Bài 4
10 CÔNG NGHỆ MỚI LÀM THAY ĐỔI THẾ GIỚI
Tạp chí Technology Review (www.technologyreview.com) vừa đưa ra danh sách 10 công nghệ mới được đánh giá sẽ làm thay đổi cách sống và làm việc của xã hội hiện đại. Cùng với bản danh sách, là chân dung các nhà phát minh hàng đầu thế giới, những con người đang miệt mài, âm thầm lao động trong phòng thí nghiệm để làm nên những thay đổi lớn lao cho nền tin học, y học, chế tạo học, giao thông và hạ tầng năng lượng của loài người.
1. Mạng cảm biến không dây (Wireless sensor network)Đảo Great Duck (Vịt Lớn) ngoài khơi Maine – Mỹ, có diện tích 90 hecta, bao phủ bởi núi đá và những thảm cỏ; đây là nơi làm tổ lớn nhất trên thế giới của loài chim báo bão Leach, và cũng là nơi tiến hành những thí nghiệm tiên tiến nhất thế giới về mạng không dây. Mùa hè năm ngoái, các nhà nghiên cứu đã đặt những thiết bị theo dõi nhỏ xíu vào các hang làm tổ của loài chim này. Họ gọi là những "hạt bụi" (mote) do chúng có nguồn điện rất nhỏ - một cặp pin AA – và được trang bị một bộ vi xử lý, một bộ nhớ nhỏ xíu cùng với các cảm biến theo dõi ánh sáng, độ ẩm, áp suất và nhiệt độ. Mỗi "hạt bụi" còn có một bộ thu-phát radio chỉ đủ mạnh để phát đi dữ liệu tới các "hạt bụi" gần đó và chuyển tiếp thông tin nhận được từ các hàng xóm khác.
Không chỉ là một nghiên cứu mới nhất về tập tính của loài chim, những "hạt bụi" này còn mở ra tương lai của các mạng cảm biến chạy pin không dây làm nhiệm vụ theo dõi môi trường, máy móc và thậm chí cả chính con người. David Culler (Đa-vít Cu-lơ), nhà khoa học máy tính tại đại học tổng hợp Berkeley (Bếch-kơ-ly), bang California đã nghiên cứu công nghệ này được 4 năm. Ông nói "Đây là một trong những cơ hội lớn lao của công nghệ thông tin, các mạng cảm biến không dây năng lượng thấp sẽ dẫn đầu triển vọng của ngành này".
Hiện tại, Culler tạm thời rời đại học Berkeley để phụ trách một phòng thí nghiệm nhỏ của Intel hoàn thiện các "hạt bụi" đó, cũng như hệ thống phần cứng và phần mềm để phát triển các mạng không dây với hàng ngàn thậm chí hàng triệu cảm biến. Những mạng này sẽ quan trắc hầu hết mọi thứ, như giao thông, thời tiết, hoạt động địa chấn, các lực nén lên cao ốc hay cầu, những cuộc hành quân trên mặt trận - tất cả với một mức độ tinh tế hơn nhiều so với trước đó. Do những mạng như thế quá phân tán để có thể nối cứng các cảm biến vào lưới điện hay lưới truyền thông, thách thức số một của dự án là làm thế nào để các "hạt bụi" có thể truyền tin không dây cho nhau với nguồn năng lượng pin tối thiểu. Theo ông Culler, "những thiết bị này phải tự tổ chức thành một mạng bằng cách nghe ngóng nhau và xác định xem nghe thấy từ cái nào . . . nhưng chỉ riêng hoạt động nghe thôi cũng tốn năng lượng rồi". Do vậy, việc tìm cách tắt sóng radio trong hầu hết thời gian trong khi vẫn cho phép dữ liệu lan truyền qua mạng, từ "hạt bụi" này tới "hạt bụi" khác, giống như cách chia dữ liệu trên Internet thành các gói rồi tìm đường đi từ nút mạng này tới nút mạng khác. Trước khi nhóm của Culler tìm ra lời giải, chưa hề có một thứ giao thức như trên Internet để mạng không dây làm việc được. Giải pháp của họ là: TinyOS, một hệ điều hành nhỏ gọn chỉ cỡ vài kilobyte, làm những công việc quản lý như đóng gói dữ liệu để chuyển tiếp và bật sóng radio lên chỉ khi nào cần thiết. Hệ điều hành TinyOS có thể tải về miễn phí và tự do sửa đổi, do vậy các nhà nghiên cứu không thuộc đại học Berkeley và Intel có thể tiến hành thử nghiệm các mạng cảm biến không dây trong nhiều môi trường mà không phải mất công phát triển lại công nghệ cơ sở. Theo ông Deborah Estrin (Đơ-bô-ra Étx-trin), giám đốc trung tâm cảm biến nhúng nối mạng của trường ĐHTH California thuộc bang Los Angeles, các "hạt bụi" của Culler đã trở thành một "nền móng hỗ trợ lớn". Ông Estrin hiện đang khoan thăm dò một mỏ tự nhiên ở vùng núi San Jacinto với một mạng dày đặc các cảm biến hình ảnh và tiểu khí hậu không dây.
Những nhà nghiên cứu khác đang tìm cách thu nhỏ các "hạt bụi" hơn nữa. Một nhóm, do nhà khoa học máy tính Kristofer Pister (Krítx-tô-phơ Pitx-tơ) thuộc đại học Berkeley lãnh đạo, đặt mục tiêu thu nhỏ còn 1 mm3. Với kích thước đó, các cảm biến không dây có thể đặt vào mặt đường, vật liệu xây dựng, sợi vải và thậm chí cả cơ thể con người. Nguồn thông tin cảm biến thu được sẽ nâng cao hiểu biết của chúng ta về môi trường xung quanh và giúp chúng ta bảo vệ tổ ấm của chính mình.
2. Công nghệ sản xuất mô tiêm (Injectable Tissue Engineering)
Mỗi năm, hơn 700,000 bệnh nhân tại Mỹ phải phẫu thuật thay thế khớp. Những ca này thuộc loại đại phẫu thuật, trong đó đầu gối hay phần mông được thay bằng bộ phận cấy ghép nhân tạo, do vậy nhiều bệnh nhân cố gắng trì hoãn càng lâu. Jennifer Elisseeff (Gien-ni-phơ Ê-li-sép), một kỹ sư dược phẩm sinh học tại trường đại học Johns Hopkins, kỳ vọng một liệu pháp mới sẽ loại bỏ hoàn toàn việc phẫu thuật: mô tiêm. Bà cùng các đồng sự đã phát triển một phương pháp tiêm vào khớp một dung dịch hỗn hợp đặc biệt gồm các polyme lỏng đặc biệt, các tế bào và chất kích thích sinh trưởng; sau khi chiếu tia hóa liệu chúng sẽ cứng lại và hình thành nên mô khỏe mạnh. Elisseeff nói "Chúng tôi không chỉ đang cố gắng cải tiến liệu pháp hiện dùng, mà chúng tôi đang thực sự thay đổi hoàn toàn nó".
Công trình của Elisseeff là một phần trong những nỗ lực khám phá công nghệ sản xuất mô, một lĩnh vực mà các nhà nghiên cứu từ lâu đã hy vọng sẽ sản xuất ra những mô nuôi cấy trong phòng thí nghiệm để thay thế các cơ quan, mô cấy ghép. Trong ba thập kỷ vừa qua, các nhà nghiên cứu đã tập trung nuôi mô mới trên khung polyme trong phòng thí nghiệm. Mặc dù đã thành công trong việc tạo ra những lượng nhỏ sụn và da, nhưng các nhà nghiên cứu vẫn gặp khó khăn với các khung polyme lớn hơn. Thậm chí nếu thành công thì các bác sĩ vẫn phải phẩu thuật để cấy ghép. Tới nay, Elisseeff, cũng như các nhà nghiên cứu công nghiệp và hàn lâm khác, đang chuyển hướng sang các hệ thống tiêm được đỡ tốn kém hơn nhiều. Đa phần các ứng dụng sản xuất mô có thể đưa vào sử dụng sớm nhất đều dùng cách tiêm, chứ không phải cấy ghép. Và Elisseeff đang nỗ lực đẩy nhanh tốc độ này.
Bà cùng các đồng sự đã dùng một hệ thống tiêm được để nuôi sụn trong cơ thể chuột. Các nhà nghiên cứu ghép các tế bào sụn vào một polyme lỏng nhạy sáng và tiêm nó dưới da lưng chuột. Sau đó họ chiếu tia cực tím qua da, làm cho polyme cứng lại và bọc lấy các tế bào. Qua một thời gian, các tế bào sinh sôi và phát triển thành sụn. Để kiểm tra tính khả thi của công nghệ về yêu cầu phẫu thuật nhỏ hơn, các nhà nghiên cứu đã tiêm chất lỏng vào khớp gối của xác chết, sau đó dùng một sợi quang để quan sát quá trình hóa rắn trên một màn hình vô tuyến.
Trong khi hầu hết các nghiên cứu về mô tiêm tập trung vào sụn và xương, các nhà phân tích cho rằng công nghệ này còn có thể mở rộng ra các mô khác như gan và tim. Theo Anthony Atala, bác sĩ phẫu thuật nhi tại đại học tổng hợp Harvard, liệu pháp này có thể cho phép thay thế các phần nhiễm bệnh của một cơ quan và khôi phục chức năng của nó. Trong trường hợp bệnh tim, thay vì phải mở lồng ngực để phẫu thuật cấy van cơ khí hay mô cơ khí, thì chỉ cần tiêm hỗn hợp tế bào và chất lỏng polyme phù hợp vào rồi dùng tia chiếu hóa liệu.
Với Elisseeff và các nhà nghiên cứu khác, giới hạn tiếp theo nằm ở một công cụ mới mạnh mẽ: các tế bào gốc. Lấy từ tủy xương hoặc phôi thai, các tế bào gốc có khả năng phân tách thành nhiều loại tế bào. Elisseeff và các cộng sự đã khai thác khả năng này để nuôi đồng thời tủy và xương mới; đây là một trong những kỹ thuật tinh vi nhất trong công nghệ sản xuất mô. Họ làm ra các lớp hỗn hợp polyme-tế bào gốc, chiếu các tia hóa liệu riêng cho từng lớp kích thích các tế bào này phát triển thành xương hoặc tủy. Dạng lai ghép như thế sẽ đơn giản hóa các ca phẫu thuật như thay đầu gối, trong đó yêu cầu thay phần trên của xương ống chân và phần sụn trên nó.
Việc nuôi các cơ quan nhân tạo 100% không thể làm được trong ngày một ngày hai. Giáo sư Elisseeff hướng đích tới các tiến bộ nhỏ hơn để có thể hiện thực hóa sản xuất mô trong vòng một thập kỷ. Và với hàng ngàn bệnh nhân cần thay khớp mỗi năm tại Mỹ, những tiến bộ nhỏ đó cũng là quá lớn.
3. Công nghệ pin mặt trời nano (nano solar cells)
Mặt trời có lẽ là nguồn năng lượng duy nhất đủ lớn để thay thế các nguyên liệu hóa thạch cho chúng ta. Nhưng việc khai thác năng lượng của nó phụ thuộc công nghệ chip silicon. Giá thành của các chip silicon đẩy giá năng lượng mặt trời cao gấp 10 lần so với nhiên liệu hóa thạch, do vậy chỉ được dùng trong các vệ tinh và các ứng dụng cao cấp khác.
Paul Alivisatos (Pôn Ali-vi-sa-tốtx), một nhà hóa học tại đại học Berkeley, bang California, đề xuất một sáng kiến hay hơn: dùng công nghệ nano để sản xuất các nguyên liệu quang điện mà có thể trải ra như giấy nilông hay sơn. Không chỉ có thể nhúng các pin mặt trời nano vào các vật liệu xây dựng khác, mà giải pháp này còn hứa hẹn giá thành sản xuất rẻ để năng lượng mặt trời được dùng rộng rãi thay cho điện năng.
Hướng tiếp cận của Alivasatos bắt đầu từ các polyme dẫn điện. Các nhà nghiên cứu khác đang tìm cách trộn các pin mặt trời vào những vật liệu này, nhưng thậm chí những thiết bị tốt nhất cũng không đủ công suất để chuyển năng lượng mặt trời thành điện năng. Để tăng công suất, Alivisatos và các đồng sự đang thêm một thành phần mới vào polyme: nanorod (que nano), chúng là các tinh thể vô cơ bán dẫn hình thanh có kích thước khoảng 7 tới 60 nano mét. Kết quả thu được là một vật liệu linh hoạt và rẻ tiền, đạt được hiệu quả như các pin mặt trời bằng silicon. Alivisatos hy vọng trong 3 năm tới, phòng thí nghiệm Nanosys do ông đồng sáng lập sẽ cho ra một loại pin mặt trời nanorod có công suất như các hệ thống dùng silicon. Các mẫu pin mặt trời ông đã làm ra cho tới nay bao gồm các tấm composite nanorod-polyme dày độ 200 nanomet. Các lớp điện cực mỏng được kẹp giữa các tấm composite. Khi ánh sáng mặt trời chiếu vào các tấm này, chúng sẽ hấp thụ các photon, kích hoạt các electron trong polyme và nanorod (chiếm 90% thành phần composite). Kết quả sinh ra một dòng điện đủ dùng do các điện cực tạo nên.
Những kết quả bước đầu rất đáng khích lệ. Hiện tại một số kỹ thuật còn giúp nâng cao công suất hơn nữa. Đầu tiên, Alivasatos và các đồng sự chuyển sang một vật liệu nanorod mới, cadmium telluride, chất này hấp thụ nhiều ánh sáng hơn cadmium selenide được dùng trước đó. Họ cũng đang tìm cách sắp xếp các nanorod thành các nhóm phân nhánh để dẫn electron hiệu quả hơn so với các nanorod hỗn độn. Alivisatos giải thích "Đây chỉ là vấn đề xử lý, không có lý do rõ ràng tại sao các pin mặt trời nano cuối cùng vẫn không làm sao so được với các pin silicon".
Các pin mặt trời nano có thể trải ra, in như mực phun hoặc thậm chí sơn vào bề mặt do vậy "một bảng quảng cáo trên xe buýt cũng có thể là một ác-quy mặt trời" – như ông Stephen Emedocles, giám đốc phát triển thương mại của Nanosys, phát biểu. Ông dự đoán rằng những vật liệu rẻ tiền có thể sẽ tạo ra một thị trường 10 tỷ USD mỗi năm cho pin mặt trời, và làm lung lay thị trường pin silicon truyền thống.
Các nanorod của Alivisatos không phải là công nghệ duy nhất tìm kiếm năng lượng mặt trời rẻ tiền. Nhưng dù cho cuối cùng hướng đi của ông có cách mạng hóa năng lượng mặt trời được hay không, thì ông đã mang lại những giải pháp công nghệ nano hoàn toàn mới mẻ để tìm lời giải cho bài toán. Và chỉ riêng thế đã là một đóng góp lớn cho cuộc tìm kiếm một loại pin mặt trời tốt hơn. Alivisatos nói "Sẽ có những nhóm nghiên cứu khác với ý tưởng và cách xử lý thông minh hơn – có thể là những thứ mà chúng tôi chưa bao giờ nghĩ tới. Những ý tưởng mới và vật liệu mới đã mở ra một sự thay đổi. Việc thử nghiệm nhiều hướng đi và xem cái gì xảy ra là một ý kiến hay."
4. Cơ-điện tử học (mechatronics)
Để cải tiến mọi thứ từ tính tiết kiệm nhiên liệu cho tới khả năng hoạt động, các nhà nghiên cứu ô-tô đang chuyển hướng sang "cơ-điện tử", một sự kết hợp các hệ thống cơ khí quen thuộc với các linh kiện điện tử mới và điều khiển bằng phần mềm thông minh. Thí dụ về hệ thống phanh, trong 5-10 năm tới, các kích hoạt điện tử-cơ sẽ thay thế các xy-lanh thủy lực, dây dẫn sẽ thay thế ống dẫn dầu phanh, và việc dùng chân nhấn phanh sẽ được thay thế bằng thao tác trên phần mềm. Rolf Isermann (Rôn Ixơ-man), một kỹ sư tại Đại học Bách khoa Darmstadt - Đức, đang dùng phần mềm có khả năng xác định và chữa lỗi trong thời gian thực nhằm đảm bảo công nghệ trên vận hành đúng.
Để thực hiện phanh cơ-điện tử, nhóm của Isermann đang phát triển một phần mềm thu thập dữ liệu từ ba cảm biến: cái thứ nhất phát hiện dòng điện tới cần kích hoạt phanh, cái thứ hai theo dõi vị trí cần kích hoạt, và cái thứ ba đo lực nén của nó. Các số đo, như độ tăng ma sát, được phân tích để phát hiện lỗi và bật đèn cảnh báo trên công-tơ mét để người lái xe sửa chữa trước khi hỏng. Anh Karl Hedrick, một kỹ sư cơ khí tại đại học Berkeley bang California, cho biết "Ban đầu mọi người đều e ngại về độ an toàn của các thiết bị điện tử. Tôi nghĩ rằng hiện giờ người ta đang nhận thức được rằng chúng an toàn hơn những thiết bị cơ khí. Lý do chủ yếu là do bạn có thể đặt các chương trình chẩn đoán lỗi và đặt dung sai lỗi. Isermann chắc chắn là người đầu tiên phát triển công nghệ này".
Isermann cũng đang nghiên cứu để các động cơ chạy sạch hơn. Ông đang phát triển phần mềm phát hiện các chất không cháy có thể gây hại cho bộ lọc khói và tăng mức ô nhiễm. Do việc đặt một cảm biến trong buồng đốt là phi thực tế, hệ thống của Isermann dựa vào dữ liệu từ các cảm biến đo mức ô-xy trong ống xả và theo dõi tốc độ của trục khuỷu. Những thăng giáng nhỏ trong vận tốc trục khuỷu cùng với thay đổi trong khí xả giúp phát hiện chất không cháy. Nếu có, phần mềm có thể cảnh báo cho lái xe hoặc, trong tương lai, có thể tự động sửa chữa.
Những mối quan hệ đối tác với các công ty chế tạo, trong đó có Daimler Chrysler và Continental Teves, gắn kết công trình nghiên cứu cơ sở của nhóm Isermann với ứng dụng trên những sản phẩm xe hơi thực sự. Isermann nói rằng "80 - 90 % cải tiến về động cơ và xe hơi ngày nay là do điện tử học và cơ-điện tử học". Những năm gần đây, các hệ cơ-điện tử mới chỉ thấy chủ yếu trong các sản phẩm lớn như máy bay, thiết bị công nghiệp, hoặc trong các thành phần chính xác của camera và máy photocopy. Tuy nhiên những ứng dụng mới trong xe hơi và xe tải đã phát động một số lượng đột biến các nhóm nghiên cứu về cơ-điện tử. Xu hướng này đã được kích thích bởi nhiều yếu tố: giá vi xử lý và cảm biến hạ, các quy định chặt chẽ về khí thải xe cộ tại châu Âu và California, và mong muốn của các nhà sản xuất ô-tô về tính tiện nghi và hiệu quả cao hơn trong các sản phẩm ô-tô của họ.
Thị trường hàng xa xỉ hiện nay đang phát đạt nhất, thí dụ hãng BMW cho ra các mẫu xe cao cấp có hơn 70 bộ vi xử lý điều khiển hơn 120 động cơ siêu nhỏ. Tuy nhiên cơ điện tử sẽ tiến dần vào thị trường thông dụng trong vòng 5 năm nữa. Và với phần mềm như của Isermann, thì các hệ thống cơ-điện tử trong những loại xe mới sẽ mạnh mẽ và đáng tin cậy như các cơ cấu bằng thép.
5. Lưới tính toán (Grid Computing)
Trong thập kỷ 1980, các giao thức liên mạng đã cho phép chúng ta nối kết hai máy tính bất kỳ với nhau, và một mạng khổng lồ các mạng gọi là Internet bao trùm toàn cầu. Trong thập kỷ 1990, giao thức HTTP cho khả năng nối kết hai tài liệu bất kỳ, và một thư viện tài liệu trực tuyến khổng lồ bùng nổ trên Internet. Hiện nay, các "giao thức lưới" (grid protocols) đang phát triển nhanh chóng, có thể cho phép chúng ta liên kết hầu hết mọi thứ: các cơ sở dữ liệu, các công cụ giả lập và trực quan, thậm chí cả việc chia sẻ khả năng tính toán giữa các máy tính. Và rồi một ngày chúng ta lại thấy mình trong sự bùng nổ thông tin lớn chưa từng có.
Nhà nghiên cứu Ian Foster (I-an Phótx-tơ) của Phòng thí nghiệm quốc gia Argonne (Mỹ) cho biết "Chúng ta đang bước vào một tương lai mà ở đó vị trí các tài nguyên máy tính không còn là vấn đề gì nữa". Foster và Carl Kesselman (Kan Kê-sơl-man), nhà nghiên cứu thuộc Viện tin học của trường đại học Nam California, là những người tiên phong trong khái niệm mà họ gọi là lưới tính toán, tương tự như khái niệm lưới điện. Foster và Kesselman, cùng với Steven Tuecke của Phòng thí nghiệm quốc gia Argonne, đã phát triển bộ công cụ Globus Toolkit, một hệ thống triển khai các giao thức lưới hiện đã được chuẩn hóa. Những giao thức đó hứa hẹn mang lại cho máy tính gia đinh và văn phòng khả năng thâm nhập vào không gian mạng (cyberspace), tìm kiếm tài nguyên ở bất cứ đâu và thu thập lại tùy yêu cầu.
Kesselman nói "Thử tưởng tượng bạn là trưởng nhóm phản ứng khẩn cấp đang phải xử lý một vụ tràn hóa chất lớn. Bạn sẽ muốn biết những thông tin như: thành phần hóa chất, dự báo thời tiết và ảnh hưởng của thời tiết đến hình dạng lan tràn, tình trạng giao thông hiện thời và ảnh hướng tới các ngả đường sơ tán. Nếu tìm lời đáp trên Internet ngày nay thì bạn sẽ bị sa lầy vào một đống các thủ tục đăng nhập (log-in) và phần mềm không tương thích. Nhưng với lưới tính toán, điều này thật đơn giản: các giao thức lưới cung cấp các cơ chế chuẩn để tìm kiếm, truy cập và kích hoạt bất kỳ tài liệu trực tuyến nào, với tất cả tính bảo mật và xác thực cần thiết".
Nhiều máy tính lưới phân tán đang được xây dựng trên khắp thế giới, hầu hết đều dùng Globus Toolkit. Chúng sẽ có sức mạnh tính toán và phạm vi ứng dụng chưa từng có, từ trong nghiên cứu gien, vật lý hạt cho tới động đất. Lưới TeraGrid trị giá 88 triệu USD của Hội khoa học tự nhiên Mỹ sẽ là một trong các lưới lớn nhất. Khi được hoàn tất vào cuối năm nay (2003), siêu máy tính phân tán, đa năng này sẽ có thể thực hiện 21 tỷ tỷ phép tính dấu phẩy động trong một giây, trở thành một trong các hệ thống tính toán nhanh nhất Trái Đất. Và hiện tại công nghệ lưới tính toán đang được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ những hãng công nghiệp lớn như IBM, Sun Microsystems và Microsoft. IBM, một đối tác chính trong dự án TeraGrid và một số dự án lưới tính toán khác, đang bắt đầu tiếp thị một phiên bản thương mại nâng cấp của Globus Toolkit.
Larry Smarr, giám đốc Học viện California về công nghệ thông tin và viễn thông, phát biểu rằng "Không chỉ có công trình của Foser và Kesselman về các giao thức và chuẩn (bắt đầu từ năm 1995), mà thực sự cả một làn sóng công nghệ lưới tính toán đã nổi lên". Hơn thế, Foster và Kesselman đã đóng vai trò trụ cột trong việc tạo dựng lên một cộng đồng xung quanh công nghệ lưới tính toán và trong việc ủng hộ xu hướng sát nhập với hai công nghệ khác có liên quan: kết nối điểm-điểm cùng cấp (peer-to-peer) và các dịch vụ Web. Công nghệ kết nối điểm-điểm cùng cấp tận dụng sức mạnh của những máy tính để bàn nhàn rỗi trong các bài toán lớn với giải pháp nổi tiếng của SETI@home. Các dịch vụ Web cung cấp truy cập tới những tài nguyên tính toán từ xa với những cải tiến trong giao thức siêu văn bản. Với việc trợ giúp sát nhập ba công nghệ mạnh mẽ này, Foster và Kesselman sẽ đem cuộc cách mạng lưới tính toán gần thực tế hơn nữa. Điều đó đồng nghĩa với khả năng tiếp cận khắp mọi nơi, trơn tru tới nguồn lực vô hạn của máy tính.
6. Ảnh học phân tử (Molecular Imaging)
Tại trung tâm nghiên cứu ảnh học phân tử thuộc bệnh viện đa khoa Massachusetts (Mỹ), Umar Mahmood (U-ma Ma-mút) dùng một camera số để quan sát một khối u đang lớn dần qua lớp da lưng một con chuột sống. Bằng cách dùng các phần tử đánh dấu huỳnh quang and bộ lọc chuẩn, nhà phóng xạ học thực sự nhìn thấy những ảnh hưởng của khối u ở cấp độ phân tử: các enzym phá hoại do khối u tiết ra hiển thị trên màn hình máy tính của Mahmood dưới dạng những vết đỏ, vàng, xanh. Mahmood nói, trong tương lai những "hình ảnh phân tử" như vậy có thể giúp phát hiện sớm bệnh ở người, và dẫn tới các liệu pháp hiệu quả hơn.
Ảnh học phân tử là cách gọi tắt một số kỹ thuật cho phép các nhà nghiên cứu quan sát các gien, protêin, và các phân tử hoạt động trong cơ thể, ngày nay công nghệ này đang bùng nổ, nhờ có những tiến bộ trong sinh học tế bào, tác nhân sinh hóa và kỹ thuật phân tích bằng máy tính. Các nhóm nghiên cứu khắp thế giới đang hợp sức dùng các kỹ thuật chụp ảnh quang học, nguyên tử và từ trường để nghiên cứu những tương tác phân tử đằng sau các quá trình sinh học. Không như tia X, siêu âm và một số kỹ thuật truyền thống khác chỉ giúp các bác sĩ có những thông tin giải phẫu như kích thước khối u, ảnh học phân tử có thể giúp tìm vết những nguyên nhân gây bệnh chính. Thí dụ, sự xuất hiện của một protêin lạ trong một nhóm tế bào có thể là tín hiệu bắt đầu ung thư. Mahmood đang trợ giúp để dẫn dắt các nghiên cứu nhằm đưa công nghệ này vào y học lâm sàng.
Việc phát hiện một phân tử nào đó trong các hoạt động tế bào là rất khó. Khi các nhà nghiên cứu tiêm một chất đánh dấu gắn với phân tử, vấn đề nảy sinh là phải phân biệt giữa các phần tử đánh dấu bên trong và bên ngoài. Do vậy Mahmood đã làm việc với các nhà hóa học để phát triển những "chất thăm dò thông minh" thay đổi độ sáng hay từ tính khi gặp phân tử đích. David Piwnica-Worms, giám đốc Trung tâm ảnh học phân tử tại Đại học tổng hợp Washington, St.Louis, cho biết "Đây là một bài toán lớn. Phương pháp này cho phép bạn xem những protêin và enzyme theo lựa chọn, mà không thể làm được bằng những kỹ thuật dò tìm truyền thống".
Trong một loạt các thí nghiệm khởi đầu, nhóm của Mahmood đã điều trị chuột bị ung thư với một loại thuốc ngăn chặn sản sinh một enzyme kích thích khối u lớn lên. Các nhà nghiên cứu sau đó tiêm vào chất huỳnh quang dò tìm, khi gặp enzyme đó nó sẽ phát sáng. Dưới máy quét quang học, các khối u được trị liệu sẽ phát huỳnh quang yếu hơn so với các khối u không được trị liệu. Điều này cho thấy khả năng của ảnh học phân tử trong theo dõi tiến độ điều trị theo thời gian thực, chứ không phải đợi hàng tháng trời để xem liệu khối u có co lại không. John Hoffman, giám đốc chương trình Ảnh học phân tử tại Viện Ung thư quốc gia Mỹ, nói "Mục tiêu chính là đưa ra một liệu pháp tối ưu cho từng bệnh nhân và sau đó kiểm tra, thí dụ như xem thuốc có tác dụng lên phần nào. Hơn thế, ảnh học phân tử có thể dùng để phát hiện các tín hiệu ung thư trước khi có những thay đổi về mặt giải phẫu trước hàng tháng hoặc hàng năm, loại bỏ việc các bác sĩ phẫu thuật phải cắt một mảnh mô để chẩn đoán. Mahmood nói "Tới một ngày, chúng ta có thể thay thế các mẫu thử sinh học bằng hình ảnh".
Trong phòng thí nghiệm của Mahmood, các thực nghiệm y học đang tiến hành để chụp ảnh cộng hưởng từ của mạch máu, mạch máu to ra là dấu hiệu sớm của u và các biến đổi khác. Với những kỹ thuật cao cấp hơn như trong nghiên cứu ung thư ở chuột, thì còn hai năm nữa mới có thể thử nghiệm trên người. Bức tranh tổng thể là: 10 năm nữa, ảnh học phân tử sẽ có thể thay thế các bản chụp X-quang, mẫu thử, và các kỹ thuật chẩn đoán khác. Mahmood cho rằng "Mặc dù sẽ không thể thay thế hoàn toàn phương pháp chụp ảnh truyền thống, nhưng ảnh học phân tử sẽ có ảnh hưởng sâu sắc tới nghiên cứu y tế cơ bản cũng như chế độ chăm sóc cao cấp cho bệnh nhân". Và như vậy, một lĩnh vực công nghệ sinh học mới đã nảy mầm, như một con tàu đang giong buồm ra khơi từ bến cảng ngay sát phòng thí nghiệm của Mahmood.
7. Công nghệ in nano (Nanoimprint Lithography)
Tại các phòng thí nghiệm nano trên khắp thế giới, người ta đang phát triển nhiều loại vi cảm biến, tranzito, và lade. Những thiết bị này đem đến một viễn cảnh công nghệ điện tử viễn thông rẻ tiền và siêu tốc. Nhưng để công nghệ nano vượt ra khỏi phòng thí nghiệm là một chuyện rất khó khăn, do thiếu những kỹ thuật sản xuất thích hợp. Các công cụ dùng để sản xuất hàng loạt vi chíp silicon không thể áp dụng cho công nghệ nano, còn các phương pháp đặc biệt trong PTN lại quá đắt tiền và cần nhiều thời gian mới đưa vào thực tế được. Stephen Chou (Stê-phơn Châu), kỹ sư điện tại đại học Princeton, nói "Ngay bây giờ, mọi người đều nói tới công nghệ nano nhưng khả năng thương mại hóa nó lại phụ thuộc chủ yếu vào năng lực chế tạo của chúng ta".
Ông Chou tin rằng, câu trả lời có thể nằm ở một cơ chế chỉ tinh vi hơn một chút so với kỹ thuật in thông thường. Đơn giản bằng cách dán một khuôn đúc cứng vào một vật liệu mềm, ông có thể in các chi tiết nhỏ hơn 10 nano mét. Mùa hè năm ngoái, khi trình diễn công nghệ này, Chou cho thấy ông có thể tạo các chi tiết nano trực tiếp lên silicon hay kim loại. Bằng cách quét một tia laze cực mạnh qua vật cứng, ông làm chảy bề mặt đủ thời gian để ép khuôn và in chi tiết mong muốn.
Mặc dù Chou không phải là nhà nghiên cứu đầu tiên thực hiện công nghệ in này (một số nhà khoa học còn gọi là in thạch bản mềm), thì "những màn trình diễn của ông đã đặt bàn đạp cho công nghệ sản xuất nano", như lời John Rogers, một nhà hóa học tại phòng thí nghiệm Bell của Lucent Technologies. Ông Rogers cũng cho biết "Thành công mà Chou đạt được là ở tốc độ, diện tích tạo mẫu, và những chi tiết nhỏ nhất có thể làm được. Đó là một bước tiến mang tính cách mạng". Kỹ thuật in nano có thể trở thành phương pháp sản xuất nano rẻ tiền, thuận tiện trong những sản phẩm như các bộ phận quang học trong truyền thông, chíp gien trong màn chắn chẩn đoán. Thật vậy, phòng thí nghiệm NanoOpto do Chou sáng lập tại Somerset, New Jersey, đã bắt đầu bán các bộ phận nối mạng quang học sản xuất theo công nghệ in nano. Và Chou đã dùng các chip gien có các kênh nano in lên kính để nắn dòng phân tử ADN, do vậy tăng tốc xét nghiệm gien.
Chou đang tìm cách để chứng minh rằng công nghệ in nano có thể giải quyết những thách thức lớn hơn: làm thế nào để khắc sâu các mẫu nano vào silicon phục vụ cho các thế hệ vi chíp hiệu năng cao trong tương lai. Chou cho biết kỹ thuật này cho phép số tranzito trên một lớp silicon lớn gấp 36 lần so với những công cụ in silicon thương mại. Nhưng để chế tạo các con chip đa tầng, thì phải căn lề tuyệt đối trong suốt 30 bước in. Trong quá trình này, sức nóng có thể làm méo khuôn và lớp silicon, do vậy mỗi lượt đốt nóng và in phải thực hiện rất nhanh. Gần đây, Chou cải tiến kỹ thuật đốt nóng bằng laze, làm giảm thời gian in từ 10 giây xuống còn dưới 1 micro-giây (10-3). Với kết quả này, Chou chứng minh khả năng sản xuất các chip đa tầng cơ bản của công nghệ in nano. Ông cho biết đối tượng tiếp theo sẽ là các vi xử lý và chip nhớ phức tạp. Hiện tại, PTN Nanonex, một cơ sở khác do Chou sáng lập tại Princeton - New Jersey, đang bận rộn hợp tác với các nhà chế tạo công cụ in silicon.
Các kết quả của Chou ra đời tại chính thời điểm ngành công nghiệp sản xuất chip đang tiêu tốn hàng tỷ đô-la để phát triển các kỹ thuật chế tạo mới sử dụng đủ thứ, từ tia cực tím cho tới các dòng electron. Điều này càng tôn vinh công lao của Chou, ông đã bắt tay vào công nghệ sản xuất nano từ những năm 1980, khi mà hầu hết các nhà khoa học khác còn chưa nhìn ra được triển vọng của nó. Chou tự hào phát biểu "Bây giờ thì không ai đặt câu hỏi gì thêm về khả năng chế tạo của công nghệ in nano, và mọi nghi ngờ đột nhiên biến mất !".
8. Bảo hiểm phần mềm (Software Assurance)
Treo máy tính - một sự cố như cơm bữa, và thường là do một lỗi phần mềm. Nói chung, hậu quả thì nhỏ - một lời cằn nhằn và nhấn nút khởi động lại máy. Nhưng nếu phần mềm đang chạy các hệ thống phân tán phức tạp như điều hành bay hay một thiết bị y tế, thì một lỗi nhỏ thôi cũng phải trả giá đắt, thậm chí cả sinh mạng của nhiều người. Để tránh khỏi những thảm họa đó, nữ giáo sư Nancy Lynch (Nen-xi Lin-ch) và giáo sư Stephen Garland (Stê-phơn Ga-lan) đang tạo ra những công cụ mà họ hy vọng sẽ sản xuất ra những phần mềm hầu như không có lỗi.
Cùng làm việc ở phòng thí nghiệm Khoa học Máy tính thuộc Học viện công nghệ Massachusetts (MIT), Lynch và Garland đã phát triển một ngôn ngữ máy tính và các công cụ lập trình để phát triển phần mềm mạnh mẽ hơn, hay như lời Garland nói là "để làm cho công nghiệp phần mềm giống một ngành sản xuất hơn". Lynch chỉ ra rằng, các kỹ sư công chánh làm mô hình cầu trước khi xây dựng, còn lập trình viên thường khởi đầu bằng một mục tiêu, và có thể sau một vài cuộc thảo luận, đơn giản là ngồi xuống viết code (mã nguồn). Các công cụ của Lynch và Garland cho phép lập trình viên lập mô hình, thử nghiệm và cân nhắc về phần mềm trước khi bắt tay viết mã. Đây là một hướng đi độc nhất trong số những nỗ lực gần đây của Microsoft, IBM và Sun Microsystems nhằm nâng cao chất lượng phần mềm và đơn giản hóa bản thân quá trình lập trình.
Giống như họ, Lynch và Garland xuất phát từ một khái niệm gọi là tổng quát hóa (abstraction). Ý tưởng là khởi đầu với một mô tả cấp cao về các mục tiêu của chương trình và sau đó viết ra các lệnh ngày càng cụ thể hơn mô tả các bước mà chương trình có thể thực hiện để đạt được mục tiêu và cách thức thực hiện các bước đó. Thí dụ, một hệ thống phòng tránh va chạm máy bay, thì mô tả cấp cao có thể là khi hai máy bay bay quá gần nhau thì phải hành động; thiết kế cấp thấp hơn có thể là bắt hai máy bay trao đổi thông tin để quyết định cái nào phải hạ thấp, cái nào phải bay cao lên.
Lynch và Garland đã đưa ý tưởng này tiến xa hơn nữa. Từ nhiều năm trước, nữ giáo sư Lynch đã phát triển một mô hình toán học để giúp các lập trình viên dễ dàng kiểm tra xem liệu một bộ các mô tả tổng quát có khiến một hệ phân tán ứng xử hợp lý hay không. Với mô hình này, bà và giáo sư Garland đã tạo ra một ngôn ngữ máy tính mà lập trình viên có thể dùng để viết "giả mã" mô tả những gì một chương trình cần làm. Cùng với các sinh viên của mình, giáo sư Garland cũng đã phát triển các công cụ để chứng minh rằng các mô tả trừu tượng cấp thấp hơn tương quan đúng với các mô tả cấp cao và để mô phỏng phản ứng của chương trình trước khi nó được dịch thành một ngôn ngữ lập trình cụ thể như Java. Những công cụ này định hướng người lập trình chú ý tới nhiều tình huống có thể phát hiện lỗi hơn - mà có thể kiểm tra bằng các mẫu thử phần mềm điển hình, qua đó dảm bảo phần mềm luôn làm việc trơn tru. Một khi đã thử nghiệm phần mềm xong, thì người lập trình có thể dễ dàng dịch mã giả sang một ngôn ngữ lập trình chuẩn.
Không phải tất cả các nhà khoa học máy tính đều đồng ý rằng có thể chứng minh phần mềm không có lỗi. Shari Pfleeger, nhà khoa học máy tính làm việc cho Rand ở thủ đô Washington, cho rằng "Mặc dù vậy, những phương pháp toán học như của Lynch và Garland vẫn có chỗ đứng trong thiết kế phần mềm. Chúng vẫn quan trọng cho những phần cốt lõi nhất của một hệ thống lớn, dù cho bạn có tin hay không là sẽ giải quyết được 100% vấn đề".
Trong khi một số nhóm đã bắt đầu làm việc với phần mềm của Lynch và Garand, thì hai người đang theo đuổi một hệ thống tự động sinh chương trình Java từ giả mã cấp cao. Garland nói, "Mục tiêu là cắt giảm gần hết can thiệp của con người" và "loại bỏ những lỗi chuyển dịch". Cộng sự của họ, Alex Shvartsman, nhà khoa học máy tính tại trường đại học Connecticut, cho biết "Một công cụ như vậy sẽ từng bước, chậm nhưng chắc, đưa chúng ta tới một ngày mà các hệ thống đáng tin cậy hơn nhiều so với hôm nay". Dù thế nào, chúng ta đều đánh giá cao những nỗ lực và mục tiêu của họ.
9. Đường dược liệu (Glycomics)
James Paulson (Giêm Pôn-sơn) làm việc tại Viện nghiên cứu Scripps ở La Jolla, bang California. Ông đang cầm trên tay một chai đường tổng hợp trị giá tới 15 triệu USD. Cytel, một công ty công nghệ sinh học Paulson từng điều hành, đã tổng hợp ra loại đường đó - một trong hàng ngàn chất do cơ thể người sinh ra - với hy vọng bán ra để tăng cường sức khoẻ. Mục tiêu của Cytel là chuyển loại đường đó thành một dược liệu có thể làm mềm phản ứng của hệ miễn dịch nhằm hạn chế tối tổn thương do những cơn đau tim hay phẫu thuật. Họ đã thất bại, song những nỗ lực tìm hiểu và sử dụng các loại đường trong trị liệu đã thúc đẩy một ngành khoa học mới: đường dược liệu. Và Paulson là người tiên phong phát triển các loại đường dược liệu mới có tác dụng lên nhiều loại bệnh, từ thấp khớp cho tới sự lan rộng các tế bào ung thư.
Đường có chức năng sống còn trong cơ thể, đặc biệt là trong việc điều hoà và quyết định chức năng của protêin qua một quá trình gọi là dính đường (glycosylation) trong đó các phân tử đường dính vào các phân tử protêin khác, bao gồm cả những loại protêin mới sinh. Mặc dầu vậy vai trò này thường bị xem nhẹ. Bằng cách tác động vào quá trình dính đường hay chính bản thân đường, các nhà nghiên cứu hy vọng chặn đứng quá trình sinh bệnh, tạo ra các loại thuốc mới và tăng cường các loại thuốc hiện có. Thí dụ tập đoàn công nghệ sinh học Amgen đã tăng cường loại dược phẩm bán chạy nhất của hãng (một protêin kích thích sản sinh hồng cầu gọi là enrythropoietin) bằng cách gắn thêm hai phân tử đường vào mỗi phân tử protêin. Các hãng khác như GlycoGenesys, Progenics Pharmaceuticals và Oxford Glycoscience đều có các loại đường dược liệu dùng trong xét nghiệm nhiều loại bệnh như bệnh Gaucher hay ung thư sắc tố.
Những nố lực nghiên cứu đường lâu nay vẫn bị lấp bóng bởi các nghiên cứu về gien và protêin. Nhưng trong vài thập kỷ vừa qua, các nhà nghiên cứu đã từng bước khám phá những chức năng của đường. Cuối thập kỷ 1980, Paulson và nhóm của ông đã tách một gien cho một trong các enzyme phụ trách quá trình dính đường. Sự kiện đó mở màn cho những nghiên cứu sâu hơn về những chức năng sinh dưỡng cũng như phá hoại của đường.
Đây là một nhiệm vụ phi thường. Các nhà khoa học ước tính cơ thể người có khoảng 40,000 gien và mỗi gien có thể mã hoá vài loại protêin. Các loại đường làm thay đổi một số protêin này, và các loại tế bào khác nhau liên kết với cùng một loại đường theo nhiều cách khác nhau, tạo ra nhiều loại cấu trúc nhánh, mỗi loại có một chức năng duy nhất. Theo Paulson, để khám phá hết những thứ này "quả là một ác mộng". "Để lĩnh vực này tiến bộ nhanh chóng, chúng ta phải tập hợp các chuyên gia trong nhiều ngành con bàn về vấn đề nối kết các công nghệ và chuẩn bị tiến tới một hướng nghiên cứu đường dược liệu thực sự". Trong nỗ lực đó, Paulson đã thành lập Hội đường dược liệu gồm hơn 40 nhà khoa học từ một số ngành, với kinh phí 34 triệu USD trong 5 năm do Viện y tế quốc gia Hoa Kỳ tài trợ.
Paulson nhấn mạnh rằng, dù cho nỗ lực lớn và kinh phí dồi dào của liên bang, thì hội cũng không thể nào nghiên cứu chi tiết từng loại đường trong cơ thể. Paulson nói "Chúng ta mới chỉ ăn được một phần trái táo" – vâng, nhưng thật ngọt ngào, vì đó là trái táo lớn.
10. Mật mã lượng tử (quantum cryptography)
Thế giới sống trên những bí mật. Các chính phủ, công ty và cá nhân, đấy là chưa kể đến các công ty .COM, khó lòng mà tồn tại được nếu không có sự bí mật. Nicolas Gisin (Ni-cô-la Gít-xin) , thuộc trường đại học Geneva, là người tiên phong nghiên cứu công nghệ tăng cường tính an toàn cho trao đổi thông tin điện tử. Công cụ của Gisin, mang tên mật mã lượng tử, giúp truyền thông tin theo cách mà bất kỳ kiểu nghe lén nào đều bị phát hiện. Công nghệ này dựa trên vật lý lượng tử, ứng dụng theo các góc độ nguyên tử: bất kỳ nỗ lực nào nhằm quan sát một hệ lượng tử không thể không thay đổi nó. Sau 10 năm thí nghiệm, mật mã lượng tử đang trở nên khả thi. Richard Hughes, một nhà tiên phong trong mật mã lượng tử tại Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos tại New Mexico, cho biết "Bây giờ chúng ta có thể nghĩ về mục đích sử dụng thực tế của công nghệ này".
Nhà vật lý kiêm doanh nhân Gisin sẽ là người đang gánh vác nhiệm vụ đưa công nghệ này vào thị trường. Công ty mà Gisin tách từ phòng thí nghiệm của đại học tổng hợp Geneva năm 2001, idQuantique, đã cho ra đời hệ mật mã lượng tử thương mại đầu tiên. Hệ thống bao gồm một bộ sinh số ngẫu nhiên (phải có để sinh khóa giải mã) và các thiết bị phát và phát hiện từng photon ánh sáng tạo ra tín hiệu lượng tử.
Các nhà mật mã học truyền thống tập trung phát triển các giải thuật mã hóa mạnh để giữ cho thông tin khỏi rơi vào tay người khác. Nhưng thậm chí mật mã mạnh nhất cũng thành vô dụng nếu ai đó đánh cắp được khóa. Theo Nabil Amer, giám đốc nhóm lý tin tại trung tâm nghiên cứu IBM, với mật mã lượng tử, bạn có thể chắc chắn rằng khóa giải mã là an toàn. Việc trao đổi khóa được thực hiện dưới dạng các photon có hướng phân cực sai khác ngẫu nhiên. Người gửi và người nhận hợp pháp so sánh hướng phân cực của từng photon một. Bất kỳ nỗ lực nào để trích tín hiệu đều thay đổi các hướng phân cực, mà người gửi và người nhận có cách để phát hiện ra.
Mật mã lượng tử đang đi trước thời đại của nó. Các chiến lược mã hóa phi lượng tử như các hệ mật mã khóa công khai thường dùng trong thương mại đến nay vẫn chưa bị phá. Nhưng tính bảo mật của các hệ mật mã khóa công khai phụ thuộc vào giả thiết rằng hiện nay vẫn không có các máy tính đủ nhanh để bẻ mã. Tuy nhiên, khi các máy tính ngày càng nhanh hơn, thì cơ chế bảo vệ này càng mong manh. Gisin nói "Mã hóa khóa công khai có thể tốt cho hiện tại, nhưng một ngày nào đó, một ai đó sẽ tìm ra cách phá nó. Chỉ mật mã lượng tử mới đảm bảo những thông điệp đã mã hóa gửi đi ngày nay sẽ an toàn mãi mãi".
Gisin không hề ảo tưởng về những thử thách mà ông phải đối mặt. Thí dụ, mật mã lượng tử chỉ làm việc khi trên một quãng đường, một xung nhỏ có thể đi qua không khí hay qua cáp quang mà không cần trợ lực, do quá trình khuếch đại phá hỏng thông tin mã hóa lượng tử. Nhóm của Gisin giữ kỷ lục thế giới về khoảng cách truyền là hơn 67 km bằng cáp quang từ Geneva tới Lausanne (Thụy Sỹ).
Công trình của Gisin và những nhà nghiên cứu khác có thể sẽ mở ra một kỷ nguyên mới của công nghệ thông tin lượng tử. Thật trớ trêu, người ta cũng thấy rằng các máy tính lượng tử siêu tốc một ngày nào đó sẽ cho sức mạnh để phá mật mã lượng tử, đến lúc đó thì Gisin và những nhà nghiên cứu khác lại phải hoàn thiện phương thức cất giấu thông tin bí mật của mình. Gisin dự đoán "Trong những thập kỷ tới, thương mại điện tử và chính phủ điện tử sẽ thành hiện thực chỉ khi truyền thông lượng tử đã phát triển rộng rãi". Nói cách khác, tương lai công nghệ sẽ phụ thuộc nhiều vào khoa học bảo mật.
Dù rằng một cánh cũng hoa
Dù rằng một nửa cũng là trái tim
★
★
★
★
★
0