📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Hiệu Đính Truyện

Ông già Khốttabít (NEW)

67 trả lời, 12.467 lượt xem — Trang 2 / 3
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-04 14:12:20Thái Nhi>
Vẫn ba ông cháu và Hari Oanđenđalét
Ct.Ly hiệu đính


- Bất cứ người nào cũng có thể sai lầm. - Vônca độ lượng nhận xét và nhìn ông Khốttabít đang ngượng ngùng cùng với vẻ thông cảm. - Rốt cuộc, lại còn tốt hơn nữa là đằng khác khi đây chỉ là một chiếc nhẫn thường. Còn hai món quà mà ông cho thì chúng cháu rất cảm ơn.
Hai cậu bé tế nhị quay lưng lại để ông già khỏi ngượng, rồi lấy ống nhòm ra khỏi bao và thích thú nhận thấy rằng ống nhòm quả là không thể chê vào đâu được.
Các ngôi nhà xa tít đang như được chuyền gần tới tận dòng sông, những chấm nhỏ xíu biến thành những người đang đi, còn chiếc xe hơi đang lao vun vút ở mãi đằng xa thì cứ tưởng như là sắp tông ngã cậu bé may mắn được làm chủ cái ống nhòm. Ống nhòm xem gần được đến thế là cùng.
Vài phút sau, Vônca nói:
- Ông Khốttabít ơi, ông xem có ai đang đi về phía chúng ta kia kìa.
Vônca đưa ống nhòm cho ông Khốttabít, nhưng bằng mắt thường, ông già cũng đã thấy mixtơ Hari Oanđenđalét đang dẫn cái xác nặng khoảng 6 pút (1) của mình đi về phía ba ông cháu. Lão đi nhanh, gần như chạy, vừa đi vừa thở hồng hộc.
Nhận thấy ba ông cháu đang theo dõi mình, Oanđenđalét bước chậm lại, đi khệnh khà khệnh khạng, làm ra vẻ như lão chẳng vội vã gì, mà chỉ đi dạo ở một nơi xa hẳn những đườg phố ồn ào. Lúc bước lại gần hơn, lão liền nặn ra trên khuôn mặt đỏ gay như tôm luộc (2) một nụ cười tươi hớn hở:
- A, lạy Chúa tôi! Một cuộc gặp gỡ mới thú vị và bất ngờ làm sao!...
Trong lúc lão bước tới gần ba người bạn của chúng ta và nồng nhiệt bắt tay họ, chúng ta có thể nói rõ tại sao lão lại xuất hiện lần nữa trong cuốn truyện của chúng ta.
Số là hôm đó, mítxi (3) Oanđenđalét rất bực bội trong lòng. Do vậy, mụ ta đã phát cáu và liệng chiếc nhẫn qua cửa sổ. Sau đó, mụ còn đứng nán lại bên cửa sổ để lấy lại hơi. Lúc bấy giờ, mụ để ý tới một ông già nhặt chiếc nhẫn nằm trên mặt đường, rồi ù té chạy.
- Ông có thấy không? - Mụ nói với lão Oanđenđalét vẫn còn rầu rĩ. - Lão già mới ngộ làm sao! Lão ta chộp lấy chiếc nhẫn, cứ như chiếc nhẫn có gắn mặt ngọc ấy, rồi ù té chạy.
- À, đó là một lão già rất khó chịu! - Oanđenđalét tươi tỉnh lên và đáp. - Lão đã bám lấy anh từ lúc còn ở trong cửa hàng đồ cũ, sau đó lại lẽo đẽo theo anh về đến tận nhà và em thân yêu của anh, em có tưởng tượng được không, chốc chốc lão ta lại quỳ trước mặt anh. Lão kêu lên với anh: “Tôi là kẻ nô lệ của ngài, bởi vì ngài có chiếc nhẫn của vua Xalômông”. Anh bèn trả lời lão: “Thưa ngài, ngài lầm to rồi! Tôi vừa mua chiếc nhẫn này và bây giờ nó thuộc về tôi và chỉ thuộc về tôi mà thôi”. Nhưng lão già ngang bướng như một con lừa, vẫn một mực không chịu: “Không, hỡi ông chủ của tôi, đây là chiếc nhẫn của vua Xalômông. Đây là một chiếc nhẫn thần!”. Anh nói: “Không, đây không phải là nhẫn thần, mà là nhẫn bạch kim!”. Lão già lại kêu lên: “Không, hỡi ông chủ của tôi đây không phải là nhẫn bạch kim, mà là nhẫn thần”. Và lão còn làm ra vẻ muốn hôn vạt áo véttông của anh. Như em thân yêu biết đấy, trong túi áo véttông của anh có cái ví tiền. Anh bèn bảo lão già: “Này, hồi ta còn học cao đẳng, ta được coi là một võ sĩ quyền Anh loại khá đấy nhá!”. Thế rồi anh bốp luôn một cú vào mặt lão già. Chà, anh tẩm lão một trận ra trò. Thậm chí bây giờ nhớ lại vẫn cảm thấy khoái!...
Mụ Oanđenđalét lúc đầu còn nhìn ông chồng đang ba hoa bằng cặp mắt khinh bỉ, sau đó có lẽ không chịu nỗi cái vẻ mặt đươg đương tự đắc của lão, mụ ta liền đưa mắt về phía khác. Và vô tình, mụ lại nhìn đúng vào tập truyện Nghìn lẻ một đêm đang nằm trên đivăng. Lúc ấy, mụ bàng hoàng vì một ý nghĩ bất chợt nào đó. Mụ buông mình xuống chiếc ghế bành ở gần đấy và nói khe khẽ với giọng cay đắng:
- Trời ơi! Sao đời con lại hẩm hiu mà lấy phải cái người này! Thưa ngài, với cái óc tưởng tượng của ngài, lẽ ra ngài nên làm thợ đóng quan tài chứ không nên làm thương gia. Bất cứ một con thằn lằn nào cũng có nhiều óc hơn ngài đấy, thưa ngài!
- Có chuyện gì vậy, em thân yêu của anh? - Lão chồng hoảng sợ. - Anh đã tẩm lão già ở những chỗ vắng. Chẳng có nhân chứng nào đâu. Em đừng lo, em thân yêu của anh!...
- Các ngài ơi! - Mụ Oanđenđalét kêu lên với giọng bi thảm mặc dù trong phòng không hề có một người nào ngoài vợ chồng mụ. - Các ngài ơi, cái người này lại còn hỏi có chuyện gì vậy? Thưa ngài, xin mời ngài lập tức đuổi theo lão già và lấy lại chiếc nhẫn khi vẫn còn chưa muộn!
- Chúng ta cần chiếc nhẫn ấy để làm quái gì, em thân yêu của anh? Một chiếc nhẫn bạc thổ tả, chẳng những thế lại là nhẫn tự làm.
- Cái người này làm tôi chết mất thôi! Cái người này lại còn hỏi tôi cần chiếc nhẫn thần của vua Xalômông để làm gì trong khi nó có thể thực hiện bất cứ điều ước nào của ta, có thể làm cho ta trở thành người giàu nhất và hùng mạnh nhất trên trái đất!
- Nhưng niềm sung sướng của anh ơi, em đã từng thấy những chiếc nhẫn thần ở đâu?
- Vậy thưa ngài, ngài đã tìm thấy ở đâu, trên cái đất nước Liên Xô này, có ai đi quỳ trước mặt người khác và lại còn cố hôn tay người đó?
- Không phải hôn tay, em yêu quý, mà là hôn vạt áo véttông.
- Như thế lại còn ghê gớm hơn! Thưa ngài, xin mời ngài lập tức đuổi theo lão già và lấy lại chiếc nhẫn. Nếu ngài cả gan quay về nhà mà không có chiếc nhẫn đó thì tôi sẽ cho ngài biết tay, thưa ngài!..
Đó là sự việc xảy ra trước khi lão chồng mặt đỏ của mụ Oanđenđalét hung dữ xuất hiện rất bất ngờ trước mặt ông già Khốttabít cùng hai người bạn trẻ tuổi của ông.
Ví thử lão Oanđenđalét ở vào địa vị ông Khốttabít, lão không đời nào trả lại chiếc nhẫn, cho dù đó chỉ là nhẫn thường chứ đùng nói là nhẫn thần. Chính vì thế, ngay khi còn ở xa, lão đã quyết định phải hành động ra sao rồi.
- A, lạy Chúa tôi! Một cuộc gặp gỡ mới thú vị và bất ngờ làm sao? - Lão reo lên, miệng cười tươi tới mức tưởng chừng như suốt đời lão chỉ ước ao được kết bạn với ông Khốttabít, Vônca và Giênia. - Trời đẹp làm sao! Cụ và hai cậu có được mạnh khỏe không ạ?
- Cám ơn ngài, hỡi ông ngoại quốc tóc bạc! - Ông Khốttabít lịch sự đáp - Cả tôi lẫn hai người bạn trẻ tuổi của tôi đều rất mạnh khỏe. Tôi hy vọng rằng ngài cũng mạnh khỏe đấy chứ?
- Cam ơn, cam ơn, tôi rát rát mạnh khỏe! Ồ, cậu bé này mới rất đẹp làm sao! - Oanđenđalét tán tụng và định bẹo má Vônca, nhưng Vônca đã quay mặt đi với vẻ kinh tởm. Làm ra vẻ như không nhận thấy thái độ của Vônca đối với mình, Oanđanđalét lại nói tiếp: - Tôi cho rằng cậu rát ước mơ trở thành một găngxtơ (4). Ở Mỹ, tôi có hai thằng con trai, chúng suốt ngày chơi trò găngxtơ. Ồ, chúng là những đứa trẻ rát thông minh, chúng sẽ là ông chủ nhà băng Mỹ nổi tiếng? - Nói tới đây, lão lập mưu và suồng sã bẹo má Giênia trước khi Giêna kịp lùi lại. - Cậu bé đáng yêu ơi, cậu có muốn trở thành ông chủ nhà băng không?
- Lại còn thế nữa? - Giênia giằn cơn tức giận và lùi ra xa Oanđenđalét. - Tôi đâu có điên? May thay, đây là nước chúng tôi chứ không phải là nước Mỹ!...
- Ha ha ha! - Oanđenđalét cười lấy lòng và giơ ngón tay dọa đùa Giênia - Cậu làm tôi buồn cười quá. Cậu là ngươi pha trò rát vui. Vì việc đó, tôi tạn cậu một cái bút chì Mỹ rát tiện lợi...
- Tôi không cần bút chì của ông và xin ông hãy để cho tôi được yên! - Giênia tức giận khi lão người Mỹ lại định bẹo má nó. - Ông có con của ông, chúng muốn trở thành những tên tướng cướp, ông đi mà bẹo má chúng tùy thích... Còn chúng tôi thì không thích những tên chủ nhà băng và không thích những tên tướng cướp. Ông hiểu chứ?
- Ha ha ha! - Oanđenđalét sung sướng trước những lời nói đó, cứ như lão vừa được nghe những lời khen hết sức dễ chịu. - Tôi ở nước Mỹ một kỹ sư quen, ông ta cũng nói rằng không thích ông chủ nhà băng. Ông ta bây giờ đang ngồi trong cái nhà tù rát đẹp ở Niu Yoóc...
- Tôi có thể hỏi ông một câu được không? - Vônca bỗng nói với Oanđanđalét và theo thói quen như ở lớp học, nó giơ tay. - Tại sao ở nước Mỹ của ông, người ta lại hành hạ những người da đen?
- Ồ! - Oanđenđalét kêu lên. - Cậu là một người trẻ tuổi ham thích chính trị! Điều đó rất tốt!... Chúng tôi ở nướcc Mỹ tự do hoàn toàn, mỗi ngươi có thể làm những gì mà người ta thích.
- Thế những người da đen có thể đánh trả những người da trắng được không, nếu họ thích làm việc đó?
- Hừ, một câu pha trò mới ngốc nghếch làm sao. Cậu đừng nên bao giờ pha trò ngốc nghếch như thế! Những người da đen đều có biết vị trí của mình! Những ngươi da den... - Nói đến đây, lão thấy cần phải cười xòa và chấm dứt việc thảo luận cái vấn đề tế nhị này. - Cụ là một ông già rát đáng yêu. - Lão nói với ông Khốttabít để cho yên chuyện. - Tôi có hy vọng chúng ta sẽ là những người bạn rát tốt bụng của nhau.
Ông Khốttabít lặng lẽ cúi chào.
- Ồ - Oanđenđalét kêu lên với vẻ ngạc nhiên vờ vĩnh. - Tôi thấy trên ngón tay cụ một cái nhận bạc. Cụ sẽ cho tôi xem cái nhận bạc đó chứ?
- Rất sung sướng và vui lòng! - Ông Khốttabít đáp và chìa bàn tay có đeo nhẫn cho lão người Mỹ xem.
Nhưng thay vì xem chiếc nhẫn, lão Oanđenđalét bằng một cử chỉ đột ngột đã giật chiếc nhẫn khỏi ngón tay ông Khốttabít và lập tức đeo vào ngón tay to như khúc xúc xích chưa hấp của mình.
- Cam ơn, cam ơn! - Lão nói khàn khàn và mặt lão vốn đã đỏ bây giờ lại càng đỏ thêm, làm cho ông Khốttabít lo rằng Oanđenđalét bị trúng phong bất tử. - Cụ đã mua cái nhận này ở đâu đó?
Lão đoán rằng ông già sẽ nói dối, và dù thế nào đi nữa, lão cũng sẽ làm tất cả những gì có thể làm được để không trả lại chiếc nhẫn cho ông già. Lão đưa mắt lượng sức ông già gầy nhom đang đứng trước mặt lão và hai đứa bé ngồi cách xa một chút, rồi ước tính rằng nếu sự việc dẫn đến chỗ phải ẩu đả thì lão sẽ dễ dàng thắng được cả ba.
Nhưng lão người Mỹ ngạc nhiên khi thấy ông già không hề nghĩ đến chuyện nói dối. Ông thản nhiên nói:
- Tôi không mua chiếc nhẫn này. Tôi đã nhặt nó trên mặt đường ở trước nhà ngài. Đó là chiếc nhẫn của ngài, hỡi ngài ngoại quốc tóc bạc?
- Ồ! - Oanđenđalét kêu lên với vẻ khâm phục. - Cụ là một ông già rát ngay thật. Cụ sẽ là một đài tớ yêu mến của tôi!
Nghe những câu nói đó, hai cậu bé cau mặt, nhưng vẫn im lặng. Chúng muốn biết mọi việc sẽ tiếp diễn ra sao..
- Vừa rồi cụ đã có giải thích cho tôi biết rằng cái nhận này là cái nhận thần. Có thực là nó có thể thực hiện được bất cứ một điều ước nào không?
Ông Khốttabít gật đầu xác nhận. Hai cậu bé cười sằng sặc Chúng nghĩ rằng ông Khốttabít định trêu lão người Mỹ khó chịu ấy và chuẩn bị xem một tiết mục vui nhộn.
- Ồ! - Oanđenđalét thốt lên - Cam ơn, cam ơn! Cụ sẽ giải thích cho tôi cách sử dụng cái nhận thần chứ?
- Rất sung sướng và vui lòng, hỡi người mặt đỏ nhất trong số tất cả các người ngoại quốc! - Ông Khốttabít cúi rạp xuống chào và đáp. - Ngài cầm chiếc nhẫn thần, đeo nó vào một ngón ở bàn tay trái rồi vừa xoay nhẫn vừa nói điều ước của mình.
- Và điều ước đó nhất định có được thực hiện?
- Đúng thế?
- Tôi muốn có điều ước nào cũng được sao?
- Bất cứ điều ước nào cũng được!
- Thế kia ư? - Oanđenđalét đắc chí thốt lên và vẻ mặt lão lập tức trở nên lạnh lùng, vênh váo. Lão xoay nhanh chiếc nhẫn và quát ông Khốttabít. - Hỡi lão già ngu ngóc kia! Hãy lại gần đây! Mi sẽ đóng gói đôla cho ta!
Giọng nói xấc xược của lão làm cho Vônca và Giênia phẫn nộ. Cả hai đều nhích tới gần và đã định cự cho lão ngươi Mỹ một trận nên thân, nhưng ông Khốttabít lại xua tay lia lịa ngăn hai cậu bạn và bước tới sát lão Oanđenđalét.
- Xin ngài tha lỗi cho, tôi chưa được biết đồng đôla ra sao cả Ngài hãy đưa cho tôi xem một đồng đôla thôi để tôi biết hình thù nó thế nào.
- Một người có văn hóa ắt phải biết đồng đôla Mỹ hình thù ra sao! - Oanđenđalét rít lên với giọng khinh bỉ, rồi rút trong ví ra một tờ 10 đôla và sau khi vẫy vẫy một cách dạy đời trước mũi ông Khốttabít, lão lại nhét tiền vào ví. - Đôla là thứ văn minh nhất ở Mỹ, cũng có nghĩa là ở cả toàn thế giới nữa. Bọn mi hiểu rõ điều đó chứ?
Ông Khốttabít lại cúi chào.
- Còn bây giờ đã đến lúc phải bắt tay vào kinh doanh làm giàu! - Oanđenđalét nói. - Hãy đến với ta ngay lập tức một trăm nghìn đôla!
- Ngài hãy mở rộng túi ra! - Vônca cười hi hì và nháy mắt với Giênia. - Mixtơ đã vớ được nhẫn “thần”! “Catia, em hãy đeo cho mạnh khỏe!”.
- Hãy đến với ta ngay lập tức một trăm nghìn đôla? - Oanđenđalét lặp lại.
Lão buồn bã: những đồng đôla vẫn chẳng hiện ra. Hai cậu bé nhìn lão với vẻ hí hửng độc địa không che giấu.
-Ta chẳng thấy những đồng đôla của ta dâu cả? Một trăm nghìn đôla của ta đâu rồi? - Lão ta phát khùng rống lên và ngay lúc đó lão lăn ra bất tỉnh vì lão bị một cái bao nơi nào đó rơi xuống, nện cho một cú choáng váng vào đầu.
Trong lúc ông Khốttabít làm cho lão tỉnh lại, hai cậu bé mở bao ra xem.
Một trăm xấp giấy xanh được buộc cẩn thận nhét chật căng cả bao vải. Mỗi xấp có một trăm tờ 10 đôla.
- Chiếc nhẫn kỳ cục thế nào ấy! - Giênia lầu bầu tức tối. - Một ngươi lương thiện muốn một chiếc xe đạp thì nó chẳng buồn cho, trong khi đó bỗng dưng lại đi cho lão con buôn người Mỹ một trăm nghìn đôla! Chiếc nhẫn “Catia, em hãy đeo cho mạnh khỏe” như thế đấy, cậu đã thấy chưa?
- Quả thật, mình chẳng hiểu gì cả! - Vônca nhún vai.
Trong khi đó, Oanđenđalét mở mắt ra, thấy những xấp đôla nằm ngổn ngang thành đống liền đứng phắt dậy, xem thử một xấp, thấy rõ trong đó quả là có đúng một trăm tờ 10 đôla. Sau đó, lão đếm lại các xấp tiền và thấy đúng một trăm xấp. Nhưng nụ cười thỏa mãn lưu lại không lâu trên bộ mặt đỏ gay của lão. Lão vừa buộc xong bao tiền quý bằng hai bàn tay run run vì xúc động, cặp mắt của lão lại rực lên ánh tham lam.
Ghì chặt bao tiền vào bộ ngực mập ú, lão lại xoay chiếc nhẫn và nóng nảy kêu lên:
- Một trăm nghìn vẫn còn ít! Ta cần có ngay lập tức một trăm triệu đôla... Mau lên...!
Lão vừa kịp nhảy qua một bên thì một cái bao to tướng, nặng ít ra là 10 tấn, đã rơi đánh sầm xuống bãi cỏ. Vì rơi xuống quá mạnh, tất cả các đường chỉ khâu bao đều bị bật tung và trên bãi cỏ liền mọc lên một đống đồ sộ một trăm nghìn xấp tiền Mỹ.
Cũng như lần trước, trong mỗi xấp này đều có một trăm tờ 10 đôla. Những tờ này chẳng khác gì tiền thật, trừ có mỗi một điều là tất cả đều đánh cùng một con số. Đó chính là con số mà ông Khốttabít đã kịp nhận thấy trên tờ 10 đôla mà tên chủ chiếc nhẫn “thần” bị máu tham lam làm cho điên dại đã đưa cho ông xem.
Điều đó vị tất đã làm mixtơ Oanđenđalét vui mừng: trong bất cứ ngân hàng nào, người ta cũng chú ý đến con số ghi trên tờ bạc, mà những con số như nhau thì chỉ có thể có trên tiền giả mà thôi. Nhưng lúc này, Oanđenđalét còn đầu óc nào mà kiểm lại các con số! Mặt tái nhợt vì xúc động, lão leo lên ngọn đồng tiền đồ sộ quý giá và đứng thẳng người như một pho tượng, một biểu hiện sống của lòng tham con buôn sẵn sàng làm bất cứ một hành vi đểu cáng nào, sẵn sàng phạm cả tội ác tàn bạo nhất để đoạt thêm một xấp tiền - những đồng tiền tạo ra quyền lực áp bức dân chúng ở trong nước của lão người Mỹ và ở cả thế giới tư bản.
Oanđenđalét tóc tai rối bù, cặp mắt điên dại, hai tay run rẩy, tim đập thình thịch.
- Còn bây giờ... còn bây giờ... còn bây giờ ta muốn có mười nghìn đồng hồ vàng nạm kim cương, hai mươi nghìn bót thuốc lá bằng vàng, ba mươi... không, năm mươi nghìn bộ đồ ăn cổ bằng sứ.... - Lão rống lên liên tục và vất vả lắm mới né kịp vô số của cải trút xuống đầu lão. - Sao bọn mi cứ đúng như là những ông chủ thế kia? - Lão dữ tợn quát ông già Khốttabít, Vônca, Giênia khi đó vẫn đứng ở xa và đang nhìn lão với vẻ ghê tởm không che giấu. - Bọn mi là nô lẹ của ta, bọn mi là đài tớ của ta! Bọn mi lập tức thu nhặt các thứ kia và xếp lại thành đống? Nhan lên! Nếu không, ta sẽ tẩm tất cả bọn mi bằng quyền Anh!
- Nói dễ nghe nhỉ! - Vônca tức giận. - Ông không phải đang ở tại cái nước Mỹ nhà ông đâu. Và ông đang tiếp xúc không phải với những tên nô lệ, mà là với những con người Xôviết tự do. Thế đấy!
- Đúng, bây giờ bọn mi sẽ là nô lẹ của ta!... Bây giờ... Ngay lập tức... Bây giờ bọn mi sẽ trở thành nô lẹ suốt đời của ta!...
Oanđenđalét xoáy chiếc nhẫn và vừa rống lên, vừa vung hai nắm đấm ướt đẫm mồ hôi:
- Ta có một điều ước là biến lão già láo xược này và hai thằng bé Xôviết ương ngạnh, hỗn láo này thành nô lẹ của ta, để cho chúng đánh giày cho các con ta, để cho chúng sẽ làm đài tớ của ta mãi mãi, đến tận cuối đời!... Ta còn có một điều ước nhỏ này nữa: ta ước cho tất cả các nhà máy, tất cả các hầm mỏ, tất cả các nhà băng, tất cả các đường sắt, xe hơi, máy bay, tất cả đất đai, tất cả rừng núi ở Liên bang Xôviết đều thuộc về ta, thuộc về hãng “Hari Oanđenđalét và các con trai” của ta, và chỉ thuộc về hãng của ta mà thôi!... Mi nghe rõ chưa, hỡi cái nhận thần?... Hãy thực hiện các lệnh của ta ngay lập tức. Ta là một con ngài Mỹ kinh doanh và ta không có thì giờ chờ đợi. Toàn nước Nga, toàn thế giới phải thuộc về con ngài Mỹ kinh doanh!...
- Hỡi người ngoại quốc mặt đỏ, số của cải mà ngài đã nhận được vẫn chưa đủ hay sao? - Ông Khốttabít nghiêm nghị hỏi.
- Câm mồm! - Oanđenđalét gầm lên và giậm chân điên dại. - Khi ông chủ làm việc, đài tớ phải câm ngay cái mồm!... Nhận thần, hãy thực hiện các lệnh của ta. Nhan lên! Hỡi cái lão già đen nhẻm kia, rồi ta sẽ cho nếm mùi quyền Anh để mi biết vân lời ông chủ Mỹ da trắng của mình!
Nói rồi, lão vung nắm đấm lao về phía ông Khốttabít. Nhưng Vônca và Giênia đã túm chặt lấy Oanđenđalét. Hai cậu bé dùng sức mạnh tới mức làm cho lão người Mỹ ngã nhào xuống bãi cỏ như một khúc gỗ.
- Sao bọn mi dám cản ông chủ của bọn mi tẩn bằng quyền Anh tên đài tớ tồi của mình? - Lão gào lên, cố đứng dậy. - Bọn mi bây giờ là nô lẹ ngoan ngoãn của ta...
- Tên đế quốc đáng nguyền rủa kia, ngươi hãy cút xéo về nước Mỹ của ngươi đi! - Vônca thở hổn hển, quát lên với lão Oanđenđalét. - Hãy cút khỏi đất nước chúng tao!... Cút xéo đi cho rảnh mắt!... Cút đi...
- Đúng thế! - Ông Khốttabít nghiêm nghị xác nhận những lời nói của Vônca và rứt 4 sợi râu.
Đúng lúc đó, những bao đôla, những thùng đựng các bộ đồ ăn đồng hồ, chuỗi ngọc trai - tóm lại là tất cả những gì mà chiếc nhẫn bạc mang lại cho mixtơ Oanđenđalét - đã biến mất như độn thổ vậy. Còn chính lão người Mỹ thì bỗng lăn vùn vụt trên bãi cỏ, sau đó lăn trên con đường nhỏ theo hướng mà vừa rồi lão ta đã từ đó đi tới, lòng tràn trề hy vọng. Một lát sau, lão đã mất hút ở đằng xa, để lại sau mình một lớp bụi mỏng...
Lúc hai cậu bé đã trấn tĩnh được đôi chút sau những việc vừa xảy ra, Vônca trầm ngâm nói:
- Cháu chẳng hiểu gì cả... Rốt cuộc, đây là chiếc nhẫn gì? Nhẫn thần hay nhẫn thường?
- Dĩ nhiên là nhẫn thường! - Ông Khốttabít dịu dàng đáp.
- Thế tại sao nó lại thực hiện được những điều ước của cái tên người Mỹ chuyên đi khua khoắng ấy?
- Không phải chiếc nhẫn thực hiện việc đó, mà là chính ta.
- Ông?! Để làm gì?
- Vì lịch sự, hỡi cậu thiếu niên tò mò nhất trong tất cả các cậu thiếu niên. Ta cảm thấy khó xử đối với con người ấy. Ta đã quấy rầy ông ta ở cửa hàng đồ cũ, ta đã làm phiền ông ta khi ông ta trên đường trở về nhà, ta đã làm cho ông ta phát ngấy đến tận cổ khi ông ta đóng sập cửa nhà mình trước mũi ta, cho nên nếu ta không thực hiện vài điều ước của ông ta thì cũng bất tiện. Nhưng lòng tham của ông ta và tâm địa đen tối của ông ta đã làm cho ta ghê tởm...
- Ra thế đấy! - Vônca nói.
Lúc đi từ vườn hoa ra đường phố, ông Khốttabít giẫm phải một vật nhỏ tròn tròn nào đó. Đó là chiếc nhẫn “Catia, em hãy đeo cho mạnh khỏe”. Oanđenđalét đã đánh rơi chiếc nhẫn ấy khi lão vừa lăn vừa cố bám tay vào cỏ. Ông già nhặt chiếc nhẫn lên, chùi sạch nó bằng chiếc khăn tay to màu xanh tươi của mình và lặng lẽ đeo vào ngón vô danh bên bàn tay phải...
Vônca cùng với ông Khốttabít và Giênia Bôgôrát đã về nhà từ lâu rồi, đã kịp đánh một giấc và thức dậy vào sáng hôm sau, ấy thế mà mixtơ Hari Oanđenđalét vẫn còn tiếp tục lăn.
Gần 8 giờ sáng hôm sau, tại một nơi cách Pari (5) 400 kilômét về phía Đông, một bé gái người Pháp 9 tuổi, tên là Gianna Đaquy, trên đường đi tới trường, đã bị một vật gì đó tông ngã. Vật này lăn vùn vụt và theo lời em bé kể lại thì nó trông giống như một cái bao nhét căng giẻ rách.
Khoảng 5 giờ sau, bác dân chài Gaxtông Sácmachiê đang ngồi vá lưới trên bờ eo biển Pa đờ Cale (6) bỗng quay về phía có tiếng động khác thường và thấy một vật nặng thuôn thuôn trông tựa như khúc gỗ sồi đẽo thô, bụi bám đầy gớm ghiếc. Vật đó từ trên đường rẽ ngoặt xuống dốc và lao vùn vụt xuống nước rồi vừa quay nhanh, vừa đi xa bờ. Đang cần gỗ để sửa túp lều của mình, Sácmachiê liền lao thuyền xuống nước, nhưng dù đã cố hết sức, bác ta cũng không tài nào đuổi kịp khúc gỗ kỳ lạ ấy.
Những viên sĩ quan trực ban trên 5 chiếc tàu thủy chở vũ khí và thuốc súng từ Mỹ sang châu Âu và 3 chiếc tàu thủy chở sĩ quan và lính Mỹ đi phép từ châu Âu về Mỹ đã ghi trong nhật ký trên tàu của mình về một con vật kỳ lạ bắt gặp trên đại dương. Con vật này trông tựa như một con cá heo lớn, nhưng nó lại phun phì phì như lạc đà và chốc chốc lại tru lên như một con linh cẩu vằn (7) sắp chết. Như mọi người đều biết, cá heo không phun phì phì, không tru và cái chính là không cưỡi trên sóng, mà bơi ngập phần lớn thân ở dưới nước, mõm hướng về phía trước, lưng ngửa lên trên hoặc nhào lộn. Vì thế, tất cả 8 sĩ quan trực ban đều thấy cần phải nhận xét rằng chắc đó chẳng phải là cá heo, mà là một con vật nào đó mà cho tới nay khoa học vẫn chưa hề biết. Một sĩ quan trực ban ham mê khoa học thì chẳng nghi ngờ gì cả đã gọi rất chính xác con vật rất kỳ lạ dó là “sacan” (8) Đại Tây Dương.
Sáng hôm sau, khi mụ vợ của mixtơ Oanđenđalét lo lắng vì ông chồng vắng nhà lâu, đã định báo cho cảnh sát về việc lão mất tích, thì mụ nhận được một bức điện mật mã từ bên kia đại dương gửi tới:
“Sáng nay, phát hiện được Hari Oanđenđalét đang ở sau phố Uôn (9) trong tình trạng bẩn thỉu ghê gớm. Ông không thể hoặc không muốn giải thích tại sao lại có mặt ở đây. Dù sao chăng nữa, như việc thẩm tra kỹ lưỡng đã chứng tỏ, ông đã về đến đây chẳng phải bằng máy bay, cũng chẳng phải bằng tàu thuỷ. Ông gọi mítxi Oanđenđalét về nhà gấp”.

---
(1) Tức là khoảng 98 kilôgam - N.D.
(2) Nguyên bản: như bị bỏng, nước sôi - N.D.
(3) Tiếng Anh: bà - N.D.
(4) Tiếng Anh: tướng cướp – N.D
(5) thủ đô nước Pháp – N.D
(6) Eo biển nằm giữa nước Pháp và Anh – N.D
(7) Một loài thú dữ có vú ở các nước phương Nam, chuyên ăn xác chết - N.D.
(8) Một loài thú dữ thuộc họ chó, chuyên ăn xác chết - N.D.
(9) Một phố ở Niu Yoóc, nằm trong khu Manhattan, nơi tập trung mọi hoạt động chủ yếu của bọn tư bản tài phiệt Mỹ - N.D
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-25 16:38:06Thái Nhi>
Đường đến sân vận động dài dằng dặc…
Ct.Ly hiệu đính

Trong ngày hè vui vẻ và chan hòa ánh nắng ấy, khi người bạn của chúng ta đi xem một trận đá bóng những chuyện rắc rối bắt đầu xảy ra ngay từ tiền sảnh ga tàu điện ngầm.
- Chẳng hiểu người ta đứng xếp hàng mua vé làm gì trong khi có thể sử dụng dễ dàng máy bán vé tự động. - Vônca nói và chạy đi đổi một tờ 3 rúp.
Ba người cần một rúp rưỡi tiền lẻ, mỗi người một đồng 50 côpếch (1).
Tại quán bán nước hoa và đồ trang điểm, người ta từ chối đổi tiền cho Vônca. Bà bán kem thì nói với Vônca rằng chính bà cũng cần tiền lẻ để thối lại. Tại quán mứt kẹo, người bán hàng hỏi cậu bé cần tiền lẻ làm gì và sau khi biết rõ sự việc, ông ta khuyên nó cứ mua vé ở quầy bán vé vì lúc ấy chẳng có người nào mua cả.
Quả thực lúc đó chẳng có ai xếp hàng trước quầy bán vé, nhưng Vônca vẫn cứ đứng xếp hàng ở quán bán nước khoáng và 3 phút sau, mua xong một ly nước sủi bọt, nó nhận tất cả tiền thối gồm mấy đồng 20 côpếch và 15 côpếch.
Vônca và Giênia đã cầm trong tay từ lâu mẩu cáctông mỏng dài thơm mùi mực in, vậy mà ông Khốttabít vẫn còn loay hoay bên chiếc máy bán vé tự động của mình. Ông liên tục bỏ vào khe ba đồng tiền nhỏ và chúng lập tức văng ra loảng xoảng từ nơi mà chúng phải lọt vào, những tấm vé thì không hề rơi xuống. Ông già toát cả mồ hôi hột vì quá sốt sắng, ông đẩy mũ ra sau gáy, cần mẫn tiếp tục làm thử, nhưng lần nào cũng kết thúc một cách đáng buồn. Cuối cùng, không chịu nổi, ông đầu hàng và thốt lên với giọng râu rĩ:
- Than ôi, hỡi hai cậu bạn đáng kính của ta, các cậu đành phải đi tàu điện ngầm mà không có ta đi cùng, bởi vì ta đã chịu bó tay đối với cái thùng sắt đẹp đẽ này. Nó đã bị phù phép và liên tục nhả lại những đồng tiền của kẻ đầy tớ hiền lành của các cậu. Ta cam đoan với các cậu rằng toàn bộ chuyện này là quỷ kế của lão Giếcgít, kẻ thù không đội trời chung của ta.
- Ồ! cái lão Giếcgít ấy thì làm gì được ông! - Vônca phì cười - Ông đưa cho cháu ba đồng tiền của ông đi, cháu sẽ bỏ chúng vào máy bán vé tự động và mọi chuyện sẽ ổn cả cho ông xem.
Nói rồi, Vônca bỏ hai đồng 15 côpếch và một đồng 20 côpếch vào khe chiếc máy bán vé tự động gần nhất, thế là cái vé lập tức hiện ra.
- Hỡi cậu Vônca, cậu thật là vĩ đại và hùng mạnh! - Ông già bèn nói với vẻ sùng kính. - Ta xin bái phục trước những tài năng thật là khôn tả của cậu.
- Cháu hoàn toàn chẳng phải hùng mạnh gì đâu, ông ơi! - Vônca thành thật đáp. - Chỉ cần biết sử dụng những máy bán vé tự động không bị hỏng mà thôi.

---
(1) Bạn đọc chớ hoảng trước giá vé cao như thế. Đó là giá trước khi cải cách tiền tệ. Đồng 50 côpếch lúc bấy giờ chỉ bằng đồng 5 côpếch bây giờ mà thôi (chú thích của tác giả - N.D.)
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-25 16:39:17Thái Nhi>
Chuyện rắc rối thứ hai ở đường tàu điện ngầm

Ct.Ly hoàn tất

Trái với mọi dự đoán, ông Khốttabít tỏ ra rất bình tĩnh khi đi xuống bằng thang máy quay.
Ông tò mò đặt đặt chân lên cái băng chuyển động liên tục và băng này lập tức biến thành cái thang với những bậc đẹp mắt bằng kim loại. Lúc đã xuống đến dưới, ở sân ga, ông nhũn nhặn nói với hai cậu bạn đường trẻ tuổi của mình:
- Thang chuyển động là cái rất đơn giản. Hỡi cậu Vônca, nếu cậu thích, ngay hôm nay, ta sẽ biến bất cứ cầu thang nào ở khu nhà của cậu thành thang chuyển động, trong khi đó nền nhà, mái nhà và đặc biệt là cái lầu bốn mà cậu đang ở rất hạnh phúc vẫn yên ổn như thường.
- Ta sẽ bàn chuyện đó sau, - Vônca tránh trả lời trực tiếp. Nó nghi hoặc, không biết đề nghị của ông Khốttabít có đem lại được điều gì tốt lành hay không. - Cháu sẽ nghĩ xem sao.
Nhưng chẳng còn thì giờ mà suy nghĩ, bởi đúng lúc đó từ giữa đường hầm đen ngòm vọng lại tiếng xình xịch ầm ĩ của đoàn tàu đang chạy tới gần. Hai ngọn đèn pha gắn ở toa đầu lóe sáng trong bóng tối, còi tàu rú lên báo trước và đoàn tàu màu xanh lam đẹp đẽ, đèn bật sáng trưng, lăn bánh vào sân ga.
- Lên toa thứ hai! - Vônca lo âu hạ lệnh và ngay lúc đó, thì phát hiện ra rằng ông Khốttabít đã biết mất.
Vônca và Giênia hết lao qua đám đông, cất tiếng gọi lo lắng:
- Ông Khốttabít! Ông Khốttabít! Ông biến đâu rồi, ông Khốttabít?
- Ta ở đây, hỡi các cậu bạn của ta! Kẻ đầy tớ bất hạnh của các cậu đang ở đây! - Từ đâu đó trên cao vọng xuống tiếng nói buồn bã của ông già vừa biến mất.
Chẳng mấy chốc, hai cậu bé đã trông thấy ông Khốttabít. Ông toan chạy lên đường phố bằng chính cái thang máy quay vừa đưa ba ông cháu xuống sân ga tàu điện ngầm. Mọi cố gắng của ông Khốttabít đều không đem lại kết quả, bởi vì trong khi ông bước lên được mấy bước bằng đôi chân bủn rủn vì hoảng sợ thì cái băng chuyển động lại chạy xuống một quãng bằng cái quãng mà ông già vừa bước lên được (1). Thành thử ông già cất bước lia lịa mà vẫn đứng nguyên một chỗ, hệt như con sóc chạy trên bánh xe vậy.
- Ông xuống thang đi! - Vônca từ bên dưới hét lên với ông già Khốttabít.
Nhưng có lẽ ông già chẳng tài nào nghĩ được cách xuống thang ra sao, mặc dù chỉ cần quay ngừời về phía sân ga là xuống được rồi.
Vônca đành phải chạy theo thang đi lên để rồi xuống lại nơi ông Khốttabít đang giẫm chân tại chỗ.
Chiếc vé của Vônca đã bị xé, nhưng chẳng còn thì giờ mua vé nữa vì trong thời gian xếp hàng mua vé thì ông già có thể bị kiệt hết sức.
- Em vừa ở dưới kia lên, - Vônca thở hổn hển, nói với cô soát vé! - Chị xem, ông em đang bị mắc kẹt kia kìa!
- Hẳn là ông em mới đi tàu điện ngầm lần đầu tiên? - Cô soát vé lắc đầu thông cảm và cho Vônca đi xuống với tấm vé cũ.
Vài giây sau, Vônca đã xuống tới chỗ ông Khốttabít đang bị “mắc kẹt”, xoay người ông về phía sân ga và hai ông cháu lại xuống tới dưới bình yên vô sự.
- Ông lẩn thẩn ơi, sao ông lại bỏ trốn? - Vônca hỏi ông già.
- Hỡi ông chủ của ta, ta trông thấy con quái vật có cặp mắt rực lửa, miệng rống ầm ầm từ trong lòng đất bò ra, thế là ta không thể không bỏ chạy được. Ta chẳng nhát gan đâu, nhưng cậu hãy chỉ cho ta một ông thần nào mà lại không hoảng sợ khi trông thấy cặp mắt khủng khiếp ấy?
- Thực ra thì đó có gì là lạ! - Vônca buồn bã than thở. - Chính ông đã thề với cháu là ông sẽ không sợ tàu điện ngầm kia mà!
- Không, ta không thề. Ta chỉ hứa với cậu là ta sẽ không sợ và quả thực ta không sợ ôtôbuýt, trôlâybuýt, tàu điện, ôtô vận tải, máy bay lên thẳng, xe hơi, đèn pha, máy đào, máy chữ, máy hát, loa phóng thanh, máy hút bụi, công tắc điện, bếp dầu lửa, tivi, quạt máy và đồ chơi bằng cao su “Uidi Uidi”. Còn về tàu điện ngầm thì không hề đả động đến!
Ông già nói đúng: lúc bấy giờ, Vônca đã quên mất tàu điện ngầm.
- Đó chẳng phải là quái vật quái viết gì cả, mà chỉ là một tàu điện ngầm bình thường. - Vônca giải thích cho ông Khốttabít. - Nào, ta đi thôi! Ông đừng làm cho chúng ta bị chậm trễ vì những chuyện sợ hãi vớ vẩn của ông nữa nhé!
Ba ông cháu chạy trên sân ga, đến chỗ đoàn tàu vừa tới, cố dùng cùi chỏ chen vào bên trong toa tàu. Người đông, đoàn tàu chật ních. Lúc từ xa vọng đến tiếng nói của người trưởng tàu: “Xuất phát?” - cánh cửa tự động của các toa lặng lẽ đóng lại và đoàn tàu khởi hành, bỏ rơi ông Khốttabít trên sân ga đã vắng người.
Ông già chỉ bị trễ có mỗi một giây: ông muốn ngó xem ai vừa hô hai tiếng “Xuất phát!” ấy.

---
(1) Thang máy quay hay còn gọi thang máy liên tục (escalator) là loại thang thường dùng ở các ga tàu điện ngầm và các cửa hàng lớn để đưa người lên xuống (có thể đưa 8-11 nghìn người trong một giờ). Thang chếch 30-35 độ, có các bậc được gắn vào một băng chuyển động liên tục nhờ sự chuyển động của động cơ điện thông qua bộ truyền động. Nhờ băng này, người lên xuống chỉ cần đứng vào thang chứ không cần phải bước. Có hai thang thường đặt cạnh nhau: thang đi xuống (băng chuyển động theo chiều từ trên xuống dưới) và thang đi lên (băng chuyển động theo chiều từ dưới lên trên). Ông Khốttabít chạy lộn lên thang đi xuống nên không sao lên được - N.D.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-25 16:43:57Thái Nhi>
Chuyện rắc rối thứ ba ở đường tàu điện ngầm

Ct.Ly hiệu đính

Ông Khốttabít không chịu đựng nổi cái tai họa mới giáng xuống đầu ông. Ông chạy tới chạy lui trên sân ga đã vắng người, tức giận bứt râu bứt tóc và kêu gào ầm ĩ:
- Khốn khổ thân ta, khốn khổ thân ta, ông thần bất hạnh Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp! Một thân một mình ở đây, ta sẽ làm gì trong cái tòa lâu đài bí ẩn dưới lòng đất này?
Người trực ga bước tới gần, thấy những nắm râu vương bừa bãi trên sân ga, bèn nói:
- Cụ ơi trong trong tàu điện ngầm cần phải giữ yên lặng.. và vệ sinh...
“Thôi chết rồi!”, ông Khốttabít nghĩ bụng, “Chết mất ngáp rồi!”. Ông sợ con người trẻ tuổi, lịch sự đội mũ lưỡi trai đỏ ấy chẳng kém gì sợ đoàn tàu khi nãy. Chính Vônca cũng tỏ thái độ kính trọng đối với người trực ga. Ông già cảm thấy tình hình hết sức nguy ngập và đã quyết định bắt đối phương phải trả một giá đắt cho sinh mạng cua ông.
May thay, người trực ga lại bắt chuyện và ông già lập tức thay đổi quyết định của mình.
- Cụ già ơi, cụ việc gì phải buồn bực như thế! - Người trực ga nói với ông Khốttabít với vẻ thông cảm. - Ngay bây giờ sẽ có một đoàn tàu khác và cụ sẽ đường hoàng đi tới chỗ cụ cần tới.
Ông già muốn trả lời anh ta một câu gì đó, muốn than thở về cái số phận đắng cay của mình, nhưng bỗng nhiên ông cảm thấy vì quá sợ hãi và lo âu mà quên mất cả tiếng Nga.
Ông nói lắp bắp một câu gì đó bằng tiếng Arập. Người trực ga buồn bã vung tay:
- Thưa cụ, như vậy thì mời cụ đi với cháu tới phòng điều độ. Cụ ngồi đợi ở đấy, còn cháu sẽ chạy đi tìm người biết nói thứ tiếng của cụ.
Anh ta dịu dàng cầm tay ông Khốttabít để dắt ông vào phòng điều độ và không biết ông già sẽ phải ngồi ở đấy bao lâu nếu như lúc ấy đoàn tàu mới chưa chạy tới phía bên kia sân ga. Từ trong đoàn tàu đó, Vônca cùng với Giênia nhảy vọt ra và chạy ba chân bốn cẳng về phía ông Khốttabít.
- Ông ấy kia rồi, ông ấy kia rồi! - Cả hai đều reo lên. - Ối chao ôi, vất vả với ông quá, ông Khốttabít ơi!..
Một bà vệ sinh viên từ đâu dó xuất hiện với cây chổi trên tay. Bà quét những nắm râu của ông già và đổ chúng vào thùng rác đúng vào lúc ông Khôttabít cùng với hai cậu bạn của mình cuối cùng đã ngồi được trên toa tàu điện ngầm đèn bật sáng trưng, rồi ba ông cháu đi tới ga “Đinamô” bình yên vô sự.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-25 16:42:58Thái Nhi>
Những chiếc vé thừa

Ct.Ly hiệu đính

Vào những ngày có các trận đá bóng, toàn bộ dân chúng Mátxcơva chia ra làm hai phe không hiểu nhau. Một phe gồm những người hâm mộ bóng đá. Một phe khác gồm những người bí hiểm hoàn toàn thờ ơ đối với môn thể thao vô cùng hấp dẫn ấy.
Rất lâu trước khi bắt đầu trận đấu, những người thuộc phe thứ nhất từ khắp nơi trong thành phố đã đổ về phía mấy cái cổng cao của sân vận động. Họ vênh váo nhìn những người lúc đó đã đi về phía ngược lại, vào trung tâm thành phố.
Đến lượt mình, những người Mátxcơva thuộc phe thứ hai thường nhún vai thắc mắc khi thấy hàng trăm tàu điện, ôtôbuýt, trôlâybuýt chật ních người và hàng nghìn xe hơi từ từ bơi giữa cái biển người hâm mộ sôi nổi và ồn ào đang đi bộ tới sân vận động.
Nhưng ngay cả phe những người hâm mộ bóng đá mà người ngoài tưởng là rất thống nhất ấy thì cũng chia năm sẻ bảy trong những ngày đó vì các mâu thuẫn hết sức sâu sắc và gần như không thể giải quyết nổi. Lúc những người hâm mộ còn ở trên đường đi thì điều đó chưa bộc lộ rõ rệt, nhưng khi đến bên mấy cái cổng “thiêng liêng” của sân vận động thì các câu mâu thuẫn kia lập tức xuất hiện với tất cả sự gay gắt và quyết liệt của mình. Lúc bấy giờ mới vỡ lẽ ra rằng những người này thì có vé, còn những người kia thì không có vé. Những người có vé đàng hoàng và thản nhiên đi vào sân vận động. Còn những người không có vé thì hớt hải chạy tới chạy lui và đâm bổ đến bất cứ ai vừa bước tới gần với câu hỏi ai oán: “Có vé thừa không?”, “Thưa ông, ông không có vé thừa ư? ”.
Nhưng những chiếc vé thừa thì có rất ít, còn những người cần vé thừa lại thì có rất nhiều, cho nên Vônca và hai người bạn của nó hẳn là chẳng được xơ múi gì nếu như ông Khốttabít không trổ tài của mình.
- Rất sung sướng và vui lòng!- Ông đáp lại lời yêu cầu của Vônca. - Các cậu sẽ có ngay lập tức bao nhiêu vé cũng được.
Và đúng thế, ông chưa kịp nói hết tiếng cuối cùng thì trong tay ông đã có cả xấp vé màu xanh lá cây, màu xanh da trời, màu hồng và màu vàng.
- Hỡi cậu Vônca đáng yêu, ngần này mảnh giấy nhiều màu đã đủ chưa nào? Nếu chưa thì ta...
Ông Khốttabít vẫy vẫy xấp vé và việc đó xuýt nữa làm cho ông ta toi mạng.
- A, những chiếc vé thừa! - Một trong số những người hâm mộ sung sướng reo lên và thu hết sức đâm bổ về phía ông Khốttabít.
Chỉ vài giây sau, không dưới trăm rưỡi người trong tình trạng bị kích động đã ép ông Khôttabít vào lớp tường bêtông của sân vận động, đến nỗi ông già hẳn là chết bẹp nếu như Vônca không chạy tránh ra một bên và gào tướng lên:
- Các ông ơi, có ai cần vé thừa không? Có ai cần vé thừa không nào?
Nghe mấy tiếng mầu nhiệm ấy, tất cả những người vừa ép ông Khốttabít vào chân tường đã ùa về phía Vônca, nhưng Vônca đã lặn luôn vào đám đông và biến mất như độn thổ vậy. Rồi một phút sau, Vônca, Giênia và ông Khốttabít đã chìa cho người soát vé ở cổng phía Bắc ba chiếc vé và đi vào sân vận động để lại phía sau mình hàng trăm người chẳng được vào xem trận đá bóng hôm đó.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-25 16:45:14Thái Nhi>
Lại chuyện kem

Ct.Ly hiệu đính


Ba ngươi bạn chúng ta vừa ngồi vào chỗ thì một cô gái mặc tạp dề trắng, vai đeo cái thùng cũng sơn màu trắng, bước tới trước mặt ông Khốttabít.
- Cụ có xơi kem không ạ? - Cô hỏi và lập tức sợ hãi hét lên.
Công bằng mà nói, bất cứ người nào ở vào địa vị cô ta cũng đều phải sợ hãi.
Thực ra, cô gái bán kem có thể trông chờ một câu trả lời nào nữa?
Trong trường hợp tốt nhất: “Rất vui lòng! Xin cô cho tôi ba chiếc”. Trong trường hợp xấu nhất: “Không, chúng tôi không ăn kem đâu, cô ạ”.
Bây giờ, các bạn hãy hình dung cảnh ông già đội mũ cói sau khi nghe câu hỏi lễ phép của cô bán kem, đã lập tức đỏ bừng mặt như gấc (1), cặp mắt đỏ ngầu, toàn thân chẳng hiểu sao lại run lẩy bẩy, nhoài người về phía trước với vẻ hăm dọa và nói bằng cái giọng thì thầm ghê rợn:
- A-a-a! Mi lại muốn làm khổ ta bằng cái món kem đáng nguyền rủa của mi sao? Ồ không, mi chẳng làm được cái trò đó đâu, hỡi cái con đê tiện kia! Ta đã thấy đủ lắm rồi cái món kem khốn kiếp của mi. Ta, một lão già ngốc nghếch, đã từng ngốn 46 chiếc kem ở trong rạp xiếc và chỉ chút xíu nữa thôi là ta đã đi chầu ông bà ông vải rồi. Con vô phúc kia, mi cứ run sợ đi, bởi vì ta sẽ biến mi thành một con cóc xấu xí ngay bây giờ!
Nói rồi, ông già Khốttabít đứng dậy và đã giơ hai cánh tay xương xẩu, nhăn nheo của mình lên trên đầu thì cậu bé ngồi bên cạnh có cặp lông mày bạc màu trên khuôn mặt đầy tàn nhang đã níu ngay hai tay ông già lại:
- Chị ấy không hề có lỗi trong việc ông ăn tham và ngốn quá nhiều kem... Xỉn mời ông ngồi vào chỗ cho và đừng có giở trò lẩm cẩm ra đây!
- Xin tuân lệnh! - Ông già nhũn nhặn đáp, buông tay xuống, ngồi vào chỗ của mình và nói thêm với cô bán kem đang chết khiếp bằng một giọng rất hách: - Mi có thể đi được.Ta tha tội cho mi đó. Hãy xéo đi cho rảnh và phải đội ơn suốt đời cậu thiếu niên này, bởi vì cậu ấy đã cứu sống mi.
Cho đến tận cuối trận đấu, cô gái bán kem không hề ló mặt ở lối đi này.

---
(1) Nguyên bản: “... như cà chua” - N.D.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-25 16:46:35Thái Nhi>
Cần phải có bao nhiêu quả bóng?

Ct.Ly hiệu đính


Trong khi ấy, sân vận động đã sục sôi bầu không khí tưng bừng đặc biệt vẫn thường có ở đó vào lúc diễn ra các trận đá bóng có tính chất quyết định. Loa phóng thanh kêu oang oang. Tám mươi nghìn người sôi nổi bàn cãi về kết quả có thể có của trận đấu sắp diễn ra. Vì sự bàn cãi đó, trên không trung luôn luôn đọng lại luồng âm thanh ồn ào, đều đều chẳng thể ví với gì được. Mọi người đều nóng lòng chờ đợi trận đấu bắt đầu.
Thế rồi cuối cùng, trên sân cỏ xanh non, xuất hiện trọng tài chính và hai trọng tài biên. Ông trọng tài cầm trên tay quả bóng sẽ phải chịu nhiều cú sút hôm đó, sẽ phải lướt trên cỏ và bay trên không chẳng phải chỉ một kilômét, để rồi sau mấy lần lọt trội vào cầu môn của bên nào đó, quả bóng ấy sẽ quyết định đội nào giành được thắng lợi trong trận đấu này. Trọng tài đặt quả bóng ở chính giữa sân. Cả hai đội đã từ phòng thay quần áo của mình chạy ra sân và đứng xếp hàng đối diện nhau. Hai thủ quân bắt tay nhau rồi rút thăm xem đội nào phải chơi ở bên bị chói nắng. Cái số phận hẩm hiu đó rơi vào đội bóng đá của hội thể thao “Dubilô”, làm cho đội bóng đá của hội thể thao “Saiba” và số khán giả cổ vũ cho đội này rất lấy làm thích thú.
- Hỡi cậu Vônca, cậu không thấy cần thiết phải giải thích cho kẻ đầy tớ chẳng xứng đáng của cậu biết rằng 22 chàng trai mà ta rất có cảm tình kia sẽ làm gì với quả bóng ư? - Ông Khốttabít kính cẩn hỏi.
Nhưng đáp lại, Vônca chỉ sốt ruột gạt đi:
- Rồi ông khắc hiểu tất cả ngay bây giờ!
Đúng lúc đó, một cầu thủ của đội “Dubilô” đã dùng mũi giày đá đánh binh vào quả bóng và trận đấu bắt đầu.
Vài phút sau, ông Khốttabít lại hỏi với vẻ không bằng lòng:
- Chẳng lẽ 22 chàng trai dễ thương ấy phải chạy trên cái sân rộng đến thế phải mất sức, ngã lên ngã xuống, xô đẩy nhau chỉ là để có dịp đuổi theo quả bóng da xấu xí trong vài khoảnh khắc? Và sở dĩ có toàn bộ chuyện đó là vì chỉ kiếm được mỗi một quả bóng cho mọi ngươi cùng chơi.
Nhưng Vônca mải mê theo dõi trận đấu nên lại chẳng trả lời ông già gì cả. Vả lại, đâu đến lượt ông Khốttabít: hàng tiền đạo “Saiba” đã đoạt được bóng và đang dẫn xuống gần cầu môn của “Dubilô”.
- Vônca, cậu biết sao không? - Giênia thầm thì với bạn mình. - Ông Khôttabít chẳng hiểu mô tê gì về bóng đá, mình thấy thế mà lại may đấy. Nếu không ông ấy sẽ giở trò lẩm cẩm ra ở đây thì lôi thôi to!
- Mình cũng thấy như thế. - Vônca đồng ý với Giênia và bỗng nhiên nó kêu ối lên một tiếng, rồi đứng phắt dậy.
Cùng một lúc với Vônca, toàn bộ tám mươi nghìn người xem đều đứng phắt dậy và la to với vẻ lo ngại. Tiếng còi của trọng tài ré lên, Các cầu thủ không cần đến tiếng còi đó cũng đã đứng sững tại chỗ rồi.
Đã xảy ra một chuyện gì đó chưa từng có trong lịch sử môn bóng đá và hoàn toàn không thể giải thích được nếu xét theo các quy luật của tự nhiên: 22 quả bóng màu sặc sỡ từ đâu đó ở trên trời rơi xuống và lăn khắp sân. Tất cả những quả bóng này đều được làm bằng da dê thuộc thượng hảo hạng.
- Bậy quá... Thật là càn quấy!... Một trò đùa khả ối... - Nhiều người la ối trên các khán dài.
Dĩ nhiên, phải lập tức tống cổ kẻ thủ phạm ra khỏi sân vận động và thậm chí phải giao cho công an, nhưng chẳng ai có thể phát hiện ra được thủ phạm. Trong số tám mươi nghìn người xem, chỉ có ba người - ông Khôttabít và hai cậu bạn trẻ tuổi của ông - biết rõ kẻ thủ phạm đó là ai.
- Ông làm trò gì thế hả? - Vônca thì thầm vào tai ông Khốttabít. - Ông đã làm ngừng cả trận đấu và làm đội “Saiba” bị mất một bàn thắng trông thấy.
Tuy nhiên, về chuyện chẳng may ấy của đội “Saiba”, Vônca không lấy gì làm buồn bã cho lắm: nó cổ vũ cho đội “Dubilô”.
- Ta muốn làm như vậy cho tốt hơn. - Ông Khốttabít cũng thì thầm thanh minh. - Ta nghĩ sẽ tiện hơn nếu mỗi cầu thủ đều có một quả bóng riêng để chơi cho thỏa thích, khỏi phải xô đẩy và chạy như điên trên cái sân rộng ấy.
- Cháu phải làm gì với ông bây giờ đây? - Vônca vung tay, ấn ông già ngồi xuống chỗ của mình và giải thích vội cho ông biết những nguyên tắc cơ bản của môn bóng đá. - Chỉ tiếc rằng đội “Dubilô” lại phải chơi ở bên bị chói nắng, còn qua hiệp nhì, khi hai đội đổi chỗ cho nhau, thì ánh nắng chẳng còn cản trở đội nào nữa. Hóa ra đội “Saiba” tự dưng lại vớ được những điều kiện tốt hơn! - Cuối cùng, Vônca nói với giọng bao hàm nhiều ý nghĩa. Nó hy vọng rằng ông Khốttabít sẽ chú ý đến lời nó nói.
- Thật vậy, như thế thì chẳng công bằng gì cả! - Ông già đồng ý và đúng lúc đó mặt trời liền lẩn sau một đám mây nhỏ và không hề ló ra cho tới khi kết thúc trận đấu.
Trong lúc đó, những quả bóng thừa đã được đưa ra khỏi sân, trọng tài đã tính số thời gian bị mất một cách vô ích và trận đấu lại tiếp diễn.
Sau khi được Vônca giải thích, ông Khốttabít bắt đầu theo dõi trận đấu với sự thích thú mỗi lúc một tăng. Vì chuyện 22 quả bóng mà bị mất một bàn thắng trông thấy, các cầu thủ “Saiba” tỏ ra bực bội. Còn ông già thì cảm thấy mình có lỗi đối với họ và cảm thấy lương tâm bị cắn rứt ghê gớm.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-04 14:20:37Thái Nhi>
Ông Khốttabít nhập cuộc
Ct.Ly hiệu đính

Tình cảm của Vônca và tình cảm của ông Khốttabít trái ngược nhau một cách hết sức nguy hại. Khi Vônca mặt tươi roi rói vì khoái chí (ấy là mỗi lần một cầu thủ nào đó trong đội “Saiba” sút trượt cầu môn của đối phương), ông già ngồi ủ rũ hơn cả gà rù. Nhưng khi cầu thủ tiền đạo “Dubilô” sút ra ngoài cầu môn của “Saiba”, cảnh tượng lại thay đổi hẳn: ông Khốttabít cười ha hả, còn Vônca thì bực tức ghê gớm.
- Ông Khốttabít, cháu chẳng hiểu ông thấy có cái gì đáng cười ở đây? Suýt nữa thì được một bàn rồi!
- Suýt nữa thì kể gì, hỡi cậu Vônca quý báu nhất của ta! - Ông Khốttabít đáp lại Vônca bằng một câu nghe lỏm được ở đâu đó.
Lần đầu tiên làm quen với bóng đá, ông già vẫn chưa biết rằng còn có những người cổ vũ cho đội này hoặc đội nọ. Ông coi nỗi buồn của Vônca về việc đội “Dubilô” bị chói nắng như là sự quan tâm bình thản của cậu bé vì lẽ công bằng. Dĩ nhiên, ông chẳng hề ngờ rằng chính ông đã trở thành một người cổ vũ và cả Vônca cũng không hề ngờ về chuyện đó. Những gì đang diễn ra trên sân cỏ đã thu hút Vônca đến độ nó chẳng mảy may chú ý đến mọi chuyện khác. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến những biến cố phi thường diễn ra trên sân vận động trong hôm đó.
Mọi chuyện bắt đầu từ việc đúng vào một lúc hết sức căng thẳng, khi hàng tiền đạo “Dubilô” tràn xuống gần cầu môn “Saiba”, Vônca ghé vào tận tai ông Khốttabít và sôi nổi thì thầm:
- Ông Khốttabít thân yêu ơi, xin ông hãy làm cho khung cầu môn của đội “Saiba” rộng thêm ra một chút khi các cầu thủ “Dubilô” sút bóng vào đó.
Ông già nghiêm mặt lại:
- Thế đội “Saiba” sẽ được lợi ra sao trong việc này?
- “Saiba” chẳng được lợi gì đâu. Chỉ “Dubilô” mới được lợi trong việc này thôi, ông ơi?
Ông già lặng thinh. Các cầu thủ “Dubilô” lại sút trượt. Rồi hai, ba phút sau, một chàng trai vạm vỡ trong hàng tiền đạo “Saiba”, dưới tiếng reo hò cổ vũ của người xem, đã sút một quả rất đẹp vào khung cầu môn của “Dubilô”.
Khi trận đấu chuyển sang sân “Saiba” trong chốc lát, thủ môn “Dubilô” nói nhỏ với một cầu thủ dự bị:
- Êgôrusca, cậu đừng cười mình nhé, nhưng mình sẵn sàng thề rằng cột cầu môn của mình tiếp tay cho cánh “Saiba” đấy.
-Sao-o-o-o?
- Cậu hiểu không, lúc cánh “Saiba” sút bóng vào khung cầu môn, cột bên phải... lời nói danh dự đấy... cột bên phải... đã dịch ra 50 xăngtimét và để cho qua bóng lọt vào... Mình đã thấy tận mắt chuyện đó.
- Cậu đã đo nhiệt độ chưa.. - Cầu thủ dự bị hỏi.
- Nhiệt độ của cái gì, của cột cầu môn ư?
- Không, nhiệt độ của cậu. Có lẽ cậu đang bị ấm đầu đấy!
- Xì! - Thủ môn bực tức nhổ nước bọt và chạy tới chạy lui trong khung cầu môn.
Các cầu thủ “Saiba” khéo léo dẫn bóng qua hàng hậu vệ và tiến nhanh xuống sát cầu môn của “Dubilô”.
Binh! Bàn thắng thứ hai trong vòng ba phút! Thêm vào đó, cả hai lần đều không phải lỗi của thủ môn “Dubilô”. Thủ môn đã chiến đấu như một con sư tử. Nhưng anh ta có thể làm gì được? Đúng vào lúc bóng sút vào khung cầu môn, xà ngang lại tự nâng lên, vừa vặn để quả bóng bạt vào sau khi chạm nhẹ vào đầu ngón tay của thủ môn.
Biết nói với ai chuyện này? Ai tin? Thủ môn buồn bã và hoảng sợ, hệt như một đứa bé bị lạc vào rừng rậm giữa đêm khuya.
- Đã thấy chưa? - Thủ môn hỏi Êgôrusca với giọng tuyệt vọng.
- Hình... hình... như mình đã thấy. - Cầu thủ dự bị lắp bắp trả lời - Nhưng cậu đừng nói với... với... ai cả. Dẫu sao thì cũng chẳng ai tin đâu.
- Đúng thế, chẳng ai tin đâu! - Thủ môn “Dubilô” buồn bã đồng ý.
Trong lúc đó, ở khán đài phía Bắc, đã nổi ra một cuộc cãi cọ không to tiếng.
Số là một giây trước khi có bàn thắng thứ hai của đội “Saiba”, Vônca nhận thấy ông già lén rứt một sợi râu.
“Sao ông ấy lại làm thế nhỉ?”, Vônca lo lắng nghĩ thầm. Nó vẫn chưa đoán được những biến cố nào sắp diễn ra trên sân bóng.
Vả lại ý nghĩ ấy chẳng đến với Vônca ngay lập tức.
Trận đấu hôm nay đã xoay chuyển quá tồi tệ đối với đội “Dubilô”. Chuyện đó chắc chẳng dính dáng gì đến ông già.
Nhưng bàn thắng thứ hai lọt vào cầu môn “Dubilô” đã lập tức làm sáng tỏ tình hình.
Đúng thế: hiệp nhất đã qua được một nửa và sự may mắn dường như cuối cùng đã quay trở lại với đội “Dubilô”. Trận đấu chuyển sang sân “Saiba”. Các cầu thủ “Dubilô” đang “hãm thành”, như người ta vẫn thường nói, và chẳng mấy chốc, một cầu thủ tiền đạo cừ nhất của đội này đã sút một quả bóng mạnh hết súc vào góc trên của cầu môn “Saiba”.
Toàn bộ tám mươi nghìn người xem đều nhỏm cả lên trong tâm trạng hồi hộp khôn tả. Bàn thắng chắc chắn này sẽ phải mở tỷ số cho đội “Dubilô”. Vônca và Giênia - cả hai đều cổ võ cho đội “Dubilô” - sung sướng nháy mắt với nhau, nhưng ngay lập tức hai cu cậu đều thở dài thất vọng: quả bóng đi rất chính xác, vậy mà nó lại đập vào xà ngang và đập mạnh đến nỗi tiếng đập của quả bóng vang khắp cả sân vận động.
Tiếng đập của quả bóng hòa lẫn với tiếng thét của thủ môn “Saiba”: cái xà ngang đột nhiên hạ xuống đã cứu thủ môn thoát khỏi một bàn thua trông thấy, nhưng lại giáng một cú đau điếng vào đầu anh ta.
Bây giờ, Vônca đã hiểu hết tất cả và nó hoảng sợ.
- Gátxan Ápdurắcman con trai của Khốttap, thế là thế nào? - Vônca nói với giọng nói run. - Ông thừa biết cả hai đứa cháu, cả cháu lẫn Giênia, đều cỗ vũ cho đối “Dubilô” kia mà? Còn ông, hóa ra lại trái ngược hẳn: ông cổ vũ cho đội “Saiba”?
- Than ôi, hỡi cậu Vônca may mắn, đúng như vậy đó! - Ông già đáp với vẻ đau khổ.
- Phải chăng cháu đã cứu ông thoát khỏi cảnh giam cầm trong cái bình gốm? - Vônca chua chát hỏi tiếp.
- Điều đó đúng như bây giờ đang là ban ngày và đúng như một tương lai rực rỡ đang chờ đón cậu.
- Thế tại sao ông lại tiếp tay cho đội “Saiba” chứ không phải cho đội “Dubilô”?
- Than ôi, ta không làm chủ được những hành động của mình! - Ông Khốttabít đáp và những giọt nước mắt từ lăn dài từ trên khuôn mặt nhăn nheo của ông. - Ta rất muốn đội “Saiba” thắng.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-04 14:21:35Thái Nhi>
Tình hình cực kỳ căng thẳng

Ct.Ly hiệu đính

Lúc bấy giờ, Vônca bèn tuyên bố với giọng hăm dọa:
- Ông coi chừng, sẽ lôi thôi to đấy?
- Muốn ra sao thì ra.
Đúng lúc đó, thủ môn “Dubilô” bị trượt ngay ở chỗ hoàn toàn khô ráo và để cho quả bóng thứ ba lọt vào cầu môn.
- À, ra thế đấy! - Vônca nghiến căng ken két. - Thế có nghĩa là ông không muốn yên lành tử tế? Được rồi!
Vônca nhảy vọt lên chiếc ghế băng và vừa chỉ thẳng ngón tay vào ông Khốttabít đang ngồi bên chân nó, vừa kêu lên:
- Các ông ơi! Ông già này lúc nào cũng tiếp tay cho đội “Saiba”!
- Ai tiếp tay? Trọng tài tiếp tay à? Cậu nói gì thế? - Những người xung quanh xôn xao.
- Ồ! không, không phải trọng tài!... Trọng tài thì dính dáng gì ở đây? Chính ông già này đang tiếp tay... Xin hãy để cho mình được yên?
Câu cuối cùng, Vônca nói với Giênia đang sợ hãi giật tay áo cậu bạn của mình. Giênia hiểu rằng cuộc cãi cọ giữa Vônca và ông già chẳng đem lại được điều gì tốt lành cả. Nhưng Vônca vẫn chẳng chịu thôi, mặc dù chẳng có ai tin lời nó nói.
Những người xung quanh cười phá lên:
- Thế chú em bảo rằng từ đây, từ khán đài Bắc này, ông già này lại tự dưng di chuyển được khung cầu môn! Hi hi hi! Chắc ông ta có trong túi cái nút bấm đặc biệt để điều khiển khung cầu môn từ xa? Có lẽ ông già này đã tung những quả bóng xuống sân cũng nên?
- Chính ông ấy đấy! - Vônca xác nhận bằng một giọng gay gắt, làm mọi người lại phá lên cười.
- Thế vụ động đất ở Chilê (1) cũng do ông già này gây ra sao? Hô hô hô! Ha ha ha! Hi hi hi!
- Không, không phải ông ấy gây ra vụ động đất ở Chilê đâu ạ! - Vônca thật thà giải thích. - Động đất là do những chuyển động tai hại của vỏ trái đất gây ra. Hơn nữa, chuyện đó lại xảy ra ở tận Chilê. Còn ông già này thì vừa mới ở trong bình chui ra.
Một người đứng tuổi hâm mộ bóng đá liền xen vào cuộc nói chuyện. Ông này ngồi đằng sau Vônca. Vônca biết ông, vì ông ở ngay cạnh nhà. Tên ông là Épghêni Dakharôvích. Chính ông đã đặt tên cho con mèo Xibia của mình là Khômích để tỏ lòng yêu mến người thủ môn nổi tiếng. Lúc tiếng cười đã bớt đi đôi chút, ông bèn bảo Vônca với ý tốt:
- Này, tốt hơn hết là chính chú em đừng nên chui vào bình, đừng tự làm mất uy tín trước mặt mọi người, đừng nói linh tinh và đừng cản trở ngại khác theo dõi trận đấu, dõi. Chú em ạ, sắp có chuyện đến nơi và chẳng cần chú em thì tình hình cũng đã xấu lắm rồi! (Ông Épghêni cũng cổ vũ cho đội “Dubilô”).
Quả thực, còn 11 phút nữa mới tới giờ giải lao mà tỷ số đã lên tới 14-0 nghiêng về phía đội “Saiba”.
Đội “Dubilô” luôn luôn gặp phải những chuyện kỳ lạ nào đó. Đội này dường như mới tập chơi: chuyền bóng kém cỏi và vô lý làm ai cũng phải sửng sốt, các cầu thủ chốc chốc lại ngã lăn kềnh, cứ như hôm nay họ mới tập đi vậy.
Còn hàng hậu vệ thì chơi hết sức khó hiểu. Các kiện tướng bóng đá lão luyện mới chỉ thấy quả bóng thôi đã hốt hoảng chạy giạt sang hai bên, trông chừng như đó là quả bom sắp nổ tới nơi.
Hai người bạn trẻ tuổi của chúng ta mới cảm thấy cay đắng làm sao! Hừ, đúng là cõng rắn cắn gà nhà: chúng lại đi giải thích cho ông Khốttabít thể lệ chơi bóng đá! Làm gì bây giờ? Làm sao giúp được các cầu thủ “Dubilô” để phục hồi sự công bằng đây? Biết làm gì với ông Khốttabít được? Thậm chí làm ầm lên cũng chẳng ăn thua. Cùng lắm thì cũng phải kiếm cách làm cho ông thần già không chú ý đến sân bóng, nơi đã diễn ra tấn bi kịch thể thao có một không hai ấy.
Giênia đã tìm ra lối thoát. Nó giúi vào tay ông Khốttabít tờ báo Thể thao Xôviết:
- Ông hãy đọc đi để mà biết, ông đang làm nhục trước con mắt cả nước một đội bóng tuyệt vời như thế nào!
Nói rồi, Giênia chỉ vào trang báo, nơi có hàng tít in bằng chữ lớn: “Một đội bóng đang lớn lên”.
- “Trong mùa bóng này, đội bóng đá của hội thể thao tự nguyện “Dubilô” đã nâng cao một cách rõ rệt tài nghệ của mình”. - Ông Khốttabít đọc thành tiếng. – “Trận đấu gần đây ở Cuibưsép mà đội này chơi với các cầu thủ đội bóng địa phương “Đôi cánh Xôviết”, đã chứng tỏ ra rằng qua đội này...”. Hay quá! - Ông Khốttabít nhận xét và mải mê đọc tiếp.
Hai cậu bé sung sướng nháy mắt cho nhau. Ông Khốttabít vừa mới cầm báo đọc, đội “Dubilô” đã như được thay hình đổi dạng. Hàng tiền đạo đội này lập tức chứng tỏ rằng bài báo đăng trên tờ Thể thao Xôviết hôm nay là hoàn toàn phù hợp với thực tế. Gần như mỗi cú sút của các cầu thủ đội “Dubilô” đều kèm theo luồng âm thanh dữ dội của mấy chục nghìn tiếng reo hò hân hoan. Trong vòng nửa phút, trận đấu đã chuyển sang sân “Saiba”. Sút.... Sút nữa đi!... Các cầu thủ “Dubilô” quả là những chàng trai tài ba.
Chỉ cần vài khoảnh khắc nữa thôi là cuối cùng họ sẽ “làm ướt” được cái tỷ số “khô khốc” đen đủi của mình.
- A ha! - Ông Epghêni bắt đầu la hét ầm ĩ sau lưng Vônca. - Các bạn đã thấy chưa! Tôi đã bảo mà!... Họ sẽ cho cánh “Saiba” chó ngáp phải ruồi biết tay...
Chao ôi, giá mà ông ấy kìm hãm được trong lòng nỗi hân hoan của mình! Giá mà ông ấy đừng thụi một nắm đấm vào hông ông Khốttabít với vẻ đắc thắng, cứ như các cầu thủ “Dubilô” là những cậu con cưng nhất hạng của ông hay chúng cũng là những học trò cưng của ông!
Giật mình vì cú thụi ấy ông Khốttabít rời tờ báo, liếc cặp mắt đã thành thạo xuống sân bóng, đánh giá được tình thế trong chớp mắt và trả tờ báo cho cu cậu Giênia lại, ỉu xìu ngay lập tức:
- Ta sẽ đọc sau.
Ông già vội vã rút một sợi râu và những nỗi khổ đau nhục nhã không sao hiểu nổi của đội “Dubilô” lại tiếp diễn.
15-0!
16-0!
18-0!
23-0!
Trung bình cứ 40 giây lại có một quả bóng bay vào cầu môn “Dubilô”.
Thủ môn “Dubilô” gặp phải chuyện gì thế kia? Tại sao anh lại áp mặt vào cột dọc và chỉ thét lên “Ối mẹ ơi!” mỗi khi bóng sút vào cầu môn của mình? Tại sao bỗng nhiên anh lại rời khỏi cầu môn với vẻ mặt trầm ngâm đúng vào lúc quyết định nhất, khi mà trận đấu diễn ra quyết liệt ngay sát khu phạt bóng?
- Thật là nhục nhã! - Từ các khán đài, người ta la ó thủ môn, - Thật là bậy bạ! Sao lại chơi như thế kia?
Nhưng anh ta, một thủ môn nổi tiếng, vẫn tiếp tục rời cầu môn đi qua một bên với bước chân không vững lúc các cầu thủ “Saiba vừa mới tiến lại gần.
- Cậu sao thế? - Cầu thủ dự bị vô cùng lo sợ. - Hay là cậu bị mất hồn rồi?
- Đúng là mình bị mất hồn thật. Lúc nào cũng như có người túm cổ mình mà lôi vậy. Mình chống lại, nhưng hắn ta lại xô mình ra khỏi cầu môn. Mình cố nhào tới quả bóng, còn hắn ta thì ép chặt mình vào cột dọc và mình bị ép chặt đến nỗi không sao vùng ra được.
- Chao ôi, cậu khốn to rồi, Grisa ơil
- Còn phải nói!...
Cảnh tượng trên sân vận động khác thường đến nỗi không một người nào có mặt ở đó, kể cả những người soát vé, các anh công an và những người bán hàng rong, lại không bày tỏ một cách ầm ĩ thái độ sửng sốt ghê gớm của mình trước những biến cố phi thường đang diễn ra trước mắt họ.
Chỉ có một ngươi nhăn mặt trong các trận đấu bóng là mặc dù cũng sửng sốt ghê gớm, nhưng không hề bày tỏ thái độ của mình trước những biến cố ấy. Đó là một người đàn ông trầm lặng đến kinh ngạc và điềm tĩnh đến kỳ lạ, 56 tuổi, hơi gầy, tóc bạc, cao lêu nghêu, có bộ mặt dài vàng khè, kín đáo. Bộ mặt đó rất ít biểu lộ sắc thái tình cảm cả những ngày có các trận đấu địa phương lẫn những ngày có các trận đấu chung kết, là những ngày mà chỉ một cú sút bóng thành công cũng đủ quyết định đội nào được đeo huy chương vàng vô địch quốc gia trong suốt cả năm. Người đàn ông ấy bao giờ cũng lạnh lùng, ngồi thẳng người, không cựa quậy và trên vầng trán cao của ông ta không thể hiện một điều gì cả như nhà thơ nọ đã nói nhân một việc khác hẳn.
Hôm nay, ông lại ngồi đúng cái chỗ quen thuộc của mình, ngay trước mặt ông Khốttabít. Ông cổ vũ cho đội “Dubilô”. Ta có thể hình dung được những cảm xúc mạnh nào đang vò xé bộ ngực lép kẹp, xương xẩu của ông, một bộ ngực của viên thư lại tiêu biểu. Nhưng chỉ cặp mắt đưa đi đưa lại và cái đầu quay trái quay phải một cách khó nhận, thấy mới chứng tỏ rằng ông ta không hề thờ ơ đối với những gì đang diễn ra trên sân bóng. Có lẽ ông bị đau tim, ông phải giữ mình, bởi vì những cảm xúc quá mạnh thường đe dọa ông bằng những chuyện rắc rối hết sức nghiêm trọng. Nhưng thậm chí khi ông quen tay lục tìm trong túi áo véttông của mình cái hộp con đựng đường tán nhỏ và cái lọ thuốc trợ tim, rồi bắt đầu vừa nhỏ từng giọt thuốc vào đường, vừa không rời mắt khỏi các cầu thủ, bộ mặt của ông vẫn bất động như cũ, cứ như ông nhìn vào chỗ trống vậy.Tỷ số 23-0 suýt nữa làm ông tắt thở. Ông bỗng hé cặp môi mỏng xám ngoét của mình và cất lên giọng khàn khàn:
- Giá mà bây giờ có người bán nước khoáng boócgiômi nhỉ!
Ông Khốttabít như mở cờ trong bụng, sung sướng trước những thành công kỳ diệu của các cầu thủ “Saiba”, cho nên hơn bất cứ lúc nào hết, ông sẵn sàng đem lại niềm vui cho mọi ngươi. Sau khi nghe câu nói của con người lạnh lùng ngồi trước mặt mình, ông già bí mật búng ngón tay toanh trách, thế là trên tay người đó bỗng xuất hiện từ đâu không biết một ly nước khoáng boócgiômi mát lạnh.
Bất cứ ai ở địa vị ngươi đó cũng phải lấy làm ngạc nhiên và ít ra cũng đưa mắt nhìn những người ngồi xung quanh. Thế nhưng ông ta, vẫn với bộ mặt lạnh như tiền không hề thay đổi, thản nhiên đưa cái ly đọng hơi nước bên ngoài lên miệng, song ông chưa kịp uống: Các cầu thủ “Dubilô” tội nghiệp đang bị đe dọa thua thêm bàn thứ 24.
Ngừơi đàn ông lạnh lùng nọ cứ ngồi đờ ra như thế với cái tay cầm ly giơ lên. Giênia vẫn còn mải nghĩ cách cứu đội bóng đã bị thua một cách nhục nhã, liền giật lấy ly nước khoáng boócgiômi trên tay người cổ vũ bơ phờ và hất toàn bộ chỗ nước trong ly vào bộ râu của ông Khốttabít.
- Quỷ quyệt làm sao! Quỷ quyệt, hèn hạ biết chừng nào! - Ông thần già kêu lên và bắt đầu vội vã rứt hết sợi râu này đền sợi râu khác.
Thay vì tiếng “tưng” trong trẻo, hai cậu bé thích thú nghe thấy tiếng rung ỉu xìu của một sợi dây nhỏ kéo căng.
- Thế tiếp tay cánh “Saiba” không phải là quỷ quyệt à? - Vôlca hỏi ông Khốttabít với giọng móc máy. - Thà cứ im đi cho được việc!
Trong lúc đó, hệt như sau bàn thua thứ 14, các cầu thủ “Dubilô” được hồi tỉnh, lại chọc thủng tuyến tiền vệ và tuyến hậu vệ của đội “Saiba”, quyết liệt dẫn bóng về phía cầu môn của đội này.
Do “ngồi chơi xới nước” đã lâu, hàng hậu vệ “Saiba” đâm ra “hư hỏng” và không thể nhanh chóng dốc hết mình để đương đầu với mối nguy bất ngờ. Còn thủ môn “Saiba” lúc đó vẫn thản nhiên ngồi nhằn hạt dưa trên thảm cỏ. Khi anh ta đứng dậy được, số hạt dưa chưa nhằn hết làm cho anh bị hóc, thì các cầu thủ “Dubilô” đã sút bóng vào ngay chính giữa khung cầu môn không có người bảo vệ. Thật là đáng đời!...
Nhưng đúng lúc đó, một tiếng “tưng” trong trẻo vang lên, làm cho hai cậu bạn trẻ của chúng ta rầu hết chỗ nói. Thì ra cuối cùng ông Khốttabít vẫn tìm được một sợi râu khô. Than ôi Giênia, Giênia, cặp mắt tinh tường và đôi tay chính xác của cậu để ở đâu? Tại sao cậu không đề phòng cẩn thận? Bây giờ thì đội “Dubilô” xôi hỏng bỏng không rồi.
- Ông Khốttabít thân yêu ơi, ông Khốttabít yêu quý ơi, ông hãy cho đội “Dubilô” gỡ lại tí chút đi! - Vônca năn nỉ.
Nhưng ông Khốttabít giả bộ chẳng nghe thấy gì hết và quả bóng đang bay vào giữa khung cầu môn “Saiba” bỗng ngoặt về phía cột dọc bên trái rồi giáng vào đó một cú mạnh đến nỗi quả bóng liền dội ngược trở lại, bay suốt cả sân, vừa bay vừa cố tránh các cầu thủ “Dubilô” đón đường nó, cứ như nó là một vật sống vậy và cuối cùng nó nhẹ nhàng lăn vào cái cầu môn nhiều đau khổ của đội “Dubilô”.
24-0! Với hai đội ngang sức nhau, tỷ số này đã làm cho mọi người phải sửng sốt.
Lúc bấy giờ, Vônca hoàn toàn mất tự chủ.
- Tôi yêu cầu ông, một lần cuối ra lệnh cho ông phải chấm dứt ngay lập tức cái trò nhạo báng đó! - Vônca khẽ rít vào tai ông Khốttabít. - Nếu không, tôi sẽ tuyệt giao vĩnh viễn với ông! Ông hãy chọn đi: hoặc là tôi, hoặc là đội “Saiba”!
- Chính cậu cũng là một người hâm mộ bóng đá chẳng lẽ cậu lại không hiểu nổi ta sao? - Ông già van nài. Nhưng khi cảm thấy, qua nét mặt của Vônca, hẳn là lần này tình bạn của hai ông cháu sẽ đi tiêu, ông Khốttabít đành phải nói nhỏ. - Ta xin sẵn sàng đợi lệnh của cậu
- Các cầu thủ “Dubilô” không hề có lỗi trong ông cổ vũ cho đội “Saiba”. Ông đã làm nhục họ trước con mắt cả nước! Bây giờ, ông hãy làm cho mọi người thấy rằng họ không hề có lỗi trong việc họ bị thua.
- Xin tuân lệnh, hỡi cậu thủ môn trẻ tuổi của tâm hồn ta?
Tiếng còi của trọng tài báo hiệu giờ giải lao vẫn còn chưa dứt thì 11 cầu thủ trong đội bóng đá của hội thể thao tự nguyện “Dubilô” đã bắt đầu đồng loạt hắt hơi và ho sù sụ.
Họ nối đuôi nhau xếp hàng chuệch choạc, rồi uể oải bước vào phòng thay quần áo của mình, ra đi vừa hắt hơi và ho liên tục.
Một phút sau, người ta phải gọi bác sĩ vào đấy: toàn đội đều cảm thấy khó chịu trong người. Bác sĩ bắt mạch tất cả các cầu thủ đề nghị họ cởi áo, sau đó xem khoang miệng rồi đến lượt mình, ông gọi trọng tài vào phòng thay quần áo của đội “Dubilô”:
- Này, anh Luca Épghêniêvích, phải hoãn trận đấu lại thôi, còn tỷ số trận đấu thì phải coi là không có giá trị.
- Tại sao vậy?
- Tại vì đội “Dubilô” không thể xuống sân bóng ít nhất là 7 ngày. - Bác sĩ trả lời với vẻ bối rối. - Cả đội đều bị bệnh.
- Bị bệnh?! Bệnh gì?
- Một trường hợp rất kỳ lạ trong y học, anh Luca Épghêniêvích ạ. Tất cả 11 anh chàng người lớn hẳn hoi này đã đồng loạt mắc một chứng bệnh trẻ con: bệnh sởi! Luca Épghêniêvích, chính tôi cũng không thể nào tin được nếu như tôi không vừa khám họ hết sức kỹ lưỡng...
Trận đấu có một không hai trong lịch sử môn bóng đá đã kết thúc như vậy đó. Trong trận này, một người cổ vũ đã có thể dùng phép thuật để tác động đến quá trình diễn biến của trận đấu. Như các bạn thấy đấy, việc đó chẳng đem lại điều gì tốt lành cả.
Trong một bài báo đăng trên tạp chí Bệnh sởi, giáo sư nổi tiếng L.I. Côkliuxơ đã mô tả tỉ mỉ sự việc hiếm có: 11 vận động viên người lớn đã đồng loạt mắc bệnh sởi lần thứ hai trong đời mình, nhưng hôm sau ngủ dậy lại hoàn toàn khỏe mạnh. Bài báo có đầu đề là “Đấy, đã thấy chưa!”. Bài này thành công tới mức không thể nào mượn được số tạp chí có đăng bài đó trong các thư viện. Số tạp chí ấy liên tục được mọi người chuyền tay nhau đọc.
Vì thế các bạn đọc thân mến của tôi, tốt hơn hết là đừng đi tìm số tạp chí ấy. Dẫu sao thì các bạn cũng chẳng tìm được nó đâu, chỉ tổ mất thì giờ vô ích mà thôi.

---
(1) Một nước ở châu Mỹ Latinh, cách Liên Xô rất xa - N.D.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-25 16:50:45Thái Nhi>
Làm lành

Ct.Ly hiệu đính

Đám mây nhỏ che mặt trời khi nãy bây giờ đã bay khuất sau đường chân trời, bởi vì chẳng còn cần đến nó nữa. Trời lại nắng. Tám mươi nghìn ngươi bắt đầu rời khỏi sân vận động, từ từ bước qua những lối đi hẹp xây bằng bê tông.
Mọi người đều đi thong thả - ai cũng muốn nói lên ý kiến của mình về những điều chưa từng thấy của trận đấu vừa kết thúc hết sức kỳ lạ. Nhiều phỏng đoán được đưa ra, phỏng đoán này lại rắc rối, rồi phỏng đoán thêm kia, nhưng ngay cả những người giàu óc tưởng tượng nhất cũng không tài nào hình dung nổi một điều gì đó có thể gợi đến, dù là xa xôi, những nguyên nhân thật sự dẫn đến việc làm hỏng trận đấu.
Chỉ có ba người xem là không tham gia bàn cãi. Cả ba lặng lẽ rời khán đài Bắc. Vẫn lẳng lặng, họ leo lên một chiếc trôlâybuýt chật ních người, rồi họ lại lẳng lặng xuống xe ở phố Hàng Thịt săn và đi về nhà.
- Chơi bóng đá hay đấy! - Cuối cùng, ông Khốttabít đánh bạo lên tiếng.
- Hừ... ư m... - Vônca hầm hừ đáp lại.
- Theo ta, khoái nhất là lúc sút bóng vào khung cầu môn của đối phương? - Ông Khốttabít nói tiếp với giọng gượng gạo. - Có đúng không, hỡi cậu Vônca?
- Hừ-ừm... - Vônca lại hầm hừ.
- Cậu vẫn còn giận ta ư, hỡi cậu thủ môn của tâm hồn ta? Ta sẽ cắn lưỡi chết nếu cậu không trả lại ta ngay lập tức!
Ông già bước lập cập bên cậu bạn đang giận dỗi của mình, vừa buồn bã thở dài, vừa nguyền rủa cái giờ mà ông đã đồng ý đến sân vận động.
- Ông lại còn hỏi nữa à? - Vônca trả lcờ ông già với giọng gay gắt, nhưng rồi nói tiếp với giọng đã dịu đi rất nhiều, - Ông già ơi, ông đã gây ra biết bao chuyện rắc rối. Cháu sẽ nhớ đến già! Thế mà cũng đòi là một ngươi cổ vũ! Khô-ô-ng, chúng cháu sẽ chẳng đi xem đá bóng với ông nữa đâu. Chúng cháu chẳng cần vé của ông nữa
-. Lời nói của cậu là một đạo luật đối với ta! - Ông Khốttabít vội vã đáp và rất hài lòng là đã thoát được một cách khá dễ dàng. - Sau này, ta chỉ cần thỉnh thoảng cậu kể lại cho ta nghe về các trận đấu bóng, thế là đủ lắm rồi.
Hai ông cháu không còn giận dỗi nhau nữa và lại đi tiếp.
Lúc về gần tới khu nhà của Vônca, hai ông cháu nghe thấy tiếng ồn ào, kêu la, khóc lóc.
- Lại bắt đầu rồi - Vônca nói. - Xêriôsca Heo lại làm trò đấy.
- Làm trò? - Ông Khốttabít hỏi. - Cậu ta là diễn viên à?
- Nó là một thằng càn quấy, - Vônca đáp. - Bọn trẻ nhỏ đúng là khốn khổ vì nó.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-25 16:51:48Thái Nhi>
Chuyện lạ thường ở đồn công an

Ct.Ly hiệu đính


Mười phút sau, năm thằng bé tuổi từ 11 tới 14, đứa nọ nắm chặt tay đứa kia, kéo nhau vào phòng trực ban ở đồn công an.
- Ai trực ban ở đây ạ? - Đứa lớn nhất, tên gọi đùa là Xêriôsca Heo, hỏi.
- Tôi! - Thiếu úy công an ngồi sau rào chắn bằng gỗ trả lời.
- Thưa đồng chí thiếu úy, chúng em đến gặp đồng chí đấy ạ! - Xêriôsca Heo nói với giọng hết sức rầu rĩ, tay vẫn kéo cả bầy nhóc theo sau mình. - Xin đồng chí hãy lập biên bản về chúng em.
- Sa-o-o?... Biên bản à?... Tại sao các em lại bảo tôi lập biên bản về các em? Vì tội gì vậy?
- Vì tội càn quấy ạ, thưa đồng chí thiếu úy! - Cả năm đứa đồng thanh đáp, chúng vẫn nắm tay nhau như trong điệu múa vòng tròn.
- Các em hãy đi khỏi đây ngay! - Thiếu úy trực ban bực bội xua tay đuổi bọn trẻ. - Không được cản trở chúng tôi làm việc! Hết trò đùa rồi hả? Tôi lập biên bản thật cho bây giờ?
- Thưa đồng chí trực ban, đó chính là việc chúng em đề nghị đồng chí đấy ạ. Xin thú thật là chúng em đã giở trò càn quấy.
- Làm gì có chuyện chính những ông tướng càn quấy lại biểu hiện ý thức tự giác cao như vậy! - Thiếu úy trực ban phì cười.
- Dạ, chúng em không hề có ý thức tự giác cao đâu ạ. Chúng em chẳng tự ý đến đây. Một ông già nhỏ nhắn đã bắt chúng em phải đến. Chúng em phải nhất thiết yêu cầu đồng chí lập biên bản về chúng em, nếu không thì suốt đời chúng em phải nắm tay nhau như thế này.
- Ai bảo các em như vậy? - Thiếu úy trực ban cười sằng sặc.
- Chính ông già ấy đã bảo thế ạ.
- Nào, bây giờ các em hãy buông tay nhau ra xem! - Thiếu úy nghiêm nghị ra lệnh cho bọn trẻ.
- Chúng em không thể buông tay nhau được ạ, thưa đồng chí trực ban! - Xêriôsca Heo buồn bã trả lời thay cho cả bọn. - Chúng em đã thử rồi mà không được. Ông già ấy bảo chúng em rằng một khi các anh công an chưa lập biên bản về chúng em thì tay chúng em vẫn cứ dính liền vào nhau. Sau khi lập biên bản mà chúng em lại giở trò càn quấy thì tay chúng em lại dính liền vào nhau như cũ. Lúc đầu, ông ấy bảo chúng em không được nghịch láo, nhưng chúng em đã không nghe thì chớ, lại còn chế giễu ông ấy...
- Chế giễu người già thì thật là đáng xấu hổ! - Thiếu úy trực ban nhận xét.
- Đúng thế ạ! Thế rồi ông già ra lệnh cho chúng em phải tự đến đồn công an thú tội, bởi vì ông ấy không có thì giờ đi cùng chúng em. Thế là chúng em đi đến đây.
- Thôi được... - Thiếu úy trực ban nói và vừa tủm tỉm cười ra vẻ còn hoài nghi, vừa lập biên bản theo đúng mọi thể thức. Rồi anh ký tên.
- Xong! Các em hãy buông tay nhau đi!
- Vẫn chưa được ạ, thưa đồng chí thiếu úy! - Xêriôsca Heo nói. - Có lẽ vẫn chưa xong hoàn toàn. Đồng chí hình như còn quên một cái gì đó.
- A, đúng rồi! - Thiếu úy trực ban tỏ vẻ ngạc nhiên, xác nhận. - Tôi quên mất cái dấu chấm.
Anh liền đặt sau chữ ký của mình một cái dấu chấm to tướng, thế là năm ông nhóc thở phào nhẹ nhõm: cuối cùng, chúng đã buông được tay nhau!
- Các em hãy nói với cha mẹ ngày mai thế nào cũng phải đến đây nhé.
- Vâng ạ. - Xêriôsca Heo lúng túng. - Cha mẹ chúng em là người lớn, tự họ đều biết phải làm gì. Vả lại, đây cũng chẳng phải là lần đầu...
- À mà này, ông già nhỏ nhắn ấy tên là gì hả các em? - Thiếu úy trực ban hỏi với theo Xêriôsca Heo.
- Em không biết ạ. Ông ấy không phải là người ở phố chúng em. Có một cậu bé cùng đi với ông ấy. Cậu ta gọi ông ấy bằng một cái tên là lạ nào đó... nghe như Pôtabít, nhưng lại không hẳn là Pôtabít...
- Một ông già tuyệt vời! - Thiếu úy trực ban nói và rít một hơi thuốc lá với vẻ mơ mộng. - Ước gì có thật nhiều ông già Pôtabít như thế...
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-25 16:54:10Thái Nhi>
Tìm Ôma ở đâu?

Ct.Ly hiệu đính


Nhìn bộ mặt tươi như hoa của ông Khốttabít, không ai có thể nghĩ rằng ông vừa mới bị bệnh rất nặng.
Đôi má ngăm ngăm của ông vẫn giữ được cái sắc hồng hào của ngươi già, bước đi của ông rất nhẹ nhàng và nhanh nhẹn như cũ, nụ cười toe toét làm tươi khuôn mặt cởi mở và đôn hậu của ông.
Chỉ có Vônca đã từng tìm hiểu ông Khốttabít rất kỹ mới có thể nhận thấy rằng ông thần luôn luôn bởi một ý nghĩ thầm kín nào đó giày vò. Ông Khốttabít thường thở dài, trầm ngâm vuốt râu và thỉnh thoảng từ đôi mắt trung thực, thân ái của ông lại lăn ra một giọt nước mắt lớn.
Vônca giả bộ như chẳng nhận thấy gì và không làm cho ông già phải phật ý vì những câu hỏi thiếu tế nhị. Cậu bé tin chắc rằng rốt cuộc thế nào ông Khốttabít cũng tự bộc lộ nỗi lòng của mình. Và đúng như vậy thật. Một hôm, khi ráng chiều uy nghi đã nhuộm hồng mặt sông Mátxcơva êm đềm, ông Khốttabít rủ rỉ tâm sự với cậu bạn nhỏ:
- Hỡi vị cứu tinh hào hiệp của các ông thần, nỗi đau buồn và chán ngán đang giày vò trái tim già nua của ta. Ta chẳng thể nào ăn ngon ngủ yên khi ta vẫn phải lo nghĩ về chú em lưu lạc đáng thương của ta, về số phận hãi hùng và bế tắc của chú ấy. Càng nghĩ về chú ấy bao nhiêu, ta lại càng thấy cần phải đi tìm chú ấy bấy nhiêu, và phải đi tìm chú ấy càng sớm càng tốt. Cậu thấy thế nào, hỡi cậu Vônca sáng suốt con trai của Aliôsa? Và nếu cậu tán thành quyết định ấy của ta, nếu cậu có sẵn lòng làm cho ta sung sướng bằng cách cùng ta chia sẻ mọi niềm vui và mọi nỗi gian truân của cuộc tìm kiếm đó không?
- Thế ông định tìm em của mình ở đâu? - Vônca hỏi với vẻ thành thạo, nó đã quen tỏ ra bình tĩnh đối với mọi đề nghị của ông Khốttablt, kể cả những đề nghị bất ngờ nhất.
- Cậu có nhớ không, hỡi cậu Vônca, ngay từ lúc mới bắt đầu sự quen biết hết sức may mắn của chúng ta, ta đã kể cho cậu nghe rằng các lão thần của vua Xalômông đã quăng cái bình đồng giam cầm em ta xuống một trong những biển ở phương Nam. Dĩ nhiên là phải tìm chú Ôma Iuxúp ở đấy, bên bờ biển của những nước oi bức.
Vônca thích thú được dịp may đi du lịch những vùng biển phương Nam. Nó liền nói:
- Thôi được, cháu đồng ý. Cháu sẽ đi với ông. ông đi đâu, cháu đi đấy, như người ta vẫn thường nói vậy. Tốt hơn nữa là… - Nói đến đây, Vônca ngập ngừng.
Nhưng ông Khốttabít đã vui lên, liền tiếp lời:
-… đưa Giênia con trai của Côlia, cậu bạn tuyệt vời của chúng ta, đi cùng.
- Đúng đấy!
- Điều đó thì khỏi phải bàn.
Ngay lúc đó, hai ông cháu đã quyết định rằng đoàn thám hiểm với nhiệm vụ đi tìm người em bất hạnh của ông già Khốttabít sẽ lên đường chậm nhất là sau hai ngày nữa.
Nhưng nếu vấn đề thời gian khởi hành không phải bàn cãi thì lại bộc lộ hết sức bất ngờ những bất đồng khác nghiêm trọng về vấn đề sử dụng phương tiện di chuyển nào trong thời gian đi tìm kiếm.
- Chúng ta sẽ đi bằng thảm bay. - Ông Khốttabít đề nghị. - Cả ba ông cháu chúng ta sẽ ngồi rất gọn trên thảm bay.
- Khô-ô-ông! - Vônca dứt khoát phản đối. - Cháu chẳng bằng lòng đi thảm bay nữa đâu. Cháu không đồng ý đâu! Cháu chẳng muốn bị lạnh cóng như con chó nữa đâu!
- Ta sẽ bảo đảm quần áo ấm cho các cậu, hỡi cậu Vônca may mắn! Nếu cậu muốn, giữa tấm thảm sẽ liên tục có một đống lửa lớn không bao giờ tắt và ông cháu ta có thể sưởi ấm bên đống lửa đó trong suốt thời gian bay.
- Không, không và không! - Vônca xẵng giọng đáp. - Xin miễn bàn đến chuyện thảm bay! Tốt hơn hết là chúng ta sẽ đi tàu hỏa đến Ôđétxa (1), còn từ Ôđétxa thì...
Thế rồi Vônca trình bày tiếp kế hoạch của cuộc hành trình. Kế hoạch này được ông Khốttabít chấp nhận dễ dàng. Chừng nửa giờ sau, kế hoạch ấy được trình bày cặn kẽ với Giênia và cậu ta đã thích thú tán thành.

---
(1) Thành phố cảng ở phía Nam Liên Xô, bên bờ Hắc Hải - N.D.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-25 16:55:42Thái Nhi>
"Ta ở lại đợi chuyến sau thôi!"

Ct.Ly hiệu đính


Ba nhà du lịch của chúng ta đã đi đến ga, trên đường gần như không xảy ra một chuyện rắc rối nào cả. Nếu như không tính việc xảy ra lúc lên ôtôbuýt thì có thể nói là hoàn toàn không có một chuyện rắc rối nào hết.
Còn việc xảy ra lúc lên ôtôbuýt thì đầu đuôi như sau:
Vônca và Giênia phải vất vả lắm mới lên được chiếc ôtôbuýt chật ních người. Ông Khốttabít đã đặt một chân lên bậc xe để đi theo hai cậu bạn nhỏ của mình. Đúng lúc có ông bán vé từ ở cửa trên xe thò đầu ra và nói với giọng hách dịch:
- Hết chỗ rồi ôtôbuýt chuẩn bị chạy!
Bởi vì câu nói của ông ta không gây được ấn tượng nào đối với ông già nhỏ nhắn đội mũ cói nên ông ta lại nói riêng với ông già:
- Ông ơi, ta ở lại đợi chuyến sau thôi!
Ông già nhìn ông già bán vé với vẻ kinh ngạc, rồi rút chân khỏi bậc xe và cảm động nói:
- Hỡi ông chủ của tôi, nếu điều đó làm cho ông vui lòng thì tôi chỉ có thể lấy đó làm hân hạnh, mặc dù tôi đang rất vội đi tìm chú em bất hạnh của tôi.
Ông bán vé lúc ấy đã kịp ra hiệu cho xe chạy, nhưng bỗng chẳng hiểu tại sao ông ta lại thấy mình đứng ở dưới mặt đường, bên cạnh ông già nhỏ nhắn đội mũ cói. Ông già này kính cẩn cúi chào ông bán vé, còn ông bán vé thì sửng sốt đưa mắt nhìn theo chiếc ôtôbuýt đã khuất nhanh sau chỗ ngoặt.
Ông Khốttabít kính cẩn nói với ông bán vé đang đứng ngay cán tàn:
- Kính thưa quý ông mà tôi chưa được hân hạnh quen biết, tôi xin mạo muội bày tỏ niềm tin hết sức sâu sắc rằng trong khi đứng đợi chuyến xe sau, tôi và ông sẽ dùng thì giờ ở đây một cách lý thú nhất.
Nhưng lúc bấy giờ, ông bán vé đã chợt tỉnh và ông ta vừa gào thét, vừa cắm đầu chạy theo chiếc ôtôbuýt thiếu mất người bán vé.
- Hãy dừng lại! - Ông bán vé gào lên, hai chân chạy thoăn thoắt còn hai tay thì ôm khư khư cái túi nặng, tiền lẻ trong túi kêu loảng xoảng. - Hãy dừng chiếc ôtôbuýt lại, các ông các bà ơi!...
Ông Khốtt bít ngạc nhiên trước thái độ kỳ quặc của ông bán vé. Lúc đầu, ông còn chăm chú nhìn theo ông ta, sau cùng, khi ông ta đã chạy khuất sau chỗ ngoặt, nơi mà Vônca đã báo cho chiếc ôtôbuýt dừng lại, ông Khốttabít liền đuổi kịp ông ta một cách dễ dàng và thậm chí còn vọt lên xe trước cả ông ta nữa.
Trong chốc lát, chiếc ôtôbuýt lại chuyển bánh đi tiếp. Ông Khốttabít cúi người về phía hai cậu bạn của mình, vừa thì thầm với chúng, vừa đưa cặp mắt không đồng tình nhìn ông bán vé lúc ấy vẫn chưa hoàn hồn.
- Ông bán vé này là một con ngươi kỳ quặc, rất kỳ quặc! Ta không hề bắt ông ta phải nói. Chính ông ta đã tự ý đề nghị với ta: “Ta ở lại đợi chuyến sau thôi!”. Ta lấy làm sung sướng và ngạc nhiên trước thịnh tình của một người sẵn sàng ở lại với ta cho có bạn, để giúp ta có thể dễ dàng giết thì giờ trong khi đứng đợi chuyến xe sau. Nhưng lúc chiếc xe chưa chuyển bánh, ông ta đang đứng cạnh ta trên mặt đường liền nghĩ lại, bỏ mặc ta trong cảnh cô đơn và chạy đuổi theo ôtôbuýt. Một con người kỳ quặc, rất kỳ quặc!
Ông Khốttabít kể xong và nhìn ông bán vé với vẻ thương hại.
- Ông ấy hoàn toàn không có ý định ở lại với ông trên mặt đường. - Vônca cố giải thích cho ông già hiểu. - Ông ấy bảo ông “Ta ở lại đợi chuyến sau thôi!” với cái nghĩa là chỉ ông ở lại thôi, còn ông ta vẫn cứ đi.
Nhưng ông Khốttabít lại hiểu lời giải thích của Vônca theo kiểu của mình.
Ông hằn học nhìn về phía ông bán vé và nói với giọng gay gắt:
- Bây giờ ta mới thấy rõ rằng đó không những là một con người kỳ quặc, mà còn là một con ngươi rất giả dối!
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-04 14:23:43Thái Nhi>
Chuyện kể của nhân viên phục vụ toa hạng nhất trên đoàn tàu tốc hành Mátxcơva - Ôđétxa về những gì đã xảy ra trên đoạn đường giữa ga Nara và Malưi Iarôxlavét

(Nhân viên phục vụ toa kể cho người thay ca đã ngủ trong khi xảy ra chuyện lạ này)
Ct.Ly hiệu đính

“Cudima Êgôrứt, mình đã đánh thức cậu dậy vì trong toa chúng ta vừa xảy ra một chuyện kỳ lạ, hết sức khó hiểu.
Cậu biết đấy, mình đã trải giường cho mọi hành khách theo đúng quy định. Ở buồng số 7, lúc trải giường, mình để ý thấy hành khách ở buồng này gồm có một ông già nhỏ nhắn để râu, đội mũ cói kiểu trước cách mạng, và hai cậu bé. Mình nghĩ hai cậu bé này chắc là bằng tuổi nhau. Cậu biết không, ba người này không hề mang theo một chút hành lý nào cả. Tức là chỉ đi người không thôi!
Một cậu bé tóc vàng nhạt, mặt đầy tàn nhang, hỏi mình:
- Thưa đồng chí nhân viên phục vụ, em muốn đến toa ăn thì đi lối nào ạ?
Mình đáp:
- Rất tiếc là trên đoàn tàu chúng tôi không có toa ăn.
Lúc ấy, cậu bé nhìn ông già, ông già nháy mắt với cậu ta. Cậu ta bèn nói:
- Thôi được, nếu không có toa ăn thì chúng tôi cũng chẳng cần đến nước trà của đồng chí đâu.
Mình nghĩ lạ thật, làm sao từ đây đến tận Ôđétxa mà các vị lại không cần đến nước trà của tôi được? Sau đó, mình đi vào buồng riêng của chúng ta, nhưng cửa vẫn để he hé.
Lúc bấy giờ ở trong toa, mọi hành khách đã đi ngủ từ lâu và hẳn là đã mơ đến giấc mơ thứ ba rồi, nhưng ở buồng số 7 vẫn có tiếng nói chuyện rì rầm. Họ nói với nhau những gì, mình không nghe rõ. Mình chỉ biết là họ nói chuyện rì rầm với nhau mà thôi.
Sau đó, cửa buồng số 7 bỗng mở ra và đúng cái ông già nhỏ nhắn nọ thò đầu ra khỏi cửa. Ông già không nhận thấy mình đang theo dõi ông ấy. Ông hất cái mũ cói kiểu trước cách mạng ra sau gáy. Cudima Êgôrứt, cậu có đoán được ông ấy làm gì không? Mình xin thề là mình không bịa đâu! Ông ấy đã rút luôn một nắm râu trong bộ râu cằm của ông ta. Mình mà bịa thì mình sẽ chết thẳng cẳng ngay tại chỗ này!
Mình nghĩ: cha mẹ ơi, đúng là một lão điên rồi! Hừ, đúng là vớ bở! Nhè đúng ca trực của mình, lại tống cho một lão điên. Mình lẳng lặng đợi xem rồi sẽ ra sao. Sau đó, thì ra ông già ngắt nắm râu ấy ra làm nhiều phần rồi ném xuống sàn toa và lẩm bẩm một câu gì đó. Lúc ấy, mình lại càng tin chắc rằng ông hành khách luống tuổi này là không bình thường và ắt hẳn đến Brianxcơ thì phải mời ông ta xuống thôi. Mình nghĩ: Chao ôi, chẳng tránh khỏi lôi thôi với ông già này đâu! Có lẽ ngay bây giờ, ông ta sẽ nhảy xổ vào mọi người và đập vỡ cửa kính cho mà xem...
Mình nhìn kỹ thì không, ông già không hề nhảy xổ vào ai cả, vẫn đứng yên và lẩm bà lẩm bẩm. Sau dó, ông đi vào buồng của ông ta.
Thế rồi mình bỗng nghe thấy ở ngoài hành lang có tiếng người đi chân đất lạch bạch. Nhưng không ở đằng trước, mà ở đằng sau mình. Bấy giờ, mình mới hiểu rằng có ai đó đã từ ngoài cửa toa bước vào trong toa Nhưng mình lại ngạc nhiên hết sức, bởi vì khi tàu chạy, bao giờ mình cũng khóa cửa toa.
Mình nhìn về phía sau và Cudima Êgôrứt ạ, xin thề với cậu là mình không bịa..., mình thấy bốn chàng trai dũng mãnh có nước da rám nắng như ngườì đi tắm biển và chẳng mặc quần áo gì cả, chỉ quấn độc một cái khố mà thôi. Cả bốn đều đi chân đất. Người nào người nấy bắp thịt nổi lên cuồn cuộn!
Mình đi ra khỏi buồng riêng của chúng ta và nói với họ:
- Thưa các ông, có lẽ các ông vào nhầm toa rồi. Đây là toa hạng nhất các ông ạ và tất cả các buồng ở đây đều đã có người nằm.
Bốn chàng trai nọ đồng thanh nói:
- Hãy câm mồm, hỡi tên phản trắc kia! Bọn ta biết bọn ta phải đi đến đâu chứ. Đây chính là nơi bọn ta cần đến.
Lúc bấy giờ mình nói:
- Vậy thì tôi yêu cầu các ông cho xem vé.
Bốn gã lại đồng thanh nói
- Mi chớ phỉnh phờ bọn ta, hởi tên ngoại bang kia, bởi vì bọn ta phải vội đến với ông chủ của bọn ta?
Mình nói:
- Tôi lấy làm ngạc nhiên vì các ông lại gọi tôi là ngoại bang. Tôi là một công dân Xôviết và tôi đang ở tại đất nước thân yêu của mình. Đó là một. Hai là, ở đất nước chúng tôi, ngay từ hồi Cách mạng tháng Mười, đã không còn các ông chủ nữa.
Gã nhiều tuổi trong bọn nói:
- Tên phản trắc kia, mi phải lấy làm xấu hổ thì mới đúng! Mi lợi dụng lúc tay bọn ta bận bê bưng nên bọn ta không thể giết mi được vì cái tội hỗn láo của mi. Việc lợi dụng đó thật là bất chính.
Lúc ấy, mình mới nhận thấy rằng cả bốn gã trần trụi ấy đều đang è cổ bê đủ thứ món ăn. Một gã bê cái khay nặng, trên đó có nguyên cả một con cừu non quay vàng rộm và một ít cơm. Gã thứ hai bê một cái giỏ to tướng đựng toàn táo, lê, mơ, nho, mặc dù, Cudima Êgôrứt ạ, mình xin lưu ý cậu rằng còn hơn một tháng nữa mới đến mùa trái cây. Gã thứ ba đội trên đầu một cái nom tựa cái ché, trong cái ché ấy đựng thứ nước gì đó kêu lóc bóc. Ngửi mùi, mình đoán mùi rượu vang, tựa như rượu rixlinh. Còn gã thứ tư thì bê cái khay đựng đầy bánh nướng và bánh ngọt. Thú thực với cậu là mình đứng há hốc cả mồm.
Gã nhiều tuổi nhất bọn lại nói:
- Tên phản trắc kia, tốt hơn hết là mi chỉ cho bọn ta biết buồng số 7 ở đâu, bởi vì bọn ta phải nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Lúc ấy mình bắt đầu đoán ra và mình bèn hỏi:
- Ông chủ của các ông trông như thế nào? Có phải đó là một ông già nhỏ nhắn để râu cằm không?
Cả bốn gã đều nói:
- Đúng ông ấy rồi đấy. Đó chính là người bọn ta hầu hạ.
Mình dẫn họ đến buồng số 7. Trên đường đi, mình nói:
- Ông chủ của các ông sẽ phải nộp phạt vì các ông đi tàu không có vé. Các ông hầu hạ ông ấy đã lâu chưa?
Gã nhiều tuổi nhất bọn trả lời:
- Bọn ta hầu hạ ông ấy 3.500 năm rồi”.
Mình nghĩ là mình nghe lầm, bèn hỏi lại:
- Các ông nói bao nhiêu năm?
Gã nọ đáp:
- Ta đã nói bao nhiêu năm thì bọn ta hầu hạ bấy nhiêu năm. Ba nghìn năm trăm năm!”.
Ba gã còn lại gật đầu, ý nói gã cao tuổi nhất bọn đã nói đúng.
Mình nghĩ: “Cha mẹ ơi, một lão điên còn chưa đủ với con hay sao mà lại còn tống thêm bốn lão nữa!”.
Tuy nhiên, mình vẫn tiếp tục chuyện trò với họ như với nhưng hành khách tỉnh táo. Mình nói:
- Sao lại có thể tệ đến thế nhỉ! Các ông hầu hạ ngần ấy năm, vậy mà ông chủ chẳng buồn sắm cho các ông lấy một bộ quần áo làm việc cho nó tử tế. Ai lại để cho các ông, xin lỗi, cứ trần như nhộng thế kia!
Gã cao nhất bọn đáp:
- Bọn ta chẳng cần quần áo làm việc. Mà bọn ta thậm chí cũng chẳng biết quần áo làm việc là cái quái gì nữa.
Lúc ấy, mình bèn nói:
- Thật là kỳ lạ khi nghe điều đó từ mồm một người có thâm mến phục vụ cao như vậy. Các ông có lẽ không phải người ở đây? Các ông thường sống ở đâu vậy?
Gã nọ đáp:
- Bọn ta vừa từ nước Arabi cổ đại tới đây.
Mình nói:
- Vậy thì tôi đã hiểu hết rồi. Đây là buồng số 7. Các ông cứ gõ cửa đi.
Ngay lúc đó, ông già nhỏ nhắn nọ bước ra và cả bốn người hầu của ông ta lập tức quỳ xuống rồi dâng đồ ăn, thức uống cho ông già. Mình bèn gọi ông già qua một bên và nói:
- Thưa ông hành khách, đây là những người hầu của ông phải không?
Ông già đáp:
- Phải, đây là những người hầu của ta.
Lúc ấy, mình liền bảo ông ta:
- Họ đi tàu không có vé nên họ bị phạt. Thế nào, ông có đồng ý nộp phạt cho họ không?
Ông già nói:
- Đồng ý nộp ngay bây giờ. Nhưng ngươi hãy nói cho ta biết phạt nghĩa là thế nào?
Mình thấy ông già khá là biết điều, nên mình thì thầm bảo ông ta:
- Ông có một một gã người hầu loạn óc. Gã nói, gã hầu hạ ông đã ba nghìn rưỡi năm nay. Ông phải đồng ý với tôi rằng gã ấy bị loạn óc.
Ông già đáp:
- Ta không thể đồng ý được, bởi vì tên người hầu của ta không hề nói dối. Phải, đúng là nó đã hầu hạ ta 3.500 năm rồi. Thậm chí còn hơn nữa là khác vì khi ta bắt đầu sai bảo chúng thì ta mới hai trăm, hai trăm ba mươi tuổi thôi.
Lúc ấy, mình liền nói thẳng với ông già:
- Xin ông thôi ngay cái trò chế giễu tôi đi? Ở tuổi ông mà làm cái trò đó thì thật là khó coi. Ông hãy nộp phạt ngay, nếu không đến ga tới, tôi sẽ cho họ xuống liền! Tôi thấy ông cũng đáng nghi lắm. Ai lại đi đường xa thế mà chẳng mang hành lý gì cả.
Ông già hỏi:
- Hành lý nghĩa là gì vậy?
Mình đáp:
- Hành lý là túi xách, vali, vân vân...
Ông già tủm tỉm cười và nói:
- Ấy chết, sao ngươi lại nghĩ rằng ta không mang theo hành lý? Hãy nhìn lên giá xem!
Mình nhìn lên giá, thấy hành lý xếp đầy. Lúc nãy nhìn thì vẫn chẳng thấy gì cả. Thế rồi bỗng nhiên - kỳ lạ chưa? - bây giờ lại có cả đống vali, túi xách.
Lúc ấy, mình bèn nói:
- Ông hành khách! Ở đây có điều gì đó không ổn. Ông hãy nộp phạt mau lên. Đến ga tới, tôi sẽ dẫn người phụ trách toa lại đây và mặc cho ông ấy giải quyết. Chẳng biết vì sao tôi hết hiểu nổi mọi chuyện ở đây.
Ông già lại cười tủm tỉm:
- Phạt gì nhỉ? Nộp phạt thay cho ai?
Lúc bấy giờ, mình tức không chịu được: mình quay người, chỉ tay ra hành lang. Thế nhưng ở đấy chẳng có ma nào cả!
Mình chạy khắp toa tàu, ngó khắp mọi nơi. Bốn “con thỏ” (1) của mình đã biến mất tăm mất tích.
Ông già nói:
- Đi về buồng của mình đi, hỡi gã nhân viên phục vụ toa!
Thế là mình đi về buồng.
Cudima Êgôrút, bây giờ thì cậu hiểu tại sao mình lại đánh thức cậu dậy rồi chứ. Cậu không tin à? Cậu có muốn mình hà hơi cho cậu xem để cậu hiểu rằng mình hoàn toàn tỉnh táo không? Không, thế nào mình cũng phải... Sao? Cậu bảo mình sặc sụa mùi rượu vang hả? Bậy nào, Cudima Êgôrứt? Có bao giờ mình lại dám uống rượu trên đường đi công tác đâu? Từ ngày hôm qua, mình không hề nếm một ly rượu nhỏ nào. Cậu bảo sao? Không nếm một ly rượu nhỏ nhưng lại nốc hai cốc rượu lớn? Ái chà chà, cái cậu Cudima Êgôrứt này! Ha ha ha! Hi hi hi! Này, Cudima Êgôrứt, ta cùng hát một bài nào! Sao? Ta sẽ phá giấc ngủ của hành khách ư? Vậy thì ta hát khe khẽ thôi:
“Có những ngày vui
Ta, một chàng cừ khôi
Ta đi dạo chơi...”
Thôi được, thôi được, mình sẽ đi ngủ. Mình là một tay hiền lành, người anh em Cudima Êgôrứt ạ. Cậu bảo mình đi ngủ hả? Vâng, mình sẽ đi ngủ một cách thích thú. Chúc cậu một đêm yên lành, Cudima Êgôrút...”
*
Một giờ trước khi tàu đến Ôđétxa, anh nhân viên phục vụ toa vào buồng số 7 dọn giường. Ông Khốttabít đãi anh mấy quả táo.
- Chắc ông đã mua táo tại hiệu thực phẩm ở Matxcơva?
Anh nhân viên phục vụ toa nói với vẻ kính trọng và cất táo vào túi để phần cho đứa con trai nhỏ của mình. Anh nói tiếp:
- Vào mùa này, táo là thứ của hiếm đấy. Rất cám ơn ông!
Rõ ràng là anh nhân viên phục vụ toa chẳng hề nhớ chút nào về chuyện anh đã gặp phải trên đoạn đường giữa ga Nara và ga Malưi Iarôxlavét.
Lúc anh ta rời khỏi buồng số 7, Giênia thốt lên với vẻ khâm phục:
- Vônca dù sao cũng là tay cừ!
- Sao lại còn có chữ “dù sao” nữa? - Ông Khốttabít nói. - Chữ ấy hoàn toàn thừa. Cậu Vônca con trai của Aliôsa rõ ràng là một tay cừ và cái đề nghị của cậu ấy dứt khoát là đáng được khen.
Vì các bạn đọc cuốn truyện này của tôi có thể không hiểu rõ ý nghĩa của hai câu đối thoại trên, nên tôi phải giải thích ngay.
Số là hồi đêm, lúc anh nhân viên phục vụ toa rời buồng số 7, đầu óc rối tinh rối mủ, Vônca liền nói với ông Khốttabít:
- Ông có thể làm cho anh ấy quên hết mọi chuyện không ạ?
- Đó là một việc dễ ợt đối với ta, hỡi cậu Vônca con trai của Aliôsa!
- Vậy thì ông làm việc đó đi và làm càng nhanh càng tốt. Anh ấy sắp đi ngủ rồi và sáng dậy sẽ chẳng còn nhớ gì cả.
- Tuyệt lắm, hỡi cái kho tàng khôn ngoan của ta! - Ông Khốttabít tỏ vẻ khâm phục.
Việc đó xảy ra đúng vào lúc anh nhân viên phục vụ toa hà hơi vào mặt Cudima Êgôrứt, người thay ca của mình.

---
(1) Từ ám chỉ những kẻ đi lậu vé - N.D.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-25 16:59:36Thái Nhi>
Chiếc tàu buồm không ai biết đến
Ct.Ly hiệu đính

Trên bong dạo chơi của chiếc tàu thủy điêden (1) “Cônkhiđa” chạy chuyến thường lệ từ Ôđétxa đến Batumi (2), có mấy hành khách đang đứng tựa vào lan can và thong thả chuyện trò. Các động cơ rất mạnh đang ì ầm ở đâu đó dưới sâu, nơi chính giữa thân tàu. Sóng nước rì rào mơ mộng vỗ vào thành tàu cao cao. Ở tít phía trên bong thượng, đài vô tuyến diện của con tàu đang kêu rè rè với vẻ lo âu.
Một hành khách nói:
- Các đồng chí biết không, thật là đáng tiếc vì bây giờ đã mất hẳn các tàu buồm lớn, những người đẹp cánh trắng ấy (3). Tôi sẽ sung sướng biết chừng nào nếu bây giờ được ở trên một chiếc tàu buồm thực sự hoặc trên một chiến thuyền...... Thích thú biết bao khi được ngắm những cánh buồm no gió trắng phau; khi được nghe tiếng cót két của những cột buồm vừa vững chắc, lại vừa tuyệt đẹp và cân đối; khi được cảm phục trông theo đội thủy thủ tuân lệnh của thuyền trưởng lao nhanh như chớp trên các cột buồm, trục buồm khác nhau... ước gì tôi được thấy tận mắt một chiếc tàu buồm thực sự, dù chỉ là một lần mà thôi? Nhưng phải là một chiếc tàu buồm thực sự kia! Đời thuở nhà ai, bây giờ một chiếc thuyền vớ vẩn nào đó có gắn động cơ nhỏ mà người ta cũng gọi là tàu buồm!
- Tàu buồm có động cơ! - Một người mặc quần áo thủy thủ tàu buôn sửa lại câu nói của ông hành khách nọ.
Chẳng ai nói thêm gì nữa. Trừ người thủy thủ, tất cả hành khách đều qua phía thành tàu bên phải để xem bầy cá heo vui vẻ không hề biết mệt, đang nhào lộn ở ngay gần tàu trên mặt biển ấm áp ban trưa. Đã nhiều năm rồi, cá heo không còn là điều mới mẻ đối với người thủy thủ của chúng ta. Anh thu xếp một chỗ ngồi thuận tiện hơn trên chiếc ghế có thể nửa nằm nửa ngồi và thử lướt qua một tờ báo nào đó. Nhưng chẳng mấy chốc ánh nắng đã làm cho anh mệt lử. Anh gấp, tờ báo lại và dùng nó phe phẩy thay cho quạt.
Bỗng có một cái gì đó thu hút sự chú ý của người thủy thủ đến độ anh thôi phe phẩy tờ báo, đứng phắt dậy và chạy bổ tới lan can.
Tít đằng xa, gần sát đường chân trời, anh thấy một chiếc tàu buồm rất đẹp nhưng kiểu lại cổ hết sức đang lao nhanh, rất nhanh. Tưởng chừng như đó là một hình ảnh tưởng tượng trong truyện cổ tích vậy.
- Các đồng chí ơi! - Người thủy thủ gọi mấy hành khách vừa nói chuyện với mình. - Lại đây mau lên, các đồng chí ơi! Xem kìa, một chiếc tàu buồm mới đẹp làm sao! Lại là tàu cổ nữa! ... Ô kìa, cột buồm giữa của nó lại làm sao rồi!... Không có cột buồm giữa? Cha mẹ ơi! ... Các đồng chí xem kìa, các cánh buồm của nó lại không phồng lên cùng một phía!... Theo mọi quy luật, cột buồm đáng lẽ đã bay ra khỏi thành tàu từ lâu rồi?... Quả là một điều hết sức kỳ lạ! ...
Nhưng lúc những hành khách nọ nghe theo lời người thủy thủ và quay về phía thành tàu bên phải thì chiếc tàu buồm không ai biết đến, đã mất hút rồi. Chúng tôi nói “không ai biết đến” bởi vì người thủy thủ đã sẵn sàng thề rằng chiếc tàu buồm tuyệt đẹp ấy không hề đăng ký tại một hải cảng nào của Liên Xô ở Hắc Hải. Và quả vậy, chiếc tàu buồm mà người ta đã thấy từ thành tàu “Cônkhiđa” cũng chưa hề đăng ký tại một hải cảng nào của nước ngoài. Nói chung, nó chưa hề đăng ký ở đâu cả và cũng chẳng đăng ký để làm gì, vì một lẽ đơn giản: nó vừa ra đời và hạ thủy vài giờ trước đây.
Chiếc tàu buồm này được đặt tên là “Ôma thân yêu” để tỏ lòng kính trọng người em bất hạnh của Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp, một ông già mà chúng ta đã từng quen biết.

---
(1) Khác với loại tàu thủy thường thấy chạy bằng động cơ hơi nước, đây là loại tàu thủy hiện đại hơn, chạy bằng động cơ đốt trong - N.D.
(2) Thành phố cảng nằm trên bờ Hắc Hải, thủ đô nước Cộng hòa Xôviết tự trị Atgiaria - N.D.
(3) Từ năm 1980 trở lại đây, người ta lại thấy xuất hiện một số tàu buồm lớn trên các đại dương. Đó là các tàu vận tải được trang bị thêm buồm nhằm tận dụng sức gió để tiết kiệm nhiên liệu. Chẳng hạn, nhờ có buồm (được điều khiển hoàn toàn tự động), tàu “Sin Aitôcu Maru” của Nhật đã tiết kiệm được 52% nhiên liệu - N.D.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-25 17:02:14Thái Nhi>
Trên tàu “Ôma thân yêu”
Ct.Ly hiệu đính

Ví thử anh nhân viên phục vụ toa trên đoàn tàu tốc hành Mátxcơva - Ôđétxa mà chúng ta đã biết được một phép lạ nào dó cho lên chiếc tàu hai buồm “Ôma thân yêu” thì hẳn là anh ta phải sửng sốt hết chỗ nói. Sửng sốt chẳng phải vì bỗng nhiên anh lại có mặt trên một chiếc tàu biển và thậm chí cũng chẳng phải vì chiếc tàu này không giống những chiếc tàu vẫn thường rẽ sóng trên các sông sâu biển rộng của chúng ta. Mà sửng sốt chủ yếu là vì anh đã quen biết tất cả các hành khách và toàn bộ thủy thủ trên tàu “Ôma thân yêu”.
Ông già và hai người bạn đường trẻ tuổi của ông vừa rời buồng số 7 ở toa hạng nhất sáng hôm nay là các hành khách của chiếc tàu buồm, còn đội thủy thủ lại chính là bốn chàng trai da đen sạm có thâm niên phục vụ từ thế kỷ 16 trước Công nguyên.
Hẳn là cuộc gặp gỡ lần thứ hai với những người đó sẽ làm cho anh nhân viên phục vụ toa dễ xúc cảm của chúng ta phải ốm liệt giường một thời gian dài.
Ngay cả Vônca và Giênia, trong những ngày gần đây đã quen với mọi sự bất ngờ, cũng phải hết sức kinh ngạc khi gặp lại trên tàu bốn anh bạn vừa quen biết và thêm vào đó lại thấy họ là những thủy thủ rất khéo léo, đầy kinh nghiệm.
Sau khi ngắm thỏa thích những động tác nhanh nhẹn và chính xác của đội thủy thủ ít ỏi đang thản nhiên chạy tới chạy lui trên các dây chão ở tít trên cao cứ như chạy trên sàn gỗ ghép bằng phẳng, hai cậu bé đi xem con tàu. Tàu này rất đẹp nhưng nhỏ, chẳng lớn hơn chiếc canô chở hành khách đường sông.
Tuy nhiên ông Khốttabít đã cam đoan rằng ngay cả vua Xalômông con trai của Đavít cũng chẳng có nổi một chiếc tàu lớn như tàu “Ôma thân yêu”.
Mọi thứ trên tàu “Ôma thân yêu” đều sạch sẽ và sang trọng lạ thường. Hai bên thành tàu, mũi tàu và đuôi tàu đều được khảm vàng và ngà voi. Boong tàu làm bằng gỗ hồng tâm rất quý và được trải những tấm thảm lộng lẫy, gần như chẳng kém những tấm thảm trang hoàng các buồng riêng của ông Khốttabít và hai cậu bạn của ông.
Vônca càng ngạc nhiên hơn khi bỗng nhiên phát hiện ở đằng mũi con tàu một cái buồng tồi tàn, tối tăm, bẩn thỉu, bên trong đó để mấy tấm ván nằm. Trên các tấm ván ấy bừa bộn những đống quần áo rách đủ loại.
Cố nén sự kinh tởm, Vônca vào xem cái buồng con tồi tàn ấy. Lúc đó, Giênia cũng vừa đi tới. Sau khi xem xét kỹ lưỡng, Giênia kết luận rằng cái buồng xấu xí này dùng để nhốt bọn cướp biển trong trường hợp người ta tóm được chúng trên đường đi.
- Chẳng phải thế đâu! - Vônca phản đối. - Đây chẳng qua chỉ là những thứ còn lại sau khi sửa chữa cơ bản, thỉnh thoảng còn lại một cái xó chẳng ai dòm ngó tới, nơi người ta thường vứt quần áo rách và các thứ vật liệu xây dựng bỏ đi.
- Cái tàu này ngay sáng nay vẫn chưa ra đời, sao lại có thể nói đến chuyện sửa chữa cơ bản được? - Giênia vặn lại.
Vônca không thể trả lời thỏa đáng câu hỏi đó. Hai cậu bé đành phải đi gặp ông Khốttabít để ông giúp giải quyết cuộc tranh cãi của chúng.
Nhưng ông già còn ngủ, nên một tiếng rưỡi sau, vào bữa ăn trưa, Vônca và Giênia mới gặp được ông.
Vụng về xếp chân vòng tròn, hai cậu bé ngồi trên tấm thảm mềm mại, màu sắc rực rỡ tuyệt vời. Trong căn buồng này cũng như trong tất cả mọi nơi trên tàu “Ôma thân yêu” đều không hề có bàn ghế gì cả.
Một thành viên của đội thủy thủ ở lại phía trên để lái tàu, ba người còn lại thì bưng vào buồng và bày trên thảm đủ thứ món ăn, đồ nhắm, trái cây và thức uống.
Lúc họ quay lưng để rời khỏi căn buồng, Vônca và Giênia liền gọi họ lại:
- Các đồng chí đi đâu thế?
Vônca còn lễ phép nói thêm:
- Sao các đồng chí không ngồi ăn luôn thể?
Đáp lại ba ngươi đầy tớ của ông Khốttabít chỉ xua tay từ chối.
Ông Khốttabít bối rối:
- Hỡi các cậu bạn trẻ tuổi của ta, có lẽ ta nghe các cậu nói không được rõ lắm thì phải. Ta thấy hình như các cậu đã mời bọn người hầu hạ chúng ta ngồi ăn...
- Đúng thế, chúng cháu đã mời họ. - Vônca nói. - Có chuyện gì đặc biệt đâu ạ?
- Nhưng đó chỉ là những gã thủy thủ tầm thường! - Ông Khốttabít phản đối với giọng cứ như là nói vậy có nghĩa đã giải quyết xong vấn đề.
Ông già rất ngạc nhiên khi thấy hai cậu bạn vẫn một mực không đổi ý. Vônca nói:
- Nhưng các thủy thủ không phải là những tên tư bản nào đó, mà là những người lao động chân chính nhất, là những người của mình.
Còn Giênia thì nói thêm:
- Cần phải chú ý rằng hình như họ là những người da đen, một dân tộc bị áp bức. Đối với họ, lại càng phải hết sức chu đáo.
- Ở đây có một sự hiểu lầm đáng tiếc nào đó... - Ông Khốttabít bối rối vì cuộc tiến công phối hợp của hai cậu bé, bắt đầu cảm thấy lo âu. - Lần thứ hai ta yêu cầu các cậu chú ý cho rằng đó chỉ là những gã thủy thủ tầm thường. Chúng ta không thể cùng ngồi ăn với chúng được. Việc đó làm tổn hại uy tín của chúng ta dưới con mắt của chúng và dưới con mắt của chính chúng ta nữa.
- Cháu chẳng thấy tổn hại gì cả! - Vônca nhanh chóng bác bỏ.
- Cháu cũng chẳng thấy tổn hại gì cả. Ngược lại, cháu lại cảm thấy thú vị nữa là đằng khác! - Giênia, đến lượt mình, vừa nói vừa thèm thuồng nhìn con gà tây quay đang còn bốc hơi. - Ông gọi các thủy thủ mau lên, kẻo con gà nguội mất.
- Chẳng hiểu sao ta lại chẳng muốn ăn nữa, hỡi các cậu bạn trẻ tuổi của ta. Ta sẽ ăn sau vậy. - Ông Khốttabít cau có nói và vỗ tay bôm bốp ba lần, - Ê, mấy thằng đầy tớ kia?
Ba thủy thủ hiện ra ngay lập tức.
- Hai ông chủ trẻ tuổi này đầy lòng nhân từ, có ý muốn ăn trưa cùng với bọn bay, những tên đầy tớ hèn hạ của ta.
Người thủy thủ nhiều tuổi nhất liền phủ phục trước mặt ông Khốttabít và chạm trán xuống tấm thảm quý, rồi nói:
- Hỡi ông chủ vĩ đại và hùng mạnh! Chúng con hoàn toàn không muốn ăn. Chúng con no lắm. Chúng con no tới mức chỉ cần ăn thêm một cái cẳng gà thôi cũng đủ làm cho dạ dày của chúng con vỡ tung ra từng mảnh và chúng con sẽ chết trong cảnh đau đớn khủng khiếp.
- Họ nói dối đấy! - Vônca thì thầm vào tai Giênia, vẻ khẳng định. - Mình xin đưa đầu ra cam đoan rằng họ nói dối. Họ muốn ăn, nhưng họ lại sợ ông Khốttabít - Vônca nói với các thủy thủ: - Các anh bảo các anh no, vậy xin các anh hãy nói cho biết các anh đã kịp ăn trưa lúc nào?
- Hỡi cậu chủ trẻ tuổi và hào hiệp của tôi, xin cậu biết cho là chúng tôi có thể nhịn ăn một năm và lâu hơn nữa mà vẫn không thấy đói. - Người thủy thủ nhiều tuổi nhất trả lời lảng tránh thay cho cả bọn.
- Họ nhất định chẳng nghe đâu! - Giênia thất vọng nói - Họ sợ ông ấy.
Ba thủy thủ đi giật lùi lại phía cửa và lẩn đi
- Thú quá, chẳng hiểu sao ta lại muốn ăn rồi! - Ông Khốttabít tươi tỉnh nói - Ta bắt đầu chén mau đi thôi.
- Không đâu, ông Khốttabít! Ông cứ ăn một mình đi, chúng tôi không ăn cùng với ông đâu? - Giênia lầu bầu tức tối và dứt khoát đứng dậy. - Ta đi thôi, Vônca.
- Ta đi thôi! Than ôi, cứ bảo là có thể giáo dục, cải tạo con người, nhưng nào có ăn thua gì đâu...
Thế là ông già ngồi lại một mình với bữa ăn chẳng ai đụng đến. Ông già ngồi xếp chân vòng tròn, lưng thẳng, kiêu kỳ và trịnh trọng như một tượng thần phương Đông. Nhưng lúc hai cậu bé vừa khuất sau tấm màn ngăn buồng tàu với boong tàu, ông Khốttabít liền giơ hai nắm tay nhỏ nhắn, khô đét nhưng cứng như sắt nện thật mạnh vào đầu mình. Khổ thay, khổ thay cho ông già tội nghiệp Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp! Lại xảy ra một chuyện gì đó hoàn toàn không như ông mong muốn. Cuộc hành trình trên tàu “Ôma thân yêu” đã khởi đầu mới tốt đẹp làm sao! Hai cậu bé đã thực sự thích thú biết chừng nào khi chúng khen nức khen nở con tàu: nào là cách trang trí tuyệt đẹp; nào là những sắc cầu vồng dưới ánh mặt trời; nào là những tấm thảm hết sức mềm mại, khi đặt bàn chân không lên đó có thể lút đến tận mắt cá, thật là khoan khoái; nào là những tay vịn quý giá làm bằng gỗ mun và ngà voi; nào là những cột buồm vững chắc, cân đối, trên đó có khảm những viên đá quý đẹp nhất và hiếm nhất?
Tại sao bỗng nhiên hai cậu lại nảy ra cái ý muốn kỳ cục như vậy? Thế nhưng, nếu bỗng nhiên đó không phải là tính kỳ cục, không phải là tính thất thường, mà là một cái gì đó hoàn toàn khác thì sao? Hai cậu thiếu niên này quả thật là lạ. Bụng đã đói mềm, vậy mà vẫn từ chối đủ thứ sơn hào hải vị chỉ vì mấy thằng đầy tớ của ông không được phép cùng ngồi ăn với hai cậu ấy như những người bằng vai phải lứa! Ôi, ông Khốttabít mới khó hiểu làm sao, mới bực tức làm sao và mới đói bụng là làm sao? Qua là ông Khốttabít đang đói như cào.
Trong lúc ông già bị giày vò ghê gớm vì cuộc xung đột giữa tình cảm gắn bó với hai cậu bạn trẻ tuổi và những thành kiến cổ hủ nghìn năm thì Vônca và Giênia cũng đang sôi nổi bàn cãi về câu chuyện vừa xảy ra. Mấy người đầy tớ của ông Khốttabít cố tránh mặt Vônca và Giênia, nhưng một trong bọn họ bỗng từ cái buồng tồi tàn - mà Giênia đoán là để nhốt bọn cướp biển - đi ra. Thế có nghĩa là trên con tàu “Ôma thân yêu” sang trọng, cái buồng con tồi tàn ấy lại chính là buồng dành riêng cho các thủy thủ!
- Khô-ô-ông! - Vônca kết thúc cuộc bàn cãi với vẻ phẫn nộ. - Chúng ta nhất định không thể ở lại trên con tàu này! Hoặc là ông Khốttabít phải lập tức sửa đổi các quy chế ở trên tàu, hoặc là ông già hãy đưa chúng ta về nhà và tình bạn của chúng ta với ông ấy sẽ kết thúc!
Bỗng hai cậu bé nghe thấy tiếng nói của ông Khốttabít ở đằng sau lưng. Ông già láu lỉnh nói với chúng cứ như là chưa hề xảy ra chuyện gì đặc biệt cả.
- Hỡi các cánh buồm của lòng ta, sao các cậu lại để mất thì giờ vô ích ở đây, trên boong tàu này, trong khi một bữa ăn ngon lành nhất và thịnh soạn nhất đang chờ các cậu? Con gà tây quay vẫn còn bốc hơi, nhưng rồi nó có thể nguội đi và khi ấy hẳn là sẽ mất ngon. Chúng ta quay lại buồng tàu ngay đi thôi, bởi vì cả các thủy thủ yêu dấu của ta lẫn ta, kẻ nô lệ ngoan ngoãn nhất của các cậu, đều sắp chết đói và chết khát tới nơi.
Hai cậu bé ngó vào căn buồng mà chúng vừa bỏ đi và thấy các thủy thủ đang ngồi đường hoàng trên thảm, đợi ông già và hai cậu quay lại.
- Thôi được! - Vônca lạnh lùng nói. - Chúng cháu sẽ còn phải nói chuyện rất nghiêm chỉnh với ông, ông Khốttabít ạ! Còn bây giờ thì ta ăn trưa.
Nhưng ăn chưa kịp xong thì biển đã nổi sóng dữ dội. Con tàu nhỏ lúc thì lao lên ngọn sóng lớn, lúc thì tụt xuống khe sâu giữa hai bức tường nước đồ sộ. Những đợt sóng ầm ầm dữ dội chồm qua boong tàu và đã cuốn đi từ lâu các tấm thảm trải trên boong. Những thác nước thỉnh thoảng lại ập vào các buồng bên trong. Trong tàu trở nên lạnh, nhưng các lò lửa lại văng than hồng ra tung tóe nên phải quăng xuống biển để tránh hỏa hoạn. Những người đầy tớ - thủy thủ chỉ mặc độc có một cái khố, da xám ngắt vì lạnh, đang chống cự quyết liệt với sóng gió bên những cánh buồm kêu phành phạch một cách chẳng lành.
Chỉ cần nửa tiếng nữa là tàu “Ôma thân yêu” sẽ chỉ còn vương lại một chút hồi ức buồn bã mà thôi. Nhưng may thay, cơn biển động đã chấm dứt cũng đột ngột như khi nó nổi lên. Mặt trời ló ra. Trời lại ấm áp. Hoàn toàn lặng gió. Các cánh buồm lờ đờ rũ xuống, con tàu lắc lư trên sóng lặng, chẳng hề tiến lên được chút nào.
Ông Khốttabít nghĩ rằng đây là cơ hội thuận tiện để ông cải thiện mối quan hệ đã lung lay với hai cậu bạn đường của mình. Vui vẻ xoa tay, ông nói:
- Lặng gió ư? Hỡi các cậu thiếu niên độ lượng và công tâm, các cậu sẽ biết rằng đối với chúng ta, chuyện lặng gió chẳng có nghĩa lý gì cả. Chẳng cần có gió, chúng ta vẫn có thể đi được như thường. Bây giờ tàu “Ôma thân yêu” sẽ còn chạy nhanh hơn trước nữa là đằng khác... Rồi các cậu sẽ thấy!...
Nói rồi, ông già liền búng các ngón tay trái toanh trách.
Ngay tức khắc, tàu “Ôma thân yêu” với tốc độ ghê gớm đã lao vút lên phía trước, trong khi đó các cánh buồm sau khi gặp sức cản của không khí, lẽ tự nhiên lại căng phồng theo hướng ngược với phía tàu chạy.
Suốt từ khi có tàu buồm đến nay, chưa ai được chứng kiến một cảnh tượng kỳ lạ đến thế. Nhưng Vônca, Giênia và ông Khốttabít lúc ấy đứng ở đuôi tàu đều không kịp thích thú với cảnh tượng đó, bởi vì ba ông cháu đã bị lực quán tính hất lộn nhào từ đuôi tàu xuống nước. Ngay sau đó, một cột buồm không chịu nổi sức cản ghê gớm của không khí, đã đổ ụp ngay xuống nơi mà ba nhà du hành của chúng ta vừa đứng.
Trong chốc lát, tàu “Ôma thân yêu” đã mất hút.
Lúc vùng vẫy trên mặt nước và thở phì phì như ngựa, Vônca nghĩ bụng: “Bây giờ mà có một chiếc thuyền con hoặc ít ra cũng có một cái vòng phao cứu đuối thì tốt quá. Chẳng thấy bờ đâu cả”.
Quả thật, đưa mắt về phía nào cũng chỉ thấy biển cả vô bờ lặng sóng.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-25 17:03:46Thái Nhi>
Thảm bay - thủy phi cơ “VC–1”
Ct.Ly hoàn tất

- Cậu bơi đi đâu vậy? - Vônca gọi Giênia đang bơi nhanh về một phía nào đó. - Dẫu sao thì cũng chẳng bơi đến bờ được đâu đừng phí sức, cứ nằm ngửa là hay nhất.
Giênia nghe theo. Cả ông Khốttabít cũng nằm ngửa, tay phải thận trọng giơ cao chiếc mũ cói của mình.
Thế rồi bắt đầu cuộc hội nghị có một không hai trong lịch sử hàng hái thế giới: hội nghị của những người bị đắm tàu, các diễn giả vừa nằm ngửa trên mặt nước vừa phát biểu ý kiến
Vônca tự tiện giành lấy quyền chủ tọa, nói với giọng gần như thích thú:
- Thế là chúng ta bị đắm tàu rồi! Ông Khốttabít, ông định làm gì vậy? - Vônca hỏi khi thấy ông già dùng bàn tay trái rảnh rang giật giật bộ râu của mình.
-Ta muốn lấy lại con tàu của chúng ta. Rất may là bộ râu của ta gần như không bị ướt.
- Vẫn còn kịp chán! - Vônca lạnh lùng ngăn ông già lại. - Còn có vấn đề là liệu chúng cháu có muốn lên lại con tàu ấy không đã. Như cháu đây chẳng hạn thì cháu không muốn đâu. Phải nói trắng ra rằng quy chế trên con tàu đó không phải là quy chế nhân đạo, lại càng không phải là quy chế Xôviết! Chỉ cần nghĩ lại chuyện đó thôi cũng đã thấy tởm rồi.
- Cháu cũng nghĩ như Vônca, - Giênia ủng hộ cậu bạn của mình. - Cho tàu “Ôma thân yêu” đi tiêu luôn! Ông Khốttabít, bây giờ ông chỉ cần mau mau cứu lấy các thủy thủ. Nếu không thì họ sẽ bị chết cùng với con tàu đấy.
Ông Khốttabít cau mặt:
- Xin các cậu chớ có bận tâm về số phận bọn đầy tớ hèn hạ của ta. Bọn chúng đã có mặt ở Arabi ít ra là năm phút rồi. Bọn chúng thường trú ở đấy và bây giờ chúng cũng đang ở đấy để đợi những mệnh lệnh sau này của ta. Những hỡi những cột buồm của lòng ta, các cậu hãy giải thích cho ta hiểu tại sao chúng ta lại không tiếp tục cuộc hành trình trên tàu “Ôma thân yêu”?
- Hình như chúng cháu đã nói rõ với ông rồi. - Vônca đáp.
- Và nói chung tàu buồm là loại tàu chẳng lấy gì làm an toàn cho lắm và lại chạy chậm nữa, - Giênia nhận xét. - Lúc nào cũng phải phụ thuộc vào mọi sự thay đổi của thời tiết.... Khô-ô-ông, dứt khoát là phải cho tàu “Ôma thân yêu” đi tiêu luôn.
- Hỡi các mỏ neo hạnh phúc của ta! - Ông Khốttabít bắt đầu than vãn ai oán. - Ta sẽ làm tất cả để...
- Cho tàu “Ôma thân yêu” đi tiêu luôn, khỏi phải bàn cãi gì nữa! - Vônca lại ngắt lời ông già. Nó co ro, cảm thấy rất khó chịu khi phải nằm trên mặt nước mà vẫn để nguyên quần áo, giày dép. - Bây giờ, chỉ cần xem ông có thể đề nghị cách giải quyết nào nữa.
- Ta có thể cắp các cậu dưới nách và bay đi...
- Thôi đi ông ơí! - Vônca trả lời cộc lốc. - Không được đâu, ai lại bay dưới nách một người nào đó?
- Không phải một người nào đó mà là ta! - Ông Khốttabít phật ý.
- Ngay cả ông cũng không được.
- Vậy ta xin mạo muội đề nghị với các bạn thông thái của ta cách giải quyết này: thảm bay. Đó là phương tiện di chuyển tốt nhất, hỡi các cậu bạn khó tính của ta!
- Thế mà ông cũng đòi nói là tốt nhất! Ở trên đó thì lạnh cóng, hơn nữa lại bay chậm rì và chẳng có tiện nghi gì cả. - Vônca trầm ngâm nói và bỗng nhiên nó reo lên: - A, cháu nghĩ ra rồi, nói thật đấy!
Ngay lúc đó, Vônca bị chìm nghỉm, bởi vì trong cơn khoái chí, cu cậu chẳng nghĩ được trò gì hay hơn là vỗ tay khen ngợi chính mình. Vônca ngoi lên, thở phì phì và khạc nhổ ầm ĩ, rồi lại nằm ngửa thuận tiện hơn trên mặt nước và nói tiếp như chẳng có chuyện gì xảy ra cả.
- Cần phải cải tiến thảm bay: làm cho nó có dạng thuôn này, lắp các thiết bị sưởi ấm này, lắp các giường cá nhân này, đặt nó lên các phao này.
Khó khăn hơn cả là làm cách nào giải thích cho ông Khốttabít hiểu được đề nghị của Vônca. Thứ nhất, ông già không biết thế nào là “dạng thuôn”. Thứ hai, ông không hề có chút khái niệm nào về các phao thường dùng cho thủy phi cơ (1).
Nội cái điều tưởng chừng đơn giản là “dạng thuôn” là cũng phải giải thích rất lâu, cuối cùng mới nghĩ ra cách nói rằng tấm thảm bay dạng thuôn trông giống như trái dưa leo, dĩ nhiên là một trái dưa leo đã khoét ruột.
Hai cậu bé đã giải thích cho ông già cả về các phao thủy phi cơ, tất nhiên cũng hết sức vất vả.
Cuối cùng, chiếc thảm bay - thủy phi cơ dạng thuôn “VC-1” đã lao lên không trung và bay theo hướng Nam Tây - Nam. Nếu dịch từ ngôn ngữ thiết kế hàng không sang ngôn ngữ thông thường thì “VC-1” có nghĩa là “Vlađimia Côxtưncốp. Kiểu thứ nhất”.
Chiếc thảm bay - thủy phi cơ có mái che này giống như một trái dưa leo khổng lồ, đằng sau có cái đuôi bé tí tẹo mà những trái dưa leo vừa hái ngoài vườn thường có. Nó có ba chỗ nằm và mỗi bên lại có hai ô cửa nhỏ được trổ trên tấm thảm lông dày cộp.
Về tính năng bay thì cái công trình do Vônca thiết kế hóa ra không cao hơn một chiếc thảm bay thường là mấy.
Lướt nhanh bên dưới các nhà du hành của chúng ta là Hắc Hải, Bôxpho, Đácđanen (2), Tiểu Á (3) và những bình sơn nguyên (4) bị cằn khô vì nóng nung nấu của bán đảo Arabi (5). Sau đó là tới những bãi cát vàng của sa mạc Xinai(6). Vệt kênh đào Xuy (7) nhỏ hẹp đã ngăn cách sa mạc này với những bãi cát vàng cũng hệt như thế của sa mạc Arabi (8) và qua đó là châu Phi, Ai Cập.
Từ nơi đây, ông Khốttabít định bắt đầu cuộc tìm kiếm ông em Ôma Iuxúp tại Địa Trung Hải: từ điểm tận cùng phía Đông đến điểm tận cùng phía Tây của vùng biển này.
Nhưng chiếc “VC-1” chưa kịp hạ xuống độ cao 200 mét thì ông Khốttabít đã cáu kỉnh gọi mình là “lão già ngu ngốc”, rồi chiếc thảm bay - thủy phi cơ lại vọt lên cao và bay về hướng Tây. Trong thời gian bị giam cầm trong bình gốm, ông Khốttabít quên mất rằng đây là chỗ sông Nin đổ vào Địa Trung Hải và nước ở đây quanh năm đục ngầu vì bùn và cát mà con sông lớn đầy nước này dã cuốn xa ra biển. Làm sao có thể tìm kiếm được ở chỗ nước đục vàng khè này? Chỉ tổ mỏi mắt mà thôi!
Ông Khốttabít quyết định hoãn việc tìm kiếm ở khu vực bất tiện này lại cho tới khi nào đã tìm kiếm khắp phần còn lại của Địa Trung Hải mà vẫn không phát hiện ra Ôma Iuxúp.
Một lát sau, ba ông cháu hạ xuống một cái vịnh nhỏ xíu ở gần thành phố Ghêrôna (9).

---
(1) Loại máy bay lắp phao bên dưới thay cho bánh xe, có thể cất cánh và hạ cánh trên mặt nước - N.D.
(2) Bôxpho và Đácđanen là hai eo biển ở Thổ Nhĩ Kỳ - N.D
(3) Bán đảo ở Tây Á, thuộc Thổ Nhĩ Kỳ - N.D.
(4) Vùng trước kia có núi cao nhưng đã bị bào mòn rất nhiều nên trở thành bằng phẳng gần như đồng bằng - N.D.
(5) Bán đảo ở Tây - Nam Á lớn nhất thế giới (hơn 2,4 triệu km2) - N.D.
(6) Bán đảo ở Bắc Hồng Hải, thuộc AI Cập - N.D.
(7) Kênh đào thuộc Ai Cập nối Hồng Hải với Địa Trung Hải - N.D.
(8) Sa mạc nằm giữa đồng bằng sông Nin và Hồng Hải, thuộc Ai Cập - N.D.
(9) Ông Khốttabít đưa đầu ra cam đoan rằng thành phố này đúng là có tên Ghêrôna. Chúng ta chẳng tranh cãi với ông già làm gì cho mệt xác (chú thích của tác giả). Thực ra, ở Ý chỉ có thành phố Ghênoa, ta thường dịch là Giênơ, chứ không có thành phố Ghêrôna - N.D.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-25 17:05:32Thái Nhi>
Phỏng vấn người dân trẻ tuổi ở thành phố Ghêrôna
Ct.Ly hiệu đính

Lúc ba ông cháu lên bờ và chiếc thảm bay - thủy phi cơ đã biến mất theo hiệu lệnh bằng tay của ông Khốttabít, Vônca ra lệnh:
- Trước hết phải thận trọng. Và không được ba hoa đấy. Chúng ta vẫn chưa biết chúng ta đặt chân lên nước nào.
- Ta sẽ căn cứ vào máy bay mà xác định, - Giênia nói. - Có một chiếc đang bay kia kìa!
Một chiếc máy bay lớn đang bay từ đâu đó ở phía Tây đến. Cần phải nói để các bạn biết rằng trong cả trường trung học số 124, không một học sinh nào am hiểu về hàng không hơn Giênia Bôgôrát. Chỉ cần thoạt nhìn, Giênia đã xác định ngay được chiếc máy bay kia là của nước nào. Nó biết tới 40 dấu hiệu riêng của máy bay các nước.
Chiếc máy bay rú thấp trên đầu các nhà du hành của chúng ta và khuất sau một ngọn đồi ở gần ngay đấy.
- Máy bay Mỹ! - Giênia kết luận. - Ngôi sao năm cánh màu trắng là dấu hiệu riêng của hàng không Mỹ.
Lại một chiếc máy bay nữa bay qua và cũng khuất sau ngọn đồi nọ. Chiếc máy bay này cũng có ngôi sao trắng của Mỹ ở dưới cánh. Vônca nói:
- Chúng ta đang ở một trong hai nước: hoặc là Hy Lạp, hoặc là Ý.
Đúng lúc đó, có tiếng trẻ con the thé từ xa vọng lại: “Xinho (1) Umbéctôôô! Xinho Umbéctôôô! Ngài chủ gọi ông đấy!”
-Nếu ngươi ta nói xinho thì có nghĩa là chúng ta đang ở nước Ý! - Vônca nói.
- Lạ thật, những chiếc máy bay Mỹ kia bay trên nước Ý cứ như bay trên lãnh thổ của Mỹ vậy! Thật là láo xược hết sức? - Giênia trầm ngâm nói - Nếu mình là người Ý thì mình...
Nhưng các nhân vật chính của chúng ta hẳn là còn phải ngạc nhiên hơn nữa nếu biết được kẻ nào vừa bay đến nước Ý trên chiếc máy bay đầu. Trong lúc hai cậu bé bày tỏ sự thắc mắc và phẫn nộ của mình về việc bọn Mỹ làm mưa làm gió ở đất nước xinh đẹp này thì trên sân bay ở sau ngọn đồi nọ, người ta đẩy cái thang cao bằng đuyara tới sát chiếc máy bay vừa hạ cánh. Và theo chiếc thang đó, mixtơ Hari Oanđenđalét dẫn xác xuống, cặp mắt heo ti tí trố ra vái vẻ ngạo mạn.
Nhưng hai cậu bé và ông Khốttabít vẫn chưa biết chuyện đó.
- Nước Ý! Chúng ta đang ở nước Ý! Tuyệt thật! - Giênia không kìm nổi, reo lên. - Buổi sáng còn ở Ôđétxa, một giờ trước đây bay trên kênh đào Xuyê, còn bây giờ thì đã có mặt ở nước Ý! Tuyệt quá, phải không nào?
Vônca xua tay để Giênia nói khẽ thôi.
- Chúng ta phải đề phòng hết sức cẩn thận! - Vônca nói. - Và cái chính là đừng có ba hoa thiên địa.
- Ở đây có ai hiểu được chúng ta nói gì nào? Chúng ta đâu có biết nói tiếng Ý! - Giênia cười hì hì.
- Người ta không hiểu thì cũng vậy thôi. Thậm chí lại còn gay hơn nữa nếu người ta không hiểu.
- Tại sao người ta lại không hiểu được các cậu, hỡi các cậu bạn trẻ tuổi của ta? - Ông Kháttabít phật ý. - Một khi ta đã đi cùng các cậu thì người ta sẽ hiểu tiếng nói của các cậu và các cậu cũng hiểu tiếng nói ở đây như ta hiểu thứ tiếng đó.
- Cần phải đề phòng cẩn thận hơn! - Vônca lại nhấn mạnh.
Ông Khốttabít muốn đi tìm Ôma Iaxúp ngay lập tức, nhưng hai cậu bé lại rủ ông đi xem thành phố với chúng. Trên con đường rộng đẹp đẽ chạy dọc bờ biển thỉnh thoảng mới có một chiếc xe hơi lao vút qua hoặc một chú lừa chở nặng bước đi chậm rãi, móng chân gõ nhẹ xuống mặt đường.
Chẳng mấy chốc đã thấy hiện ra một bãi tắm lớn. Trên bãi chẳng có một ai cả, ngoài mấy gã sĩ quan và lính Mỹ.
Các nhà du lịch của chúng ta chẳng dừng chân, tiếp tục đi xa hơn và một lúc sau đã đi vào thành phố.
Những tòa nhà cao, nhiều tầng, lâu đời nằm xen kẽ với những căn nhà tồi tàn một tầng cũng lâu đời không kém. Trời nóng, ngột ngạt. Trên các đường phố chật hẹp và bẩn thỉu có nhiều người đi lại, người nào cũng ăn mặc xoàng xĩnh, mặt mũi phờ phạc nhưng vui vẻ. Họ sôi nổi bàn tán về một chuyện gì đó, vui nhộn khoa tay hát ca, dừng lại bên các cửa sổ mở toang, tì tay vào bậu của sổ, nhiệt tình kể lại chuyện gì đó cho những người từ trong cửa sổ ló đầu ra.
- Có lẽ hôm nay là ngày nghỉ của họ. - Vônca đoán và hỏi một cậu bé ngồi trên cái ngưỡng cửa lỗ chỗ của ngôi nhà ba tầng tối tăm, xám xịt, hai cánh cửa mở toang và đang làm tàu thủy bằng hộp xì gà cũ:
- Cậu bạn ơi, cậu hãy nói cho tôi biết hôm nay có phải là ngày nghỉ của các bạn không?
Người dân trẻ tuổi ở thành phố Ghêrôna ngơ ngác nhìn Vônca và hai ngươì cùng đi với nó:
- Cậu bảo sao? Ngày nghỉ à? Ngày nghỉ gì vậy?
- Hôm nay là ngày chủ nhật của các bạn phải không? - Vônca sửa lại.
- Cậu làm như chính cậu không biết hôm nay là thứ Sáu ấy? - Cậu bé Ghêrôna trả lời với giọng giễu cợt.
- Nếu vậy thì có lẽ hôm nay là ngày hội nào đó chăng? - Vônca hỏi tiếp.
- Sao cậu lại nghĩ như vậy? - Cậu bé Ghêrôna ngạc nhiên. - Nếu là ngày hội thì người ta phải rung chuông chứ?
- Thế tại sao trong giờ làm việc mà lại có nhiều người đi dạo trên đường phố như vậy?
- Có lẽ cậu không phải là người ở đây rồi. - Cậu bé Ghêrôna nghiêm nghị trả lời. - Hoặc cậu không phải là người ở đây, hoặc cậu là người loạn óc, chỉ có vậy mà thôi.
- Tôi không phải là người ở đây, - Vônca nói nhanh. - Tôi là người hoàn toàn bình thường, nhưng không phải là người ở đây. Tôi từ... từ Naplơ (2) đến.
- Chẳng lẽ ở thành phố Naplơ chúng mày, công nhân không bãi công chống chính phủ và chống bọn chuột cống Mỹ? - Người dân trẻ tuổi ở thành phố Ghêrôna phát cáu. - Mày muốn sống thì hãy xéo đi! Cánh trẻ con chúng tao ở đây không thích những đứa đến quấy rầy bằng các câu hỏi ngớ ngẩn!... Khoan đã đi, khoan đã đi! Hay có lẽ mày thích bọn cầm quyền nước tao và những tên chủ Mỹ của chúng? - Cậu bé Ghêrôna lớn tiếng nói với theo Vônca vừa bỏ đi. - Mày hãy nói thẳng đi! Mày thích bọn chúng chứ gì?
- Bậy nào! - Vônca cũng nổi cáu. - Cậu lăng mạ những người chưa quen biết như vậy mà không thấy xấu hổ sao? Tôi cũng căm thù bọn đó chứ thích cái nỗi gì!
- Tôi cũng căm thù bọn đó! - Giênia nói. - Nếu cậu muốn biết thì tôi xin nói: chúng tôi chỉ ngạc nhiên không hiểu tại sao các cậu lại có thể chịu được bọn đó...
- Mày bảo ai là “các cậu”? Những người dân thành phố Ghêrôna hả?
- Không, những người Ý! Một dân tộc tuyệt vời, có tinh thần chiến đấu như vậy mà lại...
- Sao mày lại bảo những người Ý là “các cậu”? (3) Thế mày là người Babilon hay sao?... Các cậu ơi-i-i! - Người dân trẻ tuổi ở thành phố Ghêrôna bỗng gọi các cậu bé hàng xóm, giọng nó gào lên có vẻ dữ tợn. - Các cậu ơi, lại đây-y-y...
- Chúng ta hãy biến mau, ông Khốttabít! - Vônca thì thầm rất nhanh. - Mau lên!
Ba ông cháu liền biến mất, làm cho người dân trẻ tuổỉ ở thành phố Ghêrôna vô cùng sửng sốt. Vì sự bất ngờ và không giải thích nổi ấy, cậu bé Ghêrôna đâm ra hết sức khó xử với các cậu bạn mà nó vừa gọi tới.
- Mình đã bảo cậu: hãy giữ mồm giữ miệng! - Vônca bực tức nói với cu cậu Giênia đang cảm thấy mình có lỗi và chẳng biết trốn vào đâu cho khỏi xấu hổ. - Con người hay ăn nói bộp chà bộp chộp có thể gây ra những chuyện gì, thật có trời mà biết! ... Đấy, vì cậu mà bây giờ chúng ta chẳng đi xem thành phố được nữa!
Ông Khốttabít liền nói cho hai cậu bạn nhỏ yên tâm:
- Hỡi cậu học sinh khôn ngoan nhất trong tất cả các học sinh ở trường trung học số 124, ta tự an ủi mình bằng hy vọng rằng chúng ta vẫn có thể đi xem tất cả các phố xá, quảng trường và nhà cửa ở thành phố này. Còn nếu cậu ngại gặp cái thằng bé cứng đầu đã làm cho các cậu phải sợ đến thế thì cậu chỉ cần nói một tiếng thôi, ta sẽ tống cổ nó đi khỏi chỗ này ngay lập túc.
- Ông cứ liệu đấy! - Vônca nổi nóng. - Đó là một cậu bé tuyệt hết sức. Nếu ở địa vị cậu ấy, cháu cũng xử sự đúng như thế.
- Cháu cũng vây! - Giênia nói, mắt nhìn đi chỗ khác với vẻ biết lỗi. - Nào, ta giải hòa với nhau thôi, Vônca. Mình có lỗi nhưng mình sẽ không phạm lỗi như thế nữa. Đồng ý chứ?
- Đồng ý! - Vônca độ lượng trả lời và nắm chặt bàn tay rụt rè chìa ra của Giênia Bôgôrát. - Giải hòa thì giải hòa!
Ông Khốttabít sốt ruột đề nghị:
- Chúng ta đi ra bờ biển đi, để ta có thể bắt tay ngay tức khắc vào việc tìm kiếm chú em bất hạnh của ta.
Cuộc nói chuyện trên đây diễn ra trên con đường nhựa mà khi nãy ba ông cháu đã theo đó đi vào Ghêrôna, đầu óc chứa đầy các kế hoạch du lịch lý thú. Bây giờ, họ đi theo hướng ngược lại, vừa đi vừa tìm một chỗ hẻo lánh cách xa đường cái và xa những nơi có nhà cửa.

---
(1) Tiếng Ý: Ông, ngài - N.D.
(2) Một thành phố cảng ở phía Nam nước Ý - N.D.
(3) Cậu bé Ghêrôna vẫn tưởng Giênia là người Ý như mình - N.D.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-25 17:07:06Thái Nhi>
Ông Khốttabít biến mất rồi lại trở về
Ct.Ly hiệu đính

- Các cậu hãy chúc ta mau thành công! - Ông Khốttabít kêu lên rồi biến thành một con cá và lặn ngay xuống nước...
Nước ở đây trong veo chứ không đục ngầu như ở cửa sông Nin, cho nên có thể trông thấy rõ ông già vẫy vây lia lịa, lao nhanh ra khơi.
Trong khi chờ đợi ông Khốttabít trở về, hai cậu bạn của chúng ta đã xuống biển tắm cả chục lần, đã hụp lặn chán chê, đã nằm phơi nắng nhiều tới mức đừ cả người và cuối cùng, đã cảm thấy đói ghê gớm và bắt đầu lo lắng. Ông Khốttabít đi lâu một cách đáng ngờ, mặc dù ông hứa chỉ đi không quá một tiếng. Mặt trời đã lặn từ lâu, sau khi nó chiếu lên đường chân trời và lên mặt biển êm đềm những màu sắc tuyệt vời. Xa xa đã nhấp nháy hàng nghìn ánh đèn của thành phố... Vẫn chẳng thấy ông già trở về!
- Chẳng lẽ ông ấy lại bị lạc? - Giênia cau có nói.
- Ông ấy không thể bị lạc được đâu? - Vônca đáp. - Những người già như ông ấy thì chẳng bị lạc đâu, người anh em ạ.
- Có thể ông già bị cá mập nuốt cũng nên.
- Ở vùng này chẳng có cá mập đâu mà sợ! - Vônca gạt đi, mặc dù nó không dám tin chắc vào câu nói của mình.
- Mình muốn ăn một cái gì đó... - Giênia thú thật.
Vừa lúc đó, có một chiếc thuyền ghé vào bờ ở gần đấy. Ba người đánh cá từ trên thuyền trèo xuống. Một ngươì lấy những cành khô nhóm thành một đống lửa, hai ngươi còn lại chọn vài con cá nhỏ xíu, làm sạch rồi bỏ vào nồi nước.
- Ta lại xin họ cho một cái gì đó để bỏ vào bụng đi! - Giênia đề nghị. - Họ là người lao động cánh mình cả thôi.
Vônca đồng ý.
- Xin chào các xinho! - Giênia nói với những người đánh cá và lễ phép cúi chào.
- Lạ thật, ở cái nước Ý nghèo khổ của chúng ta, sao mà đẻ ra lắm trẻ bụi đời như vậy nhỉ! - Một người đánh cá tóc bạc, gầy nhom, nói với giọng bị cảm lạnh. - Giôvanni, cho chúng ăn một cái gì đó đi.
- Bánh mì thì vừa đủ, hành thì chẳng thiếu, còn muối thì nhiều quá nữa là đằng khác! - Anh thanh niên 19 tuổi, vạm vỡ, tóc xoăn, vui vẻ đáp. - Các cậu bé, mời các cậu ngồi xuống đây! Món cháo cá ngon nhất trong tất cả các món cháo cá mà người ta đã từng nấu ở Ghêrôna và vùng xung quanh sắp được rồi đấy.
Vônca và Giênia tưởng như chưa bao giờ được nếm một món ăn ngon hơn thế. Có thể vì anh Giôvanni vui tính quả là một người đầu bếp có tài bẩm sinh, cũng có thể vì hai cậu bé đã đói mềm. Chúng ăn ngon lành, chốc chốc lại tắc lưỡi thích thú, làm cho ba người đánh cá cứ nhìn chúng mà tủm tỉm cười. Giôvanni vươn vai nói:
- Các cậu muốn chén nữa thì cứ tự nấu đi. Cái khoa nấu nướng này cũng chẳng rắc rối lắm đâu. Còn chúng tôi thì phải nằm nghỉ một chút. Nhưng đừng có lấy cá lớn đấy nhé. Cá lớn, sáng mai còn đưa đi bán để lấy tiền đóng thuế cho xinho bộ trưởng tài chánh. Các cậu hẳn là đã nghe nói về xinho này rồi: ông ấy bao giờ cũng lo làm sao cho trong ví chúng tôi không có tiền thừa, nếu không thì xinho bộ trưởng chiến tranh moi đâu ra tiền mà mua vũ khí của Mỹ...
Giênia lập tức lúi húi bên đống lửa, còn Vônca thì xắn quần, lội bì bõm tới chiếc thuyền đầy cá.
Sau khi lấy vài con cá nhỏ, Vônca đã định quay lên bờ, tình cờ nó đưa mắt về phía đống lưới xếp bên cột buồm. Một con cá lẻ loi đang giẫy giụa trong đống lưới, lúc thì nó nằm lặng, lúc thì lấy hết sức để tiếp tục những cố gắng tự giải thoát mà không có kết quả.
“Con này thích hợp với món cháo cá đây!”, Vônca nghĩ thầm và gỡ con cá ra khỏi mắt lưới. Nhưng lúc ở trong tay Vônca, con cá nhỏ giẫy giụa mạnh đến nỗi Vônca bỗng thấy thương hại nó quá, bèn ném nó ra ngoài thuyền.
Con cá rơi tõm xuống mặt nước xanh sẫm của cái vịnh nhờ và biến thành... ông già Khốttabít mặt tươi như hoa.
- Hỡi cậu con trai hảo tâm của Aliôsa, cầu cho ngày sinh của cậu được may mắn đời đời! - Ông già xúc động nói trong khi ông vẫn đứng dưới nước ngập đến thắt lưng. - Cậu lại cứu sống ta một lần nữa. Chỉ vài khoảnh khắc nữa thôi là ta bị chết ngạt trong cái đống lưới mà ta đã sơ ý rơi vào trong khi ta đi tìm chú em bất hạnh của ta.
- Ông Khốttabít thân yêu, ông còn sống được là cừ lắm rồi! - Vônca sung sướng nói. - Cháu và Giênia lo cho ông quá chừng!
- Còn ta thì bị giày vò bởi cái ý nghĩ là cậu, vị cứu tinh hai lần của ta, và cậu bạn Giênia không có ta sẽ bị đói và bị bơ vơ nơi đất khách quê người.
- Chúng cháu chẳng bị đói đâu, ông ơi! Những người đánh cá ở đây đã cho chúng cháu chén căng bụng rồi.
- Cầu cho những người tốt bụng đó được may mắn đời đời! - Ông Khốttabít nhiệt tình nói. - Họ có giàu không?
- Theo cháu thì họ nghèo lắm, ông ạ.
- Vậy thì ông cháu ta hãy đi mau. Ta sẽ đền ơn nhũng người đánh cá thật xứng đáng.
- Cháu nghĩ là chưa nên làm như vậy. - Vônca suy nghĩ một lát rồi nói. - Ông thử đặt mình vào địa vị họ xem: đang đêm, bỗng nhiên một ông già nào đó ướt lướt thướt từ dưới nước đi lên...... Không, chưa nên làm như vậy.
- Cậu nói đúng như mọi bận vẫn thường nói đúng! - Ông Khốttabít đồng ý. - Cậu cứ lên bờ trước đi, còn ta sẽ đến với họ sau.
Một lúc sau, tiếng vó ngựa lóc cóc tới gần đã đánh thúc ba người đánh cá đang thiu thiu ngủ. Chẳng mấy chốc, một ky sĩ lạ thường đã dừng lại bên đống lửa tàn.
Đó là một ông già mặc bộ quần áo tây rẻ tiền bằng vải thô và đội mũ cói cứng. Bộ râu oai vệ của ông phất phơ theo gió để lộ ra chiếc áo sơ mi thêu Ucraina. Ông già đi đôi hài cầu kỳ màu hồng nhạt có thêu những đường chỉ bằng vàng và bạc, mũi giày vểnh lên một cách kỳ quặc. Chân ông đặt trên cái bàn đạp bằng vàng, nạm kim cương và ngọc bích. Cái yên mà ông ngồi lộng lẫy đến độ chỉ riêng nó thôi cũng đã là cả một cơ nghiệp rồi. Dưới cái yên đó là con ngựa đẹp không thể tả. Hai tay ông già xách hai chiếc vali da lớn.
- Tôi có thể gặp những người đánh cá hào hiệp đã từng rộng lòng cho hai cậu thiếu niên đói khát, bơ vơ ăn uống, nghỉ ngơi được không? - Ông Khốttabít nói với Giôvanni đang bước tới gặp ông.
Không đợi trả lời, ông già xuống ngựa, đặt hai chiếc vali xuống bãi cát, rồi thở phào nhẹ nhõm.
- Có chuyện gì thế ạ? - Anh chàng Giôvanni thận trọng hỏi. - Ông biết hai cậu bé đó sao?
- Tôi mà lại không biết hai cậu bạn trẻ tuổi của tôi ư! - Ông Khốttabít kêu lên rồi lần lượt ôm chầm lấy Vônca và Giênia vừa chạy đến.
Sau đó, ông nói với ba người đánh cá đang bối rối nhìn ông:
- Hỡi những người đánh cá đáng kính nhất trong tất cả những người đánh cá, các bạn hãy tin rằng tôi không biết làm sao để đền ơn các bạn về lòng mến khách và hảo tâm của các bạn.
- Ông đền ơn chúng tôi về chuyện gì? - Người đánh cá tóc bạc lấy làm ngạc nhiên. - Về bữa ăn tối hay sao? Đối với chúng tôi, nó chẳng đáng là bao đâu, xinho ạ. Xin ông cứ tin vào lời tôi.
- Tôi đang được nghe những lời nói của một bậc trượng phu thực sự không vụ lợi và vì thế lòng biết ơn của tôi lại càng thêm sâu sắc. Hãy cho tôi được đền đáp các bạn, dù chỉ là những món quà nhỏ mọn này. - Ông Khốttabít nói và đưa cả hai chiếc vali cho Giôvanni đang đứng ngây người.
- Thưa xinho kính mến, có lẽ ở đây có một sự nhầm lẫn nào đó. - Giôvanni băn khoăn đưa mắt nhìn hai ông bạn của mình rồi nói. - Đem bán hai chiếc vali này đi cũng có thể mua được ít ra là một nghìn bữa cháo cá mà chúng tôi đã cho hai cậu bé này ăn. Ông đừng nghĩ rằng bữa cháo cá ấy là một bữa ăn đặc biệt. Chúng tôi chỉ là những người nghèo thôi, ông ạ...
- Anh bạn lầm rồi đó, hỡi chàng trai không vụ lợi nhất trong tất cả những người hảo tâm! Trong hai cái rương rất tốt được gọi bằng cái tên cao siêu là “vali ” này, chứa đựng một số của cải giá trị gấp nghìn nghìn lần bữa cháo cá của các bạn. Nhưng theo tôi, số của cải này dầu sao cũng chẳng mua nổi bữa cháo cá ấy, bởi vì trên đời này chẳng có gì đắt hơn lòng mến khách không vụ lợi.
Ông già mở hai chiếc vali ra và mọi người đều thấy trong đó đầy ứ những con cá sống tuyệt đẹp, vẩy bạc vẩy vàng lóng lánh.
Ba người đánh cá vẫn chưa kịp hiểu rõ tại sao ông già lại đem cá cho dân đánh cá, thì ông già đã thành thạo đổ số cá đang giãy đành đạch trong vali xuống bãi cát. Thế rồi, ngay lập tức, ba người đánh cá liền ồ lên vì thích thú và kinh ngạc: bằng cách nào không rõ, trong cả hai vali lại có đầy cá như cũ. Ông Khốttabít lại đổ cá ra và trong hai vali lại tiếp tục có đầy những tặng vật tuyệt vời của Địa Trung Hải. Cả lần thứ ba, lần thứ tư và lần thứ năm cũng vẫn như vậy.
Thích thú với ấn tượng đã gây được, ông Khốttabít nói:
- Còn bây giờ, nếu các bạn muốn, các bạn có thể tự thử lại những đặc tính kỳ diệu của hai chiếc vali này. Từ nay, các bạn sẽ chẳng còn phải run sợ mỗi khi xấu trời và mỗi khi màn sương mù trước lúc rạng đông bao phủ con thuyền ọp ẹp của các bạn. Các bạn chẳng còn phải cầu nguyện Đức Ala cho đánh được nhiều cá nữa. Các bạn cũng sẽ chẳng cần phải khuân ra chợ những giỏ nặng đầy cá. Chỉ cần mang theo một chiếc vali như thế này là đủ và các bạn sẽ lấy từ trong đó ra cho người mua đúng số cá mà người đó cần. Tôi chỉ yêu cầu các bạn đừng có từ chối món quà nhỏ mọn này của tôi. - Ông già nói khi thấy những người đánh cá định nói gì đó. - Tôi cam đoan với các bạn rằng ở đây không hề có chuyện nhầm lẫn nào cả. Hỡi những người đánh cá, cầu cho cuộc sống của các bạn được yên lành đời đời! Xin tạm biệt các bạn! Vônca và Giênia, hãy đi theo ta.
Giôvanni giúp hai cậu bé trèo lên ngựa và ngồi sau lưng ông Khốttabít.
- Tạm biệt xinho! Tạm biệt các cậu bé! - Ba người đánh cá bối rối nói và đưa mắt nhìn theo những người khách lạ thật khác thường đang nhanh chóng đi xa.
Giôvanni trầm ngâm nói:
- Cho dù dây chỉ là hai chiếc vali bình thường thôi chứ không phải là vali thần thì cũng có thể bán được khối lia (1) rồi...
Piêtrô, người đánh cá nhiều tuổi nhất (chừng 60), tóc bạc phơ, mặt nhăn nheo rám nắng, hai bàn tay khô đét, nổi đầy gân, lên tiếng:
- Bây giờ, chúng ta sẽ có thể giải quyết được các công việc của mình. Chúng ta sẽ trả cho lão bộ trưởng tài chánh - cầu cho lão ta bị hóc xương cá 25 lần trong một ngày! - toàn bộ số tiền thuế mà chúng ta chưa nộp đủ. Chúng ta sẽ ráng chữa được chừng nào hay chừng nấy cái bệnh thấp khớp đáng nguyền rủa của tôi. Còn Giôvanni, chúng tôi sẽ mua cho chú một bộ quần áo, một cái mũ, một đôi giày và một chiếc áo bành tô. Dẫu sao đi nữa thì chú còn trai trẻ, lại sắp lấy vợ đến nơi, nên chú cần phải ăn mặc cho nó đàng hoàng... Nói chung, tất cả chúng ta sẽ ăn mặc bảnh một chút..... Tôi nói có đúng không, các chú?
- “Chúng ta sẽ ăn mặc bảnh một chút!”. - Giôvanni bực bội nhại lại câu nói của ông Piêtrô - Xung quanh chúng ta còn biết bao người nghèo đói, đau khổ đấy! Trước hết, phải giúp bà vợ góa của bác Giacômô đã bị chết vì đắm thuyền năm ngoái, để lại ba đứa con dại và một bà mẹ già.
- Giôvanni, chú nói đúng lắm! - Ông Piêtrô đồng ý, - Cần phải giúp bà vợ góa của Giacômô. Đó là một người bạn tốt và trung thành.
Lúc ấy, người đánh cá thứ hai liền xen vào. Năm nay, anh 30 tuổi. Tên anh là Khrixtôphorô.
- Còn Luigi thì sao? Cũng cần phải giúp đỡ bác ấy. Ông già tội nghiệp sắp chết vì lao phổi rồi.
- Đúng, - Giôvanni nói. - Còn bà Xibila Capenli nữa. Con trai bà bị ngồi tù hai năm nay vì tổ chức bãi công đấy.
- Cũng cần phải giúp ông già Guliêmô Gátgiêrô. Con trai ông ấy đã bị bọn hiến binh giết chết trong một cuộc biểu tình. Cậu ấy không chịu đưa lá cờ cho bọn hiến binh, thế là bọn chúng liền bắn chết cậu ấy ngay tại chỗ. Các chú chắc còn nhớ cậu ấy, một thợ máy rất vui tính ở nhà máy điện... - Ông Piêtrô nói thêm.
- Tuyệt thật, bây giờ chúng ta có thể giúp bao nhiêu người! - Giôvanni thích thú nói.
Thế rồi ba người đánh cá tốt bụng bàn bạc cho tới tận khuya để tính xem bây giờ còn cần giúp ai nữa, khi mà họ có trong tay hai chiếc vai kỳ diệu đến thế.
Đó là những người lao động lương thiện và hào hiệp. Không một ngươi nào trong số họ nghĩ đến chuyện lợi dụng món quà của ông Khốttabít để làm giàu, để trở thành một tay buôn cá cỡ bự, một tên tư bản.
Tôi rất lấy làm thích thú báo với các bạn đọc điều đó để các bạn cùng vui với tôi khi thấy món quà của ông Khốttabít đã được trao tận tay những con người tốt.
Tôi tin chắc rằng nếu ở địa vị ba người đánh cá ấy, không một bạn đọc nào của tôi có thể xử sự khác được.

---
(1) Đơn vị tiền tệ của Ý - N.D.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-04 14:27:14Thái Nhi>
Chiếc vali tai hại
Ct.Ly hiệu đính

Vào cái giờ còn rất sớm của buổi sáng mùa hè tuyệt đẹp, ở thành phố Ghêrôna ít ra cũng có năm người đã thức dậy, mặc dù họ không hề phải lo đến chuyện miếng cơm manh áo.
Ông Khốttabít là một trong năm người đó. Ông sảng khoái nhỏm phắt dậy và đánh thức hai cậu bạn trẻ tuổi của mình (thế là các bạn có thêm hai người nữa) đang nằm ngủ trên hai chiếc giường rộng. Riêng ông già, theo lệ thường của mình, đã nằm ngủ trên sàn nhà, ở bên ngưỡng cửa, mặc dù trong khách sạn này chẳng thiếu gì phòng và giường trống.
Ông Khốttabít nói với hai cậu bé đang ngáp ngon lành:
- Hỡi các cậu bạn của ta, hãy tha lỗi cho việc ta đã phá mất giấc ngủ say ở tuổi niên thiếu của các cậu. Ta sắp ra biển lần thứ hai để tìm chú em yêu dấu và bất hạnh của ta là Ôma Iuxúp. Các cậu đừng lo cho ta. Lần này, ta sẽ hết sức thận trọng và ta xin cam đoan với các cậu rằng ta sẽ chẳng rơi vào cái lưới nào nữa đâu. Sau hai, ba giờ nữa ta sẽ trở về. Trong thời gian đó, ta sẽ kịp đi lùng khắp cái biển mà các cậu gọi là Địa Trung Hải này. Hãy ngủ lại đi, hỡi các cậu bạn của ta! Ta sẽ đánh thức các cậu dậy khi bàn chân ta lại đặt lên những tấm thảm tồi tàn ở căn phòng này.
- Khô-ô-ông! - Vônca nói. - Chúng cháu không thể ăn ngon ngủ kỹ trong cái giờ phút nghiêm trọng này được. Chúng cháu sẽ đợi ông trên bờ biển. Mình nói có đúng không, Giênia?
- Đúng lắm! - Giênia vươn vai xác nhận. - Ít ra thì chúng cháu cũng sẽ nằm ngủ ở trên bờ. Ngay tại bãi cát...
Các nhà du hành của chúng ta đã quyết định như vậy. Họ nhanh chóng mặc quần áo, rửa mặt rồi đi ra cái vịnh nhỏ quen thuộc mà ba người đánh cá mến khách vừa rời đi trước đó không lâu.
Người thứ tư dậy sớm là mixtơ Hari Oanđenđalét. Lão nóng lòng bắt tay vào việc mua sắm. Dù lão đến nước này hay nước nọ, thành phố này hay thành phố nọ với nhiệm vụ chính thức nào, trước hết lão đều nghĩ: “Liệu không biết ở đây có gặp may mà mua được một món gì thích hợp để có thể bán lại có lời ở nước Mỹ của mình?”. Là kẻ có lòng tham không đáy, lão dự định trước giờ các cửa hàng mở cửa, sẽ rảo qua chợ vài vòng xem có mua sắm thêm được gì không...
Nhưng Oanđenđalét biết rất rõ rằng những người Ý chính trực chẳng khoái gì các quân nhân và các nhà ngoại giao Mỹ, vì thế lúc ra chợ, lão đã mang theo gã hộ vệ của mình. Gã tóc hung, mặt rỗ hết sức khó coi này là kẻ “đã được thử thách” - hắn từng làm mật vụ dưới thời Mútxôlini (1). Hôm qua, lão cảnh sát trưởng Ghêrôna đã nói với Oanđenđalét rằng “mixtơ Oanđenđalét có thể tin cậy gã hộ vệ Chêdarê Xatôrétti như tin cậy em trai của mình”. Câu ví von này không được sát cho lắm, bởi vì anh em Oanđenđalét là những nhà kinh doanh chính cống, sẵn sàng vì một đồng đôla thừa mà mượn cớ rất nhỏ để hại nhau. Nhưng lão cảnh sát trưởng hẳn là chẳng có anh em. Chính Chêdarê là người thứ năm trong số năm người dậy sớm mà tôi đã nói đến ở đầu chương này.
Oanđenđalét chưa kịp bước đến mười bước trong chợ thì lão tin chắc rằng lão dậy sớm như vậy chẳng phải uổng công. Đi thẳng về phía lão là một chàng trai tóc xoăn, ăn mặc rất rách rưới, tay xách chiếc vali da tuyệt đẹp. Các bạn có thể tin rằng mixtơ Hari Oanđenđalét rất rành về vali! Đây là một chiếc vali đẹp và độc đáo hết sức. Quả là một kiệt tác của nghệ thuật thủ công: da thuộc tuyệt vời có in hình màu nổi hết sức tinh xảo. Cái quai tuyệt trần được đóng bằng những chiếc đinh mà đầu đinh trông chẳng khác gì vàng, bởi vì đó đúng là những đầu đinh bằng vàng thật. Ở các chỗ bịt góc vali đều có hình khắc rất đẹp, trông thật thích mắt: nào là những con cá nhỏ, nào là những con chim, nào là những chữ Arập gì đó...
Chớ vội nghĩ rằng Giôvanni (chàng trái tóc xoăn ấy như các bạn cũng đã đoán được) đi ra chợ mà không có những biện pháp đề phòng cần thiết. Chiếc vali được bỏ trong một cái bao vải gai cũ. Nhưng với một kẻ như lão Oanđenđalét, chỉ cần nhìn một góc nhỏ của một vật gì đó cũng đủ biết rõ ngay lập tức cái “vật gì đó” mua vào có lợi hay không và bán ra có lợi hơn không.
Oanđenđalét liền ra lệnh cho gã hộ vệ của mình:
- Mi hãy hỏi thằng kia xem nó muốn bán chiếc vali bao nhiêu tiền.
- Ê, cái thằng hậu đậu kia! - Chêdarê gọi chàng đánh cá trẻ tuổi. - Ông chủ Mỹ của tao hỏi mày muốn bán chiếc vali thổ tả của mày bao nhiêu?
- Chính mày là cái thằng hậu đậu thì có? - Giôvanni trả miếng. -Còn chiếc vali thì tao không bán. Tao đang cần đến nó.
- Mày không tính xách nó đi Nixơ (2) đấy chứ? - Chêdarê hỏi xỏ. - Ở đó, tất cả các ông hoàng, bà chúa của châu Âu đang buồn nhớ những thằng như mày đấy.
- Mày hãy bảo với bọn họ chớ có buồn. Thế nào tao cũng đi Nixơ ngay khi có điều kiện. - Giôvanni lầu bầu đáp lại và rảo bước. - Sẽ có lúc tất cả bọn tao đều kéo đến đó và các ông hoàng, bà chúa của mày sẽ phải ở chật lại một chút đấy!
- Chà, thì ra mày là một thằng đỏ!
- Tao ấy à? Đang xanh bủng (3) ra đây thì có? Ê, không được đụng vào vai của tao! - Giôvanni quát và đánh mạnh vào tay Chêdarê - Không được đụng, nghe chưa?
- A, mày muốn đánh nhau hả?! - Chêdarê vừa rít lên vừa xoa bàn tay bị đánh đau. - Hãy nói mau, mày muốn bán chiếc vali cà khổ của mày bao nhiêu tiền? Nếu không, mày sẽ khốn đấy! Mày biết ông người Mỹ này là ai không? Đó là khách của ai, mày có biết không? Đó là khách của ông em họ của ông bác của chính xinho nghị sĩ Matêô!
- Vậy thì hãy cứ để họ bán cho lão ấy những chiếc vali của họ. Họ cũng đã bán nước Ý cho bọn Mỹ rồi đấy!
- Mày ăn nói như thế hả! - Chêđarê hét lên. - Hiến binh đâu!
Hai tên hiến bình chạy lại, sợ sệt nhìn đám đông vây xung quanh. Trong đám đông nổi lên những tiếng nói đầy căm phẫn. Nhiều người biết Giôvanni là một chàng trai tốt bụng và lương thiện. Những người dân ở thành phố Ghêrôna còn biết Chêdarê nhiều hơn nữa: hắn là một tên mật vụ cáo già thời Mútxôlini. Riêng lão người Mỹ mặt đỏ thì chẳng ai ưa, chính vì lão mà bây giờ mới sinh chuyện ầm ĩ lên như thế.
- Hãy bắt thằng này lên đồn! - Chêdarê ra lệnh cho hai tên hiến binh. - Thằng khốn này đã ăn cắp chiếc vali của xinho người Mỹ!
Gã hộ vệ giật chiếc vali trong tay Giôvanni đang tái mặt vì phẫn nộ và lột cái bao rách nát tự làm lấy ra khỏi vali.
- Hãy để cho nó nói nó lấy đâu ra chiếc vali tuyệt đẹp thế này! - Chêdarê quay về phía đám người đứng vây quanh và nói lớn.
- Thưa các xinho, người ta cho tôi chiếc vali này? Người ta cho tôi, lời nói danh dự đấy!... - Giôvanni nói và thấy rằng chẳng ai tin lời anh cả. - Tôi xin lấy danh dự ra thề?! ..
Thật là bực mình, nhưng lần này hình như cái thằng mật vụ đáng nguyền rủa ấy đã nói đúng. Pha-a-ải! Nếu Giôvanni đáng thương - một chàng trai lương thiện nhất - mà cũng phải đi ăn cắp thì có nghĩa là cái thời hết sức tồi tệ đã đến rồi.
Đám đông từ từ tản ra, còn hai tên hiến binh thì giải Giôvanni về đồn cảnh sát.
Đi sau mấy bước là mixtơ Oanđenđalét và gã hộ vệ trung thành của lão. Chêdarê xách trong tay chiếc vali đen đủi...
- Mày lấy đâu ra chiếc vali này? - Tên thanh tra cảnh sát hỏi người đánh cá trẻ tuổi.
Hắn mở chiếc vali ra để xem bên trong thế nào.
Giôvanni đờ cả người: năm chục kilôgam cá sẽ đổ ra sàn nhà ngay bây giờ! Sau đó, còn tiếp tục đổ ra nữa! Lúc ấy sẽ mất oan món quà kỳ diệu của ông già hôm qua!
Nhưng, thật là không ngờ, chiếc vali lại trống rỗng. Có lẽ các bạn đọc đã đoán được rằng cá chỉ xuất hiện trong vali khi nào Giôvanni, Piêtrô hay Khrixtôphorô mở. Đối với những người khác thì đó chỉ là một chiếc vali bình thường, mặc dù chiếc vali này là một sản phẩm hết sức hiếm có.
Giôvanni thở phào nhẹ nhõm và nói:
- Ngườì ta đã cho tôi chiếc vali đó.
- Chà, người ta cho mày hả? - Tên thanh tra chớp lấy với giọng chế giễu. - Đích thực người ta đã cho mày?
- Đúng thế! - Giôvanni thật thà xác nhận.
- Cho bao giờ?
- Tối hôm qua.
- Ai cho?
- Một ông già.
- Chà, một ông già hả? Ông già hào phóng của mày tên là gì?
- Tôi không biết.
- Ông già ấy ở đâu, có lẽ mày không biết nốt?
- Không, tôi không biết.
- Mày cũng không biết ông già bí ẩn ấy làm nghề ngỗng gì?
- Không, không biết
- Mày quen ông già bí ẩn ấy đã lâu chưa?
- Chúng tôi mới quen ông ấy tôi hôm qua, thưa xinho thanh tra.
- Thế mà ông ấy đã lập tức cho mày chiếc vali quý báu này, một kỳ công của bàn tay con người?
- Đã cho lập tức, thưa xinho thanh tra. Ông già ấy không phải chỉ cho mình tôi, mà còn...
Nói đến đây, Giôvanni mới nghĩ ra là mình đã lỡ lời, liền im bặt. Dù tên thanh tra có cố đến mấy cũng không thể buộc được Giôvanni nói thêm câu nào.
Lúc bấy giờ, tên thanh tra mới vừa nói vừa lau mồ hôi trên bộ mặt húp híp của mình (mặt hắn có nước da vàng vọt bệnh hoạn, cặp lồng mày sâu róm vểnh lên như cặp ria mép):
- Tao rõ cả rồi! Chẳng ai cho mày chiếc vali ấy. Chính mày đã ăn cắp chiếc vali của vị khách kính mến của chúng tao.
Nói rồi, hắn kính cẩn ngả đầu về phía mixtơ Oanđenđalét đang ngồi trên chiếc đivăng êm ái, thở hồng hộc và nốc hết ly nước này đến ly nước khác được rót ra từ cái bình lớn.
- Sao ông dám gọi tôi là thằng ăn cắp? - Giôvanni vung nắm đấm, lao về phía tên thanh tra. - Suốt đời, tôi chưa bao giờ đụng đến tài sản của người khác.
- Chà, té ra mày không phải chỉ là một thằng ăn cắp, mà còn là một thằng du côn nữa! - Tên thanh tra thích thú nhận xét.
Sau khi ra lệnh tống Giôvanni vào trại giam, hắn ngồi viết biên bản.

---
(1) Tên độc tài phátxít đã thống trị ở Ý từ năm 1922 đến năm 1943. Bị các chiến sĩ du kích bắt và xử tử hình năm 1945 - N.D.
(2) Thành phố nghỉ mát nổi tiếng của Pháp, nằm trên bờ Địa Trung Hải – N.D
(3) Giôvanni đối đáp hóm hỉnh và sâu cay: tên Chêdarê bảo anh là “đỏ” ý nói cộng sản, anh nói mình “xanh bủng” vì nghèo đói, bệnh hoạn – N.D
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-02 13:28:51Thái Nhi>
Một cái bình được vớt từ “Những cây cột của Hécquyn”
Ct.Ly hiệu đính

Lần này, ông Khốttabít đã nói đúng. ông hứa sau hai, ba tiếng đồng hồ sẽ quay trở về và quả thật, lúc 9 giờ kém 15 phút, ông đã ngoi lên khỏi mặt nướcc, mặt tươi như hoa.
Ông già đang sung sướng. Ông chạy nhanh lên bờ, hai tay nâng cao trên đầu một cái bình gì đó bằng kim loại, rất lớn dài bằng nửa người, phủ đầy rong biển. Ông gào tướng:
- Ta đã tìm được chú ấy rồi, hỡi các cậu bạn của ta! Ta đã tìm thấy cái bình, nơi chú em bất hạnh của ta là Ôma Iuxúp con trai của Khốttáp đã bị giam cầm bao nhiêu thế kỷ nay - cầu cho mặt trời luôn luôn chiếu sáng trên đầu chú ấy! Ta sục sạo khắp đáy biển và đã bắt đầu cảm thấy tuyệt vọng. Nhưng tới chỗ “Những cây cột của Hécquyn” (1), ta nhận thấy cái bình thần này ở dưới một vực sâu thăm thẳm.
- Ông còn chờ gì nữa? Mở ra mau ông ơi! - Giênia, người đầu tiên chạy đến bên ông Khốttabít đang sướng mê, liền kêu lên với vẻ hăng say.
- Ta không dám mở cái bình này, bởi vì nó đã bị đóng dấu ấn của vua Xalômông. Hãy để cho người đã giải thoát ta là cậu Vônca con trai của Aliôsa cứu luôn cả chú em chịu nhiều đau khổ của ta thoát khỏi cảnh giam cầm. Nó đây rồi, cái bình mà trong biết bao đêm không ngủ, ta đã ước ao tìm thấy nó! - Ông Khốttabít vừa nói tiếp, vừa lắc cái vật mà ông vừa tìm được. - Hãy cầm lấy nó, hỡi cậu Vônca, hãy mở ra để cho ta và cho chú em Ôma của ta được hưởng sung sướng!
Áp sát tai vào thành bình, ông già thích thú cười ha hả:
- A ha, các cậu bạn của ta ơi! Từ bên trong bình, chú Ôma đang báo hiệu cho ta đấy.
Giênia không phải không ghen tị khi thấy ông già trao cái bình cho cu cậu Vônca đang hả hê ra mặt. Nói cho đúng hơn, ông già đã đặt cái bình trước mặt Vônca, ở trên bãi cát bởi vì cái bình này rất nặng.
- Ông Khốttabít ơi, trước kia ông bảo rằng ông Ôma bị nhốt trong một cái bình đồng, sao đây lại là bình sắt nhỉ? Nhưng mà thôi... Cái dấu ấn nằm ở đâu? A, nó đây rồi? - Vônca vừa xem xung quanh cái bình, vừa nói.
Bỗng nó tái mét mặt và hét váng lên:
- Nằm xuống!... Giêma, nằm xuống!... Ông Khốttabít, quẳng lại xuống biển cái bình này ngay lập tức và ông cũng nằm xuống!
- Cậu điên mất rồi! - Ông Khốttabít phát cáu - Biết bao nhiêu năm ta ước ao được gặp chú Ôma, bây giờ tìm được chú ấy rồi, ta lại phải trao chú ấy cho sóng biển ư?
- Ông hãy quăng cái bình này cho thật xa!... Ở trong ấy không có ông Ôma của ông đâu... Hãy quăng mau lên, không sẽ chết hết cả nút bây giờ! - Vônca năn nỉ và bởi và ông già vẫn còn chần chừ, nó liền gào lên với vẻ tuyệt vọng: - Tôi ra lệnh cho ông? ông có nghe không?!
Nhún vai thắc mắc, ông Khốttabít nâng cái bình nặng trĩu lên, lấy đà rồi quẳng nó ra cách bờ tới 200 mét.
Quẳng xong, ông già chưa kịp quay mặt lại về phía Vônca đang đứng cạnh ông thì ở chỗ cái bình vừa rơi xuống đã phát ra một tiếng nổ khủng khiếp, và một cột nước lớn vọt lên cao trên mặt vịnh phẳng lặng rồi trút xuống ào ào. Hàng nghìn con cá nhỏ bị choáng và bị chết nổi ngửa bụng trên mặt nước.
Nghe tiếng nổ, những người ở gần đó đã đổ xô ra bờ biển.
- Chuồn khỏi đây, mau! - Vônca ra lệnh.
Ba người bạn của chúng ta vội vã trèo lên đường cái và đi về thành phố.
Ông Khốttabít đi sau cùng, chốc chốc lại ngoái cổ nhìn, mặt mũi ỉu xìu xìu. Ông vẫn ngờ rằng ông đã vâng lệnh Vônca một cách vô ích...
- Cậu đã đọc được gì trên cái vật ấy? - Giênia hỏi khi nó đuổi kịp Vônca đã đi trước khá xa.
- “Made in USA”(2), mình đã đọc được như vậy đó!
- Thế có nghĩa cái vật ấy là một quả bom Mỹ?
- Thủy lôi chứ không phải bom. - Vônca sửa lại cách dùng chữ của của Giênia. - Cần phải hiểu điều đó. Một quả thủy lôi đấy!
Ông Khốttabít thở dài buồn bã.

---
(1) Tên cũ của eo biển Gibranta ngăn cách châu Âu và châu Phi nối liền Địa Trung Hải với Đại Tây Dương. Sở dĩ có tên gọi này là vì theo truyện thần thoại Hy Lạp, dũng sĩ Hécquyn trên đường đi lập kỳ công thứ 10 trong số 12 kỳ công phi thường của mình đã đến đại dương mênh mông nhưng lại gặp phải quả núi khổng lồ bít kín lấy biển. Hécquyn bèn dùng sức lực ghê gớm của mình xẻ núi, thông suốt biển bên trong và bên ngoài, bên phía Đông và bên phía Tây. Trong khi xẻ núi, Hécquyn khuân đá xếp sang hai bên đá chồng lên nhau như hai câu cột khổng lồ - N.D
(2) Tiếng Anh: “Chế tạo ở Mỹ” - N.D.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-04 14:28:51Thái Nhi>
“Ông ấy đấy, chính xinho già này!”
Ct.Ly hiệu đính

- Chúng ta phải cho rằng mọi việc đều ổn cả. - Vônca kết luận. - Một mặt, chúng ta chưa tìm được ông Ôma. Điều này dĩ nhiên là rất tiếc. Nhưng mặt khác, chúng ta đã suýt chết, vậy mà lại thoát được. Thế là tốt rồi!
- Bây giờ đúng là lúc phải đi ăn sáng, - Giêma thở hổn hển vì đi nhanh, nói.
Đề nghị của Giênia được thừa nhận là hết sức hợp lý.
Lúc đi ngang qua tòa nhà xám xịt của đồn cảnh sát, họ trông thấy anh Giôvanni vui tính, người mà họ mới quen tối hôm qua, đang từ trong đó đi ra, có hai tên hiến binh áp giải.
Giôvanni cũng nhận ra họ, liền chỉ vào ông Khốttabít mà kêu lên:
- Ông ấy đây rồi! Chính xinho già này đã cho tôi chiếc vali! Ông ấy có thể xác nhận với bất cứ ai rằng tôi không phải là một thằng ăn cắp, mà là một người đánh cá lương thiện!
- Có chuyện gì vậy, hỡi bạn Giôvanni? - Ông Khốttabít hỏi khi Giôvanni bị hai tên hiến binh giữ chặt lấy tay, bước lạl gần ba người bạn của chúng ta.
- Xinho ơi! - Chàng đánh cá tội nghiệp trả lời, suýt nữa thì khóc. - Người ta không tin rằng ông đã cho tôi chiếc vali. Thế rồi người ta đã giật chiếc vali trong tay tôi và bảo rằng tôi là thằng ăn cắp. Bây giờ, người ta giải tôi vào trại giam. Thưa xinho, xin ông hãy giúp tôi, hãy giải thích cho xinho thanh tra biết rằng tôi không hề ăn cắp gì cả.
- Kẻ nào dám cả gan buộc tội người đánh cả hào hiệp này là kẻ ăn cắp? Tên vô lại nào dám cả gan cướp đoạt của bạn cái vật mà ta, Gátxan Ápdurắcman con trai của Khốttáp, đã tặng? Chúng ta sẽ đến gặp cái tên đê tiện đó và sẽ nói thẳng vào mặt thằng thong manh ấy!...
Lúc ấy tên thanh tra vẫn chưa kịp làm xong biên bản xét hỏi. Hắn ngạc nhiên ngẩng đầu khi nghe thấy tiếng chân ai bước vào phòng làm việc của hắn. Hắn không thích bị quấy rầy lúc hắn đang làm việc. Ngay cả mixtơ Oanđenđalét mà hắn tôn kính một cách trung thành và vô hạn, hắn cũng mời qua phòng bên trong lúc hắn ngồi làm biên bản. Trong phòng ấy, hắn đã dành riêng cho ông khách người Mỹ một chiếc ghế bành mềm mại và một tách cà phê.
- Lại chuyện gì thế này? - Tên thanh tra hỏi xẵng khi hắn thấy ngươi đánh cá bị bắt cùng với hai tên hiến binh áp giải lại dừng trước bàn của hắn. - Giờ này, chúng mày phải tống thằng bị bắt vào trại giam rồi kia mà?
- Thưa xinho thanh tra! Ông ấy đấy, chính ông già này đã cho tôi chiếc vali hôm qua! - Giôvanni đắc thắng kêu lên và chỉ tay về phía ông Khốttabít vừa theo anh bước vào phòng. - Ông ấy sẽ xác nhận với ông những lời tôi nói.
- Hay, hay lắm! - Tên thanh tra nói lè nhè rồi đưa mắt nhìn ông Khốttabít với vẻ dò xét và trên bộ mặt vàng vọt, được cạo cẩn thận của hắn xuất hiện một nụ cười nham hiểm. - Thế có nghĩa là cậu này... Tên cậu ấy là gì nhỉ?... À, Giôvanni Xaphênhô... không nói dối? Ông quả thật đã cho cậu ấy chiếc vali này? Cứ theo bộ quần áo xuềnh xoàng của ông mà xét đoán thì ông cũng chẳng giàu tới mức có thể quẳng đi những vật đắt tiền như thế.
- Các hiền nhân dạy rằng kẻ nào xét đoán con người theo quần áo thì thường bị lầm! Phải, hôm qua ta đã cho ngừơi đánh cá hào hiệp này chiếc vali mà ngươi đã tước đoạt của anh ấy một cách phi lý. Ta còn cho anh ấy một chiếc vali nữa mà ngươi đã không tước đoạt được. Ta có thể cho anh ấy, mười, hai mươi, một trăm, mười nghìn chiếc vali như thế và thậm chí cả những chiếc vali còn quý hơn gấp bội, nếu như anh ấy đồng ý nhận từ tay ta! - Ông Khốttabít hãnh diện tuyên bố, không nhận thấy Giôvanni ra hiệu bảo ông đừng nói lộ hết mọi chuyện.
Nhưng đã muộn mất rồi. Tên thanh tra đắc ý xoa tay. Không rời mắt khỏi ông già đang ngồi nói chuyện với mình, hắn nói:
- Xinho thân mến, xin ông thứ lỗi, xin ông thứ lỗi, nhưng tôi không thể nào tin được những lời ông nói, mặc dù tôi kính trọng ông hết sức.
- Hỡi viên thanh tra xảo quyệt kia, ngươi không muốn bảo ta là kẻ nói dối đấy chứ? - Ông Khốttabít đỏ bừng mặt.
- Xinho, ông hãy tự xét đoán: ông ăn mặc xuềnh xoàng, vậy mà ông lại tuyên bố rằng bỗng dưng ông đem cho một người đánh cá gần như không quen biết chiếc vali trị giá ít nhất là một nghìn đôla!
- Cho hai chiếc vali chứ không phải một! Và chẳng phải ta cho một cách vô cớ, mà là vì người đánh cá này đã cho hai câu bạn trẻ tuổi của ta ăn uống.
- Hai nghìn đôla một bữa ăn trưa?
- Một bữa ăn tối! - Ông Khốttabít sửa lại câu nói của tên thanh tra.
- Cũng vậy thôi. Hai nghìn đôla một bữa ăn tối! Ông không thấy là ông đã phải trả giá quá đắt hay sao? - Tên thanh tra cười hi hí.
- Không, ta không hề thấy như vậy! - Ông Khốttabít trả lời đốp chát - Đối với một việc làm tốt, một sự giúp đỡ không vụ lợi bao giờ ta cũng đền đáp rất hậu.
Tên thanh tra lại hiểu câu nói cuối như là lời nói bóng gió về chuyện đút lót có thể có, và cặp mắt hắn sáng lên vì máu tham.
- Ông có nhiều chiếc vali như thế?
- Ta chẳng có một chiếc vali nào cả, nhưng ta có thể cho bao nhiêu cũng được.
- Có lẽ ông muốn có bao nhiêu tiền cũng được? - Tên thanh tra hỏi với vẻ xảo quyệt.
Ông Khốttabít nhếch mép cười khinh bỉ..
- Có lẽ ông có cả vàng bạc, châu báu?
- Ta chẳng hề có mảy may, nhưng ta có thể lấy ra bao nhiêu cũng đuợc.
- Ông có những mỏ vàng riêng? Những mỏ vàng ấy nằm ở đâu? Ở miền Nam châu Phi?... Ở Caliphonia (l)
- Ở trong túi ta đây. Chỉ cần ta muốn thôi là ta có thể chất đầy vàng cả tòa nhà mà ta đang đứng đây và một nghìn tòa nhà nữa như thế này! - Ông Khốttabít vừa đáp vừa mân mê bộ râu.
- Tôi không thể tin được! - Tên thanh ra nói..
- Thế cái gì đây? - ông Khốttabít hỏi và móc từ trong túi chiếc quần dài vải thô của mình cả vốc tiền vàng cổ.
Khi ông già nhận thấy Giôvanni ra hiệu cho ông thì trên bàn của tên thanh ra đang sửng sốt đã lù lù một đống tiền vàng to tướng.
Khi ấy, ông mới thôi lấy vàng ra và thản nhiên nói với tên thanh tra:
- Ta hy vọng rằng bây giờ ngươi đã tin rằng người đánh cá hào hiệp này không phải là kẻ nói dối, lại càng không phải là kẻ ăn cắp? Ngươi hãy thả anh ấy ra ngay lập tức để anh ấy có thể tận hưởng tự do và yên ổn.
- Than ôi, thưa xinho, bây giờ tôi đã tin rằng cậu Giôvanni Xapênhô không phải là kẻ ăn cắp... - Tên thanh tra nói với vẻ buồn bã giả tạo. - Và chình vì vậy mà tôi không thể nào thả cậu ấy ra được.
- Sao lại thế?! - Ông Khốttabít hỏi với giọng hăm dọa.
- Xin ông thứ lỗi, nhưng một xinho mà tôi không có quyền tiết lộ danh tánh, song sự đứng đắn của ông ấy thì không thể nghi ngờ được, đã tuyên bố quyền sở hữu của mình đối với chiếc vali mà tôi sẵn lòng tin rằng hôm qua ông đã cho... è è è cái cậu Giôvanni Xapênhô này. Thế có nghĩa là sẽ phải đưa ra tòa, còn trước khi đưa ra thì phải tiến hành điều tra. Chúng tôi buộc phải giữ chiếc vai lại làm tang vật còn xinho Giôvanni thì phải giữ lại làm... è è è... nhân chứng, mà cũng có thể làm cả bị cáo nữa. Việc điều tra sẽ nói lên tất cả, thưa xinho...
- Việc điều tra ấy sẽ kéo dài trong bao lâu?
- Chúng tôi sẽ tiến hành điều tra theo thể thức nhanh nhất, thưa xinho. Có nghĩa là sau hai năm, hai năm rưỡi, tôi cho rằng việc điều tra sẽ kết thúc. Rồi nửa năm nữa thì sẽ đưa ra tòa.
- Sao ngươi muốn đày dọa người đánh cá đáng yêu này ba năm trong trại giam, rồi sau đó mới quyết định anh ấy có tội hay không?!
- Pháp luật là pháp luật! Bây giờ chúng tôi có quá nhiều vụ phải điều tra, nên tôi không dám hứa làm sớm hơn được... Tuy nhiên... - Nói đến đây, tên thanh tra ngắc ngứ một lát, rồi hất đầu ra lệnh cho hai tên áp giải rời khỏi phòng và nói tiếp bằng giọng nhỏ nhẹ nhưng rắn rỏi, - Tuy nhiên, còn có một giải pháp khác dễ chịu hơn để thoát khỏi tình cảnh hết sức khó chịu này...
- Giải pháp? - Ông Khốttabít và chàng đánh cá đều cất tiếng hỏi cùng một lúc.
- Đóng tiền lạc quyên, thưa các xinho kính mến của tôi? Nếu muốn, các ông có thể gọi đó là khoản tiền cho vay không hoàn lại. Tôi rất nặng gánh gia đình, mà lương lậu thì chẳng là bao...
- Hãy câm mồm, hỡi tên ăn của đút đê tiện kia? Ta nghe cái giọng lưỡi ấy mà thấy phát tởm! Bây giờ, ta sẽ đến báo chuyện này với lão xếp chính của ngươi! - Ông Khốttabít kêu lên với vẻ khinh bỉ khôn tả.
- Thưa xinho kính mến, ông sẽ không làm việc đó vì hai lẽ, - Tên thanh tra phản đối, vẫn không hề cất cao giọng. - Thứ nhất, trong trường hợp ấy thì ông phải đút lót cả cho ông xếp của tôi nữa, còn thứ hai và đó là điều chủ yếu nhất, ông sẽ không thể ra khỏi phòng làm việc của tôi mà không có đội áp giải đi cùng.
- Tại sao vậy?
- Tại vì tôi buộc phải bắt giam cả ông nữa.
- Bắt giam ta?! Vì tội gì? Ta không nghe lầm đấy chứ?
- Tội thứ nhất: che giấu các cơ quan nhà nước về những mỏ đá quý và kim loại quý chưa được thăm dò. Tội thứ hai: trốn nộp các khoản thuế mà pháp luật đã quy định.
- Vì sao ta lại phải nộp vàng vào ngân khố của một nước khác?
- Thưa xinho, nếu tôi không lầm thì ông không phải là người Ý?
- Đúng là ngươi đã không lầm..
- Ông là người nước ngoài?
- Dĩ nhiên.
- Và ông không phải là người Mỹ?
- Ngươi đã không lầm.
- Ông đến nước Ý đã lâu chưa?
- Chiều hôm qua.
- Vậy hộ chiếu của ông đâu, thưa xinho thân mến?
- Ngươi nói hai tiếng “hộ chiếu” mà ta không hiểu ấy là để chỉ cái gì đấy, hỡi cái tên ăn của đút ba lần đê tiện kia?
- Hộ chiếu là thứ giấy tờ mà nếu không có nó thì không một người nước ngoài nào, trừ người Mỹ, có quyền đi vào nước Ý.
- Vị thần hùng mạnh Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp chẳng cần bất cứ một thứ giấy phép nào cả. Muốn đến nước nào thì ta cứ việc đến, chẳng phải hạ mình tới mức phải cầu xin hạ cố của các thế lực ở hạ giới cũng như ở thượng giới, dĩ nhiên là không kể tới Đức Ala.
- Thế có nghĩa là ông đã đến nước Ý mà không có thị thực nhập cảnh của Bộ Ngoại giao nước chúng tôi và lại còn mang theo một khối lượng vàng khá lớn? Thưa xinho thân mến, ngay hai cái tội đó cũng đã khiến tôi phải bắt ông rồi. Tuy nhiên, còn có một giải pháp khác, dễ chịu hơn...
- Đút lót? - Ông Khốttabít đoán.
Tên thanh tra gật đầu xác nhận, hắn không thấy ông già đã rứt mấy sợi râu của mình. Hắn phá vỡ sự im lặng kéo dài:
- Tôi muốn chỉ cho ông biết rằng trong trại giam của chúng tôi, ông sẽ phải sống rất cực, người ta sẽ cho ông ăn mặn, nhưng lại chẳng cho ông uống tí nước nào. Hằng ngày, tôi sẽ vào thăm ông với cái bình đựng đầy nước ngon và mát này. Ông sẽ bị khát tới mức cuối cùng để đổi lấy một hớp nước, ông phải đưa cho tôi toàn bộ số vàng và toàn bộ số vali của ông. Ông còn phải đội ơn chúng tôi nữa, nếu chúng tôi vẫn để cho ông sống.
- Thế tại sao ngươi lại ăn cắp chiếc vali mà ngươi đã chiếm đoạt của Giôvanni? - Ông Khốttabít nói và đồng thời ném xuống sàn mấy sợi râu đã ngắt thành nhiều phần.
- Tôi không bao giờ ăn cáp các tang vật, - Tên thanh tra phật ý. - Chiếc vali đây...
Chiếc vali vừa nằm trên cái ghế ở bên cạnh tên thanh tra, vậy mà bỗng nhiên nó lại biến mất như là độn thổ. Cả cái đống tiền vàng đã làm xao xuyến một cách dễ chịu trí tưởng tượng của tên thanh tra cũng bỗng nhiên biến mất và lạ nhất là tờ biên bản xét hỏi Giôvanni nằm ngay dưới tay hắn cùng không cánh mà bay.
- Lảo già đáng nguyền rủa kia, chính mi đã ăn cắp những thứ đó! Mi và cái thằng lầm lì Giôvanni này. Nhưng không sao, ta sẽ mau chóng bắt bọn mi phải hiểu bọn mi đang ở chỗ nào! - Tên thanh tra hét lên.
Hắn bấm chuông. Bốn tên cảnh sát mặt mũi ác ôn và đần độn lạ thường liền bước vào.
- Hãy khám người hai kẻ này? - Tên thanh tra ra lệnh
Nhưng việc khám xét chẳng đem lại kết quả nào.
- Thế vàng biến đi đâu? Chiếc vali và tờ biên bản đâu rồi? - Tên thanh tra rống lên.
Ông Khốttabít im lặng. Giôvanni vung tay tỏ ý băn khoăn:
-Tôi không biết, thưa xinho thanh tra.
Đúng lúc đó, cánh cửa mở ra và mixtơ Oanđenđalét ngó vào phòng. Lão lo lắng ra mặt.
Chêdarê thập thò sau lưng lão người Mỹ. Là phiên dịch của Oanđenđalét, hắn liền ra tuyên bố chính thức:
- Thưa xinho thanh tra, ông chủ Mỹ của tôi yêu cầu truyền đạt lại rằng ông đang rất vội, bởi vì các cửa hàng sắp mở cửa đến nơi rồi. Có thể tiếp chuyện ông ấy mau mau chóng chóng được không?
Oanđenđalét gật gù oai vệ theo nhịp câu nói của Chêdarê. Bỗng lão nhận thấy ông Khốttabít đang khiêm nhường đứng tránh một bên.
- Ồ là là! - Lão người Mỹ reo lên. - Mixtơ thanh tra, xin hãy bắt giữ lão già này!
Chêdarê liếng thoắng dịch các câu nói của Oanđenđalét:
- Thưa xinho thanh tra, xinho người Mỹ yêu cầu ông bắt giữ lão già này. Xinho người Mỹ buộc tội lão già này đã cướp đi của ông một trăm triệu một trăm nghìn đô la tiền mặt, xếp thành các xấp, mỗi xấp gồm một trăm tờ 10 đô la; mười nghìn chiếc đồng hồ vàng nạm kim cương; hai mươi nghìn bót xì gà bằng vàng; năm mươi nghìn chuỗi ngọc trai; mười lăm nghìn bộ đồ ăn cổ bằng sứ và một cái nhẫn bạc vô giá mà đức vua quá cố Xalômông con trai của Đavít đã để lại cho xinho Oanđenđalét...
- Nó kia kìa! Cái nhận ấy kia kìa! - Oanđenđalét rống lên khi lão thấy trên tay ông Khốttabít cái nhẫn “Catia, em hãy đeo cho mạnh khỏe”. - Hãy trả nhận đây!...
- Nào, bọn bay hãy bắt lão già này phải khai đi! - Tên thanh tra ra lệnh cho bốn gã cảnh sát và ngồi vào ghế bành cho thoải mái hơn, vì hắn cảm thấy trước là sắp được chứng kiến một cảnh tượng lý thú.
Bốn gã cảnh sát lặng lẽ giơ tay chào, rồi thật bất ngờ đối với tên thanh tra và đối với chính cả chúng, chúng đã tống mạnh tên thanh tra ra khỏi chiếc ghế bành, quật tên này xuống sàn nhà và bắt đầu nện.
- Bọn bay làm gì thế, những thằng vô lại kia?! - Tên thanh tra rống lên. - Tao ra lệnh cho bọn bay nói chuyện với lão già kia chứ không phải là với tao.
- Đúng như vậy, thưa xinho thanh tra! - Bốn gã cảnh sát hùng hổ đáp và lại tiếp tục đấm tên thanh tra tới tấp.
- Sao mày lại đứng đực ra thế? - Tên thanh tra gào lên với tên Chêdarê đang đờ cả người vì kinh ngạc. - Chêdarê, hãy cứu tao với, hãy cứu tao với!
Với dáng đi cứng đờ kỳ quặc, Chêdarê bước tới gần tên thanh tra đã bị đánh nhừ tử và lại thoi cho hắn mấy cú nữa, làm hắn lập tức ngất lịm.
Sau khi tin chắc là tên thanh tra đã bị “đo ván”, bốn gã cảnh sát và Chêdarê, như theo lệnh, vừa thở hồng hộc vừa lao vào đấm nhau túi bụi, cho tới lúc cả bọn đều kiệt sức hoàn toàn, lần lượt ngã gục xuống sàn nhà. Chêdarê ngã gục cuối cùng. Nhưng ngay trong lúc ngã xuống, hắn đã thu hết sức lực còn lại đấm một cú trời giáng vào mặt Oanđenđalét, làm cho tên này ngã uỵch xuống sàn nhà như một bao khoai tây.
- Ông biết tên người Mỹ này à? - Giôvanni hỏi ông Khốttabít. - Chính hắn đã vu cho tôi ăn cắp chiếc vali đấy...
- Ta có biết cái kẻ ti tiện này không à?! - Ông Khốttabít cười gằn. - Biết quá đi chứ? Bọn ta đã từng gặp hắn... Này, anh bạn Giôvanni tốt bụng của ta, có lẽ mọi việc đều ổn cả rồi. Chúng ta hãy mau mau rời khỏi tòa nhà không mến khách này.
Nói rồi, ông già cầm tay Giôvanni và dắt tay anh đi xuyên qua bức tường đá kiên cố ra ngoài đường, thản nhiên như là đi qua cửa vậy. Ở bên ngoài, Vônca và Giênia đứng ngồi không yên vì thấy ông Khốttabít và Giôvani ở trong đồn quá lâu.
- Giôvanni, bạn hãy cầm lại chiếc vali của mình! - Ông già nói với chàng đánh cá trẻ tuổi và trao cho anh một chiếc vali xấu xí, tưởng chừng chỉ còn có việc quẳng nó vào hố rác nữa mà thôi.
Giôvanni sẵn sàng thề rằng một giây trước đó, trong tay ông Kháttabít không hề có một chiếc vali nào cả. Nhưng chiếc vali mà ông Khốttabít vừa trao cho anh lại chẳng hề giống tí lào chiếc vali quý báu - chiếc vali mà vì nó suýt nữa anh bị tước mất tự do. Hiểu sự ngạc nhiên của Giôvanni, ông Khốttabít nói:
- Bạn chớ có nghi ngờ khi thấy cái bề ngoài xấu xí của chiếc vali này. Bạn hãy đồng ý với ta rằng một khi nó có những đặc tính kỳ diệu thì cái bề ngoài lộng lẫy chẳng những không cần thiết, mà lại còn có hại nữa....
Ông già và chàng đánh cá trẻ tuổi thân ái chia tay nhau. Giôvanni chạy ngay về nhà để làm yên lòng những người bạn của mình. Họ chẳng hay biết gì và có vẻ đang nghĩ đủ thứ chuyện về sự vắng mặt quá lâu của anh. Tin đồn về việc anh bị bắt đã kịp bay đến tai họ. Vì vậy, các bạn có thể hình dung được họ đã sung sướng ra sao khi họ ôm hôn anh chàng Giôvanm vẫn còn sống, mạnh khỏe, tự do và nghe chính anh kể lại câu chuyện về cuộc phiêu lưu phi thường của mình.
Còn ông Khốttabít lúc đó đã quay về với hai cậu bạn trẻ tuổi của mình và như các bạn đọc cũng thừa hiểu, trước hết, ông đã kể lại với đủ mọi chi tiết về những gì vừa xảy ra trong phòng làm việc của tên thanh tra cảnh sát.
Vônca tức tối nói:
- Chà, phải tay cháu thì cháu còn dành cho cái tên hèn hạ ấy một cuộc chia tay để hắn nhớ suốt đời kia!
- Cậu đã nói đúng như mọi bận vẫn thường nói đúng, hỡi cậu Vônca con trai của Aliôsa! - Ông Khốttabít đồng ý với vẻ đầy ý nghĩa.
Đúng lúc đó, cách nơi ba người bạn của chúng ta đang cùng nhau rảo bước chừng 4 kilômét, tại cái phòng làm việc mà chúng ta từng biết, đã xảy ra một chuyện mà vì nó gã cảnh sát tỉnh lại đầu tiên lại lập tức ngã lăn ra bất tỉnh: tên thanh tra vẫn nằm sóng soài trên sàn nhà bỗng nhiên thu nhỏ lại một cách ghê gớm và bằng cách nào không biết đã đã nằm gọn trong cái bình thủy tinh mà khi nãy mixtơ Oanđenđalét đã nốc hết nước...
Cho đến tận nay, tên thanh tra vẫn còn bị khốn khổ trong cái bình thủy tinh đó. Mọi cố gắng nhằm giải thoát hắn ra khỏi đấy đều chẳng ăn thua, bởi vì cái bình ấy bỗng trở nên rắn hơn kim cương, nên không thể nào đập vỡ hoặc cưa nó ra được. Dĩ nhiên tên thanh tra đã bị sa thải khỏi ngành cảnh sát. Gia đình hắn lẽ ra đã lâm vào cảnh hoàn toàn hết kế sinh nhai nếu như mụ vợ tên thanh tra không nghĩ được cách đem một cái bàn nhỏ ra ngoài đường, trên bàn để cái bình thủy tinh có tên thanh tra về vườn ở trong đó. Xinhora (2) tháo vát nọ đã cho mọi người xem đức ông chồng của mình với giá mỗi lần xem là 100 lia và nhờ vậy mà mụ ta cũng có đồng ra đồng vào. Mỗi người dân Ý lương thiện đều vui lòng bỏ ra 100 lia để thích thú ngắm nghía tên ăn của đút đốn mạt nhất và tên đầy tớ trung thành của bọn tư bản đang bị nhốt trong bình thủy tinh.
Số phận của mixtơ Oanđenđalét cũng đáng chú ý không kém. Chúng tôi quên nói rằng cùng lúc với tên thanh tra, Oanđenđalét cũng bị trừng phạt. Ông Khốttabít đã biến hắn thành một con chó. Chêdarê chỉ trong vòng một phút đã bạc cả đầu vì hắn thấy tận mắt lão người Mỹ tham lam ấy đã nhanh chóng biến thành một con chó hung rụng lông như thế nào. Cho đến tận nay, lão vẫn phải đội lốt chó trong căn nhà của lão ở Niu Yoóc. Các tên trùm giàu nhất ở phố Uôn thường gởi cho lão những khúc xương thượng hảo hạng từ bàn ăn của chúng. Để cảm tạ việc đó, mỗi tuần một lần, Oanđenđalét phải sủa 20 phút liền trong buổi phát thanh của đài Tiếng nói Hoa Kỳ.
Còn về ba người bạn của chúng ta thì ông Khốttabít sau khi tin chắc rằng ông không thể tìm được người em của mình ở Địa Trung Hải, đã đề nghị đi tới bờ Đại Tây Dương. Chỉ riêng cái đề nghị ấy thôi cũng hết sức hấp dẫn rồi. Nhưng Vônca lại bất ngờ phản đối đề nghị đó. Nó nói rằng ngày mai thế nào nó cũng phải có mặt ở Mátxcơva. Vì lý do gì thì nó chưa thể tiết lộ được. Nhưng theo lời nó thì đó là một lý do rất quan trọng.
Ông Khốttabít đành phải buồn bã tạm hoãn cuộc tìm kiếm Ôma Iuxúp.
Lúc cả bốn gã cảnh sát bị đánh nhừ tử vẫn còn chưa tỉnh lại thì chiếc thảm bay - thủy phi cơ “VC-1” đã lao vút lên không và nhanh chóng bay khuất sau các rặng núi. Trên tấm thảm bay - thủy phi cơ đó có Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp, Vlađimia Côxtưncốp và Épghêni Bôgôrát.
Hơn 10 tiếng đồng hồ sau, “VC-1” đã hạ cánh an toàn bên bờ thoai thoải của dòng sông Mátxcơva.

---
(1) Caliphonia (ở Tây Nam nước Mỹ) và miền Nam châu Phi là nơi có nhiều mỏ vàng - N.D.
(2) Tiếng Ý: bà - N.D.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-02 13:34:09Thái Nhi>
Chương ngắn nhất
Ct.Ly hiệu đính

Vào một buổi trưa tháng 7 oi bức, tàu phá băng “Lađôga” rời Bến Đỏ ở hải cảng Áckhanghenxcơ. Trên tàu có một đoàn khá đông các khách tham quan. Đội kèn trên bến chơi một bản hành khúc. Những người đi tiễn vẫy khăn, hô lớn: “Chúc đi đường bình an!”.
Con tàu thận trọng đi ra giữa sông Đvina Bắc. Tuôn về phía sau những đám hơi trắng, nó chạy qua nhiều chiếc tàu thủy của Liên Xô và của nước ngoài, đi thẳng về phía cửa biển hẹp của Bạch Hải. Vô số canô, thuyền máy, thuyền đánh cá, thuyền buồm, tàu kéo lưới, xuồng con và những chiếc bè cồng kềnh đang chạy đi chạy lại trên mặt nước êm đềm của con sông lớn ở miền Bắc Nga này.
Các khách tham quan đứng ở boong thượng tạm biệt Áckhanghenxcơ và Đất Lớn để tham gia một cuộc hành trình kéo dài cả tháng.
Một người khách gọi một người khác đang lo lắng chạy tới chạy lui bên buồng thuyền trưởng:
- Vônca! Ông Khốttabít biến đâu mất rồi?
Qua câu nói này, các bạn đọc có thể rút ra một kết luận chính xác là trong số các hành khách có cả ba người bạn cũ của chúng ta.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-04 14:30:11Thái Nhi>
Ước mơ về tàu “Lađôga”
Ct.Ly hiệu đính


Đến đây, tôi thấy cần phải lùi lại một chút để kể tại sao ba người bạn của chúng ta lại có mặt trên tàu “Lađôga”.
Bạn đọc hẳn chưa quên chuyện Vônca do lỗi của mình là chính (không được trông mong vào việc nhắc bài!) nên đã thi trượt môn địa lý một cách thảm hại. Sự việc như thế thì khó mà quên được. Dĩ nhiên, Vônca cũng vẫn còn nhớ và cu cậu đã chuẩn bị cẩn thận để thi lại. Nó quyết định thế nào cũng phải thi được điểm "5”.
Nhưng mặc dù Vônca có nguyện vọng hết sức chân thành là cố chuẩn bị thi lại sao cho thật tốt, song việc đó hoàn toàn chẳng đơn giản chút nào. Ông Khốttabít đã ngăn cản. Chính Vônca đã không dám nói cho ông già biết những hậu quả thực sự mà việc nhắc bài nguy hại của ông đã gây ra. Vì thế, bây giờ cũng phải giấu cả việc Vônca cần chuẩn bị thi lại. Vônca sợ ông Khốttabít sẽ trừng phạt các giáo viên, trước hết là cô Vácvara về việc Vônca thi trượt.
Đúng vào hôm trận đấu bóng đá giữa đội “Saiba” và đội “Dubilô” kết thúc một cách kỳ quái, đã xảy ra một chuyện hết sức bực mình.
Hôm ấy, ông Khốttabít lòng đầy hối hận về việc mình đã làm Vônca buồn phiền ở sân vận dộng, nên ông không rời Vônca nửa bước, cố tìm mọi cách lấy lòng cậu bé, hết lời khen ngợi nó và luôn luôn đưa ra những đề nghị hấp dẫn nhất. Mãi đến 11 giờ đêm, Vônca mới có thể cầm được cuốn sách giáo khoa.
- Hỡi cậu Vônca, xin phép cậu cho ta đi ngủ, bởi vì ta buồn ngủ quá rồi. - Cuối cùng, ông Khốttabít vừa ngáp vừa nói và chui vào chỗ quen thuộc của mình ơ dưới gầm giường.
- Ông Khốttabít, chúc ông ngủ ngon và có nhiều giấc mơ đẹp! - Vônca đáp, ngồi vào bàn và ngó về chiếc giường của mình với vẻ tiếc rẻ thực sự.
Nó mệt phờ và rất muốn đánh một giấc năm trăm, sáu trăm phút theo cách nói của nó. Nhưng cần phải học và Vônca đành gắng gượng chăm chú vào cuốn sách giáo khoa.
Than ôi, tiếng sột soạt của các trang sách đã làm cho ông thần đang thiu thiu ngủ phải chú ý. Từ dưới gầm giường, ông thò bộ râu xồm xoàm của mình ra và hỏi với giọng ngái ngủ:
- Khuya lắm rồi mà sao cậu vẫn chưa đi nằm, hỡi cái sân vận động của tâm hồn ta?
- Chẳng hiểu sao cháu không ngủ được, ông ạ. - Vônca nói dối. - Cháu bị bệnh mất ngủ.
- Chậc chậc chậc! - Ông Khốttabít chậc lưỡi thông cảm. - Thật là đáng tiếc! Mới tí tuổi đầu như cậu mà đã bị bệnh mất ngủ thì thật là nguy. Nhưng cậu chớ lo, bởi vì đối với ta, chẳng có việc gì là không làm được.
Ông liền rút mấy sợi râu, thổi phù phù vào những sợi râu ấy, rồi lẩm nhẩm một câu gì đó, thế là Vônca đã lập tức gục đầu xuống bàn ngủ khì, chẳng kịp phản đối sự giúp đỡ không phải lúc và không cần thiết của ông Khốttabít.
- Đội ơn đức Ala, vậy là mọi việc đều ổn! - Ông Khốttabít chui ra khỏi gầm giường và lẩm bẩm. - Cậu bé sẽ ngủ một mạch cho tói tận bữa ăn sáng.
Ông già nhẹ nhàng bế Vônca đang ngủ lên, thận trọng đặt nó xuống giường, đắp chăn và vừa hả hê lầm bầm ề à, vừa chui vào gầm giường.
Suốt cả đêm, ánh sáng của bóng đèn điện ở trên bàn đã rọi một cách vô ích xuống cuốn sách giáo khoa địa lý mở ra trơ trọi ở trang thứ 11...
Các bạn có thể hình dung Vônca đã phảí vất vả như thế nào và phải giở bao nhiêu mánh khóe để có thể chuẩn bị thi lại một cách chu đáo! Đó chính là cái lý do quan trọng đã khiến Vônca cùng với ông Khốttabít và Giênia phải bay từ Ghêrôna về lại Mátxcơva, chứ không phải bay ra bờ Đại Tây Dương.
Nhưng hóa ra việc chuẩn bị tốt để thi lại mới chỉ là phân nửa công việc. Còn phải nghĩ cách làm sao thoát khỏi ông Khốttabít một khoảng thời gian cần thiết để đi thi lại.
Kể đến đây, tác giả cuốn truyện trung thực này thấy cần thiết phải báo cho các bạn đọc biết rằng đúng vào chiều hôm trước, máy điện thoại đã được chuyển từ phòng làm việc của bố Vônca ra phòng ngoài để mọi người tiện sử dụng.
Sự việc đó mới xem qua thì tưởng chừng không đáng kể, nhưng các bạn đọc chúng ta sẽ thấy rõ ngay bây giờ bất thình lình, nó đã dẫn đến một bước ngoặt quan trọng trong tâm trạng và những hoài bão của ông Khốttabít.
Số là lúc Vônca đang lo lắng nghĩ cách làm sao chuồn ra khỏi nhà mà ông Khốttabít không hay biết thì ở phòng ngoài, chuông điện thoại réo lên. Giênia gọi đến.
- Mình nghe đây! - Vônca nói. - Chào cậu... ừ, hôm nay. Đúng 12... Ông ấy vẫn còn ngủ. Sao?... Ồ, hoàn toàn khỏe mạnh. Nói chung, ông ấy là một ông già rất khỏe mạnh... Sao? Chưa, vẫn chưa nghĩ ra cách nào cả... Sao? Cậu điên mất rồi! Ông ấy sẽ buồn bực ghê gớm và bày ra những trò mà cậu có sống đến 300 tuổi cũng không hiểu ra nổi đâu... Thế có nghĩa là cậu sẽ đến mình lúc 10 giờ rưỡi? Chào cậu!
Từ cửa phòng Vônca, ông Khốttabít thò đầu ra. Ông thì thầm với vẻ trách móc:
- Hỡi cậu Khốttabít, tại sao cậu lại nói chuyện với cậu Giênia con trai của Côlia, người bạn tốt nhất của cậu và của ta, ở phòng ngoài? Như thế là bất lịch sự. Ví thử cậu mời cậu ấy vào phòng mình thì chẳng tốt hơn sao?
- Làm sao cậu ấy vào đây được trong khi lúc này cậu ấy vẫn còn ở nhà cậu ấy ạ?
Ông Khốttabít bực tức:
- Ta không hiểu tại sao cậu lài nỡ chế giễu một ông thần già rất yêu mến cậu! Đôi tai của ta chưa bao giờ đánh lừa ta cả. Chính ta vừa nghe cậu nói chuyện với cậu Giênia đấy thôi.
- Cháu nói chuyện với cậu ấy qua điện thoại, ông không hiểu hay sao? Qua - điện - thoại! Chao ôi, khốn khổ thân cháu! Thế mà cũng đòi bực tức! Ông đi ra đây với cháu, cháu sẽ chỉ cho ông rõ mọi chuyện ngay bây giờ.
Hai ông cháu bước ra phòng ngoài.
Vônca nhấc ống nghe, nhanh chóng quay con số quen thuộc và nói:
- Xin bác làm ơn gọi Giênia cho cháu.
Sau đó nó đưa ống nghe cho ông Khốttabít:
- Đây ông có thể nói chuyện với Giênia.
Ông Khốttabít thận trọng áp ống nghe vào tai và nở một nụ cười bối rối:
- Cậu đấy ư, hỡi cậu Giênia may mắn con trai của Côlia? Cậu bây giờ đang ở đâu?... Ở nhà à? Thế mà ta lại ngỡ rằng cậu đang ngồi trong cái ống đen mà ta cầm bên tai mình. Đúng, cậu đã không lầm, đây chính là ta, Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốt táp, người bạn trung thành của cậu... Cậu sắp đi đến đây à? Vậy thì xin chúc cậu đi đường bình an?...
Mặt tươi roi rói vì thích thú, ông Khốttabít trả lại ống nghe cho Vônca đang tủm tỉm cười.
- Lạ thật! - Ông già kêu lên. - Ta đã nói chuyện, thậm chí không cần cất cao giọng, với cậu Giênia ở cách ta hai giờ đi bộ!
Lúc quay về phòng Vônca, ông Khốttabít đưa mắt nhìn quanh với vẻ ranh mãnh rồi búng các ngón tay trái toanh toách, thế là ở trên tường, bên trên bể nuôi cá, lập tức xuất hiện một cái máy điện thoại y hệt cái máy treo ở phòng ngoài.
- Bây giờ, cậu có thể tha hồ nói chuyện với các bạn mà không phải rời khỏi phòng mình.
- Cảm ơn ông! - Vônca xúc động nói rồi nhấc ống nghe, áp vào tai và lắng nghe một hồi lâu mà chẳng nghe thấy một tiếng “tút tút” nào cả.
- Alô! Alô! - Vônca gào lên.
Nó hết lắc rồi lại thổi vào ống nghe. Tiếng “tút tút” vẫn chẳng thấy.
- Máy hỏng rồi, ông ơi! - Vônca nói với ông Khốttabít. - Bây giờ, cháu sẽ mở nắp ra xem bên trong có sao không.
Nhưng dù Vônca cố gắng hết sức, vẫn chẳng thể nào mở hộp máy ra được.
- Cái máy này được làm bằng nguyên cả cục cẩm thạch đen loại nhất! - Ông Khốttabít nói với vẻ hãnh diện.
- Thế có nghĩa trên trong đó chẳng có gì cả? - Vônca thất vọng hỏi.
- Chẳng lẽ bên trong cái máy này cũng phải có một cái gì sao? - Ông già băn khoăn. - Cũng như trong đồng hồ ấy à?
- Ồ bây giờ thì cháu mới hiểu tại sao cái máy điện thoại này lại không làm việc được... - Vônca nói. - Ông chỉ làm được mô hình máy điện thoại thôi, còn bên trong thì chẳng có tất cả những thứ cần thiết. Mà bên trong máy mới là cái quan trọng nhất.
- Vậy ở bên trong ấy cần phải có những gì? Một cái ruột đặc biệt chăng? Một cái ruột như ở trong đồng hồ chứ gì? Phải có đủ thứ bánh xe nhỏ? Cậu hãy giải thích đi, ta sẽ làm ngay lập tức tất cả những thứ cần thiết cho mà xem.
- Không phải như ở trong đồng hồ đâu, mà hoàn toàn khác. Nhưng không thể giải thích chuyện đó một cách dễ dàng được. - Vônca nói với vẻ quan trọng. - Để hiểu chuyện đó trước hết phải học về điện, ông ạ.
- Vậy cậu hãy dạy ta về cái mà cậu gọi là điện ấy đi!
- Để hiểu về điện, - Vônca hào hứng, - Để hiểu về điện, trước đó phải học số học, đại số, hình học, lượng giác, vẽ kỹ thuật và nhiều môn khoa học khác nữa.
- Vậy thì cậu hãy dạy ta cả các môn khoa học đó.
- Cháu... cháu... cháu vẫn chưa biết hết những môn khoa học đó. - Vônca thú nhận.
- Vậy cậu hãy dạy ta những gì mà cậu đã biết.
- Muốn thế, cần phải có nhiều thời gian, ông ạ.
- Dù thế nào ta cũng đồng ý. - Ông Khốttabít trả lời dứt khoát. - Cậu hãy trả lời ngay, đừng làm tình làm tội ta nữa, cậu có chịu dạy ta các môn khoa học có thể đem lại cho mỗi con người cái sức mạnh kỳ diệu đến thế không?
- Với điều kiện ông phải làm bài cẩn thận! - Vônca nghiêm nghị đáp. - Thôi, bây giờ ông hãy đọc báo đi, cháu phải chạy lại đằng này có chút việc.
Cậu bé giúi vào tay ông Khốttabít số báo Sự thật thiếu niên tiền phong mới phát hành và đi đến trường.
Ngôi trường xám nhạt trở nên yên tĩnh, vắng vẻ lạ thường. Chỉ có thầy hiệu trưởng, thầy trưởng phòng giáo vụ và cô Vácvara đang chuyện trò gì đó trong phòng làm việc ở lầu một, còn ở trên đấy hai lầu thì rộn lên tiếng nói vui vẻ của những người thợ quét vôi và thợ trát nữa: việc tu sửa trường lớp đã bắt đầu.
- Đồng chí Vácvara Xtêpanốpna thân mến, biết nói gì với đồng chí đây? - Thầy hiệu trưởng mỉm cười. - Một chuyến đi nghỉ phép như vậy thì ai cũng phải thèm. Đồng chí đi có lâu không?
- Hình như một tháng hay gần một tháng.
Vônca mừng rỡ, vì thế là ít ra trong vòng một tháng, cô Vácvara sẽ tránh được mối nguy là bị ông Khốttabít tình cờ bắt gặp. Chà, mong sao cô ra đi cho sớm!
- A-a-a, chào cái vòm trời phalê! - Thầy hiệu trưởng chào đùa Vônca. - Thế nào, em bình phục rồi chứ?
- Thưa thầy Paven Vaxiliêvích, em bình phục rồi ạ. Em hoàn toàn khỏe mạnh.
- Thế thì hay lắm! Em đã ôn thi xong chưa?
- Xong rồi ạ, thưa thầy Paven Vaxiliêvích!
- Thôi được, nếu vậy thì chúng ta bắt đầu cuộc thi vấn đáp nào.
Hai thầy trò đã vấn đáp về toàn bộ chương trình địa lý lớp 6. Nếu như Vônca bấm được giờ, nó sẽ ngạc nhiên khi thấy rằng cuộc thi vấn đáp đã kéo dài gần 20 phút. Nhưng nó chẳng có thì giờ xem đồng hồ. Vônca cảm thấy thầy hiệu trưởng hỏi nó không được kỹ cho lắm. Nó muốn mỗi câu hỏi phải trả lời năm, mười phút kia. Nó đang có cái cảm giác vừa mệt mỏi lại vừa sung sướng của một học sinh thuộc làu làu môn học, và nó sợ nhất là ban giám khảo không nhận thấy điều đó. Qua nét mặt của cô Vácvara, nó đã thấy từ lâu rằng cô hài lòng với những câu trả lời của nó. Tuy nhiên, lúc cuối cùng thầy Paven nói: “Giỏi lắm! Bây giờ mới rõ là các thầy cô đã chẳng uổng công dạy dỗ em”, Vônca vẫn cảm thấy cái lành lạnh dễ chịu chạy khắp cơ thể, còn trên bộ mặt đầy tàn nhang của nó vẫn tự nhiên nở một nụ cười tươi tới mức cả thầy hiệu trưởng, thầy trưởng phòng giáo vụ và cô giáo địa lý cũng đều cười theo. Thầy trưởng phòng giáo vụ nói:
- Đúng, chúng ta có thể thấy ngay rằng Côxtưncốp đã học hành nghiêm chỉnh, theo đúng phong cách của một đội viên thiếu niên tiền phong.
Ôi nếu như thầy hiệu trưởng, cô Vácvara và thầy trưởng phòng giáo vụ biết được Vônca đã phải chuẩn bị cho cuộc thi vấn đáp này trong hoàn cảnh khó khăn chưa từng thấy ra sao! Nó phải tìm đủ mưu mẹo lẩn trốn ông Khốttabít như thế nào để có thể yên ổn ngồi cầm cuốn sách giáo khoa địa lý! Suốt thời gian đó, nó phải vượt qua những trở ngại khó khăn kỳ lạ ra sao mà ông Khốttabít đã gây ra cho nó trong khi chính ông cũng không hay biết về chuyện ấy! Nếu họ biết được như vậy thì sự trân trọng của họ đối với những thành công mà Côxtuncốp đạt được sẽ tăng lên biết chừng nào!
Vônca muốn khoe cả những thành công sư phạm của mình (không phải người nào cũng có thể khoe là đã dạy được một ông thần biết chữ), nhưng nó dã kịp thời kìm lại.
Thầy Paven trịnh trọng nói:
- Nào, Côxtưncốp, thầy chúc mừng em được lên lớp 7! Em hãy nghỉ ngơi cho đến tháng 9. Hãy bồi bổ sức lực. Chúc em mạnh khỏe!
- Cám ơn thầy Paven Vaxiliêvích! - Vônca trả lời nghiêm chỉnh như một học sinh lớp 7 cần phải trả lời. - Chào cô Vácvara Xtêpanốpna ạ? Chào thầy Xécgây Xêmiônôxêvích ạ!...
Lúc Vônca đi thi về, ông Khốttabít đang ngồi thoải mái dưới bóng cây sồi to lớn và đang đọc làu làu cho Giênia nghe báo Sự thật thiếu niên tiền phong.
- Mình thi xong rồi! Được điểm “5”! - Vônca thì thào báo tin cho cậu bạn của mình, và nằm xuống bên cạnh ông Khốttabít. Cùng một lúc, nó cảm thấy ít nhất là ba niềm vui: thứ nhất, vì nó được nằm trong bóng mát; thứ hai, vì nó đã thi xong một cách xuất sắc; và niềm vui thứ ba, không kém phần quan trọng, mà có lẽ là niềm vui lớn nhất: nỗi tự hào của một thầy giáo đang thích thú với những thành công mà học sinh của mình (1) đã đạt được.
Trong khi đó, ông Khốttabít (thường đọc chẳng sót mục nào trên báo) đã chuyển sang mục “Tin thể thao”. Ngay cái tin đầu tiên đã khiến cho hai cậu bạn của chúng ta phải thở dài buồn bã và ghen tị.
Ông Khốttabít đọc:
- “Trung tuần tháng 7, tàu phá băng “Lađôga”, do Cục Tham quan Trung ương thuê, sẽ rời Áckhanghenxcơ lên đường đi Bắc Cực. Sáu mươi tám người lao động xuất sắc nhất của Mátxcơva và Lêningrát sẽ sử dụng thời gian nghỉ phép của mình trong chuyến đi này. Chuyến đi hứa hẹn rất thú vị”.
- Đúng như thế đấy! - Vônca nói với giọng mơ ước. - Đi thế mới là đi chứ! Cho hết cả mọi thứ để được đi cũng chả tiếc!
- Hỡi các cậu bạn tốt nhất của ta, các cậu chỉ cần ra lệnh cho ta là các cậu có thể đi tới bất cứ nơi nào mà các cậu muốn! - Ông Khốttabít sôi nổi nói, nóng lòng muốn làm một cái gì đó để đền ơn hai thầy giáo trẻ tuổi của mình.
Nhưng thay cho câu trả lời, Vônca lại chỉ thở dài. Còn Giênia thi buồn bã giải thích cho ông già:
- Không được đâu, ông Khốttabít ạ, chúng ta chẳng lên tàu “Lađôga” được đâu! Chỉ những người nổi tiếng mới có thể hy vọng lên đấy thôi.

---
(1) Tức là ông Khốttabít - N.D.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-04 14:31:35Thái Nhi>
Cuộc náo động tại Cục Tham quan Trung ương
Ct.Ly hiệu đính

Ngay hôm đó, một ông già nhỏ nhắn mặc bộ quần áo tây màu trắng, đầu đội mũ cói, chân đi đôi hài màu hồng nhạt có thêu những đường chỉ vàng và bạc cầu kỳ, mũi hài vểnh lên, đã đến văn phòng Cục Tham quan Trung ương. Ông lịch sự hỏi rằng có phải ông đang được hân hạnh có mặt tại nơi làm việc của cái cơ quan cao quý vẫn thường ban cho mọi ngừơi niềm sung sướng ngây ngất của những chuyến đi du lịch hay không. Sau khi nhận được câu trả lời xác nhận của cô thư ký tỏ vẻ ngạc nhiên vì câu hỏi cầu kỳ ấy, ông già nhỏ nhắn lại lịch sự hỏi tiếp rằng bậc trượng phu đáng kính quyết định chuyến đi trên tàu phá băng “Lađôga” hiện đang ngồi làm việc ở đâu.
Người ta chỉ cho ông một nhân viên béo quay, trên bàn xếp đầy những chồng thư. Đồng thời, người ta còn nói thêm với ông già:
- Nhưng xin ông nhớ cho rằng trên tàu “Lađôga” đã hết chỗ rồi đấy.
Không hề đáp lại, ông già gật đầu cám ơn rồi lẳng lặng bước tới gần ông nhân viên béo quay, lẳng lặng cúi chào trân trọng nhưng cũng rất đường hoàng, lẳng lặng trao một cái gói cuộn tròn trong tờ giấy báo, rồi lại cúi chào và vẫn lẳng lặng quay đi. Tất cả những người chứng kiến cái cảnh ngộ nghĩnh ấy đều đưa mắt băn khoăn nhìn theo ông già. Ông nhân viên nọ mở tờ giấy báo ra và trước mắt ông là một bức thư hết sức kỳ lạ. Chẳng những Cục Tham quan Trung ương mà cả bất kỳ một cơ quan nào khác của Liên Xô cũng chưa bao giờ nhận được một bức thư như vậy. Đó là một cuộn giấy da cừu (1) màu vàng, với một con triện lớn bằng sáp màu xanh lủng lẳng trên sợi dây lụa vàng óng.
- Các đồng chí đã bao giờ thấy một bức thư như thế này chưa? - Ông nhân viên béo quay hỏi to và lập tức chạy đi báo cáo với người phụ trách trực tiếp của mình là ông trưởng phòng Tham quan đường xa. Ông này bỏ ngay tất cả những việc đang làm, cùng với nhân viên của mình chạy đi gặp chính ông giám đốc.
- Có chuyện gì vậy? - Ông giám đốc hỏi họ - Chẳng lẽ các đồng chi không thấy là tôi đang bận hay sao?
Thay câu trả lời, ông trưởng phòng lăng lặng mở cuộn giấy ra trước mặt ông giám đốc.
- Cái gì thế này? - Ông giám đốc hỏi. - Từ viện bảo tàng gởi đến hả?
- Không ạ, đây là bức thư vừa mới nhận được, thưa đồng chí Mátvây Caxianứt. - Ông trưởng phòng đáp.
- Bức thư vừa mới nhận được?! Trong thư viết gì vậy? Này, các đồng chí có biết không, tôi đã từng gặp đủ thứ chuyện, nhưng chưa bao giờ tôi nhận được một bức thư như thế này! - Ông giám đốc nói sau khi xem qua nội dung bức thư viết trên giấy da cừu. - Có lẽ một lão điên nào đó đã viết thư này.
- Thưa đồng chí Mátvây Caxianứt, nếu người viết là một lão điên thì dù thế nào đi nữa, đó cũng là một người thích sưu tầm những vật hiếm có! - Ông trưởng phòng tham quan đường xa đáp lại. - Đồng chí cứ thử kiếm giấy da cừu xem có được không đã.
- Không, các đồng chí hãy nghe xem ở đây lão ta viết những gì! - Ông Mátvây nói tiếp, ông quên mất rằng hai người đang ngồi nói chuyện với ông đã xem bức thư này trước ông ta. - Đúng là những lời mê sảng! “Gửi ngài giám đốc kính mến của cái cơ quan vẫn thường ban cho mọi người niềm vui, gửi ngài trưởng phòng Tham quan đường xa liêm khiết học rộng, cầu cho tên ngài được lừng lẫy trong số những vị trưởng phòng đáng kính nhất và hào hiệp nhất!” - Ông Mátvây đọc và nháy mắt cho ông trưởng phòng - Thư này chủ yếu là gửi cho đồng chí đấy, Ivan Ivanứt ạ!
Ông Ivan bối rối “hừm” một tràng. Trong khi đó, ông Mátvây lại đọc tiếp:
“Tôi,Gátxan Ápđurắcman, một vị thần hùng mạnh, một vị thần vĩ đại, nhờ sức lực và sự hùng mạnh của mình đã lừng danh ở Bátđa và Đamát, ở Babilon và Xumia, con trai của Khốttáp, chúa tể vĩ đại của các hung thần, hậu sinh của vương quốc vĩnh cửu mà triều đại được tôn kính thuộc về Xalômông con trai của Đavít (cầu chúc cả hai vị đều bình an!) và quyền bá chủ của vương quốc này đã đẹp lòng hai vị.
Đức Ala vui mừng trước những hành vi tốt đẹp của tôi và đã cảm tạ tôi, Gátxan Ápđurắcman, một vị thần luôn luôn tôn thờ Đức Ala. Tất cả các vua chúa ngồi trong những tòa lâu đài ở khắp thế gian, từ Thượng Hải đến Hạ Hải, và các vua chúa phương Tây sống trong những nhà lầu tất cả đều cùng nhau mang nộp vô vàn cống vật cho tôi và đến hôn chân tôi tại Bátđa.
Hỡi ngài trưởng phòng đáng kính nhất trong tất cả các trưởng phòng, tôi được biết con tàu chạy không cần buồm có tên là “Lađôga” sắp khởi hành từ thành phô Áckhanghenxcơ và trên con tàu này, những người nổi tiếng ở các thành phố khác nhau sẽ thực hiện một cuộc du ngoạn giải trí. Tôi rất mong là trong số những người nổi tiếng đó sẽ có cả hai người bạn trẻ tuổi của tôi, những mặt tốt của hai người ấy nhiều tới mức mà ngay bảng liệt kê vắn tắt những mặt tốt đó cũng không thể viết hết trong cuộn giấy này.
Than ôi, tôi vẫn chưa được biết sự nổi tiếng của một người đòi hỏi phải lớn đến chừng nào để người đó có thế được hưởng quyền du ngoạn tuyệt vời nọ. Nhưng cho dù những đòi hỏi ấy có cao đến mấy đi chăng nữa thì hai người bạn của tôi vẫn có thể thỏa mãn được hoàn toàn và thậm chí còn thừa thãi nữa là đằng khác, bởi vì tôi có thể làm cho họ trở thành những ông hoàng hoặc những giáo chủ, những ông vua hoặc những xuntan, những người nổi tiếng nhất trong tất cả những người nổi tiếng, những người giàu có nhất trong tất cả những người giàu có, những người hùng mạnh nhất trong tất cả những người hùng mạnh.
Cúi rạp bốn mươi chín lần xuống sát bàn chân ngài, tôi xin gửi lời chào tới ngài, hỡi ngài trưởng phòng sáng suốt, và yêu cầu ngài báo cho biết lúc tôi cùng hai người bạn trẻ tuổi của mình có thể lên con tàu nói trên, cầu cho con tàu tránh khỏi những cơn bão tố và những tai nạn trên con đường xa xôi và nguy hiểm của nó!
Gátxan Ápđurắcman con trai của Khốttáp, vị thần hùng mạnh, ký tên”.
Dưới cùng, có ghi địa chỉ của Vônca Côxtưncốp để trả lời.
- Đúng là những lời mê sảng - Ông Mátvây kết luận và cuốn cuộn giấy lại. - Những lời mê sảng của một lão điên. Thôi, xếp vào hồ sơ lưu cho xong chuyện.
- Dẫu sao thì trả lời vẫn tốt hơn. Nếu không thì ông già loạn óc này sẽ đến gặp chúng ta mỗi ngày 5 lần để hỏi xem thư yêu cầu của ông ta được giải quyết ra sao. Chúng ta sẽ chẳng làm việc được đâu, tôi xin cam đoan với đồng chí như vậy? - Ông Ivan phản đối và mấy phút sau, ông đã đích thân đọc cho cô thư ký đánh máy bức thư trả lời.

---
(1) Một loại giấy viết làm bằng da cừu, có từ thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên - N.D.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-04 14:33:16Thái Nhi>
Ai là người nổi tiếng nhất?
Ct.Ly hiệu đính


Dĩ nhiên là ông Khốttabít đã hành động thiếu thận trọng khi cho địa chỉ của Vônca để Cục Tham quan Trung ương viết thư trả lời. Việc Vônca gặp bác đưa thư ở cầu thang chỉ là hoàn toàn tình cờ thôi. Nếu không có cuộc gặp gỡ may mắn ấy thì sẽ ra sao? Lúc bấy giờ, bức thư của Cụ Tham quan Trung ương sẽ rơi vào tay bố mẹ Vônca và bố mẹ sẽ bắt đầu gạn hỏi, thế là sẽ đẻ ra đủ thứ chuyện rắc rối mà mới chỉ nghĩ đến thôi đã thấy ớn rồi.
Vônca chẳng mấy khi nhận được thư gửi đích danh mình. Cả đời, hình như nó chỉ nhận có ba, bốn bức thư gì đó. Vì vậy lúc Vônca được bác đưa thư cho biết là có một bức thư đề tên nó, Vônca rất lấy làm ngạc nhiên. Sau khi thấy trên phong bì con dấu của Cục Tham quan Trung ương, nó ngớ cả người. Vônca xem kỹ cả hai mặt phong bì, thậm chí chẳng hiểu sao còn đưa lên mũi ngửi nữa, nhưng nó chỉ cảm thấy mùi ngòn ngọt của gôm Arập. Sau đó, bằng hai bàn tay run run, nó bóc phong bì ra và đọc đi đọc lại mấy lần mà chẳng hiểu gì cả bức thư trả lời ngắn gọn nhưng lịch sự của ông Ivan Ivanứt:
"Ngài G. Ápđurắcman vô cùng kính mến!
Chúng tôi rất lấy làm tiếc là Ngài đã gửi thư yêu cầu khá muộn. Tất cá các chỗ trên tàu “Lađôga” đều đã bán hết.
Xin gửi lời chào tới các ông hoàng và các giáo chủ của Ngài.
Trưởng phòng tham quan đường xa
I. ĐÔMÔXÊĐỐP”
“Chẳng lẽ ông già đã chạy vạy để người ta nhận mình và Giênia lên tàu “Lađôga”?”, Vônca cuối cùng đã đoán ra và cảm thấy xúc động, “Một ông già tuyệt vời làm sao! Chỉ không hiểu đồng chí Đômôxêđốp chuyển lời chào đến các ông hoàng và các giáo chủ nào. Tuy nhiên, ta sẽ biết ngay bây giờ thôi”.
- Ông Khốttabít ơi, ông Khốttabít! - Vônca gọi khi nó đã ra tới sông - Cháu muốn hỏi ông cái này một chút!
Ông già đang thiu thiu ngủ dưới bóng mát của cây sồi cành lá lòa xòa, nghe thấy tiếng gọi của Vônca, liền giật mình nhỏm ngay dậy và chạy lập cập theo kiểu người già về phía Vônca.
- Ta ở đây, hỡi cậu thủ môn của tâm hồn ta! - Ông Khốttabít vừa nói vừa thở hổn hển. - Ta đang chờ đợi các lệnh của cậu.
- Ông hãy nhận đi: ông đã viết thư cho Cục Tham quan Trung ương phải không?
- Phải, ta đã viết. Ta muốn dành cho cậu một món quà bất ngờ. - Ông Khốttabít ngượng nghịu. - Mà sao, chẳng lẽ đã có thư trả lời rồi?
- Dĩ nhiên là đã có! Thư đây! - Vônca đáp và chìa bức thư cho ông già.
Ông Khốttabít giật tờ giấy trên tay Vônca, đọc chậm từng chữ bức thư trả lời khéo léo của ông Ivan, mặt lập tức đỏ bừng, người run rẩy, hai mắt đỏ ngầu, rồi ông già nổi khùng giật mạnh cổ áo thêu ở chiếc sơmi Ucraina của mình..
- Xin cậu thứ lỗi cho ta! - Ông nói khàn khàn. - Xin cậu thứ lỗi cho ta! Ta phải xa cậu trong vài phút để đi trừng phạt một cách đích đáng cái tên Đômôxêđốp đáng khinh ấy. Ồ, ta biết là ta sẽ làm gì hắn. Ta sẽ giết hắn! Mà không, ta sẽ không giết hắn, bởi vì hắn chẳng đáng được hưởng cái hình phạt nhân từ ấy. Tốt hơn hết là ta sẽ biến hắn thành một cái giẻ bẩn để mọi ngươi chùi giày lắm bùn trước khi vào nhà trong những ngày tối trời mùa thu. Mà không! Không, trừng phạt hắn về cái tội dám láo xược từ chối như vậy thì còn quá nhẹ...
Nói rồi, ông già lao vút lên không. Nhưng Vônca đã hét lên:
- Quay lại! Quay lại ngay!
Ông già nghe lời quay trở lại, tức tối cau đôi lông mày rậm bạc trắng.
- Ông ghê gớm thật! - Vônca trách móc ông Khốttabít vì nó rất lo cho ông trưởng phòng tham quan đường xa. - Ông điên rồi hay sao? Chẳng lẽ ông ấy lại có lỗi trong việc không còn chỗ nữa. Con tàu ấy có phải làm bằng cao su đâu?... Nhân tiện xin hỏi, trong thư trả lời, đồng chí Đômôxêđốp nói đến các ông hoàng và các giáo chủ nào vậy?
- Nói đến cậu đấy, hỡi cậu Vônca con trai của Aliôsa, nói đến cậu và cậu bạn của chúng ta là Giênia con trai của Côlia, cầu cho Đức Ala kéo dài tuổi thọ của hai cậu! Ta đã viết cho cái lão trưởng phòng tồi tệ nhất trong tất cả các trưởng phòng ấy biết rằng sự nổi tiếng của các cậu thì chẳng thành vấn đề, bởi vì cho dù các hành khách trên tàu “Lađôga” có nổi tiếng mấy đi chăng nữa thì ta vẫn có thể làm cho các cậu, hai người bạn thân thiết của ta, còn nổi tiếng hơn cả họ. Ta đã viết cho cái lão Đômôxêđốp ngu đần ấy - cầu cho Đức Ala đừng ngó ngàng đến hắn; - rằng hắn đã có thể coi hai cậu là các giáo chủ, các ông vua hoặc các ông hoàng.
Mặc dù không khí căng thẳng, Vônca vẫn không thể nhịn được cười. Nó cười ha hả và cười to đến mức mấy con quạ rất đạo mạo đậu trên cành cây gần đó phải kêu quàng quạc rồi bay đi chỗ khác.
- Ái chà chà! Thế có nghĩa cháu là một ông hoàng? - Vônca cười vỡ bụng.
- Xin thú thật là ta không hiểu tại sao cậu lại cười! - Ông Khốttabít trả lời với vẻ bực mình. - Nhưng nếu nói cho đúng ra thì ta đã nhắm cái chức ông hoàng cho cậu Giênia. Còn cậu thì ta thấy xứng với cái chức xuntan (l).
- Ối, cháu cười vỡ bụng mất thôi! Trời ơi, cháu cười vỡ bụng mất thôi! Thế có nghĩa Gienca là ông hoàng, còn cháu là xuntan? Không, lạ thật, sao ông lại có thể mù tịt về chính trị đến thế nhỉ? - Vônca cuối cùng thôi cười và lấy làm hoảng sợ. - Hiểu những người nổi tiếng là ông hoàng và ông vua thì thật là hết chỗ nói!
- Than ôi, hình như cậu điên mất rồi! - Ông Khốttabít lo lắng nhìn người bạn trẻ tuổi đang nói chuyện với mình. - Theo như chỗ ta hiểu thi cậu cho rằng ngay cả xuntan cũng chưa được nổi tiếng cho lắm. Vậy thì theo cậu, ai là người nổi tiếng nào? Cậu hãy nêu cho ta, dù chi là một cái tên thôi.
- Thiếu gì người! Đồng chí Chútkích, hay là đồng chí Lunin hay là đồng chí Côgiêdúp, hay là nữ đồng chí Pasa Anghêlina...
- Ông Chútkích ấy của cậu là ai vậy? Một xuntan chăng?
- Còn cao hơn thế nữa, ông ơi! Đồng chí Chútkích là một trong số những công nhân xuất sắc nhất nước của ngành công nghiệp dệt dạ.
- Còn ông Lunin?
- Đồng chí Lunin là công nhân lái xe lửa xuất sắc nhất.
- Còn ông Côgiêđúp?
- Đó là một trong những phi công xuất sắc nhất.
- Còn bà Pasa Anghêlina là vợ của ông nào mà cậu cho là nổi tiếng hơn cả các giáo chủ và các ông vua?
- Cô ấy nổi tiếng là do chính cô ấy, chứ không phải do chồng. Cô ấy là một người lái máy kéo lừng danh!
- Này, cậu có biết không, hỡi cậu Vônca quý báu, ta đã già lắm rồi nên không thể cho phép cậu chế giễu ta như vậy được. Cậu muốn thuyết phục ta rằng một gã dệt dạ hay một gã lái tàu tầm thường mà lại nổi tiếng hơn cả vua ư?
- Thứ nhất, đồng chí Chútkích không phải là một người dệt dạ bình thường, mà là một người cải tiến sản xuất nổi tiếng của cả ngành công nghiệp dệt, còn đồng chí Lunin là một công nhân lái xe lửa lừng danh. Thứ hai, ngay cả một người lao động bình thường nhất ở nước chúng cháu cũng được kính trọng hơn cả một ông vua lừng danh nhất. Ông không tin à? Đây, ông hãy đọc tờ báo này mà xem.
Vônca chìa cho ông Khốttabít tờ báo và ông già đã thấy rõ tận mắt: bên trên 10 tấm ảnh những người thợ nguội, kỹ sư nông học, phi công, nông trang viên, thợ dệt, giáo viên và thợ mộc có in một hàng chữ lớn: “Những người nổi tiếng của Tổ quốc chúng ta”.
Lúc bấy giờ, ông Khốttabít bèn thở dài và nói:
- Ta không bao giờ tin những lời cậu vừa nói, nếu như ta không thấy rằng những lời nói của cậu đã được xác nhận trên tờ báo mà ta rất kính trọng này. Ta van cậu, hỡi cậu Vônca, hãy giải thích cho ta rõ: tại sao ở dây, ở cái đất nước tuyệt đẹp của các cậu, mọi thứ đều không như ở các nước khác?
- Cháu xin giải thích cho ông rõ ngay bây giờ! - Vônca sẵn lòng đáp và sau khi ngồi thoải mái bên bờ sông, nó đã tự hào giải thích một hồi lâu cho ông Khốttabít hiểu về bản chất của chế độ Xôviết.
Có lẽ chẳng cần thuật lại nội dung cuộc nói chuyện kéo dài khá lâu ấy, bởi vì chắc chắn là bất cứ một bạn thiếu nhi nào đang đọc cuốn truyện này mà ở vào địa vị của Vônca cũng có thể nói với ông Khốttabít những gì mà Vônca đã nói.
- Tất cả những điều cậu vừa nói mới khôn ngoan làm sao và mới cao quý biết chừng nào! Sau khi nghe cậu nói, bất cứ người nào trung thực và có tấm lòng công minh cũng phải suy nghĩ... - Ông Khốttabít chân thành nói lúc kết thúc buổi học chính trị thường thức đầu tiên trong đời ông.
Suy nghĩ một lát, ông sôi nổi nói thêm:
- Như vậy thì ta lại càng mong muốn lo liệu cho cậu và cậu bạn của chúng ta được tham gia chuyến du ngoạn trên tàu “Lađôga”! Ta sẽ làm được việc đó! Cậu cứ tin ở ta!
- Nhưng xin ông không được làm náo động đấy nhé! - Vônca dặn trước. - Và không được lừa dối. Tức là không được gian trá. Chẳng hạn, ông không được nhận xằng cháu là một học sinh xuất sắc. Cháu chỉ có ba môn được điểm “4” mà thôi.
- Những ý muốn của cậu là một đạo luật đối với ta! - Ông Khốttabít đáp và cúi rạp xuống chào.
Ông già đã thực hiện một cách trung thực lời hứa của mình. Ông không hề động ngón tay vào một người nào trong số các nhân viên Cục Tham quan Trung ương.
Ông chỉ lo liệu như thế nào đó mà lúc cả ba nhân vật chính của chúng ta lên tàu “Lađôga”, họ được đón tiếp rất chu đáo, được dành cho một buồng riêng rất tốt và chẳng ai buồn để ý đến chuyện tại sao họ lại có quyền tham gia vào cuộc du ngoạn. Ông Khốttabít đã lo liệu như thế nào đó để không một người nào trong số những hành khách vui tính và thân ái nọ đặt ra câu hỏi trên, dù chỉ một lần.
Nhưng 20 phút trước khi khởi hành, hoàn toàn bất ngờ đối với ông thuyền trưởng, 150 thùng cam, cũng ngần ấy thùng nho ngon tuyệt, 200 thùng chà là(2) và một tấn rưỡi mứt kẹo ngon nhất của phương Đông đã được chất lên tàu.
Trên mỗi thùng đều có hàng chữ: “Biếu tất cả những người tham gia chuyến du ngoạn và tất cả những thành viên của đội thủy thủ không hề biết sợ trên tàu “Lađôga”. Một người muốn giấu tên”.
Không cần phải sáng trí lắm cũng đoán được rằng đó là những món quà của ông Khốttabít. Ông không muốn để ông và hai cậu bạn của ông tham gia vào chuyến du ngoạn trên tàu “Lađôga” mà chẳng đóng góp gì.
Và quả vậy các ban hãy hỏi bất cứ người nào đã từng tham gia chuyến du ngoạn trên tàu “Lađôga”, các bạn sẽ biết rằng cho đến nay, mọi người vẫn rất vui mừng nhớ lại “Người muốn giấu tên” ấy. Những món quà của ông đều hợp với khẩu vị của mọi người.
Thế là bây giờ, lúc bạn đọc đã biết tương đối tỉ mỉ tại sao ba người bạn của chúng ta lại có mặt trên tàu “Lađôga”, tôi có thể yên tâm kể tiếp chuyện này.

---
(1) Tức là chức quốc vương Hồi giáo - N.D.
(2) Loại cây xứ nóng thuộc họ dừa, quả to bằng quả thanh trà, dùng để ăn hoặc nấu rượu, v.v... – N.D.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-04 14:35:26Thái Nhi>
Chương nói về cuộc gặp gỡ kỳ lạ mở đầu chuyến du ngoạn trên tàu “Lađôga”
Ct.Ly hiệu đính

Bạn đọc thân mến, nếu các bạn còn nhớ thì vào một buổi trưa tháng 7 oi bức, tàu phá băng “Lađôga” đã rời Bến Đỏ ở hải cảng Áckhanghenxcơ, trên tàu có một đoàn khá đông các khách tham quan. Trong số các hành khách ấy có cả ba người bạn của chúng ta là ông Khốttabít, Vônca và Giênia. Ông già đang ngồi trên boong dạo chơi và đang chuyện trò đàng hoàng với một bác thợ nguội đứng tuổi ở Xvéclốpxcơ về những ưu thế của giày vải đem lại cho những người bị chai chân lâu ngày.
Vônca và Giênia đang đứng tì tay vào lan can ở boong thượng. Cả hai đều sung sướng như mọi cậu bé vẫn thường sung sướng khi lần đầu tiên trong đời được có mặt trên một chiếc tàu phá băng chính cống và hơn thế nữa lại còn được du ngoạn cả tháng trời trên chiếc tàu ấy. Nơi tới du ngoạn chẳng phải là một nơi vớ vẩn nào đó, mà lại chính là Bắc Cực! Sau khi đã trao đổi ý kiến về các tàu thủy chạy bằng hơi nước, tàu thủy điêden, tàu phá băng, tàu kéo, thuyền đánh cá, thuyền buồm, tàu kéo lưới, canô và các loại tàu bè khác đang rẽ sóng trên dòng Đvina Bắc rộng mênh mông, hai cậu bé bỗng nín lặng vì ngất ngây trước vẻ đẹp của con sông hùng vĩ.
- Tuyệt không cậu? - Vônca hỏi với giọng cứ như cái vẻ đẹp ấy do chính tay nó làm ra.
- Ờ! - Cậu Giênia ít nói đồng ý.
- Có kể lại thì cũng chẳng ai tin, nhỉ?
- Ờ! - Giênia nói.
Ngừng một lát với vẻ đầy ý nghĩa, Vônca nói thêm:
- Mình còn rất mừng là bọn mình... - Vônca sợ sệt đưa mắt nhìn quanh xem ông Khốttabít có đứng ở gần đó hay không, rồi nói tiếp với giọng thì thầm để phòng xa -... đã đưa ông già đi xa cô giáo Vácvara, dù chỉ là một tháng thôi.
- Đúng thế! - Giênia nói.
Vônca hất đầu chỉ một thủy thủ trẻ có bộ râu quai nón hung hung trên khuôn mặt đầy tàn nhang vừa đi ngang qua, rồi nói khẽ:
- Phụ tá của thuyền trưởng đấy! Chú ấy chuyên lo về việc phục vụ hành khách.
Hai cậu bé thán phục nhìn theo con người có vẻ dửng dưng với cái chức vụ cao, đầy lãng mạn của mình. Còn người này, sau khi thản nhiên nhìn lướt qua hai hành khách trẻ tuổi, đã chú ý đến một thủy thủ đang trầm ngâm tì tay vào lan can ở cạnh dó.
- Cậu buồn hả, Épxtignêép?
- Lại phải đi xa lắc xa lơ cả tháng trời.
Vônca và Giênia sửng sốt: lại có người không muốn đi Bắc Cực! Chú này hẳn là không bình thường rồi!
- Đối với một thủy thủ chân chính, ở trên bờ là ở nhà khách, còn ở trên biển cả mới là ở nhà mình! - Phụ tá của thuyền trưởng nhận xét một cách xác đáng. - Cậu không biết như vậy sao?
- Nhưng tôi đâu có phải là thủy thủ thực thụ! Tôi chỉ là người phục vụ bàn ăn thôi. Thêm vào đó, chỉ 5 tuần nữa là tôi đã cưới vợ rồi.
Phụ tá của thuyền trưởng thấy hết chuyện nói rồi, bèn bảo:
- Vậy thì cậu vào khoang bếp lấy món ăn trưa, rồi mang tới buồng 14 cho bà Cônxôva...
- Bâ ấy cùng họ với cô Vácvara nhỉ? - Vônca thản nhiên nói với Giênia.
- Ờ! - Giênia nói.
- Đó là một bà khách đứng tuổi. - Phụ tá của thuyền trưởng giải thích. - Bà ấy bị cảm trên đường đi. Chẳng có gì đáng sợ đâu. - Anh nói cho người phục vụ bàn ăn yên lòng, mặc dù người này chẳng hề tỏ ra lo lắng cho sức khỏe của bà Cônxôva. - Chỉ cần nằm nghỉ một hôm là ổn cả thôi.... Cậu hãy đi làm đi. Và hãy quan tâm đặc biệt tới bà ấy vì đó là giáo viên công huân của nước cộng hòa (1) chứ chẳng phải là người thường đâu...
- Giáo viên công huân!... Và họ là Cônxôva! - Vônca thì thầm. - Ở đời vẫn có những sự trùng hợp như vậy đó!
- Ờ! - Giênia đồng ý với giọng bỗng nhiên bị khàn. - Cônxôva là một cái họ phổ biến... Cũng như họ Ivanốp ấy...
- Épxtígnêép này, cậu phải gọi bà ấy đầy đủ cả tên và phụ danh (2) đấy nhé! - Phụ tá của thuyền trưởng chuyên lo về việc phục vụ hành khách căn dặn và rút từ túi bên của chiếc áo cổ đứng trắng tinh cuốn sổ con để dò lại. - Tên và phụ danh của bà ấy là Vácvara Xtêpanốpna...
Hai cậu bé tối tăm mặt mũi.
- Chắc gì bà ấy đã là cô Vácvara của bọn mình - Giênia cố làm yên lòng cả mình lẫn Vônca.
Nhưng Vônca liền nhớ tới cuộc nói chuyện tại phòng làm việc của thầy hiệu trưởng lúc nó tới đấy để thi lại môn địa lý và Vônca chỉ khoát tay tuyệt vọng:
- Cô ấy đấy! Đúng bà cô giáo của bọn mình rồi... Cô ấy sẽ gặp phải chuyện gì bây giờ đây? Chỉ mới nghĩ đến thôi cũng dã thấy rợn cả người! Sao cô ấy lại không thể đi nghỉ đâu đó ở Xôchi (3)?...
Sau một lúc yên lặng ngắn ngủi nhưng nặng nề, Giênia buồn bã tuyên bố.
- Dẫu sao thì bọn mình vẫn phải cứu cô ấy. Bây giờ, chỉ còn nghĩ cách cứu thế nào mà thôi.
Hai cậu bé ngồi thừ trên chiếc ghế dài, bóp óc suy nghĩ và lấy làm ngán ngẩm cho cái số phận hẩm hiu của mình: người ta di du ngoạn thì vui thú, còn chúng thì lại gặp chuyện rắc rối lôi thôi. Nhưng nếu cơ sự đã ra như thế rồi thì phải cứu cô giáo cho bằng được. Làm thế nào mà cứu ư? Rất đơn giản: đánh lạc hướng ông già Khốttabít.
Hôm nay thì có thể yên tâm được vì cô giáo còn phải nằm nghỉ cả ngày trong buồng của mình, nhưng bắt đầu từ mai sẽ phải làm như thế này: một đứa đi dạo chơi với cô Vácvara hoặc ngồi nói chuyện với cô, còn một đứa thì dẫn ông Khốttabít đi chỗ khác. Chẳng hạn, Vônca đứng hóng gió với ông Khốttabít ở trên boong, còn Giênia thì ngồi nói chuyện với cô Vácvara ở một chỗ nào đó xa hơn, ví dụ như ở dưới buồng tàu... Chỉ chưa biết sẽ đối phó ra sao khi tất cả các khách tham quan cùng lên bờ hoặc khi mọi người cùng có ý định ngồi ăn ở phòng chung..
- Hay là bọn mình hóa trang cho cô Vácvara nhỉ? - Vônca liền đề nghị.
- Sao, cậu tính gắn cho cô ấy một bộ râu hả? - Giênia châm chọc. - Chỉ nghĩ vớ vẩn thôi! Ở đây có hóa trang cũng chẳng cứu được ai đâu. Phải nghĩ cách khác thôi.
- Hỡi hai cậu bạn trẻ tuổi của ta! - Ông Khốttabít từ bên dưới gọi vang lên. - Các cậu ở đâu đấy?
- Chúng cháu ở đây. Chúng cháu xuống ngay bây giờ! - Hai cậu bé đáp rồi đi xuống boong dạo chơi gặp ông Khốttabít.
- Ta đang tranh luận với ông Alếchxanđrơ Iacôvlêvích đáng kính nhất đời về nước Ấn Độ... - Ông già nói sau khi giới thiệu hai cậu bé với ngươi mà ông đang ngồi trò chuyện.
Tình huống mỗi lúc một gay: nếu ông già bắt đầu ba hoa trước mặt các khách tham quan về những kiến thức địa lý của mình thì ông sẽ bị mọi người cười, thế rồi ông điên tiết lên và có trời mới biết được sẽ xảy ra những chuyện rắc rối gì.
- Hỡi các cậu bạn trẻ tuổi của ta, các cậu hãy phân xử cho chúng tôi, có phải thủ đô của Ấn Độ là Đêli không?
- Vâng, đúng là Đêli ạ! - Hai cậu bé xác nhận.
Hóa ra là thế! Vônca và Giênia sửng sốt. Do đâu mà ông già bỗng nhiên lại có kiến thức địa lý đúng đắn như vậy? Chẳng lẽ nhờ ông thường đọc báo? Đúng là do đọc báo rồi!
- Vậy mà ông Alếchxanđro Iacôvlêvích đáng kính nhất đời đây lại một mực bảo rằng thủ đô của Ấn Độ không phải là Đêli, mà là Bombay! - Ông Khốttabít đắc thắng. - Ta và ông ấy còn tranh luận về vấn đề tầng bình lưu (4) cao cách đầu chúng ta bao nhiêu. Ta bảo rằng không thể xác định được ranh giới chính xác giữa tầng đối lưu (5) và tầng bình lưu. Tại các nơi khác nhau trên trái đất, lúc thì nó ở cao, lúc thì nó ở thấp... Còn đường chân trời chỉ là do trí tưởng tượng của chúng ta mà ra. Ta đã được biết chắc chắn như vậy nhờ môn khoa học địa lý...
- Ông Khốttabít! - Vônca nghiêm nghị ngắt lời ông già. - Cháu có thể hỏi ông một chút được không? - Hai ông cháu đi qua một bên. - Ông hãy nhận đi, có phải ông đã đọc lén cuốn sách giáo khoa địa lý của cháu không?
- Xin cậu cho phép ta được biết cậu dùng cái chữ kỳ lạ “đọc lén” để nói gì vậy? Hỡi cậu Vônca, nếu cậu dùng chữ ấy để nói rằng ta... Cậu làm sao thế kia, hỡi cái mỏ neo của lòng ta? Mắt cậu mất hết thần sắc rồi!...
Hàm dưới của Vônca bỗng trễ xuống, cặp mắt đờ đẫn nhìn một người nào đó mà nó vừa nhận thấy ngay ở đây, trên boong dạo chơi, ở phía sau lưng ông thần già. Ông Khốttabít muốn quay đầu lại để xem có chuyện gì thì Vônca đã hét lên:
- Không được quay đầu lại! Cháu van ông, ông đừng quay đầu lại!... Ông Khốttabít! Ông thân yêu!... Ông quý mến!
Nhưng ông già vẫn quay đầu lại...
Cô Vácvara Xtêpanốpna Cônxôva, giáo viên công huân của nước cộng hòa, dạy môn địa lý, chủ nhiệm lớp 6B trường trung học số 124 ở Mátxcơva, đang khoác tay một bà đứng tuổi khác, đi lại gần ba ông cháu.
Ông Khốttabít thong thả tiến lên đón cô Vácvara. Bằng một cử chỉ quen thuộc, ông rút một sợi râu, rồi lại một sợi nữa.
- Không được! - Vônca hét lên với giọng khiếp đảm và túm ngay lấy tay ông già. - Cô ấy chẳng có lỗi gì cả!... Ông không có quyền! ...
Giênia lẳng lặng lao tới phía sau ông Khốttabít và ôm chặt cứng người ông.
Bác thợ nguội Alếchxanđrơ ngây người ra vì kinh ngạc khi thấy cái cảnh tượng lạ lùng ấy.
Cô Vácvara có lẽ chẳng ngạc nhiên chút nào về cuộc gặp gỡ hai cậu học sinh của mình ở đây, trên tàu phá băng, liền nói với giọng mệnh lệnh:
- Các em! Không được giở trò càn quấy ở đây! Các em hãy để cụ ấy yên! Nào! Cô đã bảo mà! Côxtưncốp! Bôgôrát! Các em không nghe sao?
- Nếu chúng em buông ông ấy ra thì ông ấy sẽ biến cô thành con cóc đấy! - Vônca cảm thấy mình chẳng đủ sức giữ được ông Khốttabít, bèn tuyệt vọng kêu lên.
- Hoặc ông ấy sẽ biến cô thành cái thớt để các lão hàng thịt chặt thịt cừu trên đó! - Giênia tiếp lời. - Cô hãy chạy đi, cô Vácvara Xtêpanốpna! Cô hãy trốn mau trong khi ông ấy chưa vùng ra khỏi tay chúng em!... Vônca nói đúng đấy cô ạ...
- Chỉ nói bậy thôi nào! - Cô Vácvara cất cao giọng một chút. - Các em! Các em không nghe lời cô hay sao?
Nhưng ông Khốttabít đã tự thoát khỏi hai vòng tay chặt cứng của các cậu bạn trẻ tuổi và nhanh chóng ngắt cả hai sợi râu.
Hai cậu bé khiếp đảm nhắm nghiền mắt lại.
Chỉ sau khi nghe thấy cô Vácvara cám ơn ai đó, Vônca và Giênia mới mở mắt ra. Trên tay cô giáo có một bó hoa và một nải chuối thơm lừng.
Ông Khốttabít đáp lời cô giáo, lịch sự cúi rạp người và áp bàn tay lên trán, sau đó lại áp bàn tay vào chỗ trái tim.
Lúc xuống dưới buồng của mình, ba người bạn của chúng ta mới nói hết sự thể cho nhau nghe.
- Hỡi cậu Vônca, tại sao hồi ấy, trong cái ngày đầu ông cháu ta may mắn làm quen với nhau, cậu không nói cho ta biết ngay sau buổi thi là ta đã làm hại cậu bởi việc ta nhắc bài một cách quá tự tin và dốt nát? Cậu làm ta bực mình lắm đấy! Giá mà cậu nói thẳng cho ta biết thì ta đã chẳng quấy rầy cậu suốt bao lâu nay bằng những cái trò đền ơn vớ vẩn và cậu đã có thể yên ổn chuẩn bị thi lại, bởi vì một thiếu niên có học như cậu cần phải làm như vậy.
Ông Khốttabít nói như thế đó và trong giọng nói của ông quả là lộ vẻ bực mình thực sự.
- Cháu nói với ông chuyện đó để ông biến cô Vácvara thành cái thớt chặt thịt cừu ấy à ông Khốttabít ơi, cháu rành ông quá mà? Suốt cả những ngày qua, cháu và Giênía lo cho cô Vácvara hết sức. Đúng là ông đã định biến cô ấy thành cái thớt chứ gì?
Ông Khốttabít thở dài thú nhận:
- Quả là vậy, ta chẳng dám giấu đâu. Ta đã định biến cô giáo của cậu thành cái thớt hoặc thành con cóc xấu xí.
- Thế đấy! Phải chăng cô giáo đáng bị biến như vậy?
- Hừ, bây giờ kẻ nào đó cứ thử biến người phụ nữ đáng kính đó thành cái thớt hoặc con cóc mà xem? Hắn sẽ biết tay ta! - Ông già hùng hổ tuyên bố và nói thêm: - Ta cảm tạ cái ngày mà các cậu đã dạy ta học bảng chữ cái và làm cho ta quen với việc đọc báo, bởi vì bây giờ ta lúc nào cũng biết cái biển nào đang được đào ở đâu. Ta còn cảm tạ cái ngày mà Đức Ala dã ban cho ta sự sáng suốt để “đọc lén” - ta nói chữ này có đúng không, hỡi cậu Vônca! - cuốn sách giáo khoa địa lý của cậu. Bởi cuốn sách thực sự sáng suốt và hấp dẫn ấy đã mở ra trước mắt ta những khoảng không bao la của một môn khoa học chân chính. Và cũng chính cuốn sách ấy đã giúp ta tránh đi cái hành đóng mù quáng tức là trừng phạt cô giáo rất đáng kính của các cậu. ấy là ta muốn nói đến cô Vácvara Xtêpanốpna đấy.
- Té ra là thế! - Vônca nói. - Thế là xong vấn đề này!
- Ờ! - Giênia xác nhận.

---
(1) Danh hiệu tặng cho những người có công lao to lớn ở Liên Xô - N.D.
(2) Theo phong tục của người Nga, gọi đầy đủ cả tên và phụ danh (tên gọi theo tên bố) là tỏ ý kính trọng. Trong trường hợp này, Vácvara là tên, Xtêpanốpna là phụ danh (có nghĩa là con gái của Xtêpan) - N.D.
(3) Một thành phố nghỉ mát ở phía Nam Liên Xô, nằm trên bờ Hắc Hải - N.D.
(4) Tầng thứ hai trong khí quyển. Không khí ở đây đã rất loãng, ôxy biến thành ôdôn, làm thành một ấm màn ngăn chặn các tia cực tím có hại cho sự sống và không cho các tia này lọt xuống trái đất - N.D.
(5) Tầng thấp nhất của khí quyển, dày khoảng 6-8 kilômét ở cực và khoảng 16-17 kilômét ở xích đạo. Ở tầng đối lưu, không khí đặc nhất và là nơi xảy ra các hiện tượng khí lượng như sương, mây, mưa, gió, bão - N.D
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-04 14:37:06Thái Nhi>
Cái gì cản trở giấc ngủ?
Ct.Ly hiệu đính

Thời tiết thuận lợi cho tàu “Lađôga”. Trong ba ngày đầu, con tàu chạy trên vùng nước chưa đóng băng. Mãi tới cuối ngày thứ ba, nó đi vào vùng băng một năm và băng đã xẻ.
Đúng vào lúc Vônca và Giênia đang ngồi chơi cờ nhảy ở phòng chung, ông Khốttabít xồng xộc chạy vào, tay phải cầm cái mũ cói quen thuộc. Ông cười toe toét và nói:
- Các cậu bạn của ta ơi, các cậu hãy ra mà xem: khắp cả mặt biển, nhìn đâu cũng chỉ thấy rặt đường cát và kim cương!
Đối với ông Khốttabít, những lời nói đó hoàn toàn có thể tha thứ được: trong suốt cả cuộc đời gần bốn nghìn năm của mình, chưa bao giờ ông được trông thấy một tảng băng thực sự.
Tất cả những người có mặt ở trong phòng chung lúc ấy đều lao lên boong tàu và thấy vô số những tảng băng trắng toát đang lặng lẽ tiến dần về phía tàu “Lađôga”. Những tảng băng này lấp lánh dưới ánh nắng rực rỡ của mặt trời nửa đêm (1). Chẳng mấy chốc, những tảng băng đầu tiên đã kêu răng rắc dưới sống mũi tàu bằng thép.
Vào lúc đêm khuya (nhưng trời vẫn sáng và ngập tràn ánh nắng như một buổi trưa rực rỡ), các khách tham quan đã nhận thấy ở đằng xa một quần đảo. Lần đầu tiên, họ trông thấy toàn cảnh hùng vĩ và ảm đạm của quần đảo Đất Phranxơ Iôxíp (2). Lần dầu tiên, họ trông thấy những tảng băng và những ngọn núi trơ trụi, ảm đạm, phủ đầy băng hà (3) lấp lánh. Những băng hà giống như những đám mây trắng hình chóp ấn chặt xuống mặt đất lạnh lẽo.
- Đã đến lúc đi ngủ rồi! - Vônca nói khi mọi ngươi đã ngắm chán chê quang cảnh lạ thường của những hòn đảo ở đằng xa. - Nói cho đúng ra thì chẳng có việc gì mà làm, trong khi đó lại không hề buồn ngủ. Thế có nghĩa là chẳng ai quen ngủ dưới ánh sáng mặt trời!
- Hỡi cậu bạn may mắn nhất đời, riêng ta thì lại cảm thấy rằng cản trở giấc ngủ chẳng phải là mặt trời, mà là một cái hoàn toàn khác - Ông Kháttabít khiêm nhường bày tỏ ý kiến của mình.
Nhưng chẳng ai buồn chú ý đến câu nói của ông già.
Sau cuộc nói chuyện trên, hai cậu bé còn đi lang thang. không mục đích một lúc trên con tàu. Ở các boong, số người đứng xem mỗi lúc một ít dần. Cuối cùng, cả ba người bạn của chúng ta cũng xuống buồng của mình. Chẳng mấy chốc, trên tàu “Lađôga”, chỉ những người làm nhiệm vụ canh gác là còn thức mà thôi.
Sự yên tĩnh bắt đầu ngự trị trên tàu. Từ tất cả các buồng vọng ra tiếng ngáy và tiếng thở phì phò yên lành, dường như sự việc xảy ra không phải ở con tàu lênh đênh trên biển Bađen khắc nghiệt và độc địa, cách Đất Lớn 2.500 kilômét, mà là ở một nơi nào đó gần Mátxcơva trong một nhà nghỉ yên tĩnh và tiện nghi, vào đúng giờ ngủ trưa. Và hệt như trong các buồng của nhà nghỉ, ở đây người ta cũng buông màn che những cửa mạn (4) để ánh sáng mặt trời rực rỡ không cản trở giấc ngủ của mọi người.

---
(1) Ở Bắc Cực, suốt ba tháng hè mặt trời không bao giờ lặn - N.D.
(2) Quần đảo ở phía Bắc nước Nga, nằm trong vùng Bắc Cực, diện tích 16.100 kilômét vuông, gồm gần 190 hòn đảo; hơn 85% diện tích bị phủ băng - N.D.
(3) Băng hà (sông băng) là khối băng do tuyết vĩnh viễn ở những vùng núi cao tạo thành, trườn xuống sườn núi như một dòng sông nhưng vận tốc rất thấp, thường chỉ khoảng vài trăm mét đến dăm kilômét một năm - N.D.
(4) Cửa sổ tròn ở mạn tàu - N.D.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-04 14:38:47Thái Nhi>
Đá ngầm hay không phải đá ngầm?
Ct.Ly hiệu đính

Tuy vậy mọi người đã nhanh chóng thấy rõ rằng giữa tàu “Lađôga” và nhà nghỉ vẫn có sự khác nhau rất đáng kể.
Quả thật, nếu không tính đến chuyện động đất ở Crum, những người đã nhiều lần ở trong các nhà nghỉ đều chẳng nhớ có trong hợp nào mà họ lại bị văng từ trên giường xuống đất giữa lúc đang ngủ ngon lành.
Ấy thế mà trên tàu “Lađôga”, lúc các khách tham quan vẫn chưa kịp ngủ hẳn, con tàu bỗng giật mạnh, làm cho nhiều người bị rơi từ trên giường xuống sàn tàu, cứ như những trái chín rơi từ trên cây xuống đất vậy. Đúng lúc đó, tiếng máy chạy đều đều liền im bặt. Trong bầu không khí yên tĩnh trên tàu, vang lên tiếng đập cửa ầm ầm, tiếng chân hành khách chạy huỳnh huỵch khỏi các buồng để xem đã xảy ra chuyện gì. Từ trên boong vọng xuống những tiếng hô lớn của đội thủy thủ.
Vônca bị ngã từ giường trên xuống, nhưng chẳng lấy gì làm đau cho lắm. Nó lập tức bật dậy và lấy tay xoa vài chỗ bị bầm.
Đang ngái ngủ nên không hiểu chuyện gì đã xảy ra, Vôlca nghĩ rằng nó bị ngã là do mình thiếu thận trọng, nên cu cậu lại toan leo lên giường nằm. Nhưng tiếng ồn ào lo lắng từ hành lang vọng vào làm cho Vônca tin rằng nó bị ngã một nguyên nhân còn nghiêm trọng hơn là nó tưởng rất nhiều.
“Chẳng lẽ tàu chúng ta lại va phải đá ngầm?”, Vônca nghĩ bụng và vội vàng mặc quần dài. Ngay tức khắc, nó nhận thấy rằng cái ý nghĩ đó chẳng những không làm cho nó lo sợ, mà thậm chí lại còn đem lại cho nó một cảm giác háo hức, thích thú đến kỳ lạ.
“Tuyệt thật!”, Vônca vừa nghĩ vừa cuống cuồng thắt dây giày, “Thế là mình lại rơi đúng vào một cuộc phiêu lưu thực sự! Hay quá! Trong vòng cả ngàn kilômét xung quanh không hề có bóng dáng một con tàu nào cả. Còn trên tàu chúng ta thì có lẽ đài vô tuyến điện cũng không làm việc!”
Trong khoảnh khắc, một cảnh tượng vô cùng hấp dẫn đã được vẽ lên trước mắt Vônca: con tàu bị nạn, số nước ngọt và lương thực dự trữ cạn dần, nhưng tất cả các khách tham quan và đội thủy thủ tàu “Lađôga” vẫn xử sự một cách dũng cảm và bình tĩnh, xứng đáng là những người Xôviết. Mà người xử sự cừ hơn cả dĩ nhiên là nó - Vônca Côxtưncốp. Ôi, Viađimia Côxtưncốp biết nhìn thẳng vào hiểm nguy! Lúc nào nó cũng vui vẻ, lúc nào ngoài mặt nó cũng tỏ ra không lo lắng gì cả để khích lệ những người buồn nản. Và khi thuyền trưởng Xtêpan Timôphêêvích lâm bệnh vì làm việc căng thẳng quá sức và ăn uống thiếu thốn, nó, Vônca, liền nắm quyền lãnh đạo cuộc thám hiểm trong hai bàn tay rắn rỏi của mình.
- Nguyên nhân nào đã phá mất giấc ngủ rất cần thiết đối với cái cơ thể chưa được cứng cáp của cậu? - Ông Khốttabít vừa thức dậy, đã cắt ngang những mơ ước dễ chịu của Vônca.
- Thưa ông, cháu sẽ biết ngay bây giờ. Nhưng ông chớ có lo đấy? - Vônca khích lệ ông già và chạy lên boong.
Hai chục khách tham quan chưa mặc xong quần áo đang túm tụm ở boong thượng, bên cạnh buồng thuyền trưởng.
Để nâng cao tinh thần của họ, Vônca liền tạo ra một bộ mặt vui vẻ, không lo lắng và nói với vẻ dũng cảm:
- Bình tĩnh, các đồng chí, trước hết là phải bình tĩnh! Chẳng có gì mà phải hốt hoảng cả?
- Về chuyện hốt hoảng thì chú em nói đúng đấy. Đó là những lời vàng ngọc, anh chàng trẻ tuổi ạ! Vậy chú em hãy về lại buồng của mình đi và hãy bình tĩnh mà nằm ngủ... - Một khách tham quan tủm tỉm cười và trả lời Vônca. - Vả lại chúng tôi ở đây cũng đâu có hoảng sợ!
Mọi ngươi phì cười, làm ho Vônca cảm thấy lúng túng thế nào ấy. Hơn nữa, ở ngoài trời lúc ấy khá lạnh, Vônca bèn quyết định chạy xuống buồng để mặc thêm áo khoác.
- Trước hết là phải bình tĩnh! - Vônca nói với ông Khốttabít đang ngồi đợi nó ở bên dưới. - Chẳng có gì mà phải hoảng hốt cả, ông ạ. Chỉ còn hai ngày nữa, người ta sẽ phái một tàu phá băng rất mạnh tới cứu chúng ta và đưa tàu chúng ta ra khỏi chỗ mắc cạn một cách rất yên ổn. Ngay tàu chúng ta cũng có thể tự thoát khỏi chỗ mắc cạn, nhưng ông nghe thử xem: máy tàu chẳng còn kêu ầm ầm như trước nữa. Có lẽ trong máy bị hỏng cái gì đó, nhưng hỏng cái gì thì vẫn chưa ai khám phá ra. Dĩ nhiên, chúng ta sẽ phải chịu đựng những sự thiếu thốn nào đó, song hy vọng rằng không một ai trong chúng ta bị bệnh và bị chết.
Vônca kiêu hãnh nghe nhưng lời từ chính mồm mình nói ra. Nó không ngờ rằng nó lại biết trấn an mọi người một cách dễ dàng và có sức thuyết phục đến thế.
- Ôi khổ thay cho ta! - Ông già bỗng cuống cả lên, vụng về đút hai bàn chân trần vào đôi hài trứ danh của mình. - Nếu các cậu chết thì ta không thể nào sống nổi đâu! Chẳng lẽ tàu chúng ta lại mắc cạn sao? Khốn khổ thân ta! Thà máy tàu cứ kêu ầm ầm lại còn hơn! Mà ta cũng tài ghê! Thay vì sử dụng sự hùng mạnh của mình vào những việc quan trọng hơn thì ta...
- Ông Khốttabít! - Vônca nghiêm nghị ngắt lời ông già - Ông hãy báo cáo ngay: ông đã bày ra trò gì ở đây?
- Chẳng có gì đặc biệt cả! Chẳng qua là vì lo cho giấc ngủ yên lành của cậu, ta đã tự ý ra lệnh cho máy tàu không được kêu ầm ầm nữa.
- Ông đã làm thật hả?! - Vônca hoảng sợ. - Bây giờ cháu mới hiểu chuyện gì đã xảy ra. Ông ra lệnh cho máy tàu không được kêu ầm ầm, mà máy tàu không kêu ầm ầm thì không thể chạy được. Vì thế, con tàu phá băng mới dừng lại bất thình lình như vậy. Ông hãy hủy ngay lập tức cái lệnh của mình, nếu không thì ông hãy coi chừng, các nồi hơi sẽ nổ tung lên đấy.
-Xin tuân lệnh! - Ông Khốttabít sợ quá, trả lời với giọng run run.
Đúng lúc đó máy tàu lại kêu ầm ầm và tàu “Ladôga” lại bắt đầu chạy như chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Còn ông thuyền trưởng, bác thợ máy và tất cả những người khác ở trên tàu đều đoán mãi không ra nguyên nhân của việc máy tàu ngầm hoạt động một cách bất thình lình, không thể nào giải thích nổi việc máy tàu hoạt động trở lại cũng rất chi là bí ẩn.
Chỉ ông già Khốttabít và Vônca mới biết chuyện gì đã xảy ra, nhưng vì những lý do hoàn toàn dễ hiểu cả hai đều không hở điều đó cho ai hay. Ngay cả Giênia cũng không được biết.
Vả lại, Giênia vẫn còn ngủ khì.
Về việc này, Vônca thậm chí còn nói đùa:
- Nếu người ta tổ chức một cuộc thi quốc tế xem ai ngủ say nhất thì hẳn là Giênia sẽ giật chức quán quân thế giới về ngủ đấy.
Ông Khốttabít cười hì hì với vẻ lấy lòng, mặc dù khi ấy ông vẫn chưa hiểu thế nào là “cuộc thi”, lại còn “cuộc thi quốc tế” nữa, và thế nào là “quán quân thế giới”. Nhưng ông già tính dùng cái cười ấy để làm lành với Vônca.
Tuy nhiên, việc đó cũng chẳng giúp ông thần già tránh được cuộc nói chuyện khó chịu.
Ngồi xuống mép giường của ông Khôttabít, Vônca quả quyết nói:
- Ông biết không, chúng ta sẽ nói chuyện với nhau như một người đàn ông nói với một người đàn ông.
- Ta nghe hết sức chăm chú, hỡi cậu Vônca! - Ông Khốttabít trả lời với vẻ yêu đời có tính chất cường điệu.
- Ông không bao giờ thử tính là ông hơn cháu bao nhiêu tuổi à?
- Chẳng hiểu sao ta lại không hề nghĩ tới chuyện đó. Nhưng nếu cậu cho phép thì ta sẽ vui lòng tính ngay.
- Khỏi cần! Cháu đã tính rồi. Ông hơn cháu 3.719 tuổi, hay là tuổi ông gấp tuổi cháu vừa đúng 287 lần! Lúc mọi người thấy ba ông cháu ta trên boong tàu hoặc ở phòng chung, hẳn là ai cũng nghĩ thế này: Cái ông đáng kính, thông minh và không còn trẻ ấy lúc nào cũng chăm nom săn sóc hai cậu bé kia, hay quá nhỉ! Cháu nói có đúng không nào?... Sao ông lại im lặng như thế?
Nhưng ông Khốttabít vẫn im thin thít, cái đầu bạc của ông buồn bã cúi xuống.
- Vậy mà trong thực tế thì sao? Trong thực tế bỗng hóa ra là cháu phải chịu trách nhiệm cả về tính mạng của ông lẫn tính mạng của tất cả các hành khách, bởi vì chính cháu đã thả ông ra khỏi cái bình gốm, mà ông thì lại suýt nữa làm đắm chiếc tàu phá băng cùng với toàn bộ hành khách và đội thủy thủ. Vì tội đó, người ta có chặt đầu cháu đi thì vẫn còn là nhẹ...
- Hừ, cứ để cho kẻ nào đó thử chặt đầu một thiếu niên đáng kính như cậu mà xem! - Ông Khốttabít ngắt lời Vônca.
- Được rồi, được rồi! Ông đừng ngắt lời cháu... Cháu đã ngấy các phép lạ của ông đến tận cổ rồi! Ông là một ông thần, dĩ nhiên, và thậm chí là một ông thần rất hùng mạnh (ông Khốttabít vươn vai đứng thẳng với vẻ kiêu hãnh), nhưng về cuộc sống hiện nay và về kỹ thuật hiện đại thì ông hiểu biết chỉ hơn đứa bé mới sinh một chút xíu thôi. Ông đã hiểu chưa?
- Than ôi, ta đã hiểu.
- Bây giờ, ông cháu ta hãy thỏa thuận với nhau thế này: ông muốn làm một phép lạ nào đó thì phải hỏi ý kiến mọi người.
- Ta sẽ hỏi ý kiến cậu, hỡi cậu Vônca! Nếu cậu đi vắng hoặc chuẩn bị thi lại (Vônca cau mày) thì ta sẽ hỏi ý kiến cậu Giênia, người bạn của chúng ta.
- Ông có sẵn sàng thề không?
- Ta xin thề! - Ông già sôi nổi thốt lên và đấm mạnh vào ngực mình.
- Còn bây giờ thì đi ngủ! - Vônca ra lệnh.
- Đi ngủ, rõ! - Ông Khốttabít đã kịp bắt chước được cách nói của các thủy thủ, bèn hùng dũng trả lời.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-11-04 14:40:21Thái Nhi>
Nỗi bực mình của ông già Khốttabít
Ct.Ly hiệu đính

Đến sáng, tàu “Lađôga” đi vào vùng sương mù dày dặc.
Con tàu tiến từ tù, cứ 5 phút lại kéo còi ình ỏi, tiếng còi vang khắp cả vùng biển mênh mông, vắng ngắt. Luật hàng hải quy định như vậy. Lúc trời có sương mù, các tàu thuyền phải kéo còi để khỏi đâm vào nhau, cho dù chúng đang ở trên những tuyến đường hàng hải có nhiều tàu bè qua lại nhất hay đang trên những nơi vắng vẻ của Bắc Băng Dương.
Tiếng còi tàu “Lađôga” làm cho các hành khách buồn chán.
Ở trên boong thì ẩm ướt, chẳng có gì lý thú cả, còn ở trong các buồng riêng thì buồn. Vì thế, các khách tham quan đã kéo vào phòng chung, ngồi kín tất cả các ghế bành và đi văng. Những người này thì chơi cờ vua, những người khác thì chơi cờ nhảy, số còn lại thì đọc sách báo. Nhưng rồi mọi người cũng chán những thứ đó. Người ta quyết định ca hát.
Hát đồng ca và đơn ca rất nhiều bài, rồi nhảy múa theo tiếng đàn ghita và baian (1). Một bác Udơbếch (2) - một nhà trồng bông nổi tiếng - nhảy múa, Giênia đệm nhạc theo. Phải đệm bằng trống lục lạc, nhưng chẳng có trống lục lạc nên Giênia đành lấy ngón tay gõ nhịp khá khéo léo trên chiếc khay tráng men. Mọi người đều thích thú, trừ bác Udơbếch. Nhưng lịch sự, bác ta cũng tỏ lời khen ngợi.
Sau đó, một nhân viên thu mua trẻ tuổi của nhà máy “Công xã Pari” ở Mátxcơva bắt đầu biểu diễn ảo thuật bằng những con bài.
Lần này, mọi người đều rất thích, trừ ông Khốttabít.
Ông già liền gọi Vônca ra ngoài hành lang:
- Hỡi cậu Vônca, cậu hãy cho phép ta làm trò vui cho những con người tốt bụng này bằng vài phép lạ thật đơn giản.
Vônca sực nhớ đến các phép lạ thật “đơn giản” ấy đã suýt nữa dẫn đến tai họa ở rạp xiếc hôm nào, nên vội xua tay:
- Không được đâu ông ơi!
Nhưng cuối cùng, Vônca đành phải đồng ý. Ông Khốttabít đã nhìn vào mắt nó với vẻ cầu khẩn làm sao!
- Thôi được. Nhưng ông chỉ được làm phép lạ bằng những con bài thôi đấy nhé. Hoặc là làm thêm bằng những quả bóng bàn cũng được.
- Ta sẽ không bao giờ quên lòng độ lượng sáng suốt của cậu! - Ông Khốttabít lòng đầy biết ơn liền reo lên và hai ông cháu quay vào phòng chung.
Đúng lúc đó, anh nhân viên thu mua biểu diễn một trò ảo thuật thật là tuyệt. Anh đề nghị người xem chọn một con bài mà không cho anh biết, rồi người xem nọ lại đút con bài vào cỗ bài và tráo đi tráo lại nhiều lần. Sau đó, đến lượt anh tự tráo bài khiến cho con bài nằm ở trên cùng thế nào cũng lại đúng là con bài đã được chọn.
Lúc anh nhân viên thu mua nhận những tràng pháo tay mà anh hoàn toàn xứng đáng được nhận và trở về chỗ của mình, ông Khốttabít liền yêu cầu mọi người cho phép ông góp vui bằng vài trò ảo thuật “không lấy gì làm phức tạp”.
Cái ông già vốn hay huênh hoang bây giờ lại nói như vậy đó: vài trò ảo thuật “không lấy gì làm phức tạp”.
Dĩ nhiên, mọi người cho phép và đã tặng trước một tràng pháo tay.
Cúi chào lịch sự như một diễn viên tạp kỹ thực thụ, ông già Khốttabít cầm hai quả bóng bàn đã có sẵn rồi tung lên, thế là biến thành bốn quả; tung lên lần nữa lại biến thành tám; sau đó lại tung lên biến thành ba mươi hai; và khi ông già bắt đầu tung hứng cùng một lúc cả ba mươi hai quả bóng thì chúng bỗng biến mất và nằm gọn trong ba mươi hai cái túi của ba mươi hai người xem. Sau đó, các quả bóng lần lượt nhảy ra khỏi những cái túi đó rồi hợp lại thành một vòng tròn và bắt đầu quay tít như các vệ tinh xung quanh ông già đang cúi chào. Các quả bóng nọ cứ quay mãi cho tới lúc chúng kết thành một cái vòng trắng liền nhau. Ông Khốttabít cúi rạp người và đặt cái vòng lớn ấy lên đầu gối cô Vácvara. Cái vòng nhanh chóng xẹp xuống cho tới lúc biến thành một dải lụa tuyệt đẹp, mỏng tang. Sau đó, ông Khốttabít cầm dải lụa ấy và dùng con dao nhíp của Vônca cắt vụn thành nhiều mảnh. Các mảnh lụa bay lên không như những con chim và quấn quanh đầu các người xem đầy thán phục thành những chiếc khăn đẹp tuyệt vời.
Sau khi nghe những tràng pháo tay với vẻ mặt sung sướng, ông Khốttabít liền búng ngón tay, thế là những chiếc khăn nọ lại biến ngay thành những con chim bồ câu rồi bay qua cửa mạn để ngỏ và biến mất.
Bây giờ, mọi người đều tin chắc rằng ông già đi đôi hài phương Đông tức cười này chính là một trong những nhà ảo thuật lớn nhất của thời đại hiện nay.
Ông Khốttabít quả là đang ngây ngất trong tiếng pháo tay. Hai người bạn trẻ tuổi của chúng ta đã tìm hiểu khá kỹ tính tình của ông Khốttabít nên chúng biết sự tán thưởng rầm rộ của mọi người nguy hiểm đối với ông già như thế nào.
- Bây giờ, ông ấy sẽ hăng tiết lên và bày ra đủ thứ trò vớ vẩn cho mà xem! - Giênia lo lắng nói nhỏ vào tai Vônca. – Ôi, mình đã linh cảm trước rồi…
- Mọi việc sẽ ổn cả thôi - Vônca nói cho Giênia yên lòng. - Mình đã dặn ông ấy rất cẩn thận về việc này.
- Hỡi các bạn của tôi, xin hãy chờ cho một lát! - Ông Khốttabít nói với các người xem đang vỗ tay. - Lần này, xin các bạn cho phép tôi...
Ông rứt một sợi râu duy nhất...
Thế rồi bỗng nhiênt bên ngoài, qua các cửa mạn để ngỏ, vọng vào tiếng còi chói tai, tiếng chân chạy rầm rập của các thủy thủ.
Giênia nói đùa:
- Một người nào đó đã nhảy lên tàu phá băng lúc tàu đang chạy! Phải nộp phạt ngay thôi!
Nhưng chẳng ai kịp cười vì tàu “Lađôga” bỗng nhiên rung chuyển mạnh, dưới đáy tàu có một cái gì đó kêu ken két như báo trước điều dữ và lần thứ hai trong ngày hôm ấy con tàu lại ngừng chạy.
- Đấy mình đã bảo rồi mà - Giênia thì thầm vào tai Vônca và nhìn ông Khốttabít với vẻ rất bực bội - Ông ta đã không tự kiềm chế được! Hăng tiết lên, muốn khoe hết tài cho thiên hạ biết mà!... Ghê quá đi mất Cả đời mình chưa bao giờ thấy một ông thần nào tự phụ, hay khoe khoang và thiếu kiềm chế hơn thế!...
- Lại trò của ông phải không, ông Khốttabít? - Vônca, không cần phải hạ thấp giọng, vì trong phòng chung rất ồn ào, - Ông vừa mới thề với cháu hôm nay...
- Bậy nào, bậy nào, hỡi con xà tinh trong số các cậu bé! Cậu không được xúc phạm ta bằng những sự nghi ngờ như vậy bởi vì ta chưa bao giờ vi phạm chẳng những lời thề của mình, mà cả các lời hứa nhỏ nhặt. Ta xin thề với cậu rằng ta biết chẳng hơn gì cậu về những nguyên nhân dẫn đến việc dừng lại rất bất ngờ của con tàu...
-Con rắn?! - Vônca cuối cùng đã phát cáu. - Ái chà chà, té ra bây giờ thêm vào mọi thứ khác, cháu lại còn là “con rắn” nữa? Cám ơn, ông Khốttabít, xin nồng nhiệt mécxì (3) ông!
- Cậu không phải là con rắn, mà là con xà tinh (4). Bởi vì xà tinh là sự thể hiện bằng xương bằng thịt của trí thông minh, xin cậu hiểu cho như vậy...
Lần này, ông già quả là chẳng có lỗi gì cả. Bị lạc trong sương mù, tàu “Ladôga” đã va phải dải cát ngầm.
Các hành khách ùa lên boong tàu khó khăn lắm mới phân biệt nổi hàng lan can trong màn sương mù. Đứng ở đuôi tàu nhìn xuống, vẫn có thể nhận thấy mặt nước xanh sẫm lạnh lùng đang nổi bọt vì chân vịt còn quay tít.
Nửa giờ đã trôi qua, mọi cố gắng nhằm đưa tàu “Lađôga” ra khỏi dải cát ngầm sau khi cho tàu chạy lùi lại đều chẳng đem lại kết quả. Lúc bấy giờ, thuyền trưởng Xtêpan bèn ra lệnh cho thủy thủ trưởng Pancratích huýt còi mời mọi người lên boong. Lúc tất cả những người có mặt trên tàu “Lađôga”, trừ những người bận canh gác, đã tập hợp boong thượng, ông thuyền trưởng nói:
- Thưa các đồng chí, tôi xin tuyên bố tình trạng làm việc khẩn cấp mà mọi người trên tàu đều phải tham gia! Để đưa tàu ra khỏi dải cát ngầm mà không cần đến sự giúp đỡ của bên ngoài, chúng ta chỉ còn một cách là chuyển than từ hầm mũi tàu qua hầm đuôi tàu. Lúc bấy giờ, đuôi tàu sẽ nặng hơn và mọi việc sẽ ổn cả. Nếu làm việc cho ra trò thì chỉ mất khoảng mười, mười hai tiếng thôi, chẳng hơn đâu. Bây giờ thủy thủ trưởng sẽ phân chia các đồng chí thành mấy đội lao động. Các đồng chí hãy mau mau thay quần áo, nhớ mặc bộ quần áo nào tàng tàng một chút để lỡ có bị giây bẩn thì cũng chẳng tiếc. Thay quần áo xong, các đồng chí sẽ bắt tay ngay vào việc... Hai cậu bé và cụ Gátxan Khốttabít thì có thể yên tâm. Công việc này không hợp với sức khỏe của hai em và cụ: các em còn quá trẻ, còn cụ Gátxan Khốttabít thì đã quá già để làm các việc nặng.
- Tôi mà lại không đủ súc làm các việc nặng ư? - Ông Khốttabít tức tối đáp lại. - Hỡi ông Xtêpan Timôphêêvích rất đáng kính, ông phải biết rằng không một ai có mặt đây có thể địch với tôi trong việc nâng các vật nặng đâu nhé!
Nghe câu nói đó, mọi người bất giác tủm tỉm cười:
- Úi chà, ông già nói khoác ghê!
- Ấy chết, đã tìm được một nhà quán quân đấy!
- Chẳng có gì đáng cười cả: ông già bực mình mà. Tuổi già thì sung sướng gì cho cam!
- Bây giờ, các bạn sẽ thấy rõ ngay thôi! - Ông Khốttabít hét lên.
Ông già nắm lấy cả hai cậu bạn trẻ tuổi của mình và trước sự sửng sốt của mọi người, ông bắt đầu tung hứng chúng, cứ như đó không phải là hai cậu bé 13 tuổi khá mập mạp, mà chỉ là hai quả bóng bàn.
Những tràng pháo tay rầm rộ vang lên, dường như sự việc đang diễn ra không phải ở trên boong của một con tàu lâm nạn ở xa đất liền, mà ở một nơi nào đó trong cuộc thi của các đại lực sĩ.
- Tôi xin rút lại những lời nói về cụ Gátxan Khốttabít. - Thuyền trưởng Xtêpan trịnh trọng tuyên bố lúc tiếng vỗ tay cuối cùng đã lặng hẳn. - Bây giờ, các đồng chí hãy bắt tay vào làm việc! Thời gian gấp rút lắm rồi!
Vônca kéo ông già qua một bên và nói:
- Ông Khốttabít ơi, chuyển than từ hầm này qua hầm khác trong suốt 12 tiếng liền thì cực lắm! Ông phải cố làm sao để lôi con tàu ra khỏi dải cát ngầm.
- Việc này vượt quá quá sức của ta... - Ông già buồn bã đáp. - Ta đã nghĩ về việc đó rồi. Dĩ nhiên, có thể lôi nó ra khỏi chỗ đá ngầm, nhưng lúc ấy đáy tàu sẽ bị vỡ, mà ta thì lại chẳng biết sửa đáy tàu, vì chưa bao giữ ta được thấy mặt mũi cái đáy tàu ra sao cả. Và tất cả chúng ta sẽ bị chết chìm như bầy mèo con chưa mở mắt trong thùng nước vậy.
- Ông hãy nghĩ cho kỹ đi, ông Khốttabít! Có thể, ông nghĩ ra được một cách nào đó.
- Ta sẽ cố, hỡi cái địa bàn của tâm hồn ta. - Ông già đáp và sau một lúc im lặng, ông hỏi: - Nếu thủ tiêu chính cái dải cát ngầm thì sẽ ra sao nhỉ?
- Ông Khốttabít yêu quý, ông mới thông minh làm sao? - Vônca reo lên và lao tới siết chặt tay ông già. - Ông hãy ra tay đi
- Xin tuân lệnh - Ông Khốttabít nói.
Lúc đội lao động khẩn cấp thứ nhất đã xuống hầm than và bắt đầu chất than ăngtraxít vào đầy các thùng sắt lớn thì tàu “Lađôga” bỗng rung chuyển và bắt đầu quay nhanh tại chỗ nước xoáy sâu vừa tạo thành ngay ở nơi dải cát ngầm đã bị sục xuống. Chỉ một phút nữa thôi là con tàu sẽ vỡ thành từng mảnh nếu Vônca không nghĩ đến chuyện ra lệnh cho ông Khóttabít ngưng chỗ nước xoáy lại. Biển đã lặng và tàu “Ladôga” sau khi quay một lát nữa theo quán tính, lại tiếp tục yên ổn lên đường.
Thế rồi không một ai, ngoài ông Khốttabít, Vônca và Giênia, có thể hiểu được chuyện gì xảy ra.
Và rồi lại tiếp diễn những ngày du ngoạn hấp dẫn, chẳng ngày nào giống ngày nào, qua các vùng biển và eo biển ít được biết đến, qua các hòn đảo lạnh lẽo mà con người chưa hề hoặc gần như chưa hề đặt chân tới. Các khách tham quan lên cả các hòn đảo, nơi họ được những người trú đông (5) đón tiếp trọng thể bằng mấy loạt súng chào, và lên cả các hòn đảo hoàn toàn không có người ở, chỉ rặt nhưng tảng đá trơ trọi. Cùng với tất cả các khách tham quan khác ba ngườì bạn của chúng ta đã leo lên những băng hà; đi dạo trên những cao nguyên đầy đá badan nhẵn nhụi như đá cuội; nhảy từ tảng băng này sang tảng băng khác qua các khe băng thăm thẳm đen ngòm; đi săn gấu trắng... Ông Khốttabít dũng cảm đã tự tay lôi cổ một chú gấu trắng về tàu “Lađôga ”. Dưới ảnh hưởng của ông già, chú gấu này đã nhanh chóng trở nên thuần thục và dễ thường như một chú bê, và sau đó nó đã đem lại nhiều phút vui vẻ cho các khách tham quan và cho đội thủy thủ.
Bây giờ, chú gấu ấy đang đuợc đưa đi biểu diễn ở rạp xiếc và nhiều bạn trong số bạn đọc chúng ta có lẽ đã trông thấy nó. Tên nó là Cudia.

---
(1) Loại đàn phong cầm của người Nga - N.D.
(2) Tên một dân tộc ở vùng Trung Á của Liên Xô N.D.
(3) Tiếng Pháp: cám ơn - N.D.
(4) Trong tiếng Nga, xà tinh (zmei) và rắn (zmyi) phác âm gần giống nhau, nên Vônca đã nghe lầm - N.D.
(5 ) Những người ở qua mùa đông trên Bắc Cực để nghiên cứu khoa học hoặc săn bắn - N.D.
Đăng nhập để trả lời
0