📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Tác giả người Việt

Nhận Định bài Liên Khúc Vô Thường của Phan Bá Thụy Dương

2 trả lời, 905 lượt xem — Trang 1 / 1

Nhận Định
bài Liên Khúc Vô Thường
của Phan Bá Thụy Dương
 
 
Diên Nghị

 
đốt công án vất kinh thư khải ngộ - theo đường trăng - trăng    khi tỏ khi lu
tìm người hiền nơi thâm cốc âm u - thõng tay vào rừng giả làm ẩn sĩ
giòng sinh mệnh, chừng nhuộm màu chướng khí - bến nhân gian ai quán niệm vô thường - hành trình xa ngựa đà lỏng dây cương - trên vách núi chân dung in mờ tỏ.
ném công án chôn kinh thư bất ngộ - nương sông ngòi biển cả tới an nhiên - nửa u hoài, nửa chợt nhớ, chợt quên - bỗng tan tác cùng tiên thiên, tự ngã - tay huyễn hoặc đề lời thơ trên lá - hồn xanh xao lạc lõng chốn phiêu bồng - người đâu rồi, người đâu rồi sao tịch mịch hư không - hương dạ thảo đang chớm mùa khai nở.
 
hủy công án buông kinh thư giác ngộ - vào chợ đời áo mỏng phất phơ bay - bụi khói mê man chênh chếch nắng gầy - lời phố thị chập chờn như ảo giác - ta là ai, ta là ai sao tâm linh ngơ ngác - người là ai, người là ai mà sắc diện mơ hồ -rượu độc ẩm hề, chân lạc loài đưa - mây biến dịch, mưa chắt chiu giọt nhỏ.
 
phan bá thụy dương.
 
 
     Trong hàng trăm sách Kinh Bát Nhã, tập chú trung điểm lời chư Phật, chỉ rõ mục đích Đạo Phật nhằm giải thoát chúng sinh khỏi chốn trầm luân, khổ ải.

Đức Phật nhìn vạn vật vô thường. Con người trong khái niệm vạn vật nhất thể cũng bị chi phối, ràng buộc bởi hạn hữu qui trình sinh, lão, bệnh, tử, giữa giòng thời gian vật lý xuôi về vô hạn. Không chỉ triết thuyết Phật Giáo đề cập phương cách giải thoát chúng sinh khỏi hệ lụy cuộc đời, Ki Tô Giáo cùng các tôn giáo khác cũng tin rằng con người khi mãn phần nơi trần thế không hẳn đã chấm dứt, hết chuyện, mà khi lìa bỏ, vắng bóng ở hiện thế là đang được chuyển dời đến chốn khác, minh hoạ bằng ảnh tượng siêu thực như Cõi Tiên, Niết Bàn, Thiên Đường v.v... dành đón nhận linh hồn thánh thiện


Mọi tôn giáo chân chính đồng qui tư tưởng lớn, phổ quát : làm điều lành, tránh điều ác. Cuộc sống nhân sinh vốn ngắn ngủi, trăm năm có là bao. Trăm năm chỉ là ước mơ biểu tượng (trăm năm hạnh phúc, trăm năm đầu bạc răng long), thử hỏi có bao nhiêu sinh mệnh đạt tới đỉnh cao mong đợi


Tôn giáo nhận định rằng khổ đau tồn tại trong mọi hình thúc sinh tồn con người phải phấn đấu. Con người thực thể trách nhiệm chính số phận mình, về hành động nghỉ ngơi, hưởng thụ cũng như sáng tạo. Con người hẳn có khổ đau lẫn hạnh phúc , khoái lạc. Kết cuộc sau mỗi hạnh phúc, trạng thái thừa sót lại là âu lo, ưu tư, trăn trở. Tại sao? Tại cái thế giới hữu hình, trong đó, con người có mặt chỉ là tạm bợ, phù du. Nó biến đổi theo từng sát na. Quy luật thiên nhiên tác động không ngừng. Vô thường lộ diện.


Đời người tựa hồ bào ảnh bể khơi, lênh đênh chìm nổi (chiếc thuyền bào ảnh lô xô gập ghềnh – Cung Oán), thế nên con người, thế hệ nối liền thế hệ, ít ai phủ nhận cuộc đời như Phật dạy: “nước mắt chúng sinh nhiều hơn biển cả”. Cuộc đời nơi chốn lưu đày vừa mong manh (bất an), vừa khốn đọa (khổ hạnh). Cuộc đời phủ phàng đến thế, con người cũng không dễ dàng thoát vượt khỏi vòng “kim cô” ấy.

Văn hào nước Pháp từ thế kỷ 18 , Anatole France đã góp một chận xét trung thực: “Biết cuộc đời vốn khổ lụy, lưu đày, phù phiếm, nhưng tại sao con người vẫn yêu cuộc đời như thế? Phải chăng con người vốn yêu cái thú đau thương !”

Mâu thuẩn nội tại đặt ra nhiều luận điểm cần lục xét, giải tỏa. Nói cách khác, triết lý về cuộc đời có căn nguyên nhập thế, phần còn lại, cuộc xuất thế sẽ thế nào?

Trước vấn nạn thường tình, chung nhất, chưa có ngôn ngữ trần gian nào có thể trực tiếp đáp trả. Những triết gia siêu hình học chưa hề dừng bước trên những ngã đường khám phá. Những bậc chân tu trí huệ, những thi sĩ xưa nay – Phan Bá Thụy Dương là một – phóng thể mạo hiểm hành du.
 
Đốt công án vất kinh thư khải ngộ
Theo đường trăng Trăng Khi tỏ khi lu
Tìm người hiền nơi thâm cốc âm u
Thõng tay vào rừng giã làm ẩn sĩ
 
Thẩm nhập thế giới vô thường, Phan Bá Thụy Dương có sứ mạng gặp hiền triết cùng trao đổi, giải bày, thuyết thoại, bởi thái độ ẩn sĩ người hiền nơi thâm sơn cùng cốc đã thụ cảm, lĩnh hội ngôn ngữ từ trong những kinh sách viễn khứ, mà ngôn ngữ của kinh quả là ngôn ngữ tĩnh lặng thành vô ngôn – địa giới vô ngôn – muốn cảm ứng phải hoàn toàn thanh tịnh.


Hiền triết đi trước Phan Bá Thụy Dương đã tự ngộ - nhận thức không một bậc thánh thiện nào truyền đạt viên mãn tròn đầy nếu không chính bản thân suy nghiệm.

Nương theo giòng sinh mệnh bấp bênh chìm nổi, có khi tai biến, rủi ro (giòng sinh mệnh chừng nhuộm màu chướng khí) giữa nhân gian, tác giả vẫn tiếp tục hành trình hăm hở, khát vọng cho đến lúc sức mỏi, chân mòn, thân ngựa đã lỏng dây cương, cũng chỉ gặp thoáng hiện chân dung hắt bóng u minh trên vách núi chênh vênh giữa hai bờ dốc ngược.


Không thể dừng chân, bỏ cuộc, ý chí vững quyết vươn lên, núi dựng cách ngăn, hiểm trở, tắt  đường, nghẽn lôí, hãy nương theo hướng khác. Rời núi, nương sông tìm nhánh ngành ra biển cả :

Ném công án chôn kinh thư bất ngộ
Nương sông ngòi biển cả tới an nhiên
 
Cõi an nhiên bao la trời nước, trùng trùng diệu vợi, càng tìm thấy càng xa vời, như đùa bỡn khiêu khích, như có đó mà cũng như không, chập chờn ẩn hiện. Cái tâm bỗng vọng động hoang mang, nhớ quên, quên nhớ, biến tan như bọt nước ngàn khơi:
 
Nửa u hoài, nửa chợt nhớ, chợt quên
Bỗng tan tác cùng tiên thiên tự ngã
 
Ngôn ngữ thi ca bất thần xuất hiện, bàn tay ẩn mật diệu kỳ nào đã đề thơ trên lá, giữa khung cảnh phiêu bồng bát ngát, hồn thơ rơi vào cõi lạc loài, cô đơn cùng cực, cất tiếng gọi đồng loại như một ủy thác, vào tha nhân để được sẻ chia, đồng cảm:

Tay huyễn hoặc đề lời thơ trên lá
Hồn xanh xao lạc lõng chốn phiêu bồng
Người đâu rồi sao tịch mịch hư không
Hương dạ thảo đang chớm mùa khai nở
 
Không có ai, ngoài tác giả, mang mảnh hồn xanh xao tư lự, hoài nghi, mùi hương dạ thảo thơm lừng báo mùa khai mở, tín hiệu của nguồn sống trào dâng, tốt tươi, hy vọng. Vũ trụ thực hữu nơi chốn (phiêu bồng) và vũ trụ ý tưởng gặp nhau (lạc lõng) mở ra tương quan thiết hệ nội tâm và ngoại cảnh. Tác giả đang dừng lại bên lề cuộc hành trình, mọi hiện tượng phảng phất vô thường xâm nhập vào bản thể, thúc đẩy nối tiếp cuộc dấn thân lần nữa, mạnh mẽ, cương quyết, thách thức :

Hủy công án buông kinh thư giác ngộ
 
Đủ ba lần rũ bỏ mọi công án trĩu nặng tâm tư hiện kiếp, xếp trang kinh ngộ dành đối chiếu chân lý mai sau. Lần đầu tiên, đốt công án, vất kinh thư khải ngộ. Lần hai, ném công án chốn kinh thư bất ngộ. Và lần nữa, hủy công án buông kinh thư giác ngộ, đi tìm kỳ công thâm diệu của tự ngộ ở cõi vô thường. Ước vọng của con người, với cuộc đời tưởng chừng dễ dàng kiếm tìm những gì muốn tìm kiếm, thì cũng dễ dàng ngả nón chào thua, bỏ cuộc kiếm tìm, chưa hạnh ngộ, cơ duyên. Thay vì thẳng đường dong ruỗi đến cõi an nhiên, tự tại, vô thường, vô ngôn, vô thanh, vô sắc, thì tác giả rẽ vào chợ đời nhốn nháo, phất phơ:
 
Vào chợ đời áo mỏng phất phơ bay
Bụi khói mê man - Chênh chếch nắng gầy
Lời phố thị chập chờn như ảo giác
 
Giấc mơ đã biến thể, tách đường mộng ảo, ta trở lại với cái ngã cố hữu. Giấc mơ vào cõi bờ thiền tịnh mong nhận một nhân duyên, nhưng có giấc mơ nào thoát ra khỏi hiện hữu cuộc đời. Hiện thực đã đưa con người choàng tỉnh. Hành trình mơ ước chỉ còn dư ảnh, dư hương… Cái ta hiện hữu thảng thốt giao động :
 
Ta là ai-
Ta là ai sao tâm linh ngơ ngác

 
Và ẩn sĩ hiền triết mong được nhận diện chỉ tao ngộ mơ màng mà tướng mạo đã mơ hồ sương khói :

Người là ai-
Người là ai mà sắc diện mơ hồ

 
Ta và Người trong cõi uyên nguyên huyền bí, dung thông bằng kiến thị huyễn tưởng, phải chăng còn nặng “nghiệp nhân sinh” (đã mang lấy nghiệp vào thân – Nguyễn Du).

Nghiệp vẫn song hành với Kiếp. Cũng như Thúy Kiều đã gánh chịu một kiếp (kiếp còn nặng nợ má đào – Nguyễn Du) thì hiền triết và thi nhân giữa cuộc đời cùng gánh chung khối nợ tài hoa khó trả (gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi – Nguyễn Du). Nợ má đào và nợ tài hoa đều là nợ nhân duyên, tương quan đời kiếp.

Con người ý thức, khi muốn trút bỏ, hủy hoại, càng nhiều công án đè nặng bản thân, thì cũng chính là lúc những công án khác đang manh nha nhập trụ vào. Khi dấn thân mạo hiểm cố đến ngọn nguồn mơ ước thực hữu thì hình tượng ước mơ đã biểu hiện tiệm tiến bằng dòng mộng ảo, vì mơ có nghĩa không bao giờ thực. Biến mơ thành thực có nghĩa là còn muốn sống, muốn liên hệ hữu cơ với cuộc đời. Và một khi giấc mơ trở thành sự thực, ta đã phải ngỡ ngàng tự vấn: Ta là ai? Và người đối diện : Người là ai? Cả hai cùng chung một kiếp, cùng cộng nghiệp ( tâm linh ngơ ngác, sắc diện mơ hồ).

Và quả thật khát vọng tìm kiếm còn nồng cháy thúc bách thì phải tiếp tục bước lên đường, hăm hở như buổi khởi đầu. Xin đừng nản lòng, nhụt chí khí. Phải ngộ rằng caí chân lý mà ta muốn kiếm tìm là trạng thái của một người lữ hành đang đi và chưa đến.

Thi nhân sau ly rượu suy tư như một khai ngộ về cuộc đời và mặc cho đời đưa đẩy:
 
Rượu độc ẩm hề, chân lạc loài đưa
 
trước lẽ biến dịch âm dương của tạo vật:
 
Mây biến dịch, mưa hắt hiu hạt nhỏ

.
Giấc mơ trả người trong cuộc về chợ đời nhốn nháo. Chợ đời là quê hương muôn thuở của con người. Con người không thể tách rời, trốn chạy. Từ bỏ trách nhiệm là thái độ vong thân.

Sinh vật thượng đẳng vốn yếu đuối giữa Đất Trời, nhưng hiểu được Đất Trời, như Pascal nhận xét :”L’homme est un roseau, mais un roseau pensant” (con người là môt cây sậy, nhưng là cây sậy tư tưởng). Qua ta bà vạn cõi, mang theo mộng ước giải thoát lại rơi vào cõi mộng, được mộng dẫn dắt trở về và chỉ ra cho thấy, vô thường hiện diện ở mọi nơi, mọi lúc, mọi vật. Con người khát vọng kiếm tìm hãy tìm kiếm từ tâm thức mình như Phật dạy (Phật tại tâm). Cái Tâm trong sáng chỉ đạo và quyết định. Giải thoát khổ lụy giữa đời phải tự rèn luyện, điều khiển cho được các giác quan thuộc về ngũ uẩn, phát tâm bồ đề, thăng hoa lòng nhân ái, nhắm đến đại đạo vô thường cao cả.

Bài thơ như một chân kinh, kết hợp thi từ, thi ảnh xúc tích, thông qua kỷ thuật lão luyện. Ý thơ bóng bẩy, lắng sâu. Liên khúc vô thường vang vọng gần xa, dư âm bàng bạc như khứ, như lai, như nhiên, như thị, hàm chứa một tỉnh thức giữa thời đại còn đầy rẫy nghiệp chướng, tai ương.


     DIÊN NGHỊ
     tạp chí Nguồn 2006
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0


Tính Chất Nhân Bản & Trữ Tình
Trong Thơ Phan Bá Thụy Dương
 
TRẦN TUẤN KIỆT
 
 














Phần đông anh em văn nghệ sĩ họat động báo chí trong 2 thập niên 60 và 70 là người viết chuyên nghiệp. Nhưng có một quân nhân và là một viên chức Tài chánh chính ngạch lại là một nhà thơ, một người viết văn rất được nhiếu người ưa chuộng. Không bao giờ tự nhận mình là thi sĩ, nhưng chất thơ, hồn thơ của anh lại lãng mạn, trữ tình, chứa đựng nhiều hệ lụy hơn ai hết. 

Người đó là Phan Bá Thụy Dương. sanh năm Canh Thìn tại Long Hương, Tuy Phong, một quận lỵ đầy sông núi, biển cả thuộc tỉnh Bình Thuận trong một gia đình nho phong. Tánh tình anh rất khiêm cung, hòa nhã, hay giúp người. Trong thời chiến, nhiều thân hữu thường gọi anh là thi sĩ đã đem tâm tình và nhân bản tính vượt trên cuộc chiến. Tôi nhớ trong nguyệt san Tiền Phong năm 1971 thi sĩ Du Tử Lê đã viết về anh như sau:

“…Đối với PBTD, dường như lãnh vực Văn học Nghệ thuật chỉ là một vườn hoa, còn anh thì luôn coi mình như là một cánh bướm, một cánh chuồn chuồn, khi vui thì đậu, khi buồn thì bay…”

Trong số báo này, người Thư Ký TS tạp chí này cũng đã đăng bài tạp ghi: Những Ý Nghĩ Rời và sơ lược tiểu sử của PBTD kèm một bức ảnh mặc quân phục chụp ngày họ Phan giã từ vũ khí. Lời nhận định trên của DTL quả thật đã phản ảnh khá rõ rệt cá tính ưa thích tự do, phóng khoáng xem nhẹ lợi danh của Dương. 

Tuy nói là hành nghề tay trái, nhưng chỉ kể từ 1968-72, PBTD đã từng đảm nhận nhiều trọng trách chuyên môn trong ngành báo chí truyền thông, như phụ trách Trang VHNT, Trang Thơ, Trang Văn Nghệ Quân Đội, Trang Của Lính, viết truyện dài Gió Đi Trên Tóc cho báo Ánh Sáng, truyện dài Những Sợi Nắng Hồng cho báo Tự Cường và sau cùng làm Tổng Thư Ký tòa soạn cho tuần san Định Mệnh đồng thời viết truyện dài Vùng Lá Thắm Sương Mù đăng cùng với truyện Thần Thánh Lưu Vong của Nguyễn Đình Thiều và một truyện của anh Mai Thảo. Ngoài ra, khi trông coi tờ báo anh đã qui tụ về những học giã đáng kính như các giáo sư ĐH: Nguyễn Hữu Lương, Nguyễn Đăng Thục, Đào Nguyên Nguyễn Văn Nguyện, Trác Lâm Nguyễn Nho Lâm và nhà văn Nguyễn Mạnh Côn…

Tòa soạn báo này đặt tại một biệt thự ở đường Cao Thắng. Nơi mà tôi, Mặc Tưởng, Lê Trường Đại, Tường Linh, Anh Việt Thu, Phạm Lê Phan… thường đến với anh để rủ nhau đi uống cà phê, ăn bánh mì thịt nguội tại quán Hòa Mã của anh Lê Minh Ngọc. Anh LMN là tác giả tập thơ Hoa Thề mà theo lời gởi gắm của thi sĩ Vũ Hoàng Chương, PBTD đã viết bài giới thiệu, nhận định trong mục Điểm và Phê Bình Sách. Đôi khi có đủ mặt Nguyên Vũ, Tường Linh, Bích Hòai... thì chúng tôi vô bên trong tòa soạn chơi xì phé, tan cuộc thì kéo nhau qua tiệm phở bên đường Phan Đình Phùng gần trường Aurore lai rai. Cạnh tòa sọan lúc ấy còn có một quán thịt rùa và cua rang muối rất nổi tiếng mà chúng tôi thường “thù tạc”. Chúng tôi có nhiều kỷ niệm khó quên trong thời kỳ hưng thịnh này của những người họat động văn nghệ lúc đó. 

PBTD khởi sự viết từ năm 1959 và là người chủ trương thi văn đoàn Tinh Hoa thời bấy giờ, cùng với người anh là ký‎giả Anh Thuần, phóng viên chiến trường của Cục TLC, Đài Phát Thanh QĐ và báo Tiền Tuyến… AT trước 63 là biên tập viên của báo Chuông Mai của Huỳnh Hoài Lạc và tuần san Ngày Mới của nhà văn lão thành Cồ Việt Tử Nguyễn Duy Hinh… AT còn có bút hiệu khác là Hoàng Long, Phóng viên Kính Trắng.

Riêng về lãnh vực thi ca thì kể từ 61 trở đi thơ của Dương thường thấy đăng các tờ PNDĐ, PNNM, VNTP, tạp chí Gió Mới, Thời Nay, Mai… dưới bút hiệu Thùy Dương, Phan Thụy Dương... Kể từ 1965 anh đổi thành PBTD lo việc trích dịch “Sách Rút Ngắn”, phụ trách trang trong và chỉ viết cho vài báo anh chính thức cộng tác, thỉnh thoảng mới vào Cục TLC thăm bạn bè hoặc trao bài cho các báo quân đội như CSCH, TP, TT... Thơ anh thường được Ban Tao Đàn của 2 anh Đinh Hùng, Tô Kiều Ngân và Ban Mây Tần của thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà, cùng chương trình Thi Nhạc Giao Duyên ngâm diễn. Đặc biệt là chị Hồ Điệp thường đến nhà PBTD đánh chắn và lấy thơ của anh vì chị rất thích ngâm thơ tình của anh. Một người khác cũng thường lấy thơ của Dương trao lại cho anh ĐH, TKN là Tường Linh: Thư Ký TS bán nguyệt san CSCH.

Nhà báo Anh Thuần [Phan Bá Thuần Hậu] cũng là bạn thân của tôi, tiếc vì anh mất sớm ở Tokyo hơn 8 năm trước đây, nên chưa ghi lại được gì cả. Tôi chỉ còn nhớ - truyện thần thọai Lời Thề Trong Đền Rắn của AT xuất bản năm 67 rất ăn khách nên sau đó đã được tái bản mấy lần - vì cơ sở xuất bản này ở gần nhà xuất bản Hồng Lĩnh của tôi, và tập Thi Tuyển Anh Thuần phát hành năm 66. Nghe nói sau khi định cư ở Nhật bản AT đã chủ trương 2 tờ báo, chủ trương nhà xuất bản Việt Nam Mới. Tại Tokyo, AT cũng đã ấn hành 2 cuốn nhận định lịch sử: Thảm Trạng Việt Nam I và II cùng vài tác phẩm khác.

Sau khi định cư tại Nhật, AT đã nhiều lần kêu gọi nhưng không thuyết phục được người em của mình trở về nghiệp cũ để tiếp tay anh trong lãnh vực báo chí, ấn hành mà PBTD rất am tường. Nhiều bạn bè cũ ở Mỹ và Canada lúc đó cũng mời nhưng anh đều từ chối khéo, chỉ cho con gái đầu lòng của anh là cháu PhanThủy Như Quỳnh cộng tác cho tập san Lửa Việt một vài năm trong việc phụ trách Trang Thiếu Nhi. 

Khi được hỏi “nàng thơ” trong cuộc đời anh là ai và đã gây tác động sâu xa nào trong thi văn của anh thì PBTD chỉ trả lời rất kín đáo, tế nhị: đó là một thiếu nữ hiền thục có đôi mắt thật đẹp và trong sáng ở một xóm vắng, một cô thôn thuộc miền Tây mà anh đã quen biết năm 66 khi anh tạm rời Saigon về phục vụ tại khu chiến thuật Tiền giang một thời gian ngắn. Nhân dáng dịu dàng, nét hồn nhiên, ngây thơ và tình yêu của cô gái này đã là nguyên tố chánh tạo cảm hứng, rung động để anh trang trải, gói ghém nỗi lòng mình trên trang giấy, thể hiện qua nhiều bài thơ và 3 truyện dài feuilleton mà anh đã viết.

Có lẽ bây giờ đọc lại những vần thơ của anh chúng ta chợt thấy có một điều gì đó uất nghẹn, chất ngất buồn đau. Nhất là những bài thơ được anh cho mang tựa mới: Trên Nỗi Tình Người. Lúc đó chiến cuộc đã trở nên ác liệt, đến nỗi nhà thơ Bùi Giáng đã cất lời than :

« Ai hỏi tôi cuộc chiến nào tàn khốc nhất - Tôi trả lời: cuộc chiến Hạ Lào. Thế sao anh không bảo là cuộc chiến Việt Nam - Thưa nói thế, người ta bảo tôi là chủ quan.”  

Xin hãy bắt đầu nghe PBTD kể qua bài Trên Nỗi Tình Người 1 [tựa cũ trên CSCH năm 67: Lời Gọi Cỏ May] được trích vài đọan dưới đây :

Mùa mưa lần trước tôi theo đơn vị - Đến tiếp thu vùng đất nhỏ điêu tàn - Lối hẹp nhà em lầy lội dấu chân – Những mái tranh nghèo ôi sao cô tịch - Vườn chuối bỏ hoang cỏ lên xanh biếc – Ruộng lúa bom cày đạn phá đêm đêm - Trăm gian nan thống khổ với truân chuyên – Người người chỉ nguyện cầu trong sầu não.

Chắc mọi người chúng ta chẳng ai quên cuộc chiến này, một cuộc nội chiến đã kéo quá dài, làm phân hóa rất nhiều tâm trạng của từng người VN, làm rã rời biết bao ý thức hệ đấu tranh của dân tộc. Dường như ai cũng mong cho chiến cuộc sớm tàn đi và thanh bình lại đến. Nhưng nó cứ triền miên và dồn dân tộc vào một mê cung, một tử lộ khó thoát. Người chiến binh PBTD vừa tham dư vừa ngậm ngùi. Trong lúc dừng quân anh không quên để tâm hồn mình theo dõi một hình ảnh, một vẻ đẹp chân tình, quyến rũ nào đó:

Em thong thả ngồi bên sông giặt áo – Mặc gió chiều hôn trên mái tóc thề - Để nắng vàng mờ nhạt khói thôn quê – Cất tiếng hát ru hồn bông súng nhỏ. 
 
Một cảnh sắc vừa đẹp, vừa thơ mộng, lại vừa ý vị. Trên tay nòng súng vừa tan mùi khói lửa mà trước mắt thi hoa súng – bông súng vẫn tự nhiên nở ra một cách vừa mầu nhiệm vừa vô tư. Chúng hầu như chẳng hề xúc động trước cuộc chiến thây ngã máu tuôn trên dòng lịch sử quê hương.

Chín con rồng phun nước phù sa đó – Rẽ nhánh phân đôi sông Hậu, sông Tiền - Em đang chờ hay đang mộng thiên duyên – Cho tôi nắm một bàn tay trắng mượt.

Đúng là vóc dáng nguyên vẹn của người đẹp ở một bến sông nào đó dọc bờ Cửu Long Giang. Nét mặt dịu hiền, mắt nhung huyền ão, môi má ửng hồng đã hiển hiện trước chàng chiến sĩ gió sương. Rồi như có một mối giao cảm thầm kín, người con gái ôm áo giặt xong nhẹ quay đi với nụ cười lưu luyến và nhà thơ chỉ biết im lặng, bồi hồi nhìn theo bước chân nàng. Ta thấy đây là một hình ảnh rất sâu đậm tình người, chứa chan hạnh phúc. Cái hạnh phúc quý báu, hiếm hoi trong cuộc chiến tranh ý thức hệ rải dài như cơn mê, trong sự thống khổ của dân tộc vừa qua.

Thế rồi người lính chiến PBTD lại hành quân, chợt đến chợt đi. Cho đến mùa mưa năm sau, chàng quay về thì người xưa đã không còn nơi bến cũ. Chỉ còn lại một mình anh trên chiếc thuyền con bên dòng sông lạnh. Cảm nhận bao nỗi nhớ, cô đơn khiến thi sĩ ghi lại những tiếng thơ bùi ngùi, xót xa.

Quần chiến trận tôi còn vương lau cỏ - Cố ngủ vùi trong quên lãng uyên nhiên - Mưa, mưa lên cho rũ hết ưu phiền - Hồn tôi đó rã rời như gỗ mục - Em có về cũng xin em đừng khóc – Đừng thiết tha đợi đếm lục bình trôi - Chim nào bay cao vút tận lưng trời – Soãi cánh bạc u ơ lời hờn dỗi - Hồn tôi đó lòng cỏ may phất phới – Dật dờ trên sóng nước, đắm trong sương.

Đọc thơ PBTD ai cũng thấy buồn. Buồn cho cảnh đất nước loạn ly, buồn cho những cuộc tình xa cách, cho sự bất lực của con người trong chiến cuộc. Và cũng buồn cho vận nước, xứ sở của mình cứ mãi chìm đắm khôn nguôi trong cảnh tang thương. Bài thơ của anh là loại thơ của người thời chiến loạn, của đạn réo tên bay, dạn dầy khói lửa. Nhưng chẳng những nó không mang màu sắc hận thù, mà còn biểu lộ cả tâm tình ngọt ngào dâng hiến cho người, cho đời – trong đó có nhiều hương vị mặn nồng của tình yêu và lẻ sống của con người khao khát tự do, hòa bình, yêu thương. 

Ngày trước bài thơ Chiều của Huy Cận được coi là rất đẹp, rất thơ, là cái hồn thiên cổ. Chiều của HC trầm sâu, lắng đọng bao nhiêu thì tiếng thơ lục bát của PBTD cũng nặng tình u hoài như thế mà lại còn chứa chan, phản ảnh tâm trạng bất ổn của con người trong lúc binh đao. Bài thơ TNTN2 dưới đây xứng đáng là một trong những bài lục bát chiến tranh hay nhất của thi ca VN. Bài này anh viết sau khi cùng đơn vị về giải tỏa thành phố Mỹ Tho vào Tết Mậu Thân năm 68 :

Tạ từ em với sương mai – Anh lên tay súng cất lời hô quân - Tàu đi sông nước chập chùng - Nẻo quan san đó gian truân đã chờ- Trước sau cờ rợp bóng cờ - Ngoài kia chiều ráng nắng mờ hắt hiu - Em về mây gió trôi theo – Nhớ nhau ? Thôi cũng chắt chiu kiếp này - Bên anh đạn réo tên bay – Trăm binh đao với tháng ngày bỏ quên - Quê mình còn đó không em – Cho anh gởi gắm trái tim ngọt ngào. [tên cũ: Khi Anh Rời Gò Công Về Khu Chiến, trong tuyển tập Đầu Gió của Hội Văn Nghệ Sĩ QĐ ấn hành] 


Đọc tới đây khiến tôi chợt nhớ đến thơ lục bát của Cung Trầm Tưởng, Đường Sang Khu Chiến của Phạm Giật Đức, nhạc của Trầm Tử Thiêng, Anh Việt Thu và tiếng hát vang vang của Khánh Ly. Ôi những tâm hồn trắc ẩn chìm nổi trong sương bóng của thời gian, giờ ở tận phương nào? Hỡi những Hoàng Trúc Ly, Nhất Tuấn, Hoàng Ngọc Liên, Viên Linh, Phạm Quốc Bảo, Nguyễn Đức Sơn… và Bùi Ngọc Tuấn! Trước đây tôi từng viết: Chiến tranh vừa kết thúc – Ôm mặt gầm lãng quên...Thì ra lịch sử có hai bề mặt thật.

Thơ của Dương gần với thơ Hoài Khanh, Hoàng Ngọc Liên, Tô Giang, Phan Minh Hồng, Viên Linh, Du Tử Lê – những nhà thơ quân đội, và gần gũi hơn với bạn anh là Hoàng Trúc Ly qua bài TNTN3. Lời thơ của anh như những phím nhạc ngân lên từ bờ bến yêu thương, êm đềm như lời ru, tiếng hát được dàn trải điêu luyện với thi ảnh, thi ngữ rất tinh khôi.

Em về bũa mộng chiêm bao – Chân di vàng đó đã sầu lên chưa - Nhịp guốc đều, tiếng lá đưa – Làm chim lạc lối ngu ngơ giọng buồn...

Giọng thơ cũng gần với nhà thơ số 1 thời chiến tranh Việt Bắc là Đỗ Hữu qua bài Sầu Ai Lao: Lá đổ quanh chân một lối vàng..

“Em về bũa mộng chiêm bao” thật là một câu thơ như hư như thực, vừa trữ tình, lãng mạn lại mang mang ý thức siêu thực. Nó phảng phất nỗi buồn của André Chénier hay của Lamartine bên bờ hồ chiêm nghiệm bóng thời gian khi sương lên, khi chiều xuống. Có tiếng guốc nào nhẹ gõ trong hồn, có cánh chim nào bay trong bụi khói hoàng hôn. Có hình bóng nào ở lại, và có cuộc tình nào đã lặng lẽ chia xa ? Tiếng thơ của anh êm êm như khúc nhạc hồng, rơi rơi như dòng dư lệ: 

Em về xõa tóc gió qua – Ai đong thương nhớ, thiết tha bao giờ - Lưới tình lỡ nhịp đàn xưa -– Còn chăng vọng ước ngọai ô đêm vàng - Hỏi hồn, hồn đã ly tan – Hỏi trăng, trăng cũng mơ màng đóem...

Cho đến TNTN4 thì người đọc thấy thơ anh lại càng trữ tình, tha thiết hơn với những lời yêu thương nồng nàn cùng nỗi tái tê ly biệt. Có lẻ đó là chân lý, hay là nỗi tuyệt vọng hệ lụy của kiếp người chăng. Thơ của anh như cứ luôn man mác tình sầu, như đôi bờ cách trở. Trong định mệnh trần gian mỗi người mỗi cảnh. Khó mà đoán được nhà thơ họ Phan đã có ảo giác hay niềm đam mê nào trong lúc tuyết lạnh, trăng tan đó. Niềm nhớ nhung nào đã bủa rộng, về đến, nơi nào đã ghi lại dấu vết kỷ niệm xa xưa và sự khắc khoải hiện hữu. Có phải dưới đây là khúc trường ca Chiến Sĩ Hành hay những lời bi ai của Chinh Phụ Ngâm :

...Lỡ mai mốt em về qua xóm cũ – Ta lạc loài từ thuở dấy đao binh - Đường xưa em đi cô lẻ một mình – Ôm khắc khoải thẩn thờ trong dư ảnh -
Mưa bên ấy chắc làm em thấm lạnh – Gió Hạ buồn có làm tóc em bay - Trời đất mang mang sông bể vơi đầy – Ai đếm được con nước ròng, nước lớn.
 

Thơ anh chan chứa đầy sắc thái trữ tình, và lãng mạn của một kẻ tài hoa mà lại rất Đông phương, huyền nhiệm. Hai câu: “Mưa bên ấy có làm em thắm lạnh – Gió Hạ buồn có làm tóc em bay” lung linh như những ánh sáng phi tuyền xuyên qua suốt tâm hồn người đọc.



Thôi nhé em góp chi từng sợi nắng – Nuối tiếc gì bụi khói đã bay xa - Nhớ nhung nào năm tháng chẳng phôi pha – Mà chợt khóc, chợt cười trong ảo mộng- Đốt lửa lên em, hâm thêm rượu nóng – Để mình say quên bão táp vô tình - Sao mắt em buồn như giọt sương đêm – Tìm bàn tay, bàn tay chưa đủ ấm - Biết về đâu ta nửa đời phiêu lãng – Dấu u tình trong cổ mộ hoang vu - Có còn chăng, bèo bọt với mây mờ – Và ấp ủ bóng người trong lặng lẻ 
Sóng biển hỡi, xin vỗ về thật nhẹ - Cát vàng ơi, thôi xóa dấu hài hoa - Sỏi đá nào dòng nước đã trôi qua – Sao hiu hắt muộn phiền như rêu cỏ 

Đặc biệt là ở trong vóc dáng gầy đi vì năm tháng hoài niệm đó, PBTD lại có một hơi thơ dài hầu như vô tận và một thần khí thơ chẳng khác nào Mê Hồn Ca của Đinh Hùng - người đã cùng Hoài Thương [bnsThời Nay] luôn khuyến khích anh trong vài năm đầu thập niên 60, hay Trăng Thiếu Phụ, Bài Ca Đông Phương của Quách Thọai, Hàn Mặc Tử. Cũng cần nói thêm ở đây PBTD là người đã được giáo sư Đinh Từ Thức - chủ nhiệm chủ bút ns Gió Mới yêu thích, khích lệ trong việc anh viết bài về J. Keats, Byron, Shelley… trong những năm 1960-62, trước khi anh ngừng viết trong giai đọan đầu để thi hành nghĩa vụ quân sự.

Thật ra đó là tiếng thơ từ sóng biển dâng, của bờ cát vàng, của rêu cỏ, hoang mộ hay chỉ là tiếng thở dài của thời gian, của những tiếc nuối sầu muộn vô tận, chất chứa trong nội tâm anh? Thơ là nguồn chở người, chở cái đạo tình trên dòng nước vơi đầy, vĩnh cữu, cho dẫu từ: 

Gác chuông Bắc ta treo hồn trên đó – Đợi em về hong tóc gọi đêm thu - Cho mưa nguồn giăng lá thắm sa mù – Và em cất tiếng ru ta nghìn kiếp. 
 
Với tiếng mời gọi êm đềm, thiết tha như vậy, có người con gái nào có thể vô tình, có tâm hồn nào dù khô héo đến đâu mà không cảm động. Từ những thi cảm, thi ngữ được cấu trúc tài tình trên khiến tôi chợt nghĩ đến những vần thơ tuyệt hảo của Lưu Trọng Lư


”Em chỉ là người em gái thôi – Người em sầu mộng của muôn đời - Tình em như tuyết dâng đầu núi – Dằng dặc muôn thu nét tuyệt vời”

Hình ảnh đó lồng lộng giữa thiên thu cùng với hình ảnh “ em về bũa mộng chiêm bao..” của PBTD đã tạo thành một pho tượng Nữ-Thần-Tình-Yêu sống động mãi giữa cuộc đời và lòng người. Ngày nào thế giới vẫn còn là một thế giới đồi tranh – một thế giới của bạo hành lịch sử, thì tiếng thơ vẫn là nguồn mạch của tinh thần con người. đem đến cho tâm linh những nét đẹp ngời sáng của tình thương nhân loại, vĩnh viễn không có gì thay thế được.

Những ý thơ dạt dào, ướt đẫm yêu thương của PBTD như thả ra một luồng hơi thở kỳ diệu làm xao xuyến hồn nhân thế. Với TNTN5 nhà thơ lại đem đến cho chúng ta một sinh khí thơ huyền nhiệm giữa mộng và thực trộn lẫn trong u hòai, nhớ nhung: 

Cơn gió thổi mộng hồn bay lả bóng – Trời hoang vu mấy độ phủ hồn em - Ôi mắt ngọc của ngày xưa hiển hiện – Ta đêm đêm thao thức giữa canh huyền 
Sao thương nhớ những nụ sầu giông bão – Sao u tình dằn vặt suốt canh thiêng - Ta mỏi mệt ghi vào trang giấy máu – Nụ hôn đầu trong ký ức trinh nguyên
 
 
PBTD học cao, hiểu rộng, đi nhiều và viết cùng thời với Trần Dạ Từ, Du Tử Lê, Tô Thùy Yên, Hoài Khanh… Rất tiếc là anh rời quân ngũ sớm, chẳng chịu xuất bản hay lưu giữ lại tác phẩm của mình và thỉnh thoảng ngưng viết. Sau cùng đến cuối năm 72 thì anh đã từ giã hẳn làng báo để phản đối Luật Báo Chí vừa ban hành.

Sau đó, anh chỉ còn tiếp xúc với một số bằng hữu thâm giao như tôi, Anh Việt Thu, Phạm Lê Phan, Tường Linh, Hoàng Trúc Ly, Nguyễn Thu Minh, Nguyễn Thanh Thu, Hoàng Thắng, cùng vài giáo sư, công chức vốn là bằng hữu thân thiết cũ để đi câu cá, uống rượu, đàm đạo… Nếu không, chắc chắn chúng ta còn được thưởng ngọan nhiều áng thơ chứa chan lãng mạn, những bài tình sầu truyền cảm, xúc động hơn. 

Có lẽ người đọc sẽ thấy rõ rệt tính chất nhân bản, yêu hòa bình và yêu người của người chiến sĩ họ Phan hơn qua những dòng thơ: 

Trước thượng đế hai đứa đồng cúi lạy – Xin hoa-thương-yêu nở khắp mọi nhà - Ruộng đất không còn là bãi tha ma – Sắt thép lòai người đem xây tổ ấm - Dưới sương gió mây ngàn bên xóm vắng – Riêng chúng mình tình tự ngắm trăng non - Sáng sáng chiều chiều em sẽ dạy con – Bài hát đầu tiên: ngợi ca Tình-Ái. [trích Nói Với Người Mang Tên Một Loài Chim Mùa Xụân]
 
Sau chuyến anh về thăm quê hương đầu tiên vừa qua và sau khi gặp lại một số bằng hữu cùng với Tường Linh, tôi và anh Tô Kiều Ngân tại Saigon anh dường như đã tìm lại được phần nào hứng khởi.

Tuy nhiên việc tôi và Tường Linh muốn cùng anh in chung thơ để kỷ niệm tình thâm giao và cả việc anh Tô Kiều Ngân muốn thực hiện CD thơ cho anh thì anh còn chần chờ, mà chỉ mới cho phổ biến một số bài viết - trên vài tạp chí, nguyêt san quen và trên mấy websites, mà anh còn nhớ được hay do những người ái mộ cũ, thân hữu cũ cung cấp.

Có một điều khá thú vị là nhiều bài họ nhờ tôi gởi, chuyễn trả cho tác giả lại được xuất phát từ 2 cô giáo ở miền Tây. Số là, sau biến động Tết Mậu Thân 68, PBTD được chuyễn về lại Sàigòn. Vì vấn đề an ninh, công vụ, anh không còn dịp quay về các tỉnh lẻ nữa. Thấy “cánh bằng bay bổng tuyệt mù…” nên về sau 2 cô đã dùng những bài thơ của anh để ru ngủ con cái của họ. 

Tình bằng hữu giữa tôi và PBTD rất lâu dài và sau mấy thập niên xa cách vẫn không có gì thay đổi, nếu không muốn nói là còn thân thiết hơn. Anh đưa tôi và một số thân hữu khác về căn biệt thự mà các con anh mới cất xong để anh dưỡng hưu ở ngọai ô SG, trên đại lộ NVL. Với rượu với thơ, đêm đó trên sân thượng tôi và anh đã làm thơ tặng nhau.

Ân tình giữa anh với HTL cũng đậm đà như vậy. Viết đến đây tôi bỗng bồi hồi nhơ tới Hải Phương, Tạ Ký, Phương Triều, Viên Linh... Khi tôi cho biết Ly đã mất, anh thở dài, ngậm ngùi nói với tôi: có lẽ chúng mình nên viết đôi dòng để tưởng niệm người bạn tài hoa bạc mệnh này. Và anh tô họa lại nhân dáng người bạn xưa bằng những lời thơ tràn đầy thương cảm: 

Bụi trần phủ áo phong sương – Mà người nay đã hà phương thăng trầm - Rượu nồng tưởng niệm cố nhân – Ngàn chung cay ngọt một lần từ ly 
Hỏi người, người đã bỏ đi – Nằm trong đáy mộ có gì nhớ thương - Tóc bồng nẻo vắng cô đơn – Một thân lưu lạc u hồn lạnh mê 
Người xa chưa lạc lối về - Sao hiền huynh chẳng chờ nghe đôi lời - Ngủ yên, Hoàng Trúc Ly ơi – Chuyển thân hóa kiếp đời đời cuồng say - Rượu ngon còn một chai này – Hãy chia nhau chút men cay thâm tình - Cõi tr
ần dẩu có điêu linh - Cõi hư vô chắc hồi sinh non Bồng. [Tưởng Niệm Hoàng Trúc Ly]

Bài TNHTL này PBTD viết khi cả hai chúng tôi đang ngồi trong tiệm cà phê trên đường Tự Do gần quán La Pagode cũ. Lúc ấy tôi cũng đã viết một bài chung tựa để cùng nhớ, cùng thương đến một thi sĩ hào phóng đáng trân trọng của thời văn học hậu chiến này. Sau cơn xúc động về người bạn thơ đã ra đi PBTD lại chạnh lòng xót xa về một người tình, một mối tình đã bị chôn vùi dưới đáy huyệt lạnh. Xin mời bạn đọc thưởng thức qua bài Lá Thắm Lạc Hồn Ca:

Đã về chưa hỡi hồn thiêng Lá Thắm – Hay vẫn buồn đau dưới đáy mộ sầu - Đời nghiệt ngã như trường lưu nước cạn – Ta ngẩn ngơ nhìn khói thuốc bay cao 
 
Thế nhân ơi! Có còn nỗi sầu nào cay nghiệt hơn? Người tang thương, cảnh tang thương của thi sĩ là: 

Ai biết được ra đi là đã mất – Tình yêu đầu và nguyện ước chung đôi - Ai biết được tháng năm dài cách trở – Em còn đâu giờ hai ngã chia rời 
Sao không đợi người lãng du trở lại – Đã âm thầm từ biệt cõi nhân sinh - Thuyền bến cũ ta một mình tê tái – Em, em ơi thiên địa cũng vô tình. 


Ôi những lời nguyện ước ba sinh giữa Kim Trọng và Thúy Kiều. Ôi những câu chuyện tình sầu não truyền kỳ của trăm năm, ngàn năm. Cổ kim lúc nào cũng là “cổ kim hận sự thiên niên vấn”. PBTD là người lãnh hội được tất cả những đau thương dâu bể và định mệnh khắc nghiệt của phận người hẩm hiu, bi ai đó. Lời thơ của anh làm đau điếng, tê lạnh cả lòng người khi đọc “sao không đợi người lãng du trở lại – đã âm thâm thầm từ biệt cõi nhân sinh - thuyền bến cũ ta một mình tê tái – em, em ơi thiên địa cũng vô tình” 


Qua một bài thơ mới đây, họ Phan lại sử dụng ngôn từ triết học kết hơp với tư tưởng thiền học để trang trải những vần thơ chân tình, thân tình gởi đến một người bạn học cũ.  Anh này đã nghe lời PBTD bỏ nghề “thầy cãi” để làm thơ và hiện giờ là một thiền khách ở Washington DC: 

Cánh vạc nào bay trong triền nắng sớm – Tiếng hót xa xăm như tận cõi trời - Sao u trầm chất ngất khách thiền ơi – Xin nhẹ bước trên lối mòn tỉnh lặng 
Rừng cô tịch có gì đâu tra vấn – Lửa Chân Như có đủ ấm linh hồn - Đất bùn nào còn ghi lại dấu chân – Tâm vô niệm đường xa gần đi mãi - Có phải người đang quay về bến đợi – Gom lá vàng gỗ mục dưới trăng trong - Về đi thôi, đêm lạnh giá mênh mông – Áo nâu mỏng sao che mưa đở gió - Chim thức giấc cất lời ru buồn bã - Ai phong trần qua mấy độ truân chuyên - Thấy gì chưa tự ngã với uyên nguyên – Hay ngần ngại chia xa lòng thung lũng - Từ tiềm thức đã lạc quên long trượng – Đâu đây chừng thấp thoáng ánh vô ưu - Thiền khách này, thiền khách đã về chưa – Xin trả lại cho ta quê, tình cũ.

[Nói Với Thiền Khách]

Liệu thiền giã này có đủ năng lưc vô biên để trao lại cho PBTD quê hương và tình ỵêu đã mất không, hay đó chỉ là tiếng kêu vô vọng đề bộc lộ, bày tỏ nỗi niềm, tâm sự của một kẻ từ lâu ẩn dật với một nếp sống lặng lẻ, khép kín? Mới đây tôi có xin anh làm cho vài bài thơ mới để làm thư họa và dùng vào việc riêng trong lúc anh đang ngao du ở một vùng đất khác. Khi trở về Ohio anh đã gởi về cho tôi 2 bài tuyệt tác mang một sinh khí thơ huyền nhiệm hơn đầy những ý niệm, ý thức siêu hình, đạo học và ẩn dụ huyền học. Xin mời người đọc ngâm nga bài thơ đầu:

Đốt công án vất kinh thư khải ngô – Theo đường trăng, trăng khi tỏ khi lu - Tìm người hiền nơi thâm cốc âm u – Thõng tay vào rừng giả làm ẩn sĩ 
Dòng sinh mệnh chừng nhuộm màu chướng khí – Bến nhân gian ai quán niệm vô thường - Hành trình xa ngựa đà lỏng dây cương – Trên vách núi chân dung in mờ tỏ.

 
Ném công án chôn kinh thư bất ngộ - Nương sông ngòi biển cả tới an nhiên - Nửa u hoà, nửa chợt nhớ chợt quên – Bổng tan tác cùng tiên thiên tự ngã- 
Tay huyễn hoặc đề lời thơ trên lá – Hồn xanh xao mờ mịt chốn phiêu bồng- Người đâu rồi sao tịch mịch hư không – Hương dạ thảo đang chớm mùa khai mở.
 
Hủy công án buông kinh thư giác ngộ - Vào chợ đời áo mỏng phất phơ bay - Bụi khói mê man chênh chếch nắng gầy – Lời phố thị chập chờn như ảo giác- 
Ta là ai sao tâm linh ngơ ngác – Người là ai mà sắc diện mơ hồ - Rượu độc ẩm hề, chân lạc lòai đưa – Mây biến dịch mưa chắt chiu giọt nhỏ.

[Liên Khúc Vô Thường] 

và bài tiếp theo: 


Kìa ai bên suối chôn ảo tượng – Mắt dã hoang vu bụi lốc huyễn hờ - Vũ trụ chết, tầng âm thanh lắng đọng – Tay ơ hờ vuốt gió hát vu vơ -Tâm niệm lặng lững lờ sương ốc đảo – Gánh càn khôn u ẩn tiếng mưa khơi - Tóc khô kiệt kết tinh mùi thủy thảo – Thoáng mờ xa từng đợt sóng rã rời - Qua cổng nắng sõai cánh mềm hải điểu – Cát lao lung phủ ấp đá dung tình - Ai thảng thốt ướp thiền hoa mỹ diệu – Xua tiền thân buông tự ngã u minh.
 
Mây xám tạc hình ẩn khách – Xiêm y lọan lửa chân như - Nguyệt tàn cõi giam sấm động – Cung thương lạnh phím ngù ngờ
 
Rượu tàn canh ngập ngừng chân du mục – Réo gọi hồn phiêu lãng phách trầm luân - Tâm huyền niệm ý lạc loài vô thức – Em, em về chưa sao sương ảnh mịt mùng - Sưởi hâm chi ngọn tình hương phấn cũ – Ta về đâu chiều đã mỏi cánh bay - Lỡ tha hóa như rừng khô trốc lá – Loãng âm hao, lả mộng gối vân đài - Thôi nhé em, giếng hồng hoang cô tịch – Trót cạn nguồn lạch kín dấu chim di - Đèo hun hút bạt ngàn đêm tận tuyệt – Rải sa mù khuất bóng nẻo từ ly. 
[Bài Tâm Ca Vô Niệm] 


Hy vọng 2 bài thơ mới đề cập trên sẽ là những bài tiêu biểu đánh dấu sự trở lại văn đàn của PBTD sau hơn ba mươi mấy năm vắng bóng [ngoài các bài nhận định văn học của anh vừa được phổ biến trên Nguồn và Talawas]. Nhưng, như Du Tử Lê - người bạn cũ trước 72 của anh đã viết, chẳng biết liệu vườn hoa VHNT hải ngoại có đủ hấp lực để giữ chân cánh bướm, cánh chuồn chuồn, mà lúc nào cũng lấy cảnh núi non sông hồ, hạc nội mây ngàn, ngao du trên những vùng đất mới, xa lạ làm niềm vui, hay không? 

Tôi cũng còn nhớ kỷ vào năm 72 sau khi đọc truyện dài Vùng Lá Thắm Sương Mù của Dương, tôi và Hoàng Trúc Ly đã viết tặng anh mỗi người 4 câu. Dưới đây là bài của thi sĩ họ Hoàng: 


”Ai bảo trời xanh đọa má hồng – Để cho người ngọc lỡ sang sông - Yêu thương đã hết duyên tình cạn – Lá Thắm phai rồi sao vấn vương”

Và 4 câu tứ tuyệt của tôi: 

”Còn chút rượu tàn tận đáy ly – Uống đi cho cạn mối tình si - Trăm năm núi lở sông bồi đó – Có chắc gì ai trọn ước thề”. 

Bây giờ nhân đọc lại những vần thơ lục bát của anh Bùi Giáng: 


”Tuổi thơ em có buồn nhiều – Hãy xin cứ để bóng chiều bay qua - Biển dâu chợt tỉnh sơn hà – Còn sơ nguyên mộng bên tà áo bay” 

Tôi cũng muốn tặng thêm thi sĩ họ Phan đôi vần thơ tương ứng trước khi kết thúc bài viết này: 

”Em còn hái trái trên cây – Vết son mùa để dấu hài đầu tiên...” 

Ai hái cho ta những mộng đầu. Những lần tao ngộ, những biển dâu… Chắc hẳn giờ đây PBTD đang một mình rong chơi đâu đó trên những vùng đất mới hay đang trầm tư lắng nghe các chuyển động của hữu thể hòa nhập với thời gian trôi chảy vô lường.

Sa Giang TTK -  phù sa 2005

Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2010-12-10 19:53:56Thanh Vân>

PHAN BÁ THỤY DƯƠNG

Chuyện Vui Với Chưởng Môn Người Làng Hà Thượng


 

 



Năm 1997 sực nhớ nếu miền Nam không mất vào cuối tháng 4 năm 75 thì chắc hẳn tôi đã được về hưu, hưởng an nhàn từ lâu, kể từ khi vừa đáo hạn tuổi 55.Từ ‎ý niệm này, tôi đã quyết định xin từ nhiệm ngay với công ty tư vấn tài chánh Eccenture. Vì công vụ và chờ người điền khuyết mãi đến cuối năm 1999 tôi mới được “thoát thân”.
Tánh vốn ưa ngao du, từ đó tôi tạt Âu về Á mỗi vùng rong chơi năm ba tháng. Khi hết hứng thú thì trở về miền Trung du Hoa Kỳ để tiếp tục hành trình langthang chạy đến các tiểu bang khác ngoạn
ảnh Hà Thượng Nhân
cảnh hoặc thăm viếng anh em, bạn bè. Việc gặp gở, liên lạc lại với một số thân hữu và nhất là nghe những lời có vẻ “thuận tai” của những bạn bè trong giới văn nghệ cũ, nên cuối năm 2004 tôi đã tham gia vào nhóm chủ trương biên tập của một tờ tạp chí tại San José, sau gần 33 năm gác bút. Tại đây tôi đã gặp lại Hà tiên sinh.

Với những người hoạt động lâu năm trong giới truyền thông, báo chi thì hầu như ai cũng ít nhiều nghe danh, biết đến cụ Hà Thượng Nhân. Tiên sinh là người nổi tiếng về tài làm thi phú nhanh -có thể nói là xuất khẩu thành thơ- cũng như về đức độ, về tính tình ôn nhu, phóng khoáng.

Ở tuổi hoa niên, lúc mới bắt đầu làm thơ tiên sinh lấy bút hiệu là Hoàng Trinh. Cụ là bạn thơ cùng thời với những thi sĩ tiền chiến hữu danh như: Hoàng Cầm, Huy Cận, Hữu Loan, Phùng Quán, Quang Dũng, Thâm Tâm, Trần Dần, Xuân Diệu... Trong số những người này, tiên sinh chơi thân thiết nhất với Hữu Loan, tác giả bài thơ được người người ưa chuộng, lưu truyền rộng rãi: Màu Tím Hoa Sim. Hai người vốn là bạn cùng quê, cùng lứa tuổi nên sau này vẫn xưng mày-tao-chi-tớ mỗi khi gặp nhau chuyện trò. Hai người còn được dân Thanh Hóa gọi là Tú Trinh và Tú Loan vì thời đó rất hiếm người đậu được bằng tú tài toàn phần, tức bằng Bac complet. Nhà thơ Hữu Loan nhận giải Văn chương toàn sự nghiệp năm 2007 của nguyệt san Khởi Hành vừa rồi, một phần lớn là nhờ sự giới thiệu của ông.

Hà Thượng Nhân tên thật là Nguyễn Sĩ Trinh, sinh năm 1919, quê làng Hà Thượng, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1945, sau khi rời bỏ kháng chiến, dinh tề, tiên sinh được thầy Phạm Xuân Độ nhận làm nghĩa tử, nên đã được đổi tên thành Phạm Xuân Ninh.Sau này, ông lấy bút hiệu Hà Thượng Nhân là để kỷ niệm về nơi chôn nhao cắt rún của mình.

Trước khi vào Nam tiên sinh dạy học tại trường Dũng Lạc ở Hà Nội. Chắc hẳn vì vậy mà đầu tháng 8 năm nay [2009] sau khi thoát cơn bệnh thập tử nhất sinh cụ đã đồng ý chịu lể rửa tội và chọn tên thánh là Phéro Dũng Lạc.

Sau khi di cư vô Sàigòn không lâu tiên sinh giữ mục Đàn Ngang Cung cho nhật báo Tự Do và năm 1958 tiên sinh phụ trách chuyên mục Những Điều Trông Thấy cho nhật báo Ngôn Luận với một bút hiệu khác là Nam Phương Sóc. Bằng giọng thơ trào phúng, tiên sinh đã đả phá, phê phán những thói hư, tật xấu của thói đời, những hành vi, hiện tượng thiếu trong sạch của giới hữu trách, những người có chức vị trong chính quyền, chính trường...
Tiên sinh là người uyên bác và quen biết hầu hết với những nhân vật lảnh đạo, chính trị quan trọng của cả 2 nền đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa, cũng như những văn nghệ sĩ hữu danh miền Nam. Cụ rất được mọi người mến yêu, kính nể.

Năm 1955 tiên sinh được cụ Ngô Đình Diệm bổ nhậm về phục vụ tại Phòng 5 với cấp bậc đại úy đồng hóa.Đơn vị này là tiền thân của ngành Chiến Tranh Tâm L‎ý hay Tâm L‎ý ‎ Chiến [Psychological warfare] - thuộc Bộ Tổng Tham Mưu QLCNCH. Ngành này kể từ những năm đầu thập niên 60 đã càng ngày càng được mở rộng khắp các quân binh chủng, binh đoàn và cải danh thành Chiến Tranh Chính Trị [Political warfare] mà tướng Trần văn Trung làm Tổng Cục Trưởng. Riêng Nha Chiến Tranh Tâm L‎ý sau này được đổi thành Cục Tâm L‎ý Chiến, ‎một cơ quan chiến lược quan trọng về chánh sách lục đại chiến, bên cạnh Mưu Lược Chiến, Tư Tưởng Chiến, Tình Báo Chiến, Tổ Chức Chiến, Quần Chúng Chiến. Cơ quan này do đại tá Hoàng Ngọc Tiêu thay thế đại tá Vũ Quang giữ nhiệm vụ Cục trưởng cho đến ngày miền Nam VN bị Cộng sản Bắc phương xua quân chiếm cứ. Hoàng tiên sinh tức thi sĩ Cao Tiêu cùng Hà tiên sinh là 2 trong những kẻ sĩ uyên thâm Nho học hiếm hoi còn sót lại tại hải ngoại ngày nay.

Nhờ việc bành trướng ngành này nên quân lực ngoài tờ Chiến Sĩ Cộng Hòa lại có thêm 2 tờ báo mới là nguyệt san Tiền Phong [hậu thân của tờ Phụng Sự Bộ Quốc Phòng] và nhật báo Tiền Tuyến. Sau khi tờ Tiền Tuyến ra mắt không lâu thì Trung tá Phạm Xuân Ninh tức Hà Thượng Nhân được điều động về thay thế TTá Lê Đình Thạch trong vai trò Chủ Nhiệm vì T/Tá Thạch được chuyển về Phủ Tổng Thống. Dưới sự chỉ đạo, điều hành của tiên sinh tờ Tiền Tuyến đã sớm phát triển và trở nên một nhật báo lớn phổ biến rộng rãi và qui tụ hầu hết các văn thi sĩ, k‎ý giả, phóng viênhữu danh của miền Nam VN thời bấy giờ. Đến năm 1972 thì tiên sinh xin giãi ngủ vì hội đủ điều kiện mang lon hơn 7 năm chưa được thăng cấp.

Đầu tháng 5/2005 tôi nổi máu giang hồ vặt, “thoát ly” gia đình chạy qua miền Bắc Cali với ‎ý định trực tiếp cải tiến, mở rộng tờ tạp chí để anh em cũ, nhất là những bằng hữu còn kẹt lại trong nước có chỗ trở lại sinh hoạt sau một thời gian dài bị chế độ Cộng sản gạt ra ngoài lề hoặc họ không muốn uốn cong ngòi bút để cộng tác với một cơ chế kềm kẹp, tồi tệ, gian trá... Tại nơi lưu cư mới này tôi và tiên sinh đã hầu như hằng ngày gặp nhau để thù tạc, hàn huyên chuyện xưa, người và việc cũ. Lúc này dường như tiên sinh vui vẻ hơn, làm thơ nhiều hơn và thường giao cho tôi để nhờ đánh máy, phổ biến nếu cần hay có người yêu cầu.Đôi khi vừa làm được bài thơ đắc ‎ý nào tiên sinh đều đọc cho tôi nghe, ngay cả lúc đã vào đêm khuya hay khi trời chưa kịp sáng.

Như đã nói ở trên tiên sinh là người có tài nhả ngọc phun châu và làm thơ rất nhanh. Sáng ngày 01-09-2006 trong lúc tôi, tiên sinh đang uống trà đàm đạo cùng anh Vũ Đức Nghiêm thì được tin anh Hoàng Anh Tuấn vừa từ trần. Tiên sinh buồn bã cất tiếng than và lập tức viết ngay bài thơ Khóc Hoàng Anh Tuấn. Bài này, ngày hôm sau tôi đã trao cho Phạm Hùng -em trai của anh Phạm Huấn- để Ban Tổ Chức đọc truy điệu trong ngày chúng tôi dự tang lể Hoàng thi sĩ tại một nghĩa trang trên San José.

Cho đến nay tiên sinh đã làm cả chục ngàn bài thơ đủ thể loại, nhưng phần lớn là thất ngôn. Qua loại Đường thi này tiên sinh quả là người có tâm linh sâu sắc, là bậc thượng thừa trong việc vận dụng bút pháp, thi thanh, âm điệu và hình ảnh... Về những bài thơ dịch thì cũng đã thể hiện đầy đủ các yếu tố: hiệp thời, hiệp ý và hiệp thể khó có người sánh kịp.

Tuy làm thơ nhiều nhưng có điều tiên sinh thường trao tặng cho các thân hữu, ít khi lưu trữ và chưa hề tự xuất bản các tác phẩm của mình. Tôi còn nhớ trước 75, có một năm, khi tờ báo Sống sắp thực hiện số báo Tết, nhà văn Chu Tử  đã hỏi xin tiên sinh một bài thơ Xuân và đã trả cho Hà tiên sinh ba chục ngàn đồng. Nên nhớ báo chí thời bấy giờ rất hiếm khi có tờ chịu trả tiền nhuận bút cho thơ. Nếu có thì cũng chỉ trả tượng trưng một vài ngàn cho các thi sĩ thành danh, cộng tác thường trực hoặc thân quen. Đây có thể được coi là một trường hợp hi hữu dành cho một tác phẩm thi ca. Chính vì vậy mà từ ngày về tạm trú tại quận Cam, giúp cung cấp bài cho vài tờ báo Xuân ở đây, riêng bài của Hà tiên sinh tôi luôn yêu cầu các vị chủ báo trả tiền nhuận bút cho thơ, câu đối Tết...
của cụ cao gấp năm ba lần số tiền trả cho các người khác.

Hơn 3 năm trước cô Huệ Thu một người mến mộ cụ Hà ở San José đã gom góp một số thi phẩm của tiên sinh để ấn hành một tập thơ với số lượng rất hạn chế để phổ biến trong giới thân hữu giữ làm kỷ niệm, thưởng ngoạn.

Sau gần 2 năm tạm trú trên vùng thung lũng hoa vàng đó tôi lại nổi máu phiêu lưu nên đã di chuyển xuốngWestminster. Tuy vậy, cứ năm ba tháng tôi lại chạy lên thăm viếng cụ cùng các niên trưởng, anh em thân hữu. Trong lần gặp mặt mới đây, khi vui vẻ hàn huyên, tôi đã cho tiên sinh hay về việc nhiều độc giả và thi hữu đã ca ngợi bài thơ Ngông của tiên sinh sau khi tôi cho phổ biến trên các trang thơ do tôi phụ trách. Nhân dịp tôi đã tìm hiểu về hoàn cảnh ra đời của bài thơ bất hủ này. Với tôi, đây là một đọan trích trong những cuộc hội thoại vui, hứng thú đáng ghi nhớ:

-        Thưa tiên sinh, trong những bài thơ của tiên sinh mà tôi có trong tay, phải công nhận Ngông là một bài thơ đặc sắc, tuyệt hay. Xin tiên sinh cho biết tiên sinh đã sáng tác thi phẩm này lúc nào? Có phải là sau khi tiên sinh được giải ngủ và rời cương vị chủ nhiệm, chưởng môn tờ Tiền Tuyến?

-        Anh cũng đã hiểu lầm như nhiều người khác. Tôi làm bài thơ này lúc còn trẻ sau khi ly khai, từ bỏ “kháng chiến” về Hà Nội. Lúc ấy tôi mới hơn 23 tuổi thì phải. Người ta bảo lảo lai tài tận thật không sai. Trí tuệ bây giờ đã bị lảo hóa nên chuyện xa xưa tôi không còn nhớ chính xác lắm về chi tiết.
 
-        Nghiã là đã làm trước khi tiên sinh di cư vàoNam. Theo cặp kết ở cuối bài: “Buông câu xốc áo quay nhìn vợ, Trời đã chiều chưa, ta đã say?” thì chẳng lẽ lúc ấy phu nhân đang “kè kè” bên tiên sinh sao?
 
-        Đâu có, khi ấy tôi làm gì đã có vợ. Giá có, chưa chắc “ẻn” chịu theo tôi đi vào nơi hoang vắng, quạnh hiu để tiêu khiển, lo công việc phục dịch trà dư tửu hậu cho chồng. Anh nghĩ xem, trong hoàn cảnh cá nhân còn nhiều khó khăn, xã hội đang nhiễu nhương như vậy tôi làm gì yên tâm để toan tính việc “ca bài hôn phối”.
 
 
-        Thì ra là sản phẩm của giả tưởng, hư cấu. Thưa, có phải tiên sinh muốn ngụ ‎ý: “Tôi về nhà cửa sương thâu. Bước đi mà chẳng thấy đâu con đường”@.
Trong hoàn cảnh phiêu linh thế đó sao tiên sinh có thể an định tâm trí để nhàn nhả đi câu và dệt nên những vần thơ hào khí, cuồng ngông tuyệt vời như vậy?
 
-        Cũng hư cấu luôn.
 
-        Thế còn 2 câu đầu bài thơ: “Quay ngựa xích thố buộc khóm trúc. Ném gươm long tuyền về non Tây”  thì thế nào thưa tiên sinh? Theo tôi biết, kiếm long tuyền là gươm của vua chỉ dành ban cho tể tướng. Xích thố là loại ngựa hiếm quí mà Quan Công, bậc danh tướng đã cưỡi để chinh đông, phạt bắc giúp nghĩa huynh Lưu Bị của ngài tóm thâu thiên hạ vào thời tam quốc. Chắc hẳn tâm tư, lòng tiên sinh lúc ấy đã nản, chí cả đã mòn hao phân nửa. Tôi nói phân nửa vì tuy tiên sinh đã ném gươm nhưng vẫn còn giữ lại ngựa xích thố. Có phải tiên sinh lúc ấy đã biết trước sau này sẽ “quy mã” nên hướng nào không ném mà chỉ ném về Tây phương để sau này từ bỏ quê hương sang Mỹ thì tung hoành, sử dụng?
 
-        Anh đọc thi phẩm này khi thấy tôi ở đây nên suy diễn quá xa xôi kỳ ảo, chứ tôi làm gì có tài trực giác, tiên tri sớm như vậy. Nếu có, tôi đâu dại gì ở lại để bị bọn Cộng sản lùa vào tù, đày đọa hàng chục năm trong lao lung, khổ nhục...
 
-        Lại cũng là chuyện không có, mà còn được bịa một cách thật tinh xảo. Nghe nói trước 75 có lúc tiên sinh đã được đề cử làm phụ tá bộ trưởng nhưng tiên sinh đã từ chối. Giả sử lúc đó họ trao kiếm long tuyền cho tiên sinh nghĩa là mời làm thủ tướng thì liệu tiên sinh có ném gươm đi không?
 
-        Chẳng có trong tay nên tôi mới viết như thế cho có vẻ oai phong thần vỏ, ngông cuồng một chút thôi. Thời tuổi còn xuân xanh, lòng đầy nhiệt tình, tôi cũng mong ước được cống hiến tài sức của mình cho đất nước lắm chứ.
 
-        Có thể tiên sinh còn vui sướng, hân hoan, giấu kỷ báu kiếm vì sợ người ta tiếm đọat, cưỡng chiếm nữa là khác?

-        Không chừng là vậy.
 
-        Thưa tiên sinh, mới đây khi nhận giải thưởng văn chương Jerusalem của Israel, nhà văn Murakami Haruki đã phát biểu: 
”Hôm nay, tôi đến Jerusalem với tư cách tiểu thuyết gia, nghĩa là một chuyên gia bịa chuyện. Tất nhiên, chẳng phải chỉ có tiểu thuyết gia bịa chuyện mà thôi. Chính trị gia cũng bịa chuyện, là điều ai cũng biết. Những nhà ngoại giao và những tướng lãnh tùy lúc mà bịa chuyện trong giới của họ, không khác gì những người bán xecũ, hàng thịt, hay thợ xây cất. Tuy nhiên, chuyện bịa của tiểu thuyết gia thì khác với những giới khác ở chỗ chẳng ai phê phán tiểu thuyết gia là vô đạo đức khi tạo dựng hư cấu. Mà thực tế, tiểu thuyết gia càng khéo léo bịa đặt những chuyện hư cấu to lớn và tinh xảo, thì lại càng được quần chúng và các nhà phê bình khen ngợi..”

Xem ra nhà văn Nhật bản này quên, còn chưa đề cập đến giới thi sĩ. Mấy ông thần mơ mộng, lòng đầy hoang tưởng này cũng là những chuyên viên bịa chuyện, vẽ vời tình tiết thuộc hàng cự phách.Điển hình cụ thể, chính xác nhất là tiên sinh qua bài thơ Ngông. Tiên sinh đồng ‎ý chứ?

-        Anh cũng là người viết văn làm thơ, chẳng lẻ anh chưa từng tạo hư cấu. phiạ chuyện trong tác phẩm của mình sao? Thôi đã đến giờ hẹn rồi, mình đi là vừa. Anh Vũ Đức Nghiêm vừa được cô em dâu dưới Westminster gởi lên biếu nửa ký thịt cầy. Anh ấy mời tôi và anh đếnchung vui. Chắc vợ chồng anh ta đang đợi.
 
-        Dạ, thì cũng phải bắt chước tiểu xảo của các vị đàn anh, phịa sơ sơ tình tiết cho ra vẻ hoa lá cành, cho bài viết trở nên tươi đẹp hay buồn nảo, bi thảm hơn chút ít để dể gây xúc động lòng người chứ. Còn buổi tiệc hôm nay thì Vũ huynh đã báo với tôi hôm qua. Tôi đưa tiên sinh đến thưởng thức món khoái khẩu của tiên sinh, nhưng tôi phải ghé tiệm Thanh Hiền lấy mấy hộp nhắm khác vì tôi “kỵ” món hiếm thấy, khó tìm ở đây này.
 
-        Ủa, lạ nhỉ. Anh là người uống rượu, sao lại không ăn được thịt cầy? Ngày trước anh thường cùng 2 anh Phạm Lê Phan, Tường Linh tụ tập, la cà cuối tuần ở các tiệm nổi tiếng khu Nguyễn văn Học và Lý ‎Thái Tổ, thế anh đến đó làm gì?
 
-        Tôi ham vui, các anh ấy rủ thì đến ăn bánh tráng nhắp bia với đậu phộng thôi. Thấy 2 me xừ này ăn nhậu ào ào hết xị này đến xị khác, hết món rựa mận này đến dĩa dồi kia, họ lại còn ra điều thích thú, hả hê tôi cũng thèm lắm. Nhưng dù 2 anh ấy “dụ khị”, thuyết phục cách nào tôi cũng không dám thử các món chưa quen đó.

-        Anh đã về thăm Sài gòn mấy năm trước, chắc biết họ hiện giờ ra sao?
 
-        Dạ, anh Tường Linh đã hom hem lắm rồi, bị đủ thứ bệnh, chẳng mấy khi ra khỏi nhà. Còn anh Phạm Lê Phan thì vì giấu lý lịch nên sau khi Vi Xi chiếm Sàigon đuổi dân, bắt quân cán chính vào các trại tù, các trại tập trung lao động khổ sai, anh đã xin đi một vùng kinh tế mới tại Lâm Đồng. Tại đó anh sống bằng cách hàng ngày đi câu cá và nghe nói mấy năm sau bị sét đánh chết ngoài ruộng trên đường mang cá về cho gia đình trong một chiều mưa giông.
 
-        Tội nghiệp. Anh Kiệm và Linh là 2 trong những người hiền lành mà tôi luôn quí mến...

Trên đường đến nhà nhạc sĩ Vũ Đức Nghiêm, bổng tiên sinh quay sang tôi cười một ‎ ý nhị rồi từ tốn bảo:

-        Vừa rồi ở nhà tôi anh đã uống mấy cốc rượu chát của tôi lại còn nổi hứng chất vấn, hỏi hanlung tung. Bây giờ chắc anh cũng chẳng hà tiện gì để cho tôi biết vài điều?

-        Dạ, xin niên trưởng cứ tự nhiên “như người Hà Nội”.

-        Anh không giao du nhiều, chẳng mấy khi chịu viết lách, sao tôi thấy những người thân quen với anh ai cũng mến mộ anh? Tôi thấy anh lúc nào cũng ung dung, nhàn nhã, luôn bay nhảy đó đây, sống độc thân, độc hành như vậy mãi anh không thấy buồn sao?
 
-        Thưa, tại anh em, bằng hữu chưa biết ghét tôi đó thôi. Tôi thích rong chơi, phóng đảng một mình như vậy quen rồi. Khi nhớ ai, hoài niệm người nào thì tôi chạy đến thăm. Nếu lười đi xa, chưa gặp nhau được thì tôi cứ hình dung, tưởng tượng là họ đang ở bên mình, đang cùng mình đấu hót, chén tạc, chén thù là cũng đủ vui rồi.

-        Thế còn các cô bạn gái, em gái tiền phương, hậu phương của anh thì sao? Bộ chẳng có ai khuyên giải, giữ nỗi anh à? Nghe nói về món này anh cũng phong lưu lắm.
 
-        Dạ làm gì có. Tôi không muốn vướng lụy, lại cứlang bạt, lười giao lưu... thì ai mà không nản, rồi lâu ngày chày tháng trơ trụi cùng tuế nguyệt cũng phải kể như huề vốn thôi. Tôi vốn dĩ cù lần nên chỉ có vài em gái văn nghệ đúng nghĩa, thật sự, họ vẫn thỉnh thoảng liên lạc và đùa giởn, hoan hỉ với tôi qua các chuyện cà kê dê ngỗng... Như vậy thì cũng đủ quên đời, còn đòi hỏi gì hơn cho tốn sức lao động.

-        Lần này tái xuất giang hồ anh lại chẳng còn chuyện gì vướng bận, anh có định trụ ở Cali để ngoan ngoản viết cùng anh em không hay lại cứ dở trò ló ló thụt thụt? Thấy anh ấn hành nhiều tác phẩm của người quen, sao anh không gom góp lại bài của mình để in một vài cuốn với anh em?
 
-        Dạ, tôi đâu có mặn mà gì sâu đậm với việc làm báo. Anh em nhắc nhở, kêu gọi thì cộng tác một thời gian. Hết hứng thú thì bổn cũ soạn lại đi tìm nguồn vui khác. Bài vở viết xong thì coi như nhẹ gánh tang bồng, nên chẳng hề lưu trữ, lại làm biếng truy lục. Còn ấn hành tác phẩm của mình ư ? Nếu muốn tôi đã thực hiện từ  trước 75 rồi. Tiên sinh biết đó, khi vừa tròn 57 tuổi là tôi đã tự về hưu. Con cháu yêu cầu, anh em thúc giục mãi mà tôi vẫn cứ ù lì bấy nhiêu năm nay. Sau Noel này tôi sẽ bay qua nước khác sống vài năm. Chẳng biết với bầu không khí mới lạ xứ người có giúp tôi sáng tác, tối tác gì nữa không. Khi du lịch về rồi hãy tính. Các cháu đã lo trình bày bìa sách xong mấy năm rồi, chỉ chờ tôi hoàn tất là chúng chuyển ngữ, lo việc xuất bản. Chắc tôi phải giảm bớt việc đi hoang để khỏi làm chúng thất vọng.
 
Nói đến đây thì nhà Vũ huynh đã hiện ra trước mắt và câu chuyện vui cũng chấm dứt. Tiên sinh là người hiền hòa, vui vẻ nên dĩ nhiên bầu không khí buổi hội đàm này luôn luôn thoải mái, đầy ắp tiếng cười. Để bạn đọc thấy rõ tài sáng tạo, trí tưởng kỳ ảo của tiên sinh, tôi xin trang trọng giới thiệu đến bạn đọc bài thơ Ngông vừa đề cập và vài bài thơ tiêu biểu khác của cụ:
  
 
 
    ảnh HÀ THƯỢNG NHÂN     
 
 
● Ngông
 
Quay ngựa xích thố buộc khóm trúc
Ném gươm long tuyền về non Tây
Chí thôi đã lỡ, kệ binh lửa,
Danh vốn không màng, mặc cỏ cây.
Gà chó đôi con năm tháng rộng
Ruộng vườn dăm khoảnh gió trăng đầy
Buông câu, xốc áo quay nhìn vợ:
Trời đã chiều chưa? Ta đã say?
HÀ THƯỢNG NHÂN

● Tự Thuật
 
1-
Muốn biết Xuân Ninh người thế nào?
Áo nâu, quần vải, khinh vương hầu.
Sông Trà diệu vợi thuyền Tô Tử,
Ðất Bắc ngang tàng đấng trượng phu.
Mải một nước cờ đêm gió mát
Ðùa ba tiệc rượu sáng trăng Thu.
Uống xong ngoảnh lại nhìn ai hỏi:
Ðời phụ ta chăng thế Vũ Hầu? *
 
2-
Mà có tiên cho! Có tục cho!
Vườn đào ngõ trúc lối quanh co.
Bạc tiền, cung điện, khôn câu thúc,
Trăng gió, giang hồ chỉ tự do.
Lúc hứng nhớ cuồng dăm đứa bạn,
Khi buồn ngâm láo mấy câu thơ.
A ha! Ðường thế thênh thanh rộng,
Cửa động Thiên Thai hé đợi chờ.
HÀ THƯỢNG NHÂN
 
● Trăng Thu
 
Sương mỏng manh canh vắng lặng tờ
Buồn đâu náo động mấy vần thơ
Rưng rưng mắt lệ chàng mong nhớ
Phới phới mây xa thiếp hững hờ
Bến quạnh lau già, người chểnh mảng
Rượu tàn canh vắng khách bơ vơ
Lầu cao ai đó nâng rèm trúc
Hồn lẻ đêm nay có thẩn thờ?
HÀ THƯỢNG NHÂN
 
● Bài Tặng Phan Bá Thụy Dương
 
Người như dòng thác đỉnh trời
Nước tung trắng cả nửa vời non cao
Ta vừa trong giấc chiêm bao
Gặp người chiến sĩ áo bào điểm sương
Người về có thấy bên đường
Hàng phong lan đã nhớ thương mà gầy
Từ đâu người lạc đến đây
Nhạc reo nghe đã mưa đầy hoàng hôn.
Phấn hương nào phũ mộng hồn
Bước chân phiêu lãng đã chồn mỏi chưa?
 
HÀ THƯỢNG NHÂN
 
 
và đây là bài thơ tôi đã viết tặng lại tiên sinh:

◙ Bài Tặng Hà Thượng Nhân

chung trà chén rượu u minh
thảo trang đường trúc một mình quạnh hiu
sườn non đá dựng xiêu xiêu
nào hay tâm tịnh, sắc chiều mang mang
hỏi người mài kiếm dưới trăng
ngựa xưa ẩn mật hoá thân bao giờ
chim hồng đã mỏi cánh chưa?
[PBTD - trích Túy Mộng Du Du Hề]

Hiện tiên sinh đang trong tình trạng đau bệnh trầm trọng, sức lực cạn kiệt, ngũ quan hầu như không còn hoạt động bình thường và phải cần người săn sóc thường trực. Cũng may là các vị thân hữu trên ấy như các tiên trưởng Nguyễn Xuân Vinh, Đông Anh Nguyễn Đình Tạo, Vũ Đức Nghiêm, Thanh Thương Hoàng, Ngô Đình Chương, Trường Giang, các bạn Mạc Phương Đình, Hải Bằng, Hải Phương, Hà Ly Mạc, Huệ Thu... vẫn thường xuyên đến thăm viếng tạo niềm vui cho vị chưởng môn luôn được mọi người trân quí này.


PHAN BÁ THỤY DƯƠNG
@: Bùi Giáng dịch Canzoniere của Francesco Petrarca.
 


PBTD – © nguồn Viễn Đông Daily News.

Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
Đăng nhập để trả lời
0