📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Dương Gia Tướng Diễn Nghĩa (Hết) 🔒

52 trả lời, 5.143 lượt xem — Trang 2 / 2
Hồi Thứ Ba Mươi
[/align]

Bát Vương Mang Chiếu Cầu Lục Sứ
Tiêu Tán Đại Náo Trần Gia Trang


Vương Toàn Tiết mang sắc văn, đi ngày đêm tới Nhữ Châu gặp Thái thú Trương Tế cho biết: "Chúa thượng bị vây nơi Ngụy phủ, quân quân chiến bại, nay quần thần bảo tấu, xá tội trước cho Dương Lục sứ, sai mang quân tới cứu giá. Nay mỗ mang xá văn tới đây, mong Thái thú hãy gấp tìm người này . Trương Tế nói: "Lục sứ phạm tội, thủ cấp đã dâng lên triều đình, nay còn Lục sứ đâu mà tìm? Giờ lại sai hạ quan đi truy cứu việc này, thì tìm ở nơi đâu? Tiết sứ hãy mau hồi tấu, đừng để lỡ việc”. Toàn Tiết vô cùng buồn bã, liền nói: “Nếu không có được người này ắt chúa thượng khó mà thoát nạn, hạ quan cũng khó về hồi tấu”. Trương Tế nói: "Quân phụ có nạn, phận thần tử sao ở yên được. Tiết sứ nếu muốn truy cứu, trừ phi tới Vô nịnh phủ, thì có biết tin tức, Nhữ Châu tôi quyết là không có người này". Toàn Tiết thế là hết cách, chỉ đành rời Nhữ Châu, đi đến Vô nịnh phủ vào gặp Dương Lệnh Bà, báo cho biết thánh thượng xá tội để Lục sứ tới cứu giá. Dương Lệnh Bà nói: "Thủ cấp con tôi chôn đã lâu rồi, sao lại còn có người được? Hoặc các quan vô kế khả thi, mới nói những lời này, để làm yên lòng chúa thượng, Tiết sứ hãy lập tức về hồi tấu, đừng để lỡ việc quân".
Toàn Tiết buồn bã không vui. Hôm sau chỉ đành phi ngựa về lại Ngụy Châu, mở đường máu, tới cửa Đông kêu lớn mở thành. Lý Minh nhận ra là giọng của Vương Toàn Tiết, liền mở thành xông ra, cứu vào trong thành. Toàn Tiết vào gặp Chơn Tông tâu rằng: "Nhữ Châu vốn không có tin tức của Lục sứ, thần lại đến Dương phủ hỏi , đều nói là chết đã lâu rồi" Chơn Tông nghe nói thở dài nói: "Đường đường Trung Quốc, gặp khi trẫm có nạn, lại không có một người dám dẫn quân cứu viện". Lại hỏi kế với quần thần quần thần tâu rằng: "Binh thế như vậy, dù Tử Nha tái sinh cũng vô kế khả thí". Chơn Tông hết sức buồn bã, bỏ cả ăn ngủ. Bát Vương nói: "Việc đã gấp? Thần đành phải thân tới Dương gia đòi Lục sứ. Nếu như không ở đó, cũng triệu các Phiên trấn đến cứu. Duy có bệ hạ và chúng tướng phải giữ chặt thành này . Vua phán: "Quân tình trọng sự, khanh không nên chậm trễ". Bát Vương lĩnh mệnh. Vua liền lệnh Vương Toàn Tiết, Lý Minh đánh mở vòng vây, bảo vệ Bát Vương ra khỏi, hai người lại quay đánh về trong thành, chuyện không có gì đáng nói.
đây nói Bát Vương mang sắc văn, đi đến Vô nịnh phủ vào gặp Dương Lệnh Bà, nói cho biết chúa thượng đang trong lúc nguy cấp, có thể để Lục sứ ra đây, thương nghị việc cứu giá. Dương Lệnh Bà nói: "Ngày trước Vương Tiết sứ tới triệu, lão đây không nói cho biết. Nay điện hạ đã đích thân tới, phải kêu ra mà tương kiến". Rồi lệnh thủ hạ ra hầm ở sau vườn gọi Lục sứ ra, tới sảnh bái kiến Bát Vương. Bát Vương than thở hồi lâu, rồi nói: "Nếu không phải mẹo của ngày trước, hôm nay Quận mã đâu còn?" Lục sứ cảm tạ rằng: "May được điện hạ giúp đỡ, ân sâu khó báo". Bát Vương nói: "Chúa thượng bị vây nơi Ngụy phủ, việc đã rất gấp. Nay có sắc lệnh tới nơi, Quận mã hãy mau đến cứ cứu viện” Lục sứ nói: "Gần đây nghe tin mọi người ở Tam quan đã ai nấy tan mất, làm sao có thể đi cứu ngay được? Để tiểu nhân đi tới trại triệu tập mọi người, mới có thể bàn việc đi cứu”. Bát Vương nói: "Không nên chậm trễ, ta vào trong triều điều lấy quân nơi biên giới chờ đợi. Khi ông triệu tập được chúng tướng, sẽ cùng tiến binh". Lục sứ hứa vâng theo. Bát Vương về, Lục sứ cũng từ biệt Dương Lệnh Bà, theo hướng tam quan mà đi. Đúng là:
Thùy giao hào kiệt y nhiên xuất,
Trực hướng Đồng đài cứu giá hồi.
(Ai xui hào kiệt ra đời mãi,
Thẳng tới Đồng đài cứu giá về).
Lục sứ một mình trên đường đi được vài ngày, trước tiên tới Trịnh Châu hỏi thăm tin tức Tiêu Tán, nhưng không ai biết ở đâu. Đi đến Cẩm giang khẩu, chỉ thấy một đoàn nhà sư, vừa đi qua vừa lẩm bẩm gì đó. Lục sứ hỏi rằng: "Các ngài muốn đi đến đâu, sao đều có vẻ không vui?" Nhà sư nói: "Ông đâu biết được việc này. Ở nơi đây có một tên điên, khi phát tác bèn đánh người, quan ty không làm gì hắn được. Hắn luôn nói có đại nhân nào đó của hắn bị triều đình giết chết, chỉ cần gặp nhà sư, liền bắt đi xem kinh tụng kệ, đâu ai dám chống lại? Hôm qua tới chùa chúng tôi và bắt chúng tôi tới làm công quả để siêu độ cho chủ của hắn, bọn chúng tôi chỉ đành nghe theo mà tới". Nghe xong, liền nghĩ thầm đây ắt là Tiêu Tán, liền hỏi rằng: "Người này đang ở đâu nơi đâu?" Nhà sư nói: "Ở trong Tú Châu đường phía thành tây Trịnh Châu, là nơi hắn đang cư trú" Lục sứ nói: "Tôi cùng các ngài tới gặp hắn".
Các nhà sư dẫn Lục sứ tới Tứ Châu đường, gặp khi Tiêu Tán đang nằm trên bệ thờ, ngáy to như sấm. Lục sứ nhìn thấy đúng không sai, liền tới gần lay tỉnh. Tiêu Tán đang ngủ, choàng dậy, mở ra một đôi mắt quái dị, to tiếng quát rằng: "Tên nào mà không sợ chết, dám đến đây chọc phá lão gia!" Lục sứ nạt rằng: "Tiêu Tán không được vô lễ bản quan ở đây”. Tiêu Tán nghe xong hết hồn, liền nhảy đến ôm lấy mà nói: "Ngài là người ư? Quỷ ư? Tiêu Tán siêu độ đại nhân lâu rồi mà" Lục sứ cười nói: "Sao lại có chuyện quỷ đến gặp mi vào giữa ban ngày? Nơi này không phải là nơi để nói chuyện, mi hãy đi theo ta". Tiêu Tán vội buông tay rồi sụp lạy, chúng tăng nhân cười thầm rồi tản ra.
Lục sứ dẫn Tiêu Tán ra cầu nơi thành phía Tây, nói cho biết rằng: "Chúa thượng gặp nạn, nay Bát điện hạ mang sắc chỉ đến triệu đi cứu giá, hãy mau đi đến Tam quan, triệu tập chúng huynh đệ cùng đi". Tiêu Tán nghe xong mừng rỡ nói: "Tôi tưởng đại nhân bị triều đình hại, khiến cho chúng nhân không có chủ. Hôm nay lại được gặp lại, thật khoái chết đi được”
Hôm sau, Lục sứ đi qua Nhữ Châu, vào phủ bái kiến Trương Thái thú, nói cho biết việc Bát Vương mang sắc tới kêu đi cứu giá. Trương Tế rất vui nói lại việc Vương Tiết sứ đến. Lục sứ nói: "Quân tình khẩn cấp, tôi phải đến Tam quan triệu tập tiến binh”. Trương Tế đồng ý. Lục sứ liền từ biệt Trương Tế ra thành, cùng Tiêu Tán hướng về Tam quan mà đi. Trên đường hai người kể lại cho nhau nghe đầu đuôi mọi chuyện. Đi tới bến Dương gia, trời đang giữa trưa, nhìn ra thấy nước mênh mông mà bên bờ không có một chiếc thuyền nào. Lục sứ đợi rất lâu, hoàn toàn không có ai qua sông liền sai Tiêu Tán đi hỏi thuyền qua sông.
Tiêu Tán vâng lời, đi đến phía thượng lưu, thấy phu thuyền liền hỏi rằng: "Phiền các ngươi đưa sang bờ bên kia, sẽ trả nhiều tiền đò". Phu thuyền nói: "Bến này do Dương Thái Bảo nắm quyền thu tiền, ai dám tự ý đưa đò? Ngươi muốn đi, có thể tới nơi đình ở phía trước mà gặp”, Tiêu Tán nghe xong, liền đi đến đình, gặp một đám người đang ở trong đó đánh bạc. Tiêu Tán tới gần nói: "Xin cho thuyền sang bờ bên kia, sẽ trả nhiều tiền đò" Bọn người này ngẩng đầu lên, thấy Tiêu Tán có bộ tướng dị dạng, đều không trả lời. Tiêu Tán lại lễ phép hỏi lần nữa. Bọn người này mắng rằng: "Đồ cẩu nô thối tha, nói cái gì qua sông với qua đò”. Tiêu Tán nổi giận, tung ra đôi nắm đấm sắt, đánh cho bọn này té bò lổm ngổm. Đang muốn tới trước đánh Thái bảo, Thái Bảo theo phía sau mà chạy mất.
Tiêu Tán về gặp Lục sứ, nộ khí vẫn chưa tan. Lục sứ nói: "Mi lại đi gây sự sao?" Tiêu Tán nói: "Lần này thật bị đám này chọc tức vậy! Rõ ràng có thuyền, lại không chịu cho mướn, mà còn dùng lời lẽ nặng mà chửi mắng, bị tôi nổi giận lên, đánh cho bỏ chạy sạch” Lục sứ đang không biết làm thế nào, chợt thấy lũ người kia ai nấy tay cầm gậy ngắn đuổi đến. Tiêu Tán nói: "Để giết bọn giặc này, mà trừ mối hại”, liền vác phác đao, xông vào chém giết. Lũ người này không thể chống đỡ, phía sau ,Dương Thái Bảo chạy ra, đấu với Tiêu Tán được vài hiệp, bất phân thắng bại. Lục sứ kêu rằng: "Không nên đánh nữa, xin hỏi họ tên tráng sĩ?”
Dương Thái Bảo thu đao về, đứng nguyên tại chỗ, Tiêu Tán cũng dừng tay. Thái Bảo nói: "Ta vốn là người Trịnh Châu, họ Dương tên Kế Tông, tiểu hiệu là Thái Bảo, xin hỏi ông là người ở đâu? Muốn qua sông sao lại sai thủ hạ cố lấy?" Lục sứ nói: "Tiểu nhân vốn là con của Dương Lệnh Công ở Thái Nguyên là Lục lang đây. Nay chúa thượng bị nạn, phải tới Tam quan triệu tập bộ hạ đi cứu giá đi đến bên sông không có thuyền qua, nên muốn mượn trong chốc lát. Tráng sĩ vì sao không thuận cho?".
Thái Bảo nghe xong, bỏ đao xuống, tiến tới trước, lạy mà nói rằng: "Nghe danh đã lâu, chưa được gặp mặt. Hôm nay may được gặp, thật thỏa ước nguyện bình sinh”. Lục sứ đỡ dậy, Thái Bảo liền mời Lục sứ về trang trại, mở tiệc khoản đãi, và nói: "Tướng quân nếu không chê, nguyện đem thuộc hạ cùng đến Ngụy phủ cứu giá". Lục sứ vui mừng nói: "Thái Bảo nếu chịu đi theo, là một việc tốt vậy có gì mà không được? Chỉ đợi triệu tập mọi người, liền đến đây gọi" Thái Bảo hứa vâng, đêm đó lưu Lục sứ ở lại nghỉ qua đêm.
Hôm sau, chèo thuyền đưa Lục sứ qua sông, cùng Tiêu Tán đi về Tam quan. Lúc ấy trời vào tháng tư, trên đường nóng nực, cổ nhân có bài từ vịnh:
Thúy bảo sâm si trúc thành kính,
Tân Hà khiêu vũ lệ chu khuynh.
Khúc lan tà chuyển tiểu trì đình.
Phong lạc liêm y quy yến cấp,
Thủy dao phiến ảnh hý ngư kinh.
Liễu tiêu tàn nhật lộng vi tình.
(Bụi trúc biếc so le vạch đường nhỏ.
Sen non nhảy múa lệ son nghiêng.
Quanh co vòng chuyển bờ ao quạnh.
Gió rít én bay cuốn vội rèm.
Nước lay bóng rọi run chim cá
Liễu đưa ngày hết giỡn tạnh mành).
Hai người đi được nửa ngày, ngồi nghỉ dưới tán liễu, Tiêu Tán nói: "Đại nhân hãy dừng ở đây đợi, tôi tới phía trước kiếm quán rượu, mua một bình về để giải khát" Lục sứ đồng ý. Tiêu Tán đi về phía trước, không tìm đâu có quán rượu. Đang bực mình, chợt thấy một đám người gánh rượu thịt đi qua. Tiêu Tán hỏi rằng: "Các ông có bán rượu thịt này không?" Bọn này nói: "Đây là rượu thịt cúng lễ, làm sao bán được!” Tiêu Tán nói: " Cúng lễ gì?" Bọn này nới: "Phía trước có miếu thần của Dương Lục sứ, uy linh hiển hách, làng xóm nhờ đó mà được yên. Chỉ cần có người cầu khấn có ai là không được toại ý. Nên hôm nay mang lễ đến tạ ơn". Tiêu Tán nghe xong cười lớn. Về gặp Lục sứ, nói lại việc này. Lục sứ cười nói: "Sao có chuyện như vậy được?" Tiêu Tán nói: "Người trong thôn nói về hướng Bắc không xa, tôi cùng đại nhân đến đó xem sao?" Lục sứ nghe theo, cùng Tiêu Tán đi tới.
Quả nhiên thấy một tòa miếu, được xây rất là uy nghi. Lục sứ đi vào trong miếu, thấy phía trên có đúc tượng của mình, giống như người sống không khác, hai bên có tượng của 18 viên chỉ huy sứ, hương hỏa vô cùng hưng vượng. Lục sứ chỉ Tiêu Tán nói rằng: "Tượng này là mi đó, thật là giống như thật vậy". Tiêu Tán cười nói: "Tượng của đại nhân còn giống hơn. Tôi ở Trịnh Châu, nổi điên đánh người, thì ra là do chỗ này cúng dưỡng. Đợi tôi xô ngã tượng tôi trước, sau đó xô ngã tượng của đại nhân". Nói xong, vung ra một đấm, đã xô ngã một nửa bức thần tượng sụp xuống. Chạy lên trên điện, xô liền mấy cái tượng của Lục sứ, đều không nhúc nhích được liền cố sức mà xô, tiếng chấn động như đất trời sụp đổ. Những người cầu nguyện đều bỏ chạy hết. Người giữ miếu thấy vậy, bèn lấy kẻng khua ầm lên. Một lát sau, Lưu Siêu, Trương Cái đem hơn 200 người kéo đến trước miếu. Lục sứ nhận ra quát rằng: "Lũ các ngươi làm trò gì ở đây?” Lưu, Trương thất kinh, dập đầu lạy mà nói rằng: "Bọn tôi đều tưởng đại nhân đã chết, hôm nay vì duyên cớ gì lại ở đây?” Lục sứ kể lại việc giả chết, hôm nay phải triệu tập bọn ngươi đi đến Ngụy Châu cứu giá. Lưu, Trương vui mừng nói: "Nếu như thế, mời đến trong trại thương nghị”. Lục sứ ra lệnh phá dỡ tòa miếu, đánh đổ tượng thần, rồi theo chúng vào Hổ sơn trại ngồi xuống. Lưu, Trương mở tiệc chiêu đãi. Lục sứ nói: "Nhạc Thắng nay ở nơi nào?" Lưu Siêu nói: "Nhạc Thắng cùng Mạnh Lương lên Thái Hành Sơn tạo phản, xưng là Thảo đầu thiên tử”. Lục sứ than rằng: "Không dùng đến ta, các quận làm sao được yên?" liền dặn dò bọn Lưu, Trương chuẩn bị đao, thương, khôi giáp, đợi ở đây, đợi ta chiêu hồi bọn Nhạc, Mạnh liền cùng đi đánh giặc. Lưu, Trương vâng lời.
Lục sứ liền cùng Tiêu Tán đi đến Thái Hành Sơn, đi được một ngày. Mặt trời xế bóng, trời tối dần. Lục sứ nói: "Từ đây đi đều là đường núi cao không có nhà trọ, mi tới thôn ở phía trước tìm nới xin nghỉ trọ" Tiêu Tán vâng lời đi tới trước, đi một khoảng xa, không thấy có người ở, chuyển qua một ngọn núi, thì ra là một thôn nhỏ. Tiêu Tán tới gần, đi vào trong trang sở, thấy một viên ngoại đang ngồi dưới ánh đèn. Tiêu Tán vái nói: "Khách thương đi đường xa, tới đây trời đã tối, phiền công công cho nghỉ trọ một đêm nơi quý trang, xin cảm tạ rất nhiều” Người này nói: "Lúc khác thì nhà tôi đều có thể nghỉ được, hôm nay thì khó mà đón tiếp, ngài nên đến nơi khác mà xin trọ vậy". Tiêu Tán nói: "Đêm đã khuya, xin công công hãy mở phương tiện giúp cho". Chủ nhà nói: "Ngươi có người đi cùng không?" Tiêu Tán nói: "Chỉ có chủ tôi ở ngoài trang, tất cả chỉ có hai người” Chủ nhà nói: "Chỉ hai người thì không sao, hãy nghỉ ở phòng ngoài vậy".
Tiêu Tán liền ra mời Lục sứ vào gập. Chủ nhà thấy Lục sứ tướng mạo đường đường, liền hỏi rằng: "Ngài từ đâu đến?" Lục sứ trả lời rằng: "Tiểu nhân từ Biện Kinh tới đây có công việc muốn đến Thái Hành Sơn". Chủ nhà nói: "Ngài nếu nhắc đến Thái Hành Sơn thì tôi có nỗi oan khó nói". Lục sứ nói: "Có chuyện gì khó nói? Xin hãy nói cho tiểu nhân được biết" Chủ nhà nói: “Lão già này sống ở nơi này, háo danh trọng nghĩa, trong trang này đều là các nhà mang họ Trần, chỉ cách Thái Hành sơn vài dặm đường. Nay trên núi có hai vị thảo đầu cường nhân, một người tên Nhạc Thắng, một người là Mạnh Lương, hiệu xưng thiên tử, chiêu tụ năm, sáu vạn người, đánh phá cướp bóc và hại dân. Lão già này phiêu bạt nửa đời, chỉ có một mụn con gái, bị Mạnh Lương nhìn thấy, đêm nay muốn đến lấy làm vợ. Không cách nào khác đành phải chấp thuận, nếu không người trong xóm khó giữ mạng. Chính là nỗi oan này, không nơi nào thổ lộ" Lục sứ cười nói: "Công công chớ lo, Mạnh Lương là người quen cũ của tiểu nhân, đợi hắn đến, ta tự có cách khiến cho lui". Chủ nhà nói: "Nếu cứu được tiểu nữ khỏi bị nhục, tức là cha mẹ tái tạo vậy". Lục sứ từ biệt ra ngoài chờ đợi.
Đây nói về chủ nhà dặn dò trong nhà bày yến tiệc nghênh tiếp. Khoảng đến canh hai, chợt nghe có tiếng chiêng trống, đèn đuốc sáng rực, người vào báo Mạnh đại vương đã tới. Trần trưởng giả ra ngoài trang nghênh tiếp Mạnh Lương vào sảnh ngồi xuống, tùy tùng đứng dàn ở hai bên. Trưởng giả lạy rằng: "Không đón tiếp từ xa, mong đại vương tha thứ" Mạnh Lương nói: "Ông nay đã là Nhạc phụ của ta, không nên thi lễ" Trưởng giả liền sai người khiêng bàn tiệc đến, cố ý lệnh cho Bách hoa nương tử đến hầu rượu. Thị nữ liền báo: "Nương tử xấu hổ, không chịu đi ra”. Trưởng giả nói: "Giờ đã là tướng quân phu nhân, xấu hổ gì chứ, sao không chịu ra đây?” Mạnh Lương nghe được, vô cùng mừng rỡ. Lúc ấy Lục sứ cùng Tiêu Tán cách bên ngoài cửa sổ mà xem, cười thầm nói: "Nếu như không có vương pháp thì mặc cho hắn hoành hành thôn xóm. Hôm nay không phải là ta tới, thật bị hắn gạt mất cô gái này". Tiêu Tán nói: "Để tôi ra đánh gãy một chân của hắn, xem hãn còn làm được chàng rễ không” Lục sứ nói: "Mi ra trước bắt lấy, ta vào liền theo sau” Tiêu Tán nén đã lâu, bèn bước vào sảnh, cho một đá bay hết bàn tiệc, hai tay ôm chặt lấy Mạnh Lương. Mạnh Lương không đề phòng, nhúc nhích không được quát rằng: "Thủ hạ ở đâu” Lâu la vừa muốn xông lên, Lục lang lớn tiếng mắng rằng “Đồ không biết liêm sỉ kia, dám vô lễ như thế sao!” Tiêu Tán liền lôi Mạnh Lương ra ngoài chỉ rằng "Mi xem thử vị này là ai?" Mạnh Lương dưới ánh đèn nhận ra, vội sụp lạy nói: “Đại nhân vì sao lại ở đây, xin hãy tha tội!” Lục sứ nói: "Hãy mau chuẩn bị ngựa, về trại thương nghị việc khởi binh cứu giá".
 
0
Hồi Thứ Ba Mươi Mốt
[/align]

Giữa Đường Hô Diên Tán Được Cứu
Dương Quận Mã Đại Phá Quân Liêu


Dương Lục Sứ gặp Mạnh Lương, liền muốn về sơn trại thương nghị việc cứu giá. Trần trưởng giả tiến tới trước lạy rằng: "Tướng quân là ai? Xin cho biết danh tính" Lục sứ đỡ dậy, đem đầu đuôi kể lại cho biết. Trưởng giả vô cùng mừng rỡ: "Nghe đại danh ngài đã lâu như sấm bên tai, nay may có duyên được gặp" liền lệnh Bách hoa nương tử đi ra lạy tạ. Lục sứ nhìn thấy quả nhiên là một cô gái tốt. Trang điểm nhẹ nhàng, thể thái đoan trang. Tuy khó sánh với Tây Thi, nhưng đẹp hơn các cô gái bình thường khác. Tiêu Tán nhìn thấy, cười nói rằng: "Mạnh ca ca anh thật là xui xẻo, đụng phải chúng tôi tới đây. Nếu trễ một ngày, cũng được có một đêm vui vẻ vậy” Mạnh Lương nạt rằng: "Đại nhân ở đây không được nói bậy”. Mọi người đều che miệng mà cười. Bách hoa nương tử lạy xong, lui vào bên trong. Trưởng giả đích thân hầu rượu với Lục sứ, vô cùng ân cần. Đêm đó mọi người chia theo thứ tự mà ngồi, vui vẻ ăn uống. Trời gần sáng rõ, Dương Lục sứ từ biệt trưởng giả muốn đi. Trưởng giả lấy ra bạc trắng 10 lượng, làm quà để tạ ơn, Lục sứ từ chối không nhận. Cùng thuộc hạ rời khỏi trang sở đi về Thái Hành Sơn, có thơ làm chứng:
Sầu đa bất nhẫn túy thời biệt,
Tưởng cực hoàn tầm tĩnh lí hành.
Thùy khiến đồng khâm hựu phân thủ,
Bất tri hành lộ bổn vô tình.
(Sầu tuôn không nỡ say lúc biệt,
Tưởng ra đi nào muốn lên đường.
Ai xui cùng chốn mà chia rẽ,
Nào biết đường kia rất vô tình).
Lục sứ đi đến dưới núi, Mạnh Lương sai người lên trại thông báo trước. Nhạc Thắng nghe được tin này, lập tức dẫn vài mươi ngựa ra nửa núi mà nghênh tiếp vừa gặp ngay Lục sứ, chúng nhân cùng vào lạy mừng. Nhạc Thắng quỳ lạy mà nói: "Chỉ do đại nhân bị tội, khiến mọi người tứ tán khắp nơi, hôm nay lại được đoàn tụ, là may mắn cho chúng tôi vậy". Lục sứ nói: "Việc trước khoan nói, nay chúa thượng bị vây nơi Ngụy phủ, tình thế rất gấp, phải lập tức chuẩn bị cứu giá". Nhạc Thắng nói: "Chúa thượng lấy xã tắc làm trọng, tin lời gian nịnh, muốn đẩy đại nhân vào chỗ chết. Nay may ông trời có mắt, khiến đại nhân vẫn còn đây, chi bằng ở lại nơi đây, tự xưng làm vua một nước, mua sự vui vẻ, sao lại phải đi cứu giá?". Lục sứ nói: "Bọn ta tận trung báo quốc để danh thơm cho đời sau. Nếu chiếm một phương nơi đây, để ngàn đời sau mắng chửi, chỉ là bọn cướp mà thôi". Nhạc Thắng không dám nói nữa, liền bày yến tiệc khánh hạ. Hôm đó ở trong trại đánh trống thổi kên, mọi người uống say mới tan.
Hôm sau, Lục lang sai người đi triệu bọn Lưu Siêu, Trương Cái tới, chỉ có Trần Lâm, Sài Cảm là chưa tới. Nhạc Thắng nói: "Hai người họ về sơn trại tụ tập đóng quân, có thể cho người tới báo cho biết". Lục sứ liền sai Lưu, Trương tới báo. Vài ngày sau, Trần, Sài cũng dẫn quân bản bộ tới nơi. Lúc ấy dưới trướng có tổng cộng 22 viên chỉ huy sứ gồm: Nhạc Thắng, Mạnh Lương, Tiêu Tán, Trần Lâm, Sài Cảm, Lưu Siêu, Trương Cái, Quản Bá, Quan Khôn, Vương Kỳ, Mạnh Đắc, Lâm Thiết Thương, Tống Thiết Bổng, Khưu Trân, Khưu Thiên, Trần Hùng, Tạ Dũng, Đào Thiết Kỳ, Tống Thiết Cổ, Lang Thiên, Lang Vạn. Bộ hạ tinh tráng hơn tám vạn người. Lục sứ nói. "Đủ để thắng địch rồi”.
Trước tiên sai người vào thành Biện Kinh báo với Bát Vương, hẹn ngày tiến binh, lại sai người tới trại Hổ sơn báo với Dương Thái Bảo. Lục sứ sắp đặt xong, hôm đó điểm tập bộ tướng, dựng cờ, trên viết bảy chữ lớn: "Dương Lục Sứ Ngụy Phủ Cứu Giá". Nổ một tiếng pháo đại quân rời khỏi Thái Hành Sơn, chỉ thấy thương đao san sát kiếm kích trùng trùng. Lúc ấy trời vào mùa Hạ, gió Nam nhẹ thổi, quân mã của Lục sứ đang đi, chợt báo phía trước có một cánh quân kéo tới. Lục sứ sai người dò xem, thì ra là quân của Dương Thái Bảo tới. Mọi người gặp nhau, hạp lại mà đi. Lục sứ ngồi trên ngựa thấy mặt quân rạng rỡ, miệng ngâm bài thơ rằng:
Phục hợp anh hùng thế cánh hùng,
Vạn lí phong sắc tống hành tông.
Thử hồi chuyên vị an bang quốc,
Thuyết dữ Phiên nhân cực tị phong.
(Tụ họp anh hùng thế càng hùng,
Muôn dặm cảnh quan tiễn ngựa dong.
Lần này chỉ muốn yên bờ cõi,
Thuyết phục giặc Phiên hãy tránh đường).
Đại quân gần tới địa giới Đại Châu, Bát Vương cũng dẫn bốn vạn bộ binh tới hội, Lục sứ vô cùng vui mừng. Lục sứ nói: "Chuyến này không chỉ là cứu giá, mà phải tiêu diệt loại xấu, bình định U Châu, đều ở chuyến này vậy" Bát Vương hiểu ý, liền đóng quân ở Đại Châu. Hôm sau, Lục sứ triệu Nhạc Thắng vào nói: "Chúa thượng bị vây đã lâu, ngươi làm tiên phong, ra sức thắng một trận, để phá nhuệ khí của tướng Phiên". Nhạc Thắng lĩnh mệnh liền đi. Lục sứ, lại gọi Mạnh Lương, Tiêu Tán nói: "Các ngươi dẫn bọn Lưu, Trương, Trần, Sài mỗi người lĩnh quân hai vạn, chia hai cánh trái, phải đánh vào trung quân của địch, phải cố gắng mà đánh. Ta dùng hậu quân tiếp ứng, ắt thu toàn thắng". Bọn Mạnh Lương liền dẫn quân đi. Lục sứ sắp đặt xong, cùng bàn với Bát Vương rằng: "Thần cùng điện hạ, dẫn tinh binh tiếp ứng, chư tướng ắt có thể thành công vậy". Bát Vương nói: "Quận mã thật là người đủ tài định đó". Lục sứ khiêm tốn không dám nhận.
Hôm sau, đại quân đang đi, chợt hướng chính Bắc bụi bay mù mịt trời, một cánh nhân mã đi tới. Nhạc Thắng múa đao mở trận xông lên, tướng Phiên là Lưu Kha không thể địch nổi, thua to bỏ chạy. Quân Tống đoạt được xe tù, đưa vào trong quân cho Lục sứ, không phải ai khác, chính là Bảo giá tướng quân Hô Diên Tán vậy Lục sứ vội mở trói thả ra, lạy nói rằng: "Trời khiến gặp gỡ, nếu không thì trở thành tù binh rồi vậy". Tán nói: "Khi lão tướng bị bắt, nhiều lần muốn báo với chúa thượng đến triệu túc hạ, ngặt nỗi quân tình nghiêm mật, chưa thỏa ý nguyện. Nếu hôm nay không được Quận mã cứu suýt mất mạng già này. " Lục sứ vui mừng dẫn vào gặp Bát Vương. Bát Vương nói: "Đó là hồng phúc của thiên tử vậy, mới khiến cho tướng quân được cứu”. Lục sứ hạ lệnh chư tướng phải tiến nhanh lên.
Lúc ấy Chơn Tông ở Ngụy phủ, cùng các quan trông ngóng tin tức cứu viện, không thấy tăm hơi. Trong thành lương thảo sắp cạn, thần hạ đều phải giết ngựa để ăn. Quân Phiên vây đánh rất gấp, thế đã nguy khốn.
Ở đây nói đến Lưu Kha thua trận về gặp Tiêu Thiên Tả, báo lại quân cứu giá của triều đình Trung Quốc đã tới, cướp mất Hô Diên Tán. Tiêu Thiên Tả thất kinh, liền sai người do thám là cứu binh của người nào. Thám mã hồi báo rằng: "Trên cờ là hiệu của Dương gia, thế quân kéo đến rất là dũng mãnh". Tiêu Thiên Tả hạ lệnh các trại chỉnh đốn quân để nghênh chiến, sắp xếp chưa xong, thì quân tiền đội của Nhạc Thắng đã kéo đến đông như kiến. cỏ. Tướng Phiên Gia Luật Khánh bày trận ra đánh trước.
Nhạc Thắng mắng lớn: "Quân trời đã đến, bọn xấu xa kia còn không mau trốn xa, hay muốn tìm cái chết hử!" Gia Luật Khánh nổi giận nói: "Chúa tôi của Trung Quốc bị vây gần chết, ngươi cùng đến để chịu chết ư?” Nhạc Thắng vỗ ngựa múa đao xông vào Bắc trận, Gia Luật Khánh giơ thương đón đánh. Hai ngựa giao nhau, đánh được vài hiệp, quân Phiên xông đến vây chặt lấy. Mạnh Lương, Tiêu Tán chia ra hai cánh trái, phải đánh xốc vào tướng Phiên Ma Lí Lạt Hổ giơ phiên thiên kích vòng ra trợ chiến. Vừa gặp phải Mạnh Lương, hai ngựa giao phong. Trần Lâm, Sài Cảm xuất tinh binh từ bên cạnh xông vào đánh.
Lúc bấy giờ Nam-Bắc hai bên đánh vùi, chiêng trống vang trời, Tiêu Tán đánh đến hăng máu, đề đao tưng hoành nơi Bắc doanh, như đi vào chỗ không người. Vừa gặp lúc tướng Phiên Lưu Kha đến nơi, đánh chỉ mới một hiệp, bị Tán chém chết xuống ngựa. Quân kị của Tống xông vào, vạn cánh cung cùng bắn một lúc. Trận thế quân Bắc dao động. Thông thường gắng sức đến đánh, Dương Thái Bảo bắn cho một mũi tên lăn xuống ngựa. Thổ Kim Tú nhìn thấy, xông pha ra cứu vào. Gia Luật Khánh liệu rằng: " Không thể thắng được muốn đánh xéo mà xông ra”. Nhạc Thắng thừa thắng đuổi theo tới trước chém một đao đứt làm hai đoạn. Ma Lí Lạt Hổ bỏ vây trốn chạy, bị Lưu Siêu, Trương Cái dùng dây giật té ngựa, xông lên bắt sống.
Sư Cái vừa muốn đến cứu, bị Lang Thiên, Lang Vạn xốc đến, bắt sống ngay trên lưng ngựa. Mạnh Lương, chém giết xông thẳng tới cửa Đông, trên địch lâu nhìn xuống thấy dưới thành đang đánh nhau dữ dội, Tiết độ sứ Lý Minh, Vương Toàn Tiết mở cửa xông ra giáp công để tiếp ứng. Quân Bắc bỏ cờ quăng giáp, như gió cuốn lá rơi mà bỏ chạy. Quân Tống đuổi theo truy kích, giết quân Phiên thây chết đầy đất, máu chảy thành sông. Tiêu Thiên Tả cùng Thổ Kim Tú dẫn tàn quân ủ rũ cúi đầu ngày đêm chạy về U Châu. Quân Tống đoạt được được doanh trại quân Liêu, lấy được trâu, ngựa, quân nhu vô số. Trận chiến này được thành công nhờ ở ba điểm hợp thời cơ: một là người Phiên vây đánh đã lâu, ý chí buông thả; hai là không ngờ Lục lang vẫn còn sống, nên đã bị hoảng sợ; ba là quân Tống mới đến huệ khí đang hăng, vả lại đánh vào nơi không có phòng bị. Đời sau có thơ khen:
Tống vận hưng long khải thánh minh.
Anh hùng hậu mệnh phát trường chinh.
Phiên nhân khi giáp phao qua thuẫn,
Phương hiển Dương gia cứu giá binh.
(Tống triều hưng thịnh xuất. thánh minh,
Anh hùng vâng mệnh ruổi trường chính. .
Giặc Phiên tan tác buông binh khí,
Vang danh họ Dương cứu giá binh).
Lúc ấy Bát Vương một mình cưỡi ngựa vào trong thành trước gặp Chơn Tông chúc mừng rằng: "Nhờ hồng phúc bệ hạ, đã mời được cứu binh của Dương Lục sứ đến nơi, đánh giết quân phiên vứt giáo quăng gươm bại trận mà đi". Chơn Tông nói: “Trẫm thoát nạn này, là công của khanh vậy” . Rồi lệnh tuyên triệu Dương Lục sứ, lạy phục ngự tiền. Vua nói: “Khanh do lầm phạm lỗi trước, nên nay trẫm xá tội cho. Giờ lại có công lớn cứu giá, trẫm quyết sẽ không phụ khanh đâu". Lục sứ dập đầu tâu rằng: "Cơ hội khó được, nên nhân xa giá bệ hạ ở đây, uy phong trăm bề, thần xin dẫn quân thắng đánh U Châu, bắt Tiêu hậu lấy bản đồ về dâng, khiến cho mối họa nơi biên cương hết vĩnh viễn, đây là cơ hội ngàn năm có một, xin chuẩn lời tâu của thần . Vua nói: "Lời khanh nói rất đúng, ngặt nỗi xa giá đi ra đã lâu, quân lính lại bị vây rất mỏi mệt, cần chờ hồi triều rồi hãy bàn". Lục sứ lui ra về trại, đem toàn bộ tướng Phiên bắt được chém đầu hiệu lệnh, chuyện không có gì đáng nói.
Hôm sau, vua để Đại Châu Tiết độ sứ Dương Quang Mĩ làm Ngụy Châu lưu thủ, hạ lệnh các trại ban sứ về Biện Kinh. Quân sĩ được lệnh ai cũng vui mừng nhảy nhót, văn võ hộ tống xa giá, rời Ngụy phủ hướng Đại Lương mà về. Chỉ thấy:
Tinh kỳ động xứ hoàng long vũ,
Hoạch giác minh thì Bạch Trú văn
(Cờ xí tung bay rồng phi múa,
Sáo rúc vang hồi động sớm mai).
Đại quân trên đường không có gì đáng kể, ngày nọ đến Biện Kinh xa giá đi vào hoàng thành. Hôm sau thiết triều, quần thần triều hạ xong, Chơn Tông theo cấp bậc mà ban thưởng cho văn võ tháp tùng bị vây ở Ngụy Châu. Rồi tuyên Lục sứ vào trước điện, vỗ về an ủi rất hậu, và nói rằng: "Tam quan nhờ khanh được yên, nên hãy thống lĩnh quan bản bộ, trấn giữ nơi này như cũ, khiến Bắc Phiên không dám nam hạ, đó là Phiên dậu của xã tắc vậy”. Lục sứ tâu nói: "Thần đang muốn trở lại trại Giai sơn, chiêu mộ anh hùng dũng sĩ, để mưu đồ kế phạt Liêu, nhưng chưa được thánh chỉ. Nay bệ hạ chuẩn cho thần lập công, xin lập tức đi ngay". Chơn Tông vui mừng, gia phong Lục sứ làm Tam quan đô tuần Tiết độ sứ ban cho một đạo sắc chỉ, trảm phạt tự do. Lục sứ lạy thụ mệnh. Vua liền thiết yến nơi mé điện, khao thưởng tướng sĩ cứu giá, vua tôi vui vẻ rồi tan.
Lục sứ về đến Vô nịnh phủ, bái từ Dương Lệnh Bà để lên đường. Có con trai là Dương Tôn Bảo, tuổi vừa 13, muốn theo cha cùng đến Tam quan. Lục sứ nói: "Trại Giai sơn là một nơi khổ sở lạnh lẽo, đi không ích gì, chi bằng hãy hầu hạ Lệnh Bà, đợi mi trưởng thành, sẽ đem mi theo. Tôn Bảo liền im. Lục sứ từ biệt mọi người trong phủ, cùng bọn Nhạc Thắng, Mạnh Lương dẫn quân mã đi về Tam quan, có thơ làm chứng:
Đại tướng chinh trường đắc thắng hồi,
Tinh kỳ vân ủng hậu quân thôi.
Tu tri thử khứ tồn uy vọng,
Kinh sứ hoàng gia chiếu chỉ lai.
Tam quan trên đường không có gì để kể, ngày nọ đi tới trại Giai sơn. Lục sứ vào trại cũ ngồi xuống, mọi người tham kiến xong. Liền hạ lệnh tu chỉnh doanh trại, tu tạo quan ải, chia bọn Nhạc Thắng thành 12 đội luyện tập, ai nấy dẫn quân bản bộ chỉnh điểm thương đao, y giáp chờ lệnh. Từ đó Tam quan hưng vượng như xưa, Lục sứ thường xuyên sai thám mã đi dò tin tức của Bắc Phiên, cùng chủ trương bàn việc tiến đánh. Chuyện không có gì đáng nói.
 
0
Hồi Thứ Ba Mươi Hai
[/align]

Tiêu Thái Hậu Treo Bảng Mộ Binh
Vướng Toàn Tiết Đánh Quân Đại Liêu


Tiêu Thiên Tả từ sau khi bại trận quay về, Tiêu hậu ngày đêm lo lắng Trung Quốc đến đánh. Ngày nọ cùng quần thần nghị rằng: "Gần đây quân Bắc lại nghe thấy Nam triều đang có ý đến chinh thảo. Nay Dương gia binh mã hùng tráng, nếu như dẫn quân Bắc chinh, ai có thể ngăn địch?” Chưa dứt lời, Hàn Diên Thọ tâu rằng: "Tục ngữ nói: "Nước lớn mà có quân chinh phạt, tiểu bang cũng có sự chống giữ. Nay Đại Liêu ta tướng giỏi lão soái đã không thể đảm nhiệm, mong bệ hạ theo pháp lệ tuyển cử, ra bảng văn, chiêu mộ anh hùng nghĩa sĩ để đảm nhiệm chức nguyên soái, phòng bị người Tống đến xâm lược, đó là kế sách bảo vệ lâu dài vậy". Hậu chuẩn tấu, sai văn thần thảo bảng văn chiêu mộ dâng lên. Bảng viết:
"Đại Liêu Tiêu thái hậu vì chiêu mộ anh hùng, để phòng khi nước nhà có nạn; Thường nghe rằng: "Binh dĩ tướng vi quý, tướng dĩ tài vi năng. Nay nước Đại Liêu ta đang ở vào lúc nhiều việc, nhung mã tương tầm, can qua chưa tắt, nên nay ra bảng văn tìm kiếm hào kiệt các nơi. Hoặc có mưu lược mà ở nơi sơn cốc, hoặc có võ nghệ mà ở nơi nghèo hèn, đoạt cờ chém tướng, đánh ải lấy thành. Bất kể có tài năng gì, chỉ cần là người có thể phò nước dẹp loạn, đều có thể đến U Châu. Có thân thủ tài năng. Nếu quả có thể xứng chức, lập tức trao cho quyền lớn, tôn lên tước vị phù hợp. Nay ra bảng văn cho biết vậy".
Tiêu hậu xem xong bảng văn, liền lệnh cho treo ở cửa thành, chiêu thu anh hùng. Có người là Xuân Nham lập tức bái từ sư phụ, gầm thét như sấm, xuống đến Bắc Phiên, vào đến thành U Châu, gặp lúc tráng dũng ở khắp nơi đang đứng vây lấy cửa quan xem bảng. Xuân Nham tiến vào kêu rằng: "Để ta xé bảng”. Chúng nhìn thấy, người này mặt như sắt khô, mắt như hạt châu vàng, thân cao hơn trượng, hai vai bắp thịt nhô lên, tướng mạo rất kỳ dị. Thủ quân thấy hắn xé bảng văn, liền dẫn vào triều gặp Tiêu hậu. Tiêu hậu nhìn thấy hoảng sợ nói: "Trên đời lại còn có người tướng mạo quái dị vậy sao?" Rồi hỏi rằng, tráng sĩ người ở đâu, Xuân Nham đáp rằng: "Tiểu thần tổ cư Bích La sơn, họ Xuân tên Nham". Tiêu hậu nói: "Ngươi có võ nghệ gì?" Nham nói: "Binh thư chiến sách thập bát ban võ nghệ, không có gì là không thông’. Tiêu hậu mừng rỡ, liền cùng nghị với văn võ phong cho quan chức. Tiêu Thiên Tả tâu rằng: "Tráng sĩ mới tới, chưa thấy tài năng, bệ hạ phong tạm cho chức quan vừa phải, đợi khi kiến lập kỳ công, mới nghị cũng chưa muộn”. Hậu chuẩn tấu, liền phong Xuân Nham làm Đoàn doanh đô tổng sứ, Xuân Nham tạ ơn mà lui.
Ở đây nói về Tống Chơn Tông muốn rửa mối nhục ở Ngụy phủ, triệu tập quần thần bàn cách. Bát Vương tâu rằng: "Bệ hạ có cả thiên hạ thống nhất, chỉ một nơi U Châu hẻo lánh, lấy thì không khó, chỉ là quân sĩ chưa tập hợp được, hãy đợi từ từ mà bàn". Vua chưa trả lời, chợt một người ra tâu: "Không nhân lúc này tiến binh, còn chờ lúc nào?" Chúng nhìn xem, thì ra là Quang châu Tiết độ sứ Vương Toàn Tiết, tới trước tâu rằng: "Thần có một kế, có thể lập tức khiến Bắc Phiên khoanh tay xin hàng" Vua nói: "Khanh có kế gì?”. Toàn Tiết nói: "Nếu khởi quân của Trung Quốc, thì khó mà thắng, xin bệ hạ đẳng sắc chỉ lấy một lộ quân ở Đại Châu, một lộ quân ở Hùng Châu, một lộ quân ở Sơn Hậu. Ba lộ này vốn là yết hầu của U Châu, dễ lấy lương thảo. Thần đích thân dẫn một đạo quân cùng bốn lộ mà tiến. Tuy Bắc Phiên có tướng hùng dũng, nhưng làm sao chống đỡ nổi". Vua y tấu liền hạ sắc cho ba lộ xuất binh, phong Vương Toàn Tiết làm Nam-Bắc Chiêu Thảo sứ, Lý Minh làm phó sứ, dẫn năm vạn quân xuất phát. Toàn Tiết được chỉ, ngay hôm đó, dẫn quân rời Biện Kinh hướng về U Châu tiến phát. Lúc này trời vào mùa Xuân, gió êm trời ấm. Chỉ thấy:
Lộ thượng dã hoa vô ý thái,
Lâm trung đỗ vũ động nhân tình.
(Hoa dại bên đường không khoe sắc,
Trong rừng đỗ vũ rộn tình người).
Đại quân đi đến Cửu Long cốc hạ trại, tin tức truyền vào U Châu, cận thần tâu với Tiêu hậu: "Trung Quốc khởi bốn lộ quân mã, thanh thế rất thịnh". Tiêu hậu hoảng sợ nói: "Không ngờ đến nhanh như vậy”. Liền hỏi ai có thể dẫn quân nghênh địch. Chưa dứt lời, Xuân Nham ứng tiếng ra nói: "Bệ hạ đừng lo, thần cử một người lui quân Tống dễ như trở bàn tay, lấy Trung Nguyên như lấy đồ trong túi". Tiêu hậu hỏi rằng: "Khanh cử người nào?" Nham nói: "Sư phụ của thần, họ Lữ tên Khách, hiện ở ngoài cửa cung, chưa dám tự tiện vào. Nếu dùng người này lui địch, sợ gì không thắng?" Hậu liền tuyên Lữ Khách vào dưới bệ ra mắt. Thấy người này tướng mạo thanh nhã, cử chỉ khác thường, nghĩ thầm người này ắt có kỳ tài, liền hỏi rằng: "Khanh muốn đến ứng mộ cầu tiến thân phải không?"
Lữ Khách đáp rằng: “Thần nghe bệ hạ muốn tranh bá cùng Nam triều, nên cố ý đến đây giúp một tay, để đoạt lấy thiên hạ". Hậu nói: ""Khanh muốn bao nhiêu người ngựa để đi?" Lữ Khách đáp: "Kẻ thiện chiến của người Tống rất nhiều, phải dùng trận đồ mà đấu. Theo ý thần, binh mã của U Châu không đủ để sai khiến, bệ hạ cần phải mượn quân của năm nước mới thành được việc lớn". Hậu nói: "Là năm nước nào? Lữ Khách nói: "Có thể viết một bức thư, sai sứ đến Liêu tây tiên ti quốc, gặp quốc vương là Gia Luật Khánh, hiến tặng vàng ngọc để lấy lòng rồi hỏi mượn tinh binh năm vạn, hắn tất không chối từ; lại viết thư sai quan cáo tới Tân La quốc, ban thưởng cho quốc vương là Mạnh Thiên Năng, lệnh hắn phát năm vạn binh tương trợ, lại sai một sứ đến Hắc Thủy quốc, hứa sẽ cắt dãi đất Tây Khương để cảm tạ sau khi chiến thắng, nhờ giúp quân năm vạn, tất vui vẻ mà nghe theo; lại sai một sứ tới Tây Hạ quốc gặp quốc vương là Hoàng Kha Hoàn, nói cho biết sự lợi hại của Trung Quốc, mượn quân năm vạn; riêng sai cận thần tới Lưu Sa quốc, gặp quốc vương là Tiêu Hoắc Vương mượn quân năm vạn. Nếu được quân của năm nước này đến đây, rồi dựa vào sở học bình sinh của thần, bày ra trận Nam thiên thất thập nhị trận, khiến vua tôi nhà Tống nhìn thấy mà hoảng hồn bạt vía, khoanh tay quy thuận vậy?" Tiêu hậu nghe xong, vô cùng mừng rỡ nói: "Khanh đúng là Tư Nha trùng xuất, Gia Cát tái sinh”. Ngay hôm đó phong Lữ Khách làm Phụ quốc quân sư, Bắc đô nội ngoại binh mã chánh sứ. Lữ Khách tạ ơn mà lui.
Tiêu thái hậu lại sai năm nơi sứ thần, mang vàng ngọc lệnh chỉ đến các nước Tiên Ti... Lúc đó mỗi sứ thần lĩnh chỉ phân biệt tấn kiến vua các nước, các nước được ban vàng bạc châu báu, tự nhiên vui vẻ nghe theo. Tiên ti quốc vương sai Hắc Đát lệnh công Mã Vinh làm soái; Tân La quốc vương sai Hạng Kim Long Thái tử làm soái; Hắc Thủy quốc vương sai Thiết Đầu Hắc Thái Tuế làm soái; Tây Hạ quốc vương sai công chúa Hoàng Quỳnh nữ làm soái; Lưu Sa quốc vương sai phò mã Tô Hà Khánh cùng công chúa Tiêu Bá Chân làm soái. Mỗi nước trợ giúp tinh binh năm vạn, lục tục kéo đến. Không đến vài mươi ngày, đều tập trung ở U Châu đợi lệnh. Cận thần tâu với Tiêu thái hậu: "Binh mã của năm nước đã tới, quân sứ sai khiến thế nào?" Lữ Khách tâu rằng: "Quân của năm nước Thần đi chuyến này không phải là tầm thường, bệ hạ hãy triệu bọn Gia Luật Hưu Ca ở Vân Châu, Tiêu Thác Lãn ở Úy Châu, khởi quân của cả nước để thần điều khiển, sai khiến mà khắc phục Trung Nguyên." Hậu chuẩn tấu, lập tức hạ sắc cho hai châu Vân, Úy điều về quân mã ở các nơi, phong Thái Đát lệnh công Hàn Diên Thọ làm giám quân đô bộ xứ, Thổ Kim Tú trở xuống đều phải nghe sự sai khiến, thống suất 25 vạn tinh binh, hợp quân của năm nước tổng cộng 50 vạn tinh binh, theo Lữ quân sư tiến đánh. Hàn Diên Thọ được chỉ, ra giáo trường thao luyện chuẩn bị. Vài ngày sau, quân mã hai châu Vân, Uý đến nơi liền cùng Lữ quân sư suất tinh binh năm nước, ra lệnh người ngựa Bắc Phiên rời U Châu, cuồn cuộn mênh mông, hướng về Cửu Long cốc mà tiến. Chuyến đi này có bài thơ:
Toàn bằng hưng quốc phò vương sách,
Năng sử anh hùng hiển trí lai.
Tam thiên thế giới phong văn thất,
Thất thập thiên môn chiến trận khai.
(Toàn theo vương sách phò hưng quốc,
Bèn giúp anh hùng lộ trí tài.
Ba ngàn thế giới gió mưa hết,
Bảy mươi cửa khuyết chiến trường khai).
Quân mã Bắc Phiên đi đến Cửu Long cốc, đóng trại nơi đất đồng cỏ bằng phẳng, đối diện với trại quân Tống. Ngày hôm sau, Lữ quân sư triệu tập đến dặn dò: "Tháng ba Bính Thân là ngày can chi tương khắc, ta sẽ bày trận, các ngươi cần phải nghe lệnh. Nếu có kẻ đến chậm, sẽ chém trước tâu sau". Hàn Diên Thọ đáp: "Lệnh chỉ của quân sư, ai dám chống lại!"
 
0
Hồi Thứ Ba Mươi Ba
[/align]

Lữ Quân Sư Bày Nam Thiên Trận
Dương Lục Sứ Đánh Hạ Tam Quan


Lữ quân Sư lấy ra một tấm trận đồ; sai 5000 kị quân của trung doanh cách Cửu Long cốc một khoảng xa dựng lên 72 tòa tướng đài, mỗi đài sai 5000 quân giữ. Ngoài ra, thiết lập 5 đàn, dựng cờ hiệu, theo màu đen, vàng, đỏ, trắng, xanh. Trong mở 72 đường hành lang có mái che, qua lại thông thoáng, đợi khi dựng xong sẽ sắp đặt. Quân kị lĩnh chỉ đi làm, theo sơ đồ mà dựng lập. Vài ngày sau, đài, đàn đều chỉnh tề, rất là vững chắc, hồi báo cho Lữ quân sư, thân đến xem qua một lượt. Quân sư liền chọn ngày tốt, hạ lệnh chư tướng đến nghe sai khiến.
Sau ba hồi trống, quân mã năm nước dàn bày ngay ngắn. Trước tiên Lữ quân sư lệnh cho Hắc Đát lệnh công Mã Vinh của Tiên Ti quốc dẫn quân bản bộ bày trận ở chính Nam Cửu Long cốc, đó là trận Thiết môn kim tỏa: Chia 1 vạn quân cầm trường thương, làm thành thiết môn; giữ lấy 7 tòa tướng đài; lại chia 1 vạn quân cầm tên sắt, làm thành thiết thuyên (chốt sắt), giữ lấy 7 tòa tướng đài; lại dùng 1 vạn quân cầm kiếm bén, làm thành kim tỏa (khóa vàng) giữ lấy 7 tòa tướng đài. Mã Lệnh Công lĩnh chỉ, nổ một tiếng pháo, dẫn quân dàn hàng mà đi. Có thơ làm chứng:
Hoạch giác tề minh trận thế khai,
Thiết môn kim tỏa xảo an bài.
Đối lũy địch tướng dục cầm phá,
Trừ thị thần tiên bí quyết lai.
(Sáo trận rúc vang trận mở toang,
Cửa vàng khoá chặt khéo bày xong.
Bên kia tướng giặc mong gì phá,
Trừ có thần tiên đến giúp giàng).
Lữ quân sư lại hạ lệnh, sai Thiết Đầu Thái Tuế của nước Hắc Thủy dẫn quân bản bộ, tới mé trái Cửu Long cốc bày trận Thanh long, chia 1 vạn quân tay cầm cờ đen, bày thành râu rồng, giữ lấy 7 tòa tướng đài; lại lấy 1 vạn quân chia làm 4 đội, tay cầm bảo kiếm, dàn thành 4 móng của rồng, giữ lấy 7 tòa tướng đài; lại lấy 1 vạn quân tay cầm kim thương, bày thành dạng vảy rồng, giữ lấy 7 tòa tướng đài. Thiết Đầu Thái Tuế lĩnh chỉ, dẫn quân đi mà bày trận. Có thơ vịnh:
Thanh long trận thế trí mưu thâm,
Bách vạn hùng binh diệc lẫm nhiên.
Tự thị trung triều hào kiệt tại,
Cảm trì tuấn mã nhập nam thiên.
(Thế trận Thanh Long trí mưu dày,
Trăm vạn hùng binh lẫm liệt thay.
Vốn sẵn kiệt hào trong triều cũ,
Dám băng ngựa đến cõi nam này).
Lữ quân sư lại lệnh cho Tô Hà Khánh nước Lưu Sa, đem quân bản bộ đến mé phải Cửu Long cốc bày trận Bạch Hổ, dùng 1 vạn quân, tay cầm bảo kiếm, bày thành dạng răng hổ, giữ lấy 7 tòa tướng đài; lại lấy 1 vạn quân tay cầm đoản thương, bày thành dạng móng hổ, giữ lấy 7 tòa tướng đài; Lại lệnh Gia Luật Hưu Ca đóng 1 vạn quân, giữ lấy 6 tòa tướng đài phía trước, bày thành trận Chu tước; Gia Luật Hề Đệ đóng 1 vạn quân, giữ lấy 6 toà tướng đài phía sau, bày thành trận Huyền võ, vòng ra vây lấy trái phải, làm thành thế Ỷ giốc. Tô Hà Khánh cùng bọn Gia Luật Hưu Ca dẫn quân làm theo. Có thơ làm chứng:
Bạch hổ giao gia trận thế hùng,
Tiền bài Chu Tước. tướng đài trung.
Hậu cư Huyền Võ tàng cơ diệu,
Địch quốc cường binh bất dị thông. . . .
(Bạch Hổ đan xen thế trận hùng,
Trước bày Chu Tước tướng đài trong.
Sau thêm Huyền Võ đầy cơ diệu,
Nước giặc hùng binh cũng khó thông).
Lữ quân sư lại khiến Kim Long Thái tử nước Tân La dẫn quân bản bộ đóng giữ tòa tướng đài ở giữa: giả thành Ngọc hoàng đại đế; tọa trán Thông minh điện. Lệnh Đổng phu nhân giả làm Lê Sơn lão mẫu, rồi vòng ở giữa đài chia quân 1 vạn, mặc theo màu xanh,. vàng, đỏ, trắng, đen, giả làm Tứ đẩu tinh quân. Ngoài ra, chọn lựa 28 tên quân, xỏa đầu rủ tóc, vòng trước sau cửa đài ở giữa, giả làm nhị thập bát tú. Lại lệnh Thổ Kim Ngưu giả làm Huyền đế, Thổ Kim Tú tay cầm cờ đen, bày thành thế Quy Xà, trấn giữ hai cửa ở mặt Bắc. Bọn Kim Long Thái tử ai nấy lĩnh chỉ dẫn quân mà đi. Có thơ làm chứng:
Ngọc Hoàng giá hạ liệt Tinh quân,
Trận thế quy nhiên trí áp quần.
Bất đắc tiên gia thân giáng thế,
Định giáo Trung Quốc lưỡng bình phân.
Lữ quân sư lại lệnh cho Hoàng Quỳnh nữ nước Tây Hạ, dẫn nữ binh bản bộ, tay cầm bảo kiếm, giả làm Thái Âm tinh; Tiêu Thác Lãn xuất quân bản bộ, mặc áo bào đỏ giả làm Thái Dương tinh; Lại lệnh Hoàng Quỳnh nữ xích thân lõa thể, đứng dưới cờ, tay cầm xương đầu lâu, gặp quân địch liền khóc to, giả thành Nguyệt bột tinh ; Gia Luật Sa dẫn quân bản bộ tuần tra bốn phía, theo hướng Đông, Tây, Nam, Bắc đẩu liên kết thành thế Trường Xà. Bọn Hoàng Quỳnh nữ ai nấy dẫn quân đi bày trận. Chuyện không có gì đáng nói. Có thơ làm chứng:
Chiến cổ bình qua thế nhược lôi,
Đông Tây Nam-Bắc trận môn khai
Tiên gia bãi tác nã long kế,
Bất tưởng anh hùng thức phá lai.
(Thế trận vang trời như sấm sét, :
Mở toang trận thế bốn bề xông.
Tiên hẳn đã định mưu rồng cọp,
Dầu có anh hùng khó phá xong).
Lữ quân sư lại lệnh cho con của Tiêu thái hậu là Đơn Dương công chúa dẫn 5000 quân, mặc cà sa ngũ sắc, bày thành Mê hồn trận, trong có 500 Phiên tăng, làm Mê hồn trưởng lão. Bí mật bắt 72 người đàn bà chửa, chôn sống dưới cờ, gặp khi giao phong, nhiếp lấy tinh thần kẻ địch. Đơn Dương công chúa được lệnh, dân quân theo phép mà làm. Có thơ vịnh:
Trận trận tương liên pháp thậm kỳ,
Quỷ thần dạ dạ phách tinh mê.
Phân minh nhất bổn an bang thuật,
Biến tác Phiên thiên địa phúc cơ.
(Trận trận liền theo thật lạ kỳ,
Đêm đêm thần qủy phách hồn mê.
Rõ ràng một phép an định nước,
Đã làm rung động đất trời kia).
Lữ quân sư hạ lệnh Gia Luật Nạp tuyển 5000 kiện tăng, tay cầm chuỗi Di Đà, bày thành chư Phật ở Tây thiên Lôi âm tự, ngoài ra lấy 500 hòa thượng đứng dàn hai bên trái, phải giả làm các A La Hán, tổng cư ở đầu Thất thập nhị thiên môn, để nuốt uy thế kẻ địch. Gia Luật Nạp lĩnh mệnh mà làm. Có thơ làm chứng:
Đường đường trận thế lập phương viên,
Vạn mã tranh trì hiểu tướng đàn.
Nhược sử anh hùng tề dụng lực,
Tận giao thánh chúa định Trung Nguyên.
(Đường đường thế trận lập vuông tròn,
Muôn ngựa xông lên vây tướng đàn.
Dẫu có anh hùng cùng dốc sức,
Hết lòng vì chúa định Trung Nguyên).
Lữ quân sư bày xong trận thế, sai Xuân Nham cùng Hàn Diên Thọ đốc chiến. Trong mỗi trận nhìn hồng kỳ làm hiệu, chỉ huy nghênh địch. Quả nhiên là diệu thuật của tiên gia, người đời khó mà hiểu được. Thất thập nhị trận biến hóa kỳ lạ, ngày thì gió rét mưa lạnh, đêm thì Hà, Hán đều mê, khiến cho người ta sợ hãi? Chính là:
Bất hữu chân tiên khai diệu bí,
Như hà năng phá quỷ thần cơ!
Hôm sau, Xuân Nham thấy sư phụ đã bày xong trận đồ, liền bàn với Hàn Diên Thọ rằng: "Nay quân Tống đóng trại ở đối lũy, có thể sai người hạ chiến thư cho biết, xem họ ra quân như thế nào". Diên Thọ nghe lời liền sai quân kị đến gặp tường Tống Vương Toàn Tiết. Vương Toàn Tiết phê vào chiến thư. Hôm sau, dẫn bọn Lý Minh ra khoảng đất bằng phẳng của Cửu Long cốc khiêu chiến, nhìn thấy ở chính Bắc có một tòa trận thế giống như một thế giới mới được lập vậy, hoảng sợ nói: "Phiên bang ắt có kỳ tài ở trong quân, không thể đánh ngay được". Chưa dứt lời, Liêu soái là Xuân Nham, Hàn Diên Thọ hai ngựa bay ra, to tiếng lên giọng rằng: "Tống tướng nếu chỉ đấu võ nghệ, thì lập tức giao phong, nếu như muốn đấu văn thì hãy xem trận ta” . Toàn Tiết nói với Lý Minh: "Quân Bắc thế đang hăng, nếu mà giao chiến, sẽ bất lợi cho ta. Với trận đồ mà nói, ta xem xong rồi thu quân nghị kế cũng được".
Lý Minh nghe theo lời. Toàn Tiết liền nói: "Đấu chiến là việc làm tranh sức của võ phu, không có gì lạ. Đợi khi chỉnh xong trận đồ sẽ đến phá, mới rõ tài cao thấp". Xuân Nham cười nói: "Mặc người đi bày trận đến đánh, ta không đánh lén ngươi đâu”. Liền thu quân về trại. Toàn Tiết về đến trong quân, nói với Lý Minh: "Tiểu nhân cũng biết ít nhiều về trận thế, nhưng trận hôm nay lạ quá, chưa từng thấy qua, nên tâu rõ về triều đình, mau sai tướng tài xem trận".
Toàn Tiết liền vẽ lại trận thế đồ cục, sai quân kị đi suốt đêm về Biện Kinh tâu với Chơn Tông. Chơn Tông xem xong sợ hãi, liền triệu văn võ vào xem, không một người nào biết cả. Khấu Chuẩn tâu: "Thần xem trận đồ, trong đó ắt phải có nhiều biến hóa, trừ phải triệu Dương Lục sứ ở Tam quan về, có thể biết được trận này, các biên soái khác e rằng cũng không biết". Vua chuẩn tấu, liền sai sứ đến Tam quan gặp Dương Lục sứ, tuyên độc thánh chỉ xong. Lục sứ lĩnh chỉ, cùng bàn với chư tướng rằng: "Nếu chúa thượng đã có chỉ phải nên phó mệnh". Rồi lệnh Trần Lâm, Sài Cảm giữ trại, tự dẫn bọn Nhạc Thắng, Mạnh Lương tất cả 22 viên chỉ huy sứ, thống lĩnh ba quân rời trại Giai sơn đi về kinh thành. Đó chính là rời Tam quan một cách đàng hoàng vậy. Ơn vua sâu nặng, tướng soái uy nghi, so với trước đây huynh muội lén đi, thật khác xa một trời một vực vậy. Có thơ làm chứng:
Vạn chiến tòng trung tranh lục hợp,
Thiên quân đội lí định càn khôn.
Anh hùng tự hữu bình nhung sách,
Trực chỉ tinh kỳ nhập trận môn.
Quân mã trên đường không có gì để kể, ngày nọ về đến Biện Kinh. Lục sứ cùng bộ hạ đóng trại ở ngoài thành, qua ngày hôm sau theo ban vào triều kiến Chơn Tông. Vua nói: "Gần đây do nguyên soái Bắc chinh dâng về một bản về trận thế mà người Phiên đã bày, văn võ đều không thể biết, trẫm biết khanh là tướng giỏi đất Thái Nguyên, rất quen thuộc trận đồ, khanh thử xem đây là trận gì?”. Lục sứ vâng chỉ, tiếp lấy trận đồ mà xem, rồi tâu rằng. "Thần xem trận này ắt có người truyền thụ, chứ Phiên bang không ai có thể bày được trận như vậy, phải để thần tự dẫn quân mã, tới nước địch mà xem, mới rõ được lí trong đó". Vua chuẩn tâu, ban cho Lục sứ Kim bôi ngự tửu, hạ lệnh khởi hành ngay. Lục sứ tạ ơn lui ra, lập tức dẫn quân rời Biện Kinh hướng về Cửu Long cốc tiến phát.
Thám mã báo vào trong quân Vương Toàn Tiết, Toàn Tiết nghe là Dương Lục sứ tới, vô cùng mừng rỡ, cùng bọn Lý Minh ra trại nghênh tiếp. Lục sứ xuống ngựa, cùng Toàn Tiết sánh vai vào trong trướng ngồi. Hai người kể lại chuyện của mình cho nhau nghe. Toàn Tiết nói: "Kẻ hèn này gần đây Bắc chinh, không ngờ quân Phiên ở bên kia bày ra trận thế, vô cùng kỳ tuyệt. Nay được túc hạ đến đây, chắc là có thể định đoạt”. Lục sứ nói. "Chúa thượng đưa trận đồ cho xem, tôi nhất thời khó rõ được, phải đợi ra trước trận để xem nó biến hóa như thế nào". Toàn Tiết nghe theo lời, lệnh bày tiệc khoản đãi, khuya mới tàn tiệc.
Hôm sau, Lục sứ hạ lệnh xuất quân. Nhạc Thắng, Mạnh Lương nai nịt chỉnh tề. Sau ba hồi trống, quân Tống reo hò mà tiến. Bắc tướng Hàn Diên Thọ cũng dẫn quân dàn ra trước trận. Dương Lục sứ ngồi trên ngựa, cao giọng nói: "Quân Bắc đừng có bắn lén, đợi ta xem trận" Diên Thọ nhận ra là Dương Lục sứ, nghĩ thầm: "Người này xuất thân là con nhà tướng, hiểu sâu trận pháp". Hạ lệnh các doanh theo sự chỉ huy của hồng kỳ, tùy lúc mà biến hóa. Trại Phiên được lệnh, reo ầm một tiếng, trận đồ có thế như sơn nhạc.
Lục sứ ngồi trên ngựa, ngắm xem hồi lâu, nói với chư tướng: "Ta cũng đã vài lần bày quả trận thế, chưa từng thấy qua biến hóa như thế. Giống như là Bát môn kim tỏa trận lại nhiều hơn 64 cửa; giống như là trận Mê hồn, lại có Ngọc hoàng điện. Phức tạp như thế, làm sao dám phá? Chỉ nên hồi quân thương nghị Bọn”. Nhạc Thắng liền thu quân về trại, quân Bắc cũng không truy đuổi. Lục sứ về đến trong quân cùng bàn với Toàn Tiết: "Trận này quả là kỳ tuyệt, tiểu nhân cũng không thể biết”. Toàn Tiết nói: "Ngài nếu không biết, người khác cũng không rõ vậy . Lục sứ nói: "Hãy gấp sai người về tâu về triều đình, xin ngự giá thân chinh, sau đó mới nghị kế”. Toàn Tiết liền sai người về kinh tâu báo. Chơn Tông nghe báo, cùng quần thần nghị rằng: "Dương gia không biết, trận này ắt không phải tầm thường, trẫm phải ngự giá thân chinh thôi”. Bát Vương tâu rằng: "Chuyến này phải nhờ đến bệ hạ giám chiến, mới có thể thành công”. Vua ý đã quyết, liền hạ mệnh cho Khấu Chuẩn giám quốc; đại tướng Hô Diên Tán bảo giá; Bát Vương làm giám quân, sắc cho soái thần dọc biên giới đều theo xa giá mà nghe sai khiến. Chỉ lệnh đã xuống, chư tướng đều chuẩn bị sẵn sàng. Chuyện không có gì đáng nói.
Hôm sau, xa giá rời Biện Kinh, hướng về U Châu tiến phát. Lúc ấy trời vào cuối hạ đầu thu. Chỉ thấy:
Tinh kỳ quyển vũ tây phong cấp,
Đẩu trướng thê lương dạ sắc hàn.
(Cờ xí cuốn bay trận gió tây,
Màn trướng thê lương sắc đêm lạnh).
Đại quân trên đường không có gì lạ. Ngày nọ, nhìn thấy đã tới gần Cửu Long cốc. Bọn Dương Lục sứ, Vương Toàn Tiết nghênh đón ở ngoài 50 dặm. Chơn Tông hạ lệnh đóng trại theo hướng chính Nam, chư tướng triều kiến xong. Vua tuyên Lục sứ vào ngự tiền, hỏi về trận thế như thế nào . Lục sứ tâu rằng: "Trận thế bày rất kỳ củ thần cũng không thể hiểu được, nên xin mời bệ hạ đến xem". Vua chuẩn tấu, hạ lệnh ngày mai xem trận. Lục sứ lui ra, dặn dò các trại chuẩn bị, chuyện không có gì đáng nói...
 
0
Hồi Ba Mươi Bốn
[/align]

Tông Bảo Gặp Thần Trao Binh Pháp
Chơn Tông Treo Bảng Kiếm Thầy Hay


trong dinh Bắc Phiên nghe tin vua Tống đích thân tới, Hàn Diên Thọ cùng bàn với Xuân Nham: "Vua Tống xa giá thân đến, cũng phải tâu xin Tiêu thái hậu xa giá cũng đến lâm chiến, ắt chư tướng biết mà tuân mệnh, có thể lập được công lớn". Nham nói: "Lời đó chính hợp ý tôi". Diên Thọ lập tức viết biểu sai người vào U Châu tâu thỉnh. Tiêu hậu được lệnh, cùng quần thần thương nghị. Tiêu Thiên Tả tâu rằng: "Bệ hạ đi chuyến này là đại kế để đồ Trung Nguyên, xin hãy theo lời thỉnh". Hậu mừng lắm, liền hạ lệnh Gia Luật Hàn Vương làm giám quốc, Tiêu Thiên Tả làm bảo giá, Gia Luật Học Cổ làm giám quân, ngay hôm đó xa giá rời U Châu, đại quân mênh mông cuồn cuộn, hướng về Cửu Long cốc mà đi tới. Bọn Hàn Diên Thọ tiếp kiến tâu rằng, người Tống không biết trận thế và việc vua Tống thân chinh. Hậu nói: "Các khanh mỗi người nên dụng tâm lập công, nếu lấy được Trung Nguyên, thì chức quyền cao sang quả nhân không tiếc". Diên Thọ bái mạng mà lui. Tiêu hậu lập doanh theo hướng chính Bắc, phân khiến chư tướng ngày mai ra trận.
Sáng hôm sau ba hồi trống vang lừng, phía chính nam xa giá Tống Chơn Tông đi ra, tướng tá dàn hàng tề chỉnh trước sau. Bên đối lũy Tiêu hậu cũng thân dẫn quân mà ra, nhìn xa thấy dưới cây đại kỳ màu vàng Chơn Tông ngồi trên ngựa mà xem trận. Tiêu thái hậu cưỡi con Hoa Lưu tía, đứng dưới cờ Hạt La, cao giọng nói: "Tống quân nhất thống Trung Nguyên, còn chưa thỏa mãn sao, nay nhiều lần lại muốn lấy cửu quận của Sơn Hậu tôi. Nay đến đấy quyết một trận thư hùng, nếu phá được trận này, Sơn Hậu đều quy về Trung Quốc. Nếu không, thì phải chia đôi thiên hạ".
Chơn Tông lớn tiếng đáp rằng: "Đất hẻo lánh của ngươi, cho dù dâng lên cho trẫm, trẫm cũng không thèm. Nay trận này có gì mà khó phá!" Nói xong, quay về doanh trại, Tiêu hậu cũng lui. Vua về đến trong trướng, triệu chư tướng nghị rằng:. "Trẫm xem trận này biến hóa rất nhiều, các khanh không thể biết được, phải làm thế nào?" Lục sứ tâu rằng: "Ngày cha thần còn sống, thường nói có ba quyển lục giáp binh thư, duy có quyển hạ là khó hiểu, đều là chữ lõm nói về các thuật yêu đạo, trận này ắt từ quyển hạ mà ra, mẹ thần may ra biết được. Xin bệ hạ giáng chiếu tới hỏi, có thể hiểu được trận này". Vua rất mừng rỡ, lập tức sai Hồ Diên Hiển mang một đạo sắc mệnh, đi suốt đêm mà về. Diên Hiển lĩnh chỉ, đi về tới Vô nịnh phủ vào gặp Dương Lệnh Bà, tuyên đọc thánh chỉ rằng:
Trẫm nay ngự giá Bắc chinh, vừa lúc quân Phiên bày ra một trận, trong quân không ai đoán ra. Vả lại người Phiên nói năng ngạo mạn, ắt muốn cùng trẫm phân tài cao thấp. Trẫm lập ý phải phá trận này. Duy có phu nhân ở lâu nơi đất Thái Nguyên, được sự dạy bảo của tiên Lệnh Công, chắc rõ được bí quyết trong đó. Nên đặc đến tuyên triệu, ngày khanh nghe nghe mạnh, lập tức theo sứ đến đây, để thỏa bụng trẫm.
Lệnh Bà lạy thụ mệnh xong, khoản đãi thiên sứ, và hỏi về trận thế. Diên Hiển đáp rằng: "Ngày trước thánh thượng do cùng Tiêu hậu đối trận, có lời qua tiếng lại, nên cố đến đây tuyên triệu đại giá, xin hãy lập tức hồi tấu”, Lệnh Bà nói: "Ngày mai lập tức đi". Hồ Diên Hiển cáo từ lui ra. Hôm sau, Lệnh Bà dặn dò Sài quận chúa rằng: "Thánh thượng đế tuyên chỉ đành phó mệnh, đừng để cho Tông Bảo biết". Thái quận vâng lời. Thiên sứ hối thúc lên đường. Lệnh Bà chuẩn bị đầy đủ, cùng Hồ Diên Hiển rời Dương phủ theo hướng U Châu ra đi.
Gặp lúc Tông Bảo đi săn trở về, liền hỏi Dương Lệnh Bà ở đâu. Thái quân nói: "Vào cung gặp Tống nương nương, có quốc sự thương nghị, vài ngày liền về". Tông Bảo hoài nghi, liền vào trong thành hỏi thăm, gặp quân hiệu giữ cửa Bắc, liền hỏi rằng: "Có thấy Dương Lệnh Bà qua nơi này không?" Quân hiệu đáp : "Sáng sớm đã cùng Thiên sứ đến Ngự doanh rồi". Tông Bảo nghe xong, không về phủ, ghìm ngựa theo sau đuổi tới. Trên đường cứ hỏi thăm, đều nói là đã qua lâu rồi. Nhìn lại thì trời đã sắp tối, Tông Bảo cứ thế mà đi, không ngờ đi lạc đường đi vào nơi ngõ cụt hoang vắng không thấy bóng người ở. Tông Bảo sợ hãi, vừa muốn quay trở ra, nhưng rừng sâu trăng tối, không nhìn ra đường đi. Đang lúc hoảng hốt, chợt thấy trong cốc lóe lên ánh đèn. Tông Bảo theo hướng ánh sáng mà đi tới trước, thấy một căn nhà lớn dạng như một tòa miếu, liền leo xuống ngựa, gõ liền mấy tiếng, bên trong có người ra mở cửa, dẫn Tông Bảo vào, thấy một người phụ nữ ngồi ở trên điện, hai bên người hầu nghi vệ rất là hùng tráng.
Tông Bảo sụp lạy dưới thềm, người phụ nữ hỏi rằng: "Ngươi là người nào, đêm khuya tới đây?” Tông Bảo nói lại đầu đuôi rồi nói là do đuổi theo Lệnh Bà, chạy lạc đường nên tới đây. Người phụ nữ cười nói: "Lệnh Bà tới trong quân xem trận, làm sao biết trận này?" Liền sai tả hữu mang rượu thịt ra đãi Tông Bảo. Tông Bảo cũng không từ chối ra sức ăn uống, ăn được hồng đào bảy quả, bánh bao thịt năm cái. Ăn xong, ngươi phụ nữ lấy ra một cuốn binh thư, đưa cho Tông Bảo rồi nói: "Ta ở nơi này hơn 400 năm, chưa từng có người đến đây. Nay ngươi đến đây, cũng là có duyên với nhau vậy. Ngươi hãy đọc cho thuộc sách này, trong quyển hạ có phương pháp phá trận, có thể đi phò tá Tống chúa hàng phục Bắc Phiên, làm công hầu ngàn đời của con nhà tướng, để không thẹn là con cháu của Dương gia vậy".
Tông Bảo lạy tạ mà nhận. Người phụ nữ lại lệnh tả hữu chỉ cho Tông Bảo đường ra. Trời gần sắp sáng, tả hữu nói: "Nơi này cứ đi thẳng một đường, liền là đất U Châu”. Nói xong bỏ đi. Tông Bảo ngồi trên ngựa vừa sợ vừa nghi, ra khỏi được núi sâu, hoắc nhiên là nơi người ở, liền hỏi cư dân đây là nơi đâu. Cư dân chỉ nói: "Ngọn núi lớn phía trước là Hồng lũy sơn, bên trong núi có miếu của Kính Thiên Thánh mẫu, đã bỏ hoang nhiều năm, nay chỉ còn nền miếu thôi". Tông Bảo im lặng rằng: "Việc gì cũng không phải là ngẫu nhiên, đây thật là kỳ ngộ vậy”. Liền lấy binh thư ra lật xem, học thuộc hiểu được, vô cùng mừng rỡ. Đời sau có thơ khen:
Anh hùng hà hạnh hữu kỳ phùng,
Nhất bổn binh thư thuật khiếu thông.
Thử khứ định giáo phò thánh chúa,
Tướng quân chân khả ỷ Không Động.
(May mắn anh hùng gặp gỡ đây,
Một cuốn binh thư pháp thuật dày.
Từ đó dạy về phò thánh chúa,
Tướng quân thực có chỗ giương vây).
đây nói đến Dương Lệnh Bà theo thiên sứ tới trong ngự doanh triều kiến Chơn Tông. Chơn Tông vỗ về an ủi rất hậu, cho biết việc Bắc Phiên bày trận. Lệnh Bà nói: "Tiên phu của thần thiếp từng để lại binh thư, không biết trận này có ghi trong đó không? Để trần thiếp cùng Lục sứ ra trận xem xem". Vua chuẩn tấu. Lệnh Bà cáo lui. Hôm sau dẫn Lục sứ cùng chúng tướng lên đài nhìn xem trận, chỉ thấy đao binh thấp thoáng, sát khí trùng trùng, nơi mà hồng kỳ khua động, biến hóa vô cùng. Lệnh Bà xem kĩ hồi lâu, lấy binh thư ra đối chứng, nhưng cũng không biết xuất phát từ dạng trận nào, xuống tướng đài nói với Lục sứ: "Trận này đừng nói là chúng ta không biết, cho dù là ngày cha mi còn cũng chưa gặp qua". Lục sứ nói: "Như vậy thì phải làm sao?" Lệnh Bà nói: "Nhà họ Dương ta không biết trận này, người khác càng không hiểu được vậy".
Đang lúc lo buồn, chợt nghe báo Tông Bảo tới. Lục sứ giận nói: "Trong quân ngũ, hắn tới có ích gì" Chưa dứt lời Tông Bảo đã vào trước trướng, thấy cha sắc giận chưa nguôi, liền nói: "Phụ thân chắc là vì không biết trận đồ mà phiền não ư?" Lục sứ nói: "Mi đừng vọng ngôn, mau mau đi về, để tránh bị ăn đòn". Tông Bảo cười nói: "Con về cũng không sao, nhưng ai phá trận này?" Lệnh Bà nghe nói như vậy, kêu đến bên cạnh hỏi rằng: "Cháu đã thấy qua trận này sao?” Tông Bảo nói: "Tôn nhi được biết về trận đồ, thử đến xem sao, tự có định luận". Lệnh Bà bèn lệnh bọn Nhạc Thắng, Mạnh Lương bảo hộ Tông Bảo lên tướng đài xem trận.
Nhạc Thắng được lệnh, dẫn Tông Bảo lên tướng đài. Nhìn qua hồi lâu, nói với Nhạc, Mạnh: "Trận này bày rất khéo, chỉ tiếc là không hoàn chỉnh, phá rất dễ". Bọn Mạnh Lương, Nhạc Thắng hết hồn hỏi rằng: “Trước ngự giá tướng soái vân tập, không một người dám xem thường trận này, tiểu chủ nhân vì sao biết được?" Tông Bảo nói: "Hãy về trong quân rồi sẽ nói rõ".
Mọi người xuống tướng đài, Nhạc Thắng vào gặp Lục sứ nói: "Tiểu chủ nhân hiểu sâu trận pháp, nói phá trận rất dễ”. Lục sứ cười nói: "Đừng nghe lời nó nói bậy". Nhạc Thắng liền đi ra. Tông Bảo gặp Lệnh Bà, nói lại nguyên nhân có thể phá trận. Lệnh Bà nói: "Cháu có thể phá, nay hãy hỏi trận này tên là gì?" Tông Bảo nói: "Nói đến trận này, không phải các trận tầm thường có thể so được được bố trí bắt đầu từ hướng chính Bắc của Cửu Long cốc, cho đến một dãy Tây Nam, đều được trấn giữ theo tên, trong đó có 72 tòa tướng đài, có mở đường đi qua lại tương thông, tên là Thấp thập nhị tòa thiên môn trận. Dưới cờ đen ở mé bên phải, âm âm u u, nhật nguyệt vô quang, vốn là nơi làm kẻ địch mê man, có chôn thai phụ dưới đất, rất là thảm độc. Nơi này là nơi hơi khó phá. Ngoài ra thì còn có chỗ không hoàn thiện: Trước điện Ngọc Hoàng ở đài giữa, thiếu mất bảy bảy bốn mươi chín ngọn thiên đăng; ở trận Thanh Long, thiếu mất Hoàng hà cửu khúc thủy; ở trận Bạch Hổ, thiếu mất hai mặt kim la làm mắt hổ, hai tấm cờ vàng lâm tải hổ, ở trận Huyền Võ, thiếu hai mặt trận châu nhật nguyệt tạo kỳ. Những chỗ này đợi tôn nhi y pháp điều khiển thì sẽ phá trận này như gió thổi mây tan , chốc lát lập tức vỡ trận, có khó gì đâu!” Lệnh Bà thất kinh nói: “Cháu ta ở đâu mà có được bí quyết kỳ diệu này?", Tông Bảo không giấu, đem việc được tặng binh thư kể lại rõ ràng. Lục sứ nghe xong, lấy tay vỗ trán nói: “Đó là hồng phúc của chúa thượng, khiến mi có được kỳ ngộ như vậy”.
Hôm sau Lục sứ vào ngự doanh, tâu lại tên trận và nói còn có những chỗ chưa hoàn thiện, phá cũng dễ dàng. Chơn Tông vô cùng mừng rỡ, nói: “Nay khanh đã biết trận này, thì ngày nào sẽ tiến binh?" Lục sứ nói: "Đợi thần cùng con là Tông Bảo thương nghị" Vua chuẩn tấu. Lục sứ về trong quân, triệu Tông Bảo tới nghị kế. Tông Bảo nói: "Bên địch lấy ngày can chi tương khắc mà bày trận, ta nên lấy ngày can chi tương sinh mà xuất binh". Lục sứ nghe theo lời, hạ lệnh chư tướng chờ lệnh. Không ngờ Chơn Tông giá hạ, Vương Khâm đã biết tin trận đồ có chỗ bất toàn, liền sai người đang đêm vào Phiên doanh báo cho biết. Diên Thọ nhận được tin thất kinh, gấp vào với Tiêu hậu. Tiêu hậu nói: "Nếu vậy thì phải làm sao?" Diên Thọ nói: "Bệ hạ có thể tuyên Lữ quân sư vào hỏi". Hậu lập tức giáng sắc, tuyên Lữ quân sư vào trong trướng hỏi rằng: "Khanh bày ra trận này, vì sao lại có mấy chỗ bất toàn?" Lữ quân sư nghĩ thầm quân địch cũng có người biết được trận này, liền tâu rằng: "Quả có chỗ chưa hoàn toàn, đợi thần theo phép thêm vào, thì cho dù là thiên viên tái sinh, cũng không thể phá được vậy?" Hậu nói: "Khanh hãy mau làm, đừng để kẻ địch công phá" Lữ quân sư ra tới trong trận, hạ lệnh ở trên điện Ngọc Hoàng thêm đèn đỏ; ở trên trận Thanh Long mở Hoàng hà; ở trong trận Bạch Hổ hai bên trái, phải, dựng lên hai mặt hoàng kỳ, trong đó lại thiết lập hai mặt kim la; ở dưới trận Huyền Võ dựng lên cờ nhật nguyệt. Phân bố xong xuôi, đã thành một trận hoàn toàn. Chính là:
Chỉ nhân gian tặc thông mưu kế,
Nhạ khởi can qua đại hội cai.
(Chỉ vì gian tặc thông mưu kế,
Xúi động gươm đao mở chiến trường)
Ở đây nói, Dương Lục sứ phân khiển chư tướng, và theo Tông Bảo chỉ huy, chọn ngày tốt, tâu vua xuất sư. Vua nghe tấu, hạ sắc các trận đồng loạt tiến binh. Tông Bảo lại dẫn bọn Nhạc Thắng lên tướng đài xem trận, thấy thiên trận được bày bố hoàn toàn, không có đường có thể vào than lên một tiếng té lăn xuống đài. Nhạc Thắng thất kinh, vội đỡ vào trong trướng, báo cho Lục sứ biết, rồi vội gọi người cứu tỉnh, hỏi nguyên do khiến cho vì sao như vậy. Tông Bảo nói: "Không biết ai đã tiết lộ quân cơ khiến cho người Phiên biết được, nay trận đồ đã được thiết lập hoàn toàn, trừ ra chân tiên giáng hạ mới có thể phá được vậy!" Lục sứ nghe xong, ngã lăn xuống đất bất tỉnh, mọi người xúm lại đỡ dậy, Lệnh Bà khóc rống lên, mọi người đều hoảng hốt. Lệnh Bà nói: "Lệnh Bà hãy khoan khóc than, có thể mời Bát điện hạ tới để tính cách". Lệnh Bà liền nín khóc, sai người mời Bát điện hạ tới. Lệnh Bà nói rõ nguyên do. Bát Vương nói: "Nếu Quận mã có chuyện đợi tâu với chúa thượng để thương lượng” . Lập tức từ biệt Lệnh Bà, vào gặp vua, tâu rõ việc Lục sứ bị bệnh. Vua thất kinh nói: "Nếu chẳng may Diên Chiêu không dậy được giang sơn của trẫm sẽ ra sao?" Bát Vương nói: "Bệ hạ phải xuất bảng văn chiêu mộ danh y, trước tiên cứu Diên Chiêu, sau mới nghị việc xuất binh". Vua chuẩn tấu, lập tức xuống bảng văn, đem treo ở Viên môn.
Hôm sau, quân hiệu vào báo có một lão ông, xé lấy bảng văn. Vua tuyên thầy thuốc vào trước ngự tiền, hỏi:
"Khanh là người ở đâu?" Lão ông đáp rằng: "Thần ở Bồng Lai, họ Chung tên Hán, người ta gọi là Chung đạo sĩ. Gần đây nghe nói Dương tướng quân vì chuyện trận đồ mà bị bệnh, thần đến để cứu và cùng giải phá trận". Vua thấy Chung đạo sĩ dạng mạo thoát tục, nghĩ thầm người này ắt là học rộng, liền lệnh cho đạo sĩ đến xem bệnh cho Lục sứ. Hồi tấu rằng: "Thần có thể cứu chữa được”. Vua hỏi rằng: "Khanh dùng thuốc chữa, hay là dùng châm cứu?" Đạo sĩ trả lời : "Thần xem chứng bệnh này, âm khí thương trọng, chỉ khó là ở hai vị thuốc" Vua nói: "Khanh nói thử xem". Đạo sĩ nói: "Cần có tóc trên đầu Long mẫu, và râu dưới cằm Long công, nếu có hai vị thuốc này, có thể chữa được bệnh này". Vua nói: "Hai vị thuốc ở đâu có? Trẫm sẽ sai người đi lấy". Đạo sĩ nói: "Râu rồng không cần lấy đâu xa, ngay nơi bệ hạ có thể lấy được. Còn tóc trên đầu Long mẫu thì phải đến hỏi xin Tiêu hậu bên Bắc Phiên". Vua nói: "Tiêu hậu là kẻ thù của trẫm, làm sao lấy được? Nếu có thuốc nào thay thế được, thì dùng bao nhiêu vàng cũng mua được". Đạo sĩ nói: "Phải cần có vị thuốc này mới có thể chữa được". Bát Vương tâu rằng: "Bộ hạ của Diên Chiêu đều là những người có tài, bệ hạ xuống chỉ nói cho biết, hoặc có người đi ấy được". Vua chuẩn tấu, lệnh đạo sĩ hãy lui, rồi sai bộ hạ của Lục sứ đi lấy thuốc. Lệnh Bà nghe chỉ, cùng Nhạc Thắng bàn rằng: "Vật này có thể lấy được, chỉ là khó có người cơ mật đi thôi”. Nhạc Thắng nói: "Dám hỏi lão phu nhân có kế sách gì?" Lệnh Bà nói: "Từ lâu nghe nói con thứ tư của ta đổi tên thành Mộc Dịch, làm phò mã của Tiêu thái hậu. Nếu có người báo cho biết nguyên do, tất có thể lấy được" Nhạc Thắng nói: "Duy Mạnh Lương có cơ mật nhất, có thể làm việc này" Lệnh Bà liền triệu Mạnh Lương, sai đi làm việc này.
 
0
Hồi Thứ Ba Mươi Lăm
[/align]

Mạnh Lương Trộm Lấy Bạch Ký Mã
Tông Bảo May Gặp Mộc Quế Anh


Mạnh Lương khảng khái nhận lời, đêm đó tới gặp Chung đạo sĩ, hỏi cần bao nhiêu tóc. Đạo sĩ dạy: "Ngươi đi đủ để giải quyết, số tóc không cần, ít nhiều đều được. Đợi sau khi lấy xong, ngươi hãy tới trong Ngự uyển, có con ngựa Bạch Dực, thì hãy trộm về, để cho Tông Bảo cưỡi để phá trận. Lại có Cửu nhẫn lưu ly tĩnh, cũng ở trong vườn, nay Cửu khúc thủy trên trận Thanh Long đều là lấy từ nước giếng này, người lén lấy phân, đất cát, đá lấp đi một mắt trong đó, con rồng này bị dơ, sẽ lập tức không còn nước, trận này sẽ dễ phá vậy". Mạnh Lương lĩnh mệnh, lập tức lẻn ra khỏi trại Tống. Gặp ngay Tiêu Tán đuổi đến, Mạnh Lương nói: "Mi đến đây để làm gì?" Tán nói: "Do ca ca đi có một mình, tôi không yên tâm, nên đến đây cùng đi" Lương nói: “Chuyến đi này để giải quyết việc cơ mật, làm sao dẫn mi theo được”. Tiêu Tán nói: "Chỉ có ca ca là cơ mật, còn tôi thì lộ ra chắc? Nhất định chuyến này phải cùng đi" Mạnh Lương hết cách, đành dẫn hắn tới dưới thành U Châu rồi tiếp chỗ nghỉ ngơi. Hôm sau, Lương nói với Tán: "Mi hãy lưu lại nơi quán trọ, ta đi dò tin tức của phò mã rồi về ngay". Tán vâng lời, Lương liền giả dạng thành người Phiên, vào phủ phò mã, gặp Tứ lang kể lại bệnh của Lục lang, nay phải cầu lấy thuốc. Tứ lang nói: "Ở đây bọn do thám nhiều lắm, ngươi tạm lui ra, để ta nghĩ cách lấy, mấy ngày sau ngươi hãy đến". Mạnh Lương vâng lời, lại cải trang mà đi ra.
Tứ lang nghĩ ngợi tới nửa đêm, chợt nãy ra một mẹo, chợt la lớn là đau bụng, kêu la không ngớt. Quỳnh Nga công chúa hoảng sợ, liền gấp gọi y quan tới điều trị. Tứ lang càng kêu lên đau đớn. Công chúa hoảng hốt hết cách, liền hỏi rằng: "Phò mã đau đớn không ngớt, đã từng dùng thuốc nào để chữa?" Phò mã nói: "Ta do lúc trẻ đánh nhau dùng sức quá độ, máu bầm tụ trong bụng, lúc trước có râu rồng đem đốt thành tro rồi uống, đã hết mấy năm, không ngờ giờ lại tái phát”. Công chúa nói: "Râu rồng thì Trung Quốc có thể có, ở Bắc Phiên biết đâu mà tìm?" Phò mã nói : "Nếu có tóc rồng của Nương nương, cũng dùng thay được". Công chúa nói: “Vậy thì không khó" Liền lập tức sai người đến trong quân gặp Tiêu hậu, nói lại việc lấy tóc rồng để chữa bệnh cho phò mã. Tiêu hậu nói: "Nếu phò mã bị bệnh, uống thứ này khỏi được, ta đâu có tiếc?" Liền cắt lấy tóc, đưa cho sai nhân đem về. Sai nhân mang tóc vào trong phủ, Phò mã lấy một ít tóc đốt lấy uống, bệnh liền dần khỏi, công chúa vô cùng mừng rỡ. Hôm sau, Tứ lang đem số tóc còn dư giấu đi, vừa gặp lúc Mạnh Lương lại tới, bèn lấy ra đưa cho. Mạnh Lương nhận lấy, trở về quán trọ, đưa cho Tiêu Tán rồi nói: "Mi đem cái này về trước, ta làm xong việc, sẽ lập tức về ngay!" Tiêu Tán vâng lời, đem tóc rồng đi suốt đêm ra khỏi U Châu mà đi.
Chỉ nói về Mạnh Lương lại lẻn vào ngự uyển, khiêng các loại đất đổ vào giếng lưu ly, rồi bịt chặt lấy mắt giữa. Rút êm ra tới chuồng ngựa, gặp lúc tên người Phiên nuôi ngựa đang giữ ở đó, Mạnh Lương dùng tiếng Phiên nói: "Thái hậu có chỉ, lấy ngựa đem đến dùng, sai ta dẫn ra giáo trường dợt qua . Người giữ nói: "Xin cho xem sắc chỉ". Trên người Mạnh Lương đã mang sẵn sắc chỉ giả, liền lấy cho xem. Người Phiên không có nghi ngờ, liền đem ngựa giao cho. Mạnh Lương cưỡi ra giáo trường chạy qua một phen, đến gần hoàng hôn, lén trốn rời U Châu mà đi. Tới khi người Phiên biết được, đuổi theo thì đã chạy được 50 dặm đường rồi. Mạnh Lương trộm được ngựa Bạch Dực, chạy suốt một đêm, về tới trong quân, vào gặp Chung đạo sĩ, báo cho biết đã làm xong cả ba việc. Đạo sĩ nói: "Không uổng là bộ hạ của Dương gia".
Hôm sau đến thỉnh râu rồng của chúa thượng cùng với tóc rồng hợp lại đem trị, Lục sứ uống xong liền khỏi. Chơn Tông nghe đạo sĩ đã trị khỏi cho Lục sứ, vô cùng vui mừng, tuyên vào trong trướng hỏi rằng: "Ngươi muốn quan chức vinh thân, hay chỉ muốn trọng thưởng?” Đạo sĩ trả lời: "'Bần đạo tánh thích tự do, không cần quan chức, cũng không cần thăng thưởng. Bần đạo đến đây, không chỉ để trị bệnh cho Dương tướng quân, mà còn cùng với bệ hạ đi phá trận này”. Chơn Tông nói: "Khanh nếu lập được công lớn này, trẫm sẽ khắc tên vàng đá, để vĩnh viễn lưu lại với đời". Đạo sĩ nói: "Trận này rất nhiều sự biến hóa, chỉ thiếu một thứ, cũng khó mà đánh phá". Xin hãy để chỉ thị cho Tông Bảo làm . Vua chuẩn tâu liền phong Chung đạo sĩ giữ quyền Phụ quốc phò văn chánh quân sư, trừ ngự doanh thì tất cả từ các tướng soái trở xuống, bèn theo lời sai khiến, không cần phải tâu hỏi. Đạn sĩ tạ ơn mà lui, tới gặp Lục sứ. Lục sứ hết sức lạy tạ Chung đạo sĩ nói: "Bệnh ngài may được khỏi, bần đạo nên cùng lệnh tự phá trận đồ này”. Lục sứ liền gọi Tông Bảo vào, lạy Chung đạo sĩ làm thầy. Tông Bảo lạy xong Đạo sĩ nói: "Trong quan sai khiến còn cần mấy người đến để sử dựng . Tông Bảo nói: "Cần những người nào, xin sư phụ cho biết” . Chung đạo sĩ lập tức sai Hồ Diên Hiển tới Thái Hành Sơn, gọi Kim đầu, Mã thị, dẫn quân bản bộ đến ngự doanh chờ lệnh; lại sai Tiêu Tán về Vô nịnh phủ, triệu Bát Nương, Cửu muội cùng Sài Thái quận ; lại lệnh cho Nhạc Thắng tới Phần Châu khẩu ngoại Hồng đô trang, điều về lão tướng Vương Quý; rồi lệnh Mạnh Lương đến Ngũ Đài sơn triệu Dương Ngũ lang. Sắp đặt xong xuôi, bọn Hồ Diên Hiển ai nấy lãnh mệnh ra đi.
Mạnh Lương đến Ngũ Đài Sơn vào gặp Ngũ hòa thượng, cho biết phải phá Thiên môn trận, xin hãy hạ sơn tương trợ. Ngũ lang nói: "Lần trước sau khi tới Đại Châu cứu em ta về xong thì quyết ý quy y Phật pháp, bỏ hết việc binh đao, hôm nay lại đến phiền ta sao!" Mạnh Lương nói: "Đây là quốc gia đại sự, chứ không phải là do tôi. Sư phụ hãy niệm tình đại nhân tôi cực nhọc, xin hãy đi một lần" Ngũ lang nói: "Nước Phiên có hai con nghịch long, ngày trước ở Đại Châu đã hàng phục được một, còn có một là Tiêu Thiên Tả. Trừ phi là có hai cây Hàng long mộc ở phía cửa sau của trại Mộc Kha, lấy cây ở bên trái, để hàng phục người này. Ngươi nếu cầu được cây này để ta làm cán búa thì mới xong việc. Nếu không, ta có đi cũng vô ích". Lương nói: "Nếu sư phụ nhất định phải có cây này, tiểu nhân đành đi cầu lấy vậy”. Ngũ lang nói: "Ngươi mà lấy được vật này tới ta sẽ chuẩn bị sẵn sàng chờ đợi".
Lương lập tức từ biệt Ngũ lang đi đến Mộc Kha trại, vừa gặp trại chủ vốn là con gái của Đinh Thiên Vương Mộc Vũ, tiểu danh là Mộc Kim Hoa, còn tên khác nữa là Mộc Quế Anh, trời sinh có sức mạnh rất giỏi bắn tên. Từng được thần dạy cho Tam khẩu phi đao, bách phát bách trúng. Hôm ấy đang cùng thuộc hạ đi săn bắn, bắn trúng con chim rớt xuống trước mặt Mạnh Lương, Lương nhặt lên giấu đi, chưa đi được vài bước, chợt có năm, sáu tên lâu la đuổi đến, kêu rằng: "Tốt nhất là đem con chim trả lại cho ta thì tha chết cho ngươi". Mạnh Lương nghe thấy liền dừng lại. Lâu la tiến lên đồng loạt xông vào, bị Lương đánh cho tan tác mà chạy. Lương lại đi được một khoảng xa, lâu la đã báo với Mộc Quế Anh, dẫn chúng đuổi theo. Lương nghe sau lưng có tiếng người ngựa, biết là quân giặc đuổi đến, lấy dao bén ra, đứng chờ. Lát sau, Mộc Quế Anh đuổi kịp liền mắng lớn: "Đồ cuồng nô đáng chết, dám tới đây gây rối sao!" Mạnh Lương không nói năng gì, múa đao đánh liền. Mộc Quế Anh cử thương đón lấy. Hai người ở chốn núi đấu hơn 40 hiệp. Mạnh Lương đuối sức, quay đầu liền chạy. Quế Anh không đuổi theo, cùng chúng nhân chặn lấy đường đi. Mạnh Lương tiến thoái đều không được, bèn nói với bọn lâu la rằng: "Ta đem con chim bắn được trả cho các ngươi, hãy mở đường để ta đi qua". Lâu la nói: "Mi đến xin đường. Ai không biết là muốn qua Mộc Kha trại, đều phải để lại tiền mãi lộ. Mi nếu không có, muôn năm cũng không được đi qua". Mạnh Lương tự nghĩ là mình có việc khẩn cấp nên đành cởi mũ kim khôi làm tiền mãi lộ. Lâu la báo với Quế Anh. Quế Anh lệnh thả cho đi qua.
Mạnh Lương rời chỗ này liền về doanh trại, gặp Lục sứ kể cho biết với Ngũ lang cần cán búa nhưng Mộc Kha trại khó địch, lại đem việc lấy kim khôi làm tiền mãi lộ kể qua một lượt. Lục sứ nói: ."Vậy thì phải làm sao?” Tông Bảo nói: "Để con cùng Mạnh Lương đi một chuyến" Lục sứ nói: " E rằng mi cũng không địch nổi". Tông Bảo nói: "Con tự có cách" ngay hôm đỏ cùng Mạnh Lương dẫn 2000 quân đến bên ngoài Mộc Kha trại khiêu chiến. Mộc Quế Anh nghe tin nai nịt gọn gàng, dẫn quân hò reo tiến ra. Tông Bảo nói: "Nghe nói sau núi mi có hai cây Hàng long mộc, xin hãy cho ta một cây bên trái, ngày mà phá trận thành công sẽ hậu tạ". Quế Anh cười nói: "Cây đúng là có, nhưng nếu thắng được thanh đao trước tay ta thì cả hai cây cũng có thể đem đi.” Tông Bảo giận dữ nói: "Bắt tên giặc này rồi tự đi chặt lấy" liền giơ thương tới đâm tới qua. Quế Anh múa đao đón đánh, hai ngựa giao nhau, hai người đánh hơn 30 hiệp. Quế Anh giả bộ sơ hở, vỗ ngựa bỏ chạy. Tông Bảo thừa thế đuổi theo, quẹo qua sườn núi, một mũi tên bắn tới, con ngựa của Tông Bảo ngã quỵ. Quế Anh quay ngựa xông tới, bắt sống Tông Bảo mà đi. Mạnh Lương theo sau cứu ứng. Trên trại tên đá bắn xuống như mưa, không thể tiến lên được. Lương nói: "Các ngươi chớ lo, hãy chờ ta suy nghĩ cách cứu tiểu chủ nhân”. Chúng quân theo lời liền đóng ở phía Bắc trại, chuyện không có gì đáng nói.
Mộc Quế Anh bắt Tông Bảo vào trướng bên ngoài lệnh lâu la trói gô lại. Tông Bảo lớn tiếng mắng: "Không cần dùng khổ hình, muốn giết cứ giết". Mộc Quế Anh thấy tướng mạo tuấn tú, ngôn từ khẳng khái nghĩ thầm nếu được cùng ta trở thành vợ chồng, thì không uổng một đời này vậy. Liền mật sai lâu la nói cho biết ý định. Lâu la nói với Tông Bảo. Tông Bảo trầm ngâm hồi lâu thầm nghĩ rằng: "Ta muốn được Hàng long mộc, nếu không ưng thuận, thì khó tránh khỏi chết, chi bằng ưng chịu để thành việc lớn. Liền nói: "Trại chủ đã không giết ta mà còn hứa thành hôn thật là có ơn lớn vậy, sao dám không tuân theo". Lâu la báo lại lời Tông Bảo nói, Quế Anh mừng rỡ, đích thân đỡ Tông Bảo vào tương kiến, lệnh cho tả hữu dọn tiệc khoản đãi. Hai người vui vẻ uống đến ngà say, chợt nghe ngoài trại reo hò ầm ĩ, người vào báo quân Tống đánh tới. Tông Bảo nói: "Nhờ ơn trại chủ không bỏ, nhưng cũng phải mở cửa để báo cho thuộc hạ biết để họ được yên tâm". Quế Anh nghe lời, lệnh lâu la mở quan nói cho biết và thả Mạnh Lương vào trong trướng.
Lương thấy Tông Bảo cùng Mộc Quế Anh ngồi đối nhau mà uống rượu, biết là việc tốt. Liền nói: "Tiểu chủ nhân ở đây vui vẻ bọn tôi thì suýt nữa vỡ mật". Tông Bảo đem việc trại chủ muốn thành thân kể cho biết. Lương nói: "Quân tình khẩn cấp, nên lập tức trở về rồi sẽ quay lại”. Tông Bảo liền từ biệt Quế Anh để đi. Quế Anh nói: "Vốn muốn lưu chàng ở trong trại, nhưng việc quân gấp rút, chỉ đành vâng theo". Tông Bảo đi ra khỏi trại. Quế Anh tiễn tới dưới núi, có ý lưu luyến không muốn rời xa. Tông Bảo nói: "Nếu gặp việc phải cứu ứng, sẽ đến mời nàng”. Quế Anh hứa vâng lời rồi từ biệt. Đời sau có thơ khen:
Giáp sĩ nam lai chiến trận thu,
Anh hùng đáo thử hỷ tương đầu.
Phi duy miễn họa thành nhân ngẫu,
Tùng thử giai nhân chí nguyện thù.
(Tráng sĩ về nam chiến trận tan,
Anh hùng như thế rộn muôn vàn.
Đâu vì tránh lựa nên giai ngẫu,
Từ đó giai nhân ước vẹn toàn).
Tông Bảo dẫn chúng nhân về gặp Lục sứ thưa lại: "Con đến giao phong, lỡ bị Mộc trại chủ bắt đi, nhờ ơn cô ta không giết mà còn thành thân với con, nên nay về xin tội". Lục sứ giận dữ nói: "Nước nhà ta gặp nạn chưa hết, đứng nằm đều không yên, mi lại ham tình riêng mà lỡ việc quân ư?” Liền quát lôi ra chém. Tả hữu vừa muốn bắt lấy, Lệnh Bà vội vào cứu nói: "Cháu ta tuy phạm lệnh, nhưng trước mắt đang mưu việc lớn, hãy niệm tình mà tha đi?" Lục sứ nói: "Con nghe lời mẹ, nhưng phải nhốt trong quân, đợi sau khi xong việc sẽ hỏi tội". Mạnh Lương nói: "Đại nhân nguôi giận, tiểu chủ nhân kết hôn vốn là bất đắc dĩ, chỉ vì muốn lấy Hàng long mộc mà thôi, xin hãy xá cho tội phải giam". Lục sứ không chịu, sai đem Tông Bảo nhốt lại. Hôm sau, Lương lén vào trong quân gặp Tông Bảo, nói rằng: "Vừa rồi gặp Chung đạo sĩ nói, tiểu chủ nhân cớ tai nạn đổ máu trong 20 ngày, ở đây ráng mà chịu khó, nhẫn nại". Tông Bảo nói: "Tâm sự của ta duy có ngươi biết. Mộc trại chủ là nữ lưu anh hùng, vả lại trong quân dùng được người này, ắt sẽ thu được lợi lớn. Ngươi hãy tới gặp lần nữa. Một là cầu Hàng long mộc, hai là kêu nàng tới đây tương trợ".
Mạnh Lương nhận lời, ngay hôm đó đi đến Mộc Kha trại, gặp Mộc Quế Anh nói cho biết tiểu chủ nhân sai đến mời, và nói nguyên do muốn lấy Hàng long mộc. Quế Anh nói: "Vừa muốn sai người đến mời chủ của ngươi, ta đâu thể rời nơi này được? Mau về báo với chủ nhân ngươi, nếu còn không đến, ta sẽ dẫn chúng đến đánh đó". Mạnh Lương nghe xong, ngạc nhiên nói: "Nếu trại chủ cùng tiểu chủ nhân đã kết thành giai ngẫu, chính nên đến trong quân gặp gỡ, sao lại thốt ra những lời bất hòa vậy?"
Quế Anh giận nói: "Hôm trước ta nông cạn, bị mi dẫn đi, nay lại đến khua lưỡi sao, nếu còn nói nữa, thì hãy thử xem ngọn đao của ta có bén không?" Mạnh Lương không dám nói nữa, lui ra ngoài, nảy ra một kế. Nếu không làm ác, cô nàng làm sao chịu xuống núi. Đợi tới hoàng hôn, Mạnh Lương lén ra sau trại nổi lên một ngọn lửa vô tình. Lúc đó trời vào tháng 9, gió đêm thổi mạnh, trong chốc lát khói tỏa mù trời, khắp cốc đỏ rực, Mộc Kha trại tứ bề lửa cháy. chúng lâu la hoảng hốt, chạy đến cứu hỏa. Mạnh Lương xách đao vào trong trại của Mộc Quế Anh, đem bọn lâu la giết đi một nửa. Khi biết được đuổi đến, đã bị Mạnh Lương chặt lấy hai cây Hàng long mộc, chạy trốn đến Ngũ Đài Sơn.
0
Hồi Thứ Ba Mươi Sáu
[/align]

Tông Bảo Dẫn Quân Xem Thiên Trận
Chơn Tông Đắp Đàn Phong Tướng Soái


Mạnh Lương dùng kế hỏa công đốt cháy Mộc Kha trại, suốt đêm chạy trốn đến dưới Ngũ Đài Sơn. Trời dần dần sáng rõ, lửa đã dập tắt. Trại trước trại sau đã bị lửa thiêu gần hết. Mộc Quế Anh khí giận đầy bụng, liền điểm bộ hạ quân sĩ tiến đánh trại Tống, để báo thù rửa hận. Bộ tướng nói: "Đây tất Mạnh Lương thấy trại chủ không chịu xuống núi, nên mới lập mẹo này. Nay sơn trại điêu linh, lâu la trốn chạy, chi bằng tới giúp vua Tống, một là được giai phối hoàn toàn, hai là lập công với triều đình, cũng là một cơ hội tốt vậy, hà tất làm tổn thương đến hòa khí?" Mộc Quế Anh trầm ngâm hồi lâu rồi nói: "Ngươi nói phải lắm". Liền lệnh đem lương thảo tích trữ trong trại, chất để lên xe cẩn thận, chuẩn bị xong xuôi, kéo cờ hiệu chữ vàng Mộc Kha trại, dẫn thuộc hạ đi đến dinh quân Tống, chính là:
Chỉ nhân kỳ kế năng thành tích,
Dẫn đáo anh hùng kiến đại công.
Quân kị báo vào trong trướng Lục sứ, cho biết Mộc trại chủ dẫn quân kéo tới. Lục sứ giận dữ nói: "Giận thay tên tiện tỳ này dụ dỗ con ta, khiến lỡ việc quân, ngày nay lại đến để mê hoặc ư?” Liền dẫn 5000 quân ra trước mắng lớn: "Tên tiện nhân hãy mau lui về, mọi việc đều. cho qua. Nếu không thu quân, mạng mi sẽ còn trong chốc lát". Mộc Quế Anh giận nói: "Ý tốt đến tương trợ, lại bị lăng nhục quá đáng . Liền múa đao tế ngựa tới chém Lục sứ. Lục sứ cử thương giao chiến, được vài hiệp, bất phân thắng bại. Mộc Quế Anh vốn muốn bắt sống, liền giả thua bỏ chạy. Lục sứ phi ngựa đuổi theo, một tiếng cung bật, bắn trúng vai tả Lục sứ, té lăn xuống ngựa. Mộc Quế Anh quay lại bắt sống. Lúc ấy bọn Nhạc Thắng, Tiêu Tán đều không có ở trong quân, không người cứu ứng. Mộc Quế Anh lệnh đem Lục sứ giải về tại nhà.
Chợt sau sườn núi cờ bay cuồn cuộn, một cánh tăng binh kéo đến, thì ra là Dương Ngũ lang và Mạnh Lương đến nơi. Mộc Quế Anh dàn bày trận thế. Mạnh Lương vỗ ngựa lên trước, nhìn thấy Lục sứ liền cao giọng kêu: "Đại nhân sao lại bị bắt?" Lục sứ chưa đáp. Mộc Quế Anh hỏi rằng: "Người này là ai?" Mạnh Lương nói: "Chính là cha của tiểu chủ nhân”. Quế Anh hoảng hồn nói: "Suýt nữa lỗi đạo luân thường". Vội xuống ngựa, sai thủ hạ mở trói cho Lục sứ, đỡ lên trên ngồi rồi sụp lạy nói: "Nhất thời không biết đại nhân, muôn xin tha thứ". Lục sứ nói: "Ngươi hãy đứng lên nói chuyện". Bọn Ngũ lang cũng hội lại một nơi, hợp binh trở về trong quân. Lục sứ lệnh thả Tông Bảo ra. Quế Anh vào bái kiến Lệnh Bà. Lệnh Bà vô cùng mừng rỡ nói: "Cô này đúng thật là giai ngẫu của cháu ta vậy”. Rồi lệnh bày tiệc rượu để cùng bọn Ngũ lang tẩy trần. Ngũ lang gặp mẹ vô cùng thương cảm. Lệnh Bà nói: "Đó là do con ta có duyên với Phật, không nên quá đau lòng. Nay may mẹ mi còn sống, mà được gặp là được rồi". Ngũ lang gạt lệ tạ ơn. Rượu đến ngà say, có người báo bọn Nhạc Thắng, Hồ Diên Hiển đi điều các lộ quân mã đã về tới. Lục sứ vô cùng mừng rỡ, lập tức ra trại nghênh tiếp. Cùng Vương Quý, Kim Đầu, Mã Thị, Bát Nương, Cửu muội... cùng vào trong trướng làm lễ ra mắt xong. Lục sứ mời Vương Quý ngồi lên trên, lạy rằng: "Làm phiền thúc phụ bôn ba gió bụi, là lỗi của cháu vậy". Vương Quý nói: "Cháu vì việc nước dùng ta, sao dám ngại cực nhọc mà từ chối?" Lệnh Bà đều đến chào hỏi nhắc chuyện xưa, rồi dạy mở tiệc chiêu đãi, mọi người vui vẻ uống rượu rồi nghỉ.
Hôm sau, Lục sứ vào tâu với Chơn Tông: "Thần điều phát chư tướng dọc biên cương, nay đều đã đang chờ lệnh, nay xin thánh chỉ để phá trận". Vua nói: “Khanh nay và chư tướng đã chuẩn bị đầy đủ, cũng nên lựa cơ hội mà hành động, đừng để kẻ địch đắc chí, mà làm nhụt nhuệ khí của quân ta". Lục sứ lĩnh mệnh lui ra, cùng Tông Bảo thương nghị việc tiến binh. Tông Bảo nói: "Hôm qua sư phụ nói trước mắt xuất sư chưa lợi, phải được đến ngày mới tiến. Con xin dẫn chư tướng đi trước thám thính xem sao, rồi mới bàn việc phá trận". Lục sứ nghe lời. Sáng hôm sau, nổi ba hồi trống, Tông Bảo toàn thân nai nịt, giương cờ gióng trống mở ra. Bên kia trận Phiên soái là Thác Đát lệnh công Hàn Diên Thọ, diễu võ giương oai phi ngựa ra trước trận, thấy dưới cờ ở Nam trận chúng tướng bảo vệ một thiếu niên lang quân ngồi ngay ngắn trên con ngựa Bạch Dực. Hàn Diên Thọ nhận ra con ngựa đó vốn là ngựa Tiêu hậu cưỡi liền quát to một tiếng: "Tên thất phu miệng còn hôi sữa kia chớ chạy!" Tiếng gầm như sét đánh trên trời, Tông Bảo nghe xong, ngã lăn xuống ngựa, chúng tướng cứu dậy, Phiên soái cùng thu quân về trại.
Lúc ấy, Lục sứ nghe tin này thất kinh, liền dẫn quân đến cứu. Chúng tướng đáp rằng: "Bị người Phiên quát cho một tiếng, không biết tiểu tướng quân vì sao liền ngã . Lục sứ lo buồn hết sức, nói rằng: "Còn chưa giao phong đã sợ hãi như vậy, nếu như phải lâm trận , sao hi vọng được thành công" Chung đạo sĩ nói : "Đây không phải là đệ tử không thể chiến trận, chỉ do chưa đến tuổi trưởng thành, khó mà cự địch. Cần phải tâu với chúa thượng, phong cho trọng nhiệm, ban cho tuổi tráng niên, mới có thể ngự trận thế giặc mà phá quân Liêu vậy”. Lục sứ nghe lời, tâu với Chơn Tông vì Tông Bảo tuổi còn bé, khó mà cự đại địch.
Chơn Tông cùng quần thần nghị kế, Bát Vương tâu rằng: "Bệ hạ muốn lập công để muôn đời, thì phải có thần tử mà phong cho chức lớn. Nay quân Bắc người đông nếu không có chức thư như Hàn nguyên soái, sao có thể thu phục giặc cướp được? Xin hãy trọng phong Tông Bảo, để phá quân Liêu, thì thiên hạ mau thấy thái bình vậy!". Vua nói: "Nên phong cho chức gì?" Bát Vương nói: "Bệ hạ cần học Hán Cao Tổ đắp đàn bái Hàn Tín làm tướng, khiến chư tướng biết mà tuân lệnh, xông phá giết giặc hết lòng hết sức". Vua chuẩn tâu, hạ lệnh quân hiệu ở bãi đất trống phía chính Nam dựng lập tướng đài cao ba tầng, án theo thiên, địa, nhân, năm phía dựng lên cờ hiệu ngũ sắc, theo màu xanh, vàng, đỏ, trắng, đen. Lễ nghi pháp vật đều làm như thời nhà Hán. Chưa đầy hai ngày, quân hiệu hồi tấu đã dựng xong đàn. Vua giữ giới mục dục, chọn ngày tốt dẫn quần thần tới đàn, tuyên chỉ Tông Bảo tới ngự tiền, đốt hương tuyên cáo xong, vua đích thân treo ấn đại nguyên soái, phong làm: “Hách thiên bá vương chinh Liêu phá trận thượng tướng quân”.
Tông Bảo lĩnh chỉ tạ ơn. Vua nói với quần thần: “Trẫm vì Tông Bảo tuổi còn bé, quả nhân đặc cách ban cho một tuổi, làm cho đủ số tuổi định. Bát Vương tâu: "Nếu bệ hạ đã ban cho Tông Bảo một tuổi, quần thần cũng tặng hắn một tuổi, cho đủ tuổi 16, nay đã qua tuổi trưởng thành, khiến xuất quân sĩ sẽ có uy phong gấp vạn lần”. Vua vui mừng nói: “Khanh rất cao kiến". Liền như lời bàn mà hạ sắc, sai quân hiệu bưng lệnh bài đưa Tông Bảo về doanh trại. Tông Bảo lạy một lần nữa chịu mệnh, cùng quân hiệu về trước, vua cùng quần thần xuống đàn, cũng về ngự doanh.
Hôm sau, Tông Bảo ngồi nơi trung quân làm việc, hạ lệnh các quân nghe lệnh, mời Chung đạo sĩ vào trong trướng thương nghị việc tiến binh. Chung nói: "Quân Phiên trận thế rất hùng, nên sai người đến thám thính một lần nữa, sau đó mới bàn việc công kích . Tông Bảo liền hỏi: Trong quân ai dám vào xem Thiên môn trận?" Chưa dứt lời, Tiêu Tán ứng tiếng nói: "Tiểu tướng xin đi”. Tông Bảo nói: “Ngươi là người nóng tính, e sẽ lỡ việc”. Chung nói: “Lần này vừa hay dùng được người này". Tông Bảo liền chuẩn cho đi. Tiêu Tán về trại cùng bàn với nha tướng Giang Hải rằng: "Đêm nay sẽ đi xem trận, ông có kế nào dạy ta?" Hải nói: "Nếu không có sắc chỉ của Tiêu hậu, làm sao vào được? Nếu muốn đi về thì phải giả sắc chỉ mà đi". Tán nói: "Sắc chỉ thì có thể giả, nhưng ở đâu kiếm được ấn tín?" Hải nói: "Việc này không khó? Cha tôi từng làm nội quan của Tiêu hậu có được kiểu cách của ấn, tôi theo dạng mà khắc ra sẽ không sai, sau đó đưa ông mang đi, quyết không lỡ việc".
Tán mừng rỡ, liền xin làm giả sắc văn, dùng ấn tín giả đóng vào ngay đêm đó ra tới Cửu Long cốc. Trước tiên xem Thiết môn kim tỏa trận, thấy Phiên soái Mã Vinh uy phong lẫm lẫm, đứng ở trên tướng đài, bộ hạ canh giữ kín kẽ. Thấy Tiêu Tán liền hỏi: "Ngươi là người ai sai đến đây?” Tán nói: "Nương nương có sắc chỉ, sai ta đi xem xét một vòng". Vinh nói: "Xin đưa sắc chỉ xem qua.” Tán lấy đưa cho xem. Vinh xem xong, lệnh mở trận cho qua. Tán quát to một tiếng, đi qua Thiết môn trận, tới xem trận Thanh Long. Đại tướng là Thiết đầu thái tuế lớn tiếng nói: "Nơi này là nơi nào? Mà ngươi dám đến đây gây rối?" Tán nói: "Nương nương có sắc sai đến tuần thị, sao gọi là gây rối?".
Thái tuế thấy sắc, liền mở trận Thanh Long cho vào. Tán vào bên trong xem xét khắp nơi, thấy thông đạo chằng chịt, biến hóa bất thường, chỉ nghe bốn phía đều vang tiếng chiêng trống, trong lòng hơi sợ, liền đi qua trận Bạch Hổ, vừa gặp tướng giữ trận là Tô Hà Khánh, quát hỏi ai xông vào trận của ta, Tán nói: "Thừa nương nương sắc lệnh tuần thị". Hà Khánh thấy chỉ, mở trận cho qua. Tiêu Tán vội chạy đến Thái âm trận, thấy được đám phụ nữ, xích thân lõa thể, trên đài âm phong lẫm lẫm, sương đêm mù mịt, bất giác chóng mặt hoa mắt, suýt nữa hôn mê. Hoàng Quỳnh nữ tay cầm đầu lâu, xách Tiêu Tán lên, Tán hét rằng: "Ta phụng sắc chỉ nương nương tuần thị Thiên môn trận, ngươi sao dám cản trở!" Quỳnh nữ đòi lấy sắc chỉ, xem xong, liền thả cho ra, từ bên đường mà đi. Tới vài dặm bên ngoài Bắc doanh, vốn là nơi đóng quân của Tiêu hậu. Lúc này bị Hàn Diên Thọ dọ biết, liền đuổi theo để bắt.
Tiêu Tán chạy suốt đêm về trong quân, gặp Tông Bảo nói cho biết trận đồ kỳ dị, khó phân biệt đường đi về, còn có trận Thái âm, yêu khí bức người, rất khó công đánh. Tông Bảo nghe xong, mời Chung đạo sĩ tới thương nghị. Chung đạo sĩ nói: "Ta đêm xem tinh tượng, trong trận Thái âm có sự phản biến, ta sẽ lệnh phá trận này trước, các trận còn lại có thể theo thứ tự mà tiến công". Tông Bảo nói: "Trong trận Thái âm có đàn bà, xích thân lõa thể, có chủ ý gì?” Chung nói: "Họ giả làm Nguyệt Bột tinh, tay cầm đầu lâu, gặp lúc giao chiến, tiếng khóc mà cất lên, ắt địch tướng hôn mê rớt xuống ngựa. Nay phá trận thì bắt người này trước". Tông Bảo nói: "Ai có thể đi được”. Chung nói: "Kim Đầu Mã Thị đi trước, ắt có thể thành công". Tông Bảo lập tức lệnh Kim Đầu Mã Thị nói: "Ngươi dẫn hai vạn tinh binh, từ tòa thiên môn thứ chín đánh vào, ta tự sẽ có quân tiếp ứng". Mã Thị lĩnh quân đi ra. Tông Bảo cản lại gọi Bát Nương tới nói: "Ngươi dẫn 1 vạn quân mã, theo trận Thái âm mà thủ, địch có quân kéo ra, thì thừa thế mà đánh”. Bát Nương cũng dẫn quân mà đi. Tông Bảo sai khiến xong, cùng Chung đạo sĩ lên tướng đài quan sát.
Đây nói đến Kim Đầu Mã Thị dẫn quân từ cửa thứ chín reo hò đánh vào vừa gặp ngay Hoàng Quỳnh nữ khỏa thân tới đánh lại. Mã Thị mắng rằng: "Mi vốn là danh tướng của một nước, là con ruột của Tây Hạ vương thân, dẫn quân từ xa đến giúp cho nghịch tặc, không làm việc ngay thẳng, mà lại nhận chức hạ tiện, lộ ra cơ thể, không biết xấu hổ, mà còn khoe mẻ đến đánh. Cho dù là việc thành, thì còn mặt mũi nào mà về gặp chủ của mi?" Quỳnh nữ bị mắng, không lời nào có thể đáp, tự thấy xấu hổ, quay ngựa chạy về. Mã Thị thấy trên đài bày đầy đao thương, cũng không dám đuổi theo, cùng Bát Nương hợp binh ra về.
 
0
Hồi Thứ Ba Mươi Bảy
[/align]

Hoàng Quỳnh Nữ Phản Theo Tống
Mộc Quế Anh Phá Trận Cứu Cô


Hoàng Quỳnh nữ về trong trướng, tự nghĩ: "Ta dẫn quân ngàn dặm tới đây, chịu nỗi sỉ nhục như vậy. Còn nhớ thuở bé được Trịnh Linh Công tác hợp, đem ta hứa gả cho con thứ sáu của Dương Nghiệp ở Sơn Hậu, do Trịnh Linh Công mất đi, nên mối duyên này mới đứt đoạn. Nay nghe Dương Lục sứ trong quân Tống, tức là chồng ta vậy. Chi bằng đem quân bản bộ đầu hàng thiên triều, để tìm mối duyên cũ, giúp phá quân Phiên, báo rửa nỗi sỉ nhục này". Suy nghĩ đã dứt khoát, hôm sau mật sai bộ tốt mang thư đưa đến trại của Mã Thị. Mã Thị được thư, chần chừ chưa quyết, đến gặp Lệnh Bà nói rõ việc này. Lệnh Bà nói: "Ta gần như là quên mất. Ngày trước ở Hà Đông, đích thực là có việc này, nhưng vì Trịnh Linh Công tạ thế, từ đó mất tin tức". Mã Thị nói: "Nàng ta hôm qua bị nhục, hôm nay tới hàng, quyết không phải dối trá. Lệnh Bà có thể cùng Lục Quận mã thương nghị". Lệnh Bà theo lời, vào gặp Lục sứ, Cho biết Quỳnh nữ muốn mang quân tới hàng, và nói lại việc từng hứa hôn. Lục sứ nới: "Lúc bé con từng nghe nói việc này, nhưng ngặt nỗi đang mang trách nhiệm nặng nề của quốc gia ở người, phi ngày thần tử hội thân, hãy đợi sau khi tiêu diệt Bắc Phiên, rồi mới bàn vậy”. Lệnh Bà nói: "Con sai rồi! Nay nước nhà đang lúc cần người, nàng ta muốn đến hàng, muốn cùng con tương nhận. Nếu không cho, khiến cho hoài nghi, hóa ra không tốt. Nay nhất cử lưỡng tiện, có gì mà không được?” Lục sứ vâng lời, liền viết thư giao cho mời đến, hồi thư hẹn rõ hoàng hôn ngày mai, nội ứng ngoại nhập mà cử sự. Người được sai đến nhận thư về gặp Quỳnh nữ. Quỳnh nữ xem thư xong, trong lòng mừng rỡ.
Hôm sau, lúc gần hoàng hôn, hạ lệnh chúng quần thần chuẩn bị sẵn sàng. Chợt ngoài trận tiếng hò reo vang dội, Kim Đầu Mã Thị dẫn quân đánh vào Thái Âm trận. Hoàng Quỳnh nữ nghe biết quân Tống đã đến, dẫn quân từ trong đánh ra, vừa gặp bộ hạ của Hàn Diên Thọ là đại tướng Hắc Tiên Phong tới tuần trận, cùng Mã Thị giao phong, chỉ một hiệp, chém tiên phong ở trong trận, quân Bắc thua to. Hoàng Quỳnh nữ cùng Mã Thị hợp quân một chỗ, đánh thẳng ra Bắc doanh. Bên này bọn Hàn Diên Thọ, Tiêu Thiên Tả dẫn quân đuổi theo, thì đã đi xa rồi. Hai người vô cùng hối hận mà về.
đây nói đến việc Kim Đầu Mã Thị dẫn Hoàng Quỳnh nữ vào trong quân, gặp Lệnh Bà nói: “Đã được Quỳnh nữ quy hàng, lại thắng Bắc Phiên một trận” . Lệnh Bà rất mừng, sai đến cùng Lục sứ tương kiến. Chúng nhân đều đến chúc mừng.
Hôm sau Tông Bảo vào bẩm rằng: "Chung sư phụ chỉ thị trận đồ, giải thích các đường ra vào công phá, rất là rõ ràng. Ngày thứ ba Giáp Tí là ngày phá trận, xin đại nhân tâu xin thánh thượng thân đến đốc chiến, ắt con mới dễ sai khiến". Lục sứ nói: "Mi hãy đi mà xem xét việc tiến binh, ta sẽ đi tâu”. Tông Bảo lui ra, tới gặp Chung đạo sĩ nói: "Ai đi mà phá trận trước?" Chung nói: "Thiết môn kim tỏa trận vốn là đất yết hầu, chính nên phá trước, tiếp đến thì phá trận Thanh Long”. Tông Bảo nói: "Có thể sai ai đi?" Chung nói: "Thanh Long trận phải phiền đến Sài Thái quận, Thiết môn trận ắt dùng Mộc Quế Anh". Tông Bảo nói: "Mộc Quế Anh có thể đi. Nhưng mẹ con Sài Thái quận đang có thai, làm sao phá được trận dữ?” Chung nói: "Chính vì lấy thai khí để thắng, bảo đảm vô sự". Tông Bảo theo lời dạy tới gặp Lục sứ, bẩm rõ việc điều quân. Lục sứ nói: "Quân lệnh thì họ đâu dám cãi, nhưng Thái quận có thai, e có gì sơ sẩy chăng, làm sao mới tốt đây?”. Tông Bảo nói: "Sư phụ nói là không sao, nhưng ta có thể sai Mạnh Lương trợ giúp mà đi” . Lục sứ chuẩn lời. Tông Bảo lập tức ra hiệu lệnh mật thư cách phá trận cho các tướng. Mộc Quế Anh, Sài Thái quận được lệnh, mỗi người dẫn ba vạn tinh binh, nổ một tiếng pháo, hai cánh quân reo hò mà tiến đánh.
Trước tiên hãy nói Mộc Quế Anh dẫn theo ba vạn người ngựa, dặn dò một vạn quân mỗi người mang theo hỏa pháo, hỏa tiễn các loại, đợi lúc giao phong, pháo tiễn đồng loạt bắn; còn hai vạn quân từ chính Bắc đánh vào, rồi vòng ra phía sau trận Thanh Long mà tiếp ứng với quân của Sài Thái quận. Mọi người y kế mà làm. Mộc Quế Anh reo to một tiếng, chia trái phải đánh vào Thiết môn kim tỏa trận, vừa gặp ngay Phiên soái Mã Vinh rời tướng đài, dẫn quân như trời long đất lỡ mà xuống. Quế Anh lùi lại nơi đất cách trận một khoảng, dụ địch tới gần, hai ngựa giao nhau, hai người đánh với nhau mười mấy hiệp, chưa phân thắng bại.
Bộ hạ Quế Anh ai nấy theo thông đạo đồng loạt xông lên. Râu, móng sắt nhất thời cùng ngăn lại, bị quân Tống bắn hỏa tiễn, bắn chết sạch. Thiết thuyên, thiết cân tinh binh ở 14 cửa đến tiếp ứng. Quân Tống vòng ra khỏi vây mà tiến, đội ngũ Bắc quân rối loạn, Quế Anh gắng sức tiến lên, quát to một tiếng, phất đao, chém bay đầu Mã Vinh. Quân Tống thừa thế đánh vào, giết chết quân Phiên vô số, và phá vỡ được trận này. Quế Anh dẫn quân thẳng ra sau trận Thanh Long. Bây giờ hãy xem xem Sài Thái quận làm sao mà phá trận.
Có thơ làm chứng
Cổ chúng huy kỳ nhập trận tùng,
Địch binh thất toán huyết lưu hồng.
Tùng lai thánh chúa đa linh trợ,
Chí sử giai nhân kiến đại công.
(Trống chiêng khua động xông vào trận,
Quế Anh hiển lộ oai anh hùng.
Vung đao chém rụng đầu quân giặc,
Đoạt tiếng tài danh khắp một vùng).
Ở đây nói đến Sài Thái quận dẫn ba vạn quân đến được trận Thanh Long, dặn dò Mạnh Lương rằng: "Y pháp mà làm, ngươi dẫn quân một vạn trước tiên đoạt lấy Hoàng Hà cửu khúc thủy, từ bụng rồng mà xông ra. Ta dẫn đại chúng đánh vào đầu rồng, vòng ra sau trận, cùng hợp với quân của Mộc Quế Anh". Mạnh Lương lĩnh kế đi trước. Quận chúa phát phối xong, reo hò vang trời, đánh vào mé trái trận. Tướng giữ trận là Thiết đầu thái tuế dẫn quân rời khỏi tướng đài, lớn tiếng kêu rằng: "Tống tướng phá trận muốn tìm cái chết ư?" Sài quận chúa tế ngựa xông vào, hai đao đánh đỡ, giao chiến được vài hiệp, chưa phân thắng bại. Chợt ở sau trận một tiếng pháo nổ vang, Mạnh Lương đã dẫn quân từ bụng rồng đánh giết ra, Bắc quân đại loạn. Thiết đầu thái tuế quay lại dẫn quân đến cứu, Sài Thái quận thừa thế truy kích, 14 cửa tinh binh ở râu rồng, móng rồng, đồng loạt xông ra.
Sài quận chúa cùng Mạnh Lương cố sức đánh ở trước, sau, bất giác trời đã về chiều. Quận chúa sức đã mỏi mệt, động đến thai ngồi trên ngựa kêu to: "Đau chết mất thôi", bộ hạ quan sĩ đều thất sắc, trong chốc lát sinh ra em bé, liền ngất đi trong trận. Thiết đầu thái tuế quay ngựa lại muốn bắt, chợt bên hông trận một cánh quân xông đến nhanh như gió thổi chớp giật, chính là Mộc Quế Anh vậy, thấy Quận chúa nguy cấp, nỗ lực đến cứu, hai ngựa giao nhau chỉ hai hiệp, Thiết đầu thái tuế hóa ra một đạo kim quang bay đi, bị huyết khí xông phá, Quế Anh quăng phi đao, chém chết giữa trận. Quân Phiên đại loạn, lại gặp Mạnh Lương từ sau giết tới, chết hơn một nửa, chỉ có một phần chạy trốn được. Quế Anh xông tới trước cứu được Quận chúa, bồng lấy đứa bé cột chặt vào lòng, rồi phá luôn trận Thanh Long, người sau có thơ làm chứng:
Chiến trận tài giao thế dĩ nguy,
Mộc Quế Anh vu thử hiển hùng uy.
Phi đao trảm lạc yên nguyên thủ,
Đoạt thủ anh hùng đắc thắng quy.
Quế Anh dã được toàn thắng, về gặp Lục sứ, tường thuật lại việc phá trận. Quận chúa lại được bình an. Lục sứ hết sức vui mừng, liền dặn quận chúa vào hậu doanh nghỉ ngơi, đem con trai bồng vào cùng Lệnh Bà xem. Lệnh Bà xem xong, mừng mà nổi rằng: "Đứa trẻ này diện mạo giống hệt như anh là Tông Bảo". Liền lấy tên Dương Văn Quảng, dặn dò bà mụ chăm sóc nuôi dưỡng kĩ lưỡng, chuyện không có gì đáng nói.
Ở đây nói về Phiên soái Hàn Diên Thọ thua mất hai trận, tổn thất người, ngựa, cho triệu gấp Xuân Nham đến thương nghị. Xuân Nham nói: "Địch dù có giỏi đến đâu quyết khó mà phá trận mê hồn của tôi. Bọn hắn nếu đến đây, sẽ khiến cho không còn manh giáp". Hàn Diên Thọ nói: "Tướng quân cũng phải dụng tâm phòng bị, trong quân Tống ắt nhiều người tinh thông quen thuộc trăm ngàn lần chớ có xem thường". Nham nói: "Tự có cơ biến mà biết chúng nó". Nói xong, liền đến thương nghị cùng Lữ quân sư.
Ở đây nói đến thám mã báo về dinh Tống: "Quân Bắc phòng bị trận này rất là kiên cố . Tông Bảo nói với chư tướng rằng: "Thế của họ đã dao động, chính nên theo thứ tự mà phá trận". Liền mời Chung đạo sĩ bàn việc tiến quân, Chung nói: "Hãy phá trận Bạch Hổ, còn các trận kia thì chờ cơ hội mới đánh". Tông Bảo nói: "Ai có thể đi?" Chung nói: "Cha mi có thể lập công này". Tông Bảo vâng lời, vào gặp Lục sứ báo cho biết. Lục sứ nói: "Chính nên thừa thế mà tiến, để khích lệ chư tướng". Tông Bảo lui ra.
Hôm sau, Lục sứ toàn thân nai nịt, dẫn hai vạn quân kị xông vào Bắc doanh, đánh vào trận Bạch Hổ. Phiên binh reo ầm lên, thế như triều dâng. Xuân Nham đăng tướng đài, tay cầm hồng kỳ phất động. Phiên soái Tô Hà Khánh liền mở cửa trận Bạch Hổ, dẫn quân nghênh chiến, vừa gặp ngay Lục sứ diễu võ giương oai mà tới. Hai ngựa giao nhau, binh khí va chạm, hai người đánh hơn 30 hiệp. Hà Khánh giả thua, quay ngựa liền chạy. Quân Tống thừa thế xông vào.
Chợt nơi tướng đài kẻng vàng vang lừng, cờ vàng mở ra, đột nhiên biến thành trận Bát Quái. Bá Trinh công chúa dẫn tinh binh tới hợp lại vây. Lục sứ thấy cửa trận phức tạp, tiến thoái sai loạn, bị Hà Khánh ập trở lại chém giết, nhốt vào trong trận. Lục sứ tả xung hữu đột quân Bắc đồng loạt bắn tên, đá, không thể xông khỏi trận. Bại quân vội chạy về báo với Tông Bảo. Tông Bảo hoảng hồn nói: "Giờ phải làm sao?” Rồi lập tức triệu Tiêu Tán tới nói: "Ngươi mau dẫn 5000 quân, từ bên cạnh đánh vào, dùng chùy đá đập nát kẻng đi, khiến cọp mù mắt, ắt không thể nhìn, ta sẽ có quân tiếp ứng". Tiêu Tán hăng hái dẫn quân đi. Lại gọi Hoàng Quỳnh nữ tới nói: "Ngươi dẫn mã quân 5000, từ cửa bên phải đánh vào trước nên chặt gãy cờ vàng, khiến cọp điếc tai ắt không thể nghe. Trận này tự nhiên sẽ loạn". Quỳnh nữ cũng dẫn quân mà đi. Lại gọi Mộc Quế Anh vào nói: "Nàng hãy dẫn một vạn quân kị ở giữa đánh vào, để cứu cha ta". Quế Anh khẳng khái mà đi. Tông Bảo phân khiến xong, tự dẫn bọn Nhạc Thắng, Mạnh Lương ở đối trận tiếp ứng.
Hãy nói về Tiêu Tán nghe thấy Lục sứ bị vây, gầm lên như sấm, dẫn quân đánh vào bên hông. Vừa gặp Phiên tướng Lưu Kha trấn thủ mắt cọp, thấy quân Tống đánh tới, liền xuống đài nghênh địch, giao chiến vừa được hai hiệp, bị Tán chém cho một đao chết tươi, đánh tan các quân còn lại, rồi đem hai mắt kim la đập tan vụn như hoa tuyết, thừa thế mà xông vào. Vừa gặp Hoàng Quỳnh nữ từ cửa bên phải xông đến, phất đao chém chết Trương Hy, chặt đổ hai mặt cờ vàng, cùng Tán hợp binh đánh thẳng vào phía sau trận Bạch Hổ. Tô Hà Khánh thấy trận thế nguy bức, hoảng hốt đến cứu. Mộc Quế Anh xông vào trước, hai người giao phong chưa được hai hiệp, Hà Khánh vòng trận mà chạy, Quế Anh giương cung đặt lên và bắn một mũi tên vào ngay cổ họng, Hà Khánh chết lăn xuống ngựa. Bá Trinh công chúa thấy chồng gặp nguy, vội chạy đến cứu, không đề phòng sau trận, Hoàng Quỳnh nữ bay ngựa tới, tay múa roi sắt, đánh xuống lưng một nhát. Bá Trinh công chúa miệng phun máu tươi, đơn mã chạy trốn về nước. Dương Lục sứ nghe bên ngoài có tiếng chiêng trống, liệu đó là cứu binh, nên từ trong đánh ra, vừa gặp Tiêu Tán đang chém giết quân Phiên như chém dưa băm củi. Hai bên hợp binh, liền thừa thế phá trận Bạch Hổ. Có thơ vịnh:
Nguy nhiên trận thế xảo an bày,
Thùy tướng anh hùng tắc phá lai?
Trảm tướng đồ binh thành bại quyết,
Trung Nguyên thành thị hữu kỳ tài.
(Thế trận chập chùng khéo sắp bày,
Ai nghĩ anh hùng dám phá đây?
Chém tướng đày quân nên tan vỡ,
Trung Nguyên quả vẫn có kỳ tài).
Lục sứ đánh về bổn trận, bọn Tông Bảo tiếp ứng mà về. Hôm sau, thăng trướng, chúng tướng đều đến chúc mừng. Lục sứ nói: "Trận địch quả là kỳ dị, đánh đến nửa chừng, không biết đường đi, nếu cứu binh không tới, mệnh ta suýt nữa thì nguy". Tông Bảo nói: "Nay cha đã phá trận Bạch Hổ, nên thừa thế đánh vào điện Ngọc Hoàng, ắt trận địch dễ phá". Lục sứ nói: "Trong trận tàng cơ khó đoán, phải phân biệt thật kĩ, rồi sau mới tiến binh". Tông Bảo nói: "Con tự có sắp đặt". Liền mời Lệnh Bà, Bát Nương, Cửu muội vào trong trướng nói: "Lần này phải nhờ bà bà và nhị vị cô cô đi một chuyến". Lệnh Bà nói: "Đây là việc nước, đâu dám chối từ . Tông Bảo nói: "Trong trận có Lê sơn thánh mẫu, bà bà nếu đi, phải bắt lấy người này trước, còn chỗ khác thì dễ đánh". Lệnh Bà lĩnh kế, dẫn Bát Nương, Cửu muội tiến đánh. Tông Bảo lại triệu Vương Quý nói: "Thúc công có thể dẫn quân bản bộ từ chính điện đánh vào tiếp ứng trận này”. Vương Quý cũng lĩnh kế mà đi. Tông Bảo phân khiến xong. Muốn biết ngày mai Nam-Bắc tướng giao phong thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.
 
0
Hồi Thứ Ba Mươi Tám
[/align]

Tông Bảo Xét Công Mê Hồn Trận
Ngũ Lang Hàng Phục Tiêu Thiên Tả


Lệnh Bà dẫn quân giương cờ gióng trống đánh vào trận Ngọc Hoàng. Xuân Nham dự hạ lệnh hiệu lệnh, phát động hồng kỳ. Lê sơn thánh mẫu vốn là Đổng phu nhân đóng giả, vỗ ngựa tới đón. Hai ngựa giao nhau, hai bên cùng cử binh khí. Hai người đấu được vài hiệp, Đổng phu nhân quay ngựa bỏ chạy. Bát Nương, Cửu muội từ hai cánh đánh vào. Đột nhiên, trong trận chiêng trống vang lừng, quân Phiên hợp lại mà tiến, đem Lệnh Bà và quân tướng vây ở trong trận. Vương Quý nghe tin này, vội dẫn quân xông thẳng vào trước trận để cứu. Vừa gặp Bắc Phiên tuần doanh soái tướng Hàn Diên Thọ kéo đến, giương cung đặt tên ngắm chính xác giữa ngực Vương Quý mà bắn, Vương Quý ứng theo tiếng dây cung mà ngã, quân mã bộ hạ bị quân Phiên giết chết một nửa. Bại quân chạy về báo với Tông Bảo. Tông Bảo thất kinh nói: "Mất đại tướng của ta, làm sao lập công được?" Liền lập tức sai Mộc Quế Anh dẫn 5000 quân đi cứu ứng Lệnh Bà. Mộc Quế Anh lĩnh kế mà đi. Lại dẫn Dương thất tỷ dẫn bộ binh 5000, xông vào trước điện phá bỏ hồng đăng, ắt kẻ địch không thể biến trận. Thất tỷ lĩnh kế mà làm.
Trước tiên hãy nói Mộc Quế Anh xông vào Bắc trận, nhìn thấy trong trận sát khí bốc ngút trời, liền bay ngựa đánh vào vừa gặp Đổng phu nhân đang cố sức đánh với Bát Nương, Bát Nương thế dần nguy cấp. Mộc Quế Anh giương cung bắn một phát, tin ngay vào mắt, Đổng phu nhân chết lăn xuống ngựa. Thừa thế đánh tan quan đang vây, cứu được Lệnh Bà, Bát Nương, Cửu muội rồi hợp binh đánh ra. Vừa gặp Dương thất tỷ vừa phá xong hồng đăng, vòng ra trước điện thông minh, liền cùng Lệnh Bà đồng loạt xông ra trận. Hàn Diên Thọ thấy quân Tống đại thắng, không đánh mà lui. Quân Tống cũng cướp được thi thể của Vương Quý về trại. Tông Bảo và chư tướng tiếp lấy, vô cùng thương xót. Lúc ấy vợ của Vương Quý là Đỗ phu nhân cũng ở trong quân, thấy chồng tử trận, khóc than không ngớt. Lục sứ nói: "Thím đừng buồn, cháu sẽ tâu rõ thánh thượng, biểu dương lòng trung của thúc phụ, để báo đáp công nghiệp này". Phu nhân gạt lệ cảm tạ.
Hôm sau, Lục sứ vào ngư doanh, tâu với vua, thúc phụ là Vương Quý vì phá trận mà bị chết, xin bệ hạ biểu dương, để khích lệ người sau. Vua chuẩn tấu, liền tuyên Đỗ phu nhân vào trước trướng an ủi vỗ về rằng: "Vương Lệnh Công là tôi yêu của trẫm, nay nghe bị tử trận, vô cùng thương tiếc. Nay phu nhân có đứa con ba tuổi, phong làm Vô chức ân quan đợi ngày trưởng thành, sẽ cho nhận chức ở triều đình làm việc; nay phong khanh làm Trinh Tiết phu nhân, tặng tên thụy cho Vương Quý làm Trung nghĩa Thành quốc công, ban cho vàng bạc gấm vóc 12 xe". Ân mệnh đã xuống, Đỗ phu nhân khấu tạ mà lui. Hôm sau, từ biệt Lệnh Bà, thu dọn đồ ban thưởng về Hồng Đô trang, chuyện không có gì đáng nói.
Tông Bảo đến gặp Chung đạo sĩ bàn tiếp việc phá trận, Chung khuyên: "Mê hồn trận là trận thảm độc nhất nay nên thừa cơ mà phá”. Tông Bảo thưa: "Đệ tử ở trên tướng đài quan sát, thấy Lữ quân sư bên Bắc doanh rất giỏi và muốn quyết chiến với ta, e rằng khó thắng địch”. Chung nói: “Ta tự có cách phá kế sách của hắn, không cần phải lo”. Tông Bảo vui mừng cáo từ lui ra, lập tức hạ lệnh đến đánh trận mê hồn. Rồi triệu Ngũ lang tới nói rằng: "Chuyến này phải phiền đến bá phụ”. Ngũ lang nới: "Ta đương nhiên phải ra sức”. Ngay hôm đó, dẫn 5000 quân đầu đà, reo hò đánh vào trận mê hồn, gặp ngay Phiên soái Tiêu Thiên Tả cản lấy, hai tướng giao chiến. Được mười mấy hiệp, Tiêu Thiên Tả giả thua, để Ngũ lang vào trận. Đơn Dương công chúa tế ngựa múa đao đón đánh, chưa đến hai hiệp, công chúa vỗ ngựa chạy. Ngũ lang xua quân đuổi vào trận, 500 La Hán đồng loạt tiến đến ngăn lại, các đầu đà ra sức tiến đánh, đem 500 La Hán giết sạch.
Gia Luật Nạp thấy quân Tống thế đang hăng, vội phất hồng kỳ, chợt trong trận Thái Âm thả ra một bầy quỷ yêu khóc lóc mà tới, quân đầu đà ai nấy mê loạn, không thể tiến lên. Ngũ lang thất kinh, vội niệm thần chú, gấp dẫn quân chạy về dinh Tống, báo với Tông Bảo. Tông Bảo biết được nói: "Sư phụ từng nói, trận này có yêu thuật, phải theo phép mà phá”. Liền lấy thiên thư ra xem, trong ghi: “Cần 49 đứa con trẻ, mỗi người cầm cành dương liễu, đánh tan ba hồn bảy vía của yêu phụ". Tông Bảo biết được ý này, lập tức hạ lệnh chuẩn bị đủ số trẻ con, đều mặc nhung trang, rồi gọi Ngũ lang nói: "Phiền bá phụ dẫn bọn trẻ vào trong trận, thì ắt phá được!" Ngũ lang khẳng khái mà đi. Lại gọi Mạnh Lương vào nói: "Ngươi dẫn hai vạn bộ binh đánh vào trận Thái dương, xông ra phía sau, tiếp ứng quân ta”. Mạnh Lương cũng dẫn quân mà đi.
Hãy nói về Ngũ lang gắng sức tiến lên, dẫn quân đánh vào Mê hồn trận. Đơn Dương công chúa không đánh mà lui, dụ quân địch vào trận. Dương Ngũ lang đánh thẳng tới tướng đài, Gia Luật Nạp vẫy hồng kỳ, yêu phần nổi lên, 49 đứa trẻ tay cầm dương liễu, đón hướng gió mà tiến, Yêu phần liền tan. Gia Luật Nạp hoảng loạn, bỏ trận mà chạy. Ngũ lang đuổi kịp chém cho một búa chết tươi. 5000 Phật tử bỏ chạy tán loạn, quân đầu đà đồng loạt hạ giới đao, tấc cỏ cũng không chừa. Đơn Dương công chúa trở tay không kịp, bị quân Tống bắt sống trên ngựa. Tiêu Thiên Tả hết sức giận dữ, dẫn quân đến cứu. Dương Ngũ lang xông ra trước trận, hai ngựa giao nhau, đánh hơn 20 hiệp, bất phân thắng bại. Ngũ lang rút ra hàng long bổng, đánh trúng vào vai. Tiêu Thiên Tả hiện ra nguyên hình, thì ra là một con rồng đen. Ngũ lang giơ búa lên chém đứt thành hai đoạn bay ra hai nơi (Đầu Thiên Tả bay xuống thành Hoàng Châu, về sau xưng là Hỏa Li quốc vương, phần đuôi bay rớt xuống đầm Thiết Sâm, sau thành Hà Khẩu quân sư, lại làm loạn Trung Quốc). chuyện không có gì đáng nói.
đây nói về Mạnh Lương đánh vào Thái Dương trận, gặp ngay Phiên tướng Tiêu Thác Lãn, giao ngựa vừa hai hiệp, bị Mạnh Lương một búa chém chết. Giết sạch tàn kị, xông thẳng vào hậu trận, tiếp ứng Dương Ngũ lang cùng chém giết mà về, phá cả hai trận Mê hồn, Thái dương, giết quân Phiên đếm không xuể. Có thơ làm chứng:
Mê hồn trận thượng yêu phần thậm,
Hùng hổ quân trung sát khí cao.
Bại Bắc Phiên binh phong vụ tán,
Thành công Tống tướng huyết liên bào.
(Trước trận mê hồn khí ma dầy,
Rồng cọp trong quân sát khí trào.
Binh giặc thua lui mây mù quét,
Tướng Tống công thành máu quyện bào).
Ngũ lang giải Đơn Dương công chúa vào trong quân gặp Tông Bảo, cho biết việc phá trận và giết Tiêu Thiên Tả, Tông Báo vô cùng mừng rỡ nói: "Phá được trận này, các trận khác không có gì phải lo nữa!”. Liền lệnh đem Đơn Dương công chúa lôi ra ngoài chém. Mộc Quế Anh khuyên rằng: "Xem cô này dung mạo đoan nghiêm, vả lại là thân sinh của Tiêu hậu, chi bằng lưu cô ta dưới trướng mà sai khiến”. Tông Bảo nhận lời, liền thả công chúa, điều khiển chư tướng phá trận. Gọi Hô Diên Tán vào nói: "Ngọc hoàng điện đóng rất nhiều trọng binh, Ngài hãy giả Triệu Huyền Đàn đánh vào chính giữa; Mạnh Lương giả làm Quan nguyên soái, Tiêu Tán giả làm Hàn nguyên soái, Nhạc Thắng giả làm Khang nguyên soái, Trương Cái giả làm Vương nguyên soái, Lưu Siêu giả làm Mã nguyên soái, là năm người đánh vào tả hữu hai bên, phá Bắc phương Thiên môn trận của họ". Bọn Hô Diên Tán được lệnh, mỗi người lĩnh quân 5000 mà đi. Tông Bảo sai khiến xong, cùng Lục sứ đăng tướng đài quan sát.
Hãy nói bọn Hô Diên Tán chỉnh điểm đầy đủ, gióng trống giương cờ đánh vào điện Ngọc Hoàng. Vừa gặp Kim long thái tử, hai ngựa giao du nhau, hai người đấu hơn mười hiệp. Thái tử giả thua dụ vào trong trận, Mạnh Lương Tiêu Tán thừa thế đánh vào, đến gần tướng đài, gặp ngay Thổ Kim Tú phất cờ Chân Võ, Nhạc Thắng vỗ ngựa vào trước, đột nhiên thiên hôn địa ám, không nhận được đường đi, bị Thổ Kim Tú bắt sống. Bên này, Tiêu Tán biết được đến cứu, nhưng bị quân Phiên hợp lại vây lấy bốn phía. Hô Diên Tán thấy thế bất lợi, dẫn quân đánh ngược lại trở ra, về gặp Tông Bảo, thuật lại trận thế khó đánh.
Khi điểm lại thì thấy mất Nhạc Thắng, Mạnh Lương, đang lúc lo buồn, chợt có người báo hai tướng về tới liền lập tức triệu vào hỏi nguyên nhân. Nhạc Thắng nói: "Trong trận biến hóa kỳ lạ khôn lường, nhất thời đông tây sai tạp, liền bị người Phiên bắt được. Nếu phi Mạnh Lương tới cứu, suýt nữa mạng này khó giữ”. Tông Bảo nói: "Trong trận có nhị thập bát tú, bảy bảy bốn mươi chín ngọn thiên đăng, đều là tên của sự biến hóa". Liền gọi Mạnh Lương nói rằng: "Ngươi ngày mai đánh vào trận, hãy trộm lấy Chân châu Bạch Lương tán ở trước điện Ngọc hoàng trước, lại sai Tiêu Tán chặt gãy Nhật nguyệt trân châu tạo lạ kỳ ở hai mặt, ta sẽ tự sẽ có quân đến cứu ứng. Mạnh Lương, Tiêu Tán lĩnh kế mà đi.
Tông Bảo vào bẩm với Lục sứ rằng: "Lần này ắt phải Thánh giá thân hành, địch lấy Ngọc hoàng đại đế. Đại nhân sẽ phá trận Bạch Hổ bên phải, còn Bát điện hạ phá Thanh Long trận ở bên trái; con tự dẫn quân vào phá chính điện". Lục sứ theo lời bàn, lập tức vào ngự tiền tâu với Chơn Tông. Vương Khâm tâu rằng: "Bệ hạ là vạn thăng chi chủ, hà tất phải phiền đến thánh giá. Hãy sai chủ tướng xông trận, nếu không thắng địch thì tại thuộc về chủ soái". Đó là do Vương Khâm sợ rằng sẽ thành công phá trận, nên nói lời này để ngăn cản. Chơn Tông vừa muốn chuẩn theo lời nghị. Bát Vương tâu rằng: "Chuyến này bệ hạ đến là muốn phá trận, nay gặp lúc sắp quyết định thành bại, lại do dự sao. Nếu vậy thì làm sao khích lệ chư tướng sĩ? Hoàng thượng chính nên đích thân tới, khiến kẻ địch thấy uy phong mà lui, đó là kế lâu dài của xã tắc vậy". Vua liền quyết ý, hạ mệnh chuẩn bị tiến binh.
Hôm sau, sau ba hồi trống, Mạnh Lương và Tiêu Tán dẫn quân vào trước, không kẻ nào dám ngăn. Đánh thẳng tới mé bên điện Ngọc hoàng, Mạnh Lương đoạt lấy Chân châu bạch lương tán; Tiêu Tán chém đổ Nhật nguyệt tạo la kỳ. Vừa gặp hai tướng Thổ Kim Ngưu, Thổ Kim Tú đánh đến, cùng tướng Tống hai bên đánh vùi. Mạnh Lương rất giận, phất búa chém giết chết Kim Ngưu, Tiêu Tán thì chém Kim Tú, quân Phiên bộ hạ đều bị quân Tống giết sạch. Hậu đội Dương Lục sứ vỗ ngựa đánh vào, trước tiên bắn tắt 49 ngọn đèn hiệu, trận liền bị vỡ. Sau đó, 28 viên tinh quan đồng loạt xông ra, bị Mạnh Lương, Tiêu Tán đón lấy giết sạch. Kim long thái tử thấy trận thế bị vỡ, vỗ ngựa chạy trốn. Vua Tống giương cung cứng, một mũi tên bắn chết ở trong trận. Quân Tống ào lên, Tông Bảo giương hỏa tiễn, đốt cháy điện Thông Minh, quân Phiên bị chết cháy nhiều vô kể. Bọn Mạnh Lương hợp binh lại làm một, phá sập điện Ngọc hoàng. Có thơ làm chứng:
Ngọc hoàng điện thế điệu vô cùng,
Thức phá tùng giao khắc chiến trung.
Bắc chúng điêu tàn phong lạc diệp,
Quân vương nhất tiễn lập kỳ công.
(Thế điện ngọc hoàng khéo lạ thay,
Phá tan cuộc chiến biết bao nay.
Đất bắc điêu tàn rừng phong rụng,
Quân vương một thuở lập công hay).
Tông Bảo hạ lệnh: "Thừa thế chẻ tre này, chư tướng mỗi người phải cố gắng ra sức". Lệnh Mạnh Lương đánh vào trận Chu Tước. Tiêu Tán đánh vào trận Huyền Võ Lục sứ, Hô Diên Tán đánh vào trận Trường Xà. Quân lệnh vừa ban xuống, Mạnh Lương cố sức xông lên trước, dẫn quân đánh vào trận Chu Tước, gặp ngay Phiên tướng Gia Luật Hưu Ca múa thương tế ngựa đón đánh, hai ngựa giao nhau, hai người đánh được vài hiệp, bất phân thắng bại, chợt sau trận một tiếng pháo nổ vang. Lưu Siêu, Trương Cái từ bên hông đánh vào. Gia Luật Hưu Ca gắng sức nhưng không địch lại, bên bỏ tướng đài mà chạy. Mạnh Lương thừa thế đuổi theo, phá vỡ trận này. Lúc này, Tiêu Tán đánh vào trận Huyền Võ, gặp Gia Luật Hề Đệ, đánh hơn mười hiệp, Gia Luật Hề Đệ bại tẩu, bị bị Tiêu Tán đuổi tới trước, phất đao chém chết. Rồi giết tan kị, phá vỡ Huyền Võ trận. Dương Lục sứ dẫn chúng tướng đánh vào trận Trường Xà. Gia Luật Sa thấy trận thế đã loạn, không dám nghênh địch, kéo đao vòng ra trận mà chạy trốn. Tông Bảo ngăn lại, hai ngựa giao nhau, chưa được vài hiệp, bọn Mạnh Lương, Tiêu Tán từ sau đánh đến. Gia Luật Sa tiến lui đều không được, rút kiếm tự vẫn trên lưng ngựa. Lúc ấy quân Tống vô cùng hăng hái, ai là không muốn tranh công. Tông Bảo hạ lệnh đánh vào Bắc doanh.
Hàn Diên Thọ thấy Thiên môn trận đã bị phá tan hoang, hốt hoảng hỏi kế Lữ quân sư. Quân sư giận: "Cho ngươi đi, ta tự đến mà bắt họ”. Lập tức dẫn quân của bản doanh, kéo đi như trời long đất lỡ, trong chốc lát bầu trời tối sầm, cát chạy đá bay, quân Tống ai nấy hai mắt mở không ra. Tông Bảo cùng vua tôi bị vây trong trận, quân Phiên bốn phía chém giết mà vào. Chính đang vào lúc nguy cấp, Chung dạo sĩ nhìn thấy, chạy vào trước trận, phất tay áo bào, gió liền quay ngược lại thổi ngã quân Phiên, trời đất sáng trở lại. Xuân Nham vội báo Lữ quân sư rằng: “Chưng tiên trưởng đã tới, sư phụ, chạy mau!" Lữ quân sư nói: "Mọi việc đều có số trời định phân, không thể làm ngược lại vậy”. Sư đồ tiu nghỉu mà bỏ đi. Chung đạo sĩ cũng quay về Bồng Lai, chuyện không có gì đáng nói. Muốn biết chuyện sau này thế nào, xin xem hồi sau sẽ rõ.
 
0
Hồi Thứ Ba Mươi Chín
[/align]

Tống Chơn Tông Hạ Chiếu Ban Sư
Vương Khu Mật Dùng Kế Phản Gián


Lúc ấy nơi chính dinh của Tiêu hậu còn có Thất tiên cô, Tứ môn thiên vương chưa bị phá. Tông Bảo hạ lệnh cho Bát Nương, Cửu muội, Hoàng Quỳnh nữ, Mộc Quế Anh dẫn quân đánh Thất tiên cô, Dương Ngũ lang đánh Tứ môn thiên vương. Chúng tướng được lệnh, ai nấy dẫn quân tiến lên. Bát Nương, Mộc Quế Anh chém sạch bọn Độc cô công chúa bảy người của Phiên quốc. Dương Ngũ lang dẫn quân xông vào, giết chết bọn Gia Luật Thương, Gia Luật Kỳ bốn tướng. Hàn Diên Thọ biết đại thế đã mất, vào trong doanh báo với Tiêu hậu rằng: "Nương nương mau chạy, bốn phía nay đều là quân Tống" Hậu sợ hãi nói: "Lữ quân sư ở đâu?" Hàn Diên Thọ nói: "Hôm qua đã trốn mất, không biết đi đâu". Tiêu thái hậu nghe xong, hốt hoảng hết cách, cưỡi một chiếc xe nhỏ cùng bọn Hàn Diên Thọ, Gia Luật Học Cổ theo hướng Sơn Hậu mà trốn về. Dương Lục sứ biết được, dẫn chúng tướng đuổi gấp. Tiêu Tán dũng cảm xông lên trước đuổi kịp Hàn Diên Thọ, kêu lớn rằng: "Hãy mau đầu hàng, tha mi khỏi chết”. Hàn Diên Thọ quay ngựa về đánh, chưa được hai hiệp bị Tiêu Tán bắt sống. Bọn Mạnh Lương ập vào, quân Phiên quăng giáo bỏ giáp mà tiến. Tiêu hậu chạy theo đường nhỏ trốn mất.
Trận này, Dương Tông Bảo đại chiến Nam đài thất thập nhị Thiên môn trận, giết chết hơn 40 vạn quân Phiên, xác chết chồng chất, máu chảy đầy đồng. Trăm năm sau vẫn còn có xương trắng như núi, ai thấy cũng đều thương xót. Có thơ vịnh:
Bạch cốt giao gia ủy tái tường,
Vấn nhân vân thử thụ chinh trường.
Đình Tham cố vọng thiêm trù trướng,
Vãn đái tà huy bội khả thương.
(Xương trắng chồng nhau sát chật tường,
Hỏi rằng chỗ ấy phải chiến trường?
Dừng xe ngoảnh lại thêm ngơ ngẩn,
Le lói chiều tà bấy cảm thương).
Tông Bảo đã thu được toàn thắng, liền thu quân về trại. Hôm sau, ngồi trên nha trướng, điều tập các xứ quân mã. Bộ tốt giải Hàn Diên Thọ vào, Tông Bảo mắng rằng: "Ngươi xưng là đệ nhất anh hùng của đất Bắc, hôm nay sao lại bị bắt vậy?" Hàn Diên Thọ cúi đầu không nói. Tông Bảo nói: "Để tên gian tặc như mi làm gì”, liền lệnh lôi ra chém. Tả hữu được lệnh, chém đầu bêu lên sào. Rồi xem lại công huân của chư tướng phá trận, sai người truy vấn tin tức của Chung đạo sĩ, đều nói rằng: "Từ khi phá Bắc dinh, không biết đã đi đâu?" Tông Bảo lúc này mới biết Chung đạo sĩ chính là Hán Chung Li giáng thế. Dặn dò chư tướng ai ấy theo đội mình mà đóng doanh, để chờ thánh chỉ. Chư tướng tuân lệnh mà làm. Từ đó quân uy đại chấn, gần xa nghe thấy đều sợ hãi.
Ở đây nói đến Dương Lục sứ mang sổ ghi công của chư tướng tâu với Chơn Tông. Chơn Tông nói: "Đợi trẫm ban sư hồi kinh, mới nghị việc thăng thưởng". Lục sứ tâu rằng: "Cái khó có được là cơ hội, nay quân Phiên thua to mà chạy, bệ hạ hãy xa giá, tiến nhanh đến lấy U Châu. Lấy bản đồ của Tiêu hậu mà về, đó là việc lợi ngàn đời vậy" Vua nói: "Nay người Phiên đã lui, quân sĩ đánh nhau lâu đã mỏi mệt, nay nên nghỉ ngơi để củng cố lại căn bản, đợi ngày hồi triều, mới bàn cách khu xử” . Lục sứ liền lui.
Ba ngày sau, vua xuống lệnh, ba lộ quân Đàn Châu lui về trước. Nay hãy xây quan ải kiên cố nơi Cửu Long cốc để Vương Toàn Tiết, Lý Minh cùng quân bản bộ ở lại trấn thủ, còn kỳ dư các soái thần theo chinh chiến đều theo xa giá mà ban sư. Chỉ lệnh đã xuống, trong quân ai nấy đều vui mừng. Bình minh, xa giá rời Cửu Long cốc. Dương Lục sứ làm tiền đội, Dương Tông Bảo làm hậu đội. Vua cùng quần thần đi giữa, tam quân hướng về kinh sư mà đi. Chính là:
Tinh kỳ động xứ quân thanh tráng,
Vạn mã hý thời hỷ khí dương.
(Cờ xí động lay quân hùng tráng,
Ngựa hí vang trời vui rộn thay).
Ngày nọ, đã cách Biện Kinh không xa, văn võ nghênh xa giá vào cấm cung. Hôm sau, thiết triều, chúng văn võ triều hạ xong, vua tuyên Lục sứ đến trước ngai an ủi rằng: "Chuyến này cực nhọc cho cha con khanh, trẫm sẽ luận công mà thăng thưởng". Lục sứ nói: "Đó đều là do chư tướng hiệp lực hiệu mệnh, cha con ngu thần đâu dám độc hưởng hoàng ân". Chơn Tông lệnh thiết yến khao thưởng chinh Bắc tướng sĩ, Dương gia nữ tướng đều được lĩnh yến tiệc, hôm đó vua tôi vui vẻ mới về.
Hôm sau, Lục sứ vào triều tạ ơn. Vua ban cho ba bộ áo giáp vàng, hai con ngựa trắng, gấm vóc 12 xe. Lục sứ trên điện cố sức từ chối. Vua nói: "Đây mới chỉ là thưởng nhỏ thôi chớ có từ chối nữa" còn chư tướng có công trận khác sẽ bàn bạc mà tuyên thưởng. Lục sứ liền thụ mệnh lui ra. Về đến Vô nịnh phủ, tham kiến Lệnh Bà, kể lại ân điển của thánh thượng. Lệnh Bà nói: "Con ta rời Tam quan đã lâu, nên trở về mà trấn thủ, để phòng người Phiên bất trắc". Lục sứ y mệnh, rồi ra lệnh mở yến tiệc khao thưởng bộ tướng. Bọn Tông Bảo, Nhạc Thắng tất cả 20 viên chiến tướng ngồi ở bên trái tiệc, bọn Mộc Quế Anh, Hoàng Quỳnh nữ, Đơn Dương công chúa, tất cả 12 viên nữ tướng ngồi bên phải tiệc. Dương Lệnh Bà, Sài Thái quận, Dương Lục sứ ngồi ở giữa, theo thứ tự mà ngồi.
Hôm ấy, nhà bếp dâng món ăn, sĩ tốt múa kiếm, mọi người vui vẻ uống rượu. Rượu đến nửa chừng, Dương Ngũ lang đứng lên bẩm với mẹ rằng: "Con bất hiếu Phật duyên chưa mãn, nay mừng cho em con kiến lập đại công, con ở trong quân nay cũng vô ích, hôm nay xin từ biệt mẫu thân cùng các em, trở về Ngũ Đài Sơn xuất gia". Lệnh Bà nói: "Đó vốn là bản tính của con, vậy thì đi hay ở con hãy tự quyết định". Ngũ lang liền từ biệt mọi người, dẫn đầu đà về Ngũ Đài Sơn, chuyện không có gì đáng nói. Đêm ấy, rượu cạn tiệc tan, chủ tướng đều lui. Hôm sau, Lục sứ vào triều tâu với vua rằng: "Thần muốn về Tam quan trấn thủ”. Vua rất hài lòng, giáng sắc chuẩn Lục sứ đến trấn giữ Tam quan; Dương Tông Bảo giám quân tuần thị kinh thành. Ai nấy lĩnh mệnh mà làm.
Nói về Vương Khu Mật về phủ suy nghĩ rằng: "Từ khi vào triều đã 18 năm, chưa từng kiến công lập nghiệp với Tiêu hậu". Rồi nảy ra một kế, vào tâu với Chơn Tông rằng: "Thần nhờ ơn bệ hạ thu dụng, chưa lập được tấc công nào, nay sau khi Bắc Phiên bại trận trở về, chắc rằng họ sẽ sợ thiên uy của ta. Nay xin bệ hạ chuẩn cho hàng phục, để tránh cái họa ngày sau". Vua nói: "Lời này đủ thấy lòng trung của khanh”. Liền lệnh cho Võ quân úy Châu Phúc cùng Vương Khu Mật mang sắc, đi đến Tây Phiên tuyên đọc. Hai người được lệnh, mang theo sắc văn, đi đến Tây Phiên hướng U Châu tiến phát. Đi đến nửa đường, Vương Khâm hỏi Châu Phúc rằng: "Từ đây đường đi đến đâu?”. Phúc nói "Có hai con đường để đi. Một là theo Hoàng Hà; một đường là theo trại Tam quan". Vương Khu Mật nghe xong nghĩ thầm: "Nếu đi qua Tam quan, ắt bị Lục sứ bắt lại, chi bằng kiếm một cớ, đi theo hướng Hoàng Hà”. Liền nói với Phúc rằng: "Ta còn có văn thư khẩn cấp chưa lấy, ngươi thay ta đi trước, ta theo sau sẽ đến liền". Phúc không biết đó là mẹo, liền nhận lời, mang theo sắc văn tự mình đi trước.
Hãy nói về Vương Khu Mật một mình cưỡi ngựa đến Hoàng Hà, tới phủ Thái Nguyên. Quan trấn thủ Tiết Văn Ngộ ra thành nghênh tiếp Vương Khâm, vào phủ làm lễ ra mắt xong, Văn Ngộ hỏi rằng: "Khu Mật tới đây có việc gì không?" Vương Khâm nói lại việc đến Đại Liêu để lấy vãn thơ đầu hàng. Thái thú hãy chuẩn bị thuyền”. Văn Ngộ nói: "Việc này rất dễ" liền sai lấy thuyền son, đưa qua bờ bắc Hoàng Hà, hướng về U Châu mà đi.
Nói tiếp Châu Phúc mang quân mã, đi gần đến địa giới Tam quan, bị quân kị của Lục sứ cản lại, hỏi rằng: "Người đến là ai?" Tiền quân báo rằng: "Khâm sai Vương Khu Mật đến Bắc Phiên công cán. Các ngươi là ai, dám đến ngăn trở" Tuần kị nói: "Hôm trước, Bát điện hạ có sai người đến quan ải nói rằng: "Vương Khu Mật muốn thông Phiên, lệnh cho chúng ta phải phòng bị thật chặt, nay quả nhiên như vậy". Chúng nhân đồng loạt hạ thủ, rồi báo với Lục sứ là bắt được gian tế là Vương Khu Mật tới Lục sứ mừng rỡ nói: "Tên giặc này do ta đề cử, làm được quan to, không nghĩ việc tận trung, nhiều lần muốn khởi mưu làm loạn. Hôm nay, tự sa vào lưới, quyết không dễ mà thả đi". Quân sĩ trói Châu Phúc dẫn vào trước trướng, hai bên kiếm kích như rừng, thương đao dày đặc, làm Châu Phúc sợ đến mặt như chàm đổ, cứng họng không nói được.
Lục sứ ngẩng đầu nhìn xem, giận nói: "Người này không phải Vương Khu Mật, bọn các ngươi sao được hư báo, tất cả đều đáng theo luật mà hỏi tội". Lúc này Châu Phúc mới dám lên tiếng nói: "Tướng quân tha mạng, tôi là Châu Phúc". Lục sứ hỏi nguyên do, Phúc nói: "Nhờ ơn thánh thượng sai tiểu nhân cùng Vương Khu Mật đến Bắc Phiên lấy văn thư đầu hàng. Do Khu Mật để quên văn thư nên quay về lấy, nên lệnh cho tôi đi trước, mà bị thuộc hạ của tướng quân bắt được". Lục sứ cười nói: "Sao lại có chuyện ra khỏi thành mà lại bỏ quên văn thư được! Tên giặc này ắt được tin, nên mới bày ra mẹo này vậy". Rồi lệnh thả ra, mời vào trong trướng gặp mặt Lục sứ nói: "Ngài có nhớ việc ngày trước chuyện Phan Nhân Mĩ giao binh ở Hà Đông không?” Phúc nói: "Tiểu nhân vẫn còn ghi nhớ". Lục sứ nói: "Ông vốn là người quen cũ của ta, không cần phải sợ hãi". Rồi sai bày tiệc rượu khoản đãi, nghỉ lại trong trại một đêm, Hôm sau, tiễn Châu Phúc ra khỏi Tam quan mà đi.
Ở đây nói về Vương Khu Mật đã đến U Châu, trước hết nhờ cận thần vào tâu báo, hôm sau vào triều kiến Tiêu hậu. Tiêu hậu vừa nhìn thấy Vương Khâm, nộ khí xung quan, vỗ án mắng rằng: " Tên giặc gian nịnh kia, ta đang muốn ăn tươi nuốt sống mi để rửa mối hận, nhưng chưa nghĩ ra kế bắt, nay mi tự đến để tìm cái chết”. Liền quát lôi ra pháp trường, phanh thây xẻ thịt. Quân hiệu được chỉ, trói gô Vương Khâm lại. Gia Luật Hưu Ca tâu rằng: "Nương nương hãy tạm bớt cơn giận dữ. Nay hắn quay về, ắt có việc để nói, đợi hắn nói xong mà không hợp lí, chém cũng chưa muộn". Hậu vẫn giận không nguôi. Gia Luật Học Cổ tâu rằng: "Vương Khâm nay như chim trong lồng, giết có khó gì? Xin Nương nương hãy tạm thời tha chết”. Hậu liền hạ lệnh thả ra, hỏi đến có ý gì.
Vương Khâm sợ hãi hồi lâu, mới nói: "Thần từ khi đến Trung Quốc, không phải là không hết lòng, chỉ là chưa gặp cơ hội. Nay thiên tử nhà Tống muốn bản đồ hộ tịch chín châu của Nương nương đều quy Trung Quốc, lại muốn phát binh tiến lên Bắc. Thần do sau khi Bắc Phiên thảm bại, không thể nghênh địch, nên lấy văn thư tới gặp, trong đó có cơ hội, để báo ơn của Nương nương . Hậu nghe tâu, đổi giận làm vui, nói: “Khanh có kế gì có thể đồ được Trung Quốc”. Khâm nói: "May mắn ngày nay các tướng giỏi của triều Tống đều sai đi trấn ở nơi xa, chỉ có thập đại văn thần ở triều. Nương nương có thể hồi thư nói là Vương Khâm chức nhỏ, không thể truyền đạt được ý cần phải sai đại thần tới Cửu Long phi hổ cốc để giao nạp văn tự của chín Châu, đợi khi họ đến, vây bắt lấy, rồi khiến sứ tâu báo, ép vua Tống chia đôi thiên hạ, thì mới thả họ về. Vua Tống lấy đại thần làm trọng, ắt phải theo lời, lúc đó ta từ từ mưu đồ tiến quân, ắt sẽ thành công". Hậu nói: "Ai có thể đến Trung Quốc?" Khâm nói: "Thần tiếc gì mà không đi". Hậu lập tức thảo biểu, đưa Vương Khâm mang về. Khâm từ biệt, rời khỏi U Châu, hướng về Biện Kinh tiến phát. Giữa đường vừa gặp quân mã của Châu Phúc. Vương Khâm cho biết việc đã gặp Tiêu hậu nay về phục mệnh. Phúc mừng rỡ liền hồi quân cùng Vương Khâm theo đường Hoàng Hà mà về. Ngày nọ, đến kinh, triều kiến Chơn Tông, tâu rằng: "Thần lĩnh mệnh vào đất Bắc truyền chỉ, Tiêu hậu mừng rỡ, nguyện dâng nạp bản đồ và hộ tịch của chín Châu, nhưng nói rằng: " Đây là việc hệ trọng, thần chức quan thấp hèn, không thể thành lập được giao ước lâu dài, nên xin mười vị đại thần triều đình đến Cửu Long phi hổ cốc để dâng nộp, đặc lệnh thần phúc mệnh tâu cho biết". Chơn Tông nghe tâu, vô cùng vui mừng, lập tức hạ sắc sai đình thần chuẩn bị khởi hành.
 
0
Hồi Thứ Bốn Mươi
[/align]

Bát Điện Hạ Tam Quan Mượn Binh
Chúng Anh Hùng Cửu Long Đấu Võ


Bọn Khấu chuẩn, Sài Ngọc, Lý ngự sử, Triệu giám quân tới trong phủ Bát Vương thương nghị. Chuẩn nói: "Đây là mẹo của kẻ gian, nếu đi, ắt có bất trắc". Sài Ngọc nói: "Mệnh lệnh của thánh thượng, ai dám từ chối?" Bát Vương nói: "Liệt vị chớ lo, chuyến đi này ắt phải đi qua Tam quan, hãy gặp Dương Quận mã mượn quân giúp đỡ, bảo đảm sẽ vô sự”. Bọn Khấu Chuẩn vui mừng mà lui.
Hôm sau, mười vị đại thần vào bái biệt Chơn Tông. Chơn Tông nói: "Các khanh đi chuyến này là vì sự yên ổn của xã tắc mà tính vậy, nên phải cẩn thận mà làm". Bọn Bát Vương lĩnh mệnh ra khỏi triều, rời kinh thành hướng Tam quan tiến phát. Sai thám mã báo trước với Lục sứ. Lục sứ sai Mạnh Lương, Tiêu Tán đón ở giữa đường. Ngày kia, Bát Vương cùng chúng nhân đi gần đến Lương môn quan. Một cánh quân mã cản đường, thì ra là bọn Mạnh Lương, Tiêu Tán, cao giọng kêu rằng: “Người đến có phải là Bát điện hạ không?"
Bát Vương tiến tới trước nói: "Là ai cản đường? Mau về báo cho Quận mã biết". Mạnh Lương lập tức xuống ngựa, sụp lạy bên đường nói: "Nay đại nhân tôi sai khiến, lệnh tiểu nhân đợi ở đây đã nhiều ngày rồi". Bát Vương liền cùng các quan thẳng đến Tam quan. Lại thấy một cánh quân kéo đến, thì ra Lục sứ thân ra nghênh tiếp. Bát Vương gặp Lục sứ, hết sức vui mừng, cùng sánh ngựa vào trong trướng. Mười vị đại thần phân ngôi thứ ngồi xuống, rồi sai bày tiệc rượu sẵn sàng, các quan cùng nâng ly mà uống.
Rượu đến nửa chừng, Lục sứ đứng lên hỏi rằng: "Không biết Bát điện hạ cùng chư công đến đây có cao kiến gì?" Bát Vương nói: "Lần này đến đây muốn cùng Quận mã thương nghị một việc lớn. Gần đây do thánh thượng muốn bình định Bắc Phiên, không ngờ tên gian thần Vương Khâm sau khi lĩnh chỉ đi gặp Tiêu hậu, muốn họ dâng nạp bản đồ và hộ tịch của chín Châu, để tắt can qua. Tiêu hậu dâng biểu nói là: phải có thập đại triều thần đến Cửu Long phi hổ cốc mới có thể lập giao ước. Thánh mệnh đã xuống, sai bọn ta đi đến đó. Ta nghĩ đây ắt là gian kế của Vương Khâm. Nếu chỉ có bọn ta đến đó có khác nào đưa dê vào miệng cọp, làm sao có thể an toàn? Nên nay đến đây để mượn binh trợ giúp, để phá mẹo của người Phiên". Lục sứ đáp rằng: "Hôm trước hạ quan chính muốn bắt tên giặc này để trừ hậu hoạn, không ngờ hắn đi theo hướng Hoàng Hà. Nay nếu đã dùng mưu gian này, muốn lừa đại thần Trung Quốc, tiểu nhân đương nhiên phải ứng phó, quyết lấy được bản đồ và hộ tịch của quân man di mà về”. Bát Vương nghe xong vô cùng mừng rỡ, nói: "Có ông sắp xếp, thật là phúc của thánh thượng vậy”. Hôm đó, các quan vui vẻ rồi nghỉ.
Hôm sau, Lục sứ triệu bọn Mạnh Lương, Nhạc Thắng Tiêu Tán, Lâm Thiết Thương, Tống Thiết Bổng, Thiệu Thiết Kỳ, Đổng thiết cổ, Khưu Trân, Vương Kỳ, Mạnh Đắc, Trần Lâm, Sài Cảm, Lang Thiên, Lang Vạn, Trương Cái, Lưu Siêu, Lý Ngọc... hơn 20 người vào dặn dò rằng: "Chuyến đi này ắt phải động can qua, bọn các ngươi phải dụng tâm, bảo vệ triều thần đi đến đó". Nhạc Thắng nói: "Lời của đại nhân tuy đúng, nhưng nếu như Bắc Phiên nhận ra được chúng ta, hoài nghi mà không đến đầu hàng, há không làm lỡ việc lớn ư?” Lục sứ nói: "Ta có mẹo dạy cho ngươi: Mỗi người gánh một cái rương đều giả dạng làm bọn tùy tùng đi theo. Trong rương giấu binh khí, phía trên để mũ quan, y phục. Lại dùng ống trúc có hai đoạn, đoạn trên đựng nước, đoạn dưới giấu thiết bổng. Người Phiên nếu có hỏi, thì nói là đem theo nước để uống. Nếu vô sự thì không nói gì, nếu có gì bất trắc, thì gặp việc cơ biến mà dùng . Bọn Nhạc Thắng chịu kế rồi lui.
Hôm ấy, Bát Vương từ biệt Lục sứ, cùng các quan rời khỏi Tam quan, hướng về Cửu Long phi hổ cốc mà tiến phát. Lúc ấy trời vào đầu đông, gió rét cắt mặt, tiếng hồng nhạn bi thương. Mười vị đại thần ngồi trên ngựa, nhìn ra hai bên chỉ thấy đầy xác người và xương trắng, gươm gãy giáo rời vô số. Bát Vương than rằng: "Thuở trước Hán, Châu đánh nhau ở đây, khiến cho lê dân gan óc lầy đất". Người xem ai cũng thảm thiết. Có thơ vịnh:
Lưỡng ngạn do tồn chiến huyết hồng,
Đương niên hào kiệt tổng thành không.
Hành nhân vu thử trọng sai vấn,
Trù trướng tây phong tịch chiêu trung.
(Hai bờ như vẫn máu trận sôi,
Năm xưa hào kiệt cũng là thôi.
Người đi qua đó như còn hỏi,
Lặng lẽ gió lùa nắng ngả soi).
Lúc này, tin tức đã truyền đến Bắc Phiên. Tiêu hậu sai Gia Luật Học Cổ làm Hành danh tổng quản, dẫn 1 vạn tinh binh, tới trước để đợi. Học Cổ lĩnh mệnh, dẫn quân đến Cửu Long phi hổ cốc, đóng trại ở hướng chính Bắc. Hôm sau, thân đến trong cốc, dạo xem một vòng, về trong quân nói với Nha tướng là Tạ Lưu, Vương Mãnh rằng: "Ta xem nơi ấy, bốn phía đều là đường cùng, duy phía Đông có một bãi đất bằng phẳng, có thể chứa được năm, sáu trăm người. Có thể bày yến tiệc ở đó, để đợi họ đến, rồi từ đó hành động” . Tạ Lưu nói: "Kế của Tổng quản rất hay". Chưa dứt lời, người vào báo rằng: "Mười vị đại thần triều đình đã tới”. Học Cổ dặn dò quân mã lui tránh ra xa, tự dẫn quân tới trước nghênh tiếp. Bát Vương ngồi trên ngựa cùng Học Cổ thi lễ nói rằng: "Chúa ngươi tự nghị muốn dâng bản đồ hộ tịch của chín Châu, tướng quân nghĩ như thế nào?" Học Cổ ứng đáp: "Trước trận không phải là nơi để nghị hòa, ngày mai nên ở trong quân mà định đoạt". Bát Vương ưng thuận rồi lui, đóng doanh lũy nơi hướng chính Nam.
Học Cổ về đến trong trướng, triệu Tạ, Trương đến thương nghị rằng: "Ngày mai ta sẽ học theo chuyện Sở Bá Vương đãi yến Cao Tổ ở hội Hồng Môn, múa kiếm đấu võ ngay trong tiệc quyết lấy thắng thua, hai ngươi nên dụng tâm mà lập công”. Tạ Lưu nói: "Xin đem hết sở học bình sinh của tiểu nhân mà lập công, nhất định hoàn thành mưu kế của Tổng quản". Học Cổ lại triệu Thái úy Hàn Quân Bật vào nói: "Ông dẫn 1 vạn tinh binh mai phục nơi cốc khẩu, chờ khi có biến động, lập tức đem quân vây chặt lấy đại thần nhà tống”.
Quân Bật lĩnh kế làm theo. Học Cổ sắp đặt xong, một mặt sai người đến cốc khẩu chuẩn bị yến tiệc, rồi sai quân Phiên mang thư đến dinh Tống, gặp Bát Vương nói: "Tổng quản có lệnh mời liệt vị đại thần gặp mặt bàn về hòa ước quy hàng vào ngày mai và không được mang một tấc vũ khí nào tương kiến". Bát Vương nhận thư xem xong, liền hồi thư cho lính Phiên, chuyện không có gì đáng nói. Khấu Chuẩn vào nói: "Chuyến đi này nếu không nhờ điện hạ liệu việc trước, mang theo thuộc hạ của Quận mã cùng đến, họ quyết không có thiện ý". Bát Vương nói: "Nay tuy phó hẹn, xem hắn bàn nghị thế nào?”. Mọi người liền lui về nghỉ.
Hôm sau, Gia Luật Học Cổ đến cốc khẩu đón đợi, nhìn xa thấy bụi bay mù mịt. Các quan Tống cưỡi ngựa đến nơi. Khi đến gần, Học Cổ thấy không có quân mã đi theo, trong bụng mừng thầm, liền mời mọi người vào trong cốc, ra mắt nhau xong, Học Cổ cung kính mời mười vị đại thần theo ngôi thứ mà ngồi. Bát Vương nói: "Tiêu Nương nương chịu quy thuận Thiên triều, sẽ không mất ngôi vị làm chủ một nước, thật là phúc lớn của nhân dân vậy”. Học Cổ cười nói: "Nương nương tôi vốn có ý này, xin hãy uống rượu đã, rồi từ từ bàn tính" rồi lệnh Phiên quan dâng tiệc, nhạc công tấu khúc.
Hôm ấy, trước trướng nhạc tấu vang lừng, các quan Nam-Bắc gặp gỡ uống rượu. Bấy giờ, Sài phò mã ngồi ở mé trái bàn tiệc, Gia Luật Học Cổ nhận ra được, liền hỏi: "Vị này có phải là Sài tiên sinh không?”. Sài Ngọc nghe thấy liền ứng tiếng đáp: "Chính là học sinh, tướng quân có lời dạy gì?" Học Cổ nói: "Ta nhớ năm trước có dâng "Thiên tự đồ Phiên gia" vào thiên triều, bị ông sửa chữ "Thiên” thành chữ "Vị", Tiêu hậu nổi giận mà động can qua, hôm nay mới được gặp mặt vậy!" Sài Ngọc nói: "Ngươi nói sai rồi! Chúa thượng ta ứng thiên thiện nhân, chỉ trong vài năm, khắc phục quần hùng, tạo nên sự thịnh vượng của việc thống nhất. Duy Bắc Phiên các ngươi, do cách Trung Quốc quá xa, chưa rảnh mà chinh thảo, mới để cho vua tôi ngươi nhiều lần giết hại dân lành chấn động hoàng uy. Thiên môn trận bị phá, Bắc kị quay giáo mà trốn, lúc đó nếu chúa ta thẳng tiến đến U Châu, gặp chúa ngươi đòi bản đồ và hộ tịch mà về, nhưng vì bọn ta không nỡ để quân dân phải rơi vào vòng chiến tranh nữa, mới khuyên ban sư. Nếu Tiêu hậu biết đạo lí thuận nghịch, không theo lời mê hoặc của cuồng phu, hết lòng quy thuận, thì có thể giữ lấy nước. Nếu không, đường đường Trung Quốc ta, sĩ mã tinh cường, lại chịu để cho ngoại cảnh xưng "Cô" sao! Việc sửa "Thiên tự đồ” đúng là do ta làm. Việc đã xa xưa, sao lại nhắc đến nữa!".
Gia Luật Học Cổ bị sang thuyết cho một hồi, hơi có vẻ khó chịu. Lại hỏi Khấu Chuẩn ngồi ở mé phải chính tiệc rằng: "Tôi nhớ vào những năm niên hiệu Hàm Bình tiến cống trướng ấm bằng da và gấm vóc, bị ông dìm đi không tấu, dẫn đến hai bên đánh nhau, đó là cách đại thần giúp vua chăng?" Khấu Chuẩn lớn tiếng nói rằng: "Chúa thượng ta bàn việc trị nước không có ngày rảnh, làm sao có lòng dùng cẩm trưởng của ngươi để vui chơi. Hôm nay vốn để cùng nước các ngươi kết hòa ước, lấy văn tự của chín Châu để đem dâng, hà tất đem chuyện cũ ra nói ư?" Học Cổ nói: "Văn tự ngày khác giao cắt chưa muộn, xin hãy xem Phiên quan múa kiếm trước trướng, để ta uống rượu mua vui". Bát Vương nói: "Đã hẹn không cho đem binh khí theo. Đây đâu phải là trên tiệc Hồng Môn, đâu cần phải múa kiếm?" Chưa dứt lời, Tạ Lưu đã ứng tiếng mà ra, tay cầm trường kiếm múa ở trước tiệc. Bát Vương thấy việc không ổn, liền gọi: "Những kẻ tùy tùng ở đâu?" Mạnh Lương giận dữ tiến tới trước nói: "Quân Bắc biết múa kiếm, Trung Quốc ta lại không có tráng sĩ ư? Ta cũng múa kiếm đối lại, để giúp vui trước tiệc" nói xong, múa kiếm bén cùng Tạ Lưu thi múa.
Gia Luật Học Cổ thấy Mạnh Lương chí khí hiên ngang, tự nghĩ người này ắt phải là đại tướng, không thể đấu lại được liền nói: "Múa kiếm không có gì vui, hãy xem bắn tên làm vui vậy” Mạnh Lương nói: "Muốn phi ngựa bắn, xuyên dương bắn, tùy ý muốn các ngươi" Tạ Lưu nói: "Phi ngựa bắn liễu, là chuyện thường gặp, nay cần phải bắn theo cách mới lạ". Mạnh Lương nói: "Sao gọi là mới lạ?" Tạ Lưu nói: "Đem một người sống treo lên trụ, bắn liền ba phát, người tránh được mới là tay giỏi"
Mạnh Lương nghe xong, cười thầm nói: "Tên giặc này muốn ám hại ta, hãy giết hắn trước, để nhụt nhuệ khí Bắc Phiên" liền trả lời: "Ai bắn trước? Tạ Lưu nói: "Tôi bắn trước". Mạnh Lương thản nhiên nhận lời tự sai người trói trên lên trụ, kêu rằng: "Cho người mặc ý bắn liền ba phát". Bọn Bát Vương nhìn thấy ai cũng có sắc sợ. Tạ Lưu rời tiệc đứng cách một khoảng xa, tay giương cung cứng, bắn đi một phát, bị Mạnh Lương dùng tay gạt ra. Tạ Lưu hoảng sợ, lại bắn một phát, muốn bắn vào bụng, không ngờ Mạnh Lương có hộ tâm kính, bắn không vào. Mười vị đại thần đều vỗ tay khen ngợi. Chúng nhân cởi trói. Mạnh Lương nói: “Hãy mượn mi để ta thử tên". Tạ Lưu không còn cách nào khác, cũng đành trói treo lên trụ. Mạnh Lương kéo căng cung, đặt tên bắn đi, cố ý bắn không trúng Phiên quan. Tạ Lưu nghĩ thầm: “Người này chỉ giỏi múa kiếm, không biết bắn tên" Liền nói: "Mặc sức người bắn tiếp hai mũi”. Mạnh Lương bắn ngay một phát, tin ngay cổ họng. Tạ Lưu ứng tiếng dây cung bật mà chết tươi. Chính là:
Vô năng Phiên sĩ đồ thi dũng,
Kim nhật tu khiếu tiễn hạ vong.
(Thiếu tài kẻ sĩ uổng công lớn,
Ngày nay đành rống chết dưới tên).
Gia Luật Học Cổ thấy Tạ Lưu thất thủ, giận dữ nói: "Đến để giảng hòa, sao có thể giết nhau!” Quát rằng: "Chúng nhân hãy bắt lấy!" Chỉ thấy năm, sáu trăm Phiên kị ào đến trước tiệc, hăng hái xông vào. Bọn Nhạc Thắng, Tiêu Tán hết sức giận dữ, ai nấy mở rương ra, ống tre ra lấy ra trường thương, đoản kiếm, đồng loạt đánh vào. Gia Luật Học Cổ biết là đã có phòng bị, tự bỏ trốn trước. Quân Phiên bị quân Tống giết chết một nửa. Mạnh Lương vội bảo vệ quan triều ra cửa cốc, chợt vang lên vài tiếng pháo, phục quan quân của Hàn Quân Bật đồng loạt xô ra, vây chặt lấy cốc khẩu. Nhạc Thắng e quân Bắc vây nhốt lại, nên gắng sức xông ra. Nhưng sao cản được Phiên kị bắn tên, đá như mưa, nên đều không thể đến gần. Phía sau lại là đường cùng, bốn phía vách núi thì dựng đứng. Chính là:
Hổ lạc thâm khanh vô kế xuất,
Long đọa thiết võng trí mưu sơ.
(Cọp rơi xuống bẫy mong gì thoát,
Rồng lọt lưới đồng biết kém tài).
Muốn biết chuyện gì xảy ra, xem hồi sau sẽ rõ.
 
0
Hồi Thứ Bốn Mươi Mốt
[/align]

Dương Diên Lăng Vâng Giúp Lương Thảo
Bát Nương Tử Đại Chiến Phiên Binh


Bát vương cùng mười vị đại thần bị nhốt ở trong cốc lo buồn hết cách. Khấu Chuẩn nói: "Khi rời triều đình, ai cũng đều biết là có nạn. Bây giờ chỉ còn cách nhẫn nại, từ từ tìm cách mà thoát ra”. Bát Vương nói: "Nay lương thảo sắp hết, viện binh chưa đến, nếu quân Phiên thừa cơ đánh vào, làm sao đỡ được?" Mạnh Lương nói: "Xin điện hạ chớ lo, đợi quân Phiên hơi lỏng lẻo không đề phòng tiểu nhân sẽ lén ra cốc khẩu, về Tam quan lấy cứu binh, giết sạch bọn man mọi này" Bát Vương nghe theo, liền giữ vững không ra.
Ở đây nói đến Gia Luật Học Cổ đã vây nhốt các quan nhà Tống, liền cùng Trương Mãnh bàn rằng: "Chúng ta nên giữ chắc chỗ này, bọn họ dù có sức mạnh của Bá vương cũng không thể ra được" Mãnh nói; "Kế nảy rất hay, nhưng chỉ e Trung Quốc biết tin, ắt có quân đến cứu ứng. Chi bằng nhân cơ hội này tâu Nương nương tự dẫn đại quân đến tương trợ thì chắc có thể thành công". Gia Luật Học Cổ nói: "Ông nói rất phải" Lập tức sai quân Phiên về U Châu tâu với Tiêu hậu. Tiêu hậu nghe tâu, cùng quần thần thương nghị. Gia Luật Hưu Ca tâu rằng: "Nếu quân Bắc đã vây nhốt các quan nhà Tống, đó là tin tốt lành vậy. Nương nương chính nên phát binh ứng tiếp, để đồ lấy Trung Nguyên". Tiêu Hậu nói: "Gần đây do thảm hại mà về, tướng giỏi đều đã mất hết, nay không có tiên phong bảo giá, sao mà tiến đánh được?"
Nói chưa xong, một người ứng tiếng mà nói: "Tiểu tướng bất tài, nguyện bảo vệ xa giá Nương nương, diệt sạch người Tống mà về". Chúng nhìn xem, thì ra là phò mã Mộc Dịch. Mộc Dịch tới gần tâu rằng: "Thần đội đại ân của Nương nương, chưa báo đáp được gì, nay xin hỏi bảo giá mà đi". Hậu vô cùng mừng rỡ nói: "Ngày trước đài quan tâu rằng: "U Châu đang hưng, ắt xuất hiền kẻ phò tá", tưởng ứng nơi khanh vậy!" Lập tức hạ lệnh phong Mộc Dịch làm bảo giá tiên phong, thống lĩnh tất cả 10 vạn nhân mã của bốn nước Nữ Chân, Tây Phiên, Sa Đà, Hắc Thủy mà tiến. Mộc Dịch thọ mệnh lui ra.
Ngày sau, Tiêu hậu xa giá rời khỏi U Châu, quân mã cuồn cuộn, hướng về Cửu Long phi hổ cốc tiến phát. Ngày nọ, gần đến nơi, Gia Luật Học Cổ nghênh tiếp ở nửa đường, vào trong quân lạy rằng: "Nhờ hồng phúc của Nương nương, đã vây nhốt mười đại thần trong đó. Gần đây nghe lương thảo sắp hết, không lâu sẽ bị bắt. Thần sợ Trung Quốc phát quân đến cứu, nên đành xin xa giá hành, nhất định lấy được thiên hạ" Tiêu hậu rất hài lòng nói: "Lần này nếu bắt được mười tên đại thần, đủ để rửa nỗi nhục năm trước", liền chia quân mã đóng thành hai đại doanh: Gia Luật Học Cổ thống lĩnh quân Nữ Chân, Tây Phiên đóng ở chính Bắc; phò mã Mộc Dịch thống lĩnh quân Sa Đà, Hắc Thủy đóng ở Tây Nam; tính cách vây lấy quân Tống lâu dài. Bọn Gia Luật Học Cổ thừa mệnh lui ra, tự đi sắp xếp, chuyện không có gì đáng nói.
Quân mã của Mộc Dịch đóng ở trại phía Tây Nam. Đêm ấy không có chút gió, khắp trời đầy sao. Mộc Dịch ở trong trướng nghĩ thầm rằng: "Nay mười vị đại thần bị vây trong cốc, người ngựa Bắc Phiên lại đông như vậy, bọn họ làm sao ra được? Cứu binh tuy đến, nhưng lương thảo đã hết , rốt cuộc cũng khó thoát nguy hiểm" Rồi nảy ra một mẹo, viết một bức thư, buộc vào đầu mũi tên, bắn vào trong cốc, nói rằng: "Hãy sai người bí mật ra sau núi, sẽ tặng cho vài mươi xe lương thảo". Chuẩn bị xong, liền ra trướng bắn vào trong cốc. Vừa hay Mạnh Lương nhặt được, thì ra là một mũi tên mang thơ, biết có duyên cớ. Liền tháo phong thư ra, vội vàng đưa cho Bát Vương xem, thấy thơ viết rằng: "Trung Quốc Dương Diên Lăng dập đầu lạy cho Bát điện hạ và thập đại triều thần liệt vị tiên sinh được rõ: Hiện nay, quân Bắc rất đông, liệt vị hãy đừng xông ra, e bị tàn sát vô ích. Không lâu sẽ có cứu binh đi đến. Hãy nhẫn nại nhẫn nại. Nay có 20 xe lương thảo, sẽ giao ở phía chính Nam Cửu Long cốc, đủ chi dùng trong một tháng, nên sai người khiêng lấy. Đây là một việc bí mật hệ trọng, đừng để lỡ việc cũng như đừng để tiết lộ".
Bát Vương xem xong, hết sức mừng rỡ, nói với Khấu Chuẩn: "Thư này là do Dương tướng quân báo, đem giúp cho lương thảo ở sau núi. Bắc Phiên toàn nhờ người này chủ binh, nên chắc sẽ bảo vệ cho bọn ta được vô sự”. Khấu Chuẩn nói: "Nếu đã có lương thảo thì nên sai người đi dò xem”. Mạnh Lương nói: "Tiểu tướng xin đi!" Bát Vương cho đi.
Mạnh Lương lập tức dẫn mười mấy tên quân khỏe mạnh, thừa lúc đêm khuya đến sau núi dò xem, quả nhiên thấy 20 xe lương thảo. Mạnh Lương liền khiêng vào trong cốc. Bát Vương nói: "Lương thực thì đã may mắn có rồi, nhưng nếu không có cứu binh tới, rốt cuộc cũng là nguy hiểm. Các ngươi có kế gì để thoát ra không?" Mạnh Lương nói: "Bát điện hạ yên tâm, tiểu nhân sẽ lén ra trại Phiên, vào Biện Kinh cầu cứu”. Bát Vương nói: "Ngươi đi tuy tốt, nhưng cũng phải cẩn thận". Mạnh Lương nói: "Tiểu nhân tự sẽ có cách". Liền từ biệt Bát Vương, theo sau núi mà đi. Đi gần được một dặm, bị tuần kị bắt lấy. Mạnh Lương gắng sức đánh mà không thắng, bị bắt trói lại, dẫn đến gặp Mộc tiên phong. Mộc Dịch cố ý đến gần quát rằng: "Ta sai ngươi về U Châu gặp công chúa, có việc khẩn cấp phải báo, sao ngươi bị người bắt lại”. Mạnh Lương hiểu ý liền nói: "Trời chưa sáng rõ, đi sai đường nên mới bị bắt lấy" Mộc Dịch nói: "Mau đi, rồi về đây hồi báo" Tả hữu vội cởi trói thả đi.
Mạnh Lương chạy ra khỏi dinh Phiên, mừng nói: "Nếu không phải là Dương tướng quân, hôm nay khó giữ mạng sống. Lại nghĩ: "nếu đến Tam quan mà báo, ắt phải chờ tâu với triều đình, e lâu ngày sẽ lỡ việc, chi bằng đến Ngũ Đài Sơn mời Dương thiền sư đến viện, thì dễ thành công hơn". Nghĩ rồi, liền quay về hướng Ngũ Đài Sơn mà đi, đến nơi vào tham kiến Dương hòa thượng. Hòa thượng hỏi rằng: "Ngươi vì cớ gì mà mặc đồ như người Phiên?" Mạnh Lương nói: "Có một chuyện vô cùng khẩn cấp muốn báo với sư phụ, căm giận thay Tiêu thái hậu dùng ngụy kế, dụ mười vị đại quan triều đình, vây ở Cửu Long cốc, vô cùng nguy cấp. Nay thừa mệnh Bát Vương, muốn để Tam quan lấy cứu binh. Tự nghĩ sợ rằng ngày tháng kéo dài, làm lỡ việc lớn. Ngũ Đài Sơn đi tới nơi đó đường gần, xin sư phụ đi một chuyến, cùng phò quốc nạn".
Dương Ngũ lang trầm ngâm hồi lâu, gọi Mạnh Lương rồi nói: "Ta với mi đâu phải là oan gia, sao lại nhiều lần đến gây phiền não?" Mạnh Lương nói. "Tiểu nhân đâu phải vì việc riêng bản thân mà cũng nể mặt đại nhân tôi. Sư phụ không đi, nếu mười vị đại thần bị hại, sư phụ trong lòng cũng khó mà yên". Ngũ lang nói: "Vốn không muốn đi, nhưng nễ tình là Bát điện hạ, chỉ đành dẫn chúng đi vậy" Nguyên Ngũ Đài Sơn vốn gần các nơi của Quan Tây là nơi có nhiều bọn hung đồ ngoan cố, phàm là những kẻ phạm pháp đáng chết đều trốn vào trong chùa làm tăng. Ngũ lang liền thu dụng lấy, vì thế thành một đội quân vô địch.
Hôm ấy, Dương hòa thượng điểm lấy hơn một nghìn người trong chùa, chuẩn bị khởi hành. Mạnh Lương nói: "Sư phụ tới trước. Tiểu nhân sẽ đến Tam quan, báo cho đại nhân cùng đến cứu viện". Ngũ lang nhận lời. Mạnh Lương liền giã từ xuống núi, đi suốt đêm về trong trại gặp Lục sứ, vào báo cho biết việc có quan triều đình bị vây. Lục sứ nói: "Ta một mặt sẽ hưng binh đến cứu, mi hãy gấp mang biểu vào kinh tâu báo".
Mạnh Lương được lệnh, mang biểu đi suốt đêm về kinh, tâu với Chơn Tông. Chơn Tông được tâu thất kinh, tuyên Mạnh Lương vào hỏi rằng: "Triều thần bị vây lúc nào?” Mạnh Lương nói: "Đã gần một tháng, may được Dương Diên Lăng giúp cho lương thảo, mới khỏi phải lo. Nay Tam quan đã phát binh mã, xin bệ hạ khiến tướng cứu ứng”. Chơn Tông hỏi đình thần rằng: "Ai có thể dẫn quân đi?" Chưa dứt lời, Hách thiên bá vương Dương Tôn Bảo tâu rằng: "Thần xin đến cứu". Chơn Tông vô cùng mừng rỡ, liền hạ mệnh Lão tướng Hô Diên Tán làm giám quân, Dương Tôn Bảo làm tiên phong, điểm năm vạn binh tiến đánh. Tông Bảo thụ mệnh, lui ra, về Vô nịnh phủ từ biệt Lệnh Bà để xuất sư. Lệnh Bà nói: "Có thể dẫn Bát Nương, Cửu muội cùng đi". Tông Bảo nói: " Được cô cô tương trợ thì còn gì bằng. Ngay hôm đó, chúng tướng chuẩn bị đầy đủ, Mạnh Lương làm tiền đội, Tông Bảo ở giữa, Hô Diên Tán dẫn đại quân theo sau, hướng về Cửu Long phi hổ cốc tiến phát. Chỉ thấy:
Vạn mã tòng trung quân đao tráng,
Tam thiên đội lí hiển anh hùng.
(Muôn ngựa reo vang đao gươm sáng,
Ba ngàn quân đội lộ anh hùng).
Thám mã báo vào trong quân Tiêu hậu rằng: “Quân Tống đang tiến nhanh đến nơi”. Tiêu hậu lập tức triệu bọn Gia Luật Học Cổ vào nghị chiến. Gia Luật Học Cổ tâu rằng: "Nương nương chớ lo, chúng ta nơi đây có binh mã của bốn nước, sợ gì quân Tống kéo đến! Đợi thần sắp đặt nghênh chiến, ắt sẽ thắng địch". Hậu nói: "Khanh nên dụng tâm mà sắp đặt, không nên chậm trễ” Gia Luật Học Cổ lĩnh mệnh lui ra, sai Nữ chân quốc vương Hồ Kiệt, Sa Đà quốc đại tướng Trần Thâm, Tây Phiên phò mã Vương Hắc Hổ, Hắc Thủy quốc vương Vương Tất Đạt đều tập hợp dưới trướng, dặn dò rằng: "Ngày mai giao chiến với quân Tống, mọi người nỗ lực xông lên. Nếu thắng được giặc, Nương nương ắt sẽ trọng thưởng”. Hồ Kiệt nói rằng: "Tổng quản không cần bận tâm, nhất định sẽ giết sạch quân Tống thì mới dám dừng thương cởi giáp" Nói chưa dứt lời, người vào báo quân Tống đã đến nơi.
Gia Luật Học Cổ lập tức dẫn chúng bày trận nghênh địch, nhìn xa thấy tinh kỳ mở ra, trên ngựa có một viên dũng tướng, chính là hòa thượng Dương Ngũ lang, cao giọng quát mắng: "Những tên rợ Liêu đáng chết kia! Hãy mau mau lui, thì còn để cho còn chút hơi tàn. Nếu không thì sẽ đập chúng bay ra cám!" Gia Luật Học Cổ giận dữ, quay nói với chư tướng: "Ai ra đánh với quân Tống một trận trước?" Nữ chân quốc vương Hồ Kiệt ứng tiếng nói: " Đợi tôi chém tên thất phu này" rồi lập tức giơ thương tế ngựa tới đâm Ngũ lang. Ngũ lang múa búa đánh trả. Hai bên reo hò, hai người đánh trên hai mươi hiệp, Hồ Kiệt đuối sức, quay ngựa bỏ chạy. Dương Ngũ lang xua quân đánh giết. Nơi Bắc trận, Hắc Hổ múa phương thiên kích bay ngựa xông ra, cắt quân đầu đà thành hai khúc, quân Liêu ập đến vây lấy. Vương Tất Đạt xách búa vỗ ngựa, gầm thét đến đánh. Dương Ngũ lang thấy bốn phía đều là quân Phiên, xông phá không ra, tên đá bay loạn xạ.
Giữa lúc đang hết sức nguy ngập cấp, chợt mé Tây Nam bụi bay mù mịt, trống, tù và vang lừng, một cánh quân mã đánh tới, chính là Bát Nương, Cửu muội và Dương Tôn Bảo. Bát Nương cưỡi ngựa xông lên trước, vừa gặp ngay Vương Tất Đạt. Hai ngựa giao nhau, đấu được vài hiệp, Cửu muội dẫn quân từ bên hông xông vào. Tất Đạt bỏ trận mà chạy trốn. Cửu muội thừa cơ đuổi theo. Đến gần nơi tà khẩu, có một tướng cao giọng quát to: "Nghịch tặc mau hàng để khỏi bị giết". Đó chính là đại tướng Hô Diên Tán đón đầu cản lấy. Đánh chưa được vài hiệp, bắt sống Tất Đạt. Quân Tống xông vào. Bắc doanh bị Mạnh Lương đánh vào, gặp ngay Sa Đà quốc vương Trần Thâm xông tới. Hai ngựa giao nhau, khí giới vừa chạm, Mạnh Lương quát một tiếng: "Nghịch tặc chớ chạy". Chém cho một búa chết giữa trận. Dương Tôn Bảo thấy Nam tướng liên tiếp chiến thắng tướng Phiên, liền xua hậu quân truy kích. Bát Nương hăng hái xông lên trước, đón lấy Hồ Kiệt giao phong, rồi quăng dây tơ đỏ trói lại, bắt sống Hồ Kiệt ngay trên ngựa. Dương Ngũ lang quay ngựa đánh ập về, bộ hạ tăng thêm binh đưa giới đao chém vào chân ngựa Vương Hắc Hổ, chém rớt xuống trận, quân Tống xông lên bắt lấy.
Gia Luật Học Cổ thấy trận thế đã sụp đổ, chạy vào trong dinh, báo với Tiêu hậu rằng: "Nương nương mau chạy! Quân Tống anh dũng, tướng soái bốn nước đều bị bắt và bị giết sạch" Tiêu hậu nghe xong, sợ đến kinh tâm vỡ mật, nhổ trại cưỡi ngựa chạy trốn, Gia Luật Học Cổ cùng Trương Mãnh liều chết hộ vệ mà chạy về. Phía sau Dương Tôn Bảo xua quân truy kích. Tiêu hậu đang chạy giữa đường, sau lưng một cánh quân xông đến, chính là quân của Dương Lục sứ đang tiến hành mà đến. Quân Phiên nhìn thấy quăng giáo trốn sạch. Tiêu hậu ngửa mặt lên trời than rằng: "Hôm nay là ngày tận số của ta, các ngươi hãy ai tự lo thân nấy . Nói xong muốn rút kiếm tự vẫn. Gia Luật Học Cổ nói: "Nương nương đừng lo sợ. U Châu vẫn còn vài mươi vạn hùng binh, vẫn có thể kháng địch. Chỉ còn một đoạn đường ngắn, sao lại tự tìm đến cái chết vậy”. Trương Mãnh nói: "Nương nương thì men theo đường nhỏ mà chạy, để tôi đi cản lấy quân địch trong chốc lát" Tiêu hậu liền dừng tay, cùng Gia Luật Học Cổ theo Phần Cốc trốn đi. Muốn biết Tiêu hậu ra sao, Xem hồi sau sẽ rõ.
 
0
Hồi Thứ Bốn Mươi Hai
[/align]

Dương Quận Mã Bàn Lấy Đất Bắc
Trùng Dương Nữ Đại Náo U Châu


Dương Lục Sứ hăng hái xông lên, Trương Mãnh quay ngựa đến đánh, chưa được vài hiệp, bị Lục sứ một thương đâm chết, quân Phiên bộ hạ đều bị quân tráng dũng của Tam quan giết sạch. Quân mã của Tông Bảo đuổi đến, hợp binh làm một, bàn muốn thừa thế đuổi theo, gặp Mộc Dịch bay ngựa đến kêu rằng: "Em ta nên điều nhân mã về, cứu lấy triều thần ở trong cốc. Tinh binh ở U Châu vẫn còn nhiều, đợi ta về đó, làm nội ứng hành động, thì chỉ một trận là thành công”. Lục sứ nghe theo, liền thả quân mã Mộc Dịch đi qua, dẫn quân đánh vào trong cốc. Lúc ấy Hàn Quân Bật nghe biết quân Bắc bại trận, liền rút vây bỏ chạy. Mạnh Lương vỗ ngựa đón lấy gặp ngay tướng địch, hai ngựa giao nhau, Lương phất một nhát búa chém đứt làm hai đoạn. Trong cốc bọn Nhạc Thắng, Tiêu Tán thừa thế đánh ra, quân Phiên bị giết chết vô số, cứu được mười vị đại thần. Trận này, quân Bắc thảm bại, nhân mã bốn nước bị giết hết tồng cộng 12 vạn, bỏ lại quân nhu, trâu, ngựa vô số, thây chết khắp nơi, máu chảy đầy sông. Có thơ làm chứng:
Bắc binh bại nữu thế giao hoành,
Đoạn kích tàn qua nhật bán luân.
Quá khách mạc ngôn đương nhật sự,
Mã dề du huyết hạ hoang phần.
(Quân bắc thua rồi thế vỡ tan,
Gươm gãy đao cùn nhật nguyệt loang.
Kẻ sau chớ hỏi câu chuyện cũ,
Vó ngựa máu dư dưới mộ tàn).
Dương Lục sứ điều tập quân mã, ai nấy đều đến báo công. Lục sứ hạ lệnh đem toàn bộ tướng Phiên bị bắt đều chém đầu làm hiệu lệnh. Bọn Bát Vương chúc mừng rằng: “Nếu không phải quận mã cứu viện không chỉ triều thần gặp nạn mà còn làm tổn uy vọng của thánh thượng vậy” Lục sứ nói. "Thánh thượng chính vì điện hạ bị vây, u sầu nhiều ngày, đặc khiến Hô Diên tướng quân cùng tiểu nhi dẫn quân cứu ứng. Nay nhờ hồng phúc, đánh giết chúng tan tác mà về”. Bát Vương nói: "Tướng ở ngoài, mệnh vua có thể không theo. Tiêu hậu nhiều lần là mối họa nơi biên cương có thể thừa thế như chẻ tre, thẳng đến U Châu, lấy bản đồ mà về, đây là cơ hội lớn vậy" Lục sứ nói: "Bát điện hạ không nói, tiểu nhân cũng muốn bẩm lại. Tứ huynh từng nói tinh binh của U Châu còn nhiều, nay anh ấy ở trong hành sự, chính nên phát binh tiếp ứng, chắc chắn sẽ thành công vậy". Bát Vương nói: "Cứ việc tùy chủ ý mà làm. Triều đình trọng sự, ta sẽ gánh vác". Lục sứ liền hạ lệnh gọi Nhạc Thắng, Mạnh Lương, Tiêu Tán dẫn quân đi trước; Bát Nương, Cửu muội, Dương Tôn Bảo cứu ứng trước sau; Hô Diên Tán bảo vệ triều thần làm giám quân. Phân khiến xong, bọn Nhạc Thắng dẫn quân hăng hái tiến lên.
Lúc ấy Tiêu hậu chạy về U Châu, lo giận vô kế. Gia Luật Hưu Ca tâu rằng: “Thắng bại là thường tình của nhà binh, Nương nương bất tất lo buồn. Lương thảo trong thành tích lũy đủ dùng mười mấy năm, tinh binh mãnh tướng không dưới vài chục vạn. Quân Tống nếu lui thì thôi, nếu còn đến xâm nhiễm, thì sẽ quyết một trận sống mái, thắng thua cũng còn chưa biết vậy!" Hậu nói: "Quân của bốn nước, đều bị giết sạch, còn mong thắng được giặc ư? Chi bằng đầu hàng, để cứu lấy sinh mạng của một phương”.
Trương thừa tướng nói: "Nương nương sao chỉ vì một trận thua mà tự nhụt chí khí như vậy? Đại Liêu ta từ Tấn triều đến nay đều khiến Trung Quốc sợ hãi. Nay tuy nhất thời bại trận, nhưng vẫn đủ sức xưng bá. Đợi quân Tống đến nữa, chúng thần sẽ dựa vào thành mà đánh, ắt sẽ báo được thù”. Nói chưa dứt lời, có người vào báo Mộc Dịch phò mã đã thoát được về. Hậu tuyên vào hỏi: "Ta đang lo Phò mã bị quân Tống đánh tập, sao lại về trễ vậy?" Mộc Dịch tâu rằng: "Thần đóng ở dinh phía chính Tây vây lấy mười đại thần, nghe được Bắc binh bại trận, vừa muốn xuất quân đến cứu, tướng Tống trong cốc đánh ra. Lúc đó xa giá của Nương nương đã rời dinh chính, thần ra sức đánh với tướng Tống, nên bị rớt lại sau”. Hậu nói: "Quân Tống thanh thế ra sao?" Mộc Dịch nói: "Gần đây nghe nói muốn đến vây đánh U Châu, Nương Nương nên phòng bị vậy". Chợt thám mã vào báo: "Quân Tống tập hợp đông như mây mù, đã đem U Châu thành vây lấy ba vòng, giọt nước không lọt, xin Nương nương hãy mau định đoạt". Tiêu hậu thất sắc. Mộc Dịch nói: "Nương nương đừng lo, để chúng thần điều binh khiển tướng, nhất định đẩy lùi quan Tống” Hậu nói: “Các khanh dụng tâm nghênh chiến không nên chậm trễ". Mộc Dịch lĩnh mệnh lui ra.
Xin kể qua chuyện ở Hà Đông, Trang Linh Công có một người con gái hiệu xưng Trùng Dương nữ, là do sinh vào mồng 9 tháng 9, nên có tên này. Từ nhỏ đã có sức mạnh, võ nghệ tinh thông, từng hứa gả cho cho Dương Lục sứ, nhưng vì chiến tranh ngăn lối nên làm chậm trễ việc hôn sự. Khi nghe tin mười vị đại thần bị vây, liền cử binh đến cứu, cũng để tìm lời ước hẹn xưa. Khi đang dẫn quân đi, thám tử về báo Dương Lục sứ đã đánh lui quân phiên, nay đang vây đánh U Châu chưa hạ. Trùng Dương nữ nghe xong, vui mừng nói : "Được cơ hội tốt này , ắt gặp được phu quân vậy". Lập tức dẫn quân đến dinh Tống, sai người báo với Lục sứ. Lục sứ chợt nhớ lại rằng: “Việc này ta nhớ, nhưng vì quốc sự gấp rút, tin tức không thông, nay đã dẫn quân cứu ứng, cũng nên nghênh tiếp". Liền lệnh cho Nhạc Thắng ra trước quân nghênh đợi. Trùng Dương nữ nhẹ nhàng vào trướng tương kiến, Lục sứ vô cùng mừng rỡ.
Hai người kể lại chuyện xưa, vô cùng quyến luyến. Lục sứ nói: "Nhung sự chưa yên, đợi về gặp Lệnh Bà, sau mới bàn tới lễ nghi". Trùng Dương nữ nói: "Thiếp mới đến, chưa lập được công tích, nay thừa cơ hội này, giả dạng đầu Tiêu hậu, nội ứng ngoại hợp, để hoàn thành việc này, Quận mã có chịu không?” Lục sứ nói: "Hiền thê nếu làm được, thì thành bại ở hành động này, có gì mà không được?" Trùng Dương nữ vui vẻ dẫn 1 vạn quan bản bộ xông khỏi Nam trận. Nhạc Thắng, Mạnh Lương cũng giả làm như đuổi theo đánh.
Trùng Dương nữ thẳng đến đến dưới thành, cao giọng kêu mở thành. Quân giữ thành báo vào trong: “Có một nữ tướng, xông khỏi Nam trận đến đây ứng cứu”. Tiêu hậu nghe báo, lập tức cùng văn võ lên địch lâu quan sát. Thấy trên cờ viết: "Hà Đông Trùng Dương Nữ , đang ở dưới thành truy sát quân Tống”. Hậu liền lệnh Gia Luật Học Cổ mở cửa tiếp ứng. Trùng Dương nữ vào được trên trong thành, tham kiến Tiêu hậu nói: "Thần là con gái của Hà Đông Trang Lệnh Công. Lưu chúa căm hận vua Tống kiến phạt, nên sai tiểu tướng tương trợ, cùng lấy thiên hạ". Hậu vô cùng mừng rỡ, nói: "Chúa ngươi Lưu Quân nếu chịu đồng tâm phá Tống, thề sẽ cùng chia đôi Trung Nguyên". Liền lệnh thiết yến nơi điện, khoản đãi tướng đến. Rượu đến nửa chừng, Trùng Dương nữ đứng lên tâu rằng: "Quân Tống vây thành khẩn cấp, thần xin dẫn quân ra bắt, để lập chút công ra mắt". Hậu chuẩn tấu. Trùng Dương nữ tạ yến lui ra.
Dương tứ lang nghĩ thầm: "Trùng Dương nữ từng hứa gả cho em ta làm vợ, sao lại có chuyện đến giúp Phiên bang, trong đó ắt có duyên cớ". Liền tâu với Tiêu hậu rằng: "Thần dẫn tinh binh đến giúp Trùng Dương nữ phạt Tống". Hậu nói: "Được phò mã cùng đi càng tốt". Mộc Dịch lãnh mệnh, ra trong quân cùng Trùng Dương nữ thương nghị tiến binh.
Trùng Dương nữ nới: "Quân Tống tuy đông, nhưng phá cũng dễ. Phò mã ra cửa đánh trước, tôi dẫn quân tiếp liền". Phò mã Mộc Dịch cười nói: "Theo lời người mà làm, ắt U Châu chỉ một trận là phá được vậy". Trùng Dương nữ ngạc nhiên nói: "Phò mã vì sao mà nói như vậy?” Mộc Dịch nói: "Không được che giấu, là người một nhà cả". Liền đem đầu đuôi nhất nhất kể tho nghe. Trùng Dương nữ vui mừng nói: "Vốn vì Quận mã được thành mưu này, nay được ngài giúp đỡ, lo gì không thắng!" Liền cũng đem ý đến mà nói rõ. Tứ lang nói: " Việc nên cơ mật. Kẻ tinh dũng dưới trướng Tiêu hậu rất nhiều, phải trừ đi nanh vuốt của bà ta, sau đó mới có thể tiến binh". Trùng Dương nữ nói: "Ngài có kế gì làm được?" Tứ lang nói: "Ngày mai ra quân, lệnh cho bọn Thượng vạn hộ, Hạ vạn hộ, Nhạc Nghĩa, Nhạc Tín đánh trận đầu, nàng dẫn quân bản bộ xông lên trước, chém bốn người này, rồi dẫn quân Tống thừa thế đánh vào thì trở tay là có thể lấy được thành này”. Trùng Dương nữ nghe theo mẹo này, tự đi chuẩn bị xuất quân. Mộc Dịch liền hạ lệnh cho Thượng vạn hộ, Nhạc Nghĩa dẫn quân đánh trước. Thượng vạn hộ nhận lệnh.
Bình minh hôm sau, một tiếng pháo nổ vang, bộ binh giương cờ mà ra. Gặp ngay tướng Tống là Nhạc Thắng, quát rằng: "Đồ giặc chết giữ thành kia, không sớm hàng còn đợi khi nào?” Thượng vạn hộ mắng rằng: "Các ngươi vào sâu trong đất ta, chết trong sớm tối, còn dám nói khoát sao?” Liền múa đao tế ngựa tới chém Nhạc Thắng. Thắng cử đao đón lấy, hai ngựa giao nhau, đánh chưa đến hai hiệp thì Hạ Vạn Hộ, Nhạc nghĩa, Nhạc Tín từ bên cạnh xông vào, Nhạc Thắng địch không lại vỗ ngựa tháo chạy. Quân Phiên thừa thế xông ra. Trùng Dương nữ dẫn quân tiến đến sau, quát to: "Quân Liêu chớ chạy". Tay phất đao, chém Nhạc Tín chết lăn xuống ngựa. Nhạc Nghĩa thất kinh, trở tay không kịp, bị Nhạc Thắng quay lại đánh ụp lại chém làm hai đoạn. Mạnh Lương, Tiêu Tán dẫn quân xông lên, tiếng reo vang dội. Thượng vạn hộ thì bị Mạnh Lương giết, Hạ vạn hộ thì bị ngựa dẫm xéo mà chết.
Trùng Dương nữ dẫn đầu đánh vào, quân Tống theo sau tiến vào. Trong thành U Châu, bốn bề ầm ĩ. Nội quan báo vào trong cung, Tiêu hậu nghe thấy nghĩ thầm: "Ta làm quân hậu một nước, nếu bị bắt được, thì sẽ vô cùng sỉ nhục, chi bằng tự vẫn, để tránh bị làm nhục" Liền chạy vào hậu điện, cởi hý long điều xuống, tự vẫn mà chết. Chính là:
Khả liên Phiên quốc Tiêu quân hậu,
Kim nhật cung trung tự ải vong.
(Thương thay hoàng hậu Tiêu quân ấy,
Nay đã treo đầu chết giữa cung).
Lúc ấy Dương Diên Lăng tiến vào cung cấm, vừa gặp công chúa Quỳnh Nga chạy ra nói: "Phò mã chạy mau, Nương nương đã tự treo cổ chết, bốn bề đều là quân địch". Diên Lăng nói: "Công chúa đừng sợ, ta vốn là con thứ tư của Dương Lệnh Công, trá danh Mộc Dịch, nhờ hậu ân của nàng, quyết không làm tổn thương". Công chúa nghe xong, liền quỳ xuống nói: "Tính mạng của thiếp tùy chàng xử trí". Diên Lăng nói: "Công chúa nếu chỉ theo tôi về Trung Quốc, liền cùng đi ngay, nếu không, ta cũng không ép". Công chúa nói: "Quốc phá gia vong, phò mã chịu niệm tình vợ chồng, đem thiếp cùng đi sao lại không theo” Diên Lăng hết sức vui mừng, liền kêu thu thập vàng ngọc châu báu, chất đầy mấy xe, dẫn đầu xông ra, gặp ngay Gia Luật Học Cổ chạy vào trong điện. Mộc Dịch lớn tiếng nói: "Nghịch tặc chớ chạy” Gia Luật Học Cổ không biết nên không đề phòng, bị Diên Lăng một đao chém chết. Gia Luật Hưu Ca nghe biết quân Tống đã vào thành, cạo râu gọt tóc, từ cửa sau vượt thành mà trốn đi.
Dương Lục sứ thân đôn đốc sĩ tốt vào thành, quét sạch quân Phiên chém giết đến thây nằm đầy đường, máu chảy đầy hào. Trời gần chiều, liền hạ lệnh cấm chỉ việc giết chóc. Bát Vương đều vào trong thành, trước tiên hỏi về tin tức Tiêu hậu, có người báo đã tự ải chết ở hậu điện. Bát Vương lệnh cởi xuống, để lại một bên. Tông Bảo điều tập các quân, đóng trại ở thành phía Đông.
Hôm sau, Bát Vương, Lục sứ đăng điện nhìn xem cung thất. Chúng tướng giải đến hai thái tử nước Phiên, bắt được Phiên quan từ Trương Hoa trở xuống cùng 49 người, Phiên tướng 36 viên. Lục sứ đều lệnh đem giam vào trong xe tù, để chờ giải về kinh. Sau đó chư tướng đều tụ tập Dương Diên Lăng tấn kiến Bát Vương nói: "Tiểu nhân ở triều đình Phiên 18 năm, hôm nay được gặp điện hạ, thật cảm thấy vô cùng xấu hổ vậy". Bát Vương an ủi rằng: "Hôm nay công định U Châu, đều từ tướng quân mà ra vậy. Về gặp thánh thượng, ắt sẽ phong thưởng. Sao lại nói là xấu hổ được".
Diên Lăng cảm tạ. Lục sứ nói: "U Châu nay đã bình định, cần phải treo văn bảng, dụ cho các địa phương biết, để cho được yên ổn rồi sau đó sẽ ban sư. Bát Vương theo lời bàn, sai Khấu Chuẩn thảo bảng, truyền bố bốn phương. Lúc đó các quận ấp Đại Liêu nghe tin U Châu đã mất, đều quy hàng cả. Không biết sau này ra sao, xem hồi sau sẽ rõ.
 
0
Hồi Thứ Bốn Mươi Ba
[/align]

Dẹp Đại Liêu Nam Tướng Ban Sư
Ban Quan Cáo Đại Phong Công Thần


Vài ngày sau, Bát Vương ở trong cung mở yến tiệc lớn, khao thưởng chư tướng, chúng nhân vui vẻ rồi lui về. Diện Lăng vào nói: "Tiểu nhân có một việc bẩm báo, không biết điện hạ có chuẩn cho không?" Bát Vương nói: "Tướng quân có kiến nghị gì, cứ nói đừng ngại". Diên Lãng nói: "Từ khi ở đất Bắc, nhờ ơn Tiêu hậu thịnh ý xem trọng. Nay đã chết rồi, xin cho đem thi hài mai táng, để báo chút ơn đức cộng sự nhất thời, khiến người Phiên không chê bai Diên Lăng là kẻ phụ nghĩa!" Bát Vương nói: "Đây là việc làm thịnh đức của tướng quân, nên xin nghe theo” Hôm ấy tiệc tan. Hôm sau, Bát Vương một mặt tâu báo triều đình, một mặt hạ lệnh dùng vương lễ mai táng thi hài Tiêu hậu. Hữu Ty phụng hành, chuyện không có gì đáng nói. Người đời sau đem xem đến đây, có thơ khen rằng:
Thịnh đức vu nhân tướng đức báo,
Dương môn hào kiệt kỷ nhân đồng?
Phiến ngôn thâm ngưỡng Phiên đình mộ,
Duy trúc phong doanh nhất môn trung.
(Đức thịnh hơn người đều tướng đức,
Họ Dương hào kiệt mấy ai bằng
Vài câu đã khiến Phiên coi trọng,
Đáng được ghi công gương nghĩa trung).
Lục sứ vào gặp, bàn việc ban sư. Bát Vương chấp nhận, phát khiển chư tướng, chia tiền hậu đội hồi quân. Hô Diên Tán và mọi người chuẩn bị khởi hành. Khấu Chuẩn cùng bàn với mọi người để quân trấn thủ U Châu. Bát Vương nói: "Để quân lại có hai điều bất tiện. Một là Nam-Bắc tạp xứ, thống thuộc bất nhất, tức có sự cản trở phiền nhiễu ; Hai là cách Trung Quốc quá xa, nếu làm phản thì nhất thời không thể biết được. Chi bằng hồi kinh, trù định kế sách phòng ngự. Khấu Chuẩn nghe theo lời. Ngay hôm đó, đại quân rời U Châu, hướng Biện Kinh mà về. Chỉ thấy:
Mã thượng hồng trần tùy xử khởi,
Đồ trung đan thực hỷ tương nghênh.
(Bụi mù yên ngựa bay muôn chốn,
Giỏ cơm nước lã đón vui thay).
Trên đường không có gì đáng kể, bất giác đã đến Hoàng thành. Bát Vương sai người vào trước báo tiệp. Chơn Tông sai văn võ ra ngoài thành nghênh tiếp, vừa gặp bọn Bát Vương dẫn quân mã về tới. Văn thần là Tôn ngự sử dẫn đầu tiếp kiến, sánh vai vào thành. Lục sứ cùng quan sĩ đóng ở ngoài thành.
Hôm sau, Bát Vương dẫn các đại thần vào triều kiến, dâng lên biểu chương tâu việc bình định Bắc Phiên. Chơn Tông xem xong, mặt rồng hết sức vui vẻ, vỗ về an ủi các quan, vô cùng cảm ơn. Khấu Chuẩn tâu rằng: "Nhờ hồng phúc của bệ hạ, nay đã bình định Đại Liêu, đây thật là công lao vĩ đại. Xin gia phong ân điển để tưởng thưởng sự khó nhọc, thì thật may mắn cho quốc gia vậy”. Vua nói: "Trẫm rất hiểu công lao của họ, đương nhiên phải được phong tặng, hãy chờ sắc chỉ quyết định". Bọn Bát Vương bái mệnh mà lui.
Lúc ấy, Dương Lục sứ cùng Diên Lăng về Vô nịnh phủ, gặp Lệnh Bà, lạy xong, Diên Lăng hết sức xúc động, nói rằng: "Nghĩ con vì thua một trận, bị nhốt nơi đất Bắc, nay cũng đã gần 19 năm, không ngờ mẹ đã tóc bạc như sương, tuổi già thúc ép. Hôm nay, may được tương phùng, vừa vui cũng vừa buồn”. Lệnh Bà nói: "Đời đường vô tình, đời người ta phải trôi dạt. Nay đã gặp lại, cũng đủ an ủi mong ước của mẹ con ta, có thể cho ta gặp công chúa". Diên Lăng bèn gọi Quỳnh Nga công chúa, vào lạy Lệnh Bà. Lệnh Bà hết sức vui mừng. Diên Lăng nói: "Đây tuy là một duyên gặp gỡ nhất thời nhưng được hết lòng giúp đỡ". Lệnh Bà nói: "Nhân duyên không phải là điều ngẫu nhiên, ta xem công chúa thật xứng là đôi bạn của con ta vậy". Rồi lệnh bày tiệc để to để chúc mừng. Hôm ấy trong phủ mọi người theo thứ tự mà ngồi xuống, vui vẻ uống rượu rồi mới đi nghỉ. Dương Ngũ lang thì dẫn chúng trở về Ngũ Đài Sơn.
Vương Khu Mật thấy Bắc Phiên đã thua, sợ rằng tai họa sẽ tới, liền giả dạng đạo nhân vân du, thừa đêm xuống trốn khỏi Biện Kinh. Cho đến khi cận thần vào tâu chơn Tông mới biết, nổi giận nói: "Tên giặc này nhiều lần có ý phản, trẫm nể tình là cố nhân, không nỡ trị tội, nay lại phản trẫm mà đi". Liền gấp gọi quần thần thương nghị. Bát Vương tâu rằng: "Vương Khâm tội ác tày trời, không thể không giết. Nay chắc đi khỏi thành vẫn chưa xa, bệ hạ hãy lệnh cho khinh kị đuổi theo mà bắt". Vua chuẩn tấu, lập tức giáng sắc cho Dương Tôn Bảo dẫn quân đuổi theo mà bắt.
Tông Bảo được lệnh, dẫn quân ra cửa Bắc đuổi theo, hỏi quân giữ thành: "Có thấy Vương Khu Mật chạy qua không?” Quân giữ thành nói: "Vừa rồi có một đạo sĩ hoảng hốt đi ra, không lẽ là ông ta?” Tông Bảo được biết như vậy, vội phi ngựa một mình đuổi theo. Lúc ấy Vương Khu Mật chạy đến bên Hoàng Hà, thấy lái đò, bèn kêu rằng: "Người nếu đưa ta qua sông, ta sẽ dùng nhiều vàng ngọc để tạ ơn". Lái đò nghe vậy, liền chèo thuyền tới đón.
Vương Khâm nhảy xuống thuyền, lái đò vội vàng chèo thuyền mà đi. Gần đến bờ sông, chợt cuồng phong thổi ngược, đem thuyền thổi ngược lại. Liên tục ba lần như thế, không thể cặp bến. Lái đò nói: "Thế gió thổi mạnh, khó mà qua được, phải chờ hết gió mới đi được". Vương Khâm càng hốt hoảng, chỉ đành núp ở dưới mui thuyền mà trốn tránh. Một lát sau, đường ở phía Nam bụi bay mù mịt, vài mươi ngựa đuổi đến. Dương Tôn Bảo ngồi trên ngựa lớn tiếng hỏi lái đò rằng: "Có thấy một đạo sĩ đi qua đây không?” Lái đò chưa đáp, Vương Khâm xuống giọng nói: "Nói với hắn là đi qua đã lâu, ta sẽ đưa cho người tất cả tài sản của ta để tạ ơn". Lái đò nói: "Hãy nói người là ai trước đã? Nói rõ với tôi thì tôi sẽ giúp cho". Vương Khâm không giấu, liền đem đầu đuôi nói rõ. Lái đò nghe xong, nổi giận nói: "Nơi này khi mi còn ở triều năm nào cũng sai người đến vòi vĩnh, đang muốn báo hận, chưa tìm ra mi. Hôm nay rơi vào tay ta vậy" Lập tức chèo thuyền trở lại, báo với Tông Bảo. Tông Bảo sai quân kị lên thuyền bắt lấy. Vương Khâm vội vã nhưng không thể nhảy thoát, bị quân kị trói lại lôi lên bờ, Tông Bảo áp giải về. Đúng là:
Thiện ác đáo đầu chung hữu báo,
Chi tranh lai tảo dữ lai trì.
(Thiện ác cuối cùng công bằng cả,
Chỉ là đến chậm hoặc mau thôi).
Gặp lúc Chơn Tông thiết triều, bấy giờ văn võ đều tụ tập. Cận thần tâu báo: "Đã bắt được Vương Khâm hồi triều”. Vua lệnh quân hiệu giải đến trước điện, hỏi rằng: "Tên giặc này mi nhiều lần dâng lời sàm nịnh trước mặt trẫm, ta đã ưu đãi dung tha quá nhiều. Nay mi nếu chạy qua được nước khác, lại sẽ gây họa vậy". Vương Khâm cúi đầu im lặng, chỉ xin sớm được đem giết. Vua nói: "Chỉ sợ tên gian tặc như mi không chết thôi", liền hỏi Bát Vương phải xử thế nào? Bát Vương nói: "Bệ hạ có thể mở đại yến, hội tập sứ thần ngoại quốc, đều được dự tiệc rồi đem tên giặc này xé xác lăng trì, để cho trước tiệc được xem, khiến kẻ sau biết mà phải sợ”.
Vua chuẩn tấu, liền hạ mệnh cho ty quan chuẩn bị bày biện yến tiệc, rồi triệu các quan ngoại quốc, hai bên theo thứ tự ngồi uống rượu. Quân hiệu hành hình đem Vương Khâm trói vào trụ, từ từ xẻo thịt xuống, mọi người trong tiệc nhìn thấy ai cũng sợ hãi. Đời sau có thơ chê rằng:
Tác nghiệt niên thâm họa diệc thâm,
Thí khán kim nhật lục Vương Khâm.
Thương thiên báo ứng vô tư nhãn,
Bất sử đăng hành cảnh bị cầm.
(Ma mãnh càng sâu họa càng thâm,
Hãy xem nay đã giết Vương Khâm.
Trời xanh báo ứng không nghiêng lệch,
Dù không bị phạt cũng bị cầm).
Vương Khâm đau đớn kêu la, không tới vài mươi dao , đã tắt hơi . Vua lệnh quăng xác ra đồng, để làm gương cho bọn gian thần. Rồi hỏi Bát Vương rằng: "Ngày trước những lời Vương Khâm nói, vốn đều có ý khi vọng, mà trẫm lại không phát hiện, đó là vì sao?" Bát Vương nói: "Đại trá giống như trung thành, nên khiến bệ hạ không phát giác. Hôm nay Vương Khâm thụ hình, trong triều ngoài nội ai nấy cũng đều vui mừng vậy". Vua gật đầu. Chợt được báo đại tướng Hô Diên Tán đêm qua bị trúng gió đã mất. Vua nghe báo hết sức thương cảm, nói rằng: "Tán từ khi vào Trung Quốc, cần lao vương sự, chưa từng được một ngày nghỉ ngơi, thật là công thần của xã tắc". Liền giáng sắc làm lễ an táng, tặng tên thụy là Trung quốc công. Đời sau có thơ khen rằng:
Phẫn thù dĩ tuyết xuất Hà Đông,
Vị quốc cần lao kiến đại công.
Bất ỷ tướng tinh trung dạ lạc,
Lệnh nhân thiên cổ hận nan cùng.
(Oán thù đã rửa lìa Hà Đông,
Vì nước ra tài lập đại công.
Ngờ đâu sao tướng trong đêm rụng,
Khiến người muôn thế hận khôn cùng).
Niên hiệu Thiên Hy nguyên niên tháng 2, Chơn Tông vì các tướng sĩ bình định Bắc Phiên chưa được khen thưởng, nên cùng Bát Vương thương nghị. Bát Vương tâu rằng: "Thưởng công hoài viễn, là việc đáng làm của đế vương, nay bốn phương yên ổn dưới sự thống nhất của bệ hạ, khiến cho mưu thần dũng tướng được vỗ về, đó là kế lâu dài của xã tắc vậy". Vua nói: "Ngày trước bắt được tù đem dâng trước cửa khuyết, trẫm do dự chưa định đoạt. Thái tử của Tiêu hậu là Thần Liêu, nên xứ trí như thế nào?"
Bát Vương nói: "Lúc trước khi ở U Châu sắp ban sư, bọn Khấu học sĩ từng bàn, muốn để quân lại mà trấn thủ, nhưng thần cho là bất tiện. Trước mắt kẻ xa đã phục, bệ hạ chính nên dựng nước đã bị diệt, cho kế thừa dòng họ đã mất, tha cho hắn về Đại Liêu để tự trấn thủ, hàng năm chỉ lấy đồ tiến cống, thì ắt nơi biên giới tự nhiên được yên ổn. Cách trị nước của Đường, Ngu bất quá cũng chỉ như vậy". Chơn Tông vui mừng nói: "Lời bàn của khanh, trẫm không bằng được vậy". Liền hạ sắc ân xá cho Tiêu hậu nhị thái tử và toàn bộ các quan bị bắt và hạ lệnh cho tất cả về nước. Sắc chỉ hạ xuống, Phiên thần hết sức mừng rỡ, hướng về cửa khuyết dập đầu tạ ơn Lại có chỉ ban cho Phiên thái tử Mãng bào dệt từ sợi vàng mỗi thứ một bộ, thưởng ban cho rất hậu. Thái tử lạy thụ mệnh ngay hôm đó dẫn các quan đi về U Châu, chuyện không có gì đáng nói.
Hôm sau, Chơn Tông thân cầm phong chỉ, tuyên Lục sứ vào điện, điện dụ rằng: "Cha con khanh phá tan Nam thiên trận đã lập đại công, trẫm chưa kịp thăng thưởng. Nay lại có công bình định Bắc Phiên. Nên đáng ban phong ân điển, để báo công khó nhọc của khanh". Lục sứ dập đầu nói: "Công lan phá trận bình Bắc, trên nhờ phúc của bệ hạ, dưới do quân sĩ đồng lòng, chút công lao nhỏ nhoi của thần, đâu dám nhận thưởng”. Vua nói: "Khanh không nên quá khiêm tốn, trẫm tự có chủ ý". Lục sứ bái mệnh lui ra.
Hôm đó, thánh chỉ ban xuống, phong Dương Lục sứ thụ chức Đại Châu Tiết độ sứ kiêm Nam-bắc Độ Chiêu Thảo, Dương Tôn Bảo làm Giới Châu Tiết độ sứ kiêm Kinh thành nội ngoại đô Tuần phủ, Dương Diên Lăng có công lấy U Châu, phong chức Thái châu trấn phủ Tiết độ phó sứ; Nhạc Thắng làm Kế châu Đoàn luyện sứ; Mạnh Lương giữ chức Doanh châu Đoàn luyện sứ, Tiêu Tán làm Mạc châu Đoàn luyện sứ, Trần Lâm thụ chức Đàn châu đô giám ; Sài Cảm giữ chức Thuận châu đô giám; Lưu Siêu giữ chức Tân châu đô giám; Quản Bá làm Quy châu đô giám; Quan Quân giữ chức Lôi châu đô giám; Lưu Kỳ thụ chức Võ châu đô giám; Mạnh Đắc thụ chức Vân châu đô giám; Lâm Thiết Thương thụ chức Ứng Châu đô giám; Tống Thiết Bổng làm Hàn châu đô giám; Khưu Trân thụ Sứ châu đô giám; Khưu Khiêm làm Hùng châu đô giám; Trần Hùng giữ chức Úy châu đô giám; Tạ Dũng giữ chức Phụng châu đô giám; Thiệu Thiết Kỳ làm Thọ châu đô giám; Đổng Thiết Cổ làm Lộ châu đô giám; Lang Thiên giữ chức Qua châu đô giám; Lang Vạn làm Thư châu đô giám; Bát Nương được phong làm Kim Hoa thượng tướng quân; Cửu muội phong Ngân Hoa thượng tướng quân; phu nhân của Uyên Bình là Châu thị phong làm Trung Tĩnh phu nhân; Vợ của Diên Tự là Đỗ thị phong là Tiết Liệt phu nhân; từ Mộc Quế Anh trở xuống 14 viên nữ tướng đều thụ cáo mệnh phó tướng quân; còn các tướng sĩ có công khác, đều theo cấp bậc mà phong thưởng khác nhau. Muốn xem thời thanh bình như thế nào, đọc hồi sau sẽ rõ.
 
0
Hồi Thứ Bốn Mươi Bốn
[/align]

Lục Lang Bàn Lấy Hài Cốt Lệnh Công
Mạnh Lương Lỡ Tay Giết Tiêu Quang Tán


Hôm sau, Lục sứ vào tâu trước điện tạ ơn, tâu rằng: "Thuộc hạ của thần đều nhờ ơn bệ hạ, mỗi người đều nhận chức phó nhiệm. Duy thần trên còn mẹ già, xin bệ hạ khoan dung hạn kỳ, thì sẽ hết sức cảm kích”. Vua nói: "Khanh đã lấy Lệnh Bà làm cớ, trẫm cũng sẽ không hối thúc, hãy đợi thánh chỉ rồi sau đó sẽ đi nhậm chức vậy". Lục sứ lạy thụ mệnh, quay về trong phủ. Bọn Nhạc Thắng, Mạnh Lương, Tiêu Tán, Sài Cảm đều đang chờ trong phủ. Lục sứ triệu Nhạc Thắng vào, nói: "Nay thánh thượng luận công thăng thưởng, ban quan chức cho bọn các ngươi. Nay may gặp lúc thanh bình, mỗi người nên đến nơi trấn thủ, để hưởng tước lộc, trên diệu tổ tông, dưới được thỏa chí. Không nên day dưa mà lỡ hạn kỳ". Nhạc Thắng nói: "Chúng tôi nhờ oai phong của đại nhân, lập được chút công nhỏ, hôm nay bỏ ngài mà đi, trong lòng không nỡ?"
Lục sứ nói: "Đây là mệnh vua, là việc tốt ân diệu, hà tất nói đến chuyện ly biệt? Có thể đem những người thuộc quân bản bộ các ngươi mà tình nguyện đi theo tới nơi nhậm chức thì hãy mang theo cùng đi, có người không muốn đi, thì đem thưởng cho nhiều vàng bạc để về quê sinh sống. Nhưng sau khi phó nhiệm, mỗi người nên cố gắng biểu hiện lòng trung với nước nhà, thi triển tài năng, mới không uổng là trượng phu sống trên đời này. Nên đi ngay, đừng chậm trễ". Nhạc Thắng nghe xong, đều đến bái biệt, đi đến nhiệm sở. Trong đó quân sĩ tình nguyện đi theo, ngay hôm đó đều cùng đi, kẻ không theo thì về quê khoảng một nửa. Chỉ còn lại Mạnh Lương, Tiêu Tán, Trần Lâm, Sài Cảm, Lang Thiên, Lang Vạn tất cả sáu người, ở lại chờ sau khi Lục sứ rời kinh thì mới khởi hành. Mạnh Lương nói: "Nay mọi người đã ai nấy đi phó nhiệm, còn có thủ quân ở trại Tam quan chưa biết tin tức, đại nhân nên sai người đến báo". Lục sứ nghe theo, lập tức kêu Trần Lâm, Sài Cảm, Lang Thiên, Lang Vạn tới trại Tam quan điều quân trấn giữ về và đem toàn bộ tích lũy về trong phủ. Bọn Trần Lâm lĩnh mệnh mà đi, chuyện không có gì đáng nói.
Lúc ấy trời vào tháng 9, mây trời trong xanh. Đêm đó Lục sứ đi dạo, đến dưới đình tản bộ, ngước nhìn lên thấy sao sáng đầy trời, nhớ đến các thuộc hạ, miệng ngâm một đoạn bài từ dài:
Thảm kết thu âm, tây phong tống ti ti lộ thấp. Ngưng vọng nhãn, chinh hồng kỉ tự. Mộ đầu sa tích. Dục vãng hương quan hà xứ thị, thủy vân hào đãng liên Nam-Bắc. Đãn tu mi, nhất mạt hữu vô trung, dao sơn sắc Thiên nhai lộ giang thượng khách. Tình họa dĩ đoạn, đầu ưng bạch. Không tạo thủ hưng thán, mộ . niên ly cách. Dục đãi vong ưu trừ thị tửu, nại truyền tận hà tằng tiêu đắc. Tiện vãn Tương giang thủy nhập tôn lôi, nhiễu hung ức.
(Bóng thu thê thảm, gió tây thổi từng sợi tơ trời. Chăm mắt nhìn xa, vài hàng nhạn lược. Chiều về bãi cát. Muốn về quê hương đâu tá, nước mây mênh mông liền trời đất. Thế mà râu tóc chẳng còn gì như màu núi xa. Đường góc trời, khách long đong; tình đã dứt, đã sớm bạc. Gãi đầu suông than thở, năm tàn xa cách. Muốn quên sầu ngoài mượn rượu mà vẫn chẳng hết sầu. Cũng muốn kéo nước sông Tương vào chén uống để tưới đẫm tấm lòng).
Lục sứ ngâm xong, vào phòng phía Tây, vừa muốn cởi áo đi ngủ, chợt ngoài cửa nổi một trận gió, thấp thoáng thấy có một người đứng ở dưới cửa sổ. Lục sứ liền dậy nhìn xem, thì hóa ra là cha mình Dương Nghiệp. Lục sứ thất kinh sụp lạy nói: "Đại nhân mất đã lâu, vì sao đến đây?" Nghiệp nói: "Mi hãy đứng lên đừng lạy nữa, ta nay có chuyện nói cho nghe. Nay Ngọc Đế thương ta trung nghĩa, nên phong cho làm thần rất uy vọng, cũng đã không còn gì đáng ân hận nữa. Chỉ là hài cốt của ta không nơi nương tựa, nay phải sai người lấy về mà mai táng, đừng để hồn phách phải phiêu bạt". Lục sứ nói: "Mười mấy năm trước, đã sai Mạnh Lương vào U Châu, lấy hài cốt về mai táng rồi, cha vì sao lại nói như vậy?” Nghiệp nói: "Mi nào biết Tiêu hậu gian trá? Diên Lăng lang biết rõ, mi nay có thể hỏi lại cặn kẽ". Nói xong, hóa một cơn gió mát đi mất. Lục sứ ngơ ngẩn hồi lâu giống như mơ mà không phải mơ, lúc bấy giờ khoảng vào canh hai.
Chờ đến sáng rõ, vào gặp Lệnh Bà, thưa lại mọi chuyện. Lệnh Bà nói: Đó là cha mi hiển linh đến mà báo cho biết vậy". Lục sứ nói: "Có thể hỏi tứ ca, liền biết rõ đầu đuôi". Lệnh Bà gọi Diên Lăng vào hỏi rằng: "Đêm qua, Lục lang gặp cha, nói rằng hài cốt vẫn còn đâu đó, có việc này không?" Diên Lăng thất kinh nói: "Mẫu thân không nói, con cũng đang muốn thương nghị việc này.
Từ khi bị quân Bắc bắt đi, vài hôm sau, Phiên kị mang được thủ cấp của cha con về đến. Tiêu hậu cùng quần thần thương nghị, chính vì sợ người Nam đến lấy trộm, nên lấy kẻ giả mạo giấu ở Hồng Dương động, còn xác thật thì để ở Vọng Hương đài. Hài cốt mà Mạnh Lương năm xưa trộm được là giả vậy, trừ ra ở trên đài mới là thủ cấp thật của cha. Hôm nay Lục đệ biết được việc này, không phải là cha hiển linh sao?" Lệnh Bà nói: "Nay Bắc Phiên đã quy thuận; sai người tới mà lấy về, đâu có gì là khó!" Lục sứ nói: "Nếu sai người lấy, thì sẽ lại là giả mà thôi. Vì cha con là người mà Bắc Phiên sợ nhất, xem cha như thần uy vọng, sao chịu đưa cho mang về? Chi bằng cũng vẫn sai Mạnh Lương đến lấy trộm, ắt có thể được vậy”. Diên Lăng nói: "Em nói rất phải".
Lục sứ lập tức triệu Mạnh Lương vào trong phủ, nói rằng: "Có một việc rất quan trọng, nhờ mi đi làm, cần phải hết sức". Mạnh Lương nói: "Đại nhân sai khiến, cho dù vào nơi dầu sôi lửa bỏng, đâu dám chối từ!” Lục sứ nói: "Ta biết nếu mi đi, đủ để thành việc. Nay có hài cốt thật của Dương Lệnh Công giấu ở Vọng hương đài, hãy bí mật đến lấy về, đó là công lớn của mi vậy". Mạnh Lương ứng tiếng nói: "Vào thời ly loạn mà còn lấy được, huống chi giờ thiên hạ đã thống nhất, chắc không khó lấy” Lục sứ nói: "Lời mi nói tuy đúng, ngặt nỗi người Phiên phòng thủ nghiêm mật, cũng phải nên cẩn thận". Mạnh Lương nói: "Người Phiên ăn không nổi được búa của tôi đâu, đại nhân đừng lo". Nói xong, lập tức đi.
Vừa lúc đó, Tiêu Tán nghe thấy mọi người trong phủ xì xào bàn tán, như có gì đang thương nghị vậy, liền hỏi tả hữu rằng: "Đại nhân lại có việc gì?" Tả hữu đáp rằng: "Sáng sớm dặn dò Mạnh Lương đi đến Vọng hương đài ở U Châu để lấy hài cốt thật của Lệnh Công về, nên nay thương nghị việc mai táng". Tiêu Tán nghe xong, đi ra ngoài phủ nghĩ thầm: "Mạnh Lương đã nhiều lần làm việc cho đại nhân, ta ở dưới trướng nhiều năm, chưa có được chút công lao gì, chi bằng theo sau đuổi đến, lấy về trước, há không phải là công của ta sao?" Liền sửa soạn đầy đủ theo hướng U Châu đi gấp. Lúc ấy ở Dương phủ không người nào biết cả.
Trước tiên hãy nói về Mạnh Lương đi suốt ngày đêm đến U Châu thành. Vào lúc gần hoàng hôn, giả dạng người Phiên, vào đến cửa đài, gặp ngay năm, sáu tên quân canh giữ hỏi rằng: "Mi là ai, dám đến đây đi lại lung tung, có phải là tế tác không?” Lương nói: "Ngày trước thiên tử Trung Quốc thả vua tôi Bắc Phiên về nước, sai sĩ tết bọn ta ở nơi biên giới hộ tống. Nay việc đã xong, tới đây dạo chơi chốc lát, sao gọi là tế tác!” Quân canh giữ tin lời, nên không đề phòng, trời màn đêm buông xuống, Mạnh Lương lén đi lên trên đài, quả nhiên thấy một tráp hương đựng hài cốt ở đó. Lương nghĩ thầm rằng: "Năm trước trộm được quả nhiên không giống với cái này, hôm nay lấy được, ắt là thật vậy".
Liền cởi tay nãi ra, dùng tráp gỗ gói lại, cõng xuống đài. Không ngờ Tiêu Tán theo sau đến nơi, lên tới tầng giữa của đài, tay đụng phải chân của Mạnh Lương, quát rằng: "Ai ở trên đài làm bậy?" Mạnh Lương trong lúc hoảng hốt không nhận ra giọng nói, ngỡ rằng người Phiên đến bắt, tay trái rút búa bén ra giáng xuống một nhát, trúng ngay đỉnh đầu Tiêu Tán, thế là khoảnh khắc mất mạng. Bên đây Mạnh Lương chạy rời khỏi đài, không thấy động tĩnh gì. Mạnh Lương nghĩ thầm rằng: "Nếu kẻ đó là quân canh giữ đến bắt thì đâu chỉ có một người? Việc này rất đáng nghi" Liền bước tới gần, dưới ánh sao đêm nhìn xem, thất kinh nói: "Đây không phải là Tiêu Tán sao?" Lật ngược lại nhìn kĩ, quả đúng không sai.
Mạnh Lương ngửa mặt lên trời khóc mà nói rằng: vốn vì đại nhân hoàn thành công việc, nào ngờ giết lầm lẫn nhau. Cho dù có được hài cốt, cũng khó mà chuộc được tội này". Nói xong, đi ra ngoài thành, đã là canh hai. Vừa gặp quân tuần cảnh rung chuông đi tới, Mạnh Lương bắt lấy nói : "Mi là quân tuần ở nơi nào?” Quân tuần đáp: "Tôi không phải người Phiên, vốn lại lính già đóng lại đây, không thể về quê, lưu lạc nơi đất Bắc, xung vào chức tuần canh này". Mạnh Lương nói: "Đó là phúc của đại nhân ta vậy". Liền nói: "Ta có một tay nải, nhờ ngươi mang đến Vô nịnh phủ ở thành Biện Kinh, gặp Dương Lục sứ, ắt sẽ được hậu tạ". Quân tuần nói: "Tôi vốn quen với Dương tướng quân, xin cung kính mang đi”, rồi lại hỏi ông là người nào, Mạnh Lương nói: "Đừng hỏi tên họ, tới trong phủ sẽ được rõ”.
Liền cởi tay nãi, giao cho quân tuần, dặn dò cẩn thận, đừng có lỡ việc. Rồi quay về chỗ cũ, cõng Tiêu Tán ra ngoài sườn thành, rút đao đeo bên người ra, kêu to mấy tiếng: "Tiêu Tán! Tiêu Tán! Là ta hại ông rồi, xin xuống theo dưới đất vậy". Rồi tự vẫn mà chết. Đáng thương tráng sĩ Tam quan, cả hai đều chết ở sườn thành đất Bắc. Đời sau có thơ khen Mạnh Lương rằng:
Anh hùng tái hạ lập công thì,
Bách chiến Phiên linh độn mạc chi.
Kim mật thành âu quy chủ mệnh,
Hành nhân đáo thử lệ chiêm y.
(Dưới trại anh hùng lập chiến công,
Trăm trận quân Phiên đuổi đến cùng.
Nay bao thành quách thu về hết,
Người qua bao xiết lệ đoanh tròng).
Lại có thơ khen Tiêu Tán rằng:
Thất mã nam quan dũng tự nhiên,
Trảm kiên đột trận cảm đương tiên.
Thái bình vị hứa anh hùng kiến,
Chí sử thân hài tuất bắc biên.
(Vó ngựa ải nam dũng vốn nòi,
Lớn gan xông trận ở đầu thôi.
Thái bình chưa để anh hùng hưởng,
Đến nỗi xương tàn gởi Bắc rồi).
Lúc ấy quân tuần nhận lấy tay nải, nửa sợ nửa nghi, đành đem giấu. Sáng hôm sau, lén ra thành phía Nam, hướng về Biện Kinh mà đi.
 
0
Hồi Thứ Bốn Mươi Lăm
[/align]

Trong Cung Cấm Bát Vương Tế Sao
Phủ Vô Nịnh, Lục Sứ Hết Mạng


Lục sứ từ sau khi sai Mạnh Lương đi, trong lòng bức rứt, nằm ngồi không yên. Chợt đêm ngủ tới canh ba, mơ thấy Mạnh Lương, Tiêu Tán máu me đầy mình mà đến. Hai người lạy nói: "Nhờ đại nhân ơn đức sâu nặng, chưa thể báo đáp, hôm nay đặc đến để cáo biệt". Lục sứ hoảng sợ nói: "Các ngươi cớ sao lại nói như vậy?" rồi quơ tay níu lấy Mạnh Lương, giật mình tỉnh dậy, hóa ra là giấc mộng. Lục sứ hoài nghi bất định, chờ đến trời sáng, chợt người trong phủ vào báo: "Hôm trước Tiêu Tán đuổi theo Mạnh Lương cùng đến U Châu. Lục sứ nghe xong, dậm chân kinh hãi nói: "Tiêu Tán hỏng mất rồi!" Tả hữu hỏi nguyên cớ, Lục sứ nói: "Mạnh Lương sắp đi từng bảo rằng: "Nếu gặp quân Phiên đuổi bắt, tất sẽ giết chết. Hắn không biết Tiêu Tán theo sau, ắt tưởng là người Phiên mà giết vậy". Mọi người chưa tin. Đúng lúc đó quân tuần chạy vào trong phủ, gặp Lục sứ lạy rằng: "Tiểu nhân là quân tuần canh ở U Châu, đêm trước vô tình gặp một tráng sĩ, giao cho tôi tay nải, dặn dò nhiều lần, đưa tới phủ của tướng quân. Không dám chậm trễ, nay xin dâng lên".
Lục sứ sai mở ra xem, chính là tráp gỗ đựng hài cốt của Lệnh Công. Lục sứ lại hỏi lúc đó có từng hỏi họ tên người đó không. Quân tuần nói: "Có hỏi nhưng không nói, rồi bỏ đi rất vội vã". Lục sứ sai tả hữu lấy ra 10 lạng bạc trắng, thưởng cho quân tuần, rồi sai khinh kị đi ngày đêm tới U Châu dò la tin tức. Vài ngày sau hồi báo: "Tiêu Tán, Mạnh Lương cả hai người đều phơi xác ở hào thành U Châu, nay đã chôn cất rồi mới về". Lục sứ ngửa mặt than rằng: "Ngày mà nhung mã nhiễu loạn, nếu không phải là hai người ra sức thắng địch, sao có được thái bình. Nay đang lúc được an hưởng, lại tự vong mạng cả. Thảm thiết quá! Thảm thiết quá!".
Hôm sau, vào tâu với Chơn Tông rằng: "Thuộc hạ của thần là Mạnh Lương, Tiêu Tán khi làm việc bị lầm lẫn, đã chết ở U Châu. Xin bệ hạ thu về quan cáo". Vua nghe tấu, vô cùng thương xót, liền chuẩn theo lời Lục sứ tâu rồi hạ mệnh, vì Mạnh Lương, Tiêu Tán có công cứu giá, sắc cho Hữu Ty dùng lễ an táng phong thần, tặng tên thụy cho hai người là chức Trung thành hầu. Lục sứ tạ ơn, lui về trong phủ, từ đó về sau, do cái chết của hai người mà buồn bã không vui, đóng cửa lẫn tránh, cũng không có ý đi nhậm chức vậy.
Về Bát Vương, từ khi hồi quân ở U Châu, trên đường nhiễm bệnh, nằm dưỡng trong phủ. Chơn Tông thường xuyên sai bọn Khấu Chuẩn tới vấn an. Bát vương nói với Chẩn rằng: "Cùng các tiên sinh chung sống hòa thuận nhiều năm, không ngờ xa nhau ở đây". Chuẩn nói: "Điện hạ thỉnh thoảng bị bệnh nhẹ, không nên lo lắng quá! Nay bốn biển an vui, chính là lúc chỉnh đốn lại triều cương, cùng hưởng thời thịnh trị thái bình, sao lại nói những lời như thế!” Bát Vương nói: "Số kiếp khó tránh, ta làm gì được đây!" Bọn Chuẩn bèn lui ra, vào tâu vua, xin ban sắc làm các việc cúng sao Bắc đẩu, để bảo vệ Bát Vương. Vua chuẩn tấu, sai Khấu Chuẩn, Sài Ngọc đảm nhận việc này. Chuẩn lĩnh mệnh đi làm, mời Hoa chân nhân lập đàn trong cung cấm, y phép cầu cúng. Được hai ngày, Chân nhân báo với Khấu Chuẩn: "Thiên đăng trên đàn sáng luôn không tắt. Bát điện hạ có thể giữ được không lo gì cả". Khấu Chuẩn mừng thầm. Quả nhiên khi đàn cúng tế viên mãn, Bát Vương dần dấn khỏi bệnh, khắp triều văn võ đều đưa thiệp chúc mừng. Gặp khi Bát Vương vào triều tạ ơn, Chơn Tông đích thân tiếp lên điện, gặp mặt mà nói rằng: "Khanh được bình phục, là may mắn cho xã tắc vậy” Bát Vương tâu rằng: "Nhờ hồng phúc của bệ hạ che chở, xin ra sức khuyển mã để đáp đền". Chơn Tông hết sức vui mừng, ra lệnh thiết yến, chiêu đãi văn võ, hôm đó vua tôi hết sức vui vẻ.
Trời gần chiều, tiệc tàn, các quan đưa Bát Vương ra triều, tới dưới Đông khuyết, quân triệu đi trước báo: "Có một con mãnh hổ trán trắng từ thành Đông xông vào, bá tính kinh hãi, nay đến thẳng dưới cửa Đông khuyết. Bát Vương nghe xong, xuống xe nhìn xem, quả nhiên thấy mọi người vẹt ra, con hổ gầm thét mà tới. Lập tức sai lấy cung tên, Bát Vương giương cung đặt tên, bắn một phát tin ngay vào cổ họng hổ, con hổ mang cả tên bỏ chạy, quân sĩ đuổi theo đến bên hồ Kim Thủy thì không thấy tung tích liền về báo với Bát Vương. Bát Vương kinh nghi hồi lâu, về đến trong phủ, bệnh cũ lại tái phát, không gượng dậy được nữa.
đây nói về Dương Lục sứ chợt lâm bệnh nặng, liền cho báo với Lệnh Bà. Lệnh Bà cùng bọn Diên Lăng, Tông Bảo, Thái quận đều đến nơi chầu chực. Lục sứ nói với Lệnh Bà: "Hôm qua ngủ mê vào ban ngày, chợt mơ thấy vào dưới cửa khuyết, vừa gặp Bát điện hạ cùng quần thần lui triều. Điện hạ giương cung cứng bắn cho một mũi tên, tin ngay vào cổ họng con, liền cảm thấy xương cốt đau đớn, chắc là mệnh số đã tận. Mẫu thân hãy giữ gìn thân thể, đừng quá đau buồn vì con". Lại gọi Tông Bảo tới nói rằng: "Bác mi Diên Đức, rất giỏi thiên văn, từng nói với cha: "Sát khí của nước nhà chưa hết! Mi phải trung cần vương sự, không thể làm mất mặt là con cháu nhà họ Dương”. Tông Bảo lạy vâng lời. Lục sứ trăn trối xong, lại nói với Diên Lăng rằng: "Tứ ca hãy chăm sóc tốt cho mẹ, nay trong các anh em duy anh là có phúc và thọ. Xin nhớ kĩ chớ quên”. Nói xong liền mất, thọ 48 tuổi. Tịnh Hiên có bài thơ khen:
Khẳng khái quy triều chí nguyện thù,
Tướng quân chính nhĩ đắc phong hầu.
Vu kim phần thượng vô tình thổ,
Dã thảo ảo li ti kỉ độ thu.
(Khẳng khái về triều mong báo đáp,
Tướng quân đúng lý được phong hầu.
Mà nay trên mộ vô tình quá,
Cỏ hoang rờn rợn mấy thu sau).
Bọn Lệnh Bà vô cùng đau xót, quân dân khắp thành Biện Kinh nghe tin ai cũng rơi lệ. Tin tức truyền vào Chơn Tông ngự tiền, các quan văn võ ai cũng thương tiếc. Chơn Tông than rằng: "Hoàng thiên không muốn Trẫm được thái bình, mới khiến trụ cột mất đi vậy" Chưa dứt lời, quần thần lại tâu báo: "Bát điện hạ nghe tin Dương Quận mã đã mất, đau đớn nên bệnh thêm nặng, canh năm đêm qua đã từ trần nơi tẩm cung rồi". Chơn Tông càng thêm đau xót bội phần, nên bãi triều hai ngày.
Bọn Khấu Chuẩn, Sài Ngọc hội nghị, tâu xin phong thụy cho Bát Vương và Dương Quận mã. Sài Ngọc nói: "Dương Quận mã là lương bật phụ quốc, nay đã tạ thế, nên tặng cho tên thụy để biểu dương. Ngày mai nên cùng các quan tâu lên". Khấu Chuẩn đã thương nghị xong hôm sau hẹn các quan vào tâu với Chơn Tông. Chơn Tông nói: "Đó cũng là ý của quả nhân vậy, chuẩn theo lời của tâu của các khanh” Liền truy phong Bát Vương làm Ngụy Vương, đặt tên thụy là "Ý”. Dương Diên Chiêu là Thánh quốc công, và lệnh Hữu ty dùng vương lễ mà tế táng. Bọn Khấu Chuẩn lui ra, Hữu ty thừa mệnh mà làm. Chỉ thấy thần tướng sĩ nối nhau mà mất đi. Không biết thế giới thanh bình có được lâu dài không, xem hồi sau sẽ rõ.
 
0
Hồi Thứ Bốn Mươi Sáu
[/align]

Nước Đạt Đạt Quốc Cử Binh Hiếp Tống
Dương Tôn Bảo Tiến Đánh Tây Hạ


Tây Hạ Đạt Đạt quốc vương Lý Mộc, dọ biết thiên triều đã phá U Châu, liền cùng quần thần nghị rằng: "Vua Tống thống nhất thiên hạ, nay Bắc Phiên lại về Trung Nguyên. Nay nên thừa lúc nhân mã nước ta tinh tường, nên mưu đánh lấy. các khanh thấy thế nào?" Tả thừa tướng Khả Bá Tiên xuất ban tâu rằng "Tục ngữ có câu: "Việc nên làm thì làm, ắt dễ thành công; việc không nên làm mà cố làm, hối hận sẽ không kịp". Nay Trung Quốc thống nhất cường thịnh mưu thần mãnh tướng, luôn phiên nối tiếp. Trước kia Bắc Phiên từ đời Hán Tấn, mới gặp đều phải kính sợ. Vua Tống lên ngôi, khiến cho can qua liên miên, mệt mỏi chạy trốn, mà bị Trung Quốc tiêu diệt. Nay Tây Phiên người biết cầm cung, không bằng một quận của đại triều. Giả như động đến binh giáp, làm giận vua Tống, xua quân kéo đến há không phải là dừng lửa tự thiêu mình, tự gây ra tai họa ư? chúa thượng nên cân nhắc kĩ” .
Chưa dứt lời, một tướng ứng tiếng bước ra nói rằng: "Không nhân lúc này tiến quân mà lấy Trung Nguyên, chờ đến khi nào?" Chúng nhìn xem, thì ra là người tộc Khương Chi, họ Hân tên Kỳ, sử hai thanh đại can đao có sức mạnh địch vạn người, còn biết hô phong hoán vũ, người trong nước đều sợ, hiệu là Hân thái tuế. Có một tướng thuộc hạ tên Thúc Thiên Thần, cũng có yêu pháp, có thể biến hóa làm 49 biến thân. Tây Phiên tặng hiệu là Hắc Sát ma quân. Hân Kỳ cố tâu xin thừa cơ phạt Tống. Mộc vương nói: "Khanh muốn cử binh, có kế gì hay không?” Kỳ nói: "Gần đây thần nghe nói trung Quốc tướng sĩ điêu tàn, bọn Dương Lục sứ đều đã mất cả, các Tướng giữ dọc biên cương không tu sửa về võ bị, chỉ nghe báo có địch thì ai nấy đều lo bỏ chạy. Bằng sở học bình sinh của thần thì thanh thế tới đâu, thì trước tiên sẽ khiến cho quận ấp đều vỡ tan như gạch ngói. Xua quân thắng đến Hoàng thành, nhất định chỉ một trận là thành công lấy thiên hạ nhà Tống, có gì là khó vậy?” Mộc vương vô cùng mừng rỡ phong Hân Kỳ làm Chinh nam đô Tổng quản; nha tướng Thúc Thiên Thần làm tiên phong; Uông Văn; Uông Hổ làm phó tiên phong; Giang Giao làm Quân trận sứ, thống lĩnh 10 vạn Phiên binh tiến đánh. Hân Kỳ lĩnh mệnh lui ra, đem binh Khương thao luyện tinh thục, ngay hôm đó rời Tây Phiên nhắm Hùng Châu tiến phát. Chỉ thấy tinh kỳ rợp đất sát khí ngút trời, có thơ làm chứng:
Thê thê sát khí già hồng nhật.
Kim cổ thanh minh thế nhược lôi.
Đồ thị anh hùng sinh oán khích,
Kình giao thất mã bất tây hồi.
(Sát khí rợn người che nhật nguyệt,
Chuông trống rền vang như sấm xoay.
Uổng cậy anh hùng sinh hờn oán,
Tiếc cho vó ngựa chẳng về Tây).
Quân Hân Kỳ đi được vài ngày, gần đến Hùng Châu, cách thành mươi dặm hạ trại ở hướng chính Nam. Người trấn thủ Hùng quan là đô giám Khưu Khiêm, nghe biết quân Tây Phiên tới, cùng nha tướng là Trịnh Văn bàn rằng: "Đây ắt Tây Phiên nghe tin đại nhân ta đã mất, trong triều không còn nhiều tướng giỏi, nên thừa cơ vào đánh để cướp Trung Nguyên. Nay Hùng Châu quân mã đơn nhược, e khó nghênh địch. Giờ phải làm sao?” Trịnh Văn nói: "Đô giám không lo. Trong thành có 4000 quân để một nửa giữ thành, tôi cùng kị úy Triệu Mậu dẫn 2000 quân ra thành nghênh chiến.". Khưu Khiêm nói: "Quân giặc thế đông, các ông không nên xem nhẹ". Trịnh Văn nói: ."Không lo" Lập tức cùng Triệu Mậu nai nịt đầy đủ dẫn quân giương cờ mở thành mà ra. Tây Phiên Hân soái thấy quân Tống xuất chiến dàn bày trận thế ngồi trên ngựa kêu rằng: "Tống tướng hãy mau đầu hàng, ta ắt trọng dụng, nếu như còn mê muội, ta nay với 10 vạn quân Khương, sẽ lập tức đem Hùng châu san thành bình địa”. Trịnh Văn phi ngựa lên trước, chỉ lấy mắng rằng: "Phiên nghịch vô cớ gây sự, không biết mệnh trời. Đại Liêu hùng mạnh như vậy, còn bị ta diệt, Tây Phiên mi khó giữ trong sớm tối, mà còn dám vọng tưởng Trung Nguyên sao?”
Hân soái giận dữ la hỏi: "Ai dám ra mà bắt tên thất phu này” Chỉ thấy mé trái một tướng ứng tiếng mà ra, thì ra là Thúc Thiên Thần, tay cầm búa sắt, bay ngựa tới chém Trịnh Văn. Trịnh Văn cử thương nghênh chiến, bốn phía reo hò. Hai người đánh hơn 30 hiệp. Trịnh Văn thương pháp dần dần rối loạn. Triệu Mậu vỗ ngựa múa đao tương trợ, Thúc Thiên Thần cố sức đánh với hai tướng, không có vẻ gì là sợ hãi cả. Hân Kỳ ngồi trên ngựa giương cung lớn, bắn một phát tin ngay Triệu Mậu, chết lăn xuống ngựa.
Trịnh Văn thấy Mậu bị giết, bỏ trận chạy trốn vào thành. Hân Kỳ xua quân Khương ập vào, quân Tống chết một nửa, rồi thừa thế vây lấy Hùng châu. Trịnh Văn hạ lệnh đóng chặt cửa thành, vào gặp Khưu Khiêm, báo rằng: "Quân Tây Phiên tinh nhuệ, Quân úy Triệu Mậu trúng tên tử trận”. Khưu Khiêm sợ hãi nói: "Địch đông ta ít thế khó mà địch. Nay thành bộ vây rất khẩn cấp, phải viết biểu sai người vào kinh cầu cứu”. Trịnh Văn nói: "Không nên chậm trễ". Lập tức viết biểu, sai quân kị đêm khuya ra khỏi thành, đi hỏa tốc về Biện Kinh, đưa biểu vào Khu Mật viện.
Cận thần tâu với Chơn Tông. Chơn Tông thất kinh nói: "Tây Phiên thừa cơ vào cướp, thật là họa lớn" liền triệu văn võ vào thương nghị. Sài Ngọc tâu rằng: "Thần cử một người, có thể chống quân Phiên”. Vua hỏi là ai, Ngọc nói: "Đời thứ ba của tướng môn hào kiệt, cháu nội của Kim đao Dương Lệnh Công, quan phong kinh thành nội ngoại đô tuần phủ Dương Tôn Bảo vậy. Nếu dùng hắn dẫn quân tiến lên trước, ắt là phá được giặc". Vua mừng rỡ nói: "Lời đề cử của khanh, thật xứng với chức". Lập tức hạ lệnh phong Tông Bảo làm Chinh tây Chiêu Thảo sứ; Hồ Diên Hiển, Hồ Diên Đạt làm phó sứ, đại tướng Châu Phúc, Lưu Mẫn làm tiên phong, dẫn quân 5 vạn, tiến lên lui quân Phiên.
Tông Bảo lãnh chỉ ra khỏi triều, về Vô nịnh phủ từ biệt Lệnh Bà để xuất sư. Lệnh Bà nói: "Ta nhớ lời cha cháu trăn trối: "Nước còn có chiến tranh. Phải tận trung làm việc". Tông Bảo nói: "Quân tình khẩn cấp, về bái biệt Lệnh Bà là cháu đi ngay". Lệnh Bà dặn đò: "Thời cơ mà hành sự, đừng làm mất uy phong của tổ tiên”. Tông Bảo hứa vâng, ra đến giáo trường, hối thúc chuẩn bị quân mã đầy đủ, ngay hôm đó rời Biện Kinh hướng về Hùng Châu tiến phát. Lúc ấy, trời vào tháng 12, gió bắc lạnh lẽo, chỉ thấy:
Hồng nhạn bắc lai thanh thảm thiết,
Chinh nhân tây hạ khiếp cùng đồ.
(Chim hồng chim nhạn từ bắc về kêu thảm thiết.
Kẻ chiến chinh ra phía Tây sợ hết đường).
Người ngựa Trung Quốc cuồn cuộn, thẳng đến Tiêu hà khẩu, thấy chỉ còn cách Hùng Châu 15 dặm, Tông Bảo liền hạ trại nơi nhai khẩu sai người vào báo vào trong thành.
Phiên soái Hân Kỳ nghe được tin tức, dặn dò các đại tướng thuộc hạ: "Viện binh của Tống, trên cờ đề Dương Tôn Bảo. Từ lâu được biết người này là con trưởng của Dương Lục sứ, văn võ song toàn, đương thời phá tan trận Nam thiên đều do hắn chỉ huy điều khiển. Nay dẫn quân đến, các ngươi không nên khinh địch, mỗi người tự nên cẩn thận. Nếu có thể thắng được, thì Trung Nguyên không khó mà lấy vậy”. Phó tiên phong Uông Văn, Uông Hổ nói: "Không cần nguyên soái ra trận, tiểu nhân hai người dư sức đánh lui quân Tống. Hân Kỳ liền cấp cho hai vạn quân. Hôm sau, Uông Văn bày trận khiêu chiến nơi đồng trống, xa trông quân Tống như mây đen vân tập kéo đến. Dương Tôn Bảo ngồi trên ngựa cao giọng hỏi rằng: "Biên cương có định sẵn, vì sao xâm phạm vào đất ta, tàn hại sinh linh?" Uông Hổ cười nói: "Hùng châu là đất gần Tây Phiên, bị các ngươi xâm đoạt, không thể không lấy lại”. Tông Bảo nổi giận, hỏi rằng: "Ai ra đánh trước?" Hồ Diên Hiển ứng tiếng xin đánh, giơ thương tế ngựa, tới đâm Uông Hổ, Uông Hổ múa đao đánh lại, hai người đánh vùi hơn 20 hiệp. Uông Văn múa thương đến giúp, Hồ Diên Đạt múa búa từ bên cạnh đánh vào Uông Hổ đuối sức, bỏ trận mà chạy. Hồ Diên Hiển giận dữ đuổi theo. Dương Tôn Bảo dẫn hậu quân ập vào, Uông Văn bỏ chiến lui về. Quân Tống ùa lên, quân Phiên thua to Khưu Khiêm ở trên thành nhìn thấy Tây Phiên chiến bại, liền mở cửa Đông tiếp ứng, thắng to quân Khương một trận. Tông Bảo cũng không đuổi theo, thu quân vào thành.
Văn, Hổ dẫn bại binh về gặp Hân Kỳ, cho biết quân Tống thế mạnh khó địch. Hân Kỳ giận nói: "Chỉ một cánh quân Tống đã không thắng nổi, làm sao hy vọng lấy Trung Nguyên”. Liền thân muốn dẫn quân đi đánh. Thúc Thiên Thần nói: "Nguyên soái cứ ngồi vững ở đây xem tiểu tướng lui quân địch ngay lập tức". Kỳ nói: "Mi hãy đi đánh trước. Ta sẽ theo sau tiếp ứng" Thiên Thần vâng lời. Bình minh hôm sau, đến dưới thành giường oai diễu võ khiêu chiến. Chợt Đông môn một tiếng pháo nổ vang, Hồ Diên Hiển, Châu Phúc lớn tiếng mắng rằng: "Phản nghịch xú tặc, không lập tức lui quân, giết các ngươi không còn giống nòi!" Thiên Thần giận dữ, tế ngựa giơ phương thiên kích tới đâm Châu Phúc. Châu Phúc múa đao nghênh địch. Hai ngựa giao nhau, đánh được vài hiệp, Thiên Thần giả thua, dẫn quân Tống vào trận, miệng niệm tà chú, chợt cuồng phong nổi lên, phi sa tẩu thạch, giữa không trung có vô số Hắc Sát ma quân. Châu Phúc thất kinh, quay ngựa chạy gấp, sau lưng Thiên Thần quay ngựa đuổi đến, đâm cho một nhát kích chết lăn xuống ngựa. Quân Tống thua to, người chết rất nhiều. Hồ Diên Hiển hốt hoảng vội chạy vào trong thành, kéo điếu kiều lên, Thiên Thần đuổi theo đến bên hào mới rút về.
Hồ Diên Hiển vào trong quân, báo tin với Tông Bảo nguyên nhân Châu Phúc tử trận. Tông Bảo hoảng sợ nói: "Tây Phiên lại có sự quái dị như vậy sao! Ai dám dẫn quân ra trận nữa”. Chưa dứt lời, Lưu Mẫn nói: "Tiểu tướng ra trận một phen nữa". Tông Bảo cho đi, cấp cho 1 vạn tinh binh.
 
0
Hồi Thứ Bốn Mươi Bảy
[/align]

Thúc Thiên Thần Đại Chiến Tướng Tống
Bạch Hoa Nữ Chùy Đập Trương Đạt


Bình minh hôm sau, Lưu Mẫn giương cờ hò reo đi ra. Trận bên kia Thúc Thiên Thần kêu lớn: "Tướng bại trận kia, hôm nay lại đến chịu chết nữa ư?” Lưu Mẫn giận nói: "Yêu nhân mau lui, thì có sống sót, nếu chấp mê không tỉnh, sẽ cho ngươi không còn manh giáp mà về", rồi lập tức múa đao tế ngựa xông vào Tây trận, Thiên Thần cử phương thiên kích nghênh chiến. Hai ngựa mới gian nhau, Thúc Thiên Thần quay ngựa bỏ chạy, Lưu Mẫn thừa thế truy kích. Chưa được một khoảng, Thiên Thần lại làm yêu pháp, trời đất tối sầm, cuồng phong nổi lên, trên không vô số ma quân xông đến. Lưu Mẫn hoảng sợ, trở tay không kịp, bị Thiên Thần hồi mã đâm một kích, chết ở trong trận. Quân Tống hỗn loạn, dẫm đạp lên nhau, người bị chết vô số. Thiên Thần lại thắng một trận, dẫn quân đánh gấp thành trì.
Tông Bảo thấy Lưu Mẫn đã tử trận, vô cùng phẫn nộ, lập tức hạ lệnh chỉnh đốn quân, muốn cùng kẻ địch quyết chiến. Tới ngày hôm sau Tông Bảo đích thân dẫn Hồ Diên Hiển, Hồ Diên Đạt mở thành đối lũy. Thúc Thiên Thần dàn quân bày trận, bên trái Uông Văn, bên phải Uông Hổ. Tông Bảo ngồi trên ngựa Bạch Dực, sớm đã nhìn thấy Phiên soái, thấy mặt xanh như chàm, mắt như chuông đồng, râu tóc đỏ, quạch như nhuộm, nhìn rất đáng sợ. Tông Bảo mắng rằng: "Nghịch tặc hãy mau lui quân, tha mi khỏi chết, nếu không sẽ băm mi ra như cám". Thiên Thần quay hỏi tả hữu: "Người này là ai?" Uông Hổ nói: "Chủ soái quân Tống Dương Tôn Bảo". Thiên Thần nói: "Ai dám đánh trước, để làm nhụt uy của người Tống".
Uông Văn ứng tiếng mà ra, cử thương tế ngựa xông vào trận Tống. Tông Bảo giận dữ, múa thương nghênh địch. Hai bên chiêng trống vang trời, tiếng reo như sấm. Đánh được vài hiệp, Tông Bảo hăng lên đâm cho một thương hất Uông Văn xuống ngựa. Uông Hổ thấy anh bị hại, giận dữ nói: "Mối thù của cốt nhục, làm sao không báo!" Cử đao bay ngựa ra trận. Tông Bảo nói: "Một phát kết liễu tên giặc này". Liền cử thương nghênh địch. Giao ngựa đánh được vài hiệp, Tông Bảo giả thua bỏ chạy, Uông Hổ đuổi theo, gần đến mé trận. Tông Bảo giương cung bắn một mủi tên, Uông Hổ chết lăn xuống ngựa. Hồ Diên Hiển thấy chủ soái thắng liên tiếp, dẫn quân ập vào đánh. Hai quân hỗn chiến, đánh giết đến trời sầu đất thảm, đất rung núi nghiêng. Có thơ làm chứng:
Liệt liệt tinh kỳ xán nhược hà,
Tung tung kim cổ cấp mang qua.
Trận tiền sát khí già thiên ám,
Thành bại tư tu thuộc nhất gia.
(Hừng hực cờ bay tựa ráng chiều,
Rền vang tiếng trống gấp bao nhiêu.
Sát khí trận tiền che mù mịt,
Thành bại thì ra do một người).
Đang lúc đánh nhau, Thúc Thiên Thần miệng niệm tà chú, trong chốc lát càn khôn hắc ám, tẩu thạch phi sa, giữa trời Hắc Sát ma quân tay cầm đao bén xông đến. Tông Bảo kinh dị, tự chạy trốn trước. Quân Phiên đuổi theo chém giết, quân Tống thua to. Hồ Diên Hiển cố sức đánh rồi cùng Tông Bảo chạy vào trong thành. Thiên Thần dẫn quân ập đến. Hồ Diên Đạt tiến thoái không được, bị quân Phiên bắt được, giải vào Tây doanh, vào gặp nguyên soái Hân Kỳ. Hân Kỳ dặn đem nhốt vào xe tù, hạ lệnh quân sĩ chia ra các cửa công kích.
Thúc Thiên Thần nói: "Người Tống tuy thua một trận, nhưng quân ta lại mất đại tướng Uông Văn, Uông Hổ. Chỉ một tòa thành Hùng Châu, còn không thể hạ được, nếu vào đến Trung Nguyên, làm sao thắng được giặc? Kế sách hiện nay là sai người về nước, xin thêm quân tới giúp, hăng hái Nam hạ, may ra được thành công vậy". Hân Kỳ nói: "Lời mi chính hợp ý ta". Lập tức sai quân kị hồi tấu Lý Mộc vương, cầu thêm binh mã đến giúp. Vương hỏi rằng: "Gần đây binh thế của giữa Tây và Nam thế nào?" Quân kị nói: "Quân Tây Phiên tuy đông, nhưng bị tử trận cũng không ít. Lúc này quân Tống kiên thủ Hùng Châu, quân họ ở lâu thiếu lương. Chúa thượng nếu thêm quân mà đánh, ắt sẽ phá được".
Mộc vương cùng quần thần thương nghị. Hữu thừa tướng Hồ Thiên Trương tâu rằng: "Thần có một kế, khiến quân Tống đầu đuôi không cứu được nhau, tự nhiên sẽ phải lui". Mộc vương nói: "Khanh có kế gì?" Thiên Trương nói: "Có thể sai một người đến nước Tân La mượn binh tương trợ, hứa cùng hòa thân, nước họ tất vui vẻ mà theo. Lại sai sứ tới Hắc Thủy quốc, nói là nếu lấy được Trung Quốc, sẽ cắt đất mà tạ ơn. Nếu được quân của hai nước ra Kỳ Châu để đánh tập hậu thì lệnh cho Tam thái tử khởi binh cứu viện phía trước, không thể không thắng vậy".
Mộc vương nghe theo kế này, lập tức sai sứ vào nước Tân La, dâng vàng ngọc, nói việc mượn quân vào lấy Trung Nguyên. Quốc vương Mạnh Đại Năng cùng thái tử Mạnh Tân bàn rằng: "Tây Phiên cầu viện xuất binh, phải nên làm thế nào?" Tân nói: "Tây Phiên với ta vốn là hai nước có hôn ước, nếu đã hứa hòa thân thì theo lí phải thuận cho”. Vương nói: "Năm xưa do cho Bắc Phiên mượn quân mã, chỉ còn có một phần trở về. Chỉ e quân Tống khó địch, mà ngược lại ta lại mang họa". Tân nói: "Nay Trung Quốc không so được với khi xưa, mưu thần dũng tướng đều đã rơi rụng. Lần này phát binh tương trợ, ắt được đắc chí". Quốc vương nghe theo, lập tức lệnh Mạnh Tân làm soái, đề 4 vạn quân đi đánh. Lúc ấy vương trưởng nữ Bách Hoa công chúa có sức mạnh hơn người, võ nghệ tinh thông, tâu với vương muốn cùng xuất binh. Vương cho đi. Mạnh Tân ngay hôm đó dẫn quân rời bổn quốc, hướng về Kỳ Châu mà tiến, chuyện không có gì đáng nói. Lúc này Hắc Thủy quốc cũng theo lời hẹn, sai đại tướng Bạch Thánh tướng quân dẫn 3 vạn quân kéo đến Kỳ Châu hội binh.
Ở đây nói đến sứ thần hồi tấu Mộc vương: "Hai nước đều hứa tương trợ quân mã đã hướng về Kỳ Châu tiến phát . Mộc vương nghe tấu vô cùng mừng rỡ nói: "Chuyến này nhất định có thể thành công”. liền hỏi Thiên Trương: "Ai có thể dẫn quân tới trước?”. Thiên Trương nói: "Tam thái tử văn võ song toàn, có thể dẫn quân đến viện". Mộc vương chuẩn tấu, liền lệnh tam thái tử thống 4 vạn quân Khương khởi hành. Thái tử lĩnh mệnh, dẫn quân rời Tây Phiên, ồ ạt hướng về Hùng Châu mà tiến. Chỉ thấy:
Hồng kỳ khai xứ Phiên binh thịnh,
Hoạch giác minh thì bộ lạc tề.
(Cờ đỏ rợp trời quân Phiên dậy,
Cờ rúc rền vang bộ lạc chỉnh tề).
Lúc ấy, Hân nguyên soái luôn sai thám mã đo thám trên đường, hồi báo: "Binh mã tam thái tử đã tới, đóng doanh trại ở hướng chính tây, mời nguyên soái tới bàn việc”. Hân Kỳ nghe báo, lập tức đến Tây doanh, bái kiến xong, tam thái tử hỏi việc giao binh thế nào, Kỳ nói: "Đánh nhau vài trận, đều có thắng thua, đang đợi quân Thái tử đến, mới bàn việc bắt chém người Tống". Thái tử nói: "Tân La, Hắc Thủy hai nước đều đã xuất quân, từ Kỳ sơn đến hội, chờ quân tụ tập đầy đủ sẽ quyết chiến, ắt có thể thắng địch". Chưa dứt lời có người báo quân mã hai nước đã đến Tây quan hạ trại. Thái tử lập tức sai mang dê rượu, đem đến trong quân khao thưởng, và lệnh ra quân trước để tập Hùng thành". Sai nhân đem lễ vật tới gặp chủ soái hai nước. Báo cho biết lệnh của Tam thái tử. Mạnh Tân nhận lễ vật, dặn dò sai nhân về báo lên thái tử: "Ngày mai xin hãy xem chúng tôi xuất binh, phá quân Tống trước, sau đó lấy thành". Sai nhân nhận lời về báo lại, chuyện không có gì đáng nói.
Thám mã báo vào trong thành, Tông Bảo nghe biết Tân La, Hắc Thủy hai nước động binh, hỏi dưới trướng ai dám cản cánh quân này. Hồ Diên Hiển nói: "Tiểu tướng xin đi". Tông Bảo nói: "Quân địch thế to, phải sai Trương Đạt giúp đỡ". Trương Đạt lĩnh mệnh, Tông Bảo liền cấp cho 2 vạn quân. Hồ Diên Hiển lui ra, cùng Trương Đạt bàn rằng: "Tân La có quân rất tinh nhuệ, nên đánh thế nào?" Trương Đạt nói: "Chưa biết hư thực của quân man, ngày mai ra trận, chia làm ba đường mà tiến”. Hiển nghe theo. Hôm sau, sai Diệp Võ bên trái, Trương Đạt bên phải, tự mình ở giữa, ba cánh quân đồng loạt ra thành. Chỉ thấy dưới cờ tạo la, quân man kéo đến đông như kiến cỏ, soái tướng Mạnh Tân tay cầm chùy sắt lưng đeo song đao, ngồi chễm chệ trên ngựa. Hồ Diên Hiển lên tiếng rằng: "Quân cướp Tây Phiên phản nghịch kia, sớm tối khó giữ, mi vì sao lại xuất binh mà ứng cứu?”. Mạnh Tân giận nói: "Người Tống giết em ta Kim Long thái tử, hôm nay đến để báo thù đây". Diệp Võ nổi giận, xách đao bay ngựa thẳng đến tây trận. Mạnh Tân múa chùy nghênh địch, hai bên reo hò. Hai người đánh hơn 50 hiệp, bất phân thắng bại.
Chợt dinh bên phải vang lên một hồi trống, Bạch Thánh tướng dẫn quân từ giữa đánh vào, đem quân Tống tách ra đứt rời làm hai đoạn. Diệp Võ cố sức đánh Mạnh Tân không được, Bách Hoa công chúa dẫn song đao đánh vào Diệp Võ quân thua to. Phía bên phải Trương Đạt cố sức múa thương đến cứu, lại bị Bách Hoa công chúa phóng chùy lưu tinh, đánh trúng ngực Trương Đạt, chết ngay tại chỗ. Quân Phiên xông lên, vạn nỏ càng bắn. Quân Tống đại bại, bị chết vô số. Hồ Diên Hiển cơ thể linh hoạt, quay ngựa chạy trốn gấp. Bọn Mạnh Tân thừa thế truy kích thẳng đến hào thành mới thôi. Có thơ làm chứng:
Phiên tướng tranh ninh mã cánh hùng,
Càn vương hiệu lực chiến cam trung.
Cai tiền dĩ táng tư tu mệnh,
Oán xỉ vu kim ế thảo phùng.
(Phiên tướng khoe tài binh mã hùng,
Gắng công vì chúa trận rối tung.
Chiến cuộc muốn tàn theo mệnh số,
Khí oan nay vẫn ngập hoang đồng).
Thám mã báo về trong quân Hân nguyên soái, cho biết hai nước Tân La, Hắc Thủy dẫn quân đánh thắng quân Tống một trận, chém chết chiến tướng hai bên. Hân Kỳ hết sức vui mừng, cùng bàn với Tam thái tử rằng: "Người Tống nay đã thua vào thành, chủ soái tất tức giận mà lại đến giao phong. Lâu nay nghe Dương Tôn Bảo là con nhà tướng, võ nghệ tinh dũng, nếu chỉ cùng hắn đánh nhau, khó quyết hưng vong. Nên phải dùng kỳ binh để thắng, ắt một trận là có thể thành công". Tam thái tử nói: "Ông có kế gì để phá được giặc?" Kỳ nói: "Hôm qua, quan sát địa thế, cách đây ngoài 15 dặm có một tòa núi lớn tên Kim sơn lồng, chỉ có một con đường nhỏ để vào, hai bên đều là núi cao. Nên sai trọng binh mai phục ở đó trước. Dụ quân địch vào trong lồng, để tuyệt đường về, rồi vây chặt lấy, không đến vài mươi ngày, khiến người Tống đều trở thành quỷ đá, còn Hùng Châu thì trở tay là có thể lấy được". Tam thái tử nói: "Kế này tuy hay, chỉ e người Nam biết được mà không đuổi theo". Liền nói: "Người Tống chưa biết hư thực, có thể đem doanh trại dời đến chân núi Kim sơn". Sắp đặt đã xong, bọn Hân Kỳ rút vây mà đi, không có gì đáng nói.
Hồ Diên Hiển về gặp Tông Bảo báo cho biết việc chiến bại, bị giết chết hai viên đại tướng là Trương Đạt, Diệp Võ. Tông Bảo nổi giận nói: "Không giết bọn man mọi, còn mặt mũi nào về gặp thiên tử”. Hạ lệnh các tướng xuất binh muốn cùng Tây Phiên sống mái”. Trịnh Văn nói:” Quân Tây Phiên rút vây, dời đến đóng ở chân núi Kim sơn, hay có mẹo? Nguyên soái chỉ nên kiên thủ, tính kĩ rồi mới xuất binh hoặc có thể thắng địch, đừng vì cơn giận nhất thời mà quên lo xa vậy?” Tông Bảo nói: "Họ chỉ có cái sức của dũng phu, có kiến thức gì đâu? Các ông hãy xem ta phá họ”. Trịnh Văn không dám nói nữa.
Bình minh hôm sau, Tông Bảo dặn dò Hồ Diên Hiển đánh trận đầu, Lưu Thanh đánh trận tiếp theo, Trịnh Văn ở sau để phòng quân của Mạnh Tân, Khưu Khiêm ở lại giữ thành. Phân bố xong, tự dẫn khinh kị đi giữa. Riêng Hồ Diên Hiển giương cờ gióng trống, đánh đến Kim sơn, gặp ngay tướng Phiên Tam thái tử bày trận mà đợi. Hiển ngồi trên ngựa mắng lớn: "Nghịch tặc hãy sớm hồi binh, mọi việc đều thôi, nếu không giết sạch bọn mi để báo thù cho người Tống vậy". Tam thái tử nổi giận nói: "Tên nhóc kia, hôm nay hãy chớ có chạy?" Liền tế ngựa múa phương thiên kích đến đánh. Hồ Diên Hiển nâng thương đón đánh. Hai ngựa vừa giao nhau, đánh chưa đầy hai hiệp, Lưu Thanh dẫn tinh binh từ bên hông đánh vào. Tam thái tử giả thua bỏ chạy, bọn Hiển hăng hái đuổi theo. Hân Kỳ thấy quân Tống vào trận, liền bay ngựa múa đao tiếp chiến. Trung quân của Dương Tôn Bảo tới nơi, nộ chiến Hân Kỳ. Binh khí vừa giao, Kỳ liền quay ngựa theo hướng đường nhỏ của Kim sơn mà bỏ chạy.
 
0
Hồi Thứ Bốn Mươi Tám
[/align]

Dương Tông Bảo Bị Vây ở Kim Sơn
Châu Phu Nhân Cố Sức Dẫn Quân Cứu


Quân Tống ai cũng muốn tranh công, kéo vào như sóng triều dâng. Lưu Thanh ở sau nhìn thấy, chạy lên trước can rằng: "Quân giặc không làm yêu pháp, vừa đánh đã thua, ắt có mai phục. Vả lại nơi này cách ta đã xa, nguyên soái không mau quay về, nhất định sẽ bị trúng kể. Tông Bảo nói: “Binh quý thần tốc, chính nên tiến nhanh mà đuổi theo, giết quân Phiên khi chưa chuẩn bị, ắt một trận là bắt được. Cho dù là có phục binh, có gì đáng sợ!" Chúng quân nghe xong, dũng khí tăng lên trăm lần. Đuổi gần đến chân núi, quân Phiên bỏ lại quân nhu, y giáp vô số. Quân Tống không nghi, cứ đuổi theo vào trong lồng. Trời đã về chiều, chợt nghe một tiếng pháo hiệu nổ vang, phục binh của Giang Giao đồng loạt xông ra, bịt lấy miệng lồng. Hậu quân báo với Tông Bảo, Tông Bảo thất kinh nói: "Không tin lời trung, quả nhiên bị trúng kế!”. Lập tức lệnh chúng tướng cố sức đánh ra. Hồ Diên Hiển, Trịnh Văn xông lên trước mà đánh, quân Phiên trên đỉnh núi bắn tên đá loạn xạ, quân Tống bị thương và bị chết vô số, không thể xông ra. Đợi đến sau núi, lại là đường cùng. Chính là:
Chỉ nhân ngộ trúng gian nhân kế,
Chí sử anh hùng nhất nguyệt tai
(Chỉ vì lầm trúng kế kẻ gian,
Đến nỗi anh hùng tai nạn mãi).
Tông Bảo và mọi người bị vây trong cốc, trong lòng hoang mang. Trịnh Văn nói: "Phiên chúng kiên thủ cốc khẩu cho dù có cánh, cũng khó mà bay thoát, chỉ đành nhẫn nại, để tính kế mà ra". Tông Bảo nói: "Không thuộc địa lý nên bị mắc bẫy. Nơi Hùng Châu tuy có nhân mã nhưng e rằng khó giữ”. Văn nói: “Khưu đô giám nghe bọn ta bị vây, hắn ắt kiên thủ, nghĩ cũng không bị mất. Chỉ là ở đây lương thảo sắp tuyệt, e không có cứu tế” Tông Bảo nói: “Triều đình dựa vào ta như vào núi Thái Sơn, đã bị quân Phiên vây lấy, các ông hãy nghĩ cách để có thể bảo toàn được". Hồ Diên Hiển nói: "Nay Ứng Châu quân mã hùng mạnh, có thể bí mật sai người đến cầu cứu, mới có thể giải nạn này”. Trịnh Văn nói: "Ứng Châu là đất mà giặc hay lui tới, khó cầu cứu ứng. Chi bằng về Biện Kinh tâu báo, khi đại quân tới, đủ để địch với quân Phiên vậy". Tông Bảo nói: "Trại Phiên nghiêm mật nên chưa biết ai có thể đi được" Nói chưa xong, một người bước ra nói: . "Tiểu nhân xin đi". Thì ra Lưu Thanh, tiểu danh Lưu Chiêu Chi, việc gì cũng dám làm, trong quân hiệu là Lưu đại đảm. Tông Bảo nói: "Ông có kế gì ra khỏi dinh Phiên?" Lưu Thanh nói: "Nguyên soái không nghe nói môn hạ Mạnh Thường quân có khách gà gáy trộm chó ư? Tiểu nhân có thể thay hình đổi dạng mà đi". Tông Bảo mừng rỡ, lập tức viết văn thư cầu cứu giao cho.
Lưu Thanh chờ gần đến hoàng hôn, bí mật ra lồng khẩu nhìn thấy quân Phiên vây thủ đông như mây mù kéo, liền biến thành một con thanh khuyển chạy ra ngoài doanh, người Phiên chỉ cho rằng đó là súc vật trong dinh, nên cũng không nghi. Lưu Thanh ra được vòng vây thì mặt trời đã lặn, đang lúc quân Phiên tụ tập nơi đất hoang ăn uống, Lưu Thanh chạy vào bên trại chứa lương thực, chỉ thấy chứa chất như núi cao. Nảy ra một kế, lấy đá đánh lửa, dùng lưu huỳnh diêm tiêu làm mồi dẫn; rắc vào trong đống lương thảo. Gió đêm đang thổi mạnh, chỉ chốc lát, khói lửa mù trời, cháy lan khắp nơi. Quân Phiên nhìn thấy lương thảo bốc cháy, lập tức phi báo chủ soái đến cứu, bốn bề hoảng loạn. Lưu Thanh trộm lấy một con ngựa, đi suốt đêm hướng về Biện Kinh.
Có thơ khen:
Khốn hãm kim sơn chiến trận suy,
Lưu Thanh dũng cảm hữu mưu vi.
Tiên giáo lương thảo thành yên tận,
Hữu đắc Phiên doanh tuấn mã hồi.
(Bị hãm Kim sơn chiến trận tàn,
Lưu Thanh dũng cảm lắm mưu gan.
Đất bỏ lương ăn thành khói cả,
Lại đoạt ngựa hay kịp xuống ngàn).
Hân Kỳ lệnh cho bộ hạ cứu tắt lửa, lương thảo đã bí cháy mất một nửa, mới biết quân Tống có người ra khỏi dinh, đuổi theo không kịp, do đó hạ lệnh quân đề phòng. Vài ngày sau, đã đến Biện Kinh, trước tiên báo với Khu Mật viện. Hôm sau, cận thần tâu báo: "Biên đình soái tướng toàn quân bị vây, xin cứu binh đến ứng viện". Chơn Tông nghe tâu thất kinh nói: "Là ai nắm giữ quân Phiên? Có sự kỳ dị như vậy?" Do đó tuyên Lưu Thanh vào trước điện mà hỏi . Lưu Thanh tâu rằng: "Ngày trước từng Tây Phiên giao binh, đều có thắng thua. Gần đây liên tục mất mấy viên đại tướng ở Kim sơn lồng, dụ quân ta vào trong đó nên bị vây lại. Nay Hùng Châu thanh thế rất gấp, quân ta lương thảo đã cạn. Xin bệ hạ sớm sai viện binh để không lỡ việc".
Vua tôi nghe tâu liền nói: "Khanh lui trước, để trẫm cùng quần thần thương nghị”. Lưu Thanh tạ ơn lui ra. Vua hỏi quần thần: "Ai có thể dẫn quân đi cứu?" Sài Ngọc tâu rằng: "Tướng soái dọc biên giới chỉ nên trấn giữ đất mình, khó mà điều đi cứu. Bệ hạ cần phải ra bản văn nơi cửa kinh thành, chiêu mộ trong chư tướng nếu có người văn võ siêu quần thống chức nguyên soái tiên phong, dẫn quân mà đi". Vua chuẩn tấu, lập tức lệnh viện học sĩ thảo bảng, treo ở các cửa, chuyện không có gì đáng kể.
Lưu Thanh đi đến Vô nịnh phủ, vào báo với Lệnh Bà nói rõ việc Tông Bảo bị vây. Lệnh Bà sợ hãi hỏi: "Ngươi đã tâu với thánh thượng chưa?” Thanh đáp: "Đã tâu rõ lên trước, rồi mới tới gặp Lệnh Bà". Lệnh Bà nói: "Chúa thượng định ngày nào phát binh cứu ứng?" Thanh nói: "Sài phò mã tâu rằng: "Triều đình không có tướng giỏi, không ai đi được chuyện này", thánh thượng lập tức lệnh ra bảng chiêu mộ tướng mới, dẫn quân đi cứu. Lệnh Bà dậm chân khóc rằng: "Cứu binh như cứu hỏa, cháu ta bị vây ở trong trận, qua một ngày như trải một năm. Nếu chờ đến lúc này mới chiêu mộ, biết có được người đến ứng mộ không. Nếu như kéo dài một tháng, tính mạng của Tông Bảo nguy vậy". Nói xong, khóc lóc không thôi.
Lúc ấy, bọn Mộc Quế Anh, Bát Nương, Cửu muội nghe biết tin, đều ra sảnh hỏi nguyên do. Lệnh Bà gạt lệ, kể lại việc toàn quân Tông Bảo bị vây. Mộc Quế Anh nói: "Đó là đại sự của triều đình, sao không sai người tâu với triều đình xin phát cứu binh". Lệnh Bà nói: "Nước không tướng tài, nếu đợi lâm thời mới chiêu mộ đến đi cứu ứng, ta e kéo dài sẽ lỡ việc nên vì thế mà lo buồn vậy" Quế Anh nói: "Lệnh Bà đừng lo, tiểu thiếp xin dẫn quân đi cứu". Lệnh Bà nói: "Chỉ một mình mi làm sao đi được”. Bát Nương, Cửu muội nói: "Hai chúng con xin cùng đi để giúp đỡ". Lệnh Bà chưa trả lời, 12 quả phụ trước đường đồng tới nói: "Nếu cháu có nạn, bằng võ nghệ của chúng con, một là có thể vì triều đình ra sức, hai là giảm phiền não cho Lệnh Bà, nhất định sẽ cứu được Tông Bảo về".
12 quả phụ trước sảnh gồm có:
·         Châu phu nhân: vợ của Dương Uyên Bình, là người có mưu trí nhất.
·         Đỗ phu nhân: tên là Kim Nga, vợ của Dương Diên Tự, trong 12 quả phụ, duy có người này là Lộc tinh trên trời giáng thế. Lúc nhỏ từng theo Cửu Hoa tiên nhân học phép thuật, có thuật tàng binh tiếp nhẫn, võ nghệ xuất chúng, sử dụng ba khẩu phi đao, bách phát bách trúng, trong ngoài Dương phủ đều rất kính trọng.
·         Hoàng Quỳnh nữ. Vợ của Dương Diên Chiêu, thích dùng song đao.
·         Đơn Dương công chúa: Con gái của Tiêu thái hậu, bị bắt khi phá Thiên môn trận.
·         Dương thất tỷ: con gái của Lục sứ, còn chưa kết hôn.
·         Mã Tái Anh: vợ của Dương Diên Đức, rất giỏi sử dụng cây xích sắt chín vòng.
·         Cảnh Kim Hoa: tiểu danh Cảnh nương tử, vợ của Dương Diên Định, thích dùng đại đao.
·         Trùng Dương nữ: cũng là vợ của Lục sứ, giỏi dùng song đao.
·         Dương Thu Cúc: em gái của Dương Tôn Bảo, võ nghệ cao cường, bắn tên rất giỏi.
·         Mạnh tứ nương: Con gái nuôi Mạnh Linh Công ở Thái Nguyên, là vợ thứ của Dương Uyên Bình, có sức mạnh, thiện chiến, trong quân xưng là Mạnh Tú Nương.
·         Đổng Nguyệt Nga: vợ của Dương Diên Định, mắt tinh nhanh, có khả năng bách bộ xuyên dương.
·         Ức Lan Tú: vợ thứ của Dương Diên Định, rất giỏi thương pháp .
Lệnh Bà mừng nói: "Ta xem bọn mi đồng tâm hiệp lực thật là có thể đi chuyến này". Lập tức dặn dò chuẩn bị sẵn đao thương y giáp, Bát Nương, Cửu muội tự đi xếp đặt đầy đủ. Chuyện không có gì đáng nói.
Sáng sau, Lệnh Bà vào triều tâu: "Các con dâu của thần thiếp nghe Tông Bảo bị vây, ai nấy đều muốn dẫn quân đi cứu ứng, để lập công với triều đình, xin bệ hạ hãy chuẩn theo lời tâu của thần thiếp". Vua hỏi quần thần. Sài Ngọc tâu rằng: "Thần lo không có người ứng mộ, đang muốn thỉnh mệnh việc này. Bệ hạ xin hãy chuẩn tấu, chắc sẽ được thành công". Vua mừng rỡ nói: “Lệnh Bà nếu chịu cùng trẫm gánh vác cứu được về nguyên soái, trẫm sẽ khắc tên vào vàng đá, để biểu dương công lao của nhà họ Dương". Lệnh Bà tạ ân, vua thân tứ một cặp chén vàng, hạ sắc phong cho phu nhân của Dương Uyên Bình là Châu thị chức Thượng tướng quân, thống lĩnh 5 vạn tinh binh, tiến lên cứu ứng.
Sắc chỉ đã hạ, bọn Châu phu nhân ai nấy chuẩn bị đầy đủ đều xuất đường bái biệt Lệnh Bà khởi hành. Lệnh Bà nói: "Quân tình khẩn cấp, bọn các con nên đi gấp đến nơi. Phiên man tính rất ngoan cố, nếu biết có cứu binh tới, ắt sẽ thừa cơ đuổi đến. Các con phải cẩn thận, đừng phụ mệnh của chúa thượng, nay Tông Bảo bị vây đã lâu nên đã sai người báo cho biết, để cho hắn được an tâm. Mấy lời dặn dò, các con nên nhớ kĩ".
Châu phu nhân lĩnh mệnh. Ngay hôm đó, uống xong chén rượu tiễn hành, nổ một tiếng pháo, 12 viên nữ tướng đồng loạt xuất phủ, mỗi người cầm một loại binh khí, ngồi trên ngựa oai phong lẫm lẫm, đứng dưới cờ Bạch tạo quân uy gấp trăm lần. Tống Chơn Tông cùng quần thần đứng trên lầu thành quan sát, nói với các quan rằng: "Hôm nay trẫm xem Dương gia nữ tướng xuất binh, nhuệ khí ở trước quân, vượt xa so với các biên tướng vậy! Chuyến này nhất định thắng được giặc”. Sài Ngọc nói: "Thật đúng như lời bệ hạ nói". Rồi vua tôi lui về nghỉ .
Nói về quân mã Châu phu nhân rời khỏi Biện Kinh, lấy Lưu Thanh làm tiền tiêu, cuồn cuộn theo hướng Hùng Châu tiến phát. Lúc ấy trời vào tháng hai, gió êm nắng ấm, chỉ thấy:
Mã tự phi long thừa tử vụ,
Nhân như mãnh hổ trục trường phong.
Hạnh hoa thốc tị hành xung ổn,
Dã thủy thanh lưu cấp tế trung.
(Ngựa giống rồng bay cưỡi mây tía,
Người như cọp dữ thét gió vời.
Hạnh hoa thơm nức thơm bông nhụy,
Nước chảy mây trôi gấp đất trời).
Quân Tống đi được vài ngày, thấy cách Hùng Châu đã không xa, Lưu Thanh nói: "Gần thành là doanh trại của hai nước Tân La, Hắc Thủy, phu nhân nên đóng trại ở đây rồi bàn việc giao phong". Châu phu nhân nghe theo lời, hạ lệnh chia làm ba trại, sai Trùng Dương nữ, Cửu muội, Dương thất tỷ, Hoàng Quỳnh nữ, Đơn Dương công chúa, năm người dẫn 2 vạn quân đóng trại bên trái; Dương Bát Nương, Đỗ phu nhân, Mã Tái Anh, Cảnh Kim Hoa bốn người dẫn 2 vạn quân đóng trại bên , tự mình cùng Mộc Quế Anh, Đổng Nguyệt Nga, Ức Lan Tú, Mạnh tứ nương dẫn 1 vạn quân đóng trại ở giữa. Phân chia như vậy để lúc giao chiến thì cứu ứng lẫn nhau. Bọn Trùng Dương nữ được lệnh, tự dẫn quân chia ra đóng trại. Chuyện không có gì đáng nói.
Ở đây nói đến tin tức truyền vào trong trại Hân nguyên soái, Tam thái tử nói: "Nếu như viện binh đến chậm mươi ngày, tướng Tống đều đã bị trói, Hùng Châu sẽ bị phá trong sớm tối". Liền triệu Hân Kỳ vào thương nghị cách nghênh địch. Kỳ nói: "Thám mã về báo chúa soái của quân Tống toàn bộ đều là nữ tướng; Điều đó cho thấy nước họ đã hết tướng tài vậy. Nay quân họ chia làm ba đại doanh mà đóng quân, nếu chỉ đánh một trại, ắt hai trại kia sẽ dẫn quân đến cứu. Nay phải chia quân trước sau, lệnh Mạnh Tân cùng Bạch Thánh tướng hãy đến đánh trước, để xem động tĩnh của họ đã, sau đó mới dùng mẹo để phá". Tam thái tử nghe lời, lập tức phát thiệp báo với bọn Mạnh Tân. Mạnh Tân được lệnh, vui vẻ vâng lời, chỉnh điểm quân mã tiến đánh.
Bình minh hôm sau, bày trận ở nơi đồng cỏ bằng phẳng mà khiêu chiến. Doanh trại quân Tống: Cửu muội, Dương thất tỷ ra nghênh chiến. Cờ đỏ mở ra. Cửu muội ngồi trên ngựa chỉ tướng địch mà mắng rằng: "Loại chó man rợ kia! Hãy mau lui binh, tha chết cho mi. Nếu không giết ngươi không còn một mống". Mạnh Tân nổi giận, lập tức tế ngựa múa chùy sắt đến đánh. Cửu muội múa đao đón. Hai ngựa mới giao nhau, hai người đánh được vài hiệp. Mạnh Tân giả thua bỏ chạy, Cửu muội xua quân đuổi theo. Bách Hoa công chúa dẫn khinh kị từ bên cạnh xông vào, đánh với Cửu muội được vài hiệp. Bách Hoa lại thua chạy. Cửu muội không tha, quất ngựa đuổi theo. Công chúa chờ cho đến gần, lấy chùy lưu tinh xoay người lại ném, tin ngay vào con ngựa của Cửu muội, ngựa này bị đau, hất Cửu muội té trong trận. Bách hoa công chúa vừa muốn cơ đao chém xuống, không đề phòng bị Dương thất tỷ bắn một mũi tên trúng vào vai trái của Bách Hoa công chúa, lăn xuống ngựa. Tống binh xô đến bắt lấy. Mạnh Tân cố sức đến cứu. Lưu Thanh dẫn quân xông vào, quân nước Tân La thua to.
Mạnh Tân đơn mã chạy đến trại của Bạch Thánh tướng. Bọn Dương Cửu muội cũng thu quân về trại. Mọi người giải Bách Hoa công chúa vào trung dinh gặp Châu phu nhân. Phu nhân nói: "Hãy đem nhốt vào xe tù, chờ khi về sẽ xử”. Quân hiệu được lệnh, đem Bách Hoa công chúa nhốt lại, chuyện không có gì đáng nói.
Chợt nghe báo bộ lạc nước Hắc Thủy khiêu chiến, Châu phu nhân triệu tập hai trại đến thương nghị và hỏi: "Ai xuất trình nghênh địch?" Trùng Dương nữ ứng tiếng nói: "Tiểu tướng xin đi". Châu phu nhân nói: "Cần thêm một người làm phó tướng mới tốt". Mộc Quế Anh nói: " Con xin tương trợ ra đánh”. Phu nhân mừng rỡ, cấp cho hai người 1 vạn quân để đi. Trùng Dương nữ được lệnh, cùng Mộc Quế Anh dẫn quân giương cờ đi ra trước trận khiêu chiến.
 
0
Hồi Thứ Bốn Mươi Chín
[/align]

Đỗ Nương Tử Đại Phá Ma Đảng
Mã Tái Anh Hỏa Thiêu Trại Phiên


Bọn Trùng Dương nữ ra trước trận, vừa gặp tướng Phiên là Bạch Thánh tướng, giơ thương bay ngựa xông thẳng vào quân Tống. Trùng Dương nữ cử song đao hăng hái đến nghênh chiến, hai ngựa giao nhau, gầm thét như sấm, đánh được vài hiệp, Bạch Thánh tướng đuối sức quay ngựa bỏ chạy. Mạnh Tân nổi giận nói: "Đợi bắt tướng này, để báo thù cho em ta". Múa chùy vỗ ngựa, ngăn lại mà đánh. Mộc Quế Anh nhìn thấy, giương cung đặt tên, nhắm chuẩn tướng địch mà bắn, trúng ngay vào tim. Mạnh Tân theo tiếng tên mà ngã. Quân Tống thừa thế áp vào. Trùng Dương nữ đuổi kịp, phất đao chém Bạch Thánh tướng chết lăn xuống ngựa, quân Phiên bị giết chết một nửa, số còn lại quăng giáo bỏ giá, bỏ chạy về nước, bỏ lại quân nhu nhiều vô số kể. Trùng Dương nữ lại thắng một trận. Châu phu nhân hết sức mừng rỡ.
Tin tức truyền vào doanh Tây Phiên. Tam thái tử thất kinh nói: "Không ngờ lại có nữ tướng anh hùng như thế, liên tục thắng liền hai nước, lũ các ngươi ai dám lui địch”. Thúc Thiên Thần nói: "Điện hạ đừng lo, tiểu nhân lĩnh quân xuất chiến, tất chém được tướng Tống mà về". Tam thái tử cho đi, cấp cho 2 vạn tinh binh. Thúc Thiên Thần ra trận, ghìm ngựa giơ kích kêu lớn: “Tướng Tống ai mạnh hãy ra đánh, nếu yếu, thì hãy mau lui". Kêu chưa dứt tiếng, nơi Nam trận tinh kỳ mở ra. Một viên nữ tướng múa đao tế ngựa ra nghênh chiến, uy phong lẫm lẫm, xem lại thì ra là Cảnh Kim Hoa vậy. Chính là:
Trình uy duy trượng truy phong mã,
Trảm tướng toàn bằng Yến nguyệt đao.
(Ra oai chỉ cậy ngựa thét gió,
Chém tướng toàn nhờ đao nép trăng).
Mắng lớn rằng: "Phiên nô mau lui, đừng làm dơ đao của ta”, rồi lập tức bay ngựa tới chém Phiên tướng. Thúc Thiên Thần cử kích đánh lại, hai ngựa giao phong, hai người đánh ở giữa trận. Chính là:
Chinh vân điểm điểm càn khôn ám,
Sát khí man man nhật nguyệt hôn. -
Nghịch tặc cảm đương hào kiệt tướng,
Hoàn khan kim nhật định thâu doanh.
(Mây trận từng đoá mù trời đất,
Sát khí vùng vằng sao trăng mờ.
Giặc dữ dám ngăn tướng hào kiệt,
Sẽ xem nay sẽ quyết hơn thua).
Hai tướng kẻ đánh qua, người đánh lại, đánh được vài hiệp, Thúc Thiên Thần trá bại bỏ chạy. Cảnh Kim Hoa thừa thế đuổi theo. Thúc Thiên Thần dụ được quân địch vào trận, liền niệm đông yêu ngôn, cuồng phong nổi dậy, trời đất tối sầm, giữa trời vô số ma quân kéo đến. Cảnh Kim Hoa thất kinh quay ngựa chạy về. Quân Tống thua to một trận, bị chết vô số. Thúc Thiên Thần thu quân về trại.
Cảnh Kim Hoa chạy về trong quân, gặp Châu phu nhân nói lại những việc quái dị. Phu nhân nói: "Phương Tây thường có yêu đảng xuất hiện, có phép thuật như vậy ai dám xuất binh nghênh địch?" Đỗ phu nhân nói: "Thiếp thần xin đi bắt tên yêu nhân này". Mộc Quế Anh cũng xin cùng đi. Châu phu nhân vui mừng nói: "Các ngươi nếu có thể phá yêu thuật này, ắt công huân có thể lưu truyền ngàn đời" Lập tức cấp cho 1 vạn quân. Hai người dẫn quân xông ra, gặp ngay Thúc Thiên Thần đang ở trước trận dương oai khiêu chiến. Đỗ phu nhân vỗ ngựa lên trước, mắng lớn : "Yêu nhân chớ chạy?” Thiên Thần cười nói: "Đồ thứ bị thua trận, còn đến tìm cái chết ư!" lập tức múa kích tế ngựa xông thẳng vào trận Tống.
Đỗ phu nhân cử thương nghênh chiến, hai bên reo hò. Hai người đánh được vài hiệp. Thiên Thần trá bại lui chạy, dụ Đỗ phu nhân đuổi theo, rồi làm phép thuật, niệm lên câu chú, chợt thiên hôn địa ám, cuồng phong nộ khởi, trên không 49 Hắc Sát ma quân tay cầm kiếm bén bay xuống. Quân Tống kinh hoàng. Đỗ phu nhân giận nói: "Phép tà thuật của mi, chỉ có thể hù dọa được người khác, dám đùa cợt trước mặt ta sao!" Lập tức niệm bí quyết của Cửu Hoa chân nhân, một lát sau, sấm sét nổ vang, khắp trời đều là cầu lửa, đốt cháy hết đám ma quân, trời đất lại sáng lại. Quân Tống càng thêm hăng hái, kéo xông lên như sóng triều. Thiên Thần khí thế thất bại, sợ hãi cuống cuồng, vừa muốn quay người bỏ chạy, Mộc Quế Anh quăng phi đao lên, chém chết trong trận. Quân Phiên đi theo, đều bị giết sạch. Quế Anh muốn thừa thế đánh vào dinh Phiên. Đỗ phu nhân nói: "Hãy hồi binh cùng chủ soái bàn cách tiến đánh đã". Quế Anh liền thu quân về trại.
Lúc ấy bại quân chạy về báo với Tam thái tử, nói rằng: "Thúc Thiên Thần đã bị Tống tướng giết”. Tam thái tử nghe nói Thiên Thần thất thủ, dậm chân kinh hãi nói: "Thiên Thần có phép thuật thiện chiến vậy, nay còn bị chết bởi nữ tướng triều Tống. Thật đúng như người ta hay nói: Dũng tướng bất li trận thượng vong vậy. Khiến ta làm sao đây?” Hân Kỳ nói: "Thái tử chớ lo, vẫn còn quân mã của năm lũy vẫn chưa động, ngày mai bảo vệ điện hạ cùng người, thường quyết một trận thắng thua, liền rõ ngay mà!" Tam thái tử theo lời bàn, hạ lệnh toàn quân dốc hết ra mà đánh.
Thám tử báo về trong dinh Tống: "Người Phiên dốc hết toàn quân kéo đến, muốn cùng quân ta đại chiến". Châu phu nhân nghe tin báo, triệu tập nữ tướng bàn rằng: "Thắng thua nhờ vào trận này, có thể sai Lưu Thanh vào Kim sơn lồng báo trước với Tông Bảo, ước định ngày mai từ trong đánh ra, mới có thể đánh thắng được" Lưu Thanh lĩnh mệnh đi liền.
Châu phu nhân gọi Hoàng Quỳnh nữ vào nói : "Nàng dẫn 1 vạn quân giao chiến với họ, dụ địch đến dưới thành Hùng Châu, ta sẽ có quân tiếp ứng Hoàng Quỳnh nữ lĩnh mẹo đi làm. Lại gọi Đổng Nguyệt Nga vào nói: "Nàng dẫn 5000 quân mã, cùng Ức Lan Tú mai phục ở hai bên bờ hào, khi pháo hiệu nổ, thừa thế xông ra đánh giết". Ức Lan Tú cùng dẫn quân mà đi. Lại gọi Mã Tái Anh vào nói: "Nàng dẫn 5000 khinh kị mang theo vật dẫn hỏa, đợi khi giao chiến thì đến đột trại của họ". Mã Tái Anh lĩnh mệnh đi làm. Châu phu nhân sắp đặt xong, Hôm sau, nổi ba hồi trống, lệnh Đỗ phu nhân dẫn hậu quân tiếp ứng.
Trước tiên hãy nói về Hoàng Quỳnh nữ phi ngựa ra trước trận khiêu chiến, bên trận Tây, Hân Kỳ vỗ ngựa xông lên trước, tay cầm búa kêu lớn: "Tướng kia hãy mau lui mới giữ được mạng sống thừa, nếu cố đến đánh, sẽ khiến người không còn manh giáp". Hoàng Quỳnh nữ nổi giận nói: "Loài chó nhà ngươi đã bị quân ta chém chết gần hết, còn dám mạnh miệng ư?" Lập tức múa đao tới chém Phiên soái, Hân Kỳ múa búa nghênh địch. Hai bên chiêng trống vang lừng, tiếng reo hò ầm ĩ. Hoàng Quỳnh nữ trá bại bỏ chạy. Hân Kỳ xua quân đuổi theo. Gần đến hào thành, trong dinh Tống pháo hiệu nổ vang, Đổng Nguyệt Nga, Ức Lan Tú dẫn hai cánh phục binh xông ra, vạn nỏ cùng bắn. Phiên chúng rối loạn. Hân Kỳ biết bị phục binh, quay ngựa đánh về. Mộc Quế Anh dẫn quân xông vào giữa cắt đứt trận Phiên, quân của Tam thái tử không cứu ứng lẫn nhau được, khinh binh của Mã Tái Anh ập vào sau trận, phóng lửa đốt cháy.
Lúc đó, gió đông thổi mạnh, trong chốc lát khói lửa mù trời, cháy khắp dinh Phiên. Phiên kị báo rằng: "Quân Tống đã đốt doanh trại". Tam thái tử sợ đến hồn bay phách lạc, bỏ địch quân mà chạy trốn. Hân nguyên soái thấy thế bất lợi, miệng niệm tà chú, rút trong bụng ra các tấm bài thú dữ đưa ra giữa trời mà gõ, chợt một tiếng nổ vang lên, bốn phía bỗng có một bầy mãnh thú từ trong mây đen xông ra, toàn là sài lang, hổ, báo xông vào trong trận. Quân Tống ai nấy thất sắc, quay ngựa mà trốn. Đỗ phu nhân nhìn thấy trận Tống thất thế, liền niệm động chân ngôn, khắp trời lửa bay đỏ rực, đem bọn mãnh thú đốt cháy tan tác, quân Phiên quăng giáo bỏ giáp mà trốn, thật giống như gió quét tan mây, sương rơi lá rụng.
Hân nguyên soái cố chết đánh ra khỏi trùng vây, đang bỏ chạy bị Dương Thu Cúc giương cung bắn cho một phát, vào ngay vào mắt trái của Hân Kỳ, chết lăn xuống ngựa.
Lúc ấy trong Kim sơn lồng, bọn Tông Bảo nhìn thấy lửa cháy, Lưu Thanh liền dẫn quân xông ra. Hồ Diên Hiển hăng hái xông lên trước, gặp ngay Giang Giao, giao ngựa chỉ một hiệp, đâm chết xuống ngựa. Quân Phiên bị giết hơn phân nửa. Mộc Quế Anh, Hoàng Quỳnh nữ hai người xông thẳng đến chân núi Kim sơn, cùng Tông Bảo hợp quân làm một, rồi thừa thế đánh giết khiến quân Phiên thây chết đầy đồng, máu chảy đầy sông, đoạt được trâu, ngựa, quân nhu đếm không xuể. Có thơ làm chứng:
Tứ diện can qua chiến trận liên,
Dương mơn dũng tướng định Trung Nguyên.
Phiên nhân khí giáp phao qua thuẫn,
Chính thị anh hùng hiệu lực niên.
Quân Tống đã thu được toàn thắng, duy chỉ có Hồ Diên Đạt là bị quân Phiên giết. Châu phu nhân đóng quân mã ở dưới thành, tự mình cùng Tông Bảo vào trong phủ tương hội. Tông Bảo nói: "Nếu không nhờ các bác, các thím đồng tâm thắng địch, Tông Bảo suýt nữa thì nguy, trận này đủ để rửa mối nhục bị vây". Châu phu nhân nói: "Thánh thượng vì cháu bị vây, không có người dẫn quân đến cứu, Lệnh Bà thì suốt ngày lo sợ, chúng ta đành phải đến đây cứu ứng, không ngờ tiêu diệt được quân địch vậy". Tông Bảo nói: "Cơ hội khó có lần nữa, chi bằng hãy thừa thế quân ta đang như chẻ tre, đánh thẳng đến đó, bắt lấy quốc vương đem dâng. Ngàn năm một thuở, không thể để mất được". Châu phu nhân nói: "Chuyện ở bên ngoài, lệnh vua có thể không theo. Chỉ cần có lợi cho nước nhà, thì cứ làm có gì mà ngại. Ý ta cũng muốn như thế”. Lập tức hạ lệnh tiến binh đến lấy thành Liên Châu. Mọi người được lệnh, ai nấy chuẩn bị để khởi hành. Bình minh hôm sau, ba quân hướng về Tây Phiên mà tiến.
Lúc ấy, Tam thái tử theo đường nhỏ mà chạy về, tâu với Lý Mộc vương: “Hân nguyên soái cùng quân mượn ở hai nước, toàn bộ đều bị nữ tướng của Trung Quốc giết sạch, quân mã sẽ tiến nhanh mà đến đánh Liên Châu trong nay mai". Mộc vương nghe xong, thần hồn bay mất, vỗ án ân hận nói: "Sớm không nghe lời Kha thừa tướng, mới có tai họa của ngày hôm nay".
Nói chưa xong, quân vào truyền báo: "Quân Tống đã vây thành Liên Châu thành ba vòng, giọt nước cũng lọt”, Mộc vương hạ lệnh các bộ lạc giữ vững thành trì, cùng văn võ thương nghị cách nghênh địch. Kha Bạch Tiên tâu rằng: "Quân Tống thanh thế rất thịnh, đại tướng của ta đều bị tiêu diệt, hôm nay ai dám ra đánh nữa?" Vương chưa trả lời, chợt sau rèm châu, một người tâu rằng: "Tiểu thiếp xin dẫn quân để lui quân Tống”. Mọi người nhìn lại, thì ra là Vương trưởng nữ Kim Hoa công chúa vậy. Mộc vương nói: "Chỉ e mi không phải là địch thủ của người Tống". Công chúa nói: "Con lúc nhỏ từng học võ nghệ, sao lại tự làm nhụt ý chí của mình? Con nếu cùng họ giao phong, tự có cách phá họ". Vương chuẩn tấu, cấp cho 2 vạn quân. Công chúa lĩnh mệnh, hôm sau dẫn quân mở cửa Tây xuất chiến.
 
0
Hồi Thứ Năm Mươi
[/align]

Dương Tông Bảo Bình Định Tây Hạ
Thập Nhị Phụ Đắc Thắng Hồi Triều


Nói về Kim Hoa công chúa ra tới ngoài thành, gặp ngay nữ tướng quân Tống là Dương Cửu muội, hai trận bày đối nhau. Công chúa nói rằng: "Tống binh không biết thời thế, đi sâu vào trong đất ta, hãy mau lui về, tránh bị tàn sát". Cửu muội nổi giận nói: " Lũ giặc đáng chết, còn không đầu hàng, lại dám đến đánh nhau ư?". Lập tức múa đao tế ngựa đánh vào trận Phiên. Công chúa cử thương nghênh chiến, hai ngựa giao nhau, đánh được vài hiệp.
Đao pháp của Cửu muội từ từ loạn, thua trận bỏ chạy. Công chúa cố sức đuổi theo, trên thành tiếng reo vang lừng. Dương thất tỷ thấy vậy công chúa truy bức Cửu muội, vội giương cung bắn một phát, đáng thương thay, Kim Hoa công chúa hồn về âm phủ. Quân Tống ập vào quân Phiên bị giết chết vô số, chỉ có một nửa chạy thoát vào thành báo với Mộc vương: "Kim Hoa công chúa ra trận đã bị bắn chết”. Mộc vương bàng hoàng hết cách, ăn ngủ đều bỏ.
Được hai ngày, quân Tống đánh thành rất nguy cấp. Võ tướng Trương Vinh tâu rằng: "Chúa công đừng lo quân mã trong thành vẫn còn 4 vạn, lương thảo đủ dùng trong một năm. Tuy quân Tống cường thịnh, nhưng từ xa đến lương thảo ắt không đủ. Thần xin dẫn quân ra thành đánh một trận, nếu có thể lui địch, đó là phúc của chúa thượng, nếu không thể thắng, vua tôi ta sẽ dựa vào thành mà thủ, đó cũng là kế lâu dài vậy". Vương chuẩn tấu liền hạ lệnh Trương Vinh xuất binh.
Trương Vinh, người tộc Khương, có sức khỏe, dùng một thanh đại đao, lên trận múa như bay, trong quân tặng hiệu là Thiết tí tướng. Hôm đó, lãnh mệnh vua, hôm sau dẫn hai vạn quân, ra thành nghênh chiến. Trong Nam trận, một viên nữ tướng cưỡi ngựa xông lên trước đó là Đơn Dương công chúa, kêu lớn: "Phiên cẩu còn không dâng thành, lại dám đến kháng cự sao?” Trương Vinh không thèm trả lời, múa đao vỗ ngựa tới đánh. Hai ngựa giao nhau, đánh chưa được vài hiệp, Trương Vinh giả thua, men theo thành mà chạy. Đơn Dương công chúa cố sức đuổi theo. Trương Vinh chờ cho đến gần, quay người quật lại một đao. Công chúa lanh mắt, nghiêng người tránh được, nhưng ngựa thì té lăn ra đất. May được Đỗ phu nhân vội giơ phi đao, nhấm chuẩn Trương Vinh phóng đến, tin ngay sườn bên trái, chết lăn xuống ngựa. Quân Phiên bị giết chết vô số, tiếng xin hàng chấn động núi đồi. Trận này đủ thấy khả năng cứu ứng lẫn nhau của Dương gia nữ tướng vậy. Có thơ làm chứng:
Thành hạ anh hùng thế lực tranh,
Nhất thời thất toán đảo tiền chinh
Địch nhân mạc bảo tu dục từ,
Phương hiển Dương môn hộ cứu binh.
(Găng nhau sức mạnh dưới chân thành,
Lầm lỡ một thời vấp ngã nhanh.
Kẻ địch nếu chẳng chết khoảnh khắc,
Mới biết họ Dương còn viện binh).
Ở đây nói đến quân Phiên ở trên thành nhìn thấy Trương Vinh tử trận, báo vào trong thành. Mộc vương vô cùng lo lắng, muốn tính cách tự vẫn. Tả tướng Kha Bạch Tiên tâu rằng: "Vua Tống khoan nhân đại độ, kẻ hàng ai cũng được phong tước, còn kẻ chống lại thì tự tìm cái chết. Nay quân Tống đóng ở dưới thành, thành bại đã rõ, chúa công sao không sai sứ xin hàng, dâng lên bản đồ hộ tịch, hàng năm xin nạp cống vật, sẽ không mất ngôi vị chủ một nước, đó là đại kế vậy. Sao lại theo cách của đàn bà, tự treo cổ nơi giếng, để ngoại quốc chê cười ư? Xin chúa thượng hãy suy xét”. Mộc vương trầm ngâm hồi lâu, liền nói: "Tống vận đang hưng thịnh đành theo lời tâu của khanh". Lập tức hạ lệnh cắm cờ hàng trên thành.
Hôm sau, sai người mang văn thư xin hàng đến dinh Tống. Châu phu nhân đang ngồi trong trướng cùng mọi người thương nghị việc Tây Phiên đến hàng, chợt có người báo: "Phiên vương sai sứ đến xin đầu hàng" Dương Tôn Bảo lệnh cho vào. Sứ thần vào trước trướng, cho biết ý muốn quy thuận của chủ mình. Tông Bảo do dự chưa quyết. Trịnh Văn nói: "Tây Phiên vốn là đất xa xôi hẻo lánh, lấy cũng vô ích. Con người thì ngoan cố, khó theo mà sai bảo. Nguyên soái chính nên ưng cho hàng, để tỏ rõ đức độ vỗ về người nơi biên ải xa xôi của thánh thượng vậy”.
Châu phu nhân theo lời phê vào thư cho sứ giả, hồi tấu Mộc vương. Vua tôi Mộc vương vô cùng vui mừng. hôm sau, thân dẫn văn võ, mở thành nghênh tiếp. Dương Tôn Bảo vào trước, thấy vua tôi Tây Phiên lạy phục bên đường. Tông Bảo kính trọng ông ta là chủ của một nước, đỡ dậy sánh vai vào trong cung. Các bộ lạc đều bày hương án đèn hoa nghênh đợi. Mộc vương đứng ở thềm điện thỉnh tội. Tông Bảo nói: "Thiên tử ta nhân ái quốc quân nay đã quy hàng, nếu như hết lòng không có ý khác, ắt không mất tước vị cũ vậy". Mộc vương xưng tạ.
Hôm ấy trong cung bày yến tiệc to. Châu phu nhân dẫn 12 viên nữ tướng bình đô úy vào cung. Mộc vương bái kiến xong. Châu phu nhân úy dụ cũng hậu. Chúng tướng theo thứ tự mà ngồi, trong cung nhạc nổi trống đánh, Phiên quan dâng tiệc, Phiên nữ tấu nhạc. Mọi người hết sức vui vẻ, đêm khuya mới tan. Tông Bảo án doanh ở trong thành, còn bọn Châu phu nhân đóng ở ngoài thành.
Lại qua mấy ngày, các nơi khác đều đã yên. Tông Bảo liền bàn việc ban sư, báo cho các doanh trại được biết. Ba quân một lệnh, liền chuẩn bị khởi hành. Mộc vương tặng Tông Bảo hai sợi đai bằng da tê giác, các thứ trân châu kỳ ảo vô số. Tông Bảo chỉ nhận dây đai, còn các đồ khác để lại dâng vua, rồi lệnh thả hết tướng soái bị bắt trên trận, duy có các công chúa là giải vào Trung Quốc. Hôm ấy, trung quân đã rời Liên Châu. Vua tôi Tây Phiên tiễn hơn 10 dặm mời từ biệt. Ban sư tướng sĩ, chia làm tiền, hậu đội mình. về, quân uy hưng phấn, bốn biển khâm phục. Có một bài từ làm chứng:
Nghe rằng thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không bằng nhân hòa. Việc binh là hung hiểm, đánh chém là trái với đạo đức. Thánh nhân vì thế không nói đến. Nghiêu Thuấn không nỡ mà dùng. Nay vì Tây Phiên làm loạn, binh giáp gây nhiễu nơi đất Hùng Châu. Hoàng thượng nổi giận, phất cờ ra quân khỏi Biện thành. Mây chiến tranh rũ xuống, sát khí đằng đằng. Liên hoàn trận lũy, thế như là núi cao; Đồ quân nhu khí giới, nhiều như là vảy cá. Tiếng trống, tiếng chiêng, xe rương khắp đất. Lục sứ hăng hái tiến lên, ba quân cố sức mà đánh. Trận chiến ở Kim sơn, bị vây nơi Cai hạ, khiến các quả phụ nơi phòng khuê, đảm nhận chức quyền ngoài trận tuyến. Châu nữ soái mưu việc chinh phạt ờ trong trướng, Dương thất tỷ phá trận kiên cố ở trước núi. Chém tướng nhổ cờ, duy ngưỡng mộ Đơn Dương công chúa. Gọi gió kêu mưa, giỏi nhất là Đỗ thị phu nhân. Mã Tái Anh có tài tiến lên trước bắt giặc, Cảnh Kim Hoa ra sức chém giết mà cứu nhau. Vận song đao, Hoàng Quỳnh nữ trong quân khó người thắng, bắn tên thần, Đổng Nguyệt Nga dưới trại không hai người. Ức Lan Tú thương pháp lấy thủ cấp người Phiên. Trùng Dương nữ phi đao chém đầu lâu địch tướng. Mạnh tứ nương anh hùng khó sánh. Dương Thu Cúc khí thế siêu quần; Mộc thị Quế Anh tỏ tài năng bách bộ xuyên dương, Bát Nương Cửu muội nhân cơ hội đồ nghiệp vương bá. Trời sinh hào kiệt, đất tụ tinh linh. Đánh nhau nơi cõi Tây, Thúc Thiên Thần đổ cờ táng mạng, Quân uy mãnh đồng loạt tiến. Hân nguyên soái té ngựa vong thân. Giết quân Phiên như quét mây mù, chém man di như nhặt lá rụng. Phiên vương xin hàng, biên cảnh tranh nhau đón. Ban sư hát khúc ca Dương liễu, Hồi lữ vang tiếng nhạc ngựa reo. Chao ôi xiết bao vui vẻ! Vân Tống rực rỡ, Uy võ truyền khắp vạn phương, Dương môn phẫn dũng, tiếng anh hùng lưu danh ngàn đời.
Đi được vài ngày đã thấy cách Biện Kinh không xa. Vua tôi nhà Tống đã sớm biết tin báo tiệp, vua liền sai Sài Ngọc cùng một bọn quan văn ra thành nghênh tiếp. Tông Bảo nhìn thấy Sài Ngọc tới, xuống ngựa thăm hỏi. Sài Ngọc tới gần, đỡ Tông Bảo lên ngựa, sánh bước vào thành. Hôm sau, vào triều kính Chơn Tông. Chơn Tông vỗ về rằng: "Khanh vì trẫm mà bôn ba gió bụi đường xa, thành công thật không dễ" Tông Bảo dập đầu tâu rằng: "Thần nhờ hồng phúc của bệ hạ, bình định Tây Phiên đã lấy bản đồ về dâng gồm có: 14 thuộc châu, 200 huyện, hộ khẩu 1 vạn 2 nghìn, thuế thô 400 thạch, là trân dị vật hơn 30 xe". Mặt rồng vui vẻ, cho đem toàn bộ tù binh đều giao Vô nịnh phủ xử trí. Và nói với quần thần rằng: "Dương môn nữ tướng đều có công với triều đình, trẫm nên luận công thăng thưởng, để biểu dương lòng trung". Sài Ngọc nói: "Đó là thịnh điển của quốc gia, phải nên ban hành". Vua liền giáng sắc, gia phong Dương Tôn Bảo làm Thượng trụ quốc đại tướng quân, bọn Hồ Diên Hiển đều phong làm Điển Cấm Tiết độ sứ, Châu phu nhân là Trung Quốc Phó tướng quân; bọn Bát Nương, Cửu muội đều phong làm Dực vận phó tướng quân. Bèn lệnh cho Hữu ty thết đại yến nơi nội đình, khao thưởng tướng sĩ chinh Tây. Chiếu chỉ hạ xuống. Bọn Dương Tôn Bảo đều lạy thụ mệnh. Hôm ấy phân ban mà ngồi. Vua tôi vui vẻ lui về nghỉ.
Hôm sau, Tông Bảo tạ ơn về Vô nịnh phủ, cùng bọn Châu phu nhân tham kiến Lệnh Bà. Lệnh Bà vô cùng mừng rỡ, liền đem Bách Hoa công chúa gả cho Dương Văn Quảng làm vợ, lúc ấy Văn Quảng được 15 tuổi. Rồi dặn dò mở tiệc ăn mừng các nàng dâu giải giáp, mọi người theo ngôi thứ ngồi uống rượu tới khuya mới tan. Duy còn Lệnh Bà ân điển, cho đến khi Dương Văn Quảng chinh phục phương Nam xong mà được thọ phong vậy. Từ đó bốn phương yên bình, biển không gợn sóng, giang sơn nhà Tống an hưởng thái bình.
Chỉ thượng phong lôi bách chiến công,
Thùy tướng lầu các giá hư không.
Liêu vong bất tự Đổng Khu Mật.
Đàn chiến hà tư Khấu Thái công
Hổ sĩ tham thiên phòng bắc tái,
Nga mi thập nhị sự Tây nhung.
Tổng duyên trung tiết Dương vô địch,
Tả chiếu bại cung dã sử trung.
(Gió mưa gầm thét chiến công nhiều,
Ai đem lầu gác vẽ mộng xiêu.
Liêu mất đâu vì Đổng khu mật,
Xui đánh nào do Khấu Chuẩn trêu?
Tướng cọp ba ngàn nơi ải bắc,
Nga Mi mười hai thờ giặc kiêu.
Tóm lại họ Dương vô địch ấy,
Đáng ghi vào sử để noi theo).
 
0
Phụ Lục
[/align]

Chú Giải Nhân Danh, Địa Danh, Diễn Cố Và Thuật Ngữ Hán Việt (Tóm lược)


– Bắc Hán: Một trong mười nước thời Ngũ Đại. Năm 951, Quách Uy nhà Hậu Chu sau khi diệt nhà Hậu Hán, em của Hậu Hán Cao Tổ Lưu Trí Viễn là Tiết độ sứ Hà Đông Lưu Dân xưng đế ở Tấn Dương, quốc hiệu là Hán, sử gọi là Bắc Hán, nằm ở vùng Bắc bộ tỉnh Sơn Tây và Thiểm Tây ngày nay, và một bộ phận đất Hà Bắc, truyền được bốn đời vua là Lưu Quân, Kế ân, Kế Nguyên và bị nhà Bắc Tống diệt vào năm 979.
Trung Quốc: Chỉ Tống triều, Hồi thứ 3 dùng chữ "Trung triều” cũng với nghĩa như vậy.
Tương Châu: Tên Châu, thuộc vùng Sơn Tây Khúc Ốc, Tắc Sơn, Tân Giáng Giáng huyện, Hằng Khúc, Văn Hỷ ngày nay.
Đem tửu lê tương đãi: Tức là bày tiệc khoản đãi. Lễ là loại rượu ngọt, ủ trong một đêm.
Năm thứ bảy Khai Bảo: Năm 944 CN. Khai Bảo là niên hiệu thứ 3 cũng là niên hiệu cuối cùng của Tống Thái Tổ Triệu Khương Dẫn (927-976)
– Đoàn luyện sứ: là một chức quan. Đây là hàm quan võ đời Tống, cao hơn Thứ Sử, thấp hơn Phòng Ngự Sứ.
Vận Châu: Tên châu, địa hạt nằm ở vùng Đông Bắc bộ địa khu Hà Trạch (Sơn Đông ngày nay), Phủ lị nguyên ở Vạn An (nay thuộc Vận thành), đến đời Tống dời đến Tu Xương (nay thuộc Đông Bình)
– Đề hạt: Đời Tống ở các châu quận đặt chức quan này, chuyên quản lí thống lĩnh quân đội, huấn luyện dạy dỗ, truy bắt trộm cướp.
Tịnh Hiên: Tác giả sách này tự xưng.
Đẩu Ngưu: Chòm sao Đẩu và sao Ngưu trong nhị thập bát tú, ý của cả câu là chí khí cao ngưỡng thấu trời mây.
– Hạ Lan sơn: thông thường là chỉ ngọn núi cao ở vùng giáp giữa Tây Bắc - Ninh Hạ và Nội Mông. Ngọn núi chính nằm ở huyện Hạ Lan, Ninh Hạ. Nhưng ngọn núi nói ở đây lại chỉ một ngọn núi thuộc huyện Từ - Hà Bắc ngày nay, dài khoảng 10 km, gần với Thái Hành sơn.
Tây Kinh câu lan: Tây Kinh, đời Tống lấy Lạc Dương gọi là Tây Kinh, còn nhà Liêu thì lấy Đại Đổng làm Tây Kinh. Câu lan: Đời Tống, Nguyên là chỉ nhà diễn kịch tuồng, sau này cũng là chỉ kĩ viện.
– Phác đao: Binh khí kiểu xưa, hẹp dài và có chuôi ngắn, sử dụng bằng hai tay.
Nai nịt đầy đủ: Tức là mặc giáp đội mũ. "Toàn trang quán đái" tương đương với cách nói hiện nay là "Vũ trang tận răng” . Hồi sau thì nói là "Toàn thân nai nịt"
– Hoa Lưu: Tuấn mã màu đỏ.
Tế. Tạ ơn thần linh.
Uất Trì Công: Tức Uất Trì Cung (585 - 658), tự Kính Đức
– Khiêu chiến: thách đánh.
– Xiện: tội lỗi, sai lầm
– Hổ thẹn: Xấu hổ. Noãn: do xấu hổ khiến đỏ mặt.
Yên: Mai một, không có danh tiếng.
Tiêu Thái hậu (953 - 992): Tên là Xước, tự Yến Yến, hoàng hậu của Liêu Cảnh Tôn. Sau khi con là Gia Luật Long Tự lên ngôi, được tôn làm Thái Hậu, nắm quốc chính.
Triệu Phổ: (922 - 992): Tự Tắc Bình, thời Hậu Châu làm mạc liêu của Triệu Khương Dẫn, vạch ra kế hoạch binh biến ở Trần Kiều, giúp đoạt chính quyền. Sau làm tể tướng, phong tước Ngụy Quốc Công.
Phan Nhân Mĩ: Phan Mĩ (925 - 991) tên tự Chủng Tuần, người Đại Danh. Thời Tống sơ làm đại tướng, sau phụ trách phòng bị mặt Bắc.
Lộ Châu: tên châu, địa hạt tương đương Trừng Tri, Võ Hương, Tương Viên, Thanh huyện, Lê thành, Đôn lưu Bình Thuận, Trường Tử, Hồ Quan thuộc tỉnh Sơn Tây ngày nay và địa khu nhiếp huyện Hà Bắc.
– Dịch Châu: Tên châu, địa hạt tương đương Đông Nam bộ Sơn Tây ngày nay gồm: Thanh Thủy, Dương Thành, Tấn Thành, Cao Bình, Lăng Xuyên...
Tê: Tặng, ban thưởng. Hồi sau "Tê" hiểu là "Giữ”
"Quân mệnh triệu, bất sĩ giá nhi hành": Đó là lời của Khổng Tử trong "Luận ngữ”. Sĩ: Chờ đợi; Giá: Đóng ngựa cho xe.
Lai: Tặng, cho.
Chi: Chén rượu thời cổ có dung lượng 4 thăng.
– Thế Tông : Sài Vinh (921 - 959), người Kinh Châu - Long Cương, con nuôi Quách Uy. 954 lên nối ngôi Quách Uy. Lúc tại vị cải cách tiền tệ, phế bỏ chùa chiền tượng Phật, chỉnh đốn quân sự, khích lệ sản xuất nông nghiệp, mở rộng lãnh thổ, đặt nền móng thống nhất đất nước cho nhà Bắc Tống.
– Độ: Suy nghĩ, đánh giá.
Cáo mệnh: Đế vương phong kiến dùng văn thư này để phong tặng, có cách thức cố định và con dấu chuyên dụng.
Tiêu: Đả tiêu; lập đàn tụng kinh làm pháp sự.
Trần Kiều: Trạm Trần Kiều, nay thuộc Khai Phong. Năm 959 CN, Hậu Chu điện tiền đô kiểm điểm Triệu Khương Dẫn phát động cuộc binh biến tại đây, lật đổ nhà Châu xưng đế, lập nên triều Tống.
– Hai câu "Tuyết dạ...": Triệu Khương Dẫn muốn củng cố sự thống trị của mình, đội tuyết ban đêm đến hỏi mưu thần Triệu Phổ, định kế trên yến tiệc dùng quan cao lộc hậu làm điều kiện giải trừ binh quyền của một loạt tướng lĩnh. Nên mới có câu: "Chén rượu giải binh quyền" lưu truyền.
Quynh: Sáng láng.
Chúc: Gửi gắm.
Sách: Đỡ, khiêng
– Sai trì: Không chỉnh tề.
Tôi: Chỉ dùng thuốc độc thoa lên trên hình cụ.
Tâm thường dạng: lòng luôn luôn thấy bất mãn.
– Thâu trung: Biểu thị lòng trung.
– Mi: Dập tắt, tiêu trừ.
Chuyện Du khoa Viên của triều trước: Lý Thế Dân đánh nhau với Vương Thế Sung tại Hà Nam. Một ngày nọ, bị một con "Chim phượng” hấp dẫn, đuổi theo và đụng phải binh mã của Thế Sung. Thế Dân bắn chết đại tướng giặc là Yến Y. Đơn Hùng Tín đuổi Thế Dân chạy đến Ngũ hổ cốc khẩu, muốn giết để báo thù. Lúc ấy Uất Trì Kính Đức đuổi đến, đánh chạy Đơn Hùng Tín. Thế Dân được cứu.
– Sản Mã: Là ngựa không có thắng yên. ở đây chữ Sản dùng như động từ, tức là cưỡi lên ngựa không yên.
Khởi cư bia: Là tấm bia để thỉnh an vua. "Khởi cư” nguyên nghĩa là nghỉ ngơi, nói rộng ra là hỏi thăm, thỉnh an.
Tào Bân (931 - 999): Tên tự là Quốc Hoa, người Chân Định Linh Thọ (nay thuộc Hà Bắc). Thời Tống Thái Tổ làm đô giám, tham gia diệt nhà Hậu Thục. Năm thứ 7 Khai Bảo (974) làm thống soái diệt Nam Đường. Năm tiếp thì phá thành Kim Lăng. Đầu triều vua Thái Tôn tham dự quyết sách diệt Bắc Hán. Quan làm đến Khu Mật sứ.
– Hoài Châu: Đất Bắc Ngụy, trị sở ở Dã Vương (nay thuộc thanh dương - Hà Nam). Bắc dựa núi Thái Hành, nam đến sông Hoàng Hà, là một yếu địa quân sự ở mặt Bắc của Lạc Dương.
Long phi: Nói ví dụ việc đế vương hưng khởi hoặc lên ngôi.
Lục hợp: Trên, dưới và Đông, Tây, Nam, Bắc, nói rộng ra chỉ gồm thiên hạ hoặc vũ trụ
– Thứ: Đến, dừng
– Tiểu khả: Tự xưng một cách khiêm tốn.
Nha tướng: quan võ cấp thấp.
– Nguyên văn là Điệp: Là một khúc tường thành thấp một lồi một lõm.
Sắc thư: Là chiếu thư mà hoàng đế xuống cho triều thần. Sắc, chiếu lệnh.
Cản: Đòn gánh. Cản đao là một loại đại đao có cán dài. Ở hồi 16 gọi là "Đại cản đao”
Hoàng Sào (? - 884): Người Tào Châu Oan Cú (nay là Sơn Đông - Hà Trạch), là lãnh tụ của khởi nghĩa nông dân cuối đời nhà Đường.
Vương Ngạn Chương (863 - 923): Tên tự Hiền Minh, người Thọ Trương. Lúc trẻ tùng quân, theo Chu ôn đi đánh các nơi, nổi tiếng kiêu dũng, được hiệu là "Vương thiết thương” , quan phong Khai Quốc Hầu, Phó chiếu thảo sứ mặt Bắc, đánh với Nam Đường thua trận bị bắt giết.
– Tiễn bác: Lột bỏ y phục, giày vớ, khiến cho lưng trần, chân trần.
Tiễn: chân trần
– Thượng thủ: Thông thường quen chỉ vị trí bên trái. là Thượng thủ, bên phải là Hạ thủ.
Yểm hữu: Chiếm cứ, sở hữu nguyên nghĩa là che phủ.
Duy: là một trợ từ trong cách hành văn, không có nghĩa thực, đặt ở đầu câu hoặc giữa câu.
Bế hạnh: người được sủng ái. Bế: sủng ái.
Hà trâu: nơi xa xôi xó xỉnh. Hà: xa xôi; Trâu: xó xỉnh, chân núi
Cấu trung: Phạm vi mà tên bắn tới được, ở đây ví như cạm bẫy hoặc tròng.
Kích tiết: đánh nhịp, biểu thị sự đắc ý hoặc tán thưởng.
– Điều viễn: tức xa xôi. Điều: xa xôi, hẻo lánh.
Tam biên: Vào đời Đường, U châu, Bính châu, Lương Châu là đất ở biên cương, gọi chung lại là tam biên. Sau cũng dùng để chỉ nghĩa rộng là đất nơi biên cương
– Ẩn kỉ: dựa vào ghế. Ẩn tức dựa tựa vào
– Nhâm quý thuộc Bắc: Học thuyết ngũ hành thời cổ lấy thiên can phối thuộc năm hướng: Giáp Ất là Đông, Bính Đinh là Nam, Mậu Kỉ là Trung ương, Canh Tân là Tây, Nhâm Quý là Bắc.
Điếu dân: An ủi dân chúng phải chịu khổ. Điếu: Vỗ về an ủi .
Xan: Thời xưa dùng bốn con ngựa kéo xe. Hai con ngựa đóng ở hai bên xe gọi là Xan.
Dịch Châu: Trị sở ở huyện Dịch ngày nay, địa hạt tương đương trong trường thành ở phía Nam, An Tân, Mãn thành phía Bắc, Nam Cự, Mã Hà ở Tây thuộc tỉnh Hà Bắc ngày nay, là cửa vào của địa khu Hà Bắc. Thời Ngũ đại và đầu đời nhà Tống, thường phát sinh chiến tranh ác liệt với Khiết Đan tại đây.
Trác Châu: Trị sở ở Phạm Dương (nay thuộc Hà Bắc Trác Châu), cảnh giới tương đương với Trác Châu, Hùng huyện và Cố An huyện ngày nay. Niên hiệu Ung Hy năm thứ 3 (986). Gia Luật Hưu Ca đánh bại Tào Bân ở đây.
Định Châu: Trị sở ở huyện Định - Hà Bắc ngày nay, địa hạt tương đương Mãn thành ở Nam, An Quốc, Hiểu Dương ở Tây. Tỉnh Kinh, Cảo Thành, Hoạch Lộc là Bắc các địa khu nay thuộc Hà Bắc.
Bài thơ này trích trong tập "Kỉ Hợi Tuế” của thi nhân cuối đời Đường là Tào Tùng, miêu tả sự ác liệt của chiến tranh. Tiều là người đốn củi, Tô là cắt cỏ. Nghĩa rộng của tiều tô là chỉ công việc nặng nhọc. Bằng có nghĩa là xin.
Phúc đới chi nhân: Vốn là chỉ ân đức của đất trời nuôi dưỡng vạn vật, ở đây mượn dùng để chỉ ơn vua.
– Bại nữu: chiến bại. Nữu: chảy máu, chảy máu cam
– Toại Thành: Trị sở nằm ở phía Tây Từ thủy - Hà Bắc ngày nay. Tống Chân Tông Cảnh Đức nguyên niên (1004), Dương Diên Chiêu giữ thành này, quân Liêu vây đánh hơn trăm trận không hạ được, do đó còn được gọi là "Thiết Toại thành".
– Hám vi: tức là đứng nhìn quân Liêu bị vây. Vây: Chỉ giữ một góc thành.
– Ninh ngả chí nhân: Tự mình an ổn, để người ở bên ngoài đến quy thuận. Chí: thu phục.
Địa dư: Thổ địa, đất.
– Võ Thắng quân tiết độ sứ: Võ thắng là tên đất, nay thuộc phía Đông Tứ Xuyên, hạ lưu sông Gia Lăng. Tiết độ sứ ở thời Tống chỉ là hàm tượng trưng, không có thật quyền.
Khấu Chuẩn (961 - 1023): Tự là Bình Trọng, người Hoa châu Hạ Phong (nay là Thiểm Tây - Hoài Nam) xuất thân tiến sĩ, trải thờ Thái Tôn, Chơn Tôn hai triều, từng hai lần làm thừa tướng. Nhân Tôn truy phong Thái Quốc Công, Ích Trung Mẫn.
Trần Đoàn (? - 989): Tự là Đồ Nam, người Chân Nguyên Bác Châu (nay thuộc Hà Nam Lộc Ấp), là đạo sĩ thời Ngũ Đại và đầu Tống.
Trường Hưng: Niên hiệu của hậu Đường Minh Tông (năm 930 - 933 CN)
Phục khí tịch cốc: phục khí nghĩa là phương pháp hô hấp dưỡng sinh. Tịch cốc: Không ăn hoặc về cơ bản là không ăn ngũ cốc. Đều là phương phấp tu luyện của Đạo giáo.
Bồ (nguyên văn): tụ tập uống rượu.
Nghiêm yên (nguyên văn): điển lễ tế trời vào mùa Đông.
– Man Mạch: Nghĩa rộng chỉ một số dân tộc khác ở biên giới. Man nguyên là chỉ dân tộc phía Nam thời xưa, Mạch: thời xưa dùng chỉ các dân tộc vùng Đông Bắc.
Xuyên dương: Trong "Chiến quốc sách - Tây Chu" ghi: "Nước Sở có Dưỡng Do Cơ, bắn rất giỏi, cách trăm bước bắn lá cây liễu, bách phát bách trúng” thường dùng để hình dung sự thiện xạ.
Tân ta bất dự. gần đây mắc bệnh vẫn chưa khỏi.
Yết nô: cách gọi khinh miệt đối với các dân tộc ở biên giới phía Bắc. Yết là một chi của Hung nô, cư trú ở đất Đông Nam bộ Sơn Tây ngày nay.
Hoàn Châu: Trị sở ở Sóc huyện Sơn Tây ngày nay, là một trong 16 Châu của Yên, Vân.
– Tân Thành: Tên huyện, thuộc Trác Châu.
Kỷ Tín (? - 204 TCN): Người Triệu Thành (nay thuộc Sơn Tây Hồng Động), lúc Hán Sở tranh hùng là bộ tướng của Lưu Bang- Lưu Bang bị Hạng Vũ vây ở Mông Dương, tình thế nguy cấp. Kỷ Tín thuyết phục Lưu Bang, để ông giả làm Lưu Bang ngồi xe vàng ra hàng, Lưu Bang thừa cơ trốn thoát, Tín bị thiêu chết.
Long xa pháp giá: Xe giá của hoàng đế, do sáu ngựa kéo, tổng cộng một xe là 36 cỗ.
– Di: Tặng, tặng cho.
– Phận định: Mệnh trời. Vận mệnh sắp sẵn.
Chiêu thảo sứ. Tên quan. Đời Đường Tống thì chức này phần lớn là do các đại thần, tướng soái hoặc quân chính trưởng quan ở địa phương kiêm nhiệm, phụ trách việc chiêu hàng thảo phản.
Phóng đối: Đối địch, thi thố.
Huy: Hủy hoại, bại hoại.
Thập ác đại bại nhật: Ngày không cát lợi nhất. Thời xưa dùng can chi ghi nhớ ngày, tháng, năm. Một số nhà toán số quy định một số loại can chi nào đó khi phối lại sẽ là thập ác đại bại nhật.
Phương trượng: Phòng chủ trì của đền, chùa.
– Ưng: cho phép, tiếp thu lời thỉnh cầu.
Vương Khâm: Nhân vật nguyên mẫu là Vương Khâm Nhược (962 - 1025), tên tự là Định Quốc, người Lâm Giang Quận Tân Dụ (nay là Giang Tây Tân Xa). Vốn tiến sĩ xuất thân, đầu đời Chơn Tôn giữ thức tham tri chính sự, nịnh nọt để được sủng ái, bài xích người hiền tài, quan làm đến chức Tả Bộc xạ, Bình Chương sự Là loại "nịnh thần" điển hình, trong truyện viết thành tên đại gian tế do Phiên cài vào Bắc Tống.
Bát ti: tức tám phần hoặc tám sợi.
– Khuyết môn: Khuyết là một đài cao, một vật kiến trúc trước cung điện, trên đài có cửa lầu, giữa hai cửa lầu là Khuyết môn
– Đăng Văn cổ: Thời xưa đế vương muốn nghe được lời can của các quan hoặc oan tình, đặt trống ở ngoài triều đường, cho phép gióng trống lên kêu xin. Phong tục này bắt đầu từ đời Tấn. Đời Đường ở Trường An và Lạc Dương đều có đặt Đăng văn cổ. Đời Tống Chân Tông có đặt Đăng Văn Cổ viện.
Tiêu y can thực: nghĩa là trời chưa sáng đã dậy mặc áo đến khuya mới ăn cơm, dùng để hình dung việc siêng năng với chính sự. CAN : trời tối .
Tức: gần đến, tiếp cận.
Tự hoại trường thành: Theo điển cố, nam triều Tống đại tướng là Đàn Đạo Tế (? - 436) lập nhiều chiến công, được phong làm Tư không, uy danh lừng lẫy, Tống Văn Đế sợ sau này sẽ khó mà khống chế được, quyết định giết đi. Khi bị bắt, Đạo Tế vứt khăn đội đầu xuống đất nói: "Đó là tự hoại vạn lý trường thành của ngươi vậy".
Phá sào bất lưu nguyên noãn: tổ đã vỡ thì trứng đâu được lành: Điển cố, Khổng Dung (153 - 208) có hai người con khoảng tám, chín tuổi. Khi ông bị Tào Tháo bắn chết, nói với người đến bắt rằng: "Tội lỗi chỉ ở thân ta, có thể tha hai con ta đã toàn mạng không?” Hai đứa con nói: "Cha có bao giờ thấy tổ bị vỡ mà trứng còn nguyên không?” Tiếp đến hai người cũng bị bắt giết.
Ngụy khuyết: Cửa khuyết ở ngoài cung môn, thời cổ đại là nơi dùng để công bố pháp lệnh, sau dùng để chỉ triều đình. "Ngụy" đồng với Ngụy nghĩa là to lớn.
– Khôn ngoại chi sự: Ý chỉ thống quân tác chiến ở bên ngoài. Khốn: đồng nghĩa quách môn, quốc môn.
Trước lạc: Giao cho.
– Phúc: Thẩm xét, xem lại.
Đảng ác: kéo bè cánh làm ác.
– Tư hi: chốc lát, tạm thời.
Đương quỳ: Đảm nhiệm chức tể tướng; Quỳ nguyên nghĩa là đo lường, dẫn dùng để chỉ việc trù hoạch, quản lý. Tể tướng quản lý trăm việc, do đó đem chức đó gọi là Quỳ.
Yển võ tu văn: nghĩa là dập tắt việc binh đao, chỉnh lý việc văn giáo. Tống triều cường điệu việc Yển võ tu văn không hợp thời, biến thành một triều đại hèn yếu kéo dài nhất trong lịch sử, rốt cuộc hai triều Tống bị Kim, Nguyên diệt.
Trung ngoại: Trung ương và địa phương, cũng để chỉ trong, ngoài cung đình.
Phế tê vô cập: Nghĩa đen là Tự cắn rốn của mình cũng không kịp, dùng để chỉ việc sẽ hối hận không kịp, điển trong sách "Tả truyện. Trang công lục niên".
– Gián khoát: Xa cách, không ở chung một nơi.
– Thần khí: Ngôi vua.
Trung cung: Hoàng hậu.
Thiết khoán: Đế vương ban tứ cho công thần cho phép đời đời được hưởng một loại đặc quyền nào đó, dùng sắt mà làm, chia làm hai đoạn, trái ban cho công thần, phải cất vào nội phủ. Nếu như công thần hoặc người đời sau của họ phạm tội, lấy vật này hợp nghiệm, sẽ suy nghĩ lại công lao và xá giảm cho tội mắc phải.
Trung quan: Hoạn quan, thái giám.
Đích thực: Xác thật, chính xác.
– Hội lạp: Theo mặt chữ thì nghĩa là hội họp săn bắn, nhưng trên thực tế là chỉ đánh nhau.
Thể thám: Thể sát thám thính. Hồi thứ 25 có câu "Thể vân tin tức lệnh huynh"
Tam quan: Tức Ngõa Kiều quan, Ích Tân quan và Cao Dương quan (Thảo Kiều quan). Lại có thuyết nói đó là Ngõa Kiều quan, Ích Tân quan và Ức Khẩu quan.
Tuần kiểm: tên một chức quan. Đời Tống ở kinh sư phủ giới Đông Tây hai lộ đều đặt mỗi nơi hai người Đô đồng tuần kiểm, bốn mặt kinh thành mỗi nơi đặt một người giữ chức tuần kiểm, tất cả là tám người. Lại ở ven biên giới và ven biển, sống đặt chức Đô tuần kiểm và tuần kiểm, phụ trách huấn luyện giáp binh, tuần tra châu ấp. Ban đầu chức quyền rất lớn, sau do đặt ra qua nhiều nên chức quyền từ từ nhỏ lại, chịu sự tiết chế của thủ lệnh châu huyện sở tại.
Phong hậu: Đài phong hỏa, thời xưa nơi biên cương dùng khói lửa đốt lên ngày đêm để báo tin có giặc, đó là một cái ụ đất; Hậu: là ụ đất thời xưa đắp cao dùng để trông sang đất giặc.
Tiêu tương: Tuấn mã.
Kiệt: Bia đá
– Hủy đồi sơ sái: hủy đồi nghĩa là (Ngựa) mệt bệnh. Đồi: đồng nghĩa với. Sái: khỏi bệnh.
Biểu: tiếng địa phương, nghĩa là theo đầu người hoặc là chia theo phần.
Kịch: Mạnh, lợi hại.
Hiềm: Lừa gạt, dụ dỗ gạt lấy.
Ninh mại: Nhẫn nại.
Đầu đà: Tăng khổ hạnh, nghĩa rộng chỉ gồm tăng chúng.
Thể vấn: Đích thân dò hỏi. Ở hồi thứ 27, dùng từ "Thể phỏng”
Cơ giam: Giấu kín việc cơ mật. Giam: Phong kín, giấu kín.
– Quẻ Lục Nhâm: Một loại thuật bói toán của người xưa
Hoa hồng: Nguyên nghĩa là dùng để biểu thị loại kim hoa, gấm đỏ dùng cho việc vui mừng, sau dùng rộng ra để chỉ tài vật dùng để khao thưởng.
Huy: Hủy, hủy hoại.
– Thiên sứ: Sứ giả của hoàng đế.
Tán đán: Tiêu diêu tự tại, buông tuồng phóng túng.
– Thanh thông: Rêu cỏ xanh biếc.
Đích: đích xác. Viết "Đích thị” nghĩa là đúng như vậy.
Cảo nhai chi trụ: Đem ra chợ, chém đầu thị chúng. Cảo nhai cũng viết là Hạo nhai, là một tên đường ở Trường An thời Hán, các phủ đệ để tiếp đón các tộc quân trưởng hoặc sứ giả đều nằm trên con đường này..
Trình: Vò, bình đựng rượu.
Trịnh Châu: Tên Châu, đất Tùy, nay thuộc thành phố Trịnh Châu - Hà Nam.
– Cô thuế: Thuế rượu.
– Ngụy phủ đồng đài: Tức là Đài Đổng Tước nổi tiếng. Vào năm thứ 15 niên hiệu Kiến An thời Đông Hán (năm 210CN). Sau khi Tào Tháo đánh bại Viên Thiệu liền dựng đài Đổng Tước ở Nghiệp thành (nay thuộc Lâm Chương - Hà Bắc), đài cao 10 trượng, xung quanh điện ốc 120 gian, nơi đỉnh lầu đặt một con chim sẻ bằng đồng rất lớn, giương cánh như sắp bay lên.
– Thời tạo túc tương: Nước tương được làm từ gạo bắp.
Chuyện Hán Cao Tổ ở Bạch Đăng: Núi Bạch Đăng, nay ở Đại Đông - Sơn Tây, Lưu Bang từng bị quân Hưng nô vây nhốt ở đây. Lưu Bang sai người tặng Ư thị cho vua Hung Nô làm vợ. Bảy ngày sau, kị binh Hung Nô hơi lui, Lưu Bang nhân lúc sương mù thoát vây.
Kệ: Một thể loại sáng tác của kinh Phật. Thường có bốn câu, mỗi câu có số chữ chỉnh tề.
Công quả: Chỉ các việc niệm kinh, lễ Phật.
Bạch kim: Bạc.
Tẩm giải: Từ từ buông thả. Tẩm: từ từ, dần dần.
Khiên kỳ: Nhổ cờ
Lữ khách: Lữ Động Tân, là một trong Bát tiên theo truyền thuyết. Sách này viết ông ta cố ý hạ phàm trợ giúp nước Liêu. Xuân Nham là tinh cây Xuân được Lữ thu làm đồ đệ lệnh xuống U Châu trước.
Tiên Ti quốc: Tộc người Tiên Ti kiến lập chính quyền ở địa khu Hoa Bắc và Tây Bắc.
Tân La quốc: Nước cũ trên bán đảo Triều Tiên.
Hắc Thủy quốc: Nay thuộc về một dãi đất Hắc Long Giang. Lúc ấy là chính quyền của tộc Nữ Chân.
Tây Hạ quốc: tức là triều đại Đại Hạ do Đảng Hạng Khương Lí Nguyên Hạo kiến lập (1038-1227). Quốc đô ở phủ Hưng Khánh (nay là Ngân Xuyên-Ninh Hạ), Thiểm Bắc, Cam Túc, Thanh Hải và một bộ phận địa khu Nội Mông- Phát sinh chiến tranh nhiều lần với Tống, Liêu, Kim, sau bị Mông Cổ diệt mất.
Lưu Sa quốc: Thời cổ đại, dùng chỉ đại khu ở sa mạc Tây Bắc.
Tam thiên thế giới: Tức là tam thiên đại thiên thế giới
Thất thập thiên môn: Tức Thất thập nhị thiên môn trận.
Lê Sơn lão mẫu: Hay là Li sơn lão mẫu, là tên một nữ tiên trong thần thoại.
Huyền Đế: Huyền Võ, dân gian gọi là “Chơn Võ", là thần ở phương Bắc trong thần thoại cổ đại.
– Nguyệt Bột tinh: Sao chổi, sao băng.
Qua: Gõ (trống), đánh (trống)
– A La Hán: gọi tắt là La hán.
Tầm dạ: Suốt đêm.
– Ưu ốc: Sâu nặng. Ốc: dày, nặng.
– Đẩu trướng: trướng nhỏ "Đẩu" dùng để hình dung việc nhỏ bé của màn trướng.
– Tranh hành: Thử tài cao thấp.
– Ỷ Không Động: Ỷ: Dựa vào, xem trọng. Không Động: Tên núi, nay thuộc Bình Lương Cam Túc. Theo truyền thuyết vua Hoàng Đế đi về hướng Tây, từng lên núi này, ở đây dùng để ví là có thể dựa vào Dương Tông Bảo.
– Ngày can chi tương sinh: Thời cổ đại dùng can chi để ghi ngày, mỗi 60 ngày là một vòng tuần hoàn trở lại. Sau này các nhà tinh mệnh đem 60 Giáp Tý chia thành thuộc ngũ hành Kim, Mộc , Thủy, Hỏa, Thổ. Như thế hình thành trong 60 ngày có mối quan hệ đối ứng tương sinh tương khắc.
– Hội Cai: Hội chiến Cai Hạ. Cai Hạ: địa danh, nay thuộc An Huy Linh Bích đông nam, thời Hán Sở tương tranh, Hán tướng Hàn Tín vây đánh Hạng Vũ ở đây cuối cùng đánh bại Hạng Vũ.
Chung Hán: Hán Chung Li, là một trong Bát tiên, theo truyền thuyết dân gian. Sách này viết ông ta cố ý hạ phàm, trợ giúp Tống triều đại phá Thiên môn trận.
– Quy y: Chân thành tin theo và thờ phụng đạo Phật hoặc các tôn giáo khác.
Không thông: gấp gáp, vội vã.
Khắc nhật: Ngày ước định hoặc hạn định. Khắc: cũng có nghĩa là thời khắc.
Hàn Nguyên soái: Hàn Tín (? - 196 TCN), người Hoài âm cuối đời nhà Tần, lúc đầu theo Hạng Vũ, sau về với Lưu Bang, Bang phong làm đại tướng.
Pháp vật: Vật khí mà đội nghi trượng của vua dùng, bao gồm cờ, xí, nhạc khí, xa giá...
– Hỏa tiễn: Đầu mũi tên có gắn đồ dẫn lửa, đốt lên bắn vào kẻ địch.
Triệu Huyền Đàn: Thần tài được Đạo giáo tin thờ, còn gọi là Triệu Công nguyên soái.
Quan Nguyên soái: tức Quan Vũ, là đại tướng nhà Thục Hán thời Tam quốc, bị phật giáo thần hóa, tôn xưng là Quan Công, Quan Đế, đạo giáo cũng thờ làm thần. Các nguyên soái Hân, Khang, Vương, Mã ở dưới đều là những thần tướng được đạo giáo thờ phụng.
Hán, Châu: là chỉ Hậu Hán (947-950) và Hậu Châu (951-960) thời Ngũ Đại.
Tường: Giết hại, tàn sát
– Phong đích: Chỉ lưỡi dao và đầu mũi tên, nói rộng ra là chỉ binh khí, cũng dùng để ví dụ về chiến tranh.
Hàm Bình: Niên hiệu đầu tiên khi Tống Chơn Tông ở ngôi (998-1003) HUÂN: hôn ám, đen tối.
Khổn ngoại: Chuyện ngoài cửa, chỉ tướng soái thống lĩnh ở bên ngoài.
Tấn triều: Chỉ nhà Hậu Tấn (936 - 947) được kiến lập bởi Thạch Kính Đường (892 - 942). Thạch vào năm thứ ba, niên hiệu Thanh Thái (936) dẫn quân Khiết Đan diệt nhà Hậu Đường, chịu Khiết Đan phong cho làm Tấn đế, cắt đất của 19 Châu Yên, Vân cho Khiết Đan, hàng năm cống 30 vạn tấm gấm lụa, xưng hô Khiết Đan là hoàng đế cha, tự xưng là hoàng đế con.
Khiển quyến: Lưu luyến, không nỡ rời xa.
Hào: Sông bảo vệ thành.
Phong doanh: Phong mộ, thêm đất lên mộ phần, biểu thị thân lễ cho người chết. Hồi thứ 45 có câu "Duy trúc phong phần".
– Xiết tựu: nghĩa là kéo lấy vai. Ví dụ cho việc cản trở, phiền nhiễu.
Đan thực: tức dùng rá đựng cơm (Ủy lạo). Đan: Đồ đựng cơm hình tròn đan bằng tre.
Đặc kỵ: Một mình một ngựa. Đặc: đơn độc, một mình.
Sao nhân: Người lái thuyền, tiêu công.
Trạo: mái chèo, chèo (thuyền)
– Lai tư: Thư lại, quan lại nhỏ, cũng gọi là tư lại.
Toái quát lăng trì: Quát nghĩa là róc thịt khỏi xương;
Lăng trì: một hình phạt tàn bạo thời cổ đại, trước tiên tùng xẻo các chi và cơ thể của phạm nhân, sau đó cắt đứt cổ họng.
Thiên Hy: Niên hiệu thứ tư đời Tống Chơn Tông (1017 - 1021)
– Đô Giám: gọi tắt của chức Binh mã đô giám thời Tống. Đô giám của các Châu, Phủ chưởng quản việc đồn trú, huấn luyện, khí giới khôi giáp sai khiến... quân đội của thành.
Sinh nghiệp: Kinh doanh, sản xuất.
Trữ: Biểu thị, biểu hiện.
Chinh hồng kỉ tự: Vài hàng nhạn bay.
Tôn lôi: Chai đựng rượu lớn nhỏ. Lôi: Chai lớn.
Quynh ngoại: Ngoài cửa. Quynh: nghĩa là then hoặc móc để đóng cửa từ bên ngoài.
Tiên: Lên tiên, tạ thế, chất.
– Ma: Tiếp xúc, đụng phải.
Kỳ đẩu: Hoạt động mê tín như cúng, cầu khẩn sao Bắc đẩu để nhương giải tai nạn.
Nhiếp lí: Cùng nhau xử lí việc nước. Nhiếp: có nghĩa là điều hòa.
Đạt Đạt: tức Thát Đát, nguyên là một bộ lạc dưới sự thống trị của Đột Quyết, sau bị Mông Cổ diệt. Nhưng từ “Thát Đát” dần được dùng để chỉ xưng Mông Cổ. Từ “Thát Đát” nghĩa rộng là dùng để chỉ các dị tộc ở phương Bắc Trung Quốc.
Hán Tấn: Chỉ Hậu Hán (947 - 950) và Hậu Tấn (936 - 947) thời Ngữ Đại.
– Khương Chi: Thời cổ đại cư trú ở Thiểm Tây, Cam Túc, Thanh Hải và Tứ Xuyên một dãi đất đó. Tộc Khương và thời gian từ Đông Tấn tới Bắc Tống, từng kiến lập qua các chính quyền Hậu Tần, Tây Hạ. Sau dần dần bị Hán tộc và các dân tộc khác đồng hóa. Đệ Tộc vào đời Tấn từng thành lập qua các chính quyền Tiền Tần, Hậu Lương... Sau đó tiếp thu văn hóa của Hán tộc rồi nói tiếng Hán, theo họ người Hán.
Nhất mệnh tu du: Chết trong chốc lát. Tu du: thời gian rất ngắn.
– Thân tùng thể tiện: Người nhẹ cơ thể tiện lợi, cơ thể linh hoạt.
Ý: Che đậy, che giấu. Ý thảo phùng: bị cỏ dại che lấp.
Mạnh Thường quân: Họ Điền tên văn, là quý tộc nước Tề thời Chiến quốc, được tập ấm phong ấp của cha ở đất Tiết, xưng Tiết công, hiệu Mạnh Thường Quân, từng giữ chức tướng quốc, thực khách nhiều đến 3000 người. Ông ta có một dạo vào Tần làm tướng quốc, bị nhốt lại. Trong đám thực khách có kẻ trộm chó, đêm xuống vào cung Tần trộm áo lông cáo trắng, dâng cho sủng cơ của vua Tần, nên được tha, Tần vương sau khi hối lại, sai người đuổi theo, đi gần đến Hàm cốc quan, phép của ải này là gà gáy mới được đi, trong đám thực khách có kẻ giả được tiếng gà gáy, khiến cho các con gà khác đồng loạt gáy theo. Mạnh Thường Quân mới thoát khỏi cửa quan trốn đi.
Tả trắc: Khoảng, gần đến. Cũng còn nói là Tả cận.
Thượng vị nạp hôn: Còn chưa hôn phối. Các cô gái thời xưa nếu không có chồng, đều gọi là quả phụ.
Hoa: Đồng nghĩa với bông hoa.
Cai tâm: trung tâm chiến trường.
Định Trung Nguyên: khiến Trung Nguyên được an định.
Đảo tiền chinh: Chỉ con ngựa chiến của Đơn Dương công chúa ngã ra đất. Chinh: ngựa chiến.
– Tự kinh câu độc: Tự treo cổ tự sát bên mương rãnh. Tự kinh: tức tự ải (treo cổ).
Nạp khoản: Quy thuận, hàng phục.
Hoài nhu viễn chân: Chiêu mộ vỗ về người nơi biên viễn. Hoài nhu: trước kia quen dùng để chính sách lung lạc dụ hoặc các dân tộc khác.
Vận trù toán duy trướng: Tức là thành ngữ "Vận trù duy trướng", chỉ sự hoạch định mưu lược chinh phạt ở trong trướng. Duy trướng: Màn trướng dùng trong quân đội.
– Tỳ hưu: một loại mãnh thú thời cổ đại theo truyền thuyết, quen được dùng để chỉ sự uy mãnh của quân đội
– Dương liễu chi ca thanh: Hán Nhạc phủ có bài từ "Chiết Dương Liễu” hoặc "Dương Liễu chi”, văn nhân đời sau phỏng theo đó sáng tác, nội dung phần lớn là vịnh cây liễu để bày tỏ tâm sự.
Xao kim án chi hướng đẵng: khi khải hoàn đoàn quân ca hát vỗ nhạc ngựa kèm theo nhịp.
Ư hý: Đổng nghĩa "Minh hô", một thán từ trong văn ngôn.
Hưu minh: Hưng thịnh tốt đẹp.
Chinh phục phương Nam: Chỉ sau này Dương Văn Quảng bình định Nùng Trí Cao.
 
Hết.
 
0
Dương Gia Tướng Diễn Nghĩa

Đã mang vào thư viện

Cảm ơn bevanng đã góp sức cho thư viện

Chúc bevanng luôn vui, an lành

Thân

0
«« « 1 2 » »»