📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

tống cung 18 triều

6 trả lời, 5.159 lượt xem — Trang 1 / 1
TỐNG CUNG MƯỜI TÁM TRIỀU
Tác giả: Hứa Mộ Hi
Vũ Ngọc Quỳnh dịch

Dịch từ nguyên bản Trung văn : "Tống cung thập bát triều diễn nghĩa" do nhà xuất bản "Cổ Tịch xuất bản xã" ấn hành năm 1997 tại Thượng Hải.

Lời giới thiệu
Cuối những năm 20 đến những năm 40 thế kỷ XX, ở Trung Quốc xuất hiện hàng loạt những cuốn tiểu thuyết lịch sử mô tả những cảnh sinh hoạt nơi cung đình như : "Hán cung hai mươi tám triều diễn nghĩa" của Trương Tuân Tử, "Tống cung mười tám triều diễn nghĩa" của Hứa Mộ Hi... Với mực đích giúp người đọc giải trí nên sách thường lấy chính sự các triều đại làm nền, nội dung là chuyện tình ái giữa hoàng đế và hậu phi, những bí mật khác nơi cung đình, chuyện về các danh sĩ, mỹ nhân, anh hùng hào kiệt.
Tiểu thuyết diễn nghĩa cung đình thực chất là biến tướng của loại tiểu thuyết diễn nghĩa lịch sử. Ở Trung Quốc tiểu thuyết diễn nghĩa lịch sử đã có từ lâu nghe nói từ thời nhà Đường, có nhiều nghệ nhân kể chuyện Tam quốc trên đường, ngoài phố. Đến thời Tống coi đây là tiết mục quan trọng trong sinh hoạt văn nghệ dân gian. Nhiều người đã ghi lại những câu chuyện của các nghệ nhân thành tiểu thuyết. Vì trình độ người viết có hạn nên những cuốn sách trên không khỏi có nhiều khiếm khuyết, khác gì viên ngọc chưa được mài dũa. Sau thời Nguyên, Minh, nhiều ngườihọc thức uyên thâm đã dày công hoàn thiện, làm phong phú thêm câu chuyện của các nghệ nhân, cuối cùng gia công, chỉnh lý biên thành sách, như "Tam quốc diễn nghĩa ", "Tùy Đường diễn nghĩa".
"Tống cung mười tám triều diễn nghĩa" là bộ tiểu thuyết lịch sử khái quát lại toàn bộ sự hình thành, phát triển và suy vong của triều đinh nhà Tống. Bắt đầu từ thời Ngũ đại, nhà Đường suy tàn, nạn cát cứ xưng hùng, xưng bá nổi lên, Hậu Tấn Cao tổ Thạch Kính Đường không biết nhục nhận giặc làm cha; không những chỉ dâng mười sáu châu Yên Vân cho quân Khiết Đan mà còn mở cửa rước giặc vào nhà, biến Trung Quốc tươi đẹp trở thành hoang tàn, đau khổ. Nhà Đường đã chấm dứt vai trò của mình trên vũ đài lịch sử. Sau cuộc binh biến ở Trần Kiều, Khuông Dẫn mặc áo hoàng bào thay nhà Hậu Chu thâu tóm thiên hạ. Lúc đó, Chu Thế Tông vừa qua đời Khuông Dẫn đưa quân về triều bức ấu chúa bảy tuổi và hoàng hậu trẻ nhường ngôi, còn phao lên rằng làm vậy là hợp lòng người, lẽ trời. Lễ tế thiên phỏng theo Đường ngu, giống thời Nghiêu Thuấn. Lấy niên hiệu Tống Thái Tổ. Nhưng lẽ trời luân chuyển, ân oán rạch ròi, vì tuy đã thống nhất được Hoa Hạ, song Khuông Dẫn không có một ngày yên vui để an hưởng phú quí! Tây Thục mới vừa yên thì Triệu Khuông Dẫn qua đời, sự ra đi của nhân vật lịch sử này còn trong huyền án cho muôn đời sau. Thái Tông vừa lên ngôi đã nhốt hoàng hậu vào Tây Cung, giống y nhưngày nào Thái Tổ xử sự với hoàng hậu Chu Thế Tông. Rồi đến sự kiện Đức Chiêu bị Thái Tông ruồng bỏ chết bất đắc kỳ tử...
Thời gian dẫn qua đi, lẽ trời luân chuyển, ân oán rạch ròi" . Trải qua mưa 1 tám vua, từ sau cái chết của ba trung thần : Văn Thiên Tường, Trương Thế Kiệt, Lục Tú Phu cùng đế Bính của Nam Tống tức là sau ba trăm hai mươi năm thì nhà Tống cũng bị diệt vong.
Nhà xuất bản Đà Nẵng xin trân trọng giới thiệu cùng đọc giả bản dịch tiếng Việt và in lần đầu tiên bộ đồng cung mười tám triều diễn nghĩa" của dịch giả Vũ Ngọc Quỳnh, dựa trên nguyên tác của Hứa Mộ Hi một trong những nhà văn nổi tiếng chuyên viết tiểu thuyết diễn nghĩa cung đình của Trung Hoa. Và hy vọng quyển sách sẽ đem đến cho các bạn những giây phút kỳ thú và những hiểu biết thêm về một triều đại phong kiến rực rỡ trong lịch sử của nước Trung Hoa vĩ đại.
NHÀ XUẤT BẢN ĐÀ NẴNG
NHÀ SÁCH CADASA TP HCM
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ NHẤT
Ngắm cảnh xuân. Khuông Dẫn dày lòng học đạo
Nhìn tướng quí Văn Duyệt thu nhận nhân tài.

Triều đại Canh Diên thuộc cuối Đường,
Khiên trấn xưng hùng khắp bốn phương.
Trăm họ khổ đau, ngựa Hồ tới,
Vua thì nhỏ tuổi loạn kỷ cương!
Đoàn quân kỵ mã đã lên đường,
Đường đến Trần Kiều tôn một vương,
Tiến thẳng về kinh ép thoái vi,
Thống nhất giang sơn diệt bạo cường.
Một văn nhân đọc sử triều Tống dựng nước, nhà Đường suy tàn trong thời Ngũ Đại, thấy xúc động mới viết nền bài "Tây giang nguyệt" này.
Mấy câu trên miêu tả cảnh tượng cuối đời Đường : loạn lạc triền miên, các Phiên cát cứ xưng hùng xưng bá, dân tình khổ ải nhiều bề. Lại có Hậu Tấn Cao Tổ Thạch Kính Đường, không biết nhục nhận giặc làm cha; không những đã dâng cả mười sáu châu Yên Vân cho lũ Khiết Đan mà còn mở cửa rước giặc vào nhà, biến Trung Quốc tươi đẹp trở nên hoang tàn, tai họa dồn dập. Phần dưới bài từ kể chuyện Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn ra đời trong một trại ngựa ở thành Lạc Dương. Trong ngày đó như có một hiện tượng kỳ lạ : căn phòng rực sáng và mùi thơm sực nức từ hình hài đứa bé mãi tới mấy hôm. Đây mới là bậc đế vương chân chính giáng trần. Sau cuộc binh biến ở Trần Kiều, Khuông Dẫn, mặc hoàng bào thay nhà Hậu Chu thâu tóm thiên hạ. Lúc đó Chu Thế Tông vừa qua đời. Khuông Dẫn đưa quân về triều, bức ấu chúa chừng bảy tuổi và hoàng hậu còn trẻ vào Tây Cung để tiếm quyền đoạt vị Còn phao lên rằng như vậy là hợp với mệnh trời, thuận theo lòng người, lễ tế thiên phỏng theo lúc Đường Ngu, in hệt như thời Nghiêu Thuấn cổ xưa. May sao sau những năm thời Ngũ Đại loạn lạc triền miền, mệnh trời đã chán, lòng người cũng ghét chỉ mong sao trần thế được an bằng nên Triệu Khuông Dẫn mới thống nhất đất nước, trở thành thiên tử dụng nên cơ nghiệp. Nhưng lẽ trời luân chuyển, ân oán rạch ròi, vì tuy đã thống nhất được Hoa Hạ nhưng chưa có ngày nào yên để an hưởng phú quí ! Vừa bình định xong Tây Thục thì Triệu Khuông Dẫn đã qua đời, nhiều điều chưa rõ. Ánh nến và tiếng búa kia vẫn còn là nghi án cho muôn đời sau! Thái Tông, con người vô ơn bội nghĩa, lên ngôi xong, cũng nhốt hoàng hậu Tống thị vào Tây Cung, như ngày nào Thái Tổ xử sự với hoàng hậu Chu Thế Tông, đó là việc báo ứng nhãn tiền ! Về sau hoàng tử Đức Chiêu bị Thái Tông ruồng bỏ, chết bất đắc kỳ tử, đó chẳng phải là sự báo ứng vô vàn thảm khốc so với Chu Cung đế hay sao ? Những kẻ làm điều ác thì trời sẽ trừng phạt ngay, trừng phạt thật khốc liệt, gấp ngàn vạn lần điều hắn đã làm với người khác.
Nếu ai chưa tin xin hãy nhìn vào Bắc Tống. Sau khi truyền đến tám chín đời thì lại có nước Kim, Hà Bắc thất thủ, Huy Khâm Nhị Tông bị bắt về Ngũ Quốc Thành trong cảnh cá chậu chim lồng khốn khổ. Lúc Khang vương dời xuống phía nam, dựng đô ở Lâm An thì đất nước chỉ còn lại một nửa chẳng khác gì thời Hậu Chu. Khi diệt vong, mấy đứa trẻ chẳng biết phải làm gì ! Năm nay lập một đứa, bị quân Bắc bắt mất. Sang năm lập đứa khác, chỉ được vài năm đã chết vì kinh hãi quá. Rốt cuộc, còn lại giọt máu cuối cùng của Triệu thị thì trôi giạt đến tận Nhai Sơn, được một năm rồi cũng chết. Tuy có Văn Thiên Tường, Lục Tú Phu, Trương Thế Kiệt, mấy trung thần lòng son dạ sắt gắng bảo hộ dòng giống Triệu thị nhằm tiếp nối về sau, nhưng rốt cuộc thì sức cùng lực kiệt; chẳng nên cơm cháo gì, thân bại danh liệt, đành phụ lời thề với non nước, tự tận giữ vẹn chữ trung. So với thời Tống Thái Tổ tiếm ngôi vào thời Hậu Chu thì đây chẳng phải là sự báo ứng tàn khốc gấp ngàn vạn lần đó sao ?
Cứ thế mà suy thì "Lẽ trời luân chuyển, ân oán rạch ròi là điều muôn thuở. Ngày nay người ta dốc hết tâm tư, lập mưu tính kế dựng nên nghiệp lớn truyền lại muôn đời cho con cháu, thì sau này lại có kẻ khác cũng làm như vậy để đoạt lại một cách không thương xót Thánh nhân nói : "Của phi nghĩa thì không bền" Thực không sai bao giờ. Lại như Thái Tổ triều Tống,sau khi lấy xong thiên hạ, tránh bỏ vết xe triều trước, đã tính kế phòng ngừa cho con cháu, kể đã thấu đáo lắm!! Khuông Dẫn mở tiệc mời chư tướng Điển Cấm quân để tước bớt binh quyến của công thần, tránh hậu họa phiên trấn hùng mạnh; lại chình đốn cung vi, cấm hậu phi không nghe chuyện ở ngoài, tránh hậu họa gà mái gáy sáng; chế ngự các thị thần không can dự triều chính để tránh hậu họa hoạn quan chuyên quyền Khuông Dẫn hòa thuận với người thân tựa tình cốt nhục, tránh cảnh tông thất hoành hành bạo chính tín nhiệm và sử dụng những người tài năng thay vì hoàng thất, tránh cảnh ngoại thích tiếm quyền. Cách phòng ngừa mầm họa của Khuông Dẫn hơn hẳn các triều Hán Đường, ngay như ba triều Hạ, Thương, Chu cũng chắc gì đã kịp ! Nhưng vì sao khi truyền đến đời con cháu, đất nước lại suy vi và cuối cùng thì diệt vong trong tay lũ ngoại Di ? Đó cũng là ý trời muốn con cháu Thái tổ đời đời khổ ải nhục nhã. Đó là quả báo vậy !
Tống Thái Tổ nhìn vào sai lầm của các vương triều trước, phòng ngừa hậu họa cho con cháu. Duy có lũ ngoại Di là người không chú ý tới. Vì thế chế độgiám quân thái quá, khiến cho ba nước Liên, Kim, Nguyên cũng hùa nhau nổi dậy, tai hoạ không dứt. Đến thời Nam Tống, người hiền lép vế, gian tà nổi lên, trong triều đầy những gian thần. Mấy vị lương tướng ở ngoài như Nhạc Phi, Hàn Thế Trung đều bị gian thần Tần Cối hãm hại. Việc quân hết người cai quán, tất cả thúc thủ chờ chết. Lại như Cẩu Diên bạc nhược tiếp tục rước giặc vào cầu hòa, không nghĩ gì đến nỗi nhục của đất nước, làm cho tông xã tiêu vong. Tống Thái Tổ tuy đã gắng sức tránh sai lầm nhưng quả có những điều không ngờ tới, phòng mà không xuể Đúng là trời nghĩ một bằng người nghĩ cả vạn lần. Nếu không phải là chủ tể trong cõi mênh mang huyền diệu thì sao lại có thể báo ứng chính xác đến nhường ấy ?
Thái Tổ vốn là người nhân hậu, muốn làm điều thiện tránh điều ác, khác hẳn các vị quân chủ chuyên hành bạo chính trong thời Ngũ Đại. Vì vậy đất nước tuy tiếm đoạt mà có, vẫn truyền được mười tám đời qua Nam Bắc triều, Lưỡng Tống, chừng được ba trăm hai mươi lăm năm, so với bốn mươi lăm năm của mười ba vua thời Ngũ Quý thì hơn hẳn. So với Lưỡng Hán cũng chỉ thiếu có mấy chục năm; với triều Đường lại nhiều hơn mấy chục năm. Có. thể vì Thái Tổ là người trọng đạo hiếu sinh của trời đất, thương yêu trăm họ, khoan hòa trị chính nên ông trời mới rủ lòng ban ân như vậy chăng ? Tuy không dâm hung, bạo ngược như những người khác trong thời Ngũ Đại : Chu ôn, Lý Tồn Úc, Thạch Kính Đường, Lưu Tri Viễn, Quách Uy. Nhưng chỉ với chính sách khoan dung trị chỉnh, Khuông Dẫn chưa thể chuộc được tội ác tiếm quyến. Nếu trời đất không trừng phạt làm răn thì con người còn biết đâu là đường thiện ác mà theo ? Để cự tuyệt lời khuyên của Tống sứ, Bá Nhan nói :
- Được nước là chuyện nhỏ mà mất nước cũng là chuyện nhỏ !
Một câu nói bình thường nhưng cứ ngẫm về việc được mất của triều Tống ta lại có cảm tưởng như thượng đế mượn lời Bá Nhan đưa ra một chân lý lớn lao nào đó ! Xem hết câu chuyện về mười tám triều trong cung nhà Tống chúng ta sẽ hiểu đó không phải là lời nói suông mà hẳn phải có nguyên cớ''!
Lại nói thời Ngũ Đại, lúc Miinh Tông Lý Tự Nguyên lên ngôi là lúc quần hùng cát cứ,. đất nước chia năm xẻ bảy đã mấy chục năm, binh đao triền miên dân tình ấy hương thất sở khốn 'cùng. Lý Tự Nguyên không cầm được lòng, đêm đêm thường nhang khói trong cung mà cầu khấn : "Mỗ là người Hồ được dân chúng suy tôn tạm là Đường Thống. Mong sao trời đất sớm sinh thánh nhân bình định can qua, lo cho dân chúng, thống nhất Trung Nguyên". Không ngờ lòng thành của Lý Tự Nguyên đã cảm động tới trời đất.
Vào năm Thiên Thành thứ 2 thời Minh Tông, ở trại ngựa thành Lạc Dương xuất hiện một sinh linh dị thường, một đứa trẻ ra đời với mùi hương hoa sực nức. Đứa trẻ vừa sinh thì cả căn phòng đã bừng sáng, mùi thơm cứ phảng phất mãi không thôi. Tin tức lan truyền gọi là đứa trẻ thơm tho. Đứa trẻ kỳ dị đó đích thực là hoàng đế sau này. Đứa trẻ thơm tho đó chính là người sáng lập ra triều đại thứ nhất của nhà Đại Tống, Thái Tổ hoàng đế Triệu Khuông Dẫn. Họ Triệu vốn người Trác Châu, Hà Nam, đời đời làm quan. Tằng Tổ Huý Đình là ngự sử trung thừa, tiết độ thời Đường. Tổ là Huý Kính từng là thứ sử ba châu Doanh, Kế, Trác. Phụ thân là Hoàng Ân, thuở nhỏ kiêu dũng sức lực hơn người, có tài cười ngựa bắn tên, tướng mạo có phần kỳ dị. Thời Trang Tông Hậu Đường, Hoàng Ân dũng mãnh, gan dạ nên được bổ vào Điển Cấm quân, Đô chỉ huy sứ. Mẫu thân là Đỗ thị, nữ tử Đỗ Tam Ông, người An Hỉ, Định Châu. Mẫu thân từ nhỏ ham đọc thi thư, tính tình nghiêm cẩn, biết cách trị gia. Bà cùng tuổi với chồng. Sau khi thành thân, song thân luôn biết giữ lễ, nhường nhịn và kính trọng lẫn nhau. Hai người sinh con trai đầu lòng. Hoàng Ân mừng rỡ, liền đặt tên cho con là Khuông Tế, khuông có nghĩa là tế thế. Nhưng bất hạnh thay, đứa trẻ đã chết yểu lúc chưa đầy năm, vợ chồng Hoàng Ân vô cùng đau khổ. May thay, lại sinh được đứa thứ hai chính là Triệu Khuông Dẫn.
Triệu Khuông Dẫn tướng mạo khôi ngô tuấn tú, mắt phượng mày ngài, sắc mặt rạng rỡ. Khuông Dẫn tính tình hào phóng, gạn dạ hơn người, thích đường võ nghệ, nhất là cưỡi ngựa bắn tên, múa dao đánh quyền. Tư chất lại thông minh, bất kỳ là môn và thuật nào, thứ binh khí gì, chỉ cần học là biết và biết là tinh. Ngay cả những người thông hiểu võ thuật cũng chắc gì đã bằng. Thân phụ là võ quan hai triều Hậu Đường và Hậu Tấn nên mỗi lần luyện quân, thao diễn kỹ thuật, thể nào Khuông Dẫn cũng đến xem. Khuông Dẫn thích được vào doanh trại, để được giương cung cứng, cưỡi ngựa hay, luyện sức tập võ. Hoàng Ân vì thương con nên không ngăn cấm điều đó Riêng Đỗ thị thấy con thích võ, sao nhãng học hành thì không vui lắm. Biết Hoằng Ân vì chiều con mà không chú ý, Đỗ thị nói với chồng :
- Hương nhà ta đã khôn lớn, cần phải khuyên con đọc sách, thành tài giúp nước, rạng danh tiên tổ khỏi phụ công sinh thành. Còn nay cứ thả sẽ ~ ~l~ì
ngày cưỡi ngựa bắn tên, tay thương tay côn học dốt những kẻ thất phu, rồi một chữ bẻ đôi không biết thì làm quan sao được ! Như vậy làm họ Triệu ta phải mất mặt ! Phu quân nên khuyên con chăm chỉ học hành.
Hoằng Ân nghe lời Đỗ thị nói phải, liền cho người gọi Khuông Dẫn vào bảo :
- Nay con đã lớn cứ. suốt ngày đánh dao múa kiếm thì không phải đâu. Sau này rồi sẽ ra sao ? Từ nay, dao kiếm, côn quyến nên bỏ tất, rồi lo học hành cho nên người rạng danh tiên tổ.
Khuông Dẫn nghe xong liền thưa luôn :
- Trị thế dụng văn, loạn thế dụng võ. Hiện nay thế cục nhiễu nhương, binh tranh không dứt. Con muốn luyện võ, khi có dịp là nổi dậy an bang định quốc lưu danh hậu thế, mới không hổ một đời !
Đỗ thị đứng bên liền cười nói :
-Chỉ mong sao con kế thừa được cơ nghiệp tổ tiên, không làm tổn hại đến gia phong, chứ có nghĩ gì đến chuyện phải nên danh nên giá!
Khuông Dẫn cười nói :
- Đường Thái Tông Lý Thế Dân cũng chỉ là con nhà tướng. Về sau vì biết cứu nước cứu nhà mà dựng nên nghiệp đế. Con cũng xuất thân từ tướng môn nên mới chú trọng võ nghệ, mong được như Đường Thái Tông, dựng nên nghiệp lớn chẳng hơn hay sao ?
Hoằng Ân không chờ cho con nói hết đã vội lớn tiếng ngắt lời :
- Con đừng luôn miệng nói bừa, ở đời phàm những kẻ khuyếch khoác thì mấy khi làm nổi điều gì! Cha không muốn con cứ nói lung tung như thế !
Dứt lời, liền quay sang phía Đỗ thị :
- Khuông Dẫn học hành mà không có người trông nom e cũng hông. Ta phải dạy con, nhưng tiếc là công việc ở Cấm quân quá bận, chỉ có ông ngoại là người học rộng tài cao, lại ẩn cư nhàn rỗi ở nhà," ta muốn đưa con sang nhờ ông kèm cặp, không biết ý phu nhân thế nào ?
Đỗ thị thưa luôn :
-Có khó khăn gì đâu? Cha thiếp vốn là người thông kim bác cổ, hạ bút thành văn, Khuông Dẫn là đứa trẻ thông minh chịu khó, tương lai ắt phải thành, chờ thiếp thu dọn một ít hành lý và sáng mai có thể đưa con về ngoại.
Hoàng Ân bằng lòng với cách sắp đặt của Đỗ thị rồi trở vào phòng giúp Khuông Dẫn sắp xếp những thứ cần thiết.
Sáng hôm sau trước lúc lên đường Hoằng Ân dặn dò Khuông Dẫn :
- Lần này con đi học nên phải hết sức lắng nghe những điều ngoại dạy. Nếu không nghe lời là cha không tha đâu. Con nhớ cho kỹ điều đó. Đường đến huyện An Hỉ không xa lắm nhưng cha bận việc không đưa con đi được. Con đi một mình vậy. Lúc ở nhà ông ngoại, con chỉ có một việc là học, điều vô bổ. Khi cần cha gọi mới vế, kẻo ảnh hưởng tới học hành!
Khuông Dẫn nhất nhất theo ý cha, rồi tự mình từ biệt cha mẹ đem theo hành lý đi về huyện An Hỉ, đến nhà Đỗ Tam ông.
Bấy giờ là giữa mùa xuân, hoa đào nở rộ, trời mưa lâm thâm. Khuông Dẫn ngồi trên lưng con ngựa xám lầm lũi trong mưa. Sau mấy hôm vất vả, đường xa đã tới. Khuông Dẫn sai gia nhân vào báo tin cho ông ngoại. Người hầu đáp :
- Xin tướng công chờ một lát để kẻ hầu vào báo trước.
Lát sau người hầu quay ra đưa Khuông Dẫn vào trong. Khuông Dẫn sửa sang áo mão để được bái kiến ông ngoại Đỗ Tam ông. Tam ông thấy cháu đã lớn, tướng mạo lại khôi ngô thì mừng lắm. ông bảo Khuông Dẫn ngồi xuống cạnh rồi hỏi chuyện. Khuông Dẫn thưa :
- Phụ thân thấy cháu sao nhãng học văn chỉ lo học võ, sợ sau này khó sống, định bụng sẽ dạy cháu, nhưng vì việc ở Cấm quân bận bịu suốt ngày, nên mới cho cháu sang đây để ông dạy bảo, sau này có cơ lập nghiệp.
Tam ông lấy làm mừng rỡ, nói :
- Bà ngoại cháu mất đã lâu, mẹ cháu lại ở xa, ông ngồi nhà một mình suốt ngày buồn bã. Nay được cháu sang đây khiến ông cảm thấy vui lắm. Duy có việc phải bảo ban cháu học như ý cha mẹ cháu thì hơi khó. Mươi năm trước đây thì còn được chứ lúc này tóc ông đã bạc mắt đã mờ, ông còn đọc được sách nữa đâu! Cũng may cách đây không xa ngoài phường Ngũ Mã có ông Tân học rộng tài cao, tính tình cởi mở, có mở trường dạy học. Cháu ra học ở đấy thì chẳng mấy chốc sẽ giỏi. ông ấy là chỗ quen biết, ngày mai ông đến thưa chuyện thì chắc là xong.
Triệu Khuông Dẫn luôn miệng vâng dạ. Tam ông sai người dọn cho cháu một căn phòng riêng.
Mờ sáng hôm sau, Khuông Dẫn trở dậy sang thăm ông ngoại. Tam ông để Khuông Dẫn cùng ăn sáng với mình và dặn :
- Cháu ở nhà, đừng ra ngoài, chờ ông sang bên Ngũ Mã bàn về chuyện học hành của cháu.
Đỗ Tam Ông với chiếc gậy chống có khắc rồng, từng bước từng bước ra đi. Khuông Dẫn nghe lời ông ở nhà chờ đợi.
Chừng đến trưa thì thấy ông ngoại chóng gậy trở về Khuông Dẫn vội vã ra đỡ ông vào nhà và liên tiếp hỏi chuyện :
- Vì việc của cháu mà ông ngoại vất vả ! Không biết thầy Tân có nhận cháu vào học không?
Tam ông vừa bước đi vừa hi hi cười, nói :
- Ông đã nổi chuyện với ông Tân. Lúc đầu vì học sinh đông quá, ông ấy sợ dạy dỗ không chu đáo sẽ nhỡ việc ông phải nói đi nói lại mấy lần và khi biết cháu là cháu ngoại của ông, mới không nỡ từ chối. Ngày mai là ngày hoàng đạo tốt ngày, cháu nên đi học luôn.
Khuông Dẫn nghe xong, luôn miệng tạ ơn ông.
Ngày hôm sau, Đỗ Tam ông cho cháu ăn mặc sạch sẽ, mang theo sách vở cùng mình sang chỗ ông Tân. Tân Văn Duyệt thấy Khuông Dẫn khôi ngô, tuấn tú thì trong lòng mừng lắm ! Từ đó, cứ sáng sáng Khuông Dẫn đến trường học tập, tối đến lại về nhà nghỉ ngơi ở chỗ ông ngoại.
Thấm thoắt nửa tháng đã trôi qua, mọi việc đều suôn sẻ. Đỗ Tam ông biên thư vui, báo tin để vợ chồng Hoằng Ân được yên tâm. Nào ngờ, Khuông Dẫn sẵn tính anh hùng trời phú, thích động không thích tĩnh. Nửa tháng qua còn yên ổn, tuân theo quy định của thấy, chưa có điều gì thất thố vì Khuông Dẫn còn lạ thung, lạ thổ, lạ người ! Song bây giờ thì mọi chuyện đã quen, liệu Khuông Dẫn còn yên tâm mà học được không ? Khuông Dẫn đã quan hệ với mấy bạn gây ra nhiều chuyện.
Khuông Dẫn đã làm những gì, xin xem hồi sau sẽ rõ.
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ HAI
Giận đồng môn. Thủ Tín đánh kẻ tiểu nhân
Thù sư phụ Khuông Dẫn bày trò hạ tiện.

Lại nói chuyện Khuông Dẫn tìm thầy học đạo. Tân Văn Duyệt vốn là người uyên bác, đạo đức văn chương là độc nhất vô nhị. Khuông Dẫn trong lòng khâm phục, yên tâm tu chí học hành. Có điều quy chế của Tân Văn Duyệt lại hết sức chặt chẽ. Khuông Dẫn tính tình hiếu động, bị câu thúc hơn nửa tháng nay, khó lòng vượt qua. Số môn đệ tuổi còn trẻ, ưa hoạt động, một khi đã quen nhau, trở thành bạn bè thì tránh sao khỏi có nhiều chuyện.
La Ngạn Uy và Thạch Thủ Tín là hai đứa tâm đầu ý hợp với Khuông Dẫn. Cả hai chừng mười bảy mười tám tuổi, vóc dáng khôi vĩ, sức lực hơn người. Chúng vừa gặp mặt nhau mà coi như thân thiết từ lâu, tình cảm hết sức đằm thắm. Sau mỗi buổi học, bọn chúng hẹn nhau ra cánh đồng ngoài thành cưỡi ngựa hoặc bắn tên. Thử hỏi tuổi trẻ liệu có ai lại không thích những trò chơi như vậy ? Biết ba người thường ngày đều ra ngoài thành luyện võ, các bạn đều đổ ra xem, trong số đó có bạn họ Vương tên là Bá Đán. Họ Vương này tính tình giảo hoạt, thường nói xấu người khác trước mặt thầy, khiến thầy không đánh người này thì cũng mắng người khác. Tiếc rằng Bá Đán kia là kẻ khéo nói lời hay, biết bợ đỡ nên rất được lòng thầy. Các bạn trong lớp đều rất hận, nhưng chỉ vì hắn được thầy yêu nên không ai dám động vào. Khuông Dẫn tính tình thẳng thắn, nhiều lúc nhìn Vương Bá Đán ton hót thị phi đã thấy bực bội; tự nghĩ rằng khi hắn chưa đụng đến mình thì mình cũng chưa nên can dự vào chuyện người khác. Khuông Dẫn tạm nén lòng chờ đợi một thời gian.
Hôm đó vừa khéo lại có chuyện. Lúc tan học, Khuông Dẫn ngầm hẹn với La Ngạn Uy, Thạch Thủ Tín ra ngoài thành đấu quyền cước. Vương Bá Đán nghe xong đã vội bước tới nói :
- Các bạn thi đấu quyền cước chăng ? Trước đây mình đã luyện môn này, có nhiều kết quả. Hôm nay mình cũng muốn ra ngoài ấy. Liệu có ai dám đấu với mình không ?
Khuông Dẫn nghe đã thấy mất vui, nhất là thái độ ngạo mạn của Bá Đán càng làm cho Khuông Dẫn thấy khó chịu, liền nói luôn :
- Cậu muốn đấu thì tất phải có người tiếp cậu! Nhưng nên. nhớ quyền cước đều không có mắt, nếu bị thương thì đừng trách bọn này .
Thạch Thủ Tín ở bên cạnh cũng lên tiếng :
- Cậu muốn đấu thì cứ đi, kẻ nào không dám tiếp cậu kẻ đó là sâu bọ. Còn như cậu mà khuếch khoác thì chỉ có mà ăn đòn, hối hận cũng vô ích.
Nói xong, liền cùng Khuông Dẫn, Ngạn Uy đi ra hướng ngoại thành. Vương Bá Đán tự nghĩ mình cũng khá nên theo luôn ra ngoài đó. Các bạn thì rất hận Vương Bá Đán, muốn được tận mặt thấy Bá Đán thua trận cho hả nên cũng hùa nhau đi theo luôn.
Ba người dừng lại trên một bãi đất trống ở ngoài thành. Lũ bạn đến xem đấu đã đứng thành một vòng tròn như khi đi xem kịch. Một kẻ lắm mồm khác thúc vào người Bá Đán nói :
- Cậu thách đấu với người ta sao không xông vào đi còn định chờ đến bao giờ nữa ?
Vương Bá Đán tuy có sức mạnh học được vài miếng quyền, nhưng vì chưa có thầy giỏi, nên chưa thực tinh. Vừa nãy nói mạnh vài câu bị bọn bạn tóm ngay lấy, thế là hết đường rút lui, Bá Đán 'đành phải xông bừa vào bãi và lên tiếng :
- Mình chỉ có một, các cậu gồm những ba. Ba đánh một hay luân phiên một đấu một đây ?
Khuông Dẫn đang định trả lời thì thấy Thạch Thủ Tín đã lớn tiếng nói ngay :
- Trông dáng cậu thế kia thì bọn này phải lấy ba đánh một ư ? Tớ chẳng phải là loại người hay khoác lác đâu tớ chỉ cần một tay thôi cũng hạ được cậu.
Vương Bá Đán cũng biết rõ sức mạnh của ba bạn kia, nhưng chỉ vì nhỡ miệng mà sinh chuyện. Muốn xông lên nhưng lại sợ; tìm cách rút lui thì mất sĩ diện. Bá Đán tiến thoái lưỡng nan, lòng đầy do dự. Bỗng thấy số bạn xung quanh đang náo loạn, chúng thét lên như cùng một lúc :
- Vương Bá Đán ngày thường thì diễu võ giương oai ghê gớm lắm, sao lúc này lại nhu nhược thế ?
Vương Bá Đán, bị lũ bạn làm cho sực tỉnh, bất giác mặt đỏ như gấc và hiểu rằng hôm nay không thể không đấu. Cu cậu thắt lại dây lưng cho chặt hơn rồi nhún mình như bay ngay vào trường đấu và xuống tấn chờ đợi đối thủ. Còn Thạch Thủ Tín thì đã cởi áo ngoài từ bao giờ không biết. Một tay thu lại và chỉ
bằng tay phải thôi, Thủ Tín lấy sức xông vào đánh. Vương Bá Đán tránh người rất nhanh và đánh trả một cú thật mạnh. Hai người đánh đi đánh lại phải đến mấy hiệp. Rồi bỗng Thạch Thu Tín thét lên một tiếng "đi", một cú đá song phi tung ra, Vương Bá Đán bi bật ra xa đến hàng trượng. Lũ người đứng xem chợt thấy quyền cước của Thủ Tín hết sức cao siêu, chẳng ai bảo ai mà tiếng reo hò bỗng vang lên như sấm dậy! Vương Bá Đán đang sóng xoài dưới đất, chỉ trầy sướt qua loa, cậu ta lồm cồm bò dậy và biến mất tăm. Mọi người đưa mắt nhìn theo Vương Bá Đán vỗ tay miệng cười ha hả, ai nấy tỏ ra khoái chí lắm !
Trời đã sang chiều, thấy Khuông Dẫn chắp tay vui vẻ với mọi người, nôi :
- Đã muộn rồi, hơn nữa còn bị Bá Đán phá quấy nên bọn này cũng muốn nghỉ thôi. Chúng ta về vậy
Mọi người thấy cũng chẳng còn gì để xem nữa, nên ai nấy cũng tản dấn. Khuông Dẫn và hai bạn cũng ai về nhà nấy. Ba bạn tỏ ra thật khí khái. Tuy có thắng Vương Bá Đán nhưng cũng chẳng ai bận tâm về chuyện đó nữa.
Nào ngờ Bá Đán đúng là một đứa tâm địa hẹp hòi. Thua Thủ Tín một chiêu, hắn tức lắm, quyết tâm phải trả thù. Bá Đán thấy được thầy quí, hắn vội chạy đến trường, giấu biệt ý muốn trả thù, hắn chỉ tố bọn Khuông Dẫn lừa hắn để làm nhục. Hắn khóc lóc, xin thầy phạt cho thật nặng. Thấy vốn rất quí Bá Đán, qua lời hắn nói mới để ý thì thấy chiếc áo Bá Đán mặc đã rách bươm, mặt mũi quả có mấy chỗ bầm tím. Tân tiên sinh liền nói với Bá Đán :
- Không việc gì phải buồn ! Ngày mai ta trách phạt bọn chúng thì con sẽ hết tức ngay !
Vương Bá Đán thấy thầy hứa sẽ trừng phạt bọn Triệu Khuông Dẫn thì vui lắm, vâng vâng dạ dạ xin phép ra về.
Ngày hôm sau khi mọi người đến lớp, thầy liền cho gọi cả ba bạn đến trước mặt, phạt mỗi người bị đòn hai mươi roi vì gây sự ở bên ngoài. Thầy còn nói nếu không chịu sửa chữa thì lần sau sẽ bị đuổi học.
Bọn Thủ Tín và Ngạn Uy thì chẳng sao. Riêng Triệu Khuông Dẫn thì trong lòng không phục, thầm nghĩ : "Thầy chỉ nghe một phía để phạt chúng mình. Mối thù này biết trả sao đây ? Thầy là thầy giáo, chẳng lẽ lại giở quyền cước ra ư ?". Nghĩ mãi không xong, Khuông Dẫn cảm thấy sốt ruột. Bỗng ngẩng đầu trông ra, Khuông Dẫn nhìn thấy chiếc bô đi giải thầy thường dùng vào buổi tối để ở chỗ bậc tam cấp. Bỗng trong đầu nảy ra ý hay, Khuông Dẫn nghĩ thầm : "Mình phải làm như vậy. Một là cho bỏ tức hai là thầy cũng chẳng biết ai làm để mà phạt". Khuông Dẫn quyết định xong liền nhân lúc không có ai, đem chiếc dùi sắt dùi thủng mấy lỗ ở đáy bô, dùng đất bịt kín các lỗ, để bô vào đúng chỗ cũ Tân tiên sinh không hề hay biết điều gì ! Đêm đó lúc tỉnh giấc buồn đi giải thầy liền kéo bô lên giường, tè một lúc chừng đầy cả bô. Lúc này chút đất trát ở mấy lỗ thủng đã bong đi hết, nước giải cứ thế chảy ra ướt cả chiếu. Tân tiên sinh cảm thấy chân mình lành lạnh. Ông thất kinh, nghĩ mình nằm mơ tè cả ra ngoài. Ông sờ bằng tay thì thấy chăn chiếu đều ướt sũng cả. Khi nhìn đến chiếc bô mới thấy có ba, bốn lỗ thủng. Nước giải đã từ các lỗ đó mà chảy ra ngoài ! Lúc này Tân tiên sinh mới sực tỉnh : "Trong số học sinh có người oán hận ta mà sinh chuyện đây. Chờ ngày mai xem xét. Truy ra kẻ nào thì quyết không tha". Nghĩ vậy mà thấy giận. Ông ném luôn chiếc bô xuống đất, lau chùi tay chân sạch sẽ, chăn chiếu được thay cái mới, loay hoay cả buổi mới xong.
Ngủ thêm được một chút nữa thì trời sáng. Học trò đã lục tục tới lớp. Tân tiên sinh đành phải dậy và sau khi rửa ráy qua loa, ông đã ra ngồi vào chỗ. Khi thấy học trò dã đủ, ông mới lên tiếng :
- Các con theo ta học tập, những điều đã giáng, đã học phải lấy đạo đức làm đầu. đôi lần ta phải trách phạt các con vì các con còn lười chưa quyết chí tiến thủ. Phạt các con không phải là lăng nhục các con mà là mong muốn các con tấn tới, hoàn toàn là ý muốn tốt đẹp Thế nhưng các con lại lấy đó mà hận thù. Hôm qua có kẻ đã dùi thủng cái bô của ta, làm nước giải chảy lênh láng ra giường, ta phải vất vả rất lâu để thu dọn, mất cả ngủ. Những hành vi 'đó chẳng nhẽ lại là việc làm của những người có học, biết tu dưỡng đạo đức hay sao ? Vậy ai đã làm việc đó phải nhận lỗi ngay đi. Nếu kẻ nào đó có ý gian dối, để ta phải tra xét ra thì bấy giờ tội trạng càng nặng, quyết không dung tha.
Lời thầy vừa dứt, thì thấy có một người từ dưới lớp đứng lên, khom người thưa :
- Chiếc bô của thầy bị hỏng, thầy nói trong số học trò ở đây có kẻ vì hận thầy mà làm điều đó, con trộm nghĩ thầy nói vậy liệu có xem thường số học trò của mình quá không ?
Tân tiên sinh vội nhìn xem ai, thì đó là một người mắt phượng mày ngài, miệng rộng tai to, mũi thẳng môi son, mặt hoa da phấn, tướng mạo hết sức phi phàm. Tân tiên sinh nhận ra người đó là Sài Vinh, cũng là một môn đệ của mình. Sài Vinh là người thông tuệ, một người học nhanh và nhớ cũng rất nhanh, được Tân tiên sinh vô cùng quý mến. Nghe nói vậy, Tân tiên sinh hỏi lại Sài Vinh :
- Con bảo ta có ý miệt thị các bạn, vì sao lại như vậy con nói thử ta nghe ?
Sài Vinh thưa :
- Thầy nói trong số chúng con làm hỏng chiếc bô của thầy, vậy thầy có chứng cớ gì không ?
Nghe câu hỏi đó, Tân tiên sinh trầm ngâm một lúc rồi nói :
- Tuy không có chứng cớ, nhưng ở đây người ngoài không được vào, vậy nếu không phải là các bạn thì còn ai vào đây?
Sài Vinh thưa :
- Xin thầy nghĩ lại, chiếc bô kia để ở ngay bậc tam cấp, ai ai cũng thấy, giả dụ có người xấu bụng thì chẳng nhẽ không ai nhìn. thấy hay sao ? Từ đó mới thấy chiếc bô bỗng có lỗ thủng là do đã dùng lâu quá, hoặc khi di chuyển có sự va đập mà không hay. Còn như chúng con được thầy dạy dỗ, ai cũng biết tu thân tự trọng, thì làm gì có người làm những việc hạ lưu như vậy. Huống hồ chúng con lại cùng đến lớp, cùng ra về thì làm gì có lúc nào rảnh rỗi để một mình mà làm chuyện đó. Với hai nguyên nhân ấy, con muốn nói e thầy khinh miệt chúng con quá.
Tân tiên sinh nghe xong chỉ biết gật đầu, mãi sau mới nói thêm :
- Con nói có lý. Nhưng báo rằng học trò vô can thì e còn sớm ? Ta sẽ dần dà xem xét tiếp, nhưng một khi tìm được chứng cớ thì sẽ có cách.
Sài Vinh cũng từ từ ngồi xuống, không nói gì nữa.
Câu chuyện giữa Sài Vinh và Tân tiên sinh không mấy ai chú ý vì các bạn đều thấy mình vô can. Riêng Triệu Khuông Dẫn khi nghe thầy nói trong số học trò có người vì oán hận mà phá hoại thì sợ quá. Ngại lúc câu chuyện mà vỡ lở thì phải phạt nặng. Sau này khi nghe Sài Vinh nói, thấy thầy yên lặng nên mới mừng thầm : "Không ngờ Sài Vinh nhỏ nhắn kia lại cô tài ăn nói ! Nếu không nhờ cậu ta ra sức che đậy cho thì e việc của mình đã bị lộ mất!" Từ đó Khuông Dẫn đã thầm biết ơn và thân thiết với cậu ta. Còn Sài Vinh thấy Khuông Dẫn tài hoa, vừa tinh thông võ nghệ vừa gan dạ, nên tình cảm trở nên thân thiết như anh em, đi lại chơi bời rất hợp nhau.
Một hôm vào dịp tết Trung Thu, Khuông Dẫn vừa ăn cơm trưa ở chỗ ông ngoại xong, đang đọc sách ở trong phòng thì bỗng thấy cô quạnh quá. Thạch Thủ Tín lẫn La Ngạn Uy thì chẳng biết đi đâu, Khuông Dẫn liền tìm đến nhà Sài Vinh hòng trò chuyện cho khuây khỏa. Đã quen rồi nên Khuông Dẫn biết chừng này thì Sài Vinh đã cơm nước xong và chắc đang ngủ trưa, nên không báo trước mà bước thẳng đến chỗ phòng ngủ. Khuông Dẫn đẩy cửa bước vào thì bỗng sững cả người! Đưa mắt nhìn kỹ thì càng sửng sốt, thế là thế nào ? Thì ra Khuông Dẫn bước ngay đến bên giường định lay gọi Sài Vinh thì trong chiếc màn che rực rỡ ánh hào quang kia có thấy Sài Vinh đâu? Mà là một con Bạch long cuộn tròn ở đó, dáng như đang ngủ! Khuông Dẫn thấy kỳ dị quá, không nén nổi hai tiếng "ái chà" rồi giật lùi về phía sau mấy bước và không may cả người va vào chiếc bàn trà, ấm chén rơi vỡ loảng xoảng. Con Bạch long bỗng biến đâu mất, chỉ thấy Sài Vinh đang nằm trên giường như vừa tỉnh giấc. Sài Vinh trở mình rồi lên tiếng hỏi Khuông Dẫn :
- Bạn ở đâu đến vậy ? Sao lại sợ hãi làm vỡ cả ấm chén thế kia ?
Khuông Dẫn không tiện nói với Sài Vinh về con Bạch long ở trên giường nên đành phải lấp liếm cho qua:
- Nào có việc gì đâu. Hôm nay nghĩ học chẳng có việc gì làm. ăn cơm xong ngồi đọc sách cũng cảm thấy chán. Đi tìm Thạch Thủ Tín, La Ngạn Uy, chẳng có ai ở nhà, mới rẽ vào đây trò chuyện với huynh cho vui. Không ngờ hấp tấp quá làm vỡ cả ấm chén nên mới thấy sợ.
Sài Vinh tỏ vẻ tin tưởng rồi ra khỏi giường ngồi trò chuyện với Khuông Dẫn.
Khuông Dẫn vừa nói chuyện vừa ngẫm nghĩ :
"Tiểu Sài cảm tinh con Bạch long, sau này ắt sẽ dựng được nghiệp lớn. Lúc này biến loạn triền miên, can qua khắp chốn, chưa có người thâu tóm được thời cuộc thống nhất Trung Nguyên: Tiểu Sài cẩm tinh Bạch Long có thể sau này là chân chúa tể thống nhất đất nước. Nay nhân lúc còn hàn vi ta nên nhanh chóng kết nghĩa anh em với Tiểu Sài lấy chỗ dựa về sau. Nếu mọi việc chờ khi đã nên đinh nên đám mới kết thân thì e đã muộn!" ý tưởng đã quyết, Khuông Dẫn liền nói với Sài Vinh :
- Hai ta học cùng một lớp, lại tâm đầu ý hợp tuy chỉ khác họ, sao không lấy chuyện .vườn. đào kết nghĩa anh em Lưu, Quan, Trương mà kết thành anh em, một mai còn có chỗ nhờ cậy. Không rõ ý của Tiểu Sài ra sao ?
Sài Vinh vì thấy Khuông Dẫn cũng là bậc mệnh thế anh tài, nên từ lâu đã nghĩ tới chuyện đó. Song lại nghĩ tới giàu nghèo, sang hèn khác biệt nên chưa dám hé răng. Nay thấy Khuông Dẫn nói ra những điều phù hợp, lẽ nào lại không bằng lòng ? Tuy vậy Tiểu Sài nghĩ nên từ chối trước đã :
- Kết nghĩa làm anh em e có điều chưa hợp.
Khuông Dẫn có phần ngạc nhiên hỏi lại :
- Hai ta tình như cốt nhục, nghĩa tựa thủ túc, nay kết nghĩa thành anh em có gì là không hợp ?
Sài Vinh cười, nói :
- Huynh là con nhà thế gia, phụ thân là mệnh quan triều đình nên danh nên giá ! Còn như tổ phụ và phụ thân đệ tuy có ra làm quan nhưng nay đã khuất cả. Gia cảnh lại quá bần hàn sánh sao được với huynh ! Nay lại kết nghĩa làm anh em chẳng cho người đời dị nghị ?
Khuông Dẫn lắc đầu lia lịa, nói :
- Lời huynh nói có phần thái quá ! Từ xưa nói đến anh hùng đâu kể xuất thân. Chỉ cần người đó có tài, dựng nên nghiệp lớn thì chẳng cần phải nói môn đệ! Huống hồ phụ thân của đệ huynh cũng là quan, người chú của huynh là Quách Uy, quan một triều với phụ thân đệ, môn đệ như vậy là hợp lắm, liệu có trở ngại gì nữa đây ? Đệ đã muốn như vậy, huynh không nên từ chối, nên chọn ngày lành để làm lễ.
Sài vinh thấy Khuông Dẫn rất thực lòng nên đã gật đầu chấp nhận. Hai người bàn bạc thêm nữa, còn giở lịch ra xem, thấy hôm sau là ngày hoàng đạo, liền quyết định đúng ngày sẽ làm lễ ở miếu Quan Đế ngoài cửa Bắc. Khuông Dẫn lấy ra một đĩnh bạc đưa cho gia nhân Sài Vinh để chuẩn bị lễ vật. Khuông Dẫn còn hẹn gần trưa mai sẽ rẽ qua, cùng Sài Vinh ra miếu. Chuẩn bị xong xuôi mọi thứ thì trời đã về chiều, Khuông Dẫn liền từ biệt Sài Vinh rồi trở về nhà ông ngoại, ăn trưa và đi nghỉ.
Gần trưa hôm sau, Khuông Dẫn thay trang phục rồi sang chỗ Sài Vinh. Sài Vinh cũng quần áo nghiêm chỉnh đang ngồi chờ. Vừa thấy Khuông Dẫn đã vui vẻ hỏi ngay :
- Ăn xong hãy đi hay đi ngay ?
Khuông Dẫn nói :
- Chúng ta đã chuẩn bị ba mâm cỗ. Chờ cúng Quan Đế xong, kết nghĩa xong thì xin lộc, nên việc gì phải ăn nữa.
Sài Vinh nghe xong liền đứng dậy cùng Khuông Dẫn đi về phía cửa Bắc đến miếu Quan Đế.
Hai người đến trước Thiên Hán Kiều Bắc Môn thì thấy rất đông người đứng kín trên mặt cầu, không biết có chuyện gì ? Cả hai đã thấy sốt ruột vì không sao đi được nữa ! Khuông Dẫn không chịu được, liền bảo Sài Vinh bám theo rồi cứ xông lên, bằng hai tay đẩy dòng người sang hai bên. Khuông Dẫn và Sài Vinh cứ thế đi tới. Không quản phải chen chúc khổ sở đến như thế nào ! Hai người vừa đi vừa quan sát thì thấy ở mạn bắc có một anh chàng người đen thui trên bàn có mười cây cung với vòng người xúm đông xúm đỏ vây quanh. Triệu Khuông Dẫn và Sài Vinh đều lấy làm lạ, cả hai liền hỏi cụ già đứng cạnh :
- Anh kia từ đâu đến. Mọi người vây quanh làm gì ? Trên bàn để mười cây cung là duyên cớ làm sao ?
Cụ già nhìn hai người tướng mạo phi phàm, quần áo tề chỉnh, biết đó là con nhà gia giáo, liền cười nói:
- Hai vị công tử chưa biết đó thôi, người bán cung này vừa tới. Anh ta tuyên bố : "Đệ không giống những người bán cung khác! Họ vì sinh kề bán cung lấy tiền. Còn đệ xin biếu không cho những ai giương nổi chiếc cung này. Xin mời các vị đến thử, đệ sẽ làm đúng như lời đã hứa l". Nghe nói vậy, người thì thấy lạ kẻ thì hiếu kỳ, những người có sức thì muốn thử tài để lấy chiếc cung. Có một người bước đến trước bàn lên tiếng : "Này, hảo hán từng nói ai giương nổi cung thì được biếu phải không ~ Anh chàng đen thui nói : "Đệ chưa từng dối trá bao giờ. Ai giương được cung thì đệ xin biếu. Nếu huynh thấy mình đủ sức thì xin cứ thử!" . Người đó liền cầm cung lên kéo thử. Lấy hết sức bình sinh kéo một lúc mà chẳng ăn thua gì ! Mặt đỏ như gấc, người đó có ve sượng sùng đặt trả cây cung rồi chuồn thẳng ! Lại có một người khác trông dáng cao, to, nét mặt ác hiểm cũng đến thử cung. Xem ra người này đã thấy nóng tiết, không có một lời nào với người chủ đen thui mà hầm hầm nhấc cung lên kéo. Người đó mặt 'đã đỏ gay, nhưng kéo thế nào cũng không được, cuối cùng đành phải nuốt hận mà lui. Sau hai người không được suôn sẻ đó, thì chẳng còn ai dám vào thử sức nữa. Anh chàng đen thủi không vì hết đối thủ mà dời đi chỗ khác. Ngày nào cũng vậy, cứ đứng đó từ sáng cho đến tối mới thu dọn. Hôm nay là ngày thứ ba rồi, liệu có người nào giương nổi những chiếc cung kia không ?
Triệu Khuông Dẫn nghe lời cụ già trong lòng thầm nghĩ : ''Anh chàng đen thui kia nói là bán cung mà không lấy tiền thì chắc phải có duyên cớ chi đây".Vừa nghĩ vừa đưa mắt nhìn người đó. Bộ mặt anh ta đen như nhọ nồi, đen bóng lên; hai mắt thì tròn xoe, mắt trái hơi bé, dưới cằm là bộ râu chổng ngược lên, dáng cứng như rễ tre, thân cao bảy thước, đứng yên như cọc sắt, nhìn đến phát khiếp. Khuông Dẫn nói với Sài Vinh :
- Anh chàng đen này tướng mạo đường hoàng, uy phong lẫm liệt, một anh hùng hảo hán 1 Việc thử cung thu hút mọi người chỉ là cớ, chắc còn có lý do khác. Huynh nán lại đây một lát, đệ đến thử sức xem ý hắn thế nào.
Sài Vinh cũng thấy anh chàng đen thui kia thực hơi kỳ quặc, nên cứ để Khuông Dẫn đến đó, còn mình thì đứng lại chờ. Khuông Dẫn rẽ đám đông, đến chào anh chàng đen thui :
- Nghe nói tôn huynh cho người thử cung, kẻ hèn này thật không biết lượng sức, cũng muốn giương thử cung quí. Không biết như vậy có mạo muội quá chăng ?
Anh chàng đen thui đáp lễ, nói :
- Đệ đã nói ai giương nổi cung thì đệ xin biếu. Nay tôn huynh muốn thử thì xin mời.
Khuông Dẫn liền bước tới chọn cây cung có phần nhỏ hơn và ra sức kéo. Bỗng nghe thấy một tiếng thật vang.
Chưa biết vì sao lại thế, xin xem hồi sau sẽ rõ.
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ BA
Một lòng một dạ tam hùng kết nghĩa
Múa dẻo hát hay song mỹ hiến ca
Lại nói Khuông Dẫn cầm cung ra sức kéo, nhưng vì cung nhỏ, dùng sức quá mạnh nên cây cung liền gãy làm đôi. Khuông Dẫn vút luôn xuống dết và cúi người lấy một chiếc to hơn. Khuông Dẫn từ từ giươnglên. Cung tròn như mặt trăng giữa tháng. Khuông Dẫn mặt không biến sắc, hơi thở đều đều, ung dung tự tại Số đông vây quanh vỗ tay tán thường, ca ngợi anh chàng mặt đỏ sức khỏe hơn người. Hảo hán mặt đen thấy Khuông Dẫn giương cung thật dễ dàng thì hết sức kinh ngạc, vội bước lên một bước chắp tay vái chào và nói :
- Người anh hùng khỏe quá . Xin tôn huynh cho biết quí danh quí tính và người ở đâu ta ?
Khuông Dẫn chắp tay đáp lễ rồi nói :
- Kẻ hèn này họ Triệu, tên Khuông Dẫn, người Trác Châu. Việc giương cung là việc nhỏ mọn, đâu phải là chuyện lớn!
Anh chàng đen thui nói :
- Thì ra đây là công tử họ Triệu, chẳng trách thần lực đến như vậy, thực không hổ với dòng dõi tướng gia ! Tiểu đệ nghe tên từ lâu nay mới được gặp, quả là vạn hạnh, vạn hạnh !
Khuông Dẫn đáp :
- Kẻ hèn này chỉ có hư danh, nếu nói vậy càng thấy hổ thẹn ! Nhưng không biết tráng sĩ là người phương nào, xin cho biết rõ quí danh quí tính và vì sao đi bán cung lại không thu tiền.
Anh chàng đen thui lại nói :
- Tiểu đệ người Trịnh Châu, họ Trịnh tên ân, tự Tử Minh. Từ nhỏ song thân đã qua đời, được thừa kế ruộng vườn hàng ngàn khoảnh đủ để sống suốt đời. Nhưng vì tiểu đệ vốn tính thích nghề võ nên mới đi xa tìm thầy luyện tập; lại thích kết giao với anh tài, tụ tập cùng hào kiệt; nghe đâu có hảo hán bản lĩnh cao cường, võ nghệ xuất chúng thì dù có xa xôi ngàn dặm đệ cũng lặn lội tìm tới thăm. Vì thế đệ đã học đủ mười tám môn võ nghệ, môn nào cũng tinh. Nhưng võ nghệ thì học được, còn tài sản ngày một vơi dần. Tiểu đệ được trời sinh cho cái tính hào phóng thường không nghĩ đến gia sản chỉ lo kết giao giang hồ hào kiệt. Gặp người hoạn nạn thì giang tay cứu giúp, không tiếc một chút gì, thế là gia sản cạn kiệt, đệ phải lang bạt giang hồ, mượn cớ bán cung để kết thân với anh hùng hào kiệt. Đó cũng là lý do đệ không màng tới lời lãi trong việc buôn bán.
Khuông Dẫn nghe xong, vui mừng khôn xiết :
- Thì ra việc bán cung của Trịnh huynh chỉ là để chiêu dụ nhân tài. Lúc này còn có một hàn sĩ tuy là văn tài, chưa tường về võ nghệ nhưng đã là bạn hữu tâm huyết. Trịnh huynh đã muốn kết giao thì không thể không gặp người đó.
Trịnh Ân vội hỏi :
- Hàn sĩ mà công tử nói là người ở đâu, tính danh là gì xin cho đệ được gặp thì quý hóa quá ?
Khuông Dẫn nói :
- Người đó đi cùng đệ, đang đợi ở trên cầu, để xin mời xuống đây giới thiệu cùng Trịnh huynh.
Nói xong liền giơ tay vẫy người ở trên cầu.
Sài Vinh bỗng nhìn thấy Khuông Dẫn giơ tay vẫy gọi thì đến ngay. Trước mặt hai người, thấy Triệu Khuông Dẫn vừa nói vừa chỉ vào Trịnh Ân:
- Vị này là Trịnh Tử Minh, người Trịnh Châu là hào kiệt thời nay, hai ta cần biết.
Lại giới thiệu về tên họ và gia thế của Sài Vinh với Trịnh Ân. Trịnh Ân khom người vái lạy rồi nói :
- Đây cũng là vị công tử, tiểu đệ thất kính, mong được tạ tội!
Sài Vinh thấy Trịnh Ân đầu báo, hai mắt tròn xoe, thân cao bảy thước, dáng dấp của một vị đại tướng nên cũng muốn kết giao, liền vội vã đáp lễ nói luôn :
- Đều là hào kiệt với nhau cả, bất tất Trịnh huynh phải khách khí nhường ấy ?
Trịnh Ân nói :
- Tiểu đệ xuất thân quê mùa, tính tình thô lỗ, chưa tường lễ nghĩa, xin hai vị lượng thứ !
Khuông Dẫn cười, nói :
- May thay có thiên duyên kỳ ngộ chúng ta mới được gặp nhau. Hôm nay đệ và Sài huynh muốn đến miếu Quan Đế kết nghĩa anh em, may gặp được Trịnh huynh, ba ta cùng nhau đến miếu vậy.
Trịnh Ân mừng rỡ ra mặt :
- Nếu hai vị không chê kẻ quê mùa này thì xin được cùng đi. Thực là vinh hạnh biết bao !
Trịnh Ân dọn mấy cây cung rồi theo chân Triệu, Sài cùng đến miếu Quan Đế.
Lũ gia nhân đã thắp hương đốt nến, dâng đồ tế lễ xong xuôi, chỉ còn chờ chủ nhân đến là hành lễ. Nhìn thấy mọi việc chu tất, cá ba hết sức mừng rỡ, bắt đầu tính đến tuổi tác. Sài Vinh lớn tuổi nhất xếp hàng đầu thứ đến là Khuông Dẫn, Trịnh Ân là thứ ba. Họ làm lễ theo thứ tự đó, còn lạy nhau hai lạy, một tình cảm thân thiết, ruột thịt bao trùm cả miếu đường. Khuông Dẫn dặn dò lũ gia nhân :
- Chúng ta đều chưa ăn gì cả. Cho dọn vật phẩm cúng tế ra phía sau, xong việc thì xin rượu xuống.
Lũ gia nhân vâng dạ rồi lui. Một lát sau thì mọi việc đã xong, ba người được mời vào bàn rượu. Sài Vinh là đại ca ngồi ở chính giữa, rồi đến Khuông Dẫn. Trịnh Ân ngồi hai bên. Ba người chén chú chén anh vui vẻ Sài Vinh ăn uống và tửu lượng đều kém, Khuông Dẫn là con quan, ăn uống hết sức tinh tế, không màng các đồ tế phẩm chưa được chế biến, nên đành ngồi uống mấy chén rượu suông. Riêng Trịnh ân quê mùa quen nếp, sức ăn bằng mấy người thường. Trịnh ân uống rượu bằng bát, một tợp là hết luôn. Gà, cá, thịt cứ nuốt cả súc, ăn như tằm ăn rỗi, loáng cái đã gần hết. Hai người nhìn bộ dạng của Trịnh Ân rồi cười, nói :
- Tam đệ thật anh hùng, bọn ta theo không kịp.
Trịnh Ân lấy tay chùi mép đáp :
- Lúc trước ở nhà, mỗi bữa đệ ăn cả đấu gạo và mươi cân thịt. Lâu nay giang hồ lưu lạc, chưa được bữa nào nuốt khỏe như bữa nay. Các huynh ngồi nhìn đừng vội coi đệ như quỉ đói ở thành Phong Đô !
Nói xong liền hềnh' hệch cười. Khuông Dẫn, Sài Vinh cũng phải ôm bụng mà cười.
Bữa rượu đã xong, gia nhân bắt đầu thu dọn. Sài Vinh bảo Trịnh Ân dọn đến ở với mình. Trịnh Ân vui vẻ vào thành mang theo hành lý đến ở chỗ Sài Vinh. Từ đó, ngoài giờ học, Khuông Dẫn thường cùng Thạch Thủ Tín, La Ngạn Uy đến chỗ Sài Vinh bàn luận chuyện kim cổ. Có lúc hứng lên cả lũ lại kéo nhau đi cưỡi ngựa bắn tên hay luyện võ. Ngay như Sài Vinh nho nhã là thế mà cũng bị lôi vào cuộc, lúc này đã cưỡi được ngựa bất kham, giương được cung cứng.
Ngày đi đêm đến, thời gian vun vút trôi nhanh, Khuông Dẫn đến đây đã tròn một năm. Khuông Dẫn bỗng cảm thấy nhớ nhà, muốn trở lại Biện Kinh thăm nom cha mẹ. Khuông Dẫn tâm sự với mọi người. Sài Vinh nói :
- Nhị ca thì về Biện Kinh, còn ta xa cách người chú cũng đã lâu. Sau khi nhị đệ đi rồi, ta cũng phải về đó một chuyến.
Trịnh Ân nói :
- Đại ca và nhị đệ đều đi cả, tiểu đệ còn lại một mình chắc là buồn lắm ! Riêng đệ xa nhà đã hơn một năm, cũng phải quay về một chuyến. Chờ khi hai anh đi rồi, tiểu đệ cũng phải về Trịnh Châu. Nhưng như thế thì biết bao giờ mới lại gặp nhau. Cứ nghĩ đến là lại thấy buồn. Chúng ta nên hẹn ngày tái ngộ mới phải !
Khuông Dẫn cười nói :
-Bao giờ thì gặp nhau, có gì là khó. Thường vào dịp tết Nguyên Tiêu tháng giêng hàng năm, Biện Kinh thường mở hội hoa đăng chúc mừng ngày tết. Đại ca, tam đệ sao lại không về Biện Kinh một chuyến, ăn tết Nguyên Tiêu và xem rước đèn ? Khi đó anh em ta lại được gặp nhau, vui mừng biết mấy ?
Sài Vinh, Trịnh Ân đều nói :
- Đúng là nên như vậy. Tết Nguyên Tiêu tới chúng ta phải đi Biện Kinh một chuyến.
Khuông Dẫn thấy hai người bằng lòng thì vui lắm, đứng dậy ngay để từ biệt :
- Sáng sớm mai đệ phải lên dường nên không gặp nhau được nữa .
Sài Vinh nói :
-Đã là anh em với nhau còn phải khách sáo làm gì? Ngày mai ta và tam đệ cũng phải thu dọn hành trang nên không tiễn được. Chia tay nhau ở đây vậy. Tháng giêng tới nhất định sẽ gặp nhau.
Ba người cùng bái biệt.
Từ ngày Khuông Dẫn đến sống với Đỗ Tam Ông, luôn luôn nghĩ rằng : "Nếu mình tự ý xin về thì chắc gì ông ngoại đã cho ! Phải giả viết một bức thư vậy". Khuông Dẫn giả viết thư của Hoằng Ân, cất vào trong bao áo, rồi lên thăm ông. ông ngoại bảo cậu ngồi xuống cạnh, hỏi han về chuyện học hành. Khuông Dẫn sẵn có chủ ý nên trả lời đâu ra đấy, làm ông ngoại rất vui ông nói :
- Cháu đến đây đã được một năm, đã học được nhiều thứ. Nếu cứ chăm chỉ như vậy thì không chóng thì chầy sẽ trở thành người uyên bác. Được như vậy là công đức họ Triệu nhà cháu lớn lắm. Nhưng cháu còn phải cố gắng nhiều nữa mới thỏa được ước nguyện của ông, của cha mẹ cháu.
Khuông Dẫn phải lặng thinh ngồi nghe ông ngoại nói đi nói lại mãi. Vừa lúc ông ngoại dừng lời, cậu mới dám đưa thư ra cho ông :
- Cha cháu có thư nói là có việc gấp chờ cháu về giải quyết. Thư còn dặn là phải đi ngay kẻo lỡ việc.
Tam Ông xem qua lá thư :
- ừ! ừ ! Cháu đi đã gần một năm rồi, chắc cha cháu nhớ lắm nên mới có thư gọi cháu về. Đã có thư thì ông chẳng giữ. Nhưng bao giờ thì quay lại. Việc học hành là việc quan hệ đến cả cuộc đời. Nếu giữa chừng mà bỏ thì phí hoài quá !
Khuông Dẫn cười lấy lòng ông ngoại :
- Trong thư cha cháu bảo có việc gấp cần bàn chắc cũng không lâu đâu. Hễ xong việc là trở lại ngay, cháu cũng không muốn sao nhãng việc học hành.
Tam Ông gật đầu :
- Được lắm ! Được lắm ! Thế bao giờ cháu lên đường ?
Khuông Dẫn thưa :
- Thư bảo có việc gấp nên sáng mai cháu lên đường luôn !
Tam Ông nói :
- Cháu cũng phải thu xếp hành lý đi, kẻo mai lại không kịp !
Khuông Dẫn thưa luôn :
- Cháu đã chuẩn bị xong từ nãy rồi ! - KhuôngDẫn còn ấp úng tiếp : - Cháu đi nhanh về nhanh, không phải mang theo hành lý cho đỡ mệt, ông ngoại thấy thế nào ?
Ông ngoại thấy phải lắm nên vui vẻ để sáng mai Khuông Dẫn lên đường.
Mờ sáng hôm sau lúc Tam ông còn ngon giấc, Khuông Dẫn đã sai lũ gia nhân gánh hành lý ra ngoài thành, cùng nhau lên đường. Khuông Dẫn không muốn để ông nhìn thấy hành lý rồi nhớ lại câu nói hôm qua mà lỡ việc. Đó là điểm thông minh của Khuông Dẫn. Nhìn thấy người quẩy hành lý đã đi xa, Khuông Dẫn mới quay lại để từ biệt ông. Tam ông vừa dậy đang chải đấu, rửa mặt. Vừa nhìn thấy Khuông Dẫn, ông dặn thêm :
-Trên đường đi phải cẩn thận; đi sớm về sớm, đừng phí thời gian sao nhãng bài vở.
Khuông Dẫn nhất nhất vâng lời rồi lạy ông để từ biệt. Tam ông tiễn cháu ra đến tận cửa, cho đến khi Khuông Dẫn đã đi xa ông mới quay lại.
Ra khỏi nhà ông ngoại, Khuông Dẫn đi rất nhanh ra điểm hẹn ở ngoài thành rồi cùng người quảy hành lý đi về hướng Biện Kinh. Ngày đi đêm nghỉ, hai người mất gần một ngày thì tới nơi. May sao Hoằng Ân cũng có mặt ở nhà, vợ chồng đang ngồi trò chuyện ở phòng trong. Hai con là Khuông Nghĩa, Khuông Mỹ ở kề bên.
Bỗng gia nhân vào báo đại công tử đã về. Hoằng Ân nghe tin con về thì rất mừng. Đỗ thị quay sang phía Khuông Nghĩa :
- Con nhanh chóng ra đón anh đi!
Khuông Nghĩa vâng dạ rồi chạy ra ngoài đón anh. Lúc sau đã thấy hai anh em dắt tay nhau bước vào hậu đường. Khuông Dẫn vái lạy cha mẹ rồi mới nói :
- Con là đứa bất hiếu, đi xa đã gần một năm không được sớm tối hầu hạ cha mẹ. Con mong cha mẹ thứ tội!
Hoàng Ân nói :
- Con đi xa học hành tấn tới là hiếu thuận nhiều rồi! Sao lại trách con được. Có điều lúc này không phải nghỉ tết, không phải nghỉ đông, sao con lại bỏ về?
Khuông Dẫn nói :
- Con xa nhà kể đã hàng năm, con nhớ nhà lắm nên mới xin về sớm.
Hoằng Ân nói :
- Đã về rồi thì không sao. Nhưng đừng có lông nhông như trước, suất ngày đàn đúm, múa may quay cuồng làm điều xằng bậy. Con phái ở nhà để học hành, ôn tập. Ta sẽ kiểm tra con bất cứ lúc nào. Nếu không thay đổi thì đừng trách cha.
Khuông Dẫn luôn miệng vâng dạ.
Đỗ thị ngồi bên cạnh cứ sợ Khuông Dẫn nói năng thất thố làm cha bực mình, nên mới nói lảng sang chuyện khác :
- Khuông Nghĩa, Khuông Mỹ, các con xa anh đã gần một năm. Nay nhân lúc anh về sao các con không đến bái kiến ? Tình nghĩa anh em quên hết cả rồi sao ?
Khuông Nghĩa nghe lời mẹ, tiến lên trước cúi lạy người anh. Còn Khuông Mỹ thì đang học nói, hiểu sao được lời mẹ ! Cu cậu vẫn đứng yên ! Khuông Dẫn bước tới đỡ Khuông Nghĩa dậy và đưa mắt nhìn kỹ : Khuông Nghĩa mặt hoa da phấn, mắt sáng long lanh; miệng rộng môi thắm, hai tai xệ xuống, dáng trông như rồng như phượng. Khuông Nghĩa tuy còn nhỏ nhưng đã oai phong đường bệ hết sức đáng yêu. Khuông Dẫn tươi cười thưa với cha mẹ :
- Con xa nhà chưa đầy một năm mà nhị đệ đã ra dáng lắm. Phúc phận sau này chắc phải hơn con !
Đỗ thị nói :
- Đúng là em con khá lắm. Còn phúc phận sau này ra sao, tạo hóa sẽ sắp đặt ?
Khuông Dẫn vâng dạ rồi cáo lui về phòng của mình.
Từ đó Khuông Dẫn định bụng không ra ngoài như lời cha dạy. Nhưng khốn thay Khuông Dẫn là đứa hiếu động, liệu có chịu được không ? Hết ngày thứ hai, tính nào tật ấy, Khuông Dẫn lại chạy tìm mấy bạn hồi bé. Dạo còn ở nhà, Khuông Dẫn đã có tiếng, được các bạn quý mến. Trong số bạn có hai người là tâm đắc : Hàn Lệnh Khôn Từ Châu và Mộ Dung Diên Chiêu. Về nhà rồi tất phải tìm đến thăm họ, cùng nhau chơi bời tụ tập. Ngoài luyện võ, du chơi, săn bắn còn được thi tên, kích cầu, chơi trò đỏ đen không chừa một thứ gì.
Một hôm Hàn Lệnh Khôn hẹn Khuông Dẫn vào một căn hầm đất chơi trò đỏ đen. Đến đoạn hứng thú nhất, gần lúc thắng thua thì nghe bên ngoài có tiếng ồn ào, đến mức huyên náo. Cả hai dừng lại lắng nghe, tiếng ồn như gần đâu đây, nhiều vẻ kỳ lạ. Khuông Dẫn hỏi Lệnh Khôn :
- Tiếng như tiếng một loài cầm thú, lẫn cả tiếng chim bay. Vùng này cạnh rừng, dân cư thưa thớt, chắc có mãnh thú đi qua, lũ chim muông mới kinh hoàng, ồn ã đến thế ! Chúng ta sẵn có cung tên, nếu là dã thú thì bắn luôn để trừ hại cho dân, cậu thấy thế nào ?
Lệnh Khôn nói :
- Mình cũng nghĩ thế. Anh hùng thường hay đồng điệu !
Hai người cùng xách cung tên ra khỏi căn hầm thì chỉ thấy có bầy chim sẻ đang bay đi bay lại, chao chát ngay trên nóc. Lệnh Khôn nói :
- Lũ chim này thật là quái ác ! Tuy là đồng loại mà chúng cấu xé, tàn sát lẫn nhau. Chẳng trách lúc này, quân lính không cùng chính kiến là gây can qua, khắp nơi thây chất thành đống, máu đọng thành sông cũng là lẽ thường !
Khuông Dẫn nói :
- Chúng cứ mổ nhau như vậy thì không trầy da cũng tróc vảy. Ta có cách gì giúp chúng giải vây đây?
Lệnh Khôn nói :
- Có gì mà phải nghĩ, chỉ cần ném chúng một vốc đất vụn thì chúng sẽ nhao nhác bay đi ngay!
Khuông Dẫn cười nói :
- Ném mấy viên đá là việc nhỏ. Đã coi mình là anh hùng hảo hán thì phải khác kia!
Lệnh Khôn, hỏi :
- Vậy theo cậu thì phải làm gì ?
Khuông Dẫn nói :
- Đã là đồng loại mà tranh giành giết nhau thì phải trừng trị, răn đe. Sẵn có cung tên, nên giết mấy con hung bạo nhất.
Lệnh Khôn gật đầu lia lịa :
- Nói hay lắm ? Giết chết mấy con hung tợn là đúng lắm !
Nói đoạn, họ lùi lại mấy bước, giữ khoảng cách với nóc hầm chừng hơn một trượng. Hai người giương cung đặt tên định bắn thì bỗng có tiếng ầm ấm như long trời lở đất, cát bụi mù trời không sao mở được mắt. Trước mặt như có cái gì đổ ấm xuống, lũ chim sẽ cũng bay biến đi mất 1 Trong chốc lát mọi chuyện lại yên ắng. Hai người dụi mắt hồi lâu mới nhìn rõ !
Thế là cả căn hầm đã đổ sập xuống. Khuông Dẫn luôn miệng bảo là may :
- Căn hầm đang tốt là thế bỗng đổ sập xuống. Không có đàn sẻ náo loạn e chúng mình vẫn còn trong đó và chắc chắn đã hết đời !
Lệnh Khôn cũng nói :
- Có lẽ lũ sẻ làm huyên náo là để cứu chúng ta. Ông trời đã mượn lũ sẻ lôi chúng ta ra khỏi hầm đất Lũ sẻ là ân nhân cứu mạng. Không trả ơn thì chớ, chúng ta còn định bắn chúng. Thực đáng chết, đáng chết!
Khuông Dẫn tiếp lời :
- May mà căn hầm sập nhanh lũ sẻ mới thoát chết. Còn không thì bao nhiêu sinh mạng đã đi đời! Từ nay hai ta phải bảo vệ chúng, không giết hại dù là con sâu, con kiến. Đó chính là cái đạo hiếu sinh của ông trời vậy!
Lệnh Khôn gật đầu cảm thán :
- Người có nhân phải nghĩ thế ! Mình ghi nhớ suất đời Không nên tổn hại đến sinh linh!
Khuông Dẫn nói :
- Chân lý hiển nhiên là như vậy ! Sự sống là đức lớn của trời đất. Mọi thân cây ngọn cỗ trong vũ trụ này nếu còn sự sống, đều đáng thương xót và nên bảo vệ Nếu vô cớ ta sát hại chúng là phạm vào đức hiếu sinh, tránh sao khỏi tội lỗi với trời đất.
Lệnh Khôn xen vào, nói ngay :
- Nói như cậu thì sau này đem binh mã đi giao chiến với địch cũng không nên tàn sát ?
Khuông Dẫn nói :
- Hai nước giao tranh, ai vì chủ nấy, ra sức bảo vệ sinh mệnh cho dân cho nước của mình thì đó lại là chuyện khác. Thang Thương xưa là những bậc thánh nhân, nhưng vẫn phải có quân lính để trừ bỏ tàn bạo, cứu vớt dân lành, gìn giữ đức lớn hiếu sinh của trời đất Nếu coi tất cả là người nhân đức, không dám sát hại sinh linh thì chẳng phải trăm họ trong thiên hạ đã phải chết hết dưới bàn tay bạo ngược của Kiệt Trụ rồi sao? Vì vậy Thang Thương tàn sát sinh linh chính là cứu sinh linh vậy! Cậu không thể hiểu sai lời của mình được ! Có điều là một tướng soái cầm quân tất phải giết, nhưng mong phải có lòng hiếu sinh, đáng giết mới giết hoặc đáng giết mà không giết, mới là đạo lý. Vì vậy cũng là tranh quyền đoạt lợi nhưng đâu là nhân đâu là bạo phải phân biệt rành rẽ !
Lệnh Khôn nghe xong lấy làm bái phục; vẫn còn muốn bàn luận nữa, nhưng trời đã chiều, ai nấy phải nhanh chóng chia tay, vào thành.
Thời gian như bóng câu lướt qua khe cửa, đông tàn đã hết, xuân sang bắt đầu, một năm mới lại tới. Khuông Dẫn sau mấy ngày tết, cảm tưởng Nguyên Tiêu đến gần. Trong thành Biện Kinh, ba hôm trước người ta đã treo đèn kết hoa chuẩn bị chu đáo. Lúc này Khuông Dẫn đang mỏi mắt trông mong Sài Vinh, Trịnh Ân đến dự lễ rước đèn. Chờ cho đến ngày rằm mà không thấy hai người. Sài Vinh, Trịnh Ân không phải là thất ước, tất có chuyện gì hệ trọng không dứt ra được Khuông Dẫn buồn bã chờ đến tối, rồi cùng cha mẹ, các em ăn tết đoàn viên. Hoằng Ân thân là Cấm quân chỉ ở nhà được một lát, uống chút rượu, ăn miếng bánh rồi đi điều Cấm quân tuần thú phố phường lo giữ an ninh. Khuông Dẫn cơm nước xong mới bẩm báo cùng mẫu thân nói có hẹn đi xem rước đèn. Đỗ thị dặn dò sớm đi sớm về, không nên sơ suất ở bên ngoài. Khuông Dẫn vâng dạ rồi từ biệt mẫu thân. Khuông Dẫn đến chỗ hẹn gặp nhiều bạn thời nhỏ như Hàn Lệnh Khôn, Mộ Dung Diên Chiêu, Trương Quang Viễn, Dương Đình Long, Chu Bá, Sử Khuê, Lý Hán Thăng, Lý Trọng Tiến, cả lũ kéo đến hoan hô nghênh đón Khuông Dẫn. "Triệu huynh đến rồi, xuất phát đi thôi!", mọi người vừa nói vừa kéo đến Thiên Khánh lầu, Nam Môn nơi có nhiều đèn đẹp.
Bấy giờ đèn đuốc đã sáng trưng, tiếng ca lời hát thật rộn rã. Hai bên đường có cây hoè xanh tươi, hàng liễu rủ bóng, phong cảnh tuyệt vời. Con người đang bước vào cánh thần tiên hư thực. Tiếc rằng người xem đông quá, chẳng khác gì đàn cá bơi trong mương hẹp, không sao vượt được. Hoặc có ai định vượt thì Cấm quân can thiệp ngay. Vì vậy người tuy đông nhưng có trật tự. Bọn Khuông Dẫn đến lầu Thiên Khánh thì trong Ngự Câu Lan đang có ca múa, hai mỹ nữ sắc nước hương trời Đại Tuyết và Tiểu Tuyết bên Nam Đường vừa dâng tặng. Bọn Khuông Dẫn chen đến tận vũ đài xem cho rõ. Lời ca đã hay điệu múa càng đẹp, vô cùng xúc động lòng người. Cả lũ say mê reo hò tán thường đến ù cả tai, hoa cả mắt.
Tiếp theo thế nào, xin xem hồi sau sẽ rõ!
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ TƯ
Vào giáo phường. giai nhân khéo có mắt
Quyết trường chinh. tráng sĩ nổi lòng trung
Lại nói, Khuông Dẫn cùng lũ bạn vây lấy vũ đài hòng xem cho rõ. Vừa đến chỗ hay, Khuông Dẫn reo lên thành tiếng. Tiếng reo hò vừa dứt, từ trong đám đông một chàng đen đủi chui ra đến trước Khuông Dẫn, nói :
- Nhị ca vui vẻ ở đây để tiểu đệ tìm kiếm khắp nơi.
Khuông Dẫn nhận ra Trịnh Ân bỗng thấy mừng quá, hỏi :
- Sao bây giờ đệ mới tới ?
Trịnh Ân đáp :
- Đệ xa quê lâu ngày, khi về cố nhiều việc phải làm không dứt ra được, mãi chập tối mới tới đây. Đệ thuê nhà trọ, cất hành lý rồi đi tìm huynh thì huynh đã ra ngoài. Trong cái biển người này, gặp được nhau, thực là đại hạnh! Còn Sài ca đâu sao không thấy có mặt?
Khuông Dẫn lắc đầu nói :
- Sài đại ca cũng chưa thấy đến. Ca ca là người trung tín, chắc gặp phải điều gì nên mới thất ước. Còn bây giờ để huynh cho đệ làm quen với mấy người bạn tiện giúp đỡ nhau sau này.
Nói đoạn, liền gọi tên từng người giới thiệu với Trịnh Ân.
Trương Quang Viễn thấy Đại Tuyết, Tiểu Tuyết dung nhan xinh đẹp lại hát hay múa dẻo, trong lòng vô cùng hâm mộ, muốn cùng bè bạn đặt tiệc trong Ngự Câu Lan để vừa được gần gũi người đẹp vừa có dịp làm quen với Trịnh Ân. Ai nấy đều ưng, duy có
Khuông Dẫn muốn can :
- Hai kỹ nữ đó là Đại Tuyết và Tiểu Tuyết. Đại Tuyết được Hán chủ sủng hạnh. Tiểu Tuyết là của quý thuộc về thái sư Tô Phùng Cát. Nhiều chuyện bí mật người đời không hay biết, riêng ta thì rành lắm. Đã có nhiều công tử hào hoa mê sắc đẹp hai nàng mới đến vung tiền ở Ngự Câu Lan hòng được gần gũi người đẹp. Hán chủ thân trong cung cấm nào có biết gì nên không ngại. Còn TÔ Phùng Cát, một kẻ lòng dạ hẹp hòi lại thích của chua, thì khác. Sau khi gần gũi với Tiểu Tuyết rồi, hắn rất sợ có ai đó lại làng chàng với người đẹp, nên cho rất nhiều tâm phúc ngấm ngầm quan sát. Những ai có ý gần gũi người đẹp, Tô Phùng Cát liền trừng trị ngay. Đã có nhiều vương tôn công tử, cao quan hiển tướng mến mộ tài mạo của hai kỹ nữ, lảng vảng đôi lần ở Ngự Câu Lan, bị Tô Phùng Cát ngấm ngầm hãm hại. Số người khuynh gia bại sản hoặc mất mạng vì hai nàng kỹ nữ đó nhiều vô kể. Nếu chúng ta cũng dám vào đó, dám vuốt râu hùm e không tránh khỏi họa lớn ! Mình khuyên các cậu hãy quên chuyện đó đi !
Mộ Dung Diên Chiêu thấy bực giọng có phần gay gắt :
- Câu Lan là nơi công cộng, ai vui chơi mà chẳng được Hà cớ Tô Phùng Cát chiếm dụng ngăn cấm người khác ? Huống hồ ông ta thân là tể phụ, đại thần, biểu tượng của trăm quan, lại dám rượu chè, kỹ nữ ? Mọi người sợ thế lực ông ta, còn Diên Chiêu này thì khác. Mọi người cứ việc thoải mái. Nếu họ Tô dám giở trò, đã có nắm đấm của Diên Chiêu đây, liệu hắn làm gì ta ?
Khuông Dẫn không chờ Diên Chiêu nói hết đã lắc đầu quầy quậy :
- Đừng nói lung tung thế nữa ! Nếu không nghe thì nhất định sẽ sinh chuyện !
Mọi người chưa nói gì thì Sử Khuê đã có vẻ khó chịu :
- Xưa nay Triệu huynh vẫn là người gan dạ, bây giờ sao lại thế ? Lúc này thì thái sư đang cùng ngự giá vui vẻ ở Ngũ Phượng lầu, công sức đâu mà nhớ tới đây Nay nhân cơ hội vui vẻ một lát thì đã sao ?
Khuông Dẫn nói :
Lúc thường thì chẳng ai can dự, nhưng mấy hôm sau chúng mới tìm ra cớ hãm hại. Có người chết rồi mà chẳng hiểu vì sao. "Súng bắn thẳng thì dễ tránh, tên bắn lén thì khó phòng", người xưa nói đố có sai ! Chỉ vì chơi bời mà mang họa thì chẳng đáng ! Mà vui thú thì thiếu gì chỗ. Muốn uống rượu vui vẻ thì sang kỹ viện, mắc gì cứ phải ở đây ?
Hàn Lệnh Khôn tiếp luôn :
- Triệu huynh nói phải. Muốn vui thì thiếu gì chỗ. Hà tất phải đâm đầu vào đây ! Nghe nói bên giáo phường vừa có kỹ nữ mới, nhan sắc hơn cả Đại Tuyết và Tiểu Tuyết. Sao chúng ta lại không sang bên ấy nhỉ ?
Mọi người đồng thanh hường ứng. Thế là trong biển người đông đảo có mươi chàng thiếu niên tách ra. Họ phải khó khăn lắm, nhích dần từng bước vì người đông như nêm.
Bọn Khuông Dẫn phải vất vả lắm mới tới đường Đông Các dẫn tới giáo phường. Trong giáo phường tiếng đàn tiếng hát vẳng ra thật êm á. Cảnh tượng trong giáo phường còn lộng lẫy, náo nhiệt hơn hẳn bên Ngự Câu Lan. Cả mười chàng thiếu niên vui như mở cờ trong bụng bước thẳng vào trong. Người hầu đưa mắt nhìn là biết, họ đều là vương tôn công tử, một dịp trời ban để họ đến chơi. Người hầu liền đứng thẳng đơ lên tiếng hỏi :
- Hân hạnh được mời các vị đến thăm. Các vị chấm cô nào xin cho biết. Mời các vị tạm sang bên phòng trà, tiểu nhân xin đi báo, các cô nương xin ra tiếp các vị ngay.
Nói xong người hầu lại thẳng đơ chờ đợi. Không ngờ hai người đi đầu nhiều phần thô lỗ là Trịnh Ân, Chu Bá nghe người hầu nói một thôi một hồi những gì không biết, chỉ biết anh ta lại đứng yên, nên ngỡ người hầu xem thường, mới lên giọng quát :
- Đồ sâu bọ, ngươi nói gì mà nhiều thế ? Nói rồi lại đứng đấy không chịu dẫn chúng ta vào, là nghĩa làm sao ? Chẳng nhẽ lại sợ chúng ta chơi xong rồi quyt.
Nhìn thấy hai người mặt đen như nhọ, tên hầu đâm sợ, cứ im thin thít. Trịnh ân thấy vậy càng giận :
- Đồ ăn hại, ngươi dám thế hả ? Để ta dạy cho ngươi một bài, biết mà chừa!
Vừa nói vừa giơ nắm đấm to bằng cái ấm giáng xuống tên hầu. Khuông Dẫn vội ra ngăn lại, nói :
- Sao đệ thô lỗ thế ? Người ta hỏi đệ muốn cô nào, ở đây nhiều cô lắm, đệ không nói tên Hàn Tố Mai ra, thì biết đưa đệ vào phòng nào. Chính đệ đã không nắm được nghề chơi, lại trách người ta xem thường mình !
Trịnh Ân biết mình sai nên im thin thít. Khuông Dẫn quay sang phía người hầu :
- Chứng ta tuy đông nhưng chưa hề quen biết một cô nào. Gần đây nghe có Hàn Tố Mai nhan sắc tuyệt vời, bậc nhất ở Biện Kinh nên muốn được chiêm ngưỡng dưng nhan Ngươi cứ đưa chúng ta đến phòng cô nương.
Tên hầu lĩnh lệnh, đưa mọi người đến trước cửa phòng và gọi :
- Tố Mai cô nương, có khách đây !
Tố Mai nghe gọi có khách liền mở cửa ra ngoài nghênh đón. Tố Mai mời tất cả cùng ngồi và chu đáo thăm hỏi từng người một. Tố Mai ung dung tự tại, ai nấy phải thán phục, quả danh bất hư truyền ! Nhìn kỹ, nàng có khuôn mặt trái xoan, đồi mắt long lanh đầy tình cảm, lại có thân hình cân đối và cái đáng mê nhất là đôi chân tròn trặn. Tố Mai chẳng khác gì Hằng Nga xuống trần, tiên nữ Quảng Hàn giáng thế. Dung nhan xinh đẹp trời phú, thực chưa từng thấy. Cả bọn cứ thế ngơ ngẩn ngồi nhìn. Chỉ riêng. Trịnh Ân, Chu Bá có phần thô lỗ chẳng hiểu thế nào là xinh là xấu. Vừa ngồi chưa yên chỗ đã muốn có rượu uống ngay. Khuông Dẫn vội vã ngăn họ lại :
- Các cậu cứ từ từ chờ ta nói chuyện với cô nương vài câu đã rồi đâu sẽ có đó.
Nói xong liền quay sang phía Tố Mai :
- Anh em ta cả thảy mười người, nghe tiếng đồn mà muốn gặp. Hôm nay đã mạo muội đến đây, được cô nương không chê, thật là vạn hạnh. Nhưng trong chúng ta có hai anh em chưa biết thế nào là đủ, muốn được cô nương sai bày tiệc rượu. Gặp nhau lần đầu đòi hỏi như vậy kể đã quá. Chỉ mong cô nương đừng làm lạ bỏ qua nhiều điều thất lễ, không trách cứ.
Tố Mai liền thưa :
- Triệu công tử chớ nên nói thế ! Nay đã không chê kẻ mắt xanh, không ghét người ti tiện mà đến, thực đủ điều may mắn ! Còn như tiệc rượu là việc buôn bán đơn thuần, nếu tiện thiếp không chu đáo mới là điều đáng lạ ! Nay các công tử lần đầu đã tới, tiện thiếp xin bày tiệc rượu nghĩa tình, mong các vị công tử thật vui vẻ .
Khuông Dẫn nói :
- Cô nương đừng khách khí thế ! Lũ anh em lần đầu tiên đâu dám làm phiền cô nương ?
Nói xong liền lấy ra mười lạng bạc gửi đến Tố Mai:
- Phiền cô nương sai họ giúp cho. Nếu còn thiếu xin lại gửi thêm.
Tố Mai không muốn nhận bạc! Hai bên đùn đẩy mãi. Khi hết cách, cô mới nhận và sai ngay nhà bếp phải chuẩn bị tiệc rượu thịnh soạn, không chậm trễ. Có tiền thì việc gì cũng nhanh. Chỉ loáng cái đã có người lên hỏi Tố Mai :
- Cô nương cho bày tiệc ở đâu ?
Tố Mai nói :
- Triệu gia công tử không giống người khác, tiệc rượu xin cứ bày ở đây.
Nhà bếp cho dọn dẹp, rồi tiệc rượu được bày xong, Tố Mai mời mọi người vào bàn. Ai nấy tôn Khuông Dẫn ngồi lên ghế đầu. Khuông Dẫn nói :
- Không thể như vậy được !
Trịnh Ân thấy Khuông Dẫn từ chối thì lên tiếng ngay :
- Nhị ca không phải nhường! Sài đại ca không có đây thì xét về tuổi, nhị ca là đáng rồi. Cứ đùn đẩy lâu la quá, mà đệ thì đói không chịu được nữa !
Mọi người cũng nói :
- Trịnh tam đệ nói phải ! Nhị ca ngồi lên đi !
Khuông Dẫn không thoái thác được đành phải ngồi vào chiếc ghế đầu. Mọi người tùy theo tuổi tác mà ngồi. Họ đều là anh em tri kỷ, thật cởi mở, ai nấy cạn chén thoải mái! Tố Mai cùng cạn chén với mọi người rồi ngồi ra phía sau Khuông Dẫn, so dây bấm phím, cất tiếng oanh ca. Lời hát thật phóng khoáng như vén mây mù thấy được trời xanh. Cả lũ cứ tấm tắc : "Quả là danh bất hư truyền. Cả thanh cả sắc đều hay !"
Tiệc tùng xong trời đã muộn, mọi người từ biệt Tố Mai Tố Mai và Khuông Dẫn bịn rịn mãi không thôi. Tố Mai vốn là con nhà lành. Gặp lúc song thân mất sớm, thiên hạ loạn lạc, mùa màng thất bát, nên phải lưu lạc tới Bình Khang. Vốn biết tự trọng, lấy lời ca tiếng hát làm kế sinh nhai, chưa hề để ai lưu lại qua đêm. Tố Mai những mong chọn người gửi thân thoát cảnh nhơ nhuốc. Hôm nay gặp được Khuông Dẫn, loại người mặt to tai lớn, hồng quang ngời ngời. Khuông Dẫn dáng đi như rồng cuốn hổ vờn phi phàm hết mực. Người như vậy tất sẽ có hậu. Tố Mai nghĩ mà ưng bụng, nên trước khi chia tay dặn Khuông Dẫn phải năng lui tới. Khuông Dẫn là người có chí lớn, liệu có lưu tâm không ? Chỉ biết Trịnh Ân thấy hai người cứ lưu luyến mãi liền cười, nói :
- Cô nương giữ được trinh tiết thì khi Triệu công tử phát tích, đệ sẽ khuyên người đưa cô nương về làm thiếp, liệu đã ưng chưa ?
Tố Mai sinh ra đã có phúc phần là cung phi nên nghe nói thế đã chỉ lên trời mà thề rằng:
- Tiện thiếp xin nghe lời Trịnh đệ, quyết giữ sự thanh bạch chờ đợi Triệu công tử, không bao giờ thất tín. Nhưng khi Triệu công tử phát tích rồi, thì phải nhớ, mong các vị đây làm chứng cho và nên lưu lại kỷ vật làm tin để thiếp được an lòng.
Khuông Dẫn thấy Tố Mai nghe lời nói vui của Trịnh Ân đã tưởng thật nên vội vã phân bua :
- Trịnh Ân nói vui thôi, cô nương chớ tin. Khuông Dẫn còn có cha mẹ, đã biết làm gì đâu. Hơn nữa Khuông Dẫn chưa có chính thất sao đã nghĩ tới chuyện hai, ba! Mọi chuyện bỏ qua, kẻo phí một đời của cô nương.
Tố Mai nói :
- Thiếp có cầu công tứ phải làm ngay đâu. Công tử nói còn có cha mẹ không quyết định được, nhưng một mai khi sự nghiệp thành công chẳng nhẽ cũng như vậy sao ? Dù là thời gian còn dài, mười năm, hai mươi năm, thiếp quyết giữ thân chờ đợi công tử, không bao giờ oán hận. Còn như việc chưa lập chính thất, chưa bàn lập thiếp thì tiện thiếp không hề hối thúc. Một đạo lý lớn, tiện thiếp xin chờ lệnh của công tử Lúc này chỉ mong công tử ừ một tiếng, để vật làm tin là thiếp yên lòng.
Khuông Dẫn bị dồn tới chỗ tiến thoái đều khó. Ban đầu thấy Tố Mai xinh đẹp như hoa, giỏi ca khéo múa thì đem lòng hâm mộ. Lúc này được Tố Mai tình nguyện làm thiếp thì không mừng sao được ? Nhưng gia phong thì nghiêm ngặt biết trả lời sao đây !
Trương Quang Viễn biết Triệu Khuông Dẫn đang trong tình thế tiến thoái lưỡng nan, nên mới nói :
- Tố Mai thực tâm muốn làm thiếp và không phải bây giờ, thì cứ bằng lòng! .
Hàn Lệnh Khôn tiếp lời :
- Người xưa thường nói : Giai nhân khó kiếm. Tố Mai vừa gặp mặt đã ưng theo cậu, đấy là duyên phận chăng? Một việc tốt đẹp như vậy mà bỏ lỡ sao ? Nên bằng lòng đ!
Khuông Dẫn nghe đến như vậy mà vẫn chưa biết nói sao. Trịnh Ân là người mong muốn cho việc đó thành công, nên đã cướp lời :
- Nhị ca ngày thường thì phỏng khoáng sao hôm nay cứ như phụ nữ vậy, mất cả quyết đoán. Việc hay như thế bỏ qua sao được ! Tố Mai chỉ cần một tín vật thì đưa cho cô nương miếng ngọc bội đeo ở trong người. Nếu huynh còn ngượng thì để đệ đưa thay cho vậy.
Nói xong liền đến tháo miếng ngọc bội của Khuông Dẫn và trao ngay cho Tố Mai :
- Tấm ngọc bội này coi là tín vật của Triệu công tử, cô nương giữ lấy, mai này công tử phát tích sẽ đến cưới nàng. Lão Trịnh này ra sức mai mối giữa hai người, sau này phải được uống rượu, cô nương phải hào phóng đặc biệt đấy!
Tố Mai vừa như ngượng ngùng mỉm cười vừa nhận tấm ngọc bội cất luôn. Lúc này Khuông Dẫn cũng mừng rỡ như thuyền gặp nước. Mộ Dung Diên Chiêu thấy việc đã tốt đẹp, cũng lớn tiếng nói :
- Việc lớn thành rồi ! Trịnh công tử thế mà hay !
Mọi người hùa theo Diên Chiêu, tấm tắc khen mãi. Sau đó thì đêm đã khuya, ai nấy đành chia tay nhau.
Hàng ngày ngoài giờ đọc sách, luyện võ, những khi rỗi rãi, Khuông Dẫn thường tìm bọn Trương Quang Viễn bày trò nghịch ngợm. Nay lại có thêm nhiều lúc trò chuyện hàn huyên với Hàn Tố Mai, nên ngày tháng cứ trôi qua vun vút. Thấm thoắt ngày thu gần đến. Phụ thân đã chọn gái họ Hạ làm bạn đời với Khuông Dẫn. Nhân được ngày lành hai trẻ đã thành thân. Từ đó cuộc sống vợ chồng tình ái giữa đôi trai tài gái sắc thật là nồng đượm.
Một thời gian sau, vào năm Càn Hựu đầu tiên thời Hán ấn đế, ba tỉnh Phượng Tường, Hà Trung, Vĩnh Hưng hùa nhau chống lệnh triều đình. Trăm họ lại không tránh khỏi cảnh can qua, chết chóc ! Bấy giờ ẩn đế liền cử Hoằng Ân đi đánh Phượng Tường. Hoằng Ân được lệnh vội điều binh khiển tướng, chọn ngày lành ra quân. Khuông Dẫn được tin phụ thân phụng mệnh xuất chinh, liền sục sôi nhiệt huyết muốn được theo cha. Khuông Dẫn nói ra điều đó. Không ngờ Hoằng Ân từ chối vì Khuông Dẫn thành thân chưa lâu. Khuông Dẫn phải tạm thời nghe lời cha, nhưng trong lòng lại nghĩ khác, chỉ chờ sau khi phụ thân lên đường là quyết tâm thực hiện. Khuông Dẫn định bụng sẽ thanh minh với mẫu thân và vợ, chờ lúc phụ thân lên đường là thu dọn hành lý theo quân. Đến tận lúc đó chẳng nhẽ phụ thân còn đuổi và sẽ có cơ lập nên công trạng dựng thành nghiệp lớn. Nhưng rồi lại nghĩ phụ thân là đại trượng phu liệu người có chịu không ? Hơn nữa mẫu thân và vợ đều là phận nữ nhi dễ động lòng, khi thấy cả hai cùng ra trận mà từ chối. Chi bằng cứ lẳng lặng mà đi là hơn cả Nghĩ lại, tự nhiên thấy lòng thanh thản, Khuông Dẫn giúp cha thu xếp mọi việc.
Ngày lên đường đã tới. Hoằng Ân cho quân làm lễ tế cờ rồi nói những lời từ biệt với người thân ra tiễn. Còn dặn riêng Khuông Dẫn lo liệu gia đình chăm chỉ học tập, không nên rong chơi bên ngoài. Khuông Dẫn luôn miệng vâng dạ. Rồi ba tiếng trống nổi lên, quân tiên phong tiến trước. Hoằng Ân ngồi trên yên ngựa, giơ tay vẫy chào những người ra tiễn. Đoàn quân thật hào hùng, cờ xí rợp trời, gươm đao sáng loáng, đang rầm rập cùng Hoằng Ân tiến về phía Phượng Tường.
Khuông Dẫn nhìn thấy phụ thân oai phong lẫm liệt trong lúc xuất quân mà thèm muốn, hận mình chưa được nhanh chóng tòng quân, vì dân vì nước lập công to hệt như phụ thân vậy. Nghĩ tới đó, sao còn chần chừ được nữa. Khuông Dẫn nhạnh chóng trở về. Sau lúc trò chuyện với mẫu thân và vợ như thường lệ, Khuông Dẫn liền thu dọn mọi thứ cần thiết vào một túi nhỏ, đem giấu vào chỗ không ai biết. Mờ sáng hôm sau nói đối Đỗ thị là muốn ra ngoài, rồi ngầm đem theo cung tên,cnôn k, tay xách túi nhỏ ra đi, không hề báo cho Trương Quang Viễn, Hàn Lệnh Khôn cùng lũ bạn. Ngay như Hàn Tố Mai là người thân thiết nhường ấy cũng không biết Khuông Dẫn đã biến đi đâu. Cho tới khi Trương Quang Viễn dò ra manh mối và đến báo, Tố Mai mới biết Khuông Dẫn ngấm ngầm lên đường tòng quân! Tố Mai cầu mong Khuông Dẫn chóng lập công trở về, mọi chuyện tốt đẹp. Từ đó Tố Mai ngồi nhà đóng cửa không tiếp khách, giữ trọn lời nguyền. Đôi khi chỉ có mấy người bạn của Khuông Dẫn như Trịnh Ân, Trương Quan Viễn đến thăm và đưa một vài tin tức. Về sau, mấy người này cũng tìm đường lập nghiệp nên không còn ai nữa. Cho mãi tới khi Khuông Dẫn chiếm ngôi nhà Hậu Chu đăng cơ hoàng đế, Tố Mai mới được lập làm phi tần nơi cung cấm. Đó là chuyện sẽ được nhắc tới sau này.
Lại nói, Khuông Dẫn xách túi lên đường lòng chỉ ngại nhà không có tin tức gì sinh lo lắng. Vì vậy mới viết thư trên đường, nhờ người chuyển về để cả nhà được an tâm. Đỗ thị được thư Khuông Dẫn, mới biết con mình đã đến Phượng Tường tòng quân. Lòng bà hết sức nhớ nhung, nhưng việc đã thế nên chỉ còn biết chờ đợi. Khuông Dẫn lần đầu ra khỏi nhà còn lạ nước lạ cái. Muốn đến Phượng Tường phải đi về hướng tây. Khuông Dẫn mong chóng tới nơi, hòng lập công lớn nên cứ cắm cúi bước gấp. Nhưng ba ngày sau, khi nhìn lại mới biết nhầm đường. Phải đi về hướng tây thì Khuông Dẫn lại đi ngược lại. Biết là sai nhưng Khuông Dẫn cứ kệ, lấy hết dũng khí bước tiếp, mặc cho may rủi của số phận.
Hôm đó lại ham đi quá, nhỡ mất chặng đường dừng chân mà trời đã sắp tối. Xung quanh là bình nguyên mênh mông, đừng nói tới nhà mà ngay cả người đi đường cũng chẳng thấy có ai ! Bấy giờ đang lúc cuối đông, bóng tối xuống nhanh, trên không có những lớp mây bàng bạc, bên tai gió tây thổi về, cuốn những chiếc lá vàng rơi trên mặt đất bay mãi lên cao. Cảnh tượng thê lương đó thật hợp với lòng người lữkhách, nặng trĩu mối sầu tư. Huống hồ người đó là Khuông Dẫn, lạnh lẽo cô đơn trên con đường vắng, lòng dạ bâng khuâng nhiều nỗi ! Một bầu tráng khí nhưng chưa gặp thời! Thiên hạ rộng lớn nhường áy mà không ai có mắt để nhìn thấy bản lĩnh của một người, nào ai là kẻ tri âm ! Lời người xưa muôn đời đều đúng ! Nghĩ tới đó lòng buồn rượi nhưng chân vẫn bước tiếp. Khuông Dẫn là người gan dạ, dũng cảm nên vẫn vững tâm. Tuy vậy đường đi vắng lặng quá. Khuông Dẫn chỉ ngại gặp điều bất trắc, nên mới cầm côn trong tay để đề phòng. Lại chưa nhìn thấy phía trước có nhà để nghỉ, Khuông Dẫn bất kể chuyện gì cứ thế bước nhanh, ngang như người chạy. Chỉ một lúc' đã đi được hàng chục dặm đường, vượt qua cả một cánh rừng rậm, lúc ngẩng đầu lên nhìn, bất giác thấy lòng rộn rã.
Chưa biết chuyện gì mà vui đến thế, xin xem hồi sau sẽ rõ.
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ NĂM
Dùng thần uy, nửa đêm diệt ác ma
Gặp dị tăng. chùa vắng đón khách quí
Lại nói, Khuông Dẫn mải đi lỡ mất chỗ nghỉ, đường qua một dải bình nguyên cô quạnh không một bóng người. Sắc trời đã dần dần tối, đành phải rảo bước thật nhanh, mong gặp một thôn xóm nào đấy mới có chỗ qua đêm. Quả nhiên sau khi vượt qua một khu rừng rậm, ngẩng đầu nhìn thì thấy xa xa mấy nơi có khói bay lên, trong lòng mừng thầm : "Phía đỏ chắc chắn là có nhà. Đêm nay khỏi phải ngủ ngoài trời!" Nghĩ vậy và chân như có thêm sức mạnh, chạy thẳng tới đó. Nhìn thấy một thôn xóm nhỏ, chừng năm, ba nhà, đều gài then chốt cửa, yên ắng như tờ. Chỉ có một phụ nữ mặc đồ tang, tay cầm khóa chuẩn bị khóa cửa một căn nhà. Khuông Dẫn vội bước tới, lên tiếng :
- Xin chào phu nhân !
Con người thôn quê đó nào biết phu nhân là gì ?
Cô ta lắc đầu rồi chỉ vào người mình và nói :
- Không trông thấy quần áo như thế này sao? Chồng vừa mất được mấy ngày, phu với phiếc gì nữa!
Dứt lời, liền khóa cửa lại. Khuông Dẫn nghe và hiểu rằng người đó không quen xưng hô hai tiếng "phu nhân:, nên lại nói theo kiểu dưới quê :

- Cô chết chồng thì xin gọi là vô phu nhân vậy ?
Cô gái hỏi :
- Thế trời đã tối còn gọi cửa làm gì ?
Khuông Dẫn nói :
- Tôi là khách qua đường nhỡ bước, muốn xin nghỉ tạm một đêm, mai lại lên đường.
Cô gái không ngớt phẩy tay nói :
- Không được ! Không được ! Chồng thiếp vừa mất, thế nào ban đêm hồn cũng về nhà, đến như thiếp còn phải khóa cửa về ngoại tá túc qua đêm, khỏi phạm đến sát thần, mất mạng thì cậu ở làm sao được !
Nói rồi, cô gái quay người đi thẳng.
Khuông Dẫn thấy cô gái bỏ đi luôn thì tự nghĩ :
"Chồng vừa chết, đêm nay hồn về, cô gái phải bỏ về ngoại để tránh sát thần, tất trong nhà sẽ không có ai! Sao ta không tự vào nhà nghỉ, sáng mai đi sớm, đỡ phải gọi cửa nhà khác. Nhưng phải phá khóa mà vào, nhỡ cô ai trông thấy lại sinh chuyện!". Khuông Dẫn liền quan sát bốn chung quanh, thấy tường nhà hơi thấp, liền nghĩ : "Rồi ! cứ vượt tường mà vào, mai đi sớm là xong !".
Khuông Dẫn buộc hành lý vào người rồi nhún mình vượt tường vào trong. Đưa mắt nhìn quanh thì thấy căn nhà ba gian nho nhỏ. Gian giữa đặt linh cữu người quá cố, màn trắng che khuất. Trên bàn thờ hương khói nghi ngút, lễ vật cúng tế rất nhiều, chừng như cô gái đã chuẩn bị đầy đủ để đón hồn về. Khuông Dẫn mừng rỡ : "Bụng đang đói, ta cứ cơm rượu no say, ngủ một giấc mai đi sớm. Cô gái trở về thấy lạ, tất nghĩ sát thần đã hưởng đâu có ngờ là ta" . Khuông Dẫn vào phòng, cởi bỏ mọi thứ xuống, côn thì treo trên tường, rồi đem mọi lễ vật xuống ăn bằng hết, bình rượu úp miệng xuống đất.
Khuông Dẫn đã no, nhưng vẫn thấy mệt mỏi sau chặng đường quá vất vả, muốn an giấc ngay. Mới đưa mắt nhìn sang hai gian bên : bên trái là nhà bếp, bên phải là căn phòng có kê thường và hai chiếc ghế đã cũ Khuông Dẫn lấy cây nến trên bàn thờ đưa vào phòng, cùng những thứ hành lý và cứ thế ngả lưng xuống giường. Chẳng mấy chốc đã vùi đầu ngủ say như chết.
Nửa đêm hôm đó, Khuông Dẫn mới tỉnh giấc thì nghe như có tiếng động. Quay người nhìn ra ngoài thì chẳng thấy gì cả. Cây nến trong phòng vẫn còn dài nhưng ánh lửa trở thành màu xanh lục rồi mờ dần, căn phòng trở nên âm u. Nơi đặt linh cữu như có tiếng động mở toang ra, như có tiếng thở than, nghe thật buồn. Tiếp đến là một cơn lốc từ cửa trên nóc cuộn xuống làm những ngọn nến ở chỗ linh cữu lay động và trở nên u ám. Sau cơn lốc, có tiếng "phành phạch như tiếng ác điểu bay đến bên linh cữu. Khuông Dẫn vốn là người gan dạ, nhưng trước những âm thanh, cảnh tượng ấy cũng phải sởn tóc gáy, nghĩ thầm : "Có quỷ thật ư ? Không tin được, thử ra ngoài xem sao."
Khuông Dẫn ngồi dậy định thần nhìn kỹ, ánh nến trong phòng trở lại như cũ. Khuông Dẫn với lấy chiếc côn trên tường cầm chặt trong tay, bước đến cửa nhìn ra ngoài thì kinh ngạc thay : trên ghế chỗ bàn thờ gần bên linh cửu có hai con gà thật to đang ăn những vật phẩm cúng tế. Khuông Dẫn nhìn kỹ thì hai con gà đó to hơn gà thường nhiều lần. Lông đen, cổ dài, đôi mắt lồi to, móng vuốt sắc nhọn, dáng vẻ hung dữ lắm ! Con bên trái có mào cao, con bên phải thì đầu trọc lóc, Khuông Dẫn thầm nghĩ : "Cũng một trống một mái thành đôi. Tương truyền rằng con người chết đi, vào lúc hồn về thì sát thẩn sẽ đi theo để hưởng thụ những vật phẩm cúng tế ! Nếu chuẩn bị không chu đáo, xúc phạm sát thẩn thì mang vạ thiệt thân. Hai quái vật gần giống như gà, tướng mạo cực kỳ hung ác, phải chăng đó là sát thần ? Thực là dịp may ngàn năm có một, ta phải giết chúng trừ hại cho dân. Không ra tay ngay để chúng thoát mất thì uổng phí!"
Khuông Dẫn bước ra đứng chắn ở cửa đề phòng chúng tẩu thoát, sau đó mới lấy hơi thét thật to :
- Quái vật, chịu chết cho nhanh!
Miệng thét và tay cầm côn bổ xuống. Hai vị sát thần đang nuốt những lễ vật cúng tế thì bất thần nghe tiếng thét và ở trên cao đã xuất hiện những luồng hào quang. Lũ sát thần biết ngay người đó là ai ! Chúng có phần kinh hãi và muốn lẩn tránh. Khuông Dẫn vốn là người chân mệnh thiên tử, đã nổi nóng, luồng hào quang phát ra gấp mấy người thường. Lũ sát thần bị ánh hào quang giữ rịt. Hơn nữa Khuông Dẫn đang đứng chắn ở cửa thì chúng có muốn thoát cũng chẳng được ! Trong nháy mắt chiếc côn của Khuông Dẫn đánh thẳng vào đầu lũ sát thần. Lũ chúng vốn là những thứ ma quỷ hung ác nhất, nay bị Khuông Dẫn bức bách, tránh không được chạy chẳng xong, đành phải giương cánh lên chống đỡ. Cánh chim va vào côn như có ngàn cân nặng, tay cầm không vững, chiếc côn văng sang bên. Khuông Dẫn rơi mất côn tỏ ra lúng túng : "Lũ này mạnh thật, nếu không cẩn thận, tất sẽ nguy" Khuông Dẫn liền xuống tấn đánh thẳng về phía sát thần. Hai sát thần cùng thét lên rồi liều mạng chống trả. Khuông Dẫn giở hết sức bình sinh, bên qua bên lại hàng nửa buổi. May thay thiên tử đến đâu bách linh hỗ trợ đến đấy nên lũ sát thần tuy hung dữ nhưng không thể dùng được hết sức của mình.
Về sau trời dần sáng, khí dương mạnh, khí âm suy sát thần chống đỡ yếu ớt. Còn Khuông Dẫn tự thấy mình mạnh hơn, uy vũ ngời ngời và sau một tiếng thét, giơ tay tóm được chiếc mào trên đầu của xát thần. Sát thần kia thấy thế đã hết, nên liều mạng xông ra ngoài rồi bay vút lên không và mất hút. Sát thần bị tóm ra sức chống trả, bằng móng vuốt của mình cào bừa vào tay Khuông Dẫn, Khuông Dẫn điên tiết một tay ghì chặt lấy đôi cánh, tay kia bắt đầu nhổ lông. Sau một hồi, lông cánh đã bị vặt trụi, máu me lênh láng, hết đường động đậy. Khuông Dẫn nới tay vứt sát thần xuống đất và ngồi xuống nghỉ trước khi lên đường.
Bấy giờ trời đã sáng hẳn, Khuông Dẫn đã lại sức, đang tính chuyện đi tiếp. Khuông Dẫn với lấy túi, nhưng khi nhìn đến mình thì quắm áo đầy những máu. Nếu không thay thì mọi người nhìn thấy sẽ nghi ngờ mất ! Khuông Dẫn định mở túi thay quần áo thì bỗng thấy cửa mở, một tiếng thét lên trước khi có người bước vào. Khuông Dẫn nhìn ra thấy là cô gái mặc áo tang đêm qua, vì sợ sát thần nên đã lánh tạm sang ngoại. Sáng nay đã vội vã xin về vì sợ nhà vắng không người trông nom. Cô gái vào nhà khi Khuông Dẫn đang mở túi Tường đó là trộm, cô gái hô hoán ầm lên. Lân bang hàng xóm đang lúc ăn sáng để chuẩn bị ra đồng thì nghe có tiếng kêu. Mọi người kéo sang như ong vỡ tổ.
Bà con ồn ã bắt đầu hỏi chuyện :
- Liệu mất mát những gì ? Trộm chạy mất rồi chăng ?
Cô gái chỉ tay vào Khuông Dẫn, miệng nói :
- Kẻ này là trộm ! đêm qua hồn chồng tôi về, tôi lánh tạm sang bên ngoại. Sáng nay vừa mở cửa bước vào thì thấy hắn đang lục túi. Tôi cũng chưa biết là mất những gì, chờ xem lại mới rõ.
Mọi người đổ dồn mắt sang Khuông Dẫn, thấy máu me đầy người, ai cũng lạ. Đang định hỏi : Thấy người ta vắng nhà mới vào trộm ? Vì sao lại đầy máu me như vậy ? Khuông Dẫn không chờ cho mọi người phải hỏi đã nói luôn :
- Vô phu nhân, chẳng nhẽ cô không nhớ ra người xin ngủ trọ đêm qua lúc cô đang khóa cửa. Chiếc túi này là của tôi, tôi có trộm cắp gì đâu.
Người phụ nữ nghe tới đó mới nhớ ra câu chuyện tối qua, nói :
- Đúng người này rồi. Nhưng tiện thiếp có cho mượn nhà đâu và vì sao cửa khóa mà người này vẫn vào được ? Hơn nữa lúc đó quần áo anh ta còn rất sạch, sao lúc này lại thấy me nhiều như thế ?
Khuông Dẫn đáp :
- Cô hỏi cửa khóa, vì sao tôi vẫn vào được ? Lúc đó tôi nghĩ trong nhà hắn không có ai, mình cứ vào nghỉ đỡ phải gõ cửa nhà khác. Và có khó gì đâu chỉ cần vượt tường là tôi vào được. Định bụng nghỉ một đêm và sáng hôm sau đi sớm, thì khoảng nửa đêm, sát thần đến làm tôi tỉnh giấc. Tôi giao đấu với sát thần cả buổi. Một sát thần đánh không lại đã bỏ chạy, sát thần khác bị tôi tóm cổ đánh chết đang nằm ở ngoài kia. Máu này chính là máu của sát thần.
Mọi người nghe nói đổ ra xem thì đúng đó là sát thần, ai nấy tròn mắt vừa mừng vừa kinh. Họ vây lấy Khuông Dẫn. Có người khấu đầu có người bái lạy, có người gọi là ân nhân nhưng cũng có người chỉ vào sát thần chết và lớn tiếng mắng :
- Ngươi đem tai họa cho mọi người rồi ! Dạo trời hoàn thiện mới được như ngày nay !
Khuông Dẫn như người vừa tự trên mây rơi xuống, chẳng dám nói thêm một câu nào nữa 1 May sao có một cụ già bước ra nói :
- Đúng vị anh hùng này đã trừ đại họa cho chúng ta rồi ! Phải cảm ơn mới đúng. Nhưng chắc phải nói để mọi người rõ rồi hẵng tạ ơn thì người anh hùng mới hởi lòng hởi dạ nhận tấm lòng thành của chúng ta, chứ cứ lộn xộn thế này thì không được. Mọi người đứng sang một bên để ta nói trước rồi tạ ơn cũng chưa muộn!
Bấy giờ mọi người mới giãn ra để cụ già bước đến chỗ Khuông Dẫn.
Cụ già từ tốn mời Khuông Dẫn ngồi vào một chiếc ghế gần chỗ bàn thờ rồi mới hỏi :
- Chưa tường tên tuổi của người anh hùng? Quê quán ở đâu và vì sao lại đến chốn này ?
Khuông Dẫn nghe hỏi mới đem chuyện của mình đầu đuôi kể lại một lượt. Cụ già nghe xong liền cung kính nói :
- Ra đây là vị công tử con quan ? Lão thật thất lễ !
Khuông Dẫn thưa :
- Gặp nhau như thế này thực là duyên nợ. Dám hỏi vùng này là vùng nào ? Việc tôi ngẫu nhiên giết chết sát thần đêm qua sao mọi người lại tỏ ra quan tâm như vậy. Xin lão trượng chỉ bảo cặn kẽ.
Cụ già nói :
- Được công tử hỏi tới, lão không dám không thưa. Thôn này là thôn Đồng Manh thuộc phủ Tương Dương. Còn như chuyện giết chết sát thần và tấm lòng bà con thì dài lắm ! Không biết từ triều nào đã sinh ra lệ : phàm có người chết thì không kể giàu nghèo, sang hèn, quan hay dân đều có "hồi sát", tương truyền hôm đó sẽ có hai vị sát thần, mình gà cổ ngỗng, móng vuốt sắc nhọn, tướng mạo hung ác, sức mạnh vô địch, một trống một mái tìm đến! Linh hồn người chết trở về thì sát thần tận hưởng những vật phẩm cúng tế. Vào đêm hôm đó thì gia tộc người quá cố bất kể là ai phải lánh đi chỗ khác. Giả thử có người ở lại, xúc phạm sát thần thì người đó bị hút mất hồn, nội trong ba hôm lại phải Ô hô ? Khi sát thần đến tất phải có một trận cuồng phong. Không những gia tộc người quá cố không được ngăn cản cuồng phong mà ngay cả lân bang cố hữu hoặc người qua đường cũng đều phải thế. Giá có người không chú ý chạm phải cuồng phong tất mắc họa lớn ? Dù là tiên phật cũng không thể cứu nổi ! Vì vậy trong thôn khi có người chết, nhờ thầy xin âm dương định ngày hồn về. Đến ngày đó phải chuẩn bị chu đáo rồi ra khỏi nhà, tránh gặp cuồng phong. Nhiều người trong thôn đã bị sát thần làm hại, hút mất hồn cha mẹ hoặc vợ con. Người người đều thấy oán khổ, nhưng đành phải cắn răng chịu đựng. Nay thấy công tử đã giết được sát thần trống hung dữ nhất, dù con mái đã thoát, không đáng sợ ! Thế là công tử đã trừ họa được cho dân nên dân mới vây lại tỏ tấm lòng thành bái tạ công tử. Không kể tường tận như vậy, e công tử chẳng rõ ra sao !
Khuông Dẫn mới vỡ lẽ, liền đứng dậy từ biệt lão trượng để lên đường. Lão trượng có lời giữ lại nói :
- Nay công tử đã trừ được họa lớn, dân làng tỏ lòng thành ý muốn lưu công tử lại mấy hôm.
Khuông Dẫn ha ha cười lớn :
- Ngẫu nhiên tôi giết được sát thần, gặp họa thì cứu có nghĩ gì là việc trừ hại cho bà con, nên tôi không dám! Xin lão trượng thấu cho. Và tôi có nhiều chuyện gấp lắm, không thể lưu lại dù là chốc lát.
Khuông Dẫn dứt khoát ra đi, lão trượng giữ mấy cũng không được.
Lão trượng biết là không giữ được Khuông Dẫn xin nói :
- Công tử quyết đi, lão không dám giữ, nhưng dù sao thì cũng gần trưa, từ sáng tới giờ công tử lại chưa dùng bữa! Ngoài kia, cách thôn lão hàng chục dặm chỉ là đồng không mông quạnh, bấy giờ có đói thì cũng chịu ! Lão khuyên công tử nán lại một chút, ăn no rồi hãy đi.
Lúc đầu Khuông Dẫn muốn đi lấm, nên không nghĩ đến chuyện khác. Khi thấy cụ già nhắc nhở, nên mới cười nói :
- Thực tình thì muốn đi quá nên quên hết mọi chuyện. Nay được lão trượng nhắc nhở, tôi không dám phụ lòng bà con cùng lão trượng, xin lưu lại dùng bữa.
Dân làng và cụ già thấy Khuông Dẫn nhận lời thì mừng rỡ. Cụ già nói :
- Mừng thay công tử đã nhận lời, tiếc rằng ở đây chỉ đủ để đặt linh cữu và bàn thờ, thiếu thốn nhiều thứ. Xin mời công tử sang bên nhà lão.
Khuông Dẫn không tiện từ chối, theo chân cụ già. Dân làng đi lo cơm rượu. Sau khi ăn uống xong, Khuông Dẫn giắt cung mang tên, tay xách túi từ biệt cụ già, dân làng và lên đường.
Tiếp tục hai ngày đường thì đến Tương Dương. Lần này ra đi, Khuông Dẫn đã giấu mẫu thân và vợ, nên tiền lương mang theo ít ỏi lúc này đã cạn, lấy gì để đi tiếp Khuông Dẫn khổ tâm, lo lắng, nhưng quyết không dừng bước! Hôm đó trời đã về chiều, Khuông Dẫn định bụng tìm một ngôi chùa xin nghỉ tạm, Khuông Dẫn vào chùa kể qua tình hình, nói rõ cảnh ngộ xin được nương nhờ một tối. Nào ngờ gặp phải lũ tăng đồ hám lợi. Hằng ngày chúng chỉ biết hầu hạ loại người phú quý hiển hách. Nay thấy Khuông Dẫn hành lý ít ỏi, quần áo nhàu nát như người chinh khách cùng đường mạt vận thì chúng lưu lại làm gì ?
Khuông Dẫn tiến thoái lưỡng nan. Ra sức xin lưu lại một đêm dù ở chái nhà cũng được. Lũ tăng đồ vẫn lờ đi không chịu. Khuông Dẫn đã thấy bực, giọng nói trở nên gay gắt :
- Người xuất gia phải lấy điều từ bi làm gốc, ngày ngày đã được thập phương cúng nộp. Nay có khách nhỡ đường xin nghỉ lại, các vị phải dung nạp mới đúng. Đằng này cầu xin đến rã họng, các vị vẫn không ưng là vì sao ? Một khi ta bực lên thì đừng có trách!
Trong số đó có một tăng đồ người nhỏ nhắn thấy câu chuyện có phần căng thẳng mới bước ra nói :
- Các sư huynh ầm ĩ chuyện gì thế ? Sư phụ cho đệ ra xem việc thầy sai các huynh ra đón quý nhân đến đâu rồi ? Thầy đang chờ tin đấy.
Lũ chúng tăng liền đồng thanh có vẻ ngao ngán :
-Sư phụ thật chẳng hay ho gì, vô duyên vô cớ bảo là có thiên tượng, có quí nhân đi qua. Các huynh đã ngồi chờ từ lúc ăn cơm, tới giờ trời đã gần tối mà nào có ai, ngoài một gã qua đường đói khát cứ nằng nặc xin tá túc qua đêm. Lũ huynh không cho, thế là gã ấy nổi nóng, ầm ĩ lên là vì thế đấy.
Vị tiểu tăng tiếp lời :
- Sư phụ nói, chân nhân không bao giờ để lộ, các huynh người trần mắt thịt đâu có phân biệt được ? Vị khách qua đường xin nhờ chính là quí nhân. Thầy biết quí nhân đã đến nên mới sai đệ ra bảo các huynh phải nhanh chóng mời khách vào chùa không được chậm trễ!
Chúng tăng lấy làm kỳ lạ :
- Người ngợm như vậy mà sư phụ bảo là quí nhân ở chỗ nào? Lũ huynh đâu có rỗi!
Nói xong họ tản hết, chẳng thèm nhìn lại.
Tiểu tăng được thầy dặn kỹ vội tươi cười đến trước Khuông Dẫn nói :
- Quý khách thứ lỗi vì họ vô tri thiếu đường lễ tiết ! Sư phụ đã biết quí khách đến, đang mong chờ ở phương trượng mới cho tiểu tăng ra rước quí khách vào.
Khuông Dẫn ghe rõ câu chuyện của tiểu tăng từ nãy, mới biết sư phụ là bậc dị nhân. Lại thấy tiểu tăng trân trọng nên không chậm trễ, theo chân tiểu tăng về phía phương trượng.
Chưa biết sư phụ là người thế nào, xin xem hồi sau sẽ rõ.
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
Đăng nhập để trả lời
0
HỒI THỨ SÁU
chỉ đường mê. lão tăng dâng lời kệ
Gặp thời vận. Thái Tổ quyết sung quân
Lại nói, Khuông Dẫn theo chân tiểu tăng bước đến phương trượng. Một vị Hòa thượng đã có tuổi, nhân từ, bước xuống thềm nghênh đón. Khuông Dẫn thấy Hòa thượng cốt cách phi phàm, phong thái đĩnh đạc biết không phải là người thường nên vội chắp tay vái lạy Lão tăng đáp lễ và nói luôn :
- Tiểu đồ không biết, mắc lỗi với quí nhân, mong được tha tội.
Khuông Dẫn nói :
- Kẻ tầm thường này những mong tòng quân lập nên công trạng nên mới rời nhà phiêu bạt. Lại vì nóng vội mà nhầm đường rơi vào cảnh cùng đường mạt vận. Nay tuy được bề trên nhìn thấu, cho chỗ dung thân còn sau này ra sao thì khôn lường ! Bề trên vô cớ lại coi là quí nhân, tránh sao khỏi những lời dị nghị. Huống chi kẻ tầm thường này lại bất tài, sự nghiệp công danh chưa có, cảnh đời khốn đốn đâu dám nhận hai chữ quí nhân! Chỉ mong bề trên bỏ qua cho để kẻ tầm thường này còn có chỗ dung thân, nghe mà không thấy sợ !
Lão tăng nói :
- Số trời đã định. Chằng qua thời vận chưa tới, như rồng ở nơi nước cạn, còn thiếu gió mây! Mai ngày đến vận, rồng kia bay lượn trong chín tầng mây, nào ai sánh kịp. Khi đó hà tất còn phải e ngại?
Lão tăng mời Khuông Dẫn ngồi trong phương trượng. Tiểu tăng lo việc dâng trà. Khuông Dẫn vừa uống trà vừa hỏi :
- Xin hòa thượng cho kẻ hèn này được biết quí danh quí tính !
Hòa thượng đáp :
- Lão xuất gia từ nhỏ, gạt bỏ chuyện đời, nay đã hơn trăm tuổi không còn nhớ được tên tục của mình. Đâu như lúc xuất gia, bế trên lấy chữ sắc tức không, không tức là sắc, đặt pháp danh cho lão là Đại Không, nên mọi người gọi lão là Đại Không Hòa thượng.
Khuông Dẫn hỏi tiếp :
- Bề trên tuổi tác trường thọ, đạo hành cao siêu, tất phải thấu tỏ quá khứ và hậu vận. Kẻ tầm thường này ngu muội, chưa hề biết tương lai sẽ ra sao ! Mong được bề trên chỉ đường, vạch nước thì thật là vạn hạnh!
Lão tăng nói :
-Ánh hồng chiếu sáng là điềm lành. Vận may ra từ hương thơm ngào ngạt; kiểm điểm làm thiên tử là số trời. Phúc phận thật dày, đừng lo về hậu vận!
Khuông Dẫn thấy lão tăng nói đến ánh sáng hồng và hương thơm kỳ lạ khi mình ra đời như người trong cuộc thì kinh ngạc vô cùng. Riêng câu kiểm điểm làm thiên tử thì không rõ, phải hỏi :
-Bề trên nói tới kiểm điểm là thế nào ? Kẻ tầm thường này thô lỗ, không tường ẩn ý, mong bề trên chỉ giáo tường tận.
Lão tăng mỉm cười, nói :
- Thiên cơ không thể lộ, sau này sẽ hiểu. Lão tăng mắc tội đã nói nhiều !
Khuông Dẫn nói :
- Việc thiên cơ đành gác lại ! Nay kẻ tầm thường đang lúc sức cùng lực kiệt, tiến thoái lưỡng nan, đâu là cơ duyên, là đường cứu nạn chúng sinh xin bề trên chỉ rõ.
Lão tăng trở nên nghiêm trang hơn :
- Cơ hội gần tới! Cứ đi về hướng bắc thì sẽ gặp.
Khuông Dẫn nghe xong cúi đầu yên lặng hồi lâu, dáng vẻ đăm chiêu. Lão tăng như biết từ lâu, nói :
- Tiền đi đường là chuyện nhỏ, lão đã chuẩn bị, xin cứ an tâm.
Khuông Dẫn cảm tạ :
- Ngẫu nhiên gặp mặt lại phiền bề trên cứu giúp, kẻ tầm thường này yên tâm sao được ?
Lão tăng nói :
- Thắp hương hẹn ước đó là việc của lão tăng, hà tất phải lo lắng ? Đêm nay cứ nán lại, mai lên đường kẻo nhỡ thời cơ. Mọi điều khác xin yên lòng.
Vị Hòa thượng cho gọi tiểu tăng lên trước dặn dò :
- Con đưa quí khách về phòng nghỉ ngơi và chuẩn bị cơm nước ngay !
Tiểu tăng vâng dạ, đưa quí khách về phòng nghỉ. Khuông Dẫn từ tạ lão tăng rồi cáo lui. Lão tăng chống gậy tích trượng tiễn khách tận cửa rồi từ từ quay lại.
Khuông Dẫn và tiểu tăng bước vào một căn phòng thật yên tĩnh. Bên trong có sẵn giường chiếu khăn màn, thứ gì cũng ngăn nắp, sạch sẽ. Bao nỗi vất vả mệt mỏi trên đường trong ngày qua, bỗng như mất sạch, Khuông Dẫn nhìn căn phòng mà thấy lòng nhẹ nhõm. Tiểu tăng dọn trà, thắp nến rồi đi lo liệu cơm tối Một lúc sau cơm nước được dọn lên, tiểu tăng có lời với Khuông Dẫn :
- Mời quí khách sang dùng bữa.
Khuông Dẫn thấy đói từ lâu nên vừa thấy cơm đã ăn đến kỳ no mới buông bát buông đũa ! Tiểu tăng dọn dẹp xong xuôi, mang nước lên để Khuông Dẫn rửa mặt. Khuông Dẫn cảm thấy mệt môi rã rời liền ngả người xuống giường, vùi đầu vào chăn làm luôn một giấc. Mấy hôm trước đường đi vất vả, chỗ nghỉ không có Khuông Dẫn hầu như đói ngủ ! Hôm nay mới được đẫy giấc Khi tỉnh lại thì mặt trời đã lên cao. Khuông Dẫn hốt hoảng ngồi dậy : "Sao bây giờ mới tỉnh ? Thế này thì lỡ dịp mất thôi ! Lão tăng hứa tiễn ta sớm, sao lại không gọi?. Tiểu tăng đã chuẩn bị. mọi thứ từ lâu ! Khuông Dẫn rửa mặt, chải tóc và ăn sáng qua loa rồi sưa sang quần áo đến thẳng phương trượng.
Lão tăng đã chờ sẵn. Hai người nói lời thăm hỏi rồi cùng bước vào phương trượng. Khuông Dẫn sợ lỡ thời cơ nên muốn cáo biệt để lên đường. Lão tăng cười nói :
- Quý khách đừng vội, "tất cả đều do tiền định" , chẳng có sai bao giờ. Quý khách có đi lúc này thì cũng phải đến ngày đến giờ mới có cơ hội. Lão đang muốn cùng quý khách uống ba chén rượu nhạt để tiễn chân. Coi như đến trưa, quý khách lên đường cũng chưa muộn !
Khuông Dẫn nghe thấy phải, đâu dám không theo. Thế là chủ khách lại cùng nhau trò chuyện. Chuyện đông chuyện tây rồi chuyện thời cuộc. Khuông Dẫn mới hỏi :
- Đại thế trong thiên hạ khi yên khi loạn, biến đổi khôn cùng nên người xưa từng nói tan rồi hợp, hợp rồi lại tan" hay như "Dịch" nói : "Thẳng phải có lệch, đi phải có đến, bĩ cực thái lai, loạn tất phải yên . Cục thế lúc này, ly hợp dọc ngang, binh đao điên đảo kể đã bốn năm chục năm rồi ! Cứ theo lẽ thường mà suy thì lòng trời đã chán loạn lạc, nhưng xa gần lâu chóng ra sao thì kẻ tầm thường này, người trần mắt thịt không sao hiểu được. Bề trên là người thấu trước hiểu nay chắc đã rõ, vậy thì bao giờ mới có thái bình đây ?
Lão tăng nói :
- Quý khách nói chuyện tan rồi hợp, hợp rồi lại tan là đúng lắm ! Đến lúc Trung Nguyên hỗn hợp làm một thì thái bình xuất hiện. Lão tăng đêm xem thiên tượng thì thấy cũng gần thôi !
Khuông Dẫn nói :
- Thời thái bình không còn xa nữa, tất đế vương chân mệnh đã xuất thế rồi ? Và ở đâu đây ?
Lão tăng nói :
- Quý khách hỏi đế vương chân mệnh ở đâu thì : xa là nơi chân trời, gần thì ngay trước mắt. Tuy rằng trời xanh đã ủng hộ, là thiên tử vẫn phải giữ đức hiếu sính mới mong thống nhất được Trung Nguyên, thu được của cải bốn phương. Chính vì lẽ đó, Mạnh Tử mới nói : "Người không thích giết người thì được. Người vi phạm điều đạo nghĩa để thoả mãn cho mình thì dù có được, cái được cũng chẳng bền"!
Khuông Dẫn nghe xong thấy phải lắm, đã nói :
- Lời bề trên nghe phải lắm. Trời đất sinh dân, dân lập nên vua, vua phải thay trời tuyên hoá, bảo vệ nhân dân; nếu chỉ lo tranh thành cướp đất cho mình, bỏ mặc trăm họ thì liệu có còn là vua nữa không? Chưa nói tới thời Đường Ngu, chỉ cần bàn qua hai triều Chu, Tần, thấy Văn vương, Vũ vương lấy việc bảo vệ dân làm đầu nên mới cường thịnh, lâu dài hàng tám trăm năm. Tần Thủy Hoàng tuy đã thống nhất Trung Nguyên nhưng lại lo thiên hạ phản bội nên ngược đãi trăm họ, trong thì lo thu hết binh khí, ngoài thì xây Trường Thành, đốt sách vở, tường thế thì con cháu có thể đời đời giữ chức hoàng đế. Nào ngờ chỉ được hai đời là hết. Sơ qua như vậy để thấy các bậc quân vương khai cơ dựng nghiệp không thể lao vào chỗ giết chóc.
Lão tăng vỗ tay khen ngợi, không chờ Khuông Dẫn nói hết:
- Quý khách thấy được như vậy là đại hạnh cho sinh linh! Lão có thể đoán định được phúc phận của quí khách thực không có mức độ nào cả.
Hai người trò chuyện thật hợp, không ngờ trời đã sang trưa. Lão tăng vui vẻ nói :
- Chúng ta chỉ mãi chuyện quên cả thời gian mà quí khách thì còn phải lên đường.
Lão tăng nói xong liền sai người dọn bữa. Lát sau mấy món nhắm, một bình rượu nóng và một chén uống rượu đã được đặt lên bàn. Lão tăng đứng dậy mời Khuông Dẫn sang dùng bữa. Khuông Dẫn nói :
- Được bề trên khoản đãi sao lại có thể ngồi một mình. Bề trên vì sao không dùng bữa ?
Lão tăng nói :
- Xin mời quí khách cứ tự nhiên. Còn lão tăng phục khí lâu ngày đã quen ăn chay nên xin được thù tiếp ở cạnh vậy !
Lão tăng vừa nói vừa rót rượu mời khách. Khuông Dẫn biết lão tăng không dùng được cơm rượu nên cảm tạ để vào bàn. Thấy lão tăng cứ lo rót rượu, Khuông Dẫn e ngại nói :
- Bề trên đã không dùng rượu lại phải vất vả, thực không an lòng. Xin để kẻ tầm thường này tự rót lấy uống thêm vài chén nữa !
Lão tăng nghe nói vậy mới thôi. Khuông Dẫn vừa uống rượu vừa hỏi chuyện :
- Vừa rồi bề trên nói phục khí đã lâu, chỉ biết ăn chạy, không hiểu "phục khí" đó là gì, xin được chỉ bảo tường tận?!
Lão tăng nói :
- Phục khí là một phép trong cửa thiền. Phàm những người tu hành đều phải học ngay từ đầu. Bất kể là ai, dốc lòng theo đạo thì đều học được. Học càng lâu thì hiệu quả càng lớn. Bí quyết này chỉ dùng cho những người tu đạo, còn những người như quí khách, sao bỏ được ngọc thực bốn phương, nhiều của ngon vật lạ tiến cống thì theo phép mà làm gì ?
Khuông Dẫn nghe xong không nói gì thêm, uống nốt bình rượu rồi dùng cơm. Lão tăng nói :
- Biết quí khách còn phải lên đường nên lão không mời thêm rượu nữa !
Cơm rượu xong, lão tăng còn tặng thêm hai mươi lạng bạc. Khuông Dẫn một mực chối từ, lão tăng phải nói :
- Quí khách đừng bận tâm. Đây là của cải thí chủ dâng tặng nhà chùa, lão trích một phần dâng quí khách làm lộ phí, chỉ mươi hôm nữa là cơ duyên sẽ tới.
Khuông Dẫn đành phải nhận số bạc đó và cảm tạ lão tăng rồi lấy cung tên, túi xách để chuẩn bị lên đường. Lão tăng nói :
- Khoan đã, lão còn mấy lời kệ để tiễn biệt quý khách, xin nghe nhớ kỹ, chờ ứng nghiệm.
Khuông Dẫn nói :
- Lão tăng có kệ, xin cung kính lắng nghe !
Lão tăng lấy giọng đọc : "Ngộ Quách nãi an, lịch Chu thuỷ hiển. Lưỡng nhật trùng quang, tương mộc ứng sấm" . Xin quý khách nhớ kỹ mười sáu chữ đó.
Khuông Dẫn nghe thấy chưa hiểu, nhưng biết đó là thiên cơ nên không dám hỏi thêm! Chỉ dám nói ba chữ "Xin lĩnh giáo". Khi đó tiểu tăng đã mang cung tên cùng túi xách ra, Khuông Dẫn nói lời từ biệt lão tăng :
- Được bề trên ưu ái, thâm tình sâu nặng, kẻ tầm thường này cảm kích vô cùng. Về sau khi công thành danh toại xin được đền đáp ân đức đó. Nhưng ngày hội ngộ quả chưa tường ! Bề trên thông hiểu về hậu vận chắc phải biết rõ.
Lão tăng nói :
- Ngày hội ngộ phải chờ tới lúc thái bình (Hai chữ "thái bình" là ám chỉ đến năm Thái Bình).
Khuông Dẫn mang theo hành lý bước ra khỏi chùa. Lão tăng thân tiễn ra tận cửa, với lời từ biệt "Đi đường hãy bảo trọng" rồi quay vào.
Khuông Dẫn đi lên miền bắc theo lời lão tăng dặn dò. Phong cảnh trên đường cũng thật ngoạn mục, lại có bạc lão tăng ban tặng, Khuông Dẫn cảm thấy trong lòng phấn chấn. Chẳng mấy chốc đã đến Hán Dương. Khuông Dẫn thuê thuyền vượt sông Hán Thủy rồi dọc theo sông hướng lên bắc. Đi được một quãng thì bị núi chắn đường. Khuông Dẫn ngắm nhìn thì thấy núi cao trùng trùng điệp điệp, địa thế hiểm trở. Phía sau núi, đôi khi nghe cổ tiếng tù và làm hiệu. Khuông Dẫn sinh nghi : "Nghe ra thì đó là tiếng tù và trong doanh trại. Có thế có quân doanh nào đó ?" Khuông Dẫn chẳng quản đường sá gồ ghề, gắng sức vượt lên đỉnh núi. Đưa mắt nhìn quanh, bốn bề tĩnh lặng, duy chỉ có một doanh trại lớn ở xa xa tựa lưng vào sườn núi. Phía trên là một lá cờ lớn ngạo nghễ tung bay trong gió, có một chữ to nhưng trông không rõ ! Khuông Dẫn xuống núi đi một thôi nữa đến gần nhìn xem thì thấy rõ một chữ "Quách" thật to. Khuông Dẫn lấy làm lạ, thầm nghĩ : "Lúc ở Tương Dương Nhân khi từ biệt lão tăng đọc bốn câu kệ, câu đầu "Ngộ Quách nãi an phải chăng là cơ duyên của mình ở chốn này đây ? Quả là không sai". Sau hồi suy nghĩ. Khuông Dẫn đến gõ cửa xin gập. chủ soái.
Bước vào đại doanh, thấy có vệ binh đứng gác, Khuông Dẫn tiến lên trước hỏi :
- Quách nguyên soái của quý doanh có ở trong này không?
Tên lính nói :
- Ngài có mặt. ở đâu đến, hỏi có việc gì ?
Khuông Dẫn đáp :
- Tiểu dân từ Biện Kinh tới, muốn bái kiến nguyên soái xin theo quân ra sức chiến đấu.
Tên lính nhìn Khuông Dẫn từ đầu đến chân, hỏi :
- Xin cho biết quý danh quý tính để thông báo vào trong.
Khuông Dẫn nói :
- Tiểu dân họ Triệu, tên Khuông Dẫn, người Trác Châu. Phụ thân là Hoằng Ân, Đô chỉ huy sứ !
Tên lính lắc đầu nói :
- Bây giờ mới biết mặt công tử ! Cha làm đến Đô chỉ huy sứ sao không ngồi nhà mà hưởng vinh hoa phú quý, còn lo việc đầu quân ?
Khuông Dẫn nói :
- Người xưa đã dạy, thời thế tạo anh hùng, anh hùng tạo thời thế. Lúc này thiên hạ loạn lạc, là thời thế của anh hùng hào kiệt, không nhân đó mà lập công dựng nghiệp thì còn chờ đến bao giờ nữa ?
Nói rồi, quay người đi vào hậu doanh.
Quách nguyên soái ở đại doanh này là ai vậy? Vốn là Hậu Chu Thái Tổ Quách Uy, người huyện Nghiêu sơn, Hình Châu. Quách Uy tướng mạo khôi ngô, sức khỏe vô địch. Từ nhỏ đã rèn luyện võ nghệ, cưỡi ngựa bắn tên, tinh thông thao lược. Thời niên thiếu cực kỳ vô lại, mê bài bạc, thích xúc xắc, thua hàng vạn tiền không tiếc. Quách Uy cho xăm vào cố hình con chim sẻ bay mổ thóc. Kể cũng lạ, lúc đầu thì hai hình đó cách nhau hàng tấc, về sau thì chim sẻ bay và hình hạt thóc xích lại gần nhau, bấy giờ là lúc Quách Uy đã ra làm quan. Có thầy tướng số bảo tướng Quách Uy thực dị thường. Xuất thân là bần tiện nhưng về sau đại phú đại quý, tận bậc chí tôn. Quách Uy hỏi thầy bao giờ thì phát tích được ? Thầy tướng nói :
- Chờ khi chim sẻ mổ được hạt thóc!
Lời nói vu vơ của thầy tường không những chỉ có Quách Uy xem thường mà ngay cả người đứng bên cũng không tin, nói :
- Chim sẻ và hạt thóc xa nhau, lại cố định thì chim làm sao mổ được hạt thóc ? Rõ là thầy tướng nói bừa.
Người bạn rượu chè và cờ bạc hôm đó cùng Quách Uy coi lời thầy tướng như tin mới, nói lại lâm vui. Từ đó mọi người gọi Quách Uy là Quách chim sẻ.
Dạo ở dưới quê, Quách Uy, được coi là hiệp khí. Thường giúp người phân giải những khó khăn. Gặp người hoạn nạn sẵn sàng mở hầu bao ra giúp. Thái độ khẳng khái, được mọi người biết ơn. Viên quan Sài Thủ Lễ là kẻ bị dân căm ghét, dễ sinh họa lớn. Chỉ đến khi Quách Uy ra tay phân giải, mọi việc mới yên. Thủ Lễ cảm kích ân đức đó, liền gả em gái cho Quách Uy để báo đền. Con Thủ Lễ là Sài Vinh, hồi trước đã kể chuyện tam hùng kết nghĩa, rồi Khuông Dẫn về Biện Kinh, Sài Vinh bảo sẽ đi thăm chú Quách Uy. Quách Uy và Sài thị chưa sinh con. Hai người quý mến và coi Sài Vinh như con vậy. Về sau Quách Uy theo Hậu Hán Cao tổ Lưu Tri Viễn, có nhiều công lao, được Tri Viễn coi trọng. Mỗi khi gặp việc cơ mật, Tri Viễn thường để Sử Hoành Triệu, Quách Uy liệu kế. Khi Tri Viễn chiếm ngôi nhà Hậu Tấn thì hai người trở thành khai quốc công thần. Lúc Tri Viễn qua đời, Quách Uy và Sử Hoành Triệu là cố mệnh đại thần lập thái tử Thừa Hựu làm đế là Hậu Hán ẩn đế. Bấy giờ ẩn đế còn nhỏ và ốm yếu, việc triều chính đều do Quách Uy, Sử Hoành Triệu quyết định. Khi ẩn đế lên ngôi phong Sử Hoành Triệu là Khu mật sứ Quách Uy Khu mật phó sứ. Bấy giờ Nghiệp Đô là trọng trấn của đất nước, trấn giữ phải là vị tướng soái danh vọng, uy vũ. Quách Uy được gia phong thị trung kiêm Nghiệp Đô lưu thủ, lĩnh bộ hạ, binh tướng ra trấn giữ Nghiệp Đô. Quách Uy hiểu rằng triều đình giao trọng trách là muốn nhờ vào uy vọng của mình hòng áp chế các trấn, không ai dám sinh hai lòng, nên khi nhận thánh chỉ, Quách Uy nhanh chóng thu dọn hành trang, cùng gia quyến lên đường ngay.
Nào ngờ Quách Uy đến Nghiệp ĐÔ chưa lâu thì Hộ quốc tiết độ sứ ở Hà Trung là Lý Thủ Trinh đã liên lạc với Triệu Tư Quản ở Vĩnh Hưng và Vương Cảnh Sùng ở Phượng Tường, cả ba trấn nhất loạt chống lệnh. Các lộ quan tướng không sao địch nổi lực lượng mạnh mẽ của chúng. Chúng viết hịch gọi hàng phân bố khắp nơi. ẩn đế thơ ấu biết ứng phó ra sao?
Khu mật sứ Sử Hoành Triệu, Bình chương sự Tô Phùng Cát, Dương Bân được triệu vào cung tính kế. Sử Hoành Triệu từng trải, tài năng, gánh nổi việc lớn. Hoành Triệu một mặt vào cung làm yên lòng ẩn đế, mặt khác cùng TÔ Phùng Cát, Dương Bân điều binh khiển tướng dẹp loạn. Triệu Hoằng Ân nhận lệnh chinh phạt Vương Cảnh Sùng ở Phượng Tường; Quách Tòng Nghĩa dẹp Triệu Tư Quản ở Vĩnh Hưng. Riêng Lý Thủ Trinh ở Hà Trung, binh hùng tướng mạnh, danh tiếng lẫy lừng cần có tướng mạnh mới trị được. Hoành Triệu suy đi tính lại thấy Quách Uy, là đáng tin cậy. Bàn xong liền vào tâu trình với ẩn đế, ẩn đế phê chuẩn, còn có dụ chỉ lệnh Quách Uy là Tây nam chiêu ủy an phủ sứ, chinh thảo Hà Trung, chư bộ binh mã phải nghe lệnh Quách Uy. Quách Uy nhận dụ chi, quân tình khẩn cấp, liền chọn ngay binh tướng, thư lại Vương Đào cùng cháu là Sài Vinh đưa quân lên đường.
Hôm đó đi được nửa đường thì 'hạ trại nghỉ. Đúng lúc này thì Khuông Dẫn xin gặp. Quách Uy đang lúc cần người nên không từ chối, lệnh cho vào ngay. Khuông Dẫn theo chân tên lính vào trong trướng. Khuông Dẫn chắp tay vái lạy rồi đứng sang bên. Quách Uy chưa vội lên tiếng, đưa mắt ngắm nhìn, thấy Khuông Dẫn khỏe mạnh khôi ngô, trong lòng đã thấy thích. Lúc này Quách Uy mới hỏi chuyện. Khuông Dẫn bằng giọng nói vang vang, trả lời rành rẽ. Quách Uy thấy hợp muốn giữ lại, nhưng cứ thử hỏi :
- Ngươi còn trẻ, cần phải học để thăng tiến về sau. Cớ chi lại muốn sung quân, xông vào nơi gian khổ.
Khuông Dẫn đáp :
- Thời cuộc có nhiều biến cố, là lúc đại trượng phu lập công, cứu nước. Phàm là người có chí khí lẽ đâu lại chịu ngồi nhà ! Từ lâu kẻ hèn này đã lập chí sung quân trước là cứu dân, báo đền nợ nước, sau là phù thân nổi danh, thành người hữu ích.
Quách Uy nói :
- ý nguyện của ngươi thật lớn lao. Nay nghe lệnh tôn cũng cầm quân ra Phượng Tường lập công sao ngươi không đi theo cha mình ?
Khuông Dẫn bị hỏi biết là khó giấu nên mới nói hết : nào là cha mẹ thương con không cho sung quân; phải giấu nhà ra đi thế nào; rồi lạc lối và tìm được đến đây ra sao. Quách Uy hiểu chuyện mới nói :
- Ta và cha ngươi vốn cùng tuổi. Nay đã đến lẽ nào ta từ chối. Cho ngươi cùng đi đánh Hà Trung, lập công thì sau sẽ tiến cử.
Khuông Dẫn cảm tạ đức lớn của Quách Uy. Đang định lui ra thì thấy một viên quan trẻ tuổi bước vào trướng và vừa nhìn thấy Khuông Dẫn đã tỏ ra kinh ngạc hết sức và hỏi ngay :
. Sao đệ không ở Biện Kinh mà lại đến đây ?
Chưa biết người đó là, xin xem hồi sau sẽ rõ.
về miền Tây, có ai về miền Tây...
đường vòng xuyên Châu Đốc ai hát lời vu vơ
Đăng nhập để trả lời
0