📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Gió về Tùng Môn Trang 🔒

20 trả lời, 5.110 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-04-27 18:25:58grandet>
Người gửi : grandet
Thể loại : hồi ký
Tác giả : Nguyễn Xuân Dũng
Tựa : Gió về Tùng Môn Trang
Nhà xuất bản Trẻ

THAY LỜI TỰA :

Một người bạn trao cho tôi bản thảo "Gió về Tùng môn trang" nói tác giả là một "samurai"- Nguyễn Xuân Dũng- con nhà võ với đẳng cấp huyền đai đệ bát đẳng KARATE, đây là hồi ký của tác giả, anh đọc chơi cho biết.

Từ lâu , tôi thường đọc hồi ký của các nhà hoạt động cách mạng, hồi ký của các tướng lĩnh, của các chính khách, của văn nghệ sĩ chứ chưa đọc hồi ký của con nhà võ. Hồi nhỏ tôi cũng thích võ, nhưng chẳng có ai dạy, càng ngày càng xa, coi như chẳng biết gì , nhưng đôi lúc lại thấy rất cần. Trong tác phẩm của tôi có nhân vật là con nhà võ, để tả cho đúng , tôi phải đi tìm hiểu, thật vất vả, âu cũng là dịp may cho tôi.. Tên sách "Gió về Tùng môn trang" hấp dẫn tôi từ đầu đến cuối. Tưởng là võ nhưng không võ mà lại rất võ. Với tôi , không võ là võ sư không dạy cách đấm đá cũng không dạy miếng nào, đòn nào, nhưng lại rất võ ở chỗ tác giả đã dẫn người đọc trở về nguồn gốc của võ. Võ xuất xứ từ Phật , vừa mang tính Đạo vừa mang tính triết lý của Lão và Khổng. Đọc những trang viết về võ của Nguyễn Xuân Dũng, tôi có thể hiểu rành rẽ hơn về võ thuật và võ đạo.

"Con đường đã chọn", "võ thuật trong đời sống" đi từ những trang viết về võ, tác giả như bước qua cầu để về với "Tùng Môn trang". Đây là hồi kí của một người xa quê hương nhớ về một góc của quê hương. " Tùng Môn trang la tên mà Thầy đặt cho một vườn đồi, nằm về phía Đông nam Đà lạt, đó là hai ngọn đồi bát úp, như hình hai mẹ con nằm tĩnh lặng bên nhau, từ ngàn xưa cho đến bây giờ -Mấy cây cổ tùng trên lối đi bọc quanh đồi và những rặng thông xanh lấp lánh muôn tia vàng tươi khi nằng gió bạt qua đồi..."

"Tùng Môn trang" là một nơi thời thơ ấu của tác giả, một chân trời quê hương đầy kỉ niệm. Anh viết với nỗi nhớ da diết đêm ngày, đầy những hình ảnh đẹp đẽ về quê hương, nhửng trang vừa đậm đà vừa thiết tha, có đoạn thiết tha đến sướt muớt, không phải là sự sướt mướt của tâm hồn yếu đuối, mà là sự sướt mướt của nỗi nhớ quê hương.

Với tâm hồn của con ngưới VN, với ý chí của Samurai có cả một đời lăn lộn, anh đã thành công trên thương trường đất Mỹ - Đọc "Gió về Tùng môn trang" ta sẽ đoán , trước sau gì võ sư Nguyễn Xuân Dũng cũng trở về quê hương góp phần xây dựng lại đất nuớc . Và đúng như vậy, anh trở về năm 1994 không phải trở về để mở trường dạy võ tại đất Sài gòn như những năm 1970, mà về với một hành trang vốn liếng, kinh nghiệm kỹ thuật cao ngành điện tử và công nghệ thông tin, và anh đã thành công.

"Gió về Tùng môn trang" của võ sư Nguyễn Xuân Dũng với tôi là một quyển sách hết sức thú vị mà lâu lắm rồi chưa từng đọc.

Nguyễn Quang Sáng
10/8/2002 



*******************
 
Kính Dâng
Thầy Choji Suzuki,
người đầu tiên du nhập Karate vào Việt Nam
 
 
THƯ GỬI THẦY:

Kính thầy!

Mấy mươi năm qua rồi mà hình bóng của Thầy vẫn còn đậm nét trong tâm khảm của con.Hình bóng ấy ngoài dáng vẻ âm thầm kham nhẫn, còn toát lên sự dịu dàng tĩnh lặng của một tâm linh đã được thau rửa theo thời gian.
Thầy-người sĩ quan của đoàn quân Thiên hoàng bại trận năm xưa, đã tự nguyện nhận Việt Nam làm quê hương thứ hai của mình, để vẫn tiếp tục ngẩng cao đầunhư một người võ sĩ đạo chân chính.

Thầy- Võ sư Choji Suzuki, người chưởng môn sáng lập Linh Trường Không Thủ Đạo, người đầu tiên xây dựng và truyền dạy môn võ này tại cố đô Huế.Người đã đem tinh hoa xứ anh đào về với trời Việt-đã gieo trồng và tô thắm cho một thế hệ môn sinh võ đạo đúng nghĩa. Thế hệ ấy nay người mất kẻ còn, cao tuổi cũng đã xấp xỉ "cổ lai hy", nhỏ nhất cũng đã "nhi bất hoặc" không còn nghi ngờ điều gì nữa trong cuộc đời. Trong số đó có con, đã bước qua ngưỡng cửa "tri thiên mệnh", nhưng như là một thiếu niên ngày nào, còn giữ nguyên hoài niệm tinh khôi về thầy-theo những lần trông về quê cũ.

Đã bao lần lưu lạc thăng trầm, con vẫn nhớ thiết tha dòng Hương êm đềm muôn thuở...dòng sông chảy hoài trong khúc tình tự nối tiếp nhau cho quá khứ, hiện tại, tương lai trở thành cái mầu nhiệm của diệu hữu. Cái có ấy như tiếng gầm sư tử lớn oai linh dấy động bốn phương trời, làm ngưng bặt mọi suy tưởng, xóa tan tành mọi tạp niệm, không còn ngoại nhiễu-không còn vướng víu sắc không.

Gần 30 năm lưu lạc đất khách quê người, nhờ công lao dạy dỗ của thầy ngày xưa, nên con vẫn đứng vững trên đôi chân của mình. từ hai bàn tay không với khối óc và quả tim( bao hàm mọi nghĩa) nhân cách con được hình thành từ những ngày đầu đến với Thầy tại võ trường, nơi đó cũng là nhà của Thầy cô và các em nương náu bên chân cầu Đông ba ngày ấy.

Thời gian đổ xuôi về Tây, tóc con không còn xanh nữa. Trong những năm tháng vừa qua, dù trải bao vinh nhục ngọt ngào cay đắng, khổ nạn trăm bề...con vẫn luôn xứng đáng là một trong những cao đồ đầu đàn được thầy trực tiếp chăm sóc, truyền thụ võ nghiệp và những đạo lí cuộc đời. Dù không thành chưởng môn đời thứ hai như Thầy cô đã chọn lựa, con vẫn nhớ sắt son lời thầy dặn: Trong bất cứ hoàn cảnh công việc nào, không cúi đầu trước cái ác, không lùi trước hiểm nạn. Nhìn thẳng và đi trên con đường mình đã chọn: con đường mà sự nhẫn nại bao dung là những bước đi tới, hành trang là những ước mơ vô cùng bé nhỏ-chỉ xin làm một cành dương tưới trên cuộc đời đầy rẫy khô khát và bất trắc.

Nhớ hoài ánh mắt và nụ cười hiếm hoi của thầy, khi dạy con bài quyền tinh túy của võ phái mà Thầy gọi là Linh Hồn Không Thủ Đạo, bài quyền cương nhu đầy uy lực ấy, đối với con những động tác nhuần nhuyễn đó giống như bầy chim nhỏ tự tại giữa bao thác ghềnh hiểm hóc nơi thủy tận non cùng...vẫn đùa giỡn giữa ánh trăng khuya từ cổ độ- vẫn tung cánh giữa phiêu bồng trời xanh mây trắng.

Thầy không còn nữa, nhưng vẫn còn đó bóng chim thiêng vỗ cánh giữa đời con.

Nguyễn Xuân Dũng
Đệ bát đẳng huyền đai Karate 


 
 
Bạn gần không tới , Bạn xa chưa về
0
CON ĐƯỜNG ĐÃ CHỌN
 
Gió về Tùng môn trang là những dòng hồi ức của người học võ , một hành giả mang tinh thần võ đạo đi vào đời . Tác giả không hề có tham vọng xem đây là một cuốn sách biện luận về  lý thuyết , hay là một tác phẩm văn học .Đây chỉ là những trang tâm bút , ghi lại những tâm tình , những kỷ niệm rời rạc -  được viết trong những thời kỳ khác nhau , nhằm gửi đến các bạn trẻ những quan niệm , nhận thức đã ảnh hưởng trên cuộc đời tác giả :Người học võ không chỉ là tập luyện thân xác và kỹ năng chiến đấu , mà người học võ chính là kẻ chọn lựa con đường hành đạo thông qua võ thuật , đó là võ đạo . Qua những trang viết , tác giả muốn giãi bày những suy tưởng chủ quan của mình về võ đạo . Với tư cách là một võ sinh đồng thời cũng là một hành giả , dùng võ thuật như là một nghiệm sinh nhằm tiến về Đạo , tức là hướng đến sự quân bình , hòa hợp giữa Thân và Tâm , và hơn nữa , tìm đến một ý nghĩa cho cuộc sống - như là mục đích tối hậu cho cuộc sống .
 
Và trên con đường đã chọn đó , người học võ có hai mục đích : thứ nhất là luyện tập cơ thể , tăng cường sức mạnh và kỹ năng chiến đấu ; nhưng mục đích thứ hai mới chính là nội dung của cuốn sách này , đó là việc thực hành tâm đạo của người học võ , bởi Thân và Tâm là hai khái niệm không thể tách rời . Nếu như đối với thân xác phải khổ luyện thì đối với tâm hồn cũng vậy , bởi chính đây là nguyên nhân gây ra bi kịch ( xem công án " an tâm " Huệ Khả ở phần sau ) . Vì vậy sự giải thoát cho cái Tâm chính là con đường khổ luyện của người hành giả .
Đạo học phương Đông đã cống hiến rất nhiều phương pháp để đạt đến bình yên nội tâm bằng cách dứt bỏ cái ngã , dù rằng cái ngã này không hiện hữu thực sự , mà chỉ là một ảo tưởng được hình thành từ cái Tâm điên đảo . Và chính cái Tâm điên đảo đó của con người , có khả năng đặc biệt là tự quy về chính nó , dễ mở ra hướng sống ích kỷ , lầm lạc đưa mình cô lập với tha nhân , khép kín với thế giới bên ngoài . Và đõ chính là nguồn gốc của lỗi lầm , khổ đau và bi kịch .
 
Con đường của người học võ , cũng là con đường của người tìm đạo và người học võ cũng vừa là hành giả , nghĩa là kẻ đồng thời khổ luyện để giải thoát thân tâm , nhằm đạt đến kết quả là sự hòa hợp toàn bích giữa hồn xác , từ đó tiến đến hướng sống hòa điệu giữa ta , con người và nhiên giới . Đó là con đường dẫn đến hạnh phúc , đó là khởi điểm và tiêu điểm phải đến của người võ đạo .
 
Nguyễn Xuân Dũng
Bạn gần không tới , Bạn xa chưa về
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-04-19 03:21:09grandet>
VÕ ĐẠO TRONG MINH TRIẾT PHƯƠNG ĐÔNG

Sống trong vũ trụ hằng hóa , thế giới vô thường , suy nghĩ của mỗi người chúng ta đều có chung một hướng là muốn thấu hiểu được sự tương quan giữa Ta với Trời Đất và Nhân Thế . Từ đó rút lấy nguyên lý sống hợp với thiên nhiên và thuận với sự phát triển của xã hội .Trong võ học cũng thế , rèn luyện thân thể , nuôi dưỡng tâm linh để thành một con người toàn diện , sống tự tin với mình , sống vui hòa với đời , sống tương hợp với trời đất  . Đấy là nguyên lý của võ đạo .

Riêng tại Viễn Đông , nơi có một nền văn minh nông nghiệp lâu đời và hoàn chỉnh nhất trong lịch sử , con người nơi đây đã xây dựng một vũ trụ quan đặt cơ sở trên biến dịch và thường hằng , bằng cách kết hợp những yếu tố đối nghịch vào trong một thực tại tối hậu, lớn lao , bao trùm và phi nhân cách , mà người ta gọi là Đạo .Vốn mang một tinh thần thực tiễn , con người Viễn Đông không buông mình theo trí tưởng tượng vô hạn và huyễn hoặc , cũng tránh dấn thân vào con đường suy tư tự biện đầy lý tính , họ đã chọn thái độ minh triết thay vì tôn giáo thần bí hoặc khoa học thuần lý như con người ở các nơi khác đã làm .

Và chính nền minh triết đó đã thấm nhuần ảnh hưởng lên khắp mọi địa hạt của nền văn hóa Viễn Đông , len lỏi vào cả những ngóc ngách vi tế , thâm sâu và tư riêng nhất của cuộc sống con người , từ y học , lý số , kiến trúc , thiên văn  , nghệ thuật ... và đặc biệt nhất , võ thuật .
Vì thế , nền võ thuật ở Viễn Đông , khác với ở các nơi khác , không phải chỉ là việc luyện tập thân thể để nhằm phục vụ cho nghệ thuật chiến đấu ( Martial Art ) mà mục đích duy nhất là giúp người ta chiến thắng ; ngược lại , đây hầu như là một phương pháp tu luyện cả xác lẫn hồn , một lối sống mà cứu cánh là đạt đến sự hòa hợp giữa ta và người , giữa người và vũ trụ . Cho nên võ thuật ở phương Đông , dầu thuộc môn phái nào ( Thái cực quyền , Thái cực đạo , Không thủ đạo , Hiệp khí đạo , Kiếm đạo , Nhu đạo ...) tất cả đều có cùng một nguồn gốc chung và đều là võ đạo , là sự thể hiện điển hình tinh túy nhất của nền minh triết Đạo học và võ thuật phương Đông .

Nền minh triết đó cũng thường được gọi là Tam giáo đồng nguyên , là sự dung hợp của ba nguồn tư tưởng Nho , Lão , Phật tại Viễn Đông ( sở dĩ gọi là " một nguồn " , vì theo truyền thuyết , Khổng tử học lễ với Lão tử rồi sau đó , cũng theo truyền thuyết , khi Lão Tử bỏ quan đi về phương Tây , đã truyền thụ đạo lý của mình tại Ấn Độ ). Tuy nhiên , thoạt kỳ thủy , nền minh triết này được xây dựng trên hai yếu tố là Dịch và Đạo , hai nội dung mang tính bản thể luận của đạo Nho và đạo Lão , hai nguồn tư tưởng cổ xưa tạo nên nền văn hóa cổ truyền của Trung Quốc . Hai nguồn tư tưởng này được thể hiện trong Kinh Dịch và Đạo Đức Kinh .

Chính vì vậy , ở đây dịch lý được đưa ra bàn . Quan điểm vũ trụ của luận thuyết này đã ảnh hưởng trực tiếp đến chúng ta , dù chính chúng ta không hiểu gì về chúng . Nhưng cả một nền văn hóa phương Đông , mà chúng ta đã mặc nhiên chịu ảnh hưởng đều chứa đựng quan điểm đó .Dịch là biến động ư ? Đúng . Khổng Tử nhìn dòng sông , hỏi về " dịch " : chảy , chảy hoài chảy mãi như thế chẳng lúc nào ngừng ư ? Nhưng vũ trụ có tính cách hằng hóa vô cùng bất tận , vậy tính cách thường hằng lại đã hiện hữu ngay trong biến động , và biến động trở thành một gương mặt khác của bản tính thường hằng .Chính nhờ vậy mà trời đất mới phát triển toàn diện . Võ đạo mới có hồn , Võ đạo biến hóa không cùng mà vẫn có bản tính nhất thống trong đó .

Kinh Dịch là cuốn sách không chữ bàn về sự thay đổi , biến dịch của trời đất , vũ trụ , tương truyền có từ thời Phục Hi của huyền sử Trung Hoa . Vị vua này xem xét mọi sự việc của trời đất , dùng các vạch đứt và liền ( tượng trưng cho hai yếu tố âm và dương ) làm các quẻ và xếp đặt thành Tiên Thiên Bát Quái .
Đến thời vua Văn Vương nhà Chu ( 1100 trước CN ) , ông lý giải và sắp xếp lại cho hợp lý rõ ràng , bằng cách sắp ngôi vị 8 quẻ Tiên Thiên Bát Quái của Phục Hi thành Hậu Thiên Bát Quái . Về sau nữa đến thời Khổng Tử ( thế kỷ thứ 6 trước CN ) vị tôn sư của đạo Nho này đã san định lại sách vở và soạn lại Kinh Dịch thành mười cuốn gọi là Thập Dực , thêm vào đó có những lời chú cô đọng ( gọi là hệ từ ) , giảng giải tất cả lẽ cấu tạo của trời đất , vạn vật , quy luật của biến dịch  và tuần hoàn trong vũ trụ . Đó là cuốn sách xưa nhất và quan trọng nhất được dùng làm nền tảng cho nhiều ngành học thuật Trung Hoa nói riêng và phương Đông nói chung , từ chính trị , xã hội cho đến chiêm tinh , lý số v.v...mà yếu quyết là nhìn tính đa dạng , biến hóa của vạn vật trong tinh thần nhất thể .

Cuốn sách kinh điển khác cũng là nền tảng cho minh triết phương Đông là Đạo Đức Kinh của Lão Tử , đề cập đến bản nguyên , thực thể tối hậu của vũ trụ mà ông tạm gọi là Đạo . Thực thể đó tuy không thể gọi tên , nhưng có mặt khắp nơi , luân chuyển , biến hóa , bao trùm tất cả bằng cách gắn kết các mặt đối lập và luôn luôn trở lại chứ không bao giờ chấm dứt . Con người chỉ có thể sống thanh bình an lạc nếu biết tuân theo sự vận hành của Đạo , mọi nỗ lực đi ngược lại với Đạo chỉ dẫn đến suy vong hủy hoại .

Với phương Đông , tôn giáo đã đóng một vai trò khá quan trọng , tuy nhiên chúng ta đừng tin vào tôn giáo một cách mù quáng , mê tín , mà phải rút tỉa những ưu điểm tối thượng của nó , cũng như Phật dạy phải khảo sát những lời giảng dạy của Ngài , quán xét tận tường , đừng bao giờ vội chấp nhận chỉ vì sự tôn kính hay tin tưởng Ngài . Ngài dạy , phải khảo sát chúng như khảo sát một mẩu vàng . Muốn biết vàng có tốt không phải dùng lửa đốt , dùng búa đập để biết thật hay giả . Sử dụng trí tuệ của mình trước khi thiết lập niềm tin , đó là tính cách đi vào thực tập hướng sống của Phật Đạo , nên không trách ai đó cho rằng Phật giáo không phải là tôn giáo , mà là một minh triết , một triết lý , một căn bản Đạo lý sống đời . Vì đã là tôn giáo thì có khi có những đòi hỏi phải chấp nhận tín điều như một tín ngưỡng mù quáng , và không cần thiết để  tự mình xử dụng trí tuệ khám phá chân lý .Tình hình cũng vậy đối với Lão giáo và Khổng giáo . Dĩ nhiên có nhiều dị biệt giữa các tôn giáo này , nhưng điểm tương đồng lớn nhất của ba giáo phái trên là quan điểm về Đạo thể của vũ trụ . Lão chủ trương Vô Vi , Khổng chủ trương Hữu Vi . Phật dạy :

Vô vi không

Hữu vi không

Vô vi hữu vi không ,

Nội không

Ngoại không

Nội ngoại không ,

Không Không  

Đại không

Thắng nghĩa không ...


Nhìn qua , Lão và Khổng có vẻ tương phản , nhưng thực tế hai học thuyết đều cùng một căn bản về thế giới quan , chỉ khác nhau trên phương diện nhân sinh quan , tức phương diện nhập thế , xử sự ở đời . Lão chủ trương sống hồn nhiên , ung dung tự tại , cá nhân có nhiều tự do , hành động đúng nhịp với vũ trụ , hợp với Đạo làm người , đó là Vô Vi của Lão giáo .Khổng giáo , ngược lại , thực tế , muốn nhập thế hơn , dạy con người sống theo bậc chính nhân quân tử , thanh nhàn và phải tích cực hành động , đóng góp cho xã hội , xây dựng quốc gia , xã hội tốt dẹp dựa trên Nhân , Nghĩa , Lễ , Trí Tín . Như vậy giữa Lão và Khổng hành động tuy có mâu thuẫn nhưng cùng một mục đích xây dựng rèn luyện con người , tạo tiến bộ và công danh cho cái lý tưởng cứu cánh là đóng góp cho xã hội , đó là Đạo .

Phật giáo và Khổng giáo có rất nhiều điểm tương đồng , như Đại thừa Phật giáo cũng đi vào con đường nhập thế , vì Phật Thích Ca tuy xuất gia nhưng quan niệm xã hội là hiện hữu , mà đã là hiện hữu thì không thể chối bỏ .Chủ trương tu hành của Phật giáo không chỉ tìm giải thoát cho chính mình mà giải thoát qua hành động tận tụy cứu khổ chúng sinh . Đau khổ đến từ đâu ? Nguyên do là gì ? Làm sao để chữa trị ?
Phật giáo đã kết luận đau khổ đến từ Tham , Sân , Si vì chúng nhiễu loạn tâm , lôi cuốn con người vào vòng bất an , đau khổ . Phật giáo đã cống hiến vô vàn phương thức để đạt đến bình an nội tâm bằng cách dứt bỏ cái Ngã , dứt bỏ tham ái , tháo gỡ mọi ràng buộc ." Ở đầu không có gì đến , ở giữa không có gì trụ , và ở cuối không có gì đi ." Nhưng cái Ngã như một thực thể hiện hữu , trong tâm thức ? Trong thể xác ? Trong tương lai chưa sinh ra ? Mà tương lai thì chưa hiện hữu . Trong quá khứ ? Đã là quá khứ thì không còn hiện hữu . Làm sao cái Ngã có thể thuộc về thứ gì chỉ còn là ký ức . Như vậy cái Ngã chỉ còn trong hiện tại , nhưng nó không hình tượng , không màu sắc , không trụ chỗ nào , cái khoảnh khắc hiện tại quá mong manh , quá ngắn ngủi , quá mơ hồ . Nhìn từ phía này đã là quá khứ , nhìn từ phía kia hãy còn là tương lai . Phật giáo khám phá bằng thực nghiệm , bằng Thiền quán , rằng cái Ngã không hiện hữu thực sự , đó là tiến trình giải thoát . Vì tự đáy sâu của sự đau khổ chính là gương mặt của Tâm do chính ta tự cảm nhận ,còn thực tánh của Tâm vốn không bị ảnh hưởng của khổ đau hay hạnh phúc .

Để tóm tắt , cuốn sách này chỉ muốn phối hợp Thân và Tâm vì võ thuật giúp rèn luyện cơ thể , mục đích để dưỡng sinh phòng chống các bệnh tật , mong được hạnh phúc đồng thời giúp đời sống tâm linh đi theo đúng hướng , giản dị hóa cuộc đời , không cần tranh đoạt các thứ mà thực ra ta chẳng cần tới và giản dị hóa tâm thức " Đừng quay về quá khứ , cũng chẳng tưởng đến tương lai " . Còn hiện tại khó mà nắm bắt từng hơi thở buông ra cũng như từng niệm khởi lên tương tục . Ngay chính cuộc đời cũng thế , dù cho bạn có thỏa mãn bao nhiêu dục vọng , dù cho bạn có bao nhiêu của cải , bao nhiêu người hầu kẻ hạ , sống trong lâu đài sang trọng và dĩ nhiên một số hạnh phúc nào đó , bạn cũng không hoàn toàn sống trong chân lạc , hạnh phúc và vẫn phải khổ đau . Vậy cái gì có thể mang đến chân lạc hạnh phúc thực sự - đó là Tâm , vì Tâm đóng vai trò quan trọng cốt yếu của thỏa mãn hay bất mãn , của khổ đau hay hạnh phúc . Tâm ở trong từng mỗi kinh nghiệm của cuộc sống , vì vậy chúng ta phải sống và thực hành Thiền định , ta có thể thực sự tự giải thoát mình ra khỏi vô minh .

Vậy thì mục đích thực sự của người học võ vốn là gì ?Câu trả lời xưa nay vẫn còn đó . Mỗi người một mục đích , ngay cả học võ để trả thù cũng không ngoại lệ .Nhanh hơn , mạnh hơn , hay hơn ... nhưng vượt lên tất cả các câu giải đáp , sự quyến rũ của võ thuật còn có một thứ gì cao hơn . Đó là sự cởi mở tinh thần được bộc lộ bằng lòng vị tha trước mọi thử thách .Một sự hợp nhất kỳ diệu của Thân trong niềm an lạc thực sự của Tâm , nên người học võ không những chỉ tốt lành mà còn phải công bằng và có phong cách , cách duy nhất để sống đời có phẩm chất thực sự . Trí phải sáng suốt để phán xét mọi vấn đề , lòng phải nhân ái , thành thật , nhưng cương quyết và quả cảm để hành động tới đích , đó là mẫu người quân tử của Khổng tử . Khi nào cũng muốn đủ sức để mang lại công bằng cho xã hội , diệt gian , trừ bạo , chống tham tàn . Người võ đạo quan niệm hạnh phúc của chính mình luôn luôn liên kết mật thiết cùng hạnh phúc của tha nhân . Đối với người học võ , từng khoảnh khắc trong cuộc sống đều quý báu nên họ đã khổ luyện từng giây từng phút , không những trong võ đường mà còn ngoài đời , vì sao ? Bởi vì trong từng phút giây sống , dù cho việc gì xảy đến , dù phải đối phó những tai họa đau đớn khủng khiếp cũng cho họ những kinh nghiệm và cảm hứng để hành hoạt giúp đời , giúp người .Vì chính ở tận đáy sâu của sự đau đớn , khổ luyện là ước vọng của vị tha là sở nguyện phòng hộ che chở con người , và đó cũng là bản chất trong sáng của người sống theo võ đạo . Một người có Tâm lực mạnh mẽ và một sự ổn cố trong thực hành tâm linh , đó là sự mãn nguyện trong cách sống của người võ đạo .

Theo Lão Tử , vũ trụ vạn vật quy về hai chữ hữu và vô ,tức vật thể hữu hình và khoảng không vô hình .Vô là khoảng không giữa mặt trăng và quả đất , giữa quả đất và mặt trời , giữa các vì tinh tú , giữa vô số những hành tinh , định tinh .Vô là khoảng trống giữa các hạt điện tử và nhân nguyên tử , giữa các nguyên tử phân tử .Đâu đâu cũng có âm dương vô hữu ...
Nhưng " vô " không phải là chân không trống rỗng , không phải là không có gì cả mà hàm chứa những sức mạnh phi thường . Sức mạnh làm chuyển động mặt trăng quanh trái đất , sức mạnh làm chuyển động trái đất quanh mặt trời ,sức mạnh của cả thế giới vi mô lẫn vĩ mô , nó bao la mạnh mẽ vô song lại là sức mạnh lớn lao thúc đẩy lôi kéo điện tử quay quanh hạt nhân nguyên tử vì có khi bùng nổ . Ôi ! trong cái vô tưởng chừng như trống rỗng , mong manh ấy là cả bão táp , là sóng gió của cả vũ trụ ...

Và cũng như âm dương , hữu -vô không phải là hai thực tập đối lập , tách rời nhau mà chỉ là hai mặt của một nhất thể :

Vô cô đọng lại thành hữu , hữu bùng nổ để trở lại vô . vô hữu hữu vô ,không sắc sắc không là nhịp điệu biến hóa trùng điệp của vũ trụ .

Võ đạo cũng biến hóa theo nhịp điệu biến hóa vô hữu hữu vô trên . Từ những động tác rời rạc kết tinh lại thành một thế võ , một đường quyền , đường kiếm . Rồi từ một đường quyền đường kiếm đã bị lộ hình ra rồi lại phai tàn đi vào thinh không , để xuất hiện những đường quyền đường kiếm khác .

Như thế , ta có thể dễ dàng nhận thấy không có gì khác biệt lớn giữa Nho và Lão , hai cội nguồn tạo nên minh triết phương Đông . Dẫu có khác nhau về cách hành xử ( xuất thế-nhập thế ; vô vi -hữu vi ...) cả hai đều chủ trương hướng về một thực tại tối hậu biến hóa bao trùm mọi vật .Thực ra tối hậu đó được biểu hiện bằng những cặp tương phản , đối nghịch và bằng sự biến dịch miên viễn , sinh sinh hóa hóa nhưng thủy chung vẫn giữ tính nhất thể thường hằng . Cho nên người học đạo là kẻ biết thuận theo biến động , đồng thời giữ bền với nhất thể (" thiên hạ chi động ,trinh phù nhất giả dã " Kinh Dịch ) và hiểu rằng Đạo luôn luôn trở về ("Phản giả , đạo chi động "- Đạo Đức Kinh) . Vì thế mục đích tối hậu của người học đạo là trở về , sống hòa hợp với tự nhiên . Thế giới quan đó được thể hiện một cách rõ ràng trong nền võ thuật phương Đông : võ thuật cũng biến hóa theo nhịp luân chuyển tự nhiên của vũ trụ . Không lạ gì nhiều thế võ của phương Đông được gợi hứng , hình thành , mô phỏng từ một hiện tượng tự nhiên , hoặc từ một tư thế của động vật , thậm chí từ một cánh chim bay hay từ một chiếc lá rơi ... Tất cả diễn ra trong một vòng tròn bất tuyệt , biến hóa khôn cùng mà vẫn giữ được tính nhất thể .

Đạo học của Nho và Lão đã trở thành nền tảng của minh triết cũng như của võ thuật phương Đông , tuy nhiên nền minh triết đó chưa thật đầy đủ : Nho và Lão đề cập đến tính biến hóa ( dịch ) và tính nhất thể ( đạo ) của vũ trụ , nghĩa là phần bản thể luận . Để trở thành một nền minh triết toàn vẹn , cần phải có một trụ đỡ khác , đó là phần tri thức luận . Phải hơn năm trăm năm sau , vào đầu Công nguyên , Phật giáo từ Tây Trúc đã đem đến cho Trung Hoa một luồng triết học phong phú với những khái niệm mới mẻ , đặc biệt là những kiến giải về Tâm , hiểu như là chủ thể của nhận thức , còn trước đó , Mạnh Tử cũng đã đề cập tới Tâm , nhưng Tâm này theo nghĩa đạo đức , tức là lòng thiện .

Rồi phải năm trăm năm sau nữa , một nhân vật kỳ bí đã từ Ấn Độ đến Trung Hoa , rao giảng và khai sáng một nền minh triết mới , dung hợp giữa Phật giáo Ấn Độ và Đạo học Trung Hoa , lập nên Thiền Tông , một trong những nền văn hóa kỳ lạ và quyến rũ nhất của nhân loại   , thể hiện tiêu biểu nhất sức mạnh tinh thần phương Đông - Cũng chính con người đó đã xây dựng một nền võ thuật đặt căn bản trên nền minh triết này , bởi trước đó , Trung Quốc chỉ có một nền võ thuật dân gian chưa được hệ thống hóa . Chỉ với Thiền Tông , võ thuật Trung Hoa mới thực sự trở thành Võ đạo . Con người kỳ bí đó là Bồ Đề Đạt Ma.




Bạn gần không tới , Bạn xa chưa về
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-04-19 03:24:57grandet>
3000 THẾ GIỚI TRONG TÂM
 
* Riêng tài liệu về Đạt Ma Sư Tổ sau đây phần lớn được phóng tác và trích dịch trong tài liệu của các tác giả : Sohaku Ogata ; D.T. Suzuki ; Léon Wieger ; Alan W.Watts ; Kurt Brasch ; Arthur Koestler ; Laurence G.Boldt ; Miyamoto Musashi ...
 

Cách đây khoảng 1500 năm ở miền nam Thiên Trúc xuất hiện một con người kỳ bí , cuộc sống khác thường , ngộ nghĩnh , có tâm hồn phơi phới của một nghệ sĩ vô cùng siêu việt , phóng khoáng ngang tàng , phá bỏ chủ nghĩa công lệ , khuôn mòn thước cũ , những nghi thức cầu kỳ của xã hội đương thời . Nhân vật kỳ bí đó là Bồ Đề Đạt Ma , tục danh Bồ Đề Đa La , con thứ ba vua Chí Vương nước Quốc Hương , Ấn Độ .

Sách sử chép rằng vị tổ sư thứ 27 xứ Tây Thiên ( Ấn Độ ) Bát Nhã Đa La đến Quốc Hương thọ lễ cúng dường của nhà vua .Quốc Vương rất sùng bái đạo Phật , nên kính cẩn dâng một hạt ngọc vô giá " bảo châu " để làm kỷ niệm .

Vua có ba hoàng tử : Người đầu là Nguyệt Tịnh Đa La , người kế là Công Đức Đa La , còn người thứ ba là Bồ Đề Đa La .

Bát Nhã Đa La muốn thử coi sở đắc của ba vị như thế nào nên lấy hạt bảo châu mà vua vừa bố thí mà hỏi ba hoàng tử rằng : " Hạt châu sáng láng này có gì sánh kịp không ? " . Nguyệt Tịnh và Công Đức đều thưa " Ngọc châu đó là quý nhất trong loài thất bảo , vốn không có vật gì quý hơn " .

Bồ Đề Đa La thì nói rằng :" Ngọc châu ấy chẳng qua là món thế bảo , chưa đủ gì là báu ! Thiệt trong các thứ báu , chỉ có Pháp bảo là báu hơn : vả lại cái sáng của nó chẳng qua là đồ thế quang , chưa đủ gì làm sáng ;thiệt trong các thứ sáng , chỉ có trí quang là sáng nhất mà thôi . Vì vậy nên lấy ánh quang minh của ngọc châu ấy chẳng tự soi lấy nó được, phải nhờ có trí quang biện bạch rồi mới biết nó là minh châu , rồi mới rõ nó là vật báu . Thế thì nhờ trí châu mà biện đặng thế châu , cũng như nhờ có trí bảo mới rõ đặng thế bảo . Vậy đủ chứng minh rằng nếu Tôn sư mà có đạo , thì cái báu đạo hiện ra ; còn chúng sinh có đạo , thì cái báu tâm cũng rõ bày .

Bát Nhã Đa La hỏi tiếp :

- " Ngươi có biết trong các vật giữa thế gian , vật gì là vô tướng hay không ?"

Đáp :

- " Ở trong các vật mà mình chẳng khởi niệm tức là vô tướng " .

Hỏi -

" Trong các vật , thì vật chi tột cao hơn ? "

Đáp :

- "Chỉ có Nhân ngã là tột cao " .

Hỏi :

- Trong các vật, thì vật gì là lớn nhất ?"

Đáp :

- " Chỉ có Pháp tánh là lớn tột bực " .

Bát Nhã Đa La thầm biết hoàng tử là người huệ biện , là bậc pháp khí , nên gọi lại nói : " Pháp gọi Đạt Ma là Quán -Tưởng , thấy hết , rõ hết ,biết hết , mà hoàng tử thì đã thông đạt lớn rộng , vậy nên lấy tên là Bồ Đề Đạt Ma .
Về sau , khi vua Chí Vương tới thời kỳ mãn phần , hoàng hậu , các hoàng tử và tất cả hoàng thân ai ai cũng khóc ,duy chỉ có một mình Bồ Đề Đạt Ma đến trước linh cữu của phụ hoàng mà nhập định trong bảy ngày . Khi xuất định , hoàng tử cầu xin đức Bát Nhã Đa La cho xuất gia tu hành .

Với tâm hồn phóng khoáng , và tuân theo di chúc của thầy , Bồ Đề xuống thuyền ra khơi Nam Hải ba năm , nắng mưa nóng lạnh mới đên Quảng Châu , vào ngày 21 tháng 9 năm Canh Tý , nhằm triều nhà Lương .Khi nghe tin , vua Lương Võ Đế chiếu thỉnh về kinh đô Kim Lăng để hội kiến ( ngày 1 tháng 10 ) . Sau khi nghe thuyết pháp xong , cả triều thần như ngơ ngác . Tư tưởng của ngài quá vĩ đại , vượt lên trên kiến giải thường tình , Lương Võ Đế làm sao lĩnh hội . Ngài buồn rầu chán nản bỏ về Giang Bắc , sau đến Lạc Dương . Đi đến đâu ngài thuyết pháp ở đó . Nhiều sách còn kể lại rằng vì Lương Võ Đế không thọ nhận được đạo pháp của ngài , nên ngài bỏ đi và vượt sông Dương Tử trên ngọn cỏ lau .

Đến năm Thái Hòa thứ 10 ngài lên chùa Thiếu Lâm ở núi Tung Sơn . Suốt ngày im lặng , ngồi nhìn vách đá 9 năm trời đằng đẵng gọi là " cửu niên diện bích " . Trong thời gian 9 năm này có nhiều huyền thoại về ngài , như lần nọ trong lúc tham thiền , bị rơi vào hôn trầm mà ngủ gục , ngài liền cắt đứt mí mắt và những mí mắt này rơi xuống đất đó mọc thành cây trà . Sau này những thiền sư thường lấy lá cây này nấu nước uống để khỏi buồn ngủ và trí óc sáng suốt .

Cũng chính vì những câu chuyện nho nhỏ trên , ngài đã được hết thảy mọi người ưa chuộng . Nhưng làm sao thu hút tuyệt đối những tâm hồn nhỏ nhặt riêng tây , trong thời gian đó nhiều kẻ âm mưu ám hại bậc thiên tài .Đến lần thứ sáu , Ngài biết rằng đạo pháp của mình đã truyền được thừa đầy đủ nên không tự chữa trị nữa .Ngài mất ngày 5 tháng 10 năm Thái Hòa 19 đời Hiếu Minh Hậu Ngụy , nhằm ngày 9 tháng 10 năm Bính tuất . Nhục thể Ngài được an trí tại chùa Định Lâm núi Hùng Nhi .

Ba năm sau , Tống Vân đi sứ Tây Vực về gặp ngài tại ngọn Thông Lãnh , tay xách một chiếc dép , Tống Vân hỏi :" Ngài đi đâu ?"

Bồ Đề Đạt Ma đáp :" Ta về Tây phương " rồi ngài tiếp :" Chủ ngươi đã chán đời rồi " .

Quả nhiên khi Tống Vân về , vua Minh Đế đã băng hà . Hiếu Trung kế vị , nghe thuật lại đầu đuôi. Không tin , vua sai khai cửa tháp và giở nắp quan tài . Qủa nhiên trong áo quan chỉ còn một chiếc dép . Vua cho thỉnh về chùa Thiếu Lâm lập am để thờ . Đến năm Đinh Mão đời nhà Đường , các thiện nam tín nữ dời về chùa Hoa Nghiêm thờ phượng . Cho đến bây giờ không biết rõ nhục thể ngài đang nằm tại đâu .

Bồ Đề Đạt Ma , vị Tổ sư Thiền Tông thứ 28 của Phật giáo Ấn Độ , cũng là Sơ Tổ Thiền Tông của Phật giáo Trung Hoa , Nhật Bản , Việt Nam ...Trong thời gian và hoàn cảnh mà diệu pháp của Ngài tâm truyền chưa thể hội được với tâm cơ của chúng sinh thời ấy , ngài chọn núi Tung Sơn , quay mặt vào vách đá để Thiền định suốt 9 năm . Qua việc này , Ngài đã để lại cho đồ chúng và người đời thấy rõ : Một hành giả không chỉ dựa vào học thuyết và lý luận suông về Giáo Pháp , mà còn phải tinh cần tu tập bằng pháp môn Thiền định .

Một đạo sư dù giỏi Pháp đến " Biện tài vô ngại " mà không tu chứng qua con đường Thiền định , thì cũng như cây Bồ đề mục rễ . Thiền định là một trong sáu Ba La Mật của Đại Thừa Phật Giáo - một cửa rất quan trọng để đạt tới trí tuệ tuyệt vời của Phật .

Thiền định chân thực không chỉ là phương pháp tập trung tâm thức thuần túy , đó chỉ là sự đấu tranh với ảo tưởng theo quan điểm đạo đức . Hành giả đạt được điều này chỉ mới đặt chân đến ngoài cửa . Thiền định theo hạnh Bồ Tát là đại bi an lạc trong thân , khẩu , ý và nguyện . Từ bao nghiệp kiếp và hiện nghiệp đang tạo ra trong đời sống , hành giả tự chứng để điều phục tâm thức và chỉ trong một niệm đã tỏ ngộ suốt ba ngàn cảnh giới .

Đại Thừa Phật Giáo không chỉ là một đại Minh Triết mà là một hướng sống tiến bộ , nhân bản và lý tưởng là vì vậy . Niềm tin vào Thiền định và sự giải thoát là rốt ráo để đạt đến an lạc tĩnh tại ngay trong đời sống . Đó là Niết Bàn , là ánh đạo vàng rực rỡ quán chiếu khắp tam thiên đại thiên thế giới , đại bi và vô ngại đến muôn loài vô tình và hữu tình trong các cõi .

Bồ Đề Đạt Ma thị hiện trong thế giới con người hồi đó , bằng sự chứng ngộ của mình ngài có thể vượt muôn trùng sóng gió trên một cọng cỏ lau , đội mồ sống dậy từ cái thân tứ đại để hiển lộ cho người thế tục thấy và có niềm tin tuyệt cùng đối với sự sinh động và mầu nhiệm của Phật đạo .

Trong chín năm trời đối mặt với vách đá , ngoài trời tuyết rơi và gió thổi bạt ngàn , đông tàn xuân tới ... đó chỉ là khoảnh khắc . Ngài đã để lại cho chúng ta Pháp Bảo Thiền Tông mà Đức Phật lịch sử đã tâm truyền từ hàng ngàn năm trước , và còn trao cho chúng ta một di sản rất quan trọng trong đời sống hiện nay , đó là Võ Đạo .

Chúng tôi không hề khiên cưỡng trong vấn đề này , bởi vì đối với võ lâm Trung Hoa , Thiếu Lâm Tung Sơn vẫn là minh chủ tinh thần bao đời , vẫn là đệ nhất Chánh phái và là cội nguồn của bao môn võ học khác . Đến nay hiếm thấy võ phái nào từ chối vị tổ sư đầu tiên của mình là Bồ Đề Đạt Ma .Đó là sự thật hiển nhiên và minh nhiên mà chúng ta không thể nào quên , hơn nữa ngài đã để lại hai tác phẩm Tẩy Tủy Kinh và Dịch Cân Kinh , là hai kỳ thư gối đầu của võ học .

Khi Thiền quán rơi vào trạng thái hôn trầm ( như chuyện cắt đứt mí mắt đã nói ở trên ) , Ngài nghĩ rằng phải làm sao để thoát khỏi trạng thái này vĩnh viễn . Đó là thân và tâm phải điều hợp tự nhiên thông qua hít thở là sinh khí , đây là những nguyên lý chính của khí công và các công phu khác trong võ học thượng thừa .

Nhằm tăng cường năng lực tu chứng , thoát khỏi hôn trầm , Ngài đã dạy môn đồ khí công , nội ngoại công ... võ học cũng từ đó phát triển có hệ thống .Thiếu Lâm với " Thất thập nhị huyền công " vẫn còn để lại đến ngày nay . Tham quan chùa Thiếu Lâm , ta có thể tận mắt nhìn thấy nhiều nhà sư dùng đầu đập vỡ gạch đá , đao thương đâm vào mình không để lại thương tích ... Nhiều người còn phóng ngoại khí ( chưởng lực ) để chữa bệnh có hiệu quả .

Ba yếu tố quan trọng của Khí công nói riêng và võ học nói chung không ngoài Thân , Tâm và Khí . Đây cũng là những yếu tố quan trọng bậc nhất của Thiền quán ( theo nghĩa rộng ) .Để rèn luyện tinh , khí , thần phải thông qua tư thế của Thân , điều Tâm tĩnh lặng loại trừ tạp niệm , khí huyết tự nhiên điều hòa , thần kinh thư giãn , tinh thần sảng khoái nhẹ nhàng , dùng hơi thở nhịp nhàng nhằm khơi nội khí truyền đi khắp kinh mạch để đạt được mục đích " Luyện tinh hóa khí , luyện khí hóa thần , luyện thần hoàn hư " .

Võ đạo là con đường của người tập võ , và chúng ta hãy chú tâm , lắng lòng để nghe lời thuyết pháp từ hơn ngàn năm trước vẫn còn vang lừng bên tai như thác đổ ngang trời của Bích Nhãn Hồ Tăng ( Thầy tu người Hồ mắt xanh ) .
Bạn gần không tới , Bạn xa chưa về
0
Thuyết pháp trước vua Lương Võ Đế :
 

" Cả thế giới hiển hiện trong Tâm . Tất cả chư Phật , quá khứ và vị lai đã và sẽ được tạo thành trong Tâm , sự hiểu biết được truyền từ Tâm sang Tâm không nhờ lời nói . Vậy thì tất cả những kinh sách có ích lợi gì ? Tâm của mỗi người đồng điệu tương ứng với thực tại và thực tế muôn nơi . Tâm là Phật ..."
 

Sau khi nghe thuyết pháp , vua Lương Võ Đế hỏi :
 
- Từ khi lên ngôi đến nay , Trẫm xây chùa , chép kinh , giúp đỡ tăng chúng không biết bao nhiêu như thế có công đức gì không ?
 
Ngài đáp :
 
- Không có công đức gì cả .
 
Vua giận dữ hỏi :
 
- Tại sao không có công đức ?
 
Ngài đáp :
 
- Những công đức vua làm chỉ là của rất nhỏ trong cõi Nhân Thiên mà thôi , không khác gì ảnh tùy hình , tuy có nhưng chẳng thực .
 
Vua hỏi tiếp :
 
- Vậy làm thế nào mới gọi là công đức ?
 
Ngài đáp :
 
- Trí phải được hoàn toàn thanh tịnh , thể vắng lặng như mặt nước hồ . Công đức ấy không thể lấy việc thế gian mà cầu , ấy là công đức .
 
Vua hỏi tiếp :
 
- Nghĩa tột cùng của Thánh Đế là gì ?
 
- Trống rỗng không có Thánh hay phàm gì hết .
 
- Ai đang đứng đối mặt với Trẫm đây ?
 
- Không biết .
 
Quyển tài liệu được mệnh danh là Đạt Ma Huyết Mạch Luận , ghi lại bài thuyết pháp của Ngài cho triều thần Lương Võ Đế nghe .Chúng ta hãy đọc tiếp giáo pháp đó :
 

" Trong Tâm toàn thế giới chư Phật , quá khứ , vị lai sẽ và đã tạo trong Tâm thức , được truyền từ Tâm sang Tâm . Những kinh sách có ích lợi gì đâu ? Tâm của mỗi người đồng điệu tương ứng với thực tại đời đời , muôn nơi .Tâm là Phật . Phật ở đâu ngoài Tâm . Sự Giác Ngộ và Niết Bàn xem như ở ngoài Tâm là sai lầm . Không có sự giác ngộ linh động ở ngoài tâm .Cũng không có nơi nào gọi là Niết Bàn . Ngoài Tâm tất cả là ảo tưởng , không có nhân , không có duyên , chẳng lý do , chẳng kết quả . Chỉ tư tưởng duy nhất là hành động của Tâm . Tâm an tĩnh đó là Niết Bàn .Biết một sự vật ngoài Tâm là muốn tìm đến sự trống rỗng . Mỗi người tự tạo trong Tâm bằng tư tưởng là Phật . Tâm là Phật và Phật chính là Tâm . Hình dung tưởng tượng Phật ở ngoài Tâm , ở một nơi nào ngoài Tâm là mù quáng . Vậy không thể nhìn ra ngoài mà phải nhìn vào trong và phải tự thu nhiếp vào Tâm mình , tự nhìn thấy Phật ở nơi mình . Ấy là Phật tánh . Tất cả chúng sinh là Phật như mình , không cần ai cứu độ cho ai cả . Không vị Phật nào có thể hơn tôi , vậy không bắt tôi đọc kinh sách của họ được .
 
Phật không thể bị một pháp luật nào ngăn cản ,vậy tôi cũng không cần giữ một luật lệ nào . Phật là không sa ngã , vậy tôi cũng không thể sợ bị phạm tội vô thiện , vô ác mà chỉ có những hành động của Tâm , mà Tâm là Phật vốn không thể lỗi lầm . Sự cúng vái có ích gì ? Hiểu điều đó , thấy điều đó là giải thoát , là Niết Bàn ...
 
Không một sự tu khổ hạnh ép xác nào , không có một cuốn kinh sách nào làm ta thoát khỏi luân hồi . Sự đọc kinh , tu khổ hạnh là vô bổ , hình thức . Không một quyển kinh sách nào đáng cho ta đọc . Sự an tịnh hoàn toàn vô vi , hãy kiến tánh tự mình , đó mới là sự duy nhất để nhìn thấy chân thực . Phật tánh giống nhau ở nơi tất cả mọi người . Khi nào đã quên hết tất cả và chỉ còn lại duy nhất thực tại ,, đó là đã thoát khỏi vòng Luân hồi mà đến Niết Bàn .
 
Tất cả những hệ thống triết học hiện tại là sai lầm , mù quáng và lường gạt , là phỉnh lừa . Mỗi người là Phật nơi chính mình , nơi mỗi người tiềm tàng duy nhất chân lý thật tại đó . Không có tội lỗi nào khác ngoài tội vô minh , không nhận ra Phật tánh ở nơi mình .
 
Thân xác là phù du , cuộc đời trôi nhanh trong thời gian ngắn ngủi , ta phải tự thoát khỏi vô minh bằng cách tự khám phá lấy mình .Trong giấc mộng ta thấy được thực chất của mình , chính pháp thân tự hé mở ra cánh cửa của bản thể , đó mới là thực thể .
 
Pháp thân này đã có từ vô thỉ , trải qua những kiếp luân hồi biến đổi , pháp thân vẫn không sinh không diệt , không bớt không thêm , không ô uế nên không phải tự tẩy sạch , không yêu đương thù ghét , cũng không đến không đi , không đàn ông không đàn bà , không già không trẻ , không tu không tục , không có không không , không phải một cũng không phải nhiều , không thánh nhân không phàm tục ,không là hình tượng cũng chẳng phải là quan năng , không được không mất . Pháp thân không sanh không diệt : không gì cản trở , ung dung trong những kiếp sau , lửng lơ trong dòng sinh tử . Hết thảy vạn mệnh chúng sinh đều quy về đó . Chính đó ta gọi là Tâm . Chính pháp thân ấy mà ta phải thấy nơi mình . Ta phải hành động theo ánh sáng từ Tâm . Nó chứa chấp chúng sinh như nước đất màu chứa vô số nguyên tử , không thể diễn tả cũng không thể giải thích bằng lời nói . Hãy tự chiêm ngưỡng ,thưởng thức lĩnh hội nó cho mình . Lãnh hội được nó là giác ngộ đưa ra khỏi vòng luẩn quẩn của cuộc đời mà Phật Thích Ca gọi là đại biến .
 
Phải khám phá ra tự Tâm ,phải nhận ra Phật tánh dù chẳng cần dùng lời nói , tư tưởng . Pháp thân vô hình , vô biên nên không thể hủy diệt . Chẳng có vị Phật nào khác chính Pháp thân , pháp thân có nơi chư Phật thì cũng có nơi tất cả chúng sinh . Vì thế không cần kinh kệ , cũng chẳng cần thờ cúng .
 
Chẳng có gì thật ngoài pháp thân , tất cả bên ngoài đều là hư không . Chỉ cần có sự im lặng và sự tĩnh Tâm . Chính tĩnh tâm im lặng đó giúp ta tự thấy pháp thân , đó là Phật . Dù là biểu tượng vô hình hay hữu hình đều là mù quáng , sai lầm . Sai lầm , mù quáng giữ chúng ta trong vòng luân hồi sinh tử .
 
Ta không nên bái sùng những hình tượng làm ra tự mình , những hình tượng ấy không thuộc pháp thân , nên sùng bái những ý tưởng phát sinh từ phật tánh . Hãy hủy diệt sự giả tưởng về thần thánh thiêng liêng , vì nó chỉ là ảo tưởng . Không nên sợ hãi kính thờ những giả dối ấy , cũng bỏ đi những ảo tưởng về chư Phật .
 
Không gì hơn những ý tưởng vô hình của Tâm từ Phật tánh , hãy nhìn nhận một điều sự thật là pháp thân ở chính nơi ta .
Phật là một tiếng Ấn Độ , có nghĩa là " giác ngộ " , Phật không phải là tên một người . Mọi người đều có thể giác ngộ , có thể thành Phật . Sự giác ngộ này nhờ Thiền . Những kẻ đối nghịch với ta không thể hiểu được giá trị danh từ này . Thiền cũng không có nghĩa là tham thiền , suy tưởng . Đối với ta , thiền là khi thấu đạt được chính Phật tánh của mình . Một người dù đã học được vô số kinh sách mà không thấy được tự tánh thì chỉ là một kẻ tầm thường . Vì ngôn ngữ không đủ khả năng diễn đạt ý nghĩ nên đạo lý của ta nhiều người không hiểu ... cũng chính vì không nói được nên tất cả kinh luận là cỏ rác , chẳng qua là ngôn ngữ giả tưởng .
 
Kiến tánh là một việc hết sức giản dị . kiến tánh không là những thành phần vì thế không tri và hành từng phần được .Kiến tánh cũng giống như thực phẩm , không cần phải lý thuyết dài dòng chung quanh sự ăn , đòi hỏi ta biết nuốt hay không mà thôi .
 
Kẻ nào dám tưởng tượng một thực tại nào khác Phật tánh nội tại là lầm lỗi . Những ý tưởng nào khác ngoài ý tưởng Phật tánh là ảo tưởng , phù phiếm , sai lầm . Chính Tâm sinh ra ảo tưởng , phù phiếm sai lầm đó .
 
Loài người sẽ được giải thoát khi đã chối từ những ảo tưởng sai lầm . Giair thoát khi nào Phật tánh là họ , gắn liền với họ .Giáo lý chỉ giúp đỡ cho ta chuẩn bị , giáo lý không thể tạo thành Phật . Mộng không thể học , chết không thể học mà lãnh hội được , nền giáo lý Phật tánh lại càng không thể học được .
 
Người nào đó lãnh hội được pháp thân thì không còn thiên đàng hay địa ngục , không còn ta không còn người , không còn gì ở bên ngoài . Niềm tin tuyệt đối là lãnh hội được pháp thân , không mảy may ngờ vực vì đó chính là Phật tánh của mình .
 
Tại sao có một số người thành tâm đúng đắn , chuẩn bị chu đáo đàng hoàng mà vẫn không đạt được Phật tánh ? Bởi nghiệp chống nghiệp , bởi mù quáng sai lầm , bởi những mê mờ bất định của họ ... Họ chưa trả nợ hết nên không trong sạch để giác ngộ . Trong những trường hợp này những kẻ xuất gia có thể gặp phải , trái lại những kẻ phàm phu có thể giác ngộ . Kẻ nào tự khám phá thấy bóng dáng mình và không bị ràng buộc bởi những liên lụy nào thì dù thể xác có sai lầm cũng không ô uế pháp tánh . Người này không thể bị ảnh hưởng đến pháp thân vì đau khổ hay hạnh phúc . Nên dù là kẻ phàm tục làm tên đồ tể cũng có thể thành Phật ... Nghiệp chỉ đeo người nào chưa giác ngộ , vì còn trong tăm tối vô minh . Chính sự ngu muội trong tăm tối vô minh tạo ra sự luân hồi sinh tử .
 
Khi giác ngộ phá bỏ được vô minh thì nợ nần tinh thần không còn nữa . Người giác ngộ không thể phạm lầm tội lỗi vì tâm thiện hay ác không lộ ra ngoài . Ta đến Trung Hoa này để truyền Tâm Ấn , đạo lý mới này chưa ai biết . Phật ở trong Tâm mọi người . Sùng bái , giữ giới , tu khổ hạnh , học vấn , cầu kinh không nghĩa lý gì cả . Giác ngộ là mục đích tối thượng mà mỗi người phải được , đạt được giác ngộ là Phật . Một vị Phật của chư Phật dù không đọc được một chữ . Thấy Phật tánh nơi mình , thấy Phật tánh nơi Tâm mình là Phật . Tâm của Tâm vô hình nên không thể sờ mó , mong manh như không có , nhưng trong mỗi người đều mang Tâm . Tâm ơi ! Tâm hỡi ! Mi lớn đến nỗi bao trùm thế giới , mi nhỏ đến nỗi mũi kim không xuyên qua được . Hỡi Tâm của ta , mi là Phật và vì chính mi mà ta phải lao đao qua Trung Hoa để rao truyền đạo lý ."
 

Chúng ta đã biết Bồ Đề Đạt Ma là tổ sư thứ 28 của Phật giáo Ấn Độ , qua Trung Hoa trở thành tổ sư thứ nhất của Thiền Tông Trung Hoa và từ đó truyền bá đi các nơi . Vậy chúng ta cũng cần biết ai là tổ sư thứ hai của Thiền Tông theo tài liệu lịch sử sau :
 
Khi ngài Bồ Đề Đạt Ma đang ngồi ngó vào vách đá trên ngọn Tung Sơn .Có một vị tên Thần Quang , học nhiều hiểu rộng , nghe tiếng danh sư bèn đến Thiếu Lâm Tự đứng ngoài hiên chùa chờ xin vào yết kiến cầu đạo . Nhằm tiết Đông Thiên nên đêm tuyết xuống như bão , trắng xóa cả núi đồi hùng vĩ , Thần Quang vẫn đứng yên một chỗ chầu chực suốt đêm .Tuyết phủ lên quá gối , trời lạnh kinh hồn . Thần Quang cũng không nản lòng , tâm hồn khao khát chứa chan hoài vọng của một con người đã tuyệt cùng đau khổ . Cuối cùng sự lạnh lùng tàn nhẫn của Bồ Đề Đạt Ma đã bị ray rứt bởi sự quằn quại của người đời , nên Ngài thương tình hỏi :
 
- Ngươi đứng trong tuyết lạnh lâu như thế ý muốn cầu việc gì ?
 
Thần Quang cảm động lau nước mắt thưa :
 
- Cúi xin hòa thượng từ bi thương xót , cứu độ tâm hồn đang đau khổ .
 
- Đạo lý vô thượng của Phật là phải nhiều kiếp tinh tấn , cần nhẫn nhục chịu đựng những việc khó làm , nhẫn được những điều khó nhẫn , đem đức nhỏ nhen , trí cạn , tâm thì khinh khi ngạo mạn , không chịu nổi khổ cực thì làm sao mà học cầu diệu đạo .
 
Khi nghe ngài quở , Thần Quang dùng dao bén chặt cánh tay trái đem để trước mắt ngài để chứng minh lòng thành khẩn cầu đạo của mình . Ngài biết đã gặp được một người có thể truyền bá chánh pháp .
 
Ngài hỏi :
 
- Chư Phật phát tâm cầu đạo , dám bỏ thân , nay ông chặt cánh tay để làm gì ?
 
- Con có thể nghe được Pháp Ấn của chư Phật ?
 
- Không phải ai cũng nghe được .
 
- Nhưng tâm con không đựơc yên thì làm thế nào để an bình ?
 
- Ngươi cứ đưa tâm ra đây ta sẽ an cho .
 
Thần Quang ngơ ngác một hồi thưa :
 
- Bạch Thầy , con tìm Tâm mãi mà không thấy .
 
- Đó , đó là ta đã an tâm cho người rồi .
 
Nghe xong Thần Quang giác ngộ , bái Đạt Ma làm thầy . Ngài đổi tên Thần Quang ra Huệ Khả . Sau này Huệ Khả được truyền Y-Bát và trở thành tổ sư thứ hai của Thiền Tông Trung Hoa .
 
Đến đây chúng ta tạm chấm dứt bài về Bồ Đề Đạt Ma vì ngôn ngữ có đi tới tận cùng giới hạn của nó cũng không làm minh bạch , sáng tỏ được cái tinh túy của Thiền , lý cao siêu nhất thì không có lời , không tiếng nhưng muốn diễn tả phải mượn tiếng , mượn lời , những gì tiếp theo sau thì không thể nói .
 
Thiền là nỗ lực đạt đến trí tuệ tỉnh giác . Tâm Phật là Tâm giác ngộ . Giác ngộ là giác ngộ cái Tâm Phật có sẵn trong ta .Cái Tâm Phật trong ta là cái hoàn toàn thanh tịnh , là tính thể vắng lặng như mựt nước hồ . Tâm ơi ! Tâm lớn đến nỗi bao trùm cả thế gian , Tâm nhỏ đến nỗi mũi kim không xuyên qua được . Hỡi Tâm ta ngươi là Phật .
 
 
 
 
 
 
Võ là chiến đấu , tâm đã dấy động , nộ khí xung thiên , gươm giáo ngất trời , ta tiến lên như sóng dậy ầm ầm , như cuồng phong san bằng mọi trở ngại . Có lừng lẫy chiến công không ? Không công đức gì hết . Tại sao ? Tại nó rất nhỏ trong cõi nhân thiên mà thôi - tuy có nhưng chẳng thực .
 
Trong mọi cuộc chiến đấu cần thiết , chiến đấu sáng suốt với cái trí hoàn toàn chủ động , với cái tâm thể vắng lặng tịch nhiên như mặt nước hồ , với cái dụng miên mật như hư không trùm lấp dù đang ở giữa chốn hận thù cũng bàng bạc toát hiện lòng thương và sức mạnh chuyển hóa khiến cho kẻ địch rúng động đổi thay : quên sân giận , quên hận thù , quên thách đố . Sóng gió lại ngừng , hồ yên , biển lặng , hai kẻ từng là đối đầu nay trở thành gần gũi thân thiết và sáng tỏ như hai vầng trăng ...
 
Đến đây , với tư cách là một người học võ , tác giả bỗng nhiên ngộ ra được ý nghĩa của công án thiền vốn từ xưa không ngừng ám ảnh các hành giả : đâu là ý chỉ của việc sơ tổ Đạt Ma đến Đông độ - như hà thị tổ sư tây lai ý ?
 
Đó là Thông điệp của Thinh lặng .
Bạn gần không tới , Bạn xa chưa về
0

VÕ THUẬT TRONG ĐỜI SỐNG
 

Khắc phục được kẻ thù là khó , khắc phục được trăm ngàn kẻ thù là khó , nhưng khắc phục được chính mình lại càng khó hơn . Yếu tố quan trọng đó là tinh thần . Tinh thần vô sắc vô thể nhưng sáng tỏ như ngọn đèn cháy sáng ,với những kẻ biết trau dồi rèn luyện , để nhìn rõ hết biết hết . Hướng dẫn được tinh thần , phát triển được lòng tin , dù thể xác có yếu đuối hao gầy bao nhiêu cũng trở thành mạnh bạo cương mãnh ,thủ thắng được những người to lớn gấp bội nhưng thiếu ý chí tinh thần .
 
Ngày xưa O-Nami một tay đô vật tài ba lỗi lạc , nhưng cái tài chỉ được tiếng tăm trong bổn phái . Có thể nói , trong võ đường không một ai có thể quật ngã O-Nami , ngay cả chính vị thầy cũng thường bị anh quật ngã . Thế nhưng chàng lại bị động và hay phân tâm quẫn trí trước đám đông . Mõi lần , hễ ra trước công chúng là chàng mất bình tĩnh , lúng ta lúng túng , đến nỗi thua cả những tên học trò hạng bét . Đột nhiên một hôm O-Nami nghe nói có vị Thiền sư vừa từ phương xa đến , trú ngụ tại một ngôi chùa gần bờ biển , chàng tìm tới trình bày cớ sự và khẩn thiết cầu xin Thiền sư chỉ dạy phải làm gì để tránh tình trạng hiện tại của chàng .
 
Thiền sư đáp :
 
- O-Nami ! tên ngươi có nghĩa là sóng lớn , vậy ngươi hãy ngồi trong chánh điện ngôi chùa này suốt đêm nay để lắng nghe tiếng sóng biển .Hãy quên mình là nhà đô vật trứ danh và hãy tưởng tượng những đợt sóng biển hùng vĩ đó chính là ngươi , hãy quét ngã bất cứ cái gì cản đường .. Thiền sư lui ra sau lời nói .
 
O-Nami ngồi lại , khởi đầu cố gắng nghe và nghĩ về sóng , thế nhưng nhiều ý nghĩ khác vẫn xen vào . Với sự cố gắng vượt bực , dần dần O-Nami tập trung được tư tưởng , và chỉ nghĩ đến nghe sóng mà thôi . Đêm dần tàn , những đợt sóng càng lớn lên , sóng ào ạt quét sạch những bông hoa trên bàn thờ Phật , thế rồi những tượng Phật bằng đồng , bằng đá cũng bị sóng cuốn trôi đi mất . Mặt trời vừa ló dạng , sinh khí ngày mới rạng lên sau đêm dài ngái ngủ . O-Nami thấy rằng ngay cả ngôi chùa cũng bị tràn ngập bởi những đợt sóng biển trắng xóa chập chùng cuốn hút .O-Nami vẫn ngồi đó trên khuôn mặt trầm lặng , chàng như phảng phất cười . Giã từ Thiền sư , thượng đài ngày hôm đó , tại đấu trường , O-Nami không thua một trận nào , không những thế khắp nước Nhật không một ai còn có thể đương đầu nổi với O-Nami từ đó .
 
Con người toàn diện là một tổng hợp của thể xác và tâm hồn . Khi một người có ý chí thì sẽ có một con đường và năng lực hoàn hảo , đó là một pháp , một phương tiện hầu đạt đến đích bằng cách thực hành nghiêm chỉnh , bằng tâm trí , tinh thần , thể xác có ngày sẽ kết quả .Không một ai có thể tự hào là chiến thắng tuyệt đối ,trong võ đường , bất kỳ ở đâu , tại đâu . Sự chiến thắng chỉ là chiến thắng tương đối mà thôi , kẻ chiến thắng hôm nay sẽ có thể là kẻ chiến bại ngày mai . Vậy , bạn hãy chiến thắng ngay tự bản thân , xóa tan mặc cảm tự tôn lẫn tự ti ., vì cả hai đều đưa đến sự chiến bại đau đớn . Được và mất , lạc thú và đau khổ , chê bai và khen ngợi , vinh quang và nhục nhã . Đó là những vướng bận , những ngọn gió trần gian .
 
Một hôm có một giáo sư đại học đến xin yết kiến Thiền sư Nan-In để tham vấn về thiền .Đáng lẽ thay vì thực tập sự im lặng , nhưng vị khách cứ nói liên tu bất tận về ý kiến riêng tư , về kiến thức của mình . Lúc sau Nan-In mời trà . Thiền sư rót trà vào chén của khách , đầy rồi Thiền sư vẫn rót và để nước tràn ra ngoài . Một lúc người khách không thể giữ nổi kiên nhẫn bèn nói lớn :
 
- Kìa đạo huynh , không thấy đã tràn đầy rồi ư , chén có thể chứa đựng thêm được gì nữa đâu ?
 
Thiền sư ngừng rót và nói :
 
- Quả đúng như vậy hiền hữu . Hiền hữu cũng giống cái chén trà này , tràn đầy tư kiến , mà đạo thì càn khôn bất tận , tôi biết hiến dâng gì thêm cho hiền hữu về Thiền , nếu hiền hữu không cho tôi một cái chén lớn hơn .
 
Thời nhỏ , thầy Thanh Văn còn là một chú tiểu , tu ở một ngôi chùa heo hút bên rừng thông Đà Lạt , theo phục dịch một vị thầy rất khắt khe , khó tính , chỉ một lỗi nhỏ là lãnh những đòn roi ngang dọc .Hở ra là quỳ suốt đêm . Đêm đến thầy chưa ngủ , thì tiểu phải ngồi , thức chờ dù gục lên gục xuống , sáng ra phải thức sớm hơn để đun nước hầu trà . Rủi thay một buổi sáng nọ , khi thức dậy thấy cây đèn chong đã tắt . Không một nơi nào có thể tìm ra lửa để nấu trà , trời càng sáng chú càng nóng ruột gan . Không có trà chắc phải lãnh một trận đòn chí tử . Chợt nghĩ ra , chỉ băng qua một cánh rừng ngắn , có một làng dân cư thưa thớt , ở đó có thể giúp mình có lửa . Vừa thoáng nghĩ như vậy nhưng chú rụt lại ngay . Không một ai trong vùng này mà lại không biết tiếng đồn cánh rừng nhỏ này cọp thường xuất hiện để ăn thịt người .Biết bao người đã mất tích và được cho là bị cọp vồ . Nghĩ chừng đó chú đã nổi da gà thối chí . Nhưng cuối cùng chú bạo gan đâm đầu chạy vụt qua rừng , được một đoạn , đột nhiên một con cọp to lớn hiện ra , hoảng quá chú chạy lùi hổn hển , mặt tái không còn một giọt máu . Cọp lông lá rằn ri , đuôi ve vẩy như sẵn sàng nhảy đến vồ chú .Đi lui được một đoạn chú nhìn lại ngôi chùa , thầy sắp thức dậy , nghĩ đến trận đòn cũng dễ sợ , thôi thì một liều ba bảy cũng liều , sợ thầy hơn sợ cọp , biết đâu nó đã đi , suy đi tính lại chú bèn thâu hết can đảm , chạy trong ám ảnh đó . Thì ra , khi lại gần chú nhìn rõ hơn , thấy cọp vẫn đứng yên . Hóa ra cọp là cái giỏ ( rọ ) tre còn cái đuôi ve vẩy là cành cây theo gió .Ức quá chú vừa đi vừa khóc tức tưởi . Cái " tưởng điên đảo " có từ vô thủy vô chung đã hiện hữu trong hiện tại do Tâm tác tạo . Khi ánh sáng của sự an lạc tỉnh thức thắp lên , ta thấy ngay đó không phải là con cọp . Do đó chẳng có chuyện gì xảy ra ! Người ta không tìm cách đánh cọp ,tránh cọp , hay tiêu diệt cọp , ít ra là không sợ nó , vì nó không bao giờ hiện hữu . Người ta chỉ xóa tan đi một ảo ảnh .
 
Khi cái " ngã " được cảm nhận như một thực thể sống động , ta bị lôi cuốn và ràng buộc đời ta vào đó , khổ đau hay hạnh phúc , sợ sệt hay vui sướng ... ta có khuynh hướng như muốn ôm vào tất cả những gì được đánh giá cho lợi lộc và lòng tham muốn , khước từ tất cả những gì làm tổn thương hay thiệt hại dù chỉ là danh dự cho mình .Khi tri thức thoát được cái " ngã " không hiện hữu , tất cả những sự thích thú , yêu thương , sợ hãi hay đau khổ đều tan biến chẳng khác nào sợ hãi cái giỏ tre và cành cây bị lầm tưởng là thân cọp và đuôi cọp . Võ thuật cũng vậy , phải luôn luôn tỏ ra can đảm , trong trận thư hùng , nếu bị ám ảnh rằng đối phương mạnh khỏe , tài giỏi hơn , chóng chầy cũng sẽ bị thua .Người nào có được một tâm lý ổn định , thì chính là có được sự bất khả xâm phạm hóa giải những nghịch cảnh tới từ bên ngoài .Tâm lý vững chắc giống như một ngọn thái sơn vững chãi không lay động , nó cũng không dễ bị chi phối quay cuồng bởi ngoại cảnh , cũng không bị kích động bởi những ảo tưởng . Đừng cho rằng sự tĩnh lặng của nội tâm đó là thiếu phòng bị , đó không phải là trạng thái dửng dưng , lãnh đạm , mà mở được "Tuệ Nhãn " sẽ làm tăng thêm năng lực của tâm hồn , sự tinh tấn và tinh khiết hành động một cách chánh đáng .
 
Hãy luôn nhớ rằng : sức mạnh của tâm hồn đến trí tuệ , thiền định và võ thuật đã trao tặng cho chúng ta một khoa học về tâm trí , một khoa học kiến tánh hơn bao giờ hết . Bởi vì nó đảm đương cùng các cơ năng căn bản nhất của con người . Một sức mạnh vô biên , đó là sự kiêu hãnh , niềm tự chủ mà không tự tôn tự đại . Phải biết nhẫn nhục bền chí , đầu cơ thân xác không ngừng cho niềm khao khát và ý muốn tiến xa trên con đường nghệ thuật . Giải thoát những ràng buộc tinh thần chính là sự thanh lọc lòng kiêu ngạo , khoa trương và tự mãn . Như vậy điềm tĩnh là gì ? Là đạt đến sự thanh tịnh trong sáng , đó là trạng thái không còn bị phiền nhiễu do ngoại cảnh khuấy động .
 
Ngoài ra , những nhận thức cá biệt , thành kiến và thói quen , có thể đưa đến sự tị hiềm đố kị , phản lại tinh thần võ thuật của một Võ Sĩ Đạo chân chính . Ngày xưa , trước khi chọn và thích môn Karate , tôi đã từng học nhiều môn khác nhau , nhưng hễ nghe nói đến một môn nào mà mình không thích là tôi chê bai đủ điều , sẵn sàng phân trần bằng tay chân với bất cứ ai đối nghịch . Dần dần những tư tưởng bảo thủ đã qua đi , vì môn võ nào cũng có một quá trình rút tỉa từ những tinh hoa nghệ thuật , môn võ nào cũng cao cả , tuyệt vời , vì bề dày được trau dồi bằng một kinh nghiệm ,môn nào cũng xứng đáng để ta theo học , chỉ sợ mình không đủ khả năng . Võ thuật như đại dương lớn rộng , , mỗi môn võ là một dòng sông . Bây giờ sau mỗi lần tập luyện , ngoài số vốn đã thu thập được về kỹ thuật , còn cảm thấy thảnh thơi về ý chí , phong phú về tinh thần , tâm hồn vị tha hơn , lòng quảng đại hơn .
 
Tuy nhiên mãi đến bây giờ tôi vẫn còn một khuyết điểm lớn : nếu một võ sư thực tài , trứ danh nào đó khiêu khích , thách thức , có lẽ tôi sẽ không từ chối , nhưng ngược lại một người không biết mình , thách thức hay tấn công , chắc tôi sẽ thản nhiên từ chối không một chút bực tức , giận hờn . Tránh đối đầu với kẻ đang giận dữ , hoặc bỏ tránh đi , hành động này bao gồm cả mọi biện pháp thích nghi tốt nhất , nhưng như trên đã nói , không bao giờ hành động với lòng sân hận . Tận trong sâu thẳm của Tâm , phải giữ lấy bình tĩnh , từ bi thù thắng và nhẫn nhục .Không phải là ta thụ động tự phó thác sinh mạng ta vào tay kẻ bạo hành , cũng không thể cố hủy diệt họ bằng sức mạnh , bởi nên nhớ một điều , có một kẻ nào khác sẽ đứng lên , sẽ xuất hiện để phục thù .Đa số người chưa biết võ khi hăng hái đến một võ đường thường nghĩ rằng chỉ cần vài ngày sau , khi học được bí quyết , lập tức trở thành một nhân vật xuất chúng . Có nhiều người đến nài nỉ tôi chỉ cho họ vài đường thế bí truyền trong thời gian ngắn nhất để thị uy người này kẻ nọ , thương thay cho những kẻ đó . Đừng bao giờ nghĩ đến sự thành công nhanh chóng , đó là con đường gần nhất đưa đến sự thất bại ê chề , chán nản ." Hãy bước từng bước một vững vàng mà đi trên con đường vạn dặm " . Thiên tài là sự cố gắng không ngừng , kiên nhẫn học hỏi , kiếm tìm những điều mới lạ . Tài năng dựa vào chính kinh nghiệm bản thân , kinh nghiệm phải được trả bằng xương bằng máu , bằng mồ hôi và nước mắt , những kỹ thuật tinh vi cao đẳng mà phải chuyên luyện để tự khám phá ra những chiêu thức mới mẻ , những đòn thế biến đổi đột nhiên kỳ dị , hợp với bản chất theo thiên khiếu , căn cơ của mỗi người bằng sự cố gắng thường xuyên .
 
Matajura là một chàng trai trẻ khát khao trở thành tay kiếm xuất quỷ nhập thần . Cha chàng đường đường là một võ sư kiếm đạo , chê chàng phản ứng còn chậm chạp quá , khó có thể thành tài về môn kiếm được .Chàng thật buồn lòng khi nghe lời chê trách đó . Nhưng với tinh thần cầu tiến ,Matajura lần mò đến nhà võ sư Banzo , khét tiếng về kiếm đạo , được thiên hạ tặng cho biệt danh là Đệ Nhất Kiếm , chàng thưa với võ sư :
 
- Thưa thầy , nếu con ở liền bên thầy , phục dịch thầy từng giờ từng phút , trong khoảng bao lâu thầy có thể truyền thụ kiếm pháp để thành tài ?
 
Võ sư Banzo đáp :
 
- Mười năm .
 
- Thưa thầy , cha con đã già quá rồi , con muốn học trong thời gian ngắn hơn để trở về hầu hạ trước khi người nhắm mắt . Con có thể phụng sự thầy cần mẫn hơn thì trong thời gian bao lâu con có thể thành tài ?
 
- Ba mươi năm , võ sư Banzo đáp .
 
Matajura há mồm ngạc nhiên hỏi : Thưa thầy sao lại thế , con nguyện làm việc gấp đôi mà thời gian lại gấp ba . Con van xin thầy , một lần nữa con sẽ cố gắng làm việc không ngừng , không một việc gì mà con từ chối dù nặng nhọc như trời như bể , vậy thưa thầy bao nhiêu năm con thành thuộc kiếm pháp ?
 
- Bảy mươi năm , võ sư đáp . Những con người hấp tấp như vậy , luôn luôn học chậm , không bao giờ thành công được .
Lúc đó chàng Matajura mới hiểu ý võ sư .
 
Không đòi hỏi vấn đề thời gian nữa , chàng quyết định xin ở lại để hầu hạ võ sư , quét dọn nhà cửa , lau chùi , nấu ăn , giặt rửa , tưới cây , làm vườn , và nhiều công việc lặt vặt khác . Chàng bị cấm không bao giờ được hỏi tới kiếm , nói tới kiếm , sờ tới kiếm . Buồn rầu thật , nhưng đã trót hứa với thầy chàng không muốn trở thành người thất hứa . Ba năm ròng rã trôi qua , học kiếm đâu chẳng thấy , nhưng dư vang và tiếng tăm lừng lẫy cũng như phong cách hàng ngày của sư phụ , ban cho chàng một lòng kiên nhẫn vô bờ , một cảm nhận siêu diệu chuyển hóa từ đức tin , từ lòng ngưỡng mộ .Đột nhiên , một ngày kia võ sư tiến đến sau lưng lúc nào chàng không hay , bất thình lình quất chàng bằng thanh kiếm gỗ , đau không thể tả . Hôm sau chàng lại bị một lần như thế nữa , khi đang làm bếp . Từ đó bất cứ lúc nào chàng cũng bị thanh kiếm gỗ của thầy tấn công một cách bất thần , và cũng từ dó chàng phải luôn luôn phòng bị , canh chừng mọi hướng , tinh thần đặt trong tình trạng báo động thường xuyên , chàng không nghĩ gì ngoài sự cảnh tỉnh tinh thần để có thể lẹ làng tránh khỏi thanh kiếm của thầy .
 
Võ sư thấy môn đệ đã lẩn tránh nhanh nhẹn , ông rất hài lòng và bắt đầu truyền dạy kiếm thuật cho chàng . Chẳng bao lâu Matajura trở thành lão luyện , từ thân pháp cho đến kiếm pháp với những thế công , thế thủ , tiến thoái một cách chớp nhoáng lẹ làng , kế nghiệp được cái tên Đệ Nhất Kiếm của thầy . Matajura thành công phần nhiều do yếu tố đam mê , niềm khao khát và sự kiên nhẫn tột cùng . Và hơn tất cả , do ý chí thực hiện hoài bão cực mạnh nên chàng đã nhất tâm trì luyện và gặt hái được kết quả này . Trí tuệ phải luôn luôn sáng suốt , tinh thần phải bình thản . Đối phó với bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải bình tĩnh không một chút căng thẳng cũng như khinh suất . Nếu bạn cảm thấy học võ mà chưa có mục đích chân chính như vì phong trào , vì rỗi rãnh ... thà đừng học còn hơn .
 
Bạn gần không tới , Bạn xa chưa về
0
Võ sư Choji Suzuki khi nhập môn Karate , ba tháng đầu chỉ ngồi ( quỳ gối , ngồi lên hai gót chân ), chụp ruồi trên một chén cơm có cá ( để nhử ruồi ) . Sau ba tháng thử thách đó , phải tập thêm ba tháng nữa , chỉ có hai đòn : cú đấm thẳng ( Teken tsuki ) và cú chặt bằng cạnh bàn tay ( Shuto ) , nếu kiên nhẫn vượt qua sáu tháng cam go , khổ luyện đó , mới chính thức được thu nhận làm môn đệ . Vì võ thuật cũng như các giáo phái tôn giáo khác , những lời dặn dò dù sơ đẳng hay những đòn thế khi nhập môn đều trở thành chiêu thức , kiến thức thâm sâu căn bản nhất . Kỹ thuật đầu tiên là bí kíp cuối cùng , người mới nhập môn và đại sư phụ cùng thực hành những đòn thế như nhau .
 
Một thân hình khỏe mạnh , dẻo dai không bệnh tật và một tinh thần sáng sủa tươi vui trong cuộc sống , đó là mục đích rốt ráo sau cùng của võ thuật , xóa tan những thành kiến tự ti , mặc cảm , những phân biệt môn phái , thấu rõ thế nào là mục đích chân chính của người hành giả võ đạo . Đành rằng không tham vọng một cách quá đáng , cũng không đạt mục đích quá cao xa như tinh hoa hay thượng thừa của võ học bằng cách tự học .Dĩ nhiên nếu có thời gian đến võ đường hay được thụ huấn với một chân sư nào đó sẽ đạt kết quả nhanh hơn . Ngoài ra đọc sách để mở rộng kiến thức và biết rõ con đường mình sẽ và đang đi , đừng nên bắt đầu với một tâm hồn hoang mang không tha thiết , cũng như đang đi trên một con đường với bóng tối của đêm ba mươi . Tôi quả quyết nếu bền chí tự tập , chắc chắn sẽ gặt hái được kết quả khả quan . Trong xã hội văn minh hiện tại , nhất là các nước đã phát triển tột cùng như Âu Mỹ , bên ngoài có vẻ như văn minh và hiếu hòa hơn các dân tộc đang phát triển khác , thực ra họ ít rèn luyện thân thể vì họ đã quên đi yếu tố tâm lý . Họ rất tự tin dù rằng sự tự tin này là giả dối vì thực ra gốc rễ của nó là thiếu tự tin và ỷ lại vào vũ khí vì nếu có gì xảy đến , đem vũ khí ra sử dụng là hiệu quả nhất .Nhưng không ai nghĩ rằng , để giới hạn vũ khí thì phải khuyến khích mọi người nên luyện tập võ thuật , họ có cùng niềm tự tin vào chính bản thân họ , không cần ngoại vật , không cần nương tựa vào ai , độc lập , tự tin , quả cảm . Hơn nữa một người võ sĩ đạo chân chính luôn luôn có một đức tính khiêm cung , nhẫn nhịn , vị tha , chỉ có những người thiếu khả năng mới khoe khoang , lớn tiếng . " Vấn đề " chỉ xảy ra với những người chưa học đến nơi đến chốn .
 
Bồ Đề Đạt Ma , tổ sư của mọi ngành võ thuật , có bao giờ nói đến võ .
 
"Để thân mình lại sau , thế mà thân mình đứng trước , gác thân mình ra ngoài thế mà thân mình vẫn còn , bởi không có lòng riêng nên không được thỏa lòng riêng "

Lão Tử
 
Khổng Tử cũng bảo " Thông minh thánh trí nên giữ bằng cách ngu độn ,công lao to hơn thiên hạ nên giữ bằng cách khiêm cung , sức khỏe hơn người nên giữ bằng cách nhút nhát "
 

Điều quan trọng là bạn phải sáng suốt dù đang là võ sinh , huấn luyện viên hay là một võ sư .Không nên tránh né , bàn cãi sâu về lý thuyết cũng như thực hành , kể cả giao đấu và biểu diễn , về bất cứ động tác kỹ thuật nào dù sở trường hay sở đoản , ý thức được điều đó bạn sẽ cố gắng , cố gắng không ngừng để đi đến thành công hoàn mỹ . Tiếp xúc thường xuyên với những đối thủ dị biệt . Kẻ thiên tài ngón này , người biệt tài đòn nọ . Học hỏi cái hay cái đẹp , nhanh nhẹn , trau dồi thêm cho chính mình . Học hỏi đường lối kỹ thuật của những môn võ thuật khác lần lượt từng cái một , không chấp thủ một định kiến nào , đã là định kiến thì khó chấp nhận dù là thiện hay bất thiện .
 
Ở miền Bắc nước Nhật có một ngôi đền thiền rất nổi tiếng vì chỉ nhận bất cứ những thiền sư nào miễn là ông ta phải thắng cuộc tranh luận về Thiền và Giáo lý Phật giáo với những thiền sư đang ở trong đó . Nếu bại , phải đi nơi khác . Có hai sư huynh đệ cùng đang sống trong ngôi đền . Sư huynh là người học rộng , thông minh nhưng sư đệ là người ngu đần , nóng nảy và chột mắt .
 
Một nhà sư lang thang đến hỏi xin ở trọ và thách thức họ tranh luận về giáo lý thượng thừa của Phật giáo .Hôm đó người sư huynh quá mệt mỏi bèn nhờ người sư đệ thay mình . Người sư huynh dặn dò :" Hãy yêu cầu một cuộc đối thoại im lặng " .
 
Rồi người sư lạ và người sư đệ đến ngồi trước bàn thờ Phật . Sau đó chẳng bao lâu nhà sư lang thang đến kiếm người sư huynh :" Sư đệ của anh thật kỳ diệu , uyên thâm . Anh ta đã đánh bại tôi ".
 
Sư huynh bảo : Hãy kể cho tôi nghe cuộc đối thoại ?
 
Nhà sư lang thang giải thích :" Vâng , đầu tiên , tôi giơ một ngón tay , tượng trưng cho đức Phật , một người đã giác ngộ . Anh ấy giơ lên hai ngón tay có ý nói không những đức Phật mà còn giáo lý của ngài nữa . Tôi giơ lên ba ngón tay , tiêu biểu cho " Tam Bảo " Phật , giáo lý của ngài và chư tăng theo ngài sống một cuộc đời hoàn hảo . Anh ta đưa nắm tay siết chặt đập vào mắt tôi , chứng tỏ rằng cả ba phát xuất từ một sự chứng ngộ . Thế là anh ấy đã thắng và tôi phải rời khỏi đây ". Nhà sư lang thang vội vã ra đi .
 
" Nhà sư đó đâu rồi ?" Sư đệ vừa chạy đến vừa hỏi
 
Sư huynh nói :" Tôi biết sư đệ đã thắng cuộc tranh luận "
 
Sư đệ đáp :" Không có thắng , tôi đã đánh hắn "
 
Sư huynh bảo :" Hãy nói cho tôi nghe đề tài và diễn tiến cuộc tranh luận "
 
Sư đệ trả lời :" Lúc hắn đưa lên một ngón tay , có ý lăng nhục em bằng cách ám chỉ rằng em chỉ có một mắt , vì hắn là người lạ , em nghĩ phải lịch sự một chút , em giơ lên hai ngón tay , khen ngợi hắn có đủ hai mắt , rồi hắn vẫn vô lễ giơ lên ba ngón , có ý bảo rằng em và hắn chỉ có ba con mắt . Em nổi khùng lên đánh hắn và hắn bỏ chạy không tranh luận nữa ".
Bạn gần không tới , Bạn xa chưa về
0
 
 
Khi nghe nói tới Karate người ta nghĩ ngay một môn võ mới xuất hiện chuyên sử dụng những đòn thế hiểm độc , chỉ được huấn luyện cho những đội cận vệ và những tổ chức tình báo đang bành trướng trên khắp thế giới . Quả thực đó là một môn võ tân tiến sử dụng những nguyên tắc tâm lý , vật lý , nghiên cứu một cách khoa học , có hệ thống hóa rất hoàn hảo . Trên thực tế Karate đã có từ lâu , hơn 2000 năm nay , khi chưa được hệ thống hóa , thời mà các nhà sư âm thầm lặng lẽ luyện tập trong các ngôi đền , chùa trong núi thẳm , luyện để trau dồi sức khỏe sau những giờ tham thiền , tụng kinh và cũng để chống lại thú dữ và nhất là thảo khấu , lục lâm chuyên cướp giựt ven rừng gốc bể .Mọi ngón nghề , kỹ thuật , quyền cước từ đó cho đến nay đã được biến đổi rất nhiều , không ai dám đoan chắc kỹ thuật ngày nay là hoàn hảo và độc đáo hơn xưa .Các nhà lãnh đạo các võ phái ngày nay cho rằng , nhờ sự hệ thống hóa cho phù hợp và các nguyên tắc khoa học được áp dụng triển khai một cách triệt để nên hoàn hảo hơn . Tuy nhiên , nhiều người cũng cho rằng , lời trên chỉ là lý thuyết , thực tế đã được cắt bỏ , giấu giếm , không cho phổ biến những đòn thế nguy hiểm , xét ra thường trực đe dọa tính mạng con người .
 
Chẳng hạn như bài quyền Tewaza ( hay phương pháp đánh tay ) . Bài quyền gồm gần hai trăm tư thế thuần túy , sử dụng hai bàn tay nhanh nhẹn , nhuần nhuyễn . Nguồn gốc từ một môn phái mà vị Chưởng môn là một võ sư cũng là một nhà sư Phật giáo , đạo đường mở ngay nơi ngôi chùa vị hòa thượng đang tu , thầy tôi võ sư Choji Suzuki là một trong số các cao đồ đã trải qua nhiều năm luyện tập .Không nhưcác bài quyền khác của huyền đai đẳng tập luyện , khi tập bài này tôi đã đạt đến một sự thích thú , ham mê và hăng say tột độ ,, đúng là một bài quyền rút tỉa từ những tinh hoa của Không Thủ Đạo ( Karate Do ) .Tất cả các kỹ thuật hình như đảo lộn khác với những kỹ thuật mà tôi thường tập , từ cách chào cho đến diễn tiến của những động tác , thủ pháp ,thân pháp , tấn pháp .Mỗi một động tác , đường nét là kết tinh của những ý niệm ,những hoài bão của tiên nhân . Mọi thế đều đưa đến sự ngạc nhiên thích thú , hào hứng , vừa uyển chuyển , mềm mại tựa hồ như liễu mềm dưới tuyết , có lúc lại cương mãnh như vũ bão cuồng phong . Nhưng cương mãnh không có nghĩa là căng thẳng , không căng thẳng nhưng cũng không khinh suất , tâm trí điềm tĩnh , cũng đừng để cho cơ thể vì buông lỏng mà chùng đi , giống như một sợi dây đàn , căng quá sẽ " đứt " , chùng quá sẽ " vô dụng " , nghĩa là tâm thân phải tự tại . Dĩ nhiên một bài quyền quý hóa và cao cấp như vậy không phải ai cũng được truyền dạy mà chỉ dành cho những môn đồ sắp được tấn phong làm Trưởng Tràng . Với lối đánh liên hoàn chống trả nhiều đối thủ được sắp đặt và soạn thảo từ trước , nếu quan niệm bài quyền chỉ là sự phối hợp tất cả các động tác mà thôi , bạn sẽ không bao giờ tiến xa , đào sâu vào võ thuật được , bài quyền là xương sống của thể xác , là linh hồn của tinh thần . Thiếu yếu tố đó bạn khó có thể chiếm thế thượng phong trong các trận thư hùng với nhiều đối thủ mà bạn thì đơn thân độc mã .Trải qua nhiều năm tháng tập luyện , bạn sẽ có đủ năng lực để tự do điều khiển thân mình .Đạt được trình độ này bạn sẽ dễ dàng hạ nhiều đối thủ . Trình độ sơ đẳng khi đi quyền , thường hoang mang lơ láo , đoạn nào nhớ đi nhanh , đoạn nào quên ngập ngừng hay dừng lại . Sau một thời gian dài tập luyện có thể đi đều đều như tiếng tích tắc của đồng hồ .Khi đạt đến trình độ cao hơn , hiểu rõ được nơi nào cần đánh nhanh và mạnh , nơi nào có thể chậm để có thể dễ dàng điều hợp hơi thở .Phần nhiều các môn sinh không được huấn luyện kỹ về sự điều hợp hơi thở trong bài quyền .Điều đó có thể nguy hại đến thể chất , ảnh hưởng đến tinh thần , ngoài sự cố gắng thái quá mà không biết tận dụng hết năng lực của tinh thần vì ý dẫn khí và khí dẫn lực .
 
Có phải chăng nỗi niềm ao ước lớn lao nhưng khó thực hiện của chúng ta là tu luyện thế nào để có thể tiến đến trình độ " phản ứng tự nhiên ", phải luôn luôn đề phòng mọi tình huống , mọi lúc đối phương có thể tấn công bằng mọi hướng , để rồi chuyển tiếp phản công bằng những đòn đã được huấn luyện một cách nhanh nhẹn .Miền Bắc Tokyo có một kiếm sư Nhật Bản , vang danh nhờ những thế phản công nhanh nhẹn và bản tánh điềm tĩnh . Một hôm có một kiếm khách xin vào diện kiến võ sư , sau những lời thăm hỏi , chén trà còn nóng hổi trên tay , kiếm khách thưa : Khắp miền Nam nước Nhật , tiếng đồn hiền huynh là một kiếm sư đã đạt được mức thượng thừa của kiếm pháp , ngoài ra còn truyền lại cho ba công tử cũng tài ba xuất chúng , xin hiền huynh cho bần đạo được hân hạnh diện kiến để thăm hỏi các công tử cho thỏa lòng mong ước .
 
" Thượng thừa kiếm pháp , tôi không dám nhận , hiền huynh đừng khách sáo , đã cùng trong giới giang hồ xin coi nhau như anh em ". Kiếm sư tiếp , sau khi hớp một ngụm trà " xin hiền huynh hãy dùng cạn tuần trà để bần đạo bảo các cháu ra phục hạ ". Nói xong kiếm sư đứng dậy khép hờ hai cánh cửa , một chậu hoa gần đó được gác lên ở phía trên . Một cái tên được gọi lên , tiếng dạ vang lên từ ngôi nhà bên cạnh , cánh cửa bỗng mở ra , chậu hoa rơi nhanh xuống trên đầu , lẹ như chớp , chàng lùi lại một bộ , rút trường kiếm đeo sau lưng quét hai đường nghe vun vút , chậu hoa chia làm bốn mảnh rơi loảng xoảng trên nền nhà , chàng tra kiếm vào bao cung kính chào khách và thân phụ , nét mặt điềm nhiên hòa nhã và khôi ngô . Kiếm khách vỗ tay trầm trò khen ngợi .
 
- Quả thật tiếng đồn không ngoa , nếu được hiền huynh cho diện kiến hai công tử còn lại , hân hạnh biết là bao ! Một cái tên khác được gọi lên ,lần này cánh cửa mở ra , cũng một chậu hoa khác đang rơi xuống , tay trái hoành lên đỡ , tay phải lẹ rút thanh trường kiếm ra nhưng quan sát không có gì nguy hiểm , chàng để chậu hoa xuống , tra kiếm vào bao nhanh nhẹn và gọn gàng , khuôn mặt tuấn tú cung kính chào khách và phụ thân . Kiếm khách lại càng trầm trồ khen ngợi hơn nữa .Tên cuối cùng được gọi lên . Cánh cửa bỗng mở toang .Hai cánh tay chàng đưa lên đỡ khi chậu hoa rơi xuống , rất thản nhiên rất bình tĩnh cặp mắt sắc bén đảo quanh một vòng , thanh trường kiếm vẫn nằm yên bên bộ áo quần nai nịt gọn gàng .Biết chỉ là một cuộc thử thách chàng để chậu hoa xuống cung kính chào khách và thân phụ ." Tuyệt diệu , tuyệt diệu . Hảo kiếm hảo kiếm . Tỉnh đến độ đó , đã đạt đến mức thựõng thừa , rất khâm phục danh bất hư truyền , cuộc diện kiến hôm nay thật nhiều duyên hạnh ngộ ". Nhìn phía công tử khách hỏi kiếm sư " huynh trưởng đây được bao nhiêu tuổi ?" . Kiếm sư đáp " Đừng khách sáo , hiền hữu nhìn qua chiêu thức biết được người anh kẻ em , nhãn kiến thật đáng khâm phục " .
 
Không riêng gì tại Nhật Bản , Trung Hoa hay Ấn Độ mà ngay tại Việt Nam , Đạo đường Linh Trường Không Thủ Đạo ( Suzucho Karate Do ) các đai đen vẫn thường tập với nhau theo lối đó , bất thần dù đang ăn , đang uống hay đang làm một công việc gì cũng phải đề phòng bất trắc , hoặc tay chân , hoặc dao , gậy có thể tấn công bất cứ lúc nào liền sau tiếng hét Kiai .Cũng chính vì điểm đó mà lôi cuốn được sự hăng say , thích thú trong tập luyện . Khách qua đường ắt phải ngạc nhiên , vì sao tiếng hét quái gở như chọc thủng màng tai đó chốc chốc lại vọng lên .
 
Tiếng Ki nghĩa là khí , Ai là hiệp , tiếng Kiai có nghĩa là sự hiệp khí . Cũng có thể hét lên để thị uy , áp đảo đối phương . Kiai làm tăng sức mạnh và tốc độ để cú đánh đúng lúc và hiệu quả , đó là sự liên hợp giữa tâm hồn và thể chất , giữa tinh thần và đòn phát ra qua tiếng hét Kiai . Tiếng hét biểu lộ năng lực của ta . Bắt đấu trận chiến ta thét lớn chừng nào hay chừng đó để áp đảo đối phương , làm cho đối phương rối loạn trong các đòn giả , đến khi ta tấn công thật thì ta hét nhỏ hơn và sâu hơn .
 
Trở lại một khía cạnh mà tôi đã đề cập : Võ thuật phát sinh từ khi con người biết tranh giành sự sống , phải tự vệ chống đỡ với muôn loài cầm thú , chống đỡ với thiên nhiên , tệ hại hơn nữa , thậm chí chống đỡ giữa người với người .Vào rừng kiếm cây hái trái ,cọp , trăn , rắn , rít và nhiều thú dữ khác có thể hại bất thần . Người ta nghĩ ra cách phải dùng khí giới , người sử dụng gậy dùi , kẻ cầm rìu dao búa ... v.v. về sau trở thành môn côn , kiếm đao thương ; từ đó phát sinh ra nhiều môn phái và truyền đến bây giờ .Sự dị biệt về kỹ thuật và những đòn thế , thoạt nhìn có vẻ khắc nghịch cũng từ đó mà phát sinh , tùy theo từng vùng từng miền khác biệt . Nơi đồng bằng lầy lội thường sử dụng tấn pháp vững vàng ít di động , những thế công trái lại mãnh liệt dữ dằn . Những miền rừng núi , tấn pháp di động , lẹ làng ,bay nhảy , nhào lộn . Đôi khi ngay tại võ đường , cùng một võ sư truyền dạy và những thế đòn như nhau , nhưng cũng theo thể chất và tánh tình mà môn sinh phát triển bất đồng .Người ốm nhỏ tong teo , họ sử dụng thân pháp lẹ làng bằng những bước nhảy vọt chớp nhoáng để tấn công bốn mặt .Còn những người mập mạp thấp , hầu như họ ít di động , bước tiến thoái ngắn ngủn , họ sẵn sàng tiếp nhận bằng cách đỡ gạt ,công với chính sự cương mãnh của bản thân , mặt đối mặt ,sức đối sức . " Những người nhỏ con phải thương thử sức với người to con , và những người to con cũng phải làm quen với những người nhỏ con . Dù kích thước thế nào cũng đừng để tinh thần của thân làm ảnh hưởng đến Tâm " . Phải thường xuyên tập luyện ngoài trời vì đó chính là những trận thư hùng thực sự .
 
Sugata-Sanshiro nghiên cứu và chuyên luyện thế nhào lộn của con mèo , trở thành vô địch .Yama-Guchi khi đang nằm đọc sách con chó xông xáo từ trong nhà chạy ra , con quạ đang đậu trên mái ngói đền thờ , hoảng hốt đập cánh bay lên .Một viên ngói vỡ hai . Một cái đập cánh của con chim có thể đánh vỡ viên ngói dày . Từ đó Yama-Guchi nghĩ rằng sức rẩy của hai bàn tay phải hơn gấp bội , ông chuyên luyện và bằng đầu năm ngón tay có thể xỉa lủng tấm giấy dày treo lơ lửng bằng sợi chỉ . Tất cả các thế đều được dựa , mô phỏng theo tư thế của loài cầm thú như tấn một chân con mèo rình chuột , thế của con hổ vồ mồi , tay gấu , sự rón rén của loài báo , rắn mổ và rất nhiều tư thế của chim muông như đại bàng , diều hâu bắt mồi v.v... từ những trận đấu đơn giản giữa hai người hay vài nhóm ,trở thành những trận đấu sống còn giữa các bộ lạc , các dân tộc ... dần dần biến thành một bộ môn nghệ thuật có tầm cao là võ thuật , và cũng đừng quên võ thuật là phương tiện để đi vào võ đạo .
 
 
Bạn gần không tới , Bạn xa chưa về
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-04-27 18:09:06grandet>
 
GIÓ VỀ TÙNG MÔN TRANG
 
Dâu bể thời gian khiến cho Phương Bối không còn như xưa nhưng Phương Bối vẫn nguyên sơ trên nẻo về của ý . Ngày nào tâm thức tôi còn phiêu dạt , còn hoang mang và mộng mị thì ngày đó tôi còn nuôi mơ ước trở về .

Khe Tào Khê đang vang lời kệ khoái hoạt :" Bồ đề bổn vô thọ - Minh kính diệc phi đài ..." Tào Khê , Phương Bối có khác gì nhau một chốn ước nguyền về quốc độ ...

Một lần cảm xúc tôi hỏi Thầy : Bao nhiêu năm xa quê thầy không nhớ nhà sao ? Thầy cười nhẹ nhàng như gió thoảng mà cũng làm lay động ngọn tơ trời Đâu la miên bát ngát : Nhà thầy có đâu mà nhớ !

Trong một chốc tôi thấy lòng mình nhẹ thênh thang theo nụ cười của Thầy ... Lưu lạc trên ba mươi năm nơi xứ người , tưởng ai cũng như mình , cũng nhớ cũng thương ... thường tình như đã .

Dạo đó , bên hiên chùa Pháp Vân ( còn gọi là chùa Lá ) những chiều mưa Sài Gòn dập dồn trên mái lá , nhìn qua màn mưa xa , tôi nhớ mẹ mình đang ở bên góc trời xứ Huế mà xao xác cả nỗi lòng ... Những câu thơ của Thầy về nhẹ như hương trầm tỏa thơm với bàn tay Quan Thế Âm Bồ Tát đang vỗ về :


Bảy năm
Trầm hương xa
Hình ảnh mẹ
Một sáng mùa thu lạnh nắng
...
Nhưng mẹ vẫn còn
Ôi thương yêu ngàn năm


Tôi đã từng quét lá trước sân chùa Diệu Đế hồi còn thơ ấu , đã từng thèm những giấc ngủ đầy trước thời kinh công phu sớm ... để khi trưởng thành , bằng sự tín giải của mình , tôi tìm đến sự dạy bảo của Thầy - người bổn sư mà hồi đó con chưa từng gặp mặt .Tôi đến với Tùng Môn Trang với đôi cánh cửa đã mở cho gió về thênh thang từ trăm phía , đến chỗ mà không ai chờ , ai đón , không ai giành , không ai đuổi ... bởi vì ở đó có gió rừng lạnh lẽo , và những đêm sương mù đẫm quyện trong trăng ,tựa như vô vàn đóa hoa mây trôi ngoài cửa thảo am ... Ngày nắng tràn qua thung lũng sửõi ấm những rặng thông già - những chiều mưa về như trăm ngàn dòng thác trắng .

Tùng Môn Trang là tên Thầy đặt cho một vườn đồi , nằm về phía Đông Nam - Đà Lạt , đó là hai ngọn đồi bát úp , như hình hai mẹ con nằm tĩnh lặng bên nhau , từ ngàn xưa cho đến bây giờ .

Mấy cây cổ tùng trên lối đi bọc quanh đồi và những rặng thông xanh lấp lánh muôn tia vàng tía , khi nắng gió bạt qua đồi ... mà ở đây thì tha hồ gió ... gió từ tám hướng bốn phương thổi về không có khi nào dứt ...

Những ngày nắng cuối thu cao nguyên , khi muôn hoa bắt đầu đượm hương với những đàn bướm , đàn ong , bay chập chờn mang mật hương thuần khiết , theo những đám mây bông nõn trắng bay qua đồi lơ lửng .Tùng Môn Trang như đang bay trong mây , thơm mùi hương của lan rừng và huệ trắng ... những lúc ấy tôi ngơ ngác tưởng như mình lạc đến một cảnh giới nào thật bình yên và thanh khiết hồn nhiên như trẻ thơ .

Đứng trên đồi nhìn về xuôi tôi không bao giờ thấy chán , những mệt mỏi lao tác cũng tan biến theo gió núi mây ngàn hay được hòa tan trong tiếng suối réo rắt như cung đàn bất tuyệt ...

Xa xa trong rừng thông xanh mướt , lúc ẩn lúc hiện một hai mái nhà , vài khu vườn uốn quanh bên những dòng suối nhỏ , những bờ khe với đá chồng lớn bé im lìm bên nhau .

Rất nhiều chim bay về đây gọi hót vang lừng trong nắng gió ... đủ loại như sáo đen mỏ vàng , sơn ca , hoàng yến , chốc màu , cả những bầy sẻ rập ràng . Chúng ríu rít gọi nhau rồi ca hót như vội níu lại những ngày xuân xanh qua mau ...Thỉnh thoảng bay qua đồi một đôi hạc mỏ đỏ , lông màu xám nhạt điểm trắng ... chúng đáp xuống đồi Tùng nhảy múa bên nhau , rồi lại bay tít mù về phía rừng xa , để lại dư âm của tiếng hạc ngàn lanh lảnh như hẹn sẽ quay về .

Trong đồi Tùng tôi đã quên nhiều thứ trong ký ức chập chờn mà trước kia dòng nước chảy lặng lẽ qua cầu đã mấy thời gian ,cũng không nhớ gì những bóng hình đã có lần thấp thoáng .

Nhắc đến quá khứ bi tráng mà số phận một dân tộc phải dũng cảm gánh chịu , để hôm nay chúng ta còn lại , phải ngồi gần và thương yêu nhau nhiều hơn nữa .Biết bao nhiêu anh hùng vô danh cũng như nhiều dân lành vô tội phải vĩnh viễn nằm xuống cho quê hương này và ..." Nguồn sử xanh âm thầm vẫn sống - bao mối thương vang động trong lòng ..."

Hùng , người em kế của tôi năm ấy mới vừa mười bảy tuổi , trong một chiều xuân năm Mậu Thân tại thành phố Huế đã bùi ngùi cầm tay mẹ mà không kịp nói lời từ ly ...với cái mũ tai bèo đội lệch trên đầu , em cùng một số thanh thiếu niên cùng lứa đã ra đi và em cũng như phần lớn trong số họ đã không bao giờ trở về ...Còn tôi đã đến nương náu dưới mái chùa Pháp Vân ; hồi đó như thế là chạy trốn , bởi theo suy nghĩ thường tình thì không thể bơi mãi giữa dòng sông , hoặc phải tấp bên này hay bên kia mà thôi !

Dạo đó cả hai miền Nam - Bắc Việt Nam đắm chìm trong khói lửa , chiến tranh , mỗi ngày qua đều có hàng trăm , thậm chí hàng ngàn người chết , bị thương , tàn tật , đói khổ , và mất mát nhà cửa ruộng vườn ...thành phố , thị trấn cũng không còn yên ổn .

Mỗi sáng mọi người ra đường nhìn nhau bàng hoàng ngơ ngác , đi đâu cũng nhìn thấy quan tài và nghe não nề tiếng khóc ... Một dân tộc chịu đựng chiến tranh suốt gần cả thế kỷ 20 ,không nhà nào là còn nguyên vẹn cả người lẫn của . Tính ra số người chết , bị thương cũng gần cả chục triệu , chỉ riêng chết đói cũng đã trên hai triệu người . Vì lẽ đó nhân dân Việt Nam yêu hòa bình biết bao , yêu hơn chính bản thân của họ .Họ chắt chiu những năm tháng bình yên tạm thời để gầy dựng cơ nghiệp , nuôi dạy con cháu để rồi lại đau đớn trước mất mát và ly biệt .

Làng Thanh Lam Bồ nơi chôn nhau cắt rốn của tôi nằm thanh bình bên dòng sông Bạch Yến thơ mộng , phía tây là núi Truồi và xa hơn là rặng Bạch Mã xanh thẫm , qua đồi cát tới biển Đông không xa , để ngày đêm có thể nghe được tiếng rì rào sóng vỗ ... Chỉ sau vài ngày giao chiến giữa hai bên , làng chỉ còn lại cánh đồng khô khốc và những vòm cây cháy khét bởi đạn bom ... Năm đó tôi đang trọ học ở Huế và phải mấy chục năm sau mới có dịp về thăm chốn cũ .

Chiến tranh đã chôn sâu những ngày hoa niên xa xăm , mà mỗi khi nhớ lại tôi không khỏi bùi ngùi .

Đó là những ngày nghỉ học mùa hè lang thang trên mấy đồi cát đầy sim dại để đuổi thỏ ,tìm chim , bơi lội hàng giờ trên dòng sông Bạch Yến đến teo cả mấy ngón tay và môi tái tím . Đâu đây tiếng kêu hời của mẹ vọng qua mấy khóm tre đầu xóm , để về kịp ăn những bát cơm nóng hổi đầu mùa với nồi cá bống thệ kho .

Tháng ngày học ở Huế vào những năm cuối 50 , tôi nhớ mãi thành phố đẹp lạ lùng trong những mùa trăng cũ , qua cầu Trường Tiền về đêm vắng người ghe vờn gió hút , trên sông trăng vẳng tiếng hò mái nhì đẩy đưa . Sông như lụa trải , sóng vỗ bờ là muôn lời tình tự thủy chung . Thành nội , Kim Long , Vĩ Dạ ... , từng khu vườn nhà nhỏ im lìm , mà sau mỗi cánh cổng , từng gốc cây ,cội hoa là mỗi gia đình người dân cố cựu , với những cuộc đời đầy thẳm sâu trắc ẩn .Thấp thoáng tà áo ai trong vườn khuya thơm nhẹ hoa quỳnh , hoa xoan , là chút hương quyến luyến của những cuộc tình khi tĩnh lặng khi ba đào như dòng sông giữa hai bờ sinh mệnh .

Nhớ những ngày lụt lội rét mướt với một túi quần đầy ngô rang , hoặc củ sắn nóng ăn nhín để nghe cái lạnh tê trên đầu cánh mũi .Che chung trong áo mưa cùng người bạn khác phái lúc tan trường về , để biết hương con gái lần đầu tiên trong cuộc đời .

Những đêm đông ở Huế nghe tiếng rao quà buồn khuya khoắt , tiếng khóc thảm vườn bên của nhà hàng xóm khi nhận xác đứa con trai độc nhất vừa tử trận . Nến đỏ lung linh và mùi dạ lý hương thoảng bay như lời cầu nguyện cho những hồn ma oan khiên . Tiếng kinh cầu siêu trong đêm như vỗ về người chết và cho kẻ sống còn lại , nghĩ đến một ngày vĩnh biệt cuộc đời , thoắt cứng đơ vô tri như cây khô , không biết mình đã làm gì ? Để lại gì ? Sống như thế nào trong cuộc đời phù du mới vừa qua .

Tuổi trẻ của chúng tôi trong chiến tranh là những ngày vui chơi chốc lát , khi đêm về giấc ngủ là những cơn ác mộng chập chùng hình ảnh những cái chết oan uổng , lạnh lẽo và tăm tối .

Đó là những ngày cùng bạn bè mấy đứa , ngồi im suốt chiều , suốt đêm , bên ly cà phê ở Lạc Sơn , Phấn , Chị Lợi , Cô Ba ... Những ước mơ thanh xuân tan tành bay theo tà áo nữ sinh , để rồi thấy mình là chiếc lá sắp rơi , trôi dạt hờ hững bên hè phố cũ . Huế những ngày nắng lửa và mưa dầm âm thầm trôi theo tiếng nhạc phôi phai , những tình khúc mà một nửa là trăn trở điêu linh đời người , nửa kia là lời van nài khóc thương cầu xin tình yêu trở lại , mong manh như khói thuốc cho những cuộc tình xa không bao giờ hội hợp , dù chỉ để làm điêu tàn thêm đời mình .

Những ngày làm người lớn đầy : " rượu đỏ mưa men trên hè phố quê nhà " , những đêm về trong con đò trụy lạc dòng Hương , để xót thương mình và thân phận những cô gái quê nghèo , từ các vùng chiến nạn ở Đông Hà , Quảng Trị , Phú Lộc , Phong Điền ... trôi dạt về đây . Họ sống qua ngày qua đêm với son phấn rẻ tiền và mùi tanh của chăn gối để đổi lấy đồng tiền cũng tanh tao dơ bẩn . Trên các "bến Tầm Dương " dọc dòng sông thơ mộng này vừa vẳng nghe tiếng thơ não lòng của Thúc Gịa vừa nghe rền tiếng đại bác vọng về giữa khung trời đổ nát dưới ánh hỏa châu .Bạn bè vơi dần , một số lên rừng theo Giair phóng , một số đi lính Cộng hòa , mười đứa chết hết chín . Có đứa chết chưa biết mùi yêu đương là gì , chưa từng viết và nhận hồi âm những lá thư tình học trò , có chăng chỉ là những lần yêu thầm nhớ trộm .

Khe Sanh , Gio Linh , Thạch Hãn , Tây Nam Huế là những "chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh " . Đạn pháo , bom rơi như mưa dồn sóng vỗ , tiếng xích nghiến của xe tăng , âm thanh của từng đàn máy bay phản lực , trực thăng . Từng làng xóm biến mất trên bản đồ và thực địa , từng cánh rừng xanh run rẩy dưới những lớp mây mù hóa chất và bom lửa ... Thành phố , thị xã nép mình bé nhỏ trong từng đợt pháo kích .

Chỉ trong một thời gian ngắn mà trong một khu phố nhỏ cũng đã có năm bảy đứa bạn chết trận . Nhớ ngày cùng bác Hụi mẹ thằng Mực râu vào đồn Mang Cá , đến nhà vĩnh biệt để nhận xác hắn về . Cái xác rách bươm không còn nguyên vẹn , người mẹ vật vã đòi nhìn mặt con . Trong kia mấy người lính chung sự như những hồn ma mặc áo ka ki vật vờ qua lại giữa đám xác người sắp lớp , mùi cồn , mùi rượu trắng , hương , nến quyện với mùi tử khí hôi hám . Địa ngục đây rồi !

Những ngày theo phong trào biểu tình phản chiến đòi độc lập ,chống đối để rồi bị bắt vào tù , bắt đi lính hoặc trốn chui nhủi lạc loài từ phố nọ qua phường kia .

Đô Thành Sài Gòn cũng lấp ló bóng dáng chiến tranh với những lô cốt bao cát , kẽm gai , quân cảnh , cảnh sát và lính ngoại quốc nhan nhản . Những đoàn xe nhà binh qua lại đầy ắp lính tráng , sinh viên học sinh cũng tham gia biểu tình để ngửi mùi lựu đạn cay , dùi cui , rồi bố ráp bắt bớ đêm ngày .

Thỉnh thoảng một vài tiếng nổ kinh hồn , những cao ốc cháy đen đổ nát , kẻ chết người bị thương , thành phố không lúc nào bình yên .Đêm về trong ánh đèn màu của hộp đêm , vũ trường vẫn tưng bừng vui chơi , nơi tìm quên dành cho những người giàu có vốn sẵn lạnh lùng với nỗi đau chung .

Nhưng vẫn còn đó một Sài Gòn đầy sức sống ,giản dị , kham nhẫn và rộng lòng với tình đồng bào ruột thịt . Những buổi sáng mờ sương , ngồi trong quán ven hương lộ , nghe tiếng lách cách của xe thổ mộ , nhâm nhi ly cà phê bốc khói cùng dì Năm , bác Hai , chú Tư , anh Bảy ... những người dân lao động Nam bộ . Ngồi nghe họ nói , họ kể , đủ chuyện về thời sự , đời sống gia đình , tình làng nghĩa xóm , tôi học được bao nhiêu điều từ những người vô danh ấy . Ở họ toát ra sự thuần phác không mảy may lừa lọc , gian dối . Thỉnh thoảng bác Hai , người đại diện cả nhóm luôn chào hỏi tôi một câu thường lệ : Thầy Hai ơi ngoài "trào Huế" độ rày có yên không ? Trong tâm thức của họ từ bao giờ Huế là nơi của triều đình , có vua chúa , mà tổ tiên xa xưa của họ cũng xuất thân từ đấy và đã theo các chúa vào đây dựng nghiệp , trào Huế là xứ Huế , cố kinh một thuở của tổ tiên họ - những lưu dân , những anh hùng nông dân khao khát chân trời bao la , tay kiếm tay cày đi về phương Nam mở cõi .

Từ chùa Pháp Vân , chúng tôi cùng san sẻ với họ những nỗi lo trong đời thường , một lớp học cho người mù chữ , dạy nghề cho trẻ em , người lớn , những buổi đào giếng , khơi ao , đắp đường , khám bệnh , phát thuốc ... Chúng tôi sống hòa trong cảnh đời thiếu thốn , bệnh tật của họ để cùng khơi nguồn lực tiềm tàng của mọi người - biết vươn lên từ khổ đau mà không trông chờ và ỷ lại . Chúng tôi tìm đến những đồng bào nghèo và bất hạnh của mình không phải bằng những món quà từ thiện , mà học hỏi và cộng tác bằng cả tấm lòng của hiểu biết và thương yêu .

Bạn gần không tới , Bạn xa chưa về
0
 
 
Tùng Môn Trang ! Tháng ngày trong cửa Tùng là những ngày tôi xách nước từ suối nọ lên đồi kia , tưới tẩm cho từng luống su , cà rốt , rau cải , chăm nom mấy chục gốc hồng , bơ trên vườn đồi .
 
Ở đây tôi có người bạn nhỏ năm ấy vừa tròn mười sáu tuổi . Giải Lập , tên em , xuất gia từ năm lên sáu ở Bình Định , rồi theo thầy vào đây . Tôi và em gặp nhau cùng ở chùa LP tại Trại Mát .Chùa nghèo lắm , cơm ngày hai bữa , thức ăn là sú , khoai , tương , mè ... bổn đạo chung quanh phần lớn là dân làm vườn từ Huế , Quảng Nam , Quảng Ngãi trôi giạt vào đây từ những năm đầu bốn mươi . Họ cũng đầu tắt mặt tối , lam lũ suốt ngày trên những mảnh vườn xanh , nhưng những việc đầu tiên cần làm khi vừa đến đất mới lập nghiệp là nghĩ ngay đến việc dựng chùa , xây tháp , đúc chuông , đắp tượng ... Những danh lam ở vùng cao này hầu hết đều từ thiện tâm của những lưu dân , đó là những thầy tu núi , đem pháp Phật đến vùng cao xa - quanh năm chỉ có sương mù và giá lạnh .
 
Mấy tháng đầu từ chùa LP , hàng ngày tôi cùng Giải Lập mang cào , cuốc , xô , thùng đến Tùng Môn Trang để làm vườn đến chiều tối mới về . Sau đó chúng tôi được mấy người thợ cưa xẻ biếu không một số gỗ thông bìa . Thảo am trên đồi Tùng được dựng lên từ đống gỗ bìa đó , nom xa xa nó giống như một cái chòi của dân sơn tràng, lại gần tự như một u cốc của người ẩn cư , nép bên mấy cội tùng già .
 
Thế mà thảo am này lại là nơi gặp gỡ , đón đưa vô vàn tín hữu : dân trong vùng ,đồng bào dân tộc bản địa dừng chân uống nước , chuyện trò . Ngoài ra khách của u cốc còn là chim ,sóc , nắng vàng , mây mù , trăng đêm , sương khuya ... Kẻ đến người đi ai cũng đều mến nể Giải Lập , một Sa di thuần hậu - xách nước tưới rau hàng trăm chuyến và cuốc đất , chẻ củi suốt ngày .Đôi chân và hai cánh tay em vẫn dẻo dai như gỗ lim và đôi mắt tươi sáng dịu dàng , nhìn ai như thấu hiểu cả tâm tư .
 
Giải Lập là thiện tri thức , là đạo sư của tôi trong những ngày "hành thiền lãng lí " .Ở đây em là trụ trì của thảo am và tôi là điệu nhỏ , còn nhiều chúng điệu khác vây quanh như là chim , sóc , gió mây ... chúng đến rồi đi - đi rồi về , tự tại dễ thương vô cùng .
 
Lòng chưa nguôi nỗi nhớ bình nguyên, hướng mắt nhìn trầm ngâm về xuôi của tôi nói lên điều đó ! Em vừa làm việc vừa nói pháp cho tôi nghe : " Mỗi nhát cuốc , mỗi bước chân đi xách nước từ suối lên đồi , mỗi lần tưới rau , nhặt cỏ ... sư huynh đừng quên niệm Phật " .
 
"Bởi vì thành tâm niệm Phật là niệm tâm mình , niệm niệm tương tục để Tâm tịnh - Tâm tịnh thì cõi xứ cũng thanh tịnh. An trú trong chánh niệm để khởi phát từ , bi , hỷ , xả !Tất cả hiện hữu là diệu hữu .
 
Đạo Phật là đạo sống , sư huynh đừng mê chấp theo giáo nghĩa kinh luân khi chưa khởi niệm từ bi . Cố gắng tu tập như vậy thì dù không có thầy dạy bảo vẫn như có thầy bên cạnh mình mà thôi ..."
 
Lắng lòng theo em , tôi niệm Phật suốt những giờ lao động trên đồi Tùng , và thỉnh thoảng nhớ nhung màu xanh của quê xưa đã thăm thẳm dặm về - cửa Tùng đôi cánh mở thênh thang không bao giờ vắng gió . Một hôm tôi thú thật lòng mình với Giải Lập về nỗi nhớ mẹ và các em còn nhỏ ở quê nhà , đọc mấy câu thơ trong bài :"Thương về xứ Huế " của HNC , tha thiết , gần gũi với tôi vô cùng trong lúc đó ...
 

Quê người áo rách hồn xơ xác
Sương khói chiều hôm xuống bạc lòng
Nhớ mẹ già thương bông súng rụng
Tội em chim nhỏ nắng vườn không!
 

Rồi thơ của thầy :
 

Mẹ và em còn đó
Gió chiều như hơi thở
Mơ gì một mảnh tương lai xa xăm ...
 

Giải Lập lặng lẽ nghe tôi , em ngồi xuống bên cội Tùng rồi đọc cho tôi nghe mấy câu thơ nhớ mẹ mà em mới làm hôm trước :
 

Mỗi khi con nhớ - con buồn - con biết kêu ai ?
Con niệm Quan Thế Âm là thấy bóng mẹ về
Vẫn nụ cười hiền như bao năm trước
Như giọt sương trong trên đóa sen hồng
.
 
Chúng tôi đồng niệm danh hiệu Ngài . Lòng tôi nguôi ngoai nhớ nhung trong khi quán tưởng hình ảnh đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn của Bồ Tát Quan Thế Âm . Mẹ tôi ở góc trời xa kia chắc lúc đó cũng nhớ tới đứa con lưu lạc và đang niệm cầu Bồ Tát , dể diệu âm này vang trên đồi Tùng , làm tỉnh thức cả rừng thông, thác suối , chim muông , thú rừng , cỏ hoa , đá sỏi ... Tùng Môn Trang như nhẹ trong đám mây hào quang được tưới mát bằng tịnh thủy trong Cam lồ bình , để tôi và mọi loài đều phát tâm từ bi an lạc . Giải Lập như một thị giả đang thay mặt Ngài để nói pháp Phổ Môn , cánh cửa rộng mở cho muôn loài của Diệu Pháp Liên Hoa .
 
 
Hai mươi bảy năm sau tôi trở lại Tùng Môn Trang , vườn đồi vẫn còn đó với những rặng thông trên lối đi , nhưng mấy cây cổ tùng không còn nữa .
 
Vườn đã được ai đó chăm sóc trật tự theo cung cách riêng của họ , đất của chùa từ mấy mươi năm trước nay đã không còn .Dân gian ta thường phổ biến câu nói chơi :" ... của chùa mà !" , có nghĩa là ai lấy và giữ riêng cho mình những của cải , tài sản , không do tự mình làm ra thì được gọi là :" Của chùa " , không sợ bị đòi và trả lại .
 
Ăn cơm chùa , ngủ trọ chùa - miễn phí , lấy của chùa giống như nhặt của rơi , chùa là nhà ở của tâm nên cái gì thuộc về chùa là có thể lấy và thụ hưởng một cách vô tư ! Thật vậy sao ?
 
Mẹ tôi ngày xưa thường nhắc nhở ... " Con đã từng sống trên đất Già Lam , từng bưng bát cơm của tín thí hiến tặng để sống , thì phải nhớ lấy nhằm có ngày đền đáp cái công ơn lớn lao đó . Nếu không nghĩ đến chuyện trả đền ơn nghĩa đó thì tội lỗi không lường được . Chết phải trầm luân trong địa ngục !"
 
Những lời răn của mẹ tôi giản dị với ý nghĩa : " Trong cuộc đời đã có vay thì có trả , có cho thì được nhận , đó là luật nhân quả , làm ác thì gặp ác , ở hiền thì gặp lành "" . Đạo lý đối nhân xử thế cơ bản và thật thà như vậy nhưng mấy ai nhớ , chuyện phủi phẩy ơn nghĩa , ỷ mạnh và thế quyền ,tiền bạc để hiếp đáp ,áp bức và chiếm đoạt của cải của người khác đầy dẫy khắp nơi . Một miếng đất thừa tự chung , anh em , bà con tranh dành gây ra án mạng cũng đã nhiều . Một lối đi riêng , bức tường , mái nhà cơi nới cũng dễ xảy ra đổ máu . Cho vay nặng lãi , đòi nợ , khích bác nhau qua chén rượu , bữa cỗ cũng dùng đao to mã tấu để lấy máu của nhau mới hả .
 
Những sinh linh gần gũi với chúng ta trong cuộc sống hàng ngày khắp nơi cũng bị tận diệt , chó , mèo , rắn , ếch , rùa , chim ... được biến thành món ăn . Chúng không được phép sống , chúng phải chết cho lòng tham vô hạn và cũng để thỏa mãn các nhu cầu bệnh hoạn , phè phỡn của một số người . Cỏ cây cũng như thác suối bị chặt phá , đào xới , không tuyên bố mà tận diệt , đó là chủ nghĩa "khủng bố sinh thái " , làm biến mất những gì tươi xanh trên mặt đất . Không còn tiếng ếch trong đêm , thành phố và kể cả nông thôn không còn tiếng chim , một mai sau con cháu của chúng ta lớn lên sẽ suy nghĩ như thế nào ? Chúng sẽ sống trơ trọi trong mù đui của tâm thức , khi môi trường sống trên hành tinh thân thiết này chỉ còn tóm gọn trong một thông điệp đau buồn mà chúng ta đã gởi cho tương lai " hãy hủy diệt loại trừ trước khi tự diệt ".
 
Trong cuộc sống hiện nay hầu như khắp nơi trên thế giới , nền tảng giáo dục cho thế hệ trẻ quá hướng đến chuyên môn phiến diện , mà bỏ mất hoặc thiếu sót trong việc giáo dục làm người . Hệ quả tất yếu là các em nhỏ lớn lên thường quan tâm đến những điều kiện để hưởng thụ cuộc sống , mê say lợi lộc , thỏa mãn sở thích và những thuận tiện vật chất cho cá nhân mình .
 
Từ cái "Ngã" nhỏ nhoi này để "quy ngã" họ quên đi hạnh phúc đời sống là sự hài hòa thể nhập trong cộng đồng với tình thương , nỗ lực giúp đỡ nhau trong cuộc cộng sinh hữu hạn . Đạo Phật dạy cho chúng ta biết mọi sự vật đều là vô thường , không có một hiện hữu bất biến , mà có mặt trong mối liên hệ và phụ thuộc vào nhau .Cái "ngã" mà chúng ta cố chấp cho là thật cũng vậy , nó không thật có , không có cái gì gọi là có một ngã .Do chấp ngã mà ta bị dao động bởi những thay đổi , đau khổ trước mất mát ,mông muội trong suy nghĩ và việc làm , sống trong ảo ảnh lầm lạc .
 
Chúng ta đang sống trong hoang mang về nhiều nỗi lo âu và sợ hãi ngay chính xác thân của ta và cả người thân ruột của ta cũng vậy , chỉ là những ngọn đèn lay lắt trước gió . Một luồng gió độc , một lần ngã xe , một cơn ác bệnh không hẹn mà đến .Chưa kể những hiểm nạn tai ương khác . Cái chết không báo trước mà tử thần luôn rình dập trên đường ma lối quỷ . Ngày X giờ G đó tới bất cứ lúc nào nếu tâm thức ta còn mù mịt , mê đắm ảo tưởng , mang theo từ cuộc đời phù du vừa qua . Thương thay , chúng ta mang theo cái "ngã" với nhiều thứ : ác độc , tham lam , sân hận , nuối tiếc ... trong cả mớ hành trang đó không có món nào dùng được trong "địa ngục" , bởi địa ngục đã tràn lan và sẽ biếu không những thứ đó .
 
Hiểu lẽ "vô thường" , thấy được "vô ngã" thì chính mình sẽ nhận thức được sự tương tác , mối liên hệ qua lại giữa mọi loài , để khởi chánh niệm từ bi . Ta sẽ nhìn mọi vật , mọi hiện tượng xảy ra với cái Tâm an lạc , bao dung , hiểu biết và thương yêu , đó là "niết bàn tịch tịnh " của Tâm ngay trong đời sống này
 
 
Bạn gần không tới , Bạn xa chưa về
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-05-01 11:10:44grandet>
 
Tôi viết những dòng chữ này khi vụ tấn công của bọn khủng bố bằng cách cướp máy bay dân sự lao vào tòa tháp đôi làm gần ba ngàn người dân thường thiệt mạng .Cuộc chiến tranh chống khủng bố tại A Phú Hãn ( Afghanistan ) đang tiếp diễn , đã quá nhiều dân thường vô tội tiếp tục bị giết , mất của cải , nhà cửa , rời bỏ quê hương khắp nơi trên thế giới , từ châu Phi đến Châu Âu và nay là vùng Trung Á .Tất cả các cuộc chiến tranh , thảm sát sắc tộc , các vụ khủng bố đều xuất phát từ nguyên nhân là lòng tham và vị kỷ , lừa lọc , cướp bóc và làm hại kẻ khác cho hạnh phúc riêng tư của mình . Thậm chí người tôn giáo này xem tôn giáo khác là tà giáo , ngoại đạo , giết đi là không có tội . Đó là biểu thị của hận thù , sân hận và không hiểu biết .

Những nền văn minh phương Tây , phương Đông vốn tồn tại trên mấy ngàn năm , nay có nhiều người nhân danh điều này điều khác để phủ nhận giá trị của nhau . Ngã chấp và tà kiến nặng nề ,để biến cảnh máu chảy đầu rơi của đồng loại thành những cuộc thập tự chinh hay những cuộc chiến tranh thần thánh nhân danh giáo chủ , đấng sáng thế . Những kẻ rắp tâm tạo chiến tranh để gieo rắc nỗi kinh hoàng khắp nơi là những ác quỷ đội lốt người . Họ chấp chứa lòng tham , kiêu mạn và ngã chấp để chống đối nhau , biến cuộc sống chúng ta thành địa ngục và địa ngục đang có thật trên trần thế .

Những vụ khủng bố giết người hàng loạt mà đa số nạn nhân là dân lành vô tội diễn ra khắp nơi và " những hành vi khủng bố không xảy ra một cách bột phát , không xuất phát từ những trạng thái tuyệt vọng . Trái lại đó là những hành động tỉnh táo cuối cùng của những kẻ cuồng tín " như một nhà báo Đức đã nhận định . Động cơ thúc đẩy để họ có những hành động hủy diệt là lòng thù hận khôn nguôi với một niềm tin tôn giáo mù quáng . Tệ hại hơn đã lan tràn nhiều nơi , mục tiêu của họ không chỉ đấu tranh cho một lãnh thổ hay một sắc tộc , mà tranh đấu cho sự bành trướng của tôn giáo mình tràn khắp thế giới chống lại những chế độ tôn giáo khác bị cho là ngoại đạo . Khi anh đã không tôn trọng tôn giáo khác làm sao người ta sẽ tôn trọng tôn giáo anh ?

" Gieo gió thì gặt bão " . oán hận chồng chất với "Máu kêu trả máu , đầu van trả đầu " thì biết bao giờ hết cảnh đầu rơi máu chảy !

Tôi đã đến New York , đã dừng chân cúi đầu trước khu tưởng niệm những người xấu số bỏ mạng tại Trung Tâm Thương Mại Thế Giới , ở đó có nhiều hoa , nến , hình ảnh và những lời ghi , tờ rơi tìm kiếm người thân mất tích .Tại đây tôi đọc được một đoạn viết cho người yêu đã tử nạn của một chàng trai vô danh :" Anh không còn em nữa để từ đây anh phải tập sống yêu thương với mọi người ".

Tôi nhớ lại ở Bamiyan miền Trung A Phú Hãn trong một thung lũng nằm giữa núi cao có hai pho tượng Phật khổng lồ cao 55 và 34;5m . Đây là hai pho tượng có từ thời Phật giáo đã phát triển rực rỡ ở đây từ thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên , là trung tâm Phật giáo một thời của vùng Tây Bắc tiểu lục địa Ấn Hồi từ buổi hoàng hôn của Đế Quốc La Mã . Hai pho tượng Phật hiện thân của quá khứ và vị lai đã được khắc chạm trên một bức tường núi đá . Đời này qua đời nọ được bồi đắp bởi tín đồ Phật tử khắp nơi qua lại trên con đường nối liền Đông và Tây từ thuở xa xưa .

Ngài Huyền Trang trên đường đi hành hương từ Trung Hoa đến thánh địa của Phật giáo ở Ấn Độ , cũng đã từng chiêm bái hai tượng Phật ở Bamiyan này vào năm 632 .Đây là hai pho tượng Phật lớn nhất thế giới và là di sản văn hóa vô giá của cả loài người . Năm 1997 quân Taliban nã pháo vào tượng , làm cho mất đầu và tay , vào tháng 3 và tháng 4- 2001 họ lại cho nổ mìn phá tan luôn di sản này một cách không thương tiếc trong suốt 20 ngày , vì họ cho đó là biểu tượng của dị giáo .Hành động kế tiếp sau đó , không mấy ai biết và cũng không ai nghĩ và lường được của chính quyền Taliban là đã hủy diệt hai ngàn năm trăm cổ vật quý giá của bảo tàng viện Kabul .

Mới đây tại Trung Hoa người ta đang tôn tạo lại hai pho tượng Phật trên , tuy chỉ cao bằng nửa so với hai tượng cũ nhưng cũng được chạm khắc vào núi đá tại tỉnh Tứ Xuyên . Ở Thụy Sĩ đã bắt đầu một cuộc quyên góp để phục hồi hai tượng Phật lớn nhất thế giới này ngay tại thung lũng nơi có bức tường đá chạm khắc nổi hai bức tượng này để vĩnh viễn nhìn xuống con đường tơ lụa xuyên Á . Cuộc vận động do Viện Afghanistan , Bảo tàng Zurich , cùng đạo diễn nổi tiếng Bernard Werber khởi xướng và đã được nhiều người khắp nơi hưởng ứng . Nhiều nhà sử học và các ngành khoa học khác sẵn sàng đến tại Bamiyan , để cùng các công nhân Afghanistan phục hồi hai tượng Phật này .Từ các sự kiện đập phá và xây dựng tái tạo trên để chúng ta có niềm tin tuyệt đối rằng : Ngày nào các dân tộc trên hành tinh này còn gây chiến tranh do thù hận , tranh chấp , đố kỵ lẫn nhau , thì Đạo Phật vẫn còn mãi rộng mở nẻo về chân tâm với từ bi- hỷ xả .Một tượng Phật mất đi thì sẽ có hàng ngàn tượng khác được dựng lên trong lòng mọi người , ngày càng có nhiều người từ mọi giới đến với đạo Phật , giáo nghĩa Phật dạy sẽ trổ cơn mưa pháp tưới mát muôn loài , làm tiêu tan cái nắng thiêu cháy của tham sân đang bừng đốt .

Ngày xưa tôi đi cầu đạo trên bước chân "hành thiền lãng lí " , tôi đến Tùng Môn Trang với hành trang là lòng sám hối những tội chướng cũ và lòng day dứt khôn nguôi về những phiền não đầy ắp trong cuộc đời . Bảy món tình cảm của trần gian như lúc nào cũng trói buộc tôi trong bất cứ hoàn cảnh nào . Tâm khởi tràn đầy tạp niệm mà mong cầu đạo cao , cái chỗ kiến văn tri giác mình tưởng đủ đầy , té ra chỉ là một hạt gạo mốc hư , cái tâm bay nhảy lung tung như chim chóc trên cành . Bậc đạo sư tôn túc thì vắng bóng , lấy ai chỉ điểm cho những nỗi nghi tình , những giáo thuyết trong Tam Tạng kinh điển thì có đcọ đấy nhưng mù mờ như người đi đêm , không biết làm sao để an tâm tự tại . Nghe , đọc thì dễ mà hóa ra quá khó , đường đạo trông thì gần mà cũng xa diệu vợi như tít tắp ngày về .

Đem cái sở học nhỏ bé ngã mạn của mình không biết nối với ai , trong thảo am trên đồi Tùng tôi giãi bày cho Giải Lập những hiểu biết của mình về đạo mà không biết là tà kiến , vọng ngôn .

Mỗi lần như vậy bằng đôi mắt trong sáng em nhìn tôi , cái nhìn đầy xót thương lân mẫn . Em nghe tôi nói như nghe tiếng gió lang thang trên đồi Tùng , không biết từ phương nào gió đến là rồi phương nào gió sẽ đi . Lặng lẽ em đứng dậy thắp một nén nhang thành kính lễ Phật , mỗi lần như vậy lòng tôi tỉnh táo như vừa ra khỏi cơn mơ , bắt đầu có chút ít tâm lực , nhờ đó mà lấy lại được cái khí lực đã tiêu vong . Hóa ra từ lâu tôi chỉ là một cái xác vô hồn , phiêu dạt trăm bến nghìn bờ mà cứ tưởng mình là đạo sĩ đang vân du độ thế .

" Trong thời mạt Pháp kẻ mặc áo Như Lai ngồi tòa như Như Lai , nói pháp Như Lai có thể không phải là Như Lai mà là ma quỷ . Người chứng đạo không chỉ là tu sĩ mà là cư sĩ , không phải đàn ông mà là đàn bà " . Tính bình đẳng và không chấp vào hình tướng giả tạm vô thường của đạo Phật trong đoạn văn trên đã như nhắc nhở người Phật tử khắp nơi , phải tinh cần tu tập bằng cái tâm của chính mình . Thời nay không riêng chỉ giới cư sĩ mà nhiều tu sĩ cũng phạm giới tà dâm , vọng ngữ , tham lam cố chấp . Trong hoàn cảnh thuận lợi để tu tập , nhiều người sinh ra kiêu căng coi thường giới luật , ngày càng chìm trong ngã chấp đến nỗi không thể hài hòa với đồng môn , đồng sự , họ không thể tìm thấy bình yên bởi phân biệt và đố kỵ .

Hãy là thiện tri thức trong mối tương quan đồng đạo hàng ngày , bởi vì tu là sửa mình , là dọn mình để an trú trong chân tâm . Nếu là Phật tử tại gia , hãy cố gắng hạn chế càng nhiều càng tốt cho đến khi tiêu trừ đoạn tuyệt với năm cái ác : sát sinh , trộm cướp , tà dâm , uống rượu , nói dối .

Giải Lập đã thường dạy tôi làm những việc rất nhỏ để giúp những người khó khăn , neo đơn một cách thiết thực . Em thường xuyên dẫn tôi đi giúp cho bà con làm vườn dưới thung lũng , khi bới khoai , tưới rau , xách nước hoặc cuốc giúp họ vài luống đất vườn .Những lúc ấy em thường niệm Phật và khuyên người khác trì niệm danh hiệu Phật theo mình .

Những lần em dẫn tôi đi trợ tang cho những gia đình nghèo , chăm sóc an ủi những ngừi bệnh , tôi thấy bà con gặp em ai cũng cúi đầu đảnh lễ thật lòng . Mỗi lần nhìn thấy vậy tôi tự thấy ngượng với lòng mình , nhờ đó mà phát tâm ăn năn sám hối vô cùng .

Giải Lập , giờ đây em đang ở phương nào ? đang hành cước ở đâu ? hoặc đang quyết tâm giữ công phu đạo hạnh của mình ở chùa , thiền viện nào ? Nơi nào đó cũng thảy đều là Già Lam phước địa , là chốn Tào Khê - nơi người tiều phu năm xưa đã từng nói Pháp Kim Cương , nơi ấy cũng là Phương Bối và Tùng Môn Trang trong tâm cảnh .

Tôi nhớ như in , hình dáng của em nhẹ nhàng khi xách nước từ suối xa lên đồi Tùng , nhẹ và đẹp như những cánh sen non , nhớ đôi mắt hiền từ và giọng nói trong vang như mời gọi tĩnh thức , thông hiểu chân thật , thương yêu đến mọi loài .

Trong thảo am trên cái bồ đoàn cũ kỹ , em dạy cho tôi cách điều phục thân tâm , giữ gìn và theo dõi hơi thở khi thiền quán . Em giữ công phu không một ngày buông thả , những khi buồn ngủ và mê tâm trỗi dậy , em đứng dậy đi rửa mặt bằng nước lạnh buốt , thắp nhang lễ Phật và thiền hành quanh đồi Tùng . Tôi tập theo em , theo vị bổn sư nhỏ của mình nhất tâm nhất nguyện .

Tôi nhớ những bài học em truyền cho tôi trong những đêm trăng tỏa sáng đồi Tùng , những lần đó đến nay tôi vẫn còn nhớ và nhớ nhất là lúc ấy , cây cỏ , đá sỏi , hoa mây về trên đồi Tùng cũng phải nghiêng mình , thinh lặng .Tiếng kinh khuya trong thảo am của em từng sưởi ấm những đêm đông lạnh buốt ở cao nguyên . Ngoài cửa thảo am , vạn vật cũng như bị nhốt vào trong thinh lặng , im vắng kể cả tiếng gió hú qua non ngàn cũng nhẹ nhàng như lời thì thầm phát nguyện . Tôi nghe tiếng nứt vỏ của mấy cội tùng già như đang sắp hóa kiếp , cả mấy tảng đá nghìn đời như đang bước chân đi và tiếng mấy con chim chiêm chiếp trong đêm nhẩm theo lời kinh khuya vô ngại , như đang mơ cầu tịnh độ vãng sinh . Những đám sương mù che mắt như được quét sạch , tôi như vừa tắm xong trên dòng suối ấm , hoàn toàn thảnh thơi mát mẻ tâm thân .

Từ ngày xa Tùng Môn Trang trở lại bình nguyên và đi khắp cả trăm kinh thành trên thế giới , tôi chưa lúc nào quên em - Giải Lập - người thầy nhỏ của tôi dạo ấy !

Tôi đã từng dạy cả ngàn môn sinh ở quê hương cũng như ở xứ người , vẫn không quên niệm Phật và không dám xem nhẹ pháp môn tịnh độ để biện biệt với Thiền tu . Thời gian thành đạt trong thương trường để trở thành người có tiền , có cơ ngơi ở xứ người , tôi vẫn chẳng mảy may quên Tùng Môn Trang chốn cũ và chùa Lá ngày xưa !

Theo gió , tâm tôi thường về trên đất cũ . Những của cải , tiền bạc mà tôi vất vả kiếm tìm trong mấy chục năm qua , chưa hẳn là phước báo của kiếp này mà có khi là nghiệp chướng để phải trả cật lực cho đời sau .Nay có mai mất trên thương trường , may rủi , tiếc nuối cũng chỉ phút giây bận lòng . Bởi vì khi có thì cũng dễ như ngọn cỏ gió đùa , mất cũng là nước chảy hoa trôi .

Con đường tôi đi hơn năm mươi năm trên cuộc đời đầy nhọc nhằn vinh nhục , nhưng trong tâm tôi vẫn còn em - với gió miên viễn trên đồi cũ vườn xưa .

Có những đêm ngồi đợi máy bay trễ khi quá cảnh ở phi trường Đài Bắc , Đông Kinh , Hồng Kông , tôi nhìn lên trời đầy sao khuya và một ánh sơ huyền , làn gió nhẹ đầu mùa trên đất khách thổi qua đánh thức tâm tư . Tôi đã và về lại Việt Nam quê hương . Đã rời đã tới . Đã tao ngộ đã trùng phùng . " Nhà Thầy có đâu mà nhớ !" Lời nói của Thầy và câu trả lời chân thật của người tiểu sa di Tùng Môn Trang :


Thầy vừa đi hái thuốc
Chỉ nội núi mà thôi
Mây mù không thấy được


Giải Lập ơi ! Trong một lần nửa mộng , nửa tỉnh dưới trời cao nguyên khuya khoắt , tôi hỏi em ,:" Ngày mai tôi sẽ đi về phương Nam , em có vui lòng khuyên bảo tôi điều gì không ?" Và em như Thiền sư Triệu Châu ngày cũ căn dặn :" Nếu anh đến phương Nam , nơi nào có Phật , anh cứ lặng lẽ đi qua , nơi nào không có Phật thì đừng ở lại " .

Nghe ngọn gió phương xa quen thuộc thổi về cửa lòng tôi chợt mở - Này , muôn đời tôi vẫn đang còn ở Tùng Môn Trang chốn cũ , chưa từng mất dấu đồi Tùng ngày xưa !


California- Sài Gòn tháng 11/2001
Bạn gần không tới , Bạn xa chưa về
0
 

TRỞ LẠI BÌNH NGUYÊN

 
Trong ngắn ngủi đời người có lắm buổi chia ly và rất ít lần tái hợp , cuộc chia ly nào cũng thấm đầy nước mắt và nhiều nỗi đoạn trường .
 
Ngay khi từ đứa trẻ sơ sinh thoát ra ngoài cái hang ổ ấm áp của lòng mẹ , cuộc tiếp xúc đầu tiên của nó với cuộc đời là cất lên tiếng khóc , cho đến cái ngày vĩnh biệt về với thiên thu , cũng tràn đầy tiếng khóc .Những lần vui hội ngộ thì thật hiếm hoi dù những lúc đó chỉ là để mở cửa cho một lần ly biệt mới . Hợp rồi tan , tan rồi tụ , luẩn quẩn trong dòng chảy đó biết bao cảnh đời đã qua , biết bao nhân ảnh còn để lại , có cảnh có người thì ta hoài niệm xót xa , nhưng cũng có cảnh có người thì ta mong đừng bao giờ tái hiện , dù chỉ là một thoáng mơ qua .
 
Sống là một chuỗi chia biệt mà trong đời ai cũng phải trải qua : xa nhà xa quê , xa mẹ cha , anh chị em ruột thịt , người yêu , xa trường xa bạn , thầy cô ... Tuổi trẻ thoáng qua rồi lăn trong cuộc kiếm sống đầy bon chen lừa lọc , danh vọng , địa vị , và của cải tiền bạc lúc lên như triều cường . Lúc được , ta hân hoan đắm đuối và lúc nó bỏ ta thì ta cũng tan tác như hoa giữa đường .Nếu không có liều thuốc lãng quên linh diệu thỉnh thoảng xuất hiện để cứu hộ con người , thì chỉ chuyện nhớ những lần mất mát chia tan cũng đủ não lòng .
 
Nhiều người chắc hẳn cũng đồng ý với tôi : những lần nói từ biệt khó nhất trong cuộc đời là nói với mẹ mình . Cho đến bây giờ đã quá nửa đời người , mỗi lần nhớ về mẹ , tôi không ngăn nổi lệ tràn .
 
Làm sao tôi có thể quên cái đêm trăng hôm ấy : Mẹ dẫn hai anh em tôi chạy ra bờ sông Bạch Yến , nhờ con đò nhỏ của một người làm nghề cá từ tâm che chở ,để vượt sông thoát chạy lên Huế ,mà đàng sau là một toán người làng cầm dao , gậy và cả súng các-bin ... đang hung hăng gào thét lùng sục .Họ vừa đập phá ngôi nhà mới xây của cha tôi , hăm giết cả nhà , nhờ có người trong làng bảo bọc và thông báo trước nên cha tôi đã thoát chạy .Chuyện xảy ra mà tôi cũng như hầu hết người trong làng Thanh Lam Bồ còn nhớ rõ : Hồi đó trong xã , gia đình tôi là một gia đình giàu có . Cha tôi là một người thông minh và được nhiều họ tộc trong làng xã trọng vọng , ông là người đại diện cho họ trong nhiều lãnh vực ở địa phương . Năm xảy ra câu chuyện trên là năm cha tôi đang làm Đại diện xã . Sau khi được một vị linh mục đến nhà thăm viếng , rồi nhiều chức sắc khác trong họ đạo khuyên cha tôi " trở lại đạo " để đảm nhiệm chức vụ Quận trưởng trong kỳ sắp tới ,mà mọi người cũng như chính quyền Tỉnh đã dồn hết tín nhiệm cho ông .
 
Hồi đó việc " trở lại đạo " theo cách nói của người Thiên chúa giáo và " theo đạo " như cách nói của người lương , để chỉ những người bỏ ông bà tổ tiên theo một tôn giáo mà việc thờ cúng tổ tiên là điều cấm kỵ . Cha tôi đã từ chối lời khuyên " trở lại đạo " của phong trào Cách mạng quốc gia . Biết mình sức yếu thế cô chỉ dựa vào những người dân hiền lành tại địa phương thì cũng không làm trò trống gì được với thế lực đương quyền . Sau khi từ chối "theo đạo " vì lý do là không thể bỏ tổ tiên của mình thì cũng có nghĩa là ông đã từ chối làm Quận trưởng . Sự việc này làm mất uy tín một số chức sắc họ đạo địa phương . Vin vào một vụ tranh chấp đất đai nhỏ , những người ấy tổ chức một nhóm " dân vệ " , " thanh niên cộng hòa " , đến đập phá nhà và tìm bắt cha tôi với lý do : cha tôi là cán bộ Việt Minh được cài lại địa phương để phá hoại .
 
Gia đình tôi phải bỏ lên Huế . Việc đầu tiên sau khi ổn định nhà cửa và học hành cho các con , cha gởi tôi đến học võ tại một thầy võ nổi tiếng ở Huế .Ngoài thời gian học ở trường , tôi bắt đầu luyện võ vào năm mười tuổi . Theo lời dặn dò của cha tôi là : Nam nhi sinh ra trong thời loạn phải học võ để bảo vệ bản thân chống lại áp bức , bênh vực người cô thế . Ngoài ra , ông còn nhắc khéo tôi về chuyện đã xảy ra khiến cả nhà phải bỏ cơ ngơi ruộng vườn ở quê , mà những kẻ gây ra chuyện đó đang còn sờ sờ ra đấy . Dù còn là một thiếu niên khờ dại , nhưng hồi đó trong lòng tôi đã đầy ắp một mối thù và hẹn ngày sẽ rửa sạch .
 
Mối thù ấy cha tôi không nói ra nhưng tôi cũng đã hiểu và chuyên cần học võ , để một ngày nào đó sẽ cho những kẻ ác ấy nếm đủ mùi đòn thế , bắt chúng nhớ đến nhân quả .
 
Trong đầu óc một đứa trẻ ngây thơ , tôi đã bắt đầu biết " nuôi sẹo " cho chuyện báo thù . Tôi đã đọc và cảm thông những nhân vật như : Lâm Xung , Võ Tòng ... trong truyện Thủy Hử . Tôi mê hình ảnh một Kinh Kha bên bờ sông Dịch Thủy trong âm hưởng tiếng địch buồn tiễn biệt của người bạn Cao Tiệm Ly , khi sang đất Tần đầy bất trắc để ám sát Tần Thủy Hoàng . Tráng sĩ thề một đi không trở lại ! Vì nghĩa cả quên thân mình , xem cái chết nhẹ tựa lông hồng . Chết vì nghĩa lớn như Kinh Kha thì cũng như cánh chim bay về niềm ước mơ vĩnh cửu . Tôi thích thú những trang sử hào hùng Việt Nam .Nguyễn Thái Học với dũng khí ngửa mặt chờ lưỡi dao máy chém của bọn thực dân rơi xuống , miệng còn hô vang lừng khẩu hiệu " Việt Nam vạn tuế " . Phạm Hồng Thái với tiếng bom Sa Điện làm kinh hoàng giặc Pháp , quyết không để thân rơi vào tay giặc mà trầm mình xuống dòng Châu Giang xứ người , để Hoàng Hoa Cương vinh dự có đủ 72 mộ liệt sĩ cách mạng mà chính tay Hồ Hán Dân , Tỉnh trưởng Quảng Châu hồi đó đã viết trên bia tưởng niệm :" Việt Nam liệt sĩ Phạm Hồng Thái chi mộ ".
 
Nguyễn Biểu hiên ngang mắng giặc với cỗ thịt người đãi sứ , chịu chết vinh chứ không sống nhục . Trần Bình Trọng thà làm dân nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc , những anh hùng liệt nữ , mà mỗi người là một quyển sử vàng mới chép đủ .Và trong số những bậc tiền nhân kỳ vĩ hiển hách công nghiệp ấy , tôi vẫn phục nhất là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn , người nắm binh quyền của cả nước từ hồi rất trẻ - người đã quên thù riêng với lời cha là An Sinh Vương Trần Liễu dặn dò trước lúc chết ,quên cả ngai vàng mà lẽ ra với địa vị chính thống mình sẽ được hưởng , để lãnh đạo quân dân Đại Việt mấy lần chiến thắng Nguyên Mông , một thế lực phong kiến tàn bạo nhất thời đó mà cả nửa thế giới phải thuần phục . Trần Hưng Đạo vị danh tướng lẫy lừng của Đại Việt thời nhà Trần đã biến những chiến binh bách chiến bách thắng của Mông Cổ trở thành " giặc cỏ " . Trước đó những Hốt Tất Liệt , Toa Đô , Ô Mã Nhi từng tận hưởng niềm vui chiến thắng bằng cách : Phá thành giặc cho máu kẻ địch chảy thành sông ,bắt con trai của kẻ địch làm nô lệ ,biến vợ và con gái họ trở thành hầu thiếp , ca hát nhảy múa tưng bừng trong nước mắt của những chiến lợi phẩm biết đi đó .Nơi nào vó ngựa của họ đi qua thì cỏ không còn mọc nữa " .
 
Gần trường tôi có một điện thờ Đức Thánh Trần , mỗi lần học sinh chúng tôi đi qua đều phải cất mũ cúi đầu , bởi vì oai linh của ngài cho đến nghìn đời sau con cháu vẫn còn kính ngưỡng . Nhớ những buổi trưa hè tôi năn nỉ với bác thủ từ điện Thánh cho vào chiêm ngưỡng dung nhan ngài qua bức tượng thạch cao trên bệ thờ và tượng của tà thần Nguyễn Nhan đang quỳ gối ( một tướng tài của Mông Cổ theo truyền thuyết có tà thuật bị Trần Hưng Đạo bêu đầu ). Tôi đã khấn nguyện và hứa với ngài là sẽ trở thành một đại trượng phu , báo thù nhà xong sẽ quyết vì đất nước mà phơi thây ngoài cỏ nội non ngàn cũng cam lòng .
 
Không biết tự bao giờ và lời nguyện cầu của tôi có đến với Đức Thánh Trần không ? Từ một đứa trẻ ham chơi tôi trở nên chín chắn hẳn , không còn cười đùa vô tư như trước .Ngoài chuyện học chữ đêm về tôi luyện võ , đến nỗi thầy tôi cũng ngạc nhiên về sự tiến bộ của đứa học trò nhỏ . Cho đến một ngày , tôi còn nhớ rõ năm đó tôi học đệ thất trường Bồ Đề Thành nội Huế , thầy hướng dẫn lớp là một Đại đức hiền từ đã gọi tôi lại và ngỏ ý muốn nhận tôi làm đệ tử về ở chùa với thầy .Sau khi nghe thầy nói , câu đầu tiên mà tôi trả lời thầy là hỏi lại :" Thầy và mấy thầy tu ở chùa có võ Thiếu Lâm hay võ Ta không ?" . Thầy cười và trả lời :" Riêng thầy thì không biết võ nhưng chư huynh , đệ của thầy trong chùa thì ai cũng biết võ ..." . Thầy còn kể thầy là đệ tử của Ngài TL , một chùa lớn ở Huế , hòa thượng trụ trì chùa này không những võ nghệ cao cường như biết cách không điểm huyệt , phi thân mà còn biết trị cả tà ma . Hễ bất cứ người điên nào bị ma ám , quỷ theo , được thân nhân dẫn đến chùa xin hòa thượng trị bệnh đều sợ hãi quỳ lạy . Nhiều người điên đến chùa sau một thời gian thì lành hẳn , có người thì không còn quậy phá . Ngài hòa thượng TL nổi tiếng mà phật tử ai cũng biết , bất cứ tu sĩ nào phạm giới dù là rất nhỏ , nếu biết được ngài đều răn trị đến nơi đến chốn .
 
Nghe chuyện thầy kể , tôi rất khoái và về thưa lại với cha mẹ .Cha tôi hẳn không vừa ý , riêng mẹ tôi thì nhỏ nhẹ nói với đại ý là :" Nếu nó muốn ở chùa là phước lớn của gia đình ,chưa kể ở chùa nó còn được tu học trở thành người tốt thì tại sao lại ngăn cản con trẻ ! Hơn nữa chùa chỉ cách nhà một con sông nhỏ thuận tiện việc theo dõi thăm viếng " . Thế là tôi trở thành điệu nhỏ ở chùa DĐ, một chùa lớn ở Huế . Bổn sư rất mực hiền lành , ngoài giờ dạy ở trường còn lại chỉ chuyên tâm nghiên cứu Phật pháp và chữ Hán .Thầy năm ấy chỉ mới ngoài ba mươi tuổi nhưng trong ý nghĩ của tôi thầy là một nhà sư đạo hạnh sâu dày .Thầy từ tốn dạy tôi từ cách ăn , uống cho đến lời nói , bước đi ... theo oai nghi của một người xuất gia , chưa bao giờ Thầy la mắng , thậm chí một cái nhíu mày cũng chẳng thấy xuất hiện trên khuôn mặt hiền lành ấy .
 
Thế nhưng ,gần như là một sự thật oái ăm , trong cuộc đời những người hiền không ở lại lâu với chúng ta . Tôi sống với thầy chưa được một năm thì thầy lâm bệnh mà mất . Tôi còn nhớ : chiều thu ấy trước sân chùa lá rơi nhiều và có mưa nhẹ , thầy vĩnh biệt cuộc đời cũng nhẹ nhàng như đi ngủ sớm . Thầy còn một người chị cả ở đâu tận ngoài Quảng Trị , không kịp vào gặp em lần cuối . Hòa thượng trụ trì cũng không ngăn nổi cảm xúc trên khuôn mặt , ngài thở dài tay lần tràng hạt . Tôi như nghe rõ âm thanh của chuỗi hạt bồ đề trên tay ngài và tiếng thở dài ấy . Ngoài sân chùa lá vẫn rơi và mưa đã về trắng xóa cả hoàng hôn . Khi làm lễ tang và tụng kinh đến câu : Hoa khai kiến ngộ Phật vô sanh " , tôi không ngăn nổi tiếng khóc chợt vỡ òa , nên vội bước vào thiền phòng cũ của thầy ôm cái bồ đoàn và cái áo tràng của thầy mà khóc nức nở . Đó là lần chia tay đầu tiên của tuổi thơ tôi và cho đén bây giờ nụ cười và ánh mắt của thầy vẫn luôn về trong tâm tưởng , hình bóng ấy đã đi theo cuộc đời tôi như một vị thần hộ mệnh hiền lành , sẵn sàng an ủi khuyên bảo mỗi khi tôi động tâm sai trái hay lỡ làm điều gì không phải .
 
Sau khi thầy mất , tôi được sự hướng dẫn dạy dỗ của một đại đức khác mà chúng điệu gọi là thầy phó . Thầy phó thường phạt tôi quỳ mỗi lần tôi có lỗi nhỏ , hay xách tai thức tôi dậy mỗi sáng để dộng chuông cho kịp thời công phu . Thật lòng là tôi không thích thầy , nhất là mỗi khi nhìn thấy thầy nói chuyện với các cô trong gia đình Phật tử đến chùa sinh hoạt vào cuối tuần . Mỗi lần như vậy tôi liên tưởng đến thầy tôi đã mất - Thầy tôi đẹp trai , là giáo sư Trung học nhưng chưa bao giờ nói chuyện riêng với phái nữ dù đó là học trò . Thầy thường kể cho các điệu nghe chuyện ngài A Nan một đại đệ tử của Đức Phật .Theo truyền thuyết thì A Nan là một người đẹp trai lại tài giỏi nên rất được phái nữ ngưỡng mộ . Mỗi lần A Nan đi khất thực thì được rất đông nữ tín đồ chờ đón và cúng dường , A Nan thường giữ giới hạnh rất tốt , nhưng có lần trên đường đi đã gặp một nữ thí chủ có dung mạo đẹp tuyệt vời , đến nỗi A Nan không làm chủ được mình trước sắc đẹp này . Lần ấy Đức Phật dùng từ bi thần thông để cho A Nan thấy cái vẻ đẹp mỹ miều bên ngoài của người thiếu nữ đó , lại chứa bên trong những máu mủ và cặn bã bất tịnh của thân người , dù nhan sắc hoàn mỹ đến mấy cũng chỉ là tấm áo che một thực thể cấu uế . Cái thân vốn bất tịnh và ta phải quán tưởng thân bát tịnh để biết giả chân , biết lẽ vô thường biến dịch và sự tạm bợ suy hoại của muôn loài và đồng thời để buông xả tham ái . Thầy tôi kết luận :" sinh , lão , bệnh , tử là lẽ thường tình , nhan sắc nghiêng nước nghiêng thành cũng theo thời gian mà phai tàn , còn lại là một đống xương khô , chỉ duy tâm đức mới sáng mãi với thời gian " .
 
Một thời gian ngắn sau khi thầy mất đi , tôi cũng bỏ tu xa chùa . Hồi đó tuy đang là một thiếu niên mới lớn nhưng tôi cũng có sức chịu khó khá tốt ,những tháng ngày theo học võ làm tôi trở thành điềm tĩnh và cứng cỏi trước những nghịch cảnh . Tôi không ngại những lần chưa thuộc kinh , luật ... phải bị quỳ . Tôi không oán trách thầy một chút nào , nhưng duy nhất có lần tôi phản ứng lại thầy và đó cũng là lần tôi ra khỏi chùa . Tôi nhớ lại đêm ấy trăng vừa lên , sân chùa đẹp lạ lùng với những mảng cây hoa lá huyền ảo . Trăng sáng mềm một màu lụa vàng trải từ mặt nước của dòng sông trước mặt phủ lên mái chùa cổ .
 
Tôi và một vài điệu cùng bốn năm đứa bạn trẻ học cùng lớp ở chung quanh chùa tụ tập .Theo yêu cầu của chúng , tôi say sưa biểu diễn hai bài quyền Bát đoạn cẩm và Lão mai , cả bọn đang thích thú và say mê những động tác thuần thục của tôi , thì thầy phó đến tự hồi nào mà chúng tôi không hay ; sau một tiếng đằng hắng lạnh lùng , thầy kéo tôi vào phòng và răn đe tôi về chuyện luyện võ .
 
Thầy phó bảo tôi từ nay về sau chỉ được học chữ ở trường và học kinh , luật mà thôi . Nếu thầy bắt gặp tôi " quyền cước " một lần nữa là đuổi ra khỏi chùa . Thế là hết ! Ngay ngày sau tôi lạy Phật , lạy thầy và khăn gói ra khỏi chùa . Hòa thượng trụ trì lúc này đangcó Phật sự trong Nam , tôi cũng không có dịp gặp mặt , chỉ sau này mẹ tôi vào chùa thưa lại , nghe kể "ôn" chỉ cười và nói " chuyện đi hay ở của hắn đều tùy duyên " .
 
Tôi nhớ "ôn " ( người Huế hay gọi những bậc chân tu tuổi lớn là ôn ) sâu đậm . Mỗi lần quỳ sau "ôn " , nhìn lưng "ôn " phẳng lì và rộng thẳng đứng như một bức tường chở che cho chúng tôi . Ngày "ôn " viên tịch , tôi đang ở Ý , nghe nhiều hãng tin nước ngoài loan báo về đám tang "ôn " ở Huế , Phật tử trong nước về chùa để tang cả vài vạn người , linh tháp của "ôn " phụng lập ở chùa Thiên Mụ , đến nay ngày nào cũng có người hành hương đến cúng bái .
 
 
Bạn gần không tới , Bạn xa chưa về
0
 
 
Năm mười ba tuổi , tôi xin thụ giáo với thầy Choji Suzuki tại võ đường Linh Trường Không Thủ Đạo . Trong ký ức của tôi cũng như những đồng môn khác , không ai không khỏi nhớ về Thầy-Cô , với những tình cảm tốt đẹp nhất của quãng đời hoa niên của mình . Nhờ sự dạy bảo của Thầy , anh em chúng tôi mới hiểu được cái đạo của võ và cái hồn của võ đạo . Tôi từng ngày thấm thía nhận ra rằng : Học võ ngoài sự chuyên luyện cho thân thể mình cương kiện , đòn thế , công thủ hợp với âm dương , hài hòa thể nhập trong khí hạo nhiên của trời đất , còn phải luyện Tâm , điều Tâm và tu Tâm . Tâm nương vào Thân , Thân hòa điệu với Tâm để Thân Tâm trở thành một hợp thể nhất như .
 
Một ngày kia cái thân cát bụi sẽ trở về với cát bụi nhưng cái Tâm còn mãi và ta sẽ trở lại trong biến dịch , không từ đâu đến - không đến từ đâu , không sanh - không diệt . Với Tâm vô ngại thì đảo điên mộng tưởng xa lìa , trí tuệ phát sinh năng lực vô biên vô lượng dẫn đường đến giải thoát .
 
Hơn một năm ở chùa và dù thầy tôi đã mất , nhưng vẫn còn đó các lời khuyên nhủ của thầy . Nhớ lại những ngày xách túi vải theo hầu thầy đến các danh lam để tham vấn học hỏi Phật pháp . Hoa Tâm trong tôi như bắt đầu hé nở nụ xanh . Vết thù nuôi dưỡng mấy năm qua trong lòng tôi như mất dần theo thời gian . Tuy còn nhỏ nhưng tôi cũng đã nghiệm ra :" Oán thù nên cởi chứ không nên buộc " , nếu mãi nuôi thù thì sân hận tràn ngập lòng ta , biến ta thành thú dữ , không còn biết đâu là bến bờ của chân thiện mỹ .
 
Võ đạo đã biến vết hận thù còn đọng lại trong trái tim đứa trẻ thơ ngây ngày nào thành hoa Tâm , một loài hoa có sắc màu lóng lánh của hiểu biết và thương yêu .
 
Công ơn thầy dạy ở chùa , thầy dạy ở Võ đường và tấm lòng hiền lành chân thật của mẹ tôi , những nguồn lực ấm áp đó có khả năng giúp tôi cởi được mối thù ly hương với cảnh cửa nát nhà tan một cách nhẹ nhàng không gợn chút hận lòng .
Mấy năm về sau khi tôi gặp lại những kẻ ác độc ấy trong lúc đã thất thế , nhìn ánh mắt run sợ của họ mà lòng tôi dậy lên một niềm thương hại mà tiếc là chưa đủ sự lân mẫn sâu xa để có thể vỗ về an ủi . Họ đã hối hận và nhờ người đến hòa giải với cha tôi . Mối thù xưa trong lòng cha tôi rồi cũng được rửa sạch mà không tốn công sức của ai , chỉ nhờ sự nuôi tâm từ bi của Phật đạo và lòng nhân hậu của mẹ tôi - một người mẹ hiền đúng nghĩa . Sau này khi ở hẳn Sài Gòn , cha tôi cũng đã dành một số tiền lớn để đem về làng cũ tu sửa đình , chùa và đắp con đường đất đỏ đi quanh làng , cho bà con đi lại được thuận tiện . Ông còn mong ước sửa lại cây cầu cho dân làng mà ông đã làm mấy chục năm về trước . Cây cầu mà chiều nào , đêm nào của thời thanh bình không bao giờ vắng người đến soi mình dưới dòng nước chảy - nguồn thủy lợi cho cánh đồng quê tôi vốn trước là một vùng đất pha cát cằn cỗi .
 
Thế là tôi đã có gần mười năm mê say võ nghiệp , từ võ Thiếu Lâm , võ Ta cho đến Không Thủ Đạo . Ngày tôi nhận đai đen đệ nhị đẳng cũng là lúc tôi nhận trọng trách Trưởng tràng đời thứ II của võ phái Linh Trường Không Thủ Đạo . Tôi cũng bắt đầu viết cuốn sách đầu tiên về kỹ thuật đai đen Karaté trong thời gian này .
 
Hai mươi tuổi đầu có chiều cao trên một mét tám mươi , cân nặng hơn tám mươi ký , về nội ngoại công phu tôi có thể đấm vỡ 10 viên gạch thẻ , cước công phá có thể làm vỡ tan một tấm gỗ dày , hai tay có thể bóc và vo tròn một cái nắp trên chai bia trong chưa đầy nửa phút , dừa tươi , dừa khô gì tôi cũng có thể chặt vỡ bằng hai bàn tay . Hồi đó tôi tự hào về công phu của mình , các sư đệ của tôi cũng tự hào về người sư huynh của mình . Tôi có thể đá bay qua đầu bốn năm người .Ở Huế những người biết võ đều cho tôi là một cao thủ võ lâm mình đầy huyền công tuyệt kỹ . Bây giờ nghĩ lại tôi thấy buồn cười cho sự thiếu khiêm tốn của mình và bạn bè hồi đó . Chao ôi võ học là bến bờ vô hạn không có nấc thang cuối , như nhãn giới càng đi tới , chân trời càng lùi xa .
 
Giờ đây đã qua tuổi năm mươi , tôi chưa bao giờ mảy may hối tiếc về chuyện học võ của mình . Nhờ có võ đạo tôi mới biết đến y lý Đông phương và các phương pháp thực hành của nền y học cổ truyền mấy ngàn năm ấy , để sau này có dịp gần gũi và học tập thêm ở một người anh , một người thầy như bác sĩ Trương Thìn , cùng tận tụy cứu chữa bệnh nhân trong những năm đầu giải phóng , khi mà thuốc Tây quý hơn vàng trong buổi đầu cơ cực ấy . Từ võ đạo tôi mới thấy công năng , công dụng của khí công , một di sản văn hóa quý giá của người Á Đông . Khí công góp phần đem lại sức khỏe hạnh phúc cho mọi người không riêng ai nếu chịu khó luyện tập , khả năng phòng chống bệnh tật của một người luyện khí được tăng cường không ngừng . Thực chất của việc luyện tập khí công không ngoài tập trung điều hòa chân khí để tạo ra nguyên khí và duy trì chính khí .
 
Từ khí công tôi bắt đầu đến với thiền quán , đến với Đại thừa Phật pháp , nói nôm na là đi tìm lại Tâm mình và như người tiều phu năm xưa khi nghe kinh Kim Cương : Ưng vô sở trú sinh nhi kỳ tâm * " mà thấy được con đường mình phải đi , mà thở được cái hơi thở tự tại hồn nhiên vô ngại của phương quãng đại thừa , mà "ngộ " ra các phương trời giải thoát lộ hiện , cho dù đang đốn củi , nấu cơm , gánh nước ... rồi một ngày kia trong lẩn khuất tận cùng tâm thức của mình , anh ta đã tìm kiếm được , tự tâm chiêm nghiệm được ý nghĩa cứu cánh của trí tuệ bát nhã .
 
Tôi hoàn toàn không đánh bóng hoặc đề cao để viết trong hồi ức này rằng : Võ phái Không Thủ Đạo tại Huế đã đào tạo ra nhiều võ sư danh tiếng và làm rạng rỡ tông môn . Những người ở nước ngoài như Hạ Quốc Huy , Ngô Đồng , Bảo Trai , Trần Đình Tùng , Vĩnh Tung , V.Đ. Vạn , Hồ Văn Ngọc , Nguyễn Thành Vinh , Hoàng Châu ... Trong nước thì có Lê Văn Thạnh , Nguyễn Văn Dũng , Hoàng Như Bôn , Ngô Văn Thanh , Khương Công Thêm , Trương Đình Hùng , Đoàn Đình Long , Nguyễn Tấn Kiệt , Nguyễn Ngọc Thạo ...những người đã xây dựng môn võ học Không Thủ Đạo cho đất nước trong thời gian qua . Họ đã đóng góp công không nhỏ , để gặt hái những kết quả mà các môn sinh , võ phái gần đây mang về những tấm huy chương vàng , bạc cho nền thể thao đất nước . Không những thế , với hơn vạn môn sinh hiện nay ở Việt Nam , hầu hết những người ấy đều được hình thành nhân cách ban đầu từ Đạo đường bên chân cầu Đông Ba bé nhỏ , trực tiếp hay gián tiếp từ sự dạy bảo của thầy Suzuki .
 
Từ khi mang trong mình một ít võ công , tôi chỉ có hai lần sử dụng nắm đấm của mình . Lần đầu tiên vào năm 1966 , khi người bạn của tôi là Điền ôm cái đầu đầy máu chạy đến trước lớp mà tôi đang ngồi học . Điền bị một nhóm du đãng ở Huế thời bấy giờ chặn đánh trước cổng vào trong sân trường , lý do đơn giản là chúng muốn " dằn mặt " những học sinh có võ . Điền tự vệ chính đáng và bị chúng dồn vây vào trường , và đánh một búa vào đầu . Tôi không kịp xin phép thầy vội nhảy ra cửa sổ dìu Điền ... và tự nhiên cơn nộ khí xung thiên ập đến , bất ngờ tôi chạy xuống cầu thang đến nơi bọn đó còn đang tụ tập . Tôi tả xung hữu đột trong vòng vây của gần ba mươi tên du đãng , đánh cho chúng một trận kinh hoàng , dù chúng có đủ loại vũ khí trong tay nhưng phải tháo chạy tứ tán . Sau này tôi nghe Sáu Trí - một người bạn cùng lớp kể lại và ví von :" như Thường Sơn Triệu Tử Long phò ấu chúa đánh quân Tào Tháo ở trận Đương Dương Trường Bản trong truyện Tam Quốc Chí , Sáu Trí cường điệu thêm : thật là lực bạt sơn hề khí cái thế , tụi nó chạy như vịt mà đứa nào cũng có hung khí trong tay " .
 
Khi tôi đưa Điền đến phòng cấp cứu bệnh viện Trung ương Huế , thì nhóm ấy cũng đưa mấy tay bị thương vào phòng cấp cứu .
 
Chúng tôi nhìn nhau , hình như không khí trong phòng cấp cứu đầy bệnh nhân rên rỉ đau đớn , với máu , bông băng , mùi cồn ... lòng ai cũng dịu xuống , bao nhiêu giận dữ căm hờn một tiếng đồng hồ trước đó giờ đã lắng xuống và nguội lạnh như tro tàn .
 
Nhìn những đứa bị tôi đánh chấn thương đau đớn , tôi không khỏi hối hận về hành động vừa qua của mình . Tôi nhớ TH , tên trùm nhóm du đãng ấy lê bước chân về phía tôi ,hắn cười ngượng ngùng và nhỏ nhẹ làm lành :" Thôi ông hỉ ! Bên tôi bị ông đánh thành thương tích cũng nhiều , huề nhé " . Tôi cũng cười đáp lại và thấy nhẹ nhõm cả lòng .
 
Lần thứ hai mà tôi phải dụng võ : một đêm đi về trên đường Hàng Bè , tôi chứng kiến tận mắt cảnh năm bảy tên thanh niên đang lôi tóc và đánh đập tàn nhẫn một thiếu nữ .Tôi đến khuyên can không ngờ trong bọn một tay móc súng nổ xoẹt trên đầu tôi , đó là khẩu súng pháo hiệu mà viên đạn có pha chất lân tinh của nó đủ để làm chết người một cách đau đớn . Tôi vung tay và đánh bay súng của tên đó , cả bọn nhào vô , xáp đấu ... một mình tôi hạ mấy đứa đủ thời gian cho cô gái chạy thoát . Sau này nghe người ở Vạn Đò kể lại :" Cô gái ấy phải bán thân nuôi mẹ và con nhỏ , bị bọn chúng hành hạ cưỡng hiếp không trả tiền , lại còn lấy đi số tiền mà cô ki cóp bấy lâu . Cô than khóc và kêu cứu nhưng không ai dám can thiệp và còn bị chúng đánh đập đến mang thương tích ." . Cũng may đêm đó tối trời nhìn không rõ mặt , vì về sau bọn chúng cố truy tìm tôi để trả thù nhưng không được như ý .
 
Tôi đã nhịn nhục rất nhiều lần đối với những trường hợp gây hấn của nhiều người , trong nhiều hoàn cảnh khác nhau . Những lần tránh được xung đột lòng tôi thư thới , cái tự ái nhỏ nhen , sự thiệt thòi đôi chút trong lời nói trao đổi , mà mình biết tương nhượng sau này mới thấy đáng quý . Tuy nhiên những trường hợp ức hiếp phụ nữ , trẻ em như vừa kể trên là tôi không thể dằn lòng được .
 
Biết bao nhiêu cảnh đời thương tâm bị đày ải vào trong những hoàn cảnh trái ngang , khốn khó , thương không hết mà nhẫn tâm ra tay vùi dập thì còn gì là đạo lý . Nguyễn Trãi , bậc khai quốc công thần của nhà Hậu Lê , người yêu nước thương dân đến :" đêm ngày cuồn cuộn sóng triều đông " đã dạy bảo chúng ta trong Gia Huấn Ca mấy ai nhớ để mà :" Thương người như thể thương thân ! "
 
Nhứng ý tưởng súc tích về chữ Tâm rất đời thường đầy trong sách cổ Việt Nam , mấy ai còn nhớ để dạy bảo con cháu . Nền đạo học Việt Nam là học làm người - học làm dân để giữ nước và dựng nước , lấy nền tảng văn hóa truyền thống làm chỗ dựa . Thế nhưng ngày nay , với cái học khô cứng , sáo mòn và giáo điều , Nhân học đã không còn chỗ đứng . Sử học , Văn học , Mỹ học dường như bị lãng quên và chỉ dành riêng cho một số ít người , còn đa số là học những ngành dễ kiếm tiền , để mong cầu những vị trí béo bở , ngồi chiếu trên kẻ khác .
 
Cảm thán thế sự không chỉ là riêng cá nhân tôi mà trở thành một xu hướng chung , như là sự thể hiện phản ứng của xã hội trức những suy thoái về văn hóa đạo đức .
 
Dù đó là căn bệnh chung của mọi xã hội nhất là ở những xã hội đang hội nhập và phát triển , nhưng nếu chúng ta không kịp thời có liệu pháp để ngăn ngừa thì hậu quả to lớn của sự lấy " ngọn làm gốc " sẽ không tránh khỏi . Giới trẻ ngày nay có đủ phương tiện để nắm bắt thông tin khoa học công nghệ ... đó là điều đáng mừng . Bên cạnh đó là họ thờ ơ và không hiểu gì về nền văn hóa dân tộc , để giữ gìn bản sắc và truyền thống , sẽ trở thành bi kịch nếu các em bị tha hóa trước đồng tiền và những quyến rũ vật chất khác . Trong cảnh " kẻ ăn không hết , người lần không ra " hoặc " ngồi mát ăn bát vàng " thì ước vọng thực hiện công bằng xã hội sẽ trở thành yêu cầu cấp thiết của đa số nhân dân .
 
Tôi vào Nam năm chưa tròn hai mươi tuổi . Trong suy nghĩ của nhiều thanh niên chúng tôi thời ấy - Sài Gòn đất rộng người đông , chính là nơi khởi nghiệp cho những người có nhiệt huyết , bản lĩnh để hoàn thành hoài bão hoặc tâm nguyện của mình . Con người ở đây dễ hòa nhập trong dòng chảy của đời sống , vô danh trong sinh hoạt đời thường và có nhiều môi trường thích hợp để vươn lên , không như ở Huế - một thành phố cổ , đất của học hành nhưng lại không có môi trường thi thố tài năng . Ở một thành phố mà mọi người đều có thể quen nhau , trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã hay , phương tiện giao thông khó khăn ( trước năm 1975 ) thì thật không dễ cho việc sinh cơ lập nghiệp .
 
Sài Gòn - Gia Định mà chùa Lá là nơi dừng chân của tôi trong một thời gian ngắn . Từ một nhân duyên , tôi quyết chọn Lâm Đồng - Đà Lạt như một miền sơn cước xa xăm để làm một gã sơn tăng .
 
Tùng Môn Trang là nơi tôi đến ẩn tu với những công việc rất bình thường của một người làm vườn - trông núi giữ đồi . Trong thảo am ở chốn tùng lâm ấy tôi không miệt mài như một học giả để tìm hiểu , chú giải những diệu nghĩa của kinh luận , mà sở nguyện qua năng lực trực giác để thâm nhập vào ý nghĩa chân thật của sơ tâm ! Nhưng trong chiến tranh , tôi cũng như mọi người đều không có tự do chọn lựa . Tôi phải đối mặt với cơm áo đời thường , còn có bổn phận để phụng dưỡng mẹ già nuôi nấng em dại , chưa kể phải bị buộc cầm súng bắn giết đồng bào của mình . Nghịch duyên khởi đến trùng trùng , không còn an tâm trong sơn cốc được nữa , tôi xót xa gởi lại đạo bào để trở lại bình nguyên -về trong cuộc phong trần điên đảo .
 
 
Bạn gần không tới , Bạn xa chưa về
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-05-05 09:09:59grandet>



Năm 1970 , được sự đồng ý của Thầy Suzuki và nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của anh H.T.Giác tôi mở võ đường Bảo Quốc tại Tân Phú - Gia Định . Đây là vùng ven đô nên vẫn còn cảnh quan của một vùng quê Việt Nam với những khoảnh ruộng , tre xanh , hàng rào dâm bụt với những hàng cau thưa ... Môn sinh trên cả trăm người mà phần lớn là sinh viên học sinh nghèo , nhiều anh chị từ Sài Gòn cũng lặn lội trên mười cây số về đây theo học .

Trở lại thành đô , ngoài nỗi nhớ Tùng Môn Trang mà hình bóng vẫn trọn vẹn trong lòng tôi như mới ngày nào , nhiều người bạn khác như Phú , Trí của Huế lúc này cũng đã lưu lạc về đây để " cùng một lứa bên trời lận đận " .

Trí người bạn học thời niên thiếu của tôi ở Huế , người nổi tiếng "ham chơi " một thuở , mới được Thầy Thanh Văn làm lễ thí phát tại chùa Lá , không lâu sau Trí được cử lên Lâm Đồng . Chia tay tôi Trí nói sẽ đến Tùng Môn Trang và đúng như lời đã hứa , Trí về chùa LP . Ở đấy anh đã gặp Giải Lập và trong tình huynh đệ họ trở lại Tùng Môn Trang . Chúng tôi kẻ lên người xuống , riêng tôi không hẹn sẽ quay về .

Ngày chia tay Trí có nhờ tôi trao lại bản đánh máy cuốn Áo Nghĩa Thư ( Upanishad ) do giáo sư Thạch Trung Giả dịch và chú giải ( giáo sư viết tay nhờ Trí sửa morát và đánh máy ) . Thạch Trung Giả lúc này đang dạy ở Đại học Vạn Hạnh , ngoài thời gian lên lớp cho sinh viên ông về tá túc tại chùa Lá . Ở đây giáo sư vùi đầu vào nghiên cứu , diễn dịch cũng như viết các cuốn luận về triết học cổ Ấn Độ . Giáo sư là người lặng lẽ không phô trương sở học cao vời của mình , không mầy khi tiếp xúc với ai ngoài anh Nguyên . Chỉ duy Trí và tôi là hai người mà ông mến nhất - người có thể vào phòng ông uống trà , cà phê ... Mỗi lần thăm nhà từ Nha Trang trở vào ông đều dành cho hai anh em vài con khô mực , cây thuốc Bastos ... Giữa chúng tôi nảy sinh tình thầy trò một cách tự nhiên với niềm say mê chung là sử học , nhất là lịch sử thời nhà Trần . Giáo sư có thể ngồi nhàn đàm với chúng tôi suốt buổi từ lãnh vực này sang lãnh vực khác , nhiều đề tài mà đến bây giờ tôi cũng còn nhớ như : Thiền phái Trúc Lâm , môn vật Việt Nam , thủy quân nhà Trần .

Anh em chúng tôi may mắn được giáo sư dạy bảo rất nhiều . Là người đa tài nhưng rất khiêm tốn , có gốc gác tại phủ Thiên Trường ( Nam Định ) nơi nhà Trần khởi nghiệp , nên mỗi lần nói đến tiền nhân là như sống lại với những giấc mơ cố hương một thuở .

Hai mươi sáu năm sau tôi mới gặp lại Trí , còn giáo sư thì đã ra người thiên cổ .

 
***
 
 
Bước ra cửa văn phòng của ông giám đốc nhà xuất bản Khai Trí , với số tiền một trăm ngàn đồng nhận từ chính tay ông , tôi thấy nhẹ cả người . Đối với tôi cảnh quang hôm ấy trên đại lộ Lê Lợi thật dễ thương và đẹp đẽ làm sao ! Cũng ồn ào náo nhiệt xe người như thường lệ , nhưng lòng tôi tràn đầy nỗi hân hoan vô hạn , tất cả đều trở nên đáng yêu vô cùng .

Mấy ngày trước gặp ông , dù hết sức tự tin nhưng tôi vẫn có phần hồi hộp và lo lắng nhất là khi đưa tập bản thảo cuốn sách võ học đầu tiên mà tôi viết hơn hai năm trước , khi chưa tròn hai mươi tuổi . Sau khi xem qua , ông hẹn tôi quay lại rồi sẽ quyết định . Bây giờ cầm món tiền lớn giá trị bằng sáu lượng vàng theo thời giá năm 1969 , tôi nhớ đến công ơn Thầy cô , cha mẹ , là những người bồi đắp cho sự thành công nhỏ đầu tiên của mình . Từ lâu tôi đã biết nhà xuất bản Khai Trí rất có uy tín và gần như độc tôn trong lãnh vực xuất bản các văn hóa phẩm với chất lượng cao , nhất là sách giáo khoa . Ngoài việc kinh doanh ông giám đốc còn là một nhà thẩm định tác phẩm đầy uy tín .Sách nào đã qua mắt và tay ông phát hành đều trở thành những tác phẩm được ưa thích của người đọc .

Tôi còn nhớ khi hỏi về giá mua trọn bản quyền của cuốn Huyền Đai Karate thấy tôi băn khoăn không biết tính toán giá cả như thế nào , ông nghiêm chỉnh đưa ra một con số , con số mà tôi chỉ biết thầm cảm ơn và mừng như mở cờ trong bụng . Ước mơ đầu của tôi đã thành sự thật !

Cuốn sách kỹ thuật về Karate mà tôi riêng kính tặng Thầy sẽ được xuất bản và nay mai nó sẽ đến tay nhiều người , đó là điều quan trọng nhất .

Tôi hoàn toàn không nghĩ đến việc kiếm sống bằng nghề võ , nhưng như bất cứ một võ sư nào khi đã chiêm nghiệm được cái thiện mỹ của võ đạo , đều mong muốn truyền lại những tinh túy của hồn võ cho những người đi sau . Theo tôi việc làm rạng danh võ phái là mục tiêu chung của những cao đồ ,nhằm đáp lại công ơn của Thầy tôi - một Samurai xứ hoa Anh đào đã chọn Việt Nam làm quê hương thứ hai của mình , đã nhiệt tình truyền thụ võ công cho chúng tôi với bao tâm huyết .

Trong nhận thức của mình về lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc , tôi thấy rõ truyền thống thượng võ hào hùng của cha ông từ ngàn xưa để lại . Nếu không có những anh hùng liệt nữ dùng võ nghiệp để đánh quân thù bảo vệ nhân dân thì còn đâu giang san gấm vóc ngày nay ! Võ nghiệp gắn liền với sự hy sinh quên mình , với dũng khí để nhìn thẳng vào kẻ thù và sẵn sàng đối đầu với nó , dù kẻ thù có mạnh hơn ta trăm lần . Dụng võ không chỉ đơn thuần là đối kháng tay đôi mà còn ứng dụng thời cơ mưu thế .

Rất nhiều người quan niệm học võ là để đối kháng cá nhân , giỏi hơn là đánh đỡ được đôi ba người . Quan niệm này thật sai lầm hoặc chỉ đúng cho những lò võ luyện môn sinh đi đả lôi đài . Đòn thế võ có khi tiến khi thối , công rồi thủ ,từ nhu qua cương rồi tả xung hữu đột , dùng đòn nghi , đòn nhử dương đông kích tây , lả lướt như nước chảy mây trôi để rồi dũng mãnh như hổ vồ rồng múa .

Từ võ nghệ đến võ đạo tiền nhân đã sáng tác những pho binh pháp truyền đời , sử dụng cho đến ngày nay vẫn còn hiệu nghiệm . Binh pháp của Tôn Tử , Võ Mục di thư của Nhạc Phi , Binh thư yếu lược , Vạn Kiếp tông bí truyền thư của Trần Hưng Đạo ...đều từ những con người thiên tài nghiên cứu võ công , để thấy có thể Binh pháp , binh thư không hẳn chỉ dùng riêng cho quân sự , mà còn ứng dụng vào nhiều lãnh vực khác trong xã hội . Vậy người học võ không phải là kẻ hữu dũng vô mưu , học võ là học để hình thành nhân cách của bậc trượng phu quân tử . Xuất xử ở đời tùy thời , tùy hoàn cảnh mà ứng phó , lúc nào cũng điềm tĩnh tự tin và biết rõ mục tiêu đạt đến của mình .

Ngày trước khi đất nước bị nạn ngoại xâm , nhân dân rên xiết trong cảnh đời nô lệ đày ải , biết bao nhiêu người phải dẹp bút nghiên theo nghiệp võ . Những sĩ phu văn thân sức trói gà không chặt , nhưng cũng cầm gươm đeo kiếm luyện tập để xung trận diệt thù và sẵn sàng lấy máu đào tô thắm non sông .

Những văn nhân như Nguyễn Trãi , Nguyễn Thiệp , Ngô Thời Nhiệm , Phan Huy Ích , Trần Văn Kỹ ... sinh ra trong thời loạn đã đem tài thao lược của mình theo phò những anh hùng áo vải như Lê Lợi , Quang Trung ...Dụng văn phò võ trong thời tao loạn chính là con đường phải đi , dù chịu chết ở pháp trường như nhà thơ thiên tài Cao Bá Quát . Bởi thế đến nay chúng ta mới có những áng thiên cổ hùng văn như : Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi , Chiếu lên ngôi của Hoàng đế Quang Trung , Văn tế các nghĩa sĩ Cần Giuộc của cụ Đồ Chiểu ...

Đời nhà Trần có Phạm Ngũ Lão , một thanh niên yêu nước nồng nàn , sôi sục máu hờn căm quân xâm lược Nguyên Mông bạo tàn . Một hôm ngồi bên đường đan sọt , mãi tập trung suy nghĩ về những trận pháp trong binh thư đến nỗi quên cả ngoại cảnh . Đoàn quân mã hộ giá Trần Hưng Đạo đến gần mà ông cũng không biết , có kẻ lấy giáo đâm vào đùi máu chảy khi đó ông mới thức tỉnh .Trần Hưng Đạo cho là chuyện lạ gọi lại hỏi , mới biết Phạm Ngũ Lão là một thanh niên có tài , bèn cho theo kiệu về trong quân trướng của mình . Nhiều người cho đây là kế ra mắt của ông đối với một nguyên soái đương quyền , có thể vậy , vì ước mong của ông chỉ là cầm gươm giết giặc . Khi được nhận vào hàng ngũ các tùy tướng của Trần Hưng Đạo , ông thường bị các tướng khác chế giễu cho là võ công thấp kém không bằng họ , chỉ được chút tài mọn về binh pháp trên đầu môi .

Lặng thinh trước những thách đố và bình thản trước thái độ xem thường của kẻ khác , ông vẫn tận tụy với công việc hàng ngày . Một dịp nhân có chuyện tang khó của gia đình ông xin phép về quê một thời gian . Chính trong thời gian đó ông chuyên cần múa đao luyện võ không lúc nào ngơi nghỉ để đạt đến thượng thừa .

Ngày trở lại quân doanh ông càng tự tin và luôn giữ mối quan hệ bình thường tốt đẹp gắn bó với mọi người , nhất là những người dưới quyền . Sử viết ông gắn bó với binh sĩ thuộc hạ như tình cha con . Không biết do duyên cớ nào hay từ chính bản thân nhân cách của một võ tướng tài năng đã hiển lộ mà không còn ai dám chê bai ông , những kẻ ngày trước đòi tỷ thí với ông , giờ cũng không dám nhắc lại chuyện cũ . Ông lập nhiều chiến công vang dội trong sự nghiệp của mình để từ một tùy tướng nhỏ của Trần Hưng Đạo trở thành một đại tướng của triều đình , thống lãnh đại quân nhà Trần sau này .

Niềm đam mê võ của tôi đến từ những câu chuyện trên và võ đạo chính là phương cách đi vào đời sống huyền vi của tâm đạo . Mọi lý luận , sách vở dều trở thành vô ích khi nói đến Thiền . Làm thế nào để đạt giải thoát chân thực trong đời sống hiện tại ? Làm thế nào để an tâm - an trú trong chánh định ? Tôi may mắn được khai tâm với hai người Thầy , trong đó Thầy Suzuki là người đã cho tôi hiểu và biết về võ đạo một cách đích thực trong gần mười lăm năm trời .

Thật là đáng buồn nếu là một con người ăn no đến tận cổ , uống đầy bụng , đi đứng nằm ngồi đều mệt mỏi , rũ rượi không biết cách thở đúng phép , không luyện tập thân thể để bạc nhược như một lão ông dù tuổi chưa qua thanh niên .Tôi đã gặp rất nhiều người như vậy trong cuộc đời và không biết họ sống vì mục đích gì ? Hay là sống để đi đến cái chết , đày đọa xác thân mình trong yếu ớt bệnh tật .

Võ đạo là một nỗ lực điều khiển thân xác theo tự nhiên , giữ gìn nó đừng rơi vào mềm yếu là nguồn gốc của mọi bệnh hoạn . Tập trung trong võ học là yếu tố quan trọng và sự canh thức này sẽ theo ta đời đời , rồi một lúc nào đó đột nhiên bừng nở niềm an lạc tuyệt vời để đón nhận tin mừng , vì mình có thể vận dụng khí lực bất cứ lúc nào . Mình đã không nghĩ đến mình , không mong cầu mà tràn đầy tỉnh thức . Người võ sư khi đạt đến huyền công thì hữu chiêu thành vô chiêu , kiếm chiêu cũng trở thành kiếm ý , đến đi tự tại giữa non ngàn , tâm có cũng như không , ở khắp nơi và cũng không ở chốn nào .

Từ số tiền bản quyền cuốn sách võ đầu tay , tôi mạnh dạn thuê ngay một mặt bằng lớn ở 193 Trần Hưng Đạo , Sài Gòn và mở võ đường . Từ năm 1972 tức là năm mới hai mươi bốn tuổi tôi là giám đốc đại võ đường Champion Karate , môn sinh lên đến hơn ngàn . Trong đó có nhiều người Mỹ , Nhật làm việc ở Sài Gòn đến học và mời tôi làm cố vấn võ thuật và huấn luyện cho đại sứ quán Nhật Bản .

Nhiều người cho đến bây giờ vẫn còn ngạc nhiên bởi một người trẻ tuổi như tôi hồi đó dám mở võ đường ngay tại Sài Gòn , lúc mà những võ phái như Thái cực đạo , Nhu đạo , Thiếu lâm Vovinam đã phát triển cực thịnh tại đây . Tôi là một gã liều lĩnh coi trời bằng vung ư ? Thưa , thật sự khi tôi tự tin với hoài bão và tâm niệm của mình thì không gì cản nổi ! Với lại tâm không nghĩ chuyện tranh hùng xưng bá , thì võ đường cũng là đạo tràng thanh tịnh , như trong thảo am trên đồi Tùng dạo ấy mà thôi !
Bạn gần không tới , Bạn xa chưa về
0
 
 
 
Mùa xuân năm 1975 tôi trở về Huế thăm bạn bè nhưng không gặp ai cả . Lúc này chính là những ngày đất nước đang thay da đổi thịt ,những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh dài gần hai mươi năm trời . Những ngày cuối tháng ba lính tráng và dân thường hớt hãi chạy nháo nhác khắp nơi từ Quảng Trị đến Huế .Những đoàn quân nhiều phiên hiệu như nhảy dù , thủy quân lục chiến , biệt động quân , bộ binh , địa phương quân ... đang dồn về thành phố Huế và bãi biển Thuận An chờ di tản chiến thuật . Thành phố Huế thật hỗn loạn , chợ Đông Ba bị bọn cướp của hôi đồ đốt cháy . Thỉnh thoảng tiếng pháo cầm canh của bộ đội lại dội về , lúc thì nổ ở Mang Cá , lúc thì ngã ba Sình , Bao Vinh , Kim Long ,Chợ Nọ ... Những ai quen mùi chiến trận mới biết giá trị của những đợt pháo cầm canh này , nó không mãnh liệt hung hãn để sát thương hàng loạt , nhưng lại đe dọa và trấn áp tinh thần một cách ghê gớm , làm sa sút ý chí đối phương . Tôi nghĩ đây là những loạt đạn pháo chiến thuật làm quân Cộng hòa tại tỉnh giới tuyến này tan hàng , rã đám một cách nhanh chóng . Không còn chỉ huy , quan quân mạnh ai nấy chạy , giành giật nhau từng phương tiện vận chuyển để rồi tự nổ súng vào nhau ,nhiều người đã chết vì những viên đạn của đồng đội họ ngày nào .
 
Con đường quốc lộ huyết mạch từ Huế đến Đà Nẵng đã bị cắt từ đoạn La Sơn đến đèo Hải Vân . Trước đó , đây là con đường mà hàng vạn người từ dân đến công chức , lính hậu phương đã nườm nượp từ Quảng Trị , Huế chạy vào Đà Nẵng , cảnh thương tâm nhiều không kể xiết .
 
Những ai ở Huế , Đà Nẵng trong những ngày tháng lịch sử đó đều không thể nào quên cái cảnh tao loạn diễn ra trên con đường tháo thân đầy máu và nước mắt ấy .

Như mọi người , tôi về Thuận An để đợi những chuyến tàu chở dòng người di tản giờ lên đến hàng vạn . Không khí ở đây hỗn loạn vô cùng , người ta dành nhau từng chiếc thuyền để qua bãi tắm , số còn lại đợi chờ vô vọng ở cầu cảng , xô đẩy nhau , tìm nhau trong chốn ba quân , thỉnh thoảng lại vọng lên vài loạt súng tiểu liên lẻ tẻ ...đâu đó có nhiều người chết vì dành nhau một chút hy vọng thoát thân . Đại pháo cầm canh của bộ đội vẫn nổ ầm ì chung quanh .
 
Một hai chiếc xà lan há mỏ vừa cập cảng thì đã có hàng ngàn người xô đẩy nhau tràn lên , bây giờ không kể phiên hiệu sắc lính , không còn ai chỉ huy , súng lại nổ ... nhiều người chưa kịp lên thì cửa tàu kéo khép và rời bờ . Một số bám theo rớt lả tả xuống biển lạnh .
 
Rồi người ta lại dồn nhau qua bãi tắm vì nghe đâu tàu vận tải không thể vào cầu cảng , người bên này nhìn qua bờ bên kia tuyệt vọng .
 
Nhiều người vất súng ống ,áo quần lội qua phá . Một hai chiếc thiết giáp vượt phá , số người bu bám quá nhiều nên chìm lỉm , lại chết oan uổng . Trên bãi biển Thuận An tôi chứng kiến một anh lính bộ binh Trung đoàn 1 khóc tức tưởi bên xác một người bạn vừa bị bắn , thây còn tươi rói . Anh lặng lẽ nâng khẩu súng phóng lựu nhắm thẳng vào chiếc xà lan vận tải vừa rời bến , cũng may anh xạ thủ này bắn tồi nên quả đạn chỉ sướt qua mạn tàu , không trúng vào đám lính lố nhố đen kịt ở trên . Trên tàu xả súng bắn vào , lại người chết , bãi biển rộng đâu đâu cũng thấy xác người . Nhiều cái chết oan uổng ở đây , một sĩ quan thủ quỹ bị bắn ngay trên bãi vì ôm theo cái cặp đầy tiền , một sĩ quan khác tự sát vì tuyệt vọng .
 
Theo một vài người địa phương tôi đi ngược bãi tắm đến mấy cây số , đến làng Hòa Duân và thuê được một chiếc ghe đánh cá , giá thuê ở đây vào Đà Nẵng không rẻ , phải trả hơn cây vàng , chủ ghe mới miễn cưỡng cho chiếc ghe rời biển trong đêm tối .
 
Ghe rẽ sóng xa bờ , sao đầy trời lấp lánh . Những chùm sao vời vợi và mênh mông như vô tận . Một vầng trăng sớm cao dần bên chân trời , một vầng trăng có màu đỏ nhạt giống như màu trăng trong tác phẩm nói về nỗi tuyệt vọng của con người trong chiến tranh của Erich Maria Remarque .Huế đang xa dần theo từng cơn sóng đại dương , mới hôm qua mà quê hương bây giờ sao mà diệu vợi niềm ly biệt .
 
Nhiều bạn cũ của tôi đang ở lại Huế với cuộc đổi đời , họ hân hoan vì ước vọng quê hương hết chiến tranh sắp trở thành hiện thực . Họ ở lại chờ đón cái mới , được dệt bởi huyền sử từ những ngày sơ khai của một thuở " mang gươm đi giữ nước " . Còn tôi lại phải bỏ quê hương trôi nổi trên muôn trùng sóng nước .
 
Cha mẹ và các em tôi chắc còn hoang mang phiêu dạt theo dòng người di tản , lại thêm người vợ hiền của tôi đang chờ tôi từng ngày trong cơn binh lửa . .Tôi không đủ cứng lòng để ở lại Huế với bạn bè - những người bạn một thời nổi lửa đầy ắp nhiệt tình , những người bạn được tôi luyện bằng lòng yêu nước và tình tự dân tộc , thù ghét bất cứ sự cong lưng quỳ gối nào . Họ luôn đứng về số đông nhân dân đói khổ và bất hạnh . Những ngày ở Huế vừa qua , tôi được biết anh N.Kha đã bị giết chết không tìm ra xác , nhớ người anh kết nghĩa với những ngày thắp nến ngồi đọc thơ cho tôi nghe trên căn gác nhỏ ở đường Bạch Đằng , nhớ những lúc ngồi uống cà phê với anh ở Lạc Sơn cùng C.Sơn , L.K.Cầm , Võ Đông để trông chiều đi suốt phố . Một người hiền lành đã không còn nữa , chỉ còn những vần thơ anh trải trên quê hương rực lửa trong lòng những người trẻ tuổi . Thơ đã làm khăn liệm đắp mặt cho đời anh , đắp trên những nỗi đau cùng cực của nhân dân với khát vọng hòa bình .
 
Đà Nẵng không hơn gì Huế trong những ngày cuối tháng 3/75 lịch sử đó . Những kho lương thực , quân tiếp vụ , cửa hàng bị cướp phá , trên đường phố , đâu cũng có cảnh người ta nhốn nháo khuân vác , cướp giật ...Những ngày đầu còn có quân cảnh , lính tráng súng ống giữ gìn trật tự , rồi sau đó khi nghe tin ông tướng Tư lệnh vùng đã bỏ trốn thì thành phố biến thành hỗn loạn như trong chảo lửa .
 
Người ta dồn về Sơn Trà , cảng cạn , cảng sâu , phi trường để chờ di tản . Lính và dân , kẻ giàu có thì đến cảng thuê thuyền tàu ra khơi hoặc chạy vào phi trường tìm chỗ cho mình và gia đình trên những chuyến bay vận tải quân sự , đã có người bám theo càng máy bay để rồi rơi chết , có nhiều chiếc trực thăng rơi vì quá tải . Súng nổ loạn xạ ... Con người như điên cuồng trong địa ngục , nỗi tuyệt vọng bám trên khuôn mặt , trên đôi mắt họ , những đứa trẻ sợ hãi ngơ ngác bám theo người lớn . Đâu đây đã có cảnh giết người cướp của và hãm hiếp , nạn nhân cũng là những người dân vô tội không có gì để tự vệ trong cơn gió bụi này . Đi giữa cuộc đời mà như đi trong một cơn lốc , không biết đi đâu , về đâu , ngày mai sẽ ra sao ?
 
Chiếc chiến hạm treo cờ Hoa Kỳ phất phới nằm đợi ngoài kia cách cầu cảng vài cây số . Tôi nhớ rõ tên tàu Henry Miller - tên một nhà văn nổi tiếng của Hoa Kỳ và cả thế giới . Tên của ông sơn trên chiếc chiến hạm lớn của hạm đội số 7 đang thả neo ngoài kia . Trong này trên cầu cảng là cả vài ba vạn người đang chờ đợi được xuống những chiếc xà lan cặp mạn chiến hạm rồi leo lên tàu bằng những chiếc thang dây . Lên được trên boong tàu đó là sống , là thoát được cơn cuồng phong và những cuộc tắm máu - như phần lớn trong suy nghĩ những người di tản hồi đó . Người ta đổ về Sài Gòn như một cứ điểm cuối cùng của chế độ , ở đó họ chờ đợi sự ứng cứu cuối cùng của người Mỹ và đồng minh để hà hơi thở cho một chế độ không còn sinh khí , đang hấp hối mà cả tổng thống , các tướng lĩnh chỉ huy , công chức chóp bu ,đang tìm cách mang theo của cải tháo chạy ra nước ngoài .
 
Miền Nam hơn hai mươi năm qua dưới một thể chế chắp vá có quá nhiều đổi thay và thường xuyên bị chi phối , điều khiển từ những thế lực phương Tây muốn rũ bỏ tâm thức bao đời cũng không dễ gì , để hôm nay : Những ngày cuối nhưng vẫn còn là mùa xuân năm 1975 , quân tan như băng tảng gặp nắng thiêu , cơ sở hạ tầng chính trị từ thôn ấp đến dinh tổng thống tựa như xây nhà trên cát , một cơn thủy triều lên là biến mất không còn dấu vết . Chỉ còn lại những vết thương hằn sâu khó nguôi ngoai trong lòng một số người để gặm nhấm nỗi oan cừu vô nghĩa chưa thể cởi bỏ . Nhưng vẫn còn nhân dân Việt Nam , ở họ ngọn lửa thiêng linh hiển từ mấy ngàn năm vẫn sẵn sàng rực sáng .Trong âm thầm an phận , dù đói nghèo vì bị tước đoạt vẫn không khuất phục trước bạo quyền với khát vọng tự do , công bằng ngàn đời không bao giờ phai .
 
Trên những chiếc thang dây đu đưa trước gió , nối khoảng cách từ xà lan lên boong chiến hạm cao như một căn nhà lầu năm tầng , nhiều người đã rớt xuống biển chết , phần lớn là phụ nữ , trẻ con và người già cả . Những tiếng thét kinh hoàng trong gió và sóng biển dập dồn gào thét , biển xám đen lạnh lùng như một cửa mồ thăm thẳm , đón nhận sự vô vọng , vô danh của kiếp người . Biển nhận chìm sự sống đang còn tươi tắn vùng vẫy kêu gào rồi im nghỉm trong mịt mù thinh lặng . Có ánh đèn pha từ trên tàu rọi xuống , những đầu người và những cánh tay nhỏ mù mờ tuyệt vọng nhấp nhô lên xuống . Con tàu rời cảng , những cuộn nước vô tình toa rập cùng tiếng sóng đại dương , cái lạnh vô bờ , đói khát và mệt lả , những con người bất hạnh đành buông tay vào lòng biển sâu .
 
Từng dòng người trên thang dây trông như bầy kiến đang bám đuôi nhau đi tìm sự sống . Trong số người ấy lại xảy ra cảnh đạp , đổ rồi bám vào nhau để rơi xuống - chết . Những người lính mạnh mẽ đè lên những người dân yếu ớt , nhiều kẻ chịu không nổi lại buông tay , người ta giẫm đạp lên nhau để tìm sự sống cho riêng mình . Nhiều người không thể dìu nổi vợ con mình trên thang dây , họ dùng tay đẩy người thân để leo lên tàu , không còn thì giờ để khóc thương , có người khi lên tàu rồi nhìn lại mới bàng hoàng biết vợ con , người thân mình đã chìm dưới biển sâu .Họ kêu gào la khóc ... âm thanh đó truyền qua những sóng người đen nhập nhòa trên boong tàu , cộng với tiếng gió đại dương , tiếng súng nổ vang trong thành phố , tiếng còi tàu rên rỉ , làm nên âm thanh của chiến tranh như tiếng rít lạnh lùng của lưỡi hái trên tay thần chết đang há miệng đen ngòm đầy máu , cười man rợ vì sự ngu ngơ khờ khạo của con người .
 
Cho đến bây giờ mỗi lần nhớ lại , vẻ tang thương chất ngất của khung cảnh đó như còn in trong tâm trí của tôi . Trong nỗi khát khao tìm gặp những người thân yêu ruột thịt của mình đang ở miền Nam , tôi có mặt trên chiến hạm ấy . Trước khi tìm được một chỗ đứng trên boong tàu đầy ắp người , tôi phải níu cho được cái thang bằng dây như mắc lưới từ chiến hạm thả xuống . Nhờ có sức khỏe nên khi lên tôi cõng thêm được trẻ em hoặc phụ nữ , hoặc đẩy những người già đong đưa trên thang dây từ dưới xà lan lên tàu mà không khỏi rùng mình .Trông thấy người khác sắp chết vì hiểm nạn , thì phải ra tay cứu vớt không cần nghĩ ngợi so đo gì . Đó là lẽ sống của người võ sĩ đạo đã thấm trong tim óc tự bao giờ . Dùng công lực và mưu thế của một người có võ nghệ , tôi đã cứu được một số người trong cơn nguy hiểm . Giữ chừng ấy thôi , mãi mãi trong mọi nguy khó để cứu người , sẽ không phụ cái công theo thầy học đạo , học võ từ những ngày tóc còn xanh .
 
Trên boong tàu lúc này đã đen nghịt người , không còn chỗ cho một con ruồi có thể bay . Tiếng loa điện từ đài chỉ huy kêu gọi ổn định trật tự . Tàu từ từ ra khơi , nhìn lại trên bờ vẫn còn đông người từng cụm lố nhố đen kịt trong màu xám hoàng hôn ... Đà Nẵng đã khuất dần sau màn sương nhẹ mênh mông và một biển trời xanh biếc . Lòng người hoang mang trên con tàu vô định .
 
Trong tự sự này tôi không giấu giếm hoặc cường điệu thêm thảm cảnh một chút nào , chỉ muốn đoạn phim ký ức của tôi được chiếu lại cho những người chưa biết , những người không ở cùng cảnh ngộ để cảm thông được hai ba phần trong trăm nỗi đoạn trường lúc ấy .
 
Trên boong tàu cạnh tôi đã có người chết đứng - đó là một thiếu nữ chết ngạt vì quá yếu . Người mẹ ôm xác con không dám khóc vì sợ người ta quăng xác con mình xuống biển . Tôi đứng cạnh mấy đứa trẻ và che chắn cho bọn chúng vì sợ bị đạp , xô đẩy . Bây giờ là đói và nhất là khát ,trong cái hừng hực hơi người với cái đói khát ,lạnh lùng , thêm nhiều người đã chết . Tôi nhìn cái vòi rồng đang phun nước cứu tinh và hàng ngàn cái miệng há ra chờ làn nước ngọt . Trong đêm tôi nghe có tiếng hét gào thê thảm của ai đó , những cơn động kinh chăng ? hay là để tránh nổi loạn trên tàu , người ta phải giết chết rồi thả xuống biển một vài người nào đó . Trong chiến tranh , mạng người như cỏ rác và chuyện gì cũng có thể xảy ra .
 
Một ngày nữa dưới nắng lửa đại dương , chiến hạm Henry Miller cặp quân cảng Cam Ranh , lũ lượt từng đoàn người lê thê lếch thếch rời tàu xuống cảng . Khác với lòng mong đợi của mọi người , chiếc tàu chiến không cập bến Vũng Tàu mà lại ghé cảng Cam Ranh . Lại một chặng dừng chân nữa rồi tháo chạy . Dòng người chiến nạn lủi thủi xuống tàu . Cam Ranh , Phan Rang đang lập một tuyến phòng thủ để ngăn quân giải phóng tiến vào Sài Gòn , nghe đâu vị tướng tư lệnh không quân ở đây đã chỉ huy cuộc di tản rất tốt . Máy bay vận tải quân sự khi trở lại Sài Gòn chỉ được chở theo thường dân , đa số là gia đình binh sĩ , còn lại những tàn quân của các binh chủng được tập họp lại để nhận súng đạn tiếp tục chiến đấu . Sự việc diễn ra trong trật tự chỉ được hai ngày đầu , đến ngày thứ ba thì Cam Ranh - Phan Rang đã hỗn loạn . Dòng người tị nạn nhào vô phi trường Phan Rang , máy bay không đủ để chở người , có chiếc chở nặng bị rơi ngay ngoài hàng rào sân bay , rồi máy bay không còn hạ xuống được nữa vì phi trường đã bị pháo kích , xe tăng quân giải phóng đã đến cận kề .
 
Tôi về được Sài Gòn nhờ một người bạn cũ là phi công của một vận tải cơ , anh nhờ tôi cõng một cụ già đang ốm nặng lên phi cơ , nghe đâu ông cụ là cha của một sĩ quan chỉ huy phi đoàn vận tải , nhờ vậy mà tôi lên phi cơ trót lọt không bị ai cản trở hay hỏi han gì . Khi chiếc vận tải cơ C123, một trong hai chiếc cuối cùng cất cánh khỏi phi trường Phan Rang , nhìn qua ô cửa tôi thấy nhiều cột khói và đám cháy ở sân bay vì đạn pháo kích . Chiếc phi cơ tròng trành ra biển , cơ trưởng ra lệnh cho thả những hàng hóa cồng kềnh trên máy bay xuống vì quá tải không thể bay nổi . Nhiều người ngẩn ngơ tiếc nuối nhìn những va ly đồ đạc , tủ lạnh , tivi ... của mình bị đạp xuống biển nhưng họ cũng thừa biết của cải bây giờ không quý bằng mạng sống .
 
Con đường di tản từ Huế đến Sài Gòn của tôi trong những ngày cuối tháng 3 và đầu tháng 4 vang rền tiếng súng , đẫm máu và nước mắt . Tôi đã từng nhìn mặt từng thây người chết trên biển và mong không phải là người thân ruột của mình . Đúng là con đường của xác người và biển máu .
 
May mắn thay gia đình tôi vẫn còn nguyên vẹn đã cùng nhau sum họp tại Sài Gòn . Trong những ngày binh lửa tang tóc này , đứa co gái đầu lòng của tôi được hai tuổi và đứa con trai thứ hai được bốn tháng , vừa mừng vừa thương khi nhìn các con bé bỏng trong thời loạn lạc . Tôi thấy mình đang bị dán chặt vào đôi mắt thơ dại và đôi bàn tay nhỏ nhít của con . Qua một chặng đường khổ ải đầy bất trắc bây giờ là bến bờ bình yên tạm thời trong mắt trẻ thơ . Rồi đây tôi phải đương đầu gánh vác bổn phận bảo vệ vợ con mình trước những giông bão của cuộc đời mới .
 
Sài Gòn lại hỗn loạn với những dòng người di tản , những đợt cứu trợ dân tị nạn từ miền Trung vào . Trong khi đó xe tăng và đại pháo của quân giải phóng đang gầm rú ở Long Khánh , phi trường Biên Hòa , Tân Sơn Nhất bị pháo kích , lại di tản .Nhưng bây giờ không còn biết đi đâu trong đất nước này nữa , nhiều người tìm cách chạy ra nước ngoài bằng mọi phương tiện và như phần lớn đồng bào , tôi và gia đình dứt khoát ở lại .
 
Chiến tranh rồi sẽ chấm dứt , đất nước sẽ bình yên và dù ở chế độ nào dân cũng là gốc , dân cũng là nước , khoan sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc , mới thịnh trị lâu dài .
 
 
 
***
 
 
Như phần lớn mọi người ở miền Nam trong những năm đầu giải phóng ,vợ tôi phải bán lần hồi những đồ dùng quý giá trong nhà kể cả những món nữ trang cuối cùng để lấy tiền trang trải cho sinh hoạt gia đình hàng ngày . Vợ tôi là một giáo sư trung học đệ nhị cấp trường Sương Nguyệt Ánh . Tôi hàng ngày đến làm việc tại trung tâm cai chữa ma túy Bình Triệu , nơi giải quyết tệ nạn lớn tàn dư của xã hội . Công việc của tôi làm là cùng với các bác sĩ Sơn , Long , Tuấn Phong , Thiện giảng dạy những phương pháp cai nghiện ma túy bằng châm cứu , bấm huyệt , thuốc nam , và khí công trị liệu . Lúc này thuốc tây chữa bệnh đắt như vàng , những người nghiện ngập lại chưa tìm đâu ra nguồn ma túy để hút xách , chích choác ... do đó số người đến cai nghiện rất nhiều .Chúng tôi làm việc không kể ngày đêm dưới sự chỉ bảo tận tình của bác sĩ Thìn . Bác sĩ là người Huế , anh có công lớn vì đã trực tiếp đề ra chương trình cai nghiện ma túy bằng Đông y và chính anh cũng là người đứng ra chữa trị cho con nghiện . Tôi giúp việc cho anh như một tình nguyện viên , hàng tháng chưa ai được lãnh lương mà chỉ có khi được trợ cấp một ít gạo , thuốc lá , rau thịt ...
 
Trong thời gian ấy một số môn sinh cũ đã tìm đến tôi ,nhiều người đề nghị tôi cùng họ đi buôn thuốc tây , đồng hồ , xe máy ... là những mặt hàng có thể kiếm lãi rất mau để nuôi sống gia đình . Tôi chưa kịp nhận lời thì gặp một môn sinh đã học với tôi trong những ngày đầu thành lập võ đường . T. tâm sự với tôi về chuyện gia đình sắp vượt biên bằng tàu , chiếc tàu mà T. vừa cùng mấy người bạn đóng xong đang đợi ngày thuận tiện để lên đường , T. ngỏ ý muốn cho vợ chồng tôi đi cùng mà khỏi phải nộp vàng , trong khi những người khác muốn có chỗ lên tàu này để vượt biên thì ít nhất cũng phải nộp từ 8 đến 10 lượng .
 
Vợ chồng mất mấy ngày suy nghĩ để rồi khi nhìn tương lai hai đứa con nhỏ dại đang khát sữa và những người thân đang long đong với ngày hai bữa cơm độn sắn , tôi quyết định thuyết phục nhà tôi ra đi . Đó là những ngày u buồn giữa năm 1978 .
 
 
 
Bạn gần không tới , Bạn xa chưa về
0
 
 
 

NGƯỜI SAMURAI TRONG THƯƠNG TRƯỜNG

 
Như số đông người Việt Nam ở hải ngoại phải đau lòng rời bỏ quê hương chịu cảnh tha phương cầu thực , tôi không ở mãi cái cảnh ngửa tay để nhận tiền cứu trợ xã hội , không thể đeo bám vào một cộng đồng xa lạ trong những ngày tháng đầu tiên ở xứ người để nhận lấy sự xót thương có phần khinh thị của người bản xứ . Sau một tháng đầu ở Mỹ tôi đã xin được một việc làm tại một tháng chế xuất đồ điện tại công ty Kyocera ở phía Bắc thành phố San Diego . Trên dây chuyền sản xuất tôi là một công nhân duy nhất trong căn phòng ngang 10 mét dài 20 mét với hàng chục máy móc mạ vi mạch vào trong chip điện tử . Và chỉ sau một thời gian ngắn được chỉ định làm khâu cuối cùng cho một dây chuyền tức là nhân viên kiểm tra chất lượng . Trong cương vị khiêm tốn này tôi đã học được rất nhiều điều qua các công đoạn sản xuất , kiến thức về điện của tôi được tích lũy rất nhiều trong thời gian này . Ở Mỹ trong giai đoạn mà ngành điện tử bắt đầu bùng nổ , thế hệ những Transistor , Capacitor , Diode ...to cũ đã lạc hậu . Trong kỹ thuật công nghệ mới người ta thay dần những linh kiện trên bằng những con chip , parts ... rất nhỏ có đầy đủ công suất và chức năng , sức truyền dẫn chính xác và tác dụng hiệu lực gấp trăm lần so với công nghệ cũ .
 
Sau một thời gian ổn định về kinh tế , thôi thúc trong tôi lòng thiết tha học hỏi và tìm hiểu về công nghệ điện tử mới . Tôi lại xin một việc làm khác ở một hãng điện tử chuyên sản xuất TV , VCR , DVD ...và cung cấp các bản mạch điện tử theo đơn đặt hàng của các tập đoàn lớn . Đi làm được nửa năm tôi nghĩ đến việc phải tiếp tục học , bởi vì nếu không học tôi vẫn suốt đời làm một công nhân , cho dù lành nghề cũng chỉ được nâng lên thành kỹ thuật viên , còn muốn trở thành kỹ sư thì phải học và thi tốt nghiệp . Trong một xã hội thuần kinh tế thực dụng như ở Mỹ , để đảm bảo một việc làm , một vị trí trong xã hội thì phải có chuyên môn và bằng cấp . Bằng cấp và học vị là thước đo , là tiêu chuẩn đầu tiên để vươn lên trong bất cứ ngành nghề và lãnh vực nào .
 
Tôi đăng ký làm ca ba ở xưởng sản xuất . Ca ba mà những người Việt đi làm ở Mỹ thường gọi là ca " nghĩa địa " graveyard shift , có giờ sản xuất bắt đầu từ 23 giờ đến 7 giờ sáng hôm sau . Chỉ những hãng uy tín có đơn đặt hàng lớn công việc nhiều mới có ca ba , đây là ca làm việc mà người công nhân trên dây chuyền sản xuất âm thầm ban đêm như những bóng ma , những thao tác công việc của họ đều trong không gian vắng lặng và thời gian thì tưởng như trôi rất chậm . Mọi người lặng lẽ làm việc , hiếm hoi mới có tiếng người , chỉ duy những lần trao đổi thật cần thiết mới lên tiếng . Tiếng máy vận hành , đèn neon sáng láng trong xưởng , không ai thích làm ca này nên số người làm việc không đông như những ca khác , cái lặng lẽ bao trùm toàn cảnh nhà xưởng tưởng như chung quanh có những cặp mắt vô hình theo dõi công việc của mình . Cho đến khi nhìn ra cửa kính thấy trời tỏ dần và những lúc đó thèm làm sao những tiếng gà gáy sáng ở quê hương .
 
Ca nghĩa địa là vậy đó , ca này chỉ dành cho những người khó kiếm việc làm hoặc những người còn có công việc thêm ban ngày . Tôi thì đăng ký làm ca ba với lý do khác : để có thể theo học vào ban ngày . Vả lại ca này được trả thêm 25 xu một giờ cũng có thêm phương tiện để trang trải tiền sách vở .
Đêm làm việc , sáng về nhà ngủ một giấc cho đến trưa và chuẩn bị đi học . Thời gian học từ 17 giờ chiều vào thư viện làm bài tập , ôn bài đến 19 giờ vào lớp học ra về lúc 22 giờ đêm rồi lại chuẩn bị vào ca .
 
Vừa làm ca ba vừa học như thế , mọi sinh hoạt của tôi phải sắp xếp lại cho hợp với cơ địa và môi trường của mình . Tôi thường xuyên phải luyện khí công trước khi đi ngủ và sau khi ngủ dậy , thường xuyên tắm nước lạnh . Luôn luôn giữ phần nội lực của mình kín và đầy , những động tác phát tiết ra ngoài thường rất ít , tập như vậy lâu dần trở thành một thói quen .
 
Hãy hình dung dùng một băng dán để gắn tấm hình lên tường gỗ , nhiều người không để ý cắt băng dán một phần vào tấm hình ,một phần vào tường gỗ thế là xong . Nhưng một người mà võ học đã thấm sâu vào máu thịt , một việc nhỏ như vậy nhưng người đó lại thao tác cách khác : cẩn thận anh ta chỉ cho 20% đến 30% bề mặt tiếp xúc của miếng băng dán vào tấm ảnh , phần còn lại được dán vào bề mặt của tường gỗ . Cách dán này vừa đẹp mắt vừa đảm bảo bức ảnh sẽ không rơi rớt vì cả hai phần tiếp xúc của băng dán với bức ảnh vào tường đều hợp lý theo tỷ lệ .
 
Nhiều người xem thường những việc nhỏ , nhưng nếu việc nhỏ làm không tốt và cẩn thận thì làm sao làm những việc lớn . Cũng như trong võ thuật Musashi đã nói :"Khi anh đã có thể dễ dàng hạ một địch thủ , thì anh có thể hạ bất cứ kẻ nào trên trái đất . Nguyên tắc đánh hạ một địch thủ cũng là nguyên tắc đánh hạ trăm ngàn địch thủ . Người lão luyện chiến thuật làm cái nhỏ thành ra cái lớn , tương tự như nhà điêu khắc tạc một tượng Phật lớn từ một mẫu tượng nhỏ .Khi nắm được một điều , có thể hiểu được một vạn điều ." Tôi đã từng chứng kiến một nhà thầu làm giếng cho một công trường lớn trên cát , công việc của ông ta là thầu đào mấy chục miệng hố rồi thả vòng bi xi măng xuống , nhưng làm hoài mà giếng vẫn bị nghiêng , mấy chục vòng bi xi măng lòng giếng không chịu đứng yên một chỗ mà lại lệch nghiêng đến mấy chục độ . Anh ta cố đào " bên không nghiêng " để lấy thăng bằng cho lòng giếng mà không bao giờ được , càng sửa thành giếng lại càng nghiêng lệch nhều hơn .
 
Với một lực tác động trên mặt bằng mềm , khi không cân xứng ta không bao giờ xử lý về một phía , bất cứ lúc nào cũng tạo cân bằng từ hai phía , đó là quy luật âm-dương , mềm-cứng trong tự nhiên mà thôi . Sau khi nhìn thấy tôi giúp ông xử lý tốt hơn mấy chục cái giếng , vì nguyên tắc người thợ ở dưới cứ đào phía bên cao đất cát từ phía ngoài vòng bi trụt xuống , tạo khoảng trống viên bi bị bắn ra khoảng trống đó và giếng càng nghiêng nhiều hơn . Trước đó ông dè bỉu và cho tôi là một thằng bé chưa biết gì . Bởi vậy trong cuộc đời tôi , từ trước đến nay đối với công việc cũng như đối với người khác tôi không bao giờ vội vàng đánh giá tốt hay xấu , trình độ , đạo đức ... có hay không ? Mọi đánh giá trước đều chủ quan có khi phiến diện đến không ngờ , kết quả trái ngược với sự đánh giá chỉ làm ta thất vọng hoặc hối hận mà thôi . Tuy vậy , đối với mọi sự sai lầm , sự không trung thực của đồng nghiệp , bạn bè ... tôi đều để dành cơ hội thứ hai cho họ sửa chữa , nếu họ không dùng tốt cơ hội đó , thì người ấy sẽ không là đồng nghiệp hay bạn bè của tôi nữa . Không mềm yếu quá đáng để đưa mình và người khác vào sai lầm gây nên nghiệp quả , dù khi cắt bỏ có đau đớn chút ít nhưng vết thương sẽ mau lành còn hơn để lâu trở thành ung thối không thể chữa trị được nữa .
 
Năm 1983 tôi tốt nghiệp kỹ sư điện tử , sau bốn năm vừa làm vừa học . Tấm bằng kỹ sư mà tôi nhận được là kết quả của những ngày tháng cần cù , nhẫn nại , chịu thương , chịu khó để theo đuổi . Những chứng chỉ mà tôi có được từ Đại học Văn khoa và Đại học Luật khoa Sài Gòn không giúp cho tôi được bao nhiêu tín chỉ theo hệ thống dại học của Mỹ . Nhờ vừa có học bài bản vừa làm việc để thực hành đúng chuyên môn , nên tôi gần như nắm bắt và tiếp thu tường tận công nghệ cao điện tử của Hoa Kỳ trong thời gian này .
 
Hoa Kỳ là một nước tiên tiến trong lãnh vực điện tử , tuy nhiên thị trường điện tử họ đã để cho người Nhật chiếm một tỷ lệ thị phần quan trọng trong việc xuất khẩu sản phẩm , một số thiết bị điện tử Hoa Kỳ cũng phải nhập từ Nhật Bản . Vấn đề này nằm trong những quy luật kinh doanh , thương trường riêng biệt mà hai đối tác này luôn tôn trọng và bảo vệ nhau , khi có mâu thuẫn thường có điều chỉnh cần thiết theo tình hình mà hai bên cùng có lợi . Một lần trong lớp học tôi trao đổi với một giáo sư kinh tế về lãnh vực điện tử , tôi có đem vấn đề tại sao người Mỹ lại không cạnh tranh với người Nhật trong lãnh vực thương mại điện tử ...vị giáo sư đó không trả lời trực tiếp câu hỏi mà trả lời rằng : người Mỹ chuyển giao công nghệ cho đồng minh và chỉ nắm lại công nghệ đó ở trình độ cao nhất . Lúc đó tôi cho đây là một câu trả lời ngạo mạn về sự so sánh , nhưng sau này đi vào thương trường tôi mới hiểu ông giáo sư đó đã nói thật . Các tập đoàn của Hoa Kỳ đều có chiến lược nắm công nghệ mới ở đỉnh cao mà cái nhìn phân tích bên ngoài khó lòng vội vàng kết luận .
 
Đất khách quê người , lòng mang nỗi sầu xa xứ khôn nguôi , tình quê trong tôi lúc nào cũng sẵn sàng trỗi dậy niềm hoài hương với nhiều thương mến . Hình bóng mẹ già mỏi mòn , lận đận chốn quê xa mà lúc nào tôi nhớ đến cũng như xát muối trong lòng . Mỗi lần nghĩ về mẹ là lòng tôi lại mềm yếu và thẫn thờ như đeo đẳng nỗi thiếu vắng lớn lao vô chừng . Những buổi chiều lái xe đi trên cả trăm cây số trên con đường đi và về từ nhà đến nơi học và làm việc , qua đoạn đường xa lộ số 5 từ San Diego đến Santa Ana ... một bên là đồi núi chập chùng tuy không nhiều cây cối , một bên là biển xanh sóng vỗ , tôi như đắm trong cơn mơ về nỗi nhớ quê nhà đến đày đọa tâm hồn .
Những lúc ấy nếu không vì mấy đứa con còn thơ dại , nếu không có sự chia sẻ đầy cảm thông của nhà tôi , không biết tôi có đủ can đảm và kiên trì " đêm cày ngày phơi " không ?
 
Cám ơn tình đất nước , tình mẹ để cho tôi ngẩng cao đầu đối mặt với cuộc sống đầy gian nan khổ nhọc . Đúng như bao người nghĩ về nước Mỹ - đó là một xứ sở giàu có đẹp đẽ , nhiều dân tộc khác màu da sống với nhau trong một xã hội mà pháp luật là kỷ cương ràng buộc . Bạn có thể đối mặt với pháp luật bất cứ lúc nào . Lái xe quá tốc độ là có ngay xe cảnh sát hú còi phía sau ,quẹo phải , quẹo trái đúng luật , dù chưa xảy ra tai nạn cũng có thể bị giấy phạt vì "không an toàn " , để chó chạy rông , la mắng con cái rầy rà mấy nhà hàng xóm cũng có thể bị kiện tụng , vườn cỏ nhà anh không cắt tỉa cũng bị thành phố gửi giấy phạt .
 
Nói chung , xã hội Mỹ trật tự một cách lạnh lùng , không có chuyện thông cảm bỏ qua . Muốn làm bất cứ chuyện gì cũng phải có tiền và có luật sư đứng đằng sau , vì sơ hở là có thể "đáo tụng đình " đến sạt nghiệp . Nước Mỹ là một bông hồng mà chung quanh quá nhiều gai nhọn . Những ngày tháng đầu tiên sống trên đất Mỹ tôi cũng như những người Việt Nam khác đều có chung suy nghĩ : thật khó sống ở xứ này , khi chung quanh thành phố là cao ốc , những khu nhà ở trải rộng , trời xanh và cao , khí hậu trong lành , đường sá phẳng phiu , xe chạy nườm nượp , công viên , hè phố cây cỏ xanh rờn , hoa tươi sạch đẹp tinh tươm như tranh vẽ . Làm sao có thể kiếm đủ sống chứ đừng nói làm giàu trong một khung cảnh mà hình như đâu vào đấy cả rồi . Nhưng không , ở Mỹ nói riêng và phương Tây nói chung , nếu biết làm thì đâu cũng có thể thành tiền . Cắt cỏ , bán báo , rửa xe ,giữ em , dắt chó đi chơi đều được trả tiền . Nhưng tiền nào của ấy , công việc là công việc chứ không thể vừa làm vừa chơi , vừa lấy tiền thiên hạ mà nhẩn nhơ thơ mộng là không xong .
 
Đa số người Việt Nam ở Mỹ đều ổn định công việc trong một thời gian rất ngắn , khi hội nhập được với xã hội họ đã vươn lên có nhà cửa ,của cải , nhiều người đã trở thành chủ cửa hàng , cửa hiệu, có hãng , công ty riêng và ky cóp tiền của để dành cũng không thua người bản xứ chút nào . Nhưng phần lớn làm chỉ đủ sống và trang trải cả chục loại chi phí không thể nào tránh khỏi . Làm việc như đi cày ngày 8 tiếng mướt mồ hôi trán , mờ mắt chứ không phải như ở trong nước : Chuyện "cơm vua ngày trời " hoặc " xem thời tiết liếc đồng hồ " ,"cỡi ngựa xem hoa " , "làm ít nói nhiều " ,"nâng trên đạp dưới " đã thành nếp , đã thành thói quen và an phận , thủ thường trong suy nghĩ : rồi đâu cũng vào đấy cả thôi !
 
Tôi không ca tụng gì Mỹ và cũng chẳng ruồng rẫy quê hương , nhưng đó là sự thật hiển nhiên mà bất cứ ai cũng thấy . Ở Mỹ còn kỳ thị , còn có lắm kẻ nghèo , thất nghiệp , phải sống bám vào quỹ cứu trợ xã hội , còn cảnh đì doàng súng nổ của băng nhóm găng tơ . Còn nhiều bất công và người có tiền bao giờ cũng được lợi nhiều mặt . Xã hội nào cũng vậy , cũng có kẻ giàu người nghèo ... Nhưng một xã hội tốt đẹp thì phải thực hiện công bằng , có chung văn hóa ứng xử đó là mặt bằng nhân văn , là nền tảng đạo đức , là thước đo dân trí . Người dân được bảo vệ bởi pháp luật chứ không phải " cướp đêm là giặc , cướp ngày là quan " như cha ông ta ngày xưa đã khuyến cáo .
 
Con đường tôi đi không trải đầy hoa thơm mà gập ghềnh đọng nước trong cuộc mưu sinh . Kiếm được một việc làm ổn định ở Mỹ là rất khó . Chuyện mất việc làm , thất nghiệp bao giờ cũng có thể xảy ra , xã hội Mỹ không có chỗ cho những người mơ mộng và lười biếng .
 
 
Bạn gần không tới , Bạn xa chưa về
0
 
 
Để trở thành kỹ sư điện tử , tôi phải vừa làm vừa làm vừa học trong bốn năm liên tiếp , trong bốn năm đó mỗi ngày tôi chỉ dành cho giấc ngủ khoảng ba bốn tiếng đồng hồ , xáo trộn mọi thời biểu , kiên trì ôn luyện võ công và phải bỏ nhiều thói quen để phù hợp với sinh hoạt . Thời gian còn ở trong nước tôi có thói nhâm nhi cà phê và hút hơn một gói thuốc lá mỗi ngày . Chỉ sau một thời gian vì chuyện học hành và phải thức đêm làm việc mà bỏ hẳn thuốc lá , không một chút thèm nhớ vướng bận nào . Cà phê ở Mỹ thì như mọi người đã biết , uống lúc nào cũng được , cà phê chỉ là một loại nước giải khát tăng cường sự tỉnh táo mà thôi , việc làm và học hành đều phải tập trung , nhưng không đẩy sự tập trung thành căng thẳng mà thư giãn bằng hơi thở , một thói quen tốt đẹp cho bất cứ ai biết kiềm chế bảy món tình cảm biểu hiện thường ngày . Để đạt được mục tiêu khiêm tốn trong đời sống mà nghề nghiệp đòi hỏi , tự thân tôi phải nỗ lực chiến đấu với bóng ma lười biếng , ỷ lại trong mình .
 
Cuộc đời ngắn ngủi nhưng để sống đúng nghĩa đòi hỏi người ta phải biết chọn mục tiêu để sống và quan trọng nhất là chiến đấu với chính mình . Một cuộc chiến đấu không khoan nhượng mà ngày nào còn hơi thở còn phải sống , mà sống nghĩa là " sống với , sống vì " , dù chỉ gói gọn trong năm mười người thân thuộc chứ chưa nói đến mọi người trong cộng đồng xã hội .
 
Từ tính cách của một người học võ , tôi không thể dừng lại trước một thành công nhỏ để nẩy sinh hãnh tiến lố bịch .
 
Tôi bắt đầu đề ra kế hoạch cho chính mình để xâm nhập thương trường trong lĩnh vực công nghệ điện tử tại đất Mỹ .
 
Bước đầu tôi thành lập một hãng nhỏ để nhận hàng gia công đồ điện và điện tử cho nhiều hãng lớn nhỏ . Từ mười mấy công nhân mà phần lớn là người Việt , đến lúc đơn đặt hàng càng ngày càng nhiều . Tôi quyết định thành lập một công ty có tầm cỡ từ năm 1982 , đó là sự ra đời của công ty Quantek , có văn phòng tại Irvine. Nay dời về Huntington Beach .
 
Khi cầm tập dự án chiến lược phát triển công ty bước vào văn phòng của giám đốc Ngân hàng Bank of American , tôi thầm nghĩ mình chỉ có hai mươi phần trăm hy vọng để vay số tiền vài trăm ngàn đô la . Tuy thế , như một Samurai trong thương trường trong tư thế rất tự tin và điềm tĩnh , tôi thong thả trình bày dự án phát triển công ty của mình với giám đốc ngân hàng và vài vị trong ban thẩm định , cuối cùng khi kết luận tôi khẳng định : Những giá trị sản phẩm mà công ty sắp sản xuất sẽ đi tiên phong trong lĩnh vực máy tính điện tử tại Mỹ và quan trọng nhất : Tôi với tư cách là một thành viên sáng lập công ty , kiêm nhiệm giám đốc điều hành sẽ trực tiếp chỉ huy việc sản xuất , điều hành theo dõi tiến độ và điều chỉnh hợp lý trong quá trình sản xuất . Công ty đang chủ động thiết kế một hệ máy tính mới nhất thời bấy giờ mà chưa tập đoàn , công ty nào ở nước Mỹ kể cả các nước khác có được .
 
Một công ty mới ra đời chưa có mặt trong thị trường chứng khoán , một giám đốc mới ngoài ba mươi tuổi người Việt mà tài sản có được chỉ là một khoản tiền tiết kiệm nhỏ , chẳng có gì để thế chấp cho ngân hàng . Chỉ với một phương án sản xuất máy tính thế hệ mới đầy hấp dẫn và tính khả thi mà riêng tôi mới hình dung được . Thế nhưng đúng là những ông chủ nhà băng ở Mỹ đều có tầm nhìn xa . Họ đánh hơi đồng đô la rất tài , chỉ vài ngày sau tôi đã nhận được thông báo ngân hàng sẽ gửi chuyên viên đến tái điều chỉnh dự án và họ sẽ cho vay một ngân khoản tín dụng lên đến một triệu đô la . Thế là tôi hăm hở lao vào công việc bất kể ngày đêm , không bỏ qua một chi tiết nào trong kế hoạch sản xuất mà mình đã đề ra .
 
Nhờ tập luyện từ hồi nhỏ , tôi có một trí nhớ không tồi và tầm quan sát rộng chính xác đến không ngờ . Trên dây chuyền sản xuất tôi có thể nhìn và phát hiện ngay những khuyết điểm của những người đang thao tác và lập tức đến thuyết phục họ cách nhẹ nhàng để chấn chỉnh công việc cho hợp lý hơn . Xuất thân từ một công nhân bình thường và trở thành một kỹ sư , rồi tổng giám đốc công ty điện tử , tôi thông cảm và hiểu được công việc của họ nên chưa bao giờ to tiếng với một ai . Và đúng vậy , hơn mấy chục năm qua chưa bao giờ tôi nặng lời với người khác , từ bé thơ cho đến bây giờ , trong ngôn ngữ nói của tôi không bao giờ dùng tới lời lẽ nặng nề hoặc thóa mạ vô cớ .
 
Bạn hãy hình dung một máy tính có bao nhiêu linh kiện điện tử ? Trong một ngày lao động ở công ty , vài triệu con linh kiện lớn , nhỏ qua lại trên dây chuyền . Tôi có thể nhớ một con chip khuyết tật cách đấy mấy ngày phải loại ra và đến lúc cần kiểm tra lại nó còn có mặt trong xưởng sản xuất hay không ? Vào kho linh kiện điện tử tôi hỏi thủ kho một mặt hàng và chưa cần nhìn thẻ kho , tôi cũng có thể nói được số dư trên thẻ kho đó một cách chính xác . Có nhiều linh kiện điện tử chỉ nhỏ bằng một phần mười hạt gạo và muốn biết số lượng của nó phải dùng máy đếm mới kiểm tra được .
 
Lúc này công nhân của công ty đã lên đến gần ba trăm người , chiếm bảy mươi phần trăm trong số đó là người Việt , còn lại là người Phi , Hoa ,Mễ . Tôi chỉ sử dụng ít người Mỹ vào trong các vị trí như : quản đốc , tổ trưởng , mua bán vật liệu , liên hệ khách hàng . Ban đầu tôi còn ngạc nhiên vì phần lớn công nhân lại tuân thủ những ông sếp nhỏ người Mỹ hơn là những ông bà sếp lớn người Việt . Thật lòng mà nói trong công việc nhất là những công việc có thao tác bằng tay và nhìn bằng mắt thì còn lâu người của các dân tộc khác mới theo kịp người Hoa , người Việt nhưng tính kỷ luật và tự giác trong lao động thì đúng là người thợ Việt Nam cần phải học những người công nhân Âu Mỹ .
 
Tôi đơn cử một ví dụ : trong công ty của tôi có nhiều công nhân là phụ nữ và đa số thích ăn vặt . Dù trong nhà máy luôn luôn có sẵn cà phê , nước trái cây giải khát , nhưng họ thích mang theo mình những món quà vặt để ăn và mời nhau . Tôi cho đây là một khía cạnh nhỏ trong văn hóa ẩm thực của người Việt mình , thế nhưng trong một nhà máy điện tử chuyện này lại là một trở ngại , đã ăn vặt , ăn vụng thì tất có rơi vãi , có rơi vãi là có ngay côn trùng như kiến , dán ... chưa kể mấy con li ti khác và rồi lâu ngày sẽ bốc mùi khó chịu . Nếu có một vài khách hàng tham quan phân xưởng sản xuất họ sẽ phát hiện ngay và xin thưa họ sẽ thầm đánh giá công ty về thương hiệu và sản phẩm mà họ sẽ đặt hàng . Đôi khi ta mất khách hàng chỉ vì những lý do tưởng chừng rất nhỏ .
 
Một bài học đắt giá mà tôi học được hồi đó khi đang theo đuổi để lãnh thầu của hãng Honeywell . Hơn hai năm , sau khi đã đáp ứng mọi thủ tục , yêu cầu và giá cả , Honeywell cử một phái đoàn hỗn hợp gồm Ban điều hành công ty Ban hành chánh , Phòng kế hoạch , Ban kiểm tra chất lượng ... đến làm việc với mục đích là thanh tra lần cuối . Trời xui đất khiến thế nào , đúng ngày giờ đó lại có 3 công nhân mới vào tập sự ( những công nhân này mới sang định cư từ Việt Nam theo diện con em gia đình H.O ) . Khi đang chuẩn bị đi vào khu vực sản xuất , vị giám đốc kiểm tra chất lượng phát hiện ra các công nhân này không được trang bị giày " Ground " giảm điện từ .Thế là ông yêu cầu cả đoàn chấm dứt cuộc tham quan và cũng chấm dứt hợp đồng đặt hàng , một liên hệ mà tôi đã dày công theo đuổi hai năm trời , kết thúc thật ngỡ ngàng và nhanh chóng . Để khắc phục tình trạng trên chỉ cần cắt đặt tổ trưởng , chuyền trưởng người Mỹ là thích hợp nhất . Họ luôn gương mẫu và tôn trọng kỷ luật lao động . Mang đầy mặc cảm tự ti và vọng ngoại là điều mà người thợ Việt Nam chưa cởi bỏ được , ví dụ khi tôi đưa một người đồng hương làm chief thì không ưa , thậm chí còn nói xấu sau lưng , còn đặt ngay một ông , bà Mỹ nào đó thì OK liền mọi chuyện . Nói đúng ra , trong công việc những người Mỹ làm việc rất cẩn thận và trung thực , vì tôi đòi hỏi họ sự tận tụy trong công việc cũng phải cao hơn nhiều . Về công nghệ và kỹ thuật họ là những người đi trước mà chúng ta cần phải tiếp thu học hỏi , chứ không phải chúng ta là những người học trò muôn đời làm người đi theo . Bấy giờ tôi là một trong số ít người Việt lúc đó đã có thể chỉ dạy cho người bản xứ về kỹ thuật và công nghệ , nhất là trong lĩnh vực điện tử công nghệ cao , càng ngày càng đòi hỏi sự vi tế , chính xác , công năng công dụng lớn hơn , nhiều hơn và dần dần làm chủ đạo trên các lĩnh vực sản xuất khác kể cả nguyên tử , luyện kim , hóa dầu , viễn thông tin học v.v...
 
Tháng 9/1984 tôi cùng các bạn kỹ sư đã thiết kế thành công hệ máy tính AT Computer sử dụng CPU 80286 đầu tiên trên nước Mỹ . Trước đó , chỉ có tập đoàn IBM tại Mỹ là sản xuất hệ máy tính XT ( hệ cũ ) sử dụng CPU 8086 . Máy tính của Công ty Quantek được xem là tiên tiến nhất mà 8 tháng sau Công ty IBM mới có mặt trên thị trường .
Tôi hoàn toàn không khoe khoang về thành tích của mình . Nếu chịu khó lật lại những trang báo tạp chí cũ như Byte và PC Week năm 1985 , quý vị sẽ biết Quantek đã đi trước IBM và sản phẩm máy tính của Quantek đã được khách hàng ở Mỹ ưu ái như thế nào . Mỗi ngày đơn đặt hàng gởi đến cho tôi hàng ba bốn trăm máy nhưng vì thiếu vốn và thiếu cả người quản lý , tôi chỉ đáp ứng được từ 10 - 15% , vì vậy khách hàng không thể đợi và họ phải chạy qua IBM , dù họ thừa biết nhiều chỉ tiêu kỹ thuật của IBM không bằng được Quantek - một công ty mà so sánh với IBM thì như một trời một vực .
 
Một tập đoàn điện tử có thương hiệu khắp thế giới như Compaq ngày nay cũng phải một năm sau (1986) mới sản xuất máy tính này . Một công ty điện tử khác như DELL thời gian này đang bán lẻ bàn phím , ổ cứng , ổ mềm , nguồn điện , màn hình ...nhưng mainboard thì phải mua lại từ công ty chúng tôi , phải đến hai năm sau DELL mới bắt đầu sản xuất và bán system AT riêng của mình . Thời gian này giá thành máy tính rất cao và khách đặt hàng phần lớn là quân đội Hoa Kỳ và các công ty lớn , phải đến vài năm sau đó giá thành rẻ nên các công ty nhỏ và tư nhân mới bắt đầu sử dụng .
 
Tôi nhớ lại : Khi thế hệ máy AT computer dùng CPU 80286 của Quantek có mặt trên thị trường vào tháng 2/1985 , nhiều lần các nhà môi giới , đại diện công ty và đích thân các chủ doanh nghiệp Mỹ đã tự động đến xin cộng tác với những đề nghị như vốn hợp tác , lĩnh vực quảng cáo và mở rộng thị trường . Họ sẽ lo liệu tất cả và tôi chỉ đứng ra lo việc điều hành sản xuất .
 
Ông William , một nhà doanh nghiệp lớn ở California đã đề nghị góp 30% cổ phần , ông sẽ bảo đảm mọi chuyện và trong vòng ba năm sẽ đưa công ty vào thị trường chứng khoán . Công ty ông sẽ góp vài chục triệu đô la làm vốn sản xuất cho tôi sử dụng .
 
Đây là một lời đề nghị đầy hấp dẫn , khôn ngoan đem lại lợi nhuận cho cả hai bên ông ta và tôi . Thế nhưng tôi đã từ chối . Cho đến bây giờ trong cuộc đời và trên thương trường đó là lần tôi rút ra được bài học đau đớn , sai lầm lớn nhất cho chính mình trong một cơ hội quá tốt mà bản thân đã bỏ qua .Cơ hội đó không đến lần thứ hai và tôi trả giá đủ cho sự chủ quan của mình lúc bấy giờ . Tôi nghĩ mình sẽ tự chủ được trong kinh doanh , nhưng không , chính đó là cách tư duy sản xuất nhỏ , một kiểu " dưới mắt không người " và có phần quân tử Tàu . Tôi đã bỏ qua rất uổng cơ hội đó - nếu không công ty Quantek bây giờ đã lừng danh như Compaq , Dell ...Khi tôi từ chối lời đề nghị của William , tôi nhớ mãi khuôn mặt ông ta trầm hẳn xuống . Ông chỉ nói nhẹ nhàng :" Tôi biết anh ;là một người Việt Nam thông minh và thành đạt rất mau trong lĩnh vực sản xuất điện tử , tôi chỉ muốn cùng anh gặt hái kết quả tốt và nhanh trong lĩnh vực này . Một ngày nào đó anh sẽ tiếc khi nhớ lại những đề nghị của tôi mà anh đã từ chối , tôi mong rằng dù không cộng tác với nhau chúng ta mãi mãi vẫn là bạn " .
 
Một người Việt Nam qua Mỹ chỉ 6-7 năm đã có trong tay hai công ty do mình làm chủ ,đã mua được một biệt thự ở đồi Anaheim ( 242 S.Peralta Hills ) California với giá hơn ba triệu đô la , chắc quý bạn không trách cứ gì tôi khi từ chối lời đề nghị hấp dẫn trên . Sau này mỗi khi nhớ lại cơ hội tốt nhất mình đã bỏ qua , tôi thấy tự trách mình đã không suy nghĩ thấu đáo và xem xét rốt ráo những uẩn khúc trên thương trường . Là một nhà doanh nghiệp nhưng tôi đã xem nhẹ những giao tình kết hữu , thân mình đang trong cảnh tự lập cô đơn tất còn ở trạng thái bất an , hành động và việc làm ít ai tin . Bất an do lập thân chưa vững thì khi muốn chính danh chính phận , ít có ai biểu đồng tình với mình , tất mối hiểm nguy tai ương luôn rình rập và sẽ xảy đến . Thân có ổn tâm có an mới giản dị sáng suốt soi tình đạt lý , mới bắt đầu nói và làm . Đắc chí theo lợi nhỏ và công danh tạm thời chỉ là hạng người thấp thỏi , treo tranh vân cẩu mà không biết lẽ thịnh suy , phù vân nhược mộng . Nghĩ cái hôm nay có là sẽ không mất , tham lợi quá đáng mà bỏ quên đạo nghĩa và bị nhiều người căm ghét , chẳng ai chịu vì mình mà gánh vác hy sinh . Cái tôi , cái sở hữu trong kinh doanh cũng vậy , cuối cùng chỉ là ma chướng mà thôi . Tôi đã gặp nhiều người khi có chút chức quyền , tiền của rủng rỉnh thì đã bắt đầu khinh thị người khác , nghĩ mình là nhất , những kẻ hợm hĩnh ấy không biết mình là sản phẩm giả , tự khoác mặt nạ cho chính mình . Từ đó họ đã bị xem là một thứ rác rưởi dưới mắt của đông đảo bà con , đồng bào .
Bạn gần không tới , Bạn xa chưa về
0
 
 
Say mê trong việc nghiên cứu lãnh vực công nghệ cao , tôi thành lập tiếp một công ty thứ ba - đó là Power Circuts Inc . , chuyên sản xuất bản mạch in nhiều lớp . Hồi đó riêng công ty này ( tại 2645 Croody Way , Santa Ana ) đã có trên hai trăm công nhân làm việc ., điều này nói lên sự thịnh vượng của một doanh nghiệp mà không dễ đạt được trên đất Mỹ .
 
Tôi đã bỏ tất cả vốn liếng của mình để trang bị toàn máy móc tự động cho xưởng sản xuất , bấy giờ thế hệ máy " Robot " đã bắt đầu có mặt trong những ngành công nghệ cao . Trong những nhà máy này đòi hỏi người công nhân , thợ kỹ thuật , kỹ sư phải có tay nghề qua nhiều năm kinh nghiệm . Ban đầu tôi phải tự tay viết thảo trình cho máy Robot làm việc , hướng dẫn các kỹ sư và thợ kỹ thuật trên từng máy một , để làm sao trên dây chuyền từ A đến Z phải thật kín kẽ không được có sự cố trở ngại dù chỉ là một vài phút trong sản xuất .
 
Công nghệ sản xuất bản mạch in điện tử mà trong đó có các công đoạn dùng hóa chất để mạ và ăn mòn kim loại từng lớp rất nhỏ , rất mỏng ,nhỏ đến nỗi phải dùng kính hiển vi phóng đại nhiều lần mới có thể thấy được các vi mạch này . Dùng máy ép có sức nóng cả ngàn độ để ép dán mấy lớp mạch này lại với nhau để làm thành một bo mạch điện tử nhiều lớp hoàn chỉnh mà chỉ có độ dày khoảng một , hai mm .
 
Trong thao tác kỹ thuật cũng như lập trình cho máy robot làm việc và các công đoạn khác , chỉ cần tắc trách hoặc sơ ý để một mạch in nhỏ - nhỏ hơn sợi tóc và khoảng hở rất nhỏ giữa các mạch bị dính chập vào nhau là bo mạch bị hư hoàn toàn không thể khắc phục sửa chữa , hoặc hàn vá vì nằm chồng chất nhiều lớp phía trong không tháo gỡ ra được . Ở mỗi công đoạn sản xuất , người kỹ sư trưởng và các phụ tá đều phải ra công giám sát và kiểm tra thật kỹ lưỡng để phát hiện sai sót nhằm điều chỉnh kịp thời . Mọi sự phát hiện chậm trễ đều dẫn đến tổn thất cụ thể tốn kém chi phí nhiều hơn . Ông John Hwang , chủ tịch công ty Pioneer Circuts đã từng phát biểu :" Điều hành một công ty sản xuất mạch in điện tử gặp nhiều khó khăn phức tạp gần như điều hành một quốc gia " . Dĩ nhiên sự so sánh này là khập khiễng nhưng cũng đủ để nói lên tính phức tạp của một ngành sản xuất tiên tiến .
 
Công ty Power Circuts Inc. lúc này đã có doanh số trên ba mươi triệu Mỹ kim mỗi năm . Năm mươi phần trăm sản phẩm của công ty do các công ty quốc phòng của Mỹ đặt mua , số còn lại là phục vụ cho các hãng lớn như Boeing , Sony ,AST , ALR , Toshiba , Gateway ...
 
Năm 1987 , TTM Technologies , một công ty lớn đã có mặt trong thị trường chứng khoán New York mua lại PCI để phát triển thị trường sang phía Tây Hoa Kỳ . Cũng năm 1987 tôi bắt đầu thành lập một công ty khác là CMC để theo đuổi một chức năng sản xuất khác có nhiều lợi nhuận hơn trong ngành điện tử . Đó là công nghệ hàn dán linh kiện trên bảng mạch in điện tử .Công nghệ này tuy không phức tạp bằng sản xuất bảng mạch in điện tử nhưng lại đòi hỏi sự chính xác tuyệt đối và trình độ quản lý của người kỹ sư trong quá trình sản xuất gia công .
 
Công nghệ điện tử trên thế giới càng ngày càng tiên tiến với những phát minh mới , từ việc xuyên lỗ để gắn linh kiện điện tử trên bảng mạch rồi hàn lại bằng chì , chỉ trong một thập niên công nghệ mới SMT ( Surface Mount Technology ) đã bắt đầu thay thế để hàn dán linh kiện trên bảng mạch in điện tử với thời gian nhanh nhất và chính xác tuyệt đối . Tại thời điểm đó , một máy gắn linh kiện xuyên lỗ tự động ( công nghệ cũ ) tốc độ chỉ đạt được 12 ngàn linh kiện / giờ . Với công nghệ SMT( công nghệ mới ) máy có thể gắn 42 ngàn linh kiện / giờ . Hày tạm hình dung đây là những máy in tiền : một bên 12 ngàn / giờ , giá gia công mỗi linh kiện là .07 Mỹ kim , mỗi ngày làm 2 ca ( 8 x 2 = 16 giờ / ngày ) tháng làm 25 ngày ( 16 giờ x 25 ngày x 12.000 x .07 = 336.000 Mỹ kim / tháng ) . Còn máy kia với công nghệ mới ( 16 giờ x 25 ngày x 42.000 x .07 = 1.176.000 Mỹ kim / tháng ) .*
 

Trong thời gian làm chủ tịch và giám đốc công ty Quantek , công ty Power Circuts Inc. , tôi đã có quan hệ tốt với nhiều nhà doanh nghiệp lớn tại Mỹ , Nhật Singapore ... như các hãng Rainbow, AST , Sony ,JVC , B.E. Aviations , Toro , Boeing , ALR , TTI.Technologies ... Tôi thừa hiểu hàng hóa điện tử đủ loại của họ sắp tung ra và chiếm lĩnh thị trường , người tiêu dùng sẽ từ từ biết đến TV , đầu máy video , DVD ... Khi thành lập CMC tôi biết chắc chắn một điều , những tổng giám đốc điều hành các tập đoàn , các công ty trên sẽ không bao giờ từ chối yêu cầu chính đáng của tôi là được làm thay họ trong một vài khâu trong quá trình làm ra sản phẩm . Thật vậy khi tôi nói ra họ đã đưa đơn đặt hàng để nhờ CMC gia công . Chỉ cần năm sáu năm hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và thương mại điện tử , sự chính xác trong công việc , thủ tín trong lời nói , trung thực trong đối đãi giao tế và am tường công việc , tôi đã có một vị trí đặc biệt vững vàng trong suy nghĩ làm ăn của những ông chủ lớn ấy . Ông tổng giám đốc Sony đã từng nói với bạn bè :"...Henry ( tên quốc tịch Hoa Kỳ của tôi ) là một người Việt Nam mà chúng ta phải đặt quan hệ trong lĩnh vực sản xuất hàng điện tử , không hẳn tại Mỹ mà còn tại Đông Nam Á sau này ..." . Ông ta đã giữ lời hứa , khi Sony Việt Nam ra đời tại Thành phố Hồ Chí Minh , Sony đã là khách hàng đầu tiên cũng như hợp tác trên một số lĩnh vực khác . Đó là bằng chứng khi tôi lập công ty SMT tại Việt Nam , họ là những khách hàng truyền thống đã tìm đến đặt hàng , cũng nhờ đó mà nhà máy ổn định công việc trên hai năm trời , nhờ vậy mà tôi đã đào tạo được gần cả trăm công nhân kỹ thuật lành nghề trên dây chuyền công nghệ SMT .
 
Qua tự sự này ,tôi muốn chân tình bày tỏ sự cảm ơn đến quý vị ấy , những người đã tạo cho tôi một số điều kiện để về lại quê hương để thi thố nghề nghiệp chuyên môn của mình . Nhưng trong kinh doanh ngoài những yếu tố nội ngoại chủ động được , chữ thời cũng vô cùng quan trọng . Thời cơ và vận hội chính là yếu tố quyết định thành công và thất bại trong kinh doanh ...
 
Trong ngũ niên 1995 - 2000 , nhiều hãng điện tử ở Việt Nam đều lỗ lã nặng vì nhiều lý do đơn giản mà ai cũng biết . Đó là hàng điện tử nhập lậu về quá nhiều kể cả hàng hiệu và hàng đã qua sử dụng , linh kiện , cấu kiện điện tử cũng được nhập tràn lan để lắp ráp trong nước . Người Việt Nam tiếp nhận dễ dàng một núi rác khổng lồ đồ điện và điện tử , ai cũng sắm được vì phù hợp với túi tiền nhà nghèo , khắp nơi người người đi buôn , nhà nhà là cửa hàng . Sự lỗ lã thất thu của những doanh nghiệp ấy cũng ảnh hưởng đến doanh nghiệp của tôi , chưa kể nhiều nguyên nhân không may khác liên tục kéo đến , đúng là họa vô đơn chí . Nhưng trong lòng tôi những câu châm ngôn quen thuộc như :" thất bại là mẹ thành công " hoặc " có công mài sắt có ngày nên kim " , bao giờ cũng sống động . Tôi là một người học võ , đã từng lái tàu vượt trùng dương , đu trên thang dây , sống sót trong muôn trùng khói lửa , đã từng bẻ còng thoát thân dù bị còng chặt hai tay dưới lưng chiếc ghế băng dài ( năm 1969) ,cũng như đã từng tham thiền suốt nhiều đêm dài lạnh giá ở cao nguyên . Với tôi chuyện thành bại chỉ là đốm hoa mây về bên cửa thảo am trên đồi Tùng ngày ấy mà thôi .
 
Trong quãng đời lăn lộn trên thương trường và trong công việc tôi không bao giờ phó thác cho may rủi , nhiều thành công nhưng cũng không ít lần thất bại , nhưng trong tôi không bao giờ để lại chuyện hận lòng khi sa cơ , để gậm nhấm nỗi buồn và nhờ thời gian làm liều thuốc xoa dịu vết thương . Tôi rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm xưa cũ nhưng bao giờ cũng đúng : Đừng bao giờ để mất sự tin tưởng của kẻ khác về mình ,bị mất niềm tin sẽ là mất tất cả . Tập trung vào công việc với một tinh thần mạnh mẽ trong sáng để gạn đục khơi trong mà mục tiêu cuối cùng của công việc ngoài kết quả về vật chất phải gắn liền yếu tố tinh thần để di dưỡng tâm linh . Đem tâm đạo để quán chiếu mọi việc trong đời sống hằng ngày như là một phương pháp tu thân , để thõng tay vào chợ mà không bị cái ồn ào hỗn tạp làm nhiễu loạn .
 
Mùa thu năm 1985 , một người bạn , cũng là một khách hàng có quan hệ làm ăn với tôi dạo đó , vừa thiết kế xong một mẫu chăn đắp dành cho trẻ sơ sinh , anh đến hỏi ý kiến tôi về mẫu mã , thị hiếu và suy nghĩ của khách hàng khi đánh giá một mặt hàng sắp tung vào thị trường . Tôi là một kỹ sư điện tử , làm chủ nhiều doanh nghiệp chỉ chuyên về điện , điện tử , cùng trong thời gian này tôi vừa tốt nghiệp xong cao học quản trị kinh doanh và dự định ghi danh học thêm về luật . Cầm mẫu sản phẩm tôi chăm chú nhìn kỹ và cười vui hỏi lại bạn tôi : " Tại sao lại đem đồ dùng của trẻ sơ sinh để xin ý kiến của tôi " anh ta không chút ngập ngừng trả lời :" Từ lâu ai cũng biết Henry là một nhà doanh nghiệp sáng suốt và luôn lấy chữ Tâm làm đầu , đây là một mẫu hàng dành cho các bà mẹ , ông bố với baby tương lai của họ , một mẫu hàng mà yếu tố tâm lý tình cảm sẽ quyết định giá trị của hàng hóa và thương hiệu , vì vậy không ai hơn ngoài Henry - hy vọng anh là người sẽ cho ý kiến tốt nhất ..."
 
Tôi mời anh và hai người bạn đi cùng ngồi uống trà sau hiên nhà và không đá động gì về chuyện ấy . Chúng tôi ngồi tán đủ chuyện ... Cùng lúc đó , từ xa dưới chân đồi trên con đường từ đường cái lớn về nhà ,đứa con nhỏ của tôi là Michael mới sáu tuổi đang hồn nhiên tung tăng đánh nhịp bước chân trên con đường nhỏ đầy cỏ xanh và hoa nhỏ . Hình ảnh mà tôi thoáng bắt gặp trước mắt dù bình thường , nhưng rất đẹp và gợi lại cho tôi cả một trời kỷ niệm về thời thơ ấu ở quê nhà . Michael bước vào nhà , cháu lễ phép chào chúng tôi xong lại gọi vang tìm mẹ :" Mamy ... mamy ơi ..." .
 
Tôi nhớ hồi Michael còn sơ sinh , mỗi khi được mẹ ẵm ôm , cháu dúi đầu vào ngực mẹ quậy cựa một lúc là có thể ngủ ngay , nếu không có mẹ bên cạnh cháu phản ứng ngay và la khóc , chỉ trừ khi nào ngủ say thì thôi .
 
Tôi cầm tấm chăn mẫu của trẻ sơ sinh trên tay và bảo với người bạn : để tăng giá trị sản phẩm tôi sẽ thiết kế cho anh ta một rờ le tự động chạy bằng pin gắn trong tấm chăn đó , ngoài có hình dáng một quả tim nhỏ còn có công dụng như nhịp đập trái tim người mẹ , khi đắp vào em bé sẽ tưởng là đang nằm bên mẹ , sự che chắn và đảm bảo bình yên đầu tiên của nó trước cuộc đời . Trong bào thai chín tháng em đã từng thở theo nhịp tim của người mẹ , hàng ngày nghe tiếng đập dịu dàng tràn ngập tình thương vỗ về , và nó sẽ không bao giờ quên nhịp đập con tim của mẹ , nhịp đập trái tim người mẹ là lời ru cháu vào giấc ngủ , là tiếng nói thầm mà nó phải dựa dẫm , nương tựa cho đến suốt đời .
 
Tôi trình bày xong , bạn tôi và cả hai người đi cùng đều vô cùng bất ngờ và thích thú . Họ thiết kế xong sản phẩm để sản xuất và tung ra thị trường , nhưng vẫn thấy thiếu một cái gì đó mà chưa tìm ra giải đáp , bây giờ các bạn ấy mới vỡ lẽ và khoái trá vô cùng .
 
Sáng kiến của tôi đã đem lại siêu lợi nhuận cho riêng mặt hàng chăn đắp trẻ sơ sinh ấy , bước đầu công ty của anh ta dự kiến chỉ bán một cái chăn là 9 Mỹ kim , nhưng khi đưa "trái tim người mẹ " vào trong chăn , như cách gọi vui của chúng tôi sau này giá đã trở thành 16 Mỹ kim . Trong khi đó giá thành mà hãng tôi sản xuất ra " trái tim người mẹ " chỉ là 2 Mỹ kim và điều quan trọng nhất là sau khi sản phẩm có mặt trên thị trường , công ty anh ta đã bán hơn một triệu cái chăn chỉ trong vòng mấy tháng . Thử làm một con số để thấy tiền lời từ " trái tim người mẹ " là bao nhiêu ! Hơn năm triệu mỹ kim cho một sáng kiến và sáng kiến đó lấy chữ Tâm làm đầu . Nhân đây tôi cũng xin tỏ lòng nể phục đối với cách làm ăn của người Hoa , trong chuyến đi Đài Bắc hồi ấy trong ba ngày tôi gần như mua được hết những linh kiện cho sản phẩm " trái tim người mẹ " . Đúng là người Hoa rất giỏi về những mặt hàng nhỏ đáp ứng mọi yêu cầu trong sinh hoạt của các cộng đồng xã hội , họ rất nhanh nhạy nắm bắt thời cơ kinh doanh và thường rất kín đáo khi có cơ hội , nhất là sẵn sàng giúp đỡ nhau khi cần thiết . Đó là điều mà người Việt chúng ta không bằng họ trên thương trường . Ngày trước ở Sài Gòn có nhiều chú Ba từng bán bánh bao , bánh bò , lục tào xá rồi phở gánh , ve chai ... đùng một cái đã ngồi trong cửa hàng , cửa hiệu do chú ấy làm chủ mà vẫn thường ve vuốt trân trọng quá khứ hàn vi oanh liệt của mình , không che giấu như một số người khác : Lúc thành đạt đã vội xua đuổi những ngày cơ hàn tủi cực , quên luôn bạn bè và những người đã cưu mang mình dạo ấy .
 
---------------------
 

* Hiện nay ( năm 2002 ) tại Mỹ , giá gia công cho số lượng vừa và nhỏ từ 5 đến 7 cents . Với số lượng lớn chỉ còn 3 cents . Tại Á châu ngày nay chỉ còn 1 cents hay thấp hơn . ( Lời tác giả )

 
Bạn gần không tới , Bạn xa chưa về
0
 
 
Hồi ức của một người học võ qua tâm bút Gió về Tùng Môn Trang là tự sự của tôi - một đứa con lưu lạc nhưng luôn nặng tình cố hương . Tôi không phải là một nhà văn để " tải đạo " , cũng không phải là một nhà truyền giáo để hoài công ca tụng nền minh triết phương Đông , trong đó có đạo Phật mà .Tôi là một hành giả , khi còn trong u cốc trên đồi núi là một gã sơn tăng , về lại bình nguyên thì làm một cư sĩ , sống như mọi người không nhân danh một cái gì cả , cố gắng giúp được người khác những việc nhỏ trong điều kiện mình có thể làm được .Khi tập hồi ức này đến tay bạn đọc chắc có nhiều người sẽ tự hỏi , việc quái gì chuyện học võ mà tay này đề cập lại quan trọng thế ?
 
Đúng ! Học võ không có gì quan trọng hết , không có võ bạn vẫn sống bình thường , vẫn làm việc và vui chơi hàng ngày mà không cần dụng công một chút nào .
 
Nhưng chúng ta đều biết nếu người Nhật không đứng vững trên nền tảng của tinh thần võ sĩ đạo và phát huy những ưu việt của mẫu số chung " samurai" vào nửa cuối thế kỷ 20 , thì làm sao có cường quốc Nhật Bản ngày nay về cả vật chất và tinh thần .
 
Hàn Quốc một đất nước mà đa số thanh niên đều biết võ Thái cực đạo , đã xây dựng đất nước sau chiến tranh cũng từ tinh thần thượng võ mà thôi .
 
Học võ đâu phải là tranh giành đánh đấm , học võ là đi vào đạo mà thân và tâm luôn ở trong một nhà , chung một vầng trăng và cùng một hơi thở . Lòng khoan dung độ lượng và cao thượng trong đối đãi luôn là tâm thế của người võ sĩ đạo , cái trí dũng của họ luôn tiềm ẩn biến thành một sức mạnh tâm linh không gì có thể lay chuyển được . Mỗi buổi sáng bạn hãy đi vào công viên , bất cứ nơi đâu cũng sẽ thấy có nhiều người chơi thể thao , tập thể dục ... nhưng tôi vẫn thích nhất khi thấy có rất đông người tập Thái cực quyền một cách thuần thục . Nhiều người lớn tuổi đã nói với tôi về sự ích lợi khi tập bài quyền này , không những tăng cường sức khỏe chống bệnh tật mà còn tu dưỡng tính tình rất tốt . Thái cực quyền của Tổ sư Trương Tam Phong - người xuất thân từ võ phái Thiếu Lâm rồi sáng lập phái Võ Đang lừng danh , Thái cực quyền có nhiều điều đáng nói và suy gẫm hơn thế nữa , từ hữu chiêu rồi vô chiêu mới thấy hết tinh túy của bài quyền này .
 
Trong cuộc sống xô bồ hiện nay khi mà con người nhất là một phần không nhỏ những người trẻ tuổi thích phá phách và coi thường những trật tự xã hội , khi người lớn không còn là những thần tượng đáng kính , trái lại cái tệ hại của họ đang đầy dẫy trước mắt . Những lời khuyên răn giáo điều của người lớn đôi khi trở thành mâu thuẫn và không thể hiện chút giá trị đạo đức nào . Gương người tốt việc tốt thi thoảng xuất hiện từ những khuôn mặt tay lấm chân bùn , những người lao động chân thật . Đề ra những tiêu chí cho tuổi trẻ phấn đấu thật khó khăn vì con đường đến mục tiêu cao đẹp của đời sống mà khi bạn trẻ nghiệm ra thường không đúng với những gì họ đã khát vọng . Khoảng trống trong tâm hồn dần dần lớn hơn , mọi suy nghĩ đều đơn thuần hướng đến ganh đua hưởng thụ , chủ nghĩa bè nhóm mạnh được yếu thua , lấy đồng tiền làm chuẩn mực cho mọi việc . Chiết khấu thương mãi trở thành chiết khấu tâm hồn , làm cái gì cũng có phần trăm , nghề cò mãi và trung gian đang có đất sống và sinh sôi nảy nở trên mọi lãnh vực trong sinh hoạt của xã hội .
 
Võ đạo âm thầm đi vào đời sống bằng nhiều cách mà vào một lúc nào đó rất tình cờ và ngẫu nhiên người ta sẽ nhận ra . Từ việc nhỏ đến việc lớn , một hành động có chủ ý hay tự phát luôn có bóng dáng ảnh hưởng bao trùm của võ thuật và võ đạo .
 
Trên đường giao thông bây giờ với đủ loại phương tiện tham gia , nếu bạn sử dụng phương tiện và đi đúng luật đôi khi còn dễ bị tai nạn do kẻ không chấp hành luật lệ giao thông gây ra . Chuyện không ai chịu nhường ai , va quẹt để rồi gây hấn trong khi đi lại là chuyện thường ngày . Về nông thôn bây giờ không còn yên ả như xưa nữa , đâu đây đã xuất hiện nhiều băng nhóm côn đồ , nồng nặc mùi rượu , sẵn sàng đưa nắm đấm và hung khí cho người lạ nếm mùi để cướp giật và làm " người hùng " .
 
Tôi nghĩ người học võ không bao giờ bất lực trước những cảnh đời ngang trái ấy , sự tự tin trong công thủ của người võ sĩ bao giờ cũng sẵn sàng cho những tình huống xấu nhất . Một người có võ nghệ sử dụng xe máy trên đường , gặp một người tình nghi là kẻ xấu , ngồi uống nước trong quán , hay tình cờ là nạn nhân của một vụ ẩu đả , khủng bố nào đó , họ cũng có cách tự làm chủ tình hình tốt nhất mà người không biết võ khó lòng làm được . Một người bạn tôi khi vượt biên đến Mỹ đã điên cuồng nhớ lại cảnh vợ và con gái mình bị bọn hải tặc nghiệp dư hãm hiếp ngay trước mắt , anh bị ám ảnh suốt cuộc đời còn lại , tự nguyền rủa mình như là một kẻ vô tích sự , một thằng hèn nhát không đáng sống , mang đầy mặc cảm tội lỗi .
 
Người học võ nên nhớ học cả hai phần : Thể chất và tinh thần . Đã có rất nhiều võ đường chỉ chuyên chú đào luyện phần thể xác ( vật chất ) . Đó không chỉ là một thiếu sót lớn lao mà còn là một sai lầm tai hại . Dù rằng phần thể chất đóng một vai trò quan trọng không kém , " một tinh thần minh mẫn trong một thân thể tráng kiện " . Cũng như cây đèn : thân đèn , tim đèn và dầu là vật chất , ngọn đèn là tinh thần , ngọn đèn có sáng tỏ hay không và sáng tỏ lâu bền hay không , cần phải có đủ và dồi dào dầu . Học võ để tích lũy dầu ,cung cấp dầu cho ngọn đèn tiếp tục cháy sáng . Ngoài thể lực rắn chắc , dẻo dai , bền bỉ , còn tạo được một đức tự tin lớn mạnh cho ta luôn luôn cảm thấy an toàn , tự tại , một sự điềm đạm , bình tĩnh và bao dung . Thế giới ngày nay đã không ngừng tranh đấu nhưng không thành công trong việc giới hạn vũ khí , trong đó có vũ khí cá nhân . Tại sao các bậc phụ huynh hay những người có trách nhiệm không làm một việc ngược lại hay song song , khuyến khích thanh thiếu niên , khuyến khích con em tham gia phong trào rèn luyện sức khỏe đồng lúc với việc đòi hỏi giới hạn vũ khí , mà mỗi môn sinh , sau khi luyện tập đến một mức độ tương đối nào đó họ sẽ cảm thấy tự tin , tự chủ , bất cứ khi nào ,ở đâu . Khi họ có đủ bản lĩnh rồi , có nghĩa là lúc nào cũng cảm nhận được chân hạnh phúc an lạc vì họ không những bảo vệ được chính bản thân mà còn bảo vệ được cho gia đình , bạn bè và những người thân yêu .
 
Có người sẽ cho rằng như vậy , cuối cùng người học võ , khi đã đạt được đến một trình độ cao , có nghĩa là con người họ , bàn chân , bàn tay đã trở thành một thứ khí giới nguy hiểm không khác gì súng đạn , họ cũng sẵn sàng đem ra sử dụng như vũ khí nhằm mục đích gây tổn thương hay tiêu diệt người khác . Nhưng như phần mở đầu đã nói , võ thuật rèn luyện thể chất chỉ là một vế , vế kia là tinh thần , võ thuật còn rèn luyện con người phát triển được tuệ giác , vì vậy mà tất cả các môn phái : Hiệp Khí Đạo , Không Thủ Đạo , Nhu Đạo , Thái Cực Đạo , Kiếm Đạo ... đều có chữ "Đạo " nguyên ngữ chỉ rõ một " con đường " (tâm linh ) để theo . Trong những giờ tập "Meditation " tịnh tâm , tham thiền , dù cho ;là ngắn ngủi để có trạng thái "thức giác " , dần dà chúng ta có thể kéo dài , làm chủ trạng thái " thức giác " đó trong suốt cuộc đời còn lại của ta . Hồ nước , lúc có gió khuấy động mặt hồ thì nước sẽ lao xao nổi sóng . Khi gió yên , sóng lặng , bùn sẽ lắng đọng và nước hồ trong suốt , sẵn sàng và thanh thản để in bóng cỏ cây , bầu trời xanh và gương mặt con người . Hồ tâm lặng yên , ta càng thấy rõ từ những chiều sâu thăm thẳm nhất . Cùng một cách khi các vọng niệm đã dứt bặt , lòng hoài niệm quá khứ không còn , ý mơ tưởng tương lai không dấy động thì tâm ta sáng suốt , trong trẻo .Chính vì vậy mà người học võ có những hành động được truyền từ thức giác nên luôn luôn xử sự quang minh , chính đại , đầy phong cách và nhân ái . Để rèn luyện võ công người môn sinh tập luyện gian khổ rèn cho được một tinh thần bình thản trước nguy hiểm , và sống đúng theo nguyên tắc và danh dự của một võ sĩ đạo , sẵn sàng hiến thân một cách kiên quyết trong bất cứ giây phút nào cho cuộc sống .
 
Sự hiến thân này là tinh thần nhập thế với bản lĩnh và đạo đức của người học võ . Giữa cuộc sống đầy bất trắc và nhiều tai ương người học võ trong sóng đời xô đẩy đó vẫn bình thản vào cuộc với niềm tin ở chính mình và người khác , sẵn sàng gạn đục khơi trong để hướng đến chân thiện mỹ .
 
Năm 1994 , khi tôi đem hệ thống dây chuyền hiện đại SMT về đầu tư tại Việt Nam - đây là công nghệ hàn dán linh kiện điện tử mới nhất ở Việt Nam mà hai , ba năm sau hãng Fujitysu mới có dây chuyền này tại Khu công nghiệp Biên Hòa .Nhiều bạn bè người Việt ở Mỹ gọi tôi là một người điên vì hết nơi cộng tác làm ăn mà về chơi với Cộng sản , thế nào rồi cũng nhận lầy thất bại . Đến bây giờ họ đã biết hai nước ký kết hiệp định thương mại và những thương nhân Mỹ- Việt cùng qua lại làm ăn với nhau , ngày càng gắn bó trên thương trường .
 
Nỗi buồn nhẹ nhàng luôn len lỏi trong tâm tư tôi ngày ấy nhưng hy vọng rồi cũng sẽ tan tành trong nay mai . Ngày ấy ở Mỹ , người ta nghi kỵ tôi theo một chiều , còn khi về Việt Nam thì một số người ở đây lại nghi kỵ tôi theo một chiều khác ngược lại . Từ đáy lòng tôi , chuyện làm ăn ở quê hương và đóng góp một phần rất nhỏ trong việc xây dựng nền công nghiệp cao cho xứ sở chỉ là một mơ ước bình thường . Rất bình thường . Đừng ai xem xét việc làm này dưới một nhãn quan chính trị theo kiểu tư duy cục bộ hẹp hòi . Ngoài đất nước Việt Nam vẫn còn nhiều chân trời khác , có nơi đẹp đẽ phồn vinh , cũng có nơi đang điêu tàn khốn khó vì chiến tranh ... Tuy nhiên có một điều mà bất cứ người Việt Nam xa xứ nào cũng nhận ra trong tâm tư ngàn đời không cũ là :" không đâu đẹp bằng quê hương " và lưu đày trên quê hương vẫn còn hơn mang mãi bi kịch không có quê hương để trở về .
 
Khi giã từ sơn cốc thanh tịnh để trở lại bình nguyên sống trong gió bụi của cuộc đời , tôi đã sống như một người bình thường , không nửa vời như chia hai vầng trăng cho một giấc mộng . Tuy đã trôi nổi lăn lóc , thất bại rồi thành công , bao giờ tôi cũng lặng lẽ đón nhận những niềm vui hay bất hạnh không thái quá chút nào . Điều mà tôi có được nhờ võ đạo không phải là trở thành một cao thủ mình đầy tuyệt kỹ huyền công . Không có . Nhưng tôi luôn có " một vầng trăng mới về " để ôm ấp , một khu vườn xưa trong tâm cảnh để không quên bài " Chiết liễu " mà hát :" khúc tận dĩ vong tình " . Thay lời kết cho hồi ức này tôi nhớ lại chương cuối của hai bộ tiểu thuyết võ hiệp Cô gái Đồ long Lục mạch thần kiếm của nhà văn Kim Dung . Trong hai bộ tiểu thuyết này , một Vô Kỵ từ bỏ ngôi vị giáo chủ Minh giáo , thậm chí nhường ngai vàng sáng lập nhà Minh cho Chu Nguyên Chương để về nhà vẽ lông mày cho hồng nhan tri kỷ là Triệu Minh . Một Kiều Phong lừng lẫy võ công đã tuẩn tiết vì đại nghĩa , mang theo xuống tuyền đài một mơ ước nhỏ không thành : Được về quê cũ sống thảnh thơi bình yên bên người yêu A Châu để bắt thỏ , nuôi dê ... quên đi bao gió tanh mưa máu của chốn giang hồ .
 
Tôi mãi chỉ là kẻ " thắp đèn khuya kể chuyện trăng tàn " mà thôi .
 
 
Bạn gần không tới , Bạn xa chưa về
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-05-24 17:20:00grandet>
 
GỞI NHỮNG BẠN TRẺ VÀ MICHAEL

Một sớm tinh mơ ở Huế trời rét đậm vào cuối tháng chạp , tôi mở cửa ban công của căn phòng 212 trong khách sạn Morin ở tầng hai ,nhìn xuống mặt đường Lê Lợi , xa hơn là cầu Tràng Tiền vừa thức giấc trên dòng Hương êm đềm và sương mù lơ lửng .

Khách quan nhìn nhận Huế là một thành phố đẹp , đẹp mặn mà , dù ở trong bất cứ thời khắc nào , nơi chốn nào , thời tiết nào . Ngày-đêm , sáng-chiều , bão bùng , gió táp , nắng dội , mưa dầm ... đều có cái đẹp riêng của cảnh quang và khí hậu .

Buổi bình minh của Huế thường đẹp nhẹ nhàng và thanh thoát như còn thoảng hương đêm . Khi những dãy đèn cao áp bắt đầu nhạt màu trên đường phố ,hừng đông chỉ mới ửng hồng chưa loang trên màu nước đậm xanh sông , từ các ngả đường đã bắt đầu xuất hiện những gánh quà rong như bún , cháo , bánh canh , cơm hến , rau quả ... nặng trĩu trên những tấm vai gầy của người phụ nữ Huế , tảo tần năm tháng , sáng chợ chiều quê .

Cái đẹp trong thời gian đầu tiên trong ngày ở Huế luôn gắn bó với hình ảnh con người , vì vậy mà không đơn điệu , luôn thấp thoáng màu hư ảo của quá khứ , nồng nàn hương vị tương lai .

Là một người xa quê hơn mấy mươi năm trở về , tôi không khỏi ngơ ngẩn và bồi hồi khi bắt gặp một sớm tháng chạp rét mướt , đẹp lạnh lùng của Huế . Tôi ra khỏi khách sạn , tản bộ vòng qua đường Nguyễn Đình Chiểu - một con đường ngắn sạch sẽ dọc bờ sông Hương . Chính ở bờ sông này tôi cũng như những người xa quê khác , thường thích ngắm nhìn con sông đẹp đẽ này vào mỗi " rợn" sáng cũng như mỗi hoàng hôn , mà xa kia sau núi Kim Phụng hình như có khói chiều đang gợn nhẹ trong mây . Nhìn sông Hương trong những lúc này mới thấy hết cái hay cái đẹp đầy ấn tượng trong ngữ cảnh của câu thơ qua bài "Màu tím hoa sim" của nhà thơ tiền chiến Hữu Loan ..."Khi gió sớm thu về rờn rợn nước sông " .

Tôi trở lại con đường ngắn này thêm một lần nữa , quen thuộc như con đường mà cậu học trò bé nhỏ của Thanh Tịnh ngày xưa đã đi lại lắm lần . Tôi vừa định dừng lại quán cà phê "Thiên Đường " để uống ly cà phê đầu ngày nhân thể đợi một người bạn cũ , nhưng trước mặt tôi giữa dòng nước xanh biếc , có mấy người đàn ông trên một chiếc thuyền đang cố gắng lôi một xác chết lên từ dòng nước . Trên mấy nhịp cầu có vài nhóm người đang tò mò nhìn xuống sông bàn tán . Hỏi chuyện , mới biết có người lao xuống cầu tự tử đêm qua . Người chết là một nữ sinh viên xứ Quảng mới ngoài hai mươi tuổi , em trọ học ở Huế đã mấy năm rồi .

Trong cái giá buốt của thời tiết những ngày cuối năm , giữa lúc mà mọi người đang rộn rã chuẩn bị sum họp đón xuân về , thì người con gái ấy lại đi tìm cái chết cô đơn lạnh lẽo . Nỗi buồn sâu chợt đến và lan truyền trong tôi . Thương thì thương , nhưng cũng giận , tôi trách em sao vội vàng từ bỏ cuộc đời khi tuổi hoa niên còn thắm màu xuân sắc . Em tìm cái chết cho riêng em thì đã đành , nhưng còn mẹ cha ? Người mẹ có thể là một phụ nữ đang còng lưng dưới cây đòn gánh trĩu nặng trên hai đầu thúng , hay người cha đang khuya sớm lóc cóc một cuốc xe thồ kiếm sống lần lữa qua ngày . Em chỉ vì em mà sống hay chết thôi sao !

Tháng trước khi đi qua một vùng quê xa ở miền Trung đất nước , tôi đã chứng kiến cái chết của một thanh niên . Thi thể em được đắp sơ sài bằng một tấm chiếu cũ , đôi bàn chân đen gầy ló ra ngoài mép chiếu . Hỏi thăm tôi mới biết người chết là một thanh niên chân chất yếu đuối . Em hằng ngày lên rừng đào củ , kiếm củi đốt than , chắt chiu nuôi nấng hai đứa em còn bé dại mà bố mẹ đã qua đời . Em chết vì sốt mà khi lên cơn lại không biết nương tựa và cầu cứu vào ai .Vùng quê heo hút mà em gởi thân , cách xa thị xã cả vài chục cây số , dân ở đó lại nghèo không sẵn phương tiện . Người ta giúp em chỗ nằm , bát nước và vài viên thuốc cảm sơ sài . Em đã không thoát khỏi bàn tay của thần chết .

Mỗi ngày qua tại các thành phố lớn trong nước có hàng chục , hàng trăm cái chết lãng xẹt như : đua xe , dùng ma túy quá liều hay đâm chém nhau đến thí mạng . Những cái chết dữ dội và lầm lạc này không mảy may gây xúc động lòng người .

Trước những nỗi buồn , những nghịch cảnh lớn nhỏ , người con gái trên đã vội tìm đến cái chết , còn người thanh niên kia lại chết giữa lúc lòng mong được sống cho tình nghĩa đương nặng của mình . Thương thay cho em lại không có được một liều thuốc hoàn sinh mà giá trị chỉ bằng một buổi nhậu khề khà . Cả hai đều từ bỏ cuộc đời khi tuổi còn rất trẻ , hai cái chết đó đều có nguyên nhân từ sự yếu đuối . Một là yếu đuối tâm hồn , hai là yếu đuối thể xác để không chống chỏi được bệnh tật vì phải thường xuyên sống trong lam lũ đói nghèo .

Tôi muốn nhắc cho Michael con tôi và các bạn trẻ đồng lứa : trên cuộc đời này có rất nhiều người trẻ tuổi đang sống và hăm hở xây dựng nhân phẩm của mình qua thái độ và phong cách sống của họ . Những người này nhiều lắm , họ bươn chải để vượt qua những thử thách cam go của cuộc đời và đứng dậy trong tư thế tiến về phía trước . Họ tin tưởng quy luật " qua cơn khổ tận đến ngày cam lai " .

Vâng , tài sản quý nhất của đời ta từ khi sơ sinh cho đến lúc trở về cát bụi là : Tuổi trẻ .

Tuổi trẻ là những ngày tháng phiêu bồng trác tuyệt , là bức tranh đời hoành tráng , trong đó chứa đựng những gam màu diễm lệ , với không gian đầy ắp nhạc điệu cung đàn thanh khiết của mùa xuân .

Một sự thật đang diễn ra hàng ngày trên đất nước ta - trong sĩ số lớp trẻ ngày càng có không ít người bỏ cuộc , tha hóa rất nhanh để sa sẩy vào cuộc sống thực dụng rồi đọa lạc . Nguyên nhân của bi kịch ấy cũng dễ hiểu : Một số người lớn không còn là khuôn mẫu để con trẻ noi theo , một số khác cũng đang lún dần vào hố sâu của những lỗi lầm tệ hại .

Thanh niên , thiếu nữ không còn sân chơi cho tâm hồn , các em không biết nương vào đâu trước những cám dỗ vật chất mãnh liệt của đời sống , trước những réo gọi thất thanh của một nền văn hóa mới dựa lưng trên những kêu đòi vật dục . Chuyện những nhóm trai gái chỉ trên dưới mười sáu đôi mươi , ngày nào cũng tụ tập hít heroin , đêm đắm say trong vũ trường dùng hồng phiến thuốc lắc ... Cuộc chơi tốn tiền triệu đó cứ tiếp tục ngày này qua ngày khác , cho đến khi rũ rượi thân tàn trong phòng cấp cứu bệnh viện , hoặc lao vào tội ác để chịu cảnh lao tù . Đồng tiền mà các em chi trả cho những cuộc chơi đó thường là do cha mẹ mình kiếm được bằng mồ hôi của lao động , có khi là thuần khiết thanh cao , nhưng đa số là đang bị xã hội lên án nặng nề vì bất chính .

Đây chỉ là số ít , nhưng tác hại thay đang có nguy cơ chập chùng cấp số nhân , được xem là lối sống , là cách trả lời , khi mọi chuẩn mực đạo đức đều bị nhìn qua vẻ lấp lánh giả tạo của đồng tiền .

Trong sóng đời xô đẩy đầy cạm bẫy và thử thách ấy , có nhiều bạn trẻ đã và đang vượt qua hoàn cảnh một cách đáng khâm phục nhất là những người có số phận không may mắn như những người đồng lứa khác .

Tôi đã gặp nhiều bạn trẻ ngày tất tả đi làm các việc thời vụ linh tinh , để kiếm tiền đủ trang trải cho hai bữa cơm bụi bình dân rồi đến giảng đường miệt mài học tập . Nhiều người tuổi chưa quá hai mươi mà phải lo toan gánh nặng gia đình trên đôi vai nhỏ bé . Họ đã sống trọn vẹn tuổi thanh xuân của mình trong ngọt bùi chua chát , không hề hay biết đến những cuộc gọi điện thoại di động trong hộp đêm , những tiệc lớn tiệc nhỏ mà rượu , bia , chất kích thích tràn trề như nước lã .
Nhiều cuộc đời riêng đã cam chịu thiệt thòi vật chất để giữ trọn phẩm hạnh và tiết tháo của mình . Một sĩ quan chấp nhận về hưu non để sống đời giản dị , mà theo ông :" Thà hái rau má trên mồ liệt sĩ để ăn chống đói qua ngày chứ không ham đồng tiền bẩn thỉu mà nỡ quên công lao của những đồng đội đã hy sinh .

Trong hồi ức của một người học võ nầy là những lời giãi bày của tác giả . Tôi đã cố gắng trình bày võ học như một hướng sống lành mạnh , giữ tâm trong sáng , yêu người , yêu đời , bình thản trước mọi cám dỗ ... mà rất ít khi đem võ học để liên hệ đến những nền học thuật uyên áo của phương Đông . Điều tác giả muốn gửi gắm chỉ đơn giản là :
Từ võ học đến võ đạo và đằng sau một hình thức tập luyện thân thể thuần túy thể thao thì có cái gì khác , hiện hữu ngay trong đời sống , làm thành nếp tư duy tốt đẹp của ta với đồng loại .

Một môn thể thao được nâng lên thành Đạo như là cách tập trung tinh thần tốt nhất để nhập thế và nhận ra mình một cách toàn diện , làm chủ mình hoàn toàn trong đối đãi . Chiến đấu với bệnh tật hoặc chiến đấu sinh tử với cái ác , võ học là nhân học , là liệu pháp hoàn hảo nhất để sử dụng như chất kháng sinh tiềm ẩn , sẵn sàng bảo vệ thân tâm trước mọi thách đố của sự hủy hoại đang xảy ra chung quanh cuộc sống thường ngày .

Đạo của võ không phải là suy luận của giáo nghĩa hoặc phụ thuộc vào tín ngưỡng tôn thờ . Thiết thân nhất , các bạn trẻ hãy dùng võ để thấy và biết những điều mà lục căn ( mắt , tai , mũi , lưỡi , thân , ý ) thuộc bản năng dấy động không thể cảm nhận được .

Bạn từng xem một trận bóng đá đỉnh cao và tận hưởng niềm vui của những người ham mê môn thể thao này . Tất cả giác quan của họ đều cuốn theo những đường banh phối hợp đẹp mắt , những kỹ thuật điêu luyện như chơi với trái bóng . Đó là Đạo . Túc cầu giáo có hơn cả tỷ người trên hành tinh này , họ không bao giờ muốn niềm tin của mình bị tước đoạt và phản bội khi có một trận thi đấu sắp xếp giả dối . Những cầu thủ trên sân đã trở thành người thân không thể thiếu được cho niềm vui cuộc sống , những cử chỉ đẹp được tán thưởng , ngược lại các hành động thô bạo , ác ý đều bị lên án trong và ngoài sân cỏ . Kỹ thuật và sự tinh tế của tim óc trong bóng đá đã biến môn thi đấu này trở thành nghệ thuật chơi tập thể , nâng cao để hoàn thiện những động tác kỹ thuật trong bóng đá cũng như một võ sinh phải tập thuần thục bài quyền .

Thân thể của người học võ và người chơi những môn thể thao khá mạnh mẽ , nhịp nhàng theo hoạt động của tứ chi và các giác quan đều được hướng dẫn cho phải đạo , họ không thể làm sai những điều mình đã tập luyện . Người học võ khi đạt một trình độ nhất định nào đó ,không bao giờ sử dụng vũ lực một cách tùy tiện , họ dùng võ để bảo vệ chính nghĩa và những người cô thế bị ức hiếp mà thôi .

Trong hồi ức này , tôi mong rằng các bạn trẻ xem đó là cuộc nghiệm sinh của tôi với cuộc đời . Tôi mong rằng các bạn hãy gõ cánh cửa luôn sẵn sàng mở rộng ấy ! " Vừng ơi hãy mở " như câu chuyện thần thoại ngày xưa , ở đằng sau cánh cửa ấy là cả một kho tàng dành riêng cho bạn .


Michael ơi !

Như phần đông những người thuộc thế hệ của Ba thời ấy , biết bao người mà tuổi trẻ đã có quá nhiều mất mát trong cuộc chiến tranh dài . May mắn thay khi đến trường , thế hệ của Ba đều đã đọc và học Gia huấn ca của Nguyễn Trãi , Quốc văn giáo khoa thư và các tác phẩm nổi tiếng viết về tuổi thanh xuân của nước ngoài như Tâm hồn cao thượng , Nhật ký Anne Frank với những trang chứa đầy ước mơ và khát vọng đẹp đẽ nhất của con người trước cuộc đời .

Con có nhớ không ? Trên sân vận động của Trường Aliso hôm nào Ba đã chứng kiến đội bóng "Chó Sói " của trường con thi đấu . Con là một cầu thủ trong đội bóng đã chiến đấu tận tình và hiên ngang ngẩng cao đầu dù kết quả là thua trận , khi chỉ còn 16 giây cuối cùng trước đội bóng "trên cơ " của trường bạn . Tình đồng đội và những hành vi cử chỉ thể thao cao đẹp được thể hiện trên từng tấc đất của sân cỏ cho đến cầu môn của hai đội . Tiếc rằng lúc đó con không có thể nhìn thấy tận mắt niềm vui của khán giả mà phần lớn là phụ huynh , anh em , bạn bè của hai đội bóng . Con sẽ hãnh diện bởi mình là một trong những người trên sân cỏ , đang tạo ra niềm hưng phấn , say mê và cảm khích đó cho họ . Những lo toan trong cuộc đời thì nhiều mà niềm vui quá hiếm hoi , bởi vậy bất cứ niềm vui chánh đáng nào mà Thượng đế đã hiến tặng thì ta phải chắt chiu trân trọng và biến nó thành dưỡng chất cho đời .

Ba mẹ cũng như bao người làm cha , làm mẹ khác , thường tự hào về con cái mình dù cái tự hào ấy có khi thiển cận và nông nổi . Niềm tự hào dễ thương của một người mẹ khi nhìn con ngo ngoe trong nôi rồi bi bô tập nói , lẫm chẫm tập đi cho đến lúc đi học và vào đời .

Ba rất vui và nhẹ lòng biết bao - nếu không nói là hạnh phúc khi nhìn con , một đứa bé được sinh trưởng và lớn lên trên đất Mỹ , mười ba tuổi đã một mình đưa bà ngoại bị căn bệnh ung thư quái ác hành hạ từ Mỹ về Việt Nam , theo nguyện vọng "Quy cố hương " của bà , để rồi bà thảnh thơi từ giã cuộc đời chỉ mấy ngày sau đó trên quê cha đất tổ ... Mới đó mà hôm nay là ngày giỗ thứ năm của bà ngoại .

Nhớ những ngày ở Hà Nội , trong sân nhà máy , con đã tập nói tiếng Việt cho sõi với các bác bảo vệ , mấy anh chị công nhân . Con đã hòa đồng và học tập cái tốt , cái dễ thương của những người lao động ở quê nhà như một đứa em đi xa trở về chứ không phải là một thằng bé Việt kiều kiểu cách xa lạ . Những buổi sáng nhìn con bưng đĩa xôi lạc ăn với muối mè , bát bún riêu bình dân , hai món quà sáng mà con thích nhất trong những ngày đông giá ở Hà Nội , rồi bún giò , bánh canh cay xé lưỡi ở Huế , Ba đã cảm nhận được phong vị quê hương trong đôi mắt con , đôi mắt đó có khác chi là một "khung trời hội cũ " .

Dù chưa qua tuổi trưởng thành , nhưng con đã tập sống như một môn sinh trên con đường đến với võ học - một môn học làm nền cho khí chất và hun đúc cái đẹp cho nội tâm ..

Ba vẫn tin mãi rằng : Michael tên Mỹ hồn Việt đang đi đúng con đường của mình đã chọn để vào đời , mà hành trang là sự dũng cảm của một tâm hồn cao thượng .


Huế , ngày 27 tháng 4 năm 2002




./.
 
 
 






Bạn gần không tới , Bạn xa chưa về
0
Chào Grandet

Nhờ " một người nhắc nhở, nên không thấy tác phẩm này, tội cho Ct.Ly ghê [8D]

Cảm ơn Grandet đã góp sức cho Thư viện VNTQ rất nhiều

Chúc vui




📎 Mercidetoutcoeur
0