📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

Tập truyện ngắn Ao nhà

13 trả lời, 1.522 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-09-07 12:43:26tieuboingoan>
Tập truyện ngắn Ao nhà gồm nhiều truyện ngắn chọn lọc của nhà văn Phan Cao Toại được nhà xuất bản Hà Nội ấn hành năm 2001


Nghề và nghiệp


Buổi sáng, khi tôi loay hoay gỡ tấm biển phòng mạch tư từ bức tường treo trước nhà xuống, nhiều người vây lấy tôi. Trong số đó có người từng là bệnh nhân được tôi chữa khỏi, có những người là bạn. Một người hàng xóm thân thiết tắt lửa tối đèn có nhau nói với tôi với giọng xa lạ có chút trách móc:
- Ông quyết định thật rồi à? Ông bỏ ngành y thật à?
Tôi đáp không chút lưỡng lự:
- Bỏ thì không. Làm sao mà bỏ được. Sáu năm ăn học, ba mưi năm vui buồn với nghề, làm sao mà bỏ được. Nhưng tôi không hành nghề Y nữa.
- Vớ vẩn. Cứ nói trắng ra là ông bỏ cuộc? Nhiều người nghỉ hưu rồi mới mở phòng mạch. Đằng này phòng mạch của ông đang đông khách tại sao ông không tiếp tục giúp đỡ bệnh nhân?
Tôi vã mồ hôi. Không phi vì câu hỏi hóc búa của ông hàng xóm mà vì tấm biển treo cao lại đóng chặt vào tường, rất khó gỡ. Một người đạp xích lô còn trẻ thấy tôi vất vả với tấm biển ấy liền xuống xe xúm lại gỡ giúp. Người này vặn một cái thật mạnh, tấm biển bật tung khỏi tường. Trao cho tôi tấm biển có ghi tên họ, ngày giờ khám bệnh hàng ngày xong, anh hỏi tôi với giọng lo lắng:
- Bác thôi không khám bệnh nữa à? Bác có nhớ em không? Chính bác đã chữa bệnh cho con cháu đầu của em. Hôm ấy mà không có bác, chắc gì nó đã sống đến ngày hôm nay...!
Tôi ầm ờ, cất tấm biển vào trong nhà rồi theo ông hàng xóm ra quán cóc đầu phố. Quyết định bỏ nghề y của tôi khá đột ngột và ông hàng xóm tốt bụng như muốn khuyên tôi. Ông gọi hai chai bia Sài Gòn, rót ra hai ly, mời:
- Tôi có biết mấy năm nay ông viết văn. Đã có nhiều chuyện đăng báo. Tôi có đọc. Xem c phim của ông nữa. Có bài báo khen ông, coi ông là một hiện tượng. Tôi mừng cho ông. Nhưng ông mà bỏ cái nghề y đi, tôi tiếc lắm. Ông đang hái ra tiền...!
Vâng, tôi đã từng hái ra tiền. Người bệnh như những con cừu non ngu ngơ đến nộp mình cho sói. Hỏi bệnh vu vơ mấy câu cho có lệ, chụp ống nghe lên ngực lên lưng, gõ gõ sờ sờ, tất cả chỉ làm phép. Lại có khi ra vẻ ta đây con nhà khoa học, cho bệnh nhân đi xét nghiệm, siêu âm. Có được một mớ giấy trên tay rồi thì dọa: “Bệnh của ông (hay của bà, của cô) nặng lắm đấy. May mà phát hiện sớm, chứ không thì...” Cho một cái đơn thuốc bao vây đủ thứ thuốc. Thế là khỏi. Thế là bệnh nhân khen. Người này truyền người kia. Thế là tiếng tăm nổi như cồn. Cũng có những ông giám đốc này giám đốc nọ sẵn tiền chùa, chơi bời em út, dính bệnh xã hội. Cỗ máy chém của tôi lúc ấy được mở hết công suất. Túi tôi căng phồng. Con bệnh thì như cha chết sống lại. Có điều, những lần chém chặt xong, đêm tôi thường rất khó ngủ. Nghĩ ngợi lung tung. Về sau, càng đông bệnh nhân, túi càng rủng rỉnh lại càng khó ngủ. Tôi mắc bệnh khó ngủ mạn tính. Khi mất ngủ, thời gian cứ đầy ắp trước mặt, không làm sao cho hết. Tôi thường đọc sách khuya. Đủ loại. Thấy văn chưng hay hay, chuyện trong sách đẹp hơn đời thường, tôi vọc vạch cầm bút. Dần thành quen. Một vài tờ báo in truyện ngắn của tôi. Tôi tưởng mình ghê gớm, cắm đầu cắm cổ viết. Và nhận được giải thưởng trong một cuộc thi. Tôi như đang bay trên văn đàn, thề sống chết với chữ nghĩa. Bây giờ thì không dứt ra được nữa, thành một thứ nghiệp chướng. Cho nên khi nghe ông hàng xóm nói vậy, tôi đáp thành thật:
- Cũng phải chia tay với ngành thôi, anh ạ. Văn chương nghiệt ngã lắm. Nếu tôi không dốc hết tâm huyết, chẳng thể nào có tác phẩm hay. Cho nên, tôi chỉ có thể chọn một trong hai nghề, hoặc là nghề thuốc, hoặc là nghề văn, không thể bắt cá hai tay.
- Và thế là anh chọn nghề văn?
- Vâng!
Ông hàng xóm im lặng, thừ ra. Ly bia vẫn còn nguyên. Bọt bia đã tan, cốc bia vàng sẫm thành một màu nhợt nhạt. Cả hai chúng tôi không ai đụng tới. Ông hàng xóm thở dài, buông một câu lửng lơ: “Vậy thì tùy ông. Tôi cũng không biết khuyên ông thế nào nữa...!”
Những ngày sau đó, tôi đóng cửa suốt ngày ngồi viết. Hai tuần một cái chuyện ngắn, gửi đi, nếu được đăng, tôi nhận được hai trăm nhuận bút. Mỗi tháng được bốn trăm ngàn. So với phòng mạch tư, thu nhập của tôi chỉ bằng một phần mười. Tôi không lấy thế làm buồn. Một hôm, đang ngồi sửa bản thảo, vợ tôi đến bên, thủ thỉ:
- Anh ạ. Thùy Dương nó học trong đó tốn kém quá. Tháng em phải gửi cho con bảy trăm ngàn. Bây giờ con xin thêm ba trăm nữa để học thêm Anh văn buổi tối...
Tôi biết, vợ tôi là người đàn bà chịu thương chịu khó, tôn trọng mọi sở thích của tôi. Ngay việc tôi bỏ nghề y, nhà tôi chỉ buồn, không phản đối, không ủng hộ. Bây giờ, số vốn dự trữ đã ăn gần hết, vợ tôi nói vậy có nghĩa là cô ấy rất cần tiền. Thoáng nhìn, tôi thấy chiếc dây chuyền năm chỉ trên cổ nhà tôi không còn nữa. Tôi không dám hỏi vì đoán biết những của chìm trong nhà đã lần lượt đội nón ra đi để nuôi bố con tôi. Tôi bỏ dở tập bản thảo, quay lại với vợ. Nhà tôi cúi đầu, đôi mắt rm rớm. Tôi ôm nàng vào lòng, vô tình đụng phải bờ vai còm nhom của nàng. Tôi thấy thương nàng quá.Vì tôi mà nàng đã phải lặn lội, chơi hụi chơi huê, giật gấu vá vai, cốt giữ cho cuộc sống gia đình từ khi tôi bỏ nghề y không bị đảo lộn. Những giọt nước mắt của người vợ tảo tần thấm ướt ngực tôi và tôi bắt đầu nghĩ về đời viết văn mới được hai ba năm của mình. Đôi lúc tôi nghĩ, hay mở lại phòng mạch? Lập tức tôi lại tự trả lời: “Mình hành nghề y cũng không phải mình thương gì người bệnh mà cái chính là mình cần những đồng tiền của họ”. Trong đầu tôi vụt hiện lên lời thề của cụ tổ y học phương Tây, Hyppocrate, và của cụ Hải Thượng Lãn Ông: “Không được coi nghề thuốc là nghề thương mại, nghề kiếm sống thông thường”. Vậy thì làm sao tôi có thể làm giàu bằng nghề y? Tôi biết nhiều người thầy thuốc giàu nứt đố đổ vách và tự hỏi, nếu một đơn thuốc chỉ lấy năm ngàn tiền kê đơn, ngày khám chừng hai mươi bệnh nhân, làm sao mà xây nhà, mua xe hơi được. Tôi được biết nhiều đồng nghiệp của tôi chém chặt bệnh nhân bằng cách bán thuốc với giá cắt cổ, lại không ghi rõ tên thuốc mà chỉ hướng dẫn người bệnh: ngày uống ba viên vàng, hai viên đỏ, một viên xanh. Thậm chí có ông bác sỹ còn nghiền thuốc thành bột để bệnh nhân không biết đó là thuốc gì. Nhiều người thầy thuốc khi bệnh nhân vào viện còn mặc cả với họ về giá cả, một ca đỡ đẻ thu bao nhiêu tiền, một ca mổ là bao nhiêu. Không thỏa mãn yêu cầu thì chết với họ. Đành rằng số thầy thuốc ấy không nhiều nhưng cũng khá phổ biến mà báo chí nêu mãi cũng không hề thay đổi. May mà tôi thoát khỏi hàng ngũ của những kẻ lừa đảo cấp ấy, tìm cách đến được với văn chương. Tôi mượn câu nói của Gorki “văn học là nhân học” để tự an ủi mình, rằng tôi đang đến với môn khoa học làm người.
Sau lần tâm sự với vợ, tôi cố gắng viết nhiều hơn. Có tháng được bốn truyện. Một anh bạn nhà văn lại chỉ cho tôi cách thâm canh: Một truyện ngắn gửi đi nhiều báo, chỉ cần đổi tên truyện hay đổi tên tác giả. Tôi làm theo và quả nhiên thu nhập khá hẳn. Cách làm ấy cũng không bền, một số tờ báo phê phán tôi tham lam. Vì viết quá nhiều, tôi viết không cẩn thận, sơ lược và bị lên án là loại “mì ăn liền”. Tôi rút kinh nghiệm và viết cẩn thận hơn nhưng sự túng thiếu cứ rập rình, tôi luôn nghĩ ra cách làm tiền trong văn chương.
Trong lúc đang bế tắc về chuyện thu nhập thì vào một buổi chiều, một chiếc xe hơi sang trọng đỗ lại trước nhà tôi. Từ trên xe, hai người đàn bà, một già, một trẻ ăn mặc đẹp mắt và lịch sự bước xuống. Họ bấm chuông. Tôi mở cửa đón khách. Vừa nhìn thấy tôi, người đàn bà lớn tuổi chìa bàn tay mũm mĩm ra bắt và ban cho tôi một nụ cười hết sức duyên dáng.
- Xin lỗi, anh là anh Toản, bác sỹ?
Tôi đáp hấp tấp:
- Vâng, vâng, tôi là bác sỹ Toản. Nhưng tôi không làm nghề y nữa.
Người đàn bà không biểu lộ vẻ thất vọng:
- Vâng, chúng tôi có biết điều đó. Anh hiện là nhà văn. Chúng tôi không quan tâm đến cả hai lĩnh vực y học và văn học của anh mà quan tâm đến một lĩnh vực khác mà chúng tôi biết anh thừa khả năng.
Tôi lắc đầu tỏ vẻ không hiểu:
- Xin chị cứ nói rõ. Tôi giúp được gì, xin sẵn lòng.
Người con gái trẻ bây giờ mới lên tiếng:
- Dạ thưa bác sỹ, à xin lỗi, thưa nhà văn, nghe nói nhà văn biết nói tiếng Đức?
Tôi cười:
- Vâng, trước tôi có học ở Đức.
Người đàn bà lớn tuổi níu lấy tay áo tôi, cười ranh mãnh:
- Chúng tôi đến đây cũng vì chuyện ấy. Cũng xin được giới thiệu, tôi là Hoàng Vi giám đốc khách sạn Thanh Thanh còn cô em tôi đây là Mỹ Hằng, phụ trách tiếp thị của khách sạn. Vừa qua, chúng tôi đã ký được một hợp đồng với một công ty du lịch ở Berlin. Tuần tới sẽ có khách sang. Hiện chúng tôi rất cần người biết tiếng Đức. Nói thế này thì không tế nhị lắm là chúng tôi sẽ gửi anh một khoản tiền lương khởi điểm năm vé...
Thấy tôi vẫn ngơ ngác chưa hiểu, cô gái trẻ chêm vào:
- Nghĩa là tưưng đưưng bảy triệu.
Tôi giật mình. Số tiền ấy nếu quy ra nhuận bút sẽ bằng bốn mưi truyện ngắn, hơn xa cả thu nhập phòng mạch của tôi trước đây. Một khoản tiền lưng thật hấp dẫn. Thấy tôi có vẻ chần chừ, cô gái trẻ nói thêm:
- Công việc cũng nhàn thôi mà, anh. ở khách sạn, chúng em đã có nhiều người biết tiếng Anh, bây giờ có thêm một bác sỹ đã từng học ở Đức, khách người ta tin lắm. Thôi anh vui lòng giúp bọn em nhé!
Tôi bùi tai và nhận lời làm thử. Bà chủ khách sạn không ngần ngại mở ví lấy ra cho tôi ba tờ đôla màu xanh, gọi là ứng trước nửa tháng lương đầu. Tôi mừng rơn. Vợ tôi còn mừng hơn vì nỗi lo toan về chuyện ăn học của hai đứa con và cuộc sống gia đình từ nay đã được giải tỏa.
Người khách đầu tiên mà tôi hướng dẫn du lịch là một người phụ nữ Đức. Vì đã ở Berlin hơn năm năm, tôi thuộc Berlin như thuộc thành phố của tôi. Người phụ nữ đó sinh ra và lớn lên ở Berlin nên khi tôi nhắc đến tiệm kem nổi tiếng ở đại lộ Alecxander, bà ta khoái lắm: “Đó là một tiệm kem tuyệt vời. Hồi học trung học, ngày nào tụi mình cũng ra đó”. Tôi lại gợi chuyện bãi tắm không quần áo mà người Đức gọi là FKK (văn hóa khỏa thân) ở hồ Muken, bà ta cười ngất: “Không hiểu tại sao người á Đông các ông lại cho đó là việc thiếu văn hóa. Châu Âu tụi tôi cho đó là văn hóa!” Tôi đưa người phụ nữ giàu có đó đi chơi khắp nơi, hết Dốc Lết lại ra Đại Lãnh, hết Đại Lãnh lại lên Buôn Mê Thuột. Thời gian bà ở lại khách sạn Thanh Thanh đến gần một tháng. Bà chủ khách sạn mừng lắm. Trước khi về nước, người đàn bà này tặng tôi một món quà trị giá tới mấy trăm đô, trả công cho việc hôm bà mới sang bị cảm cúm và tôi đã tận tình chăm sóc. Tôi nhẩm tính, bà ta ở lại thành phố này hơn ba tuần, mỗi ngày sáu mưi đô tiền phòng và đoàn của bà tây gồm mười người làm cho bà chủ khách sạn Thanh Thanh có một khoản thu rất lớn.
Sau đó, tôi được giao tiếp một ông tỷ phú. Ông này sang Việt Nam lần đầu. Ông giấu quốc tịch của mình và giao thiệp với tôi bằng tiếng Đức. Ông không thèm ở phòng sáu mươi đô mà ở hẳn phòng một trăm đô. Từ cách sinh hoạt và ăn uống tôi biết ông là một người hết sức giàu có. Biết tôi là bác sỹ, ông đổi cách xưng hô mày tao rất thân mật và nói chuyện với tôi như hai người bạn thân thiết từ lâu. Đêm đầu tiên, ông hỏi tôi: “Tao cần một Maetchen (cô gái), mày có giúp được không...?” Khi đã xưng hô là mày tao rồi, khi đã là bạn của nhau rồi, tôi không được phép chối ý muốn của bạn. Tôi gọi điện hỏi bà chủ khách sạn, bà này cười: “Chuyện đó có gì khó. Yên tâm đi. Anh cứ hỏi ông ta cần em bao nhiêu tuổi, gầy hay béo”. Tôi hỏi lại ông khách, ông ta cho biết, ông cần một em mười tám tuổi và đừng béo quá. Mấy phút sau, cô bé đã đứng trước mặt chúng tôi. Trông cô còn ngây thơ như một học sinh trung học nhưng khi cô ta nói với ông khách thì ra dáng từng trải: “Anh cho em bao nhiêu...?” Tôi phải làm nhiệm vụ phiên dịch. Nghe cô gái hỏi vậy, ông khách tỏ thái độ không bằng lòng. Ông ta nói:
- Chẳng thà làm việc xong tao trả cho thật hậu. Tao không thích kiểu mua bán này. Trắng trợn quá!
Tôi phải dịch khác đi để cô bé khỏi phải phật lòng:
- Em cảm phiền. Ông ấy bảo em trẻ quá!
Cô gái vùng vằng bỏ đi, không một lời tạm biệt, ném vào mặt tôi một cái nhìn khinh bỉ. Tôi hơi khó chịu. Ông khách thì sốt ruột. Tôi phải xin lỗi đi xuống phòng tiếp tân ít phút gặp bà chủ. Tôi nói:
- Cô bé lúc nãy thiếu tế nhị quá. Ông khách ông ấy bực.
Bà chủ cười, đưa cho tôi một cuốn album:
- Đây là hình các em. Bên dưới có số điện thoại. Anh chọn hộ ông ấy đi. Rồi điện cho em ấy đến, dặn dò cẩn thận tế nhị trong chuyện tiền nong. Anh làm đi, khách người ta chờ!
Tôi chọn hú họa một cô và gọi điện. Cô gái đến. Cô này nhìn qua thì không xinh nhưng đôi mắt sắc và có duyên, ăn nói đâu ra đấy. Cô vào chuyện trước tôi:
- Mấy bữa này em ế khách. Hôm nay, nếu trúng quả, em sẽ boa anh đậm...
Tôi dặn:
- Cô phải rất tế nhị. Ông này không thích nói chuyện tiền nong trước đâu nhé!
Hai tiếng đồng hồ sau, từ phòng của ông khách bước ra, cả ông và cô đều rất mãn nguyện. Ông kéo tôi và cô gái xuống bar trong khách sạn. Trước lúc chia tay, ông dúi vào tay tôi tờ năm mươi đô và cô gái cũng cho tôi hai mươi đô. Tôi hiểu, cô gái đã vớ được khẳm tiền từ ông khách, cô mới hậu hĩnh với tôi như vậy.
Đêm ấy, tôi về nằm vắt tay lên trán. Trong một ngày, ngoài tiền lương, tôi đã làm ra by mưi đô la. Một số tiền không nhỏ. Nhưng nếu vợ tôi, con tôi và bạn bè tôi mà biết chuyện này, biết chuyện một người bác sỹ đã bỏ nghề, chỉ vì cần tiền mà đi làm cái việc đốn mạt ấy thì cô ấy và bạn bè tôi sẽ nghĩ sao. Và bạn đọc của tôi khi thấy tôi viết ít hẳn đi, họ sẽ nghĩ về tôi thế nào? Nhưng rồi tôi tự lý giải: “Cứ yên tâm. Không ai biết cái chuyện ấy đâu...!” Và tôi cho rằng, giữa tiền bạc và nhân phẩm là một đại lượng tỷ lệ nghịch. Muốn có tiền mà vẫn giữ được nhân phẩm thì như một điều không tưởng. Tôi cũng không băn khoăn nhiều đến việc làm của mình trong khách sạn. Song, có một điều làm tôi đau đầu: tôi đã đập vỡ niêu cơm của bọn cò gái chuyên nghiệp. Chúng nó căm tôi lắm. Có hôm từ khách sạn về, tôi bị chúng chặn đường. Thằng trưởng nhóm mặt mày dữ tợn, nồng nặc mùi rượu, túm lấy ngực áo tôi, dọa:
- Đất có thổ công sông có hà bá. Ông anh bước nhầm vào lãnh địa tụi này rồi đó. Liệu mà rút lui. Hôm nay cho một đòn cảnh cáo!
Hắn vỗ tay đánh bốp. Ba bốn thằng lực lưỡng lao vào chực đánh tôi. Tôi né kịp, tránh sang một bên, đưa tên một người quen trên công an thành phố ra dọa:
- Chúng mày đừng có làm càn. Tao chỉ cần một cú điện thoại cho ông H trên công an thành phố là tụi mày đi đời!
H là một tên tuổi khá nổi tiếng ở thành phố này. Nghe đến tên ông H, thằng trưởng nhóm ngẫm nghĩ, từ từ đổi sắc mặt, xuống giọng:
- Nói giỡn với ông anh cho vui. Khi nào có món xộp, ông anh cần tìm em út, tụi này sẽ giúp.
Nói xong, hắn đưa cạc visit cho tôi rồi chuồn thẳng. Tôi chỉ mượn tên ông H ra dọa chứ thật tình, tôi cũng không quen ông ấy. Tôi hú vía và từ hôm ấy luôn cảnh giác với bọn cò gái chuyên nghiệp.
Sáng hôm sau, ông khách ấy đang bồn chồn đứng chờ tôi. Hành lý của ông đã để cả trong quầy tiếp tân. Thấy tôi, ông mừng rỡ gọi to:
- Toản, tao đang cần mày!
- Có chuyện gì thế?
- Tao phải đi ngay Bankok.
- Sao mày bảo còn ở đây những hai tuần?
- Đêm qua bên ấy điện sang, công ty của tao đang có chuyện rắc rối về tiền thuế. Tao phải quay về ngay.
Tôi lấy làm tiếc cho ông bạn không hưởng được những ngày du lịch trọn vẹn. Ông khách cũng bùi ngùi. Chúng tôi từ biệt nhau và ông hẹn năm sau sẽ trở lại. Ông không quên nhắc lại kỷ niệm êm đềm của đêm hôm qua và nhờ tôi gửi lời chào cô gái.
Buổi chiều, khi tôi đang ngồi tán gẫu với mấy ông khách thì cô gái tối hôm qua tới. Cô ăn mặc rất diện, áo dài màu thanh thiên, trang điểm rất nhã. Thoạt nhìn, ai cũng nghĩ đó là một cô gái nhà lành. Vừa thấy tôi, cô hỏi ngay:
- Anh Hans có ở trên lầu không anh?
- Hans nào nhỉ? Tôi vờ hỏi lại.
- Anh Hans tối hôm qua ấy!
Tôi đành phải thông báo với cô sự thật:
- Anh Hans về nước rồi. Anh ấy gửi lời chào cô.
Cô gái hỏi như gắt:
- Cái gì, ai về nước?
Tôi đáp lạnh lùng:
- Hans về nước rồi. Không tin thì hỏi tiếp tân.
Cô gái chạy lại quầy tiếp tân và ỉu xìu quay lại đứng trước mặt tôi. Đầu cô hơi rũ xuống và một thoáng thất vọng hiện lên trên khuôn mặt phong sưng của cô. Giọng cô bắt đầu hỗn xược:
- Tôi nói cho anh biết, anh Hans bảo tôi sẽ ở đây hai tuần. Anh hãy tr lời cho trung thực đi, anh chuyển anh ấy đi đâu?
Toàn thân tôi nóng dần. Máu dồn lên mặt. Tôi cố giữ bình tĩnh:
- Anh Hans đã đi thật rồi. Anh ấy có chuyện cần về nước gấp.
Cô gái không còn giữ được bình tĩnh:
- Nói dối. Chính anh ấy nói với tôi bằng tiếng Anh, ở lại đây hai tuần. Two weeks. Tôi dốt nhưng không nghe nhầm đâu. Hay anh đã kiếm cho hắn một con khác rồi. Anh mà tráo trở, tôi sẽ chơi luật giang hồ.
Tôi giận lắm. Giữa phòng tiếp tân của khách sạn đầy người, ta có tây có thế mà một cô gái giang hồ nỡ nói với tôi bằng ngôn ngữ chợ trời như thế. Nếu là em út hay vợ con tôi, chắc tôi đã cho ăn bạt tai. Nhưng ở đây, giữa những người khách nước ngoài, mang tiếng là một trí thức, tôi cố nén giận. Máu trong người tôi chạy rần rật và càng cố kìm nén bao nhiêu thì người tôi như ngây dại ra bấy nhiêu. Tôi không biết mình đang nghĩ gì, chỉ biết toàn thân như đang lên cơn sốt. Thấy tôi im lặng, cô gái lại càng làm già:
- Đã làm cò mà còn tráo trở! Không biết d!
Con người mang nhân cách trí thức trong tôi vụt biến đi, nhường chỗ cho một thằng người ngổ ngáo ẩn chứa trong tôi trỗi dậy. Tôi vụt đứng lên và không biết chung quanh đang đầy người, cho cô gái một cái bạt tai như trời dáng.
Lạ lùng, cô gái không hề khóc. Mặt cô đanh lại, cô lừ lừ tiến về phía tôi, nhổ vào mặt tôi một bãi nước bọt:
- Đồ cò gái mất dạy! Không biết nhục...!
Ném vào tôi câu sỉ nhục ấy xong, cô đi thẳng.
Bà chủ khách sạn không hiểu đầu cua tai nheo gì cũng chì chiết:
- Thế mà cũng mang danh là trí thức!
Tôi im lặng. Cả người tôi như tê dại. Những sợi thần kinh căng ra như một sợi dây đàn. Tôi đang ở vực thẳm của sự tủi nhục và chợt nhận ra, tốt nhất là nên đi ra khỏi nơi người ta đã xô tôi xuống vực thẳm ấy.
Tôi đi ra phía biển. Biển rộng đến đường chân trời. Gió nhẹ. Sóng xanh xô mãi vào bờ. Trước bao la của biển tôi thấy mình nhỏ nhoi. Sự việc diễn ra ban sáng như một cuộn băng ghi hình, hiện lại trên võng mạc. Tôi xem đi xem lại và thấy cái lý thuộc về cô gái. Cô đã đào trúng mỏ và việc ra đi đột ngột của ông khách đã làm cô mất cơ hội kiếm tiền. Tôi không trách cô, chỉ trách mình, tại sao mình lại đi chung con đường với những cô gái ấy.
Chiều nhạt nắng. Tôi đã ngồi tâm sự với biển suốt mấy tiếng đồng hồ. Biển bỗ về, an ủi tôi và tôi thấy như không có chuyện gì xẩy ra ban sáng. Khuôn mặt tôi như được tạc lại từ buổi sáng bất hạnh này, cứ nặng trĩu u buồn. Trên bãi cát lúc ấy có rất nhiều người dạo chi. Từ một con thuyền cách đó không xa, những người ngư dân đang lễ mễ khiêng một thùng cá lên bờ. Những con cá cảnh biển đủ màu sắc đang bơi trong một thùng nước màu ngọc bích. Nhìn khuôn mặt buồn bã của tôi, một ông già ngực trần rám nắng tiến lại, hỏi:
- Chú thích cá cnh lắm h? Bây giờ nhiều người thích nuôi cá cảnh. Khi nào có chuyện bực bội gì cứ ngắm cá bi là hết. Thiệt tài! Nhìn cá dưới biển còn đẹp hn nhiều.
- Thật hả bác?
- Chú không tin, thử một lần xuống biển với tụi mình.
Trong tâm trạng hoang mang đến cùng cực, tôi nhận lời ngày mai đi biển với ông già.
Ông đón tôi trên bãi biển từ sớm. Buổi sáng gió nhẹ. Mặt trời như một hòn than khổng lồ nhô lên khỏi sa mạc nước. Tôi bị vẻ đẹp của biển trời chinh phục, mải mê ngắm những hòn cù lao phía khi xa. Con thuyền như một chiếc cày xới mãi vào lớp đất màu xanh đang cuộn sóng. Đến rặng san hô gần một hòn đo, tôi được ông già chỉ cách ngậm vòi hơi xuống biển. Một bức tranh thiên nhiên tuyệt vời hiện ra trước mắt tôi. Những chú cá cảnh đủ màu sắc tung tăng bi giữa những cành san hô nghiêng ng như chim muông trong một khu rừng. Tôi như lạc vào vườn cổ tích, ở lại dưới lòng biển hàng giờ. Trong điều kiện ít không khí, phi hít thật sâu, tôi có cảm giác buồng phổi của tôi như nở rộng ra. Tấm lưới của mấy người ngư dân trẻ khép lại và những chú cá tội nghiệp kia phải theo họ lên bờ. Trong khi vội vàng, một con cá mao tiên đâm vào tay một ngư dân. Anh này “á!" lên một tiếng rồi nằm vật ra thuyền.
Chàng trai vật vã. Độc tố của con cá này đã làm anh nhức buốt. Ông già phi kéo vòi hơi của tôi lên và buồn bã thông báo phải vào bờ ngay.
Nhìn anh thanh niên đang quằn quại, tôi biết điều gì đang xẩy ra. Độc tố của con cá này có thể gây chết người và khi thuyền cặp bờ, tôi chạy ngay lên phố, mua thuốc cấp cứu cho anh.
Như một phép nhiệm màu, tôi vừa rút mũi kim chưa đầy một phút, anh thanh niên đã nở nụ cười. Ông già cầm lấy tay tôi:
- Chú chẳng khác gì một bác sỹ.
Tôi thú thật:
- Vâng, con là bác sỹ. Nhưng con bỏ nghề rồi.
- Tại sao lại bỏ...?
- Con viết văn...!
- Hèn chi, trông khuôn mặt chú cứ buồn buồn.
Sau lần cứu được chàng trai, ông già ngày nào cũng rủ tôi đi biển. Những chàng trai trên thuyền đã chỉ cho tôi cách bắt cá. Và họ ngạc nhiên, không lâu sau đó, tôi trở thành một anh sát cá. Chính vì vậy, cuối ngày ông già bán cá xong cứ nhất định dúi vào tay tôi dăm bảy chục ngàn. Lúc đầu tôi không nhận. Nhưng không nhận cũng không xong với ông già...
Tôi bắt đầu quen với nghiệp mới của mình, nghề bắt cá cảnh. Mỗi ngày lặn xuống biển vài giờ, hít sâu vào lồng ngực không khí trong lành của đại dương, ăn bữa cm trưa trên thuyền với vài con cá bắt được, tôi thấy người khỏe ra. Ngày có vài chục ngàn cho vợ đi chợ. Đêm đánh một giấc ngon lành. Căn bệnh mất ngủ triền miên không cánh đã bay đi từ khi nào không biết.
Thời tiết đã chuyển mùa. Biển động. Tôi ở nhà đọc “Ông già và biển cả” của Hêminuê và viết những câu chuyện giữa tôi và biển...

Nha Trang 8-4-2000




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Truyện Nghề và Nghiệp đã được mang vào thư viện

Chúc TBN luôn vui

Thân ái
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-09-07 12:44:24tieuboingoan>
Sang xuân


Phan Cao Toại


Buối đông, trời ấm dần lên. Trong con hẻm nối hai đường phố chính của thành phố, mùa xuân như đã đến từ lâu. Trước ban công của những ngôi nhà lợp tôn, những bông hồng, bông thược dược đã khoe màu. Lác đác có mấy chậu mai nhà ai đã nở những bông hoa màu nắng.

Con hẻm không rộng nhưng yên tĩnh, đối nghịch với cảnh người xe nườm nượp của hai đường phố chính. Một ngôi chùa tọa lạc khoảng giữa làm cho con hẻm càng thêm thanh tịnh.Dântronghẻmphầnlớnlàdânlaođộng.Nhữngquán cà phê, quán cóc cũng tềnh toàng. Một chiếc bàn nhỏ bằng gỗ phủ nilông. Dăm chiếc ghế nhựa thấp tè nhưtrong nhà trẻ. Thế là thành quán. Khách đến uống cà phê hình nhưkhôngphảingườitronghẻm.Họđixegắnmáy,mỗingười đèo theo một chiếc lồng chim bé xíu được bọc bằng một lớp vải. Có người mang theo hai lồng. Ðến nơi, họ tháo vải bọc, treo lồng chim lên cành của những cành cây trong vườn chùa vươn ra ngoài đường. Cũng có người treo lồng chim vào hàng rào của những ngôi nhà gần quán cà phê.

Trong những chiếc lồng nhỏ ấy là những chú chim vành khuyên. Mỗi lồng là một kiểu dáng, là một công trình nghệ thuật khá tinh vi. Có chiếc hình vuông, hình chữ nhậtcóchiếchìnhtrụ.Nhưngdùkiểudángnàothìnhững nan tre cũng được chuốt rất công phu, đánh vecni màu nâu nhạt.Và rồi với bàn tay khéo léo của những người thợ, những chiếc lồng chim thành hình.Ngoài lồng gắn thêm những bức chạm nhỏ xíu khắc hình bông hoa hoặc long ly quy phụng hoặc hình những vị bồ tát trên những mảnh gỗ hay trên ngà voi. Bên trong lồng là những chiếc chén hạt mít bằng sứ đựng nước và cào cào gắn vào bốn góc chuồng. Một que tre bắc ngang cho chim đậu. Chủ nhân của mỗi chú chim vành khuyên đều cố gắng trang điểm cho chiếc lồng chim của mình thật đẹp và để khoảng trời nhỏ của những chú chim thật khoáng đạt với hy vọng con chim của mình hót sẽ hay hơn.

Dân chơi chim vành khuyên phần lớn là giới mày râu. Có người ăn mặc chải chuốt, có người ăn mặc bình dân. Có người già. Có người còn trẻ. Họ đến con hẻm uống cà phê với chú chim nhỏ đáng yêu của mình để đắm mình trong ánh sáng của bình minh vừa chớm hé, để hít thở bầu không khí trong lành và để nghe những chú chim vành khuyên hòa tấu. Những âm thanh trong trẻo hòa quyện vào nhau, rộn ràng, líu lo, làm họ quên những phút vất vả của chuyện mưu sinh, làm họ quên đi những khó nhọc của đờithường.Nhữngngườiđemchimđếnhìnhnhưkhôngtrò chuyện với nhau nhiều, lặng lẽ ngồi đốt thuốc hay nhâm nhi giọt cà phê chát đắng, lắng tai nghe bản hòa tấu của chim muông.

Gần đây, người ta thấy có một người phụ nữ trạc ngoài bốn mươi, khuôn mặt đẹp và buồn, đi chiếc xe Dream màu mận chín với chiếc lồng chim vào con hẻm.Chịdừnglạibên chiếc bàn ngay sát cổng chùa, chỗ trước đây một người đàn ông dáng vẻ nghệ sỹ vẫn đến ngồi với một chú chim vành khuyên. Khi người phụ nữ dựng xe và treo chiếc lồng chim của mình lên cành cây, những người đàn ông đoán chị có mối liên quan mật thiết với người đàn ông đã từng đến ngồi chỗ ấy. Họ nhận ra điều này nhờ chiếc lồng chim khá đơn giản và giọng hót tuyệt vời của chú chim vành khuyên trong lồng. Dân nghiền chim vẫn ghen tỵ với ông nghệ sỹ có con chim ấy. Bẵng đi một thời gian, họ không thấy ông đâu và đoán già đoán non, rằng ông bị bệnh, rằng ông bận công việc... Hôm nay nhìn thấy chiếc băng tang màu đen trên ngực người phụ nữ, họ giật mình và đoán rằng, có lẽ người nghệ sỹ ấy đã qua đời. Con chim của người phụ nữ bay loạn xạ trong chuồng, chị cũng không biết sẽ phải làm gì để chú chim trở lại bình thường và cất lên tiếng hót.

Người chủ quán bê ra một ly cà phê đen không đường, như sở thích của người đàn ông trước đây vẫn uống. Giọng ông ấp úng:

-Thưa, xin lỗi, chị là... của nghệ sỹ X?

Người đàn bà ngạc nhiên, hướng đôi mắt mệt mỏi và buồn về phía người chủ quán, khẽ gật đầu. Người chủ quán tế nhị không hỏi gì thêm.

Ông cố lặp lại những gì người nghệ sỹ đã từng làm: Mua một túi nhỏ cào cào, đổ thêm ít nước vào những chiếc chén và vẫy tay ra hiệu cho chim hót. Tất cả đều diễn ra như người nghệ sỹ vẫn từng làm. Chú chim vành khuyên nhúng chiếc mỏ nhỏ xíu của mình vào chén nước, nhẩng cổ lên nuốt, rẽ cánh chuốt lại bộ lông màu vàng nhạt của mình rồi đĩnh đạc cất tiếng hót. Giữa âm thanh rộn ràng của hàng chục chú vành khuyên đang đua nhau hót, tiếng chim vành khuyên của người vợ nghệ sỹ như trong hơn, rõ hơn và dìu dặt hơn. Nó như người lĩnh xướng trong một giàn hợp xướng và có vai trò chủ đạo cho những tiếng hót của những con chim khác hót theo. Những người đàn ông ngồi trong quán cà phê gật gù.Họ như sống lại quãng thời gian họ được ngồi với người nghệ sỹ để cùng nghe chim hót. Lúc ấy, ông không nhìn vào ai, mắt mơ màng dõi theo những sợi khói thuốc, nhìn những đám mây trắng đang bay qua bầu trời. Ông như hóa thân theo tiếng nói của chú chim vành khuyên, đến nỗi có ai đó muốn mời ông điếu thuốc để tán thưởng chú chim nghệ sỹ của ông cũng phải vỗ vào vai nhiều lần ông mới bừng tỉnh. Hôm nay, chú chim vành khuyên của ông vẫn hót rất hay, thanh và cao nhưng giới chơi chim cảnh vẫn nhận ra một điều gì hơi khác. Hình như những giọt buồn đã lẫn vào dòng trong của tiếng chim, nghe đau và buồn.

Người phụ nữ vẫn mỗi sáng đem lồng chim đến quán cà phê. Chị đã quen làm những việc nhỏ như mua cào cào, đổ thêm nước vào những chiếc chén hạt mít và vẫy tay ra hiệu cho chim hót. Sáng ngày ba mươi tết, chị đến sớm hơn thường lệ. Con hẻm lúc ấy chưa có ai. Chủ quán cà phê cũng mới dọn hàng. Chị ngập ngừng nói với ông:

-Hôm nay, nhờ bác xếp bàn lại thành hai dãy. Tôi muốn mời những người chơi chim, bạn cũ của nhà tôi uống ly cà phê giã từ năm cũ.

Ông chủ quán gật đầu, mỉm cười. Vốn có cảm tình với người nghệ sỹ đã qua đời, ông làm mọi việc chuẩn bị hết sức chu đáo. Những chiếc bàn con được kê ngay ngắn trước cửa nhà ông, đối diện với cổng chùa, từ đó có thể nhìn rất rõ những chiếc lồng chim vành khuyên.

Người đàn bà treo chiếc lồng chim, say sư ngắm chú chim nhỏ bé của mình. Khi chú bé đạp xe mang những túi nilôn nhỏ đựng cào cào đến bán, từ bên ngoài con hẻm, nhiều tiếng xe gắn máy vọng vào. Dân chơi chim vành khuyên bắt đầu đến. Ông chủ quán cà phê thông báo với nhã ý của người phụ nữ. Họ vui vẻ nhận lời.

Người phụ nữ ngồi phía đầu dãy bàn. Những người đàn ông ngồi hai bên. Cà phê đang nhỏ giọt. Bản hòa tấu của những chú chim vành khuyên bắt đầu.Vẫntiếnghóttrong trẻo của chú vành khuyên của người nghệ sỹ lĩnh xướng. Những người đàn ông lặng im, hòa tâm tưởng của mình vào những tiếng chim đang hót.

Mặt trời đã nhô lên sau những tòa nhà. Nắng le lói vào con hẻm. Những vệt nắng màu vàng sưởi ấm con hẻm xi măng xám lạnh. Và gió sớm từ đâu về mang theo hơi ấm. Mùa xuân đang đến đâu đây. Người phụ nữ đứng lên, cắt ngang dòng suy nghĩ của những người đàn ông:

-Thưa các anh, nhà tôi đi lại với con hẻm này từ dạo mới về thành phố này, từ lúc anh ấy vừa xây dựng gia đình với tôi. Anh ấy rất mê chim và chiếc lồng kia tự tay anh làm lấy. - Chịchỉtaysangchiếclồngchimđangtreotrêncànhcây.

-Nay anh ấy đã ra đi. Mấy hôm nay tôi cố làm những việc anh ấy vẫn làm, mang chú chim vành khuyên mà anh ấy rất quý đến hót cùng với những con chim của các anh.Nhưng mỗi lần đến đây, tôi lại càng da diết nhớ anh ấy...

Nói đến đó, chị nghẹn lời. Những người đàn ông im lặng. Chỉ có những chú chim vành khuyên vô tư vẫn hót líu lo. Và nắng vẫn nồng nàn sưởi ấm con hẻm. Chợt một người đàn ông đứng dậy, hai tay chắp trước ngực, kính cẩn nói với chị:

-Thưa chị, chúng tôi rất cảm động được chị mời dự buổi họp mặt cuối năm. Thú thực, anh em tôi đến đây chỉ biết mặt nhau. Không ai hỏi nhau về nghề nghiệp, chỗ ở của mình. Ðến để uống cà phê và nghe chim hót. Vì thế, chúng tôi cũng thành thật xin lỗi, chúng tôi cũng chưa biết quý danh của anh nhà và anh đã mất vì bệnh gì?

Giọng người phụ nữ vẫn trầm buồn:

-Nhà tôi là nhạc sỹ Phú Cường. Vừa qua, anh đi công tác miền Trung. Trong một đợt về thực tế tại một huyện miền biển, anh ấy đã mất cùng nhiều đồng bào trong cơn lũ lịch sử...

Giọng chị thật cảm động. Nhưng chị không khóc, hai môi cắn chặt. Chị đi sang phía cổng chùa, nơi chiếc lồng chim của chị đang treo trên một cành cây, cẩn thận nâng tay đỡ chiếc lồng xuống. Chị quay lại, đặt chiếc lồng lên bàn. Ðôi tay chị run run, giọng chị như lạc đi:

-Lẽ ra, tôi phải tiếp nối sở thích của nhà tôi, sáng nào cũng mang chú chim vành khuyên này đến đây cùng hót với những chú chim của các anh trong mươi mười lăm phút trước lúc đi làm. Nhưng tôi rất sợ đến con hẻm này, ngồi lên chiếc ghế nhà tôi vẫn ngồi, ngắm con chim nhỏ bé và nghe tiếng hót du dương của nó. Tất cả thức dậy trong tôi kỷ niệm về người chồng thân yêu và càng làm tôi nhớ thương anh ấy. Nhưng tôi lại có quá ít thời gian lại bận trăm công nghìn việc. Tôi đành nhận lỗi với nhà tôi rằng tôi đã không đến đây như anh ấy đã từng đến. Vì vậy, tôi muốn thả chú chim về với thiên nhiên, chỉ giữ lại chiếc lồng làm kỷ niệm...

Nói xong, chị mở chiếc cửa nhỏ bé trên lồng cho chú chim bay ra trước con mắt ngạc nhiên của những người đàn ông. Con chim vành khuyên bay lên cành cây trước vườn chùa, ngoái lại nhìn chị rồi cất tiếng hót cùng với những con chim khác trong lồng.

Sang xuân, những người đàn ông lại đến con hẻm với những chiếc lồng chim của mình. Họ hết sức ngạc nhiên, con chim vành khuyên của người nghệ sỹ vẫn còn đó, hót líu lo trong vòm lá xanh rờn trước vườn chùa. Một vài người thả những chú cào cào lên mặt bàn của quán cà phê và chú chim sà xuống mổ. Và con chim vành khuyên ấy đã ở lại với con hẻm suốt cả mùa xuân.

Nha Trang, cuối đông 1999




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Chuyện của một nhà thơ già


Phan Cao Toại




Tôi tin rằng, đến tuổi bảy mươi như nhà thơ Anh Phương bây giờ, chúng tôi chẳng thể khỏe được như ông. Sức khỏe của ông làm nhiều người thèm muốn. Da đỏ au, bắp thịt rắn chắc, đôi mắt vẫn tinh tường, có lần ông nói: Tớ chấp ba cậu đánh vật với mình tớ!. Giọng ông sang sảng, đầy vẻ tự hào. Và ông có quyền tự hào với sức khỏe của mình.

Buổisáng,ông dậy từ lúc mặt trời còn ngủ trong sương mỏng. Chạy bộ hai ba cây số dọc bờ biển, nhiều chàng trai 30 còn lẽo đẽo theo ông. Tắm táp xong, ông ăn lót dạ rất nhẹ rồi làm bát nước chè xanh. Ông không bao giờ đụng đến cà phê, thứ ấy theo ông tim phải làm việc quá mức. Bia rượu chẳng bao giờ ông dùng, ông cho là thứ làm trí nhớ giảm sút, gan bị nhiễm độc. Là nhà thơ với những bài thơ tình tuyệt tác nhưng ông lại không lòng thòng em út, dù vợ ông, một bà lão xấp xỉ tuổi ông, lưng đã gù, tóc bạc như cước, đi bên ông cứ như chị bên em. Có một lần trong bữa liên hoan, thấy ông không uống rượu, tiệc tan không thấy ông theo mọi người đi hát karaokê, cánh thanh niên đùa ông: Theo tôi, anh nên chết quách đi cho rảnh. Rượu không, trà không, đàn bà cũng không, anh sống làm gì...! Ông chỉ cười, trả lời bằng một câu thường trực cửa miệng: Sức khỏe là trên hết!

Thế mà sáng nay, nhân có cuộc gặp mặt thường kỳ tại nhà một anh bạn, tôi không nhận ra nhà thơ Anh Phương nữa. Trông ông hốc hác, tiều tụy, vẻ mặt bơ phờ, rất khác với một nhà thơ Anh Phương khỏe khoắn sung mãn tôi gặp không lâu trước đó. Buồn hơn là ông cho biết, ông đã mua vé tàu để vào Thành phố Hồ Chí Minh điều trị. Nói với chúng tôi, giọng ông buồn bã:

-Không ngờ trong tôi có cả một đống bệnh. Thế mà mình tưởng mình sức khỏe hơn người!

Ông trao cho tôi một mớ giấy tờ. Xét nghiệm, siêu âm, điện tim, điện não, đủ cả. Xem xong, tổng kết đống hồ sơ của ông, tôi biết hiện ông đang bị sáu loại bệnh: mạch máu nuôi tim bị nhiễm mỡ, cao huyết áp, viêm phế quản, tiền liệt tuyến bị xơ, tiểu đường, viêm khớp. Toàn là những thứ bệnhchếtngười!Ngườiyếubóngvíakhibiếtmìnhmang một thứ bệnh đã lo chết khiếp, huống hồ nhà thơ trữ tình của chúng tôi lại gánh một lần những sáu thứ bệnh! Khác nào sáu chiếc vòi bạch tuộc quấn vào ông, ông chưa biết đã là may, nói chi việc thân thể của ông ngày càng tàn tạ.

Tôi không thể trách đồng nghiệp của tôi đã bới bèo ra bọ. Mỗi người một chuyên khoa và khi đã đi sâu vào tầm vi mô của bệnh lý học, họ phát hiện bệnh tật từ khi còn trứng nước. Tôi lựa lời khuyên giải.

-Theo tôi, anh không nên đi bệnh viện. Khi người ta lớn tuổi, cơ thể phát sinh nhiều bệnh, đó cũng là lẽ thường tình. Vào trong đó, chẳng có ai chăm sóc. ở ngoài này còn chị, các cháu và nhất là bè bạn. Anh cứ tạm gác bệnh tật sang bên, tạm thời chung sống với nó, chỉ nên chữa các triệu chứng nặng và đe dọa đến sức khỏe.

Ông mắng tôi, đại để, làm sao tôi có thể giỏi bằng bác sỹ trong thành phố. Phải đi thôi. ở nhà là chết...!

Buổi gặp mặt trở thành một buổi chia tay đầy bịn rịn. Cứ như lời nhà thơ Anh Phương, ông gặp chúng tôi lần này là lần cuối cùng, để rồi ra đi mãi mãi. Như một kẻ tử tù nói lời vĩnh biệt. Nhìn những giọt nước mắt ứa ra trên gò má nhăn nheo của ông, chúng tôi cũng bùi ngùi. Mấy cốc bia tan hết đá, đĩa đồ nhắm nguội lạnh, chúng tôi như đang ngồi trong nhà mồ để đưa tiễn một người bạn sang thế giới bên kia.

Nhà thơ Anh Phương đi rồi, tôi mới hỏi một người bạn:

- Sao lại có chuyện khủng khiếp như vậy?Anh bạn tôi cười:-Nguyên do là tại một lần ông đưa bà đi bệnh viện. Khám cho bà vợ xong, nghe bác sỹ giải thích, tỷ lệ cao huyết áp hiện rất cao ở Việt Nam, nhất là ở những người cao tuổi. Nhà thơ Anh Phương hơi chột dạ. Ông chẳng mấy khi theo dõi huyết áp, nghe bác sỹ nói vậy, sẵn có huyết áp kế của phòng khám, ông nhờ đo. Người ta phát hiện ông cao huyết áp. Gửi đi siêu âm phát hiện thêm mỡ mạch máu nuôi tim, phát hiện thêm tiền liệt tuyến hơi to. Ði chụp điện quang người ta phát hiện viêm phế quản mạn tính. Ði xét nghiệm lại biết thêm ông bị cao đường huyết. Toàn là những nơi có tín nhiệm kết luận. Thế là ông bạn của chúng ta đâm hoảng, đâm ra nghĩ ngợi, lo lắng, cuối cùng kém ngủ kém ăn người gầy rộc đi và nằng nặc đòi vào Thành phố Hồ Chí Minh điều trị!

Tôi cũng cười, nụ cười không được tự nhiên. Tôi biết nhà thơ Anh Phương chỉ chuyên tâm đến văn chương chữ nghĩa, lĩnh vực khoa học là ông mờ tịt. Nên trước những kết luận của thầy thuốc, ông đâm hoảng là phải. Ông ngỡ mình mắc những nan y, không chữa chạy gấp thì chỉ có nước... xuống lỗ!

Bẵng đi một thời gian, một hôm mấy anh bạn hớt hải tìm tôi. Họ thông báo cho tôi cái tin khủng khiếp:

- Nhà thơ Anh Phương sắp chết rồi!

Tôi rụng rời, không tin những điều mình vừa nghe, hỏi lại lần nữa:

- ổng đi chữa bệnh trong thành phố kia mà? -Thì vậy. Nhưng mà không chữa được, cuối cùng gia đình phải xin về để chết ở quê. ổng vừa về tàu hỏa sáng nay.

Chúng tôi lục tục đến thăm nhà thơ Anh Phương. Trông ông thật tội nghiệp. Người còn một nhúm, da bọc xương, ứa nước mắt nhìn bạn bè. Tôi không biết nói gì để động viên vì ông đã được những danh y khám và chữa trị. Nhưng tôi trộm nghĩ, yếu tố tinh thần ảnh hưởng rất lớn đến diễn biến bệnh. Nghĩ vậy nhưng dù có giải thích đến ngàn câu, nhà thơ Anh Phương cũng chẳng tin tôi, một anh thầy thuốc bỏ nghề vọc vạch viết lách.

Tôi lang thang ra bờ biển, nghĩ mông lung về kiếp phù du sớm nở tối tàn. Kiếp người trong trời đất cũng thật ngắn ngủi. Nhà thơ Anh Phương mới đây còn khỏe mạnh, yêu đời là thế bỗng chốc lại đứng trước cửa tử. Ðang bần thần nhìn những con sóng vỗ nhẹ vào bờ chợt có ai đặt tay lên vai tôi. Quay lại nhìn, tôi hơi ngờ ngợ trước một ông già đẹp lão, mái tóc bạc trắng xõa trên vai, kính viễn đeo mắt, tướng mạo béo tốt sang trọng đang cười nhìn tôi. Tôi đã gặp người này ở đâu rồi nhưng tên họ thì không thể nào nhớ nổi. Ông già cười khanh khách:

- Quên rồi hả? Giáo sư Tuẫn đây mà!

À, thì ra là giáo sư Tuẫn, người trông coi nhà xác của bệnh viện X ngoài Hà Nội. Thuở còn đi học, hàng tuần chúng tôi phải xuống nhà xác, ông Tuẫn là người giám đốc ở đấy. Tuy nghề nghiệp chẳng lấy gì cao sang nhưng ông đẹp mã, trán cao, miệng rộng, ra dáng trí thức nên sinh viên tụi tôi gọi đùa ông là giáo sưTuẫn. Ðược tấn phong là giáo sư, ông không giận mà lại hãnh diện. Hôm nay gặp, tình thật tôi không nhận ra vì ông thay đổi nhiều quá. Ông đẹp ra, hồng hào, cái dáng của ông còn hơn hẳn những ông trí thức thật sự về hưu.

Tôi kéo ông ra một quán bia bên bờ biển. Ông cho biết, ông đã nghỉ hưu từ lâu và lần này đi nghỉ mát trong này. Ngồi ngắm ông, tôi lại nhớ đến nhà thơ Anh Phương của chúng tôi. Hai người cùng độ tuổi nhau, thế mà giáo sư Tuẫn lại hồng hào khỏe mạnh, còn nhà thơ Anh Phương đang chờ duyệt danh sách về cõi Niết Bàn. Tôi hỏi giáo sư:

-Nom bác khỏe ra. Bí quyết nào giúp bác trẻ, khỏe lâu như vậy...? Ông Tuẫn cười:

-Có gì đâu. Phải vô tư. Hoàn toàn vô tư. Chứ cứ nghĩ ngợi, quả trứng gà phóng to bằng quả núi thì có uống thuốc trường sinh rồi cũng chết.

Tôi cho là phải, vừa uống bia vừa nghĩ ngợi, cố tìm cách kéo nhà thơ Anh Phương ra khỏi vòng suy nghĩ luẩn quẩn. Và rồi trong óc tôi vụt hiện ra một kế hoạch để giúp ông. Tôi ngồi sát bên giáo sư Tuẫn, thầm thì với ông. Nghe xong ông cười như nắc nẻ:

-Cậu là bác sỹ thật sự nói chẳng ai nghe nữa là tớ, cái anh trông coi nhà xác!

-Thếmàđượcđấy,bácạ.Ðểtôisoạnchobácmộtbàidiễn văn, bác cứ học thuộc rồi xổ ra là xong.

Giáo sư Tuẫn miễn cưỡng nhận lời. Mấy ngày sau, tôi thuê một chiếc xe rất sang đưa giáo sư đến nhà nhà thơ Anh Phương. Nhà thơ đang liệt giường, nghe bà vợ nói có tôi đưa một giáo sư y học danh tiếng ở Hà Nội tới thăm, ông mừng lắm. Khi vào trong phòng của nhà thơ, tôi giới thiệu rất trịnh trọng:

-Giới thiệu với anh, đây là giáo sư Tuẫn vừa từ Hà Nội vào. Giáo sư là thầy học cũ của tôi, vừa sang giảng bài bên trường đại học Sorbon về. Ông là viện sỹ thông tấn của viện hàm lâm y học hoàng gia Anh, giáo sư danh dự của trường đại học Harvard và nhiều trường đại học nổi tiếng trên thế giới. Những giáo sư đã khám cho anh trong thành phố đều là học trò của giáo sư cả!

Nhà thơ Anh Phương nở nụ cười khó nhọc nhưng là nụ cười vui vẻ và tin tưởng, rằng trước lúc chết, trời phật còn cho mình gặp một giáo sư lừng lẫy tiếng tăm. Giáo sư Tuẫn không hỏi gì về bệnh tật, chỉ hỏi về gia cảnh, tuổi tác của nhà thơ:

- Năm nay anh bao nhiêu rồi?Nhà thơ Anh Phương đáp mệt mỏi:

-Dạ, gần bảy mươi.

-Thế còn kém tôi năm tuổi. Tôi bảy lăm - Giáo sư cười sảng khoái - Nếu biết giữ gìn, anh có thể sống thêm mười lăm năm nữa!



Nhà thơ Anh Phương chau mày, thoáng chút bối rối. Giáo sư Tuẫn nói tiếp:

-Khi về già, các tổ chức trong con người bị lão hóa, sinh ra lắm bệnh tật. Ví dụ bệnh cao huyết áp. Trước đây, người ta quy định, huyết áp tối đa bằng 100 cộng số tuổi. Nếu anh bảy mươi, huyết áp tối đa cho phép là 170. Ði khám, người ta đo cho mình, thấy tối đa là 150 đã kêu ầm lên: Ôi, ông bị cao huyết áp. Lo mà chữa đi!. Người bệnh đâm hoang mang, thần hồn nát thần tính. Kỳ thực, mạch máu con người ta sau bảy mươi năm đàn hồi, làm gì mà chẳng xơ chai, già lão! Lại chuyện u xơ tiền liệt tuyến. Phần lớn đàn ông có tuổi tuyến này đều to. Nhưng vấn đề có ảnh hưởng gì không, có đi đái nhiều lần trong đêm hay không. Anh có bị đái đêm không?

- Chưa, thưa giáo sư chưa ạ.

-Thế thì việc gì phải lo? Còn như viêm phế quản, nếu chụp phim cho trăm ông già, tôi tin cả trăm đều có rốn phổi đậm. Mấy chục năm hít thở, nhiều khi bụi bặm tích lại trong phổi, rốn phổi thế nào mà chả đậm. Căn cứ vào điện quang mà kết luận viêm phế quản là hơi vội vàng và thiếu khoa học!

Giáo sưTuẫn còn nói nhiều, rất nhiều về bệnh tật có liên quan đến những bệnh nhà thơ đang mang trên mình. Cuối cùng, ông kết luận:

-Theo tôi, ta không nên lo lắng. Người già, các tổ chức lão hóa, khám xét có thể người ta phát hiện một số dấu hiệu của bệnh tật. Nhưng phải bình tĩnh và chỉ điều trị những bệnh cấp tính. Còn lại thì chữa triệu chứng. Tôi chúc anh chóng bình phục để nhìn con cháu chúng mình làm ăn thế nào ở thế kỷ hai mươi mốt!.

Nhà thơ mỉm cười và toan ngồi dậy. Những lời khuyên của vị giáo sưdanh tiếng thật sự đã giải tỏa tâm lý lo lắng cho nhà thơ. Khi chia tay, nhà thơ hứa với ông bạn già:

-Có lẽ giáo sư nói đúng. Tôi vì quá lo lắng mà sinh ra bệnh nặng. Tôi sẽ nghe theo lời khuyên của giáo sư!

Thỉnh thoảng, tôi lại đến thăm nhà thơ Anh Phương. Anh đã ăn uống được, ngủ được, tinh thần phấn chấn hẳn lên. Và một thời gian sau, người ta lại gặp ông sáng sáng chạy trên đường biển và rất nhiều tờ báo lại đăng thơ tình của ông.

Nha Trang 10 - 11 - 1998




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Cuốc xe đêm


Phan Cao Toại


Chiếc xe tốc hành về miền Tây dừng lại ở ngã ba lối rẽ vào thị xã. Lúc ấy cũng đã khuya rồi. Tôi bước xuống xe, ngỡ ngàng trước những đổi thay của thị xã. Những ngọn đèn cao áp treo cao hắt ánh sáng lạnh xuống con lộ phẳng phiu đã thưa người qua lại. Hai bên hè phố hàng quán vắng tanh, thỉnh thoảng tiếng rao của người bán hột vịt lộn chợt cất lên rồi lịm ngay vào đêm.

Tôi xách hành lý, tính đi bộ vào nhà chú em gần cầu ông Bộ cách ngã ba chừng hơn cây số. Hai ba chiếc xe gắn máy trườn tới vây lấy tôi.

-Về đâu chú Hai, cháu đưa về? Về đâu...?

Tôi phân vân, nửa muốn đi xe nửa muốn đi bộ. Chặng đườngnonnghìncâysốtừngoàimiềnTrungvàođếnđây đã làm cho tôi thấm mệt. ở bên kia đường, một chiếc xe đạp lôi cũng hối hả băng sang. Ngồi trên yên xe là một phụ nữ đội chiếc nón lụp xụp, dưới ánh đèn mờ nhạt, tôi nhận ra người đó có khuôn mặt gầy và nước da ngăm đen. Chiếc xe đạp lôi dừng lại sau mấy chiếc xe gắn máy. Người phụ nữ im lặng hướng mắt sắc lạnh về phía tôi không nói câu nào. Tôi đọc được ý muốn của chị và qua khuôn mặt đen đúa còm nhom, cặp mắt sáng lên hy vọng đang nhìn tôi, tôi quyết định sẽ đi xe lôi về nhà người em.

-Không khoái ngồi xe ôm - Tôi hất hàm nói với mấy gã xe thồ - Ði xe lôi ngồi sau cho thoáng.

Mấy gã xe ôm nì nài thêm một lúc không được chạy tản ra, văng những lời tục tĩu. Lạnh tanh bước lại bên chiếc xe đạp lôi, tôi bỏ hành lý lên xe.

- Cho tôi về cầu ông Bộ!Người phụ nữ quay lại. Khi đối diện với chị, tôi mới kịp nhìn rõ khuôn mặt. Chắc chưa đầy bốn mươi, gầy gò, da mặt đen sạm, nụ cười mệt mỏi để lộ hàm răng đều và trắng.

- Dạ, chú cho con ba ngàn!

Tôi bước lên xe, ngất ngưởng ngồi. Chị ta bắt đầu đạp. Chiếc xe nặng nề chuyển bánh. Xích xe đã cũ, khô dầu, trượt lên líp xe nhọn hoắt tạo thành một âm thanh khô khốc, khó chịu. Dưới chiếc nón lá mất vành, lá nón tưa ra, mái tóc của chị buộc lại thành túm nhưchiếc chổi cùn quét qua quét lại trên bờ vai khẳng khiu theo mỗi lần chị rướn người lên đạp. áo hoa màu sẫm đã cũ, ngắn ngủn, mỗi lần chị cúi xuống lại hở một vạt lưng. Chị, tôi và chiếc xe lôi cà tàng làm nên một bức tranh trên nền đêm đen. Tôi, béo tốt, phươngphi,quầnáotươmtấtđangngồinhưmộtôngphỗng trên chiếc ghế xe không đệm. Còn chị, gầy còm, ốm yếu, lam lũ đang gò lưng cặm cụi đạp chiếc xe già nua, bánh xe nặng nề nghiến lên mặt đường tội nghiệp. Người phụ nữ vẫn cặm cụi đạp. Ði được một quãng chị đưa tay lên trán gạt mồ hôi. Gió từ sông Tiền thổi vào lành lạnh. Tôi lấy chiếc áo khoác choàng lên mình. Chợt thấy chiếc áo mỏng trên lưng người phụ nữ đã thấm ướt mồ hôi. Tôi ái ngại, không muốn đi tiếp nữa, tế nhị nói:

-Chị dừng lại chỗ đèn sáng kia, tôi muốn mua chút quà cho mấy đứa nhỏ.

Chiếc xe dừng lại. Chị đưa nón quạt rồi lấy ra một chiếc khăn đã cũ, nhàu nát lau mồ hôi.

Tôi bước ra với gói bánh trên và quyết định chỉ để hành lý trên xe và đi bộ với người phụ nữ. Tôi hỏi chuyện làm ăn, giọng chị buồn rầu đáp:

-Làm ăn ế quá chú ơi! Ba chiếc Honda nó giành hết.Từ chiều đến giờ chưa được cuốc nào. Chú là người đầu tiên.

Chị giục tôi lên xe. Tôi chần chừ rồi từ chối, viện lý do đi bộ cho đỡ bó chân. Chị đẩy xe lại, giọng nằng nặc:

- Nếu chú không lên, con cũng không đi nữa...!

Nói xong, chị lấy trong túi treo trên ghi đông xe một ổ bánh mì, nhai ngon lành.

-Xin lỗi chú, từ chiều đến giờ con chưa có gì trong bụng.

Giọng chị nhỏ và buồn, một tay đưa lên ngực, khúng khắng ho. Tôi rùng mình, một cảm giác lành lạnh, khó tả đang xâm chiếm lòng tôi. Có lẽ đó là lòng thương cảm, xót xa với hoàn cảnh của chị. Tôi không thể để một người phụ nữ gầy gò, ốm yếu, bệnh hoạn thế kia kéo một cỗ xe nặng nhọc và lấy làm ân hận vì đã nhận lời đi xe của chị.

Người phụ nữ lại giục:

- Chú lẹ lên cho con còn kiếm thêm cuốc nữa! Tôi ngơ ngác:

-Thế chị chưa về nghỉ? Khuya rồi còn gì?

-Dạ, tụi con chạy xe thâu đêm. Nghỉ lấy gì nuôi chồng, nuôi con.

Tôi thở dài ngao ngán, ái ngại cho chị. Khuya khoắt thế này lấy khách đâu mà chở. Lưỡng lự một lúc, tôi lại bước lên xe và không mấy chốc đã tới cầu ông Bộ. Tôi đưa tờ bạc hai mươi ngàn để trả tiền xe và nói với chị:

-Thôi, chị cầm cả.

-Dạ không, con đã nói ba ngàn là ba ngàn. Ba ngàn là

quá nhiều rồi. Chị lúng túng, lục khắp túi áo, ngại ngùng:

- Dạ, con không có tiền lẻ.

-Thì chị cứ cầm lấy, tôi biếu mà!

- Dạ không, - người phụ nữ đáp lại kiên quyết.

Qua lại hồi lâu, chợt nhớ ra điều gì có thể giúp chị, tôi nói:

-Chị chờ cho một lát, tôi ra ngay. Tôi muốn đi dạo một vòng quanh thị xã, sớm mai lại phải trở về thành phố rồi.

Tôi vào nhà, trao gói quà cho mấy đứa cháu. Người em dâu cho biết, chú em tôi đang trực trong bệnh viện. Lau mặt qua loa, tôi nói với cô em và các cháu tôi phải đến bệnh viện để trao đổi với chú em một số việc cần.

Tôilạingồilênxe.Ngườiphụnữđưatôiđimộtvòngquanh thị xã. Trong đêm, những ngôi nhà im lặng, ngủ say trong tiếng sóng của sông Tiền đang vỗ nhẹ vào bờ. Tôi ra hiệu cho người phụ nữ dừng lại một quán nhỏ ven sông, lúc đó có mấy người chạy xe xích lô đang uống rượu.

-Tôi muốn mời chị uống một chút gì. - Tôi nói. Người phụ nữ trố mắt nhìn tôi vẻ ngạc nhiên:

- Dạ cảm ơn chú, con không khát.

-Không, cô cứ tự nhiên. Tôi đổi cách xưng hô, kéo tay chị ngồi vào ghế. Cử chỉ thân tình nhưng hơi thô bạo. Chị miễn cưỡng ngồi xuống.

- Nào cô dùng gì? Thôi, uống một ly sữa nóng nhé.

Chị khẽ gật đầu. Dòng sông Tiền về đêm đang thiêm thiếp chảy về xuôi, mỗi lần có chiếc đò máy đi qua lại dạt vào bờ những đợt sóng kèm theo những mảng lục bình. Bên kia cồn, ánh đèn le lói và tiếng gà đã xôn xao gáy sáng. Tôi mông lung nghĩ về chị và tò mò hỏi:

- Sao cô lại phải làm nghề vất vả vậy? Anh ấy đâu? Chị trả lời buồn bã:

-Chú tính làm gì bây giờ. Phải ông chồng nghiện ngập, làm được đồng nào là ném vào rượu tất.

Không dám gợi thêm những xót xa của chị, tôi đứng dậy kêu tính tiền rồi nhét vào túi chị hai mươi ngàn, bước vội về phía bệnh viện. Lúc ấy đã hơn hai giờ khuya.

Trong bệnh viện thị xã, hai anh em tôi nói chuyện với nhau một đỗi mệt rũ tôi ngả lưng trên chiếc giường trực ngủ thiếp đi. Ðang mơ màng, chợt có tiếng gõ cửa rất gấp làm tôi giật mình tỉnh dậy:

- Bác sỹ Thắng. Có cấp cứu, mời bác sỹ ra ngay.

Chú em tôi vội bước sang phòng cấp cứu. Tôi cũng dậy và bước sang theo. Trước mắt tôi, sàn nhà lát gạch hoa sáng bóng loang lổ máu. Cô y tá đang đo huyết áp. Người bệnh chợt giãy giụa, tay ôm ngực, ộc ra một bãi máu màu hồng, lầy nhầy bọt.

Tôi giật mình, đứng lặng, không dám tin ở mắt mình.

Toàn thân tôi run lên, trán vã mồ hôi, tim đập thình thịch. Trước mắt tôi là người phụ nữ chạy xe lôi. Tôi cố giấu chú em rằng đó là người vừa đạp xe đưa tôi đi một vòng quanh thị xã. Em tôi khám nhanh cho chị và ra y lệnh:

-Truyền dịch ngay. Cho chảy hết cỡ. Nâng huyết áp khẩn cấp. Gọi xét nghiệm cho làm nhóm máu!

Nhìn nét mặt chị xanh tái, nhợt nhạt dưới ánh đèn, tôi nói như van với chú em:

- Chú cố gắng cứu lấy chị ấy...!

Tất cả đều khẩn trương. Khi những giọt máu bắt đầu chảy vào cơ thể chị, người y tá cho biết huyết áp không đo được nữa. Chú em tôi làm hô hấp nhân tạo, tiêm thuốc trực tiếp vào tim. Tất cả những sự cố gắng ấy đều vô nghĩa. Chị đã tắt thở. Chú em tôi buồn bã nói:

-Chị ấy ho ra máu vì lao phổi. Một động mạch trong hang lao bị vỡ do làm việc gắng sức quá.

Trước khi đưa chị xuống nhà xác, biên bản tài sản của người bệnh chỉ vỏn vẹn mấy dòng: Trong túi có hai mươi ngàn đồng và một chiếc xe lôi.

Tôi im lặng, nuốt nước mắt thầm, chạy vội ra bờ sông, ngồi vào chiếc ghế của quán cóc ven bờ, nơi cách đây hơn tiếng đồng hồ tôi đã ngồi uống nước với chị. Trước mắt tôi, sông Tiền vẫn lạnh lùng trôi, mang theo những bè lục bình ra ngoài biển rộng.

Vĩnh Long 1999






http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Ao nhà


Phan Cao Toại




Tôi vừa từ trường về nhà đã thấy mẹ tôi đã đứng đợi ở cổng, nét mặt rất vui. Mẹ tôi đau yếu đã mấy năm nay, cả ngày ít khi rời khỏi giường, mặt mày khi nào cũng nặng nề, khó chịu. Thế mà hôm nay bà ra tận cổng chờ con, một tay giấu vật gì sau lưng, miệng cười móm mém. Hình như có tin gì vui. Mẹ tôi nửa úp nửa mở, chơi trò ú tim:

- Con có tin vui. Mẹ đố con đoán được tin gì!

Tôi cười, nghĩ ngợi một hồi lâu rồi lắc đầu. Tức thì, bàn tay đang dấu sau lưng của bà từ từ đưa ra phía trước. Một tấm thiệp màu hồng! Của ai, tôi không đoán được. Mẹ tôi níu lấy tay tôi:

-Chú Bằng vừa dẫn một cô nào đến chơi, giới thiệu là vợ chưa cưới. Biếu mẹ một hộp sâm. Chủ nhật này chú ấy cưới vợ.

Tôi cầm tấm thiệp, ngạc nhiên đến sững sờ. Bằng là bạn nối khố của tôi từ hồi học phổ thông. Dạo ấy, học xong lớp mười, tôi đi sư phạm. Bằng vào bộ đội, chiến đấu ở trong Nam. Sau giải phóng, Bằng được phân nhà, chuyển ngành với quân hàm trung tá sang phụ trách một đơn vị làm kinh tế. Cách đây hơn mười năm, Bằng về quê thông báo với tôi mộttinbuồn,vợhắnđãmấtvìbệnhungthư.Giàucónhưng gà trống nuôi con. Tôi cố an ủi bạn, chờ cho nguôi ngoai rồi tìm người chắp nối. Bằng nói, buồn lắm, chẳng thiết lấy ai nữa, ở vậy nuôi con. Tôi bảo, trẻ chưa qua, già chưa tới, cố kiếm lấy một người bạn, sau này già cả mà nhờ nhau. Bẵng đi một thời gian khá lâu, tụi tôi không gặp nhau, chỉ nghe phong phanh dạo này Bằng làm ăn khấm khá nhưng vẫn phòng không. Thế mà hôm nay, hắn cưới vợ! Nghe kể với mẹ tôi, vợ ở quê. Nhà tôi cách nhà Bằng hơn hai mươi cây số, tôi lại chỉ có một chiếc xe đạp cọc cạch, chứ không tôi đã tìm đến ngay, xem hắn sẽ cưới ai.

Theo giờ giấc ghi trên tấm thiệp, ngày chủ nhật tôi vận com lê, cà vạt chỉnh tề, lại mượn được chiếc Honda của người bạn xuống nhà Bằng dự lễ cưới. Trời đã sang thu. Buổi sáng nắngnhẹ,ngồitrênxenghegióvivuselạnhbêntai,tôilâng lâng trong niềm hạnh phúc của Bằng. Chọn mùa thu cưới vợ thật là tuyệt. Tuyệt hơnnữa là hắn chọn được một cô trẻ hơn mình dễ chừng hai mươi tuổi. Tôi mừng cho Bằng và ghen với hạnh phúc của hắn. Ðã ngoài năm mươi mà cưới được vợ trẻ thì chẳng khác gì mèo mù vớ được cá rán.

Ðang mông lung với những ý nghĩ không đâu, chiếc xe Honda bỗng khựng lại, không chạy được nữa. Tôi dừng xe, kiểm tra lại xăng, dập tiếp mấy lần nữa cũng không nổ. Chết thật! Không khéo khi đến nhà Bằng, họ nhà gái đã đưa dâu. Giữa lúc đang hoang mang, một đoàn xe du lịch sang trọng vút qua. Tôi lúi húi chữa xe, không nhìn thấy cô dâu chú rể, chỉ loáng thoáng chiếc xe đi đầu hoa, kính xe có dán hai chữ song hỉ màu đỏ. Ðoàn xe đi từ phía thị xã, cùng chiều với tôi. Tôi càng sốt ruột. Hay đó là đoàn xe đưa dâu đang xuống nhà Bằng? Nhưng rồi, tôi tự trả lời. Hắn tìm hiểu ai, lấy ai ở cái đất thị xã nhỏ bé như chiếc khăn mùi soa này mà tôi lại không biết. Thông tấn xã vỉa hè có đầy đủ phóng viên săn tin hàng ngày. Giấu thế đếch nào được. Có lẽ hôm nay tốt ngày, nhiều người làm đám cưới và đoàn xe kia là của một đôi cô dâu chú rể khác.

Ì ạch mãi rồi xe cũng nổ. Tôi đến nơi thì hai họ đã vào mâm. Trong một khoảng sân rộng có che rạp phía trên, đám cưới của Bằng thật linh đình. Xe hơi đậu thành hai dãy từ ngoài đường cái. Xe gắn máy san sát bên nhau. Người ra kẻ vào đông nghịt. Vợ chồng Bằng đang sánh vai nhau đi đến từng bàn chào quan khách. Bằng không nhìn thấy tôi vì vợ chồng hắn quay lưng, cụng ly với một tốp thanh niên đang hò reo chúc mừng hạnh phúc đôi bạn. Tôi ngồi chung mâm với mấy người đến sau. Cỗ bàn ở nông thôn chẳng khác gì thành phố. Giò lụa, chả quế, gà quay, vịt tần, bia lon Tiger. Ðủ thứ. Thật đúng là đám cưới của một nhà doanh nghiệp giàu có. Nhạc từ hai chiếc loa vặn quá cỡ, tiếng nói cười, tiếng la hét trăm phần trăm dô! của đám thanh niên làm cho không khí hội hôn thật náo nhiệt. Tôi uống hết cốc này sang cốc khác, chếnh choáng trong hơi men hạnh phúc của thằng bạn nối khố. Giữa lúc ngà ngà say, vợ chồng Bằng bước đến trước bàn của chúng tôi. Bằng mặc comlê màu xám nhạt, tóc nhuộm đen, khuôn mặt hồng hào rạng rỡ trông trẻ ra cả chục tuổi. Cô dâu còn trẻ, xoarê trắng, đầu đội vương miện, tay ôm bó lay ơn đỏ thắm mỉm cười chào khách. Tôi móc túi tìm phong bì rồi đứng dậy bắt tay chào đôi bạn, lúc đó Bằng mới nhận ra sự có mặt của tôi. Cô dâu cũng hiện rõ trong tầm mắt. Tôi tái mặt, ngực rung lên, trán vã mồ hôi. Ðó chẳng phải ai xa lạ mà chính là cô Tầm trên thị xã. Cô Tầm cũng nhận ra tôi, mặt cúi xuống, nụ cười trên môi lịm tắt. Bằng đang mải cụng ly với mấy người trong mâm, không để ý đến vẻ thất thần, biến sắc của tôi và khuôn mặt thảm hại của cô Tầm. Nhưng rồi, không khí hội hôn kéo tôi về với thực tại. Tôi đang dự đám cưới của Bằng, giữa ngày vui nhất của bạn, tôi không thể mang một khuôn mặt buồn rầu, vội đứng lên, cố làm ra vẻ tươi cười, nâng cốc:

-Tao chúc mày hạnh phúc. Có chút quà nhỏ mừng hai đứa.

Cô Tầm nhìn tôi, khuôn mặt đã bớt sượng sùng, đưa bàn tay đeo găng vải màu trắng đỡ chiếc phong bì của tôi, lí nhí cảm ơn. Vợ chồng Bằng lại sang bàn khác. Cô Tầm quay lại nhìn tôi với đôi mắt thoáng buồn, như muốn cầu cứu tôi điều gì.

Tôi thấy thương Bằng quá. Lặn lội về quê lấy vợ, những tưởng sẽ tìm được nơi tử tế. Lần gặp trước đây, Bằng tâm sự: Từ ngày vợ mình mất, cũng có nhiều đám con nhà gia giáo.


Nhưng có lẽ mình sẽ lấy vợ ở quê. Gì bằng ta về ta tắm ao ta. Hôm nay Bằng cưới vợ, không biết ai mối lái mà vớ phải cô Tầm. Thế mới đau chứ! Ai chứ cô Tầm tôi chẳng lạ. Một thời làm gái trên thị xã. Hoàn cảnh nhà cô cũng rất đáng thương.Bống hiện rượu, mẹ đau dạ dày,một đàn em lít nhít. Có thể cô phải làm một việc gì đó để cứu gia đình nhưng chọn con đường ấy là không thể chấp nhận. Dù cô hành nghề rất kín đáo nhưng cánh đàn ông tụi tôi việc gì xẩy ra trong thị xã này mà không biết. Một thời gian cô vắng bóng. Nghe nói cô đi học may. Bố cô đã qua đời, mấy đứa em đã lớn, đã đỡ đần được công việc cho mẹ. Cô mượn vốn liếng, mở một tiệm may trên đường chính của thị xã. Cô may khéo, khách đông và đã trở nên giàu có nhưng mãi mà chẳng lấy được chồng. Dân thị xã ai người ta lấy cô. Thành ra cái nhan sắc mặn mòi của cô thành vô duyên. Trong tâm trí tôi, cô Tầm vẫn mang một vết đen trong lý lịch, một thời làm điếm. Thôi sự đã rồi, Bằng ơi! Tao không thể nói với mày về quá khứ của Tầm. Cầu mong cho mày hạnh phúc và đừng bao giờ biết gì về quá khứ của vợ mày...Tôi tự nhủ mình và tiếp tục cụng ly với mấy người trong mâm.

Ba tháng sau, tôi nhận được thưBằng. Trong thưBằng viết ... Tao báo với mày một tin vui, súng của tao đã bắn trúng điểm mười. Tầm đã có bầu. Nàng thật sự là một người vợ hiền, thương yêu chiều chuộng tao hết mực. Tụi tao thật sự hạnh phúc. Song, mày hãy tha thứ cho tao, khi cưới Tầm, tao không trao đổi gì với mày - thằng bạn nối khố của tao. Tao biết rõ quá khứ của Tầm và nếu trao đổi, mày chẳng bao giờ cho tao cưới một người như vậy. Càng biết, càng hiểu, tao càng thương Tầm. Tầm đã chôn chặt quá khứ đau lòng ấy dưới lớp lớp thời gian và không lẽ với định kiến của người dân quê mình, Tầm cứ phải ở thế một mình...?

Tôi thở phào nhẹ nhõm. Trong nhà, vợ tôi đang ru thằng cháu ngoại lên hai trên võng. Tiếng ru khe khẽ vọng ra:

À ơi...

Ta về ta tắm ao ta...!

Hà Tĩnh 1999






http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-09-07 13:20:18tieuboingoan>
Hoa mai núi


Phan Cao Toại


1

Làng gần tết, chợ hoa dọc đường Phan Bội Châu càng nhộn nhịp. Những người bán hoa từ các huyện miền núi đổ về không còn chỗ đứng bán, chen lấn nhau hai bên vỉa hè chật hẹp.

Sen loay hoay mãi mới tìm được chỗ đặt cây mai núi của mình xuống. Lẫn trong những cành mai vườn vươn cao với những bông hoa đã nở vàng màu nắng, cây mai của Sen khẳng khiu mấy cành vươn ra từ một gốc sần sùi già nua, li ti những búp chưa nở. Cứ nhìn vào gốc người ta cũng đoán được cây mai này đã có chừng trăm tuổi. Những người thích phô trương thường chọn mua những cành mai vườn. Cành nào cành nấy to khỏe, hoa nở to nhưng nhạt màu. Thứ hoa ấy thường để chưng trong những ngôi nhà sang trọng. Còn những người sành chơi mai thì thích mai núi. Cành nhỏ nhoi trên một gốc cây già, búp cũng nhỏ mà hoa cũng nhỏ nhưng màu vàng thật đậm. Cánh hoa mỏng mảnh như những mảnh vàng mười được sương nắng của thiên nhiên luyện thành. ở thành phố này, nơi núi và biển kề nhau, màu hoa mai núi có sắc biển pha thêm, tạo thành một màu rất lạ. Màu vàng ấy như một thứ quà của thiên nhiên riêng tặng mùa xuân và những ai thật thông hiểu về thiên nhiên, thời tiết mới cảm được vẻ đẹp thầm kín ấy.

Sen rất thích xuống chợ tết bán hoa. Cành hoa có khi chỉ bán được mươi mười lăm ngàn, chẳng bõ công cô phải vượt chặng đường gần ba mươi cây số từ trang trại nhà mình xuống thành phố. Mấy ngày hôm trước, ông Thuận, ba cô đã phải tìm mãi trong núi để tìm mai cho cô con gái cưng mang ra chợ. Ðó cũng là sở thích của ông từ ngày vợ con ông lên đây lập nghiệp. Hai mươi mấy năm rồi, từ hồi cả nhà ông chỉ có một túp lều ven suối đến nay ông đã có một cơ ngơi trồng mía đến mấy hecta. Thú tìm hoa trong núi vào những ngày cuối năm để nhờ ai đó mang xuống chợ bán vẫn không thay đổi. Khi Sen còn nhỏ, ông nhờ người quen bán giúp. Năm cô mười bảy tuổi, cưỡi được xe Honda 50 về thành phố, ông giao việc bán mai cho Sen, con gái đầu của mình.

Sen đã có bảy lần mang mai về chợ Tết. Lần này cô không còn đi chiếc xe 50 cũ kỹ, máy nổ lạch bạch. Cô đi trên chiếc Dream cáu cạnh. Mấy vụ mía vừa qua trúng đậm, ông Thuận chẳng tiếc gì với con mình, mua ngay một chiếc xeđờimới.Côxuốngchợvớibộquầnáobìnhthường,tóccặp gọn sau gáy, đội chiếc mũ vải mềm, chân đi dép Bitis có quai hậu. Chẳng có dáng dấp gì của một cô gái thành phố ngoài cặp mắt to, sáng và nụ cười rất duyên. Cô đứng lẫn giữa những người bán hoa trên hè phố, mắt mãi nhìn những bóng bay đủ màu của người bán bóng bên kia đường, quên cả việc có người đang mải ngắm gốc mai của cô.

- Dũng này! Gốc mai núi này đẹp quá!

Sen giật mình trước lời khen của hai chàng trai đang đứng trước mặt. Má cô nóng dần. ở trên quê, cô ít khi chạm trán với trai làng. Về dưới phố, người đông trời ơi đông. Sen cảm thấy ngượng ngùng nhưng với phận sự của người bán hoa, cô vẫn phải mời chào:

-Hai anh mua đi!

Nói xong được câu ấy. Sen như trút được một vật nặng ngàn cân đè nặng lên mình. Hai chàng trai đứng trước mặt trạc tuổi cô. Người bạn của Dũng sau khi làm xong nhiệm vụ tìm được cho bạn mình một gốc mai núi vừa ý, chàng liếc nhìn vẻ e lệ của Sen, nheo mắt sang phía Dũng:

-Thôi nhé, từ sáng đến giờ mới tìm được một cây mai như ý. Tớ hết nhiệm vụ. Chuyện mua bán bây giờ là của cậu. Tớ đi đây!

Người bạn của Dũng nói xong biến ngay vào dòng người đi chợ. Dũng ớ người, bối rối hết ngồi xuống ngắm cành mai lại đứng lên nhìn khuôn mặt đang hồng lên của Sen. Những cánh hoa mai ánh lên màu vàng trong nắng cuối đông và khuôn mặt ửng hồng có lúm đồng tiền của Sen khiến Dũng rơi vào trạng thái mơ màng,chàng như vừa uống xong một thứ rượu mạnh và đang lâng lâng trước hoa, trước người. Dũng nói vu vơ:

-Gốc mai này đẹp quá. Nhưng chặt đi thì thật là tiếc!

Sen mấp máy môi, định trả lời: Nếu không chặt đi, mang từ trên núi về đây, làm sao có cái cho anh ngắm lúc này?. Nhưng cô kìm lại được. Thấy Dũng cứ luống cuống trước mình, Sen cười thầm: Cái anh chàng thành phố này sao mà đa cảm, dễ thương đến thế. Và cô gỡ rối cho Dũng:

-Anh mua đi, em bán rẻ cho!
Dũng vụng về:

-Bao nhiêu tiền?
Sen cười, để lộ chiếc răng khểnh duyên dáng:

-Cành mai này, ba em phải bỏ công một ngày mới tìm thấy. Em phải cất công từ trên ấy xuống đây. Anh trả được bao nhiêu thì trả.

Dũng vò đầu. Cô gái không nêu giá cành mai, để cho anh tự định giá. Thật là một trò thách đố. Sen lại dồn Dũng vào một lúng túng khác. Nếu trả quá cao thì sợ bị hớ, quá thấp lại sợ Sen cười. Dũng đành lấp lửng:

-Tôi đã đi hai ba ngày mới gặp được cành này. Thật là một cành mai tuyệt đẹp. Nó như là một tác phẩm kỳ diệu của thiên nhiên. Tôi trả giá, hóa ra mình không hiểu gì về cái đẹp. Cành hoa này cô chỉ có thể tặng tôi!

Ðến lượt Sen bối rối. Vài người chen vào ngắm gốc mai ấy.Một cụ già ước tính:Gốc mai này bỏ rẻ cũng phải được hai trăm. Một người khác nói từ phía ngoài: Gốc mai ấy phải cỡ ba trăm. Sen không ngờ gốc mai năm nay lại được giá. Cô nhìn Dũng, thán phục lối trả lời thông minh của anh. Suy nghĩ một lúc, Sen đánh bạo nói:

- Nếu anh thích, em tặng anh gốc mai này!

Dũng sửng sốt, tưởng mình nghe nhầm. Nhưng Sen đã đặt gốc mai vào một chiếc rọ nhỏ trao anh. Những người xung quanh cũng sửng sốt. Cụ già thì hiểu, mỉm cười bỏ đi.

Sen dắt chiếc xe Drean định phóng đi chợt Dũng ngăn lại:

-Em tặng tôi gốc mai này thật sao? Về nhà em không sợ ba mắng?

-Không. Em thấy vui khi anh vừa lòng với gốc mai này.

-Tôi muốn tặng em một chút quà ngày tết. Gọi là mừng tuổi em.

-Thì anh hãy đợi tết đến.

- Lúc ấy biết tìm em ở đâu?

- Ở nơi có mai núi mọc.

-Tên em là gì?

- Anh cứ hỏi cô gái bán mai.

Sen nói xong và phóng xe đi. Dũng sững sờ nhìn theo bóng cô lẫn giữa dòng người.

2



Dũng đặt gốc mai vào một đôn sứ để trên bàn thờ ba. Ðó là một thói quen được định hình từ nhiều năm nay. Cứ mỗi độ xuân về, chị Hằng, má Dũng đều tìm bằng được một cành hay một gốc mai núi đặt trên bàn thờ chồng mình, anh Thái. Có lần Dũng hỏi: Sao má không đặt hoa khác lên bàn thờ ba, chỉ thờ hoa mai, lại là bông mai núi?. Chị Hằng trả lời con: Ba và má thành hôn đúng vào mùa xuân năm 1975. Lúc ấy, ở chiến khu chỉ có hoa mai là đẹp nhất. Ngày cưới, một chú bạn ba tặng một gốc mai núi thiệt đẹp. Ðể nhớ mùa xuân năm ấy, sau khi ba con mất, má chỉ cắm lên bàn thờ ba những bông mai núi.

Thấy Dũng cứ ngắm nghía gốc mai, chị Hằng từ ngoài bước vào, mỉm cười:

- Con mua gốc mai ấy bao nhiêu tiền?

- Mẹ đoán thử coi!

Chị Hằng quan sát vóc dáng gốc mai một lúc rồi mới đưa ra nhận xét.

-Người chọn đốn gốc mai này cũng là người sành chơi hoa. Nó có dáng một ông già đang ngồi. Theo má, gốc mai này tương đương với một tháng lương kỹ sư của con.

Dũng nhìn má:

-Nghĩa là ba trăm ngàn. Má đoán sai rồi. Gốc mai này người ta biếu không cho con. Ðến lượt chị Hằng ngạc nhiên:

- Ai tặng con thế? Bạn con?

- Không, một người lạ, hoàn toàn lạ!

-Má đoán, nếu người bán là đàn ông thì đó là một người say rượu. Còn đàn bà thì đó là một cô gái chưa chồng! Dũng cười, bước lại ôm lấy lưng má:

- Má đoán hay vậy. Ðúng là một cô gái tặng con!

- Nhà cô ta ở đâu?

-Cô ta không nói. Khi cô ta tặng gốc mai này cho con, con cũng không tin. Nhưng con cũng làm một động tác xã giao, con muốn tặng cô ta một món quà ngày tết cho xứng với giá trị của cành mai. Cô ấy bảo đến tết. Hỏi nhà thì nói ở nơi có nhiều mai núi. Hỏi tên, chỉ cười và nói là cô gái bán mai.

Chị Hằng cười, giấu một niềm vui đang dâng lên trong lòng. Cô gái ấy với những câu trả lời thật thông minh là một cô gái có học. Chị biết rõ trong tỉnh này nơi nào có nhiều mai núi, nói với con:

-Nhiều mai núi ở tỉnh mình chỉ có khu vực Diên Điền. Ngày xưa má và ba cưới nhau cũng ở đó.Thảo nào nhìn gốc mai này, má cứ ngờ ngợ. Ðây con xem, bông mai vừa hé nở này. Màu vàng của nó khác xa mai vườn. Ðây là loài mai núi pha sắc biển, chỉ vùng Diên Ðiền mới có.

3



Mồng hai tết, Dũng một mình một xe ngược hướng Diên Ðiền. Ðường nhựa thẳng băng, khúc đường vào chân núi đỏ au màu đất. Ðến một quán đầu thôn. Dũng mở hàng cho một bà cụ bán hàng và hỏi:

-Thưa cụ, con muốn tìm nhà một cô gái trong tết xuống chợ bán hoa mai.

Cụ già bỏm bẻm nhai trầu, vừa cười vừa nói:

Ở thôn này, nhiều đứa con gái lên núi tìm mai về bán chợ tết. Gái chưa chồng mà. Chú không nghe người ta nói: Gái chưa chồng lo lòng đi chợ. Khối cô đem mai về chợ rồi lấy được chồng. Chú phải tả khuôn mặt, dáng người chứ nói thế thì già chịu.

-Dạ, cô này chừng hai ba hai bốn, má lúm đồng tiền, hàm răng trắng đều và có một chiếc răng khểnh...

Cụ già ngẫm nghĩ một lúc như lục trong trí nhớ của mình vóc dáng người con gái như Dũng vừa tả. Chợt cụ cười to:

-Con bé Sen con đại úy Thuận. Nó đẹp nhất thôn này.

Ðúng rồi, trong tết nó phóng xe đi, sau xe có một cành mai. Chú thử đến đấy xem. Chạy xe chừng cây số dọc theo sườn núi sẽ gặp một rẫy mía bạt ngàn. Cứ theo con đường mòn mà đi là tới nhà nó.

Dũng chào bà cụ, đi theo con đường dưới chân núi. Nắng xuân mịn màng phủ vàng cây lá. Con đường nhỏ dần và khi chạm vào màu xanh của rẫy mía đang thì xanh lá, nó trở thành con đường mòn chỉ đủ một chiếc xe đi qua.Dũng như lạc giữa màu xanh điệp trùng của mía và khi gặp một con đường khác lớn hơn dẫn vào một ngôi nhà lớn giữa vườn cây, nỗi lo âu về chuyện lạc đường mới thật sự tan đi.

Ngôi nhà xây theo kiểu biệt thự, giống như ngôi nhà của má con Dũng đang ở. Má Dũng kể lại, đó là ngôi nhà của một viên đại úy cảnh sát được chia lại cho các cô chú trong sở công an. Má Dũng ở trong gian trước. Hai gian sau và dãy nhà ngang thuộc gia đình khác. Bây giờ gặp lại kiểu kiến trúc này, Dũng không khỏi ngạc nhiên, thán phục chủ nhà dẫu ở chốn sơn khê vẫn có con mắt thẩm mỹ về kiến trúc.

Ba bốn người đàn ông đứng tuổi đang uống rượu trong phòng khách. Thấy Dũng bước vào, đích thân chủ nhà, ông Thuận ra đón. Ông không hỏi Dũng tìm ai và kéo tay anh vào bàn tiệc.

-Năm mới em cứ vào đây uống với các bác ly rượu mừng xuân. Sau đó ta mới nói chuyện em ở đâu tới, lên đây tìm ai.

Trước vẻ chân tình của chủ nhà, Dũng mạnh dạn bước vào. Những người khách đứng dậy bắt tay Dũng. Họ có vẻ lam lũ nhưng khuôn mặt ai nấy rất tươi. Một người trong số họ nâng ly:

- Mừng đại úy năm nay trúng mùa mía nữa. Chủ nhà có vẻ không bằng lòng:

-Các ông bỏ ngay từ đại úy ấy đi. Giải phóng đã hai mươi bốn năm rồi, từ dạo con Sen còn trong bụng mẹ. Tôi bây giờ là một nông dân, không úy tá gì hết. Ta uống mừng nhau các bạn, cạn ly đi cháu!

Chợt nhìn thấy Dũng chưa có chén đũa, ông Thuận gọi với ra sau nhà:

- Sen, cho ba thêm cái chén!

Từ gian bên trong, Sen cầm chiếc chén trên tay bước ra. Cô chợt dừng lại, luống cuống muốn quay vào trong nhà khi biết người khách mới tới là người mua hoa dưới chợ. Trống ngực đánh thình thình, cô chết lặng đứng nép bên cửa. Dũng cũng đã nhận ra Sen. Ông Thuận và mấy người đàn ông trong bàn tiệc nhìn cả về phía Sen. Và họ chợt hiểu ra phần nào lý do về sự có mặt của chàng trai không mời mà tới.

Sau một thoáng bối rối, cuối cùng Sen phải giới thiệu Dũng với ba mình:

-Thưa ba, đây là người mua gốc mai của con hôm tết. Ông Thuận vồn vã bắt tay Dũng:

-Vậy hả? Sao mà cháu biết đường lên đây? Mà sao cháu mua gốc mai ấy đắt thế? Ba trăm ngàn! Chưa khi nào bác tìm được cây mai đắt giá đến vậy. Thôi ta uống đi cháu!

Sen như gà mắc tóc, lấy cái nọ nhầm sang cái kia. Cô đem lên rất nhiều đồ ăn, mặc dù các đĩa còn đầy. Cuối cùng, cô đứng một góc, nhìn trộm Dũng uống rượu với ba mình và những người khách. Ông Thuận mừng lắm. Ông rót rượu thêm cho Dũng, nói chuyện huyên thuyên:

-Cháu tên gì? Năm nay bao tuổi? Ðã có nghề nghiệp gì chưa? Chưa thì lên đây trồng mía với bác!

-Dạ cháu tên Dũng, cháu năm nay hai mươi bốn. Cháu vừa tốt nghiệp kỹ sư thủy sản.

-Hay lắm, cháu cùng tuổi với cái Sen nhà bác. Nó học được lắm nhưng đi học xa, bác bắt nó nghỉ học từ năm lớp sáu, cái năm con chị nó bị lũ cuốn trôi. Thôi năm mới không nói chuyện buồn. Cháu ở đường nào dưới đó?

- Dạ cháu ở đường Hùng Vương.

Ông Thuận đang nói bỗng dừng lại, chăm chú nhìn Dũng. Ông lặng lẽ nhấp một hơi rượu, hỏi Dũng lần nữa:
- Cháu ở đường Hùng Vương? Ðoạn nào vậy ta?

- Nhà cháu đối diện với doanh trại quân đội.

- Có phải trong ngôi nhà giống như ngôi nhà này?

- Dạ vâng.

Ông Thuận chợt im lặng. Da mặt ông tái nhợt, tay ông run run đánh rơi cả chiếc đũa. Mấy người bạn tưởng ông trúng gió bảo ông đi nằm. Dũng cũng tưởng ông uống quá nhiều rượu đâm ra say sẩm. Ông Thuận xin lỗi mọi người và đi vào nhà trong. Bữa tiệc đang vui phải dừng. Dũng trao cho Sen một gói quà mừng tuổi. Sen nghẹn ngào:

-Anh tìm được lên nhà em là quý rồi. Ít bữa nữa em sẽ xuống dưới đó.

-Em đến nhà anh chơi nhé? Ðịa chỉ anh có ghi trong này.

- Ừ để em xem đã.

Sen tiễn Dũng ra tận đầu thôn. Khi cô trở lại, ông Thuận đã bình phục, lặng lẽ ngồi một mình trong phòng khách. Thoáng thấy bóng Sen, ông gọi ngay vào.

-Sen, ba nói cho con hay, con không thể làm quen với cậu con trai đó. Sen giật mình, không rõ lý do liền hỏi lại:

-Vì sao vậy ba?

Ông Thuận nhìn con gái với vẻ bực bội khác thường và gắt toáng lên:

- Ba nói không là không, đừng hỏi nữa.

Ông Thuận bước đi trước sự ngỡ ngàng có chút sợ hãi của Sen.

4

Ông Thuận chuếnh choáng hơi men. Hình ảnh của Dũng cứ chờn vờn trước mặt ông. Phải, khuôn mặt ấy như đúc khuôn khuôn mặt của người chiến sỹ giải phóng đã bị ông bắn hạ trong ngày đầu quân giải phóng tiến vào thành phố.

Sáng hôm ấy, quân giải phóng đã rầm rầm từ các ngả tiến vào thành phố. Quân ngụy bỏ chạy tán loạn. Trong một bốt gác, một họng súng bất ngờ nhả đạn vào hai chiến sỹ biệt động. Ðó là Hằng và Thái. Nhìn thấy chớp lửa, Hằng kéo Thái nằm xuống. Nhưng không kịp, Thái trúng đạn, gục ngay tại chỗ. Quân giải phóng phát hiện ra ổ đề kháng, tới tấp nhả đạn và bao vây bắt sống được kẻ ngoan cố. Thuận run rẩy xin tha chết. Sau mười năm học tập cải tạo, Thuận về với vợ con trong túp lều trên miền sơn cước cheo leo này. Thuở ấy ở đây còn rậm rạp, trường học xa xôi, đứa con đầu của Thuận đã bị cuốn trôi khi đi học về. Bao nhiêu nỗi cay đắng gian truân đè nặng lên vai người đàn ông bốn mươi tuổi không biết cày cuốc là gì. Thuận đã phải đi núi đốt than nuôi vợ nuôi con. Một lần chở than về thành phố bán, tình cờ Thuận tạt qua nơi mình ở cũ. Ngôi nhà đã được chia cho người khác. Một người phụ nữ đang dẫn đứa con trai dạo chơi trong khoảng sân và Thuận nhận ra đó là vợ của thiếu úy Thái, người đã bị mình bắn lén ngày nào. Từ đó, Thuận không bao giờ trở về thành phố. Ðến khi có diện HO, ông không đăng ký sang Mỹ, quyết tâm ở lại làm bằng được những điều ông ấp ủ từ khi còn ở trong trại cải tạo. Ông sẽ xây một biệt thự như biệt thự ông đã xây dưới thành phố và làm giàu chính trên mảnh đất ông cắt rốn chôn rau. Những ước mơ ông đã thực hiện gần như trọn vẹn, ông đang vui mừng trước ngưỡng cửa của mùa xuân thì đột nhiên Dũng xuất hiện. Bóng đen của quá khứ hiện về và ông bị một nỗi ám ảnh dằn vặt. Ông là kẻ đã từng giết hại ba của chàng trai kia khi anh cũng trạc tuổi như cậu con trai ấy bây giờ. Ông sẽ nói gì với con gái ông về sự thật đã xẩy ra? Mặc dù sau đó nhờ cải tạo tốt và ông ra trại sớm nhưng món nợ máu ấy ông không bao giờ trả nổi. Ông phải tìm cách ngăn chặn đôi trẻ khi chúng mới quen nhau. Ông biết chúng không có tội tình gì và lớn lên một cách hồn nhiên trong lòng xã hội mới. Nhưng ông vẫn phân vân, một ngày kia khi bà mẹ của chàng trai biết được tung tích của con gái ông và ngăn cản hai đứa đến với nhau, cả hai đứa lúc ấy sẽ vô cùng đau khổ. Ông nuốt nước mắt vào lòng, rên rỉ với chính mình: Sen ơi, con tha lỗi cho ba!. Sự mệt mỏi và căng thẳng đã đưa ông Thuận vào giấc ngủ. Trong mơ, ông thấy tay mình đang xiết chặt cò súng. Bóng người chiến sỹ đội mũ tai bèo ngã xuống trước mắt ông. Ông hoảng loạn bỏ chạy và hét lên: Xin tha chết cho tôi!.

Khi vợ và các con ông bước vào, ông Thuận mới biết đó là một cơn ác mộng. Ông cầm tay Sen, nói như van:

-Ba xin con đừng làm quen với chàng trai ấy. Ba xin con...!

5


Trái với lời cầu khẩn của ba mình, ngày mồng mười tháng giêng, Sen về thành phố. Cô phải nói dối ông Thuận đi thăm một người bạn ngoài thị trấn. Lần theo địa chỉ Dũng viết cho cô trên thiệp chúc tết, Sen dễ dàng tìm ra nhà. Bấm chuông xong, Sen hồi hộp chờ đợi. Ðón cô không phải là Dũng mà là mẹ anh, chị Hằng. Mấy ngày hôm trước Dũng không dám đi đâu, sợ Sen đến chơi mà không gặp. Hôm ấy Dũng đi và dặn, nếu có người bạn gái nào tới chơi, má cứ tiếp giùm con và nói con sẽ về ngay. Với lời dặn của con như vậy, chị Hằng tiếp Sen khá niềm nở. Chị dọn bánh mứt mời Sen và không quên hỏi quê hỏi quán người bạn gái của con mình. Sen thật thà đáp:

-Nhà con trước cũng sống dưới này. Ba con là sỹ quan cảnh sát phải đi cải tạo đến mười năm lựng. Ba con sau đó không biết vì sao lại không đi HO. Bây giờ nhà con đã có một trang trại rộng cả mười mấy hecta trồng mía, nuôi bò trên Diên Ðiền. Vừa rồi anh Dũng cũng mới lên thăm...

Nghe cô gái nói, ba cô là sỹ quan cảnh sát, hiện đang là chủ một trang trại lớn trên vùng kinh tế mới, chị Hằng nghi ngờ. Chị hỏi tiếp:

-Thế ba con tên gì?

- Dạ, ba con tên Thuận!

Tim Hằng như thắt lại nhưng chị vẫn giữ được vẻ bình tĩnh khi nghe tên kẻ đã bắn chồng mình. Thời gian Thuận học tập cải tạo, với tư cách là một phó phòng của phòng điều tra xét hỏi, chị đã nhiều lần gặp Thuận. Lần nào gặp, Thuận cũng xin chị tha tội, hứa hễ còn sống là còn làm những điều tốt để chuộc lỗi lầm. Và chính chị cũng là người tác động để ban lãnh đạo trại để Thuận sớm về sum họp với gia đình. Mối thù ấy dù không bao giờ quên nhưng với kẻ đã biết hối cải, chị Hằng đã đổi hẳn cách nhìn. Sau này, một vài lần lên công tác trên khu kinh tế mới chị vẫn vui vẻ đến thăm vợ chồng Thuận. Bây giờ, đứa con gái của Thuận là bạn với con trai độc nhất của chị, thằng Dũng. Chị vẫn công nhận với Dũng nhận xét về Sen: đẹp gái, nết na, thùy mị và rất đáng yêu nhưng chị thấy hình nhưtrong sự quen biết ấy có một bức tường vô hình mà hai đứa sẽ không vượt qua nổi. Chị sẽ là một khối thủy tinh trong suốt làm trụ cột cho vật cản vô hình ấy. Chị không muốn cho mối quan hệ ấy ngày một sâu thêm liền nói dối Sen:

-Tiếc quá. Cháu đến chơi mà thằng Dũng nhà cô lại đi vắng. Nghe đâu đi ngày mai mới về.

Sen ngồi chơi một lúc rồi buồn bã ra về. Khi ra cổng, cô gặp ngay Thìn, bạn của Dũng, người cùng đi với Dũng trong chợ Tết. Người bạn ấy cứ ngờ ngợ nhìn Sen. Thất vọng vì không gặp được Dũng, Sen không chú ý đến người bạn của Dũng, cô chào chị Hằng và nổ máy lao đi.

Chừng tiếng đồng hồ sau, Dũng đi đâu về, vừa vào cổng đã to tiếng:

- Má, sao bạn con tới má không nói con sẽ về ngay? Chị Hằng đành dối con:

- Má ở nhà từ sáng tới giờ, có ai tới đâu?Dũng trở nên cáu kỉnh:

-Má nói dối. Thằng Thìn vừa nói với con, nó nhìn thấy cô gái trên Diên Ðiền đi với má từ trong nhà ra.

Chị Hằng im lặng. Hơn ai hết, chị hiểu và rất thương con mình. Từ ngày Thái mất đi, chị ở vậy nuôi con. Tất cả tình cảm chị đã dành cho Dũng. Chị cũng biết Dũng là đứa con ngoan, học giỏi và chưa kết bạn thân với cô gái nào. Trong mắt chị, có lẽ Dũng đã dành khá nhiều tình cảm cho cô gái trên vùng kinh tế mới. Tình cảm đó là chính đáng. Nhưng nếu con chị yêu cô gái nào khác, chị sẽ không ngăn cản. Ðằng này lại yêu ngay con của người đã bắn chết ba Dũng. Tình cảm đó tuy mới nhen nhúm nhưng dưới con mắt từng trải của mình, chị Hằng biết đó là cái mầm của một tình yêu đang nhú lên. Chị không muốn nói với Dũng thêm điều gì, lặng lẽ xuống bếp làm cơm, để Dũng như người mất hồn trong phòng khách.

6



Chủ nhật, Dũng lên nhà Sen. Ông Thuận đi vắng. Bà Thuận vì thương con, đã không ngăn cản việc Sen gặp Dũng. Sen đưa Dũng đi thăm rẫy. Họ ngồi xuống bên một gốc cây già. Nghe Dũng kể, hôm ấy nếu Sen ngồi thêm một giờ nữa thì sẽ gặp Dũng và Dũng đã nói với má mình như vậy. Nghe xong, Sen đưa ra lời nhận xét:

-Em cũng không biết vì sao cả má anh và ba em đều không muốn cho tụi mình quen nhau. Thôi anh đừng lên thăm em mà em sẽ xuống. Em có bà dì mở hiệu buôn ở ngay cổng chợ. Anh cứ đến đó vào giấc chín giờ sáng chủ nhật là gặp em. Em nói em về đi lễ nhà thờ chánh tòa là ba má em đồng ý ngay.

Dưới tán cây già, bóng nắng chỉ rót xuống những chấm tròn quanh nơi đôi trẻ đang ngồi. Mùi lá ải cay cay và gió núi phóng khoáng thổi tung tóc Sen. Hai người ngồi im lặng và lần đầu tiên Dũng được ngắm kỹ càng khuôn mặt trái xoan, đôi mắt to tròn của Sen. Sen rạo rực, muốn đứng dậy chạy vào khóm cây gần đó. Nhưng cô không thể. Cô cảm nhận được những gì Dũng muốn trao cô. Và Dũng như một người đang bị thôi miên, bàng hoàng trước vẻ đẹp thôn dã của một bông hoa mới nở. Anh ôm Sen vào lòng...

Từ đó, họ thường xuyên gặp nhau vào ngày chủ nhật. Mỗi lần gặp nhau, Dũng và Sen đi đến một quán cà phê vườn và Dũng khe khẽ hát: Ngày chủ nhật, ngày của riêng mình... Tình yêu của đôi trẻ lớn dần và Dũng định thưa chuyện với má...

7

Chị Hằng đã biết câu chuyện thầm kín của con mình. Một chiều chủ nhật Dũng vừa chỗ người quen tiễn Sen về, chị gọi Dũng vào nhà, nghiêm mặt nói với con:

-Dũng, con ngồi xuống đây, má có chuyện muốn nói với con!

Dũng chột dạ và hiểu điều má mình muốn nói. Chị Hằng lặng lẽ thắp một nén nhang trên bàn thờ chồng và bảo Dũng đến lạy. Chị Hằng hết nhìn tấm hình của Thái lại quay sang nhìn con. Nước mắt dàn dụa, chị nói với Dũng trong tiếng nấc:

-Con có lỗi lớn với ba con. Ðứa con gái mà con đang yêu thương, phải, chính ba nó đã bắn chết ba con!

Dũng trố mắt, không tin điều chị Hằng vừa nói. Chị phải nhắc lại lần nữa:

- Phải, chính ba nó đã bắn chết ba con!

Dũng chết lặng, từ từ đổ xuống chiếc ghế gần đó, tay ôm đầu. Chị Hằng nhẹ nhàng bước đến bên con, đặt bàn tay lên bờ vai đang nấc lên của Dũng:

-Má không cấm tình cảm của con. Nhưng con phải thương người nào khác kia. Con không được yêu cô gái đó!

Dũng khóc rất to. Anh đứng dậy, lảo đảo đến trước bàn thờ ba. Nước mắt nhạt nhòa, Dũng ngỡ ba mình từ khung bước ra, nói với anh: Ðúng, chính ba của cô gái đó đã bắn vào ba khi con còn trong bụng mẹ...

Dũng không có một sự lựa chọn nào khác và anh tự hứa với mình, sẽ cố gắng quên mối tình đang độ trăng tròn giữa anh và Sen.

8



Dũng cố nén lòng trong hai mùa trăng. Nhưng càng nén tình cảm ấy lại cứ bùng lên. Thành phố đã trải qua mùa hè nóng bức và mùa thu đang gõ cửa bằng những cơn mưa.

Dũng ngồi trong nhà nhìn những giọt mư rơi. Có những ngày anh đứng trên lầu cao của một khách sạn, nhì nnhững đám mây màu chì nhận chìm những dãy núi phía tây trong màn mưa. Nhớ Sen đến nao lòng, Dũng quyết định sẽ mạo hiểm lên Diên Ðiền thăm Sen.

Buổi sáng trời mâ to. Khi Dũng lên đến nhà Sen, chiếc cầu gỗ qua suối đã bị lũ cuốn trôi. Cách nhau chưa đầy mười mét, bên kia đã là con đường đất đỏ vào thôn mà Dũng hông sao sang được. Nhìn dòng suối cuồn cuộn tung bọt trắng, Dũng cắn môi và quyết lội qua suối.

Nước suối lạnh buốt. Chính Dũng cũng không ngờ nước lại chảy mạnh đến thế. Vừa bơi được hai sải tay, nước đã cuốn Dũng trôi xa. Dũng chới với, càng cố vượt lên càng bị lũ quét nhấn xuống. Anh tuyệt vọng, để dòng nước cuốn trôi.

Ông Thuận đứng bên này suối chờ Sen xuống thị trấn về chợt thấy người bị lũ cuốn trôi liền nhảy xuống cứu. Vật lộn với nước một quãng khá xa, ông mới cứu được Dũng lên bờ. Dũng uống no nước, bụng chướng căng mềm nhũn như một sợi bún trên tay ông. Ông Thuận uốn cong người Dũng trên vai mình, chạy một mạch không nghỉ. Nước trong bụng của Dũng trào ra. Ông dừng lại bên quán cóc của bà hàng nước, quạt lửa sưởi cho Dũng.

Khi khuôn mặt của Dũng dần dần hồng lên, đôi mắt hé mở cũng là lúc ông Thuận nhận ra người vừa được ông cứu là bạn của con gái mình. Sen cũng vừa về tới, lạnh người khi nhìn thấy Dũng nằm sóng soài trong vòng tay ông Thuận.

Bên ngoài, nước lũ vẫn gào thét và Sen chợt hiểu, Dũng vừa được ba cô cứu sống.

9


Hai ngày không thấy Dũng về, chị Hằng linh cảm có chuyện chẳng lành xẩy ra. Chị điện thoại đến nhà mấy người bạn Dũng nhưng cũng không ai biết Dũng đi đâu. Lòng như lửa đốt chị chẳng biết bày tỏ cùng ai, lại vào bàn thờ tâm sự với Thái. Anh ơi, con là tất cả đối với em. Nó có mệnh hệ gì, em sống sao nổi... Và như có ai mách bảo, chị chợt nhớ ra một địa chỉ có thể Dũng đang ở đó. Song chị lại nghi ngờ. Ðã hai tháng nay, Dũng không hề đi lại với cô gái tên Sen. Vậy thì Dũng đi đâu? Sau cùng, chị quyết định cứ lên Diên Ðiền tìm con.

Nước đã rút đi và chiếc cầu tạm đã được bắc qua suối. Chị Hằng không mất nhiều thì giờ để tìm đến nhà ông Thuận. Ông đang ngồi nói chuyện với một người khách trong nhà. Thấy có tiếng xe gắn máy, ông ngước nhìn về phía cổng và chợt ra người khách đó là chị Hằng. Ông bước ra sân đón chị với một chút hoảng sợ. Ông sẽ nói với chị thế nào về sự có mặt của Dũng trong nhà ông? Nhưng rồi, ông trấn tĩnh được, mời chị vào nhà và thông báo ngay:

-Cháu Dũng đang ở trong nhà tôi. Hôm nọ cháu chút nữa bị lũ cuốn trôi. Hai hôm nay đang sốt cao. Tôi phải mời bác sỹ về nhà điều trị.

10

Chị Hằng không nói được câu nào. Trước một sự việc đã xẩy ra quá bất ngờ, chị đành im lặng đi theo ông Thuận vào căn phòng nơi Dũng đang nằm.

Dũng nằm thiêm thiếp, mặt đỏ bừng, trán đắp một chiếc khăn ướt. Ngồi bên Dũng là Sen. Thấy chị Hằng bước vào, Sen lễ phép chào:

-Cháu chào cô!

Nghe có tiếng người, Dũng mở mắt. Chị Hằng nắm lấy tay con, mắt rơm rớm. Dũng thều thào.

- Má ơi, con bị nước lũ... May mà có bác Thuận...!

Nói được mấy câu ấy, mắt Dũng cũng rưng rưng lệ. Chị Hằng chợt hiểu ra tất cả. Qua màn sương nước mắt, chị nhìn ông Thuận thay cho lời cảm ơn. Người khách ở phòng ngoài là bác sỹ ở bệnh viện huyện được ông mời vào, thông báo với chị Hằng:

-Anh ấy bị viêm phế quản vì nhiễm lạnh. Hôm nay đã đỡ sốt và ăn được ít cháo. Chúng tôi đã điều trị rất tích cực, chẳng khác gì ở bệnh viện. Chị cứ yên tâm.

Chị Hằng ngồi với Dũng đến xế chiều. Trưa, gia đình ông Thuận mời cơm. Sen vẫn không rời Dũng một bước. Trong bữa cơm, ông Thuận vẫn tỏ ra rụt rè. Ông nhìn chị Hằng với đôi mắt kính nể và sợ hãi. Phát đạn trúng tim anh Thái do ông bắn ra đã hai mươi bốn năm. Ông bắn phát đạn đó trong cơn hoảng loạn. Người ta nhồi vào đầu ông những lời tuyên truyền xuyên tạc: Nếu anh không bắn vào họ, họ cũng sẽ bắn anh!. Sau này nhớ lại, ông cứ xót xa ân hận.

Người ta đã không trả thù ông. Sự khoan hồng của nhà nước cách mạng đã làm ông vô cùng cảm động. Nhưng đó là chuyện khác, chuyện của một quốc gia đối với những người lầm lỗi, trong đó có ông. Còn bây giờ là chuyện giữa ông và gia đình chị Hằng. Chị có tha lỗi cho ông không, ông cũng chưa biết. Và vì chưa biết nên ông sợ. Chị Hằng nhưnhận ra điều đó. Chị không muốn nhắc lại với ông về những trang buồn trong quá khứ. Khi biết tin chính ông Thuận đã cứu con chị, ngọn lửa của tha thứ cháy âm ỉ bấy lâu nay trong lòng chị bỗng bừng lên. Ðúng, chị sẽ tha thứ cho ông, kể cả điều tưởng chừng không tha thứ nổi. Chị thấy thương hai đứa trẻ. Con trai chị và con gái ông không lẽ phải gánh chịu những hậu quả của cuộc chiến tranh gây nên? Và khi nghĩ nhiều đến những ngày sắp đến và chuyển chủ đề sang chuyện khác.

-Vùng này khi xưa rất nhiều mai núi. Thứ mai núi pha sắc biển. Cả nhà tôi đều mê thứ hoa này.

Ông Thuận thở phào nhẹ nhõm. Một niềm vui mơ hồ đang tràn ngập lòng ông. Ông nói mà không cần rào đón:

-Ðể hôm nào cháu Dũng khỏe, tôi sẽ rủ nó đi tìm mấy gốc mai, bứng về cho vào chậu, gửi về dưới đó để chị chưng trong mấy ngày tết.

Chị Hằng cảm ơn ông. Và tuy chưa đến mùa xuân, chị vẫn hình dung những cành mai núi mang màu nắng của vùng chiến khu xưa sẽ nở rộ trong ngôi nhà của chị.

Nha Trang 18 - 9 - 1999




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Cuộc trả thù êm ả


Phan Cao Toại




Sáng nào cũng vậy, nghe tiếng chổi sột soạt quét sân của bà cụ Tiềm, người trong hẻm đều biết đã bốn giờ sáng. Bởi, cữ bốn giờ, bốn rưỡi, những người đi làm xa thường ghé hàng của cụ làm chiếc bánh chưng, uống bát nước chè, rít hơi thuốc lào rồi mới bịn rịn rời con hẻm thân thương này tỏa đi làm ăn khắp nơi. Năm giờ kém mười lăm, các cụ trong câu lạc bộ dưỡng sinh mới mở băng cát sét tập thể dục buổi sáng. Khi ông giáo An đạp chiếc xe đạp cọc cạch tới trường thì người ta biết lúc ấy sáu rưỡi. Còn cô Mỹ Lệ phóng chiếc Dream màu mận chín thướt tha trong bộ áo dài màu thanh thiên qua hàng nước của bà cụ Tiềm là lúc bảy giờ kém mười lăm. Tám giờ người đưa thư báo tới... Việc đi lại của những người trong con hẻm từ nhiều năm nay đã thành nếp nên bà cụ Tiềm chẳng cần đồng hồ cũng biết chắc thời gian trong ngày.

Riêng việc đi lại của anh chàng Tạo, cử nhân anh văn thì thất thường. Có lúc ông giáo An đi dạy đã thấy hắn ngồi hút thuốc lào trong quán của bà cụ Tiềm. Có lúc mãi khi cô Lệ phóng xe qua hắn mới tới. Những lúc ấy, Lệ thường chào hắn bằng một nụ cười. Bà cụ Tiềm có hôm buột miệng:

- Xem chừng cái cô Lệ mến chú lắm.

Tạo thở dài nhìn theo bóng Lệ cho đến khi cô hòa vào dòng người trên đường rồi mới thủng thỉnh đáp:

-Ai người ta mê cái ngữ cháu. Không nghề không ngưhiệp...

-Chết, sao chú lại nói thế. Chú cũng học xong đại học, cũng nói tiếng tây như gió, thua kém ai đâu...?

-Vâng, thì xong đại học. Cơ mà đại học bây giờ nhan nhản, học xong không xin được việc làm cũng bằng không. Cháu đã hai năm tìm việc nhưng mà thiếu cái thủ tục đầu tiên nên bây giờ vẫn ở nhà bám váy mẹ...

-Cái con bé Lệ thế mà may. Chẳng cần đại học đại hiếc gì cũng tìm được chỗ ngon lành...

- Ðời nó có số cụ ạ.

Có lẽ Tạo nói đúng. Ðời có số. Lệ học sau Tạo hai lớp, đến lớp bảy thì bỏ về nhà nuôi lợn, nấu rượu giúp gia đình. Ðùng một cái, có cô bạn ở trong Sài Gòn về chơi nói xin hộ được việc ở một công ty may, lương khá lắm. Hai năm sau thấy Lệ về quê, quần là áo lượt, vàng đeo đầy tay, lại xin được vào làm việc ở một công ty xuất nhập khẩu, nghe nói làm thưký giám đốc. Lệ ngày một xinh ra nhưng xem chừng chẳng anh nào trong hẻm dám bén mảng đến nhà cô. Chỉ có Tạo là chàng trai duy nhất được Lệ mời đến chơi. Ngôi nhà lợp tôn lụp xụp trong hẻm của nhà Lệ trước đây đã được thay bằng ngôi nhà hai tầng xinh xắn. Hôm ấy chủ nhật, Lệ gặp Tạo ngoài quán nước bà cụ Tiềm. Lệ mặc đồ bộ mutsulin lượt là phóng xe qua. Thấy Tạo, cô đon đả:

-Anh Tạo, trư nay anh đến nhà em chơi đi. Anh em trong hẻm với nhau mà anh cứ như người dưng... Tạo lạnh lùng:

-Chả dám!

Bà cụ Tiềm nhìn đôi bạn trẻ, nhìn cách nói cười của Lệ mười phần đoán chắc Lệ rất có cảm tình với Tạo. Nghĩ vậy, cụ vun vào:

- ừ thì cháu cứ nhận lời đi. Cái Lệ nó mời thật đấy mà. Lệ cười phụ họa vào câu nói của bà cụ:

-Cháu thì khi nào cũng muốn mời anh Tạo đến chơi mà anh ấy cứ lơ cháu...

Và hôm ấy, Tạo đến thật. Dễ chừng đã bảy tám năm, từ ngày Lệ bỏ học, Tạo học hết cấp ba, rồi học xong đại học, Tạo mới bước vào nhà Lệ. Sự thay đổi gần như lột xác trong ngôi nhà dột nát xư kia làm hắn choáng ngợp. Phòng khách kê một bộ salông mây, máy nghe nhạc Sony đời mới, Tivi màn hình phẳng. Phòng ăn cạnh nhà bếp ốp gạch men, tủ lạnh Sanyo, chén đĩa Trung Quốc. Tạo không thể ngờ được Lệ trở nên giàu có và ăn ở sang trọng đến vậy. Hôm ấy, Lệ giữ hắn ở lại ăn cơm. Lúc đầu hắn từ chối. Lệ năn nỉ hết lời hắn mới chịu ở. Cơm gạo tám, Lệ làm món nem Sài Gòn - Thứ mà hắn rất thích, canh chua cá lóc. Ðặc biệt là hương vị thơm ngon của chai rượu Napoléon mà Tạo được uống lần đầu. Lệ giải thích:

-Em làm tiếp tân trong phòng của xếp. Các xếp uống không hết cứ bảo em đưa về nhà. Em uống mãi thành quen...

Sau bữa cơm trư, Tạo túy lúy say phải nằm lại trong phòng khách nhà Lệ. Cái loại rượu tây uống thơm thơm, tưởng nhẹ mà hóa nặng. Tạo làm đến năm ly, mãi đến khi chuồn chuồn bay trước mặt rồi không biết gì được Lệ dìu ra phòng khách. Trong cơn mơ màng, Tạo thấy có một bàn tay mềm mại lau lên mặt mình một chiếc khăn lạnh. Rồi một cảm giác lạ lùng, ươn ướt lướt trên môi, trên cổ, trên ngực. Khi tỉnh dậy đã ba giờ chiều. Lệ đang ngồi chải tóc, cười nói với Tạo:

- Anh ngủ ngon ghê!

Sau bữa trư hôm ấy, Tạo ít khi đến nhà Lệ mặc dù Lệ nhiều lần mời hắn. Có hôm, Lệ đến thăm Tạo, quà cáp cho cha mẹ hắn. Có hôm Lệ lại nhờ bà cụ Tiềm nhắn Tạo đến chơi. Tạo vẫn dửng dưng.Có lẽ hắn mặc cảm với vị trí nghèo hèn của mình với gia đình cô thư ký ông tổng giám đốc. Chỉ có bà cụ Tiềm là biết chắc là Lệ đã thầm yêu Tạo.

Buổi trưa hôm ấy, Tạo đang ngồi ngáp vặt trong quán bà cụ Tiềm thì ông giáo An đi dạy về. Tay ông cầm tờ báo. Vừa trông thấy hắn, ông giáo reo lên:

- Có tin vui cho chú Tạo đây! Tạo nhanh nhẩu:

-Tin gì thế bác? Ông giáo trao tờ báo cho hắn, giục:

- Chú đọc đi, chỗ trang quảng cáo ấy.Tạo giở đến trang quảng cáo. Một nét chì đỏ vòng quanh một dòng tin:

Tuyển nhân viên

Khách Sạn Mỹ Thanh, số nhà..., đường... cần tuyển một cử nhân anh văn làm phiên dịch, tuổi dưới 30, lương mỗi tháng tám trăm ngàn đồng... Tạo cầm lấy tay ông giáo, nói như reo:

- Cháu cảm ơn bác. Tuyệt quá bác ơi!

Hắn ba chân bốn cẳng chạy ra đầu hẻm, thuê xe ôm chạy ngay đến khách sạn nói trên. Bà chủ khách sạn nhìn hắn từ đầu đến chân, nhờ cô tiếp tân mặt đầy son phấn xì xồ mấy câu tiếng anh. Tạo đáp trôi chảy, lại dồn cho cô này mấy câu không trả lời được. Cô tiếp tân nói với bà chủ:

- Ðược đấy chị ạ. Anh văn khá lắm. Hắn được bà chủ dặn dò rất nhiều nhưng gút lại là làm sao phải vừa lòng khách.

Thế là xong cuộc phỏng vấn. Thế là Tạo được nhận vào làm việc. Kỳ thực vốn anh văn của hắn không nhiều, khi đi học vào loại kém phải mấy lần xin điểm nhưng vì trình độ của cô tiếp viên quá kém nên hắn qua mặt dễ dàng. Hắn phở phào nhẹ nhõm và buổi chiều hôm ấy, khi ứng được mấy trăm tiền lương tháng đầu hắn mời ông giáo An uống ly rượu nhạt tạ ơn tại quán bà cụ Tiềm.

Ngày làm việc đầu tiên, hắn được bà chủ phân công đi theo một đoàn ba bà tây đi tắm ở Dốc Lết, cách thành phố chừng hơn năm mươi cây. Bãi cát phẳng lỳ. Trời xanh biển biếc. Hắn say sư ngắm những cặp đùi trắng nõn của mấy bà tây. Có bà sai hắn vào mua bia ra uống. Có bà tình cảm hơn, nhờ hắn đấm lưng. Ban đầu, hắn định từ chối. Nhục quá. Trí thức ai lại đi làm những việc ấy. Người ta cười cho. Nghĩ cảnh thất nghiệp nằm nhà hai ba năm hắn vượt qua dễ dàng cơn thẹn thùng, làm vừa lòng khách. Buổi chiều lúc trở về, mấy bà mời hắn đi ăn cơm. Khuya lại mời đi uống bia. Một bà chừng ngoài bốn mươi mặt đầy tàn nhang, khuôn mặt choắt lại, chiếc mũi khoằm như mũi diều hâu có vẻ kết hắn. Ðêm đó hắn ở lại khách sạn. Những gì xẩy ra giữa hắn và bà tây kia chỉ hắn với bà ta mới biết. Chỉ biết khi rời khách sạn, bà ấy cứ ôm chầm lấy hắn mà khóc, hôn đắm đuối lên môi hắn. Hắn mắc cỡ với mọi người, đẩy bà ta ra nhưng càng đẩy bà càng ôm chặt. Cuối cùng bà chủ khách sạn phải bảo hắn và bà tây kia lên lầu. Một tuần sau, hắn ngạc nhiên khi được bà chủ thông báo, bà Tây gửi cho một nghìn đô để hắn mua xe gắn máy.

Hắn đã dần quen công việc của một guidetour và bắt đầu biết chiều khách. Vốn anh văn cũng khá dần lên. Bây giờ, hắn đi xe gắn máy và cặp bồ với một em vệ sinh buồng nên mỗi lần gặp Lệ hắn tỉnh khô. Hắn nghĩ, hắn cũng sẽ đổi đời như Lệ và tìm mọi cách moi tiền tụi tây. Tây sai gì là làm nấy. Có khi không cần sai. Với đàn ông hắn dễ làm đẹp lòng họ hơn. Hôm ấy, một ông tây giàu có vào nghỉ khách sạn. Ông này chọn phòng đắt tiền nhất. Qua cách nói chuyện Tạo biết ông là thương gia, vừa trúng được một quả đậm. Biết vậy nên khi bà chủ gọi hắn lên nói rõ yêu cầu của khách cần tìm một cô gái trẻ đẹp, dạng bán chuyên nghiệp cho ông ta. Hắn ngẫm nghĩ một lúc rồi lắc đầu. Mấy tháng ở khách sạn, hắn chỉ gặp loại gái làng nhàng, bình dân. Còn loại cao cấp hắn chưa hề biết. Thấy hắn cứ vò đầu, bà chủ đưa cho hắn một mẩu giấy nhỏ có ghi số điện thoại và bảo:

-Ðây là con bé Lan Hương thuộc loại hạng sang. Nó rất ít đi khách. Gặp nó rất khó. Phải thật khôn khéo mới được. Phải coi nó như gái nhà lành, giới thiệu một ông khách để nó thực hành tiếng anh... Gọi điện thoại cũng không gặp được, phải qua môi giới. Môi giới lại phải hỏi ý kiến, thật chắc ăn và giá cao nó mới chịu đi.

Ðược bà chủ trao cho những thông tin cần thiết, Tạo gọi điện thoại. Ðầu giây bên kia là tiếng một người con gái.

- Làm ơn cho tôi gặp Lan Hương.

-Anh gặp Lan Hương có chuyện gì?

-Tôi đang làm việc ở khách sạn Mỹ Thanh. Tôi muốn giới thiệu Lan Hương với một ông khách để nói tiếng anh và làm bạn với nhau cho vui.

-Chỉ thế thôi à? Có gì nữa nói thật đi. Cho biết giá cả cuộc vui.

Tạo nhìn bà chủ, dò hỏi. Bà chủ nói nhỏ: Vô tư!. Lập tức, Tạo nói với đầu dây bên kia:

- Chuyện nhỏ không cần đề cập.

-Tối nay, bảy giờ, anh sẽ đưa khách đến cà phê Biển Tím. Chị Hương sẽ ngồi đợi ở bàn trong góc, ngồi ngoảnh lưng ra. Giới thiệu với ông khách xong, anh hãy để cho hai người ngồi nói chuyện tự nhiên. Sau đó đi đâu do chị Hương sắp xếp. Nhắc lại với anh lần nữa, giá chót là một tờ.

-Yên tâm đi!

Buông máy điện thoại, Tạo ngồi thừ ra. Một đêm đi chơi với khách được một trăm đô. Một tháng chỉ cần đi hai lần là đủ nuôi cả gia đình. Lại nhẹ nhàng, kín đáo. Nghĩ vậy, Tạo bồn chồn, đứng ngồi không yên, mong cho trời tối để biết mặt cô gái đang hái ra tiền ấy là ai. Tạo thông báo với ông khách về người bạn mà ông sắp gặp. Ông này mừng lắm.

Bảy giờ, Tạo và ông khách lên xe đến cà phê Biển Tím. Suốt chặng đường ngồi trên xe cả hai cây số, hắn mông lung nghĩ về hình ảnh một cô gái đẹp, cố vẽ ra một bức chân dung của cô. Rằng cô có đôi mắt xanh, hàm răng trắng, tóc xõa ngang vai và vẻ hấp dẫn của cô gái bán chuyên nghiệp này hẳn phải làm nhiều người ngơ ngẩn. Nhất là việc cô không đi khách thường xuyên, vẫn giữ được lý lịch con nhà lành của mình làm Tạo xốn xang. Biết đâu sau cuộc gặp này, Tạo sẽ làm quen được với cô, trở thành bạn bè và nếu cô không chê hắn xấu trai, hắn sẽ khuyên cô nên bỏ nghề ấy đi rồi biết đâu nhờ trời nhờ phật Tạo làm bạn được với cô cũng nên.

Quán cà phê Biển Tím nằm trong một khuôn viên khá rộng. Những bóng đèn màu ẩn hiện giữa vòng xanh cây lá. Nhạc dịu êm. Mới bảy giờ nên khách chưa đông. Tạo dẫn ông khách vào trong góc vườn, nơi hẹn của Lan Hương. Qua một khoảng sân với những chậu hoa hồng đang tỏa hương thơm dịu nhẹ, Tạo thấy một người con gái xõa tóc đang ngồi quay lưng ra phía cửa. Hắn hồi hộp kéo tay ông khách bước rón rén đến phía cô gái đang ngồi. Khi chỉ còn cách cô một bước chân, hắn lên tiếng:

-Chào cô Lan Hương!

Nghe tiếng chào, cô gái quay lại nhìn. Khi khuôn mặt cô lộ rõ dưới ánh đèn mờ nhạt, Tạo như bị một tia chớp quật ngã. Tim hắn như bị ai bóp chặt, đầu óc quay cuồng, hắn luống cuống vịn chặt vào tay ông khách. Người ngồi trước mặt hắn chính là Mỹ Lệ. Lệ cũng bối rối không kém, đầu cúi xuống, hai tay ôm ngực rồi đột nhiên chạy thẳng ra ngoài phố trước sự ngạc nhiên của ông khách. Tạo đuổi theo, rối rít gọi:

- Lệ...! Lệ...!

Nhưng Lệ đã ngồi lên chiếc xe ôm biến vào dòng người trên phố. Tạo lắc đầu nói với ông khách:

-Thôi, để tôi tìm cho ông đám khác.

Ðêm hôm ấy, Tạo về nhà muộn. Trong nhà có ánh đèn. Thường mỗi đêm khi hắn về, cha mẹ hắn và các em đã đi ngủ. Từ bên ngoài, hắn thấy bà mẹ đang ngồi đối diện với một người. Hắn không nhận ra ai vì người đó tóc xõa trước mặt, hai tay ôm đầu. Khi bước vào nhà mẹ hắn nói:

- Cái Lệ nó đến tìm con...!

Ra thế. Suốt cả buổi tối, khi biết Lệ là gái gọi hạng sang, cái nhìn của hắn với cô hoàn toàn thay đổi. Hắn cảm thấy kinh tởm với người bạn cùng hẻm, cảm thấy rờn rợn khi nghĩ lại những lần hắn ăn cơm nhà Lệ. Thế mà bà cụ Tiềm bảo rằng cô yêu hắn. Hắn cũng cảm thấy mình đang được cô yêu, đang được cô chăm sóc, chiều chuộng. May mà hắn chưa nhận lời.

Hắn nói với Lệ bằng giọng cộc lốc:

- Cô ra khỏi nhà tôi đi...!

Lệ từ từ ngước lên, vén mái tóc đen dày rối tung đểnhìn hắn cho rõ. Khuôn mặt cô nhàu nát, bơ phờ, đôi mắt đỏ mọng. Giọng cô yếu ớt, âm thanh như đang trôi trên một dòng sông nước mắt:

-Anh Tạo ơi, em xin anh... Em xin anh giấu kín chuyện

này cho em...! Tạo lạnh lùng, chì chiết:

-Tôi thật không ngờ!

- Em van anh...!Nói xong, Lệ đứng lên cầm hai tay Tạo trong tay mình, hai chân cô từ từ khuỵu xuống:

-Em xin anh đừng nói cho ai biết chuyện vừa xẩy ra...!

-Nhìn nhà cao cửa rộng, ăn mặc sang trọng, ai cũng nghĩ cô đang làm việc ở công ty xuất nhập khẩu. Cô ngụy trang giỏi thật!

Lệ nấc lên. Bờ vai nhỏ nhắn của cô rung lên từng đợt. Cô giữ chặt tay Tạo trong tay mình, mếu máo:

-Em phải bỏ tiền mua một chân ở công ty ấy để mọi người không ai biết việc làm của em. ở đó cũng nhục lắm anh ơi. Em trở thành bồ nhí của tay giám đốc. Em đành chấp nhận để nhờ hắn che chở.

- Hắn có biết cô làm gái không?

- Dạ không.

-Thôi được rồi, cô đứng dậy, về đi.

-Nhưng anh hứa với em, anh sẽ giữ kín chuyện này cho em.

- Ðiều đó thì tôi không dám.

Lệ từ từ buông tay Tạo, đứng dậy bước lùi ra sau một bước, nhìn xoáy vào khuôn mặt câng câng, vênh váo của hắn. Hắn có vẻ tự đắc, nhếch mép cười khinh bỉ. Nước mắt trên hai bờ mi của Lệ đã khô. Cô vẫn nhìn Tạo với cái nhìn rắn rỏi và dứt khoát của một người từng trải. Cô ngồi xuống ghế và đưa tay ra hiệu mời Tạo ngồi. Ðôi mắt hắn còn đang ngầu đỏ, hắn gieo xuống ghế một cách nặng nề. Lệ lạnh lùng nói với hắn:

-Thôi, thế này, anh Tạo nhé. Em không thể bắt anh giấu kín chuyện này. Em xin có một đề nghị. Tạo hất hàm ra hiệu cho cô nói.

- Em sẽ trả giá cho việc giữ im lặng của anh.Tạo cười gằn:

-Bao nhiêu?

-Hai nghìn đô!
Tạo cười khểnh:

-Hai nghìn đô cho danh giá của một con người. Bèo quá!

-Ba nghìn đô!

-Vẫn bèo!

-Năm nghìn đô...!

-Thôi được!Lệ đưa tay cho Tạo ngoắc.

-Ngày mai anh sẽ nhận được tiền.

-OK!

Sáng hôm sau, bà cụ Tiềm vẫn thấy Lệ mặc bộ áo dài màu thanh thiên ra khỏi con hẻm. Lúc ấy là bảy giờ kém mười lăm. Nhìn thấy khuôn mặt rất vui của cô, bà cụ Tiềm liền hỏi:

- Có chuyện gì mà vui thế, cháu Lệ?Lệ cười, dừng xe lại trước hàng nước của cụ:

- Cháu mới trúng số, bà ạ.

-Trông mày với cái thằng Tạo đẹp đôi lắm, con ạ.

-Bà làm mối cho cháu đi.

- ừ nhé.

Nếp sống trong con hẻm những ngày sau đó vẫn không có gì thay đổi. Bà cụ Tiềm vẫn quét sân vào lúc bốn giờ sáng. Lệ vẫn đi làm lúc bảy giờ kém mười lăm. Có điều bây giờ nhiều chiếc xe công nông chạy vào hẻm chở đầy cát, xi măng làm bụi bay mù. Ông giáo An thì mừng, gặp ai cũng khoe, nhờ ông mà cái anh chàng Tạo có công ăn việc làm, bây giờ lại đang xây nhà lầu. Ai cũng mừng cho hắn. Có hôm, Tạo đi qua hàng nước của bà cụ Tiềm, cụ gọi hắn lại:

-Cháu làm ăn giỏi lắm. Hẻm này chỉ có mày và cái Lệ là có nhà lầu. Bà xem chừng hai đứa đẹp đôi, chúng mày làm bạn với nhau được đấy.

Tạo không nói gì, nhếch mép cười khinh bỉ.

Một hôm, Lệ đi làm về khuya. Hình như đã mười hai giờ đêm. Bà cụ Tiềm vẫn chưa dọn hàng.Vừa thấy ánh đèn pha loang loáng phía trước, bà đã chạy ra đón đường. Bà kéo Lệ vào quán, làm ra vẻ bí mật:

- Cháu vào đây. Bà có chuyện này quan trọng lắm.

Bà rỉ tai Lệ. Nghe xong, Lệ đột ngột tay vung tay đấm vào vách liếp nhà bà cụ Tiềm. Giọng cô đầy uất nghẹn:

-Quân phản bội! Phải xử theo luật giang hồ. Quân mất dạy! Bà cụ Tiềm bối rối:

- Có chuyện gì vậy cháu?

-Cái quân khốn nạn phải trừng trị bà ạ. Bây giờ, cháu cũng chẳng giữ gìn làm gì nữa .Vâng, cháu là con điếm. Nhưng cái thằng mất dạy ấy cũng chỉ là một thằng điếm đực. Mang danh trí thức!

Bà rót cho Lệ một ly nước trà đá, giọng trầm lắng:

-Cháu đừng có trả thù rồi thành to chuyện. ác giả ác báo ấy mà.

Lệ ngẫm nghĩ một lúc rồi chia tay bà cụ Tiềm. Lúc ấy đã một giờ sáng.

Người trong con hẻm bàn tán xôn xao, cô Lệ lấy chồng ngoại quốc. Một ông già ngoài bảy mươi tuổi bị thọt một chân. Có lần Lệ chạy xe qua hàng nước, bà cụ Tiềm buột miệng:

- Bông hoa nhài cắm bãi cứt trâu!

Những lời bóng gió ấy đã đến tai Lệ. Ngày cưới, cả hẻm không người nào đi dự. Lệ biếu bà cụ Tiềm một mảnh vải Bombay may áo và hai phong socola. Bà cụ không nhìn mặt cô, quăng những thứ đó ra đường. Ðám cưới được cử hành trong khách sạn lớn nhất thành phố. Ðồn rằng toàn tây với đầm. Cưới xong, cô Lệ nhờ người trông nom nhà cửa còn mẹ con cô theo chồng ra nước ngoài.

Thấm thoắt đã mấy năm trôi. Ông giáo An đã nghỉ hưu Bà cụ Tiềm lưng ngày một còng nhưng vẫn thức giấc đều đặn vào lúc bốn giờ sáng. Ông giáo An thường sáng sáng đạp xe ra ngoài phố mua báo rồi về ngồi trong quán bà cụ Tiềm uống nước chè xanh. Nhịp sống trong con hẻm vẫn không có gì đổi khác duy chỉ có Tạo dạo này nghỉ việc ở nhà. Nghe nói dính vào một vụ lấy cắp tiền của khách, bị bà chủ đuổi. Nói chuyện với ông giáo An, bà cụ Tiềm vẫn thường buột miệng: ác giả ác báo ấy mà. Ông giáo An có vẻ bênh vực Tạo: Ði với ma thì phải mặc áo giấy. Thành ra hư người. Chứ cái thằng ấy, tôi biết, không đến nỗi nào. Nhân chi sơ tính bản thiện. Cái nhố nhăng của thời này làm hỏng nó....

Hômấy,Tạo đang ngồi uống rượu trong quán bà cụ Tiềm. Ông giáo An đạp xe hối hả vào quán, tay cầm tờ Tuổi trẻ, giọng oang oang:

-Chú Tạo có trong ấy không? Tôi lại đằng nhà nghe nói chú ra đây. Lại có tin vui cho chú... Tạo đón tờ báo trên tay ông giáo. Mắt hắn sáng lên khi
nhìn vào một mẩu tin khoanh chữ đỏ.

Tuyển nhân viên

Chuẩn bị cho việc khai trương khách sạn Thành Ðô,

chúng tôi cần tuyển một cử nhân anh văn làm hướng dẫn du lịch. Lương khởi điểm hai trăm đô la...


Tạo ôm chầm lấy ông giáo, giọng xúc động:

-Khi nào bác cũng mang lại may mắn cho cháu. Khách sạn Thành Ðô này cháu biết. Nghe nói của một Việt Kiều giàu có bỏ vốn ra xây. Cháu mà được nhận vào làm việc thì cháu nhớ ơn bác suốt đời. Thôi cháu phải chạy vù ra đó đã...

Khi Tạo đến khách sạn Thành Ðô, đã có bốn năm người ngồi đợi. Hắn giật mình. Thế là hắn vẫn chậm chân hơn người khác. Cô thư ký ghi tên những người đến phỏng vấn. Những người trước hắn vào rất nhanh và ra cũng rất nhanh. Ðến lượt Tạo, hắn đưa tay ép ngực, cố giữ vẻ bình tĩnh. Trực tiếp phỏng vấn là một thiếu nữ xinh đẹp. Sau khi nhìn tên hắn trên mảnh giấy, cô hỏi:

- Anh cho xem chứng minh nhân dân.

Tay hắn run run sờ ví lấy tấm thẻ đưa cho cô gái. Cô gái lại hỏi:

- Anh ở số nhà... hẻm... đường...?
Tạo đáp lí nhí:

- Dạ vâng.

- Anh sinh ra và lớn lên ở con hẻm này?

- Dạ vâng.

- Anh làm ơn ra ghế đợi và chờ kết quả.

Tạo đẩy cửa bước ra trong tâm trạng lo lắng. Tại sao người ta không hỏi hắn gì về bằng cấp, về năng lực và nguyện vọng. Ðang nghĩ ngợi lung tung thì cô gái gọi tên hắn:

- Mời anh Trần Văn Tạo!

-Dạ có!

Hắn vội vã đẩy cửa bước vào. Cô gái nhoẻn miệng cười, chìa tay đưa tờ giấy hợp đồng:

-Chúc mừng anh. Tôi vừa trao đổi với hội đồng quản trị và họ đã đồng ý nhận anh vào làm việc. Xin chúc mừng anh...!

Tạo ríu lưỡi, không mở miệng nói được lời cảm ơn, tay run run điền những chỗ trống trên bản hợp đồng rồi trao cho cô gái.

Ngày khai trương khách sạn, Tạo dậy rất sớm, complet cravat chỉnh tề, phóng xe đi từ sáng sớm. Khách sạn Thành Ðô được trang hoàng lộng lẫy, xe hơi của quan khách đến dự lễ khai trương đậu kín hai bên đường. Cờ phướn, biểu ngữ dăng đầy mặt tiền. Trong tiền sảnh thoáng rộng khách khứa đã đứng hai bên, chờ chủ tịch hội đồng quản trị kiêm chủ khách sạn bước ra cắt băng khai trương.

Tạo tràn ngập niềm vui trong ngày làm việc đầu tiên. Mấy ngày trước đây, hắn được nghỉ ở nhà để may quần áo. Cô gái thay mặt hội đồng quản trị đưa cho hắn một khoản tiền lớn để maysắm quần áovà trang phục cần thiết. Hắn thầm cảm ơn và khâm phục cách làm ăn bài bản của giám đốc khách sạn Thành Ðô.

Tám giờ kém mười lăm, cánh cửa lớn của khách sạn mở rộng. Một đoàn xe du lịch sang trọng từ từ dừng bánh. Nhân viên khách sạn đứnghai bên rắc những cánh hoa chào mừng bà chủ khách sạn. Tiếng nhạc, tiếng vỗ tay vang lên khi bà và một vài người dừng lại trước dải băng màu đỏ do hai cô gái nâng lên và một cô gái khác cầm chiếc khay có chiếc kéo đưa cho bà giám đốc. Tạo đứng phía xa nhìn không rõ mặt bà. Cắt băng xong, bà bắt tay từng quan khách đến dự, bắt tay từng nhân viên khách sạn. Tiếng nổ lốp bốp của những chai rượu Champagne, tiếng vỗ tay không ngớt. Khi bà giám đốc tiến gần đến chỗ Tạo đang đứng, hắn không tin ở mắt mình, người đàn bà kiều diễm trong bộ áo váy sang trọng kia chính là Lệ. Hắn bối rối, định rút lui nhưng Lệ đã đứng trước mặt hắn, chìa bàn tay nõn nà bắt tay hắn. Trong lúc hắn mồ hôi vã ra như tắm, Lệ vẫn tươi cười như không có chuyện gì xẩy ra:

-Chúc mừng anh đã được chọn vào làm việc trong khách sạn của chúng tôi.

Nàng hỏi nhỏ cô gái giúp việc, cô gái đã phỏng vấn Tạo hôm đầu tiên:

-Cảm ơn em đã nhanh chóng tìm được anh Tạo. Lương của anh ấy bây giờ các em xếp bao nhiêu?

-Dạ, hai trăm.

-Chết, không được. Từ tháng sau, em xếp lương cho anh ấy năm trăm. Lệ có vẻ không bằng lòng với cô gái giúp việc, tiến sát lại bên Tạo, nói đủ chỉ hắn nghe: -Xin lỗi anh, các em nó không biết anh nên đã xếp nhầm lương. Từ tháng sau, lương anh sẽ được điều chỉnh...

Tạo ù tai, không còn nghe được Lệ đang nói gì. Mặt hắn đỏ bừng, tim đập gấp. Hắn lẫn vào đám quan khách chuồn ra phía cổng sau, nơi để chiếc xe gắn máy của hắn.

Nha Trang 27 - 4 - 2000






http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Tập truyện ngắn Ao nhà gồm nhiều truyện ngắn chọn lọc của nhà văn Phan Cao Toại được nhà xuất bản Hà Nội ấn hành năm 2001


Tiểu Bồi kỳ rày Ngoan lắm [:D]. Chuyển nhiều truyện đọc được lắm. Thanks nhiều nha.....



Cô thủ thư xinh đẹp ui : NĐ có ý kiến nhỏ nha, lúc bê truyện vô Thư viện cô thủ thư đừng bê nguyên xi tất cả để bỏ vào "Tập truyện ngắn Ao Nhà", mà nên bê từng truyện riêng biệt (có thể ghi chú phía dưới truyện là được đăng trong tập truyện ngắn Ao Nhà vv...) Làm như vậy, các bạn đọc dễ dàng tìm kiếm truyện của Cao Toại để đọc hơn.

Chúc cô thủ thư có nhiều sức phẻ để khiêng truyện !
Đăng nhập để trả lời
0
À ha??
^
Ct.Ly dang ngẫm nghĩ đó chứ
Vì trong thư viện đã mấy truyện của Phan Cao Toại
Nên chắc phải làm theo ý An Đình há,,,

Chưa làm được, vì....còn nhiều việc, ở phòng....luyện công " Nhất Dương Chỉ "
Khi nào tu xong, xuống núi, làm tiếp........ chuyện hành đạo này [:D]

Chúc TBN và An Đinh dzui dzẻ nhé,
Cô thủ thư , lên núi lại đây [8D]
Đăng nhập để trả lời
0
Tiểu Bối Ngoan ơi,

Những truyện trong Tập truyện Ao Nhà của Phan Cao Toại, đã được mang vào thư viện
Nhưng có những truyện như:
- Ao nhà
- Cuốc Xe Đêm
Đã có trong thư viện rồi

Chúc TieuBoiNgoan luôn vui
Đăng nhập để trả lời
0

Bạn Ct. Ly thân mến!

Thực ra, Tiểu Bối cũng chỉ đăng những truyện có trong tập truyện ngắn Ao nhà thôi, Tiểu Bối Ngoan quên mất là Phan Cao Toại đã có truyện trên Vnthuquan rồi, Ct. Ly thông cảm nghen, Tiểu Bối Ngoan sẽ lưu ý hơn để khỏi bị mất công.

Chúc bạn luôn vui khỏe




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Mua danh


Phan Cao Toại


Đã lâu lắm tôi không về thăm quê. Lần này, ông anh cả của tôi, anh Năm Hảo viết thư rất khẩn khoản: Ðằng nào chú cũng phải về. Con bé Thảo nhà tôi lấy chồng, lại chọn được nơi môn đăng hộ đối. Chú là giáo sư tiến sỹ dự đám cưới của thằng con rể tôi có đến ba bằng đại học, thế mới xứng!. Tôi mừng cho anh tôi, mừng cho cháu Thảo. Nó là con đầu anh Hảo, dễ chừng hai tám hai chín gì đó mà chưa chịu lấy chồng. Nhan sắc thuở mười tám hai mươi cũng đứng đầu hàng xã chứ ít đâu. Cũng tại nó kén. Văn hóa lớp bảy cứ đòi lấy cho được bác sỹ, kỹ sư. Chọn mãi không được ai, từ ba bốn năm nay được xếp vào danh sách ế chồng của làng. Thế mà bây giờ nó lấy chồng, lại là một anh chồng giỏi giang có đến ba bằng đại học. Thật là mừng cho nó!

Trong bữa cơm tối, anh chị Năm và bé Thảo ngồi cùng mâm với tôi. Anh Năm thao thao bất tuyệt:

-Chú không biết, chứ thằng rể nhà tôi là bậc kỳ tài. Chú là giáo sư tiến sỹ thật đấy nhưng cũng chỉ có một bằng. Thằng rể tôi có trong tay ba bằng và đang làm hồ sơ chuẩn bị lấy bằng thứ tư. Ngoại ngữ Anh Pháp miễn chê, bây giờ nghe nói mới đăng ký học thêm tiếng Ðức.

Còn con bé Thảo thì như được vàng:

-Chú ạ, anh nhà cháu mải học hành đến nỗi quên cả lấy vợ. Cháu cũng đang lo, khi anh ấy lấy bằng thứ tư thì không khéo cháu bị bỏ quên!

Câu chuyện trong bữa cơm tối làm tôi càng thán phục cháu mình lấy được một bậc tài năng đất nước. Tôi không muốn làm giảm hưng phấn đang dâng lên như bão nổi trong gia đình anh tôi, cứ để anh và cháu ca tụng ông con rể tương lai.

Bận đi thăm bạn bè, cho đến trước lúc cưới, tôi vẫn chưa gặp được thằng cháu rể. Hôm đưa dâu, tôi thay mặt họ nhà gái cùng mấy cụ trong họ đưa cháu về nhà chồng. Khi chiếc Toyota chở họ nhà gái vừa tới nơi, chú rể complet cravat cùng họ nhà trai đứng đợi ở cổng. Tôi đeo kính che nắng nên chàng rể không nhận ra. Còn tôi thì hình như đã gặp chàng trai này ở đâu rồi. Tôi lục lọi trong trí nhớ kém cỏi của mình và cuối cùng nhớ ra, đó là anh sinh viên chuyên tu hệ kinh tế tên là Ðức mà tôi đã đánh trượt dạo nào.

Ðám cưới của Ðức và bé Thảo hết sức sang trọng. Giò lụa, chả quế, vịt tần, bia Tiger uống thả giàn. Lại có cả một ban nhạc sống kèn trống ầm ĩ cả lên. Chú rể cỡ bốn mươi, có một vết sẹo nhỏ nơi đuôi mắt, khuôn mặt choắt lại, trông có nét gian giảo hơn là thông minh. Tôi không quan tâm đến sắc diện cũng như quá khứ của y mà chỉ thương con Thảo nhà tôi háo danh, sau này sinh con không biết có ảnh hưởng cái gen dốt nát của thằng bố hay không, còn cái tài năng của Ðức thì tôi biết rất rõ.

Dạo ấy, tỉnh tôi tổ chức một điểm đại học để bồi dưỡng cho một số cán bộ trung cấp kinh tế không có điều kiện ra Hà Nội học. Lớp chỉ có ba mươi người, phần lớn có học lực trung bình khá, một số ít xuất sắc và ba người quá yếu, trong đó có Ðức. Ba người này lẽ ra cũng phải xét lại tấm bằng trung học của họ, nói gì thi vào hệ đại học. Gần đến ngày thi, cả ba người cứ thường xuyên đến phòng tôi ở. Lúc thì tút thuốc ba số, lúc chai rượu ngoại. Tôi từ chối mãi mà không được. Ðêm trước lúc thi, ba người lại đến và lúc về, họ bỏ quên tờ báo. Tôi cầm lên đọc. Chợt một chiếc phong bì rơi xuống đất. Tôi nhặt lên và hết sức ngạc nhiên khi trong phong bì là một xấp toàn tiền năm mươi ngàn. Một mảnh giấynhỏviết:Thưa thầy,vì hoàn cảnh bận việc nên chúng em không có thời gian ôn bài. Mong thầy thông cảm và chiếu cố. Chúng em có chút quà nhỏ gửi thầy uống nước... Giới thiệu với thầy đây là nét chữ của ba chúng em.... Tôi chợt hiểu. Mấy dòng chữ của ba người là ám hiệu cho tôi chấm bài. Ngày hôm sau, việc thi cử vẫn diễn ra nghiêm túc. Bài thi được rọc phách, niêm phong gửi về trường theo con đường khác. Ngày tiễn tôi ra sân bay, có cả ba học sinh yếu kém ấy.
Tôi kéo Ðức ra một góc, trao lại chiếc bì thư. Y ngạc nhiên nhìn tôi:

Thưa thầy...!.

Tôi nghiêm mặt: Các anh không được làm thế!

Lần ấy, cả ba người học sinh yếu đều trượt. Ðức ra tận Hà Nội năn nỉ tôi đến hai ba lần. Tôi nể quá. Là chỗ đồng hương, đường sá xa xôi, đi lại tốn kém, tôi thu gọn trọng tâm cho y và chiếu cố cho đỗ. Trong nhiều năm giảng dạy cho khối chuyên tu, tôi biết nhiều tấm bằng không có chất lượng. Nhiều người đồng nghiệp của tôi vì quá nể nang, đã nâng điểm cho học sinh.

Hôn trường chật ních tiếng nói tiếng cười. Tiếng cụng ly. Tiếng hô: Vô! của đám trẻ. Cô dâu chú rể đi đến từng bàn chào khách và nhận phong bì. Cháu Thảo của tôi phấn khởi lắm, cười luôn miệng. Chàng rể tuy hơi già nhưng đỏm dáng, ăn nói ra vẻ trí thức. Một người bạn của y đứng lên cụng ly:

Bao giờ thì anh cho rửa tấm bằngthứtư?.

Ðức cười hãnh diện:

Chuyện nhỏ. Mình đang chuẩn bị lấy bằng tiến sỹ kinh tế. Ðó mới là cái đích!.

Cô dâu chú rể đi đến trước mặt tôi. Cháu Thảo bị một nhóm bạn gái giữ lại, bắt cụng ly. Chàng rể thoáng nhận ra tôi. Mặt y biến sắc. Trán y mồ hôi lấm tấm. Tôi vờ không nhận ra y, lấy lý do phải gọi nhờ cuộc điện thoại về Hà Nội và lỉnh ra ngoài.

Hôm sau, Ðức đến thăm tôi. Lúc ấy anh chị tôi đang lo thu dọn bát đũa đem trả. Nhà chỉ có mình tôi ngồi uống trà. Ðức bước vào, ngượng ngùng chào:

-Thưa chú...!

Tôi bắt tay Ðức, mời ngồi. Trước một sự đã rồi, tôi không thể làm khác được. Ðức bây giờ đã là cháu của tôi, đã là người trong nhà. Tôi thấy có trách nhiệm phải bảo vệ hạnh phúc cho cháu Thảo. Tôi chưa kịp nói gì thì Ðức lên tiếng trước:

-Thưa chú... Thưa thầy... Em có một mong muốn, xin chú... à xin thầy giúp cho. Ðó là việc chú đừng nói gì về chuyện học hành thi cử của cháu với Thảo.

Tôi cười và thấy thương hại Ðức. Vì những danh vọng hão huyền của tuổi tên, bằng cấp. Ðức đã tìm mọi cách mua được những tấm bằng. Tôi thấy cần khuyên nhủ Ðức:

-Cháu hiếu học, thế là chú mừng. Nhưng phải là thực lực của mình. Một bằng cho vững hơn bốn năm bằng. Chú thấy cháu nên làm một việc cho tốt và đừng chạy theo những bằng cấp khác nữa.

Ðức vâng vâng dạ dạ, mặt đỏ bừng lên. Hình như y đã nhận ra điều tôi nói. Lúc ấy, anh Năm tôi và cháu Thảo vừa từ đâu về. Giọng anh sang sảng:

-Chú thấy chưa, chú là giáo sư tiến sỹ thật đấy nhưng cũng chỉ có một bằng. Còn chồng con Thảo nhà tôi có đến ba bằng đại học!

Ðức cười, nụ cười như mếu. Tôi thấy cần phải chữa thẹn cho y:

- Hôm nào hai cháu rảnh, ra Hà Nội chơi với chú thím!

Nha Trang 10 - 1999





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Chủ quán phở Hợp Lợi


Phan Cao Toại



Tới đến tiệm phở Hợp Lợi, cả thành phố này ai cũng biết. Ðến nỗi ai đã một lần đến đó đều không quên được vị ngọt đậm đà của nước phở múc ra từ nồi nước hầm xương ninh sùng sục suốt đêm, đến những miếng tái miếng nạm vừa ngon vừa mềm và đặc biệt được ngắm thỏa thuê dung nhan tuyệt vời của bà chủ tiệm. Bây giờ, người ta gọi bà là bà Hợp Lợi, còn cái tên cúng cơm của bà chẳng còn ai nhớ nữa. Năm nay bà đã gần năm mươi nhưng nụ cười vẫn ăn đứt các cô mười tám. Ðược cái, tuy là chủ tiệm phởnhưngngườibàvẫngọngàng,thắtđáylưngong,nhiều chàng trai cứ lấy cớ đến ăn phở, thực ra là đến ngắm bà.

Kháchđếnănphởthấybàsángsángngồitrênmộtchiếc bàn trong góc với một chàng trai. Hai người ngồi uống cà phê với nhau, nói nói cười cười, liếc mắt đưa tình như cặp tình nhân đôi mươi mười tám. Thiên hạ đồn, đó là chồng tư chồng năm gì đó của bà. Ðồn thì đồn vậy, chẳng ai để tâmđiđiềutratìmchoracộinguồn.Việcthiênhạ,hơiđâu. Khách đến ăn phở chỉ lưu lại đó mươi mười lăm phút. Cánh phụ nữ ghen với bà, rằng bà đã ngũ tuần mà còn chim được trai tơ, còn giới mày râu vểnh mặt vì đã có người thay họ làm chủ được bông hoa tuy đã xế chiều còn mặn mà nhan sắc. Họ bàn tán xôn xao, có lẽ bà Hợp Lợi và chàng trai kia cũng nghe được. Họ nói mặc họ, bà và chàng trai kia không vì thế mà mất tự nhiên.

Sáng hôm ấy, tiệm phở của bà đông như mọi khi. Người vòng trong vòng ngoài, có người không có chỗ phải đợi. Bà Hợp Lợi và chàng trai đang nhâm nhi cà phê. Bà không quan tâm đến hàng họ vì đã có người giúp, thả hồn theo ngọn khói thuốc lá hình trái tim vừa bay ra từ đôi môi chúm chím, phơn phớt hồng của chàng trai. Thế gian hình như chỉ có hai người và nhìn khuôn mặt đắm đuối mơ màng của bà, ai cũng biết bà đang yêu. Tình yêu thế mới tuyệt. Nàng hồng nhan, giàu có. Chàng trẻ trung, điển trai. Cứ như là trong mộng. Chợt từ bên ngoài, một chiếc taxi đỗ lại. Chẳng ai để ý đến chiếc xe. Việc ông to bà lớn đi xe hơi ăn phở là chuyện thường tình. Nhưng khi từ trong xe một người phụ nữ ăn mặc sang trọng bước ra, mỗi bước đi của bà đầy vẻ quý phái thì khách trong nhà dồn mắt ra phía bà. Tóc bà búi gọn, kính đổi màu gọng đồi mồi và bộ váy màu tím nhạt ôm lấy thân hình thon thả trông bà thật kiều diễm. Cùng đi với bà là một cô gái, chắc mười tám đôi mươi, ngực căng trong chiếc áo pull và chiếc quần jean bó sát người. Khuôn mặtcủacôthậtgiốngngườiphụnữ.Chẳngphảigiớithiệu, người ta cũng đoán được đó là hai mẹ con.







Khách ăn gần như buông đũa suốt lượt, trầm trồ trước vẻ đẹp của hai mẹ con. Bà Hợp Lợi lúc đầu cũng không để ý. Nhưng khi chàng trai bị hút vào hai mẹ con người khách đang đứng ngoài hiên, đôi mắt bà nhưchạm phải lửa. Bà dụi mắt nhìn cho rõ người đang đứng ngoài kia. Và vì chàng trai cũng đang dán mắt về phía ấy, bà Hợp Lợi thấy cần bày tỏ lịch sự và lòng hiếu khách với một người mới đến lần đầu, bà đứng dậy bước ra.

Người phụ nữ chủ động đưa tay bắt tay bà Hợp Lợi. Khi bắt gặp hai hàm răng trắng đều và nụ cười có lúm đồng tiền trên khuôn mặt ửng hồng của người khách, bà Hợp Lợi hơi ngờ ngợ. Hình như bà đã gặp người đàn bà này ở đâu rồi. Bà gõ tay lên trán, thầm trách trí nhớ kém cỏi của mình. Khách cũng không tự giới thiệu, khuôn mặt trở nên nghiêm nghị, nói với bà:

-Ta vào trong nhà nói chuyện!

Bà Hợp Lợi nhường khách đi trước. Ðến trước bàn, nơi chàng trai đang ngồi, bà Hợp Lợi vẫn thảng thốt:

- Chết thật, tôi không nhớ chị là ai! Chàng trai kéo ghế, mời mẹ con người phụ nữ ngồi.

Người phụ nữ nghiêng người cảm ơn và ngồi xuống. Bà Hợp Lợi giới thiệu:

-Ðây là nhà tôi!

Giọng bà không chút ngượng ngùng còn khuôn mặt người khách bỗng tái đi. Cũng may lúc ấy bà Hợp Lợi đang sai người giúpviệc pha cho bà thêm hai phin cà phê nên không để ý. Người khách sau một thoáng bàng hoàng đã lấy lại được bình tĩnh. Nhìn cách ăn mặc và đặc biệt không nghe được thứ tiếng cô con gái nói với mẹ, bà Hợp Lợi đoán được hai mẹ con bà là Việt kiều, liền hỏi:

-Xin lỗi, chị vừa từ nước ngoài trở về? Chị đến đây có chuyện gì không?

Người phụ nữ nhìn bà Hợp Lợi không chớp mắt làm bà lúng túng:

-Vâng, tôi vừa từ Mỹ về. Tôi đến đây là để gặp anh Thiện!

Nghe xong câu nói ấy, bà Hợp Lợi rùng mình, đảo điên như vừa bị ai đâm một nhát vào tim. Thôi chết rồi! Người ngồi trước mặt bà chẳng phải là ai xa lạ, là vợ của Thiện, chồng thứ ba của bà. Trời ơi, sao thị lại về đây? Mười bảy mười tám năm rồi, bà Hợp Lợi cứ tưởng người đàn bà này đã làm mồi cho cá. Thế mà bây giờ thị lại sờ sờ trước mặt bà. Dẫu rằng dạo ấy mọi chuyện bán mua đã sòng phẳng, người đàn bà này đã xé hôn thú để chồng mình lấy bà, đổi lại thị sẽ nhận của bà mười cây vàng để trang trải nợ nần và làm lộ phí vượt biên. Ông Thiện thuở ấy cũng trẻ trung và đẹp trai như chàng trai đang ngồi đối diện với bà bây giờ. Bà Hợp Lợi lúc ấy giàu có nhưng góa chồng, biết hoàn cảnh vợ chồng Thiện đang khó khăn, nhất là vợ Thiện huê hụi nợ nần chồng chất, suốt ngày khi nào cũng đầy người đến xiết nợ, liền đánh tiếng nửa đùa nửa thật: Ðẩy thằng chồng đi mà lấy tiền trả nợ!. Vợ chồng ông Thiện lúc đầu nghĩ đó là trò cười nhưng suy đi tính lại, chỉ có cách ấy mới trả được nợ. Thế là có cái chuyện ông Thiện về làm chồng ba của bà Hợp Lợi. Vợ Thiện vượt biên, mười mấy năm chẳng tăm hơi, ai dè, hôm nay thị lù lù trở về.

Bà Hợp Lợi hết sức bối rối. Bà vừa trải qua một cú sốc, bàng hoàng trước sự hiện diện bất ngờ trước người vợ cũ của ông Thiện, chị Hằng. Hằng ở thế chủ động, dồn bà vào chân tường:

-Bà yên tâm, tôi đến đây không vì ông Thiện mà để cho con gái ông ấy biết mặt cha. Chỉ một nguyện vọng nhỏ nhoi như vậy, tôi mong bà giúp đỡ. Cho cháu gặp ba nó. ít phút rồi chúng tôi sẽ ra đi.

Bà Hợp Lợi mặt tái xanh, hai môi lập bập, đến nỗi chàng trai ngồi cạnh bà phải thốt lên:

- Kìa mình, mình sao vậy...?

Bà Hợp Lợi không đáp, khuôn mặt dại đi, ú ớ nhưmột người ngọng:

- Hông... hông... sao.... đâu... em... hơi khó... ở...! Bà ra hiệu cho chàng trai, giọng yếu ớt:

- Mình lên lấy giùm em lọ dầu. Em khó chịu quá!

Chàng trai hấp tấp lên gác, khi quay xuống đã thấy bà gục mặt lên bàn. Chàng xoa đầu lên khuôn mặt bạc phếch của bà. Trông bà thật thảm hại. Một lúc sau, bà thều thào nói với chàng trai:

-Em đỡ rồi. Thôi mình đi chơi một mình, em có chuyện riêng...

Chàng trai nhìn Hằng, nhìn cô bé với đôi mắt đĩ thõa, hôn đánh chụt lên gò má dính đầy phấn hồng của bà Hợp Lợi, vào nhà trong dắt chiếc Dream bóng lộn nổ máy biến khỏi nhà.

Khách ăn vãn dần. Bà Hợp Lợi vẫn chưa lấy lại được thăng bằng thì Hằng hỏi tiếp:

- Anh Thiện đi đâu mà không có nhà, thưa bà?

Bà Hợp Lợi im lặng. Biết trả lời thế nào đây. Dễ chừng cảnămnay,hàngphốkhôngnhìnthấyôngThiệnrađường. Còn khi trước, khi chuông nhà thờ rung lên lúc bốn giờ sáng, ông Thiện đã quần soọc áo pull, giày thể thao chạy ngoài bờ biển. Chạy xong, ông xuống tắm nhằm khoe thân thể cường tráng tuổi ngũ tuần với bàn dân thiên hạ. Bảy giờ sáng ông mới về nhà, bà Hợp Lợi khi ấy còn nằm phưỡn thây như một súc thịt trắng lờ nhờ trên đống chăn đệm, uốn éo bắt ông Thiện đỡ dậy. Lúc đầu, khi không thấy ông Thiện chạy biển, người ta nghĩ ông đi chơi đâu đó, Sài Gòn hay Ðà Lạt. Rồi người ta dần quên ông. Khi chàng trai xuất hiện trong nhà bà, chàng cũng cố gắng rèn luyện thân thể như ông Thiện đã từng làm, người ta mới vỡ nhẽ. Ra cái ông Thiện tội nghiệp kia đã bị thanh lý rồi. Người ta đoán, bà Hợp Lợi lại xí cho ông mấy cây vàng làm vốn liếng và đã cao chạy xa bay, nhường chỗ cho cái anh chàng trẻ trung kia.

Thực ra, ông Thiện vẫn ở ngay trong ngôi nhà ấy, ở tận trên từng bốn, bên cạnh gian thờ của nhà bà. Có điều, ông Thiện bây giờ là cái xác không hồn, cư ngụ trong cái nghĩa trang lộ thiên ngay giữa lòng thành phố. Ông bị tiểu đường, sau biến chứng thành lao phổi. Bà Hợp Lợi không muốn là kẻ phụ tình, sắp xếp cho ông ở riêng Anh thông cảm cho em, bệnh phổi dứt khoát phải cách ly!, bà nói với ông như vậy. Ðược cái, căn phòng ấy cũng tiện nghi, có toa lét, tivi, tủ lạnh riêng. Bữa ăn đã có người mang lên. n xong chỉ việc bỏ bát chén ra cửa, có người nhặt đi rửa. Thuốc bổ thuốc bệnh đủ loại, muốn gì có nấy. Sự chăm sóc về vật chất, ông Thiện không thể chê trách bà. Bà không thể lên thăm ông vì cái thứ bệnh phổi hay lây. Thành ra, gần mà xa, cả năm nay bà chẳng ghé vào thăm ông. Khi người nhà đưa cơm lên, mấy phút sau thấy bát chén lại đưa xuống, bà hiểu, thế là ông ấy còn sống. Còn sống mới ăn được. Ông Thiện cũng được thông báo không được đi xuống dưới nhà, cần gì cứ bảo nên gian phòng của ông trên lầu tư thành một phòng biệt giam, bà Hợp Lợi cả năm nay chẳng ngó ngàng, ở dưới tha hồ tung hoành.

Bây giờ, lại có người đòi gặp ông, thế mới rách việc. Như người khác, bà đã chối bay rằng ông đi vắng. Ðằng này, lại là vợ con ông từ nước Mỹ xa xôi về đây, có nói dối người ta cũng lỳ ra, đòi gặp cho được. Kẻ cắp bà già gặp nhau. Thôi thì cứ lật bài ngửa. Sau một lúc đắn đo, bà đẩy ly cà phê về phía chị Hằng, nhỏ nhẹ:

-Chuyện là thế này, chị ạ. Anh Thiện hiện không được khỏe.Ðaucảmấynămnayrồi.Ngườicứyếudần,đikhámbác sỹ bảo bị bệnh lao. Anh ấy đang tĩnh dưỡng trên lầu tư...

Bà Hợp Lợi nhẹ người khi trút được mấy lời tựa như một khối đá đè nặng lên người. Bà cầm cốc nước, nốc ừng ực như vừa làm một việc quá sức. Vừa uống, bà vừa liếc nhìn thái độ của đối thủ. Khuôn mặt Hằng hầu như không thay đổi, chỉ có đôi mắt như tối lại. Chị nói điều gì đó với cô con gái bằng thứ tiếng bà Hợp Lợi không nghe được. Mẹ cái quân mất gốc, ăn cho lắm bơ sữa rồi quên cả tiếng mẹ đẻ! Bà Hợp Lợi chửi thầm. Ngày trước, người ta vượt biên rầm rầm, là người giàu có, bà đi dư sức. Bà không đi. Cũng không phải vì quá yêu nước mà theo bà, dân Mỹ nó không ăn phở! Bà sang bên đó bán phở cho ai? Bây giờ, nghe cái tiếng léo nhéo của con ông Thiện, bà bĩu môi khinh. Cô con gái nói xong, mặt vênh lên, vẻ bực bội, không thèm nhìn bà Hợp Lợi. Chị Hằng dịch lại:

-Chị thông cảm, tôi sinh cháu bên Mỹ, nó nói được rất ít tiếng Việt. Nó nói, chị cứ cho nó lên gặp ba nó ngay. Bà Hợp Lợi gọi một cô bé gái lại rỉ tai. Con bé gật đầu lia lịa rồi chạy như bay lên lầu.

Phải thừa nhận, ngoài vẻ xô bồ của từng trệt dùng làm nơi bán phở, từ lầu một trở lên, ngôi nhà của bà Hợp Lợi có thể coi là một kỳ công của kiến trúc. Tấm thảm màu đỏ có những bông hoa màu tím trải từ lầu một lên lầu tư. ở mỗi chỗ chiếu nghỉ đều có một tấm gương lớn. Ðèn trong hành lang là loại đèn đắt tiền. Ngôi nhà của bà thật sự tiện nghi và sang trọng, hơn hẳn căn hộ của mẹ con Hằng bên Mỹ.

Lên đến lầu tư, bà Hợp Lợi nhường khách đi trước ra một phòng phía sau. Căn phòng đóng kín. Cửa sổ được một tấm riđô màu xanh che phủ. Cô người hầu sẽ sàng mở cửa. Căn phòng chìm trong tăm tối, hắt ra một thứ ánh sáng lành lạnh khiến người ta có cảm giác sắp bước chân vào một nghĩa địa. Bà Hợp Lợi đưa tay bật đèn, miệng trách:

- Gớm, ban ngày mà anh cứ đóng kín hết cả cửa!

ánh sáng của ngọn đèn nêon, ánh sáng của nắng trời từ ngoài phản chiếu vào soi rõ khoảng không gian chừng mười tám mét vuông của căn phòng. Chiếc giường một phủ tấm drap đã cũ, không có người nằm. Một chiếc tivi cũ. Một chiếc bàn con với một cốc nước và rất nhiều thuốc men để vung vãi. Không thấy ông Thiện nằm trên giường. Hằng đưa mắt nhìn quanh và phát hiện sau góc tủ, trên một chiếc ghế bố, có một vật động cựa. Nhìn kỹ hơn thì đó là một bộ xương người đang cử động. Ðó là ông Thiện. Mặt ông da dán vào xương, tóc lơ thơ vài sợi, đôi mắt sâu xuống thành hai hố sâu hoắm, cổ dài ngoẵng. Ông không mặc áo, để lộ bộ xương sườn như một pho tượng La Hán trong chùa Tây Phương. Chỉ có ánh mắt ông vẫn sáng, ngơ ngác nhìn Hằng. Hằng đã nhận ra ông nhờ ánh mắt ấy. Chị đổ xuống, gụcđầulênđầugốikhẳngkhiucủaông,dàndụanướcmắt. Ðứa con gái ông thấy mẹ khóc cũng khóc theo. Ông Thiện cũng trào nước mắt.

Phút xúc động qua đi, Hằng lấy khăn lau nước mắt cho ông rồi lau cho mình. Ông Thiện ôm ngực ho, lấy chiếc bô đặt cạnh khạc ra thứ đờm đặc quánh máu lờ nhờ. Bà Hợp Lợi đã rời khỏi căn phòng từ khi nào. Hằng nghẹn ngào nói với ông:

- Con của anh đây!

Ông Thiện nhìn chằm chằm cô bé. Ðôi mắt ông đã ráo hoảnh bỗng tuôn trào nước mắt, ông run run đưa hai tay như muốn ôm cô bé vào lòng. Nhưng rồi, ông trấn tĩnh lại, tìm chiếc khẩu trang bịt miệng đeo lên, mệt mỏi đứng dậy, đôi chân rung rung tiến về phía cô gái. Cô gái chạy lại ôm lấy ông. Hai cha con nước mắt lưng tròng.

Giọng Hằng xúc động:

- Em có ngờ đâu, anh lại ra nông nỗi này!
Chị thở dài:

-Ngày đó ra đi, em cũng không biết mình đã mang bầu. Và cũng nghĩ mình đã có đứa con làm nguồn an ủi, em cũng không tính chuyện chắp nối với ai. Nghĩ rằng anh đã ấm êm, em chẳng thư từ. Ngờ đâu...!

Hằng nói đến đâu, nước mắt trào ra đến đó. Ông Thiện bùi ngùi kể lại nỗi đoạn trường của mình:

-Hồi đó, em đi rồi, anh mới thấy hết lầm lỗi của mình.

Tờ giấy hôn thú của anh và con mẹ ấy thực ra là khế ước để anh khỏi xù nợ của nó mười cây vàng. Anh thành một tên nô lệ, thành một thằng đĩ đực. Hầu hạ nó ngày đêm, anh kiệt sức, lâm vào bệnh hoạn. Nó đang tuổi hồi xuân, bỏ tiền ra mua thằng khác. Em có gặp thằng thanh niên dưới đó không...?

Hằng gật đầu. Lúc ấy, cô con gái nói điều gì với chị. Ông Thiện đưa mắt dò hỏi. Hằng nói lại với ông:

- Con nó hỏi, sao không đưa bố đi bệnh viện...? Ông Thiện xót xa:

-Tiền đâu mà đi hả em...!

Trở về khách sạn, mẹ con chị Hằng thầm thì với nhau đến khuya. Gió mùa đông luồn qua khe cửa thành những tiếng rít buồn bã và Hằng có cảm giác những ngọn gió đã biến thành lưỡi mác đâm thẳng vào tim gan chị. Sống để làm gì, giàu có để làm gì khi một người chị đã từng yêu thương, người đã có với chị một giọt máu đang chết dần chết mòn trong chiếc quan tài lộ thiên giữa lòng thành phố. ý định chỉ để con đến thăm cho biết bố trở thành ý định phải cứu ông Thiện ra khỏi chiếc quan tài giam ông khi tử thần chưa kịp đóng đinh vào nắp.

Hằng đến tiệm phở Hợp Lợi lúc năm giờ sáng. Bà Hợp Lợi càu nhàu khó chịu khi đầy tớ báo có người muốn gặp bà. Bà gắt gỏng:

-Thế mày không biết trả lời tao đang ngủ?

Người đầy tớ sợ hãi:

-Dạ, con đã nói nhưng mẹ con người ấy nhất định đòi gặp bằng được.

-Mẹ khỉ, lại hai mẹ con cái con đĩ ấy. - Bà Hợp Lợi chửi,

-Nó đến ám mình đây. Thôi thì dăm điều bảy chuyện để nó cút đi cho rảnh...

Bà Hợp Lợi đi xuống nhà. Xư nay, mọi chuyện rắc rối bà đều chủ động giải quyết trước khi đối phương gây khó dễ cho bà. Bà vừa ngáp dài vừa vồn vã chào chị Hằng:

- Có chuyện gì mà mẹ con đến sớm thế?

Câu chuyện của hai người đàn bà được nói bên chiếc bàn bán phở cạnh nồi nước dùng đang sôi sùng sục. Chị Hằng khẽ thở dài, đưa tay đẩy lọ tương ớt trên bàn sang phía bà Hợp Lợi:

-Tôi ái ngại cho anh Thiện quá! Tôi muốn...

Chị bỏ lửng câu nói nhìn bà Hợp Lợi như thăm dò. Bà Hợp Lợi nghe xong, chau mày, chuyển từ thế bị động sang thế tấn công:

ươ, cái chị này mới hay. Chị muốn đưa con đến gặp cha, tôi đã bằng lòng cho gặp. Giờ lại vẽ sự muốn này muốn nọ. Nói thử tôi coi, chị muốn gì...?

Hằng ấp úng:

-Tôi muốn đưa anh Thiện đi chữa bệnh...!

Bà Hợp Lợi đứng phắt dậy, hai tay chống nạnh, nổi cáu:

-Không ai khiến chị làm việc đó. Chồng tôi, tôi lo. Ông ấy đau yếu, tôi đã lo đủ thứ thuốc men. Thế mà có chịu uống đâu. Thứ gàn dở ấy chết đi cho rảnh nợ.

Chị Hằng xót xa, biết mình đuối lý. Chị kéo tay con, toan đứng dậy ra về. Ðứa con gái lộ vẻ ngạc nhiên, trợn tròn đôi mắt, thái độ bực bội, nói với mẹ câu gì mà nghe xong, chị Hằng lại sẽ sàng ngồi xuống ghế. Chị xuống giọng năn nỉ:

-Tôi biết về lý, tôi không có quyền can thiệp vào nội bộ gia đình bà. Nhưng về tình, mong bà nghĩ lại. Anh Thiện đau yếu, thuốc men bà đã lo đầy đủ, điều đó tôi có biết. Nhưng anh ấy thiếu một điều cơ bản, thiếu một bàn tay chăm sóc...

Bà Hợp Lợi đỏ bừng mặt, mắng xơi xới:

-Chị ra khỏi nhà tôi. Ðừng bao giờ trở lại. Tôi sẽ cho người đuổi mẹ con chị nếu chị cố tình đến đây quấy rầy chúng tôi...

Hằng hiểu, bà Hợp Lợi nói là làm và lần này là lần cuối cùng chị đến nhà bà. Nhưng hình ảnh ông Thiện teo tóp, bệnh hoạn hiện ra trước mặt chị khiến chị lỳ lợm, chị coi những lời mắng mỏ của bà Hợp Lợi như chưa lọt tai mình. Chị lại nói tiếp, giọng buồn bã và rất lễ độ:

-Chị ạ, em biết, em không có quyền gì để đến đây nói với chị những điều như em vừa nói. -Hằng rơm rớm nước mắt. -Nhưng chị ơi, xin chị hãy nghĩ đến đứa con của anh ấy...

ChịHằngnứcnở,gụcđầuvàovaicôcongái.Trướcnhững giọt nước mắt chân thành, khuôn mặt phừng phừng lửa cháy của bà Hợp Lợi như dịu hẳn xuống. Bà cắn chặt đôi môi, ra chiều nghĩ ngợi. Rõ ràng, lửa giận trong lòng bà bị cơn mư nước mắt của Hằng đột ngột dập tắt, bà trở lại với tư chất của người đàn bà yếu đuối như bà đã từng. Lúc ấy, đã có một vài người khách vào ăn phở. Bà Hợp Lợi thấy không nên kéo dài câu chuyện, hỏi Hằng:

- Bây giờ, chị muốn sao?

Hằng đáp rất nhanh, nhưcâu nói đã thường trực cửa miệng:

- Ðư anh Thiện đi chữa bệnh...!

Bà Hợp Lợi cười to khiến mấy người khách hướng mắt nhìn bà. Chị Hằng thấy khó chịu. Bà Hợp Lợi không sao tắt được nụ cười, rũ rượi ngồi xuống sát chị Hằng. Bà cười chảy nước mắt, vỗ vai nói với Hằng:

-Vẫn lại chuyện đưa ông Thiện đi chữa bệnh. Cô vừa nói với tôi đấy thôi. Sao lại có chuyện nực cười như vậy. Người đàn bà này đưa chồng người đàn bà khác đi chữa bệnh. Cô không sợ thiên hạ cười cho thối mũi? Thôi, hai mẹ con về đi...!

Hằng giận tím mặt, muốn tát vào mặt bà. Ðứa con gái không biết hai người đàn bà nói gì nhưng qua thái độ khôi hài của bà Hợp Lợi, qua nét mặt giận dữ của mẹ nó, nó biết điều gì đang xẩy ra.Khách vào cửa hàng mỗi ngày một đông, Hằng thấy đã đến lúc phải ra về, cố nén cơn giận, nhũn nhặn với bà Hợp Lợi:

- Thôi được mẹ con em sẽ về và xin phép chị được tiếp tục câu chuyện qua điện thoại...

Bà Hợp Lợi dẩu môi:

-Nói cho mẹ con nhà chị biết, tôi cũng không có nhiều thời gian...!

Bàbướclênlầu,khôngthèmchàotạmbiệtmẹconHằng. Trên đường về khách sạn, đầu Hằng nhưđội đá. Chị ngước mắt nhìn lên tấm bảng treo trước nhà bà Hợp Lợi, cố nhẩm cho thuộc số điện thoại. Chị không về ngay khách sạn, dẫn con ra cửa hàng giải khát ngoài bờ biển. Nắng sớm lung linh trên mặt nước. Biển mênh mông, phẳng lặng và dịu mát làm nguôi những phút giây cay đắng chị vừa trải qua. Cô con gái hỏi chị:

- Mẹ, người đàn bà ấy nói gì?

Hằng không thể trả lời con gái tất cả sự thật, kể cả việc chị và ông Thiện đồng ý ly dị nhau để lấy mười cây vàng cho chị trả nợ và vượt biên hồi nào. Sự thật cay đắng đó giày vò chị mười mấy năm nay, như một thứ ung nhọt cứ lớn dần trong suy nghĩ của chị và chị không muốn chia xẻ sang con mình. Chị nói dối con, khi con bé đã có chút suy nghĩ, rằng cha mẹ không hợp nhau nên phải chia tay. Trước câu hỏi của con, chị đành nói dối lần nữa:

-Bà ấy nói sẽ tìm bác sỹ giỏi nhất chữa bệnh cho ba

con. Ðứa con gái hồn nhiên:

- Sao không đưa ba vào bệnh viện...?

- à... Nếu ở nhà có điều kiện, ở nhà vẫn hơn...!



Buổitrư,khiconchịđangphơimìnhtrênbờcát,Hằng lénlênnhàhànggọiđiệnthoạichobàHợpLợi.Suốtcảbuổi sáng, chị đã chuẩn bị những điều sẽ nói với bà nên khi nhận ra tiếng bà Hợp Lợi đầu dây, chị nói một hơi:

-Em thưa với chị, dạo ấy vì khó khăn quá nên bọn em phải chia tay nhau để nhận lấy số vàng chị giúp. Trong lòng em, em không bao giờ quên anh Thiện. Bây giờ, anh ấy đau yếu, cái chết đã gần kề, em muốn làm chút nghĩa tận với anh ấy. - Hằng thở dài - Hôm đầu tiên em đến, gặp chị đang uống cà phê với một người thanh niên và chị có giới thiệu với em đó là chồng chị. Có nghĩa, chị đã có một người khác. Cho nên, em mạo muội thưa với chị, hay là chị cho em... nối lại tình xư với anh Thiện...?

Có tiếng cười cùng cục của bà Hợp Lợi đầu dây rồi giọng chua ngoa của bà:

-Cô nói mới dễ nghe! Anh Thiện lấy tôi có giấy hôn thú hẳn hoi. Hai năm nay tôi vẫn thuốc thang, chữa bệnh cho anh ấy trong nhà. Còn chuyện tôi có người khác, trong khi anh Thiện đau yếu, anh ấy đã đồng ý và cho phép...

Hằng vẫn mềm mỏng:

-Vâng, em biết vậy. Nhưng thưa chị, em nói thế này hơi quá thẳng thắn... hay... hay... chị trả lại tự do cho anh Thiện...?

Bà Hợp Lợi nhăn nhó:

-Có nghĩa cô muốn tôi ly dị anh ấy? Cô không biết làm như vậy là phải tội...? Ai chấp nhận lấy một người đàn ông không một xu dính túi lại đau ốm liệt giường...?

- Chị đừng lo. Em sẽ chắp nối với anh ấy.

-Nhưng cô nên nhớ, cô đừng quá lãng mạn. Anh ấy đang bị lao, chỗ tôi có điều kiện tối ưu để chăm sóc và cách ly anh ấy. Thuốc men, ăn uống tôi đã lo đầy đủ...

- Nhưng anh ấy lại thiếu...

-Cái đó thì tôi không thể... Bác sỹ khuyên tôi phải cách ly anh ấy. Cô không biết, bệnh lao là bệnh hay lây...?

-Vâng, em biết vậy và xin nhận việc chăm sóc anh ấy về mình.

Không có tiếng bà Hợp Lợi trả lời nhưng đường dây vẫn còn thông. Hằng đoán, bà đang suy ngĩ. Mãi sau mới nghe lại tiếng bà:

-Hồi đó tôi đã đưa cô những mười cây vàng để cô đồng ý anh Thiện về với tôi. Bây giờ tôi ly dị, có nghĩa tôi sẽ mất trắng mười cây...?

Hằng chợt hiểu. Ra con mẹ này mè nheo chuyện tiền nong ngày trước. Chị nói, không chút suy nghĩ:

-Chuyện đó đơn giản, chị à. Trước em nhận của chị

bao nhiêu, giờ em xin gửi lại bấy nhiêu... Bà Hợp Lợi lại cười:

-Chuyện trẻ con. Mười cây vàng, mười tám năm, tôi cho vaymỗithángbỏrẻcũngđượcbachỉ.Mộtnămbốncây.Mười tám năm là bảy mươi hai cây, cộng mười cây trước đó là tám mươi hai cây mà cô chỉ trả cho tôi mười cây...!

Hằng choáng váng với cách tính toán con buôn của bà Hợp Lợi. Tám mươi hai cây vàng để nhận lại ông Thiện trong tình trạng sống dở chết dở. Chị thấy đau lòng. Với số tiền ấy để thuốc men, chữa trị chắc chắn sẽ cứu được một con người. Chị về nước cũng không mang theo nhiều tiền. Nhưng Hằng không có thì giờ suy nghĩ, trả lời ngay:

-Vâng, em đồng ý!Nghe được câu ấy, bà Hợp Lợi lại đổi ý:

-Tôi nói với cô cho vui, tôi thiếu gì tiền. Tám mươi cây chứ một nghìn cây tôi cũng không cần. Rồi thiên hạ sẽ ỉa vào mặt tôi. Chả dại!

Hằng nhận ra tất cả vẻ cáo già của con mẹ hàng phở. Chị biết, mụ chỉ làm phách chứ bán một thằng chồng bệnh hoạn với giá tám chục cây vàng nằm mơ cũng không có được. Mụ làm ra vẻ cao đạo để Hằng thêm tha thiết và mụ không bẽ mặt. Ðoán được ý định của mụ, Hằng bồi thêm:

-Em biết chị là người giàu có và nghĩ đến tình cảm với những ngày chung sống với anh Thiện. Nhưng thời gian em ở bên này không được bao nhiêu, em xin chị vui lòng chiều theo ý em. Không ai biết chuyện ngày xư em gán anh Thiện cho chị để lấy mười cây vàng và cũng không ai biết bây giờ em chuộc lại anh ấy với tám mươi cây. Em chỉ muốn cho anh ấy lành bệnh.

Bà Hợp Lợi ngẫm nghĩ một lúc:

-Thế sau khi anh ấy khỏi...?







-Em sẽ lo nốt phần còn lại. Có lẽ mẹ con em sẽ xin về bên này làm ăn...

-Nhưng tôi sẽ không ra tòa và xé hôn thú trước mặt chị khi tôi nhận được vàng...

-Vâng, chị dạy sao, em nghe vậy.

Hằng buông ống nói. Trước mắt chị, biển quay cuồng. Có đôi chim hải âu bay sóng đôi, thỉnh thoảng lại sà xuống mặt nước... Chị lấy đâu ra bốn mươi ngàn đô la để trả cho hơn tám mươi cây vàng để chuộc ông Thiện? Chẳng thể vay mượn ai ở đây. Tính mạng của ông được tính từng ngày, Hằng quyết định quay về Mỹ để thu xếp tiền nong. Chị điện cho bà Hợp Lợi sẽ quay lại sau một tuần lễ và bay đi Băngkok vào sáng ngày mai.

***


Hằng đi thẳng từ sân bay đến tiệm phở Hợp Lợi. Chị đã xoay đủ số tiền bà Hợp Lợi yêu cầu. Ngồi trên taxi, lòng chị như lửa đốt. Một tuần lễ đã trôi qua. Chuyện gì đã đến với ông Thiện?

Chiếc taxi dừng lại. Trước mắt chị Hằng là một cảnh nhốn nháo. Tiếng nhạc đưa ma rầu rĩ xen giữa tiếng trống rời rạc điểm từng tiếng một mách cho chị điều không may đã xẩy ra. Chị đã không kịp cứu ông Thiện khỏi bàn tay thần chết. Tim chị thắt lại. Nước mắt tuôn trào. Chị bước từng bước nặng nề đến trước nhà bà Hợp Lợi, thầm nguyền rủa bà, kẻ đã góp phần giết chết ông Thiện.

Người ta giãn ra cho chị bước vào. Chị hoảng hốt trước bài vị thờ hai người: bà Hợp Lợi và người thanh niên chị đã gặp trong ngày đầu đến đây. Ông Thiện nét mặt buồn, mặc áo xô từ trong nhà bước ra. Ông im lặng đưa tay mời Hằngngồixuốngghế.Chịnhìnôngnhưdòhỏi.ÔngThiện buồn bã nói:

-Hai người bị tai nạn khi người thanh niên chạy xe phân khối lớn lại uống quá nhiều rượu.

Hằng rùng mình, thắp cho bà Hợp Lợi và người thanh niên xấu số nén nhang vĩnh biệt.




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0