📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Một cái nhìn công bằng về Thơ trẻ chống Mỹ

0 trả lời, 60 lượt xem — Trang 1 / 1
Một cái nhìn công bằng về Thơ trẻ chống Mỹ

Nguyễn Hoàng Sơn

Lịch sử thơ ca quốc ngữ của nước ta thật ra chưa dài lắm, nếu tính từ khi khoa cử chữ Hán bị bỏ hẳn (1919) thì đến 2005 này cũng chỉ mới 85 năm. Trong hơn tám phần mười thế kỉ ấy, có hai “phong trào” thi ca nổi lên và ghi lại dấu ấn sâu sắc là Phong trào Thơ Mới (1932-1942) và Phong trào Thơ chống Mỹ cứu nước (1965- 1975). Đây là hai giai đoạn phát triển của thơ ca tiếng Việt, khác nhau về hoàn cảnh, về bản chất và định hướng thẩm mĩ nhưng có một điểm rất giống nhau: Sự xuất hiện đồng loạt của rất nhiều cây bút trẻ hầu hết ở tuổi hai mươi, được công chúng văn học hồ hởi đón nhận và trở thành những tên tuổi tiêu biểu trên văn đàn nhiều năm sau. Nếu Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính... thành danh ngay từ tác phẩm đầu tay trong xã hội thực dân thời bình thì Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Xuân Quỳnh, Hoàng Nhuận Cầm, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Mỹ, Lưu Quang Vũ... cũng được độc giả trẻ thời chiến hâm mộ một cách đáng ngạc nhiên. Người ta bảo, thơ cũng như người, có “thời” của nó, không phụ thuộc vào mong muốn chủ quan của ai cả. Làm sao mà cưỡng ép được tâm hồn, nhất là tâm hồn của cả một thế hệ? “Thời” của Thơ Mới đến cùng sự phát triển của các đô thị thuộc địa với một lớp người đọc trẻ phần lớn là tiểu tư sản, có học, khao khát tự do cá nhân, khao khát tình yêu theo kiểu phương Tây. “Thời” của Thơ chống Mỹ đến khi nền Độc lập và Thống nhất của Tổ quốc một lần nữa bị đe doạ, cả một thế hệ hừng hực sức sống hăm hở vượt Trường Sơn với lí tưởng giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc. Đúng là những năm tháng ấy, nhà nước và các đoàn thể đã làm tốt, thậm chí quá tốt công tác tuyên truyền, tổ chức, động viên...Nhưng để có những lá đơn tình nguyện viết bằng màu máu thanh xuân, để có những vần thơ tràn đầy dũng khí và tinh thần tự nguyện thì chỉ có cảm xúc bồng bột, thành thực của người trong cuộc mới giải thích được. Hình ảnh những anh bộ đội áo xanh thuở ấy là thần tượng trong mắt các cô gái và các em nhỏ, là niềm tự hào của các bậc phụ huynh. Không có gì lạ khi Thơ chống Mỹ bắt đầu từ những bài thơ... tòng quân, hành quân. Tình còn tình chiêng của Vương Anh, chàng trai Mường Thanh Hoá là thơ tòng quân “Trao quả còn/ nắm tay người ở lại/ Trai làng/ Mang tiếng chiêng đi.” Hương thầm của Phan Thị Thanh Nhàn, cô gái “Xóm đê” Yên Phụ, Hà Nội cũng là thơ tòng quân “Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay/ Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm/ Bên ấy có người ngày mai ra trận/.../ Họ chia tay vẫn chẳng nói điều gì/ Mà hương thầm thơm mãi bước người đi...”. “Cuộc chia li màu đỏ” nổi tiếng, “tiếng hát thiên nga” của Nguyễn Mỹ cũng thuộc mảng thơ này. Chính Hữu, người “hành quân trên những trang thơ” (ý của Nguyễn Đăng Mạnh) khái quát thật hay, đó là thời “Yểm họ miền Nam/ Thình thình đại bác/ Nhịp những bước chân/ cả nước lên đường”. Xuân Diệu nổi danh từ thời “tiền chiến”, vốn chỉ “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” nay cũng rất tâm đắc với Những đêm hành quân, dẫu những câu thơ còn dừng ở khái niệm, ở khẩu hiệu nhưng thiết tha và thành thực” Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi/ Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu/ Tôi sống với cuộc đời chiến đấu/ Của triệu người yêu dấu gian lao”. Với Trần Hữu Thung , hành quân chủ yếu là trong tâm tưởng “Anh vẫn hành quân/ Trên đường ra chiến dịch/ Mé đồi quê anh bước/ Trăng non ló đỉnh rừng/...Trời Điện Biên mây trắng/ Gió lưng đèo chiến thắng...”. Chỉ với những người lính, những nhà thơ trẻ mới có những cuộc hành quân thực sự “Đêm ấy đêm trăng/ Chúng tôi hành quân qua phà Long Đại/ Bom nổ chậm rình ở hai đầu bãi/ Pháo sáng lập lờ vòng quanh/ Mặc quân thù, cứ xuống bến đi anh/ Nước Nhật Lệ khuya rồi còn âm ấm/ Tiếng côn trùng không kêu làm đêm đi rất chậm...” (Vũ Đình Văn). Lưu Quang Vũ có những bài thơ hành quân ngọt ngào, tươi tắn và sột soạt như màu áo tân binh chưa bén mùi khói lửa. “Gửi tới các anh” là bài chín hơn cả, từng được Hoài Thanh biểu dương ngay khi mới công bố. Chiến tranh, chia li, tiền tuyến, hậu phương... được nhìn bằng con mắt trữ tình, phảng phất hơi thơ “ Bộ đội về làng”, “Bên kia sông Đuống”... thời kháng chiến chống Pháp “Chiều ấy các anh đi/ Nắng nhạt vàng hoe gốc rạ/ Gió xạc xào qua luỹ tre/ Em đứng nhìn theo sau cửa/ Đất nước đánh thù đường trăm ngả/ Các anh đi về đâu/ Em muốn nói trăm câu ngàn câu/ Mà chỉ nghiêng đầu chào khe khẽ/ Bóng các anh ngả dài theo vườn dâu/ Mũ các anh dập dình trên ruộng mía...”. Thơ Lưu Quang Vũ có nhạc tính bàng bạc, gắn bó với quê hương làng cảnh “Từ đường làng có hương rơm hương cỏ/ Các anh xuống đò qua sông/ Ráng chiều nước rộng mênh mông/ Dạt dào sóng vỗ/ Đã ba tuần trăng/ Kể từ bữa đó/ Em làm cỏ lúa/ Em chăm ao bèo/ Tháng bảy mưa nhiều/ Tháng tám sen tàn bưởi chín/ Chim ngói bay bịn rịn/ Tháng chín lúa trổ đòng đòng...”. Cũng là thơ hành quân nhưng Hoàng Nhuận Cầm sôi nổi, thiết tha hơn, nhạc tính trong thơ cũng lôi cuốn mạnh mẽ hơn “Dấu chân chúng mình chắc đã gặp nhau/ Mùa thu trong thành phố với rừng sâu/ Đất nước rộng ta đi nghe súng nổ/ Những chiến trường nào ai đến trước đến sau/ Như gặp nhau rồi mà đã gặp nhau đâu/ Nhìn dòng sông đoán Thịnh đã qua cầu/ Nhìn dốc dựng đoán Thịnh đèo đã vượt/ Mùa thu này ta hát khắp Trường Sơn...”. Trường hợp Xuân Diệu cũng như một số nhà thơ đàn anh khác trong mảng đề tài này cho ta một ví dụ về sự đồng điệu giữa nhà thơ và bạn đọc: Các cây viết cùng trang lứa vẫn được bạn trẻ hoan nghênh hơn!

Cùng với cuộc chiến dai dẳng và ngày càng ác liệt, thơ ca cũng trưởng thành và tiến dần đến sự sâu sắc như một đòi hỏi tất yếu “Máu thấm vào lòng đất đã sâu/ Sao trang giấy lòng anh suy nghĩ cạn?” (Chế Lan Viên). Sau “thơ hành quân” là một giai đoạn, xin được định danh là “thơ Trường Sơn” (dù không phải tất cả ra đời từ hay viết về Trường Sơn!) Đây là thời kì chín và nở rộ của thơ trẻ chống Mỹ cứu nước với Phạm Tiến Duật là gương mặt tiêu biểu. Tiếng vang của tập thơ “Vầng trăng quầng lửa” một phần do được tuyên truyền, cổ động nhưng phần chính là nhờ giá trị nội tại của tác phẩm. Trước cuộc thi của báo Văn nghệ 1969, gần như chưa ai biết tên Phạm Tiến Duật. Sau cái giải nhất của cuộc thi rất thành công ấy, nhất là sau khi tập thơ Vầng trăng quầng lửa ra đời, không thể nhắc đến đời sống chiến đấu ở Trường Sơn mà thiếu vắng ít ra là một hai câu thơ của ông! Đèo Ngang mấy thế kỉ heo hút với những vần thơ Bà Huyện Thanh Quan, nay lại gợi nhớ đến cái tư thế ngang tàng của người lính lái xe chống Mỹ “Bao nhiêu người làm thơ Đèo Ngang/ Mà không biết con đèo chạy dọc!”. Không chỉ những bài thơ nổi tiếng được bình đi bình lại (Lửa đèn, Tiểu đội xe không kính, Gửi em cô thanh niên xung phong, Trường Sơn đông Trường Sơn tây...) mới gây được ấn tượng. Cả những bài khiêm tốn trong tập thơ đầu của Phạm Tiến Duật cũng mang điều gì rất mới, trước đó chưa có đã đành, ngay những nhà thơ nổi tiếng cùng thời với ông cũng ít người đạt tới. Lối thơ tự sự tuyên truyền công khai, sử dụng chất liệu văn xuôi với mật độ dày đặc, giàu tính triết lí mà vẫn thấm đẫm cảm xúc chỉ có thể tìm thấy sự tương đồng trong thơ của thi sĩ chống phát xít Đức Bec-tôn Brêch? Hai câu thơ tưởng như rất thường này “ Phía trước mặt là ngã ba Đồng Lộc/ Hố bom dày như lỗ hà ăn chân” (Qua cầu Tùng Cốc), với một hình ảnh so sánh xuất thần, đơn giản mà kinh dị, đã hoá thạch cả một thời chết chóc. Bài thơ về Tiếng cười của đồng chí coi kho, như một bức ảnh thông tấn, một nét bút kí hoạ, chơi chơi vậy thôi nhưng ám ảnh “Đồng chí coi kho ơi/ Đừng nói nữa bởi vì tôi/ ôm đồng chí đã khôn cầm nước mắt/ mười năm sống xa phố xa làng/ tám năm ở trong núi trong hang/ tất cả riêng chung/ dành cho miền Nam, tất cả/ Đồng chí coi kho cười ha hả/ chẳng có tiếng cười nào/ vang hơn tiếng cười trong hang đá”. Phạm Tiến Duật là một tài năng, như Chế Lan Viên đã sớm khẳng định ngay từ năm 1969. Sau chiến tranh, sự sa sút nhanh chóng trong sáng tác và nhiều yếu tố khác khiến một bộ phận bạn đọc quay lưng lại với ông. Thật ra phải coi thơ Trường Sơn Phạm Tiến Duật là một chiến công thực sự. Ông có phẩm chất của một thi sĩ, nhiều câu thơ, khổ thơ mang vẻ đẹp cổ điển “Sông Tô Lịch như trở về thời Lý/ nước mênh mang thuyền rợp bến Hàng Buồm/ khúc đàn cao, bay thơ trên Tháp Bút/ đoạn đàn trầm rùa nổi mặt Hồ Gươm/.../ Ba mươi sáu dây đàn/ Kể chuyện tình thánh thót/ tiếng mẹ giã trầu/ tiếng mưa đi trên tàu tiêu nhỏ giọt...”( Đàn tam thập lục Thủ đô ta). Thơ lục bát của ông rất thanh thoát, khi thì thông minh, tinh nghịch “Cái trò để trẻ con chơi/ Hai đầu hai ghế cập rồi lại kênh/ Gỗ hồng trời biếc một thanh/ Nhấp nhô nhà cửa gập ghềnh núi non/ Cái nơi đông đúc trẻ con/ Xa rồi. Vườn cũ em còn nhớ không?/ Anh đi núi biếc trập trùng/ Non xa mấy dải một vùng quân đi/ Thấy núi nổi lúc xuống khe/ Thấy non sa xuống ấy khi lên đèo/ Nghe từng bậc núi anh trèo/ Cập kênh vẫn cập kênh theo đường dài” (Cái cập kênh). Khi lại rất cổ kính “Cũng vương tóc rối chân gà/ Cũng tiếng chó sủa chiều tà sau cây/ Cũng quần áo ướt phơi dây/ Cũng gầu múc nước ô hay cũng làng” (Vùng làng). Phạm Tiến Duật đã là một thi sĩ trước khi là một người lính. Nhưng ông biết tiết chế, thậm chí hi sinh cái “nên thơ”, cái cổ kính để bắt lấy cái ngổn ngang, cái ác liệt của cuộc chiến gian khổ sống còn, tìm ra phẩm chất mới cho thơ mình, cũng là phẩm chất rất mới cho thơ Việt Nam “Không có kính không phải vì xe không có kính”. Ngày nay ai “có gan” viết thế chắc chắn sẽ bị chê là thô lậu, quá thật thà?. Nhưng vào thời điểm xuất hiện (1969), câu thơ được chấp nhận một cách “ngon lành”, người ta thích thú chính vì vẻ đơn giản mà như là một phát hiện của nó. Người ta cũng chấp nhận cả những hình ảnh rất kì khu này, khi ông mô tả tiếng vượn hú chen trong tiếng máy bay Mỹ gầm rít “Rừng- âm- thanh bạn đã thấy hay chưa/ Tiếng vượn như cây, cành cao chót vót/ Tưởng trèo lên nhìn thấu nước Lào xưa/ Thấy voi đi trong rừng già xăng lẻ/ Thấy con chồn bay xoè như quạt nhà vua...”. Độc giả, nhất là các nhà phê bình thường có xu hướng bất công với các tác giả đồng thời, quen tung hô những gì đã được khẳng định. Việc đề cao quá đáng Thơ Mới và hạ thấp công lao và đóng góp của các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ (vô thức hoặc cố ý) có lẽ cũng không ra ngoài thông lệ ấy? So sánh thành tựu văn chương của hai thời đại khác nhau là một việc khó, thậm chí vô nghĩa. Nhưng cứ thử chọn 5 nhà Thơ Mới tiêu biểu, chẳng hạn: Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính. Rồi chọn 5 nhà thơ chống Mỹ tiêu biểu cũng xuất hiện trên thi đàn ở độ tuổi trên dưới 20 như các bậc “tiên chỉ” kia, chẳng hạn: Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh. Ta sẽ thấy lớp hậu sinh, mỗi người một vẻ, cũng có những đóng góp xuất sắc cho thơ ca trong thời của họ, ít ra là không mặc cảm trước các bậc tiền chiến đáng kính! Công chúng của thơ trẻ chống Mỹ, tỉ lệ thuận với trình độ phổ cập giáo dục, chắc chắn là đông hơn công chúng thơ Mới. Đội ngũ người làm thơ, chỉ tính những người thành danh, cũng gấp nhiều lần số người được Hoài Thanh tuyển vào Thi nhân Việt Nam (1942). Một thi sĩ trẻ thời chống Mỹ, ở “bàn nhì bàn ba” thôi (theo cách nói của tác giả “Thi nhân Việt Nam”) cũng có bề dày sáng tác hơn hẳn những người cùng “ bàn” thời thơ Mới! Hay dở thì mỗi thời, mỗi người một quan niệm, có lẽ chỉ khi thơ chống Mỹ đã có đủ “độ lùi” như thơ Mới (đến thời điểm này) mới có thể so sánh được? Nhưng có những nỗ lực, những hiện tượng nghệ thuật có thể đo đếm từ bây giờ, chẳng hạn thể loại trường ca. Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm; Những người đi tới biển, Khối vuông rubic, Đêm trên cát của Thanh Thảo; Sức bền của đất, Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh; Gọi nhau qua vách núi của Thi Hoàng... những tác phẩm thơ dài thành công, có vị trí vững vàng trong lòng bạn đọc thì tìm đâu ra đối tượng so sánh trong thơ Mới? Chỉ một ví dụ ấy cũng cho thấy sự chông chênh trong lập luận của những người có thói quen đề cao một chiều. Bên âm nhạc, người nghe vô tư và công bằng hơn: Các ca khúc chống Mỹ, “nhạc đỏ” như cách gọi hiện nay, đương giành lại cảm tình của đông đảo người hâm mộ. Phải chăng Thơ chống Mỹ chịu cảnh “nhạt tình” vì chưa biết quảng bá trong môi trường thông tin giải trí nhiễu loạn, thừa mứa một cách nghèo nàn hiện nay? Tôi đã đọc một số tuyển tập thơ chống Mỹ, chưa tuyển nào có được tầm vóc của Thi nhân Việt Nam, điều đó quả là một thiệt thòi cho các nhà thơ và cho bạn đọc. Cần phải có một đề tài khoa học nghiêm túc cấp nhà nước cho một bộ tổng tập tương đối đầy đủ của thời đại thi ca đặc biệt và hào hùng ấy, làm cơ sở cho những chương trình nghiên cứu dài hơi? Tôi không phải là người thích cách nói một chiều. Không khó khăn lắm cũng có thể chỉ ra những nhược điểm của thơ chống Mỹ cứu nước, những nhược điểm đẻ ra từ tình trạng chiến tranh và những khiếm khuyết của bộ máy xã hội cũng như sự hạn chế của chính chủ thể sáng tạo là các nhà thơ trẻ. Chế Lan Viên, với linh giác của một nhà thơ lớn đã viết từ năm 1966 “Những năm đất nước có chung tâm hồn có chung gương mặt/ Nụ cười tiễn đưa con nghìn bà mẹ in nhau”. Thành ngữ Việt Nam có câu “Sống mỗi người mỗi nết, chết mỗi người mỗi mồ”, tình trạng “mặc đồng phục tâm hồn” này, dù phải bắt buộc chấp nhận, không khỏi khiến nhà thơ đau xót? Điều đó cắt nghĩa sự đơn tuyến, đơn thanh của thơ chống Mỹ cứu nước. Thanh Thảo khác Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh không giống Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy... nhưng họ chỉ khác nhau về giọng điệu, thậm chí là phong cách, chung quy vẫn giống nhau về định hướng lớn, định hướng tuyên truyền, gọn ghẽ như Chế Lan Viên tự nhủ ngay từ những năm sáu mươi “Thơ cần có ích/ Hãy bắt đầu từ nơi ấy mà đi”! Đứng ở thời điểm này hẳn người đọc không thoả mãn với những gì các nhà thơ trẻ thời chống Mỹ đã làm được. Nhưng lúc mới xuất hiện và “bùng nổ”, cả một khối công chúng trẻ khổng lồ tự giác tiếp nhận, cổ vũ cho họ. Cắt nghĩa điều này thật không đơn giản. Mỗi thời có cái lí của mình và chỉ mong những người trẻ hôm nay gắng hiểu cái lí của những người hôm qua, cũng trẻ trung như họ, đã sống và viết trong những điều kiện ngặt nghèo, góp phần sáng tạo kì tích “Cầm sông núi và làm nên Thống nhất”( Chế Lan Viên).




(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0