TRUYỆN CỔ XÊ ĐĂNG
Ngô Vĩnh Bình – Sưu tầm, biên soạn
Nhà xuất bản Văn hóa – Hà Nội 1981
Vài nét về người Xê Đăng
Và nguồn gốc truyện kể của họ
Người Xê Đăng (còn có tên gọi khác là Sê Lăng, Hăng Đra, Xê Đăk, Thượng…) sống đông đảo ở cực bắc cao nguyên Trung bộ. Theo thống kê gần đây số dân Xê Đăng cư trú ở Tây Nguyên khoảng 80.000 người. Đây là một dân tộc có dân số vào loại đông nhất ở khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên.
Địa bàn cư trú của người Xê Đăng bao gồm cả một vùng rộng lớn gồm phần bắc tỉnh Gia Lai – Kon Tum mà trung tâm là vùng đông, bắc và nam quần sơn Ngọc Linh; vùng này là nơi phát nguyên của nhiều dòng sông lớn như Krông Pô-cô, sông Đăc Bla, sông Vệ, sông Trà…
Nhìn chung, đây là vùng núi non trùng điệp, hiểm trở, là “mái nhà của Tây Nguyên” với đỉnh là ngọn Ngọc Linh cao 2.598m. Độ dốc trung bình của vùng này là 25o, phát triển trên đá granit, gơnai. Ở đây mưa nhiều, nắng lắm, thảm thực vật còn được bảo vệ khá tốt. Đặc sản của vùng này là sâm, quế, thông ba lá, chè và nhiều loại lâm thổ sản quý giá khác. Động vật vùng Xê Đăng cũng còn nhiều. Theo các nhà sinh vật học cho biết thì ở đây còn khá nhiều loại động vật quý như voi, gấu, ngựa, chồn bay, sóc bay, đại bàng, thiên nga, cầy hương, chuột túi, tắc kè… Những động vật quý này sinh sống nhiều nhất ở vùng quần sơn Ngọc Linh và những vạt rừng le dọc hai bờ sông Sa Thầy.
Đất đai sản xuất nông nghiệp ở vùng này rất ít, độ phì nhiêu so với vùng nam Tây Nguyên (Pleiku, Cheo Reo, Đắk Lắk, Lâm Đồng….) kém hơn nhiều. Đồng bào các dân tộc ở đây phải lợi dụng các thung lũng, nơi hợp thủy nhỏ hẹp để cư trú và trồng trọt.
Vùng Xê Đăng có nhiều cảnh đẹp khá nổi tiếng như các tầng đá hoa cương núi Ngọc Linh, thác Yaly, các cảnh sắc ngoạn mục ở Đắk Lắk, Đắk Tô, Kon Tum, Biển Hồ.
Núi Ngọc Linh còn có tên gọi là hòn Ngọc Ang, cao nhất Tây Nguyên, nhìn ra ba tỉnh: phía bắc – Quảng Nam Đà Nẵng, phía đông – Nghĩa Bình; phía nam – Gia Lai Kon Tum. Sườn phía tây ngó sang Lào và Campuchia. Ngọc Linh bốn mùa sương phủ, dốc dựng thang mây. Nơi đây là xứ sở của loại sâm Ngọc Linh rất quý và các dược liệu quý giá khác như hà thủ ô, quế. Theo lời kể của đồng bào quanh vùng thì trên núi này còn có loài dã nhân – một loài vượn người – sinh sống. Đồng bào địa phương còn cho biết nơi đây là quê hương cổ xưa nhất của các dân tộc Tây Nguyên, nơi đã cứu con người thoát khỏi nạn hồng thủy. Ký ức của bà con dân tộc còn giữ mãi những ngày sôi nổi chống giặc thời kỳ phong trào Săm Căm (1933 – 1937), phong trào Cần vương chống Pháp, phong trào đấu tranh chống Mỹ - Ngụy trước ngày giải phóng miền Nam.
Thác Yaly nằm trên một nhánh của sôn Pô Cô, giữa vùng rừng núi Sa Thầy rộng lớn, đầy cây rậm rạp và thú quý. Thác dài trên 3km, cao hàng trăm mét, chảy ầm ầm suốt ngày đêm, xung quanh là những đỉnh núi nhấp nhô, những dòng suối kỳ vĩ, những cây rừng cổ thụ, các chim thú lạ. Và, xa hơn, là những buôn làng, những nương lúa, vườn cây vàng tươi trái quả. Khả năng thủy điện của thác Yaly khá lớn. Ngày nay, nguồn điện từ nơi đây mang ánh sáng và năng lượng đến các vùng rừng núi Tây Nguyên ấm no, hạnh phúc.
Dân tộc Xê Đăng là một cộng đồng người bao gồm nhiều nhóm địa phương, có chung một tiếng nói, những đặc điểm về sinh hoạt kinh tế, văn hóa. Theo tài liệu mới nhất của các nhà dân tộc học cho biết thì dân tộc Xê Đăng gồm những nhóm, những ngành chính như sau:
1. Nhóm Xê Teng: (còn có tên gọi khác là Xê Đác, Hơ Đung, Ka Tang, Koi Lan, Rơ Teng, Kơ Mâng…) Nhóm này cư trú ở vùng rẻo cao huyện Trà My (tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng), Đắk Tô và phía bắc thị xã Kon Tum, trong đó đông nhất là huyện Đắk Tô (Gia Lai – Kon Tum). Nhóm này nổi tiếng giỏi về nghề săn bắn, thu hái lâm thổ sản, đặc biệt là các loại sâm quế…
2. Nhóm Tơ Đră: (còn có tên gọi khác là Hơ Đră, Téh-đa, Xrạ). Cư trú ở phía bắc và đông bắc thị xã Kon Tum, thuộc huyện Kon Plông và một phần huyện Trà Bồng (Nghĩa Bình). Đây là một nhóm khá đông, nổi tiếng với nghề tìm nấu quặng và rèn công cụ sản xuất.
3. Nhóm Mơ Nam: Cư trú ở huyện Kon Plông (Gia Lai – Kon Tum). Dân số ít hơn so với hai nhóm trên, và nổi tiếng về nghề làm ruộng nước bằng cách cho trâu quần, dẫm, với những biện pháp thủy lợi truyền thống nguyên thủy.
Ba nhóm này thường được coi là những nhóm “mẹ” hay nhóm “trung tâm” của cộng đồng dân tộc Xê Đăng. Họ có nhiều nét gần gụi với nhau hơn so với những nhóm khác. Trong kho tàng truyện dân gian Xê Đăng cũng đã chứng tỏ điều đó (xem truyện Chặt cây Luông Pling).
4. Nhóm Ka Dong: Nhóm này dân số vào loại đông nhất và cũng là nhóm có nhiều bộ phận, nhiều đặc điểm sinh hoạt riêng. Chính vì lẽ đó mà trước đây nhiều người vẫn cho họ là một dân tộc riêng.
Người Ka Dong sống ở ba địa điểm chính: vùng tây nam huyện Trà My (Quảng Nam – Đà Nẵng), vùng tây nam huyện Đắk Tô (tỉnh Gia Lai – Kon Tum) và vùng đông huyện Kon Plông (Gia Lai – Kon Tum) bao gồm cả bộ phận Ka Dong – Sơn Hà (Quảng Bình).
5. Nhóm Ha Lăng: Cũng như nhóm Ka Dong, nhóm Ha Lăng có dân số đông và do sống xa nhóm “mẹ” lâu ngày, cho nên họ mang nhiều đặc điểm riêng. Nhiều người cho rằng Ha Lăng là một dân tộc riêng biệt.
Người Ha Lăng cư trú ở huyện Đắk Tô và miền tây thị xã Kon Tum. Họ có những đặc điểm giống với người Ba Na…
Tóm lại, các dân tộc Xê Đăng bao gồm 5 nhóm chính, cư trú trên một địa bàn rộng lớn. Họ là láng giềng gần gụi với người Gié, người Triêng (ở phía tây bắc), người Cor (ở phía nam). Tuy có nhiều nhóm, nhiều ngành nhưng người Xê Đăng vẫn là một cộng đồng thống nhất về ý thức dân tộc, và trên những nét lớn, thống nhất về mặt ngôn ngữ, sinh hoạt kinh tế, văn hóa và xã hội. Trong quá trình lịch sử lâu dài, họ cũng có nhiều nét gần gụi với các dân tộc láng giềng khác.
Trải qua nhiều thế kỷ, người Xê Đăng đã biểu hiện một sức sống mãnh liệt. Cư trú trên một địa bàn hiểm trở, khắc nghiệt, họ đã phải liên tục, từ thế hệ này sang thế hệ khác, đấu tranh chống thiên nhiên, tồn tại phát triển và sáng tạo ra những sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần quý giá. Đó là những nhà rông mái cao chót vót, những cây kiếm, lưỡi cuốc, con dao, khố áo, những tấm chăn màu sắc rực rỡ, những phiến đàn đá, những ống đàn klông pút, đàn tơ rưng, những bộ chiêng cồng, và một kho tàng thần thoại, truyện cổ, những làn điệu dân ca phong phú, được diễn xướng nhiều trong các ngày vui của làng xóm như hội Các Pư rác (đâm trâu), hội Lang dak (sửa máng nước đón tết, mừng lúa)…
Kho tàng truyện cổ dân gian Xê Đăng rất giàu có, đa dạng, nó đã được nhiều thế hệ vun đắp, bổ sung, xứng đáng là bông hoa đẹp trong vườn hoa văn hóa văn nghệ Việt Nam nhiều hương sắc.
Truyện cổ Xê Đăng thường được kể qua những làn điệu quen thuộc gọi là hơ mon.
Sinh hoạt hơ mon trong dân tộc Xê Đăng khá độc đáo. Tuy chưa đạt tới mức độ nghệ thuật như sinh hoạt kể khan Ê Đê (1) nhưng khung cảnh của đêm hơ mon ở vùng Xê Đăng (cũng như ở vùng Ba Na) thật khó lòng quên được… Người Xê Đăng thường hơ mon vào ban đêm, nhất là những đêm hội, những đêm mùa màng đã thu hái xong, năm mới sắp sửa bắt đầu.
Những đêm ấy, dân làng tụ tập đông đảo bên bếp lửa của nhà làng (nhà rông, nhà gưl, nhà gơl, nhà ưng…) để nghe tài nhớ, tài kể. Người nghệ sĩ dân gian này ngồi ở vị trí trung tâm của đám đông và bắt đầu ngâm một điệu hát. Chung quanh im lặng lắng nghe. Giọng hơ mon lúc đều đều, lúc sôi nổi, lúc trầm ngâm… Người hơ mon có khi cười, khi tư lự, lúc giận dữ và có khi làm cả động tác biểu hiện hành động của một nhân vật trong truyện (bắn ná, múa khiên, chỉ tay, ôm ngực…). Có nơi, đồng bào còn dùng nhạc (chiêng, đàn) để họa cho người hơ mon nữa. Đêm hơ mon thường kéo dài, có khi là đến sáng, nhiều câu chuyện phải hơ mon liên tiếp nhiều đêm (như chuyện Đăm Tung Đăm Tía, chuyện Chặt cây Luông Pling…). Khung cảnh của đêm sinh hoạt hơ mon có thể coi là một trong những sinh hoạt nhà sàn như nhiều nhà dân tộc thường nói tới.
Thông thường, người ta hơ mon vào những đêm lễ hội sau mùa thu hái (lễ đâm trâu, sửa máng nước, đón năm mới, mừng lúa về, lên nhà mới…) nhưng cũng có khi hơ mon được tổ chức vào những dịp cưới xin hay ngày lễ bỏ mả… Nhiều trường hợp, quy mô của đêm hơ mon nhỏ hơn. Đó là những buổi hơ mon ở nhà riêng của từng gia đình. Những đêm hơ mon này có ít người nghe, thường chỉ là trẻ em và mấy bà, mấy bác hàng xóm láng giềng, chị con dâu, chàng con rể… Cũng có khi hơ mon là một sinh hoạt văn hóa hàng ngày như trường hợp ông hơ mon cho cháu nghe dưới gốc cây già, bên chòi cạnh rẫy, hay chồng hơ mon cho vợ nghe lúc vào rừng chặt củi, khi ngồi đan lát, rèn dũa…
Nội dung của các truyện cổ Xê Đăng phản ánh các hoạt động của con người, những quan niệm của họ về trời đất, cỏ cây, muông thú, nguồn gốc các dân tộc… (nguồn gốc loài người, vì sao đất Tây Nguyên màu đỏ, sự tích tiếng nói hay là vì sao người Xê Đăng, Ka Dong, Ha Lăng nói tiếng khác nhau, vũ trụ buổi ban đầu…).
Những truyện cổ nhằm giải thích về địa bàn dân cư hiện nay của các nhóm Xê Đăng, những đặc điểm trong sinh hoạt kinh tế, văn hóa của từng nhóm đó. (Chặt cây Luông Pling, nguồn gốc nghề rèn, chàng mồ côi và con rắn trắng, chàng Gok và cô gái hủi, trống ước, Ai Poọc Thây…)
Trong truyện cổ Xê Đăng (cũng như truyện của nhiều dân tộc khác) có nhiều truyện kể về đứa trẻ mồ côi, bà cháu nghèo. Những chàng trai giỏi làm rẫy, giỏi đánh đàn, thổi sáo, có thân hình vạm vỡ, gan dạ và giàu lòng yêu quê hương… phần đông xuất thân từ những “đứa trẻ mồ côi”, bố mẹ bị chết đói hay chết trong những cuộc chiến tranh bộ lạc xa xưa, ở với người bà nghèo khó trong một túp lều rách nát cuối rừng… (chàng mồ côi và con rắng trắng, Rok và Sét…). Hình tượng người dũng sĩ trong chuyện cổ Xê Đăng được xây dựng bởi lòng mong mỏi, khâm phục, ước mơ của những nghệ nhân dân gian.
Cũng với hình tượng người dũng sĩ, truyện cổ Xê Đăng luôn luôn hướng con người về những điều thiện, phản đối, phê phán gay gắt những hành động độc ác, tàn bạo. Sự mưu trí, dũng cảm, lòng thật thà và đức tính chăm chỉ luôn luôn được ngợi ca. Nhân nghĩa luôn luôn chiến thắng bạo tàn, chính nghĩa luôn luôn chiến thắng các thế lực và hành vi độc ác… (nàng Bơ ra, ốc được cuộc, chàng mồ côi và con kiến, con thỏ mưu trí…).
Ở xã hội Xê Đăng trước kia, xung đột giữa các bộ lạc, các nhóm, các ngành luôn luôn diễn ra và thường dẫn đến những cuộc chém giết đẫm máu. Nhiều làng buôn bị tiêu diệt hoàn toàn, biết bao trẻ em bị bắt làm nô lệ, trở thành kẻ mồ côi; rẫy lúa, vườn tược, làng buôn bị đốt phá trơ trụi. Những tục lệ xấu xa còn rơi rớt lại những năm trước Cách mạng Tháng Tám như tục “săn đầu người”, “trả nợ máu” là vết tích của sự thù hằn, nghi kỵ xưa cũ. Người Xê Đăng chân thật, luôn luôn ước mơ có cuộc sống hòa thuận giữa các xóm làng. Khát vọng chân chính ấy đã được phản ánh trong các truyện cổ “đoàn kết là sức mạnh”, chặt cây Luông Pling, nguồn gốc loài người, nguồn gốc các dân tộc, theo chân con rùa nhân nghĩa…)
Truyện cổ Xê Đăng cũng phản ánh những truyền thống văn hóa quý báu của một dân tộc sống lâu đời trên mảnh đất cực bắc của vùng Tây Nguyên anh dũng và bất khuất.
Ở hầu hết các truyện nói về nguồn gốc dân tộc, sự tích các núi non, sông ngòi, nghề nghiệp… đều mang những đặc điểm về tự nhiên, về dân tộc rất rõ rệt. Ví dụ các truyện: người khổng lồ, vì sao đất Tây Nguyên màu đỏ, nguồn gốc nghề rèn, chặt cây Luông Pling vừa nói về “một gốc nhiều cành” của dân tộc Xê Đăng vừa nói lên những đặc trưng sinh hoạt kinh tế - văn hóa của các nhóm người địa phương: nhóm Xê Teng ở vùng cao, núi đá nhiều, chỉ biết làm rẫy; nhóm T’đra biết nghề rèn; nhóm M’nam quen nghề làm ruộng nước bằng cách cho trâu quần, giẫm…
Truyện Ai Poọc Thây mang nhiều hình ảnh của vùng đất Xê Đăng hiểm trở (núi cao, rừng rậm, hổ báo nhiều) ca ngợi tinh thần dũng cảm của Ai Poọc Thây, chàng dũng sĩ, nhưng đồng thời cũng nói nhiều về các phong tục tập quán riêng biệt của người Xê Đăng.
Truyện chàng Gôk và cô gái hủi nói về một trong những đặc điểm của khí hậu Tây Nguyên là khô, thiếu nước, đồng thời cũng nói tới những biện pháp làm thủy lợi, tìm nguồn nước cổ truyền của người Xê Đăng, những quan niệm về sự sụt đất, cây đổ, đá xô và nhiều tập quán phong tục xung quanh vấn đề này.
Truyện trống ước kể về một thời kỳ rất xa của xã hội người Xê Đăng: nghèo đói triền miên, có khi phải đem cả con đi bỏ vào rừng. Nhưng truyện này cũng nói nhiều tới những phong tục như tục về nhà mới, tục cưới vợ và phần nào cả cách cấu trúc của các buôn làng Xê Đăng (rời rạc, lẻ tẻ…).
Về nghệ thuật của truyện cổ Xê Đăng, điều ghi nhận đầu tiên có lẽ là khung cảnh và phong cách kể. Ở phần trên, chúng tôi đã nói khái quát về một đêm hơ mon, đó là một trong những đặc điểm tiêu biểu của cách kể chuyện Xê Đăng nói riêng và Tây Nguyên nói chung.
Ở các truyện cổ Xê Đăng, không kể là ngắn hay dài đều toát lên một phong cách “rất Tây Nguyên”. Nghe kể chuyện Xê Đăng, chúng ta như được sống giữa vùng rừng núi hiểm trở, đầy thú dữ, với những tiếng suối thác đổ ào ào, gió ngàn lay động, tiếng chiêng ngân, những buôn làng lúp xúp, ẩn hiện mé rừng xanh bên một con suối đẹp, với mái nhà rông vút cao sừng sững, những rẫy lúa chín vàng, những giàn bầu bí sai quả, những đàn voi đi tìm bãi ăn, những chú hươu ngơ ngác và bầy khỉ tinh nghịch… Trong óc ta hiện lên những lò rèn cổ sơ đêm ngày đỏ lửa, những cách làm ăn xa xưa của một thời kỳ đã lùi vào dĩ vãng, với những bà già hiền hậu, những em bé mồ côi, những dũng sĩ vạm vỡ, dũng mãnh tài ba…
Truyện cổ Xê Đăng xuất hiện trong thực tế đời sống khắc nghiệt và khó khăn của vùng cực bắc Tây Nguyên. Trải qua bao đời, vốn văn nghệ dân gian này ngày càng phong phú và lưu truyền rộng rãi trong nhân dân.
Trong quá trình sưu tầm, biên soạn cuốn truyện cổ này, chúng tôi đã được sự giúp đỡ tận tình của các cơ quan lãnh đạo Đảng và chính quyền ở tỉnh Gia Lai – Kon Tum và bà con dân tộc Xê Đăng tại địa phương. Mặt khác, chúng tôi cũng có tham khảo những tập truyện cổ các dân tộc miền núi đã được xuất bản để bổ sung thêm cho tập sách được đầy đủ.
Mặt dù đã có nhiều cố gắng, tập sách này chắc chắn vẫn không khỏi có nhiều thiếu sót. Chúng tôi chân thành mong nhận được nhiều ý kiến phê bình của bạn đọc.
Hà Nội, 1979
Người biên soạn
(1). Sinh hoạt kể khan của dân tộc Ê Đê (như Đăm Xăm, Xing Nhã, Đăm Di…) rất độc đáo. Người ta kể rằng khan Ê Đê được kể trong nhà làng, người kể chuyện ngồi trên sạp kê cạnh bếp lửa sáng và người nghe vây quanh ba phía. Người kể lúc ngâm lúc đọ, khi vui lúc buồn. Và buổi tối dân làng ngồi nghe khan như thế nào, buổi sáng vẫn thấy họ ngồi đúng như vậy.
Ngô Vĩnh Bình – Sưu tầm, biên soạn
Nhà xuất bản Văn hóa – Hà Nội 1981
Vài nét về người Xê Đăng
Và nguồn gốc truyện kể của họ
Người Xê Đăng (còn có tên gọi khác là Sê Lăng, Hăng Đra, Xê Đăk, Thượng…) sống đông đảo ở cực bắc cao nguyên Trung bộ. Theo thống kê gần đây số dân Xê Đăng cư trú ở Tây Nguyên khoảng 80.000 người. Đây là một dân tộc có dân số vào loại đông nhất ở khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên.
Địa bàn cư trú của người Xê Đăng bao gồm cả một vùng rộng lớn gồm phần bắc tỉnh Gia Lai – Kon Tum mà trung tâm là vùng đông, bắc và nam quần sơn Ngọc Linh; vùng này là nơi phát nguyên của nhiều dòng sông lớn như Krông Pô-cô, sông Đăc Bla, sông Vệ, sông Trà…
Nhìn chung, đây là vùng núi non trùng điệp, hiểm trở, là “mái nhà của Tây Nguyên” với đỉnh là ngọn Ngọc Linh cao 2.598m. Độ dốc trung bình của vùng này là 25o, phát triển trên đá granit, gơnai. Ở đây mưa nhiều, nắng lắm, thảm thực vật còn được bảo vệ khá tốt. Đặc sản của vùng này là sâm, quế, thông ba lá, chè và nhiều loại lâm thổ sản quý giá khác. Động vật vùng Xê Đăng cũng còn nhiều. Theo các nhà sinh vật học cho biết thì ở đây còn khá nhiều loại động vật quý như voi, gấu, ngựa, chồn bay, sóc bay, đại bàng, thiên nga, cầy hương, chuột túi, tắc kè… Những động vật quý này sinh sống nhiều nhất ở vùng quần sơn Ngọc Linh và những vạt rừng le dọc hai bờ sông Sa Thầy.
Đất đai sản xuất nông nghiệp ở vùng này rất ít, độ phì nhiêu so với vùng nam Tây Nguyên (Pleiku, Cheo Reo, Đắk Lắk, Lâm Đồng….) kém hơn nhiều. Đồng bào các dân tộc ở đây phải lợi dụng các thung lũng, nơi hợp thủy nhỏ hẹp để cư trú và trồng trọt.
Vùng Xê Đăng có nhiều cảnh đẹp khá nổi tiếng như các tầng đá hoa cương núi Ngọc Linh, thác Yaly, các cảnh sắc ngoạn mục ở Đắk Lắk, Đắk Tô, Kon Tum, Biển Hồ.
Núi Ngọc Linh còn có tên gọi là hòn Ngọc Ang, cao nhất Tây Nguyên, nhìn ra ba tỉnh: phía bắc – Quảng Nam Đà Nẵng, phía đông – Nghĩa Bình; phía nam – Gia Lai Kon Tum. Sườn phía tây ngó sang Lào và Campuchia. Ngọc Linh bốn mùa sương phủ, dốc dựng thang mây. Nơi đây là xứ sở của loại sâm Ngọc Linh rất quý và các dược liệu quý giá khác như hà thủ ô, quế. Theo lời kể của đồng bào quanh vùng thì trên núi này còn có loài dã nhân – một loài vượn người – sinh sống. Đồng bào địa phương còn cho biết nơi đây là quê hương cổ xưa nhất của các dân tộc Tây Nguyên, nơi đã cứu con người thoát khỏi nạn hồng thủy. Ký ức của bà con dân tộc còn giữ mãi những ngày sôi nổi chống giặc thời kỳ phong trào Săm Căm (1933 – 1937), phong trào Cần vương chống Pháp, phong trào đấu tranh chống Mỹ - Ngụy trước ngày giải phóng miền Nam.
Thác Yaly nằm trên một nhánh của sôn Pô Cô, giữa vùng rừng núi Sa Thầy rộng lớn, đầy cây rậm rạp và thú quý. Thác dài trên 3km, cao hàng trăm mét, chảy ầm ầm suốt ngày đêm, xung quanh là những đỉnh núi nhấp nhô, những dòng suối kỳ vĩ, những cây rừng cổ thụ, các chim thú lạ. Và, xa hơn, là những buôn làng, những nương lúa, vườn cây vàng tươi trái quả. Khả năng thủy điện của thác Yaly khá lớn. Ngày nay, nguồn điện từ nơi đây mang ánh sáng và năng lượng đến các vùng rừng núi Tây Nguyên ấm no, hạnh phúc.
Dân tộc Xê Đăng là một cộng đồng người bao gồm nhiều nhóm địa phương, có chung một tiếng nói, những đặc điểm về sinh hoạt kinh tế, văn hóa. Theo tài liệu mới nhất của các nhà dân tộc học cho biết thì dân tộc Xê Đăng gồm những nhóm, những ngành chính như sau:
1. Nhóm Xê Teng: (còn có tên gọi khác là Xê Đác, Hơ Đung, Ka Tang, Koi Lan, Rơ Teng, Kơ Mâng…) Nhóm này cư trú ở vùng rẻo cao huyện Trà My (tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng), Đắk Tô và phía bắc thị xã Kon Tum, trong đó đông nhất là huyện Đắk Tô (Gia Lai – Kon Tum). Nhóm này nổi tiếng giỏi về nghề săn bắn, thu hái lâm thổ sản, đặc biệt là các loại sâm quế…
2. Nhóm Tơ Đră: (còn có tên gọi khác là Hơ Đră, Téh-đa, Xrạ). Cư trú ở phía bắc và đông bắc thị xã Kon Tum, thuộc huyện Kon Plông và một phần huyện Trà Bồng (Nghĩa Bình). Đây là một nhóm khá đông, nổi tiếng với nghề tìm nấu quặng và rèn công cụ sản xuất.
3. Nhóm Mơ Nam: Cư trú ở huyện Kon Plông (Gia Lai – Kon Tum). Dân số ít hơn so với hai nhóm trên, và nổi tiếng về nghề làm ruộng nước bằng cách cho trâu quần, dẫm, với những biện pháp thủy lợi truyền thống nguyên thủy.
Ba nhóm này thường được coi là những nhóm “mẹ” hay nhóm “trung tâm” của cộng đồng dân tộc Xê Đăng. Họ có nhiều nét gần gụi với nhau hơn so với những nhóm khác. Trong kho tàng truyện dân gian Xê Đăng cũng đã chứng tỏ điều đó (xem truyện Chặt cây Luông Pling).
4. Nhóm Ka Dong: Nhóm này dân số vào loại đông nhất và cũng là nhóm có nhiều bộ phận, nhiều đặc điểm sinh hoạt riêng. Chính vì lẽ đó mà trước đây nhiều người vẫn cho họ là một dân tộc riêng.
Người Ka Dong sống ở ba địa điểm chính: vùng tây nam huyện Trà My (Quảng Nam – Đà Nẵng), vùng tây nam huyện Đắk Tô (tỉnh Gia Lai – Kon Tum) và vùng đông huyện Kon Plông (Gia Lai – Kon Tum) bao gồm cả bộ phận Ka Dong – Sơn Hà (Quảng Bình).
5. Nhóm Ha Lăng: Cũng như nhóm Ka Dong, nhóm Ha Lăng có dân số đông và do sống xa nhóm “mẹ” lâu ngày, cho nên họ mang nhiều đặc điểm riêng. Nhiều người cho rằng Ha Lăng là một dân tộc riêng biệt.
Người Ha Lăng cư trú ở huyện Đắk Tô và miền tây thị xã Kon Tum. Họ có những đặc điểm giống với người Ba Na…
Tóm lại, các dân tộc Xê Đăng bao gồm 5 nhóm chính, cư trú trên một địa bàn rộng lớn. Họ là láng giềng gần gụi với người Gié, người Triêng (ở phía tây bắc), người Cor (ở phía nam). Tuy có nhiều nhóm, nhiều ngành nhưng người Xê Đăng vẫn là một cộng đồng thống nhất về ý thức dân tộc, và trên những nét lớn, thống nhất về mặt ngôn ngữ, sinh hoạt kinh tế, văn hóa và xã hội. Trong quá trình lịch sử lâu dài, họ cũng có nhiều nét gần gụi với các dân tộc láng giềng khác.
Trải qua nhiều thế kỷ, người Xê Đăng đã biểu hiện một sức sống mãnh liệt. Cư trú trên một địa bàn hiểm trở, khắc nghiệt, họ đã phải liên tục, từ thế hệ này sang thế hệ khác, đấu tranh chống thiên nhiên, tồn tại phát triển và sáng tạo ra những sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần quý giá. Đó là những nhà rông mái cao chót vót, những cây kiếm, lưỡi cuốc, con dao, khố áo, những tấm chăn màu sắc rực rỡ, những phiến đàn đá, những ống đàn klông pút, đàn tơ rưng, những bộ chiêng cồng, và một kho tàng thần thoại, truyện cổ, những làn điệu dân ca phong phú, được diễn xướng nhiều trong các ngày vui của làng xóm như hội Các Pư rác (đâm trâu), hội Lang dak (sửa máng nước đón tết, mừng lúa)…
Kho tàng truyện cổ dân gian Xê Đăng rất giàu có, đa dạng, nó đã được nhiều thế hệ vun đắp, bổ sung, xứng đáng là bông hoa đẹp trong vườn hoa văn hóa văn nghệ Việt Nam nhiều hương sắc.
Truyện cổ Xê Đăng thường được kể qua những làn điệu quen thuộc gọi là hơ mon.
Sinh hoạt hơ mon trong dân tộc Xê Đăng khá độc đáo. Tuy chưa đạt tới mức độ nghệ thuật như sinh hoạt kể khan Ê Đê (1) nhưng khung cảnh của đêm hơ mon ở vùng Xê Đăng (cũng như ở vùng Ba Na) thật khó lòng quên được… Người Xê Đăng thường hơ mon vào ban đêm, nhất là những đêm hội, những đêm mùa màng đã thu hái xong, năm mới sắp sửa bắt đầu.
Những đêm ấy, dân làng tụ tập đông đảo bên bếp lửa của nhà làng (nhà rông, nhà gưl, nhà gơl, nhà ưng…) để nghe tài nhớ, tài kể. Người nghệ sĩ dân gian này ngồi ở vị trí trung tâm của đám đông và bắt đầu ngâm một điệu hát. Chung quanh im lặng lắng nghe. Giọng hơ mon lúc đều đều, lúc sôi nổi, lúc trầm ngâm… Người hơ mon có khi cười, khi tư lự, lúc giận dữ và có khi làm cả động tác biểu hiện hành động của một nhân vật trong truyện (bắn ná, múa khiên, chỉ tay, ôm ngực…). Có nơi, đồng bào còn dùng nhạc (chiêng, đàn) để họa cho người hơ mon nữa. Đêm hơ mon thường kéo dài, có khi là đến sáng, nhiều câu chuyện phải hơ mon liên tiếp nhiều đêm (như chuyện Đăm Tung Đăm Tía, chuyện Chặt cây Luông Pling…). Khung cảnh của đêm sinh hoạt hơ mon có thể coi là một trong những sinh hoạt nhà sàn như nhiều nhà dân tộc thường nói tới.
Thông thường, người ta hơ mon vào những đêm lễ hội sau mùa thu hái (lễ đâm trâu, sửa máng nước, đón năm mới, mừng lúa về, lên nhà mới…) nhưng cũng có khi hơ mon được tổ chức vào những dịp cưới xin hay ngày lễ bỏ mả… Nhiều trường hợp, quy mô của đêm hơ mon nhỏ hơn. Đó là những buổi hơ mon ở nhà riêng của từng gia đình. Những đêm hơ mon này có ít người nghe, thường chỉ là trẻ em và mấy bà, mấy bác hàng xóm láng giềng, chị con dâu, chàng con rể… Cũng có khi hơ mon là một sinh hoạt văn hóa hàng ngày như trường hợp ông hơ mon cho cháu nghe dưới gốc cây già, bên chòi cạnh rẫy, hay chồng hơ mon cho vợ nghe lúc vào rừng chặt củi, khi ngồi đan lát, rèn dũa…
Nội dung của các truyện cổ Xê Đăng phản ánh các hoạt động của con người, những quan niệm của họ về trời đất, cỏ cây, muông thú, nguồn gốc các dân tộc… (nguồn gốc loài người, vì sao đất Tây Nguyên màu đỏ, sự tích tiếng nói hay là vì sao người Xê Đăng, Ka Dong, Ha Lăng nói tiếng khác nhau, vũ trụ buổi ban đầu…).
Những truyện cổ nhằm giải thích về địa bàn dân cư hiện nay của các nhóm Xê Đăng, những đặc điểm trong sinh hoạt kinh tế, văn hóa của từng nhóm đó. (Chặt cây Luông Pling, nguồn gốc nghề rèn, chàng mồ côi và con rắn trắng, chàng Gok và cô gái hủi, trống ước, Ai Poọc Thây…)
Trong truyện cổ Xê Đăng (cũng như truyện của nhiều dân tộc khác) có nhiều truyện kể về đứa trẻ mồ côi, bà cháu nghèo. Những chàng trai giỏi làm rẫy, giỏi đánh đàn, thổi sáo, có thân hình vạm vỡ, gan dạ và giàu lòng yêu quê hương… phần đông xuất thân từ những “đứa trẻ mồ côi”, bố mẹ bị chết đói hay chết trong những cuộc chiến tranh bộ lạc xa xưa, ở với người bà nghèo khó trong một túp lều rách nát cuối rừng… (chàng mồ côi và con rắng trắng, Rok và Sét…). Hình tượng người dũng sĩ trong chuyện cổ Xê Đăng được xây dựng bởi lòng mong mỏi, khâm phục, ước mơ của những nghệ nhân dân gian.
Cũng với hình tượng người dũng sĩ, truyện cổ Xê Đăng luôn luôn hướng con người về những điều thiện, phản đối, phê phán gay gắt những hành động độc ác, tàn bạo. Sự mưu trí, dũng cảm, lòng thật thà và đức tính chăm chỉ luôn luôn được ngợi ca. Nhân nghĩa luôn luôn chiến thắng bạo tàn, chính nghĩa luôn luôn chiến thắng các thế lực và hành vi độc ác… (nàng Bơ ra, ốc được cuộc, chàng mồ côi và con kiến, con thỏ mưu trí…).
Ở xã hội Xê Đăng trước kia, xung đột giữa các bộ lạc, các nhóm, các ngành luôn luôn diễn ra và thường dẫn đến những cuộc chém giết đẫm máu. Nhiều làng buôn bị tiêu diệt hoàn toàn, biết bao trẻ em bị bắt làm nô lệ, trở thành kẻ mồ côi; rẫy lúa, vườn tược, làng buôn bị đốt phá trơ trụi. Những tục lệ xấu xa còn rơi rớt lại những năm trước Cách mạng Tháng Tám như tục “săn đầu người”, “trả nợ máu” là vết tích của sự thù hằn, nghi kỵ xưa cũ. Người Xê Đăng chân thật, luôn luôn ước mơ có cuộc sống hòa thuận giữa các xóm làng. Khát vọng chân chính ấy đã được phản ánh trong các truyện cổ “đoàn kết là sức mạnh”, chặt cây Luông Pling, nguồn gốc loài người, nguồn gốc các dân tộc, theo chân con rùa nhân nghĩa…)
Truyện cổ Xê Đăng cũng phản ánh những truyền thống văn hóa quý báu của một dân tộc sống lâu đời trên mảnh đất cực bắc của vùng Tây Nguyên anh dũng và bất khuất.
Ở hầu hết các truyện nói về nguồn gốc dân tộc, sự tích các núi non, sông ngòi, nghề nghiệp… đều mang những đặc điểm về tự nhiên, về dân tộc rất rõ rệt. Ví dụ các truyện: người khổng lồ, vì sao đất Tây Nguyên màu đỏ, nguồn gốc nghề rèn, chặt cây Luông Pling vừa nói về “một gốc nhiều cành” của dân tộc Xê Đăng vừa nói lên những đặc trưng sinh hoạt kinh tế - văn hóa của các nhóm người địa phương: nhóm Xê Teng ở vùng cao, núi đá nhiều, chỉ biết làm rẫy; nhóm T’đra biết nghề rèn; nhóm M’nam quen nghề làm ruộng nước bằng cách cho trâu quần, giẫm…
Truyện Ai Poọc Thây mang nhiều hình ảnh của vùng đất Xê Đăng hiểm trở (núi cao, rừng rậm, hổ báo nhiều) ca ngợi tinh thần dũng cảm của Ai Poọc Thây, chàng dũng sĩ, nhưng đồng thời cũng nói nhiều về các phong tục tập quán riêng biệt của người Xê Đăng.
Truyện chàng Gôk và cô gái hủi nói về một trong những đặc điểm của khí hậu Tây Nguyên là khô, thiếu nước, đồng thời cũng nói tới những biện pháp làm thủy lợi, tìm nguồn nước cổ truyền của người Xê Đăng, những quan niệm về sự sụt đất, cây đổ, đá xô và nhiều tập quán phong tục xung quanh vấn đề này.
Truyện trống ước kể về một thời kỳ rất xa của xã hội người Xê Đăng: nghèo đói triền miên, có khi phải đem cả con đi bỏ vào rừng. Nhưng truyện này cũng nói nhiều tới những phong tục như tục về nhà mới, tục cưới vợ và phần nào cả cách cấu trúc của các buôn làng Xê Đăng (rời rạc, lẻ tẻ…).
Về nghệ thuật của truyện cổ Xê Đăng, điều ghi nhận đầu tiên có lẽ là khung cảnh và phong cách kể. Ở phần trên, chúng tôi đã nói khái quát về một đêm hơ mon, đó là một trong những đặc điểm tiêu biểu của cách kể chuyện Xê Đăng nói riêng và Tây Nguyên nói chung.
Ở các truyện cổ Xê Đăng, không kể là ngắn hay dài đều toát lên một phong cách “rất Tây Nguyên”. Nghe kể chuyện Xê Đăng, chúng ta như được sống giữa vùng rừng núi hiểm trở, đầy thú dữ, với những tiếng suối thác đổ ào ào, gió ngàn lay động, tiếng chiêng ngân, những buôn làng lúp xúp, ẩn hiện mé rừng xanh bên một con suối đẹp, với mái nhà rông vút cao sừng sững, những rẫy lúa chín vàng, những giàn bầu bí sai quả, những đàn voi đi tìm bãi ăn, những chú hươu ngơ ngác và bầy khỉ tinh nghịch… Trong óc ta hiện lên những lò rèn cổ sơ đêm ngày đỏ lửa, những cách làm ăn xa xưa của một thời kỳ đã lùi vào dĩ vãng, với những bà già hiền hậu, những em bé mồ côi, những dũng sĩ vạm vỡ, dũng mãnh tài ba…
Truyện cổ Xê Đăng xuất hiện trong thực tế đời sống khắc nghiệt và khó khăn của vùng cực bắc Tây Nguyên. Trải qua bao đời, vốn văn nghệ dân gian này ngày càng phong phú và lưu truyền rộng rãi trong nhân dân.
Trong quá trình sưu tầm, biên soạn cuốn truyện cổ này, chúng tôi đã được sự giúp đỡ tận tình của các cơ quan lãnh đạo Đảng và chính quyền ở tỉnh Gia Lai – Kon Tum và bà con dân tộc Xê Đăng tại địa phương. Mặt khác, chúng tôi cũng có tham khảo những tập truyện cổ các dân tộc miền núi đã được xuất bản để bổ sung thêm cho tập sách được đầy đủ.
Mặt dù đã có nhiều cố gắng, tập sách này chắc chắn vẫn không khỏi có nhiều thiếu sót. Chúng tôi chân thành mong nhận được nhiều ý kiến phê bình của bạn đọc.
Hà Nội, 1979
Người biên soạn
(1). Sinh hoạt kể khan của dân tộc Ê Đê (như Đăm Xăm, Xing Nhã, Đăm Di…) rất độc đáo. Người ta kể rằng khan Ê Đê được kể trong nhà làng, người kể chuyện ngồi trên sạp kê cạnh bếp lửa sáng và người nghe vây quanh ba phía. Người kể lúc ngâm lúc đọ, khi vui lúc buồn. Và buổi tối dân làng ngồi nghe khan như thế nào, buổi sáng vẫn thấy họ ngồi đúng như vậy.