Thơ chống Mỹ thành tựu và những kinh nghiệm nghệ thuật
Nguyễn Đăng Điệp
Thời đại chống Mỹ là một trong những thời đại huy hoàng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Thời đại ấy không chỉ để lại những chiến công hiển hách, giành lại độc lập tự do "từ nay vĩnh viễn" cho đất nước ta mà còn để lại nhiều áng thơ hay, có khả năng sống lâu bền trong tâm thức của người đọc: Đến nay, khi nghiên cứu về thơ ca thời chống Mỹ nhiều người cho rằng thơ chống Mỹ nằm trong khoảng thời gian từ 1965 đến 1975. Điều này không phải không có lý vì đó là quãng thời gian cả nước chung sức đồng lòng trực diện đánh Mỹ. Tuy nhiên, cần lưu ý thích đáng hơn về biên độ: sự thực thì thơ chống Mỹ đã xuất hiện khá nhiều ngay sau khi hiệp định Giơnevơ được ký kết. Hơn nữa, mặc dù cuộc chiến tranh này khép lại vào năm - 1975 nhưng vào những năm cuối thập kỷ 70 đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX đã xuất hiện nhiều bài thơ và nhiều tập trường ca xuất sắc ngợi ca cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc. Phần lớn tác giả của những bản trường ca ấy là các nhà thơ mặc áo lính. Họ viết về đồng đội, về nhân dân, họ ngợi ca và tìm cách lý giải chiến thắng bằng cái nhìn của những người trong cuộc. Tôi cứ hình dung đợt sóng trường ca xuất hiện sau khi cuộc chiến tranh vừa kết thúc như là những bản giao hưởng về một giai đoạn lịch sử hào hùng và bi tráng. Nếu chúng ta không chú ý đến điều này, khuôn định thơ chống Mỹ trong một giới hạn thời gian quá cứng nhắc thì rất dễ làm hẹp đi những đóng góp to lớn mà thơ chống Mỹ đã góp vào lịch sử thơ ca của dân tộc.
2. Theo ý tôi, giá trị của một nền thơ phụ thuộc vào việc nó đã đáp ứng được yêu cầu của thời đại ấy đến đâu và nó có khả năng sống qua nhiều thời đại hay không. Tôi nghĩ, về cơ bản, thơ chống Mỹ đã đáp ứng được hai yêu cầu hết sức khắt khe này. Sự đóng góp nhiều mặt của thơ chống Mỹ có thể còn phải tiếp tục nghiên cứu sâu và kỹ hơn, nhưng tựu trung lại, nó được thể hiện rõ nhất trên ba phương diện sau:
- Đưa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn lên tới cao trào. Về phương diện này, thơ chống Mỹ thừa hưởng và tiếp tục đà quay của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Tuy nhiên so với cuộc kháng chiến chín năm trước đây, cuộc đối đầu giữa dân tộc ta với đế quốc Mỹ căng thẳng, gay go ác liệt hơn nhiều. Văn học, trước những thử thách lịch sử đầy nghiêm trọng ấy, không thể "ru theo mơ và vơ vẩn cùng mây", cũng không thể quá chú ý đến "cái tôi nhỏ hẹp" mà phải tham gia cuộc kháng chiến bằng cách riêng của mình. Trong Những đêm hành quân, Xuân Diệu khẳng định; Tôi cùng xương thịt với nhân dân tôi/ Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu, còn Chế Lan Viên thì nhận thấy vóc dáng và vị trí của nhà thơ trong cuộc chiến đấu không khoan nhượng với kẻ thù: Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy/ Bên những dũng sĩ diệt xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi. Các nhà thơ đã nhìn dân tộc mình trong hai tương quan cơ bản: tương quan với lịch sử bốn nghìn năm của dân tộc và tương quan với nhân loại: Chào 61, đỉnh cao muôn trượng/ Ta đứng đây mắt nhìn bốn sinh hướng/ Trông lại nghìn xưa, trông tới mai sau/ Trông Bắc, trông Nam, trông cả địa cầu (Tố Hữu). Việt Nam trở thành lương tri và phẩm giá của thời đại, niềm tự hào của nhân loại tiến bộ. Cảm hứng về dân tộc, vì thế, là cảm hứng mê say (Ta là ta mà lại cứ mê ta- Chế Lan Viên). Chính khoảng cách sử thi và cảm hứng lãng mạn đã khiến cho các nhà thơ nhìn về đối tượng bằng cái nhìn chiêm ngưỡng. Đối tượng hiện lên trong tác phẩm là đối tượng mang tính toàn bích. Bởi vậy, có thể khẳng định rằng, mỹ học trong thơ ca thời kỳ chống Mỹ là mỹ học về cái hùng, cái cao cả. Cái bi dù được nói đến nhưng chỉ có ý nghĩa như một nhân tố để làm nổi bật cái tráng, làm cho chân dung lịch sử hiện lên sống động hơn và ấn tượng hơn.
Tư duy nghệ thuật trên đây tất sẽ dẫn tới tính thống nhất trong cảm nhận về hiện thực đời sống của nghệ sĩ. Chế Lan Viên nhận xét: Những năm đất nước có chung tâm hồn, có chung khuôn mặt/ Nụ cười tiễn đưa con, nghìn bà mẹ như nhau. Đây cũng là lý do khiến nhiều người nhắc đến thơ chống Mỹ như một dàn đồng ca hoành tráng. Đúng là việc ưu tiên cái ta, ít nhắc đến cái tôi đã nhiều khi cho các khuôn mặt và các cá tính thơ không thật sự nổi bật. Tuy nhiên, đó là cái nhìn bao quát còn trong thực tế, những cây bút tài năng nhất của thơ ca gia đoạn này vẫn trổ được cái nhìn riêng và gắn liền với nó là giọng điệu riêng của họ. Giọng điệu trẻ trung, tinh nghịch giàu chất lính trong thơ Phạm Tiến Duật chắc chắn phải khác với chất giọng tài hoa và đậm màu dân giã trong thơ Nguyễn Duy, chất giọng dịu dàng, trong trẻo trong thơ Bằng Việt khác với chất giọng thông minh của Thanh Thảo... Tương tự như thế, Hữu Thỉnh, Nguyễn Khoa Điềm, ý Nhi, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Đức Mậu, Vũ Quần Phương, Trần Mạnh Hảo... cũng đã tạo được sắc thái riêng cho thơ mình. Rõ ràng, khi đánh giá về tính đồng ca trong thơ chống Mỹ cần có cái nhìn rộng hơn và phù hợp với quan điểm lịch sử hơn. Nếu hiểu như thế thì đây lại là một nhân tố cốt lõi tạo nên bản sắc thơ ca giai đoạn này. Chỉ cần so sánh điều này với tư duy nghệ thuật của Thơ mới 1932- 1945 hoặc thơ sau 1975 là nhận ra sự khác biệt giữa chúng. Nếu phần lớn các nhà Thơ mới chủ trương đi sâu vào cái tôi cá nhân thì thơ ca kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ lại cố gắng xây dựng cái tôi sử thi. Giữa cái tôi của nhà thơ và cái ta chung có sự thống nhất, gắn bó. Âm vọng của lịch sử được thể hiện rõ nét trong cách thế trữ tình của nhà thơ và đến lượt mình, các nhà thơ lại ý thức rằng phát ngôn của mình chính là phát ngôn mang tính đại diện - đại diện cho tư tưởng của thời đại, cho khát vọng của một dân tộc vượt lên gian khó để Tên Tổ quốc vang xa ngoài bờ cõi (Chế Lan Viên). Tất cả hòa nhuyễn trong cảm hứng Bay theo đường dân tộc đang bay.
Theo tôi, việc mở rộng biên độ trong việc tiếp xúc với các chiều khác nhau của đời sống cũng là một nỗ lực đáng trân trọng của thơ ca thời chống Mỹ. Thử hỏi, chẳng hạn như Phạm Tiến Duật không có chi tiết tiểu đội xe không kính gặp nhau cười ha ha, Hữu Thỉnh không có hình ảnh gốc sim cằn trong thế trận giằng co ác liệt, Thanh Thảo không có những ngọn cỏ chiến trường thì thơ họ sẽ khó lòng gợi dậy một thời lửa đạn hào hùng. Thế hệ các nhà thơ xuất hiện vào quãng thập niên 70, 80 của thế kỷ XX đã đem đến cho thơ chống Mỹ chất giọng tươi trẻ, sức vóc mạnh mẽ và cách cảm nhận tinh tế. Tuy nhiên, trong sáng tạo nghệ thuật, chất liệu đời sống cần phải được tinh lọc, chín nhuyễn trong cảm xúc của nhà thơ. Việc chủ trương đưa thơ sát hơn, gần hơn với hiện thực là một hướng đi tích cực nhưng nếu không biết dừng lại ở giới hạn cần thiết thì thơ rất dễ rơi vào kể lể, dài dòng, sống sượng. Bản thân Xuân Diệu, một cây bút nổi tiếng tinh thông trong kỹ thuật làm thơ đã từng rơi vào sự thái quá này. Đến nay, phần lớn những thi phẩm quá ham kể lể, quá lạm dụng yếu tố hiện thực mà chưa chắt lắng được tinh chất của nó đã bị rơi vào quên lãng. Điều này không có gì lạ vì căn cốt của thơ bao giờ cũng là chiều sâu trữ tình. Nói khác đi, hiện thực trong thơ phải được trữ tình hóa cao độ thì mới đủ sức trở thành những biểu tượng nghệ thuật giàu sức ám ảnh. Đó không đơn giản là thứ hiện thực nhìn thấy mà còn phải là thứ hiện thực cảm thấy. Cảm càng sâu, nhìn càng sắc, thơ càng giàu sức tác động.
Gắn liền với tư duy nghệ thuật mới, thơ ca thời chống Mỹ có những đóng góp đáng chú ý về phương diện thi pháp. Ngôn ngữ thơ ca gần gũi với đời sống thường nhật, vừa giàu chất triết lý, triết luận. Các sắc thái giọng điệu thơ khá phong phú, đa dạng. Cấu trúc thể loại thơ ca cũng có những thay đổi nhằm diễn tả một cách chính xác tâm trạng của nhà thơ và các cung bậc tinh thần của thời đại Có thể nói, thơ của hai cây bút được coi là lĩnh xướng của thơ ca thời chống Mỹ cho thấy rất rõ hướng vận động của tư duy nghệ thuật thơ giai đoạn này. Nếu Tố Hữu chủ yếu học tập tinh hoa của văn học dân gian và thơ ca truyền thống thì Chế Lan Viên đi theo hướng hiện đại hóa. Chính vì gần gũi với lời ăn tiếng nói thường nhật, gần gũi với văn hóa dân tộc nên thơ ca thời chống Mỹ dễ nhớ, dễ thuộc, vùng "phủ sóng" của nó khá rộng rãi. Cùng với cảm hứng lãng mạn và giọng thơ thơ ru vỗ, ngọt ngào, thơ chống Mỹ tiềm ẩn những giai điệu để biến thành nhạc. Có lẽ, số lượng các bài thơ được phổ nhạc nhiều nhất thuộc về thơ chống Mỹ. Tính hiện đại trong thơ chống Mỹ mặc dù được quan tâm nhưng chưa thực sự trở thành yếu tố nổi bật. Điều này có lý do của nó. Trong điều kiện chiến tranh, các nhà thơ ít có điều kiện giao lưu tiếp xúc trực tiếp với thơ ca nhân loại. ảnh hưởng văn hóa chủ yếu là ảnh hưởng của Liên Xô và Trung Quốc. Không có sách chúng tôi làm ra sách- Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình. (Hữu Thỉnh). Sức hấp dẫn của thơ chống Mỹ có lẽ chủ yếu nằm ở đấy. Các nhà thơ đã dám sống tận cùng vì đất nước, họ đi thẳng vào rốn lửa của cuộc chiến sinh tử bởi thế, thơ họ là sự biểu hiện thật nhất những rung động sâu sắc của tâm hồn họ. Tuyên ngôn sống và tuyên ngôn nghệ thuật của thế hệ các nhà thơ chống Mỹ được thể hiện rất rõ trong những câu thơ của Thanh Thảo:
Những tráng ca thuở trước
Còn hát trong sách thôi
Những thanh gươm, yên ngựa
Giờ đã cũ mèm rồi
Bài hát của chúng tôi
Là bài ca ống cóng
Hành trang Quân giải phóng
Đơn giản nhất trên đời
Đoạn thơ cho thấy sự đối lập giữa thuở trước và chúng tôi - những người lính. Cái "đơn giản" mà Thanh Thảo nói đến là cái đơn giản vĩ đại vì họ chính là những "Thạch Sanh của thế kỷ XX". Trước những câu thơ như thế, người đọc được tiếp xúc thẳng với những sợi dây thần kinh trần của cảm xúc và những luồng điện ấy truyền thẳng vào niềm say mê thơ ca của họ. Đó là hạnh phúc mà không phải thời đại nào cũng có được.
3. Tất nhiên, suy cho cùng, tầm vóc của một thời đại thơ ca phải kết lại trong những tác phẩm xuất sắc mà các nhà thơ đã để lại cho đời. Tôi nghĩ, có thể chọn lấy trong hàng nghìn bài thơ chống Mỹ những vần thơ xuất sắc thể hiện tâm thế của đất nước một thời. Từ điểm nhìn hôm nay có thể nhận thấy thơ chống Mỹ không những đã tái hiện lại vẻ đẹp của Đất nước, Nhân dân một cách chân thực, hào hùng mà còn để lại nhiều kinh nghiệm nghệ thuật đáng quý, kể cả mặt thành công và hạn chế của nó. Thứ nhất, trong khi gia tăng tính hiện đại của thơ ca để đưa thơ hòa mình vào dòng sông thi ca của nhân loại, các nhà thơ hôm nay cần phải bám sâu hơn nữa vào văn hóa của dân tộc. Bám sâu không có nghĩa là lặp lại mà trên cơ sở hút nhụy của văn hóa dân tộc mình, khai lộ những vẻ đẹp mới của thi ca. Không còn một lựa chọn nào khác, chỉ một khi đi đến tận cùng tâm hồn dân tộc thì lúc đó ta sẽ gặp tâm hồn của nhân loại. Thứ hai, nếu như thơ chống Mỹ chú ý đề cao vai trò của cái ta, thì thơ ca hiện nay nói nhiều đến cái tôi. Sự vận động và hướng về cái tôi là sự vận động đúng hướng của văn học trong điều kiện thời bình. Tuy nhiên, tại đây ta lại thấy một cực khác của vấn đề: nhiều cây bút quá chú trọng đến cái tôi mà xem nhẹ những biến động to lớn của đời sống. Điều đó khiến cho những suy tư cá nhân mất đi chiều sâu phổ quát. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, chỉ những ai thể hiện một cách sâu sắc nhất trạng thái tinh thần cơ bản của thời đại qua cảm nhận độc đáo của cá nhân mình thì tác phẩm của họ mới có khả năng trường thọ. Thứ ba, bất kỳ sự cách tân nào cũng phải xuất phát từ sự chân thực trong cảm xúc và sự mạnh bạo trong quan niệm nghệ thuật. Thơ chống Mỹ có khả năng lay thức nhiều người đọc vì các nhà thơ đã dám sống đến cùng với số phận của đất nước và nhân dân. Đúng thế, dám sống đến "tận đáy" với chính mình và với dân tộc, đó vẫn là yêu cầu sống còn đối với người cầm bút. Theo tôi, đây cũng chính là kinh nghiệm nghệ thuật lớn nhất mà thơ chống Mỹ đã để lại cho các thời đại thơ ca tiếp sau.
(Phụ bản Thơ - Báo Văn nghệ)
Nguyễn Đăng Điệp
Thời đại chống Mỹ là một trong những thời đại huy hoàng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Thời đại ấy không chỉ để lại những chiến công hiển hách, giành lại độc lập tự do "từ nay vĩnh viễn" cho đất nước ta mà còn để lại nhiều áng thơ hay, có khả năng sống lâu bền trong tâm thức của người đọc: Đến nay, khi nghiên cứu về thơ ca thời chống Mỹ nhiều người cho rằng thơ chống Mỹ nằm trong khoảng thời gian từ 1965 đến 1975. Điều này không phải không có lý vì đó là quãng thời gian cả nước chung sức đồng lòng trực diện đánh Mỹ. Tuy nhiên, cần lưu ý thích đáng hơn về biên độ: sự thực thì thơ chống Mỹ đã xuất hiện khá nhiều ngay sau khi hiệp định Giơnevơ được ký kết. Hơn nữa, mặc dù cuộc chiến tranh này khép lại vào năm - 1975 nhưng vào những năm cuối thập kỷ 70 đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX đã xuất hiện nhiều bài thơ và nhiều tập trường ca xuất sắc ngợi ca cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc. Phần lớn tác giả của những bản trường ca ấy là các nhà thơ mặc áo lính. Họ viết về đồng đội, về nhân dân, họ ngợi ca và tìm cách lý giải chiến thắng bằng cái nhìn của những người trong cuộc. Tôi cứ hình dung đợt sóng trường ca xuất hiện sau khi cuộc chiến tranh vừa kết thúc như là những bản giao hưởng về một giai đoạn lịch sử hào hùng và bi tráng. Nếu chúng ta không chú ý đến điều này, khuôn định thơ chống Mỹ trong một giới hạn thời gian quá cứng nhắc thì rất dễ làm hẹp đi những đóng góp to lớn mà thơ chống Mỹ đã góp vào lịch sử thơ ca của dân tộc.
2. Theo ý tôi, giá trị của một nền thơ phụ thuộc vào việc nó đã đáp ứng được yêu cầu của thời đại ấy đến đâu và nó có khả năng sống qua nhiều thời đại hay không. Tôi nghĩ, về cơ bản, thơ chống Mỹ đã đáp ứng được hai yêu cầu hết sức khắt khe này. Sự đóng góp nhiều mặt của thơ chống Mỹ có thể còn phải tiếp tục nghiên cứu sâu và kỹ hơn, nhưng tựu trung lại, nó được thể hiện rõ nhất trên ba phương diện sau:
- Đưa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn lên tới cao trào. Về phương diện này, thơ chống Mỹ thừa hưởng và tiếp tục đà quay của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Tuy nhiên so với cuộc kháng chiến chín năm trước đây, cuộc đối đầu giữa dân tộc ta với đế quốc Mỹ căng thẳng, gay go ác liệt hơn nhiều. Văn học, trước những thử thách lịch sử đầy nghiêm trọng ấy, không thể "ru theo mơ và vơ vẩn cùng mây", cũng không thể quá chú ý đến "cái tôi nhỏ hẹp" mà phải tham gia cuộc kháng chiến bằng cách riêng của mình. Trong Những đêm hành quân, Xuân Diệu khẳng định; Tôi cùng xương thịt với nhân dân tôi/ Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu, còn Chế Lan Viên thì nhận thấy vóc dáng và vị trí của nhà thơ trong cuộc chiến đấu không khoan nhượng với kẻ thù: Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến lũy/ Bên những dũng sĩ diệt xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi. Các nhà thơ đã nhìn dân tộc mình trong hai tương quan cơ bản: tương quan với lịch sử bốn nghìn năm của dân tộc và tương quan với nhân loại: Chào 61, đỉnh cao muôn trượng/ Ta đứng đây mắt nhìn bốn sinh hướng/ Trông lại nghìn xưa, trông tới mai sau/ Trông Bắc, trông Nam, trông cả địa cầu (Tố Hữu). Việt Nam trở thành lương tri và phẩm giá của thời đại, niềm tự hào của nhân loại tiến bộ. Cảm hứng về dân tộc, vì thế, là cảm hứng mê say (Ta là ta mà lại cứ mê ta- Chế Lan Viên). Chính khoảng cách sử thi và cảm hứng lãng mạn đã khiến cho các nhà thơ nhìn về đối tượng bằng cái nhìn chiêm ngưỡng. Đối tượng hiện lên trong tác phẩm là đối tượng mang tính toàn bích. Bởi vậy, có thể khẳng định rằng, mỹ học trong thơ ca thời kỳ chống Mỹ là mỹ học về cái hùng, cái cao cả. Cái bi dù được nói đến nhưng chỉ có ý nghĩa như một nhân tố để làm nổi bật cái tráng, làm cho chân dung lịch sử hiện lên sống động hơn và ấn tượng hơn.
Tư duy nghệ thuật trên đây tất sẽ dẫn tới tính thống nhất trong cảm nhận về hiện thực đời sống của nghệ sĩ. Chế Lan Viên nhận xét: Những năm đất nước có chung tâm hồn, có chung khuôn mặt/ Nụ cười tiễn đưa con, nghìn bà mẹ như nhau. Đây cũng là lý do khiến nhiều người nhắc đến thơ chống Mỹ như một dàn đồng ca hoành tráng. Đúng là việc ưu tiên cái ta, ít nhắc đến cái tôi đã nhiều khi cho các khuôn mặt và các cá tính thơ không thật sự nổi bật. Tuy nhiên, đó là cái nhìn bao quát còn trong thực tế, những cây bút tài năng nhất của thơ ca gia đoạn này vẫn trổ được cái nhìn riêng và gắn liền với nó là giọng điệu riêng của họ. Giọng điệu trẻ trung, tinh nghịch giàu chất lính trong thơ Phạm Tiến Duật chắc chắn phải khác với chất giọng tài hoa và đậm màu dân giã trong thơ Nguyễn Duy, chất giọng dịu dàng, trong trẻo trong thơ Bằng Việt khác với chất giọng thông minh của Thanh Thảo... Tương tự như thế, Hữu Thỉnh, Nguyễn Khoa Điềm, ý Nhi, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Đức Mậu, Vũ Quần Phương, Trần Mạnh Hảo... cũng đã tạo được sắc thái riêng cho thơ mình. Rõ ràng, khi đánh giá về tính đồng ca trong thơ chống Mỹ cần có cái nhìn rộng hơn và phù hợp với quan điểm lịch sử hơn. Nếu hiểu như thế thì đây lại là một nhân tố cốt lõi tạo nên bản sắc thơ ca giai đoạn này. Chỉ cần so sánh điều này với tư duy nghệ thuật của Thơ mới 1932- 1945 hoặc thơ sau 1975 là nhận ra sự khác biệt giữa chúng. Nếu phần lớn các nhà Thơ mới chủ trương đi sâu vào cái tôi cá nhân thì thơ ca kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ lại cố gắng xây dựng cái tôi sử thi. Giữa cái tôi của nhà thơ và cái ta chung có sự thống nhất, gắn bó. Âm vọng của lịch sử được thể hiện rõ nét trong cách thế trữ tình của nhà thơ và đến lượt mình, các nhà thơ lại ý thức rằng phát ngôn của mình chính là phát ngôn mang tính đại diện - đại diện cho tư tưởng của thời đại, cho khát vọng của một dân tộc vượt lên gian khó để Tên Tổ quốc vang xa ngoài bờ cõi (Chế Lan Viên). Tất cả hòa nhuyễn trong cảm hứng Bay theo đường dân tộc đang bay.
Theo tôi, việc mở rộng biên độ trong việc tiếp xúc với các chiều khác nhau của đời sống cũng là một nỗ lực đáng trân trọng của thơ ca thời chống Mỹ. Thử hỏi, chẳng hạn như Phạm Tiến Duật không có chi tiết tiểu đội xe không kính gặp nhau cười ha ha, Hữu Thỉnh không có hình ảnh gốc sim cằn trong thế trận giằng co ác liệt, Thanh Thảo không có những ngọn cỏ chiến trường thì thơ họ sẽ khó lòng gợi dậy một thời lửa đạn hào hùng. Thế hệ các nhà thơ xuất hiện vào quãng thập niên 70, 80 của thế kỷ XX đã đem đến cho thơ chống Mỹ chất giọng tươi trẻ, sức vóc mạnh mẽ và cách cảm nhận tinh tế. Tuy nhiên, trong sáng tạo nghệ thuật, chất liệu đời sống cần phải được tinh lọc, chín nhuyễn trong cảm xúc của nhà thơ. Việc chủ trương đưa thơ sát hơn, gần hơn với hiện thực là một hướng đi tích cực nhưng nếu không biết dừng lại ở giới hạn cần thiết thì thơ rất dễ rơi vào kể lể, dài dòng, sống sượng. Bản thân Xuân Diệu, một cây bút nổi tiếng tinh thông trong kỹ thuật làm thơ đã từng rơi vào sự thái quá này. Đến nay, phần lớn những thi phẩm quá ham kể lể, quá lạm dụng yếu tố hiện thực mà chưa chắt lắng được tinh chất của nó đã bị rơi vào quên lãng. Điều này không có gì lạ vì căn cốt của thơ bao giờ cũng là chiều sâu trữ tình. Nói khác đi, hiện thực trong thơ phải được trữ tình hóa cao độ thì mới đủ sức trở thành những biểu tượng nghệ thuật giàu sức ám ảnh. Đó không đơn giản là thứ hiện thực nhìn thấy mà còn phải là thứ hiện thực cảm thấy. Cảm càng sâu, nhìn càng sắc, thơ càng giàu sức tác động.
Gắn liền với tư duy nghệ thuật mới, thơ ca thời chống Mỹ có những đóng góp đáng chú ý về phương diện thi pháp. Ngôn ngữ thơ ca gần gũi với đời sống thường nhật, vừa giàu chất triết lý, triết luận. Các sắc thái giọng điệu thơ khá phong phú, đa dạng. Cấu trúc thể loại thơ ca cũng có những thay đổi nhằm diễn tả một cách chính xác tâm trạng của nhà thơ và các cung bậc tinh thần của thời đại Có thể nói, thơ của hai cây bút được coi là lĩnh xướng của thơ ca thời chống Mỹ cho thấy rất rõ hướng vận động của tư duy nghệ thuật thơ giai đoạn này. Nếu Tố Hữu chủ yếu học tập tinh hoa của văn học dân gian và thơ ca truyền thống thì Chế Lan Viên đi theo hướng hiện đại hóa. Chính vì gần gũi với lời ăn tiếng nói thường nhật, gần gũi với văn hóa dân tộc nên thơ ca thời chống Mỹ dễ nhớ, dễ thuộc, vùng "phủ sóng" của nó khá rộng rãi. Cùng với cảm hứng lãng mạn và giọng thơ thơ ru vỗ, ngọt ngào, thơ chống Mỹ tiềm ẩn những giai điệu để biến thành nhạc. Có lẽ, số lượng các bài thơ được phổ nhạc nhiều nhất thuộc về thơ chống Mỹ. Tính hiện đại trong thơ chống Mỹ mặc dù được quan tâm nhưng chưa thực sự trở thành yếu tố nổi bật. Điều này có lý do của nó. Trong điều kiện chiến tranh, các nhà thơ ít có điều kiện giao lưu tiếp xúc trực tiếp với thơ ca nhân loại. ảnh hưởng văn hóa chủ yếu là ảnh hưởng của Liên Xô và Trung Quốc. Không có sách chúng tôi làm ra sách- Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình. (Hữu Thỉnh). Sức hấp dẫn của thơ chống Mỹ có lẽ chủ yếu nằm ở đấy. Các nhà thơ đã dám sống tận cùng vì đất nước, họ đi thẳng vào rốn lửa của cuộc chiến sinh tử bởi thế, thơ họ là sự biểu hiện thật nhất những rung động sâu sắc của tâm hồn họ. Tuyên ngôn sống và tuyên ngôn nghệ thuật của thế hệ các nhà thơ chống Mỹ được thể hiện rất rõ trong những câu thơ của Thanh Thảo:
Những tráng ca thuở trước
Còn hát trong sách thôi
Những thanh gươm, yên ngựa
Giờ đã cũ mèm rồi
Bài hát của chúng tôi
Là bài ca ống cóng
Hành trang Quân giải phóng
Đơn giản nhất trên đời
Đoạn thơ cho thấy sự đối lập giữa thuở trước và chúng tôi - những người lính. Cái "đơn giản" mà Thanh Thảo nói đến là cái đơn giản vĩ đại vì họ chính là những "Thạch Sanh của thế kỷ XX". Trước những câu thơ như thế, người đọc được tiếp xúc thẳng với những sợi dây thần kinh trần của cảm xúc và những luồng điện ấy truyền thẳng vào niềm say mê thơ ca của họ. Đó là hạnh phúc mà không phải thời đại nào cũng có được.
3. Tất nhiên, suy cho cùng, tầm vóc của một thời đại thơ ca phải kết lại trong những tác phẩm xuất sắc mà các nhà thơ đã để lại cho đời. Tôi nghĩ, có thể chọn lấy trong hàng nghìn bài thơ chống Mỹ những vần thơ xuất sắc thể hiện tâm thế của đất nước một thời. Từ điểm nhìn hôm nay có thể nhận thấy thơ chống Mỹ không những đã tái hiện lại vẻ đẹp của Đất nước, Nhân dân một cách chân thực, hào hùng mà còn để lại nhiều kinh nghiệm nghệ thuật đáng quý, kể cả mặt thành công và hạn chế của nó. Thứ nhất, trong khi gia tăng tính hiện đại của thơ ca để đưa thơ hòa mình vào dòng sông thi ca của nhân loại, các nhà thơ hôm nay cần phải bám sâu hơn nữa vào văn hóa của dân tộc. Bám sâu không có nghĩa là lặp lại mà trên cơ sở hút nhụy của văn hóa dân tộc mình, khai lộ những vẻ đẹp mới của thi ca. Không còn một lựa chọn nào khác, chỉ một khi đi đến tận cùng tâm hồn dân tộc thì lúc đó ta sẽ gặp tâm hồn của nhân loại. Thứ hai, nếu như thơ chống Mỹ chú ý đề cao vai trò của cái ta, thì thơ ca hiện nay nói nhiều đến cái tôi. Sự vận động và hướng về cái tôi là sự vận động đúng hướng của văn học trong điều kiện thời bình. Tuy nhiên, tại đây ta lại thấy một cực khác của vấn đề: nhiều cây bút quá chú trọng đến cái tôi mà xem nhẹ những biến động to lớn của đời sống. Điều đó khiến cho những suy tư cá nhân mất đi chiều sâu phổ quát. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, chỉ những ai thể hiện một cách sâu sắc nhất trạng thái tinh thần cơ bản của thời đại qua cảm nhận độc đáo của cá nhân mình thì tác phẩm của họ mới có khả năng trường thọ. Thứ ba, bất kỳ sự cách tân nào cũng phải xuất phát từ sự chân thực trong cảm xúc và sự mạnh bạo trong quan niệm nghệ thuật. Thơ chống Mỹ có khả năng lay thức nhiều người đọc vì các nhà thơ đã dám sống đến cùng với số phận của đất nước và nhân dân. Đúng thế, dám sống đến "tận đáy" với chính mình và với dân tộc, đó vẫn là yêu cầu sống còn đối với người cầm bút. Theo tôi, đây cũng chính là kinh nghiệm nghệ thuật lớn nhất mà thơ chống Mỹ đã để lại cho các thời đại thơ ca tiếp sau.
(Phụ bản Thơ - Báo Văn nghệ)
Love mickey,