📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Văn Hoá Chửi !

4 trả lời, 65 lượt xem — Trang 1 / 1

Phàm ở đời này, sống cho vừa lòng người khó lắm. Các cụ nhà ta tổng kết lại bằng câu ca dao:

Ở sao cho vừa lòng người.
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê.
Cao chê ngỏng, thấp chê lùn.
Béo chê béo trục béo tròn.
Gầy chê xương sống, xương sườn phơi ra.


Chê chán thì chửi. Ấy là thói đời vưỡn thế! Chửi thì cũng có cung bậc từ thấp đến cao - từ Đồ đến Sĩ. Chửi cũng có nhiều loại: Chửi phong long, chửi đổng, chửi té tát, chửi vuốt mặt không kịp, chửi sa sả, chửi chữ, chửi tục, chửi thề..vv.....Nội cái chửi không thì cái văn hóa Việt này cũng tỏ ra ưu việt hơn nhiều với các nền văn hóa khác trên thế giới. Có một học giả khả kính - Ông Trần Ngọc Thêm - đúc kết được hẳn một cái gọi là "Văn hóa chửi". Nhưng cái nhà ông học giả này chỉ đề xướng lên vậy thôi. Cái "văn hóa chửi" của ông nó không có tính ứng dụng, vốn là điều kiện cần để kiếm chứng tính khoa học của một lý thuyết. Nên cái ý tưởng tập hợp các loại chửi của ông học giả trong "văn hóa chửi", đã vội vã hy sinh trên mặt trận văn hóa.
Ngẫm ra thì thấy đời cũng buồn cười: Ông Trần Quốc Vượng đề xướng cái gọi là "Văn hóa ăn", mà ông gọi là "Văn hóa ẩm thực" - Các cụ nhà ta thì bảo: Miếng ăn là miếng nhục - nhục thì ắt bị chửi, thế là "văn hóa chửi" ra đời để đối lập với "văn hóa ăn". Điều lạ một cái là ông Vượng thì minh chứng cái cội nguồn Việt tộc 300 năm ở trần đóng khố. Còn ông kia thì minh chứng Việt sử văn minh hơn người.
Ấy vậy mà cũng có người chọc cho chúng chửi đấy! Bởi vậy Thiên Sứ tui mới lấy cái câu thành ngữ dễ thương này của người Nam bộ làm đề cho bài viết này. Trong lịch sử văn hóa Việt có một chuyện chọc cho chúng chửi, mà những người lớn tuổi "quá niên trạc ngoại lục tuần" như Thiên Sứ tôi chắc còn nhớ - Chuyên Ba Giai Tú Xuất.
Chuyện kể lại rằng:
Hai đại lão tiền bối của làng cười Việt là Ba Giai, Tú Xuất một hôm rách việc ngồi bàn thi xem ai là người được chửi nhiều nhất. Ngài Tú Xuất xung phong làm trước. Từ sáng , cụ đến con mẹ bán cá ở chợ Bắc Qua, trả giá rồi chê mắc không mua. Mở hàng mà thế thì chỉ có nghe chửi. Ối giời ơi, cứ gọi là chửi sa sả. Cụ đi qua mặt một bà quí phái ngoài đường, rồi bịt mũi la toáng lên"mùi hôi nách chịu không nổi". Lại bị chửi...cứ thế cả ngày cụ chọc được hơn chục người chửi. Cụ Ba Giai, lắc đầu "Bị chửi như thế chưa ăn thua. Ngày mai xem ta đây này".
Sáng hôm sau, cụ Ba Giai lập một bàn thờ ở bến sông Cái. Đỉnh đồng khói nhang nghi ngút. Cụ mặc cái áo thụng, đội mũ tế rất ư là nghiêm chỉnh. Đợi chuyến phà đông người bắt đầu rời bến, cụ cầm bó nhang đến trước bàn thờ khấn vái và kêu lớn:
- Cầu xin Hoàng thiên, Hậu thổ chứng giám lời cầu nguyện chí thành của con. Xin hiển linh cho đám người đi trên phà kia ra giữa sông gặp sóng to gió lớn chìm cho chết hết!
Trời ơi! Thôi chửi ơi là chửi. Cả vạn đò cùng xúm vào chửi...
Cho đến ngày nay, người ta cứ đinh ninh rằng: Chỉ mình cụ Ba Giai là quán quân đoạt danh hiệu "Chọc cho chúng chửi" ở xứ Việt Nam ta.

Thời gian trôi đi - nghe đâu cũng có quí vị nhiều chữ, ngâm cứu thấy rằng: Hình như đại lão tiền bối Ba Giai là người có thật. Nghe đâu tên thật là Nguyễn Văn Giai, sống ở cuối thời Tự Đức, vào lúc Tây mới sang xâm lược nước ta. Công trình ngâm cứu này chưa được "pha học" chứng nhận, thôi thì cứ để nó đấy. Nhưng vào thì hiện đại, cách đây hơn 60 năm, một đại lão tiền bối xuất hiện góp phần làm cho trong cái nội hàm của "văn hóa chửi" thêm phong phú. Ấy chính là đại lão tiền bối Chí Phèo. Đành rằng là một nhân vật hư cấu, nhưng nằm trong dòng văn học gọi là "hiện thực phê phán", nên ít nhiều cũng phản ánh một phần sự thật. Bởi vậy, đại lão tiền bối Chí Phèo rất sinh động và cứ y như thật. Cái độc đáo của đại lão tiền bối Chí Phèo là không chỉ chọc cho chúng chửi mà còn kinh hơn - Chửi để được nghe chửi. Cụ chửi vung vít. Mà đâu phải chửi chó, mắng mèo phong long. Cụ chửi trời, chửi đất, chửi cả làng Vũ Đại.Chửi thằng nào, con nào sinh ra cụ, chửi cả thằng nào không chửi nhau. Kinh chưa?! Thật là đỉnh cao của "văn hóa chửi". Nhưng có điều lạ là bị chửi vậy mà cả làng Vũ Đại cứ trơ ra. Chẳng ai ra mặt chửi nhau với cụ Chí Phèo cả. Ai cũng nghĩ khi cả làng bị chửi thì chắc nó chừa mình ra! Và ai cũng tỏ ra cao thương vì không chấp một thằng say. Ấy cụ Chỉ Phèo thì vậy. Bố thằng nào dám động đến cụ. Nhưng thử ngẫm mà coi: Nếu có hai thằng người nào đó - cũng ở trong làng Vũ Đại - mà chỉ mặt nhau bảo: "Đồ ăn mày" thì oánh nhau ngay, nhằm mục đích để bảo vệ danh dự và chứng tỏ cái vai trò người có lòng tự trong với cả cái liêm sỉ. Tất nhiên, điều kiện cần và đủ thì cái thằng chửi đó không phải đại lão Chí Phèo.
Ấy là đời nó vẫn thế![/align]
Mèo tha miếng thịt thì đòi.
Hùm tha con lợn thì ngồi trơ trơ.


Trong cái "văn hóa chửi" ở xứ Việt Nam ta thì cái chửi chữ là thâm thủy nhất. Chửi mà cứ như thơ. Người nghe chửi lại gật gù tâm đắc thế mới quái chứ. Cái này chưa thấy công trình của cụ Thêm ghi nhận. Ấy là ngày xưa giới quý tộc thường vi von những kẻ đồng hạng mà không vừa ý bằng cách hạ cấp xuống qua những câu chửi: "Đồ ăn mày", "đồ khố rách áo ôm". Đám đấy tớ thì cứ cung cúc, im re. Đúng là "khố rách" , nghèo khổ thì mới phải đi làm thuê để bị chửi chứ. Nặng hơn tý nữa thì - với một ông chủ nóng tính thì là: "đào mả cha mày lên xem là cái giống gì?".
Ấy là thời xa xưa, thời chế độ phong kiến kia. Chứ bây giờ mà chửi thế ở quán bia có mà uýnh nhau to. Bây giờ thì cần phải nhẹ nhàng hơn, câu chữ hơn một tý. Thay vì chửi "khố rách, áo ôm" thì nên thay bằng "Ở trần đóng khố". Thay vì "đào mà bố" thì gọi là "tìm di vật khảo cổ".
Ấy cứ chửi chữ như vậy thiếu gì thằng tâm đắc, gật gù nghe chửi. Thậm chí còn khen hay. Có khi có cả vỗ tay nữa mới ghê chứ. Cách chửi thời hiện đại thì nó cũng phải "khoa học" một tý. Chứ cứ chửi "toạc móng lợn" một cách cổ điển như cụ Chí Phèo thì chỉ có cụ Chí Phèo mới làm được. [/align]
Thiên Sứ
học dốt, nói ngông
đi chơi lông bông
mồm thì khoác lác
mua sắm nát đời
mà câu nào nói ra cũng lời lời đạo lý

rh
Đăng nhập để trả lời
0
Văn hóa chửi mắng
Nhân loại không mấy người không chửi mắng hoặc bị chửi mắng. Chửi mắng, rủa sả là thứ ngôn ngữ không thiếu trong cuộc sống, trong văn chương của mọi dân tộc. Vấn đề là xác định được ranh giới giữa văn hóa và phi văn hóa trong chửi mắng. TNTT&GT mở chuyên đề thú vị này để cùng bạn đọc đàm luận và tranh cãi.





Chửi là la mắng, là nói những lời thô tục, cay độc để làm nhục người khác”, đó là theo từ điển tiếng Việt thông dụng. Cá nhân tôi cho rằng đôi khi cũng cần phải diễn đạt ngôn từ một cách mạnh mẽ, biểu cảm – đôi khi cũng cần phải chửi. Và rõ ràng khi không có đòn để đỡ, khi phải cam chịu ẩn nhẫn, khi yếu thế không làm được gì đối thủ, người ta có thể phải chửi. Chửi cho bõ tức. Chửi là cần thiết, vấn đề là chửi cũng cần có văn hóa, làm cho đối phương thấy nhục cũng phải có văn hóa.
Nhiều người tự hào rằng ở Việt Nam có hẳn một cái gọi là văn hóa chửi – có nghĩa là người Việt chửi có vần có vè, có ve có vẩy; chửi có bài bản, lớp lang. Nếu văn hóa được định nghĩa như là những giá trị vật chất, tinh thần do con người tạo ra trong lịch sử hay lối sống, cách ứng xử có trình độ cao thì quả thật chửi cũng là một nét văn hóa. 
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm  có đoạn: “Với lối chửi có vần điệu, có cấu trúc chặt chẽ, người Việt Nam có thể chửi từ giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác mà không hề nhàm chán. Đó là một nghệ thuật độc nhất vô nhị mà không một dân tộc nào trên thế giới có được”. Nghệ thuật chửi Việt Nam chủ yếu xuất phát từ miền Bắc do nếp sống cộng đồng tình cảm, ưa tế nhị và để tránh cái thô tục không cần thiết, người ta có hàng trăm cách, trăm lối diễn tả xa xôi, bóng gió được coi là tao nhã mà vẫn làm đối thủ tức đến hộc máu mồm. Bên cạnh chửi tục, người ta còn có lối nói mát, nói mỉa, nói xéo, chê bai cũng độc địa kinh khủng mà người ta cũng gộp luôn vào, mở rộng thuật ngữ chuyên “chửi”. Ở đây cũng cần phân biệt giữa “chửi thề” và “chửi”: chửi thề là văng tục, chửi vô tội vạ, chửi bất cứ lúc nào - kể cả lúc vui, chửi mà không có dụng ý bôi nhọ, không nhằm đối tượng nào; chửi thường nhắm đích danh người nào đó và thường trong lúc giận dữ, có dụng ý.






Trong quân đội xưa còn có một loại quân đặc biệt chuyên chửi mắng, đó là các "mạ thủ". Khổng Minh Gia Cát Lượng từng đích thân dùng thứ vũ khí này, ông đã dùng lời đanh đá cay độc mắng chết Tư Đồ Vương Lãng ngay tại trận.[/align]


Ngày xưa, chửi được coi là vũ khí của người nghèo bất khuất, người yếu bất khuất. Những kẻ thống trị có đầy đủ vũ khí, sức mạnh, còn những người bị trị luôn bị tước đoạt đến trần trụi cả về vật chất lẫn tinh thần, nhưng không phải vì thế mà kẻ bị trị chịu yên, họ biết dùng đến vũ khí độc tôn của mình để chống lại những cái trái với luân thường, trái với pháp luật, trái đạo đức. Mà đúng là “chửi” là vũ khí độc tôn của kẻ nghèo, khi trời dường như phú cho họ cơ quan phát thanh rất tốt, có thể vang khắp xóm cùng quê, có thể chửi từ giờ này sang giờ khác. Chửi, với các bài chửi điển hình như bài “Chửi đứa bắt gà” kéo dài hàng giờ, hàng ngày, dù kẻ bắt gà chắc gì đã mang gà ra trả, nhưng cái việc chửi vẫn phải được tiến hành, trước tiên để bõ tức, để giải tỏa tâm lý, sau đó là để phòng ngừa, để đánh thức lương tâm, đánh thức và nuôi dưỡng công lý. Có lẽ, đây cũng là một biểu hiện văn hóa trong cái sự chửi.
Thật ra thì văn hóa chửi cũng không phải là đặc sản quá độc đáo của người Việt. Bộ sử thi tiểu thuyết hoành tráng Tam quốc chí đã kể rất kỹ về chuyện khi dàn trận đánh nhau các bên rất hay sử dụng một loại quân khá đặc biệt, đấy là những "mạ thủ". "Mạ thủ" thường chọn những người giọng tốt, ngữ điệu chắc chắn phải cong cớn, đứng ngay ở hàng đầu gào to những lời xỉ mắng đối phương. Khổng Minh Gia Cát Lượng của nhà Thục đã từng đích thân đanh đá mắng chết Tư đồ Vương Lãng của nhà Ngụy. Ở Ukraine hiện tại có cả cuộc thi chửi được tổ chức hàng năm có mục đích để thanh niên làm quen với văn hóa chửi của dân tộc và nâng cao tình yêu nước. Cuộc thi chửi được tiến hành theo hình thức hai người bước ra sàn đấu, lần lượt chửi nhau và bất cứ ai muốn đều có thể tham gia. Người dự thi có thể trích dẫn những câu nói từ văn học cổ Ukraine bao hàm các câu chửi rủa đậm màu sắc dân tộc. Người thắng cuộc là người có vốn từ vựng phong phú.  
Cách chửi thay đổi rất nhiều, tùy theo vùng miền văn hóa. Ngay cả ở Việt Nam, người Bắc có cách chửi khác người Trung, người Trung chửi khác người Nam. Tuy nhiên, ngày nay, nhiều khi người ta quá lạm dụng "nghệ thuật" chửi, công cụ chửi, người ta chửi chỉ cốt để chứng tỏ mình chửi giỏi, người ta nói mát, nói mỉa, nói xéo người khác dù người đó chẳng làm gì mình – chỉ cốt để sướng miệng mà không hề nghĩ đến tác dụng độc địa của “lời nói-đọi máu”. Bàn về văn hóa chửi sẽ luôn là một đề tài thú vị và chắc hẳn cũng sẽ gây nhiều tranh cãi.
 





Nguyễn Quang Lập (nhà văn)




 "Tôi thấy ở xứ mình vẫn chưa có văn hóa chửi thật sự. Chửi ở đây là chửi một cách văn minh, không phải là dùng những từ ngữ thô tục, kém văn hóa để chứi bới nhau, mà là sử dụng lý lẽ sắc bén để nói lên sự thật. Điều này thì cũng tồn tại ở nước ta lâu rồi, các cụ nhà văn nhà thơ nổi tiếng ngày xưa như Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tú Mỡ… chửi những người tham ô tham nhũng qua chính ngòi bút của mình rất hay đó chứ. Tôi nhớ ngày bé được nghe các bà ngoài hàng chợ Bắc chửi cũng rất thích, vì họ chửi nghe đúng, sâu và sắc bén lắm. Các nhà văn của ta bây giờ cũng chưa lưu tâm đến chuyện này, thường thì bất bình chuyện gì thì lên tiếng chửi vậy thôi, tùy hứng, dẫn đến người bị chửi cũng không thấy thuyết phục...".
Lê Minh Quốc (nhà thơ)




 "Dân tộc Việt Nam vốn nhiều chữ, giàu chữ, thâm thúy nên khi ghét, giận, tức ai đó đều có thể chửi một cách có vần có vè, và đầy “hoa mỹ”, ví như cái chửi bà già mất gà của xứ Bắc hoặc cách chửi của người Huế. Nhưng bản thân tôi nghĩ không nên khen ngợi cách chửi này. Với tôi, một bó lý không bằng một tí tình, khi chửi người ta tức là mình đã dùng lý rồi. Tôi thích những cách chửi như kiểu của Hồ Xuân Hương hơn".





Chửi trong văn học
"Bớ làng trên xóm dưới, bớ láng giềng láng tỏi … bên sau bên trước, bên ngược bên xuôi! Tôi có con gà mái xám mới ghẹ ở, nó mới lạc ban sáng mà thằng nào con nào, đứa ở gần mà qua, đứa ở xa mà lại, nó dang tay mặt, nó đặt tay trái, nó bắt mất của bà, thì buông tha thả nó ra, có đứa nào trót nhỡ tay đánh cắp con gà mái ghẹ của bà thì hãy banh lỗ tai vạch lỗ nhĩ lên mà nghe bà chửi đây này…

Chém cha đứa bắt gà nhà bà, chiều hôm qua bà cho nó ăn nó vẫn còn. Sáng hôm nay con bà gọi nó nó vẫn còn, mà bây giờ nó đã bị bắt mất. Mày muốn sống mà ở với chồng với con mày, thì buông tha thả nó ra cho nó về nhà bà, nhược bằng mày chấp chiếm, thì bà đào mả thằng tam tứ đại nhà mày ra, bà khai quật bật săng thằng ngũ đại lục đại nhà mày lên. Ới cái thằng chết đâm, cái con chết xỉa kia, mày mà giết gà nhà bà thì một người ăn chết một, hai người ăn chết hai, ba người ăn chết ba. Mày xuống âm phủ thì quỷ sứ thần linh rút ruột ra... ".

(Đoạn chửi của bà già mất gà, trích Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan)

Trong Daghextan của tôi, nhà thơ Nga Raxun Gamzatop đã dành hẳn một chương có tên Ngôn ngữ để nói về chuyện chửi rủa ở những làng quê Daghextan. Ông viết “Mỗi làng quê đều có riêng những lời chửi rủa. Có lời rủa trói tay anh bằng những sợi dây vô hình; có lời rủa đẩy anh vào quan tài; có lời rủa làm mắt anh rơi vào đĩa canh đang húp, có lời rủa làm mắt anh lăn xuống khe sâu qua những tảng đá lởm chởm”. Dưới đây là một vài lời chửi rủa mà ông ghi lại:

- Cầu trời nó bắt đi cái người biết dạy con mày học nói! Cầu trời nó bắt của con mày đi cái người mà con mày có thể dạy nói!

- Cầu cho lưỡi mày khô đi, cho mày quên tên người yêu, cho người mày có việc cần gặp không hiểu lời mày nói. Cầu cho mày quên lời chào làng quê khi mày đi xa trở về, cầu cho gió lùa vào miệng mày khi mày rụng hết răng…

 
Phan An (Thanh Niên)
học dốt, nói ngông
đi chơi lông bông
mồm thì khoác lác
mua sắm nát đời
mà câu nào nói ra cũng lời lời đạo lý

rh
Đăng nhập để trả lời
0



Tôi tin chắc, trong đời, ai cũng có một lần chửi thề. Nghĩ lại ngữ cảnh lúc đó, bạn luôn thấy mình đúng và thỏa mãn. Nhưng người khác, bị chửi hoặc vô tình nghe cảm thấy tức giận hoặc khó chịu.

Trên thực tế, chửi thề gắn liền với lịch sử loài người có bản chất “hỉ, nộ, ái, ố”. Từ người bình dân, cho đến người tạm gọi là cao quý nhất cũng có thể dùng chửi thề làm phương tiện trong những bối cảnh “chướng tai gai mắt”. Chửi thề là ngôn ngữ rất con người. Bởi, chửi thề sẽ đem lại "công bằng" ngay lập tức, mang lại hiệu quả cân bằng tâm lý tức thời.
Nhà văn Kim Dung, bậc thầy về mặt tâm lý, đã để cho một nhân vật của mình chửi thề liên tục nhưng độc giả cảm thấy rất “sướng”, đó chính là Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn. Cũng như nhiều nhân vật khác của Kim Dung, khi bị địch nhân truy đuổi, thường chửi “bà mẹ quân rùa đen”, có lẽ đây là kiểu chửi thề của Trung Hoa, người đọc Việt Nam chưa sướng lắm. Tuy nhiên, khi Kim Mao Sư Vương gặp hoàn cảnh éo le, nhân vật này thường chửi “lão tặc thiên” thì đó là đỉnh cao của chửi thề. Độc giả cảm thấy mãn nguyện khi nghe Kim Mao Sư Vương chửi chính cái kiếp oan nghiệt của mình và cảm động trước số phận của lão. Có một chút gì đó công bằng, cũng giống như nhiều người nông dân ở miền Trung gặp lũ lụt hay hạn hán thường chửi “thằng trời già”, “thằng giặc trời”…
Chửi thề không thể thiếu trong đời sống. Ngôn ngữ của bất cứ dân tộc nào trên thế giới cũng có khẩu ngữ chửi thề na ná như nhau. Đó là việc dùng những hành động, những bộ phận nhạy cảm, hoặc những ngôi thứ thiêng liêng làm từ chửi thề. Bình thường, không rơi vào một tình huống hay hoàn cảnh bất ngờ, bức xúc người ta không dễ dàng gì thốt ra những từ đó ngoại trừ những người “chửi thề quen miệng”. Chửi thề mang lại “cảm giác mạnh” vì ngôn từ chửi thề cùng một lúc nó vừa là danh từ, vừa là tính từ và cả động từ. Khi con người hiểu được ngôn ngữ là đã biết chửi thề. Ngoại trừ trường hợp nhiều tôn giáo liệt chửi thề vào những điều được xem là ác khẩu của ngũ giới trong Phật giáo (1 trong 4 điều trong giới vọng ngữ ).
Trên một diễn đàn, trước đây giáo sư Trần Quốc Vượng có kể giáo sư Tôn Thất Tùng là người có tật hay chửi thề mỗi khi đối mặt với tình huống cẳng thẳng trong phòng mổ. Ban thi đua khen thưởng Chính phủ loại tên ông ra khỏi danh sách phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động vì lý do này rồi gửi lên Bác Hồ. Đích thân Bác đã khuyên mọi người nên thông cảm với ông trong những thời điểm ngặt nghèo trước sinh mệnh con người.
Người xưa nói “tiên ố ngã khẩu”, nghĩa là những điều mình nói ra sẽ làm cái miệng mình dơ bẩn trước. Tuy nhiên, thiên hạ từ Tây sang Đông bất chấp lời răn đó vẫn cứ chửi thề. Ngày nay phim ảnh, văn chương dùng chửi thề như một “điểm nhấn”. Câu thoại hay nhất trong 100 câu thoại đáng nhớ do Viện phim Mỹ bình chọn thuộc về… một câu chửi thề. “Frankly, my dear, I don’t give a damn” được Rhett (Clark Gable thủ vai) thốt ra với Scarlett vào cuối phim “Cuốn theo chiều gió” khi Scarlett hỏi: “Em sẽ đi đâu? Em sẽ làm gì?”.
Văn chương Việt Nam từ thời xửa thời xưa đã có… chửi thề, bất chấp xã hội Nho giáo cấm kỵ những lời dơ bẩn. Cụ Tú Xương, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương… là những bậc thầy đưa chửi thề vào thơ. Cao Bá Quát trước giờ chết chửi thề rất “đã”: “Ba hồi trống giục mồ cha kiếp/Một nhát giươm đưa bỏ mẹ đời”.
Chửi thề, trong một ngữ cảnh nào đó nó thuộc về quyền cá nhân. Nhất là thời đại cuộc sống ngày càng ngột ngạt, bức xúc, con người ngày càng va chạm nhiều hơn. Tuy nhiên, "quyền cá nhân" đó cần có giới hạn văn hóa. Ở Anh, chửi thề sẽ bị phạt tiền chỉ khi vi phạm luật về trật tự công cộng, nghĩa là anh chửi thề làm ảnh hưởng đến người khác. Ở Việt Nam, chính quyền TP.HCM vừa triển khai năm 2010 là “Năm thực hiện nếp sống văn minh, mỹ quan đô thị”, nói tục, chửi thề là một trong 6 hành vi được vận động nói “không”. Tuy nhiên, vấn đề chỉ dừng lại ở sự “vận động” ở cấp chính quyền địa phương chứ chưa thể thành luật được.
Tóm lại chửi thề nếu bạn thấy hay thì nó hay, nếu bạn thấy dở thì nó sẽ dở! Còn nếu chửi thề mà gây tổn thương cho người khác - những người không gây hại gì cho bạn, thì không còn là chuyện hay hay dở nữa, khi đó nó sẽ trở thành phi văn hóa.
 





Đọc "Văn hóa chửi mắng" của quý báo thật là bất ngờ thú vị. Lâu nay hễ nói đến "chửi mắng" là nói đến vô văn hóa, trong khi thật ra chửi mắng cũng là một thứ văn hóa, thậm chí là một thứ văn hóa hết sức đặc sắc. Tính cách của một dân tộc, bản sắc của từng địa phương và cá tính của từng người được in đậm trong chửi mắng. Các nhà văn không thể viết được những tác phẩm hay nếu không hấp thụ hết "nền văn hóa chửi mắng" của dân tộc mình. Bởi vì chửi mắng là... một phần tất yếu của cuộc sống. Những câu chửi của các bà ở đồng bằng Bắc bộ sẽ mất đi những cung bậc nhịp nhàng và âm hưởng du dương nếu dịch ra tiếng nước ngoài. Và bạn phải biết tiếng Nga thì mới cảm nhận được cái hay của những câu chửi mà Gamzatov dẫn trong Daghestan của tôi.

Điều thú vị nữa là, chửi mắng là một trong những yếu tố phản ánh rõ nhất phong cách của mỗi con người, cực kỳ riêng biệt. Nếu để ý bạn sẽ thấy rằng một người có thể giả tiếng nói của người khác, nhưng không thể giả được tiếng của người đó khi anh ta hoặc chị ta chửi bới. Câu chửi mắng được phát ra từ bản năng, từ tính cách thật của mỗi một con người. Bởi vậy tôi nghĩ "chửi mắng" cũng là đối tượng nghiên cứu của ngành nhân tướng học.

Nghe giọng điệu, cung bậc của những lời chửi ta có thể biết một người là thiện hay ác, là cao thượng hay thấp hèn. Xin cám ơn báo TNTT&GT đã đưa ra một đề tài thảo luận vô cùng hấp dẫn, các bạn rất biết cách làm báo.
Kiệt Hoàng Anh (…hoanganh@gmail.com)

 


Nguyễn Thành Nhân ( Thanh Niên )
 [/align] var text=document.getElementById("ZoomContentBody").style.fontSize; var Zoom=(text.replace("px","")==8)?12:text.replace("px",""); function TextZoom(Step) { if(Zoom>30 || Zoom
học dốt, nói ngông
đi chơi lông bông
mồm thì khoác lác
mua sắm nát đời
mà câu nào nói ra cũng lời lời đạo lý

rh
Đăng nhập để trả lời
0
Đọc bài này, làm Thanh Vân chợt nhớ đến bài thơ của ông Trần tế Xương

Chúc tết

Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau:
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu.
Phen này ông quyết đi buôn cối
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu.

Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu:
Trăm, nghìn, vạn mớ để vào đâu ?
Phen này ắt hẳn gà ăn bạc
Ðồng rụng, đồng rơi, lọ phải cầu.

Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
Ðứa thì mua tước; đứa mua quan.
Phen này ông quyết đi buôn lọng,
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng.

Lẳng lặng mà nghe nó chúc con:
Sinh năm đẻ bẩy được vuông tròn.
Phố phường chật hẹp người đông đúc.
Bồng bế nhau lên nó ở non.

Bắt chước ai ta chúc mấy lời:
Chúc cho khắp hết ở trong đời,
Vua, quan, sĩ, thứ, người muôn nước,
Sao được cho ra cái giống người .

Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
Vậy thì Leo* ăn Tết lần nữa với Trần Tế Xương cùng ss Thanh Vân.[:)]
 
Mấy bài thơ về Tết của Trần Tế Xương

--- Triều Nguyên ---



Viết về Tết hay và được đưa vào chương trình bậc trung học nhiều bài nhất, thì Trần Tế Xương đứng đầu. Dương Quảng Hàm, tác giả "Việt Nam thi văn hợp tuyển" (soạn theo chương trình trung học) đưa vào sách hai bài "Tết đến" và "Năm mới". Các soạn giả sách văn học PTTH và THCB hiện nay đưa thêm bài "Mồng hai Tết, viếng cô Ký" (có sách không đưa vào học - kể cả "đọc thêm" - bài "Năm mới"); sách văn học THCS ( lớp 9) chọn bài "Năm mới chúc nhau".

Bài "Tết đến" ( hay "Cảm Tết"):

Anh em đừng nghĩ tết tôi nghèo,
Tiền bạc trong kho, chửa lĩnh tiêu
Rượu cúc nhắn đem, hàng biếng quẩy
Trà sen mượn hỏi, giá còn kiêu
Bánh chưng sắp gói, e nồm chảy
Giò lụa toan làm, sợ nắng thiu
Thôi thế thì thôi đành Tết khác
Anh em đừng nghĩ tết tôi nghèo.


Nhà thơ nêu một loạt những thứ mà ngày Tết cần có hoặc nên có: tiền bạc, rượu cúc, trà sen, bánh chưng, giò lụa. Và một loạt lí do để không có thứ gì: tiền chưa lĩnh, rượu nhà hàng làm biếng không gánh đến, trà thì con buôn đang nâng giá nên phải đợi, gói bánh sợ nồm làm hỏng, bó giò lụa ngại thiu vì nắng. Nghĩa là, mọi thứ đang ở phía trước, chờ "tết khác", nhưng "anh em đừng nghĩ tết tôi nghèo".

Cái định hướng ở tương lai ấy, khi mới nghe qua có vẻ lạc quan, cũng như kiểu "thủ vĩ ngâm" nhằm đánh lạc hướng chuyện nghèo một cách khăng khăng, thoạt nghe, có cái gì ngồ ngộ; nhưng ngẫm lại, cách kể lể chỉ độc một nhịp 4/3 ở năm câu thơ liền ( các câu 2, 3, 4, 5, 6), cùng với " thôi thế thì thôi" nghe tiếng thở dài, khiến cái lạc quan, ngộ nghĩnh kia hoàn toàn bị đảo ngược. Đây là hình thức tự trào, và ông Tú ở vào thế "khóc hổ ngươi, cười ra nước mắt" vào dịp Tết, cái dịp muốn giấu nghèo cũng không phải dễ: "khôn ngoan đến cửa quan mới biết; khó nghèo ba mươi tết mới hay".

Bài "Năm mới" :

Khéo bảo nhau rằng mới với me,
Bảo ai rằng cũ, chẳng ai nghe.
Khăn là bác nọ to tày rế;
Váy lĩnh cô kia quét sạch hè.
Công đức tu hành, sư có lọng;
Xu hào rủng rỉnh, mán ngồi xe.
Chẳng phong lưu, cũng ba ngày Tết
Kiết cú như ai cũng rượu chè.


"Mới me" (tương tự kiểu nói "mới miếc" hiện nay) vốn đã làm nghĩa phủ định rồi, nhà thơ còn chiết từ "mới với me" để nhấn mạnh, ý không chấp nhận hoàn toàn. Cặp từ thực diễn tả cái quá cỡ trong cách chưng diện của "bác nọ", "cô kia". Cặp câu luận đề cập đến hai đối tượng "sư" và "mán": "sư có lọng", "mán ngồi xe". Cái quá cỡ về ăn mặc của người bình thường cũng như cái làm cao, làm sang của sư, của mán đều rởm đời, lố bịch. Ông Tú chỉ kí hoạ bức tranh đường phố ngày Tết qua những con người này. Nếu được tô màu, thì hẳn là sặc sỡ, và theo cái nhìn của ông mà suy, có thể nói là diêm dúa.

Tú Xương chỉ phủ nhận cái lố bịch, diêm dúa kia chứ không có ý chối bỏ ba ngày Tết. Điều này, ông nói rõ trong câu kết: dù nghèo kiết, cũng rượu chè mừng xuân. Và giá trị của bài thơ nằm ở chỗ đả kích cái thái quá, cái khoe mẽ thất thường đã trình bày.

Bài "Mồng hai tết, viếng cô Ký ":

Cô Ký sao mà đã chết ngay?
Ô hay, trời chẳng nể ông Tây!
Gái tơ đi lấy làm hai họ
Năm mới vừa sang được một ngày
Hàng phố khóc bằng câu đối đỏ
Ông chồng thương đến cái xe tay!
Gớm ghê cho những cô con gái
Mà vẫn đua nhau lấy các thầy!


Cô Ký đột ngột chết. Cái chết của người phụ nữ trẻ trung và có nhan sắc này khiến người còn sống phải băn khoăn. "Trời" tất nhiên được liên tưởng đến. Nhưng nhà thơ không những chẳng oán thán, trách cứ gì mà còn bẻ chệch cái thói thường kia sang hướng khác: Trời bắt chết cô Ký, vậy là chẳng nể nang gì ông cẩm Tây! Cô Ký có chồng, có thân thích. Không nói Trời chẳng nể vì họ, hay nể vì cô Ký, lại quàng cái " ông Tây" xa lạ ấy vào, thì rõ là viên cảnh sát trưởng, kẻ đại diện thường trực đầy quyền uy của " mẫu quốc" ở thành Nam Định, kẻ mà dân chúng phải nể sợ, có quan hệ gắn bó với cô Ký hơn cả. Cô Ký thuộc về Tây chứ không phải An Nam. Và như vậy, cái danh xưng " cô Ký" (vợ thầy Ký) chỉ là giả hiệu.

Cặp câu thực nhằm nhấn mạnh cái ý chết tươi, "chết ngay" ở câu phá đề. Đi làm lẽ khi còn "gái tơ", chết khi năm mới "vừa sang được một ngày". Chuyện hiếu danh, yêu cuồng, sống vội của cô Ký được vạch ra ở đây. Nhưng đến cặp câu luận thì mới hai năm rõ mười về điều mà tục ngữ từng đề cập " hùm chết để da, người ta chết để tiếng "; cô Ký bị tiếng cười chê. Tú Xương đã sắc sảo khi sử dụng hai từ "khóc ","thương", cách biểu lộ tình cảm thông thường của người sống dành cho người chết, để rồi bẻ quặp sang một hướng khác: sự vui mừng ( vui mừng về đã gỡ bỏ được cái nhố nhăng, bất chấp đạo lí xảy ra trước mắt). Cách thể hiện của ông Tú như sau:

Khóc = câu đối đỏ ngày tết (tức Mừng)

Thương = cái xe tay mang lợi nhuận (tức Vui)

Khóc Thương = Mừng Vui (thay vì khóc thương là sự vui mừng)

Dù đã dùng chữ nghĩa châm biếm sâu cay như vậy, nhưng hình như ông Tú vẫn thấy thiếu, nếu không đưa ra một lời cảnh cáo bằng cái rùng mình ghê rợn về những cô gái đua nhau vào con đường mà cô Ký đã đi. Đó là nội dung ý nghĩa của cặp câu kết.

Bài "Năm mới chúc nhau":

Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau,
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu.
Phen này ông quyết đi buôn cối
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu.

Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang,
Đứa thời mua tước đứa mua quan.
Phen này ông quyết đi buôn lọng,
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng.

Nó lại mừng nhau cái sự giàu,
Trăm nghìn vạn mớ để vào đâu?
Phen này ắt hẳn gà ăn bạc,
Đồng rụng đồng rơi, lọ phải cầu.

Nó lại mừng nhau sự lắm con,
Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn.
Phố phường chật hẹp người đông đúc,
Bồng bế nhau lên nó ở non.


Tú Xương xưng "ông", gọi những người đang tíu tít chúc tụng nhau nhân năm mới là "nó" (ở đây, hiểu là "chúng nó"). Chúng nó có thể là một đối tượng xác định, cũng có thể chỉ mọi người. Nếu xác định, thì chúng nó là đám thị dân hãnh tiến nửa tây nửa ta ở thành Nam Định vào thời điểm giáp ranh giữa hai thế kỉ 19 và 20. Chúng nó có "trăm nghìn vạn mớ" không để đâu cho hết, lại còn chúc "cái sự giàu"; chúng nó mua tước, mua quan để được tiếng sang khi đã giàu sang;... Nếu chúng nó chỉ thiên hạ nói chung, thì dẫu nhà thơ có ngạo nghễ, tự tôn mình đứng trên mọi người, ông vẫn có lí. Bởi những lời chúc tụng thường vượt quá hiện thực: vạn sự như ý, bách niên giai lão, công thành danh toại, bách chiến bách thắng,...Vì cả sự xã giao hay chuyện đãi bôi đầu lưỡi. Nhưng cái lí của nhà thơ có lẽ không chỉ như vậy. Ông muốn con người giữ lấy cái Chân để nhìn nhận đúng bản chất mỗi vấn đề và tránh đi cái Nguỵ, dù chỉ ở mức nguỵ ngôn. Biết là không mấy người sống đến trăm tuổi mà vẫn "chúc nhau trăm tuổi", biết là khó có chuyện "sinh năm đẻ bảy được vuông tròn" mà vẫn cứ cầu mong và bất chấp việc phố hẹp người đông. Khi nhìn đúng bản chất sự vật, hiện tượng, thì sẽ thấy rõ là mua được tước vị, chức quan không làm sang lên; sự giàu có không phải là tất cả; sinh sản lắm gây khó khăn về chuyện ăn ở sau này,...

Đó là cái lí mang tính nhân văn của bậc thức giả. Nó là cơ sở để Tú Xương xưng "ông", gọi thiên hạ bằng "đứa", "nó" như gọi con nít dù tuổi đời còn trẻ (cho đến lúc mất, ông mới được 37 tuổi).

Hai khổ thơ đầu, nhà thơ giả định mình "đi buôn cối", "đi buôn lọng" để phủ nhận lời chúc "trăm tuổi" (không mấy người đến mức tuổi phải ăn trầu bằng cối giã), để la mắng việc mua chức tước làm sang. Điều này có tác dụng như sự phản chứng của các lời chúc.

Hai khổ thơ sau, ông cũng dùng lối phản chứng nhưng không nêu tình huống giả định mà bằng suy lí: nếu chỉ rặt toàn tiền bạc thì gà phải ăn bạc, nếu sinh con đàn cháu đống thì chỉ có núi non mới dung nạp nổi. Biện pháp phóng đại hỗ trợ tích cực cho sự suy lí này, nó hiện ra rõ nét hơn so với hai khổ thơ trước.

Bài thơ, như vậy, vừa châm biếm một (hay một số) tầng lớp xã hội cụ thể vừa có sức khái quát chỉ ra cái hư, cái nguỵ chung mà con người cần xem lại, cần gạt bỏ để cái chân được sáng rõ.

Cười cợt về cái nghèo của mình trong dịp đón năm mới, phê phán cái thái quá đến thành lố lăng của một số hạng người vào mấy ngày xuân, cũng như châm biếm về cái chết của một cô Ký lúc mồng hai Tết, Trần Tế Xương đều có lí, dù có phần ác khẩu. Thiện ý của nhà thơ trào phúng được tìm thấy ở chân lí xã hội mà nhà thơ bảo vệ. Tú Xương đứng chân ở lẽ thường trong đạo lí truyền thống của dân tộc, và ở một vài trường hợp, ông đã phân biệt được chân - nguỵ và không chút ngần ngại khi lên tiếng bảo vệ chân lí dưới hình thức phê phán cái giả tạo, nguỵ danh. Rất có thể đó là chỗ mà Nguyễn Khuyến đã thừa nhận và tôn vinh Tú Xương khi chung cuộc:

Kìa ai chín suối Xương không nát,
Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn


Nguồn : Ngôn Ngữ Và Đời Sống

Cái gì xuất phát từ trái tim thì sẽ đi đến trái tim
G. Piet – Pháp
Leo*
Đăng nhập để trả lời
0