Văn học dân tộc thiểu số Việt Nam sau 1975 những điều bức xúc
Đã từng có chuyện, khi nói đến văn học dân tộc thiểu số Việt Nam, người ta thường chỉ nghĩ đến như một sự chiếu cố. Việc đưa văn học các dân tộc thiểu số vào nhà trường cũng vậy, người ta cũng chỉ cố gắng đưa vào gọi là để mà có, chủ yếu là mấy tác phẩm văn học dân gian. Đó là một số truyện cổ như Hương và Rùa, trường ca Khảm Hải (Vượt biển) của dân tộc Tày; trường ca Đẻ đất đẻ nước của dân tộc Mường; trường ca Đam San của dân tộc Ê đê; truyện thơ Sóng chụ xon sao của dân tộc Thái… Còn việc nghiên cứu tìm hiểu thì ngày càng ít đi, việc đưa tác phẩm văn học vào giảng dạy trong nhà trường ngày lại càng ít nữa.
Cách ứng xử như vậy của các nhà nghiên cứu và soạn sách giáo khoa ở trong nước như vậy có vẻ như thiếu công bằng, có thể hiểu là do họ thiếu thái độ thiện chí văn hoá, hoặc là do trình độ nhận thức của họ bị hạn chế.
Tôi đọc khá nhiều bài viết về việc yêu cầu đưa văn học các dân tộc thiểu số vào giảng dạy trong nhà trường, hầu hết những người viết đều đề nghị nên quan tâm tới văn học sau 1975 nhiều hơn. Tôi là người trong cuộc, vừa sáng tác văn học lại từng có hơn chục năm dạy văn học ở các trường và có vài lần, tôi đề xướng việc đó, thế nhưng kể từ khi đất nước đổi mới cho đến nay đã 20 năm, chương trình giảng dạy ở nhà trường đã ít nhiều thay đổi nhưng mảng văn học sau 1975 của các dân tộc thiểu số vẫn chưa được quan tâm.
Văn học dân gian của các dân tộc thiểu số có nhiều tác phẩm đặc sắc được đưa vào giảng dạy đã đành, nhưng mảng sáng tác sau năm 1975 của văn học các dân tộc thiểu số cũng rất cần được đưa vào nhà trường giảng dạy. Bởi nó hay hơn, phản ánh cuộc sống đa dạng hơn. Các nhà văn dân tộc thiểu số giai đoạn sau 1975 đã có vị trí xứng đáng trên văn đàn nước Việt. Nhờ các nhà văn xuất hiện sau 1975 nên đã làm tiêu tan cái gọi là tâm lý chiếu cố đối với văn học dân tộc thiểu số vốn ngự trị nhiều năm nay, thay vào đó là thái độ trân trọng kính nể của xã hội.
Trước đây các tác phẩm văn học dân tộc thiểu số được chọn giảng trong nhà trường chưa hay, thậm chí chỉ là thuần tuý minh hoạ chính trị khô khan, do đó đã làm cho các thầy cô giáo và học trò trong nhà trường cùng “khô” luôn, không muốn có những giờ giảng văn về văn học dân tộc thiểu số. Giờ giảng văn học dân tộc thiểu số đã trở nên qua loa, nhạt nhẽo. Một số bài thơ trong chương trình giảng văn thậm chí còn bị lũ học trò đọc nhại lại để làm trò đùa với thái độ mai mỉa. Không ai chịu đựng được mãi những bài thơ chỉ có một mô típ: xưa là phong kiến thực dân đêm trường nay là cách mạng đem tới ánh sáng hạnh phúc… Chúng tôi không trách các thầy cô sợ dạy văn và cũng không trách các em học trò ghét học văn. Tôi chỉ muốn nói với những người soạn sách giáo khoa, tại sao họ không có một quan niệm thẩm mỹ xuyên suốt thời đại? Tại sao họ luôn luôn bị gò trong một quan niệm cũ, thói quen cũ, hết sức lỗi thời so với sự phát triển của văn học dân tộc thiểu số hiện nay? Trong khi hiện tại ở trong nước và thế giới đã đánh giá và nhìn nhận văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam sau 1975 đã khác với trước kia, thế mà những người làm sách giáo khoa ở Việt Nam vẫn không chịu thay đổi, nếu có thay đổi cũng rất dè dặt.
Rõ ràng văn học dân tộc thiểu số Việt Nam sau 1975, tính đến nay ba mươi năm, đã có sự phát triển vượt bậc. Sau khi đất nước độc lập, thống nhất, thế hệ mới của nhà văn dân tộc thiểu số ngay từ đầu xuất hiện đã tỏ rõ là người đại diện cho dân tộc mình. Cảm hứng sáng tác của họ đều mang đậm bản sắc văn hoá của dân tộc, đồng thời mang yếu tố hiện đại của quốc tế. Họ đã thực sự hội nhập vào các dân tộc trong nước và nhân loại.
Điều nhiều người còn băn khoăn hiện nay là văn học sau 1975 của các dân tộc thiểu số chưa được nghiên cứu nghiêm túc và chưa được đưa vào giảng dạy trong nhà trường đúng với tầm vóc và thành tựu đạt được của nó.
Trong một quốc gia nhiều dân tộc, thì dân tộc ít người vẫn thường hay bị thua thiệt. Để khắc phục được thực trạng này, không thể khoanh tay ngồi chờ mà mỗi nhà văn, mỗi nhà văn hoá và các nhà quản lý phải hành động, cho thiết thực, may ra có thể thay đổi được nhận thức xã hội.
(Báo Văn Nghệ)
Đã từng có chuyện, khi nói đến văn học dân tộc thiểu số Việt Nam, người ta thường chỉ nghĩ đến như một sự chiếu cố. Việc đưa văn học các dân tộc thiểu số vào nhà trường cũng vậy, người ta cũng chỉ cố gắng đưa vào gọi là để mà có, chủ yếu là mấy tác phẩm văn học dân gian. Đó là một số truyện cổ như Hương và Rùa, trường ca Khảm Hải (Vượt biển) của dân tộc Tày; trường ca Đẻ đất đẻ nước của dân tộc Mường; trường ca Đam San của dân tộc Ê đê; truyện thơ Sóng chụ xon sao của dân tộc Thái… Còn việc nghiên cứu tìm hiểu thì ngày càng ít đi, việc đưa tác phẩm văn học vào giảng dạy trong nhà trường ngày lại càng ít nữa.
Cách ứng xử như vậy của các nhà nghiên cứu và soạn sách giáo khoa ở trong nước như vậy có vẻ như thiếu công bằng, có thể hiểu là do họ thiếu thái độ thiện chí văn hoá, hoặc là do trình độ nhận thức của họ bị hạn chế.
Tôi đọc khá nhiều bài viết về việc yêu cầu đưa văn học các dân tộc thiểu số vào giảng dạy trong nhà trường, hầu hết những người viết đều đề nghị nên quan tâm tới văn học sau 1975 nhiều hơn. Tôi là người trong cuộc, vừa sáng tác văn học lại từng có hơn chục năm dạy văn học ở các trường và có vài lần, tôi đề xướng việc đó, thế nhưng kể từ khi đất nước đổi mới cho đến nay đã 20 năm, chương trình giảng dạy ở nhà trường đã ít nhiều thay đổi nhưng mảng văn học sau 1975 của các dân tộc thiểu số vẫn chưa được quan tâm.
Văn học dân gian của các dân tộc thiểu số có nhiều tác phẩm đặc sắc được đưa vào giảng dạy đã đành, nhưng mảng sáng tác sau năm 1975 của văn học các dân tộc thiểu số cũng rất cần được đưa vào nhà trường giảng dạy. Bởi nó hay hơn, phản ánh cuộc sống đa dạng hơn. Các nhà văn dân tộc thiểu số giai đoạn sau 1975 đã có vị trí xứng đáng trên văn đàn nước Việt. Nhờ các nhà văn xuất hiện sau 1975 nên đã làm tiêu tan cái gọi là tâm lý chiếu cố đối với văn học dân tộc thiểu số vốn ngự trị nhiều năm nay, thay vào đó là thái độ trân trọng kính nể của xã hội.
Trước đây các tác phẩm văn học dân tộc thiểu số được chọn giảng trong nhà trường chưa hay, thậm chí chỉ là thuần tuý minh hoạ chính trị khô khan, do đó đã làm cho các thầy cô giáo và học trò trong nhà trường cùng “khô” luôn, không muốn có những giờ giảng văn về văn học dân tộc thiểu số. Giờ giảng văn học dân tộc thiểu số đã trở nên qua loa, nhạt nhẽo. Một số bài thơ trong chương trình giảng văn thậm chí còn bị lũ học trò đọc nhại lại để làm trò đùa với thái độ mai mỉa. Không ai chịu đựng được mãi những bài thơ chỉ có một mô típ: xưa là phong kiến thực dân đêm trường nay là cách mạng đem tới ánh sáng hạnh phúc… Chúng tôi không trách các thầy cô sợ dạy văn và cũng không trách các em học trò ghét học văn. Tôi chỉ muốn nói với những người soạn sách giáo khoa, tại sao họ không có một quan niệm thẩm mỹ xuyên suốt thời đại? Tại sao họ luôn luôn bị gò trong một quan niệm cũ, thói quen cũ, hết sức lỗi thời so với sự phát triển của văn học dân tộc thiểu số hiện nay? Trong khi hiện tại ở trong nước và thế giới đã đánh giá và nhìn nhận văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam sau 1975 đã khác với trước kia, thế mà những người làm sách giáo khoa ở Việt Nam vẫn không chịu thay đổi, nếu có thay đổi cũng rất dè dặt.
Rõ ràng văn học dân tộc thiểu số Việt Nam sau 1975, tính đến nay ba mươi năm, đã có sự phát triển vượt bậc. Sau khi đất nước độc lập, thống nhất, thế hệ mới của nhà văn dân tộc thiểu số ngay từ đầu xuất hiện đã tỏ rõ là người đại diện cho dân tộc mình. Cảm hứng sáng tác của họ đều mang đậm bản sắc văn hoá của dân tộc, đồng thời mang yếu tố hiện đại của quốc tế. Họ đã thực sự hội nhập vào các dân tộc trong nước và nhân loại.
Điều nhiều người còn băn khoăn hiện nay là văn học sau 1975 của các dân tộc thiểu số chưa được nghiên cứu nghiêm túc và chưa được đưa vào giảng dạy trong nhà trường đúng với tầm vóc và thành tựu đạt được của nó.
Trong một quốc gia nhiều dân tộc, thì dân tộc ít người vẫn thường hay bị thua thiệt. Để khắc phục được thực trạng này, không thể khoanh tay ngồi chờ mà mỗi nhà văn, mỗi nhà văn hoá và các nhà quản lý phải hành động, cho thiết thực, may ra có thể thay đổi được nhận thức xã hội.
(Báo Văn Nghệ)
Love mickey,