📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Cây Bách Buồn - AGATHA CHRISTIE - Hết 🔒

56 trả lời, 6.814 lượt xem — Trang 1 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-06-21 03:24:19HanAn>
CÂY BÁCH BUỒN
Tác giả: AGATHA CHRISTIE
Người dịch: TRẦN HOÀNG LY
Dịch từ nguyên bản tiếng Anh “SAD CYPRESS”
Nhà xuất bản Tổng Hợp Tiền Giang (1989)
 
Đi đi, thần chết kia ơi!
Để tôi nằm dưới gốc cây bách buồn.
Bay đi, hơi thở chập chờn!
Cô nàng độc ác phủ phàng giết tôi.
Chao ôi, chuẩn bị đi thôi,
Trắng tinh vải liệm dính đầy kim thông.
Hỡi ôi, cái chết não nùng.
Đúng là tôi góp phần chung đây rồi.
 
SHAKESPEARE
 
 


📎 CayBB
0
PHẦN MỞ ĐẦU
 
- Elinor Katharine Carlisle. Cô bị khởi tố về vụ giết cô Mary Gerrard vào ngày 27 tháng Bảy trước. Cô có phạm tội hay không phạm tội?
Elinor đứng rất thẳng, đầu ngước cao. Một mái đầu duyên dáng, khuôn xương rõ nét gọn gàng. Đôi mắt sâu thẳm, linh động, làn tóc đen nhánh. Lông mày tỉa thành một đường thon mờ nhạt.
Hoàn toàn yên lặng, một sự im lặng hầu như thấy rõ được.
Ngài Edwin Bulmer, luật sư biện hộ, cảm thấy rùng mình hồi hộp. Ông nghĩ “Lạy Chúa, cô ta sẽ kháng biện là có phạm tội mất thôi! Cô ta mất tinh thần rồi.”
Môi Elinor Carlisle mở ra. Cô nói:
- Tôi không phạm tội.
Luật sư rùng mình lại. Ông đưa khăn tay phớt lên lông mày, nhận thấy mình vừa thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc.
Ngài Samuel Attenbury đứng lên, thay mặt cho Vương quyền trình bày những nét chính của vụ án.
- Kính thưa quý vị trong bồi thẩm đoàn, vào ngày 27 tháng Bảy, lúc ba giờ rưỡi chiều, cô Mary Gerrard chết tại Hunterbury, Maidensford…
Giọng ông lướt nhẹ, ngân vang êm đềm, hầu như ru Elinor vào cõi vô tri. Từ lời tường thuật đơn sơ ngắn gọn đó, thỉnh thoảng chỉ có một câu nói xuyên thấu vào tâm trí còn hiểu biết của nàng.
- … Đây là một vụ án đơn giản lạ thường, chẳng có chi phức tạp cả… Trách nhiệm của vương quyền là… chứng tỏ động cơ nào đã thúc đẩy, cơ hội nào đã bày ra… Ta có thể thấy rằng, chẳng ai có động cơ nào để giết cô gái bất hạnh Mary Gerrard kia cả, ngoài bị cáo này ra. Mary là một thiếu nữ trẻ trung, tính tình tốt đẹp, được mọi người yêu mến - có thể nói rằng, cô không có đến một kẻ thù nào ở trên cõi đời này…
Mary, Mary Gerrard! Bây giờ tất cả mọi sự dường như xa xôi cả rồi… Chẳng còn thật nữa…
- … Xin quí vị đặc biệt lưu ý đến những nhận định sau đây:
1. Bị cáo đã có những cơ hội nào và những phương thế gì để đầu độc?
2. Động cơ nào đã khiến cô ta làm như vậy?
- … Tôi có phận sự đòi đến trước quí vị những nhân chứng có thể giúp quí vị đi đến một kết luận chân thực về những vấn đề…
- … Về vụ đầu độc cô Mary Gerrard, tôi xin cố gắng chứng minh để quí vị thấy rằng không một ai có cơ hội phạm tội ác này ngoại trừ bị cáo kia ra…
Elinor cảm thấy như bị giam hãm trong một lớp sương mù dày đặc. Những tiếng rời rạc giạt trôi qua lớp sương đó.
- … Báng Xăng-uých… Bột cá nhồi… Tòa nhà trống trải…
Những tiếng ấy đâm thủng tấm mền dày cộm bao phủ ý nghĩ của Elinor - giống như những lỗ kim trên chiếc mạng choàng…
Đây là phiên tòa. Những khuôn mặt. Hàng dãy, hàng dãy những khuôn mặt! Một khuôn mặt đặc biệt với hàng ria rậm đen và cặp mắt tinh anh, minh mẫn, Hercule Poirot, đầu hơi nghiêng, mặt trầm tư, đang chăm chú nhìn nàng.
Nàng nghĩ, ông ta đang cố gắng xem xét vì cớ gì mình lại làm như vậy. Đang cố gắng đi sâu vào đầu óc mình để thấy rõ mình đã nghĩ gì - đã cảm thấy gì…
Mình đã cảm thấy gì ư? Chỉ thấy một cảm tưởng sững sờ hơi nhạt nhòa - hơi tởm lợm…
Kia là khuôn mặt của Roddy (tên gọi thân mật của Roderick) - vẫn khuôn mặt thân yêu ấy với sống mũi dài dài, cái miệng nhạy cảm… Roddy! Vẫn Roddy ấy - từ cái thuở mà nàng còn nhớ nổi - từ những ngày trước kia ở Hunterburry giữa rặng cây phúc bồn tử, trong bãi nuôi thỏ phía trên, trong lạch ngòi bên dưới. Roddy - Roddy - Roddy…
Còn những khuôn mặt khác nữa! Cô điều dưỡng ở Brien, miệng he hé mở, mặt tàn nhang tươi tắn chẩu ra phía trước. Bà điều dưỡng Hopkins xem chừng đắc ý lắm, chẳng chi có thể mủi lòng. Rồi khuôn mặt của Peter Lord - Peter Lord - mới tử tế làm sao, đa cảm biết bao, ân cần an ủi biết bao! Nhưng bây giờ thì xem ra có vẻ như, có vẻ như bị mê mẩn rồi. Đúng thế - bị mê mẩn rồi! Chàng ta đối với tất cả vụ này, bận tâm lo lắng biết bao nhiêu. Trong khi nàng là vai biểu diễn chính, thì lại chẳng hề quan tâm chút nào cả.
Giờ đây nàng, hoàn toàn điềm tĩnh lạnh lùng, đang đứng trước vành móng ngựa, bị kết tội sát nhân. Nàng đang phải hầu tòa.
Có một vật gì lay động; những nếp chăn bao quanh trí não nàng bừng sáng lên - trở thành rặt những hồn ma bóng quế. Nàng đang hầu tòa, còn người ta thì…
Còn người ta thì đang ngả người về phía trước, môi hơi hé, mắt thích thú đăm đăm nhìn nàng, Elinor, với một niềm khoái lạc tàn nhẫn khủng khiếp; họ đang nghe với một hứng vị độc ác, khoan thai, cái con người cao lớn kia đang nói về nàng.
- Những sự kiện trong vụ này có thể theo dõi rất dễ dàng và chẳng có chi cần tranh luận. Tôi xin trình bày trước quý vị, rất là đơn giản. Thoạt tiên là…
Elinor nghĩ. “Thoạt tiên… Thoạt tiên ra sao nhỉ? Đó là cái ngày mình nhận được bức thư nặc danh khủng khiếp ấy. Vụ này bắt đầu là như vậy…”
0
CHƯƠNG 1
 
Một bức thư nặc danh! Elinor Carlisle đứng nhìn xuống lá thư mở ra trên lòng bàn tay. Từ trước đến nay cô chưa bao giờ gặp một chuyện như vậy. Nó khiến cô bực mình khó chịu. Thư viết vụng về, sai lỗi be bét, trên thứ giấy màu hồng rẻ tiền.
 
Thư này là để cảnh giác cô,
Tôi không nêu rõ tên ai nhưng có kẻ đang bợ đỡ bà cô của cô đấy và nếu cô không cẩn thận thì cô sẽ mất sạch ráo trọi. Bọn con gái con nứa bây giờ nó xảo quyệt lắm mà các bà già thì yếu mềm khi bị bọn gái non nó bợ đỡ, nó phỉnh phờ. Tôi khuyên cô hãy nên xuống mà xem tận mắt những gì đang xảy ra. Cô và cậu trẻ kia mà bị cướp mất những cái của cô cậu, thì thế là không phải lẽ. Nó xảo quyệt lắm, mà bà lão kia thì có thể ngoẻo bất cứ lúc nào.
Kẻ cầu chúc tốt lành.
 
Elionr còn đang chăm chú xem thư, mày nhíu lại vì ghê tởm, thì cửa mở ra. Người hầu gái thông báo:
- Có ông Welman.
Rồi Roddy bước vào.
Roddy! Cũng như mọi lần khi trông thấy Roddy, Elinor cảm thấy hơi choáng váng say sẩm, rung động vì niềm vui bất ngờ; nàng thấy cần phải giữ sao cho thật bình thường, không tỏ ra xúc động. Vì rằng rõ rật là Roddy, mặc dù yêu nàng, không có cái cảm giác về nàng theo cung cách như nàng có về chàng. Thoạt trông thấy chàng, nàng cảm thấy như làm sao ấy, trái tim quặn thắt hầu như đau đớn. Nực cười thay: một gã đàn ông - một chàng trẻ bình thường - mà lại có thể khiến cho mình nên nông nổi ấy. Chỉ nhìn thấy chàng thôi mà mình thấy trái đất quay cuồng; giọng nói của chàng làm cho mình muốn khóc - khóc tí chút thôi. Tình yêu chắc hẳn phải là một cảm xúc vui thú - chứ đâu phải cái gì mãnh liệt đến độ làm cho người ta phải đớn đau.
Có điều rõ rệt là: mình phải thận trọng, phải thận trọng lắm mới được, phải thoải mái tự nhiên, phải hững hờ, chẳng bận tâm gì đến nó cả. Đàn ông đâu có thích đắm say nồng nhiệt, cũng chẳng ưa gì tôn sùng ái mộ. Chắc chắn rằng Roddy như vậy đó.
Nàng nói khẽ.
- Chào anh Roddy.
Roody nói.
- Chào em. Trông em thê thảm quá. Có phải là hóa đơn không?
Elinor lắc đầu.
Roddy nói.
- Anh nghĩ chắc hẳn là thế rồi. Em biết đấy, kỳ hạ chí các nàng tiên khiêu vũ, rồi những khoản tiền cần thanh toán lướt đến nhẹ nhàng.
Elinor nói.
- Khủng khiếp quá! Một bức thư nặc danh!
Roody lông mày giương lên; khuông mặt thông minh, hà khắc sắt lại rồi biến sắc. Chàng kinh tởm, lanh lảnh thét.
- Không!
Elinor lại nói:
- Thực khủng khiếp quá…
Nàng tiến một bước đến phía bàn giấy.
- Em nghĩ là nên xé đi thì hơn.
Lẽ ra nàng có thể làm như vậy được - suýt nữa đã làm thế - bởi vì Roddy và lá thư nặc danh là hai cái chẳng nên cùng đến đồng thời. Lẽ ra nàng nên vứt đi và chẳng nghĩ gì đến nó nữa. Chàng sẽ chẳng cản trở nàng đâu. Ở nơi chàng, thói hà khắc nảy nở mạnh mẽ hơn là tính hiếu kỳ rất nhiều.
Nhưng trong cơn xung động, Elinor quyết định làm khác thế. Nàng nói:
- Dù sao có lẽ trước hết anh hãy nên đọc đi đã. Rồi chúng mình sẽ đốt đi. Thư đó nói về cô Laura.
Roddy giương mày lên, sửng sốt:
- Về cô Laura à?
Chàng cầm lấy thư đọc, mặt lộ vẻ kinh tởm, rồi trao trả lại. Chàng nói:
- Đúng rồi. Nhất định là phải đốt đi. Người ta sao mà kỳ lạ quá!
Elinor nói:
- Anh có nghĩ đó là một đứa ở không?
- Anh cho là thế - chàng ngập ngừng nói - Nhưng cái người mà họ nói tới ở đây là ai kia chứ?
Elinor trầm ngâm nói:
- Em nghĩ, chắc là Mary Gerrard.
Roody nhăn mặt cố nhớ lại:
- Mary Gerrard à? Nó là ai thế nhỉ?
- Nó là con gái của người ở khu nhà săn. Chắc anh còn nhớ cái con nhỏ hồi nó còn bé chứ? Cô Laura yêu thích con bé, thường quan tâm đến nó. Cô trả tiền cho nó học và trăm thứ bà rằn khác, nào đàn Piano, nào tiếng Pháp..
Roody nói:
- Ồ, đúng rồi, anh nhớ ra nó rồi; cái con bé gầy đét, toàn là tay với cẳng, tóc thì vàng hoe rối bù.
Elinor gật đầu.
- Đúng nó đấy. Chắc là anh chưa hề gặp nó, từ cái dịp nghỉ hè khi ba và má ở nước ngoài. Anh không thường xuống Hunterbury như em. Mới đây nó đi làm công ở Đức, nhưng trước kia hồi chúng mình đều còn con nít, mình hay lôi nó ra mà chơi nghịch.
- Bây giờ nó ra sao rồi? - Roddy hỏi.
Elinor nói:
- Nó trổ mã ra, rất xinh đẹp. Lại lịch sự nữa. Nhờ nó được giáo dục, nên chẳng bao giờ người ta ngỡ nó là con gái của lão Gerrard.
- Nó thành ra tiểu thư rồi, phải thế không?
- Đúng thế. Em cho là chính vì thế mà nó ăn ở chẳng tốt đẹp gì mấy ở khu nhà săn. Bà Gerrard chết trước đây mấy năm; Mary và bố nó sống với nhau chẳng hòa thuận gì. Lão ta thường nói giỡn bảo nó là “học thức”, là “đài các”.
Roddy tức bực nói:
- Người ta chẳng bao giờ tưởng rằng sẽ có thể gây tai họa cho người bằng cách “giáo dục” họ cả. Thường thì đó là độc ác, chứ chẳng phải tử tế gì đâu.
Elinor nói:
- Em nghĩ là nó ở nhà đó nhiều lắm đấy. Nó đọc sách cho cô Laura, từ khi cô lên cơn bệnh. Em biết lắm mà.
Roddy nói:
- Tại sao bà điều dưỡng lại không đọc cho cô ta?
Elinor mỉm cười nói:
- Bà O’Brien có cái giọng the thé chua lảnh. Em chẳng ngạc nhiên là cô Laura thích Mary hơn.
Roddy bước nhanh bồn chồn từ đầu nọ đến đầu kia căn phòng trong một hai phút. Rồi chàng nói:
- Này em Elinor, anh cho là ta cần phải xuống đó thôi.
Elionor hơi chùn lại hỏi:
- Vì chuyện đó ư?
- Không, không, không phải thế đâu. Ôi ghê tởm quá, người ta phải trung thực chứ. Bức thư thông báo ấy bẩn thỉu quá mức, nhưng dẫu sao thì vẫn có thể có đôi chút sự thực nào đó. Anh muốn nói là bà cô mình bệnh khá nặng…
- Phải rồi, anh Roddy ạ.
Roddy duyên dáng mỉm cười nhìn nàng - chàng thừa nhận rằng bản tính người ta là có thể sai lầm. Chàng nói:
- Cũng phải kể đến vấn đề tiền nữa chứ - anh và em đều cần tiền cả, Elionr ạ.
Nàng mau mắn thừa nhận:
- Ừ, đúng vậy.
Chàng nghiêm nghị nói:
- Chẳng phải là anh hám lợi. Thế nhưng chính cô Laura vẫn thường nhắc nhở hoài là em và anh là liên hệ gia đình duy nhất của cô. Em là cháu ruột cô, con của anh cô, còn anh thì là cháu của chồng cô. Cô thường cho chúng mình hiểu rằng khi nào cô chết đi, cô sẽ để lại tất cả cho em hoặc anh - hoặc có lẽ là cho cả hai chúng mình. Đó là món tiền khá lớn, Elinor ạ.
- Vâng - Elinor trầm ngâm nói - Chắc hẳn là như vậy.
- Bảo trì được Hunterbury thì chẳng phải là chuyện đùa đâu - Chàng ngừng rồi tiếp - Theo anh nghĩ, cái hồi chú Henry gặp cô Laura, chú sống sung túc lắm. Cô Laura là người thừa kế. Nhờ đó cô và cha em đều rất giàu. Tiếc thay cha em vì đầu cơ tích trữ mà sạt nghiệp.
Elinor thở dài.
- Cha em không có khiếu buôn bán. Ông gặp nhiều chuyện phiền muộn rồi mất.
- Đúng thế, cô Laura có đầu óc khá hơn ông. Cô kết hôn với chú Henry, rồi mua ngôi nhà Hunterbury. Có hôm cô kể với anh rằng bao giờ cô cũng gặp may trong các vụ đầu tư. Hầu như chẳng có gì sa sút cả.
- Khi chú Henry mất, chủ để lại tất cả tài sản cho cô, có phải thế không anh?
Roddy gật đầu:
- Phải, đau đớn thay chú mất sớm quá! Cô Laura không tái giá, mà khăng khăng thủ tiết. Cô luôn luôn tốt bụng đối với chúng mình. Cô coi anh hệt như là cháu ruột. Anh có bị sa hầm sẩy hố, thì cô cứu vớt ngay; may sao anh chẳng gặp cảnh ấy thường thường.
- Đối với em cô cũng rộng lượng lắm - Elinor cảm kích nói.
Roddy gật đầu:
- Cô Laura là người hào phóng. Thế nhưng, em biết đấy, Elinor, bằng vào phương tiện thực có của chúng ta hiện nay, có lẽ em và anh sống quá xa hoa, mà không có ý làm như vậy.
Nàng ngậm ngùi nói:
- Em nghĩ là chúng ta sống như thế thật. Mọi thứ đều quá tốn kém - nào quần áo, nào mặt mày, rồi những cái lẩm cẩm khác như hát bóng, cốc-tây, lại còn cả máy hát nữa.
Roody nói:
- Em ơi, em đứng là một đóa hoa bách hợp trong đồng nội, phải thế không em? Em không cực khổ mà cũng chả làm việc.
Elinor nói:
- Anh có nghĩ rằng em cần phải làm việc không, Roddy?
Chàng lắc đầu:
- Anh thích em cứ như thế này thôi: em thanh nhã, em xa rời cách biệt, em mỉa mai châm biếm. Anh không thích em đứng đắn nghiêm chỉnh. Anh chỉ muốn nói rằng nếu không phải vì cô Laura thì hẳn là em sẽ làm một công việc nhọc nhằn nào đó.
Chàng nói tiếp:
- Anh cũng vậy thôi. Anh đã kiếm được một chỗ làm, làm linh tinh đủ thứ. Làm với hãng Lewis & Hume thì cũng chẳng cực lắm. Lại hợp với anh. Có một việc làm là anh giữ được lòng tự trọng rồi; thế nhưng anh chẳng băn khoăn thắc mắc gì về tương lai, vì anh trông đợi ở cô Laura.
Elinor nói:
- Chúng mình giống hệt như là đỉa hút máu người.
- Vô lý lắm. Người ta đã cho mình biết rằng rồi đây chúng mình sẽ có tiền - thế là đủ rồi. Cố nhiên là điều đó có tác dụng đối với cách xử sự của chúng ta.
Elinor trầm ngâm nói:
- Cô Laura chẳng hề nói dứt khoát cho chúng mình biết cô ta để lại tiền của ra sao cả?
Roddy nói:
- Điều đó chẳng quan hệ gì. Chắc chắn là cô ta chia cho hai đứa mình, nhưng nếu không phải như vậy - nếu cô ta để lại tất cả hoặc hầu hết cho em là ruột thịt của cô - thì, em ơi, anh vẫn có phần trong đó, vì lẽ anh sắp cưới em; còn nếu như bà già ấy lại có ý để phần lớn di sản cho anh như là đại biểu phái nam của dòng họ Welman, thì cũng vẫn được thôi, vì em sắp kết hôn với anh.
Chàng cười nhăn nhở âu yếm:
- May sao chúng mình lại yêu nhau. Em yêu anh, có phải vậy không Elinor?
- Phải - nàng nói một cách lạnh lùng, hầu như nghiêm nghị.
- Phải! - Roddy bắt chước nàng - Em thật là khả kính, Elinor ạ. Cái dáng điệu của em - tách rời, cách biệt, chẳng ai động đến được - đúng là cô Công chúa xa vời. Chính cái đặc tính này của em đã khiến anh yêu em đó.
Elionr nín thở, nói:
- Thế ư?
- Đúng thế - Chàng nhăn mặt - có những người đàn bà, anh không hiểu nữa, họ cứ… cứ khư khư giữa gịt, họ bám sát, đắm đuối tôn sùng - cảm xúc vương vãi khắp nơi. Anh không thích thế. Còn với em thì anh không bao giờ biết - chẳng bao giờ chắc nữa - bất cứ giây phút nào em cũng có thể trở lại với cái lối lạnh nhạt, xa rời và bảo là đã đổi ý - hoàn toàn lạnh lùng, thản nhiên, phớt tỉnh, như vậy đó. Em là người đầy sức quyến rũ, Elinor ạ. Em giống hệt như một công trình nghệ thuật, quá ư - quá ư trau chuốt!
Chàng tiếp tục nói:
- Em biết đấy, anh nghĩ cuộc hôn nhân của chúng ta sẽ là cuộc phối ngẫu hoàn hảo vẹn toàn. Chúng mình yêu nhau vừa đủ thôi, chớ không thái quá. Chúng mình là bạn tốt của nhau. Chúng mình có nhiều sở thích chung. Chúng mình biết nhau rất rõ. Chúng mình có tất cả những thuận lợi của tình anh em mà không có những bất tiện do liên hệ cốt nhục. Anh sẽ không bao giờ chán em, bởi vì em là người bản tính hay lảng tránh. Thế nhưng có thể rồi đây em sẽ chán anh. Anh chỉ là một kẻ tầm thường…
Elinor lắc đầu nói:
- Em sẽ không bao giờ chán anh. Roddy - không bao giờ đâu.
- Cưng ơi!
Chàng hôn nàng.
Chàng nói:
- Cô Laura biết rất rõ chúng mình hiện nay ra sao, mặc dù là từ khi quyết định như vậy chúng mình chưa xuống nhà cô. Anh nghĩ, đó cũng là cái cớ mình nên xuống đó, phải không?
- Phải lắm. Hôm trước em nghĩ rằng…
Roddy nói trọn câu nàng:
- … rằng chúng ta không xuống đó thường thường. Anh cũng nghĩ vậy. Khi cô lên cơn bệnh lần đầu, gần như cứ cách hai tuần chúng ta lại xuống đó vào dịp nghỉ cuối tuần. Còn bây giờ thì có lẽ đã gần hai tháng rồi mà mình chưa xuống.
Elinor nói:
- Nếu cô gọi thì mình đi… đi liền.
- Hẳn thế rồi. Mình biết là cô thích bà điều dưỡng O’Brien, cô được chăm sóc chu đáo. Dù sao chăng nữa, có lẽ chúng mình đã đôi chút chểnh mảng, lơ là. Anh nói đây không phải là vì tiền mà nói - nhưng chỉ hoàn toàn dựa vào quan điểm con người mà nói đó thôi.
Elinor gật đầu.
- Em biết chứ.
- Dầu sao thì cái mẩu thư bẩn thỉu kia cũng có chỗ tốt. Chúng mình xuống đó để bảo vệ quyền lợi của mình, mà cũng bởi vì chúng mình yêu bà cô già nua thân mến kia.
Chàng cầm lấy tờ thư trong tay Elinor rồi bật quẹt đốt.
- Ai viết thư này thế nhỉ? - Chàng nói - Chẳng phải vì… Chắc có người nào đó “đứng về phe mình” - lúc bé mình thường nói thế. Cũng có lẽ họ đã giúp mình đấy. Mẹ của Jim Partington đến ở Riviera, gặp một bác sĩ người Ý trẻ tuổi đẹp trai chăm nom chữa bệnh, rồi mê chàng ta, để lại cho chàng đến từng cắc nhỏ mình có. Jim cùng các cô em cố gắng làm ngược lời di chúc, mà không được.
Elinor nói:
- Cô Laura thích cái anh chàng bác sĩ mới hành nghề thế chỗ bác sĩ Ransome - nhưng chăng đến mức độ ấy. Dù sao thì bức thư khủng khiếp kia cũng có nói đến một cô con gái. Chắc là Mary đấy.
Roddy nói:
- Chúng ta sẽ xuống đó để xem tận mắt.
 
* * *
1
Cô điều dưỡng O’Brien từ phòng ngủ của bà Welman hối hả đi ra rồi vào phòng tắm. Cô ngoảnh lại nói:
- Tôi sẽ đặt ấm nước. Chị có thể dùng một ly trà rồi làm tiếp công việc.
Bà điều dưỡng Hopkins thoải mái nói:
- Được rồi, chị thì lúc nào cũng có thể làm một ly. Chị thường nói chẳng có chi bằng được ly trà ngon cả - một ly đậm.
Cô O’Brien đổ nước đầy ấm rồi đốt lò ga, nói:
- Em có đủ cả ở trong tủ chén - bình trà, ly cốc, đường. Edna đem sữa tươi đến một ngày hai lần. Chẳng cần phải rung chuông hoài... Đây là cái lò ga tốt, nó đun sôi ấm nước trong giây lát.
Cô O’Brien trạc ba mươi tuổi, thân hình cao lớn, tóc đỏ, răng trắng bóng, mặt đầy tàn nhang, miệng cười duyên dáng. Tính tình vui vẻ, sức sống dồi dào khiến cô được bệnh nhân yêu thích. Bà Hopkins là nữ điều dưỡng của khu vực, sáng nào cũng đến giúp dọn giường, rửa ráy cho bà già khắc khổ kia; bà là một phụ nữ trung niên bình thường, có dáng vẻ giỏi giang, nhanh nhẩu.
Giờ đây bà tán thành nói:
- Trong nhà này mọi cái đều tốt đẹp cả.
Cô O’Brien gật đầu:
- Đúng thế. Có nhiều cái đã lỗi thời. Không có lò sưởi hơi nước chung, nhưng có nhiều lò đốt bằng than củi. Đầy tớ toàn là những cô gái sốt sắng hầu hạ; bà Bishop trông nom họ kỹ lắm.
Bà Hopkins nói:
- Bọn gái đó bây giờ - chị không chịu nổi nữa - chúng nó hầu hết chẳng biết mình muốn cái gì, và chẳng làm được việc gì ra hồn cả.
- Mary Gerrard là cô gái ngoan - cô O’Brien nói - Em thực sự không biết bà Welman sẽ làm gì nếu không có cô ta. Chị đã thấy bà ấy đòi hỏi cô ta ra sao rồi? À, mà thực cô ta là một con người khả ái; cô ta được bà tín nhiệm.
Bà Hopkins nói:
- Chị buồn cho Mary. Cái ông bố già kia làm hết mình để trêu chọc cô con gái.
- Cái lão thô lỗ ấy chẳng có một tiếng lịch sự nào trong đầu óc cả - cô O’Brien nói - Kìa, ấm nước đang reo rồi. Chừng nào nước sôi, em sẽ pha trà ngay.
Trà pha xong, rót ra, nóng và đậm. Hai người ngối trước ly trà ở trong phòng cô O’Brien, bên cạnh phòng ngủ của bà Welman.
- Ông Welman cùng cô Carslite đang xuống đây - cô O’Brien nói - Có tin điện báo sáng nay.
- Xuống đây, bây giờ, em ạ - bà Hopkins nói - Chị nghĩ bà lão có vẻ đang bị kích động về chuyện gì đó. Đã khá lâu rồi họ mới xuống đây, phải không em?
- Có lẽ đã hơn hai tháng rồi. Ông Welman là một nhà quý phái trẻ trung, tử tế. Nhưng có vẻ rất kiêu căng, tự đắc.
Bà Hopkins nói:
- Hôm trước chị thấy hình của cô ta trong tạp chí Tatler - chụp với một người bạn ở khu chợ mới.
Cô O’Brien nói:
- Cô ta rất nổi tiếng về mặt xã giao, phải thế không chị? Và lúc nào cũng ăn vận đẹp đẽ. Chị có cho là cô ta thực sự xinh đẹp không?
Bà Hopkins nói:
- Khó mà nói được con gái thực sự ra sao dưới lớp son phấn. Theo ý chị, cô ta không có được dáng dấp như Mary Gerrard.
Cô O’Brien mím môi, nghiêng đầu nói:
- Có thể là chị nói đúng. Nhưng Mary không hợp mốt thời thượng.
Bà Hopkins nói giọng dạy đời:
- Người tốt vì lúa, lúa tốt vì phân.
- Một ly nữa nhé chị?
- Cám ơn em. Cũng không sao.
Bên những ly trà bốc hơi. Hai người xích lại gần nhau.
Cô O’Brien nói:
- Đêm hôm qua xảy ra một chuyện thực kỳ quặc. Vào lúc hai giờ, như thường lệ, em vào nâng giấc bà lão, thì thấy bà nằm trên giường thao thức không ngủ. Thế nhưng chắc chắn là bà đang chiêm bao, vì ngay khi em vừa bước vào phòng thì bà nói: “Tấm hình, tôi phải có tấm hình”.
Em nói: “Dạ, thưa bà Welman. Thế nhưng có lẽ bà nên đợi đến sáng ngày đã?” Bà nói, “Không. Tôi muốn ngắm tấm hình đó ngay bây giờ cơ”. Em nói, “Được rồi, thế tấm hình đó ở đâu? Có phải bà muốn nói tấm hình của ông Roderick không? Bà nói, “Roderick nào? Không. Lewis cơ”. Rồi bà bắt đầu trằn trọc trăn trở. Em tới nâng bà dậy, bà lấy chìa khóa trong chiếc hộp nhỏ cạnh giường đưa cho em, bảo em mở ngăn thứ hai của tủ com-mốt, trong đó em thấy một bức hình to mắc khung bạc. Hình một chàng đẹp trai, ở góc là chữ tên “Lewis” vắt ngang. Bức hình cổ lắm rồi, hẳn chụp cách đây đã nhiều năm. Em lấy hình đem đến cho bà, bà cầm lấy ngắm nghía một lúc lâu. Bà nói lẩm bẩm: “Lewis - Lewis”. Rồi bà thở dài đưa cho em bảo em cất lại chỗ cũ. Chị có tin được không - lúc em quay lại thì bà đã ngủ thiếp đi ngon lành như một đứa trẻ thơ vậy.
Bà Hopkins nói:
- Em có nghĩ đó là chồng bà ta không?
Cô O’Brien nói:
- Không đâu! Vì sáng hôm ấy em làm vẻ lơ là hỏi bà Bishop tên ông Welman trước đây là gì, thì bà nói là Henry.
Hai người đưa mắt nhìn nhau. Bà Hopkins có sống mũi dài, đầu mũi hơi rung lên vì thích thú. Bà trầm ngâm nói:
- Lewis - Lewis. Chị không nhớ ở quanh đây có người nào tên đấy.
- Có lẽ nhiều năm trước đây có ai tên như vậy - cô O’Brien nhắc nhở.
- Ừ, cố nhiên rồi, chị mới ở đây có mấy năm thôi. À mà…
Cô O’Brien nói:
- Đó là một anh chàng rất đẹp trai. Có dáng tựa như một sĩ quan kỵ binh.
Bà Hopkins nhấp trà, nói:
- Thực rất thú vị.
Cô O’Brien mơ màng nói:
- Có thể là cô, cậu chung sống với nhau rồi bị ông bố tàn nhẫn chia cách, phân ly.
Bà Hopkins thở dài thườn thượt, nói:
- Có lẽ cậu ta đã bị giết trong lúc chiến tranh.
Nước trà ngon và sự suy đoán lãng mạn làm cho bà Hopkins khích động thích thú.
 
* * *
0
Khi bà rời nhà ra đi, thì Mary Gerrard chạy ra khỏi cổng rượt theo.
- Cô ơi, cô cho cháu theo xuống làng với nhé?
- Lẽ dĩ nhiên là được chứ Mary.
Mary Gerrard thở hổn hển nói:
- Cháu cần nói với cô. Cháu băn khoăn về đủ thứ chuyện.
Bà nhìn cô một cách hiền từ.
Với tuổi hai mươi mốt, Mary Gerrard là một thiếu nữ khả ái, có vẻ huyền ảo như đóa hoa hồng hoang dã, cổ cao xinh xắn, làn tóc vàng nhạt như sóng lượn nhịp nhàng trên mái đầu tuyệt đẹp, mắt xanh sâu thẳm linh động.
Bà Hopkins nói:
- Cháu có chi buồn phiền thế?
- Cháu buồn ngày tháng cứ trôi qua mà cháu thì chẳng làm gì cả.
Bà Hopkins thản nhiên nói:
- Cháu còn đủ thì giờ chán.
- Thưa không phải vậy đâu, cháu chẳng có chi là ổn định cả. Bà Welman đối với cháu cực kỳ là tử tế, bà cho cháu ăn học rất tốn kèm. Lúc này cháu cảm thấy rằng cháu cần phải bắt đầu tự lực kiếm sống cho mình. Cháu cần phải học một nghề gì đó.
Bà Hopkins gật đầu tỏ ý thông cảm.
- Nếu không làm như thế, thì phí phạm lắm. Cháu đã cố bày tỏ cảm nghĩ của mình với bà Welman, nhưng hình như bà không chịu hiểu - thực khó khăn quá. Bà cứ bảo rằng còn nhiều thời gian.
Bà Hopkins nói:
- Cháu nên nhớ là bà đang bệnh hoạn.
Mary mặt ửng hồng lên vì hối hận.
- Ồ, cháu biết thế chứ. Lẽ ra cháu không nên quấy rầy bà. Nhưng thực là bực mình - bố cháu quá quắt, quá quắt lắm đối với chuyện này. Bố cứ mắng hoài cháu là tiểu thư đài các. Thực ra, cháu đâu có muốn ngồi không, chẳng làm gì.
- Cô biết cháu không thế.
- Chỉ phiền là học nghề gì cũng tốn kém cả. Bây giờ cháu biết tiếng Đức khá giỏi, cháu có thể làm một việc gì đó với thứ tiếng này. Nhưng cháu nghĩ cháu thật sự muốn làm điều dưỡng tại bệnh viện. Cháu thích nghề điều dưỡng và bệnh nhân.
Bà Hopkins nói thẳng thực.
- Cháu phải có sức mạnh như trâu mới được. Phải nhớ thế nhé.
- Cháu khỏe lắm. Cháu thực sự thích nghề điều dưỡng. Em của mẹ cháu, ở Tân Tây Lan đã làm điều dưỡng. Như vậy là nghề này nằm sẵn trong máu cháu, cô thấy đấy.
- Thế còn nghề xoa bóp thì sao? - Bà Hopkins gợi ý - Hay là Norland nhé? Cháu yêu thích trẻ nít. Làm nghề xoa bóp lại nhiều tiền nữa.
Mary hồ nghi nói:
- Học nghề ấy tốn tiền lắm, phải không cô? Cháu mong được thế lắm - nhưng thế là cháu quá tham lam - bà ta đã giúp cháu nhiều rồi.
- Cháu có ý nói đến bà Welman à? Thực vô lý. Theo ý cô, bà ta còn chịu ơn cháu về việc này là đằng khác. Bà ta đã cho cháu học quá bảnh, nhưng chẳng phải là cái học đem lại cho cháu được gì nhiều. Cháu không thích dạy học hay sao?
- Cháu không đủ trí thông minh.
Bà Hopkins nói:
- Trí óc thì có người thế nọ, kẻ thế kia chứ. Mary ạ, nếu cháu theo lời cô khuyên, thì cháu hãy nên kiên trì trong lúc này. Theo ý cô, như cô đã nói đó, bà Welman chịu ơn cháu, nên sẽ giúp cháu bắt đầu việc kiếm kế sinh nhai. Cô tin rằng bà ta có ý muốn làm như vậy. Nhưng thực sự là bà ta yêu thương cháu, bà ta không muốn mất cháu.
Mary nói:
- Ồ! - Nàng thở ra hơi mạnh - Cô có thực nghĩ là như vậy không?
- Về điều ấy cô chẳng nghi ngờ chút nào cả. Bà lão già yếu, hầu như không tự lo liệu nổi, bại nửa người, chẳng có gì, chẳng có ai làm cho vui được mấy nả. Có được một người tươi tắn, trẻ trung như cháu đây quanh quẩn bên mình thì thật là đáng kể nhiều lắm đối với bà ta. Cháu có phần hành tốt đẹp lắm trong phòng bệnh.
Mary nói khẽ.
- Nếu cô thực sự nghĩ thế… làm cho cháu cảm thấy dễ chịu hơn… Cháu rất yêu bà Welman. Bà ta lúc nào cũng tốt bụng đối với cháu. Cháu sẽ làm bất cứ việc gì cho bà.
Bà Hopkins thản nhiên nói:
- Thế thì tốt hơn hết là cháu nên ở lại đây và đừng có thắc mắc nữa. Sẽ chẳng lâu đâu.
Mary nói:
- Cô định nói gì thế…?
Mắt nàng mở to, sợ hãi.
Bà Hopkins nói:
- Kìa, bố cháu đang từ nhà săn đến - và theo cô thì chắc hôm nay ông ta không được vui.
Họ tiến đến gần cổng sắt lớn. Trên những bậc thang của nhà săn, một ông già lưng còng đang khập khiễng khó nhọc leo xuống hai bậc.
Bà Hopkins vui vẻ nói:
- Chào ông Gerrard.
Ephraim Gerrard nói cộc lốc:
- A!
- Tiết trời đẹp lắm - Bà Hopkins nói.
Lão Gerrard cáu kỉnh nói:
- Có lẽ đối với bà thôi, chớ chẳng phải đối với tôi. Tôi đau lưng dữ quá.
Bà Hopkins tươi cười:
- Tôi cho là tại tuần rồi ẩm ướt. Với cái khí hậu khô ráo, nóng bức như thế này, thì chẳng bao lâu sẽ hết sạch cả thôi.
Cử chỉ nhanh nhẹn lành nghề của bà xem chừng làm bực mình lão già.
Lão hậm hực nói:
- Điều dưỡng mới chả điều dưỡng, đều giống nhau tuốt. Cứ hơn hớn trước nỗi buồn phiền của kẻ khác thôi. Chẳng có ý tứ gì! Cả cái con Mary kia nữa, cũng nói làm điều dưỡng. Mình cứ tưởng rằng nó muốn làm cái gì tốt hơn thế chứ, với cái tiếng Pháp, tiếng Đức, cái tài chơi đàn piano và tất cả các môn mà nó học được ở cái trường lớn của nó, và trong các chuyến nó đi du lịch nước ngoài.
Mary nói gay gắt:
- Làm điều dưỡng bệnh viện đối với tôi thế là quá đủ rồi.
- Phải rồi, và chẳng bao lâu nữa cô sẽ chẳng làm gì, phải thế không nào? Rồi cô sẽ khuệnh khoạng, làm bộ làm tịch, làm duyên làm dáng, ra cái vẻ ta đây tiểu thư đài các, chẳng mó tay đến việc gì. Đồ lười chảy thây, cô là thế đó, con gái của tôi ạ.
Mary rưng rưng nước mắt, phản đối:
- Không đúng thế đâu, bố ạ. Bố không có quyền nói con như vậy.
Bà Hopkins với vẻ rầu rầu, hóm hỉnh nói xen vào:
- Chỉ chút xíu thôi, vì thời tiết sáng nay, phải thế không nào? Thực ra ông không có ý định nói thế đâu, ông Gerrard ạ. Mary là cô bé tốt và là con gái ngoan của ông.
Gerrard nham hiểm nhìn con gái nói:
- Bây giờ nó không phải là con gái của tôi - với cái tiếng Pháp của nó, với câu chuyện và lối nói điệu đà màu mè của nó. Chà!
Lão quay ngoắt, đi trở vào nhà săn.
Lệ còn đọng trên mắt. Mary nói:
- Cô xem đấy, biết bao nhiêu khó khăn. Ông ta không biết điều chút nào. Ông chẳng bao giờ ưa cháu ngay cả khi cháu còn bé. Mẹ cháu lúc nào cũng bênh vực cháu.
Bà Hopkins dịu dàng nói:
- Cháu đừng buồn. Những việc ấy là để thử thách ta đó thôi. Trời ơi, cô phải đi gấp đây. Sáng nay mình được một phen.
Đứng trông cái hình dáng mau mắn rút lui ấy, Mary Gerrard thấy mình lẻ loi, nghĩ rằng chẳng có ai là thực sự tốt cả; chẳng ai thực giúp đỡ mình được. Bà Hopkins dù có tử tế chăng nữa, cũng chỉ lấy làm vừa lòng về những lời vô vị cũ nhàm nói ra với cái vẻ mới mẻ mà thôi.
Mary buồn bực nghĩ: “Bây giờ mình phải làm gì đây?”
0
CHƯƠNG 2
 
Bà Welman nằm cẩn thận trên những chiếc gối chồng. Hơi thở hơi nặng nề, nhưng bà không ngủ. Mắt bà vẫn còn sâu thẳm xanh xanh như mắt của cô cháu Elinor, ngước nhìn lên trần nhà. Bà có thân mình to lớn, nặng nề, với dáng nhìn nghiêng đẹp mạnh như diều hâu. Vẻ cao ngạo, cương quyết lộ rõ trên mặt.
Cặp mắt đó đưa thấp xuống rồi tới đặt trên khuôn mặt ngồi bên cửa sổ. Chúng dừng lại đó dịu dàng - gần như khao khát.
Cuối cùng bà nói:
- Này, Mary…
Cô gái ngoảnh mau lại:
- Ồ, bà đã thức, thưa bà Welman.
Bà Laura Welman nói.
- Phải, bà vừa mới tỉnh thôi.
- Thế mà cháu không biết. Lẽ ra cháu phải…
Bà Welman ngắt lời:
- Không sao đâu. Bà vừa nghĩ… nghĩ đến nhiều chuyện.
- Thế ư, thưa bà?
Cái nhìn thân ái, giọng nói quan tâm đem lại vẻ hiều dịu trên khuôn mặt bà già. Bà dịu dàng nói:
- Bà rất thương cháu, cháu ạ. Cháu rất tốt đối với bà.
- Ồ, thưa bà Welman, chính bà mới tốt đối với cháu chứ. Nếu bà không tốt thế, thì cháu không biết cháu phải làm gì. Bà đã làm cho cháu đủ mọi thứ.
- Bà không biết - bà không biết, chắc thế đấy - Bà già bệnh hoạn trăn trở không ngừng, tay phải quằn quại, tay trái cứng đờ không động đậy - Người ta muốn làm hết sức mình, nhưng khó mà biết được thế nào là tốt nhất - thế nào là phải. Bà đã luôn luôn quá tin chắc mình.
Mary Gerrard nói:
- Ồ, không đâu, cháu chắn chắn rằng bà lúc nào cũng biết nên làm gì đó cho tốt, cho phải.
Nhưng bà Laura Welman lắc đầu:
- Không… không thế đâu. Nó làm bà buồn phiền. Bà có một tội lỗi luôn ám ảnh, Mary ạ. Bà kiêu căng. Tính kiêu căng có thể là con ác quỉ. Nó mọc lau trong gia đình bà. Elinor cũng có tính đó.
Mary nói mau:
- Cô Elinor và cậu Rederick xuống đây, thực là tốt cho bà. Bà sẽ khuây khỏa nhiều. Đã khá lâu rồi cô cậu ấy không xuống đây.
Bà Welman nói khẽ.
- Chúng là đứa trẻ ngoan, rất ngoan. Cả hai đứa đều yêu mến bà. Bà luôn biết rằng chỉ cần gọi một cái là chúng đến liền, bất cứ lúc nào. Nhưng bà không muốn gọi đến chúng nhiều quá. Chúng trẻ trung, sung sướng, có cả thế giới ở trước mặt. Chẳng cần đem chúng đến gần cái cảnh suy tàn, đau khổ trước lúc.
Mary nói:
- Cháu chắc chắn rằng không bao giờ cô cậu ấy có cảm nghĩ như vậy đâu, thưa bà Welman.
Bà Welman tiếp tục nói, có lẽ nói với chính mình hơn là nói với cô gái:
- Bà luôn luôn mong mỏi chúng nó lấy nhau. Nhưng bà cố gắng không bao giờ gợi ý về chuyện đó. Bọn trẻ thường trái khuấy lắm. Nếu tỏ ý ra thì chúng sẽ lảng tránh. Cách đây đã lâu, khi chúng còn bé, bà có ý nghĩ rằng Elinor đã đặt tim mình vào Roddy. Nhưng bà chẳng chắc chút nào về y cả. Y có vẻ ngồ ngộ làm sao ấy. Henry là con người như vậy - rất dè dặt và cả ưa chóng chán… Đúng thế, Henty thì…
Bà im lặng một lát, nghĩ đến người chồng đã khuất.
Bà thì thầm nói:
- Cách đây lâu rồi, lâu lắm rồi… Chúng ta mới cưới nhau được năm năm thì ông ta chết. Hai lần viêm phổi… Chúng ta hạnh phúc - đúng thế, rất hạnh phúc; nhưng cái hạnh phúc ấy có vẻ dường như không thực. Ta là một đứa con gái kỳ quặc, nghiêm nghị, tối tăm. Đầu óc dày đặc những lý tưởng và sùng bái anh hùng. Không thực tại.
Mary thì thầm nói:
- Sau đó chắc hẳn bà rất cô đơn.
- Sau cái gì? Ồ, phải rồi - cô đơn khủng khiếp. Hồi đó ta hai mươi sáu - còn bây giờ thì ngoài sáu chục. Một thời gian dài, cháu ạ - một thời gian dài, rất dài. - Bà bỗng chua chát, gay gắt - Và bây giờ thì thế này đây. Phải rồi. Ta sợ nhất là khi bệnh lên cơn. Thực là nhục nhã Người ta rửa ráy, chăm sóc mình như là đứa con nít. Chẳng tự làm lấy cho mình được cái gì hết. Điều đó làm ta đến phát điên lên. Cô O’Brien tính tình rất tốt - ta phải nhận là thế. Ta có bẳn gắt với cô, cô cũng chẳng để tâm; cô ta chẳng ngây ngốc, khờ dại hơn phần đông bọn họ. Thế nhưng vẫn khác rất nhiều với khi có cháu ở bên, cháu Mary ạ.
- Thế ư bà? - Cô gái mặt ửng hồng lên - Cháu, cháu rất lấy làm sung sướng, thưa bà Welman.
Bà Laura Welman sâu sắc nói:
- Cháu băn khoăn lắm phải không? Về tương lai ấy. Cháu cứ để đó cho bà liệu, cháu ạ. Bà sẽ tính sao cho cháu có phương tiện tự lập, có nghề nghiệp đàng hoàng. Nhưng cháu hãy kiên nhẫn một chút - bà rất cần có cháu ở đây.
- Ồ, thưa bà Welman, lẽ dĩ nhiên như thế rồi. Cháu sẽ chẳng khi nào rời xa bà cả. Chẳng khi nào, nếu bà cần cháu.
- Bà rất cần cháu - Giọng nói thâm trầm, chứa chan tình cảm - Cháu, cháu thật giống như là con gái của bà, Mary ạ. Bà đã thấy cháu lớn lên ở đây, ở Hunterbury này, từ khi còn bé bỏng chập chững - đã thấy cháu trở nên cô gái xinh đẹp, bà rất hãnh diện vì cháu. Bà chỉ mong sao làm được gì tốt đẹp nhất cho cháu.
Mary nói mau:
- Nếu bà cho rằng bà đã tốt với cháu, đã giáo dục cháu vượt trên địa vị của cháu, nếu bà nghĩ rằng việc đó không làm cháu vừa lòng hay - hay đã đem đến cho cháu những ý tưởng mà bố cháu bảo là đài các tiểu thư, thì thực không đúng thế đâu. Cháu rất biết ơn bà. Nếu cháu có lo lắng bắt đầu kiếm kế sinh sống, thì chỉ bởi vì cháu cảm thấy rằng đúng là cháu không cần làm gì, sau tất cả những gì bà đã làm cho cháu. Cháu, cháu không thích bị người ta nghĩ rằng ăn bám bà.
Bà Welman giọng bỗng gay gắt.
- Thế ra lão Gerrard đã nhét vào đầu cháu cái ý nghĩ ấy à? Mary ạ, cháu chẳng nên để ý tới bố cháu; không bao giờ và sẽ không bao giờ có chuyện là cháu ăn bám bà cả. Bà sở dĩ yêu cầu cháu ở đây một thời gian nữa, thì đó chỉ là vì bà mà thôi. Chẳng còn bao lâu nữa sẽ qua hết… Nếu cứ để mặc cho tự nhiên, thì đời bà có thể chấm dứt tại đây, bây giờ - chẳng còn phải kéo dài mãi những cái lẩn thẩn, vớ vẩn này với bọn điều dưỡng, bác sĩ.
- Ồ, không đâu, thưa bà Welman, bác sĩ Lord bảo rằng bà còn có thể sống được nhiều năm nữa.
- Cám ơn cháu, bà chẳng lo lắng gì về chuyện đó đâu. Hôm trước bà nói với ông ta rằng phải chi mình ở trong một tình trạng văn minh tử tế, thì bà chỉ cần bảo nhỏ với ông rằng bà mong muốn chấm dứt cuộc đời, thế là ông ta đã kết thúc cho bà một cách không đau đớn bằng một thứ thuốc hay hay nào đó.Bà bảo: “Bác sĩ ạ, nếu ông có can đảm thì ông sẽ làm như vậy”.
Mary nói:
- Ồ, thế ông ta nói gì?
- Cháu ạ, cái chàng trẻ bất kính đó chỉ cười nhăn nhở, bảo rằng anh ta chẳng dại gì mà liều lĩnh để bị treo cổ. Anh ta nói: “Thưa bà Welman, nếu bà để lại cho tôi tất cả tiền của, thì lại khác, cố nhiên rồi!” Cái anh chàng lì lợm, nhưng bà thích anh ta. Những lần anh ta đến thăm còn tốt cho bà hơn là thuốc của anh ta.
- Đúng thế, ông ta rất tử tế - Mary nói - Cô O’Brien để ý đến ông ta rất nhiều, cả bà Hopkins cũng thế.
Bà Welman nói:
- Ở tuổi bà ta, bà Hopkins cần phải hiểu biết hơn mới phải. Còn cái cô O’Brien kia thì mỗi khi chàng ta đến gần là lại cười điệu nói: “Ồ, bác sĩ” rồi hất tung giải mũ lên.
- Cô O’Brien cũng đáng thương.
Bà Welman khoan dung nói:
- Thực ra cô ta không phải là hạng người xấu xa, thế nhưng bọn điều dưỡng thì đứa nào cũng làm cho bà bực mình; họ luôn luôn tưởng rằng mình thích “một ly trà ngon” vào lúc năm giờ sáng…
Bà ngừng lại rồi nói:
- Cái gì thế? Có phải xe không?
Mary trông ra ngoài cửa sổ:
- Đúng rồi, xe tới. Cô Elinor và cậu Roderick đã tới.
 
* * *
0
Bà Welman nói với cháu gái:
- Elinor, cô rất vui về cháu và Roddy.
Elinor mỉm cười:
- Cháu nghĩ cô hẳn phải vui, cô Laura.
Sau một lát ngập ngừng bà nói:
- Cháu quan tâm đến nó lắm phải không, Elinor?
Elinor ngước cặp lông mày thon lên, nói:
- Hẳn thế rồi, thưa cô.
Bà Laura Welman nói mau:
- Cháu thứ lỗi cho cô nhé, cháu. Cháu biết đấy, cháu dè dặt giữ gìn quá. Khó mà biết được cháu cảm nghĩ gì. Lúc hai cháu đều còn nhỏ, cô nghĩ rằng có lẽ cháu đã bắt đầu để ý đến Roddy - để ý quá nhiều.
Cặp lông mày thon của Elinor lại giương lên:
- Quá nhiều ư, thưa cô?
Bà già gật đầu.
- Đúng thế. Để ý nhiều quá thì chẳng phải là khôn ngoan đâu. Thỉnh thoảng bọn gái trẻ thường như vậy… Cô rất vui khi cháu ra nước ngoài, sang Đức để mà chấm dứt. Thế rồi, khi cháu trở về, cháu hình như hoàn toàn thờ ơ đối với nó - thì cô cũng lại chẳng thấy buồn về điều này. Cô là một bà già trái tính trái nết, khó làm vừa lòng. Nhưng lúc nào cô cũng cho rằng cháu có bản tính nồng nhiệt sôi nổi quá - cái tính khí ấy mọc tràn trong gia đình ta. Thực chẳng sung sướng gì lắm cho người có cái tính đó đâu… Nhưng khi cháu từ ngoại quốc trở về, cháu quá hững hờ đối với Roddy, thì cô lại buồn về điều này, vì cô luôn luôn mong mỏi hai cháu sẽ đến với nhau. Bây giờ các cháu như thế này, thế là mọi sự đều ổn cả. Cô hỏi nhé, có thật là cháu quan tâm đến nó không?
Elinor nghiêm trang nói:
- Cháu quan tâm đến Roddy vừa đủ thôi, chớ không quá nhiều.
Bà Welman gật đầu tán thành:
- Thế thì, cô nghĩ cháu sẽ hạnh phúc. Roddy cần tình yêu - nhưng nó không ưa cảm xúc mãnh liệt. Nó sẽ hổ thẹn vì bị khư khư giữ làm của riêng.
Elinor cảm động nói:
- Cô biết Roddy rõ lắm.
Bà Welman nói:
- Nếu Roddy quan tâm đến cháu chỉ hơn cháu đối với nó chút xíu thôi, thì đã là tốt lắm rồi.
Elinor nói lanh lảnh.
- Trên mục “Lời khuyên của cô Agatha” có câu rằng: “Cứ để cho bạn trai phỏng đoán. Chớ để chàng quá chắc về mình”.
Bà Welman nói lanh lảnh:
- Cháu có khổ không cháu? Có gì không ổn không?
- Không, không, không có gì cả.
Bà Welman nói:
- Cháu nghĩ là cô hời hợt lắm, phải không? Cháu ạ, cháu còn trẻ, lại nhạy cảm. Cô e rằng cuộc đời hời hợt, phù phiếm lắm.
Elinor nói hơi chua chát:
- Cháu cũng cho là thế.
Bà Welman nói:
- Cháu khổ lắm sao? Có chuyện gì nào?
- Không, không có gì cả - Nàng đứng lên, đi về phía cửa sổ. Rồi hơi ngoảnh lại nói - Thưa cô Laura, xin cô nói cho cháu biết thực là cô có nghĩ tình yêu là một điều hạnh phúc không?
Mặt bà Welman trở nên trang nghiêm:
- Elinor, theo cái nghĩa mà cháu muốn nói, thì không đâu, có lẽ không đâu. Say mê một kẻ khác thường đem lại nhiều buồn khổ hơn là vui sướng; thế nhưng, Elinorạ, nếu không trải qua thì không thấy đâu. Ai mà chưa hề thực sự yêu thì chưa bao giờ thực sự sống.
Cô gái gật đầu nói:
- Đúng thế, cô đã từng biết cái đó nó như thế nào rồi.
Nàng chợt quay lại đưa mắt dò hỏi:
- Thưa cô Laura…
Cửa mở ra, cô điều dưỡng O’Brien tóc đỏ bước vào, vui vẻ nói:
- Thưa bà Welman, có bác sĩ đến thăm.
Bác sĩ Lord là một chàng trai trạc 32 tuổi, mái tóc hung hung, mặt tươi tắn đầy tàn nhang, hàm vuông đặc biệt, mắt xanh nhạt sắc sảo.
- Chào bà Welman - chàng nói.
- Chào bác sĩ Lord. Xin giới thiệu đây là cháu gái tôi, Carlisle.
Một vẻ hâm mộ hiện rõ trên khuôn mặt thanh khiết của bác sĩ Lord. Chàng nói:
- Chào cô.
Bàn tay Elinorgiơ ra, chàng nắm lấy rụt rè tưởng chừng như có thể làm bàn tay tan vỡ.
Bà Welman nói tiếp:
- Elinor và thằng cháu tôi đã tới để cho tôi được khuây khỏa.
- Thực tuyệt vời - bác sĩ Lord nói - Bà đang cần thế. Thưa bà Welman, tôi chắc chắn rằng việc này sẽ rất tốt cho bà.
Chàng vẫn nhìn Elinor với vẻ hâm mộ lộ rõ.
Elinor tiến ra cửa nói:
- Thưa bác sĩ Lord, có lẽ tôi sẽ gặp ông trước khi ông đi.
- Ồ, vâng, thưa vâng ạ.
Nàng khép cửa lại, đi ra.
 
* * *
0
Bác sĩ Lord bước đến giưởng; cô O’Brien ở đằng sau chàng, có vẻ xốn xang, xao xuyến.
Bà Welman nháy mắt nói:
- Bây giờ lại phải chịu đựng bao nhiêu cái mánh lới thường lệ: nhịp mạch, hơi thở, nhiệt độ, phải thế không, bác sĩ? Bác sĩ các ông chúa là hay bịp.
Cô O’Brien thở dài nói:
- Ồ, bà Welman. Ai lại nói thế với bác sĩ chứ!
Bác sĩ Lord nhăn mặt nói:
- Bà Welman thấy rõ cả tim gan tôi, cô điều dưỡng ạ. Dù sao, thưa bà Welman, tôi cũng cứ phải làm cái trò lẩm cẩm này. Phiền một nỗi là tôi chưa hề học được cách chăm sóc người bệnh thế nào cho phải.
- Cái cách của ông như vậy là được lắm rồi. Đúng là ông phải tự hào.
Sau mấy câu hỏi đáp theo thông lệ, bác sĩ Lord ngồi xuống ghế, mỉm cười nói với người bệnh.
- Được lắm, bà khá lắm rồi.
Bà Welman nói:
- Thế thì trong vài tuần nữa, tôi có thể dậy đi quanh nhà được không?
- Chưa được, chưa mau thế được.
- Thực thế à? Ông xạo lắm! Cứ nằm ườn như thế này, cho người ta chăm sóc như đứa trẻ nít, thì sống có tốt đẹp gì?
Bác sĩ Lord nói:
- Thế nào là cái tốt đẹp của cuộc đời? Đó là câu hỏi thực. Bà có đọc về một thứ phát minh thú vị của thời trung cổ, về cái lồng có tên là “Thoải mái đôi chút” không? Trong cái lồng ấy, người ta không thể nào đứng, ngồi hay nằm. Chắc bà nghĩ rằng bất cứ ai bị giam hãm trong đó chỉ vài tuần thôi, tất sẽ phải chết. Không đúng thế đâu. Một người sống mười sáu năm trường trong cái lồng sắt đó, được thả ra rồi, vẫn còn sống rất khỏe mạnh đến lúc già.
Bà Welman nói:
- Câu chuyện ấy muốn nói gì thế?
Peter Lord nói:
- Muốn nói rằng người ta có bản năng sinh sống. Người ta không sống bởi vì lý trí mình ưng thuận sống. Kẻ nào nói “thà chết thì hơn”, họ không muốn chết đâu! Có những người xem ra có đủ mọi cái để vì đó mà sống, thế mà lại chán chường cuộc sống, chẳng qua vì họ không có nghị lực phấn đấu đó thôi.
- Ông cứ nói tiếp đi.
- Không có gì thêm nữa. Bà là một trong số những người thực sự muốn sống, dù cho bà có nói gì chăng nữa. Và nếu thể xác bà muốn sống, mà đầu óc bà lại gạt phắt cái trò lẩm cẩm kia đi, thì chẳng hay gì.
Bà Welman chợt nói sang chuyện khác:
- Ông có thích ở đây không?
Peter Lord mỉm cười nói:
- Đây hợp với tôi lắm.
- Trẻ tuổi như ông, có thấy ở đây chán ngắt không? Ông muốn theo chuyên khoa không? Làm bác sĩ đa khoa ở miền quê, có tẻ nhạt lắm không?
Lord lúc lắc mái đầu hung hung.
- Không, tôi thích việc tôi đang làm. Bà biết đấy, tôi thích người bình dân, tôi thích những bệnh tật thông thường hàng ngày. Tôi thật sự không muốn ghim bắt cái con vi khuẩn hiếm thấy của một chứng bệnh bí hiểm. Tôi thích bệnh sởi, bệnh thủy đậu và tất cả những bệnh như vậy. Tôi thích xem xét các cơ thể khác nhau có phản ứng đối với chúng như thế nào. Tôi thích xem xét mình có thể cải thiện cách điều trị đã được thừa nhận hay không. Cái phiền một điều là tôi không có chút tham vọng nào cả. Tôi sẽ ở đây cho đến khi râu mọc dài và người ta bắt đầu nói: “Hẳn thế rồi, chúng ta vẫn có bác sĩ Lord, ông già ấy tử tế lắm; thế nhưng cách chữa của ông ta lạc hậu lắm rồi, có lẽ chúng ta nên mời cái ông trẻ tuổi kia, ông ta mới hiện đại”.
- Hừm - bà Welman nói - Ông nói cứ như là mở máy ghi âm vậy.
Peter Lord đứng dậy nói:
- Thôi, tôi phải đi đây.
Bà Welman nói:
- Cháu gái tôi muốn được nói với ông. Tiện đây xin hỏi ông, ông nghĩ về cháu tôi ra sao? Trước đây ông chưa hề gặp nó.
Bác sĩ Lord chợt bừng đỏ mặt, cả đến lông mày cũng ửng hồng lên.
- Tôi ư… Ồ! Cô cháu bà xinh đẹp lắm, mà… mà lại thông minh nữa.
Bà Welman nghĩ sang chuyện khác. Bà nghĩ thầm. “Ông ta còn trẻ trung, thực thế”. Rồi lớn tiếng nói.
- Ông cần phải cưới vợ mới được.
 
* * *
0
Roddy đi thơ thẩn trong vườn. Chàng băng qua bãi cỏ rộng, đi dọc theo một lối nhỏ lát đá rồi vào trong khu vườn rau có tường bao quanh. Vườn này được trồng trọt và giữ gìn gọn ghẽ. Chàng tự hỏi rồi đây mình và Elinor có ở Hunterbury không. Chàng nghĩ rồi sẽ như vậy. Chàng thích thế. Chàng ưa cuộc sống đồng quê. Chàng hoài nghi đôi chút về Elinor. Có lẽ nàng thích sống ở London hơn.
Hơi khó mà biết mình ở đâu với Elinor. Nàng không thổ lộ nhiều nàng cảm nghĩ như thế nào về mọi chuyện. Chàng thích nàng về điểm này. Chàng không ưa những kẻ mở tung ý nghĩ và tình cảm, những kẻ cho rằng người khác muốn biết tất cả cái cơ chế nội tâm của họ. Tính dè dặt giữ gìn thì bao giờ cũng nhiều thú vị hơn.
Chàng nhận thấy Elinor thực là hoàn hảo. Nàng không làm cho ai phải bực mình, mất lòng. Người ta cảm thấy thích thú khi ngắm nàng, nghe nàng nói năng dí dỏm. Tóm lại nàng là người bạn đời khả ái nhất.
Chàng tự đắc nghĩ thầm: “Ta thật may mắn lắm mới có được nàng. Chẳng hiểu nàng thấy gì ở một kẻ tầm thường như mình”.
Bởi vì Roderick Welman mặc dù hay cả ưa chóng chán, nhưng không có tính tự cao tự đại. Chàng thực lấy làm lạ vì sao Elinor lại ưng thuận kết hôn với mình.
Cuộc đời trải rộng ra ở trước chàng khá êm đềm đẹp đẽ. Biết rõ mình đang ở đâu, điều đó bao giờ cũng là một sự may mắn. Chàng nghĩ Elinor và chàng sẽ thành hôn sớm. Nếu Elinor muốn thế, cũng có lẽ nàng muốn để chậm lại đôi chút. Không nên hối thúc nàng. Ban đầu sẽ gay go đấy. Nhưng chẳng có gì cần băn khoăn cả. Chàng thành thực mong ước cô Laura sẽ còn sống lâu. Bà là người thân yêu, luôn luôn tốt với chàng, kêu chàng đến ở đây trong những kỳ nghỉ, và luôn luôn quan tâm đến những việc chàng làm.
Chàng không còn nghĩ đến cái chết hiện thời của bà nữa (trí óc chàng thường thoát ra khỏi bất cứ sự phiền muộn cụ thể nào). Chàng không thích hình dunh quá rõ rệt một nỗi buồn phiền nào cả. Ừ nhỉ, rồi mình sẽ rất thoải mái sống ở đây, nhất là mình sẽ có nhiều tiền để được như vậy. Chàng tự hỏi không biết cô mình đã để lại tài sản như thế nào. Thật ra điều đó chẳng quan hệ gì. Đàn bà thường lưu tâm đến vấn đề tiền của để lại sẽ thuộc về vợ hay chồng. Nhưng Elinor thì không thế. Nàng rất tế nhị, chẳng để ý nhiều đến việc tiền bạc.
Chàng nghĩ “Không, chẳng có gì đáng băn khoăn cả - dù có điều gì xảy ra”.
Chàng ra khỏi khu vườn rau qua cái cổng ở phía cuối. Từ đó chàng thơ thẩn đi vào khu rừng nhỏ có thủy tiên trổ bông. Cố nhiên bây giờ đã hết rồi. Nhưng ánh nắng xuyên qua rặng cây còn tỏa ra màu sáng xanh rất đẹp.
Đúng lúc ấy chàng chợt thấy một nỗi bồn chồn kỳ lạ - niềm xao xuyến êm dịu trước kia. Chàng cảm thấy, có một cái gì - một cái gì mà mình chưa từng thấy - một cái gì mà mình muố, mình muốn…
Làn sáng xanh vàng rực, bầu không khí êm đềm - cùng với chúng là nhịp mạch rộn ràng, là luồng máu xao động, là sự nôn nóng bất ngờ.
Một cô gái đi xuyên qua hàng cây tiến lại phía chàng - cô gái có mái tóc nhợt nhạt và làn da ửng hồng.
Chàng nghĩ, “Đẹp ơi là đẹp, đẹp khó tả xiết!”
Có một cái gì nắm chặt lấy chàng; chàng đứng lặng yên, như thể tê cóng bất động. Chàng cảm thấy trái đất chợt quay cuồng đảo lộn, say sưa chuếnh choáng khác thường!
Cô gái bỗng dừng, rồi tiếp tục bước. Nàng tiến đến chàng đang đứng im lặng sửng sốt.
Nàng hơi ngập ngừng nói:
- Cậu có nhớ ra tôi không, cậu Roderick? Đã lâu lắm rồi mà. Tôi là Mary Gerrard, ở khu nhà săn.
Roddy nói:
- Ồ, ồ - thế ra cô là Mary Gerrard?
Nàng nói:
- Dạ.
Rồi rụt rè nói tiếp:
- Cố nhiên tôi đã thay đổi nhiều, kể từ khi cậu gặp tôi.
Chàng nói:
- Đúng rồi, cô đã thay đổi nhiều. Tôi không nhận ra cô nữa.
Chàng đăm đăm nhìn nàng, không nghe thấy tiếng bước chân đi ở phía sau. Mary nghe thấy, liền ngoảnh lại.
Elinor đứng im một lát, rồi nói:
- Chào Mary.
- Chào cô Elinor. Rất mừng được gặp cô. Bà Welman mong cô xuống lắm.
Elinor nói:
- Phải, đã khá lâu rồi. Cô O’Brien bảo tôi đi kiếm cô. Cô ta muốn đỡ bà Welman dậy; cô ta nói em vẫn thường làm việc đó với cô.
Mary nói:
- Em tới ngay bây giờ.
Nàng dời bước, bổ nhào chạy đi. Elinor trông theo. Mary chạy lẹ làng uyển chuyển, duyên dáng trong từng cử động.
Roddy nói khẽ:
- Atalanta (tên cô gái đẹp chạy rất giỏi trong truyền thuyết Hy Lạp).
Elinor không đáp. Nàng lặng thinh vài phút, rồi nói:
- Gần đến bữa trưa rồi. Ta nên về thôi.
Hai người đi bên cạnh nhau tiến về phía nhà.
 
* * *
0
- Ồ! Lại đây, Mary. Đang chiếu một phim vĩ đại - về Paris. Truyện của một tác giả bảnh lắm, đã từng được làm ô-pê-ra.
- Anh rất tử tế, anh Ted ạ, nhưng tôi thực không muốn đi xem.
Rted Bigland tức giận nói:
- Bây giờ tôi chẳng thể nào mời được cô, cô Mary. Cô khác lắm, khác trước nhiều lắm.
- Không, không phải vậy đâu, anh Ted.
- Cô khác hẳn trước. Tôi cho là cô đi xa học cái trường lớn ấy ở Đức. Bây giờ cô hơn đứt chúng tôi rồi.
- Không phải thế, anh Ted ạ. Tôi không như vậy đâu - nàng sôi nổi nói.
Chàng trai rắn rỏi, cường tráng mặc dầu tức giận, ngắm nàng đánh giá:
- Phải, cô khác trước. Cô hầu như một tiểu thư vậy, cô Mary.
Mary hơi chua chát nói:
- Hầu như thì chẳng hay lắm đâu, phải thế không nào?
Chàng chợt thông cảm nói:
- Không, tôi nghĩ không phải thế.
Mary nói mau:
- Dù sao, bây giờ thì còn ai để ý đến cái đó nữa? Tiểu thư với công tử, và tất cả những cái như thế.
- Phải rồi, chẳng còn quan hệ như trước - Ted tán thành, nhưng trầm ngâm nói - Dù sao đi nữa, vẫn còn có một cảm nghĩ. Lạy Chúa, này cô Mary, cô trông giống như một bà bá tước vậy.
Mary nói:
- Cái đó chẳng có nghĩa gì lắm đâu. Tôi đã từng thấy có những bà bá tước trông hệt như những con mụ quần áo rách tã.
- Ừ, cô biết tôi muốn nói gì rồi.
Một hình dáng oai nghiêm, đồ xộ, bận đồ đen bảnh bao, đi xông tới chỗ hai người. Mắt liếc nhìn họ sắc bén.
Ted chệch sang bên mấy bước, nói:
- Chào bà Bishop.
Bà Bishop yểu điệu nghiêng đầu nói:
- Chào Ted Bigland, chào Mary.
Bà lướt qua rất mau, như con thuyền buồm lộng gió.
Ted kín cẩn trông theo bà.
Mary thầm nói:
- Bà ta thật giống hệt một bà công tước.
- Ừ, bà ta trông bề thế lắm, luôn luôn làm cho tôi có cảm giác nóng bỏng ở bên trong cổ áo.
Mary chậm rãi nói:
- Bà ta không ưa tôi.
- Cô nói vô lý lắm.
- Đúng thế đấy. Bà ta không ưa tôi. Lúc nào bà ta cũng cáu kỉnh với tôi.
- Bà ta ghe đó - Ted gật đầu, ra vẻ ta đây khôn ngoan - Tất cả chỉ là thế thôi.
Mary ngờ vực nói:
- Tôi nghĩ có thể là như thế.
- Đúng là thế đấy, chỉ là vì thế. Bao nhiêu năm nay bà ta làm quản gia ở Hunterbury, cầm đầu, sai phái mọi người, mà bây giờ cái bà già Welman kia lại ưa thích cô, thế là bà ta phải cáu! Tất cả là thế.
Vẻ băn khoăn thoáng hiện trên trán, Mary nói:
- Tôi ngu ngốc quá, nhưng tôi không sao chịu nổi khi thấy có người nào không ưa mình. Tôi muốn ai cũng thích tôi.
- Chắc chắn là đàn bà chẳng ưa gì cô, cô Mary ạ. Họ ghen tức vì nghĩ rằng cô quá xinh đẹp.
Mary nói:
- Tôi nghĩ ghen ghét là một thói khủng khiếp.
Ted chậm rãi nói:
- Có thể là như vậy - thế nhưng nó vẫn cứ có đó. À, tuần trước tôi xem một phim hay lắm ở Alledore. Clark Gable đóng. Truyện kể về một gã triệu phú bỏ lơ vợ rồi bị cô vợ giả đò trả đũa. Lại còn có một gã khác…
Mary chuyển bước nói:
- Rất tiếc, anh Ted ạ. Tôi phải đi đây, Trễ rồi.
- Bây giờ cô đi đâu?
- Tôi đến uống trà với bà điều dưỡng Hopkins.
Ted nhăn mặt nói:
- Thú gì mà kỳ cục vậy. Bà ta là con mụ lắm điều nhất làng này. Chõ cái mũi dài vào đủ mọi thứ chuyện.
Mary nói:
- Bà ta luôn luôn tử tế với tôi.
- Ồ, tôi không nói bà ta có gì tệ hại. Nhung bà ta lắm mồm quá.
Mary nói:
- Thôi, chào anh Ted.
Nàng vội vàng bước đi, để lại anh chàng đứng trông theo bực tức.
 
* * *
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-05-24 03:54:28HanAn>
Bà điều dưỡng Hopkins ở trong một túp nhà nhỏ tận cuối làng. Lúc Mary tới, thì bà vừa mới về và đang cởi giải mũ.
- À, cháu đây rồi. Cô về hơi trễ. Bà lão Caldecott lại trở bệnh. Đến phiên cô phải băng bó, nên về chậm. Cô trông thấy cháu đứng với Ted Bigland ở cuối đường.
Bà Hopkins nhanh nhẹn ngước lên đốt bếp ga dưới ấm nước.
Bà nheo mũi nói:
- Anh ta có gì đặc biệt với cháu không?
- Không. Anh ta chỉ mời cháu đi xem chiếu bóng.
- Cô thấy rồi - bà Hopkins nói liền ngay - Cố nhiên anh ta là một chàng trẻ ngoan, làm việc ở ga-ra cũng không tồi lắm, cha anh lại là nhà nông giỏi nhất vùng này. Dù sao, cháu ạ, hình như cháu không phải là để làm vợ Ted Bigland đâu. Cháu trí thức như thế thì làm vợ anh ta làm sao được. Nếu là cháu thì rồi đây cô sẽ đi học nghề xoa bóp. Cháu sẽ được đi đó đi đây, được gặp gỡ nhiều người, và thời giờ thì dù ít hay nhiều cũng là của riêng mình.
Mary nói:
- Cháu sẽ ngẫm nghĩ việc này. Hôm trước bà Welman có nói với cháu. Đối với việc này bà rất nhiệt thành. Đứng là là cô nói vậy. Bà không muốn cháu đi xa ngay lúc này. Bà nói bà rất nhớ cháu. Thế nhưng bà bảo cháu không cần phải lo lắng về tương lai, bà sẽ giúp cháu.
Bà Hopkins hoài nghi nói:
- Mong sao bà ta đã viết xuống bằng giấy trắng, mực đen. Người bệnh thì kỳ quặc lắm.
Mary hỏi:
- Cô có nghĩ là bà Bishop thực sự ghét cháu không - hay chỉ là cháu tưởng tượng ra thế?
Bà Hopkins nghĩ ngợi một lát rồi nói:
- Cô phải nhận là bà ta có vẻ mặt ủ rầu. Bà ta là một trong số những người không thích thấy bọn trẻ vui chơi, cũng không thích làm gì cho họ. Có lẽ bà ta cho rằng bà Welman hơi quá yêu mến cháu, vì thế bực mình.
Bà vui vẻ cười:
- Nếu là cháu thì cô chẳng cần băn khoăn, Mary ạ. Cháu mở bao giấy ra đi, có một cặp bánh rán trong đó đấy.
0
CHƯƠNG 3
 
Đêm qua cô của cô đã lên cơn bệnh lần thứ hai. Không có lo ngại tức thì, nhưng đề nghị cô xuống ngay nếu có thể được. Lord.
Ngay khi nhận được điện tín của Lord, Elinor gọi dây nói cho Roddy; bây giờ họ đang ở trên xe lửa đi đến Hunterbury.
Trong tuần sau lần xuống thăm trước, Elinor không mấy khi gặp Roddy. Trong hai dịp ngắn ngủi gặp nhau, họ có thái độ gượng gạo lạ lùng. Roddy đã gửi hoa đến tặng nàng - một bó hồng to dài nhánh. Đó là một việc khác thường, về phía chàng. Trong bữa ăn chung, chàng cũng hình như quan tâm hơn thường lệ: nào hỏi nàng thích ăn gì uống gì hơn, nào giúp nàng cởi, khoác áo choàng quá mức sốt sắng. Elionor nghĩ, hơi có vẻ như là chàng ta đang đóng kịch - đóng vai một vị hôn phu say đắm.
Rồi nàng đã tự nhủ thầm: “Chớ có ngốc như vậy. Có gì sai trái đâu nào. Chỉ tại mình tưởng tượng. Đầu óc mình sao mà ủ ê, tồi tệ, cứ muốn giữ làm của riêng”.
Đối với chàng có lẽ nàng đã hơi xa rời, cách biệt hơn lúc thường.
Giờ đây, trong cơ khẩn cấp đột ngột, sự gượng gạo qua đi, họ trò chuyện với nhau khá tự nhiên.
Roddy nói.
- Thương cho bà lão quá. Hôm trước mình gặp, bà còn kha khá.
Elinor nói:
- Em rất lo cho bà. Em biết bà rất sợ bệnh; bây giờ còn bại liệt hơn, chắc bà bực mình lắm! Anh Roddy ạ, nhiều người có cảm nghĩ là người ta cần được giải thoát - nếu họ thật sự muốn thế.
Roddy nói.
- Anh đồng ý với em. Đó là một việc văn minh nên làm. Mình làm cho con vật thoát khỏi đau khổ. Anh cho rằng người ta sỡ dĩ không làm như thế đối với con người chỉ là vì con người có thể bị bà con thân thuộc vì tiền của họ mà tống khứ họ đi - có lẽ ngay cả khi họ chẳng thật sự bệnh hoạn.
Elinor trầm ngâm nói.
- Chắc là phải do tay bác sĩ chứ.
- Bác sĩ cũng có thể là một tên ác ôn.
- Mình có thể tin cậy một người như bác sĩ Lord được.
Roddy lơ là nói:
- Đúng thế, ông ta có vẻ là người thẳng thắn, tử tế.
 
* * *
0
Bác sĩ Lord cúi xuống giường, cô điều dưỡng O’Brien lởn vởn phía sau chàng. Trán nhăn nhíu, chàng cố nghe những tiếng lắp bắp thốt ra từ miệng người bệnh.
Chàng nói.
- Dạ, dạ… xin bà chớ kích động. Còn nhiều thời gian chán. Lúc nào bà muốn nói là đúng, thì giơ tay phải lên đôi chút. Bà có điều gì băn khoăn nào?
Bà tỏ dấu hiểu ý.
- Có điều gì cần gấp, phải không? Dạ. Bà muốn người ta làm điều gì? Bà muốn gọi ai thế? Cô Carlis;e, phải không? Hay ông Welman? Cô cậu ấy đang tới đây.
Bà Welman lại lắp bắp cố nói. Bác sĩ Lord chăm chú nghe.
- Bà muốn cô cậu đó tới, nhưng không phải thế à? Một người nào khác? Một người bà con? Không phải thế ư? Công việc làm ăn à? Tôi thấy rồi. Có phải về chuyện tiền nong không? Luật sư ư? Thôi đúng rồi, phải thế không? Bà muốn gặp luật sư phải không? Muốn dặn ông ta điều gì à?
- Bây giờ, bây giờ thì… được rồi. Xin bà bình tĩnh. Có nhiều thời gian mà. Bà nói gì thế - cô Elinor ư? - Chàng nghe thấy cái tên gọi tắt - Cô ta biết luật sư nào rồi chứ? Cô sẽ thu xếp với ông ta? Tốt lắm. Khoảng nửa tiếng nữa cô ta sẽ tới đây. Tôi sẽ bảo cô ý bà muốn gì, tôi sẽ cùng đi với cô ta, lo liệu việc đó ngay. Thôi nhé, bà đừng băn khoăn gì nữa. Cứ để mọi chuyện mặc tôi. Tôi sẽ lo liệu các việc làm theo đúng ý bà.
Chàng dừng lại một lát trông bà nghỉ ngơi, rồi mới lặng lẽ đi ra phía đầu cầu thang. Cô O’Brien bước theo. Lúc ấy bà Hopkins vừa lên tới cầu thang. Chàng hướng về phía bà gật đầu.
Bà Hopkins thở hổn hể nói:
- Chào bác sĩ.
- Chào bà.
Chàng cùng hai người vào phòng cô O’Brien ở bên cạnh, rồi dặn dò. Bà Hopkins sẽ ở lại đêm, phụ trách công việc với cô O’Brien.
- Ngày mai tôi sẽ kiếm thêm một cô điều dưỡng nội trú nữa. Rầy rà quá: bênh bạch hầu lan truyền ở vùng Stamford, vì thế phòng điều dưỡng thiếu người.
Lời dặn của chàng được chú ý nghe một cách kín cẩn (điều này đôi khi làm cho chàng ngột ngạt). Dặn dò xong, bác sĩ Lord đi xuống nhà, đợi đón hai cháu bà Welman sắp tới nơi.
Trong phòng đợi chàng gặp Mary Gerrard mặt nhợt nhạt, lo lắng. Nàng hỏi:
- Bà có bớt không?
Bác sĩ Lord nói:
- Tôi có thể giúp bà ta có được một đêm yên lành - chỉ có thể làm được vậy thôi.
Mary nói lắp bắp:
- Có vẻ tàn nhẫn quá, chẳng tốt chút nào…
Chàng gật đầu biểu đồng tình:
- Đúng thế, đôi khi có vẻ như vậy. Tôi cho là… - Chàng nói lớn - Xe tới rồi.
Chàng bước ra. Mary chạy lên lầu.
Elinor vào phòng khách, nói to.
- Cô tôi có bệnh lắm không?
Roddy trông có vẻ nhợt nhạt, lo âu.
Bác sĩ trầm trọng nói:
- Tôi e rằng tin này sẽ làm cô sửng sốt. Bà ta bị bại liệt nặng. Lời nói hầu như không còn nhận ra nổi. Tiện đây xin nói cô biết, chắc chắn là bà ta băn khoăn về điều gì đó. Có liên hệ đến việc mời luật sư. Cô Carlisle, cô có biết ông ta là ai không?
Elionor nói mau:
- Đó là ông Seddon, ở quảng trường Bloomsbury. Nhưng chiều nay vào giờ này chắc ông ta không có ở nhà; tôi lại không rõ địa chỉ của ông ta.
Bác sĩ Lord nói trấn an:
- Ngày mai còn có nhiều thời giờ. Tôi phải liệu làm cho đầu óc bà Welman được nghỉ ngơi càng sớm càng tốt. Cô Carlisle, lúc này nếu cô cùng lên với tôi, tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ có thể cùng nhau làm cho bà ta bình tĩnh lại.
- Tôi sẽ lên ngay bây giờ.
Roddy đầy hy vọng nói.
- Thế ông không cần đến tôi sao?
Chàng tự cảm thấy thẹn thẹn, nhưng chàng rất sợ phải lên phòng bệnh, phải trông thấy cô Laura nằm đấy bại liệt, cứng đơ.
Bác sĩ Lord vội trấn an chàng.
- Không cần chút nào đâu, ông Welman ạ. Không có quá nhiều người ở trong phòng thì tốt hơn.
Roddy lộ rõ vẻ yên tâm.
Bác sĩ Lord cùng Elinor đi lên lầu. Cô O’Brien đang ở cạnh bệnh nhân.
Bà Laura Welman nằm thở phì phào, như đang trong cơn hôn mê. Elinor cúi nhìn bà, sửng sốt vì thấy khuôn mặt nhăn nheo rúm ró.
Bỗng nhiên mi mắt phải của bà hơi rung lên, rồi mở ra. Khi nhận ra Elinor, mặt bà hơi biến đổi. Bà cố gắng nói.
- Elinor ơi…
Tiếng đó chắc hẳn vô nghĩa đối với ai không đoán ra bà muốn nói gì.
Elinor nói mau.
- Cháu đây, cô Laura ạ. Cô băn khoăn điều gì, phải không? Có phải cô muốn cháu cho mời ông Seddon không?
Một tiếng khàn khàn nữa vang lên. Elinor đoán ra ý nghĩa, liền nói.
- Mary Gerrard, phải không cô?
Bàn tay phải lắc lư chậm chậm tỏ ý tán thành.
Từ môi bà già bệnh hoạn thốt ra một tiếng lào phào. Bác sĩ Lord và Elinor nhăn mặt, không hiểu. Tiếng đó nhắc đi nhắc lại nhiều lần, thế rồi Elinor bắt được một tiếng.
- Điều khoản? Cô muốn đặt một điều khoản cho cô ta vào trong di chúc của cô, phải không? Cô muốn cô ta có được một số tiền, phải không? Cháu rõ rồi, cô Laura ạ. Việc đó sẽ đơn giản thôi. Ngày mai ông Seddon sẽ xuống đây; mọi sự sẽ được thu xếp ổn thỏa đúng như cô muốn.
Bệnh nhân hình như trút được gánh nặng. Cái nhìn lo lắng phai nhòa đi trên con mắt cầu khẩn van lơn. Elinor nắm lấy tay bà, cảm thấy các ngón tay xiết nhẹ yếu ớt.
Bà Welman cố sức nói.
- Cháu… tất cả… cháu…
Elinor nói:
- Dạ, dạ, cô để tất cả mọi việc đó cho cháu. Cháu sẽ lo liệu sao cho mọi chuyện làm đúng theo ý cô.
Nàng lại cảm thấy các ngón tay xiết nhẹ. Rồi buông lỏng ra. Mi mắt sụp xuống, khép lại.
Bác sĩ Lord đặt bàn tay lên cánh tay của Elinor, nhẹ nhàng kéo nàng ra khỏi phòng. Cô O’Brien lại đến ngồi cạnh giường.
Trên đầu cầu thang bên ngoài Mary Gerrard đang nói chuyện với bà Hopkins. Nàng xô lên phía trước.
- Ồ, bác sĩ Lord, xin làm ơn cho tôi vào chỗ bà.
Chàng gật đầu.
- Cô phải giữ im lặng, không nên làm rộn bà ta.
Mary bước vào phòng bệnh.
Bác sĩ Lord nói.
- Chuyến tàu của cô đã bị trễ. Cô… - Chàng dừng lại.
Elinor đã ngoảnh đầu trông theo Mary. Bỗng nhiên nàng nhận thấy sự im lặng đột ngột của chàng. Nàng quay lại nhìn chàng dò hỏi. Chàng đang nhìn nàng, vẻ ngạc nhiên thoáng hiện trên mặt. Màu hồng ửng lên trên má Elinor.
Nàng nói vội vàng.
- Xin ông thứ lỗi. Ông đã nói gì vậy?
Peter Lord chậm rãi nói:
- Tôi đã nói gì ư? Tôi không nhớ nữa. Cô Carlisle ạ, ở trong đó cô thật tuyệt vời. - Chàng niềm nở - Cô hiểu mau này, cô biết làm yên lòng này, cô có đủ mọi đức tính.
Có tiếng hít hà nhẹ nhẹ từ bà Hopkins phát ra.
Elinor nói.
- Trông thấy cô tôi như vậy, tôi thấy tội nghiệp quá.
- Cố nhiên rồi. Nhưng cô không tỏ lộ ra. Hẳn là cô giỏi tự kiềm chế lắm.
Elinor mím thẳng môi nói.
- Tôi đã tập không… bộc lộ tình cảm của mình.
Bác sĩ khoan thai nói.
- Dù sao thì cái mặt nạ thỉnh thoảng cũng tuột ra.
Bà Hopkins hối hả đi vào phòng tắm. Elinor ngước cặp mày thon nhạt nhìn thẳng chàng nói:
- Cái mặt nạ ư?
Bác sĩ nói:
- Dù sao thì khuôn mặt người ta cũng chỉ là một cái mặt nạ không hơn không kém.
- Còn bên dưới nó thì là cái gì?
- Bên dưới nó là một người đàn ông hay đàn bà nguyên thủy.
Ngàng quay ngoắt đi, bước xuống nhà. Peter Lord đi theo, cực kỳ bối rối nghiêm trọng.
Roddy bước vào phòng đợi gặp họ.
- Thế nào? - Chàng lo lắng hỏi.
Elinor nói.
- Trông cô như vậy, thật rầu quá. Anh Roddy ạ, đáng lẽ em không nên ra, mà phải đợi cho đến khi… đến khi nào cô hỏi đến anh.
Roddy hỏi.
- Thế cô có muốn điều gì - đặc biệt không?
Peter Lord nói với Elinor.
- Bây giờ tôi phải về. Trong lúc này tôi không làm gì hơn được nữa. Ngày mai tôi sẽ đến thăm sớm. Chào cô Carlisle. Xin cô đừng… đừng lo lắng nhiều quá.
Chàng nắm tay nàng một lát lâu. Chàng cảm thấy cái xiết tay ấy trấn tĩnh và thoải mái lạ lùng. Elinor nghĩ, chàng ta nhìn mình sao kỳ dị thế, như thể - như thể chàng buồn tiếc cho mình.
Khi cửa khép lại phía sau bác sĩ, Roddy nhắc lại câu hỏi trước.
Elinor nói.
- Cô Laura lo lắng về… về một số công chuyện làm ăn. Em phải trấn an cô, nói với cô rằng ngày mai chắc chắn ông Seddon sẽ xuống đây. Trước hết, chúng mình cần phải gọi dây nói cho ông ta.
Roddy hỏi.
- Cô ta có muốn làm di chúc mới không?
Elinor đáp.
- Cô không bảo vậy.
- Thế cô ta…?
Chàng ngưng bặt ở nửa chừng câu hỏi.
Mary Gerrard chạy xuống cầu thang. Nàng băng qua phòng đợi rồi mất hút qua cái cửa thông vào khu nhà bếp.
Elinor gay gắt nói.
- Thế nào? Anh muốn hỏi gì nào?
Roddy nói mơ hồ.
- Anh ư… gì thế nhỉ? Anh quên mất rồi.
Chàng đăm đăm nhìn về phía cửa mà Mary Gerrard vừa chạy qua.
Tay Elinor nắm chặt lại. Nàng cảm thấy được những móng dài nhọn cắn sâu vào lòng bàn tay. Nàng nghĩ, “Mình không chịu nổi nữa - Mình không chịu nổi nữa. Đó chẳng phải là tưởng tượng - mà là thực đấy. Roddy - Roddy, em không thể mất anh được”.
Rồi nàng lại nghĩ. “Cái anh chàng kia - chàng bác sĩ ấy - đã trông thấy gì trên mặt mình ở trên lầu nhỉ? Anh ta đã trông thấy cái gì rồi… Ồ, lạy Chúa, cuộc đời khủng khiếp biết bao - như mình cảm thấy lúc này. Hãy nói cái gì đi, con ngốc kia! Hãy hòa hợp với nhau đi!”
Với giọng bình thản, nàng lên tiếng nói:
- Này anh Roddy, em không đói lắm. Em sẽ ngồi với cô Laura. Cả hai cô điều dưỡng đều có thể xuống cùng ăn với anh.
Roddy hoảng hốt nói.
- Họ ăn cơm với anh à?
Elinor lạnh lùng nói:
- Họ có ăn thịt anh đâu cơ chứ.
- Nhưng còn em thì sao? Em phải ăn cái gì chứ. Tại sao chúng mình lại không ăn trước, rồi để họ xuống ăn sau?
Elinor nói.
- Không, như thế kia thì tốt hơn. - Rồi không đắn đo, nói tiếp - Họ dễ động lòng, anh biết đấy.
Ngàng nghĩ. “Mình không thể nào ngồi xuống ăn bữa với anh ta được - không thể nào chỉ có một mình - trò chuyện - đối xử như thường lệ được”.
Nàng nóng nảy nói.
- Ồ, xin cứ để tôi thu xếp mọi việc theo cách riêng của tôi.
0

CHƯƠNG 4
 
Sáng hôm sau, không phải là nữ gia nhân đến đánh thức Elinor, mà là đích thân bà Bishop trong bộ đồ đen cổ lỗ sột soạt, khóc lóc trơ trẽn.
- Cô Elinor ơi, bà lão đi rồi.
- Cái gì thế?
Elinor ở trên giường ngồi bật dậy.
- Bà Welman. Bà cô thân yêu của cô. Bà chủ kính mến của tôi. Bà đã ra đi trong khi đang ngủ.
- Cô Laura à? Chết rồi sao?
Elinor nhìn chăm chăm, hình như không thể nào tiếp nhận tin đó được.
Bây giờ bà Bishop tha hồ khóc. Bà nức nở nói.
- Chao ôi, sau bấy nhiêu năm trời. Mời tám năm tôi sống ở đây. Nhưng hình như thực không giống thế.
Elinor chậm rãi nói.
- Thế là cô Laura đã chết trong khi đang ngủ - hoàn toàn êm đềm. Thật may mắn cho cô.
Bà Bishop khóc.
- Chết quá đột ngột. Bác sĩ bảo sáng nay sẽ đến thăm lại: mọi sự vẫn cứ như thường lệ.
Elinor nói hơi gay gắt:
- Không đúng là sự đột ngột đâu. Dù sao, cô ấy bệnh đã lâu rồi. Tôi rất biết ơn là cô khỏi phải chịu đau đớn nhiều hơn nữa.
Bà Bishop đầm đìa nước mắt nói là quả thực phải biết ơn về việc này. Bà nói thêm.
- Ai sẽ báo tin cho ông Rederick?
Elinor nói.
- Tôi sẽ báo tin.
Nàng choàng áo khoác ngoài rồi đi đến gõ cửa phòng chàng. Chàng đáp.
- Xin cứ vào.
Nàng bước vào nói.
- Này anh Roddy, cô Laura mất rồi. Cô mất trong khi đang ngủ.
Roddy ngồi dậy thở dài.
- Cô Laura đáng thương! Anh nghĩ phải tạ ơn Chúa về việc này. Trông thấy cô cứ phải sống dai dẳng trong tình trạng như ngày hôm qua, anh không thể nào chịu nổi.
Elinor nói một cách máy móc.
- Em không biết đấy, thế ra anh đã gặp cô rồi à?
Chàng ngượng ngập gật đầu.
- Em Elinorạ, sự thực là như vầy. Anh cảm thấy mình đúng là nhát gan nhất đời, vì anh khiếp hãi quá! Tối qua anh đã tới đó. Bà điều dưỡng, cái bà béo mập ấy, đã rời phòng đi kiếm cái gì - bà ta xuống nhà, xách theo một chai nước uống, anh nghĩ thế - thế rồi anh lẻn vào. Cô ta không biết anh ở đó, cố nhiên rồi. Anh đứng đó một lát nhìn cô. Thế rồi, khi nghe thấy tiếng chân bà Gamp nặng nề bước lên thang gác, anh liền lẻn ra. Thế nhưng thật là - khủng khiếp quá!
Elinor gật đầu.
- Phải, đúng thế rồi.
Roddy nói.
- Cô ta chắc là bực tức lắm - từng giây từng phút phải sống như vậy.
- Em biết thế.
Roddy nói.
- Em và anh lúc nào cũng nhìn sự việc giống nhau, thế là tuyệt diệu lắm.
Elinor thấp giọng nói:
- Phải, đúng thế.
Chàng nói.
- Trong phút này hai chúng mình có cảm nghĩ như sau: phải tạ ơn trời là giờ đây cô ta đã giải thoát hết thảy mọi sự.
 
* * *
0
Cô O’Brien nói:
- Cái gì thế, chị? Chị kiếm gì thế nào?
Bà Hopkins mặt hơi ửng đỏ, đang lục lọi chiếc cặp nhỏ mà tối qua bà đã để trong phòng đợi.
Bà càu nhàu.
- Bực mình quá. Sao mình lại có thể thế được, không tưởng tượng nổi.
- Cái gì thế? - Cô O’Brien hỏi.
Bà Hopkins mơ hồ trả lời.
- Đó là Eliza Rykin - cái chất sarcoma ấy mà, em biết đấy. Cô ta phải chích morphine hai lần - buổi tối và buổi sáng. Tối qua khi đi đến đây chị đã đưa cho cô ta viên thuốc cuối cùng đựng trong chiếc ống cũ, thế mà chị nhớ chắc cũng có để cái ống mới lại đây.
- Chị cứ kiếm nữa đi. Các ống đó bé lắm.
Bà Hopkins khua động một lần cuối các thứ đựng trong cặp.
- Không, không có ở đây! Chắc chị để trong tủ chén ở nhà rồi. Thật sự chị nghĩ chị có thể tin tưởng vào trí nhớ của mình hơn là thế. Chị chắc chắn là đã lấy ra.
- Chị có để cái cặp ở chỗ nào trên đường tới đây không?
- Cố nhiên là không! - Bà Hopkins sẵng giọng nói.
- Ồ, thế thì được rồi, chị ạ. - Cô O’Brien nói.
- Ồ, phải rồi! Chị có để cặp ở trong gian phòng này thôi, mà chẳng có ai ở đây lấy cắp gì cả. Chỉ là nhớ lại thôi, nhưng chị tức mình lắm, em ạ. Hơn nữa, chị còn phải về nhà ở cuối làng rồi trở lại đây nữa.
Cô O’Brien nói.
- Mong rằng chị sẽ không còn phải mệt nhọc quá nữa, sau cái đêm hôm qua. Tội nghiệp cho bà già quá. Em không nghĩ rằng bà sẽ kéo dài được lâu.
- Chị cũng vậy, em ạ. Có lẽ bác sĩ sẽ phải ngạc nhiên.
Cô O’Brien hơi không đồng ý, nói:
- Ông ta lúc nào cũng rất hy vọng về những ca bệnh mà ông điều trị.
Bà Hopkins chuẩn bị ra về nói:
- À, ông ta còn ít tuổi. Không có kinh nghiệm như chúng mình.
Sau câu phát biểu ảm đạm đó, bà ra đi.
 
* * *
0
Bác sĩ Lord nhón gót đứng lên. Cặp lông mày hung hung leo cao trên trán, hầu như từ giữa tóc nhô ra.
Chàng sửng sốt nói.
- Thế ra bà lão chết rồi à?
- Dạ, phải, thưa bác sĩ.
Cô O’Brien định kể rõ chi tiết, nhưng vì kỷ luật nên cô chờ đợi.
Peter Lord trầm ngâm nói:
- Bà ta chết rồi à?
Chàng đứng nghĩ ngợi một lát, rồi sẵng giọng nói:
- Đem cho tôi ít nước sôi.
Cô O’Brien rất kinh ngạc hoang mang, nhưng theo đúng tin thần huấn luyện ở bệnh viện cô không tìm hiểu lý do tại sao. Nếu bác sĩ có bảo cô đi lấy da cá sấu thì cô cũng tự động khẽ nói, “Dạ, thưa bác sĩ”, rồi vâng lệnh lướt nhẹ ra khỏi phòng để giải quyết vấn đề.
 
* * *
0
Roderick Welman nói.
- Có phải ông muốn nói rằng cô tôi chết đi mà không để lại di chúc - cô tôi chưa bao giờ làm di chúc cả, đúng không?
Ông Seddon lau kính, nói:
- Hình như là vậy.
Roddy nói.
- Thế thì lạ thật.
Ông Seddon húng hắng ho tỏ ý không tán thành.
- Không đến nỗi quá kỳ lạ như ông tưởng tượng đâu. Cũng thường xảy ra như vậy. Vì mê tín, người ta muốn nghĩ họ còn cò nhiều thì giờ. Việc làm di chúc hình như chỉ làm cho cái chết xích lại gần họ hơn. Thật là kỳ quặc - nhưng có như vậy đó.
Roddy nói.
- Thế ông không bao giờ trình bày với cô tôi sự sai trái về vấn đề này à?
Ông Seddon trả lời cộc lốc:
- Nhiều lần.
- Rồi cô ta nói gì?
Ông Seddon thở dài:
- Vẫn những điều quen thuộc thông thường. Nào là còn chán thời gian. Nào là còn chưa có ý muốn. Nào là còn chưa có quyết định dứt khoát, xác đáng là mình mong muốn xếp đặt tiền bạc của mình ra sao.
Elinor nói:
- Nhưng chắc chắn là, sau lần phát bệnh đầu tiên...?
Ông Seddon lắc đầu:
- Ồ, không đâu, lần đó lại còn tệ hơn. Bà ta không muốn đề cập đến vấn đề ấy.
Roddy nói.
- Quả thật là rất kỳ quặc.
Ông Seddon lại nói:
- Ồ, không đâu. Bệnh khiến bà ta nóng nảy hơn, thì cũng là tự nhiên thôi.
Elinor giọng bối rối nói.
- Thế nhưng bà ta muốn chết.
Vẫn lau kính, ông Seddon nói:
- À, thưa cô Elinor thân mến, trí óc con người là một bộ máy rất kỳ lạ. Có thể bà Welman tưởng rằng mình muốn được chết, nhưng kế cạnh cảm nghĩ ấy lại có niềm hy vọng mình sẽ khỏi dứt bệnh. Vì niềm hy vọng ấy, tôi nghĩ bà có cảm tưởng là làm di chúc thì sẽ không may mắn. Bà đã không có ý định làm di chúc, thế cũng như là bà mãi mãi gạt bỏ việc làm này vậy.
Bỗng hầu như nói riêng với Roddy, ông Seddon nói tiếp:
- Ông có biết người ta gạt bỏ, tránh né một điều gí khó chịu - mà mình không muốn đương đầu, như thế nào không?
Roddy mặt đỏ bừng, nói lẩm bẩm.
- Phải… phải, cố nhiên là thế. Tôi biết ông muốn nói gì rồi.
Ông Seddon nói.
- Đúng là bà Welman luôn luôn có ý định làm di chúc, thế nhưng ngày mai thì bao giờ cũng là một ngày tốt hơn hôm nay để làm di chúc. Bà ta cứ tự bảo mình rằng còn nhiều thời gian.
Elinor chậm rãi nói.
- Thế ra chính vì vậy mà tối qua bà lo lắng, kinh hoảng đến độ muốn mời ông đến.
Ông Seddon đáp.
- Rõ ràng là thế.
Roddy giọng hoang mang nói:
- Nhưng bây giờ thì ra sao?
- Ông muốn nói đến di sản của bà Welman, phải không? - Luật sư húng hắng ho.
- Vì lẽ bà Welman chết đi mà không để lại di chúc, nên tất cả tài sản của bà đều thuộc về người thân thích gần nhất - tức là về cô Elinor Carlisle.
Elinor thong thả nói:
- Về tôi tất cả ư?
- Vương quyền chiếm một tỉ lệ nào đó - ông Seddon giải thích.
Rồi ông đi vào các chi tiết.
Ông kết thúc nói.
- Không có khoản chuyển nhượng hoặc ủy thác nào. Tiền bạc của bà Welman thuộc bà toàn quyền sử dụng theo ý muốn. Vì thế số tiền đó chuyển thẳng đến cô Carlisle. À, còn khoản thuế tử vong, tôi e rằng sẽ khá nặng đấy, thế nhưng ngay cả khi đã nộp số thuế đó rồi, vẫn còn lại một tài sản đáng kể, được đảm bảo rất vững chãi, an toàn.
Elinor nói:
- Thế nhưng anh Roderick…
Ông Seddon hắng một tiếng ho, biện giải rằng.
- Ông Welman chỉ là cháu của chồng bà Welman. Không có liên hệ máu mủ, ruột thịt.
- Đúng lắm - Roddy nói.
Elinor chậm rãi nói:
- Cố nhiên rồi, vì chúng tôi sắp kết hôn, thì tài sản đó có thuộc về ai, cũng chẳng quan hệ gì.
Nhưng nàng không nhìn Roddy.
Bây giờ đến lượt ông Seddon nói:
- Đúng lắm.
Ông nói mấy tiếng đó khá mau.
- Nhưng chẳng quan hệ gì, phải thế không? - Elinor nói, gần như là tự bào chữa.
Ông Seddon đã ra về.
Khuôn mặt Roddy nhăn nhíu bồn chồn. Chàng nói:
- Em phải có số tài sản ấy. Thế là rất phải. Em Elinor, vì Chúa, chớ nên đặt vào trong đầu cái ý nghĩ là anh hậm hực với em về chuyện này. Anh chẳng muốn cái của cải đáng nguyền rủa ấy.
Giọng hơi run run, Elinor nói:
- Này anh Roddy, ở London, chúng mình đồng ý rằng dù người ấy là ai thì cũng vậy thôi, chẳng quan hệ gì, vì… vì chúng mình sẽ kết hôn, phải thế không nào?
Roddy không đáp.
Nàng khăng khăng nói:
- Anh không nhớ đã nói thế sao, anh Roddy?
Chàng nói:
- Nhớ chứ.
Chàng nhìn xuống chân mình. Mặt chàng trắng bệch, ủ ê; nỗi đau khổ hiện rõ trên những đường nét căng thẳng nơi miệng chàng.
Elinor bỗng ngẩng đầu lên lả lơi nói:
- Chẳng quan hệ gì - nếu chúng mình sắp lấy nhau… Nhưng có thực thế không, hở anh Roddy?
Roddy nói:
- Chúng mình gì cơ chứ?
- Chúng mình sắp lấy nhau ấy mà?
- Anh hiểu đó là ý nghĩ lúc bấy giờ - Giọng hững hờ, hơi bực tức, chàng nói tiếp - Cố nhiên rồi, Elinor ạ, bây giờ nếu em có nghĩ khác…
Elinor thét to:
- Ồ, Roddy, anh không thể thành thật được hay sao?
Roddy rụt lại. Rồi với giọng nhỏ nhẹ, hoang mang, chàng nói:
- Anh không biết cái gì đã xảy ra cho mình nữa.
Elinor giọng cứng nhắt nói:
- Em thì biết rõ lắm.
Roddy nói mau:
- Dù sao, có lẽ đúng là anh rất không thích cái ý nghĩ sống nhờ vào tiền của vợ.
Elinor mặt trắng bệch nói:
- Không phải thế. Mà là cái gì khác cơ. - Nàng ngừng lại, rồi nói tiếp - Đó là… Mary, phải thế không nào?
Roddy ảo não khẽ nói:
- Anh cho là thế. Làm sao em biết được?
Elinor miệng méo xệch mỉm cười nói:
- Có gì khó đâu. Cứ mỗi khi anh nhìn cô ta - thì nó hiện ngay trên mặt, ai cũng thấy được.
Bỗng nhiên chàng mất bình tĩnh nói:
- Ồ, Elinor. Anh chẳng biết ra làm sao nữa. Anh nghĩ mình sắp điên mất! Lúc anh trông thấy cô ta - cái hôm đầu tiên ấy - trong khu rừng kia… chỉ thấy mặt cô ta thôi, thế mà - thế mà mọi cái đều quay cuồng đảo lộn. Em không thể nào hiểu được đâu.
Elinor nói.
- Được chứ, em hiểu được. Anh cứ nói tiếp đi.
Roddy sững sờ nói:
- Anh không muốn yêu cô ta. Anh rất hạnh phúc với em. Ồ, em Elinor ơi, anh ti tiện quá, lại nói với em như thế này…
Elinor nói:
- Vô lý lắm. Anh cứ nói tiếp. Cứ nói cho em biết.
Roddy lập lại câu nói.
- Em thật tuyệt vời. Nói với em, sao mà thoải mái quá. Anh yêu em quá đỗi, Elinor ạ. Em phải tin thế. Còn cái kia thì tựa như là bùa mê cháo lú. Nó làm đảo lộn hết thảy: cả cái quan niệm sống của anh, cả sự hưởng thú của anh - và - tất cả các cái chỉnh tề, ngăn nắp, hợp lý…
Elinor dịu dàng nói:
- Tình yêu - thì không hợp lý lắm đâu.
Roddy đau khổ nói:
- Không phải thế.
Elinor giọng run run nói:
- Anh đã nói với cô ta gì chưa?
Roddy nói:
- Sáng nay - giống như một thằng khùng - anh mất trí…
Elinor nói:
- Đúng thế à.
Roddy nói:
- Cố nhiên là cô ta - cô ta tức thì bịt miệng anh lại. Cô ta bàng hoàng sửng sốt. Vì cô Laura và vì em…
Elinor tháo chiếc nhẫn hột xoàn đeo ở ngón tay, rồi nói:
- Anh nên cầm lại nhẫn này thì hơn, anh Roddy ạ.
Cầm lấy nhẫn, Roddy không nhìn nàng, thì thầm nói:
- Em Elinor, em không thể nào hiểu được anh cảm thấy mình tồi tệ đến mức nào.
Elinor giọng bình thản nói:
- Anh có nghĩ là cô ta sẽ lấy anh không?
Roddy lắc đầu:
- Anh chẳng biết nữa. Nhưng không… không bao lâu đâu. Anh không nghĩ là cô ta để ý đến anh lúc này, nhưng rồi cô ta sẽ để ý.
Elinor nói:
- Em nghĩ là anh đúng. Anh cần phải cho cô ta có thời gian. Hãy hoãn gặp đôi chút, rồi sau… bắt đầu lại từ đầu.
- Em Elinor thân yêu. Em là bạn tốt nhất đời. - Roddy chợt nắm lấy tay nàng, đưa lên hôn - Em biết đấy, Elinor ạ, anh rất yêu em, lúc nào cũng yêu em. Đôi khi hình như Mary chỉ là một giấc mơ thôi. Rồi có thể là anh sẽ tỉnh giấc, và thấy nàng không có đó…
Elinor nói:
- Phải chi Mary không có ở đây…
Roddy chợt xúc động nói:
- Đôi khi anh mong rằng nàng không có đó… Em và anh là của nhau. Chúng mình là của nhau, phải thế không em? Elinor?
Nàng chậm chạp cúi đầu.
Elinor nói.
- Ồ, đúng thế - chúng mình là của nhau.
Nàng nghĩ “phải chi Mary không có ở đây…”
0
CHƯƠNG 5
 
Bà Hopkins xúc động nói:
- Thực là một đám tang đẹp.
Cô O’Brien đáp:
- Thực thế! Có nhiều hoa. Đã bao giờ chị thấy những bông hoa đẹp thế này chưa? Một cây đàn hạc kết toàn hoa huệ trắng, một cây thánh giá toàn bằng hồng vàng. Đẹp quá!
Bà Hopkins thở dài sườn sượt, rồi ăn bánh ngọt phết bơ. Hai nữ điều dưỡng này đang ngồi trong quán Chim Sẻ Xanh.
Bà Hopkins lại nói:
- Cô Carlisle là người rộng rãi. Cô ta tặng tôi một món khá khá, mặc dù không cần phải làm như vậy.
- Cô ta quả là người tử tế, rộng rãi - cô O’Brien nhiệt liệt tán thành - Em chúa ghét tính bủn xỉn keo kiệt.
Bà Hopkins nói:
- À, mà cô ta được thừa kế một di sản cực kỳ vĩ đại.
Cô O’Brien nói:
- Em tự hỏi là… - rồi ngừng lại.
Bà Hopkins khuyên giục:
- Thế ư, em?
- Thật lạ lùng là bà lão đã không làm di chúc.
- Tệ thật - bà Hopkins nói gay gắt - Người ta bắt buộc phải làm di chúc chứ. Không làm thì chỉ đem lại sự bực mình mà thôi.
Cô O’Brien nói:
- Em tự hỏi là, nếu bà ta đã làm di chúc, thì bà ta để lại tiền bạc như thế nào nhỉ?
Bà Hopkins nói kiên quyết:
- Chị biết chắc một điều.
- Gì thế, chị?
- Bà ta chắc để lại một số tiền cho Mary - Mary Gerrard.
- Phải rồi, thực đúng thế - cô O’Brien tán thành. Rồi sôi nổi nói thêm - Có phải em đã kể lại cho chị về tình trạng của bà ta buổi tối đó không, bác sĩ đã cố hết sức làm cho bà ta dịu xuống. Lúc ấy cô Elinor nắm lấy tay bà cô, viện Chúa toàn năng ra mà thề nguyền.
Rồi với óc giàu tưởng tượng của người Ái Nhĩ Lan bỗng nhiên nổi lên, cô O’Brien nói:
- Cô Elinor thề rằng sẽ mời luật sư tới, rồi mọi sự sẽ đâu vào đấy cả. Bà lão liền nói: “Mary! Mary!” Rồi cô Elinor hỏi: “Có phải cô muốn nói Mary Gerrard không?’ Rồi cô thề là sẽ giữ quyền lợi cho Mary.
Bà Hopkins hoài nghi nói:
- Đúng như thế a, em?
Cô O’Brien đáp lời một cách quả quyết.
- Đúng như thế đó, chị ạ. Còn điều này nữa: theo ý em, nếu như bà Welman còn sống mà làm di chúc đó, thì chắc hẳn còn lắm chuyện ngạc nhiên cho tất cả. Biết đâu bà ta lại chẳng để cả từng cắc bạc của mình cho Mary Gerrard.
Bà Hopkins ngờ vực nói:
- Chị không nghĩ bà ta làm như vậy. Chị không tán thành gạt bỏ bà con ruột thịt, không cho hưởng tiền bạc của mình.
Cô O’Brien nói một cách bí hiểm:
- Cũng tùy thứ máu mủ, ruột thịt chứ.
Bà Hopkins lập tức đáp lời:
- Em nói thế là có ý gì?
Cô O’Brien nghiêm trang nói:
- Em đâu phải hạng người nói chuyện tầm phào. Em cũng chẳng muốn bôi đen tên tuổi của người đã khuất.
Bà Hopkins gật đầu thong thả nói:
- Phải đấy. Chị đồng ý với em. Càng ít nói càng tốt.
Bà rót nước vào bình trà.
Cô O’Brien nói:
- À, chị có kiếm thấy cáo ống moọc-phin khí tại nhà không?
Bà Hopkins nhăn mặt nói:
- Không. Chị không biết nó ra sao nữa, nhưng chị nghĩ có lẽ là như thế này: chắc là chị đã để trên thành lò sưởi như mọi bận mỗi khi chị khóa tủ chén, rồi có thể là nó rơi vào giỏ giấy vụn đầy ngập, chị đem ra đổ vào thùng rác ngay khi rời nhà. - Bà ngừng rồi nói tiếp - Chắc hẳn là thế, vì chị không thấy còn có thể như thế nào khác nữa.
- Ừ, chắc hẳn là thế, chị ạ - cô O’Brien nói - Hình như chị không để cái cặp ở nơi nào khác - mà chỉ ở trong phòng đợi tại Hunterbury thôi - như vậy thì theo ý em, chắc hẳn là như lời chị vừa nói đó. Nó đã rơi vào trong thùng rác rồi.
- Đúng thế - bà Hopkins hăm hở nói - Không có thể xảy ra cách nào khác nữa, phải không em?
Bà ăn một chiếc bánh đường màu hồng. Rồi nói:
- Hình như không phải… - rồi ngừng lại.
Cô O’Brien tán thành mau mắn - có lẽ hơi quá mau mắn.
- Nếu là chị thì em sẽ không băn khoăn về chuyện đó nữa - cô nói một cách thoải mái.
Bà Hopkins nói.
- Chị không băn khoăn đâu.
 
* * *
0
Bận đồ đen, trẻ trung, nghiêm nghị, Elinor ngồi trước bàn viết đồ sộ của bà Welman trong phòng sách. Các thứ giấy tờ bày la liệt trước mặt nàng. Nàng vừa gặp riêng các gia nhân và bà Bishop. Bây giờ đến lượt Mary Gerrard, nàng ngập ngừng giây lát ở khung cửa rồi mới bước vào phòng.
- Thưa cô Elinor, cô muốn gặp em - nàng nói.
Elinor ngước trông lên.
- Ồ, phải rồi, Mary. Em tới ngồi đây.
Mary đến ngồi xuống ghế Elinor chỉ. Ghế này hơi quay về phía cửa sổ, ánh sáng từ đó chiếu xuống mặt nàng phô bày rực chói làn da thanh khiết và mái tóc vàng nhạt.
Elinor đưa một bàn tay lên che mặt. Qua kẽ ngón tay nàng có thể ngắm nhìn khuôn mặt của cô gái kia.
Nàng nghĩ. “Có thể nào ghét cay ghét đắng một người mà không tỏ ra là mình ghét được không nhỉ?”
Với giọng vui vẻ, thành thạo, Elinor lớn tiếng nói:
- Này em Mary, chị nghĩ em biết rằng bà cô của chị lúc nào cũng rất quan tâm đến em và hẳn đã lo lắng cho tương lai của em.
Mary nói giọng nhỏ nhẹ:
- Bà Welman luôn luôn rất tốt đối với em.
Giọng lạnh lùng, xa cách, Elinor nói tiếp:
- Chị biết rằng nếu bà có thời gian để làm di chúc, thì chắc bà muốn để lại tiền của cho nhiều người. Vì bà mất đi mà không có di chúc để lại, cho nên chị có trách nhiệm thực hiện những nguyện vọng của bà. Chị đã tham khảo ý kiến ông Seddon; dựa vào lời ông khuyên, chị đã trù định các khoản tiền cấp cho gia nhân tùy theo thời gian phục dịch của họ… - Nàng ngừng lại rồi nói - Còn em, cố nhiên là không liệt vào hàng đó.
Elinor có lẽ hơi mong rằng những tiếng đó có thể làm cho nhức nhối, nhưng khuôn mặt mà nàng nhìn đây lại chẳng có chút biến đổi nào. Mary thừa nhận những tiếng đó theo như giá trị bề ngoài của chúng, và nghe nói tiếp thêm.
Elinor nói:
- Mặc dù bà lão khó nói được mạch lạc, tối qua bà cũng có thể khiến cho người ta hiểu được bà muốn nói gì. Bà rõ ràng muốn đặt một điều khoản cho tương lai của em trong di chúc.
Mary thanh thản nói:
- Bà thật tốt bụng.
Elinor nói giọng cộc lốc:
- Ngay khi sự thừa kế được chứng thực, chị tính dành cho em hai ngàn đồng bảng - số tiền đó là của em, em muốn dùng làm gì thì làm.
Mặt Mary ửng hồng lên:
- Những hai ngàn bảng ư? Ồ, cô Elinor, cô tử tế quá. Em không biết nói gì đây.
Elinor nói xẵng:
- Chị chẳng tốt đặc biệt gì đâu, xin đừng nói gì nữa.
Mary đỏ bừng mặt, thì thầm nói:
- Cô đâu có biết số tiền ấy sẽ làm đổi khác số phận em như thế nào.
Elinor nói:
- Chị rất vui mừng.
Nàng ngập ngừng, mắt rời Mary nhìn sang phía kia phòng. Nàng gắng gượng nói:
- Chị tự hỏi - em có kế hoạch gì không?
Mary nói nhanh:
- Ồ, có chứ. Em sẽ học một nghề gì. Có lẽ là xoa bóp. Bà Hopkins khuyên em như vậy.
Elinor nói:
- Ý đó có vẻ hay đấy. Chị sẽ cố thu xếp với ông Seddon để ứng trước số tiền ấy cho em càng sớm càng tốt - ngay tức thì, nếu có thể được.
- Cô Elinor, cô tử tế, cô tử tế quá. - Mary biết ơn nói.
Elinor nói cụt lủn.
- Đó là nguyện vọng của cô Laura. - Nàng ngập ngừng rồi nói - Thôi, thế là xong rồi, chị nghĩ thế.
Lần này sự xua đuổi rõ rệt trong các tiếng nói xiên xoáy vào làn da nhạy cảm của Mary. Nàng đứng lên, nói vội:
- Cảm ơn cô rất nhiều, thưa cô Elinor - rồi rời phòng đi ra.
Elinor ngồi hoàn toàn im lặng, nhìn ra phía trước. Mặt nàng hoàn toàn điềm tĩnh. Trên đó không có vẻ gì cho thấy những gì đang diễn ra trong trí óc nàng. Nhưng nàng ngồi ở đây, không động đậy, trong một lát sau.
Cuối cùng Elinor đi đến kiếm Roddy. Nàng thấy chàng trong căn phòng thường ở ban ngày. Chàng đang đăm đăm nhìn ra ngoài cửa sổ. Elinor bước vào, chàng quay ngoắt lại.
Nàng nói:
- Em đã cho thanh toán xong tất cả. Năm trăm cho bà Bishop - vì bà đã ở đây nhiều năm. Một trăm cho chú bếp, còn Milly và Oliver mỗi người được năm chục. Hai mươi lăm bảng cho bác làm vườn chính Stephens, và còn lão Gerrard ở khu nhà săn nữa, cố nhiên rồi. Đối với lão ta em chưa làm gì cả, thực lúng túng quá. Phải trả tiền cho lão nghỉ việc chứ. Em nghĩ thế.
Nàng ngừng lại, rồi vội vàng nói tiếp:
- Em tính cho Mary Gerrard hai ngàn bảng Anh. Anh có nghĩ là cô Laura mong muốn như thế không? Em cho số tiền ấy là thỏa đáng.
Roddy không nhìn nàng, nói:
- Đúng rồi, thế là phải lắm. Em thì bao giờ chẳng phán đoán tuyệt giỏi, em Elinor.
Chàng lại ngoảnh nhìn ra ngoài cửa sổ.
Elinor nín thở giây lát, rồi nàng bắt đầu nói với giọng bồn chồn vội vã, tiếng nói đổ xô ra rời rạc:
- Còn điều này nữa. Em muốn - thế mới là phải - Em muốn nói là, anh cần phải có phần mình trong đó, anh Roddy ạ.
Roddy quay lại, vẻ mặt tức giận. Thấy thế, Elinor vội nói tiếp:
- Không, hãy nghe đây, anh Roddy. Đây chỉ là công bằng thôi. Tiền đó là của chú anh - chú ta để lại cho vợ - thì tự nhiên là chú ta bao giờ cũng nghĩ rồi nó sẽ chuyển đến anh. Cô Laura cũng có ý như vậy. Em biết rõ là thế, căn cứ vào nhiều điều cô đã nói ra. Nếu em có số tiền của cô ta, thì anh phải có số tiền thuộc về chú ta - thế mới là phải. Em - em không chịu nổi cái cảm tưởng là em đã tướt đoạt của anh - chỉ bởi vì cô Laura sợ làm di chúc. Anh phải… anh phải thấy đó là phải chứ!
Khuôn mặt dài và nhạy cảm của Roddy trở nên trắng bệch nhợt nhạt. Chàng nói.
- Lạy Chúa, em Elinor, em muốn làm cho anh cảm thấy mình là một tên ti tiện, tồi hại hay sao? Em nghĩ một lúc nào đó em có thể… có thể lấy số tiền ấy từ nơi em ư?
- Em không cho anh số tiền đó. Mà đó chỉ là… công bằng thôi.
Roddy hét to.
- Anh không cần tiền của em.
- Đó không phải là của em.
- Theo pháp định thì đó là của em, chỉ cần thế thôi. Vì Chúa, đừng để cho chúng ta rặt là thực tế như vậy. Anh không lấy của em một cắc nào. Đừng làm như thể tiểu thư hào phóng đối với anh.
Elinor thét lên:
- Anh Roddy!
Roddy vội vàng khua tay:
- Ồ, em ạ, anh rất lấy làm tiếc, anh không biết mình đang nói gì. Anh thấy bối rối. Hoàn toàn mất trí.
Elinordịu dàng nói:
- Anh Roddy đáng thương.
Roddy lại quay đi, đùa nghịch cái núm bông ở rèm cửa sổ. Bằng một giọng khác, một giọng xa rời, chàng nói:
- Em có biết… Mary Gerrard đề nghị làm gì không?
- Cô ta định học nghề xoa bóp. Cô ta nói thế.
Chàng nói:
- Anh hiểu rồi.
Chợt hoàn toàn yên lặng, Elinor đứng thẳng mình, hất đầu về phía sau. Giọng nàng bỗng trở nên thúc bách:
- Này anh Roddy, em muốn anh thận trọng nghe em đây.
Roddy quay lại phía nàng, hơi ngạc nhiên nói:
- Cố nhiên rồi, em Elinor.
- Em muốn xin anh làm theo lời em khuyên.
- Em khuyên anh gì chứ?
Elinor điềm tĩnh nói.
- Anh không bị ràng buộc gì đặc biệt cả? Lúc nào muốn nghỉ cũng được, phải không?
- Ồ, đúng thế.
- Thế thì anh hãy làm - làm như thế này thôi. Anh hãy xuất ngoại, đến một nơi nào đó - trong vòng ba tháng. Hãy đi một mình. Kết bạn mới, xem cảnh lạ. Bây giờ chúng mình hãy thực thẳng thắn mà nói chuyện với nhau. Lúc này em nghĩ là anh yêu Mary Gerrard. Có lẽ là thế. Nhưng nay chưa phải là lúc thăm dò ý kiến cô ta - anh biết quá rõ điều đó. Cuộc đính hôn của chúng mình rõ rệt là tan vỡ rồi. Vậy thì anh hãy đi ra nước ngoài, như một người tự do, rồi khi hết ba tháng, anh, như là một người tự do, lúc ấy hãy quyết định. Lúc bấy giờ anh sẽ biết rằng mình có thực sự yêu Mary Gerrard không, hay đó chỉ là một cơ mê đắm tạm thời. Bây giờ nếu anh hoàn toàn chắc chắn là mình thực yêu cô ta - thì hãy trở về mà đến với cô ta, nói với cô ta như vậy, nói là anh hoàn toàn chắc chắn về điều đó, thế thì có lẽ cô ta sẽ nghe.
Roddy tiến đến chỗ nàng, cầm lấy tay nàng.
- Em Elinor, em thật tuyệt vời! Đầu óc rất sáng suốt. Tính cực kỳ khách quan. Không cáu kỉnh dỗi hờn. Chẳng đê tiện keo kiệt. Lúc này anh cảm phục em hơn bao giờ hết. Anh sẽ làm theo đúng điều em gợi ý. Sẽ đi xa, cắt đứt hết thảy mọi sự - để xem xét mình có bệnh hoạn thật sự không hay chỉ xử sự như một thằng ngốc khủng khiếp nhất đời. Ồ, em Elinor thân yêu, em không biết anh thực sự yêu em như thế nào. Bây giờ anh mới nhận ra rằng lúc nào em cũng quá tốt với anh, tốt ngàn vạn lần. Cầu Chúa phù hộ cho em, vì tất cả tấm lòng tốt của em.
Thế rồi nhanh nhẹn, khích động, chàng hôn nàng rồi ra đi.
Có lẽ chàng cũng không nhìn lại và trông mặt nàng.
 
* * *
0
Sau đó mấy ngày, Mary đến báo cho bà Hopkins biết về những triển vọng tương lai tốt đẹp của mình.
Người đàn bà thực tế ấy nồng nhiệt chúc mừng:
- Đây thật là một cơ may lớn cho cháu đó, Mary ạ. - Bà nói - Có thể bà lão kia có ý tốt đối với cháu, nhưng trừ phi sự việc đã được đặt định bằng giấy trắng mực đen rồi thì không kể, còn không thì ý định cũng chẳng ích gì bao nhiêu đâu. Cháu rất dễ có thể chẳng có được gì cả.
- Cô Elinor nói rằng cái đêm bà Welman mất, bà có bảo cô ta giúp đỡ cháu.
Bà Hopkins khịt mũi.
- Có lẽ bà ta đã nói thế. Nhưng có nhiều kẻ về sau sẽ dễ dàng quên ngay. Họ hàng bà con là như vậy đó. Cô đã thấy một vài chuyện, cô có thể bảo cháu. Người ta lúc sắp chết, họ nói họ biết rằng họ có thể dặn lại con trai hoặc con gái thân yêu làm đúng sở nguyện của họ. Có đến chín trong số mười lần, cậu con hay cô con yêu dấu kiếm ra cớ tốt để rồi chẳng làm gì như thế cả. Bản tính con người là bản tính con người: chẳng có ai thích rời bỏ tiền nếu như pháp luật không bó buộc họ phải làm như vậy. Cháu Mary ạ, cháu thật may mắn. Cô Carlisle thẳng thắn hơn nhiều kẻ khác.
Mary chậm rãi nói.
- Thế nhưng - không biết làm sao - cháu cảm thấy là cô ta không ưa cháu.
- Cô ta có lý do đấy, cô phải nói thế - bà Hopkins nói toạc ra - Thôi, đừng có quá ngây thơ, Mary ạ. Gần đây cậu Roderick đã để mắt đến cháu.
Mary bừng đỏ mặt.
Bà Hopkins nói tiếp.
- Theo ý cô, cậu ta rất mê cháu. Bỗng nhiên thế. Còn cháu thì sao, cháu ơi? Cháu có cảm tình gì với cậu ta không?
Mary ngập ngừng nói.
- Cháu… cháu không biết nữa. Cháu không nghĩ thế. Thế nhưng cậu ta rất tử tế, cố nhiên rồi.
- Hừm - bà Hopkins nói - Cậu ta chẳng thể là người có thích được! Đó là một trong số những gã cầu kỳ, kiểu cách, quá bồn chồn, dễ kích động. Lại cảnh vẻ về ăn uống nữa. Đàn ông chẳng phải chứng này, khi mình gặp thời cơ thuận lợi. Cháu chớ nên quá vội vàng, Mary ạ. Với nhan sắc của cháu, cháu có đủ điều kiện để mà kén cá chọn canh. Hôm trước cô O’Brien có gợi ý với cô là cháu nên đi đóng phim. Họ thích gái tóc hoe, cô thường nghe nói thế.
Với nếp nhăn hơi gợn trên trán, Mary nói:
- Thưa cô, cô nghĩ cháu phải làm gì đối với bố cháu? Ông ta nghĩ cháu phải đưa cho ông một phần số tiền đó?
- Cháu chớ có làm vậy nhé - bà Hopkins tức giận nói - Bà Welman không bao giờ có ý để tiền đó cho ông ta. Cô nghĩ rằng nếu không phải là vì cháu, thì ông ta đã mất việc từ nhiều năm trước rồi. Kẻ lười biếng thì có bao giờ chịu bước đâu.
Mary nói:
- Bà ta có tất cả số tiền bạc đó mà lại không hề làm di chúc dặn để lại ra sao, thì có vẻ kỳ cục quá.
Bà Hopkins lắc đầu:
- Người ta như vậy đó. Chắc cháu lạ lắm. Họ bao giờ cũng cứ trì hoãn việc đó lại.
Mary nói:
- Cháu thấy làm như thế thì hình như hết sức khờ dại.
Bà Hopkins hơi nháy mắt nói:
- Thì cháu làm di chúc đi, Mary ạ.
Mary nhìn bà chằm chằm:
- Ồ, không đâu.
- Cháu đã ngoài hai mươi mốt rồi mà.
- Nhưng cháu… cháu chẳng có gì để lại cả… ít nhất thì lúc này cháu nghĩ là cháu có.
Bà Hopkins gay gắt nói:
- Cố nhiên là cháu có chứ. Một số tiền nho nhỏ thôi, nhưng cũng xôm lắm.
Mary nói:
- Chẳng có gì phải vội.
- Cháu cũng thế đấy - bà Hopkins lạnh lùng nói - Cũng giống như mọi người khác. Vì cháu là một thiếu nữ trẻ trung, khỏe mạnh ư, để chẳng phải là một cái cớ khiến cháu sẽ không bị cán xẹp, đè nghiến bởi xe đò hoặc xe buýt ở ngoài đường phố, bất cứ giây phút nào.
Mary cười:
- Cháu không biết đến cả làm di chúc như thế nào nữa.
- Cũng dễ thôi. Cháu có thể mua một mẫu giấy ở bưu điện. Chúng ta hãy đi mua ngay bây giờ.
 
* * *
0
Trong nhà bà điều dưỡng Hopkins, mẫu giấy được bày ra, rồi cái vấn đề quan trọng kia được thảo luận. Bà Hopkins rất lấy làm khoái trá. Bà nói, theo ý bà thì di chúc là cái tốt nhất ngay liền sau cái chết.
Mary nói:
- Nếu cháu không làm di chúc, thì ai sẽ được hưởng số tiền kia?
Bà Hopkins hơi hoài nghi nói:
- Bố cháu, chớ ai nữa.
Mary sẵng giọng nói:
- Ông ta sẽ không được hưởng. Cháu muốn để lại cho cô cháu ơ Tân Tâh lan hơn.
- Dù sao thì để lại cho bố cháu cũng chẳng ích gì mấy - vì ông ta chẳng còn ở đời được bao lâu nữa. Cô phải nói thế đấy.
Mary đã nghe bà Hopkins nói điều đó quá nhiều lần rồi, cho nên chẳng thấy cảm kích gì vì câu nói này.
- Cháu không nhớ nổi địa chỉ của cô cháu. Đã nhiều năm chúng cháu không được tin tức gì về cô ta cả.
- Cô nghĩ điều đó chẳng quan hệ gì - bà Hopkins nói - Thế cháu có biết tên thánh của bà ta không?
- Mary. Mary Riley.
- Được rồi. Cháu hãy viết là cháu để lại mọi thứ cho Mary Riley, em gái của bà Eliza Gerrard đã chết, ở Hunterbury, Maidensford.
Mary cúi xuống viết lên mẩu giấy. Khi viết đến cuối, nàng bỗng rùng mình. Một cái bóng đến xen vào giữa nàng và bóng mặt trời. Nàng ngẩng đầu lên, trông thấy Elinor Carlisle đang đứng bên ngoài cửa sổ nhìn vào.
Bà Hopkins cười nói:
- Cô nàng đang làm di chúc. Cô ta đang làm thế đấy.
- Làm di chúc à? - Bỗng nhiên Elinor cười rộ lên, một cái cười kỳ lạ, gần như cuồng loạn.
Nàng nói.
- Thế ra em đang viết di chúc đấy à, Mary. Thật là nực cười. Thật là nực cười hết mức.
Vẫn còn cười vang. Elinor quay ra, đi rảo bước theo dọc đường phố.
Bà Hopkins đăm đăm nhìn theo.
- Cô ta làm sao thế nhỉ?
Elinor chưa đi được mươi bước - nàng vẫn còn cười - thì một bàn tay từ phía sau đặt lên cánh tay nàng. Nàng đứng sững, ngoảnh lại.
Bác sĩ Lord, mày chau nhíu, nhìn nàng chòng chọc. Chàng nói giọng quả quyết:
- Cô đang cười cái gì thế?
Elinor nói:
- Thực ra - tôi không biết nữa.
Peter Lord nói:
- Đó là một câu đáp ngây ngô quá.
Elinor đỏ bừng mặt nói:
- Tôi nghĩ chắc là tôi bị kích động - hoặc là sao đó. Tôi ngó vào nhà của bà điều dưỡng khu vực, thì… thì thấy Mary Gerrard đang viết di chúc. Điều đó làm tôi bật cười; tôi chẳng hiểu tại sao nữa.
Lord nói cộc lốc:
- Thế à?
Elinor nói:
- Thực là ngốc quá - tôi bị kích động.
Peter Lord nói:
- Tôi sẽ kê cho cô một toa thuốc bổ.
Elinor chua chát nói:
- Bổ, ích lắm đấy.
Chàng cười xuề xòa nói:
- Hoàn toàn vô ích, tôi đồng ý với cô. Thế nhưng chỉ có thể làm thế được thôi khi người ta không chịu nói với mình là người ta làm sao cả.
Elinor nói:
- Tôi chẳng làm sao cả.
Peter Lord bình thản nói:
- Cô có khá nhiều sự.
Elinor nói:
- Tôi cho là tôi hơi bị kích động đôi chút.
Lord nói:
- Tôi nghĩ là cô bị khá nhiều đấy. Nhưng tôi không nói đến chuyện đó - Chàng ngừng lại - Cô có còn… có còn ở lại đây lâu không?
- Tôi sẽ đi ngày mai.
- Cô sẽ không xuống ở đây sao?
Elinor lắc đầu:
- Không - không bao giờ. Tôi nghĩ… tôi nghĩ… tôi sẽ bán nơi này nếu tìm được người trả được giá.
Bác sĩ Lord nói thẳng ra:
- Tôi hiểu rồi.
Elinor nói:
- Giờ thì tôi phải trở về nhà.
Nàng giơ tay ra, rất kiên quyết. Peter Lord cầm, nắm lấy bàn tay đó. Chàng nói rất nghiêm chỉnh.
- Cô Carlisle, xin cô vui lòng cho tôi được biết có sự gì trong óc cô khi cô cười lúc vừa rồi?
Cô vội giằng tay ra:
- Phải có sự gì trong óc tôi sao?
- Đó chính là điều tôi muốn được biết.
Mặt chàng lộ vẻ nghiêm trọng và hơi rầu rĩ.
Elinor bồn chồn nói:
- Tôi ngạc nhiên vì nực cười quá, chỉ có thể thôi.
- Có phải vì Mary Gerrard đang làm di chúc không? Tại sao thế? Làm di chúc là một thủ tục hoàn toàn khôn ngoan, hợp lý. Tránh được bao nhiêu rắc rối. Cố nhiên là đôi khi nó cũng tạo nên rắc rối.
Elinor nôn nóng nói:
- Cố nhiên là mọi người đều cần phải làm di chúc. Lúc nãy tôi không có ý nói thế.
Bác sĩ Lord nói:
- Bà Welman hẳn là phải làm di chúc.
Elinor cảm động nói:
- Phải, đúng thế.
Màu hồng ửng lên khuôn mặt nàng.
Bác sĩ Lord thình lình nói:
- Còn cô thì sao?
- Tôi ư?
- Đúng rồi, vừa mới đây cô bảo là mọi người đều cần phải làm di chúc! Thế cô đã làm chưa?
Elinor chăm chăm nhìn chàng trong giây lát, rồi cười vang.
- Thực kỳ lạ quá! - Nàng nói - Chưa, tôi chưa làm. Tôi chưa hề nghĩ tới chuyện đó. Tôi cũng giống như cô Lara vậy. Ông có biết không, bác sĩ Lord, tôi sẽ về nhà rồi viết ngay tức thì cho ông Seddon về việc này.
Peter Lord nói:
- Rất hợp lý.
 
* * *
0
Trong phòng sách, Elinor vừa viết xong bức thư:
 
Kính gửi ông Seddon,
Xin ông vui lòng phác thảo một bản di chúc cho tôi ký. Một bản hoàn toàn đơn giản. Tôi muốn để lại tất cả cho ông Roderick Welman.
Kính chào
ELINOR CARLISLE
 
Elinor liếc trông đồng hồ. Mấy phút nữa bưu điện sẽ đưa đi.
Nàng mở ngăn kéo bàn giấy, rồi nhớ ra rằng đã dùng chiếc tem cuối cùng lúc sáng nay.
Còn vài cái nữa trong phòng ngủ, nàng chắc chắn thế.
Nàng đi lên lầu. Khi nàng cầm tem trở vào phòng sách, thì Roddy đang đứng bên cửa sổ.
Roddy nói:
- Thế là chúng mình sẽ rời đây sáng mai. Hunterbury cũ kỹ, tốt đẹp. Chúng mình đã có những lúc vui vẻ ở đây.
Elinor nói.
- Bán đi, anh nghĩ có được không?
- Ồ, không, không sao đâu. Anh nghĩ đó là cái việc tốt nhất nên làm.
Im lặng. Elinor cầm lấy bức thư, liếc xem thế đã được chưa. Rồi nàng niêm lại, dán tem
0
CHƯƠNG 6
 
Bức thư do cô O’Brien gởi bà Hopkins, ngày 14 tháng Bảy:
 
La borough Court,
Chị Hopkins thân mến,
Mấy bữa nay em đã có ý định viết thư cho chị. Đây là một khu nhà rất đẹp: những bức tranh ở đây, em tin là rất nổi tiếng. Nhưng em không thể nói là nhà này tiện nghi, thoải mái bằng Hunterbury trước kia được (chị biết em muốn nói gì rồi). Trong cái xứ khỉ ho cò gáy này thực khó kiếm được người hầu gái: bọn gái ở đây toàn là hạng chưa thạo nghề, một số đứa lại còn không sốt sắng phục dịch nữa. Mặc dù em chẳng hề là kẻ ưa gây phiền nhiễu, nhưng cơm bưng trên khay ít nhất cũng phải nóng chứ. Đây chẳng có phương tiện gì để đun sôi ấm nước, mà trà thì chẳng phải bao giờ cũng được pha bằng nước sôi. Ấy thế mà tất cả cái đó đây đều không có cả. Bệnh nhân là một nhà quý phái trầm lặng, tử tế - bị bệnh viêm phổi, nhưng cơn bệnh đã qua rồi.
Em phải kể cho chị nghe chuyện này, chắc chị sẽ thích thú lắm. Đó là một sự trùng hợp rất lạ lùng, kỳ quặc. Trong phòng khách, trên chiếc đàn dương cầm lớn, có một bức hình đóng trong khung bạc. Chị có tin được không - đó chính là bức hình mà em đã kể với chị, cái hình có chữ ký Lewis mà bà lão Welman đòi kiếm. Thế là em nổi tính tò mò - ai mà không thế, chị nhỉ? Em hỏi bác quản gia ông ta là ai, thì bác trả lời ngay là anh của bà phu nhân Rattery - Ngài Lewis Rycroft. Ông ta ở cách đây không bao xa và đã bị giết trong chiến cuộc. Thực rất buồn, phải không chị? Em làm vẻ tình cờ hỏi ông ta đã có vợ chưa, thì bác quản gia nói là ông ta đã có vợ, nhưng phu nhân Rycroft đã phải vào bệnh viện tâm thần, chẳng bao lâu sau khi kết hôn. Bác nói bà ta lúc bấy giờ vẫn còn sống. Thế nào, chuyện này có thú vị không? Chúng mình đã tưởng lầm rồi, chị thấy đấy. Chắc chắn là họ yêu nhau lắm - ông ta và bà W. ấy mà, nhưng họ không lấy được nhau vì bà vợ đang ở bệnh viện tâm thần. Giống hệt như tranh vậy, phải thế không? Bà W. hồi tưởng lại tất cả những năm tháng ấy rồi ngắm bức hình của ông ta ngay trước lúc bà chết. Bác quản gia nói ông ta bị giết năm 1917. Đúng là một chuyện tình lãng mạn, em cảm thấy thế.
Không có rạp chiếu bóng nào ở quanh đây cả. Ôi, thật khủng khiếp vì bị chôn ở cái xứ quê này. Họ chẳng kiếm được các cô hầu gái ra hồn, thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả.
Bây giờ em xin chào từ biệt chị. Mong chị viết thư cho em, kể cho em biết tất cả những tin tức mới.
Thân ái,
EILEEN O’BRIEN
 
* * *
0
Bức thư do bà Hopkins gởi cho cô O’Brien, ngày 14 tháng Bảy:
 
Trại Hoa hồng,
Em O’Brien thân mến,
Ở đây mọi sự vẫn tiếp diễn như thường lệ. Hunterbury bị bỏ hoang - tất cả các gia nhân đều đã ra đi, một tấm biển được treo lên: Nhà bán. Hôm trước chị có gặp bà Bishop, bà ta ở với cô em gái sống cách xa đây một dặm. Bà ta đang rầu rĩ về việc bán khu nhà đó. Hình như bà ta đã quyết chắc rằng cô Carlisle sẽ lấy ông Welman và sống tại đây. Bây giờ bà B. nói rằng việc đính hôn đã bãi bỏ rồi. Cô Carlisle đã đi London ngay sau khi em rời khỏi đây. Thỉnh thoảng cô ta có thái độ rất là kỳ cục. Chị thực sự không biết phải giải thích như thế nào về cô ta cả. Mary Gerrard đã đi London và đang bắt đầu học nghề xoa bóp. Cô Carlisle đang tính cấp cho Mary hai ngàn đồng bảng. Chị nghĩ cô ta xử sự thế là rất hào phóng, ít người làm được như vậy.
Tiện đây chị kể cho em nghe: có nhiều chuyện xảy ra thật nực cười quá. Em còn nhớ không? Có lần em kể cho chị về bức hình có ký tên Lewis mà bà Welman cho em xem. Hôm trước chị nói chuyện gẫu với bà Stattery (bà ta trước đây làm quản gia cho cụ bác sĩ Ransome, là người chữa bệnh tại vùng này trước bác sĩ Lord); cố nhiên bà ta đã sống suốt cuộc đời ở đây và biết nhiều chuyện về giới quý tộc quanh vùng. Chị làm vẻ tình cờ khi hỏi về chuyện ấy: chị nói về các tên Thánh và bảo cái tên Lewis là tên gọi ít thấy, thì nhân đó bà ta nhắc đến ngài Lewis Rycroft ở Forbes Park. Ông ta phục vụ trong đoàn Thương lỵ binh thứ 17 và bị giết vào khoảng cuối trận chiến. Thế là chị hỏi có phải ông ta là bạn thân của bà Welman ở Hunterbury không? Thì lập tức bà ta nhìn chị rồi nói: “Đúng rồi, ông bà ta là đôi bạn chí thân, có người nói còn thân hơn là bạn nữa; thế nhưng tôi đâu phải là kẻ ngồi lê đôi mách - mà họ là bạn với nhau thì đã làm sao?” Thế rồi chị nói chắc chắn là hồi bấy giờ bà ta đã là quả phụ thì bà trả lời: “Ồ, đúng thế, bà ta đã là quả phụ”. Em à, thế là chị hiểu ra ngay tức khắc bà có ý muốn nói một điều gì về chuyện đó. Chị nói: “Lạ nhỉ, sao ông bà ta không bao giờ kết hôn với nhau?” Tức thì bà nói: “Họ không thể lấy nhau được. Ông ta đã có vợ đang ở bệnh viện tâm thần”. Bây giờ, em thấy đấy, chúng mình biết tất cả về chuyện đó rồi. Sự việc xảy ra như thế thì quả là quá lạ, phải không em? Cứ xem ngày nay người ta ly dị dễ dàng như thế nào. Mà hồi đó bệnh điên không phải là cơ sở để ly dị, thì có vẻ tủi hổ làm sao ấy!
Em có còn nhớ Ted Bigland không, cái anh chàng đẹp trai thường theo đuổi Mary Gerrard ấy mà? Hắn có đến chị để xin địa chỉ của Mary ở London, nhưng chị không cho. Theo ý chị, Mary hơn Ted Bigland cả một bậc. Chị không biết em có thấy rõ điều ấy không, nhưng ông R. W. thì lại rất thân thiết với cô ta. Thật đáng tiếc, vì do đó mà sinh ra rắc rối. Đó chính là cái lý do khiến cho việc đính hôn của ông ta và cô Carlisle bị hủy bỏ. Chị biết rõ điều này làm cho cô ta tổn thương nặng nề. Chẳng biết cô ta thấy cái gì ở ông ta cơ chứ. Chị chắc chắn rằng ông ta chẳng bằng được cái ly nước trà của chị đâu, nhưng do những nguồn tin đáng tin cậy chị nghe nói cô ta vẫn luôn luôn yêu ông ta đến chết mệt. Có vẻ lộn xộn quá, phải không em? Cô ta lại được hưởng tất cả số tiền kia. Chị tin là người ta đã luôn làm ông ta trông đợi sẽ được bà cô để lại tài sản.
Lão Gerrard ở khu nhà săn đang suy yếu rất mau - đã phát những cơn say sẩm choáng váng kinh tởm. Ông ta vẫn cứ cục cằn, đau khổ như vậy. Hôm trước quả là ông ta đã nói Mary không phải là con gái ông. Chị nói: “Nếu là ông thì tôi sẽ hổ thẹn ghê lắm khi nói thế về vợ mình”. Lão ta nhìn chị rồi nói: “Bà ngốc lắm, bà chẳng hiểu gì cả”. Thế có lịch sự không cơ chứ? Chị đã phản đối lão ta kịch liệt. Bà vợ lão ta là nữ tì của bà Welman trước khi lấy lão ta, chị tin là thế.
Thân ái chào em,
JESSIE HOPKINS
 
* **
Bưu thiếp của bà Hopkins gửi cô O’Brien: “Lạ lùng thay: thư chúng mình bắt gặp nhau. Lúc này thời tiết thật dễ sợ, phải không em?”
Bưu thiếp của cô O’Brien gửi cho bà Hopkins: “Đã nhận được thư chị sáng nay. Thực là tình cờ quá!
 
* * *
0
Thư của Roderick Welman gởi Elinor Carlisle, ngày 15 tháng bảy:
 
Em Elinor thân mến,
Anh vừa nhận được thư em. Không đâu, anh không xúc động gì về việc bán Hunterbury cả. Cám ơn em đã hỏi ý kiến anh. Rõ rệt là em không muốn sống ở đó, anh nghĩ thế là phải lắm. Dù sao, chắc hẳn em đang có khó khăn về việc dứt bỏ nơi này. Hunterbury là một khu nhà khá lớn đối với nhu cầu ngày nay, dù rằng nó đã được hiện đại hóa cho hợp thời: có khu ở tốt dành cho gia nhân, có hơi đốt, có đèn điện… Dù sao thì anh cũng mong là em gặp may mắn.
Ở đây trời nóng chói chang. Anh ở hàng giờ trên biển. Có nhiều người rất ngộ nghĩnh nhưng anh không giao thiệp với họ. Có lần em bảo anh là người kém xã giao. Đúng thế, em ạ. Anh thấy đa số nhân loại thật khó chịu lạ lùng. Có lẽ họ cũng có cảm nghĩ ấy đối với anh.
 Đã từ lâu anh cảm thấy rằng em là con người đẹp duy nhất thật sự tốt đẹp, tiêu biểu cho loài người. Anh định một hai tuần nữa sẽ bay đi chơi vùng biển Dalmotia. Từ ngày 22 trở đi, viết thư cho anh, em hãy để nhờ Thomas Cook, ở Dubronik chuyển. Nếu có điều gì anh có thể làm được, em hãy tin cho anh hay.
Cám ơn và thân ái chào em,
RODDY
 
* * *
 
Thư của ông Seddon, thuộc văn phòng luật sư Blatherwick Seddon, gửi cho cô Elinor Carlisle, ngày 20 tháng Bảy:
 
104 Quảng Trường Bloomsbury
Kính thưa cô Carlisle,
Tôi nghĩ rằng cô nên chấp thuận đề nghị của thiếu tá Somervell mua Hunterbury với giá mười hai ngàn năm trăm (12.500) đồng bảng. Trong lúc này những bất động sản lớn rất khó bán: cái giá đề nghị trên xem chừng là được hơn cả. Thiếu tá Somervell sỡ dĩ đưa ra giá đó là vì muốn có nhà ngay. Tôi biết ông đã xem các nhà khác ở quanh vùng, vì thế tôi khuyên cô nên ưng thuận ngay.
Thiếu tá Somervell muốn đến ở khu nhà trang trí đầy đủ trong vòng ba tháng tới: lúc đó các thủ tục pháp định sẽ hoàn tất và việc bán có thể xong được.
Còn về ông gác nhà săn Gerrard cùng việc trả tiền thôi việc cho ông ta, thì tôi được bác sĩ Lord cho hay rằng ông ta hiện đang bệnh rất nặng, không chắc gì qua khỏi được.
Việc thừa kế chưa được chứng thực, tuy nhiên trong khi chờ đợi, tôi đã ứng trước cho cô Mary Gerrard một trăm đồng bảng.
Kính chào Cô,
EDMOND SEDDON
 
* * *
 
Thư của bác sĩ Lord gửi cô Elinor Carlisle, ngày 24 tháng Bảy:
 
Thưa cô Carlisle, hôm nay ông Gerrard đã tạ thế. Cô có cần đến tôi việc gì không? Tôi nghe nói cô đã bán nhà cho thiếu tá Somervell, dân biểu mới của chúng ta.
Kính chào cô,
PETER LORD
 
* * *
 
Thư của Elinor Carlisle gửi cho Mary Gerrard, ngày 25 tháng Bảy:
 
Em Mary thân mến,
Chị rất buồn khi nghe tin cha em vừa mất.
Đã có người hỏi mua Hunterbury - đó là thiếu tá Somervell. Ông ta nóng lòng muốn có nhà ngay, càng sớm càng tốt. Chị xuống đây để sắp xếp giấy tờ của cô chị và dọn dẹp nhà cửa. Em hãy dọn đồ đạc của cha em ra khỏi nhà săn, càng sớm càng hay. Chị hy vọng em được bình an và việc học xoa bóp không khó nhọc lắm.
Thân chào em,
ELINOR CARLISLE
 
* * *
 
Thư của Mary Gerrard gửi cho bà Hopkins, ngày 25 tháng Bảy:
 
Kính gửi cô Hopkins,
Cám ơn cô đã viết cho cháu biết tin về bố cháu. Cháu rất mừng là ông không bị đau đớn. Cô Elinor viết cho cháu là cô ta đã bán nhà và cô ta muốn phải dọn hết đồ ra khỏi nhà săn, càng sớm càng tốt. Xin cô vui lòng cho cháu được trọ tại nhà cô nếu ngày mai cháu xuống để làm lễ mai táng. Khỏi phiền cô trả lời, nếu cô đồng ý.
Kính chào cô,
MARY GERRARD
0
CHƯƠNG 7
 
Sáng thứ ba, ngày 27 tháng Bảy, Elinor Carlisle bước ra ngoài lữ quán King’s Arms, dừng lại một lát, nhìn lượt con đường phố chính của Maidensford. Bỗng nàng mừng rỡ kêu lên, rồi băng qua đường.
Chẳng thể nào lầm được cái hình dáng bệ vệ, đồ sộ đó, cái dáng đi thanh thản đó, giống như một con thuyền buồm lộng gió.
- Bà Bishop!
- À, ra là cô Elinor! Thật bất ngờ quá. Tôi không nghĩ là cô đang ở đây. Nếu tôi biết là cô đến Hunterbury, thì tôi đã ở đó. Ai làm cho cô ở đó thế? Cô có đem theo ai từ London xuống không?
Elinor lắc đầu nói.
- Tôi không ở nhà đó, tôi ở King’s Arms.
Bà Bishop nhìn qua đường, rồi khịt khịt mũi nghi ngờ:
- Ở đó được lắm, tôi nghe nói thế - bà thừa nhận. Sạch sẽ lắm, tôi biết. Còn về nấu ăn thì người ta nói cũng khá, nhưng khó lòng mà cô quen được, cô Elinor ạ.
Elinor mỉm cười nói:
- Tôi thực rất thoải mái dễ chịu. Mà chỉ ở có một hay hai ngày thôi mà. Tôi phải dọn đồ ra khỏi nhà ấy. Tất cả các vật riêng của cô tôi, lại còn một vài thứ gia dụng mà tôi muốn có ở London.
- Vậy ra cô bán nhà thực sao?
- Đúng thế. Bán cho thiếu tá Somervell. Ông dân biểu mới của chúng ta ấy mà. Bà biết đấy. Ngài George Kerr mất đi, thì đã có cuộc bầu cử phụ.
- Bầu cử ứng viên duy nhất - bà Bishop trang trọng nói. Vùng Maidensford chúng ta bao giờ cũng chỉ có dân biểu thuộc Đảng bảo thủ thôi.
Elinor nói:
- Tôi rất mừng có được người mua khu nhà mà thật sự muốn ở đó. Tôi chắc sẽ rất tiếc nếu nhà đó bị biến thành khách sạn hay xây cất thêm.
Bà Bishop nhắm mắt lại, cả cái thân hình phì nộn, quý phái rung lên.
- Vâng, thực tế, nếu như thế thì quả là khủng khiếp - khủng khiếp quá. Cứ nghĩ đến Hunterbury mà vào tay người lạ, thì cũng đủ tệ hại rồi.
Elinor nói.
- Đúng thế đấy, nhưng khu nhà này quá lớn đối với tôi, tôi sống có một mình.
Bà Bishop khịt mũi.
Elinor nói mau:
- Tôi định hỏi bà xem có một thứ đồ gì mà bà đặc biệt quan tâm đến không? Nếu có thì tôi rất vui lòng biếu bà.
Bà Bishop mặt rạng rỡ, nói một cách thanh lịch:
- Thế à, cô Elinor, cô thực rất ân cần chu đáo - thực quá tốt bụng. Nếu không phải là quá đáng thì…
Bà ngưng lại. Elinor nói:
- Ồ, không đâu.
- Tôi thường rất thích cái bàn viết ở trong phòng khách. Nó thực là bảnh.
Elinor nhớ lại cái bàn viết này, một cái bàn khảm sặc sỡ. Nàng nói mau.
- Cố nhiên là bà sẽ có nó, bà Bishop ạ. Còn cái gì nữa không?
- Thưa không ạ, cô Elinor. Như thế này là cô đã quá rộng rãi rồi.
Elinor nói.
- Còn mấy cái ghế cùng kiểu với bàn viết ấy, bà có thích không?
Bà Bishop nhận ghế với mấy lời cám ơn hợp cách. Bà nói giải bày:
- Lúc này tôi ở với em gái tôi. Có điều gì tôi có thể làm được cho cô ở nhà đó không, cô Elinor? Tôi sẽ lên đó với cô, nếu cô muốn.
- Không, cám ơn bà.
Elinor nói nhanh, hơi cộc lốc.
Bà Bishop nói.
- Không có chi phiền nhiễu cả, mà là một thú vui. Tôi quả quyết với cô như thế. Thu dọn đồ vật của bà Welman kính mến thì thực là một phận sự buồn rầu.
Elinor nói.
- Cám ơn bà Bishop, nhưng tôi muốn giải quyết việc đó một mình. Có những việc làm một mình lại hơn…
Bà Bishop nói giọng cứng cỏi:
- Xin tùy ý cô, cố nhiên là thế rồi.
Bà nói tiếp:
- Con gái ông Gerrard đã xuống đây. Hôm qua tang lễ đã cừ hành. Hiện giờ cô ta đang ở nhà bà Hopkins. Tôi nghe nói sáng nay họ đã lên nhà săn.
Elinor gật đầu nói:
- Đúng rồi, tôi yêu cầu Mary xuống đây để lo liệu việc đó. Thiếu tá Somervell muốn dọn đến ở càng sớm càng tốt.
- Tôi hiểu ra rồi.
Elinor nói:
- À, bây giờ tôi phải đi. Rất mừng được gặp bà, bà Bishop. Tôi sẽ nhớ về cái bàn viết và ghế.
Nàng bắt tay chào rồi đi.
Elinor bước vào tiệm bánh, mua một ổ bánh mì. Sau đó nàng đi sang cửa hàng khác mua một ít bơ và sữa. Cuối cùng nàng vào hàng tạp hóa.
- Tôi muốn mua bột nhồi để ăn với bánh xăng-uých.
- Có đây, thưa cô Carlisle. - Ông Abbott hích chú nhỏ tập sự sang một bên, rối rít bước tới. Cô thích thứ gì? Cá hồi với tôm nhé? Gà tây với lưỡi nhé? Cá hồi với cá sardine nhé? Giăm-bông với lưỡi nhé?
Ông ta lấy hết hũ nọ đến hũ kia xuống, bày lên trên quầy hàng.
Elinor hơi mỉm cười nói.
- Dù có tên là gì đi nữa, tôi nghĩ chúng có vị giống nhau cả.
Ông Abbott lập tức tán thành:
- Vâng, có lẽ chúng giống nhau cả, giống nhau cả. Nhưng chúng rất ngon, rất là ngon - cố nhiên rồi.
Elinor nói:
- Người ta thường rất sợ ăn bột cá hồi. Đã có những vụ đầu độc bằng bột cá nhồi, phải thế không ông?
Ông Abbott tỏ vẻ khiếp sợ nói:
- Tôi có thể cam đoan với cô đây là một loại thượng hảo hạng - đáng tin cậy nhất - chưa có ai phải phàn nàn bao giờ cả.
Elinor nói:
- Tôi muốn mua một hủ cá hồi với cá trồng và một hũ cá hồi với tôm. Cám ơn ông.
Elinor Carlisle theo cổng sau đi vào khu Hunterbury.
Hôm ấy là một ngày hè trong sáng, nóng bức. Có những cây hương đậu đang trổ bông. Elinor đi qua một rặng cây này. Người phụ vườn, Horlick, còn ở lại trông nom khu nhà, kính cẩn chào nàng.
- Kính chào cô. Tôi đã nhận được thư cô. Cô thấy sẽ cửa bên hông mở. Tối đã tháo chốt cửa chớp và mở nhiều cửa sổ.
Elinor nói:
- Cám ơn, Horlick.
Nàng tiếp tục bước đi, anh ta trái họng giật giật nhấp nhô, cuống quýt nói:
- Xin cô thứ lỗi, thưa cô…
Elinor ngoảnh lại.
- Có gì thế?
- Thưa cô, có thực là nhà bán không? Tôi muốn nói là đã thực bán xong chưa?
- Ồ, bán xong rồi.
Horlick bồn chồn nói:
- Thưa cô, xin cô vui lòng giúp tôi nói một lời với - với thiếu tá Somevell. Chắc ông ta sẽ cần người coi sóc vườn. Có thể ông ta nghĩ rằng tôi còn quá ít tuổi để làm phụ vườn chính, nhưng tôi nghĩ tôi cũng biết nghề chút ít, từ khi ở đây, một tay tôi đã quán xuyến công việc khá tốt.
Elinor nói mau:
- Cố nhiên tôi sẽ hết sức nói với ông ta, Horlick à. Thực sự là tôi đã có ý định đề cập với ông ta về anh, và nói anh là phụ vườn giỏi.
Horlick sạm đỏ mặt lên, nói:
- Xin cảm ơn cô. Cô thực rất tốt. Thưa cô, đúng là một cú choáng người: bà Welman tạ thế, rồi nhà bán quá mau - mà tôi, tôi lại sắp cưới vợ vào mùa thu này, tôi cần phải chắc chắn là…
Chàng ngừng lại.
Elinor ôn tồn nói:
- Tôi hy vọng rằng thiếu tá Somewell sẽ dùng anh. Anh hãy tin cậy tôi, tôi sẽ làm hết sức mình.
Horlick lại nói:
- Xin cám ơn cô. Tất cả chúng tôi đều đã mong sao khu nhà sẽ được gia đình giữ lại. Xin cám ơn cô.
Elinor bước đi.
Bỗng nhiên, giống như luồng nước từ cái đập vỡ tung đổ xuống, một làn sóng phẫn uất dữ dội lướt tràn lên nàng.
Tất cả chúng tôi đều đã mong sao khu nhà sẽ được gia đình giữ lại”.
Lẽ ra thì nàng và Roddy đã sống ở đây. Nàng và Roddy… Roddy chắc hẳn muốn thế. Đó là điều chính nàng cũng muốn. Trước đây cả hai người lúc nào cũng yêu thích Hunterbury. Hunterbury thân thương… Trong những năm trước khi cha mẹ nàng chết, khi cha mẹ nàng sống ở Ấn Độ, nàng thường đến đây trong những dịp nghỉ. Nàng đã chơi nghịch trong rừng, đi dạo bên suối, đã ngắt hoa hương đậu buộc thành thành bó, đã ăn những trái lý gai xanh mướt mập tròn, những trái mâm xôi ngọt ngào đỏ thắm. Về sau, lại có những trái táo nữa. Có những nơi chốn, những hang hốc kín đáo, ở đấy nàng thu tròn mình đọc sách hàng giờ.
Nàng đã yêu Hunterbury. Từ tận đáy lòng mình, nàng đã có cảm tưởng là một ngày nào đó sẽ mãi mãi sống ở đây. Cô Laura đã nuôi dưỡng ý tưởng này bằng những tiếng, những câu ngắn gọn: “Elinor ạ, rồi đây có thể là cháu sẽ thích đốn những cây thủy tùng kia xuống. Có lẽ chúng hơi u ám quá”. “Ở đây nên có một khu vườn có nước. Rồi đây có lẽ cháu sẽ có”.
 Còn Roddy? Roddy cũng thế, cũng đã mong đợi Hunterbury là nhà của mình. Có lẽ khu nhà này đã nằm sau tình cảm của chàng đối với nàng, Elinor. Do đó chàng đã cảm thấy rắng họ phải cùng ở Hunterbury thế mới là hợp, mới là đúng.
Lẽ ra họ đã cùng ở với nhau tại đây rồi. Lẽ ra họ đã cùng ở đây - lúc này - không thu dọn nhà để bán, mà trang hoàng lại nó, trù tính làm thêm những cái đẹp mới trong nhà, trong vườn, rồi bước đi cạnh nhau trong thú vui tổ ấm uyên ương, hạnh phúc - đúng rồi, hạnh phúc cùng nhau - nếu không có cái tai họa gây ra do nhan sắc như bông hồng hoang dã của người con gái kia.
Roddy đã biết gì về Mary Gerrard kia nhỉ? Chẳng biết gì - chẳng biết gì hết. Chàng đã để ý đến cô ta - đến Mary thật kia. Rất có thể là cô ta có những đức tính đáng khâm phục, thế nhưng Roddy có biết gì về chúng không? Đó thực là câu chuyện cũ xưa, cái trò đùa xưa cũ của thiên nhiên.
Chính Roddy đã chẳng từng bào đó là “Bùa mê cháo lú” đó sao?
Chính Roddy đã chẳng từng thực hiện muốn vùng thoát khỏi nó đó sao?
Chẳng hạn như nếu Mary Gerrard chết đi thì Roddy rồi đây có không thừa nhận như thế này sao? “Thế là hay hơn nhất. Bây giờ mình hiểu ra rồi. Chúng ta chẳng có gì là tâm đầu ý hợp cả”.
Có lẽ chàng rồi sẽ buồn hiu mà nói thêm rằng, “Cô ta thật là một con người khả ái”.
Cứ để cho cô ta là như thế đối với chàng - đúng rồi - là một hoài niệm tuyệt vời, một vật báu đẹp đẽ, một thú vui lâu dài.
Nếu có sự gì xảy đến với Mary Gerrard, thì Roddy sẽ trở lại với nàng - Elinor. Nàng hoàn toàn chắc chắn như vậy.
Nếu có sự gì xảy đến với Mary Gerrard…
Elinor xoay nắm cửa hông. Nàng đi từ chỗ nắng ấm vào trong bóng mát của khu nhà. nàng rùng mình.
Ở đây thật là lạnh lẽo, âm u, ảm đạm. Dường như có cái gì đó đang ở tại đây, chờ đợi nàng, trong nhà…
Nàng bước dọc theo phòng đợi, rồi đẩy cái cửa bọc vải len dẫn vào căn phòng kho của người quản gia.
Mùi ẩm mốc xông lên ngai ngái. Nàng đẩy cửa sổ lên, mở toang ra.
Nàng đặt cái gói đồ xuống - bơ, ổ bánh mì, cái chai thủy tinh nhỏ đựng sữa. Nàng nghĩ. “Thực ngu quá. Mình muốn có cà phê”.
Nàng nhìn vào trong những cái hộp đặt trên kệ. Trong một cái hộp có một chút ít trà, nhưng không có cà phê.
Nàng nghĩ. “Ồ, được rồi. Cũng chẳng sao”.
Nàng mở gói, bày ra hai cái hũ thủy tinh đựng bột cá nhồi.
Nàng đứng ngắm các hũ đó trong giây lát, rồi rời khỏi phòng kho, đi lên lầu. Nàng bước thẳng tới phòng bà Welman. Nàng bắt đầu từ cái tủ đứng cao, mở các ngăn kéo, lấy ra, xếp đặt, gấp quần áo thành từng chồng nhỏ.
 
* * *
0
Trong nhà săn, Mary Gerrard nhìn quanh, lẻ loi hiu quạnh. Trước đây, vì lý do này khác, nàng đã không nhận thấy tất cả ở đây đều tù hãm biết là nhường nào.
Quãng đời quá khứ cuồn cuộn dồn dập trở lại với nàng. Mẹ thì may quần áo cho búp bê. Bố thì luôn luôn giận dữ, cáu kỉnh. Ghét nàng. Đúng rồi, gHét nàng…
Nàng bỗng nói với bà Hopkins:
- Trước khi mất. Bố cháu không nói gì sao? Không dặn lại cháu gì sao, thưa cô?
Bà Hopkins chai đá tàn nhẫn, tươi cười nói:
- Ồ, không, cháu ạ. Trước khi mất ông ta bị hôn mê bất tỉnh đến một giờ, có biết gì đâu.
Mary chậm rãi nói:
- Cháu nghĩ có lẽ đáng lẽ cháu phải xuống đây để chăm nom ông. Dù sao thì ông cũng là cha cháu.
Bà Hopkins hơi bối rối nói:
- Mary ạ, cháu hãy nghe cô nói đây: ông ta có là cha cháu hay không thì cũng chẳng ăn nhằm gì. Cô thấy rằng thời buổi bây giờ con cái chẳng quan tâm gì nhiều đến bố mẹ, mà có rất nhiều bậc cha mẹ cũng chẳng để ý gì đến con cái. Có lẽ là như thế đó, nhưng, dù sao, hơi đâu mà quay lộn lại quá khứ, mà thương cảm bùi ngùi. Chúng ta cứ phải tiếp tục sống - đó là việc của mình - mà đôi khi cũng chẳng dễ dàng gì đâu.
Mary nói chậm:
- Cháu nghĩ là cô nói đúng. Nhưng cháu cảm thấy có lẽ cháu có lỗi vì bố cháu và cháu đã không được thuận thảo với nhau.
Bà Hopkins nói mạnh:
- Vô lý quá.
Tiếng đó vang dội lên như tiếng bom nổ, dồn nén Mary.
Bà Hopkins quay sang nói về những việc thực tế hơn:
- Cháu sẽ tính như thế nào đối với các đồ đạc đó? Định chừa lại hay bán đi?
Mary hoài nghi nói:
- Cháu không biết nữa. Cô nghĩ thế nào?
Nhận định một cách thực tế, bà Hopkins nói:
- Một số đồ còn tốt và bền lắm. Cháu có thể chừa lại đó để rồi đây bày biện trong căn nhà riêng của cháu ở London. Mấy cái đồ rác rưởi, thì tống khứ đi. Ghế hãy còn tốt chán - bàn cũng vậy. Cái bàn giấy đẹp kia tuy đã hết mốt rồi, nhưng đóng bằng gỗ đào hoa tâm rất chắc; người ta bảo rằng đồ đạc kiểu thời Victoria sẽ có ngày lại hợp thời trang. Còn cái tủ áo lớn, nếu là cháu, cô sẽ bỏ quách đi. To quá, đặt đâu cũng chẳng vừa. Một nửa số đồ gỗ trong phòng ngủ, cháu hãy lấy đi.
Họ lập danh sách liệt kê các đồ đạc nên giữ lại hay bỏ đi.
Mary nói:
- Ông luật sư rất tử tế - cháu muốn nói đến ông Seddon. Ông ta ứng trước cho cháu một số tiền để cháu có thể trả lệ phí học nghề và các chi phí khác. Phải khoảng một tháng nữa thì số tiền mới có thể được chuyển hẳn cho cháu; ông ta bảo thế.
Bà Hopkins nói:
- Công việc của cháu ra sao rồi? Cháu có thích không?
- Cháu nghĩ cháu sẽ rất thích việc đó. Ban đầu cũng khá cực nhọc. Cháu về nhà mệt đến chết đi được.
Bà Hopkins nham hiểm nói:
- Hồi còn tập sự tạo bệnh viện thánh Kule, cô tưởng là cô sắp chết mất. Lúc ấy cô cảm thấy chẳng thể nào chịu đụng nổi được ba năm. Thế mà được đấy.
Hai người đã sắp xếp xong quần áo của ông già. Bây giờ họ mở đến cái hộp thiếc đựng giấy tờ cũ.
Mary nói:
- Cô cháu mình phải thanh toán cho xong các thứ này.
Họ ngồi xuống, mỗi người ở một bên bàn.
Bà Hopkins càu nhàu khi lôi một nắm giấy ra.
- Kỳ lạ thực, rác rưởi thế này mà cũng giữ. Các mảnh báo cắt, thư từ cũ. Đủ mọi thứ hầm bà lằng.
Mary giở một tài liệu ra, nói:
- Đây là tờ giấy hôn thú của bố và mẹ cháu. Ở vùng thánh Albans, năm 1919.
Bà Hopkins nói:
- Giấy giá thú, đó là tiếng dùng đã lỗi thời. Khối người trong làng này bây giờ vẫn dùng cái từ ngữ đó.
Mary nói giọng cứng cỏi:
- Thế nhưng, thưa cô…
Bà Hopkins bất chợt ngước nhìn lên. Bà trông thấy vẻ buồn khổ trong mắt cô gái. Bà lanh lảnh nói:
- Có gì thế?
Mary Gerrard giọng run run:
- Cô không thấy sao. Bây giờ là 1939. Cháu hai mươi mốt tuổi. Năm 1919 cháu đã lên một. Thế có nghĩa là - có nghĩ là - bố cháu và mẹ cháu lúc ấy chưa lấy nhau, mà mãi… mãi… về sau mới lấy nhau.
Bà Hopkins nhăn mặt, mạnh mẽ nói:
- À, dù thế nào nữa thì có gì đâu nào? Cháu đừng thắc mắc về chuyện đó, vào lúc này.
- Nhưng, cô ạ, cháu không sao kìm nổi.
Bà Hopkins nói bằng giọng oai quyền:
- Có nhiều cặp không đến nhà thờ, cho mãi đến khi họ phải đến. Nhưng thế là cuối cùng họ cũng đến nhà thờ, như vậy thì có gì là lạ đâu? Cô bảo thế đấy.
Mary thấp giọng nói:
- Theo ý cô, có phải vì thế mà bố cháu không bao giờ ưa thích cháu không? Có lẽ là vì mẹ cháu làm cho ông ta cười mình, phải thế không cô?
Bà Hopkins ngần ngừ, bặm môi rồi nói:
- Cô cho là không hẳn như thế đâu. - Bà ngừng lại. - À, được rồi, nếu cháu cứ thắc mắc về chuyện đó, thì cháu có thể biết sự thực này. Cháu không phải là con gái của ông Gerrard.
Mary nói:
- Té ra là vì thế đấy!
Bà Hopkins nói:
- Có lẽ thế.
Một đốm đỏ bỗng cháy rát hai bên má của Mary. Nàng nói:
- Cháu biết thế là sai trái nhưng cháu lấy làm mừng. Từ trước đến nay cháu luôn luôn cảm thấy bứt rứt khó chịu, bởi vì cháu không để ý gì đến bố cháu, nhưng nếu ông ta không phải là bố cháu, thì thế cũng là được rồi. Làm sao cô biết được việc đó?
Bà Hopkins nói:
- Trước khi chết, ông Gerrard nói đến việc đó rất nhiều. Cô đã phải gay gắt để buộc ông im miệng, nhưng ông bất cần. Tự nhiên là lẽ ra cô không nên nói gì với cháu, nếu việc này không bất ngờ nảy sinh ra.
Mary nói chậm.
- Cháu tự hỏi ai mới đích thực là cha cháu?
Bà Hopkins do dự, mở miệng ra rồi lại ngậm vào. Như thể bà thấy khó lòng quyết định được về một điểm nào đó.
Lúc ấy một cái bóng đen in xuống mặt phòng. Hai người nhìn quanh thì thấy cô Elinor Carlisle đứng ở cửa sổ.
Elinor nói:
- Chào bà, chào em.
Bà Hopkins nói:
- Chào cô Carlisle. Hôm nay trời đẹp quá.
Mary nói:
- Ồ - chào cô Elinor.
Elinor nói:
- Tôi đã làm mấy cái bánh xăng uých. Bà và em lên ăn nhé? Đã đúng một giờ rồi, bây giờ mà phải về nhà ăn trưa thì phiền phức lắm. Tôi có đủ cho ba người ăn.
Bà Hopkins ngạc nhiên vui vẻ nói:
- Thưa cô Carlisle, cô thực là chu đáo hết mức, tôi phải nói thế. Thực là phiền phải ngưng những công việc đang làm, lại phải từ làng lộn trở về đây. Tôi hy vọng là sáng nay chúng ta có thể làm xong việc được. Tôi đã đi lượt, thăm nom bệnh nhân rất sớm. Thế nhưng hóa ra lại mất nhiều thời giờ hơn là mình tưởng.
Mary nói biết ơn.
- Cám ơn cô Elinor. Cô tốt quá.
Ba người bước trên lối đi tiến tới khu nhà. Elinor đã mở cổng trước. Họ qua căn phòng đợi mát rượi. Mary hơi rùng mình. Elinor sắc sảo nhìn nàng.
- Sao thế em?
Mary nói:
- Ồ, không, thưa chị, chỉ hơi rùng mình. Tại vì ngoài nắng bước vào.
Elinor thấp giọng nói:
- Thực là kỳ lạ. Sáng nay chị cũng cảm thấy thế.
Bà Hopkins vui vẻ cười nói rôm rả.
- Ối chao, cô sẽ tưởng là nhà này có ma mất thôi. Tôi chẳng cảm thấy gì cả.
Elinor cười. Nàng đi dẫn đường tiến vào căn phòng vật dụng ở phía bên mặt cổng trước. Mành được cuốn lên, cửa sổ mở rộng. Tất cả đều có vẻ vui tươi.
Elinor đi qua phòng đợi, rồi bưng từ phòng kho về một cái khay lớn bày bánh xăng-uých. Nàng nín thở một phút, rồi thở hắt ra bằng cái thở dài. Nàng cắp khay ngang thắt lưng, đúng lơ đãng một lát, rồi trông thất bà Hopkins cặp môi he hé, dáng vẻ hau háu, nàng vội đưa khay mời bà.
Elinor lấy cho mình một bánh xăng-uých. Nàng nói biện bạch:
- Tôi định pha cà phê, nhưng quên là đã hết rồi. Tuy nhiên có rượu bia ở trên bàn kia, có ai muốn uống không?
Bà Hopkins buồn rầu nói:
- Phải chi tôi nghĩ đem theo ít trà.
Elinor lơ đãng nói:
- Có một ít trà để trong cái hộp để trong phòng kho.
Mặt bà Hopkins bừng sáng:
- Thế thì tôi phải đi lấy đun ấm nước mới được. Không có sữa sao?
Elinor nói:
- Có chứ, tôi có đem theo.
- Thế thì được lắm rồi - bà Hopkins nói rồi vội vàng đi ra.
Chỉ còn lại Elinor và Mary. Một làn khẩn trương kỳ lạ len vào bầu không khí trong căn phòng. Elinor gắng gượng khơi mào trò chuyện. Môi nàng khô ráo. Nàng thè lưỡi ra liếm môi. Nàng nói, hơi cứng cỏi:
- Em thích công việc ở London chứ?
- Thưa cô, cám ơn cô. Em… rất biết ơn cô…
Một tiếng gay gắt chợt thốt ra từ miệng Elinor. Một tiếng cười khác thường chói tai đến độ làm cho Mary phải đăm đăm nhìn nàng sửng sốt. Elinor nói.
- Em không cần phải biết ơn quá như thế.
Mary bối rối nói:
- Em không có ý nói… đó là… - Nàng ngừng lại.
Elinor nhìn nàng chòng chọc - một cái nhìn soi mói, lạ lùng đến nỗi khiến cho Mary phải băn khoăn, ngần ngại.
Mary nói:
- Thưa… thưa có gì không phải không?
Elinor đứng lên mau. Nàng quay đi, nói:
- Có gì không phải mới được chứ?
Mary nói khẽ:
- Cô… cô trông có vẻ…
Elinor cười nhẹ, nói:
- Chị đã nhìn chăm chăm phải không? Chị rất tiếc. Thỉnh thoảng chị vẫn thường thế đấy - khi chị đang nghĩ đến một chuyện gì khác.
Bà Hopkins từ cửa ngó vào, tươi cười nói:
- Tôi đã đun ấm nước rồi - Rồi lại đi ra.
Elinor bỗng cười rộ lên:
- Polly đun ấm nước, Polly đun ấm nước, Polly đun ấm nước - tất cả chúng ta đều có trà. Mary ơi, em có nhớ lúc chúng mình còn bé, mình thường chơi đùa như thế không?
- Thưa cô có, thực thế, em còn nhớ.
Elinor nói:
- Khi chúng mình còn bé, Mary ạ, thương thay chẳng bao giờ người ta trở lại được, phải thế không em?
Mary nói:
- Cô muốn trở lại không?
Elionor mạnh mẽ nói:
- Có, có chứ.
Sự im lặng rơi xuống giữa hai người trong một lát.
Rồi Mary mặt ửng hồng lên, nói:
- Thưa cô Elinor, cô không nên tưởng rằng…
Nàng bỗng ngừng bặt, vì thấy vóc dáng mảnh mai của Elinor bỗng nhiên sững lại, cằm hơi ngước lên.
Elinor nói bằng giọng lãnh lùng, sắt đá.
- Chị không nên tưởng gì cơ chứ?
Mary khẽ nói:
- Em… em đã quên bẵng đang nói gì rồi.
Thân hình Elinor thư giãn ra, như vừa qua một cơn hiểm nghèo.
Bà Hopkins bưng khay trà bước vào. Trên khay có một bình trà màu nâu, sữa và ba cái ly.
Không biết gì về tình hình suy giảm trên, bà nói:
- Có trà đây rồi.
Bà đặt khay trước mặt Elinor. Elinor lắc đầu nói:
- Tôi không muốn uống.
Nàng đẩy khay về phía Mary. Mary rót ra hai ly.
Bà Hopkins thích chí thở phào:
- Trà ngon và đặc lắm.
Elinor đứng lên, đi ra cửa sổ. Bà Hopkins nói thuyết phục:
- Cô Carlisle, cô có chắc là không muốn dùng một ly không? Trà làm cô thoải mái.
Elinor nói nhỏ:
- Không, cám ơn bà.
Bà Hopkins uống cạn ly trà, đặt ly lên đĩa tách, rồi nói khẽ:
- Tôi đi tắt ấm nước. Sẽ đun lại, phòng hờ mình còn cần nước rót vào bình.
Bà vội vã đi ra.
Elinor từ cửa sổ bước đi quanh phòng. Bỗng với giọng tha thiết cầu xin tuyệt vọng, nàng nói:
- Mary ơi.
Mary Gerrard đáp mau:
- Thưa gì thế?
Màu sáng từ từ tắt lọm trên mặt Elinor. Môi khép lại. Vẻ cầu khẩn tuyệt vọng phai nhòa, chỉ còn để lại chiếc mặt nạ, giá băng, lặng lẽ.
Elinor nói:
- Không có gì cả.
Sự im lặng trĩu xuống gian phòng.
Mary nghĩ. “Hôm nay mọi sự đều kỳ lạ quá - như thể chúng ta đang chờ đợi một sự gì”.
Cuối cùng Elinor chuyển động.
Nàng đi tới nhấc khay trà đặt lên chiếc khay xăng-uých trống không.
Mary chồm lên:
- Ồ, cô Elinor, để đấy em.
Elinor gay gắt nói:
- Không, em cứ ở đây. Chị sẽ làm.
Nàng đem khay ra khỏi phòng, ngoái đầu nhìn lại Mary Gerrard đứng bên cửa sổ, trẻ trung, sống động, và xinh đẹp…
Bà Hopkins ở trong phòng kho. Bà đang lau mặt bằng khăn tay. Khi Elinor bước vào, bà thoắt ngước nhìn lên và nói:
- Ở đây nóng nực quá.
Elinor đáp lời một cách máy móc:
- Đúng rồi, phòng kho trông về hướng nam.
Bà Hopkins cầm lấy khay trong tay Elinor.
- Cô để tôi rửa cho, cô Carlisle ạ. Trông cô có vẻ làm sao ấy.
Elinor nói:
- Ồ, tôi không sao cả.
Nàng cầm lấy khăn nói:
- Tôi sẽ lau khô.
Bà Hopkins sắn tay áo lên, đổ nước sôi từ ấm vào trong chậu.
Elinor nhìn cổ tay bà ta, nói vu vơ:
- Bà bị cái gì châm rồi.
Bà Hopkins cười:
- Tôi bị gai đâm ở giàn hoa hồng trong khu nhà săn. Bây giờ tôi sẽ khều ra.
Giàn hoa hồng ở khu nhà săn. Ký ức xô những lớp sóng tràn vào Elinor. Nàng cùng Roddy cãi lộn nhau - những cuộc chiến tranh hoa hồng (Cuộc chiến tranh xảy ra khoảng giữa thế kỷ XV ở nước Anh, giữa phe nhà York có huy hiệu là bông hồng trắng, ủng hộ vua Henri VI và phe nhà Lancastre có huy hiệu bông hồng đỏ ủng hộ vua Edward IV. Cuối cùng phe bông hồng đỏ thắng). Nàng cùng Roddy cãi lộn nhau - rồi dàn hòa với nhau. Những ngày đẹp đẽ, vui tươi, sung sướng. Một nỗi đau khổ đột ngột như làn sóng tràn lướt lên nàng. Bây giờ nàng lâm vào chỗ nào đây? Vào cái vực thẳm đen tối của hận thù - của tội lỗi nào đây? Nàng đứng dậy, hơi ngất ngư dao động.
Nàng nghĩ. “Ta đã điên - hoàn toàn điên mất rồi”.
Bà Hopkins tọc mạch chằm chằm nhìn nàng.
- Cô ta có vẻ kỳ quặc hết mức - bà Hopkin sau này kể lại - Cô ta nói như thể là cô ta không biết mình đang nói gì, mắt sáng rực lên kỳ lạ.
Ly, tách chạm nhau lách cách trong chậu. Elinor nhấc một hũ bột cá nhồi trống không ở trên bàn, bỏ vào chậu nước. Khi làm thế, nàng cảm thấy kinh dị về giọng nói vững chãi của mình. Nàng nói:
- Tôi đã lựa ra quần áo của cô Laura ở trên lầu rồi. Tôi nghĩ có lẽ bà có thể khuyên tôi dùng chúng ở đâu cho được ích lợi, trong làng này.
Bà Hopkins mau mắn nói:
- Thực thế, tôi sẽ cho ý kiến. Có bà Parkinson này, bà lão Nellie này, và cái bà khốn khổ kia nữa, không phải tất cả đều ở thảo xá Ivy. Xin hãy là điều may mắn bất ngờ cho những kẻ đó.
Bà Hopkins cùng Elinor dọn dẹp phòng kho. Rồi hai người cùng đi lên lầu.
Trong phòng bà Welman, quần áo được xếp thành các bọc gọn ghẽ: quần áo lót, áo dài, và thứ y phục đẹp, áo dự dạ hội bằng nhung, áo choàng may bằng da xạ thử. Cái áo choàng này Elinor nói đã định tặng bà Bishop.
Bà Hopkins gật đầu tán thành. Bà để ý thấy những chiếc áo lông chồn của bà Welman xếp trong tủ có ngăn kéo. Bà nghĩ “mình sẽ đem sửa lại để dùng cho mình”.
Bà đưa mắt nhìn những cái tủ đứng. Tự hỏi rằng liệu Elinor có thấy bức hình ký tên Lewis không, và nếu thấy nó thì cô ta đã dùng nó làm gì.
Bà nghĩ thầm: “Buồn cười thật, O’Brien đã bắt gặp thư mình! Chẳng bao giờ mình mường tượng một việc như vậy lại có thể xảy ra được. Cô ta lại với được bức hình ấy vào đúng cái ngày mình viết thư cho cô ta về bà Slattery”.
Bà giúp Elinor sắp xếp quần áo, tự nguyện buộc chúng thành những bọc riêng dành cho các gia đình khác nhau và chính mình lo việc phân phát.
Bà nói:
- Tôi có thể tiến hành việc này trong lúc Mary xuống thu dọn cho xong ở khu nhà săn. À mà cô ta bây giờ ở đâu nhỉ? Có phải cô ta đã xuống khu nhà săn không?
Elinor nói:
- Tôi để cô ta lại căn phòng vật dụng.
Bà Hopkins nói:
- Lúc này chắc cô ta không còn ở đó - bà xem đồng hồ - À, chúng ta đã ở đây gần một tiếng rồi.
Bà hối hả bước xuống cầu thang. Elinor đi theo bà.
Hai người vào phòng vật dụng.
Bà Hopkins kêu lên:
- À, cô nàng ngủ rồi.
Mary Gerrard ngồi trong chiếc ghế bành lớn bên cửa sổ. Nàng hơi gục mình xuống. Trong phòng vang lên một âm thanh kỳ dị: hơi thở nặng nhọc phì phào.
Bà Hopkins bước tới lay cô gái:
- Dậy đi, cháu ơi…
Bà ngừng sững lại. Cúi thấp, xệ một mí mắt xuống. Rồi bà bắt đầu lắc mạnh cô gái, rất là sốt sắng.
Bà quay lại nhìn Elinor. Có cái gì đe dọa trong giọng của bà khi nói:
- Thế là thế nào cơ chứ?
Elinor nói:
- Tôi không biết bà định nói gì. Có phải cô ta bệnh không?
Bà Hopkins nói:
- Máy điện thoại ở đâu? Hãy gọi bác sĩ Lord càng sớm càng tốt.
Elinor nói:
- Có sự gì thế?
- Sự gì à? Cô ta bệnh. Cô ta sắp chết.
Elinor lùi lại một bước, nói:
- Sắp chết ư?
Bà Hopkins nói:
- Cô ta đã bị đầu độc.
Mắt bà cứng lại vì nghi ngờ, nhìn trừng trừng Elinor.
0
CHƯƠNG 8
 
Hercule Poirot, đầu hình trứng hơi nghiêng về một bên, lông mày giương lên như dò hỏi, ngón tay chụm kết với nhau, ngắm chàng thanh niên đang bước những bước dài man rợ đi lại trong phòng với khuôn mặt tàn nhang dễ thương nhăn nhó.
Hercule Poirot nói:
- Sao thế, anh bạn ơi?
Peter Lord đứng sững lại.
Chàng nói:
- Thưa ông Poirot, trên đời này chỉ có ông là có thể giúp tôi được thôi. Tôi đã nghe Stillingfleet nói về ông: anh ta kể lại với tôi những điều ông đã làm trong vụ Benediet Parley. Mọi người đều cho là tự sát, mà ông đã chứng tỏ đó là một vụ sát nhân.
Hercule Poirot nói:
- Thế trong số bệnh nhân của cậu đang có một vụ tự tử mà cậu không được hài lòng phải không?
Peter Lord lắc đầu. Ngồi xuống đối diện với Poirot.
Chàng nói:
- Có một cô còn trẻ. Cô ta bị bắt và sắp bị đem ra xử về tội sát nhân. Tôi muốn ông tìm ra bằng cớ chứng tỏ rằng cô ta không phạm tội ấy.
Lông mày của Poirot giương lên hơi cao hơn. Thế rồi ông làm ra bộ kín đáo, tín cẩn. Ông nói:
- Cậu và cô tiểu thư kia - cô cậu đã đính hôn với nhau à? Cô cậu yêu nhau à?
Peter Lord cười - một cái cười sắc sảo, chua chát. Chàng nói:
- Không, không phải thế đâu! Cô ta có cái thị hiếu tồi quá, nên mới thích một cái gã ngạo nghễ kinh đời, có cái mũi dài dài và cái bản mặt giống như con ngựa rầu rĩ đó. Cô ta thật là ngốc, nhưng như thế đó.
Poirot:
- Tôi hiểu ra rồi.
Lord nói một cách chua cay:
- Ồ, phải lắm, ông thấy rõ rồi. Chẳng cần phải tế nhị gì về chuyện đó nữa. Tôi đã điên đảo vì cô ta liền. Chính vì thế tôi không muốn cô ta bị treo cổ. Ông hiểu chưa?
Poirot nói:
- Cô ta bị kết tội như thế nào?
- Cô ta bị buộc tội đã giết một cô gái tên là Mary Gerrard, bằng cách đầu độc bằng chất morphine hydrochloride. Chắc chắn ông đã đọc bản tường thuật cuộc điều tra trên báo chí.
Poirot nói:
- Còn động cơ sát nhân là gì?
- Vì ghen.
- Theo ý cậu thì cô ta không làm việc ấy hay sao?
- Không, cố nhiên là không rồi.
Hercule Poirot trầm ngâm nhìn chàng một lát, rồi nói:
- Cậu muốn tôi làm gì? Điều tra vụ ấy phải không?
- Tôi muốn cô ta được tha.
- Cậu ơi, tôi đâu có phải là luật sư bào chữa.
- Tôi xin nói rõ hơn: tôi muốn ông kiếm ra bằng chứng khiến cho luật sư có thể cãi cho cô ta được tha bổng.
Hercule Poirot nói:
- Cậu nói hơi lạ đấy.
Peter Lord nói:
- Vì tôi không che dấu vụ đó đi, ông muốn nói thế chớ gì? Đối với tôi thì thực là giản đơn. Tôi muốn cô ta được tha bổng. Tôi nghĩ chỉ có ông là người duy nhất làm được việc đó.
- Cậu muốn tôi xem xét các sự kiện ư? Tìm ra sự thực ư? Khám phá xem thực sự đã xảy ra như thế nào ư?
- Tôi muốn ông kiếm ra các sự kiện tỏ ra thuận lợi cho cô ta.
Hercule Poirot tỉ mỉ, thận trọng đốt một điếu thuốc lá nhỏ xíu. Ông nói:
- Thế nhưng cái điều cậu nói đây có hơi không trái đạo lý không? Đạt được sự thực, đó là điều làm tôi bao giờ cũng quan tâm. Nhưng sự thực là con dao hai lưỡi. Giả thử tôi tìm ra các sự kiện chống lại cô tiểu thư ấy thì sao? Cậu có yêu cầu tôi giấu nhẹm đi không?
Peter Lord đứng lên, mặt trắng bệch. Chàng nói:
- Không thể nào thế được. Ông chẳng thể nào tìm ra sự gì có thể chống lại cô ta hơn là những sự kiện đã có. Chúng là tội chứng riết ráo quá, đầy đủ quá. Có cả một đống bằng chứng chống lại cô ta rõ ràng minh bạch, cho tất cả mọi người đều thấy. Ông chẳng thể nào kiếm ra cái gì có thể buộc tội cô ta đầy đủ hơn là cô ta bị buộc tội đâu. Stillingfleet nói ông tài tình lắm. Tôi yêu cầu ông dùng hết tài trí mình để tìm ra một lối thoát, một cái chước có thể được.
Hercule Poirot nói:
- Chắc chắn là các luật sư của cô ta sẽ làm như thế.
- Họ có làm thế không? - Chàng cười khinh bỉ - Họ bị bại ngay trước khi khởi sự. Họ nghĩ là chẳng có hy vọng. Họ đã trao nhiệm vụ bào chữa cho Bulmer, luật sư biện hộ, là người chắc chắn thất bại; điều đó tự nó là một sự phản bội rồi. Y cãi hùng hồn lắm - thổn thức nhà nghề lắm - chỉ nhấn mạnh đến tuổi trẻ của tù nhân - thế thôi. Thế nhưng quan tòa sẽ chẳng khi nào để cho y thành công được. Chẳng có chút hy vọng nào.
Hercule Poirot nói:
- Giả sử là cô ta phạm tội - thì liệu cậu có còn muốn cho cô ta được trắng án không?
Peter Lord điềm nhiên nói:
- Có chứ.
Hercule Poirot cựa mình trong ghế bành, nói:
- Cậu làm cho tôi thấy hứng thú lắm.
Một lát sau ông nói:
- Tôi nghĩ cậu nên kể cho tôi biết những sự kiện chính xác của vụ này.
- Ông chưa đọc báo về vụ này sao?
Hercule Poirot phẩy tay:
- Có chứ - tôi có đọc báo nói đến vụ này. Nhưng báo chí thường nói trật lấc, tôi chẳng bao giờ tin cả.
Peter Lord nói:
- Vụ này rất là đơn giản. Đơn giản dễ sợ. Cô gái tên là Elinor Carlisle, vừa mới đến một nơi ở gần đây - gọi là Phủ đệ Hunterbury - rồi được hưởng gia tài của người cô chết không kịp làm di chúc. Người cô ấy tên là Welman. Bà ta có một người cháu do hôn nhân, tên là Roderick Welman. Ông ta đính hôn với Elinor Carlisle - việc này đã định từ lâu, họ biết nhau từ hồi còn nhỏ. Ở Hunterbury có một cô gái tên là Mary Gerrard, là con gái của ông coi khu nhà săn. Bà lão Welman kia đã làm nhiều chuyện om sòm về cô gái này, như cấp tiền cho cô ăn học, v.v… Hậu quả là cô ta coi bộ như là một tiểu thư, đối với bên ngoài. Hình như là Roderick Welman mê mẩn vì cô ta. Do đó việc đính hôn bị bãi bỏ.
- Bây giờ chúng ta đi đến sự việc. Elinor Carlisle rao bán khu nhà, rồi một người tên là Somervell mua khu nhà đó. Elinor đến để thu dọn các vật dụng riêng của người cô và vân vân. Mary Gerrard, mà ông bố vừa mới chết, đến thu dọn khu nhà săn. Đó là vào sáng hôm 27 tháng Bảy.
- Elinor Carlisle ngụ tại lữ quán địa phương. Trên đường phố cô ta gặp bà Bishop, là quản gia trước. Bà Bishop gợi ý đến khu nhà để giúp cô ta. Elinor khước từ - khá nhiệt liệt. Sau đó cô ta đi đến tiệm tạp hóa, mua bột cá nhồi, và tại đây cô ta nêu ra nhận xét về sự đầu độc bằng thức ăn. Ông thấy rồi chứ? Đó là một việc làm hoàn toàn hồn nhiên; thế nhưng, nó nói lên điều bất lợi cho cô ta. Cô ta đi lên khu nhà, và vào khoảng một giờ cô ta đi xuống nhà săn. Tại đây Mary Gerrard đang bận việc với bà Hopkins, điều dưỡng khu vực, đến giúp cô. Elionor bảo họ là cô ta đã làm sẵn mấy chiếc bánh xăng-uých ở khu nhà. Họ cùng với cô ta đi lên khu nhà, và khoảng chừng một giờ sau, tôi được mời đến và thấy Mary Gerrard hôn mê bất tỉnh. Tôi đã làm hết sức mình, nhưng không có hiệu quả. Việc mổ xác phát giác ra một lượng lớn chất morphine đã được dùng trước đó một thời gian ngắn. Cảnh sát tìm thấy một mẫu nhãn thuốc có in chữ morphine hydrochlor tại nơi Elinor Carlisle đặt bánh xăng-uých.
- Thế Mary Gerrard có ăn hay uống gì khác không?
- Cô ta cùng với bà điều dưỡng khu vực uống trà với bánh xăng-uých. Bà ta pha trà, còn Mary rót ra. Chắc không thể có gì nữa. Cố nhiên là, tôi biết luật sư sẽ đánh trống lãng về số bánh xăng-uých, họ sẽ nói rằng cả ba người cùng ăn bánh thì do đó không thể nào bảo chứng được là chỉ có một người bị đầu đọc. Họ đã nói như thế trong vụ Hearne, chắc ông còn nhớ.
Poirot gật đầu nói:
- Thế nhưng quả thật là rất đơn giản. Ta xếp một chồng bánh xăng-uých. Trong một chiếc bánh trong số đó có thuốc độc. Tôi đưa khay ra. Trong tình trạng văn minh của chúng ta hiện thời, kết luận tất nhiên phải là, người nào được đưa khay cũng sẽ lấy chiếc bánh gần mình nhất. Tôi đoán chừng là Elinor Carlisle đưa khay cho Mary Gerrard trước?
- Đúng thế.
- Mặc dù là bà điều dưỡng, là người nhiều tuổi hơn, có mặt trong phòng?
- Phải rồi.
- Thế thì có vẻ không đẹp lắm.
- Thực sự nó chẳng nói lên điều gì cả. Người ta không giữ nghi thức trong một bữa ăn picnic.
- Ai cắt bánh xăng-uých?
- Elinor Carlisle.
- Trong khu nhà còn có ai khác nữa không?
- Không có ai khác cả.
Poirot lắc đầu:
- Thực tệ hại quá. Thế cô ta không có cái gì ngoài nước trà và bánh xăng -uých sao?
- Không có gì cả. Các đồ ăn uống tìm thấy trong dạ dày cho ta biết như vậy.
Poirot nói:
- Người ta cho là Elinor Carlisle hy vọng rằng cái chết của cô gái kia sẽ được xem như là bị trúng độc do thức ăn? Cô ta định giải thích như thế nào về sự kiện chỉ có một người trong bữa đó bị trúng độc?
Peter Lord nói:
- Thỉnh thoảng cũng có xảy ra như vậy. Hơn nữa, bữa đó có hai cái hũ bột nhồi - bề ngoài cả hai hũ trông giống hệt nhau. Có thể nghĩ là một hũ thì tốt; do tình cờ Mary đã ăn phải tất cả số bột nhồi xấu.
- Đây đúng là một cuộc nghiên cứu thú vị đề định luật cái nhiên - Poirot nói - Tôi cho là số lượng những sự tình cờ chống lại biến cố đó hẳn phải cao. Nhưng còn một điểm này nữa, nếu cho là bị trúng độc do thức ăn thì: tại sao lại không chọn một chất độc khác? Những triệu chứng của morphine thì không giống một chút nào với các triệu chứng của sự trúng độc do thức ăn. Chắc chắn là dùng atrophine thì đúng hơn.
Peter Lord chậm rãi nói:
- Phải, đúng thế. Nhưng còn thêm điều này nữa. Cái bà điều dưỡng khu vực đáng ghét kia thề rằng bà ta đã đánh mất ống thuốc morphine.
- Bao giờ thế?
- Ồ, nhiều tuần trước, cái đêm bà Welman chết. Bà điều dưỡng nói rằng bà ta đã để cái cặp trong phòng đợi và sáng hôm sau thì thấy mất một ống morphine. Nói toàn vu vơ cả, tôi tin thế. Có lẽ bà ta đã đánh vỡ ở nhà trước đó ít lâu, rồi quên bẵng chuyện đó.
- Bà ta chỉ nhớ lại ống thuốc đó kể từ cái chết của Mary Gerrard, phải không?
Peter Lord nói một cách miễn cưỡng:
- Thực ra lúc ấy bà ta có nói đến việc này - với cô điều dưỡng đang phiên trực.
Hercule Poirot hơi quan tâm, nhìn Peter Lord. Nhẹ nhàng nói:
- Này cậu ạ, tôi nghĩ có một sự gì khác - một sự gì mà cậu chưa nói với tôi.
Peter Lord nói:
- Ồ, được rồi, tôi cho là ông nên biết tất cả thì hơn. Họ đang thi hành lệnh khai quật tử thi và đang đào bà Welman lên.
Poirot nói:
- Thế thì sao chứ?
Peter Lord nói:
- Khi họ đào, có lẽ họ sẽ thấy cái mà họ đang kiếm - chất morphine.
- Cậu đã biết thế sao?
Peter Lord mặt trắng bệch dưới lớp tàn nhang, lẩm bẩm nói:
- Tôi đã ngờ thế.
Hercule Poirot đập tay xuống tay ghế, nói to:
- Trời ơi, tôi không hiểu nổi cậu. Thì ra khi bà ta chết, cậu đã biết rằng bà ta bị giết sao?
Peter Lord kêu lên:
- Lạy Chúa, không phải thế đâu. Tôi chẳng bao giờ nghĩ đến một điều gì như thế cả. Lúc ấy tôi nghĩ rằng bà ta đã tự lấy uống viên thuốc đó.
Poirot ngồi rụt lại trong ghế:
- A, cậu đã nghĩ thế.
- Cố nhiên là tôi đã nghĩ thế. Bà ta đã nói với tôi về việc ấy. Đã hơn một lần bà ta hỏi tôi xem có thể “kết thúc cho bà ta” được không. Bà ta thù ghét bệnh hoạn, chẳng tự làm được việc gì - cái đó bà ta gọi là nỗi sỉ nhục phải nằm ườn cho người ta chăm sóc như đứa con nít. Mà bà ta lại là một người đàn bà rất kiên quyết.
Peter Lord im lặng một lát, rồi nói tiếp.
- Tôi lấy làm ngạc nhiên được tin bà chết. Tôi đã không trông đợi điều ấy. Tôi xua cô điều dưỡng ra khỏi phòng, rồi điều tra hết sức kỹ lưỡng. Cố nhiên là không thể nào chắc chắn được gì nếu không giải phẫu tử thi. À, làm thế thì ích gì cơ chứ? Nếu bà ta đã băng theo lối tắt, thì tại sao lại làm to chuyện và gây nên điều xấu xa, nhục nhã? Tốt hơn là hãy ký chứng chỉ và để cho bà ta được chôn cất bình an. Dù sao, lúc ấy tôi không thể chắc được. Tôi đã quyết định làm, tôi cho là thế. Nhưng tôi không hề nghĩ đến lừa dối, gian lận. Tôi hoàn toàn tin chắc bà ta đã tự làm việc ấy.
Poirot hỏi:
- Lúc ấy cậu nghĩ bà ta có được morphine bằng cách nào?
- Tôi đã không có một chút ý nghĩ nào cả. Thế nhưng, như tôi nói với ông đây, bà ta là một phụ nữ lanh lợi, tháo vát, có nhiều tài trí và quyết tâm.
- Bà ta có thể có được thứ thuốc đó từ nơi các điều dưỡng viên được không?
Peter Lord lắc đầu:
- Không bao giờ thế được. Ông không biết gì về các điều dưỡng viên cả.
- Từ nơi họ hàng bà con thì sao?
- Có thể thế lắm. Có thể bà ta đã tác động đến tình cảm họ.
Hercule Poirot nói:
- Cậu đã cho tôi biết rằng bà Welman chết không để lại di chúc. Nếu như bà ta sống thì bà ta có làm di chúc không?
Peter Lord bỗng nhăn nhở nói:
- Với sự chính xác quỷ quái ông đặt ngón tay vào tất cả những chỗ cực kỳ quan trọng, phải thế không nào? Đúng thế, bà ta sắp làm di chúc; rất bối rối, xúc động về việc này. Không nói mạch lạc cho người ta hiểu được, nhưng đã tỏ nguyện vọng khá rõ ràng. Trước tiên Elinor Carlisle phải kêu dây nói cho luật sư ngay sáng hôm đó.
- Như vậy là Elinor Carlisle đã biết rằng bà cô muốn làm di chúc? Và nếu bà ta chết mà không làm di chúc, thì Elinor Carlisle được thừa kế tất cả mọi thứ phải thế không?
Peter Lord nói mau:
- Cô ta không biết việc đó. Cô ta không nghĩ là cô mình đã chưa bao giờ làm di chúc.
- Cậu ơi, đó là cô ta nói thế thôi, chứ có thể là cô ta đã biết.
- Này, ông Poirot, ông là ủy viên công tố đấy à?
- Vào lúc này, thì đúng thế. Tôi cần phải biết đầy đủ mọi sự vụ này chống lại cô ta. Elinor Carlisle có thể lấy được morphine trong chiếc cặp không?
- Được. Một kẻ nào khác cũng có thể lấy được. Còn Roderick Welman. Còn cô điều dưỡng O’Brien. Và bất cứ một tên gia nhân nào.
- Hoặc là bác sĩ Lord nữa?
Peter Lord mở toang mắt nói:
- Chắc chắn thế rồi. Nhưng thế là thế nào mới được chứ?
- Cám ơn, có lẽ vậy.
Peter Lord lắc đầu:
- Chẳng ổn chút nào cả! Ông phải tin tôi!
Hercule Poirot ngồi tựa vào lưng ghế nói:
- Chúng ta cứ nên giả thiết xem. Giả sử Elinor Carlisle đã lấy morphine trong cái cặp rồi cho bà cô uống. Có ai nói đến việc mất morphine không?
- Trong nhà không ai nói điều đó cả. Hai cô điều dưỡng giữ việc đó cho riêng họ.
Poirot nói:
- Theo ý cậu, Vương quyền sẽ có hành động gì?
- Ông muốn nói nếu họ tìm thấy morphine trong xác bà Welman, phải không?
- Phải.
Peter Lord bừng bừng sát khí nói:
- Có thể là nếu Elinor được tha bổng trong vụ này, thì cô ta sẽ bị bắt lại và bị buộc tội giết bà cô.
Poirot trầm ngâm nói:
- Các động cơ khác nhau, tức là, trong vụ bà Welman động cơ chắc hẳn là lợi, còn trong vụ Mary Gerrard thì động cơ được giả định là ghen.
- Đúng thế.
Poirot nói:
- Bên biện hộ định dùng phương cách nào?
Peter Lord nói:
- Bulmer định bào chữa là trong vụ này không có động cơ. Ông ta sẽ trình bày là việc đính hôn giữa Elinor và Roderick là một việc nội bộ của gia đình, được đề ra vì lý do gia đình, để làm vui lòng bà Welman; lúc bà ta chết, Elionor đã bãi bỏ việc đính hôn theo ý mình. Roderick Welman sẽ làm chứng cho thực tế đó. Tôi nghĩ ông ta hầu như tin như vậy.
- Roderick có tin là Elinor không quan tâm đến mình nhiều lắm không?
- Phải, Roderick tin là thế.
- Trong trường hợp này - Poirot nói - cô ta chắc hẳn không có lý do nào để giết Mary Gerrard cả.
- Đúng vậy.
- Thế nhưng trong trường hợp ấy, thì ai đã giết Mary Gerrard?
- Tùy ông nói.
Poirot lắc đầu:
- Thực là khó.
Peter Lord sôi nổi nói:
- Thế đấy! Nếu cô ta không giết, thì ai giết? Lại còn nước trà nữa; nhưng cả bà Hopkins lẫn Mary đều uống. Bên Biện gắng đưa ra ý kiến là chính Mary Gerrard đã lấy morphine sau khi hai người rời phòng - là cô ta đã tự tử, đúng thực là thế.
- Cô ta có lý do nào để tự tử không?
- Không có bất kỳ lý do nào cả.
- Cô ta có thuộc về loại người có khuynh hướng tự vẫn không?
- Không.
Poirot nói:
- Mary Gerrard là người như thế nào?
Peter Lord suy nghĩ.
- Cô ta là… là một cô bé xinh xắn. Phải, đúng là một cô bé xinh xắn.
Poirot thở dài, nói khẽ.
- Cái anh chàng Roderick Welman có yêu cô ta vì cô ta là một cô bé xinh không?
Peter Lord nói:
- Ồ, tôi hiểu ông định nói gì rồi. Cô ta đẹp, trông được lắm.
- Thế còn cậu nữa? Cậu không có cảm tình với cô ta sao?
Peter Lord nhìn chăm chăm:
- Lạy Chúa, không.
Hercule Poirot nghĩ ngợi một lát, rồi nói:
- Roderick Welman nói rằng giữa ông ta và Elinor Carlisle có mối thân tình, nhưng không có gì thắm thiết hơn. Cậu có đồng ý về điều đó không?
- Làm sao tôi biết được chứ?
Poirot lắc đầu:
- Lúc cậu vào phòng này cậu có nói với tôi là Elinor Carlisle có thị hiếu tồi, đi yêu cái anh chàng có cái mũi dài, hợm hĩnh, kênh kiệu. Đó chính là bức họa miêu tả Roderick Welman, tôi nghĩ thế. Như vậy là, theo cậu thì cô ta có thực quan tâm đến ông ta ta.
Peter Lord bực tức, thấp giọng nói:
- Ừ, thì cô ta để ý đến anh ta đấy. Để ý sát rạt.
Poirot nói:
- Vậy là đã có động cơ rồi.
Peter Lord nhìn chếch về phía ông, mặt bừng bừng tức giận.
- Thế thì có quan hệ gì nào? Cô ta có thể làm như vậy chứ. Nếu cô ta có làm thế, tôi cũng chẳng quan tâm chút nào.
Poirot nói:
- A ha!
- Nhưng tôi không muốn cô ta bị treo cổ, ông biết đấy. Cứ cho là cô ta đã bị đẩy đến chỗ tuyệt vọng. Tình yêu là một sự tuyệt vọng, cong queo. Nó có thể biến con sâu thành một người tốt đẹp - mà cũng có thể xô một con người tử tế, thẳng thắn xuống vũng nước cặn bùn lầy. Giả sử cô ta đã làm thế. Ông có lòng thương xót nào không?
Hercule Poirot nói:
- Tôi không tán thành việc giết người.
Peter Lord nhìn chăm chăm ông, trông ra chỗ khác, rồi lại nhìn ông, cuối cùng phá lên cười.
- Tất cả những điều đó nói ra - sao mà quá nghiêm trang mà cũng quá nông cạn nữa. Ai yêu cầu ông tán thành nào? Tôi không đòi hỏi ông nói dối. Sự thực là sự thực, phải thế không? Nếu ông kiếm thấy điều gì có thể có lợi cho bị cáo, thì chắc ông sẽ không xuôi chiều vùi giập nó đi vì cô ta có phạm tội, phải thế không ông?
- Chắc chắn không rồi.
- Thế thì tại sao ông lại không thể làm cái việc tôi yêu cầu ông?
Hercule Poirot nói:
- Anh bạn ơi, tôi hoàn toàn sẵn sàng làm như vậy.
0
CHƯƠNG 9
 
Peter Lord đăm đăm nhìn ông, rút khăn ra lau mặt, rồi ngồi phịch xuống ghế.
- Ối chao! - Chàng nói - Ông làm tôi nổi nóng mất. Tôi chẳng thấy ông đạt được gì cả.
Poirot nói:
- Tôi đang xét về cái vụ chống lại Elinor Carlisle. Nay thì tôi biết rồi. Morphine đã được dùng cho Mary Gerrard; và, theo như tôi biết, thì chắc chắn nó đã được bỏ vào bánh xăng-uých. Không có ai mó vào những cái bánh xăng-uých đó ngoại trừ Elinor Carlisle. Elinor Carlisle có động cơ để giết Mary Gerrard, và, theo ý cậu, thì cô ta có khả năng giết Mary Gerrard, và rất có thể là cô ta đã giết Mary Gerrard. Tôi không thấy lý do nào để có thể tin khác thế được. Này anh bạn ơi, đó là một mặt của vấn đề. Bây giờ chúng ta hãy loại ra khỏi trí óc tất cả các nhận định đó và hãy nhích lại gần vụ này từ góc cạnh đối ngược: Nếu Elinor Carlisle không giết Mary Gerrard, thì ai đã giết? Hay là Mary Gerrard đã tự tử?
Lord ngồi nhổm dậy. Một vết nhăn hằn trên trán chàng. Chàng nói.
- Bây giờ thì ông không hoàn toàn chính xác.
- Tôi ấy à? Không chính xác à? - Poirot có vẻ bị lăng nhục.
Lord không hề nao núng, tiếp tục nói:
- Không. Ông bảo là không ai ngoài Elinor Carlisle ra đã mó vào bánh xăng-uých. Ông không biết đâu.
- Không có một người nào khác ở trong khu nhà.
- Đó là theo như chúng ta biết. Nhưng ông đã không kể đến một khoảng thời gian ngắn. Lúc ấy đã có một thời gian Elinor Carlisle rời khu nhà đi xuống nhà săn. Trong khoảng thời gian ấy bánh xăng-uých nằm trên cái khay ở trong phòng kho, và có thể là có kẻ nào đó đã lục lọi.
Poirot hít một hơi dài nói:
- Ccậu nói đúng. Tôi thừa nhận điều đó. Đã có một thời gian mà một kẻ nào đó có thể là đã vào chỗ để cái khay đựng bánh xăng-uých. Chúng ta phải cố nghĩ xem ai có thể là kẻ đó; tức là kẻ đó là hạng người nào.
Ông ngừng lại:
- Chúng ta hãy xét đến Mary Gerrard. Một kẻ nào đó, không phải là Elinor Carlisle, đã mong mỏi cô ta chết. Tại sao? Có kẻ nào chắc mẩm sẽ được lợi do cái chết của cô ta? Cô ta có để lại tiền bạc gì không?
Lord lắc đầu:
- Lúc đó thì không. Một tháng sau đó cô ta sẽ có hai ngàn đồng bảng. Elinor Carlisle tính cấp số tiền đó cho cô ta, vì Elinor tin rằng bà cô hẳn là mong muốn như thế. Nhưng di sản của bà ta vẫn chưa giải quyết xong.
Poirot nói:
- Thế thì chúng ta có thể gạt bỏ khía cạnh tiền bạc. Cậu nói, Mary Gerrard xinh đẹp. Với cái đó thì luôn luôn có rắc rối đấy. Cô ta có nhiều người say mê không?
- Có lẽ có. Tôi không biết nhiều về điều đó.
- Vậy thì ai biết?
Lord cười nhăn nhở:
- Có lẽ nên gởi ông đến bà điều dưỡng Hopkins. Bà ta là người mõ rao của thị trấn này. Bà ta biết tất cả mọi chuyện xảy ra ở Maidensford.
- Tôi sắp yêu cầu cậu cho biết cảm tưởng đối với hai người điều dưỡng ấy.
- Cô O’Brien người Ái-nhĩ-lan là điều dưỡng viên tốt, có khả năng, hơi ngốc đôi chút, có lẽ hay hằn học, cũng hơi nói dối - thuộc loại người giàu tưởng tượng., không lừa gạt nhiều, nhưng vẫn phải bày đặt chuyện về đủ mọi sự.
Poirot gật đầu.
- Hopkins là một bà trung niên nhạy cảm sắc sảo, khôn ngoan, ân cần niềm nở, có khả năng, nhưng rất hay soi mói vào công việc của người khác.
- Nếu có rắc rối gì với chàng trai nào trong làng, thì liệu bà Hopkins có biết không?
- Chắc chắn biết.
Lord chậm rãi nói thêm:
- Tuy nhiên, tôi không tin là có gì thực rõ rệt về chuyện ấy. Mary đã lâu ngày không ở quê nhà. Cô ta sang Đức trong hai năm.
- Có phải lúc ấy cô ta hai mươi mốt tuổi không?
- Phải.
- Có thể có rắc rối vơi một người Đức nào chăng?
Lord mặt rạng rỡ, hăm hở nói:
- Ông muốn nói có một gã Đức nào đó đã phải ôm hận vì cô bé đó, phải không? Rồi y đã theo dõi cô ta đến đây, chờ đợi thời cơ, và cuối cùng đã đạt được mục tiêu?
- Có vẻ khá lâm ly thống thiết đấy - Hercule Poirot hoài nghi nói.
- Nhưng có thể như thế chứ?
- Không chắc lắm.
Lord nói:
- Tôi không đồng ý với ông. Có thể là một gã nào đó tức giận cô ta, rồi nổi xung lên khi bị cô ta cho rơi. Y nghĩ là đã bị cô ta đối xử tàn tệ. Đó cũng là một ý.
- Đúng, đó là một ý - Poirot nói, nhưng giọng không khích lệ.
Lord khẩn khoản nói:
- Xin ông nói tiếp đi, ông Poirot.
- À, tôi hiểu rồi, cậu muốn tôi làm trò ảo thuật chứ gì. Lôi từ cái mũ trống ra hết con thỏ này đến con thỏ khác.
- Ông có thể cho là như thế, nếu ông thích.
- Còn có một khả năng khác nữa - Poirot nói.
- Xin cứ nói tiếp.
- Có một kẻ nào đấy đã lấy ống morphine trong cặp của bà Hopkins vào buổi chiều tối tháng năm. Giả sử là Mary Gerrard đã trông thấy cái kẻ lấy đó?
- Thì cô ta hẳn đã nói ra rồi.
- Không, không, cậu ơi. Phải biết suy luận đôi chút chứ. Nếu Elinor Carlisle, hay Roderick Welman, hay cô O’Brien, hay ngay cả một tên gia nhân nào đó nữa, mà mở cặp ra, lấy cái ống thủy tinh đó, thì người ta sẽ nghĩ gì? Người ta chỉ cho là người ấy đã được bà điều dưỡng phái đến kiếm vật gì trong cái cặp đó thôi. Việc ấy vượt ngay ra khỏi tâm trí của Mary Gerrard lúc đó, nhưng có thể là, sau này, cô ta đã nhớ lại và tình cờ kể lại với người nói trên - ồ, mà không có chút nghi ngờ nào cả. Nhưng đối với cái người phạm tội giết bà Welman, thì hiệu quả của nhận định ấy sẽ như thế nào, cậu thử nghĩ xem. Mary đã nhìn thấy, Mary phải bị bịt miệng với bất cứ giá nào. Tôi có thể nói chắc với cậu là, người nào đã một lần phạm tội giết người thì thấy giết người một lần nữa cũng quá dễ dàng hơn.
Lord nhăn mặt nói:
- Từ nãy đến giờ tôi cứ ngỡ là chính bà Welman đã lấy viên thuốc đó.
- Nhưng bà ta bị bại liệt, có tự mình làm nổi đâu, bà ta vừa mới bị phát cơn bệnh lần thứ hai.
- Ồ, tôi biết ra rồi. Tôi có ý nghĩ là, sau khi có được viên morphine bằng cách này hay cách khác, bà ta đã giữ trong một đồ đựng ở ngay bên mình.
- Nhưng trong trường hợp đó hẳn bà ta đã phải có được viên morphine trước lần phát cơn thứ hai, thế mà bà điều dưỡng lại thấy mất viên thuốc sau đó.
- Bà Hopkins chỉ thấy mất viên morphine vào sáng hôm đó. Có thể là nó đã được dùng trước đó mấy ngày rồi, mà bà ta đã không nhận biết.
- Làm thế nào mà bà Welman đã có được viên thuốc đó?
- Tôi không biết. Bà ta đã cho tiền gia nhân chăng, có lẽ thế. Nếu quả là như vậy, thì tên gia nhân ấy sẽ chẳng bao giờ nói ra cả.
- Cậu cũng không nghĩ các điều dưỡng viên được hối lộ ư?
Lord lắc đầu:
- Không bao giờ đâu! Trước hết là cả hai người điều dưỡng này đều giữ rất chặt luân lý chức nghiệp - hơn nữa, họ sợ đến khiếp đảm khi làm một việc như vậy. Họ biết làm thế sẽ nguy hiểm cho chính bản thân họ.
Poirot nói:
- Đúng là thế.
Ông trầm ngâm nói tiếp:
-Dường như là chúng ta quay trở lại vấn đề, phải không? Ai là kẻ khả nghi nhất đã lấy ống thuốc morphine đó? Elinor Carlisle! Chúng ta có thể nói là cô ta muốn nắm chắc quyền thừa kế cái tài sản lớn lao ấy. Nếu rộng lượng hơn, thì chúng ta có thể nói rằng cô ta đã làm thế vì thương hại, cô ta đã lấy viên morphine cho bà ta uống thể theo yêu cầu của bà ta được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Nhưng cô ta đã lấy viên thuốc, và Mary Gerrard đã nhìn thấy cô ta làm như vậy. Như vậy là chúng ta lại trở về với cái bánh xăng-uých và khu nhà vắng vẻ, và một lần nữa chúng ta lại thấy cô Elinor Carlisle - nhưng lần này với một đông cơ khác để mà cứu thoát cái cổ của cô ta.
Lord kêu lên:
- Thực là qúai đản. Tôi nói ông biết, cô ta không phải là hạng người như thế. Tiền bạc thực sự chẳng có nghĩa gì đối với cô ta - hay đối với Roderick cũng vậy. Tôi quyết chắc thế. Tôi đã nghe thấy cả hai người đều nói như thế.
- Cậu đã nghe thấy ư? Thực thú vị quá. Đó là cái lời kể lại mà bao giờ nghe tôi cũng rất hoài nghi.
Lord nói:
- Ông tệ quá, ông Poirot ạ, bao giờ ông cũng phải xoay xoắn mọi sự cho trở lại với cô gái kia sao?
- Chẳng phải là tôi xoay xoắn sự việc đâu, mà chính chúng tự xoay xoắn đó. Giống như cây kim chỉ ở hội chợ vậy. Nó xoay quanh, và khi ngừng lại thì bao giờ nó cũng chỉ vào cùng một cái tên - Elinor Carlisle.
Lord nói:
- Không phải thế.
Poirot buồn bã lắc đầu, rồi nói:
- Elinor Carlisle có họ hàng bà con nào không? Có chị em ruột, chị em họ không? Có cha hay mẹ không?
- Không, cô ta mồ côi - chỉ có một mình ở cõi đời này.
- Có vẻ bi thảm quá. Tôi chắc Bulmer sẽ đóng nhiều trò với cái sự đó. Vậy thì ai sẽ thừa hưởng tiền bạc của cô ta, nếu cô ta chết?
- Tôi không biết. Tôi chưa hề nghĩ đến việc đó.
Poirot nói trách.
- Bao giờ cũng phải nghĩ đến các điều đó chứ. Chẳng hạn như, cô ta đã làm di chúc chưa?
Lord bừng đỏ mặt, ngập ngừng nói:
- Tôi… tôi không biết nữa.
Poirot nhìn lên trần nhà, đầu ngón tay chụm lại:
- Cậu biết đấy, cậu nên cho tôi biết.
- Biết cái gì cơ chứ?
- Biết đúng cái gì đang ở trong đầu óc cậu - dẫu cho cái đó có tai hại cho Elinor Carlisle.
- Làm sao ông biết?
- Đúng, đúng thế, tôi biết. Có một sự gì - một việc bất ngờ nào đó trong óc cậu. Cậu nên cho tôi biết, nếu không thì tôi sẽ tưởng tượng là một sự gì tệ hại hơn là sự thật.
- Chẳng là gì cả - thực ra thì…
- Chúng ta đồng ý là chẳng là gì cả. Nhưng hãy cho tôi nghe xem đó là cái gì.
Một cách chậm chạp, miễn cưỡng, Lord để mặc câu chuyện tuôn ra - cái cảnh Elinor đứng tựa cửa sổ nhà bà điều dưỡng Hopkins, và cái cười của cô.
Poirot trầm ngâm nói:
- Cô ta đã nói như thế này, phải không: “Thế ra em đang làm di chúc đấy à, Mary? Thực là nực cười, thực là nực cười quá”. Có lẽ cô ta đang nghĩ rằng Mary Gerrard sẽ chẳng sống lâu.
Lord nói:
- Tôi chỉ tưởng tượng thế. Tôi không biết.
Poirot nói:
- Không đâu. Cậu không chỉ tưởng tượng thế đâu.
0
CHƯƠNG 10
 
Hercule Poirot ngồi trong nhà tranh của bà điều dưỡng Hopkins.
Bác sĩ Lord đã đem ông tới đây, giới thiệu với bà ta. Sau cái đưa mắt của Poirot, chàng để cho hai người nói chuyện tay đôi với nhau.
Thoạt tiên, bà Hopkins hơi nghi ngờ, quan sát vẻ mặt xa lạ của ông, nhưng rồi hết dè dặt ngay.
Với niềm hứng thú đượm chút ảm đạm, bà nói:
- Đúng rồi, thực là một chuyện kinh khủng. Một trong những chuyện khủng khiếp nhất mà tôi từng được biết. Mary là một trong số những cô gái xinh đẹp nhất mà ông từng được thấy. Chắc chắn sẽ đóng phim nay mai. Cô ta ngoan ngoãn, chín chắn, không huênh hoang kênh kiệu. Với tất cả sự lưu ý đổ dồn vào mình, lẽ ra cô ta phải có tính ngạo mạn, kiêu căng.
Poirot khéo léo chêm vào một câu hỏi:
- Bà có ý nói là sự lưu ý dồn vào cô ta là của bà Welman phải không?
- Tôi muốn nói thế đấy. Bà lão đã yêu thích cô ta hết mức - thực là hết mức.
Poirot nói nhỏ:
- Đến độ làm cho người ta phải ngạc nhiên, có lẽ thế chăng?
- Cũng tùy chứ. Thực ra thì có lẽ hoàn toàn tự nhiên thôi. Tôi muốn nói là… - bà Hopkins mím môi, có vẻ bối rối - Tôi muốn nói là, Mary có cái cách tuyệt lắm: giọng nói dịu dàng, điệu bộ vui tươi. Theo ý tôi, có được khuôn mặt trẻ trung như thế ở bên mình thì thực là tốt cho một người tuổi tác.
Poirot nói:
- Cô Carlisle có thỉnh hoảng xuống đây thăm bà cô không?
Bà Hopkins nói gay gắt:
- Cô Carlisle xuống đây khi nào cô ta thích xuống. Tôi không mong thế, thực thế đấy. Một kẻ đầu độc. Một kẻ đầu độc không biết ghê tay.
- À ra thế - Poirot nói - Tôi hiểu bà đã có định kiến rồi?
Bà Hopkins ngờ vực nói:
- Ông muốn nói gì thế? Có định kiến sao?
- Bà có chắc là chính cô ta đã cho Mary Gerrard ăn morphine không?
- Còn ai vào đó nữa, tôi muốn được biết. Ông không có ý nói là tôi đã làm việc ấy chứ?
- Lúc này thì không. Nhưng tội của cô ta còn chưa được chứng tỏ, bà nên nhớ thế.
Bà Hopkins vững tâm điềm nhiên nói:
- Đúng là cô ta đã làm việc ấy. Ngoài cái gì khác ra, ông cứ nhìn mặt cô ta thì biết. Cô ta kỳ dị lắm, lúc nào cũng thế. Cô ta đưa tôi lên lầu, giữ tôi ở đó, kéo dài thời gian càng lâu càng tốt. Thế rồi khi tôi ngoảnh lại nhìn cô ta sau khi thấy Mary như vậy, thì thấy cái đó nó hiện rõ rành rành trên mặt cô ta. Cô ta biết là tôi biết.
Poirot trầm ngâm nói:
- Chắc chắn khó mà biết được kẻ nào khác đã làm việc ấy. Cố nhiên là, trừ phi chính Mary tự làm.
- Cô ta tự làm thế ư, ông muốn nói gì thế? Có phải là ông muốn nói là Mary đã tự tử không? Tôi chưa hề nghe thấy một chuyện nào phi lý như vậy.
Poirot nói:
- Làm sao biết được. Trái tim của gái trẻ thì nhạy cảm lắm, mềm yếu lắm. - ông ngừng lại - Việc ấy có thể xảy ra lắm, tôi cho là thế. Có thể là cô ta đã bỏ cái gì vào trong chén trà của cô ta mà bà không nhận thấy?
- Bỏ nó vào trong ly của mình, ông muốn nói thế sao?
- Phải. Có phải lúc nào bà cũng canh cừng cô ta đâu.
- Không đâu - tôi không canh cừng cô ta. Phải rồi, tôi cho là có thể cô ta đã làm việc đó… Nhưng thực vô lý quá! Cô ta làm thế để làm gì chứ?
Poirot lấy lại điệu bộ lúc trước, lắc đầu nói:
- Như tôi nói đó, trái tim gái trẻ thì rất nhạy cảm. Một chuyện tình đau khổ, có lẽ thế…
Bà Hopkins khịt mũi nói:
- Bọn con gái chúng nó chẳng tự tử vì tình đâu - trừ phi chúng theo lề thói của con nhà gia thế - mà Mary thì lại không phải là thế. Tôi nói cho ông biết! - Bà nhìn Poirot trừng trừng, tỏ vẻ tham chiến.
- Thế cô ta không yêu đương sao?
- Cô ta thì không đâu. Hoàn toàn muốn được thảnh thơi. Ham mê công việc và hưởng thụ cuộc đời.
- Nhưng cô ta chắc phải có nhiều kẻ say mê, vì cô ta duyên dáng, nhiều sức quyến rũ.
Bà Hopkins nói:
- Cô ta chẳng phải là hạng gái khêu gợi hấp dẫn, mà là một cô gái trầm lặng.
- Nhưng chắc chắn phải có những chàng trai trong làng say mê cô ta?
- Có Ted Bigland, cố nhiên rồi.
Poirot rút ra được nhiều chi tiết về Ted Bigland.
- Anh ta theo đuổi Mary riết lắm - bà Hopkins nói - Nhưng cô ta hơn đứt anh ta. Tôi đã nói với cô ta thế.
Poirot nói:
- Chắc anh ta phải tức giận khi thấy cô ta không để ý đến mình?
- Đúng thế, anh ta rất buồn về chuyện này - bà Hopkins thừa nhận - Anh ta cũng trách cả tôi nữa.
- Có phải anh ta nghĩ là tại bà không?
- Y nói thế đấy. Tôi có toàn quyền khuyên cô ta chứ. Dù sao, tôi cũng hiểu đời đôi chút. Tôi không muốn cô ta vứt bỏ đời mình.
Poirot nhẹ nhàng nói:
- Vì lý do gì bà quan tâm đến cô ta nhiều như thế?
- Ồ, tôi cũng chẳng biết tại sao nữa - bà Hopkins ngập ngừng. Bà có vẻ bẽn lẽn, hơi xấu hổ về mình - Có một vẻ gì… mơ mộng, lãng mạn về Mary.
Poirot nói khẽ:
- Có lẽ về cô ta, chứ không phải về hoàn cảnh của cô ta. Cô ta là con gái của ông gác nhà săn, phải vậy không?
Bà Hopkins nói:
- Phải… phải, cố nhiên rồi. Ít nhất thì…
Bà ngập ngừng, nhìn Poirot; ông ta chằm chằm nhìn bà tỏ vẻ rất thông cảm.
- Thực ra thì - bà Hopkins chợt tiết lộ - cô ta chẳng phải là con gái của ông già Gerrard. Ông ta bảo với tôi thế. Cha cô ta là một nhà quý tộc.
Poirot nói khẽ:
- Tôi hiểu ra rồi… Thế còn mẹ cô ta?
Bà Hopkins ngập ngừng, mím môi, nói tiếp:
- Mẹ cô ta khi xưa là người hầu gái của bà Welman. Bà ta lấy ông Gerrard sau khi sinh Mary.
- Đúng như bà nói, quả là một chuyện mơ mộng - một chuyện mơ mộng bí ẩn.
Mặt bà Hopkins bừng sáng lên:
- Không phải thế sao? Người ta khó lòng không quan tâm đến người khi mà mình biết điều gì mà không một ai khác làm đối với họ. Chỉ do tình cờ, tôi đã khám phá ra nhiều điều. Thực ra là cô O’Brien đã khiến tôi đi theo vết đó; nhưng đó lại là chuyện khác. Nhưng, đúng như ông nói, biết chuyện quá khứ thì thực là thú vị. Có nhiều thảm kịch xảy ra mà không đoán trước được. Cõi đời này buồn quá.
Poirot thở dài, lắc đầu.
Bà Hopkins bỗng hoảng hốt nói:
- Nhưng lẽ ra thì tôi không cứ nói mãi như thế này, không nên nói một tiếng nào mới phải. Dù sao, cũng chẳng có gì dính dáng đến vụ đó. Đối với đời này, thì Mary là con gái của ông Gerrard; không nên nói bóng gió đến sự gì khác. Lẽ nào lại làm hại cô ta trước con mắt người đời sau khi cô ta đã chết. Ông ta đã cưới mẹ cô ta, biết thế là đủ rồi.
Poirot nói khẽ:
- Nhưng có lẽ bà biết ai là cha thực của cô ta?
Bà Hopkins miễn cưỡng nói:
- À, có lẽ tôi biết; nhưng rồi có lẽ tôi không biết. Thế nghĩa là, tôi chẳng biết điều gì cả. Có lẽ tôi có thể đoán biết. Tội lỗi xưa có bóng dài, như người ta thường nói. Nhưng tôi không phải là kẻ lắm chuyện, tôi sẽ không nói một tiếng nào nữa.
Poirot khéo léo rút khỏi cuộc xung đột và tấn công sang một vấn đề khác.
- Còn một điều khác - một điều rất tế nhị. Nhưng tôi chắc rằng tôi có thể tin cậy vào sự kín đáo của bà.
Bà Hopkins khựng lại. Một nụ cười rạng rỡ hiện trên khuôn mặt chất phác của bà.
Poirot nói tiếp:
- Tôi nói về ông Roderick Welman. Ông ta đã bị Mary Gerrard lôi cuốn, tôi nghe đồn thế.
Bà Hopkins nói:
- Ông ấy đã bị cô ta quất xỉu!
- Dù rằng lúc ấy ông ta đã đính hôn với Elinor Carlisle?
- Ông hỏi thì tôi xin nói rằng, ông ta chưa bao giờ thực sự mê cô Carlisle cả. Không phải là cái mà tôi gọi là mê đâu.
Poirot dùng một từ cổ xưa hỏi:
- Thế Mary Gerrard có - có khuyến khích ông ta tiến tới không?
Bà Hopkins nói gay gắt:
- Cô ta xử sự rất khéo. Chẳng ai có thể bào là cô ta dẫn dắt ông ta cả.
Poirot nói:
- Thế cô ta có yêu ông ta không?
Bà Hopkins gay gắt nói:
- Không, cô ta không yêu.
- Nhưng cô ta thích ông ta chứ?
- Ồ, phải rồi, cô ta cũng khá thích ông ta.
- Tôi cho là, đúng dịp thì có sự gì xảy đến do đó chứ?
- Có thể thế lắm. Nhưng Mary chắc không làm điều gì vội vã đâu. Tại đây cô ta đã cho ông ta biết rằng ông ta không có quyền nói như thế với cô khi mà ông đã đính hôn với Elinor Carlisle. Và lúc ông ta đến London thăm cô ta, cô ta cũng nói như vậy.
Với vẻ thành thật duyên dáng, Poirot hỏi:
- Thế riêng bà thì bà nghĩ gì về Roderick Welman?
Bà Hopkins nói:
- Ông ta là một chàng trai khá tử tế. Tuy có bản tính hay cục. Có vẻ như là sau này sẽ mắc chứng khó tiêu. Những người bẳn tính thường hay như thế.
- Ông ta có yêu bà cô lắm không?
- Tôi tin là có.
- Ông ta có hay ngồi với bà ta khi bà ta bệnh nặng không?
- Ông muốn nói khi bà ta phát cơn lần thứ hai phải không? Cái đêm trước khi bà ta chết lúc họ xuống đây? Tôi không tin ngay cả đến việc ông ta vào phòng bà ta nữa.
- Thực thế ư.
Bà Hopkins nói mau:
- Bà ta không tìm ông ta vào. Cố nhiên là, lúc đó chúng tôi không nghĩ là lúc lâm chung đã quá gần. Có rất nhiều người như thế, ông biết đấy, họ tránh đến phòng bệnh nhân. Họ không làm thế nào khác được. Mà thế chẳng phải là vô tình đâu. Họ chỉ không muốn phải rầu rĩ trong lòng.
Poirot gật đầu tỏ ý thông cảm.
- Bà có chắc ông Welman đã không vào phòng bà cô trước lúc bà ta chết không?
- Tôi không thấy trong lúc tôi trực. Cô O’Brien thay phiên tôi vào lúc ba giờ sáng, có thể là cô ta đã kiếm ông ta trước lúc bà ta lâm chung, nhưng, nếu có thế, cô ta cũng không nói gì với tôi về việc này.
Poirot gợi ý:
- Có thể ông ta đã vào phòng bà ta lúc bà vắng mặt?
Bà Hopkins nói sẵng:
- Thưa ông Poirot, tôi không để bệnh nhân nằm không, không có ai trông coi.
- Xin bà tha lỗi cho. Tôi không có ý nói thế. Tôi nghĩ có lẽ bà phải đi đun nước, hoặc chạy xuống lầu kiếm một chất kích thích cần thiết nào.
Bà Hopkins nguôi giận nói:
- Tôi có xuống thay chai và lấy nước. Tôi biết là có một cái ấm đang sôi ở dưới nhà bếp.
- Bà đi có lâu không?
- Năm phút, có lẽ thế.
- À, đúng rồi, thế thì có thể là ông Welman đã tạt vào thăm bà ta vào lúc đó.
- Nếu ông ta có vào, thì chắc hẳn phải rất nhanh.
Poirot thở dài nói:
- Đúng như bà nói, đàn ông tránh xa bệnh tật. Chỉ có đàn bà mới là thiên thần phúc đức thôi. Chúng ta sẽ làm gì nếu không có các vị đó? Đặc biệt là các phụ nữ làm nghề của bà - một nghề nghiệp đúng thực cao quý.
Bà Hopkins mặt hơi bừng đỏ, nói:
- Ông thực tốt bụng nên mới nói thế. Tôi chẳng bao giờ nghĩ về nghề tôi như thế cả. Nghề điều dưỡng có nhiều công việc cực nhọc, nếu không nghĩ đến khía cạnh cao quý của nghề mình.
Poirot nói:
- Không còn điều gì khác bà có thể cho tôi biết về Mary Gerrard sao?
Ông ngừng lại. Sau đó bà Hopkins đáp:
- Tôi không biết về bất cứ điều gì cả.
- Bà có hoàn toàn chắc thế không?
Bà Hopkins nói không mạch lạc:
- Ông không hiểu. Tôi yêu Mary.
- Thế không còn điều gì bà có thể cho tôi biết sao?
- Không, không còn gì hết! Dứt khoát là thế.
0
«« « 1 2 » »»