📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện tự sáng tác

Bi Mật Khe Sanh - Đặng Hoàng Văn

5 trả lời, 2.258 lượt xem — Trang 1 / 1
HÓA CHẤT UX68
 
 
ĐIỀU CHƯA KHÁM PHÁ VỀ KHE SANH
 
UX68-A Khe Sanh Secret
 
 
 
 
Tác giả: Đặng Hoàng Văn


Biên Tập: Ngô Phan Châu
 
PREAMABLE
 
Vietnam War did terminate on 30 April 1975. After 20 years, the war had taken several millions of lives away; manifestly, the only way to reward those who lost their lives for that long nightmarish war, is to attach the peace to them. On the other hand, according to a voice that widely heard in mankind, upon the bloodshed of soldiers is a victory for the survival.
 
The war is a subject for thousands of books, magazines and news papers; and that pins to me through out a few decades, I am so thoughtful about it that even feeling owing to my readers, then pledge to myself that I won’t die until this work done. Nevertheless, I got to overcome many obstructions before writing, even for the primary question such as the point of view whereon I write, my answer is almost suspended, until now my wish is released to come, rather late but better than never.
 
As matter of fact, none of mankind may proclaim one’s love to war, but it does come and take many lives away although mankind is trying to cease it. Many people assume that the war is known in none of animal kingdom but human being, I am not knowledgeable enough to deny this allegation and so I hesitate in recognising it. Nevertheless, I assume that the war is born in the aggressive manner of some huge leaders, and then it comes out of their control.
 
In historic literature of mankind, there is some great work coming from war, and even there are several writers who mentioned war or wars as historic marks, hot points as commemorating the important historic time, such as WWI, WWII. And I am not exceptional, such a writer. However, I have no ambition to write about the conflict and war, just use information of war to fabricate stories for entertaining a humble number of my own readers.
 
At initial when I put pen to paper, this story is titled: ‘’beyond the lives, a diary’’; but after some chapter done, many coordinators assume that the word ‘’diary’’ should not be used; because the story is almost fabricated, then that title must sound smirk.
 
The story is written for and comforts the people whoever experience Vietnam War, especially the battle of bloodshed:
 
Khe Sanh (1968)
 
In my own view, the battle is the bloodiest one in Vietnam War, where as many as thousands of lives taken (a citation from the war history is attached to this for reference). The cite Khe Sanh is accompanied by some well-known names such as A-lin stream, Lao Bao border gate, Pakxe, Rock Pile, Razor Blade…
 
The data from history book of U.S Army recorded some figures as followings: 730 U.S soldiers, 229 Vietnamese Saigon soldiers, 1600 Hanoi soldiers dead. 7 American and 7 Saigon soldiers are missing. 10-15 thousand casualties.
 
X
 
X                     X
 
Although each of the war characters was born in a different family, but they all came Khe Sanh and dead there; after the death, their corpses were hidden in some hollow of the mountain wall and the holy stone there maintained them, while they were reported missing.
 
The particular corpses of a Hanoien doctor and an American soldier are treated with a special chemical that embalms them. The embalmment in holy stone hollow makes them magic; their corpses, thus, are still alive, their brains and souls are still clever and active. The chemical is:
 
UX68
 
an undicovered secret of Khe Sanh. Whoever missing in Khe Sanh, their souls found no place to go, neither heaven nor underworld receives them, and so the souls are together with us. This story is written about those ghosts and ourselves. Furthermore, along the way to looking for a spiritual medium who can help the souls in contacting with human being, the souls are to face many troubles, unjustified incidents and even corruption as well as human dirty tricks in human social.
 
Khe Sanh, in Sino-Vietnamese explanation, means a chink of life; the author, is therefore, to propose a site called Death Valley ‘’Lung Tu’’ that allocates in adjacent to Khe Sanh but opposite to it on term of the influence to the souls. That valley is a place where no soul fostered but reincarnating right away to wild animal after the death. Although the valley does not contribute much to the story but with the antonym Lung Tu, a counterbalance to the chink of life Khe Sanh is designated.
 
 
For those who came from America and dead in Vietnam, the war is recognized as one for freedom to Vietnamese people, so they claim the honour reward for their contribution in liberation. For those who fight to protect the republic government of Saigon, they are to claim honour reward to their struggle against alleged invade of ‘’communism’’[1]. For the Hanoi soldiers and followers, they have their own purpose to fight as against American occupation; all of them dead in war sorrow, therefore their wording is much in paradox and even hot sometimes.
 
X
 
X                     X
 
 
The U.S and its influence to the world as well as the consumption markets in it are attractive to every economy in the world, many countries are becoming huge by using the tie with U.S. So Vietnam, not exceptional, is trying to be one.
 
To follow the characters of this story is to follow a little current of many historic streams of Vietnam and its tie with U.S, especially the duration from Khe Sanh combat (1968) to Y2K plus.
 
After Khe Sanh combat is a time for the big changes to the relation between U.S and Vietnam, such as Paris Accord for Vietnam (1973), April 30th 1975 event e.t.c. The U.S-Vietnam tie, after such big change, becomes better under Hanoi-Pentagon time.
 
After Bill Clinton is George Bush and then Barrack Obama, they all mind no matter what political status at Hanoi, take care of Vietnam and the U.S-Vietnam tie; if observed from a certain angle, they all look satisfactory. Undoubtedly, for the sake of applying its influence to Vietnam, U.S in 2010 must be much better than itself in 1968, I cannot deny if anyone says that the U.S-Vietnam relation today is the dream that they both ever dream.
 
X
 
X                     X
 
The apology that author should say is one for his word borrowing, in fact too many human words used, quite non-suitable for the ghost.
 
The time used in this story is almost in lunar calendar. In the west, no lunar calendar used, but the westerners do recognise the important role of moon in the universe and human life, the lunar day in the west is called: age of the moon.
 
If this story hurts any of you, accept my apologies, I don’t definitely write with such intention.
 
Thank you,
Enjoy your reading,
 
 
 
On behalf of author
Ngo Phan Chau
 

[1] In Vietnam War, the word ‘’communist’’ is recognized as the Hanoi government, not really relates to the doctrine of the world communism.
Đăng nhập để trả lời
0

HÓA CHẤT UX68-BÍ MẬT KHE SANH
UX68-KHE SANH SECRET
 
NHỮNG CHIA SẺ CÙNG TÁC GIẢ
 
-PC:Anh cho biết động cơ nào dẫn anh đến với Khe Sanh?
-TG: Tôi là người Việt, biết người mình chết nhiều ở đó nên tôi cũng đau lòng; hơn nữa cũng muốn có một màu sắc khác, một thể loại truyện mới bên cạnh những cái kinh điển. Màu sắc của hầu hết các tác phẩm đã viết về Khe Sanh vốn vẫn rất kinh điển.
-Trong khoảng chục năm trở lại đây, nhất là từ khi truyện Harry Porter ra đời rồi hàng loạt tập phim cùng tên được trình làng, nhiều người theo trào lưu ấy, anh có giống hay có học họ điều gì không?
-TG:Câu hỏi này có vẻ ám chỉ một sự thiếu tôn trọng tôi, nhưng không sao, nếu anh không hỏi thì sau lưng tôi người ta cũng hỏi nhau. Quả là tôi học một điều từ một bộ phim ‘’GHOST’’, đó là ‘’trong khi một linh hồn còn chưa thuộc hẳn về một thế giới khác thì họ vẫn còn ở lẫn với chúng ta’’, đây là lời giải thích của một ‘’bà đồng’’ về việc bà ta thường xuyên gặp các linh hồn
-Bộ phim ấy ra lâu rồi, từ hồi còn băng VHS, chắc là anh có cảm tình đặc biệt; nhưng nếu anh không phiền thì cho biết anh cảm ai? Nữ diễn viên Demi Moore hay là đạo diễn Goldberg?
-TG: Demi đẹp thì thừa nhận, nhưng không phải cứ thấy đẹp thì mê người ta, mà phải công nhận là cô ta để lại ấn tượng rất tốt trong tôi. Ngoài ra thì cốt truyện hay và tính nhân bản cao.
 
X
 
-Nhân vật Tô thị Sen, một bác sỹ tốt nghiệp đại học y Hà nội, tại sao anh không xây dựng một người tốt nghiệp y khoa Sài gòn, anh có tý thiên vị chính trị nào không?
-TG: Tôi không muốn đụng chạm chính trị hay phụ trị, vấn đề ở đây là 2 mặt đối lập trong nhóm các nhân vật vong hồn. Trong số 5 vong hồn thì 2 là Mỹ, 1 là trung tá VNCH, nếu Sen cũng Sài gòn nữa thì không có chất để viết.
-Anh nói vậy là truyện này anh hư cấu hoàn toàn, không dựa theo một cốt cũ của ai?
-TG: Đúng vậy, kể cả truyện viết bằng tiếng nước ngoài cũng không giống.
-Tại sao các vong hồn lại gắn bó với nhau, họ cứ đầu thai bừa đi, vào nhà nào cũng được, hay thành thú hoang cũng xong?
-TG: Đó chính là mấu chốt của vấn đề. Nếu họ mất hết trí nhớ, tức là chết bình thường, thì không có chuyện này. Vì họ còn trí nhớ, còn ký ức nên muốn tiếp tục một số quan hệ dở dang, các quan hệ quan trọng như  yêu chẳng hạn, hay thậm chí là thù hận.
-Lại nói chuyện yêu; anh không còn yêu nữa mà sao anh viết về yêu có vẻ mùi, anh viết bằng ký ức à? Mà không có bóng Demi Moore đấy chứ?
-TG: Nói chung viết truyện thì phải có yêu, thế thôi. Không có cảm xúc thì nặn óc ra mà viết.
 
X
 
-Anh muốn triển vọng của các truyện anh viết thế nào?
-TG: Tác giả nào cũng vậy, khi viết truyện  dài, người ta chỉ mong một ngày truyện được chuyển thể thành phim, tức là đến bến cuối cùng của một truyện. Anh nghĩ ‘’Bóng nước Hồng Kông’’ mà đóng phim có được không?
-Anh cũng biết là chúng tôi phải vất vả lắm để quyên tiền cho anh in sách để biếu. Ý tôi nói là mới in sách đã khó kiếm tiền rồi. Khi làm phim, người ta phải tính tới chuyện lấy lại vốn và có lãi. Chúng tôi không có đủ khả năng đó, còn các nhà làm phim, họ cũng tính toán như thế, và tất nhiên trong một núi truyện đại loại như truyện của anh, nếu thấy truyện của anh hay thì người ta sẽ tự tìm đến anh, tôi không giúp gì được.
 
Ngày 10 tháng 8 năm 2010
 
 
London 25 tháng 12 năm 2010
 
Trước khi cho đăng những chương đầu tiên của truyện dài: UX68-Khe Sanh secret ( Hóa chất UX68, bí mật Khe Sanh), biên tập viên Phan Châu có cuộc trao đổi ý kiến với tác giả Đặng Hoàng Văn. Sau đây là nội dung xoay quanh tác phẩm.
 
PC: Sau khi tham khảo ý kiến của nhiều người, anh quyết định viết và xuất bản, anh có nhắn nhủ gì với đọc giả không?
 
Về mặt nhân vật chính:
 
Phan Thị Bích Hằng hay Đặng Thùy Trâm đều là những nhân vật có thật ngoài đời. Lịch sử, chính là lịch sử và văn hóa Việt nam đã đưa họ bước vào văn học, và cụ thể là cảm xúc và các bài viết của tôi. Tôi cho rằng mình không có lỗi, thực tế là tôi không bôi nhọ, không nói xấu ai.
 
Thực ra khi đọc, các bạn có thể thấy bóng dáng của hai nhân vật nổi tiếng ấy trong truyện, nhưng xét về thực chất thì Tô Thị Sen và Hoàng Dung hoàn toàn không phải là Đặng Thùy Trâm và Phan Thị Bích Hằng. Có chăng chỉ là vai trò của họ trong sự quan tâm của nhân dân Việt nam đã tự dẫn đọc giả liên tưởng tới, như một nữ bác sỹ hay một nhà ngoại cảm chẳng hạn; khi bạn đọc tham khảo bất kỳ một tài liệu nào có nói tới một nữ bác sỹ trong chiến trường thì đều liên tưởng tới Đặng Thùy Trâm, hoặc nói nhà ngoại cảm thì người ta phải liên hệ ngay tới Phan Thị Bích Hằng.
 
Vậy, tôi không ngụy biện, mà tôi bầy tỏ một cách trung thực là tại 2 nhân vật ngoài đời quá nổi tiếng nên khi đọc truyện của tôi, đọc giả có quyền liên tưởng, tôi không mượn danh. Quả là tôi chưa xem phim ‘’Đừng đốt’’.
 
Về tư tưởng: không phê phán, tố cáo ai?
 
Không, tuyệt nhiên không. Đơn thuần là một truyện mang tính giải trí thuần khiết. Tuy nhiên, khi nói về mùa xuân 1975, tôi đã nói đến ông Văn Tiến Dũng, ông Võ Nguyên Giáp hay một vài ông khác, nhưng không có ý chỉ trích. Rõ ràng là những nhân vật ngoài đời ấy đã nằm sẵn trong tàng thư rồi, khi nói đến thời kỳ ấy không thể dùng các tên khác thay cho họ được. Ai có thể nói rằng mình thay được Nguyễn Văn Thiệu bằng ông Trần hay ông Đỗ nào đó, hoặc giả ông Lê Duẩn thay bằng ông Vũ hay Quách nào kia chẳng hạn.
 
Nhưng dù sao, nhân dịp này tôi cũng phải có lời để họ thông cảm. Tất cả những nhân vật nổi tiếng một thời như : Kissinger, Gerald Ford, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng đều được nhắc đến trong truyện. Một lần nữa xin thưa, truyện chỉ để giải trí, nhưng vì viết về thời kỳ ấy nên quý vị có tên trong đó. Chuyện khen chê là chuyện của đọc giả. Mong quý vị thông cảm.
 
Thể loại truyện:
 
Ngay từ những lời đầu tiên của câu chuyện, quý vị đã gặp một nhân vật không phải nhân mà là một vong hồn. Sau đó là gặp sự xuất hiện của Phật Bà quan thế âm, liền sau đó là các màn kiếm hiệp hư cấu về Việt nữ kiếm. Tôi nghĩ không cần phải xác định thể loại cho truyện của mình.
 
Ở chương VII, tôi nói hơi nhiều về Phật giáo. Tất nhiên tôi là người Việt nên thiên vị một chút và có ý xây dựng tôn giáo truyền thống Việt nam. Tuy nhiên, vì Khe Sanh gần Ngũ Hành Sơn-Đà nẵng nên tôi nối liền 2 địa danh lại, không có ý bỏ qua Yên Tử, là nơi được coi là thánh địa của Phật giáo nước nhà. Còn ai thờ phật ở đâu, hàng năm hành hương về đâu là quyền của mỗi mỗi người. Tôi không tuyên truyền cho ai hay địa phương nào.
 
Có nhiều người phê phán tôi thiên lệch hay thiên vị…là không công bằng với tôi.
 
PC:Cám ơn anh đã chia sẻ với đọc giả.

Đăng nhập để trả lời
0
Chương I
 
CON ĐÃ VỀ
 
TẾT ẤT MÃO
 
(Trái tim nàng đã ngừng đập từ ngày ấy, bây giờ nàng là một vong hồn chẳng còn đâu trái tim để chứa nỗi đau nhân gian, không còn đôi chân để quỳ xuống chân mẹ mình như khi còn bé.)
 
Một mùa Đông sắp qua, Xuân đang đến, lá khô lóc cóc lăn theo làn gió đông len lỏi lưu rưu trên con đường nhỏ, những cành khô khẳng khiu đang nhú nụ tầm xuân. Phố cổ mùa này vẫn thế, bà Tô lụ khụ chống cây gậy tre lần từng bước chân. Hà nội sáng nào lại chẳng ấm lên trong tiếng rao quà, có nghe đâu đây tiếng rao xôi sáng, bánh giò? Không phải! Vì hôm nay không thế, vì hôm nay không có tiếng rao, ngày 01 tết nguyên đán Ất Mão.
 
Cách nay 7 hay 8 năm, khi bà từ nơi sơ tán về Hà nội ăn tết Mậu Thân, hẳn là trong lòng bà cũng ấm lên khi nghĩ mình sẽ được chia sẻ với cô con gái riệu một miếng Bánh Chưng, một miếng Giò Thủ. Những ngày này chắc là cái Sen và đồng đội cũng được ăn tết, bà đã mơ tưởng rồi cười trong nước mắt, bà đã không lau khô mà để chén lệ ngập tràn như đang thưởng thức cái ngọt bùi của tình mẫu tử, trong gia vị đắng cay của chiến tranh.
 
Bà vẫn móm mém nhai rồi định quay trở vào gọi cho ông lão nhà bà, ông ấy chắc còn ngủ say sưa trong cái chăn bông 5 ký được phân phối hồi sắp về hưu. Ông đã lồm cồm dậy, nhưng còn đang ngồi ủ trong chăn, loẹt xoẹt tìm đài Tự do. Cái đài ra-đio [1]Xien Mao của ông dùng đến mấy năm rồi mà vẫn còn tốt, nghe được đủ thứ, từ Tự do đến Bê Bê Xê hay Hoa Kỳ, ông chẳng biết sợ ai, vẫn thường mở to bô bô[2]. Ông sờ lần tìm cách thay cục pin cũ ra, lắp pin mới vào, thế là tiếng nhạc vàng nghe não nuột lại ngân lên xoa dịu đôi tai cũ kỹ của ông; bỏ cục pin Văn Điển nhão nhoẹt xuống chân giường, ông lại tự ru mình trong cái chăn bông 5 ký.
 
Cũng mấy năm rồi, không còn bắn phá[3], thủ đô cũng dần hồi sinh. Tết ở Hà nội, nhà nhà đốt pháo, sáng nay pháo đã lốp đốp đùng đoàng gần đâu đây mà bà không nghe; cả hai tai, chẳng cái nào còn tốt cả. Ông bà cũng đốt pháo đêm giao thừa, nhưng bánh pháo của công ty bách hóa phân phối không đủ để chia làm 2, đốt một lần vào đêm rồi sáng ra nhà mình im lặng.
 
Tết Ất Mão, không có pháo.
Trẻ ra ngõ mừng ông Táo.
Trong nhà, bà lão nhai dây chão,
Trên giường, ông cụ đau sầu não.
 
Bọn trẻ bao lâu nay vẫn thế, chúng chỉ hát nhạo đùa, vui miệng như vô tình không biết chạm vào nỗi đau của ai, rồi lại chào hỏi lễ phép, ba bốn đứa xúm xít lại chúc sức khỏe bà lão, dìu bà vào nhà trong tiếng rúc rích vui đùa.
 
-Ông ơi, không chịu dậy thắp cho con nó nén hương à? Sáng rồi.- Bà chợt nhớ ra hôm nay ngày tết, con gái mình mới hy sinh được bẩy hay tám năm gì đó thôi.
 
Một cặp vợ chồng già trí thức cũ, cả đời làm nhà giáo. Chỉ có một mụn con gái, cho học lên đến bác sỹ, rồi bỏ xác nơi chiến tuyến. Ông bà đang cố chờ trông một ngày, Nam Bắc một nhà để đón ‘’con mình’’ về Hà nội, rồi cả gia đình rủ nhau ‘’đi’’ luôn thể, nấm mồ liệt sỹ của con là lý do không cho phép ông bà được chết. Nhà người thì con cháu thắp hương cho cha ông, nhà này thì cha mẹ thắp hương cho con. Nhà người ta, có người ăn trầu cả đời, nay bỏ trầu hút thuốc; còn bà là trí thức thời Tây, nay về hưu và ăn trầu, hàng ngày kiếm củi khô trên phố để sưởi ấm cho qua mỗi mùa Đông. Nghĩ đến gia cảnh bà đã khóc nhiều, bây giờ thì chẳng còn nước mắt để khóc.
 
 
X
 
X                     X
 
Năm nào cũng vậy, dù khuất mặt khuất mày nhưng Sen vẫn về với bố mẹ trong đêm giao thừa. Đường đi cực kỳ gian truân, phải dùng đến hai ba con chim rừng thay nhau bay suốt dăm bẩy đêm liền, nàng vẫn phải khởi hành ở Khe Sanh từ ngày ông Táo về trời. Mùa này còn gió Bấc, bay ngược gió mà về được Hà nội cũng là một kỳ tích. Nhưng bù lại đường về Khe Sanh sẽ thuận hơn.
 
Đất thiêng Khe Sanh nuôi dưỡng vong hồn nàng, nhưng dù thiêng đến đâu cũng không thể nuôi mãi được, Sen lại nghĩ đến việc nhanh chóng báo cho ai đó về thân xác bị ẩn giấu của mình.
 
Bố mẹ Sen, sau khi nàng nhập ngũ, được sở giáo dục Hà nội công nhận có công với cách mạng, ông bà trở về Hà nội dậy tiếng Pháp ở một trường trung cấp y, được về căn nhà cũ của ông bà nội ở Hàng Bông. Từ nhà ra bờ hồ[4] không bao xa, lại gần ngay một ngôi chùa, những lúc rảnh rỗi mẹ tha hồ cầu kinh niệm phật.
 
Mặt trời đã lên cao, không còn cơ hội cho một vong hồn đi lại, nàng lang thang trong căn nhà hẹp. Những quyển sách dầy cộp về Y Khoa, về cơ thể học rồi thuốc và hóa chất chuyên dùng bằng tiếng Pháp, nàng đã từng say sưa hàng đêm với chúng, nay để chồng chất lên nhau không ai đọc. Bố nàng vẫn lau chùi sạch sẽ coi đó như những kỷ vật quý giá nhất của con gái và gia đình mình.
 
Trong số sách kia có một cuốn về chất ướp xác, một trong cuốn sách quý mà nàng đã từng nghiền ngẫm hàng đêm, và cũng nhờ những kiến thức học được trong đó mà nàng đã thành công trong việc ước xác Simon khi hắn tắt thở trong lán của nàng.
 
Ngày còn là sinh viên y khoa, muốn đọc sách thì phải có đèn sáng, đeo kính…còn bây giờ, muốn đọc chỗ nào thì cứ chui vào mà xem. Mà cũng chẳng cần đọc nữa, thuộc hết rồi.
 
Sen luyến tiếc nhìn chúng một lần rồi lại leo lên bàn thờ gia đình. Ảnh ông bà nội để lùi vào sát tường, ngoài cùng và hơi lệch sang một bên là bức hình của nàng trang trọng trong khung sơn son thiếp vàng, chưa có bằng liệt sỹ nhưng bố nàng đã nắn nót viết một dòng ngắn:
 
‘’Tô Thị Sen, sinh ngày 02 tháng Năm, năm 1942. Hy sinh tại Khe Sanh, chiến trường Nam Bộ ngày…’’
 
Khi chưa tìm được mộ phần, ông chưa tin vào những thông tin của các cơ quan quản lý của quân đội và vẫn để trống ngày mất. Một trí thức học ở Tây về khác hẳn với các cán bộ của ta thời nay, ông chỉnh chu, nắn nót từng chút, nhất là những gì liên quan đến vợ con mình.
 
Bỗng nhiên như bị một lực hút lạ kéo nàng vào mặt kính của tấm hình, rồi nàng tò mò tìm hiểu. Quả không sai, sau tấm hình chân dung sinh viên của mình là một gói nhỏ, giấy gói là một góc quan trọng của bức thư duy nhất nàng gửi về cho bố mẹ khi vào đến Hà Tĩnh, trước khi chuyển hướng sang Lào để rồi từ đó vào sâu hơn. Dưới những thông tin cá nhân của Sen trong góc thư, mẹ nàng ghi cẩn thận: ‘’2 đồng cân vàng ta, cả đời mẹ giành cho con, nay vẫn là của con, chắc chỉ đủ mua một cái áo quan loại tốt…’’. Nàng chắc rằng bà không thể viết thêm vì mắt bà đã nhòa lệ. Có người mẹ nào không òa lên trong niềm hân hoan được gả chồng cho con gái với 2 cái nhẫn vàng trong tay, có người đàn bà nào không đứt từng khúc ruột khi phải cầm 2 cái nhẫn cưới của con mang đổi một cái quan tài hay cái tiểu sành loại tốt.
 
Trái tim nàng đã ngừng đập từ ngày ấy, bây giờ nàng là một vong hồn chẳng còn đâu trái tim để chứa nỗi đau nhân gian, không còn đôi chân để quỳ xuống chân mẹ mình như khi còn bé. Hàng năm vào những ngày này Sen vẫn về đây để vơi đi nỗi nhớ, nhưng nàng  đã làm mẹ già thêm, trái tim mẹ chắc không còn chỗ để chứa thêm một nỗi đau nào nữa, vậy mà chiến tranh vẫn chưa có chiều hướng kết thúc.
 
Dù chỉ còn là cái bóng, nàng sụp xuống trước mặt người mẹ già lụm khụm đang lân la từ cửa đi vào; mẹ ơi, mẹ biết chăng con nay đã về? Mẹ hãy yên lòng vì con sẽ… sẽ đầu thai lại và kiếp sau con vẫn là con của mẹ. Nàng muốn thì thầm bên tai mẹ mà không thể, hai thế giới cách trở muôn phần.
 
Sen không còn đủ sức để phủ phục dưới chân người mẹ già, nàng lại leo lên bàn thờ nằm nghỉ. Sức lực của nàng do đá thiêng của Khe Sanh ban tặng, không đủ để diễn tả nhiều điều như nàng mong mỏi. Bây giờ mong cho trời mau tối rồi mong gặp may để nhanh về tới Khe Sanh.
 
 
Mồng 01 tháng Giêng, Ất Mão (1975)
 
LỠ ĐƯỜNG ĐỊNH MỆNH
 
(Bây giờ thì tự mình trở về Khe Sanh, chẳng cần nhờ vả ai nữa, sướng thật; thằng Simon sẽ sững sờ ngạc nhiên! Chắc chắn thế rồi.)
 
Từ sau hiệp định Paris, hai bên Nam-Bắc hầu như không cần nói đến chuyện nghỉ đánh nhau để ăn tết, vì bao năm qua vẫn vậy, cứ tết là nghỉ. Suốt mấy đêm qua Sen được cặp vợ chồng con vạc cho đi nhờ trên đôi cánh dẻo dai bền bỉ của chúng. Đã qua Vinh, rồi Bến Hải, thấy các trạm gác biên giới cũng yên lặng một cách đáng sợ, phải chăng đang thai nghén một sự kiện nào đó.
 
Nơi đây đã có khối kẻ chết oan khi cả gan muốn vượt qua biên giới để trốn khỏi sự trả thù vì những bất đồng chính kiến, hồi 1954 và một vài năm sau đó. Một số ở miền Nam muốn trốn ra miền Bắc vì e một ngày quân ông Diệm sẽ thăm viếng rồi đóng tấm biển ‘’nhà Việt cộng’’ lên nhà mình, một vài kẻ ở miền Bắc muốn trốn vào Nam vì biết rằng sớm muộn thì ‘’Đội’’ cải cách cũng kéo đến, chí ít thì cũng mang mình đi đấu tố giữa sân đình. Chẳng trách được vì đó chỉ là những điều đau đớn lòng sau một cuộc bể dâu.
 
Đêm nay là đêm thứ năm, bay qua bao suối, băng qua bao rừng, Sen thầm khen sự nhiệt tình của 2 con vạc. Gió Đông Bắc có phần mạnh lên, phía bên trái lấp lánh ánh đèn, rồi có cả những tiếng dội ồn ào như tiếng sóng biển đâu đây. Xa xa dưới kia là một dải xanh lấp lánh đang ngày một sáng dần lên, trải rộng ra hết tầm con mắt. Phía trên kia bên phải là những đường đèo quanh co, cao mãi lên như vươn tới một khung trời, chui vào trong mây rồi lại trườn xuống phía xa xa. Đôi vạc phải bay khuất vào trong các rặng cây rừng để tránh bị gió lạnh, chúng có vẻ đã mệt, trời gần sáng.
 
Đã đến đèo Hải Vân, ngày càng gần đến Khe Sanh, Sen càng thấy hồi hộp vì bao ngày qua mình đã xa Simon, chắc là hắn cũng nhớ mình lắm. Suốt bẩy tám năm qua, hai đứa nằm ôm nhau bất động trong một hốc núi hẹp, phòng khám hay phòng phẫu thuật cũng là nó cả, những khi tranh cãi gay gắt rồi muốn xa nhau cũng chẳng được, mỗi năm mình về tết hắn lại than là buồn rơi buồn rụng. Âu cũng là duyên phận, chẳng biết ở kiếp sau có hạnh phúc bên nhau suốt đời như vẫn hằng mong hay không, nhưng bây giờ và cho đến khi nào tái đầu thai trên dương gian, hai đứa vẫn là của nhau.
 
Hai con vạc đen như tức cảnh  thiên nhiên tươi đẹp nên kiên quyết từ giã Sen, chúng lấy cớ có việc riêng rồi đi. Trời gần sáng, cực chẳng đã, nàng trú tạm trong một cái đền lưng chừng đèo. Thế là tối nay lại phải tìm xem có đứa nào giúp mình không, gió to thì ta không thể bay mà có thể phải dùng đến mèo rừng; nàng như chợt phát hiện ra điều đó, thật tuyệt, mèo thì không lo bị gió, nhưng chạy trên mặt đất thì chắc là sẽ tốn nhiều thời gian và sức lực.
 
Đã bao nhiêu năm chiến tranh khốc liệt, chẳng mấy khi được ngắm nhìn quê hương mình trong tĩnh lặng, trong sự thư thái đến mơ hồ như hôm nay; một bãi cát vàng tươi, một bờ biển xanh, một rừng cây ngút ngàn, một con đường đi lên trên mây. Trên đường từ Bắc vào Nam hồi trước, hết ngày dài đến đêm thâu lúc xuyên rừng khi leo núi, tình yêu quê hương đất nước đều đặt lên đầu súng cả. Bây giờ là lúc có thể nhìn ngắm, chiêm ngưỡng, hay ghi đôi nét hình ảnh quê hương mình vào tâm trí thì tim mình đã không còn đập. Mình cũng là một con người, tại sao sinh ra để chịu cảnh trớ trêu đến thế.
 
Thế là mấy ngày nghỉ tết cũng qua hết, rồi lại phải đánh nhau. Kể cũng tội nghiệp cho họ thật, còn sống ngày nào thì bọn họ còn phải đánh nhau ngày ấy, cũng là một kiếp người, mà kiếp ấy ở nơi ngoài biên ải. Thời xưa chỉ có đàn ông ra trận, gọi là chinh phu; nay thì cả đàn bà, người tiễn người ra trận lại là những người mẹ. Người mẹ tảo tần nuôi con suốt nhiều năm, rồi lại cũng người đàn bà ấy gửi con mình ra chiến tuyến. Nếu hỏi rằng tại sao và vì đâu thì phải hỏi bao nhiêu lần?!
 
Đêm đến, Sen mới xá lạy ngôi đền được vài lạy đã thấy may, một con mèo mướp to kềnh càng, hiên ngang dạo qua trên con đường nhỏ vào đền. Vừa mới rẽ đám lá khô đã bị Sen phát hiện, thì ra cu cậu không phải tìm chuột mà đang mải tìm gái. Sau một hồi nghe Sen giảng giải nó đồng ý đưa nàng đi nhưng với điều kiện là trên đường đi, ngoài việc thả sức sát hại bọn chuột đồng thì hắn cũng được thả sức giao lưu với gái lạ ngoài tỉnh. Thế là, với Sen trên vai, họ lên đường. Đầu tháng không trăng, trời tối đen như mực, cả hai cùng ngắm sao trời mà đi.
 
Càng về khuya, đêm càng thanh vắng, những âm thanh như vang động từ phía Tây rất nặng tai. Con Mướp lưỡng lự rồi lững thững vừa đi vừa nghe ngóng có vẻ thận trọng, bất chợt nó phóng tới, tay phải Mướp tóm được một chú chuột nhắt đang chạy thục mạng theo hướng Đông:
 
-Nói ngay cho tao nghe, tại sao chạy?
 
-Tất cả đều chạy, tôi cũng chạy; mà có tiếng động mạnh lắm, ù tai.-Con chuột nhắt run rẩy khai thật.
 
Vừa kịp lúc có một con rắn ráo cũng chạy như bị ai đuổi, Mướp bèn chặn lại hỏi, nó lại khai như vậy. Mướp thưởng cho nó con chuột nhắt. Chắc là đã đói sau một chặng đường dài, con rắn nuốt con chuột chỉ trong một khắc rồi lại cắm cổ chạy về hướng Đông.
 
Sen trách con Mướp là tại sao không tha cho con chuột vì nó đã thật thà như thế. Con Mướp không giải thích mà chỉ nói vì nó ghét bọn chuột, đang cần rảnh tay chứ cũng không ưa gì con rắn. Sen ngầm hiểu rằng một khi không có tình đồng loại thì bọn chúng hành xử theo một tiêu chí là mang lại sự thuận lợi cho bản thân mình. Con người cũng vậy, khi giết thịt gia súc để làm bữa thì có nghĩ gì đến sự đau đớn của con vật, chỉ mải nghĩ đến món này thế nào, món kia ra sao.
 
Rồi họ lại lên đường, mà chẳng biết tại sao họ cũng đi theo hướng con chuột đã chạy. Sen đang mải mê với những câu hỏi cắc cớ mà bọn chuột mới nói, phải chăng đó là âm thanh trầm đục của động đất? Hay là 2 bên chuẩn bị đánh nhau to? Không thể có bão đi theo hướng từ trong đất liền ra biển được.
 
Gần nửa đêm, trời khuya thanh vắng, con Mướp đang lắng nghe xem có tiếng con chuột cống nào ăn đêm gần đây không. Bỗng có tiếng rên như sắp chết của một con người:
 
-Khát quá, cứu với…
 
Hóa ra là một tên mẽo, kể cũng đẹp trai đấy, nhưng hình như nó bị chông thuốc độc, bò trên mặt đất mà mang theo cả một bó chông, cái chân phải tím bầm, nhiễm độc nặng rồi. Ta không thể cứu được hắn nhưng ta phải làm gì đó; nghĩ rồi nàng chạy ra khỏi khu rừng để tìm người. Con mướp cũng tận tụy lắm, xong việc này thì thưởng cho mày một con chuột to, Sen hứa bừa với nó.
 
Con Mướp thì chỉ muốn xong việc sớm để xem Sen có cách nào thưởng cho nó như nàng đã hứa không. Rồi họ cũng gặp may, một toán dân vệ đi tuần ngoài bìa rừng, cách đây cũng vài trăm thước, tiếng gió làm họ không nghe được tiếng rên của người kia, mà anh ta cũng rên yếu quá. Sen biết họ nhàn hạ mấy ngày tết, ăn no ngủ kỹ, nay thế nào cũng ‘’ngứa tay’’, thế là trò mèo vờn chuột bắt đầu. Con Mướp đứng chặn lối đi của họ, chiếu thẳng đôi mắt sáng quắc ra khiêu khích.
 
-Ấy khoan, tụi bay thấy gì không? Cọp!- Một người có vể chỉ huy thốt lên.
 
Bọn họ giật mình nhưng sau cũng trấn tĩnh lại, rọi pha về phía Mướp rồi cùng ồ lên cười, hóa ra là ‘’chú mày’’. Mướp giả bộ ngây ngô, cứ đứng trơ trơ nhìn họ, một người còn chĩa súng vào Mướp dọa, nhưng rồi họ lại tiếp tục đi đường của mình. Thất vọng trước thái độ của họ, mà chẳng còn cách nào khác, lại phải nghĩ cách. Thực ra phải thông cảm là họ không hiểu do bất đồng ngôn ngữ, nên lại càng phải cố lần nữa, Sen cho con Mướp tấn công một người từ phía sau, anh ta giật mình hốt hoảng quay đầu lại, nhìn thấy con Mướp, anh ta lại chĩa súng dọa rồi đi tiếp.
 
-Cứu, cứu…Khát…
 
Người bị thương ngày càng mệt nặng, giọng hắn nghe thê lương thấy rõ. Nhưng mấy người này không thể nghe được. Chỉ còn một đoạn chừng 50 thước nữa là họ sẽ đi qua một khe núi hẹp, rồi sau đó khó mà gọi họ quay lại, tên mẽo đẹp trai kia thì càng ngày càng đuối sức.
 
Sen đành liều, cho con Mướp cắn vào gấu quần người chỉ huy đang đi gần cuối nhóm, anh ta dùng báng súng định đánh con Mướp, nó buông ra kịp và tránh được nhưng không chịu đi. May thay khi đang đứng nhìn trân trân vào anh ta, có một tia sáng ở đâu đó rọi vào mặt nó. Anh chỉ huy có vẻ kinh nghiệm và nhân hậu, đứng lại nhìn như hỏi chuyện Mướp, thế là bọn họ đi theo Mướp cả, chỉ giây lát sau đó họ đã gặp và cứu người kia.
 
Vừa lúc đó Sen thấy ngay bên trái mình một người đàn bà ăn mặc rách rưới, mà dáng cao ráo thanh thoát ưa nhìn, tay cầm một cái lọ to. Bà nhìn chằm chằm vào Sen rồi bỗng biến mất. Toán dân phòng lo vội vàng cứu người, một hồi quay ra tìm Mướp, nó và Sen đã núp sau một cây to rồi khoan khoái lên đường. Nàng đang nghĩ cách thưởng cho con Mướp một con chuột tươi.
 
Chiến tranh là thế, con người có thể chết vì rất nhiều nguyên nhân; rất nhiều cảnh tang thương mà trong thời bình người ta không thể hình dung được. Có những xác người chỉ còn một cánh tay dính vào cái đầu, có những cái xác chỉ còn một chân một tay và nửa đầu. Ôi thôi cơ man nào là kiểu chết đứng, chết ngồi…không sao kể xiết. Những ngày đầu mới vào lán KS47, Sen như không thể chịu đựng nổi, nhưng rồi nghĩ mình là con người thì phải yêu thương con người, nên rồi quen đi. Cũng là bởi bên nào cũng muốn giành chiến thắng, và muốn tiêu diệt bên kia nên mới dẫn đến cảnh nhân sát nhân thảm khốc.
 
Không giống như thiên tai, ngọn lửa chiến tranh một khi đã bùng lên, muốn dập tắt được thì phải tốn nhiều máu và nước mắt. Những người nằm xuống chắc cũng cam lòng.
 
Lũ chuột và rắn vẫn đổ xô về phía Đông, mà con Mướp cũng vậy. Những âm thanh dội lên từ lòng đất vẫn nghe như từ bên phía Tây, bọn họ chắc muốn đánh nhau to. Từ ngày nằm xuống trong lòng cái hốc nhỏ ấy, Sen hầu như không muốn quan tâm đến chuyện người đời, vì bọn họ hầu như chỉ quan tâm tới chiến tranh, có lẽ đó là nghề nghiệp mà họ ưa thích chăng?!
 
Nhưng thôi, mặc họ, bây giờ lo nghe ngóng xem có tiếng chân chú chuột nào nặng một tý, con Mướp có vẻ không vừa lòng vì mấy con vừa tóm được thì gầy và hôi, hình như bọn chuột lo chạy loạn nhiều quá nên thịt chúng không còn béo ngậy nữa. Vừa lúc đó có tiếng chân rất chậm nhưng nặng nề hơn bình thường, Sen hy vọng con này khá hơn, quả là vậy, y to như một con mèo con vài tháng tuổi.
 
-Ối, Ruýt!
 
Con chuột chỉ kịp kêu cứu nửa câu.
Mướp bay đến như một mãnh hổ, tóm được gáy con chuột, nó đè nghiến xuống và làm một miếng to, từ gáy đến lưng con chí xấu số rồi ném xác nó vào một gốc cây. Sen buột miệng hỏi Mướp sao phí thế, nó thủng thẳng nói:
 
-Chị không biết đấy thôi, bọn mèo chúng tôi chia con chuột theo ngày tháng âm lịch, bây giờ chẳng phải đầu tháng mà cũng không phải giữa tháng, ăn một miếng to ở đấy là đúng, chỗ khác không ngon. Hôm nay mà không có chị thì tôi còn đùa với nó chán chê rồi mới ăn thịt cơ.
 
Bọn mèo sinh ra đã được thượng đế trang bị cho nhiều kiến thức và tập tính nhằm khảng định mình và kiếm sống trong thiên nhiên, Sen chưa hiểu nhiều về chúng nên thấy cái gì của chúng cũng ngộ nghĩnh. Bỗng có tiếng trẻ đâu đây, giờ này đã khuya, bọn trẻ hư chăng:
 
-Chị ấy bị thương rất nặng, một mảnh pháo còn găm vào một bên đùi, gọi người đi.
 
Chúng xì xào với nhau, hai chú nhóc tuổi chừng 10 hay 12, mỗi đứa đều mang bên mình một cái thùng nhỏ có nắp và một con dao cán dài, có thể đi rừng về. Hai chú nhóc không biết cách nào kiếm ra nước uống giữa chốn này rồi chúng bảo nhau ra khỏi rừng tìm người lớn, bỏ lại một người phụ nữ chừng 25, 27 bị thương nặng vào đùi, có thể đã mất nhiều máu nên rất mệt.
 
Xung quanh chị bây giờ là rừng núi âm u, không có một ai để trông cậy được, chị rất khát nước, đôi môi khô rát, chỉ còn vài bước chân nữa là chị đến được cái vũng nước trước mặt. Sen nghĩ vũng nước ấy chắc chắn cũng là nơi ‘’tiễn chị lên đường’’, bọn hổ báo đã nhúng mõm xuống đấy nhiều lần trong ngày; nàng cảm thấy cần phải ngăn chị lại ngay, nhưng chưa nghĩ ra cách, rồi nàng quyết định liều, sai con Mướp chống lại như gìn giữ vũng nước của nó vậy. Chị ta vừa đưa tay định vươn tới vũng nước liền bị con Mướp nhẩy vào cắn lấy bàn tay, sau vài lần chị ta đuối sức, nằm úp mặt xuống rồi gục hẳn. Một hồi sau chị tỉnh lại, cũng là lúc nghe thấy tiếng mấy người xì xào rồi họ đã đến, mấy người lớn và hai đứa trẻ đưa chị ta ra khỏi rừng. Một lần nữa Sen lại thấy đâu đây một người đàn bà rách rưới, dáng mảnh mai và đoan trang tay cầm một cái lọ to, rồi bà cũng biến mất.
 
Đừơng đi gian truân nhưng rồi cuối cùng cũng tới một nơi mà con Mướp gọi là điểm cuối của lời hứa, Sen không biết đấy là đâu. Con Mướp cũng cảm thấy mệt rã rời, nó lấy cớ là đi kiếm bạn gái rồi quay lại, mà đã 2 ngày nay không thấy đâu. Sen nghỉ tạm bên một hốc cây to mấy ngày qua, cuối cùng nàng đánh liều hỏi thăm một con thằn lằn xem đây là đâu, nó cho biết đây thuộc Ngũ hành Sơn, khu mỏ đá thạch tượng của Việt nam. Sen thất vọng lang thang tìm cách nhờ ai đó đưa về Khe Sanh, rồi cũng chẳng kết quả gì, trăng ngày một tỏ.
 
Rằm tháng giêng vẫn chưa về tới Khe Sanh, nếu cứ đà này mình sẽ thành một con ma thực sự, chẳng còn hy vọng gì, Simon chắc là rất lo lắng, Sen bối rối lo âu. Chiều tối nàng mạnh dạn tìm đến một con sóc to, nó cũng đang nghỉ trên cây này. Năn nỉ thế nào nó cũng không chịu giúp đưa nàng về Khe Sanh, lấy cớ là bị ù tai; mà quả thực cái âm thanh đáng ghét ấy cứ như tra tấn, đặc biệt là với  những ai có thính giác nhạy cảm vậy, ai cũng kêu ca.
 
-Nhà ngươi cần ta giúp, không phải bọn chúng.
 
Sen sững sờ trước một giọng nói trong trẻo, rõ ràng, sau đó là sự xuất hiện của người đàn bà mà nàng đã bất chợt nhìn thấy vài lần, quần áo rách rưới nhưng gương mặt nhân hậu và thanh thoát, dáng cao ráo mảnh mai, tay cầm một chai nước to.
 
Sen đã nhận ra bà là Quan thế âm, nàng hết sững sờ rồi quỳ sụp xuống chân bà để cảm kích, nhưng Phật Bà không để nàng kịp lạy tạ, Người khoan thai, không những chẳng biến mất như những lần trước mà đến bên Sen, đặt bàn tay phải lên đầu Sen mà vỗ về, giảng giải:
 
-Ngươi gặp được ta cũng là có duyên, hơn nữa ta cũng đang cần có người phụ giúp trong việc cứu nhân độ thế nơi đây. Chiến tranh đang hồi gây cấn, nhiều người cần giúp lắm. Nhà ngươi càng hỏi nhiều thì ta càng mất thời gian và sức lực cho nhà ngươi; càng nói chuyện nhiều, tức là ta đã truyền nhiều phép thuật. Mà phải biết điều độ, không nên tham lam quá, ta cũng chỉ có đủ dùng thôi, không có nhiều để truyền.
 
-Thưa- Sen cung kính- con là một vong hồn của người phàm, nay có duyên gặp được Ngài là phúc do kiếp trước để lại, mong Phật Bà chỉ bảo.
 
-Phàm làm người ai ai cũng có bản năng từ bi-Phật Bà lại giảng tiếp- muốn cứu nhân độ thế; nhưng khác nhau ở chỗ người này có năng lực còn người khác thì không. Từ nay trở đi, ngươi sẽ có sức mạnh hơn những vong hồn khác, thậm chí có thể mượn được thân xác kẻ khác. Từ trước tới nay ngươi chỉ có khả năng dùng thân xác của loài vật, đúng không?- Phật Bà vừa ban phép thuật vừa hỏi.
 
-Vâng, con đội ơn Phật Bà đã tin tưởng ban cho con sức mạnh. Để cứu người, xưa nay con vẫn dùng thân hình loài vật, như Phật Bà đã thấy.
 
Sen kính cẩn thưa chuyện Phật Bà. Nàng đã bắt đầu có phép thuật, có khả năng hiện hình, rồi đứng ngồi như người phàm.
 
-Nhà ngươi có cần xin điều gì đặc biệt không?- Biết Sen còn e lệ, Phật bà gợi ý.
 
-Thưa không, năm nào vào những ngày này, con cũng ra ngôi chùa này, nhưng không được diện kiến Phật Bà, năm nay thì khác. Chắc hẳn phải có chuyện gì quan trọng sắp xẩy ra nơi này?-Sen mạnh dạn hỏi Phật Bà.
 
-Nhà ngươi hỏi chuyện lớn quá, ta không khảng định được, nhưng gợi ý cho ngươi thế này. Việt Nam của ngươi có hai miền rõ rệt. Miền Nam từ khi lấy Sài gòn làm thủ đô, đi theo nhịp 12, kỵ tuổi Mão. Năm Quý Mão(1963) có biến cố ở Ngô gia, nay Ất Mão chắc sẽ có biến.
 
Phật Bà cũng đang đoán theo các quy tắc phổ biến, Sen bị thu hút vào cách suy luận của Ngài, nhưng nàng còn sốt ruột về Hà nội.
 
-Thưa, thế Hà nội thì theo nhịp nào ạ?-Không giấu được tò mò, nàng hỏi lại.
 
-Ta cũng đang nghĩ, nhà ngươi hỏi rất hay. Năm Ất Dậu (1945), cả Việt Nam chết đói nhưng Hà nội tuyên bố độc lập, năm Ất Mùi(1955) giành được chính quyền ở miền Bắc nhưng phải đối phó với nạn nước dâng, nạn đói và nạn cải cách ruộng đất. Năm Ất Tỵ (1965), người Mỹ chính thức hỗ trợ chính quyền Sài gòn chuẩn bị Bắc Tiến, Bắc Việt bị ném  bom tàn phá nhưng ngược lại họ chuẩn bị Nam tiến. Còn năm nay Ất Mão sẽ có chuyện gì? Ta cũng đợi chờ, vì những gì thuộc về con người đều mang nhiều bất trắc, ta không khảng định được.
 
Phật Bà tỏ ra rất dè dặt, phần vì thực tế nằm ngoài sự kiểm soát của bà, phần vì bà lo Sen tiếp thu không kịp.
 
-Như vậy là Hà nội theo nhịp 10 năm phải không ạ?-Sen như nhận ra điều đó.
 
-Có lẽ nhà ngươi đã nhận ra. Sau này đất nước ngươi sẽ thống nhất, có thể sự hưng vong của Việt nam sẽ theo cả hai nhịp 10 và 12. Ta cũng muốn chờ xem, nhưng cứ theo lẽ thường là như thế.-Phật Bà có vẻ khảng định.
 
-Đa tạ Phật Bà, vậy là nước Việt phải chịu sự chi phối của 2 quy luật của thời thế, còn nước khác thì sao ạ?
 
Sen tò mò hỏi thêm. Thực ra những con số 10 hay 12 như Phật bà vừa nói có vẻ như can – chi trong phép đếm của người Tàu khi nói đến tuổi, mạng hay năm tháng. Phải chăng đó cũng là những con số liên quan đến chu kỳ lịch sử ở mỗi vùng đất.
 
-Ta không thể có nhiều tới mức cho ngươi bất kể cái gì ngươi muốn như vậy. Ngươi hỏi cái gì liên quan tới nhà ngươi đi là vừa.-Phật Bà nhắc nhở tính tham lam của Sen.
 
-Dạ, con xin, ấy là con tò mò thôi.
 
Như chưa muốn kết thúc về nhịp hay chu kỳ lịch sử của vùng đất này, Phật Bà lại tiếp.
 
-Nhịp 12 hay 10 do cấu tạo địa lý của vùng đất, đồng thời nằm trong ảnh hưởng của những kết cấu địa lý xung quanh quy định. Chịu khó quan sát các diễn biến của từng vùng thì sẽ kết luận được. Ta không có quyền cho ai con số ấy, có cố xin cũng không được.
 
Nghe Phật Bà giảng giải, Sen chợt hình dung ra hình dáng của nước Việt rồi thán phục sự uyên thâm của Phật Bà. Nàng không dám hỏi lan man sang chuyện khác, sợ mất thời giờ của Người.
 
Sen bồn chồn nghĩ về ngày mình bị một mảnh quả đạn pháo Vua chiến trường rồi tắt thở trong một hẻm núi. Chỉ khi chết rồi mới hiểu đúng được sức mạnh của vũ khí, tương tự người ta còn nói chưa thấy quan tài thì chưa đổ lệ, mới nghe đã thấy rùng rợn, sặc mùi chết chóc.
 
-Con mất mạng ở Khe Sanh; có thể vì thế con bị thiên vị, nhưng con vẫn nghĩ Khe Sanh là trận chiến ác liệt nhất trên chiến trường này trong suốt 2 thập niên qua, có đúng không ạ?
 
-Ừ, có lẽ vậy. Nhà ngươi hỏi rất hay, hãy xem trận ấy thế nào nhé. Việt cộng thì chết nhiều lắm, các đệ tử của ta đã phải rất vất vả. Nhưng phía Sài gòn tổn thất về người chỉ bằng phần thêm thắt của cả Việt cộng và Hoa Kỳ, nghe nói chỉ vài ba trăm nhân mạng. Điều đáng xem xét ở đây là tổn thất về người của phía Hoa Kỳ là rất lớn, ai đời mang quân đi đánh nước người mà để tổn thất cả ngàn người trong một trận. Người Mỹ chỉ muốn đỡ lưng cho Sài gòn, đứa con nuôi của họ; thế mà tổn thất nhiều sinh mạng như vậy, chưa kể tiền của, hỏi có đáng không?
 
Phật Bà có vẻ am tường. Nhưng điều đặc biệt ở Ngài là mọi lý luận đều căn cứ vào con số tử vong hay thương vong, có lẽ ngài thiên về suy luận trên các con số ấy.
 
-Vâng, con cũng thấy vậy. Chúng con là con dân nước Việt, chết ở đâu đây thì cũng là nước mình. Mà cũng lạ, sao hồi mấy năm trước, người Mỹ mang bom đánh phá miền Bắc, đến mức Hà nội chẳng còn viên gạch nào liền với viên nào. Thế mà người Mỹ không chiếm luôn? Con không hiểu?
 
Sen băn khoăn không hiểu điều này từ lâu, nên nay nhân tiện hỏi Phật Bà, quả là nàng còn thiếu hụt nhiều, nhất là kiến thức về chiến tranh.
 
-Ngươi hỏi không đúng người, ta không phải con người và không hiểu về chiến tranh. Nhưng dầu sao đó cũng là một câu hỏi hay. Thử nghĩ xem tại sao nhé. Hồi vài năm trước quả là có chết khá nhiều người do bom Mỹ gây ra ở miên Bắc, nhưng hầu hết họ là dân thường, vì họ chết nhiều nên ta được biết. Có lẽ sau khi tốn khá nhiều bom đạn và máy bay cho việc ném bom, người Mỹ nhận ra rằng sức mạnh của Hà nội không nằm ở Hà nội nên thôi.
 
Ngài lại nói sức mạnh của Hà nội, mà lại không nằm ở Hà nội, cũng hơi khó hiểu, Sen chẳng kịp nghĩ, nhưng thôi, chắc là Ngài nói đến Hà nội trên tư cách đại diện cho một phe trong cuộc chiến.
 
-Con nghĩ người Mỹ cứ nhẩy xuống Hà nội là hết chiến tranh ngay.- Sen chất phác nghĩ sao nói vậy.
 
-Nhà ngươi nghĩ thế sao? Nhưng chắc là người Mỹ không nghĩ vậy. Trong lịch sử thế giới đã có một người cầm quân nghĩ như nhà ngươi, đó là ông Napoleon, quốc trưởng nước Pháp. Ông ta nhảy vào Moscova, thủ đô nước Nga, chỉ tốn vài viên đạn ghém. Sau đó thì chẳng giữ nổi nữa và rồi phải bỏ lại Kremlin trong nuối tiếc. Mãi khi về đến Paris mới dám quay đầu lại để kiểm tra quân số, chắc cũng mất nhiều. Nghe nói dọc đường rút về, khi băng tan, xác người rữa ra, xương phơi trắng cả bên đường. Ta có một đệ tử nắm việc này, bản thân ta không rõ lắm.
 
Không phải chủ đề mà mình am tường nên Phật Bà dè dặt. Song nếu nói về những chuyện xưa xưa một chút như Napôleon chẳng hạn thì Ngài nhớ khá tường tận.
 
-Thưa, theo phỏng đoán của Ngài thì cuộc chiến Nam-Bắc Việt nam có thể kết luận như thế nào?-Sen sốt ruột hỏi.
 
-Nhà ngươi chỉ muốn hết chiến tranh, ta biết, nhiều người khác cũng muốn thế, nhưng có nhiều điều cản trở lắm. Trước khi mở ra một cuộc chiến, mấy vị to đầu cũng tốn công dọn đường cho nó. Ngược lại thì hòa bình cũng thế, phải có thời gian.
 
Phật Bà phải giảng giải cho Sen, nàng không phải người của chiến tranh hay chính trị nhưng khá tò mò.
 
-Con không hiểu hết được, nhưng người Mỹ có quyền, họ có thể làm được?- Sen sốt ruột và ngây thơ hỏi.
 
-Hoa Kỳ là nước lớn nhất, nhưng không phải là tất cả. Nếu họ rút hết quân ngay và tuyên bố ngừng tham chiến, dư luận thế giới sẽ chôn vùi Hoa Kỳ trong nỗi nhục thua trận. Ấy là chưa kể, Bắc Việt mặc dù đang ở trong túp lều tranh nhưng ngày đêm hét lên rằng sắp đánh thắng thêm một đế quốc to nữa, các láng giềng sợ khiếp vía. Nga Xô và Trung cộng thì càng xúi thêm vào, cứ như họ mượn tiếng Hà nội để thách thức Hoa Kỳ.
 
Đã từ bao năm qua, nhiều người luôn được nhồi sọ là chiến tranh Việt nam cũng như bao nhiêu cuộc chiến tranh xâm lược khác, kết quả cuối cùng là vơ vét của cải, tài nguyên mang về nước mình, tức là Hoa Kỳ. Bây giờ nghe Phật Bà nói chuyện này theo một cách khác, Sen bâng khuâng như chưa hiểu lắm. Nàng lại hỏi:
 
-Con luôn nghĩ là trẻ con mới đánh nhau vì sỹ diện cá nhân, ai ngờ các nhà chính trị cũng trẻ con thế sao?!
 
Phật Bà hơi sửng sốt; một người đã tốt nghiệp đại học, tham chiến rồi bỏ mạng trong chiến tranh, nhưng hiểu biết về chiến tranh hơi bị thiên lệch, phải chăng cô ta được giáo dục như thế. Ngài lại tiếp:
 
-Hoa Kỳ vì sỹ diện của mình trước thế giới rồi cố đấm ăn xôi, mà xét lại thấy chẳng được ăn gì, muốn rút lâu rồi. Mà vừa qua ở hội nghị Paris, họ đã được phái đoàn Hà nội vuốt ve rồi, chắc cũng vui lòng thôi, ta nghĩ vậy.
 
Phật Bà như đang đàm luận với Sen về tính cách, quả là bà cũng có biết đôi điều về con người. Như Ngài mới nói thì người Mỹ có vẻ như đã bỏ Sài gòn mà chọn Hà nội.
 
-Thế ra Nga Xô và Trung cộng dùng Hà nội như người phát ngôn của họ, như thế là không tốt phải không ạ? – Sen ngây thơ hỏi.
 
-Những mẹo vặt của con người, ta không rành lắm, có thể là xấu đấy. Nhà ngươi phải hiểu hơn ta chứ.- Phật Bà tỏ ý không vừa lòng.
 
-Nếu như Sài gòn và Hà nội đánh nhau thì có lẽ kết thúc lâu rồi, không biết ai ăn ai, con không đoán được?
 
Sen lại băn khoăn về cuộc chiến, nàng là con dân Hà nội, ít nhiều cũng có thiên vị quê mình. Nhưng theo một cách suy tưởng rất ngây thơ.
 
-Cứ xem tổn thất ở Khe Sanh thì rõ. Quân của Sài gòn chỉ mất có 2 hay 3 trăm.-Phật Bà nhắc Sen về những con số đau lòng.
 
-Vâng con nhớ những con số ấy. Nếu cứ đánh nhau mãi thì Bắc Việt sẽ cạn hết quân, trong khi Sài gòn vẫn còn và họ thắng.
 
Sen phỏng đoán, mặc dù không có căn bản về lý luận chiến tranh nhưng cũng là một người tham chiến, nàng vẫn phải suy luận.
 
-Có cách suy luận nào khác không? Trong trận Khe Sanh, quân Bắc Việt xả thân chiến đấu, lính Mỹ cũng vậy, còn quân lực Sài gòn thì không như thế. Sau trận Khe Sanh, Bắc Việt chủ trương vận động cho hội nghị Paris trước Sài gòn. Vậy phe nào có ý chí trong thời cuộc?
 
Phật Bà tỏ ra nóng nẩy trước sự ngây thơ của Sen. Thực ra Bà không kỳ vọng một bác sỹ lại có thể hiểu về chiến tranh một cách bài bản được. Sen vẫn không ngừng đưa ra những câu hỏi thuộc về chiến tranh và con người.
 
-Thưa, vậy là thắng thua còn phụ thuộc vào ý chí của người tham chiến ạ?
 
Sen lại cần giải thích, quả là nàng không đủ căn bản để nắm được ý tứ vấn đề này. Ý chí là quyết tâm chứ còn gì nữa? Nhưng xem ra không phải như vậy, khi ra trận ai chẳng quyết tâm, không quyết tâm cao thì tất nhiên đối phương quyết tâm hơn, tức là mình sẽ bị tiêu diệt.
 
-Ba Đình chỉ phụ thuộc vào Nga Xô và Tầu về vật chất, còn ý chí trong cuộc chiến thì họ có thừa. Thử hỏi Nga Xô hay Tàu có chỉ bảo cho họ về chiến lược được không? Có chăng chỉ là kỹ thuật, chưa nói đến chiến thuật.
 
Sen bị mông lung hoàn toàn, cái gì là chiến lược, còn cái gì là chiến thuật, đáng lẽ khi còn gần gũi đại tá Ngũ phải học hỏi, nay nghe Ngài truyền dậy mà không nắm được ý gì, thôi thì đành nhớ vậy. Phật Bà lại tiếp.
 
-Còn ngược lại, thử hỏi khi Sài gòn hô hào Bắc tiến, chắc chắn phải là khao khát của Sài gòn rồi, nhưng kế sách của ai? Ấy là chưa kể còn hàng nghìn máy bay oanh kích, hàng trăm pháo đài bay B52, hàng nghìn tấn bom tiêu phí cho oanh tạc Bắc Việt. Ai chi tiền cho một khoản khổng lồ như thế?
 
Phật Bà có vẻ không vừa lòng về sự chậm hiểu của sen, nhưng rồi cũng thông cảm. Nhiều người chỉ muốn hỏi, hay muốn biết, nhưng khi giảng giải sâu sắc một chút thì không tiếp thu được. Đó cũng là lẽ thường.
 
-Mà ngươi hỏi chuyện khác được không, chuyện này ta cũng không nắm rõ.
 
-Thưa, xin Phật Bà tha cho, con nông cạn, chỉ tò mò.-Sen vội vàng trấn an Phật Bà, nàng quá nôn nóng, muốn biết quá nhiều.
 
-Tạm thế đã, nên biết rằng ta cũng chỉ biết một số phép thuật, và chỉ giành cho việc cứu nhân độ thế mà thôi. Nào, hãy biến hình cho ta xem.
 
Phật Bà lệnh cho Sen hiện rồi biến hình, Bà thấy ngay trước mặt mình một cô gái xinh đẹp, duyên dáng, mặc đồ ngành Y rồi thoắt lại mất.
 
-Bay lên!-Bà lại lệnh cho nàng thử bay, nàng lập tức bay cao hàng trăm thước rồi hạ xuống.
 
Khi nàng xuống an toàn là lúc Phật Bà vẫy áo ra đi, Ngài chỉ nói lại là có thể tìm bà ở đây rồi đi thẳng vào không trung.
 
Sen vui mừng khôn tả, nàng tung tăng bay lên, hạ xuống nhiều lần cho quen, rồi lại hướng theo Phật Bà mà vái lạy để tỏ lòng thành kính. Từ nay nàng có thể làm được vô số điều có ích cho loài người và cả bản thân nữa. Bây giờ thì tự mình trở về Khe Sanh, chẳng cần nhờ vả ai nữa, sướng thật; thằng Simon sẽ sững sờ ngạc nhiên, chắc chắn thế rồi.
 
 
Đà Nẵng, Rằm tháng Giêng năm Ất Mùi



[1] Xien Mao là nhãn hiệu một loại radio sx tại Trung Quốc thời trước 1975.
[2] Thời điểm này(1975), nghe radio của Hoa Kỳ, BBC hay Tự Do (phát thanh từ Sài gòn) có thể bị bắt, mở lén để nghe thôi, mở to thì có thể bị phát hiện.
[3] Bắn phá: thời kỳ không quân Mỹ ném bom miền Bắc Việt nam.
[4] Ở Hà nội, người ta mặc nhiên coi bờ hồ tức là khu Hồ Hoàn Kiếm. Còn các hồ khác thì phải nói rõ tên như Hồ Tây, hồ Thuyền Quang...
Đăng nhập để trả lời
0
Chương II
 
MÙA XUÂN LỊCH SỬ
 
 
HỒI SINH
 
(Khe Sanh đã từng là nơi vùi chôn biết bao vong hồn tử sỹ, thế mà nay im lìm, không còn nghe tiếng súng mà chỉ có tiếng cây reo. Dường như ngọn lửa cuộc chiến đã di chuyển đến cao nguyên,)
 
 
Bây giờ phải chăng là mùa Xuân?!
Bây giờ phải chăng là đầu năm?!
Nơi đây phải chăng là miền Nam?!
Ngoài kia phải chăng là biển Đông?!
 
Sau khi được Phật Bà quan âm truyền cho phép thuật, Sen tung tăng như một đứa trẻ, nàng vừa bay nhẩy vừa thưởng thức cảm xúc mới lạ mà chỉ có con người mới có được. Nàng đã nhận ra đây là đâu, bây giờ là khi nào trong năm…nàng vừa bay nhảy vừa tự hỏi rồi lại tự trả lời.
 
Đã quá nửa đêm mà người ta vẫn nườm nượp trên đường, xe vẫn chạy ồn ào xả khói mù mịt, rú còi inh ỏi, mà hầu như người ta đi Sài gòn?! Sen đến gần để nghe họ đối thoại với nhau.
 
-Chi mà mắc dữ vậy? Mọi ngày giá làm sao chị Hai?
 
Hành khách thấy giá vé xe lên quá mắc nên hỏi, chị ta đang dắt theo một đứa con nhỏ chừng 3 tuổi, chủ xe như không muốn nhận chị ta lên xe.
 
-Nếu sợ mắc thì để tiền đó mà xài đi, Việt cộng đang vô tới đó!- Chủ xe trả lời.
 
Sen thấy ái ngại cho chị kia quá nhưng bây giờ nàng chỉ là một vong hồn, còn giúp gì được họ. Một lúc sau chị kia cũng quyết định trả tiền xe với giá cắt cổ, vừa lên xe vừa khóc tức tưởi. Dẫu sao chị ta cũng lên xe rồi, Sen thấy tâm mình cũng nhẹ nhàng hơn trước, vả lại nàng cũng nhận ra rằng những ngày nghỉ tết đã hết, cuộc chiến đã được châm ngòi lại.
 
Những âm thanh làm bọn chuột và rắn kinh hoàng chính là những tiếng dội của súng đạn, của chết chóc. Điều mà nàng không ngờ nhất chính là sự tấn công rất bất ngờ của bộ đội miền Bắc, có lẽ họ đã tính toán từ trước, nàng cũng đã từng là quân nhân, đồng chí của họ mà không hiểu được họ. Hiệp định Paris đã ký rồi, cứ từ từ mà tính, tại sao các đồng chí ấy không nghỉ ngơi ăn tết mà đánh nhau sớm thế?!
 
Phải về Khe Sanh trước khi trời sáng, Sen bắt đầu bay thử xem tốc độ thế nào, khoảng bao lâu về tới Khe Sanh, nếu bay như con vạc thì lâu lắm.
 
Ồ quả là Phật Bà, quả là thánh, ngài đã ban cho nàng phép mầu thật rồi. Nàng có thể bay tốc độ bao nhiêu tùy thích, nhưng nàng  cần làm quen đã. Không thể hình dung được, niềm hạnh phúc lớn lao này đâu phải ai cũng có, nhưng cuộc chiến đã không để cho nàng được thanh thản, dưới tầm mắt của nàng là hàng trăm vong hồn tụ vào nhau như một đám mây tràn từ phía Tây Nam xuống, hướng ấy chắc là khu cao nguyên hay biên giới Việt-Miên. Sen bay vọt lên nhắm vào một tốp, đến chặn họ lại hỏi thăm.
 
-Các anh mới chết à? Đánh nhau hay sao mà chết nhiều thế?
 
Sen cũng đoán vậy nhưng cứ hỏi xem tình hình ra sao. Một anh là bộ đội miền Bắc, thấy bị chặn lại hỏi còn chưa hiểu chuyện gì nhưng cũng bình tĩnh đứng lại trao đổi với Sen.
 
-Mới chết trên biên giới.
 
-Đã chết rồi còn sợ chết lần thứ 2 à? – Sen hỏi cái vong hồn đen nhẻm, đang hớt hải không biết đi đâu về đâu.
 
-Không, vì Thổ Công nói sẽ đầu thai ngay vào động vật nên chuồn vội, tìm cách về thăm thầy u tôi đã rồi tính sau.
 
-Vậy chứ quê anh ở đâu?- Sen lại hỏi.
 
-Nam Định.
 
-Sao lại đi hướng đó, không biết mình đang đi ra biển à?- Sen thấy lạ hỏi luôn.
 
-Tôi không biết Nam Định hướng nào.
 
-Vậy thì hướng này. – Nói rồi Sen chỉ đường đi cho họ.
 
Bản thân Sen chỉ có một mình, không thể quan tâm hết mọi chuyện được. Vả lại nếu quan tâm được thì cũng chỉ để giúp những người gặp nạn chứ không phải để can thiệp, cuộc chiến đang nóng lên khôn lường. Xa xa phía Tây Nam là những đụn khói lẻ tẻ bốc lên, dưới mặt đất là những đội quân đang di chuyển, họ đang đánh qua vờn lại. Các vong hồn tụ nhau lại bám theo các đoàn quân, trong đó có một số muốn tách ra nhưng lại phải nhập bọn ngay, có thể họ không biết đi về đâu, mà đội vong hồn dường như ngày một đông thêm.
 
Một đất nước có hình dáng mảnh mai, nằm dọc theo một kinh tuyến Bắc Nam, có bờ biển dài. Khi di chuyển quân, từ Trịnh Nguyễn cho đến Nguyễn Huệ rồi thậm chí đến hôm nay, họ đều đi theo chiều Nam-Bắc, nhưng sau khi tử trận họ đều như muốn thoát ra phía biển. Bờ biển Việt nam dài hàng ngàn cây số, đã là nơi chứng kiến những trận chiến kinh hoàng từ truyền thuyết Sơn Tinh-Thủy Tinh, là nơi chôn vùi biết bao nhiêu sinh mạng, cũng là nơi tá túc cho biết bao vong hồn chiến sỹ.
 
Hôm nay mới là 16 tháng Giêng, Phật Bà đã nói năm nay Ất Mão, miền nam có biến. Ngài mới nói chuyện này mới từ hôm qua, mà thực ra cuộc chiến có thể đã khai hỏa từ mấy ngày trước, và kế hoạch chiến tranh đã được ấp ủ từ rất lâu. Cái biến của hôm nay đã manh nha từ một hay những cái biến trước đó, mọi sự việc hay sự kiện đều có gắn kết với nhau theo một logic nhân quả. Đã từ lâu, Sen là một vong hồn ngày đêm chờ cơ hội thoát ra khỏi cái thể xác ngày một tan ra của mình, không còn đủ tỉnh táo để quan tâm tới thời cuộc.
 
Trước một cuộc đổi thay lớn lao như hôm nay, Sen cơ hồ như lạc lõng giữa mênh mang các khái niệm trần tục. Vượt qua bao núi, băng qua bao rừng; được thấy những đoàn quân đi như nước đổ và những cỗ xe tăng nối đuôi nhau rung chuyển càn khôn; những vong hồn kết lại với nhau rồi lại tan ra, rồi lại kết như những đám mây lang thang gặp thời giông bão.
 
Sen đã về tới ‘’ngôi nhà của mình’’ sau gần 1 tháng trời xa cách. Simon, Simon, cất tiếng gọi mấy lần mà không thấy hắn đâu, bỗng hắn nhẩy bổ ra quấn lấy Sen. Hôm nay nàng mạnh mẽ, lộng lẫy làm Simon bị choáng ngợp, họ quấn lấy nhau hỏi han, ân cần rồi lại nhìn ngắm 2 cái xác ướp vẫn ôm dính vào nhau, âu yếm, đằm thắm. Những chuyện đầu tiên mà đôi bạn kể cho nhau nghe là chuyện bố mẹ Sen, chuyện về Hà nội, và sau đó là chuyện nóng nhất mà nàng đang nén mãi xuống để dành thời gian kể chuyện gia đình và quê hương.
 
-Lúc mới về, nhìn thấy con chim của ‘’em’’ cứ ngóc đầu lên như đòi bay ra ngoài, ‘’chị’’ cũng thèm phát uất lên.
 
-Xạo! Vắng nhau, có nhớ  người ta không?
 
-Không nhớ?! Mà Simon biết không? Theo lý thuyết thì một khi mạch máu còn chạy với tốc độ 1/10000. của tốc độ khi còn sống, tần suất giao cấu của một thanh niên như Simon chỉ giảm 1000 lần thôi.
 
-Tức là sao? Chưa hiểu lắm.
 
-Tức là máu vẫn chạy qua bộ phận sinh dục và nó vẫn hoạt động với công suất 1/1000 khi còn sống. Thế thôi, có lý luận gì đâu.
 
-À, thế là vẫn tốt à?
 
Họ lại quấn vào nhau mà âu yếm, mà cười sảng khoái. Sen không quên truyền cho Simon một phần sinh lực để hắn khôi phục trí tuệ và sức lực, hy vọng hắn giúp được Sen nhiều việc sau này.
 
Khe Sanh đã từng là nơi vùi chôn biết bao vong hồn tử sỹ, thế mà nay im lìm, không còn nghe tiếng súng mà chỉ có tiếng cây reo. Dường như ngọn lửa cuộc chiến đã di chuyển đến cao nguyên, còn Khe Sanh đã lùi vào dĩ vãng, và vĩ tuyến 17 hay sông Bến Hải chỉ được coi là một ranh giới ước lệ chia đôi hai miền Nam-Bắc. Quân đội Sài gòn ngầm hiểu rằng có thể đây là bẫy nghi binh, nhưng lực bất tòng tâm. Thấy nóng ở cao nguyên mà không tập trung quân về đấy thì sẽ mất vị trí chiến lược ấy, và rồi sẽ mất miền Nam.
 
Hai kẻ cô đơn gặp lại nhau sau cả tháng trời xa cách, nào hàn huyên, nào giận dỗi rồi ‘’điều tra xét hỏi’’, họ lại quấn vào nhau mà ngủ ly bì. Cho đến một hôm, những tiếng động mạnh từ phía Nam vọng tới làm họ thức giấc. Những tiếng nổ vang rền lẫn trong thét gào, tiếng gió rít liên hồi lẫn trong tiếng lửa reo phập phùng kinh sợ suốt mấy ngày đêm.
 
Bỗng có tiếng rùng mình của núi, tiếng chuyển mình của hang rồi tiếng siết vào nhau của đá, Sen và Simon như rơi tõm vào hư không, cả hai cùng chìm sâu vào lòng đất. Họ ra ngoài để đi thăm hàng xóm, và chợt phát hiện ra rằng tất cả họ đã bị vùi sâu thêm. Những tiếng dội của bom đạn trong cuộc va chạm của 2 phe ở cao nguyên đã làm cho một vài hang trong lòng núi đá chồng bị sập, kéo theo luôn cả mấy xác ướp vào trong lòng nó.
 
Simon bây giờ đã minh mẫn và mạnh mẽ như một linh hồn người sống, và cũng như Sen, y hiểu rằng tương lai của họ có thể bế tắc nghiêm trọng. Họ đã nằm sâu dưới nhiều lớp đá chồng, cần bao nhiêu tiền và bao nhiêu thời gian để dỡ hết những lớp đá ấy ra?!
 
Họ là năm vong hồn của 5 chiến binh thất lạc trong những ngày cuối cùng của trận Khe Sanh, tên của họ xếp đầy 5 ngón tay của một bàn tay:
 
-Đại tá Nguyễn thế Ngũ,
-Đại tá John E.
-Trung tá Công,
-Trung tá Simon B. và trung úy bác sỹ Tô Thị Sen.
 
Đã 7 năm qua, nhờ đá thiêng nơi đây gìn giữ, thân xác họ vẫn còn nguyên vẹn, vong hồn của họ cũng vẫn còn quanh quẩn nơi đây, hy vọng một ngày hết chiến tranh, người ta sẽ mang họ về nghĩa trang chôn cất tử tế và truy tặng công trạng của họ. Nhưng hôm nay, những cuộc đụng độ mới đã xẩy ra và làm cho niềm hy vọng trong họ vốn vẫn mong manh nay như càng mong manh hơn.
 
Sen buồn bã nhắc Simon không nên nói ra thực tế này, những vong hồn khác không đủ khôn ngoan để nhận ra sự sập hang, rồi hai vong hồn bọn họ cùng nhau ra khỏi Khe Sanh.
 
Khe Sanh ngày 12 tháng Hai, Ất Mão.
 
ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN
 
 
(…nay thống nhất thì dùng chung niên hiệu là năm cộng hòa, năm nay gọi tắt là cộng hòa I , bất luận con người gán cho nó tên gọi hay hoa mỹ gì.)
 
 
Khi còn ở dưới hang, tiếng rung rền như lở đất long trời, lúc lên trên sườn núi, tiếng nổ liên hồi dội về khi đanh khi đục như càn khôn xuất nhập, như đất trời xung đột thủa hồng hoang, họ đang đánh nhau rất gần và dữ dội. Bây giờ Sen không còn là một vong hồn bác sỹ, cũng không phải là vong hồn của một kẻ phàm phu tục tử, mà là một đệ tử chân truyền của Phật Bà, là đại sứ của cái thiện và sự công bằng của tiên giới, nay mai nàng sẽ thành thánh thần? Phải làm gì đây? Sen tự hỏi mà không trả lời ngay được, nàng chưa bao giờ tự vạch ra kế hoạch để làm việc thiện, nhất là bây giờ trước buổi loạn ly, nàng lúng túng. Simon đang ngỡ ngàng trước một thiên nhiên hòanh tráng mà trước đây mình chưa bao giờ được thưởng lãm, anh xoay một vòng, chưa thỏa, anh nhẩy lên cao rồi quay vòng nữa. Nhưng bỗng thấy Sen ưu tư nên đến bên vỗ về; hơn ai hết, anh có kinh nghiệm chiến trường nên hiểu rằng cuộc chiến đang hồi gây cấn, nóng bỏng vô cùng:
 
-Sen đang lo lắng, không biết phải làm gì?
 
-Đúng vậy Simon ạ, không phải là Sen phải làm gì mà ‘’chúng ta phải làm gì’’?
 
Khi khó xử là lúc người ta cần đến một sự chia sẻ của người thân, bè bạn. Là một bác sỹ, Sen tốt nghiệp đại học là được phong hàm sỹ quan ngay, nhận một khẩu K54 rồi vào Khe Sanh chịu trách nhiệm luôn một phòng sơ cứu, đến khẩu súng ngắn của mình còn chưa biết hết về nó. Hơn hẳn Sen, Simon từng trải nhiều, nhất là trong chiến tranh, anh như hiểu được băn khoăn của Sen nên từ tốn giảng giải, bàn bạc để chuẩn bị ứng phó với tình huống.
 
Sen cẩn thận dặn dò, bắt Simon phải nhớ, nhắc lại đúng yêu cầu việc thiện trong chiến tranh, không phân biệt giầu nghèo, màu da hay chủng tộc; hễ là nạn nhân chiến tranh thì phải giúp. Simon chưa quen lối suy nghĩ từ bi của đức phật, cứ hỏi lại luôn, nhưng rồi cũng thông đạt được.
 
Còn việc di chuyển, mặc dù Simon cũng được truyền một phần sức mạnh của Sen nhưng e rằng anh chưa quen bay đi bay về, nên Sen phải thử thách, rồi lại dặn. Simon vừa làm theo hướng dẫn vừa nghĩ bụng, quả đây vừa là một người thầy, vừa là một người bạn lại là vợ và là em, nàng mới là vợ yêu của mình. Thực ra, về mặt thiên văn địa lý, Simon có đầy đủ kiến thức để bay đi khắp nơi trên thế gian như một phi công, nhưng Sen cẩn thận nên cứ bắt phải thử, Simon lại mỉm cười vui lòng, đây là cách chiều lòng người đẹp rất Mỹ của anh.
 
Thế rồi họ chia tay nhau, kẻ vào Nam người xuống biển. Trời còn mùa Xuân mát mẻ, cây cối nơi nơi đâm chồi nẩy lộc. Ấy vậy mà Đà nẵng như đã sang Hè, trời nóng hầm hập, gió biển thổi tốc bụi lên phủ trắng cả những ngọn đồi, làm lá cây không còn xanh nữa.
 
Đội quân đã qua đây, để lại phía sau lưng mình một đội quân quản và trên tất cả, đó là một sự xáo trộn, thay cũ đổi mới. Trong đó nhiều người hăm hở đón chào chính quyền cách mạng, ngược lại không ít người bị hụt hẫng trước sự đổi thay ngoài dự kiến của họ. Đà nẵng đã dưới sự kiểm soát của chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt nam. Cuộc đụng độ mặc dù không dữ dội, chẳng thấm thía gì so với Khe Sanh ngày nào, nhưng cũng lấy đi khá nhiều sinh mạng.
 
Những người hy sinh trong thành phố chủ yếu là bộ đội miền Bắc trong các đội xung kích, họ đụng độ với những phản ứng dữ dội của quân đội Sài gòn trong khi chưa thông thạo địa hình. Sen thầm thương xót, thầm thán phục sự gan góc của họ; ai vẫn ở rừng nay có thể nói rằng mình thông thạo tác chiến trong thành phố, nhưng họ vẫn tiến lên phía trước dù biết rằng mình có thể bỏ xác nơi này. Có nhiều cái xác không đầu, mất chân tay hay thậm chí mất một nửa chưa kịp chôn cất vẫn còn rải rác đâu đây.
 
Ở Đà nẵng, đền thờ ông A-di-lac đập vào mắt Sen như gợi ý nên tá túc nơi đây. Nhưng rồi như nhiệm vụ còn nhiều chưa cho phép nàng ngơi nghỉ hôm nay nên lại lần theo bờ biển, nhằm hướng miền Nam mà đi tới.
 
Cảm nhận trong lòng Sen như mách bảo rằng hãy đi đi rồi sẽ thấy, và quả là không thể hình dung được người ta chết dọc đường nhiều đến mức nào. Mặc dù vậy, khác với Khe Sanh là nơi chết tập trung hàng ngàn binh sỹ một nơi, các cuộc đụng độ dọc tuyến bờ biển để lại các xác chết rải rác, mà các xác chết được chôn cất nhanh nên không để lại nhiều hình ảnh tang thương cho người  phàm. Sen không phải người phàm, nên với nàng thì hình ảnh ấy không chỉ tang thương mà nhiều lần hơn thế, các linh hồn chưa được an bài, các vong hồn của những xác vô thừa nhận không tên tuổi nhan nhản, nhiều vô số kể. Sen không hề được thảnh thơi, hết chỉ bảo linh hồn này lại hướng dẫn vong hồn kia, ai cũng muốn tái thế làm người. Thậm chí có nhiều bộ đội còn rất trẻ, linh hồn họ chỉ muốn được chứng kiến ngày chiếm được Sài gòn rồi đầu thai vào đâu cũng được.
 
Hàng triệu quân nhân cùng có chung một khao khát duy nhất là tiến vào Sài gòn, bất chấp sự hy sinh gian khổ, đây phải chăng là cái ý chí đã thấm vào máu của họ. Cánh quân này hôm nay chắc đã vào tới Nha trang, còn các cánh quân khác có thể đang tập kích sát nách Sài gòn cũng nên, Simon đang theo họ.
 
X
 
X                                X
 
Đã là một sỹ quan cao cấp của quân đội Hoa kỳ, Simon hiểu con đường tiến quân của Việt cộng nhất định phải lấy sườn Tây làm chủ yếu. Và thực tế không thể khác được, cửa ngõ Tây Bắc trên tuyến QL13 và 14, nối liền biên giới Tây Bắc với Sài gòn đã mở.
 
Ngày 11 tháng 3 Ất Mão, trước sức ép của công luận và quân lực, ông Thiệu từ chức. Người lên nắm cương vị tổng thống là ông Trần Văn Hương; xuất thân là một trí thức, đã từng là một đồng chí của những Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp thời chống Pháp, nay nhận chức vụ tổng thống lúc lâm nguy, không biết ông sẽ làm được gì?!
 
Simon bây giờ chẳng còn là lính của ai, mà là một linh hồn đi  giúp người, cứu nhân độ thế, anh chỉ có thể vì con người. Suốt mấy ngày nay, anh quanh quẩn khu vực dinh độc lập để theo dõi chiến sự. Thực trạng của cuộc giao tranh không phải thần tốc một chiều như báo chí đã thổi lên suốt mấy ngày này, các cứ điểm quan trọng vẫn tử thủ bảo vệ thủ đô Sài gòn. Nhưng xét tổng thể, mặc dù Việt cộng chết rất nhiều nhưng họ vẫn tử chiến để hướng vào Sài gòn. Bên quân lực Việt nam cộng hòa cũng hết lòng tử thủ nên số thương vong chết chóc không ít.
 
Còn nhớ, Hàn Tín thời Hán Sở tranh hùng, trong ngày đầu bái tướng, để lấy uy trước ba quân, Hàn đã chém mấy tên lính quèn không tuân lệnh. Sự nghiêm minh ấy quả là có tác dụng, ông không những để lại tiếng thơm cho muôn đời sau mà còn rửa được nỗi nhục do thằng bán thịt lợn dán lên tên tuổi mình.
 
Ông lão Trần Văn Hương, khi lên nắm quyền tổng thống thì đã xế chiều một cuộc đời binh nghiệp, ông đã 73 tuổi. Là một người am hiểu đường lối chiến lược, ông nhận ra Việt cộng đang dàn quân rất mỏng, hiện nay chủ yếu tập trung cho Sài gòn. Nếu cầm cự được 30 ngày thì có thể cứu vãn được, thế cờ này lật ngược lại không phải dễ nhưng vẫn có cơ hội, mặc dù rất nhỏ.
 
Ngay sau khi tiếp nhận chức tổng thống Việt nam cộng hòa, ông kêu gọi toàn dân tử thủ bảo vệ thủ đô. Thăng chức một loạt các tướng sỹ có công trong những trận vừa qua, đồng thời thi hành kỷ luật rất nghiêm minh một số sỹ quan không hoàn thành nhiệm vụ.
 
Đối với kẻ thù, tổng thống Trần Văn Hương ra lệnh rải chất độc nồng độ cao những khu vực đang đóng quân của Việt cộng quanh Sài gòn, họ đã chết rất nhiều. Đồng thời bằng nhiều phương tiện thông tin báo cho đối phương và đích thân ông Giáp hay rằng quân lực Việt nam cộng hòa sẽ phản công, còn đọc ra vanh vách là quân ông Giáp có bao nhiêu, ở cứ điểm nào.
 
Đòn gió này không phải chỉ là gió, hơn ai hết ông Giáp hiểu mình phải làm gì, ông cũng khẩn trương củng cố các cứ điểm, ngày đêm lo lắng truy quét tàn quân của Việt nam cộng hòa còn sót lại các địa phương. Các cánh quân đang bao vây Sài gòn cũng có phần nao núng, một vài nơi án binh bất động. Trong khi đó ông Dũng đang trên đường từ Tây Ninh xuống Củ Chi, ông ta phớt lờ các điện khẩn của ông Giáp yêu cầu trả lời việc chỉnh đốn đề phòng địch phản công. Tướng ngòai mặt trận thì tùy cơ ứng biến cũng là lẽ thường. Sau chiến tranh, ta sẽ về ngồi vào chỗ bộ trưởng quốc phòng vả lại nếu có hậu quả xấu thì lại quay về đổ lỗi cho anh cả[1], thật lưỡng toàn kỳ mỹ.
 
Lầu Năm Góc, sau khi nhận được kế hoạch phản công của tân tổng thống Việt nam cộng hòa Trần Văn Hương, họ có vẻ đắc ý. Liệu lịch sử chiến tranh Việt nam có lặp lại một mậu thân 68 nữa chăng? Hồi ấy trong khi Việt cộng ém quân trên mái nhà nhịn đói, chuẩn bị giải phóng Sài gòn, giành lấy chính quyền thì lính Mỹ vẫn nhẩy đầm, vẫn ôm gái trong các quán ba thâu đêm suốt sáng. Chiến dịch Mậu Thân của Việt cộng thất bại rồi mà mãi tới những năm đầu 70, nhiều gia đình vẫn còn tìm thấy xác Việt cộng khô nỏ trên nóc nhà mình.
 
Có kẻ ở Lầu Năm Góc còn nói đến tai tổng thống Hoa kỳ rằng các đời tổng thống trước sẽ cảm thấy sai lầm vì không phò cho ông Hương lên thay ông Thiệu sớm hơn. Có kẻ còn chỉ trích Kissinger[2] là một tên ba phải, ôm chân cộng sản; rằng Trần Văn Hương và Sài gòn là thực tế, còn quan hệ Washington –Hà nội là chuyện hão huyền, viển vông. Họ chuẩn bị cho chiến dịch luộc chín Việt cộng mang tên ‘’Sóng biển Đông 1975’’, có kẻ còn ngông cuồng đặt tên là ‘’VC Stew 1975’’[3]. Văn phòng tổng thống của ông Trần Văn Hương nhận được điện trả lời là hãy tử thủ, chờ hỗ trợ, kế hoạch của ông được chấp thuận.
  
Tuy nhiên, tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford tuổi Quý Sửu, chiêm tinh gia của ông, một người Mexico gốc Da đỏ nổi tiếng tên là Adam Rio, khuyên rằng ông nên tấn công vào Việt nam những ngày đầu tháng Tân Tỵ, vì những ngày đó hợp tuổi Quý Sửu của ông. Thực ra cũng chẳng vội gì, ông Trần Văn Hương chắc là tử thủ được, hồi 68 dữ dội thế mà Sài gòn chẳng hề hấn gì, huống hồ hôm nay.
 
Ngay sau khi kế hoạch của ông Trần Văn Hương được quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn, tổng thống duyệt chi một khoản ngân sách  bạc tỷ, lớn chưa từng có cho một kế hoạch phản công của Hoa Kỳ trong lịch sử các cuộc chiến tranh có mình tham gia. Hơn 200 Oanh kích cơ các loại F115, F111, F4 và pháo đài bay B52, hàng trăm trực thăng, cán gáo; 50 hạm đội và khu trục các loại; 50 sư đoàn quân lính thủy đánh bộ tinh nhuệ đã sẵn sàng. Các trung tâm phản ứng linh hoạt của Hoa kỳ trong khu vực, từ Phi luật tân, đến Băng cốc, Gu-Am đều đã sẵn sàng chờ lệnh. Đó là quân lệnh số I, tháng 3 năm 1975, dự định sẽ luộc chín tại chỗ vài triệu cộng quân. Sau khi đã ký quân lệnh, Gerald Ford mỉm cười mà rằng: ‘’thật chẳng cái dại nào giống cái dại nào, hồi ’68 chết hàng triệu còn chưa quên sao?! Món VC Stew ‘75 sẽ phủ một màu đỏ rực lên  Điện Biên Phủ và Khe Sanh của tướng Giáp.’’
 
Hôm ấy là ngày 16 tháng Canh Thìn (3) năm Ất Mão, sự kiên nhẫn trong ngài tổng thống Trần Văn Hương dường như cạn kiệt, ngược lại sự hăng hái trong ngài tăng lên quá cao. Sau khi đã rải chất độc liều cao một vài khu vực, tin báo cho hay khá nhiều cộng quân tử nạn; thế mà quân ta cũng vẫn thua trận, vẫn tử nạn, tình hình chưa được cải thiện. Ông ra lệnh cho đội không quân cảm tử của tổng thống tập kích khu vực đóng quân của Việt cộng ở Cổng trời- Đồng Nai.
 
Mọi hành vi của tổng thống dưới mắt quan sát của Simon đều là chống đỡ thụ động. Hiện nay tình thế đang ở trạng thái cực kỳ nhạy cảm, Sài gòn đã ở trong tình trạng rất nguy hiểm. Việt cộng không chỉ có những anh lính khờ khạo chỉ biết dùng AK47 hay lựu đạn, nếu vậy thì không có Điện Biên Phủ hay Khe Sanh. Hiện nay mật độ quân của Việt cộng quả là rất mỏng ở miền Trung, nhưng họ đang tử chiến nơi này, các trung đoàn thiết giáp hùng hậu, các trung đoàn cao xạ, các trung đoàn đặc công của Việt cộng đã sẵn sàng. Rõ ràng họ không phải là đội quân của 1968, ông Trần Văn Hương đã đánh giá quá thấp về Việt cộng hôm nay.
 
Nếu mất thì ông chỉ mất một cái thân già của ông lão 73, nhưng nhân dân Sài gòn thì mất tất cả, mạng sống của họ cũng không giữ được. Nhân dân Việt nam sẽ mất vô số người con, người em, người chồng, người cha. Hiện nay người chết quanh Sài gòn hàng ngày hàng giờ, vô số kể, không phải chỉ có Việt cộng.
 
Mặt khác, có một nghịch lý là quân đội Sài gòn không trông chờ vào các tướng lĩnh mà chỉ có tổng thống, đây là một sự xuống cấp trầm trọng của một cơ cấu tổ chức, mà tổ chức ấy lại là một nhà nước. Còn phía Hoa kỳ, để bổ sung lực lượng, phải chờ tới 2 tuần. Nếu để ông cụ 73 tuổi này làm việc thì chỉ tổ chết thêm người. Simon suy xét khả năng can thiệp vào an nguy của người Việt. Đến gần sáng anh quyết định thông qua người vợ của anh phi công sẽ lái một chiếc máy bay đặc biệt theo lệnh trực tiếp của tổng thống ngày mai.
 
Ngày 17 tháng Ba (Canh Thìn), năm Ất Mão, hồi 10 giờ 30 sáng, 2 máy bay của không lực Việt nam cộng hòa đã nã rocket liên tục vào dinh tổng thống, không có người bị thương nhưng báo chí đã loan tin là: ‘’số thương vong chưa xác định. Các máy bay trên sau khi oanh kích dữ dội, liên tục hàng giờ vào dinh Độc Lập đã bay thẳng ra Hà nội, hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm an toàn, phi công được ông Giáp đón tiếp nồng hậu, họ thực ra là VC nằm vùng, những đảng viên đảng lao động Việt nam.’’
 
Chiều cùng ngày, tổng thống cho gọi ông Dương Văn Minh vào để chuẩn bị cho buổi họp nội các khẩn cấp sáng mai. Bị bất ngờ, Lầu Năm Góc sau khi nghe tin rất sửng sốt, họ triển khai phương án dự phòng của kế hoạch ‘’Sóng Biển Đông 1975’’, tất cả bắt đầu ngay trong đêm18 tháng Ba năm Ất Mão, sau khi ông Trần Văn Hương thoái vị.
 
Buổi sáng ngày 20 tháng Ba năm Ất Mão, một lực lượng hùng hậu hải-lục-không quân theo lệnh của ông Gerald Ford, duới sự chỉ huy của một vị tướng đặc biệt duới quyền tổng thống Hoa Kỳ, đã dàn thành thế trận từ Hải Phòng đến Vũng Tầu, món Stew Việt cộng sẽ được chế biến nay mai. Ở Sài gòn, ông tân tổng thống Dương Văn Minh không trả lời một bức điện nào của Hoa Kỳ, mọi lực lượng vẫn đang chờ lệnh. Buổi trưa cùng ngày, ông Dương Văn Minh tuyên bố thất thủ, kêu gọi mọi lực lượng không chống trả, bàn giao chính quyền cho chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt nam. Món hầm Việt cộng như dự kiến đã không kịp thắp lửa.
 
Sau khi chiếm được Sài gòn, ông Dũng giao lại cho tướng Trà chỉ huy lực lượng quân quản, còn bản thân thì bay ra Hà nội để gặp trung ương gấp. Tại sân bay Gia Lâm, ông Võ Nguyên Giáp ra tận sân bay chúc mừng. Thay cho lời chào, ông Dũng bộc trực chỉ trích: chậm chạp như anh thì bây giờ tôi vẫn còn đang ở Trường Sơn, anh đến tuổi hưu rồi nhỉ? Tướng Giáp chỉ cười mà rằng: anh già nua mới cần có chú, chú khá lắm, chúc mừng chú. Ngoài mừng công, mừng chiến thắng, ông còn mừng một điều rất riêng là em của mình đã có thể gánh vác nhiệm vụ thay cho mình.
 
Đã qua rồi Võ Nguyên Giáp của Điện Biên năm xưa, cũng chẳng còn đâu tên ta trong Khe Sanh năm nào, ông im lặng ngồi ghế sau chiếc com-man-ca cũ kỹ. Cuộc đời binh nghiệp của ông tưởng như mới chập chững hôm nào với 12 đồng đội, rồi cũng qua một khúc ca Điện Biên hùng tráng. Mà cái thằng De-Castre mới là lạ, khi đánh trận thua thì đáng lý phải im lặng trước nỗi nhục, hắn lại nỏ mồm mà bình loạn rằng mình nói tiếng Pháp giọng dân trồng nho Avignon; thực ra mình chỉ có vài âm có lẫn giọng quê mình đôi chút, mà kể ra hắn cũng thính tai thật. Còn hồi sửa sai sau cải cách ruộng đất mới hay làm sao, lính ông Giáp mà không biết nhảy đầm sao được, cảnh lính ông Giáp ôm một chị nông dân quần xắn vát móng lợn mà nhẩy twist bên đống rơm ngày mùa, chẳng phải là một biểu trưng của hòa bình và thịnh vượng sao?! Không nhớ thằng nào gắn cho mình cái nhãn hiệu ‘’xét lại’’ lên quân hàm đại tướng, kể cũng ức thật. Nhưng rồi tất cả đã qua, hôm nay là chiến thắng.
 
Ông Dũng vẫn chưa hết cảm xúc hồ hởi, nghĩ miên man không biết nên tách mũi tiến công sườn bên Tây Trường Sơn của mình ra thành một bài học về tổng tiến công hay không. Cách đây mấy thế kỷ, Nguyễn Huệ phò Lê diệt Trịnh bằng cuộc hành quân thần tốc, cuộc hành quân ấy đã đưa ông vào lịch sử chiến tranh và lịch sử Việt nam như một thiên tài quân sự áo vải. Tại sao có Nguyễn Huệ mà chẳng có Văn Tiến Dũng, ông là anh hùng áo vải thì Văn Tiến Dũng hôm nay cũng có mặc áo giáp đâu?!
 
À, ta nghĩ ra rồi, mũi tấn công quyết định ấy phải là ‘’Nguyễn Huệ nam tiến’’. Anh Giáp với mình là anh em, không nỡ tay, nếu là người khác thì anh sẽ phải rời bộ quốc phòng vào sáng ngày mai. Khi tổng tấn công mà lừng khừng thế thì sao thành công được, không có tôi hôm nay thì sao nhỉ? Xe ngừng lại trước bộ quốc phòng để ông Võ Nguyên Giáp về nghỉ, Văn Tiến Dũng đi thẳng đến văn phòng bí thư đảng Lao động Việt nam, ở đó các ông Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ đang chờ.
 
Buổi tối, sau khi mừng chiến thắng và tuyên dương công trạng ông Dũng, ông Phạm Văn Đồng ghé qua tư gia ông Giáp. Là anh em, là đồng chí từ những ngày dưới bóng đa Tân Trào, nay thấy như có chuyện lạ nên ông ghé thăm hỏi han, ông Giáp chỉ im lặng rồi cáo ốm mà lui vào trong.
 
Ngoài Biển Đông, các hạm đội, khu trục hạm rục rịch rút lui theo nhiều ngả khác nhau. Các hạm đội từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Tân Tây Lan, Úc-đại-lợi đều được lệnh quay lại nơi xuất phát. Các tuyến giao thông đường biển từ Băng Cốc, Singapore lên phía Tây Bắc Á và ngược lại, đi qua Biển Đông Việt nam, sau 3 ngày bị phong tỏa, nay bình thường trở lại. Vài tàu chiến Trung Quốc đang đóng tại Hoàng Sa, sau mấy ngày mất liên lạc, nay lại điện về tổng hành dinh của họ ở Quảng Châu, báo những tin tối mật.
 
Các lực lượng tham gia cuộc ‘’tập trận’’ vừa qua đều được thông báo rằng đó chỉ là một cuộc thực tập tổng công kích. Tại Lầu Năm Góc, chiến dịch ‘’VC Stew 1975’’ không chỉ gắn liền với mật lệnh số I từ dinh tổng thống Gerald Ford, mà còn gắn liền với những con số thật ấn tượng mà trong lịch sử chiến tranh của nhân loại ít khi xuất hiện.  Sau đó ít ngày, tổng thống Gerald Ford được nghe mật trình một bản thống kê tóm tắt về chi phí của cuộc tổng diễn tập sau mật lệnh ấy. Từ ngày đó, ông trở nên không được khỏe rồi càng ngày càng suy tư, dường như những con số ấy đã làm ông mệt mỏi.
 
Simon không vất vả lắm, anh thảnh thơi thư giãn, số thương vong hay tử nạn của cả hai phe cũng chẳng đáng là bao, hầu hết đều được lo chôn cất tử tế. Kể cũng còn may, nếu chiến dịch ‘’VC Stew ‘75’’ của ông Gerald Ford mà châm ngòi thì sao nhỉ, quả là không thể hình dung được. Hàng trăm lượt rải thảm B52 trên toàn cõi Việt nam, 50 sư đoàn quân tinh nhuệ đổ bộ lên bờ biển. Trong khi Bắc Việt đã dồn hết vào Sài gòn, bỏ Hà nội, Hải phòng không có phòng bị, họ sẽ mất cả miền Bắc và Hà nội vào tay ông Gerald Ford. Vài triệu người sẽ bỏ mạng…, máu họ sẽ đổ về đâu? Ôi lạy chúa, chuyện ấy đã không đến. Chúc mừng ông Kissinger còn giữ được thể diện. Chúc mừng những người còn sống sau cuộc chiến nhiều ngàn ngày không nghỉ.
 
Phần vì nhớ Sen, phần vì không phải lo toan nhiều, Simon ra đại sứ quán Mỹ xem người ta di tản, ghé thăm bà thánh Terressa ở nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, ra Gia Lâm để tiễn ông Dũng về Hà nội. Anh vẫn còn thời gian thăm bố mẹ Sen ở Hàng Bông, ông bà cùng ôm nhau khóc không thành tiếng trong niềm vui chung chìm trong nỗi lòng riêng sâu thẳm. Anh chẳng cầm lòng nổi rồi vội quay trở về Khe Sanh trong một nỗi buồn về một cuộc chiến đầy máu và nước mắt. Vào nửa đêm ngày 20 Tháng Ba năm Ất Mão, anh về tới Khe Sanh, hôm nay nơi đây im lìm trong đêm Xuân mát lạnh, mưa phùn lất phất làm ướt đẫm những vạt cỏ bên sườn đồi, bụi đất đỏ quện vào nhau thành từng hạt lăn trên vách đá. Sen vẫn chưa về.
X
 
 
X                                X
 
Đà nẵng là nơi mà Phật Bà đã gặp và ban cho phép thuật, ngoài Hà nội, Khe Sanh, từ nay Sen có thêm một nơi để nhớ. Sau nhiều ngày tất bật với những linh hồn kẻ chết ở khắp nơi, Sen đã về Đà nẵng. Người chết ở miền Nam chạy giạt ra miền Trung và miền Bắc nhiều vô số kể, Sen vừa lo hướng dẫn họ tận tình về cách đi lại, hướng nào cho đúng…ấy là chưa kể phải truyền sức mạnh cho họ. Những người chết ở Sài gòn cho biết cuộc giao tranh không kém phần dữ dội, nhưng qua hết rồi. Simon sau khi xong việc chắc là phải về lại Khe Sanh, hắn bây giờ lười biếng, chỉ nghĩ đến có mình Sen thôi. Kể ra hắn cũng có nét dễ thương.
 
Tình hình tạm lắng dịu, không dám mong nhiều chỉ muốn xem Phật Bà có nhắn gì mình không, Sen tính ghé qua chào ông A-Di-Lạc. Bỗng nghe Phật Bà lên tiếng:
 
-Bây giờ thì nhà ngươi đã mãn nguyện rồi chứ, một trong 2 bên tham chiến đã giành thắng lợi, mà bên thắng là đồng đội của nhà ngươi, đúng không?
 
Sau nhiều ngày không gặp lại, nay gặp nhau khi cuộc chiến coi như đã kết thúc, Phật Bà thăm dò xem Sen có tiến bộ trong cảm thụ thế giới hay chưa. Vừa mừng rỡ được gặp lại Ngài vừa mừng vì nước nhà hết chiến tranh, Sen quỳ xuống vái lạy mà rằng:
 
-Đội ơn Ngài đã ban cho sức mạnh để giúp người phàm và chúng sinh nơi đây trong chiến tranh. Nay con rất mừng vì không còn đạn bom, không còn cảnh tàn sát nhân gian.
 
Phật bà cảm nhận được sự tiến bộ trong nhận thức của Sen, nàng dường như đã bớt thiên vị miền Bắc hay Hà nội hơn. Nhưng về chiến tranh và chết chóc thì dường như còn non lắm, Ngài lại dụ:
 
-Ta đã nói rằng hòa bình hay chiến tranh cũng cần có thời gian, và phải trả giá cho nó, không biết nhà ngươi có hiểu không? Hiểu thế nào?
 
-Thưa, chiến tranh thì phải chi phí cho lương thảo của quân đội, chi phí cho bom đạn và vũ khí. Còn hòa bình thì chi phí cho sửa chữa những hư hỏng do chiến tranh gây ra phải không ạ.
 
Phật Bà tỏ ra hơi phật ý nhưng nhìn xuống cái nét phàm, cái vẻ ngây ngô của một vong hồn, Ngài lại thương cảm rồi dụ:
 
-Nhà ngươi quả là có chút suy nghĩ về thị trường, nhưng cái giá mà ta vẫn nhắc với nhà ngươi không phải tính bằng tiền. Mà đó là máu xương của binh sỹ và nước mắt của người thân ở hậu phương. Nhà ngươi chết ở Khe Sanh, hãy nói cho ta hay, cái giá của một Khe Sanh bình yên là bao nhiêu?
 
Sen giật mình tỉnh ngộ, sau khi được Phật Bà sửa sai và nhắc nhở, Nàng đã nhận ra một phần cái ý nghĩa thâm thúy của từ ‘’giá’’ mà Ngài vẫn nhắc đến khi luận về chiến tranh rồi từ tốn đáp:
 
-Thưa, khoảng 3000 mạng sống và 15000 người bị thương tật ạ.
 
Phật Bà lại hỏi:
 
-Vậy, chiến trường miền Nam Việt nam, nếu lấy Khe Sanh làm đơn vị thì bằng bao nhiêu?
 
-Dạ, con trộm nghĩ khoảng 50 lần ạ.
 
Phật Bà tỏ ra vừa lòng với tiến bộ trong tư duy của Sen rồi lại hỏi:
 
-Xem trong chiến dịch vừa qua, chẳng tốn kém gì mấy, bây giờ hòa bình rồi nhỉ? Vậy cái logic trong suy luận của nhà ngươi ở trên còn đúng không?
 
Sen như chợt nghĩ có sự bất hợp lý trong suy luận của mình, và cũng sợ Ngài phật ý nên vội quỳ xuống xin lỗi. Nhưng Phật Bà khoan thai dụ:
 
-Ta hỏi để ngươi suy ngẫm, không có ý khảng định nhà ngươi sai. Nếu ngươi đúng thì loài người, và cụ thể các bên tham chiến hay những ai cùng hưởng nền hòa bình này còn nợ rất nhiều. Không biết là khi nào sẽ phải trả, câu trả lời nằm ngoài tầm hiểu biết của ta.
 
Sen chợt cảm thấy ghê sợ, không lẽ sự vay trả trong cái cơ chế này lại khắc nghiệt đến thế sao, ai kiểm soát cơ chế này. Phật Bà như hiểu sự hoài nghi trong Sen, Ngài lại dụ:
 
-Con người có trái tim, cội nguồn của sự nóng giận, sự căm phẫn, sự thù hằn…tất cả những thuộc tính đó đã tạo ra cơ chế của vay trả và quy định cái giá của một nền hòa bình. Không phải ta là thánh mà có quyền can thiệp trực tiếp vào các cơ chế ấy được. Nhiệm vụ của ta là phủ dụ, khuyến khích tình yêu thương đồng loại, sự bao dung tha thứ trong lòng người, chỉ mong mang lại hiệu quả là làm nguội đi cái cơ chế khắc nghiệt kia. Tuy nhiên, hồi thế chiến thứ II, ta sai lầm trong việc đánh giá người Mỹ nên hậu quả là chết thêm rất nhiều người Nhật. Xét lại thì ta không đạt được một chỉ tiêu nào.
 
Sen bất giác nghĩ về thảm họa 2 quả bom nguyên tử mà Hoa  kỳ ném xuống Nhật bản, điều mà Phật Bà vừa mới nhắc tới. Quả là khó hiểu, Phật bà mà còn sai lầm, ai có thể minh triết hơn Ngài được, như vậy hóa ra cả thánh thần cũng bị hạn chế, thậm chí ở nhiều lĩnh vực. Sen tính hỏi cho rõ thì Ngài lại tiếp:
 
-Vì ta nghĩ rằng người thắng trận không thù người bại trận. Ta là một đại sứ hòa giải, làm nhạt đi thù hận, không có việc gì làm ở Mỹ cả. Bất ngờ là ở chỗ người Mỹ rất lạnh, không thù hận nên ta không nhận ra; hành vi của họ là phục vụ mục đích tối thượng của họ, thế thôi. Không phải chuyện của ngươi nhưng nói để ngươi hiểu rằng ta không thể làm thay tất cả các vị thánh thần được.
 
Quả là Sen đang được nghe một lý thuyết căn bản về các thuộc tính cố hữu của con người, nào là yêu thương, hận thù; nào là xung đột, rồi hòa hoãn; còn giá cả thì tính bằng máu và nước mắt. Sen dự cảm sau những bài phủ dụ dài thế này sẽ là một thời gian dài không gặp Ngài, Nàng quỳ thụp xuống xin thưa rằng Nàng cần được Ngài chỉ dụ luôn luôn, để khôn lên, vì nàng còn rất khờ khạo. Phật Bà như hiểu rõ điều này nên lại để bàn tay phải lên đầu Sen mà rằng:
 
-Ta hiểu ý nhà ngươi muốn gì, nhưng ta không thể quan tâm đến nhà ngươi nhiều hơn người khác, cần phải công bằng, có thể chỉ có một bài giảng nữa thôi, nhưng có dịp là ta lại tranh thủ giảng giải cho ngươi. Nhìn vào mắt ngươi, ta thấy sự ngạc nhiên trước bộ trang phục của ta, rách rưới quá chứ gì? Là người Việt, ngươi nghĩ gì, nói ta nghe.
 
Sen hoảng hốt vì không biết bằng cách nào mà Ngài nhận ra, quả là Sen vẫn băn khoăn về bộ quần áo rách rưới của Ngài. Phật Bà lại tiếp:
 
-Người Việt các ngươi vẫn hay nhạo báng ta.
 
Sen hoảng sợ, quỳ xuống trước Phật Bà mà xin chịu tội cho cả dân Việt, bà chỉ nhoẻn miệng một lần để tỏ sự độ lượng rồi tiếp:
 
-Không phải thế sao?! Họ vẫn nói ‘’đi với Bụt thì mặc áo cà-sa, đi với ma thì mặc áo giấy’’. Với họ thì gặp Bụt theo Bụt, gặp ma theo ma, ta có muốn giận họ cũng không được. Sau này nhà ngươi cũng vậy thôi, không có quyền trừng phạt ai. Lại nói bộ trang phục của ta, đây là nhằm phù hợp với hoàn cảnh. Ở một đất nước mà đâu cũng chỉ thấy tang thương, chết chóc, máu và nước mắt, thử hỏi mặc đẹp để khoe ta đây là giầu có hay là thánh thần hay sao. Đêm nay sau bài giảng này, ta sẽ đi Băng Cốc, trang phục của ta sẽ dát vàng.
 
Phật Bà chợt nhận ra thời gian dành cho Sen không còn nhiều, Ngài vội vào bài võ thuật.
 
-Nhà ngươi xuất thân là nữ sinh, ra đời thì làm bác sỹ, nhưng nay làm đệ tử chân truyền của ta ở Việt nam, ngươi sẽ phải biết cầm kiếm. Vũ khí và vũ lực, bản thân chúng không từ bi, nhưng để bảo vệ người hiền, giữ gìn tâm thiện không thể chỉ ngồi yên cầu kinh, phải biết sử dụng vũ khí và vũ lực.
 
Phật Bà hiểu rằng Sen cũng đã thấm nhuần được ít nhiều tư tưởng của Ngài. Nay gặp lại là để truyền dậy thêm một số kiến thức và kỹ năng căn bản. Được Ngài gọi là đệ tử chân truyền, Sen xúc động cúi lạy ba lần rồi lại ngồi cho Phật Bà phủ dụ. Ngài lại để một bàn tay lên đầu nàng mà rằng:
 
-Binh khí thích hợp nhất với phụ nữ Việt nam là kiếm ngắn. Tuy nhiên, phải hiểu rằng khi mình không biết sử dụng điêu luyện vũ khí của mình, đối phương có thể cướp được và biến thành của chúng. Trong trường hợp đó, kiếm là của ta nhưng cũng không còn là của ta. Còn nữa, một khi ta đã điêu luyện với kiếm thì đôi khi không có kiếm mà vẫn có khả năng chiến đấu và sát thương như có kiếm. Hãy xem đây.
 
Nói rồi Ngài lấy từ tay áo ra một cành liễu chỉ ngắn bằng cánh tay, và một giọt nước từ cái lọ bên tay trái của Ngài. Giọt nước đã biến thành một tảng băng bay qua trước mặt.
 
Ngài tung mình lên, chỉ bằng một cú hích nhẹ, tảng băng bay vút lên cao cả trăm thước. Rồi trong khi tảng băng rơi, Ngài băng qua phải, chém xuống, cắt vát lên, chém qua trái; cánh tay và cành liễu liền vào với nhau như một. Bình nước bên tay đối diện cũng uyển chuyển, khi dùng làm khiên đỡ, lúc dùng để cân đối trọng một bên. Mỗi động tác là một sự liên tiếp của động tác trước và uyển chuyển làm nền cho động tác tiếp theo.
 
Sen đứng ngây ngắm những đường kiếm điêu luyện của Phật Bà, không biết phải mất bao nhiêu lâu thì mới điêu luyện được như thế. Chỉ trong vài khắc, tảng băng đã được đẽo gọt thành hình một người.
 
Trước sự ngạc nhiên đến sửng sốt của Sen, ngài phất cành liễu, tảng băng có trang phục một nữ bác sỹ, giống Sen như thật, rồi Ngài hỏi:
 
-Nhà ngươi có thấy giống mình hay không?
 
Nhưng không để tảng băng hình người ấy tồn tại lâu được, ngài phất nhẹ cành liễu làm tảng băng tan vụn ra rồi phán rằng, phàm làm thánh mà có hình dạng hiện diện và mang đầy tính phàm thì không được việc. Rồi Ngài lại truyền:
 
-Vừa rồi là những bài kiếm căn bản mà ta vẫn dùng, các động tác rất liên tục, liên hoàn. Điều quan trọng hơn cả là mục đích của bài này, không có gì khác là bảo vệ con người, trong đó có mình; vả lại khi có thể bảo vệ được thì sát hại được, cái ranh giới giữa sinh và sát ở đây là mong manh, hãy cẩn thận. Và bây giờ là lúc nhà ngươi thực hành.
 
Nói đoạn Ngài ban cho Sen một cành liễu rồi hỏi: nhớ được các động tác ban nẫy ta truyền không? Sen nói thật là nhớ nhưng chỉ nắm rõ được phân nửa; thế là Ngài lại dặn rằng bài thực hành này sẽ hợp vói khả năng của Sen, là chỉ cần tạo ra 2 cạnh thẳng của thỏi băng. Nói rồi Ngài đưa ra một tảng băng gồ ghề, Sen cũng học theo cách hích vai của ngài, tảng băng tung lên khá cao.
 
Sen biến cành liễu thành kiếm rồi chém liên tục nhằm hoàn thành bài tập như Phật Bà đã dậy, tạo ra 2 cạnh thẳng hai bên. Tảng băng bị chém xoay loạn xạ trên không, rơi xuống đến mặt đất mà cũng chẳng ra hình thù gì.
 
Phật Bà thông cảm vì Sen chưa bao giờ thực hành binh khí nên vậy, Ngài lại kiên nhẫn chỉ dậy.
 
-Dù trong tay mình là thanh kiếm hay cành liễu, khi triển khai công lực đều phải truyền nội công vào nó. Nội công gồm công lực và ý chí, công lực để sát thương còn ý chí để hướng đường kiếm theo ý mình. Tảng băng hay tảng đá trong thí dụ vừa rồi đều di chuyển tự do, đối phương cũng vậy, vì tự do để duy trì sự tồn tại của nó. Muốn đường kiếm của mình có hiệu quả, cái ý chí phải làm việc cùng với thanh kiếm. Phải quan sát để nhận ra cái nào động, cái nào tĩnh  trong cái tương quan kiếm và đối thủ; tùy vào hoàn cảnh mà dùng động chế tĩnh hay tĩnh chế động, âm chế dương hoặc ngược lại trong một không gian động đa phương.
 
Sen như lạc lõng giữa một rừng lý luận mênh mông, chỉ nắm được một phần nhưng nhờ có trí nhớ tốt nên cứ ghi nhận, hy vọng sau rồi nhớ lại mà suy ngẫm, mà thực hành. Đoạn, nàng ngày càng ngạc nhiên khi nhận ra hiểu vốn hiểu biết của Phật Bà là bao la, ngài học ở đâu, khi nào.
 
Hơn ai hết, Phật Bà là người hiểu đệ tử của mình nắm được bao nhiêu. Ngài vừa cho thực hành vừa giảng giải và sửa chữa khuyết điểm của Sen. Rồi đến nửa đêm thì Sen cũng tạm có thể dùng kiếm được, Ngài cho ngồi nghỉ rồi lại truyền dậy:
 
-Cấp tiếp theo của kiếm pháp là ‘’kiếm lệnh’’, hầu như loại kiếm lệnh chỉ dùng cho Việt Nữ Kiếm. Đây là môn phái của đàn bà Việt nam, tận dụng 2 khả năng quan trọng của nữ Việt là nhanh nhẹn và uyển chuyển để khắc phục 2 nhược điểm cố hữu của họ là sức bật kém mà lại hay nóng giận trong giao đấu. Mà nhà ngươi có chỗ nào không hiểu không?
 
Quả là Sen không hiểu nhiều câu trong bài giảng này nên Phật Bà hiểu ý, Ngài tạm ngưng chờ Sen hỏi.
 
-Trong giao đấu mà không nóng giận thì sao giao đấu được ạ?
 
-Khá khen cho một câu hỏi hay. Có vô số người biết đánh kiếm nhưng không hiểu điều này. Khi nhà ngươi căm phẫn muốn sát hại một ai đó, không thiếu gì cách. Thậm chí có thể dùng một con dao làm bếp để ra tay, những chuyện như vậy xẩy ra hàng ngày giữa những kẻ phàm phu tục tử, có một vị thánh khác cai quản họ, không phải ta. Song, một khi đã dùng kiếm, không có một kiếm sỹ nào vô cớ sát hại ai, chỉ có thể tội nhân đáng chết hoặc đó cũng là một đối thủ dùng một binh khí khác. Vậy, nóng giận sẽ làm cho đường kiếm đi ra khỏi cái nguyên tắc căn bản mà kiếm sỹ phải theo là: giết kẻ đáng chết hoặc giết đối phương để bảo vệ mình hoặc bảo vệ sự sống hay bênh vực kẻ khác yếu đuối hơn. Tóm lại là thanh kiếm thay mặt cho công lý, không tiếp tay cho sự nóng giận.
 
Đây là một bài ngắn lý luận về giá trị của cây kiếm, tâm lý người kiếm sỹ, dễ hiểu nên Sen nắm ngay được, nàng cảm kích quỳ xuống 3 lần cảm tạ Phật Bà. Rồi nàng ngồi lại cho Phật Bà phủ dụ.
 
-Kiếm trong môn phái này ngắn, nhẹ, sắc bén, trang bị cho một cá nhân như để phòng thân. Các loại kiếm khác dữ dội, mạnh mẽ và có tính sát thương cao, thậm chí dùng chung trong một đội các kiếm sỹ. Ngược lại Việt nữ kiếm là môn chỉ có thể đánh trận chung trong một nhóm với các binh khí khác, tức là không thiết kế được một bài giống các bài kiếm xung trận của Thiếu Lâm, Võ Đang hay các môn truyền thống Trung Hoa khác.
 
Hãy xem đây, hai chân đứng giang ra ngang vai, cầm kiếm bằng hai tay, mắt nhìn thẳng vào đối phương, mũi kiếm hướng lên thiên đỉnh song song với cơ thể mình, lưỡi hướng ra phía trước. Trong hai bàn tay, tay nào dự định sẽ ra đòn thì nằm dưới tay kia và thả lỏng ra dưới chuôi kiếm. Đây là động tác đặc biệt của môn này. Động tác ra đòn chỉ gồm ba bước: lấy kiếm từ tay cầm kiếm, sát thương, trở lại vị trí lệnh.
 
Vị trí này gọi là vị trí lệnh, để thể hiện là mình đang dùng kiếm, và rằng đây là thanh kiếm của sự công bằng và nhân đạo. Đồng thời kiếm lệnh rất quan trọng với bản thân người dùng kiếm, là để điều tiết tâm lý của kiếm sỹ, đặc biệt là không cho sự nóng giận hay một cảm xúc phàm tục nào ảnh hưởng đến các động tác trong giao đấu.
 
Nói rồi Ngài thực hành cho Sen học theo, tổng cộng có 32 cách ra đòn khác nhau, vị trí lệnh là một vị trí cực kỳ lợi hại. Sen rất thích thú với động tác đẩy chuôi kiếm lùi về một bên trong khi tay kia vuốt lưng thanh kiếm rồi chỉ vào mặt đối phương, ngay sau đó thì chính bàn tay ấy lại ra đòn.
 
Sen chăm chú học từng động tác rất cẩn thận và dùng kiếm 2 tay tiến bộ nhanh. Xem ra Sen có thể nhớ hết bài giảng, nhớ các đường kiếm chân truyền, chỉ có chưa thực hành được điêu luyện  mà thôi. Phật Bà tỏ ra vừa lòng rồi dặn sau này phải tập hàng ngày cho điêu luyện mới được. Ngài còn dặn nên tập cả bài 1, sau này có thể dùng đến khi cần thiết. Nàng cảm thấy như sắp phải chia tay Phật Bà nên vội quỳ xuống thưa:
 
-Xin Phật bà cho con hỏi đôi câu kẻo Người ra đi mà con còn chưa tỏ. Rằng các nhịp chân bước, di chuyển theo nguyên lý nào?
 
Phật Bà tỏ ra vừa lòng vì thấy đệ tử có nhiều câu hỏi tỏ rõ sự nghiêm túc trong quá trình học, Ngài lại giảng giải:
 
-Ta thấy nhà ngươi thực hành được, có vẻ tiếp thu bài tốt, vậy mà chưa hiểu được các bước di chuyển; mà cũng không lấy gì làm lạ. Phàm đã lâm trận, một động tác thừa sẽ là một bất lợi, bởi nếu đối phương không thừa như ta, thì nó sẽ dứt điểm nhanh hơn ta. Vậy nên mỗi bước di chuyển của ta, mặc dù cũng có cả đá ngang hay nhẩy lên, hoặc chuyển thế chân nhưng tóm lại có những mục đích căn bản là: Giành lợi thế trước đối phương trong một địa hình cụ thể, đưa cái yểu thế của đối phương vào đúng tầm sát thương của mình.
 
Sen cảm như mình được khai sáng, nàng đã bước qua bước lại, nhảy lên hay đá ngang nhiều lần trong bài tập mà không hiểu được hết cái thâm sâu trong các động thái. Sự khao khát trong học hỏi môn này dường như là một bản năng, rõ ràng là chưa hình dung thấy tương lai mình sẽ dùng kiếm trong hoàn cảnh nào, ở đâu, chỉ biết rằng thanh kiếm này là công lý, là nhân đạo. Mà cứ thấy các đường kiếm và phương thức giao đấu mà mình đang luyện tập cũng dự cảm được, những đối thủ khả dĩ trong tương lai không hề đơn giản.
 
Rồi nàng lại quỳ xuống kính cẩn thưa rằng:
 
-Người học từ khi nào và ở đâu mà kiến thức và võ thuật lại uyên thâm đến vậy.
 
Phật Bà khoan thai mà luận:
 
-Ngươi không hỏi ta cũng sẽ dụ, nhưng cứ suy nghĩ cũng hiểu được. Từ Nam Đế, Bắc Cái đến Lý Tiểu Long, khi thác thì đi đâu nếu không phải lên cõi của tiên giới. Trần gian là nơi phát minh và thực hành rồi thành quả thì đúc kết lại, khi chết thì mang về trên ấy. Lý thuyết cũng vậy, có nhà khoa học nào, nhà văn nhà thơ nào sống mãi hay không, họ về trên ấy với bọn ta cả. Ai có khả năng làm việc gì thì lo coi sóc lĩnh vực ấy.
 
Sen cảm thấy mãn nguyện, nàng quỳ lậy ba lần rồi lại thưa chuyện tái đầu thai của 5 vong hồn trong đó có mình. Phật Bà tỏ ra dễ dãi rồi khoan thai dặn từng câu rằng Ngài đã biết nguyện vọng ấy, đó là chính đáng, và rằng:
 
-Ta gửi lại đây 5 viên ngọc, mỗi viên dành cho một linh hồn. Hãy nhớ, không phải dành riêng cho 5 vong hồn các ngươi mà cho những linh hồn tiêu biểu của Việt nam mà ngươi cho là xứng đáng, đây là đặc ân về quyền lực cho ngươi. Mỗi viên ngọc ta sẽ yểm vào một ngọn núi nhỏ ở Ngũ Hành Sơn, khi muốn cho linh hồn nào đầu thai lại thì dẫn linh hồn ấy đến bên người đàn bà sắp sinh con, đọc khẩu quyết của ta. Đứa trẻ ra đời sẽ là truyền nhân của linh hồn ấy. Ngay khi đó, viên ngọc ở đây sẽ nổ tung và biến mất.
 
Hàng ngày có biết bao kẻ phàm phu tục tử chết đi, bù vào đó cũng có không biết bao nhiêu trẻ thơ ra đời trên thế gian và trên toàn  cõi Việt nam, ta không cai quản hết họ được, mà cũng không phải việc của ta. Bây giờ hãy nghe và nhớ, năm nay đất nước nhà ngươi thống nhất, nên ta cho ngươi một niên hiệu. Trước đây miền Bắc là dân chủ cộng hòa, còn miền Nam là cộng hòa; nay thống nhất thì dùng chung niên hiệu là năm cộng hòa, năm nay gọi tắt là cộng hòa I, bất luận con người gán cho nó tên gọi thường hay hoa mỹ gì.  Còn đây là khẩu quyết, ta chỉ đọc khẩu quyết này một lần, nhắc lại cho ta nghe một lần.
 
Sau khi dậy khẩu quyết cho Sen, Phật Bà bay thẳng lên trời, y phục của Ngài dần dần trở nên vàng ánh rồi khuất hẳn trong mây. Từ đó Sen luôn gọi các năm là cộng hòa thứ mấy, còn khẩu quyết là điều tuyệt mật, trong tương lai chắc chắn là phải dùng, nhưng trớ trêu nhất là phải cho người khác trước rồi mới tới lượt mình sau cùng, đó là quyền lực, ngài đã nói vậy? Quyền gì? Đó là nhiệm vụ không thể bàn cãi. Mà năm kẻ may mắn kia là ai, tại sao họ lại được hưởng sự may mắn ấy? Phải chăng họ là chỗ thân quen của Phật Bà?
 
Đêm nay sẽ phải truyền sức cho đại tá Ngũ, đại tá John, sẽ phải có Simon phụ giúp; mà còn cả trung tá Huỳnh Chí Công nữa chứ. Xác hắn chắc là có vấn đề rồi, đã lâu không quan tâm tới ai, nhưng hôm nay thì phải quan tâm đây. Ở Khe Sanh có năm vong hồn bọn mình, Ngài lại cho 5 viên ngọc, không biết Ngài có ý gì? Quả là Thánh ý, ta không hiểu được.
 
Đà nẵng ngày 20 tháng 3 Ất Mão
(Nhằm ngày 30 tháng Tư năm cộng hòa thứ I)
 

[1] Ông Võ Nguyên Giáp đôi khi cũng được gọi là anh cả.
[2] Kissinger là chủ nhân của nhiều bằng tiến sỹ, cố vấn chính trị của Hoa Kỳ trong hiệp định Paris về Việt nam 1973. Nobel hòa bình 1973.
[3] Stew là một món nấu kiểu Ý, giống chua ngọt của ta.
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-01-06 01:31:59Ct.Ly>
Chương III
 
CHỐN XƯA
 
(…ở Khe Sanh trở về Denver, ai nấy đều hồ hởi như nông dân trúng vụ.  Nhóm này thì dự định bản tin sáng mai sẽ có tít là ‘’Xác ướp Ai Cập trên cao nguyên đất đỏ’’, còn nhóm kia thì tính dùng tít ‘’Khe Sanh, nơi thiên thần hạ cánh’’. )
 
Trời chiều se lạnh, sắp vào Thu. Một làn mây xám trắng sà xuống vạt cây dương cạnh hồ, Simon nhẹ nhàng đưa John đáp xuống một ngọn cây dương nhỏ.
 
Đây là quê ông, nước Mỹ, là Hoa Kỳ của ông; đã hơn 10 năm kể từ ngày ra đi, ông không được nghe dòng Mississippi reo vang, không được nghe tiếng vó ngựa Texas… Là một người yêu nước như bao người, John không kìm nổi sự thèm khát, ông vùng ra khỏi Simon, sà xuống vạt cỏ bên đường cho thỏa lòng mong nhớ, để thấm đẫm bụi bặm thời gian. Simon cũng không tránh khỏi cảm xúc đến dồn dập, giống như hàng trăm triệu người Mỹ khác, ai ai cũng muốn được trở về nơi mình đã sinh ra.
 
Hồ Havasu, nơi đây đầy ắp những kỷ niệm ấu thơ của John. Nhưng từ cuối những năm 50, ông đã chuyển sang làm việc tận Massachussetts, rồi khi nghe tin ông tỷ phú Mc.Culloch mua được cây cầu cổ London Bridge, từ tận mãi Anh Quốc, mang về làm cảnh cho thành phố, ông đổi ý, giữ lại ngôi nhà cũ đang chào bán. Bây giờ vợ ông chắc cũng về đây ở, hy vọng không gặp khó khăn gì khi tìm bà ấy.
 
Đằng kia một chiếc xe lăn với một bà lão đang trơ trọi giữa con đường nhỏ. Thấy ông bạn già bỏ đi khá lâu, bà bất giác gọi:
 
-Alt! Đâu rồi?
 
Chẳng có ai, chỉ có tiếng gió lay lá cây rì rào.
Tít đằng xa kia, một ông lão đang loay hoay tìm cách bước ra khỏi lùm cây, cái ba-toong có chân làm ông khó chịu. Ông là Albert, dáng thấp bé tuổi chừng 80, vào bụi cây để xả nỗi buồn, khi đi ra bị chính cái áo bành-tô và cây gậy của mình làm phiền, quên cả kéo khóa quần.
 


 
(Cảnh hồ Havasu)
 
Sau khi phấn khích với cảnh quê hương trìu mến, John đã nhận ra vợ mình đang cô đơn trên chiếc xe lăn. Việc tìm ra bà vợ già dễ dàng bao nhiêu thì giờ đây ông lại khó chịu bấy nhiêu, chật vật với cơn ghen đang uất lên, ông gọi Simon để bầy tỏ tâm tình.
 
-Simon, nhìn kìa, bà ta là vợ tao, còn lão kia là Albert, hàng xóm của tao, bây giờ chúng sống với nhau. Thằng già này có lẽ phải lâu nữa mới đến chỗ bà ta. Còn ‘’bảnh trai’’ gớm nhỉ, thân xác hắn sao mà ‘’nhẹ nhàng’’ thế, mới giữa Thu mà đã áo trong áo ngoài.
 
Kể ra lão già này cũng cố chấp và ích kỷ thật, khi ta không còn thuộc thế gian, tại sao không muốn người đàn bà kia thuộc về người khác; mà với mình thì phải xem có bõ bèn gì không đã, làm bạn để đẩy xe đưa bà ta đi dạo hàng ngày ư chăng?! Simon đã nghe ông kể chuyện này nhiều lần, nhưng vẫn hỏi lại cho ông bớt đi phần nào cú sốc của sự tái ngộ vội vàng.
 
-Thế ra là khi còn ở nhà, ông vẫn đi dạo nơi này sao?-Simon tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi.
 
-Đúng là vợ chồng tao vẫn… chưa từng bỏ nơi này. Sau mỗi tuần đánh vật với các bài giảng, khi trên lớp, lúc dưới phòng thí nghiệm, tao lại về đây. Bà ấy trông yếu lắm, chắc là mới phải ngồi xe lăn. Tao bây giờ chỉ muốn làm làn gió, đến bên bà mà thì thầm rằng: tôi đã về, và tôi vẫn yêu em-John như muốn thảng thốt.
 
-Ồ! Tuyệt, có phải đây là một áng thơ chăng? Ông muốn tôi giúp không? Xem đã nhé.
 
Simon biết rằng rồi đây ông sẽ mệt, nhưng trước sự thăng hoa của một mối tình già sau nhiều chục năm, anh không đành lòng. Vừa lúc có con chim sâu bay ngang, Simon vẫy xuống. Nó ngoan ngoãn cho John mượn tấm thân mảnh mai của mình. John bay lại đậu vào vai, rồi vào mu bàn tay của bà mà thì thầm.
 
Hơn 10 năm qua, kể từ ngày John đáp máy bay đi Việt nam, bà không bao giờ quên ông; nay bỗng dưng nghe đâu đây tiếng thở than, tiếng lòng của mối tình từ thơ ấu, bà thảng thốt, gấp gáp gọi:
 
-John, jon, anh ở đâu?
 
Simon thấy có chiều không ổn, anh kéo John ra, thả cho con chim sâu bay về tổ, vừa lúc Albert lê bước về tới, tiếng gậy lộc cộc làm bà quay đầu lại:
 
-Alt, tôi thấy như John về, đang ở đâu đây.
-Thôi nào, chắc chỉ là ảo giác, ông ấy đã ra đi cách nay…hình như…8 năm, bà còn nhớ ngày ấy bà đã vẽ bản đồ Khe Sanh lên tường không? Ông ấy đã ra đi ở đấy.
 
-Có lẽ vậy, cuộc chiến cuối cùng rồi cũng kết thúc, cũng đi vào dĩ vãng mang theo rất nhiều người đã chung lưng đấu cật với nó trong hành trình ấy; đó phải chăng là cách tốt nhất để chôn vùi chính nó.-Bà trắc ẩn rồi như chìm vào tĩnh lặng.
 
-Ừ phải, em luôn luôn đúng, một triết lý rất chính xác.-Albert cảm thán về lời lẽ của bà, có lẽ ông ta yêu bà hàng xóm già này cũng vì thế.
 
-Ông cũng cảm thấy thế sao? Một khi anh đã cầm súng, phàm anh đánh cho bên nào thì anh cũng sát nhân.
 
Albert đã sống chung với bà từ ngày nghe tin John bị mất tích ở Khe Sanh, nay đã quen tính khí của bà, họ đưa nhau về trong hoàng hôn đang dần buông.
 
Được nghe họ trò chuyện, họ đối thoại về ông và về thời cuộc mà John không cầm lòng được. Bà ta vẫn rất yêu chồng, ngay từ khi mình còn ở nhà, bà ấy đã có vấn đề với đôi chân, nay thì đã hoàn toàn không dùng được nữa. Ông đã yêu, đã cưới rồi chung sống với bà mấy chục năm qua. Cuộc sống không con cái có vẻ hơi cô quạnh nhưng thay vào đó ông đã dành hết tình yêu cho bà.
 
Phía trước một con người luôn luôn có những điều ngoài dự định đang rình rập họ. Là một tiến sỹ tâm lý học, ông đã dành hầu hết thời gian sau các bài giảng về tâm lý cho một đề tài nghiên cứu về tác dụng tâm lý của một vài chất ma-túy đối với bộ binh. Thế rồi ông đã sang Việt nam và bỏ xác lại nơi đó. Những kẻ khác đều đến Việt nam theo một lý tưởng là bảo vệ tự do, còn ông thì thực tế hơn chúng rất nhiều.
 
Nếu đề tài của ông được công bố rộng rãi thì không biết sẽ thế nào, cả thiên hạ đều biết những loại chất dopping ấy và họ đổ xô đi săn lùng và thưởng thức nó, ông sẽ ra sao? Thật khủng khiếp! Mới hình dung đã thấy ghê sợ, trước khi nhận đề tài, ông không hề nghĩ đến điều này. Ông bây giờ thì chẳng còn sự nghiệp, chỉ còn yêu vợ, yêu cuộc sống và yêu nước Mỹ; nhưng ở thế gian có còn đâu một ông đại tá John Einstrule danh tiếng lẫy lừng, mà chỉ còn tình yêu thiêng liêng ấy.
 
Simon đã không giúp ông tiếp tục giao tiếp với vợ, ông bực bội phản đối, chửi bới và văng tục với Simon. Nhưng rồi sau cũng nhận ra rằng mình không thể làm theo ý mình; còn Simon, mặc dù khó chịu vẫn phải kiên nhẫn thuyết phục.
 
Đã bao năm qua, ông ta vừa là cấp trên, vừa là giáo sư của mình. Một thầy một trò mang nhau vào cuộc chiến, rồi lại một thầy một trò nay trở về quê mẹ. Đồng đội trở về dẫu rằng vinh quang hay tủi hận, họ vẫn trả lại cho mẹ tấm thân do Người đã sinh ra; còn ta khi ra đi trong hào quang, trong hứa hẹn; nay về đây không cần gõ cửa, chẳng một tiếng reo hò. Simon chia sẻ nỗi đau của John rồi ôn tồn:
 
-Nếu ông ở lại đây, ông có đẩy xe đưa bà ấy về được không? Trong khi Albert làm được, đúng không?
 
-Tao cóc cần, tao là người Mỹ, đây là nước Mỹ, tao muốn ở lại đây và đầu thai ở đây. Mày cút đi, tao không cần mày, không có tình thầy trò nào cả, quên hết…
 
John đau khổ, không chịu nổi bức xúc trước những khát khao được trở lại cuộc sống của một con người trên đất Mỹ.
 
-Cái chúng ta cần hiện nay là nhanh chóng tái đầu thai, ông có muốn điều đó không? Tôi đưa ông về không phải để ông thăm bà ấy, mà chúng ta đang tìm cơ hội để báo cho ai đó rằng chúng ta đang cần trở về nước Mỹ. Ông là một nhà tâm lý học mà không nhận ra rằng bà ta không còn khả năng, không giúp được gì nữa sao? Đi thôi, bây giờ đi nhé- Simon vẫn kiên nhẫn.
 
-Tại sao không đầu thai ở đây được? Tại sao? Tao làm con chó con mèo ở đây cũng được. -John vẫn không muốn lại rời bỏ nơi này.
 
-John, thầy hãy nghe tôi nói. Không giống như người khác, chúng ta chết ở Khe Sanh, nằm trong khu vực bảo bọc của một núi đá thiêng, hiện nay chúng ta là vong hồn. Phàm tất cả những ai chết trong đó đều tạm thời tồn tại cho tới khi có người chôn cất tử tế, sau đó sẽ lần lượt tái đầu thai. Đó là cơ chế hành chính của khu vực ấy.
 
-Chó má thật! Còn sống cũng hành chính, nay tim đã ngừng đập cũng vẫn bị hành là chính.
 
John không hiểu gì về cơ chế này, nay nghe Simon nói làm ông mông lung, giận dữ quá mức rồi chửi bới. Có lẽ ông còn bực bội vì mình không có sức lực như hồi còn sống để dộng cho Simon một trận, ngày mới đến Khe Sanh ông vẫn làm thế.
 
Simon chỉ nghe Sen nói với hắn sơ lược về một cơ chế áp dụng cho những vong hồn xuất thân từ Khe Sanh, rồi hắn thêm mắm thêm muối vào thành quan điểm để nói với John, may mà ông cũng chịu.
 
Hắn lại dìu John nhằm theo hướng Đông-Bắc bay về khu nhà cũ của mình. Việc bay dọc theo hướng Bắc – Nam là việc dễ nhất, bài đầu tiên mà Sen dậy cho Simon khi mới tập bay. Những ngày đầu, trước sự ngạc nhiên của nàng, Simon đã thoăn thoắt bay Sài gòn –Hà nội, và anh vẫn làm như thế mỗi ngày.
 
Theo cách tính toán của Simon, bằng việc lợi dụng được hiệu ứng nghịch từ để bay ngược chiều quay trái đất, anh đã đưa John từ Khe Sanh về đến hồ Havasu trong vòng 6 giờ 30 phút; đây đã là một kỳ tích. Hôm nay  trước sự ngạc nhiên đến sững sờ của John, họ về tới Denver trong giây lát.
 
Con phố Condore vào giờ này vẫn rất đông người. Căn nhà số 138, nơi đây anh đã ra đi, Mary xinh đẹp của anh đã đứng lặng như cây thông trước ngõ, nước mắt tuôn rơi như bao người tiễn nhau ra trận. Bức thư duy nhất mà anh nhận được là nàng tả ngày anh ra đi, nàng buồn nhớ, nỗi nhớ như tất cả nỗi nhớ của thế gian cộng lại. Mình thật hạnh phúc vì có người vợ tốt, nhiều thằng cùng đơn vị với mình, vợ đi ngoại tình ngay trong tuần tiễn chồng ra trận, trước khi chết còn nhắc tên vợ với sự căm phẫn, điên cuồng.
 
Simon không gặp khó khăn gì khi về lại căn nhà của vợ chồng anh hồi trước, anh vẫn đùa với John là chúng ta bây giờ không cần gõ cửa, John đùa lại là lên giường với vợ không cần cởi áo quần. Bây giờ thì điều đó đang là hiện thực, John cười rồi thầm cám ơn Simon, và ông lại cười khi nghĩ đến một thằng Simon không có thân xác đang tâm tình với vợ.
 
Ở Mỹ người ta có thể đổi nhà luôn cho phù hợp với thực tế của mỗi hoàn cảnh gia đình, nhưng Mary đã không làm thế, nàng còn giữ cả con mèo vàng Lisa mà Simon ưa thích.
 
Dù ở Mỹ hay đâu đâu trên thế gian, giống mèo luôn được Thượng đế ban cho khả năng kỳ diệu, chúng có thể giao tiếp với người âm, Simon kỳ vọng vào nó, có thể nhờ nó để báo cho Mary là anh vẫn nằm đó chăng?
 
Vừa vào tới nhà, con Lisa đã quấn lấy anh, nó nhẩy lên giường ngủ rồi so-fa của chủ; nó cuống quýt cọ vai, gãi đầu vào chân bàn. Sau 8 năm mà nó vẫn còn khỏe mạnh, nhưng cũng nặng nề hơn trước, trông như một con cọp con, bộ lông vàng xuộm có vằn và lốm đốm đen. Simon nhẹ nhàng gọi nó lại, nhưng trước khi nó chế ngự được niềm hân hoan tái ngộ với chủ là một màn biểu diễn nhẩy qua bàn phấn, chẳng khác gì khi Simon còn ở nhà. Đồ trang điểm của Mary rơi xuống sàn nhà kêu lốp cốp làm nàng hoảng sợ. Từ trong nhà tắm, còn nguyên bọt xà phòng trên người, nàng mở cửa bước ra quát mắng Lisa. Nàng có vẻ hơi béo ra nhưng vẫn rất đẹp, vẫn đài các thế; khuôn mặt thanh tú, cặp giò thon dài, bầu vú tròn đều, thật quyến rũ.
 
Simon đã từng ôm ấp Lisa trong lòng hàng giờ khi rảnh rỗi. Nay thì khác, anh đến gần Lisa, nói cho nó hiểu rằng bà chủ của nó không hề biết sự có mặt anh trong nhà. Nó ôm anh vào lòng, nghe lời anh đến gần Mary, cọ vai cọ đầu vào chân nàng. Mary ngồi xuống, bớt giận rồi vuốt ve Lisa, nó luồn vào trong vòng tay, cọ vai vào chân vào đùi vào mông nàng. Rồi Mary ôm theo Lisa vào bồn tắm.
 
Trước khi đi Việt nam hay những ngày trác táng ở Sài gòn, Simon đã từng chung chạ với rất nhiều đàn bà, nhưng chẳng ai để lại ấn tượng trong anh. Mary vẫn là người mà anh lo lắng quan tâm và yêu thương hết lòng. Đáng lẽ họ định sinh con nhưng vì Mary còn trẻ nên họ tính để sau khi Simon đi Việt nam về; nghĩ cũng chẳng vội. Sau bao năm không gặp lại Mary, Simon không cầm lòng được, anh nhập thân vào con Lisa, tha hồ ôm ấp, thưởng thức khuôn mặt khả ái, tấm thân ngọc ngà của nàng, họ quấn lấy nhau trong cuồng si.
 
John như chẳng quan tâm tới chuyện riêng của họ, ông vẫn bùi ngùi nhớ người vợ già, nhớ về quê cũ. Ông lang thang trong căn nhà rộng, tìm hiểu đủ mọi ngõ ngách. Nào gương nào tủ, nào tranh chép của Leonard De Vinci, Bremnant và cả tranh  sơn thủy hữu tình của Tầu nữa. Ông ngắm nghía mãi rồi nghĩ thằng Simon này chơi tranh rất tạp, tùy hứng, nhưng kể ra cũng được, tạm vơi đi nỗi nhớ. Ông vừa giải trí thư giãn vừa chờ cho Simon chuyện trò với vợ, hy vọng họ giao tiếp được với nhau.
 
Bỗng nhiên trong khi xem lại bức Sơn Thủy hữu tình, ông sửng sốt thấy phía sau có một mảnh giấy nhỏ có các dòng kẻ sẵn như ông đã gặp ở Việt nam, trẻ em ở đó vẫn dùng loại giấy này. Càng sửng sốt hơn khi ông đọc thấy trên đó là vài dòng chữ viết tay bằng tiếng Pháp, nét chữ tuyệt đẹp mà ít ai có thể viết giống như thế được; nội dung chỉ vắn tắt báo tin Simon đã hy sinh ở Việt nam, xác đang được ướp, không ký tên mà chỉ ghi Bác Sỹ đã ký.
 
Có thể đây là dịp may, nếu nhờ vào việc này mà xác Simon được tìm thấy thì mình chắc chắn cũng vậy. Nếu thất bại ở đây thì chỉ còn cách duy nhất nữa là đến thẳng bọn MIA, mà không biết có cách nào để lại tin nhắn cho chúng không? Đám đồng đội cũ thì nhiều, chắc chắn chúng cũng đã tổ chức tìm kiếm mà không thấy mình. Bây giờ đã hết chiến tranh, hy vọng họ sẽ cố hơn nữa.
 
Bỗng có tiếng gõ cửa như ai đến thăm, dù không thể thấy được trăng sao trong ánh đèn thành phố, nhưng John đoán giờ này cũng không còn sớm.
 
-Mary, anh về đây! Cốc, cốc.
 
Hắn lại gõ và lên tiếng gọi. Một giọng đàn ông khàn đặc, nghe có vẻ giang hồ.
 
-Em đang tắm, mở cửa mà vào Tômy ạ!
 
Mary từ trong nhà tắm nói vọng ra, rồi tiếng khóa cửa kêu lạch cạch. Xuất hiện trước mắt John là một thân hình lực lưỡng, khuôn mặt rám nắng, da nâu sậm, mái tóc để dài ngang vai, lưng hắn đeo một cái ba lô màu xám dài tới đầu gối, hơi thở sặc sụa mùi Marijuana.
 
Mary từ trong nhà tắm bước ra lộng lẫy, tay ôm con mèo Lisa đang hiền từ nằm gọn trong lòng, nàng đang sẵn sàng hiến dâng, định bỏ Lisa xuống so-fa chạy lại ôm lấy thằng Tôm. Nhưng chưa kịp thì Lisa đã vùng ra khỏi vòng tay của Mary, vồ thẳng ngay vào mặt thằng Tôm, cào xé không thương tiếc lên khuôn mặt hắn. Tôm hoảng hốt bóp chặt cổ Lisa, đẩy ra, nhưng chẳng dễ như hắn nghĩ. Một lúc sau hắn cũng thoát được, nhưng hầu như khắp nơi từ đầu, cổ đến mặt mũi đều trầy trụa, máu ứa ra nhiều. Mary không hiểu chuyện gì xẩy ra với Lisa hôm nay, mọi ngày nó cũng rất quý Tôm.
 
-Thằng chó đẻ! Trong khi chúng tao bỏ xác nơi chiến trận vì tự do, vì thanh danh của nước Mỹ; mày ở nhà làm giàu, hưởng thụ và ngủ với vợ tao à?
 
Sau khi dùng thể xác của con Lisa để đánh ghen một trận làm thằng tình địch khiếp vía, Simon thả cho con Lisa về với góc tối của nó, anh xả nốt cơn ghen vào John. John bám vào vai dìu hắn ra ngoài, nghỉ tạm bên rặng cây trước cửa rồi ông vỗ về:
 
-Chúng ta đã không còn thuộc về thế gian nữa Simon ạ, mày hãy nghe tao đã, không nên ghen làm gì. Chẳng phải mày đã chỉ trích tao đó sao?-John ôn tôn giảng giải.
 
-Nhưng…-Simon không diễn tả được rõ ràng cảm xúc của mình, mặc dù đó chỉ là cơn ghen, rất đơn giản.
 
-Mày có biết tao phát hiện ra cái gì trong nhà mày không?-John định bàn ngay về bức thư tiếng Pháp mà ông vừa xem qua.
 
-Ông nói đi, cái gì?-Simon sốt ruột.
 
-Một bức thư tay, báo tử, viết bằng tiếng Pháp, gửi từ Việt nam.-Bằng một tin khá giật gân, John đã đưa Simon trở lại với thực tế công việc của họ.
 
Simon chợt nhận ra mình đã thuộc về Sen, họ đã thuộc về nhau từ khi tim anh ngừng đập, cơn ghen vừa rồi chỉ là ngộ nhận từ ký ức. Simon bần thần nhớ lại nhưng gì vừa xẩy ra với anh, tự cười mình rồi hỏi:
 
-Chúng ta có nên để bức thư đó lại không, có lẽ nên mang theo.-Simon có ý không muốn còn để lại vết tích gì liên quan đến anh ở đây, anh vẫn còn rất yêu Mary.
 
-Mày quên mày là ai sao? Nếu nghĩ mang theo được thì mày vào lấy đi.-John nhắc cho Simon nhận ra mình chỉ là vong hồn, nhưng dẫu sao anh cũng muốn vào xem tận mắt bức thư ấy.
 
Mặc cho Mary chăm sóc các vết thương cho Tôm, con Lisa thì trốn biệt lên gác. Simon thản nhiên đi vào thẳng bức tranh Sơn Thủy hữu tình mà anh gửi về cho Mary sau một kỳ nghỉ ở Hồng Kông.
 
Quả là một bức thư, nói đúng hơn là một thông báo quan trọng, viết bằng tiếng Pháp trên một trang giấy học trò Việt nam. Bức thư viết bằng ngòi bút máy giống như Pilot mà cũng không hẳn là nó, mùi mực cũng lạ, nội dung rất ngắn gọn thông báo:
 
Simon Bryant Bastow, Serial No. 2233608, MOS 2133, bị thương nặng vào tim, không cứu chữa được, bác sỹ quyết định ướp xác, anh ta đã thực sự ngừng thở ngày 25 tháng 3 năm 1968. Bác Sỹ đã ký. MP.
 
Quả là nàng đã viết bức thư này, nét chữ thật tuyệt. Ở Việt nam người ta vẫn coi chữ bác sỹ là chữ xấu nhất, nhưng nàng thì khác. Đặc biệt là sau khi kết thúc, nàng luôn luôn viết MP, một cách viết tắt mà Simon chưa có dịp hỏi, nhiều lúc anh cứ phán bừa như là Military Police (quân cảnh).
Chỉ trước đây vài phút, Simon còn giận dữ sau cơn ghen, anh chỉ muốn biến ngay khỏi nơi này. Còn bây giờ, hơn bao giờ hết, sau khi đọc những dòng thư của Sen viết về cho Mary, Simon rất muốn về Khe Sanh sớm, vì nơi đó có Sen đang chung thủy đợi chờ, nhưng thật thanh thản nhẹ nhàng, anh tự nhủ sẽ giành cả kiếp sau cho nàng.
 
Một bác sỹ Việt cộng chẳng những đã cứu chữa một người lính Mỹ, rồi yêu và ướp xác anh ta, mà còn viết thư báo cho gia đình anh ta trong lúc mạng sống của mình còn chưa chắc giữ nổi. Người đàn bà này không thể thuộc về người khác được, và ta cũng khó mà tìm được ai khác như nàng.
 
Simon đi tìm Lisa để an ủi nó lần cuối, vừa lúc anh nghe thấy Tôm nói với Mary:
 
-Có lẽ anh nên đi đã, hôm nay là ngày trăng tròn. Em có biết nó thế nào không?- Hắn ôn tồn với Mary, có vẻ như cũng yêu chiều lắm.
 
-Nhưng anh còn đau lắm.- Mary cũng có lòng thương hắn thật. Simon không còn ghen nữa nên thấy thương hại nàng.
 
-Em ạ, anh là người gốc da đỏ, đây là quê anh nên anh hiểu những điều huyền bí có thể xẩy ra trong những ngày trăng tròn. Con Lisa thường rất quý anh, nhưng hôm nay nó thể hiện hành vy lạ, anh không nên ở lại. Vài ngày sau anh lại về, anh sẽ đền em.- Tôm có vẻ hiểu chuyện, nhưng không kiên quyết được, hắn cứ nấn ná mãi, còn Mary thì níu kéo.
 
Simon thấy vậy, mặc dù cũng chẳng ghen nữa nhưng trong khi anh đi tìm Lisa, đã ngầm tính làm gì để đuổi hắn đi cho sớm. Con Lisa thấy Simon đi tìm, nó không để anh mất thời gian, chạy lại quấn lấy anh.  Vừa lúc Tôm mở cửa đi ra, họ hôn nhau ngoài cửa rất tình. Anh ngầm hiểu rằng thằng Tôm đã giành được nàng!
 
Dùng bàn tay khéo léo của Lisa, Simon đã lấy được bức thư ra khỏi khung hình, Lisa ngậm bức thư ở giữa miệng, đi tìm cây chổi, nhưng nhà này đã bao giờ dùng chổi?! Sau một vài khắc cũng có ‘’vũ khí’’ để dùng.
 
Mary vừa đóng cửa thì thấy Lisa từ góc trong đi ra, miệng ngậm một tờ giấy gấp làm tư trông rất quen. Rồi Lisa đi trên 2 chân sau, 2 tay nó kéo theo 1 cây lau nhà cũ. Mary bất giác nghĩ đến cây chổi biết bay, nàng hoảng hốt, tựa lưng vào cánh cửa, và quả là cây lau nhà cũng bay được. Lisa ôm cây lau nhà nhún mạnh, nó đứng trên đỉnh rồi nhẹ nhàng hạ xuống vai đi-văng da của Mary, nàng đang khuỵa cả hai chân xuống, mặt tái đi. Trước sự hoảng hốt của Mary, nó lại bám vào đầu cây lau nhà mà nhún, lần này nó để cây lau nhà lại trên nền nhà rồi tung lên bám vào tấm rèm cửa, từ đó nó thả bức thư đang ngậm trong miệng ra.
 
-Lisa!
 
Mary cố gắng hét lên quát Lisa, tiếng vọng của chính tiếng gọi ấy đã làm nàng thoát ra khỏi ảo giác, rồi nàng lần mò tìm điện thoại, gọi cho cứu thương và cảnh sát.
 
John ở ngoài chờ Simon khá lâu, ông đã thấy Tôm mở cửa mang hành lý theo ra xe rồi nổ máy chạy thẳng. Trong bụng ông đang cười thầm:
 
-Từ ngày yêu một bác sỹ Việt cộng, thằng này ghen quá, còn hơn cả dân Á Đông. Hết thở từ bao năm mà còn tham, có Sen rồi thì nên buông Mary là vừa con ạ.
 
Bỗng ông thấy xe cảnh sát rồi sau đó là cứu thương hủ còi inh ỏi, rồi tiếp đến là nhà báo, ánh đèn chớp từ trong ra ngoài liên hồi, sau đó là Simon đi ra, còn nhoẻn miệng cười tươi. Thằng này chắc là mãn nguyện rồi, lại dùng sức con Lisa để làm gì đó.
 
Trước mặt cảnh sát, bác sỹ và các nhà báo, với bức thư của Sen gửi về và cây chổi lau nhà cũ làm bằng chứng, Mary đang tả lại việc cây mob lau nhà bay như thế nào, dĩ nhiên là nó đã bay lượn rất uyển chuyển trong căn phòng hẹp.
 
Cảnh sát lấy dấu tay và chụp ảnh khắp nơi trong nhà, kể cả nơi mà Mary giấu bức thư tay, họ thừa nhận sự khéo léo của kẻ đã lấy bức thư ra, chỉ để lại một mẩu giấy rách rất nhỏ. Họ hứa sẽ coi sóc an ninh cho cô và cũng sẽ báo cho POW / MIA[1] vể trường hợp của Simon. Các bác sỹ thì khuyên nên ăn ngủ điều độ, tránh các xúc động mạnh, họ cũng để lại một toa thuốc an thần cho Mary.
 
Bên cạnh mọi sự kiện luôn luôn là cánh nhà báo. Bọn họ vừa mới bận rộn với những sự kiện về người Mỹ cuối cùng rời Sài gòn ngày 30-4, nay lại có tin để viết về người Mỹ đã hy sinh ở Khe Sanh trở về Denver, ai nấy đều hồ hởi như nông dân trúng vụ.  Nhóm này thì dự định bản tin sáng mai sẽ có tít là ‘’Xác ướp Ai Cập trên cao nguyên đất đỏ’’, còn nhóm kia thì tính dùng tít ‘’Khe Sanh, nơi thiên thần hạ cánh’’.
 
Denver ngày mai sẽ tràn ngập sự giật gân, thành phố này sẽ nổi tiếng, khách du lịch sẽ về đây nhiều lắm. Simon cười thầm rồi chào hỏi John, không quên xin lỗi vì để ông chờ lâu.
 
Bây giờ mới cuối mùa Thu, nếu được ở đây vào ban ngày để được tắm mình trong nắng và gió thì thật tuyệt. Denver và công viên Elitch, rồi khu giải trí Coors Field, chẳng biết tên thật của chúng là gì, mà trước khi đi Việt nam chúng vẫn là như thế. Nếu bây giờ được đầu thai thì chỉ vài năm sau là lại được nhìn thấy chúng. Tuyệt thật! Nếu mình được dẫn Sen đi dạo nơi này, không biết nàng sẽ nói gì.
 
Sau khi ghé qua một ngôi đền phật giáo ở phố Lawrence, Simon và John phải tranh thủ về gấp, nhưng John vẫn níu kéo Simon đưa ông qua thăm trung tâm tài chính phố Wall, nơi ông đã làm việc nhiều năm với tư cách là chuyên gia tâm lý trong tiếp thị diện rộng[2], rồi cũng thành danh ở đó. Họ về đến Khe Sanh trước khi trời sáng.
 
 
Khe Sanh, Rằm Tháng Bẩy năm Ất Mão
 
 
 
 
 
 
 
 

[1] Những cơ quan của Hoa Kỳ chuyên lo việc tìm tung tích của nhũng binh sỹ mất tích trong chiến tranh.
[2] Mass marketing.



📎 khesanh
Đăng nhập để trả lời
0


Chương IV
 
ĐÊM HỘI VONG NHÂN
 
(Đã 10 năm, Sen gắn liền với rừng sâu núi thẳm. Ba năm đầu sống nhờ dương gian mà chẳng thấy có chút gì là dương gian cả, vì đó là Khe Sanh, và phía bên kia, sau một khe núi hẹp là Lũng Tử)
 
 
 ‘’Này bạn ơi! Hãy nói với tôi là bạn có thấy,
Trong ánh bình minh sớm mai nay. Niềm tự hào trong ta..’’
Oh, say, can you see, by the dawn's early light,
What so proudly we hailed at the twilight's last gleaming?
Một giọng trầm buồn đang ngân nga quốc ca nước Mỹ, không biết cất lên từ phía nào. Đại tá Ngũ khó chịu quát mắng:
 
-Ai? Thằng nào nghêu ngao đấy? Đây là đâu hả?
 
Sau bẩy tám năm nằm xuống, ông vẫn còn thói quen trong quân ngũ; là sư trưởng thì muốn gọi ai là ‘’thằng’’ chẳng được.
 
-Ô! Đại Tái, ông khỏe không? John hát đấy mà, hôm qua tôi đưa ông ta về thăm Hoa Kỳ, nay nhớ nhà, nhớ quê, ‘’bệnh yêu nước’’ ai chẳng có; chỉ có tôi là chẳng có gì - Simon đến trước mặt ông Ngũ, chào hỏi rồi bênh vực cho John.
 
-À ra thế, Si-mông đấy hả? Mày mới đến à?- Đại tá Ngũ chợt nhận ra ‘’hàng xóm’’ của mình.
 
Gọi đúng tên hắn bằng giọng của ông dễ làm hắn giật mình, Simon nói khi ông gọi ‘’Simon’’ làm hắn có cảm giác bên cạnh tình địch, thà cứ gọi là Si-mông, nghe lại ‘’vui tai’’.
 
-À này, ông xuống đây, lắng nghe đi! – Simon đỡ đại tá Ngũ từ ngọn cây thốt nốt xuống mặt đất.
 
Quả là dưới này nghe thấy nhiều hơn. Khắp nghĩa trang mênh mông, đâu đâu cũng vang lên tiếng hát, có thể mỗi người đều hát bài ca của mình, bài ca mà họ yêu quý trước khi nằm xuống.
 
Đã hết một ngày Thu, ráng chiều thôi buông nắng, lá vàng lác đác rơi và gió đã thổi nhiều. Mỗi năm chỉ có một ngày như thế, người thân đi viếng mộ ngày này cũng không ít. Nhiều người cho rằng Thanh Minh viếng mộ bề trên, ngày rằm tháng Bẩy dành phần cho tình riêng, tình bằng hữu, mỗi người đều có lý của mình. Một số người vẫn còn lưu luyến chưa muốn về, thậm chí còn lưỡng lự như muốn xem lại mình còn thiếu điều gì chưa nói, chưa tỏ cùng người thân đang nằm lại nơi đây. Những người khuất mặt khuất mày thì tranh thủ gặp gỡ, trao đổi với nhau đủ thứ chuyện, chẳng khác gì ngày hội.
 
Ở bên Mỹ, người ta dành cho người khuất mặt một tháng, và ngày cuối của tháng ấy cũng có đốt nhà táng. Nhưng dù so sánh thế nào thì cũng vẫn khập khiễng, không thể có sự tương đồng hoàn toàn giữa Hallowe’en phương Tây và tháng Bẩy ở phương Đông. Người phương Tây mặc dù cũng có quan tâm đến mặt trăng và ảnh hưởng của nó, và họ gọi ngày âm là tuổi trăng; song họ tính toán mọi thứ theo dương lịch, họ chỉ xét đến mặt tiện lợi của lịch trong tính toán, quả là duy ý chí.
 
Còn ở đây, họ dùng Âm lịch nhiều; chữ ‘’âm’’ bản thân nó đã toát lên đôi điều ám chỉ sự tri ân của người trần gian dành cho người đã khuất, thể hiện sự coi trọng những đóng góp của những người đã khuất cho thế hệ người đương thời. Mặt khác, theo âm lịch thì cứ khoảng 300 năm lại có một ngày như hôm nay, năm vì tinh tú trong hệ mặt trời cùng hướng về trái đất từ hai phía trái ngược nhau, chúng chia sẻ bớt trọng lượng riêng của trái đất, vì thế con người cũng cảm thấy mình thanh thản hơn. Nếu được đầu thai lại, mình sẽ đi sâu nghiên cứu đề tài này…Simon quả là cũng cảm thấy dễ chịu hơn mọi ngày.
 
-‘’Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc…’’- bỗng từ xa, một giọng nữ trung trong trẻo, lanh lảnh cất lên.
 
Chưa dứt câu thứ 3 của bài hát, đã thấy ngay một bóng hình thướt tha đáp xuống từ một đám mây mỏng tang như sương mai. Cũng như bao nhiêu chiến sỹ khác, ông Ngũ là một người yêu nước, có lý tưởng; mặc dù không biết hát nhưng rất yêu ca nhạc, nay đang nghe đâu đây, ai đó trong đêm đang ngân lên bài quốc ca Việt nam, ông như giãn ra.
 
Nữ bác sỹ Tô Thị Sen đáp xuống từ phía Đông-Nam làm ai cũng thấy huyền ảo, cảm xúc như đang diện kiến tiên sa. Mặc dù biết nàng là của Simon mà ông Ngũ cũng không khỏi bồi hồi, nhưng rồi cũng trấn an được mình và ông lui vào sau bụi cây gai.
 
-Sen-Sen, vào đây, đang buồn, đi đâu đó một chút nhỉ, anh với đại tá ngồi đây đã lâu.- Simon lăng xăng, vừa như muốn làm vừa lòng Sen, vừa như muốn khoe với thiên hạ rằng nàng là của hắn.
 
-Đã dặn rồi, gọi là Sen hay Tô, cả đêm nằm bên nhau không đủ sao?- Sen không vừa lòng với cách xưng hô rất Mỹ của hắn.
 
-Anh cũng định như thế, nhưng chẳng thể làm được em yêu ạ, tình yêu trong anh cứ dâng lên, thật không thể …-Simon phản ứng yếu ớt.
 
-Nhưng cách xưng hô giầu biểu tượng là để mang lại năng lượng sống, chúng ta hiện nay không ai có thể xác. Trong khi bộ não vẫn đang còn sống, sống rất yếu ớt; phải chấp nhận một cách sinh hoạt, một cách gìn giữ bộ não để nuôi dưỡng cảm xúc trong mọi hoạt động. Ngày nào ‘’chị’’ chẳng nói với ‘’cậu’’ điều đó.
 
Sen tỏ ra nóng nẩy. Simon thì cười thầm, nghĩ bụng, khi nựng nựu cũng xưng là chị, khi nóng nẩy cũng xưng là chị, chẳng biết đằng nào mà lần. Mà thực ra họ chẳng mấy rảnh rang nên thông cảm được. Nay lo chống mối, mai lại chống ẩm, ấy là chưa kể phải đi tìm cách nhắn cho người còn sống biết mình đang còn tại nơi này rồi chỉ đường cho họ tìm thấy xác mình mà mang về; thấm thoắt đã 7-8 năm kể từ ngày nằm xuống, chưa có được một ngày được yên thân. Những người còn sống thì ai ai cũng ngày đêm lo bảo vệ mình và những người thân khỏi lưỡi hái của thần chết, ấy là chưa kể ngày 2 bữa và chăn áo mặc quanh năm.
 
Hai người đang từng ngày mong có cơ hội tái đầu thai, họ thề sẽ yêu nhau suốt trong kiếp ấy.
 
-Ừ,… tui… đồng ý, nhưng mà…-Simon cũng thuận nhưng tỏ ra khó khăn.
 
-Đã hơn một lần, ‘’chị’’ nhắc là tình yêu hay tình ghét là thứ dành cho con người, ý tôi là con người có thân xác, và gọi đó là tính xác thịt. Chúng ta có còn xác thịt không? Hiện nay chúng ta là ai?
 
Sen không những muốn mắng mỏ Simon, thực ra cô còn muốn nhân tiện nói luôn cho cả ông đại tá già đang lấp ló đâu đây nghe luôn thể.
 
-Cô cậu định lừa cả thiên hạ đấy chắc?- Ông Ngũ từ bấy lâu im lặng, bỗng thấy Sen có ý muốn cho mình nghe câu chuyện của họ, không nhịn được nên tham gia.
 
-Chào đại tái, anh khỏe chứ, sao ngồi như là anh hùng ‘’núp’’ thế? Suýt nữa em ngồi lên anh.- Sen định không chào hỏi, nhưng ông ta lên tiếng trước.
 
-Cô được Phật Bà quan âm độ cho có khác, năm ngoái cũng như tụi tôi, bây giờ có đám mây để bay, đẹp thế!
 
Ông Ngũ đã nghe và quan sát từ bấy lâu, dường như cũng muốn chuyện vãn với Sen. Biết Simon sẽ không vừa lòng nhưng ông đã lỡ lên tiếng, chẳng lẽ không nói một lời khen. Simon từ ngày yêu Sen cũng biết ghen, mà còn ghen hơn cả người Việt.
 
Bề ngoài, Sen như sắt đá, nhưng từ trong sâu thẳm, nàng là một thôn nữ nền nã không gì sánh bằng. Là con một gia đình trí thức nghèo, sinh ra và lớn lên trong 2 cuộc chiến tranh liên tiếp. Mặc dù bố mẹ cùng làm giáo viên dậy pháp văn ở Hà nội, nhưng họ chủ yếu sống ở nông thôn. Cuộc sống gian khổ nơi tản cư đã làm cho Sen nhu mỳ chẳng khác gì gái quê chân lấm tay bùn.
 
Sau khi tốt nghiệp hạng ưu của y khoa Hà nội vào cuối 65, nàng nhập ngũ, hy vọng làm được cái gì đó cho đời. Quả vậy, cái đầu tiên nàng làm được là thay đổi lý lịch gia đình, bố mẹ nàng trở thành phụ huynh của bộ đội, được trọng vọng hơn. Khi hết bắn phá thì được chuyển về Hà nội dậy học.
 
Ngũ, Sen và Simon, John và Công, vẫn hay tụ tập nơi đây. Bây giờ được Phật Bà thêm sức cũng vẫn vậy, ngoài quê hương, rồi Khe Sanh, nơi đây cũng là một nơi để nhớ của họ. Những ngày rằm hay đầu tháng, họ hay tụ tập nơi góc một nghĩa trang thuộc địa phận tỉnh Quảng Trị. Hết nói chuyện phiếm lại ngắm nhìn người đời đi thăm thân nhân trong nghĩa trang, rồi lại thăm hỏi những ai còn vô thừa nhận nơi đây.
 
Rất nhiều người cũng mất mạng trong những trận giao tranh ác liệt ở mặt trận này nhưng ở phía Lũng tử, vong hồn của họ lập tức nhập thân vào động vật hoang dã trong vùng mà không chờ được hỏi ý kiến. Có thể nói nơi đây là một địa danh đặc biệt nhất trên toàn chiến trường miền Nam Việt nam. ‘’Đây Khe Sanh, kia Lũng Tử’’ không chỉ là một câu nói cho thuận miệng của người sống mà còn mô tả một sự thật nghiệt ngã ngay cả với những người đã chết.
 
Phàm tất thảy chúng sinh nơi trần thế, ai ai cũng được sinh ra từ trong lòng người mẹ, được chăm lo, được nựng nịu yêu chiều; nhưng khi mất mạng sống trên giang hồ hay chiến trận, cái chết đến với mỗi ai mỗi khác. Những người đã mãn nguyện về với chín suối, ít ai muốn tái thế làm người, có thể vì họ đã trải nghiệm nhiều trái ngang đau khổ. Nhưng ngược lại, những ai còn oan khuất hay chưa qua đủ các vòng hỷ, nộ, ái, ố của một kiếp nạn, người ta còn muốn sống thêm cho đủ. Thậm chí có nhiều kẻ còn nhìn vào kiếp trần ai như một thiên đường, có thể họ có lý. Không có lý sao được một khi con người, hơn hẳn động vật ở chỗ không những chỉ có thể xác, trái tim và khối óc; mà con người, và chỉ con người, còn có tâm hồn, nơi ấy là cái nôi của yêu thương, hờn giận.
 
Là một bác sỹ, Sen yêu thương con người theo cách riêng của mình. Ngay sau khi trái tim nàng ngừng đập, như một phép mầu, vẫn còn năng lực để làm những gì cần làm cho Simon và cho mình. Simon sinh trưởng trong một gia đình nông dân thuộc Colorado, từ nhỏ đã được tắm mình trong nắng mưa và cỏ cây, trên những cánh đồng thẳng cánh cò bay. Hắn là kỹ sư, tốt nghiệp khoa chế tạo vũ khí thuộc đại học Massachusset; lấy vợ đẹp, đài các con nhà thành phố. Chẳng những giỏi kỹ thuật, hắn còn ham thích nghiên cứu cả vật lý thiên văn và triết học phương đông; rất nhiều tham vọng. Đường đời hắn đi phẳng phiu, dễ chịu như du xuân. Nhưng đến một ngày hắn thèm khát những cú sốc của chiến tranh, và thế là cuộc đời hắn sang trang.
 
Simon bị thương ở Lũng Tử, một toán du kích mang hắn đến trại của Sen. Vì vết thương quá nặng nên Sen bó tay, nhưng thay vào đó, nàng đã làm hết khả năng để hắn có được hôm nay. Một người thân xác đã bất động, tan dần nhưng tinh thần còn rất minh mẫn, hắn còn được Sen truyền dậy cho nhiều điều mà nàng học được từ Phật Bà quan thế âm.
 
Hôm qua cùng John về thăm Mỹ, nay Simon còn nhớ nhà hay ghen tuông với bạn trai của vợ, y không muốn chuyện trò gì mà chỉ núp bóng Sen Sen của hắn. Simon yêu Sen nhưng cách đối xử của hắn với nàng chẳng khác nào với chị hay em gái mình.
 
-Chào đại tái Việt Cộng, hình như ông có nghe tôi hát, giọng tôi thế nào?- John trở lại và lên tiếng chào trước, làm như không biết việc đại tá Ngũ quát mắng mình ban nãy.
-Chào đại tái Hoa Kỳ. Giọng ông còn được nhưng nghe buồn lắm, hát quốc ca mà buồn thế sao?- Sau khi Simon can gián, Ông Ngũ bớt khó chịu rồi trở nên thân thiện hơn.
-Không buồn sao được, ở Mỹ, chắc chả thằng nào thèm nhòm ngó tới chuyện tìm bọn tôi cả, có chăng thì tìm bọn khác chứ hồ sơ về Khe Sanh coi như đã xong. Rất chán. Tôi mới gặp mấy thằng đang vất vưởng kiếm ăn đằng kia, chúng cũng chết ở Khe Sanh ngày ấy, đang tìm cách đầu thai ở đây cả.
 
John dường như nghe được gì hay ho lắm nên hồ hởi khoe. Khi còn ở Mỹ, ông là giáo sư, chuyên gia tư vấn tâm lý…trước khi sang Việt nam ông cũng là giáo sư của viện quân sự Masachussetts. Ông rất đa tài và đa tình, nghe nói ông rất chung thủy với vợ nhưng đồng thời cũng chung tình với dăm ba người đàn bà trẻ đẹp khác. Trước là thù, nay chết nằm chung một khu nên trở thành hàng xóm, ông Ngũ cũng cùng cấp, cùng lứa với ông John, họ vẫn gặp nhau ngày rằm và mồng một hàng tháng.
 
-Chúng nó là những bọn không còn minh mẫn như chúng ta, nhưng lại có những ý tưởng khôn ngoan thế sao?
 
Ông Ngũ cũng nhận ra sự cố chấp của mình, chính vì cố chấp nên tư duy không thoáng, không cởi mở và dẫn đến hạn chế nhiều trong công việc trước đây. Ba người họ đang nói chuyện vãn vô đề thì John trở lại, ông trao đổi với ông Ngũ rồi cũng hòa vào với những chuyện vô đề vô bổ của cả nhóm.
 
Thực ra chẳng có chuyện gì ra chuyện gì nên mới gọi là vô đề. Ông Ngũ thì đoán mò là Sài gòn mới giải phòng xong được mấy chục ngày, chắc còn lộn xộn lắm, còn Simon thì không chịu cách nói ấy; hắn cãi là thực ra Sài gòn mới bị chiếm, tình hình sẽ còn lộn xộn lâu. Ông Ngũ thì cho là Simon xúc phạm ông, một chiến thắng vang dội như chẻ tre của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mà còn không thừa nhận? Còn Simon thì chỉ coi 30 tháng tư là sự may mắn của phía Bắc Việt.
 
Cuối cùng thì Simon vẫn lấn được ông Ngũ vì hắn có vẻ nhiều chữ nghĩa hơn. Hắn khảng định mình đúng khi nói ‘’vận may’’ vì từ này được thừa nhận, cất lên trong chính một bài hát mà Việt cộng dùng làm bài xung trận cho quân đội như ‘’vận nước đã đến rồi…’’, và rõ ràng là gặp đúng lúc chính phủ Hoa Kỳ gặp nhiều rắc rối và suy kiệt về tài chính. Khi ông Ngũ đã đuối lý thì chỉ phản đối yếu ớt là ‘’mày ngụy biện’’; Simon còn bồi thêm rằng Bắc Việt không thắng nổi trong những cuộc hành quân cảm tử hồi 68-69 vì hồi ấy dịp may chưa tới, điều đó càng củng cố thêm lập luận của hắn. John thì khác, ông chỉ chào hỏi cho qua rồi ngồi nghe, nhưng cuối cùng thì cũng chẳng nhịn mãi được nên tỏ ra bất bình:
 
-Này, chúng mày nói nhiều quá, vô đề vô bổ thật, nhưng lại gây khó chịu cho tao…
 
Nói rồi John bỏ ra xa, vào trung tâm nghĩa trang, nơi ấy quang đãng, ông thả cho hồn mình tràn ra trong thiên nhiên hoang vắng, ru hồn mình trong ánh trăng rằm vàng xuộm đang tưới lên khắp nơi nơi. Dù là bạn hay thù, dù đang ở nơi đâu trên thế gian, chẳng có ai nghĩ đến việc phải giành giật ánh trăng cho mình. Ở phương Đông, nhiều thi sỹ mượn ánh trăng để gửi cái bóng nghèo của mình vào; mà nghĩ cũng phải, thi sỹ thì có gì để bán, họ rao bán ánh trăng trong thơ. Ở Mỹ thì khác, mặc dù không mua bán ánh trăng nhưng họ mua bán đất trên đó, mới nghe nói có thằng đăng ký độc quyền sở hữu đất mặt trăng, chia lô rồi, đang chào bán đất khắp nơi, giá rẻ nhưng cũng kiếm sống được.
 
 
X
 
X                                X
 
Tháng Bẩy là tháng mưa ngâu, thế mà đêm nay trăng soi vằng vặc. Đúng là làm thượng đế thì muốn làm gì thì làm, chẳng năm nào lại giống năm nào cả. Gần khu nghĩa trang có hai anh em con mèo mun, chúng giống nhau như hai giọt nước, đi đâu cũng có nhau. Mẹ chúng mất sớm trong một cuộc tranh giành bạn tình với hàng xóm. Sen đặt tên cho chúng là Mộc và Mạc, mới 6 tháng tuổi mà to lớn lừng lững như đã là thanh niên. Đám mèo cái trong vùng hâm mộ lắm, chúng tranh giành nhau cả ngày, chỉ đêm đến thì Mộc Mạc mới được yên. Bọn chuột đồng thì tuyệt đối không bao giờ dám đùa, đứa nào xúi quẩy lọt vào tầm mắt của anh em Mộc Mạc trong vòng 20 mét thì coi như số phận đã an bài, trong chớp mắt nó sẽ được hóa kiếp. Cuộc đời anh em nhà Mộc Mạc quả thật hạnh phúc, an nhàn. Kể cũng phải, không cần tranh giành miếng ăn, không phải hơn thua vì bạn tình, không tranh giành biên giới. Còn danh tiếng và nhan sắc, chúng không ai thua ai, mèo cái luôn luôn sẵn sàng hiến thân cho chúng.
 
Những đêm trăng sáng như đêm nay, anh em chúng thường ra nghĩa trang để cải thiện, có thể chuột nghĩa trang có hương vị khác chăng?! Nhờ có bộ lông màu đen tuyền bóng mượt, anh em Mộc Mạc như lẫn vào cây rừng, chỉ trừ 2 cặp mắt sáng quắc, Sen nhận ra chúng từ xa mặc dù đêm nay trăng rằm. Anh em chúng đang tiến vào nghĩa trang, vừa đi vừa cọ vai vào nhau, hiện thân của tình yêu thương hết mực, điều này thì ngay cả những cặp anh em sinh đôi của con người cũng không sánh bằng. Bọn chuột nghe tiếng từ xa, chúng nín thở chạy trốn nên chỉ còn nghe tiếng bước rón rén loẹt xoẹt.
 
Sen rất yêu quý anh em Mộc Mạc, nàng đang ngắm nhìn điệu bộ anh em chúng. Vừa lúc đó lại nghe một tiếng gió lay như có ai đang tới gần, quả vậy, hắn cất tiếng gọi Simon, y đang núp cạnh Sen, thỉnh thoảng chõ mỏ ra đôi co với ông Ngũ.
 
-Simon, Simon! Tao thấy mày đang ở đây mà, Việt cộng chiếm Sài gòn hồi 30-4 mày biết không, bọn Robert, Nick rồi mấy thằng nữa rút theo không kịp, đang vất vưởng ở Sài gòn.
 
Hắn là Huỳnh Chí Công, trung tá Việt nam cộng hòa, cũng chết trong Khe Sanh, thấy Simon ngồi đó, hắn nói liền một mạch như sợ có ai đó nói mất phần mình, chắc hắn nghĩ không ai biết những gì xẩy ra từ tết đến giờ.
 
Simon vẫn vờ như đang ngủ gật, Sen đằng hắng nhẹ, báo cho hắn biết là Simon ở đây không chỉ một mình, rồi ông Ngũ lên tiếng:
 
-Ê, tưởng mày là ai, hóa ra là một thằng ngụy quân à? Hết thời rồi, biết không?
 
-À, ra thế, mày nghĩ mày là ai? Là người chiến thắng à? Cả đời chỉ lo leo cao, lẽ ra tới đại tá rồi thì nên nghỉ. Đằng này mày còn muốn tham sao tham vạch nên bây giờ thì sao hả? Những thằng khác nó hưởng, mày hưởng cái gì, có lên cấp tướng được không?-
 
Công cũng phản ứng gay gắt. Là người đồng cấp cùng một sư đoàn mà Simon không muốn giao du với Công, có lẽ sợ cái tính nói nhiều của hắn. Sen càng không muốn tham gia vào chuyện của họ, thực ra những đề tài của người dương gian không còn mặn mòi gì với nàng. Nhiều lúc bực dọc buông xuôi cho họ cãi vã với nhau, nàng chẳng can dự lấy nửa lời; hôm nay cũng vậy.
 
-Tao cóc cần mày dậy thế. Tao hy sinh cho dân tộc, nhân dân tao. Mà sao mày không theo bọn Mỹ đi luôn đi, ngứa mắt!
 
Đại tá Ngũ là một sỹ quan cao cấp, đảng viên cộng sản, không dễ thua một tên trung tá Việt nam cộng hòa, ông bắt đầu trở nên mất bình tĩnh, gay gắt hơn.
 
-Nếu như tụi tao Bắc tiến thành công thì sao? Mày hy sinh cho ai? Đây là nước tao, quê tao, mày mới nói tao phải đi đâu?
 
Công cũng chẳng vừa, hắn cũng ra sức bảo vệ quan điểm chính trị của mình. Bỗng nhiên hai con Mộc và Mạc nhẩy xổ vào nhau, ra sức cắn xé; tiếng gầm rú vang động cả một vùng. Sen hết sức bất ngờ về điều này.
 
Hai con đều lực lưỡng như nhau, lúc con này nằm trên, khi con kia vùng dậy, chúng dùng những đòn hiểm trí mạng. Nàng đau đớn vì mình bất lực không thể can gián được, xung quanh nàng chỉ toàn vong hồn không xác, và đáng bất ngờ hơn là hai tên Ngũ và Công đã biến đâu mất.
 
Nàng hoang mang không biết can thiệp cách nào, dùng kiếm với chúng hay sao?! Rồi rốt cuộc nàng ngồi thiền cầu cho anh em chúng sớm nhận ra rằng chúng vẫn là anh em. Dường như sau đó Thượng Đế nghe được lời cầu xin của nàng, bất chợt một cơn mưa như sắp đến, một tiếng sấm rền lên, mây đen đang đùn lên phía chân trời, hai con Mộc Mạc buông nhau ra, chúng thở dốc, kêu đau, kêu khát nước rồi lại cọ vai vào nhau.
 
Mộc Mạc lại yêu thương nhau như vẫn từng như thế, Ngũ và Công không thấy xuất hiện trở lại. Sen có cảm giác như thấy 2 tia sáng xanh lét bay vụt ra khỏi Mộc Mạc ngay sau tiếng sấm, nàng không kịp nhận ra và cũng chẳng muốn nghĩ vì phải cùng Simon đến động viên chúng, hướng dẫn cho chúng đi giải ra đất, làm cho đất ngấm nước giải đều rồi nằm đè vết thương lên đó. Đây là niệu liệu pháp mà nàng vẫn cần đến trước đây. Vì nàng và Simon bây giờ là người âm, không nên gần nước giải nên hai người dặn dò Mộc Mạc xong thì lui về lại Khe Sanh. Trăng đã lên ngang đầu, trên đường về Sen thầm nghĩ nguyên nhân của cuộc xô xát đầy sát khí của anh em Mộc Mạc là do Công và Ngũ nhập vào, không thể có nguyên nhân nào khác.
 
Simon đi Sài gòn ngay, anh cũng muốn xem có giúp gì được ai không, còn Sen đi thẳng đến chỗ đại tá Ngũ. Ông sư trưởng quá cố vẫn còn chưa nghỉ, định chào hỏi ngọt ngào với Sen nhưng nàng đã mở miệng chặn trước:
 
-Tôi không trách ông nhiều, chỉ muốn nói với ông rằng ông nên nhận ra mình hiện nay là ai. Ông có nghĩ mình sẽ đầu thai làm kiếp chuột để làm mồi cho bọn Mộc Mạc không?
 
-Em nóng với anh làm gì? Anh bực quá nên làm bừa, mà nhìn thấy thằng ngụy ấy là không nhịn được.
 
-Tôi không quan tâm đến cái bực của anh, chỉ biết rằng anh và nó đã lợi dụng thân xác Mộc Mạc. Chúng đau lắm, anh biết không? Mà các anh là đàn ông, làm một trận cho ra trò rồi thôi. Cùng là lính, nhưng phục vụ cho hai guồng máy chính trị khác nhau, chứ các anh có phải là chủ nhân các guồng máy ấy đâu, vả lại là chủ nhân của chính mình, là công dân vĩnh vĩnh viễn của mảnh đất này. Đừng làm liên lụy đến người khác, hiểu chưa.
 
Sen có vẻ mất bình tĩnh, nàng quá thương xót anh em Mộc Mạc, ông Ngũ thì tỏ ra biết lỗi, nhưng nghĩ lại vẫn thấy ức. Cả đời hy sinh cho cách mạng, nay thì mạng sống cũng cống hiến nốt; thế mà bị một thằng ngụy quân nó lăng nhục mình, mà cũng có còn máu đâu mà trào ra cho đỡ uất.
 
-Thôi được rồi, anh xin, mai anh sẽ xin chúng nó.
 
Ông Ngũ như thừa nhận đã nhập vào con Mộc cùng lúc Công nhập vào con Mạc, tỏ ra đuối lý rồi làm hòa với Sen. Là sư trưởng, cấp trên của Sen, ông có cảm tình với nàng ngay từ ngày nàng mới chân ướt chân ráo đến nhận nhiệm vụ của lán cứu thương KS47. Không cảm sao được một khi trước mắt ông là một cô gái tuổi ngoài đôi mươi, mới đến từ Hà nội. Dáng nghiêm trang nhưng rất bẽn lẽn, mắt trong veo nhưng rất tình trong cái cười chất phác, tất cả của nàng đều toát lên một vẻ rất quyến rũ, rất dễ làm xiêu lòng các đấng lang quân chững chạc.
 
Nàng đã từng ân cần chăm sóc ông những ngày ông bị thương, nàng không từ chối ông việc gì, kể cả tắm giặt. Những lúc ông cảm thấy yêu nàng nhất cũng là lúc ông không thể cất tiếng nói lên lời, âu cũng là số phận. Rồi một ngày, những trận chiến đấu ác liệt diễn ra, một toán du kích địa phương đã gặp Simon trong rừng, họ đưa hắn đến lán của Sen, và rồi sau đó họ thuộc về nhau; ông đã yêu Sen rồi lại mất nàng như thế.
 
Sen phải chen qua mấy khe hẹp mới về được đến chỗ nằm của mình. Simon trở lại Sài gòn để tìm bạn cũ, hồi 20 Tháng Ba chỉ lo mau mau về với Sen Sen nên không quan tâm đến bạn bè. Đêm lạnh; thân xác hắn vẫn nằm bất động dưới tấm vải niệm, nay đã ố vàng, hai tay vẫn ôm chặt lấy Sen. Cảnh âu yếm với Simon làm nàng cảm thấy dễ chịu, chẳng còn giận ông Ngũ nữa. Nàng để ý thấy ‘’con chim’’ của hắn vẫn cứ như đòi bay ra, hồi trước nàng đã hiến thân đời con gái của mình cho hắn như thế; rồi nàng bẽn lẽn đi nằm.
 
Từ khi trái tim ngừng đập, không còn khoảng cách về văn hóa hay ngôn ngữ với Simon, không cần ánh sáng vẫn có thể đọc nhật ký, dễ chịu thật.
 
Đã 10 năm, Sen gắn liền với rừng sâu núi thẳm. Ba năm đầu sống nhờ dương gian mà chẳng thấy có chút gì là dương gian cả, vì đó là Khe Sanh, và phía bên kia, sau một khe núi hẹp là Lũng Tử. Nhưng dù Sanh hay Tử, ở đó cũng không thể đoán chắc điều gì, con người không có quyền nói gì về mạng sống của mình, quyền  đó thuộc về chiến tranh.
 
Ngọn lửa của chiến tranh Việt nam như dồn hết về đây, mỗi lúc một bốc cao. Hoa Kỳ tăng cường thêm vô số cả quân lực lẫn vật lực, chỉ để chứng minh một điều là bản thân mình hùng mạnh. Còn Sài gòn thì luôn bị lép dưới bóng một người đỡ đầu khổng lồ, xét cho cùng một đứa con muốn ra ở riêng cũng chẳng phải chuyện của ngày một ngày hai.
 
Việt cộng không chịu lép, họ quyết cảm tử nơi này. Chỉ có 3 năm ở đây mà ấn tượng về nó hầu như là tất cả. ‘’Cửa vào miền Nam’’ hay ‘’Con đường cao nguyên’’ rồi còn gọi là ‘’Lối đi chiến thắng’’ cũng là đây. Từ Khe Sanh, người ta có thể triển khai quân đi xuống khu 5, vào Sài gòn, hoặc rút về hậu cứ bên Căm Phu Chia , Lào hay miền Bắc đều dễ dàng. Cả Hà nội và Lầu Năm Góc  đều không ai đánh giá thấp vị trí của Khe Sanh trong chiến tranh Việt nam.
 
Khe Sanh đã thuộc về Bắc Việt sau hơn 70 ngày cả 2 phe thi nhau tưới máu mình lên đất đỏ ba-zan. Bắc Việt có nhiều lợi thế về quân lực kèm theo ý chí cảm tử, ngược lại người Mỹ và Sài gòn yếu về hậu cần tại chỗ, chậm chạp triển khai hậu cần khu vực Đông á, Lầu Năm Góc bắt đầu gặp bê bối chính trong nước Mỹ, mầm mống của những ung nhọt sau này.
 
Đã 7 năm rồi mà ấn tượng về những ngày khói lửa ấy vẫn còn như mới hôm nào, quả là những trận bão lửa dữ dội chưa từng có trên thế giới trong nhiều chục năm qua.
 
Khe Sanh 16 tháng Bẩy năm Ất Mão (Năm cộng hòa đầu tiên)

Đăng nhập để trả lời
0