Đánh máy: Cunhoi
Phần II = Chương 6
“Báo Australian và New Zealand”
Tối ngày ba tháng giêng, đoàn thám hiểm ra khỏi rừng và họ thấy trước mặt lố nhố những ngôi nhà.
- Seymour, - Paganel thốt lên - Đố là phố thị cuối cùng của tỉnh Victoria mà chúng ta đi ngang qua.
Đây có phải là thành phố không? – Huân tước phu nhân Helena tò mò hỏi.
- Đây mới chỉ là một thị trấn, thưa phu nhân, - Paganel đáp – Cái thị trấn này đang được xây dựng thành một thành phố.
- Liệu ta có tìm được một khách sạn tử tế không? – Glenarvan hỏi.
- Tôi tin là được, - nhà địa lý trả lời.
- Vậy thì ta đi vào Seymour, tôi nghĩ rằng hai phụ nữ của chúng ta sẽ vui lòng nghỉ đêm ở đó.
- Em và Mary đồng ý, anh Edward thân yêu ạ! – Helena nói. – Nhưng với điều kiện không gây phiền toái và chậm trễ…
- Không đâu, - Glenarvan nói. - Vả lại những con bò của chúng ta cũng cần phải được nghỉ ngơi. Sáng sớm mai chúng ta lại lên đường.
Chín giờ tối. Trăng đã ngã về phía chân trời. Ánh trăng xiên chìm trong sương mù. Bóng tối dày đặc hơn. Một tốp nhà thám hiểm do Paganel dẫn đầu đi vào các đường phố lớn của Seymour. Nhà địa lý dường như bao giờ cũng biết rất rõ những điều mà ông ta chưa hề thấy. Chẳng hạn, theo linh tính, ông đã dẫn những người cùng đi đến thẳng khách sạn North British.
Ngựa và bò được đưa vào chuồng, cỗ xe kéo thì đưa vào nhà.
Còn các nhà thám hiểm thì ở trong các căn phòng khá đủ tiện nghi. Mười giờ, họ ăn cơm tối…
Thiếu tá tuy không ra phố, thậm chí không bước ra khỏi cửa khách sạn, nhưng cũng cảm thấy rằng người dân ở đây đang lo sợ điều gì đó. Sau khi nói chuyện mười phút với ông Dickson, chủ khách sạn, thiếu tá đã biết được chuyện gì xảy ra, nhưng ông không nói với ai.
Mãi đến khi ăn cơm tối xong, huân tước phu nhân Helena, Mary và Robert về phòng nghỉ rồi, thiếu tá mới giữ những người khác lại, nói với họ:
- Người ta đã biết thủ phạm gây ra tai nạn trên đường sắt Sandhursi.
- Bọn chúng bị bắt rồi chứ? – Ayrton hỏi ngay.
- Chưa, - Mac Nabbs đáp, dường như không để ý đến sự sốt sắng của viên hoa tiêu.
- Vậy thì đỡ quá, - Ayrton nhận xét.
- Thế người ta có nêu tên bọn chúng không? – Glenarvan hỏi:
- Đây, xin mời đọc, - thiếu ta nói và đưa cho Glenarvan tờ “Báo Australian và New-Zealand”, - và chú sẽ thấy viên thanh tra trưởng quả đã không nhầm.
Glenarvan đọc to:
“Sydney, mồng 2 tháng Giêng năm 1865 (1). Bạn đọc chúng ta còn nhớ, đêm 29 trạng ngày 30 tháng 12, tai nạn xe lửa đã xảy ra ở cầu Camden, cách ga Castlemaine năm dặm, trên đường xe lửa Mellbourne-Sandhust. Chuyến tàu tốc hành khởi hành từ Mellbourne lúc 11 giờ 45 phút tối, đang chạy hết tốc lực thì bị lao xuống sông Lutton. Khi tàu chạy qua thì nhịp cầu quay Camden để ngỏ. Rất nhiều vụ cướp xảy ra sau tai nạn này. Đồng thời xác của nhân viên gác đường sắt được tìm thấy ở chỗ cách cầu Camden nửa dặm đã chứng tỏ rằng tai nạn xảy ra là hậu quả của một âm mưu tội ác. Thực vậy, việc điều tra cho thấy vụ này là do bàn tay của một bọn tù khổ sai đã trốn khỏi trại cải huấn Perth ở miền tây Australie nửa năm trước đây, khi bọn chúng sắp bị đưa ra đảo Norfolk (2). Bọn cướp có hai mươi chín tên. Tên trùm cướp không ai khác, mà chính là Ben Joyce, một tên tội phạm nguy hiểm nhất. Mấy tháng trước đây, hắn đã đến Australie trên một chiếc tàu thuỷ, và từ đó đến nay vẫn qua mặt cảnh sát.
Chúng tôi yêu cầu dân cư các thành thị, những người di cư hãy cảnh giác đề phòng, cũng như kịp thời báo cho thanh tra trưởng biết những tin tức tài liệu có thể giúp cho việc truy lùng bọn tội phạm.. Thanh tra trưởng Đ.P. Mitchelle”.
Khi Glenarvan đọc xong bản thông báo ấy. Mac Nabbs quay sang nói với nhà địa lý:
- Ông thấy không, Paganel, ở Australie vẫn có thể có những tù khổ sai.
- Bọn vượt ngục, điều ấy khỏi nói làm gì, chúng sống ngoài vòng pháp luật, không có quyền cư trú ở đây.
- Vậy nhưng bọn chúng vẫn tồn tại, - Glenarvan nhận xét. – Tôi cho rằng sự có mặt của chúng không thể làm thay đổi kế hoạch của chúng ta và làm gián đoạn cuộc thám hiểm. Anh nghĩ thế nào về viẹc này, John? John Mangles không trả lời ngay, chàng thuyền trưởng trẻ lưỡng lự: một mặt hiểu Mary và Robert sẽ đau khổ biết chừng nào nếu cuộc tìm kiếm người cha bị ngưng lại, nhưng mặt khác, anh ta lại sợ nguy hiểm cho đoàn.
- Nếu như không có huân tước phu nhân và cô Mary thì tôi không lo ngại gì về bọn bất nhân ấy. - Cuối cùng anh ta nói.
Glenarvan hiểu anh ta và nói thêm:
- Rõ ràng là không thể nói chuyện khước từ trách nhiệm mà chúng ta đã đảm nhận, nhưng xét vì trong đoàn có phụ nữ, nên tốt nhất là bây giờ chúng ta trở lại Melbourne, từ đó đáp tàu “Duncan” đi về vùng duyên hải phía đông và tìm kiếm Harry Grant ở đó. Ý kiến của bác thế nào, Mac Nabbs?
- Trước khi phát biểu, - thiếu tá nói, - tôi muốn biết ý kiến của Ayrton đã.
Viên hoa tiêu đưa mắt nhìn Glenarvan, rồi đáp:
- Chúng ta đang ở cách Melbourne hai trăm dặm, nên tôi thấy rằng, nếu thực sự có nguy hiểm thì không phải đường phía nam ít bị đe doạ nguy hiểm hơn đường phía đông đâu. Cả hai đường đều khá vắng vẻ, tồi tệ như nhau cả. Vả lại, tôi không nghĩ rằng ba chục tên hung thủ lại có thể đáng sợ đối với tám con người dũng cảm và có súng ống đầy đủ. Nói tóm lại, theo tôi, nếu không có đề nghị nào hay hơn thì cứ nên tiếp tục tiến bước.
- Ông Ayrton nói đúng. – Paganel đồng ý. - Tiếp tục cuộc hành trình của mình thì ta mới có thể dò ra dấu tích của thuyền trưởng Grant, còn quay về phía nam thì, ngược lại, sẽ càng ngày càng mất đi khả năng ấy. Tôi cũng nghĩ như ông Ayrton rằng một người dũng cảm thì không sợ những tên tù vượt ngục.
- Còn một ý kiến nữa, thưa huân tước, - viên hoa tiêu nói khi mọi người sắp giải tán…
- Cứ nói đi, ông Ayrton.
- Có lẽ đã đến lúc phát lệnh cho “Duncan” bám dọc theo bờ biển chăng?
- Để làm gì? – John Mangles can thiệp vào. – Khi nào chúng ta đi đến Twofold – Bay, lúc đó mới cần ra lệnh, nếu không , nhỡ vì lý do nào đấy buộc chúng ta phải đi Melbourne thì ta lại hổi tiếc vì “Duncan” đâu còn ở đó nữa. Vả lại, có lẽ tàu vẫn chưa sửa xong. Tôi cho rằng tốt nhất là hãy cứ đợi đã.
- Thôi đành vậy, - Ayrton đồng ý rút lui ý kiến của mình.
Ngày hôm sau, đoàn thám hiểm rời Seymour, súng ống được chấn chỉnh lại để sẵn sàng đối phó với những điều bất trắc xảy ra.
(1) Bản tiếng Pháp in là 1866 (N.Đ)
(2) Đảo Norfolk nằm ở phía đông Australie giam những phạm nhân không chịu cải huấn (ghi chú của tác giả).
Chương 7
Kết cục đột ngột
Thật là một đêm khủng khiếp đã trôi qua. Hai giờ, trời đổ mưa như trút nước đến tận sáng. Chiếc xe kéo bị sa lầy, nên đoàn thám hiểm phải nghỉ lại giữa rừng. Chiếc lều không đủ sức che mưa, Glenarvan và những người cùng đi phải vào trú trong xe. Không ai ngủ được mọi người kháo nhau đủ chuyện. Riêng thiếu tá chỉ im lặng ngồi nghe. Trận mưa rào dữ dội vẫn chưa ngớt. Ayrton và John Mangles sợ chiếc xe sa lầy bị ngập nước, nên chốc chốc lại đi xem mực nước sông. Khi về, ai nấy ướt như chuột lột.
Cuối cùng, trời sáng. Mưa tạnh, nhưng những tia nắng chưa thể xuyên thủng những làn mây đen dày đặc. Chung quanh toàn thấy những vũng nước lớn vàng khè.
Glenarvan quyết định trước hết phải kiểm tra lại cỗ xe. Hai bánh trước gần như bị ngập lút dưới bùn, còn hai bánh sau thì bị lút tới trục. Kéo cả cỗ xe lên khổi hố lầylà một việc không dễ dàng, dù cho có dùng cả sức người, sức bò và ngựa!
- Dẫu sao cũng phải khẩn trương kéo lên. Nếu không, khi đất sét bắt đầu khô thì lại càng khó kéo hơn, - Harry Grant nhận xét.
- Ta nhanh tay nào, - Ayrton lên tiếng.
Glenarvan, hai người thuỷ thủ, John Mangles và Ayrton vào rừng tìm đàn bò và ngựa mà họ buộc tối hôm qua.
Mọi người bổ đi tìm khắp rừng, nhưng chỉ uổng công, Ayrton rất đỗi kinh hoàng trở lại bờ sông Snowy. Anh ta bắt đầu lớn tiếng gọi những con bò theo cách thông thường ở trang trại, những cũng không thấy chúng đâu. Viên hoa tiêu tỏ ra hết sức hoảng hốt, những người trong đoàn thất sắc nhìn nhau.
Cứ thế, cuộc tìm kiếm kéo dài cả giờ, Glenarvan đã định trở lại chỗ xe đậu ở cách đó chừng hơn một dặm bỗng ông nghe có tiếng ngựa hí và sau đó gần như cùng một lúc là tiếng bò rống.
- Đây rồi! – John Mangles kêu lên, rồi lách qua những bụi cây rậm rạp có thể che khuất cả đàn súc vật.
Glenarvan, Mulrađi và Ayrton lao ngay đến chỗ chúng và lặng điếng người đi, những con bò và ngựa nằm lăn ra chết, xác đã cứng đờ. Bầy quạ đói nháo nhác quanh cả bụi cây mắc cỡ đợi dịp nhào xuống rỉa mồi.
(Hình vẽ trang 168)
Glenarvan và những người cùng đi đưa mắt nhìn nhau. Wilson buông lời não nuột:
- Biết làm sao bây giờ!
- Ayrton, ông dẫn con bò và con ngựa còn sống đi. – Glenarvan cố dằn lòng nói. – Bây giờ hai con này đây sẽ cứu giúp chúng ta đó.
- Giá chiếc xe không bị sa lầy, - John Manglé nói, thì cứ đi từng chặng, từng chặng một, chúng cũng kéo được xe tới biển đấy. Bây giờ phải bằng mọi cách trục xe lên mới được.
- Ta sẽ thử xem, John, - Glenarvan đáp, - Còn bây giờ hãy quay về đã. Có lẽ mọi người ở đó đang sốt ruột đợi, vì ta đi lâu quá rồi.
Ayrton tháo dây buộc bò, còn Mulradi thì tháo dây buộc ngựa, rổi tất cả cùng đi cặp theo bờ sông về trại.
Nửa giờ sau, Paganel, Mac Nabbs, huân tước phu nhân và cô Mary đã được biết đầy đủ chuyện gì xảy ra.
- Tiếc quá đấy, ông Ayrton ạ. Hôm đi qua sông Wimerra ta đã không đóng móng cho tất cả mấy con ngựa, - không kìm được nữa, thiếu tá nói với viên hoa tiêu.
- Vì sao vậy, thưa ông?
- Vì rằng, trong tất cả những con ngựa của ta chỉ có mỗi một con đã được thợ rèn của ông đóng móng là con sống sót mà thôi.
- Hoàn toàn đúng thế! – John Mangles khẳng định. - Thật là một sự ngẫu nhiên lạ lùng!
- Đấy chỉ là một sự ngẫu nhiên thôi. – viên hoa tiêu đáp, nhìn thiếu tá trừng trừng.
Mac Nabbs cắn chặt môi, tựa hồ như muốn kìm lại những điều sắp bật ra khỏi miệng, Glenarvan, John, Helena có vẻ như chờ đợi thiếu tá nói hết ý của mình ra, nhưng ông đã lặng lẽ đi đến chỗ chiếc xe mà Ayrton vừa xem xét xong.
- Thiếu tá muốn nói gì vậy? – Glenarvan hỏi John Manglé.
- Tôi không biết, thưa huân tước, nhưng thiếu tá không phải là người nói thừa.
- Tất nhiên rồi, John, - Helena nói, - Mac Nabbs có vẻ nghi ngờ Ayrton điều gì đó.
- Nghi ngờ à? – Paganel nhún vai trả lời.
- Nhưng nghi ngờ cái gì chứ - Glenarvan ngạc nhiên. – Không có lẽ thiếu tá cho Ayrton là người giết ngựa và bò của chúng ta chăng? Để nhằm mục đích gì?
- Anh nói đúng, Edward thân yêu ạ, - Helena nói, - Vả lại, ngay từ lúc đầu, viên hoa tiêu đã tỏ ra rất trung thành với chúng ta kia mà.
- Vậy không nghi ngờ, - John Mangles khẳng định. - Thế thì những lời thiếu tá nói có ý nghĩa gì, tôi muốn hiểu điều đó.
- Hay là thiếu tá cho anh ta là kẻ đồng loã với bọn tù khổ sai nọ, - Paganel bộp chộp nói…
Trong lúc ấy, Ayrton và hai thuỷ thủ cố gắng kéo cỗ xe ra khỏi vùng lầy. Con bò và con ngựa được đóng vào xe thành đôi cố sức kéo, tưởng như các dây kéo sắp bị đứt, và cái ách sắp bị gãy tung ra. Wilson và Mulradi cố bắt bánh xe, còn viên hoa tiêu thì quật, đánh và thúc hai con vật. Cỗ xe nặng vẫn không nhúc nhích. Đất sét đã kịp khô bám chặt lấy bánh xe như xi măng vậy. John Mangles ra lệnh lấy nước đổ vào đất sét cho nhão ra - Uổng công: cỗ xe sa lầy vẫn đứng ì. Sau những cố gắng mới không có kết quả, cả người và vật đều ngừng lại. Không biết làm gì được nữa, chẳng lẽ tháo tung cỗ xe ra. Mà cũng không có dụng cụ, nên không thể làm như vậy được.
Một mình Ayrton vặn cổ tìm mọi cách để khắc phục trở ngại. Anh ta định đưa ra một kế mới, nhưng Glenarvan đã ngăn lại:
- Thôi Ayrton, thôi! Chúng ta phải bảo vệ con bò và con ngựa còn lại này. Nếu cần phải đi bộ để tiếp tục cuộc hành trình thì một trong hai con ấy để cho Helena và Mary cưỡi, còn con kia chở lương thực. Cả hai con vật vẫn còn giúp ích cho chúng ta.
- Hay đấy, thưa huân tước! – Viên hoa tiêu đáp và bắt đầu tháo ách những con vật kiệt sức ấy ra khỏi xe.
- Còn bây giờ, các bạn của tôi, - Glenarvan nói tiếp, chúng ta trở vào lều bàn bạc tình hình, cân nhắc xem phải làm gì, rồi sẽ quyết định.
Các nhà thám hiểm sau một đêm vất vả đã được ăn bữa sáng khá tươm tất để lấy lại sức, rồi bắt đầu bàn việc.
Tất cả mọi người đều nói lên ý kiến của mình và nhất trí tiếp tục cuộc hành trình về phía vịnh Twofold – Bay càng sớm càng tốt, Helena và Mary sẵn sàng đi bộ năm dặm mỗi ngày.
- Helena yêu quý, em thật sự là người bạn tin cẩn của anh trong cuộc hành trình, - Glenarvan nói với vợ. – Nhưng liệu chúng ta có tin chắc được rằng đến vịnh ấy sẽ xoay sở được những thứ cần thiết không?
- Không nghi ngờ gì cả, - Paganel nói, - Eden không phải là thành phố mới xây dựng ngày hôm qua, giữa cảng của nó với Melbourne nhất định phải thường xuyên có tàu bè qua lại. Nhưng tôi nghĩ, đến Delegete cách đây 35 dặm chúng ta sẽ có thể không những dự trữ lương thực mà còn tìm được phương tiện đi lại nữa.
- Còn “Ducan” thì sao? – Ayrton hỏi. – Huân tước không thấy bây giờ ra lệnh cho tàu đến Twofold – Bay là đúng lúc rồi sao?
- Ý kiến anh thế nào, John? – Glenarvan hỏi.
- Thưa huân tước, tôi thấy không nên vội vã chuyện này. – John trả lời sau khi đã nghĩ kỹ, - Huân tước có thể ra lệnh cho Tom Austin đến vùng duyên hải lúc nào cũng kịp ạ.
- Hoàn toàn đúng thế - Paganel nói thêm vào.
- Huân tước cứ suy nghĩ đi, - John Mangles nói tiếp, - vì chỉ bốn, năm ngày nữa là chúng ta sẽ có mặt ở Eden rồi.
- Bốn, năm ngày! – Ayrton nhắc lại, lắc đầu. – Không đâu, thuyền trưởng ạ. Ông hãy thêm vào đó độ mười lăm ngày nữa, vị chi là hai mươi ngày, kẻo rồi sau đó các ông lại phải ân hận.
- Mười lăm hoặc hai mươi ngày mới đi được bảy mươi dặm thôi ư? – Glenarvan ngạc nhiên.
- Không ít hơn đau, thưa huân tước. Bởi vì phía trước là vùng cằn cỗi nhất của tỉnh Victoria, nhiều nơi hoang vắng không có lấy một trang trại nào, chỉ thấy toàn những bụi cây dại mọc, không có đường sá. Phải vừa đi, vừa cầm rìu hay dao mà phát, vì vậy các ông hãy tin rằng không thể đi nhanh hơn được đâu.
Ayrton nói thất cả những điều ấy bằng một giọng đầy tự tin. Mọi người nhìn Paganel vẻ dò hỏi. Nhà địa lý gật đầu khẳng định lời viên hoa tiêu.
- Cứ cho là vậy đi! – John Mangles nói, - biết làm sao được. Mười lăm ngày nữa huân tước gửi lệnh cho “Ducan” cũng vẫn kịp.
- Cần nói thêm là, - Ayrton tiếp lời, - đường khó đi vẫn chưa phải là điều chủ yếu. Mà còn phải vượt qua sông Snowy nữa. Lại phải đợi nước rút mới đi được.
- Đợi nữa? - Thuyền trưởng trẻ ngạc nhiên. - Thế không có chỗ nào nước nông sao?
- Hoàn toàn không, - Ayrton đáp, - Sáng nay tôi đã thử dò chỗ nông, nhưng chẳng hy vọng gì.
- Vậy là con sông Snowy này rộng lắm phải không? – Huân tước phu nhân Helena hỏi.
- Rộng mà sâu nữa, thưa phu nhân, - Ayrton đáp. – Nó rộng đến một dặm, nước lại chảy xiết. Đến tay bơi giỏi cũng không thể liều lĩnh bơi qua được đâu.
- Vậy thì có sao – Robert kêu lên, không hề bối rối. – Ta chặt cây làm bè mà đi. Thế là xong.
- Con trai thuyền trưởng Grant khá lắm! – Pagenel khen ngợi.
- Robert nói đúng, - John lên tiếng. – Ta không còn cách nào khác nữa. Tôi cho rằng không nên mất thì giờ tranh luận vô ích.
- Ayrton, ý kiến của ông thế nào? – Glenarvan quay sang hỏi viên hoa tiêu.
- Thưa huân tước, tôi sợ rằng néu không có chi viện kịp thời thì có khi ta còn phải chờ đợi ở sông Snowy này cả tháng nữa đó.
- Thế anh có cách gì khác tốt hơn không? – John Mangles hỏi, giọng hưi bực bội
- Ôi chao, lại “Ducan”! Vậy ông hãy cho tôi biết vì sao nếu “Ducan” đến Twofold – Bay thì chúng ta đi đến đó sẽ đỡ vất vả hơn?
Ayrton suy nghĩ một lát, rồi nói khá quanh co:
- Tôi không thể ép buộc thực hiện ý kiến của mình. Tôi chỉ muốn vì lợi ích chung và sẵn sàng đi tiếp theo lệnh của huân tước. – Nói xong, anh ta khoanh chéo tay trước ngực.
- Đó không phải là câu trả lời, ông Ayrton! – Glenarvan nói, - Ông hãy cho biết kế hoạch của mình và chúng ta sẽ cùng nhau bàn… Ông tính thế nào?
- Tôi cho rằng trong tình cảnh nguy khốn của ta thì không nên mạo hiểm rời khỏi sông Snowy. – Ayrton nói bằng một giọng bình tĩnh, tự tin. – Chúng ta cần phải ở lại đây chờ chi viện. Mà chỉ có “Ducan” mới chi viện được thôi. Chúng ta dừng lại ở đây và cử một người mang lệnh cho Tom Austin đưa tàu đến Twofold-Bay.
Mọi người hơi ngạc nhiên trước đề nghị bất ngờ này, còn John Mangles thì rõ ràng là không đồng tình.
- Trong thời gian đó, - viên hoa tiêu nói tiếp, - nếu nước sông rút thì chúng ta sẽ lội qua hoặc là sẽ làm thuyền bơi qua. Đó là kế hoạch mà tôi đề nghị, thưa huân tước.
- Tốt lắm Ayrton ạ, - Glenarvan đáp, - ý kiến của ông đáng được bàn một cách nghiêm túc… Nhược điểm chủ yếu của ý kiến này là nếu làm như vậy thì chúng ta sẽ mất nhiều thời gian. Nhưng lại bớt phải tiêu hao sức lực, mà cũng có thể tránh được những nguy hiểm trước mắt. Các bạn, ai có ý kiến gì không?
- Thế ý kiến của bác thế nào, Mac Nabbs thân mến? – Helena hỏi thiếu tá. - Từ đầu đến giờ bác chỉ nghe mà chưa nói lời nào?
- Nếu huân tước phu nhân hỏi ý kiến tôi, - Mác Nabbs trả lời, - thì tôi xin nói hoàn toàn thẳng thắng suy nghĩ của mình. Tôi thấy rằng Ayrton đã nói như một người thông minh và thận trọng. Tôi ủng hộ đề nghị của ông ta.
Không ai ngờ đến câu trả lời ấy, bởi vì trước đây Mac Nabbs luôn luôn bài bác ý kiến của Ayrton. Đến bản thân viên hoa tiêu cũng ngạc nhiên – anh ta thoáng nhìn thiếu tá, Paganel, Helena và các thuỷ thủ đều ủng hộ phương án của Ayrton. Những lời của Mac Nabbs đã xua tan những nghi ngờ của họ.
Glenarvan tuyên bố rằng kế hoạch của Ayrton đại để được chấp nhận.
- CÒn bây giờ, John, - Glenarvan nói với thuyền trưởng trẻ, - anh cũng cho rằng ở lại bờ sông đây để đợi phương tiện đi là hợp lý chứ?
- Vâng, - John Mangles đáp, - nhưng chỉ với điều kiện là người liên lạc của chúng ta sang được bờ bên kia sông Snowy mà chúng ta không thể qua được.
Mọi người nhìn viên hoa tiêu, anh ta cười với vẻ tự tin:
- Người liên lạc sẽ không cần phải qua sông.
- Không cần? – John Mangles ngạc nhiên.
- Anht a chỉ quay lại đường Luknow rồi đi thẳng Melbourne.
- Đi bộ những hai trăm năm mươi dặm! – John thốt lên.
- Không, đi ngựa, - Ayrton phản ứng lại, - vì chúng ta còn một con ngựa khoẻ có thể cưỡi đi bốn ngày là tới nơi. Cộng thêm hai ngày “Ducan” đi Twofold – Bay, một ngày ghé vào chỗ chúng ta. Như vậy là sau một tuần người liên lạc cùng với độ thuỷ thủ sẽ có mặt ở đây.
Thiếu ta gật đầu tán thành ý kiến của Ayrton, khiến John Mangles rất ngạc nhiên. Như vậy là đề nghị của viên hoa tiêu đã được nhất trí thông qua, chỉ còn thực hiện kế hoạch đã được cân nhắc rất cẩn thận ấy nữa thôi.
- Còn bây giờ, các bạn của tôi, - Glenarvan nói, - chúng ta sẽ chọn người liên lạc. Người đó sẽ đảm nhận nhiệm vụ vừa khó khăn, vừa mạo hiểm, tôi không muốn giấu giếm điều đó. Ai sẽ là người thể hiện lòng trung thành với đồng đội đi chuyển giao thư cho Tom Austin?
Ngay tức khắc Wilson, Mulradi, John Mangles, Paganel và cả Robert nữa đều tình nguyện. John Mangles một mực đòi đi. Nhưng, Ayrton im lặng nãy giờ mới lên tiếng:
- Nếu được ngài huân tước cho phép, tôi xin đi. Tôi rành vùng này. Đã nhiều lần tôi phải phiêu bạt ở những nơi còn hoang vắng và nguy hiểm hơn nữa kia. Tôi có thể thoát nạn ở nơi mà người khác phải bỏ mạng. Bởi thế, vì lợi ích chung, tôi xin ngài hãy cử chính tôi đi Melbuorne. Ngài giao cho tôi bức thư gửi cho phó thuyền trưởng tàu “Ducan” và tôi bảo đảm rằng sáu ngày sau sẽ có mặt tại vịnh Twofold – Bay!
- Ông nói hay lắm, Ayrton! – Glenarvan trả lời. – Ông là người thông minh và dũng cảm, ông sẽ được toại nguyện.
Thật vậy, rõ ràng là Ayrton có thể hoàn thành nhiệm vụ khó khăn này hơn ai hết. Ai cũng hiểu như thế, nên không ai tranh luận với ông ta.
- Thôi được, để ông đi, Ayrton, - Glenarvan xác định. – Ông hãy khẩn trương đi và trở lại trại của chúng tôi trên bờ sông Snowy này.
Mắt viên hoa tiêu ánh lên vẻ đắc thắng. Anh ta quay thoắt đi, nhưng John đã kịp bắt được ánh mắt ấy. Viên thuyền trưởng trẻ tự nhiên cảm thấy càng nghi ngờ Ayrton hơn.
Ayrton lo chuẩn bị đi. Hai thuỷ thủ giúp anh ta: một người thắng ngựa, người kia chuẩn bị lương thực. Còn Glenarvan ngồi viết thư cho Tom Austin. Trong thư ông ra lệnh cho phó thuyền trưởng “Ducan” đưa tàu đến ngay Twofold – Bay. Ông nói rằng Ayrton như là một người có thể hoàn toàn tin cậy được. Sau khi tàu đến vùng duy hải phía đông thì Tom Austin được phép giao đội thuỷ thủ của tàu cho Ayrton chỉ huy. Đúng lúc Glenarvy ký vào lệnh ấy thì Mac Nabbs, nãy giờ vẫn theo dõi ông, đã hỏi ông bằng một giọng hơi đặc biệt, xem ông và biết tên Ayrton như thế nào?
- Viết theo đúng tên gọi – Glenaravan đáp.
- Chú nhầm rồi, - thiếu tá nói, giọng bình tĩnh – cái tên ấy kêu là Ayrton, nhưng lại được viết là Ben Joyce kia!
Chương 8
“Aland Zealand”
Ben Joyce! Cái tên ấy gây ấn tượng như một tiếng sét đánh.
Ayrton đứng phắt dậy. Khẩu súng lục loáng lên trong tay hắn. Một phát nổ, Glenarvan bị trúng đạn ngã xuống. Bên ngoài vang lên tiếng súng bắn nhau.
John Mangles và hai thuỷ thủ định lao đến Ben Joyce, nhưng tên tội phạm láo xược đã biến mất, nhập cùng đồng bọn tản ra cửa rừng. Căn lều trống trải không có gì che đỡ đạn. Glenarvan bị thương nhẹ đã đứng dậy được.
- Nấp vào xe! Nấp vào xe! – John Mangles vừa hét, vừa dắt theo Helena và Mary.
Lát sau, hai người phụ nữ đã an toàn núp sau thành xe làm bằng ván dây, John Mangles, thiếu ta, Paganel và hai thuỷ thủ chộp lấy súng của mình, chuẩn bị bắn trả bọn tội phạm. Glenaravan và Robert nhập chỗ Helena và Mary, còn Olbinett thì vội vã tham gia chiến đấu. Tất cả những sự việc ấy diễn ra nhanh như chớp, John Mangles chăm chú quan sát trước cửa rừng, Ben Joyce vừa đến chỗ bọn cướp, tiếng súng cũng im bặt. Những bụi cây cao im phăng phắc. Không còn dấu hiệu nào của sự tấn công nữa. Thiếu tá và John Mangles truy lòng đến tận rừng. Không thấy còn tên nào nữa.
- Bọn tội phạm lẩn trốn hết rồi! – John Mangles nói.
- Đúng, - thiếu tá xác nhận, - chính điều ấy mới làm tôi lo ngại. Tôi muốn mặt giáp mặt với chúng. Con hổ ở đồng bằng không đáng sợ bằng con rắn trong bụi rậm! Ta hãy lùng sục kỹ những lùm cây chung quanh xe.
Thiếu tá và John Mangles xem xét cẩn thận địa hình từ cửa rừng tới sông Snowy, không phát hiện ra tên tội phạm nào. Bọn Ben Joyce đã bay biến như bầy ác điểu vậy. Sự lạ lùng quá mức ấy khiến các nhà thám hiểm càng thấy không an toàn. Bởi vậy, họ quyết định phải cảnh giác hơn. Cỗ xe kéo – cái “pháo đài” thực sự bị sa lầy trong vũng bùn đất sét ấy bây giờ được lấy làm trung tâm của trại.
Mối quan tâm đầu tiên của Helena và Mary là băng bó vết thương cho Glenarvan. Lúc ông ngã xuống bởi viên đạn của Ben Joyce, Helena đã hoảng hốt lao tới chỗ chồng. Sau khi hoàn hồn, người phụ nữ dũng cảm ấy đã giúp chồng lách vào trong xe. Khi cởi áo kiểm tra lại vai Glenarvan, thiếu tá xem xét kỹ vết thương, thấy viên đạn không đụng vào xương hay gân. Vết thương ra nhiều máu, nhưng Glenarvan vẫn có thể cử ộng các ngón tay và cánh tay một cách bình thường. Điều đó làm cho vợ ông và những người cùng đi yên tâm. Glenarvan được băng bó lại ngay và sau đấy ông yêu cầu mọi người không nên bận tâm quá về ông. Đã đến lúc cần phải làm sáng tỏ tất cả những điều đã xảy ra. Trừ Mulradi và Wilson đứng gác bên ngoài, những người còn lại đều vào bên trong xe và yêu cầu thiếu tá giải thích rõ ràng những điều ấy.
Trước khi bắt đầu kể, Mac Nabbs đã nói cho Helena biết sự thật về bọn phạm nhân tù khổ sai đã vượt ngục Perth vào hoành hành ở tỉnh Victoria này, về tai nạn xe lửa xảy ra trên cầu Camden có bàn tay chúng nhúng vào (tất cả những điều ấy trước đây Glenarvan không muốn cho vợ biết để tránh sự hoang mang, lo sợ). Thiếu tá cũng đã đưa cho Helena xem tờ “Báo Australian và New-Zealand” mà ông mua được ở Syemour, rồi nói thêm rằng cảnh sát đã treo giải một trăm đồng Sterling cho ai lấy được đầu Ben Joyce, một tên cướp nguy hiểm đã gây nhiều tội ác ở vùng này suốt một năm rưỡi qua.
Nhưng làm sao Mac Nabb phát hiện được viên hoa tiêu Ayrton lại chính là Ben Joyce? Điều bí mật mà mọi người đều muốn biết ấy đã được thiếu tá kể như sau:
Ngay từ hôm đầu, Mac Nabbs đã cảm thấy không thể hoàn toàn tin tưởng Ayrton được. Hai, ba sự việc nhỏ, cái nhìn trao đổi giữa viên hao tiêu và thợ rèn bên bờ sông Wimerra, hắn muốn tránh đi những thành phố và làng mạc, hắn cứ khăng khăng đòi đưa “Ducan” đến vùng duyên hải phía đông. Cái chét đột ngột của mấy con bò và ngựa. Cuối cùng là cái gì đó không thành thật trong cách cư xử của tên hoa tiêu - tất cả những điều ấy đã gây cho thiếu tá sự nghi ngờ. Tuy nhiên, cho đến trước khi xảy ra những sự việc trong đêm vừa qua thì Mac Nabbs vẫn không khẳng định được vì sao ông lại nghi ngờ Ayrton.
Đêm qua, ông đã rời trại, len lỏi giữa những bụi cây cao, đi nửa dặm đến chỗ có những bóng người mà từ xa ông phát hiện thấy và khả nghi. Dưới ánh sáng lân tinh lờ mờ hất ra từ những cây nấm, ông thấy có ba người đang dò xét những dấu vết trên mặt đất. Trong số đó, Mac Nabbs nhận ra tên thợ rèn ở Black Point. “Đúng bọn nó rồi”, - một tên nói. “Ừ”, - tên khác lên tiếng, - “có dấu ba lá trên móng ngựa đây này” – “Dấu móng ngựa đi từ sông Wimerra tới”. – “Mấy con ngựa chết rồi”. – “Thuốc độc sẵn ngay đây mà lại”. – “Đủ giết cả trung đoàn kỵ mã cũng được ấy chứ”, - “Ừ, cái giống cây thuốc độc ấy thế mà hay!”
- Đến đây chúng bỗng im lặng. – Mac Nabbs nói tiếp: - rồi chúng lại đi. Tôi mới chỉ nghe được lõm bõm mấy câu, nên cố bám theo chúng. Lát sau, chúng lại tiếp tục câu chuyện. “Ben Joyce cừ thật đấy! – Tên thợ rèn lên tiếng, - đúng là một hoa tiêu giỏi! Cái vụ lão định cướp tàu mới ghe chứ! Nếu kế hoạch của lão ta mà thành công thì tụi mình giàu to! Lão Ayrton này là quỷ chứ đâu phải là người”, “Không, hãy gọi lão Ben Joyce, lão xứng đáng với cái tên đó”. Sau đấy, bọn chúng ra khỏi rừng. Đến đây thì tôi đã biết rõ đầu đuôi câu chuyện rồi, nên quay về, thiếu tá ngừng lại.
Những người bạn của ông ngồi im ngẫm nghĩ.
- Thế là Ayrton nhử ta đến đây để cướp của và giết người? – Glenarvan giận tím mặt, nói.
- Đúng, - thiếu tá đáp.
- Và bọn chúng đã theo hút ta từ sông Wimerra tới đây, đợi dịp là ra tay.
- Đúng.
- Vậy nghĩa là tên bất nhân hoàn toàn không phải là thuỷ thủ tàu “Britania”. Nghĩa là hắn đã ăn cắp cái tên và bản hợp đồng làm thuê trên tàu của một gã Ayrton nào đó.
Mọi người nhìn Mac Nabbs, vì hẳn là trong đầu ông ta chắc cũng đã từng nảy ra những ý nghĩ như vậy rồi.
- Có thể nói một cách chính xác về tất cả những chuyện đó như thế này, - thiếu tá đáp bằng một giọng bình tĩnh vốn có của mình. Tôi cảm thấy rằng tên cái con người ấy vẫn chính là Ayrton, Ben Joyce là tên lóng của hắn ta. Không nghi ngờ gì nữa, hắn biết Harry Grant và từng làm hoa tiêu trên tàu “Britania”. Việc này, việc khác đều khẳng định những chi tiết mà hắn đã nhắc lại và câu chuyện của bọn tội phạm mà tôi vừa kể đã xác minh điều đó. Ta không nên sa vào những giả định vô ích, mà nên thừa nhận rằng Ayrton và Ben Joyce là một, tức là tên thuỷ thủ trên tàu “Britania” trước đây, nay đã trở thành tên cầm đầu một bọn tội phạm vượt ngục.
Những điều Mac Nabbs nói không ai phản ứng lại.
- Vậy bây giờ, - Glenarvan nói, - bác giải thích cho tôi được chứ Mac Nabbs, bằng cách nào và tại sao, tên hoa tiêu của thuyền trưởng Harry Grant lại đến được Australie?
- Bằng cách nào ư? Tôi không biết, - thiếu tá đáp. - Cả cảnh sát cũng đã tuyên bố họ không biết gì hơn tôi về điều ấy. Tại sao ư? Tôi cũng không biết nữa. Đây là điều bí mật mà chỉ có tương lại mới khám phá ra được mà thôi.
- Đến cảnh sát cũng không ngờ rằng Ayrton và Ben Joyce là một tên, - John Mangles nhận xét.
- Anh nói đúng, John, - thiếu tá đáp, - Do đó, những tin tức này cũng có thể giúp ích cho việc truy lùng của cảnh sát.
- Rõ ràng là tên bất nhân đã lọt vào trong trại của Paddy O’Moore với một mục đích tội lỗi, - Helena nói.
- Dĩ nhiên, - Mac Nabbs tán thành, - Có lẽ hắn định làm một điều ngu ngốc gì đó ở trại của người Irlande. Một sự ngẫu nhiên đã dẫn hắn đến với chúng ta. Hắn đã nghe được những điều Glenarvan nói, nghe lại lịch vụ đắm tàu, và vốn là một tên táo tợn, hắn đã quyết định lợi dụng việc này để mưu tính lợi ích cá nhân. Rồi ta lập đoàn thám hiểm. Lúc ở bờ sông Wimerra, hắn đã móc với người của hắn là tên thợ rèn và làm dấu để theo chân chúng ta…. Tên Ben Joyce đã dùng lá cây độc để giết hại số bò và ngựa của chúng ta. Cuối cùng, thời cơ đã đến, hắn dẫn chúng ta vào bãi sình lầy ven sông Snowy và giao chúng ta vào tay bọn tù khổ sai vượt ngục do hắn cầm đầu.
Mọi việc đã rõ ràng. Thiếu tá đã vén bức màn quá khứ của Ben Joyce và tên bất lương ấy đã lộ nguyênhình là một tên tội phạm xấc xược và nguy hiểm. Những mưu đồ của hắn giờ đây đã hoàn toàn bị bóc trần. Mọi người yêu cầu Glenarvan hết mình cảnh giác.
Việc phát hiện ra sự phản bội của Ayrton làm tiêu tan mọi hy vọng tìm thấy Harry Grant. Để dụ Glenarvan đi sâu vào đất liền, tên tội phạm đã bịa ra vụ đắm tàu ở vùng duyên hải Australie. Điều ấy đã được nhắc đến trong câu chuyện của bọn cướp mà Mac Nabbs nghe được. Không bao giờ “Britania” lại bị va vào đá ngầm ở vịnh Twofold – Bay cả! Không bao giờ Harry Grant lại đặt chân lên lục địa Australie. Thế là lần thứ hai việc giải thích sai nội dụng bức thư đã dẫn những người thám hiểm đi chệch đường.
Thông cảm với nỗi đau khổ của những đứa con thuyền trưởng Grant, mọi người trong đoàn im lặng. Mà biết nói gì để an ủi chúng kia chứ. Robert khóc, ôm chặt lấy chị. Paganel lầu bầu nói với vẻ bực tức:
- Chà, bức thư bất hạnh này! Gần một tá người điên đầu vì mi đây!
Và, tự giận mình, nhà địa lý đáng kính đấm đấm tay vào trán, tưởng muốn bể đầu ra.
Trong khi đó, Glenarvan đi lại chỗ Mularady và Wilson đang đứng gác.
- Mới đây nhất, các bạn không thấy động tĩnh gì chứ? – Glenarvan hỏi họ.
- Không, thưa huân tước, - Wilson đáp. - Bọn cướp chắc là đã chạy cách đây vài dặm rồi.
- Có lẽ chúng ít quá, nên không dám tấn công chúng ta. – Mularady nói thêm – Cõ lẽ tên Ben Joyce đã đi chiêu mộ thêm bọn tù khổ sai khác đang hoành hành ở chân núi quanh đây.
- Có lẽ thế, - Glenarvan tán thành. - Bọn bất lương này nhát gan. Chúng biết ta có súng. Có thể là chúng đợi đêm xuống mới tấn công chúng ta. Khi trời tối thì phải tăng cường cảnh giác. Chà, nếu như chúng ta thoát khỏi vùng đầm lầy này và tiếp tục đi về vùng duyên hải thì đỡ biết bao! Nhưng nước sông lên đã ngăn trở chúng ta. Giá có một cái mảng nào đấy chở chúng ta sang được bờ bên kia thì tôi sẵn sàng bỏ vàng ra mua bằng bất kỳ giá nào.
- Vậy sao huân tước không ra lệnh cho chúng tôi đóng mảng, - Wilson nói. – Cây ở đây thì bao nhiêu cũng có mà.
- Đúng thé, Wilson ạ. – Glenarvan đáp. – Nhưng sông Snowy không phải là một con sông bình thường, mà là một dòng lũ bất trị.
Lúc đó John Mangles, thiếu tá và Paganel đến gặp Glenarvan. Họ vừa mới đi khảo sát sông Snowy về. Sau những cơn mưa cuối cùng, nước mưa đã lên sáu mươi phân nữa. Nước chảy xiết John Mangles nói rằng không thể qua sông được.
- Nhưng cũng không thể khoanh tay ngồi đây được nữa, - anh ta nói thêm. - Điều mà chúng ta định làm trước khi Ayrton phản bội thì bây giờ theo toi vẫn cần thiết.
- Anh muốn nói gì, John! – Glenarvan hỏi.
- Tôi muốn nói rằng chúng ta cần phải có chi viện khẩn cấp, nếu không thể đi Twofold – Bay thì đi Melbourne. Chúng ta còn một con ngựa. Huân tước giao nó cho tôi, tôi xin đi Melbourne.
- Nhưng đó là một ý đó mạo hiểm John ạ, - Glenarvan nói. - Đấy là chưa kể đến nỗi nguy hiểm của cuộc hành trình hai trăm dặm trên một vùng đất không quen biết. Nên hiểu rằng bọn tay chân của Ben Joyce có lẽ đã ngăn chặn mọi con đường rồi.
- Tôi biết, thưa huân tước, nhưng tôi cũng còn biết rằng không thể kéo dài tình trạng này. Ayrton yêu cầu một tuần lễ để đưa đoàn thuỷ thủ tàu “Ducan” đến đây, tôi xin bảo đảm sẽ cùng “Ducan” trở lại bờ sông này sau sáu ngày thôi. Vậy ý huân tước thế nào, xin ra lệnh.
Trước khi Glenarvan trả lời, Paganel nói:
- Tôi xin có một nhận xét, đi Melbourne là nên, nhưng tôi không đồng ý để John Mangles đi. Anh ấy là thuyền trưởng “Ducan” vì vậy không thể liều mình được, thay vào đó, tôi xin đi.
- Ý kiến hay đấy, - thiếu tá khen. – Nhưng tại sao phải đích thực là ông, hả Paganel.
- Thế chẳng nhẽ chúng tôi không đi được sao? – Mularady và Wilson đồng thanh nói.
- Các bạn tưởng rằng tôi sợ phải chạy ngựa trên chặng đường hai trăm dặm đó sao, - Mac Nabbs phát biểu.
- Các bạn của tôi, - Glenarvan lên tiếng. - Nếu một người trong chúng ta p hải đi Melbourne thì chúng ta hãy rút thăm, Paganel, ngài viết tên mọi người đi.
- Dẫu thế nào cũng không thể viết tên huân tước được – John Mangles tuyên bố.
- Vì sao? – Glenarvan hỏi.
- Huân tước để huân tước phu nhân Helena ở lại đây sao đành, vả lại, vết thương của huân tước chưa lành.
- Glenarvan, huân tước không thể bỏ đoàn, - Paganel kêu lên.
- Tất nhiên, - Mac Nabbs khẳng định. - Vị trí của huân tước là ở đây, huân tước không thể đi.
- Bổn phận tôi phải hy sinh cá nhân, - Glenarvan nói. – Đang lúc nguy nan, tôi không chịu nhường ai gánh vác bổn phận ấy. Ngài viết đi, Paganel. Hãy để cho tên tôi hoà chung với tên của bạn bè tôi, và lạy chúa, mong sao tôi được trúng thăm.
Mọi người đành phải làm theo ý của Glenarvan. Tên của ông được ghi cùng với tên của những người khác. Họ bắt đầu bốc thăm và Mularady đã bắt trúng. Chàng thuỷ thủ dũng cảm bật lên tiếng reo “hoan hô”.
- Thưa huân tước, tôi sẵn sàng lên đường.
Glenarvan bắt tay Mulrady. Anh chàng đi về phía xe. Còn thiếu tá và John Mangles ở lại gác.
Được biết Mulrady sẽ đi Melbourne, Helena đã nói với người thuỷ thủ trẻ trung thực ấy những lời xúc động tận đáy lòng. Ai cũng biết Mulrady là một người dũng cảm, tháo vát, kiên cường, và lá thăm đã chọn đúng mặt anh tài.
Mulrady được lệnh lên đường lúc tám giờ tối, Wilson lo việc thắng ngựa. Anh ta nảy ra sáng kiến lấy móng của một con ngựa chết hồi đêm thay vào móng có hình ba lá để bọn cướp không thể phát hiện dấu vết của Mulrady.
Trong lúc đó, Glenarvan viết thư cho Tom Austin, nhưng ông không thể viết được vì cánh tay bị thương. Ông nhờ Paganel viết giúp. Nhà bác học đang mải tập trung suy nghĩ điều gì lung lắm, nên hình như không để ý chung quanh. Cần nói rằng việc lá thư bị giải thích sai nội dung luôn ám ảnh ông. Ông đã tìm mọi cách đặt ngược, đặt xuôi các từ trong thư, cố tìm ra ý mới. Công việc ấy cuốn hút hết tâm lực của ông.
Tất nhiên ông đã không nghe thấy lời đề nghị của Glenarvan, nên huân tước phải nhắc lại.
- À tuyệt, tôi sẵn sàng! – Paganel lên tiếng.
Nói xong, ông liền lấy cuốn sổ ghi chép của mình ra, xé một tờ giấy, cầm bút chì và sẵn sàng viết.
Glenarvan bắt đầu đọc “chính tả” như sau:
- Tôi ra lệnh Tom Austin cho tàu “Ducan” ra khơi và đi…
Paganel viết đến đây, tình cờ ông trông thấy tờ “Báo Australie và New - Zealand” rơi xuống đất. Tờ báo được gấp lại, nên trong cả cái tên báo dài viết bằng tiếng Anh – “Australian and New – Zealand Gazette”, ông chỉ nhìn thấy năm chữ sau cùng của từ “New - Zealand”. Cây bút chì của Paganel bỗng dừng lại, nhà địa lý hình như đã quên bẵng cả Glenarvan lẫn bức thư của ông ta và những gì ông ta vừa đọc cho viết.
- Paganel! – Glenarvan kêu.
- Ối! – nhà địa lý giật mình.
- Ông làm sao vậy? - Thiếu tá hỏi.
- Không sao cả, không sao cả, - Paganel lúng túng, rồi ông ta lẩm bẩm một mình “Aland! Aland!” (1)
Ông chồm dậy và chụp lấy tờ báo. Ông rũ tờ báo và cố kìm không nói thành lời.
Huân tước phu nhân, Mary, Robert, Glenarvan ngạc nhiên nhìn nhà địa lý không hiểu lý do gì làm ông hồi hộp thế.
Paganel dường như đột ngột bị mất trí. Nhưng, trạng thái kích thích thần kinh của ông không bị kéo dài. Nhà bác học dần dần bình tĩnh lại. Niềm vui ánh lên trong đôi mắt của ông đã vụt tắt. Ông ngồi vào chỗ cũ và nói bình tĩnh:
- Tôi xin hầu ngài, thưa huân tước!
Glenarvan lại đọc cho ông viết tiếp. Lá thư được viết với nội dung như sau:
“Tôi ra lệnh Tom Austin cho “Ducan” ra khơi ngay và đi theo vĩ tuyến 37 đến vùng duyên hải phía đông Australie!”
Viết xong, nhà địa lý đưa thư cho Glenarvan. Vết thương làm cho huân tước khó khăn lắm mới ký được vào thư. Sau đó, Paganel tay vẫn còn run vì xúc động, đề lên phong bì: “Gửi Tom Austin, phó thuyền trưởng tàu “Ducan”, Melbourne”
Rồi ông ra khỏi xe, vừa làm điệu bộ vừa nhắc đi nhắc lại những lời khó hiểu:
- Aland! Aland! Zealand!
(1) 5 con chữ sau cùng của từ Zealand trong tên báo tiếng Anh “Australian and New –Zealand Gazette”: Báo nước Úc và Tân Tây Lan.
Chương 9
Bốn ngày cực nhọc
Thời gian còn lại trong ngày trôi qua chẳng có chuyện bất thường gì nữa. Mọi việc chuẩn bị cho chuyến đi của Mulady đều đã xong xuôi. Chàng thuỷ thủ trung thực lấy làm sung sướng được tỏ rõ với Glenarvan lòng trung thành của mình.
Paganel đã điềm tĩnh trở lại. Có thể đoán là ông đang miệt mài suy nghĩ điều gì đó, nhưng còn giấu chưa nói ra. Chắc là có nguyên cớ gì quan trọng đây. Thiếu tá thấy ông cứ lẩm bẩm nói như tự đấu khẩu với bản thân mình.
- Không, không! Người ta không tín nhiệm mình nữa! Mà để làm gì chứ! Quá muộn rồi!
Paganel nghĩ vậy, rồi lấy bản đồ ra bắt đầu chỉ dẫn đường đi Melbourne cho Mulrady. Chặng đường nguy hiểm nhất là mấy dặm đầu tiên gần trại thôi, vì bọn Ben Joyce còn lẩn trốn quanh đây. Chủ yếu là làm sao vượt qua được mấy dặm ấy, còn sau đó thì chúng không thể đuổi theo được, và thế là Mulrady có thể hoàn thành nhiệm vụ.
Sáu giờ chiều, mọi người đã ăn cơm xong. Trận mưa rào ập xuống, lán trại chống chọi không nổi, vì vậy tất cả phải vào xe. Bây giờ, đó là nơi trú ẩn, vừa là pháo đài. Kho vũ khí trong xe gồm có bảy khẩu carbine và bảy khẩu súng lục, có thể chống trả lại được một cuộc vây hãm kéo dài mà không có sợ thiếu đạn và lương thực. Còn sau đó, bảy ngày nữa “Ducan” sẽ tới chi viện... Thậm chí nếu chưa qua được sông thì dẫu sao trước một lực lượng áp đảo như thế bọn cướp cũng phải tháo lui. Nhưng, muốn vậy thì trước hết phải làm sao cho Mulrady hoàn thành được nhiệm vụ…
Tám giờ, trời tối hẳn. Đã đến giờ đi. Con ngựa yên cương cương sẵn sàng được dắt lên. Các móng của nó được cuốn giẻ để nện lên đường không phát ra tiếng kêu… Thiếu tá khuyên Mulrady chăm sóc ngựa chu đáo. John Mangles đưa cho chàng thuỷ thủ khẩu súng lục mà anh vừa mới nạp đạn cẩn thận… Mulrady lên yên ngựa.
- Đây là thư, anh chuyển cho Tom Austin, - Glenarvan nói. – Hãy khẩn trương, đừng để phí một giờ nào. Hãy cho tàu đến vịnh Twofold – Bay, nếu không thấy chúng tôi ở đó, tức là chúng tôi không thể qua sông được, thì phải nhanh chóng cho tàu lại đây. Thôi, đi nhé, chàng thuỷ thủ trung thực của tôi, trời phù hộ cho anh!
- Tạm biệt huân tước! – Mulrady bình tĩnh nói rồi mất hút trên con đường mòn chạy dọc theo cửa rừng.
Sau khi Mulrady ra đi, những người còn lại vào trú trong xe, Helena, Mary, Glenarvan và Paganel ở ngăn trước. Ngăn này được đóng kín để bảo đảm an toàn. Ở ngăn sau có Olbunett, Wilson và Robert. Thiếu tá và John Mangles đi tuần tra bên ngoài. Mặc dù trời mưa gió họ vẫn không rời vị trí.
Bỗng trong khoảnh khắc gió lặng, có tiếng kêu thất thanh vọng lại. John Mangles vội vàng lại chỗ thiếu tá.
- Ông nghe thấy gì không? – John hỏi.
- Có, - Mac Nabbs đáp – Nhưng là gì nhỉ, tiếng người hay thú vật?
- Người đấy! – John đáp.
Cả hai người bắt đầu lắng nghe. Vẫn thấy tiếng kêu lạ lùng ấy vọng đến và tiếp theo hình như có tiếng súng. Nhưng, lúc ấy mưa gió nổi lên mạnh hơn, át cả tiếng súng. Mac Nabbs và John Mangles đi về phía xe.
Vừa lúc đó, tầm màn bằng da cuối xe được vén lên. Glenarvan từ trên xe bước xuống. Ông cũng đã nghe thấy tiếng kêu lạ lùng và tiếng súng vọng vào xe.
- Ở hướng nào thế nhỉ? – Huân tước hỏi.
- Đằng kia. – John Mangles chỉ tay về phía con đường mòn tối mịt mà Mulrađy vừa ra đi.
- Có xa không?
- Có lẽ cách ta chừng ba dặm, - John đáp.
- Ta đến đó xem sao! – Glenarvan nói và khoác khẩu carbine lên vai.
- Không nên, - thiếu tá lên tiếng. – Chúng bẫy để nhử ta rời khỏi xe đó.
- Nhỡ bọn bất nhân ấy giết Mulrađy thì sao? – Glenarvan nắm tay Mac Nabbs giục đi.
- Điều ấy mai chúng ta sẽ biết, - thiếu tá điềm nhiên trả lời. Ông kiên quyết ngăn Glenarvan để tránh sự khinh suất vô ích.
- Huân tước không nên rời khỏi trại, - John nói. – Tôi sẽ đi một mình.
- Cả anh cũng đừng đi! – Mac Nabbs kiên quyết phản đối. – Lẽ nào huân tước và thuyền trưởng lại muốn cho chúng nó đánh lẻ từng người, làm suy yếu lực lượng ta, để ta dễ dàng sa vào tay bọn bất nhân ấy! Nếu Mulrady đã bị chúng giết chết thì tại sao lại đem thí thêm quân? Mulrady ra đi bởi vì chú ấy bốc được thăm. Giả dụ thăm trúng vào tôi thì tôi cũng đã ra đi như chú ấy và tôi không yêu cầu hay chờ đợi một sự chi viện nào cả.
Thiếu tá hoàn toàn có lý khi ngăn cản Glenarvan và John Mangles. Giữa lúc đêm tối mà lại vào rừng tìm Mulrady, trong khi bọn cướp đang mai phục sẵn, thì đúng là một sự điên rồ và vô ích. Đội thám hiểm của Glenarvan chỉ có mấy người, không thể thí thêm một mạng nào nữa.
Nhưng Glenarvan có lẽ không muốn tán thành những lập luận ấy – tay ông nắm chặt khẩu carbine. Ông đi tới đi lui bên cạnh chiếc xe, lắng nghe từng tiếng động nhỏ, chăm chú nhìn bóng đêm dữ dằn. Ông day dứt nghĩ đến một người thân thiết đang bị thương nặng và bất lực nằm đâu đó mà hoài công kêu những người mà vì họ anh ta hy sinh tính mạng. Mac Nabbs hoàn toàn không tin rằng ông ta có thể ngăn giữ được Glenarvan không lao đến khi có tiếng súng của bọn Ben Joyce.
- Edward, - ông nói, - Chú hãy bình tĩnh. Hãy nghe bạn bè. Hãy nghĩ đến Helena, Mary, đến tất cả những ai ở lại đây. Mà chú định đi đâu chứ? Tìm Mulrady ở đâu? Nếu chú ấy bị chúng tấn công thì ít nhất cũng cách đây hai dặm. Trên con đưòng nào? Đi lối nào đến đó?
Đúng lúc ấy, như để trả lời thiếu tá, lại có tiếng kêu tuyệt vọng vang lên.
- Nghe kìa! – Glenarvan nói.
Tiếng kêu từ phía có tiếng súng vọng lại, cách đó khoảng một phần tư dặm, Glenarvan đẩy Mac Nabbs ra, chạy theo con đường mòn, nhưng mới cách xe độ ba trăm mét ông đã nghe thấy tiếng ai kêu:
- Cứư tôi với! Cứu tôi với!
Tiếng kêu nghe thảm thiết, đau đớn. John Mangles bổ ngay đến nơi có tiếng kêu. Mấy phút sau, họ thấy một người đang bò dọc theo cửa rừng và rên rỉ nặng nhọc. Đó là Mulrady, anh bị thương có thể là sắp chết. Khi những người bạn nâng anh lên khỏi mặt đất, họ thấy tay anh ướt máu.
Mưa rào mỗi lúc một nặng hạt hơn. Bão tố nổi lên điên cuồng trên những ngọn cây. Glenarvan, John Mangles và thiếu tá vừa chống chọi với gió mưa hung dữ, vừa khiêng Mulrady về xe.
Khi họ bước vào, tất cả đứng dậy, Paganel, Olbinett, Robert và Wilson ra khỏi xe, còn Helena thì nhường ngăn ở của mình cho Mulrady tội nghiệp. Thiếu tá cởi áo ngoài đẫm máu và nước mưa của người thuỷ thủ ra và phát hiện ở sườn bên phải của anh có vết dao găm đâm. Vết thương ra rất nhiều máu đã được Mac Nabbs khéo léo rửa sạch, bôi thuốc, băng bó lại. Vẻ nhợt nhạt và đuối sức của Mulrady chứng tỏ vết thương nặng lắm. Nhưng máu đã cầm, Mulrady được đặt nằm nghiêng về phía bên trái, đầu và ngực gối cao hơn. Helena cho anh uống vài ngụm nước.
Mười lăm phút sau, Mulrady đã cựa quậy được, mở mắt ra và bắt đầu thều thào tiếng được, tiếng mất. Thiếu tá cúi sát người anh và lắng nghe được mấy tiếng loáng thoáng.
- Huân tước… bức thư… Ben Joyce…
Thiếu tá nhắc to lên mấy tiếng ấy và nhìn những người bạn của mình với vẻ dò hỏi. Mulrady muốn nói gì? Chắc là Ben Joyce đã tấn công anh ta. Nhưng để làm gì, để ngăn cản anh ta không liên lạc được với “Ducan” ư? Bức thư… Glenarvan xem túi Mulrady. Bức thư không còn nữa!
Đêm trôi qua trong sự lo sâu thắc thỏm của mọi người. Ai nấy đều sự Mulrady chết. Người anh nóng ran. Helena và Mary, các nữ y tá của đoàn, không lúc nào rồi Mulrady. Chưa có bệnh nhân nào mà họ lại chăm sóc tận tình và cảm thông như thế.
Trời sáng. Mưa tạnh. Nhưng mây đen còn vần vũ bầu trời.
John Mangles, Paganel và Glenarvan đi khảo sát chung quanh khu trại. Họ lần theo con đường mòn còn in rõ rệt vết máu. Không thấy dấu vết gì của Ben Joyce và đồng bọn. Họ đến tận nơi đã xảy ra đụng độ. Ở đấy có hai cái xác của bọn phỉ đã bị Mulrady bắn chết. Một trong số đó là tên thợ rèn ở Black – Point. Cái chết làm cho mặt hắn méo xệch đi một cách đáng sợ. Đến đây, Glenarvan kết thúc việc khảo sát hiện trường, vì đi xa trại hơn sẽ không có lợi gì.
Ông quay về chỗ xe với vẻ băn khoăn trước tình hình nghiêm trọng đã xảy ra.
- Không nên nghĩ đến việc cử người khác đi Melbourne nữa, - ông nói.
- Nhưng điều đó lại cần thiết, thưa huân tước. – John Mangles lên tiếng. – Tôi xin đảm nhiệm vụ mà người thuỷ thủ của tôi chưa kịp hoàn thành.
- Không, John, anh cũng không có ngựa để mà đi quãng đường hai trăm dặm đâu.
Quả thật, ngựa của Mulrady, con ngựa duy nhất mà đoàn thám hiểm còn lại, không thấy trở về. Nó bị giết hay bị lạc trong rừng, hay bị bọn chúng cướp mất rồi?
- Dẫu sao thì, - Glenarvan nói, - chúng ta cũng sẽ không rời nhau nữa. Ta đợi ở đây một tuần, hai tuần, cho đến khi nào nước sông Snowy rút đã. Lúc đó ta sẽ đi dần từng chặng đến vịnh Twofold – Bay và từ đó, bằng một con đường an toàn hơn, sẽ gửi lệnh cho “Ducan” đi về vùng duyên hải phía đông.
- Ta chỉ còn cách duy nhất ấy thôi, - Paganel tán thành.
- Vậy thì các bạn, - Glenarvan tiếp tục – chúng ta hãy sát cánh cùng nhau chịu đựng. Lẻ loi một mình giữa nơi bọn cướp hoành hành như thế này là hết sức mạo hiểm.
Glenarvan đã có lý cả trong việc quyết định không phải ai đi nữa, lẫn trong việc kiên trì ở lại bờ sông đợi nước rút. Vì từ đây đến Delegete, thị trấn biên giới đầu tiên của tỉnh Nouvelle-Gailes Nam chỉ có ba mươi lăm dặm thôi. Ở đó, tất nhiên họ sẽ tìm được phương tiện để đến Twofold-Bay và có thể đánh điện đi Melbourne cho tàu “Ducan”. Những quyết định ấy rất hợp lý, nhưng trễ quá. Giá như Glenarvan đừng phái Mulrady đi Melbourne thì đã tránh được bao nhiêu là tai hoạ, đấy là chưa nói đến việc một thuỷ thủ bị thương nặng.
Sau khi trở về trại, Glenarvan thấy những người bạn của mình bớt rầu rĩ hơn. Dường như họ đã ấm lại niềm hy vọng.
- Chú ấy đỡ rồi! Chú ấy đỡ rồi! – Robert kêu toáng lên, chạy bổ đến Glenarvan.
- Mulrady đỡ rồi à?
- Vâng, - Helena đáp. – Chú ấy bị choáng. Chú thuỷ thủ của chúng ta sẽ sống!
- Mac Nabbs đâu?
- Đang ở chỗ Mulrady.
Đúng là một giờ trước đây Mulrady đã hồi tỉnh, bớt nóng hơn. Vừa tỉnh lại, chú liền xin gặp Glenarvan, nếu huân tước không có đấy thì gặp thiếu tá. Mac Nabbs thấy Mulrady đang yếu, nên cấm không cho chú ta nói chuyện. Nhưng Mulrady cứ đòi nói, vì vậy thiếu tá đành chịu.
Khi Glenarvan trở về, câu chuyện của họ mới diễn ra được mấy phút. Chỉ còn cách đợi nghe lại ý kiến của thiếu tá. Lát sau, tấm màn da được vén lên, Mac Nabbs xuất hiện. Ông bước vào căn lều căng dưới cây, mọi người đang đợi ông. Nét mặt của thiếu tá thường ngày vẫn bình thản, thế mà giờ đây trở nên buồn rầu và băn khoăn. Khi ông n hìn Helena, rồi nhìn Mary, mắt ông hiện rõ nét buồn sâu sắc.
Glenarvan bắt đầu hỏi chuyện thiếu tá. Và đây là những điều mà thiếu tá nghe Mulrady kể lại:
- Sau khi rời trại, Mulrady phóng ngựa theo đường mòn mà Paganel đã chỉ. Anh ta đi được độ hai dặm thì bỗng có mấy người – hình như năm thì phải – lao ra chặn ngựa lại. Con ngựa lồng lên, Mulrady rút súng lục ra bắn. Anh thấy hình như có hai tên bị ngã gục. Trong ánh lửa đạn, anh nhận ra Ben Joyce. Mulrady không nhìn thấy gì nữa. Anh chứa kịp bắn hết băng đạn. Một nhát dao đâm mạnh vào sườn phải làm anh té khỏi yên ngựa. Nhưng anh vẫn chưa bị ngất đi. Bọn giết người tưởng anh đã chết. Anh cảm thấy hình như chúng lục lọi người anh. Sau đó, anh nghe thấy một tên cướp nói: “Thư đây rồi!” “Đưa đây!” – Ben Joyce lên tiếng. – “Bây giờ “Ducan” là của chúng ta!”.
Đến đây, Glenarvan chợt thốt lên một tiếng kêu. Mac Nabbs nói tiếp: “Còn bây giờ tụi bay hãy bắt lấy con ngựa. Ben Joyce nói, - Bốn ngày nữa tao sẽ có mặt trên tàu “Ducan”, sáu ngày nữa tao sẽ có mặt ở vịnh Twofold-Bay. Chúng ta sẽ gặp nhau ở đó. Toán Glenarvan sẽ còn sa lầy ở đây. Tụi bây đi qua cầu Kemplepier ra biển, đợi tao ở đó. Tao sẽ tìm cách đưa chúng bây lên tàu. Khi nào cánh ta ra được biển thì, với một chiếc tàu như “Ducan” này, ta sẽ làm bá chủ Ấn Độ Dương”. – “Hoan hô Ben Joyce!” - Bọn cướp hét lên. Tụi nó dẫn con ngựa của Mulrady đến, tên Ben Joyce phốc ngay lên ngựa và phóng về hướng Luknow, còn bọn kia thì đi ra sông Snowy. Mulrady, mặc dù bị thương nặng, vẫn cố sức lết về được chỗ mà ta đã gặp anh ta trong tình trạng thập tử nhất sinh ấy. Mulrady đã kể cho tôi nghe như vậy đó, - Mac Nabbs kết thúc. – Bây giờ, các bạn có biết, tại sao chú thuỷ thủ dũng cảm lại vội thông báo cho chúng ta biết điều đó không?
Câu chuyện của thiếu tá làm cho Glenarvan và mọi người hốt hoảng.
- Bọn cướp biển! Bọn cướp biển! – Glenarvan kêu lên, - chúng định giết cả đoàn của tôi rồi chiếm đoạt luôn tàu “Ducan”.
- Tất nhiên rồi, - Mac Nabbs nói. – Vì Ben Joyce sẽ bất ngờ chiếm tàu mà, và khi đó thì…
- Thế nghĩa là ta phải ra tay trước bọn bất nhân ấy! – Paganel nói.
- Nhưng làm sao qua được sông đây? – Wilson băn khoăn.
- Đi như tụi nó ấy. – Glenarvan đáp. Bọn tội phạm đi qua Kemplepier, chúng ta cũng làm y như chúng.
- Còn Mulrady thì sao? – Helena hỏi.
- Chúng ta sẽ khiêng chú ấy! Thay nhau khiêng! Tôi không thể để cho đoàn người của mình sa vào nanh vuốt của bọn Ben Joyce.
Kế hoạch qua cầu Kemplepier đã được thực hiện, nhưng dĩ nhiên là mạo hiểm. Bọn tội phạm có thể nấp ở gầm cầu và giữ cầu. Chúng hình như có độ ba chục tên, đối phó với bảy người đàn ông của đoàn thám hiểm. Nhưng, có những phút không thể tính toán do dự, mà cần phải bất chấp tất cả mà tiến lên.
- Thưa huân tước, John Mangles nói với Glenarvan. - Trước khi quyết định thực hiện phương án mạo hiểm vượt qua cầu, ta nên dò xét mọi mặt đã. Tôi xin đảm nhận nhiệm vụ này.
- Tôi cùng đi với anh! – Paganel tuyên bố.
John đồng ý và hai người chuẩn bị ngay. Phải đi xuôi xuống hạ nguồn trong lúc bọn chúng chưa tìm ra chiếc cầu mà Ben Joyce nói với chúng, và tất nhiên là phải hết sức cẩn thận để không lọt vào mắt bọn cướp chắc chắn là cũng đang bám sát hai bờ sông.
Thế là hai nhà thám hiểm dũng cảm mang theo đầy đủ vũ khí và lương thực tiến lên phía trước, len lỏi trong những bụi lau sậy um tùm mọc bên bờ sông.
Mọi người đợi suốt ngày, đến khi trời tối rồi mà vẫn chưa thấy họ về. Ai nấy ở trại đều lo lắng.
Cuối cùng, gần mười giờ khuya. – Wilson báo tin họ đang trên đường về, Paganel và John Mangles về đến nơi, người mệt lử sau khi lội bộ mười dặm đường.
- Sao, cái cầu ấy thế nào? Đúng là có cầu chứ? – Glenarvan lao ra đón họ, hỏi.
- Đúng, cầu làm bằng mây, - John Manglé nói. - Bọn tội phạm đã đi qua chiếc cầu ấy, nhưng…
- Nhưng sao? – Glenarvan hỏi gặng. – linh cảm thấy một tai hoạ đã xảy ra.
- Chúng đã đốt mất cầu ngay sau khi qua rồi! – Paganel đáp.
Chương 10
EDEN
Không còn giờ để thất vọng nữa, mà cần phải hành động. Chiếc cầu Kemplepier đã bị đốt, nhưng dù thế nào chăng nữa cũng vẫn phải vượt qua sông Snowy và đến vịnh Twofold – Bay trước bọn Joyce. Chính vì vậy mà, không để mất thì giờ vào những cuộc tranh luận vô ích. Glenarvan và John Mangles, ngay ngày hôm sau, 16 tháng Giêng, đã ra sông để tìm cách vượt sang bờ bên kia.
Nước lũ chưa rút, vẫn cuồn cuộn trôi với vẻ hung dữ không sao tả xiết. Xuống nước bây giờ có nghĩa là cầm chắc cái chết trong tay Glenarvan cúi đầu: khoanh tay trước ngực và đứng lặng bên bờ.
- Huân tước cho tôi thử bơi sang bờ bên kia được không?
- John Mangles đề nghị.
- Không được, John Mangles, - Glenarvan đáp, giữ chặt tay chàng thanh niên dũng cảm, - Ta đợi đã!
Họ trở về trại. Một ngày trôi qua trong sự lo âu mệt mỏi. Có đến mười lần Glenarvan ra bờ sông. Ông định nghĩ ra một cách táo bạo nào đó để vượt qua sông.
Thật không may. Ngày hôm đó và cả ngày hôm sau họ vẫn không qua sông được. Sự chậm trễ ấy làm cho Glenarvan thất vọng. Helena và thiếu tá an ủi ông kiên nhẫn đợi chờ, nhưng không kết quả gì. Trong khi ấy, biết đâu, Ben Joyce đang lên boong tàu “Ducan”. Biết đâu, “Ducan” đang nổ máy nhổ neo để đi vùng duy hải phía đông.
Ngày 18 tháng Giêng, thuyền trưởng John Mangles và anh chàng thủy thủ đã đóng một chiếc thuyền bằng vỏ cây ghép lại và đi thử. Họ trổ hết tài khéo léo, tháo vát, sức mạnh và lòng dũng cảm. Nhưng con thuyền vừa đặt xuống nước đã bị cuốn phăng vào dòng xoáy rồi bị biến mất, John Mangles và Wilson phải gắng sức bơi vào bờ.
Ngày 19 và 20 không đem lại điều gì đáng an ủi cả. Thiếu tá và Glenarvan đi ngược dòng năm dặm để tìm một chỗ qua sông. Nhưng không được, vì ở khcú nào dòng sông cũng chảy xiết cả. Nước từ tất cả những khe suối của sườn nam dãy Alpes ở Australic đều đổ về sông này.
Đành phải từ bỏ hy vọng cứu tàu “Ducan” thôi. Từ lúc Ben Joyce đi đến nay đã năm ngày rồi. “Ducan” chắc đã đến vùng duyên hải phía đông và đang nằm trong tay bọn tội phạm.
Nhưng, tình hình ấy không thể kéo dài vô tận được. Nước lũ dâng lên mạnh bao nhiêu thì càng rút nhanh bấy nhiêu. Sáng ngày 21, Paganel thấy nước sông bắt đầu xuống. Nhà địa lý báo cho Glenarvan biết.
- Nước rút thì cũng vậy thôi! – Glenarvan đáp. – Quá muộn mất rồi!
- Đó không phải là cái cớ để ta ở lại đây, - Mac Nabbs nhận xét.
- Tất nhiên, - John Mangles đáp, - có thể ngày mai ta qua sông được rồi đó.
- Liệu thế thì có cứu được đoàn người không may của ta không? – Glenarvan kêu lên.
- Xin huân tước hãy nghe tôi, - chang thuyền trưởng trẻ nói, - Tôi hiểu Tom Austin lắm. Anh ấy tất nhiên là sẽ thi hành mệnh lệnh và nhổ neo ra khơi ngay khi nào điều kiện cho phép. Nhưng làm sao ta biết được khi Ben Joyce đến Melbourne thì “Ducan” đã kịp sửa chữa xong? Nếu chưa xong thì sao? Nếu Austin chậm lại một hai ngày thì sao?
- Anh nói đúng, John Mangles – Glenarvan tán thành.
Cần phải đến được Twofold – Bay: Chúng ta còn cách Delegete có ba mươi lăm dặm nữa thôi!
- Ở đó, - Paganel nói, - chúng ta sẽ tìm được phương tiện đi nhanh hơn. Biết đâu chúng ta kịp ngăn chặn tai họa cũng nên.
- Vậy thì, lên đường! – Glenarvan hô to.
John Mangles và Wilson tranh thủ thời gian đóng một cái bè lớn. Họ đã rút được kinh nghiệm rồi: vỏ cây không thể chịu đựng được dòng chảy mạnh. Vì vậy, John Mangles đã chặt từng cây đóng thành một cái bè thô thiển, nhưng chắc chắn… Ngày hôm sau bè đã được đóng xong.
Vào lúc ấy nước đã rút đáng kể. Dòng nước lúc hôm trước, hôm nay đã trở lại dòng sông. Tuy nước vẫn còn chảy xiết, nhưng dẫu sao cũng đã hiền dịu hơn. John Mangles hy vọng rằng nếu khéo léo lái anh ta sẽ được bè sang bờ bên kia.
Mười hai giờ rưỡi trưa, mọi người xếp lương thực lên bè với số lượng đủ cho cả đoàn ăn trong hai ngày. Còn lại họ bỏ trong xe và lều. Mulrady đã lại sức. Anh ta có thể cùng đi theo.
Một giờ, tất cả lên bè, John Mangles đặt phía bên phải bè một mái chèo để chống chọi với dòng chảy và giữ cho bè đi đúng hướng. Thuyền trưởng giao cho Wilson giữ chèo. Còn anh đứng phía sau điều khiển tay lái. Huân tước phu nhân Helena, Mary và Mulrady được sắp xếp ngồi ở giữa hè. Glenarvan, thiếu tá và Robert ngồi chung quanh họ, để nếu cần thì có thể giúp đỡ được ngay.
- Xong hết chưa, Wilson? – thuyền trưởng hỏi.
- Xong rồi, thưa thuyền trưởng. – Wilson đáp, cánh tay rắn chắc nắm chặt mái chèo.
- Cẩn thận nhé! Coi chừng bị nước cuốn đi đó!
John Mangles tháo dây neo, đẩy chiếc bè ra khỏi bờ, thả cho nó đè lên sóng. Đầu tiên mọi việc diễn ra tốt đẹp. Wilson chèo chống được với dòng chảy. Nhưng lát sau, chiếc bị bị cuốn vào dòng nước xoáy, quay tròn, khiến mái chèo không sao kìm được nữa, mặc dù John Mangles và Wilson đã căng sức ra chống đỡ.
Đành chịu để cho chiếc bè quay tít vậy, John Mangles tái mặt đi, cắn răng đứng nhìn dòng nước xoáy. Chiếc bè dần dần trôi ra giữa sông, xuôi xuống cách chỗ thả chừng nửa dặm… Đến đây, dòng chảy càng mạnh hơn, nhưng, không còn những vòng nước xoáy nữa, nên chiếc bè bắt đầu ổn định lại phần nào.
John Mangles và Wilson lại cầm chắc tay chèo, họ đã khiển được chiếc bè rẽ dòng sông đi sang bờ bên kia.
Họ còn cách bờ chừng trăm mét, bỗng mái chèo của Wilson bị gãy, John Mangles cố sức giữ cho bè ổn định. Wilson hai tay bật máu lao đến hỗ trợ cho thuyền trưởng. Cuối cùng họ đã chiến thắng: sau gần một giờ vật lộn với sóng nước, chiếc bè cập bờ bên kia… Do bị va chạm vào bờ, những sợi dây chằng bị đứt hết, các cây gỗ bung ra, và nước trào lên bè. Các nhà thám hiểm vừa kịp túm lấy nưhgnx bụi cây là đà trên mặt nwocs và kéo được Helena, Mary và Mulrady lên bờ. Mọi người nguyên vẹn cả, nhưng phần lớn lương thực và toàn bộ vũ khí, trừ khẩu carbine của thiếu tá, đều bị nước cuốn đi cùng với những mảng bè vỡ.
Vậy là sau khi qua sông, đội thám hiểm hầu như lâm vào cảnh trắng tay ở giữa nơi hoang vắng, xa lạ, cách Degetete ba mươi lăm dặm. Nơi đây không thấy một bóng người dân cũng như thổ dân, trừ khi gặp bọn cướp tàn bạo…
Đoàn người quyết định lên đường ngay. Mulrady biết mình là gánh nặng, nên đã đề nghị để anh ở lại đây một mình và đợi chi viện từ Delegete tới.
- Không được, chú bạn của tôi ạ, tôi không thể bỏ chú được. Chúng ta sẽ làm cáng và thay nhau khiêng chú.
Họ chặt cành cây, làm một cái cáng chắc chắn, và Mulrady dẫu không muốn, cũng phải nằm lên đó. Glenarvan muốn khiêng người thủy thủ của mình trước tiên. Ông chịu một đầu, còn Wilson chịu đầu kia. Đội thám hiểm tiếp tục cuộc hành trình.
Ngày đường đầu tiên trôi qua trong sự im lặng nặng nề. Cứ mười phút họ lại thay phiên cáng một lần. Mặc dù nóng bức, mệt nhọc, nhưng không ai phàn nàn.
Buổi tối hôm ấy, đi thêm được năm dặm đường, họ dừng lại ở cửa rừng, ăn bữa tối bằng những gì còn lại sau khi bè bị vỡ. Sau đó, thức ăn chỉ còn trông cậy vào khẩu carbine của thiếu tá. Nhưng, sáng hôm sau, thiếu tá cũng chẳng bắn được con gì. Cái vùng bất hạnh này còn tồi tệ hơn bất kỳ một chốn hoang vu nào –nơi đây không có thú rừng đến ở.
May sao Robert bắt gặp một tổ chim drofa, một giống chim vùng đồng hoang, lớn con, cổ dài, chân khỏe. Chú lấy được mười hai quả trứng to. Olbinett vùi trứng vào tron nóng, nướng lên. Số trứng ấy và một vài cọng rau sam hái được dưới khe suối là toàn bộ bữa ăn sáng ngày 22 tháng giêng. Họ đi tiếp đến ngày 23, bữa ăn sáng không còn nữa. Đi qua vùng cát rất vất vả, khát cháy họng, nhưng mọi người vẫn kiên trì chịu đựng tiến bước với tốc độ nửa dặm một giờ. May sao, giữa lúc mọi người sắp lả đi vì đói và khát, thì Paganel đã phát hiện ra được dưới lòng suối cạn một loại cây nom giống như san hô, hưa của nó y hệt một cái gáo đựng đầy thứ nước vô giá, mọi uống no nê và cảm thấy lại sức ngay. Cây ấy cũng là một thức ăn mà những người thổ dân ở đây thường dùng đến những khi không săn bắn được gì, Paganel đã từng đọc những tài liệu nói về đặc điểm tuyệt diệu của loại cây này do một đồng nghiệp của ông ở Hội địa lý viết.
Ngay hôm sau, Mulrady thấy có thể đi bộ được một đoạn đường. Vết thương của anh đã khỏi. Thị trấn Delegete còn cách không đầy mười dặm nữa. Đêm hôm ấy, đội thám hiểm dừng chân ở ngay biên giới tỉnh Nouvelle – Galles. Mọi nỗi đau khổ dần dần của họ chấm dứt. Mười một giờ sáng hôm sau, họ đã tới được Delegete, một thị trấn cách vịnh Twofold – Bay năm mươi dặm.
Ở đây có thể nhanh chóng tìm được những phương tiện đi lại. Glenarvan phấn chấn hẳn lên khi nghĩ rằng biển chi còn cách không bao xa nữa. Rất có thể “Ducan” bị vướng gì đó phải nán lại cảng nên, và như vậy là ông sẽ đến đó trước tàu. Ba ngày nữa thôi, ông sẽ đến Twofold-Bay rồi.
Đến trưa, sau bữa ăn sáng no nên, các nhà thám hiểm đáp chuyến xe thư do năm con ngựa khoẻ kéo từ Delegete ra vùng duyên hải.
Người xà ích được hứa hẹn một món tiền thưởng lớn nên gắng thúc ngựa phóng như bay. Vả lại, đường cũng tốt.
Cứ thế, với tốc độ sáu dặm một giờ, các nhà thám hiểm đã đi suốt ngày suốt đêm. Hôm sau, đúng lúc hừng đông, họ đã nghe thấy tiếng sóng vỗ ì ầm báo hiệu biển gần lắm rồi. Và, khi ra tới biển, mọi người đều dõi mắt nhìn về nơi xa tìm “Ducan”. Nhưng, không thấy gì cả, mặt biển mênh mông không gợn một cánh buồm nào.
- Đi Eden! – Glenarvan ra lệnh. Chiếc xe thư quẹo phải và lao đi trên đường dọc theo bờ vịnh, đến thị trấn nhỏ Eden, cách đó năm dặm.
Người xà ích cho dừng xe gần cây hải đăng chỉ đường vào cảng. Ở đây có một số tàu đang đậu, nhưng không có chiếc tàu nào mang lá cờ của xứ sở Malcolm.
Glenarvan, John Mangles và Paganel vừa xuống xe liền chạy đến chi cục hải quan. Họ hỏi các nhân viên phục vụ và đọc nhật ký theo dõi tàu đến trong mấy ngày vừa qua.
Thì ra, suốt cả tuần qua, không có một tàu mới nào vào cảng cả. – Có lẽ “Ducan” chưa rời khỏi Melbourne chăng? – Glenarvan ngạc nhiên, cố bám lấy niềm hy vọng cuối cùng ấy. Ngộ ta đến trước tàu thì sao?
John Mangles lắc đầu. Thuyền trưởng biết rõ phụ tá của mình, Tom Austin không bao giờ thi hành mệnh lệnh chậm trễ đến mười ngày cả.
- Tôi muốn được biết rõ, - Glenarvan nói. - Sự tin chắc tốt hơn sự nghi hoặc.
Mười lăm phút sau, một bức điện được đánh đi cho nhân viên môi giới tàu biển ở Melbourne. Sau đó John Mangles ra lệnh cho người xà ích đi đến khách sạn “Victoria”.
Hai giờ chiều, huân tước Glenarvan nhận được bức điện trả lời với nội dung như sau:
“Kính gửi huân tước Glenarvan, Eden – Twofold – Bay, tàu “Ducan” đã ra khơi ngày 18 tháng này, không rõ hướng.
J. Andrew,
Nhân viên môi giới tàu biển”.
Bức điện tuột khỏi tay Glenarvan. Không còn mảy may nghi ngờ gì nữa! Chiếc tàu buồm xứ Scotland hiền hoà ấy đã rơi vào tay Ben Joyce và trở thành chiếc tàu cướp biển rồi!
Cuộc hành trình vượt qua Australie mà lúc khởi đầu gieo biết bao hy vọng đã kết thúc như vậy đó. Những dấu tích về thuyền trưởng Grant và các thuỷ thủ của ông có lẽ đã bị xoá mất hoàn toàn. Sự thất bại này được trả giá bằng sinh mạng của cả tàu “Ducan” – Huân tước Glenarvan đã thất bại. Và, con người mà mới đây, trên các thảo nguyên Nam Mỹ, mọi thiên tai không thể làm ông lùi bước, thì ở đây, sự đê tiện của con người đã chiến thắng ông!
★
★
★
★
★
0