📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Cú Vọ và Đàn Bồ Câu - AGATHA CHRISTIE 🔒

51 trả lời, 7.277 lượt xem — Trang 1 / 2
CÚ VỌ VÀ ĐÀN BỒ CÂU
(CAT AMONG THE PIGEONS)
Tác giả: AGATHA CHRSITIE
Người dịch: Vũ Đình Phòng
Thể loại: Tiểu thuyết trinh thám
Nhà xuất bản Hội Nhà Văn (1999)
 

Mẹ thân yêu,
Đêm qua trong trường chúng con xảy ra một vụ án mạng: cô giáo Springer dạy thể dục bị giết. Cảnh sát đến đây từ sáng và thẩm vấn tất cả mọi người.
Bà giáo Chadwik dạy toán ra lệnh cấm chúng con không ai được lộ tin này ra, nhưng con nghĩ rằng mẹ muốn biết mọi tin tức ở đây.
 
Jennifer Sutcliffe là một học sinh trung học 15 tuổi, rất thích chơi tennis. Trước khi vào năm học mới, cô được mẹ, theo lời khuyên của bác sĩ, đưa đến Trung Đông để nghỉ dưỡng, nhằm giúp cô phục hồi lại sau căn bệnh viêm phổi. Một trong những điểm mà mẹ cô chọn đưa cô đến là Ramat, một xứ sở chan hòa ánh nắng.
Cậu của Jennifer, một phi công riêng cho hoàng thân của xứ sở Ramat, đã tử nạn trên đường đưa Hoàng thân thoát khỏi cuộc đảo chính trong nước ông ngay vào khoảng thời gian Jennifer và mẹ đang du lịch ở đó. Xung quanh cái chết của ông, người ta tin rằng có nhiều chuyện liên quan đến mẹ con cô.
Jennifer, như đa phần các cô bé ở độ tuổi đó, rất vô tư và chưa có suy nghĩ sâu sắc. Mùa hè năm đó, cô vào trường Meadowbank - một trường nội trú dành cho nữ sinh. Mọi việc ở trường, nhìn trên bề mặt đều không có gì bất thường, dù có sự hiện diện của một học sinh mới rất danh tiếng là công nương Shaila - người thừa kế duy nhất và hợp pháp của hoàng thân xứ Ramat. Nhưng cô không biết là ở đó cũng có sự hiện diện của “một con cú vọ giữa đàn bồ câu”: cái ác, mà cái ác thì không dừng lại trước bất cứ thứ gì, kể cả giết người, để đạt được điều mà chúng mong muốn…


📎 CVDBCaupic
1
I
Hôm nay là ngày khai giảng của Trường Nữ học nổi tiếng Meadowbank. Đã gần cuối chiều, ánh nắng xiên khoai vẫn còn chiếu xuống những lối đi rộng xuyên qua hoa viên, dẫn đến một toà nhà kiến trúc theo kiểu cổ. Cô giáo Vansittard trong bộ áo liền váy may cắt tuyệt đẹp đang tiếp đón các phụ huynh học sinh đưa con em họ tựu trường.
Ngay cạnh đấy là bà giáo Chadwick, dáng điệu hoàn toàn thoải mái, khiến người ta có cảm tưởng bà là người không thể thiếu trong trường nữ học này. Mà đúng thế, bà giáo Chadwick đã có mặt tại trường ngay từ ngày đầu. Chính bà đã cùng với bà hiệu trưởng Bulstrode sáng lập ra trường nữ học này.
Bà giáo Chadwick đeo kính cận, mặc tấm áo dài hết sức giản dị, thái độ niềm nở. Cần nói ngay rằng bà còn là một giáo viên dạy toán tuyệt vời.
Đám phụ huynh và con cái họ vẫn tiếp tục đi vào toà nhà.
Trong văn phòng nhà trường trên tầng hai, cô Ann Shapland, thư ký riêng của bà hiệu trưởng Bulstrode đang lo gửi thư từ giao dịch đi các nơi. Cô trạc ba mươi tuổi, có mái tóc đen nhánh búi lại và thắt một dải xa tanh sau gáy. Cô vừa làm việc vừa chốc chốc đưa mắt nhìn qua cửa sổ xuống sân trường, nơi học sinh đang tấp nập kéo đến.
Đột nhiên cô thư ký ngừng tay, chăm chú nhìn xuống dưới. Một chiếc xe du lịch cực kỳ sang trọng nhãn Cadillac màu xanh da trời lăn bánh qua cổng ngoài, đến đậu sát thềm toà nhà. Xe vừa đỗ, người tài xế da rám nắng, râu quai nón nhanh nhẹn mở cửa xe bước ra, đĩ vòng sang bên đối diện, kính cẩn mở cửa xe cho một cô gái trẻ da nâu bước ra.
"Có lẽ chính là vị công nương nhà trường đang đợi đấy chăng?" cô thư ký Ann thầm nghĩ và ngay lúc đó cô thầm tự hỏi, liệu nàng công nương mảnh dẻ của một quốc gia Trung Đông kia, khi mặc bộ đồng phục nữ sinh của trường Meadowbank trông sẽ ra sao? Ann nhún vai, quay vào tiếp tục làm việc.
Đây là lần đầu tiên Ann Shapland làm việc trong một trường học. Trước đó cô đã từng làm thư ký cho một trong những nhà doanh nghiệp lớn nhất, thậm chí đã từng làm nhân viên văn phòng cho một bộ của chính phủ, lần đó đích thân ông Bộ trưởng mời cô đến làm thư ký riêng cho ông. Lúc nhận làm việc cho trường nữ học Meadowbank này, Ann đã thầm tự hỏi, liệu làm ở một nơi chỉ toàn nữ giới có tẻ nhạt không? Xung quanh mình chỉ toàn đàn bà con gái!
"Tuy nhiên, ta cũng cứ thử vào làm xem sao?" Vả lại cô đã có Dennis, chàng trai kiên trì, lần nào đi công cán ở Malaisia, Miến Điện, hoặc một quốc gia xa xôi nào đó trên thế giới về, cũng đến tìm gặp Ann ngay và nhắc lại lời cầu hôn với cô. Lần nào Ann Shapland cũng lần lữa, chưa chịu trả lời dứt khoát. Dennis là chàng trai rất đáng quý, nhưng cô e ngại, lấy một người chồng thường xuyên đi công cán nước ngoài liệu cô có chịu nổi không? Cuộc sống của cô có đơn điệu quá không?
Đơn điệu ư? Điều e ngại lúc trước bây giờ quay trở lại. Trường học này chỉ nhận nữ sinh. Các giáo viên cũng đều là nữ. Cả trường không có một người nam giới, trừ bác thợ làm vườn già, ngoài sáu mươi tuổi, lại suốt ngày chỉ cặm cụi trong khu hoa viên của trường. Ann Shapland đang miên man suy nghĩ theo hướng đó thì đột nhiên, lúc đưa mắt nhìn qua cửa sổ xuống vườn, cô chú ý đến một người nam giới lạ mặt đang sửa lại hàng rào cây xanh dưới vườn hoa. Ann chăm chú nhìn, người đàn ông này hoàn toàn không phải ông già, thậm chí còn khá trẻ, vóc người cân đối và dáng điệu đặc biệt nhanh nhẹn.
Ai thế nhỉ? Phụ việc cho bác già Briggs chăng? Hẳn là như thế.
Cô thư ký Ann ngắm nghía anh ta thêm chút nữa. Trông anh ta có vẻ trí thức, ít nhất cũng là người có học vấn cao. Cô thầm đoán, chắc anh ta xin vào làm chân phụ việc cho bác già làm vườn chỉ là làm thêm. Chẳng là giá cả hồi này leo thang, lương không đủ tiêu dùng. Chắc là như thế.
Cô thầm nghĩ : "Dù sao cũng còn có một nam giới để mình trò chuyện những lúc cần giải khuây”. Cô dự định, thảo xong lá thư giao dịch cho bà hiệu trưởng, sẽ lững thững xuống vườn dạo chơi.
0
II
Hai tháng trước đấy, tại một quốc gia Trung Đông diễn ra những sự kiện đảo lộn cuộc sống nơi đó dư âm của nó lan xa, tác động cả đến cuộc sống tại ngôi trường nữ học nổi tiếng trên hòn đảo Anh quốc này.
Trong Cung điện Hoàng gia tại Ramat, hai người đàn ông còn khá trẻ vừa hút thuốc lá vừa trao đổi về triển vọng sắp tới của tình hình vương quốc. Một người có nước da mầu nâu, cặp mắt to màu đen u buồn, chính là Hoàng thân Ali Yusuf, người đang đứng đầu vương quốc Ramat. Tuy là một quốc gia nhỏ, nhưng Ramat lại là một trong những quốc gia giàu nhất khu vực Trung Đông này. Người đàn ông thứ hai tóc vàng, chứng tỏ ông ta là người châu Âu. Đó là phi công riêng của Hoàng thân chỉ sống bằng đồng lương, mặc dù đồng lương hậu hĩ. Bất chấp địa vị hai người hết sức khác nhau, một là chủ và một là người làm công, nhưng họ đối xử với nhau rất bình đẳng và thân thiết. Bởi hai người là bạn học của nhau từ thời Hoàng thân du học bên Anh.
- Vậy là vừa rồi bọn chúng bắn chính là nhằm vào chúng ta? - Vị Hoàng thân lặp lại câu hỏi, dường như vẫn chưa tin vào điều đó.
- Điều đó đã quá rõ ràng, không còn phải nghi ngờ gì nữa - viên phi công Bob Rawlinson đáp.
- Vậy là bọn chúng có mưu đồ thật sự?
- Tất nhiên! Chúng muốn giết chúng ta mà lại.
- Nếu vậy từ nay chúng ta phải hết sức thận trọng.
- Đúng thế. Nhưng bây giờ đã quá muộn rồi. Trước đây hai tuần tôi đã khuyên Hoàng thân nên lánh ra nước ngoài...
- Trốn tránh là điều bất đắc dĩ. Cùng đường lắm mới phải tính đến cách đó.
Sau một chút im lặng suy nghĩ, viên phi công người Anh gợi ý :
- Sứ quán Anh có thể cho chúng ta ẩn náu...
Hoàng thân Ali ngắt lời :
- Trốn vào Sứ quán Anh? Không đời nào! Bọn đảo chính sẽ không tôn trọng quy chế ngoại giao đâu. Chưa kể làm như thế rất nguy hiểm cho ta. Bọn chúng sẽ có cớ kết tội ta cấu kết với Phương Tây.
Người phi công hỏi khẽ :
- Hoàng thân có người nào thân tín trong quân đội không?
Hoàng thân Ali lắc đầu :
- Trước đây thì có, tất nhiên. Thậm chí ta có đến mười lăm sĩ quan thân tín. Nhưng hiện giờ thì ta không còn tin bất cứ ai. Thậm chí ngay trong cung điện này cũng đã có những kẻ sẵn sàng phản bội ta.
Viên phi công Anh gật đần .
- Tôi hiểu.
- Trong cung điện nào trên thế giới chẳng có gián điệp? Chúng ngày đêm theo dõi.
- Thậm chí chúng có mặt cả trong sân bay. Hôm trước, nhân viên bảo vệ sân bay đã bắt quả tang một tên đang lúi húi phá hoại động cơ một chiếc máy bay. Cho nên tôi nghĩ chúng ta chỉ còn cách duy nhất là chạy trốn ra nước ngoài. Mà phải trốn ngay bây giờ. Chậm trễ là sẽ không gỡ lại được.
- Đúng thế. Ta ở lại, sẽ bị chúng giết
Giọng Hoàng thân Ali điềm tĩnh, không một chtút xúc động. Người phi công Anh Bob Rawlinson nói tiếp:
- Lúc này toàn bộ điều quan trọng đối với Hoàng thân là phải bảo toàn cho được mạng sống. Chúng ta bay theo hướng Bắc sẽ không ai nghi ngờ. Tuy nhiên hướng đó toàn núi cao chót vót cho nên máy bay rất dễ gặp chuyện rủi ro. Dù sao cũng không còn cách nào khác.
- Ta rất không muốn ông vì ta mà gặp phải điều bất hạnh.
- Bây giờ không phải là lúc nghĩ đến những chuyện đó. Vả lại tôi chọn nghề này có nghĩa đã chấp nhận sớm muộn sẽ tan xác cùng với máy bay. Lúc này điều duy nhất cả hai chúng ta cần quan tâm là số phận của Hoàng thân.
Hoàng thân Ali im lặng một chút rồi nói:
- Ta hoàn toàn không muốn làm một kẻ trốn chạy. Nhưng ta cũng không muốn bị đám dân chúng kia xé xác.
Sau một lát suy nghĩ, Hoàng thân quyết định:
- Thôi đành. Không còn cách nào khác. Vậy bao giờ ta cất cánh?
- Càng sớm càng tốt. Tốt nhất là ngay bây giờ. Hoàng thân hãy đi xe ra sân bay, viên một cớ nào đó, thí dụ đi kiểm tra công trường xây dựng ở Al Jasar chẳng hạn. Trên đường đi, lúc xe chạy ngang qua bên ngoài sân bay, Hoàng thân ngỏ ý muốn dùng máy bay để kiểm tra từ trên cao nhìn xuống công trường, và cho xe chạy vào sân bay. Đúng lúc đó tôi đã chuẩn bị xong máy bay, chúng ta sẽ cất cánh. Dĩ nhiên Hoàng thân đừng mang theo hành lý gì hết để tránh bị nghi ngờ...
- Ta sẽ không mang theo bất cứ một thứ gì, ngoài...
Nói đến đây. hoàng thân Ali mỉm cười và người phi công thấy đột nhiên nét mặt ông ta biến đổi hẳn. Hoàng thân Ali không còn vẻ mặt một con người đã từng theo học tại châu Âu như mọi khi, mà trở lại là một ông vua phương Đông hiểm độc, đầu óc chứa đầy mưu mẹo để thoát khỏi những hiểm nguy ghê gớm nhất. Ông thọc tay sâu vào tận lớp áo trong, từ từ lôi ra một cái túi nhỏ bằng da thuộc.
Người phi công Anh còn đang ngơ ngác chăm chú nhìn thì vị hoàng thân đã mở chiếc túi nhỏ bàng da, dốc tất cả những gì đựng trong đó lên mặt bàn.
Người phi công Anh như nghẹn thở. Ông lẩm bẩm:
- Lạy Trời. Toàn thứ thiệt đấy sao?
Hoàng thán cười láu lỉnh:
- Tất nhiên!? Những viên kim cương và đá quý này là của cha ta. Người đã tậu được qua các trung gian tin cậy ở Anh, Ấn Độ và ở ngay cả trên đất Nam Phi. Dòng họ vương tộc của ta vốn có lệ đó, luôn luôn trữ sẵn những thứ này đề phòng trường hợp bất trắc... Ông hiểu chứ?
Rồi giọng nói trở nên mơ màng, hoàng thân Ali Yusuf tiếp lời:
- Theo thời điểm hiện nay, toàn bộ số đá quý này trị giá không dưới bảy triệu bảng Anh.
Viên phi công Anh thì thầm:
- Có cái túi này trong người thì quả là vượt qua được bất kỳ trở ngại nào.
- Đúng thế. Nhưng số báu vật này mà có người nhìn thấy thì chưa biết những chuyện gì có thể xảy ra. Những vụ án mạng ấy chứ. Thứ này ta không dám giao phó cho phụ nữ. Họ sẽ không nhịn được mà đeo lên người, thế là mất mạng như chơi. Trái lại ta muốn giao phó cái túi này cho ông!
- Giao phó cho tôi? - Bob Rawlinson kêu lên.
- Đúng thế, vì ông là người lương thiện, và ta biết ông sẽ nghĩ ra được cách giấu kín nó. Sau đây ta sẽ cho ông biết  tên và địa chỉ một người mà ta tuyệt đối tin cậy để ông định liệu, nếu trường hợp ta chết trong chuyến hành trình này… Bởi làm sao con người biết được ý muốn của Thượng Đế Allah?
0
III
Bước chân dọc theo những hành lang ngoắt ngoéo trong cung điện Hoàng gia Ramat, gót giầy nện xuống nền đá hoa cương tạo nên những tiếng vang khô khốc, phi công Bob Rawlinson cảm thấy như xung quanh đang có hàng trăm cặp mắt nấp sau những hàng cột kia lén nhìn mình. Chưa bao giờ ông dám nghĩ là một ngày nào đó, sẽ mang trong người một tài sản thậm chí trị giá chỉ bằng một phần ngàn kho báu lớn lao này. Người phi công Anh cố giữ cho dáng đi cũng như vẻ mặt hoàn toàn tự nhiên để không một người nào trong cung điện có thể thoáng một chút nghi ngờ.
Ra đến sân, các lính canh bồng súng chào Bob. Trong lòng vẫn còn bàng hoàng, viên phi công Anh ra đến Đại lộ lớn nhất của thủ đô Ramat. Giống như mọi đường phố lớn của các thủ đô phương Tây, nơi đây cũng bộc lộ rõ sự chênh lệch quá lớn giữa giàu và nghèo. Ta đi đâu bây giờ? Bob Rawlinson thầm tự hỏi. Ông chưa có kế hoạch nào hết, tính sẽ tuỳ cơ định liệu, nhưng phải định liệu thật nhanh. Thời gian đã gấp gáp lắm rồi.
Đầu óc như mụ đi, không nghĩ được gì hết, Bob Rawlinson quyết định ghé vào một tiệm giải khát để trấn tĩnh. Ông bước vào một quán rượu của dân bản địa, gọi một ly trà đường pha chanh. Khung cảnh nơi này rất thích hợp để ông định thần trở lại. Bàn bên cạnh có hai người đàn ông đang chơi xấp ngửa, mải sát phạt nhau, không quan tâm gì đến xung quanh. Bàn cách xa là một ông già đang nhấm nháp ly rượu, mắt lơ đãng nhìn xuống chiếc ly.
Bob Rawlinson không tin rằng mọi số phận đã được định đoạt từ trên trời, ông theo châm ngôn: "Ta tự cứu mình thì rồi Thượng đế sẽ cứu ta!" Ông thầm tính. Hay đem số báu vật này đến gửi ở Đại sứ quán Anh? Không được! Bởi không đời nào sứ quán chịu ôm lấy một trách nhiệm to lớn đến như vậy. Cách đơn giản nhất là tìm một người tin cẩn, đồng thời người đó lại phải không gây nghi ngờ khi vượt qua biên giới để sang nước khác, thí dụ sang Anh chẳng hạn. Nhưng hải quan nhiều quốc gia, nhất là hải quan nước Anh rất tò mò... Nếu một tài sản lớn, trị giá hàng triệu bảng như thế này, bị họ phát hiện thì chưa biết hậu quả sẽ ra sao? Tuy biết như thế, nhưng Bob không tìm ra được cách nào tốt hơn.
Đột nhiên Bob Rawlinson sực nhớ ra. Mải lo nhiều chuyện quá, ông quên bẵng mất bà chị ruột tên là Joan Sutcliffe, hiện cũng đang có mặt tại Ramat cùng với đứa con gái tên là Jennifer. Sau khi khỏi bệnh viêm phổi, đứa bé được bác sĩ khuyên nên dưỡng bệnh ít lâu tại một nơi nào nhiều ánh nắng và không khí không ẩm thấp. Joan bèn đưa con sang đây. Vài hôm nữa hai mẹ con sẽ trở về Anh, họ không đáp máy bay được mà phải taa2u biển. Bob biết rằng bà chị ruột là người ông có thể hoàn toàn tin cậy.
Ít nhất ông cũng biết rằng không sợ bà chị đem những thứ nữ trang này ra đeo. Điều duy nhất làm ông ngại là tính bà Joan toàng toạc, không giấu được ai cái gì bao giờ. Với tính nết như thế, nếu Bob có căn dặn bà đừng lộ ra với ai thì bà sẽ để lộ ra bằng cách khác, nghĩa là chăm chăm giữ vẻ bí mật như để nói với mọi người rằng "Tôi đang giữ một thứ cực kỳ bí mật đây!" Và như thế còn nguy hiểm hơn.
Nhưng thời gian đã rất gấp, không thể chần chừ được nữa. Viên phi công Bob Rawlinson bước ra khỏi quán hàng và như cái máy, ông đi nhanh về phía khách sạn lớn nhất thủ đô Ramat, có cái tên huênh hoang là Khách sạn Ritz. Cô tiếp viên khách sạn nhìm thấy người phi công Anh, niềm nở:
- Chào ông sĩ quan! Hẳn ông muốn gặp bà chị phải không? Hai mẹ con bà ấy đi pic-nic mất rồi.
- Pic-nic?
Bob không còn tin vào tai mình nữa: tình hình rối loạn thế này mà vẫn đi chơi được? Lại còn pic-nic nữa!
- Vâng, đúng thế đấy, thưa ông. Bà Sutcliffe đi cùng với ông bà Hurst ở Công ty Dầu Lửa. Họ lên đập Katat Diwa.
Suýt nữa Bob văng tục: đi chơi xa thế thì phải nhiều tiếng đồng hồ nữa bà chị ông mới về khách sạn được.
- Cô vui lòng cho tôi mượn chìa khoá phòng bà ấy vậy - cuối cùng Bob nói.
Như mọi khi, phòng hai mẹ con bà Sutcliffe hết sức bừa bộn. Bà chị ông có tính rất ghét sự trật tự, ngăn nắp. Những chiếc gậy chơi gôn quăng bừa bãi trên ghế xa lông, còn cây vợt tennis thì nằm trên giường, áo quần tung toé bừa bãi ra khắp mọi chỗ. Trên bàn, cả một chồng bưu thiếp, với mấy cuộn phim và đủ thứ vật kỷ niệm nhỏ sản xuất tại Nhật Bản, Bombay... Nằm sát tường là mấy chiếc va li, cái đóng cái mở.
Một điều đã rõ ràng. Bob sẽ không gặp được bà chị trước khi lên máy bay chạy trốn cùng với Hoàng thân Ali. Lao lên tận đập Katat Diwa tìm bà Sutcliffe rồi quay về thì không thể được. Tất nhiên Bob có thể bọc cái túi da đựng kim cương, để lại đây kèm theo một mảnh giấy dặn dò, nhưng ông biết rằng ở Ramat này, bất cứ người dân châu Ââu nào cũng bị theo dõi xít xao, cho dù y có cẩn thận đến mấy. Có nghĩa việc ông vào khách sạn Ritz này không thể không có người đã biết. Họ sẽ vào đây, mở cái túi da và đọc mảnh giấy ông viết cho bà Sutcliffe.
Thời gian vẫn tiếp tục trôi nhanh. Hay giữ lại kho báu này? Hoàn toàn không thể được. Bob Rawlinson đưa mắt nhìn khắp căn phòng, đột nhiên ông mừng rỡ. Ông nghĩ ra được một cách. Viên phi công lấy kho báu trong túi áo ra, bắt tay ngay vào việc thực hiện.
Đang làm, bỗng ông giật mình, nhìn vội ra ngoài cửa sổ. Không phải. Phòng bà chị không có bao lơn. Thần hồn nát thần tính, ông đã tưởng có ai ngoài đó đang theo dõi.
Làm xong, Bob thở phào nhẹ nhõm. Vậy là không hề có ai nghi ngờ gì hết. Ngay bà Sutcliffe, và cả đứa cháu gái, tất nhiên càng không ngờ. Bà chị ông là người chỉ quan tâm đến mỗi một mình bà.
Bob Rawlinson cẩn thận xoá mọi dấu vết của công việc ông vừa làm. Sau đấy ông bước đền gần cuốn lốc lịch đặt trên ghế đẩu. Tất nhiên ông phải để lại mấy chữ cho Joan, nhưng viết thế nào để ai tò mò đến mấy cũng không đoán ra được ý nghĩa thật. Nếu viết khéo, còn có thể đánh lạc hướng kẻ nào đọc được bức thư này. Khi về đến nước Anh, ông sẽ tìm cách liên lạc ngay với bà chị.
Bức thư như sau :
 
Chị Joan thân mến, em đến tìm chị định rủ đến Câu lạc bộ chơi vài ván gôn vào tối nay, nhưng chị lại đi vắng, em không gặp được. Nếu có thể được, mai đến gặp em ở Câu lạc bộ Gôn nhé? Vào 17 giờ, được không? Bob.
 
Vậy là đạt được cả hai mục tiêu, Bob Rawlinson thầm tự bằng lòng: bà chị ông không hề biết ông em sắp rời khỏi đây, và như thế có nghĩa cũng sẽ không ai biết. Thêm vào đó là nếu có chuyện gì, không ai có thể nghi ngờ bà Joan Sutcliffe được.
Bob suy nghĩ một lát rồi nhác máy điện thoại, quay số Đại sứ quán Anh.
- John đấy phải không? Bob Rawlinson đây... Đúng thế, Mình cần gặp cậu ngay, càng sớm càng tốt. Chẳng là có một cô ả tuyệt đẹp... cực kỳ hay, nhưng mình lại vụng về làm cô ả giận...
- Mình hiểu. Cậu thì bao giờ chẳng thế, chuyện làm con gái giận. Thôi được, mình sẽ đến gặp cậu lúc 14 giờ.
Thế là xong. Bob đã báo tin được cho sứ quán. "Cô gái tuyệt đẹp" là ám hiệu để chỉ "có một âm mưu lớn đang được chuẩn bị". Bộ máy nghe trộm điện thoại ở Ramat hoạt động rất hiệu quả, nhưng cũng không thể đoán ra dược nội dung điều ông báo tin cho sứ quán.
Bây giờ thì Bob Rawlinson yên tâm. Ông đã báo được cho bạn biết chuyện về "kho báu” và bà chị ông thì không biết bì hết. Bob còn báo thêm cho bạn ở sứ quán biết vài hôm nữa bà Joan Sutcliffe sẽ đưa con về Anh bằng đường biển. Còn những chuyện khác thì hiện chưa thể đoán trước. Hoàng thân Ali Yusuf có thể sang được châu Âu mà cũng có thể bị nạn dọc đường và chết... Còn số phận của Bob thì lại phụ thuộc vào số phận của Hoàng thân.
Liếc nhìn lại lần cuối cùng căn phòng đồ đạc bừa bộn, Bob đặt phong bì vào chỗ dễ nhìn thấy nhất rồi ông bước ra cửa. Ngoài hành lang không có ai.
0
IV
Phòng khách sạn bà Joan Sutcliffe thuê không có bao lơn, nhưng phòng bên cạnh lại có. Tại thời điểm lúc viên phi công người Anh của hoàng thân Ali ra đến hành lang thì bà khách thuê căn phòng bên cạnh cũng rời khỏi vị trí quan sát, tay vẫn còn cầm chiếc gương soi nhỏ. Thật ra, lúc nãy bà ta bước ra ngoài bao lơn chỉ cốt để soi gương nhìn cho rõ sợi lông mọc oái oăm trên ca82m. Sau khi đã nhổ xong sợi lông, bà ta chìa khuôn mặt ra ngoài ánh sáng trời để soi gương cho kỹ thêm, xem còn chiếc lông xấu xí nào nữa không. Tình cờ bà ta nhìn thấy trong tấm gương một cảnh tượng gợi cho bà ta trí lò mò. Chẳng là do đưa lên vào một góc độ nào đó, trên mặt tấm gương nhỏ hiện ra một phần của tấm gương lớn trong phòng bên cạnh, và trên tấm gương này bà khách nhìn thấy hình một người đàn ông, ông ta quay lưng về phía gương, đang lúi húi làm những động tác hơi lạ...
Bà khách tò mò, bèn giữ nguyên vị trí như cũ, đứng bất động tiếp tục quan sát. Bà ta rất bực mình thấy không sao đoán nổi người đàn ông phòng bên cạnh đang làm gì.
Hẳn là người dàn ông đó có thể nhìn thấy tấm gương nhỏ trên mặt tấm gương lớn trong phòng ông ta, nhưng vì ông ta mải mê làm công việc của mình, nên không ngẩng đầu nhìn lên gương một lần nào.
Rồi bà khách phòng bên cạnh nhìn thấy người đàn ông hí hoáy viết lên tờ giấy bóc ở lốc lịch. Sau đó hình người đàn ông biến mất trên tấm gương soi, bà ta đoán ông ta ra gọi điện thoại. Bà cố dỏng tai nhưng không nghe được ông ta nói những gì. Tuy nhiên bà ta linh cảm thấy cuộc trò chuyện trong điện thoại có vẻ không quan trọng. Cuối cùng bà khách nghe thấy tiếng sập cửa.
Chờ một lát cho người đàn ông đi xa hẳn, bà khách phòng bên cạnh lén bước ra hành lang. Một nhân viên khách sạn đang dùng chổi lau phủi thứ gì đó trên tấm thảm. Đợi cho người nhân viên làm xong, đi khuất, bà ta không chút ngập ngừng, bước vào phòng bên cạnh. Cửa khoá, đúng như bà ta dự đoán. Bà ta rút chiếc cặp tăm và mở lưỡi con dao díp nhỏ, bắt đầu loay hoay. Có vẻ người phụ nữ khá thành thạo những loại công việc như thế này.
Chỉ lát sau bà ta đã mở được khoá, bước vào  phòng, thận trọng khép cửa lại. Việc đầu tiên là xem bức thư. Phong bì dán hờ và bà ta dễ dàng bóc ra. Nội dung lá thư làm bà ta chau mày: không có gì đặc biệt. Bà ta vừa dán phong bì như cũ thì nghe thấy có tiếng người trò chuyện dưới sân. Tiếng trò chuyện vọng lên phòng này qua ô cửa sổ để ngỏ, bà ta nhận ra một trong hai giọng nói là của người phụ nữ thuê căn phòng này.
Bà ta bèn bước ra gần cửa sổ để nghe cho rõ. Quả là hai mẹ con bà Joan Sutcliffe đã về và bà mẹ đang to giọng với một người đàn ông Anh. Bà Joan tỏ ra rất bực mình với người đàn ông, có vẻ là quan chức của sứ quán Anh, ông ta vừa mới đề nghị hai mẹ con bà rời ngay khỏi quốc gia Trung Đông này.
- Vô lý! - Bà Joan nhắc lại - Phố xá vẫn bình thường, có gì đâu? Lại một lần nữa chưa chi các ông đã hoảng hốt.
Giọng người đàn ông có vẻ đã quá mệt mỏi:
- Thưa bà, chúng tôi cũng rất mong không có chuyện gì, nhưng trách nhiệm của chúng tôi buộc chúng tôi phải báo vệ tính mạng cho bà và cháu...
Bà Joan Sutcliffe giận dữ ngắt lời người đàn ông:
- Hành lý của chúng tôi cồng kềnh lắm, với lại chỉ Thứ tư này chúng tôi sẽ đáp tàu biển rời khỏi đây. Bác sĩ nói rằng ngồi tàu biển sẽ rất tốt cho sức khỏe của con Jennifer. Cho nên tôi không đáp máy bay của các ông đâu.
Người đàn ông trình bày rằng máy bay sẽ chỉ chở họ đến Aden, sau đó họ có thể lên tàu biển như bình thường.
- Thế còn đống hành lý của chúng tôi?
- Việc ấy tôi xin chịu trách nhiệm.
Không còn lý do để từ chối, bà Joan Sutcliffe đành nhượng bộ:
- Nếu vậy thì tôi đành làm theo yêu cầu của các ông vậy - bà thở dài nói - Bây giờ tôi về phòng sửa soạn hành lý chứ?
- Xin bà chuẩn bị thật nhanh cho.
Trong phòng Joan Sutcliffe, bà khách phòng bên cạnh đọc nhanh nhãn dán ngoài chiếc vali rồi vội vã chạy ra ngoài. Đúng lúc đó, bà Joan bước ra khỏi thang máy, nhưng bà ta phải dừng lại vì cô nhân viên tiếp tân của khách sạn đã cuống quít chạy bốn bậc một lên thang gác, thở hổn hển đuổi theo bà:
- Xin quý bà tha lỗi. Tôi quên không báo bà biết là ông phi công em của bà lúc nãy đến đây tìm bà. Ông có vào phòng ngồi chờ một lát nhưng không thấy bà về nên lại ra và đi rồi.
- Tiếc quá! - Bà Joan nói với con gái - Mẹ đoán cậu Bob cũng hoảng hốt như cái ông ban nãy... Ôi, cận ấy hấp tấp đi ra mà quên khoá cửa phòng, một sơ suất nguy hiểm.
Vào đến phòng, nhìn thấy chiếc phong bì đặt trên bàn, bà Joan Sutcliffe kêu lên:
- Ôi, có thư của ai kìa.
Đọc xong thư, bà Joan leo lên vui vẻ:
- Vậy ra cậu Bob vẫn bình tĩnh! Xem chừng cậu ấy không hay biết gì về tình hình đang nguy hiểm. Nhưng thôi, mẹ con mình phải đóng gói đồ đạc nhanh lên kẻo người ta kêu. Chà, "đảo chính"! Đúng là trò dớ dẩn.
- Chưa bao giờ con được nhìn thấy một cuộc đảo chính đấy - Jennifer nói giọng đăm chiêu. Năm nay em đã mười lăm tuổi.
- Còn lâu con mới được nhìn thấy.
- Ôi tiếc quá nhỉ! - Cô bé thất vọng nói.
0
V
Sáu tuẫn lễ sau, tại nước Anh, một người đàn ông trẻ tuổi kín đáo gõ vào cánh cửa phòng trong một ngôi nhà tại khu phố Bloomsbury ở thủ đô London. Đây là một căn phòng nhỏ. Một người đàn ông to béo, tuổi trung niên, đang ngồi ngủ gật trên chiếc ghế tựa. Tấm áo vét của ông ta nhàu nát và dính đầy tàn thuốc.
Mắt hơi hé mở, ông ta hỏi người trẻ tuổi mới đến:
- Thế nào?
Về cặp mắt của Đại tá Pikeaway, người ta đồn chúng không bao giờ mở hẳn, cũng không bao giờ nhắm hẳn. Một số người khác thì quả quyết rằng ông ta thật ra không phải tên là Pikeaway, và cũng chưa hề là Đại tá. Nhưng lời đồn đại thì tin sao được?
- Thưa Đại tá, ông Edmonson ở Bộ Ngoại giao đã đến - người trẻ tuổi nói rất khẽ.
Pikeaway không hề tỏ thái độ gì. Dường như ông ta vẫn còn ngủ.
- Cậu ta là bí thư thứ ba Sứ quán ta tại Ramat phải không nhỉ?
- Thưa, vâng. Đúng thế.
- Tôi nghĩ tôi cần tiếp cậu ta - ông Đại tá hờ hững nói.
Đại tá Pikeaway ngồi lại cho ngay ngắn, rồi phủi qua loa tàn thuốc dính trên áo vét.
Khách bước vào. Edmonson cao lớn, tóc vàng, trong bộ âu phục hết sức lịch sự, đúng là một quan chức ngoại giao. Thái độ ông ta thận trọng, dè dặt, cũng lại đúng là do nghề nghiệp tạo nên.
- Đại tá Pikeaway, nếu tôi không lầm? - Khách nói - Tôi được người ta cho biết là hai chúng ta nên gặp nhau trao đổi.
- Vậy ư? Mời ông ngồi.
Cặp mắt viên Đại tá dường như muốn nhắm vào, nhưng ông ta cố cưỡng lại.
- Ông có mặt tại Ramat trong những ngày diễn ra cuộc đảo chính đấy chứ?
- Vâng. Những hôm đó thật chẳng vui vẻ gì.
- Tôi cũng đoán như vậy. Bob Rawlinson là bạn của ông phải không ?
- Đúng thế.
- Anh ta đã chết?
- Vâng, thưa Đại tá. Nhưng tôi không biết có nên...
- Ông giấu giếm vô ích. Chúng tôi đã biết hết. Vậy là Bob Rawlinson lên máy bay với Hoàng thân Ali Yusuf ngay từ hôm đầu tiên và sau đó không ai biết tin tức gì về số phận của họ. Cũng có thể họ đã hạ cánh an toàn xuống một nơi nào đó trong vùng núi. Nhưng người ta lại tìm thấy xác chiếc máy bay trên dãy núi Avolez, và thấy cả xác hai người ấy nữa. Tin này đến ngày mai mới được công bố trên đài phát thanh. Tin ấy chính xác chứ?
Edmonson gật đầu. Đại tá Pikeaway nói tiếp:
- Họ bay trên độ cao, rất có thể là gặp gió to. Nhưng cũng có thể do có kẻ phá hoại. Thí dụ chúng gài săn một quả bom nổ chậm. Cuộc điều tra tiến hành đã khá lâu, và đến giờ vẫn chưa kết thúc.
- Tất cả những chuyện đó thật đáng tiếc. Hoàng thân Ali Yusuf lẽ ra rất có thể là một quốc trưởng tuyệt vời, vì ông ta đã được thấm nhuần tư tưởng dân chủ.
- Có khi chính vì thế mà ông ta bị đám kia chống lại. Nhưng chúng ta chẳng nên mất thời giờ vào việc luyến tiếc một ông vua. Tôi được người ta giao cho tiến hành điều tra - một cuộc điều tra nào đó và những người quan tâm sẽ cung cấp tiền bạc, phương tiện. Nghe nói Chính phủ Hoàng gia nước Anh chúng ta rất ủng hộ họ. Ông hiểu ý tôi chứ?
Edmonson điềm tĩnh đáp:
- Người ta đã có nói bóng gió cho tôi biết về chuyện đó.
Đại tá Plkeaway không nhúc nhích:
- Chắc ông biết là một vật rất có giá trị đã bị mất, người ta không tìm thấy trên thi thể các nạn nhân cũng như trong đống xác máy bay. Rất có thể nông dân địa phương đã lục lọi và lấy đi tất cả những gì có thể lấy được, và họ cũng kín tiếng không kém gì các nhà ngoại giao các ông. Bây giờ ông hãy nói cho tôi, ông còn biết được những thông tin gì nữa?
- Không có gì đặc biệt - Edmonson tự ái đáp.
- Ông có nghe nói về một cái gói nhỏ mà người ta đang ra sức tìm chứ?... Nếu không phải thế thì tại sao người ta lại khuyên ông đến gặp tôi?
- Người ta bảo tôi rằng ông muốn gặp tôi hỏi một số điều.
Cặp mắt Đại tá Pikeaway lúc này mới hé mở to thêm đôi chút.
- Nếu tôi đưa ra một số câu hỏi, ông sẽ trả lời nghiêm tức chứ?
- Hẳn là như thế.
- Thôi được. Vậy trước khi lên máy bay rời khỏi Rumat, Bob Rawlinton có nói lộ chuyện gì ra với ông không?
- Về chuyện gì, thưa Đại tá?
Lần này, viên Đại tá nhìn thẳng vào mắt Edmonson:
- Thôi được, ông kín đáo là phải. Nhưng trong trường hợp này, kín đáo là không hợp thời. Nếu quả ông không biết ý tôi muốn nói đến cái gì thì câu chuyện giữa hai chúng ta nên dừng lại ở đây. Tôi e sau này ông sẽ hối tiếc là đã không cởi mở với tôi đấy.
Xem chừng câu nói làm Edmonson bối rối. Ông ta quyết định nói.
- Điều tôi biết thật ra khá mơ hồ. Bob với tôi có thống nhất một kiểu mật mã riêng mỗi khi chúng tôi thông báo cho nhau bằng điện thoại. Lâu lâu anh ta lại cho tôi biết một số thông tin anh ta thu lượm được trong cung điện hoàng gia ở Ramat. Đổi lại, tôi cũng thông báo cho anh ta những điều tôi biết.
- Ông cứ nói tiếp.
Buổi sáng hôm cách mạng nổ ra, Bob gọi điện cho tôi, hẹn hai chúng tôi gặp nhau tại một chỗ quy định. Nhưng hai chúng tôi chưa kịp gặp nhau thì cuộc bạo động đã bùng nổ và cảnh sát chặn khắp các ngả đường. Tôi không gặp được Bob, và ngay buổi trưa hôm đó, anh ta trốn đi bằng máy bay cùng với hoàng thân Ali.
- Ông có đoán được Bob Rawlinson gọi điện thoại từ máy nào không?
- Rất tiếc rằng không.
- Đúng là đáng tiếc thật. Ông quen bà Joan Sutcliffe chứ?
- Chị của Bob? Tôi có gặp bà ta đi cùng với đứa con gái nhỏ, nhưng tôi chưa nói chuyện với bà ta lần nào.
- Hai chị em có thân thiết với nhau lắm không?
Edmonson nghĩ một chút rồi đáp:
- Tôi không dám quả quyết. Bà ta hơn tuổi cậu em rất nhiều, và Bob lại không ưa ông anh rể. Bob thường gọi ông ta là "lão huênh hoang”.
- Bob không lầm đâu. Anh rể ông ta là một nhà kinh doanh tầm cỡ, và loại người đó vô cùng tẻ nhạt. Vậy là ông có cảm giác Bob Rawlinson đã giao phó cho bà chị anh ta một điều bí mật?
- Tôi không dám chắc, nhưng tôi ngờ là như vậy.
- Thôi được, hai mẹ con bà Joan Sutcliffe, sau một chuyến ngao du trên biển Địa Trung Hải, ngày mai sẽ cập bến Tilbury, trên con tàu Eastern Queen.
Đại tá Pikeaway im lặng chăm chú nhìn khách. Rồi, như thể đã quyết định một điều gì, ông ta chìa tay cho Edmonson:
- Ông đến đây là rất tốt.
- TôI rất tiếc đã không giúp ích cho Đại tá được nhiều hơn.
Rồi khách đi ra. Liền sau đó, người đàn ông trẻ tuổi lúc trước dẫn Edmonson đến, quay vào. Viên Đại tá nói:
- Ta đã định cử anh ta đến Tilbury để chặn không cho bà Joan Sutcliffe kia biết tin em trai bà ta đã chết. Nhưng rồi ta đã nghĩ lại. Thằng cha này công tử bột quá. Ta sẽ cử đứa khác. Thằng cha hôm nọ tên là gì ấy nhỉ?
Thưa, Đại tá định nói đến Derek ấy ạ?
- Phải rồi, Derek. Cậu đã hiểu ta tính sẽ làm thế nào chưa?
- Thưa Đại tá, tôi mới lờ mờ hiểu.
- Chưa đủ đâu. Cậu phải hiểu thấu đáo mới được. Nhưng thôi, hãy gọi thằng cha Derek đến đây, ta cần giao một nhiệm vụ cho nó.
0
VI
Viên Đại tá Pikeaway dường như lại định ngủ tiếp thì Derek bước vào.
- Cậu có thích vào làm trong một trường nữ học không? - Đại tá Pikeaway hỏi, không hề có vẻ đùa giỡn.
- Trường nữ học? Tức là trường con gái ấy ạ? - Derek sửng sốt - Chẳng lẽ trường nữ học lại được dùng làm nơi chế tạo bom?
- Hoàn toàn không phải thế. Meadowbank là một trường nữ học nội trú thực sự nghiêm chỉnh, đúng với nghĩa của nó, và còn là một trường nữ học đang có uy tín rất lớn.
- Meadowbank? Thưa Đại tá, tôi chưa hiểu.
- Thế này nhé: công nương Shalla, em họ của Hoàng thân Ali Yusuf và là người thừa kế hợp pháp ngai vàng Marat, sắp vào học ở trường nữ học rất nổi tiếng kia. Trước đây, công nương học trong một trường nội trú ở Thuỵ Sĩ.
- Vậy Đại tá giao cho tôi việc bắt cóc cô bé hoàng tộc ấy chăng?
- Hoàn toàn không phải. Tình hình là thế này. Rất có thể sắp tới sẽ có những kẻ quan tâm đến cô ta. Ta muốn giao cho cậu nhiệm vụ bí mật giám sát cô học sinh công nương kia. Cậu sẽ phải báo ta biết tất cả những nguy cơ nào có thể sẽ xảy ra với cô ta, thí dụ có kẻ nào đó là bạn bè của cô ta đến bắt liên lạc chẳng hạn, bạn bè hoặc họ hàng... thật hoặc giả. Tóm lại, hễ cậu thấy có bất cứ kẻ nào khả nghi xuất hiện ở đó...
- Nhưng tôi làm cách nào để giám sát tại chỗ cô công nương kia được? Tôi có phải thầy giáo đâu mà lọt vào đấy được?
- Mà cậu có là thầy giáo thì cũng không thể lọt vào, bởi muốn xin vào dạy học trong trường đó, điều kiện tiên quyết là phải thuộc giống cái. Cho nên ta nghĩ, cậu chỉ có thể vào đó làm với tư cách thợ làm vườn.
- Liệu có được không?
- Được. Nhưng cậu có làm được thứ công việc ấy không? Ta không lầm đấy chứ?
- Tôi làm được. Hồi còn ít tuổi, tôi đã từng viết một số bài đăng trong tạp chí Người làm vườn.
- Ta biết. Nhưng lần này công việc của cậu không phải là viết những bài lý thuyết suông. Mà cậu sẽ phải thật sự cầm lấy cái cuốc, phải trồng cây, xén cành, cuốc đất hẳn hoi. Cậu làm được không?
- Những công việc ấy tôi đã từng làm trong khu vườn của mẹ tôi hồi tôi còn nhỏ.
- Tốt lắm. Bởi trường Meadowbank đang cần thuê một người phụ việc cho ông già làm vườn ở đó. Ta sẽ xoay cho cậu lấy đủ chứng chỉ về nghề làm vườn để người ta nhận cậu vào làm. Nhưng ta dặn, nếu như các cô học sinh trong trường chú ý đến cậu, phần vì tò mò, phần vì cậu đẹp trai, thì cậu phải có cách ngăn chặn, rõ chưa? Cấm không được dính vào những chuyện dớ dẩn ấy. Ta rất không muốn họ tống cổ cậu ra.
Derek cố nở một nụ cười gượng gạo. Đại tá Pikeaway đã nói tiếp:
- Cậu định lấy tên là gì nào?
- Edden, được không ạ? Đấy cũng là tên một khu vườn khu vườn trên Thiên Đàng...
- Chà ra cậu cũng biết hài hước đấy. Thôi được, vậy từ nay tên cậu là Adam Goodman, thích hợp chứ? Bây giờ cậu về chuẩn bị ngay. Ta đang cần gặp lão Robinson. Hẳn giờ này lão đã đến rồi và đang chờ ta.
Ronnie ngạc nhiên:
- Robinson ạ? Ông ta cũng tham gia vụ này ạ?
- Ta bảo cậu đi kia mà? Đừng bắt ta phải nhắc đến lần thứ hai.
Tiếng chuông cửa kêu một cách kín đáo.
- Lão đến đấy. Lão Robinson này bao giờ cũng đúng giờ.
- Thưa Đại tá, tên thật của ông ta là gì ạ? Tôi muốn được biết.
- Robinson! Đó là tất cả những gì ta biết về lão, và ta tin rằng không kẻ nào biết thêm điều gì về lão ngoài cái tên đó.
0
VII
Người đàn ông vừa bước vào gian phòng nhỏ này hoàn toàn không thích hợp với cái tên Robinson. Giá tên ông ta là Demetrios, Isaacstein hay Perenna thì có lý hơn, bởi trông ông ta giống người Hy Lạp, người Do Thái, người Tây Ban Nha hoặc người ở xứ sở nào đó chứ tuyệt nhiên không có lấy một nét gì giống người Anh, mặc dù ông ta nói tiếng Anh không hề vướng chút âm sắc nước ngoài nào.
Vóc người Robinson to béo, da mặt thiên về phía chủng tộc da vàng, mắt to và đen, đượm chút u buồn, vầng trán cao và cái miệng rất to với hàm răng trắng bóng. Ông ta ăn mặc chải chuốt, hai bàn tay thon mịn, được chăm chút tỷ mẩn như tay con gái.
Cách ông ta ăn nói với viên Đại tá khiến người ta có cảm tưởng như hai vị Vua chúa đàm đạo. Sau vài câu thù tiếp xã giao, Đại tá mời khách một điếu xì gà rồi di vào vấn đề cụ thể hơn.
- Tối rất lấy làm hân hạnh được ông vui lòng hỗ trợ.
“Ngài” Robinson chậm rãi hít một hơi xì gà rồi mới đáp:
- Có gì đâu, ông bạn thân mến. Tôi quen biết rộng và người ta luôn thổ lộ nhiều điều rất riêng tư với tôi. Tại sao họ tin tôi đến thế, chính tôi cũng không biết.
Đại tá Pikeaway bỏ qua câu nói khiêm tốn đó.
- Tôi đoán ông biết việc người ta đã tìm thấy xác chiếc máy bay của Hoàng thân Ali Yusuf…
- Thứ tư vừa rồi. Người lái chiếc  máy bay đó là phi công trẻ tuổi Bob Rawlinson. Nhưng máy bay bị nạn không phải do lỗi ở phi công mà do thợ máy ở sân bay phá hoại từ trước lúc nó cất cánh. Thủ phạm vụ phá hoại đó là nhân vật hiện đang giữ một chức vụ trọng yếu trong bộ máy chính quyền mới ở Ramat.
- Thì ra có âm mưu phá hoại! Bây giờ tôi mới biết. Quả là một câu chuyện đáng buồn.
- Đúng thế. Nhưng tôi không nghĩ chúng ta gặp nhau để nuối tiếc quá khứ! Tôi nghĩ rằng hai chúng ta gặp nhau hôm nay là vì một điều chúng ta cùng quan tâm, có thể lý do quan tâm khác nhau giữa hai chúng ta, nhưng đó chính là những thứ mà vị hoàng thân xấu số kia để lại trên cõi đời.
- Cụ thể là…?
Ông Robinson nhún vai.
- Một tài khoản khá lớn ở ngân hàng Thụy Sĩ, một khoản tín dụng nhỏ lưu tại Anh, những bất động sản của ông trong nước - riêng hững thứ này tất nhiên đã bị những chủ nhân mới chia nhau và không phải khi chia không xảy ra lắm mâu thuẫn, hiềm khích, và cuối cùng… là một thứ rất nhỏ, hoàn toàn là tài sản cá nhân của riêng hoàng thân Ali Yusuf.
- Ôg nói là "nhỏ”?
- Đấy là tôi nói về khối lượng. “Nhỏ” đây có nghĩa có thể dễ dàng mang theo trong người.
- Nhưng nghe đâu người ta không tìm thấy thứ gì đặc biệt trong áo quần của vị Hoàng thân…
- Dễ hiểu thôi. Vị Hoàng thân đã trao vật đó cho Bob Rawlinson.
- Ông biết chắc là như thế? - Giọng đại tá có phần sôi nổi hơn đôi chút.
- Thật ra không có gì có thể biết chắc chắn được - ông Robinson đáp như thể nhận lỗi -  Bao giờ trong mỗi cung điện vua chúa cũng có những lời bàn tán đủ loại, và không phải tất cả những lời đồn đại là chuyện có thật. Nhưng trong trường hợp này, quá nhiều người nói và lại nói giống nhau.
- Tạm cho là như thế. Nhưng người ta đã không tìm thấy gì trong xác viên phi công.
- Cho nên chúng ta phải kết luận rằng "vật kia" đã được một người khác, chứ không phải Bob Rawlinson, đưa ra khỏi lãnh thổ Ramat. Hoặc nó được đưa ra nước ngoài bằng một mưu mẹo nào đó.
- Ông có ước đoán nào không?
- Sau khi nhận túi đá quý - bây giờ ta gọi nó bằng đúng tên của nó - viên phi công Bob Rawlinson đã ghé vào một tiệm giải khát nhỏ, nhưng tại đây anh ta không hề gặp gỡ ai, không trò chuyện với ai. Các khách ăn khác đều không ai chú ý đến anh ta. Sau đấy Bob đến khách sạn Ritz. Bà chị anh ta đi vắng, anh ta đã lên phòng, ở lại trong đó khoảng hai mươi phút. Rời khỏi khách sạn Ritz, Bob Rawlinson đến một nhà băng, đổi một tấm ngân phiếu lấy tiền mặt. Anh ta vừa ra khỏi nhà băng thì cuộc bạo động nổ ra, nhưng Bob Rawlinson vẫn đến được sân bay cùng với người phụ lái là Achmed.
- Sau đó?
- Theo như anh ta đã thoả thuận trước với Hoàng thân, chắc thế. Hoàng thân Ali Yusuf rời cung điện hoàng gia bằng ôtô, bảo rằng đi kiểm tra công trường xây dựng một con đường, thật ra là để gặp Bob, bảo anh này chở ông đi thị sát bằng máy bay. Đúng là máy bay có cất cánh thật, nhưng sau đó mất tích.
- Qua toàn bộ sự việc trên, ông kết luận ra sao?
- Chắc cũng như ông thôi. Bob Rawlinson ghé vào phòng bà chị để làm gì, khi đã biết phải muộn bà ta mới về đến khách sạn? Bob có để lại một bức thư, nhưng thư quá ngắn ngủi, chỉ cần vài ba phút cũng đủ để viết xong. Vậy hai chục phút kia anh ta dùng làm gì?
- Ông cho rằng Bob đã giấu số kim cương và đá quý kia trong đống hành lý của bà chị?
- Qua những sự kiện trên thì hầu như chắc chắn là như thế, ông có tán thành không? Ngay hôm đó, hai mẹ con bà Joan Sutcliffe đã sơ tán cùng với những công dân Anh khác. Họ đáp máy bay đến Aden, rồi xuống tàu biển. Ngày mai con tàu này sẽ về đến Anh, cập bến ở Tilbury.
- Tôi biết và chúng tôi sẽ bảo vệ bà ta.
- Ông làm thế là rất đúng, bởi mang trong người một tài sản lớn như thế, bà ta rất dễ gặp nguy hiểm.
Ông Robinson nháy mắt rồi nói tiếp:
- Tôi rất ghét kiểu bạo lực.
- Ông thật sự cho rằng...?
- Nhiều nhóm đang quan tâm đến chuyện này, với động cơ xấu.
- Tôi cũng nghe là như thế.
- Và tất nhiên chúng giành giật nhau bằng đủ mọi thủ đoạn, mưu mẹo. Thế là vấn đề sẽ rối tinh lên.
- Rất có thể là như thế. Vậy ông... ông có mối quan tâm cá nhân nào đến vụ này không, thưa ông Robinson?
Tuy câu hỏi được đưa ra bằng giọng dè dặt, nhưng cũng vẫn làm khách hơi tự ái.
- Dù sao tôi cũng đại diện cho một tập đoàn - ông Robinson nói - Phần lớn số đá quý kia là do tập đoàn chúng tôi nhượng lại cho vị Hoàng thân đã quá cố theo một mức giá phải chăng. Đó chính là một trong những lý do khiến tôi quan tâm đến số phận của những viên đá quý đó. Hay ông còn đòi tôi đưa ra ý kiến của vị hoàng thân đã khuất kia? Tôi rất không muốn nói thêm gì nữa. Vấn đề này quá nhạy cảm. À, mà nhân tiện xin hỏi, ông có biết những người thuê các phòng bên cạnh phòng của bà Joan Sutcliffe ở khách sạn Ritz lúc đó là ai không?
Đại tá Pikeaway làm bộ như cố nhớ lại trước khi đáp:
- Để tôi nhớ lại xem... À phải rồi, phòng bên trái là Angelica de Toredo, một vũ nữ Tây Ban Nha, làm việc tại một quán rượu ở Ramat. Rất có thể cô ta không hoàn toàn mang dòng máu Tây Ban Nha, nhưng thật sự là một vũ nữ có tài, được khách hàng rất mến mộ. Còn phòng bên phải thì là mấy cô giáo.
Ông Robinson cười toác miệng :
- Ông vẫn y hệt như ngày xưa! Tôi đến để cung cấp thông tin cho ông thì ai ngờ ông đã biết đầy đủ cả rồi
- Đâu có!
- Hai chúng ta, nói riêng với nhau, chúng ta đã nắm được nhiều thông tin đấy.
Họ đưa mắt nhìn nhau.
- Thưa ông Robinson, tôi có cảm giác là hai chúng ta đã biết khá nhiều điều, ít nhất cũng cho đến lúc này...
0
VIII
- Không sai chút nào! - Bà Joan Sutcliffe kêu lên lúc rời khỏi cửa sổ trong phòng khách sạn - Mẹ không sao hiểu nổi tại sao lần nào mẹ đi xa rồi trở về nước Anh, trời cũng mưa? Thật đáng ghét quá.
Cô bé Jennifer đáp:
- Con thì lại rất sung sướng được trở về quê hương. Ít nhất cũng được nghe thấy người xung quanh nói tiếng Anh, và chỉ lát nữa thôi, con sẽ được uống thứ trà ngon tuyệt cùng với mọi thứ kèm theo ly trà.
- Con đúng là nhà quê, con yêu quý ạ. Nghe con nói câu vừa rồi, mẹ thấy đưa con đi ngao du tận Vịnh Ba Tư đâm thành công cốc.
- Con có phàn nàn gì đâu, thưa mẹ? Nhưng quả là con rất sung sướng thấy mình lại được đứng trên mảnh đất này.
- Thôi được nhưng mẹ phải kiểm tra lại hành lý xem có thiếu gì không. Từ hồi chiến tranh, con người đâm ra gian giảo quá đáng. Mẹ tin rằng nếu mẹ đãng trí một chút thôi thì thế nào cũng có kẻ ăn cắp cái xắc xanh này của mẹ. Lúc ở Tilbury mẹ đã thấy có đứa cứ lảng vảng bên cạnh mấy cái va-li của mẹ con mình. Lúc lên tàu hoả, mẹ lại thấy cũng vẫn thằng cha đó. Bọn chúng chỉ rình hễ hành khách say sóng hoặc mệt mỏi, không còn tỉnh táo nữa là chúng "chớp" liền.
- Ôi, mẹ! Mẹ làm như tất cả mọi người đều là kẻ gian hết.
- Có rất nhiều kẻ gian.
- Nhưng không phải ở nước Anh chúng ta.
- Ở nước Anh?... Nhưng ở nước Anh còn tồi tệ hơn mọi nơi khác. Sống ở ngoại quốc, bao giờ chúng ta cũng cảnh giác, nhưng về đến đây là chúng ta dễ buông lơi, coi thường, và thế là bọn lưu manh lọi dụng sự chủ quan đó... Thôi, bây giờ mẹ phải kiểm lại xem… Chiếc va li to màu đỏ này, chiếc va li đen này... cả hai chiếc mầu hung và cái xắc xanh... Kia là số gậy đánh gôn, cây vợt tennis. Ba cái xắc khác, hộp kim loại mẹ con mình mua dọc đường... mười bốn kiện... Đủ cả!
- Con đói rồi - Jennifer kêu lên.
- Vậy thì con xuống dưới kia mà ăn điểm tâm. Mẹ thì cần nghỉ. Mà ba lại không ra đón kia chứ! Cuộc họp Giám đốc rơi đúng vào lúc vợ con về đến nhà.
Jennifer đang vội vã chuẩn bị xuống nhà thì chuông điện thoại kêu. Bà Joan Sutcliffe nhấc máy:
- Vâng, tôi đây. Ôi, xin đợi cho một chút.
Vì vừa lúc ấy có tiếng gõ cửa.
- Mời vào?
Một người đàn ông mặc bộ áo quần lao động mầu xanh, tay xách hòm đồ nghề bước vào.
- Xin lỗi, tôi là thợ điện của khách sạn. Người ta vừa yêu cầu tôi kiểm tra lại các đường dây phòng bà. Người khách hàng thuê phòng này trước bà phàn nàn là đèn tối quá. Tôi xin phép vào buồng tắm, được không ạ?
- Ông cứ làm công việc của ông - bà Joan Sutcliffe đáp.
Rồi bà lại cầm máy điện thoai.
- Tôi xin lỗi. Ông cần gì ạ?
- Bà tha lỗi, nhưng tôi cần gặp bà, về chuyện ông em của bà.
- Về Bob? Ông có tin tức gì về cậu em tôi à?
- Vâng.
- Nếu vậy mời ông lên phòng của tôi: tầng ba, số 110.
Joan Sutcliffe cau mày, ngồi xuống giường. Bob làm sao? Bà đã linh cảm thấy có chuyện chẳng lành.
Một tiếng gõ cửa kín đáo, rồi một người đàn ông trẻ tuổi từ tốn bước vào phòng. Nhìn vẻ mặt anh ta, bà Sutcliffe không còn hồ nghi gì nữa.
- Tên tôi là O'connor, làm ở Bộ Ngoại giao - khách nói.
- Em tôi chết rồi phải không? - Chị người phi công hỏi độp ngay.
Khách khẽ cúi đầu rồi mới nói:
- Hoàng thân ngồi trong máy bay lúc máy bay bị nạn rơi xuống một ngọn núi.
Bà Sutcliffe rùng mình, kêu lên:
- Tại sao người ta không báo tin cho tôi biết bằng vô tuyến lúc tôi đang ngồi trên tàu biển?
- Lúc bấy giờ chưa có tin tức đích xác. Mới chỉ biết máy bay mất tích và người ta vẫn còn hy vọng. Sau này người ta mới tìm thấy xác máy bay. Dù sao cũng có một điều giảm bớt cho bà nỗi đau lòng là ông em bà đã không phải chịu đau đớn nhiều trước khi từ giã cõi đời.
- Cái kết thúc bi thảm đó không hề làm tôi ngạc nhiên - bà Joan ngắt lời.
Giọng bà run run, nhưng bà vẫn trán tĩnh được.
Khách thầm nghĩ "một phụ nữ sắt đá!"
Bây giờ bà đã lại nói được.
- Tôi biết trước là Bob sẽ phải chết trẻ. Nó không biết sợ là gì, luôn làm những trò mạo hiểm. Ít ra thì tôi cũng được nghe người ta nói như vậy, bởi mấy năm vừa rồi tôi rất ít được gặp nó.
Một giọt nước mắt rơi xuống ngực áo bà. Joan Sutcliffe ngẩng đầu lên.
- Tôi quá xúc động, ông thứ lỗi. Ít ra thì tôi biết rõ em tôi, chắc chắn nó không thể không giúp đỡ Hoàng thân. Nếu nó không làm thế, tôi còn đau lòng hơn. Và tôi tin rằng tai nạn kia không phải do lỗi của em tôi.
- Đúng thế, thưa bà. Cuộc chạy trốn tiềm chứa rất nhiều hiểm nguy, nhưng ông em bà đã không hề ngần ngại.
- Tôi hiểu. Cảm ơn ông đã đến cho tôi biết.
Không khí im lặng một lúc, rồi O'connor đưa ra câu hỏi:
- Xin bà cho phép tôi hỏi một câu. Ông em bà có nhờ bà chuyển hộ một thứ gì đó về nước Anh không?
- Không. Tại sao ông lại nghĩ là em tôi giao cho tôi thứ gì đó?
- Chúng tôi phỏng đoán như vậy vì trước giờ nổ ra cuộc đảo chính kia, ông em bà có ghé vào phòng khách sạn của bà.
- Có tôi biết. Cậu em tôi thậm chí còn để lại một lá thư, nhưng nội dung chẳng có gì quan trọng:  cậu ấy mời tôi đến câu lạc bộ chơi gôn. Lá thư cho thấy đến lúc đó em tôi vẫn  chưa biết là sẽ lái máy bay cho ông Hoàng thân chạy trốn khỏi Ramat.
- Tất cả chỉ có thế?
- Lá thư ấy ạ? Vâng, chỉ có thế.
- Bà còn giữ lá thư đó không ?
- Tôi giữ làm gì? Nội dung chẳng có gì quan trọng cho nên tôi xé rồi.
- Tất nhiên là như thế. Tuy nhiên tôi cũng xin hỏi là...
- Là sao? Là ngoài lá thư ra còn có gì nữa phải không? Nói cho cùng thì còn có những điều viết ra bằng thứ mực vô hình.
- Vô hình?... Hẳn bà định nói đến thứ hoá chất thường được nói đến trong các truyện tình báo?
Có vẻ bà Joan Sutcliffe không hưởng ứng câu nói đùa của khách mà bà cho là nhạt nhẽo. Bà thầm nghĩ “Vô duyên!".
- Tôi e rằng ông Bob Rawlinson có dùng thứ hoá chất đó thật - O'Connor nói dường như để thanh minh.
- Dớ dẩn! Tôi tin chắc Bob không bao giờ sử dụng cách đó. Tính em tôi quá ngay thẳng thì có...
Lại một giọt nước mắt nữa lăn trên gò má bà Sutcliffe.
- Ôi, cái xắc tay của tôi đâu rồi nhỉ? Tôi cần lấy khăn tay. Chắc tôi để quên trong phòng tắm...
- Để tôi Sang lấy cho bà.
Chưa nói hết câu, khách đã bước qua cửa vào buồng tắm và bỗng ông ta đứng sững lại: một người đàn ông mặc đồng phục xanh công nhân đang cắm cúi lục một chiếc va li bỗng bật nhổm dạy.
- Tôi là thợ điện - anh ta vội nói - Một chỗ dây cần chữa gấp.
O’Connor ấn vào nút điện. Đèn buồng tắm bật sáng.
- Đèn vẫn sáng tốt, có làm sao đâu? - O'Connor lộ vẻ ngạc nhiên.
- Tại tôi vừa chữa xong mà lại - người thợ điện vừa đáp vừa vội vã thu dụng cụ bỏ vào hòm đồ nghề, bước nhanh ra ngoài.
Sau khi lấy chiếc xắc tay, O'Connor bước đến máy điện thoại.
- Phòng 110 đây. Khách sạn có cử thợ điện lên đây sửa chữa gì không?.. Vâng, tôi đợi... Không à? Không cử ai lên à? Không, không có hỏng hóc gì hết.
Bà Sutcliffe lộ vẻ lo lắng:
- Kẻ trộm à?
- Chắc thế!
Bà hoảng hốt mở xắc kiểm tra lại, rồi thở phào nhẹ nhõm:
- May chưa mất gì. Tiền còn nguyên.
Tuy nhiên, O'Connor lại có vẻ lo lắng.
- Đúng là bà tin chắc rằng ngoài lá thư ra, ông em bà không để lại cho bà thứ gì nữa chứ?
- Chắc chắn là như thế.
- Rất có thể ông Rawlinson nhét thứ gì đó vào giữa các đồ đạc mà bà không biết... Thí dụ một gói nhỏ nào đó chẳng hạn?
- Vô lý! Mà để làm gì kia chứ?
- Có khả năng là hoàng thân Ali Yusuf nhờ ông em bà giữ một vật quý nào đó, nhưng ông em bà lại cho rằng cất thứ đó trong hành lý của bà an toàn hơn là ông ta mang theo trong mình.
- Ôi! Nếu như thế thì tôi không biết thật.
- Hay bà cho phép tôi giúp bà thử lục các hành lý của bà xem sao, được không ạ?
Bà Joan Sutcliffe hoảng hốt:
- Lục tung tất cả lên hay sao?
- Tôi biết việc này làm phiền bà, nhưng kết quả lại có tầm quan trọng hết sức lớn. Và xin bà đừng ngại, tôi sẽ xếp mọi thứ lại y như cũ, mẹ tôi bảo tôi là đứa ngăn nắp không ai bằng.
Câu nói khéo của ông ta đã có tác dụng. Bà Joan Sutcliffe chịu để O'Connor làm:
- Nếu việc quan trọng đến thế thì tôi đành để ông làm vậy - bà nói rất khẽ.
O’Connor không chần chừ gì nữa. Ông ta cười nói:
- Vậy ta làm luôn.
0
IX
Bốn mươi lăm phút sau, cô bé Jennifer đi ăn sáng về. Vừa mới vào phòng, thấy quang cảnh như vậy cô sửng sốt:
- Mẹ làm gì thế kia?
- Mở hành lý! Con không nhìn thấy à? Bây giờ mẹ xếp lại như cũ. Ôi, tôi quên. Ông O'Connor, đây là con gái tôi, Jennifer.
- Nhưng mẹ mở tất cả ra làm gì?
- Hình như cậu Bob có nhét thứ gì đó vào trong các hành lý của mẹ con mình. Mà mẹ quên chưa hỏi, cậu có đưa con cái gì không đấy?
- Đưa con ấy ạ? Tại sao cậu lại đưa con? Nhưng mẹ mở cả va li riêng của con đấy ạ?
- Mớ tất - O'Connor vui vẻ đáp - Nhưng bây giờ thì xong rồi, tôi không thấy có thứ gì cả. Tôi sẽ xếp lại ngăn nắp cho cô bé. À, bà Sutcliffe ạ, tôi nghĩ bà nên dùng một chút gì đó. Để tôi gọi khách sạn mang thứ gì lên phòng nhé? Trà hoặc rượu Brandy pha Sôđa nào?
O’Connor bước về phía máy điện thoại.
- Nếu vậy, tôi xin một tách trà - bà Sutcliffe nói.
Gọi lấy trà xong, O'Connor xếp các thứ vào vào khéo léo đến mức làm bà chị của phi công Bob Rawlinson phải khâm phục.
- Bà mẹ ông nhận xét đúng đấy - bà nói.
- Mẹ tôi rất chú ý đến tính trật tự ngăn nắp của tôi.
Thật ra bà mẹ của O'Connor đã mất từ rất nhiều năm rồi, và tác phong ngăn nắp trật tự của ông ta hoàn toàn chỉ là học được trong thời gian làm việc cho Đại rá Pikeaway.
Làm xong công việc, O'Connor ho một tiếng trước khi nói tiếp với bà Joan Sutcliffe:
- Có một điều tôi mong bà lưu ý: bà nên hết sức thận trọng, cảnh giác trong việc đi lại.
- Ông nói thận trọng cảnh giác, cụ thể là thế nào?
O’Connor không muốn nói cụ thể.
- Những cuộc đảo chính thường hay làm nảy sinh nhiều rắc rối hết sức phưc tạp, không phải chỉ trong nước mà cả ở nước. Bà định ở lại London một thời gian chứ?
- Không. Mai chúng tôi vê quê ở tỉnh. Nhà tôi sẽ đưa chúng tôi đi.
- Rất tốt! Nhưng xin bà đừng có hành động nào thiếu cân nhắc nhé. Nếu bà thấy có hiện tượng gì lạ, xin bà đừng ngần ngại gọi điện ngay đến số máy 999.
- Ôi, số máy của ông là ba con chín! - Jennifer reo lên thích thú - Cháu rấ1t thích quay máy những con số kiểu ấy.
- Đừng ngốc nghếch thế! - Bà mẹ ngắt lời con gái.
0
X
Trích một bài đăng trên báo địa phương:
"Hôm qua, một người tên là Andrew Ball bị đưa ra toà về tội đột nhập vào nhà ông bà Sutclifffe định ăn trộm. Nói thêm, căn phòng của bà Sutcliffe đã bị tên gian lục lọi tung toé, trong lúc cả gia đình ra lễ nhà thờ ngày Chủ nhật. Các đầy tớ trong nhà mải nấu ăn dưới bếp không ai nghe thấy gì. Bỗng không biết tại sao, tên gian đột nhiên hốt hoảng, vội vã bỏ chạy. Có lẽ y nghe thấy tiếng động nào đó làm y hoảng hốt, vì khi bỏ chạy, y chưa kịp lấy đi thứ gì. Khi bị thẩm vấn, Andrew khai y thất nghiệp. Xin nói thêm rằng, đồ nữ trang của bà Sutcliffe đều đã được gửi ở nhà băng."
- Tôi đã nói rồi, cửa sổ phòng khách cần phải gia cố thêm - ông Henri Sutcliffe nói với vợ.
Bà Joan Sutcliffe vừa cau mày lại thì cô con gái Jennifer chen vào:
- Con không hiểu tại sao cảnh sát lại đoán được là có kẻ gian đột nhập nhà mình và đến đúng lúc để bắt nó?
- Mẹ thì lấy làm lạ là nó không lấy đi thứ gì.
- Mình tin chắc nó không lấy mất thứ gì chứ?
- Căn phòng bị lục soát tung toé, các ngăn kéo đều bị cầy xới cho nên em phải mất rất nhiều thời gian kiểm tra mới dám tin chắc là không mất mát thứ gì. Có mỗi một thứ em chưa thấy là chiếc khăn choàng đỏ.
- Ôi, lỗi tại con đấy. Hôm đi trên tàu biển, con lấy ra choàng rồi bị gió cuốn xuống biển mất - Jennifer thú nhận.
Bà mẹ đã định nói một câu cáu kỉnh nhưng Jennifer đã kịp phản công trước:
- Con không vào học cái trường nội trú Meadowbank ấy đâu. Một đứa bạn con học nội trú ở đó kêu lắm. Người ta dạy toàn những thứ dớ dẩn: cách bước vào xe Rolls-Royce, rồi cách bước ra, phép tắc cư xử khi được mời đến dự tiệc ở Cung điện Hoàng gia Buckingham, toàn những nghi lễ chẳng bao giờ dùng đến.
Bà mẹ ngắt lời con gái :
- Thôi đi! Con không biết xin được vào trường đó khó khăn lắm sao? Không phải bạ ai cũng vào được đâu. Trường đó nhận con là vì vị trí xã hội của ba và có thêm thư giới thiệu của cô Rosamonde. Phải có những điều kiện như thế, bà hiệu trưởng Bulstrode mới chịu xét đấy. Vả lại sau này biết đâu có lúc con được Nữ hoàng mời đến dự tiệc ở Cung điện Buckingham thì sao? Khi đó con phải biết nghi lễ, phép tắc mà xử sự chứ!
0
XI
Toà tuyên phạt Andrew Ball, không có nơi ở cố định ba tháng tù giam về tội xâm phạm nhà tư. O’Connor ngồi kín đáo trong phòng xét xử theo dõi. Nghe thấy tuyên án xong, ông ta vội vã đi tìm một trạm điện thoại để gọi về báo tin:
- Cảnh sát không tìm thấy gì trong người hắn. Lúc ấy chúng tôi đã chờ khá, lâu sau mới đánh động để hắn bỏ chạy. Xem chừng thằng cha là người của nhóm Greko, và thuộc loại chuyên được dùng vào kiểu những công việc như thế này. Đầu óc hắn không sáng láng gì, nhưng được cái tận tụy.
- Và hắn chịu nhận bản án ấy, ngoan như một con cừu non chứ gì? - Đầu dây đằng kia Đại tá Pikeaway nhếch mép cười chê bai.
- Vâng, đúng thế. Y hệt thái độ của một cậu học trò ngu xuẩn bị dồn vào ngõ cụt. Họ không hề gắn hắn ta vào "chiến công", đúng với nghĩa chiến công.
- Vậy là hắn ta không phát hiện ra được thứ gì? Cả cậu nữa, cậu cũng không tìm ra được thêm điều gì hay sao?.. Nếu vậy có nghĩa chúng ta lầm, thằng cha phi công Bob Rawlinson không hề nhét vật đó vào trong số hành lý của bà chị. Cậu nghĩ sao?
- Các nhóm khác hình như đều tin là Bob có nhét…
- Bọn chúng làm lộ liễu quá! Hay chúng cố tình làm thế để đánh lạc hướng chúng ta?
- Theo Đại tá thì ngoài khả năng này, còn có khả năng nào khác nữa không?
- Có chứ, nhiều là đằng khác. Vật đó rất có thể vẫn còn ở Ramat, và được giấu trong một chỗ nào đó bên trong khách sạn Ritz. Một khả năng nữa: Bob Rawlinson đã giao phó nó cho một người khác, trước khi anh ta ra sân bay. Hoặc khả năng mà lão Robinson đã phỏng đoán: một phụ nữ khác đã đoạt lấy thứ đó. Khả năng cuối cùng là thứ đó quả thật nằm trong số hành lý của bà Joan Sutcliffe, nhưng do bà ta không biết nên đã vô tình quăng xuống biển cùng với một vật nào đó mà bà ta không cần đến nữa... Nếu khả năng này là sự thật thì chính lại là hay nhất cho tất cả mọi người đấy.
- Nhưng đây là một tài sản cực lớn.
- Vậy ra cậu cho rằng cuộc sống của con người là nhỏ hay sao?
0
XII
Thư của Julia Upjohn gởi cho mẹ.
Con đã vào học nội trú trong trường Meadowbank. Con chơi thân với một đứa cũng mới vào học, tên là Jennifer. Hai đứa rât hay đánh quần vợt với nhau. Nó gặp đôi chút khó khăn, vì cây vợt của nó, như nó kể cho con nghe, đã một lần bị rơi xuống biển, may mà vớt lên được. Nó còn kể là hồi nó nghỉ dưỡng bệnh ở Ramat, nó suýt được nhìn thấy một cuộc đảo chính. Đúng lúc cuộc đảo chính sắp nổ ra thì nó và mẹ nó bị người ta bốc đến sứ quán, chở bằng máy bay rồi bằng tàu biển về nước Anh.
Bà hiệu trưởng Bulstrode, bề ngoài trông lành hiền, nhưng rất ác. Bọn con đặt cho bà ta biệt hiệu là Bò Tót. Cô Rich dạy văn thì khủng khiếp: mỗi khi cô trích đọc một đoạn trong bi kịch của Shakespeare, thì tất cả bọn con run lên cầm cập, chỉ trừ mỗi con Jennifer, nó là đứa quá từng trải rồi mà.
Môn riêng Pháp thì cô Blanche dạy, tính cô luộm thuộm lắm. Đáng ghét nhất là cô giáo thể dục, tên là cô Springer. Cô ấy tóc hung và lại hôi nách nữa chứ. Hôm nào trời nóng thì bốc mùi kinh khủng.
Bà Chadwick dạy toán. Bà ấy rất vui tính và dễ dãi. Môn lịch sử và tiếng Đức được giao cho cô Vansittart, cô này gần như một thứ hiệu phó của bà hiệu trưởng Butstrode.
Trường có rất nhiều học sinh nước ngoài, trong đó có hai đứa Italia, một con Đức, một đứa Thuỵ Điển, và đặc biệt có một Công nương, nửa như Thổ Nhĩ Kỳ nửa như Iran. Nó được người ta gọi là "Công nương Shaila". Nó khoe rằng nếu như Hoàng thân Ali Yusuf, cố Quốc trưởng Ramat, không bị tai nạn máy bay thì ông ta sẽ lấy nó. Con Jennifer bảo con là con công nương kia nói dối, vì ông hoàng thân Ali đã có người yêu khác rồi. Đúng là phịa.
Con đoán mẹ sắp đi du lịch. Mẹ đừng quên hộ chiếu như lần vừa rồi đấy...
 
Thư của Jenniffer gửi cho mẹ .
Càng ngay con càng thấy thích học ở đây, không như con tưởng lúc trước. Thời tiết tuyệt đẹp. Mẹ có thể cho con một cây vợt khác được không ạ? Ngày mai, khá nhiều đứa trong bọn con đi London để xem một vở vũ kịch. Bữa ăn ở đây rất ngon.
Nhà có còn bị kẻ trộm mò vào lần nào nữa không ạ?
 
Thư của Margaret Gore West gửi cho mẹ:
Không có chuyện gì mới. Có tin đồn bà hiệu trưởng Bulstrode sắp nghỉ hưu, và cô Vansittart dạy môn lịch sử và tiếng Đức sẽ thay. Con đem chuyện này hỏi bà Chadwick dạy toán, thì bà Chadwick trả lời rằng tin đồn không đúng. Cho nên con cố gắng từ nay không nghe những câu chuyện ngồi lê đôi mách nữa...
Cô Rich dạy văn vẫn đáng yêu như trước, nhưng bọn con rất ghét cô Springer dạy thể dục...
 
Thư của Ann Shapland, thư ký của bà Hiệu trưởng Bulstrode, gửi Dennis Rathbone:
Không có gì mới ở trường Meadowbank. Khu vườn hoa đẹp tuyệt vời và chúng em có một người làm vườn mới đến làm, phụ việc cho bác già Briggs. Một chàng trai thân hình rất cân đối. Đáng tiếc là bọn con gáai đôi khi khá ngu ngốc.
 
Thư của cô Blanche, giáo viên dạy tiếng Pháp, gửi René Dupont, P.R. tại thành phố Bordeaux nước Pháp:
Tình hình ở đây vẫn phẳng lặng: tuy nhiên em không thể nói rằng em thích thú nhiều tại nơi này. Đám học sinh khá vô giáo dục, nhưng em không muốn phàn nàn với bà hiệu trưởng Bulstrode. Đối với loại phụ nữ như bà ta, cần phải cảnh giác. Cho đến lúc này chưa có dấu hiệu gì là quá tồi tệ,
nhưng con người không thể chỉ sống bằng hy vọng…
0
XIII
Trong trường Meadowbank cuộc sống vẫn lặng lẽ trôi. Hôm đó, trong phòng nghỉ của giáo viên, hai giáo viên "tân binh" phải trả lời những câu chất vấn của các đồng nghiệp. Thoạt đầu là cô Blanche dạy tiếng Pháp. Đã bao giờ đến đất Anh chưa? Sinh ra tại vùng nào của nước Pháp?
Cô Blanche trình bầy lễ độ, nhưng khá dè dặt, trái với cô Springer dạy thể dục, sôi nổi và ầm ĩ. Người ta tưởng như đang ngồi dự một hội nghị, với chủ đề là trình độ chuyên môn. Cô Springer không tinh ý, cô không biết cử toạ không hài lòng về thái độ của cô. Cô nói:
- Cần phải coi sự vô ơn là chuyện bình thường - giọng cô mỗi lúc một to thêm - Cái đáng buồn là con người ta nhiều khi quá hèn, không dám đương đầu với sự thật. Đó là điều tôi căm ghét nhất, bởi tôi thích thẳng tiến đến cái đích mình đã chọn lựa, và tôi luôn vạch trần những điều xấu xa bị người ta che giấu.
-Cô giáo thể dục Springer cất tiếng cười vang rồi nói thêm:
- Các chị hẳn sẽ sửng sốt nếu tôi kể ra cho các chị thấy một loạt chuyện xấu xa tôi đã khám phá ra được, về những con người mà chúng ta đinh ninh là đạo đức không ai bằng.
- Hẳn tất cả những chuyện vạch mặt người khác đó làm chị thích thú, đúng vậy không? - Cô Blanche dạy tiếng Pháp mỉa mai hỏi.
- Tất nhiên là tôi không thích thú gì, nhưng mặt khác, tôi cảm thấy tôi đã làm tròn một bổn phận, nhưng người ta không tán thành tôi. Vì thế tôi đã nộp đơn xin từ chức để phản kháng.
Cô đưa mắt nhìn  một lượt khắp xung quanh, rồi lại cười khanh khách:
- Tôi hi vọng trong số những người ngồi đây, không ai có điều gì phải giấu kín trong đáy lòng, một điều khiến lương tâm phải cắn rứt chứ?
Không đồng nghiệp nào của cô thích thú cái trò đùa dai này, nhưng cô Springer lại là người kém tinh ý và cô không nhận thấy gì hết.
0
XIV
Bà hiệu trưởng Bulstrode vừa tiếp bà giám thị Johnson và câu chuyện giữa hai người suýt làm bà bật cười. Chẳng là bà Johnson phát hiện ra rằng nữ học sinh Shaila mặc một kiểu nịt vú rõ ràng là để nâng bộ ngực lên, cần nói rõ thêm là bộ ngực cô ta rất nhỏ. Shaila chính là công nương nước Ramat, mới vào học đầu năm nay. Bà giám thị Johnsơn nói giọng đầy phẫn nộ: "Mới mười lăm tuổi ranh!"
Khi được bà hiệu trưởng gọi lên để hỏi, "kẻ có tội” đã trả lời nhanh nhẩu rằng vào tuổi cô, cô thấy cần phải chứng minh cho mọi người thấy rằng cô là phụ nữ. Chỉ liếc qua, bà hiệu trưởng Bulstrode đã thấy ngay rằng công nương Shaila, học sinh nội trú này, quả là còn chưa ra khỏi tuổi thiếu niên. Bà thầm nghĩ: "Con gái phương Đông phát triển sớm". Tuy nhiên bà cũng ra lệnh cấm công nương Shaila đeo kiểu nịt vú "tội lỗi" đó.
Sau khi cô nữ sinh ra khỏi phòng, bà giám thị Johnson kêu lên:
- Sao con bé không noi gương con Julia Upjohn nhỉ? Con Julia rất chi là ý tứ.
- Nếu tất cả nữ sinh trong trường đều bắt chước Julia thì trường nội trú của chúng ta đơn điệu biết bao - bà hiệu trưởng Bulstrode đáp, khiến bà giám thị Johnson há hốc miệng kinh ngạc.
"Đơn điệu...” bà hiệu trưởng lẩm bẩm khi còn lại một mình trong phòng giấy. Rõ ràng tính từ kia không thể áp dụng vào cho trường nữ học nội trú Meadowbank được. Nhà trường đã phải đương đầu với bao nhiêu khó khăn, bao nhiêu cơn khủng hoảng không ai ngờ có thể xảy ra. Nhưng lần nào cũng vậy, uy quyền và sự khéo léo của bà hiệu trưởng Bulstrode đã vượt qua được hết. Quả là một cuộc sống sôi động! Ngay lúc này đây, mặc dù nhiều lúc phải nín nhịn, bà Bulstrode vẫn chưa muốn nghỉ hưu.
Bà vẫn tràn trề sức khoẻ, vẫn hầu như nhanh nhẹn không kém gì thời bà cùng với bà giáo Chadwick hiện nay dạy toán chung vốn để sáng lập ra cái trường Meadowbank này, lúc đầu chỉ lèo tèo vài mống học sinh.
Với một ý chí kiên cường, bà hiệu trưởng Bulstrode không bao giờ bỏ qua một sáng kiến cải tiến nào. Nhờ đó, bà đã đưa trường nữ học này lên đến một uy tín vượt quá mọi mơ ước ban đầu.
Kết quả về mặt vật chất: đôi bạn gái đã tích luỹ được một khoản tiền khá lớn, đủ đảm bảo cuộc sống cho họ lúc về già. Tuy nhiên, bà hiệu trưởng Bulstrode vẫn tự hỏi, không biết bà Chadwick đã muốn nghỉ hưu chưa? Chắc là chưa. Ngôi trường phần nào đã gần như trở thành gia đình, tổ ấm của bà ta, và nếu bà Bulstrode nghỉ hưu, bà Chadwick vẫn sẽ tiếp tục mang hết sức mình ra hỗ trợ cho người hiệu trưởng mới nào đó thay chân bà, kế tục sự nghiệp cao quý này.
Nhưng tìm người kế tục ở đâu? Thoạt đầu bà Bulstrode đã nhắm một người, nhưng rồi lại thay đổi ý kiến... Bà cho rằng điều quan trọng là mỗi hành động phải chọn đúng thời điểm, và chính bây giờ là thời điểm chính xác nhất: bà cần "ra đi" trước khi sức lực suy giảm, trước khi uy tín sút kém, hoặc trước khi người ta quá ngán mình...
Nghĩ đến lúc phải từ bỏ công việc lãnh đạo cái trường mà bà đã bỏ ra bao công sức xây dựng, bà hiệu trưởng thở dài. Nhưng bà lập tức gạt đi nỗi yếu đuối của mình, cho gọi cô thư ký Shapland lên để đọc cho cô ta thảo một bức thư. Xong công việc bà giữ cô thư ký lại trò chuyện.
- Tôi hỏi thật nhé: tại sao chị chọn nghề thư ký?
- Chính tôi cũng không biết. Có lẽ vì tôi không thấy thích hẳn một nghề nào. Mà khi không thích hẳn một nghề nào, con người ta tự nhiên rơi vào nghề thư ký chăng?
- Chị không thấy nghề thư ký quá đơn điệu ư?
- Thật ra số tôi may mắn, tôi đã từng được làm thư ký ở một số nơi khá lý thú. Thậm chí có lần tôi làm thư ký cho một nữ nghệ sĩ nổi tiếng.
Nhớ lại kỷ niệm đó, cô thư ký Ann Shapland lại cười. Bà hiệu trưởng Bulstrode nói giọng hơi như trách.
- Phải chăng lớp trẻ các cô ngày nay thích liên tục thay đổi nơi làm việc như vậy?
- Cái chính là tôi không thể ở lâu một nơi nào. Mẹ tôi luôn đau ốm, thỉnh thoảng tôi phải về chăm sóc bà cụ.
- Tôi hiểu.
- Tuy nhiên, tôi e rằng tính tôi cũng thích thay đổi nữa kia. Nghĩ đến chuyện phải làm lâu dài ở một nơi nào đó, tôi rất sợ. Luôn chuyển nơi làm việc khiến cuộc sống đỡ đơn điệu.
- Đơn điệu... - bà hiệu trưởng Bulstrode nhắc lại hai chữ đã làm bà suy nghĩ lúc trước.
Cô thư ký Ann Shapland ngạc nhiên nhìn cấp trên.
- Chị đừng chú ý đến câu tôi vừa nói, Shapland. Đôi khi có một ý niệm cứ trở đi trở lại hoài trong trí óc con người. Mà... chị có thích làm giáo viên không?
- Không. Tôi hoàn toàn không thích.
- Tại sao?
Cô thư ký Ann Shapland lúng túng không biết trả lời ra sao. Thấy vậy bà hiệu trưởng Bulstrode vội vã nói:
- Công việc dạy học hoàn toàn không đơn điệu chút nào. Thậm chí, có lẽ đó là nghề lý thú nhất trên đời. Riêng tôi, tôi rất tiếc là sắp tới sẽ phải nghỉ.
- Bà nói sao? Quả thật bà định nghỉ hưu ạ?
- Bởi tôi đã cống hiến cạn kiệt sức lực cho trường này. Và thời gian làm việc ở đây đã đem lại cho tôi một niềm vui hết sức to lớn. Tôi muốn ngừng công việc giữa lúc tôi đang gây được ấn tượng tốt đẹp nhất, chứ không đợi đến lúc sức lực suy giảm...
- Vậy sau khi bà nghỉ, trường ta vẫn tiếp tục hoạt động chứ ạ?
- Tất nhiên. Tôi sẽ chọn một người kế tục tôi.
- Chắc bà chọn cô giáo Vansittart, phải không ạ?
- Có nghĩa chị tán thành cô giáo Vansittart phải không?
Bà hiệu trưởng Bulstrode chăm chú nhìn cô thư ký Shapland thăm dò:
- Tôi rất muốn biết ý kiến của chị.
- Ôi, tôi hỏi thế chỉ vì tôi nghe thấy người ta bàn tán. Riêng ý tôi thì cô giáo Vansittart sẽ làm tròn chức vụ hiệu trưởng một cách xuất sắc. Và chị ấy sẽ theo đúng đường hướng của bà. Vansittart là một phụ nữ có bản lĩnh và tác phong khá lịch lãm. Tôi cho rằng yếu tố thái độ bên ngoài cũng rất quan trọng. Và tôi tin rằng cô giáo Vansittart sẽ gìn giữ được uy tín sẵn có của trường nữ học chúng ta.
Nói xong, cô thư ký Anh Shapland chào rồi đi ra. Còn lại một mình, bà hiệu trưởng tiếp tục suy nghĩ.
"Gìn giữ uy tín hiện nay đâu phải là điều ta mong muốn? Rất có thể cô giáo Eleanor Vansittart muốn giữ nguyên như thế này? Nhưng mình thì lại muốn người kế tục mình sẽ đem đến cho trường Meadowbank này một nét gì mới mẻ. Phải có một người kế tục mình kiểu như... cô Eileen Rich chẳng hạn! Khốn nhưng Eileen Rich còn trẻ quá, chưa có kinh nghiệm, sợ sẽ làm hỏng việc chăng?
Vừa lúc đó, bà giáo Chadwick vào.
- Chào chị Chadwick - Bà hiệu trưởng Bulstrode reo lên mừng rỡ - Đang mong gặp chị.
Bà giáo Chadwick hơi ngạc nhiên:
- Chị làm sao thế, Bulstrode? Có chuyện gì mới phải không?
- Chỉ đơn giản là tôi đang suy nghĩ và mọi ý nghĩ rối tung cả lên. Đang mong có người hỗ trợ đây. Chị đến rất đúng lúc.
- Vậy à? Chị mà cũng có lúc bối rối kia à? Lạ đấy!
- Chính tôi cũng thấy lạ. À, tình hình tam cá nguyệt này ra sao?
- Theo tôi là tốt.
Tuy nhiên câu trả lời của bà Chadwick không có vẻ quả quyết lắm. Thấy vậy bà hiệu trưởng cau mày.
- Chị nói thật đi, có chuyện gì vậy, Chadwick?
- Đúng ra thì chẳng có chuyện gì lớn. Tuy nhiên...
Trán bà giáo dạy toán nhăn lại như võ sĩ quyền Anh lúc đang tính miếng tấn công.
- Một linh cảm thôi! Các học sinh mới đến có vẻ yên ổn cả... Trong khi đó, các cô giáo thì lại...
- Cô giáo nào chẳng hạn?
- Blanche, tôi rất không bằng lòng cô giáo dạy tiếng Pháp này... hơi thâm hiểm thế nào ấy.
Bà hiệu trưởng Bulstrode không quan tâm đến nhận xét này của bạn. Bà Chadwick có tính hay chê các giáo viên dạy tiếng Pháp về tội "thâm hiểm".
- Cô Blanche có trình độ đấy chứ - bà hiệu trưởng đáp - Các giấy chứng chỉ của cô ấy đều có những nhận xét rất tốt.
Bà Chadwick nói tiếp:
- Ngược lại, tôi thấy cô Springer dạy thể thao mới thật sự là hoàn hảo. Chỉ phải cái tội hơi xấn xổ một chút.
- Nhưng cô Springer làm tròn mọi nhiệm vụ.
- Tất nhiên rồi.
- Bao giờ những người mới đến làm cũng có điều gì đó khiến chúng ta không vừa lòng. Chỉ vì chúng ta chưa quen với tính nết của họ, có vậy thôi.
- Chị nói đúng - bà Chadwick vội vã nói - Còn chuyện này nữa. Anh thợ vườn phụ việc cho bác Briggs trẻ quá và lại đẹp trai quá, cũng là điều đáng ngại cho chúng ta đấy.
- Chúng ta sẽ phải để mắt thường xuyên đến anh ta.
Hai bà rất thông cảm với nhau. Không ai hơn hai bà trong việc nhận biết một thân hình đẹp trai có thể gây tác hại cho trái tim các cô gái trẻ đến mức nào.
1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-01-17 02:49:23HanAn>
XV
- Cậu làm được đấy - bác già giọng miễn cưỡng nói với "Adam".
Bác giao cho anh ta cuốc thử một khoảnh đất và bây giờ nhận xét kết quả. Bác già nói thêm.
- Có điều cậu không cần phải làm kỹ quá như thế này. Tốt nhất là làm vừa phải thôi.
"Người phụ việc" hiểu rằng bác già Briggs không muốn ai làm tốt hơn bác ta. Bác đang nói tiếp:
- Chỗ này ta sẽ trồng cúc đại đoá. Tôi biết bà ta không thích cúc nhưng tôi mặc. Đàn bà hay khó tính, và nếu ta lờ đi, chín phần mười trường hợp, họ nói dứt khỏi miệng là quên ngay họ đã nói gì.
"Adam" đã biết ông già làm vườn nói "bà ta” là để chỉ bà hiệu trưởng Bulstrode.
- Này - đột nhiên ông già hỏi - Lúc nãy có một đứa con gái ra đây với cậu, đứa nào thế?
- Tôi không biết tên, chỉ biết cô ta là học sinh của trường.
- Mấy đứa ranh ma ấy hẳn? Tôi dặn cậu, đừng dính đến chúng mà có ngày ân hận. Hồi đại chiến thứ nhất tôi đã "bị" với những đứa như thế rồi đấy, cho nên tôi có kinh nghiệm là nên tránh cho xa. Cậu hiểu chưa?
- Cô này không hề có mưu đồ gì - Adam trả lời cho qua chuyện - Cô ta chỉ hỏi tên một giống hoa, có vậy thôi
- Nếu vậy thì được. Nhưng cậu đừng có chuyện trò gì với đám học sinh đấy. Bà ta không bằng lòng đâu. Kìa, bà ta đang đi về phía này đấy. Lại sắp sai tôi làm một việc gay go đây, chắc chắn là như thế.
Bà hiệu trưởng đi nhanh đến:
- Chào bác Briggs. Chào...
Bà nhìn người phụ việc.
- Thưa bà, tôi là Adam,
- À, phải rồi, Adam. Bác Briggs này, tấm lưới quần vợt bị trùng. Bác kéo căng lên cho tôi nhé.
- Tất nhiên rồi, thưa bà hiệu trưởng.
- Bác định trồng hoa gì ở đây?
- Tôi định...
- Không được trồng cúc đâu đấy. Trồng thược dược!
Nói xong, bà đi nhanh khuất. Bác già Briggs nhún vai.
- Bà ta ra lệnh thoáng qua thế thôi, nhưng bà ta để ý khiếp lắm. Cậu bạn trẻ, đừng quên lời tôi nói với cậu về lũ con gái láu lỉnh kia. Mà coi chừng cả bà ta nữa!
- Bà ấy thì tôi không ngại. Bà ta mà không vừa lòng thì tôi có cách - Adam nói - Thiếu gì công ăn việc làm kia chứ, tôi xin làm ở đâu mà chẳng được?
- Đúng là lớp trẻ ngày hôm nay, không chịu nghe ai.
Adam tiếp tục làm việc, còn bà hiệu trưởng Bulstrode thì quay về văn phòng. Đột nhiên bà cau mày: cô giáo Vansittart dạy lịch sử và tiếng Đức đang tiến về phía bà.
- Trời nóng quá! - cô giáo Vansittart nói.
- Oi nữa chứ! - Bà hiệu trưởng Bulstrode đáp. Chị có để ý anh thợ làm vườn phụ việc mới đến làm không ?
- Tôi không chú ý lắm.
- Tôi thấy anh ta... biết nói thế nào nhỉ? Tóm lai tôi thấy anh ta không có vẻ loại người chuyên làm thứ công việc này.
- Có lẽ anh ta tốt nghiệp một trường nào đó, làm tạm để kiếm ăn trong khi chờ gặp công việc thích hợp.
Thì cứ cho là như thế, nhưng anh ta đẹp trai quá, đám nữ sinh có vẻ đã quan tâm đến anh ta rồi đấy.
- Vậy ta áp dụng chiến thuật kinh điển chứ ạ, thưa bà hiệu trưởng?
- Đúng thế, bề ngoài vẫn để bọn nữ sinh thoải mái, nhưng bên trong ta kín đáo giám sát chặt chẽ.
- Vâng, đúng là phải làm như thế. Cách đó lần nào cũng hiệu nghiệm. Trong trường nữ học Meadowbank chúng ta, chưa bao giờ xảy ra chuyện tai tiếng. Bà có thể hãnh diện về kết quả mà bà đã đạt được rồi đấy, thưa bà hiệu trưởng.
- Tôi chỉ nghĩ rằng tôi làm đúng phận sự. Nhưng nếu chị thay tôi lãnh đạo cái trường này, chị có định thực hiện những cải tiến như thế nào không? Chị cứ trả lời thẳng, đừng ngần ngại. Tôi rất muốn biết các dự định của chị, Vansittart!
- Tôi nghĩ không có thứ gì phải thay đổi. Mục tiêu cũng như các biện pháp thực hiện của trường Meadowbank đã rất hoàn hảo rồi.
- Nghĩa là chị sẽ giữ đúng cách làm từ trước đến nay?
- Tất nhiên, thưa bà Bulstrode. Tôi thấy không nên thay đổi gì hết.
Bà hiệu trưởng im lặng một lúc, thầm nghĩ: “Hay cô ta nói như vậy chỉ cốt để vừa lòng mình?"
- Dù sao - bà hiệu trưởng Bulstrode nói - Tôi lại cho rằng trên đời không có gì có thể cho là hoàn hảo được. Bao giờ và lúc nào cũng cần phải có những sửa đổi, cải tiến để cho tốt hơn và nhất là thích hợp với thời đại hơn. Vì con người và hoàn cảnh mỗi thời mỗi khác, ngày hôm nay không thể giống cách đây hai chục năm.
- Tôi đồng ý với bà, thưa bà hiệu trưởng. Đúng là phải theo kịp thời đại. Nhưng đây là trường của bà! Bà chính là cột trụ của trường, và bà biết rằng truyền thống đóng vai trò cực kỳ to lớn.
Bà Bulstrode không đáp, mặc dù bà rất muốn nói lên một ý tưởng mà bà cho là quan trọng. Bởi bà ngại cô giáo dạy lịch sử này sẽ hiểu sai ý của bà, cho rằng bà chưa muốn rời khỏi cái trường này. Mà thật ra, trong đáy lòng, bà có ý nghĩ đó thật. Tuy nhiên, những ý kiến của bà sẽ bổ ích cho cô giáo Vansittart, giúp cô làm tốt công việc lãnh đạo trường. Tất nhiên còn Chadwick nữa, người đã cùng bà Bulstrode sáng lập nên cái trường này. Chị ấy rất tận tuỵ, nhưng chưa đủ trình độ lãnh đạo một trường học tầm cỡ như thế này.
Tiếng chuông vang lên ở xa.
- Đến giờ tiếng Đức của tôi rồi! - Cô giáo Vansittart kêu lên.
Rồi bước chân thoăn thoắt nhưng vẫn đàng hoàng, cô đi nhanh về pha lớp học. Bà hiệu trưởng đi theo, đầu cúi, suýt vấp phải cô giáo Eileen Rich dạy văn, vừa từ một lối đi nhỏ trong hoa viên bước nhanh ra.
- Ôi, xin lỗi, thưa bà hiệu trưởng! Tôi không nhìn thấy bà.
Giống như mọi khi, đầu tóc cô Rich bù rối, xòa ra bên ngoài tấm khăn đội đầu. Lại một lần nữa bà Bulstrode nhận thấy khuôn mặt cô giáo dạy văn này quá gầy, gò má nhô cả lên. Cô giáo Eileen Rich quả là một phụ nữ khác thường. Trẻ trung, hiếu động, và luôn buộc người ta phải chú ý đến cô.
- Chị có giờ dạy bây giờ phải không?
- Vâng, giờ tiếng Anh ạ.
- Chị thích nghề dạy học chứ?
- Vâng, tôi mê nghề này.
- Vì sao?
- Thú thật là chính tôi cũng đang cố cắt nghĩa xem tại sao tôi lại mê nghề này đến thế. Phải chăng vì nghề dạy học là một nghề cực kỳ quan trọng? Không, có lẽ tôi đã quá phóng đại ý nghĩa của nó. Thật ra tôi mê nghề dạy học vì nguyên nhân khác. Tôi cho rằng nghề dạy học giống như nghề đâm cá. Phóng mũi lao xuống nước nhưng chưa biết sẽ đâm được con cá gì, và chính đó là thứ vô cùng hấp dẫn. Tôi rất sung sướng mỗi khi "tóm" được một suy nghĩ độc đáo, một ý tưởng bất ngờ của học sinh. Rất tiếc là các em học sinh rất ít khi có những suy nghĩ mới mẻ, độc đáo...
Bà hiệu trưởng Bulstrode gật đầu. Vậy là bà đã không lầm, cô giáo trẻ nay quả là con người có cá tính. Bà nói:
- Tôi nghĩ rằng thế nào cũng đến một ngày chị có được một trường học riêng, do chị lãnh đạo, để chị phát huy mọi ý tưởng đẹp đẽ của chị.
- Ôi, nếu được thế thì còn gì bằng!
- Chắc chị đã có lúc suy nghĩ, là nếu được lãnh đạo một trường thì chị sẽ làm những gì rồi chứ?
- Tôi cho rằng ai cũng có những mơ ước riêng của bản thân mình về chuyện đó. Một số những ý nghĩ đó là viển vông và khi vấp phải thực tế sẽ dẫn đến thất bại. Đúng thế. Nhưng tôi cho rằng mọi ý tưởng đều phải được đem ra thử nghiệm. Phải dám làm, rồi mới có cái mà rút kinh nghiệm, tiếp tục học hỏi thêm. Không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm của người khác. Tôi nghĩ như vậy có đúng không, thưa bà?
- Kể ra thì chưa hoàn toàn. Nhưng chị nói đúng. Thất bại là cần thiết, ít nhất cũng để lần san không mắc phải sai lầm nữa. Tôi thấy chị không sợ mở ra những con đường mới, có phải thế không? Chị không sợ mạo hiểm.
- Tôi cho rằng tôi luôn sống bằng mạo hiểm...
Một thoáng suy nghĩ nào đó lướt qua trên nét mặt cô, và Eileen Rich vội vã nói thêm:
- Nhưng tôi phải xin phép bà thôi, thưa bà hiệu trưởng! Các em học sinh đang chờ tôi.
Bà hiệu trưởng Bulstrode nhìn theo cô giáo trẻ, thầm nghĩ:
"Tiếc quá, cô ấy còn quá non nớt. Lúc này giao phó cho cô ta công việc thay ta, e chưa được”.
Bà giáo Chadwick đi ngang qua, nhận thấy vẻ băn khoăn trên khuôn mặt bà hiệu trưởng.
- Chị lo lắng chuyện gì thế?
- Đúng là tôi có băn khoăn. Tôi biết trường chúng ta cần một hiệu trưởng như thế nào, nhưng lại thấy có nhiều e ngại...
- Tôi tha thiết xin chị bỏ cái ý nghĩ nghỉ hưu ấy đi. Chị đã quá gắn bó với cái trường Meadowbank này rồi. Trường không thể vắng chị được.
- Đối với chị, trường nữ học này là tất cả, đúng thế không, Chadwick?
- Đúng thế, và tôi cho rằng không có trường nữ học nào sánh được với nó!
Bà hiệu trưởng Bulstrode trìu mến đặt tay lên vai người đồng sáng lập trường và là người bạn gái thân thiết:
- Đúng thế, chị Chadwick thân mến ạ! Chị còn là người đầu tiên, chính yếu đã hỗ trợ tôi. Chị quan tâm đến mọi thứ liên quan đến ngôi trường này.
Bà giáo dạy toán Chadwick đỏ bừng mặt sung sướng. Hiếm khi bà thấy người bạn gái lâu năm mất đi vẻ nghiêm nghị thường ngày như hôm nay.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-01-17 02:48:28HanAn>
XVI
- Không thể chơi bằng cái vợt tồi tệ này được! - Giận dữ, Jennifer quăng cây vợt xuống sân.
- Sao mà bạn cáu kỉnh đến thế? - Julia kêu lên rồi cúi xuống nhặt cây vợt lên - Cây vợt của bạn còn tốt hơn cây vợt của mình ấy chứ! Vợt của mình mới thật sự thảm hại! Mình nói mãi mà mẹ mình không chịu đem đến thợ để họ sửa lại cho.
- Vậy mà mình lại thích cây vợt của bạn hơn cây vợt tồi tệ của mình đấy.
Jennifer đỡ lấy cây vợt của bạn, đánh thử vài cái:
- Đúng là còn khá hơn cây vợt của mình. Hay bạn đổi cho mình nhé?
- Được thôi !
Họ bóc mảnh giấy nhãn trên cây vợt này dán sang cây vợt kia.
0
XVII
Adam vừa vui vẻ huýt sáo vừa căng lại lưới quần vợt. Đột nhiên cửa Cung Thể thao bật mở, cô giáo Blanche dạy tiếng Pháp, biệt danh "Chuột nhắt" bước ra. Nhìn thấy chàng trai phụ việc, cô tỏ vẻ hết sức ngạc nhiên. Cô ngập ngừng một chút rồi lại quay vào nhà.
"Cô ta có mưu đồ gì chăng mà vừa thò ra thấy mình lại thụt vào như vậy?" Adam thầm nghĩ.
Thái độ cô giáo kia làm Adam đặc biệt chú ý, rõ ràng là thái độ của một kẻ "bị bắt quả tang".
Lát sau cô giáo Blanche lại mở cửa Cung Thể thao, kín đáo bước ra rồi khép cửa lại thật khẽ. Khi đi ngang qua Adam, cô đứng lại, hỏi:
- Anh sửa lưới quần vợt đấy à?
- Vâng, thưa cô giáo.
- Công trình xây dựng này quả là tuyệt đẹp, không thiếu thứ gì: bể bơi, các sân bóng, toà nhà điền kinh. Bên Anh các anh thể thao rất được coi trọng.
- Có lẽ thế, thưa cô giáo.
- Anh có chơi quần vợt không?
Cô giáo Blanche lộ vẻ quan tâm đến thân hình chàng trai, một kiểu quan tâm rất nữ tính.
- Không, thưa cô giáo - Adam nói dối - Tôi không có thời gian.
- Thế hockev, anh có chơi hockey không?
- Hockey thì có, nhưng hồi còn nhỏ thôi.
Họ im lặng một lát.
- Từ hôm đến đây, tôi chưa có thời giờ đi một vòng xem toàn bộ khu vực - cô Blanche nói - Nhân hôm nay đẹp trời, tôi quyết định sang xem Cung Thể thao, để còn viết thư kể cho mấy đứa bạn đang mở một trường học bên Pháp.
Lại một lần nữa Adam lấy làm lạ. Cô gái người Pháp này việc gì phải thanh minh chuyện cô ta sang Cung Thể thao? Chẳng lẽ cô ta không có quyền đến bất cứ nơi nào trong khu vực trường nữ học này hay sao? Mà tại sao cô lại phải thanh minh với một tên làm vườn phụ việc?
Adam đăm chiêu nhìn cô gái. "Có lẽ ta phải tìm hiểu thêm về nhân vật này chăng?" Anh ta bèn thay đổi thái độ một chút. Vẫn lễ phép, nhưng thoải mái hơn một chút, Adam tự cho phép nhìn cô giáo Blanche một cách ... làm duyên.
- Dạy học trong một trường nữ học, hẳn đôi khi cô cũng thấy tẻ nhạt chứ, thưa cô giáo? - Adam bắt chuyện.
- Anh nói đúng. Chẳng thú vị gì.
- Nhưng cô lại có được nhiều lúc rảnh rang, đúng vậy không thưa cô?
Họ lại im lặng. Hẳn là cô giáo Blanche đang suy tính gì đó, kết quả là cô chuyển sang thái độ xa cách, khiến Adam cụt hứng.
- Trong trường này, mọi điều kiện sinh hoạt đều hoàn hảo đến mức không thể chê vào đâu được.
Cô giáo tiếng Pháp khẽ gật đầu "tạm biệt" rồi bước thoăn thoắt đi.
"Đúng là cô ta đang mưu đồ chuyện gì đó", Adam vẫn tiếp tục thầm nghĩ. "Và mưu đồ kia chắc liên quan đến Cung Thể thao này? "
Dường như theo bản năng, Adam vào toà nhà "Cung Thể thao" xem thử. Đưa mắt quan sát xung quanh, không nhận thấy có gì đặc biệt, nhưng anh ta vẫn chưa thật yên tâm.
Lúc quay ra, Adam chạm trán với cô thư ký Anh Shapland.
- Anh có nhìn thấy bà hiệu trưởng Bulstrode ở đâu không?
- Bà hiệu trưởng quay về văn phòng rồi. Lúc nãy bà ấy nói chuyện với bác Briggs ở đây.
- Anh vừa vào Cung Thể thao làm gì? - Cô thư ký cau mặt hỏi.
Câu hỏi làm Adam khó chịu. "Cô này đa nghi thật”, anh thầm nghĩ. Rồi Adam trả lời giọng có phần hơi sẵng:
- Tôi muốn ngó qua một cái. Không được hay sao?
- Anh nên làm công việc của anh thì hơn.
- Tôi vừa căng xong cái lưới quần vợt.
Rồi quay mặt về phía Cung Thể thao, Adam nói tiếp :
- Cung Thể thao này vừa mới xây xong, phải không bà? Hẳn là tốn kém lắm. Nhà trường không tiếc tiền bạc tạo điều kiện cho các nữ học sinh.
- Thật ra là tiền của học sinh cả - cô thư ký Anh Shapland lạnh lùng đáp.
- Đúng thế - Adam gật đầu tán thành.
Anh không hiểu tại sao anh lại cảm thấy mất cảm tình với cô thư ký này. Phải chăng vì cô ta quá khinh người? Nhưng Shapland đã nhún vai rồi bước đi nhanh. Tuy nhiên được một quãng, cô ta ngoái đấu lại nhìn anh. Cô nhìnA dam rồi nhìn Cung thể thao, và trên khuôn mặt cô lộ một vẻ bí hiểm, cô đi khuất.
0
XVIII
Trong phòng trực đêm của đồn cảnh sát Phố Hurst, trung sĩ Green đang ngáp thì chuông điện thoại reo. Lát sau, thái độ của Green thay đổi hẳn, anh ta vớ cuốn sổ theo dõi, nói vào máy:
- Bà nhắc lại cho, Meadowbank... Có chuyện gì vậy? Bà đánh vần từng chữ cho S-p-r-i-n-g-e-r... Springer, đúng không ạ?... Thôi được, xin bà giữ nguyên hiện trường. Tôi sẽ cử người đến ngay.
Thế là Trung sĩ Green tiến hành quy trình thường lệ quen thuộc.
- Meadowbank à? - Thanh tra cảnh sát Kelsey nói ở đầu dây bên kia -  Theo tôi biết thì đấy là một trường nữ học. Nạn nhân bị giết là ai?
- Một phụ nữ tên là Springer, giáo viên thể dục.
- Chà, nghe giống như một cốt truyện hình sự rẻ tiền vậy.
- Kẻ gây ra một vụ án mạng kiểu đó có thể là ai được nhỉ? - Green hỏi.
- Nhà thể thao điền kinh vẫn có thể vướng vào những chuyện tình rắc rối được lắm chứ, Trung sĩ! Người ta thấy thi thể nạn nhân ở chỗ nào?
- Trong ngôi nhà được họ gọi là Cung Thể thao. Chắc chỉ là một phòng tập cho học sinh.
- Nạn nhân bị bắn bằng súng ngắn à?
- Vâng.
- Tìm thấy hung khí chưa?
- Chưa.
0
XIX
Cổng chính vào trường Meadowbank mở rộng và gian tiền sảnh đèn bật sáng. Bà hiệu trưởng Bulstrode bước ra đón Thanh tra cảnh sát Kelsey. Giống như hầu hết dân chúng trong vùng, viên thanh tra cảnh sát đã biết mặt bà hiệu trưởng này. Ngay cả trong tình hình hiện nay, bà vẫn giữ được nét mặt điềm tĩnh.
- Tôi là Thanh tra cảnh sát Kelsey - khách lịch thiệp tự giới thiệu.
- Ông muốn đi xem nơi nào trước? Hẳn là Cung Thể thao... Hay ông muốn hỏi các nhân chứng trước?
- Cùng đi với tôi có bác sĩ pháp y và hai trợ lý của ông ta để khám nghiệm tử thi. Xin bà hiệu trưởng cho người dẫn họ ra hiện trường. Riêng tôi, tôi muốn được hỏi bà một số điều.
- Cô Rowan, một phụ giáo của trường, sẽ đưa ông bác sĩ đi. Tại đấy tôi đã bố trí người canh để không cho ai di chuyển thứ gì. Mời ông thanh tra vào phòng giấy của tôi.
Vào đến phòng, câu hỏi đầu tiên của Thanh tra Kelsey là :
- Ai là người đầu tiên phát hiện ra tử thi?
- Bà Johnson, tổng giám thị của trường. Đêm hôm qua, một em nữ học sinh của chúng tôi bị đau tai nên bà Giám thị ngồi chăm sóc em. Do thấy một tấm rèm cửa sổ chưa được khép kín, bà Johnson bèn ra kéo lại. Ra đến đó, bà tình cờ nhìn về phía Cung Thể thao, thấy có ánh đèn. Bà ngạc nhiên: Lúc đó đã một giờ sáng, lẽ ra đèn phải tắt hết từ lâu rồi.
- Tôi hiểu. Bà giám thị hiện ở đâu?
- Bà Johnson đang sẵn sàng tiếp ông. Ông muốn hỏi bà ấy không ạ?
- Lát nữa. Bây giờ xin bà nói tiếp cho, thưa bà hiệu trưởng.
- Thế là bà giám thị đánh thức bà Chadwick dạy toán. Hai người quyết định ra đó xem có chuyện gì. Vừa ra khỏi toà nhà này thì hai bà nghe thấy một tiếng súng nổ. Họ bèn chạy nhanh về phía đó, và nhìn thấy...
- Tôi đã đoán được sự việc diễn ra tiếp theo, thưa bà hiệu trưởng. Bây giờ bà có thể cho tôi biết một vài thông tin về nạn nhân được không? Nạn nhân làm việc ở trường ta lâu chưa?
- Chưa. Cô giáo Springer mới đến dạy ở trường từ đầu niên học này. Cô giáo dạy thể dục trước cô Springer đã đi Úc.
- Bà biết những gì về lai lịch cô giáo Springer?
- Toàn những bản nhận xét rất tốt ở những nơi cô ấy đã làm việc.
- Trước khi nạn nhân vào làm ở trường ta, bà có quen biết cô ấy không?
- Không.
- Bà có ý kiến gì, dù chỉ là mơ hồ, về nguyên nhân của sự kiện bi thảm này không? Chẳng hạn những chuyện phức tạp trong cuộc sống của nạn nhân... những chuyện ta tạm gọi là "đáng tiếc"?
- Tôi không biết gì về những chuyện đại loại như thế. Tôi chỉ thấy cô giáo Springer sống hết sức nghiêm túc, thậm chí nguyên tắc nữa. Tôi không hề thấy cô có biểu hiện gì có vẻ vượt ra ngoài nguyên tắc. Ngược lại thì có.
- Đôi khi cuộc sống có những điều làm chúng ta hoàn toàn bất ngờ. Bây giờ tôi xin hỏi chuyện bà Giám thị, rồi tôi sẽ ra Cung Thể thao, bà gọi chỗ đó như vậy phải không, thưa bà?
- Vâng. Toà nhà đó mới xây, nằm cạnh bể bơi. Tất nhiên ở đấy có một gian để quần áo, dụng cụ thể thao, cả áo tắm nữa.
- Cô giáo Springer có phận sự nào cần có mặt ban đêm trong đó không, thưa bà?
- Không - bà hiệu trưởng Bulstrode khẳng định dứt khoát.
- Thôi được. Xin bà cho mời bà giám thị vào đây cho tôi gặp.
Bà hiệu trưởng ra, rồi quay vào ngay cùng với bà giám thị Johnson. Để bà này trấn tĩnh thần kinh, bà hiệu trưởng rót mời một ly rượu mạnh, ai ngờ rượu lại khiến bà giám thị nói nhiều hơn hẳn mọi khi.
- Đây là ông thanh tra Kelsey. Bà hãy kể ông thanh tra nghe tất cả những gì bà đã thấy.
- Khiếp quá! - Bà giám thị Johnson kêu lên - Không bao giờ tôi có thể nghĩ là cô Springer lại bị ai giết!
Câu nói làm viên thanh tra cảnh sát chú ý.
- Tại sao vậy, thưa bà giám thị?
- Vì cô ấy là loại người thừa sức đánh ngã một tên ăn trộm, thậm chí hai tên nữa ấy chứ.
- Tên ăn trộm? Nhưng trong toà nhà ấy có gì để kẻ trộm lấy được?
- Đúng là trong ấy không có thứ gì quý giá để ăn trộm thật.
- Vậy thì không phải kẻ trộm. Khoá có bị phá không?
- Tôi lại sơ ý chưa nhìn ổ khoá đấy. Lúc hai chúng tôi vào, tôi và bà giáo Chadwick, thì cửa đã mở sẵn.
Bà hiệu trưởng Bulstrode chen vào:
- Hình như khoá vẫn nguyên vẹn.
- Tức là người mở có chìa khoá.
Rồi quay sang bà giám thị Johnson, thanh tra Kelsey hỏi:
- Nạn nhân có phải là người được lòng mọi người trong trường không?
Bà Giám thị im lặng một lát rồi đáp:
- Quả thật tôi rất khó trả lời câu ông hỏi. Dù sao cô ấy cũng đã mất rồi.
Viên thanh tra soi mói, đoán được ý nghĩ thầm kín của bà này.
- Nghĩa là bà không ưa cô giáo Springer.
- Tôi cho rằng không ai thật sự ưa cô ấy. Tính cô ấy quá thẳng đuỗn, luôn phê phán tất cả mọi người. Nhưng phải công nhận cô ấy rất có khả năng và làm việc hết sức tận tụy.
- Điều ấy thì đã quá rõ - bà hiệu trưởng Bulstrode nói thêm.
- Xin bà Giám thị kể cho tôi nghe từ đầu.
- Một em học sinh của chúng tôi tên là Jane nửa đêm thức dậy kêu đau khủng khiếp một bên tai. Tôi bèn chạy đi tìm thuốc giảm đau. Lúc quay vào, tôi nhìn thấy một tấm rèm cửa sổ chưa kéo hết. Sợ gió lạnh làm tai em học sinh càng đau thêm, tôi chạy ra định buông tấm rèm xuống, chợt tôi rất ngạc nhiên thấy bên Cung Thể thao xó ánh đèn. Tôi thấy rất rõ ánh đèn chạy đi chạy lại…
- Nghĩa là không phải có người bật đàn mà là đèn pin?
- Đúng thế. Tôi thầm nghĩ, vào giờ này mà sao lại có người vao Cung Thể thao làm gì? .. Không lẽ là kẻ trộm...
- Bà không đoán là có chuyện gì sao?
Bà Giám thị liếc nhìn bà Hiệu trưởng trước khi trả lời.
- Lúc ấy tôi chưa kịp đoán là có chuyện gì khác…
Bà Hiệu trưởng đỡ lời:
- Tôi đoán lúc ấy bà Giám thị ngờ một em học sinh nào có chuyên hẹn hò trai gái ở đó, tôi đoán thế có đúng ý bà không, bà Johnson?
Bà Giám thị như thể giật mình:
- Lúc đó thì quả là như thế, tôi nghi có chuyện vụng trộm trai gái. Vì trong số nữ sinh có một em người Italia trông khá phát triển về cơ thể. Tôi có kinh nghiệm các em người nước ngoài phát triển sớm hơn các em gái Anh...
- Bà đừng nên thành kiến như thế, bà Johnson - bà hiệu trưởng Bulstrode ngắt lời - Các nữ sinh Anh cũng dám mạo hiểm lắm chứ.
- Xin bà Giám thị kể tiếp cho - thanh tra Kelsey giục.
- Tôi bèn tính rủ bà giáo dạy toán Chadwick cùng sang đó xem có chuyện gì.
- Tại sao bà lại nghĩ đến rủ bà giáo Chadwick?
- Bởi tôi không muốn đánh thức bà Hiệu trưởng mà bà Chadwick cũng có uy tín ở trường gần bằng bà Hiệu trưởng, gần như người thứ hai trong trường.
- Thế là bà sang đánh thức bà Chadwick?
- Vâng, nghe tôi kể, bà Chadwick tán thành điều nghi ngờ của tôi. Bà mặc áo len dài tay, khoác áo măng tô rồi đi theo tôi. Nhưng vừa ra đến sân thì chúng tôi nghe thấy một tiếng súng nổ. Chúng tôi vội chạy về phía đó. Ngốc quá, chúng tôi không mang theo đèn pin, và hai lần chúng tôi vấp mô đất suýt ngã. Đến Cung Thể thao chúng tôi thấy cửa mở, chúng tôi vội bật đèn lên...
- Lúc hai bà đến, bên trong toà nhà không có đèn sáng?
- Không... Hoàn toàn tối om.. Rồi chúng tôi nhìn thấy...
- Thôi, thế là đủ - thanh tra cảnh sát Kelsey nhẹ nhàng nói - Bây giờ tôi sang hiện trường . Lúc chạy đến đó, bà có nhìn thấy một bóng người nào không?
- Không.
- Hay bà có nghe thấy tiếng chân người chạy không?
- Cũng không.
Thanh tra Kelsey quay sang hỏi bà Hiệu trưởng:
- Trong trường còn ai nghe thấy tiếng súng không?
- Tôi không biết. Không thấy ai nói gì về chuyện này. Cung thể thao nằm cách khá xa toà nhà chính. Và vào giờ đó, thường mọi người đều đang ngủ rất say.
- Tôi hiểu. Thôi, bây giờ tôi sang hiện trường.
- Để tôi đưa ông đi - bà Hiệu trưởng Bulstrode nói.
- Ông thanh tra có muốn cả tôi cũng sang đó không? - bà Giám thị Johnson nói.
- Không cần đâu, thưa bà Giám thị - thanh tra Kelsey nói.
Gian phòng để quần áo và dụng cụ thể thao khá rộng. Tủ đựng có rất nhiều ngăn, mỗi ngăn dành cho một học sinh, bên ngoài ghi tên họ từng người. Cuối gian phòng là chỗ để các dụng cụ thể thao: vợt tennis, gậy đánh hockey, và những dụng cụ khác. Một cửa thông sang phòng tắm hoa sen và ngăn để nữ sinh thay quần áo. Các nhân viên cảnh sát, giúp việc cho thanh tra Kelsey, đang tấp nập làm việc: người chụp ảnh góc độ, người lấy dấu vân tay…
Thanh tra Kelsey bước đến gặp bác sĩ pháp y, ông này đang quỳ gối xem xét tử thi.
- Thủ phạm bắn từ cự ly khoảng ba mét, trúng tim. Chết tức khắc - bác sĩ nói.
- Vào giờ nào?
- Khoảng một giờ sáng.
Thanh tra Kelsey quay sang nhìn bà giáo Chadwick, người đã phát hiện tử thi cùng với bà giám thị Johnson. Lúc này bà Chadwick đứng tựa vào tường, dáng điệu như con chó giữ nhà. Viên thanh tra cảnh sát thầm đoán: "Khoảng năm mươi nhăm tuổi". Vầng trán cao, miệng bướng bỉnh, mái tóc hoa râm hơi bù rối, không hề có biểu hiện tinh thần hoảng loạn. Loại người có thể tin cậy được những khi gặp sóng gió, mặc dù trong cuộc sống bình thường không tỏ vẻ gì đặc biệt.
- Bà là bà Chadwick? - viên thanh tra hỏi.
- Vâng, thưa ông.
- Bà cùng với bà Giám thị là hai người đầu tiên phát hiện tử thi?
- Đúng thế, thưa ông. Mọi thứ lúc đó được giữ y nguyên cho đến lúc này.
- Lúc ấy là mấy giờ?
- Khi bà giám thị Johnson đánh thức tôi dạy, tôi nhìn đồng hồ thì là mười hai giờ năm mươi phút.
"Vậy là gần khớp với lời khai của bà giám thị", thanh tra Kelsey thầm nghĩ rồi quay sang quan sát tử thi. Mái tóc màu hạt dẻ của nạn nhân cắt ngắn. Khuôn mặt đầy tàn nhang. Cằm nhô ra. Thân thể chứng tỏ đã được tập luyện điền kinh nhiều. Nạn nhân mặc váy dạ kiểu xứ Ecốt, áo len dài tay đen, chân đi dép, không có tất.
- Chưa thấy vết tích của hung khí?
Một nhân viên cảnh sát đáp:
- Chưa thấy một dấu vết nhỏ, thưa ông thanh tra.
- Cả ngọn đèn pin hung thủ dùng để soi?
- Có một chiếc đèn pin nằm ở góc phòng bên trái nhưng dấu vân tay lại là của nạn nhân.
- Ra thế! Nghĩa là cô ta cầm đèn pin? - Thanh tra Kelsey cau mày nói.
"Tại sao lại như thế?" viên thanh tra thầm nghĩ. Rồi quay sang mọi người, ông hỏi:
- Các vị có nhận xét gì thêm nữa không?
Bà giáo dạy toán Chadwick nói:
- Có lẽ cô Springer quên một thứ gì đó trong phòng tập, bèn sang để xem lại. Nhưng khả năng ấy khó thể có, bởi lúc đó đã quá khuya.
- Nhưng nếu khả năng đó là đúng thì vật bỏ quên phải là thứ hết sức quan trọng.
Viên thanh tra cảnh sát đưa mắt nhìn khắp xung quanh. Mọi thứ đều vô cùng trật tự ngăn nắp, trừ những cây vợt tennis: trong một góc phòng, chúng chất thành một đống ngay trên sàn.
Đột nhiên bà Chadwick nói:
- Cũng có thể cô Springer nhìn thấy một luồng sáng...
- Không loại trừ khả năng đó - thanh tra Kelsey đáp - Tuy nhiên có một chi tiết cần làm sáng tỏ: tại sao nạn nhân dám liều lĩnh sang đây một mình giữa đêm khuya như vậy?
- Đúng thế. Người khác gặp trường hợp ấy, thường rủ thêm người khác cùng sang. Nhưng cô Springer có tính rất tự tin vào bản thân mình.
- Tôi muốn biết thêm một chi tiết nữa: khi bà cùng với bà giám thị Johnson ra khỏi trường để sang Cung Thể thao, bà thấy cửa vào Cung có khoá không?
- Không.
- Có thể cô Springer mở xong rồi chưa kịp đóng?
- Có lý!
- Như vậy ta có thể đoán cô Spirnger định khám phá một điều gì bí mật. Kết quả là cô bị giết.
Vêin thanh tra Kelsey nhìn thẳng vào mắt bà hiệu trưởng Bulstrode:
- Bà thấy giả thuyết ấy có chấp nhận được không?
Bà triệu trưởng trả lời không chút ngập ngừng:
- Chưa hẳn là được. Tất nhiên tôi công nhận khả năng cô Springer phát hiện thấy ánh sáng bên Cung Thể thao và muốn tiến hành một cuộc điều tra nhỏ. Nhưng kẻ kia lại thấy cần phải thủ tiêu cô, đó là điều lôi không hiểu được. Hung thủ vào Cung Thể thao mà lại mang súng theo để làm gì, trongg khi ở đây không có gì đáng để lấy cắp? Nhất là không có một thứ gì khiến hắn dám liều lĩnh đến thế? Vậy mà hắn đã giết người ta?
Kelsey khẽ ho thông cổ họng rồi nói.
- Bà định nói rằng, có thể một cặp trai gái tình tự vụng trộm ở đây và bị nạn nhân phát hiện thấy?
- Tôi cho khả năng đó là có lý hơn cả - bà hiệu trưởng Bulstrode nói - Tuy nhiên lý do đó chưa đủ khiến kẻ kia gây án mạng. Các em học sinh của trường chúng tôi không bao giờ mang súng theo người, và người đàn ông mà các em có khả năng hò hẹn để tình tự cũng không thể đến đây mà mang theo súng.
Thanh tra Kelsey gật đầu:
- Bà nói có lý. Nhưng còn một khả năng khác: cô Springer sang đây chính là để gặp một người đàn ông...
Tiếng cười suýt bật lên nhưng bị ghìm lại, và bà giáo dạy toán Chadwick kêu lên:
- Ôi, cô Springer hoàn toàn không phải loại người như thế.
- Tôi nghĩ không nhất thiết người đàn ông đó là người tình - thanh tra Kelsey khó chịu cãi lại - Tôi thoáng nghĩ vụ án mạng này có thể được tính toán từ trước, nghĩa là hung thủ quyết tâm giết nạn nhân. Y hẹn cô Springer ra đây giữa đêm khuya rồi hạ sát cô.
0
XX
Thư của Jennifer gửi mẹ là bà Joan Sutcliffe:
Đêm qua trong trường chúng con xảy ra một vụ án mạng: cô giáo Springer dạy thể dục bị giết. Cảnh sát đến đây từ sáng và thẩm vấn tất cả mọi người.
Bà giáo Chadwik dạy toán ra lệnh cấm chúng con không ai được lộ tin này ra, nhưng con nghĩ rằng mẹ muốn biết mọi tin tức ở đây.
 
* * *
 
Danh tiếng của trường nữ học Meadowbank khá lớn, đủ để thu hút sự chú ý của các quan chức cao cấp trong ngành cảnh sát. Trong khi cuộc điều tra đang tiến hành, bà hiệu trưởng không ngồi yên. Bà gọi điện thoại cho một quan chức cao cấp ngành báo chí và cho Bộ trưởng Nội Vụ, cả hai đều là bè bạn của bà. Kết qủa là báo chí chỉ đưa tin rất dè dặt: người ta tìm thấy một giáo viên viên thể dục bị chết ngay trong phòng tập, nguyên nhân còn chưa rõ. Hầu hết những tin vắn đăng trên báo chí đều giống như những lời nhận lỗi: tóm lại, độc giả có cảm tưởng nạn nhân do thiếu tế nhị nên mới bị giết trong hoàn cảnh như thế.
Cô thư ký Anh Shapland suốt ngày phải đánh máy những lá thư gửi các phụ huynh học sinh. Bà hiệu trưởng Bulstrode cho rằng căn dặn học sinh đừng báo tin này về cho gia đình là vô ích, bởi họ sẽ viết và còn thêm thắt ít nhiều. Cho nên bà chủ trương chủ động gửi thông báo cho các phụ huynh học sinh, trong đó tấn bi kịch được trình bày một cách “có mức độ", và những thông báo này sẽ đến tay các bậc phụ huynh cùng một lúc với những bức thư sôi nổi của con cái họ.
Hết giờ học chiều, bà hiệu trưởng Bulstrode triệu tập một cuộc họp nhỏ, không chính thức, có ông Cảnh sát trưởng và thanh tra Kelsey cùng dự. Thái độ "dìm đi" của báo chí đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành điều tra được êm ả.
- Vụ án mạng này hết sức đáng tiếc - ông Cảnh sát trưởng nói - Tôi e sẽ gây nhiều khó khăn cho hoạt động của nhà trường.
- Một vụ án mạng bao giờ cũng gây tác động xấu - bà Hiệu trưởng đáp. Nhất lại ở một trường nữ học. Nhưng tôi nghĩ chẳng nên nói nhiều về chuyện đó. Chúng tôi sẽ đương đầu với khó khăn này: bởi chúng tôi chẳng đã từng đương đầu với bao bão tố khác đấy ư? Toàn bộ điều tôi mong ước là vụ án được khám phá trong thời gian ngắn nhất.
- Mà tại sao lại không làm được như thế kia chứ? - ông Cảnh sát trưởng nói, quay sang thanh tra Kelsey.
- Vụ án sẽ được điều tra dễ dàng hơn, nếu chúng tôi biết rõ hơn về nạn nhân, cô giáo Springer - thanh tra Kelsey nói.
- Thật sự ông cho là như thế ạ? - Bà hịệu trưởng ngắt lời.
- Có kẻ nào đó căm ghét nạn nhân.
Bà hiệu trưởng không nói gì nữa.
- Bà cho rằng thủ phạm vụ án mạng nằm ngay trong trường nữ học Meadowbank? - Ông cảnh sát trưởng hỏi.
- Thanh tra Kelsey cũng nghĩ như tôi - bà hiệu trưởng Bulstrode nói - Chỉ có điều ông thanh tra muốn tránh cho tôi phải chịu thêm một nỗi choáng váng nữa, có lẽ thế.
Thanh tra Kelsey chậm rãi nói:
- Đúng, tôi cũng cho rằng vụ án này có nguyên nhân nằm trong nội bộ trường Meadowbank. Giống như một thành viên khác của trường, cô giáo thể dục Springer cũng có những quãng thời gian rảnh rỗi, và nếu muốn, cô có thể bố trí những cuộc hò hẹn tại bất kỳ địa điểm nào. Nhưng tại sao cô lại chọn Cung Thể thao và vào giữa lúc đêm khuya?
Cảnh sát trưởng hỏi:
- Thưa bà Hiệu trưởng, bà không phản đối nếu chúng tôi tiến hành lục soát cả những nơi khác trong trường học của bà chứ?
- Không. Tôi không hề phản đối. Các ông định tìm hung khí phải không?
- Đúng thế. Căn cứ vào đường đạn đi thì đây là một khẩu súng ngắn loại nhỏ, chế tạo tại nước ngoài .
- Chế tạo tại nước ngoài... - bà Hiệu trưởng lẩm bẩm suy nghĩ.
- Theo bà biết, trong trường có một học sinh hoặc nhân viên nào có khả năng giữ một khẩu súng ngắn không?
- Nhân viên thì tôi không biết, nhưng học sinh thì tôi biết chắc là không có ai. Chính tay chúng tôi kiểm soát rất kỹ hành lý của các em khi nhập học, vào sinh hoạt nội trú ở đây. Nếu có vũ khí tất chúng tôi phát hiện được ngay. Nhưng như đã nói lúc trước xin các ông cứ tiến hành mọi việc gì các ông thấy cần thiết. Tôi đã nhìn thấy người của các ông lục soát những công trình phụ và ngoài vườn.
- Và thêm nữa - thanh tra cảnh sát Kelsey nói - tôi muốn được thẩm vấn toàn bộ giáo viên và nhân viên nhà trường. Có thể một người nào đó đã nghe thấy một câu nói nào đó của cô giáo Springer, và câu đó lại giúp chúng tôi thấy được hướng điều tra. Hoặc một người nào đó nhận thấy ở cô Springer một thái độ nào đó không bình thường.
Ngừng một lát, thanh tra Kelsey nói tiếp.
- Cả các học sinh nữa.
- Tôi đang định tối nay sẽ họp học sinh, sau giờ cầu kinh, để đề nghị các em là nếu phát hiện ra vấn đề gì mới thì đến ngay văn phòng báo cho tôi biết.
- Bà làm thế là rất tốt - ông cảnh sát trưởng khen ngợi.
- Tuy nhiên - bà Hiệu trưởng Bulstrode nói tiếp - cần lưu ý đến một điều là rất có thể một người nào đó phóng đại một chi tiết cốt để tỏ ra quan trọng, thậm chí có thể bịa ra một chi tiết thật ra không có. Tôi nghĩ kiểu khai bịa như thế các ông đã từng gặp và đã có kinh nghiệm. Đúng vậy không ạ?
- Bà nói rất đúng - thanh tra Kelsey nói - Vậy xin bà cho một bản danh sách các giáo viên và nhân viên.
0
XXI
- Tôi đã lục soát tất cả các ngăn đựng quần áo và dụng cụ trong phòng gửi đồ - một nhân viên cảnh sát báo cáo với thanh tra Kelsey.
- Và anh không tìm thấy gì?
- Không thấy thứ gì quan trọng. Một số ngăn có những thứ đồ chơi kỳ quái, nhưng không giúp ích được gì cho chúng ta.
- Không ngăn nào khoá chặt?
- Không, nhưng ngăn nào cũng lắp khoá.
Thanh tra Kelsey trầm ngâm nhìn xuống sàn nhà. Các cây vợt tennis và gậy đánh hockey đều đã được xếp lại gọn gàng.
- Tôi phải quay về trường để thẩm vấn các giáo viên và nhân viên - ông nói.
-Rất có thể đây là một vụ "án mạng nội bộ" - Nhân viên cảnh sát rụt rè nói.
- Có thể lắm. Không ai có bằng chứng ngoại phạm, ngoài hai người: bà giáo Chadwick và bà giám thị Johnson... cả cô học sinh Jane bị đau tai nữa. Về lý thuyết thì mọi người khác đều đang ngủ trên giường của họ, nhưng chưa có gì chứng thực là tất cả đều ngủ... Bởi ở đây, các nữ sinh nội trú, mỗi người đều có phòng ngủ riêng... cả các cô giáo và nhân viên cũng vậy. Bất cứ ai cũng có thể ra khỏi phòng, sang Cung Thể thao gặp nạn nhân... hoặc bám theo nạn nhân, để rồi sau khi gây án, lén lút quay về phòng ngủ của mình bằng cách lần theo các bụi cây ngoài vườn, rồi chui qua cửa ngách ở cuối vườn để về toà nhà chính. Khó khăn nhất trong việc điều tra là tìm cho ra động cơ của hung thủ! Hiện nay chúng ta còn biết quá ít về nội tình của trường.
Ra đến vườn, thanh tra Kelsey nhìn thấy bác già Briggs vẫn đang cặm cụi làm việc, mặc dù đã đến giờ nghỉ trưa. Nhìn thấy viên thanh tra cảnh sát ông già làm vườn đứng thẳng dậy:
- Bác làm cả ngoài giờ à? - Thanh tra Kelsey tươi cười hỏi.
- Công việc thợ làm vườn thì làm gì có giờ giấc, làm bao nhiêu cũng vẫn thấy còn những việc khác chưa làm. Có hôm tôi làm đến hai mươi tiếng đồng hồ ấy chứ... Có thế vườn trông mới tàm tạm. Tôi rất tự hào về cái vườn của tôi.
- Bác có quyền tự hào đấy. Chưa ở đâu tôi thấy các luống hoa ngay ngắn và nhiều hoa như thế này. Nhất là thời nay, ít có khu vườn hoa nào được trông nom tỷ mỷ lắm.
- Ông thanh tra nói đúng: thời nay. Bởi thời bây giờ... nhưng mới đây tôi may mắn có được cậu phụ việc chăm chỉ, mặc dù cậu ta còn quá trẻ. Lại chính cậu ta tự nguyện xin vào làm đấy chứ.
- Mới đây? - Thanh tra Kelsey đột nhiên chú ý.
- Mới đầu tam cá nguyệt này. Tên cậu ta là Adam Goodman.
- Tôi chưa nhìn thấy anh ta.
- Cậu ta xin tôi cho nghỉ một ngày và tôi đã bằng lòng. Các ông cảnh sát đến đây điều tra, lúc nào cũng nhốn nháo thế này, có làm cũng chẳng được là bao.
- Nhưng sao không ai nói về anh ta cho tôi biết nhỉ?
- Ông thanh tra nói thế nghĩa là sao?
- Trong bản danh sách nhân viên nhà trường tôi không thấy tên anh ta.
- Mai ông sẽ gặp cậu ta thôi. Tôi không tin cậu ta có điều gì bổ ích có thể khai ra với các ông cảnh sát.
- Biết đâu đấy.
Một người nam giới đến xin việc vào đầu tam cá nguyệt này? Thanh tra Kelsey cảm thấy đây là sự việc "không bình thường" nhất trong những sự việc ông biết được từ đầu cuộc điều tra.
0
XXII
Tối hôm ấy tại hội trường, sau buổi cầu kinh tối, các học sinh đã đứng dậy định về phòng riêng để đi ngủ thì bà Hiệu trưởng bước vào, giơ cao tay ý bảo họ ngồi lại.
- Ta muốn thông báo với các em một việc. Hẳn các em đã biết đêm qua, người ta đã thấy cô Springer dạy thể dục bị giết trong phòng tập Cung Thể thao. Nếu em nào nghe thấy một chi tiết nào có liên quan, dù rất nhỏ, đến cuộc sống riêng tư của cô Springer thì đến ngay phòng giấy hiệu trưởng, báo cho ta biết, bất kể vào giờ nào buổi tối.
Sau đó, các nữ sinh xếp hàng đi ra. Nữ sinh Julia Upjohn thở một hơi dài:
- Mình rất muốn phát hiện một điều nào đấy... nhưng chúng mình lại chẳng biết gì hết.
- Tất nhiên rồi - Jennifer thì thầm.
- Cô Springer chẳng có chút gì đặc biệt, vậy mà lại thành nạn nhân của một vụ án mạng bí hiểm thì lạ thật!
- Mình thì cho rằng chẳng có gì bí hiểm hết. Chỉ là một vụ trộm hết sức bình thường.
- Chắc tên gian định lấy trộm mấy cây vợt tennis của bọn mình - Julia nói.
- Mà cũng có thể là một vụ tống tiền - một nữ sinh khác chêm vào.
- Tống tiền? Cô Springer thì làm gì có tiền? - Jennifer bác lại
Và các em đều thấy không thể có chuyện "tống tiền" ở đây.
0
XXIII
Người đầu tiên được thẩm vấn là cô Vansittart dạy lịch sử và tiếng. Đức. Thoạt nhìn cô, thanh tra Kelsey đã thoáng nghĩ: "Cô giáo này có dáng đây”. Trạc bốn mươi hoặc hơn thế một chút, cô giáo Vansittart có dáng người dong dỏng, thân hình cân đối, mái tóc màu tro, áo quần chải chuốt, có vẻ biết rõ giá trị của mình. Cô giống bà hiệu trưởng Bulstrode ở chỗ dáng vẻ tự tin, quyết đoán. Tuy nhiên có sự khác nhau giữa hai người: bà hiệu trưởng là người luôn có những ý tưởng mới mẻ, nhưng cô giáo này thì không có vẻ như thế. Cô tầm thường hơn nhiều.
Quả là cô giáo Vansittart không nhìn thấy gì, không nghe thấy gì. Đúng, cô giáo Springer làm tròn mọi phận sự với tinh thần trách nhiệm cao, mặc dù cô có hơi thô lỗ trong cách ăn nói, đối xử, nhung bụng dạ thì không có gì. Vả lại dạy môn thể dục thì thái độ khéo léo không phải là thứ quan trọng.
Tóm lại, cô giáo Vansittart không cung cấp được thông tin nào bổ ích cho việc điều tra.
 
* * *
 
Cô giáo được thẩm vấn thứ hai là Eileen Rich dạy văn. Cảm giác đầu tiên của viên thanh tra Kelsey là cô giáo này quá xấu. Nhưng rồi ông lại nhận thấy cô có một chút duyên ngầm. Những câu cô trả lời đều không đem lại chút ánh sáng nào cho vụ án. Thanh tra Kelsey bèn chuyển cách hỏi:
- Cô có cảm thấy có ai căm ghét cô giáo Springer về chuyện gì không?
- Không - cô giáo Eileen Rich đáp - Tôi thấy chính đó là khía cạnh bi thảm của vụ án mạng này.
- Cô nói thế nghĩa là sao?
- Vì Springer không thuộc loại người bị ai căm ghét đến mức muốn giết chị ấy. Chị ấy nói gì, làm gì đều không bao giờ có ác ý. Tất nhiên đôi khi chị ấy cáu kỉnh khi thấy người nào vi phạm điều quy định nào đó, nhưng không bao giờ chị ấy để bụng. Cho nên không ai giận chị ấy được. Theo tôi thì chị ấy bị giết chỉ là ngẫu nhiên.
- Xin cô nói cho rõ hơn.
- Thí dụ trong một vụ cướp nhà băng, một nhân viên tầm thường bị giết, chỉ hoàn toàn vì kẻ cướp bắt gặp trên con đường chúng đi. Không phải vì bản thân Springer làm gì, mà chỉ đơn giản vì chị ấy làm trở ngại cho bọn chúng.
Cô Eileen Rich nhún vai rồi nói tiếp:
- Chị Springer có tính luôn thấy mọi người vi phạm trật tự trong trường, và hễ thấy người nào làm trái quy định là xông ra cản lại.
- Cô định nói là cô giáo Spnnger luôn dò xét mọi người?
- Nói dò xét thì không đúng. Chỉ có điều mỗi khi thấy có gì lén lút là chị ấy lập tức tìm xem lén lút chuyện gì, rồi vạch trần ra. Trong trường hợp này, theo tôi đoán, chị ấy thấy hiện tượng gì đó không bình thường, thế là chị ấy tìm cho ra nhẽ.
- Hình như cô không ưa cô Spnnger?
- Thú thật là tôi ít thân với chị ấy. Springer chỉ là giáo viên dạy thể dục... Ôi, tôi lại nói câu xấu thói rồi! Mỗi người một nghề chứ, và chị Springer cũng có quyền tự hào về công việc của chị ấy như bất cứ một giáo viên yêu nghề và tận tuỵ nào khác.
Thanh tra Kelsey tò mò quan sát cô giáo dạy văn rồi hỏi:
- Tôi thấy cô có tài nhận xét rất tinh tế.
- Cũng có thể.
- Cô làm việc ở trường nữ học Meadowbank này đã lâu chưa?
- Mười tám tháng rồi.
- Cô không thấy trong trường xảy ra chuyện gì đặc biệt chứ, trong quãng thời gian ấy?
- Không. Cuộc sống ở đây rất phẳng lặng, ít nhất cũng cho đến tam cá nguyệt này.
Thanh tra Kelsey liền chớp luôn cơ hội:
- Hình như cô có nhận xét trên không phải chỉ vì chuyện xảy ra vụ án mạng, mà còn những sự việc khác nữa?
Cô giáo Eileen Rich ngập ngừng một chút rồi nói:
- Đúng thế. Nhưng nhận xét của tôi thật ra rất mơ hồ. Tôi chỉ cảm thấy như vậy chứ không có chứng cứ rõ rệt.
- Xin cô cứ nói cho tôi nghe.
Cô giáo Eileen Rich lại ngập ngừng một chút, rồi suy nghĩ trước khi nói :
- Tôi có cảm giác không khí trong trường năm học này không êm ả như năm trước. Dường như trong số những người hiện có mặt, có một kẻ nào đó lẽ ra không nên lọt vào đây...
Rồi cô giáo dạy văn mỉm cười nói tiếp:
- Điều này rất khó nói để ông hiểu... Nhưng tôi có cảm giác trong chuồng cừu này vừa lọt vào một con chó sói. Nhưng con chó sói đó đến nay vẫn chưa lộ mặt.
- Cô nói quá mơ hồ, thưa cô Rich.
- Đúng là quá mơ hồ. Thậm chí còn vô lý nữa. Vì đó chỉ là cảm giác của tôi. Nhưng tôi nhắc lại: tôi có cảm giác một kẻ mang ý đồ xấu vừa lọt vào trường này. Tôi rất băn khoăn vì chưa tìm ra được là ai...
Cô cố sức nặn óc để nói cho rõ hơn, trong khi thanh tra Kelsey vẫn chăm chú chờ đợi cô giáo này nói tiếp.
- … Cảm giác đó làm tôi thấy sợ, không phải tôi chỉ cảm thấy kẻ đó đang âm mưu kia dường như trong một làn ánh sáng tăm tối, giống như một bóng ma, nhìn không rõ mặt, mà thậm chí có lúc tôi còn cảm thấy dường như hắn chăm chú nhìn tôi bằng cặp mắt đầy tội ác... Khổ một nỗi tôi không làm sao nhìn rõ mặt kẻ đó, tất cả chỉ như đằng sau một lớp sương mù... Hình như những điều tôi vừa nói với ông lại còn mơ hồ hơn cả những điều lúc nãy. Vả lại ông đâu cần đến những cảm giác mơ hồ, ông cần sự việc cụ thể kia chứ!
- Tất nhiên, cảm giác không thể dùng làm chứng cứ. Nhưng những nhận xét của bà hết sức lý thú và bổ ích. Tôi đề nghị, khi nào đột nhiên bà thấy những cảm giác của bà hiện lên rõ rệt hơn, xin bà đừng ngần ngại, hãy đến gặp tôi ngay.
Cô giáo Eileen Rich gật đầu:
- Nhất định là như thế. Bởi một người bị giết mà chúng ta chưa biết thủ phạm là ai và động cơ gây án là gì. Mặt khác kẻ sát nhân rất có thể ở đây, trong cái trường này. Và nếu như vậy thì hung khí cũng đang nằm trong phạm vi nhà trường. Như vậy chúng ta chưa thể yên tâm, đúng không thưa ông?
Cô giáo khẽ cúi đầu chào rồi đi ra.
- Cô giáo này làm ra vẻ ta đây thông minh - nhân viên cảnh sát nói với thanh tra Kelsey.
- Tôi lại không nghĩ như thế. Bà giáo này thuộc loại người có hoạt động cảm giác phát triển cao. Những người thuộc loại này, cảm giác thấy có một con mèo lọt vào phòng, rồi sau đó mới nhìn thấy nó. Nếu bà giáo Eileen Rich này sống trong một bộ lạc thổ dân châu Phi, hẳn bà ta sẽ là một phù thuỷ kiêm bà lang chữa bệnh có uy tín cao.
- Một chuyên gia về khám phá những gì gây ra tai hoạ.
- Đúng thế. Chính tôi, tôi rất muốn tập cho mình cái khả năng cảm giác ấy. Vả lại chưa ai cung cấp được thông tin nào cụ thể, chúng ta đành dựa vào cảm giác của họ vậy. Nhưng thôi, cậu ra mời bà giáo người Pháp vào đây.
0
XXIV
Thoạt nhìn, cô giáo dạy tiếng Pháp Blanche trạc ba mươi nhăm tuổi. Không một chút son phấn. Tóc màu hạt dẻ, chải gọn gàng. Quần áo nghiêm túc, hoàn toàn không làm duyên chút nào.
Đúng, cô mới đến làm việc ở trường từ đầu niên học này và không định ở đây lâu.
- Không thú vị gì khi dạy ở một trường có án mạng - cô bĩu môi nói - Mà ở đây lại không có hệ thống báo động nữa chứ.
- Vì trong trường không có vật quý giá nào khiến kẻ gian muốn ăn trộm - thanh tra Kelsey nhận xét.
Cô giáo người Pháp nhún vai:
- Sao ông biết? Học sinh ở đây toàn con nhà giàu. Có nhiều đứa bố mẹ rất giầu. Bọn gian phi rất có thể nghĩ học sinh ở đây mang theo vào trường những nữ trang quý.
- Nhưng nếu có nữ trang quý, không đời nào chúng để ở Cung Thể thao.
- Có chắc như thế không? Mỗi học sinh có một ngăn riêng để đựng đồ đạc, có khoá kia mà.
- Nhưng chỉ để cất quần áo và dụng cụ thể thao.
- Về nguyên tắc thì như thế, nhưng chúng rất có thể giấu một vật quý nào đó trong một chiếc áo len cũ kỹ chẳng hạn.
- Thí dụ vật quý gì?
Cô giáo Blanche không đưa ra được thí dụ cụ thể.
- Kể cả những ông bố giàu nhất và nuông chiều con nhất cũng không đời nào cho con mang một dây chuyền gắn kim cương vào trường nội trú - thanh tra Kelsey nói - Xin hỏi, trước khi dạy ở trường này, cô đã dạy tiếng Pháp ở đâu chưa?
- Trước đây ít lâu, tôi dạy ở một trường miền Bắc nước Anh, rồi ở Thuỵ Sĩ và ở Pháp. Có một lần ở Đức. Tôi tính sang đây làm để hoàn chỉnh thêm tiếng Anh của tôi. Một trong số bạn tôi đang dạy ở trường nữ học Meadowbank này thì bị ốm, phải nghỉ việc. Chị ta đã giới thiệu tôi với bà Hiệu trưởng Bulstrode. Nhưng tôi không thích nơi này, tôi đã nói với ông rồi.
- Tại sao?
- Ngoài chuyện vụ án mạng vừa rồi thì còn chuyện học sinh trường này rất vô lễ.
- Các học sinh đều không còn là trẻ con nữa, đúng như vậy không, thưa cô?
- Một số thì đúng là vẫn như trẻ con, số khác thì xử sự đã như đàn bà thật sự. Và tất cả đều được rất tự do. Tôi thích những trường có học sinh lành hiền.
- Cô biết rõ cô giáo Springer chứ?
- Thật ra tôi hầu như không trò chuyện với chị ấy bao giờ. Tính chị ấy thô lỗ, tôi còn tránh khỏi phải tiếp xúc với chị ấy nữa kia. Đã thế người lại xấu mặt đầy tàn nhang, ăn nói thì lỗ mãng. Chị ta thường vô lễ với tôi.
- Về chuyện gì chẳng hạn?
- Chị ta không muốn để tôi vào Cung Thể thao. Có một lần, tôi sang đó chỉ vì muốn tham quan toà nhà mới xây và khá đẹp. Tôi đang ngắm nghía thì chị ta chạy đến nói: "Chị không có phận sự gì phải vào đây". Chị ta dám nói như thế với tôi, một giáo viên dạy ở trường này! Chị ta làm như tôi là học sinh vậy.
- Đúng là thiếu lễ độ thật - thanh tra Kelsey nói để xoa dịu cơn giận dữ của cô giáo tiếng Pháp.
Nhưng Blanche đã nói tiếp:
- Thế là tôi bước ra, sập cửa lại, chìa khoá trong ổ bật ra, tôi cúi xuống nhặt lên, thì chị ta giật lấy làm như thể tôi định ăn cắp chiếc chìa khoá ấy.
- Hay cô giáo Springer sợ bà nhìn thấy một thứ gì mà cô ấy muốn giấu?
Viên thanh tra định thả câu để tóm được "con cá” nào đấy, nhưng cô giáo Blanche đã cười vang.
- Chị ta thì có gì đáng phải giấu? Thư tình chăng? Tôi cam đoan với ông là không đàn ông nào gửi thư tình cho Springer.
Sau một số câu trả lời vô giá trị, cô giáo Blanche đi ra.
- Một phụ nữ kỳ quái - nhân viên cảnh sát nhận xét.
- Nhưng tôi lại thấy cô ta lộ ra một điều bổ ích, đó là nạn nhân rất không muốn ai vào Cung Thể thao của cô ta. Tại sao lại như thế?
- Có thể là cô giáo dạy tiếng Pháp kia theo dõi nạn nhân.
- Nhưng cô giáo tiếng Pháp tò mò để làm gì, trong khi nạn nhân không có gì phải giấu giếm ai? Còn ai nữa nhỉ?
- Hai giáo viên phụ, Blake và Rowan, và cô thư ký của bà Hiệu trưởng.
- Vậy ta làm tiếp.
 
* * *
Cô Blake trẻ măng và khuôn mặt rất dễ mến.
Do biết rất ít về nạn nhân nên cô không cung cấp được điều gì bổ ích.
Trái lại, như thường thấy ở những người tốt nghiệp cử nhân "vật lý", cô Rowan lại đưa ra được một giả thuyết bất ngờ: "Có thể đây là một vụ tự sát?"
Viên thanh tra cảnh sát nhún vai:
- Cô giáo Springer có nỗi đau khổ nào lớn không?
- Chị ta có tính hay gây gổ - ánh mắt cô phụ giáo Rowan loé sáng sau cặp mắt kính trắng dầy cộm - Một cách che giấu niềm tự ti của chị ta.
- Những người khác lại bảo cô giáo Springer rất tự tin, thậm chí quá tự tin - thanh tra Kelsey nói.
- Chị ta cố tình làm ra vẻ tự tin thế thôi - cô phụ giáo Rowan nói - Một số câu chị ta nói làm tôi rất ngạc nhiên.
- Thí dụ?
- Chị Springer hay nói bóng gió đến những người mà chị ta bảo là "đóng kịch" và chị ta còn kể rằng ở nơi làm việc trước đây, chị ta đã từng vạch mặt một số người. Tuy nhiên bà Hiệu trưởng không tin, còn các cô giáo khác thì đều chống lại Springer.
Đang cơn sôi nổi, cô phụ giáo Rowan chồm dậy, dướn người về phía viên thanh tra cảnh sát, nói tiếp:
- Ông biết thế nghĩa là sao không? Đó chính là cơn điên cuồng trước khi tự sát.
Thanh tra Kelsey điềm tĩnh nói rằng những phỏng đoán của cô giáo Rowan nghe có thể có lý, nhưng trên thực tế, không thể có chuyện tự tử ở đây vì khẩu súng nhả đạn ở vị trí cách nạn nhân ba mét... Cô giáo Springer không thể với tay ra xa đến thế để tự bắn vào mình được.
Trước khi bước ra và đóng sập cửa lại, cô phụ giáo Rowan lớn tiếng tuyên bố, bệnh cố hữu của giới cảnh sát nói chung là coi thường khoa tâm lý học.
 
* * *
 
Tiếp theo là cô Ann Shapland, thư ký của bà Hiệu trưởng.
- Chào cô Shapland, cô có thể cung cấp được thêm gì giúp vào việc làm sáng tỏ vụ án mạng nào? - Thanh tra Kelsey nói, sau khi nhận thấy tấm áo dài giản dị nhưng may cắt rất có "gu' và dáng điệu rất tự tin của người vừa bước vào.
- Tôi e rằng tôi không cung cấp được gì thêm. Tôi ngủ ở một phòng cách xa phòng ngủ của mọi người, và phòng làm việc của tôi cũng lánh ra một góc. Tôi lại hầu như không quan hệ với ai. Vụ án mạng này đúng là không thể tưởng tượng nổi.
- Cô nói thế là theo nghĩa thế nào?
- Thế này nhé. Cô giáo Springer đã bị giết. Ta cứ cho rằng có một kẻ lẻn vào Cung Thể thao, và cô giáo Springer thấy động bèn sang đó dò xem kẻ đó là ai và lẻn vào để làm gì. Nhưng kẻ nào lại có ý nghĩ lẻn vào cái Cung Thể thao ấy kia chứ?
- Có thể một chàng trai nào đó muốn vào lấy đi một thứ gì, hoặc muốn tạo một trò cười cho các cô gái học sinh.
- Nếu chỉ là như thế thì tôi cam đoan cô giáo Springer sẽ chỉ mắng rồi đuổi thằng cha kia đi.
- Cô có thấy cô giáo Springer có một thái độ đặc biệt nào đó đối với Cung Thể thao không?
Cô thư ký Ann Shapland tròn xoe mắt tỏ vẻ ngạc nhiên:
- Một thái độ...
- Ý tôi muốn nói cô Springer coi Cung Thể thao như của riêng cô ấy và không muốn cho giáo viên hoặc nhân viên nào vào đó?
- Điều đó thì tôi không biết. Nhưng tại sao chị ấy lại nghĩ như thế được, bởi Cung Thể thao chỉ là một bộ phận của trường.
- Thế có lần nào cô vào Cung chưa, và nếu có thì cô có thấy thái độ khó chịu của cô giáo Springer không?
- Tôi có vào đấy một hoặc hai lần, để truyền đạt một mệnh lệnh của bà Hiệu trưởng cho một học sinh nào đó, nhưng tôi không thấy thái độ của chị Springer có gì khó chịu cả.
- Cô có biết một lần cô Blanche dạy tiếng Pháp vào và bị cô Springer đuổi ra không?
Cô thư ký ngập ngừng một chút rồi nói.
- Tôi nhớ hình như có chuyện ấy thì phải. Nhưng theo tôi, thái độ chị Springer không phải như chị Blanche thuật lại bằng giọng phẫn nộ. Tính chị Blanche như thế. Quá nhiều tự ái, hơi một tí là nổi nóng. Tôi chứng kiến đã có một lần, cô giáo dạy vẽ chỉ góp ý một câu rất nhẹ, thế mà chị Blanche đùng đùng nổi giận. Blanche dạy rất ít giờ, vì chỉ dạy có một môn phụ là tiếng Pháp, cho nên chị ta rất rỗi rãi, và chị ta còn có tính tò mò nữa.
- Cô có nghĩ rằng khi cô Blanche vào Cung Thể thao, cô ấy dám tự ý mở các ngăn riêng của học sinh để xem trộm không?
- Các ngăn đựng quần áo dụng cụ thể thao ấy à? Tôi không nghĩ rằng chị ấy dám làm thế. Nếu có thì chỉ là để thoả một cơn tò mò chốc lát thôi.
- Cô giáo Springer có một ngăn riêng của cô ấy không?
- Tất nhiên là có.
- Và nếu cô Springer bắt gặp bà giáo Blanche đang lục lọi ngăn riêng của cô ấy, tôi tin rằng cô Springer sẽ rất cáu.
- Tất nhiên.
- Cô có biết gì về đời tư của cô Springer không?
- Theo tôi, không ai có thể trả lời câu ông vừa hỏi. Vì chị Springer không hề có đời tư!
- Cô có thấy gì lạ về Cung Thể thao ấy không?
Cô thư ký Shapland ngập ngừng.
- Có, nhưng tôi nghĩ chẳng quan trọng. Chỉ là một trong hai người làm vườn, anh phụ việc của bác Briggs ấy, có một lần tôi thấy anh ta trong Cung Thể thao đi ra, mà anh ta có phận sự gì trong đó đâu? Cũng có thể anh ta vào đó chỉ do tò mò, hoặc để dừng tay trong lúc căng lại lưới quần vợt hôm đó bác Briggs giao cho anh ta làm. Sự việc đó đúng là chẳng có gì quan trọng.
- Vậy mà cô lại nhớ! Tại sao?
- Vị thái độ anh ta lúc đó có gì đó tôi thấy không bình thường. Anh ta giống như một kẻ gây gổ. Nhất là câu anh ta nói về các khoản tiền phụ huynh học sinh đóng góp cho nhà trường. Anh ta bảo tất cả những phúc lợi học sinh được hưởng ở đây chỉ là do tiền của phụ huynh móc túi chi ra.
- Tôi hiểu loại người đó... và tôi sẽ lưu ý.
- Chúng ta vẫn chỉ như kiến bò miệng chén, chưa đi đến đâu - nhân viên cảnh sát nói, sau khi cô thư ký Ann Shapland ra khỏi phòng - Tôi hy vọng đám nhân viên lao công sẽ cung cấp cho chúng ta được thông tin nào đó có giá trị.
 
* * *
 
Nhưng tình hình lại không phải như thế. Bà già nấu bếp thì càu nhàu :
- Tôi thì biết gì đâu mà hỏi tôi? Tai tôi nghễnh ngãng, các anh hỏi gì tôi đâu có nghe thấy? Với lại tôi ở lì trong bếp. Ban đêm tôi ngủ thì lại ngủ say như chết. Mãi sáng nay tôi mới nghe chuyện.
Thanh tra Kelsey phải hét vào tai bà cụ vài câu hỏi, nhưng cũng chỉ thu được những chi tiết chẳng quan trọng gì: đúng là cô Springer không được mọi người mến như cô giáo dạy thể dục năm trước. Cô thư ký Shapland cũng là người mới đến làm. Những điều này thì thanh tra Kelsey đã biết.
Các nhân viên lao động khác đều không biết gì hơn, bởi họ bận công việc. Cuộc thẩm vấn đang tiến hành thì bị ngắt quãng: bà Hiệu trưởng Bulstrode vào.
- Một em học sinh muốn nói chuyện với ông thanh tra - bà nói với Kelsey.
Viên thanh tra xem chừng rất chú ý:
- Cô bé biết được chuyện gì phải không, thưa bà?
- Tôi chưa biết. Để rồi ông nghe xem sao. Em này là một trong số học sinh người nước ngoài, là Công nương Shaila, cháu của Ngài Giáo chủ Ibrahim. Tôi chỉ muốn ông lưu ý là em học sinh này thích làm ra vẻ em là nhân vật quan trọng.
Bà hiệu trưởng Bulstrode đi ra và bước vào là một thiếu nữ vóc trung bình, gầy guộc và nước da mầu nâu xám. Cặp mắt đen lánh chăm chú nhìn viên thanh tra cảnh sát, nhưng không hề có vẻ xấc xược.
- Ông là người của cơ quan cảnh sát?
- Vâng - Kelsey đáp, cố ghìm một nụ cười - Mời cô ngồi rồi kể tôi nghe cô biết những gì.
Shaila chậm rãi ngồi xuống, dướn người về phía viên thanh tra cảnh sát, nói nhỏ:
- Có những kẻ đang rình mò trong toà nhà này, tất nhiên chúng giấu mặt, nhưng việc có mặt của chúng ở đây là chắc chắn.
Viên thanh tra cảnh sát thấy ngay cô gái này đang làm ra vẻ quan trọng.
- Nhưng họ theo dõi trường học này để làm gì?
- Bởi chúng muốn bắt cóc tôi.
Câu trả lời vượt ra khỏi những dự đoán của thanh tra Kelsey. Ông chăm chú nhìn cô gái da nâu.
- Tại sao họ muốn bắt cóc cô?
- Tất nhiên để đòi tiền chuộc.
- Có thể - thanh tra Kelsey hỏi vẻ nghi ngờ - Nhưng chuyện đó liên quan gì đến việc cô giáo Springer bị giết?
- Chắc cô Springer đã khám phá ra được âm mưu của chúng và chúng đã biết điều đó. Chúng bèn đút lót tiền để cô không nói lộ ra. Đêm qua cô ấy ra Cung Thể thao để nhận tiền, vì đó là nơi kín đáo nhất, và cô đã bị chúng giết.
- Nhưng cô Springer không phải loại người chịu nhận tiền theo kiểu như thế?
- Ông tưởng làm chân giáo viên thể dục lương cao lắm sao? - Shaila đáp bằng giọng mỉa mai - Ông không cho rằng có nhiều tiền là sung sướng hay sao? Có nhiều tiền là dược du lịch mọi nơi, được hưởng mọi thứ gì mình thích. Nhất là đối với một phụ nữ loại như cô Springer, không được người đàn ông nào để mắt tới. Có nhiều tiền, cô ấy sẽ có điều kiện để trả thù đời.
- Chà! Tôi không biết phải trả lời câu hỏi vừa rồi của cô thế nào đây.
Vấn đề là viên thanh tra cảnh sát chưa bao giờ nhìn sự việc theo góc độ này.
- Tôi đoán tất cả những điều cô vừa nói chỉ là cảm tưởng riêng của cô. Hay cô giáo Springer đã có thổ lộ tâm sự với cô?
- Cô Springer không bao giờ nói câu gì khác ngoài những câu hầu như muôn thuở: "Nhấc cao đầu gối! Đưa cánh tay lên! Nhanh thêm!" - Công nương Shaila nhắc lại những câu kia bằng giọng khinh bỉ.
- Vậy là cô đã tưởng tượng ra toàn bộ âm mưu bắt cóc kia?
Shaila lộ vẻ tự ái:
- Ông vẫn chưa hiểu gì hết! Anh họ tôi là Hoàng thân Ali Yusuf, quốc trưởng nướ Ramat. Anh tôi bị tử nạn trên đường chạy trốn cuộc cách mạng ở đó. Trước đó, tôi được nghe nói anh ấy định cầu hôn với tôi. Do đó, tôi không phải là nhân vật bình thường... Cho nên, cũng có thể không phải bọn chúng muốn bắt cóc tôi, mà chúng muốn giết tôi!
Thanh tra Kelsey mỗi lúc một thêm nghi hoặc.
- Câu chuyện khá ly kỳ đấy.
Công nương Shaila không hiểu lời nói kháy của viên thanh tra cảnh sát.
- Chắc chắn là chúng quan tâm đến số đá quý - cô thốt lên.
- Số đá quý nào?
- Anh họ tôi, Hoàng thân Ali, cùng cha của anh ấy, vị Vua Ramat trước anh, đã tích cóp được một số khá lớn kim cương và đá quý. Thế là bọn người hiện đang bám sát tôi tưởng rằng tôi biết số đá quý kia giấu ở dân. Trước khi giết tôi, chúng hy vọng sẽ moi được ở miệng tôi nơi cất giấu kho báu đó mà chúng tin rằng tôi biết.
- Theo đúng pháp luật thì ai là người được quyền sở hữu số đá quý đó?
- Anh họ tôi đã chết, thì người thừa kế hợp pháp số đá quý đó chính là tôi. Bởi trong số họ hàng thân cận nhất còn sống của Ali Yusuf, chỉ có tôi, chưa kể tôi là vị hôn thê của anh ấy, dì tôi là vợ của Ngài Giáo chủ Ibrahim.
- Vậy mà cô không biết số đá quý kia hiện đang ở đâu?
- Tất nhiên là tôi không biết! Còn có khả năng khác: một kẻ nào đó ở Ramat đã đoạt lấy số đá quý kia, và đang tìm cách bán đi hoặc bắt liên lạc với tôi để bán lại cho tôi lấy một khoản tiền nào đó.
- Trên thực tế là chưa ai gặp cô để thương lượng việc này.
- Đúng thế - Shaila công nhận.
Thanh tra Kelsey quyết định:
- Qua tất cả những chuyện đó, tôi đánh giá toàn bộ chỉ là chuyện viển vông - ông ta nói bằng giọng khoái trá.
Công nương Shaila trợn mát lên giận dữ:
- Tôi đã kể hết những điều tôi biết.
- Rất cảm ơn cô.
Thanh tra Kelsey tiễn công nương ra đến tận cửa.
- Một câu chuyện trong “Nghìn lẻ một đêm"! - ông kêu lên lúc quay lại bàn giấy - Nào bắt cóc, nào kho báu! Còn gì gì nữa chứ?
0
XXV
Khi thanh tra Kelsey quay về cơ quan cảnh sát, trung sĩ canh gác ngoài cổng nói:
- Một người tên là Adam Goodman đang cần gặp ông Thanh tra.
- Adam Goodman? A, phải rồi, người làm vườn phụ việc...
Một gã trai trẻ đang đứng trước mặt thanh tra Kelsey. Cao lớn, da nâu, dáng điệu dễ dãi, mặc áo vét nhung kẻ, quần âu, thắt bằng chiếc thắt lưng trễ, sơ mi xanh công nhân để mở khuy cổ.
- Ông muốn gặp tôi phải không?
Giọng y ta sẵng và thái độ y xấc xược giống như hầu hết lớp trẻ thời nay.
Thanh tra Kelsey đơn giản đáp:
- Đúng thế. Mời anh vào phòng giấy của tôi.
- Tôi hoàn toàn không biết gì về vụ án mạng - khách nói, đúng hơn là y sủa - Vào giờ xảy ra án mạng, tôi đang ngủ ở nhà tôi.
Làm một cử chỉ mơ hồ, viên thanh tra cảnh sát nửa như chấp nhận, cốt để khỏi lộ những điều ông đã biết về y. Thanh tra Kelsey ngồi vào sau bàn giấy, rồi ra hiệu cho Adam ngồi xuống. Một nhân viên cảnh sát đã kín đáo theo sau họ vào phòng.
- Vậy ra anh là Adam Goodman? - thanh tra Kelsey hỏi.
- Vâng, thưa ông. Nhưng trước tiên tôi muốn đưa ông xem một thứ này.
Y móc túi lấy ra một tờ giấy, đặt lên bàn.
Hàng lông mày của thanh tra Kelsey dướn lên đôi chút lúc ông đọc tờ giấy. Rồi ông ngẩng đầu:
- Tôi không cần đến cậu nữa, Barber, ông ta nói với nhân viên cảnh sát lúc nãy đã kín đáo vào phòng làm anh này thoáng ngạc nhiên.
Đợi nhân viên Barber ra khuất, viên thanh tra cảnh sát chăm chú ngắm nghía Adam một cách không giấu giếm.
- Vậy ra ông như thế này đây? Nhưng ông làm cái trò gì trong...
- Trong một trường nữ học chứ gì? - Gã trai trẻ cười ngắt lời viên thanh tra - Đây là lần đầu tiên tôi được giao một chân như vậy. Nhưng ông thấy tôi có theo đúng dáng dấp của chân phụ việc làm vườn không?
- Chưa đúng lắm. Tại vùng này, làm vườn thường là những người nhiều tuổi hơn thế này. Ông làm công việc ấy được chứ?
- Được. Mẹ tôi đã dạy tôi rất nhiều về cách thức trồng trọt.
- Vậy trong trường nữ học Meadowbank xảy ra chuyện gì mà cơ quan ông lại cử ông đến đó?
- Có chuyện gì rõ rệt đâu! Tôi chỉ được giao nhiệm vụ ở đó theo dõi xem có chuyện gì thì... ít nhất thì nhiệm vụ đó cũng cho đến đêm hôm qua.Một giáo viên thể dục bị giết chính là sự kiện vượt ra khỏi dòng sống tẻ nhạt, đơn điệu của một trường nữ học.
- Mọi thứ đều có thể xảy ra và vào bất kể lúc nào - thanh tra Kelsey thở dài nói - Tôi đã có dịp suy nghiệm thấy điều đó. Tuy nhiên, tôi công nhận vụ án mạng kia làm tôi đặc biệt chú ý, vì rất lạ. Đằng sau nó là cái gì vậy?
Adam lộ ra cho viên thanh tra biết.
- Lúc nãy tôi đã có thái độ không đúng với cô ta, công nương Shaila - sau đó thanh tra Kelsey thừa nhận - Nhưng ông phải thấy là câu chuyện về số đá quý kia chỉ là chuyện hoang đường: một kho báu trị giá sáu bảy triệu bảng Anh. Mà đúng ra số tài sản đó là thuộc quyền sở hữu của ai?
- Câu ông hỏi rất khó trả lời! Muốn tìm ra câu trả lời chính xác, cần phải có cả một binh đoàn luật sư cỡ quốc tế và đến lúc đó xem chừng vẫn khó tìm ra được câu trả lời khả dĩ tất cả đều tán thành. Ba tháng trước đây, đó là tài sản của Hoàng thân Ali Yusuf. Nhưng bây giờ thì... chịu! Nếu người ta tìm thấy số đá quý đó trên đất Ramat, chính quyền nước đó sẽ thu hồi. Nhưng mặt khác, nếu vị Hoàng thân quốc trưởng kia có muốn thừa kế cho ai đi nữa, thì làm sao tìm ra được chúc thư? Đã đành số báu vật đó thuộc về gia đình ông ta, nhưng điểm cơ bản là nếu ông hoặc tôi nhặt được nó ngoài phố, chúng ta chỉ việc nhấc nó lên, bỏ vào túi và sử dụng. Số đá quý đó sẽ thuộc sở hữu của ông hay của tôi cho đến khi một quyết định của toà án buộc ta phải trả lại cho ai đó. Điều này tôi cho rằng khó xảy ra.
- Ông muốn nói rằng đấy là của rơi, kẻ nào nhặt được cứ việc hưởng? - Thanh tra Kelsey hỏi - Như thế là không còn đạo lý gì hết.
- Cũng có thể. Nhưng trong trường hợp này, theo tôi biết, lại có hơn một người đang lùng tìm nó. Và trong khi tìm, họ không cần nương nhẹ thứ gì. Họ đã đánh tiếng, ông thấy rồi đấy. Lời đồn đại cho rằng số đá quý đó đã lọt ra khỏi nước Ramat từ trước khi cuộc cách mạng bùng nổ. Cụ thể như thế nào thì có hàng ngàn giả thuyết.
- Nhưng tại sao lại dính đến trường nữ học Meadowbank? Do ở đấy có một học sinh là công nương vùng Trung Đông chăng?
- Thanh tra định nói công nương Shaila, em họ của Hoàng thân Ali Yusuf chứ gì? Đã có kẻ đang tìm mọi cách bắt liên lạc với cô bé ấy. Thật ra, rất nhiều kẻ đáng ngờ hiện đang cư trú xung quanh đây. Chẳng hạn Phu nhân Kolinsky, hiện ở trong khách sạn Grand Hotel tại London. Bà ta là thành viên của một nhóm mà ta tạm gọi là "Công ty Sương Mù”. Họ chưa làm gì vượt ra ngoài khuôn khổ luật pháp nhưng đã tiến hành cả một chiến dịch thu thập thông tin. Còn một phụ nữ nữa từng làm chân vũ nữ trong một quán rượu tại Ramat. Nghe đâu cô ta đang làm việc cho một chính phủ nước ngoài. Hiện nay chúng ta chưa biết cô ta đang ở đâu, thậm chí chưa thấy dấu vết cô ta. Nhưng theo tin đồn thì cô ta hiện đang ở không xa chúng ta. Xem chừng trường nữ học Meadowbank đã trở thành một trung tâm thu hút sự chú ý của rất nhiều người, nhiều tổ chức, nhiều băng đảng. Cô giáo Springer là một biểu hiện.
Sau một chút im lặng, thanh tra Kelsey hỏi:
- Theo ông thì đêm qua chuyện gì đã xảy ra?
Adam suy nghĩ rất kỹ rồi mới trả lời.
- Cô giáo Springer vào Cung Thể thao để làm gì không biết. Toàn bộ vấn đề là cô vào đó làm gì? Tìm hung thủ là chuyện vô ích, nếu chưa tìm ra được lý do cô ta có mặt trong toà nhà đó vào một giờ không bình thường. Ta giả định, cô ấy không ngủ được, dậy và nhìn thấy có ánh sáng trong Cung Thể thao. Mà còn phải xem cửa sổ của phòng cô ta có hướng về phía Cung Thể thao không?
Thanh tra Kelsey gật đầu:
- Có!
- Vậy thì được. Vốn là người phụ nữ gan góc, cô giáo Springer bèn ra khỏi nhà, sang đó xem có chuyện gì. Và cô đã phá rối một kẻ nào đó lúc này đang có mặt trong Cung. Hắn vào đó làm gì? Chúng ta chưa biết. Nhưng chúng ta đoán tên kia thấy có nguy cơ công việc bại lộ nên đã hạ sát cô giáo bất hạnh kia để thủ tiêu đầu mối.
Thanh tra Kelsey gật đầu nói:
- Chúng tôi đã xét sự việc theo góc độ đó. Nhưng điểm cuối cùng làm tôi băn khoăn: Tên kia sẽ không hạ sát nếu như ...
- Nếu như hắn không cần tìm một vật quan trọng nào đó chứ gì - Adam ngắt lời viên thanh tra - Có ba giả thuyết: hoặc Springer vô tội, là nạn nhân tinh thần trách nhiệm của bản thân cô ta; hoặc cô ta sau khi biết được một số thông tin đã chủ động xin vào làm trong trường này. Giả thuyết cuối cùng là cô ta đã làm theo lệnh của một người nào đó. Trong hai trường hợp sau, cô ta đợi đến một dịp thuận lợi và đêm khuya mò vào Cung Thể thao. Một kẻ nào khác đã bám theo cô ta, hoặc rình cô ta trong toà nhà, mang sẵn khẩu súng để nếu không khai thác được cô ta thì thủ tiêu... Nhưng lại vẫn câu hỏi kia trở lại: để làm gì? Trong cái toà nhà khốn kiếp kia có thứ gì quan trọng đến thế? Đấy đâu phải nơi có thể giấu thứ gì?
- Tôi dám cam đoan với ông rằng tôi đã cho lục soát tất cả các ngăn đựng đồ, kể cả ngăn của cô giáo Springer, nhưng không thấy bất cứ một vật gì có giá trị.
- Có thể tên gian cần một thứ không có giá trị. Nhưng còn một khả năng nữa. Bọn chúng chọn Cung Thể thao làm nơi gặp cô giáo Springer hoặc một người khác, vì nơi này ở gần toà nhà chính. Ta giả định cô giáo Springer sang Cung để gặp một người thứ ba: giữa cô ta và y nổ ra một cuộc cãi cọ… và thế là tên kia gây án. Hoặc một giả thiết nữa, cô Springer quả đã nhìn thấy một người vừa ra khỏi trường học, bèn bám theo, kết quả là cô ta đã nghe được một điều mà bọn chúng cần giữ bí mật...
- Tôi chưa được nhìn thấy cô giáo Springer trong khi cô ta còn sống, nhưng nghe các nhân chứng kể, tôi có cảm giác cô ta là người rất tò mò.
- Đấy chính là cách cắt nghĩa khả dĩ chấp nhận được nhất. Tính tò mò đã giết chết cô ta.
Thanh tra Kelsey nói tiếp:
- Còn nếu quả là một cuộc hẹn để gặp gỡ nhau thì...
Viên thanh tra ngừng nói, nhưng Adam đã tiếp lời:
- ... thì trong trường nữ học này tất yếu có một người đáng cho chúng ta chú ý. Có nghĩa trong chuồng cừu đã lọt vào một con chó sói.
Thanh tra Kelsey phản ứng tức thì:
- Con chó sói... cô giáo Rich dạy văn sáng nay cũng đã dùng đúng cái từ ấy.
Sau một thoáng suy nghĩ, ông thanh tra nói tiếp:
- Niên học năm nay, trường Meadowbank có thêm ba cô giáo và nhân viên mới: cô Blanche dạy tiếng Pháp, cô Springer dạy thể dục và cô Shapland làm thư ký cho bà Hiệu trưởng Bulstrode. Cô Springer thì đã chết. Nếu có chó sói thì tức là một trong hai cô còn lại: Blanche hoặc Shapland.
Adam cố nhớ lại các chi tiết rồi kết luận:
- Tôi nghi cô thư ký Shapland nhiều hơn. Nhưng sao ông lại cười?
- Vì chính cô ta lại nghi ông, cô thư ký kia bảo đã bắt quả tang anh thợ phụ làm vườn trong Cung đi ra, và thái độ lúng túng...
- Quái quỷ! - Adam phẫn nộ kêu lên.
Nhưng thanh tra Kelsey đã lấy lại vẻ nghiêm túc.
- Do trường nữ học Meadowbank có uy tín lớn và bà hiệu trưởng Bulstrode là người đáng kính, chúng ta cần hành động nhanh, và trả lại cho trường nữ học này sự yên tĩnh vốn có của nó.
Ngừng nói, thanh tra Kelsey chăm chú nhìn Adam, kết luận:
- Đã đến lúc cần lộ cho bà hiệu trưởng Bukstrode chức vụ thật của ông. Ông đừng sợ, bà ấy sẽ giữ kín.
0
XXVI
Bà hiệu trưởng Bulstrode còn có một phẩm chất nữa khiến bà vượt lên trên hầu hết các phụ nữ khác đó là bà rất biết nghe. Cho nên khi bà nghe xong thanh tra Kelsey nói về chức vụ thật của Adam, bà không hề tỏ thái độ gì. Cuối cùng bà chỉ thốt lên hai chữ:
- Kỳ lạ!
"Chính bà mới là người kỳ lạ" - Adam thầm nghĩ, nhưng anh ta không nói ra.
Bà hiệu trưởng nói tiếp:
- Vậy các ông yêu cầu tôi điều gì? - Bà có tác phong nói thẳng vào vấn đề như vây.
Thanh tra Kelsey ho để thông cổ họng:
- Trước hết, cho phép tôi được nói với bà rằng, cả vì quyền lợi của nhà trường, tốt nhất là bà cần được thông tin đầy đủ.
- Tất nhiên - bà hiệu trưởng đáp bằng giọng đĩnh đạc - Trường nữ học này là niềm lo lắng đầu tiên của tôi, tôi phải chịu trách nhiệm về an ninh và hạnh phúc của toàn bộ học sinh. Và muốn như thế dư luận càng ít nói đến tấn bi kịch vừa qua càng tốt cho tôi. Có thể tôi nghĩ như thế có phần ích kỷ, nhưng nếu các ông thấy việc này phải đưa ra công khai để thuận tiện cho việc điều tra của các ông thì xin các ông đừng ngại ngùng gì mà cứ tiến hành. Nhưng có thật cần thiết phải đưa ra công khai không?
Thanh tra Kelsey đáp:
- Trong trường hợp cụ thể này, tốt nhất là vẫn phải giấu kín thực chất của vụ án mạng. Tôi nói như thế có nghĩa chúng ta đưa tin vụ án mạng, nhưng nói chệch đi đôi chút, chẳng hạn chỉ nói rằng có một toán thanh niên thoái hoá chuyên đi ăn trộm ban đêm, cô giáo Springer phát hiện ra chúng nên bị chúng giết. Báo chí đưa tin theo cách đó thì công chúng chỉ thấy đây là một vụ án không có gì đặc biệt. Tất nhiên tôi cũng hiểu rằng một vụ án mạng ở trường Meadowbank cũng là sự việc vượt ra ngoài khuôn khổ bình thường. Dù sao chúng ta vẫn cần làm cho nó không thành ầm ĩ, bà có thấy như vậy không, thưa bà Hiệu trưởng?
- Về mặt này, tôi thấy có thể giúp được các ông - bà Hiệu trưởng Bulstrode nói - Tôi không thiếu người quen trong giới cao cấp.
Bà cười và nêu tên tuổi một số nhân vật, trong đó có Bộ trưởng Nội vụ, hai nhân vật đứng đầu ngành báo chí, cả Bộ trưởng Giáo dục và một Giám mục. Bà nói thêm:
- Tôi sẽ cố gắng đến mức tối đa - rồi bà quay sang Adam - Ông cũng đồng ý chứ?
- Hoàn toàn đồng ý, thưa bà. Chúng ta cần giữ tuyệt đối bí mật công việc của chúng ta.
- Ông vẫn tiếp tục giúp việc cho bác làm vườn Griggs của chúng tôi chứ?
- Nếu bà cho phép, tôi vẫn giữ cương vị đó, vì như thế tôi sẽ dễ theo dõi những diễn biến tiếp theo của vụ án.
Lần này, trán bà Hiệu trương cau lại.
- Tôi hy vọng sẽ không có những vụ án mạng khác nữa.
- Sẽ không có thêm vụ nào nữa đâu, thưa bà.
- Càng hay, bởi tôi nghĩ nếu lại xảy ra một vụ án mạng nữa ngay trong tam cá nguyệt này thì quả là nhà trường khó đứng vững.
Rồi bà hiệu trưởng Bulstrode quay sang thanh tra Kelsey:
- Các nhân viên cảnh sát của ông đã làm xong công việc ở Cung Thể thao rồi chứ? Tôi không muốn đóng cửa quá lâu nơi tập cho các em học sinh.
- Thưa bà, công việc của chúng tôi trong đó đã xong. Theo tôi, toà nhà đó không có gì giúp chúng tôi làm sáng tỏ vụ án mạng. Đó hoàn toàn chỉ là một phòng tập với các dụng cụ thể thao.
- Các ông không phát hiện thấy gì trong các ngăn đụng quần áo của học sinh à?
Kelsey gượng cười:
- Chỉ vài thứ không đáng kể: một cuốn truyện tiếng Pháp là Candide... có cả minh hoạ, thuộc loại sách quý .
- Chà, con bé giấu cuốn sách ở đó - bà Hiệu trưởng tỏ vẻ khó chịu - Đó là ngăn của một học sinh tên là Giselle d'Aubray, chắc thế.
Viên thanh tra cảnh sát thán phục:
- Không thứ gì qua mắt được bà, thưa bà Hiệu trưởng.
- Xin hỏi lại các ông một lần nữa: tôi có cần làm gì để giúp các ông không?
- Hiện nay tôi thấy chưa cần. Nhân đây xin hỏi thêm bà, từ hôm khai giảng niên học mới đến giờ, bà có thấy một hiện tượng nào lạ, một thái độ không bình thường của một học sinh nào không?
Bà hiệu trưởng im lặng một lát rồi chậm rãi nói:
- Cụ thể thì không có.
Adam hỏi lại ngay:
- Nghĩa là bà có linh cảm gì đó?
- Đúng vậy. Nhưng tôi rất khó nói cho rõ ràng... ít nhất thì...
Bà hiệu trưởng lại suy nghĩ khá lâu, rồi kể cho Adam nghe về một phụ huynh học sinh, tên là bà Upjohn. Bà này đưa con gái đến nhập học cùng với các phụ huynh học sinh khác hôm khai trường. Lúc bà ta đứng trong phòng tiếp khách, ngó ra ngoài sân, bà ta nhìn thấy một người nào đó và kêu lên ngạc nhiên. Tiếng kêu của bà Upjohn khiến bà hiệu trưởng có cảm giác như bà ta nhìn thấy một người lẽ ra không đến đây thì lại có mặt ở đây.
Bà hiệu trưởng Bulstrode nói:
- Lúc đó, tôi suy nghĩ như thế, nhưng chưa kịp hỏi xem người ngoài sân kia là ai thì đã có một phụ huynh hỏi tôi điều gì và tôi phải trả lời. Sau đó tôi định gặp bà Upjohn kia để hỏi thì bà ta lại đang mải trò chuyện với một phụ huynh khác trong phòng. Tôi lắng nghe thì được biết thêm rằng trong thời gian chiến tranh bà Upjohn đã từng hoạt động tình báo. Vừa lúc ấy, lại có người hỏi tôi, tôi đành bỏ việc gặp bà Upjohn kia.
- Chà - thanh tra Kelsey nhân xét - Người phụ nữ bà Upjohn kia nhìn thấy ngoài sân hẳn là bạn đồng nghiệp cũ, cũng hoạt động tình báo, và nay là mẹ của một học sinh trong trường nữ học này, hoặc là người nhà của một nhân viên trong trường.
- Mà cũng có thể không phải cả hai - bà hiệu trưởng Bulstrode nói.
- Dù sao, chúng tôi cũng sẽ liên hệ với bà Upjohn - thanh tra Kelsey nói - Càng sớm càng tốt. Bà có địa chỉ của bà Upjohn kia không ạ?
- Tất nhiên là có, nhưng tôi e thời gian này bà ta đang ở nước ngoài. Để tôi thử hỏi xem.
Bà hiệu trưởng gọi điện thoại, nhưng đầu dây kia không ai trả lời. Bà bèn ra hành lang, gọi một học sinh đứng ngoài đó:
- Paula, cô muốn nhờ em gọi hộ bạn Julia Upjohn lên gặp cô ngay, được không?
Lúc bà hiệu trưởng quay vào phòng, Adam đứng dậy:
- Tôi không nên ở lại đây trong lúc cô học sinh kia đến, vì cô ta sẽ ngạc nhiên thấy tôi tham gia vào việc điều tra. Với người ngoài, tôi vẫn thuộc số người bị cảnh sát tình nghi. Ta nên đóng một màn kịch nhỏ: sau khi không khai thác được gì ở tôi, thanh tra Kelsey đuổi tôi ra. Nên làm thế, phải không, thưa ông thanh tra?
Thanh tra Kelsey bèn cao giọng nói:
- Thôi được tôi tạm để anh đi, nhưng anh nên biết cảnh sát sẽ không rời mắt khỏi anh đâu đấy, anh bạn trẻ.
Khi ra đến cửa, trước khi mở cửa, Adam quay sang bà hiệu trưởng Bulstrode, nói thêm:
- Nhân đây xin đề nghị với bà một điều, cho phép tôi được lạm dụng đôi chút vị trí của tôi trong trường. Thí dụ cho tôi tán tỉnh đôi chút các nhân viên của bà, được không ạ?
- Những ai chẳng hạn?
- Chẳng hạn cô giáo Blanche.
- Cô giáo dạy tiếng Pháp? Ông định...
- Tôi cảm thấy hình như cô người Pháp ấy ở đây đang buồn...
Bà hiệu trưởng cau mày, có vẻ không hài lòng, nhưng bà vẫn nói:
- Có lẽ ông nhận xét đúng. Còn ai nữa?
- Tôi sẽ lợi dụng khả năng chinh phục phụ nữ của tôi, mở rộng ra hầu như với tất cả mọi người ở đây - Adam vui vẻ nói - Và nếu bà hiệu trưởng thấy đột nhiên rất nhiều nữ sinh của bà quan tâm đến nghề làm vườn thì bà hãy hiểu cho rằng tôi làm thân với họ hoàn toàn chỉ để phục vụ cho việc điều tra.
- Ông cho rằng đám học sinh biết được điều gì chăng?
- Mỗi người đều biết một điều gì đó, thưa bà.
- Cũng có thể... Đúng thế...
Có tiếng gõ cửa. Nữ sinh Julia Upjohn bước vào, thở hổn hển. Thanh tra lên giọng nạt nộ với Adam:
- Thôi hãy tạm thế, Adam Goodman! Anh về làm việc tiếp đi.
Adam bước ra nhanh, không quên kèm theo câu nói chua chát:
- Không khác gì mật thám phát xít!'
Julla nói:
- Cô tha lỗi cho em ăn mặc lôi thôi thế này mà dám vào gặp cô, thưa cô hiệu trưởng. Chẳng là em đang đánh quần vợt, nghe lệnh cô gọi, em vội chạy cho nhanh về đây.
- Không sao - bà hiệu trưởng nói - Ta chỉ muốn hỏi em một điều nhỏ, cho ta biết địa chỉ hiện nay của mẹ em để ta gởi thư cho bà.
- Ôi, tốt nhất là cô gửi cho dì Isabelle, bởi mẹ em đang ở nước ngoài.
- Địa chỉ của bà Isabcue thì ta biết, nhưng ta muốn gửi thư cho bà Upjohn.
- Em không biết mẹ em hiện giờ ở đâu. Em chỉ biết mẹ em bảo đi Thổ Nhĩ Kỳ bằng xe ca.
- Bằng xe ca - bà hiệu trưởng ngạc nhiên.
Julia gật đầu:
- Tính mẹ em thích thế. Đi xe ca rẻ, tuy có thiếu tiện nghi đôi chút. Phải ít nhất ba tuần lễ nữa em mới biết được mẹ em ở đâu.
- Đáng tiếc! Julia, mẹ em có lần nào nói với em về một phụ nữ mẹ em nhìn thấy ở đây hôm khai giảng không? Hình như bà ấy cùng hoạt động với mẹ em hồi chiến tranh thì phải.
- Em không biết bà ấy, thưa cô hiệu trưởng... Đúng là em không biết.
- Hình như ngày trước bà Upjohn có làm cho cơ quan Mật vụ?
- Vâng, mẹ em rất thích loại hoạt động ấy. Tuy nhiên mẹ em không đặt bom phá hoại bao giờ, và cũng không bị mật vụ Đức bắt lần nào. Cho nên mẹ em cũng chưa hề bị tra tấn. Hình như mẹ em đã từng hoạt động ở Thuỵ Sĩ hay Bồ Đào Nha thì phải.
Cô nữ sinh nói như nhận lỗi:
- Mẹ em kể nhiều chuyện về chiến tranh lắm nhưng em không chăm chú nghe mấy.
- Ta cảm ơn em, Julia.
Sau khi cô nữ sinh đã ra ngoài, bà Hiệu trưởng thốt lên:
- Sang tận Thổ Nhĩ Kỳ mà đi bằng xe ca thì quả tôi không hiểu nổi. Mà cô bé kia nói cứ như mẹ nó đi xe buýt đến phố Regent mua sắm ấy.
0
XXVII
 
Mặt nhăn nhó, tay vung vẩy cây vợt, Jennifer Sutcliffe rời khỏi sân quần vợt. Cô bé rất bực về những lỗi cô phạm phải trong ván vừa rồi. Tất cả chỉ do cây vợt tồi quá. Jennifer rất tiếc là cô giáo Springer đã chết, cô ấy đánh quần vợt rất giỏi và dạy được cho Jennifer bao nhiều điều. Chơi quần vợt là một trong những say mê lớn nhất của em.
- Xin lỗi... - Một tiếng người ngay bên tai cô bé.
Jennifer giật mình quay lại, thấy một phụ nữ ăn mặc sang trọng, mái tóc vàng óng, tay ôm một hộp dẹt và dài, đứng ngay trên lối đi. Jennifer ngạc nhiên, bà ta đi nhẹ chân thế nào mà em không nghe thấy tiếng chân bước? Jennifer không hề biết bà ta đã nấp sẵn sau gốc cây to, chờ em từ lâu bây giờ mới bước ra.
Giọng hơi có chút âm sắc Mỹ, bà khách hỏi:
- Cô bé làm ơn chỉ cho tôi làm thế nào gặp được em học sinh tên là Jennifer...
- Cháu chính là Jennifer đây.
- Ôi! May quá!... Vậy thì thế này... Tối hôm qua, trong một bữa tiệc, nghe thấy cô nói hôm nay có việc trên vùng này, dì hay cô hay mẹ đỡ đầu của cháu, cô không hỏi kỹ và cũng quên cả tên, đã đến gặp cô, hỏi cô có thể ghé qua trường nữ học Meadowbank, chuyển một thứ nhỏ cho cháu được không. Hình như cháu đang ao ước có một cây vợt mới phải không?
Nét mặt Jennifer rạng rỡ hẳn lên: tuyệt vời!
- Chắc là mẹ đỡ đần của cháu đấy, tên là bà Campbell, nhưng cháu quen gọi là cô Gina. Chắc chắn không phải dì Rosemonde rồi, bởi dì ấy "keo" lắm, hôm Noel chỉ cho cháu mỗi tờ giấy mười shilling.
- Bây giờ thì cô nhớ ra rồi, bà ấy tên là bà Campbell.
Jennifer đỡ lấy cái hộp, mở ra ngay:
- Tuyệt trần gian! - Em reo lên - Cháu thèm có một cây vợt như thế này từ lâu lắm rồi. Cây vợt cũ quá tồi tệ không thể chơi nổi. Cảm ơn cô quá!
- Không có gì. À, bà Campbell còn nhờ cô cầm về cho bà cây vợt cũ của cháu, để bà thuê cửa hàng căng dây lại.
Lúc nãy mừng rỡ quá, Jennifer đã quẳng cây vợt cũ xuống đất, em chưa kịp nhặt lên thì bà khách đã cúi xuống nhặt lấy. Jennifer bèn nói:
- Cây vợt cũ ấy chỉ có vút đi thôi.
- Cháu cũng cần có một cây vợt dự trữ chứ? Cây này căng lại dây còn dùng được tốt. Nhưng thôi muộn rồi, cô phải đi thôi.
- Để cháu gọi tăcxi cho cô.
Jennifer định chạy đi gọi điện thoại thì bà khách ngăn lại:
- Không cần cháu ạ. Cô có xe chờ ngoài cổng. Cô bảo tài xế đợi ngoài đó rồi đi bộ vào đây tìm cháu thôi. Chúc cháu chơi quần vợt giỏi.
Bà khách bước nhanh ra cổng, chưa kịp để Jennifer chào và cảm ơn.
Cô bé sung sướng chạy đi tìm bạn thân, Julia Upjohn. Gặp bạn, Jennifer khoe cây vợt mới.
Julia Upjohn ngắm nghía cây vợt:
- Đẹp quá! Kiếm đâu ra đấy?
- Mẹ đỡ đầu của mình, cô Gina, vừa nhờ người chuyển đến đây cho mình đấy. Cô Gina giàu khủng khiếp. Chắc cô nghe thấy mẹ mình kể là mình xin một cây vợt mới.
Đúng lúc đó, công nương Shaila bước đến. Jennifer bèn khoe bạn:
- Tuyệt chưa?
Công nương Shaila cầm cây vợt chăm chú xem rồi trả lại cho Jennifer:
- Loại vợt này đắt tiền lắm đây.
Rồi cô ta đi tiếp. Đôi bạn thân thiết còn lại, dắt tay nhau quay về sân quần vợt. Cung Thể thao lúc này đã không còn nhân viên cảnh sát nữa.
Julia Upjohn hỏi:
- Bạn định làm gì với cây vợt cũ?
- Bà khách vừa rồi lấy đi rồi, để đưa về cho mẹ mình căng lại dây.
- Thế à? - Julia hơi ngạc nhiên, rồi cô bé lộ vẻ suy nghĩ.
- Bà Hiệu trưởng gọi lên có việc gì đấy? - Jennifer hỏi bạn.
- Chuyện nhỏ thôi, bà ấy hỏi địa chỉ hiện nay của mẹ mình. Nhưng làm sao mình biết được? Mẹ mình đi Thổ Nhĩ Kỳ bằng xe ca... Mà này, Jennifer, cây vợt bạn đưa bà khách kia đâu phải của bạn?
- Sao lại không phải của mình?
- Bạn quên rồi à? Chúng mình đổi vợt cho nhau mà lại.
- Ừ nhỉ? Thì có gì quan trọng đâu nào?
0
XXVIII
 
Kỳ nghỉ cuối tuần lễ thứ ba trong tam cá nguyệt đầu của niên học diễn ra theo như thường lệ: nhiều phụ huynh đón con ra ngoài đi chơi cho nên trường nữ học nội trú Meadowbank vắng tanh. Thậm chí một số nhân viên cũng xin nghỉ để về nhà. Riêng bà hiệu trưởng Bulstrode thì nhận lời đến thăm công tước phu nhân Welsham, là người đang có hai con gái học tại trường nữ học này.
Sáng Thứ bảy, bà hiệu trưởng Bulstrode đang đọc cho cô thư ký Shapland ghi nội dung các lá thư cần thảo, thì chuông điện thoại reo. Cô thư ký Shapland nhấc ống nghe rồi nói với bà Hiệu trưởng:
- Ngài Giáo chủ Ibrahim nhắn là Ngài đã đến nước Anh, hiện đang nghỉ tại khách sạn Claridge, muốn gặp cháu Ngài là công nương Shaila.
Bà hiệu trưởng Bulstrode cầm máy nói chuyện một lát rồi đặt máy xuống, gọi cô Shapland.
- Ngài Giáo chủ Ibrahim muốn công nương Shaila chuẩn bị sẵn để Ngài cho xe đến đón vào lúc mười một rưỡi. Tám giờ tối nay, Ngài sẽ cho xe chở công nương về trường. Mấy vị khách Trung Đông này chuyên môn cứ sát nút mới báo. Tôi đã đồng ý cho Shaila đi chơi với hai mẹ con Giselle d'Aubray trong kỳ nghỉ cuối tuần này. Đành phải hoãn cuộc đi chơi ấy đến dịp khác vậy.
- Vâng, thưa bà Hiệu trưởng.
- Vậy là tôi có thể yên tâm đi được rồi. Thảo xong số thư từ kia, chị gửi đi ngay, sau đó, chị được tự do cho đến sáng Thứ hai.
- Cảm ơn, thưa bà.
- Có cậu nào rồi chứ?
- Vâng - cô thư ký Shapland đỏ mặt đáp - Vẫn là anh ấy thôi.
- Nếu đã quyết định lấy anh ta thì tôi khuyên nên cưới ngay. Bây giờ chị đi tìm bà Chadwick cho tôi.
Cô thư ký ra và chỉ lát sau, bà giáo Chadwick dạy toán đã vội vã bước vào.
Bà hiệu trưởng Bulstrode nói:
- Ngài Giáo chủ Ibrahim đến nước Anh, nghỉ ở khách sạn Claridge, ngỏ ý muốn đón Shaila đến chơi với Ngài. Nếu đích thân Ngài Giáo chủ đến đây, chị nhớ kể rằng cháu gái Ngài học hành rất tốt.
- Thật ra thì hoàn toàn không phải thế - bà giáo Chadwick nhăn mặt nói khẽ.
- Về mặt học vấn thì có thể như thế, nhưng về mặt cuộc sống thì cô ta giỏi giang đấy chứ. Phụ nữ Trung Đông phát triển sớm hơn phụ nữ da trắng chúng ta nhiều.
- Về mặt này, tôi chưa hoàn toàn đồng ý với chị, Bulstrode ạ. Nhưng chị yên tâm, chị cứ đi chơi thoải mái, không phải lo lắng gì hết.
- Đây cũng là dịp để Eleanor Vansittart thử sức trong việc lãnh đạo. Chị ấy là phụ nữ có năng lực, lại có chị bên cạnh hỗ trợ, tôi không phải lo lắng gì hết.
- Tôi cũng hy vọng là như thế. Nhưng bây giờ tôi phải đi gặp công nương Shaila báo cho cô bé chuẩn bị.
Cô công nương Trung Đông tỏ vẻ rất ngạc nhiên và dường như không hài lòng khi nghe tin ông chú đến nước Anh.
- Sáng mai em phải đi gặp chú em ạ? - Cô ta nói  giọng bực dọc - Nhưng thưa cô Chadwick, trường đã quyết định sáng mai cho em đi chơi với Giselle và mẹ của bạn ấy rồi kia mà?
- Việc ấy đành phải hoãn lại, để dịp khác vậy.
- Em thích đi chơi với bạn Giselle d'Aubray hơn nhiều - cô bé sôi nổi nói - Chú em khó tính khó nết lắm, lúc nào cũng cau có, gắt gỏng rất khó chịu.
- Em không được nói thế - bà Chadwick nói - Ngài Giáo chủ Ibrahim cũng chỉ ở lại nước Anh một tuần lễ thôi, và Ngài sang đây công cán, muốn gặp cháu là chuyện tất nhiên.
- Rất có thể chú em sang đây gặp em là để thu xếp chuyện hôn nhân của em. Thôi, cũng được...
 
* * *
0
Sáng Chủ nhật, thời tiết đẹp tuyệt vời. Sau khi bà hiệu trưởng Bulstrodc đi, cô thư ký cũng đi.
Đến mười giờ thì cô giáo Eileen Rich dạy văn và cô phụ giáo Blake cũng đi. Cả bà giám thị Johnson. Còn lại ở trường Meadowbank chỉ có cô Vansittart dạy lịch sử và tiếng Đức ở lại trông nom công việc thay bà hiệu trưởng, cô giáo Blanche dạy tiếng Pháp và cô phụ giáo Rowan.
Bà giáo Chadwick dạy toán nói với cô giáo Vansittart dạy lịch sử và tiếng Đức:
- Mong rằng đám học sinh về nhà không loan truyền về vụ kia quá nhiều... Là tôi nói đến vụ cô Springer ấy...
- Mong người ta sớm quên đi chuyện đó - cô giáo Vansittart đáp.
 
* * *
 
Sau buổi cầu kinh sáng, các phụ huynh lục tục đến đón con cái họ đi chơi. Đôi bạn thân thiết Julia và Jennifer đang dán mũi lên cửa kính nhìn ra ngoài. Julia nói:
- Giá có ai đến đón mình đi chơi nhỉ? Ít nhất thì cũng là dì Isabelle!
- Mẹ mình hẹn tuần sau đến đón mình. Tuần này ba mình phải thết tiệc khách khứa nên mẹ mình không đi được.
- Kìa Shaila! - Julia kêu lên - Ăăn vận diêm dúa để đi London có khác. Bạn nhìn gót giầy của nó kìa.
Đúng lúc đó, một tài xế mặc chế phục kiểu gia nhân nhà quan ở một quốc gia Trung Đông bước trong một chiếc xe hơi bóng lộn ra, mở cửa xe.
Công nương shaila nhanh nhẹn chui vào và xe lập tức lăn bánh.
- Bạn tính làm gì trưa nay? Viết thư chứ gì? Mình thì không phải viết, tuần sau mẹ mình đã đến đây rồi - Jennifer nói.
- Mình thấy bạn rất ít viết thư. Tại sao vậy, Jennifer?
- Mình không thấy hứng.
- Mình thì lại rất thích viết, nhưng chẳng biết viết cho ai. Mẹ mình thì quanh năm ngao du khắp mọi nơi, không lúc nào có địa chỉ ổn định. Mà mình chưa hiểu... Bà hiệu trưởng Bulstrode bảo rất cần gửi thư cho mẹ mình. Không biết có chuyện gì nhỉ? Lúc bà ấy gọi mình lên để hỏi địa chỉ mẹ mình, trông mặt bà ấy như đang xúc động gì ghê gớm lắm.
- Chắc chắn không phải để kế về bạn, vì bạn có phạm lỗi gì đâu? Có khi bà hiệu trưởng muốn kể cho mẹ bạn về vụ cô giáo thể dục Springer.
Họ im lặng một lát. Rồi Julia nói:
- Bạn có thấy không? Người ta giấu chúng mình rất nhiều chuyện xung quanh cái chết của cô Springer đấy.
- Chuyện gì chẳng hạn?
- Theo mình đoán thì sau vụ án mạng đã có nhiều chuyện kỳ lạ khác xảy ra tiếp theo. Nguyên cái chuyện cây vợt của bạn chẳng hạn…
- Mình kể cho bạn nghe nhé - Jennifer nói - Ngay hôm đó mình đã gửi thư cho cô Gina để cảm ơn nhưng cô Gina viết trả lời mình thế này có lạ không? Cô ấy rất vui thấy mình mãn nguyện, nhưng cô ấy bảo "người tặng cháu cây vợt không phải là cô". Thế nghĩa là sao? Người cho mình cây vợt tuyệt vời ấy là ai vậy?
- Và mình nhắc thêm để bạn nhớ: cây vợt cũ mà bạn đưa bà khách hôm ấy chính là của mình. Câu chuyện thật lạ. Bạn còn đã kể mình nghe là nhà bạn có kẻ trộm đột nhập.
- Nhưng không mất gì.
- Như thế lại càng khả nghi. Hai sự kiện kia khiến mình nghĩ, bạn và ba mẹ bạn cần phải hết sức cảnh giác.
- Có lẽ bạn nói đúng.
- Bạn đã bao giờ đọc truyện trinh thám chưa? Rất có thể gia đình bạn đang "có chuyện" đấy. Tuần sau, mẹ bạn đến đây, bạn thử hỏi mẹ bạn xem. Rất có thể trước khi rời khỏi Ramat, mẹ bạn đã nhận được một số tài liệu bí mật nào đó.
- Chắc chắn không có chuyện ấy.
- Làm sao bạn dám chắc chắn? Bạn nhớ lại những chuyện về các tài liệu để chế tạo bom nguyên tử xem. Vậy là bạn không chịu đọc sách báo gì hết!
Jennifer nhún vai, thầm nghĩ: "Con Julia này quá giàu tưởng tượng!"
0
«« « 1 2 » »»