Không có bản sắc văn hoá dân tộc, chỉ là thơ... phiên dịch
“Hiện nay, nhiều cây bút trẻ có xu hướng đổi mới, cách tân. Đây là một việc làm cần thiết, bởi cái tối kỵ của người làm sáng tạo là dẫm lên lối đi của người khác, song tôi nghĩ: anh có cách tân gì thì gì, trước tiên anh cũng phải khẳng định mình là người Việt Nam cái đã. Mà người Việt Nam thì phải có dòng máu Việt Nam, tư tưởng Việt Nam, tâm linh Việt Nam và hành động Việt Nam, kể cả yêu, ghét cũng phải cho ra Việt Nam… mà tất cả những cái đó đều là bản sắc VHDT”.
Tên thật : Mai Văn Thìn, sinh năm 1965.
Quê quán: Vĩnh Phú , Nhơn Thành, An Nhơn, Bình Định
- Hiện đang phụ trách phòng văn nghệ Đài PTTH Bình Định
* Đã xuất bản các tập thơ: Cổ tích tình yêu; Hai mảnh yêu thương; Đồng quê; Khúc sơn ca và tập nghiên cứu biên khảo Văn hoá dân gian xã Nhơn Thành
* Giải thưởng:
- Giải Nhất thơ trẻ Bình Định 1990
- Giải thưởng VHNT Xuân Diệu- Đào Tấn lần 1 (1990-1995)
- Giải thưởng VHNT Xuân Diệu – Đào Tấn lần 2 (1995-2000)
X in chào anh Mai Thìn- người con của Bình Định! Anh Mai Thìn này, khác với hình dung của tôi lâu nay về người con của một mảnh đất thượng võ, có “cô gái Bình Định bỏ roi đi quyền…”, trông anh có vẻ … thế nào nhỉ… nho nhã, hiền lành, ít nói và không biết… võ thì phải…
- Mai Thìn: Điều bạn nhận xét quả có đúng theo cách nhìn của nhiều người khi mới đầu tiếp xúc. Còn thực sự thì tôi có phần “quê”, mà “quê” rặc xứ “nẫu”. Dù đi nhiều, “tắm gội” cũng nhiều… mà cái chất ấy vẫn không phai được. Còn võ thì… như bạn biết đấy. Đến “ con gái Bình Định “ cũng biết “bỏ roi đi quyền… “ thì cỡ như tôi… sá gì! ( cười )
* Thực ư ? Té ra anh còn biết võ nữa!(Thế thì tôi phải cẩn thận!) Anh Mai Thìn này, đọc cuốn Văn hoá dân gian xã Nhơn Thành và các tập thơ của anh, đặc biệt là tập thơ Khúc Sơn Ca do NXB Hội Nhà văn vừa mới ấn hành, thấy trong ấy in đậm dấu ấn của làng quê Bình Định. Liệu gọi anh là nhà thơ của thôn quê có đúng không nhỉ?
- Mai Thìn: Sau một hành trình dài song hành cùng thơ ca, và như trên đã nói “ tắm gội “ với đủ loại” xà phòng…” tôi may mắn vẫn giữ được cái chất của nông quê. Sở dĩ tôi phải dùng chữ “ may mắn “ là vì bây giờ có nhiều cám dỗ quá, mà con người ta bây giờ lại dễ bị cám dỗ nữa, nhất là giới trẻ như chúng ta. Ai cũng muốn mau chóng làm giàu , chóng nổi tiếng… và làm đủ mọi cách để đạt được điều ấy… Và cả trong sáng tác nữa. Quả thật ai… ( có cả tôi nữa ) cũng muốn mình mau chóng thành công, mau chóng nổi tiếng… nhưng cái sự thành công ở lĩnh vực này thì lại quá “phi vật thể”, và cũng chỉ là một thứ ảo tưởng dễ làm con người ta chết chìm trong ấy.
* Và anh thì đối phó thế nào với vực xoáy ảo tưởng ấy?
- Mai Thìn: Nhờ trời tôi được sinh ra và trải một tuổi thơ dài quăng quật bên dòng Quai Vạc- một nhánh của con sông Kôn mang đậm chất đặc trưng của Miền Trung, Bình Định, nên tôi “bơi” cũng được. Nhưng quả thật đôi lúc cũng có bị “ngút hơi” trong cuộc đời này. Và những lúc như thế, tôi lại trở về với làng quê, dù có khi chỉ là trong tâm tưởng để trèo lên ngọn núi Mò - O ngắm nhìn ngọn tháp Cánh Tiên (quà tặng của Hoàng Đế Chế Mân dành cho công chúa Huyền Trân), hoặc những ngọn tháp mang những cái tên đặc sệt Bình Định, như Tháp Mẫm, tháp Bánh Ít, tháp Phú Lốc, tháp Học Trò, tháp Con Gái, tháp Dương Long… và những cánh đồng, những dòng sông, những ngôi nhà lá mái, hay những di tích của Thành Đồ Bàn, của Quang Trung – Nguyễn Huệ… để… lấy lại hơi cho chặng đường tiếp.
* Anh đã có một tuổi thơ êm đềm? Một tuổi thơ nhọc nhằn trên những cánh đồng khô hạn? Hay một tuổi thơ đầy ắp những câu chuyện cổ tích...
- Mai Thìn: Cách đây hơn mười năm trong một bài thơ, tôi có viết: “Quê hương tôi thôn nghèo đào cong lưỡi cuốc đá với người chung giọt mồ hôi. Nơi ấy mẹ tôi đã sinh ra. Sự diệu kỳ từ ấy đã sinh ra”. Và bây giờ tôi vẫn thấy, trên quê hương ấy còn có “…một chút nắng Miền Trung đất nung đầy sỏi tiếng gọi tình của con voi đá lạc bầy đã mấy trăm năm…”.
Nhà tôi nằm cách sân bay quân sự Gò Quánh không xa, nên tuổi thơ của tôi trải dài trong bom đạn, ít được nghe những câu chuyện cổ tích với ngày xửa ngày xưa… mà thường nghe những chuyện giết người xẻo tai lĩnh thưởng của bọn ác ôn, hoặc chuyện du kích bí mật đánh tề diệt ác…và luôn phải chứng kiến những trận càn, những đợt pháo kích ngay trên quê hương. Khi mới lên ba, tôi đã chứng kiến những cái chết oanh liệt của 153 chiến sĩ phần lớn là của Sư đoàn ba Sao Vàng, giờ còn ngôi mộ tập thể ở phía Nam Thành Hoàng Đế, hàng năm vẫn nghi ngút khói hương; rồi còn các vụ thảm sát ở Gò Dài, Tân Giản, Kim Tài, Đông An… nơi hàng trăm người dân vô tội bị tàn sát...
Mẹ tôi kể lại, khi tôi chào đời được hai ngày thì bà phải gánh đi chạy giặc. Đường dài nắng gió, đêm nằm ở chái nhà người tôi đã đuối sức không bú được. Mẹ tôi khóc vì lo lắng, còn cha thì lụi cụi chuẩn bị cuốc xẻng để sáng ra mang về quê chôn. Thế là đến canh tư, sợ quá tôi khóc oe lên mấy tiếng rồi bú… tới bây giờ... (cười). Rồi khi lên 5 lên 8 tuổi, tôi phải theo suốt đàn bò gần cả chục con lặn lội khắp hang cùng hóc hẻm của quê hương, làm bạn với bom mìn, súng đạn vương vãi trên khắp các cánh đồng… Cho đến khi lên 10, cũng là lúc quê hương được giải phóng thì mấy “người bạn” ấy đã “mượn” của tôi… một phần thân thể rồi xí gạc luôn tới bây giờ ( cười ).
* Và những ký ức của tuổi thơ với quê hương đã trở thành hành trang, lưng vốn cho thơ anh. Anh có sợ liệu đến một lúc nào đó nó sẽ cạn kiệt ?
- Mai Thìn: Bất cứ thứ gì cũng có thể vơi cạn, nếu chúng ta cứ thoả sức phung phí mà không biết đắp bồi. Hành trang của tôi vào đời là một tủ sách lớn cóp nhặt từ thuở lên mười mà cho đến bây giờ tôi vẫn còn giữ, dù thất lạc cũng nhiều, cộng với nó là những năm tháng quăng quật mà không thiếu phần hồn nhiên, lãng mạn của tuổi thiếu niên.
Dù bây giờ đi nhiều, đọc nhiều, nhưng những quyển sách tôi đọc từ bé và ký ức về quê hương với những mùa cá lúi, nước lũ cuồn cuộn ngập trắng bãi bờ; hay những mùa khô đi nhử chim trên đồi tháp Cánh Tiên, rượt bò qua đồn nguỵ, đạn nổ tưng bừng; rồi những đêm trăng băng đồng xem hát bội... Tất cả những cái ấy cứ ám mãi vào trong thơ tôi.
* Với anh, thơ có ý nghĩa như thế nào?
- Mai Thìn: Bây giờ nhiều người cho rằng thơ như một món hàng xa xỉ trong đời sống xã hội. Người ta có thể sống không có thơ, nhưng không thể sống mà thiếu gạo, thiếu nước, thiếu điện, thiếu tiền. Người ta có thể không đọc thơ, không nghe thơ suốt cả năm trời và có người cả cuộc đời không thuộc hết một bài thơ, nhưng cứ cúp điện vài giờ là đã nhốn nháo, quáng quàng rồi... Có vị giám đốc giàu có rồi, viên mãn mọi thứ rồi , thì đi làm thơ, in thơ, thậm chí thuê cả nhạc sĩ phổ thơ để hát cho nó sang. Cho nên thơ được người ta dùng để trang điểm cho cuộc sống, ấy là chưa nói có người còn ghẻ lạnh với thơ ca… chứ những người nghĩ tới giá trị sâu xa của nó thì lại quá ít. Còn đối với riêng tôi thì thơ là cái thứ mà tôi lỡ đam mê, đam mê đến không cách gì gỡ ra được. Có khi bận rộn với bài vở, sự vụ, cảm xúc tê cứng, gần cả năm trời không đụng bút, tưởng là đã thoát rồi, nhưng bỗng dưng lại rạo rực, bồi hồi, rồi trăn trở suy tư … thế là lại viết, lại in, rồi cứ đắm đuối, mê say…
* Thơ cũng như văn học nói chung- cần những khái quát để có một chiều sâu nhất định. Tuy nhiên, có những lúc tôi nghe bạn đọc phàn nàn rằng: Một số tác giả dường như sợ người đọc đánh giá về trình độ học vấn hay sao mà rất thích nhét triết học vào tác phẩm của mình. Còn anh, anh nghĩ thế nào về thể loại thơ triết học?
- Mai Thìn: Điều hiển nhiên là thơ hay phải có tính khái quát cao, nhưng không hẳn cứ phải cố nhét triết học vào trong thơ mới chứng tỏ được chiều sâu của tác phẩm. Ngày nay để tìm một lối đi mới trong thơ ca, có nhiều cây bút hoặc cố đào sâu vào chuyện tinh lọc ngôn từ, đi sâu phân tích những bản năng tâm lý con người, hoặc khám phá các lĩnh vực khoa học khác, như tâm linh, triết học chẳng hạn.
Đây là nhu cầu nội tại của thi ca một khi nó đã đủ viên mãn và muốn phân hoá. Song điều đáng lo ngại là quá trình phân hoá ấy có mang lại sự phát triển cho thơ hay là trở thành phân huỷ. Theo tôi, cái quan trọng nhất của một bài thơ là cái tình và cái tầm của tư tưởng mà nó mang đến cho người đọc. Gì thì gì chứ anh thiếu hai cái đó thì chưa thể gọi là thơ hay được. Có một chút triết học thì tầm tư tưởng ấy sẽ được nâng cao thêm, bài thơ ấy có thể sẽ có sức khái quát hơn, nhưng nhiều quá thì không còn là thơ nữa, nó sẽ giết mất cái tình và khô như miếng bánh ngói, hoặc dễ tạo cảm giác khoe chữ, khoe kiến thức.
* Lâu nay khi nói đến Văn hoá văn nghệ , chúng ta hay nhắc đến cụm từ “Phát huy bản sắc VHDT” . Việc phát huy bản sắc VHDT liệu có gì mâu thuẫn với xu hướng muốn đổi mới cách tân trong thơ của nhiều cây bút trẻ hiện nay không, theo anh?
- Mai Thìn: Tôi nghĩ, hai động lực này không có gì mâu thuẫn nhau mà sẽ hỗ trợ cho nhau. Trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước, để hoà nhập với thế giới , chúng ta phải có nhiều đổi mới, cách tân, đặc biệt là ở lĩnh vực văn hoá (trong đó có thơ ca ), nhưng phải trên cơ sở phát huy bản sắc VHDT. Nếu đổi mới, cách tân mà không đứng trên cái nền tảng của dân tộc thì chắc chắn bị hoà tan.
Hiện nay, nhiều cây bút trẻ có xu hướng đổi mới , cách tân . Đây là một việc làm cần thiết, bởi cái tối kỵ của người làm sáng tạo là dẫm lên lối đi của người khác, song tôi nghĩ: anh có cách tân gì thì gì, trước tiên anh cũng phải khẳng định mình là người Việt Nam cái đã. Mà người Việt Nam thì phải có dòng máu Việt Nam, tư tưởng Việt Nam, tâm linh Việt Nam và hành động Việt Nam, kể cả yêu , ghét cũng phải cho ra Việt Nam… mà tất cả những cái đó đều là bản sắc VHDT.
Nếu thơ anh không có cái chất đó thì nó trở thành thơ phiên dịch từ một thứ ngôn ngữ khác. Tôi và bạn bè tôi ở Bình Định đã đọc rải rác một số tập thơ xuất bản trong thời gian gần đây và kể cả trên mạng nữa, có bài chúng tôi không thể hiểu được. Tưởng mình tỉnh lẻ chưa đủ nội lực để tiếp nhận các chiêu thức kỳ bí ấy, mới mang ra Hà Nội nhờ một số tiên sinh giảng giải, ai ngờ cũng nhận được cái lắc đầu. Tôi nghĩ loại thơ ấy một là vượt quá xa tầm tri thức của loài người hoặc là nó thoát ly hoàn toàn với đời sống xã hội… Những lúc thất vọng và bế tắc như thế, tôi lại trở về với ngọn núi Mo- O quê tôi, và … lấy lại hơi... (cười)
* Là một người trẻ, nhưng đã sớm yêu thích và đi sâu nghiên cứu VHDG- một lĩnh vực như không được “thời thượng” lắm với xu hướng của nhiều người trẻ hiện nay. Anh có phải đắn đo nhiều không khi chọn cho mình con đường này?
- Mai Thìn: Lẽ ra công việc của tôi phải là một giảng viên ngoại ngữ như bao bạn bè suốt năm năm ở Đại học SPNN Đà Nẵng, song cái sự mê thơ nó đã dẫn lối đưa đường tới với công việc làm báo bây giờ. Và cái công việc chính mà tôi đang làm, cộng với tình yêu, lòng tự hào về quê hương, nó lại dẫn tôi đến với VHDG một cách tự nhiên và đầy thoả hiệp chứ không hề “đắn đo” suy tính. Và quả thật tôi cảm thấy mình là người hạnh phúc khi được kết duyên với thơ, với báo, với VHDG ngay trên mảnh đất đầy những vỉa tầng văn hoá luôn luôn quyến rũ và lấp lánh bao điều kỳ lạ đối với những ai quan tâm đến nó. Và tôi cũng rất muốn được chia sẻ nỗi niềm ấy với bạn, với tất cả mọi người. Hãy đến quê tôi đi! Các bạn sẽ nhận được điều đó!
* Nói đến lĩnh vực nghiên cứu VHDG, tôi thấy anh đầy xúc cảm và sự hưng phấn…
- Mai Thìn: Quả là khi đi sâu nghiên cứu mảng VHDG của quê hương mình, tôi càng cóp nhặt được nhiều hơn cho hành trang vào đời của mình. Bây giờ ở Qui Nhơn, nhưng lúc rỗi là tôi lại rong ruổi về quê. Với lại cái nghề báo nó cũng giúp tôi có điều kiện được đi nhiều, biết nhiều để tìm hiểu sâu hơn về quê hương. Từ nhỏ, tôi đã có một khao khát, khao khát đến cháy bỏng là được đi, được biết đến tận cùng vẻ đẹp của quê hương. Cho nên, hễ có điều kiện là lại tranh thủ mọi cách để được đi, dù trong hay ngoài tỉnh, dù Nam hay Bắc, dù vùng đất ấy đã quen hay lạ… Có những nơi, những địa danh tưởng như rất quen thuộc, rất gần gũi với cuộc đời mình, chẳng hạn như cái Bến Gỗ, hay cái Văn Miếu của làng tôi. Suốt bao nhiêu năm tuổi nhỏ ở làng, nó chỉ là một bến sông bình thường, một cái đình như muôn vàn cái đình bé nhỏ khác, không hề nghe ai nói đến những sự tích, những giá trị mà nó đã mang lại, nhưng khi đi sâu tìm hiểu trong tư liệu, trong lịch sử thì nó lại trở thành những kho tàng có giá trị lớn về mặt lịch sử, về mặt văn hoá tinh thần. Và cứ như thế, mỗi di tích, mỗi dòng sông, ngọn núi… của quê hương đều ẩn chứa trong ấy vẻ đẹp của triệu triệu kiếp người mà chúng ta chưa chịu khó chiêm ngưỡng hết.
* Xin cảm ơn anh đã dành cho VNT cuộc trò chuyện thú vị này. Và hy vọng có một dịp nào đó chúng tôi sẽ được về Bình Định quê anh để biết thế nào là “bỏ roi đi quyền…” và được đội nón Gò Găng, nếm thử món “bánh ít lá gai gói trong tàu chuối…” cùng với “ rượu Bầu Đá đầy vò... dốc cạn cả đam mê…”
(Báo Văn Nghệ Trẻ)
“Hiện nay, nhiều cây bút trẻ có xu hướng đổi mới, cách tân. Đây là một việc làm cần thiết, bởi cái tối kỵ của người làm sáng tạo là dẫm lên lối đi của người khác, song tôi nghĩ: anh có cách tân gì thì gì, trước tiên anh cũng phải khẳng định mình là người Việt Nam cái đã. Mà người Việt Nam thì phải có dòng máu Việt Nam, tư tưởng Việt Nam, tâm linh Việt Nam và hành động Việt Nam, kể cả yêu, ghét cũng phải cho ra Việt Nam… mà tất cả những cái đó đều là bản sắc VHDT”.
Tên thật : Mai Văn Thìn, sinh năm 1965.
Quê quán: Vĩnh Phú , Nhơn Thành, An Nhơn, Bình Định
- Hiện đang phụ trách phòng văn nghệ Đài PTTH Bình Định
* Đã xuất bản các tập thơ: Cổ tích tình yêu; Hai mảnh yêu thương; Đồng quê; Khúc sơn ca và tập nghiên cứu biên khảo Văn hoá dân gian xã Nhơn Thành
* Giải thưởng:
- Giải Nhất thơ trẻ Bình Định 1990
- Giải thưởng VHNT Xuân Diệu- Đào Tấn lần 1 (1990-1995)
- Giải thưởng VHNT Xuân Diệu – Đào Tấn lần 2 (1995-2000)
X in chào anh Mai Thìn- người con của Bình Định! Anh Mai Thìn này, khác với hình dung của tôi lâu nay về người con của một mảnh đất thượng võ, có “cô gái Bình Định bỏ roi đi quyền…”, trông anh có vẻ … thế nào nhỉ… nho nhã, hiền lành, ít nói và không biết… võ thì phải…
- Mai Thìn: Điều bạn nhận xét quả có đúng theo cách nhìn của nhiều người khi mới đầu tiếp xúc. Còn thực sự thì tôi có phần “quê”, mà “quê” rặc xứ “nẫu”. Dù đi nhiều, “tắm gội” cũng nhiều… mà cái chất ấy vẫn không phai được. Còn võ thì… như bạn biết đấy. Đến “ con gái Bình Định “ cũng biết “bỏ roi đi quyền… “ thì cỡ như tôi… sá gì! ( cười )
* Thực ư ? Té ra anh còn biết võ nữa!(Thế thì tôi phải cẩn thận!) Anh Mai Thìn này, đọc cuốn Văn hoá dân gian xã Nhơn Thành và các tập thơ của anh, đặc biệt là tập thơ Khúc Sơn Ca do NXB Hội Nhà văn vừa mới ấn hành, thấy trong ấy in đậm dấu ấn của làng quê Bình Định. Liệu gọi anh là nhà thơ của thôn quê có đúng không nhỉ?
- Mai Thìn: Sau một hành trình dài song hành cùng thơ ca, và như trên đã nói “ tắm gội “ với đủ loại” xà phòng…” tôi may mắn vẫn giữ được cái chất của nông quê. Sở dĩ tôi phải dùng chữ “ may mắn “ là vì bây giờ có nhiều cám dỗ quá, mà con người ta bây giờ lại dễ bị cám dỗ nữa, nhất là giới trẻ như chúng ta. Ai cũng muốn mau chóng làm giàu , chóng nổi tiếng… và làm đủ mọi cách để đạt được điều ấy… Và cả trong sáng tác nữa. Quả thật ai… ( có cả tôi nữa ) cũng muốn mình mau chóng thành công, mau chóng nổi tiếng… nhưng cái sự thành công ở lĩnh vực này thì lại quá “phi vật thể”, và cũng chỉ là một thứ ảo tưởng dễ làm con người ta chết chìm trong ấy.
* Và anh thì đối phó thế nào với vực xoáy ảo tưởng ấy?
- Mai Thìn: Nhờ trời tôi được sinh ra và trải một tuổi thơ dài quăng quật bên dòng Quai Vạc- một nhánh của con sông Kôn mang đậm chất đặc trưng của Miền Trung, Bình Định, nên tôi “bơi” cũng được. Nhưng quả thật đôi lúc cũng có bị “ngút hơi” trong cuộc đời này. Và những lúc như thế, tôi lại trở về với làng quê, dù có khi chỉ là trong tâm tưởng để trèo lên ngọn núi Mò - O ngắm nhìn ngọn tháp Cánh Tiên (quà tặng của Hoàng Đế Chế Mân dành cho công chúa Huyền Trân), hoặc những ngọn tháp mang những cái tên đặc sệt Bình Định, như Tháp Mẫm, tháp Bánh Ít, tháp Phú Lốc, tháp Học Trò, tháp Con Gái, tháp Dương Long… và những cánh đồng, những dòng sông, những ngôi nhà lá mái, hay những di tích của Thành Đồ Bàn, của Quang Trung – Nguyễn Huệ… để… lấy lại hơi cho chặng đường tiếp.
* Anh đã có một tuổi thơ êm đềm? Một tuổi thơ nhọc nhằn trên những cánh đồng khô hạn? Hay một tuổi thơ đầy ắp những câu chuyện cổ tích...
- Mai Thìn: Cách đây hơn mười năm trong một bài thơ, tôi có viết: “Quê hương tôi thôn nghèo đào cong lưỡi cuốc đá với người chung giọt mồ hôi. Nơi ấy mẹ tôi đã sinh ra. Sự diệu kỳ từ ấy đã sinh ra”. Và bây giờ tôi vẫn thấy, trên quê hương ấy còn có “…một chút nắng Miền Trung đất nung đầy sỏi tiếng gọi tình của con voi đá lạc bầy đã mấy trăm năm…”.
Nhà tôi nằm cách sân bay quân sự Gò Quánh không xa, nên tuổi thơ của tôi trải dài trong bom đạn, ít được nghe những câu chuyện cổ tích với ngày xửa ngày xưa… mà thường nghe những chuyện giết người xẻo tai lĩnh thưởng của bọn ác ôn, hoặc chuyện du kích bí mật đánh tề diệt ác…và luôn phải chứng kiến những trận càn, những đợt pháo kích ngay trên quê hương. Khi mới lên ba, tôi đã chứng kiến những cái chết oanh liệt của 153 chiến sĩ phần lớn là của Sư đoàn ba Sao Vàng, giờ còn ngôi mộ tập thể ở phía Nam Thành Hoàng Đế, hàng năm vẫn nghi ngút khói hương; rồi còn các vụ thảm sát ở Gò Dài, Tân Giản, Kim Tài, Đông An… nơi hàng trăm người dân vô tội bị tàn sát...
Mẹ tôi kể lại, khi tôi chào đời được hai ngày thì bà phải gánh đi chạy giặc. Đường dài nắng gió, đêm nằm ở chái nhà người tôi đã đuối sức không bú được. Mẹ tôi khóc vì lo lắng, còn cha thì lụi cụi chuẩn bị cuốc xẻng để sáng ra mang về quê chôn. Thế là đến canh tư, sợ quá tôi khóc oe lên mấy tiếng rồi bú… tới bây giờ... (cười). Rồi khi lên 5 lên 8 tuổi, tôi phải theo suốt đàn bò gần cả chục con lặn lội khắp hang cùng hóc hẻm của quê hương, làm bạn với bom mìn, súng đạn vương vãi trên khắp các cánh đồng… Cho đến khi lên 10, cũng là lúc quê hương được giải phóng thì mấy “người bạn” ấy đã “mượn” của tôi… một phần thân thể rồi xí gạc luôn tới bây giờ ( cười ).
* Và những ký ức của tuổi thơ với quê hương đã trở thành hành trang, lưng vốn cho thơ anh. Anh có sợ liệu đến một lúc nào đó nó sẽ cạn kiệt ?
- Mai Thìn: Bất cứ thứ gì cũng có thể vơi cạn, nếu chúng ta cứ thoả sức phung phí mà không biết đắp bồi. Hành trang của tôi vào đời là một tủ sách lớn cóp nhặt từ thuở lên mười mà cho đến bây giờ tôi vẫn còn giữ, dù thất lạc cũng nhiều, cộng với nó là những năm tháng quăng quật mà không thiếu phần hồn nhiên, lãng mạn của tuổi thiếu niên.
Dù bây giờ đi nhiều, đọc nhiều, nhưng những quyển sách tôi đọc từ bé và ký ức về quê hương với những mùa cá lúi, nước lũ cuồn cuộn ngập trắng bãi bờ; hay những mùa khô đi nhử chim trên đồi tháp Cánh Tiên, rượt bò qua đồn nguỵ, đạn nổ tưng bừng; rồi những đêm trăng băng đồng xem hát bội... Tất cả những cái ấy cứ ám mãi vào trong thơ tôi.
* Với anh, thơ có ý nghĩa như thế nào?
- Mai Thìn: Bây giờ nhiều người cho rằng thơ như một món hàng xa xỉ trong đời sống xã hội. Người ta có thể sống không có thơ, nhưng không thể sống mà thiếu gạo, thiếu nước, thiếu điện, thiếu tiền. Người ta có thể không đọc thơ, không nghe thơ suốt cả năm trời và có người cả cuộc đời không thuộc hết một bài thơ, nhưng cứ cúp điện vài giờ là đã nhốn nháo, quáng quàng rồi... Có vị giám đốc giàu có rồi, viên mãn mọi thứ rồi , thì đi làm thơ, in thơ, thậm chí thuê cả nhạc sĩ phổ thơ để hát cho nó sang. Cho nên thơ được người ta dùng để trang điểm cho cuộc sống, ấy là chưa nói có người còn ghẻ lạnh với thơ ca… chứ những người nghĩ tới giá trị sâu xa của nó thì lại quá ít. Còn đối với riêng tôi thì thơ là cái thứ mà tôi lỡ đam mê, đam mê đến không cách gì gỡ ra được. Có khi bận rộn với bài vở, sự vụ, cảm xúc tê cứng, gần cả năm trời không đụng bút, tưởng là đã thoát rồi, nhưng bỗng dưng lại rạo rực, bồi hồi, rồi trăn trở suy tư … thế là lại viết, lại in, rồi cứ đắm đuối, mê say…
* Thơ cũng như văn học nói chung- cần những khái quát để có một chiều sâu nhất định. Tuy nhiên, có những lúc tôi nghe bạn đọc phàn nàn rằng: Một số tác giả dường như sợ người đọc đánh giá về trình độ học vấn hay sao mà rất thích nhét triết học vào tác phẩm của mình. Còn anh, anh nghĩ thế nào về thể loại thơ triết học?
- Mai Thìn: Điều hiển nhiên là thơ hay phải có tính khái quát cao, nhưng không hẳn cứ phải cố nhét triết học vào trong thơ mới chứng tỏ được chiều sâu của tác phẩm. Ngày nay để tìm một lối đi mới trong thơ ca, có nhiều cây bút hoặc cố đào sâu vào chuyện tinh lọc ngôn từ, đi sâu phân tích những bản năng tâm lý con người, hoặc khám phá các lĩnh vực khoa học khác, như tâm linh, triết học chẳng hạn.
Đây là nhu cầu nội tại của thi ca một khi nó đã đủ viên mãn và muốn phân hoá. Song điều đáng lo ngại là quá trình phân hoá ấy có mang lại sự phát triển cho thơ hay là trở thành phân huỷ. Theo tôi, cái quan trọng nhất của một bài thơ là cái tình và cái tầm của tư tưởng mà nó mang đến cho người đọc. Gì thì gì chứ anh thiếu hai cái đó thì chưa thể gọi là thơ hay được. Có một chút triết học thì tầm tư tưởng ấy sẽ được nâng cao thêm, bài thơ ấy có thể sẽ có sức khái quát hơn, nhưng nhiều quá thì không còn là thơ nữa, nó sẽ giết mất cái tình và khô như miếng bánh ngói, hoặc dễ tạo cảm giác khoe chữ, khoe kiến thức.
* Lâu nay khi nói đến Văn hoá văn nghệ , chúng ta hay nhắc đến cụm từ “Phát huy bản sắc VHDT” . Việc phát huy bản sắc VHDT liệu có gì mâu thuẫn với xu hướng muốn đổi mới cách tân trong thơ của nhiều cây bút trẻ hiện nay không, theo anh?
- Mai Thìn: Tôi nghĩ, hai động lực này không có gì mâu thuẫn nhau mà sẽ hỗ trợ cho nhau. Trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước, để hoà nhập với thế giới , chúng ta phải có nhiều đổi mới, cách tân, đặc biệt là ở lĩnh vực văn hoá (trong đó có thơ ca ), nhưng phải trên cơ sở phát huy bản sắc VHDT. Nếu đổi mới, cách tân mà không đứng trên cái nền tảng của dân tộc thì chắc chắn bị hoà tan.
Hiện nay, nhiều cây bút trẻ có xu hướng đổi mới , cách tân . Đây là một việc làm cần thiết, bởi cái tối kỵ của người làm sáng tạo là dẫm lên lối đi của người khác, song tôi nghĩ: anh có cách tân gì thì gì, trước tiên anh cũng phải khẳng định mình là người Việt Nam cái đã. Mà người Việt Nam thì phải có dòng máu Việt Nam, tư tưởng Việt Nam, tâm linh Việt Nam và hành động Việt Nam, kể cả yêu , ghét cũng phải cho ra Việt Nam… mà tất cả những cái đó đều là bản sắc VHDT.
Nếu thơ anh không có cái chất đó thì nó trở thành thơ phiên dịch từ một thứ ngôn ngữ khác. Tôi và bạn bè tôi ở Bình Định đã đọc rải rác một số tập thơ xuất bản trong thời gian gần đây và kể cả trên mạng nữa, có bài chúng tôi không thể hiểu được. Tưởng mình tỉnh lẻ chưa đủ nội lực để tiếp nhận các chiêu thức kỳ bí ấy, mới mang ra Hà Nội nhờ một số tiên sinh giảng giải, ai ngờ cũng nhận được cái lắc đầu. Tôi nghĩ loại thơ ấy một là vượt quá xa tầm tri thức của loài người hoặc là nó thoát ly hoàn toàn với đời sống xã hội… Những lúc thất vọng và bế tắc như thế, tôi lại trở về với ngọn núi Mo- O quê tôi, và … lấy lại hơi... (cười)
* Là một người trẻ, nhưng đã sớm yêu thích và đi sâu nghiên cứu VHDG- một lĩnh vực như không được “thời thượng” lắm với xu hướng của nhiều người trẻ hiện nay. Anh có phải đắn đo nhiều không khi chọn cho mình con đường này?
- Mai Thìn: Lẽ ra công việc của tôi phải là một giảng viên ngoại ngữ như bao bạn bè suốt năm năm ở Đại học SPNN Đà Nẵng, song cái sự mê thơ nó đã dẫn lối đưa đường tới với công việc làm báo bây giờ. Và cái công việc chính mà tôi đang làm, cộng với tình yêu, lòng tự hào về quê hương, nó lại dẫn tôi đến với VHDG một cách tự nhiên và đầy thoả hiệp chứ không hề “đắn đo” suy tính. Và quả thật tôi cảm thấy mình là người hạnh phúc khi được kết duyên với thơ, với báo, với VHDG ngay trên mảnh đất đầy những vỉa tầng văn hoá luôn luôn quyến rũ và lấp lánh bao điều kỳ lạ đối với những ai quan tâm đến nó. Và tôi cũng rất muốn được chia sẻ nỗi niềm ấy với bạn, với tất cả mọi người. Hãy đến quê tôi đi! Các bạn sẽ nhận được điều đó!
* Nói đến lĩnh vực nghiên cứu VHDG, tôi thấy anh đầy xúc cảm và sự hưng phấn…
- Mai Thìn: Quả là khi đi sâu nghiên cứu mảng VHDG của quê hương mình, tôi càng cóp nhặt được nhiều hơn cho hành trang vào đời của mình. Bây giờ ở Qui Nhơn, nhưng lúc rỗi là tôi lại rong ruổi về quê. Với lại cái nghề báo nó cũng giúp tôi có điều kiện được đi nhiều, biết nhiều để tìm hiểu sâu hơn về quê hương. Từ nhỏ, tôi đã có một khao khát, khao khát đến cháy bỏng là được đi, được biết đến tận cùng vẻ đẹp của quê hương. Cho nên, hễ có điều kiện là lại tranh thủ mọi cách để được đi, dù trong hay ngoài tỉnh, dù Nam hay Bắc, dù vùng đất ấy đã quen hay lạ… Có những nơi, những địa danh tưởng như rất quen thuộc, rất gần gũi với cuộc đời mình, chẳng hạn như cái Bến Gỗ, hay cái Văn Miếu của làng tôi. Suốt bao nhiêu năm tuổi nhỏ ở làng, nó chỉ là một bến sông bình thường, một cái đình như muôn vàn cái đình bé nhỏ khác, không hề nghe ai nói đến những sự tích, những giá trị mà nó đã mang lại, nhưng khi đi sâu tìm hiểu trong tư liệu, trong lịch sử thì nó lại trở thành những kho tàng có giá trị lớn về mặt lịch sử, về mặt văn hoá tinh thần. Và cứ như thế, mỗi di tích, mỗi dòng sông, ngọn núi… của quê hương đều ẩn chứa trong ấy vẻ đẹp của triệu triệu kiếp người mà chúng ta chưa chịu khó chiêm ngưỡng hết.
* Xin cảm ơn anh đã dành cho VNT cuộc trò chuyện thú vị này. Và hy vọng có một dịp nào đó chúng tôi sẽ được về Bình Định quê anh để biết thế nào là “bỏ roi đi quyền…” và được đội nón Gò Găng, nếm thử món “bánh ít lá gai gói trong tàu chuối…” cùng với “ rượu Bầu Đá đầy vò... dốc cạn cả đam mê…”
(Báo Văn Nghệ Trẻ)
Love mickey,