Xin mời tất cả anh chị em xem bài copy sau đây:
http://portal.net.vn/Portal/Detail.aspx?Organization=HVB&MenuID=900&ContentID=1545
Quê hương Trạng TrìnhNguyễn Bỉnh Khiêm
Tôi cùng kiến trúc sư
Phạm Vũ Hội về Cổ Am, theo con đường mà có lẽ ngày xưaTrạng Trình đã đi từ kinh đô về quê để ở ẩn, khi ông chán ngấy cái triều đìnhnhà Mạc suy đốn. "Thôi thôi mặc lũ thằng hề/Gió mây ta lại tìm về giómây" (Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm - NBK).
Phạm Vũ Hội là một người đa tài. Anh thiết kế kiến trúc, làm thơ, soạn nhạc vànặn tượng. Anh nặn tượng danh nhân văn hoá Nguyễn Bỉnh Khiêm và nghiên cứu vềTrạng Trình với lòng sùng kính một thiên tài. Phạm Vũ Hội còn là tác giả của dựán tôn tạo khu di tích Trạng Trình thuộc vực Cổ Am - Lý Học.
Chúng tôi đến bến phà Khuể. Con sông Văn Úc sóng cuồn cuộn đổ ra biển Đông.Lòng sông rộng, nước vàng đục màu phù sa diễu quanh thân phà - Thuỷ sắc ngưnghoàng lục nhiễu hàng (Quá thao Giang NBK). Cứ theo thơ vãn của Trạng Trình màsuy thì có lẽ khi qua sông này cũng đã cảm khái nhớ tới Xích xích tuyệt xướngcủa Tô Đông Pha với câu mở đầu: ''Đại Giang Đông Thứ, lãng đào tận, thiến cổphong lưu nhân vật...'' (Sông lớn chảy về Đông, cuốn trôi hào kiệt nghìnđời...).
Bên kia sông Vãn Úc là huyện Tiên Lãng, có làng An Tử Hạ, quê vị khoa bảng NhữVăn Lan, ông ngoại Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi là vị tố của họ Nhữ, đỗ tiến sĩnăm 1463, đời Lê, làm đến chức Thượng thư bộ Hộ; sau được thờ ở đình miếu làngAn Tử Hạ. Họ Nhữ còn có nhiều người đỗ đại khoa. Ngôi đền An Tử Hạ thờ Nhữ VănLan đã bị giặc Pháp đốt phá, nhưng tượng và biển tiến sĩ của ông vẫn còn. Mộtngười con của Nguyễn Bỉnh Khiêm sang quê ngoại lập nghiệp, thành một chi họNguyễn lớn ở Tiên Lãng. Ở đây còn có khu Mả Nghè, nơi an táng vợ chồng Nhữ VănLan và con gái Nhữ Thị Thục (mẹ của Nguyễn Bỉnh Khiêm).
Qua thị trấn Tiên Lãng, đến bến Hàn, nhưng không phải đi đò như ngày xưa mà cócây cầu phao bắc qua sông. Sông Hàn còn gọi là Tuyết Giang. Xưa, bên sông nàycó quán Trung Tân, nơi Trạng Trình ngồi ngâm vịnh, viết những bài Ngụ hứng vànghiền ngẫm thế cuộc, thiên cơ, quốc vận.
Chợt nhớ câu thơ của Tuyết Giang phu tử (NBK): ''... Phong ổn phàm quy hàn phốnguyệt/Thiên tình long hiện viễn sõn vân..'' (Gió lặng buồm xuôi về bếnlạnh/Trời mây rồng hiện đỉnh non xa. - Trung Tân quán ngụ hứng).
Qua sông Hàn, chúng tôi đi dọc theo đường số 354 đến địa phận Lý Học - Cổ Am,huyện Vĩnh Bảo, vùng đất nổi danh. Phạm Vũ Hội bảo tôi:
- Cụ Trạng tiên lượng việc vị lai như thần. Cái câu
''Bao giờ Tiên Lãng chia đôi,
sông Hàn nối lại thìtôi lại về'',
[color="darkslateblue"]
[/color]
[color="darkslateblue"]đến bây giờ mới rõ.
Cái năm cầu phao sông Hàn được bắc nốihai huyện Tiên Lãng - Vĩnh Bảo; con
sông đào cổ xưa chảy ngang qua Tiên Lãng bịbỏ lấp từ lâu
được [/color]
khơi lại[color="darkslateblue"]; thì ngay sau đó rộ lên hội thảo, sưu tầmkhảo cứu về danh nhân văn hoá Nguyễn Bỉnh Khiêm. Rồi văn thơ Nguyễn Bỉnh Khiêmđược in ra, cả ''Sấm Ký Trạng Trình'' nữa. Thiên tài của Người đã được côngnhận và tôn vinh. Thế là Người đã về đúng với ngôi vị của mình. Một thời Sấm Kýbị coi là sách mê tín dị đoan. Bây giờ dùng Lý học mà suy thì có nhiều việc đãxảy ra rất linh nghiệm.* [/color]
Phạm Vũ Hội giao thiệp với hoạ sĩ
Giang Phiếm, là cháu đời thứ mười sáu củaTrạng Trình đã đổi thành họ Giang. Một thời cả dòng tộc Nguyễn Bỉnh Khiêm phảithay tên đổi họ, ly tán thập phương.
Cổ Am nổi tiếng vì vùng đất này sinh nhiều bậc tài danh ở mọi thời. Trạng TrìnhNguyễn Bỉnh Khiêm, người mà khi ra đời, theo giai thoại, quan chiêm bốc chuyêntheo dõi thiên tượng của triều đình Bắc phương đã dâng biểu tấu: ''Có ngôi saolạ to bằng cái đấu xuất hiện ở phương Nam, ứng với một chân nhân đã rađời''. Sau này, Nguyễn Bỉnh Khiêm được phong tước Trình Tuyền hầu (nên mới gọilà Trạng Trình), Chu Sán, danh sĩ đời nhà Minh nhận xét: ''An Nam Lý học hữuTrình Tuyền'' - Nước Namcó Trình Tuyền hầu thông hiểu Lý số. Có lẽ vì thế mà đất Trung Am, nơi có ĐềnTrạng bây giờ được gọi là Lý học.
Cổ Am trước khi Trạng Trình xuất thế, có nhiều địa danh mang những tên nôm nađể quy ước, chỉ dùng cho mỗi việc định vị địa điểm, như ở nhiều các làng quêkhác. Vậy mà khi Trạng Trình về quê ở ẩn thì xuất hiện những tên văn chương:quán Trung Tân, Am Bạch Vân, sông Tuyết Giang, gò Bút Kình Thiên, Nghiên LongĐồ, bãi Lý Ngý Quần Ngọc, cầu Trường Xuân... Về cây cầu Trường Xuân, Phạm VũHội kể: Trước khi phong Trạng nguyên cho thí sinh đỗ đầu khoa thi Đình, vua TựĐức sát hạch thêm; Ngài hỏi về cầu Trường Xuân. Thí sinh này quê đất Vĩnh Lại,Đông Hải, kinh sử thuộc làu làu, nhưng lại không biết gì về cầu Trường Xuân.Vua hỏi thí sinh đỗ thứ hai quê ở miền Trung. Người này thưa rằng cây cầu đá ấyở Cổ Am do Trạng Trình cho xây cất để dân đi làm đồng áng đỡ vất vả, trên thâncầu có chữ ''Thường Xuân Kiều'' do chính tay Trạng viết. Sĩ tử đỗ đệ nhất khoabị giáng xuống thứ ba vì không thâm hiểu về bản quán của mình và về TrạngTrình, phải nhường lại danh khôi nguyên cho anh chàng miền Trung nọ. Vua khôngvui, cho rằng làm quan mà không thấu hiểu quê hương đất nước thì trị dân saođược. (Phiến đá khắc chữ ''Trường Xuân Kiều'' nay vẫn còn).
Phạm Vũ Hội nói tiếp:
- Cả vùng đất này xưa là Cổ Am thuộc huyện Vĩnh Lại tỉnh Hải Dương. Thập báttrang Am, có mười tám trang mang tên Am. Thượng Am, Hạ Am, Trung Am, Đông Am,Nam Am, Lạng Am, Tiền Am, Liên Am, Ngãi Am, Hội Am v.v... Trạng Trình về quê ởẩn, xây quán Trung Tân ở bến Trung Lệ bên bờ Tuyết Giang, dựng Am Bạch Vân.Người làm hàng nghìn bài thơ Hán, Nôm và Bạch Vân thí tập, Trình Quốc công thitập... Người còn chủ trương xây chùa tôn thờ các danh nhân; bắc cầu giúp dân.Cổ Am khi ấy rất nghèo. Trạng mở trường dạy học. Người đọc sách thánh hiền đềubiết: Kiệt, Trụ ác vương vô đạo ngược đãi trung thần, chí sĩ; chà đạp lễ nghĩakhiến trăm họ ngu hèn để dễ bề cai trị, muôn đời sau còn oán hận. Nghiêu, Thuấnkhuyến nông, huấn học làm cho thiên hạ được sống trong thái bình thịnh trị,tiếng thơm ngàn nãm. Nhân tài chẳng tự nhiên mà có như hoa dại bên đường. Đểkhuyến học, Trạng Trình cho dựng một trụ đá cao trên đỉnh cái gò đầu làng, đặttên là Bút Kình Thiên.
Chúng tôi đứng lặng ngắm gò đất có những cây sà cừ, bạch đàn đứng thẳng tắp vớidáng những ''quản bút chống trời''. Trụ đá nay không còn nữa nhưng vẫn còn ngôimiếu cổ tôn nghiêm.
Những cái tên ở Cổ Am thoạt nghe thấy có vẻ chữ nghĩa quá; không nôm na cụ thểnhư những vùng quê khác để dân quê dễ nhớ. Nhưng ngẫm ra Trạng đâu phải làngười khoe chữ. Cổ Am đáng được đặt những tên như thế lắm vì đất này có khôngít các bậc khoa bảng đỗ đạt cao ở mọi thời. Trần Lương Bật đỗ tiến sĩ năm 1664,đời Hậu Lê, làm đến chức Hữu thị lang bộ Binh, khi mất còn được truy phong chứcTả thị lang. Trần Công Hân đỗ tiến sĩ năm 1733, thời Hậu Lê; giữ chức Đãi chếViện Hàn lâm; đi dẹp giặc bị tử trận, được truy phong Đông Các Đại học sĩ. LêHuy Thái đỗ Phó bảng năm 1846, đời nhà Nguyễn.. .
Sau này Cổ Am còn có hai nhà văn nổi tiếng trên vãn đàn Việt Nam một thời,đó là hai anh em Trần Tiêu, Trần Khánh Dư (tức Khái Hưng trong Tự Lực vănđoàn). Chùa Đông A ở đây do Trần Mỹ, phụ thân của hai nhà văn bỏ công tạo dựng.
(Xin xem tiếp)