14
Vào cách xa con đường nơi chiếc Cheyenne II đã đậu, còn đường xuyên rừng trở nên khó đi, làm Partridge và mọi người đi chậm lại.
Con đường mòn, nếu có thể gọi như vậy, cỏ mọc um tùm, che kín không thấy lối đi. Để qua được những đám dây rừng rậm rì treo trước mặt, họ phải dùng dao mở lối, hy vọng sẽ thấy khoảng trống ở phía sau. Tàn lá cây cao phủ kín trên đầu, bầu trời âm u báo hiệu cơn mưa sắp tới. Nhiều thân cây rất to lồi lõm, xù xì và lá mượt. Partridge nhớ đã đọc ở đâu là có tới tám ngàn loài cây khác nhau ở Peru. Ở tầng thấp hơn, các loại tre nứa, dương xỉ, dây leo và tầm gửi đan chằng chịt khắp nơi, tạo thành cái mà trong tài liệu anh đọc mô tả là “địa ngục màu xanh”.
Từ “địa ngục” thật thích hợp với hôm nay, vì cả bốn người đang phải chịu đựng cái nóng hầm hập như trong nồi hầm. Mồ hôi tuôn ra khắp người, và tệ hại hơn nữa là đám côn trùng, sâu bọ. Lúc đầu họ xoa thuốc chống muỗi khắp người, vừa đi lại vừa bôi thêm nhưng như O’Hara mô tả: “Lũ quỷ nhỏ này hình như thích thứ thuốc này hay sao ấy”.
Rất may là khi họ lại tìm thấy đường mòn, ở nhiều nơi tán lá ken dầy trên đầu làm cho cây cỏ đỡ rậm rạp, và vì thế họ đi cũng dễ dàng hơn. Rõ ràng không có con đường mòn này thì không thể đi được.
“Lối này chẳng mấy ai đi”, Fernandez nói. “chính thế mà lại hoá hay”.
Mục tiêu của họ là Nueva Esperanza, nhưng họ sẽ ở xa phía ngoài, tìm một vị trí cao hơn để từ đó, náu kín trong rừng, họ sẽ quan sát làng đó chủ yếu là vào ban ngày. Rồi tuỳ tình hình cụ thể họ sẽ tính toán kế hoạch hành động.
Toàn bộ khu vực rộng khoảng hơn một trăm dặm vuông, từ chỗ con sông Huallaga chảy qua, là rừng rậm xen lẫn vùng đồng bằng mấp mô. Song trên tấm bản đồ, đường mức tỷ lệ lớn Fernandez mang theo cho thấy gần mục tiêu của họ có mấy ngọn đồi, một ngọn có thể dùng làm đài quan sát. Từ chỗ họ đến Nueva Esperanza khoảng chín dặm, một khoảng cách có thể vượt qua trong điều kiện như thế này.
Một điều Partridge còn nhớ là thông báo thứ hai của Jessica trong cuốn băng ghi hình. Như Crawford Sloane viết trong thư dán kín mà Rita cầm tay sang Peru cho anh, Jessica đã gãi tai trái, có nghĩa là: việc canh phòng ở đây đôi khi lỏng lẻo. Từ ngoài tấn công vào có thể thành công. Không lâu nữa, sẽ biết thông tin đó chính xác hay không.
Còn lúc này, họ vẫn đang vật lộn với rừng rậm.
Mãi xế chiều hôm ấy, khi mọi người đã gần kiệt sức, Fernandez mới báo là có thể đã gần đến Nueva Esperanza. “Tôi nghĩ chúng ta đã đi được khoảng bảy dặm”, anh ta nói, rồi dè chừng trước: “Không được để ai thấy chúng ta. Nếu nghe có người tới, chúng ta lập tức phải tản vào rừng”.
Nhìn đám cây rậm đầy gai góc hai bên lối mòn, Minh Văn Cảnh nói: “Anh nói chí phải, nhưng hy vọng chúng ta không phải làm thế”.
Ngay sau lúc Fernandez nói, đường trở nên dễ đi hơn và có nhiều lối mòn khác cắt ngang lối họ. Fernandez giải thích rằng toàn bộ vùng đồi dốc này là vùng trồng côca, mà vào lúc khác trong năm, hoạt động nhộn nhịp. Trong mùa trồng côca, khoảng từ bốn đến sáu tháng, cây côca ít cần phải chăm nom; vì thế, người trồng phần lớn sống ở nơi khác, đến vụ thu hoạch mới đến trở lại và ở trong nữhng lán tren đồi.
Dùng bản đồ và địa bàn, Fernandez tiếp tục dẫn đường cho ba người kia, đồng thời họ biết là đang leo ngược đường đồi vì bước đi phải mất nhiều sức hơn. Một tiếng sau, họ tới một khoảng đồi trống và nhìn thấy một chiếc lán trong đám cây rừng.
Tới lúc này Partridge thấy rõ Fernandez biết vùng này rõ hơn anh ta thừa nhận trước đây. Khi được hỏi, anh ta thú nhận: “Trước đây tôi đã đến đây nhiều lần”.
Partridge nén tiếng thở dài. Có phải Fernandez cũng là một người trong đám người có vẻ đàng hoàng song lại kiếm lời một cách ranh ma, vụng trộm trong nghề buôn bán ma tuý ở đâu cũng gặp này không? Mỹ Latinh, đặc biệt là Caribe đầy những kẻ vờ vĩnh loại này; rất nhiều người trong số đó ở những chức vụ cao.
Như đoán được điều anh đang nghĩ, Fernandez nói thêm. “Một lần tôi tới đây dự cuộc “đi săn” mà chính phủ nước tôi tiến hành theo yêu cầu của Bộ Ngoại giao nước ông. Có một vị khách, tôi nghĩ là ông Bộ trưởng Bộ tư pháp và các phương tiện thông tin báo chí cũng được đưa đến. Tôi là một người trong số đó”.
Mặc dù có ý nghĩ lúc trước, Partridge bất giác mỉm cười trước cái từ “đi săn” mà anh ta dùng. Các phóng viên dùng từ đó với ý miệt thị khi chính phủ một nước dàn dựng cảnh chống ma tuý để gây ấn tượng với phái đoàn Mỹ đang ở thăm nước đó. Partridge có thể hình dung ra cảnh đó ở đây; quân đội do máy bay trực thăng chở tới “đột nhập” khu vực này, nhổ và đốt một vài mẫu cây côca, và dùng thốc nổ phá huỷ một hai xưởng chế biến. Các vị khách sẽ ca ngợi cố gắng chống ma tuý của của chính nước chủ nhà, vì không biết hoặc giả bộ không biết việc hàng ngàn mẫu côca và hàng chục xưởng chế biến gần đó vẫn không hề bị đụng đến.
Ngày hôm sau, ảnh các vị khách xuất hiện trên báo chí, cùng những lời tuyên bố của họ; sau đó đến lượt truyền hình lặp lại. Các phóng viên, tuy biết mình đang dự một trò đánh đố, nhưng không bỏ qua được vì những người khác cũng đang ghi ghi chép chép, nên đành vuốt bụng mà nuốt cho trôi.
Chuyện đó đã xảy ra ở Peru, một nước chẳng phải độc tài hay cộng sản, nhưng Partridge nghĩ không lâu nữa nó sẽ là một trong hai loại ấy.
Fernandez kiểm tra khoảng trống họ vừa tới, kể cả chiếc làn, hài lòng thấy không có ai ở đó. Sau đó anh ta lại dẫn mọi người theo hướng nam vào rừng. Mới đi được một đoạn, Fernandez ra hiệu cho mọi người dừng lại. Lát sau, anh rẽ đám dương xỉ và vẫy mọi người lại nhìn. Từng người một tới coi, thấy một số ngôi nhà xiêu vẹo cách chỗ họ đứng chừng nửa dặm và thấp hơn khoảng hai trăm phít. Có khoảng hơn hai chục túp lều trên bờ sông. Một con đường lầy lội chạy từ các ngôi nhà ra bến sông bằng gỗ xù xì neo mấy chiếc thuyền đủ loại chắp vá.
Partridge nói nhỏ: “Mọi người giỏi thật”. Rồi anh nói thêm, giọng vui vẻ: “Tôi nghĩ chúng ta đã tìm thấy Nueva Esperanza”.
* * *
Trên đường đi, Partridge trao cho Fernandez quyền dẫn đường, nhưng tới lúc này anh trở lại nắm quyền chỉ huy.
“Chả mấy lúc nữa là trời tối”, anh nói với mọi người. Mặt trời đã xuống gần đường chân trời; chuyến đi kéo dài hơn họ tưởng rất nhiều. “Tôi muốn quan sát được càng nhiều càng tốt trước khi trời tối. Minh, hãy mang ống nhòm tới đây với tôi. Fernandez và Ken đứng cảnh giới, một anh canh chừng, đề phòng có người phía sau tới. Tuỳ hai anh phân công nhau, nếu có người báo tôi ngay”.
Gần tới vạt rừng mà từ phía dưới không nhìn thấy họ, Partridge nằm xuống, bò, mang theo chiếc ống nhòm, Minh cũng làm theo, đang bò cạnh anh. Họ dừng lại khi đã nhìn rõ phía dưới, người khuất sau lùm cây.
Partridge từ từ giương ống nhòm quan sát khu bên dưới.
Không thấy động tĩnh gì. Ngoài bến sông, hai người đàn ông đang tháo động cơ gắn ở sau thuyền. Một phụ nữ đem đổ một chậu rác ở sau túp nhà rồi lại trở vào. Một người từ trong rừng đi về phía một nhà khác và mở của vào. Hai con chó gầy giơ xương đang bới tìm ăn trong đống rác. Rác rưởi quăng lung tung khắp nơi. Nhìn chung Nueva Esperanza có vẻ là một khu ổ chuột trong vùng rừng rậm.
Partridge chiếu ống nhòm quan sát từng nhà một, mỗi nhà mấy phút. Có thể các con tin đang bị giam giữ trong những ngôi nhà đó, nhưng không biết rõ là ở nhà nào. Anh nghĩ rõ ràng cần phải quan sát hẳn một ngày, nên không thể ngay đêm nay vào cứu mấy người và đưa đi bằng máy bay vào sáng ngày mai. Anh nằm im, chờ đợi và quan sát trong khi trời tối hẳn.
Ở xứ nhiệt đới bao giờ cũng vậy, trời sập tối ngay khi mặt trời lặn. Ánh đèn leo lét xuất hiện trong các nhà, xoá đi dấu vết còn lại của một ngày. Bỏ ống nhòm xuống, Partridge giụi mắt đang mỏi căng sau hơn một giờ tập trung quan sát phía dưới. Anh tin là hôm nay họ không thể thấy gì thêm.
Đúng lúc đó, Minh kéo tay anh, chỉ về phía những túp nhà bên dưới. Partridge lại đưa ông nhòm lên quian sát. Lập tức anh trông thấy trong ánh sáng lờ mờ, bóng một người đàn ông đi về phía cuối đường giữa hai dãy nhà, có vẻ đi làm một việc gì đó có định trước. Có cái gì đó khang khác, Partridge căng mắt nhìn và đã nhận ra. Người kia đang đeo trên vai khẩu súng trường. Cả Partridge và Minh tiếp tục dùng ống nhòm theo dõi.
Cách xa các ngôi nhà khác là một túp nhà nhỏ trơ trọi. Trước đó, Partridge cũng đã thấy nó nhưng không chú ý vì chẳng có gì đặc biệt. Lúc này, gã đàn ông đã tới và vào trong ngôi nhà. Tường trước ngôi nhà có một chỗ hổng, hắt ra ánh đèn mừ mờ.
Họ vẫn tiếp tục quan sát đến mấy phút nhưng không thấy gì. Rồi từ trong nhà đó, bóng một người khác bước ra. Ngay cả trong ánh đèn mờ, họ cũng thấy rõ hai điều: đây là một gã đàn ông khác, và gã này cũng mang súng.
Partridge hồi hộp tự hỏi có phải họ vừa chứng kiến việc đổi gác tù hay không? Cần phải xác minh thêm, nên họ sẽ phải tiếp tục theo dõi. Song rất có thể là túp nhà đứng trơ trọi kia chính là nơi Jessica và Nicky đang bị giam giữ.
Anh cố không nghĩ tới khả năng là cho tới một hai hôm trước, Angus Sloane cũng bị giam ở đấy.
* * *
Mấy giờ trôi qua.
Partridge bảo mọi người: “Chúng ta cần phải biết các hoạt động ban đêm ở Nueva Esperanza thế nào, trong bao lâu và khi nào các nhà tắt đèn đi ngủ. Tôi muốn ghi lại tất cả những cái đó”.
Theo yêu cầu của Partridge, một mình Minh tiếp tục ở lại chờ quan sát một giờ nữa, sau đó Ken O’Hara sẽ đến thay anh ta.
“Mọi người cố mà nghỉ ngơi”, Partridge ra lệnh. “Nhưng phải luôn có người ở vị trí quan sát và cảnh giới, tức là chỉ có hai người có thể ngủ một lượt”. Sau khi trao đổi, họ quyết định sẽ đổi gác cho nhau hai tiếng một lần.
Trước đó, Fernandez đã buộc võng, mắc màn trong túp lều họ tìm thấy khi mới đến. Nằm võng cũng chẳng thoải mái gì, song sau một ngày mệt rã rời, chẳng ai để ý và đều lăn ra ngủ. Đêm ấy, khi trời đổ mưa to, mái lều dột, mọi người càng thấy việc mang theo ni lông là đúng. Fernandez khéo léo phủ kín võng, nên những người đang ngủ không bị ướt. Những người ở ngoài co ro trong tấm ni lông; hơn nửa tiếng sau cơn mưa mới tạnh.
Ăn uống cũng không thành vấn đề. Mỗi người tự lo đồ ăn thức uống, nhưng tất cả đều biết rằng phải dè xẻn đồ ăn khô. Số nước mang theo từ Lima hôm trước đã uống hết, nên mấy tiếng trước đó, Fernandez đã lấy nước suối vào đầy các chai và cho thuốc khử trùng vào. Anh đã báo trước là hầu như nước ở đây đều bị ô nhiễm vì hoá chất mà các nhà chế biến ma tuý sử dụng. Nước trong chai có vị rất kinh, nên mọi người chỉ uống rất ít.
Rạng sáng hôm sau, Partridge đã có câu trả lời cho những vấn đề có liên quan đến các hoạt động về đêm ở Nueva Esperanza; không có gì nhiều ngoài tiếng ghi ta trong cơn say từ nhà vọng ra. Tất cả chỉ diễn ra trong khoảng ba tiếng rưỡi từ khi trời tối. Đến một rưỡi sáng, cả làng im lìm và tối đen.
Cứ cho giả thiết của Partridge về tụi gác và nơi giam con tin là đúng, họ vẫn vần biết bao lâu chúng đổi gác một lần, và vào lúc nào. Cho tới sáng, họ vẫn chưa biết được điều đó. Có thể, chúng thay gác lúc nào đó trong đêm, song họ đã không nhận thấy.
Việc theo dõi tiếp tục cả ngày hôm sau.
Việc cảnh giới và cử người theo dõi vẫn được duy trì; ngay cả ban ngày, võng vẫn được mắc cho người không phải làm nhiệm vụ. Mọi người đều tranh thủ nằm nghỉ trên võng, hiểu rằng họ cần phải giữ sức cho những việc về sau.
Buổi chiều, đến lượt nằm nghỉ trên võng, Partridge trầm ngâm suy nghĩ về những gì anh và mọi người đang làm, mơ màng tự hỏi: Tất cả chuyện này là thực ư? Một lực lượng nhỏ, không chuyên như thế này mà định tiến hành cứu con tin sao? Chỉ vài giờ nữa chứ không hơn, họ sẽ phải lao vào chém giết hoặc bị giết. Như thế có phải là điên rồ không? Giống như câu trong Macbeth: “…cơn sốt thất thường của cuộc đời…”.
Anh là một phóng viên chuyên nghiệp, đúng không? Một phóng viên truyền hình, người theo dõi đưa tin chiến tranh và xung đột, chứ không phải là kẻ trong cuộc. Thế mà bỗng nhiên, tự anh quyết định trở thành một kẻ phiêu lưu, một lính đánh thuê, một kẻ đóng vai người lính. Liệu việc đổi vai như vậy có phải lẽ không?
Dù câu trả lời là thế nào, vẫn có một câu hỏi khác. Nếu anh, Harry Partridge không làm được những gì cần làm ở đây, vào lúc này, thì ai sẽ làm được?
Rồi nữa: một phóng viên đưa tin chiến tranh, nhất là phóng viên truyền hình luôn gần kề với bạo lực, chấn thương, trọng thương và chết đột ngột. Anh ta, hoặc chị ta luôn sống trong nguy hiểm, chia sẻ, nhiều khi chịu đựng nguy hiểm, để rồi đêm đêm đưa chúng đến các phòng ở gọn gàng, sạch sẽ của các gia đình trong các thành phố của nước Mỹ, nơi chúng chỉ còn là những hình ảnh trên màn hình, và vì vậy, không còn nguy hiểm đối với người xem.
Thế nhưng, những hình ảnh ấy ngày càng trở nên nguy hiểm, ngày càng gần hơn, cả về thời gian lẫn không gian, và chẳng bao lâu sẽ không chỉ là những hình ảnh trên tuyền hình, mà trở thành một thực tế phũ phàng trong các thành phố và đường phố Mỹ, nơi tội ác đã mò tới. Giờ đây, bạo lực và khủng bố trong cái nửa thế giới bị thiệt thòi, bị chia rẽ và bị chiến tranh tàn phá ấy đã đến gần, ngày càng gần nước Mỹ hơn.
Đó là điều không tranh khỏi, là điều các học giả quốc tế đã tiên liệu từ lâu.
Học thuyết Monroe, đã từng được coi là lá bù hộ mệnh của Mỹ không còn thiêng nữa; bây giờ ít người còn nói tới học thuyết ấy. Việc bọn tay chân của nước ngoài bắt cóc người nhà Sloane ngay tại nước Mỹ cho thấy khủng bố quốc tế đã lan tới nơi này. Rồi sẽ còn nhiều, rất nhiều vụ đánh bom khủng bố, bắt cóc con tin, bắn giết trên đường phố. Bi kịch là ở chỗ không có cách nào tránh được điều ấy. Và bi kịch không kém, dù thích hay không cũng vậy, là rất nhiều người không phải trong cuộc chẳng bao lâu cũng phải dính vào.
Vì vậy vào lúc này, Partridge nghĩ, việc anh và ba người kia tham gia vào vụ này không phải là không thực. Anh ngờ rằng nhất là Minh sẽ không thấy gì mâu thuẫn trong tình huống này. Minh, người đã trải qua và sống sót trong cuộc chiến tranh chia rẽ khủng khiếp ngay trên đất nước của anh ta, sẽ chấp nhận việc họ hiện đang làm dễ dàng hơn những người khác.
Trùm lên tất cả những suy nghĩ ấy của anh, và theo một cách rất riêng tư, là hình ảnh Jessica. Jessica có lẽ đang gần kề bên anh, đâu đó trong túp nhà kia. Trong tâm trí của anh, những kỷ niệm và tính cách của Jessica-Gemma hoà trộn với nhau.
Sau đó… anh thấy thoàn thân trã rời… và ngủ thiếp đi.
Tỉnh dậy trước khi đến lượt ra nơi quan sát khoảng mười lăm phút, anh nhảy khỏi võng và ra ngoài kiểm tra tình hình chung.
Vẫn như lúc trước, người cảnh giới không thấy có gì cần phải báo động. Tuy nhiên, nơi quan sát đã có được những thông tin và nhận định cụ thể:
Một người mang súng trường đến thay cho người kia ở đúng nơi mà họ thấy tối hôm trước. Như vậy có thể là mấy người đang bị giam giữ trong ngôi nhà đứng tách biệt những nhà khác ấy. Có lẽ cứ bốn giờ đổi gác một lần, nhưng vào lúc nào thì chưa biết chính xác. Việc thay gác có khi chậm đến hai mươi phút, và Partridge tin rằng điều đó cho thấy bọn gác cũng làm cho qua chuyện, xác minh điều Jessica bảo: việc canh gác ở đây đôi khi lỏng lẻo.
Buổi sáng có một phụ nữ đến chỗ mà họ cho là nơi giam giữ các con tin hai lần, mang theo những thứ có lẽ trong đựng đồ ăn. Cũng chính người đem đồ ăn tới này lại ra khỏi nhà hai lần, mang bô đổ vào rừng.
Trong làng, chỉ có căn nhà nói trên là có gác hoặc trạm gác.
Tuy bọn gác được trang bị súng trường tự động, song trông chúng không có vẻ là lính, hoặc đã được huấn luyện quy củ.
Ban ngày, việc ra vào Nueva Esperanza đều bằng thuyền. Không thấy đường ô tô. Các động cơ gắn ở thuyền hình như không có khoá; vì vậy, nếu thoát ra bằng đường sông, có thể dễ dàng lấy trộm được thuyền. Mặt khác, còn rất nhiều thuyền mà chúng có thể dùng để đuổi theo chiếc bị mất. Rất thạo thuyền, Ken O’Hara xác định được ngay những thuyền tốt nhất.
Những người quan sát đều có cảm giác, mới chỉ là cảm giác, bọn đang bị họ theo dõi có vẻ ung dung, chứng tỏ chúng không nghĩ người ngoài có thể đột nhập vào được. “Nếu không”, Fernandez vạch rõ, “chúng đã tổ chức tuần tra khu vực xung quanh, kể cả ở đây, để tìm những người như chúng ta”.
Chập tối, Partridge gọi ba người kia lại và bảo: “Chúng ta quan sát như vậy là đủ. Tôi nay chúng ta sẽ vào làng”.
Anh bảo Fernandez: “Anh sẽ dẫn đường. Tôi muốn đến được căn nhà đó vào lúc hai giờ sáng. Dọc đường mọi người phải giữ im lặng. Nếu muốn báo cho nhau cái gì phải nói thầm”.
Minh hỏi: “Anh có phân nhiệm vụ chiến đấu không, Harry?”.
“Có”, Partridge trả lời. “Tôi sẽ vào gần xem xét, rồi lọt vào nhà trước. Tôi muốn anh Minh theo sát bảo vệ phía sau cho tôi. Fernandez ở ngoài theo dõi các nhà xem có ai ra không, rồi nhập bọn chúng tôi khi cần”.
Fernandez gật đầu.
Quay sang phía O’Hara, Partridge bảo: “Ken, anh ra thẳng bến sông. Tôi đã quyết định chúng ta thoát ra bằng thuyền. Tôi không biết tình trạnh sức khoẻ của Jessica và Nicky hiện giờ ra sao, song có thể họ không đủ sức cho chuyến đi như lúc ta tới”.
“Hiểu rồi”, O’Hara bảo. “Tôi nghĩ anh muốn tôi kiếm một hiếc thuyền”.
“Đúng, và nếu có thể được, anh hãy phá hỏnng những chiếc khác. Nhưng nhớ là đừng gây tiếng động”.
“Nhưng khi nổ máy sẽ có tiếng ồn…”. “Không”, Partridge nói. “chúng ta sẽ phải bơi thuyền ra giữa sông, rồi để thuyền trôi xuôi. Rất may sông chảy đúng theo hướng ta đi. Khi thuyền đã cách xa làng mới nổ máy”.
Ngay cả trong lúc đang nói, Partridge cũng biết đó là trong trường hợp mọi chuyện đều trôi chảy. Nếu không, họ sẽ phải tìm mọi cách xử lý các tình huống ngay tại chỗ, kể cả sử dụng vũ khí.
Nhớ đến việc hẹn hãng Aerolibertad cho máy bay tới đón vào lúc tám giờ sáng, Fernandez hỏi: “Anh đã quyết định máy bay sẽ tới đón ở đâu chưa, ở Sion hay chỗ khác?”.
“Khi đi thuyền tôi sẽ chọn, tuỳ thuộc vào kết quả ta làm và có bao nhiêu thời gian”.
Việc cần làm lúc này, Partridge kết luận, là kiểm tra vũ khí, bỏ bớt các trang bị không cần thiết cho gọn nhẹ và có thể đi được nhanh.
Mọi người đều cảm thấy xen lẫn nỗi lo âu.
15
Sáng thứ bảy, sau khi thấy chiếc Cheyenne II của Aerolibertad cất cánh, Rita Abrams trở lại Lima và hoàn toàn bất ngời vì hai lẽ.
Một là, cô không hề nghĩ Crawford Sloane sẽ có mặt ở đây. Bức điện để trong phòng dành cho CBA ở Entel Peru báo sáng sớm hôm sau Sloane sẽ tới Lima; như vậy thực ra là đã đến đây rồi. Cô vội vàng gọi điện tới khách sạn Cesar và nói Sloane sẽ thuê buồng ở. Vẫn chưa thấy Crawford tới nhận phòng, nên cô để lại mấy chữ báo cho anh biết cô đang ở đâu, và đề nghị anh gọi điện cho cô.
Hai là, và cái này còn bất ngờ hơn, là bức thư của Leslie Chippingham gửi bằng fax cho Harry Partridge. Đề nghị kèm theo là cho thư vào phong bì đề ngoài “thư riêng” rõ ràng không được người điều khiển máy để ý, nó được để nguyên như vậy cùng các thứ khác, nên ai cũng có thể đọc được. Rita đọc và không tin vào mắt mình.
Harry đã bị CBA cho thôi, bị đuổi việc! “Có hiệu lực ngay lập tức” như trong thư viết, và anh sẽ phải rời Peru “tốt nhất” là vào thứ bảy, tức là hôm nay, “dứt khoát” không được chậm quá chủ nhật! Nếu không có chuyến bay hàng ngày đến Mỹ, anh được phép thuê máy bay riêng. Gớm chưa!
Càng nghĩ, Rita càng thấy chuyện đó thật lố bịch và vô nhân đạo, nhất là vào lúc này. Cô tự hỏi, liệu việc Crawford đến Lima có liên quan gì tới chuyện đó không? Cô tin là có, và nóng lòng chờ điện thoại của Sloane trong khi càng thêm tức giận trước cách đối xử tàn tệ với Harry.
Còn bây giờ, cô không có cách nào báo cho Partridge biết nội dung thư, vì anh đã ở trong vùng rừng rậm, đang trên đường tới Nueva Esperanza.
* * *
Sloane không gọi điện thoại. Sau khi đến khách sạn và thấy giấy nhắn của Rita, anh lập tức đi tắc xi đến Entel. Trước đây anh đã từng có việc tới Lima, nên anh biết đường đi lối lại.
Câu đầu tiên anh hỏi Rita là: “Harry đâu?”. “Trong rừng rậm, liều mình để cứu vợ con anh”, cô trả lời. Rồi cô lôi ngay bức thư gửi fax ra và hỏi: “Thế này là thế nào?”.
“Chị bảo sao?” Crawford Sloane cầm bức thư đọc, trong khi Rita đứng nhìn. Anh đọc bức thư hai lần, rồi lắc đầu: “Chắc là nhầm. Nhất định là thế”.
Rita hỏi, vẫn với giọng cay nghiệt: “Không lẽ anh định bảo tôi anh không biết gì về việc này sao?”. “Tất nhiên tôi không biết”, Sloane bực dọc lắc đầu. “Harry là bạn của tôi. Ngay lúc này, tôi cần anh ấy hơn bất cứ người nào khác trên đời. Xin chị cho tôi biết anh ấy đang làm gì trong từng rậm – có phải chị vừa nói vậy không?”. Rõ ràng Sloane coi bức thư kia là vô lý, không cần để ý đến nó cho tốn thời gian.
Rita cố nuốt nước bọt, nước mắt đầm đìa. Cô giận mình đã hiểu sai và không công bằng. “Ôi, lạy Chúa, Crawford! Tôi xin lỗi!”. Đến lúc này cô mới nhận thấy những nếp nhăn vì căng thẳng trên khuôn mặt người phát thanh viên, cũng như nỗi đau khắc khoải trong ánh mắt anh. Trông anh tiều tuỵ đi nhiều so với lần cuối cô thấy anh cách đây tám ngày. “Tôi cứ nghĩ chắc thế nào anh cũng… Thôi, không nói chuyện đó nữa”.
Bình tĩnh lại, Rita nói: “Đây là những gì Harry và mấy người khác đang cố gắng làm”. Cô nói lại chuyến đi tới Nueva Esperanza và những việc Harry hy vọng làm được. Cô cũng nói kỹ về những việc trước đó, giải thích lo lắng của Partridge là nói chuyện qua điện thoại không bảo đảm và đó là lý do tại sao anh không báo New York biết kế hoạch của anh.
Cuối cùng, Sloane bảo: “Tôi muốn nói chuyện với người lái máy bay hôm ấy xem sự thể thế nào khi anh ta chia tay Harry và mấy người kia. Tên anh là gì?”. “Zileri”, Rita trả lời, rồi nhìn đồng hồ. “Có lẽ anh ta chưa về đến nơi, song tôi sẽ gọi điện thoại rồi chúng ta cùng đi. Anh ăn sáng chưa?”.
Sloane lắc đầu.
“Trong nhà này có quầy cà phê. Ta xuống đó đi”.
Vừa ăn bánh mỳ, uống cà phê, Rita vừa nói, giọng nhỏ nhẹ: “Crawford ạ, chúng tôi nhất là Harry đều bàng hoàng và đau buồn khi nghe tin về cái chết của cha anh. Tôi biết anh ấy tự trách mình đã không hành động nhanh hơn, thực tình chúng tôi không có được thông tin…”.
Sloane ra hiệu ngăn lại: “Tôi không bao giờ trách Harry về bất cứ chuyện gì xảy ra, ngay cả lúc này. Không ai có thể làm hơn những gì anh ấy đã làm”.
“Tôi cũng thấy thế” Rita đáp. “Chính vì vậy bức thư này là điều không thể tin được”. Cô lại lôi ra bức thư Leslie Chippingham ký và gửi qua fax. “Không phải nhầm đâu, Crawford ạ. Có chủ đích đấy. Không ai nhầm kiểu này đâu”.
Anh lại đọc bức thư lần nữa. “Khi trở lên, tôi sẽ gọi cho Leslie ở New York”.
“Trước khi làm việc ấy, ta hãy xem xét điều này. Có cái gì đó ở sau việc này, mà cả tôi và anh đều không biết. Ở New York hôm qua có chuyện gì khác thường không?”.
“Chị định nói là ở CBA ư?”.
“Vâng”.
Sloane ngẫm nghĩ. “Tôi không nghĩ vậy…à, tôi có nghe Leslie Chippingham được Margot Lloyd Mason gọi lên gặp một cách rõ ràng là rất khẩn cấp. Anh ta qua bên Stonehenge, nhưng tôi không biết là về chuyện gì”.
Rita chợt nghĩ ra. “Có thể chuyện liên quan đến Globanic chăng? Có lẽ vì cái này”. Cô mở túi xách, lấy ra mấy tờ giấy Harry mới đưa sáng nay.
Sloane cầm mấy tờ giấy và đọc. “Thú vị thật! Một cuộc đổi chác lớn chuyển nợ thành bất động sản. Cả đống tiền đấy. Chị kiếm đâu ra cái này thế?”.
“Harry đưa cho tôi”. Rồi cô kể lại những gì Partridge đã nói với cô trên đường ra sân bay – làm thế nào anh lại có được tài liệu này từ tay ông Sergio Hurtado, bình luận viên của đài phát thanh Peru, người định công bố tin này trên đài vào tuần tới. Rita nói thêm: “Harry bảo tôi anh ấy không có ý định sử dụng tin này. Anh ấy bảo, đó là cái ít ra chúng ta có thể làm cho Globanic, vì họ đã nuôi sống chúng ta”.
“Có thể có liên quan giữa cái này với bức thư thôi việc”, Sloane, có vẻ trầm ngâm. “Tôi thấy có khả năng. Bây giờ ta lên gọi điện cho Leslie”.
“Khi lên đó có một việc tôi muốn làm trước đã”, Rita nói.
“Việc đó” là mời Victor Velasco đến.
Mấy phút sau, khi ông giám đốc ban quốc tế của Entel xuất hiện, Rita bảo ông: “Tôi muốn dùng tuyến điện thoại chắc chắn không có ai nghe trộm để nói chuyện với New York”.
Velasco có vẻ bối rối. “Chị có lý do để cho rằng…”.
“Tôi có”.
“Mời chị tới văn phòng của tôi. Chị có thể dùng điện thoại ở đó”.
Rita và Crawford Sloane theo ông giám đôc tới một văn phòng trải thảm, trông đẹp mắt ở ngay cùng tầng. “Xin cứ dùng bàn tôi”, ông nói và chỉ chiếc điện thoại màu đỏ. “Đường dây đó rất an tàon. Tôi đảm bảo điều đó. Đó là máy gọi thẳng”.
“Cám ơn ông”. Vì Partridge đang trên đường tới Nueva Esperanza, Rita không muốn khi nói điện thoại để việc của anh ở đó đến tai nhà chức trách Peru.
Velasco gật đầu chào rất nhã nhặn, rồi ra khỏi phòng và khép kín cửa lại.
Ngồi bên bàn, Sloane trước tiên gọi số máy của Leslie Chippingham ở ban tin CBA. Không ai trả lời máy; vào sáng thứ bảy, điều ấy cũng không có gì lạ. Cái lạ là ở chỗ ông Chủ tịch Ban tin không để lại tổng đài số máy có thể gọi tiếp cho ông. Xem trong sổ tay, Sloane thử gọi số máy thứ ba, là máy ở nhà Chippingham phía ngoài Manhattan. Cũng không ai trả lời máy. Còn một số máy nữa ở Scarsdale, nơi Chippingham đôi khi tới nghỉ vào cuối tuần. Ông ta cũng không có ở đó.
“Hình như sáng nay anh ta cố tình lánh mặt”, Sloane nói. Anh ngồi bên bàn, vẻ trầm ngâm như đang cân nhắc trước khi quyết định.
“Anh nghĩ gì vậy?”, Rita hỏi.
“Gọi cho Margot Lloyd Mason”. Anh nhấc chiếc điện thoại màu đỏ và bảo “Tôi sẽ gọi”.
Sloane quay số quốc tế gọi về Mỹ, rồi số điện thoại ở Stonehenge. Người trực tổng đài nói với anh: “Bà Lloyd Mason hôm nay không đến văn phòng”.
“Tôi là Crawford Sloane. Xin chị cho tôi số máy của bà ở nhà”.
“Thưa ông Sloane số đó không ghi trong danh bạ. Tôi không được phép cho ai số máy ấy”.
“Nhưng chị biết số máy đó?”.
Người trực tổng đài ngập ngừgng nói: “Thưa ông, tôi biết”.
“Tên chị là gì?”.
“Noreen”.
“Một cái tên rất đẹp. Tôi bao giờ cũng thích cái tên ấy. Bây giờ xin chị hãy nghe cho kỹ, Noreen. Chị nhận được giọng tôi chứ?”.
“Ồ, có chứ, thưa ông. Đêm nào tôi cũng theo dõi bản tin. Nhưng gần đây tôi thấy lo…”.
“Cám ơn chị, Noreen. Tôi cũng vậy. Này, tôi đang ở Lima, Peru gọi về và tôi nhất định phải nói chuyện với bà Lloyd Mason. Nếu chị cho tôi biết, tôi hứa sẽ không bao giờ hé răng về chuyện lấy đâu ra số máy đó, chỉ trừ lần sau đến Stonehenge, tôi sẽ đích thân đến tổng đài cám ơn chị”.
“Ôi, ông sẽ làm thế thật ư, ông Sloane? Chúng tôi sẽ rất vui mừng gặp ông”.
“Tôi bao giờ cũng giữ đúng lời hứa. Số máy thế nào, Noreen”.
Chị ta nói số máy và anh ghi lại.
Lần này, khi chuông đổ lần thứ hai, một giọng đàn ông có vẻ là người quản gia trả lời điện thoại. Sloane nói tên mình và xin nói chuyện với bà Lloyd Mason.
Anh đợi mấy phút, rồi nghe giọng không lẫn vào đâu được của Margot “Chuyện gì vậy?”.
“Tôi là Crawf, gọi từ Lima về”.
“Ông Sloane thì ra là thế. Tôi chưa hiểu ại sao ông gọi cho tôi, mà lại gọi số máy ở nhà riêng. Nhưng trước tiên, tôi xin chia buồn về cái chết của cụ nhà”.
“Cám ơn bà”.
Rất lạ là đối với một người tầm cỡ như anh, anh và bà chủ tịch hãng CBA chưa bao giờ gọi nhau bằng tên riêng, và rõ ràng bà ta có ý định giữ nguyên như thế. Nghe giọng lãnh đạm của bà ta, anh cho rằng nếu hỏi thẳng, anh sẽ chẳng biết được điều gì. Vì thế, anh quyết định sử dụng mánh khoé cũ rích của cánh nhà báo; mánh khoé này thường có kết quả, ngay cả khi gặp những người rất thạo đời.
“Bà Lloyd Mason. Hôm qua, khi bà quyết định đuổi Harry Partridge khỏi CBA, tôi cứ tự hỏi không hiểu bà có biết anh ấy làm được bao nhiêu là việc trong toàn bộ cái cố gắng tìm cứu vợ con và cha tôi không?”.
Bà ta trả lời, giọng rít lên. “Ai nói với anh đó là quyết định của tôi?”.
Anh rất muốn bảo: “Chính bà vừa nói”, nhưng kìm lại được và nói: “Giới làm tin luôn phải phối hợp với nhau chặt chẽ, nên hầu như không cái gì có thể giữ bí mật được. Chính vì thế tôi mới gọi cho bà”.
Margot độp ngay: “Lúc này tôi không muốn bàn về chuyện gì”.
“Thật đáng tiếc”, Sloane nói rất nhanh trước khi bà ta kịp dập máy, “bởi vì cứ nghĩ bà có thể muốn nói về mối liên hệ giữa việc đuổi Harry và hợp đồng lớn chuyển nợ thành bất động sản mà Globanic đang dàn xếp với Peru. Có phải những tin trung thực của Harry đã làm phật ý người có quyền lợi trong hợp đồng ấy không?”.
Đầu dây bên kia im lặng rất lâu; anh nghe tiếng thở của Margot trong máy. Sau đó, bà ta dịu giọng hỏi: “Anh nghe tin đó ở đâu?”.
Thì ra là có liên quan!
“A”, Sloane nói. “Thực tế là Harry Partridge biết việc dàn xếp chuyển nợ ấy. Anh ấy là một phòng viên hạng nhất, một trong những tay giỏi nhất của giới làm tin và ngay lúc này đây, anh ấy đang liều mình vì CBA. Thế nhưng Harry quyết định không đưa tin đó. Theo chỗ tôi biết, anh ấy bảo: “Đó là cái ít ra tôi có thể làm cho Globanic, người nuôi sống chúng ta”.
Lại im lặng. Rồi Margot hỏi: “Như vậy là tin đó sẽ không được công bố?”.
“Ấy ấy, đó lại là chuyện khác”. Giá như gặp lúc khác, Sloane nghĩ, chắc anh sẽ rất thích chí, song vào lúc này, anh cảm thấy chán nản vô cùng. “Một phóng viên đài phát thanh ở Lima, người moi tin này, có cả bản sao thoả thuận ấy, và định đưa tin và tuần tới. Tôi nghĩ tin đó sẽ được đưa lại ở ngoài Peru. Bà cũng nghĩ vậy chứ?”.
Margot không trả lời. Không biết bà ta đã dập máy hay không, anh hỏi: “Bà vẫn nghe chứ?”.
“Vâng”.
“Xin hỏi có phải bà đang nghĩ giá bà đừng làm cái việc bà đã làm với Harry Partridge không?”.
“Không”. Câu trả lời có vẻ lửng lơ, tựa như đầu óc bà đang ở tận đâu đâu. “Không”, bà ta nhắc lại. “Tôi đang nghĩ đến chuyện khác”.
“Bà Lloyd Mason”, Crawford nói với giọng cay độc mà đôi lúc anh vẫn dùng khi dọc những tin đáng ghê tởm trong các thương trình tin. “Gần đây có ai nói cho bà biết rằng bà là đồ chó cái lòng băng dạ đá hay không?”.
Nói xong, anh cúp máy.
* * *
Nghe tiếng cúp máy, Margot cũng dập máy luôn. Một ngày gần đây, bà ta quyết định, bà sẽ tìm cách riêng của bà để xử lý cái tay Crawford Sloane lên mặt quan trọng này. Song bây giờ chưa phải lúc. Ngay lúc này còn nhiều việc khác quan trọng hơn.
Cái tin về Globanic và Peru mà bà vừa nghe làm bà điếng người. Trước đây bà cũng đã từng bị choáng váng, nhưng bà đâu có chịu bó tay. Margot đã leo cao, leo nhanh trong giới kinh doanh không phải là không gặp những thất bại nghiêm trọng, song hầu như bao giờ bà cũng cố biến được chúng thành lợi thế của bà. Bằng cách này hay cách khác, bà phải làm việc đó ngay. Bà ngẫm nghĩ, cân nhắc xem nên bắt đầu thế nào.
Đương nhiên bà phải điện cho Theo Elliott ngay hôm nay. Về những vấn đề làm ăn quan trọng, ông ta không bao giờ bực mình khi bị gọi vào bất cứ lúc nào, thậm chí cả cuối tuần.
Bà sẽ nói với ông rằng bà biết tin ở Peru người ta đã biết về hợp đồng của Globanic, rằng không biết bằng cách nào, một phóng viên Peru đã có được bản sao và định công bố dự thảo hợp đồng ấy. CBA, cũng như các hãng truyền hình và báo chí Mỹ không “dính dáng gì tới chuyện đó. Đó là do phía Peru để lộ chuyện, nhưng rất tai hại”.
Bà sẽ nói rằng việc này thật đáng tiếc, và bà không muốn suy luận, nhưng không khỏi băn khoăn liệu Fossie Xenos có sơ ý nói với ai đó, đặc biệt là ở Peru, về chuyện đó không? Dựa trên những điều bà nghe được, rất có thể chính lòng hăng hái nổi tiếng của Fossie đã làm anh ta thiếu thận trọng.
Bà cũng sẽ nói với Theo rằng, vì những hoạt động trên của báo chí Peru, nên Ban tin CBA đã biết được chuyện ấy. Song Margot đã dứt khoát ra lệnh CBA không được đưa tin đó.
Nếu may mắn, bà nghĩ, độ đầu tuần sau, những nhận xét bất lợi sẽ không còn nhằm vào bà nữa, mà sẽ đổ hết lên đầu Fossie.
Hay! Cách đó rất hay.
Trong lúc suy nghẫm, bà có chợt nghĩ tới Harry Partridge. Liệu có nên để anh ta trở lại hãng không? Rồi bà quyết định là không nên. Làm như thế chỉ thêm rách chuyện, và Partridge cũng không phải nhân vật quan trọng, vì vậy nên giữ nguyên quyết định cũ. Vả lại, Theo vẫn cứ muốn thứ hai tới sẽ gọi điện cho tổng thống Peru Castaneda để nói rằng cái thằng phá thối ấy, như từ ông dùng, đã bị đuổi việc và tống khỏi Peru.
Tin vào chiến lược của bà sẽ có kết quả, bà mỉm cười cầm máy và quay số điện thoại nhà riêng của Theo Elliott không ghi trong danh bạ.
* * *
Oswaldo Zileri, phi công kiêm chủ hãng Aerolibertad đã biết tiếng Crawford Sloane, nên tỏ ra rất kính tọng.
“Thưa ông Sloane khi các bạn ông thuê máy bay, tôi nói tôi không muốn biết họ thuê làm gì. Từ lúc gặp ông ở đây, tôi đã có thể đoán ra, và tôi xin chúc ông và các bạn ông vạn sự tốt lành”.
“Cảm ơn ông”, Sloane nói. Anh và Rita đang ở trong văn phòng nhỏ của Zileri gần sân bay Lima. “Sáng nay, khi ông chia tay Partridge và mấy người kia, ông thấy mọi việc thế nào?”.
Zileri nhún vai. “Rừng thì lúc nào chẳng như lúc nào. Xanh biếc, dày đặc, vô tận. Không thấy gì ngoài mấy người bạn của ông”.
Rita bảo Zileri. “Khi nói là có thêm hành khách khi trở về, chúng tôi hy vọng là có ba người. Nhưng bây giờ chỉ còn hai”.
“Tôi có nghe tin buồn về cái chết của cụ thân sinh ông Sloane”. Người phi công lắc đầu. “Chúng ta đang sống trong thời đại dã man”.
Sloane lại nói: “Tôi đang tự hỏi liệu bây giờ…” Zileri nói nốt câu giùm anh: “Có chỗ cho ông cô Abrams trong một, hai chuyến hoặc hơn, để đón mọi người về không”.
“Vâng, đúng thế”.
“Được thôi. Vì một khách thêm là trẻ em, lại không có đồ đạc gì, nên trọng lượng không thành vấn đề. Ngày mai trước khi trời sáng, và ngày kia, các vị đến đây rồi chúng ta đi”.
“Chúng tôi sẽ tới”. Rita trả lời. Cô quay sang nói với Sloane. “Harry không lạc quan về chuyện có thể đón được ngay ngày đầu sau khi đến. Chuyến bay tới chỉ là dự phòng, trong trường hợp họ cần đến nó. Ngay từ đầu, anh ấy đã nghĩ có nhiều khả năng là ngày thứ hai”.
* * *
Có một việc nữa Ria cảm thấy phải làm. Không cho Crawford biết, cô thảo một bức điện gửi bằng fax cho Leslie Chippingham để sáng thứ hai đã có sẵn cho ông ta đọc. Cô cố ý không gửi về máy fax ở văn phòng chủ tịch ban tin, mà về máy ở phòng Vành móng ngựa. Ở đó, nó sẽ không còn là điện riêng, và ai cũng có thể đọc được, hệt như cách thư của Chippingham buộc Harry Partridge thôi việc được gửi tới Entel Peru.
Rita ghi địa chỉ gửi:
L.W. Chippingham
Chủ tịch Ban tin CBA.
Sao chụp dán các bảng thông báo.
Cô đâu có ảo tưởng những gì cô viết sẽ được dán lên bảng. Không có chuyện đó. Nhưng đó là một tín hiệu mà các chủ nhiệm khác ở Vành móng ngựa sẽ hiểu là cô muốn nhiều người biết nội dung. Ai đó sẽ sao lại một hoặc nhiều bản, chuyền cho nhau đọc và có lẽ sẽ sao thành nhiều bản nữa.
Bức điện viết:
“Đồ chó đẻ đê tiện, ích kỷ, hèn nhát!
Đuổi việc Harry theo lối anh làm – không có lý do, không hề báo trước và thậm chí không một lời giải thích – chỉ để thoả mãn bạn chí thân của anh, con mụ Lloyd Mason lạnh như băng ấy – là phản bội tất cả những gì là công bằng và đúng đắn vốn có ở CBA. Harry sẽ qua khỏi chuyện này, thơm nức như nước hoa Chanel 5. Còn anh đã hôi thối như loại chuột cống rồi.
Làm sao tôi lại có thể thường xuyên ngủ với anh là điều tôi không hiểu nổi. Nhưng không bao giờ có chuyện ấy nữa. Dù anh là người duy nhất mà c… còn cứng trên đời này đi chăng nữa, tôi cũng không muốn có nó bên cạnh.
Tiếp tục làm việc dướic quyền anh ư? Không đâu, tởm lắm!
Thật đáng buồn khi so con người anh ngày trước, với cái kẻ là anh bây giờ.
Bạn cũ, người ngưỡng mộ cũ, người tình cũ, chủ nghiệm cũ của anh.
Rita Abrams”.
Rõ ràng, Rita nghĩ, sau khi New York… nhận được và đọc điện này, Harry sẽ không phải là người duy nhát phải tìm nơi làm mới. Song cô không sợ. Nhìn máy fax ở Entel chuyển bức điện đi, cô cảm thấy thanh thản hơn nhiều, biết rằng chỉ một phút sau nó đã ở New York.
16
Lúc này là hai giờ mười phút sáng ở Nueva Esperanza.
Suốt mấy giờ, Jessica nằm thao thức, giấc ngủ chập chờn, đôi lúc nằm mơ, những giấc mơ trở thành cơn ác mộng hoà trộn với thực tế.
Mấy phút trước, lúc còn tỉnh ngủ, Jessica nhìn qua chỗ đục làm cửa sổ đối diện cũi giam của nàg. Trong ánh đèn lờ mờ từ trong lọt ra, nàng cảm thấy như nhìn thấy khuôn mặt Harry Partridge. Rồi khuôn mặt ấy biến mất đột ngột như khi nó xuất hiện. Nàng ngủ hay thức? Hay nàng lại đang mơ? Có thể là ảo giác chăng?
Nàng lúc lắc đầu cho tỉnh táo, thì lại thấy khuôn mặt ấy xuất hiện, từ từ nhô lên trên mép lưới cửa sổ, rồi dừng lại. Một bàn tay ra hiệu gì đó mà nàng không hiểu, nhưng nàng nhìn kỹ khuôn mặt ấy. Chả lẽ là đúng? Tim đập mạnh khi nàng cả quyết: Đúng rồi, chắc chắn là Harry Partridge.
Mồm anh mấp máy không thành tiếng, môi uốn theo từng từ, cố làm nàng hiểu. Nàng tập trung tư tưởng, cố xem anh nói gì, và nhận ra được hai tiếng “thằng gác”. À, đúng rồi: “Thằng gác đâu?”.
Thằng gác lúc này là Vicente. Hắn đến thay gác cách đây một tiếng, rõ ràng là rất muộn, nên hắn và Ramon là tay gác phiên trước cãi nhau kịch liệt. Ramon quát tháo giận dữ. Vicente vặc lại, nghe có vẻ say vì hắn nói hơi líu lưỡi. Jessica không để ý chuyện chúng cãi nhau, bao giờ nàng cũng mừng khi hết phiên gác của Ramon. Thằng này tính tình độc ác, hành động không lường trước được và luôn bắt tù nhân phải tuân thủ lệnh cấm nói chuyện, điều mà đến lúc này những tên khác đều bỏ qua.
Ngoảnh lại, Jessica có thể nhìn thấy Vicente. Hắn đang ngồi trên chiếc ghế bọn gác vẫn ngồi, cách xa chỗ giam và khuất góc cửa sổ. Nàng không rõ hắn đang ngủ hay thức, song mắt hắn hình như đang nhắm, khẩu súng trường dựa vào tường ngay cạnh người. Gần đó là ngọn đèn dầu treo trên xà, và chính nhờ ánh sáng của nó hắt ra, nên nàng nhìn thấy khuôn mặt ở bên ngoài.
Cẩn thận đề phòng Vicente đột nhiên nhìn thấy, Jessica trả lời câu hỏi thầm ấy, bằng cách hất hàm về phía hắn ngồi.
Lập tức ngoài cửa sổ - Jessica vẫn không dám chắc đó là Harry Partridge, lại bắt đầu nói. Nàng lại phải căng óc ra đoán. Đến lần thứ ba thì nàng hiểu câu đó là: “Gọi hắn!”.
Jessica khẽ gật đầu, ra ý đã hiểu. Tim nàng đập rộn lên khi thấy Harry. Như vậy là việc được giải thoát mà họ hằng mong đợi cuối cùng đã tới. Đồng thời nàng cũng hiểu hoàn thành những gì vừa bắt đầu không phải là việc dễ dàng.
“Vicente!”. Nàng nghĩ không cần phải gọi to lắm, nhưng nó không đủ để hắn nghe thấy vì đang ngủ. Nàng lại gọi to hơn: “Vicente!”.
Lần này hắn cựa mình, mở mắt nhìn nàng. Thấy vậy, Jessica vẫy hắn lại.
Vicente vặn người trên ghế, rồi đứng dậy. Nhìn hắn, nàng có cảm tưởng hắn đang định thần, cố cho tỉnh cơn say. Hắn đứng một lát, bắt đầu đi về phía nàng, sau đó lại vội vàng quay lại lấy khẩu súng. Nàng nhận thấy hắn cầm súng trong tư thế sẵn sàng nếu cần.
Cần phải có lý do tại sao gọi hắn, nàng nghĩ, và quyết định sẽ ra hiệu hỏi xem có thể sang chỗ Nicky được không. Tất nhiên hắn sẽ từ chối yêu cầu đó, song lúc này điều đó không quan trọng.
Nàng không biết Harry định làm gì. Mặc dù lo lắng và căng thẳng, nàng cũng biết đây là giây phút mà nàng mơ ước, nhưng đã lo sợ sẽ không bao giờ tới.
* * *
Nép người dưới cửa sổ, Partridge nắm chặt khẩu Browning chín li, nòng lắp ống giảm thanh. Tối nay, cho đến lúc này, mọi việc đều theo đúng kế hoạch, song anh biết sắp tới mới là phần việc khó khăn và quan trọng nhất.
Chỉ trong một vài giây, không thể có nhiều cách lựa chọn và chọn cái nào anh phải quyết định trong khoảnh khắc. Trong tình huống này, anh có thể dùng súng khống chế tên gác, sau đó trói lại, nhét giẻ vào mồm trước khi rút đi, hoặc mang hắn theo làm con tin. Song cực chẳng đã mới phải chọn cách thứ hai. Cách thứ ba giết hắn, nhưng đó là điều anh mong sẽ không phải làm.
Anh cũng gặp thuận lợi: Jessica là người tháo vát, nghĩ nhanh và hiểu nhanh, đúng như điều anh còn nhớ về nàng.
Anh nghe nàng gọi hai lần, rồi nghe những tiếng động nhẹ ở góc xa và tiếng chân thằng gác đang tới gần. Partridge nín thở, sẵn sàng nhoài người xuống đất nếu như hắn nhìn về phía hướng cửa sổ. Nhưng không, hắn nhìn về phía Jessica, lưng quay ra chỗ Partridge. Vì thế anh có thêm được một giây ước lượng tình hình.
Điều anh thấy trước tiên là thằng gác cầm khẩu súng trường tự động Kalashnikov, loại vũ khí anh biết rất rõ, và trông cách cầm súng, có thể thấy hắn biết cách sử dụng. So với khẩu Kalashnikov, khẩu Browning của anh chỉ là thứ đồ chơi của trẻ con.
Không thể còn cách khác; Partridge phải giết tên gác và phải bất ngờ nổ súng trước. Nhưng cái khó là còn Jessica. Lúc này nàng đứng ở vị trí tạo thành đường thẳng với tên gác. Bắn hắn, đạn có thể xuyên qua Jessica.
Partridge đành phải liều. Không còn cơ hội nào nữa và cũng không còn cách lựa chọn nào khác. Đành phải tin vào khả năng suy đoán nhanh và hành động tức thì của nàng vậy.
Hít một hơi dài, Partridge gọi to và rõ ràng: “Jessica nhào xuống đất ngay!”.
Tên gác quay ngoắt lại, nòng súng ghếch lên, chốt an toàn đã mở. Nhưng Partridge đã nâng súng bắn. Một giây trước đó, anh nhớ lại lời khuyên của huấn luyện viên bắn súng, người đã dạy anh cách sử dụng vũ khí: “Nếu anh muốn bắn chết, đừng có ngắm vào đầu. Dù anh siết cò nhẹ mấy đi nữa, vẫn có khả năng là mũi súng hếch lên, viên đạn sẽ đi cao phía trên đầu. Vì vậy, nếu nhắm thẳng vào tim, hoặc thấp hơn một chút. Như vậy, dù viên đạn ghim vào phía trên trái tim đi nữa, khả năng sát thương vẫn rất lớn, có lẽ giết chết kẻ địch; và nếu hắn chưa chết, anh còn có thời gian bắn phát thứ hai”.
Partridge siết cò; chỉ nghe khẩu Browning kêu “phựt” một tiếng rất nhỏ. Mặc dù đã từng sử dụng súng có giảm thanh, tiếng nổ rất nhỏ ấy bao giờ cũng làm anh ngạc nhiên. Anh nhìn mục tiêu trước mắt, sẵn sàng bắn phát thứ hai, nhưng thấy không cần thiết. Viên đạn găm đúng vào tim và máu bắt đầu chảy ra. Hắn thoáng vẻ ngạc nhiên, sau đó ngã gục, khẩu súng rơi xuống tạo nên tiếng động.
Ngay khi siết cò, Partridge đã thấy Jessica tức khắc làm theo lệnh của anh, nhào người xuống đất. Anh thở phào nhẹ nhỏm, thầm cám ơn nàng. Lúc này nàng đang lồm cồm bò dậy.
Anh vừa quay về phía cửa ra vào, thì một bóng người đã vụt chạy vào. Đó là Minh Văn Cảnh. Anh đã ở đúng vị trí phía sau Partridge như được lệnh, song bây giờ đảo vị trí, Minh nhanh chóng tới gần tên gác, khẩu UZI sẵn sàng nhả đạn, rồi gật đầu với Partridge lúc ấy vừa vào, xác nhận là hắn đã chết. Sau đó Minh tới bên cũi giam Jessica, xem xét chiếc khoá của cũi rồi hỏi: “Chìa khoá đâu?”.
Jessica bảo anh: “Ở phia trên chỗ thằng gác ngồi. Cả chìa khoá cũi Nicky nữa!”.
Ở cũi bên cạnh, Nicky cũng vừa tỉnh. Nó vội vàng ngồi dậy hỏi: “Chuyện gì thế mẹ?”.
Jessica nói cho nó an lòng: “Chuyện tốt cả, con ạ”.
Nicky nhìn người mới đến: Partridge lại gần, tay cầm khẩu Kalashnikov anh vừa nhặt lên, còn Minh đang lấy chùm chìa khoá móc trên chiếc đinh. “Họ là ai thế, hả mẹ?”.
“Những người bạn con ạ. Những người bạn rất tốt”.
Tuy còn ngái ngũ, mặt Nicky sáng lên. Sau đó nó nhìn cái xác bất động nằm trong vũng máu trên nền nhà, và mếu máo nói: “Đó là Vicente! Họ bắn chết Vicente? Tại sao?”.
“Im nào, Nicky”, Jessica đe.
Partridge trả lời, giọng rất nhỏ: “Chú không muốn làm việc ấy, Nicholas ạ. Nhưng hắn định bắn chú. Nếu hắn bắn, chú sẽ không thể đưa mẹ và chú ra khỏi đây được. Mà các chú đến đây là vì việc ấy”.
Nicky vừa chợt nhận ra, hỏi: “Chú là Partridge phải không?”.
“Đúng thế”.
Jessica nói, giọng cảm động: “Ôi, Chúa phù hộ cho anh, Harry, Harry thân yêu!”.
Vẫn với giọng rất nhỏ, Partridge bảo: “Chúng ta vẫn chưa thoát khỏi chỗ này, còn nhiều việc phải làm. Mọi người phải nhanh lên”.
Minh Văn Cảnh cầm chùm chìa khoá, tra từng chiếc vào ổ khoá cũi giam Jessica. Khoá đột nhiên mở ra. Lát sau, cửa cũi giam mở toang và Jessica bước ra ngoài. Minh đến bên cũi Nicky, thử từng chìa một. Vài giây sau, Nicky cũng bước ra. Hai mẹ con ôm chầm lấy nhau ngay chỗ giữa cũi giam và cửa ra vào.
“Giúp tôi một tay”, Partridge bảo Minh. Anh đang kéo xác tên gác về phía cũi Nicky và hai người nhấc đặt lên chiếc giường gỗ thấp. Làm vậy cũng không giấu được việc tù nhân trốn, anh nghĩ, nhưng nó sẽ làm việc phát hiện chậm lại một chút. Cũng vì thế; anh vặn ngọn đèn dầu cho đến khi nó chỉ còn là một chấm sáng nhỏ; buồng giam lập tức tối om.
Nicky buông Jessica và đến bên Partridge. Bằng giọng đều đều, nó nói với vẻ nghiêm trang: “Chú giết Vicente cũng không sao đâu, chú Partridge ạ. Thỉnh thoảng hắn cũng giúp đỡ mẹ con cháu, nhưng hắn vẫn là một tên trong bọn chúng. Chúng đã giết ông cháu, chặt đứt hai ngón tay cháu, vì vậy cháu không còn chơi piano được nữa”. Vừa nói, nó vừa giơ bàn tay còn đang băng.
“Gọi chú là Harry”, Partridge bảo. “Có, chú có biết chuyện chúng giết ông và chặt ngón tay cháu. Và chú hết sức đau lòng”.
Cậu bé nói, đặc giọng người lớn: “Chú có biết Hội chứng Stockholm không, chú Harry? Mẹ cháu biết đấy. Nếu chú thích, mẹ cháu sẽ kể chú nghe”.
Partridge không trả lời, trố mắt nhìn Nicky. Trước đây, anh đã từng gặp những người trong cơn choáng váng vì phải trải qua những nguy hiểm và tai ương quá sức chịu đựng của họ; giọng nói và cách chọn từ của cậu bé trong mấy phút vừa rồi biểu hiện triệu chứng bị choáng. Nó cần phải được giúp đỡ sớm. Còn lúc này, anh chỉ có thể vươn người, dang tay ôm ngang vai cậu bé. Anh cảm thấy cậu bé đáp lại cử chỉ đó bằng cách nép sát vào anh.
Partridge thấy Jessica đang nhìn, nét mặt đầy vẻ lo lắng như anh. Nàng cũng ước giá thằng gác là đứa khác, chứ không phải Vicente. Nếu đó là Ramon, nàng đã chẳng hề bận tâm. Thế nhưng nàng cũng ngạc nhiên trước cử chỉ và lời nói của Nicky.
Partridge lắc đầu, cố làm Jessica an lòng, đồng thời ra lệnh: “Chúng ta đi thôi”.
Anh cầm khẩu Kalashnikov, đây là loại vũ khí tấn công tốt nhất và có thể phải dùng đến nó. Anh cũng đút túi hai băng đạn mà anh lục được trên người thằng gác bị giết.
Minh ở phía trước, gần cửa ra vào. Anh đã lấy máy ra, lúc này đang ghi lại cảnh họ rút, đằng sau là những chiếc cũi giam. Partridge thấy Minh đang dùng loại ống kính quay đêm đặc biệt – ống kính hồng ngoại không dùng được cho băng video và vì vậy, dù ánh sáng rất yếu như bây giờ, anh vẫn có được những bức ảnh rõ.
Từ hôm qua, Minh vẫn quay hình, nhưng ít và có chọn lọc, vì số băng anh mang theo cũng tương đối hạn chế.
Đúng lúc đó, Fernandez được phân công theo dõi các nhà khác chạy bổ vào. Anh hổn hển nói với Partridge. “Một phụ nữ đang đến. Đi một mình. Tôi nghĩ nó có súng”. Anh vừa nói xong đã nghe tiếng bước chân đang tới gần.
Không còn thời gian để phân công hoặc bố trí chỗ nấp nữa. Mọi người đứng sững người. Jessica ở gần cửa, nhưng lệch quá sang một bên. Minh đứng ngay giữa cửa, những người khác ở sâu phía trong, khuất trong bóng tối. Partridge nâng khẩu Kalasknikov lên. Mặc dù biết tiếng súng sẽ đánh thức cả làng dậy, song nếu muốn dùng khẩu Browning có ống giảm thanh anh sẽ phải để khẩu súng trường xuống mới lấy được. Không còn thời gian làm điều đó.
Soccorro vội vã bước vào. Ả mặc váy ngủ, tay cầm khẩu úng lục Smith và Washe đã lên đạn. Jessica từng thấy Soccorro mang súng nhưng để trong bao, chứ chưa bao giờ cầm ở tay.
Tuy cầm súng, Soccorro có vẻ không nghĩ tới chuyện gì khác thường xảy ra, và lúc đầu, vì trong nhà tối đen, ả tưởng lầm Minh đang đứng gần ả nhất là thằng gác. Ả bảo: “Pense que oscuche…” (1) rồi ả nhận ra đó không phải là tên gác và quay sang trái ả thấy Jessica. Giật mình, ả hét: “Que haces…”(2) rồi câm bặt.
Sự việc tiếp theo diễn biến quá nhanh, đến nỗi sau này không ai có thể tả được đầy đủ.
Soccorro giương súng, ngón tay đặt sẵn trên cò, bước rất nhanh lại gần Jessica. Sau đó, hình như ả định bắt Jessica làm con tin bằng cách gí họng súng vào đầu nàng.
Jessica thấy được điều đó, và cũng nhanh không kém, nhớ lại thuật cận chiến mà nàng đã học nhưng chưa có dịp sử dụng từ khi bị bắt đến giờ. Mặc dù đã nhiều lúc nàng bị thôi thúc áp dụng nó, nhưng biết rằng về lâu dài cũng chẳng giải quyết được gì. Nên quyết định để dành cho đến lúc thật sự cần thiết.
“Khi đối thủ tiến lại gần”, tướng Wade nhấn mạnh trong các bài giảng và bài thị phạm, “phản xạ tự nhiên của ta là lùi lại. Đối thủ cũng chỉ chờ có vậy. Đừng làm như thế, mà hãy làm hắn bất ngờ bằng cách bước lên, vào thật gần”.
Nhanh như chớp, Jessica nhảy bổ vào Soccorro tay trái giơ cao, lên gân rất chắc và chém mạnh vào tay phải của ả. Hai tay chạm nhau, tay Soccorro bất giác bật lên, ả cố gắng ghìm tay xuống và theo phản xạ, ngón tay rời ra, khẩu súng rơi xuống đất. Toàn bộ sự việc diễn ra không đầy một giây. Soccorro hầu như không kịp biết chuyện gì cảy ra.
Jessica không dừng lại, mà dùng hai ngón tay móc mạnh vào họng Soccorro, bóp chặt khí quản không cho ả thở. Đồng thời Jessica áp sát chân phải vào sau Soccorro xô ả ngã ngửa về phía sau. Sau đó, nàng lật úp ả xuống, vòng tay khoá chặt cổ làm ả không thể cựa quậy được. Nếu là trong chiến tranh, theo đúng bài bản của cận chiến, bước tiếp theo sẽ là bẻ gãy cổ, giết chết Soccorro.
Jessica do dự, vì nàng chưa giết ai bao giờ, và cũng chẳng muốn giết người. Nàng cảm thấy Soccorro có vẻ muốn nói điều gì, nên nới bớt hai ngón tay đang bóp họng ả.
Soccorro thở dốc, cầu xin: “Tha cho tôi… Tôi sẽ giúp bà… cùng trốn với các ông, các bà… tôi biết đường”.
Partridge đã lại gần nên nghe rõ. Anh hỏi: “Có thể tin ả được không?”.
Jessica lại lưỡng lự. Nàng thoáng thấy thương hại. Soccorro không phải hoàn toàn xấu. Ngay từ đầu, nàng có cảm giác thời gian làm hộ lý ở Mỹ đã làm con người ả tốt lên. Ả đã săn sóc Nicky sau khi nó bị đốt bỏng và sau này khi ngón tay nó bi chặt. Rồi còn việc Soccorro ném vào trong thuyền thanh sôcôla lúc cả ba người đang đói. Soccorro đã làm nơi họ bị giam khá hơn, khi cho đục cửa sổ trên tường… bất chấp lệnh của Miguel, ả đã cho nàng sang với Nicky…
Nhưng Soccorro cũng chính là đứa đã tham gia vào vụ bắt cóc ngay từ đầu, và cũng chính ả, khi Nicky sắp bị chặt ngón tay, đã nhẫn tâm quát: “Câm mồm! Mày không thể ngăn được điều sắp xảy ra đâu!”.
Và rồi Jessica còn như nghe thấy lời Nicky nói mới cách đây vài phút: “chú giết Vicente cũng không sao đâu, chú Harry ạ… Đôi khi hắn cũng giúp đỡ mẹ con cháu, nhưng hắn là một tên trong bọn chúng… chú có biết Hội chứng Stockholm không? … Mẹ cháu biết đấy…”. Hãy cẩn thận với Hội chứng Stockholm.
Jessica trả lời câu hỏi của Harry. Nàng lắc đầu, nói với anh “Không”.
Mắt họ gặp nhau. Harry vẫn còn kinh ngạc trước tài nghệ đánh nhau bằng tay không của Jessica. Anh tự hỏi nàng học cái đó ở đâu, và để làm gì. Nhưng vào lúc này, điều đó không quan trọng. Cái quan trọng là nàng đã đạt tới điểm quyết định và mắt nàng như hỏi ý kiến anh. Anh khẽ gật đầu. Rồi vì không muốn chứng kiến việc sắp xảy ra, anh quay mặt đi.
Người run vầm cập, Jessica siết chặt tay bẻ cổ Soccorro rồi vặn mạnh đầu ả cho gãy lìa xương sống. Chỉ nghe một tiếng khô khốc rất nhỏ rồi toàn thân ả mềm nhũn. Nàng buông xác ả xuống đất.
* * *
Partridge đi đầu, Jessica, Nicky, Minh và Fernandez lặng lẽ theo sau, cả nhóm vượt qua làng đang chìm trong bóng tối, không gặp một ai.
Tới bên sông, Ken O’Hara bảo: “Tôi cứ nghĩ các anh sẽ không bao giờ ra được đến đây”.
“Chúng tôi gặp sự cố”, Partridge bảo anh. “Ta đi nhanh lên. Thuyền nào đấy?”.
“Thuyền này”. Đó là một chiếc xuồng gỗ không mui dài khoảng ba mươi phít, có hai động cơ gắn phía sau. Hai dây neo chặt nó vào bờ. “Tôi lấy thêm dầu ở các thuyền khác”. O’Hara nói, chỉ vào mấy can nhựa để gần đằng đuôi.
“Tất cả lên xuồng”, Partridge hạ lệnh.
Trước đó, mặt trăng gần tròn khuất trong mây, nhưng trong mấy phút vừa qua, mây đã trôi đi. Lúc này, mọi người đều trông rõ hơn, nhất là trên mặt nước.
Fernandez giúp Jessica và Nicky trèo vào xuồng. Jessica cảm thấy buồn nôn, người run bần bật, hậu quả của việc giết Soccorro mấy phút trước đó. Minh đứng trên bến quay hình, là người cuối cùng nhảy vào xuồng, trong khi O’Hara tháo dây và dùng chèo đẩy thuyền ra xa bờ. Fernandez cầm mái chèo thứ hai, cùng O’Hara bơi xuồng ra giữa sông.
Nhìn xung quanh, Partridge nhận thấy O’Hara đã sử dụng thời gian chờ đợi một cách có hiệu quả. Một số thuyền bị dìm xuống nước ở gần bờ, những chiếc khác trôi giạt mỗi chiếc một nơi.
“Tôi đã tháo bugi”, O’Hara chỉ mấy chiếc thuyền ở gần. “Chúng có thể vớt thuyền lên, nhưng cũng mất thời gian. Tôi còn quăng mấy mô tơ xuống sông”. “Khá lắm, Ken ạ!”. Quyết định để O’Hara đi cùng, Partridge nghĩ, đã nhiều lần cho thấy là đúng.
Chiếc xuồng họ đang đi không có ghế ngồi, giống như thuyền mà Jessica, Nicky và Angus đã đi lúc trước, “hành khách” ngồi trên những tám ván bắc ngang lòng xuồng. Hai người chèo xuống ngồi ở phía đối diện, cố hết sức đưa xuồng ra giữa sông. Khi Nueva Esperanza mờ dần trong ánh trăng, dòng nước siết đã đưa xuồng trôi xuôi.
Lúc xuồng rời bến, Partridge nhìn đồng hồ: hai giờ ba mươi lăm phút sáng. Đến hai giờ năm mươi phút, khi xuồng trôi dọc sông theo hướng tây bắc, anh bảo Ken O’Hara nổ máy.
O’Hara mở van thông gió ở bình xăng phía bên trái xuồng, điều chỉnh dây le, bơm hơi đầy bình cao su hình tròn, và giật mạnh dây kéo bánh đà. Máy nổ ngay lập tức. Anh đưa máy về không tải, sau đó tiếp tục cho nổ máy thứ hai. Anh gài số cả hai máy và chiếc xuồng vọt đi.
Trời trong xanh. Ánh trăng sáng phản chiếu trên mặt nước, nên việc lái xuồng trên dòng sông khúc khuỷu tương đối dễ dàng. Fernandez hỏi: “Anh đã quyết định tới chỗ máy bay đỗ chưa?”.
Partridge cân nhắc, hình dung ra tấm bản đồ tỷ lệ lớn của Fernandez mà cho tới lúc này, anh hầu như đã thuộc lầu.
Trước hết, việc chọn rút theo đường sông không cho phép anh tới được điểm đỗ trên đường khi trước. Chỉ còn lại điểm đỗ mà bọn buôn ma tuý thường dùng, ở vào quãng giữa, đi mất khoảng một giờ rưỡi, hoặc dải đất Sion ở xa hơn, đi mất ba giờ bằng đường sông, cộng với đoạn cuốc bộ qua rừng dài chừng ba dặm, một công việc họ đã biết là rất khó khăn.
Để tới được Sion vào lúc tám giờ sáng, là lúc chiếc Cheyenne của hãng Aerolibertad đến nơi, họ chỉ có thể đến được sát giờ. Mặt khác, nếu đi đến chỗ đậu ở quãng giữa, họ có thể sớm được vài giờ, song nếu bọn chúng đuổi kịp, họ sẽ phải nổ súng, mà với số người và súng đạn ít hơn, chắc chắn họ sẽ thua.
Vì vậy con đường tốt nhất và khôn ngoan nhất có vể vẫn là vượt quãng đường xa nhất từ Nueva Esperanza đến chỗ máy bay đậu.
“Chúng ta tới Sion”, Partridge bảo những người trên xuồng. “Sau khi rời xuồng lên bờ, chúng ta sẽ phải gắng vượt rừng thật nhanh; vì vậy mọi người hãy tranh thủ nghỉ ngơi”.
Thời gian trôi qua, Jessica trở lại bình tĩnh hơn, người nàng không còn run bắn lên nữa; mồm không còn buồn nôn. Nhưng nàng không tin có thể tĩnh trí được sau những việc nàng đã làm. Chắc chắn lời cầu xin thầm thì, tuyệt vọng của Soccorro sẽ còn ám ảnh nàng mãi về sau.
Nhưng Nicky được an toàn, ít nhất cũng trong lúc này, và đó là điều quan trọng nhất.
Nàng đã quan sát Nicky, thấy rằng từ khi họ rời lán giam, nó luôn quấn quít bên cạnh Harry Partridge và chỉ cao ngang gối anh. Cứ như Harry là cục nam châm mà Nicky tìm cách dính chặt vào. Ngay cả bây giờ ở trên xuồng, nó cũng ngồi cạnh Harry rõ ràng muốn nép sát vào anh và Harry có vẻ cũng muốn như vậy. Thực ra trước đó, Harry đã quàng tay qua vai Nicky và lúc này hai người như hoà làm một.
Jessica thấy thích điều đó. Rõ ràng, trong suy nghĩ của Nicky, nàng nghĩ, Harry với vẻ như bây giờ, chính là người khác hẳn bọn xấu đã gây nên những nỗi kinh hoàng mà họ phải trải qua – Miguel, Baudelio, Gustave, Ramon… những đứa đã biết và chưa biết… đúng, cả Vicente và Soccorro nữa.
Nhưng còn hơn thế nữa. Nó chứng tỏ bản năng nhìn nhận con người của Nicky bao giờ cũng chính xác. Nàng đã từng yêu Harry, bây giờ cũng vẫn thế, nhất là khi lòng biết ơn và tình yêu quyện chặt vào nhau. Vì vậy, không có gì lạ khi con nàng theo bản năng cũng có chung tình cảm ấy.
Nicky hình như đang ngủ. Gỡ nhẹ tay ra, Partridge đến ngồi cạnh nàng. Thấy thế, Fernandez đổi chỗ ngồi qua phía bên kia để giữ cho xuồng thăng bằng.
Partridge cũng đang nhớ lại thời xua, cái thuở anh và Jessica đã sống vì nhau. Và ngay cả trong phút giây ngắn ngủi này, anh có thể thấy nàng cơ bản vẫn không thay đổi. Những gì anh hằng ngưỡng mộ ở nàng, suy nghĩ nhanh, cứng rắn, nồng hậu và tháo vát một cách thông minh, vẫn còn nguyên đó. Partridge biết, nếu anh ở lâu bên cạnh nàng, tình yêu ngày xưa của anh sẽ sống lại. Một suy nghĩ táo tợn; có điều nó sẽ không xảy ra.
Nàng quay lại nhìn, có lẽ đang đọc những suy nghĩ của anh. Anh nhớ lại những ngày xưa ấy, nàng vẫn thường làm được điều đó.
Anh hỏi: “Ở trong ấy, có bao giờ em mất hy vọng không?”.
“Cũng nhiều lúc gần như vậy, nhưng không bao giờ hoàn toàn”. Jessica trả lời. Nàng cười, nói: “Tất nhiên, nếu em biết anh phụ trách việc giải thoát cho mẹ con em, thì sự thể lại khác chứ”.
“Bọn anh gồm nhiều người”, anh bảo nàng. “Crawf cũng ở trong nhóm. Anh ấy phải chịu biết bao đau đớn, mà hai mẹ con em cũng thế. Khi về đến nơi, hai vợ chồng em đều cần đến nhau”.
Anh cảm thấy nàng hiểu ý anh muốn nói: “Mặc dù anh trở lại đời nàng trong chốc lát, nhưng rồi sẽ lại biến mất ngay”.
“Anh suy nghĩ thật tử tế, Harry ạ. Tới đây anh sẽ làm gì”.
Anh nhún vai: “Tiếp tục đưa tin. Đâu đó lại sẽ có một cuộc chiến tranh. Bao giờ chả thế!”.
“Thế còn giữa hai cuộc chiến tranh?”.
Có những câu hỏi không có câu trả lời. Anh đổi chủ đề câu chuyện: “Thằng Nicky của em tính rất hay, đúng như đứa con mà anh muốn có”.
Lẽ ra đã là như vậy, Jessica nghĩ. Giữa hai đứa mình, những năm về trước.
Không muốn nhớ lại chuyện ấy, Partridge để mình nghĩ đến Gemma và đứa con trai chưa kịp ra đời.
Anh nghe Jessica thở dài bên anh: “Ôi Harry!”.
Họ im lặng, lắng nghe tiếng máy rung nhè nhẹ và tiếng nước rào rào. Sau đó nàng đặt tay lên tay anh.
“Cám ơn anh, Harry”, nàng nói. “Cám ơn anh vì tất cả những gì anh đã làm, đang làm… anh, người yêu thương nhất của em”.
1 Tôi nghĩ rằng mình đã nghe…
2 Mày làm gì…?
17
Miguel bắn ba phát súng lên trời, phá tan bầu im lặng. Hắn biết đó là cách báo động nhanh nhất.
Mới chỉ cách đây một phút, hắn phát hiện ra xác của Vincete và Socorro và nhận ra bọn tù đã đi mất.
Lúc này là ba giờ mười lăm phút sáng, tức là đúng bốn mươi phút kể từ lúc chiếc xuồng chở Fernandez, Jessica, Nicky, Minh, O’Hara và Partridge rời bến; song Miguel không biết điều ấy.
Miguel lập tức nổi giận điên cuồng và lồng lên. Trong lán giam tù, hắn vớ chiếc ghế của bọn gác và quật mạnh vào tường, chiếc ghế vỡ tan. Lúc này hắn muốn quật túi bụi, chặt chân những đứa đã để tù xổng mất.
Thât không may, hai đứa đã chết rồi. Và Miguel đau đớn nhận thấy hắn cũng chịu một phần trách nhiệm.
Rõ ràng hắn đã lơ là trong việc giữ nghiêm kỷ luật. Bây giờ đã quá muộn, hắn thấy rõ điều đó. Từ khi đến đây, đúng ra phải rất chú ý canh phòng thì đôi khi hắn lại nghỉ xả hơi. Ban đêm, lẽ ra hắn phải đích thân đốc thúc việc canh phòng thì hắn lại giao cho những đứa khác.
Lý do vì hắn mềm yếu, hắn phải lòng Socorro. Hắn đã muốn ngủ với ả từ khi còn ở ngôi nhà ở Hackensack, cả trước và sau vụ bắt cóc. Ngay bây giờ, hắn vẫn còn nhớ cái thú dục tính rắng trợn của ả lúc chúng rời nhà Hackensack. Với nụ cười nhạo báng, ả nói với hắn về việc đút những ống nhỏ vào trong người tù trên đường đi. “Đó là những ống trong dương vật đàn ông và âm hộ đàn bà, Entiendes?”.
Có, hắn hiểu. Hắn cũng hiểu là ả đang chài hắn, giống như ả đã chài những thằng khác ở Hackensack như cái đêm ả đột nhiên cặp đôi với Carlos, cười nói ầm ỉ, làm Rafael là đứa bị cự tuyệt điên người vì ghen.
Nhưng lúc đó Miguel còn nhiều việc khác phải lo, những trách nhiệm đòi hỏi hắn phải bận tâm suy nghĩ, nên hắn đã tự nghiêm khắc với mình trước lòng thèm khát của hắn đối với Socorro.
Ở Nueva Esperanza không giống như vậy.
Hắn căm ghét rừng rậm, hắn nhớ lại cảm giác của hắn hôm đầu tiên tới đây. Thêm vào đó, chẳng có việc gì làm. Ví dụ, hắn đã không coi trọng khả năng có người đến cứu con tin. Nueva Esperanza, nằm sâu trong lãnh địa của Sendero, có vẻ hẻo lánh và an toàn. Vì vậy, ngày cũng như đêm chậm chạp trôi qua, cho đến một hôm, đáp lời năn nỉ của hắn, Socorro mở cửa cho hắn vào cái nơi mà hắn nhanh chóng phát hiện ra là cõi cực lạc.
Từ đó, đêm nào cũng như đêm nào, đôi khi cả ban ngày, chúng làm tình với nhau và ả tỏ ra là một người tình có nhiều ngón nghề làm hắn thoả mãn nhất từ trước đến nay. Cuối cùng, hắn sẵn lòng phục dịch ả và giống như kẻ nghiện đang đợi thuốc, hắn bỏ bê tất cả các việc khác.
Bây giờ hắn đang phải trả giá cho thứ nghiện đó.
Đầu giờ tối nay, sau một cuộc truy hoan vô cùng mãn nguyện, hắn ngủ rất say. Rồi cách đấy khoảng hai mươi phút, hắn tỉnh dậy, lại thèm muốn làm tình lần nữa, nên rất bực mình khi thấy Socorro đi đâu mất. Hắn nằm đợi ả một lúc khi không thấy ả quay lại, hắn dậy đi tìm, xách theo khẩu súng lục Marakov mà hắn bao giờ cũng mang theo bên người.
Những gì hắn vừa tìm thấy, giống như một cú đấm mạnh và hiểm, đưa hắn trở về với thực tế phũ phàng. Miguel cay đắng nghĩ: Hắn có thể sẽ phải trả gía cho việc này, có khả năng bằng sinh mạng của hắn. Nếu Sendero Luminoso biết chuyện, nhất là nếu không tìm được đám con tin. Vì vậy, trước hết phải bắt lại bọn chúng bằng bất cứ giá nào!
Nghe súng nổ, những tên khác từ các nhà chạy về phía hắn. Gustavo dẫn đầu. Miguel chửi rủa bọn chúng tới tấp: “Maldito escoria, imbeciles inservibles! Por su estubidez… Nuca vigilar! Solo dormir y tomar! Sin cuida!... Los presos de mỉeda se écaparon!”. (1)
Chỉ mặt Gustavo, hắn rít lên: “Mày là đồ ăn hại dái nát! Chỉ huy gì cái đồ mày, một con chó ghẻ còn khá hơn! Bọn người lạ đã tới đây trong khi mày nằm ngủ! Mày lờ cho chúng qua, mày tiếp tay cho chúng! Hãy tìm ngay xem bọn chúng từ đâu tới và chạy trốn bằng cách nào. Nhất định phải có dấu vết!”.
Mấy giây sau, Gustavo quay lại, thông báo: “Bọn chúng đi bằng đường sông. Một số thuyền trôi đâu mất, những chiếc khác bị đánh chìm”.
Miguel như phát khùng, vội vã ra ngay bến sông. Cảnh tàn phá mà hắn thấy, dây neo thuyền bị cắt, thuyền máy không thấy đâu, mấy chiếc khác bị chìm chỗ nước nông, cũng đủ làm hắn tức sùi bọt mép. Song hắn hiểu rằng, nếu hắn không bình tĩnh lại và kiềm chế, sẽ không thể nào cứu vãn được tình thế. Kìm mình lại, hắn bắt đầu suy nghĩ môt cách khách quan.
Vẫn dùng tiếng Tây Ban Nha, hắn bảo Gustavo: “Hãy chọn cho tao hai chiếc thuyền tốt nhất trong số còn lại, mỗi thuyền đủ hai máy. Không phải trong mười phút, mà phải ngay bây giờ. Mọi người đều phải làm, mà làm nhanh, nhanh, thật nhanh! Sau đó, tất cả tập trung tại bến, mang đủ súng đạn và sẵn sàng xuất phát!”.
Cân nhắc các khả năng, hắn tin rằng những người vào cứu tù chắc hẳn phải đi máy bay đến vùng này; đó là phương tiện chuyên chở nhanh nhất, thực tế nhất. Vì vậy, họ cũng sẽ phải thoát ra bằng máy bay, nhưng cho đến lúc này không có khả năng máy bay đã đi rồi.
Ramon đã báo cáo Vincente đến thay gác cho hắn ngay sau một giờ sáng, lúc đó mọi chuyện vẫn yên ổn, tù nhân vẫn bị khoá chặt trong cũi giam. Vì thế, cho dù ngay sau đó chúng thoát ra đi nữa, thì nhiều nhất cũng chỉ mới đi được hai tiếng. Việc xác của Socorro và Vicente khi chúng tìm thấy vẫn còn ấm càng xác nhận thêm suy đoán của Miguel là bọn đột nhập mới đi chưa được hai giờ.
Hắn tiếp tục lập luận: từ Nueva Esperanza nếu đi bằng đường sông tới nơi hẹn máy bay, bọn kia sẽ phải chọn một trong hai đường băng máy bay ở trong rừng. Chỗ gần hơn không có tên, chỉ có các máy bay chở ma tuý mới sử dụng đến. Đường băng kia là Sion, xa gấp đôi, là nơi ba tuần trước đó chiếc Learjet chở Miguel cùng những tên khác và đám con tin đã đậu.
Sử dụng cái nào cũng đều có lý cả. Chính vì thế Miguel quyết định cử một thuyền đầy người mang súng tới nơi gần hơn, còn chiếc thứ hai đến Sion. Miguel quyết định cùng đi với thuyền tới Sion.
Trong lúc hắn đang còn suy nghĩ, ngoài bến mọi người đã khẩn trương hoạt động. Hai thuyền nước ngập phân nửa được kéo vào gần bờ và tát nước ra. Những người trong làng cũng tới giúp bọn thuộc Sendero. Họ đều hiểu rằng, nếu bọn cầm đầu Sendero Luminoso nổi giận với Nueva Esperanza, tổ chức này có thể giết sạch cả làng mà không hề ân hận. Trước đây cũng đã có nhiều trường hợp như vậy.
Dù đã làm gấp, nhưng đến khi khởi hành được cũng mất nhiều thời gian hơn là Miguel mong muốn. Cuối cùng, lúc bốn giờ kém mấy phút, cả hai thuyền đã khởi hành xuôi theo hướng tây bắc, cả hai máy mở hết tốc lực. Thuyền của Miguel đi Sion chạy nhanh hơn nhiều, vượt xa thuyền kia ngay khi vừa rời bến. Gustavo điều khiển bánh lái.
Ngồi ôm khẩu tiểu liên Bereta dùng tăng cường cho khẩu Marakov, Miguel lại thấy cơn giận trào lên. Hắn vẫn không hiểu ai là người đã giải thoát hai tù nhân. Nhưng khi hắn đuổi kịp và bắt lại được, mà hắn định phải bắt sống, chúng sẽ phải chịu đựng những hình thức tra tấn từ từ, khủng khiếp.
1 Đồ mất dạy, đồ ăn hại! Vì sự đần độn của mày… Không bao giờ chịu canh gác! Chỉ ngủ và uống thôi… Không trông nom gì hết… bọn tù nhân cứt đái đã trốn hết rồi…
18
Khi chiếc Cheynne II của hãng Aerolibertad cất cánh từ sân bay Lima trong ánh rạng đông, Crawford Sloane bỗng nhớ đến mấy câu thơ trước đây anh đã đọc:
Nếu tôi bay trên đôi cánh bình minh
Và đậu xuống nơi đại dương xa nhất.
Hôm qua, chủ nhật, họ đã bay trên đôi cánh bình minh thật, nhưng không phải tới đại dương, mà vào sâu trong lục địa, song không thu được kết quả gì. Hôm nay, họ lại một lần nữa bay về phía rừng rậm.
Rita ngồi ở hàng ghế thứ hai, bên cạnh Sloane. Trước mặt họ là phi công chính Oswaldo Zileri và người phụ lái còn trẻ tên là Felipe Guerra.
Trong suốt chuyến bay ngày hôm trước kéo dài ba tiếng, máy bay của họ đã qua cả ba điểm hẹn. Mặc dù trước khi đến điểm nào anh đều được báo trước, Sloane vẫn khó phân biệt được đâu là đâu, vì nhìn từ máy bay, rừng rậm ken dày như vô tận. “Giống như ở Việt Nam, nhưng rậm rạp hơn”, anh bảo Rita.
Mỗi khi máy bay lượn trên điểm hẹn, cả bốn người đều nhìn kỹ bên dưới xem có tín hiệu hoặc dấu hiệu hoạt động nào không, song không thấy gì. Sloane rất hy vọng hôm nay sẽ khác.
Lúc trời sáng rõ, chiếc Cheyenne II bay trên đỉnh cao Andes trong dãy Cordillera. Sau đó qua tới bên kia, họ hạ dần độ cao về hướng rừng rậm và thung lũng thượng nguồn của sông Hualaga.
19
Partridge biết anh đã tính toán sai. Họ đã bi chậm rất nhiều.
Cái anh không tính tới khi chọn Sion thay vì chọn điểm hẹn gần hơn là xuồng gặp sự cố. Việc đó xảy ra khoảng hai tiếng sau khi rời Nueva Esperanza, tức là còn một tiếng nữa mới đến chỗ họ bỏ thuyền lên bờ và bắt đầu đi bộ tới điểm đỗ máy bay.
Cả hai máy vẫn đang hoạt động bình thường tuy kêu hơi to, thì bỗng chuông trong máy bên trái xuồng réo ầm lên, Ken O’Hara lập tức giảm ga, về số không, và tắt máy. Chuông và máy đều im lặng.
Chiếc máy ở mạn phải vẫn tiếp tục hoạt động, nhưng lúc này xuồng chạy chậm hẳn lại.
Partridge bước về phía cuối xuồng và hỏi O’Hara: “Sao thế? Liệu có sửa được không?”.
“Tôi e rằng không”, O’Hara trả lời. Anh đã tháo nắp máy và đang xem xét bên trong. “Máy nóng quá, vì thế chuông báo. Nước làm mát máy rất trong, chứng tỏ bơm đã hỏng. Cho dù tôi đủ dụng cụ tháo rời máy ra, có thể vẫn cần phụ tùng thay thế. Mà chúng ta không có cả hai thứ…”. Anh bỏ lửng không nói hết câu.
“Tức là chắc chắn không thể chữa được nữa?”.
O’Hara lắc đầu: “Rất tiếc là vậy, Harry ạ”.
“Nếu cứ cho chạy tiếp thì sao?”.
“Máy sẽ hoạt động một thời gian ngắn, rồi lại bị nóng. Sau đó máy quá nóng, pittong và xilanh chảy dính với nhau. Rồi chỉ còn mỗi một việc là quẳng ra bãi rác”.
“Cho chạy đi”, Partridge bảo. “Nếu không còn cách nào khác, cứ chạy được chừng nào hay chừng ấy”. “Được thôi, anh là thuyền trưởng mà”, O’Hara trả lời, mặc dù anh rất ghét làm hỏng chiếc máy, mà giá ở hoàn cảnh khác vẫn chữa chạy được.
Đúng như O’Hara nói, máy hoạt động được vài phút, rồi chuông réo ầm ĩ và có mùi khét lẹt. Sau đó nó ngừng và không sao khởi động lại được nữa. Xuồng lại chậm lại và Partridge lo lắng nhìn đồng hồ.
Anh có thể thấy tốc độ xuồng chỉ còn bằng nửa khi trước. Như vậy quãng sông còn lại họ sẽ phải đi hết hai tiếng chứ không phải một tiếng.
Thực tế phải mất tới hai giờ mười lăm phút, và lúc này đã là sáu giờ năm mươi phút sáng; họ đã thấy chỗ bỏ xuồng lên bờ. Partridge và Fernandez nhận ra nó trên tấm bản đồ tỷ lệ lớn, đồng thời căn cứ vào dấu hiệu người trước để lại – ống bơ nước ngọt và mảnh chai vỡ vứt đầy trên bờ. Bây giờ họ sẽ phải lết hết đoạn đường rừng khó khăn tới đường băng Sion trong vòng một tiếng, ngắn hơn thời gian dự tính rất nhiều. Liệu họ có làm nổi không?
“Chúng ta phải đến kịp”, Partridge nói, rồi giải thích cho Jessica và Nicky biết. “Có thể sẽ rất mệt, nhưng không còn thời gian nghỉ nữa, và nếu cần, chúng ta sẽ phải giúp nhau mà đi. Fernandez sẽ đi trước, tôi đi sau cùng”.
Mấy phút sau, mũi xuồng sát trên cát và họ lội vào bờ. Ngay trước mặt là một khoảng trống trong vùng rừng rậm dày đặc.
Giá có nhiều thời gian, Partridge có lẽ đã tìm cách giấu xuồng đi, hoặc đẩy nó ra giữa sông cho trôi xuôi. Còn bây giờ, nó đang nằm ngay gần bờ.
Sau đó, sắp sửa vào rừng, Fernandez bỗng dừng lại, ra hiệu mọi người im lặng. Anh nghiêng đầu, đứng nghe trong bầu không khí ban mai yên tĩnh. Anh quen thuộc rừng hơn những người kia, anh nghe rõ các loại âm thanh khác nhau. Anh hỏi nhỏ Partridge “Anh nghe thấy không?”.
Lắng tai nge Partridge nghĩ anh nghe thấy tiếng ì ầm đằng xa, phía họ vừa đến, nhưng không biết là gì. Anh hỏi: “Tiếng gì thế nhỉ?”.
“Một thuyền khác đang chạy”, Fernandez trả lời: “Cũng còn cách khá xa, nhưng chạy rất nhanh”.
Không trù trừ, mọi người đi vào rừng.
* * *
Lối mòn này không đến nỗi khó đi như con đường rừng từ điểm đậu máy bay trên đường ô tô tới Nueva Esperanza mà Partridge và các thành viên của nhóm đã đi trước đó ba ngày. Rõ ràng lối này có nhiều người qua lại hơn, vì cỏ chỉ hơi rậm một chút và không có chỗ nào mất dấu như đường kia.
Thế nhưng qua được cũng không phải dễ. Mặt đất gồ ghề rễ trồi lên, và ở những chỗ mềm mềm có thể bị thụt xuống bùn hoặc vũng nước, rất khó nhấc chân.
“Nhìn cẩn thận rồi hãy bước”, Fernandez nhắc mọi người. Anh ta đang đi phía trước, chân bước phăng phăng.
Partridge hoạ theo, cố làm bộ vui vẻ, phấn chấn: “Chúng tôi không muốn phải cõng ai đâu nhé. Tôi đang toát hết cả mồ hôi!”.
Ai cũng đều thế cả. Cũng như lần họ tới đây, trong rừng nóng ngột ngạt như nồi hầm và càng về trưa càng nóng hơn. Các loài sâu bọ cũng hoạt động mạnh hơn.
Đầu óc Partridge luôn bận rộn với câu hỏi: Jessica và Nicky sẽ chịu đựng chuyến đi vất vả này được bao lâu? Suy nghĩ một lát, anh cho rằng Jessica có thể trụ được; nàng có quyết tâm và rõ ràng là dẻo dai. Song Nicky có vẻ mệt lắm rồi.
Lúc đầu Nicky đi gần cuối, rõ ràng muốn ở gần Partridge như lúc trước. Song anh cương quyết bảo nó và Jessica phải đi gần đầu hàng, ngay sau Fernandez. “Để sau, Nicky ạ”, anh bảo. “Còn bây giờ chú muốn cháu đi gần mẹ”. Nicky nghe lời, với vẻ miễn cưỡng.
Nếu đúng là chiếc thuyền họ vừa nghe tiéng máy kia chở bọn đuổi theo, Partridge hiểu rằng cuộc tấn công sẽ đến từ phía sau. Nếu điều đó xảy ra, anh sẽ cố hết sức đẩy lui cuộc tiến công, trong khi nhữnng người khác tiếp tục đi. Anh đã kiểm tra khẩu Kalashnikov đang đeo trên vai, để hai băng đạn dự trữ chỗ túi anh có thể dễ dàng lấy ra.
Partridge lại nhìn đồng hồ; bẩy giờ ba mươi lăm phút. Họ đã đi được gần bốn mươi phút. Nhớ đến cái mốc tám giờ tại điểm hẹn với Aerolibertad, anh hy vọng đã đi được ba phần tư quãng đường.
Mấy phút sau họ buộc phải dừng lại.
Nghĩ lại cũng buồn cười, Fernandez là người nhắc mọi người phải cẩn thận trước khi bước, nhưng chính anh ta lại trượt ngã chỏng gọng, chân kẹp trong đám rễ cây đầy bùn. Khi Partridge vội vã chạy đến, Minh đã nâng Fernandez dậy, còn O’Hara đang cố kéo chân anh ta ra; lúc đó Fernandez nhăn mặt vì đau đớn.
“Có vẻ tôi đã làm hỏng việc”, anh ta nói với Partridge. “Tôi xin lỗi vì đã phụ lòng tin của ông”.
Khi đã rút được chân ra, Fernandez thấy đau buốt tận óc khi bước đi. Rõ ràng chân anh bị gãy hoặc trật khớp rất nặng.
“Nói thế không đúng; anh chưa bao giờ phụ lòng chúng tôi”, Partridge nói. “Anh là người dẫn đường, người bạn đường tốt, và chúng tôi sẽ dìu anh đi. Chúng tôi sẽ vứt bớt các thứ đi”.
Fernandez lắc đầu: “Dù có làm thế đi nữa, cũng không còn thời gian. Tôi chưa nói với ông, Harry ạ, nhưng tôi đã nghe thấy tiếng động cơ ở phía sau. Chúng đang đuổi theo và cách chúng ta không xa nữa đâu. Hãy để tôi lại, các ông đi tiếp đi”.
Jessica cũng đến. Nàng bảo Partridge: “Chúng ta không thể để anh ấy lại được”.
“Một người sẽ cõng anh”, O’Hara nói. “Tôi sẽ cố làm việc đó”.
“Trong cái nóng như thế này ư? “ Fernandez sốt ruột nói. “Anh sẽ không đi nổi qua một trăm mét, và tất cả sẽ bị chậm lại”.
Vừa định phản đối, Partridge chợt hiểu làm như O’Hara nói là vô ích. Fernandez đã nói đúng: không còn cách nào khác hơn là phải bỏ anh lại. Song anh nói thêm: “Nếu có thêm người và có thể được, chúng tôi sẽ quay lại đón anh”.
“Đừng phí thời gian nữa, Harry. Tôi phải nói ngay mấy việc”. Fernandez đang ngồi cạnh lối mòn, tựa lưng vào gốc cây. Cây cối rậm quá, không thể đưa anh vào sâu thêm. Partridge và Jessica quỳ xuống cạnh anh ta.
“Tôi còn một vợ và bốn đứa con”, Fernandez nói. “Tôi mong sẽ có người trông nom vợ con tôi”.
“Anh làm cho CBA”, Partridge đáp “thì CBA sẽ chịu trách nhiệm việc đó. Tôi đảm bảo với anh, chính thức hứa sẽ làm như vậy. Việc ăn học của lũ trẻ, tất cả”.
Fernandez gật đầu, rồi anh chỉ khẩu M16 anh mang theo, hiện đang để bên cạnh “Anh nên cầm nó theo. Ngoài khẩu anh có, anh có thể phải dùng đến nó. Nhưng tôi không định để chúng bắt sống. Đưa tôi khẩu súng lục”.
Partridge đưa cho anh ta khẩu Browning chín li của anh, sau khi tháo bỏ ống giảm thanh.
“Ôi, Fernandez!” Jessica nghẹn ngào, mắt đẫm lệ. “Nicky và tôi chịu ơn anh nhiều”. Nàng cúi người hôn lên trán anh ta.
“Vậy thì đi đi” Fernandez giục nàng “Đừng mất thời gian nữa, kẻo sẽ mất những gì đã làm được cho đến lúc này”.
Khi Jessica đứng dậy, Partridge nhoài người, ôm chặt Fernandez và hôn lên hai má anh ta. Phía sau anh, Minh và O’Hara đang đợi để hôn vĩnh biệt Fernandez.
Partridge đứng dậy, bước đi không ngoảnh lại.
* * *
Ngay khi thấy chiếc xuồng bỏ lại trên bãi gần cửa rừng, và nhận ra nó từ Nueva Esperanza tới, Miguel rất mừng, hắn đã quyết định đi trên chiếc thuyền tới Sion.
Hắn càng mừng hơn, khi vừa từ trên thuyền nhảy xuống bờ, Ramon chạy đến bên chiếc xuồng và thông báo: “Underhill mortor esta cliente, Elliott ottro frio-fundido” (1).
Một máy còn nóng tức là những người chúng đang đuổi theo mới vào rừng chưa lâu. Còn chiếc máy bị cháy, đã nguội ngắt cho biết chiếc xuồng đã bị chậm lại và những người trên xuồng đến đây khá muộn.
Cũng như Miguel, bảy tên thuộc nhóm Sendero đều mang vũ khí đầy đủ. Hắn bảo chúng bằng tiếng Tây Ban Nha: “Bọn sâu mọt tư sản ấy chưa chạy xa được. Chúng ta sẽ đuổi kịp và trừng trị chúng. Hãy hành đông với lòng căm hận của Guzman”.
Chúng lao nhanh vào rừng, reo hò ầm ĩ.
“Chúng ta đến sớm mấy phút”, Rita nói với Oswaldo Zileri, phi công chiếc Cheynne II khi máy bay tới gần Sion, điểm hẹn đầu tiên. Cô vừa mới xem đồng hồ, bảy giờ năm mươi lăm.
“Chúng ta sẽ lượn và quan sát”, ông ta nói: “Dù thế nào đây cũng là nơi ít có khả năng các bạn chị sẽ tới nhất”.
Cũng như hôm qua, cả bốn người trên máy bay – Rita, Crawford Sloane, Zileri và anh chàng lái phụ Felipe nhìn như dán mắt vào tấm màn xanh phía dưới. Họ tìm kiếm dấu hiệu có người, nhất là khu vực đường băng ngắn, hai bên toàn cây, mà cho đến tận khi bay ngay trên nó mới nhìn thấy. Và giống như hôm qua, tuyệt nhiên không có động tĩnh gì.
Trên lối mòn, Nicky càng thấy khó theo kịp nhịp đi như tra tấn này, Jessica và Minh đang diu nó, mỗi người túm một bên tay vừa lôi, vừa nhấc nó qua những chỗ khó trên đường đi. Cuối cùng có thể sẽ phải khiêng nó, nhưng lúc này mọi người còn phải giữ sức lực còn lại.
Từ lúc họ chia tay Fernandez đến giờ đã được khoảng mười phút, Partridge đã trở lại vị trí cuối hàng; từ vị trí đó thỉnh thoảng anh nhìn lại phía sau. Cho đến lúc này, vẫn chưa thấy bóng dáng bọn kia đâu.
Phía trên, vòm lá mỏng dần; ánh sáng lọt qua kẽ lá nhiều hơn. Lối đi rộng hơn, Partridge hy vọng đó là dấu hiệu cho thấy đã tới gần đường băng. Có lúc anh nghĩ nghe thấy tiếng máy bay ở phía xa, nhưng không dám chắc. Anh lại nhìn đồng hồ: bảy giờ năm mưoi lăm phút.
Đúng lúc đó, từ phía sau vọng lại một tiếng ngắn, đanh gọn, rõ ràng là tiếng súng. Chắc là Fernandez, Partridge nghĩ. Vậy là ngay cả khi dùng khẩu Browning mà Partridge đã cố ý tháo ông giảm thanh, anh thợ dựng kèo nhà đầy nhiệt tình ấy vẫn giúp họ lần cuối – báo cho họ biết bọn đuổi phía sau đã đến gần. Nhưng để xác nhận việc ấy, họ nghe mấy phát súng nổ.
Có lẽ bọn đang duổi theo họ thấy Fernandez đã chết, nhưng nghĩ là chúng thấy những người khác phía trước nên bắn hú hoạ. Sau đó không hiểu sao tiếng súng im bặt.
Bản thân Partridge cũng đã gần kiệt sức. Lúc này anh thấy khó tập trung tư tưởng.
Vào lúc đầu óc đang miên man, anh quyết định, điều mong muốn nhất là thôi không phải làm gì nữa. Khi cuộc phiêu lưu này kết thúc, anh sẽ tiếp tục kỳ nghỉ mà anh vừa mới bắt đầu, rồi đơn giản là biến mất, không gặp gỡ bất cứ ai… Jessica và Gemma là chuyện dĩ vãng. Vivien có thể là tương lai. Cho đến nay, có lẽ anh đối xử với nàng không công bằng; cuối cùng đã đến lúc phải tính chuyện cưới nàng… Hãy còn chưa muộn… Anh biết Vivien sẽ rất thích điều đó…
Rồi anh cố gắng trở về với thực tại.
Bỗng nhiên họ thấy mình đã ra khỏi rừng rậm. Đã thấy đường băng trước mặt! Một chiếc máy bay, chiếc Cheyenne đang lượn trên đầu. O’Hara, đáng tin cậy cho đến phút chót, Partridge nghĩ, anh đang lắp viên pháo hiệu màu xanh vào khẩu súng lệnh mà anh mang theo suốt cả chặng đường. Màu xanh nghĩa là: “Hạ cánh bình thường. Không có trở ngại gì”.
Và cũng đột nhiên từ phía sau vang lên hai tiếng súng, lần này nghe gần hơn.
“Bắn pháo hiệu đỏ, không phải pháo hiệu xanh!” Partridge hét gọi O’Hara. “Hãy làm thật nhanh!”. Pháo hiệu đỏ tức là “Hạ cánh càng sớm càng tốt. Chúng tôi đang gặp nguy hiểm!”.
* * *
Đã quá tám giờ. Trên chiếc Cheyenne II đang bay phía trên đường băng, Zileri quay lại nói với Rita và Sloane “Không thấy gì cả. Chúng ta qua hai điểm hẹn kia thôi”.
Máy bay đổi hướng. Đúng lúc đó, Crawford gọi: “Khoan đã! Tôi nghĩ tôi nhìn thấy cái gì đó”.
Zileri cho máy bay vòng lại. Ông ta hỏi: “Ở đâu?”.
“Ở dưới kia kìa”, Sloane lấy tay chỉ. “Tôi không biết chắc ở chỗ nào. Nó diễn ra trong chốc lát… tôi nghĩ…”. Giọng anh nghe cũng có vẻ không cả quyết lắm.
Zileri cho máy bay lượn tròn. Họ lại căng mắt quan sát mặt đất. Lượn được một vòng, người lái máy bay nói: “Tôi chẳng thấy gì cả. Tôi nghĩ chúng ta nên bay tiếp”.
Đúng lúc đó, pháo hiệu đỏ từ mặt đất bay lên.
* * *
O’Hara bắn phát pháo hiệu đỏ thứ hai.
“Thế đủ rồi. Họ đã nhìn thấy chúng ta”, Partridge nói. Chiếc máy bay đã đổi hướng bay về phía họ. Điều anh cần biết lúc này là máy bay sẽ hạ cánh theo hướng nào, để anh chọn đúng vị trí ở lại chống trả bọn chúng, trong khi những người khác leo vào máy bay.
Anh nhanh chóng thấy rõ câu trả lời. Chiếc Cheyenne II lượn một vòng rất hẹp, giảm độ cao rất nhanh và sẽ bay trên đầu họ. Sáu đó nó sẽ hạ cánh từ hướng lối mòn xuyên rừng nơi họ vừa nghe súng nổ.
Mặc dù nghe tiếng súng, nhưng nhìn lại, Partridge vẫn chưa thấy bóng đứa nào cả. Anh chỉ đoán tại sao chúng lại nổ súng. Có lẽ trong khi đi, đứa nào đó trong bọn chúng bắn hú hoạ, hy vọng may ra thì trúng.
Anh bảo O’Hara: “Đưa Jessica và Nicky ra chỗ đường băng thật nhanh và ở lại đấy với họ. Khi máy bay tới đầu đường phía xa, nó sẽ quay đầu chạy lại, chạy lại gần máy bay rồi tất cả trèo vào. Anh nghe rõ chứ, Minh?”.
“Tôi nghe rõ”, Minh trả lời, mắt vẫn dán vào ống kính, điềm nhiền ghi nhìn như anh đã mấy lần làm trong suốt chuyến đi. Partridge quyết định không cần phải lo cho Minh nữa. Anh ta biết cách tự giữ mình.
Jessica lo lắng hỏi: “Còn anh thì sao, Harry”.
Anh nói với nàng: “Anh sẽ bọc hậu bằng cách bắn chặn lối mòn. Khi mọi người đã lên hết máy bay, anh sẽ nhập bọn. Bây giờ đi đi!”.
O’Hara vòng tay dìu Jessica lúc này đang nắm bàn tay còn lành của Nicky và họ vội vã chạy về phía máy bay.
Ngay lúc họ vừa đi xong, Partridge ngoảnh lại phía rừng thì thấy bóng một vài đứa đang tiến về phía đường băng, tay giương súng.
Partridge nhoài người nấp sau mô đất gần đó. Anh nằm xấp, khẩu Kalashnikov để trước mặt, đưa những bóng di động vào thước ngắm. Anh siết cò, và trong tiếng súng nổ thấy một đứa gục xuống, những đứa khác lao tìm chỗ nấp. Cũng lúc đó, anh nghe tiếng máy bay lướt thấp trên đầu không cần ngoảnh lại, anh biết hiện giờ nó đang hạ cánh.
“Họ kia rồi”, Crawford Sloane hét lên vì quá hồi hộp. “Tôi nhìn thấy Jessica và Nicky!”. Máy bay vẫn đang còn chạy trên đường băng, bánh lướt nhanh trên mặt đường gồ ghề.
Điểm cuối đường băng vụt gần lại và Zileri hãm phanh rất gấp. Khi máy bay hết đà chạy, viên phi công vẫn phanh hãm và để một động cơ hoạt động, kèm đầu máy bay quay ngược hướng vừa hạ cánh. Sau đó, dùng cả hai động cơ để tăng tốc, ông ta cho máy bay chạy nhanh dọc đường băng về phía đối diện.
Chiếc Cheyenne II dừng lại đúng nơi Jessica, Nicky và O’Hara đang đợi. Felipe, người lái phụ đã rời chỗ ngồi và chạy về cuối máy bay. Từ bên trong thân máy bay, anh ta mở cửa và hạ thang xuống.
Nicky, rồi Jessica và O’Hara trèo lên thanh; mấy cánh tay giơ ra, trong đó có tay Sloane kéo giúp họ vào hẳn bên trong. Minh xuất hiện đằng sau mọi người và lom khom trèo vào.
Trong khi Sloane, Jessica và Nicky đang xúc động ôm ghì lấy nhau, O’Hara gọi to, giọng hổn hển: “Harry đang ở phía trước. Chúng ta phải đón anh ấy. Anh ấy đang bắn chặn bọn khủng bố”.
“Tôi thấy rồi”, Zileri bảo. “ngồi cho vững nào”. Ông ta lại tăng ga và máy bay chạy vụt về phía trước.
Đến cuối đường băng, ông ta lại cho máy bay lộn đầu lại. Lúc này máy bay nằm đúng chiều vừa xuống, sẵn sàng cất cánh, nhưng cửa lên vẫn còn để mở. Qua cửa máy bay để ngỏ, có thể nghe thấy súng nổ. “Bạn của các vị sẽ phải chạy thật nhanh tới máy bay”, giọng Zileri nghe khẩn thiết: “Tôi muốn chuồn khỏi đây ngay”.
“Anh ấy sẽ làm như vậy”, Minh nói. “Anh ấy đã thấy chúng ta và thế nào cũng tới”.
* * *
Partridge đã nghe và nhìn thấy máy bay. Liếc vội về phía sau, anh biết nó đã cố đến thật gần chỗ anh. Khoảng cách giữa anh và máy bay độ một trăm mét. Anh có thể chạy khom người thật nhanh tới máy bay. Song trước hết anh phải vẩy đạng vào phía đường mòn trong rừng để chặn lực lượng Sendero có thể phóng đến. Mấy phút vừa rồi, anh thấy bóng mấy thằng nữa, anh nổ súng và thấy một tên ngã nhào. Bọn còn lại đang nấp sau những thân cây. Một loạt đạn sẽ ghìm chúng ở đó, và đủ thời gian để anh chạy đến được máy bay.
Anh vừa tra băng đạn mới vào khẩu Kalashnikov, siết mạnh tay cò, anh bắn xối xả dọc hai bên đường mòn. Từ lúc nổ súng, lòng say mê chiến trận vốn có trong anh trỗi dậy… làm anh ngây ngất… nó làm chất adernalin chảy trong huyết quản, nước dịch trào…một thứ nghiện ngập đến điên rồi, phi lô gich trước âm thanh và cảnh sắc chiến tranh…
Bắn hết băng đạn, anh vứt súng, nhỏm dậy chạy, cúi gập người thật thấp. Chiếc máy bay đang ở trước mẳt. Anh biết anh sẽ thoát!
Partridge chạy được một phần ba đoạn đường thì bị đạn vào chân. Anh khuỵu ngay lập tức. Mọi việc diễn biến quá nhanh, anh phải mất mấy phút mới hiểu được chuyện gì xảy ra.
Viên đạn xuyên qua khoeo chân phải, làm vỡ đầu gối. Anh không thể bước được nữa. Cái đau khủng khiếp, hơn cả cái đau nhất mà anh tin là có thể có, lan toả khắp cơ thể. Vào lúc ấy, anh biết không bao giờ anh còn có thể đến được chỗ máy bay đang đợi. Anh cũng hiểu không còn thời gian nữa. Máy bay sẽ phải cất cánh. Còn anh sẽ phải làm cái việc mà trước đó nửa giờ Fernandez đã làm.
Thu hết sức lực còn lại, anh nhỏm người ra hiệu cho chiếc Cheyenne cất cánh. Điều quan trọng lúc này là mọi người hiểu được ý anh.
* * *
Minh đứng ghi hình ở cửa máy bay. Anh đang quay cận cảnh Partridge và ghi được giây phút khi anh trúng đạn. Felipe, người lái phụ đứng cạnh Minh.
Felipe gọi với vào trong. “Anh ấy trúng đạn rồi! Tôi nghĩ bị nặng đấy. Anh ấy đang vẫy bảo chúng ta đi!”.
Từ trong máy bay, Sloane nhoài người ra cửa. “Chúng ta phải đón anh ấy vào!”.
Jessica kêu to: “Đúng, ôi, đúng đấy!”.
Nicky hoà theo: “Chú Harry chưa vào thì đừng bay vội!”.
Chính Minh, người am hiểu thực tế của chiến tranh nói: “Không được đâu! Không có đủ thời gian”.
Qua ống kính, Minh đã thấy lực lượng Sendero đang tới gần. Vài thằng đã đến được mép ngoài đường băng, đang vừa chạy vừa nổ súng. Đúng lúc ấy, mấy viên trúng vào máy bay.
“Tôi bay đây”, Zileri nói. Ông ta đã hạ thấp phần cánh nắp phía sau chuẩn bị cất cánh, bây gờ ông đẩy tay ga về phía trước. Minh mang máy quay ngã giúi vào trong. Felipe cũng thụt vào và đóng cửa lại.
Khi máy bay đã đủ tốc độ, Zileri kéo nhẹ cần điều khiển. Chiếc Cheyenne II rời đường băng bay lên.
Jessica và Nicky đang ôm nhau khóc. Sloane ngồi mắt lim dim, lắc đầu như thể không tin vào những điều anh vừa thấy.
Minh tỳ máy vào cửa sổ, ghi những hình ảnh cuối cùng dưới đất.
* * *
Nằm trên mặt đất. Partridge nhìn chiếc Cheyenne II cất cánh bay đi.
Và anh còn thấy một cảnh khác nữa. Trong cơn đau đớn đến mờ mắt, anh như thấy bóng người mặt bộ đồng phục của hàng không Alitalia đang đứng ở cửa máy bay, mỉm cười vẫy anh.
Nước mắt bấy lâu nén lại trong anh bắt đàu trào ra. Sau đó, anh bị trúng thêm nhiều vết đạn và chết.
* * *
Nhìn xuống xác Harry Partridge, Miguel thề sẽ không bao giờ để diễn lại thất bại như hôm nay. Ở giai đoạn đầu của vụ bắt cóc, tuy rất phức tạp và công phu, hắn đã thành công đến mức khó tin. Thế mà vào giai đoạn hai, dễ dàng và không phức tạp bằng, thì hắn lại thất bại thảm hại.
Bài học rõ ràng là: không có gì dễ dàng và không phức tạp cả. Đáng ra hắn phải học bài học đó từ lâu. Nhưng từ giờ phút này trở đi, hắn sẽ ghi nhớ.
Sau đây làm gì?
Trước hết hắn phải rời Peru. Hắn có thể mất mạng nếu ở lại đây; Sendero Luminoso sẽ không để yên việc này.
Hắn cũng không thể trở lại Nueva Esperanza. Cũng may, hắn chẳng phải quay lại đó làm gì. Trước khi rời Nueva Esperanza, lường trước những chuyện có thể xảy ra, hắn đã nhét toàn bộ số tiền hắn có, trong đó có gần năm chục ngàn đôla nhận của Antonio Salavery vào lần cuối cùng hắn tới Liên hợp quốc, vào chiếc bao đựng tiền mà hắn đang đeo. Hắn cảm thấy cồm cộm, phải cái hơi khó chịu, nhưng làm hắn yên tâm.
Với số tiền này, hắn thừa sức rời khỏi Peru và trở về Colombia.
Bây giờ hắn định luồn vào rừng. Cách đây hai lăm cây số có một chỗ đỗ máy bay – không phải hai nơi hôm nay chúng đến – là nơi các máy bay chở ma tuý do phi công Colombia lái thường lên xuống. Hắn biết có thể dúi tiền để họ chở hắn về Colombia, và một khi đã ở đó, hắn sẽ được an toàn.
Nếu có đứa nào trong đám từ Nueva Esperanza kia dám ngăn cản, hắn sẽ giết chết nó ngay. Nhưng hắn không tin là có đứa nào sẽ làm như vậy. Trong số bảy thằng cùng đi với hắn đến đây, chỉ có bốn còn sống sót. Ramon cùng hai hằng nữa đã bị bắn chết bởi tay cái thằng nước ngoài chó chết đang nằm dưới chân hắn đây. Không biết nó là thằng nào, nhưng rõ ràng là một tay súng giỏi.
Ngay cả ở Colombia, thất bại ở Nueva Esperanza cũng sẽ ảnh hưởng đôi chút đến tiếng tăm của hắn, song cũng không lâu. Và không như Sendero Luminoso, các cácten ma tuý Colombia không đến nỗi cuồng tín. Táo bạo thì có đấy, song bình thường họ thực dụng và lo làm ăn. Miguel là tên khủng bố vô chính phủ rõ ràng đáng bỏ tiền ra thuê. Các cácten có nhu cầu sử dụng đến hắn.
Gần đây, hắn được biết họ đang thực hiện một chương trình dài hạn biến một số nước nhỏ và trung bình thành nơi ngự trị của cácten ma tuý như ở Colombia. Hắn tin chắc dự án này sẽ cho hắn dịp thi thố tài năng đặc biệt của hắn.
Colombia không còn là một thể chế dân chủ nữa. Bề ngoài có vẻ vẫn còn đấy, song ngay cả những cái đó cũng đang biến mất dần khi các vụ giết chóc theo lệnh của những ông chủ cácten tỷ phú hùng mạnh đã loại dần cái thiểu số tin vào những con đường cũ.
Để biến những nước khác thành những Colombia mới, cần phải hối lộ các nhân vật chóp bu hoặc gần chóp bu trong chính phủ của những nước này; hối lộ sẽ tạo điều kiện cho các cácten ma tuý có thể mò vào hoạt động ở đó. Tiếp theo, bằng những bước đi âm thầm, xảo quyệt, các cácten sẽ dần dần mạnh hơn cả chính phủ sở tại. Sau đó, như ở Colombia không gì có thể đảo ngược được nữa.
Hiện nay người ta nói đến bốn nước có khả năng sẽ được “Colombia hoá”. Đó là Bolivia, Elliott Salvador, Guatemala và Jamaica. Rồi sau sẽ có thêm những nước khác được đưa vào danh sách.
Với khả năng và kinh nghiệm sống sót độc đáo, Miguel nghĩ, có thể hắn sẽ bận rộn suốt trong thời gian tới.
1 Một máy nóng, còn chiếc kia lạnh
20
Trên chiếc Cheyenne II, phải mấy phút sau mọi người mới cảm thấy có thể nói chuyện được. Crawford Sloane đang ôm chặt Jessica và Nicky, như chỉ có ba người với nhau. Cuối cùng Sloane ngẩng đầu hỏi Minh Văn Cảnh: “Về Harry… anh có thấy thêm gì nữa không?”.
Minh buồn rầu gật đầu: “Tôi tập trung ghi hình anh ấy. Lại trúng đạn mấy lần. Không còn nghi ngờ gì nữa”.
Sloane thở dài, nói: “Anh ấy là người giỏi nhất…”.
Minh sửa lại, giọng bỗng rất to: “Một phóng viên tài ba nhất, một người tốt nhất. Tôi đã gặp nhiều, nhưng không một ai trong số tôi biết có thể sánh được với Harry trong tất cả những năm vừa qua”. Câu này được nói như một lời thách thức. Minh biết Sloane và Partridge cùng một thời gian.
Nếu đó là lời thách thức, thì Sloane cũng không có ý định tranh cãi. Anh chỉ nói: “Tôi cũng thấy thế”.
Jessica và Nicky đứng nghe, cả hai đang bận rộn với suy nghĩ riêng của mình.
Chính Rita, một người làm tin chuyên nghiệp và có trách nhiệm phải làm, lên tiếng hỏi Minh: “Tôi có thể xem những hình anh ghi được không?”. Cô biết mặc dù Harry đã chết, cô vẫn phải làm để kịp chuyển tin ở Lima, tiếc là chỉ còn không đầy một giờ nữa.
Cô cũng biết họ đang có một tin độc nhất vô nhị trên thế giới.
Minh tua lại băng, rồi chuyên chiếc máy quay Betacam cho Rita. Nheo mắt nhìn qua ống kính, cô ta xem những đoạn ghi trong băng: Minh bao giờ cũng ghi được cái cốt yếu của vụ việc. Những hình ảnh tuyệt vời. Những hình ảnh cuối cùng – lúc Harry bị thương, rồi ngã gục trong làn đạn hiểm – được quay trọn vẹn và cảm động. Khi đưa lại máy cho Minh, Rita rơm rớm nước mắt, nhưng cô lấy mu bàn tay lau vội, biết rằng không có thời gian để thương tiếc Harry hay khóc lóc. Hai cái đó để sau, có lẽ là tối nay khi còn lại còn một mình.
Sloane hỏi: “Harry có ai – có bạn gái không? Tôi biết sau khi Gemma mất, anh ấy không lấy ai nữa”. “À, cũng có đấy”, Rita trả lời. “Tên chị ấy là Vivien. Chị ấy là y tá, hiện sống ở một nơi gọi là Port Credit, ngoại ô Toronto”.
“Chúng ta cần gọi điện báo cho chị ấy. Nếu chị muốn, tôi sẽ nói chuyện với chị ấy”.
“Vâng, tôi muốn vậy”, Rita đáp. “Khi nói chuyện, anh nhớ cho chị ấy biết trước khi đi, Harry có để lại có để lại di chúc, hiện tôi đang giữ. Anh ấy để lại tất cả mọi thứ cho chị ấy. Vivien không biết hiện giờ chị ấy đã trở thành một triệu phú. Có vẻ Harry gửi tiền ở những nơi không bị thuế khắp trên thế giới. Kèm theo di chúc, anh ấy liệt kê những nơi anh ấy gửi tiền”.
Trong khi mọi người mải nói chuyện không chú ý, Minh đang quay Jessica và Nicky. Lúc này Rita thấy anh ta chĩa ống kính vào bàn tay quấn băng của Nicky. Nó làm cô nhớ đến cái cô mang theo từ Lima; thò tay vào túi đeo, cô rút ra bức điện telex nhận qua Entel Peru.
“Trước khi đi”, Rita nói với mọi người, “anh ấy nhờ tôi gửi điện cho một người bạn hiện là bác sĩ phẩu thuật ở Orleans, California. Harry giải thích bạn anh ấy là một trong những chuyên gia có hạng về chữa tay bị thương trên thế giới. Trong điện, anh ấy hỏi một số vấn đề về trường hợp của Nicholas. Đây là điện trả lời”.
Cô đưa bức điện chữ in cho Sloane và anh đọc to:
“Phúc điện cho anh. Đã đọc tin anh cung cấp, đồng thời biết chi tiết qua báo chí về bàn tay của anh bạn trẻ. Không nên nối ngón tay giả. Chúng không cử động được và giúp cậu bé chơi piano, thậm chí còn vướng thêm. Trái lại, cần và có thể học cách đổi ngón tay sao cho ngón trỏ và ngón út chạm tới phím đàn. Dẫu sao cũng còn may, vì nếu mất ngón khác sẽ không làm thế được. Chỉ áp dụng được cho hai ngón vừa nói.
Tập đổi ngón tay đòi hỏi kiên rì, nhẫn nại, song nếu hăng say thì có thể làm được. Còn trẻ nên cũng dễ. Chỗ tôi có bà cũng mất hai ngón, bây giờ vẫn chơi được piano. Rất vui lòng để hai người gặp nhau nếu anh muốn.
Giữ mình cẩn thận, Harry, chào thân ái nhất.
Bác sĩ Jack Tupper.
Mọi người im lặng, rồi Nicky nói: “Con xem được không bố?”. Sloane đưa cho nó bức điện.
“Đừng đánh mất nhé”, Jessica dặn Nicky. “Nó sẽ là kỷ niêm của con về chú Harry. Nàng nghĩ sự gắn bó tự nhiên giữa Harry và Nicky tuy ngắn ngủi nhưng đẹp biết bao!
Nàng nhớ lại những lời xót xa mà lúc trước Nicky đã nói với Harry ở Nueva Esperanza: “Chúng giết ông chặt đứt hai ngón tay của cháu; thế là cháu không còn chơi piano được nữa”. Rõ ràng Nicky không bao giờ có thể chơi trong dàn nhạc, điều nó hằng mơ ước. Nhưng nó sẽ chơi đàn bằng cách khác và thoả mãn được lòng say mê âm nhạc của nó.
Nicky dùng tay trái cầm bức điện và đọc, nụ cười nở trên môi. Bàn tay quấn bưng đang đảo qua đảo lại. Crawf bảo: “Tôi nghĩ sẽ không bao giờ trong những việc ta làm, ta lại không có lý do để cảm ơn Harry”.
“Cả Fernandez nữa”, Jessica nhắc anh. Họ đã kể về gương hy sinh cầm chắc cái chết của anh thợ dựng kèo nhà. Bây giờ nàng kể cho Crawf và Rita nghe lời Harry hứa trước khi để Fernandez lại bên cạnh đường mòn.
Fernandez nói đến vợ và bốn đứa con, hỏi liệu có ai sẽ chăm nom họ không và Harry đã trả lời: “Anh làm cho CBA nên CBA sẽ chịu trách nhiệm việc đó. Tôi đảm bảo với anh, chính thức hứa sẽ làm như vậy. Việc ăn học của lũ trẻ, tất cả”.
“Nếu Harry đã nói như vậy”, Sloane bảo, “anh ấy đã thay mặt CBA và nó có tính ràng buộc như một văn bản pháp lý. Khi về New York tôi sẽ lo thực hiện việc ấy”.
“Cũng hơi khó đấy”, Rita trả lời: “Việc đó xảy ra sau khi Harry bị đuổi việc, mặc dù anh ấy không hề biết”.
Nghe được câu đó, Minh có vẻ giật mình sửng sốt, điều đó cho thấy chỉ rất ít người biết có bức thư cho thôi việc của Chippingham.
“Không có vấn đề gì”, Sloane nói: “Lời hứa của Harry sẽ được thực hiện”.
“Nảy sinh vấn đề ta phải quyết định ngay”, Rita chỉ rõ: “Chúng ta sẽ nói đến việc đuổi Harry trong phần đưa tin hôm nay chứ?”.
“Không”, Sloane dằn giọng: “Đó là chuyện nội bộ xấu xa, chúng ta không vạch áo cho người xem lưng”.
“Nhưng rồi cũng sẽ lộ ra”, Rita nghĩ bụng. “cuối cùng mọi người đều biết, luôn luôn là như vậy”.
Crawf vẫn chưa biết là có bức điện “đồ chó đẻ” mà cô đã gửi qua fax về Vành móng ngựa cho Leslie Chippingham. Có lẽ chỉ một tuần sau nó sẽ được đăng trên tờ thời báo New York hoặc Bưu điện Washington. Nếu không thì cũng là trên tờ Tạp chí báo chí Colombia, hoặc Tạp chí báo chí Washing ton. Mặc kệ, không sao!
Rita cũng nhớ là vì bức điện đó, cô có thể mất việc. Ngoài những điều đã viết, cô còn ký “cựu chủ nhiệm”. Thôi muốn ra sao cũng được, còn bây giờ cô phải hoàn thành công việc này đã.
Jessica lên tiếng: “Có một việc tôi cứ nghĩ mãi. Đó là về cái đường băng chúng ta ở đó lúc nãy, cái cuối cùng ấy”, “Sion”, Rita nhắc.
Jessica gật đầu. “Trên đường mòn, và khi ở đường băng tôi có cảm giác đã thấy nó từ trước. Tôi nghĩ đó là nơi lúc đầu chúng tôi bị đưa đến và rồi dần tỉnh lại. Song lúc ấy tôi không biết đó là đường băng máy bay. Và còn việc này nữa”.
“Chị cứ nói tiếp đi”, Rita bảo. Cô đã có trong tay cuốn sổ và đang ghi chép.
“Có một gã trong chiếc lán chúng tôi bị giam. Tôi không biết hắn là ai nhưng biết chắc hắn là người Mỹ. Tôi cầu cứu hắn, nhưng gã không giúp gì cả. Song tôi có được cái này”.
Hôm trước Jessica đã lấy bức hoạ mà nàng vẽ từ dưới nệm giường ra. Nàng gấp lại, và từ đó mang theo, giấu trong áo lót. Nàng đưa cho Rita.
Đó là hình tay phi công lái chiếc Learjet, Denis Underhill.
“Tối nay chúng ta sẽ phát bức hình này trong bản tin chiều toàn quốc và yêu cầu mọi người nhận diện”, Rita nói: “Trong số hai mươi triệu người xem, thế nào cũng có người nhận ra hắn”.
Chiếc Cheyenne kêu vù vù, vẫn đang ngóc lên lấy độ cao chuẩn bị vượt những đỉnh cao Andes thuộc dãy Cordillera, sau đó sẽ xuống dần và trở lại Lima. Rita thấy lúc này là chín giờ sáng. Còn khoảng bốn mươi phút nữa mới tới Lima.
Cô thấy rằng ngay bây giờ cần cùng với Crawf vạch rõ kế hoạch cho thời gian còn lại trong ngày. Cô đã làm trước một số việc, trong đó đưa lại phần lớn, chứ chưa phải tất cả, những gì đã xảy ra.
Vào lúc này, câu chuyện ky kỳ về cuộc giải thoát con tin chỉ riêng CBA có. Vì thế, cho đến năm giờ rưỡi tối ở Peru, tức là thời gian phát bản tin đầu tiên ở New York, cần đưa Jessica và Nicky đến một nơi nào đó, để cánh báo chí và truyền hình khác không thấy và không gặp được họ. Cô tin là Crawf cũng thấy cần làm như vậy. Điều đó có nghĩa là chưa thể đưa Jessica và Nicky về khách sạn Cesar hoặc Entel Peru, vì cả hai nơi đều đầy phóng viên và nhóm làm tin truyền hình. Các khách sạn khác ở trung tâm Lima cũng vậy.
Vì thế Rita dàn xếp cho họ tới nhà giám đốc kiêm phi công hãng Aerolibertad, ông Oswaldo Zileri ở vùng ngoại ô Maraflores. Họ sẽ ở đó cho đến năm rưỡi chiều, sau đó có gặp phóng viên báo chí và truyền hình cũng không sao. Đó quả là một thử thách mà cuối cùng họ đành chấp nhận
Trong thời gian đó, cùng với biên tập viên video Bob Watson, Rita sẽ sắp xếp tin cho chương trình tin chiều hôm đó. Đó sẽ là một tin dài, dùng phần lớn số hình Minh ghi được, cảnh cứu con tin, cái chết của Harry Partridge và giây phút đau buồn khi Fernandez ngồi lại bên đường mòn.
Cô thậm chí không cần hỏi New York xem độ dài cụ thể của tin là bao nhiêu. Cô biết đây là một dịp cô muốn sử dụng bao nhiêu thời gian cũng được.
Cô cũng tin hãng sẽ muốn có bản tin đặc biệt trong một giờ vào giữa buổi tối. Được thôi, cô đã có đủ tư liệu cho nó, bao gồm cả băng hình Dolores, bạn rượu của cựu bác sĩ người Mỹ Hartley Gossage, còn gọi Baudelio, kẻ đã táng tận lương tâm dùng tay nghề của hắn vào việc đưa ba nạn nhận của vụ bắt cóc qua Peru. Harry đã chuẩn bị trước, với lời bình luận của anh và có thể dùng được ngay.
Còn những thứ khác cho chương trình tin tối và các chương trình sau, Crawf sẽ viết lời và thu hình tại chỗ. Việc đó cũng khó cho anh. Anh sẽ phải nói đến cái chết của cha mình, của Harry Partridge và Fernandez, đến việc chặt ngón tay Nicky. Đôi lúc Crawf cũng hay xúc động và có thể nghẹn lời. Nhưng không sao, Rita nghĩ. Nó càng làm cho câu chuyện có sức thuyết phục hơn, và Crawf sẽ qua được và nói tiếp. Anh ta là người làm tin chuyên nghiệp, giống như Rita và những người khác.
Rita nhận thấy một đoạn tin không thể và không nên để cho đến hết ngày. Đó là việc giải thoát con tin đã được tiến hành, Jessica và Nicky đã được cứu thoát. Chắc chắn sẽ phải phát tin. Khi Ban tin CBA ở New York nhận được, họ sẽ ngừng ngay chương trình đang phát để đưa. Một lần nữa, CBA lại nhanh chân hơn các hãng khác đang cạnh tranh với nó.
Rita lại nhìn đồng hồ: chín giờ hai mươi ba phút. Còn bay khoảng hai mươi phút nữa. Trừ thời gian đi từ sân bay về Lima, có thể đưa ngay tin vào lúc mười giờ rưỡi sáng. Họ sẽ chỉ gửi một vài hình ảnh, “Truyền ngay và truyền thô” như lối họ đã làm ở sân bay Dallas Ford khi đưa tin về vụ tai nạn máy bay mà cô, Harry, Minh và Ken O’Hara phối hợp làm cách đây chưa đầy một tháng.
Chả lẽ mới vừa đây sao? Thế mà như có vẻ lâu hơn, lâu lắm rồi.
Cô cần đăng ký thời gian phát qua vệ tinh cho bản tin mười giờ rưỡi sáng. Rita nhoài về phía trước, vỗ vào vai Zileri. Khi ông quay lại, cô chỉ chiếc đài liên lạc trên máy bay. “Ông có thể gọi về được không? Tôi muốn nói chuyện với New York”.
Cô ghị vội số điện đưa ông ta. Chỉ một lát sau, thật không ngờ, trên loa vang lên giọng nói: “Tin đối ngoại CBA”.
Người lái phụ, Filipe, đưa cho cô chiếc micro và bảo: “Chị nói đi”.
Cô bấm nút và nói: “Rita Abrams đây. Đăng ký cho tôi phát tin từ Lima vào lúc mười rưỡi sáng, giờ Lima. Hãy báo Vành móng ngựa biết”.
Tiếng trả lời ngắn gọn: “Được, chúng tôi sẽ làm”. “Cám ơn, chào anh”. Cô đưa trả micro.
Cần có bài làm cho bản tin này, cũng như cho các chương trình sau. Rita ngoáy mấy dòng, sau đó quyết định để Crawf làm nốt và tìm đúng câu chữ. Anh ta bao giờ cũng làm được việc đó. Có thể anh ta còn phải nói vơ một số đoạn và làm việc ấy cũng rất giỏi.
Trong chặng bay còn lại, cô và Crawf phải cùng nhau làm. Đáng tiếc điều đó có nghĩa là phải kéo anh ta ra khỏi vòng tay của Jessica và Nicky. Song anh ấy, cũng như hai mẹ con Jessica sẽ hiểu cần phải làm như thế. Như mọi người khác trong nghề, họ đều hiểu tin tức là trước hết.
“Crawf”, Rita nhẹ nhàng nói: “Anh và tôi còn có việc phải làm. Đã tới lúc chúng ta bắt đầu”.
HẾT