📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Truyện cổ Xê Đăng

4 trả lời, 2.087 lượt xem — Trang 1 / 1
TRUYỆN CỔ XÊ ĐĂNG
Ngô Vĩnh Bình – Sưu tầm, biên soạn
Nhà xuất bản Văn hóa – Hà Nội 1981
 
Vài nét về người Xê Đăng
Và nguồn gốc truyện kể của họ
 
Người Xê Đăng (còn có tên gọi khác là Sê Lăng, Hăng Đra, Xê Đăk, Thượng…) sống đông đảo ở cực bắc cao nguyên Trung bộ. Theo thống kê gần đây số dân Xê Đăng cư trú ở Tây Nguyên khoảng 80.000 người. Đây là một dân tộc có dân số vào loại đông nhất ở khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên.
Địa bàn cư trú của người Xê Đăng bao gồm cả một vùng rộng lớn gồm phần bắc tỉnh Gia Lai – Kon Tum mà trung tâm là vùng đông, bắc và nam quần sơn Ngọc Linh; vùng này là nơi phát nguyên của nhiều dòng sông lớn như Krông Pô-cô, sông Đăc Bla, sông Vệ, sông Trà…
Nhìn chung, đây là vùng núi non trùng điệp, hiểm trở, là “mái nhà của Tây Nguyên” với đỉnh là ngọn Ngọc Linh cao 2.598m. Độ dốc trung bình của vùng này là 25o, phát triển trên đá granit, gơnai. Ở đây mưa nhiều, nắng lắm, thảm thực vật còn được bảo vệ khá tốt. Đặc sản của vùng này là sâm, quế, thông ba lá, chè và nhiều loại lâm thổ sản quý giá khác. Động vật vùng Xê Đăng cũng còn nhiều. Theo các nhà sinh vật học cho biết thì ở đây còn khá nhiều loại động vật quý như voi, gấu, ngựa, chồn bay, sóc bay, đại bàng, thiên nga, cầy hương, chuột túi, tắc kè… Những động vật quý này sinh sống nhiều nhất ở vùng quần sơn Ngọc Linh và những vạt rừng le dọc hai bờ sông Sa Thầy.
Đất đai sản xuất nông nghiệp ở vùng này rất ít, độ phì nhiêu so với vùng nam Tây Nguyên (Pleiku, Cheo Reo, Đắk Lắk, Lâm Đồng….) kém hơn nhiều. Đồng bào các dân tộc ở đây phải lợi dụng các thung lũng, nơi hợp thủy nhỏ hẹp để cư trú và trồng trọt.
Vùng Xê Đăng có nhiều cảnh đẹp khá nổi tiếng như các tầng đá hoa cương núi Ngọc Linh, thác Yaly, các cảnh sắc ngoạn mục ở Đắk Lắk, Đắk Tô, Kon Tum, Biển Hồ.
Núi Ngọc Linh còn có tên gọi là hòn Ngọc Ang, cao nhất Tây Nguyên, nhìn ra ba tỉnh: phía bắc – Quảng Nam Đà Nẵng, phía đông – Nghĩa Bình; phía nam – Gia Lai Kon Tum. Sườn phía tây ngó sang Lào và Campuchia. Ngọc Linh bốn mùa sương phủ, dốc dựng thang mây. Nơi đây là xứ sở của loại sâm Ngọc Linh rất quý và các dược liệu quý giá khác như hà thủ ô, quế. Theo lời kể của đồng bào quanh vùng thì trên núi này còn có loài dã nhân – một loài vượn người – sinh sống. Đồng bào địa phương còn cho biết nơi đây là quê hương cổ xưa nhất của các dân tộc Tây Nguyên, nơi đã cứu con người thoát khỏi nạn hồng thủy. Ký ức của bà con dân tộc còn giữ mãi những ngày sôi nổi chống giặc thời kỳ phong trào Săm Căm (1933 – 1937), phong trào Cần vương chống Pháp, phong trào đấu tranh chống Mỹ - Ngụy trước ngày giải phóng miền Nam.
Thác Yaly nằm trên một nhánh của sôn Pô Cô, giữa vùng rừng núi Sa Thầy rộng lớn, đầy cây rậm rạp và thú quý. Thác dài trên 3km, cao hàng trăm mét, chảy ầm ầm suốt ngày đêm, xung quanh là những đỉnh núi nhấp nhô, những dòng suối kỳ vĩ, những cây rừng cổ thụ, các chim thú lạ. Và, xa hơn, là những buôn làng, những nương lúa, vườn cây vàng tươi trái quả. Khả năng thủy điện của thác Yaly khá lớn. Ngày nay, nguồn điện từ nơi đây mang ánh sáng và năng lượng đến các vùng rừng núi Tây Nguyên ấm no, hạnh phúc.
Dân tộc Xê Đăng là một cộng đồng người bao gồm nhiều nhóm địa phương, có chung một tiếng nói, những đặc điểm về sinh hoạt kinh tế, văn hóa. Theo tài liệu mới nhất của các nhà dân tộc học cho biết thì dân tộc Xê Đăng gồm những nhóm, những ngành chính như sau:
1. Nhóm Xê Teng: (còn có tên gọi khác là Xê Đác, Hơ Đung, Ka Tang, Koi Lan, Rơ Teng, Kơ Mâng…) Nhóm này cư trú ở vùng rẻo cao huyện Trà My (tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng), Đắk Tô và phía bắc thị xã Kon Tum, trong đó đông nhất là huyện Đắk Tô (Gia Lai – Kon Tum). Nhóm này nổi tiếng giỏi về nghề săn bắn, thu hái lâm thổ sản, đặc biệt là các loại sâm quế…
2. Nhóm Tơ Đră: (còn có tên gọi khác là Hơ Đră, Téh-đa, Xrạ). Cư trú ở phía bắc và đông bắc thị xã Kon Tum, thuộc huyện Kon Plông và một phần huyện Trà Bồng (Nghĩa Bình). Đây là một nhóm khá đông, nổi tiếng với nghề tìm nấu quặng và rèn công cụ sản xuất.
3. Nhóm Mơ Nam: Cư trú ở huyện Kon Plông (Gia Lai – Kon Tum). Dân số ít hơn so với hai nhóm trên, và nổi tiếng về nghề làm ruộng nước bằng cách cho trâu quần, dẫm, với những biện pháp thủy lợi truyền thống nguyên thủy.
Ba nhóm này thường được coi là những nhóm “mẹ” hay nhóm “trung tâm” của cộng đồng dân tộc Xê Đăng. Họ có nhiều nét gần gụi với nhau hơn so với những nhóm khác. Trong kho tàng truyện dân gian Xê Đăng cũng đã chứng tỏ điều đó (xem truyện Chặt cây Luông Pling).
4. Nhóm Ka Dong: Nhóm này dân số vào loại đông nhất và cũng là nhóm có nhiều bộ phận, nhiều đặc điểm sinh hoạt riêng. Chính vì lẽ đó mà trước đây nhiều người vẫn cho họ là một dân tộc riêng.
Người Ka Dong sống ở ba địa điểm chính: vùng tây nam huyện Trà My (Quảng Nam – Đà Nẵng), vùng tây nam huyện Đắk Tô (tỉnh Gia Lai – Kon Tum) và vùng đông huyện Kon Plông (Gia Lai – Kon Tum) bao gồm cả bộ phận Ka Dong – Sơn Hà (Quảng Bình).
5. Nhóm Ha Lăng: Cũng như nhóm Ka Dong, nhóm Ha Lăng có dân số đông và do sống xa nhóm “mẹ” lâu ngày, cho nên họ mang nhiều đặc điểm riêng. Nhiều người cho rằng Ha Lăng là một dân tộc riêng biệt.
Người Ha Lăng cư trú ở huyện Đắk Tô và miền tây thị xã Kon Tum. Họ có những đặc điểm giống với người Ba Na…
Tóm lại, các dân tộc Xê Đăng bao gồm 5 nhóm chính, cư trú trên một địa bàn rộng lớn. Họ là láng giềng gần gụi với người Gié, người Triêng (ở phía tây bắc), người Cor (ở phía nam). Tuy có nhiều nhóm, nhiều ngành nhưng người Xê Đăng vẫn là một cộng đồng thống nhất về ý thức dân tộc, và trên những nét lớn, thống nhất về mặt ngôn ngữ, sinh hoạt kinh tế, văn hóa và xã hội. Trong quá trình lịch sử lâu dài, họ cũng có nhiều nét gần gụi với các dân tộc láng giềng khác.
Trải qua nhiều thế kỷ, người Xê Đăng đã biểu hiện một sức sống mãnh liệt. Cư trú trên một địa bàn hiểm trở, khắc nghiệt, họ đã phải liên tục, từ thế hệ này sang thế hệ khác, đấu tranh chống thiên nhiên, tồn tại phát triển và sáng tạo ra những sản phẩm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần quý giá. Đó là những nhà rông mái cao chót vót, những cây kiếm, lưỡi cuốc, con dao, khố áo, những tấm chăn màu sắc rực rỡ, những phiến đàn đá, những ống đàn klông pút, đàn tơ rưng, những bộ chiêng cồng, và một kho tàng thần thoại, truyện cổ, những làn điệu dân ca phong phú, được diễn xướng nhiều trong các ngày vui của làng xóm như hội Các Pư rác (đâm trâu), hội Lang dak (sửa máng nước đón tết, mừng lúa)…
Kho tàng truyện cổ dân gian Xê Đăng rất giàu có, đa dạng, nó đã được nhiều thế hệ vun đắp, bổ sung, xứng đáng là bông hoa đẹp trong vườn hoa văn hóa văn nghệ Việt Nam nhiều hương sắc.
Truyện cổ Xê Đăng thường được kể qua những làn điệu quen thuộc gọi là hơ mon.
Sinh hoạt hơ mon trong dân tộc Xê Đăng khá độc đáo. Tuy chưa đạt tới mức độ nghệ thuật như sinh hoạt kể khan Ê Đê (1) nhưng khung cảnh của đêm hơ mon ở vùng Xê Đăng (cũng như ở vùng Ba Na) thật khó lòng quên được… Người Xê Đăng thường hơ mon vào ban đêm, nhất là những đêm hội, những đêm mùa màng đã thu hái xong, năm mới sắp sửa bắt đầu.
Những đêm ấy, dân làng tụ tập đông đảo bên bếp lửa của nhà làng (nhà rông, nhà gưl, nhà gơl, nhà ưng…) để nghe tài nhớ, tài kể. Người nghệ sĩ dân gian này ngồi ở vị trí trung tâm của đám đông và bắt đầu ngâm một điệu hát. Chung quanh im lặng lắng nghe. Giọng hơ mon lúc đều đều, lúc sôi nổi, lúc trầm ngâm… Người hơ mon có khi cười, khi tư lự, lúc giận dữ và có khi làm cả động tác biểu hiện hành động của một nhân vật trong truyện (bắn ná, múa khiên, chỉ tay, ôm ngực…). Có nơi, đồng bào còn dùng nhạc (chiêng, đàn) để họa cho người hơ mon nữa. Đêm hơ mon thường kéo dài, có khi là đến sáng, nhiều câu chuyện phải hơ mon liên tiếp nhiều đêm (như chuyện Đăm Tung Đăm Tía, chuyện Chặt cây Luông Pling…). Khung cảnh của đêm sinh hoạt hơ mon có thể coi là một trong những sinh hoạt nhà sàn như nhiều nhà dân tộc thường nói tới.
Thông thường, người ta hơ mon vào những đêm lễ hội sau mùa thu hái (lễ đâm trâu, sửa máng nước, đón năm mới, mừng lúa về, lên nhà mới…) nhưng cũng có khi hơ mon được tổ chức vào những dịp cưới xin hay ngày lễ bỏ mả… Nhiều trường hợp, quy mô của đêm hơ mon nhỏ hơn. Đó là những buổi hơ mon ở nhà riêng của từng gia đình. Những đêm hơ mon này có ít người nghe, thường chỉ là trẻ em và mấy bà, mấy bác hàng xóm láng giềng, chị con dâu, chàng con rể… Cũng có khi hơ mon là một sinh hoạt văn hóa hàng ngày như trường hợp ông hơ mon cho cháu nghe dưới gốc cây già, bên chòi cạnh rẫy, hay chồng hơ mon cho vợ nghe lúc vào rừng chặt củi, khi ngồi đan lát, rèn dũa…
Nội dung của các truyện cổ Xê Đăng phản ánh các hoạt động của con người, những quan niệm của họ về trời đất, cỏ cây, muông thú, nguồn gốc các dân tộc… (nguồn gốc loài người, vì sao đất Tây Nguyên màu đỏ, sự tích tiếng nói hay là vì sao người Xê Đăng, Ka Dong, Ha Lăng nói tiếng khác nhau, vũ trụ buổi ban đầu…).
Những truyện cổ nhằm giải thích về địa bàn dân cư hiện nay của các nhóm Xê Đăng, những đặc điểm trong sinh hoạt kinh tế, văn hóa của từng nhóm đó. (Chặt cây Luông Pling, nguồn gốc nghề rèn, chàng mồ côi và con rắn trắng, chàng Gok và cô gái hủi, trống ước, Ai Poọc Thây…)
Trong truyện cổ Xê Đăng (cũng như truyện của nhiều dân tộc khác) có nhiều truyện kể về đứa trẻ mồ côi, bà cháu nghèo. Những chàng trai giỏi làm rẫy, giỏi đánh đàn, thổi sáo, có thân hình vạm vỡ, gan dạ và giàu lòng yêu quê hương… phần đông xuất thân từ những “đứa trẻ mồ côi”, bố mẹ bị chết đói hay chết trong những cuộc chiến tranh bộ lạc xa xưa, ở với người bà nghèo khó trong một túp lều rách nát cuối rừng… (chàng mồ côi và con rắng trắng, Rok và Sét…). Hình tượng người dũng sĩ trong chuyện cổ Xê Đăng được xây dựng bởi lòng mong mỏi, khâm phục, ước mơ của những nghệ nhân dân gian.
Cũng với hình tượng người dũng sĩ, truyện cổ Xê Đăng luôn luôn hướng con người về những điều thiện, phản đối, phê phán gay gắt những hành động độc ác, tàn bạo. Sự mưu trí, dũng cảm, lòng thật thà và đức tính chăm chỉ luôn luôn được ngợi ca. Nhân nghĩa luôn luôn chiến thắng bạo tàn, chính nghĩa luôn luôn chiến thắng các thế lực và hành vi độc ác… (nàng Bơ ra, ốc được cuộc, chàng mồ côi và con kiến, con thỏ mưu trí…).
Ở xã hội Xê Đăng trước kia, xung đột giữa các bộ lạc, các nhóm, các ngành luôn luôn diễn ra và thường dẫn đến những cuộc chém giết đẫm máu. Nhiều làng buôn bị tiêu diệt hoàn toàn, biết bao trẻ em bị bắt làm nô lệ, trở thành kẻ mồ côi; rẫy lúa, vườn tược, làng buôn bị đốt phá trơ trụi. Những tục lệ xấu xa còn rơi rớt lại những năm trước Cách mạng Tháng Tám như tục “săn đầu người”, “trả nợ máu” là vết tích của sự thù hằn, nghi kỵ xưa cũ. Người Xê Đăng chân thật, luôn luôn ước mơ có cuộc sống hòa thuận giữa các xóm làng. Khát vọng chân chính ấy đã được phản ánh trong các truyện cổ “đoàn kết là sức mạnh”, chặt cây Luông Pling, nguồn gốc loài người, nguồn gốc các dân tộc, theo chân con rùa nhân nghĩa…)
Truyện cổ Xê Đăng cũng phản ánh những truyền thống văn hóa quý báu của một dân tộc sống lâu đời trên mảnh đất cực bắc của vùng Tây Nguyên anh dũng và bất khuất.
Ở hầu hết các truyện nói về nguồn gốc dân tộc, sự tích các núi non, sông ngòi, nghề nghiệp… đều mang những đặc điểm về tự nhiên, về dân tộc rất rõ rệt. Ví dụ các truyện: người khổng lồ, vì sao đất Tây Nguyên màu đỏ, nguồn gốc nghề rèn, chặt cây Luông Pling vừa nói về “một gốc nhiều cành” của dân tộc Xê Đăng vừa nói lên những đặc trưng sinh hoạt kinh tế - văn hóa của các nhóm người địa phương: nhóm Xê Teng ở vùng cao, núi đá nhiều, chỉ biết làm rẫy; nhóm T’đra biết nghề rèn; nhóm M’nam quen nghề làm ruộng nước bằng cách cho trâu quần, giẫm…
Truyện Ai Poọc Thây mang nhiều hình ảnh của vùng đất Xê Đăng hiểm trở (núi cao, rừng rậm, hổ báo nhiều) ca ngợi tinh thần dũng cảm của Ai Poọc Thây, chàng dũng sĩ, nhưng đồng thời cũng nói nhiều về các phong tục tập quán riêng biệt của người Xê Đăng.
Truyện chàng Gôk và cô gái hủi nói về một trong những đặc điểm của khí hậu Tây Nguyên là khô, thiếu nước, đồng thời cũng nói tới những biện pháp làm thủy lợi, tìm nguồn nước cổ truyền của người Xê Đăng, những quan niệm về sự sụt đất, cây đổ, đá xô và nhiều tập quán phong tục xung quanh vấn đề này.
Truyện trống ước kể về một thời kỳ rất xa của xã hội người Xê Đăng: nghèo đói triền miên, có khi phải đem cả con đi bỏ vào rừng. Nhưng truyện này cũng nói nhiều tới những phong tục như tục về nhà mới, tục cưới vợ và phần nào cả cách cấu trúc của các buôn làng Xê Đăng (rời rạc, lẻ tẻ…).
Về nghệ thuật của truyện cổ Xê Đăng, điều ghi nhận đầu tiên có lẽ là khung cảnh và phong cách kể. Ở phần trên, chúng tôi đã nói khái quát về một đêm hơ mon, đó là một trong những đặc điểm tiêu biểu của cách kể chuyện Xê Đăng nói riêng và Tây Nguyên nói chung.
Ở các truyện cổ Xê Đăng, không kể là ngắn hay dài đều toát lên một phong cách “rất Tây Nguyên”. Nghe kể chuyện Xê Đăng, chúng ta như được sống giữa vùng rừng núi hiểm trở, đầy thú dữ, với những tiếng suối thác đổ ào ào, gió ngàn lay động, tiếng chiêng ngân, những buôn làng lúp xúp, ẩn hiện mé rừng xanh bên một con suối đẹp, với mái nhà rông vút cao sừng sững, những rẫy lúa chín vàng, những giàn bầu bí sai quả, những đàn voi đi tìm bãi ăn, những chú hươu ngơ ngác và bầy khỉ tinh nghịch… Trong óc ta hiện lên những lò rèn cổ sơ đêm ngày đỏ lửa, những cách làm ăn xa xưa của một thời kỳ đã lùi vào dĩ vãng, với những bà già hiền hậu, những em bé mồ côi, những dũng sĩ vạm vỡ, dũng mãnh tài ba…
Truyện cổ Xê Đăng xuất hiện trong thực tế đời sống khắc nghiệt và khó khăn của vùng cực bắc Tây Nguyên. Trải qua bao đời, vốn văn nghệ dân gian này ngày càng phong phú và lưu truyền rộng rãi trong nhân dân.
Trong quá trình sưu tầm, biên soạn cuốn truyện cổ này, chúng tôi đã được sự giúp đỡ tận tình của các cơ quan lãnh đạo Đảng và chính quyền ở tỉnh Gia Lai – Kon Tum và bà con dân tộc Xê Đăng tại địa phương. Mặt khác, chúng tôi cũng có tham khảo những tập truyện cổ các dân tộc miền núi đã được xuất bản để bổ sung thêm cho tập sách được đầy đủ.
Mặt dù đã có nhiều cố gắng, tập sách này chắc chắn vẫn không khỏi có nhiều thiếu sót. Chúng tôi chân thành mong nhận được nhiều ý kiến phê bình của bạn đọc.
Hà Nội, 1979
Người biên soạn
 
 
(1). Sinh hoạt kể khan của dân tộc Ê Đê (như Đăm Xăm, Xing Nhã, Đăm Di…) rất độc đáo. Người ta kể rằng khan Ê Đê được kể trong nhà làng, người kể chuyện ngồi trên sạp kê cạnh bếp lửa sáng và người nghe vây quanh ba phía. Người kể lúc ngâm lúc đọ, khi vui lúc buồn. Và buổi tối dân làng ngồi nghe khan như thế nào, buổi sáng vẫn thấy họ ngồi đúng như vậy.
Đăng nhập để trả lời
0
VŨ TRỤ THUỞ KHAI SINH (*)
 
Người khổng lồ
Thuở xưa ở vùng núi Ngọc Ang (1) có ông Rờ Xí, vóc người to lớn như trái núi. Ông Rờ Xí đã đi khắp thế gian này. Những chỗ ông qua nhiều lần, mặt đất trở nên lồi lõm và đó là các vùng núi bây giờ. Có một lần ông Rờ Xí ngồi nghỉ ăn trầu, rảnh rang mới lấy chân khua mặt đất, lập tức một vùng đồng bằng mênh mông hiện ra. Những dòng sông, dòng suối lớn là vết ngón tay ông Rờ Xí quờ tìm cái đánh lửa. Giá không có ông Rờ Xí thì bầu trời đã trũng xuống trùm sát mặt đất mất, bởi vì bầu trời là cái chăn lớn Giàng căng ra phơi. Ông Rờ Xí đã đứng cúi lưng để đỡ cho bầu trời khỏi chùng. Ông đứng lâu lắm. Một dấu chân hiện còn ở vùng Đắk Tam Lung (phía tây Trà My), còn dấu chân kia nghe nói ở mãi tận Quy Nhơn sát biển.
(*). Truyện này gồm một số mẩu ngắn, chúng tôi sưu tầm, tập hợp và đặt đầu đề. Tất cả các truyện đều ghi được ở vùng đồng bằng Ka Dong, Xê Teng dưới chân núi Ngọc Linh.
(1). Ngọc Ang (Ngọk Ang): tên địa phương của ngọn núi Ngọc Linh, ở tỉnh Gia Lai – Kon Tum, cao nhất Tây Nguyên (2.598m).
 
Con người
Loài người khi mới xuất hiện có hình vóc lạ lùng. Đó là những con người cao, to và chạy rất nhanh nhờ có hai đầu gối quay ra đằng sau. Với kiểu đầu gối này, người có thể đuổi kịp bất kỳ một loại thú rừng nào. Loài thú có nguy cơ bị diệt vong mới cùng nhau lên kiện Giàng. Giàng đành phải xoay đầu gối của người lại như ngày nay.
Lại nói, lúc đầu, vì có thể kiếm ăn rất dễ dàng nhờ hai đầu gối kỳ lạ nên loài người sinh sôi nhanh chóng. Cua và rắn là hai con vật người yêu thích đã hết sức giúp người kiếm ăn rồi mà vẫn không đủ. Chuối bảo: “Thế thì để ta nuôi cho!”… Thế là nhờ có thân chuối, củ chuối, hoa chuối, quả chuối mà loài người sống được. Và cũng chính vì chuối nuôi người nên người phải giống cha giống mẹ chuối: chuối ra buồng, chuối già chuối chết và người đẻ con, người già người cũng chết.
 
Lửa
Khi mới sinh, loài người chưa có lửa dùng, họ phải ăn sống nuốt tươi, khổ lắm. Lúc bấy giờ chỉ có loài chuột là giữ được lửa, nhưng nó giấu rất kín. Trời thương loài người mới sai ve đến xin hộ. Ve đến, chuột không cho, chuột lại bắt ve nhắm mắt lại mỗi khi nó đánh lửa. Vì có mắt ở nách nên ve vẫn dò biết được cách lấy lửa của chuột. Được ve bảo lại cách lấy lửa, từ đó người có lửa dùng, không phải chịu cảnh ăn sống nuốt tươi như trước nữa.
 
Cây lúa
Xưa kia lúa ở sâu dưới biển (Đek măng rúc). Vùng biển này đầy gió bão, không ai đến nổi, chỉ có loài vắt là sống được ở đấy vì chúng có cái vòi bám rất chắc vào các kẽ đá. Thấy con người đói khổ, không biết làm nhà cửa, gieo trồng gì, loài kiến thương lắm. Họ hàng kiến quyết định đi đến chỗ vắt xin hạt quý về cho người. Mới đầu vắt không chịu cho, kiến dỗ dành thế nào cũng không được, về sau kiến đành phải giả vờ nói là cho mượn, sẽ trả sau, vắt mới chịu.
Được kiến đem hạt lạ về cho, người mừng lắm. Họ đem các hạt ấy gieo thử trên đất ướt. Cây lúa mọc lên rất nhanh, cao to như cây Jri (cây đa). Mùa đến, cây lúa ra những trái to, dài như trái bí đao, tỏa hương thơm ngát. Người mừng lắm, rủ nhau chăng những sợi chỉ từ rẫy về kho rồi hú gọi vang rừng. Nghe tiếng hú của người, những trái lúa tự theo dây chỉ lũ lượt kéo nhau về đầy sân, đầy nhà. Thời ấy chỉ cần một vài hạt thôi cũng đủ để cả một plây (1) no đủ cả ngày. Vì rằng hạt lúa đập ra nhiều mảnh, mỗi mảnh nấu được đầy một nồi bung lớn. Loài người sung sướng lắm. Làng buôn đông vui, chiêng trống, hát hò vang động khắp cả núi rừng. Có một năm, theo tiếng hú, lúa trở về làng lũ lượt. Thấy lúa về, có một con chó tự nhiên sủa ầm ĩ làm những hạt lúa sợ hãi rơi xuống đất vỡ nát hết ra.
Từ đó, hạt lúa trở thành nhỏ như bây giờ, cây lúa cũng phải gieo trồng vất vả lắm mới có được. Lúa chín, nó không tự về nhà theo dây nữa. Nhưng cho đến nay, người Xê Đăng vẫn còn thói quen chăng dây qua suối cầu mong lúa về nhiều mỗi khi mùa gặt đến.
Loài vắt nhớ nợ xưa, vẫn cứ bám riết người đòi loại lúa quý. Người không trả được, chúng cứ cắn mãi, cắn hoài (2)
 
(1). Plây: (tiếng Xê Đăng, Ba Na) làng.
(2). Chuyện này ở vùng xã Đăk Tơ Can (Gia Lai – Kon Tum). Chúng tôi được ông A Đoan kể thêm một đoạn như sau: Vắt cứ bám người đói hút máu hoài. Một lần gặp vắt, người hỏi: “Đi đâu?”. Vắt trả lời: “Đi thăm người anh em…”. Người mời vắt uống rượu và bảo: “Thôi người anh em đừng cắn nhau nữa”. Rồi nướng gà, nấu cơm mời vắt ăn. Thấy người hút thuốc, vắt đòi xin. Người bảo: “Thuốc đắng, vắt ăn sẽ chết”. Vắt nằng nặc đòi hút, người cho. Vắt say thuốc, ngủ li bì. Người đắp mền cho vắt. Sáng hôm sau vắt bị chết. Từ đó, mỗi bận bị vắt cắn, người cứ bỏ thuốc lào vào y như rằng vắt bị chết.
 
Nhà
Ngày xưa, người với khỉ là bạn với nhau, nhưng khỉ thường ranh mãnh hơn. Khỉ chiếm hết các hang, lèn đẹp để ở, lại làm chòi trên cây cao nữa. Nó không dạy người cách làm nhà. Thời ấy có con rùa (con kom) cũng là bạn của khỉ, nhưng rất thương người. Rùa đứng cao lên và bảo: hãy lấy lá chuối, cành cây làm như người tôi này. Bốn cái chân làm cột, cái mai làm mái, cái đuôi làm cầu thang, và cái đầu làm cút (1). Người theo đó mà làm, quả nhiên có cái nhà đẹp trông y như con rùa. Lâu dần thành cái nhà sàn bây giờ.
 
(1). Cút (tiếng Xê Đăng): hình trang trí ở hai đầu nóc nhà vùng đồng bào các dân tộc Ba Na, Xê Đăng… ở Tây Nguyên. Cút thường làm theo hình sừng trâu, hình đầu chim…
 
Cây mía
Cây mía buổi ấy nhiều lắm. Mía mọc đầy núi Tây Nguyên, cây to và cao, bụi lớn như bụi lồ ô và không có bã, có sơ chi hết. Dóng mía dài, rỗng, bên trong đầy nước ngọt lịm. Có một lần lũ cồn đi ăn đêm đụng phải mía, mía gẫy, nước ngọt dính đầy mặt đầy đầu. Chúng giận mía lắm. Một buổi, chồn kéo cả họ hàng vào các làng lượm phoi nan đan gùi của người nhét vào ruột mía. Từ đó, mía có bã, ăn phải nhai (1).
 
(1). Ở vùng Ha Lăng (thị xã Kon Tum) thì kể rằng mía có sơ, bã là do mụ Jạ Cróa đem nhét bông vào.
 
Quả bầu đựng nước (*)
Thuở xưa, người Tây Nguyên sinh sống chủ yếu bằng quả bầu. Bầu bí mọc đầy rừng núi, nhất là bầu quả to tròn, ăn mát và thơm lắm. Về sau, có lũ chó sói đi kiếm mồi, vưới phải dây bầu nhiều, chúng tức lắm mới đái vào tất cả các quả. Từ đó bầu trở thành đắng không tài nào ăn nổi nữa. Người tiếc mới lấy về bỏ ruột lấy vỏ làm đồ đựng nước. Thế là bầu đắng vẫn mãi mãi ở bên người.
 
(*) Một loại bầu ruột đắng, vỏ dùng để đựng nước.
Đăng nhập để trả lời
0
VÌ SAO CÓ NHẬT THỰC NGUYỆT THỰC (*)
 
Người Xê Đăng gọi mặt trăng là khe hay khay và gọi mặt trời là mắt hai. Thuở xưa, mặt trời và mặt trăng đều sáng như nhau. Cả hai cùng tuôn những suối lửa xuống cao nguyên làm cho đất đai vùng này cháy đỏ lên. Thương loài người, Giàng mới lấy tro trát vào mặt trăng, và từ đó ánh sáng của mặt trăng mới dịu mát như bây giờ. Tương truyền rằng trên mặt trăng có cây loong giơ-ri (1) khổng lồ và bà Jạ Muk giã lúa dưới gốc cây đó. Ngày thường, trăng sáng và đẹp lắm. Mặt trời cũng vậy, tỏa sáng cho muôn loài, hoa lá cỏ cây.
Nhưng cũng có lúc mặt trăng, mặt trời bị tối đi, bị che lấp (2). Những lúc đó là do cá trầu (cô ca) – một con cá khổng lồ thường rong ruổi trên bầu trời, đớp mất. Cá trầu ăn mặt trăng sẽ xảy ra nguyệt thực. Và khi có nhật thực là lúc con thỏ trời sổng chuồng ra ăn mặt trời làm cho tất cả tối tăm. Người Xê Đăng có câu ngạn ngữ:
                        Cô ca kha khe
                        Kpẹ kha mắt hai
Nghĩa là:
                        Cá trầu ăn mặt trăng
                        Thỏ ăn mặt trời
Cá trầu ăn mặt trăng thì không sao cả - vì nó ăn rồi nó nhả ra ngay, còn khi con thỏ ăn mặt trời thì rất sợ. Trời sẽ tối tăm, rét mướt, heo gà kêu ầm ĩ.
Những lúc nhật thực hay nguyệt thực, người Xê Đăng thường hò nhau khua chiêng, gõ trống, giã cối không ầm ĩ. Họ bảo làm như vậy con cá và con thỏ sẽ phải nhả mặt trời, mặt trăng ra (3).
 
(*) Truyện này có nhiều dị bản. Ở một số địa phương khác của vùng Xê Đăng, chúng tôi còn thấy kể rằng sở dĩ có nhật thực, nguyệt thực là do có đôi trai gái ngủ với nhau trên mặt trăng hoặc mặt trời, kéo tấm mền làm che lấp ánh sáng. Có vùng lại kể rằng trên trời có Giàng coi giữ mặt trăng và mặt trời. Ban ngày, Giàng thả mặt trời, ban đêm Giàng thả mặt trăng. Có nhật thực, nguyệt thực là do tay của Giàng đôi khi che lấp
(1). Cây loong giơ-ri (cây đa). Cũng giống như quan niệm của người Kinh xưa, trên mặt trăng có cây đa, chú cuội.
(2). Tức là hiện tượng nhật thực, nguyệt thực.
(3). Tục đánh chiêng trống, giã cối không mỗi khi có nhật thực, nguyệt thực cũng thấy phổ biến ở vùng người Kinh đồng bằng Bắc bộ và nhiều nơi khác.
 
VÌ SAO ĐẤT TÂY NGUYÊN MÀU ĐỎ
Từ thuở ông, bà còn chưa sinh ra các giống người Xê Đăng, Ba Na, Hơ Rê, Gia Rai, Kinh… đất trời, rừng núi Tây Nguyên còn mịt mù, hỗn độn. Bão tố gầm thét suốt ngày đêm và sau đó vũ trụ hoang vắng, tiêu điều. Bỗng có một con rồng lửa từ đâu bay lại miền này. Con rồng vô cùng lớn, cái đuôi của nó còn ở vùng Ngọc Linh, quê người Xê Đăng, mà cái đầu nó đã đến vùng người Gia Rai. Toàn thân con rồng bằng lửa. Lửa rừng rực tỏa sáng khắp miền. Con rồng bay đến đâu là cỏ cây cháy rụi, đất đá bị nung nóng đến khô đỏ, các nguồn nước cạn kiệt. Sau cùng rồng lửa bị kiệt sức rơi xuống đất. Cả một vùng núi non, cây cỏ rung chuyển ầm ầm. Khắp vùng Xê Đăng, Ba Na, Gia Rai và mãi tới vùng Ê Đê, Mơ Nông xa xôi, đất đai, cây cỏ, muông thú bị đốt cháy trụi và hóa thành một thứ đất đỏ, xốp…
Bây giờ, cái đầu con rồng lửa kia vẫn còn, đó là hòn Hơ Đrung (núi Đầu Rồng) cạnh Biển Hồ trên cao nguyên Pleiku, còn thân nó chính là dòng sông Ba đêm ngày cuồn cuộn chạy dọc Tây Nguyên.
Theo A. Sơn
Xã Đắk Ui, Kon Tum
 
NGUỒN GỐC CÁC DÂN TỘC (*)
 
Thưở xưa, lâu lắm rồi, con người sống yên vui, hòa thuận lắm. Cuộc sống đang yên ổn thì có con kleng triu (chèo bẻo) và con klam hôông (quạ đen) gây sự cãi nhau. Chúng đánh nhau loạn xạ và cuối cùng thì quạ đen bị thua. Quạ đen tức lắm, nó bèn đi khắp các con suối, dòng sông đắp nước lại để nhờ nước giết chèo bẻo. Nước từ mọi chỗ đổ về, ứ tràn lên, rồi ngập hết. Tất cả ngọn cây, đỉnh núi đều bị nước phủ kín. Muôn vật, muôn loài đều chết hết. Mặt đất trở thành biển cả. Chỉ còn mỗi một ngọn núi Ngọc Linh là không bị ngập nước, và trên đó có hai chị em ruột một nhà nọ sống sót. Khi nước rút, thế gian trở nên hoang vắng, mờ mịt. Mặt đất là một vũng bùn khổng lồ, nhão ướt, cây cỏ không, muông thú không. Chẳng còn một thứ gì sót lại cả ngoài nắng và gió. Hai chị em kia buồn lắm, bèn rủ nhau đi xuống núi tìm người. Mỗi người đi một ngả, quanh co đến buổi trưa họ lại gặp nhau. Rồi họ lại đi xa, đi xa hơn, cố tìm hai ngả thật khác nhau, nhưng khi chiều tối họ vẫn gặp lại nhau. Cho là bởi Giàng xui khiến nên hai chị em bèn lấy nhau làm vợ làm chồng, cùng làm ăn, sinh sống, rồi sinh con đẻ cái đông đúng. Hai chị em đó trở thành tổ tiên của loài người chúng ta, người Xê Đăng gọi họ là Jạ và Bôk (bà và ông). Hai vợ chồng Jạ và Bôk dạy các con phát rẫy, làm nương, bắt cua, bắt ốc, tìm rau, đào củ kiếm ăn.
Một bữa Jạ và Bôk sai các con đi kiếm những thứ ngon thứ lạ về làm lễ cúng Giàng. Các con ra đi từ sáng sớm, đi theo nhiều ngả khác nhau. Người em út đi xa mãi xuống miền đồng bằng tìm cá, gạo, muối, lâu ngày quên đường về núi và ở luôn dưới đó. Anh ta lấy vợ đẻ con rồi làm nhà đất, cày ruộng, bắt cá, làm muối và trở thành người doan (1) bây giờ. Mấy người anh chạy theo bầy voi có những cặp ngà đẹp, mải kiếm mật ong, săn nai hoẵng nên đi vào sâu mãi trong núi đá cao, rừng thẳm. Người đi về phía nam là tổ tiên người Ê Đê, Gia Rai bây giờ; người lên phía bắc thành tổ tiên người Kơ Tu, người Kor, người Gié; người đi về phía đông, sau này sinh sản ra người Hơ Rê. Người anh cả vì thương cha, thương mẹ già không dám đi xa quá, con cháu họ bây giờ là người Xê Đăng…
Tất cả các dân tộc tuy sống ở mỗi vùng khác nhau nhưng đều là anh em, đều là con cháu của Jạ và Bôk cả.
 
(*) Truyện này nhiều nơi trong vùng Xê Đăng kể rằng: Sau nạn hồng thủy, trên một ngọn núi cao có người đàn bà và một con chó thoát chết. Họ lấy nhau và đẻ ra một người con trai. Một bữa, mẹ sai con mang cơm ra đồng cho cha. Tới rẫy, con không thấy cha mà chỉ thấy chó, bèn đập chết chó rồi trở về nhà và lấy mẹ. Sau đó họ sinh ra rất nhiều con. Người con cả ở lại với cha sau thành người Xê Đăng, người em út chạy xuống đồng bằng thành người Kinh, những người khác đi về các hướng và trở thành người Ê Đê, Gia Rai, Gié, Kor, Hrê, Kơ Tu… bây giờ.
(1). Người Kinh
 
VÌ SAO CÁC NHÓM KA DONG, XÊ TENG, MƠ NAM, TƠ ĐRẠ,
HA LĂNG… NÓI TIẾNG KHÁC NHAU
 
Từ ngày xa xưa, tất cả nhóm người vùng Xê Đăng đều nói chung một thứ tiếng, bởi họ đều là con cháu của Jạ và Bôk. Họ sống trong những thung lũng dọc các triền sông Pô Kô, Đắk Bla, Sa Thầy… Một ngày kia, ông bà Jạ Bôk làm hội đâm trâu rất lớn, ông bà mới sai các con vào rừng tìm cho được một cái cây thật to, thật cao để dựng cột buộc trâu. Ông bà Jạ Bôk sai các con đi kiếm tre, gỗ tốt để cất một cái nhà rông khổng lồ, nóc chạm trời.
Các con của Jạ Bôk đều hăm hở ngược suối, trèo non để làm xong công việc. Khi họ đang cất nhà rông thì bỗng nhiên có một cơn bão thật lớn đổ tới. Rừng núi gầm thét, bụi bay mù mịt. Nhà rông rung chuyển ngả nghiêng. Các con cháu của Jạ Bôk mới hò gọi nhau trong cơn bão.
Nhưng người ở trên nóc nhà nói xuống, người dưới đất không nghe rõ. Người dưới đất nói lên, người trên nóc cũng không nghe được. Sau đó, mỗi người đi mỗi ngả kiếm ăn. Người nói tiếng Ha Lăng hành người Ha Lăng, người nói tiếng Ka Dong thành người Ka Dong, người nói tiếng Xê Teng thành người Xê Teng, người Tơ Đrạ, người Mơ Nam bây giờ… Tuy nói tiếng khác nhau nhưng họ vẫn tự biết mình cùng chung một nguồn gốc, đều là con cháu của ông bà Jạ Bôk.
A Bria
Xã Mang Cánh, huyện Kon Plông kể
 
CHUYỆN MỤ JẠ CRÓA HAY LÀ SỰ TÍCH MỘT SỐ LOÀI CÂY (*)
 
Jạ Cróa là một mụ già xấu xí, lười nhác, không chồng, không con, chuyên đi gây chuyện phá quấy.
Xưa kia, trong rừng đầy quả mài. Quả mài leo đung đưa như bầu như bí khắp nơi, người ta chỉ việc mang gùi vô rừng hái lấy về ăn, không phải đào, phải bới. Do vậy, vùng người Xê Đăng thường ít khi bị đói cho dù Giàng có làm mất mùa rẫy lúa, nương mì. Nhưng có một năm, mụ Jạ Cróa vào rừng hái quả mài, quả mài nhiều quá, hái không xuể. Vốn tính lười, mụ ta vừa hái vừa chửi rủa. Sau cùng, mụ lại lấy đất vùi quả mài kín đi cho đỡ quả niều. Từ đấy quả mài không chịu mọc trên cành nữa, biến thành củ mài như bây giờ, nằm sâu dưới đất và người ta phải đào bới vất vả lắm mới kiếm được.
Lại một lần khác, mục Cróa được sai đi lấy quả bầu về ăn. Bầu dạo ấy sai lắm, tha hồ hái. Thấy bầu nhiều trái quá, mụ Jạ Cróa bực tức. Vì lười, sợ không hái hết, mụ bèn vạch vú vắt sữa vào tất cả các quả bầu còn non. Mụ vừa làm thế vừa chửi rủa cây cỏ rất tục tĩu. Từ đấy bầu trở thành bầu đắng không tài nào ăn được. Giống bầu ấy hiện nay người Xê Đăng chỉ lấy vỏ làm bầu đựng nước, còn ruột vì đắng nên phải vứt đi.
Cây mía trước kia mọc đầy rừng vùng người Xê Đăng. Thân cao, lóng dài, từng bụi lớn như bụi lồ ô, mỗi lóng bên trong chứa đầy nước ngọt tựa mật ong. Mụ Jạ Cróa đi làm rẫy, bẻ mía ăn, uống nhiều nước ngọt quá đầy ứ bụng nên mụ tức lắm. Mụ đi nhặt ruột quả bông gòn nhét vào tất cả các lông mía vốn rỗng và đầy nước mật. Từ đó loài mía cằn cỗi đi, lóng mía không đầy ứ nước nữa. Khi ăn mía, người ta phải nhai và nhả bã. Bã mía đó chính là bông gòn của mụ Jạ Cróa đã nhét vào lóng mía ngày xưa.
Củ nâu trên rừng cũng vậy, khi xưa ăn ngon lắm. Nâu màu trắng, bở và thơm phứa. Một lần mụ Jạ Cróa được sai đi đào mang về. Củ nâu to và nhiều quá, đào mãi không hết, mụ bèn nhổ nước trầu vào và luôn miệng chửi tục. Củ nâu từ đó có màu đỏ và không ăn được như trước nữa.
Giống chuối cũng vì mụ Jạ Cróa mà bị hỏng đi. Xưa ở vùng Xê Đăng nhiều chuối lắm. Chuối chặt buồng rồi, lại đâm buồng khác, quả rất sai. Một lần đi chặt chuối, mụ Jạ Cróa ngại quá. Chặt chuối xong, mụ lấy phân gà xoa vào và lại chửi tục. Từ đó chuối chỉ ra buồng có một lần, cây nào đã chặt buồng rồi là chết.
Và cây mây nữa. Trước kia mây dài và thẳng, không có đốt. Một lần, mụ Jạ Cróa đi lấy mây về buộc nhà, kéo chỉ buộc tất cả các ngọn mây lại. Từ đó mây không dài nữa, vết buộc của mụ Jạ Cróa làm cho mây có đốt như ngày nay.
 
(*) Truyện này chúng tôi ghi được rải rác ở các vùng Xê Đăng rất nhiều. Nhân vật Jạ Cróa là một nhân vật khá độc đáo trong thần thoại Xê Đăng. Hầu như các loại cây hiện nay thấy ở vùng này đều có bàn tay mụ gia công vào. Vùng Ba Na, vùng Gia Rai cũng có một nhân vật như tương tự. Ở đây chúng tôi chỉ trích một số truyện tiêu biểu ở vùng Xê Đăng như Đắk Lay, Sa Thầy, Trà My, Đắk Tô và Kon Tum.
 
TRÂU THIẾU RĂNG, NGỰA KHÔNG SỪNG
 
Ngày xửa ngày xưa các loài vật đông đúc hơn người rất nhiều. Chúng vui đùa suốt ngày với cỏ cây, rừng núi. Loài vật nào cũng muốn làm đẹp cho mình. Bấy giờ trâu rừng là một trong những loài vật lực lưỡng, đẹp đẽ nhất và được các loài khác kính nể. Thấy thế, trâu đâm ra kiêu ngạo. Nó chỉ thích nghe lời khen đẹp. Ai chê bai gì, trâu họp nhau lại đánh cho chừa.
Một bữa, có con ngựa hồng tuyệt đẹp từ đâu lại gặp trâu. Nó hết lời ca ngợi trâu, nào là thân hình cân đối, vóc dáng khỏe mạnh, nào là tai to, lưng rộng, da đen bóng tựa gỗ mun… Trâu khoái chí lắm, nhoẻn hàm răng trắng bóng cười hài lòng. Nó rủ ngựa hồng đi dạo khắp đồng cỏ để trò chuyện hệt như đôi bạn tri kỷ. Đang đi dạo, bỗng ngựa hồng bảo trâu:
- Anh trâu này, anh đẹp lắm! Anh xứng đáng là người chủ đáng kính của núi rừng. Giá như anh có đôi sừng như của tôi đây thì chắc rằng anh sẽ trở thành chúa tể chốn sơn lâm. Loài voi, hổ dữ tợn kia cũng sẽ phải thua anh.
Trâu vểnh tai nghe. Nó ngước nhìn đôi sừng đen bóng như hai cánh ná của ngựa hồng, vẻ thèm thuồng. Rồi trâu gạ ngựa hồng cho xin đôi sừng ấy. Ngựa hồng không bằng lòng nhưng vì trâu cứ van nài mãi, nên sau cùng ngựa hồng đành phải nhận lời. Nhưng ngựa đòi trâu phải cho lại một vật gì của trâu. Trâu bèn đem ra nào là đôi tai, cái đuôi, đôi móng, đôi mắt to của nó để đổi lấy bộ sừng đẹp.
Nhưng tất cả tai, đuôi, mắt, móng… ngựa đều đã có đủ. Ngựa chỉ thiếu mỗi hàm răng trên. Vì thiếu hàm răng trên ấy nên ngựa hồng, cho dù có nổi tiếng là đẹp mã cũng bị các nàng ngựa trắng chê bai. Thấy trâu có hàm răng trên trắng đẹp, ngựa hồng gạ đổi. Chẳng đắn đo gì, trâu nhận lời. Thế là ngựa và trâu một bên tháo sừng, một bên tháo răng ra, trao cho nhau.
Từ đó trâu có cặp sừng khỏe đẹp nhưng bị mất hàm răng trên, vì vậy mỗi khi trâu cười nom thật ngộ nghĩnh. Còn ngựa hồng thì tuy mất đôi sừng đẹp nhưng có được hàm răng trắng đều. Nó được coi là con vật trẻ đẹp, khỏe mạnh… nhất đồng cỏ. Các nàng ngựa trắng từ đấy cứ thấy ngựa hồng đâu là lẽo đẽo theo nó đàn đàn, lũ lũ.
A. Tía
Đắk Ui – Kon Tum kể
 
VÌ SAO QUẠ MÀU ĐEN VÀ KỲ NHÔNG RỰC RỠ ÁO XIÊM NĂM SẮC?
 
Quạ và cò khi xưa là họ hàng anh em của nhau, chúng đều có chung một người ông nội. Quạ cũng có bộ lông trắng mốt tựa cò. Nó hãnh diện lắm. Chiều chiều trên những đám ruộng ngoài thung lũng, họ hàng nhà quạ sau khi đã no mồi liền cất cánh bay tung, chao qua, chao lại trên nóc các nhà để trở về rừng nghỉ tối.
Một lần, quạ bay qua một con suối. Từ trên cao nhìn xuống, quạ thấy một con kỳ nhông da mốc meo đang ra sức tha một quả dưa to kếch xù trên bãi cát. Quạ bèn hạ cánh xuống và nài nỉ kỳ nhông chia phần dưa cho. Kỳ nhông không nghe nói gì là vì nhà đông con. Quạ đang đói, nên cố dỗ dành mãi, mà kỳ nhông vẫn không chịu. Sau cùng, thấy da kỳ nhông mốc meo, quạ bèn nghĩ ra một kế vẽ áo xiêm đẹp cho kỳ nhông. Vốn biết quạ là người vẽ giỏi, kỳ nhông bằng lòng ngay.
Và thế là quạ mài miệt, quên cả đói, vẽ áo cho kỳ nhông. Quạ vẽ với đủ các màu: xanh biếc như màu da trời, đỏ rực như màu hoa pơ lang, bạc trắng như thác chảy, vàng tươi như nương lúa ngày gặt hái. Tất cả mọi màu sắc của núi rừng quạ đều vẽ vào cho kỳ nhông. Chẳng mấy chốc quạ đã vẽ xong. Kỳ nhông từ bộ áo mốc meo đã trở thành một con vật lộng lẫy, rực rỡ sắc màu. Đẹp quá! Đẹp đến mức quạ không tưởng tượng được bộ áo ấy lại đẹp thế, đẹp hơn cả bộ cánh trắng tinh của nó. Quạ càng ngắm càng thấy đẹp thấy mê. Mê đến nỗi nó quên cả đói, quên cả quả dưa lăn lóc trên bãi cát kia. Nó nài nỉ kỳ nhông vẽ lại cho nó. Kỳ nhông bất đắc dĩ phải cầm bút.
Nhưng vừa bắt đầu vẽ thì thình lình có tiếng sấm nổ vang rền, kỳ nhông giật mình sợ hãi. Vì vội vã nó làm đổ cả chậu thuốc màu đen lên mình quạ, rồi chạy biến vào hang lẩn trốn.
Từ đó, loài quạ trở thành đen ngòm. Chúng xấu hổ không dám đi kiếm mồi nơi ruộng đồng, bờ suối nữa mà chuyên đi rình mò bắt gà, bắt vịt của dân làng để kiếm ăn qua ngày. Dân làng ghét quạ lắm. Còn kỳ nhông thì lại trở thành loài vật có xiêm áo rực rỡ nhất.
Cũng kể từ đó đến giờ loài quạ vẫn còn thù ghét họ hàng nhà kỳ nhông. Mỗi lần gặp kỳ nhông ở đâu là chúng lại xúm vào đánh cho nhừ tử.
A. Tía
Đắk Ui – Kon Tum kể
Đăng nhập để trả lời
0
CHẶT CÂY LUÔNG PLING
 
Thuở ấy, vùng núi Ngọc Linh còn âm u lắm. Người ít hơn thú vật, thú vật ít hơn cây rừng. Đi liền trong một tuần trăng không hề nghe một tiếng hú gọi của người, nhưng ra khỏi lều là đã thấy tiếng gầm gừ của thú. Cây cỏ rậm rạp, um tùm. Các khe suối, ghềnh thác cũng bị dây leo phủ kín. Mấy tầng cây chen chúc nhau che khuất mặt trời.
Người sống khổ sở, chui rúc, quờ quạng như những kẻ đui mù. Thú vật, côn trùng đụng chạm, cắn xé nhau, con nào cũng muốn vươn lên tìm một chút ánh sáng.
Thế gian như sắp bước vào một đêm đen vĩnh viễn.
Ở một khe suối nọ, có một chàng kiến đen bé nhỏ, không chịu ở yên trong hốc cây mục tối tăm để nghe tiếng than khóc rên rỉ của muôn loài. Chàng bèn leo lên ngọn cây luông pling cao ngất. Cây luông pling là cây cao và to nhất vùng người Xê Đăng, vùng người Kinh, người Chàm. Ngọn của nó chạm sát trời, thân nó to như trái núi lớn, lá cành chùm kín núi Ngọc Linh. Kiến đen leo mãi mới tới được nửa chừng cây. Cuối cùng, lần mò mãi, kiến đen mới biết rằng cây luông pling là đường dẫn lên trời. Từ trên cây luông pling, kiến đen có thể nhìn được tất cả thế gian. Kia là đỉnh Ngọc Linh mây phủ. Ở dưới xa, con người và các loài vật đang chui rúc, quờ quạng, nhưng kiến đen không thấy rõ. Chàng nhìn qua kẽ lá thấy trời cao vời vợi, chàng ngó xuống đất, đất tối mịt mù. Chả lẽ cứ để muôn loài chìm đắm trong cảnh tối tăm, kiến đen suy nghĩ mãi và cuối cùng chàng quyết định tập hợp muôn loài lại để hạ cây luông pling cho ánh sáng rọi tới.
Thế là kiến đen bèn bò trở lại phía gốc cây. Nhờ một sợi dây tơ của chị nhện, kiến đen đu mình buông xuống.
Vừa tới đất, kiến đen đã gặp kiến chúa đang ngồi xổm dưới gốc cây luông pling ôm đầu suy nghĩ. Chòm râu lão bạc phơ, chân chẳng khẳng khiu, gầy guộc, chỉ còn đôi mắt là đang nhấp nháy. Thấy kiến đen, kiến chúa vội vàng hỏi:
- Này, anh chàng trẻ tuổi, đi đâu mà hớt hải thế? Anh chẳng biết rằng họ hàng nhà ta và cả thế gian này sắp đến ngày tuyệt diệt rồi sao?
Kiến đen bèn đáp:
- Dạ thưa cụ, cháu nghĩ rằng trời ở xa lắm, ta không kêu thấu đâu. Cây luông pling che khuất mặt trời rồi. Cháu nghĩ chỉ còn cách cùng nhau hợp sức chặt nó đi thôi. Cụ hãy tìm cách giúp cháu.
Kiến chúa nghe kiến đen nói, chau mày nghĩ ngợi rồi chống gối đứng dậy, bước đi bước lại dưới gốc cây luông pling. Cuối cùng, kiến chúa bước về hang, đánh cồng lên vang động khắp cả vùng. Rừng núi đang buồn bã, tiêu điều bỗng náo nhiệt hẳn lên. Gió từ trên núi Ngọc Linh ầm ầm thổi xuống. Hổ báo gầm thét làm đá xô, núi lở. Bầy khỉ rối rít gọi đàn. Con trâu dưới suối trở mình, con chim trên cành kêu hót. Họ hàng nhà kiến kéo về lũ lượt bọc kín gốc cây luông pling dỏng tai nghe lời kiến chúc bàn việc chặt cây lớn luông pling.
Chàng kiến đen vô cùng sốt sắng. Chàng ta được kiến chúa phái đi tới chỗ ẩn náu của các loài vật ở những nơ hẻo lánh.
Kiến đen đi vào các khe suối, ngọn nguồn, nơi trú ngụ của họ hàng nhà nòng nọc.
Rồi chàng lại tìm đến các buôn làng của họ nhà ốc. Vốn tính lề mề, họ hàng nhà ốc dậy rất muôn. Đến giữa ngày rồi mà cả làng còn im ắng như thóc trong gùi. Kiến đen phải tới từng nhà đánh thức từng chú ốc một, các làng ốc chưa hay biết chút gì về chuyện họ hàng nhà kiến kêu gọi muôn loài đi chặt cây luông pling bởi vậy kiến đen phải nói đến rát cổ họ hàng ốc mới hiểu việc.
Rời các làng ốc, chàng kiến lại rẽ rừng, vạch lá tìm đến buôn làng của họ hàng sóc. Sóc chúa cho kiến đen biết rằng cả làng sóc đã hợp nhau từ lâu đi cắn dây rừng cho ánh sáng lọt xuống mặt đất. Nhưng cắn được tầng cây này thì tầng cây khác lại phủ mất, ánh sáng của Giàng vẫn chẳng lọt tới. Cuối cùng, sóc chúa hứa cùng kiến đen sẽ mang cả bầy đi chặt cây luông pling.
Trên đường về, kiến đen gặp chị chào mào. Họ hàng nhà chào mào vốn tính theo dòng mẹ. Chào mào cái đứng chủ làng, cứ kéo cả bầy nay đây mai đó, hết ở núi nọ lại dọn sang núi kia. Gặp kiến đen, chào mào vồn vã hỏi:
- Chào anh bạn đẹp trai, đi đâu mà coi bộ vội vàng vậy? Trời đã sập xuống đâu mà hớt hải thế? Nhởn nhơ ca hát như chúng mình đây cho thỏa, chứ tội gì mà đầy đọa cái thân?
Kiến đen đáp sẵng giọng:
- Thôi đi! Chẳng bao lâu nữa thế gian này sẽ vĩnh viễn chìm ngập trong bóng tối. Các chị hãy cùng chúng tôi đi chặt cây luông pling để cứu lấy muôn loài. Trời đất sáng sủa rồi thì sẽ tha hồ mà ca hát.
Nghe kiến đen nói, chào mào thấy phải quá rồi nhưng vốn tính chỉ quen rong chơi mách lẻo, nghĩ đến cái gốc cây luông pling to như trái núi, nghĩ đến việc vung rìu, vác rựa nhễ nhại mồ hôi, chào mào thấy ngại ngùng. Chị chàng muốn chối từ nhưng chẳng tiện. Họ hàng nhà nòng nọc, nhà ốc đã kéo đi rồi, chả lẽ một họ lớn như họ nhà chào mào lại thoái thác. Chị chàng đang phân vân bỗng chị chàng nhìn xuống đuôi mình đỏ chor1, bèn nghĩ ngay ra một kế. Nó ghé vào tai kiến đen nói nhỏ rằng họ hàng chào mào đang mắc bệnh nên đành phải ở lại. Thế là, chỉ trừ họ nhà chào mào đỏ đít bỏ cuộc, còn các loài lớn, bé đều cùng họ nhà kiến tụ họp nhau đi chặt cây luông pling. Họ nhà kiến tự nhận phần việc khó khăn nhất là đốn gốc. Các chàng kiến trẻ đội ngũ chỉnh tề, khăn chít đầu rìu, khố đóng ngang thân, tay nắm chắc những cây rìu sáng loáng.
Họ nhà nòng nọc thì tấp nập khiêng cơm, vác nước cho các nhóm thợ chặt cây. Lũ gà được giao việc báo hiệu giờ giấc…
Việc chặt cây đã kéo dài suốt mấy tháng trời. Tiếng rìu, tiếng rựa chí chát ầm vang cả một vùng, mảnh cây văng ra chất từng đống lớn nhỏ. Vết rìu, vết rựa đã ăn hoắm vào cây. Cây luông pling đã gần đứt. Mỗi trận gió thổi tới, nó lại đung đưa, nghiêng ngả làm lá xanh, lá vàng rụng rào rào như mưa bão. Mọi loài muông thú vui sướng reo hò.
Nhưng cây luông pling chỉ ngả nghiêng mà không đổ. Nhiều loài vật chán nản bỏ ra về. Chỉ có họ nhà kiến là vẫn lầm lũi vung rìu, vung rựa, quên mọi nỗi nhọc nhằn.
Họ nhà nòng nọc việc cơm nước đã trễ nải. Nấu được ít cơm nào, chúng ăn cả đi; đem được ít nước nào, chúng uống kiệt hết. Bụng họ nhà nòng nọc cứ mỗi ngày một căng phồng ra, trong khi các chàng kiến cần cù thì bụng đói meo. Tuy vậy, các chàng kiến vẫn hăng hái làm việc. Đói, họ thắt khố cho chặt lại. Thắt đến nỗi bụng họ tóp lại chỉ còn nhỏ xíu. Họ đốn, chặt ngày đêm cho đến lúc cây luông pling đã đứt lìa khỏi gốc. nhưng cây luông pling vẫn chưa chịu ngã. Nó lơ lửng như bị treo. Họ hàng nhà kiến bàn bạc mãi vẫn không tìm được các nào làm cho cây đổ xuống. Mãi sau, họ nhà sóc mới nẩy ra một kế mới. Tất cả những chàng sóc trẻ nhanh nhẹn trèo hết lên ngọn cây xem ngó chỗ nọ, nhìn chỗ kia và đã thấy một điều rất lạ lùng là cây luông pling có một cái rễ mọc ngược nối với trời. Cái rễ khổng lồ này làm cái thang mà các loài ma quỷ thường lén lút đi lên trời. Và thần Sét cũng thường cầm lưỡi búa thần hạ xuống trần gian bằng lối đó. Các chàng sóc được lệnh của sóc chúa là phải cắn đứt cái rễ khổng lồ đó. Chúng thay nhau cắn miệt mài hết tháng này sang tháng khác, nhiều chú bị gãy mẻ cả hàm răng. Nhưng khi cái rễ cây luông pling sắp sửa đứt thì trời biết. Trời bèn sai thần Sét đưa bàn tay khổng lồ đầy móng sắc túm lấy lũ sóc. Nhưng các chàng sóc khôn ngoan giãy giụa luồn khỏi bàn tay thần Sét rồi cắn, gặm tiếp cái rễ mọc ngược kia cho đến kỳ đứt mới thôi. Khi cái rễ ngược kỳ lạ kia vừa bứt khỏi trời thi bỗn có một tiếng nổ dữ dội long trời lở núi. Cây luông pling ầm ầm đổ xuống. Gốc nó cắm sừng sững ở vùng người Tơ Đrạ thành một trái núi lớn. Những mảnh vụn của cây do rìu chặt bắn ra thành những mảnh đá rất cứng, người Tơ Đrạ nhặt về đem rèn làm rìu, làm rựa.
Vùng người Mơ Nam, là chỗ ngọn cây đổ xuống thì hái được bông cây. Họ đem bông này về kéo sợi, dệt váy, khố. Vùng người Xê Teng thì thân cây ngả xuống lâu ngày hóa ra từng dãy núi trùng trùng, điệp điệp gối chồng lên nhau. Những người lượm được vỏ cây thì đem về đập ra làm tấm khố dai bền.
Sau khi cây luông pling đổ, ánh sáng mặt trời chiếu rọi chan hòa khắp thế gian. Cây cỏ đâm hoa, kết trái, mùa màng tươi tốt, muôn loài vui sướng nhảy múa, ca hát. Họ nhà sóc họp mặt nhau lại, lấy những bông luông pling đẹp gắn vào tai những chàng sóc trẻ dũng cảm trên lưng mang những vết dấu đỏ của thần Sét. Bây giờ con cháu của những chàng trai ấy là loại sóc hoa, nhỏ nhắn, nhanh nhẹn và gan dạ.
Muông thú tập hợp nhau lại ca ngợi công lao của kiến và sóc. Những chàng kiến vừa nhảy múa vừa ca hát:
                                    Mơ Nam xoong rạng
                                    Xê Teng xoong rế
                                    Tơ Đrạ xoong păng ling…
Nghĩa là: người Mơ Nam được hoa luông pling mà dệt vải, may khố; người Xê Teng được vỏ cây; người Tơ Đrạ được mảnh cứng về rèn rựa, rèn rìu…
Những chị chào mào lười biếng chỉ dám ngó nghiêng bên nóc nhà rông rồi mắc cỡ bay đi. Riêng họ nhà nòng nọc thì no quá, bụng cứ căng ra, chẳng đi đâu được, rúc đầu dưới các tảng đá phủ rêu, dỏng tai nghe tiếng chiêng, tiếng cồng của ngày hội.
Theo lời kể của A Đoan, A Ram (Đắk Tô), của A Sơn, A Líu (Kon Tum)
 
KHẢO DỊ
Chuyện chặt cây luông pling còn thấy kể ở vùng đồng bào Ka Dong (huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng). Tại vùng này, chuyện kể rằng: Xưa kia, buổi khai thiên lập địa, người và muôn vật sống rất khổ sở trong cảnh chật hẹp, tối tăm. Không chịu nổi, muôn vật mới tìm đường đi gặp trời hỏi nguyên cớ. Trời bảo bởi bóng rợp của cây loong brếc che khuất.
Loong brếc là một cây khổng lồ mọc ở vùng núi Ngọc Linh, hoa muôn màu sặc sỡ, tán lá rậm rạp um tùm, phủ kín khắp cả vùng người Ka Dong, Xê Đăng, lan sang các vùng người Kor, người Hơ Rê và vươn tới cả vùng người Kinh xa xôi. Bóng rợp của nó làm mặt đất ẩm thấp, tối tăm. Được trời chỉ rõ, các làng Ka Dong, Xê Đăng, Kor và Kinh mới hợp nhau lại mang rìu rựa đi chặt.
Họ chặt bền bỉ suốt mấy tháng ròng rã mà cây không đổ. Mọi người đều mệt lả, hết cả lương ăn. Người ta phải giết đến những con chó (loài vật mà xưa kia người Kor, Xê Đăng kiêng không ăn) để nấu cháo ăn. Bỗng có con chim blic từ đâu bay lại, kêu lên rằng:
                        Quách, quách, quách, quách…
                        Chặt không biết cách
                        Cây còn miếng da (vỏ)
                        Hãy lấy lông ta
                        Cà vào, cây ngã!
Nghe chim blic kêu vậy, mọi người làm theo, quả nhiên cây loong brếc đổ. Bầu trời trở lại sáng sủa, ánh sáng chói chang, cây cối xanh tươi, chim chóc ca hát.
Khi cây loong brếc đổ, quả của nó rơi cả vào vùng người Ka Dong, mỗi quả hóa thành một trái núi chồng chất lên nhau, vì thế vùng Ka Dong bây giờ mới lắm núi, lắm đồi. Ở vùng người Chàm, người Kinh thì hoa và lá của cây loong brếc rơi vào, vì vậy, họ biết trồng bông kéo sợi, và dệt được vải đẹp màu sắc rực rỡ… Vùng người Kor thì cành cây rơi vào nhiều, vì thế mà vùng này cũng nhiều núi đá hiểm trở. Từ thuở xa xưa khi cây loong brếc mới đổ, người Ka Dong đã có câu:
                        Doat xooc rac
                        Xơ dac xooc plai
                        Kor xooc tríp le…
Nghĩa là:
                        Kinh ăn hoa
                        Xê Đăng ăn quả
                        Kor lượm được cành…
Đồng chí Dự - Trường phổ thông lao động huyện Trà My
(Quảng Nam – Đà Nẵng) kể
 
NGUỒN GỐC NGHỀ RÈN
 
Xưa kia, đất đai vùng người Xê Đăng, Tơ Đrạ cư trú vô cùng cằn cỗi. Đâu đâu cũng chỉ toàn một nền núi đá và đất cứng. Con người không làm nổi rẫy, không gieo nổi hạt lúa, không trồng được một gốc bầu, bởi vì có thứ rìu rựa nào mà không bị hư hỏng, gẫy mẻ vì cái thứ đất đá ấy. Làng nào cũng chỉ biết sinh sống bằng công việc săn bắn và hái lượm. Thuở bây giờ có hai anh em một nhà kia tên là Tung và Xết nổi tiếng về nghề săn bắt.
Tung và  Xết mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Lớn lên, họ là những người khỏe mạnh, lực lưỡng, thông minh và gan dạ. Năm nào, đến mùa săn bắt, họ cũng mang về cho dân làng đầy đủ các loài muông thú, từ hổ gấu đến hươu nai, chim chóc. Những lần buôn làng có giặc giã, họ cũng là người chỉ huy can đảm. Hai anh em trở thành những lơ – nớ (1) của làng ấy, vùng ấy.
Tung và Xết là người đầu tiên nghĩ ra việc làm cái bẫy ở vùng Xê Đăng này – đó là cái thô lợi hại. Với loại bẫy này, không một con thú nào có thể thoát được khi sa chân vào đó. Một buổi, sau khi đi săn về, hai chàng đã nghĩ ra cách chế loại bẫy này khi nhìn lên trời và thấy chòm sao thô (sao tua rua). Có bẫy, có thô rồi, dân làng sẽ tha hồ ăn thịt thú rừng.
Một lần, Tung và Xết mang bẫy vào núi gài. Lúc ra thăm bẫy, hai người thấy một chú voi rất to lớn bị mắc chân vào đó. Thấy người, con voi lồng lên và kéo theo cả cái thô của Tung và Xết đi. Hai chàng trai bèn vác ná đuổi theo. Voi lồng rất dữ nhưng hai người đuổi theo cũng rất nhanh. Vừa đuổi, họ vừa phóng những mũi tên độc theo. Bị trúng tên, máu voi vọt ra chảy lênh láng khắp vùng. Máu con voi khổng lồ ấy rơi xuống đất đá, đất đá nóng lên trở thành màu sẫm đỏ.
Thấy lạ, Tung và Xết mới nhặt đá lên xem, thấy đá rất nặng và cứng hơn bất kỳ loại đá nào. Nghĩ đến những chiếc rìu đá, gậy tre sứt mẻ, gẫy nát và bàn tay phồng rộp của lũ làng, hai chàng bèn lượm một ít đá lạ và tìm cách làm ra rìu, rựa tốt để làm rẫy.
Nhưng không có vật gì có thể đập vỡ nổi những mảnh đá kia, và cũng chẳng có cách gì mài dũa, đục đẽo nó thành rìu rựa cả. Tung và Xết vô cùng buồn bã.
Bữa nọ, hai anh em vào rừng đặt bẫy. Chẳng rõ vì lẽ gì suốt cả ngày không sập được một con thú nào cả. Mãi chiều tối mới có một con cang (2) nhỏ sa bẫy. Tung và Xết bực bội cứ để nguyên cả bẫy và cang vác về nhà. Con vật đau quá, kêu khóc thảm thiết. Nó van vỉ hai chàng tha cho và hứa sẽ giúp cho hai chàng muốn gì được nấy. Hai anh em càng bực thêm vì nghĩ là con cang đùa rỡn họ, nhưng thấy con vật bé nhỏ quá nên họ bèn thả nó ra. Con cang hỏi ha chàng cần gì. Hai anh em bèn nói ý định của họ là muốn đập được đá cứng để làm rìu rựa. Cang mách rằng hãy lấy đá lạ đem vào lửa nung cho đỏ.
Nghe lời cang, Tung và Xết về nhà chất củi nổi lên rồi cho những mảnh đá lạ kia vào. Đốt một ngày một đêm rồi đem ra, đá vẫn cứng không tài nào đập được. Hai anh em bỏ vào rừng tìm cang. Cang nói: “Hãy bắt con mang, lột lấy da nó làm bễ thổi lửa!”. Hai anh em lại làm theo lời cang. Nhưng da mang cứng quá không thể nào đẩy gió vào bếp nung được nên Tung và Xết lại vào rừng hỏi cang. Cang mách: “Hãy ngâm nước rồi lấy mỡ heo bôi vào cho da mềm ra!”. Hai anh em bèn làm theo. Quả nhiên da mang mềm ngay. Thế là, nhờ có bể thổi lửa làm bằng da mang nên thứ đá lạ kia được nung đỏ rực lên (3). Hai anh em rèn ra rìu, rựa, dao, cuốc. Từ đó, người Xê Đăng vùng Tơ Đrạ nổi tiếng có nghề thợ rèn, và biết làm nương rẫy giỏi.
A Sơn
Làng Kon Plong, xã Đắk Uy, Gia Lai – Kon Tum kể
 
(1). Tơ – nớ: Một danh hiệu của các làng Xê Đăng xưa để gọi những người dũng cảm, gan dạ, tài giỏi.
(2). Cang: chồn
(3). Bễ thổi làm bằng da mang là một loại bễ lò rèn độc đáo ở vùng Xê Đăng – Kon Tum. Ở các vùng khác chỉ thấy có ống bễ đứng thổi hoặc bễ quay, ở vùng này bễ làm bằng da con mang và ngồi kéo. Với loại bễ này, quặng sắt có thể được nung chảy với thời gian không lâu, người Xê Đăng có thể nấu quặng và rèn ra rìu, rựa. Loại bễ này không rõ xuất hiện từ bao giờ, nhưng đến nay vẫn còn tác dụng lớn trong nghề rèn ở vùng này.
Đăng nhập để trả lời
0
CHÀNG KƠ HOH
 
Một lần vua cùng các cận thần đi săn, tìm mật ông và kiếm ngà voi trên rừng. Người theo hầu vua rất đông. Voi kể đến hàng trăm, người kể đến hàng nghìn. Gươm giáo tua tủa như cây rừng, cờ biển rợp trời sặc sỡ như thổ cẩm. Tiếng trống, tiếng kèn rộn rã hơn cả ngày hội đâm trâu.
Oai lính của nhà vua khiến các làng buôn người Xê Đăng khiếp sợ. Đàn bà bồng bế con cái, gùi đồ đạc trốn vào rừng sâu. Những đứa trẻ hiếu kỳ và tinh nghịch nhất cũng không dám nhìn, chỉ lẩn quất quanh khóm tre, khóm nứa. Buổi trưa, đến gần một làng, nhà vua cho quân lính hạ trại nghỉ ngơi. Chúng ùa ra lục lọi khắp các nhà, trèo lên nhà rông, hạ cột đâm trâu xuống làm củi đốt… Bỗng một tên lính mang lại cho vua một đứa trẻ bé tí, nhưng mặt mũi rất khôi ngô, hai con mắt nó thật sáng. Nhà vua mừng lắm và cho gọi tên đứa trẻ là Kơ Hoh. Kơ Hoh nghĩa là đứa trẻ ở rừng. Lại giao Kơ Hoh cho vợ một tên cận thần nuôi dạy ngay trong cung.
Kơ Hoh cũng là một đứa trẻ dễ nuôi và lớn mau như thổi. Những ngày đầu, nó còn ngơ ngác, sợ sệt trước những lâu đài, thành quách. Nhưng về sau, nó quen dần và bạo dạn. Chẳng mấy chốc Kơ Hoh đã trở thành một chàng trai khỏe mạnh, to lớn. Là con nuôi một vị          quan cận thần nhưng Kơ Hoh lại thích công việc đồng áng, bếp núc. Chàng biết đánh trâu đi cày, trồng lúa, đào mương. Trong ấp của viên cận thần nọ lúc nào cũng gọn gàng, lúa rau tươi tốt. Tối tối, Kơ Hoh còn rũ cỏ cho ngựa, mang mía cho voi. Những con vật này mến Kơ Hoh lắm. Cả việc bếp núc, Kơ Hoh cũng không từ. Chàng bổ củi, nhặt rau, rửa bát, nhóm lò giúp người nhà nấu ăn. Mọi người trong nhà đều yêu quý Kơ Hoh, chàng trai khỏe mạnh, chăm chỉ.
Một lần, nhà vua cùng công chúa tên là Nai Tơ Lưi đến thăm viên cận thần nọ. Viên cận thần sai Kơ Hoh đi hái trái me vì đó là thứ trái cây mà công chúa rất thích ăn. Quen lệ, cứ mỗi lần đến chơi nhà viên cận thần, công chúa Nai Tơ Lưi lại đòi ăn trái me. Dần dần công chúa quen thuộc cả chàng trai trẻ không hiền lành ấy. Khi cây me nhà viên cận thần đã hái trái, công chúa vẫn cứ đến.
Một hôm, Kơ Hoh đang ngồi dưới gốc me đan giỏ thì công chúa Nai Tơ Lưng xinh đẹp đi đến. Nàng ngắm nghía khuôn mặt khôi ngô, mái tóc quăn đen và bàn tay thoăn thoắt của Kơ Hoh rất lâu mà Kơ Hoh chẳng hề biết. Lúc Kơ Hoh ngẩng lên và bối rối thì Nai Tơ Lưi nhẹ nhàng nói:
- Chàng đan giỏi quá, chiếc giỏ mới đẹp làm sao! Chàng trèo lên cây hái me cho em đi!
Kơ Hoh lúng túng không biết trả lời thế nào. Chàng ngước nhìn lên cây me. Tán lá xum xuê và xanh thẫm. Trên đó một đôi chim nhỏ đang rỉa lông, rỉa cánh cho nhau.
Cây me không còn một trái. Lượt trước đã phải kiếm kỹ lắm mới hái được một chùm cho công chúa. Kơ Hoh chợt nhớ đến rừng me bạt ngàn bên suối, quả chi chít ở quê chàng, mãi tận phía núi đằng tây xa vợi…
Chàng rầu rĩ kể về rừng me đó cho công chúa Nai Tơ Lưi nghe. Công chúa chăm chú nghe và vô cùng xúc động.
Tối hôm đó, nàng thưa chuyện cùng vua cha và nói rõ ý định của mình xin vua cho đi tới khu rừng me kia chơi. Vua chiều con gái nên vui vẻ nhận lời.
Ngày hôm sau, một đội lính nhà vua được phái đi hộ tống công chúa và chàng trai đi đến khu rừng…
Tới bìa rừng, công chúa ra lệnh cho quân lính hạ trại, còn nàng và Kơ Hoh đi vào trong rừng. Khu rừng sâu thẳm, sực nức hương hoa. Những cây me to lớn xum xuê, cành sai trĩu trái. Từng bầy chim lạ liệng bay rồi sà xuống chuyền cành. Chúng ngơ ngác nhìn một chàng trai mạnh khỏe và một cô gái đẹp lộng lẫy đi bên nhau.
Kơ Hoh trèo lên một cây me sai quả nhất. Chàng leo chót vót trên cành cao lựa tìm những trái me ngon lành thả xuống. Công chúa xòe bàn tay hứng từng chùm.
Chẳng mấy chốc giỏ đã đầy. Hai người tìm một vạt cỏ xanh bên bờ suối ngồi và chia cho nhau những trái me chín. Vừa ăn, họ vừa trò chuyện vui vẻ.
Sau buổi đi chơi trong rừng me đó, công chúa trở về cung điện, chàng Kơ Hoh lại về với công việc cũ: cày ruộng, trồng lúa, lau nhà, bổ củi, rửa bát. Tuy ở hai chốn khác nhau nhưng họ vẫn luôn luôn nghĩ về nhau. Công chúa Nai Tơ Lưng quên cả thêu thùa, ăn ngủ. Chàng trai Xê Đăng lúc nhàn rỗi thì lấy ống sáo ra thổi. Tiếng sáo gọi bạn tình của chàng ngân nga, réo rắt bay khắp chốn cung đình, lọt vào tai nàng Nai Tơ Lưi. Nghe tiếng sáo của Kơ Hoh, công chúa vô cùng vui sướng. Nàng sắm lại xiêm áo, gài lại trâm, soi gương, sửa tóc rồi trốn vua cha đi đến nhà viên quan đại thần nọ. Hai người gặp nhau giải bày lòng dạ. Những cây đèn lồng của các nữ tì đã nhấp nháy khắp mọi nơi rồi mà họ cũng chẳng tường. Họ say sưa tình tự với nhau mà không biết rằng tai họa sắp đến.
Chuyện công chúa Nai Tơ Lưi, con gái yêu của nhà vua, trốn nhà và suốt đêm tình tự với một đứa con côi lan đi khắp kinh thành. Trước tình cảnh đó, nhà vua, mặc dù rất thương con gái, nhưng vì phép nước, buộc phải ra lệnh cho quân lính đuổi chàng Kơ Hoh về rừng. Không thể sống xa chàng, Nai Tơ Lưi đã tìm cách trốn theo Kơ Hoh.
Hai người dắt nhau đi mãi về phía mặt trời lặn. Đường lên núi khó khăn. Dốc cao chót vót, rừng cây rậm rạp, suối lũ ào ào… Kơ Hoh phải đi trước dọn đường. Chàng dùng dao quắm phát cây, dọn lối, lắm lúc phải đương đầu với cả gấu, beo. Đến lúc đói, mệt công chúa không tài nào đi được nữa, chàng phải đẵn cây, bẻ lá làm chòi và đi kiếm trái rừng, thịt thú cho nàng ăn.
Ngày tháng qua đi, hai người đi tới một vùng đất màu mỡ và bằng phẳng. Những con dê núi nhởn nhơ ăn cỏ…
Cảnh vật đẹp như tranh đã khiến chành Kơ Hoh và công chúa Nai Tơ Lưi như khỏe hẳn ra. Hai người dựng tạm một căn lều để ở. Sáng sáng, họ thức dậy, đi vào rừng le, rừng nứa hái măng, đào củ, tìm cách sinh sống.
Cuộc sống của họ cứ trôi đi yên ổn như thế, thì một ngày kia tai họa lại ập đến. Một bầy voi rừng bỗng từ đâu ào tới. Chúng đi đến đâu là cây cỏ nát vụn, muông thú kinh hồn. Cả một vùng cao nguyên rộng lớn trở nên hoang tàn. Hai người chẳng còn kiếm nổi thứ gì có thể ăn được.
Công chúa Nai Tơ Lưi lả đi vì đói và mệt. Kơ Hoh cõng nàng trên vai mà đi. Đi thêm một lần mặt trời qua đầu nữa thì tới gốc một cây giơ – ri (cây đa) khổng lồ. Kơ Hoh đặt nàng xuống, rồi vì mệt quá, chàng cũng ngủ thiếp đi.
Trong cơn mơ, Kơ Hoh thấy giàng hiện về bảo: “Con hãy trèo lên cây lớn này, tìm trong hốc của nó lấy hai loại hạt. Loại hạt vàng là hạt giơ – ri con hãy cho vợ con ăn, còn loại trắng to hơn con hãy đem gieo xuống đất…”.
Nói rồi, giàng biến vào cây. Kơ Hoh tỉnh dậy, chàng bàng hoàng một lúc rồi thấy người khỏe hẳn ra. Chàng lấy hết sức trèo lên cây cao và tìm thấy hai thứ hạt trong hốc cây. Theo lời giàng dặn, Kơ Hoh cho công chúa ăn thứ hạt vàng, công chúa tỉnh ra, khỏe lại, xinh đẹp như trước. Còn thứ hạt trắng, chàng bảo công chúa đem gieo ở bờ suối. Gieo hạt xong, hai vợ chồng cùng ngồi chờ… Ngồi qua một đêm vẫn không thấy gì, ngồi qua đêm nữa, vẫn vậy. Ngồi hết đêm thứ hai thì thấy mặt đất động đậy, rồi một mầm cây bầu bé tẹo nhú ra. Kơ Hoh và vợ mừng lắm. Công chúc đặt khẽ ngón tay út vào mầm cây, cây vươn lên, và mọc ra một chiếc lá. Công chúa lại chạm ngón tay trỏ vào cây, cây lại vươn ra, dài hơn và mọc ra một chiếc lá nữa. Lại dùng ngón tay ấy chạm nhẹ vào cây lạ, công chúa lại thấy thêm một lá mọc ra. Cứ thế, càng chạm tay vào, cây càng ra lá, càng vươn dài. Nó đã xanh um mặt đất, nhánh của nó bò ra khắp rừng, xanh mơn mởn. Một vùng đất bị voi dày hoang tàn đã trở nên tươi tốt. Công chúa chạm tiếp ngón tay cái vào cây, lập tức những kẽ lá nhú ra những nụ hoa trắng tinh. Trong nháy mắt, nụ hoa đó nở bung ra. Rồi cả một loạt hoa kết thành những trái bầu tròn trĩnh.
Kơ Hoh và công chúa Nai Tơ Lưi hái thử một trái ăn. Ăn vào thì thấy thơm mát lạ lùng. Từ đó, họ đã có nguồn lương thực để sinh sống.
Ít lâu sau, Nai Tơ Lưi có mang và sinh ra một đàn con đàn cháu. Năm tháng qua đi, con cháu chàng Kơ Hoh và công chúa Nai Tơ Lưi lớn dần, đông thêm ra. Họ sống bằng thứ bầu kia và rồi họ lại mang nó đi trồng, đi gieo khắp xứ.
A Thía, Kon Plong kể
 
QUẢ DƯA DẠI
 
Ngày xưa, ở một làng nọ, có một chàng trai tên là Lịa. Lịa đang tuổi lớn, tính tình vui vẻ, chất phác, khỏe mạnh và chăm chỉ nhất làng. Vì nhà nghèo nên Lịa luôn luôn phải thức khuya dậy sớm, làm lụng vất vả. Một buổi sớm đi rừng phát rẫy, Lịa chợt thấy một cây dưa dại. Cây dưa dây lá xanh tốt, vả một vạt rừng lớn phủ đầy dây và lá của nó. Lịa chắc mẩm rằng cây có dây lá tươi tốt thế chắc phải ra nhiều quả, và thế là bữa nay kiếm được món ăn rồi. Lịa định bụng sẽ dành những quả chín nhất cho các già làng, những quả ngon nhất cho lũ trẻ và Lịa cũng sẽ chọn được một quả xinh xắn nhất cho lũ trẻ và Lịa cũng sẽ chọn được một quả xinh xắn nhất để phần các cô gái làng. Các cô sẽ chẳng còn có thể chê bai rằng Lịa nghèo, quanh năm suốt tháng chẳng có một manh khố mới, suốt vụ rẫy nương chẳng có thứ gì ai phần cho nữa.
Nghĩ vậy, Lịa hăm hở đi vào đám dưa để tìm quả. Chàng ngó nghiêng, gỡ dây, lật lá, nhưng tìm mãi chẳng thấy quả dưa nào cả. Lịa nghĩ bụng, chẳng lẽ cây dưa tươi tốt thế này mà lại không có quả nào và chàng lại ra sức tìm kiếm. Nhưng Lịa tìm mãi, tìm hoài, tìm từ sáng đến khi mặt trời tới đỉnh ngọn cây mà vẫn không thấy quả dưa nào, thậm chí một chiếc hoa, một cái nụ cũng chẳng có. Lịa buồn bực lắm, chàng toan vung rựa băm nát đám dưa vô tích sự ấy đi thì lạ lùng thay, trước mắt chàng một quả dưa tròn trặn, trắng hồng ẩn hiện sau đám lá xanh rờn. Lịa vội bước đến, chàng quỳ xuống vạch lá và nâng quả dưa lên. Chà, một quả dưa xinh xắn, thơm ngát chưa từng thấy. Lịa sung sướng lắm, chàng gượng nhẹ, nâng niu quả dưa trên tay rồi ra về. Vừa đi, Lịa vừa hát thầm trong miệng.
Mang dưa về đến nhà, Lịa không dám ăn, và cũng không đem cho ai. Chàng đặt nó ngay chỗ nằm của mình. Quả dưa làm sáng hồng cả một góc nhà, một mùi thơm mát từ đó thoảng ra. Ai đến cũng trầm trồ khen Lịa có quả dưa quý. Mấy lần Lịa đã toan đem nó cho một cô gái nhà chủ làng. Nhưng khi ướm hỏi, thì bị cô ta từ chối. Cô gái nói rằng: “Quả dưa đẹp thật, ngon thật, nhưng nó không thể thay thế cho cồng, chiêng, nồi bung nồi bẩy, ché thấp ché cao, cườm, vòng và khố váy… được”. Lịa buồn lắm, suốt ngày chàng chỉ biết có làm lụng và ngắm nghía quả dưa cho khuây khỏa.
Lịa có một người bạn thân tên là Chộ ở làng bên. Chộ và Lịa thương yêu nhau như anh em ruột thịt. Cả hai cùng nghèo và chăm chỉ. Một buổi, Chộ sang nhà Lịa, thấy bạn đang ngồi buồn bã bèn hỏi sự tình. Được biết chuyện, Chộ nói với Lịa rằng: “Lịa ơi, thôi đừng buồn nữa, đưa dưa đây để mình đi bán cho. Có dưa, thế nào mình cũng sẽ đem về cho bạn một cô gái trẻ và xinh xắn, cô gái có nước da trắng mịn, hồng hào y hệt như quả dưa này”.
Lịa nghe lời và lấy dưa đưa cho bạn. Chộ mang trái dưa đi qua chín làng rồi mà vẫn không tìm được cô gái nào có nước da đẹp như da dưa. Đến làng thứ mười cũng không tìm thấy, Chộ đã toan bỏ về nhưng nghĩ thương bạn, nên Chộ lại tiếp tục đi. Đến làng thứ mười một, Chộ gặp một bà già có mười một cô con gái, cô nào cũng xinh. Trai làng trên, làng dưới đang lũ lượt tìm đến ngấp nghé các cô.
Cả mười một cô gái đều đi làm vắng, thành thử Chộ phải chờ đến tận chiều. Chàng đặt quả dưa trước cửa nhà rồi ngồi đợi. Chiều tối, các cô gái ríu rít ra về, vừa đi các cô vừa trò chuyện và khúc khích cười. Cô thứ nhất đi qua cửa. Chà, xinh quá, Chộ thầm nghĩ, nhưng nước da không giống dưa. Cô thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm cũng vậy. Đến các cô thứ sáu, thứ bảy, thứ tám, thứ chín, thứ mười cũng vậy. Tới khi cô thứ mười một, cô gái út, trở về thì, ôi chao cả nhà như bừng sáng hẳn lên. Cô út quả là một cô gái tuyệt vời không ai sánh kịp. Da mặt cô trắng hồng và mịn màng như da quả dưa quý. Cả những búp ngón tay, bắn chân cũng vậy, toàn một màu dưa mát mẻ.
Tìm được người vừa ý, Chộ bèn trao quả dưa quý. Cô út vui vẻ nhận. Cô gái có cái tên đẹp: Y Mươi. Y Mươi được Chộ kể về chàng trai có quả dưa đó. Nàng nghe xong vô cùng thương cảm. Nàng hứa sẽ nhận lấy Lịa làm chồng và sống với chàng traai nghèo khổ, chăm chỉ đó đến lúc trọn đời.
Chộ sung sướng trở về. Ngày hôm sau, chàng dẫn Lịa đến gặp Y Mươi. Để thử lòng Lịa, Y Mươi lấy bồ hóng xoa vào mặt mũi, chân tay rồi ngồi trong xó bếp. Mẹ Y Mươi quý mến Lịa lắm, bà vần rượu, mổ heo, đốt gà mời Lịa ăn uống. Nhưng Lịa đâu có ăn uống được. Lòng chàng rối bời, buồn rười rượi, vì chưa nhìn thấy mặt Y Mươi.
Hôm sắp trở về nhà Lịa, Y Mươi mới chịu đi ra suối tắm. Da dẻ nàng mịn màng, xinh đẹp như xưa. Mẹ nàng sắm sửa cho nàng và Lịa trở về quê chàng, Lịa vui lắm, chàng quấn quýt bên người thương suốt ngày.
Đường về quê Lịa xa lắm, phải đi qua những làng người Gié, phải vượt qua những dãy núi chọc trời, những cánh rừng già rậm rạp không một bóng người. Một hôm, đang đi giữa rừng thì trời sập tối. Y Mươi sợ hãi vì xung quanh nàng là bóng đêm dày đặc. Lịa thương người yêu lắm, chàng phải để nàng vào trong một chiếc gùi lớn và đặt lên ngạnh cây cao. Còn Lịa nằm dưới gốc cây để canh gác thú rừng.
Về khuya, Lịa mệt quá, ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Khi Lịa tỉnh dậy thì mặt trời đã mọc từ lâu. Lịa vội trèo lên cây đón Y Mươi. Nhưng lạ thay, chiếc gùi vẫn ở đó mà Y Mươi thì biến đâu rồi. Tưởng người yêu đùa trốn, Lịa cất tiếng gọi vang rừng.
Nhưng chàng gọi mãi vẫn không có tiếng đáp lại. Lịa lại khun bàn tay lên miệng gọi tiếp:
- Ơ Y Mươi! Ơ Y Mươi! Ơ… ơ…
Vẫn chỉ thấy tiếng vọng của núi rừng trả lời chàng. Lịa buồn lắm, chàng chạy xục xạo khắp hốc cây, hang đá tìm kiếm. Chàng không biết được rằng Y Mươi đã bị con Kiêng Ngang – giống yêu tinh dữ tợn trong rừng – bắt mất. Kiêng Ngang bèn cho vợ nó giả làm Y Mươi để mưu hại Lịa.
Vợ Kiêng Ngang lột hết áo quần của Y Mươi mặc vào, lại lấy vôi bôi vào mặt mũi, chân tay để giả dạng Y Mươi. Vợ Kiêng Ngang ưỡn ẹo đi đến bên Lịa, cất tiếng khàn khàn, nói:
- Ơ, anh Lịa, anh gọi em à? Em đi ăn con cá ngoài suối về mà. Chúng mình cùng đi đi…
Nghe giọng nói lạ, Lịa đã hơi chột dạ, nhưng nhìn quần áo, mày mặt thì thấy vẫn là quần áo, mặt mũi của vợ nên chàng thấy lòng mừng lắm. Chàng bèn dắt tay vợ Kiêng Ngang lên đường.
Tới nhà, mẹ Lịa và dân làng ra đón rất đông. Vợ con quái vật giả dạng Y Mươi thì lăng xăng đi lại, cất giọng ồm ồm, khàn khàn chào mọi người. Một mùi hôi nồng nặc từ nó bốc ra, khiến một số người tinh ý chột dạ…
Sau ngày đó, bà mẹ Lịa sai “cô dâu” đi giã lúa. Nhưng cô dâu cầm chày không nổi, thóc bắn ra tung tóe. Bảo đi thổi cơm, quên không đổ nước; bảo đi phát rẫy, dao chém phải chân; bảo đi chăn gà, ăn mất gà; cho heo ăn, moi mất ruột heo… Bị dân làng dè bỉu, Lịa khổ tâm lắm. Chộ mấy lần sang an ủi nhưng Lịa không dứt được nỗi buồn chán.
Một bữa, lịa cùng “vợ” đi phát rẫy. “Cô vợ” chẳng chặt được một cây nào, cứ đi đi lại lại tìm con giun, con dế ăn, ra suối mò con ốc, con nhái nuốt. Lịa giận lắm. Giữa lúc ấy thì trời đổ mưa. Mưa làm lớp vôi bôi trên da vợ con ác quỷ trôi đi, tóc nó buông ra rũ rượi. Nó hiện nguyên hình là một con quỷ cái: da đen nhẻm, mắt trắng dã, môi trề ra, lưỡi đỏ lòm, răng trắng ởn… Đang cơn tức giận, Lịa vung dao chém một nhát, thân con quỷ cái đứt làm đôi và hóa thành mọt đàn mối đất bay loạn xạ.
Biết là Kiêng Ngang muốn hại mình, về nhà, Lịa mài dao, vót tên và rủ Chộ đi tìm Kiêng Ngang để đòi lại Y Mươi. Hai người lần rừng, lội suối, leo đèo đi không biết mệt. Đi mãi, đi mãi đến một khu rừng rậm, nắng không lọt tới thì hai người gặp Kiêng Ngang. Con ác quỷ to bằng con voi, lông lá đầy người, mặt chim mình thú, tay người, đang đùa rỡn Y Mươi trên hai bàn tay khổng lồ của nó. Tiếng Y Mươi kêu khóc thảm thiết.
Chộ và Lịa từ bên này suối lắp tên vào nỏ nhằm con ác quỷ bắn. Thấy động, ác quỷ ném Y Mươi lên cao và gầm lên man rợ.
Chộ và Lịa lấy nứa bắc một chiếc cầu. Kiêng Ngang xô sang, cầu bị gãy, nó rơi xuống suối sạu, quằn quại chết trong dòng nước đỏ máu.
Trừ được Kiêng Ngang, Chộ và Lịa bèn đi tìm Y Mươi. Hai người tìm mãi chẳng thấy nàng đâu. Trời tối, mệt quá, họ ngủ thiếp đi dưới gốc cây cao. Trên cây, Y Mươi sợ quá, nàng chẳng còn nhìn thấy gì dưới đất nữa. Trên đầu nàng, trời cao thăm thẳm. Y Mươi bám chặt vào cành cây, khóc nức nở. Nàng vừa tủi thân vừa nhớ thương Lịa. Nước mắt của Y Mươi hóa thành một trận mưa. Những giọt nước mưa rơi xuống làm Chộ và Lịa tỉnh dạy. Hai chàng dìu nhau trèo lên cây. Cây cao vòi vọi, đêm tối mịt mùng, nhưng cả hai vẫn trèo lên.
Tới sáng thì cả hai đều trèo được đến chỗ Y Mươi. Y Mươi ngủ mê mệt trên một chạc cây. Lịa bế xống nàng lên, truyền cho nàng hơi ấm của mình. Y Mươi tỉnh dậy, ngơ ngác, rồi sau nhận ra chàng. Họ cùng nhau xuyên rừng trở về làng quê và từ đó sống bên nhau mãi mãi.
A Đoan, xã Ngọc Lai, Kon Tum kể
Đăng nhập để trả lời
0