Đọc lại di biểu của tổng đốc Hoàng Diệu
Nguyễn Hàn Chung
Đọc Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung chắc chắn hầu hết người đọc không thể nào dằn nổi xúc động khi đọc đến bài Xuất sư biểu của Gia Cát Khổng Minh viết trước khi ông cất binh lục xuất Kỳ sơn phạt Ngụy. Bài biểu xuất sư nổi tiếng ấy được người đời sau xem như một áng chính luận văn chương nhất tuyệt thể hiện tấm lòng cô trung của một bậc danh thần cúc cung tận tụy vì nhà Hậu Hán đến chết mới thôi. ở Việt Nam ta cũng có một bài biểu gây xúc động lòng người nhiều thế hệ không kém. Đó là bài Di biểu của Tổng đốc Hoàng Diệu nguyên quán huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội và Ninh Bình) được người viết gửi Triều đình Huế ngày 25-4-1882 khi thực dân Pháp đánh thành Hà Nội người chống cự không lại binh vỡ thành tan, người giữ thành phải vào Võ miếu thắt cổ tuẫn tiết cho trọn tấm cô trung với nước. Bài Di biểu có sách gọi là Trần tình biểu được Tổng đốc Hoàng viết bằng chữ Hán. Có hai văn bản dịch: một của Hoàng Xuân Hãn, một của Thái Can. Mỗi bản đều có cái hay riêng nhưng theo ý chủ quan của người viết bài này thì bản của Thái Can giàu chất thơ. Tôi xin được lạm bình từ bản dịch này.
Mở đầu bài Di biểu tác giả tự khiêm nhận mình:
“Nhược quán thư sinh học vấn thô sơ, đâu có trường học trường thao cung kiếm… được triều đình giao trọng trách trấn thủ biên phương, quyết luyện binh đắp lũy, lo chuyện đánh loài lang sói”.
Người đã bộc tỏ cái nhìn chiến lược của mình:
“Hà thành là yết hầu nơi Bắc địa… núi lở đất chuồi, thì các tỉnh cũng thành tan ngói vỡ nên xin cho thêm binh”.
Ông cho bồi tường thành Hà Nội lên cao hơn, khoét thêm nhiều lỗ châu mai mục đích là cố cầm cự đủ lâu để chờ quân Tam Tuyên từ Sơn Tây về cứu viện. Thế nhưng ta thấy sự rệu rã, bạc nhược của cái triều đình Huế không có một chủ trương lâu dài và nhất quán đẩy các trung thần đi vào tuyệt lộ “chiếu thư mấy lần ban xuống… khiến cho quân dân thất vọng, tiến thoái lưỡng nan”. Hơn nữa trước thế giặc hung hiểm văn thần, võ tướng kẻ thì khuyên hàng mở cửa, kẻ thì bàn việc bãi binh nhưng người cương quyết không chịu dâng thành cho giặc. Ta hãy nghe ông miêu tả trận đánh bi hùng không cân sức:
“Đại bác vang rền, phố phường cháy trụi… giặc hung hăng thêm súng thêm binh, ta tan rã quân tàn đạn hết” đồng thời cũng điểm mặt chỉ tên bọn: “Văn thần sợ địch khiếp hồn, tìm đường trốn thẳng. Võ tướng sa cơ mất vía, ngóng gió chạy dài”.
Giặc mạnh có đại bác yểm trợ nếu văn võ đồng liêu quân dân đồng tâm hiệp lực đánh một trận oanh oanh liệt liệt thì chưa hẳn giặc đã chiếm thành một cách dễ dàng. Thế mà… người văn nhược thư sinh phải bịt khăn thâm, mặc áo the thâm, thắt một giải lưng điều, tay cầm gươm lệnh, xăm xăm đi về phía Nam thành “Thân còn mang bệnh, xung phong giết giặc trăm tên… quân lực chiến nửa ngày tử thủ” đến khi cục diện không còn cứu vãn được nữa ông tự biết tội mình “Mất thành không giữ được, dẫu chết chăng, tội vẫn dư thừa”. Ông không dám cho mình là người trung nghĩa không dám sánh Tào Mạt uy hiếp vua địch chỉ dám chọn theo Trương Tuần “giữ thành thành mất mất theo thành, theo Nguyễn Tri Phương nơi địa hạ” lòng vẫn “ngượng ngùng thay với nhân sĩ Bắc Hà”. Tấc lòng cô trung của người con xứ Quảng đúng là có “nhật nguyệt soi lòng” đến cả thiên thu. Trong bài thơ Điếu Hoàng Diệu tuẫn tiết Ngô Văn Dạng viết:
Nếu mọi người như ông
Hà thành đâu có thế…
Theo Giáo sư Huỳnh Lý có một bài ca trù có tên Viếng Hoàng Quang Viễn Tướng công Hà Thành tuẫn tiết xuất hiện tại Quảng Nam thời bấy giờ do thân sinh ông Trần Tống ghi nhớ và truyền đạt lại cho con từ khi còn bé trong đó có đoạn:
Quan Hà Ninh Tổng Đốc họ Hoàng
Cơn chinh chiến vững vàng cơn sắt đá…
Trong Hà Thành một trận xông pha
Có Nùng Lĩnh, Nhị Hà soi chính khí
Nhân sinh tự cổ thùy vô tư…
Ngàn thu rỡ tiếng nhân thần!
Đọc Di biểu của Tổng đốc Hoàng Diệu chúng ta càng xúc động tưởng nhớ và biết ơn những anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống để mạch đập dân tộc vẫn mãi mãi chu lưu cùng những bước thăng trầm suốt chiều dài lịch sử chống xâm lăng của nhân dân ta. Nhân 123 năm ngày mất của bậc danh thần chúng ta ngẫm lại bài Di biểu của người để cảm nhận thêm cội nguồn truyền thống trung dũng kiên cường của con dân xứ Quảng.
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Nguyễn Hàn Chung
Đọc Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung chắc chắn hầu hết người đọc không thể nào dằn nổi xúc động khi đọc đến bài Xuất sư biểu của Gia Cát Khổng Minh viết trước khi ông cất binh lục xuất Kỳ sơn phạt Ngụy. Bài biểu xuất sư nổi tiếng ấy được người đời sau xem như một áng chính luận văn chương nhất tuyệt thể hiện tấm lòng cô trung của một bậc danh thần cúc cung tận tụy vì nhà Hậu Hán đến chết mới thôi. ở Việt Nam ta cũng có một bài biểu gây xúc động lòng người nhiều thế hệ không kém. Đó là bài Di biểu của Tổng đốc Hoàng Diệu nguyên quán huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội và Ninh Bình) được người viết gửi Triều đình Huế ngày 25-4-1882 khi thực dân Pháp đánh thành Hà Nội người chống cự không lại binh vỡ thành tan, người giữ thành phải vào Võ miếu thắt cổ tuẫn tiết cho trọn tấm cô trung với nước. Bài Di biểu có sách gọi là Trần tình biểu được Tổng đốc Hoàng viết bằng chữ Hán. Có hai văn bản dịch: một của Hoàng Xuân Hãn, một của Thái Can. Mỗi bản đều có cái hay riêng nhưng theo ý chủ quan của người viết bài này thì bản của Thái Can giàu chất thơ. Tôi xin được lạm bình từ bản dịch này.
Mở đầu bài Di biểu tác giả tự khiêm nhận mình:
“Nhược quán thư sinh học vấn thô sơ, đâu có trường học trường thao cung kiếm… được triều đình giao trọng trách trấn thủ biên phương, quyết luyện binh đắp lũy, lo chuyện đánh loài lang sói”.
Người đã bộc tỏ cái nhìn chiến lược của mình:
“Hà thành là yết hầu nơi Bắc địa… núi lở đất chuồi, thì các tỉnh cũng thành tan ngói vỡ nên xin cho thêm binh”.
Ông cho bồi tường thành Hà Nội lên cao hơn, khoét thêm nhiều lỗ châu mai mục đích là cố cầm cự đủ lâu để chờ quân Tam Tuyên từ Sơn Tây về cứu viện. Thế nhưng ta thấy sự rệu rã, bạc nhược của cái triều đình Huế không có một chủ trương lâu dài và nhất quán đẩy các trung thần đi vào tuyệt lộ “chiếu thư mấy lần ban xuống… khiến cho quân dân thất vọng, tiến thoái lưỡng nan”. Hơn nữa trước thế giặc hung hiểm văn thần, võ tướng kẻ thì khuyên hàng mở cửa, kẻ thì bàn việc bãi binh nhưng người cương quyết không chịu dâng thành cho giặc. Ta hãy nghe ông miêu tả trận đánh bi hùng không cân sức:
“Đại bác vang rền, phố phường cháy trụi… giặc hung hăng thêm súng thêm binh, ta tan rã quân tàn đạn hết” đồng thời cũng điểm mặt chỉ tên bọn: “Văn thần sợ địch khiếp hồn, tìm đường trốn thẳng. Võ tướng sa cơ mất vía, ngóng gió chạy dài”.
Giặc mạnh có đại bác yểm trợ nếu văn võ đồng liêu quân dân đồng tâm hiệp lực đánh một trận oanh oanh liệt liệt thì chưa hẳn giặc đã chiếm thành một cách dễ dàng. Thế mà… người văn nhược thư sinh phải bịt khăn thâm, mặc áo the thâm, thắt một giải lưng điều, tay cầm gươm lệnh, xăm xăm đi về phía Nam thành “Thân còn mang bệnh, xung phong giết giặc trăm tên… quân lực chiến nửa ngày tử thủ” đến khi cục diện không còn cứu vãn được nữa ông tự biết tội mình “Mất thành không giữ được, dẫu chết chăng, tội vẫn dư thừa”. Ông không dám cho mình là người trung nghĩa không dám sánh Tào Mạt uy hiếp vua địch chỉ dám chọn theo Trương Tuần “giữ thành thành mất mất theo thành, theo Nguyễn Tri Phương nơi địa hạ” lòng vẫn “ngượng ngùng thay với nhân sĩ Bắc Hà”. Tấc lòng cô trung của người con xứ Quảng đúng là có “nhật nguyệt soi lòng” đến cả thiên thu. Trong bài thơ Điếu Hoàng Diệu tuẫn tiết Ngô Văn Dạng viết:
Nếu mọi người như ông
Hà thành đâu có thế…
Theo Giáo sư Huỳnh Lý có một bài ca trù có tên Viếng Hoàng Quang Viễn Tướng công Hà Thành tuẫn tiết xuất hiện tại Quảng Nam thời bấy giờ do thân sinh ông Trần Tống ghi nhớ và truyền đạt lại cho con từ khi còn bé trong đó có đoạn:
Quan Hà Ninh Tổng Đốc họ Hoàng
Cơn chinh chiến vững vàng cơn sắt đá…
Trong Hà Thành một trận xông pha
Có Nùng Lĩnh, Nhị Hà soi chính khí
Nhân sinh tự cổ thùy vô tư…
Ngàn thu rỡ tiếng nhân thần!
Đọc Di biểu của Tổng đốc Hoàng Diệu chúng ta càng xúc động tưởng nhớ và biết ơn những anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống để mạch đập dân tộc vẫn mãi mãi chu lưu cùng những bước thăng trầm suốt chiều dài lịch sử chống xâm lăng của nhân dân ta. Nhân 123 năm ngày mất của bậc danh thần chúng ta ngẫm lại bài Di biểu của người để cảm nhận thêm cội nguồn truyền thống trung dũng kiên cường của con dân xứ Quảng.
(Báo Văn nghệ Trẻ)
Love mickey,