📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Con đường phía trước bỗng xa nghìn trùng

0 trả lời, 188 lượt xem — Trang 1 / 1
Con đường phía trước bỗng xa nghìn trùng
Tương Lai

Tôi rất vinh dự được nói đôi lời nhân cuộc trưng bày những ấn phẩm độc đáo về những tác phẩm thơ Thiền của thời Lý Trần, một giai đoạn lịch sử với những đặc điểm cũng độc đáo như vậy mà trong “Kiến văn tiểu lục” Lê Quý Đôn đã nhận xét : “Nước Nam ta hai triều Lý, Trần có tiếng là văn hiến”. Bàn về văn hiến không là chuyện tuỳ tiện được.
Vì thế, không phải là người hiểu biết chuyên sâu về lĩnh vực đòi hỏi sự uyên bác về triết lý Phật giáo cũng như sự tinh nhuệ trong cảm nhận và xúc động thẩm mỹ trước những chủ đề quá tinh tế và uyên thâm, mà ấn phẩm đưa ra trưng bày kỳ này chọn giới thiệu, tôi chỉ xin được nói lên đôi lời thô thiển về cảm nhận của một người đang xin được học hỏi về một học thuyết - nếu có thể dùng hai từ đó để chỉ về Phật giáo - “ mà ra ngoài xã hội có thể cứu dân giúp nước, còn ở nhà thì có thể phụng thờ cha mẹ và lúc ở một mình có thể dùng để hoàn thiện bản thân” như lời tựa cho tập thơ Thiền này (tr.7) của tiến sĩ Lê Mạnh Thát đã nêu.

Tôi biết công việc có ý nghĩa lớn này đã được bạn tôi, nhà thơ Nguyễn Duy ấp ủ từ rất lâu. Anh đã âm thầm cùng với một số người bạn ở trong và ngoài nước công phu và kiên trì chuẩn bị trong nhiều năm, để hôm nay, cho ra đời sự kiện văn hoá có ý nghĩa mà chúng ta vui mừng, xúc động có mặt tại đây, chứng kiến thành quả lao động nghệ thuật của những nghệ sĩ là nhà thơ, nhà dịch thuật, nhà nhiếp ảnh, nhà thiết kế, nhà in ấn…tóm lại, nhiều “nhà”… dồn lại trong một con người, một gia đình, trong một nhóm người.

Đôi lần được Nguyễn Duy tiết lộ cho biết công việc mình và cả gia đình anh đang miệt mài, cũng đôi lần được lần giở những trang giấy dó ấp ủ những nỗi niềm của một người nghệ sĩ muốn gửi vào đó, tôi cứ bâng khuâng tự vấn, sao mà con người ấy đa tài thế nhỉ! Mà đã đa tài thì hình như phải đa đoan !

Cứ đọc những dòng thơ lục bát mà anh đã chọn giữa một trong hai bản dịch thơ, tục truyền là của Huyền Quang tam tổ nhưng cũng có người cho là khuyết danh. Cùng chuyển tải ý tưởng Thiền vốn cô đọng, siêu thoát vào cõi hư vô kia song chọn bản nào để đưa vào tập thơ, và đây là trường hợp duy nhất trong tuyển tập này nhóm biên soạn giữ nguyên không dịch lại, chuyển thể mới. Với trường hợp duy nhất này cũng hiểu được phần nào cái nghiệp đa đoan của Nguyễn Duy :

“Có thì có tự mảy may

Không thì cả thế gian này cũng không

Kìa xem bóng nguyệt lòng sông

Ai hay không có, có không là gì?

Bài này lâu nay người đọc vẫn quen với bản dịch được in trong Tổng tập Văn học Việt Nam :

“Có thì “có” sự mảy may

Không thì cả thế gian này cũng “không”

Vầng trăng vằng vặc in song

Chắc chi có “có” không “không” mơ màng (1)

Trong cảm nhận của tôi, riêng ở bài này, câu thơ lục bát mà Nguyễn Duy chọn đạt hơn, vì đúng với nguyên bản,và hoạt hơn, vì sự sống động ở câu thứ ba: “Hữu không như thuỷ nguyệt”, dịch nghĩa là “Có với không như ánh trăng dưới nước”. So sánh hai bản hiện đang lưu truyền: “Vầng trăng vằng vặc in song” và “Kìa xem bóng nguyệt lòng sông” cũng hiểu được trong cách chọn đó, phải chăng kẻ hậu sinh đã dám vượt tiền nhân? Và không chỉ ở riêng bài này.

Xin được đọc thêm bài “Nhập tục luyến thanh sơn” của nhà sư Pháp Loa :



“Sơ cấu cùng thu thuỷ

Sàm nham lạc chiếu trung

Ngang đầu khang bất tận

Lại lộ hựu trùng trùng.”

(Tuyển tập Thơ Thiền… tr.106)

Băng Thanh dịch thơ: “

Dòng thu in bóng núi,

Chót vót dưới chiều tà.

Ngước mắt nhìn vời vợi

Đường vào trập trùng xa” (2)

Trong “vào cõi tục tiếc non xanh” uyển chuyển, mượt mà với câu thơ lục bát của Nguyễn Duy, tôi vừa đọc thấy nét “đa tài” vừa nhận ra cái “đa đoan” của nhà thơ bạn tôi:

Nước thu in bóng núi gầy

Đỉnh cao chót vót gió lay ánh tà

Ngước nhìn mây núi bao la

Con đường phía trước bỗng xa nghìn trùng (như trên, tr.108 )

Nhưng đã nói về chỗ đắc ý, e cũng nên thử liều mạng nói lên chỗ chưa lấy làm khoái hoạt trong tôi về câu lục bát của Nguyễn Duy trong trường hợp “Tỏ nỗi lòng” của Thiền sư Không Lộ.

Với bài này, giáo sư Kiều Thu Hoạch, cũng bạn tôi, chuyển thể bản dịch sang thất ngôn tứ tuyệt theo như nguyên bản: “Hữu thời trực thượng cô phong đỉnh, Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư” là: “Có khi xông thẳng lên đầu núi, Một tiếng kêu vang lạnh cả trời” (3)

Cũng từ nguyên bản, Nguyễn Duy chuyển thể sang lục bát bản dịch với hai câu: “Đôi khi thượng đỉnh núi hoang, Buông dài một tiếng hú vang lạnh trời”. Thú thực, đều là công phu đáng trân trọng của hai người bạn thâm giao mà tôi rất kính nể và yêu mến, tôi vẫn mạn phép bạn, một nhà nghiên cứu thông tuệ về Hán học, một nhà thơ tinh nhuệ trên lĩnh vực ngôn từ để diễn đạt tư tưởng và cảm xúc, để liều lĩnh và thân ái mà nói rằng, tôi chưa thoả mãn với cả hai, tuy có phần hơi nghiêng về bản dịch của ông bạn đồng môn, nhà Hán học nọ! Chắc gì tôi đúng, song cái chuyện cảm nhận thẩm mỹ thì cũng nên cho phép cởi mở đôi chút, sai thì sửa, có sao!

“Hú vang” của Nguyễn Duy cũng như “kêu vang” của Kiều Thu Hoạch đều không diễn đạt được thần thái của nguyên bản. Có thể, sự tương tác giữa “cô phong đỉnh” với “hàn thái hư” quá mẫn tiệp đã khiến cho hai vế trước “hữu thời trực thượng” với “trường khiếu nhất thanh” trở nên toàn bích khiến cho những tài hoa cỡ không nhỏ của những người dịch và chuyển thể đều bất lực chăng?

Rất may là những chỗ để tôi có thể liều nói lên điều mình chưa được thoả mãn như vậy không nhiều trong ấn phẩm này. Lật từng trang, từng trang, tôi có cảm tưởng mình đang làm một việc khinh suất khi không biết “đốt lên một lò hương” để đọc. Vì những bài thơ trong nguyên bản cũng như thơ dịch sang lục bát đều lâng lâng một nguồn xúc động, thuần khiết và thành kính.

Cần một không khí có mùi trầm hương đâu chỉ để đọc một tập thơ, mà là để biểu thị một sự trân trọng “của tin gọi một chút này làm ghi” khi nhà thơ trao cho tôi tập thơ chưa kịp đóng gáy, phủ bìa. Nhưng, đã là “của tin” rồi thì thiếu cái chuyện “đốt lò hương ấy, so tơ phím này” cũng xin được thể tất. Cái chính là qua tập thơ Thiền được in trên giấy dó mà Nguyễn Duy cùng với con trai anh, bạn bè của anh, dành bao tâm huyết đã đến được cái đích cần có rất khiêm tốn của họ: thức dậy trong lòng ta niềm tin yêu và sự kính phục đối với di sản ông cha. Nhưng theo tôi, cái đạt đến đã vượt rất xa mục tiêu rất khiêm tốn của ấn phẩm này. Đó là nó đã làm ấm sáng thêm ngọn lửa truyền thống và niềm tự hào dân tộc.

Có những vì sao đã tắt nhưng ánh sáng của chúng mãi tận bây giờ mới đến được với trái đất. Vơi gần một thiên niên kỷ, thời gian là sự khảo nghiệm và phán xét rất nghiêm khắc và vô tư những chân giá trị mang tính vĩnh cửu. Chúng ta quả là vô cùng ngạc nhiên tại sao cách đây hơn tám trăm năm mà tư tưởng của ông cha ta lại “hiện đại” đến như thế. Sáng tạo, táo bạo, không chịu dẫm lên lối mòn mà phải tìm cho mình một cách đi riêng. Thì chẳng thế là gì, khi Thiền sư Quảng Nghiêm đòi hỏi:

“Làm trai phải tự có chí xung trời thẳm

Đừng nhọc mình dẫm theo vết chân Như Lai”.

(Tuyển tập Thơ Thiền… tr.76)

Thì ra, tư tưởng khi đạt tới cái tầm của một triết lý có sức gọi dậy sức mạnh của trí tuệ, của bản lĩnh con người sẽ chứng minh độ bền mãi mãi với thời gian. Lúc ấy, thời gian sẽ là chứng nhân cho sức toả sáng của chất ngọc đích thực như viên ngọc trong thơ của Thiền sư Ngộ ấn :

“Giống như ngọc đốt trên núi cao màu vẫn tươi nhuần mãi”. (Như trên, tr.36)

Tôi xin chuyển sang nói đôi lời về sự đóng góp độc nhất vô nhị, đương nhiên cho đến thời điểm này, về ấn phẩm trên giấy dó độc đáo này.

Đấy, thì các bạn cứ thử lật những trang giấy dó in thơ Thiền thời Lý Trần để thử chiêm nghiệm xem, nó có khác với việc các bạn đọc, cũng những bài thơ ấy, trên giấy cút sét bóng lộn và trơn tuột! Thật ra, theo trực cảm của tôi, chạm bàn tay trên trang giấy dó in thơ và những tấm ảnh minh hoạ do chính Nguyễn Duy chụp kia, hình như ta đã chạm được vào một sức huyễn hoặc ngân vang cái chất Thiền theo kiểu “Mộc trung nguyên hữu hoả” ẩn trong đó: “ Trong cây vốn có lửa, Sẵn lửa, lửa mới sinh ra, Nếu cây không có lửa, khi cọ xát sao lại thành” (như trên, tr. 20), cứ như thể Khuông Việt Đại sư đang thuyết giảng cho chúng sinh sự bí ẩn của tự nhiên.

“Khái niệm chúng sinh trong Phật giáo rất rộng, con người cũng chỉ là một chúng sinh. Thậm chí các chuyện thiền còn nói rất rõ : “Cây cỏ đất đá, đồi núi, tất cả yếu tố của vũ trụ đều có Phật tính” (5). ý này là tôi học lõm được của giáo sư Cao Huy Thuần trong dịp tôi tiếp chuyện ông tại Paris dạo nào, nay bỗng dưng ngộ ra được cái chuyện vốn đập thẳng vào mắt mình bấy lâu nay. Đó là cái tài nắm bắt thần thái của những hiện tượng tự nhiên trong lịch thơ Nguyễn Duy. Thì ra, hình như ông bạn thơ của tôi cũng có đôi chút năng khiếu Phật học, nếu không gọi là tài năng bẩm sinh khiến cho tài hoa nghệ sĩ phát tiết cả trong ống kính máy ảnh nhờ hiểu được điều gọi là “Phật tính” đó.

Những bức ảnh minh hoạ thơ Thiền của Nguyễn quả là bàng bạc chất Thiền theo cảm nhận của tôi. Một cảm nhận có phần liều lĩnh khi dám nói đó là “chất Thiền” mà tôi đâu có biết gì về Thiền? ấy thế nhưng, mấy hôm rồi, ngồi lẩn thẩn lật từng trang ấn phẩm của Nguyễn, tôi cảm thấy hình như sức cảm thụ của mình có được nâng lên chút ít. Cũng có thể là một tự huyễn. ấy thế nhưng, tự huyễn về chuyện này, riêng chuyện này, thì hình như mình có thể tự cho phép vì tôi có ngộ ra được một điều khi đọc bài thơ “Cảm xúc khi đọc Đại tuệ ngữ lục” của Trần Thánh Tông, ông vua đã trị vì 21 năm, từng lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên thắng lợi, lại từ bỏ ngôi vua để đi tu. Ông “vua Thiền” đó dạy cho tôi biết rằng:

“Mấy lần toát mồ hôi vì tham cứu đạo Thiền,

Một sớm bỗng thấy hết được khuôn mặt mẹ,

Thì ra khuôn mặt ấy chỉ có một nửa.

Trước mắt không có màu sắc, bên tai không có

âm thanh,

Cái tâm của mình tự cho là có đấy thôi…

Nguyễn Duy ngộ ra được cái điều đó chăng:

“Mắt không sắc, tai không thanh

Cái tâm tự hoá nên thành đó thôi

Sắc thanh không ở đầu môi

Vô thường, vô ngã một đời hư vô” (như trên, tr.100)

mà ống kính máy ảnh của nhà thơ chớp được chất Thiền trong cảnh vật để minh hoạ một cách thông minh và đầy xúc động cho những bài thơ Thiền in trên giấy dó. Theo tôi, đây là một sáng tạo rất đáng trân trọng. Càng tăng thêm cảm nhận đó, khi tôi có dịp thấy anh lăn lê bò toài trên bãi cỏ, giữa lùm cây, hay cheo leo bên vách núi để săn cho được một cánh hoa đang lay động do bước chân của một chú kiến vàng, hay chộp cho được một tia nắng chiều sắp tắt, rọi vào một tảng đá rêu phong. Tôi nhớ một ý của Marcel Proust: “Một cuộc thám hiểm thật sự không phải ở chỗ tìm kiếm những vùng đất mới, mà ở chỗ cần có đôi mắt mới”. “Thiền” đi vào một chiều cạnh khác trong tiềm năng của con người. Tôi nghĩ cái phần sâu thăm thẳm này cần suy ngẫm nhiều mới đo được hết cái chiều kích diệu kỳ của nó: “Trước mắt không có màu sắc, bên tai không có âm thanh. Cái tâm của mình tự cho là có đấy thôi”.

Đáng tiếc là trong ấn phẩm này, không hiểu vì lý do gì mà tác giả của những bức ảnh kỳ thú kia được một tâm hồn tương kính, tương ái với thiên nhiên tái tạo, khiến chúng trở thành một “thiên nhiên thứ hai” , theo cách nói của Hégel, lại không được tác giả ghi rõ xuất xứ, cũng chẳng đặt tên. Nên chăng cần bổ sung nếu nhận xét của tôi không là quá phàm tục.

Hình như tôi đã nói hơi nhiều. Xin chúc thành tựu tuyệt vời của lao động sáng tạo với bao tâm huyết của những người đã làm nên ấn phẩm độc đáo này, xin trân trọng chào mừng sự kiện văn hoá có ý nghĩa này. Đây chỉ là khởi điểm của một chuyến đi dài mà người ta dự định.

Vì thế, tôi nghĩ rằng, “con đường phía trước bỗng xa nghìn trùng”. (như trên. tr. 108)



(Báo Văn nghệ)
Love mickey,
Đăng nhập để trả lời
0