📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Đạo Công Giáo Là Gì - Linh Mục Jean Deveaux (HẾT) 🔒

35 trả lời, 5.674 lượt xem — Trang 2 / 2
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-05-29 22:40:14huytran>
CHƯƠNG II
MẤT HẲN SỰ SỐNG: HỎA NGỤC




I. CÓ HỎA NGỤC LÀ MỘT ĐIỀU CHẮC CHẮN
Giáo hội không bày ra hỏa ngục để đe dọa những tâm hồn ngây thơ làm cho họ sợ mà ăn ở tử tế.
Hỏa ngục là một thực tại mà Chúa Kitô và các tông đồ nhiều lần nhắc nhở đến để chứng tỏ rằng sau khi chết người lành sẽ được thưởng và kẻ dữ sẽ bị phạt.
a. Chúa Kitô thường quả quyết rằng những kẻ cố tình xa Chúa sẽ chịu một hình phạt vĩnh viễn. Ngài tuyên bố: “Nếu tay ngươi nên dịp tội, hãy chặt nó đi, thà rằng cụt tay mà vào chốn trường sinh, còn hơn có hai tay mà sa hỏa ngục chịu lửa chẳng hề tắt”. (Mc 9, 43-49).
“Hãy đi cho khỏi mặt Ta, hỡi những kẻ bị nguyền rủa, và xuống chịu lửa đời đời đã dọn sẵn cho ma quỉ” (Mt 25, 41).
b. Thánh Phaolô cũng nói về hỏa ngục: “Chúa Kitô sẽ từ trời đến để xử những kẻ không biết Chúa và không vâng phục Phúc Âm, những kẻ ấy sẽ chịu hình phạt đời đời xa Chúa” (II Thesse 1, 1-9).
II. NHỮNG KẺ BỊ ĐÀY HỎA NGỤC, ĐỜI ĐỜI SẼ PHẢI CHỊU HAI HÌNH PHẠT
Hình phạt những kẻ bị đày hỏa ngục thì đời đời. Các văn bản trích trên đây nói rõ, Chúa Kitô nói đến “lửa đời đời”, “lửa không tắt”.
Những người bị đày hỏa ngục đau khổ thế nào?
Theo các văn bản trên, những người bị đày hỏa ngục phải chịu hai thứ thống khổ:
a. Xa Thiên Chúa: Thật là một sự đau khổ kinh khủng đối với những kẻ bị lưu đày hỏa ngục khi họ biết đời đời xa Chúa, (trên trần gian chúng ta không thể hiểu được) và lương tâm họ bị tội lỗi cắt rứt.
b. Chịu hình phạt lửa: Chúng ta hiện giờ không thể nói rõ bản chất của lửa như thế nào. Chúng ta chỉ dựa vào bằng chứng nêu trên đây mà quả quyết rằng: Linh hồn và xác, trong hỏa ngục, chịu một sự đau khổ khác sự đau khổ vì xa Chúa mà hiệu quả giống như lửa.
III. HỎA NGỤC KHÔNG TRÁI NGHỊCH VỚI SỰ CÔNG BẰNG VÀ SỰ NHÂN TỪ CỦA THIÊN CHÚA
Hình phạt hỏa ngục có tính cách vĩnh viễn, sự đó làm nhiều người vấp phạm vì cho là trái sự công bằng và lòng nhân từ của Chúa. Chúa ra hình phạt đời đời cho những tội ngắn ngủi.
Chúng ta xin trả lời:
1) Điều đó sẽ là bất công nếu người ta bị đầy hỏa ngục vì những tội không quan trọng, phạm vì nhẹ dạ và không biết.
Nhưng không phải vậy, chỉ những kẻ phạm tội trọng, nghĩa là họ biết rõ ràng, và họ tự do lỗi luật Chúa trong điều nặng, họ cố tình từ chối Chúa cho đến cùng, mới bị đày hỏa ngục.
2) Điều đó sẽ bất công nếu người bị đày hỏa ngục không được cảnh cáo trước. Nhưng không phải vậy, Thiên Chúa đã phái Con Một Người, là Chúa Kitô để chỉ cho con người biết đường sự sống. Chúa Kitô đã lập Giáo hội để phổ biến lời Ngài kêu gọi khắp nơi và ban cho những phương tiện để đạt tới (Lc 16, 27).
Còn những kẻ lúc sống trên trần gian không biết đến Chúa, cũng không biết đến Giáo hội, họ sẽ được phán xét theo lòng ngay của họ…
3) Điều đó sẽ bất công, nếu Thiên Chúa không ban cho như mọi người những phương tiện đủ để được rỗi linh hồn. Nhưng không phải vậy, “Thiên Chúa muốn mọi người được cứu rỗi” (1 Tim 2, 4). Người ban cho mọi người những ơn cần thiết cho họ được cứu rỗi.
Nhất là chúng ta phải hiểu rằng sự chết đem chúng ta vào sự sống đời đời, đặt chúng ta đời đời vào tình trạng lúc chúng ta chết. Ngay sau khi chúng ta chết, chúng ta được đặt vào một hiện tại vĩnh viễn: Chúng ta đời đời hạnh phúc, nếu khi chết chúng ta còn ở trong ơn nghĩa Chúa; đời đời khốn nạn, nếu chúng ta chết lúc mắc tội trọng.
Thực ra, không phải chính Thiên Chúa đày xuống hỏa ngục: chính tội nhân cứng lòng, tự đày mình, chúng ta thật là chủ định mệnh chúng ta; chúng ta tự do. “Ta vui thích trông thấy kẻ dữ chết sao? Chúa phán: Chẳng phải là Ta muốn nó bỏ đường tội lỗi và nó được sống sao?” (23. 18, 23).
“Chúa nhẫn nại chờ đợi, Người không muốn một ai chết nhưng Người muốn mọi người ăn năn trở lại” (2 Pet 3, 9). 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-05-29 22:43:06huytran>
CHƯƠNG III
LUYỆN NGỤC
 
I. CÓ LUYỆN NGỤC LÀ ĐIỀU CHẮC CHẮN
Có một nơi trong đó những linh hồn chết trong ơn nghĩa Chúa nhưng chưa thánh thiện đủ để hưởng mặt Chúa đời đời nên còn phải luyện lọc. Đó chẳng những là một chân lý hợp lý và đúng với những điều chúng ta biết về sự khôn ngoan và sự công bình của Thiên Chúa, mà đó còn là chân lý đức tin, dựa trên Thánh Kinh và đã được Giáo hội xác định long trọng.
Chân lý này dựa trên Thánh Kinh. Cựu ước kể: “Juđa Macabêo, sau một trận giặc, quyên tiền và gửi vào đền Jêrusalem để xin lễ cho các linh hồn những binh sĩ đã tử trận. Tác giả Kinh Thánh thêm: “Cầu nguyện cho những người đã chết cho họ được sạch mọi tội lỗi là một việc lành và có giá trị cứu thoát” (II Macb 2, 12-46).
Những linh hồn ở đây chưa lên trời (vì còn tội phải đền) cũng không xuống hỏa ngục (vì còn có thể cứu thoát khỏi tội lỗi họ). Như thế là còn có một đời sống trong đó linh hồn còn phải đền tội: đó là luyện ngục.
Chân lý này đã được Giáo hội xác định. Tại Công đồng II Lyon 1274, tại công đồng Florence 1439 và công đồng Trentinô 1563. Các tín hữu còn sống có thể cầu nguyện cho các linh hồn dưới luyện ngục được giảm bớt hình phạt.
II. ĐAU KHỔ VÀ VUI MỪNG CỦA CÁC LINH HỒN TRONG LUYỆN NGỤC
a. Các linh hồn dưới luyện ngục chịu những hình phạt, những đau khổ, mà chúng ta không thể hiểu bản tính được. Sự đau khổ chính là phải xa cách Chúa.
b. Các linh hồn dưới luyện ngục chết trong ơn nghĩa Chúa, biết chắc mình sẽ được hưởng mặt Chúa, nên chắc họ cũng vui mừng và sự vui mừng ấy giúp họ can đảm chịu đau khổ.
III. CÁC LINH HỒN DƯỚI LUYỆN NGỤC CÓ THỂ HƯỞNG NHỜ NHỮNG VIỆC LÀNH PHÚC ĐỨC CỦA CHÚNG TA.
Chân lý này an ủi những ai phải xa lìa những kẻ thân yêu. Các tín hữu có thể cho các linh hồn dưới luyện ngục hưởng nhờ các phúc đức và kinh nguyện của mình. Nhất là có thể xin lễ cho các linh hồn.
Bù lại, các linh hồn ở trong ơn nghĩa Chúa có thể cầu nguyện cho chúng ta .
Luyện ngục chỉ có tính cách tạm thời. Sau khi xác thịt sống lại, sẽ chỉ còn hỏa ngục và Thiên Đàng. 
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-05-29 22:47:45huytran>
CHƯƠNG IV
ĐỜI ĐỜI ĐƯỢC SỐNG: THIÊN ĐÀNG




I. THIÊN ĐÀNG LÀ ĐÍCH THẬT CỦA ĐỜI SỐNG CHÚNG TA TRÊN TRẦN GIAN
Không có chân lý nào được Chúa Giêsu quả quyết nhiều lần như chân lý này: Có một nơi hạnh phúc hoàn toàn để thưởng những người lành.
Phải chăng đó cũng là mục đích mầu nhiệm cứu chuộc: Trả lại cho chúng ta sự sống Adong đã làm mất, cho chúng ta lại được trở nên “Con nuôi Chúa”, chẳng những trên trần gian nhờ ơn thánh, mà còn trên Thiên Đàng nhờ sự được hưởng mặt Chúa đời đời.
Về Thiên Đàng, thì lẽ ra phải kể hết cả Phúc Âm. Nhưng chúng ta chỉ nêu một vài đoạn sau đây:
1) Trong bài giảng trên núi, Chúa Kitô đặt Thiên Đàng như đích thật của đời sống con người. “Ai có lòng khó khăn ấy là phúc thật vì sẽ được nước Đức Chúa Trời làm của mình vậy”.
“Ai có lòng trong sạch ấy là phúc thật vì sẽ được thấy Chúa. Chúng con hãy vui đi, vì phần thưởng chúng con sẽ lớn trên trời” (Mt 5, 3-12).
2) Cũng trên bài giảng trên núi: Ngài phán: “Hãy tích chứa của cải trên trời: nơi mối mọt dỉ sét không làm hư hại” (Mt 2, 19-20).
3) Trong dụ ngôn các nén bạc: Chúa Giêsu nói với người đầy tớ đã làm sinh lợi các nén bạc đã giao phó: “Tốt lắm, hãy vào hưởng sung sướng của chủ ngươi” (Mt 26-21).
4) Cùng các tông đồ, Chúa nói: “Thầy đi dọn chỗ cho các con. Thầy sẽ trở lại và đem các con sống gần Thầy để Thầy ở đâu, các Con cũng ở đấy” (Jn 14, 2-3).
5) Ngày phán xét chung, “Hãy vào nhận nước Thiên Đàng đã dọn sẵn cho các ngươi từ ngày sáng tạo vũ trụ” (Mt 25, 34).
Các tông đồ cũng đều nhấn mạnh rằng Thiên Đàng là đích thật của cuộc đời trần gian của chúng ta (II Cor 5, 1; Rom 8, 17-19; 1 Pet 1, 3-4; 1 Jn 3, 2).
II. QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ THIÊN ĐÀNG
a) Quan niệm trẻ con về Thiên Đàng.
Đối với nhiều người Thiên Đàng trước hết là phần thưởng giống như phần thưởng cha mẹ hứa cho con cái để thúc đẩy chúng làm việc.
Giáo hội dạy rằng nếu Thiên Đàng là phần thưởng (Mt 5, 12) nhưng không với ý nghĩa thực dụng như người ta thường hiểu: Thiên Đàng trước hết là cứu cánh của con cái Chúa, mục đích Thiên Chúa đã chỉ định cho đời sống trần gian của chúng ta, đời sống ơn thánh nẩy nở thành đời sống vinh quang.
Khi người ta trách chúng ta làm việc lành vì vụ lợi, chúng ta hãy trả lời: đấy là mục đích độc nhất của đời sống trên trần gian của chúng ta, nếu chúng ta không vụ lợi, không tha thiết, chúng ta quên cái chính yếu của kế hoạch của Thiên Chúa, và làm cho đời chúng ta chẳng có nghĩa gì nữa.
b) Quan niệm vật chất về Thiên Đàng.
Có nhiều người khác lại cho rằng Thiên Đàng trước hết chấm dứt và giải phóng khỏi tất cả những lo âu, những thử thách của đời trần gian. Xin nhớ hạnh phúc vĩnh cửu là một hạnh phúc siêu nhiên để thoả mãn những nhu cầu của linh hồn chúng ta, nhờ trông thấy Chúa và hưởng mặt Chúa.
c) Quan niệm tình cảm về Thiên Đàng.
Vì đức tin Kitô quả quyết cho chúng ta rằng mai sau trong đời sống kia, chúng ta sẽ gặp lại những người thân yêu của chúng ta. Coi chừng! Đừng quan niệm Thiên Đàng như nơi gặp gỡ các tình nghĩa trần gian. Phải, Thiên Đàng là nhà “gia đình” nhưng trước hết là “nhà của Chúa”.
III. HẠNH PHÚC THIÊN ĐÀNG CHÍNH LÀ ĐƯỢC HƯỞNG MẶT CHÚA
Hiện nay, chúng ta không thể diễn tả hạnh phúc như thế nào được.
Muốn khỏi sai lầm, chúng ta nên dựa vào Kinh thánh. Các văn bản Kinh Thánh tỏ cho chúng ta hay rằng hạnh phúc Thiên Đàng chính yếu là chỗ chúng ta trông thấy và hưởng nhan thánh Chúa: chúng ta sẽ vào “nhà Thiên Chúa”, ở đó “chúng ta sẽ trông thấy Chúa”, “chúng ta sẽ thấy Người mặt đối mặt”. Chúa Kitô sẽ đưa chúng ta đến “gần Ngài”, chúng ta sẽ được vinh quang với Ngài. Trông thấy Chúa sẽ làm cho tất cả nguyện vọng của chúng ta sẽ được thoả mãn, Thánh Phaolô thêm: “mắt người chưa bao giờ thấy, tay chưa hề nghe, lòng chưa bao giờ nếm những sự Thiên Chúa dọn cho những kẻ Người yêu” (1 Cor 2.9).
IV. SỰ HƯỞNG THỤ THIÊN CHÚA SẼ CÂN XỨNG VỚI CÔNG TRẠNG MỖI NGƯỜI
Chúa Kitô đã phán: “Trong nhà Cha Ta, có nhiều chỗ lắm” (Jn 14, 2). “Ai huỷ bỏ một điều răn nhỏ mọn trong những giới lệnh này, lại dạy người ta làm như vậy, sẽ kể là hèn mọn nhất trên Thiên Đàng ; còn ai làm và dạy người ta làm như thế thì kể là kẻ lớn nhất trên trời” (Mt 5, 19) và Thánh Phaolô cũng ám chỉ mọi người không hạnh phúc như nhau; ngài so sánh: “mặt trời sáng khác; mặt trăng sáng khác, tinh tú sáng khác nhau. Việc kẻ chết sống lại cũng thế” (1 Cor 15, 41).
Công đồng Florence dựa trên văn bản này đã tuyên bố: “Các đấng thánh tuỳ theo công trạng khác nhau, sẽ thấy Chúa người này hoàn toàn hơn người khác”.
Đó là hợp lý và công bằng. Sẽ không có sự phân bì ghen ghét, vì mỗi người trên trời biết rõ Chúa công bằng và yêu thương.
V. THIÊN ĐÀNG LÀ NƯỚC TÌNH YÊU
Trên trần gian, 3 nhân đức cho chúng ta liên lạc với Chúa:
-         Đức tin làm cho chúng ta thấy Chúa
-         Đức cậy làm chúng ta cậy trông Chúa.
-         Đức mến làm cho chúng ta yêu mến Chúa trên hết mọi sự.
Trên trời, đức tin không còn cần thiết nữa, vì chúng ta sẽ trông thấy Chúa nhãn tiền.
Đức cậy cũng không còn đối tượng nữa, vì chúng ta được có Chúa đời đời .
Chỉ còn đức mến, sẽ tồn tại mãi: Thiên Đàng là nước tình yêu, các thánh chỉ còn yêu mến Chúa đời đời .
Vì vậy thánh Phaolô nói: “Hiện nay chúng ta có 3 điều: đức tin, đức cậy , đức mến, mà đức mến là điều hệ trọng hơn cả” (1 Cor 13, 13).
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-05-29 22:57:53huytran>
TỔNG KẾT
ĐỜI SỐNG THẬT


“Hỡi người Kitô, hãy nhận biết ngươi cao trọng là dường nào! Ngươi được thông phần vào chính bản tính Thiên Chúa” (Thánh Giáo hoàng Lêô).
Bởi vậy, chúng ta phải kết thúc những bài học hỏi chúng ta bằng một tâm tình cảm tạ và ghi ơn Chúa sâu xa.
Chúa Kitô lại nói với chúng ta như xưa đã phán với phụ nữ Samaria:
“Nếu con nhận biết được ơn Thiên Chúa ban” (Jn 4.10).
Nhưng nếu chúng ta đưa mắt nhìn chung quanh chúng ta, chúng ta không thể không thầm cảm thấy một mối âu lo trước mắt thế giới, sau 20 thế kỷ Chúa Cứu Thế đã ra đời, mà vẫn rất ít biết đến sự cao trọng ấy mà cũng rất ít nhờ đến những tài sản phong phú ấy mà sống.
Chúng ta lấy lại lời Chúa Kitô phán với người nữ Samaria để nói lên cho cả toàn nhân loại: “Nếu ngươi biết ơn huệ Chúa ban!”.
Và sau đây là vấn đề quan trọng được đặt ra:
Thế giới ngày nay sẽ cứ tiếp tục sống ngày càng xa các tài sản phong phú của Đời sống Thật sao? Hay là chịu trở về với các giá trị thật có thể dẫn đưa nhân loại đến mục đích của mình để được cứu rỗi?
Và bởi vì Chúa Kitô đã chọn Giáo hội làm phương thế để lưu truyền cho nhân loại ý niệm và thực tại của Đời sống Thật, tựu trung vấn đề trên đây được đặt ra như thế này:
Giáo hội sẽ cứu rỗi thế giới không?”.
Thời nay nhân loại ngày càng phải chọn một trong hai quan niệm hết sức tương phản về đời sống:
-         Chủ nghĩa vật chất đem con người đến trạng thái bế tắc.
-         Kitô giáo đưa con người đến cùng đích của mình.
Vấn đề quan trọng mà không một ai biết suy nghĩ lại có thể bỏ qua được.
HAI ĐIỀU CẦN THIẾT
Muốn Giáo hội cứu rỗi thế giới, muốn Giáo hội ban một linh hồn cho thế giới không hồn, phải có hai điều kiện:
a. Trên nguyên tắc, Giáo hội phải có những gì cần thiết để cứu rỗi thế giới.
b. Trong thực tế, Giáo hội phải có thể thông ban cho thế giới những gì cần thiết để cứu rỗi thế giới thật sự.
NHƯNG HIỆN GIỜ CHÚNG TA TỚI ĐÂU RỒI?
Đứng trước hai điều kiện cần thiết này, những người của thời nay, nhất là những người Kitô hữu nghĩ gì?
Chúng ta phải thú nhận rằng một số đông tự để cho một vài băn khoăn không đâu làm lung lay lòng tin tưởng họ vào Giáo hội .
a. Một số người, tuy với tính cách là người Kitô hữu, họ tin Giáo hội có hai sứ mệnh (lưu truyền chân lý và thông ban sự sống) nhưng trên phương diện con người, họ nghi ngờ Giáo hội ngày nay có đủ những gì cần thiết để hướng dẫn, để làm sống, để cứu rỗi thế giới hiện tại.
b. Một số người khác, vì là người Kitô hữu, họ tin vào hai sứ mệnh của Giáo hội, vì là người, họ tin Giáo hội có đủ những gì cần thiết để cứu rỗi thế giới, nhưng họ nghi ngờ rằng Giáo hội thực sự có thể đem cho thế giới những gì cần thiết để cứu rỗi nó.
Nhóm người thứ nhất nghi ngờ về nội dung sứ điệp của Giáo hội.
Nhóm người thứ hai nghi ngờ về hiệu lực thực tế của sứ điệp.
Chúng ta hãy nhìn kỹ hai thái độ trên đây.
I/ NGHI NGỜ VỀ NỘI DUNG SỨ ĐIỆP CỦA GIÁO HỘI
Thật ra, sự ngờ vực này là do hai đòi hỏi hết sức tương phản dẫn đến cùng một kết quả: làm lung lay tin tưởng đối với Giáo hội .
Bởi đó tâm trạng thứ nhất bao hàm hai hạng người Kitô hữu:
-         Kẻ thì muốn Giáo hội thần linh hơn,
-         Người thì muốn Giáo hội nhân loại hơn,
Chúng ta hãy giải thích rõ:
Nhóm người muốn Giáo hội thần linh hơn. Một số người Kitô hữu khi họ nhìn Giáo hội, họ thấy trong Giáo hội, hay nói đúng hơn, nơi những kẻ đại diện Giáo hội, những con người tầm thường có những yếu đuối, cả những tội lỗi nữa.
Họ lấy làm phẫn uất và ý thức hay không, họ nghĩ: “Nếu Giáo hội thật là thánh thiện, bộ mặt Giáo hội đâu có những vết lem luốc và các phần tử Giáo hội có những yếu hèn như vậy”.
TRẢ LỜI
Đối với những kẻ ngày nay mất lòng tin tưởng vào Giáo hội vì họ cảm thấy những yếu đuối thuộc bản tính loài người, chúng ta xin trả lời:
Chúng ta cũng nhận thấy những yếu đuối, những lỗi lầm nơi các phần tử của Giáo hội, nhưng chúng ta không chịu gắn những yếu đuối, những lỗi lầm ấy cho Giáo hội, Giáo hội có sứ mệnh rao giảng chân lý và phân phát sự sống. Thật vậy, Giáo hội là sự nhập thể thường xuyên của Chúa Kitô, Con Thiên Chúa, cho nên Giáo hội vừa là thần linh vừa là nhân loại, Giáo hội có nhiệm vụ bảo tồn chân lý và sự sống Thiên Chúa, nhưng Giáo hội bảo tồn trong những “bình mỏng mảnh”. Các lãnh tụ của Giáo hội là những người nên chi yếu đuối và có thể lỗi lầm như các người khác.
Dĩ nhiên chúng ta tưởng là tốt đẹp hơn và hợp lý hơn nếu tất cả những người thừa hành chân lý và sự sống là những người thánh và không sai lầm. Nhưng trong thực tế, không được như vậy: ơn linh mục giao phó cho các lãnh tụ của Giáo hội một chức vụ chính thức và những quyền bính của Thiên Chúa; nhưng không ban cho họ ơn không sai lầm hay là ơn không thể phạm tội. Ơn linh mục mang lại cho họ sức mạnh của Chúa cần thiết để họ có thể trở nên thánh; nhưng Chúa Kitô muốn đề nghị ơn thánh ấy chứ không cưỡng ép. Chúa luôn luôn kính trọng sự tự do của con người.
Thánh Chrysostome viết: “Khi bạn thấy một linh mục tội lỗi, bạn đừng kết án chức linh mục, nhưng hãy kết án con nguời thi hành không xứng đáng chức linh mục vì nếu Juđa nội công, thì phải kết án đời sống tư của anh ta, chứ không được kết án sứ vụ tông đồ”.
Đức Hồng y Đệ Noailles năm 1721 viết: “Anh em gán cho Giáo hội, bạn của Chúa Kitô luôn luôn trong sạch, luôn luôn thánh thiện, anh em gán những tội lỗi của những người thừa hành: Giáo hội than vãn, Giáo hội trừng phạt họ, nhưng Giáo hội không có tội… Anh em tự do kết án những cái xấu của các Giám mục, của các Hồng y, đến cả các Đức Giáo hoàng, khi hành động của họ không xứng hợp với chức vụ họ; nhưng hãy kính trọng Giáo hội đã ban bố những luật thánh và được Thần linh của thánh thiện và chân lý hướng dẫn”.
Đàng khác, chúng ta có nên ngạc nhiên không, khi không thấy nơi giáo dân cũng là những phần tử của Giáo hội, những nhân đức mà chính những nhà lãnh đạo cũng không có luôn?
Chúng ta hãy lặp lại về giáo dân những điều chúng ta đã nói về các nhà lãnh đạo: giáo dân cũng là người, những người được gọi trở nên thánh, nhưng là những người tự do, những người bị thử thách trong đó ơn thánh Chúa, mỗi ngày phải đụng độ với những hậu quả thảm hại của tội tổ tông.
Người ta nói Giáo hội đầy tội lỗi? Chúng ta hãy nói đúng hơn Giáo hội đầy những người tội lỗi. Bản tính Giáo hội không cho phép huỷ bỏ hai yếu tố cấu thành Giáo hội: thần tính của Giáo hội, bởi vì Chúa Kitô luôn luôn ở trong Giáo hội và Chúa Thánh Thần soi sáng thêm sức cho Giáo hội, nhân tính của Giáo hội, bởi vì Chúa Kitô giao phó chân lý và sự sống cho con người, Chúa không uỷ thác cho những thần khí linh thiêng.
“Trong Giáo hội, cái gì bởi Chúa Kitô mà ra thì thánh thiện và vô tì vết”.
“Cái gì bởi tự do nhân loại thì có thể có những khuyết điểm” (Hồng y đệ Noailles).
Nhóm người muốn Giáo hội trần thế hơn. Một số người tha thiết với vấn đề cứu rỗi thế giới, muốn Giáo hội cầm đầu tổ chức nhân loại ngày nay. Họ dựa vào một dĩ vãng lịch sử: thời trung cổ trong đó thế tục được ghép vào thiêng liêng đã thực hiện được một cuộc văn hoá lý tưởng bởi vì Giáo hội điều khiển các tổ chức chính trị và xã hội, đã đạt tới một sự thống nhất giữa vật chất và tinh thần đến nỗi vật chất trở nên như tinh thần vậy.
TRẢ LỜI
Giáo đoàn thuộc về chính thể thần quyền của thời trung cổ có nhiều nhược điểm: Thế giới bị Giáo hội chi phối làm cho người đời chê ghét, thánh chiến, chiến tranh tôn giáo, tôn giáo pháp đình là những hành động của một dân Thiên Chúa hiện hữu như một quốc gia, như thế có phải là lý tưởng không?
Chúng ta có thể khám phá rằng nhóm người trên đây đã rơi vào một sự sai lầm căn bản về vai trò của Giáo hội.
Giáo hội không có trách nhiệm trực tiếp đối với thế giới này. Nhiệm vụ chính của Giáo hội là chuẩn bị con người tổ chức thế giới bằng giáo huấn và bằng các bí tích, nghĩa là thực thi sứ mệnh phổ biến chân lý và lưu truyền sự sống.
Nếu Giáo hội cứ giữ vai trò khích lệ và giáo dục các tâm lý và các ý chí con người, Giáo hội có thể biến cải thế giới.
II/ NGHI NGỜ VỀ HIỆU LỰC CỦA SỨ ĐIỆP
Sau đây là một thứ nghi ngờ khác. Sứ điệp chân lý và sự sống làm sao đạt tới những người của kỹ thuật tinh hoa, của ích kỷ, của vô lương tâm, của thù nghịch lẫn nhau, của thế giới ngày nay?
Chúng ta lấy một thí dụ: Một nhà giảng thuyết nói trước những thính giả bít tai lại để không nghe, nhà giảng thuyết này sẽ mất thì giờ. Dầu nhà giảng thuyết lợi khẩu, nói hay, cũng sẽ không đạt được kết quả nào.
Vì vậy:
1) Nhà giảng thuyết phải thay đổi cách làm của mình và dùng chẳng hạn máy phóng thanh, những bản viết rõ, hơn là dùng tài hùng biện của mình.
2) hoặc cách đơn giản, các thính giả bằng lòng không bịt lỗ tai nữa…
Chúng ta hãy áp dụng tỉ dụ trên đây vào vấn đề chúng ta.
Thế giới ngày nay không nghe Giáo hội nữa, Giáo hội liều mình giảng dạy trong sa mạc.
Phải làm thế nào để sứ điệp cứu rỗi được nghe?
a. Hoặc là Giáo hội thay đổi kiểu cách mình làm và nhất quyết thích nghi với thế giới hiện tại.
b. Hoặc là thế giới hiện tại thay đổi và hướng về Giáo hội.
Chính ở đây chúng ta gặp sự ngờ vực về hiệu lực thực tế của sứ điệp, dưới hai hình thức liên quan đến hai điều kiện chúng ta đã ghi trên.
-         Một số người này nói: “Giáo hội chậm tiến, Giáo hội không thể thay đổi…”
-         Một số người nọ nói: “Thế giới đã quá dấn thân, thế giới không thể thay đổi”.
Cả hai hạng người trên đều đi tới một kết luận như nhau: “Hỡi ôi! Chúng ta không thể hy vọng Giáo hội sẽ cứu rỗi thế giới nữa. Sự gián đoạn giữa Giáo hội và thế giới thật hoàn toàn vô phương cứu chữa”.
TRẢ LỜI
Chúng ta không thể chối cãi, ngày nay có một sự ly dị sâu xa giữa Giáo hội và thế giới.
Nhưng chúng ta phải quả quyết chống lại thái độ chủ bại cuả các hạng người trên đây: Nếu chúng ta biết dĩ vãng của Giáo hội và nếu chúng ta tin vững vào giá trị thần linh của sứ điệp Chúa Kitô, chúng ta sẽ giữ một lòng tin tưởng không lay chuyển: Giáo hội có thể cứu rỗi thế giới.
a. Vâng, Giáo hội có thể trẻ lại. Chúng ta nói rõ là Giáo hội, tự bản tính siêu việt và thần linh đối với các hình thức văn hoá, không thể đồng hoá với một hình thức văn hoá nào.
Điều chúng ta mong ước và muốn nói là Giáo hội có đủ sức để trẻ lại, để đừng bao giờ khép mình vào trong những văn hoá lỗi thời và nhất quyết can đảm hướng về những cơ cấu mới của văn hoá để thánh hoá những cơ cấu ấy.
Có những sự kiện để chứng minh cho chúng ta thấy, vào tất cả các khúc quanh của lịch sử Giáo hội, Giáo hội luôn luôn biết thích nghi với các điều kiện mới đưa đến do các văn hoá kế tiếp nhau, mà vẫn không lệ thuộc những điều kiện ấy.
Giữa bao nhiêu xáo trộn chính trị, trước những hình thức mới cứ tiếp nhau, Giáo hội vẫn luôn luôn sống và luôn luôn tươi trẻ.
Một tỉ dụ: Giáo hội thời các dân tộc man rợ. “Liên kết với Đế quốc La Mã, Giáo hội xem như làm một với tất cả nhân loại. Giáo hội đã đạt tới lý tưởng mong muốn; Giáo hội không còn chờ đợi gì nơi tương lai nữa và tất cả tham vọng là duy trì sự có mặt trường cửu… Nhưng Giáo hội đã biết nhìn trong bình tĩnh; Giáo hội không thất vọng về nhân loại. Giáo hội không tin rằng tất cả đều phải điêu vong vì La Mã sụp đổ. Giáo hội tìm hiểu toàn diện phong trào khổng lồ đang tiến đến và nhận ra một thế giới kỳ lạ đang được sinh hạ. Giáo hội cảm thấy trước một cái gì mới và tuyệt đẹp có thể diễn tả bằng hai chữ mâu thuẫn: văn minh man rợ, nghĩa là thứ văn minh không cần đến văn minh La Mã và còn đi xa hơn văn minh của La Mã. Ý thức rõ ràng sứ mệnh vĩnh cửu của mình, Giáo hội không chút nghi ngờ lo sợ để đi với những dân tộc mới và sát cánh với họ, Giáo hội bước vào con đường của tương lai” (G. Kurth).
Những bài học của dĩ vãng đối với chúng ta là một sự bảo đảm cho hiện tại và một nguồn tin cho tương lai: “Tất cả có thể xẩy đến: bắt đạo, tà thuyết, chiến tranh; nhưng chúng ta tin hơn lúc nào khác Giáo hội đời đời tươi trẻ” (hồng y Suard).
b. Vâng, thế giới có thể biến cải.
Ơn Chúa luôn luôn có thể làm những việc bất ngờ, dầu trong những hoàn cảnh tuyệt vọng nhất theo người đời.
Chúng ta muốn nói đến trách nhiệm và sứ mệnh của người Kitô hữu. Vì nếu thế giới phải biến cải, đó sẽ công việc của các người Kitô hữu.
Nếu các Kitô hữu hưởng thụ chân lý siêu nhiên và được đời sống Chúa nuôi dưỡng, chỉ nghĩ đến “phần rỗi mình” và không quan tâm đến thế giới trong đó họ sống với những thèm khát tiện nghi và an nhàn, thì sẽ không thể hy vọng nhân loại được cứu rỗi.
Nhưng nếu như men trong bột, các người Kitô hữu trung thành với sứ mệnh ngàn đời của mình, chấp nhận mình là “ánh sáng của thế gian” và là “muối của trần gian”, họ dấn thân vào đời, tham gia vào đời sống chính trị, đứng đầu các cuộc cải cách xã hội, cùng đi đôi với sự tiến bộ nhân loại, tóm kết, dấn thân vào thế giới ngày nay để cho thế giới một linh hồn, thì chúng ta có thể và chúng ta phải quả quyết rằng: thế giới này sẽ biến đổi và nhờ những cố gắng chung, với ơn Chúa giúp, một nhân loại mới sẽ ra đời.
Chỉ còn có một mối lo: “Nếu các người Kitô hữu không trung thành với sứ mệnh họ…”
Mỗi người trong chúng ta nắm câu trả lời.
Thế giới hấp hối chờ đợi chúng ta .
Nếu người Kitô hữu trả lời: “Tôi có mặt đây”! Người ấy sẽ nghe Chúa Kitô nói lại như một tiếng vang dội:
“HÃY TIN CẬY, TA ĐÃ THẮNG THẾ GIAN” (Jn 16, 33)
(Saigon 4-10-1972)
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2011-05-29 23:03:39huytran>
MỤC LỤC
 
PHẦN MỞ MỤC TÍN LÝ
 
CHƯƠNG I: Ý nghĩa đức tin
CHƯƠNG II: Các nguồn của đức tin
CHƯƠNG III: Nhìn tổng quát về khoa tín lý
 
 
PHẦN THỨ NHẤT
NGUỒN CỦA SỰ SỐNG
 
CHƯƠNG I: Có Thiên Chúa
CHƯƠNG II: Chúng ta biết gì về Thiên Chúa
CHƯƠNG III: Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi
 
 
PHẦN THỨ HAI
CHÚA BAN SỰ SỐNG
 
MỞ ĐỀ: Đức tin và khoa học
CHƯƠNG I: Sáng tạo vũ trụ
CHIƯƠNG II: Thiên Chúa sáng tạo con người
CHƯƠNG III: Tạo dựng các Thiên thần
CHƯƠNG IV: Thiên Chúa tiếp tục sáng tạo
 
 
PHẦN THỨ BA
CON NGƯỜI MẤT SỰ SỐNG
 
CHƯƠNG I: Mất sự sống: sự kiện lịch sử
CHƯƠNG II: Mất sự sống: hậu quả
CHƯƠNG III: Sau khi mất sự sống: vấn đề đau khổ
CHƯƠNG IV: Sau khi mất sự sống: hứa hẹn và hy vọng
 
 
PHẦN THỨ BỐN
SỰ SỐNG ĐUỢC TRẢ LẠI
 
CHƯƠNG I: Đức Trinh nữ Maria
CHƯƠNG II: Đấng trả lại sự sống: Đức Giêsu Kitô
CHƯƠNG III: Sự sống được trả lại như thế nào: Sự chết của Chúa Kitô
CHƯƠNG IV: Sự sống được trả lại như thế nào: sự sống lại và lên trời
 
 
PHẦN THỨ NĂM
TRUYỀN ĐẠT SỰ SỐNG
 
MỞ ĐẦU: Giáo hội là gì?
A. GIÁO HỘI: LỊCH SỬ GIÁO HỘI
CHƯƠNG I: Sự kiện Chúa Kitô sáng lập Giáo hội
CHƯƠNG II: “Phép lạ của Giáo hội “ trải qua các thời đại
 
B. GIÁO HỘI: BẢN TÍNH GIÁO HỘI
CHƯƠNG III: Những đặc điểm chính yếu của Giáo hội
CHƯƠNG IV: Giáo hội “Nhiệm thể Chúa Kitô”
 
C. GIÁO HỘI: VAI TRÒ CỦA GIÁO HỘI
CHƯƠNG V: Phương diện khác nhau của sứ mệnh của Giáo hội
CHƯƠNG VI: Ngoài Giáo hội không được rỗi linh hồn.
 
 
PHẦN THỨ SÁU
ĐỜI SỐNG SUNG MÃN
 
CHƯƠNG I: Đời sống ơn thánh tới đời sống vinh quang
CHƯƠNG II: Đời đời mất sự sống: Hỏa ngục
CHƯƠNG III: Phải chậm lại mới được sống đời đời: Luyện ngục
CHƯƠNG IV: Được sống đời đời: Thiên Đàng
 
 
TỔNG KẾT
 
Người Kitô với vấn đề Cứu rỗi thế giới
0
Đã mang vào thư viện

Cảm ơn HuyTran đa gáp sức cho thư viện

Chúc vui





📎 heartty2Dvi
0
«« « 1 2 » »»