📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Thảm Kịch Bí Ẩn Ở Styles - AGATHA CHRISTIE - Hết 🔒

45 trả lời, 9.538 lượt xem — Trang 2 / 2
- Rõ ràng là Dorcas không biết gì về bộ râu đen ấy - Poirot nói trong khi chúng tôi lại chậm rãi bước về phía hành lang.
- Bộ ông chờ đợi nhiều ở bộ râu ấy sao? - Tôi khẽ hỏi ngay.
Poirot gật đầu.
- Phải. Anh có nhận thấy rằng nó được tỉa như thế nào không?
- Không.
- Nó được tỉa giống hệt như bộ râu của ông Inglethorp, và tôi đã tìm thấy một hai mẩu tóc, Hastings ạ, việc này thật là bí ẩn.
- Tôi tự hỏi không biết ai đã cất bộ râu ấy vào trong rương nhỉ? - Tôi nói.
- Người nào đó rất thông minh - Poirot gằn giọng nói - Anh có ý thức được rằng người đó đã chọn chỗ duy nhất trong nhà mà sự hiện diện của bộ râu ở đó sẽ không hề bị để ý đến không? Phải, người đó rất thông minh. Nhưng chúng ta cần phải thông minh hơn thế nữa. Chúng ta cần phải thông minh đến mức độ người đó phải cho rằng chúng ta không hề thông minh một tí nào kia.
Tôi gật đầu.
- Và chính ở điểm này, ạnh bạn của tôi ạ, thì anh sẽ giúp đỡ tôi thật đắc lực.
Tôi rất sung sướng vì lời khen đó. Bởi vì đôi lúc tôi cũng cho rằng Poirot không đánh giá đúng mức khả năng của tôi.
- Phải - ông nói lại, vừa nhìn tôi chằm chặp - anh vô cùng quý giá đối với tôi đấy.
Điều đó tất nhiên là êm tai rồi, nhưng tôi ít vui hơn khi nghe những lời tiếp theo.
- Tôi cần một đồng minh trong nhà này - Poirot nhận xét.
- Nhưng ông đã có tôi rồi kia mà - tôi phản đối.
- Đúng vậy, nhưng một mình anh không đủ cho tôi.
Tôi có vẻ bị mích lòng. Poirot vội giải thích.
- Anh không nắm bắt được đầy đủ ý nghĩa của những lời nói của tôi. Người ta thừa biết anh làm cho tôi. Tôi muốn tìm một người nào đó chưa hề cộng tác với chúng ta dưới bất kỳ hình thức nào.
- Ồ! Tôi hiểu rồi. Thế thì, ông nghĩ sao về John?
- Không, tôi không cho rằng có thể được.
- Anh chàng đáng mến ấy có lẽ không được xuất chúng cho lắm - tôi nói.
- Kìa, cô Howard đang đi đến - Poirot bỗng nói - Cô ta đúng là người chúng ta cần đấy. Cô ta không mấy ưa thích tôi từ khi tôi đã chứng minh sự vô can của ông Inglethorp. Dù sao chúng ta cũng cứ thử xem sao.
Cô Howard gần như chỉ lịch sự gật đầu khi Poirot yêu cầu cô dành cho ông vài phút.
- Thế nào, ông Poirot? - Cô nóng nảy nói - Có chuyện gì thế? Hãy nói nhanh đi vì tôi đang vội lắm.
- Thưa cô, cô có nhớ rằng tôi đã yêu cầu cô giúp tôi không?
- Phải, đúng vậy, và tôi cũng đã nói với ông tôi rất rất sẵn lòng giúp ông treo cổ Inglethorp lên.
- À!
Poirot nhìn cô chăm chú.
- Cô Howard ạ, tôi sẽ hỏi cô một câu. Tôi xin cô hãy trả lời trung thực.
- Tôi không bao giờ nói dối - Cô Howard cãi.
- Thế này đây. Cô có còn tin rằng bà Inglethorp bị chồng đầu độc nữa không?
- Ông muốn nói gì chứ? - Cô vội hỏi ngay - Đừng tưởng những lời giải thích hay ho của ông có thể ảnh hưởng đến tôi đâu. Tôi có thể thừa nhận không phải hắn ta đến mua Strychnin ở chỗ hiệu thuốc thật. Nhưng điều đó thì có nghĩa lý gì chứ? Có lẽ hắn đã cho nhúng những cây đập ruồi, như tôi đã nói với ông ngay từ đầu.
- Những cây đập ruồi thì chỉ có thạch tín trên đó thôi chứ không phải Strychnin - Poirot nhẹ nhàng bảo.
- Thì sao nào? Thạch tín cuãng có thể loại trừ được bà Emily đáng thương ý như Sttrychnin vậy. Ông hỏi tôi xim tôi có tin chắc rằng hắn ta đã phạm tội giết người không chứ gì?
- Chính xác là như thế. Tôi hỏi xem cô tin tưởng tuyệt đối rằng hắn đã phạm tội không - Poirot bình thản nói - Tôi sẽ đặt câu hỏi dưới một dạng khác. Trong thâm tâm mình cô có bao giờ tin, rằng bà Inglethorp bị đầu độc bởi chồng mình không?
- Chúa ơi! Tôi vẫn chả nói với ông người đàn ông đó là một tên khốn khiếp sao? Tôi vẫn chả căm thù hắn đấy sao?
- Đúng vậy - Poirot nhắc lại - Điều đó khẳng định thêm cho suy nghĩ của tôi.
- Suy nghĩ gì thế?
- Cô Howard, cô có nhớ lại cuộc đối thoại diễn ra vào hôm bạn tôi đến Styles không? Anh ta đã kể lại cho tôi nghe, và một trong những câu nói của cô đã gây cho tôi một ấn tượng sâu sắc. Cô có nhớ đã khẳng định rằng, nếu như một vụ án mạng xảy ra, thì cô tin chắc rằng linh tính của cô sẽ cho cô biết ai là thủ phạm, cho dù cô không thể nào chứng minh được điều đó không?
- Vâng, tôi nhớ đã có nói như thế. Và tôi cũng tin như thế. Nhưng tôi đã đoán ông cho đó là chuyện nhảm chứ gì?
- Không đâu.
- Thế mà ông lại từ chối không quan tâm gì đến những nghi ngờ tự nhiên của tôi về Alfred Inglethorp.
- Phải - Poirot đáp cộc lốc - Bởi vì linh tính của cô không hướng về phía ông Inglethorp.
- Sao cơ?
- Không. Cô muốn tin rằng hắn đã giết người. Cô tin hắn có thể giết người. Nhưng linh tính của cô lại bảo không phải là hắn. Cô có muốn tôi nói tiếp nữa không nào?
Cô ta nhìn ông như bị thôi miên và phác cử chỉ tán thành.
- Cô có muốn cho tôi biết tại sao cô lại hung hăng đến như thế đối với ông Inglethorp không? Đó là vì cô cố tin những gì cô muốn tin. Bởi vì cô muốn nhận chìm và bóp chết linh tính của mình đang khẽ thốt lên một cái tên khác.
- Không! Không! Không! - Cô Howard kêu lên và đưa hai tay ra phía trước, xúc động cùng cực. Đừng nói thế. Ồ! Đừng nói thế! Không đúng đâu! Không thể nào đúng được! Ồ! Tôi không biết cái gì đã có thể nhồi nhét vào đầu tôi một ý nghĩ điên rồ đến như thế, khủng khiếp đến như thế.
- Tôi nói đúng, phải không nào? - Poirot hỏi.
- Vâng! Vâng! Ông quả là một tên phù thủy để có thể đoán ra chuyện đó. Nhưng điều đó không thể là sự thật được; sẽ kinh khủng quá, vô lý quá. Thủ phạm phải là Alfred Inglethorp kia.
Poirot nghiêm khắc lắc đầu.
- Đừng hỏi gì tôi nữa - cô tiếp - Bởi vì tôi sẽ không nói gì nữa đâu. Tôi không thể thú nhận, ngay cả với chính mình nữa. Tôi phải điên lắm mới nghĩ đến chuyện như vậy.
Poirot gật đầu, có vẻ như hài lòng.
- Tôi sẽ không hỏi gì cô cả. Chỉ cần đúng như tôi nghĩ thôi. Tôi cũng có một linh cảm nhạy bén. Chúng ta sẽ cộng tác với nhau, cho một mục đích chung.
- Đừng đòi hỏi tôi phải giúp ông, bởi vì tôi sẽ không làm đâu. Tôi sẽ không nhấc lấy ngón tay để… để…
Cô ngừng lại, cổ họng bị nghẹn.
- Cô sẽ giúp tôi, cho dù cô có muốn hay không đi nữa. Tôi sẽ không đòi hỏi gì ở cô cả, nhưng cô sẽ là đồng mình của tôi. Cô không thể từ chối được. Cô sẽ làm cái điều duy nhất mà tôi mong đợi ở cô.
- Và đó là…?
- Hãy cảnh giác!
Evelyn Howard cúi đầu xuống.
- Vâng, tôi không thể trốn tránh được. Tôi vẫn luôn canh chừng, hy vọng rằng mình đã lầm.
- Nếu như chúng ta lầm thì càng tốt - Poirot nói - Không ai sẽ sung sướng hơn tôi. Nhưng nếu như chúng ta đúng thì sao? Nếu như chúng ta đúng, cô Howard ạ, thì cô sẽ đứng về phía nào?
- Tôi không biết, tôi không biết.
- Nào… Nào…
- Có thể im lặng…?
- Không im lặng được.
- Nhưng chính Emily…
Cô ngưng bặt.
- Cô Howard ạ - Poirot nghiêm khắc bảo - điều đó thật không xứng đáng với cô.
Bất ngờ, cô vùi mặt vào đôi tay.
- Vâng - cô bình thản nói - quả là không phải Evelyn Howard đã nói như thế.
Cô ngẩng đầu lên và kiêu ngạo tiếp:
- Evelyn Howard đây! Cô ta ở về phía công lý, dù có phải trả giá như thế nào đi nữa.
Nói xong những lời đó, cô hãnh diện bước ra khỏi phòng.
- Đó là một đồng minh quý báu - Poirot nhìn theo cô nói - Người phụ nữ đó, Hastings ạ, vừa có trí khôn vừa có tấm lòng.
Tôi không trả lời.
- Linh tính là cái gì đó thật tuyệt vời - Poirot tiếp - Người ta không thể định nghĩa, cũng không thể bỏ qua được.
- Ông và cô Howard có vẻ như biết mình đang nói gì - tôi lạnh lùng nhận xét - Có lẽ ông không biết rằng tôi còn đang mù tịt?
- Thật sao, anh bạn?
- Phải đấy. Ông có thể giải thích cho tôi được không?
Poirot nhìn tôi chăm chú một lát rồi, trước sự ngạc nhiên của tôi, ông lắc đầu.
- Không, anh bạn của tôi ạ.
- Ồ! Xem nào! Tại sao vậy?
- Hai người là quá đủ đối với một bí mật rồi.
- Này, tôi cho rằng thật là bất công khi giấu tôi những sự kiện đó đấy.
- Tôi không giấu anh sự kiện nào cả. Anh đã biết tất cả những gì mà tôi biết. Anh có thể tự mình suy luận ra.
- Tuy nhiên, sẽ rất lý thú nếu như biết được.
Poirot lại nhìn tôi chăm chăm, và lại lắc đầu.
- Anh có hiểu không - ông miễn cưỡng nói - anh chẳng có linh tính gì cả.
- Nhưng, mới đây thôi, ông vừa nói đến suy luận kia mà.
- Trí thông minh và linh tính thường đi đôi với nhau! - Poirot nói đầy vẻ bí ẩn.
Nhận xét đó theo tôi là hoàn toàn không phải lúc, đến độ tôi không buồn đối đáp lại. Nhưng tôi đã định bụng, nếu như tôi có những phát hiện quan trọng và lý thú, thì tôi sẽ giữ riêng cho mình và sẽ làm cho Poirot phải ngạc nhiên về kết quả cuối cùng.
0
CHƯƠNG IX
BÁC SĨ BAUERSTEIN
 
Tôi vẫn chưa có dịp để chuyển lời của Poirot cho Laurence. Nhưng, trong lúc tôi đang đi lại trong vườn, còn bực bội vì sự độc đoán của bạn mình, tôi trông thấy Laurence trên sân đánh gôn, đang đẩy những quả cầu khá cũ kỹ bằng một chiếc gậy còn xưa hơn nữa.
Theo ý tôi thì thời điểm thuận tiện để thi hành nhiệm vụ của mình. Quả thật là tôi không hiểu được chính xác ý nghĩa, nhưng tôi tự hào rằng câu trả lời của Laurence, sau đó tôi đã khéo léo gặng hỏi anh ta, đã cho phép tôi nhanh chóng nhìn thấy rõ sự việc.
- Tôi đang tìm anh đây - tôi hờ hững nói.
- Thật ư?
- Vâng. Tôi chuyển lời của Poirot cho anh đây.
- À!
- Ông ta có dặn tôi đợi gặp riêng anh - tôi nói, vừa hạ thấp giọng, vừa nhìn anh ta dò xét.
- Sao?
Gương mặt u buồn của Laurence không thay đổi. Anh có nghi ngờ gì những điều tôi sắp nói với anh không chứ?
- Này nhé…
Tôi lại hạ thấp giọng hơn nữa.
- Hãy tìm ra chiếc tách cà-phê bị mất và anh có thể yên tâm.
- Ông ta muốn nói gì mới được chứ?
Laurence nhìn tôi với sự kinh ngạc không có gì là giả tạo cả.
- Anh không biết ư?
- Không hề. Còn anh?
Tôi buộc phải thừa nhận rằng mình cũng không biết nữa.
- Chiếc tách cà-phê nào bị mất vậy?
- Tôi không biết.
- Có lẽ ông ta nên hỏi Dorcas hay một trong những người giúp việc, nếu như ông ta muốn biết điều gì về những chiếc tách. Tôi không hề biết gì về vấn đề đó cả, ngoại trừ việc chúng tôi có những chiếc tách không bao giờ được dùng đến, và đó là những của báu tuyệt vời. Loại sứ Worcester xưa ấy mà. Anh có biết rành về những thứ đó không, Hastings?
- Không.
- Thế thì anh đã bỏ lở mất một cơ hội bằng vàng đấy. Một món thật hoàn hảo bằng sứ cổ, thật thú vị khi cầm trong tay, hoặc chỉ nhìn thôi.
- Thế nào, tôi phải trả lời với Poirot sao đây?
- Rằng tôi rất muốn hiểu ông ta nói gì. Tôi hoàn toàn mù tịt.
- Được lắm.
Tôi định quay vào nhà thì anh bỗng gọi giật tôi lại.
- Này, những lời cuối như thế nào vậy? Anh có thể lập lại cho tôi nghe không?
- “Hãy tìm ra chiếc tách cà-phê bị mất và anh có thể yên tâm”. Anh có chắc không hiểu anh ta muốn nói gì không? - Tôi trịnh trọng hỏi.
- Vâng - anh hỏi- Tôi rất tiếc nhưng tôi không biết.
Tiếng kẻng vang lên, báo hiệu bữa ăn, và chúng tôi cùng quay vào nhà. John đã mời Poirot ở lại ăn trưa và chúng tôi gặp ông bên bàn ăn.
Do đã mặc nhiên đồng ý với nhau, chúng tôi tránh không nói đến bi kịch vừa rồi. Chúng tôi bàn luận về chiến tranh và những đề tài tương tự. Nhưng khi bánh quy và phó mát được dọn ra và Dorcas đã ra khỏi phòng, Poirot bỗng quay sang bà Cavendish.
- Xin lỗi vì đã gợi lại cho bà những kỷ niệm đau buồn, thưa bà, nhưng tôi có một ý nghĩ nhỏ (những ý nghĩ nhỏ của Poirot đã trở nên những châm ngôn) và tôi muốn hỏi bà một đôi điều.
- Hỏi tôi ư? Nhưng được thôi.
- Bà tử tế quá, thưa bà. Tôi muốn hỏi bà điều này đây: bà đã nói rằng cánh cửa ăn thông từ phòng bà Inglethorp sang phòng cô Cynthia được cài then, phải không?
- Vâng.
Trông bà ta có vẻ khó xử. Poirot tiếp:
- Tôi muốn nói bà có chắc chắn rằng cánh cửa đó được cài then chứ không phải chỉ được khóa lại thôi không?
- Ồ! Tôi hiểu ông muốn nói gì rồi. Điều đó thì tôi không thể khẳng định được. Tôi nói nó được cài then là muốn nói nó bị khóa, tôi không thể mở ra được, nhưng tôi cho rằng người ta đã nhận thấy tất cả các cánh cửa đều đóng từ bên trong.
- Tuy nhiên, đối với bà thì cánh cửa có thể được khóa bằng chìa khóa chứ?
-Ồ! Vâng!...
- Thưa bà, bà không nhận thấy cánh cửa đó có bị khóa hay không, khi bà bước vào phòng bà Inglethorp sao?
- Tôi cho rằng cửa khóa.
- Nhưng bà không thử xem lại sao ư?
- Không. Tôi… tôi không để ý.
Laurence bỗng xen vào:
- Nhưng tôi thì tôi vô tình nhận thấy nó được cài then.
- À! Thế thì quá rõ rồi - Poirot tiu nghỉu nói.
Tôi không thể không lấy làm mừng là một trong những “ý nghĩ nhỏ” của Poirot lần này đã không đưa đến đâu cả.
 
* * *
0
Sau bữa ăn, Poirot yêu cầu tôi theo ông về nhà. Tôi đồng ý một cách khá lạnh nhạt.
- Anh bực mình, phải không? - Ông lo lắng hỏi tôi trong lúc chúng tôi băng qua khuôn viên.
- Không đâu! - Tôi bướng bỉnh nói.
- Càng tốt. Tôi nhẹ bớt được một gánh nặng.
Điều đó không hẳn đúng như tôi mong muốn. Tôi hy vọng ông sẽ nhận thấy thái độ lạnh nhạt của tôi. Tuy vậy, sự cuồng nhiệt trong lời nói của ông làm dịu bớt cơn giận của tôi. Tôi hết lạnh nhạt ngay.
- Tôi đã chuyển lời của ông cho Laurence.
- Và anh ta nói sao? Anh ta có lấy làm ngạc nhiên không?
- Có. Tôi tin rằng anh ta chẳng hiểu ông muốn nói gì cả.
Tôi mong đợi thấy Poirot thất vọng. Nhưng tôi rất ngạc nhiên khi thấy ông bảo rằng điều đó đúng như ông đã nghĩ và ông rất lấy làm hài lòng. Tự ái không cho phép tôi hỏi thêm.
Suy nghĩ của Poirot chuyển hướng đi.
- Tại sao cô Cynthia lại không ăn trưa với chúng ta nhỉ?
- Cô ta đã quay lại bệnh viện. Hôm nay cô ta trở lại với công việc của mình.
- À! Đó là một cô bé rất năng động. Lại còn xinh đẹp nữa. Trông cô ta giống y như những bức tranh tôi đã được thấy bên Ý. Tôi rất muốn đến thăm bịnh xá của cô ấy. Anh có tin rằng cô ta sẽ dẫn tôi đi xem không?
- Tôi tin chắc là cô ta sẽ lấy làm vui sướng. Thật là lý thú.
- Cô ấy đi làm mỗi ngày chứ?
- Cô ta được nghỉ ngày thứ tư, còn thứ bảy thì cô ta về nhà ăn trưa. Đó là những ngày nghỉ duy nhất của cô ấy.
- Tôi sẽ nhớ lấy. Phụ nữ ngày nay có thể làm những chuyện lớn, và cô Cynthia là một người thông minh. À! Phải rồi! Cô ta còn có óc phán đoán tốt nữa.
- Phải, tôi cho rằng cô ta đã trải qua một kỳ thi khá khó đấy.
- Chắc vậy. Dù sao thì cô ta cũng có tinh thần trách nhiệm cao. Bởi vì tôi đoán ở đó người ta cất giữ những loại độc dược mạnh.
- Phải. Cô ta đã chỉ cho chúng tôi xem nữa. Chúng được cất kỹ trong một chiếc tủ nhỏ. Tôi cho rằng người ta đòi hỏi những cô y tá sự thận trọng hết mức. Họ luôn luôn khóa trái cửa trước khi rời phòng.
- Thật sao? Thế chiếc tủ có để gần cửa sổ không?
- Không. Ở đối diện. Tại sao?
Poirot nhún vai:
- Chả sao cả! Tôi tự hỏi vậy thôi. Anh có vào nhà không?
Chúng tôi đã về đến nhà ông.
- Không. Tôi cho rằng tôi sẽ đi vòng qua rừng để về.
Những khu rừng bao quanh Styles rất đẹp. Sau cuộc đi dạo trong khuôn viên trống trải, thì thật là thú vị khi được la cà trong những khoảng rừng thưa tươi mát. Gần như là chẳng có một chút gió nào cả và tiếng chim ríu rít dường như yếu dịu hẳn đi. Tôi bước đi chậm rãi và đến ngồi dưới một gốc cây dẻ tuyệt đẹp. Tôi nghĩ đến nhân loại bằng sự ân cần và lòng vị tha. Tôi còn tha thứ cho Poirot về cách ăn nói quanh co và lố bịch của ông. Quả thật là tôi cảm thấy thanh thản đối với cả thế giới. Rồi tôi ngáp dài.
Tôi nghĩ đến vụ giết người, dường như thật là xa xôi…
Tôi lại ngáp nữa…
Có lẽ vụ giết người không hề xảy ra. Đó chỉ là cơn ác mộng thôi, còn sự thật là Laurence đã đánh gục Alfred Inglethorp với chiếc gậy dùng để chơi đáng gôn. Nhưng John thật là vô lý khi làm to chuyện lên và vừa chạy lung tung vừa hét lên: “Tôi đã nói rằng tôi không chịu đâu”.
Tôi bật tỉnh dậy.
Và tôi ý thức được mình ở trong một tình thế khá bối rối. Bởi vì, cách tôi chừng mười bước, John và Mary Cavendish đang đứng đối diện với nhau, họ đang cãi nhau.
Và cũng rõ ràng là họ không biết đến sự có mặt của tôi, bởi vì, trước khi tôi kịp nhúc nhích thì John đã lặp lại những lời nói vừa theo đuổi tôi trong giấc mơ:
- Tôi đã nói, Mary ạ, tôi sẽ không chịu đâu.
Giọng của Mary vang lên, bình tĩnh và trong trẻo:
- Anh có quyền gì mà phê bình hạnh kiểm của tôi chứ?
- Em sẽ làm trò cười cho cả làng. Mẹ chỉ vừa mới được chôn cất hôm thứ bảy thôi, thế mà em đã xuất hiện cùng với tên đàn ông đó.
- Ồ! (bà nhún vai). Nếu như anh chỉ lo ngại vì những chuyện ngồi lê đôi mách trong làng thôi.
- Nhưng không phải chỉ có thế thôi đâu. Anh chán ngấy khi thấy tên đàn ông đó quanh quẩn bên em. Hơn nữa, đó là một tên Do Thái lai Ba Lan.
- Một giọt máu Do Thái cũng chẳng phải là điều xấu. Nó sẽ làm nhẹ bớt sự ngu ngốc của người Anh bình thường - bà nhìn thẳng vào mắt anh và cãi lại.
Đôi mắt bà bừng bừng nhưng giọng bà lại lạnh như băng. Tôi không lấy làm ngạc nhiên khi thấy máu nóng bốc lên mặt John.
- Mary!
- Sao cơ?
Giọng bà vẫn không đổi.
Lời van xin tắt ngắm trong cổ họng của John.
- Tôi có phải hiểu rằng cô sẽ tiếp tục gặp Bauerstein, ngược lại với ý muốn cấp thiết của tôi không?
- Nếu như tôi thích.
- Cô thách thức tôi ư?
- Không, nhưng tôi cấm anh không được chê trách hành động của tôi. Anh cũng chẳng có bạn gái mà tôi có thể lấy thế làm bực bội đấy sao?
John lùi lại một bước và gương mặt anh lần lần bớt đỏ.
- Em muốn nói gì vậy? - Anh hỏi bằng giọng thiếu tự tin.
- Anh cũng thấy rằng anh không có quyền chỉ bảo tôi trong việc chọn bạn, phải không nào?
John ném cho bà một cái nhìn van lơn và gương mặt anh lộ vẻ buồn rầu.
- Không có quyền ư? Anh không có quyền thật sao, Mary? - Anh hỏi.
Anh đưa tay ra.
- Mary?...
Một lúc, tôi ngỡ bà sẽ vui lòng. Gương mặt bà dịu hẳng lại nhưng bà bỗng quay phắt đi.
- Không có quyền gì cả!
Bà đã bước đi khi John nhào đến và nắm lấy cánh tay bà.
- Mary! - Giọng anh bây giờ rất điềm tĩnh - Em có phải lòng Bauerstein không?
Bà do dự, và bất ngờ, một vẻ lạ lùng thoáng qua mặt bà, không thể định nghĩa được nhưng lại đượm đầy nét trẻ trung muôn thuở. Một con nhân sư bên Ai Cập cũng sẽ mỉm cười như vậy.
Bà nhẹ nhàng thoát ra khỏi vòng tay của chồng và nói với lại.
- Có thể.
Rồi bà điềm nhiên bước ra khỏi khu rừng thưa, để John lại đó, sững sờ.
Tôi bước đến và cẩn thận làm kêu những cành cây khô dưới chân mình. John quay lại và rất may, anh cho là tôi chỉ vừa mới xuất hiện thôi.
- Xin chào! Hastings! Cậu đưa người đàn ông nhỏ bé đến tận nhà ư? Trông ông ta thật là buồn cười. Nhưng anh có cho rằng ông ta giỏi lắm không?
- Ông ta được xem như một trong những thám tử xuất sắc nhất của thời đại chúng ta đấy.
- Ồ! Thế thì tôi cho rằng ông ta phải ít nhiều có lý đấy. Nhưng ở đây có biết bao nhiêu thứ tồi tệ.
- Anh thấy thế ư?
- Vâng! Trước hết là câu chuyện khủng khiếp ấy. Những người của Scotland Yard đi ra đi vào như những con rối. Không làm sao biết được sẽ đụng đầu họ vào lúc nào. Rồi đến những dòng tít giật gân trên các báo nữa. Quỷ tha ma bắt những tên nhà báo đi. Cậu có biết là cả một đám đông dày đặc sáng nay đã đứng nhìn qua hàng rào khuôn viên không đấy? Styles đã trở thành một thứ chi nhánh của Viện Bảo Tàng Khủng khiếp (nơi trưng bày tượng bằng sáp của những tên giết người lừng danh thế giới). Dù sao thì cũng hơi quá đáng đấy.
- Hãy bình tĩnh, John ạ - tôi nhẹ nhàng bảo - Điều đó sẽ không thể kéo dài lâu được đâu.
- Nó có thể kéo dài đủ lâu để không một ai trong chúng ta còn có thể ngẩng đầu lên được nữa.
- Không! Không! Chuyện này đã khiến anh phát điên lên.
- Quả là có thể điên đầu khi mà người ta cảm thấy suốt ngày bị săn lùng bởi những tên phóng viên khả ố và mỗi bước đều bị điểm mặt bởi những tên ngu ngốc, miệng cứ há hốc ra. Nhưng còn tệ hại hơn thế nữa kìa.
- Tệ hại hơn ư?
John hạ thấp giọng xuống:
- Ai đã giết người hả? Hastings? Quả là một cơn ác mộng đối với tôi. Nhiều lúc, tôi không thể không nghĩ rằng cái chết của mẹ tôi có thể là một tai nạn. Bởi vì, bởi vì… ai có thể giết bà ấy mới được chứ? Bây giờ, khi Inglethorp đã vô can thì không còn ai khác nữa… Không ai, ngoại trừ một người trong số chúng tôi…
Phải, đó quả là một cơn ác mộng đủ để làm khiếp vía bất cứ ai. Một người trong số chúng ta… Phải, có lẽ đúng như thế, trừ khi…
Một ý nghĩ thoáng qua đầu tôi. Tôi nhanh chóng xem xét. Dường như nó khiến cho mọi việc sáng tỏ hẳn ra: những thái độ bí mật của Poirot, những lời ám chỉ của ông ta, tất cả những cái đó hoàn toàn phù hợp. Tôi thật ngu ngốc vì đã không nghĩ đến khả năng đó sớm hơn, khả năng đã đem lại cho tất cả sự nhẹ nhõm biết mấy.
- John - tôi nói - không thể là một người trong số chúng ta được. Làm sao có thể như thế được chứ?
- Tôi biết… nhưng còn ai vào đây nữa?
- Anh không đoán được sao?
- Không.
Tôi thận trọng liếc nhìn quanh mình và hạ thấp giọng:
- Bác sĩ Bauerstein! - Tôi khẽ nói.
- Không thể được.
- Được chứ.
- Nhưng hắn có lợi lộc gì trong cái chết của mẹ tôi chứ?
- Điều đó thì tôi không thấy - tôi thú nhận - Nhưng tôi có thể nói với anh điều này: Poirot cũng đồng ý kiến với tôi.
- Poirot ư? Thật không? Làm sao cậu biết được?
Tôi kể cho anh nghe sự nóng nảy của Poirot khi biết rằng Bauerstein đã có mặt ở Styles vào tối hôm mẹ anh mất, và tiếp:
- Ông ta đã lập đi lập lại hai lần: “Điều đó đã làm thay đổi tất cả”. Và tôi đã suy nghĩ. Anh có biết rằng Inglethorp khai đã đặt tách cà-phê trong tiền sảnh không? Đó, chính vào lúc đó Bauerstein đã đến. Trong khi Inglethorp đưa ông ta đi ngang tiền sảnh, có thể nào ông bác sĩ đã bỏ cái gì đó vào cà-phê không?
- Việc đó thật liều lĩnh - John phản đối.
- Phải, nhưng nó có thể xảy ra.
- Và hơn nữa, làm sao hắn biết được đó là cà-phê của mẹ tôi. Không, anh bạn thân mến ạ, giả thiết của cậu có vẻ như không đứng vững rồi.
Nhưng tôi lại nhớ đến một sự kiện khác.
- Anh hoàn toàn có lý. Vụ án đó không được thực hiện như vậy đâu. Hãy nghe đây.
Tôi bèn kể cho anh nghe rằng Poirot đã cho phân tích lại chất ca-cao ở Tadminster.
- Nhưng Bauerstein đã làm việc ấy rồi kia mà.
- Phải, phải, đấy là điểm chính yếu. Tôi chỉ vừa nhận thấy như thế thôi. Anh không thấy sao? Bauerstein đã cho phân tích, đúng vậy. Nhưng nếu như hắn ta là tên giết người thì không có gì đơn giản cho hắn bằng cách đánh tráo mẩu ca-cao đã lấy được bằng ca-cao thường dùng và đem đi phân tích. Tất nhiên là các nhà hóa học đã không tìm thấy Strychnin trong đó. Và không ai nghĩ đến việc nghi ngờ Bauerstein hoặc lấy một mẩu khác, ngoại trừ Poirot ra - Tôi nói thêm, thừa nhận tài năng ông ta hơi muộn màng.
- Nhưng còn cái vị đắng mà ca-cao không thể che giấu được?...
- Về chuyện đó thì chúng ta chỉ có lời nói của Bauerstein thôi. Và còn có những khả năng khác nữa. Hắn thường được xem là một trong những bác sĩ chuyên khoa giỏi nhất về độc dược học trên thế giới…
- Một trong những gì trên thế giới? Xin cậu nhắc lại.
- Hắn ta giỏi về độc dược hơn bất lỳ người nào trên thế giới - tôi giải thích - Thế này nhé, tôi cho có lẽ hắn đã tìm được cách để làm mất vị của Strychnin đi. Hoặc giả đó không phải là Strychnin, mà là một thứ thuốc độc bí mật nào đó chưa ai nghe nói đến, và nó cũng gây ra những triệu chứng gần như tương tự.
- Phải, có lẽ là như vậy - John nhìn nhận - Nhưng này, làm sao mà hắn có thể đụng đến ca-cao được chứ? Hắn không ở dưới nhà sao?
- Có chứ, quả vậy - tôi tiếc rẻ nói.
Và rồi, bất ngờ, một khả năng ghế gớm thoáng qua óc tôi. Tôi mong rằng John sẽ không nghĩ đến. Tôi ném cho anh một cái liếc xéo. Anh đang nhíu mày, như áy náy ghê gớm lắm và tôi thở phào nhẹ nhõm. Bởi vì cái ý nghĩ khủng khiếp rằng bác sĩ Bauerstein có thể đã có một người đồng lõa bỗng hiện lên trong đầu tôi.
Tuy nhiên, điều đó không thể xảy ra được. Một phụ nữ đẹp như Mary Cavendish chắc chắn không thể là một tội phạm được. Thế nhưng, đã có những phụ nữ rất đẹp trở thành những kẻ đầu độc.
Và bất thình lình, tôi nhớ đến buổi nói chuyện đầu tiên, lúc dùng trà, hôm tôi mới đến, và nhớ đến ánh chớp đã lóe lên trong mắt Mary Cavendish khi bà tuyên bố rằng thuốc độc chính là vũ khí của phụ nữ. Vào buổi tối hôm xảy ra án mạng, trông bà nóng nảy làm sao. Bà Inglethorp có vô tình khám phá ra sự thân thiện giữa bà ấy và Bauerstein và có đe dọa sẽ báo cho chồng bà ấy không? Có phải vì muốn ngăn cản lời tố cáo ấy mà vụ giết người đã xảy ra không?
Sau đó tôi nhớ đến cuộc nói chuyện đầy ẩn ý giữa Poirot và cô Horward. Đó có phải là những gì họ muốn nói không? Đó có phải là khả năng “kinh khủng” mà Evelyn đã cố gắng để đừng tin vào không?
Tất cả đều mạch lạc.
Sẽ không có gì là đáng ngạc nhiên khi cô Howard đưa ra đề nghị giữ im lặng về chuyện đó cả. Bây giờ thì tôi đã hiểu câu nói của cô ta rồi: “Chính Emily…” Và trong thâm tâm tôi cũng đồng ý với cô ta. Bà Inglethorp chắc chắn sẽ rùng mình khi nghĩ rằng sự nhục nhã đó sẽ làm ô uế tiếng tăm của dòng họ Cavendish.
- Còn một điều nữa - John bỗng nói (và giọng nói của anh làm tôi gật nẩy mình) - Một điều khiến tôi nghi ngờ sự chính xác của những giả thiết của cậu.
- Đó là điều gì? - Tôi hỏi, quá sung sướng vì anh không quay lại vấn đề bằng cách nào thuốc độc đã được bỏ vào ca-cao nữa.
- Sự kiện Bauerstein đã đòi cho khám nghiệm tử thi. Chả có gì bắt buộc hắn phải làm như thế cả. Cái ông Wilkins nhỏ bé ấy đã sẵn sáng xác nhận rằng cái chết là do một cơn đau tim kia mà.
- Phải - tôi do dự đáp - Nhưng chúng ta không biết. Có thể rốt cuộc hắn cho rằng làm như thế là thận trọng hơn. Ai đó sau này có thể sẽ nói ra nói vào và viện công tố sẽ ra lệnh khai quật tử thi. Trong trường hợp đó, hắn sẽ ở trong tình thế rất rắc rối, bởi vì không ai có thể chấp nhận một người lẫy lừng như hắn lại có thể sai lầm đến mức kết luận cái chết là do bệnh tim.
- Vâng, điều đó thì hợp lý đấy - John thừa nhận - Tuy nhiên, tôi chẳng thể nào thấy được hắn ta đã hành động vì động cơ nào cả.
Tôi lại lo ngại:
- Nhưng - tôi nói - có thể là tôi sai lầm hoàn toàn, và đừng quên là tôi chỉ nói riêng với anh thôi đấy.
- Ồ! Khỏi phải nói!
Vừa bàn luận, chúng tôi vừa bước đi và bây giờ thì chúng tôi đang vượt qua cửa rào dẫn đến khu vườn. Những giọng nói vang lên thật gần, bởi vì bữa trà đã được dọn ra dưới gốc cây sung, như hôm tôi mới đến.
Cynthia từ bệnh viện đã về. Tôi kéo ghế ngồi bên cô ta và nói đến ý muốn đến thăm bệnh xá của Poirot.
- Được thôi. Tôi sẽ vui thích mà chỉ cho ông ta xem. Hãy bảo ông ấy đến dùng trà vào một hôm nào đấy. Tôi sẽ thu xếp với ông ta. Đó là một người đàn ông khả ái. Nhưng trông ông ta ngộ nghĩnh thật đấy. Ông xem, hôm trước ông ta đã bắt tôi tháo chiếc kim cài cà vạt của tôi ra và gắn lại, với lý do nó không được ngay ngắn.
Tôi bật cười:
- Quả là một căn bệnh của ông ta.
- Vâng, đúng không nào?
Chúng tôi im lặng một lúc, rồi, sau khi liếc nhìn về phía Mary Cavendish, Cynthia hạ thấp giọng nói với tôi:
- Ông Hastings này.
- Vâng.
- Sau bữa trà tôi muốn nói chuyện với ông.
Cái liếc nhìn của cô dành cho Mary khiến tôi phải suy nghĩ. Tôi hiểu ra giữa hai người phụ nữ này không mấy có cảm tình và, lần đầu tiên, tôi nghĩ đến tương lai của cô thiếu nữ. Bà Inglethorp đã không thu xếp gì về phần của cô ta cả, nhưng tôi nghĩ rằng John và Mary sẽ nài ép cô ở lại với họ, ít ra là đến cuối cuộc chiến. Bởi vì tôi biết John có nhiều cảm tình đối với cô ta và sẽ tiếc nuối nếu như cô ta bỏ đi.
Đến đây thì John đã vào nhà, bỗng quay trở ra. Gương mặt phúc hậu của anh méo xệch vì giận dữ.
- Quỷ tha ma bắt tất cả những viên thám tử đi! Tôi không hiểu họ tìm gì nữa. Họ lục lọi tất cả các phòng trong nhà và xáo tung lên hết. Hơi quá đáng đấy. Có lẽ họ đã lợi dụng lúc chúng ta ra ngoài hết. Tôi sẽ nói cho cái tên Japp ấy biết tôi nghĩ gì, lần sau mà tôi gặp hắn ta.
- Đồ tọc mạch - Cô Howard làu bàu.
Laurence phản đối rằng họ buộc lòng phải làm bộ như đang xúc tiến công việc.
Mary Cavendish không nói gì cả.
 
* * *
0
Sau bữa trà, tôi rủ Cynthia đi dạo và chúng tôi thong thả tiến về phía rừng.
- Sao? - Tôi hỏi cô ta ngay khi bức màn cây lá đã che khuất chúng tôi khỏi những cặp mắt tò mò.
Cynthia vừa thở dài vừa ngồi xuống đất. Cô tháo mũ ra, và mặt trời, xuyên qua cành lá, biến mái tóc hung của cô thành một mảng vàng óng ánh.
- Ông Hastings ạ, ông luôn luôn rất tốt bụng và hiểu biết biết bao.
Lúc đó, trông Cynthia quả là đáng yêu. Đáng yêu hơn Mary, người không bao giờ nói những câu đại loại như thế.
- Nào! - Tôi ân cần nói khi thấy cô ta do dự.
- Tôi muốn hỏi ý kiến ông. Tôi sẽ ra sao đây?
- Ra sao ư?
- Vâng. Ông hiểu không, dì Emily luôn luôn bảo rằng tương lai của tôi sẽ được đảm bảo. Tôi đoán bà ấy đã quên, hoặc có thể bà ta không bao giờ nghĩ rằng mình sắp chết… Dù sao thì bà ấy cũng đã không chuẩn bị gì cho tôi cả. Và tôi cũng chẳng biết phải làm gì. Ông có nghĩ rằng tôi nên rời bỏ Styles ngay không?
- Trời ơi! Không! Tôi tin chắc họ không muốn rời xa cô đâu.
Cynthia do dự một lát, đưa tay ngắt những cọng cỏ, rồi cô bảo:
- Bà Cavendish muốn như vậy. Bà ta ghét tôi.
- Bà ấy mà ghét cô sao? - Tôi kêu lên ngạc nhiên.
- Vâng. Tôi không biết tại sao, nhưng bà ta không thể chịu nổi tôi. Vả lại, cả anh ấy nữa cũng vậy.
- Về điểm này thì cô lầm rồi - tôi sốt sắng nói - Trái lại, John rất mến cô.
- Ồ! John thì đã đành rồi. Tôi muốn nói đến Laurence cơ. Không phải là tôi màng đến chuyện Laurence có ghét tôi hay không đâu. Nhưng dù sao thì cũng khá buồn khi cảm thấy không ai ưa mình cả.
- Có chứ, có người thương cô đấy chứ, Cynthia đáng yêu ạ - tôi thành thật nói - Tôi tin chắc rằng cô lầm đấy. Này nhé, có John và cô Howard.
Cynthia gật đầu một cách rầu rĩ.
- Vâng, tôi cho rằng John thương tôi lắm, và cả Evie nữa, bất chấp sự cộc cằn của cô ta, cô ta sẽ không làm hại đến cả con ruồi. Nhưng Laurence thì chả bao giờ nói chuyện với tôi, nếu như anh ta có thể tránh được việc đó, còn Mary thì chả mấy lịch sự đối với tôi. Bà ấy muốn cho Evie ở lại đây, bà ta lại còn nài nỉ cô ấy ở lại nữa, nhưng bà ấy không muốn thấy mặt tôi, mà tôi không biết phải đi đâu.
Cô bé đáng thương bỗng òa khóc.
Tôi không biết cái gì đã xui khiến tôi nữa. Có lẽ tôi đã nghe theo vẻ đẹp duyên dáng dưới vầng hào quang của ánh mặt trời, nghe theo sự nhẹ nhõm được gặp một người rõ ràng là không thể nào dính líu đến vụ án, hoặc nghe theo sự thương hại mơ hồ gây nên bởi nét trẻ trung và nỗi cô đơn của cô ấy. Biết đâu được. Song, tôi đã chồm về phía trước và, nắm lấy tay cô, tôi nói:
- Hãy kết hôn với tôi, Cynthia ạ.
Vô tình tôi đã tìm được cách tốt nhất để lam cho cô ta ngưng khóc. Cô nhổm dậy ngay, rút tay ra khỏi tay tôi và nói hơi sẵng:
- Này, đừng dại dột đến như thế.
Rất bực bội, tôi đáp:
- Tôi không dại đâu. Tôi chỉ xin cô cho tôi được vinh dự kết hôn với cô thôi.
Trước sự ngạc nhiên sâu sắc của tôi, cô phá ra cười và gọi tôi là “một người ngộ nghĩnh”.
- Đó là những gì dễ thương nhất ở ông. Nhưng ông thừa biết là ông chả muốn lấy tôi làm vợ chút nào.
- Có chứ… tôi…
- Không đâu! Thật ra thì ông chẳng muốn, và cả tôi cũng thế.
- Ồ! Thế thì ổn cả thôi - tôi trả lời cứng ngắc - Nhưng tôi không hiểu tại sao cô lại cười được. Chả có gì là khôi hài trong một lời cầu hôn cả.
- Chắc chắn là không rồi - Cynthia bảo - Lầu sau người ta có thể cho rằng ông nói thật đấy. Tạm biệt. Ông đã an ủi tôi được nhiều lắm.
 
* * *
0
Tôi bỗng có ý định vào làng tìm Bauerstein. Bởi vì, quả là cần phải canh chừng hắn ta. Đồng thời, khôn khéo xoa dịu những nỗi lo ngại của hắn về việc hắn có thể bị nghi ngờ. Tôi nhớ ra rằng Poirot tin tưởng vào tài khéo léo của tôi. Do đó tôi tìm đến căn nhà nhỏ nơi hắn ở và gõ cửa.
Một bà lão ra tiếp tôi:
- Thưa bà - tôi lễ phép nói - Bác sĩ Bauerstein có nhà không?
Bà ta nhìn tôi chăm chăm.
- Ông không biết sao?
- Sao cơ?
- Về ông ta ấy mà?
- Thì sao nào?
- Ông ta ra đi rồi.
- Đi ư? Chết ư?
- Không. Cảnh sát đã đem ông ta đi.
- Cảnh sát đem đi! - Tôi kêu lên kinh ngạc - Bà muốn nói rằng ông ta bị bắt ư?
- Vâng, đúng vậy, và…
Tôi không đợi bà ta nói dứt câu, chạy ngay trở lên làng tìm Poirot.
0
CHƯƠNG X
BẮT GIỮ
 
Thật rắc rối cho tôi, Poirot lại không có ở nhà. Ông lão người Bỉ cho tôi biết Poirot đã đi London.
Tôi rất thắc mắc. Poirot làm gì ở London thế? Đó có phải là một quyết định bất ngờ của ông ta không, hay là ông ta đã có ý định đó từ khi chia tay với tôi, vài giờ trước đó? Tôi không làm sao giải đáp được. Nhưng trong khi chờ đợi, tôi làm gì đây? Tôi có nên quay về Styles thông báo việc Bauerstein bị bắt không? Xét về tình thì ý nghĩ về Mary Cavendish đè nặng lên tôi. Đó có phải là điều gì thật khủng khiếp đối với bà ta không? Trong lúc này, tôi loại bỏ mọi nghi vấn về bà ta ra. Bà không thể nào nhúng tay vào vụ án, nếu không thì chúng tôi đã biết rồi.
Tất nhiên là không có cách nào giấu chuyện Bauerstein bị bắt giữ lâu được, báo chí ngày mai có lẽ sẽ đăng tin đó. Tuy vậy, tôi thấy ngần ngại khi phải báo cho các bạn tôi biết. Phải chi có thể gặp được Poirot thì tôi có thể hỏi ý kiến ông ta. Điều gì lại có thể buộc ông ta đi London tức tốc vậy?
Ý nghĩ của tôi về sự sáng suốt của ông ta lại gia tăng lên nhiều. Tôi sẽ không bao giờ nghi ngờ ông bác sĩ, nếu như Poirot không gợi ý cho tôi. Phải, quả là người đàn ông bé nhỏ ấy rất giỏi.
Sau một lúc suy nghĩ, tôi quyết định nói cho John biết và để tùy anh lựa chọn xem có nên tiết lộ tin ấy ra hay không.
Anh huýt gió thật dài khi nghe tin.
- Thế ra anh đã có lý. Ngay lúc đó tôi không thể nào tin được.
- Quả thật là thoạt tiên chuyện có hơi bất ngờ, thế rồi người ta bắt đầu quen với ý nghĩ đó và người ta nhận thấy tất cả đều ăn khớp với nhau. Nhưng chúng ta phải làm gì đây? Ngày mai mọi người sẽ biết hết.
John suy nghĩ.
- Mặc kệ - cuối cùng anh nói - Ngay lúc này chúng ta sẽ im lặng. Như cậu đã nói, sớm muộn gì thì người ta cũng sẽ biết thôi.
Nhưng sáng hôm sau, trước sự ngạc nhiên cùng cực của tôi, khi lật báo ra tôi không tìm thấy một chữ nào về việc bắt giữ Bauerstein cả. Có một cột báo về vụ án đầu độc ở Styles, nhưng chỉ có thế thôi. Thật không sao hiểu nổi, nhưng tôi lại đoán là Japp muốn tránh tiết lộ chuyện ấy ra vì một lý do nào đó. Tôi lấy làm lo lắng, vì điều đó gợi ra khả năng sắp đến sẽ còn có người bị bắt giữ nữa.
Sau bữa trưa, tôi quyết định vào làng để tin chắc rằng Poirot chưa quay về. Nhưng vào lúc sắp sửa đi, tôi nhìn thấy gương mặt ông xuất hiện trước một cánh cửa sổ và tôi nghe tiếng ông nói.
- Xin chào anh bạn của tôi.
- Poirot!
Tôi kêu lên với sự nhẹ nhõm tột cùng. Rồi nắm lấy tay ông ta, tôi kéo ông vào phòng.
- Tôi chưa bao giờ sung sướng vì được gặp ông như lúc này đây. Hãy nghe đây! Tôi chưa nói gì với ai cả, ngoại trừ John ra. Tôi làm như vậy có đúng không?
- Anh bạn của tôi ạ - Poirot đáp - Tôi hoàn toàn không hiểu anh đang nói về chuyện gì cả.
- Thì về chuyện bác sĩ Bauerstein bị bắt chứ còn gì nữa - tôi nóng nảy nói.
- Bauerstein bị bắt ư?
- Ông không biết sao?
- Không hề.
Sau một lúc im lặng, ông tiếp:
- Tôi không lấy làm ngạc nhiên về chuyện đó. Bởi vì, dù sao đi nữa thì chúng ta chỉ cách bờ biển có sáu cây số mà thôi,
- Bờ biển ư? - Tôi tò mò nhắc lại - Bờ biển chẳng có dính líu gì vào chuyện này cả.
Poirot nhún vai.
- Nhưng này, dù sao thì cũng khá rõ ràng đấy chứ.
- Đối với tôi thì không. Có lẽ vì tôi hoàn toàn đần độn, nhưng tôi làm sao thấy được mối liên quan giữa việc ở gần bờ biển với vụ giết bà Inglethorp?
- Tất nhiên là không có liên quan gì cả - Poirot mỉm cười đáp - Nhưng chúng ta đang nói về chuyện bác sĩ Bauerstein bị bắt kia mà.
- Này, chẳng phải hắn bị bắt vì đã giết bà Inglethorp sao?
- Sao? - Poirot kêu lên sững sờ - Bác sĩ Bauerstein mà bị bắt vì giết bà Inglethorp ư?
- Phải.
- Không thể như thế được! Đó sẽ là một trò đùa quá hay. Anh đã nói với anh như thế, anh bạn của tôi ơi?
- Thật ra thì chả có ai nói cả - tôi thú nhận - Nhưng rõ ràng là hắn đã bị bắt.
- Ồ! Phải rồi, điều đó thì có thể xảy ra. Nhưng về tội làm gián điệp đấy, anh bạn ạ.
- Vì làm gián điệp ư?
- Đúng vậy.
- Chứ không phải vì đã đầu độc bà Inglethorp sao?
- Không, trừ khi anh bạn Japp của chúng ta đã mất trí - Poirot thản nhiên đáp.
- Nhưng… nhưng… tôi tưởng rằng ông cũng có cùng suy nghĩ đó.
Poirot ném cho tôi một cái nhìn, qua đó tôi đoán được lòng thương hại trước sự phi lý của một ý nghĩ tương tự.
- Ông muốn nói bác sĩ Bauerstein là một tên gián điệp sao? - Tôi hỏi, làm quen dần với ý nghĩ mới mẻ ấy.
Poirot gật đầu.
- Anh không bao giờ nghi ngờ hắn ta sao?
- Về việc đó thì không bao giờ.
- Anh không thấy kỳ lạ khi một bác sĩ lừng danh ở London lại đến chôn mình trong ngôi làng nhỏ như ở đây, và lại có thói quen thức dậy vào bất cứ giờ nào ban đêm sao?
- Không - tôi thú nhận - tôi không hề nghĩ như thế.
- Tất nhiên rồi, hắn gốc người Đức - Poirot tiếp - và hắn đã lập nghiệp từ lâu ở đây đến độ cuối cùng người ta đã xem hắn như người Anh vậy. Hắn đã nhập quốc tịch Anh từ mười lăm năm nay rồi. Đó là một người đàn ông thông minh.
- Đồ khốn khiếp! - Tôi kêu lên hung hãn.
- Không đâu. Ngược lại, đó là một người yêu nước. Hãy nghĩ đến những gì hắn sẽ mất. Riêng tôi, tôi rất khâm phục hắn ta.
Nhưng tôi lại không thể nhìn sự việc với cùng một quan điểm như Poirot được.
- Và đó lại là người đàn ông mà bà Cavendish đã cùng đi dạo khắp xứ - tôi bất mãn kêu lên.
- Phải! Tôi cho rằng hắn đã lợi dụng chuyện đó - Poirot nhận xét - Khi mà dư luận còn quan tâm đến những cuộc đi dạo đó thì những việc lập dị khác của ông bác sĩ sẽ bị bỏ quên.
- Như vậy, ông cho rằng hắn không bao giờ thật sự yêu bà ấy sao? - Tôi hỏi, có lẽ hơi vội vã, trong tình thế như vậy.
- Điều này thì tôi không thể khẳng định được. Nhưng Hastings này, anh có muốn tôi nói lên ý nghĩ chủ quan của mình không? Thế này đây, bà Cavendish chưa bao giờ có chút tình cảm gì với bác sĩ Bauerstein cả.
- Ông tin như thế thật sao?
Quả thật là tôi khó che giấu được sự hài lòng của mình.
- Tôi hoàn toàn tin chắc như vậy. Anh có muốn tôi nói tại sao không?
- Muốn.
- Bởi vì bà ấy yêu người khác, anh bạn ạ.
- Ồ!
Ông ta muốn nói gì? Tôi bất đắc dĩ ngẩn người một cách nhẹ nhàng. Tôi không mấy tự hào về những vấn đề liên quan tới phụ nữ, nhưng tôi nhớ lại một vài sự kiện, lúc đó không được chú ý mấy, nhưng dường như lại ám chỉ một cách chắc chắn…
Những suy nghĩ dễ chịu của tôi bỗng bị ngắt ngang bởi sự hiện diện của cô Howard. Cô liếc nhanh khắp phòng để yên chí không có ai khác nữa, và trao cho Poirot một mảnh giấy cũ, vừa khẽ thốt lên những lời bí ẩn:
- Trên nóc tủ gương đấy!
Rồi cô vội vã bước ra.
Poirot vội mở giấy ra xem và kêu lên hài lòng. Ông đặt tờ giấy lên bàn
- Hãy đến đây, Hastings ạ. Này, chữ này là chữ J hay chữ L đây?
Sự chú ý của Poirot dồn cả vào cái địa chỉ. Phía trên tấm nhãn là tên hãng Parkson và Công ty, những người buôn bán quần áo nổi tiếng, và sau đó là J. (?) Cavendish Esq. Styles Court, Styles Saint Mary, Essex.
- Có thể là chữ T hoặc chữ L - tôi nói, sau khi xem xét kỹ địa chỉ - nhưng chắc chắn không phải là chữ J.
- Thôi được! - Poirot vừa nói vừa gấp mảnh giấy lại - Tôi đồng ý với anh. Đó là chữ L. Hãy tin chắc đi.
- Nó có quan trọng lắm không?
- Tôi đoán chừng là có mảnh giấy đại loại như thế và đã nhờ cô Howard tìm hộ. Anh thấy đấy, cô ta đã tìm thấy.
- Cô ấy muốn nói gì qua mấy chữ “trên tủ gương” vậy?
- Chỉ đơn giản nó được tìm thấy trên một chiếc tủ gương.
- Quả là một chỗ lạ lùng để đặt một tờ giấy màu nâu - tôi nói.
- Không đâu. Nóc tủ là một chỗ rất tiện lợi để cất giấy tờ vá các hộp cac-tông. Nếu được sắp xếp ngăn nắp thì chúng sẽ không đập vào mắt người ta.
- Poirot này - tôi nghiêm túc hỏi - Ông đã đạt đến một kết luận nào đó về vụ án này chưa?
- Rồi, nghĩa là bây giờ tôi cho rằng đã biết được nó được thực hiện như thế nào.
- À!
- Tiếc thay, tôi lại không có bằng cớ, tôi chỉ có những giả thiết thôi, trừ khi…
Với sức mạnh bất ngờ, ông nắm tay tôi kéo ra hành lang, vừa gọi to bằng tiếng Pháp vì bị kích thích tột độ.
- Bà Dorcas! Bà Dorcas! Một lát thôi. Xin bà!
Bị khuấy động bởi bấy nhiêu tiếng ồn đó, bà Dorcas vội vã bước ra khỏi nhà bếp.
- Bà Dorcas tốt bụng ạ, tôi có một ý nghĩ - một ý nghĩ nhỏ thôi - nhưng nếu như nó đúng thì… À! Một dịp may tuyệt vời biết mấy! Hãy cho tôi biết, hôm thứ hai, hãy nhớ kỹ rằng tôi nói hôm thứ hai đấy, bà Dorcas ạ, trước hôm xảy ra bi kịch, cái chuông của bà Inglethorp có bị hỏng không?
Dorcas lộ vẻ ngạc nhiên.
- Có, thưa ông, bây giờ nghe ông nhắc thì quả đúng như vậy. Có lẽ, một con chuột nào đó đã cắn đứt dây. Thợ đã đến sửa vào hôm thứ ba.
Thốt lên một tiếng kêu dài khoan khái, Poirot quay trở lại phòng khách.
- Anh thấy đấy, lẽ ra người ta không nên đòi hỏi những bằng chứng đến từ bên ngoài, việc suy luận không thôi cũng đủ rồi. Nhưng quả là một sự an ủi khi biết mình đang đi đúng hướng. Ồ! Anh bạn ạ! Tôi đã lấy lại được sức lực, cứ như một người khổng lồ vậy. Tôi chạy đây! Tôi nhảy đây!
Và thật vậy, ông chạy nhảy như điên cuồng trên thảm có trước cửa sổ để mở…
 
* * *
0
- Ông bạn phi thường của ông đang làm gì thế? - Một giọng nói thốt lên sau lưng tôi.
Tôi quay lại và thấy Mary Cavendish đúng sát bên tôi. Bà mỉm cười và tôi cũng đáp lại.
- Tôi không biết phải nói sao nữa. Ông ta đã hỏi Dorcas về vấn đề cái chuông và tỏ ra rất hài lòng về câu trả lời, đến độ ông ta đã chạy nhảy như một con dê nhỏ, như bà thấy đấy.
Mary phá ra cười.
- Thật là lố bịch! Hãy xem kìa, ông ta vượt qua cả cửa rào nữa đấy. Hôm nay ông ta không quay lại đây nữa hay sao?
- Tôi không biết nữa. Tôi chịu thôi, chả muốn thử đoán xem ông ta sẽ làm gì tiếp theo.
- Liệu ông ta có hoàn toàn điên rồ không, ông Hastings?
- Thú thật tôi cũng chả biết nữa. Đôi khi tôi thấy ông ta thật điên khùng, và rồi, ngay vào lúc chứng điên của ông ta dường như lên đến cao độ thì tôi lại phát hiện nó đang che giấu một phương pháp.
- Tôi hiểu.
Mặc dù trông bà sáng nay tươi cười, nhưng Mary Cavendish vẫn có vẻ lo lắng, trầm tư, gần như là buồn rầu.
Tôi tự nhủ lúc này rất thuận tiện để hỏi bà về tương lai của Cynthia. Tôi đặt vấn đề một cách tế nhị, nhưng tôi chưa nói được bao nhiêu thì bà đã ngăn tôi lại với giọng độc đoán.
- Tôi tin chắc ông sẽ là một luật sư giỏi, ông Hastings ạ, nhưng, trong trường hợp này, chẳng cần đến tài nghệ của ông đâu. Cynthia không việc gì phải lo lắng bị tôi ngược đãi cả.
Tôi lắp bắp, nhưng bà ngăn tôi lại và lần này thì những lời nói của bà thật bất ngờ đến độ chúng xua khỏi đầu óc tôi cả Cynthia lẫn những lo lắng của cô ta.
- Ông Hastings, ông có cho rằng chồng tôi và tôi, có hạnh phúc khi sống chung với nhau không?
Tôi cảm thấy sững sờ và khẽ bảo tôi không có tư cách để có ý kiến gì về vấn đề đó.
- Thế đấy - bà thản nhiên nói - tôi có thể thú nhận với ông chúng tôi chả có hạnh phúc gì cả.
Tôi không nói gì bởi vì tôi đoán ra bà chưa nói dứt câu.
Bà nói chậm rãi, vừa đi lại trong phòng, tấm thân thon thả và mềm mại của bà nhẹ nhàng đong đưa theo nhịp chân. Bà dừng lại, và bỗng ngẩng lên nhìn tôi.
- Ông chẳng biết gì về tôi cả, phải không? - Bà hỏi - Không biết tôi từ đâu đến, cũng chẳng biết tôi là ai trước khi lấy John, phải không?... Chẳng biết gì cả, suy cho cùng. Này, hãy nghe đây. Tôi sẽ xưng tội với ông. Bởi vì ông là người tốt, vâng, tôi tin chắc ông rất tốt.
Một sự kiện lạ lùng, và tôi không được vui thích như lẽ ra tôi phải được. Tôi nhớ ra Cynthia cũng bắt đầu những lời tâm sự của mình như thế. Hơn nữa, vai trò của người rửa tội thích hợp với một người đàn ông luống tuổi hơn là với một người đàn ông trẻ ở vào tuổi tôi.
- Bố tôi là người Anh - bà Cavendish bảo - nhưng mẹ tôi lại là người Nga.
- À! - Tôi kêu lên - Bây giờ thì tôi hiểu rồi.
- Ông hiểu gì?
- Cảm giác về một nét duyên dáng lạ lùng, mà tôi luôn luôn có khi đối diện với bà.
- Mẹ tôi rất đẹp, tôi nghe nói như thế. Tôi không được biết bà. Bà đã mất khi tôi còn bé xíu. Tôi cho rắng cái chết của bà là do một thảm kịch gây nên, vì bà đã uống lầm một liều thuốc ngủ quá lớn. Bố tôi không làm sao nguôi ngoai được. Ít lâu sau, ông bước vào lĩnh vực ngoại giao, và tôi theo ông trong mỗi chuyến công tác. Đến năm hai mươi ba tuổi, tôi đã đi gần như khắp thế giới. Đó là một cuộc sống tuyệt diệu.
Một nụ cười thoáng hiện trên gương mặt hơi ngửa ra sau của bà. Bà như sống lại với ký ức về thời gian hạnh phúc đã qua.
- Thế rồi bố tôi mất. Ông bỏ tôi lại gần như không có thu nhập gì cả. Tôi buộc phải đến sống với những bà cô già, trong vùng Yorkshire.
Bà rùng mình.
- Ông sẽ hiểu, khi tôi nói đó là một cuộc sống thật chán chết đi được đối với một thiếu nữ đã lớn lên như tôi. Sự tù túng và đơn điệu của cuộc sống đó khiến tôi gần như phát điên lên. Thế rồi tôi gặp ông John Cavendish. Ông có thể tin rằng dưới mắt các bà cô già của tôi thì đấy là một đám tốt nhất. Nhưng tôi có thể khẳng định một cách trung thực không phải vì gia sản của anh ta mà tôi chịu đâu. Cuộc hôn nhân đó đem lại cho tôi lối thoát đối với cuộc sống buồn tẻ ấy.
Tôi giữ im lặng. Một lúc sau, bà tiếp:
- Tôi xin ông đừng hiểu lầm những lời nói của tôi. Tôi rất thẳng thắn đối với anh ấy. Tôi đã nói với anh ta, và điều đó là sự thật, rằng tôi rất thích anh ấy, nhưng lúc ấy thì tôi hoàn toàn chưa yêu anh ta. Anh ấy tuyên bố hài lòng với bấy nhiêu đó, và chúng tôi lấy nhau…
Bà lại ngưng một lát, hơi nhíu mày, mắt dõi về dĩ vãng.
- Tôi cho rằng, tôi còn tin chắc, anh ấy đã yêu tôi lúc chúng tôi mới lấy nhau. Nhưng có lẽ chúng tôi không phải là một cặp vợ chồng xứng hợp. Chúng tôi rời xa nhau gần như là ngay tức khắc. Bởi vì, và tự ái tôi bị tổn thương khi phải thú nhận điều này, anh ấy nhanh chóng chán tôi.
Có lẽ tôi khẽ nói một lời phản đối mơ hồ náo đấy, bà vội tiếp:
- Ồ! Có chứ! Rất nhanh! Điều đó dù sao bây giờ cũng không quan trọng nữa, khi mà chúng tôi đã đến khúc quanh nơi hai con đường của chúng tôi chia xa.
- Bà muốn nói gì?
Bà thản nhiên đáp:
- Tôi muốn nói là tôi sẽ không ở lại Styles nữa.
- Bà và John không sống ở đây nữa sao?
- John thì có lẽ có, nhưng tôi thì không.
- Bà sẽ rời bỏ anh ấy ư?
- Vâng.
- Nhưng tại sao?
Bà do dự một hồi lâu trước khi trả lời, và cuối cùng bảo:
- Có thể... vì tôi muốn được tự do.
Trong khi bà nói, tôi bỗng hình dung ra những khoảng không gian rộng lớn, những khu rừng rậm bát ngát, những xứ sở xa lạ, tất cả những gì đồng nghĩa với sự tự do đối với một người như Mary Cavendish. Trong giây lát, tôi nhìn thấy bà đúng như con người của bà, kiêu hãnh và hung hăng, cũng hoang dã như một con chim lạ của núi đồi.
Một tiếng kêu nhỏ bỗng được thốt ra.
- Ông không biết được đâu, ông không thể nào biết được cái chốn đáng ghét này tù túng đối với tôi như thế nào đâu.
- Tôi hiểu - tôi nói - Tuy vậy, đừng nên hành động vội vã quá.
- Ồ!
Giọng bà như chế giễu sự thận trọng của tôi.
Và bất thình lình tôi buột miệng nói một câu mà sau đó tôi vô cùng hối tiếc:
- Bà có biết rằng bác sĩ Bauerstein đã bị bắt rồi không?
Ngay tức khắc, một chiếc mặt nạ lạnh lùng phủ kín khuôn mặt của Mary.
- John đã có nhã ý báo tin đó cho tôi hay sáng nay.
- Thế bà nghĩ gì về sự bắt bớ đó.?
- Tôi có thể nghĩ gì cơ chứ? Ông ta hiển nhiên là một tên gián điệp Đức rồi. Ít ra thì đó cũng là những gì người làm vườn đã nói với John.
Giọng nói và vẻ mặt của bà hoàn toàn giá lạnh và không chút xúc cảm. Bà ta có cảm giác ra sao?
Bà bước đi một vài bước, khẽ sờ vào chiếc bình.
- Những bông hoa này héo hết rồi. Tôi phải đi thay chúng đây. Xin ông vui lòng tránh sang một bên cho tôi qua, ông Hastings ạ. Cám ơn.
Bà thản nhiên bước ra ngoài bằng lối chiếc cửa sổ lớn, vừa từ biệt tôi bằng một cái chào khô khan.
Không, bà ấy không thể nào yêu Bauerstein được. Không một phụ nữ nào lại có thể đóng kịch với vẻ thản nhiên hoàn toàn đến như vậy.
 
* * *
0
Sáng hôm sau, không thấy Poirot xuất hiện. Và cũng không có cuộc viếng thăm nào của các thám tử ở Scotland Yard.
Nhưng vào giờ ăn trưa, lại có thêm một bằng chứng mới nữa, đúng hơn là một bằng chứng phủ định. Chúng tôi đã cố công tìm kiếm dấu vết của bức thư thứ tư, bức thư mà bà Inglethorp đã viết vào buổi chiều trước lúc bà mất. Cố gắng của chúng tôi thật vô ích, vì vậy chúng tôi đã bỏ qua dấu vết đó, hu vọng là một ngày nào đó câu trả lời tự nó sẽ đến với chúng tôi. Và chính điều đó đã xảy ra. Bức thư thứ hai đã đem đến thông báo của một hãng phát hành nhạc Pháp cho biết đã nhận được tấm séc của bà Inglethorp nhưng lấy làm tiếc vì đã không thể tìm được cho bà một đĩa hát dân tộc Nga nào đó. Như thế chúng tôi đành phải từ bỏ hy vọng cuối cùng để làm sáng tỏ vụ bí mật nhờ vào bức thư bà Inglethorp viết trong buổi chiều hôm xảy ra thảm kịch.
Ít lâu trước bữa trà, tôi xuống đến tận làng để báo cho Poirot biết sự thất vọng mới thì tôi lấy làm tiếc đã không gặp được ông ta ở nhà.
- Ông ấy đã quay trở lại London ư?
- Ồ! Không, thưa ông, ông ấy chỉ đáp xe lửa đến Tadminster thôi. Ở đó ông ấy muốn đi thăm một bệnh xá do một thiếu nữ trông coi.
- Đồ ngu! - Tôi kêu lên - Mình đã nói với ông ta là thứ tư cô ấy không có ở đó kia mà. Thế này nhé, ông có thể nhắn ông ấy đến gặp chúng tôi vào sáng mai không?
- Được lắm. Thưa ông.
Nhưng hôm sau, vẫn không thấy bóng dáng của Poirot đâu cả. Tôi bắt đầu phát cáu. Ông ta đối xử với chúng tôi một cách quả là quá lổ mãng.
Sau bữa trưa, Laurence kéo tôi ra riêng và hỏi xem tôi có đi gặp Poirot không.
- Không, tôi cho rằng không. Ông ta cứ việc lên đến đây nếu như ông ta muốn nói gì với chúng ta.
- Ồ!
Laurence có vẻ bối rối. Điều gì đặc biệt kích động trong thái độ của anh đạp vào mắt tôi.
- Có gì thế? - Tôi hỏi - Tôi sẽ đi tìm ông ta nếu như có chuyện gì đặc biệt.
- Ồ! Chả có gì quan trọng lắm đâu, nhưng mà, nếu anh muốn thì hãy nói với ông ta (và giọng anh chỉ còn là một tiếng thì thầm) tôi cho rằng mình đã tìm được chiếc tách cà-phê bị mất rồi.
Tôi gần như quên mất bức thông điệp đầy ẩn ý của Poirot, nhưng bây giờ thì sự tò mò của tôi lại trỗi dậy. Thấy Laurence không nói gì thêm, tôi quyết định đèn nén tự ái của mình xuống và lại đi xuống làng.
Lần này thì tôi được đón tiếp bằng một nụ cười. Ông Poirot có ở nhà. Nếu như tôi vui lòng lên lầu? Tôi lên ngay, không cần đợi được mời.
Poirot đang ngồi trước bàn, đầu vùi trong hai tay. Thấy tôi bước vào ông nhổm dậy.
- Có chuyện gì thế? - Tôi ân cần hỏi - Tôi hy vọng ông không ốm đấy chứ?
- Không, tôi không ốm đâu. Nhưng tôi đang phải giải quyết một vấn đề quan trọng bậc nhất.
- Có nên bắt tên tội phạm không chứ gì? - Tôi vụng về hỏi.
Trước sự ngạc nhiên sâu sắc của tôi, Poirot lắc đầu:
- Nói hay không nói. Đó là vấn đề. Như Shakkespeare vĩ đại của anh đã nói.
Tôi không buồn sửa sai câu dẫn chứng đó.
- Ông không nghiêm túc đấy chứ?
- Tôi nghiêm túc hơn bao giờ hết. Bởi vì điều nghiêm túc nhất đang được đặt lên bàn cân.
- Điều gì thế?
- Hạnh phúc của một người phụ nữ, anh bạn của tôi ạ - Ông nghiêm nghị nói.
Tôi chẳng biết nói gì hơn.
- Đã đến lúc phải quyết định - Poirot tiếp - nhưng tôi lại do dự. Bởi vì anh thấy đấy, tôi đang đặt lớn. Không ai, ngoại trừ tôi ra, Hercule Poirot, lại dám liều lĩnh làm như vậy.
Rồi ông kiêu hãnh vỗ ngực.
Sau khi kính cẩn chờ đợi vài phút, để khỏi làm hỏng tác dụng của mình, tôi chuyển lời của Laurence cho ông.
- À! À! - Ông kêu lớn - thế ra anh ta đã tìm ra chiếc tách cà-phê bị mất rồi. Tốt lắm. Anh ta thông minh hơn vẻ bề ngoài, cái anh chàng Laurence mặt dài của anh đấy.
Tôi không đánh giá cao sự thông minh của Laurence lắm, nhưng tôi tránh không cãi với Poirot mà chỉ nhẹ nhàng trách ông đã quên mất những gì tôi nói với ông về những ngày nghỉ của Cynthia.
- Đúng vậy! Tôi có cái sàng thay vào chỗ bộ óc. Nhưng cô gái kia đã tỏ ra tử tế. Cô đã tỏ ra tội nghiệp cho sự thất vọng của tôi và đã chỉ cho tôi xem tất cả với một cử chỉ duyên dáng nhất.
- Ồ! Thế thì tốt lắm. Ông sẽ phải đến vào ngày khác để dùng trà với Cynthia đấy.
Sau đó tôi nói với ông về bức thư.
- Tôi lấy làm tiếc - ông nói - Bởi vì tôi hy vọng ít nhiều vào vấn đề bức thư đó. Nhưng không nên như thế. Cần phải giải vấn đề từ bên trong kia (ông đập vào trán mình). Chính những tế bào chất xám nhỏ này có nhiệm vụ phải làm sáng tỏ bí mật này.
Rồi ông bỗng nói:
- Anh là chuyên viên về dấu tay, phải không anh bạn?
- Không - tôi đáp, khá ngạc nhiên - Tôi biết không có hai dấu tay nào giống hệt nhau cả, nhưng hiểu biết của tôi chỉ dùng lại ở bấy nhiêu đó thôi.
- Đúng vậy.
Ông mở một ngăn kéo nhỏ và rút ra vài tấm hình, ông đặt lên bàn.
- Tôi đã đánh số một, hai và ba. Anh có thể tả lại cho tôi nghe không?
Tôi chăm chú xem xét các tấm hình.
Tất cả chúng đều được phóng to ra. Tấm thứ nhất là dấu ngón cái và ngón trỏ của một người đàn ông. Tấm thứ hai là dấu tay của một người đàn bà, chúng nhỏ hơn nhiều và rất khác xa, dưới mọi góc độ. Còn tấm thứ ba (tôi do dự một lúc lâu), rất hỗn độn, nhiều dấu tay dường như chồng lên nhau, nhưng ở đây tôi nhận ra rất rõ những dấu tay của tấm thứ nhất.
- Nổi bật lên trên những cái khác ư?
- Phải.
- Anh chắc chắn đã nhận ra chúng chứ?
- Ồ! Có chứ, chúng giống hệt nhau.
Poirot gật đầu và, cẩn thận lấy lại những tấm ảnh, ông cất chúng trở vào ngăn kéo và khóa lại. Tôi nói:
- Tôi đoán rằng, theo những thói quen của ông, ông sẽ không dành cho tôi một lời giải thích nào cả.
- Trái lại. Tấm hình thứ nhất là dấu tay của Laurence. Tấm thứ hai là của cô Cynthia. Chúng không mấy quan trọng. Tấm thứ ba thì lại hơi rắc rối.
- Sao?
- Như anh đã nhận thấy, nó đã được phóng to ra rất nhiều. Có lẽ anh cũng thấy một thứ vết bẩn trải dài khắp tấm hình chứ? Tôi sẽ không nói cho anh biết máy ảnh nào cũng như chất bột nào đã được dùng đâu. Đó là một phương pháp thông dụng của cảnh sát, nhờ đó người ta có thể có được, trong một thời gian rất ngắn, một tấm hình chụp dấu tay trên bất cứ vật gì. Thế là anh đã thấy những dấu tay rồi, anh bạn ạ. Tôi chỉ còn phải nói cho anh biết tôi đã lấy được chúng ở đâu thôi.
- Hãy cứ tiếp tục đi, quả là tôi đang rất tò mò.
- Thế này nhé, tấm thứ ba là một phông ảnh rất lớn của bề mặt một lọ nhỏ xíu đựng độc dược, trong bệnh xá của Hội Chữ Thập Đỏ ở Tadminster.
- Chúa ơi! - Tôi kêu lên - Nhưng làm thế nào mà những dấu tay của Laurence Cavendish lại có trên chiếc lọ ấy chứ? Anh ta có đến gần tủ đựng độc dược, vào hôm chúng tôi đến thăm Cynthia, đâu?
- Ồ, có chứ.
- Không thể nào như thế được. Chúng tôi không rời nhau lấy nửa bước.
Poirot lắc đầu.
- Có chứ, anh bạn ạ. Đã có một lúc các anh đã rời xa nhau. Nếu không thì anh đã chẳng phải lên tiếng gọi ông Laurence đến nhập bọn lúc ở trên bao lơn.
- Tôi đã quên mất chi tiết đó. Nhưng chỉ một lát thôi mà.
- Thế cũng đủ lắm rồi.
- Đủ để làm gì cơ chứ?
Nụ cười Poirot trở nên bí hiểm.
- Đủ để cho một người đã theo ngành y có thể thỏa mãn sự tò mò và hứng thú thật tự nhiên của mình.
 
* * *
0
Ánh mắt của chúng tôi gặp nhau. Cái nhìn của Poirot thì mơ hồ. Ông đứng lên và khe khẽ hát một điệu nhạc. Tôi nhìn ông bằng cặp mắt ngờ vực.
- Poirot, chiếc lọ nhỏ xíu ấy đựng gì thế? - Tôi hỏi.
- Chất Hydro-clorat Strychnin - ông nói vọng qua vai, vừa tiếp tục hát nho nhỏ.
- Chúa ơi! - Tôi nói.
Tôi không lấy làm ngạc nhiên vì tôi đã trông đợi câu trả lời đó.
- Người ta ít dùng Hydro-clorat ở dạng nguyên chất lắm, chỉ thỉnh thoảng dùng cho thuốc viên thôi. Đó là dung dịch chính thức: Liq. Strychnin-Hydro-Clorat, ít được dùng trong các phương thuốc. Bởi vậy từ hôm đó đến nay, các dấu tay vẫn chưa bị xóa mất.
- Ông làm thế nào mà chụp được hình chúng chứ?
- Tôi đánh rơi chiếc nón của mình từ trên bao lơn - Poirot nói một cách đơn giản - Vào giờ đó thì khách không được phép vào sân. Do đó, bất chấp những lời xin lỗi của tôi, cô đồng nghiệp của Cynthia vẫn phải xuống nhặt hộ tôi.
- Như vậy, ông đã biết trước sẽ tìm thấy gì sao?
- Không. Không đâu. Qua lời kể của anh, tôi đã ý thức được ông Laurence có khả năng dùng đến tủ đựng độc dược. Do đó cần phải khẳng định hoặc loại trừ khả năng đó đi.
- Poirot - tôi nói - nỗi vui của ông không qua mặt được tôi đâu. Đó là một khám phá nghiêm trọng.
- Tôi cũng không biết nữa - ông đáp - Nhưng, có lẽ anh cũng đã nhận thấy, có một sự kiện gây sự chú ý ở tôi.
- Cái gì vậy?
- Đó là trong vụ này, quả là có nhiều Strychnin. Đây là lần thứ ba mà chúng ta tìm thấy nó. Trong thuốc bổ của bà Inglethorp cũng có Strychnin. Có Strychnin do Mace bán trong hiệu thuốc ở Styles Saint Mary và bây giờ, chúng ta lại đứng trước Strychnin do một người trong gia đình đã sờ đến. Tất cả những thứ này thật là lộn xộn và, như anh biết đó, tôi không thích sự hỗn độn.
Trước khi tôi kịp trả lời, một trong những người Bỉ khác cùng ở chung nhà mở cửa và ló đầu vào.
- Ở dưới nhà có một bà muốn gặp ông Hastings.
- Một bà ư?
Tôi nhỏm dậy ngay. Poirot theo tôi xuống tận chân cầu thang hẹp và chúng tôi trông thấy bà Mary Cavendish trên bậc thềm.
- Tôi đến thăm một bà cụ trong làng - bà nói - và vì Launrence có nói là ông đến chỗ ông Poirot nên tôi ghé đón ông.
- Tiếc thay, thưa bà - Poirot nói - Thế mà tôi cứ ngỡ bà cho tôi vinh dự được bà đến thăm chứ.
- Một ngày nào đó tôi sẽ rất vui lòng đến chơi, nếu như được ông mời - Bà mỉm cười hứa hẹn.
- Thế thì tốt lắm. Và nếu như có khi nào bà cần xưng tội, thưa bà (nghe đến đây bà hơi giật mình), thì xin bà hãy nhớ rằng ông Poirot luôn luôn sẵn sàng để phục vụ bà.
Bà nhìn ông ta chăm chăm một lúc, như để tìm xem có một ý nghĩa nào sâu sắc hơn trong lời nói của ông không. Rồi bà bỗng quay đi.
- Ta đi thôi! Ông có muốn đi cùng chúng tôi không?
- Rất hân hạnh, thưa bà.
Suốt dọc đường đến Styles, Mary sôi nổi nói chuyện, nhưng tôi có cảm giác bà tránh cái nhìn của Poirot.
Trời đã trở lạnh và gió sắc, gần như gió mùa thu. Mary rùng mình và cài nút áo lên đen lại. Qua các rặng cây, gió tạo nên một âm thanh u buồn.
Chúng tôi tiến đến trước cổng chính của Styles và ngay lập tức, chúng tôi hiểu ra rằng đã có chuyện gì bất thường xảy ra.
Dorcas chạy ra đón chúng tôi. Bà vừa khóc vừa xoắn tay và tôi nhận thấy tất cả gia nhân đang túm tụm lại ở phía sau, vẻ mặt ngơ ngác.
- Ồ! Thưa bà! Ồ! Thưa bà! Tôi không biết phải nói sao với bà…
- Có chuyện gì thế, bà Dorcas? - Tôi sốt ruột kêu lên - Hãy nói đi… nói ngay đi…
- Đó là âm mưu của các ông thám tử đáng nguyền rủa ấy. Họ đã bắt giữ ông ấy! Họ đã bắt giữ ông Cavendish!
- Bắt giữ Laurence ư? - Tôi kêu lên.
Tôi thấy một ánh kỳ lạ thoáng lên trong mắt Dorcas.
- Không, thưa ông. Không phải ông Laurence đâu, ông John cơ.
Mary Cavendish nặng nề tựa vào người tôi, vừa thét lên một tiếng và, khi tôi quay lại để đỡ bà thì tôi bắt gặp cái nhìn đắc thắng của Poirot.
0
CHƯƠNG XI
PHIÊN TÒA
 
Hai tháng sau, phiên tòa xử John Cavendish về tội giết mẹ kế diễn ra.
Tôi sẽ nói chút ít về những tuần trước đó, trong thời gian này thiện cảm và sự ngưỡng mộ của tôi dành hết cho Mary Cavendish. Bà đứng hẳn về phía chồng mình, gạt bỏ một cách khinh miệt ngay cả ý nghĩ rằng anh ta có tội nữa, và tranh đấu hết sức mình cho anh.
Tôi nói lên tình cảm của mình với Poirot và ông gật đầu buồn bã.
- Phải, bà ấy thuộc loại phụ nữ chỉ bộc lộ ưu điểm của mình trong nỗi bất hạnh mà thôi. Chính những bất hạnh đã làm nổi bật lên những gì tốt đẹp nhất, trung thực nhất ở họ. Niềm kiêu hãnh và sự ghen tuông ở bà ấy đã…
- Sự ghen tuông ư? - Tôi ngạc nhiên hỏi lại.
- Phải. Anh không thấy đó là một phụ nữ hay ghen sao? Như tôi đã nói, niềm kiêu hãnh và sự ghen tuông đã được dẹp qua một bên. Bà chỉ còn nghĩ đến chồng mình và đến số mệnh khủng khiếp đang treo lơ lửng trên đầu ông ta thôi.
Ông nói với nỗi xúc cảm và tôi nhìn ông, nhớ lại buổi trưa trước đây, khi ông do dự không biết có nên nói hay không. Và, nghĩ đến sự trìu mến của ông dành cho tất cả những gì đụng đến “hạnh phúc của một người phụ nữ”, tôi cảm thấy sung sướng rằng ông không phải chọn đến một quyết định nào cả.
- Ngay cả bây giờ nữa - tôi nói - tôi vẫn không thể nào tin được. Đến giây phút cuối cùng tôi vẫn cho đó là Laurence.
Poirot cười gằn.
- Tôi thì tôi biết đấy.
- Nhưng John, anh bạn John của tôi!
- Mọi tên sát nhân đều là bạn thân của một người nào đó - Poirot triết lý - Người ta không thể lẫn lộn tình cảm và lý trí được.
- Tôi phải thú nhận, lẽ ra ông nên báo trước cho tôi biết thì hơn.
- Tôi đã không làm như vậy có thể chính vì anh ta là bạn của anh.
Tôi hơi chưng hửng trước những lời nói đó và nhớ lại tôi đã quá vội vã khi cho John biết những nghi ngờ của Poirot, mà theo ý tôi, bao trùm lên Bauerstein. Ông này, nhân đây cũng nên nói, đã được tha bổng. Dù sao đi nữa, dù hắn đã khéo léo phá tan được lời buộc tội, thì từ nay hắn cũng không thể hành động gì được nữa.
Tôi hỏi Poirot xem ông ta có tin rằng John sẽ bị kết án hay không. Trước sự ngạc nhiên tột độ của tôi, ông bảo với tôi, ngược lại, sẽ có rất nhiều hy vọng để cho anh ta được tha bổng.
- Thôi đi nào, Poirot! - Tôi phản đối.
- Ồ! Anh bạn của tôi ạ, tôi vẫn chẳng bảo với anh là tôi không có bằng cớ gì hết sao? Biết người nào đó có tội và chứng minh được anh ta có tội lại khác xa nhau. Và trong trường hợp này thì lại có quá ít bằng chứng. Đó là tất cả khó khăn đấy. Tôi, Hercule Poirot, tôi biết, nhưng tôi còn thiếu một mắt xích cuối cùng của sợi dây xích. Trừ khi tìm được mắt xích đó.
Ông gật gù một cách nghiêm nghị.
- Ông bắt đầu nghi ngờ John Cavendish từ lúc nào vậy? - Tôi hỏi sau một lúc im lặng.
- Còn anh thì không nghi ngờ anh ta sao?
- Không bao giờ!
- Ngay cả sau mẫu đối thoại mà anh đã nghe thấy giữa Mary Cavendish và bà mẹ chồng, và sau sự thiếu trung thực của bà ta ở buổi hỏi cung sao?
- Không.
- Anh không tự nhủ nếu như không phải Alfred Inglethorp đã cãi nhau với vợ (và anh có nhớ hắn ta đã kịch liệt chối cãi ở buổi hỏi cung), thì sẽ phải là Laurence hoặc John thôi. Nhưng, nếu là Laurence thì thái độ của Mary Cavendish là không thể hiểu nổi. Nhưng mặt khác, nếu như là John thì tất cả đều được giải thích một cách tự nhiên.
- Như thế - tôi kêu lên, trong khi mọi việc bắt đầu sáng tỏ trong tôi - thì chính John là người đã cãi nhau với mẹ mình vào trưa hôm xảy ra án mạng, phải không?
- Đúng vậy.
- Và ông biết điều này ngay từ đầu vụ này ư?
- Tất nhiên rồi. Đó là cách duy nhất để có thể giải thích được thái độ của Mary Cavendish thôi.
- Thế mà ông lại bảo có thể anh ta được tha bổng ư?
Poirot nhún vai.
- Chắc chắn như thế thôi. Ở buổi thẩm vấn của việc công tố, chúng ta sẽ nghe lời buộc tội, nhưng theo mọi khả năng, thì các luật sư của bị cáo sẽ đề nghị đợi đến phiên tòa để bào chữa. Và nhân đây tôi cũng lưu ý anh tôi không nên có mặt tại phiên tòa.
- Sao cơ?
- Không. Một cách chính thức thì tôi không dính dáng gì đến vụ này cả. Tôi phải ở trong hậu trường cho đến khi tôi tìm được cái mắc xích còn thiếu ấy. Bà Cavendish phải tin rằng tôi làm việc cho chồng bà ta chứ không phải chống lại ông ấy.
- Ồ! Này, như thế thì quá lắm đấy! - Tôi nổi loạn và phản đối.
- Không đâu. Chúng ta đang phải đương đầu với một tên vô cùng thông minh, không hề biết chùng tay, và chúng ta phải dùng mọi cách trong khả năng của chúng ta, nếu không thì hắn sẽ vuột khỏi tay chúng ta ngay. Bởi vậy tôi phải cẩn thận núp đằng sau hậu trường. Tất cả mọi phát hiện đều do Japp thực hiện và Japp sẽ hưởng mọi vinh quang. Nếu như tôi được gọi ra làm chứng (và ông mỉm cười thoải mái), thì tôi sẽ chỉ là nhân chứng giải tội mà thôi.
Tôi không thể nào tin vào đôi tai mình.
- Tất cả đều ổn cả - Poirot tiếp - Dù cho có lạ lùng đến đâu đi nữa, thì cũng chính tôi sẽ đưa ra bằng chứng để phá bỏ lời buộc tội.
- Về vấn đề gì?
- Về việc thủ tiêu tờ di chúc. John Cavendish không hề thiêu hủy nó.
 
* * *
0
Poirot quả là một nhà tiên tri. Tôi sẽ không đi vào chi tiết của buổi thẩm vấn của viện công tố, bởi vì như thế sẽ kéo theo những sự lặp lại chán ngắt. Tôi chỉ nói thêm John Cavendish đã hoãn việc bào chữa của mình lại và bị tống giam trong khi chờ đợi phiên tòa.
Vào tháng chín, chúng tôi lại tụ họp đông đủ ở London. Mary mướn một căn nhà ở Kensington và Poirot có mặt đầy đủ ở các buổi họp mặt của gia đình. Tôi cũng đã xin được một chân ở Bộ Quốc Phòng và như thế có thể gặp mặt bạn bè thường.
Các tuần lễ càng trôi qua thì sự nóng nảy của Poirot lại càng tăng lên. Cái “mắt xích cuối cùng” mà ông nói đến vẫn còn thiếu. Riêng tôi, tôi rất mong cho ông tìm được nó, bởi vì tương lai sẽ dành cho Mary hạnh phúc như thế nào, nếu như John không được tha bổng?
Ngày mười lăm tháng chín, John Cavendish ra trước vành móng ngựa vì tội đã cố sát Emily-Agnés Inglethorp. Anh vẫn một mực kêu oan.
Ngài Ernest Heavywether, vị cố vấn nổi tiếng của Nhà Vua, được giao nhiệm vụ bào chữa cho John.
Ông Philips, công tố của Nhà Vua, mở đầu cuộc tranh tụng.
Ông tuyên bố: Vụ giết người có toan tính trước và được thực hiện một cách thản nhiên. Đó là việc đầu độc một phụ nữ cả tin và đáng yêu bởi đứa con chồng, người đối với anh ta còn hơn là một bà mẹ nữa. Bà đã đùm bọc anh từ thuở nhỏ. Anh và vợ sống ở Styles Court trong sự giàu sang thừa thãi, trong sự quan tâm và chăm sóc của bà. Bà đã là ân nhân của anh.
Ông đề nghị cho mời các nhân chứng ra để chứng minh là John đang kiệt quệ về tài chánh và đang theo đuổi mối quan hệ bất chính với bà Raikes, vợ một nông dân ở gần đấy. Bà mẹ kế biết được sự kiện đó đã buộc tội anh vào buổi trưa trước khi bà chết. Và tiếp theo sau đó một cuộc cãi vả đã nổ ra mà một phần đã được nghe thấy. Hôm trước, bị can đến mua Strychnin ở hiệu thuốc trong làng, anh đã cải trang để mong đổ tội cho một người đàn ông khác, nghĩa là cho chồng của bà Inglethorp. Rất may là ông Inglethorp đã có thể đưa ra một bằng chứng vô can không thể bác bỏ được.
Trưa hôm mười bảy tháng bảy, viên công tố của Nhà Vua tiếp, bà Inglethorp viết một tờ di chúc mới ngay sau cuộc cãi vã với đứa con chồng. Người ta tìm thấy tờ di chúc đó bị đốt cháy trong lò sưởi của phòng ngủ vào sáng hôm sau, nhưng sau đó người ta phát hiện được bằng chứng cho rằng tờ di chúc đó được lập thuận lợi cho chồng nạn nhân. Bà đã lập một tờ di chúc thuận lợi cho chồng trước đám cưới nhưng (và ở đây ông Philips lúc lắc ngón trỏ một cách đầy ý nghĩa) bị cáo không biết đến chi tiết này. Không thể biết được lý do nào đã khiến cho nạn nhân lập một tờ di chúc mới, trong khi cái cũ vẫn tồn tại. Bà đã luống tuổi và có thể quên mất sự hiện diện của tờ di chúc trước. Hoặc giả, và điều này có vẻ hợp lý hơn dưới mắt ông Philips, có lẽ bà tưởng rằng tờ di chúc không còn giá trị nữa từ sau cuộc hôn nhân của mình, vì đã được nghe nói về vấn đề này. Phụ nữ thường không được rành lắm về pháp lý. Khoảng một năm về trước, bà đã lập di chúc thuận lợi cho bị cáo. Ông Philips định cho gọi những nhân chứng để chứng minh rằng rốt cuộc chính bị cáo là người đã đem tách cà-phê đến cho mẹ kế vào buổi tối định mệnh ấy. Sau đó anh ta đã đột nhập vào phòng để thủ tiêu tờ di chúc mà vắng nó, anh biết, sẽ khiến cho tờ di chúc thuận lợi cho anh trở nên hợp lê.
Bị cáo bị bắt giữ sau khi thám tử Japp, một viên cảnh sát rất giỏi, phát hiện ra lọ Strychnin mà viên dược sĩ trong làng đã bán cho người được xem là ông Inglethorp, trước hôm xảy ra vụ án. Việc quyết định xem những sự kiện vừa rồi có tạo nên một bằng chứng luận tội không thể chối cãi được đối với bị cáo hay không là việc của Bồi Thẩm Đoàn.
Và, sau khi tế nhị ám chỉ thật không thể tin được là Bồi Thẩm Đoàn sẽ không quyết định như thế, ông Philips ngồi xuống và lau trán.
Những nhân chứng buộc tội đầu tiên phần lớn đều là những người đã được gọi ra ở buổi thẩm vấn, trước tiên là các bác sĩ.
Ngài Ernest Heavywether, nổi tiếng khắp nước Anh về cách làm cho nhân chứng bị bối rối, chỉ đặt hai câu hỏi thôi.
- Theo như tôi hiểu, bác sĩ Bauerstein ạ, thì Strychnin là một loại độc dược có công hiệu rất nhanh.
- Vâng.
- Và trong trường hợp đặc biệt này ông không thể giải thích được sự chậm trễ?
- Đúng vậy.
- Xin cám ơn.
Ông Mace nhận dạng chiếc lọ mà viên công tố đưa ra đúng như là chiếc lọ ông đã bán cho ông Inglethorp. Bị thúc ép, ông thừa nhận ông chỉ biết mặt ông Inglethorp thôi. Ông chưa bao giờ nói chuyện với ông ấy cả. Nhân chứng không bị hỏi thêm gì nữa.
Alfred Inglethorp, bị gọi ra, đã chối phăng việc mua độc dược. Ông cũng bác bỏ việc đã cãi nhau với vợ. Nhiều nhân chứng đã xác nhận lời khai của ông ta là chính xác.
Sau đó người ta nghe lời khai của những người làm vườn về chuyện tờ di chúc, rồi đến lượt Dorcas được gọi ra.
Một mực trung thành đối với “các cậu chủ” của mình, Dorcas kịch liệt không nhận bà đã nghe thấy giọng của John và kiên quyết tuyên bố, mặc dù điều này trái ngược với sự hiển nhiên, rằng chính ông Inglethorp đã có mặt trong thư phòng. Một nụ cười khá u buồn thoáng hiện trên gương mặt của bị cáo. Anh thừa biết rằng sự can thiệp dũng cảm của Dorcas là vô ích, bởi vì chính luật sư bào chữa cũng không định bác bỏ sự kiện này. Dĩ nhiên là bà Cavendish không thể được gọi ra để làm chứng chống lại chồng mình.
Sau khi đã hỏi vài câu về những vấn đề khác, ông Philips hỏi:
- Vào tháng sáu vừa rồi, bà có nhớ rằng có một bưu kiện được hãng Parkson gửi đến cho ông Laurence Cavendish không?
Dorcas lắc đầu.
- Tôi không nhớ nữa. Có thể là có đấy, nhưng ông Laurence vắng nhà hầu như là suốt tháng sáu.
- Trong trường hợp có một bưu kiện gởi đến cho ông ta trong lúc đi vắng thì người ta sẽ làm gì?
- Người ta sẽ đem để trong phòng của cậu ấy hoặc trả lại người gởi.
- Có phải bà làm nhiệm vụ đó không?
- Không, thưa ông. Tôi chỉ đem nó đặt trên chiếc bàn trong tiền sảnh thôi. Cô Howard mới làm chuyện đó.
Evelyn Howard được gọi ra và sau khi được hỏi về những vấn đề khác, thì vấn đề gói bưu kiện được đặt ra với cô.
- Tôi không nhớ nữa. Có nhiều bưu kiện được gởi đến lắm. Tôi không thể nhớ riêng gói nào được.
- Cô không biết nó có được gởi tiếp đến xứ Galles cho ông Laurence, hoặc bỏ trong phòng ông ta sao?
- Tôi cho rằng nó đã được gởi tiếp đi. Nếu không thì tôi đã nhớ rồi.
- Nếu như một bưu kiện nào gởi cho ông Laurence Cavendish mà sau đó bị biến mất thì cô có nhận thấy sự mất mát đó không?
- Không, tôi nghĩ là không. Tôi sẽ cho là một người nào khác đã nhận lãnh nó.
- Cô Howard ạ, hình như chính cô đã phát hiện ra tờ giấy màu nâu này thì phải?
Ông giơ tờ giấy đầy bụi bặm mà Poirot và tôi đã xem xét trong phòng khách ở Styles.
- Vâng, chính tôi.
- Làm thế nào mà cô lại đi tìm nó chứ?
- Viên thám tử người Bỉ đảm nhận vụ án này đã nhờ tôi tìm hộ.
- Cô đã tìm thấy nó ở đâu?
- Trên đầu… tủ gương.
- Trên đầu tủ của bị cáo, phải không?
- Tôi… tôi chắc thế.
- Chính cô tìm thấy nó ư?
- Vâng.
- Thế thì cô phải biết cô tìm thấy nó ở đâu chứ?
- Vâng. Trên đầu tủ của bị cáo.
- Như thế thì tốt hơn đấy.
Một nhân viên bán hàng ở chỗ Parkson, hiệu quần áo đóng tuồng, xác nhận rằng ngày mười chín tháng sáu họ đã giao một bộ râu đen cho ông L. Cavendish như ông này đã đặt mua. Đơn đặt hàng là một bức thư có kèm theo một tấm ngân phiếu. Không. Họ đã không giữ lại bức thư, vì tất cả các đơn đặt hàng đã được lưu vào sổ. Họ đã gửi bộ râu theo như sự chỉ dẫn, đến cho L. Cavendish Esq., Styles Court.
Ngài Ernest Heavywether nặng nề đứng lên.
- Bức thư từ đâu đến vậy?
- Từ Styles Court.
- Cùng địa chỉ với nơi ông phải gởi bưu kiện ư?
- Vâng.
Heavywether lao đến ông ta như một con thú vồ mồi.
- Làm sao ông biết được?
- Tôi… tôi không hiểu?
- Làm sao ông biết được bức thư được gởi đến từ Styles Court? Ông có để ý đến con dấu của bưu điện không?
- Không… nhưng…
- À! Ông không để ý đến dấu bưu điện sao? Thế mà ông lại khẳng định nó được gởi đến từ Styles. Suy cho cùng thì đó có thể là bất cứ con dấu nào chứ?
- Vâng.
- Nói cho cùng thì bức thư, mặc dù được viết trên giấy có nhãn của Styles Court, nó vẫn có thể được bỏ ở bưu điện bất cứ nơi đâu. Ở xứ Galles chẳng hạn?
Nhân chứng thừa nhận rằng có thể là trường hợp đó và ngài Ernest tỏ vẻ hài lòng.
Elisabeth Wells, người hầu phòng thứ hai ở Styles Court, xác nhận rằng sau khi đã đi nằm, bà chợt nhớ đã cài then cánh cửa ra vào thay vì chỉ khóa bằng chìa khóa như ông Inglethorp đã dặn. Do đó bà đã trở xuống để sửa chữa sai lầm đó. Bà đã nghe thấy một tiếng động nhỏ bên cánh trái và, liếc nhìn dọc theo hành lang, bà trông thấy ông John Cavendish đang gõ cửa phòng bà Inglethorp.
Ngài Ernest đã nhanh chóng lèo lái bà ta theo ý mình và, bằng những câu hỏi dồn dập và không thương tiếc của mình, ông đã dẫn bà ta đi đến chỗ phải tự mâu thuẫn với chính mình. Rồi ông ta ngồi xuống với nụ cười hài lòng.
Sau lời chứng của Annie về vết sáp trên tấm thảm và về việc đã trông thấy bị cáo đem cà-phê vào thư phòng, phiên tòa được hoãn lại đến hôm sau.
 
* * *
0
Trên đường trở về nhà, Mary Cavendish cay đắng kêu ca về viên công tố của nhà vua.
- Một con người đáng ghét biết mấy! Ông ta tìm cách giăng bẫy xung quanh anh John đáng thương của tôi. Với sự khôn khéo quý phái, ông ấy đã biến đổi từng sự kiện nhỏ, hòng mang lại cho nó dáng dấp phù hợp với ý muốn của mình.
- Thế thì ngày mai sẽ phải trái ngược lại - tôi nói để an ủi bà.
- Phải - Bà mơ màng đáp.
Rồi bất ngờ bà xuống giọng.
- Ông Hastings này, ông có cho rằng Laurence có thể là thủ phạm không? Ồ! Không đâu! Không thể như thế được!
Chính tôi cũng rất thắc mắc và, ngay khi còn lại một mình với Poirot, tôi hỏi ông ấy mục đích thật sự của ngài Ernest là gì.
- Ồ! - Poirot bảo - Ngài Ernest là một con người rất thông minh.
- Ông có cho rằng ông ta tin Laurence là thủ phạm không?
- Tôi cho rằng ông ta chẳng tin gì cả. Không. Ông ta chỉ tìm cách tạo ra rất nhiều rối ren trong đầu óc của các bồi thẩm, nhằm làm cho họ không làm sao biết được ai trong số hai anh em là thủ phạm nữa. Ông ta tìm cách chứng minh những bằng chứng buộc tội Laurence cũng nhiều bằng những chứng cớ bất lợi cho John và tôi dám chắc ông ta không thất bại đâu.
 
* * *
 
Hôm sau, lúc bắt đầu phiên tòa, người chứng đầu tiên được gọi lên là thanh tra Japp. Ông khai trước tòa hết sức ngắn gọn. Sau khi trình bày những sự kiện đầu tiên, ông tiếp:
- Tiếp theo một vài thông tin, Summerhaye và tôi đã lục soát phòng của bị cáo trong lúc vắng mặt ngắn ngủi của anh này. Trong ngăn tủ quần áo, giấu dưới một chồng quần đùi và áo lót, thoạt tiên chúng tôi tìm thấy cặp kiếng kẹp mũi gọng vàng, giống như của ông Inglethorp (cặp kiếng được đưa ra trình) và thứ hai nữa là chiếc lọ này đây.
Chiếc lọ được người dược sĩ nhận diện: một chiếc lọ nhỏ xíu bằng thủy tinh màu xanh, trong đựng vài hạt bột màu trắng và trên nhãn ghi:
Strychnin-clorat
Độc dược.
Từ sau buổi hỏi cung, các thám tử đã tìm ra một bằng chứng mới: một mảnh giấy thấm dài, gần như mới toanh. Họ đã tìm thấy nó trong cuốn séc của bà Inglethorp và, đặt nó trước tấm gương, người ta thấy rõ những chữ sau: “Tôi để lại những gì thuộc sở hữu của tôi cho người chồng yêu quý của tôi: Alfred Ingl…”. Điều này cho thấy đích thực tờ di chúc bị thiêu hủy được lập với sự thuận lợi dành cho chồng của nạn nhân. Sau đó Japp đưa ra mẩu giấy cháy đen tìm thấy trong lò sưởi, cái mà, cùng với sự phát hiện của bộ râu trên nhà kho đã bổ sung cho lời khai của ông.
Nhưng luật sư của bị báo lại hỏi thêm ông vài câu:
- Ông đã lục soát phòng của thân chủ tôi vào hôm nào?
- Thứ ba, hai mươi bốn tháng bảy.
- Đúng một tuần sau vụ án?
- Phải.
- Ông nói rằng đã tìm thấy hai món đồ đó trong tủ quần áo. Vậy ra ngăn kéo không khóa ư?
- Không.
- Ông không thấy việc một người vừa mới gây án lại cất giữ bằng chứng buộc tội mình trong một ngăn kéo không khóa, mà người đầu tiên đến có thể lấy được, là phi lý sao?
- Có thể hắn đã vội vã trong khi cất giấu.
- Nhưng ông vừa bảo rằng nguyên một tuần lễ đã trôi qua từ sau vụ án kia mà. Do đó hắn ta đã có thừa thì giờ để đem đi chỗ khác và hủy chúng đi chứ?
- Có thể.
- Không còn phải nghi ngờ điều đó nữa. Hắn ta có thì giờ để đem đi chỗ khác và hủy chúng đi, có hay không?
- Có.
- Chồng quần đùi và áo lót dưới đó những đồ vật này được cất giấu dày hay mỏng?
- Khá dầy.
- Nói cách khác, đó là những quần áo mùa đông. Như vậy rất có thể bị cáo đã không mở đến ngăn tủ đó chứ?
- Có thể là không?
- Yêu cầu ông trả lời đúng vào câu hỏi của tôi. Việc bị cáo, trong một tuần lễ nóng nhất của mùa hè, lại có thể mở ngăn kéo đựng quần áo của mùa đông ra là có thể xảy ra hay không?
- Không.
- Trong trường hợp đó, có thể nào những vật ấy được một người thứ ba nào đó đặt vào đấy mà thân chủ không hay biết gì không?
- Điều đó tôi thấy khó mà xảy ra.
- Nhưng có thể chứ?
- Vâng.
- Thế thôi.
Những lời khai thác tiếp theo sau nói lên những khó khăn về tài chính của bị cáo vào cuối tháng bảy, và quan hệ của anh ta với bà Raikes. Tội nghiệp Mary! Tự ái của bà phải chịu một sự thử thách nặng nề biết mấy! Evelyn Howard đã có lý phần nào, nhưng lòng thù hận của cô ta đối với Alfred Inglethorp đã khiến cô kết luận quá vội vã rằng chính hắn ta là người đàn ông đó.
Sau đó Laurence Cavendish được gọi ra. Anh khẽ trả lời những câu hỏi của ông Philips và chối rằng không hề đặt mua gì ở cửa hàng Parkson vào tháng sáu. Quả vậy, hôm mười chín tháng sáu, anh đang ở xử Galles.
Đúng lúc đó, ngài Ernest tiến đến, chiếc cằm đưa ra đầy vẻ công kích.
- Ông không nhận đã đặt mua một bộ râu màu đen ở chỗ Parkson sao?
- Tôi không nhận.
- Ồ! Hãy cho tôi biết ai sẽ thừa hưởng Styles Court trong trường hợp có chuyện gì xảy đến cho anh của ông?
Sự thô bạo của câu hỏi đó khiến cho Laurence đỏ mặt. Viên chánh án khẽ phản đối và, ở ghế bị cáo, John chồm ra phía trước với vẻ tức tối.
Nhưng Heavywether không màng đến sự tức giận của bị cáo.
- Hãy trả lời tôi, xin ông.
- Tôi cho rằng đó sẽ là tôi - Laurence bình thản đáp.
- Ông muốn nói gì qua “tôi cho rằng”? Anh của ông không có con. Như vậy chính ông sẽ thừa hưởng, phải không?
- Phải.
- À! Có thế chứ! Heavywether nói với một nụ cười dữ tợn. Và ông cũng thừa hưởng cả một khoản tiền lớn, phải không?
- Ngài Ernest ạ - viên chánh án phản đối - những câu hỏi đó quả là không đúng lúc.
Ngài Ernest nghiên đầu và tiếp:
- Hôm thứ ba, mười bảy tháng bảy, ông có đến tham quan bệnh xá của Hội Chữ Thập Đỏ ở Tadminster cùng với một người bạn, phải không?
- Vâng.
- Và, tình cờ có một mình trong phòng ít lâu, ông đã mở tủ đựng độc dược và xem xét vài chai lọ?
- Tôi… có thể tôi đã làm như vậy.
- Tôi chắc chắn ông đã làm chuyện đó.
- Vâng.
Câu hỏi tiếp theo của ngài Ernest rít lên như một phát súng:
- Ông có đặc biệt xem xét một chiếc lọ nào không?
- Không, tôi cho rằng không.
- Hãy coi chừng, ông Cavendish ạ. Tôi muốn nói một chiếc lọ nhỏ đựng Hydro-Clorat Astrychnin.
Laurence xanh mặt.
- Không… không, tôi tin chắc đã không đụng đến nó.
- Thế thì làm sao ông giải thích được việc người ta đã tìm thấy dấu tay của ông trên đó chứ.
Với một tính cách như của Laurence thì biện pháp mạnh rất có hiệu quả.
- Tôi cho rằng tôi đã đụng đến chiếc lọ.
- Tôi cũng nghĩ như vậy. Ông có lấy bớt một phần những gì chứa trong đó không?
- Chắc chắn là không.
- Thế thì tại sao ông lại đụng đến nó.
- Trước kia tôi có học y khoa. Và tất nhiên là những thứ đó khiến tôi chú ý.
- À! Như vậy đó, những độc dược “tự nhiên là gây sự chú ý” của ông, phải không nào? Thế mà ông lại đợi khi chỉ có một mình để thỏa mãn sự chú ý đó?
- Đó chỉ là sự tình cờ mà thôi. Tôi cũng sẽ hành động như vậy nếu như những người khác có mặt ở đó.
- Thế nhưng họ lại không có ở đó, phải không?
- Vâng, nhưng…
- Quả là như vậy, suốt cả buổi chiều ông chỉ ở một mình trong một hai phút mà thôi, và chính trong một hai phút đó, ông đã cảm thấy “sự chú ý tự nhiên” đối với chất Hydro-clorat Strychnin sao?
Laurence ấp úng một cách thảm hại:
- Tôi… tôi…
Ngài Ernest nhận xét với vẻ hài lòng:
- Tôi không còn gì để hỏi ông nữa cả, ông Cavendish ạ.
Cuộc hỏi cung chặt chẽ đó được mọi người chăm chú theo dõi. Trong đám đông, những phụ nữ quý phái còn bắt đầu nói chuyện to đến độ ông chánh án bực bội hăm dọa sẽ cho giải tán căn phòng ngay lập tức nếu như sự im lặng hoàn toàn không được tôn trọng một cách nghiêm ngặt.
Sau đó rất ít lời khai nào khác. Những chuyên viên về chữ viết được gọi ra để xem xét chữ ký của Alfred Inglethorp trên sổ mua độc dược của ông dược sĩ. Họ đều nhất trí tuyên bố đó là một chữ ký giả, hoặc là chữ viết được biến đổi của bị cáo. Được hỏi ngược lại, họ nhìn nhận răng đó có thể là một sự giả mạo khéo léo của bị cáo.
Ngài Ernest Heavywether mở đầu phần bào chữa của mình bằng một bài diễn thuyết ngắn, được phát biểu dưới sự mạnh bạo cố hữu của mình. Ông tuyên bố rằng suốt bao nhiêu năm kinh nghiệm của mình, ông chưa bao giờ thấy một lời buộc tội nào lại dựa trên những bằng chứng sơ sài đến như thế. Bằng chứng không những chỉ dựa trên những sự vật mà hầu hết chúng còn mong manh nữa. Bồi thẩm đoàn nên ghi lại những lời khai đã nghe và xem xét cho thật kỹ, thật vô tư. Người ta đã tìm thấy chất Strychnin trong ngăn tủ của bị cáo. Ngăn tủ đó không khóa, như ông đã đưa ra nhận xét, và ông quả quyết rằng không có vật gì chứng minh chính thân chủ ông đã giấu độc dược ở đó. Thật vậy, đó là hành động khôn khéo của một người thứ ba để đổ tội cho bị cáo. Người ta không thể chứng minh chính anh ta là người đặt mua bộ râu đen ở chỗ Parkson. Vụ cãi vã xảy ra giữa bị cáo và bà mẹ kế, những khó khăn về tài chánh của bị cáo đã được thổi phồng lên một cách thô lỗ. Ông bạn trứ danh của ông (và ngài Ernest thờ ơ hất đầu về phía Philips) bảo rằng nếu như bị cáo vô tội thì anh ta phải nhanh nhẩu tuyên bố ở buổi hỏi cung răng chính mình, chứ không phải Inglethorp, là nhân vật của cuộc cãi vã. Ngài Ernest thì cho rắng các sự kiện đã được cố ý hiểu sai đi. Sự thật như thế này đây: chiều hôm thứ ba sau khi trở về Styles Court, bị cáo gặp một người nào đó quả quyết với anh ta ông bà Inglethorp đã cãi nhau kịch liệt. Không một giây phút nào bị cáo có ý nghĩ người ta có thể lầm tưởng giọng của mình thành ra giọng của ông Inglethorp, và kết luận một cách tự nhiên mẹ kế mình đã cãi nhau hai lần chiều hôm đó.
Lời buộc tội quả quyết, hôm thứ hai ngày mười bảy tháng bảy ông John Cavendish bước vào hiệu thuốc trong làng, cải trang thành ông Inglethorp. Thế nhưng, vào lúc đó bị cáo lại ở một nơi vắng vẻ có tên gọi là Marston Spinney, nơi mà một cái thư nặc danh đã yêu cầu anh đến: Bức thư nặc danh đó hăm dọa sẽ tiết lộ với vợ anh một vài hành động của anh nếu như anh không vâng theo. Do vậy anh đã đến nơi chỉ định và chỉ quay về nhà sau khi mất công chờ đợi vô ích trong vòng nửa tiếng. Rất tiếc là anh đã không gặp ai, cả lượt đi lẫn lượt về, để có thể xác nhận lời khai của mình, nhưng may thay anh đã giữ lại bức thư mà người ta sẽ đưa ra làm bằng chứng.
Còn về lời khai liên quan đến việc tiêu hủy tờ di chúc, bị cáo trước đây đã hoạt động trong lĩnh vực pháp lý, không thể không biết bức di chúc lập cách đó một năm thuận lợi cho anh tự động mất giá trị do việc kết hôn của bà mẹ kế. Ngài Ernest đề nghị cho gọi các nhân chứng để xác định ai đã tiêu hủy tờ di chúc, và biết đâu những lời khai này có thể đem lại ánh sáng gì mới cho vụ án.
Sau hết, ông khuyến cáo bồi thẩm đoàn rằng còn có những bằng chứng buộc tội nhiều người khác hơn là John Cavendish. Ông hướng sự chú ý của họ vào những sự kiện, những bằng chứng buộc tội ông Laurence Cavendish cũng mạnh mẽ bằng, nếu không muốn nói là mạnh hơn, những bằng chứng buộc tội người anh.
Đến đây thì ông nhường lời cho bị cáo.
John thực hiện vai trò của mình khá thành công. Dưới sự chỉ đạo khéo léo của ngài Ernest, anh kể lại câu chuyện của mình một cách rất thật. Bức thư nặc danh mà anh đã nhận được đưa ra cho bồi thẩm đoàn xem xét. Sự kiện John đã nhanh nhẹn nhận những khó khăn về tài chánh của mình và cuộc cãi vã với bà mẹ kế càng nhấn mạnh thêm giá trị lời phản cung của mình.
Cuối cuộc hỏi cung, anh do dự một lúc rồi nói thêm:
- Tôi muốn làm sáng tỏ một vấn đề. Tôi lấy làm tiếc và hoàn toàn phản đối những lời ám chỉ của ngài Ernest Heavywether đối với em trai tôi. Tôi tin chắc em tôi cũng vô can đối với vụ án như chính tôi vậy.
Ngài Ernest mỉm cười và bằng cái nhìn sắc, ông nhận thấy sự phản kháng của John đã tạo được một ấn tượng tốt ở bồi thẩm đoàn.
 
* * *
0
Rồi đến phần hỏi cung của phía công tố.
- Nếu như tôi hiểu đúng - ông Philips nói - thì ông xác nhận không bao giờ nghĩ rằng những nhân chứng ở buổi hỏi cung lại có thể tưởng lầm giọng của ông thành ra giọng của Inglethorp sao?
- Vâng. Người ta bảo với tôi rằng đã xảy ra một cuộc cãi vã giữa mẹ tôi và ông Inglethorp và tôi luôn luôn tin là như thế.
- Ngay cả khi bà Dorcas nhắc lại vài mẩu đối thoại mà lẽ ra ông phải nhận ra sao?
- Tôi đã không nhận ra.
- Trí nhớ của ông kém thật đấy.
- Không, nhưng cả hai chúng tôi đều rất nóng và những câu nói của chúng tôi, theo tôi nghĩ, đã vượt qua khỏi suy nghĩ của chúng tôi. Tôi không mấy để ý đến những lời nói của mẹ tôi.
Cái khịt mũi đầy hoài nghi của ông Philips đã là sự đắc thắng của tài khéo léo của luật pháp. Ông chuyển sang vấn đề của bức thư.
- Ông đưa văn kiện này ra thật đúng lúc.. Chữ viết không có vẻ quen thuộc đối với ông sao?
- Theo tôi biết thì không.
- Ông không thấy nét tương tự rất rõ với chính chữ viết của ông… bị biến đổi một cách vụng về hay sao?
- Không, tôi không nghĩ như vậy.
- Tôi cho đó chính là chữ viết của ông.
- Tôi phản cung.
- Tôi cho rằng, với ý muốn đưa ra một chứng cứ thuận lợi cho mình, ông đã nảy ra ý nghĩ về một cuộc hẹn tưởng tượng và khá vô lý, và ông đã tự viết cho mình bức thư này để khẳng định cho lời khai của mình.
- Không đúng như thế.
- Có phải đúng vào lúc ông tuyên bố đang đợi ở một nơi vắng vẻ thì thật ra ông lại có mặt ở hiệu thuốc ở Styles Saint-Mary, nơi ông mạo danh ông Inglethorp để mua Strychnin không?
- Không. Đó là lời nói dối.
- Tôi cho rằng, mặc bộ quần áo của ông Inglethorp và đeo một bộ râu giả màu đen như của ông ta, ông đã có mặt ở chỗ ông dược sĩ và đã ký tên vào sổ của ông này.
- Điều đó hoàn toàn sai.
- Trong trường hợp đó, tôi nhường cho bồi thẩm đoàn xem xét sự tương tự rõ nét giữa chữ viết trong bức thư, trong cuốn sổ và chữ viết của ông.
Ông Philips nói và ngồi xuống với vẻ của một người đã làm tròn trách nhiệm của mình và cảm thấy bất bình trước những lời phản cung trắng trợn đến như vậy.
* * *
 
Phiên tòa được dời đến ngày thứ hai do đã hết giờ.
Tôi nhận thấy Poirot có vẻ rất nản chí. Ông nhíu mày với vẻ quá quen thuộc đối với tôi.
- Có chuyện gì vậy, ông Poirot? - Tôi hỏi.
- Này! Anh bạn ạ, mọi chuyện đều xấu đi, rất xấu.
Ngoài ý muốn của mình, tim tôi đập mạnh vì nhẹ nhõm. Quả là có nhiều hy vọng để John Cavendish được tha bổng.
Về đến nhà, Poirot từ chối lời mời một tách trà của Mary.
- Không, cảm ơn bà. Tôi sẽ về phòng nghỉ đây.
Tôi đi theo ông. Vẫn lo lắng, ông tiến về phía bàn giấy và cầm lấy bộ bài. Rồi ông kéo chiếc ghế đến bên bàn, và trước sự kinh ngạc của tôi, ông trịnh trọng xếp các lá bài thành một tòa lâu đài.
Có lẽ tôi có vẻ ngạc nhiên lắm, bởi vì ông vội nói:
- Không, ạnh bạn ạ, tôi không còn trẻ con đâu. Tôi đang làm dịu thần kinh đấy thôi. Việc này cần đến sự khéo tay. Mà sự khéo tay thì lại đòi hỏi đầu óc minh mẫn. Và không bao giờ tôi lại cần đến nó bằng lúc này đây.
- Có chuyện gì vậy? - Tôi hỏi.
Bằng một cú đấm mạnh lên bàn, Poirot phá hủy công trình đã cẩn thận dựng lên.
- Thế đấy, anh bạn ạ. Tôi có thể xây một tòa lâu đài cao bảy tầng bằng các lá bài, thế mà tôi không làm sao tìm được cái mắt xích cuối cùng ấy.
Vì không biết nói gì nên tôi thận trọng giữ im lặng và ông lại từ từ dựng lên một kiến trúc mong manh khác, vừa trò chuyện bằng những câu ngắt quãng.
- Người ta làm như thế đấy, bằng cách đặt lá bài này lên lá kia, với sự chính xác của toán học.
Tòa lâu đài bằng các lá bài hiện ra dưới tay ông, tầng này nối tiếp tầng kia, ông không hề do dự. Có thể nói đó gần như là một trò ảo thuật vậy.
- Đôi tay của ông vững biết mấy - tôi nhận xét - Tôi cho rằng chỉ trông thấy ông run tay có một lần mà thôi.
- Có lẽ đó là lúc tôi đang điên tiết đấy - Poirot thản nhiên nói.
- Ồ, đúng vậy! Ông đang phát điên lên. Ông có nhớ không? Đó là lúc ông phát hiện ra ổ khóa của chiếc rương nhỏ của bà Inglethorp bị phá. Ông đang đứng bên lò sưởi và theo thói quen của mình, ông táy máy đến những đồ vật trưng bày trên đó, và tay ông run lẩy bẩy. Tôi phải nói rằng…
Nhưng tôi chợt im bặt. Bởi vì lêu lên một tiếng khô khan và không thành lời, Poirot lại phá hủy tòa lâu đài bằng các lá bài của mình và, lấy tay che mắt, ông đong đưa người từ trước ra sau, như đang bị xâm chiếm bởi một sự lo âu khủng khiếp nhất.
- Chúa ơi! Poirot, có chuyện gì vậy? - Tôi kêu lên - Ông có bệnh không đấy?
- Không, không… Chỉ… chỉ có điều là tôi vừa thoáng có một ý nghĩ.
- Ồ! - Tôi kêu lên nhẹ nhõm - Một ý nghĩ nhỏ của ông.
- À! Không đâu! - Poirot thẳng thắn cãi - Lần này thì là một ý nghĩ vĩ đại cơ đấy. Đáng kinh ngạc! Và chính là nhờ anh, nhờ anh đấy, anh bạn ạ.
Ông chợt ôm chầm lấy tôi, nồng nhiệt hôn lên má tôi. Rồi, trước khi tôi kịp thoát ra khỏi sự ngạc nhiên của mình, ông lao ra khỏi phòng.
Đúng lúc đó, Mary Cavendish bước vào.
- Ông Poirot làm sao thế? Ông ta vừa chạy vừa xô đẩy tôi và kêu to: “Một tiệm sửa xe! Làm ơn chỉ cho tôi một tiệm sửa xe!”. Trước khi tôi kịp trả lời, thì ông ta đã vọt ra ngoài đường.
Tôi chạy đến bên cửa sổ. Thật vậy, tôi thấy Poirot, đầu để trần, đang lao xuống đường, vừa khoa tay. Tôi quay sang Mary và phác một cử chỉ tuyệt vọng.
- Ông ta sẽ bị bắt mất thôi. Kìa! Ông ta đã biến mất ở khúc quẹo rồi.
Chúng tôi nhìn nhau.
- Có chuyện gì mới được chứ?
Tôi lắc đầu.
- Tôi cũng không biết nữa. Ông ta đang xây lâu đài bằng các lá bài, thì bỗng kêu lên ông vừa có một ý nghĩ, thế rồi ông chạy vụt đi, như bà thấy đấy.
- Thế thì ông ta sẽ quay về vào buổi tối chứ? - Mary nói.
Nhưng đêm đã buông xuống mà Poirot vẫn chưa quay về.
0
CHƯƠNG 12
CHIẾC MẮT XÍCH CUỐI CÙNG
 
Sự ra đi bất ngờ của Poirot khiến tất cả chúng tôi đều thắc mắc. Sáng chủ nhật trôi qua mà ông ta vẫn chưa trở về. Nhưng, vào khoảng mười lăm giờ, một tiếng còi xe to và dài bên ngoài thúc giục chúng tôi chạy đến bên cửa sổ, và chúng tôi thấy Poirot từ trên xe bước xuống, cùng với Japp và Summerhaye. Người đàn ông bé nhỏ đã thay đổi hoàn toàn. Trông ông rạng rỡ hẳn lên vì hài lòng. Ông kính cẩn nghiêng mình một cách quá đáng trước Mary Cavendish.
- Thưa bà, tôi xin phép được triệu tập một cuộc họp nhỏ ở phòng khách. Tất cả mọi người nhất thiết phải có mặt.
Mary mỉm cười buồn bã.
- Ông thừa biết, ông Poirot ạ, ông toàn quyền được hành động dưới mọi hình thức.
Vẫn tươi rói, Poirot đẩy chúng tôi vào phòng khách và kéo ghế cho chúng tôi.
- Cô Howard ạ, mời cô ngồi xuống đây. Cô Cynthia, chỗ này, xin cô. Ông Laurence. Bà Dorcas và Annie. Được rồi. Chúng ta chỉ còn phải đợi ông Inglethorp một lát thôi. Tôi đã viết cho ông ta mấy chữ.
Thế là cô Howard nhổm dậy.
- Nếu người đàn ông đó đặt chân vào nhà này thì tôi sẽ đi ngay.
- Không! Không!
Poirot đến bên cô và nói nhỏ. Cuối cùng cô Howard đồng ý ngồi xuống và một lát sau, Alfred Inglethorp hiện ra trên bậc thềm.
Mọi người đã có mặt đông đủ, Poirot đứng dậy và lịch sự chào mọi người.
- Thưa quý ông, quý bà, như tất cả mọi người đã biết, tôi được ông John Cavendish mời đến để làm sáng tỏ vụ án này. Tôi liền quan sát phòng ngủ của bà Inglethorp mà theo lời các bác sĩ, đã được khóa trái. Do vậy, nó còn nguyên trong tình trạng như lúc xảy ra thảm kịch. Thoạt tiên, tôi tìm thấy một mẩu vải xanh, thứ hai là một vết ẩm ướt trên tấm thảm, gần cửa sổ, thứ ba là một hộp bột brô-mua trống.
Hãy xem xét mẩu vải xanh đã. Tôi tìm thấy nó kẹt trong ổ khóa cửa ăn thông giữa phòng ngủ của bà Inglethorp và phòng của cô Cynthia. Tôi giao mẩu vải đó cho cảnh sát nhưng họ không mấy quan tâm đến nó. Họ không nhận ra xuất xứ của nó: một mảnh vải rách từ một bộ quần áo làm vườn màu xanh lá cây.
Một làn sóng kích động liền nổi lên trong phòng.
- Thế nhưng, ở Styles Court, chỉ có một người làm công việc vườn tược thôi: bà Cavendish. Vậy thì bà Cavendish phải là người vào phòng người chết bằng cánh cửa ăn thông sang phòng cô Cynthia.
- Nhưng cánh cửa đó bị khóa trái từ bên trong kia mà! - Tôi kêu lên.
- Phải, nhưng là khi tôi xem xét căn phòng cơ. Về vấn đề này thì chúng ta chỉ có sự khẳng định của bà Cavendish thôi, vì chính bà đã thử mở cánh cửa đó và sau đó tuyên bố rằng nó bị khóa. Trong sự hỗn loạn lúc bấy giờ, bà đã có thể cài then lại không mấy khó khăn. Tôi đã lợi dụng dịp may đầu tiên để kiểm tra lại sự phỏng đoán của mình. Thoạt tiên, mảnh vải phù hợp với một vệt rách ở áo của bà Cavendish. Sau đó, ở buổi hỏi cung, bà Cavendish khai rằng từ phòng mình bà đã nghe thấy tiếng chiếc bàn kê cạnh giường bà Inglethorp đổ xuống. Ngay khi có dịp, tôi đã kiểm tra lại sự chính xác của lời khai đó. Tôi để ông bạn Hastings ở bên cánh trái ngôi nhà, ngay trước cửa phòng bà Cavendish. Đích thân tôi cùng các viên cảnh sát đến phòng nạn nhân và tôi giả bộ lỡ tay xô đổ chiếc bàn nói trên. Ông Hastings khẳng định với tôi là không hề nghe thấy gì cả. Điều này càng xác định với tôi rằng bà Cavendish không khai đúng sự thật khi tuyên bố vào lúc thảm kịch xảy ra, bà đang thay quần áo trong phòng mình. Thật vậy, tôi tin chắc, thay vì ở trong phòng mình, bà Cavendish lại có mặt trong phòng người chết, lúc báo động xảy ra.
Tôi liếc nhanh về phía Mary. Trông bà rất xanh xao nhưng vẫn tươi cười.
- Tôi sẽ lý giải giả thiết đó - Poirot tiếp - Bà Cavendish có mặt trong phòng bà mẹ chồng, ta hãy cho rằng bà ấy tìm kiếm một thứ gì đó mà chưa thấy. Bất ngờ, bà Inglethorp tỉnh dậy, vì bị một cơn đau dữ dội. Bà vung tay xô ngã chiếc bàn và kéo chuông một cách tuyệt vọng. Bà Cavendish hoảng hốt, làm rớt cây nến, do đó mới có vết sáp vương vãi trên tấm thảm. Bà nhặt lên, vội rút lui về phòng cô Cynthia và đóng cửa lại. Bà vội chạy ra hành lang, vì không nên để đám gia nhân tìm thấy bà ở đó. Muộn mất rồi! Đã có tiếng chân vang lên trong hành lang nối liền hai cánh. Bà có thể làm gì đây? Bà bước nhanh vào phòng cô thiếu nữ và tìm cách đánh thức cô này. Hàng lang đã bị gia nhân và các người khác trong gia đình chiếm giữ. Tất cả mọi người đều dốc sức ra để phá cánh cửa phòng của bà Inglethorp. Không ai có ý nghĩ rằng bà Cavendish không đến cùng lúc với những người khác, nhưng, và điều này rất có ý nghĩa, tôi không thể tỉm được người nào trông thấy bà ấy đến từ cánh bên kia.
Ông nhìn Mary Cavendish.
- Tôi nói như thế có đúng không, thưa bà?
Bà nghiêng đầu.
- Hoàn toàn đúng, thưa ông. Chắc ông cũng hiểu nếu như tôi nghĩ có thể giúp ích được gì cho chồng mình khi tiết lộ những sự kiện trên thì tôi đã không do dự làm chuyện đó. Nhưng tôi thấy chúng chả có liên quan gì đến việc anh ta có tội hay vô tội.
- Trong một chừng mực nào đó thì điều đó đúng, thưa bà, nhưng chúng đã có thể giúp tôi loại trừ được rất nhiều sai lầm trong ý nghĩ và thấy được nhiều điều khác với ý nghĩa thực sự của chúng.
- Thế còn tờ di chúc thì sao? - Laurence kêu lên - Vậy ra, chính chị, chị Mary ạ, chị đã thiêu hủy nó sao?
Bà lắc đầu và Poirot cũng bắt chước.
- Không - ông thản nhiên nói - Chỉ có một người mới có thể thiêu hủy tờ di chúc đó thôi. Đó chính là bà Inglethorp.
- Không thể như thế được! - Tôi phản đối - Bà ta mới chỉ vừa lập nó vào buổi chiều kia mà.
- Tuy nhiên, anh bạn ạ, đúng là bà Inglethorp đã thiêu hủy nó. Nếu không thì anh sẽ không giải thích được tại sao bà Inglethorp ra lệnh đốt lò sưởi trong phòng mình vào một trong những ngày nóng nhất trong năm.
Tôi kêu lên một tiếng khàn đục. Chúng tôi quả là ngu ngốc vì đã không để ý đến chi tiết đó. Poirot lại nói.
- Quý vị hãy nhớ lại, hôm đó nhiệt độ là ba mươi độ trong nhà. Thế mà bà Inglethorp lại đòi đốt lò sưởi. Tại sao vậy? Bởi vì bà muốn hủy cái gì đó mà không thể nghĩ được cách nào khác để thực hiện việc đó. Quý vị cũng biết, do việc tiết kiệm trong thời chiến, ở Styles, không một tờ giấy nào bị vứt bỏ cả. Do đó, không còn cách nào khác để hủy một văn kiện dầy như tờ di chúc. Ngay khi biết được lò sưởi trong phòng bà Inglethorp đã được nhóm, tôi suy ra ngay là để hủy bỏ giấy tờ gì quan trọng, có thể là một tờ di chúc. Bởi vậy việc phát hiện ra mẩu giấy cháy đen không khiến tôi ngạc nhiên. Tất nhiên là vào lúc đó tôi không biết rằng tờ di chúc trên chỉ mới vừa được lập trong buổi chiều thôi, và tôi phải thừa nhận là tôi mắc phải sai lầm lớn khi biết được sự kiện này. Bởi vì tôi đã kết luận bà Inglethorp quyết định hủy bỏ tờ di chúc sau khi cãi vã trong buổi chiều, và do vậy việc cãi vã phải xảy ra sau chứ không phải là trước khi viết di chúc.
Như chúng ta đều biết, về điểm này tôi đã lầm và tôi đã buộc phải từ bỏ ý nghĩ đó ngay. Tôi lại nhìn sự việc dưới một góc độ mới. Lúc mười sáu giờ, Dorcas nghe bà chủ giận dữ bảo: “Đừng tưởng rằng một sự e ngại về một vụ tai tiếng giữa vợ chồng có thể ngăn cản tôi”. Tôi giả sử, và có cơ sở, những lời nói đó dành cho ông John Cavendish chứ không phải cho chồng bà ta. Lúc mười bảy giờ, tức một tiếng đồng hồ sau, bà lại dùng những từ gần giống như thế, nhưng ý của bà thì lại khác. Bà thú nhận với Dorcas: “Tôi không biết phải làm gì nữa! Một vụ tai tiếng giữa vợ chồng thật là một điều khủng khiếp!”. Lúc mười sáu giờ bà giận dữ nhưng rất tự chủ. Đến mười bảy giờ, bà rơi vào sự tuyệt vọng tột cùng và tuyên bố mình đã bị một cú sốc lớn.
Nhìn sự việc dưới góc độ tâm lý học, tôi suy ra một kết luận với tính chính xác thật chắc chắn. “Vụ tai tiếng” thú hai mà bà nói đến không giống như vụ thứ nhất có liên quan đến chính bản thân bà.
Chúng tôi xác lập lại sự việc: lúc mười sáu giờ, bà Inglethorp cãi nhau với con trai và dọa sẽ tố cáo anh ta với vợ, bà này, nhân đây cũng nên nói, bà Dorcas đã nghe thấy phần lớn cuộc đối thoại này. Lúc mười sáu giờ ba mươi, nhân một cuộc đối thoại về giá trị của các tờ di chúc, bà Inglethorp đã lập một tờ di chúc mới thuận lợi cho chồng mình, với chữ ký của hai người làm vườn làm nhân chứng. Lúc mười bảy giờ, Dorcas bắt gặp bà chủ trong trạng thái kích động cực độ và cầm trong tay một tờ giấy, theo Dorcas thì đó là một bức thư. Chính lúc đó bà đã ra lệnh đốt lò sưởi trong phòng mình. Do đó người ta có thể giả định rằng giữa mười sáu giờ ba mươi và mười bảy giờ đã xảy ra chuyện gì đó khiến tình cảm của bà thay đổi, bởi vì lúc bấy giờ bà muốn thiêu hủy tờ di chúc cũng như trước đó đã muốn lập nó. Thế thì chuyện gì đã xảy ra chứ?
Theo những gì chúng ta biết thì bà chỉ ở một mình trong vòng nửa tiếng đồng hồ đó. Không ai bước vào thư phòng và cũng không ai từ đó đi ra cả. Do đâu mà có sự quyết định bất ngờ đó?
Người ta chỉ có thể đặt ra những giả thiết, nhưng tôi cho rằng cái của tôi là lô-gich. Bà Inglethorp không có tem trên bàn giấy. Chúng ta biết điều đó bởi vì sau đó bà đã bảo Dorcas cho người đi mua. Thế nhưng, trong góc phòng đối diện, có chiếc bàn giấy của chồng bà, được khóa lại. Bà rất muốn tìm thấy tem, và theo ý tôi, bà thử mở khóa bằng chìa của mình. Tôi biết rằng có một chiếc mở được. Do vậy, bà mở ngăn tủ ra và trong lúc tìm tem thì bà lại thấy một thứ khác: tờ giấy mà sau đó Dorcas đã nhìn thấy trong tay bà. Và chắc chắn là nó không để dành cho bà đọc. Mặt khác, bà Cavendish lại tin chắc tờ giấy đó là một bằng chứng về sự phản bội của chồng mình. Bà yêu cầu bà Inglethorp đưa lại cho mình nhưng bà này cam đoan, một cách trung thực, văn kiện đó không liên can gì đến bà Cavendish cả. Bà Cavendish nghĩ rằng bà Inglethorp bao che cho con trai mình. Nhưng bà lại là một người rất cương quyết và vẻ kín đáo của bà che giấu sự ghen tuông dữ dội. bà nhất quyết phải lấy cho bằng được tờ giấy đó và đã gặp may. Bà vô tình tìm được chiếc chìa khóa của chiếc rương nhỏ mà bà Inglethorp đã đánh mất ngay trong buổi sáng. Và bà biết rằng bà mẹ chồng luôn luôn giữ những giấy tờ quan trọng của mình trong chiếc rương đó. Bà Cavendish sắp đặt kế hoạch của mình chỉ như một phụ nữ bị lòng ghen tuông dồn đến bước đường cùng có thể làm. Buổi tối, bà mở then cài cánh cửa ăn thông sang phòng cô Cynthia. Có lẽ bà đã cất công tra dầu mỡ vào các bản lề, bởi vì sau đó tôi nhận thấy cánh cửa mở ra mà không gây một tiếng động nào cả. Cẩn thận hơn, bà đợi đến gần sáng để hành động, bởi vì đám gia nhân đã quen nghe thấy bà đi lại trong phòng ngay từ lúc hừng sáng. Bà mặc bộ đồ làm vườn và rất nhẹ nhàng, lẻn vào phòng bà Inglethorp qua ngã phòng của cô Cynthia.
Poirot ngưng lại một lát và Cynthia ngờ vực kêu lên:
- Nhưng tôi sẽ tỉnh giấc ngay nếu như có ai đi lại ngang qua phòng mình.
- Không đâu, nếu như cô bị ngủ mê, thưa cô.
- Ngủ mê ư?
- Vâng! Quý vị có nhớ, cô Cynthia đã ngủ suốt lúc ồn ào trong phòng bên không? Điều này có hai giả thiết: hoặc là giấc ngủ của cô là giả tạo, điều này thì tôi không tin, hoặc là sự hôn mê của cô ta do tác động của những phương pháp nhân tạo.
Bị thúc đẩy bởi linh tính đó, tôi xem xét thật kỹ tất cả những tách cà-phê, nhớ ra chính bà Cavendish, hôm trước, đã mang cà-phê đến cho cô Cynthia. Tôi lấy trong mỗi tách vài giọt cà-phê và đem đi phân tích nhưng không kết quả. Tôi cẩn thận đếm các tách. Ở phòng khách, một số trong chúng đã bị xê dịch. Có sáu người đã dùng cà-phê, và quả là tôi đã tìm thấy sáu cái tách. Tôi đành phải nhìn nhận sai lầm của mình.
Rồi tôi phát hiện ra mình đã có thiếu sót lớn. Người ta đã phục vụ cà-phê cho bảy người chứ không phải là sáu, bởi vì bác sĩ Bauerstein đã đến chơi trong buổi tối. Điều này làm thay đổi hẳn cục diện của vấn đề, bởi vì giờ đây đã thiếu mất một cái tách. Đám gia nhân không nhận thấy điều gì cả, bởi vì Annie, người hầu phòng đem cà-phê đến, không biết rằng ông Inglethorp không bao giờ dùng cà-phê cả, còn Dorcas, người dọn tách vào sáng hôm sau, đã tìm thấy sáu cái tách như mọi khi, hay nói đúng hơn là bà đã tìm thấy năm cái, cái thứ sáu là cái được tìm thấy trong phòng bà Inglethorp, bị vỡ vụn.
Tôi tin chắc cái tách thiếu là cái của cô Cynthia. Và lòng tin của tôi được củng cố bởi sự kiện là trong tất cả các tách tìm thấy ở dưới nhà đều có đường, trong khi cô Cynthia không bao giờ dùng cà-phê với đường cả. Câu chuyện của Annie về “chất muối” tìm thấy trên chiếc khay đựng ca-cao mà mỗi tối cô đem lên phòng bà Inglethorp khiến tôi chú ý. Do đó tôi lấy mẩu chất ca-cao đó và đem đi cho phân tích.
- Nhưng ông bác sĩ đã làm việc đó rồi kia mà - Laurence kêu lên.
- Không hẳn là như thế. Ông ta chỉ yêu cầu kiểm tra xem ca-cao có chứa Strychnin hay không thôi. Nhưng ông đã không cho phân tích như tôi đây, để tìm ra chất thuốc ngủ.
- Để tìm thuốc ngủ ư?
- Phải. Đây là báo cáo của nhà hóa học. Bà Cavendish đã cho bà Inglethorp và cô Cynthia dùng một thứ thuốc ngủ hoàn toàn vô hại nhưng mạnh. Và rất có thể là bà ấy đã phải trải qua một phen thất kinh. Hãy tưởng tượng xúc cảm của bà ta khi bà mẹ chồng bỗng bị đau mà chết đi, ngay sau đó bà nghe nói đến từ “độc dược” quanh mình. Thế mà bà cứ ngỡ rằng thuốc ngủ hoàn toàn vô hại. Chắc chắn trong một lúc hãi hùng, bà lo ngại rằng mình đã là thủ phạm về cái chết của bà Inglethorp. Bà sợ hãi lao vội xuống nhà, bỏ chiếc tách cà-phê và đĩa của cô Cynthia vào một chiếc độc bình bằng đồng, nơi sau này ông Laurence tìm thấy chúng. Bà không dám đụng đến phần ca-cao còn lại bởi vì có quá nhiều cặp mắt hướng về phía mình. Hãy nghĩ đến sự nhẹ nhõm khi nghe người ta nói về Strychnin, thế là bà phát hiện ra, dù sao đi nữa thì mình cũng không phải chịu trách nhiệm về tấn thảm kịch.
Bây giờ thì chúng ta có thể giải thích được tại sao những triệu chứng ngộ độc do Strychnin gây ra lại bộc lộ chậm đến như vậy. Chất thuốc ngủ được uống cùng với Strychnin sẽ làm chậm đi tác dụng của độc dược trong vài giờ.
Poirot ngừng lại. Mary đỏ mặt nhìn ông.
- Tất cả những gì ông nói đều hoàn toán chính xác, ông Poirot ạ. Đó là giây phút khủng khiếp nhất trong đời tôi. Tôi sẽ không bao giờ quên được. Nhưng ông thật là đáng kinh ngạc. Bây giờ thì tôi hiểu…
- … tôi muốn nói gì khi tôi khẳng định bà có thể thú tội mà không sợ bị nguy hiểm với pông Poirot chứ gì? Nhưng bà lại không dám đặt lòng tin vào tôi.
- Bây giờ thì tôi thấy rõ rồi - Laurence nói - Chất thuốc ngủ trong ca-cao đã làm chậm đi tác dụng của độc dược bỏ trong cà-phê.
- Đúng vậy. Nhưng trong cà-phê có độc dược hay không? Ở đây chúng ta đứng trước một khó khăn nhỏ, bởi vì bà Inglethorp không hề uống cà-phê.
- Sao?
Mọi người đều ngạc nhiên kêu lên.
- Vâng. Quý vị có nhớ, tôi đã nói đến một vết bẩn trên tấm thảm trong phòng bà Inglethorp không? Vết bẩn đó có vài đặc điểm riêng. Nó còn ẩm ướt, nó hắt ra một mùi cà phê nồng và, cắm sâu trong chất len của tấm thảm, tôi tìm thấy vài mảnh sành. Tôi hiểu ngay những gì đã xảy ra, bởi vì, không đầy hai phút trước đó, tôi đặt chiếc ví của mình lên chiếc bàn ghê gần cửa sổ và, do bị khập khiễng, nó đã hất chiếc ví xuống đất, đúng vào chỗ có vết bẩn. Hôm trước, khi về phòng, có lẽ bà Inglethorp cũng đã đặt tách cà-phê lên bàn và cũng bị một vố y như vậy.
Tôi không thể đoán được điều gì xảy ra sau đó, nhưng tôi cho rằng bà Inglethorp đã nhặt chiếc tách vỡ và đặt lên bàn kê cạnh giường. Cảm thấy cần chất bổ dưỡng, bà hâm ca-cao và uống liền tức khắc. Thế nhưng qua sự kiện đó, chúng ta lại đứng trước một vấn đề mới. Chúng ta biết rằng ca-cao không chứa Strychnin. Thế mà chất Strychnin phải được hấp thu vào giữa mười chín và hai mươi mốt giờ.
Nhưng vấn đề vẫn còn y nguyên: Strychnin được hấp thụ bằng cách nào để cho vị đắng của nó không bị nạn nhân phát hiện?
Poirot nhìn quan rồi tự trả lời một cách đắc thắng:
- Chai thuốc của bà ấy!
- Ông muốn nói rằng thủ phạm đã bỏ Strychnin vào chai thuốc bổ của bà ấy sao? - Tôi kêu lên.
- Hắn không cần phải bỏ vào, bởi vì trong đó đã có sẵn rồi. Chất Strychnin đã giết hại bà Inglethorp chính là thứ đã được bác sĩ Wilkins kê toa. Để làm sáng tỏ vấn đề này, tôi sẽ đọc cho quý vị một đoạn trích từ một cuốn sách về cách pha chế các loại thuốc mà tôi đã tìm thấy trong bệnh xá của Hội Chữ Thập Đỏ ở Tadminsters.
Công thức sau đây đã nổi tiếng trong các sách vở:
Sun-phát Strychnin……………………. 5 centigram
Brô-mua Pôtassium…………………… 18 gam
Nước cất……………………………… 25 gam
Hỗn hợp này trong vài giờ làm lắng phần muối Strychnin dưới dạng những hạt Brô-mua trong và không hòa tan. Một phụ nữ, ở Anh, đã chết sau khi uống thứ hỗn hợp tương tự này. Chất Strychnin lắng xuống đáy chai và, bằng cách đó, người bệnh uống gần như là cả lượng độc dược trong chai khi dùng liều cuối cùng.
Thế nhưng, trong toa thuốc của bác sĩ Wilkins tất nhiên là không có Brô-mua, nhưng quý vị cũng nhớ cho tôi đã nói đến một hộp Brô-mua trống. Một hoặc hai nhúm bột đó bỏ vào chai thuốc cũng đủ để làm cho chất Strychnin lắng xuống, và như thế nó sẽ được hấp thu trọn vẹn trong liều thuốc cuối cùng. Sau đây quý vị sẽ được biết rằng người rót thuốc cho bà Inglethorp đã luôn luôn cẩn thận không lắc chai thuốc, hầu đừng làm hòa tan chất lắng đóng dưới đáy chai.
Trong quá trình điều tra, tôi đã có được những bằng chứng cho thấy mọi việc được sắp xếp để cho thảm kịch xảy ra vào tối hôm thứ hai. Hôm đó, dây chuông của bà Inglethorp bị cắt đứt, còn cô Cynthia thì ngủ lại tại nhà bạn, do đó bà Inglethorp sẽ chỉ có một thân một mình bên cánh trái, hoàn toàn cách biệt khỏi mọi sự giúp đỡ và có lẽ bà ấy sẽ chết trước khi người ta kịp gọi bác sĩ. Nhưng trong lúc vội đi dự lễ trong làng, bà Inglethorp đã quên uống thuốc và hôm sau thì bà ăn bữa trưa tại nhà bạn bè. Như vậy, liều thuốc cuối cùng, liều thuốc định mệnh, chỉ được uống muộn hơn sự tiên liệu của kẻ giết người là hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Và chính nhờ vào kỳ hạn này mà bằng chứng chung cuộc, chiếc mắt xích cuối cùng, mới lọt vào tay tôi.
Thế rồi, giữa một sự im lặng đầy căng thẳng, Poirot cho chúng tôi xem ba mảnh băng giấy.
- Các bạn ạ, đây là một bức thư do chính tên giết người viết. Nếu như lời lẽ trong bức thư đó rõ ràng hơn thì có thể bà Inglethorp đã được báo động kịp thời và đã thoát chết. Nhưng mặc dù ý thức được mình đang bị sự nguy hiểm đe dọa, bà vẫn không hiểu được thực chất của sự đe dọa đó.
Giữa sự im lặng như tờ, Poirot nối các mảnh giấy lại, và sau khi khẽ tằng hắng, ông đọc:
“Evelyn thân yêu,
Em sẽ rất lo lắng vì không nhận được tin tức. Tất cả đều tốt đẹp, nhưng sẽ là tối nay cơ, thay vì là hôm qua. Một cuộc đời mới đang chờ đợi chúng ta, khi bà già ấy chết. Không ai có thể gán cho tôi tội ác đó. Em đã có sáng kiến hay khi đề nghị dùng bột Brô-mua. Nhưng chúng ta phải thận trọng, một cái sẩy chân…”
- Bức thư dừng ở đây, thưa các bạn. Có lẽ tác giả đã bị gián đoạn trong lúc viết. Nhưng không còn lạ gì về tung tích của hắn nữa. Tất cả chúng ta đều biết chữ viết này và…
Một tiếng kêu giống hệt một tiếng hét xé tan sự im lặng.
- Đồ quỷ sứ! Làm thế nào mà ông lấy được bức thư đó?
Cò một chiếc ghế đổ, Poirot nhẹ nhàng nhảy sang một bên và bằng cử chỉ nhanh nhẹn, quật ngã địch thủ.
- Thưa quý ông, quý bà - Poirot nói với vẻ đắc thắng - cho phép tôi giới thiệu với quý vị tên giết người, ông Alfred Inglethorp!
0
CHƯƠNG 13
POIROT GIẢI THÍCH
 
- Poirot, tên láu cá, tôi rất muốn bóp cổ ông - Tôi nói - Tại sao ông lại đíanh lừa tôi như thế?
Chúng tôi đang ngồi trong phòng đọc sách. Chúng tôi vừa trải qua nhiều ngày sóng gió. Ở dưới nhà, John và Mary đã sum họp trở lại, trong khi Alfred Inglethorp va cô Howard thì đã vào tù. Cuối cùng thì tôi cũng tóm được Poirot và tranh thủ để thỏa mãn sự tò mò chính đáng của mình.
Poirot không trả lời tôi ngay, nhưng cuối cùng thì ông bảo:
- Tôi không thể đánh lừa anh, anh bạn của tôi ạ. Cùng lắm thì tôi chỉ cho phép anh tự đánh lừa mình thôi.
- Phải, nhưng tại sao?
- Này nhé, điều đó cũng khó mà giải thích được. Anh hiểu chứ, anh bạn, anh có bản chất lương thiện và gương mặt của anh trong suốt đến độ anh không làm sao che giấu cảm xúc của mình được. Nếu như tôi tiết lộ suy nghĩ của mình cho anh thì ngay lần đầu tiên anh gặp ông Inglethorp, tên tinh ranh này chắc chắn sẽ đánh hơi thấy điều gì đó. Và như thế thì chúng ta sẽ đánh mất dịp để tóm cổ hắn.
- Tôi cho rằng mình khôn khéo hơn là ông nghĩ đấy - Tôi nhận xét, hơi bị xúc phạm.
- Anh bạn của tôi ơi - Poirot khẩn khoản nói - Xin anh đừng bực mình, tôi van anh. Sự giúp đỡ của anh đã có ích cho tôi nhiều. Chỉ tại bản chất tốt đẹp của anh mà tôi không thể tiết lộ với anh đấy thôi.
- Thôi được - tôi bảo, hơi nguôi giận - nhưng lẽ ra ông cũng phải cho tôi vài lời chỉ dẫn chứ?
- Tôi đã làm như vậy đấy chứ, anh bạn. Nhiều lần nữa là khác. Nhưng anh đâu chịu nghe theo. Hãy nghĩ kỹ đi, tôi có bao giờ bảo tôi nghĩ là John Cavendish có tội không nào? Hay là ngược lại tôi tuyên bố gần như chắc chắn anh ta sẽ được tha bổng?
- Phải, nhưng…
- Và sau đó tôi đã chẳng nói về sự khó khăn khi đưa tên giết người ra pháp luật sao? Anh không hiểu rằng tôi nói đến hai người hoàn toàn khác nhau sao?
- Không, tôi chẳng hiểu tí nào cả.
- Và sau đó - Poirot tiếp - tôi đã chẳng nhắc đi nhắc lại nhiều lần, ngay từ đầu vụ án, tôi không muốn ông Inglethorp bị bắt lúc bấy giờ sao? Điều đó lẽ ra phải giúp anh đi đúng hướng chứ?
- Vậy ra ông nghi ngờ hắn ta từ lâu đến thế sao?
- Phải. Thoạt tiên, ngoài lợi lộc mà những người khác có thể rút ra từ cái chết của bà Inglethorp, thì rõ ràng chồng bà ta là người lợi nhất. Khi tôi đến Styles cùng với anh, ngay ngày đầu, thì tôi không hề có ý nghĩ gì về cách thức vụ án đã được gây ra. Nhưng, từ những gì tôi biết về ông Inglethorp, tôi sẽ đoán rất khó mà tìm thấy dấu vết gì có thể buộc tội ông ta trong vụ này. Khi tôi đến lâu đài, tôi hiểu ngay rằng chính bà Inglethorp đã đốt tờ di chúc. Về vấn đề này, anh không thể kêu ca gì cả, anh bạn ạ, bởi vì tôi đã làm tất cả để anh hiểu ý nghĩa của việc đốt lò sưởi ấy trong phòng ngủ, vào giữa mùa hè.
- Phải, phải - tôi nóng nảy bảo - Cứ tiếp tục đi.
- Này nhé, anh bạn của tôi ạ, ý kiến của tôi về tội trạng của Inglethorp rất bấp bênh. Có quá nhiều bằng cớ chống lại ông ta đến độ tôi phải nghĩ rằng ông ta vô can.
- Khi nào thì ông mới thay đổi ý kiến?
- Khi tôi nhận ra tôi càng cố công bào chữa cho hắn bao nhiêu thì hắn càng làm đủ mọi cách để cho mình bị mắc bẫy bấy nhiêu. Và tôi càng tin chắc hơn nữa khi tôi phát hiện ra rằng Inglethorp không hề quan tâm đến bà Riakes, mà chính John Cavendish mới có quan hệ với người phụ nữ ấy.
- Nhưng, tại sao?
- Vì lý do sau đây: trong trường hợp Inglethorp có quan hệ với bà Raikes thì sự im lặng của hắn là hoàn toàn có thể hiểu được. Nhưng khi tôi phát hiện ra cả làng đều biết John bị thu hút bởi bà chủ trại xinh đẹp ấy thì sự im lặng của Inglethorp lại có thể được hiểu khác đi. Sẽ rất phi lý khi cho rằng hắn sợ bị tai tiếng, bởi vì không dư luận nào có thể chạm đến hắn được. Thái độ của hắn khiến tôi suy nghĩ nhiều, và dần dần tôi đi đến kết luận rằng Alfred Inglethorp muốn mình bị bắt. Thế là từ đó tôi quyết định sẽ không để cho hắn bị bắt.
- Khoan đã, tôi không hiểu tại sao hắn lại muốn bị bắt.
- Bởi vì, anh bạn của tôi ạ, theo luật của nước Anh, một khi đã được xử tha bổng thì người ta sẽ không bao giờ có thể bị kết án trở lại vì cùng một tội trạng như trước đó. À! Ý nghĩ của hắn hay thật đấy! Chắc chắn đó là một người đàn ông có phương pháp. Này nhé: hắn biết rằng trong tình trạng của mình bắt buột hắn sẽ bị nghi ngờ. Hắn bèn nảy ra sáng kiến thông minh là tích cho mình thật nhiều bằng cớ bất lợi. Hắn muốn bị nghi ngờ. Hắn muốn bị bắt giữ. Bởi vì sau đó hắn sẽ đưa ra bằng cớ không thể chối cãi được của mình và sẽ được yên thân cho đến cuối đời mình.
- Thế nhưng tôi vẫn chưa hiểu tại sao hắn lại có thể vừa tạo bằng cớ vô can cho mình vừa đến chỗ ông dược sĩ.
Poirot nhìn tôi ngạc nhiên.
- Có thể như thế sao? Anh bạn đáng thương ạ! Anh còn chưa hiểu chính cô Howard đến hiệu thuốc tây sao?
- Cô Howard ư?
- Chứ sao? Còn ai khác nữa? Đối với cô ấy thì rất dễ dàng. Cô ta khá cao, giọng trầm và đầy nam tính, hơn nữa đừng quên rằng Inglethorp và cô ta là họ hàng nên họ khá giống nhau, nhất là trong dáng đi. Quả là đơn giản thôi. À! Cặp đó thật là xuất chúng.
- Tôi vẫn chưa nắm bắt được tác dụng của Brô-mua.
- Nào! Tôi sẽ cố gắng diễn lại vụ án. Tôi tin rằng cô Howard là người đề xuất ra âm mưu giết người này. Anh có nhớ là có một hôm cô ta nói với chúng ta bố cô ấy là bác sĩ không? Có lẽ cô ta đã giúp ông ấy pha chế thuốc men. Hoặc giả cô ta tìm ra ý nghĩ ấy ở một trong nhiều cuốn sách vương vãi trong nhà vào lúc cô Cynthia chuẩn bị cho cuộc thi của mình? Dù sao thì cô ta cũng biết rằng nếu cho thêm Brô-mua vào một hỗn hợp có chứa Strychnin thì chất độc sẽ lắng xuống. Có thể sáng kiến đó bất ngờ nảy sinh trong cô ta. Bà Inglethorp có một hộp bột Brô-mua, mà thỉnh thoảng buổi tối bà vẫn dùng. Việc hòa tan một hoặc nhiều liều vào lọ thuốc bổ lúc ông dược sĩ mới giao hàng là rất dễ dàng. Gần như là chẳng hề có nguy cơ bị phát hiện gì cả. Thảm kịch chỉ xảy ra mười lăm ngày sau thôi. Nếu như có ai đó vô tình trông thấy cô ta đụng vào lọ thuốc thì đến lúc đó người ta cũng đã quên mất rồi. Cô Howard giả bộ cãi nhau và rời bỏ Styles đi. Khoảng thời gian mười lăm ngày đó và sự vắng mặt của cô sẽ đánh tan mọi nghi ngờ. Phải, mọi việc được sắp đặt chu đáo. Về nếu như hai tên tòng phạm không nghĩ đến chuyện sửa đổi chút ít cái sáng kiến vĩ đại ấy thì có lẽ sẽ không thể nào gán cho họ vụ giết người ấy được. Nhưng họ không cảm thấy hài lòng. Họ đã muốn mình quá giỏi và đó chính là nguyên nhân sự thất bại của họ.
Poirot rít một hơi thuốc rồi, mắt dán lên trần nhà, ông nói:
- Họ vạch kế hoạch để đổ tội cho John Cavendish bằng cách đến mua Strychnin ở chỗ ông dược sĩ trong làng và bằng cách giả chữ viết của anh ta.
- Lẽ ra bà Inglethorp phải uống liều thuốc cuối cùng vào hôm thứ hai. Do vậy, hôm thứ hai, Alfred Inglethorp đã sắp xếp để nhiều người trông thấy hắn ở một nơi cách xa làng. Trước đó, cô Howard đã bịa ra câu chuyện không có thật về bà Raikes và hắn để thuyết minh cho sự im lặng mà sau đó hắn phải dùng đến. Lúc mười tám giờ, cô Howard cải trang thành Alfred Inglethorp, bước vào hiệu thuốc tây, kể câu chuyện về con chó cần phải giết, mua được Strychnin và giả chữ viết của John mà cô đã cẩn thận nghiên cứu để ký tên Alfred Inglethorp vào sổ đăng ký.
Nhưng cũng cần thiết để cho John không có thể đưa ra được bằng chứng vô can, thế nên cô viết cho anh một bức thư nặc danh, vẫn bằng cách giả chữ viết của anh ta, và do đó anh ta đã đến một nơi vắng vẻ và xa, nơi anh ta ít hy vọng gặp được người nào.
Cho đến đây thì tất cả đều trôi chảy, cô Howard trở về Middlingham, còn Alfred Inglethorp thì về Styles. Không có gì có thể buộc tội họ được, bởi chính cô Howard nắm trong tay Strychnin, chất độc này, dù sao đi nữa, chỉ dùng để đổ tội cho John Cavendish mà thôi.
Nhưng lại xuất hiện một trở ngại nhỏ: bà Inglethorp không uống thuốc vào tối hôm đó. Dây chuông bị cắt đứt, sự vắng mặt của Cynthia (được Inglethorp sắp xếp qua trung gian của vợ mình) đã không còn sử dụng vào đâu được nữa. Và chính vào lúc đó hắn đã sẩy chân.
Trong khi bà Inglethorp đi ra ngoài, hắn ngồi viết cho tòng phạm của mình; người mà theo ý hắn sẽ lo lắng trước sự thất bại kế hoạch của họ. Có thể bà Inglethorp đã về sớm hơn dự định. Bị bắt gặp trong lúc đang viết, bối rối, hắn vội khóa ngăn tủ lại. Rồi ngại rằng bà Inglethorp thắc mắc sẽ hỏi hắn những câu khó trả lời, hắn bước ra đi dạo trong rừng, không ngờ rằng bà Inglethorp có thể mở ngăn tủ và bắt gặp bức thư đang viết dở.
Quả là điều đó đả xảy ra, như chúng ta đã biết. Bà Inglethorp đọc được bức thư đó, biết được sự gian xảo của chồng mình và Evelyn Howard. Tiếc rằng câu nói về Brô-mua không giúp bà thấy rõ. Bà biết rằng mình đang gặp nguy nên viết thư cho luật sư, yêu cần ông đến gặp mình vào sáng hôm sau. Bà cũng quyết định hủy ngay tờ di chúc mà bà vừa lập và giữ lại bức thư định mệnh ấy.
- Như vậy, chính vì muốn lấy lại bức thư đó mà chồng bà ta đã bẻ khóa chiếc rương ư?
- Phải, và nguy cơ mà hắn phải liều cho thấy rõ hắn biết tầm quan trọng của nó đến mức ngoài. Bởi vì bức thư ấy là bằng chứng duy nhất về tội ác của hắn.
- Nhưng tôi không hiểu tại sao hắn lại không thủ tiêu nó ngay khi tìm thấy đi?
- Hãy đặt mình vào vị trí của hắn. Tôi khám phá ra hắn chỉ có năm phút ngắn ngủi để tìm bức thư đó, năm phút ngay trước khi chúng ta đến. Bởi vì trước đó thì Annie quét cầu thang và cô sẽ trông thấy bất cứ ai bén mảng đến phía cánh phải. Hãy thử tưởng tượng cảnh đó xem sao: Inglethorp bước vào căn phòng nơi xảy ra vụ án, hắn lao vội về chiếc rương nhỏ và thấy rằng nó bị khóa trái. Nhưng hắn đã sẵn sàng liều mình để lấy lại cái bằng chứng không thể bác bỏ ấy nên hắn vội vã bẻ ổ khóa bằng một con dao nhíp và lục lọi trong đống giấy tờ cho đến khi tìm thấy bức thư nguy hại ấy. Lúc đó hắn ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan. Hắn không dám giữ tờ giấy đó trong mình. Hắn cần phải hành động nhanh. Giấu tờ giấy nguy hại ấy ở đâu? Người ta có thể bắt giữ hắn ngay khi hắn bước ra khỏi phòng và lục soát người hắn. Nếu người ta tìm thấy bức thư thì hắn sẽ lâm nguy. Có thể lúc đó hắn nghe thấy tiếng của ông Wells và John trong thư phòng. Chắc chắn người ta sẽ lục soát giỏ rác. Không có cách gì để tiêu hủy bức thư cả. Hắn liếc nhìn quanh mình và trông thấy… hãy đoán xem cái gì, anh bạn?
Tôi lắc đầu.
- Trong giây lát hắn xé bức thư thành những dải băng dài và cuộn tròn lại rồi vội vàng nhét vào giữa những que diêm trong một chiếc bình trên lò sưởi.
Tôi kêu lên một tiếng khan.
- Không ai nghĩ đến việc lục tìm ở đó cả - Poirot tiếp - và hắn có thể dễ dàng trở lại sau đó hủy vết tích duy nhất về tội của hắn.
- Thế ra bằng chứng lại nằm ngay trong phòng bà Inglethorp dưới mắt chúng ta - tôi kêu lên.
Poirot gật đầu.
- Phải, anh bạn của tôi ạ. Chính ở đấy tôi đã phát hiện chiếc mắt xích cuối cùng của mình, và chính nhờ anh mà tôi mới có dịp may ấy.
- Nhờ tôi ư?
- Phải. Anh có nhớ đã nói với tôi rằng tay tôi run rẩy trong khi sắp xếp lại những đồ vật trưng bày trên lò sưởi không?
- Nhưng, nhưng tôi không hiểu…
- Vâng. Nhưng tôi thì lại hiểu. Anh bạn ạ, tôi nhớ ra khi chúng ta có mặt trong phòng bà Inglethorp lúc sáng sớm, tôi đã đặt ngay ngắn các đồ vật trưng bày trên lò sưởi rồi. Và bởi chúng đã được sắp xếp rồi thì không cần phải đụng đến nữa, nếu như, trong khoảng thời gian vừa qua, không có ai đã xê dịch chúng.
- À! - Tôi nói - Té ra đó là lời giải thích cho thái độ lạ lùng của ông. Ông đã chạy ngay đến Styles và tìm thấy tờ giấy đó.
- Phải… và tôi đã phá kỷ lục chạy nước rút.
- Thế nhưng tôi không hiểu tại sao Inglethorp lại khờ khạo đến độ không tìm cách hủy cái bằng chứng ấy đi từ sau cái đêm bất hạnh ấy.
- À! Nhưng tôi đã không để cho hắn có dịp làm như vậy. Tôi sẽ đánh động về việc đó.
- Ông ư?
- Phải. Anh có nhớ đã trách tôi tại sao lại đi tiết lộ bí mật cho cả nhà không?
- Đúng vậy…
- Này, anh bạn ạ, tôi hiểu rằng chỉ còn có mỗi một hy vọng thôi. Tôi chưa chắc chắn rằng Inglethorp là thủ phạm, nhưng nếu đúng là hắn thì tôi biết rằng hắn không có bức thư trong người mà đã tìm cách giấu ở đâu đó. Bằng cách thu phục cảm tình của đám gia nhân, tôi có thể ngăn cản hắn hủy bức thư đó. Sẵn người ta đang nghi ngờ hắn, bằng cách công khai hóa chuyện đó ra, tôi đã đảm bảo được cho mình sự giúp sức của khoảng mười thám tử nghiệp dư không ngừng canh chừng hắn. Nhận biết được sự nhiệt tình của họ, hắn sẽ không dám hủy bức thư. Do đó hắn buộc phải rời bỏ Styles và để nó lại giữa các que diêm.
- Phải. Nhưng cô Howard chắc chắn đã có nhiều dịp để giúp hắn.
- Phải, nhưng cô Howard không biết đến bức thư đó. Trung thành với kế hoạch của họ, cô không bao giờ nói chuyện với Inglethorp. Họ được mệnh danh là kẻ thù không đội trời chung và cả người này lẫn người kia đều không dám liều lĩnh gặp nhau cho đến khi John Cavendish bị chính thức kết án. Tất nhiên, tôi cho theo dõi ông Inglethorp với hy vọng một ngày nào đó hắn sẽ dẫn tôi đến chỗ giấu. Nhưng hắn quá thông minh để liều lĩnh bất cứ việc gì. Bức thư được cất ở nơi chắc chắn. Bởi vì không ai nghĩ đến việc lục tìm trong bình đựng diêm quẹt trong vòng tuần lễ đầu tiên, nên chưa chắc gì người ta làm như thế sau này. Nếu không có ý nghĩ may mắn của anh thì không bao giờ chúng ta có thể tóm được hắn.
- Bây giờ thì tôi hiểu hết rồi. Nhưng ông bắt đầu nghi ngờ cô Howard từ lúc nào?
- Khi tôi phát hiện rằng cô ta nói dối ở buổi hỏi cung về vấn đề bức thư bà Inglethorp gửi cho cô ta.
- Sao? Vấn đề gì?
- Anh có trông thấy bức thư đó không? Anh còn nhớ hình thức của nó không?
- Ít nhiều thì có.
- Thế thì anh sẽ nhớ rằng bà Inglethorp có chữ viết rất đặc biệt và luôn luôn để những khỏang cách lớn giữa các chữ. Nhưng nếu nhìn vào ngày tháng ghi bên trên bức thư thì có thể nhận thấy một điểm lạ lùng.
- Điểm gì?
- Mặc dù đề ngày mười bảy tháng bảy, bức thư lại được viết, không phải vào hôm mười bảy mà là vào hôm bảy tháng bảy, sáng hôm sau ngày cô Howard ra đi. Số một được viết thêm vào trước số bảy để biến thành ngày mười bảy.
- Với mục đích gì?
- Đó chính là điều tôi đã tự hỏi. Tại sao cô Howard lại loại bỏ bức thư thực sự được viết vào hôm mười bảy và thay vào đó lại đưa ra bức thư viết hôm mười bày bằng cách thay đổi ngày viết? Bởi vì cô ta không muốn cho xem bức thư ngày mười bảy. Ngay lập tức, sự nghi ngờ len lỏi vào đầu óc tôi. Anh có nhớ rằng tôi có nói với anh nên đề phòng những người không nói sự thật không?
Tôi lêu lên phẫn nộ:
- Thế mà sau chuyện đó ông lại cho tôi biết hai lý do khiến cô Howard không thể gây ra án mạng được.
- Và đó là những lý do vững chắc - Poirot nói - Chúng đã là những trở ngại lớn đối với tôi, cho đến khi tôi sực nhớ đến một sự kiện rất có ý nghĩa: cô Howard và ông Inglethorp là anh em họ. Cô ta không thể một mình gây ra vụ án, nhưng điều đó không thể ngăn cô ta là tòng phạm. Và còn sự thù hằn quá đáng che giấu những cảm xúc khác nữa. Chắc chắn phải có mối liên hệ giữa họ trước khi Alfred Inglethorp đến Styles. Họ đã xây dựng kế hoạch ti tiện đó. Hắn phải kết hôn với người phụ nữ già và giàu có, nhưng hơi ngốc nghếch ấy. Hắn sẽ thuyết phục bà ta lập di chúc thuận lợi cho hắn và sau đó họ sẽ đạt được mục đích nhờ một vụ giết người được sắp đặt rất khéo léo. Nếu như mọi việc đều xảy ra như mong muốn, có lẽ họ đã bỏ nước Anh mà đi và sống yên ổn với tiền bạc của nạn nhân đáng thương của mình.
Bởi vì họ là một cặp không hề chùng bước trước việc gì cả. Trong khi mọi nghi ngờ đều hướng về hắn thì cô ta thản nhiên sắp đặt những bằng chứng giải oan cho hắn. Cô ta từ Middlingham đến với đầy đủ những vật nguy hại trong tay mình. Không ai để ý đến sự đi lại của cô. Cô giấu lọ Strychnin và cặp kiếng trong phòng của John. Cô đặt bộ râu giả vào chiếc rương trên nhà kho. Và cô làm mọi cách để người ta phát hiện ra những thứ ấy đúng lúc.
- Tôi không hiểu rõ tại sao họ lại tìm cách gieo nghi ngờ lên John - tôi nhận xét - Đổ tội cho Laurence sẽ dễ hơn cho bọn họ.
- Đúng vậy. Nhưng những bằng chứng chống Laurence chỉ là do tình cờ ngẫu nhiên mà có thôi, và hai tên đồng phạm ấy là những người đầu tiên bị bối rối.
- Thái độ của anh ta quả là rất vụng về - tôi mơ màng nhận xét.
- Phải. Có lẽ anh cũng biết vì sao chứ?
- Không.
- Anh không hiểu rằng anh ta nghĩ cô Cynthia là thủ phạm sao?
- Không thể như thế được! - Tôi kêu lên kinh ngạc.
- Không đâu. Chính tôi suýt nữa cũng đã có ý nghĩ đó. Tôi nghĩ đến điều đó khi đặt cho ông Wells câu hỏi đầu tiên về tờ di chúc. Và rồi còn có bột Brô-mua mà cô ta pha chế, sự khéo léo của cô ta khi cải trang và đóng vai những nhân vật nam, như Dorcas đã kể cho chúng ta nghe nữa. Thật vậy, có nhiều bằng chứng chống lại cô ta hơn bất cứ ai khác.
- Ông đùa đấy chứ, Poirot?
- Ồ! Không! Tôi co rằng, vào buổi tối hôm anh ta nhìn thấy mẹ mình vật lộn với sự đau đớn, mà anh ta hiểu ra là những dấu hiệu bị ngộ độc, khi liếc nhìn qua vai anh, anh ta đã trông thấy then cửa phòng của Cynthia được để mở…
- Nhưng anh ta khẳng định cánh cửa đó bì cài then kia mà.
- Đúng thế! - Poirot mỉa mai đáp - Điều đó khiến tôi nghĩ rằng nó không được cài then. Anh ta tìm cách che chở cho Cynthia.
- Nhưng tại sao anh ta lại che chở cho Cynthia chứ?
- Bởi vì anh ta yêu cô ấy.
- Này, Poirot, ông lầm to rồi. Bởi vì tôi biết chắc, thay vì yêu cô ấy, anh ta lại có ác cảm thật sự đối với cô ta.
- Ai nói với anh như thế, anh bạn?
- Chính cô Cynthia.
- Tôi nghiệp cô bé. Cô ta có lấy thế làm buồn không?
- Cô ta khẳng định với tôi cô ta bất cần chuyện đó.
- Thế thì chuyện đó khiến cô ta đau buồn lắm đấy - Poirot nhận xét một cách đầy triết lý - Phụ nữ thường như vậy đấy!
- Những gì ông nói về Laurence khiến tôi ngạc nhiên hết sức - tôi nhận xét.
- Tại sao? Điều đó rất rõ ràng. Ông Laurence chẳng nhăn mặt mỗi khi cô Cynthia cười nói với ông anh sao? Anh ta cho rằng cô ấy phải lòng anh mình. Khi anh ta bước vào phòng mẹ kế và thấy bà này bị ngộ độc, anh nghĩ rằng có lẽ Cynthia đã có những giây phút tuyệt vọng và đã mất tự chủ. Chính anh ta cũng hoảng hốt. Rồi anh ta trông thấy chiếc tách cà-phê và dẫm nát nó dưới gót giày, bởi vì anh ta nhớ ra rằng hôm trước cô đã lên lầu cùng với mẹ anh, anh muốn ngăn cản người ta phân tích những gì chứa đựng trong chiếc tách đó. Và cũng từ đó anh ta giữ vững một cách quyết liệt và vô ích nữa là khác, giả thiết về một “cái chết do những nguyên nhân tự nhiên”.
- Hãy giải thích cho tôi biết ý nghĩa của “chiếc tách cà-phê bị thiếu”.
- Tôi gần như tin chắc bà Cavendish đã giấu nó đi, nhưng cần phải biết chính xác. Ông Laurence hoàn toàn không biết tôi muốn nói gì, nhưng sau khi suy nghĩ, ông kết luận rằng nếu như mình tìm thấy ở đâu đó một chiếc tách cà-phê khác thì người phụ nữ thân yêu của mình sẽ tránh được khỏi bị nghi ngờ. Và anh ta đã hoàn toàn có lý.
- Còn một điều nữa. Những lời nói cuối cùng của bà Inglethorp có ý nghĩa ra sao?
- Tất nhiên đó là lời buộc tội chồng mình.
- Poirot ạ - tôi thở dài - thế là ông giải thích được tất cả. Tôi lấy làm sung sướng là sự việc được kết thúc một cách tốt đẹp đến như vậy. Ngay cả John và vợ anh ta cũng đã hòa hợp trở lại với nhau.
- Nhờ tôi đấy.
- Ông muốn nói gì? Nhờ ông ư?
- Anh bạn thân mến ạ, anh không thấy rằng chính và chỉ có phiên tòa mới làm cho họ xích lại gần nhau sao? Tôi tin chắc rằng John còn yêu vợ mình và bà ấy cũng yêu anh ta. Nhưng họ đã rời xa nhau sau một sự hiểu lầm nghiêm trọng. Anh ta biết rằng bà ấy lấy mình mà không hề có tình yêu. Đó là một con người dễ xúc động, theo cách của mình. Và anh ta không muốn tự áp đặt mình cho bà ấy nếu như bà không yêu mình. Anh ta càng rút lui thì tình yêu của anh ta đối với vợ càng tha thiết. Thế nhưng cả hai người đều rất liêu hãnh và tự ái đã chia cách họ. Anh ta buông thả mình trong quan hệ với bà Raikes, còn về phía mình, bà ấy cũng tìm kiếm sự bầu bạn ở bác sĩ Bauerstein. Anh có nhớ hôm John Cavendish bị bắt không, anh đã bắt gặp tôi đang suy nghĩ xem có nên chọn lấy một quyết định quan trọng không?
- Phải. Và tôi hiểu rõ nổi băn khoăn của ông.
- Xin lỗi anh bạn, anh chẳng hiểu gì cả. Tôi thử suy nghĩ xem có nên giải oan cho John Cavendish ngay không. Tôi có thể làm như thế, nhưng việc đó sẽ ảnh hưởng đến việc bắt giữ những tội phạm thật sự. Cho đến phút cuối, chúng vẫn không biết được sự suy nghĩ thật của tôi, và đó cũng là phần nào nguyên nhân sự thành công ủa tôi.
- Tôi có phải hiểu rằng ông có thể ngăn cản người ta bắt giữ John Cavendish không?
- Phải, anh bạn của tôi ạ. Nhưng tôi đã quyết định, trên cơ sở cân nhắc hạnh phúc của một người phụ nữ. Chẳng có gì, ngoại trừ sự nguy hiểm to lớn mà họ vừa trải qua, có thể kéo hai tâm hồn cao cả ấy đến với nhau.
Tôi nhìn Poirot với sự kinh ngạc lặng lẽ. Người đàn ông hỏ bé ấy cả gan thật. Còn ai, ngoại trừ Poirot ra, có thể nghĩ rằng một phiên tòa xử việc giết người lại có thể là cách chắc chắn nhất để tái lập lại sự chung thủy trong quan hệ vợ chồng chứ?
- Tôi đọc được những suy nghĩ của anh, anh bạn ạ - Poirot mỉm cười nói - Không ai, ngoại trừ Hercule Poirot ra, lại dám dấn thân vào một cuộc phiêu lưu như thế. Anh đã sai lầm khi lên án việc đó. Hạnh phúc của một người đàn ông và một phụ nữ là điều cảm động nhất trên đời này.
Những lời nói của ông khiến tôi nghĩ đến những biến cố xảy đến trước cuộc nói chuyện của chúng tôi. Tôi nhìn thấy Mary, tái mét và mệt mỏi, nằm trên ghế dài… Bà lắng tai nghe… lắng nghe. Tiếng chuông vang lên ở dưới nhà. Bà nhỏm dậy ngay. Poirot mở cửa và, bắt gặp cái nhìn lo âu của bà, ông khẽ gật đầu trấn an: “Phải, thưa bà, tôi đem ông ấy về cho bà đây”. Ông nói và tránh sang một bên. Lúc tôi bước ra khỏi phòng, tôi thấy mắt Mary sáng lên trong khi John Cavendish ôm bà trong vòng tay mình.
- Có lẽ ông có lý đấy, Poirot ạ - tôi khẽ nói - Đó là điều đẹp nhất trên đời này.
Có tiếng gõ cửa rồi Cynthia ló mặt qua khe cửa.
- Tôi… tôi…
- Mời vào - tôi đứng lên và nói.
Cô bước vào nhưng không ngồi xuống.
- Tôi chỉ muốn nói với các ông điều này…
- Gì thế?
Cynthia do dự một lúc rồi bỗng kêu lên:
- Quý vị thật đáng yêu!
Và cô ôm hôn cả hai chúng tôi, trước tiên là tôi, rồi đến Poirot, và chạy ra khỏi phòng.
- Thế là nghĩa lý gì cơ chứ? - Tôi hỏi, rất ngạc nhiên.
Quả là rất dễ chịu khi được Cynthia ôm hôn, mặc dù sự lộ liễu của cử chỉ đó hơi làm giảm sự thích thú của tôi đi.
- Thế nghĩa là cô ta đã phát hiện ra rằng ông Laurence không đến nỗi ghét mình như cô ta vẫn tưởng đâu - Poirot long trọng tuyên bố.
- Nhưng…
- Anh ta đây rồi.
Đúng lúc đó, Laurence đi ngang qua trước cánh cửa.
- Này! Laurence! - Poirot kêu lên - Thế ra cũng phải chúc mừng ông nữa, phải không nào?
Laurence đỏ mặt và mỉm cười bối rối. Một người đàn ông đang yêu quả là một cảnh tượng thật khôi hài. Ngược lại, Cynthia rất đáng yêu vì sự xúc động của mình.
Tôi thở dài.
- Có chuyện gì thế, anh bạn?
- Không có gì cả - tôi buồn bã nói - Đó là hai người phụ nữ tuyệt vời.
- Thế mà cả người này lẫn người kia đều không dành cho anh? - Poirot nói - Ồ! Thì đã sao nào? Hạy tự an ủi đi. Có thể chúng ta sẽ lại cùng nhau đi săn nữa? Ai biết được? Và lúc đó…
 
HẾT
0
Thảm Kịch Bí Ẩn Ở Styles - AGATHA CHRISTIE

Đã mang vào thư viện

Thành thật cảm ơn HanAn đã góp sức cho thư viện

Chúc vui
0
«« « 1 2 » »»