📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Đoán Án Kỳ Quan- Hết - Phạm Tú Châu - Nguyễn Văn Thiệu (Dịch và biên soạn) 🔒

167 trả lời, 15.847 lượt xem — Trang 6 / 6
Chương 20f [/align]

Lại nó Từ Bằng Tử được học hành tại nhà Lư Hàn lâm, cùng công tử dùi mài kinh sử. Công tử cũng là người có nghị lực thành tâm chăm chỉ chuyên cần, học hành ngày càng tiến bộ. Anh thường đưa bài văn của mình cho cha xem, biết được công lao dìu dắt của Từ Bằng Tử, Lư Hàn lâm rất vui mừng. Năm ấy Đề học mở khoa thi, Lư Hàn lâm nói với Từ Bằng Tử:
- Anh đã học thành tài, không nên tự chôn vùi tài năng của mình. Ta đây cho lấy quê quán ở đây để đi thi. Anh hãy đi thi xem sao, đừng làm người anh hùng thở dài tới lúc bạc đầu.
Từ Bằng Tử nghe lời, vượt qua các cuộc thi ở phủ, huyện, đạo chẳng mấy khó khăn. Từ Bằng Tử đỗ thứ nhất, Lư công tử đỗ thứ nhì. Lư Hàn lâm vô cùng mừng rỡ, luôn luôn khuyên họ gắng sức học hành, tất cả những việc lặt vặt về việc trường thi không cần họ phải quan tâm, chỉ chờ ngày tới trường thi mang bút nghiêng đi là được. Họ nhanh chóng đậu tam trường. Từ Bằng Tử đỗ giải nguyên, Lư công công tử cũng đỗ thứ năm mươi. Tình hình thay đổi hẳn. Từ Bằng Tử như cây khô tươi lại. Lư Hàn lâm thì coi anh là người tri kỷ.
Lư Hàn lâm nói với Từ Bằng Tử:
- Vốn học của thằng nhỏ nhà tôi còn nông cạn, may mà được đỗ nên không được tự cho mình đã giỏi. Tôi nghĩ nhân tiện có thuyền lương về kinh, ta sẽ thuê một khoang rộng rãi, yên tĩnh, Từ tiên sinh cùng thằng nhỏ đi một chuyến, trên đường đi nhờ tiên sinh kèm cặp. Tất cả phí tổn tôi lo liệu hết, tiên sinh đừng ngại. Hai người cùng lên kinh, vừa đi vừa học, nếu cả thằng nhỏ nhà tôi và tiên sinh cùng đỗ cả thì học trò sẽ không bao giờ quên ơn thầy.
Từ Bằng Tử cúi đầu tạ ơn rồi chào từ biệt Lư Hàn lâm lên thuyền lương đi Bắc Kinh. Nhà Lư Hàn lâm giàu cần gì là có nấy, họ chẳng cần phải bận tâm, suốt ngày miệt mài học tập. Thuyền vừa tới vệ Thiên Tân, hai người bàn nhau: chúng ta trên thuyền lâu ngày bị gò bó, vậy ta thuê xe ngựa đến Bắc Kinh sẽ tiện lợi và thoải mái hơn. Từ Bằng Tử và Lư công tử mỗi người một xe, còn những người khác thì cưỡi ngựa đi theo.
Đi chưa đầy bốn năm chục dặm thì thấy một người đàn bà ngồi trên bãi cỏ vệ đường khóc, những người cùng đi chẳng ai thèm để ý tới. Từ Bằng Tử là người trải qua nhiều hoạn nạn, nghe thấy bèn động lòng thương, xe đi qua trước mặt người ấy Bằng Tử lắng tai nghe, thấy tiếng không phải là người miền Bắc, bèn cho dừng xe. Sai người tới hỏi xem người ấy ở đâu, vì sao mà khóc. Người ấy trả lời là người miền Nam. Nghe tiếng nói, Từ Bằng Tử vội nhảy ra khỏi xe, anh hết sức kinh ngạc, hóa ra người ấy là Vương thị vợ mình, bèn hỏi:
- Tại sao em lại ở đây?
Lúc đầu Vương thị chỉ cúi xuống khóc, thấy người đến nhìn mình cũng không dám ngẩng đầu, vừa nghe thấy tiếng hỏi mới ngẩng lên thì thấy chồng mình, bèn đứng dậy nói:
- Đây là mộng chăng, tại sao ta lại gặp nhau ở đây?
- Anh đã đỗ cử nhân. -Từ Bằng Tử nói. - Nay vào kinh thi Hội. Sao em lại ở đây, hãy nói cho anh nghe.
Vương thị kể chuyện chạy loạn rồi được biết tin chồng nên đã đi tìm, gặp phải nhà thuyền độc ác, bởi thế đang đêm bỏ trốn, vừa đi vừa hỏi vệ quan lần mò tới Bắc Kinh, không ngờ lại gặp anh ở đây. Từ Bằng Tử hỏi:
- Nhà thuyền ấy nay ở đâu?
- Hắn là Lý Ma Tử, đã cho thuyền tới Bắc Kinh, tới đó chúng ta tìm hắn rất dễ.
Từ Bằng Tử mời Lư công tử tới gặp, mọi người vừa vui mừng vừa thương cảm. Lư công tử bèn nhường chiếc xe của mình cho Vương thị ngồi, thuê một chiếc xe khác cùng nhau tới Bắc Kinh.
Cùng nhau bên ngọn đèn khuya,
Cần tay mà vẫn ngỡ là chiêm bao.
Những là rày ước mai sau,
Qua gian khổ, mới dạt dào niềm vui.
Vương thị từng chịu gian nan khổ ải, gần kề với cái chết, ngờ đâu lại gặp được chồng, mà chồng lại là người vinh hoa phú quý, chứ không phải là anh nghèo kiết xác như trước nữa. Ấy là do Vương thị giữ được tấm lòng trong trắng và cũng là do Từ Bằng Tử không tham dâm được Phật trời đền đáp. Chỉ trong mấy ngày đã tới Bắc Kinh, họ thuê nhà trọ, chuẩn bị đi thi. Chỉ mới thoáng cái mà đã thi tam trường và ngày yết bảng đã tới Từ Bằng Tử đỗ tiến sĩ, Lư công tử không có tên trên bảng. Bằng Tử lại thi Đình, đỗ nhị giáp, sau khi tìm hiểu quá trình. Từ Bằng Tử được bổ nhiệm Chủ sự bộ Hình tại Bắc Kinh. Tới nhiệm sở, Từ Bằng Tử đưa gia quyến về nha môn. Lúc ấy Lư công tử mới từ biệt về nhà. Sau khi Từ Bằng Tử tới nhiệm sở thư lại đưa tới một tập hồ sơ về vụ án Lại bộ lang trung Đinh Toàn, và bẩm rằng, trước hết phải kiểm tra từng người một thuộc gia đình Đinh Toàn (Đinh Hiệp Công) rồi lập danh sách tâu lên triều đình chờ chiếu chỉ. Hôm qua ngài Trưởng khoa họ Túc đã gửi thơ tới thúc giục việc này. Từ Bằng Tử nghĩ: "Đinh Toàn đã đỗ tiến sĩ, được bổ nhiệm là quan, bị báo ứng không biết đã phạm tội gì?", rồi giở bản án ra xem kỹ một lượt, lại lấy tờ sớ của trưởng khoa họ Túc xem, Từ Bằng Tử nghĩ: "Thế này bị đuổi thì chẳng oan".
Hôm sau Từ Bằng Tử lên công đường, cho gọi Đinh Toàn tới Đinh Toàn xấu hổ cúi gầm mặt, hết sức bối rối. Đinh Toàn thấy mình xấu xa, gặp người làng hắn cảm thấy đau đớn. Từ Bằng Tử hoàn toàn không muốn truy bức hắn. Bèn giở bản danh sách những người trong gia đình hắn xem qua. Trong đó có một đứa hầu tên là Xuân Anh. Bằng Tử cho gọi tới, nhìn kỹ ra thì đấy lại là đứa hầu nhà mình Bằng Tử hết sức kinh ngạc, gọi Xuân Anh hỏi:
- Ngươi có nhận ra ta không?
Xuân Anh nhìn lên nhận ra người chủ cũ, nói:
- Con nhận ra rồi.
Vừa nói xong, nước mắt tuôn lã chã như mưa. Vì đang ở nơi công đường Bằng Tử không tiện hỏi kỹ, rồi nói:
- Đã điểm danh xong rồi, đi đi.
Sau đó Bằng Tử nói với Trưởng ban rằng:
- Đứa hầu nhà họ Đinh tên là Xuân Anh không phải là phạm nhân, tôi sẽ bỏ tiền ra chuộc. ông hãy dẫn cô ta vào nha môn lấy tiền chuộc nộp vào kho là được.
Trưởng ban vâng lời đi ngay. Đến tối người ấy đưa Xuân Anh tới nha môn, ngươi thường trực vào báo:
- Trưởng ban đã đưa Xuân Anh tới nhà xin lĩnh tiền chuộc.
Từ Bằng Tử đã chuẩn bị sẵn mười hai lạng bạc, giao cho trưởng ban, rồi lập tức gọi Xuân Anh vào nha môn. Thấy ông chủ bà chủ, Xuân Anh quỳ xuống nức nở khóc. Thật là:
Đoàn viên đêm kể bao nhiêu chuyện,
Gà chó cũng còn biết trả ơn.
Đùng tưởng uy danh lừng lẫy mãi,
Thành quách cũng thành đống gò hoang.
Từ Bằng Tử nói:
- Ta có phụ lòng ngươi đâu mà ngươi bỏ đi, suýt nữa thì hãm ta vào chỗ chết.
- Quả là con đáng tội chết, song trong đó cũng có nguyên nhân.
Phu nhân Vương thị nói:
- Duyên cớ gì vậy? Ngươi thong thả nói cho ta nghe.
- Dạo ấy ông công không thành danh toại. - Xuân Anh nói. - ông rất phiền não, con không biết khu xử, bởi thế ông đã nổi giận. Từ nhỏ con đã chịu ơn ông bà nuôi dưỡng, há đâu lại oán giận ông bà. Không ngờ hôm ấy Chu Bạch Quỷ tới chơi, lúc ấy ông gọi con bưng trà ra, Bạch Nhật Quỷ hỏi: "Sao mày lại khóc đỏ cả mắt lên thế?". Lúc ấy lẽ ra con không nên nói: "Tướng công không đỗ, mấy hôm nay cứ chửi con thậm tệ". Bạch Nhật Quỷ nói: "Thế thì tao thương cho mày quá, mày còn có cha mẹ không? Sao không tạm trốn đi mấy hôm, khi nào ông ấy qua cơn giận dữ thì hãy về có tốt không?”. Con nói với ông ta: "Cha mẹ con ở ngoại thành, con lại không biết đường, nếu trốn đi được vài hôm mới về thì quả là may cho con quá". Bạch Nhật Quỷ nói: "Sáng sớm mai ta sẽ làm phúc giúp mày, đưa mày về nhà vài hôm, sau đó tao quay lại xin với tướng công tha cho". Nào ngờ đâu hôm sau nhân lúc ông bà chưa dậy thì quả nhiên Bạch Nhật Quỷ đến gõ cửa, gọi con ra. Con tưởng ông ta có lòng tốt bèn theo đi. Ai ngờ ông ta dẫn con đến nhà Đinh Toàn rồi sau đó nhốt vào một gian nhà, con không biết gì về bên ngoài cả. Sau đó nghe nói Đinh Toàn mua chuộc cha mẹ con đến cãi nhau với ông bà, lại xúi giục cha mẹ con đi kiện, đã đưa cho viên quan ấy năm trăm lạng đòi phải xử tử ông mới yên tâm.
Phu nhân vô cùng kinh ngạc, nói với Bằng Tử:
- Anh với nhà họ Đinh có thù oán gì không?
Bằng Tử cúi đầu nghĩ: "Mình với ông ta chẳng có thù oán gì sao ông ta lại hại mình như thế?”
- Thưa ông bà. - Xuân Anh nói. - Con còn nghe nói bài của ông ta trúng cử nhân là sửa lại bài của ông. Ông từng nói với Bạch Nhật Quỷ phải lên giám trường sát viện kiện ông ta, ông ta là học trò của quan phủ hết sức giúp đỡ, đã lợi dụng con để áp chế ông. Quả là con đáng tội chết.
Nói xong Xuân Anh khóc nức nở. Bằng Tử gật đầu nói:
- Hóa ra là như thế, khiến ta chẳng biết đầu cua tai nheo thế nào. Chẳng trách hôm tới công đường hắn tỏ ra hết sức lúng túng, ai ngờ đấy là lòng dạ hắn tự bộc lộ ra.
- Loại người độc ác như thế, - Phu nhân nói, - tại sao trời còn cho hắn làm quan, suýt nữa thì chúng ta đã bỏ mạng nơi đất khách.
- Bây giờ ta được thế này. - Từ Bằng Tử nói. - Mặc dù bị lưu lạc, long đong nơi đất khách quê người vẫn có ngày nhìn thấy mặt trời. Người khác tố cáo hắn, sao lại rơi đúng vào tay ta kết thúc, đây cũng là báo ứng.
Nói chưa dứt lời thì có người vào bẩm, ngài trưởng khoa họ Tiêu mời đi dự tiệc. Bằng Tử tới ngay nha môn ngài Tiêu. Đúng là:
Giết người thường ở ngay giữa chợ,
Gặp nhau mà chẳng dám nhận nhau.
Tiếng khóc nghe sao thê thiết quá,
Lệ tràn cũng phải ngoảnh mặt đi.
Từ Bằng Tử tới nhà Tiêu trưởng khoa, rồi hỏi ngày hôm nay cùng dự tiệc còn có ai. Tiêu trưởng khoa nói:
- Tôi chỉ mời riêng ngài, ngoài ra không mời ai cả. Trong bữa tiệc tôi còn có một chuyện muốn thưa với ngài.
- Không dám. - Từ Bằng Tử nói.
Sau vài tuần rượu. Tiêu trưởng khoa nói:
- Tôi là người chịu oan khuất, chính là do Đinh Toàn gây nên. Vụ án đã lập xong, mong ngài sớm đưa ra xét xử, thi hành án không thể chậm trễ, nếu không hắn sẽ lọt lưới.
- Tôi cũng đang muốn xin ý kiến ngài một việc. - Từ Bằng Tử nói. - Xin hỏi, tờ sớ của ngài lời lẽ đanh thép, song việc ngài nói về trường ốc tôi không biết rõ sự thực là như thế nào, mong ngài chỉ rõ.
- Việc này không nói đến thì thôi. - Tiêu trưởng khoa nói. - Mà nói đến là như đâm vào trái tim tôi. Chỉ tiếc tôi không xẻ thịt lột da ăn gan uống máu hắn. Nếu ngài không sợ làm phiền, tôi xin mượn chén rượu giải sầu này thưa để ngài biết. Tôi học về Xuân Thu, tới lúc tráng niên mới đỗ thi Hương, rồi sau đó thi Hội liền mất khoa mà không đỗ. Người làng đều cho tôi là tú tài “tiền". Lúc ấy chỉ vì một ngôi mộ mà cha tôi cãi nhau với người làng, người ấy đành lòng phải theo ý cha tôi. Vì tôi được cử đi thi Hội, lập tức người ấy nhằm vào sơ hở để trả thù trước lúc lên đường cha tôi dặn: "Tên người làng ấy thù cha đã lâu rồi, chuyến này đi nếu con đỗ tiến sĩ thì nó sẽ thôi không dám làm gì nữa, song nếu không đỗ thì nó sẽ không quên đâu. Con phải cố gắng đoạt lấy tiến sĩ để an ủi sự mong đợi của cha. Hôm nay là ngày con lên xe ra đi cũng là ngày cha mỏi mắt trông chờ". Lúc ấy tôi đáp: "Cha cứ yên tâm, không cần lo lắng gì, lần này ra đi con nghĩ rằng chắc chắn sẽ đỗ, quyết không phụ lòng mong mỏi của cha". Cha tôi gật đầu, tôi từ biệt cha ra đi. Đến khi thi Hội, tôi hết sức cố gắng làm xong bài văn, rồi lại xem đi xem lại và chắc chắn sẽ đỗ. Nộp bài ra khỏi trường thi, báo ngay về cho cha yên tâm. Đến ngày yết bảng thì lại không thấy tên tôi. Tôi vô cùng uất ức. Sau đó tôi tìm lại bài thi bị đánh trượt, nào ngờ tìm thấy bài ngoài bìa có ghi tên tôi lại hoàn toàn không phải là bài của tôi, đó chỉ là một bài viết lèo tèo mấy chữ, chẳng ra sao. Tôi lại tìm những bài đã thi đỗ thì thấy bài của Đinh Toàn giống hệt bài của tôi. Tôi tìm đến người sao lục để hỏi cho ra lẽ thì người ấy nói là việc nhỏ không liên quan gì đến ông, Chính ngài Giám trường đưa cho tôi chép, tôi không đâu dám không tuân lệnh. Tôi định cáo giác để trút đi nổi uất hận trong lòng, song lại nghĩ, tai họa trong nhà vừa lắng đi lại sinh thù oán khác, sợ cha tôi sẽ không yên lòng nên đành nhẫn nhịn. Nhân tôi không đỗ, tên người làng ấy lại kiện cha tôi lên huyện. Nào ngờ tri huyện và tôi vốn không hòa hợp, hắn đã thừa cơ trả thù. Hắn viết lệnh bắt cha tôi, vì uất ức cha tôi đỗ bệnh rồi chết, việc an táng sơ sài. Tất cả đều do tôi không đỗ, không đỗ là do Đinh Toàn, việc ấy đã khiến tôi nhức nhối, đau đớn, muốn đâm hắn để báo thù cho cha.
Dứt lời Tiêu trưởng khoa lại nói:
- Tiên sinh, mời tiên sinh uống đi, tiên sinh bảo như thế có đáng vạch mặt chỉ tên hắn không?
Bằng Tử gật đầu nói:
- Đáng lắm.
- Tiên sinh ạ. - Tiêu trưởng khoa nói tiếp. - Tôi vẫn chưa chịu cảnh đường cùng, gượng dậy tôi lại đi học. Song ngờ đâu số phận vẫn chưa qua, tôi nhặt được một tờ huấn dụ của học phủ Liễu Châu, Quảng Tây. Mặc dù đường sá xa xôi tôi vẫn mượn tiền làm lộ phí lại chịu đựng biết bao nỗi khổ sở kinh hoàng. Bộ mặt của học quan sao làm cho người ta sợ đến thế. Ở nơi man rợ sợ cướp đường chứ sao lại sợ học quan? Quả là do ăn uống kham khổ, đời mẹ tôi không được toại nguyện, lại chịu sơn lam chướng khí bà đổ bệnh, thuốc thang chạy chữa mất hàng trăm lạng mà vẫn không khỏi. Việc ấy là do thi không đỗ, không đỗ là do Đinh Toàn, bởi thế tim tôi đau buốt, muốn cầm dao đâm hắn để trả thù.
Nói tới đây Tiêu trưởng khoa mời:
- Tiên sinh, mời tiên sinh uống đi. Tiên sinh thấy đấy, liệu hắn có đáng vạch mặt chỉ tên không?
Từ Bằng Tử gật đầu, nói:
- Đáng lắm.
- Không phải chỉ có thế thôi đâu. - Tiêu trưởng khoa nói.
- Ngài bảo đám ma xa hàng ngàn dặm làm sao đưa về quê một cách dễ dàng. Tôi lo chạy chữa thuốc thang cho mẹ, trong túi không còn một xu, quần áo, đồ trang sức của vợ cái nào bán được thì bán, cái nào cầm được thì cầm, song cũng chỉ được bốn năm chục lạng. Tôi lại phải đến người bạn làm quan vay, họ giúp đỡ cũng chỉ khoảng trên năm mươi lạng. Rất may, một người làm quan ở tỉnh cùng quê, tôi đã trực tiếp đến van nài ông cho vay. Nhờ ông tôi vay được hai trăm lạng, làm văn tự cam kết rằng khi tôi về tới quê thì trả ông ấy. Tôi vô cùng cảm động trên đường đi tiêu pha hết sức tằn tiện, cuối cùng cũng đưa được linh cữu mẹ tôi về quê. Ngài thử nghĩ xem, một cử nhân vừa già vừa nghèo như tôi, trong lúc túng quẩn làm gì mà có tiền trả nợ. Những chủ nợ đến đòi nhiều lần, thấy hoàn cảnh tôi như thế có đòi tôi cũng chẳng có gì để trả, lời ra tiếng vào cuối cùng họ đập cửa chửi toáng lên. Hôm ấy tôi vắng nhà nhưng người đòi nợ vào tận nhà chửi bới lăng nhục, vợ tôi không kìm nổi chửi lại mấy câu. Những người ấy cố ý gây sự, nói: - Nợ đã chịu chày chịu bửa lại còn đánh người. - Họ đẩy vợ tôi ngã rồi ngất đi. Vì uất quá, từ đó vợ tôi đổ bệnh, ốm tới hơn nửa năm trời rồi mất. Việc ấy đều là do không đỗ không đỗ là do Đinh Toàn, bởi thế tôi đau nhói tận tim gan, muốn đâm cho hắn chết đi để báo thù cho vợ.
Nói tới đây Tiêu trưởng khoa lại giục:
- Tiên sinh, mời tiên sinh cạn chén đi chứ. Tiên sinh thấy đấy liệu hắn có đáng vạch mặt chỉ tên không?
- Đáng lắm. - Từ Bằng Tử gật đầu trả lời.
- Đấy là ba việc lớn. - Tiêu trưởng khoa nói. - Tôi chỉ kể qua cho tiên sinh nghe. Song thực ra trong đó long đong vất vả, khổ sở còn gấp trăm lần tôi không dám kể hết, sợ làm rát tai tiên sinh. Gần đây tôi mới đỗ tiến sĩ, lúc đầu được cất nhắc lên chức này, thấy được tội ác hắn chồng chất tôi định tố cáo, song mối thù không đội trời chung này chưa thể trả được, đành bấm bụng chịu đựng. May mà nay đã núi lở đá nhào, đội ơn Thánh thượng tôi phải trút hết nỗi căm giận này. Tóm lại phải treo cổ hắn giữa chợ cũng là để thỏa nỗi uất hận ngàn năm. Mong tiên sinh đừng trách tôi, thật là những lời tôi nói làm rác tai ngài.
Bằng Tử nói:
- Hóa ra là như thế, tôi e rằng những người chịu lụy như thế không ít.
- Theo như ngài nói. - Tiêu trưởng khoa nói. - Ngài hiểu biết nhiều, xin ngài cứ dạy.
Bằng Tử trả lời một cách mập mờ:
- Tôi nói như thế chưa hẳn là chỉ Đinh Toàn.
- Tôi khẩn thiết mong tiên sinh xử ngay cho.
Họ uống với nhau thêm mấy chén nữa rồi mới cáo từ.
Đúng là:
Phật thuyết thật từ bi,
Chúng sinh nhiều đau khổ.
Mong anh niệm Phật kinh,
Muôn kiếp do nhân quả.
Giết người ngay giữa chợ,
Không biết rằng có ta.
Bé gái nâng chén rượu.
Nước mắt tựa châu sa.
Nghe nói ông đau đớn,
Giết nó cũng được thôi.
Thương cho người đọc sách
Không biết tai họa này.
Từ Bằng Tử uống rượu xong ra về, nói với Vương phu nhân:
- Hóa ra Đinh Toàn gây oan nghiệt không phải chỉ có ta, lên nay mới bị báo ứng nặng nề đến thế.
- Hắn gây ra việc gì? - Vương phu nhân hỏi.
Bằng Tử kể chuyện Tiêu trưởng khoa, rồi nói:
- Bày mưu tính kế để đỗ cử nhân, vội một chút cũng được, song nếu tiến sĩ thì muộn một kỳ thi cũng chẳng sao. Cớ gì hắn phải vội vả làm cho một người phải khuynh gia bại sản để mình được giầu sang phú quý? Tiêu trưởng khoa bị hắn làm cho khuynh gia bại sản, mình so với ông ấy còn đỡ hơn nhiều. Con đường công danh của hai người bị lâm vào cảnh khốn đốn như thế cũng là câu chuyện nực cười.
- Tên khốn nạn ấy đã dùng mọi mưu mô gian dối để hại người, nhân cơ hội này phải xử hắn thật nặng để làm bài học cho đời sau, trút đi nỗi uất hận của hai nhà và thỏa ý nguyện của ta.
- Đây cũng là tiền oan nghiệp chướng. - Từ Bằng Tử nói.
- Hắn nghĩ ra trăm phương ngàn kế để đỗ cử nhân, tiến sĩ chỉ mong tử ấm thê phong, rạng danh tiên tổ, tận hưởng phú quý nhân gian, chiếm hết của cải trong thiên hạ. Ai ngờ hắn đã phải rập đầu trước thềm, chán nản tuyệt vọng như thế cũng là đủ. Nếu lại cứ báo oán lẫn nhau thì sự báo oán đến bao giờ mới chấm dứt được. Theo ý ta, thôi thì hãy tha cho hắn.
- Tiêu trưởng khoa đối địch với hắn, mà ta lại tha hắn. - Vương phu nhân nói. - Chẳng hóa ra ta cởi bỏ nỗi oan trên của ta để chuốc lấy sự thù hằn sau này ư?
- Tiêu trưởng khoa là người hiểu biết từng trải, chắc ông ấy cũng sẽ tha thứ. Việc ta chịu tội, lâu ngày ta mới nhận ra, tương lai đã thành sự thật thì tất cả những cái trước kia ta xóa đi hết.
Nói chưa dứt lời, thấy có người vào thưa, cấp trên có văn thư đến. Bằng Tử cầm lấy mở ra xem cười ha hả. Phu nhân nói:
- Có gì mà anh cười thế?
- Em bảo báo thù, thì đây chẳng phải là sự báo thù ư?
- Báo thù nào?
- Văn thư của bộ Hộ gửi tới, - Từ Bằng Tử nói, - là nói về vụ cướp thuyền lương mà Lý Ma Tử là phạm nhân.
- A Di Đà Phật, - Phu nhân chắp tay nói. - Tên gian ác ấy ta căm giận đến tận xương tủy, chưa trả thù được, song bây giờ mới chui đầu vào lưới, thế thì mắt trời chưa thật sáng suốt.
- Mắt trời chưa thật sáng nhưng mắt người sáng suốt hơn.
- Tử Bằng Tử nói. - Tên này phạm vào tội không thể tha thứ, ta phải tìm hiểu cho kỹ, việc này không phải một mình Đinh Toàn.
- Ý anh thế nào? - Phu nhân nói.
- Thấm vấn xong xuôi mới quyết định. - Từ Bằng Tử nói.
Ngày hôm sau cho giải Lý Ma Tử đến công đường, Từ Bằng Tử nói:
- Ngươi là Lý Ma Tử có đúng không?
- Thưa ngài, đúng ạ.
- Ngươi có nhận ra ta là ai không?
- Thưa ngài con không dám.
- Ngươi có biết người vợ của họ Từ không? Có muốn gặp người vợ họ Từ không? Ta mời ra cho người gặp.
Lý Ma Tử biết việc ấy đã bị phát giác, chỉ cuối đầu nói:
- Phạm nhân đáng chết, phạm nhân đáng chết.
Bằng Tử rút lệnh ra, sai người đánh hắn bốn mươi gậy.
Sau đó Bằng Tử nói:
- Ngươi là tên hung ác, ngươi chưa vào tay ta cũng biết ngươi phải chết, nay ngươi cướp thuyền lương thì ngươi có chạy đàng trời.
- Thưa ngài con là thằng vô lại, đã tiêu một ít tiền lương, con xin chịu hết.
- Ngươi muốn chết cũng khó đấy. - Từ Bằng Tử nói. - Ngươi có sản nghiệp gì không?
- Thưa ngài con chẳng có gì, chỉ có một mẹ già hơn sáu mươi tuổi, ở trên thuyền để lo cơm nước, ngoài ra con không còn chỗ dựa nào khác.
Bằng Tử quát, cho lính giải đi, hôm sau lệnh cho bắt những người chở lương trên thuyền. Bọn này đến. Từ Bằng Tử khuyên kẻ ít người nhiều trợ giúp hắn chút ít. Bằng Tử nói:
- Ta vốn vì các người, nếu hắn vu oan làm hại thì các ngươi cũng phải bồi thường, lại còn tốn kém cho nha môn. Hơn nữa góp tiền của để cho một người không phải chịu tội thì cũng đẹp mặt cho cả bọn các ngươi.
Mọi người cảm động trước tấm lòng ân nghĩa của Bằng Tử, kẻ nhiều người ít bồi thường cho Lý Ma Tử. Bằng Tử kết luận hắn mắc vào tội vặt, vẫn bồi thường, rồi đuổi ra khỏi kinh thành. Quả là:
Bây giờ mới hết nỗi oan,
Ngoái đầu cứ hễ bồi hoàn là xong.
Vết xưa, Tần Hán, kìa trông,
Gió mua sấm chớp bão bùng khóc than.
Lại nói, Đinh Hiệp Công đã bị khép tội, song không thấy bộ Hình công bố. Hắn nghĩ: "Mình đã rơi vào tay ông ta, ông ta lại gác lại bao nhiêu ngày như thế, nhất định sẽ thu thập thêm chứng cớ rồi ghép mình vào trọng tội". Bởi thế hắn sai người nói với một người thân trong làng, hiện đang nhậm chức tại kinh đô, nhờ ông ta tới Từ hình bộ nhận tội rằng:
Đinh Toàn tự biết mình đáng chết, trước hắn ác quá, song xin ngài nghĩ đến tình người làng, mở cho hắn con đường sống, hắn tình nguyện hiến nhà cửa, ruộng vườn ở quê quán để chuộc tội.
- Làm gì có chuyện đó. - Từ hình bộ nói. - Ta kéo dài ra là có ý khác. Đinh Hiệp Công có tội với Tiêu trưởng khoa, chứ đối ta hắn chẳng có liên quan gì.
- Cho dù không liên quan, - viên quan ấy nói, - cũng xin ngài làm một Lỗ Trọng Liên, ý ngài thế nào?
- Đừng tưởng lầm như thế. - Từ hình bộ nói. - Tôi trì hoãn không có ý gì khác, ba hôm sau sẽ biết.
Viên quan về nói lại, Đinh Hiệp Công cứ nghi hoặc mãi. Quả nhiên ba hôm sau nghe chiếu chỉ lập Đông cung Thái tử, đại xá thiên hạ. Từ hình bộ theo lệ, tha tội cho Đinh toàn, chỉ bãi miễn chức, rồi làm văn bản tâu với Hoàng thượng, được Hoàng thượng chuẩn y rồi thi hành, lúc ấy Đinh Toàn mới hiểu Từ hình bộ lấy đức báo oán. Quả là một vị thánh trong quan trường, là vị Bồ Tát trong ân oán. Cả nhà Đinh Toàn vô cùng biết ơn, hôm sau Đinh Toàn khăn áo tới bộ Hình định chờ khi nào Từ hình bộ ra công đường, đích thân tới bái tạ. Bằng Tử biết được, treo một tấm biển đề rằng: "Việc hội thẩm đều theo chiếu chỉ, không cho phép đệ trình".
Đinh Toàn thấy bảng đề như thề nghĩ: "Đây là đấng quân tử đức độ có tấm lòng cao cả, không muốn gây ra cái ác đối với con người". Rồi hắn đứng ngoài cửa nghiêm trang vái tạ tám lần, không biết miệng xuýt xoa ca ngợi những gì. Đúng lúc Đinh Toàn đang nghiêm trang bái tạ thì thấy một người quần áo rách nát chạy tới quỳ trước cửa, nói oang oang:
- Cầu mong ông bà lớn đời đời công hầu, mãi mãi phú quý con cháu hưng thịnh, hưởng thọ nghìn năm.
Rồi anh ta cúi hàng ngàn hàng vạn lạy. Lúc đứng lên, đầu húc vào Đinh Toàn, hóa ra hai tên này thân nhau, bỗng chốc. những chuyện xưa lại hiện về. Hai người chuyện trò về quê nhà chắp tay niệm Phật rồi đi. Bạn có biết người đó là ai không, đó chính là Lý Ma Tử. Sau này họ đều trở thành người lương thiện từ cửa công đường của quan Từ hình bộ. Người gác cửa bẩm chuyện này với Từ Bằng Tử, song ông không hề để ý tới.
Các bạn thấy không, Từ Bằng Tử chịu biết bao giày vò, công danh bị người ta chiếm đoạt, tính mạng nằm trong tay họ và ngay tính mạng của người vợ cũng khó bảo toàn. Thế mà Từ Bằng Tử đã lấy đức báo oán, hoàn toàn quên hẳn mối thù. Tuy là một người từng trải, có học vấn, từ trong gian khổ mà ra song về cơ bản ông là một hạt giống của Phật. Còn như Tiêu trưởng khoa không phải là không gian khổ, không rèn luyện, song không thể học được sự quên mối thù của Từ Bằng Tử. Về sau Từ Bằng Tử được chuyển sang bộ Lại, được thăng lên Thái thượng tuần phủ, làm quan tới Thượng thư bộ Lại, hưởng thọ hơn chín mươi tuổi. Phu nhân sinh được hai con trai. Bằng Tử cũng không nghi ngờ gì Xuân Anh , nhớ lại tình xưa nghĩa cũ thời bần hàn, Bằng Tử lấy làm vợ lẽ và cũng sinh được một con trai. Ba đứa nối dõi thư hương. Hai người đỗ tiến sĩ, một người đỗ cử nhân, họ đều làm quan. Tất cả là do vợ chồng nhân từ tích đức mà được vậy.
0
Chương 21 [/align]



Khinh Tài Sắc Kẻ Cướp Đường Thuyết Pháp
Thoát Tử Sinh Đấng Nghĩa Hiệp Từ Tâm


Chương 21a [/align]



Đừng nói người quê cảm khái sâu.
Đất trời nào biết có gì đâu,
Mộ người hiệp khách đầy cỏ dại
Quách huống tài danh chỉ vì tiền.
Ai bao ngàn năm không chính sử,
Chỉ tại đời này lắm quan tham.
Thế gian bao việc xin thử hỏi,
Cướp phải chăng tại rừng xanh.




Đây là bài thơ hình như không chỉ điều gì cụ thể, chẳng qua là cảm khái gửi gắm những suy nghĩ, mượn nó để bộc lộ những bất mãn phẫn uất của mình. Ngẫm nghĩ cho kỹ thì hình như bài thơ như là nói về những việc cụ thể, tôi là người đã vứt bỏ công danh, ngày ngày chạy theo ba bữa cơm đạm bạc, trong lúc nhàn rỗi cứ suy nghĩ về bài thơ ấy xem thế nào. Các bạn bảo, triều đình đặt ra bộ Lại, hằng ngày tuyển rất nhiều quan viên. Nhũng viên quan này ta đòi hỏi họ phải làm gì? Không khác gì là đòi hỏi họ vỗ yên muôn dân. Việc vỗ yên muôn dân tuy nhiều, song không có gì quan trọng bằng đánh dẹp bọn cướp. Bởi thế người ta thường nói dẹp cướp yên dân. Triều đình có quan văn, lại có võ tướng, từ trấn tuần tướng lĩnh trở xuống, lại có du kích, phiên bổ. Nhũng người này ăn cơm gạo triều đình, rõ ràng là phải dẹp cướp yên dân.
Lẽ nào kẻ làm cướp, khi lọt lòng mẹ đã định sẵn mình nhất thiết phải là kẻ cướp? Cũng có kẻ đói khát bức bách, cũng có kẻ phạm tội không thể tha thứ được, không còn cách nào khác buộc phải đi vào con đường ấy. Trong đó cũng có rất nhiều người vì phẫn uất mà giấu mình ở đó. Cũng có người trọng nghĩa khinh tài, cũng có người cứu giúp người hoạn nạn, cũng có người vung dao trừ khử bọn cường đạo giúp đỡ kẻ yếu đuối, cũng có người là kẻ phá gia chi tử, hối cải hiến thân cho đất nước. Những người này không thực hiện chí lớn của đời song lại không muốn làm điều xấu xa vô liêm sỉ, không muốn sống như con sâu cái kiến, không chịu làm điều lừa dối lương tâm, vơ vét những tiền tài đen tối. Cho dù tiết tháo, phẩm hạnh của mình không lập được thì cũng làm một trang nam nhi tự do, sống ngang tàng, khi việc thất bại, sẵn sàng đưa cổ cho người ta chém. Những người như thế hơn hẳn kẻ thực hiện mưu đồ đen tối để cướp của người. Bởi thế Lý Thiệp, một bậc tiên hiền đã làm thơ tặng họ rằng:
Vừa gặp vì sao lại bỏ trốn,
Trên đời chỉ có một nửa anh.
Thời ấy có thể nói là "chỉ có một nửa anh". Song ngày nay, câu ấy phải sửa là "Trên đời có ai được như anh". Thế nhưng, thứ nhất là đòi hỏi nhũng người dẹp cướp yên dân phải chính trực, liêm khiết, chứ không đòi hỏi họ phải gương mẫu về mọi mặt. Thứ hai là, triều đình phải phá cách dùng người chứ không thể câu nệ cất nhắc người làm quan theo một con đường nhất định. Những người này nếu được làm quan sẽ phát huy hết tài năng và cống hiến hết mình cho đất nước. Tôi xin kể cho các bạn nghe một câu chuyện sau đây.
Thời Tư Mã Tấn, nước Ngô có hai danh sĩ, anh là Lục Cơ, em là Lục Vân, đời đời làm quan to. Chưa kể đến họ giàu có nhất nước, mà ngay học trò của họ cũng ở khắp thiên hạ. Nước Ngô thất bại, đất đai thuộc về triều Tấn. Hai anh em họ tài cao học rộng, không chịu nổi cuộc sống buồn tẻ, có người tiến cử họ, họ chuẩn bị rất nhiều của cải, mua thuyền chở tới Lạc Dương yết kiến triều đình. Hôm ấy, thuyền đậu dưới sông, nghe thấy có tiếng còi huýt thì thấy có rất nhiều người ập xuống cướp tất cả của cải trên thuyền. Của cải đã chất đống trên bờ mà họ vẫn còn gào thét bắt giết nó đi. Sợ quá Lục Cô vội chui vào khoang lái, ngồi thu mình ẩn nấp. Khoang lái có một khe hở. Lục Cơ len lén nhìn ra, thấy một tráng sĩ ngồi trên chiếc giường Hồ đặt trên bờ, đầu chít khăn xanh, mặc áo bào đỏ, dáng vẻ phi phàm, phong tư xuất chúng. Sai bảo mọi người, ai cũng nghe theo răm rắp. Phân chia của cải rất công bằng. Thấy thế Lục Cơ hết sức ngưỡng mộ, thầm khen ngợi. Không kìm nén nổi, tự nhiên gọi to:
- Tráng sĩ trên bờ có thể cho biết tính danh được không? Tôi có câu chuyện muốn nói.
Tráng sĩ giật mình, ngẩng đầu lên thì thấy một người ngồi xổm trong khoang lái nói ra, bèn cười nói:
- Anh nói gì?
- Tôi đã gặp nhiều người. - Lục Cơ nói. - Song thấy tướng mạo và hành động của tráng sĩ thật khác thường nhưng rất tiếc con người cao cả ấy lại chôn vùi vào con đường này. Sao tráng sĩ không bỏ quách nó đi, cố gắng học hành thành tài để cống hiến cho triều đình, khỏi uổng phí tài năng và phẩm hạnh.
Người tráng sĩ ấy nói:
- Ông có thể ra đây để ta gặp mặt được không?
Thấy thế Lục Cơ vội nhảy ra khỏi thuyền lên bờ, vái chào tráng sĩ. Hai người nói cho nhau biết họ tên. Người tráng sĩ ấy nói:
- Tôi là Đới Uyên, nhân vì thiên hạ nhiễu nhương nên tôi phải một mình phiêu bạt nơi đây mai đó, quả thực tôi chưa từng đi học. Nếu ông không vứt bỏ thì tôi xin tôn ông làm thầy.
Từ đó tráng sĩ ấy miệt mài học tập. Vui vì thấy ông lập chí. Lục Cơ hết lòng dạy dỗ, tiến cử ông làm quan. Sau này là trụ cột của triều tấn, vì người dẹp loạn, trở thành một người trung thần mà tên tuổi còn lưu mãi tới ngày nay.
Thời Tống lại có một tể tướng tên là Trương Tế Hiền. Khi chưa gặp thời, nghèo rớt mồng tơi. Ông chưa từng cáu gắt với ai. Bụng ông cũng chưa bao giờ ăn được một bữa no. Hôm ấy đói quá chẳng có gì tiêu khiển, ông đành vào thành chơi cho khuây khỏa. Thấy trong một gian nhà dột nát có rất nhiều bậc anh chị, xắn tay phanh ngực, ăn uống ngồm ngoàm, nói năng hùng hổ. Trương Tế Hiền biết đây là những tên dao búa, liền nghênh ngang bước vào, chắp tay vái. Một trong số bọn họ đùa anh rằng:
- Tú tài có biết uống rượu không?
- Sao lại không biết. - Trương Tế Hiền nói. - Các ông đều là hào kiệt, chỉ vì tể tướng không biết, không dùng các ông nên các ông mới thế. Tôi là một học trò nghèo, rất ghét những kẻ bỉ ổi xấu xa, mà lại kính trọng các ông.
Những tay anh chị này thấy chí khí hiên ngang, nói năng tự nhiên thoải mái, bèn mời anh ngồi hàng đầu. Anh ngồi xuống cũng chẳng hề giữ gìn ý tứ, gắp ăn, rót uống rất ngon lành, thấy thế họ đều bỏ đũa bát xem anh. Anh mặc họ, cứ chén tràn, mâm bát hết nhẵn mới bỏ đũa, quệt quệt mồm nói:
- Tôi quấy rầy các ông nhiều, xin cáo lui.
Thoạt tiên anh như một tú tài, giờ đây trông anh còn hơn cả kẻ cướp. Mọi người nói:
- Anh đúng là một trang hảo hán, hiếm thấy trong đám nghèo kiết xác, xem ra sau này anh có thể làm tể tướng. Đến lúc ấy phải nhớ tới bọn này nhé.
Nói xong người mang gói, kẻ thì mang túi, ai cũng tặng cho anh. Tế Hiền không hề từ chối, vơ lấy hết rồi chắp tay vái, vác đồ đi ra. Sau này Trương Tế Hiền quả làm tể tướng thật. Xem ra người trước là trung thần, còn người sau là trí sĩ. Truyện này có ghi trong sử sách, song nếu lại cứ đưa thêm mấy chuyện nữa e rằng sẽ rờm rà. Tôi xin kể vào câu chuyện chính để các bạn nghe.
Vào nam Thuận Thiên, huyện Tân Kiến, phủ Nam Xương, tỉnh Giang Tây, có một tú tài tên là Thời Tăng, tự Đại Lai. Ông nội là một nhà nho, anh lấy một người vợ là Vạn thị. Thời ấy Đại Lai tuy học giỏi, nhiều lần đỗ loại ưu, song gia cảnh lại nghèo túng. Hằng ngày dựa vào dạy học mà sống. Vùng Giang Tây rất nghèo, tiền dạy học chẳng lấy gì làm nhiều. Tuy gia đình ít người, tiền dạy học cũng chỉ đủ tiêu pha tằng tiệm, chẳng dư dật chút nào. Năm ấy đúng vào năm hạn hán mất mùa, ăn còn không đủ lấy đâu mà cung đốn cho thầy. Bởi thế anh không tìm được chỗ dạy học. Phàm là tú tài thì chỉ có dạy học là kiếm sống. Không có chỗ dạy thì không còn kế sinh nhai, những người khác tuy không còn kế sinh nhai nhưng còn có tiền vốn để chi dùng hoặc có thể làm giúp người khác kiếm sống. Song cái nghề tú tài quý hóa này thì có vốn đâu mà chi dùng, cũng chẳng biết tính toán nên cũng chẳng ai nhờ. Lại không biết gồng nặng gánh nhẹ, làm ngày nào sống ngày ấy. Các bạn bảo thế thì sao mà không nghèo. Lúc ấy Đại Lai đang buồn rầu ngồi trong nhà, nhìn bộ mặt võ vàng của vợ, chẳng khác nào kẻ thù, lúc nào mặt vợ cũng cau có, bởi đã ăn nhờ vợ đã hai ba tháng nay rồi.
Hôm ấy đúng vào lúc không còn một hạt gạo, thanh củi, Vạn thị nói với chồng:
- Nhà đã hết sạch gạo, anh đi đâu vay mấy đấu gạo ăn tạm hôm nay. Ngày mai em lấy tiền công khâu giày về thì có thể ăn thêm được mười ngày, anh tính sao?
Thời Đại Lai đáp:
- Được rồi!
Nói xong anh vội vàng vào bếp, định lấy chậu nước nóng rửa mặt mới đi. Nào ngờ đâu bếp núc lạnh tanh, nồi niêu lỏng chỏng. Thấy tình cảnh ấy anh vô cùng buồn bã, cắm cúi đi ngay. Vốn là khi nhận lời vợ, Thời Đại Lai cũng chưa biết sẽ tới nhà ai. Đến khi ra khỏi cửa anh mới sực nghĩ: "Mình cứ vội vã đi nhưng đi đến nhà ai đây". Anh đứng lại nghĩ một lát. Người dì của vợ ở ngoài cửa Quảng Nhuận có lẽ hàng tháng nay mình chưa đến, mượn dì ít tiền hoặc vay dì ít bạc chắc là cũng được thôi." Vừa mới đi được mấy bước anh lại nghĩ: "Không được, người chồng của dì là người phố xá, họ giàu mình nghèo, họ sẽ khinh thường, hôm nay đến nếu ông ấy không cho mượn thì nhục quá". Anh quay trở lại, đứng nghĩ một lát: "Ngoài cửa Chương Giang năm ngoái có một nhà có con học ta, anh ấy cũng có ăn, thôi thì mượn anh ta cũng được". Anh vội vàng đi được mấy chục bước lại nghĩ: "Không được, nhà túng thiếu thì họ mới cho con thôi học, nay lại đến mượn thì quả là chẳng biết điều một chút nào". Anh lại quay về, vừa đi vừa nghĩ: “Cửa hàng của Uông Chiêu Phụng ở Liêu Châu là cửa hàng cầm đồ, mang thẻ đi cũng có thể vay được ít tiền". Rồi lại nghĩ: "Ta đến nhà người bạn họ Phó cũng có thể vay được mấy đấu gạo". Nghĩ đến nhà này đến nhà khác, cứ đi đi lại lại trên đường như một người điên mất trí. Cũng không biết anh đi đi lại lại bao nhiêu lâu mà vẫn chưa vượt ra ngoài mười bước. Không ngờ một đứa trẻ bảy tám tuổi, tay cầm một chiếc bát, bên trong có đựng một ít mỡ đi tới, vấp phải anh, chiếc bát rơi chát xuống đường vỡ tan tành. Đứa bé nào có sá gì đến anh, nó túm ngay lấy Thời Đại Lai bắt đền.
- Hãy đền ta đi.
Thời Đại Lai lấy đâu ra tiền mà đền, cuống lên nói:
- Cháu đi đường, tôi cũng đi đường, cháu lỡ tay đánh rơi, sao lại bắt tôi đền.
Đứa trẻ khóc khóc mếu mếu, nói:
- Ông không trả tôi, tôi cũng không về nhà được, tôi cùng đi chết với ông thôi.
Trong phút chốc, người ta xúm đen xúm đỏ, có người nói:
- Đứa bé ấy đánh đổ nhiều hay ít mà khóc dữ vậy?
- Cháu đi mua một đồng mỡ. - Thằng bé nói. - Về xào rau cho bố cháu ăn, rồi đi Nam Kinh, thế mà ông ấy đánh vỡ mất cái bát của cháu.
Lại có người nói với Thời Đại Lai:
- Ông là người ở đâu, đã đánh vỡ bát của nó rồi, thôi thì hãy đền cho nó.
- Tôi là học trò của phủ này. - Thời Đại Lai nói. - Quả thực trong người tôi không mang một đồng nào. Nếu có thì một đồng chứ nhiều hơn tôi cũng đền.
Lại có người nói:
- Anh là học trò thì đi đường cũng phải có văn hóa một chút chứ, vì sao anh đánh vỡ chiếc bát của thằng bé, hóa ra anh cũng không bằng một đứa trẻ.
Trông chàng hào khí ba ngàn trượng,
Trong túi thế mà chẳng một xu.
Mặt ngựa đầu trâu đời bao kẻ,
Vàng đeo xủng xoảng, kẻ ngu ngơ.
Đứa bé ấy cứ túm chặt lấy anh, dù chết cũng không buông, bắt anh đền cho bằng được. Những người xem cứ nhao nhao cả lên ầm ĩ, khiến cho Thời Đại Lai không biết làm thế nào, nếu có thể chui xuống đất được thì anh cũng chui ngay. Chiếc áo dài may bằng vải của anh cũng bị xé toạc chẳng còn ra gì nữa. Bỗng anh thấy một trang nam nhi, thân cao bảy thước, hàm râu rậm dài hơn một thước, trông như Quan Công. Bước tới rẽ mọi người ra, vốc một vốc tiền trong túi trước ngực, bảo đứa bé:
- Hãy cầm lấy mang đi.
Sau đó, người ấy kéo Thời Đại Lai đi, nói:
- Tướng công hãy theo ta.
Cuối cùng đám đông bỏ đi. Bạn hãy xem người ấy ăn mặc thế nào.
Đầu đội khăn chữ nhất,
Thân mặc áo chiến bào.
Lưng đeo bao tên,
Chân đi giày ủng.
Tóc búi trang nghiêm,
Chòm râu phất phới.
Lưng sáng loáng thanh đao,
Mắt đằng đằng sát khí.
Sợ gì ma quỷ quấy rầy.
Lúc ấy Đại Lai uất quá, anh như người ngây dại, thuận chân đi theo ông ta mấy chục bước. Người ấy kéo anh lên lầu của một tiệm lớn, ấn anh ngồi xuống rồi lớn tiếng gọi rượu. Thời Đại Lai lúc này đã bình tĩnh trở lại nói:
- Tráng sĩ là ai, tráng sĩ lầm rồi.
- Mỗ là người Bắc Trực, có chút việc ngồi trên lầu chờ một người bạn đã từ sớm, thấy ông đi đi lại lại trên đường. Ngay tôi nhìn thấy cũng không kìm nén nổi, tôi ngờ rằng tiên sinh đang có việc gì bất đắc dĩ ghê gớm lắm, đang định xuống lầu hỏi xem sao, không ngờ lại xảy ra việc này. Xin hỏi tiên sinh vì cớ gì vậy?
Thời Đại Lai không dám nói thẳng, chỉ nói hàm hồ:
- Chẳng có việc gì, chỉ định đi thăm một người bạn để tán gẫu thôi.
- Đại trượng phu, - người ấy nói, - một lời cũng trở thành tương đắc, đâu nhất định là một việc lớn nan giải, ta cũng có thể giúp được đôi chút. Sao tiên sinh lại giấu ta như thế, có thể nói tiên sinh chưa hiểu người.
Nghe thấy thế Đại Lai nghĩ rằng đây đây là một người lạ lùng, bèn nói:
- Không giấu ngài, tôi là thư sinh trường phủ, sống bằng nghề dạy học, năm nay hạn hán mất mùa nên học trò không đi học nữa, gạo củi trong nhà đều hết, định tới nhờ vả mấy người bạn vay ít tiền để sống qua những ngày đói kém. Vừa ra khỏi cửa, trong lòng cứ do dự chưa biết là tới đâu thì gặp đứa bé này cứ chửi toán lên, dáng vẻ xấu xa đớn hèn của hàn sĩ đã bị người ta ghẻ lạnh. Nếu đúng lúc ấy mà không gặp được ân nhân thì không biết bây giờ tôi đã ra sao.
Nói xong nước mắt cứ chực trào ra. Người ấy gật gật đầu thở dài, nói:
- Cũng là người đọc sách, người nào gặp thuận lợi thì suốt ngày chỉ cùm kẹp đánh đập người đời, nhẫn tâm vơ vét bóc lột của cải của người khác, giàu có không ai địch nổi vậy mà vẫn không biết chán, cứ vơ vét mãi, còn những người không gặp vận thì không những cái đói rét nó bám riết lấy bản thân, mà ngay cả vợ con cũng chẳng bảo toàn được. Vừa mới đây thôi, chỉ có một đồng không trả nổi đã chịu biết bao xấu xa cay đắng, xem ra ông trời xếp đặt rất bất công. - Thế rồi người ấy bô bô nói. - Tôi cứ ngỡ là có chuyện gì to tát lắm, hóa ra chỉ là cái việc cỏn con, đáng thương, đáng thương thay. Có điều tôi ngồi đây đã lâu muốn tới đó ngay, nay tôi không thể tiếp ông tới cuối bữa được.
Nói xong, người ấy đưa tay lên túi ngực, móc ra một gói đặt xuống bàn đến keng một tiếng, nói:
- Hôm nay ta không chuẩn bị, chỉ mang một ít bạc mua chút lót dạ, thôi thì ông cứ nhận lấy, đừng trách tôi. Chào ông. - Khi đi người ấy còn quay lại nói. - Rượu và thức nhắm hãy còn, tiên sinh cứ nhẫn nha, yên tâm dùng nốt tôi đã trả tiền.
Nói xong người ấy nhẹ nhàng xuống lầu. Lúc ấy Đại Lai đang định chối từ, chưa kịp nói thì người ấy đã xuống từng dưới, đưa một gói to cho chủ quán, nói:
- Đây là tiền uống rượu, trên gác đang còn một vị tướng công đang uống, tôi trả cả vào đấy. Hãy cầm lấy, tôi sẽ tính toán sau.
Thời Đại Lai xuống lầu đuổi theo thì người ấy đã đi tới đường, đi qua mấy nhà rồi. Thời Đại Lai gọi toáng lên:
- Hãy đứng lại đã. Xin ông cho biết quý danh.
Người ấy vừa đi vừa đáp lại:
- Biệt hiệu của ta là Phong Nhiễm Tử.
Vừa nghe hết câu thì không thấy người ấy đâu nữa. Thời Đại Lai quay lại tửu lâu, thấy rượu và thức ăn vẫn còn bày trên bàn, anh vừa ăn vừa ngẫm nghĩ: "Thiên hạ sao có những người lạ lùng như thế, đến ngay cả hai chữ cảm ơn cũng không nhận, cứ vội vàng đi như bay. Lẽ nào đây là giấc mơ? Không gói đồ vẫn đang nằm trên bàn, gõ vào kêu keng keng, ta nghĩ trên đời này còn có nhiều hiệp sĩ cao thượng, phần đông là những người như thế này. Đáng tiếc là người ấy đi quá vội không được chuyện trò lâu. Anh ăn hết những thức ăn trên bàn, rồi cầm lấy gói xuống lầu. Đúng là:
Có duyên nghìn dặm mà cũng gặp,
Ai ngờ năm ấy vận chửa thông.
Hôm nay gặp bác phải say khướt,
Đừng theo chim nội chửi gió xuân.
Lại nói, vợ Thời Đại Lai ở nhà, bóp bụng chờ đợi, song chẳng thấy bóng dáng chồng về. Mãi tới chiều Thời Đại Lai mới mở cửa bước vào, mặt đỏ phừng phừng, tươi cười hớn hở
Vạn thị hỏi:
- Anh vay được bao nhiêu?
- Chẳng vay được một hào nào.
- Không vay được thì sao mãi đến tối mới về, lại ăn no uống say như vậy?
Thời Đại Lai vứt cái gói xuống bàn, nói:
- Em nhịn đói đến tận bây giờ, anh cũng rất thương em, anh đưa cái này cho em xem đây.
- Cái gì thế?
Vạn thị cầm lên thấy nằng nặng, mở ra xem thì thấy có năm gói, mỗi gói mười lạng, đều là loại bạc cổ nguyên chất.
Vạn thị nói:
- Cái này ở đâu ra, hay lại làm điều gì sai trái.
Thời Đại Lai cười ha hả, nói:
- Ta là người có học, sao lại làm bậy được.
- Vậy thì ai cho anh mượn?
Thời Đại Lai kể lại tỉ mỉ từ đầu đến đuôi những chuyện đã xảy ra hôm nay cho vợ nghe. Vạn thị nói:
- Nhất định là thần tiên thương mình rồi, thấy vợ chồng mình cùng cực quá, đến đây cứu vớt chúng ta. Anh có hỏi tên người ấy không?
- Người ấy lông mày cao, mắt sáng, râu quay nón rậm mà dài, lại có phong khí phiêu diêu như lướt trên mây. Có thể là thần tiên chưa biết chừng. Anh vội chạy theo hỏi họ tên, thì người ấy chỉ nói là Phong Nhiễm Tử, rồi biến mất. Anh nghĩ, số bạc này có trả lại cũng không được, giờ hãy mượn một ít để chi dùng có ngại gì. Hãy mở gói ra lấy một phong mua mấy gánh củi, một gánh gạo, ít mắm muối, rau rợ, mau thêm chút rượu thịt, để anh với em ăn một bữa tươi.
Một lát sau, trong nhà náo nhiệt ồn ào hẳn lên như có thêm rất đông người. Hai vợ chồng cười nói râm ran chứ không buồn bã lạnh lẽo như trước nữa.
0
Chương 21b [/align]

Các bạn thân mến, Phong Nhiễm Tử là ai vậy? Ông vốn là một tướng cướp, song ông đi ăn cướp khác với người khác. Những tên cướp khác ngay cả những người buôn thúng bán mẹt chúng cũng không tha, quần áo rách nát chúng cũng vơ cho bằng hết. Đại Lai cho rằng: "Làm người tốt có tông tích của người tốt. Ngay làm người xấu cũng có phẩm tiết của người xấu. Đại trượng phu đã đầu thai ở cõi đời, cũng phải vì trời mà để lại một chút nhân ái, vì triều đình mà cống hiến một chút công lao, vì gia đình mà để lại chút danh thơm. Nếu như buôn bán, mang tiền vốn của cha ông, băng đèo lội suối, lo lắng sợ hãi, chỉ kiếm được chút ít lãi, về nhà trả nợ, nuôi nấng cha mẹ vợ con. Nếu anh bán với giá cắt cổ thì trời cũng không dung. Còn những kẻ tham quan ô lại, ăn bổng lộc của triều đình, lại dùng cùm kẹp, để bóp nặn dân nghèo, dùng hết khiêng nặng gánh nhẹ để sống một đời xa hoa dâm đãng. Nếu triều đình biết được không những truy hồi tang vật, mà còn phải chịu tội. Nay ta phát hiện ra tang vật, tha tội cho ông ta, ta vì triều đình thực thi lòng nhân ái ngoài pháp luật, thì quả là có lợi cho ông ấy". Bởi Phong Nhiễm Tử gặp những người ít vốn cũng không để ý tới, gặp những người làm quan cũng không khúm núm. Tuy là cướp đấy, song có thể coi những hiệp sĩ cao thượng. Lúc ấy ngẫu nhiên gặp Thời Đại Lai ông ta động lòng thương cứu giúp, Thời Đại Lai cũng không biết đây là họa hay phúc. Hôm sau, Thời Đại Lai mua hai bộ quần áo mặc vào chẳng ai dám bảo anh là thầy đồ thất nghiệp
Hơn nhau tấm áo manh quần,
Thả ra mình trần ai cũng như ai.
Tây Thi nếu mặc đay gai,
Ra đường cũng chẳng có ai buồn nhìn.
Áo nâu giấu ngọc trong tim,
Dẫu là Khổng Mạnh ai nhìn cho ra.
Xuân về trời đất đầy hoa.
Líu lo chim chóc hát ca tưng bừng.
Bởi thế, ăn mặc vào, Thời Đại Lai ra dáng một cử nhân. Tục ngữ có câu, chó không cắn quân tử. Lẽ nào chó là loại thông minh, nó thấy anh ăn mặc sang trọng như một người quyền thế, chó không dám cắn. Thấy anh ăn mặc đẹp thì dù anh là thằng ăn mày, khi ăn cỗ người ta cũng mời anh ngồi mâm trên. Ngay đi đường tuy không quen biết anh, nhưng người ta vẫn nhường đường. Nếu như anh ăn mặc rách rưới thì dù văn anh có như Khổng Mạnh, võ ngang với Tôn Ngô(1) thì chẳng nói gì tới ngồi cỗ, mà ngay anh đi đường, đứa ăn mày nó cũng hất anh sang một bên để đi trước. Đấy là thói tục từ thuở khai thiên lập địa, trách sao được.
(1) Tôn Ngô: tức Tôn Tử, Ngô Khởi, hai nhà binh pháp thời Chiến Quốc. (ND)
Lại nói Thời Đại Lai, mặc chiếc áo dài lụa mới mua, đi thăm người bạn họ Phó trở về, nghe thấy có người đằng sau gọi: “Thời tướng công tiên sinh". Quay lại thì đó là Lữ Du Chi, anh dừng lại. Du Chi nhìn Đại Lai từ đầu đến chân nói:
- Mừng cho anh năm nay có chỗ dạy tốt.
- Có chỗ dạy đâu mà tốt.
- Không có chỗ dạy càng tốt, tôi có một chuyện định nói với anh.
- Xin sẵn sàng nghe anh đây.
- Có một thái phú phủ Triều Châu, Quảng Đông, thuyền đậu ở Liễu Châu rồi đi nhậm chức, muốn mời một người giúp việc ở bản địa. Hôm kia tin ấy lọt đến tai, tôi định nhận đây kiếm mấy lạng bạc, đi suốt hai ba hôm nay vẫn chưa tìm được người quen biết. Nếu anh không có lớp dạy thì có chịu làm việc này không?
Thời Đại Lai hết sức mừng rỡ, nói:
- Xin nhờ anh giúp cho, việc này anh rất thành thạo.
- Nếu anh đã nói thế thì anh cứ đi về đi, tôi đi một lát sẽ tới.
Một lát sau, Lữ Du Chi cùng một vị áo xanh mang tờ thiếp hồng, một gói sáu lạng làm quà tặng. Người ấy nói với Thời Đại Lai:
- Nói bằng nào tôi trả bằng ấy, công mỗi năm tôi trả một trăm hai mươi lạng. Trả trước một nửa để nhà yên tâm, sáng ngày kia nhổ neo. Lát nữa mời ông tới gặp ông lớn.
Thời Đại Lai nhận tiền rồi hai người lên thuyền, tri phủ thấy Đại Lai áo là tươm tất, nói năng nhã nhặn, bèn nhận ngay và nói:
- Nhờ ông thu xếp sớm, trưa mai đã nhổ neo lên đường. Sau đó tri phủ gói sáu mươi lạng bạc ứng trước tiền công đưa cho Thời Đại Lai, Thời Lai nhận bạc rồi tri phủ tiễn ra khỏi thuyền. Lữ Du Chi đến sớm, Đại Lai mở gói ngay trước mặt lấy hai bao tạ ơn Dụ Chi, còn lại anh đưa cho vợ. Hôm sau Đại Lai thu xếp lên đường, ngày thứ hai họ hò reo nhổ neo. Đi tới Nam Lĩnh thuê ngựa thồ vượt qua núi. Đúng là:
Chẳng phiền dịch sứ gửi hoa mai,
Vận đến gió đưa, Đằng Vân Các.
Viên tri phủ này họ Nhậm, vốn xuất thân từ khoa giáp, là người cực kỳ tham lam, đầu tiên được nhậm chức tri huyện Cối Kê. Hắn chẳng giữ thể diện gì, lừa cả nguyên cáo lẫn bị cáo, bị người địa phương vạch trần, không trụ nổi hắn dùng tiền đút lót để được điều tới huyện Tĩnh An, tỉnh Giang Tây. Hắn vừa đến thì huyện Tĩnh An trở thành bất an. Hắn tìm mọi cách vơ vét cho bằng hết. Làm được hai năm thì bị phê phán, không được hai nha môn cất nhắc, song hắn đã tìm mọi cách để leo lên chủ sự bộ Hộ. Vận của hắn đang lên, hắn được trông coi việc quản lương và thu thuế, phụ thu lạm bổ quá nhiều. Số bạc hắn vơ vét được không sao kể xiết. Hắn thăm dò thấy Triều Châu sẽ là nơi phát tài, hắn bèn tìm cách để được làm tri phủ Triều Châu. Những người thân đi theo không nhiều, chỉ có phu nhân và một tiểu thư là Trại Nhí, với ý là con trai cũng không sánh kịp. Tiểu thư rất xinh đẹp, hiểu biết rộng, coi thường cha mình chỉ vì tiền tài, sợ rằng việc quan sẽ gặp nhiều bất lợi, cô thường can ngăn cha. Thấy con bất hiếu nên tri phủ cũng không quý cô, ông ta có hai thuyền lớn, thở đầy ắp, không kể tới đồ đạc to và nặng, ngay những đồ cổ quý hiếm cũng chất đầy cũng lóa mắt không sao đếm xuể. Hôm ấy thuê phu mang vác qua dốc núi, người gánh kẻ khiêng kìn kìn, kéo thành một đoàn dài. Không giống như người đi nhậm chức mà giống một viên quan dọn nhà về quê. Hành lý đi trước, phu nhân và tiểu thư đi sau, tri phủ Nhậm áp tải đi sau, bỗng thấy có tiếng còi vang lên, mấy mũi tên bằng gỗ liễu vụt qua trước mặt, tất cả đều hốt hoảng đứng lại. Thấy hơn mười người đàn ông xông tới cướp hành lý. Họ nói:
- Bắt trói tên cướp của ấy giết đi.
Một lát sau họ trói tri phủ Nhậm lại. Đang lúc kêu trời kêu đất thì bọn Thời Đại Lai đi ở đàng sau, ngồi trên xe, từ đầu dốc đi tới, được báo là hàng của quan bị cướp. Đại Lai giật mình vội chạy lên phía trước, đứng trên cao quan sát thì một người trong bọn họ nói:
- Hóa ra Thời tướng công cũng đến, thôi thả hắn ra.
Thế là đột nhiên những người này bỏ đi hết, tri phủ được mọi người cởi trói, song hành lý, lương thực, ngay cả tiểu thư cũng mất hút. Tri phủ nói:
- Rõ ràng vừa rồi nghe thấy bọn cướp nói tới Thời tướng công, vì sao chúng biết được lão Thời? Nếu hôm nay không đi cùng ông ấy thì ta đã toi mạng rồi. Ta không thể ở lâu trên dốc núi này, phải tới ngay phủ Nam Hùng rồi sẽ tìm hiểu sau.
Lát sau tới phủ Nam Hùng, vì không thấy tiểu thư, Nhậm tri phủ nghĩ, "bọn cướp này đã cướp của của ta lại còn cướp cả con gái của ta nữa". Rồi tri phủ Nhậm lại nghĩ tiếp, đúng rồi, đúng rồi, bọn cướp nhận ra lão Thời, tại sao không truy hắn tận gốc, lúc ấy sẽ tìm ra con gái, thế là hắn quên cả ơn cứu mạng. Đúng là:
Chỉ mưu thục hiện không thành kế,
Chẳng nghĩ mình đã hút máu người.
Hôm sau tri phủ Nhậm đích thân tới bái kiến tri phủ Nam Hùng, kể lại chuyện đã xảy ra, hắn nói:
- Cái khác thì thôi, tôi chỉ thương đứa con gái, ai ngờ người giúp việc mình mới tới lại câu kết với bọn người này, mong ngài nghiêm trị Thời Đại Lai, nhất định hắn sẽ khai. Con tôi được trở về, còn tất cả tang vật thu được sẽ dâng cho ngài, tôi sẽ hậu tạ.
- Xin nghe lời dạy bảo của ngài, xin cám ơn ngài. - Tri phủ Nam Hùng nói.
Vốn là, khi tri phủ Nhậm nghe thấy câu nói ấy thì Thời Đại Lai còn ở đàng sau, nên không hay biết gì.
Đến khi tri phủ Nhậm đến bái kiến tri phủ Nam Hùng trở về, Thời Đại Lai ra đón, nói:
- Bái kiến ngài nên nhờ ngài bắt là tốt nhất.
Tri phủ hùng hổ nói:
- Không cần bắt cũng tìm ra tám chín phần rồi.
Nói xong hắn đi vào, Thời Đại Lai chỉ nghĩ ông ta đang đau thương nên tỏ ra bực bội như thế. Vừa quay đầu lại đã thấy một bọn người hùng hổ cầm xích sắt xông vào tròng cổ anh lôi đi. Thời Đại Lai nói:
- Tại sao vậy?
Ra tới cổng gặp người quản gia, anh nói:
- Anh báo ngay cho ông lớn biết, những người này vô cớ bắt người, hãy cứu tôi ngay.
Người quản gia vờ vịt nói:
- Anh đi mà báo.
Thời Đại Lai kinh ngạc nghi ngờ, không sao quyết được, bèn nói với người ấy rằng:
- Các ông theo lệnh ai đến đây, đừng có làm bừa như thế, ta là tướng công do ngài Nhậm mời tới.
Những người ấy nói:
- Thì chính người mời anh là nguyên cáo.
- Việc này căn cứ vào đâu vậy? - Thời Đại Lai nói.
Những người ấy cứ lôi bừa đi, nói:
- Đến đấy rồi sẽ hiểu.
Đúng là:
Không gió mà nổi sóng
Nói ra thật đáng khinh.
Thời Đại Lai không biết tình hình bên trong thế nào, vẫn cứ trông chờ Nhậm tri phủ cứu giúp. Cả gan theo họ tới phủ Nam Hùng. Tri phủ lập tức lên công đường, nhìn Thời Đại Lai nói:
- Đúng là tên giúp việc lại là kẻ cướp.
Thời Đại Lai dõng dạc nói:
- Kẻ cướp là kẻ cướp, người giúp việc là người giúp việc, tại sao ngài lại bảo người giúp việc là kẻ cướp?
- Ngài Nhậm tri phủ có lòng tốt với ngươi, tại sao ngươi lại thông đồng với bọn cướp, cướp tài sản của ngài, mà lại còn cướp cả con gái ngài nữa? Ta cho rằng ngươi thấy cô đẹp, nên cướp cô ấy về làm vợ chủ trại. Như thế thì người làm quan ai dám mời ngươi giúp việc. Hãy kẹp nó ngay cho ta.
- Ngài căn cứ vào đâu? Ngài đã vô cớ đổ oan cho tôi.
- Mày không thông đồng thì tại sao bọn cướp biết mà gọi tên mày?
- Ai nghe thấy?
- Tất có người nghe thấy, mày hãy khai mau họ tên bọn chúng, tàng trữ ở đâu, nếu truy tìm được tang vật ta sẽ tha ngay.
- Giữa thanh thiên bạch nhật mà tôi mắc nỗi oan trái này, thà tôi chết làm quỷ, xuống diêm vương kêu oan chứ không biết ai mà khai.
Viên tri phủ chỉ mong tìm ra tang vật để làm vật tạ ơn, chứ kể gì đến oan hay không. Đột nhiên tri phủ nổi giận, gọi người kẹp Đại Lai. Bọn sai nha nhất tề xông tới đánh Đại Lai huỳnh huỵch. Tri phủ định bóc trần sự thật, thấy Đại Lai lần đầu chưa khai, đành hoãn lại, nói:
- Giam hắn lại, chờ thẩm vấn sau.
Sau đó tri phủ Nam Hùng sai người báo cho tri phủ Nhậm. Tri phủ Nhậm trực tiếp đến bàn với tri phủ Nam Hùng một lần nữa rồi mới từ biệt tới nhiệm sở.
Lại nói người cướp ở Mai Lĩnh là ai vậy? Đó chính là người của Phong Nhiễm Tử. Họ thấy Thời Đại Lai bèn cùng nhau quay về. Tới bản doanh, thấy trước cửa trại có một chiếc kiệu, Phong Nhiễm Tử hỏi:
- Kiệu này khiêng ở đâu về thế?
- Đây là con gái tên tham quan.
- Ai cho các ngươi khiêng về, có làm cô ấy sợ không?
- Chưa ai dám động đến cô ấy. Ngài hãy kiểm tra xem.
Phong Nhiễm Tử lập tức đến gặp tiểu thư, ông vái chào, nói:
- Tiểu thư đừng sợ, vì ta nghe người trị dân huyện Tĩnh An rất tàn ác, nhân dân ta oán, ta muốn trừ tai họa cho dân, nhưng chưa thực hiện được. Nay hắn lại được thăng chức quyền về Tuần Châu, hành lý mang theo nhiều vô kể, ta đã gặp tại Mai Lĩnh, động chạm đến ý muốn của ta xưa kia. Khi ở trên núi, ta trông thấy Thời tú tài. Ông là người chính nhân quân tử nếu ông cùng đi với cha cô thì hẳn ông đã giúp cha cô đi theo con đường ngay thẳng, bởi thế mới quay về. Không ngờ những người anh em của ta không hiểu lòng ta, làm phiền đến tiểu thư xin tiểu thư đừng sợ hãi, nhất định ngày mai tôi sẽ đưa tiểu thư về Nam Hùng, giao tiểu thư cho tri huyện.
Tiểu thư cúi đầu tạ ơn, nói:
- Nếu được trả về thì quả thật ngài là cha mẹ sinh ra thiếp lần thứ hai.
Phong Nhiễm Tử sắp xếp cho tiểu thư nghỉ tại một phòng sạch sẽ yên tĩnh, sai người trông coi tiểu thư. Hôm sau Phong Nhiễm Tử thuê mấy ngươi khiêng kiệu ở bản địa và sai mấy người đi theo. Tiểu thư nghĩ bụng:
- Trong thiên hạ sao lại có kẻ cướp tốt như thế, họ lại chịu trả ta về, mà không biết tại sao Thời tiên sinh lại quen biết những người ấy? Lẽ nào ông ấy lại là cướp? Vừa rồi ta đã nghe ông ấy nói về cha mình, quả là không sai. Người này đúng là một chính nhân quân tử. Việc này xem ra ông ấy không phải là cướp và vì sao những người ăn cướp ấy lại kính trọng ông ấy đến thế.
Một lát sau những ngươi tiễn tiểu thư tới Nam Hùng trở về. Nhậm tiểu thư được ra, bẩm với tri phủ Nam Hùng, ông ta gọi thuyền đưa ngay đến Triều Châu và sai người đi theo, rồi về nói lại với mình.
Những người tiễn tiểu thư về trại. Phong Nhiễm Tử hỏi:
- Đã đưa cô ấy tới nơi chưa? Không bỏ rơi đấy chứ?
Những người ấy nói:
- Không những không bỏ rơi mà còn nghe được một chuyện nực cười, ông hãy tới mà xem.
Phong Nhiễm Tử vội mở ra, thấy một tờ yết thị, trong đó viết:
“Nay ta hiểu dụ, theo Nhậm tri phủ Triều Châu nói, ngài đưa gia quyến tới nhiệm sở, qua Mai Lĩnh gặp cướp, cướp hành lý lương thục không sao kể xiết và còn cướp cả tiểu thư, hiện không biết ở đâu. Nay biết được Thời Đại Lai là đầu sỏ, đã thông đồng với bọn cướp làm nội ứng. Thời Đại Lai đã bị bắt và đã bị kêu án. Chờ điều ra, truy lùng bọn dư đảng. Nếu ai biết tin tức báo cho phủ quan, sẽ thưởng cho năm mươi lạng bạc, kẻ nào che giấu, bị phát giác sẽ bị trọng tội, quyết không tha thứ. Nay yết thị."
Phong Nhiễm Tử đọc xong, giậm chân nói:
- Ta đã làm hại anh ấy, là tú tài làm sao anh ấy chịu đựng nổi. - Ngẫm nghĩ một lát Nhiễm Tử nói tiếp. - Đúng rồi, đúng rồi.
Sau đó Nhiễm Tử tập hợp mọi người lại, nói:
- Ta có việc này, các anh em phải theo ta. Về chuyện ở Mai Lĩnh chúng ta đã làm hỏng việc. Đại trượng phu tự gây ra thì phải tự chịu trách nhiệm, chúng ta giơ cổ cho nó chém, chúng ta chẳng phải hối hận gì. Chỉ có điều chúng ta không đáng sai, nói có một câu mà đã làm hại Thời tú tài. Chúng ta được hưởng hạnh phúc mà để cho anh ấy vô cớ chịu oan. Không những chúng ta không chịu nổi, mà cũng phải làm cho chân lý sáng tỏ. Theo ta phải như thế... như thế... thì mới cứu anh ấy được, ta dù có chết cũng không ân hận. Anh em phải giúp ta đi một chuyến.
Tất cả mọi người nói:
- Đấy là việc lớn xin nghe theo ông dạy bảo.
- Thế rồi họ mổ trâu bò, ăn uống với nhau một bữa hả hê.
Hôm sau tất cả đều giấu vũ khí ngắn trong người, giả làm người bán thuốc, bán củi... lần lượt tiến vào thành trót lọt. Phong Nhiễm Tử nói với mọi người rằng:
- Đáng cười thay phủ Nam Hùng, quả là một gã ngu độn. Lẽ nào bọn cướp lại xưng danh với mọi người. Thế mà chó ngáp phải ruồi, hắn đỗ hai bảng mới được làm quan. Ta phải cứu được tú tài và đập nát cái đầu đần độn này mới hả giận.
Mọi người đồng thanh đáp:
- Đúng là như thế.
Quả là:
Rõ ràng người trong Thuỷ Hử truyện,
Chỉ thiếu Trương Thúc Dạ chiêu an.
Đợi tới khi trời tối, một tiếng hô vang, họ rút khí giới ra, xông vào phá cửa ngục. Phong Nhiễm Tử vọt lên trước, lục soát khắp mọi nơi mới tìm thấy Thời Đại Lai. Song anh đã bị chúng kẹp nát mất một chân. Nhiễm Tử lệnh cho mọi người cõng anh ra. Lúc ấy vì đã cứu được người nên không tiến vào phủ nữa . Đoàn người rút khỏi thành, đi mải miết suốt cả đêm. Được chừng năm mươi dặm mới ngừng lại. Họ đặt Thời Đại Lai xuống. Phong Nhiễm Tử nói với anh:
- Thời tiên sinh, chúng tôi đã làm anh phải khổ!
Thời Đại Lai nhìn Nhiễm Tử, nói:
- Đây là thực hay mơ, nếu không thì làm sao mà tôi được đến đây.
Phong Nhiễm Tử kể lại từ đầu đến cuối cho Thời Đại Lai nghe. Thời Đại Lai nói:
- Như thế thì ta chẳng trách lão Nhậm được, anh cũng đừng bắt con gái hắn.
Phong Nhiễm Tử lại kể cho anh nghe chuyện trả người con gái ấy. Thời Đại Lai nói:
- Anh đã làm một việc như thánh nhân, tôi dù có chết cũng cam lòng. Song chỉ có điều cứu tôi ra lẽ nào lại bảo tôi theo con đường của các anh.
Phong Nhiễm Tử nói:
- Chúng tôi cũng không khuyên anh làm theo chúng tôi, anh là người có học, phải có khát vọng thăng tiến. Nơi này không ở lâu được, trời lại sắp sáng, tôi chỉ còn một trăm lạng anh hãy cầm lấy làm tiền lộ phí về nhà. Phải nhanh chóng đi khỏi nơi này, nhất thiết không thể nấn ná mà hỏng việc.
Thời Đại Lai nhận bạc nước mắt giàn giụa nói:
- Tôi hết sức cám ơn anh đã quan tâm, tôi không biết lấy gì để đền ơn cứu mạng này, trượng phu có lòng xin đợi đến dịp khác bây giờ không sao nói hết được.
Đôi mắt giết người không chớp của Phong Nhiễm Tử cũng phải nhỏ mấy giọt nước mắt lạnh như thép, nói:
- Tiền đồ rất đáng quý, tôi không thể ở đây lâu mà nói được.
Nói xong vội vã ra đi. Thời Đại Lai nhìn theo chỉ thoáng một cái đã đi tới mấy dặm. Đại Lai chầm chậm nai nịt gọn gàng rồi thong thả lên đường. Trong người anh có tiền ăn đường nên rất vững dạ, đi theo đường vắng, vừa đi vừa nghĩ, Phong Nhiễm Tử quả là một trang nghĩa hiệp chân chính. Đúng là:
Anh em ruột thịt.
Tranh nhau bạc vàng.
Sao người lạ lẫm,
Cứu ta nhiều phen.
Ta chưa đọc được.
Quản Bão chia vàng.
Anh hùng lệ nhỏ,
Ân oán rõ ràng.
0
Chương 21c [/align]

Tri phủ Nam Hùng nghĩ, của cải lão Nhậm rất nhiều, truy ra tang vật thì nhất định sẽ lọt vào túi hắn. Hơn nữa ta đã tìm được con gái và dẫn đến trả ông ta, thật là việc ngoài ý muốn, nhất định ông ta phải bỏ ra số tài sản lớn để hậu tạ. Song quẻ tài này lại rơi vào chính Thời Đại Lai, ta không thể buông lơi. Thằng này ngang bướng không tra tấn cực hình hắn sẽ không khai. Lập tức hắn ra lệnh: "Phạm nhân Thời Đại Lai đúng vào trưa mai phải ra công đường thẩm vấn".
Đến tối, bỗng nghe thấy tiếng quát thét, tri phủ sợ run cầm cập, vội gọi lấy một chiếc thang trèo lên nóc nhà. Chờ tới khi yên ắng hắn mới xuống, rồi bảo tên đốc gác ra nghe ngóng tình hình, biết đây là vụ cướp tù. Tên này vào báo, tri phủ hỏi đã cướp mất tên nào, hãy kiểm tra báo ngay. Tên lính gác đem sổ ra kiểm tra tù nhân, thấy thiếu mất Thời Đại Lai, trở về báo:
- Các phạm nhân đều còn, chỉ có Thời Đại Lai là không thấy
Tri phủ tức tối nghĩ: "Đây đúng là bọn ở Mai Lĩnh, hôm kia đánh như thế nó vẫn ngang bướng không khai, rất tiếc là hai ngày đã buông lơi, giá mà tra tấn mạnh thì bây giờ chưa biết chừng đã tóm được người và tang vật. Chắc bọn này chưa đi được xa".
Ngày hôm sau lên công đường, tri phủ lệnh cho phiên bổ phải đi bắt ngay, không thể khác được. Một mặt báo việc bị cướp tù lên các cấp trên, đồng thơi gửi văn thư tới tri phủ Triều Châu biết việc này, mặt khác bẩm việc này tới hai viện phủ, án, xin gửi văn thư cho hai viện ở Giang Tây biết để phối hợp tiêu trừ. Tất cả đã bố trí xong xuôi. Chỉ mong bắt được Thời Đại Lai thì mới truất được nỗi uất hận này.
Thời Đại Lai chân đau, sức khỏe chưa bình phục, tiền tiêu lại dư dả, dần dần cũng vượt qua. Đi suốt tháng trời mới về tới quê. Hôm ấy đã về tới thành Nam Xương, anh nghĩ: "Trời vẫn còn sớm, nghỉ tạm một lát rồi hãy về", đang lúc do dự, ngán ngẫm cho nỗi oan ức của mình thì đụng phải Lữ Du Chi. Thời Đại Lai vội cúi đầu, song Lữ Du Chi đã nhìn thấy, nói:
- Thời tiên sinh làm gì đấy? Về từ bao giờ thế!
- Bây giờ tôi mới về tới đây, vẫn chưa về nhà.
Lữ Du Chi nghĩ một lát nói:
- Thế à vẫn chưa về nhà ư? Sao anh về vội thế, ở đấy một năm hãy về có tốt không?
- Không giấu gì anh, tôi và lãi Nhậm lúc đầu rất hợp nhau, không ngờ tới nhiệm sở lão tham lam quá đáng, tôi đã mấy lần can ngăn nhưng lão không nghe, tôi không thể tiếp tục ở được đành phải bỏ về.
- Vậy thì những người giúp việc lão ta có sao không, lão phải cho anh ít tiền đi đường chứ?
- Triều Châu giàu có, những người giúp việc ai mà chẳng thích. Còn như anh hỏi về tiền đi đường thì chẳng có một xu nào. Lão ta bỏ tôi, tôi bỏ lão thì hỏi tiền đi đường sao được.
- Theo anh nói thì cũng cám cảnh cho anh thật. Hôm kia tôi cũng định cùng một người đến Quảng kiếm anh ít tiền tạ ơn, thế mà cứ mất công mong ngóng.
Thời Đại Lai tưởng Lữ Du Chi nói thật; cũng không để ý tới chỉ nghĩ tới việc về nhà, rồi nói với Lữ Du Chi:
- Tôi vội về, ngày mai mời anh tới chơi.
- Tôi cũng muốn đi cùng anh, chúng ta đến đầu đường rồi hãy chia tay.
Quả đúng là:
Thấy cười mà tưởng khóc,
Giết người chẳng dùng dao.
Đời không phải cổ tích,
Sao tốn công đi tìm.
Thời Đại Lai về tới nhà gọi cửa, gặp chồng, Vạn thị nói:
- Em tưởng anh đi nhiều thì phải hai năm, mà ít ra thì cũng một năm, sao anh lại về sớm thế?
- Một câu không nói hết được, em hãy đóng cửa vào.
Thời Đại Lai kể lại hết cho vợ. Vạn thị dân dấn nước mắt nói:
- Quả là anh chết rồi được sống lại, vậy bây giờ anh tính sao?
- Trước khi chia tay, - Thời Đại Lai nói, - Phong Nhiễm Tử đưa cho anh một trăm lạng bạc, trên đường anh tiêu pha tằn tiện định để lại một nửa số bạc ấy cho em chi dùng, còn một nửa anh sẽ mang đi làm lộ phí, đến nơi nào đó lánh tạm một thời gian, chờ cho hai người này thăng quan chuyển đi nơi khác không còn lo gì, lúc ấy mới quay về làm cho ra lẽ.
Đang lúc tình cảm mặn nồng thì nghe bên ngoài có tiếng gõ cửa nhè nhẹ. Vạn thị hỏi:
- Ai gõ cửa thế?
Người đứng ngoài nói:
- Tôi là hàng xóm, sang xin chị tí lửa.
- Sao đến giờ này còn xin lửa làm gì? - Vạn thị nói.
- Hàng xóm với nhau, - Thời Đại Lai nói, - không cho thì còn mặt mũi nào nữa, thời thì cho người ta.
Anh ra mở cửa. Vừa rút then thì người đứng ngoài đạp toan cánh cửa. Bỗng chốc bọn hung thần xông vào đầy nhà.
Chỉ thấy:
Người nào cũng:
Mình mặc chiến bào
Tay dao tay gậy,
Sát khí đằng đằng,
Mặt mày dữ tợn.
Sáng rực đuốc đèn
Hét hò dậy đất.
Ngỡ là bọn cướp
Phong Nhiễm tìm đâu?
Thấy Thời Đại Lai, bọn người ấy dùng tay thước sắt đánh cho mấy cái ngã dụi xuống đất, đứa này xích tay, đứa kia khóa lại rồi chúng vội vàng treo hai chân tay Thời Đại Lai lên xà nhà. Vạn thị cứ cho là bọn cướp, kêu ầm lên.
- Làng nước oi, hãy mau mau cứu chồng tôi với. Bọn cướp đang giết người.
Một đứa trong bọn nhổ toẹt vào mặt Vạn thị nói:
- Mày nói sai rồi, sao không nói, chúng tao là người bắt cướp.
- Các ông là do nha môn nào sai tới, vì việc gì thế? - Thời Đại Lai nói.
- Chúng tao là do ngài tri phủ Nam Xương sai tới, theo lệnh của hai Viện Phủ, án, chúng tao ăn thịt tên cướp trốn ngục ở Nam Hùng, đây chỉ là việc cỏn con, đừng sợ!
Vạn thị lôi chồng lại van xin, gào khóc, kêu trời kêu đất vô cùng thảm thiết. Thời Đại Lai nói:
- Nghiệp chướng đến rồi, đúng là anh gặp em lần này là cuối cùng rồi chết, em khóc có ích gì?
Trời sáng, bọn người ấy nói:
- Thôi đừng có mơ màng nữa, hãy dọn cơm và đưa tiền , lệ phí ra đây, chỉ lấy ra một góc ở hòm da cũng đủ rồi.
Đang mỗi đứa một câu ngậu xị cả lên thì Lữ Du Chi đẩy cửa gọi:
- Thời tướng công có nhà không?
Bọn người ấy nói:
- Thời tướng công đang rất vui, vào đây mà đánh đu.
Lữ Du Chi chắp tay nói:
- Hóa ra là lệnh của phủ quan, các ngài đến đây làm gì.
- Ngươi hỏi làm gì? - Một đứa nói. - Ta sẽ đưa trát đòi cho ngươi xem.
Lữ Du Chi xem xong, cố ý khuyên:
- Tướng công là người tử tế, hãy cởi trói cho anh để nói cho ra lẽ.
- Ngươi đừng nói đến thả ra, đây là việc quan sai bảo, ngươi sai chúng ta làm sao được, ngươi quen biết tên cướp, xem có ngăn cản được chúng ta không?
Đúng là:
Chim lồng thú cũi trong hang quỷ,
Bắn lén khó phòng lũ bất nhân.
Lữ Du Chi đến ghé tai vào Thời Đại Lai nói:
- Việc này tới quan vẫn có thể giải quyết được, bọn này chỉ giả bộ thế thôi, anh phải tìm cách đút lót cho chúng, để đến trước mặt quan nó nới tay đôi chút.
Thời Đại Lai nói:
- Có chút bạc vợ tôi giữ, nhờ anh mang đi gỡ giúp tôi.
Nghe nói thế hắn nổi máu tham, nói với Vạn thị:
- Anh ấy vừa nói với tôi chị còn giữ rất nhiều bạc, hãy giao hết cho tôi để tôi tìm cách cứu anh ấy, hãy nhanh lên đừng để lỡ việc.
Đang lúc hoảng loạn Vạn thị đem cả gói bạc mà Phong Nhiễm Tử vừa cho, đưa hết cho Lữ Du Chi, rồi cúi đầu nói:
- Bác Lữ, trăm sự nhờ bác tìm cách cứu anh ấy.
Lữ Du Chi cầm lấy gói bạc nghĩ bụng: "Chẳng biết họ có nới tay không, chứ chết chém là cái chắc". Rồi hắn nói với Vạn thị:
- Tôi đem số bạc này đến nói với quan lớn, nếu không đủ thì chị cần phải đưa thêm.
Hắn quay lại nói với sai nha:
- Hãy cởi trói cho anh ấy, tất cả đều do ta.
Bọn sai nha biết ý nói:
- Tên cướp này không thể nương nhẹ được, thôi thì nể mặt anh Lữ, tạm thời cởi trói cho hắn.
Bọn hắn cởi đây, hạ Thời Đại Lai xuống rồi dùng xích khóa vào cổ cho hai người áp giải đi. Bọn chúng đi khỏi nhà, Lữ Du Chi kéo sáu bảy đứa đi. Các bạn có biết tại sao lũ sai nha này lại tới bắt Thời Đại Lai nhanh đến thế không? Thời Đại Lai bất chợt gặp Lữ Du Chi, cứ tưởng hắn không biết chuyện đã xảy ra ở đó nên giấu hắn. Không ngờ văn thư đã gửi về đây hơn một tháng rồi, hắn chuyên móc nối với nha môn, thì việc gì mà hắn chả biết. Hắn nói cạnh nói khóe song Đại Lai hoàn toàn không hiểu. Vậy thì anh mọt sách ấy làm sao mà không bị bọn người này bắt đi.
Đúng là:
Vừa thoát khỏi lưới rừng,
Lại sa vào cửa quỷ.
Đường đời lắm gian nan,
Chẳng ai lường hết được.
Đây là việc cướp ngực, làm sao có thể đút lót mua chuộc được. Sáng sớm hôm sau quan lên công đường. Thời Đại Lai bị giải tới phủ đường. Viên tri phủ này cũng là kẻ tham lam như tri phủ Nam Hùng. Thấy bắt được Thời Đại Lai hắn hỏi phủ đầu:
- Đã ăn cướp lại cướp ngục thoát thân, trông ngươi cũng bình thường mà sao lại nhiều thủ đoạn đến thế.
- Thưa ngài, - Thời Đại Lai nói, - con là sinh viên của phủ này, nếu hàng ngày quả là người bất chính, xin mong ngài cứ điều tra.
- Đừng có nói tới hai chữ sinh viên, - tri phủ nói, - ta hỏi việc ngươi ăn cướp, ngươi đừng có quanh co nữa. Hiện nay đã cướp ngục trốn về, lẽ nào còn chối cãi? Ta nói với ngươi, đây là việc ở tỉnh khác ngươi hãy khai ra một tên để thay cho ngươi thì ngươi chưa chắc đã phải chết. Ta có thể tha cho ngươi.
Thời Đại Lai làm sao có thể khai ra Phong Nhiễm Tử, anh chỉ nói:
- Thưa ngài con xin tình nguyện chết chứ có người nào đâu mà khai.
Tri phủ đùng đùng nổi giận quát:
- Hãy kẹp nó cho ta.
Sau đó lại đánh một trăm gậy. Thời Đại Lai chết đi sống lại, song vẫn không chịu khai. Tri phủ nói:
- Hãy giam nó vào ngục.
Tri phủ lại bảo bọn cai ngục:
- Ngươi có biết tên cướp này đã phá ngục để thoát thân không?
- Con có biết. - Tên coi ngục nói.
Thế rồi hắn giam Thời Đại Lai vào ngục, dùng cùm cùm lại.
Đúng là:
Quan mới và quan cũ.
Là hiểm họa của người
Phép nước sâu như biển,
Lòng người hiểm độc thay.
Lữ Du Chi vẫn không buông tha, hắn mua ít rượu và thức nhắm giả vờ vào nhà giam thăm Thời Đại Lai. Hắn nói:
- Thấy anh khổ như thế thật đau lòng, tôi mua chút rượu và thức nhắm tới thăm anh.
- Xin cám ơn anh. - Thời Đại Lai nói.
Lữ Du Chi rót cho Đại Lai mấy chén nói:
- Anh có nghe hôm qua quan phủ nói thế nào không? Rõ ràng là muốn hại anh. Nếu anh chịu bỏ ra mấy lạng tôi sẽ tìm cách cứu anh, sớm muộn rồi cũng sẽ được tha.
- Đã đến nước này, - Thời Đại Lai nói, - lẽ nào tôi còn giấu anh. Tôi cũng đành liều thôi.
Thời Đại Lai nói lảng ra. Du Chi giả vờ rót vài chén rượu nữa rồi đi ra. Hắn về nói với Vạn thị:
- Tôi vừa mua rượu và thức nhắm đến nhà giam thăm anh ấy, anh ấy không sao chịu nổi đòn và bảo tôi về nói với chị bằng mọi cách lo lấy ít bạc, nhờ tôi đưa đút lót cho phủ quan để cứu anh ấy khỏi chết.
- Còn đâu ra nữa. Chỉ có gói bạc ấy tôi đã đưa cho anh hết cả rồi. Trong nhà hiện chẳng còn một đồng một chữ nào. Chồng tôi có chết cũng không cứu được nữa.
Nói xong chị kêu gào thảm thiết. Lữ Du Chi thấy hai bên nói khớp nhau, biết không còn gì nữa. Hắn nói:
- Ấy là vì tôi thấy anh ấy không có ai nên tôi mới giúp thôi chứ trách tôi làm sao được.
Lúc ấy nghe thấy ngoài đường có tiếng người nói ầm ĩ:
- Án viện đến rồi.
Lữ Du Chi nói:
- Án viện đã xuống ngựa, tôi có đơn phải đưa ra đệ trình cho ngài không ngài đi mất.
Vạn thị nghĩ: "Bạc không có, lẽ nào cứ ngồi đây mà nhìn chồng chết. Vừa rồi nghe nói án viện tới, ta cũng viết một lá đơn để kêu oan cho chồng, biết đâu lại gặp may. Rồi chị lập tức nhờ người viết đơn, đến cửa nha môn. Lúc ấy người đưa đơn rất đông, Vạn thị khóc lóc thảm thiết. Án viện gọi chị đưa đơn để ngài xem. Ngài nổi giận nói:
- Cướp phá ngục bỏ chạy là trọng tội, còn oan nỗi gì?
Nói xong ông vút lá đơn đi, quát:
- Đánh chết nó cho ta.
Thuộc hạ kẻ kẻo người đẩy, đuổi Vạn thị đi. Vạn thị nói:
- Tôi vốn kêu oan, lại chịu nhục, tôi còn sống làm gì nữa.
Chị gắng gượng về nhà, vừa đi vừa khóc. Phàm là đàn bà khóc họ thường hay kể lể đầu cua tai nheo. Vạn thị vẫn lải nhải kể lể. "Chỉ mong anh dạy học để nuôi gia đình, song lại đi vào chỗ chết. Giá anh không về nhà cũng được, đằng này về nhà lại chui vào bẫy". Chị vừa khóc vừa đi qua một tiệm rượu, đi được mấy bước thì nghe thấy đằng sau có người gọi:
- Chị ơi! Chị hãy dừng lại. Tôi có câu chuyện muốn nói với chị.
Vạn thị quay đầu lại thì thấy một người đàn ông lực lưỡng, râu dài, bước tới hỏi:
- Chị là thân quyến của ai? Vì sao mà khóc thảm thiết như thế?
Vạn thị nói:
- Chồng thiếp họ Thời, bị oan. Án viện tới, thiếp đưa đơn kêu oan, không ngờ ngài không xét đến nối oan của chồng thiếp mà còn đánh thiếp đuổi đi, thiếp thấy chẳng còn cách nào khác nên thiếp khóc.
Người ấy nói:
- Vậy tờ đơn ấy chị có có cần không?
- Coi như tờ giấy vứt đi thì còn cần làm gì?
- Chị không cần tới thì hãy đưa tôi xem xem thế nào.
Vạn thị đưa lá đơn cho người ấy rồi cứ thế khóc ra về.
0
Chương 21d [/align]

Hai hôm sau, án viện gởi một tờ văn thư tới Hình sảnh Nam Xương. Quan hình sảnh mở ra thì đó là lá đơn như sau:
Người làm đơn là Vạn thị.
Vì sao chồng con phải chết!
Phê rằng:
“Thời Đại Lai là sinh viên thuộc phủ Nam Xương. Ta đã điều tra kỹ. Việc cướp tù là nghe phong thanh ở tỉnh ngoài không có tang chứng, phải trình lên Hình sảnh thẩm vấn xem xét kỹ” .
Tri phủ nghĩ: "Tên cướp này quả là tài giỏi, ở tỉnh ấy phá ngục chạy trốn, ở tỉnh này lại đút lót án viện. Đúng là phải nhiều tiền của, chờ cho án viện đi rồi ta sẽ bắt lại. Việc mua bán này nhất định phải trả cho ta". Tri phủ đành phải giải lên Hình sảnh hỏi qua loa.
- Ngươi là sinh viên phủ Nam Xương có đúng không?
- Thưa ngài, - Thời Đại Lai trả lời rất trôi chảy, - con được vào trường phủ học năm nào, năm nào đi thi, mấy lần đỗ loại ưu.
- Đã là tú tài tại sao không thận trọng mà lại bị liệt vào bọn trộm cướp. Âu cũng là số kiếp cả, án viện thả ngươi ra, có người bảo lãnh không?
Thời Đại Lai chưa kịp trả lời thì nha lệ hai bên quát thét:
- Quan hỏi ngươi có ai bảo lãnh không?
Bỗng ngoài cửa có một người bước vào, quỳ xuống nói:
- Bẩm quan, con là tổng giám của phương này, tình nguyện xin bảo lãnh.
Hình sảnh nói:
- Tên phạm nhân giải lên đây rất hệ trọng.
Người ấy đáp:
- Bẩm quan con là Tiền Khả Thông, khi ngài đòi người, cứ gọi con là được.
Tiền Khả Thông đệ đơn xin bảo lãnh, quan quát lên một tiếng đuổi ra. Tiền Khả Thông cõng Thời Đại Lai ra khỏi dinh quan. Về tới nhà gõ cửa nói:
- Bà Thời ơi, mở cửa, chồng bà đã về rồi đây này.
Vạn thị ở trong hỏi vọng ra:
- Ngươi là ai mà dám đến trêu ta.
- Đúng là tôi về thật đấy. - Thời Đại Lai nói.
Vạn thị nghe thấy tiếng chồng vội vàng ra mở cửa, kinh ngạc nói:
- Tại sao anh lại được thả ra?
Chị dìu chồng vào nhà đóng cửa lại. Thời Đại Lai nói:
- Thật là một việc kỳ lạ. Ta nghĩ rằng chỉ trong vài ba ngày là ta sẽ bị hành hạ đến chết, ngờ đâu Hình sảnh điều ta ra khỏi ngục nói là án viện thả ra. Em hãy thắp hương lạy tạ tổ tông, cầu chúc cho án viện.
Quả nhiên Vạn thị chắp tay vái lạy, miệng lẩm bẩm cầu khẩn:
- Nhờ được trời đất tổ tông thương tình, cầu mong cho phủ quan sáng suốt, được trời đất phù hộ cho muôn đời con cháu, đời đời công hầu vinh hoa phú quý.
Cúng xong lại cúi đầu lạy mấy lạy.
Đúng là:
Một nén hương thơm dáng kính cẩn,
Trời cao im lặng chẳng nói năng,
Hóa phép thần thông ai thế nhỉ,
Cứu vớt người đời thoát hiểm nguy.
Vạn thị nói:
- Hôm kia em tới dâng đơn kêu oan, án viện đánh em đuổi đi. Sao hôm nay bỗng nhiên lại gia ân?
- Đi kêu oan không dùng tiền ư?
- Làm gì có tiền, gói bạc anh mang về đều đưa hết cho Lữ Du Chi mang đi rồi, sau đó hắn lại đến lừa mấy lần nữa nhưng em bảo hết sạch rồi.
- Thôi nói làm gì đến gã họ Lữ nữa, hóa ra việc này đều do hắn mà ra. Nhờ trời mà thoát khỏi tù ngục, dù cho có nghèo túng một chút còn hơn ngồi trong ngục mà chịu hành hạ. Nếu không gặp được án viện sáng suốt thanh liêm thì e rằng anh sẽ bị tù mọt gông.
Một lát sau trời tối mịt mùng, lại nghe thấy tiếng gõ cửa nhè nhẹ. Thời Đại Lai sợ quá sững sờ nghĩ: "Nhất thiết không thể tùy tiện mở cửa được, lần trước đang đêm mở cửa mà chuốc lấy đại họa, hôm nay lại sợ sẽ xảy ra như thế". Vạn thị không dám lên tiếng, ngươi bên ngoài gõ cửa gấp gáp, nói:
- Vẫn không mở cửa ư? Ta là Phong.
- Có lẽ là Phong Nhiễm Tử tới, - Thời Đại Lai nói, - hãy mở ra đi.
Vạn thị vội vàng mở cửa, đã thấy Phong Nhiễm Tử bước vào. Nhiễm Tử nhìn Đại Lai thì thấy:
Mặt mày cáu bẩn
Đầu tóc bù xù,
Áo như tổ đỉa
Giày tất tả tơi
Gân xanh chằng chịt
Chấy rận đầy người
Túi chẳng một xu
Dáng đi thất thểu
Ngọn đèn leo lét
Nào khác quỷ ma.
- Quả là ân nhân đã tới. - Thời Đại Lai nói.
- Tôi đến để chúc mừng anh đây.
- Từ khi chia tay anh, dọc đường vô sự. - Thời Đại Lai nói. - Ai ngờ vừa tới nhà đã gặp cơn sóng gió này. May mà gặp được quan án viện thanh liêm, sáng suốt thả ra. Ngài đúng là đấng cha mẹ dân.
- Chà, quả là sáng suốt, - Phong Nhiễm Tử nói.
- Tôi nhiều lần gặp phủ quan, quan nào chẳng đánh đập cùm kẹp bắt khai ra đồng bọn, vơ vét tiền bạc, nếu không gặp ông quan này thì cũng không gặp được anh hôm nay. Mà cũng buồn cười thật, Hình sảnh vừa bảo là tìm người bảo lãnh, đang lúc bối rối thì lại rất may gặp một người tình nguyện bảo lãnh, rồi lại cõng tôi về nhà, đến một đồng tạ ơn cũng không nhận. Số chưa chết cho nên chỗ nào cũng gặp may, anh ạ. Đây không phải chuyện kỳ lạ trên thế gian này ư.
- Đúng là kỳ lạ thật. - Phong Nhiễm Tử nhìn Thời Đại Lai, vuốt râu cười nói. - Tôi nói thực với anh nhé, tôi tới gặp một người bạn, ngồi trên lầu tiệm rượu ngày trước, thấy chị ấy khóc lóc đi qua, tôi sinh nghi. Lắng tai nghe thì hình như là nói về anh. Tôi có ý hỏi chị. Lừa chị lấy tờ đơn kêu oan và ngay tối ấy đưa cho quan hình sảnh hai trăm lạng vàng, thì ngày hôm sau nghe thấy anh được thả. Tôi lại đưa cho Tiền Khả Thông mười lạng bạc và bảo anh ta chờ ở cửa nha môn xin bảo lãnh. Anh cứ nói nào là gặp may, nào là quan thanh liêm, nếu được như thế thì thiên hạ đã thái bình từ lâu rồi. Chúng ta đang đứng ở đâu anh có hiểu không. Anh đừng nói những lời ngốc nghếch của kẻ thư sinh nữa.
Thời Đại Lai như người say chợt tỉnh, đứng dậy chắp tay tạ ơn.
Đúng là:
Một ngày rắn người cắn
Ba năm con sợ lươn,
Nửa đêm nghe anh nói,
Hơn đọc sách mười năm.
Phong Nhiễm Tử nói:
- Tôi biết anh vẫn chưa ăn bữa tối, tôi đi một lát rồi về ngay.
Phong Nhiễm Tử đi một lát rồi trở về, thấy anh cho người gánh vào hai gánh, đó là chiếc chân giò, một đôi gà béo, một con cá to, một tảng thịt cừu, một vò rượu cùng với củi đuốc, gạo và rau. Phong Nhiễm Tử nói:
- Hãy bảo chị ấy làm cơm đi, tôi sẽ uống với anh suốt đêm nay.
Chỉ một thoáng, những thức ăn nóng hổi đã được bày đầy bàn. Hai người ăn uống thả sức. Phong Nhiễm Tử sao chịu dùng chén uống rượu, gọi:
- Đem một cái bát ra đây.
Thế rồi anh cứ dùng bát dốc ừng ực. Vạn thị trong bếp hâm rượu không kịp. Phong Nhiễm Tử nói:
- Hãy đổ cả vào nồi mà đun, hâm từng ấm như thế không đủ xấp giọng.
Một lát sau, họ uống cũng đã khá nhiều, mâm bát được dọn đi, Phong Nhiễm Tử trông như một kẻ sĩ. Anh nói:
- Rượu uống đủ rồi, hãy nói đi, nay đã thoát nạn thì bây giờ phải thế nào đây?
- Tôi cũng đang nghĩ tới điều ấy, - Thời Đại Lai nói, - song nhà không còn một đồng một chữ nên chưa biết làm thế nào.
- Chẳng lâu đâu án viện sẽ về phục mệnh, những người này sẽ không buông tha, họ sẽ bắt giam ngay như cũ, lúc ấy rất khó xoay xở. Tôi thấy anh là người trung hậu, sau này nhất định sẽ đỗ đạt. Anh hãy mau mau tới vùng biên ải phía Bắc, thay họ đổi tên, nuôi chí tiến thủ. Nếu có dịp chúng ta lại gặp nhau nơi chân trời góc bể.
Nói xong Phong Nhiễm Tử đưa tay lên hông, lấy ra một gói đặt lên bàn, nói:
- Đây là một trăm lạng bạc, để lại nhà một ít còn thì mang đi làm lộ phí. Ngày mai phải đi ngay để thoát khỏi tai họa. Tôi đi đây anh đi đường phải hết sức thận trọng.
Thời Đại Lai định bàn kỹ với Phong Nhiễm Tử, nhưng anh đã mở cửa đến kẹt một cái ra đi và cũng chẳng biết đi đâu. Vạn thị bước ra nói:
- Cách cư xử của Phong Nhiễm Tử thật khác thường, anh phải nghe theo anh ấy.
- Sao lại không nghe theo. - Thời Đại Lai nói. - Trước đây ta lo vì không có tiền, có tiền thì đúng là thuốc tiên. Chỉ ân hận là anh và em vừa mới gặp nhau đã phải biệt ly, lấy một người chồng như anh là một gánh nặng đối với em.
Vạn thị an ủi chồng, đun nước cho chồng tắm, lấy quần áo cho anh thay, thu xếp hành lý và chia số bạc ấy. Gói ghém xong xuôi, Thời Đại Lai đáp theo thuyền tới Nam Kinh, họ ngậm ngùi rân rấn nước mắt chia tay.
Đúng là:
Ông sao nở rẽ duyên,
Hồng nam, nhạn bắc đôi miền cách xa.
Thời Đại Lai lên thuyền ngủ mấy ngày liền cho lại sức trông người lại ra dáng thư sinh. Thuyền thuận buồm xuôi gió chẳng bao lâu đã tới Nam Kinh. Thời Đại Lai nghĩ: "Lâu nay được nghe Nam Kinh là một danh thắng, mình chưa từng đặt chân tới, nhân thể đi du ngoạn mấy hôm rồi sẽ liệu việc học hành". Anh gửi hành lý tại một quán trọ, thay quần áo, dạo chơi trên những phố lớn. Anh lại nghĩ, chùa Báo ân là nơi danh thắng, phải tới đó chơi. Hỏi thăm đường tới chùa, thấy một hòa thượng đang ngồi đó kể chuyện, nhân lúc nhàn rỗi anh cũng đứng chen vào đám đông nghe. Người ấy kể một câu chuyện về Trương Văn Tú người Dương Châu, mới xảy ra gần đây. Nghe thấy nỗi khổ của Trương Văn Tú, Thời Đại Lai nghĩ: “Khổ như thế chưa thấm vào đâu, như mình đây mới thực là khổ”. Đại Lai mải mê nghĩ, quên cả về, mãi đến khi tan cuộc anh mới cùng mọi người đứng dậy về quán trọ ăn cơm. Tới phòng ngủ định cởi áo đi nghỉ thì thấy bên hông nhẹ bỗng, lấy tay sờ thì gói bạc biến đâu mất. Anh nghĩ: "Hay là mình để trong gói quần áo, không mang theo người". Mở gói ra xem, tìm đi tìm lại mấy lần, song nào có thấy. Anh xem lại túi thì thấy một đường dao rạch, anh dậm chân nói: "Thôi chết rồi. Đúng là lúc mình mải nghe đã bị kẻ cắp rạch túi lấy đi rồi".
Suốt đêm anh trằn trọc, đập giường lật gối, trăn trở mãi không sao ngủ được. Anh nghĩ: "Phong Nhiễm Tử đã dặn ta phải hết súc thận trọng, thế mà không nghe lời anh. Vừa mới lên bờ đã gặp rủi ro, may mà hai hôm trước đi thuyền, chứ nếu đi bộ thì chưa biết chừng đã hỏng việc từ lâu rồi. Bây giờ đâm đầu vào bức vách rồi, thật là tiến thoái lưỡng nan, đường cùng mà tiền cũng hết, làm thế nào bây giờ. Sáng mai Đại Lai đành bán chiếc khăn bông cho chủ hiệu để trả tiền cơm. Lại còn phải kiếm mấy đồng mà sống chứ. Đây là lúc quẫn bách nhất, không thể buông xuôi. Chẳng còn lòng dạ nào mà đi du ngoạn nữa. Anh tìm đường qua sông, tiền túi không nhiều, anh chỉ mua chiếc bánh bao lót dạ chứ không dám mua cơm. Đến Sơn Đông thì trong túi không còn một xu, bây giờ lại đang là mùa đông, rét mướt mà trên người chỉ có một chiếc áo dài, ban ngày làm áo, ban đêm làm chăn. Có bài thơ ghi lại tình cảnh này:
Người coi là áo,
Ta coi là chăn.
Ban đêm ta đắp,
Ban ngày ta mặc.
Người coi là áo,
Ta coi là vàng
Xin khuyên người đời
Đi xa nhớ kỹ.
Đang lúc bí thì làm gì có Lữ Mông Chính(1) cứu vớt. Đã liều thì ba bảy cũng liều. Thời Đại Lai đành liều vào một quán trọ nói:
(1) Lữ Mông Chính: thời Tống, ba lần được cất nhắc làm tể tướng.
- Năm hết tết đến tôi xin ở nhờ ông mấy hôm, ra Giêng tôi sẽ đi.
Người chủ cửa hàng nói:
- Xin tùy ông, chỉ có điều năm cùng tháng tận, muốn xin ông trước ít tiền để mua củi gạo.
Thời Đại Lai nói:
- Quả là tôi chẳng còn một xu nào, xin ông cứ cho tôi ở mấy hôm rồi sang giêng sẽ tìm cách trả ông:
- Tôi thấy ông, - chủ cửa hàng nói, - như một người có học, thế ông có viết chữ được không?
- Ông nói thế là thế nào? - Thời Đại Lai nói.
- Ông vừa nói là ông không có tiền. Ở vùng tôi rất ít người biết viết câu đối, nếu ông viết được thì cứ viết ào đi, một ngày cũng gỡ được tiền cơm.
- Ông nói đúng. - Thời Đại Lai nói.
Thế rồi anh mượn chủ nhà chiếc bút, đề mấy chữ. "Viết câu đối thuê".
Chỉ trong chốc lát đã thấy có người mang đến nhờ anh viết. Hôm ấy anh cũng kiếm được bốn năm trăm bạc. Hôm sau người tới nhờ anh viết càng đông. Người miền Bắc quả là rất thật thà thấy anh là người có học đã mang giấy đến nhờ anh viết các bức trướng. Anh cũng mạnh dạn viết, chẳng kể nhiều hay ít, cứ thấy mang đến là viết. Những người nhờ anh viết cứ tấm tắc khen:
- Anh học trò miền Nam viết tuyệt đẹp.
Đến giáp tết, hai sáu hai bảy cửa hàng đông nghịt, viết không kịp anh phải mang cơm ra ăn ngay tại bàn. Những ngày . ấy cũng kiếm được chừng mười mấy quan tiền, nên rất vui.
Đúng là:
Rồng bay phượng múa vung ngọn bút
Tiền của tuôn trào tự đó ra.
Phủ Đông Xương có một ông quan nghỉ hưu, họ Viên. ông vốn nhậm chức Thái thường tự khanh, vì dâng sớ kể tội Vương Trấn nên bị treo mũ từ quan. Vua xuống chiếu gia ân cho ông một chức quan danh nghĩa. Song ông là người lập ngôn, khi trở về ông khác hẳn với những viên quan xấu khác, tiếng tăm ông lừng lẫy, trong kinh ngoài nội ai ai cũng kính trọng. Ông nghe nói có một anh ngươi Nam viết chữ đẹp, nhân tiện ông dẫn con trai đi dạo và xem người ấy viết chữ. Con ông tên là Viên Kiệt, tuy chưa vào trường phủ học, song trong đám học trò cậu ta là người thông minh nhất. Hai cha con tới cửa hàng ăn, thấy câu đối treo la liệt, ông cầm lấy một tờ xem, nói:
- Chữ viết chưa thật điêu luyện, song cũng đẹp.
Lát sau ngài Viên cũng chen vào cửa hàng, nói với Thời Đại Lai:
- Xin chào anh.
- Xin chào ngài. - Chủ hàng nói. - Sao quý ngài cũng hạ cố tới tệ xá này.
Thời Đại Lai nghĩ đây chắc là ông lớn nên vội vàng sửa sang lại quần áo, đứng dậy vái chào. Ngài Viên nói:
- Viết đẹp mà có cảm hứng.
- Con là người lưu lạc, - Thời Đại Lai nói, - dựa vào việc này để kiếm ăn chứ có biết viết gì đâu ạ.
Thấy nói năng nhã nhặn, ngài Viên hỏi:
- Anh cũng từng đi học rồi chứ?
- Thưa ngài con cũng học được chút ít.
Ngài Viên hỏi anh mấy bài cổ văn và mấy danh sĩ thời Ngô, Thời Đại Lai vừa viết vừa trả lời rất lưu loát. Ngài Viên hỏi họ tên, nghĩ bụng: "Người này không phải đến đây bán chữ” rồi nói:
- Thời tướng công có hành lý gì không? - Ngài Viên hỏi.
Chủ cửa hàng nói:
- Hành lý của khách đều cả trên người.
- Không có hành lý, - ngài Viên hỏi, - thì tới ngay nhà tôi đi.
Thời Đại Lai ngần ngại một lát rồi đi theo ngài Viên.
Đúng là:
Buôn bán thương cỏ yếu.
Nhàn nhã tiếc hoa rơi.
Bên đường vui câu chuyện,
Mới biết ông Mạnh Thường.
Thời Đại Lai tới nhà ngài Viên mới biết đây là một ông quan danh tiếng. Ngài Viên thết đãi cơm rượu rồi hỏi:
- Lưu lạc như thế, văn chương chữ nghĩa vẫn còn nhớ chứ.
- Con nhà nghèo, lại không được lên học quán, phiêu bạt đã nhiều năm song chữ nghĩa vẫn còn nhớ. Xin ngài dạy bảo.
Tối ấy anh nghỉ tại thư phòng. Sáng hôm sau ngài Viên thuận miệng đọc hai đề văn, bảo con và Thời Đại Lai làm. Đến trưa cả hai đều làm xong, trình lên ngài Viên. Nhìn chữ nghĩa, văn vẻ của Thời Đại Lai, ngài Viên khen:
- Không những chữ nghĩa không quên mà nội dung và nghệ thuật đều nổi bật, âm hưởng hòa quyện nhau, có tài giật bảng vàng. Anh xuất chúng như thế có muốn tôi tiến cử vào trường học trong vùng này không?
Thời Đại Lai không dám bộc lộ rõ ý tứ của mình, anh nói:
- Nửa đời lưu lạc, thời gian trôi đi một cách phí hoài, quả thực con vẫn chưa đỗ tú tài.
- Sang năm là năm thi, quan chủ khảo mở kỳ thi, anh hãy chịu khó lưu lại đây, cùng thằng nhỏ nhà tôi đèn sách, nhận quê quán ở đây anh mới là người miền Bắc, nhất định anh sẽ đỗ.
Là người lang thang phiêu dạt tới đây, Thời Đại Lai sao mà chẳng nghe theo. Ngài Viên dành riêng một phòng học cho hai người đọc sách. Từ khi bỏ học, nay được làm bạn với đèn sách. Thời Đại Lai suốt ngày miệt mài học tập. Gặp được người tri kỷ, sách vở lại nhiều, anh vùi đầu vào việc học hành. Ăn tết xong, thoáng cái đã sang tháng Ba. Ngài Viên nói:
- Quan chủ khảo đã tới bản phủ yết bảng mở kỳ thi, anh Thời thích đến xem trường thi không?
Thời Đại Lai nói:
- Anh nhà ta văn bài tiến bộ đã khá nhanh, tất sẽ đỗ cao, còn con nếu ngài thương thì cũng được đi theo anh nhà.
Ngài Viện bèn bảo anh đổi họ tên, anh muốn giữ lại tên vốn có và đặt là Viên Thời. Hai lần thi huyện và phủ Viên Thời đều đỗ đầu Viên Kiệt cũng có tên trong bảng phụ. Đến khi thi vào trường phủ thì Viên Thời đỗ thứ nhất. Viên Kiệt đỗ thứ ba. Họ báo tin về cho ngài Viên, ông vô cùng mừng rỡ.
Đúng là:
Tuy rằng đã đổi thay dạ lốt,
Xem ra vẫn giữ được nếp nhà.
0
Chương 21e [/align]

Ngày hôm sau họ khăn áo chỉnh tề tới tạ ơn quan chủ khảo. Thấy quan chủ khảo gọi quan tuần bộ. Tuần bộ vào gặp, quan chủ khảo nói:
- Ngươi hãy đi theo hỏi người đỗ đầu ở đâu.
Tuần bổ đuổi theo, hỏi:
- Ngài chủ khảo hỏi người đỗ đầu ở đâu?
Viên Kiệt trả lời thay:
- Ở tại dinh ngài Viên.
Tuần bổ về thưa với quan chủ khảo. Quan nói:
- Ngươi hãy tới nói với ngài Viên Rằng, quan chủ khảo rất thích bài văn của người đỗ đầu. Trong nha môn có công tử còn nhỏ, muốn mời tới dạy. Phải lập tức tới đó ngay, nếu trái lệnh sẽ phạt nặng.
Tuần bổ dạ ran:
- Vâng ạ
Hai anh em họ Viên ra khỏi nha môn về nhà chào ngài Viên. Ngài Viên cho dọn rượu chúc mừng. Đang dọn tiệc thì người coi cửa vào bẩm.
- Ngài học đạo sai tuần bổ tới, nói là phải mời Viên tướng công, người đỗ đầu bảng vào nha môn để dạy công tử.
- Quả có thế chăng? - Ngài Viên nói.
- Thưa ngài, vâng ạ. Tuần bổ vẫn đang đứng đợi bên ngoài.
Ngài Viên vô cùng mừng rỡ nói:
- Hãy mời ông ấy vào đây, uống một chén cho vui. Viên học đạo này tuy không tài năng lắm song có con mắt của một người đỗ đạt. Ông ấy đã lấy anh đỗ đầu, lại mời đến dạy học, quả là biết người biết của. Hãy uống đi mấy chén lấy may.
Lát sau tuần bổ giục, ngài Viên đành phải để cho anh đi. Viên Thời theo tuần bổ về phủ.
Đúng là:
Dê lợn dã vào nhà đồ tể
Lại còn ve vẩy vẫy đuôi mừng.
Các bạn có biết vị đề học này là ai mà lại để ý tới Thời Đại Lai không? Ông ta là tri phủ Nhậm. Vơ vét đã nhiều bạc ở Triều Châu, ông ta lại đút lót để lên chức học đạo. Đầu tiên ông cũng công tâm chấm bài và lấy Thời Đại Lai đỗ đầu. Khi đến tạ ơn, thấy anh bước từng bước lên thềm, ông ta nghĩ: "Đây là tên cướp Thời Đại Lai, đã phá ngục chạy trốn nay lại đỗ tú tài ở đây. Tên này quả là thần thông biến hóa". Nhìn đi nhìn lại thì đúng là Thời Đại Lai không còn nghi ngờ gì nữa. Ông ta lại nghĩ: "Mà cũng lạ thật, sao lại họ Viên, lẽ nào người họ Viên này lại giống hắn như đúc thế?”
Lúc ấy Thời Đại Lai thấy ông ta cứ nhìn mình chằm chằm dù có bỏ về cũng không được. Nhậm đề học nghĩ ra cách mời dạy học để trực tiếp hỏi thẳng anh ta xem sao. Nếu không phải thì thôi, nhưng nếu đúng là kẻ cướp thì giết chết hắn có khó gì. Thời Đại Lai làm sao mà biết được sự nguy ngập như thế, anh tất tả nghênh ngang đi theo tuần bổ với vẻ dương dương tự đắc.
Tới nha môn truyền lệnh cho vào. Quan học đạo ngồi ở trên, nha lệ mở cửa mời Thời Đại Lai vào. Vừa bước gần tới quan học đạo thì nghe trống gióng báo hết giờ làm việc. Đề học chắp tay dẫn Thời Đại Lai vào phòng bên, rồi mời Đại Lai ngồi. Đề học nói:
- Bài hôm trước anh làm rất hay, cũng không phụ công tôi chấm, xin hỏi Viên thái thường với anh là người thế nào?
- Ông là bác tôi.
- Nghe tiếng anh nói thì không phải tiếng miền Bắc. - Đề học nói.
Xem ra không thể giấu được. Thời Đại Lai đành nói:
- Tôi quê ở Sơn Đông, vốn lâu nay du học ở Giang Tây.
Nhậm đề học đã biết chắc đây là Thời Đại Lai, liền hỏi:
- Tôi trông anh rất quen, hình như đã gặp ở đâu rồi.
Thời Đại Lai ngẩng lên nhìn, thì biết đó là tri phụ Nhậm. Anh chợt thấy lo lắng, nói mập mờ rằng:
- Hình như tôi cũng gặp ngài ở đâu rồi.
Đề học chắp tay chào rồi trở về nha môn. Thời Đại Lai hồn xiêu phách lạc, nghĩ: "Đúng là Nhậm tri phủ, không còn nghi ngờ gì nữa, trách nào ông ta cứ nhìn mình chằm chằm, lại còn mời mình tới đây. Hóa ra ta lại chết trong tay Diêm vương rồi. Ta đến đây chỉ mong dựa vào nơi này để mở mày mở mặt, ai ngờ, đâu đâu cũng đi vào chỗ chết, thôi thế là xong đời ta sẽ chết ở đây thôi. Nếu nói đến chết thì mấy lần ta đã suýt chết rồi, ta đã sống thêm một năm, nay thì biết chạy đâu cho thoát. Thôi thì chỉ cầu mong ở ông ta thôi". Thoáng cái trời đã tối, Thời Đại Lai trong lòng ngổn ngang trăm mối, làm sao mà ngủ được. Anh nghe thấy tiếng trống cầm canh. Trống điểm canh một, khoảng canh hai thì nghe có tiếng người truyền lệnh cho người gác nha môn đưa chìa khóa mở cửa. Người gác vâng theo, đưa chìa khóa cho một người, người đó cầm đèn lồng bước vào. Đầu người ấy chít khăn, mặc áo dài rộng tay, búi tóc đen nhánh thoang thoảng hương thơm, hai má ửng hồng, dáng đi khoan thai yểu điệu thướt tha như cành liễu mùa xuân, hàm răng trắng bóng, tiếng nói thánh thót như oanh vàng, trong không giống như người phủ Long Dương luôn luôn theo hầu sau kiện. Người gác nha môn nói:
- Thưa ngài đi đâu ạ?
- Viên tướng công được mời tới nha môn hiện ở đâu? - Người ấy hỏi.
- Ở phòng bên. – Người gác nha môn nói.
- Thôi ngươi đi đi, - người ấy nói, - không cần theo ta nữa.
Người gác nha môn vâng lời bỏ di. Người ấy gõ cửa. Thời Đại Lai nghĩ: "Vào giờ này gọi người làm gì? Thật là quái lạ". Thời Đại Lai run cầm cập mở cửa, thấy một người đẹp trai, anh vội vàng vái chào, nói:
- Ngài đến đây có việc gì ạ. Ngài có việc gì cần sai bảo?
Người ấy ngồi xuống, cúi đầu tỏ vẻ ngượng ngùng, im lặng một lúc lâu không lên tiếng. Thời Đại Lai nói:
- Đêm đã khuya, ngài chưa ngủ sao?
Người ấy mặt đỏ bừng, nói:
- Anh là Thời Đại Lai người Giang Tây, sao lại đổi thành họ Viên?
Nghe thấy thế Thời Đại Lai như sét đánh ngang tai, trốn cũng không kịp nữa, hoảng hốt nói:
- Tôi người Son Đông, vốn là người lương thiện, có biết Thời Đại Lai là ai đâu.
- Đừng giấu tôi, - người ấy nói, - tai họa đã đến rồi mà anh còn nói dối. Anh cứ nói thực với tôi đi.
Thời Đại Lai nói:
- Ông hãy nói đi.
Người ấy bỏ mũ ra, nói:
- Tôi chẳng phải là ông nào cả, tôi là tiểu thư trong nha môn.
Thấy nói là tiểu thư, Thời Đại Lai ngẩn người ra, vội đứng tay nói:
- Xin cho phép hỏi, tiểu thư tới đây làm gì?
- Chẳng giấu gì anh, - tiểu thư nói, - từ khi gặp cướp ở Mai Lĩnh, thiếp bị bắt, nhờ ơn vị hảo hán tôi được trả về. Vị hảo hán ấy nói tiên sinh là một chính nhân quân tử. Khi thiếp được thả ra khỏi doanh trại, cha thiếp cứ nghi ngờ, không có lý gì ngọc trở về Triệu mà không tỳ vết. Tuy không nói ra nhưng ông đối đãi với thiếp rất lạnh nhạt. Thiếp là đàn bà con gái, là một viên ngọc không có vết nhưng đâu dám hé răng. Những điều tai tiếng không đâu ấy khiến thiếp phải quá lứa lỡ thì, cha thiếp cũng không muốn tìm người cho thiếp. Xin hỏi, tiên sinh đã là người đúng đắn sao lại giao du với bọn người ấy.
Thời Đại Lai lúc ấy mới thuật lại chuyện bỏ dở học hành, đến việc cướp tù cho tiểu thư nghe. Tiểu thư nói:
- Thiếp cũng biết tiên sinh không phải là người gây nên, tôi muốn thanh minh cho tiên sinh, song là gái, không duyên cớ gì nói được, đành phải nhẫn nhục. Bất ngờ tối nay cha thiếp về nha môn nói: "Tên cướp Thời Đại Lai đang ở đây, trước kia hắn phá ngục chạy trốn, sau đó lại mua chuộc án viện, nay lại mạo danh quê quán ở đây để đi thi. Tên cướp quả là có phép thần thông biến hóa, ta đã lừa tới, mai sẽ tìm cách ghép hắn vào tội chết để trừ họa sau này". Tuy lúc ấy nghe thấy, nhưng thiếp không sao cứu được. Chỉ có chờ tới khi cha thiếp ngủ say, mới cải trang tới đây cứu tiên sinh. Thiếp có hai mươi lạng bạc, tiên sinh hãy cầm lấy, rồi đi thật xa, càng nhanh càng tốt. Nếu thiếp giấu được tiên sinh thì sau này sẽ nguyện cắt tóc đi tu, còn chuyện vỡ lở thì thiếp cũng coi là người bỏ đi, sẽ lập tức tự vẫn, từ bỏ cuộc đời này mà thôi. Tiên sinh hãy mau mau theo ta, sợ rằng cha thiếp tỉnh giấc.
Lúc ấy Thời Đại Lai có muốn nói nhiều cũng không được, anh chỉ nói:
- Cám ơn tiểu thư đã thương tình, một ngày nào đó sẽ trả ơn kết cỏ ngậm vành .
Tiểu thu đội mũ lên như cũ, nói:
- Tuần bổ hãy mở cửa ra, ông lớn nói phải tiễn tướng công về.
Mọi người vâng theo, mở cửa cho ta ra. Tiểu thư bảo:
- Đóng cửa lại.
- Thấy cửa đã đóng, tiểu thư mới mang đèn lồng về phòng riêng.
Sáng hôm sau Nhậm đề học mang hai tờ văn thư tới công đường, gọi tuần bổ nói:
- Bức văn thư này gởi cho Hình sở phủ Đông Xương, còn bức văn thư này thì gửi cho quan Học giáo phủ Đông Xương.
Sau đó ông ta gọi nha lệ lấy một chiếc xích to, nói:
- Mở cửa này, khóa tay Viên sinh viên lại rồi áp giải về phủ Đông Xương ký giam, sau đó sẽ xử trí.
Bọn sai nha hùng hổ đạp tung cửa, không thấy người, quay lại bẩm:
- Thưa ngài, con đi bắt nhưng không thấy người.
- Làm gì có chuyện đó?
Ông ta bèn sai đứa ở trực tiếp hầu hạ mình cùng đi xem.
Họ lại trở về bẩm:
- Thưa ngài, quả đúng như thế.
- Nói bậy, - đề học nói, - ta sẽ đích thân tới xem.
Mọi người đi theo ông ta, nhìn khắp phòng quả đúng là không có người. Ông ta ra lệnh mọi người phải tìm khắp nơi. Mọi người theo lệnh, tìm mọi ngóc ngách như xua mèo đuổi chó, ầm ĩ cả lên, hết chỗ này lại tìm chỗ khác, nhưng nào có thấy. Họ trở lại bẩm:
- Thưa ngài đã tìm hết mọi nơi, đều không thấy tung tích đâu cả.
- Cổng kín tường cao như thế lẽ nào nó bay qua?
Đề học không thấy người trong nha môn, nhưng lại không muốn chuyện ấy loang ra, đành nói:
- Thôi không tìm nữa.
Bọn sai nha lúc ấy mới thôi. Ông ta càng nghĩ càng tức, gọi tuần bổ tới, nói:
- Ngươi đến nhà ngài Viên nói rằng, Viên tướng công ta mời tới dạy học không ngờ đêm qua đã lấy trộm của cải trong nha môn rồi tẩu thoát, nếu nó ở nhà ông thì ông phải lôi ra để chúng tôi giải về. Nếu không ở nhà thì bắt ông ta cùng đi tìm. Đây là việc phải dâng sớ tâu lên triều đình chứ không phải chuyện nhỏ.
Đúng là:
Cáo đã chạy mất rồi
Phải truy tìm thỏ giảo
Hai bên quyết sống mái,
Họa phúc biết về ai.
Tuần bổ vâng lệnh tới nhà họ Viên nói hết sự việc đã xảy ra. Nào ngờ ngài Viên là người cứng rắn, thấy thế đùng đùng nổi giận, nói:
- Nói láo. Hôm qua rõ ràng có một người đến đây mời đi, không biết vì sao đã mưu hại anh ấy, lại còn đến ta hỏi người. Anh nói với ông ấy, quan họ Viên này không sợ đâu, ta phải hỏi tội ông ta.
Tuần bổ không dám giấu, đành phải thưa thật với đề học. Nhậm đề học hiểu rằng ngài Viên không phải là người dễ chơi, ta không làm thì ông ta cũng làm cho ra nhẽ. Nay thì không thể nói được nữa, đành phải làm một tờ yết thị. Trong tờ yết thị viết như sau:
“Quan họ Viên bị phế chức về nhà nghỉ, dựa vào thế lực, tác oai tác quái, làm rối loạn phép tắt trường học, khống chế triều chính. Thời Đại Lai là tên tướng cướp ở Giang Nam, phá ngục ở Việt Đông, hồ sơ vẫn còn. Hắn lại bị bắt ở Nam Xương rồi lại trốn thoát. Ngài Viên đã nhận hắn làm người trong họ, dùng hắn làm nanh vuốt. Ông đã nhận kẻ cướp làm con, rõ ràng là chứa chấp kẻ cướp, nếu không cấp bách trừ khử thì dần dần sẽ làm tổn hại đến sắc lệnh nhà vua".
Ngài Viên cũng không sợ đối đầu, cũng ra một bản yết thị, đại khái như sau:
"Đề đốc học chính là một chức hết sức tôn nghiêm. Việc tuyển chọn nhân tài phải cực kỳ thanh liêm và thận trọng. Nhậm đề học là người đê tiện bất tai hủ lậu, khiến người đời chê trách, giết học trò ngay trên giường chiếu, thật là xảo quyệt. Dùng những kẻ xấu xa hung ác làm tay chân, hãm hại tài năng. Tội ông ta là làm ô nhục lời răn dạy của triều đình đối với quan lại. Hằng ngày thường dùng hình phạt đối với mọi người. Học trò của phủ phải nộp bao nhiêu bạc để được vào trường, người nào là người trung gian nhận tiền. Sinh viên nào phải nộp bao nhiêu tiền thì được trợ cấp học bổng và được vào trường học. Ông ta lợi dụng mũ áo triều đình để vơ vét những tiền của hôi tanh. Triều đình phải trừng phạt ngay để răn đe kẻ khác".
Sau khi yết thị, cả hai đầu dâng sớ tâu lên triều đình. Chỉ trong mấy ngày, chiếu chỉ nhà vua gửi xuống, viết:
"Nhậm đề học tham lam vô đáy, chứng cớ rõ ràng, các bộ phải hạch tội nghiêm túc, rồi tấu lên cho trẫm biết. Viên mỗ trẫm đã hiểu rõ được bản chất của ông, không cần phải trình bày kỹ. ông vốn là người có tiếng trong triều. Còn Viên Thời thì sức cho các quan địa phương truy nã xét xử và tấu lên cho trẫm biết".
Đúng là:
Hại người là hại mình,
Tha người là tha mình.
Lòng quan mỏng như giấy,
Phép vua dày như sương.
Nhậm đề học bị một đòn nặng, cụt hứng, khuân tất tiền bạc tới Bộ đút lót mới được bãi chức làm thường dân, thu dọn về quê.
Sau khi được tiểu thư giải thoát, Thời Đại Lai vội vàng đến một ngôi miếu hoang ẩn náu. Sáng hôm sau ra khỏi cửa thành đi thẳng tới Bắc Kinh. Trong người đã có tiền, Đại Lai bèn thuê xe ngựa lên đường. Không đầy nửa tháng đã tới ngoại thành Bắc Kinh, Đại Lai thuê một gian phòng ở rồi vào thành nghe ngóng, tìm chỗ dung thân. Một hôm ngẫu nhiên đọc Kỳ báo biết được ngài Viên và Nhậm đề học vạch tội nhau tấu lên triều đình, phụng chiếu chỉ nhà vua, Nhậm đề học bị nghiêm trị anh như mở cờ trong bụng.
Chủ nhà của Thời Đại Lai là Cao Lâm, tự là Tiến Chi, thuộc dòng dõi chỉ huy Bắc Kinh. Anh ông chết trong vụ biến Thổ Mộc, lẽ ra Tiến Chi được thế tập, song bộ Binh đâu có dễ dàng cho ông tập chức, đòi phải đút lót mấy trăm, mấy ngàn mới chịu tấu danh sách lên triều đình. Cao Tiến Chi cũng là một người cứng đầu, ông nghĩ: "Mình làm gì có ngần ấy tiền đút lót cho họ. Mà dù có tập chức thì sau này cũng không có tiền leo lên chức chưởng sự, cái hố đựng tiền sâu hun hút ấy lấp bao giờ cho đầy. Ta có tài thì tự mình cũng tìm được công danh, làm rạng rỡ tổ tông. Bởi thế ông tự sống thanh thản tại gia đình. Trong võ giới có một người như thế cũng coi là một người trong sạch và cao thượng, Thời Đại Lai ở nhà ông, rất tâm đầu ý hợp. Họ rất kính trọng như, không sao nói hết được.
Đúng là:
Đười ươi thương đười ươi
Hảo hán thân hảo hán.
Sóng gió nổi trước mặt,
Lòng băng, lạnh than hồng.
Một hôm Thời Đại Lai ở thành về, nghe thấy tiếng khóc của người trong nhà. Can Tiến chi mắt cũng đỏ hoẻn. Thấy thế Thời Đại Lai hỏi:
- Hôm nay nhà anh có chuyện gì không vui thế?
- Chẳng giấu gì anh, - Cao Tiến Chi nói, - tính tôi ngang ngạnh, không thiết công danh, lại không có việc gì sinh sống nên gia đình nghèo túng. Không gặp thời nên hình như ngay cả ngồi nhà này cũng không giữ mà ở được. Nay ta định bán đứa con gái nhỏ cho một người lấy ít lễ vật chi đùng, chứ bán nhà thì đi đâu, bởi thế cứ nhìn nhau khóc.
- Hóa ra là như thế, - Thời Đại Lai nói, - hãy giữ cháu lại, tôi còn mấy lạng bạc anh lấy dùng tạm, rồi sẽ tính sau.
- Cao Tiến Chi là một người có hoài bão, không chối từ mà nhận ngay đưa cho vợ. Cô gái họ Cáo vô cùng cảm động. Từ đó Cao Tiến Chi với anh thân thiết như ruột thịt.
Một hôm Cao Tiến Chi nói:
- Thời tướng công tài giỏi như thế sao không đi thi?
- Chẳng khác nào anh hùng nhưng không có đất dụng võ.
- Năm nay đến kỳ thi, chủ khảo mở khoa thi, có tài sẽ đỗ luôn cả hai kỳ. Nếu anh thích thì nhận quê quán của tôi, thi vào học quán.
- Thế thì hay quá. - Thời Đại Lai nói.
Hôm sau thấy quan đề học yết thị thu nạp nhân tài. Thời Đại Lai đổi họ tên là Cao Thăng. Thi xong, yết bảng anh đổ đầu. Vợ chồng Cao Tiến Chi vô cùng mừng rỡ, quan tâm chăm sóc Thời Đại Lai. Thi xong tam trường, yết bảng Thời Đại Lai đỗ thứ ba. Ăn tết xong, thoáng cái đã đến kỳ thi Hội. Đại Lai lại đỗ khôi nguyên. Thi Điện đỗ tiến sĩ nhị giáp. Thời Đại Lai đã trải qua nhiều thử thách, luôn luôn tâm niệm mình sẽ làm một ông quan tốt chứ không chạy chọt mưu cầu danh lợi như một số người, chỉ tuân theo sự tuyển dụng công bằng. Thời Đại Lai được bổ dụng làm hình bộ chủ sự. Tuy ở bộ Hình nhạt nhẽo lãnh đạm song anh không tính toán. Anh chuẩn bị ít tiền nhờ Cao Tiến Chi đón gia quyến tới nhiệm sở. Tiến Chi cảm động không dám từ chối lên đường đi ngay. Không đầy hai tháng đã đón phu nhân Vạn thị về nha môn.
Đúng là:
Vợ chồng bè bạn ân nghĩa nặng,
Cả nhà vui vẻ đáng ngàn vàng.
Một hôm đang làm việc tại công đường, cấp trên gửi xuống một tờ văn thư. Thời Đại Lai mở ra xem thì thấy trong đó phê:
Vụ án Hoàng Hiệp là một vụ án rất nghiêm trọng, hẹn trong một ngày phải xét xử nghiêm minh, rồi tấu báo lên triều đình. Không được chậm trễ.
Thấy sự việc rất khẩn cấp, Thời Đại Lai lập tức đưa ra xét xử cho giải phạm nhân quỳ trước thềm. Thời Đại Lai nhìn kỹ phạm nhân thì giật mình nghĩ: "Người này rất giống Phong
Nhiễm Tử, song tại sao gọi là Hoàng Hiệp?" Nhìn kỹ một lần nữa thì thấy khuôn mặt tuy gầy và đen song bộ râu vẫn như xưa. Đúng là Phong Nhiễm Tử rồi, không còn nghi ngờ gì nữa. Nhưng lại mắc trọng tội, vậy thì xử thế nào đây. Ta hãy thử hỏi xem rồi hãy bàn cách. Thời Đại Lai xem bản án, gọi Hoàng Hiệp tới, nói:
- Tại sao ngươi dám cả gan cướp lương của quan vận chuyển tại Thiên Tân lại còn giết mấy kỳ giáp? Đến nay ngươi còn bao che cho bọn đồng đảng, không chịu cung khai nhận tội?
- Việc ăn cướp ở vệ Thiên Tân có liên quan gì đến phạm nhân, kẻ ấy chính là bọn Phi thiên dạ xoa Đỗ Tiểu Nhị mà phiên mổ nhận lầm, tưởng gà hóa quốc, cho phạm nhân là hắn. Con đã từng nhiều lần bẩm với quan song đây là việc hệ trọng ai dám nhận sai lầm, cho nên phạm nhân chịu oan, không thấy được mặt trời.
- Vậy thì Phi thiên dạ xoa Đỗ Tiểu Nhị ở đâu? Điều ngươi nói có đúng không? - Thời Đại Lai hỏi.
- Sao lại không đúng thưa ngài, - Hoàng Hiệp nói, - hắn là người Sơn Đông. Nếu quả là phạm nhân thì tại sao nhiều lần tra tấn cực hình phạm nhân không khai ra đồng đảng mà lại chịu chết một mình?
Thời Đại Lai cố ý hỏi dò:
- Ở vệ Thiên Tân không phải là ngươi, nhưng kẻ cướp tài sản của tri phủ Nhậm ở Mai Lĩnh có phải là người không? Nay ông ta đang cáo giác ngươi.
Hoàng Hiệp à lên một tiếng nói:
- Việc ở Mai Lĩnh là có thật, phạm nhân xin nhận. Song vụ này không thể so với vụ ăn cướp lương thực, giết người ở Thiên Tân được.
Cao Tiến Chi nghe thấy thế rất tán thành.
Đúng là:
Sẻ, chuột tranh thóc gạo,
Anh hùng cùng tử sinh.
Tới nay trên Thanh Đảo.
Rót rượu viếng Điền Hoành(1)
(1) Điền Hoành: một nhân vật thời Chiến Quốc, là tướng quốc của Tề vương, Hàn Tín diệt Tề, Hoành tự xưng là Tề vương, mang 500 người chạy trốn ra hải đảo. Lưu Bang xưng để dụ hàng, Hoành về Lạc Dương, giữa đường thấy xấu hổ rồi tự sát.
0
Chương 21f [/align]

Thời Đại Lai viết một bản văn thư gửi lên cấp trên, đại ý như sau:
Thẩm xét vụ án Thiên Tân, quả thực là Đỗ Tiểu Nhị Sơn Đông. Hoàng Hiệp người miền Bắc xa xôi không có liên quan đến vụ án. Việc nhận gà hóa cuốc như thế thì đất nước sao mà tồn tại được? Giết người để xiểm nịnh người, bọn quan lại xấu xa ấy phải phế bổ. Cúi xin hoàng thượng ra lệnh cho phiên bổ truy tìm thủ phạm. Hoàng Hiệp vô tội, nên cho được bảo lãnh thả ra.
Thượng thư bộ Hình thấy Thời Đại Lai là một tiến sĩ tân khoa dám chịu trách nhiệm. Hằng ngày lại rất thanh liêm, hơn nữa lời nói nghiêm túc hợp lý hợp tình, hoàn toàn không thể bác bỏ. Lập tức phê trả lời:
Ty ấy phải ra sức bắt ngay thủ phạm chính. Đây là vụ án quan trọng phải nhanh chóng kết thúc, không được chậm trễ. Hoàng Hiệp quả là vô tội, ty phải xem xét kỹ cho được bảo lãnh.
Thời Đại Lai vô cùng mừng rỡ, ngay lập tức đưa Hoàng Hiệp ra nói:
- Bản ty thấy ngươi oan uổng nên ra sức trình bày giải thích với cấp trên, ngươi có biết không?
Hoàng Hiệp nói:
- Sống chết tuy là dân đen, song sự oan uổng lại can hệ đến phép nước, phạm nhân cũng biết được điều đó.
Thời Đại Lai cho gọi ngay một người gác ngục, bắt anh ta bảo lãnh. Người gác ngục nói:
- Đây là tên trọng phạm, một mình con khó mà đảm đương hai việc. Quả thực con không dám.
Thời Đại Lai quát lên.
- Còn có ta ở đây, ngươi sợ cái gì? Hãy mau mau đưa ông ấy bảo lãnh.
Bất đắc dĩ người gác ngục phải đưa Hoàng Hiệp về. Thời Đại Lai dặn thêm:
- Người này mà trốn mất thì có liên quan đến bản thân anh đấy.
Người gác ngục cứ luôn mồm kêu khổ, đành phải đưa Hoàng Hiệp về nhà mà lòng không vui. Hoàng Hiệp nói:
- Tôi hiểu ý anh rồi, Hoàng Hiệp này là một người đầu đội trời chân đạp đất lẽ nào lại bỏ trốn để làm liên lụy đến anh. Hơn nữa tôi đã đợi ơn ngài Cao thì liên lụy đến anh là liên lụy đến ngài Cao. Thôi anh hãy giúp tôi đi mua ít rượu và thức nhắm mang về đây tôi với anh uống một bữa thoả thuê. Từ nay trở đi chúng ta là bạn với nhau có được không?
Hoàng Hiệp lấy ra một thỏi bạc, mà cũng chẳng thèm cân là bao nhiêu đưa cho người gác ngục, người gác ngục mới an tâm ra đi. Anh mua về một hũ rượu, một mâm bánh màn thầu và bánh cuốn, một đùi cừu, một thủ lợn, một con ngỗng béo. Hoàng Hiệp bảo anh làm thức nhắm cùng nhau uống rượu. Loáng một cái mâm rượu được dọn ra, hai người đóng cửa lên nhà, sắp sửa uống rượu thì chợt nghe có tiếng gọi cửa. Người coi tù hoảng hốt hỏi:
- Ai đấy?
- Tôi là người do ngài Cao ở bộ Hình sai tới, đòi Hoàng Hiệp, người mới được tha khỏi nhà giam. Ngài còn dặn là phải trả lời ngay. - Ngươi đứng ngoài nói.
- Tôi đã biết trước là việc này không được rồi, - người gác ngục nói, - bây giờ lại đến gọi anh. Nếu không phải ông lớn lật lại bản án thì chiếu chỉ gửi xuống cũng phải chém đầu. Nếu không thì tại sao người ta nói là phải trả lời ngay.
- Thì cứ mở cửa ra sẽ biết. - Hoàng Hiệp nói.
Người gác ngục mở cửa, người ấy bước vào chắp tay nói:
- Ngài Cao có lời mời ông tới.
Đúng là:
Đêm đêm thảng thốt không an giấc
Trời đất bao giờ lặng sóng đây.
Hoàng Hiệp nói:
- Tôi không phải là người sợ chết, hơn nữa chưa hẳn cái chết đã đến với tôi. Chỉ có điều ngồi trong ngục buồn đến chết người đi được. Rượu và thúc nhấm đã bày sẵn, ta hãy uống đi mấy chén rồi cùng đi một thể.
Người ấy thấy mâm rượu đã dọn sẵn nghĩ, đã đến đây thì cũng làm cho họ yên tâm, bèn ngồi xuống ăn uống. Được một lát Hoàng Hiệp bảo lấy bát ra rót rượu rồi uống liền hàng chục bát. Người ấy nói:
- Sắp gặp ông lớn, uống ít thôi. Ông lớn chờ đã lâu, xin mời các ông đi ngay cho.
Ba người cùng đứng dậy, đi tới nha môn. Cổng nha môn mở toang, công đường đèn nến sáng choang. Ngài Cao đang ngồi đợi. Người ấy quỳ xuống bẩm:
- Thưa ngài, Hoàng Hiệp đã tới.
Hoàng Hiệp phủ phục trước thềm, bỗng nghe thấy ngài Cao truyền lệnh đóng cửa. Ngài Cao bước xuống thềm kéo tay Hoàng Hiệp đi vào trong. Hoàng Hiệp nghĩ: "Thật là kỳ quặc, ta phạm tội với triều đình, lẽ nào lại điều ta đến nhà riêng xử tội", Đi quanh co mãi tới một thư phòng ở chính giữa, đèn nến sáng choang, bàn ghế bày ngay ngắn.
Dẫn Hoàng Hiệp vào tới phòng, ngài Cao bỗng nhiên bỏ mũ ra, nói to:
- Anh! Anh có nhận ra Thời Đại Lai không?
Hoàng Hiệp ngẩng đầu nhìn, nhận ta Thời Đại Lai, nói:
- Ôi! Tôi cứ tưởng ngài Cao thanh bạch là người ở đây. Ai ngờ đó lại là hiền huynh.
- Lúc đầu cứ gọi là Phong Nhiễm Tử, mà không hỏi họ tên thực, nào ngờ họ tên lại là một chòm râu, thế thì ai mà đoán ra được.
Hai người vái nhau bốn cái, Thời Đại Lai mời phu nhân ra gặp mặt. Vạn thị vô cùng biết ơn, vui mừng khôn xiết, không sao kìm nổi, phu nhân lại mời cả Cao Tiến Chi cùng ra tiếp đón. Phong Nhiễm Tử hỏi:
- Sau khi chia tay, thế nào mà anh lại tới đây.
Thời Đại Lai kể lại tỉ mỉ cho Phong Nhiễm Tử nghe, và nói:
- Nhậm đề học, ân hận rằng không đánh đổ được người mà ngược lại mình bị đổ, làm một kẻ tiểu nhân một cách oan uổng.
Mọi người cười rộ lên, Phong Nhiễm Tử nói:
- Vị Cao Tiến Chi đây là người thế nào?
Thời Đại Lai kể lại đầu đuôi việc mình kết giao với Cao Tiến Chi. Phong Nhiễm Tử hết sức khâm phục, nói:
- Lúc đầu tôi cứ tưởng thiên hạ là những hạng mặt người dạ thú, ai ngờ người tốt vẫn còn. Ngay như anh Cao người đang ngồi đây là một người thanh cao, em Thời là một người nghĩa hiệp, Viên thái thường là một người chính trực. Tất cả đều là những người hiếm thấy xưa nay. Đáng tiếc là tôi đã lầm lỡ nửa đời người, giờ có sửa lại cũng không được nữa.
Thế rồi Phong Nhiễm Tử dùng chiếc cốc lớn bằng sùng tê giác cùng với Cao Tiến Chi, thả sức say sưa. Họ bàn với nhau về võ nghệ, về những chuyện ở chốn biên cương rất tâm đầu ý hợp. Lúc ấy Phong Nhiễm Tử rất vui. Ba người như anh em ruột thịt, chẳng còn vấn vương gì. Phong Nhiễm Tử vốn là người không chịu sống yên một chỗ, song vì có Cao Tiến Chi, họ rất hợp nhau, nên hằng ngày thường thi đấu đao thương, cung tên, bởi thế họ vui vẻ quên cả ngày tháng.
Đúng là:
Tình cá nước biết bao sâu nặng,
Mười năm về trước, đó ân nhân.
Đời người vẫn có duyên hòa hợp,
Tình nghĩa anh em tựa keo sơn.
Thời Đại Lai luôn luôn là một viên quan thanh liêm, là một người tiếng tăm lừng lẫy Trường An cả triều đình điều muốn để cử Đại Lai vào bộ Lại, song không phải vào bộ Lại một cách dễ dàng, phải có mưu mô thủ đoạn thì mới vào được. Thời Đại Lai không hề quan tâm đến chuyện đó, chỉ nghe theo mệnh trời. Song Thời Đại Lai khó thoát khỏi công luận. Bộ Lại không chịu tiếp nhận Đại Lai mà chuyển sang hộ Binh. Thời Đại Lai vẫn cứ thản nhiên tới nhậm chức tại bộ Binh. Chưa đầy hai tháng thì có tin báo về: bọn Yểm Đáp đã tiến vào cửa ải áp sát đô thành, việc này phải do bộ Binh đảm trách. Song những quan viên dùng tiền đút lót thì đùn đẩy không đi, Thời Đại Lai là người không dùng tiền đút lót cho nên bộ Binh đã đẩy Thời Đại Lai đương đầu. Thời Đại Lai không hề từ chối, đến ngày thao trường, soái lãnh hơn một ngàn binh mã, đưa cả Phong Nhiễm Tử và Cao Tiến Chi đi cùng. Nào ngờ, vừa ra tới nơi thì gặp chúng đang cướp bóc, thấy thế Phong Nhiễm Tử và Cao Tiến Chi, hai người đang tràn đầy nhuệ khí, họ như một con chim ưng thích đấu, hào hùng xông lên chém đầu bốn năm chục tên, bọn Yểm Đáp phải bỏ chạy, họ thu được rất nhiều quân lương. Ngay sau đó họ phóng ngựa về triều đình báo tin chiến thắng. Thời Đại Lai dẫn quân về yết thị tại bộ Binh, thưởng công cho hai người. Nhà vua xuống chiếu giao cho Hoàng Hiệp làm đô ty, Cao Tiến Chi làm thủ bị, trở về nha môn mở tiệc ăn mừng.
Vì lập công ngoài biên ải, cả triều đình cho rằng Thời Đại Lai giỏi việc binh, bèn thăng làm binh bị đạo Trang Lãng. Thời Đại Lai đưa cả hai vị hảo hán này đi theo. Tới nơi cử Hoàng Hiệp làm tham tướng, Cao Tiến Chi giữ chức du kích. Từ đó họ đều binh luyện võ tại biên cương, thỉnh thoảng Yểm Đáp vào cướp bóc đều bị họ đánh bại. Không lâu sau hai người này được trao chức tước, đúng vào Chiết Giang có giặc Oa xâm phạm, bộ Binh lại tiến cử Hoàng Hiệp làm phó tướng đi cứu viện Tam Chiết. Không đầy nửa năm dẹp yên giặc Oa, Hoàng Hiệp được thăng làm tổng binh quan, đi ngựa tới nhiệm sở. Thời Đại Lai được triều đình giao cho trông coi vùng biên giới, thăng chức tuần phủ Diên Tuy. Hai người gặp nhau, hết sức vui mừng hòa hợp.
Đúng là:
Hen ước ban đầu cùng chung sống,
Chẳng còn nỗi khổ buổi thiếu thời.
Lại nói Nhậm đề học bị bãi chức, sống nhàn nhã, song ông ta là người hám của thì làm sao chịu đựng được nỗi cô quạnh. Ông ta đã chuẩn bị một ít bạc vào kinh đút cho chức sự để được trở lại làm quan. Được đút lót nhiều cho nên chức sự ra sức giúp ông ta đúng lúc ấy thì đạo Trang Lãng mà Cao tuần phủ mới nhậm chức thiếu người bèn cho rằng ông ta biết việc binh thăng giữ chức binh bị phó sứ đạo Trang Lãng. Lão Nhậm vô cùng mãn nguyện, lập tức đưa gia quyến tới ngay nhiệm sở bái yết tuần phủ. Được bẩm báo, Thời Đại Lai biết ngay đó là Nhậm tri phủ. Nhậm phó sứ tuổi đã cao, hám danh lợi, chỉ biết vái lạy mọi người và bợ đỡ cấp trên nên Thời Đại Lai cũng chẳng cần để ý đến họ tên lai lịch của lão làm gì. Một hôm trong bữa rượu, Thời Đại Lai hỏi Phong Nhiễm Tử:
- Có một người biết anh, xem anh có biết người ấy không?
- Ai đấy? - Phong Nhiễm Tử hỏi.
- Anh còn nhận ra Nhậm tri phủ không?
- Lâu lắm rồi tôi quên mất rồi.
- Thế chẳng phải anh đã gặp phó sứ Trung Lãng rồi sao?
- Chỉ nói hắn là họ Nhậm chứ ai ngờ lại là tên vô liêm sỉ ấy. Thật đáng tiếc đã không giết hắn ở Mai Lĩnh để hắn còn sống đến bây giờ làm nhơ nhuốc thanh danh những người khoa giáp.
- Loại người bỉ ổi ấy còn đầy rẫy ở Trường An. Hãy dung tha cho đồ vô dụng ấy.
Phong Nhiễm Tử tuy ngoài miệng nghe theo, song trong lòng cứ ấm ức. Một hôm lại nghe tin quân giặc phía tây tiến vào cửa ải. Phong Nhiễm Tử mang binh mã đi đánh đẹp, mãi xông lên Nhiễm Tử quên cả phòng bị phía sau. Cuối cùng bị phục binh xông ra vây hãm. Nghe tin cấp báo, Thời Đại Lai truyền lệnh điều Cao phó tướng đi cứu viện, đồng thời mình cũng tự dẫn binh mã tới ứng cứu. Cao Tiến Chi nghe thấy Phong Nhiễm Tử bị vây liều chết tiến lên. Phong Nhiễm Tử thấy quân tiếp viện tới gào thét xông lên chém giết, lại được quân của tuần phủ ứng cứu, ba cánh quân nhất tề xông tới đông như kiến cỏ, truy đuổi quân giặc tới hai ba trăm dặm mới trở về. Phong Nhiễm Tử đắc thắng trở về bèn nghĩ: "Binh mã của tuần phủ đều tới, lẽ nào phó sứ lại tọa hưởng kỳ thành? Nếu không nhân dịp này kết liễu đời hắn thì sau này khó mà trút được nỗi oán hận". Thế là Phong Nhiễm Tử làm một tờ trình lên bộ Binh, đại lược như sau:
Mở mang một cách quân yếu, bị bốn mặt tiến công, vây khốn hai ngày, song các dũng sĩ liều chết xông lên, may mà không làm nhục uy danh nơi đất người quân thù đã bị tiêu diệt. Song Nhậm phó sứ bất tài vô dụng, giữ trọng trách nhưng nhút nhác sợ chết, hoàn toàn không biết gì về việc binh, chỉ biết ra sức bóp nặn nhân dân, không thực hiện chức trách của một người làm quan. Khi ta xông lên diệt địch bị địch vây hãm, cơ hồ như sắp chết trong tay kẻ thù thì Nhậm phó sứ định mượn tay kẻ thù giết ta. Ta chết là việc nhỏ, song điều quan hệ đến biên cương lại là chuyện lớn...
Bộ Binh tấu lên triều đình. Vua lập tức xuống chiếu như sau:
Nhậm phó sứ thù riêng mà không lo việc biên Cương, phủ sứ phai thẩm xét xử lý nghiêm minh. Hoàng Hiệp lập công đã được ghi nhận, nay ra chiếu chỉ để Bộ biết.
Tuân theo chiếu chỉ, sáng hôm sau Nhậm phó sứ khăn áo chỉnh tề tới nha môn tuần phủ chờ xét xử. Thời Đại Lai ra lệnh đóng cửa rồi chắp tay chào phó sứ kéo đứng dậy mời trà. Nhậm phó sứ nói:
- Phạm quan đáng Trừng phạt, đâu dám mong đại nhân gia ân.
- Ông có nhận ra Thời Đại Lai trước đây không? - Tuần phủ nói.
Nhậm phó sứ lau mắt nhìn kỹ:
- Phạm quan đáng chết từ lâu rồi, chỉ mong ngài rộng lòng cứu giúp.
Nói xong Nhậm phó sứ quỳ xuống lạy. Thời Đại Lai nói:
- Không nói tới chuyện trước đây, chỉ xin hỏi người con gái yêu của ngài đã lấy chồng chưa?
- Không giấu gì ông lớn, - Nhậm phó sứ nói, - khi bị bắt trở về cháu không muốn sống trong đời tục nữa, từ lâu muốn cắt tóc đi tu. Phạm quan không nỡ bỏ mặc, cháu vẫn còn trong nha môn ăn chay niệm Phật, thề sẽ không đi lấy chồng.
- Thế thì tốt quá, - Thời Đại Lai nói, - tôi muốn làm mối cho con gái yêu của ông. Nếu ông bằng lòng thì không những ông được giải thoát mà còn có thể phục lại nguyên chức.
Nghe thấy có thể phục chức, Nhậm phó sứ cũng chẳng hỏi làm mối cho ai, mà bằng lòng ngay.
- Thưa ông lớn, nếu ông lớn nâng đỡ phạm quan thì phạm quan lo liệu một ít của hồi môn để chàng rể mới báo đáp đại nhân.
Nói xong Nhậm phó sứ quỳ xuống lạy. Thời Đại Lai nâng dậy nói:
- Tôi nói nghiêm túc đấy. Tôi làm mối cho vị này, sẽ không làm nhục ông. Nếu ông nói tới của hồi môn, điều ấy sẽ đụng chạm đến tông tích cũ. Không những con rể không nhận mà ngay tôi cũng không dám nói.
- Tôi xin nghe theo ngài. - Nhậm phó sứ nói.
Sau đó Thời Đại Lai lập tức dọn rượu mời Phong Nhiễm Tử tới. Trong lúc uống rượu Thời Đại Lai nói:
- Tôi xin chúc mừng anh.
- Có việc gì mà chúc mừng.
Phong Nhiễm Tử vốn là người trọng nghĩa, rượu đối với anh là không thể thiếu, song về mặc sắc thì anh chẳng hề màng tới, bởi thế tới nay vẫn chưa vợ con. Thời Đại Lai nói:
- Tôi đã làm mối cho anh một người.
- Ai đấy Phong Nhiễm Tử hỏi.
- Con gái Nhậm phó sứ.
- Anh sai rồi. - Phong Nhiễm Tử nói toáng lên. - Lấy loại người ấy để làm nhục tôi à? Sao bây giờ anh lại xử tệ với tôi như thế.
- Hãy nghe tôi nói đã, tiểu thư tên là Trại Nhi, không những đẹp mà còn là người nghĩa hiệp. Sau khi cô bị bắt, mặc dù anh là người đức hạnh không làm nhục cô ta, song là đàn bà con gái cô khó mà tự thanh minh được. Vì sự nghi ngờ ấy làm đời cô dang dở đến nay vẫn chưa đi lấy chồng. Điều ấy chẳng phải là do anh làm cô lỡ dở ư? Thế nhưng cô ở nhà ăn chay tụng niệm kinh Phật mà hoàn toàn không hề oán hận. Ngay khi tôi bị lừa, cái chết cầm chắc trong tay cô đã đóng giả đàn ông để cứu tôi. Anh tính nghĩa khí ấy, tài trí ấy thì trong hàng vạn đàn ông cũng không có lấy một người chứ đừng nói là con gái. Anh là bậc đàn ông kỳ tài trong thiên hạ, kết duyên với một cô gái kỳ tài thì đó chẳng phải là một đôi hiếm có do trời sinh ra ư? Tôi làm mối cho anh là phải lắm rồi, anh đừng có trách tôi.
Nghe thấy thế Phong Nhiễm Tử cười ha hả nói:
- Không ngờ minh châu từ bụng rắn mà ra. Tôi xin nghe theo lời anh.
Thời Đại Lai lập tức tâu lên triều đình gỡ tội cho phó sứ. bản tấu sớ đại lược như sau:
Tổng binh Hoàng mỗ hết lòng vì nước, anh dũng quên mình, bị vây hãm ở vùng sa mạc. Trong giờ phút gian nguy dám xông lên tiêu diệt địch lập công to. Song Nhậm phó sứ đang lúc tuần du không biết hỏa đài cấp báo, đến khi trở về điều quân theo sau. Tuy có sai lầm là chậm trễ song đó là sai lầm một cách vô tình chứ không phải cố ý. Xin bệ hạ phục chức đòi hỏi ông phải ra sức đáp đền.
Chỉ trong vài ba ngày nhận được chiếu chỉ, Nhậm phó sứ đến tạ ơn Thời Đại Lai và cùng tới tạ ơn con rể. Vốn là trước đây Nhậm phó sứ chỉ quan hệ với bọn người chó má, toàn bàn những chuyện chui luồn bợ đỡ, đến khi gặp quan tuần phủ Thời Đại Lai thanh liêm sáng suốt và gặp được chàng rể hào hiệp mới hiểu trên đời này còn có những chính nhân quân tử như thế. Từ đó về sau Nhậm phó sứ thương dân như con, coi tiền của như bùn đất.
Đúng là:
Sống lẫn trong cỏ dại
Chẳng đỡ mà thẳng ngay.
Lâu rồi quên hương sắc,
Nay bước vào phòng lan.
Thời tuần phủ đã bàn bạc với chàng rể nên trong bản tấu sớ đã biện bách cho Nhậm phó sứ, lại ca ngợi công lao của Hoàng tổng binh nên triều đình ban mãng ngọc, gia phong hàm Thiếu bảo. Thời tuần phủ có công lao dùng người cũng được thăng chức Thượng thư bộ Binh, gia phong Thái tử thiếu bảo, được tặng kiếm Thượng Phương, tổng đốc Tam Biên. Có một hôm Thời tổng đốc nói với Hoàng thiếu bảo rằng:
- Anh còn nhớ lúc tôi vì thiếu một đồng mà lâm vào chỗ chết không? Tôi và anh nay đã vinh quang tột đỉnh, nếu không sớm quay về thì khó tránh khỏi bị nhục.
Hoàng thiếu bảo là một người phóng khoáng, từ lâu đã chán ngán cuộc đời làm quan, bèn nói:
- Anh nói có lý, ngay ngày hôm nay chúng ta dâng sớ cáo quan.
Triều đình thấy họ ở biên cương đã lâu ngày, nhiều năm gian nan vất vả, bèn chuẩn y ngay. Họ vui vẻ vinh quy. Vì ngoài biên ải lâu ngày Thời Đại Lai chưa có con, lại được Phong Nhiễm Tử làm mối, khuyên Cao Tiến Chi gả con gái làm thiếp Thời Đại Lai. Cao Tiến Chi mang ơn Đại Lai cũng muốn đáp đền, bèn tiễn con gái đến nha môn. Sau đó Cao Tiến Chi lại thông gia với Phong Nhiễm Tử. Đời đời họ quan hệ mật thiết với nhau. Nhậm tiểu thư thấy cha không có con trai, nói với chồng đón ông về ở cùng và từ đó họ luôn luôn qua lại với Thời Đại Lai, thọ hơn bảy mươi tuổi. Người con gái đức hạnh hiếu nghĩa như thế thật hiếm có trên đời.
0
Chương 22 [/align]



Cứu Người Nghèo Làm Quan Hiển Đạt
Rửa Án Oan Hưởng Phúc Đời Đời


Chương 22a [/align]





"Họa đường xuân"
Xưa nay việc thiện trời đều biết,
Huống hồ việc gỡ oán phù nguy.
Việc ấy người trời đều tôn trọng,
An nhàn hưởng lộc sẽ dài lâu.
Tích góp sách vở chưa chắc đọc,
Tích góp bạc vàng chưa chắc giàu.
Chẳng bằng tích đức cho con cháu,
Phú quý giàu sang sẽ bền lâu.
Dịch truyện viết: "Người tích thiện tất có nhiều phúc, người tích ác tất sẽ gặp tai ương". Chứng tỏ họa phúc là do người tạo nên chứ không phải trời đối xử xấu tốt đối với riêng ai. Song tích thiện không gì lớn bằng âm. Cho nên cái phúc do âm sắp đặt là lâu dài nhất, sử quả báo cho âm làm hại là tàn khốc nhất. Còn như việc hình ngục thì lại có quan hệ rất lớn: nếu hết lòng tha thứ thì người chết sẽ được sống lại, nếu rắp tâm độc ác thì người sống có thể chết ngay tức khắc. Huống hồ là kẻ nhận hối lộ uốn cong pháp luật, cố ý hãm hại người, mạng người rất quan trọng, sao có thể lợi dụng nó để hưởng lạc hay trả thù, để mặc sức hành hạ. Người xưa thường nói: "Người đương quyền, nếu không ra tay cứu vớt người, thì cũng chẳng khác nào vào núi vàng mà về tay không. Sĩ đại phu nắm quyền hành trong tay, mà không làm rõ các vụ án oan, không thương xót người vô tội, không mang tấm lòng yêu người của trời sao?".
Thời Hán có Vu Công, làm quan coi ngục, biết minh oan cho người đàn bà hiếu đễ. Ông thường tự hào nói rằng: "Con cháu ta sau này nhất định sẽ hiển đạt". Về sau con ông dẹp yên bờ cõi, quả nhiên làm đình úy, đúng như lời ông nói. Thời Đường có Hà Tỷ Can, cùng với Từ Hữu Công, Lai Tuấn Thần, Hầu Tư Chỉ là hình quan. Tỷ Can là người khoan dung, đã tha tội cho nhiều người. Người thời ấy thường nói rằng: "Nếu ai gặp Lai Tuấn Thần, Hầu Tư Chỉ sẽ chết, mà ai gặp Từ Hữu Công, Hà Tỷ Can sẽ sống". Một hôm có một bà lão cầm hơn chín mươi thẻ tre, nói với Hà Tỷ Can. "Ông là người có âm đức, con cháu sẽ làm tới công khanh, quận thú. Được phong ấn tín, bằng số thẻ này". Về sau quả nhiên đời đời hiển đạt. Thời Tống có Trương Khánh làm quan coi ngục, ông luôn luôn quét tước nhà tù sạch sẽ, cho tù nhân ăn uống, không đến nỗi để cho họ đói rét. Người đau ốm thì chạy chữa thuốc thang. Tuy ông không thể minh oan cho họ được, nhưng sau này con cháu ông cũng được đỗ đạt. Còn như bọn Chu Hưng, Cát Tu tra tấn người tàn ác, hãm hại bình dân, sát hại quan lại, cuối cùng khi chết thì đầu một nơi, người một nẻo, vợ con họ tộc đều bị giết. Tại sao lại khác hẳn với việc đền ơn người làm điều thiện như thế?
Như trên đã nói, quyền hành trong tay mình hay không là do tấm lòng của mình, bởi thế gỡ oan cho họ không phải là việc khó. Nay tôi xin kể về một người, quan thì thấp, chức thì nhỏ chẳng có quyền hành gì, ông cũng không tham tiền mà cũng chẳng muốn ai khen, vậy mà lại minh oan cho tù nhân và thả họ ra khỏi nhà tù, đó chẳng phải là việc vô cùng khó khăn sao?
Thời Gia Tĩnh có một người tên là Diêu Nhất tường, người huyện Thượng Hải, Tùng Giang. Diêu mất cha từ thời tấm bé, nhà khá giả sống phóng khoáng, khinh tài trọng nghĩa. Từng theo dõi đèn sách, giỏi thơ văn, mấy lần thì không gặp vận nên không được nhập học. Những người trong làng thường chê cười anh, song anh vẫn thản nhiên chẳng để bụng làm gì. Mẹ anh ở vậy nuôi con, luôn luôn mong con công thành danh toại. Bà tích góp được bốn năm trăm lạng bạc, rồi bảo con tới Nam Kinh nhập học.
Nhất Tường vâng lời mẹ, từ biệt vợ, mang theo hai người hầu lên đường. Nam Kinh xưa kia gọi là Kim Lăng, lại còn gọi là Mạt Lang. Đây là nơi rồng cuộn hổ ngồi, là nơi đô hội bậc nhất của đế vương. Từ khi Đông Tấn vượt sông tới nay, Tống, Tề, Lương, Trần đều xây dựng kinh đô ở đấy. Sau đó Lý Dực, Lý Cảnh, Nam Đường cũng đóng đô ở đây, cho nên đây là nơi phồn hoa tráng lệ vào bậc nhất vùng Đông Nam. Vương Giới Phủ từng sáng tác một bài thơ nhan đề là Kim Lãng hoài cổ theo điệu Quế chi hương như sau:
Lên cao đưa tầm mắt.
Nhìn cố quốc buổi cuối thu,
Khi trời chớm lạnh,
Dòng nước trong xanh như dải lụa,
Núi biếc chọc trời tựa tên bay.
Dong buồm đưa mái chèo dưới bóng chiều tà.
Trên đỉnh tửu lâu dải biển hiệu phấp phới bay theo gió.
Bóng thuyền ngũ sắc mờ dần,
Sao sáng lung linh hiện trên dòng nước,
Đẹp như bức họa.
Xưa kia nơi đây một thời hào hoa.
Hận rằng trên lầu ngoài thành
Niềm vui nỗi buồn cứ theo nhau đắp đổi.
Việc cũ của sáu triều đại cứ trôi theo dòng nước
Nay chỉ thấy làn khói lạnh và nhũng vạt cỏ mềm xanh ngắt,
Đến nay những kỹ nữ vẫn còn hát khúc Hậu Đình.
Đến hoàng đế Minh Thái Tổ khôi phục đất nước, xây dựng cung điện, hàng trăm hàng ngàn phủ điện nha môn, đường phố chi chít như bàn cờ. Những sản vật kỳ lạ tinh xảo, nhũng con người áo mũ lịch thiệp, những trai thanh gái lịch, những người thuộc đủ mọi nghề, ùn ùn tụ tập về đây. Quả là không sao nói hết được sự phồn hoa, và cũng không sao hưởng hết được sự khoái lạc. Tuy thủ đô đã dời về Bắc Kinh, nơi đây không sao tránh khỏi hoang phế, song sông núi vẫn như xưa, cảnh vật vẫn y nguyên, nơi đây khác hẳn với tỉnh thành nơi khác.
Nhất Tường tới đây vô cùng thích thú. Anh nghĩ: "Gửi đơn nhập trường thì phải học hành, không được thỏa thích du ngoạn, thôi thì ta tìm một nơi trọ tạm du ngoạn mấy ngày rồi hãy tính sau”. Thế là anh cùng với hai người đầy tớ đến bến đò Đào Diệp trên sông Tần Hoài tìm một phòng trọ trên sông.
Nơi nghỉ trọ ở Nam Kinh thì phòng nghỉ trên sông là đắt nhất và cũng tuyệt vời nhất. Phía tây là trường thi, bên kia sông là nhà chứa. Bởi thế những kẻ sĩ phong lưu hào phóng rất muốn dốc tiền ra thuê. Nhất Tường cũng nghỉ ở đây một ngày, hôm sau đi du ngoạn. Thế rồi anh chơi tới hai ba ngày liền, chợt anh qua phường Võ Công, vượt qua cầu, tới một nhà chứa. Chỉ thấy:
Lầu hồng như hang núi, quán biếc chạm tầng mây. Lan can chạm trổ, ngoáy ngoéo quanh co, trồng rất nhiều hoa thơm cỏ lạ, phòng ốc sâu hun hút, ánh sáng lờ mờ, đàn ngọc sáo ngà, tiếng nhạc du dương, hương thơm sực nức. Những cô gái mặt hoa da phấn, dáng vẻ yểu điệu thướt tha chẳng khác nào tiên nữ trong động phủ. Những chàng trai bầu rượu túi thơ, ai ai cũng dáng vẻ văn nhân học sĩ. Ơ đây đêm đêm sáng rực, chẳng lo gì không trăng Theo mùi hương tới nơi mà xưa nay người ta gọi là mê hồn trận. Nơi rất mực phong lan này đã cuốn hút biết bao anh tài niên thiếu.
Nhất Tường không có ý định ngủ đêm chơi gái, nhưng đã đến đây thấy cảnh tượng như thế cũng thấy ngã lòng. Hơn nữa trong đám gái làng chơi thường nói: "Chỉ sợ anh không đến thì thôi chứ đã đến đây khó lòng mà bỏ đi được". Bởi thế, ngay cả những anh cực kì keo kiệt, chỉ chuyên sà đến với đàn bà góa chồng cũng phải nghỉ lại mấy đêm liền, hoang phí hàng chục lạng bạc mới ra khỏi cửa. Hơn nữa, ở đây có một bọn cò mồi, luôn luôn dỗ ngon dỗ ngọt, xu nịnh tâng bốc, thì dù có học vấn đến mấy cũng khó mà thoát được. Nhất Tường là người phóng khoáng, thoải mái, không tiếc tiền tài bỗng chốc mê hai cô gái làng chơi, rồi cùng họ hoan lạc. Người nào cũng tâng bốc nịnh nọt anh. Được mấy hôm Nhất Tường lại bảo mấy đứa theo hầu mang hành lý đến đó ở. Mụ chủ nhà chứa lại sai bọn đầy tớ gái tiếp họ. Cho nên hai đứa ở cũng khoái chí, không nhắc nhở Nhất Tường nữa.
Ý muốn chiếm danh đoạt lợi của Diêu Nhất Tường nay đã biến thành khao tiếc ngọc thưởng hoa. Số tiền mang đi để tiến thân bằng con đường học tập thì nay dùng để tiêu xài. Chẳng mấy chốc mất quá nửa, Tính ra thì không thể nhập học được nữa, thôi thì cứ thả sức vui chơi. Hơn nữa bọn cò mồi đêm ngày lôi kéo, khi thì hát xướng, khi thì cờ bạc, cứ mê đắm trong cảnh ăn chơi, tiêu tiền thoải mái. Sờ đến túi thì tiền gần hết.
Một hôm bọn cò mồi mời Nhất Tường tới du ngoạn ở Vũ Hoa Đài. Bọn kỹ nữ xinh đẹp đàn sáo réo rắt tỏ vẻ đắm say chàng, nhưng thật ra muốn rút hết hầu bao của anh, rồi tống khứ anh đi.
Các bạn thân mến, có phải anh dễ dàng mà đến đây được đâu và có phải anh sống bừa với họ được đâu. Diêu Nhất Tường không hiểu được điều đó, say sưa ăn uống thả sức hát ca, lại còn lấy bút đề thơ để ghi lại sự khoái lạc của mình.
Xưa kia mơ gái trinh
Nay chơi cùng kỹ nữ.
Linh Vận cũng dừng xe,
Ta chẳng ngại buộc thuyền.
Dòng sông như dải lụa,
Mái hiên vút mây xanh.
Rong chơi miền lạc thú.
Vui chẳng nói nên lời.
Đề thơ xong bọn chúng đua nhau tán tụng:
- Tài cao như thế sợ gì cửa rồng cao vạn trượng.
Ai ai cũng rót rượu chúc mừng. Mọi người đang ăn uống vui vẻ thì có một người quần áo rách rưới, thân hình tiều tụy, sắc mặt tái nhợt xăm xăm bước tới nhìn Diêu Nhất Tường vái chào xin tiền. Diêu Nhất Tường cho rằng đây là người ăn mày, cũng chẳng thèm để ý tới, bảo đứa hầu mang rượu và thức ăn cho ông ta. Người ấy không uống rượu mà cũng chẳng ăn, nói với Diêu Nhất Tường.
- Tôi là tú tài Hà Nam, giữa đường gặp cướp, tiền của mất hết mà người thì chúng đánh bị thương không thể về quê được, vậy xin ông cho ít tiền ăn đường, còn rượu và thức nhắm chỉ là chuyện vặt.
Hai tên cò mồi nói ngay:
- Diêu tướng công, mặc hắn. Ở nơi chúng tôi đây loại người như thế rất nhiều, chúng đều giả vờ là bị nạn rồi đánh lừa người. Ai hơi đâu mà đi điều tra xem hư hay thực, là tú tài hay không phải tú tài!
Người ấy rất tức giận nghĩ. Ta bị cướp đánh gần chết, sợ rằng phải lưu lạc nơi đất khách, bất đắc dĩ phải đi ăn xin, nay bị người đời nghi ngờ làm sao còn có thể ở đây mà ăn xin được. Song ta không phải là bọn người lừa dối, đã không cho ta thì thôi sao lại bị mang tiếng xấu, ta phải làm cho họ hiểu rằng ta không phải là kẻ lừa dối. Thế rồi người ấy cởi phăng áo ra, quả nhiên thấy vết thương chưa lành, máu còn đang rỉ ra thấm ướt áo. Nhất Tường bèn đứng dậy, cúi đầu xin lỗi, anh bảo đứa hầu mang hòm hành lý tới, xem qua thấy trong túi chỉ còn mười lạng bạc, một chiếc áo vải và một chiếc áo rộng tay. Nhất Tường cho hết, rồi rót rượu mời người ấy. Vị tú tài rưng rưng nước mắt, chắp tay cảm ơn, hỏi họ tên Diêu Nhất tường rồi từ biệt. Diêu Nhất Tường không hỏi gì thêm. Người ngày nay có giúp người nào đó chút ít đã huênh hoang khoe ta là người nhân đức, song Diêu Nhất Tường gặp người giữa đường giúp đỡ như thế mà cũng chẳng hỏi họ tên người ấy, hẳn là Nhất Tường giúp người mà không cần đền ơn, nên anh cũng quên ngay chẳng hỏi lại làm gì. Ngay như về chuyện này, người đời cũng không sao sánh kịp, huống hồ là những việc còn to lớn hơn thế thì sao mà sánh nổi.
Lúc ấy Diêu Nhất Tường nghĩ rằng: "Tiền trong túi đã hết nhẵn, chắc rằng chẳng có ai giúp mình, nếu ta cứ sống một cách nhàm chán ở đây, bị mụ chủ nhà chứa đuổi đi thì chẳng còn mặt mũi nào nữa. Thôi thì bỏ về sẽ không lộ chân tướng. Thế rồi Nhất Tường rượu cũng không thèm uống, trở về nhà chứa thu xếp quần áo chăn màn đi ngay. Hai kỹ nữ cứ nài nỉ Nhất Tường ở lại ngủ thêm một đêm nữa. Sáng hôm sau bảo đứa ở gọi thuyền rồi vội vã lên đường. Hai ả làng chơi tuy khóc lóc thề bồi đều là vì tiền cả thôi. Thấy anh hết tiền, đành phải mượn tay người khác tống khứ Nhất Tường ra khỏi cửa.
Diêu Nhất Tường là một người phóng khoáng, không vì hai cô gái kia mà quyến luyến, dứt khoát xuống thuyền ngay. Mấy ngày sau Nhất Tường về tới nhà. Thấy con trở về, mẹ hết sức vui mừng, hỏi tới chuyện học hành, Nhất Tường mãi mãi không sao cất lời lên được. Cuối cùng chẳng còn cách nào khác anh đành nói thế. Mẹ anh nổi giận. Thường ngày Nhất Tường là một người rất có hiếu, luôn luôn vâng theo lời mẹ, nhưng nay vì bỗng chốc cao hứng, hoang phí năm trăm lạng bạc mà cũng chẳng lo lắng gì. Chỉ có điều không nghe theo lời dạy bảo của mẹ, say mê gái làng chơi mà làm hỏng cả công danh sự nghiệp, anh rất buồn rầu, song hối không kịp nữa. Từ đó về sau có cát vàng cũng không dám đi xa.
0
Chương 22b [/align]

Hai năm sau anh nghĩ rằng không thể cứ thế này mãi được bèn xin vào làm một chức dịch nhỏ trong huyện. Các bạn thân mến, một người phóng khoáng như thế, Nhất Tường có quan tâm đến những đồng tiền bẩn thỉu không? Anh lúc nào cũng nghĩ tới cứu giúp người hoạn nạn, đối đãi với mọi người bằng tấm lòng nhân hậu. Trong nha môn cũng có người khen anh, cũng có người cho anh là một thằng ngốc, song anh chẳng để bụng, mặc cho mọi người chê cười.
Thời gian cứ vùn vụt qua đi, mới thoáng cái mà đã sáu bảy năm, xem ra hai lần khảo hạch cũng sắp đến rồi, anh phải vào kinh phấn đấu. Vâng theo lời mẹ, anh vào kinh đô sống ba năm không dám hoang phí một xu nào, rồi được tuyển làm tri sự phủ Cửu Giang, Giang Tây. Tới nhiệm sở chưa được bao lâu thì ngục tì của bản phủ thiếu quan, cấp trên giao cho anh cai quản nhà tù. Anh dốc lòng vào công việc, quan tâm chăm sóc tù nhân, ngay cả những thường phạm tạm giam cũng không hề ngược đãi. Thậm chí những tù nhân phạm trọng tội, giam trong ngục anh cũng thường trực tiếp tới thăm hỏi. Người bẩn thỉu thì anh tắm rửa, người đau ốm thì anh thuốc thang chạy chữa, rét thì cho áo, đói thì cho cơm. Ai ai cũng mang ơn anh, nên hết sức cảm động. Còn đối với những người bị vu hàm oan khuất gặp cấp trên không công bằng sáng suốt đánh đập ép cung. Biết mười mươi là oan uổng nhưng không có thể trực tiếp minh oan cho họ được, anh luôn luôn cảm thấy hổ thẹn. Bởi thế phòng anh, rỗng tuếch. Anh ăn mặc hết sức giản dị. Anh tùng đề một bài thơ ngắn trên tường như sau:
Đạo lý nay chẳng còn.
Người không vẽ được gió.
Bao giờ hết hình phạt,
Thì thành sẽ bỏ không.
Thơ là nói cái chí của con người, cũng giống như Thiệu Nghiêu Phu mong rằng trời luôn sinh ra người tốt, người luôn làm việc tốt. Như thế mới biết được nỗi quan tâm hằng ngày của anh.
Được nửa năm thì có một vị án đài mới, được bổ nhiệm tới đây. Các quan lớn nhỏ đều đến yết kiến, dù không muốn nhưng anh cũng đôi ba lần theo họ tới bái kiến. Các bạn thân mến, dinh quan sát viện oai nghiêm biết là phương nào, những quan nhỏ ấy làm sao mà có thể nói năng với ngài được. Song sự thể đã như thế, không đi không được. Đi liền trong ba ngày, bái kiến xong mọi người ra về. Nhất Tường cũng phải cáo lui, bỗng nhiên thấy bên trong có lệnh gọi Diêu tri sự. Nhất Tường không hiểu vì sao, giật thót mình, anh nghĩ: "Ta làm quan ở đây chưa từng làm điều gì phi pháp, không lấy một xu nào phi pháp, chắc rằng chẳng có can hệ gì, ta ngại gì mà không vào". Thế rồi anh vội vã bước vào.
Sát viện hỏi:
- Anh có phải là Diêu Nhất Tường không?
- Thưa ngài, con chính là Diêu Nhất Tường.
- Anh đến đây đã lâu chưa?
- Thưa ngài con đến đây được mười tháng.
- Anh cai quản nhà giam bao lâu rồi?
- Thưa ngài con đã làm được năm tháng.
- Anh là người phong lưu khoáng đạt, sao lại làm một chức quan nhỏ như thế?
Thấy nói vậy Nhất Tường rất nghi hoặc, miễn cưỡng nói:
- Không dám.
- Năm ấy tháng ấy anh cặp kè uống rượu với gái điếm ở Vũ Hoa đài có phải không?
Nghe thấy nói thế Nhất Tường không biết vì sao, tự nhiên hốt hoảng tim đập rộn lên, chẳng khác nào dội một chậu nước lạnh từ đầu đến chân, toàn thân run lên cầm cập. Anh lập tức bỏ mũ ra, rập cúi đầu lạy như gà mổ thóc, nói:
- Con đáng tội chết, con đáng chết, cúi xin ngài tha tội.
- Đừng hốt hoảng. Ta hỏi ngươi, khi ở Vũ Hoa đài có một tú tài lâm nạn hồn xiêu phách lạc, xin ngươi cứu giúp, ngươi cho người ấy bạc và quần áo có đúng không?
Đến lúc ấy Nhất Tường mới bình tâm lại, vội đáp:
- Thưa ngài có ạ.
- Vậy ngươi có nhận ra người ấy không?
- Con bất chợt giúp đỡ người ấy con cũng không hỏi họ tên ạ.
- Người ấy chính là ta đó. - Rồi ông nói tiếp. - Hãy đứng dậy vái chào ta đi.
Sau đó ngài sát viện gọi người đóng cửa lại.
Lúc ấy Nhất Tường mới yên tâm đứng dậy vái chào, rồi đứng tránh sang một bên. Phép tắc của sát viện là, khi gặp các quan lại trong phủ không có lệ mời trà, hoặc có lưu lại mời trà thì cũng chỉ được đứng uống chứ không được mời ngồi. Bởi thế Diêu Nhất Tường tuy có ơn cũ với ngài sát viện nên cũng chỉ đứng uống trà mà thôi. Uống xong, sát viện nói:
- Từ ngày ta được ngươi chu cấp trở về quê, cũng may được đỗ đạt, lúc nào cũng nghĩ đến việc đền ơn, nhưng chưa gặp được. Nay gặp anh ở đây cũng là do trời dun rủi, song chỉ có điều tôn ti cách nhau quá xa, thể lệ nghiêm ngặt không thể năng đi lại để báo đáp được. Anh đã có tấm lòng thương người, hiểu được tường tận những phạm nhân. Trong đó nếu có những người oan uổng mà quả thực thương họ thì anh có thể khai ra mấy người, mỗi người kiếm được một ngàn lạng bạc, thì ta cũng sẽ tha cho họ để báo ơn anh.
Nhất Tường được phép, cảm ơn quan đã mời trà rồi ra về. Anh thấy những người trong nha môn cứ thấp thà thập thò để nghe ngóng, xem vì sao mà quan lớn lại mời trà. Những người viết báo ở phủ huyện viết việc này thông báo đến các nha môn trong phủ huyện. Thế là các quan trong phủ huyện gửi thiếp đến chúc mừng Nhất Tường, thậm chí có người còn mang cả lễ vật đến. Các bạn cho rằng những người này nịnh bợ viên quan coi ngục tép riu này ư. Đó chẳng qua là họ nịnh bợ người quen biết ngài sát viện mà thôi.
Về tới nha môn Diêu Nhất Tường vô cùng vui sướng, anh gọi ngay người thư lại tới rồi nói hết chuyện đã xảy ra. Thư lại đều chúc mừng:
- Xin mừng ông lớn, được một món tiền kếch xù.
Diêu Nhất Tường cười nói:
- Các anh là đồ ngu. Nếu ta là loại người cần tiền thì tại sao hằng ngày ta không hạch sách họ để kiếm tiền? Chỉ vì ta là quan nhỏ, chức thấp không thể minh oan cho họ được, bởi thế lúc nào ta cũng ân hận. Nay may mà ông lớn có lòng tốt ta cũng muốn dựa vào đó té nước theo mưa để thực hiện ý nguyện của ta bấy lâu nay. Há có phải vì được tiền mà vui mừng đâu? Nếu như đòi tiền, những người oan uổng không có tiền thì rốt cục sẽ không tha họ sao?
Nghe thấy thế, tuy ngoài miệng thư lại khen ngợi nhưng trong lòng cứ cười thầm: "Làm gì có người không cần tiền? Trước mặt mọi người tỏ vẻ thanh liêm đó thôi, chờ xem ông ta làm sẽ biết". Thế rồi thư lại nói:
- Nếu ngài không cần tiền thì ngài xem trong ngục có mấy người mắc oan?
- Ta tới đây làm việc, - Diêu Nhất Tường nói, luôn nghĩ tới điều này, cho nên ta thường thăm dò, thấy trong nhà tù có bảy người oan thực sự.
Thế rồi anh kể rõ họ tên và nổi oan khuất của họ, rồi nói:
- Các anh hãy trình bày thật tỉ mỉ nguyên nhân và sự việc dẫn đến oan khuất rồi trình bày lên ngài sát viện thả họ ra, ta không đòi họ một xu nào. Trong số đó có ba bốn phú gia, nếu thả họ ra thì các anh có thể đòi họ một vài chục lạng cũng không phải là quá đáng.
Ngục lại lập tức nói với bảy người ấy. Họ vô cùng cảm tạ, sai ngay người tới nhà báo tin là sẽ gom bạc mang tới cho thư lại. Bọn thư lại tính rằng: "Ông nói là không đòi bạc, chưa chắc là thật lòng? Ông ấy đã biết được ba bốn phú gia, ngài sát viện lại nói mỗi người lấy một ngàn lạng, thôi thì ta đòi mấy người gom lại hai ba ngàn lạng tới đây rồi đưa văn bản cho ông ấy. Nếu quả ông ấy không cần tiền thì lập tức sẽ mang văn bản đi ngay. Nếu giả vờ thì thế nào cũng trùng trình trì hoãn lại vài ba ngày, lúc ấy ta sẽ mang bạc tới cho ông ta. Mọi người bàn bạc xong, và số bạc cũng đã gom đầy đủ.
Mấy hôm sau làm xong văn bản, thư lại mang cho Diêu Nhất Tường xem, nhận được văn bản Nhất Tường vội vã lên gặp ngay ngài sát viện. Lúc ấy thư lại mới biết ông không cần tiền thật, thế là ai ai cũng tấm tắc khen ngợi. Đến sát viện, anh chờ mở cửa truyền lệnh cho vào. Lần này khác hẳn với lần trước, Nhất Tường vừa bước vào ngài sát viện lệnh đóng cửa. Nhất Tường trình văn bản lên, bẩm:
- Thưa ngài, hằng ngày tri sự tìm hiểu thực tình. Trong số trọng phạm, có bảy người quả thực oan uổng, được ngài cho phép con dám mạnh dạn tâu trình, mong ngài gia ân trời biển.
Ngài sát viện xem tờ trình, nói:
- Anh đã được gì chưa?
- Thưa ngài họ đã hẹn rằng đến ngày được thả ra sẽ tạ ơn tất cả là bảy ngàn lạng bạc.
- Nếu được như thế, - ngài sát viện nói, - cũng đủ đền ơn anh rồi. Anh hãy mang số bạc ấy về nhà sống thoải mái đến lúc già, rong chơi ở chốn suối rừng, hà tất cứ phải uốn gói khom lưng vì năm đấu gạo.
Nhất Tường nhận lệnh rồi đi ra.
Ngài sát viện phê chuẩn tha ngay bảy người ra khỏi nhà tù. Gia quyến của bảy nhà ấy dắt díu, thắp hương đội lễ, nước mắt tuôn rơi lã chã quỳ xuống đi bằng đầu gối tới nha môn lạy tạ. Tuy Diêu Nhất Tường nói là mình được bảy ngàn lạng bạc, nhưng thực ra không được xu nào. Nếu như vào tay người khác vì minh oan mà được bằng ấy tiền cũng không phải là quá đáng. Có nghĩ là người giàu thì lấy tiền còn người nghèo thì nói dùm, như thế cũng là bậc thánh nhân quân tử rồi. Người cao thượng nhất, nếu không được tiền thì cũng nói rõ với cấp trên, để cấp trên thấy được nguyện vọng minh oan chân thực của mình. Như thế thì cũng chẳng ai có thể đạt được. Song đằng này Diêu Nhất Tường không được một xu nào mà nói là được bảy ngàn lạng bạc. Ai có thể rửa oan cho người lại chịu mang tiếng mà không có quyền lợi thực, không lợi dụng để lấy tiền của của người khác. Không cần người khác khen mình để mưu cầu cấp trên khen thưởng. Há chẳng phải đó là tấm lòng của bậc đại thánh nhân đại Bồ Tát sao? E rằng những người như thế xưa nay quả là hiếm có.
Hôm sau Nhất Tường lập tức đệ đơn xin nghỉ. Ngài sát viện tưởng rằng Nhất Tường đã được bảy ngàn lạng bạc thật, phê chuẩn ngay, thế là ông treo mũ trở về. Bởi thế đã làm chấn động cả thành phố. Phủ, huyện, đạo không ai không khâm phục, nói:
- Một chức quan nhỏ bé không nhận hối lộ mà lại rửa oan được cho người thì quả là đến quan ngự sử cũng không sánh kịp.
Thế là khi về những người đồng liêu tặng ông rất nhiều quà. Họ hàng bảy người được tha tập hợp bạn bè với Tam viện, thuật lại việc Nhất Tường minh oan cho người mà không lấy một xu hối lộ, quả là một người đức độ liêm khiết, xứng đáng là tấm gương cho đời, nên đưa tên ông vào đền thờ những vị quan nổi tiếng. Lúc đầu chuẩn y cho ông về nghỉ, ngài sát viện cứ ngỡ là ông có bảy ngàn lạng bạc, về nghỉ hưu cũng đủ lắm rồi. Đến khi thấy người ta trình lên như thế mới biết Nhất Tường không cần tiền bạc. Ông vô cùng kinh ngạc nghĩ: "Một người tốt như thế quả là độc nhất vô nhị! Song ta muốn báo đền ơn anh mà lại làm cho anh phải thôi việc, không ngờ mình làm lỡ dở con đường thăng tiến của anh". Thế là quan lập tức phê chuẩn đưa ông vào thờ tại miếu thờ các vị quan nổi tiếng.
Các bạn thân mến, các bạn bảo rằng tri sự được đưa vào miếu thờ xưa nay được mấy người? Đó chính là sự báo đức vậy. Về tới nhà, hai túi rỗng không. Cháu tuy đã đỗ tú tài nhưng gia đình nghèo túng. Mọi người trong nhà đều oán trách ông không biết tính toán đã không được tiền thì sao không xin ông đền cho một chức quan nho nhỏ. Há rằng đây chẳng phải là việc mất cả chì lẫn chài sao. Diêu Nhất Tường vẫn cứ vui vẻ bình thản như thường.
Đến năm hơn chín mươi tuổi, bỗng một hôm Diêu Nhất Tường nằm mơ thấy năm sáu người mặt áo xanh đội mũ quỳ trước mặt bẩm rằng:
- Chúng tôi đến nghênh đón ngài.
Trong giấc mơ ngài Diêu cũng vẫn nhận ra đây là những người mình cứu họ thoát chết. Nhân đó mới hỏi lại:
- Vì sao các người đến đây.
- Chúng con đội ơn ông lớn cứu mạng được trở về, - những người ấy nói, - tất cả tổ tông cha mẹ của bảy nhà chúng con đều tâu lên Thiên Đế, Thiên Đế lệnh cho Tư mệnh Chân quân tăng tuổi thọ cho ngài và phù hộ cho con cháu ngài đời đời vinh hiển. Tuổi trời cho của ngài sắp hết rồi, chúng con đến đây hầu hạ ngài. Bên ngoài có sẵn kiệu, xin mời ngài đi ngay.
Ông Diêu nghe xong bèn lên kiệu. Người ta khiêng tới nha môn rồi đặt kiệu xuống. Thấy người gác cửa vào báo, sau đó một vị quan từ bên trong bước ra nghênh tiếp. Nhìn kỹ thì vị ấy ăn mặc không giống quan phủ, mà đội mũ miện, mặc áo long cổn, lúc ấy ông Diêu mới hiểu rằng đó là Diêm La Vương. Diêm Vương vái chào ông Diêu, rồi cùng ông lên thiên đình. ông thấy có một vị ngồi sẵn tại đó. Diêm Vương vái chào mời ông Diêu ngồi trên vị Tướng này. Ông Diêu chối từ không dám ngồi. Diêm Vương nói:
- Ông có âm đức. Hôm qua sắc luật trời gửi xuống mời ông làm Hình tào Thái Sơn. Ông hãy về nhà lo liệu công việc, sắp tới có người tới đón.
Thế rồi tiễn ông Diêu trở ra. Mọi người lại mời ông lên kiệu rồi khiêng về. Ông Diêu ngáp một cái rồi tỉnh dậy, thì hóa ra đó là một giấc mơ.
Sáng hôm sau lúc ngủ dậy, ông nói với người nhà rằng:
- Hôm qua ta nằm mơ, có lẽ ta sắp chết rồi. Hằng ngày mọi người cứ trách ta là không nghĩ đến gia đình, đêm qua ta nằm mơ thấy những người mà ta cứu họ khỏi chết oan đã tới đón ta và nói rằng đã tâu lên Thiên đế xin cho con cháu ta phú quý vinh hiển. - Rồi ông chỉ vào đứa cháu, nói:
- Người làm rạng danh cho nhà ta có lẽ con của anh này ư, Mọi người không cần phải lo nghèo đói.
Sau đó ông thuật lại nhũng việc đã xảy ra trong giấc mộng, ông nói tiếp:
- Diêm Vương nói với ta rằng, chỉ trong mấy ngày nữa sẽ sai người về đón. Nhất định ngày chết đã đến nơi rồi. Các con hãy nấu một nồi nước thơm cho ta tắm rửa để chờ họ.
Theo lời ông, người nhà nấu nước thơm. Ông Diêu tắm xong lại nói:
- Người đến đón ta đã tới cửa rồi.
Cả nhà đều ngửi thấy mùi thơm sực nức khắp phòng, phút chốc ông tạ thế.
Cháu của ông là Vĩnh Tế đỗ tiến sĩ khoa Mậu Tuất thời Vạn Lịch, về sau làm quan tới chức Tả bố chánh Chiết Giang, rồi xin cáo quan về nhà. Phúc Lộc đều do thịnh đức của ông, ông đã giỏi xây dụng gia thế cho nhà mình, bởi thế dòng dõi trâm anh không bao giờ dứt. Bảy người nói rằng đã tâu lên Thiên đế xin cho ông, quả thật chẳng sai chút nào. Thực hiện âm đức được đền đáp, việc ấy rất linh nghiệm. Những bậc quân tử đương quyền, sao không ra tay cứu vớt mọi người để mưu cầu phúc lộc cho con cháu? Thơ rằng:
Tích đức hơn tu hành.
Tu hành chẳng bằng học.
Số tận mình cũng hết,
Tích đức hưởng trăm đời
Lộc dành cho con cháu
Đâu cứ phải công huân.
Xin nhắc người dương chức,
Biến bút thành trâm anh.
0
Chương 23 [/align]



Thục Nữ Giả Nhớ Chồng, Thất Tiết
Mạo Danh Lừa Gạt, Bạn Sói Lang


Chương 23a [/align]



“Nam kha tử":
Lấy nhầm đừng oán hận, lòng trinh gửi đỗ quyên. Nếu như nói việc kín với người khác thì sẽ làm cho bạn lãng tử trộm phấn son ngấm ngầm sinh lòng gian tà. Vì sao lại đi theo người. muốn ngủ với người ta ư? Cho dù tìm được nhân duyên cũ, thì mình đã bị ô nhục quá nhiều, khó mà rửa sạch được.
Con gái đã hứa gả cho người ta, trong đó thường có những biến cố, không thể lấy nhau được, thì lấy một người khác thích hợp. Nếu không chịu lấy người khác thì thủ tiết cho đến khi chết ấy là cao thượng nhất. Chẳng hạn như thời Vạn Lịch có một cô gái mà người ta đồn ầm cả lên, vì họ lấy nhau vội vội vàng vàng nên không biết nhầm bao nhiêu lần. Lúc ấy ở huyện Thanh Điền có một người đi xa vừa mới về nghe thấy câu chuyện ấy gả ngay con gái mình cho một người nông phu. Giữa đường không có gì, người ấy đã dùng một dải áo làm sính lễ. Khi về tới nhà, lại có một nhà giàu tới hỏi, mẹ cô lại gả cô cho người ấy. Đến tối họ mang kiệu đến đón dâu, vì cha đã hứa gả trước, nên không theo lời mẹ, cô mang theo con dao, rồi tự đâm cổ ngay kiệu đón dâu. Quan huyện thấy thế khen cô là một liệt nữ, lập đền thờ, rồi lệnh cho chồng phải làm ông từ đèn nhang hương khói tại ngôi đền này. Quả là trong hàng ngàn người, mới có một người như thế, chỉ tiếc rằng ta quên mất họ tên.
Trường hợp thứ hai là bất đắc dĩ phải lấy, nhưng rốt cuộc vì nhớ người chồng cũ mà chết. Đó là cô gái nước Lương. Cô này đã hứa hôn với một người, song người này đi xa quê, suốt một năm trời ròng rã mà vẫn không về. Cha mẹ ép cô phải lấy một người khác, tuy cô đã lấy người ấy, nhưng suốt ngày cứ nhớ người chồng cũ, rồi u uất mà chết. Ở nơi xa, người chồng nghe tin cô ấy vì thương nhớ mình mà chết, bèn tới mộ cô, đào quan tài lên, cô gái ấy tự nhiên sống lại. Người chồng sau thấy thế làm đơn đưa lên quan kiện anh kia. Quan nói:
- Đây là chuyện hết sức khác thường, không thể dựa vào lý bình thường mà xét xử.
Ông xử cho cô ấy thuộc về người chồng cũ.
Còn như chuyện về một cô gái, không đến nỗi chết ngay mà vẫn còn để tâm đến việc già trẻ giàu nghèo. Tuy không quên lời cha mẹ, nhưng lại thất thân với người khác. Tức là cô có lưu luyến người đã hỏi trước, đó cũng chỉ là điều bình thường thôi.
Thời ấy ở phía tây thành Lật Dương có một người tên là Thang Khôn Nguyên, hiệu là Tiểu Xuân, chừng hai mươi tuổi, khôi ngô tuấn tú, chẳng có chút nào tỏ ra quê mùa. Phía tây thành có một nhà giàu tên là Phùng Huyền, không có con trai, chỉ sinh một người con gái, gọi là Thục Nương cũng gần hai mươi tuổi. Lão Phùng thấy Thang Tiểu Xuân người sáng sủa, sau này chắc cũng không đến nỗi nào, thế là ông kén anh làm rể, rồi nhờ người mối đến nói với nhà họ Thang nhận Tiểu Xuân làm rể. Vì nhà nghèo không môn đăng hộ đối nên cha mẹ Tiểu Xuân không dám nhận lời. Người mối đi lại tới mấy lần, lão Phùng mới bằng lòng. Song tuy bằng lòng đấy cũng chỉ nói mồm thôi chứ không bắt tay vào lo việc cưới xin.
Một năm sau, nhà họ Phùng cho người mối đến giục cưới, nhà họ Thang nói:
- Tôi rất cám ơn tấm lòng tốt của ông Phùng, nhưng nay hoàn cảnh vẫn còn eo hẹp, chưa lo được sính lễ, lẽ nào lại tay không đến xin cưới thì còn ra cái gì nữa.
Ngươi mối nói:
- Thôi thì ông cứ đến nói trước đi, miễn là ông bằng lòng cho Thang Tiểu Xuân làm rể là được rồi, còn lễ lạt không cần phải lo, nhà họ Phùng sẽ đưa lễ vật tới, để chàng rể mang đi.
Vợ chồng ông Thang thấy thế mừng quýnh lên, nói:
- Vậy thì nhà ông Phùng chọn ngày cưới ngay đi.
Người mối trở về nói với lão Phùng, rồi ông chọn ngày mười lăm tháng Chín làm lễ cưới.
Tháng sau bàn định như thế thì ngờ đâu tháng Bảy lão Phùng đổ bệnh, chỉ sau mấy hôm là qua đời. Lo ma chay xong, gia đình họ Phùng giàu có, nhất định sẽ có nhiều của hồi môn, người ta đua nhau nhờ người đến hỏi. Khi còn sống ông Phùng đã hứa gả cho Thang Tiểu Xuân, gia đình không dám thay đổi, nên không nhận lời ai. Thấy ông Phùng chết ông Thang nghĩ rằng giàu nghèo không môn đăng hộ đối, ông Phùng lại chưa nhận sính lễ, chắc rằng đã thay đổi ý định nên nhà họ Thang không dám cưới xin nữa.
Lại qua mấy tháng nữa Thục Nương có một người chú tên là Phùng Kỳ. Thấy cháu đã lớn mà chưa có chồng để nương tựa ông đã đứng lên gả cháu làm vợ kế cho một tú tài ngươi phía nam thành. Ngươi tú tài này tên là Tiền Nham, tự là Hiện Dân, trạc bốn mươi tuổi, nghèo rớt mồng tơi, anh ta thường dựa vào mấy quyển sách nát, dạy học sống qua ngày.
Cưới được ba ngày, Tiền Nham hỏi Thục Nương:
- Em ơi, khi cha còn sống ông là một người giàu có, tại sao lại để em tới ngần này tuổi mới lấy chồng?
Thấy chồng hỏi thế cô chợt chau mày, quay đi gạt nước mắt, cúi đầu thở dài, im lặng. Tiền Nham không hiểu vì sao, rồi hớn hở tươi cười thân thiết hỏi:
- Em thân yêu, trong lòng em có gì vướng mắc sao không nói với anh, để anh cùng em chia sẻ.
- Chuyện này lẽ ra không nên nói với anh, - Thục Nương thở dài nói. - Mà có nói với anh cũng vô ích thôi, nói mà làm gì.
Tiền tú tài thấy thế cứ vò đầu bứt tai van nài đòi cô nói ra. Thục Nương nói:
- Anh bảo em có chuyện gì vướng mắc ư? Ngày cha em còn sống, vốn đã bằng lòng gả em cho Thang Tiểu Xuân, tháng sau chọn ngày mười lăm tháng Chín thì cưới. Không ngờ tháng Bảy cha em ốm rồi mất, nhà họ Thang chưa đưa sính lễ, thế là họ không vấn lại nữa, cuộc nhân duyên đành như nước chảy bèo trôi. Nói ra càng thêm đau khổ.
Nói xong, nước mắt lại giàn giụa rơi lã chã. Đấy quả là tấm lòng tốt của Thục Nương, lẽ ra phải giấu kín. Mà nói thì hóa ra người một dạ hai lòng. Tiền tú tài lại là một người thẳng như ruột ngựa, anh chẳng chút nghi ngờ bực bội. Tiền tú tài lại cười nói:
- Chuyện này vốn không nên nhắc tới, tóm lại đã là vợ chồng thì đã có đổ vỡ, rồi tự nhiên cũng sẽ xum họp. Mà đã không phải duyên số thì dù có hợp rồi thì nhất định sẽ tan. Đã gọi duyên số từ kiếp trước thì người ta không thể định đoạt được. Khóc mà làm gì.
Nói chưa dứt lời thì người nhà họ Phùng đã mang hòm của hồi môn tới. Thục Nương lau nước mắt, mặt mày rạng rỡ đứng dậy chuẩn bị ít quà bánh rồi cử người tiễn chân.
Đến ngày thứ năm, có một số bạn học và mấy học sinh đi theo đến chúc mừng. Trong lúc uống rượu bạn bè hỏi:
- Anh Tiền! Nghe nói chị ấy có nhiều của hồi môn lắm. - Hình như có tới hơn một ngàn lạng. Nhà tôi có nỗi buồn thầm kín, chưa mở ra nên cũng chẳng biết đích xác bao nhiêu, thì sao nói là giàu to được.
- Con gái vừa mới lấy chồng, - những người bạn nói, - có gì mà buồn, chẳng qua là do tuổi tác và diện mạo không xứng đôi mà thôi. "Chỉ hiềm em sinh ra quá muộn, không gặp được anh lúc thiếu thời". Anh Tiền, anh trả lời chị ấy thế nào?
- Không phải thế. - Tiền tú tài nói.
- Không phải vì thế thì vì cái gì cơ chứ? Mới có năm sáu ngày mà đã nói nỗi lòng thầm kín với anh, thì chắc rằng nhất định chị ấy cũng nói với người khác rồi. Anh còn giấu làm gì mà không nói ra.
Thấy bạn bè cứ hỏi gặng, rồi cứ pha trò mãi, Tiền Nham đành phải kể lại hết những lời của Thục Nương với bạn bè.
Bạn bè thấy đây là câu chuyện khó nói nên mọi người đều im lặng. Trong đó có một người tên là Dư Lâm, trạc hai lăm hai sáu, hằng ngày anh ta thường hay lừa gạt. Vừa nghe Tiền Nham nói hắn vừa ngấm ngầm tính toán. Đây quả là điều Tiền tú tài qua loa đại khái. Vì rằng qua những điều Thục Nương nói với Tiền tú tài ta cảm thấy hình như cô không thích Tiền tú tài. Nói ra người ta sẽ biết ngay là cô không yêu Tiền tú tài, như thế thì sao mà không khiến cho kẻ khác nẩy ra ý nghĩ lừa gạt! Điều này quả là Tiền tú tài đã dẫn chó vào nhà.
Hôm ấy uống rượu xong, mọi người ra về. Mười hôm sau đúng vào tết Đoan Ngọ. Dư Lâm biết rằng thế nào chủ nhà mà Tiền tú tài ngồi dạy học cũng mời anh tới uống rượu, nên đúng vào lúc giữa trưa cố ý mò đến nhà Tiền tú tài, rón rén bước vào. Thăm dò một hồi, quả nhiên Tiền tú tài không ở nhà thật. Hắn hỏi nhỏ:
- Có người ở nhà không?
Thục Nương ở trong nhà hỏi vọng ra:
- Ai đấy?
- Tôi là Thang Tiểu Xuân ở phía tây thành, muốn gặp ông Tiền nói câu chuyện.
Thục Nương nghe nói Thang Tiểu Xuân, tình xưa nghĩa cũ bèn trỗi dậy, vội vàng bỏ dở công việc chạy ra, thì thấy một người con trai trẻ đẹp, dáng vẻ nhanh nhẹn, bèn cảm thấy tuổi tác dung mạo Tiền Nham thật đáng chán. Thục Nương nói:
- Xin mời anh vào xơi nước.
Thấy thế Dư Lâm biết ngay chuyện Tiền Nham nói hôm trước quả không sai, bèn ngồi xuống ngay.
Thục Nương nghĩ, đây đúng là Thang Tiểu Xuân rồi, bèn bước tới nói:
- Anh, anh là Thang Tiểu Xuân thật ư?
Du Lâm cười nói:
- Thang Tiểu Xuân có phải là người tiếng tăm lừng lẫy gì đâu mà người ta phải mạo danh.
- Anh với nhà họ Phùng ở phía đông thành có quan hệ thông gia gì không? - Thục Nương hỏi.
- Không nên nói nữa. - Dư Lâm giả vờ nói. - Dạo ấy còn bác Phùng, bác có lòng tốt gã con gái cho tôi. Không ngờ chọn ngày xong thì bác Phùng mất, đến nay thì việc hôn nhân không thành quả là công toi.
Nói xong Dư Lâm thở dài. Thục Nương nói:
- Tôi là Phùng Thục Nương đây. Anh là người con rể mà cha mẹ khi còn sống rất ưng ý.
Thế rồi Thục Nương ưa khóc vừa nói:
- Anh ơi, khi cha em còn sống sau anh không cưới em?
- Nhà anh nghèo, - Dư Lâm nói, - một lúc kiếm đâu ra một đồng bạc, bởi thế ngay sính lễ cũng không lo được, nếu lo được sính lễ thì không đến nông nỗi này.
- Đáng trách là chú em chẳng biết ất giáp gì gả em cho một lão đồ kiết nho hủ lậu, làm lở dở cuộc đời em. - Thục Nương nói.
- Tiền tiên sinh, - Dư Lâm nói, - tuy là một nhà nho nghèo, nhưng sau này nhất định có ngày phát đạt. Chúng tôi làm sao mà bì với ông ấy được, cô đã lấy ông ấy thì chắc chắn sẽ là bà lớn gấp hàng vạn lần dân làm ruộng chúng tôi. Vì sao lại cứ nhớ tôi mãi.
- Sao anh nói thế! - Thục Nương nói. - Vợ chồng thì tuổi tác và dung mạo phải ngang nhau, tình ý phải hợp nhau. Khi cha em hứa gả cho anh, lúc nào em cũng mơ tưởng tới anh. Ai ngờ đâu lại xảy ra cớ sự thế này, chôn vùi em vào tay lão đồ nho nghèo và hủ lậu.
Các bạn thân mến, đó là lý do vì sao Thục Nương chê Tiền Nha và đó cũng là nguyên nhân Thục Nương trốn theo Dư Lâm. Thấy cá đã cắn câu. Dư Lâm giả vờ rớt nước mắt nói:
- Nói thế thì đúng là tại anh làm lở dở đời em. Song việc đã đến thế này nói lại cũng không được nữa, mà càng làm cho nhau đau khổ.
Dứt lời Dư Lâm đứng dậy đi ngay. Thục Nương kéo lại nói:
- Ngày nào em cũng nghĩ tới anh, hôm nay mới gặp được anh, sao anh nỡ nhẫn tâm bỏ em mà đi?
Dư Lâm lại ngồi xuống, rồi kẹp Thục Nương ngồi bên cạnh nói:
- Cám ơn em luôn luôn nghĩ tới anh. Anh có một kế là hẹn một ngày nào đó em sẽ trốn đi với anh.
- Thế thì tốt quá, - Thục Nương nói, - nhưng đi đâu cho an toàn. Nơi đến phải yên ổn mới tốt.
- Cách cửa thành phía đông năm dặm, - Dư Lâm nói, - đó là Mộc Gia trang, nhà cậu anh ở đấy, tới đó thì tuyệt vời, đến thánh cũng chẳng tìm thấy được.
- Việc này không thể chậm trễ, - Thục Nương nói, - dù thế nào chăng nữa đúng vào canh năm đêm nay anh đến cửa sau, hãy ho lên một tiếng ra hiệu rồi cùng nhau trốn ra khỏi thành.
Hai người đã bàn soạn xong. Dư Lâm ôm hôn Thục Nương rồi mới về.
Thục Nương nhận lầm Thang Tiểu Xuân, thấy rất mãn nguyện, vội vàng thu xếp của hồi môn và tư trang thành hai bao to, suốt đêm không ngủ, chờ mãi đến canh ba nghe thấy cửa sau có tiếng ho, cứ tưởng là Thang Tiểu Xuân tới mới len lén châm đèn mở cửa bước ra, thấy một người ngủ lăn quay bên ngoài cửa. Nhìn kỹ thì không phải là Thang Tiểu Xuân mà là Tiền Nham. Các bạn có biết vì sau lúc ấy Tiền Nham lại ở ngoài cửa sau không? Vốn là Tiền Nham uống rượu tại nhà chủ mình dạy học, anh cũng là người biết uống rượu, song anh nghĩ, mình mới cưới, đêm nay còn phải về nhà với vợ, không thể uống nhiều được, nghĩ thế nhưng anh không giữ được mà uống say khướt. Về tới nhà thì bất tĩnh nhân sự, nằm vật ngoài cửa sau tới quá nửa đêm. Nếu không ho thì ngủ ở ngoài cho tới sáng. Giá mà Dư Lâm đến cũng không dám hành động mà dứt khoát bỏ về. Chỉ vì Tiền Nham ho nên Thục Nương mới mở cửa, thấy chồng vẫn chưa tỉnh, bèn dìu chồng đi ngủ.
Một lát sau gần tới canh năm, cửa sau lại có tiếng ho. Thục Nương biết chắc lần này là ai rồi, vội vàng xách bao ra cổng sau, đúng là Dư Lâm. Hai người hết sức vui mừng, không nói không rằng mỗi người vác một bao rồi đi thẳng ra cửa phía đông thành. Có bài thơ tiếc cho việc này:
Hẹn ước xưa kia đâu dám quên
Đêm ngày vẫn mơ tưởng chàng Thang.
Thương thay nhẹ dạ theo kế xấu.
Đào Tiềm mà cứ tưởng Nguyễn Lang.
Tiền tú tài ngủ tới sáng hôm sau, tuy tỉnh rượu song vẫn không dậy, cứ luôn mồm gọi mang trà tới, nhưng gọi mãi mà chẳng thấy. Tiền tú tài dậy tìm khắp mọi nơi không thấy bóng dáng vợ đâu. Anh ra cửa sau thì thấy cửa mở toang, chiếc đèn vất lỏng chỏng dưới đất, mới biết được vợ mình đã cao chạy xa bay mất rồi. Tiền tú tài tri hô những người hàng xóm tới. Nghe tú tài nói người vợ mới cưới của mình đã bỏ đi, những người ấy thấy đó là chuyện lạ, tìm hỏi nguyên do.
Tiền Nham nói:
- Tối qua tôi uống rượu say, trở về vấp ngã ở cửa sau, cô ấy vẫn ra mở cửa dìu tôi đi ngủ. Không biết cô ấy đi lúc nào?
Một người láng giềng nói:
- Ông Tiền, ông ngã ở bên ngoài có gõ cửa không?
- Không! - Tiền Nham nói.
- Không gõ cửa sau chị ấy lại biết mà ra mở cửa. - Người ấy nói. - Vậy thì nhất định họ đã hẹn nhau từ trước, cho nên mới để tâm tới, chắc chị ấy đã bỏ đi từ lúc đó.
- Ông Tiền, vậy thì hoàn toàn là do ông rồi. - Một người khác nói. - Vợ chồng lấy nhau là một việc quan trọng, vả lại đã bỏ nhà đến với ông thì ít ra ông phải ở với chị ấy hàng tháng trời ấy chứ, Đằng này không ai như ông, mới ở với nhau bốn năm hôm đã đi dạy "tử viết" "thi vân", bỏ mặc vợ mới cưới ở nhà phòng không lạnh lẽo, sống cô đơn một mình như thế thì chịu làm sao nổi, nên chị ấy bỏ đi là chuyện đương nhiên.
Sự việc xảy ra đột ngột Tiền Nham ngơ ngác hỏi mọi người:
- Các vị ạ các vị bảo rằng liệu người đàn bà ấy có về không?
Mọi người ồ lên, nói:
- Những điều mà tú tài nói ra đều là những điều cứng nhắc. Nếu như cô ấy chịu về thì cô ấy đã không bỏ đi.
- Xin nhờ các vị làm chứng, - Tiền tú tài nói, - ta sẽ sớm làm quan rồi sẽ đi kiện.
0
Chương 23b [/align]

Mọi người nói rằng, đúng là phải kiện rồi. Nếu không kiện thì e rằng nhà họ Phùng cũng sẽ kiện. Lại có người nói, tú tài mất vợ thì còn mặt mũi nào mà đi kiện nữa? Chỉ cần viết một bản thông báo là được rồi. Lại có một người khác nới, dán tờ thông báo thì cũng chẳng ra sao cả, thôi thì cứ lặng lẽ mà đi tìm, thấy rồi hãy tính chuyện. Tiền tú tài thấy mỗi người nói một cách bèn hỏi:
- Theo ý các vị bàn thì viết một tờ thông cáo là phải lắm.
Thế là Tiền tú tài viết một tờ thông cáo, song tú tài không viết theo cách viết ngày nay, mà viết hơn mười câu như sau:
"Vì Tiền Nham không cẩn thận, nên vào đêm ngày tết Đoan Ngọ, vợ là Phùng Thục Nương trạc hai mốt hai hai tuổi, không biết bị kẻ gian nào đã cả gan lừa gạt rồi bỏ nhà đi theo hắn. Tiền bạc và đồ trang sức trong hòm lấy hết sạch không còn gì. Người hàn nho cô độc này muốn đi kiện nhưng không đủ sức. Nếu các bậc quân tử nào ở bốn phương thấy được tông tích thì xin báo cho hàn nho này biết, và tình nguyện hậu tạ số bạc là . Xin dán tờ thông báo này chứng tỏ là đúng sự thực".
Viết xong thông báo, đang định tìm người mang đi dán thì gặp một bà lão ở ngay sát vách bước tới nói:
- Ông Tiền, không nên nóng vội, kẻ đánh lừa bà nhà ông, lão cũng biết được chút ít.
- Cụ đã biết, vậy thì người ấy là ai? - Tiền tú tài nói.
- Người ấy thì tôi không biết được, - bà cụ nói, - có điều trưa hôm qua tôi ở nhà bóc bánh chưng, nghe thấy có một người tới tìm Tiền tiên sinh . Nói là Thang Tiểu Xuân ở cửa tây thành. Bà nhà ông gặp người ấy trò chuyện một hồi lâu rồi khóc. Hai người nói chuyện rất lâu, người ấy ra về, chắc là họ đã đánh lừa bà ấy rồi.
Nghe thấy thế tú tài dập tay xuống bàn nói:
- Thế thì đúng rồi, cô ấy từng nói là khi cha cô còn sống đã hứa gả cho Thang Tiểu Xuân, tới nay lúc nào cô. Ấy cũng tưởng nhớ tới anh ta. Nhất định là hai người vốn đã đi lại với nhau, cho nên nhân lúc sơ hở bỏ trốn. Ta phải tới cửa tây thành dò la xem sao, rồi bàn với mọi người.
- Nếu như tìm thấy bà ấy, - bà lão nói, - thì xin ông đừng bảo là già này nói nhé, sợ rằng khi về bà ấy lại trách già này.
Tiền Nham từ biệt bà lão đi một mạch tới cửa tây thành, hỏi nhà họ Thang, thăm dò những nhà láng giềng, dò la rất kỹ nhưng không thấy tăm hơi. Tiền Nham liền hỏi.
- Thang Tiểu Xuân là người như thế nào?
Chưa dứt lời thì thấy một người còn rất trẻ bước ra. Người láng giềng nói:
- Người ấy là Thang Tiểu Xuân đấy.
Tiền Nham nhìn kỹ thì thấy đó là một chàng trai có đôi mắt thanh tú, hàm răng trắng nõn, môi đỏ như son. Tuy không chuyên trang điểm son phấn như Hà Lang(1) song da trắng không kém Trần Bình(2) không diêm dúa như Đổng Tử, cũng phong lưu gần như Tống Ngọc(3). Anh đội một chiếc khăn hợp thời, mặc bộ quần áo rất vừa, trông rất đàng hoàng, cố nhiên không có dáng vẻ hiên ngang của con nhà giàu có. Song lại có dáng vẻ nho nhã, nhưng không có tài bẻ quế, nên đâu dám hái trộm hoa.
(1) Hà Lang: Hà Yến, một người thích trang điểm thời xưa.
(2) Trần Bình: người Dương Vũ thời Hán.
(3) Tống Ngọc: học trò của Khuất Nguyên thời Chiến Quốc.
Tiền Nham nghĩ bụng: "Thằng nhỏ này, đi đường còn sợ tiếng bước chân, lẽ nào lại liều lĩnh như thế? Hơn nữa nếu nó có lỡ gây ra việc này, thì nhất định nó sẽ giấu giếm lẫn tránh, hoang mang sợ hãi, chứ sao tự nhiên thanh thản thế kia? Xem ra không phải nó. Người xưa nói: “Làm việc có thư thả mới trọn vẹn . Ta hãy trở về hỏi rõ sự thực rồi sau sẽ nói chuyện với hắn". Tiền Nham buồn rầu trở về.
Bà lão trông thấy hỏi ngay:
- Ông Tiền! Đã dò la được tin tức gì chưa?
Tiền Nham lắc đầu nói:
- Việc này tuy có nguyên cớ, song vẫn chưa rõ ràng. Hai nhà hàng xóm kề bên đều nói là không biết.
- Ông hãy đến nhà họ Thang dò la xem động tĩnh thế nào.
Bà lão nói.
- Tôi đang định vào, - Tiền Nham nói, - thì thấy ngay Thang Tiểu Xuân đi ra, xem kỹ thì hình như nó không phải loại người làm việc ấy.
- Bây giờ còn sớm, ông hãy đến nói ngay cho người tộc trưởng họ Phùng biết, để ngày mai đỡ phải tốn công giải thích.
- Cụ nói đúng.
Tiền Nham nói xong đi ngay.
Đúng là người ta thường nói: "Tiếng lành đồn gần tiếng dữ đồn xa". Phùng Kỳ đã biết, đang đi tới. Tiền Nham nói lại lời bà cụ với Phùng Kỳ. Phùng nói:
- Vậy thì hòm của hồi môn có còn lại gì không?
- Chẳng còn gì cả.
- Như vậy thì đây là việc không thể biết ngay được. Bây giờ thì không khó nữa rồi, cứ theo lời bà cụ ta viết một lá đơn kiện Thang Tiểu Xuân, cứ khoác vào cổ hắn phải đền ngươi.
- Vợ của một tú tài, - Tiền Nham nói, - bị người ta lừa, bây giờ đi kiện, sợ rằng người ta chê cười.
- Tuy mất thể diện thật đấy, - Phùng Kỳ nói, - nhưng chẳng có lý nào, vợ mình bị người ta đánh lừa mà im đi không nghe ngóng gì. Theo tôi đệ đơn kiện mới phải.
Tiền Nham nghe theo, lập tức viết đơn và nhờ Phùng Kỳ làm chứng. Hôm sau đưa đơn lên huyện.
Quan huyện sai người đi bắt Thang Tiểu Xuân, cha mẹ Tiểu Xuân không hiểu vì cớ gì đành phải nhờ láng giềng cùng lên gặp quan. Quan huyện hỏi về sự việc xảy ra trước đây. Thang Tiểu Xuân kể lại tỉ mỉ việc hôn nhân trước đây khi ông Phùng còn sống. Còn việc hiện nay bỏ trốn thì anh không hề biết. Quan huyện nghiêm mặt nói:
- Trước đây có việc ấy thì đích thị nay ngươi đã lừa người đàn bà ấy rồi.
Rồi ông ghép anh thanh niên mặt còn búng ra sữa là một tên lừa đảo, cho người kẹp anh ta, buộc phải trả người. Những người láng giềng đều kêu với quan là anh bị oan ức, song quan huyện không nghe.
Cha mẹ Tiểu Xuân thấy con oan uổng khổ sở cứ rập đầu xuống đất van xin thảm thiết.
- Chúng con xin ông lớn gia hạn cho mấy ngày, tìm được người thì quả là ơn ngài to như trời biển.
Thấy thế quan huyện cho phép nhũng người láng giềng bảo lãnh cho Thang Tiểu Xuân. Ngài còn đang dặn dò thêm mấy câu thì thấy quan điển sử vào bái kiến. Điển sử vái chào xong, hỏi:
- Thưa ngài, đây là việc gì vậy?
- Đây là vụ lừa gạt người.
Điển sử nhìn Thang Tiểu Xuân, nói:
- Thằng nhỏ này lừa gạt người, hay là nó bị người ta lừa?
- Thằng này là Thang Tiểu Xuân, - quan huyện nói, - tuy còn ít tuổi nhưng nó thật to gan. Đêm ngày mồng năm tháng Năm, lừa gạt vợ Tiền tú tài rồi dẫn đi, này Tiền tú tài đưa đơn kiện song vẫn chưa phân quyết được.
Điển sử cúi đầu nghĩ một lát, nói:
- Thưa ngài, việc này điển sử cũng thấy nghi ngờ, chưa chắc là người này.
- Thế ông biết việc này ư? - Quan huyện nói.
- Con không biết việc này. - Quan điển sử nói. - Song vào lúc canh năm, đêm mồng năm rạng ngày mồng sáu, con đi tuần tra ở ngoài thành trở về, sắp vào cửa đông thì thấy một người đàn ông và một người đàn bà, mỗi người vác một bao đi ra khỏi thành. Lúc ấy con nhìn kỹ thấy hai người có phần hoảng hốt vội vã đi qua. Con sinh nghi, nhưng thấy hai người dáng vẻ tử tế, hình như không phải là trộm cướp, cho nên con không bắt. Bây giờ nghĩ lại, chắc đó là vợ anh Tiền. Song người đàn ông cùng đi lại khác hẳn tên này.
Thấy thế quan huyện càng nghi nghi hoặc hoặc, nghĩ bụng: "Việc này ta nghĩ sai rồi". Rồi ông nói:
- Truy lùng kẻ chạy trốn là việc của các ông, nay thì phiền các ông đi truy bắt thì mới giải thoát cho người vô tội này.
Điển sử nhận lời, xin cáo từ. Quan huyện cho Thang Tiểu Xuân được bảo lãnh tại ngoại. Lệnh cho năm ngày sau phải tới. Mọi người cúi lạy tạ ơn rồi ra về. Từng có người làm thơ ca ngợi Điển sử như sau:
Tù và báo sáng, ngựa tới nơi,
Vội vã đúng là kẻ gian rồi,
Một lời giải thoát người tù tội,
Lại bắt kẻ gian đã lừa người.
Điển sử về tới nha môn, song lại cảm thấy hơi ân hận, vì đã nhận lời ngài quan huyện, chỉ trong một thời gian ngắn làm sao mà bắt được hắn. Đang nghĩ cách thì thấy người của quan huyện tới nói:
- Ông lớn đang chờ gặp ông ở hậu đường.
Điển sử nghĩ bụng: "Ngài vừa mới dặn xong, lẽ nào lại vào nghe ông nói lại". Thế rồi vội vàng ăn mặc chỉnh tề tới hậu đường gặp ngài.
Ngài quan huyện nói:
- Tôi có một người bạn giỏi về dịch số. Ông vừa tới đây, tôi bèn đem chuyện ấy ra nhờ ông xem giúp. Ông nói: "Người đi mất, chưa ra khỏi chỗ gần mộc, cách thành về phía đông nam chừng hơn năm mươi dặm". Có một người gác cổng trong nha môn nói: "Cách năm mươi dặm về phía đông nam thành thì chỉ có Mộc Gia Trang". Vậy thì hai đứa trốn ở đó chăng? Nhờ ông hỏa tốc đi một chuyến xem sao. Hôm nay đi ngày mai quay về thì sẽ phán quyết được vụ án này.
Điển sử vâng lệnh ngài quan huyện, thay thường phục, mang theo một số người, rồi nhảy phóc lên mình ngựa ra khỏi thành. Chẳng mấy chốc đã đến gần Mộc Gia Trang. Một số người nông phu nhận ra quan Điển sử, vội bỏ cày bừa, đến cúi đầu chào, hỏi:
- Thưa ngài, hôm nay có việc gì mà ngài xuống làng?
- Ta nhận lệnh của ông lớn đến Mộc Gia Trang để bắt phạm nhân. Mùa màng đang vào lúc cày cấy bận rộn, chúng tôi không muốn làm trở ngại đến nông tang kỳ vụ, các ông hãy đi làm đi.
Trong đó có hai người ở Mộc Gia Trang hỏi:
- Không biết ông lớn tới Mộc Gia Trang bắt ai?
- Bắt bọn cướp chạy trốn.
- Vậy có phải là Dư Đại Lang, cháu ngoại của Mộc Trang không? - Hai người ấy nói.
- Đúng là Dư Đại, - Điển sử nói, - ngày mồng sáu hắn đưa một người đàn bà đến đây.
Hai người ấy nói ngay:
- Đúng là có một người đàn bà còn khá trẻ cùng đi theo anh ta. Họ còn đang ở đó.
Điển sử nhờ hai người này chỉ đường đến Mộc Gia Trang.
Thấy Điển sử trực tiếp đến bắt, nhà họ Mộc sợ rằng việc tày đình như thế sẽ mang họa vào thân, bèn vội vàng lôi Dư Lâm và Phùng thị ra. Lúc ấy trời cũng đã tối, Điển sử giao hai người này cho người trong làng coi giữ, rồi mượn chỗ ngủ nhờ một đêm. Người trong làng giết gà mổ dê tiếp đãi rất thịnh soạn.
Sáng hôm sau họ giải hai người về huyện. Tri huyện thấy Điển sử đã giải người tới rất vui mừng, lên ngay công đường, cho sai nha gọi Tiền sinh viên, Thang Tiểu Xuân và những người có liên can đến nghe xét xử. Tri huyện cho giải Thục Nương tới, rồi hỏi Tiền Nham:
- Đây có phải là vợ anh không?
- Thưa ngài, đúng là vợ con ạ. Đã bắt được vợ con rồi, vậy kẻ lừa đảo quan phụ mẫu đã bắt được chưa ạ.
- Hắn đang ở đây.
- Xin ngài cho con được gặp xem hắn là người thế nào?
Ngài quan huyện cho gọi Dư Lâm ra. Thấy Dư Lâm, Tiền Nham giậm chân đấm ngực kêu lên:
- Hóa ra là mày! Hóa ra là mày ư!
Dư Lâm tự thấy đuối lý, cúi gằm mặt xuống, chẳng nói chẳng rằng. Ngài quan huyện nói:
- Anh quen biết hắn ư?
- Thưa ngài, con với hắn là bạn học cùng trường, con cưới vợ được năm sáu hôm, nhân khi bạn bè tới, con làm một bữa tiệc để ăn mừng. Lúc ấy con đâu có biết mà đề phòng loại cầm thú đội lốt người đang ở đó. Trong lúc uống rượu, ngẫu nhiên bàn đến việc hôn nhân của vợ con, không biết thế nào lại lại lừa vợ con rồi dẫn đi.
Ngài quan huyện cười, rồi quay lại hỏi Dư Lâm:
- Đối với bạn bè ngươi không nên làm như thế. Ta hỏi ngươi, ngươi đã nói thế nào mà lại lừa được Phùng thị? Vì sao Phùng thị không quen biết nhau mà lại trốn theo ngươi? Hãy khai thực, nếu quanh co che giấu ta sẽ cho nếm đòn rồi nói chuyện sau.
- Thưa ngài, - Dư Lâm nói, - vì ông Tiền nói rằng vợ ông ấy vốn đã gả cho Thang Tiểu Xuân làm vợ, nhưng không thành. Vợ ông ấy không lúc nào là không thương nhớ Tiểu Xuân. Bởi thế, vào ngày tết Đoan Ngọ con đã cố ý đến nhà ông Tiền. Không ngờ Phùng thị ra hỏi, con bèn mạo nhận là Thang Tiểu Xuân. Phùng thị tưởng thật, muốn thỏa nguyện ước xưa, bằng lòng bỏ trốn. Thế là hẹn nhau bỏ trốn vào lúc canh năm ngay đêm ấy.
Nói chưa dứt lời thì Thang Tiểu Xuân đang quỳ bên cạnh đánh bừa vào đầu Dư Lâm, nói:
- Mày giả danh tao lừa người ta, khiến ta bị đòn oan.
- Không được ăn nói bừa bãi, - quan huyện nói, - không cho phép ngươi báo thù.
- Bẩm ông lớn, - Tiền Nham nói, - điều này không thể trách Thang Tiểu Xuân được, ngay con đây cũng không chịu nổi.
Quan huyện hỏi Phùng thị:
- Tại sao trong phút chốc ngươi nghe the mưu gian, rồi theo hắn trốn đi?
Thục Nương kìm nén nỗi xấu hổ, cố giữ không cho nước mắt chảy ra. Kể ra tỉ mỉ khi cha còn sống đã hứa nhận Thang Tiểu Xuân là con rể như thế nào. Ngài quan huyện nói với Tiền Nham:
- Anh Tiền, căn cứ vào lời khai của Phùng thị, thế thì chẳng phải là anh cưỡng ép người ta lấy anh ư?
- Thưa ngài, nhà con nghèo xơ xác, tiền không mà thế lực cũng không, thì làm sao mà cưỡng ép cô ấy được? Đó là do chú cô ấy bằng lòng gả cho con làm vợ kế. Đã thế thì nay cô ấy cũng không còn là vợ con nữa, Phùng thị một lòng muốn về với Thang Tiểu Xuân, nếu con giữ cô ta lại thì sau này sẽ sinh sự. Thôi thì ngài đứng ra gả Phùng thị cho Thang Tiểu Xuân để trọn mối tình xưa nghĩa cũ.
- Tuy anh nói như thế, - ngài quan huyện cười nói, - song ta sợ rằng lòng anh nghĩ khác!
- Thưa ngài, con là một tú tài kiết xác, nhưng cũng có chút khí tiết, một lời đã quyết thì sẽ không thay lòng đổi dạ. Huống hồ vợ đã thất thân, về ly cũng khó mà tái hợp được.
- Anh nói phải, - quan huyện nói, - song người đã về nhà họ Thang, thì phải trả lại lễ vật cho anh. Khi nào Thang Tiểu Xuân bồi hoàn xong lễ vật thì đưa Phùng thị về làm lễ thành hôn.
- Thưa ngài, - Tiền Nham nói, - khi con cưới Phùng thị, lễ vật chẳng đáng là bao. Nếu nay xử cho Thang Tiểu Xuân phải mang bạc đến trả thì chẳng hóa ra con lợi dụng vợ ư? Sau này bạn bè biết được, bảo con vì nghèo túng quá mà bán vợ đi thì chẳng đẹp mặt chút nào. Con chỉ mong ông lớn cho Thang Tiểu Xuân dẫn ngay Phùng thị về làm lễ thành hôn, như thế con mới giữ được thể diện và được trong sạch.
- Như thế - quan huyện nói, - thì quả là việc hiếm có trên đời, và cũng thấy được phẩm cách của anh. Dư Lâm gian đâm lừa dối vợ nhà lành xử theo luật định không thể tha thứ được.
Thế rồi ông quát tả hữu lôi Dư Lâm ra, đánh ba mươi gậy, đày đi Tĩnh Nam làm khổ sai ba năm. Phùng thị bằng lòng cho Tiểu Xuân đón về làm vợ. Hai người cúi lạy tạ ơn, ra khỏi cổng bèn gọi một chiếc kiệu nhỏ khiêng Phùng thị về nhà mình. Còn Tiền tú tài một mình lủi thủi trở về nhà.
Hai ba hôm sau, Tiền Nham lại tới bẩm với quan huyện rằng:
- Thưa ngài của hồi môn của Phùng thị rất nhiều, họ đều mang đến Mộc Gia Trang. Tuy là bỏ đi trốn, nhưng đây không phải là của ăn cắp, cho nên về lý vẫn thuộc về Phùng thị. Xin quan lớn cho người đến lấy về trả cho nguyên chủ.
Quan huyện chuẩn y, sai hai người tới chuyển về, thì chỉ còn khoảng năm sáu phần mười. Lúc ấy quan huyện coi trọng nhân cách của Tiền tú tài, bảo thư lại làm mối tìm cho Tiền một người vợ khác. Sau đó anh cũng làm được mấy việc công. Kiếm được khoảng một trăm lạng. Tiền Nham đã sống khá hơn trước.
Mấy hôm sau Thang Tiểu Xuân khăn áo tới tạ ơn quan huyện. Quan huyện nói:
- Không phải tạ ơn ta. May mà bổ nha trông thấy, chứ không thì bản thân anh có đến cũng không được. Bây giờ anh nên tới tạ ơn quan bổ nha.
Thang Tiểu Xuân vâng dạ, rối rít rồi tới ngay cảm ơn Điển sử. Điển sử cười nói:
- Quả là nếu trước đó tôi không nhìn thấy họ thì khó có thể gỡ oan cho anh được. Anh về còn phải lạy tạ ông bạn họ Tiền của anh. Một người nhẹ nhàng thoải mái giao vợ mình cho người khác như thế quả là hiếm có. Còn Dư Lâm tuy làm liên lụy khiến anh phải chịu chút ít hình phạt, song nếu anh ta không lừa cô ấy thì làm sao anh được vợ. Việc này quả là tội nặng mà công thì cũng lớn. Bởi thế tôi đi tuần tra suốt một đêm, không bắt được trộm mà lại làm mối cho anh được vợ, vậy mà tôi chưa được uống rượu cưới đấy. Hôm nào đó tôi đến chúc mừng anh kiếm bữa rượu.
Thang Tiểu Xuân rất mừng kêu lên:
- Xin mời, xin mời ông.
Tiểu Xuân cáo từ ra về, chuẩn bị hai tấm vải, ba bốn lạng bạc tới biếu Điển sử. Điển sử vui vẻ nhận, đây cũng là việc bình thường, nhận cũng chẳng có gì sai. Có bài thơ như sau:
Xưa nay bắt trộm được chia của,
Nay thì bắt trộm giải được oan.
Lại thêm nối lại nhân duyên cũ.
Đến tới bạc muôn cũng chẳng vừa.
Về sau nghe nói, Phùng Thục Nương và Thang Tiểu Xuân sống với nhau rất tâm đầu ý hợp. Sinh được mấy người con, chỉ vì nhẹ dạ tin những lời lừa gạt của kẻ khác lại thất thân với hắn, thật là ê mặt. Tuy nói là không bội ước; nhưng cũng không phải là thục nữ có tấm lòng trinh bạch. Hơn nữa lại nói rằng: "Ta lấy một tú tài nghèo kiệt xác hữu lậu”. Nếu như Tiền tú tài trẻ và giàu có thì chắc gì cô ta nhớ đến Thang Tiểu Xuân. Tiền tú tài không chú ý giữ gìn, sơ suất nói ra chuyện thầm kín của vợ mình, gây nên nỗi ô nhục cho chính mình. May mà còn có một chút ít chí khí, không nhận người vợ đã bỏ trốn, không nhận sính lễ, được ông lớn cho là người chưa nhụt mất nhuệ khí. Vả lại gặp những sự cố xảy ra trong gia đình, cũng không đến nỗi mất hết tinh thần, đó là do có lòng tốt mà được đáp đền. Còn như Dư Lâm là loài cầm thú đội lốt người, cho nên thật đáng ghét. Nếu Thục Nương không thương nhớ mối tình cũ, Tiền Nham cũng không nói lộ ra, không có kẻ hở thì Dư Lâm làm sao mà chui vào được. Ôi, phàm là mình tự khinh mình, rồi sau đó người khác mới khinh mình. Người ấy có lẽ là Tiền Nham chăng? Võ Tắc Thiên từng nói: "Sau này khanh có mời khách cũng phải chọn người"(1) Các bạn thân mến, xem tới đây mới thấy chúng ta nói năng phải thận trọng và giao du cũng phải thận trọng. Thời ấy có một bài thơ trào lộng như sau:
Thục Nương quyến luyến người tình cũ,
Một tháng ba lần phải thay chồng.
Chàng Tiền vợ mất, đêm chung gối.
Cớ sao làm mối, giúp Từ Lâm.
Mượn Lý khoe Trương còn giữ được,
Tưởng thật, theo gian chẳng phải ngoan.
Thương ôi! Phà tổ về chủ cũ,
Dù có phong lưu cũng sượng sùng.
(1) Võ Tắc Thiên ra lệnh cấm giết gia súc. Trương Đức sinh con trai giết để ăn mừng mời bạn đồng liêu tới dự. Đỗ Túc cũng được mời song hắn ngầm tâu với võ Tắc Thiên. Hôm sau vào chầu, Võ Tắc Thiên nói với Trương Đức: "Nghe nói ái khanh mới xin con trai, trẫm xin chúc mừng". Trương Đức cúi đầu lạy tạ. Võ Tắc Thiên hỏi: "Lấy thịt ở đâu ra mời khách đấy". Trương Đức hồn xiêu phách lạc cúi đầu nhận tội. Võ Tắc Thiên nói: "Trẫm cấm giết gia súc, nhưng việc hiếu lễ thì không hạn chế, có điều sau này khanh mời khách cũng phải chọn người". Trích Truyện Võ Tắc Thiên, NXB Thuận Hóa, 2003.
0
Chương 24 [/align]



Giữ Khí Tiết Liệt Nữ Lưu Danh
Tham Sắc Đẹp Kẻ Ngu Chịu Tội


Chương 24a [/align]



Khổng Dung che giấu Trương Kiệm, việc ấy bị phát giác, em và mẹ tranh nhau chết thay, cả nhà đã trở thành những người nghĩa hiệp, được đời đời ca ngợi. Sau này lại có nhà tham quyền ỷ thế, không có cương thường nghĩa, cha, con không đồng lòng, anh em không cùng tiết lẫm liệt, trở thành một loại. Những việc này do quyền lực ngăn chặn, mai một đi, không ai còn biết được nữa, ta hoàn toàn không muốn nó mất đi.
Ta thường ghi những sự việc tai nghe mắt thấy: có một người đàn bà chồng chết, không đi lấy người khác, đã vẽ bức ảnh chồng để dưới gối, hằng ngày ngắm nhìn chồng. Thế rồi có một người khác biết được nói, chẳng phải cô ta yêu chồng đâu, cô chỉ yêu sắc đẹp đấy thôi. Có một người dung mạo đẹp hơn chồng cô, cuối cùng đã làm cho cô thay lòng đổi dạ. Một người thấy Long Dương là bạn thân của mình đẹp hơn hẳn chồng cô, anh ta bèn vẽ bức chân dung Long Dương rồi nhờ một bà già đưa cho cô. Quả nhiên bà già ấy làm cô thay lòng. Long Dương ép thuyền vào bờ chờ ba đêm thì cô ấy ra. Sao đó Long Dương trốn đi, chỉ còn lại một người trung niên râu quai nón, nên cô ấy đành phải lấy người này. Người nhà chồng cũ kiện người này đã dụ dỗ người gian dâm. Song người này đã dẫn cô ta cho một vị quan to, để dập tắt vụ kiện. Như vậy cô đã qua bốn đời chồng. Điều ấy chẳng có gì đáng nói.
Ở Ngô Giang có một người đàn bà giàu nhưng góa chồng. Vì muốn chiếm gia tài, nên người chú họ gả người ấy cho một người danh tiếng. Người ấy trốn thoát tố cáo việc này lên huyện. Quan huyện không dám thẳng tay xét xử. Người đàn bà ấy đã tự cắt cổ chết. ở Sở Trung có một người đàn bà giỏi văn chương, từng làm bài giúp chồng. Có một công tử cùng trường biết được, bởi thế đã đầu độc chồng chị ta. Sau đó lại tổ chức tang lễ cho chồng chị cực kỳ linh đình. Người đàn bà ấy vẫn không biết. Đến khi người này tìm mọi cách và dùng cả thế lực cướp chị về làm vợ lẽ. Người đàn bà này bèn nghi ngờ về cái chết của chồng. Rồi chị nghĩ: "Ta đã dùng tài sắc để giết chồng, rồi đi hầu hạ kẻ giết chồng mình". Sau đó tự đâm cổ chết. Người đàn bà này thật xứng đáng là một liệt nữ. Ở Chiết Giang lại có một người giữ trọn lời thề với người chồng chưa cưới, khi chồng chết cũng chết theo chồng, càng làm cho ta vô cùng kính trọng.
Đó là:
Một lời đã hứa,
Tiếc gì đến thân.
Cùng nhau sống chết,
Tuyệt vời vĩ nhân.
Người đàn bà ấy họ Trình, ở ngoại thành huyện Khai Hóa, phủ Cù Châu, vốn quê ở Vụ Nguyên. Cha là Trình ông, thường xẻ gỗ bán cho vùng Nam Trực, Triết Giang, bởi thế thường trú tại Khai Hóa. Vợ là Ngô thị, cũng là người thuộc dòng họ lớn ở Tân An. Trình ông có người con trai tên là Trình Thức. Tháng Chín lại xin được một con gái tên là Cúc Anh. Trình ông tính tình chất phát, thật thà, đã hứa với ai thì chẳng bao giờ sai lời, chẳng hạn như hẹn một người nào đó vào giờ tỵ, thì không bao giờ tới giờ ngọ. Đã hứa cho ai vay một trăm lạng thì không bao giờ đưa chín mươi chín lạng. Ông thường nói mình là một gã đi buôn, không thông hiểu chữ nghĩa, nhưng rất yêu mến những kẻ sĩ hiểu biết rộng. Trong nhà, ông thích lưu giữ sách vở và thư họa. Con cái còn nhỏ tuổi nhưng ông đã mời thầy về dạy học. Bởi thế Cúc Anh cũng biết đến sách vở chữ nghĩa và biết viết văn chương. Khi lớn lên ông lại dạy thêu thùa may vá. Xem ra sau này cô không chỉ là người đẹp, răng trắng lông mày lá liễu, da trắng như tuyết, thướt tha yểu điệu, hòa nhã nết na mà còn là một bậc nữ sĩ tài hoa. Vợ Trình Công thương nói: "Con gái ta nhất định sẽ không làm thiếp cho những kẻ phàm phu tục tử".
Người đẹp như băng tuyết,
Lại tỏa ngát hương thơm.
Lũ dê đục thèm thuồng,
Cũng không sao chiếm được.
Trước hết Trình ông cưới cho Trình Thị một người con gái thuộc dòng dõi Nho gia. Sau đó ông chọn cho con gái một chàng trai cũng thuộc dòng dõi Nho gia. Trong làng có một tú tài người họ Trương. Con trai ông là Trương Quốc Trân, khôi ngô tuấn tú, cử chỉ lịch thiệp, cực kỳ thông minh, lại rất ham học. Chỉ có điều nhà rất thanh bạch nghèo túng. Trình ông thấy anh ta là người đức hạnh, lại học giỏi bèn gả con gái cho anh ta. Song Trương tú tài ra sức chối từ, ông nói:
- Người ngày nay chỉ muốn lấy vợ nhà giàu, mong của hồi môn, để hằng ngày dựa dẫm vào vợ. Không biết rằng người đời sẽ cậy của lấn lướt chồng, coi thường bố mẹ chồng. Hơn nữa không quen gian khổ, lại thích ăn ngon mặc đẹp. Nếu mình cứ chiều theo họ thì sẽ không có khả năng. Nếu không chiều theo họ thì cửa nhà sẽ không yên, cho nên không thể với cao.
Tùng bách vươn tầng mây,
Mộng đàn bà hạn hẹp.
Giữa đường mộng đã vỡ,
Lệ chảy tràn xiêm y.
Trình ông nghĩ: "Ông Trương nói như thế, ấy là người có phẩm giá cao. Con gái ta vốn là người có học vấn, biết lẽ phải. Hoàn toàn khác hẳn với con những nhà giàu có khác. Dù cho lễ vật ít hay nhiều ta vẫn gả cho Trương Quốc Trân".
Đúng vào lúc sắp cưới, thì gặp lại nhà họ Từ ở Thanh Dương, là một đại phú gia, ruộng đồng thẳng cánh cò bay. Thích kết giao với quan lại, chỉ có một đứa con trai tên là Từ Đăng Đệ. Vì là nhà giàu lại một con, nên cả nhà hết sức nuông chiều. Tuy có mời thầy, nhưng không dám dạy một câu viết một chữ. Đến năm mười ba, mười bốn tuổi vẫn mù tịt, chẳng biết chữ nào. Chạy hết chỗ này đến chỗ khác xin vào trường, tỏ ra ta đây là học sinh. Nay phá đề thừa đề, mai giảng giải, chọn ngày làm văn. Chẳng biết chữ nào do anh ta viết ra? Còn thầy thì cốt kiếm tiền, không nghĩ gì đến hậu họa. Từ Đăng Đệ thì vênh vang tỏ ra ta đây là người tài giỏi. Hắn cứ mở miệng ra là tục tĩu. Thường thì người ta tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy lại, nhưng hắn thì không thế, lúc nào cũng luôn miệng chi hồ giả dã(1), người khác xấu hổ thay, nhưng hắn không biết ngượng. Đến năm mười lăm mười sáu tuổi thì hắn la ca tới ngõ liễu đường hoa, quán rượu sòng bạc, chẳng nơi nào mà hắn không đến. Tới khi thi, thì cả nhà phải chạy chọt đút lót, thầy dạy cũng đi tìm người làm bài hộ, chẳng biết mất bao nhiêu tiền. Đến khi không đỗ lại ngông cuồng khoác lác rằng: "Lão đề học không hiểu được văn chương mới, rằng không biết chọn người có thực tài "
(1) Chi hồ giả dã: là các hư tự thường dùng trong cổ văn. Ở đây ý nói Từ Đăng Đệ dốt đặc nhưng hay khoe chữ.
Đúng là:
Bụng dạ tối om om,
Không phải là chứa mực.
Là mặt hoa da phấn,
Song chẳng phải văn nhân.
Lão Từ lại nói:
- Con tôi giỏi như thế, phải lấy một người cực kỳ xinh đẹp, cực kỳ giỏi giang.
Chẳng quản xa hay gần, cứ thấy nhà ai có gái đẹp là nhờ người tới hỏi. Rất may lão Từ tìm được con gái nhà họ Trình, lại biết được nhà họ Trình mời thầy về dạy chữ, mời người dạy thêu thùa. Cô gái ấy biết chữ lại biết thêu thùa may vá. Thế rồi lão ta nhờ một người mối đến nhà xem mắt, họ trở về nói, cô là một người quốc sắc thiên hương. Lão ta nhờ người tới hỏi, song Trình ông không ưng. Lão Từ đã định rằng, nếu Trình ông ưng thuận thì đưa tới năm trăm lạng bạc làm sính lễ. Trình ông không bằng lòng gả. Ông nói:
- Không phải là tôi bán con.
Thế rồi ông sai người mối tới nói với Trương tú tài, thôi thì sính lễ. thế nào cũng được, cứ dẫn lễ trước đi. Đó chính là:
Chim hoang sánh chim phượng,
Bạch chỉ sánh hoa lan.
Cười cho giống lau sậy,
Đòi sánh càng ngọc lan.
Thấy Trình ông nhiều lần chối từ, lão Từ túc giận nói:
- Ta nhờ một người có thế lực, sợ gì ông ta không nghe.
Thường ngày lão Từ kết thân với một viên quan họ Vương, đây là một tri huyện cử nhân, đã từng làm quan đốc phủ của tình này, ông ta luôn búi tóc. Lần này đốc phủ vẫn còn phấn chấn, lão Từ đã biếu bốn bộ quần áo, một bộ chén bạc có chân, và mười hai lạng bạc, nhờ ông ta bày mưu. Viên quan này nhận tất không từ chối.
Ông ta chọn ngày tốt, đội chiếc khăn đen nhánh, mặc chiếc áo đỏ sẫm, tay cầm ô tới gặp Trình ông. Trình ông thấy thế khiếp sợ sau khi ngồi vào bàn, ông ta nói ngay vào việc hôn nhân. Trình ông nói:
- Con gái tôi đã nhận sính lễ nhà họ Trương.
- Làm gì có chuyện đó, viên quan nói, mà nếu có nhận sính lễ rồi thì tại sao ông Từ lại còn nhờ tôi, đến nói? Tôi phải là người làm mối.
- Quả thực đã nhận sính lễ rồi, - Trình ông nói, - hiện lễ vật vẫn còn.
Thế rồi Trình ông bảo người mang lễ vật ra cho quan xem. Thấy thế quan nói:
- Sao ông lại bán rẻ con ông như thế? Đây không coi là sính lễ. Tôi xin đảm bảo với ông sính lễ năm trăm lạng.
- Việc hôn nhân mà bàn đến của cải thì đó là đạo cầm thú, quả thực tôi đã gả cháu cho người ta rồi, không thể thay đổi được nữa.
- Có khó gì mà không thay đổi được! - Viên quan nói. - Loại tú tài kiết xác, ông trả thêm cho ông ta một ít thì ông ta ưng ngay. Ông lại chuẩn bị một ít để lại quả cho ông Từ, như vậy vẫn còn bốn trăm lạng. Đây là điều ông ấy mong chờ ông, có mất thêm một chút cũng không ngại. Ngay tôi đây khi gặp may, có ba bà, tám đứa con gái mà cũng đã lấy chồng cả rồi, cháu nội cháu ngoại thì cũng phải đủ ba trăm lạng một đứa. Nhà tôi cũng như nhà ông Từ, hơn một trăm lạng có đáng kể gì tiền lãi hằng ngày của ông ấy còn nhiều hơn thế. Ông không nên cố chấp.
Trình ông vẫn không nghe, viên quan cụt hứng bỏ về. Lúc ấy cha con lão Từ đang chờ ở nhà, cầm chắc việc đã thành. Thấy ngoài cửa báo tin ngài Vương tới, viên quan họ Vương không giương ô, không mặc áo nhà quan, bước vào nói:
- Hai mươi năm đỗ cử nhân làm quan, ta đã nói không biết bao nhiêu người, song không có ai lại cố chấp như lão ta.
- Lẽ nào ông ta không nghe. - Lão Từ nói.
- Vẫn không nghe! - Viên quan nói. - Ta nghĩ rằng thiên hạ thiếu gì con gái, sợ gì không có người đẹp? Ta sẽ tìm cho một người khác.
Nói xong đứng dậy ra về. Cha con lão Từ cố giữ lại bằng được, nói:
- Mong ông ngồi lại một chút đã.
- Không có công mà ăn lộc. - Viên quan nói.
Ngồi yên chỗ, viên quan chỉ vào Từ Đăng Đệ nói:
- Tài cao như anh nhà đây giá làm phò mã cũng xứng. Chỉ hận một nỗi tôi không đứa con gái thứ chín.
- Cha con tôi ngu dốt bị cự tuyệt còn chịu được. Nhưng ông lớn nói lời vàng ý ngọc, không thể không nghe. Nhà tôi mất thể diện đã đành, mà ngay cả ông lớn nói không đắt lời cũng sẽ bị người ta chê cười. Mong ông lớn tìm cách giúp.
Viên quan nói:
- Tôi chẳng có kế gì, có gì ông cứ nói ra tôi sẽ đi làm.
Hồng nhan thường bạc mệnh,
Xưa nay thật đáng thương.
Chỉ sợ mày ngài đẹp,
Gây nên bao chuyện buồn.
Lão Từ nói:
- Tôi biết ngài quan huyện rất phục ông lớn, mình cầu hôn không được thì kiện thôi.
- Lẽ nào lại đi kiện! - Viên quan nói.
- Tôi kiện nhà họ Trình bội ước, họ Trương cưỡng ép đưa sính lễ. Xin ngài nhờ quan huyện xét xử.
- Tôi được đốc phủ tin cậy yêu mến, song chuyện nhỏ không nên nhờ. - Viên quan nói. - Việc hôn nhân là việc nhỏ ông nhờ người khác thôi.
- Cốt là tranh lấy tiếng chứ không tranh giành về của cải, Từ Đăng Đệ nói, - chỉ cần xong việc là tôi sẽ tạ ơn một trăm lạng, cha tôi không bỏ ra thì tôi bỏ ra.
- Loại lăng nhăng ấy kể làm gì, chỉ cần kiện nhà họ Trình bội ước, gả con gái cho người khác thôi.
0
Chương 24b [/align]

Quả nhiên nhà họ Từ làm đơn kiện, còn viên quan sẽ được trả một trăm lạng bạc khi nhà họ Từ thắng kiện. Trước hết hai sai nha đến nhà họ Trình, Trình ông chẳng biết vì sao. Sai nha nói là nhà họ Từ kiện ông bội ước. Thật đáng là điều vừa tức giận vừa buồn cười. Trình ông dọn cơm rượu đãi sai nha, sai nha đòi lót tay sáu mươi đồng, nếu không thì giải con gái lên huyện. Không còn cách nào Trình ông đành đưa cho họ hai mươi đồng.
Mổ sẻ xuyên qua đuôi
Uy cáo quen cướp vàng.
Họa đến như có cánh,
Ngồi nhà cũng tai ương.
Khi xét xử, Trương tú tài cũng nhờ bạn bè tới nói giúp. Trước hết quan huyện nghe theo viên quan họ Vương trình bày rồi nói với Trương tú tài:
- Anh là người không biết điều, bây giờ ta gọi lễ vật cho anh thôi.
- Nhà họ Từ chưa từng đưa sính lễ, mà cưỡng ép họ Trình phải gả. - Trương tú tài nói.
- Việc ấy anh mặc người ta, - quan huyện nói, - chẳng thiệt gì đến anh.
Khi thẩm vấn chẳng biết lão Từ lấy đâu ra một chiếc vạt áo nói:
- Dạo ấy con đi buôn với Trình ông, hai người vợ chúng con đều có mang, và hai người đã từng cắt vạt áo để đính ước với nhau. Về sau con đẻ con trai, ông ấy sinh con gái, con từng đưa cho Trình ông một đôi vòng vàng, hai chuỗi ngọc và bốn mươi lạng bạc để tạ ơn ông ấy hứa gả con gái cho con trai mình. Sau đó vợ ông chê nhà con ở xa, rồi gả cho nhà họ Trương.
Quan huyện gọi Trình ông, Trình ông nói:
- Thưa ngài, con tuy đi buôn nhưng không quen biết ông Từ thì làm gì có chuyện cắt vạt áo để hẹn ước với nhau? Và cũng chẳng bao giờ nhận vòng vàng, chuỗi hạt châu và tiền bạc nào cả.
- Trên đời này làm gì có chuyện ăn không nói có đến như thế!
Quan huyện nói xong gọi người làm chứng, - một tên lưu manh do lão Từ mua chuộc, - hắn nói:
- Thưa ngài, con là Nha Hành. Mười bảy năm về trước hai người này buôn bán gỗ, họ đều nghỉ nhờ tại nhà con, không ngờ sau khi uống rượu họ cắt vạt áo đính ước với nhau và nhờ con làm mối. Con thấy họ đưa lễ cho nhau rồi sau đó có tới mười năm họ không đến nghỉ tại nhà con nữa. Cách đây ba năm, ông Từ đến nhờ con tới gặp ông Trình xin cưới. Trình ông nói: "Đường xa không gả". ông Từ không nghe, bởi thế cứ dây dưa. Còn việc nhận sính lễ của Trương tú tài thì quả thực con không biết.
- Đồ lừa dối gian xảo, - tri huyện chỉ vào mặt Trình ông nói - đúng là ngươi đã bội ước, nhận sính lễ của người khác rồi.
- Thưa ngài, - Trình ông nói, - con chưa từng đến buôn bán ở Thanh Dương, và cũng chưa từng nhờ Nha Hành làm mối. Đây là một tên vô lại, do lão Từ mua chuộc rồi tự đặt điều.
- Ta đến xin cưới, - tên vô lại nói, - ngươi còn mời ta uống rượu. Khi ta hỏi, thì ngươi nói còn phải bàn với vợ, đi đi lại lại tới mấy lần, sao ngươi lại bảo không quen biết ta? Đúng là:
Bịa đặt điều tày trời,
Lừa dối mà có lý.
Tài Tô Tần, Trương Nghi(1)
Mới bịt mồm hắn được.
(1) Tô Tần, Trương Nghi: hai nhà thuyết khách tài giỏi thời Chiến Quốc.
Tri huyện đùng đùng nổi giận, gọi sai nha đánh và kẹp Trình ông. Bắt sai nha áp giải về nhà trả lại sính lễ nhà họ Trương, và bắt họ Trương phải nhận. Đồng thời nhà họ Từ đưa lễ tới rồi trở về thưa lại với quan huyện.
Giải Trình ông tới nhà rồi sai nha lại đến tìm Trương tú Tài. Sợ rằng sẽ làm liên lụy đến Trình ông, Trương tú tài phải nhận lại sính lễ. Trình ông nói:
- Sao lại có chuyện này được.
Ông không chịu trả lễ vật. Đến khi nhà họ Từ mang lễ vật tới, Trình ông quẳng ra sân, giằng co nhau đến hơn một ngày mà không xong. Nhà họ Từ lại bẩm lên quan. Sai nha tức lên trói Trình ông lại nói:
- Ngươi trái lệnh quan, ta phải giải ngươi lên huyện, đánh cho ngươi một trận thì việc cưới xin này mới xong.
Cứ giằng đi kéo lại mãi như thế, Trình ông uất ức, đờm chẹn lấy cổ rồi ngã vật xuống. Vợ con trong nhà đều chạy ra, đổ thuốc dội nước. Trình ông trối trăng lại rằng:
- Con gái ta thật là bất hạnh, bị nhà có thế lực ức hiếp. Cha chết đi con phải giữ lời cha thì cha xuống dưới suối vàng mới nhắm mắt được.
Nói xong, đờm lại chẹn lên tận cổ, rồi tắt thở.
Sống chết giữ lời hứa,
Không bao giờ đổi thay.
Đáng đời bọn phản phúc,
Bị đời đời cười chê
Cả nhà gào khóc thảm thiết, bọn sao nha thấy vậy chuồn thẳng. Nhà họ Trình đập nát sính lễ nhà họ Từ rồi vứt đi. Cho người tới gọi nhà họ Trương, nhân lúc chưa phát tang sang cưới chạy tang. Trương tú tài sợ quan quở trách, không dám tới. Nhà họ Trình tự thu xếp rồi khâm liệm Trình ông.
Lão Từ nghĩ: "Nó không gả thì ta cũng không chịu! Trình ông chết rồi, con trai còn non trẻ, trước đây ta kiện hắn bội ước. Dù cho hắn kiện về án mạng cũng chỉ là chống đỡ". Nhất định đòi viên quan họ Vương đảm bảo đến cùng, và đưa cho ông ta mười lạng bạc làm lệ phí. Viên quan họ Vương nhận làm cháu ngoại, rồi đệ đơn kiện lên đốc phủ, quan đốc phủ phê: "Bội hôn ước, chống lại quan, rất coi thường phép nước. Mong rằng huyện phải nghiêm chỉnh phán quyết, định ngày thành hôn rồi đệ lên cấp trên". Nghe thấy viên quan họ Vương kiện lên tỉnh, tri huyện lo cuống vó. Đến khi nhận được trát quan tỉnh dào về, vội sai tới người tới bắt Trình Thức. Trình Thức ngang nhiên tới huyện đường. Mẹ anh dặn:
- Con không được thay đổi lời cha.
- Xương cha con chưa lạnh, - Trình Thức nói, - làm sao con nỡ nhẫn tâm trái lời cha.
- Việc này quyết phải chống lại, - vợ anh nói, - không thể nhù nhờ với họ được.
Giữ nghĩa phải đồng tâm,
Hứa hôn không thay đổi.
Nghe những lời khích lệ,
Thấy đạo xưa vẫn còn.
Trình Thức tới nơi, quan huyện nói:
- Quan trên hẹn ngày con trai họ Từ cưới em ngươi, ngươi không thể trái lệnh được.
- Thưa ngài, cha con không hề gả cho anh ta, mà cũng chẳng có chuyện nhận sính lễ của họ.
- Anh đừng nói càn như thế, - quan huyện nói, - bỏ nhà giàu không gả, lại đi gả cho thằng kiết xác, thiên hạ không có ai ngu như ngươi! Bây giờ ta làm người mối, đốc phủ làm chủ hôn. Nếu ngươi cưỡng lại thì ta giải ngươi tới đốc phủ thì ngươi sẽ nát như cám.
- Sống chết đều có số, - Trình Thức nói, - còn nếu như hủy hoại đức hạnh, phẩm tiết thì con nhất định không làm. Ngay như ngài coi dân như con thì cũng phải làm cho phong tục ngay thẳng, kỷ cương sáng rõ. Tại sao ngài lại bảo con làm những điều như thế?
Nghe xong tri huyện đùng đùng nổi giận:
- Bọn ngu si lại dám chống ta!
Thế rồi quan huyện đánh Trình Thức ba mươi gậy, máu me chan hòa. Sau đó quan huyện gọi nhà họ Từ mang lễ vật đến giao ngay tại công đường. Trình Thức gào lên.
- Ông lớn, dù có phải chết tôi cũng không nhận lễ vật, em tôi quyết không lấy hắn!
- Thằng này bướng thật!
Dứt lời quan huyện sai người dùng bàn vả vả vào mặt Trình Thức bốn mươi cái, Trình Thức vẫn không chịu. Quan huyện nghĩ: "Mình cũng ngu rồi, đốc phủ hẹn ngày thành hôn, mình bắt nó thành hôn, còn nó có nhận lễ vật hay không mặc nó!". Sau đó giam Trình Thức vào ngục, rồi sai nha lập tức đi bắt Trình thị.
Ông tơ sai quan huyện
Bà Nguyệt sai lính hầu
Mượn một tờ lệnh trát
Dùng làm bùa đón dâu.
Bọn sai nha tới nhà, bà mẹ vội vào phòng con gái, nói:
- Việc này phải khu xử thế nào? Con không được quên lời cha trăng trối lúc lâm chung.
- Con có cách, - Trình thị nói, - mẹ đừng lo, con thà chết để báo đền cha mẹ, chứ quyết không thất thân với kẻ cường bạo.
Thế rồi cô ung dung rửa mặt chải đầu, mở hòm lấy bộ quần áo mới mặc vào. Mấy tên sai nha ngoài sân quát tháo ầm ĩ, Trình thị như không nghe thấy. Cô khâu chặt áo trong, bên ngoài thắt dây lưng thật chắc. Mẹ cô nói:
- Gặp quan phải mặc áo xanh.
Cô mặc thêm áo xanh bên ngoài, rồi đến bàn viết của mình mài mực, lấy ra một tờ giấy, viết mấy chữ giấu vào tay áo. Sau đó cô tới linh cữu cha khóc từ biệt. Tiếp đó cô lạy mẹ, mẹ cô khóc nức nở không nói lên lời. Cô lại quay sang nói với chị dâu:
- Em đã làm liên lụy đến anh, lại liên lụy cả đến chị. Em thật là bất hạnh, không thể suốt đời hầu hạ chị, đúng là số của em đã như thế rồi. Kinh Thi nói: "Há rằng chẳng phải lúc nào cũng đi trên con đường đẫm sương". Em không tham sống một ngày mà để cho "thế gian mãi mãi cười chê". Nhà còn mẹ già, may mà còn có chị trông nom săn sóc.
Chị dâu cũng khóc lóc, nói:
- Chị hứa với em sẽ chăm sóc mẹ già chu đáo, còn em cũng phải nhớ lời trăn trối của cha.
Trình thị đi tới bên kiệu, bọn sai nha thầm khen: "Quả là một người đẹp! Chẳng trách nhà họ Từ đòi lấy cô bằng được". Suốt dọc đường người ta lũ lượt kéo nhau lên huyện xem.
Ngựa cùng đường sa huyệt
Trai lột ra khỏi vỏ
Đi giữa, nến sáng rực
Hơn cả dạ minh châu.
Nhà họ Từ nghe thấy cô gái đã bị bắt tới huyện, nghĩ rằng tri huyện cuối cùng sẽ bắt làm lễ cưới ngay công đường. Họ Từ sai người về nhà chuẩn bị cỗ bàn, mời mọc khách khứa và thuê cả phường nhạc về giúp vui. Từ Đăng đệ trang điểm xong, suốt từ trong ra ngoài mặc toàn quần áo mới, ra dáng một chàng rễ mới. Hắn chỉ mong bọn phu khiêng kiệu khiêng ngay hắn lên huyện, rồi quan huyện lập tức cho cô về nhà. Hắn cứ thập thà thập thò đến là buồn cười.
Lúc ấy sắp đến chính Ngọ, bầu trời quang đăng sáng sủa. Trình thị trong hiệu hỏi vọng ra:
- Còn mấy dậm nữa thì tới huyện?
Bọn phu khiêng kiệu cười, nói:
- Sốt ruột à sắp tới nơi rồi.
Thế rồi bọn phu khiêng ra sức cười đùa trêu chọc:
- Trước đây tôi khiêng một cô dâu, cứ ngồi trong kiệu khóc là mình khổ cực. Tôi nghe thấy chướng quá nói: "Cô ơi, tôi khiêng cô tới chỗ khác nhé". Thế là cô nín ngay, bảo tôi rằng: "Tôi khóc mặc tôi, còn các anh khiêng thì cứ việc khiêng".
Người ấy nói xong, thì người phu khiêng kiệu đằng sau lại nói:
- Tôi cũng đã từng khiêng một cô dâu, đang khiêng thì đáy kiệu lâu ngày bị hỏng, cô dâu tụt xuống, làm thế nào bây giờ. Có người bảo dùng dây buộc, người thì bảo thợ rèn đóng đinh thợ mộc sửa kiệu, song chỉ sợ lỡ giờ. Lúc ấy cô dâu bảo: "Không sao, các anh bên ngoài cứ khiêng, ta ở bên trong kiệu cứ thế đi".
Bọn họ vừa đi vừa cười đùa như thế. Nào ngờ:
Nhạn không vì kết đôi,
Nhà chứa thích dâm đãng.
Trinh, dâm thật khác biệt
Chẳng ai rõ lòng người.
Đang nói, thì tự nhiên thấy một trận cuồng phong, đất trời mù mịt, đất đá bay tứ tung, không nhìn rõ mặt người. Họ đành phải dừng kiệu chạy vào nấp dưới hiên nhà, tới nửa giờ.
Tưởng như:
Mưa tuôn, trời nhỏ lệ,
Sấm chớp tiếng bi ai.
Phật từ bốn phương tới,
Tiễn Đức Phật Như Lai.
Từ Đăng Đệ muốn nhìn cô dâu nhưng không có kẽ hở nào để nhìn, hắn phải dùng tiền đút lót cho bọn sai nha và bảo họ đừng có bép xép. Người đi xem trước cổng huyện đông nghịt như kiến cỏ. Tới cổng huyện, một sai nha chạy vào trước bẩm với quan huyện:
- Thưa ngài chúng con đã bắt Cúc Anh tới.
Mấy người còn lại tới đưa Cúc Anh xuống kiệu, giục mãi mà không thấy cô xuống. Bọn sai nha quát:
- Ông lớn đang ngồi chờ trong công đường mà vẫn còn ngồi đó ư?
Họ mở rèm ra, bổng giật mình kinh ngạc, không biết Cúc Anh đã thắt cổ chết từ lúc nào rồi. Nhan sắc của cô xinh tươi như khi còn sống, nhưng không còn thở nữa.
Vẫn giữ trọn lời thề,
Vâng theo lời cha dặn.
Dám chết cho danh tiết,
Sống thêm hổ danh cha.
Bọn sai nha vội chạy vào bẩm quan:
- Trình Cúc Anh đã đến!
Quan bảo dẫn vào, không được làm cô ta sợ hãi.
- Thưa ngài, cô ta chết rồi. - Sai nha nói.
- Nói bậy, - quan huyện nói, - đã đến thì không chết, mà chết thì đến làm sao được? Các ngươi nói chẳng sao hiểu nổi.
- Rõ ràng khi ra khỏi cửa, lên kiệu cô ta vẫn còn sống, khi bảo cô ta xuống kiệu thì thấy cô đã chết rồi!
- Ta nghĩ rằng con gái nhát gan, - quan huyện nói, - các người đã làm cho cô ta sợ hãi mà chết. Hãy mau mau gọi người tới cứu!
- Cô ấy thắt cổ chết từ lâu rồi, - sai nha nói, - còn làm sao được.
Quan huyện giậm chân nói:
- Ta không chịu trách nhiệm việc làm lỡ người đàn bà này. Hãy thả ngay Trình Thức ra, bảo anh ta mang thi thể về mai táng.
Quan huyện làm ngay văn thư trình lên quan đốc phủ. Trình Thức ra khỏi ngục, thấy thi thể em gái, đấm ngực khóc rống lên:
- Em yêu quý của anh! Em là người trinh liệt như thế, anh chết vì em cũng không uổng.
Tiết nghĩa nặng như núi,
Sao nỡ hầu kẻ thù.
Cho dùng ngọc tan nát,
Hương thơm còn vấn vương.
Mệnh hết dây đàn đứt,
Danh thơm mãi mãi còn.
Nga Giang có thánh nữ,
Đi vào cõi thanh u.
Trong số những người đi xem trước cổng huyện có một người bất bình nói:
- Nhà họ Từ bức liệt nữ này phải chết. Phải tìm cha con nó làm nhục.
Bọn người nhà họ Từ sợ quá chuồn biệt tích. Mọi người la hét ầm ĩ, quan huyện nghe thấy, trống cũng không đánh, lủi khỏi công đường.
Theo tục lệ, chết ở ngoài, gọi "lãnh thi" không đưa về nhà. Trình Thức nói:
- Đây là một liệt nữ, không làm nhục nhà ta.
Rồi bèn khiêng thi thể nàng về nhà. Mẹ chị dâu ôm lấy xác nàng khóc lóc thảm thiết. Cởi đai áo cho nàng, trên người nàng đều mặc quần áo mới, quần áo lót bên trong nàng khâu chặt lại, cho nên không thay được quần áo. Người ta rút từ ống tay áo nàng ra một tờ giấy do tay nàng viết: "Xác ta đưa về nhà họ Trương, để toại lòng cha".
Có chồng dù chưa cưới,
Vẫn giữ trọn lời thề.
Vâng theo lời cha dặn,
Ý nguyện ắt phải thành.
Trình Thức sai người tới báo cho nhà họ Trương. Cảm động trước tấm lòng nghĩa khí của nàng, cha con nhà họ Trương đều đến đưa đám. Trương Quốc Trân phủ phục trước linh cữu nàng khóc nức nở như tang vợ mình thực sự. Chàng mặc tang bằng gấm, đứng trước quan tài thực hiện lễ chồng tang vợ. Chọn ngày đưa linh cữu nàng an táng tại khu phần mộ tiên tổ nhà họ Trương.
Sau đó Trương Quốc Trân dạy học, người ta muốn người đến nói sẵn sàng gả con cho anh, nhưng anh không chịu lấy vợ. Trương tú tài nói:
- Ta chỉ có một mình con, sao con cứ khăng khăng không lấy vợ thì dòng dõi nhà ta tuyệt tự ư? Ông khuyên nhủ con hơn một năm trời, anh chỉ nuôi một người đầy tớ gái. Được hơn một năm thì được đứa con trai. Từ đó anh không chung chăn gối với cô nữa. Trong thư phòng anh đặt bài vị thờ liệt nữ. Anh coi Trình Thức như anh vợ và đi lại thăm viếng luôn. Sau này đổ cử nhân, ra làm quan tới chúc đồng tri, nhưng vẫn không lấy vợ nữa. Anh nói:
- Nuôi người hầu gái cũng là vâng theo ý cha. Anh không lấy vợ không muốn làm mất cái tình cái nghĩa mà cha con Trình ông đối với anh.
Vì vướng quan huyện, nên những người trong huyện chỉ làm thơ văn phúng viếng với tư cách cá nhân, không thể dựng bia lập biển. Quan huyện cũng vì vướng đốc phủ nên không dám dâng biểu xin triều đình nêu gương. Sau này hối hận vì đã giết cha con họ Trình, quan huyện lo sợ ốm đau, thường mơ thấy một người đẹp, cổ cuốn dây, đứng trước mặt, rồi sau mắc chứng bệnh ngơ ngơ ngác ngác, không đầy một năm thì xin về quê Đốc phủ vì lãng phí quân nhu cũng bị giải về hạch tội. Viên quan họ Vương chẳng được xu nào mà bị nhiều người phỉ nhổ. Nhà họ Từ cậy của ngang ngược, bị đưa vào lính, gia sản phá tán, con hắn phải đi ăn mày. Trình liệt nữ tuy không được triều đình biểu dương, nhưng được Đồ Xích Thủy tiên sinh viết lại thành chuyện và mãi mãi trường tồn cùng trời đất. Đúng là một chữ khen ngợi còn hơn biển khen bốn chữ. Cha, mẹ, anh, chị dâu của liệt nữ cũng được ghi trong phụ bản của truyện, rạng rỡ chiếu sáng ngàn thu. Còn như nhà họ Từ cậy giàu có mà ngang ngược, và những quan lại nhúng tay vào vụ giết người này, nay còn đâu! mà vẫn bị người đời nguyền rủa.
Những người không có kiến thức nghe thấy câu chuyện này cho rằng: "Cha ngu, con cũng ngu, bỏ nhà giàu không gả, mà lại gây ra cái sai của quan lại". Nhà họ Từ giàu có sai khiến được cả quan lại, tú tài địch với họ Từ sao được. Chỉ cần đến kết cục chuyện, nếu cân nhắc một chút, thì cũng tự thấy rõ.
0
Chương 25 [/align]



Vì Tức Giận Giết Hai Nhân Mạng
Do Cưỡng Dâm Mang Họa Vào Thân


Chương 25a [/align]



Vỗ tay chê cười kẻ điên loạn,
Chỉ vì tham sắc mà nên tội.
Đặt bẫy đào hố hãm hại người,
Đêm khuya dễ dàng lừa gái đẹp,
Những mong thỏa mãn thói dâm ô.
Mây mưa phút chốc tưởng thân yên
Song khó bề thoát khói lưới tù
Cưỡi ngụa ô tự khoe châu ngọc,
Sướng nhất thời, máu chảy đầu rơi.


Việc thành thì gọi là gì, việc không thành thì hậu quả thế nào. Đây là điều mà Dương Thục Sơn tiên sinh luận bàn về chủ trương quốc sự. Ta cho rằng người làm việc quốc gia, quả là phải có tấm lòng son đỏ vô tư, khảng khái gánh vác việc công, thành công không mong được tiếng trung nghĩa; thất bại thì không ngại gì làm ma trung nghĩa. Kẻ chuyên làm việc xấu, đứa thì lỗ mãng, đứa thì cực kỳ xảo trá, nếu thành cũng thuộc loại gian giảo lừa dối, mà không thành thì cũng không tránh khỏi bị treo cổ, chém đầu hay bị lưu đày.
Hậu quả ấy thật đáng chê cười. Song gánh chịu tai tiếng để cầu danh trục lợi, tham cái khoái lạc nhất thời cũng không tránh khỏi điều mổ bụng giấu ngọc châu. Còn nếu đến với rượu và gái, tìm sự khoái lạc trong chốc lát thì có gì là cần thiết đâu? Đấy là điều mà Thái Tổ Cao Hoàng đế đã cấm trong "Lục luận". Đừng làm những điều sai trái. Không biết tại sao người ta không tỉnh ngộ.
Ở kinh sư, dưới thiên tử, về cai trị dân có phủ huyện, có tuần tra năm thành, lại có thêm Nhiếp sự nha môn, Đông quảng bổ doanh cẩm y vệ. Dưới mỗi quan lại có một số Kỳ hiệu dịch, bên cạnh mỗi Kỳ hiệu phiên dịch còn có một số tay chân giúp việc. Hơn nữa lại còn có người mạo danh giả làm người tu hành, tụ tập đông như kiến, bí mật dò xét tới sát vách thế mà người ta vẫn không sợ. Hôm nay cùm chết người, ngày mai lại cùm chết người. Vụ án này vừa kết thúc thì lại phát luôn ra vụ án khác. Tóm lại đây là nơi bọn xấu ở khắp nơi và bọn người hám danh trục lợi ở các tỉnh dồn về. Bởi thế ở đây xảy ra biết bao tệ nạn. Còn về mặt pháp luật, bên trên thì ăn hối lộ bên dưới thì coi thường pháp luật. Cho nên ở kinh sư bọn côn đồ rất đông. Tôi cho rằng bọn người này đều là bọn thông minh. Song không hiểu vì sao bọn người thông minh này lại làm những điều ngu xuẩn. Người ta cho rằng chúng dùng sự giả dối để hại người cho nên trời làm cho chúng ngu tối đi, để rồi làm những việc tự giết mình. Tôi cho rằng bọn chúng chỉ nghĩ tới cái trước mắt mà quên mất cái hậu quả về sau, thấy lợi mà quên hại, chúng hoàn toàn không suy nghĩ về tiếng tăm và hậu quả mà thôi.
Trong sáng thì ngu thành thánh sống
Đen tối thì ngu thành khùng điên
Những người trong sạch hay ô trọc
Cách nhau chỉ gang tấc mà thôi.
Có một người họ Vương là con thứ tư, người Việt Trung, đến ngụ cư ở kinh sư, người ta thường gọi hắn là Tiểu Vương Tứ. Từ nhỏ tâm địa hắn đã xấu xa, nhưng hắn giả vờ tỏ ra có tấm lòng hào phóng. Bên trên thì hắn giao lưu với bọn cận thần và quản gia những nhà quyền thế. Lớp giữa thì hắn thân với bọn quan lại các nha môn. Bên dưới thì hắn liên hệ với bọn côn đồ lưu manh vô gia cư có thể đánh người, cùm người hoặc bắt người. Cho nên phàm gặp chuyện gì là hắn ăn sống nuốt tươi người ta ngay. Bán mình cho hắn thì hắn sán đến làm tình. Không bán mình cho hắn thì có ngay kẻ cáo giác, kẻ làm chứng giả, chưa làm cho anh khuynh gia bại sản hắn chưa thôi. Thậm chí có những nhà giàu sống an phận hắn cũng bất ngờ kiếm cớ gây sự. Bởi thế, có một số ngự sử nổi tiếng giàu có và thế lực cũng không bắt được hắn, mà dù có bắt được cũng không sao xử tội hắn được, trừ phi có chiếu chỉ nhà vua, ngoài ra phần lớn bắt được, hắn đều thoát thân.
Vương Tứ có một vợ và hai thiếp. Vương Tam là anh ruột. Hắn ỷ thế vào việc kiếm tiền một cách dễ dàng, hằng ngày hắn thường la cà đến các sòng bạc và nhà chứa. Thấy người đàn bà nào có nhan sắc là hắn chiếm bằng được mới thôi. Một hôm hắn đi qua xưởng làm đồ gốm, thấy một đứa bé rao:
- Ai bánh nướng đây!
Hắn chợt nghe thấy một tiếng gọi dịu dàng:
- Bánh nướng ơi!
Đúng là:
Hoa xuân khoe sắc chim ríu rít
Hành quân dùng bước ngẩn ngơ nghe.
Nghe tiếng nói êm ái, Vương Tứ cố ý đi chậm lại, thì thấy một cô gái mở mành bước ra, đúng là:
Một bông hồng hạnh vươn dậu,
Thoáng gió xuân về nhẹ nhẹ lay.
Cô đưa cho em bé mười đồng rồi nhặt từ trong chiếc làn sáu chiếc bánh nướng. Vương Tứ nhìn kỹ thì thấy, vừa sáng ra mái tóc nàng chưa kịp trang điểm giống như áng mây xanh, miệng nàng như một đóa hoa lê phảng phất sương khói. Đôi mắt nàng sáng long lanh như ngọc, nàng không son phấn mà má hồng như hoa đào. Hai trái đào tiên, non tơ như ngọc vừa đông, mềm mà đầy đặn, khiến người ta thèm muốn.
Thấy cô ấy bước vào trong nhà, Vương Tứ hỏi đứa bé bán bánh:
- Cô ấy con ai thế?
- Đấy là con gái ông Trần, chuyên sao chép thuê ở khoa thi võ vẫn chưa chồng.
Vương Tứ nghĩ: "Ta sẽ lấy cô ta làm thiếp thứ ba". Thế rồi hắn nhờ một bà mối tới hỏi. Lão Trần là người miền Nam, nhà nghèo, viết thuê để kiếm sống, vợ là Trương thị, con trai là Trần Nhất hai mươi tuổi, thường chơi bời với những người bình thường. Lão có một người con gái tên là Đại Thư. Hôm bà mối đến nhà khen ngay rằng:
- Hôm nay nhà ông gặp may rồi, ông Vương là một người rất nổi tiếng, vừa có tiền vừa có thế lực. Ông ấy có một bà vợ đẻ xong thì bại liệt, chỉ ăn rồi nằm đấy, không có ai trông coi việc gia đình. Ông ấy thấy Đại Thư nhà ta xinh đẹp lại giỏi giang nên nhờ tôi đến nói với ông bà xin cô ấy về làm vợ, quán xuyến việc gia đình.
Hỏi kỹ ra mới biết đấy là Vương Tứ. Trần Nhất trẻ người non dạ không biết gì nói:
- Vương Tứ là người kinh sư tới hỏi, chúng ta gả cho anh ấy, sau này sẽ có chỗ cậy nhờ.
- Ta chỉ có một đứa con gái, phải tìm một nhà giàu để cả nhà dựa dẫm vào nó.
Lão Trần nói thế song Trần thị lại nói:
- Việc gả bán không thể trả lời ngay được, để chúng tôi bàn bạc thêm đã. Đúng là:
Con gái như thân dây leo
Chọn nơi nương tựa là điều phải lo
Cây yếu chớ leo cành
Cành gầy dây đứt thiệt thua một đời.
Về sau thăm dò thì thấy Vương Tứ đã có một vợ và hai thiếp. Trương thị nói:
- Đây là một kẻ phóng đãng, đã có vợ lại lấy thiếp, có hai thiếp rồi lại bỏ họ đi lấy thiếp thứ ba. Sau này, thấy một người đẹp khác, ai chắc rằng nó sẽ không bỏ Đại Thư để lấy người khác nữa.
Thế rồi họ khéo léo từ chối:
- Nhà tôi nghèo, trông mong vào một đứa con gái, vợ chồng tôi sức yếu tuổi già nhờ cậy vào nó, bởi thế tôi cần gả cho một người chưa vợ sống một mình, chứ không gả làm thiếp.
Bà mối đi lại tới mấy lần nhưng nhà họ Trần không gả.
Sau đó, Vương Tứ nói:
- Ông ta muốn gả cho người sống một thân một mình, thì Vương Tam nhà mình chưa vợ, sống một mình, vậy cứ hỏi cho Vương Tam.
Lại có một người nói với nhà họ Trần:
- Hắn chỉ lừa đấy thôi. Biết là gả cho Vương Tam hay Vương Tứ. Vương Tam tuy là anh thật nhưng chỉ là người cầm rổ cầm cân, như một thằng ở mà thôi.
Bởi thế nhà họ Trần không gả.
Ít lâu sau có người đến làm mối cho một người tại ngũ tên là Thi Tài. Anh ta có một ngôi nhà để ở, hai nhà cho thuê, hai xuất quân lương, một xuất dùng để thuê người hầu hạ, còn một xuất thuê ngựa cưỡi mua vui. Mỗi tháng được cung cấp hai thạch gạo lứt, bán mỗi thạch được tám trăm đồng, tương đương với một lạng bạc, dùng để mua than và rượu. Trần Đại Thư lấy ông ta sống cũng dễ chịu. Sáng dậy nhóm lửa đun nước rửa mặt rồi mua bánh nướng bánh bao hoặc là cháo đường ăn sáng. Tới trưa, thì nấu cơm hoặc kê ăn bữa trưa. Nếu ngại thì trưa và tối đều mua bánh mì ăn. Khi có tiền cũng mua ít cá thịt cải thiện, ít tiền thì mua mỡ hoặc tương, không có tiền thì ăn rau dưa, chứ cũng không đến nỗi bếp không đỏ lửa. Hai vợ chồng sống như thế cũng tạm ổn.
Đói có kê vàng, rét có chăn,
Còn tìm đâu nữa chốn thần tiên
Gái đẹp chiều chồng càng thêm đẹp
Mơ làm chi nữa chốn Đào Nguyên.
Bỗng một hôm có lệnh của cấp trên điều anh từ châu Xương Bình đến Hoàng Lăng làm việc, van nài xin ở lại nhưng không được. Nghĩ rằng vợ mình là đàn bà con gái không thể sống ở nhà một mình, anh bèn gửi vợ đến nhà bố vợ, rồi ra đi. Xương Bình cách kinh thành sáu mươi dặm, anh đi hai tháng trời mà chẳng thấy tin tức gì. Chị phải nhờ người đi hỏi thăm, thì có người nói là: "Nội tướng(1) đưa anh về nhà hầu hạ". Có người lại nói: "Anh đi ra ngoài chặt củi, chắc là bị bắt đi rồi". Và sau đó cũng không biết tin tức gì về anh nữa. Trần Đại Thư bỏ tiền ra bảo anh đi tìm nhưng cũng không thấy. Suốt một năm trời, Trần Đại Thư phải ở vậy một mình.
Xem bói khắp mọi nơi,
Ngày về vẫn mờ mịt
Đêm đêm phòng lạnh lẽo,
Đèn soi bóng lẻ loi.
(1) Nội tướng: Hàn lâm sĩ (ND).
Lúc ấy có một người tên là Nguyễn Lương, người Kim Hoa, trạc hai bốn hai nhăm tuổi, kết nghĩa anh em với Trần Nhất, thường năng lui tới nhà họ Trần, hắn cũng là người không tốt, luôn luôn chòng ghẹo Đại Thư. Song cô là người đứng đắn, nên cứ mặc xác hắn. Nguyễn Lương thường nói: "Chồng cô Thư lâu nay chẳng thấy tin tức gì, hình như không còn nữa, cô còn trẻ, chẳng khác gì một đóa hoa, đừng vì anh ấy mà lỡ cả một đời, thôi thì phải biết tùy thời". Lão Trần là một người sống yên phận, nói:
- Đàn bà đã có chồng, ai người ta còn lấy? Ta bỗng chốc gả cho người khác, nếu chồng nó có sống trở về kiện lên quan, thì có mà nhừ đòn.
- Nếu em nó muốn lấy chồng, - Nguyễn Lương nói, - thì tôi quen nha môn, xin cho nó thì sợ gì anh ta.
Trần Đại Thư nói:
- Ta ăn của anh, thì ta vẫn thuộc về anh, lấy người khác làm sao được!
Phiêu dạt gặp nhau nên chồng vợ,
Nhà tranh vách nứa có gái ngoan.
Hơn một tháng sau, bỗng thấy hai người tới, người đi sau mặc áo xanh chít khăn vuông, đeo kính, cổ quấn một chiếc thừng. Chúng chẳng nói chẳng rằng trói ngay lão Trần giải tới nha môn, giam liền trong năm ngày. Trần Nhất hoảng sợ không dám xuất đầu lộ diện, nhờ người hỏi dò thì đó là một thư lại bộ binh làm văn thư giả có dấu giả, hắn nói là Lão Trần mua cho hắn. Người có tiền thì quan trong triều cho sống, không có tiền thì họ bắt phải chết. Hoàng thượng biết rõ tệ nạn này, lão Trần tuy vô can, song không thể tha ngay được.
Phép quan thật thảm khốc,
Quan độc ác như hổ.
Dù có phép thần thông,
Cũng không sao thoát khổ.
Nguyễn Lương tới nói:
- Việc này không phải chỉ có một mình ông Trần chịu oan. Nếu có tiền thì có thể cứu thoát. Ta xem ra Vương Tứ là một người có nhiều mưu kế. Anh ấy hỏi Đại Thư về làm thiếp. Nếu anh gả em gái cho anh ấy thì tôi đoán chắc ông Trần sẽ được tha.
Đang lúc sốt ruột nấu gan, Trương thị nói:
- Lại là thằng Vương Tứ! Trời còn có mắt, thế nào ông Trần cũng được tha.
Trần Đại Thư nguýt mắt lườm Nguyễn Lương, nói:
- Ta không lấy hắn! Ngươi đừng có nhúng vào.
Nguyễn Lương cười nói:
- Đại Thư cô đi đêm không kiếm được người đâu.
- Cút! Ngươi cút đi! - Trần Đại Thư giận dữ nói. - Từ nay trở đi ngươi đừng đến đây mà nói bậy nữa.
Bị mắng như tát nước, Nguyễn Lương ê mặt bỏ đi. Vừa được mấy bước thì gặp ngay Vương Tứ. Hắn hỏi:
- Anh Nguyễn đi đâu thế?
Nguyễn Lương nói lấy lòng:
- Hôm nay tốt ngày, nhưng tôi lại bị con đĩ già mồm nó chửi.
- Bị con dâm phụ nào chửi thế? Nó dám xúc phạm đến người anh em của ta. Ta phải vặt lông nó cho hả giận. - Hắn kéo Nguyên Lương đi rồi nói tiếp. - Nó là mụ góa nào thế?
- Không phải mụ góa, mà là con Trần Đại Thư, nó không nhận sự nâng đỡ của tôi. Tôi nói với nó rằng chồng cô biệt tích, đừng tự giam hãm mình, thôi thì ta làm mối lấy anh Vương Tứ, để anh ấy nghĩ cách cứu cha cô. Thế mà con dâm phụ ấy không thấy được lòng tốt của tôi, trái lại nó chửi toáng lên, không cho tới nhà nó nữa. Ngay như Trần Nhất, tuy không thân thiết bằng anh, nhưng về tiếng cũng là anh em kết nghĩa, thế mà anh ta cũng không ngăn cản, mặc cho nó chửi bới tôi.
- Thôi đừng bực bõ nữa, - Vương Tứ nói, - hãy thư thả đến nhà tôi uống rượu đã.
Tìm được rượu ngon do bợm rượu,
Vứt bỏ rượu tồi cũng do anh.
Ngươi bảo ta trừ ngay phiền não,
Ta lại lo dễ nổi can qua.
0
Chương 25b [/align]

Tới nhà, Vương Tứ gọi mang rượu ra, rồi đặt lên bàn một bát xương hầm, một đĩa thịt gà rán, một đĩa dạ dày xào và một hũ guốc lủi. Đang uống rượu thì Vương Tam đến, Vương Tứ kéo Vương Tam cùng ngồi. Nguyễn Lương vừa uống rượu vừa nói:
- Thật đáng ghét, mẹ con Trần Đại Thư không nghe lời tôi.
- Trần Đại Thư cứ thách cao đá nặng như thế, nhất định ta sẽ hành cho một trận. - Vương Tứ nói.
- Tôi cũng phải trị nó mới hả giận. - Nguyễn Lương nói.
- Nó không chịu lấy chúng ta, - Vương Tam nói, - thì trị nó làm sao được?
- Người ta thường nói: "Người đẹp gan to bằng trời, rượu vào thì gan người ta còn to hơn cả trời".
Vương Tam nghĩ một lát nói:
- Thừa lúc mẹ con Trần Nhất vắng nhà, cứ bắt nó về nhà tha hồ mà dùng.
- Anh Tứ, một mình ta không trị được nó.
Vương Tứ, một tên lỗ mãng, ngẩm nghĩ một lát, nói:
- Ta có một kế, chặt đứt gốc rễ, làm cho gia đình nó không còn ai; là chiếm được Đại Thư.
Song hắn chỉ ghé sát vào tai Nguyễn Lương nói mấy câu gì đó rồi hắn nói:
- Tối mai ta sẽ dùng ngươi, xong việc ta cho hai mươi lạng bạc ròng, để cho ngươi lấy một cô vợ đẹp.
Sau đó Vương Tứ khe khẽ nói với Vương Tam, Vương Tam nói:
- Như thế thì tàn ác quá.
Uống rượu xong chúng ra về.
Ba tên đã quyết,
Coi tiền bằng vung.
Ai ngờ uống rượu,
Nghĩ cách hành hung.
Hôm sau là ngày mồng năm tháng Hai, mẹ con nhà họ Trần buồn rầu vì vụ án chưa kết thúc, không có cách nào cứu lão Trần. Nguyễn Lương bước vào, nói:
- Tối qua tôi uống mấy chén rượu suông nói năng bừa bãi, hôm nay tôi đến xin lỗi.
Trần Đại Thư thấy thế cũng mặc xác hắn, ngồi quay mặt đi. Trần Nhất nói:
- Đã là anh em, thì lần sau đi lại cần nói năng thận trọng.
- Đại Thư trách tôi, mà mẹ cũng vẫn còn giận tôi. - Nguyễn Lương nói. - Thôi thì tôi với anh đi làm mấy chén.
- Thôi, thôi, tôi không đi đâu. - Trần Nhất nói.
Thế rồi Nguyễn Lương cứ lôi Trần Nhất đi. Đúng là:
Thú vui chưa thấy ba chén rượu,
Trượng phu mắc bẫy khó lòng ra.
Đi một lúc lâu, chừng chưa tới canh một, Trương thị nghĩ: “Đến đêm rồi mà sao chưa thấy Trần Nhất về!?". Thì thấy Nguyễn Lương hớt hơ hớt hải mang tới một chiếc áo dài bằng vải xanh đã cũ mà Trần Nhất mặc lúc đi khỏi nhà, nói:
- Tôi và Trần Nhất uống rượu xong, vừa ra khỏi cửa thì gặp lão Trương Trọc Đầu, Trần Nhất nói là lão còn nợ một số bạc. Một người thì đòi, một người thì bảo là không có. Hai bên đánh nhau. Trần Nhất đưa cho tôi chiếc áo này mang về làm tin, bảo bà mau mau tới cứu anh ấy.
- Tôi đã có thai tám tháng, - Trương thị nói, - người nặng nề đi lại khó khăn.
- Đúng lúc đang cần một người to béo như bà, thì người ta mới sợ. Nhất định bà phải đi, tôi dìu bà là được rồi.
Hắn vừa nói vừa lôi bà ra khỏi cửa. Trần Đại Thư không biết là chuyện gì, nghĩ đây là sự chẳng lành. Nào ngờ Nguyễn Lương mời Trần Nhất đi uống rượu, khi trời sắp tối, đi qua xưởng làm đồ gốm, Nguyễn Lương nói:
- Trong xưởng có một ổ gái điếm, nhân đây tôi với anh vào xem một chút.
Thế rồi Nguyễn Lương cứ lôi tuột đi. Tới dốc núi, không có một bóng người, Trần Nhất không đề phòng, Vương Tứ cầm hòn gạch đập vào thái dương. Trần Nhất ngã gục. Vương Tam, Nguyễn Lương đá bồi thêm mấy phát. Trần Nhất tắt thở.
Đúng là:
Ba hổ vồ một dê.
Tính mạng khó bảo toàn.
Nguyễn Lương lột ngay chiếc áo xanh để đánh lừa Trương thị. Tới nơi, thấy xác con nằm gục bên vệ đường, Trương thị đang cúi xuống nhìn, thì ba tên hung thủ cùng lúc ra tay giết chết Trương thị.
Quỷ kế tìm hoan lạc,
Điên loạn gây tội thêm.
Thương cho mẹ con họ,
Chết gục bên vệ đường.
Nguyễn Lương nói:
- Bây giờ thì Đại Thư chẳng ai giữ được nữa, chúng ta cùng đi thôi.
Bọn chúng lột lấy chiếc quần lụa của Trương thị. Nguyễn Lương mang chiếc quần ấy đến nhà họ Trần. Trần Đại Thư đang thẫn thờ ngồi trên giường, một mình với ngọn đèn ngóng chờ tin tức. Đột nhiên thấy Nguyễn Lương tới, nói:
- Mẹ cô đi, đánh nhau với Trương Trọc Đầu bị hắn đẩy ngã, ngất xỉu. Tôi cầm chiếc quần này về làm tin, cô phải đi ngay.
Thế rồi hắn lôi Đại Thư đi. Trần Đại Thư nói:
- Tôi đi cũng không có sổ sách gì cả.
Thế rồi lại thấy một người nữa vào, cùng lôi với Nguyễn Lương, nói:
- Đi đi thôi.
Đại Thư hoảng hốt, kêu lên, Nguyễn Lương vội chộp lấy một con dao trên bàn, nói:
- Mày kêu tao giết chết!
Tên kia bịt mồm Đại Thư, lại có một tên nữa chạy vào tắt phụt đèn. Nguyễn Lương đè Trần Đại Thư xuống giường. Hai đứa kia giữ chặt lấy hai tay, Nguyễn Lương xé tuột quần áo lót của chị rồi hành sự đầu tiên.
Hoa rừng thơm ngan ngát,
Thấm đượm cả hang sâu.
Bướm ong bay loạn xạ,
Điên cuồng thả sức châm.
Trần Đại Thư không giãy giụa, không kêu lên được. Nguyễn Lương cứ mặc sức hãm hiếp. Vừa xong, lại một tên khác nói:
- Con đĩ dâm loạn, mấy lần tao xin cưới mà mày không nghe, hôm nay mày đã sa vào tay tao. Hắn hãm hiếp càng hung bạo. Trần Đại Thư đành phải chịu đựng, cô nghĩ: "Thằng này nhất định là Vương Tứ rồi". Lại một lúc lâu đứa bên cạnh nói:
- Mày đã thỏa mãn, hãy bỏ nó ra cho tao.
Thằng thứ hai buông ra, thì thằng thứ ba chồm tới, song nó vô tình buông tay bịt miệng cô ra. Trần Đại Thư vội kêu lên:
- Làng người ơi! Cứu tôi với! Có đứa đến cướp của hãm hiếp người.
Thấy kêu, thằng ấy buông ra. Trần Đại Thư bò dậy, thế là bọn chúng, đứa đẩy đứa lôi cô ra khỏi phòng. Một thằng trong bọn chúng tháo lấy chiếc dây bằng chỉ đỏ màu hồng đào mà cô dùng để thắt quần lót. Chúng lôi cô ra tới con hẻm nhỏ thì có người nghe thấy tiếng kêu, mở cửa chạy ra. Ba tên này bỏ Đại Thư lại, rồi hò nhau chạy.
Bướm ong điên loạn làm xơ xác,
Tan tác hương thơm mất mấy phần.
Tuần đêm cưỡi ngựa đi dò xét,
Một cành còn lại cũng là may.
Trần Đại Thư định thần lại, mặc quần áo rồi kể lại cho mọi người về nổi khổ của mình. Rất may lúc ấy Bả Bài và hai người nữa đi tuần tra đêm, sau họ là hai người mang đèn lồng đốt bằng dầu trám. Họ len lỏi vào những con đường vắng vẻ và nhìn thấy hai người như say rượu, nằm gục bên dốc núi. Ông hét to:
- Hãy mau mau gọi người cùng với ta cứu họ tỉnh lại.
Tới nơi thì đó là hai xác người không biết kẻ nào đã giết chết. Họ vội vàng gọi ngay người địa phương tới. Qua ánh đèn, một người trong số họ nói:
- Người đàn ông này hình như là Trần Nhất, người ở trước lò gốm.
Viên tuần đêm sai giải người ấy đi gọi người nhà. Tới nơi thì Trần Đại Thư nói là anh và mẹ cô bị lừa, không biết bây giờ thế nào. Nghe sai nha nói đã bị đánh chết bên dốc núi trước lò gốm, cô khóc toáng lên.
Hận số hồng nhan bạc mệnh,
Khiến người ruột thịt chết oan.
Cô khóa cửa rồi cùng mấy người hàng xóm tới gặp Bả Bài. Cô nói là đầu tiên anh cô bị Nguyễn Lương lừa đi uống rượu. Sau đó Nguyễn Lương lại trở về nói là anh cô cãi nhau rồi lại lừa mẹ cô đi, không biết vì sao bị đánh chết. Sau đó vào lúc canh ba, còn có hai đứa đến cưỡng dâm. Nghe ra thì một trong số đó là Vương Tứ. Hai đứa cưỡng dâm xong thì cô la lên gọi hàng xóm. Thế là chúng bỏ chạy. Bả Bài lập tức sai chức trách các làng lân cận cùng với Phiên kỳ truy bắt, náo loạn suốt một đêm. Tới nhà Vương Tứ thì hắn đã chạy trốn, họ bắt ngay những người thân thích của Vương Tứ truy hỏi đến cùng. Đến ngày thứ ba thì bắt được. Vì án mạng quá lớn, nên mặc dù phe cánh của hắn đông cũng không thể bao che được. Oan hồn cứ vây riết lấy hắn, nên hắn không sao thoát nổi.
Lòng trời thật nghiêm khắc,
Phép vua chẳng dung tha.
Đáng đời bọn gian ác,
Không thoát khỏi nhà pha.
Ba tên này đã đệ trình lời khai. Bả Bài căn cứ vào lời khai của Trần Đại Thư, bèn thẩm vấn từng tên một, sau đó ông hạ lệnh cùng kẹp tra tấn. Việc giết người này Vương Tứ là chủ mưu, Nguyễn Lương và Vương Tam là kẻ tiếp uy. Về hành dâm thì đầu tiên là Nguyễn Lương, sau đó Vương Tứ, Vương Tam chưa kịp hành dâm. Về việc đánh chết Trần Nhất, thì đầu tiên Vương Tứ đánh đòn hiểm khiến Trần Nhất hấp hối, sau đó là Nguyễn Lương và Vương Tam. Về việc đánh Trương thị thì đầu tiên Nguyễn Lương đá vào bụng, sau đó Vương Tứ, Vương Tam đá chết hẳn. Về việc cưỡng dâm Trần Đại Thư thì Nguyễn Lương là người cầm dao dọa, cởi quần đẩy chị ngã. Vương Tứ kéo tay trái, bịt mồm. Vương Tứ thổi tắt đèn, đè tay phải. Tất cả chúng đều khai ra hết.
Thuỷ Hoàng sáng suốt,
Hạ Vũ thần thông.
Gian tà ác độc,
Chẳng thoát tay ông.
Trông coi việc tuần tra là Mã thái giám, xem bản cáo trạng, thấy rằng việc giết người, cưỡng dâm đều là trọng tội. Trương thị có mang tám tháng, mẹ chết sẽ dẫn đến con chết, tuy không phải là trực tiếp đánh chết, nhưng đứa bé chết trong bụng mẹ là do chúng gây ra. Việc khám nghiệm đã thấy rõ ràng. Ông làm tờ trình về việc giết hại ba nhân mạng này lên bộ Hình. Bộ Hình phê khép vào trọng tội. Bọn tấn thân thấy thế rất run sợ. Những cử nhân thì đến tám chín phần mười là bất lực. Phàm là những vụ án do Vệ đề doanh tấu lên, không đám làm trái ý. Kế sách tốt nhất của họ là xác nhận đó là trọng tội để giữ thân. Bản án ghép vào tội giết ba nhân mạng thì bộ Hình cũng phải kết án là giết ba người, và khép Vương Tứ vào tội lăng trì, Nguyễn Lương, Vương Tam phải xử trảm ngay.
Khi sớ dâng lên hoàng đế, rất may hoàng đế là người rất thận trọng nghiêm minh, cho rằng cái thai trong bụng đã là người rồi, nhưng chưa đẻ thì không thể coi là ba nhân mạng, bèn giao cho bộ Hình định tội lại. Lần trước bộ Hình theo bộ Doanh, lần này bộ Hình theo ý chỉ của hoàng thượng, không dám ghép vào tội giết ba nhân mạng. Vương Tứ, Nguyễn Lương, Vương Tam đều bị khép vào tội xử trảm. Nguyễn Lương bị kẹp và bị tra tấn, đã chết tại bộ Hình. Tuân theo chiếu chỉ của hoàng thượng: Vương Tứ phải trảm đầu ngay, Nguyễn Lương thì phải đâm chết, Vương Tam thì chờ đến mùa thu xử quyết.
Cho Trần Đại Thư về. Văn thư phòng sao chiếu chỉ gửi tới Hình Khoa, Hình Khoa đóng dấu, Hiệu úy tới bộ Hình. Quan Cẩm y vệ trói phạm nhân lại, cùng với quan bộ Hình áp giải ra góc phía tây kinh thành. Khi ấy Đô sát viện đã ủy quyền cho quan ngự sử tại đó giám sát việc hành hình. Vương Tứ tới đó, dù có mười đầu sáu tay cũng không sao thoát được. Bọn vô lại hằng ngày cùng hắn rượu chè, vợ và hai thiếp của hắn cũng chỉ dương mắt nhìn hắn bị chặt đầu mà thôi.
Đừng nhỏ nước mắt nữa,
Hãy nghĩ đến lỗi lầm.
Kìa mẹ con Trần thị.
Cớ sao phải chết đâm.
Tóm lại Vương Tứ là tên độc ác đến cùng cực, trời đất chẳng dung tha, cho nên thần xui quỷ khiến thế nào mà lại gây ra cái trò độc ác ấy, khi cưỡng dâm lại để lộ ra tung tích. Trong thiên hạ liệu có kẻ giết hai mạng người mà không đền mạng không? Có kẻ cưỡng dâm mà không phát hiện ra không? Nếu như hôm ấy chúng giết cả ba mẹ con Trương thị, thì không biết đó là kẻ nào và vì thế sẽ liên lụy tới không ít những nhà hàng xóm. Nếu ba đứa ấy bắt Trần Đại Thư giấu một nơi rồi mặc sức hành dâm, thì mọi việc sẽ không bại lộ. Người ta sẽ cho rằng Trần Đại Thư cùng với bọn gian dâm mưu sát anh và mẹ rồi trốn đi. Thì đó cũng là một nghi án khó làm sáng tỏ. Cái ta đáng cười là nhà cao cửa rộng mà không ở, chăn gấm chịu hoa mà không nằm, nem công chả phượng cũng chỉ một miếng, quần là áo lượt cũng chỉ che được chiếu thân. Bọn chúng đã làm cạn kiệt cốt tủy, trở thành một chiếc đầu lâu khô chỉ vì sắc đẹp, làm thân trâu ngựa chỉ cốt để lại của cải cho con cháu. Chỉ vì thấy Trần Đại Thư mà hắn bỏ lại một vợ hai thiếp cho kẻ khác. Vì một vài chục lạng bạc, mà tính mạng mình không được bảo toàn, cuối cùng bị đâm chết. Cái bọn chúng được giờ đây không còn, mà bản thân đến nỗi như thế? Còn như chồng và cha của Đại Thư, người ta đều cho rằng đó là do âm mưu quỷ quyệt của Vương Tứ. Chồng Đại Thư mất tích. Cha Đại Thư vì thế mà được minh oan. Xem thế thì lòng dạ xảo trá có ích gì! Nếu như hằng ngày bọn gian dâm ấy nghĩ rằng, việc thành cũng chỉ được hoan lạc trong chốc lát, chẳng đáng kể gì. Nhưng việc không thành thì sẽ khuynh gia bại sản, bản thân cũng chết, sự khao khát cuồng nhiệt cũng sẽ trở thành băng giá. Đáng tiếc thay những người suy nghĩ thấu đáo ngày nay còn ít quá.
1
Chương 26 [/align]



Hoàng Thượng Điên Liều Đoạt Ngai Vàng
Thuật Sĩ Ngu Nghĩ Bừa Mưu Phản


Chương 26a [/align]



Người xưa thường nói: "Ai cũng có lòng trời, nhưng cái quý báu to lớn ấy khó mà giữ được”. Ngay như Lý Vệ Công, Trương Hồng Nhiễm anh hùng đến nhường nào, khi nhà Tùy mất, đám người xưng hùng xưng bá giành giật nhau, họ tự cho rằng giành thiên hạ dễ như trở bàn tay. Đến khi thấy Lý Thế Dân, người thì cúi đầu đi theo, người thì lẩn trốn ra hải ngoại. Lúc ấy Lý Mật cũng là một tay hào kiệt, chỉ vì không biết thời thế, không chịu hàng Đường, nên đã bị giết. Huống hồ là, khi thiên hạ đã thống nhất thái bình yên ổn, lại muốn khư khư giữ thói xấu xa nhòm ngó ngai vàng, thì chẳng khác nào trứng chọi đá, chỉ có tan nát mà thôi. Song lại có người nói, trời sinh ra, kẻ ngông cuồng, vô luận là thành công hay thất bại, thì lúc đẻ cũng có điềm lành. Người sinh ra có tướng mạo khác thường, lại được bọn người xằng bậy hùa vào, làm ra to chuyện.
Thời Đương Minh Hoàng, Tịnh Châu mục(1), ban đêm thấy phía đông nam có một luồng ánh sáng màu hồng, ông ta kinh ngạc nói: "Đây là khí tượng thiên tử". Hôm sau ông đi khắp nơi trong dân gian, thấy đứa trẻ nào vừa đẻ đều tới xem, nhưng không thấy đứa nào có tướng mạo khác thường. Sau đó ông kiểm tra trong quân lính, thì thấy một đứa bé mới sinh có tướng mạo khác thường. Viên châu mục ấy nói:
(1) Tịnh Châu mục: người đúng đầu Tịnh Châu. (ND)
- Đây là thiên tử giả.
- Đã là thiên tử giả, - những người cấp dưới nói, - thì hẳn sau này nhất định phản nghịch, sao không giết đi để trừ hậu họa?
- Thiên tử được sinh ra, - viên châu mục nói, - ai có thể giết được?
Các bạn có biết đứa bé ấy là ai không? Đấy chính là An Lộc Sơn, con nuôi Dương Quý Phi. Tương truyền An Lộc Sơn là Ma Diệt Vương chuyển kiếp, cho nên đã sát hại nhiều sinh linh, bức vua phải nhượng ngôi, sắp thành nghiệp lớn. Cuối cùng bị chết, cả họ diệt vong, mang tiếng là kẻ giặc. Nhưng do đã làm được chút ít sự nghiệp, chiếm được một số thành trì và đã từng một thời xưng đế. Còn Tế Bình Thành chẳng dựa dẫm vào đâu chỉ vì mặt vuông tai to, rồi tự cho mình là đế vương do trời sinh ra. Hắn kết bè kết đảng với bọn người vô lại, hòng chiếm giang sơn, song chưa khởi sự đã tự trói tay, chịu bắt. Vẫn chưa bằng Tề Vạn Niên, Tống Giang... một phen tung hoành ngang dọc, há chẳng đáng cười sao!
Thời Thành Hóa(1) ở huyện Dịch Châu, phủ Bảo Định, có một người Hầu, ông sinh được một người con trai tên là Trụ Nhi. Trụ Nhi ra đời đúng vào lúc nhà láng giềng dựng cột, cất nhà. Có một ông già nói:
(1) Thành Hóa: niên hiệu Hiến Tống thời Tống (1465 - 1487) (ND).
- Đúng là ngày tốt, sau này nó phải là người rường cột của quốc gia.
Thế là đặt tên nó là Trụ Nhi. Từ nhỏ Trụ Nhi ốm đau bệnh tật luôn, cha mẹ định cho nhà chùa, song vẫn chưa muốn. Lên sáu tuổi được bố mẹ cho đi học và đặt tên là Đắc Quyền, học rất sáng dạ. Không ngờ bố mẹ lần lượt qua đời, nó không còn nơi nương tựa, ông Kim một người hàng xóm, theo ý nguyện xưa kia của cha mẹ nó, bảo đưa nó tới chùa theo ý nguyện xưa kia của cha mẹ nó, bèn đưa nó tới chùa Quảng Thọ ở Lang Sơn làm hòa thượng, gọi là Minh Quả. Đầu cạo nhẵn thín, mặt vuông, tai to, trán rộng, mũi cao, quả là tướng mạo khác lạ. Khi ngoài hai mươi tuổi Minh Quả muốn tầm sư học đạo, khăn gói từ biệt sư trụ trì đi tìm danh dư có tiếng trong thiên hạ để học tập.
Nón tre xộc xệch trăng soi bóng,
Giày đi rách nát đẫm sương đêm.
Rửa bát thì tìm khe suối vắng,
Ngồi thiền thường tựa gốc cây rừng.
Ăn gió nằm sương, trải qua biết bao gian khổ, tới Thiếu Lâm Tự, Hà Nam. Đây là một ngôi chùa nổi tiếng, từng truyền dạy được nhiều võ sư thời Lương siêu thoát, và cũng là nơi các danh sĩ nổi tiếng trong thiên hạ thường lui tới. Minh Quả tới đây bái kiến sư trụ trì, vào phòng khách nghĩ chân. Hôm sau tới Phật đường thì thấy một người từ ngoài đi vào:
Râu phơ phất tiên phong đạo cốt,
Mắt long lanh như nước hồ thu.
Miếng liến thoắng thao thao bất tuyệt,
Phần lớn anh hùng lọt mắt xanh.
Người ấy nhìn Minh Quả nói:
- Tướng tốt.
Minh Quả vái chào, nói:
- Tiên sinh biết xem tướng sao?
- Cũng biết đôi chút, - đạo sĩ nói, - tôi chuyên xem tướng số.
- Xin mời tiên sinh tới phòng, - Minh Quả nói, - xem giùm số tôi tốt xấu thế nào?
Tới phòng, ông ta lấy ra một tờ giấy. Minh Quả bèn nói với ông ta về ngày sinh tháng đẻ của mình. ông ta múa bút viết tám chữ. Rồi lấy một lá số ông ta nhìn, rồi kinh ngạc nói:
- Hòa thượng, số ông tốt lắm. Phú quý tuyệt đỉnh, quyền uy vô song, là số của bậc đế vương, địa vị không dưới khanh tướng. Sau này sẽ có vợ có con, quý tới bậc đế vương, giàu tới mức có cả thiên hạ, mệnh và tướng đều hợp nhau. Chỉ có điều tới ngày đắc chí đừng quên Giang Chiêu hèn mọn này.
- Tiểu tăng nón tre bát gỗ, làm bạn với mây nước, mơ sao tới phú quý công danh. Tiên sinh đoán lầm rồi.
- Hòa thượng! - Giang Chiêu nói. - Thái Tổ Cao Hoàng Đế triều ta là người thế nào ông biết chứ? Ngài cũng từng là sư chùa Hoàng Giác, về sau lên ngôi báu. Hòa thượng cũng như thế, việc là do người định đoạt. Tôi đã từng xem số nhiều người, nhưng chưa từng thấy ai có số như thế này. Hơn nữa tôi đoán cho rất nhiều người nhưng chưa từng sai bao giờ.
Ta nghĩ rằng, những kẻ đi lang thang đoán số luôn luôn nói bậy để lừa người. Gặp thương nhân thì chúng nói là tiền ròng bạc chảy, gặp những kẻ nho sinh thì chúng bảo là sẽ đổ cử nhân tiến sĩ. Song không kẻ nào dám lấy ngôi hoàng đế để đoán cho người ta, gã Giang Chiêu này quả là kẻ điên rồ mất hết lương tâm. Song khi người ta được tâng bốc thì ai mà chả thích. Ngay đối với việc không thể làm được, lúc đầu thì kinh sợ nghĩ rằng làm gì có chuyện như thế. Nhưng sau lại nghĩ rằng: "Tại sao người ấy lại dễ dàng hứa với mình như thế, hay là có thật chăng?".
Ngựa đần vui mừng
Ngỡ mình tuấn mã.
Trong chuồng hí vang
Mơ ngoài ngàn dặm.
Minh Quả chăm chú nghe, mỉm cười nghĩ bụng: "Hoàng đế sao đến lượt mình, song ông này nói chắc rằng có duyên cớ gì đây". Chu Đạo Chân, cũng là một đạo sĩ ngồi bên cạnh lại nói bừa rằng:
- Nay thì vương chủ chân chính đã có rồi, người miền Bắc đều biết cả, ở trong sách chúng tôi cũng từng viết.
Nói xong Chu Đạo Chân lấy từ trong túi ra một cuốn sách, trong đó viết: "Thôn Khúc Giang, huyện Trường An, Thiểm Tây, nhà họ Lý ở Kim Bồn. Có một bà mẹ mang thai mười hai tháng, sinh đứa con trai là Tử Long, thấy trong nhà có một vầng ánh sáng màu hồng, bạch xà cuộn lấy đứa bé, lớn lên sẽ làm thiên tử".
Mọi người đều nhìn thấy. Đạo sĩ Chu nói:
- Nếu Lý Tử Long là bậc vương chủ, thì hòa thượng là mệnh công hầu.
Đạo sĩ Giang đứng dậy nói:
- Việc này có thể đoán bừa cho người ta sao? Nếu sau này không đúng thì tôi sẽ không làm thầy tướng nữa. Đăng cơ vào vận Sửu Tý, năm Thân Dậu. Phải tin ta Viên Liễu Trang một đạo sĩ chân chính.
Minh Quả hả hê sung sướng, mời hai người này vào quán đánh một bữa say túy lúy. Minh Quả hớn hở tự coi mình là Thái Tổ Cao Hoàng Đế. Giang Triều tự nhận mình là đạo sĩ chân chính. Chu Đạo Chân cũng tự coi mình là Lưu Bá Ôn.
Bọn điên khùng ngu dốt,
Mong phú quý giàu sang.
Cả người cùng hòa hợp,
Ai ngờ mắc vạ lây.
Hai thằng ngu đều nói: "Phú quý đừng quên", khiến Minh Quả thừa cơ mưu sự. Sau khi từ biệt, Minh Quả cứ nghĩ thầm trong bụng: "Theo Giang Triều nói thì ta là thiên tử, còn Chu đạo sĩ lại nói, chân mệnh thiên tử là Lý Tử Long. Nếu ta không nhận là Lý Tử Long thì chân mệnh không phải là ta ư? Cho dù Thái Tổ cũng phải nuôi tóc làm hoàng đế, ta cũng còn phải nuôi tóc đã. Trước tiên hòa thượng phải đi khất thực, sau đó búi tóc, giống như một hảo hán. Ở chùa Thiếu Lâm học một ít võ nghệ, rồi sẽ giao lưu với các hào kiệt. Đại thể là, phần lớn người dũng mãnh, trọng nghĩa khí, nhưng ít hiểu biết khi hứng lên họ không lường tính được việc ấy có nên làm không, có làm được hay không, làm được thì tốt hay xấu. Hoạn nạn thường liên quan với nhau, khó khăn nguy hiểm thường đến cùng một lúc. Chết vì người là trung, vì cha mà chết là hiếu. Việc này là đáng làm. Làm được là tốt, làm không được cũng chẳng sao. Nếu vì anh em bạn bè thì phải suy nghĩ: "Vì họ song có làm hại họ không? Và liệu vì họ không được mà ngược lại hại đến mình, làm cái việc xuống giếng cứu người thì có nên chăng? Việc đáng làm song việc ấy phải làm được, mà làm được là tốt". Điều ấy không phải vì khiếp sợ. Trong sách từng viết: "Kẻ thù của cha mẹ là không đội trời chung, kẻ thù của anh em, không thể quay mũi giáo trở lại". Điều ấy là có mức độ khác nhau.
Chính khí hẳn phải có,
Khách khí chưa chắc cần.
Khi tức giận bùng lên,
Suy nghĩ cần sáng suốt.
Nếu như một người thể hiện chí khí mà ngược đãi thân thuộc bạn bè, đánh bừa phủ quan, động một tí thượng cẳng chân hạ cẳng tay, kiện tụng hiếu thắng, điều đó không nên làm, không làm được, mà làm được cũng không tốt. Nói tới việc vì nghĩa hiệp mà đánh chết người, vì bất bình mà đánh chết người cũng là không cần thiết. Huống hồ là làm điều xấu, thậm chí mưu đồ những việc phận mình không đáng có. Hoặc là, mình đứng đầu kêu gọi tụ tập nhau. Hoặc là hùa theo kết bè kết đảng, mưu bá đồ vương, việc này không thể làm được, hoàn toàn làm không được, mà làm được thì cũng là kẻ phản nghịch, tội ấy không tha.
Nay thì đằng sau bọn phỉ lại có bọn lính trơn, đó là do chỉ biết tôn sùng sức mạnh không hiểu đạo lý. Không có cơ sở nào mà có cả thiên hạ, đó là Minh Thái Tổ hoàng đế. Không ngờ rằng, thời ấy người Nguyên từ Mông Cổ vào Trung Quốc. Tới Thuận đế thì hoang dâm bê trễ công việc triều chính. Hơn nữa họ lại dùng người Nguyên làm tri phủ tri huyện, không thấu hiểu dân tình, không biết vỗ về dân chúng, bởi thế lòng dân nổi loạn. Đầu tiên là một số kẻ tham dâm ngu dốt ra tay trước, làm loạn thiên hạ. Thời ấy dân chúng chịu sức ép của nạn binh đao, chỉ mong rằng không bị giết hại, không bị dâm ô. Lúc đầu những kẻ sĩ yêu thương dân lớp dưới mới xuất hiện. Bởi thế Minh Thái Tổ hoàng đế thuận theo lòng trời, đáp lại tiếng gọi của lòng người mà có được thiện hạ. Còn những kẻ khởi sự làm điều ác lại lâm vào cảnh không những mình bị chết mà cả họ cũng bị diệt.
Lòng trời luôn luôn thiên,
Ý dân theo đức nhân.
Ngang ngược bị diệt vong,
Thời loạn tự làm giặc.
Các bậc thánh nhân kế tiếp nhau, hoàn toàn không phải là thất đức. Trong số những quan lại cũng có người xấu, nhưng người tốt cũng nhiều. Không thể nói là bĩ cực thì sinh loạn, loạn đến cùng cực thì thịnh. Những người ngu si hung hãn, không hiểu được. Huống hồ là kẻ tiểu nhân lấy cái tham để cứu cái ngu, muốn làm bậc công hầu, bá của một nước, bèn kích động nơi này nơi khác, đánh lừa được một vài người ngông cuồng ngang ngược. Cũng có khi chúng quen biết nhau, cũng có khi là ngưu tầm ngưu mã tầm mã. Tại Châu Định hắn đã tập hợp được một số tên vô lại. Lý Tử Long nghĩ rằng đã có chút ít thế lực. Lúc ấy lại có một vài tên thầy bói không biết đoán số cho chính mình và cho người khác, đó là Hắc Sơn một tên đáng chém đầu, xem số cho Lý Tử Long và nói rằng: "Nếu gặp khỉ gà (năm giữa Thân - Dậu) và phượng hoàng giao phối ấy là đại mệnh". Song năm Thân Dậu sắp tới rồi, mưu việc lớn không thể trì hoãn được, Hắc Sơn luôn bên cạnh Lý Tử Long làm chủ mưu, dùng mệnh của Lý Tử Long đi mê hoặc xúi bẩy mọi người. Phàm là những người có thế lực dũng mãnh, những nhà giàu có hắn đều lân la tới đoán số, rằng họ là những người đáng làm quan to, hiểu hách một đời, để câu kết với họ. Bọn người vô học làm quan sao được, trừ phi lập được võ công, không ngờ bọn này đều mắc vào kế của hắn.
Ngu si và dốt nát,
Lại đòi làm quan to.
Quan to nào có được,
Chỉ mang vạ vào thân.
Lý Tử Long và Hắc Sơn bàn nhau rằng: "Mưu đồ đại sự phải cần người, tụ tập người phải có lương thực. Bên ngoài tuy có một số người, song cũng là bọn ô hợp khó mà cai quản được. Ta vẫn không có người giàu để làm chỗ dựa, một khi hành sự thì lấy đâu ra tiền. Nay cấm quân trong thành nhiều, ở đó cũng có nhiều hào kiệt, nếu trong bọn họ có nhiều người phù trợ, thì khí giới cũng không cần phải mua, nhà nào mà chẳng có cung tên đao súng. Bên trong nhiều người có máu mặt, những người này lại thích quyền lực, có thể lôi kéo được. Nếu lôi kéo được một số người, thì sợ gì không có tiền. Chúng quyết định phải vào kinh thành. Chúng lại được đạo sĩ Phương Thủ Chân, đây cũng là một kẻ không biết sống yên phận. Hắn nói:
- Trong kinh thành có Dương Đạo Tiên là thợ trong quân đội rất giàu có, phát lương hằng tháng, những lính nghèo trong kinh sư đều dựa vào ông ta, được ông ta chu cấp. Bởi thế quân sĩ đều biết ơn ông ta. Người vay mượn ông ta lại đông, hằng ngày xoay chuyển ứng phó, thợ ở khắp nơi rất thích giao du với ông ta, quả thật ông ta là một bậc hào kiệt.
Diều hâu có đầm cỏ,
Hổ báo có hang sâu.
Ở giữa nơi kinh thành,
Đã gieo mầm tội ác.
Hắc Sơn nghe xong, nói:
- Chúc mừng, như thế là tốt lắm rồi. Thành công hoàn toàn do ông ta. Ông ấy quen biết với một số người trong quân ngũ. Chúng ta lo gì không có người, lại quen biết với những người giàu có thì chúng ta lo gì không có tiền. Bản thân ông ta là thợ trong quân lính thì làm ra vũ khí cũng chẳng khó khăn gì. Phải dựa vào ông ta thôi.
Vừa mới lôi kéo là bọn ngu xuẩn đáng chết này tụ tập lại ngay.
Dương Đạo Tiên thấy Lý Tử Long tướng mạo kỳ lạ. Hắc Sơn ra sức tán dương:
- Ông ấy là người cởi mở, độ lượng, rất có tài kinh bang tế thế.
Lý Tử Long lại hết lời khen ngợi Hắc Sơn là một thầy tướng kỳ tài độc nhất vô nhị trong thiên hạ. Dương Đạo Tiên bèn cầm ngay lá số của mình đưa cho Hắc Sơn. Hắc Sơn xem xong, nói:
- Đây là một vị nhân áo mão cân đai! So với ngài Lý Tử Long có kém một chút xíu. Đúng là ngài Hồng Tu(1) được gặp Lý Thế Dân(2). Sự nghiệp của ngài Lý Tử Long là do ngài Dương Đạo Tiên xây dựng nên. Công của ngài Dương do ngài Lý mà có được.
(1) Hồng Tu: Trương Thuyết thời Đường, râu dài (hồng tu) là một người dũng mãnh, có sức khỏe, bắn rất giỏi.
(2) Lý Thế Dân: Đường Thái Tông.
Lúc ấy Dương Đạo Tiên thấy tướng mạo của mình so với Lý Tử Long có kém chút ít, thì rõ ràng Lý Tử Long phải là bậc quân chủ, mà mình chỉ là người phò tá. Dương cười, nói:
- Tôi cũng nhờ vào ngài Lý.
Nói xong, Dương lấy lá số của vợ đưa cho Hắc Sơn xem, Hắc Sơn nói:
- Đây là một vị nhất phẩm phu nhân, số cũng tốt vào hàng đai ngọc.
Điều ấy đã làm cho Dương Đạo Tiên hả hê sung sướng.
Nói tới công danh lòng tham muốn,
Tay vỗ kiếm rồng đã mấy phen.
Tài trí Hàn Bành đây chăng tá,
Nhớ lại phong hầu bá, tử, nam.
Dương Đạo Tiên giữ hai người này lại nhà. Quả là Đạo Tiên có quan hệ với một số người trong cung đình, song cũng không phải là những người thật sự hiển đạt, đó là Nội sử Bào Thạch, Thôi Hoằng, Trưởng tùy Thịnh Chí, Vương Giám, Thường Hạo, Tư thiết giám, Tả Thiết giám Chu Lương, Môn phó Mạc Kính. Thấy họ mặt vuông tai to, mũi sư tử, lông mày lưỡi mác, cũng là những người khác thường. Hắc Sơn lại thao thao bất tuyệt rồi lấy ra cuốn sách ma quái mà Chu Đạo Chân cho hắn, theo đó hắn vẽ ra mấy lá bùa, nói:
- Đeo là bùa này vào có thể tránh được mọi tai họa bệnh tật.
Dương Đạo Tiên lại khoác lác rằng:
- Ông Hắc còn có nhiều phép kỳ lạ như quạt thiết khiến cho thành trì đổ sụp, vạch đất thành sông, rắc gạo thành quân lính cắt cỏ thành ngựa, phi kiếm là rơi đầu quân địch.
Phàm là với những bậc hào kiệt thì nói về nghĩa khí; với những kẻ ngu si thì nói về phú quý lợi hại; với những kẻ không có tri thức thì nói những chuyện ma quỷ hoang đường; thì ai mà chả nghe theo. Bọn quan lại nhỏ trong cung đình đều không được học hành, không đọc sử sách. Những lời nói vô căn cứ ấy lôi kéo được họ, và ngay cả Phật cũng kính nể chúng. Hắc Sơn va Dương Đạo Tiên lại gắn cho Lý Tử Long một tôn hiệu, chúng nói:
- Lý Tử Long là Đức Phật Vương Như Lai cứu khổ cứu nạn trừ khử tai họa cho đời, chỉ chờ tới giữa những năm Thân Dậu sẽ đổi thay thiên hạ, vỗ về muôn dân. Nếu những dự định trước tiết lộ với những kẻ không tận tâm phù trợ, thì thiên thần sẽ tru diệt.
Những viên quan trong triều này, quả nhiên không dám truyền tin, mà chỉ riêng mình biết, tự đến bái kiến. Người nườm nượp, kẻ thì dâng áo quần yên ngựa, người thì dâng vàng bạc tiền nong. Tử Long vẫn khoác lác rằng:
- Những thứ bỏ đi này ta dùng làm gì? Nhưng thôi, các người cứ để đấy, để thử xem lòng trung thành của các người tới đâu.
Những quan lại trong triều, lúc đầu vẫn coi mình là khách, song sau đó lại gọi Tử Long là Đức Phật, là Thượng sư, và đều cúi lạy Tử Long. Hắn vẫn thản nhiên nhận mình như thế. Một hôm bọn Bào Thạch mời Tử Long vào trong thành chơi. Hắn tới một ngôi điện nhỏ ở Vạn Tuế Sơn, bên trên chỉ đặt một chiếc long sàng. Đi đường đã mệt mỏi, hắn thản nhiên như không, bước lên long sàng rồi ngồi xuống, nói:
- Ta đã có đài vàng bệ bạc, tòa sen bảo tọa, chứ đâu phải thứ này? Song chỉ vì do trời muốn cứu vớt sinh linh nơi trần thế nên trời đã đã sai ta xuống đây, thôi thì cũng chẳng lâu la gì, ta ngồi tạm cũng được.
Chim sâu đỗ cành cao,
Giếc cạn tới Dao Trì,
Đâu phải nơi chúng ở,
Ngông cuồng chẳng nghĩ xa.
Những nội thần này nói:
- Chỉ nguyện Đức Phật ngồi vào bảo tọa là chúng con cũng như được lên thế giới cực lạc rồi. Hắn ngồi một lát sau đó ra khỏi hoàng thành. Ai ai trông thấy cũng cho rằng hắn thật xứng đáng, và còn quả quyết rằng Lý Tử Long có số làm thiên tử còn những thường dân thì bái phục đến sái cổ, từ đó ngày càng tôn kính và tin theo.
Lý Tử Long, Hắc Sơn và Dương Đạo Tiên bàn nhau rằng: "Trong và ngoài phối hợp với nhau là hai điều không thể thiếu được. Bên trong thì có nội thần, bên ngoài thì dựa các địa phương vùng Châu Định, những hào kiệt này quá xa, vậy phải có được một số võ quan trong kinh thành cùng một số cấm quân phù trợ mới tốt được". Họ nghĩ tới Vũ Lâm bách hộ Chu Quảng, là người thân của Bào Thạch. Tiểu Kỳ Vương Nguyên là người thân của Trịnh Trung, vậy bảo hai người này lôi kéo họ nhập bọn. Quả nhiên hai người ấy tới bái kiến Lý Tử Long và họ hứa rằng tới lúc lâm sự họ sẽ cho người tiếp ứng.
Trâm anh đời đời ăn lộc nước.
Dốc hết lòng trung với nước non.
Cớ sao cam lòng theo phản nghịch,
Để rồi di họa tới cháu con.
0
Chương 26b [/align]

Lúc ấy có một Ngự mã thái giám là Vĩ Hàm, tuy không ở Tư lễ giám, song rất thân cận với hoàng thượng, có quyền lực và giàu có. Bào Thạch vốn là thuộc cấp của ông ta. Vĩ Hàm ngẫu nhiên bị ốm, Bào Thạch đã đến xin một số bùa cho ông ta chữa bệnh, không ngờ bệnh khỏi. Viên thái giám ấy rất cảm động, mang tiền tới tạ ơn và mở tiệc mời Lý Tử Long. Thấy Lý Tử Long tướng mạo đàng hoàng chững chạc, Vĩ Hàm rất vui thích và từ đó thường đi lại với nhau.
Dương Đạo Tiên nói:
- Tốt rồi, ông ấy là người vừa có tiền vừa có thế lực, sự nghiệp của chúng ta phần lớn dựa vào ông ấy. Song ông này cũng có một chút hiểu biết, nên việc làm không được lộ liễu. Nếu đem việc này nói với ông ta, đây là việc mưu phản thì làm sao mà ông ta nghe theo. Hơn nữa, chúng ta mong phú quý, mà ông ta đã phú quý rồi thì làm sao ông ta dám làm việc mạo hiểm? Nếu một người không theo mà lộ ra thì sự nguy hại thật khó lường. Việc này phải dùng kế để lôi kéo ông ta.
Hắc Sơn nói:
- Ngài Dương rất giỏi mưu kế, ngài hãy tính kế đi.
Dương Đạo Tiên nghĩ một lát rồi nói:
- Nghĩ ra rồi. Ông ta có một người em là Vĩ Lão Nhị, một người ngu đần, chơi thân với Bào Thạch. Ông ta có một đứa con gái mười bảy tuổi, Vĩ thái giám nuôi từ hồi còn bé, cần phải tìm cho nó một tấm chồng. Song cô ta là tú tài, nên Vĩ Hàm không muốn gả cho những người phú quý bậc trung, và cũng không muốn kết hôn với võ quan. Ngoài ra những thương nhân và phú hộ Vĩ thái giám cũng không muốn gả. Thấy tướng mạo luôn luôn xuất chúng, thái giám rất kính trọng. Phải thuyết phục Vĩ Lão Nhị nói với thái giám. Nếu họ thông gia được với nhau, thì sướng khổ cùng nhau, lo gì Vĩ thái giám không theo.
- Nếu lấy vợ, - Lý Tử Long nói, - thì e rằng không phải là hành vi của Thượng sư.
- Chúng ta sẽ có cách nói để lay động ông ta. - Hắc Sơn nói.
Tưởng mình Lệ Thực Kỳ(1)
Uốn lưỡi Tề thành, hạ,
Giữa chừng gặp sự biến,
Đầu phải chui vạc dầu.
(1) Lệ Thực Kỳ (? - 203 trước CN), người Can Dương, Trần Lưu thời Hán, nhà nghèo làm lính gác cửa. Khi Lưu Bang tới Can Dương, hiến kế đánh thành Trần Lưu, được phong Quảng Dã Quân. Vì sau thuyết phục Tề vương là Điền Quảng theo Hán. Khi Hàn Tín theo kế Bàng Thống đánh Tề chiếm Lâm Tri, Điền Quảng cho rằng Lệ Thực Kỳ bán mình, bèn bỏ Thực Kỳ vào vạc dầu.
Đúng lúc ấy Bào Thạch tới, nói với Dương Đạo Tiên:
- Vĩ thái giám rất kính trọng thượng sư và cho rằng tướng mạo thượng sư không phải là người thường.
- Việc này rất may cho thái giám. - Hắc Sơn nói.
- Chỉ có điều gần đây thấy hơi lạ. - Dương Đạo Tiên nói. - Thượng sư bảo là: "Hoàng đế có phải dễ làm đâu, khi làm thật là phiền toái", hình như có ý không muốn làm hoàng đế. Tước công, hầu, bá sắp đến tay chúng ta rồi, nếu thượng sư thay đổi ý định, thì việc của chúng ta không thành. Ta muốn tiền tài và hưởng thụ thì Thượng sư cho rằng đó là cái bề ngoài hoàn toàn không quan tâm tới, cái đó không ràng buộc ngài được. Làm hoàng đế phải có hoàng hậu, tam cung lục viện, chúng ta phải dùng gái đẹp để giữ ngài lại. Mỹ nữ thuộc loại tà dâm, nhất định ngài không chịu. Trừ phi tìm cho ngài một chính cung phải tìm một người con gái có số đại phúc, và cần phải có một người làm hoàng thân quốc thích cũng không ai có con gái đẹp, cho nên rất lo.
- Thượng sư là Phật làm sao lấy vợ được? - Bào Thạch nói.
- Xưa kia Cưu Ma La Thập(1) là Phật, Tây Tần vương từng tặng ông mười cung nữ, hạnh một lần được hai đứa con trai, chuyện ấy đã có, ta e ngại gì nữa.
(1) Cửu Ma La Thập (344-413 sau CN), là một cao tăng thời Đông Tấn.
- Thế thì Vĩ thái giám có một người cháu gái, tướng mạo rất phúc hậu, - Bào Thạch nói, - Vĩ thái giám lại rất kính trọng Thượng sư, trước hết ta nói qua với Vĩ Lão Nhị để Vĩ Lão Nhị nói việc này với Vĩ thái giám.
Chim sâu sánh chim phượng,
Chép, mè muốn cưới rồng.
Tưởng rằng dưới mái tranh,
Nến hồng huy hoàng chiếu.
Hắc Sơn nói:
- Vĩ thái giám tuy kính trọng Thượng sư, song việc sắp tới của chúng ta không thể nói với ông ấy được. Chỉ nói là Thượng sư là người có quý tướng, hôm nào đó thái giám giúp ông ấy một chút, văn quan cũng phải làm tới trung thư thuộc phẩm hàm khanh, mà võ quan thì cầm chắc là làm tới chức cẩm chỉ huy. Cứ nói thế thôi.
Bào Thạch nói:
- Tôi sẽ nói y như các ông.
Khi Bào Thạch nói với Vĩ Lão Nhị thì Vĩ Lão Nhị nói:
- Việc này là tùy ở Vĩ thái giám.
Khi Vĩ Lão Nhị nói thì Vĩ thái giám chẳng hỏi han gì đến lai lịch của Lý Tử Long mà nói:
- Người này tướng mạo khác thường, nếu dựa vào ta thì ông ấy thiếu gì áo mão. Cháu cũng đã lớn rồi, ta cũng chẳng kể gì đến lễ vật, thôi thì gả cho ông ta.
Sau đó dựng cho Lý Tử Long một ngôi nhà ở ngoài cửa Đông Hoa, và chuẩn bị hàng ngàn lạng vàng làm của hồi môn, chọn ngày lành tháng tốt làm lễ cưới.
Lau sậy lướt theo dòng,
Thỉnh thoang lai vãng tới
Bao giờ sen bừng nở,
Lã lướt ở bên mình.
Ban đầu Dương Đạo Tiên biết lai lịch của gả côn đồ này, đến nay lại là thân thích của thái giám. Hằng ngày Lý Tử Long nghênh ngang xe ngựa, mũ cao áo thụng sai khiến kẻ hầu người hạ, giao lưu với mọi người. Ta nghĩ rằng một gã tiểu nhân nghèo kiết xác làm hòa thượng, vô gia cư, đi khắp nơi khất thực, nay đã có vợ có tiền của tha hồ sử dụng, ấy thế mà không biết dừng lại. Song dù hắn có dừng lại thì những kẻ mưu đồ vinh hoa phú quý cũng không muốn dừng. Người này dẫn người đến bái kiến, người kia móc nối người đến nhập bọn. Lòng dạ của những kẻ không biết thế nào là đủ, cứ nóng lòng sốt ruột nghĩ rằng năm Thân - Dậu cũng không muốn từ chối những người này. Bởi thế sự việc này dần dần lộ ra.
Lúc ấy có cẩm y vệ hiệu úy là Tôn Hiền, ở bên cạnh là một người lính nghèo là Cam Hiếu. Người này nghèo rớt mồng tơi cả nhà ăn đói mặc rét. Người vợ cứ thường trách móc anh ta, Cam Hiếu nói:
- Thôi đừng cắn rứt ta, chỉ chịu đựng vài ba tháng nữa thôi, ta theo ông ấy cũng kiếm được chức trăm hộ, được hàm chính thất phẩm, thì chúng ta tha hồ mà chi dùng. Hãy kiên nhẫn chờ đợi một chút nữa.
Tôn Hiền nghe thấy, ngày hôm sau nói với anh ta rằng:
- Anh Cam có chỗ nào tốt thế? Nói giúp cho tôi với.
- Ông giúp tôi được chứ làm sao mà tôi giúp được ông.
- Anh ạ, thuyền đông không ngại bến hẹp. Nếu tôi được chỗ tốt thì đâu dám quên ơn anh.
Biết rằng Cam Hiếu thích rượu, đến tối Tôn Hiền mua rượu và thức nhắm mời Cam Hiếu, nhờ Cam Hiếu dẫn đường chỉ lối. Uống được mấy chén thì Cam Hiếu chỉ trời vạch đất nói:
- Tôi không giúp nổi ông đâu, ở đấy chỉ có Lý thượng sư mới giúp được ông thôi. Thế nào ngày mai tôi cũng đưa ông tới bái yết ngài, chắc chắn ông sẽ có chỗ tốt.
Rượu vào lời ra,
Cơ mưu bại lộ.
Lời đã nói rồi,
Ngựa sao đuổi kịp.
Sáng sớm hôm sau Tôn Hiền đến tìm Cam Hiếu không sao nuốt lời được, chần chừ thêm mấy ngày nữa cuối cùng đành phải dẫn Tôn Hiền đến bái kiến Lý Tử Long. Tôn Hiền rập đầu thề rằng:
- Thề sẽ đồng tâm hiệp lực phù trợ Thượng sư cứu vớt sinh linh không hề thoái lui. Nếu một dạ đối lòng thì kiếm chém dứt đầu, cả nhà bị diệt.
Thề xong Tôn Hiền nhập bọn, trước hết theo dõi những người lai vãng, rồi nhớ thật kỹ. Sau đó xem xét khắp nơi, biết rằng đây là việc mưu phản, đã định vào giờ Thân - Dậu năm Ất Dậu, trong đánh ra, ngoài đánh vào chiếm đoạt kinh thành.
Lúc ấy Vĩ thái giám đang định tiến cử Lý Tử Long làm trung thư, rồi bảo với Vĩ Lão Nhị, Vĩ Lão Nhị nói:
- Ông ạ, ông ấy muốn làm to cơ, chứ không muốn cái chức lẹp nhẹp ấy đâu?
- Thế ông ấy muốn quan gì? - Vĩ thái giám nói.
- Ông ấy muốn chức sai khiến quan cơ. - Vĩ Lão Nhị hạ giọng nói tiếp. - Mệnh và tướng mạo đều khớp nhau, đáng là chân mệnh thiên tử. Bên ngoài đã sắp xếp xong xuôi rồi, bên trong cũng có người rồi, còn muốn anh giúp đỡ một chút. Việc thành anh không những là quốc thích mà còn là công thần.
Nghe xong thái giám thét lên một tiếng.
Cầu lưỡi không thể hạ,
Miệng câm chẳng thành lời.
Kinh sợ mồ hôi toát,
Thân, phách lạc hồn bay.
Vĩ thái giám kinh sợ không sao cất nên lời, thì Vĩ Lão Nhị nói:
- Việc này cũng không phải tại anh. Giúp ông ấy mình vẫn có lợi. Nếu không giúp, việc không thành thì anh cũng không trốn thoát.
Vĩ thái giám thấy thế vừa kinh hãi vừa tức giận. Chờ hắn nổi loạn, sự việc lộ ra cũng chết. Bây giờ mình là người thân cận triều đình, áo tía đai vàng, phú quý tột bậc còn muốn gì nữa, nếu làm theo hắn chỉ chuốc lấy tai vạ. Giờ thì đã gả cháu gái cho hắn rồi, còn xoay trở sao được nữa, quả là không thoát được rồi. Đang lúc lo lắng buồn rầu, thì Lý Tử Long cùng với Dương Đạo Tiên đã lén lút may áo hoàng bào, mũ cánh chuồn, chẳng khác gì diễn kịch, chỉ chờ thanh la nổi lên là bước ra sân khấu.
Song tại kinh sư, chú cháu Tào Cát Tường từng làm phản. Bốn chú cháu đều trong cung cấm, trong nhà nuôi dưỡng quan lại lính tráng mà cũng không làm nổi. Huống hồ là mấy nội thần không có thực quyền, một vài quan võ quen và mấy binh lính nghèo mà định khởi sự, thì làm sao nổi. Không ngờ Tôn Hiền đã mò ra sự thực, báo cho chỉ huy chưởng vệ ấn Viên Bân. ông lập tức sai người bắt Lý Tử Long, khám thấy hoàng bào. Rồi bắt Dương Đạo Tiên, Hắc Sơn. Lúc ấy hoàng bào là tang vật phản nghịch. Viên Bân là người vùng sa mạc, theo vua mà được làm quan. Ông ta là người trung hậu. Nếu vào tay người khác muốn lập công to, thì cuối cùng sẽ làm thành vụ việc can hệ đến người trong hoàng cung, nhất định là họ nhờ vả ông, song ông cũng chẳng đòi hỏi gì. Ông nghĩ rằng: "Những người theo sư chẳng qua cũng là cùng dân dốt nát. Mà nói là mưu phản thì âm mưu chưa thực hiện và cũng chỉ là mấy đứa ngông cuồng, đặt ra chủ trương thôi. Ngay cả thân thích những người này cũng không ai hay biết, làm sao mà vu cho những người ngu xuẩn này được?”
Hiếu sinh hành nhân đức,
Mở ba mặt lưới vây,
Thỏ hoang bị ăn thịt,
Phù dung vui thoáng tròng.
Chu Quảng, Bào Thạch là người không thể che giấu được, Viên Bân đành viết sớ tấu lên cấp trên. Rốt cục vì sự việc liên quan tới người trong hoàng cung, nên dù có âm mưu táo bạo để mưu cầu lợi lộc, song thánh chỉ cũng không nghiêm trị. Nhưng việc này đã đến Lập pháp ty, Vĩ thái giám nghĩ rằng: “Lý Tử Long mưu phản là sự thực, ta lại là người chí thân của hắn, người trong Vệ tuy có che giấu cho ta, song Pháp ty không chịu. Những người nắm pháp luật này, lòng dạ họ xấu xa. Họ tấu trình lên, nói ta là cận thần mà thông đồng với bọn phản nghịch, thì còn tốt làm sao được. Nếu thánh thượng biết sẽ ra lệnh chém đầu, thôi thì cứ chết trước đi thì thi thể mình mới còn nguyên vẹn”. Thế là Vĩ thái giám uống thuốc độc chết.
Giữ mình theo năm tháng
Cầu phú quý làm chi.
Chết thành đống tro lạnh,
Vì theo bọn côn đồ.
Thương cho Vĩ thái giám đã bị kẻ khác lừa dối. Những phạm nhân đến Pháp ty thì Pháp ty cũng chỉ căn cứ vào bản tâu trình của Viên Bân, thêm vào một số lời khai rồi trình lên thánh thượng. Trong bản tâu trình viết: "Lý Tử Long, Hắc Sơn, Chu Quảng, Bào Thạch là kẻ chủ mưu. Thôi Hoằng, Trịnh Trung, Vương Giám, Thường Hạo, Mục Kính, Vương Nguyên là tòng phạm, đều phải xử tội. Giang Triều, Chu Đạo Chân, Phương Thủ Chân cũng theo đó mà luận tội". Song Thánh thượng khoan dung, biết rằng đây là bọn ngông cuồng hoang đường, tự chuốc lấy họa vào thân. Những quan viên trong triều cũng là một lũ ngu xuẩn, bị kẻ khác mê hoặc. Chỉ hành quyết năm tên cầm đầu thuộc bọn Lý Tử Long, còn bọn Thôi Hoằng cho thiến rồi sung vào quân lính. Vương Nguyên chuyển đi Vệ khác, những tên còn lại theo pháp luật thi hành. Thật nực cười thay, Lý Tử Long một tên ngông cuồng lại muốn làm hoàng đế, Dương Đạo Tiên, Hắc Sơn, Chu Quảng lại muốn lập công đầu để được phong bá. Bào Thạch cũng muốn chức đại tư lễ, song nay đã sa cơ.
Ơn chúa lòng rộng mở,
Đáng cười bọn ngu si.
Phú quý giờ đâu nhỉ,
Phơi thây bên lề đường.
Quả thực, bộ Hình cho rằng bọn Bào Thạch đã móc nối giữa trong và ngoài, âm mưu chống lại triều đình, tội ác của chúng quả là ghê gớm. Nếu nặng về tình, nhẹ về pháp luật thì không thể trừng trị bọn phản loạn và làm cho phép nước sáng tỏ, bởi thế bộ Hình xin chém đầu bọn Vương Nguyên theo pháp luật. Song Thánh thượng vẫn khoan dung cho rằng đã ban hành rồi, hãy miễn truy cứu tiếp. Tuy bên trong nhưng chỉ là một nhóm nhỏ, những quân trong kinh thành theo chúng, và nhũng tên vô lại chúng kết giao hằng ngày, ta truy lùng bắt bớ, e rằng sẽ xảy ra to chuyện.
Xử nghiêm thủ mưu,
Khoan dung tòng phạm.
Nếu bắt bớ bừa,
E rằng biến loạn.
Ta nghĩ rằng, trong bốn loại dân thì: kẻ sĩ mong muốn được làm quan, nông phu thì muốn giữ được nghiệp nhà, thương nhân thì cầu mong được hành nghề khác, cũng chỉ nên lừa người kiếm chút tiền nuôi miệng, thì nói năng cũng phải theo lẽ phải. Những cao tăng thì phải làm sáng rõ cái tâm cái tính, chăm lo bản tính và du dưỡng cái chân nguyên để hoàn tất sự sinh tử. Còn chúng sinh thì tụng kinh niệm phật để chăm lo cuộc sống cuối đời. Đúng như Thái Tổ Cao hoàng đế triều Minh nói: “Mọi người yên phận sống và làm việc, đừng làm những việc không thể làm được. Còn như những kẻ làm nghề bói toán, nói bừa rằng người ta sẽ làm hoàng đế, bởi thế một ngã tăng nhân du thủ du thực muốn được làm hoàng đế”. Dương Đạo Tiên là một phú gia, không cần quan chức, cũng sống ung dung. Chu Quảng là chức quan thế tập, không cần địa vị cao, vẫn có thể đời đời nối dõi làm quan. Bào Thạch là nội thần, cũng có chức nghiệp. Tại sao bọn họ lại ngu ngốc điên cuồng, rồi đi vào chỗ chết. Những lời nói quỷ quái bừa bãi ấy, quả thật không nên nghe. Cho dù nghèo xơ xác đến mức phải chết đói, thì vẫn là người dân lương thiện. Bọn người này không những bị chém đầu mà còn mang tiếng là kẻ phản nghịch, há chẳng đáng chê cười sao. Bởi thế làm người dân cần phải giữ gìn cẩn thận, mọi người làm theo nghề nghiệp của mình để bảo toàn tính mạng cho cả nhà. Không nên chạy theo phú quý công danh sau này, mà làm mất hết ruộng vườn, vợ con đã có.


Hết
0


Đã mang vào thư viện

Thành thật cảm ơn bevanng đã góp sức cho thư viện

Chúc vui
0
«« « 2 3 4 5 6 » »»