Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

Mái nhà đêm Bạch hạc

5 trả lời, 41 lượt xem — Trang 1 / 1
Mái nhà đêm Bạch hạc  
Nói đến nhà thơ Quang Dũng, ai cũng nghĩ ngay đến chàng chiến sĩ vệ quốc và khúc hành ca “Tây tiến”: Sông Mã gầm lên khúc độc hành. Lứa học sinh chúng tôi ở miền Nam trước 1975 cũng có biết đến ông như một “chinh phu” của một thời “Trống Trường thành lung lay bóng nguyệt” (Chinh phụ ngâm), rất oai phong và cũng rất trữ tình. Bởi, bên cạnh một Tây tiến người đi không hẹn ước lại còn có lúc Thoáng hiện em về trên đáy cốc, Nói cười như chuyện một đêm mơ (Đôi bờ).
            Từ sau ngày đất nước đổi mới đến nay, sáng tác của ông đã được nhìn nhận trở lại với sự đánh giá khách quan, chân thật và chính xác hơn. Chúng tôi đã có dịp lật lại từng trang Tuyển tập Quang Dũng (NXB Văn học, nhà thơ Trần Lê Văn tuyển chọn và giới thiệu) để hiểu thêm về đời tư, gia đình và bạn bè ông qua một số bài viết ngắn. Và cũng nhờ đó được biết thêm rằng ông đã thật sự xếp “kiếm cung” tự trước thuở đầu hòa bình lập lại trên miền Bắc (1954). Trở về ông vẫn tiếp tục sáng tác nhưng trong những bài thơ sau này đã không còn tìm đâu được cái giọng điệu hào sảng của một thời “khoác chiến y phi tuấn mã”. Có lẽ vì ông đã không còn trẻ nữa, không còn là người lính, mà cũng có lẽ vì lịch sử đã sang trang, cả dân tộc đang lao vào một cuộc chiến đấu mới. Một số sáng tác của ông là hoài niệm về một thời chinh chiến cũ như: Đường trăng, Rừng, Gửi Sơn Tây, Nhớ một bóng núi…, một số là nỗi niềm riêng dành cho mỗi vùng đất, tên làng: Hồ Nam, Bố Hạ, Thu quê ai… và một ít dành cho tình cảm riêng tư: Nhớ về mẹ, Nhớ bạn, Không đề…
            Tuy nhiên, trong từng tác phẩm, ta vẫn thấy như phảng phất đâu đó cái yêng hùng, cái giang hồ, cái hào hoa của một chàng lãng bạt.
            Gần tuổi năm mươi, ông có bài Đêm Bạch hạc viết trong một dịp “lữ hành”. Ngay từ đầu bài thơ, ta đã thấy cái lãng đãng, mơ hồ, cái lang thang trên dặm trường dong ruỗi:
Có những chiếc giường lạ
Nhìn ra mảnh sân nào
Nửa đêm chợt thức giấc
Thấy ta nằm ở đâu
            Người đọc bỗng chạnh lòng và cảm thương cho người lữ khách thường xuyên “ăn nhờ ở đậu” đến nỗi thức giấc nửa đêm không kịp nhận ra mình đang ở nơi nào. Không gian và thời gian ở đây như giãn ra, dài ra… bất định. Chàng đã tự ví mình như một cánh chim trời tung bay, bay mãi cho đến khi bất chợt mỏi cánh tự lúc nào không hay. Và như thế cánh chim giang hồ kia không thể và không cần chọn cho mình một chỗ trú ngụ ấm êm, như ý:
Như cánh chim mỏi cánh
Tạt vào rừng không quen
Không chọn cành ngủ đổ
Nào mong gì ấm êm
            Để đêm nay bất chợt nhận ra:
Đêm nay đêm Bạch hạc
Ta lại vào nhà ai
Nghe song Lô cuộn nước
Dềnh lên suốt đêm dài
Đêm trung du như dài ra vì khách lữ hành chợt thức giấc nửa đêm, nằm nghe tiếng sông Lô cuồn cuộn chảy. Dòng sông của một thời kháng chiến vẻ vang đã từng làm nên chiến thắng? Dòng sông có những kỷ niệm êm đềm của một thời đánh giặc ngoại xâm?
Bạch Hạc, tên một vùng đất? Tên một dòng sông? Hay chính là tên của một loài chim đang mãi hoài bay xuôi theo dòng đời chưa mỏi mệt? Đã có một tên đất như thế, tên một dòng sông như thế và chắc chắn rằng đã có tên một loài chim-lữ-khách như thế: Bạch Hạc. Nhưng không phải là “một con hạc trắng bay về bồng lai” mà là một cánh chim bay cô đơn giữa đời, giữa trời bão giông với những hoài niệm dĩ vãng chưa thể nào quên được.
Sớm mai rồi tiễn biệt
Tóc đẹp nhường bang khuâng
Một đêm dài để nhớ
Những người xa vô cùng
Ai đã và sẽ là “những người xa vô cùng” ấy để chàng lãng tử suốt đêm nằm nhung nhớ? Người vợ hiền thảo ở chốn quê nhà? Cô em vườn ổi ngày xưa? Cô gái tản cư bán quán bên đường hay một người “tóc đẹp” nào miền non nước song Lô đang chờ nói câu tiễn biệt? Ta như thấy ẩn nấp đằng sau những câu thơ kia có dáng một “bóng hồng”. Nhưng sẽ là điều không phải nếu cứ đi tìm một con người cụ thể. Bởi vì đường đời mà người lữ khách kia đi qua dặm dài nhiều theo năm tháng, chất chứa trong trái tim độ lượng của thi nhân chừng như không mang nổi. Hãy cứ nhìn thấy ở đây một tâm hồn hiệp sĩ vị tha, chan chứa lòng yêu. Dễ thương yêu và khoáng đãng như mây trời đến nỗi chỉ một khoảnh khắc cảm nhận bất chợt dọc đường thôi cũng đủ làm sợi dây hồn rung lên những nốt ngậm ngùi, cảm xúc. Và cũng giống như năm xưa người lính vệ quốc rời quán nước giữa trưa ra đi: Hồn lính vương qua vài sợi tóc, Tôi thương mà em đâu có hay, bây giờ, chàng lữ khách tóc sương lại khăn gói lên đường mà lòng mơ hồ bâng khuâng mãi:
Mái nhà đêm Bạch Hạc
Có nhớ người đi không?
Câu hỏi thể hiện như một tự vấn không đòi được trả lời. Thậm chí câu hỏi không phải là ngụ ý “ai đó” có nhớ “tôi” không mà cái tình riêng ở đây - nếu có - đã đồng hóa vào cái vật chất là “mái nhà đêm Bạch Hạc”, và cái “tôi” ở đây bỗng như lớn vượt ra ngoài cái tôi-bản-ngã để trở thành cái tôi-người-đi. Mái nhà đêm Bạch Hạc, Có nhớ người đi không?
… Và bây giờ người lữ khách ấy đã thực sự đi rồi (1988). “Con hạc trắng” đã thực sự đi vào “cõi bồng lai”, bỏ lại cho đời, cho người một cõi lòng rộng lớn đầy ắp yêu thương. Và chắc chắn rằng những “mái nhà đêm Bạch Hạc” sẽ không bao giờ quên được bóng hình ông.
 
                                                                                                                        Lê Phú Hải
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
CÔ NGỌ Ở TRONG THƠ
             Ngày còn học trung học, lũ con trai chúng tôi rất thích ôm đàn ghi ta nghêu ngao vào những dịp cắm trại hay trong những kỳ nghỉ cuối tuần. Một trong rất nhiều bài hát thời ấy được chúng tôi ưa thích là ca khúc “Ngày xưa… Hoàng thị” được phổ từ thơ của Phạm Thiên Thư. Chúng tôi thích bài hát này bởi vì ca từ là những lời thơ tình đậm chất học trò nhẹ nhàng và mênh mang, được thể hiện bằng tiết tấu valse và hợp âm Đô trưởng dễ chơi dễ nhớ. Còn nhớ những cậu nhỏ lớp 10, 11 chúng tôi lúc đó vừa mới ổn định xong cái giọng vỡ ồ ề đã say sưa cất lên từng câu hát:
Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ…
Ôm nghiêng tập vở
Tóc dài tà áo vờn bay…
            Mà cũng không chỉ có bọn con trai chúng tôi, các bạn gái cũng rất thích bài hát này. Có lẽ vì mỗi người đều cảm thấy có mình trong cái dáng xinh của cô Hoàng Thị Ngọ duyên dáng ấy. Và thế là chúng tôi lại hát lên:
Em đi dịu dàng
Bờ vai em nhỏ
Chim non lề đường
Nằm im dấu mỏ
Anh theo Ngọ về
Gót giày lặng lẽ đường quê…
            Cái tình cảm ấy sao mà trong trắng, sao mà “thương” quá đỗi! Mà không thương sao được khi người con trai ấy:
… Anh trao vội vàng
Chùm hoa mới nở
Ép vào cuối vở
Muôn thuở còn thương còn thương…
             Thế rồi cũng qua đi một thời học trò lưu luyến và ân cần. Chúng tôi trưởng thành, vào đời rồi tất bật cho cuộc mưu sinh. Thuở học trò ngày xưa lặng lẽ đi về hồi ức cũng giống như chúng tôi lặng lẽ lớn lên mà không kịp tìm xem cho đầy đủ bài thơ tình thuở ấy. Bài thơ mà cho dù người nhạc sĩ có tài hoa đến mấy cũng không thể nào phô diễn hết được ý tình. Thật ra cô gái có tên là Ngọ ấy trong thơ đẹp hơn nhiều. Cô không chỉ đơn giản “ôm nghiêng tập vở” hay “em đi dịu dàng bờ vai em nhỏ” và “tóc dài tà áo vờn bay” như một thuở nào chúng tôi đã từng yêu mến. Trong thơ cô Ngọ “sang trọng” hơn nhiều:
… Bước em thênh thang
Áo tà nguyệt bạch
Ôm nghiêng cặp sách
Vai nhỏ tóc dài…
… Em tan trường về
Cuối đường mây đỏ
Anh tìm theo Ngọ
Dáng lau lách buồn
Tay nụ hoa thuôn
Vương bờ tóc suối…
[/align]
            Và người con trai trong bài thơ ấy cũng lãng mạn hơn, “trình độ” hơn. Tình cảm của anh dành cho cô Ngọ vừa nhẹ nhàng lại vừa sâu sắc, và niềm nhớ của anh như ẩn dấu bên trong một nỗi buồn cỏ hoa kín đáo. Bài thơ mở đầu bằng một hình ảnh rất đẹp:
Em tan trường về
Đường mưa nho nhỏ
Chim non dấu mỏ
Dưới cội hoa vàng…
            Ở đây, không chỉ cây cỏ, thiên nhiên mang sắc màu tươi đẹp, cái tình si của chàng trai cũng đẹp qua cách thể hiện mang nhiều hình sắc:
… Thương ơi! vạn thuở
Biết nói chi người
Em mĩm môi cười
Anh mang nỗi nhớ
Hè sang phượng nở
Rồi chẳng gặp nhau
 
Ơi mối tình đầu
Như đi trên cát
Bước nhẹ mà sâu
Mà cũng hòa mau
Tưởng đã phai màu
Đường chiều hoa cỏ…
            Có lẽ không ai đi qua tuổi học trò mà không có ít nhất một mối tình. Xin hãy hiểu tình ở đây theo một nghĩa ngây thơ và non dại nhất. Thường đó là những mối tình như thoáng chút lao xao trên mặt hồ tâm hồn sóng gợn hay chỉ như một chút rung nhẹ của dăm nốt nhạc trầm. Thật ra câu chuyện tình của cô Ngọ cũng có hồi kết cuộc. Họ không “gặp” được nhau. Để rồi sau mười năm người con trai tình cờ đi qua chốn xưa và bỗng nhớ đến Hoàng thị… ngày nào mình đi theo và thổn thức. Nhưng người đã không còn. Chỉ còn cảnh cũ và tình cũ thuở xưa, người thì đã xa vời vợi. Cũng giống như tôi mới hôm nào tình cờ đọc được bài thơ lại nhớ về một khoảng trời đã qua xa lơ xa lắc. Và tất nhiên tôi cũng không đủ tài để viết được như Phạm Thiên Thư:
…Phố ơi muôn thuở
Giữ vết chân tình
Tìm xưa quẩn quanh
Ai mang bụi đỏ
Dáng ai nho nhỏ
Trong cõi xa vời
Tình ơi! Tình ơi!
            Dù sao cũng xin cảm ơn nhà thơ và người nhạc sĩ đã một thời làm con tim chúng tôi xao xuyến.
 
 
                                                                                                                                    Lê Phú Hải
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
Khói huyền bay lên cây  
            Thuở còn là học sinh trung học, chúng tôi rất thích hai câu thơ ”Thơ viết chớ xong thuyền trôi chớ đỗ/ Cho nghìn sau… lơ lững… với nghìn xưa… và cứ nhầm tưởng đây là hai câu thơ của thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Thật ra hai câu thơ này nằm trong bài thơ “Ngập ngừng” của Hồ Dzếnh với những câu thơ hay và ngộ nghĩnh thường được thế hệ chúng tôi thời ấy ưa thích và truyền miệng cho nhau nghe. Bài thơ được mở đầu bằng tứ thơ ngộ nghĩnh và dễ thương:
Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé
Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân
Ngó trên tay, thuốc lá cháy lụi dần…
Tôi nói khẽ: gớm, sao mà nhớ thế!...
            Có lẽ chúng tôi đã từng thích thơ Hồ Dzếnh trước hết bởi nét giản dị và không hàm chứa ý nghĩa triết lý cao siêu. Có vẻ như ông xúc cảm thế nào thì viết ra thế ấy. Thỉnh thoảng giữa mạch thơ nghiêm túc ông lại đưa ra một câu thơ tưng tửng khôi hài như ta thường thấy trong thơ Búi Chí Vinh hiện nay:
… Có lần tôi thấy tôi yêu
Mắt nhung, cô bé khăn điều cuối thôn
Lâu rôi tôi đã… hơi khôn
Biết cô hàng xóm có còn nhớ nhau?
                                                (Quê hương)
… Ổ rơm bác Xã thôi nằm
Chân đi guốc thấp, xỏ nhầm guốc cao
Mắt còn líu ríu chiêm bao:
“Với cho tao điếu thuốc lào, cu con!”
                                                (Sáng quê)
Hay như trong bài “Rằm tháng giêng”:
… Chị tôi vào lễ trong chùa
Hai chàng trai trẻ khấn đùa hai bên:
“Lòng thành lễ phật đầu niên
Cầu cho tiểu được ngoài giêng đắt chồng”
Chị tôi phụng phịu má hồng
Vùng vằng suýt nữa quên bồng cả tôi…
 
… Nghe nói mùa này bên đất Pháp
Ngày hè dài tới… chín giờ đêm
Hẳn vì cây cối xanh tươi lắm
Nên nắng quên đi, đắm đuối nhìn…
                                                (Paris, mùa nắng)
 
            Thật ra thơ Hồ Dzếnh khá trữ tình và không kém phần lãng mạn. Ở miền Nam trước đây học sinh không ai không thuộc và không từng nghêu ngao đôi ba câu trong bài thơ “Chiều” của ông đã được nhạc sĩ Dương Thiệu Tước phổ nhạc trên nền điệu tango nhịp nhàng và quí phái:
Trên đường về nhớ đầy
Chiều chậm đưa chân ngày
Tiếng buồn vang trong mây
Tiếng buồn vang trong mây
Chim rừng quên cất cánh
Gió say tình ngây ngây
Có phải sầu vạn cổ
Chất trong hồn chiều nay?
Tôi là người lữ khách
Màu chiều khó làm khuây
Ngỡ lòng mình là rừng
Ngỡ hồn mình là mây
Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói huyền bay lên cây…
Thể loại thơ năm chữ như bài “Chiều” trên đây của Hồ Dzếnh không nhiều. Có vẻ như ông sở đắc thể loại lục bát và thất ngôn nhiều hơn. Đặc biệt thơ lục bát của ông dù viết về đề tài gì đi nữa cũng không thể thiếu được yếu tố ngộ nghĩnh qua cách quan sát tinh tế. Ông đã tả về phố huyện và làng quê ông như sau:
Vài thanh đá dựng làm hè
Vài nhà tranh yếu vai kề sát nhau
Phố tôi trông dáng buồn rầu
Khó khăn của kẻ làm mầu vô duyên…
 
Khi vàng đứng bóng im trưa
Tiếng khô lá rụng làm thưa phố phường…
                                                (Phố huyện)
Làng tôi thắt đáy lưng… tre
Sông dài, cỏ mượt đường đê tư mùa
Nhịp đời định sẵn từ xưa:
Ươm tơ tháng sáu, lên chùa tháng giêng…
…Trong làng lắm gái thưa trai
Nên thường có luật chồng  hai vợ liền!...
                                                (Lũy tre xanh)
…Trên đường đê bé chạy dài
Bóng trâu trên nước bóng người trên cây
Ngoài trời mây sáng hây hây
Nước son tô loãng da ngày cuối thu
Đáy hồ mấy mắt sao lu
Và trên nón dạ sương mù quệt ngang…
                                                (Sáng quê)
            Ở thể thơ thất ngôn ông cũng rất có duyên trong sử dụng câu chữ để diễn đạt ý tình:
Trời đẹp như trời mới tráng gương
Chim ca, tiếng sang rộn ven tường
Có ai bên cửa ngồi hong tóc
Cho chảy lan thành một suối hương…
 
Sắc biếc giao nhau cành bắt cành
Nước trong, hồ ngợp thủy tinh xanh
Chim bay, cánh trĩu trong xuân ý
Em đợi chờ ai khuất bức mành?


Giữa một giờ thiêng, tình rất đẹp
Rất buồn và rất… rất thanh thanh
Mày ai bán nguyệt, người ai nhỏ
Em ạ, yêu nhau… chết cũng đành!
                                                (Xuân ý)

            Đã có khá nhiều bài viết nói về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Hồ Dzếnh. Cuộc đời ông vốn không bằng phẳng và hoàn cảnh riêng cũng có nhiều trắc trở, long đong. Tuy nhiên ông cũng đã sống trọn vẹn cho đến cuối đời và tác phẩm để lại cả văn và thơ là dấu ấn riêng của một thời ông đã sống và làm việc. Đối với thế hệ chúng tôi, nói đến Hồ Dzếnh là nghĩ ngay đến những câu thơ tình chan chứa và hình ảnh của một lãng tử yêu đời:
Tôi không chọn nắng, cầu mưa
Nhớ người không cứ về trưa hay chiều
Tôi yêu vì nắng cây reo
Bướm bay vô cớ, gió vèo tự nhiên…
                                                (Lặng lẽ)
Và:
…Chiều nào nghe xuống hoàng hôn
Tôi rười rượi nhớ, quay hồn về mơ
Chiêu Quân biệt Hán sang Hồ
Có buồn cũng đến như là… thế thôi!
                                                (Buồn Chiêu Quân)

                                                                                                             Lê Phú Hải
Đăng nhập để trả lời
0
Bốn cô gái & những kẻ si tình             Đầu tiên phải kể đến “Cô láng giềng” của nhạc sĩ Hoàng Quí. Ca khúc kể lại câu chuyện tình buồn và dang dỡ của chính người nhạc sĩ tài hoa yểu mệnh ấy:
“Hôm nay trời xuân bao tươi thắm
Dừng bước phiêu linh về thăm nhà
Chân bước trên đường đầy hoa đào rơi
Tôi đã hình dung nét ai đang cười…”
            Và chân dung “cô láng giềng” hiện ra:
“…Đôi mắt trong đen màu hạt huyền
Làn tóc mây chiều cùng gió ngàn dâng sóng
Xao xuyến nỗi niềm yêu…”
            Chỉ có chừng ấy thôi! Chỉ một chút phác thảo “đôi mắt trong đen” và “làn tóc mây chiều” cùng với “nỗi niềm yêu” cũng đủ để hiện ra một “cô láng giềng” dễ thương và duyên dáng. Thật ra ba tiếng “cô láng giềng” là cách goi yêu thương trìu mến của chàng trai si tình chứ nào họ có xa lạ gì nhau, nếu không muốn nói họ đã từng có nhiều ước hẹn:
“…Năm xưa khi tôi bước chân ra đi
Đôi ta còn đứng bên hàng tường vi
Em nói rằng em sẽ chờ đợi tôi
Đừng nói đến phân ly…”
            Và không chỉ có lời ước hẹn của người con gái, chàng trai kia trên bước đường “phiêu linh” vẫn “tuy cách xa phương trời tôi không hề quên bóng ai bên bờ đường quê, đôi mắt đăm đăm chờ tôi về…”.  Thế nhưng cô gái đã không chờ đợi nữa. Không ai biết vì sao, vì sự mòn mõi của đợi chờ hay vì trong cô đã có một hình bóng khác? Chỉ biết ngày chàng trai trở về cũng là ngày:
“Trước ngõ vào thôn vang tiếng pháo
Chân bước phân vân lòng ngập ngừng
Tai lắng nghe tiếng người nói cười xôn xao
Tôi biết người ta đón em tưng bừng…”
            Con sáo đã sang sông! “Cô láng giềng” đã đi lấy chồng nên:
“…Đành lòng nay tôi bước chân ra đi
Giơ tay buồn hái bồng hồng tường vi…
Cô láng giềng ơi!
Nay mối duyên thơ đành đã lỡ rồi
Chân bước xa xa dần miền quê
Ai biết cho bao giờ tôi về”
            Được biết ca khúc “Cô láng giềng” được nhạc sĩ Hoàng Quí viết vào năm 1942, nội dung là câu chuyện tình có thật của chính ông, và bài hát chỉ có lời 1. Lời 2 được nhạc sĩ Hoàng Phú (tức Tô Vũ, em ruột Hoàng Quí) viết thêm vào sau khi ông mất. Và nhờ đó câu chuyện tình buồn cũng trọn vẹn hơn, tha thiết hơn trên nền hợp âm rê thứ. Để cuối cùng lắng đọng lại là một đóa tường vi và âm hưởng buồn sâu lắng.
 
            Ba năm sau, năm 1945, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc cho ra đời ca khúc “Cô lái đò”. Nhưng ông chỉ là tác giả phần nhạc. Ca từ trong bài được phổ theo nguyên tác bốn khổ thơ của thi sĩ Nguyễn Bính. (Ca khúc được xây dựng trên nền hợp âm mi thứ với những quãng lạ mang âm hưởng dân ca. Phải là một nhạc sĩ giỏi mới có thể phổ nhạc nguyên bài thơ thất ngôn hay và thành công như vậy”. Đây cũng là câu chuyện tình buồn, là lời hẹn ước không thành bởi sự xa cách và chờ đợi mõi mòn. Và mặc dù nội dung không hề đề cập đến “vẻ ngoài” của “cô lái đò” nhưng chỉ cần hai câu: “Vắng bóng cô em từ dạo ấy, để buồn cho những khách sang sông” là ta có thể hình dung “cô lái đò” kia phải là một người có nhan sắc.
            Chuyện tình buồn bao giờ cũng là chuyện tình dang dỡ. Bởi nếu không dang dỡ thì chắc chắn họ sẽ “nên vợ nên chồng” như đoạn kết chuyện tình cô gái đi chùa Hương của thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp. Và như thế thì hết chuyện và không còn tác phẩm. Ở đây hình như nỗi buồn dễ san sẻ hơn niềm vui và dỡ dang dễ đồng cảm hơn sự viên mãn! Và mặc dù “cô lái đò” đã phụ người yêu đi lấy chồng nhưng vẫn để lại trong lòng ta sự thông cảm, yêu mến. Bởi vì:
“…Nhưng rồi người khách tình xuân ấy
Đi biệt không về với bến sông
Đã mấy lần xuân trôi chảy mãi
Mấy lần cô gái mòn mõi trông…”
            Chắc chắn “cô lái đò” không phải là người bội bạc, quên câu chung thủy. Chỉ vì sự chờ đợi đã vượt quá giới hạn để đến nỗi “đốm lửa tình yêu tắt lụi dần” nên “chẳng lẽ ôm lòng chờ đợi mãi, cô đành lỗi ước với tình quân”. Đó cũng là chuyện thường tình. Nhưng nghe hai câu “bỏ thuyền bỏ bến bỏ dòng sông, cô lái đò kia đi lấy chồng” được thể hiện bằng những quãng tám nghẹn ngào ta không thể không thấy một chút ngậm ngùi man mác…
 
            Năm 1952, nhạc sĩ Vũ Minh có ca khúc “Cô hàng nước” rất vui và ngộ nghĩnh. Vui và ngộ nghĩnh bởi vì đây chưa phải là câu chuyện tình mà chỉ là mối tình thầm lặng từ phía chàng trai si tình. Và tất nhiên dưới con mắt của một kẻ si tình thì đối tượng bao giờ cũng đẹp. Một cách hồn nhiên, chàng trai giới thiệu về “cô hàng nước” của mình như sau:
“…Tôi kể rằng đầu làng Ngũ Xá có nàng
Một nàng bán nước chè xanh
Người đâu trông mà duyên dáng
Và cô em chừng đôi tám…”
            Rồi chừng như cho rằng lời giới thiệu còn khái quát quá, chưa đủ để nói lên được nét đẹp và sự hấp dẫn của cô gái, chàng trai tiếp tục miêu tả “cận cảnh” hơn:

“…Miệng cô như là hoa
Đóa hoa thật tươi, trông càng say đắm.

Mắt cô đưa tình khiến bao chàng trai ngất ngây vì cô mỗi khi qua hàng..."
Mặc dù không nói ra nhưng ta vẫn hiểu trong cái đám “bao chàng trai ngất ngây” đó anh ta là người say đắm nhất. Cái say đắm lên đến đỉnh điểm nên chàng trai không ngần ngại gì mà không bộc bạch tình cảm của minh - tất nhiên là qua tác phẩm:
“…Hò ơi đâi mắt nhung huyền
Ơi hỡi nàng hàng xinh xinh ơi
Má lúm đồng tiền trông duyên ghê
Làm ta say đắm bao tháng ngày
Chiếc áo nhuộm màu nâu non a
Với dáng người nàng thon thon a
Làm ta say đắm bao ngày tháng
Vì em xinh quá xinh là xinh
Nàng ơi, anh đã yêu nàng…”
            Tiếp theo là một đám cưới diễn ra thật hoành tráng, bài bản. Đám cưới to lớn và rình rang đến độ “khắp xóm làng cùng ra xem a, người ta cầu chúc chú rễ mới cùng cô dâu sống đến bạc đầu”. Nhưng thật tiếc! Đó chỉ là giấc mơ, là trí tưởng tượng của kẻ si tình. Trên thực tế ngày tháng vẫn qua đi, vẫn “xa quá rồi em người mỗi ngã” (thơ Quang Dũng), khi chàng trai tìm về “thì em đã rời nơi ấy, để cho quán hàng lạnh lẽo”. Và thế là tan vỡ một mối tình si, chỉ còn tiếng lòng kia là ở lại: “Ơi hỡi nàng ơi, biết cho lòng anh, đã bao năm trước, anh đã yêu nàng”. Lời thổ lộ muộn màng! Bài hát kết thúc như một chấm lửng buồn. Cũng dễ cảm thông thôi, bởi vì có người đã từng thú nhận: “Tôi còn có mỗi cây đàn, tôi đem bán nốt tôi theo cô hàng chè xanh” kia mà!
 
            Cùng một mô tuýp như “Cô hàng nước”, năm 1954 nhạc sĩ Canh Thân có tác phẩm “Cô hàng cà phê” cũng vui và ngộ nghĩnh không kém:
“Ở chợ Dầu có hàng cà phê
Có một cô nàng be bé xinh xinh
Cô hay cười hồn xuân phơi phới
Cứ xem dáng người mới chừng đôi mươi
Làn thu ba cô liếc nghiêng thành
Mùi hương lan thơm ngát vương bên mình
Làm say mê bao gã thiếu niên đa tình
Mấy anh nho nhỏ thường hay đến ngồi cười với cô…”
            Và chắc rằng trong “mấy anh nho nhỏ” ấy không thể thiếu được kẻ si tình kia. Chỉ lạ một điều anh không si tình cô nàng bởi “làn thu ba” hay “hồn xuân phơi phới” mà chỉ vì một “cánh tay ngà” dưới ánh trăng đêm muộn:
“…Hôm nao dưới bóng trăng mờ
Tôi mơ ngắm cánh tay ngà
Nhẹ nâng ly trà ướp sen ngạt ngào
Trông cô rón rén ra vào
Đôi môi thắm cánh hoa đào
Lòng tôi dạt dào muốn xiêu…”
            Bài hát còn trở nên dí dỏm hơn ở lời 2, khi người nhạc sĩ cho thêm vào một nhân vật si tình khác:
“…Một anh chàng dáng người hiên ngang
Đến từ phương nào trong gió đông sang…
Chàng yêu cô vô bến vô bờ
Mà sao cô, cô vẫn cứ hững hờ
Buồn cho anh yêu quá hóa như điên rồ
Chiếc thân bơ phờ dường như muốn chờ một kiếp ma…”
            Ở đây cái sự si tình đã trở thành cực đại và hóa ra nỗi thất tình. Con người hiên ngang ngày nào bỗng “ốm la liệt”. Nhưng dù sao cũng còn một chút an ủi:
“…Thương thay lữ khách bên đường
Cô mang thuốc đến cho chàng
Ngờ đâu con người trước bao hiên ngang
Lim dim khóe mắt hoe vàng
Anh đi sắp đến thiên đàng
Vừa lúc cô nàng biết yêu…”
            Người nhạc sĩ không nói gì thêm về chàng trai thất tình kia và mối lương duyên của hai người. Cũng có thể chính anh là chàng trai thất tình “ốm la liệt” ấy. Nhưng dù đó là ai đi nữa ta cũng có thể hiểu được mối tình ấy không thể viên thành. Thời gian trôi đi, kẻ si tình năm xưa đôi khi lại nhớ. Và “cánh tay ngà” với “đêm trăng tà” lại hiện ra như là một điểm nhấn trong ký ức tình yêu:
“…Giờ đây đã mấy năm qua
Có lúc mơ về đường xa
Tôi nhớ những đêm trăng tà
Cô hàng với bàn tay ngà”…
 
            Không phải ngẫu nhiên mà “Cô láng giềng”, “Cô lái đò”, “Cô hàng nước”, “Cô hàng cà phê”, bốn cô gái xinh đẹp, yêu và được yêu kia lần lượt xuất hiện trong giai đoạn đầu phát triển của nền tân nhạc nước nhà - vào quãng trước và sau Cách mạng tháng 8 - mà chúng ta vẫn quen gọi là “nhạc tiền chiến”. Bốn cô gái bước ra từ âm nhạc đã làm xúc động lòng người qua nhiều thế hệ. Ta như nghe từ những mối tình si ấy có một chút vui, một chút ngộ nghĩnh dễ thương và một chút ngậm ngùi buồn man mác. Nói như nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương:
“Đó là những bài hát lãng mạn, những khúc tình ca mà hầu hết các nhạc sĩ Việt Nam trong giai đoạn khai hoa nở nhụy đầu tiên của mình đều nói lên những cảm xúc nồng cháy, bộc lộ tâm tình sâu kín của mình đối với thiên nhiên, đối với quê hương, làng xóm, đối với những người thân yêu. Những nét nhạc, lời ca bật ra một lúc xuất thần nào đó đã để lại dấu ấn của tác giả và gieo vào lòng người nghe những ấn tượng khó phai mờ…”.





Lê Phú Hải

[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
CON MẮT CÒN CÓ ĐUÔI…

Tình già
Hai mươi bốn năm xưa,
Một đêm vừa gió lại vừa mưa.
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
Hai cái đầu xanh, kề nhau than thở:
“Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,
Mà lấy nhau hẳn đà không đặng;
Để đến nỗi tình trước phụ sau,
Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!”
“Hay! Nói mới bạc làm sao chớ!
Buông nhau làm sao cho nỡ?
Thương được chừng nào hay chừng nấy,
Chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng mà tính việc thuỷ chung?
Hai mươi bốn năm sau,
Tình cờ đất khách gặp nhau!
Đôi cái đầu đều bạc.
Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được!
Ôn chuyên cũ mà thôi!
Liếc đưa nhau đi rồi!
Con mắt còn có đuôi

(Phụ nữ tân văn, 10/3/1932)
 
            Cách đây gần 80 năm, ngày 10.3.1932, trên báo Phụ nữ tân văn, Phan Khôi (1887-1959) công bố “một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” và bài thơ “Tình già”, mở đầu cho một giai đoạn lịch sử thi ca mới của nền văn học Việt Nam hiện đại; một giai đoạn lịch sử thi ca mà nhà phê bình Hoài Thanh đương thời đã đánh giá là: “Trong mười năm ấy, thơ mới đã đấu tranh gắt gao với thơ cũ, một bên dành quyền sống, một bên giữ quyền sống. Cuộc đấu tranh kéo dài cho đến ngày thơ mới toàn thắng. Trong sự thắng lợi ấy, cũng có công của những người tả xung hữu đột nơi chiến trường, nhưng trước hết là công những nhà thơ mới. Tôi không so sánh các nhà thơ mới với Nguyễn Du để xem ai hơn ai kém. Đời xưa có thể có những bậc kỳ tài đời nay không sánh kịp. Đừng lấy một người sánh với một người. Hãy sánh thời đại cùng thời đại. Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên… và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu…”
            Bằng cách nói hóm hỉnh nhưng cũng thật sự khiêm tốn, khi trình ra bài thơ “Tình già”, Phan Khôi viết: “Đó là bài thơ tôi làm trước đây mấy tháng mà tôi kêu là một lối thơ mới. Chẳng qua là tôi hiếu sự, nhưng vì tôi hết chỗ ở trong vòng lãnh địa của thơ cũ, tôi phải đi kiếm miếng đất mới, mà miếng đất tôi kèm theo đó, kiếm được đó chẳng biết có được không, nên mới đem ra trình chánh giữa làng thơ…”. Đương thời, đã có một số ý kiến phủ nhận thành quả này của ông nhưng sự thật hiển nhiên bao giờ cũng là sự thật. “…không phải chỉ có ông có công dò tìm, nhưng những cố gắng của người khác chỉ là lẻ tẻ, bỡ ngỡ, bị rơi vào quên lãng. Chỉ từ ngày có bài báo kia, bài thơ này của nhà học giả uyên thâm, người làm thơ mới tin chắc là thơ mới thực sự phát sinh, đánh dấu giai đoạn bắt đầu lịch sử vàng son ấy”. (Nguyễn Văn Xuân-Lời giới thiệu tập “Chương Dân thi thoại” tái bản năm 1998).
            Một điều không thể nào phủ nhận được của Phan Khôi là tấm lòng sâu nặng đối với tiếng Việt, với nền thi ca nước nhà mà tập “Chương Dân thi thoại” (xuất bản lần đầu năm 1936) của ông là một minh chứng hùng hồn. Ông đã lao động nghiêm túc suốt mấy chục năm trời, đánh vật triền miên với chữ nghĩa để tìm ra cho nó cái giá trị đích thực. Có thể nói ông đã mượn nghề báo để mà làm văn, để trải lòng mình ra cho đời, cho người. Nhiều tư tưởng, nhiều nhận định nơi ông bây giờ đọc lại vẫn còn rất sâu sắc. Ông trân trọng và suy nghĩ rất nghiêm túc về việc làm thơ: “Thơ làm ra cốt để tả cái tâm tình của mình mà cũng có ích cho người xem. Thường ta xem câu thơ có lý thú, có tính tình thì lòng ta cảm động mà hưng khởi. Cho nên đức Khổng có nói: “Thi khả dĩ hưng”; lại nói: “Hưng ư Thi”. Đạo thơ ta bây giờ ngó như thịnh mà kỳ thực là suy, vì phần nhiều không được đúng như thi giáo”. Đối với ông, làn thơ là một nghề mang tính trí tuệ cao cấp: “Cái nghề làm thi không phải là nghề dễ mà ai cũng làm được. Tất nhiên là người có thiên tài, lại phải có học vấn, có luyện tập chầy ngày rồi mới nển được một tay thi nhân”.  Đọc lại nhận xét của ông về thơ lúc bấy giờ ta thấy không khác hôm nay là mấy: “Thơ ta ngày nay nhiều thì có nhiều mà hay thì không thấy hay. Nói theo danh từ mới, ấy là hơn về đằng lượng mà kém về đằng phẩm. Trên các tờ báo, ngày nào lại chẳng có thơ. Đọc qua có bài cũng nghe được, song ít khi thấy cái hậu nói trên đó…”
            Gần những ngày cuối đời, ông chuyên chú vào việc viết tập sách “Việt ngữ nghiên cứu” (xuất bản năm 1954, tái bản năm 1997) với suy nghĩ: “…các nhà giáo, nhà văn chúng ta có cái trách nhiệm phải làm cho tiếng nước ta tiến dần lên đến bậc hoàn mỹ…”
            Với tư cách là lớp hậu sinh, lớn lên và trưởng thành trong vườn hoa văn chương Việt Nam đương đại nhiều gam màu sặc sỡ, chúng tôi không có ý dám,đánh giá hay phê bình các bậc tiền nhân vì e rằng có những điều mà mình chưa biết hết được theo kiểu “Minh nguyệt sơn đầu khiếu…”. Chỉ mạo muội đọc lại nền văn học sử nước nhà để rồi bỗng thấy mình… thương ông lắm lắm. Và chợt ngộ ra rằng sao cái “Tình già” nó lại vận vào đời ông đến thế!...
            Nhìn lại một đời văn lận đận của ông, có thể thấy từ sau khi phong trào thơ Mới thắng lợi và ông đã tập hợp xuất bản xong tập “Chương Dân thi thoại”, vai trò lịch sử của ông dường như đã đến hồi kết thúc. Cần chú ý là trong giai đoạn lịch sử này, tình hình chính trị, xã hội nước ta đang trong hồi nhiễu nhương và nhiều loạn lạc. Và có phải vì thế không mà trong lĩnh vực văn chương ông trông giống như một vị tướng bất chợt về hưu sau khi đã bình xong một trận tuyến? Có thể mạnh dạn nói rằng bên cạnh cuộc đấu tranh cách mạng đầu rơi máu đổ, ta đã có một mặt trận văn chương không kém phần gay go, quyết liệt; trong đó Phan Khôi giống như một lão tướng tả xung hữu đột mà nói như Hoài Thanh: “…Ông Phan Khôi hăng hái như một vị tướng quân, dõng dạc bước ra trận…”.
            Trong tình yêu đôi lứa, có lẽ không có nỗi bất hạnh nào lớn lao hơn thương nhau mà không lấy được nhau. Cái duyên của Phan Khôi đối với văn nghiệp chỉ giống như “già nhân ngãi, non vợ chồng”; biết rằng khó nói chuyện thủy chung nhưng “bỏ thì thương, vượng thì nợ”. Để rồi: “Hai mươi bốn năm sau. Tình cờ đất khách gặp nhau…/ Đôi cái đầu đều bạc/ Nếu chẳng quen lung đố nhìn ra được/ Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi/ Con mắt còn có đuôi”.
            …Bỗng thấy ngậm ngùi trước mấy dòng cuối cùng của Phan Khôi niên biểu: “…1959: 11 giờ trưa ngày 16-1-1959 (mồng 8 tháng Chạp âm lịch), Ông nằm quay mặt vào tường lặng lẽ trút hơi thở cuối cùng, trong sự túc trực chăm sóc của bà vợ Nguyễn Thị Huệ, tại số nhà 73 phố Thuốc Bắc, Hà Nội, thọ 72 tuổi. Cỗ xe song mã màu đen quàn thi hài ông, đi sau là vợ con, cháu cùng một vài bạn hữu tiễn ông lần cuối đến nghĩa trang Hợp Thiện ở phía Đông thành phố Hà Nội. Trong chiến tranh, phần mộ của ông bị thất lạc. (Chương Dân thi thoại-tái bản năm 1998).
            Nhớ về ông, ngoài tấm lòng thành, chúng tôi chỉ xin được “ôn chuyện cũ mà thôi, liếc đưa nhau đi rồi, con mắt còn có đuôi”.
Lê Phú Hải
Đăng nhập để trả lời
0
QUÁN BÊN ĐƯỜNG LIÊU XIÊU CHÀNG TRÁNG SĨ

Nhà thơ Quang Dũng




QUÁN BÊN ĐƯỜNG

 
Tôi khách qua đường, trưa nắng gắt
Nghỉ nhờ đây quán lệch tường xiêu
Giàn mướp nghèo không hứa hẹn bao nhiêu
Mùa gạo đắt đường xa, thưa khách vắng
 
Em đắp chăn dày, tóc em trĩu nặng
Tôi mồ hôi ra ngực áo chan chan
Hồn lính mờ qua vài sợi tóc
Đường tản cư bao suối lạ sương ngàn
 
Em mê sảng sốt hồng đôi má
Em có một mình nhà hoang vắng quá
Mảnh chăn đào em đắp, có hoa thêu
Hàng của em, chai lọ xác xơ nghèo
Tôi nhìn lại mảnh quần xưa đã vá
 
Tôi chợt nhớ chúng ta không nhà cửa
Em tản cư, tôi là lính tiền phương
Xa Hà Nội, cùng nhau, từ một thuở
Lòng rưng rưng thương nhau quá, dọc đường
 
Tiền nước trả em rồi. Nắng gắt
Đường xa xa mờ núi và mây
Hồn lính vương qua vài sợi tóc
Tôi thương mà em đâu có hay
(Quang Dũng-1947)
 
            Trước ngày miền Nam thua trận, chúng tôi có biết đôi ba bài thơ của Quang Dũng đăng trong phần đọc thêm của sách giáo khoa và in ở một vài quyển giới thiệu và phê bình văn học của chế độ Sài Gòn. Đọc rồi thích một cách tự nhiên. Có lẽ bởi vì cái chất yêng hùng pha chút lãng mạn khá phù hợp với tạng con trai mới lớn. Sau 1975, chúng tôi có để ý tìm nhưng thấy vắng tên ông trên văn thi đàn hiện đại. Thoáng một chút ngậm ngùi. Thỉnh thoảng gặp lại bạn bè cùng chung lớp C ngày xưa cầm ghi ta bập bùng  ngâm nga bài hát của Phạm Đình Chương: “Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai - Sông xa từng lớp lớp mưa dài…”  và tưởng tượng ông như một tráng sĩ xông pha sa trường vẫn còn dạn dày gió sương từ một miến chiến trường xa lắc lơ nào đó…
            Lớp chúng tôi vào đời sau hòa bình phần lớn đi dạy học. Tráng-sĩ-tôi nhận công tác về một miền núi xa. Những năm đầu thông tin thiếu, sách báo hiếm hoi, đôi khi gặp nhau nhờ điếu thuốc rê, ly cà phê xa xỉ để cùng nhau bù khú chuyện đời, chuyện người và văn chương thế sự. Trong một lần gặp, anh bạn Nguyễn Lang đọc cho chúng tôi nghe bài thơ “Quán bên đường” của ông kèm theo lời bình mà sau này tôi mới biết là anh lẫn lộn giữa các bài với nhau. Anh đã đem “Đôi mắt người Sơn Tây” cắm vào “Quán bên đường” và cho “Đôi bờ” vào trong “Tây tiến”. Bây giờ ngẫm lại chúng tôi chợt thấy vui vui vì không ngờ cuộc trường chinh của ông năm xưa vẫn váng vất theo chúng tôi suốt một thời trai trẻ…
            Không lãng mạn như “Đôi bờ”, không tha thiết đồng vọng như “Chiêu Quân”, không hào hùng như “Tây tiến” hay tan tác như “Đôi mắt người Sơn Tây”, bài thơ “Quán bên đường” của ông chỉ giản đơn như một ghi chép dọc đường. Chỉ khác đây không phải là một ghi chép báo chí mà là một ghi chép xuất phát tự trái tim, từ niềm cảm hoài sâu sắc giữa hai con người có cảnh ngộ gần giống nhau trong một thời loạn lạc: “Tôi chợt nhớ chúng ta không nhà cửa, Em tản cư tôi là lính tiền phương”. Và dẫu rằng “Xa Hà Nội cùng nhau, từ một thuở, Lòng rưng rưng thương nhau quá dọc đường”, họ vẫn là những con người xa lạ chưa hề quen biết nhau, không phải là nhân tình nhân ngãi gì nhau. Họ chỉ là “Tôi khách qua đường trưa nắng gắt, Nghỉ nhờ đây quán lệch tường xiêu”. Hai người xa lạ nhưng sự cảm thông khá gắn bó. Niềm thương cảm ở đây không phải đơn thuần là tình cảm của người con trai đối với người con gái mà là nỗi khắc khoải về những thân phận con người trong buổi loạn ly, tan tác. Họ gặp nhau giữa một bối cảnh không bình thường. Không có cây đa bến đò điệu hò câu hát; không có đêm trăng tát nước gàu sòng. Chỉ là một tình cờ ngẫu nhiên trong hoàn cảnh đang là lúc vô cùng khó khăn của cuộc chiến tranh chống Pháp. Một bên là chàng trai vệ quốc của trung đoàn Tây Tiến với tâm trạng “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?” và một bên là cô gái tản cư đang ốm sốt. Cả hai đều vất vả, khổ sở như nhau và vì thế cảm xúc trong chàng thi sĩ áo lính càng mạnh mẽ dâng trào.
            “Giàn mướp nghèo không hứa hẹn bao nhiêu, Mùa gạo đắt đường xa, thưa khách vắng”. Bức tranh hiện thực mới xem qua sao mà buồn quá đỗi. Mà không buồn sao được: nàng thì “Em đắp chăn dày, tóc em trĩu nặng”, còn chàng “Tôi mồ hôi ra ngực áo chan chan”. Thế nhưng đằng sau nét vẽ bằng chì thô của bức tranh buồn ảm đạm ấy đã thấy lấp lánh mảng sơn dầu và những đường nét thanh tao của một “Hồn lính mờ qua vài sợi tóc” và “Đường tản cư bao suối lạ sương ngàn”.
            Có thể nói gần trọn 21 câu trong bài thơ ông là một bức tranh tả thực, thậm chí nét vẽ như ngô nghê, vụng về. Ông thấy gì nói đó: “Em mê sảng sốt hồng đôi má. Em có một mình nhà hoang vắng quá. Mảnh chăn đào em đắp có hoa thêu, Hàng của em chai lọ xác xơ nghèo, Tôi nhìn lại mảnh quần xưa đã vá.” Nhưng đây là cái vụng về thấm đẫm tình người, giàu lòng nhân ái và đầy tính nhân văn. Vì chính từ những hình ảnh trực quan đó để rồi “Tôi chợt nhớ…” và “…thương nhau quá, dọc đường”.


            Bài thơ chỉ là ghi lại một khoảnh khắc bên đường nhưng vẫn làm ta tưởng như thời gian kéo dài suốt cuộc chiến tranh dai dẵng. Người chiến sĩ-tráng sĩ chỉ ở lại chốc lát rồi đi: “Tôi khách qua đường, trưa nắng gắt – Tiền nước trả em rồi. Nắng gắt”. Khoảng thời gian ngắn  chỉ đủ để uống chén nước giữa trưa lữ hành nhưng chắc chắn sẽ dài theo dặm trường quan ải của người chiến sĩ thi nhân; bởi vì “Đường xa xa mờ núi và mây, Hồn lính vương qua vài sợi tóc, Tôi thương mà em đâu có hay”. Ờ, chỉ vài sợi tóc thôi nhưng đã hai lần làm liêu xiêu hồn người tráng sĩ. Không như “có sợi tóc nào bay trong trí nhớ nhỏ nhoi” mà về sau Trịnh Công Sơn đã thốt lên; sợi tóc của Quang Dũng hiện thực hơn, nó “mờ” khi đến: “Hồn lính mờ qua vài sợi tóc” và “vương” lúc ra đi: “Hồn lính vương qua vài sợi tóc”. Chàng trai đi rồi và cô gái kia vẫn còn ở lại. Cô đâu biết rằng chàng tráng sĩ liêu xiêu kia đã mang cô đi theo suốt cả một cuộc đời lần lữa.
 
Lê Phú Hải
           

Đăng nhập để trả lời
0