<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-09-21 02:50:07HanAn>
KHI ÔNG CẬU QUÝ BỊ ĐẮM TÀU
Tác giả: Minh Quân
Nhà Xuất Bản Văn Nghệ (1997)
Thể loại: Tủ Sách Tuổi Hoa
CHƯƠNG I
Bà Niêm rất quý đôi dép màu ma rông, tuy nó chỉ là một đôi dép mua xôn. Và vì quý nên bà chỉ mang vào những dịp trong nhà có tin vui. Tháng chạp năm ngoái nhân dịp đi Sài Gòn, bà tìm ra đôi dép bền, đẹp, tiện ấy trong mớ dép giày đủ màu, đủ kiểu ở vỉa hè Lê Thánh Tôn. Bà hãnh diện khi nghĩ rằng bà chỉ tốn có 160$ mà được một đôi dép thật đẹp, thật bền, chắc chắn nó không phải là thứ mà cửa hiệu họ đóng hàng loạt để bán cho bất cứ một người nào, nó do một mệnh phụ nào đó đặt đóng mà rồi vì một lý do gì, đã bỏ quên luôn sau khi đã trả trước phân nửa tiền cọc. Và một sự tình cờ là chân bà mệnh phụ ấy hơi thô, giống chân bà, thứ chân của hạng phụ nữ hay đi bộ, không có được cái mỹ hiệu gót son - hay gót sen chi đó.
Công bình mà nói thì quả đôi dép ấy đã lỗi thời đi từ tám hoánh, cho nên chủ hiệu mới phát sùng lên mà đem vứt ra bán xôn, chứ nếu không ấy à? Còn lâu mà mới mua được với giá rẻ mạt như vậy.
Trưa nay, vừa đi làm về, ông Niêm nhận ra vợ mang đôi dép đặc biệt - ông về sớm một giờ, khác với lệ thường cho nên có thì giờ nhận thấy điều này, chứ ngày thường, ông về sau lũ con và vừa về là ông hét toáng lên: "Đói! Đói!" thì làm gì mà nhận ra điềm lành nổi? Ông cười bảo vợ:
- Này mình hôm nay có gì vui mà mợ mang đôi dép ma rông vậy?
Bà vợ cười, giọng bí mật:
- Có! Nhưng em chỉ nói khi đông đủ các con.
Ông chồng lại trêu:
- Đôi dép của mợ coi cũng tàm tạm, nhưng nó không hợp thời nữa...
- Hợp với không hợp, em không cần. Người ta chứ có phải là khỉ đâu mà thấy ai làm gì là bắt chước? Tôi theo đúng ba tiêu chuẩn...
- Mẹ! Có gì vui mà mẹ mang đôi dép ma rông hở mẹ?
Phan thò đầu vào bếp, hỏi. Bà Niêm nghiêm giọng chỉnh con trai:
- Dù cho có gì vui đi nữa, con cũng phải nói: “Thưa mẹ, con đi học về” cái đã, nghe chưa?
- Dạ, thì thưa mẹ, con đi học về, nhưng mẹ phải nói cho con biết nhà có gì vui.
- Thong thả, mẹ không thể kể ngay bây giờ, vì thế mẹ sẽ phải hao hơi kể lại hai lần nữa. Hãy chờ đến bữa ăn, đủ mặt các con.
Phan liếc xéo đôi dép ma rông của mẹ lần nữa, hơi phật ý nhưng biết phản đối vô ích, nên lặng lẽ về phòng mình. Cậu bé vứt cặp trong góc tủ, không thèm rửa tay, rửa mặt, ra cửa sổ đứng ngóng hai em.
Yến về trước. Nó nhỏ nhắn, hơi gầy với mái tóc đen thường rối bù và đôi mắt cùng màu rất to. Bước đi tung tăng, cặp sách đáng ra là mắc sau lưng, lại treo cồng kềnh trước ngực. Yến vừa ở lớp mẫu giáo ra.
Sau lưng Yến là Lai, anh kế nó và là em kề Phan. Trái hẳn cô em gái gầy nhom, Lai thật đúng với biệt danh “phì lũ” mà bạn đồng học tặng nó. Tuy nhiên, Lai không hề phật ý về cái biệt danh không mấy thanh bai này. Nó không những chẳng than phiền mà còn vênh mặt lên, cười dài nói:
- Ừ! Thì tao phì lũ đó! Rồi có sao không ? Ba tao nói hồi ông mười tuổi ông giống tao bây giờ, mà hiện nay ông đẹp trai hết sức, không phải chơi đâu.
Mặc dù mập mạp, Lai rất nhanh nhẹn, vui vẻ. Đụng vào nó, ta có thể tưởng tượng là đụng vào một quả bóng cao su, nó nẩy tưng lên liền.
Lai là người về đến sau cùng, vì nó học xa nhất, song nó không vội, vừa đi chầm chậm, cậu bé vừa phồng mũi thưởng thức mùi thơm của mấy khóm hoa do mẹ nó trồng trước hiên nhà, dọc theo lối đi.
Bữa ăn đã sẵn sàng. Cả nhà quây quần quanh bàn. Thằng con trai lớn nhắc lại lời mẹ hứa vừa rồi.
Bà mẹ chậm rãi rút trong túi ra một là thư màu xanh dán tem xinh xắn có vẻ là tin ngoại quốc. Ba chúng sốt ruột hộ các con:
- Thôi! Lẹ lên! Mẹ mày cứ làm bộ bí mật hoài. Thư của Cậu Bích đó, các con.
- Thư của cậu Bích?
- Hoan hô cậu Bích!
- Hoan hô! Đọc liền đi mẹ!
Ba đứa cùng nuốt vội búng cơm, hét lên.
- Nếu tui bay còn làm ầm ĩ vô trật tự kiểu đó thì đừng hòng.
Bà Niêm nói, giả vờ đút túi lá thư đã được rút ra khỏi bao. Lập tức ba đứa đồng thanh:
- Xin lỗi mẹ! Tụi con không làm ồn nữa. Đọc đi mẹ! Tội nghiệp tụi con mà.
Bà Niêm lại giở thư ra, thong thả đọc:
“Anh chị thân mến,
Em Bích của anh chị đang ốm nặng, một thứ bệnh vô phương cứu chữa: đó là bệnh H.H. Bệnh này hành hạ lại em rầu rĩ còn hơn mấy cô tiểu thư mang chứng tương tư. Em gầy guộc vì ngày không ăn, đêm không ngủ, em không thiết nói, biếng cả cười - hồi còn ở nhà em vui vẻ là thế! Đã bảy năm dài, em…”
- Bệnh H.H là bệnh gì mà ghê vậy hả ba?
Phan tò mò hỏi. Bà mẹ gắt nhẹ:
- Tụi bay có nghe không. Để mẹ đọc xong đã được không?
Rồi bà điềm nhiên đọc tiếp, không tỏ chút gì thắc mắc về hai chữ H.H trong thư của cậu em trai:
“… Đã bảy năm dài em lìa quê hương yêu dấu, gần như quên mất mùi vị của món tôm rim, nhưng em thèm nhất là mấy thứ bình dân như khoai lang, khoai mì, bánh tráng - nướng hay nhúng nước - Em nhớ tiếng ểnh ương ỳ oạp vàoo mùa mưa, tiếng ve sầu ra rả vào mùa hè. Chao ơi! Cả đến tiếng con thạch sùng tặc lưỡi nữa, em nhớ tuốt hết... Anh chị còn nhớ không? Những đêm Giáng sinh tại quê nhà? Trời chỉ vừa phải, người ta mặc áo len là cốt để chưng diện chớ không phải như bên này, lạnh điên vào tháng chạp dương lịch.
Em đau nặng quá rồi! Nếu em còn chần chờ do dự em sẽ gầy xác ve mất thôi, anh chị ạ!”
Ba đứa trẻ trố mắt lên, lo lắng thay cho cậu chúng, ông cậu mà chúng rất thương yêu, dù lâu lắm rồi chúng chỉ nghe chứ chưa hề thấy mặt. Nhưng chúng không dám ho he, sợ mẹ lại mắng, im lặng lắng nghe. Giọng mẹ chúng lại cao lên:
“… em phải trở về nước, đó là cách duy nhất để chữa khỏi bệnh H.H. em biết rõ như vậy. Anh chị có vui lòng cho em được tá túc tại nhà anh chị trong thời gian em trở về không? Em muốn gần lũ cháu. Em cam đoan sẽ tỏ ra đứng đắn, không làm anh chị phải chau mày - em cần làm gương cho các cháu chúng soi chung, em biết.
Em xin long trọng hứa:
1. Không đi chơi khuya để chị phải bận lòng đợi cửa.
2. Chùi chân thật kỹ trước khi vào nhà.
3. Khi ngồi không gác chân lên bàn.
4. Không mặc quần soọc khi đi cùng anh chị đi xem xinê.
5. Và chính em cam đoan mua vé cho anh chị.
Nếu dự tính được thực hiện em sẽ có mặt tại SAIGON vào tháng 7 tới đây bằng chiết tàu Santa-Maria.
Nếu vạn nhất - điều nào là nói phòng xa - em không về được kỳ này, em sẽ gieo mình xuống biển, chỗ sâu nhất, kết liễu cuộc đời vì không đủ sức để chứng H.H hành hạ nữa.
Em xin gửi đến anh chị lời chào thân mến và riêng các cháu, mỗi đứa một cái hôn. Quên, còn một điều khoản nữa, điều thứ 6: em đã bỏ thuốc lá, chắc chị hài lòng lắm? Song nếu về xứ, có thèm, em xin hứa sẽ không bao giờ hút thuốc lá trong nhà, mà có hút đi nữa, em hứa không có chuyện làm vung tàn bừa bãi.
Em Bích của anh chị. Kính thư."
Nhiều tiếng hoan hô vang dậy cả phòng ăn. Lũ trẻ làm ầm lên vì sung sướng quá. Cha chúng cũng tươi hẳn nét mặt:
- Hay lắm! Cậu ấy về nhằm về lúc chúng ta nghỉ hè.
- Hay thiệt chớ - Lai tiếp lời cha - nếu mà cậu về nhằm lúc con đi học thì chán chết đi.
- Cậu về vì mày chắc?
- Thôi, thôi! Cậu về vì tất cả chúng ta. Các con đừng cãi vã...
- Sai bét! Mẹ con mấy người đều sai bét. Nghe đây: Cậu Bích về vì chứng bệnh H-H hành cậu, chẳng vì ai cả hiểu chưa?
- Hoan hô ba! Ba thông minh quá! Hoan hô!
Yến tròn xoe mắt:
- Con chưa biết bệnh H.H là bệnh gì, ba giải nghĩa cho con đi.
- Con cũng không biết...
- H.H là hai chữ viết tắt của tiếng Hoài Hương, hiểu chưa?
- Hoài hương? Là nghĩa gì chớ?
- Con biết rồi - Phì lũ ngắt lời mẹ - Hoài là hoài niệm, là nhớ tới, là hướng về. Hương là quê hương, dễ ợt...
- À! Thằng này, mày chỉ được cái nhanh nhẩu đoảng. Biết làm sao hồi nãy không nói đi? Đợi mẹ…
- Trời ơi! Khó khăn gì. Tại em chưa kịp nghĩ ra, tại em mừng cậu về nên quýnh quá.
- Theo em nghĩ, cậu về với mợ, vui quá....
- Con nhỏ nói hay chưa? Ai bảo là cậu mày về với mợ? Mợ nào?
Mẹ nó nhướng mắt lên, gặn lại. Yến cười tủm tỉm:
- Thì mẹ đọc thơ cậu đó, con nghe có tiếng tata Maria, chắc mợ tên Maria, tên đẹp...
Ông Niêm bật cười:
- Lầm rồi con út của ba ơi! Santa Maria là tên chiếc tàu thủy chứ không phải tata Maria. Cậu chưa có vợ, nếu có cậu đã tin cho ta biết từ lâu.
- A! Vợ cậu Bích là chiếc tàu! A!...
Hai thằng anh trai cười chế giễu. Yến gần khóc là bà Niêm phải la con trai:
- Tụi bay không được trêu em. Chẳng được cái tích sự gì.
Ông Niêm nghiêm giọng:
- Thôi, mợ coi trả lời thư cho cậu ấy kẻo cậu trông. Nói là vợ chồng ta và lũ nhỏ đều mong sớm gặp cậu, nhớ dặn cậu chừng nào về phải đánh điện cho hay, đặng mình đón cho vui.
* * *
Tác giả: Minh Quân
Nhà Xuất Bản Văn Nghệ (1997)
Thể loại: Tủ Sách Tuổi Hoa
CHƯƠNG I
Bà Niêm rất quý đôi dép màu ma rông, tuy nó chỉ là một đôi dép mua xôn. Và vì quý nên bà chỉ mang vào những dịp trong nhà có tin vui. Tháng chạp năm ngoái nhân dịp đi Sài Gòn, bà tìm ra đôi dép bền, đẹp, tiện ấy trong mớ dép giày đủ màu, đủ kiểu ở vỉa hè Lê Thánh Tôn. Bà hãnh diện khi nghĩ rằng bà chỉ tốn có 160$ mà được một đôi dép thật đẹp, thật bền, chắc chắn nó không phải là thứ mà cửa hiệu họ đóng hàng loạt để bán cho bất cứ một người nào, nó do một mệnh phụ nào đó đặt đóng mà rồi vì một lý do gì, đã bỏ quên luôn sau khi đã trả trước phân nửa tiền cọc. Và một sự tình cờ là chân bà mệnh phụ ấy hơi thô, giống chân bà, thứ chân của hạng phụ nữ hay đi bộ, không có được cái mỹ hiệu gót son - hay gót sen chi đó.
Công bình mà nói thì quả đôi dép ấy đã lỗi thời đi từ tám hoánh, cho nên chủ hiệu mới phát sùng lên mà đem vứt ra bán xôn, chứ nếu không ấy à? Còn lâu mà mới mua được với giá rẻ mạt như vậy.
Trưa nay, vừa đi làm về, ông Niêm nhận ra vợ mang đôi dép đặc biệt - ông về sớm một giờ, khác với lệ thường cho nên có thì giờ nhận thấy điều này, chứ ngày thường, ông về sau lũ con và vừa về là ông hét toáng lên: "Đói! Đói!" thì làm gì mà nhận ra điềm lành nổi? Ông cười bảo vợ:
- Này mình hôm nay có gì vui mà mợ mang đôi dép ma rông vậy?
Bà vợ cười, giọng bí mật:
- Có! Nhưng em chỉ nói khi đông đủ các con.
Ông chồng lại trêu:
- Đôi dép của mợ coi cũng tàm tạm, nhưng nó không hợp thời nữa...
- Hợp với không hợp, em không cần. Người ta chứ có phải là khỉ đâu mà thấy ai làm gì là bắt chước? Tôi theo đúng ba tiêu chuẩn...
- Mẹ! Có gì vui mà mẹ mang đôi dép ma rông hở mẹ?
Phan thò đầu vào bếp, hỏi. Bà Niêm nghiêm giọng chỉnh con trai:
- Dù cho có gì vui đi nữa, con cũng phải nói: “Thưa mẹ, con đi học về” cái đã, nghe chưa?
- Dạ, thì thưa mẹ, con đi học về, nhưng mẹ phải nói cho con biết nhà có gì vui.
- Thong thả, mẹ không thể kể ngay bây giờ, vì thế mẹ sẽ phải hao hơi kể lại hai lần nữa. Hãy chờ đến bữa ăn, đủ mặt các con.
Phan liếc xéo đôi dép ma rông của mẹ lần nữa, hơi phật ý nhưng biết phản đối vô ích, nên lặng lẽ về phòng mình. Cậu bé vứt cặp trong góc tủ, không thèm rửa tay, rửa mặt, ra cửa sổ đứng ngóng hai em.
Yến về trước. Nó nhỏ nhắn, hơi gầy với mái tóc đen thường rối bù và đôi mắt cùng màu rất to. Bước đi tung tăng, cặp sách đáng ra là mắc sau lưng, lại treo cồng kềnh trước ngực. Yến vừa ở lớp mẫu giáo ra.
Sau lưng Yến là Lai, anh kế nó và là em kề Phan. Trái hẳn cô em gái gầy nhom, Lai thật đúng với biệt danh “phì lũ” mà bạn đồng học tặng nó. Tuy nhiên, Lai không hề phật ý về cái biệt danh không mấy thanh bai này. Nó không những chẳng than phiền mà còn vênh mặt lên, cười dài nói:
- Ừ! Thì tao phì lũ đó! Rồi có sao không ? Ba tao nói hồi ông mười tuổi ông giống tao bây giờ, mà hiện nay ông đẹp trai hết sức, không phải chơi đâu.
Mặc dù mập mạp, Lai rất nhanh nhẹn, vui vẻ. Đụng vào nó, ta có thể tưởng tượng là đụng vào một quả bóng cao su, nó nẩy tưng lên liền.
Lai là người về đến sau cùng, vì nó học xa nhất, song nó không vội, vừa đi chầm chậm, cậu bé vừa phồng mũi thưởng thức mùi thơm của mấy khóm hoa do mẹ nó trồng trước hiên nhà, dọc theo lối đi.
Bữa ăn đã sẵn sàng. Cả nhà quây quần quanh bàn. Thằng con trai lớn nhắc lại lời mẹ hứa vừa rồi.
Bà mẹ chậm rãi rút trong túi ra một là thư màu xanh dán tem xinh xắn có vẻ là tin ngoại quốc. Ba chúng sốt ruột hộ các con:
- Thôi! Lẹ lên! Mẹ mày cứ làm bộ bí mật hoài. Thư của Cậu Bích đó, các con.
- Thư của cậu Bích?
- Hoan hô cậu Bích!
- Hoan hô! Đọc liền đi mẹ!
Ba đứa cùng nuốt vội búng cơm, hét lên.
- Nếu tui bay còn làm ầm ĩ vô trật tự kiểu đó thì đừng hòng.
Bà Niêm nói, giả vờ đút túi lá thư đã được rút ra khỏi bao. Lập tức ba đứa đồng thanh:
- Xin lỗi mẹ! Tụi con không làm ồn nữa. Đọc đi mẹ! Tội nghiệp tụi con mà.
Bà Niêm lại giở thư ra, thong thả đọc:
“Anh chị thân mến,
Em Bích của anh chị đang ốm nặng, một thứ bệnh vô phương cứu chữa: đó là bệnh H.H. Bệnh này hành hạ lại em rầu rĩ còn hơn mấy cô tiểu thư mang chứng tương tư. Em gầy guộc vì ngày không ăn, đêm không ngủ, em không thiết nói, biếng cả cười - hồi còn ở nhà em vui vẻ là thế! Đã bảy năm dài, em…”
- Bệnh H.H là bệnh gì mà ghê vậy hả ba?
Phan tò mò hỏi. Bà mẹ gắt nhẹ:
- Tụi bay có nghe không. Để mẹ đọc xong đã được không?
Rồi bà điềm nhiên đọc tiếp, không tỏ chút gì thắc mắc về hai chữ H.H trong thư của cậu em trai:
“… Đã bảy năm dài em lìa quê hương yêu dấu, gần như quên mất mùi vị của món tôm rim, nhưng em thèm nhất là mấy thứ bình dân như khoai lang, khoai mì, bánh tráng - nướng hay nhúng nước - Em nhớ tiếng ểnh ương ỳ oạp vàoo mùa mưa, tiếng ve sầu ra rả vào mùa hè. Chao ơi! Cả đến tiếng con thạch sùng tặc lưỡi nữa, em nhớ tuốt hết... Anh chị còn nhớ không? Những đêm Giáng sinh tại quê nhà? Trời chỉ vừa phải, người ta mặc áo len là cốt để chưng diện chớ không phải như bên này, lạnh điên vào tháng chạp dương lịch.
Em đau nặng quá rồi! Nếu em còn chần chờ do dự em sẽ gầy xác ve mất thôi, anh chị ạ!”
Ba đứa trẻ trố mắt lên, lo lắng thay cho cậu chúng, ông cậu mà chúng rất thương yêu, dù lâu lắm rồi chúng chỉ nghe chứ chưa hề thấy mặt. Nhưng chúng không dám ho he, sợ mẹ lại mắng, im lặng lắng nghe. Giọng mẹ chúng lại cao lên:
“… em phải trở về nước, đó là cách duy nhất để chữa khỏi bệnh H.H. em biết rõ như vậy. Anh chị có vui lòng cho em được tá túc tại nhà anh chị trong thời gian em trở về không? Em muốn gần lũ cháu. Em cam đoan sẽ tỏ ra đứng đắn, không làm anh chị phải chau mày - em cần làm gương cho các cháu chúng soi chung, em biết.
Em xin long trọng hứa:
1. Không đi chơi khuya để chị phải bận lòng đợi cửa.
2. Chùi chân thật kỹ trước khi vào nhà.
3. Khi ngồi không gác chân lên bàn.
4. Không mặc quần soọc khi đi cùng anh chị đi xem xinê.
5. Và chính em cam đoan mua vé cho anh chị.
Nếu dự tính được thực hiện em sẽ có mặt tại SAIGON vào tháng 7 tới đây bằng chiết tàu Santa-Maria.
Nếu vạn nhất - điều nào là nói phòng xa - em không về được kỳ này, em sẽ gieo mình xuống biển, chỗ sâu nhất, kết liễu cuộc đời vì không đủ sức để chứng H.H hành hạ nữa.
Em xin gửi đến anh chị lời chào thân mến và riêng các cháu, mỗi đứa một cái hôn. Quên, còn một điều khoản nữa, điều thứ 6: em đã bỏ thuốc lá, chắc chị hài lòng lắm? Song nếu về xứ, có thèm, em xin hứa sẽ không bao giờ hút thuốc lá trong nhà, mà có hút đi nữa, em hứa không có chuyện làm vung tàn bừa bãi.
Em Bích của anh chị. Kính thư."
Nhiều tiếng hoan hô vang dậy cả phòng ăn. Lũ trẻ làm ầm lên vì sung sướng quá. Cha chúng cũng tươi hẳn nét mặt:
- Hay lắm! Cậu ấy về nhằm về lúc chúng ta nghỉ hè.
- Hay thiệt chớ - Lai tiếp lời cha - nếu mà cậu về nhằm lúc con đi học thì chán chết đi.
- Cậu về vì mày chắc?
- Thôi, thôi! Cậu về vì tất cả chúng ta. Các con đừng cãi vã...
- Sai bét! Mẹ con mấy người đều sai bét. Nghe đây: Cậu Bích về vì chứng bệnh H-H hành cậu, chẳng vì ai cả hiểu chưa?
- Hoan hô ba! Ba thông minh quá! Hoan hô!
Yến tròn xoe mắt:
- Con chưa biết bệnh H.H là bệnh gì, ba giải nghĩa cho con đi.
- Con cũng không biết...
- H.H là hai chữ viết tắt của tiếng Hoài Hương, hiểu chưa?
- Hoài hương? Là nghĩa gì chớ?
- Con biết rồi - Phì lũ ngắt lời mẹ - Hoài là hoài niệm, là nhớ tới, là hướng về. Hương là quê hương, dễ ợt...
- À! Thằng này, mày chỉ được cái nhanh nhẩu đoảng. Biết làm sao hồi nãy không nói đi? Đợi mẹ…
- Trời ơi! Khó khăn gì. Tại em chưa kịp nghĩ ra, tại em mừng cậu về nên quýnh quá.
- Theo em nghĩ, cậu về với mợ, vui quá....
- Con nhỏ nói hay chưa? Ai bảo là cậu mày về với mợ? Mợ nào?
Mẹ nó nhướng mắt lên, gặn lại. Yến cười tủm tỉm:
- Thì mẹ đọc thơ cậu đó, con nghe có tiếng tata Maria, chắc mợ tên Maria, tên đẹp...
Ông Niêm bật cười:
- Lầm rồi con út của ba ơi! Santa Maria là tên chiếc tàu thủy chứ không phải tata Maria. Cậu chưa có vợ, nếu có cậu đã tin cho ta biết từ lâu.
- A! Vợ cậu Bích là chiếc tàu! A!...
Hai thằng anh trai cười chế giễu. Yến gần khóc là bà Niêm phải la con trai:
- Tụi bay không được trêu em. Chẳng được cái tích sự gì.
Ông Niêm nghiêm giọng:
- Thôi, mợ coi trả lời thư cho cậu ấy kẻo cậu trông. Nói là vợ chồng ta và lũ nhỏ đều mong sớm gặp cậu, nhớ dặn cậu chừng nào về phải đánh điện cho hay, đặng mình đón cho vui.
* * *

