại diện Ủy ban Mặt Trận Tổ quốc khám xét văn phòng Ban Đao sử. Sau đó, đến 29.11.1976, Ty Công an tỉnh Tây Ninh khám xét Ban Đạo sử lần hai, Ban Thế Đạo, Y viện Phước Thiện, Thư viện.
            20.7.1977 ( 5.6 Đinh Tỵ) Trương Ngọc Anh thay mặt chính quyền Tỉnh Tây Ninh hỏi mượn trụ sở Ban Thế Đạo, Viện Đại học Cao Đài, văn phòng Khâm Thành Thánh địa, cùng văn phòng các cơ quan khác ở ngoại ô.
            14.1.1978 ( 8.1 Mậu Ngọ) chánh quyền ra lịnh đổi giờ cúng lễ Vía Đức Chí Tôn từ thời Tý ( 12 giờ khuya) thành giờ Ngọ và chỉ cho người nào được phép cư ngụ trong Nội ô mới được đi cúng.
            9.3.1978 ( 1.2 Mậu Ngọ) chính quyền khám xét Đền Thánh, buộc mở cứa hầm dưới Bát Quái Đài và khám xét các nơi thờ phượng tôn nghiêm khác. Sau đó, chính quyền ra lịnh tịch thu tài sản của Đạo: tất cả xe cộ, điện thoại, máy đánh chữ, máy quay ronéo, hồ sơ, tài liệu…kế đến là tịch thu dinh thự, đất đai, cơ sở sản xuất
            Từ 1.11 đến 4.11.1978 ( Mùng 1.10 đến 4.10. Mậu Ngọ) chức sắc các cấp phải tập trung lại để học tập cái gọi là “ Bản án Cao Đài”, sau đó viết bài “ thu họach”.
            20.11.1978 ( 20.10 Mậu Ngọ) 124 Chức sắc, Chức việc và tín đồ bị mời đi học tập tại Bến Kéo.
            12.2.1979 ( 16.1 Kỷ Mùi) Hội Thánh ban hành thông tri số 001/HT/TT xin được trích đăng như sau: “…Vậy, Hội Thánh thông tư cho Chức sắc, Chức việc và toàn Đạo được rõ…
    ·        Về đường lối hành Đạo: Hội Thánh kêu gọi tất cả hãy vì quyền lợi tối cao của dân tộc Việt Nam, vì đại nghiệp Thiêng liêng của Đạo mà hướng theo tiếng gọi của Hội Thánh, quyết tâm gột rửa mọi nhận thức sai lầm, suy nghỉ nông nổi đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, do một số người cầm đầu trong Đạo trước đây đã gieo rắc… Hãy nhìn thẳng lên ngọn cờ độc lập chính nghĩa của dân tộc mà đặt vững lòng tin với sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt nam…, để mãi mãi xứng đáng một thành viên trung thành trong Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam...?
    ·        Điều chỉnh cơ cấu hành Đạo gọn nhẹ:  Hội Thánh thành lập một tổ chức hành Đạo gọi là Hội Đồng Chưởng Quản hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Hội Đồng gồm có:
                - 1 Chưởng Quản, 1 Phó Chưởng Quản
                 - 1 Từ Hàng, 1 Phó Từ Hàng
                 - 8 Hội viên…
            1.3.1979 ( 4.2 Kỷ Mùi):  một Đạo lịnh giải thể toàn bộ các cơ cấu tổ chức Chính Trị Đạo, từ trung ương đến địa phương do chư vị sau đây thay mặt Hội Thánh ký:
                     - Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa.
                     - Thượng Đầu Sư Thượng Sáng Thanh.
                     - Ngọc Đầu Sư Ngọc Nhượn Thanh
     
    Nhận định:
            Đạo Cao Đài ra đời đã đáp ứng nhu cầu tâm linh của người Việt Nam. Tuy có sẵn những tín ngưỡng bản địa, những tôn giáo cổ truyền như Nho giáo, Lão giáo, Phật giáo, Thiên Chúa giáo nhưng trong tâm hồn của người Việt, nhất là những người dân sống trên vùng đất Nam Kỳ vẫn có nỗi trống vắng của một nhu cầu tâm linh chưa trọn vẹn và họ mơ ước có một sắc thái tâm linh nào đó mới mẽ, sâu sắc mà không giáo điều. Sự ra đời của Đạo Cao Đài đã đáp ứng điều mơ ước đó:
    -         Đạo Cao Đài tổng hợp giáo lý của các nền tôn giáo lớn
    -         Đạo Cao Đài có tinh thần nhất nguyên, đại đồng, bình đẳng vì cùng nhìn nhau là anh em, tất cả đều là con của Thượng Đế.
    -         Đạo Cao Đài có triết lý sâu sắc về vũ trụ và nhân sinh.
    -         Đạo Cao Đài có tinh thần xã hội, quan tâm đến đời sống của mọi người và tinh thần cộng đồng bền chặt. Từ tổ chức Phước thiện, người tín đồ có Viện Dưỡng Lão, Viện Cô Nhi, trường học, nhà thương thí, sở dạy nghề…đến tổ chức Ban Tri sự là cấp hành chánh thấp nhất ở hương, ấp để lo cúng Liên Gia, Quan hôn tang tế hay hòa giải khi có xích mích.
    -         Kinh lễ, giáo lý của Đạo Cao Đài dùng tiếng Việt nên dễ nhớ, dễ hiểu.
    -         Giáo dục thế hệ trẻ biết giữ gìn di sản văn hóa dân tộc, đền thờ Miếu Đình, Tông Đường; biết kính trọng Tổ Tiên, hiếu thảo với Cha Mẹ, sống một cuộc đời lành mạnh và có ý nghĩa.
     
            Chính vì thế, chỉ trong thời gian ngắn số tín đồ đã lên đến hơn hai triệu người. Các tín đồ Cao Đài đều tự hào nói rằng: Đạo Cao Đài là tôn giáo của Việt Nam. Sự gắn bó Đạo Pháp và dân tộc là điều được coi trọng trong tâm thức của người tín đồ.
            Đức Chí Tôn đã dạy từ khi mới lập Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ: Chánh trị với Đạo chẳng buổi nào tương hiệp cùng nhau…” Thật vậy, chánh trị vốn của người phàm, được tạo ra từ thuở có xã hội loài người tới nay thành một quốc sách, đủ mưu đồ, đủ thứ xảo thuật, dám dùng mọi biện pháp để biện minh cho chủ đích. Đạo thì trái ngược hẳn, phải chơn thật, minh chánh, công bình và bác ái. “Chánh trị” của con người, còn Đạo của Trời. Về niềm tin tôn giáo, ai cũng có quyền tự do tin hay không tin. Nhưng bác bỏ niềm tin của người khác là một sự xúc phạm. Cái gọi là “ phép lạ, sự mặc khải, sự Linh Thiêng” đã có từ các tôn giáo nguyên thủy và không ai dám cho đó là mê tín dị đoan. Đời sống là một thế giới đa dạng và con người có vô vàn câu hỏi từ thế giới hữu hình đến thế giới vô hình. Ngày nào còn con người, ngày đó còn tôn giáo vì đó là sức mạnh nội tâm, chiều cạnh tâm linh của con người; nếu sống chỉ biết có vật chất và khoa học thì thật là một thiếu sót lớn lao. 
     
            Dù ý phàm không hiểu nỗi ý Trời, muốn hay không muốn, dù bị phá hoại đủ kiểu thì “Cái gì của Chúa phải trả lại cho Chúa”. Thánh ý của Đức Chí Tôn sẽ đặt Thánh-địa Cao-Đài trở thành một nơi Quốc-tế-hóa như Thánh địa Vatican (Ý) của Giáo hội Thiên Chúa giáo La-mã, một Thánh Thị vô phòng thủ và không chịu sự thúc phược của bất cứ một quyền lực đời nào. Một số người nhận định Đạo Cao Đài chỉ là một phong trào xã hội bộc phát, sẽ mất đi khi xã hội phát triển, những thế hệ sau sẽ không còn ai biết đến Cao Đài! Hiện nay, hệ thống hành-chánh-đạo chỉ còn có hai cấp là Tòa Thánh Tây Ninh và hương xã. Từ vật chất đến tổ chức của Đạo tuy bị thu hẹp ở trong nước, nhưng sau biến cố 1975, trong số làn sóng người Việt Nam di tản có những tín hữu mang theo niềm tin và giáo lý Cao Đài truyền bá khắp nơi. Hội Đồng Chưởng Quản ở Tây Ninh không quản lý số tín đồ nước ngoài, nhưng có Cơ quan Truyền giáo Hải ngoại lo việc truyền giáo và liên giao với các tôn giáo bạn. Tổ chức này đã được cơ quan Liên Hiệp Quốc thừa-nhận và đã cử đại diện tham gia các hội nghị quốc tế về tôn giáo. Ngoài ra, còn có các Thánh Thất, các Hội Tín Hữu Cao Đài ở Hoa Kỳ, Canada, Anh, Pháp, Đức, Bỉ, Úc Đại Lợi, Nhật Bản …
               Trong thế giới phẳng hiện nay, mọi người dễ dàng tìm hiểu và chia sẻ thông tin với nhau. Vì thế, mọi sự không có gì bưng bít được. Làm ngược lại trào lưu tiến hóa của nhân loại là làm chậm bước tiến hóa của chính mình. Xã hội nào càng có nhiều người biết lo tu hành, xã hội đó càng ổn định và ít tệ nạn xã hội. Hãy biết quý trọng hồng ân của Đức Thượng Đế đã dành cho dân tộc Việt Nam khi Khai Đạo tại một nước nhỏ bé nghèo khổ này. Đó mới thực sự là khôn ngoan và sáng suốt của người lãnh đạo.
     
    Hảo Nam bang ! Hảo Nam bang !
    Tiểu quốc tảo khai Hội Niết Bàn.
    Hạnh ngộ Cao Đài truyền Đại Đạo,
    Hảo phùng Ngọc Đế ngự trần gian.
     
        Đức Phạm Hộ Pháp nói rằng: chúng ta mới chỉ là những người cắm hoa tiêu mà thôi. Tôn giáo Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ còn trường tồn đến thất ức niên  (700.000 năm).



Đăng nhập để trả lời
0