📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Tại Sao Không Là Evans - AGATHA CHRISTIE 🔒

43 trả lời, 6.038 lượt xem — Trang 2 / 2
Nhưng vào ba giờ chiều hôm ấy, một cô gái ăn vận sang trọng, mang kính kẹp mũi, tay cặp sách đi vào phố Saint Leonard's Gardens thuộc quận Paddington.
Frankie, vì chính cô gái ấy là Frankie, đi dọc trước những ngôi nhà tồi tàn trên phố Saint Leonard's Gardens, hầu hết đã đổ nát sau những ngày tươi đẹp trước kia.
Tới nhà số mười bảy, cô thất vọng khi nhìn thấy tấm bảng “Nhà bán hoặc cho thuê” treo trước cửa.
Ngay lập tức Frankie nhấc kính kẹp mũi ra rồi đi thẳng. Người tuyên truyền cho Đảng bảo thủ không có lý do gì ở lại đây nữa.
Cô đã kịp nhìn trên tấm bảng tên hai nhà môi giới về nhà cửa và ghi vào sổ tay. Cô đã lập xong kế hoạch tác chiến là bắt tay vào công việc thực hiện.
Trước hết Frankie đến Công ty Gordon và Porter ở phố Praed Sreet.
- Chào ông, ông có thể cho chúng tôi địa chỉ mới của ông Cayman trước kia ở số nhà mười bảy, phố Saint-Leonard's Gradens, quận Paddington không ạ?
- Xin sẵn sàng. thưa cô - Người nhân viên trẻ tuổi trả lời - Nhưng ông ấy chỉ ở đây trong một thời gian ngắn thôi, cô hiểu cho. Ông Cayman chỉ ký một hợp đồng thuê nhà trong ba tháng, hết thời hạn, ông ấy đã ra nước ngoài rồi.
- Vậy ông có địa chỉ mới của ông ta không?
- Không, thưa cô.
- Nhưng trước khi thuê ngôi nhà ấy, ông ta sống ở đâu?
- Ở khách sạn... hình như đó là khách sạn Great Western Railway ở gần ga Paddington thì phải.
- Ông còn giữ lại những giấy tờ gì của ông ta không?
- Ông ấy đã thanh toán đủ tiền nhà cùng tiền điện nước một lần cho ba tháng rồi, không có giấy tờ gì khác.
- Ô! - Frankie thở dài thất vọng.
Chàng trai nhìn cô với vẻ ái ngại.
- Ông ấy nợ tôi một số tiền lớn - Cô giải thích.
Ngay lập tức anh ta tỏ vẻ bất bình. Anh bèn lục thêm trong các tập hồ sơ nhưng vẫn không thấy địa chỉ mới của Cayman.
Công ty cho Cayman thuê nhà chưa nghĩ đến việc tìm người thuê mới. Frankie yêu cầu được thăm ngôi nhà vì cô muốn có một ngôi nhà nhỏ để tiếp tục việc học hành. Cô ra khỏi văn phòng Công ty với chiếc chìa khoá trong tay và đến thẳng số nhà mười bảy, phố Saint-Leonard's Gardens, quận Paddington.
Đó là một ngôi nhà ít được giữ gìn, tường dán loại giấy rẻ tiền, những lớp sơn bị tróc vảy, bẩn thỉu. Đầu tiên Frankie xuống xem tầng trệt. Căn phòng không được quét dọn từ ngày chủ cũ dọn đi; những đoạn giây thừng, những tập báo cũ, những mẩu gỗ vụn, những chiếc đinh... nằm rải rác trên mặt đất... nhưng không có lấy một tài liệu, một lá thư cá nhân nào.
Chỉ có một thứ có thể có giá trị đó là tấm bản đồ đường sắt A.B.C để mở trước cửa sổ. Trên tấm bản đồ có ghi một số tên người. Frankie chép những tên đó vào một cuốn sổ tay nhỏ tuy chưa biết ý nghĩa của chúng ra sao.
Cô tự nhủ nếu chưa tìm ra vợ chồng nhà Cayman thì chưa thể làm một việc gì khác được. Nếu phạm pháp thì họ đã có những sự đề phòng cần thiết để không bị tóm cổ. Sự vắng mặt của họ cũng có thể nói là một chứng cứ phạm tội.
Cô trả lại chìa khoá cho người nhân viên và hứa sẽ gọi điện để trả lời sau đó đi ra công viên mà chưa biết mình phải làm tiếp việc gì nữa. Sự suy nghĩ của cô bị cắt đứt bởi một trận mưa rào. Xung quanh không có một chiếc tắc-xi nào. Gần đó có một ga xe lửa ngầm, cô tới và mua một vé để đi Piccadilly Circus và lấy thêm hai tờ báo.
Vào giờ này xe lửa vắng khách, trong toa chỉ có một mình Frankie. Cô có điều kiện suy nghĩ và đọc báo.
Cô đọc được những tin vặt: những tai nạn xe hơi, những học sinh gái mất tích... dư luận xã hội, buổi  tiếp khách của phu nhân Petehampton ở Claridge, việc ngài John Milkington đã bình phục sau tai nạn trên sông khi đang đi trên chiếc du thuyền nổi tiếng của ông John Savage, một nhà tỉ phú quá cố. Chiếc thuyền đó đã mang tai hoạ đến cho ông này ư? Người đóng thuyền đã bị giết một cách bi thảm; ông Savage đã tự sát; bây giờ chủ nhân hiện tại của nó là ngài John Milkington suýt bị chết đuối.
Frankie đặt tờ báo xuống và cau mày nghĩ ngợi. Đã hai lần cô nghe nói đến cái tên Savage: lần thứ nhất do bà Sylvia Bassington-ffrench khi nói về ông Alan Carstairs và lần thứ hai trong cuộc nói chuyện giữa bà Rivington với Bobby.
Ông Alan Carstairs là bạn thân của ông John Savage. Bà Rivington cũng nói đến sự có mặt ở nước Anh của ông Alan Carstairs có quan hệ đến cái chết của ông John Savage. Nhà tỷ phú đã tự sát vì cho rằng mình đã mắc bệnh ung thư. Nhưng nếu không tin vào lời giải thích ấy, ông Carstairs trở về nước Anh để điều tra về cái chết của bạn mình thì sao?... Tấn thảm kịch mà Frankie và Bobby chứng kiến có phải là khúc dạo đầu trong câu chuyện về cái chết bí ẩn của ông Savage không?
Không có điều gì bác bỏ giả thiết này. Frankie tự hỏi phải làm gì để có những chứng cứ. Cô không có thông tin gì về người bạn của ông Savage cả. Bất chợt một tia sáng loé lên trong óc cô: bản di chúc! Nếu cái chết của ông Savage có nghi vấn thì trước hết phải nghiên cứu những mong muốn cuối cùng của nhà tỷ phú ấy.
Frankie đã nghe nói đến một văn phòng ở Londres phục vụ cho việc nghiên cứu các bản di chúc miễn là người đọc trả cho văn phòng một đồng xi-linh (tiền Anh) một lần đọc. Nhưng cô không nhớ địa chỉ của văn phòng này.
Xe lửa đỗ lại và Frankie thấy mình đang đứng trước nhà Bảo tàng của nước Anh. Cô xuống xe và sau năm phút đi bộ cô đến văn phòng luật sư Jenkin và Spragge.
Cô được ông Spragge, người cổ đông chính của văn phòng, đón tiếp một cách niềm nở.
Ông Spragge là một người đáng mến, có giọng nói dịu dàng khuyến khích khách hàng nói rõ những điều tế nhị. Ông biết rất nhiều chuyện bí mật của Londres và nhất là những chuyện trong các gia đình quí phái.
- Tiểu thư Frances, tôi rất lấy làm hân hạnh được đón tiếp cô. Xin mời cô ngồi xuống. Ngài quận công Marchington có được mạnh khoẻ không?
Frankie trả lời và ông Spragge bỏ chiếc kính kẹp mũi ra, từ lúc này ông là cố vấn pháp lý cho thân chủ của mình.
- Thế nào, tiểu thư Frances, cô có việc gì mà tới văn phòng nghèo nàn của chúng tôi?
- Tôi muốn xem qua một bản di chúc - Frankie nói - Nhưng không biết hỏi ai. Tôi nghe nói có một văn phòng mà khách hàng chỉ cần mất một đồng xi-ling thì có thể đọc được mọi tài liệu.
- Phải, ở Somerset House - ông Spragge trả lời - Bản di chúc nào vậy? Tôi có thể cho cô biết nội dung mọi bản di chúc của gia đình cô.
- Đây không phải là di chúc của gia đình.
- A! - ông Spragge nói.
Nhưng con người này rất mánh khoé trong việc moi các bí mật của người khác khiến Frankie đã quyết định phải giữ bí mật việc này cũng phải nói:
- Tôi muốn xem bản di chúc của ông Savage… John Savage.
- Thế ư? - Vẻ tò mò thể hiện trên mặt ông Spragge trước khi ông nói tiếp - Thật là lạ lùng... rất lạ lùng.
Frankie ngạc nhiên nhìn ông.
- Tôi không biết nói sao nữa - ông Spragge nói - Tiểu thư Frances, cô có thể cho tôi biết lý do của việc này không?
- Xin lỗi, thưa ông Spragge, cái đó là không thể được.
Ông Spragge nhìn Frankie một cách khác thường.
- Tôi thấy - ông Spragge nói tiếp - Cô phải đề phòng cẩn thận.
- Tôi phải đề phòng ư?
- Phải. Tôi có nhiều tin tức chưa rõ ràng... tôi không muốn cô dính líu vào một công việc đang có nhiều nghi vấn.
Cô rất muốn trả lời rằng mình đã chìm sâu, ngập tới cổ vào việc này rồi, nhưng cô chỉ nhìn ông một cách dò hỏi.
- Theo tôi, đây là một sự trùng hợp khác thường, ông Spragge. Tuy nhiên tôi thấy có một cái gì đó gian dối ở trong bản di chúc đó. Lúc này thì tôi không thể nói gì hơn.
Frankie vẫn đưa mắt thăm dò ông.
- Tôi có trong tay một tài liệu rất quan trọng - ông Spragge nói tiếp với vẻ bất bình - Người ta đã đội tên tôi, thưa tiểu thư Frances. Cô nghĩ thế nào về hành động bỉ ổi ấy?
Ngạc nhiên, Frankie đứng lặng một lúc, không trả lời.
0
Chương XXV
ÔNG SPRAGGE
 
Cuối cùng cô lắp bắp:
- Làm thế nào mà ông biết được?
Ngay lập tức Frankie thấy hỏi như vậy là ngu ngốc. Ông Spragge sẽ là một nhà pháp luật tồi nếu không hiểu lời thú nhận ấy.
- Cô đã biết rõ việc này ư, tiểu thư Frances?
- Vâng.
Cô thở dài rồi nói thêm:
- Xin thú nhận thêm, tôi là kẻ xúi giục, thưa ông Spragge.
- Tôi ngạc nhiên về cô đấy.
Trong giọng nói của ông Spragge có sự đấu tranh giữa người bảo vệ pháp luật với người cha chú của cô gái.
- Câu chuyện đã xảy ra như thế nào?
- Đó là một trò đùa - Frankie nói - Chỉ là để giết thời gian thôi.
- Nhưng ai là người đội tên tôi?
Frankie nhìn ông, rồi từ một cảm hứng ngẫu nhiên, cô trả lời:
- Đó là ngài quận công trẻ... Không, thưa ông Spragge, tôi không thể nói tên ông ấy ra đây. Đối với tôi đó là một hành động không trung thành.
Ngay lập tức Frankie hiểu gió đã xoay sang hướng có lợi cho cô. Chắc chắn ông Spragge sẽ kiên quyết đối với người con trai của một ông mục sư, nhưng ông lại mềm yếu trước ông quận công trẻ tuổi. Trở lại vẻ hiền lành, ông giơ một ngón tay lên:
- Ô! tuổi trẻ tươi đẹp và đáng khen. Cô chui đầu vào tổ ong vò vẽ nào vậy? Cô sẽ thấy nhiều chuyện phức tạp về mặt luật pháp đối với sự tinh nghịch vô tư như vậy. Cô có biết mình có thể phải ra trước toà án không... nếu cô mang tên người khác chứ không phải là tên tôi?
- Ông rất đáng mến, ông Spragge. Chỉ có một trong một ngàn người có hành động như ông. Thú thật tôi lấy làm ngượng vì đã gây ra chuyện này.
- Không, không, tiểu thư Frances.
- Ô! Đúng thế, tôi xin cam đoan với ông là như vậy. Chắc chắn là bà Rivington đã kể lại với ông. Bà ấy đã nói như thế nào?
- Tôi vừa nhận được một bức thư.
Frankie giơ tay ra và ông Spragge đưa lá thư cho cô với vẻ muốn nói: Để cô thấy rõ mình đã dại dột như thế nào!
"Ông Spragge thân mến - Bà Rivington viết - Xin lỗi về sự quên lãng của tôi, nhưng lúc này tôi nhớ lại một chi tiết để ông có thể xem xét sử dụng theo yêu cầu của ông khi đến gặp tôi bữa nọ. Ông Alan Carstairs có cho chúng tôi biết ông ấy sẽ tới một nơi có tên là Chipping Somerton. Tôi hy vọng tin mới này sẽ giúp ông tìm ra địa chỉ của ông ấy hiện nay.
Những việc mà ông đã làm trong vụ án Maltravers đối với tôi là rất thú vị.
Xin ông nhận ở đây những tình cảm trân trọng của tôi.
Edith Rivington"
- Cô có thể tự nhận xét. Rất nghiêm trọng - ông Spragge nói nghiêm khắc tuy có đôi chút mềm dịu - Tôi có thể hiểu đây là ý đồ gây ra một vụ om xòm liên quan đến vụ Maltravers hoặc thân chủ của tôi là ông Caistairs…
Frankie ngắt lời ông.
- Ông Carstairs là một trong những khách hàng của ông?
- Đúng. Ông ấy vừa đến hỏi ý kiến tôi trong khi trở về Anh vào tháng trước. Cô cũng quen ông Carstairs ư, tiểu thư Frankie?
- Có quen đôi chút.
- Một con người đáng mến. Khi ông ấy tới văn phòng này, một bầu không khí tự do cùng vào với ông ấy.
- Ông ta tới hỏi về chuyện bản di chúc của ông Savage, đúng không?
- A! Đây là chuyện cô muốn hỏi tôi. Tiếc rằng tôi không thể giúp gì cho ông ấy cả.
- Ông ta đã hỏi ông những gì? Có phải vì bí mật nghề nghiệp mà ông không thể trả lời tôi không?
- Trong trường hợp này thì không phải như vậy. Theo tôi thì không thể làm gì trong vụ này được... trừ phi gia đình ông Savage bỏ ra một số tiền rất lớn để theo đuổi kiện tụng. Tiểu thư Frances, tôi khuyên bất cứ ai cũng không nên ra trước cửa công cả. Luật pháp sẽ tung ra rất nhiều suy diễn làm hoang mang những người tinh thần không vững. Một sự dàn xếp tồi còn hơn là một bản án tốt, đó là khẩu hiệu của tôi.
Frankie như đang ngồi trên đống lửa. Cô rất sợ để lộ công việc mình đang làm.
- Đây là trường hợp hiếm thấy - ông Spragge nói tiếp.
- Trường hợp tự sát ư?
- Không, không, tôi muốn nói đến những chuyện bất chính. Ông Savage là một nhà kinh doanh có tài, nhưng ông ta để mình bị mê hoặc bởi một người đẹp mới gặp lần đầu. Đây là một người đàn bà giảo quyệt.
- Ồ! Tôi rất muốn ông kể về người phụ nử ấy. Ông Carstairs thường nổi giận mỗi khi nói với tôi về người này mà không cho tôi biết đầu đuôi câu chuyện ra sao.
- Cũng đơn giản thôi. Tôi có thể nói được nếu cô quan tâm.
- Ồ, vâng.
- Ông Savage từ Hoa Kỳ trở về nước Anh tháng một năm ngoái. Như cô đã biết ông ấy là người rất giàu. Trong chuyến đi ông ta làm quen với bà Templeton. Người ta không biết gì về người phụ nữ này ngoài việc bà ta rất đẹp và người chồng đang ở nơi nào đó trên nước Anh.
"Vợ chồng nhà Cayman" - Frankie nghĩ.
- Những chuyến đi biển thường nguy hiểm - ông Spragge nói tiếp - Bị mê hoặc bởi con người nghiêng nước nghiêng thành ấy, ông Savage nhận lời sẽ đến thăm bà trong một ngôi nhà ở Chipping Somerton. Ông ấy đã tới đây bao nhiêu lần thì tôi không rõ, nhưng rõ ràng là ông ấy đã bị bà Templeton thống trị rồi. Và sau đó thì tấn thảm kịch xảy ra. Ông Savage lúc này kêu ca về tình trạng sức khoẻ của mình. Ông sợ rằng mình đã mắc một chứng bệnh nghiêm trọng...
- Ung thư ư?
- Vâng; ông ấy rất sợ chứng ung thư. Sự sợ hãi ấy trở thành nỗi ám ảnh. Thời kỳ ấy ông Savage sống với vợ chồng nhà Templeton. Họ khuyên ông nên mời một nhà chuyên môn ở Londres về khám bệnh. Ông ấy làm theo. Tiểu thư Frances, đến đây thì tôi xin phép được tự do tưởng tượng. Nhà chuyên môn ấy rất đặc biệt, trước toà án ông ta đã thề mà nói rằng ông Savage không hề mắc chứng ung thư. Ông ta đã nói với người bệnh như vậy, nhưng ông này lại khẳng định điều ngược lại, không tin lời chuyên môn là sai sự thật. Không được chứng kiến, tiểu thư Frances, nhưng theo sự hiểu biết về cách chữa bệnh của mình, tôi hiểu sự việc xảy ra có khác đi đôi chút. Nghe những triệu chứng bệnh tật do ông Savage kể, nhà chuyên môn tỏ vẻ nghiêm trang nói một cách mạnh mẽ, vừa an ủi người bệnh vừa ám chỉ bệnh tật của ông này là nghiêm trọng. Ông Savage cho rằng nhà chuyên môn đã nói dối với mục đích làm ông yên tâm... Nhưng ông thì ông hiểu ràng mình đã mắc chứng ung thư.
Dù sao đi nữa thì ông Savage đã tới Chipping Somerton trong tình trạng tinh thần suy sụp. Ông ấy hình dung ra một cơn hấp hối đau đớn và kéo dài. Hình như đã có nhiều người trong gia đình ông chết vì chứng ung thư và ông quyết định không để tái diễn những cảnh đau đớn mà ông đã chứng kiến. Ông Savage cho gọi người chưởng khế tới lập cho mình một bản di chúc và ông đã ký vào đó và giao cho người đó giữ. Tới hôm ấy, ông đã uống một liều lớn thuốc ngủ sau khi viết một bức thư giải thích về cái chết nhanh chóng và không đau đớn của mình.
Theo bản di chúc thì ông Savage đã để lại hầu hết gia sản của mình cho bà Templeton và phần nhỏ còn lại cho công tác từ thiện.
Hài lòng về chuyện kể của mình, ông Spragge ngả lưng trên ghế bành rồi nói tiếp:
- Ông chánh án đã có bản kết luận thường thấy: tự sát trong lúc tinh thần không cân bằng; nhưng chúng tôi không thể căn cứ vào đó để xác định tính chất hợp pháp của các chữ ký xác nhận trong bản di chúc. Bản di chúc nói là đã được viết và được ký trước mặt một viên công chứng trong lúc người qua đời trí óc minh mẫn. Chúng tôi không thể chứng minh lúc ấy ông Savage đang bị một áp lực bên ngoài. Ông Savage không để lại cho những người thân của mình chút gì... Cha mẹ, anh chị em thì ông ấy phải nhớ chứ. Tôi cho rằng họ đang ở Châu úc.
- Và không ai lên tiếng bác bỏ bản di chúc ấy sao'?
- Như đã nói với cô, những người thân của ông Savage không có mặt ở xứ sở này nên không biết gì về bản di chúc. Chính ông Alan Carstairs khơi vấn đề này ra. Sau một cuộc khai thác ở Trung Phi, sau khi biết mọi chi tiết của bản di chúc, ông Carstairs tới đây hỏi tôi cách bác bỏ bản di chúc ấy. Tôi đã nói với ông ấy không có một giải pháp nào cả. Với khả năng thành công chín phần mười theo pháp luật, bà Templeton sẽ hưởng gia tài ấy. Hơn thế, bà này đã bỏ đi để sống ở miền bắc nước Pháp và từ chối quan hệ với chúng tôi. Ông Carstairs hiểu rằng mình đã về quá chậm.
- Người ta không biết gì về bà Templeton ấy ư?
Ông Spragge lắc đầu.
- Một người từng trải như ông Savage đáng lẽ không nên để mình bị quyết rũ như vậy... nhưng...
Frankie đứng lên.
- Đàn ông thật lạ lùng - Cô nói.
Cô đưa lay ra cho ông luật sư.
- Tạm biệt ông Spragge. Ông rất đáng mến, tôi lấy làm tiếc...
- Tạm biệt, tiểu thư Frances. Lần sau nên cẩn thận hơn.
Cô bắt tay ông rồi rời khỏi văn phòng của ông luật sư.
Ông Spragge ngồi trước bàn giấy và nghĩ: "Vị quận công trẻ tuổi...". Ông thấy không có ai quận công ở nước Anh lại tinh nghịch đến như vậy.
0
Chương XXVI
TRONG ĐÊM TỐI
 
Sự vắng mặt không thể giải Moira làm cho Bobby bối rối. Anh nhắc lại thật là kỳ cục khi tưởng tượng ra việc loại bỏ cô trong một khu nhà đầy người như vậy. Chắc chắn là cô đang bị giam ở một nơi nào đó trong lâu đài La Grauge thôi.
Bobby không nghĩ đến việc Moira tự nguyện rời khỏi Staveryley. Anh cũng không tin chắc rằng cô đi mà không để lại cho anh mấy chữ. Hơn nữa cô đã chẳng nói là mình không có nơi ẩn nấp là gì? Giữa những bức tường thê thảm của La Grauge, Moira đang là tù nhân, sống cách biệt với thế giới bên ngoài.
Bobby khẳng định: Nicholson muốn thủ tiêu người vợ bằng mọi giá. Mọi kế hoạch của hắn đã thất bại. Cho người khác biết bộ mặt thật của hắn, Moira đã nhanh chóng mang lại sự kết liễu đời mình. Nicholson đã có một quyết định tức thời. Liệu hắn có dám giết cô không?
Phải, Nicholson đang chuẩn bị để sát hại vợ. Bobby tin chắc là như vậy. Người ta sẽ thấy xác của Moira ở một nơi nào đó, có thể là dưới vực nếu không bị sóng biển cuốn trôi. Một lần nữa giết người lại trở thành tai nạn. Nicholson là chuyên gia về loại việc này.
Bobby cho rằng đạo diễn một cảnh như vậy phải có thời gian, ít nhất là bốn mươi tám tiếng đồng hồ. Trước cái thời hạn ấy, anh sẽ tìm thấy Moira nếu cô còn ở trong lâu đài La Grauge.
Để lại Frankie ở Brook Street, anh suy nghĩ về kế hoạch hành động. Anh thấy tốt nhất là không đến xưởng sửa chữa ô-tô nữa... Chắc chắn bọn chúng đang canh chừng anh ở đây. Khi là Hawkins thì không gây nghi ngờ cho ai. Nhưng lúc này Hawkins cũng phải biến mất.
Chiều hôm ấy, một chàng trai có bộ ria, mặc bộ đồ xanh may đo tới Ambleveder, một thị trấn nhỏ. Người hành khách ấy đến trọ trong một khách sạn ở gần nhà ga và ghi đăng ký dưới cái tên Goerge Paker. Sau khi sắp xếp hành lý, anh ta đi ra phố và vào một cửa hiệu thuê một chiếc xe gắn máy.
Mười giờ đêm hôm ấy, một người đi xe gắn máy đội mũ da, đeo cặp kính to tới làng Staverley và đỗ vào một nơi kín đáo gần lâu đài La Grauge.
Anh giấu chiếc xe trong bụi cây, nhìn lại hai bên đường rồi đi dọc theo bức tường và đến trước một cánh cửa nhỏ.
Cũng như lần trước, cửa không khoá. Sau khi dò xét xung quanh, Bobby bước vào. Anh cho tay vào túi có khẩu súng lục và cảm thấy yên tâm.
Bên trong vẫn yên tĩnh.
Bobby mỉm cười khi nghĩ đến những câu chuyện cổ tích trong đó bọn cướp cho hổ báo canh gác nơi ở của chúng.
Bác sĩ Nicholson thích khoá và then cài và có thể có những sơ xuất về mặt này...
Bobby muốn có sự tin chắc. Mỗi khi nghĩ tới Moira, tim anh thắt lại. Anh như nhìn thấy hình bóng của cô, đôi mắt mở to, đôi môi run rẩy. Đây là nơi anh gặp cô lần đầu tiên.
Lúc này Moira đang ở đâu? Nicholson đã làm gì cô ta? Chỉ cần cô còn sống...
Bobby đi xung quanh trại giam. Trên lầu một nhiều phòng có ánh sáng đèn; dưới tầng trệt thì chỉ có một phòng.
Bobby bò tới dưới cửa sổ của căn phòng ấy. Màn gió đã được che kín chỉ còn một khe hở nhỏ. Bobby bám lấy gờ cửa sổ nhảy lên để nhìn vào bên trong. Anh nhìn thấy bả vai và một cánh tay của một người đàn ông đang viết trên giấy. Cùng lúc ấy người đàn ông xoay người, thay đổi lại cách ngồi và Bobby nhìn ra mặt người ấy theo chiều nghiêng: bác sĩ Nicholson.
Bobby có thời gian để quan sát kỹ ông ta. Anh chú ý đến chiếc mũ to, cái cằm nhọn, cái tai nhỏ, dái tai dính vào má. Anh nghe nói những người có kiểu tai như vậy thường là những người có tài đặc biệt.
Người bác sĩ vẫn viết… Đôi lúc ông ta ngừng lại như để suy nghĩ tìm một từ nào đó... rồi ngòi bút lại tiếp tục lướt trên giấy. Có lúc ông ta nhấc và lau mắt kính rồi lại kẹp lên mũi.
Cuối cùng Bobby nhảy xuống đất không một tiếng động. Hình như Nicholson còn viết nữa. Cần tranh thủ thời gian ấy để đi quan sát các nơi khác.
Một lần nữa. anh đi xung quanh ngôi nhà và nhìn lên một ô cửa sổ để ngỏ trên lầu một. Phòng này không có ánh sáng đèn; anh kết luận không có ai ở trong phòng này. Một cây lớn có cành vươn ra trước cửa sổ ấy.
Một lát sau, Bobby trèo lên cây, tất cả đều tốt đẹp, anh giơ tay bám lấy gờ cửa sổ. Cành cây mà Bobby đang ngồi bỗng nhiên gãy gục làm anh rơi xuống một cái hố. Hố có nhiều lá cây nên anh không bị thương. Cành cây này đã bị sâu ăn ruỗng từ lâu.
Bobby nghe thấy tiếng kêu của người bác sĩ và nhìn thấy cánh cửa phòng của hắn bật mở. Bobby đứng lên và chạy đến chỗ tối gần cánh cửa nhà mà anh vừa đột nhập rồi nấp sau một lùm cây.
Anh nghe thấy tiếng người nói, tiếng chân chạy đến bên cành cây gãy. Bobby bất động, nín thở. Nếu chạy dọc theo con đường để ra ngoài cổng, thấy cổng bị mở toang thì chắc chắn họ cho rằng tên kẻ trộm đã cao chạy xa bay và không đi tìm kiếm nữa.
Lúc này thời gian trôi rất chậm và không ai đến bên anh cả. Cuối cùng Bobby nghe thấy tiếng nói của Nicholson. Anh không nghe rõ nên không biết hắn nói gì nhưng có tiếng trả lời:
- Tất cả không có gì suy xuyển, thưa ngài. Tôi đã cho người đi tuần tiễu.
Dần dần tiếng động giảm bớt, ánh sáng tắt dần và mọi người trở vào trong nhà.
Bobby thận trọng rời khỏi chỗ ẩn nấp. Anh vừa đi vừa lắng tai nghe. Tất cả đều yên lặng. Anh đi về phía ngôi nhà.
Và trong đêm tối, một vật nặng đập vào gáy anh.
Anh bất tỉnh và ngã xuống.
0
Chương XXVII
"ANH TÔI BỊ SÁT HẠI”
 
Sáng thứ sáu, chiếc xe Bentley màu xanh đậu trước khách sạn nhà ga ở Ambleveder.
Frankie đã gọi điện thoại cho Bobby dưới một cái tên giả, George Parker, báo tin cô đến dự phiên toà với tư cách là nhân chứng về cái chết của ông Henry Bassington-ffrench và đi qua Ambleveder.
Không được trả lời, cô tới ngay khách sạn.
- Ông Parker ư, thưa cô? - Người phục vụ khách sạn nhắc lại - ở đây không có ai có tên như vậy. Xin đợi một chút để tôi đi hỏi thêm.
Anh ta trở lại sau đó một vài phút.
- Ông Parker đến đây tối thứ tư. Ông ấy để chiếc xắc lại và đi ngay. Đồ đạc hãy còn ở đây nhưng không thấy ông ấy quay lại.
Gần như bị ngất đi, Frankie phải chống tay lên bàn. Người phục vụ nhìn cô với vẻ lo ngại.
- Cô bị mệt ư?
Frankie lắc đầu:
- Không. Ông ấy có nhắn lại điều gì không?
Người ấy lại bỏ đi để sau đó trở lại và lắc đầu.
- Có một bức điện gửi cho ông ta. Đó là tất cả.
Thấy vẻ mặt khác thường của Frankie người ấy hỏi.
- Cô có cần tôi giúp gì không?
- Ô! Không. Cảm ơn.
Cô chỉ muốn ra đi ngay. Cô lên xe và cho xe chạy về làng Staverley, đầu óc đầy những ý nghĩ trái ngược nhau.
Tại sao Bobby không quay lại khách sạn? Có hai lý do: hoặc là anh đang bám sát mục tiêu... và mục tiêu ấy đã khiến anh phải đi xa Ambleveder... hoặc là đã có một chuyện bất hạnh gì đó xảy đến với anh.
Chiếc Bentley bị xóc mạnh. Ngay lúc ấy, Frankie lấy lại sự can đảm.
Thật là ngốc nghếch khi nghĩ tới điều đó, Bobby vẫn bình yên. Anh đang theo đuổi một mục tiêu. Đó là tất cả!
Trong thâm tâm cô lại xuất hiện một câu hỏi khác. Tại sao anh không để lại cho cô một vài chữ để cô yên tâm?
Câu trả lời không khó lắm, nhưng có thể chấp nhận được. Anh thiếu thời gian và điều kiện. Bobby không hình dung được Frankie lại lo lắng đến như vậy. Tất cả sẽ tốt đẹp... tại sao lại có những lo ngại vô ích kia chứ?
Phiên toà diễn ra suôn sẻ. Roger có mặt với tư cách là nhân chứng trước toà. Bà Sylvia xinh đẹp trong chiếc khăn choàng màu đen cũng vậy.
Thủ tục được diễn ra đúng luật và nhanh chóng. Mọi người đều biết và mến phục ông Henry Bassington-ffrench và người ta cố gắng không làm tổn thương tình cảm của người vợ goá và em trai của người quá cố.
Frankie và Roger lên khai báo. Cả bác sĩ Nicholson cũng vậy... Người ta đọc lá thư vĩnh biệt của ông Henry và toà nhanh chóng kết luận: Tự sát trong khi tinh thần mất cân bằng.
Bản án vô tư và thường thấy như Spragge đã nói về cái chết của nhà tỷ phú John Savage.
Hai vụ tự sát trong một lúc điên rồ... Hai cái chết này có liên quan gì với nhau không nhỉ?
Tuy nhiên cái chết của ông Henry không có gì phải nghi vấn trước mắt Frankie. Cô đã là một nhân chứng. Bobby hẳn phải từ bỏ ý nghĩ cho đây là một vụ giết người. Chứng cứ vô can của bác sĩ Nicholson được củng cố bằng lời khai của người vợ goá.
Frankie và Roger là những người sau cùng rời khỏi phòng xử án. Ông chánh án đã bắt tay và an ủi bà Sylvia Bassington-ffrench.
- Frankie - bà Sylvia nói - cô có thư tới sáng hôm nay. Xin lỗi, tôi về trước để nghỉ ngơi đôi chút, tôi vừa trải quá những giờ phút ghê rợn.
Bà rùng mình và rời khỏi toà án. Bác sĩ Nicholson đi theo và khuyên bà nên dùng một viên thuốc an thần.
Frankie quay lại nhìn Roger đang đi sau mình.
- Bobby đã biến mất - Cô báo tin.
- Biến mất?
- Phải.
- Tại sao?
Cô giải thích vắn tắt.
- Và từ sau đó người ta không thấy anh ta nữa ư?
- Không. Anh nghĩ về chuyện này như thế nào?
- Không có gì là tốt cả.
Tim của Frankie đập rộn lên.
- Anh cho rằng...
- Ô! Không có gì là quan trọng đâu... A! Ông bác sĩ đây rồi.
Nicholson nhẹ nhàng bước tới. Ông ta tươi cười xoa tay.
- Cái đó diễn ra rất tốt... Bác sĩ Davidson thật tuyệt vời. May mắn là chúng ta có một ông chánh án như vậy.
- Đúng thế - Frankie đáp lại một cách máy móc.
- Cái đó rất quan trọng, tiểu thư Frances. Cách làm việc của toà án phụ thuộc vào ông chánh án. Ông ta có quyền lực rộng và có thể tạo ra mọi khó khăn. Lần này thì mọi việc đều trôi chảy.
- Một vở hài kịch được trình diễn tốt.
Ông Nicholson ngạc nhiên nhìn cô.
- Tôi hiểu tình cảm của tiểu thư Frances và tôi xin được chia sẻ với ý nghĩ ấy - Roger nhấn mạnh - Bác sĩ Nicholson, anh tôi bị sát hại.
Anh ta đứng sau ông bác sĩ nên không thấy được phản ứng của ông này. Chỉ một mình Frankie là thấy rõ.
- Tôi biết rõ điều tôi muốn nói - Roger nói tiếp - Luật pháp có thể có ý kiến khác về cái chết, mặc dù đây là một vụ giết người. Những kẻ gây tội ác đê tiện làm cho anh tôi trở thành nghiện ngập tức là đã giết anh tôi chẳng khác gì việc cắm dao vào gáy anh ấy.
Anh ta tiến lên một vài bước, nhìn thẳng vào mắt người bác sĩ.
- Sẽ đến lượt chúng.
Bác sĩ Nicholson lắc đầu.
- Đến đây thì chúng ta đồng ý với nhau - ông ta nói - Tôi biết rõ hơn ông về tình trạng nghiện ma tuý của ông Henry Bassington-ffrench và kẻ đẩy ông ấy vào vòng nghiện ngập đã phạm vào một tội các ghê tởm.
Những ý kiến lộn xộn quay cuồng trong óc Frankie. "Có thể không phải là ông ta - Cô tự nhủ - Chứng cứ vô can của ông ta không chỉ căn cứ vào lời của bà Sylvia. Trong trường hợp ấy..."
Khi cô ngẩng mặt lên thì ông Nicholson hỏi cô:
- Cô về đây bằng xe hơi chứ, tiểu thư Frances? Lần này thì không gặp tai nạn, đúng không?
- Không. Lái xe là một nghề chuyên môn mà tôi không ham lắm. Còn ông?
Đôi mi mắt của ông Nicholson rung lên.
- Chắc rằng lần này người tài xế của cô cầm lái?
- Người lái xe của tôi mất tích rồi - Frankie nói và nhìn thẳng vào mắt người bác sĩ.
- Thế ư?
- Lần cuối cùng người ta nhìn thấy anh ấy là ở trên đường tới lâu đài La Grauge.
Nicholson nhướn mắt lên.
- Thật là lạ lùng... ai lôi kéo anh ta tới đây?
- Tôi chỉ biết lần cuối cùng người ta thấy anh ta ở đấy.
- Cô coi đây là một tấn thảm kịch và cô đã quá chú ý đến những lời ngồi lê đôi mách trong làng. Ở đây người ta đặt ra nhiều chuyện giật gân. Tôi còn được nghe nói người tài xế của cô đứng nói chuyện với vợ tôi ngoài bờ sông nữa kia... Đấy là một người được giáo dục tốt, đúng không?
"Thế đấy - Frankie nghĩ - Bây giờ ông ta muốn nói vợ ông đã đi với người tài xế rồi. Mình thấy rõ mánh khoé của ông ta".
Cô nói:
- Hawkins ít được giáo dục so với những người lái xe khác.
Nicholson quay sang Roger.
- Bây giờ thì tôi phải đi. Chúc ông và bà Sylvia mạnh khoẻ.
Roger đưa ông ta vào phòng xép. Frankie đi theo. Cô thấy trên bàn có hai phong thư đề tên mình. Một bì có một hoá đơn. Bì kia...
Tim cô đập rộn lên. Cô nhận ra nét chữ của Bobby.
Nicholson và Roger đã ra khỏi cửa.
Cô mở phong bì và đọc:
Frankie thân mến.
Cuối cùng thì tôi đã có được mục liêu. Hãy đến gặp tôi càng nhanh càng tốt ở Cllipping Somerton. Hãy tới đây bằng xe lửa. Chiếc Bentley của cô dễ bị chú ý. Xe lửa thì không thuận tiện lắm, nhưng cố gắng tới nơi không chậm trễ. Tới một ngôi nhà có tên là Tudor Cottaga. Tôi sẽ giải thích sau. Không hỏi ai về đường xá. Cô rõ chưa? Không được nói chuyện này với ai.  Với bất cứ ai!
Người bạn thân thiết của cô.
Bobby.
Frankie vò nát bức thư trên tay.
Mọi việc đều tốt đẹp. Bobby bình an vô sự. Anh đang bám sát mục tiêu. Một sự trùng hợp kỳ lạ. Đây cũng là mục tiêu của Frankie. Cô đã tới Somerset House để hỏi về bản di chúc của ông John Savage. Rose Emily Templeton được coi là vợ của Edgar Templeton cũng ở ngôi nhà có tên là Tudor Cottage ở Chipping Somerton. Hơn nữa cái tên Chipping Somerton được ghi trên tấm bản đồ đường sắt trong ngôi nhà vắng của vợ chồng Cayman ở Saint-Leonard's Gardens. Vợ chồng nhà Cayman đã tới Chipping Somerton.
Tất cả đều ăn khớp với nhau. Hai người sắp tới đích.
Roger Bassington-ffrench đến bên Frankie.
- Thư của cô có tin gì mới không?
Cô ngập ngừng. Chắc chắn là Bobby không nghĩ đến Roger khi anh nhấn mạnh không nói chuyện này với ai.
Cô nhớ lại những chữ gạch chân... cô cũng nhớ lại những nghi vấn của Bobby... Nếu đúng thì Roger sẽ phản bội lại họ. Cô không dám nói với Roger chuyện này.
Frankie trả lời:
- Không, không có gì quan trọng.
Hai mươi bốn tiếng đồng hồ sau đó cô lấy làm tiếc về quyết định ấy.
Cô cũng đã tiếc là mình làm đúng lời dặn của Bobby là để chiếc Betley ở lâu đài Merroway để đi bằng xe lửa. Theo đương chim bay thì Chipping Somerton không xa lắm, nhưng đi xe lửa thì ba lần chuyển tàu, mỗi lần phải đợi rất lâu trong những ga xép ở nông thôn. Kiểu giao thông này không thích hợp với cô gái, nhưng phải công nhận là Bobby có lý khi nói chiếc Bentley của cô rất dễ bị chú ý.
Trời đã tối khi xe lửa của Frankie đến ga Chipping Somerton. Mưa rơi, cô phải kéo cổ áo khoác lên và lên đường.
Đường dễ nhận ra. Cô gái đã nhìn thấy ánh sáng trong làng khi rẽ trái và lên dốc. Tới đầu dốc, rẽ phải, cô thấy lơ thơ dưới chân đồi mấy nóc nhà trong đó có một ngôi có hàng rào bằng gỗ rào xung quanh. Cô bật diêm lên soi thấy có hàng chữ: Tudor Cottage.
Không có ai ở gần đấy. Frankie kéo then cửa và bước vào. Đi qua rặng thông, cô lờ mờ thấy ngôi nhà nấp sau một thân cây, cô nhìn thấy cửa ra vào. Tim đập mạnh, cô làm giả tiếng cú kêu. Một vài phút trôi qua, vẫn không thấy có chuyện gì xảy ra. Cô kêu một lần nữa.
Cánh cửa ngôi nhà bật mở và cô thấy một bóng người trong bộ đồng phục tài xế thận trọng nhìn ra. Người ấy ra hiệu cho cô vào trong nhà rồi biến mất, để ngỏ cửa đằng sau.
Frankie rời chỗ ẩn nấp, chạy vào trong nhà. Bước qua ngưỡng cửa, tới một phòng xép tối om, nhìn xung quanh rồi cô gọi to:
- Bobby!
Cô ngồi thấy một mùi lạ vừa nặng vừa hắc. Đúng lúc cô tự nhủ "Clô-rô-phoóc" thì hai bàn tay rắn chắc túm lấy vai cô. Cô định kêu lên thì một mảnh vải ướt bịt lấy miệng cô.
Cô chống cự một cách vô vọng... thất bại... cô yếu dần đi, tiếng o o bên tai và cô có cảm giác như mình bị ngạt thở. Cuối cùng cô ngất đi.
0
Chương XXVIII
GIỜ THỨ MƯỜI MỘT
 
Khi tỉnh lại, Frankie thấy trong người nôn nao vì phản ứng của Clô-rô-phoóc. Cô đang nằm trên một tấm gỗ, tay chân bị trói chặt. Cô cựa mình và ngã xuống bên một xô than. Cô đang ở đâu? Cô nhanh chóng nhận ra đây là một nhà kho, ánh sáng lờ mờ chiếu qua một cửa sổ nhỏ. Trong phòng có những bức tranh cũ dựa vào tường, một chiếc giường sắt đã han rỉ, hai hoặc ba chiếc ghế gãy cùng những thứ khác và một xô than.
Cô nghe thấy tiếng người rên trong góc phòng. Dây trói không chặt lãm, Frankie có thể lê người trên sàn nhà đầy bụi.
- Bobby?
Đúng là Bobby tay chân cũng bị trói chặt, hơn nữa, miệng bị nhét giẻ. Tuy bị trói nhưng Frankie cũng có thể giúp anh được việc gì đó.
Cuối cùng thì Bobby cũng đã gọi được tên Frankie.
- Tôi rất sung sướng khi nhìn thấy chúng ta cùng bị nhốt ở một nơi - Frankie nói nhỏ - Nhưng mọi người sẽ cho chúng ta là đồ ngốc, tôi tin là như vậy.
- Tôi cũng tin là như vậy - Bobby buồn bã nói theo.
- Chúng bắt anh như thế nào? Trước hay sau khi viết thư cho tôi?
- Tôi viết cho cô ư, tôi ấy? Tin mới đấy.
- Ô! Tôi ngu dại quá! Đáng lẽ tôi phải nghi ngờ... cả việc dặn là không cho ai biết chuyện này!
- Nghe đây, Frankie. Tôi sẽ kể chuyện mình cho cô nghe, sau đó đến lượt cô.
Anh nói về việc mình thâm nhập vào lâu đài La Grange mà đoạn cuối buồn thảm của câu chuyện là anh bị nhốt vào gác đựng đồ cũ này.
- Tỉnh lại tôi thấy mình đang nằm ở đây. Có một ít thức ăn, đồ uống đặt trên một chiếc khay. Đói quá tôi đành phải dùng. Có lẽ trong thức ăn có thuốc ngủ nên ăn xong tôi lại thiếp đi. Hôm nay là thứ mấy?
- Thứ sáu.
- Tôi bị đánh vào gáy đêm thứ tư. Từ bấy đến nay lúc nào tôi cũng ngây ngất. Nói xem, đã có chuyện gì xảy ra với cô?
Frankie kể lại chuyện mình từ khi cô gặp ông Spragge đến lúc cô nhìn thấy bóng của Bobby trước cửa ra vào.
- Chúng bắt tôi ngửi clô-rô-phoóc và tôi thấy tim mình đau nhói.
- Bây giờ chúng ta phải làm gì, Frankie?
- Nếu tôi nói về bức thư của anh cho Roger thì hay quá! Tôi cũng đã nghĩ đến chuyện này nhưng sau đó thấy cần làm đúng điều anh căn dặn.
- Và lúc này không một ai biết chúng ta đang ở đâu nữa. Bạn thân mến, hoàn cảnh không phải là kỳ cục đâu.
- Chúng ta đã quá tự tin.
- Có một điều làm tôi băn khoăn. Tại sao họ không giết chúng ta? Nicholson sẽ không run tay trước bất cứ tội ác nào.
- Chắc rằng hắn đã có một kế hoạch nào đó.
- Đúng thế. Chúng ta cũng có kế hoạch. Chúng ta phải ra khỏi đây. Làm thế nào nhỉ?
- Chúng ta kêu cứu thì sao?
- Một người nào đó có thể nghe thấy. Nhưng sự việc Nicholson không nhét giẻ vào miệng cô chứng tỏ chúng ta có kêu cũng vô ích. Hắn trói tay cô lỏng hơn. Tôi cởi trói bằng răng có được không?
- Trong tiểu thuyết thì những việc như thế này rất dễ dàng - Bobby thở dài nói tiếp - Nhưng tôi có cảm giác mọi cố gắng của mình đều không có tác dụng gì.
- Có chứ - Frankie cãi lại - Nút buộc đã lỏng ra rồi. Coi chừng! Có người đang đi lên!
Cô lăn ra xa. Những bước chân nặng nề trên cầu thang. Một ánh sáng chui qua khe cửa. Tiếng chìa khoá lạch xạch trong ổ và cánh cửa từ từ mở ra.
- Hai con chim gáy non của tôi ra sao rồi? - Bác sĩ Nicholson hỏi.
Hắn cầm trên tay một ngọn nến. Tuy vành mũ cụp xuống tận mắt, cổ áo khoác kéo cao lên che khuất nửa mặt, nhưng giọng nói của hắn không thể đánh lừa ai được.
Hắn ngấc đầu rồi nói bằng giọng đùa cợt:
- Tiểu thư thân mến, thật là không thể tha thứ được khi làm cho cô sa bẫy một cách dễ dàng như vậy.
Frankie và Bobby không nói một lời. Lúc này ưu thế ngả về Nicholson và họ cũng không biết trả lời ra sao.
Nicholson gắn cây nến lên một chiếc ghế. Hắn xem lại nút trói Bobhy và gật đầu. Tiếp đó hắn quay sang Frankie.
- Thời thơ ấu tôi thường nghe người ta nói những ngón tay có trước cái đã và người ta dùng răng trước khi dùng các ngón tay. Tôi phải xác nhận răng của bạn cô đã phải làm việc rất nhiều.
Một chiếc ghế lớn bằng gỗ sồi lưng gãy ở góc phòng.
Nicholson nhấc Frankie đặt lên chiếc ghế đó sau khi xem lại các nút dây trói tay chân cô.
- Tôi hy vọng là cô không khó chịu. Cô không phải đợi hình phạt lâu đâu.
Frankie lên tiếng.
- Ông định làm gì chúng tôi?
Nicholson cầm lấy ngọn nến và đi ra cửa.
- Tiểu thư Frances, cô đã chê trách tôi thích gây ra các vụ tai nạn. Có thể là đúng. Tôi đang chuẩn bị cho một vụ nữa.
- Ông muốn nói gì?
- Cô muốn biết trước ư? Vậy thì, thế này! Tiểu thư Frances Derwent đang lái xe có người tài xế ngồi bên. Cô gái cho xe đi vào con đường dẫn tới một mỏ đá cũ, chiếc xe lăn xuống vực. Tiểu thư Frances và người tài xế của cô chết ngay lập tức.
- Không nhất thiết như vậy - Bobby nhận xét - Phải tính đến việc có người nhìn thấy. Kế hoạch ở Galles của ông đã chẳng thất bại rồi sao?
- Sự thích ứng với moóc-phin của anh thật là kỳ diệu. Nhưng lần này thì anh với tiểu thư Frances sẽ chết, mãi sau đó người ta mới tìm thấy xác.
Bobby rùng mình. Giọng nói của Nicholson có vẻ hài lòng... Người ta nói đây là một nghệ sĩ đang ngắm nghía tác phẩm của mình.
- Ông nhầm rồi - Bobby quả quyết nói - Nhất là đối với Frankie.
- Đúng thế - Frankie nhấn mạnh - Trong bức thư giả mạo ấy, ông dặn tôi không cho ai biết mình đi đâu. Nhưng tôi đã nói việc này với Roger Bassington-ffrench. Anh ta biết cả rồi. Nếu có chuyện gì xảy ra với chúng tôi, anh ta sẽ tố cáo trước pháp luật. Tốt nhất là ông thả chúng tôi ra và rời khỏi nước Anh ngay lập tức.
Nicholson yên lặng một lúc.
- Tôi coi đây là một sự loè bịp - Hắn nói và đi ra cửa.
- Thế còn vợ ông thì sao? Ông đã giết bà ta ư? - Bobby hỏi.
- Moira hãy còn sống. Bao lâu nữa thì tôi không biết. Còn tuỳ thuộc vào hoàn cảnh.
Hắn chào hai người với vẻ giễu cợt.
- Tạm biệt! Tôi còn hai tiếng đồng hồ nữa để chuẩn bị mọi việc. Trong khi chờ đợi tôi cho phép hai người than thở về số phận của mình. Nhưng nếu các người kêu cứu, tôi sẽ đến để thanh toán các người.
Hắn đi ra và khoá cửa lại.
- Không đúng - Bobby nói - Sự việc không diễn ra như vậy.
- Trong các cuốn tiểu thuyết, bao giờ cũng có người cứu giúp xuất hiện vào giờ thứ mười một - Frankie nói để nhen nhóm lại lòng can đảm của họ.
- Đây là một tình huống khác thường. Tôi can đảm thấy Nicholson cũng là một người trong tưởng tượng. Tôi mong người cứu giúp đến vào giờ thứ mười một. Nhưng tôi không hiểu bằng cách nào người ấy có thể tới đây được?
- Nếu tôi nói chuyện với Roger thì hay quá.
- Có thể Nicholson đã nghĩ như vậy.
- Không. Hắn không nghĩ như vậy đâu. Con người ấy rất ranh ma.
- Ranh ma hơn chúng ta. Frankie, cô có biết cái làm tôi khổ tâm nhất không?
- Không.
- Đó là trong lúc chúng ta đang vội vã sang thế giới bên kia, chúng ta vẫn chưa biết ai là Evans.
- Tôi sẽ hỏi tên đao phủ của chúng ta... như là một đặc ân. Có thể hắn sẽ từ chối. Tôi cũng muốn biết như anh, Bobby. Tôi không muốn chết mà vẫn không biết Evans là ai.
Cả hai đều yên lặng, sau đó Bobby lên tiếng:
- Cô có nghĩ chúng ta nên kêu cứu không? Đây là may mắn cuối cùng...
- Chưa đâu. Vì trước hết không ai có thể nghe thấy... nếu không, tại sao hắn không nhét giẻ vào miệng chúng ta. Chỉ đến phút cuối cùng chúng ta mới nên kêu thôi. Tôi cảm thấy mình được an ủi là có anh ở bên và được nói chuyện với anh, Bobby.
Giọng nói của cô vỡ ra trong những tiếng cuối cùng.
- Frankie, tôi là người đưa cô vào câu chuyện tồi tệ này.
- Anh không nên tiếc nuối như vậy. Chính tôi muốn như thế. Anh có tin là hắn đang lập kế hoạch hành hình chúng ta không?
- Tôi rất sợ. Hắn có gan làm mọi chuyện.
- Cho đến lúc này anh có cho rằng hắn là người đã giết ông Henry Bassington-ffrench không?
- Nếu cái đó có thể...
- Có thể ư - với điều kiện: Bà Sylvia là kẻ tòng phạm.
- Frankie!
- Đúng thế. Ý nghĩ ấy làm tôi kinh tởm ngay từ đầu. Nhưng nghĩ lại, tại sao bà ta tỏ ra đui mù trước việc người chồng nghiện ngập như vậy?... Tại sao bà ta lại phản đối mạnh mẽ khi người ta không muốn đưa ông Henry đến lâu đài La Grauge? Hơn nữa bà ta đang ở trong nhà khi có tiếng súng nổ...
- Có thể bà ta là người bắn súng.
- Ô! Không!
- Tại sao lại không? Rồi bà ta đưa chìa khoá cho Nicholson để hắn nhét vào túi ông Henry sau đó.
- Cần phải có những dấu hiệu đặc biệt để nhận ra những kẻ giết người. Mắt, tai...
- Trời.
- Gì vậy?
- Frankie, đây là một Nicholson khác vừa đến gặp chúng ta.
- Anh điên rồi ư? Kẻ ấy là ai?
- Tôi không biết, nhưng đây không phải là Nicholson. Tôi có cảm giác rằng đây không phải là con người ấy nhưng không thể giải thích được tại sao. Cô vừa nói đến danh từ "tai" thì một chi tiết chợt nảy ra trong óc tôi. Tối hôm nọ, trong khi nhìn thấy Nicholson qua cửa sổ, tôi chú ý tai của ông ta thấy dái tai dính liền với má. Còn tai của kẻ vừa tới gặp chúng ta thì không như vậy.
- Cái đó có nghĩa là gì?
- Một diễn viên có tài đóng vai Nicholson.
- Để làm gì? Hắn là ai?
- Bassington-ffrench - Bobby trả lời - Roger Bassington-ffrench! Ngay từ đầu chúng ta đã coi hắn là thủ phạm rồi, sau đó, như những kẻ ngu ngốc, chúng ta đã thả mồi bắt bóng.
Frankie suy nghĩ một lúc.
- Roger Bassington-ffrench. Bobby, tôi cho rằng anh có lý. Chỉ có thể là hắn. Hắn đã có mặt trong lúc tôi nói ám chỉ về những vụ tai nạn với ông Nicholson. Vậy thì chẳng còn gì để hy vọng nữa... Không ai biết chúng ta đang ở đâu. Chúng ta thất bại rồi, Frankie!
Khi Bobby vừa nói xong câu đó thì có một tiếng động ngay trên đầu họ. Một lát sau một người từ cửa sổ con trên trần nhà rơi xuống.
- B-b-b-bobby!
- Trời ơi! Badger ư?
0
Chương XXIX
CÂU CHUYỆN CỦA BADGER
 
Không thể để lỡ một giây. Đã nghe thấy tiếng chân người lên thang gác.
- Nhanh lên, Badger! Cởi giày ra! Ném giày qua cửa sổ con trên trần nhà! Làm theo và cấm không được hỏi lại! Chui vào gầm giường! Nhanh lên, tôi bảo anh!
Có tiếng chìa khoá trong ổ.
Nicholson - Nicholson giả - Đứng trước cửa, tay cầm cây nến.
Hắn thấy Bobby và Frankie vẫn ở chỗ lúc nãy và những mảnh kính vụn trên sàn nhà. Ngạc nhiên hắn nhìn chân Bobby.
- Có lời khen anh, anh bạn - Hắn nói bằng giọng khô khan - Đây là một tiết mục nhào lộn hấp dẫn.
Hắn nhìn những nút giây và buộc thêm một vài nút nữa cho chặt.
- Tôi rất muốn biết làm thế nào anh có thể ném giày lên cửa sổ được. Thật là kỳ diệu.
Hắn nhìn hai tù nhân, nhìn lên cửa sổ rồi nhún vai và đi ra.
- Nhanh lên Badger!
Anh này từ gầm giường chui ra. Với một con dao nhíp anh cắt giây trói cho Bobby và Frankie.
- Ô - Bobby kêu lên- Tay chân tôi tê dại cả. Thế nào, Frankie, cô nghĩ thế nào về người bạn Nicholson của chúng ta?
- Anh có lý, đây đúng là Roger Bassington-ffrench. Bây giờ tôi đã nhận ra hắn. Hắn sắm vai bác sĩ Nicholson rất đạt, ít nhất là giọng nói và cặp kính.
- Tôi biết ở Oxford có một người tên là Roger Bassington-ffrench. Một diễn viên có t-t-tài, nhưng tư cách thì rất k-k-kém. Anh ta đã làm một tờ xéc g-g-giả mạo chữ ký của người c-c-cha. Ông già tống...tống anh ta ra khỏi nhà.
Frankie và Bobby cũng nghĩ như vậy. Hai người không mấy tin tưởng Badger nên không giải thích cho anh ta nhiều.
- Giả mạo chữ ký - Frankie nói - Lá thư đó cũng bắt chước chữ của Bobby. Bobby, làm thế nào mà hắn biết nét chữ của anh được?
- Có quan hệ với nhà Cayman thì chắc chắn hắn đã đọc bức thư của tôi gởi cho họ về Evans - Bobby lên tiếng than vãn.
- Bây... bây giờ c-c-chúng... chúng ta phải l-l-làm gì?
- Chúng ta nấp sau cánh cửa này - Bobby nói - Khi anh bạn của chúng ta trở lại (chắc chắn là hắn chưa trở lại ngay đâu), chúng ta sẽ quật ngã và trói hắn lại để hắn không kịp kêu. Anh nghĩ sao về việc này?
- Tôi tán thành.
- Còn cô, Frankie, khi nghe thấy tiếng chân bước lên, cô ngồi lên chiếc ghế cũ. Khi mở cửa, nhìn thấy cô hắn sẽ không nghi ngờ gì.
- Rất tốt. Khi các anh quật ngã hắn, tôi sẽ đến tiếp tay và bóp cổ hắn.
- Cô là một phụ nữ can đảm. Bây giờ, Badger, anh hãy kể lại làm sao mà anh tới đây được?
Tuy nói lắp nhưng Badger cũng cố gắng kể lại đầy đủ câu chuyện cho các bạn nghe. Làm ăn thất bại, nợ nần chồng chất, bị vướng vất với các chủ nợ và các mõ toà... Bobby lại bỏ đi mà không để lại địa chỉ mà chỉ nói mình lái chiếc Bentley đi Staverley. Thế là Badger đến Staverley.
- Tớ hy vọng cậu cho tớ vay n-n-năm... năm li-vrơ.
Bobby ân hận là đã bỏ mặc bạn để chơi trò thám tử cùng Frankie trong khi Badger làm việc còn nhiều lúng túng.
Câu chuyện của Badger như sau: Badger không tò mò về việc làm của bạn; anh tưởng sẽ dễ dàng gặp được Bobby nếu về làng Staverley và tìm ra chiếc Bentley màu xanh của Frankie. Và trước khi đến làng Staverley anh đã gặp chiếc xe ấy đậu ở trước một nhà trọ.
"Mình phải làm cậu ta ngạc nhiên" Badger nghĩ như vậy. Trên ghế sau của xe có chiếc chăn, xung quanh không có ai, chui vào xe, nằm đắp chăn chờ bạn...
Nhưng sự việc lại xảy ra khác hẳn. Một người đàn ông trong bộ đồng phục tài xế từ trong quán đi ra, lên xe và cho xe chạy. Badger hé mắt nhìn ra thấy đấy không phải là Bobby.
Trong lúc bối rối, Badger không biết phải giải quyết ra sao. Giải thích và xin lỗi rất không dễ dàng đối với người cho xe chạy tám chục ki-lô-mét-giờ. Badger quyết định mình sẽ lẻn ra khỏi xe khi xe đỗ lại.
Đến nơi - tức là Tudor Cottage - người lái xe cho xe vào nhà xe và vào trong nhà sau khi khoá xe cẩn thận. Badger bị cầm tù. Nửa tiếng đồng hồ sau. ,ua ô cửa sổ nhỏ của nhà để xe nhận ra, Badger thấy Frankie đi vào trong nhà.
Cảm thấy trong việc này có điều gì mờ ám, anh quyết định phải ra ngoài để thăm thú ngôi nhà.
Với vài dụng cụ trong xe, anh mở cửa xe, vào nhà để xe rồi vào trong nhà. Mọi cánh cửa tầng trệt đều gài chặt. Badger trèo lên mái nhà dự định vào trong nhà bằng một ô cửa sổ nào đó trên lầu một.
Việc trèo lên mái nhà không có gì là khó khăn vì đã có một ống máng. Trên mái nhà có một ô cửa sổ nhỏ lắp kính. Badger đã vô ý bước vào trong đó và rơi xuống kho chứa đồ cũ...
Bobby thở dài sau khi Badger kể xong câu chuyện.
- Badger thân mến, anh đã cứu mạng chúng tôi. Không có anh, tôi và Frankie sẽ là xác chết sau đây một tiếng đồng hồ nữa.
Anh cho Badger biết công việc mình và Frankie đang làm. Vừa nói xong anh giật mình:
- Có người tới. Frankie về vị trí. Đây là lúc chúng ta cho diễn viên Roger Bassington-ffrench một bài học.
Frankie ngồi trên chiếc ghế không có lưng tựa, làm ra vẻ lo ngại. Bobby và Badger nấp sau cánh cửa chuẩn bị chiến đấu.
Tiếng chân người nghe rõ dần, một tia sáng rọi qua khe cửa. Tiếng chìa khoá vặn trong ổ và cánh cửa mở rộng. Thấy Frankie đang ngồi trên ghế, tên coi ngục tiến đến bên cô.
Badger và Bobby nhảy bổ vào hắn.
Bị cú đòn bất ngờ. người ấy ngã xuống sàn nhà; cây nến văng ra xa và Frankie nhặt nó lên. Một phút sau, ba người bạn hài lòng đứng nhìn kẻ thù của họ bị trói chặt bằng chính những sợi giây hắn đã dùng để trói họ.
- Xin chào ông Roger Bassington-ffrench - Bobby nói - Đêm nay rất đẹp cho một đám tang!
0
Chương XXX
CHẠY TRỐN
 
Người nằm trên sàn trân trân nhìn họ. Mũ và kính của hắn đã rơi đâu mất trong cuộc vật lộn. Hắn không thể cải trang lâu hơn nữa. Những nét vẽ trên lông mày bật ra để lộ rõ đây là Roger Bassington-ffrench. Lúc này hắn nói bằng giọng nam cao rất đẹp:
- Trời! Tôi biết! Một người bị trói như anh không thể ném chiếc giày lên cửa sổ được. Nhưng vì chiếc giày của anh nằm trên những mảnh kính vỡ nên tôi không chú ý nữa.
Vì không ai trả lời nên hắn nói tiếp:
- Các người đã thắng cuộc. Việc kết thúc bất ngờ và dễ chịu. Tôi đã làm cho các người hiểu lầm.
- Không phải là anh thất bại hoàn toàn. Chính anh là người viết bức thư mạo danh Bobby, đúng không?
- Tôi có tài bắt chước.
- Anh đã bắt cóc Bobby như thế nào?
Roger có vẻ thích chí khi kể lại câu chuyện.
- Khi anh ta vào lâu đài La Grauge thì tôi nấp trong một bụi cây bên đường. Khi anh ta bị rơi từ cành cây xuống và chạy thoát ra ngoài, đợi cho yên tĩnh trở lại tôi đập vào gáy anh ta bằng chiếc dùi cui cao su. Tôi mang anh ta vào xe của tôi và cho xe chạy tới đây. Sáng sớm hôm sau tôi trở lại lâu đài Merroway.
- Còn Moira? - Bobby hỏi - Anh đã bắt và mang cô ta đi đâu?
Roger lại cười.
- Anh Bobby, giả mạo là một nghệ thuật có ích.
- Đồ thú vật!
Frankie vội can thiệp. Sự tò mò của cô chưa được thoả mãn và người bị cầm tù có vẻ chưa nói hết.
- Tại sao anh lại cải trang thành bác sĩ Nicholson?
- Tại sao ư? (có vẻ như Roger đang hỏi lại chính mình). Để xem tôi có thể đánh lừa được hai người không. Các người cho Nicholson là kẻ có tội. Đơn giản chỉ vì ông ta đã hỏi một cách nghiêm chỉnh về vụ tai nạn của các người. Đó là cái tật kỳ cục của ông ta: làm sáng tỏ mọi chi tiết.
- Như vậy bác sĩ Nicholsoll vô tội ư? - Frankie hỏi.
- Vô tội như đứa trẻ mới sinh ra. Nhưng ông ta đã giúp đỡ tôi rất nhiều khi hỏi về vụ tại nạn của cô. Một buổi sáng, cô gọi điện thoại, tôi đứng gần đấy, tôi nghe thấy người tài xế gọi cô là "Frankie". Tai tôi rất thính. Tôi hỏi đi nhờ xe. cô đã nhận lời, nhưng sau khi tôi nói mình không đi nữa thì cô lại có vẻ như được an ủi. Tại sao cô không thích ông ta nói về những nhầm lẫn của mình? Người ta không thể thấy trước được mọi vấn đề. Những kế hoạch lập ra đôi khi cũng bị đổ vỡ ví dụ như thất bại của tôi lúc này.
- Tôi muốn biết thêm một chi tiết nữa - Frankie hỏi- Ai là Evans?
- Không. Cô không biết ư? - Roger Bassington-ffrench phá lên cười rồi hỏi lại - Thật là kỳ cục! Đó là điểm có thể chứng tỏ người ta còn quá ngu ngốc.
- Anh muốn ám chỉ điều gì?
- Không... tôi nói tôi đấy thôi. Nếu các người không biết ai là Evans, thì tại sao tôi lại phải giải thích cho các người! Tôi giữ lại cho mình một điều bí mật nhỏ.
Tình huống thật khác thường. Roger Bassington-ffrench là tù nhân của họ, bị trói chặt, nằm trên sàn nhà lại có vẻ là người thắng cuộc.
- Tôi có thể biết dự kiến của các người không? - Hắn hỏi họ.
Chưa ai nghĩ đến chuyện này. Bobby lẩm bẩm mấy câu trong đó có danh từ cảnh sát.
- Đó là cách giải quyết đúng nhất - Roger công nhận - Hãy gọi điện thoại cho đồn cảnh sát gần nhất và nộp tôi cho họ. Người ta sẽ ghép tôi vào tội bắt cóc. Thật là khó chối cãi, nhưng tôi sẽ nói tôi đang theo đuổi một mối tình không thể cưỡng lại được.
Nói xong Roger nhìn Frankie làm cô đỏ mặt lên.
- Anh phải trả lời về vụ giết người!
- Chứng cứ đâu, các vị? Các vị không thể cung cấp một chứng cứ nào cả.
- Badger! - Bobby bảo bạn - Cậu ở lại đây để canh chừng kẻ ranh mãnh này trong khi tôi đi gọi điện thoại cho cảnh sát.
- Hãy cẩn thận - Frankie góp ý kiến - Có thể có bọn tay chân trong nhà này.
- Ở đây chỉ có một mình tôi thôi - Roger khẳng định.
- Tôi không tin anh - Bất chợt Bobby nói. Anh cúi xuống để kiểm tra các nút dây trói.
- Hắn không thể cựa quậy được nữa rồi. Chúng ta cùng đi và khoá cửa lại.
- Anh đa nghi quá, anh bạn - Roger nói - Nếu muốn thì anh cầm lấy khẩu súng trong túi tôi.
Coi khinh giọng điệu chế giễu của tù nhân, Bobby cúi xuống lấy khẩu súng.
- Coi chừng! Súng đã nạp đạn rồi đấy.
Bobby cầm lấy cây nến và cả ba cùng ra khỏi phòng để lại Roger một mình trong đó. Bobby khoá cửa cẩn thận rồi cho chìa khoá vào túi, tay vẫn lăm lăm khẩu súng.
- Tôi đi trước.
- Một con c-c-chim kỳ... kỳ cục - Badger nói về người đang bị nhốt trong kho đồ cũ.
- Dù sao hắn cũng là kẻ biết chơi - Frankie nói.
Ngay lúc này cô vẫn còn một chút cảm tình với con người kỳ lạ ấy.
Một cầu thang nhỏ dẫn lên lầu một. Trên đây hoàn toàn yên lặng. Bobby nhìn thấy một chiếc máy điện thoại trong phòng xép.
- Chúng ta hãy kiểm tra những căn phòng trước khi đi xa hơn. Coi chừng có kẻ đánh đằng sau chúng ta.
Badger mở cửa từ căn phòng này đến căn phòng khác. Ba căn phòng đều trống không, vào căn phòng thứ tư họ thấy một người nằm trên giường.
- Đây là Moira! - Frankie kêu lên.
Hai chàng trai tiến lại. Moira hãy còn thở, có lẽ cô ta mới chỉ ngất đi thôi.
- Cô ta ngủ ư? - Bobby lo ngại hỏi.
- Tôi cho rằng người ta đã cho cô ấy uống thuốc ngủ - Frankie nói.
Cô quan sát căn phòng và thấy một ống tiêm đặt trên chiếc điã để trên gờ cửa sổ, bên cạnh là chiếc đèn cồn và một hộp kim tiêm.
- Cô ta sẽ tỉnh lại thôi nhưng dù sao chúng ta cũng phải gọi một bác sĩ.
Cả ba người cùng đi xuống gác xép. Bobby gọi điện thoại cho cảnh sát địa phương tuy anh rất khó giải thích sự việc. Cảnh sát cho đây là một chuyện bông đùa.
Bobby gác máy và thở dài. Anh cũng yêu cầu một bác sĩ, cảnh sát hứa sẽ mời giúp anh.
Mười phút sau, một chiếc xe hơi đậu trước ngôi nhà Tudor Cottage. Một viên thanh tra, một viên công tố đứng tuổi xuống xe.
Sau khi giải thích mọi chi tiết của sự việc, Bobby và Frankie dẫn họ lên kho đồ cũ. Bobby mở cửa... và đứng sững lại: giữa nhà chỉ có một đống giây thừng và trên giường có một chiếc ghế.
Roger Bassington-ffrench không còn ở trong phòng nữa. Hắn đã trốn thoát theo ô cửa sổ nhỏ trên trần nhà
- Làm thế nào mà hắn có thể cởi giây trói được - Bobby kêu lên.
- Có thể trong túi hắn có dao nhíp - Frankie nhận định.
- Nhưng hai tay bị trói ở đằng sau kia mà?
Viên thanh tra húng hắng ho. Những nghi ngờ đầu tiên của ông xuất hiện. Ông cho rằng cảnh sát đã bị mang ra để bông đùa.
Bobby và Frankie phải giải thích một lúc lâu nhưng chưa thuyết phục nổi ông thanh tra. Ông bác sĩ bắt tay vào việc.
Sau khi xét nghiệm, ông tuyên bố người phụ nữ bị đầu độc bằng moóc-phin hoặc một chất gì đó lấy ra từ thuốc phiện. Ông cho rằng cô ta sẽ tỉnh lại vào sau bốn hoặc năm giờ tới. Ông yêu cầu đưa người bệnh vào một trạm cấp cứu gần đấy.
Bobby và Frankie không có ý kiến gì. Họ nói tên tuổi của mình cho viên cảnh sát ghi lại và rời khỏi Tudor Cottage. Theo mệnh lệnh của viên thanh tra, họ tới trọ tại khách sạn Bảy Ngôi Sao.
Bị mọi người coi là kẻ gian, ba người trở về phòng của mình; một phòng hai giường cho Bobby, Badger và một phòng nhỏ hơn cho Frankie.
Một vài phút sau Bobby nghe thấy tiếng gõ cửa. Frankie bước vào.
- Tôi nghĩ đến việc - cô báo tin - Nếu viên thanh tra cảnh sát cứ khăng khăng cho rằng chúng ta bịa chuyện thì tôi có thể chứng minh là tôi đã bị đánh thuốc mê bằng clô-rô-phoóc.
- Tại sao?
- Tôi vẫn như đang bị say sóng.
0
Chương XXXI
CÂU CHUYỆN CỦA FRANKIE
 
Suốt ngày mệt nhọc, sáng hôm sau Frankie dậy muộn. Mười giờ ba mươi thì cô xuống nhà để ăn sáng. Bobby đang đợi cô.
- Cuối cùng thì cô đây rồi, Frankie - Bobby nói.
- Xin chào, anh bạn - Frankie nói và đi lấy một chiếc ghế - Sáng nay anh gọi món ăn đấy.
- Cô dùng gì? Trứng hay là thịt nguội?
- Tôi muốn có trà và vịt quay… Nhưng anh làm sao vậy?
- Đó là hậu quả của cú đánh vào gáy... chắc chắn nó ảnh hưởng đến não. Tôi cảm thấy như mình là một con người mới, suy nghĩ nhanh chóng, sáng suốt mọi vấn đề.
- Chúng tôi muốn biết kết quả suy nghĩ của anh.
- Có đây. Tôi vừa làm việc trong nửa tiếng đồng hồ với thanh tra Hammond. Lúc này, Frankie, đến lượt cô đùa rỡn đấy.
- Bobby, anh không nên nghĩ...
- Tôi nói lúc này kia mà. Chúng ta phải tìm ra cái bí mật căn bản của vụ này. Chúng ta không tóm cổ Roger Bassington-ffrench về tội bắt cóc… Tôi muốn người ta bắt hắn về tội giết người.
- Chúng ta sẽ không đạt được cái đó đâu - Frankie tuyên bố.
- Đây là điều tôi nói - Bobby xác nhận - Cô dùng trà nữa đi.
- Moira ra sao rồi?
- Tình hình xấu. Cô ta sợ chết khiếp khi tới trạm cấp cứu. Người ta đã gửi cô đi Londres để vào một trại điều dưỡng ở Queen's Gate. Ở đấy cô ta sẽ được an toàn.
- Chị ta vốn thiếu can đảm.
- Ai cũng phải sợ kẻ giết người như loại Roger Bassington-ffrench.
- Hắn không tìm cách giết chị ta đâu. Hắn muốn sát hại chúng ta kia.
- Bây giờ, Frankie, chúng ta bắt tay vào việc. Việc trước tiên là điều tra về cái chết và bản di chúc của ông John Savage…
- Nếu thủ phạm là Roger Bassington-ffrench thì đó là một bản di chúc giả... vì hắn có tài bắt chước nét chữ.
- Hắn vừa phạm tội giả mạo, vừa phạm tôi giết  người.
Frankie gật đầu.
- Tôi đã được xem bản di chúc. Những người làm chứng là Rose Cludleigh - người nấu bếp và Albert Mere - người làm vườn. Chúng ta dễ dàng tìm ra những người này. Cũng có cả các ông Elford và Leigh là các công chứng viên xác nhận bản di chúc. Ông Spragge nói hai ông này là những người đứng đắn.
- Tốt. Chúng ta bắt đầu từ đây. Frankie, cô đi gặp các ông ấy. Cô biết rõ loại việc này hơn tôi; tôi, tôi sẽ đi tìm bà Rose Cludleigh và ông Albert Mere.
- Badger ra sao rồi?
- Anh chàng không dậy trước buổi trưa được đâu.
- Chúng ta phải giúp anh ấy về mặt công ăn việc làm - Frankie nói - Anh ấy đã cứu chúng ta thoát chết.
- Khốn thay, anh chàng không giỏi về tính toán kinh doanh, sẽ lại lúng túng thôi... Bây giờ, Frankie, cô nghĩ thế nào về cái này?
Anh đưa cho bạn một mẩu giấy dày hơi nhem nhuốc - một tấm ảnh.
- Lão Cayman - Frankie nói ngay - Anh thấy nó ở đâu?
- Tôi nhặt được nó dưới máy điện thoại đêm hôm qua.
- Rõ ràng là vợ chồng nhà Cayman còn có tên là Templeton nữa.
Cùng lúc ấy người hầu gái mang thức ăn tới. Frankie cho cô ta xem tấm ảnh.
- Cô có biết ai đây không? - Cô hỏi.
Cái đầu nhỏ bé cúi xuống, cô người hầu nhìn tấm ảnh.
- Tôi đã nhìn thấy người này, nhưng tôi không nhớ đây là ai… A! đúng rồi, đây là người sống ở Tudor Cottage... ông Templeton, ông ta và vợ đã ra nước ngoài rồi.
- Cô biết những gì về ông này?
- Không nhiều lắm - ít khi họ tới đây... chỉ một vài lần vào dịp cuối tuần thôi. Bà Templeton là một phụ nữ xinh đẹp. Họ ở Tudor Conage khoảng sáu tháng... cho đến khi một ông giàu có chết đi để lại toàn bộ gia tài cho bà Templeton. Sau đó họ rời khỏi làng. Nhưng họ chưa bán nhà. Hình như họ cho bạn bè mượn lại để nghỉ cuối tuần. Có bạc triệu thì không ai sống ở đây.
- Gia đình họ có một bà nấu bếp tên là Rose Cludleigh, đúng không?
Nhưng cô hầu bàn không biết. Cô bỏ đi sau khi trả lời mình không biết ai là người nấu bếp trong ngôi nhà ấy.
Điều đó rõ ràng là vợ chồng nhà Cayman đã rời khỏi đây nhưng chúng còn để lại chỗ ở cho bè lũ.
Theo sự phân công của Bobby, Frankie đi mua bán một vài thứ về tắm giặt sau đó lên chiếc Bentley và phóng đi còn Bobby thì đi tìm ông Albert Mere, người làm vườn.
Hai người trở về khách sạn vào giữa trưa.
- Thế nào? - Bobby hỏi.
Frankie lắc đầu.
- Có lẽ đây không phải là di chúc giả. Tôi đã nói chuyện với ông Elford, một ông già đáng mến. Ông ấy đã hỏi thăm chúng ta sau sự việc đêm hôm qua. Sau đó tôi hỏi ông về ông Savage. Tôi nói rằng mình đã gặp thân nhân của ông này, họ cho rằng đây là di chúc giả. Ngay lập tức, ông già nổi giận, ông nói không thể như vậy được. Chính ông đã ngồi nói chuyện với ông Savage... ông Elford còn yêu cầu ông Savage đến văn phòng của mình để hoàn chỉnh lại bản di chúc nữa. Anh biết rõ, đây là công việc phải viết nhiều trang giấy chứ không nói đến việc...
- Tôi không biết. Tôi chưa bao giờ viết di chúc.
- Còn tôi thì đã hai lần rồi. Lần cuối cùng là sáng hôm nay. Tôi phải kiếm cớ để gặp một ông chưởng khế.
- Cô để lại gia tài của mình cho ai?
- Cho anh...
- Thật là dại dột! Nếu Roger Bassington-ffrench cho cô về chầu với tiên tổ thì tôi cũng bị hắn treo cổ.
- Tôi không nghĩ như vậy. Như đã nói, sốt ruột muốn cho chóng xong việc này, ông Savage đã gọi người nấu bếp và người làm vườn đến làm chứng. Sau đó ông Elford mang bản di chúc về bảo quản cẩn thận trong két sắt của mình.
- Tố cáo việc làm di chúc giả không đứng vững nữa.
- Không thể tố cáo làm giả khi chính mắt thấy người ta ký tên vào văn bản. Cũng rất khó tố cáo tội giết người vì ông bác sĩ chứng kiến giây phút cuối cùng của ông Savage cũng đã qua đời. Những người mà chúng ta quen biết thì mới đây chừng hai tháng thôi.
- Danh sách những người chết ngày càng dài thêm - Bobby nhận xét.
- Còn ai nữa?
- Ông Albert Mere.
- Và anh nghĩ rằng bọn chúng đã giết những người này ư?
- Đúng thế. Riêng về ông Albert Mere thì không dám khẳng định. Đó là ông già bảy mươi hai tuổi rồi.
- Có thể đây là cái chết tự nhiên. Thế còn bà Rose Cludleigh thì sao?
- Phải, sau khi thôi việc ở nhà Templeton, bà ta đã lên phía bắc nước Anh để lấy chồng, người chồng chưa cưới sau bảy năm chờ đợi. Nhưng bà đã bị mọi người quên lãng. Có lẽ cô thử tìm cách hỏi chuyện bà ta xem sao.
- Tôi sẽ cố gắng... Badger đâu nhỉ?
- Trời! Tôi hoàn toàn quên mất anh ấy.
Bobby đứng lên và chạy ra khỏi phòng. Một vài phút sau, anh trở lại.
- Anh chàng vẫn còn ngủ nhưng sắp dậy bây giờ.
- Nào chúng ta đi thăm bà nấu bếp.
Bà Rose Cludleigh nay tên là bà Pratt sống trong một ngôi nhà nhỏ có đồ gỗ chắp vá và những con chó bằng sứ. Bà Pratt là một phụ nữ to béo.
- Bà thấy không, tôi đã trở lại - Bobby báo tin.
Bà Pratt thở mạnh, nhìn hai người mà không nói gì.
- Chúng tôi quan tâm đến việc bà đã giúp việc gia đình bà Templeton một thời gian - Frankie giải thích.
- Đúng thế, thưa cô.
- Bây giờ họ đang sống ở nước ngoài - Frankie nói tiếp cố gắng tỏ ra mình là người bạn của gia đình.
- Người ta nói như vậy.
- Bà đã làm việc với gia đình này lâu chưa?
- Gia đình nào, thưa cô?
- Gia đình bà Templeton.
- Ồ! Không... chỉ có hai tháng thôi.
- Tôi tưởng rằng bà ở đấy lâu hơn.
- Có lẽ cô nói về Gladys, bà hầu phòng. Bà ta đã làm việc ở đấy sáu tháng.
- Hai người cùng chung sống với nhau ư?
- Vâng. Bà ấy làm hầu phòng, tôi nấu bếp.
- Bà ấy ở đâu khi ông Savage qua đời?
- Cô nói gì?
- Bà có ở Tudor Cottage khi ông Savage qua đời không?
- Ông Templeton không chết... đó là điều tôi biết. Ông ấy đi ra nước ngoài.
- Không phải là ông Templeton mà là ông Savage kia.
Bà Pratt ngơ ngác nhìn họ.
- Người để lại toàn bộ tài sản cho bà Templeton ấy.
Một tia chớp thoáng qua óc bà Pratt.
- A! Vâng thưa cô... Cái ông mà người ta đến làm biên bản sau khi chết ấy ư?
- Đúng là ông ấy. Ông ta thường đến Tudor Cottage, đúng không?
- Tôi không biết. Tôi mới tới đây làm việc. Bà Gladys thì biết đấy.
- Nhưng bà đã ký làm chứng vào bản di chúc kia mà?
Bà Pratt có vẻ không hiểu gì.
- Bà có nhìn thấy ông Savage ký vào một tờ giấy và sau đó thì bà ký tiếp không?
Lại một tia chớp nữa.
- Vâng, thưa cô. Tôi và ông Albert. Chưa bao giờ tôi làm việc này nên tôi không muốn, nhưng bà Gladys đã bảo tôi không sao cả khi ông Elfort có mặt ở đấy. Đó là ông chưởng khế đúng đắn.
- Ai yêu cầu bà ký tên? - Bobby hỏi.
- Bà chủ, thưa ông. Bà chủ vào bếp bảo tôi đi tìm ông Albert lên một căn phòng rất đẹp trên lầu với bà ấy (bà ta dã nhường phòng này cho khách). Ông khách đang nằm... ông ta từ Londres đến và đến nơi thì ông ta nằm ngay. Đây là lần đầu tiên tôi thấy ông ta. Ông Elfort cũng đứng trong phòng, ông chưởng khế bảo tôi không nên sợ hãi gì, chỉ việc ký tên vào dưới chữ ký của ông khách... Ký xong tôi còn ghi thêm địa chỉ nữa, ông Abert cũng là như vậy. Trở về tôi nói với bà Gladys là trông ông ta quá ốm yếu. Bà Gladys bảo trước kia ông ta rất mạnh khoẻ, sau bị một tai nạn gì đó ở Londres.
- Và ông Savage, cái ông ký vào tờ giấy như bà nói, chết khi nào?
- Ngay sáng hôm sau, thưa cô. Đêm trước ngày chết ông ta vào phòng và yêu cầu không ai làm phiền ông. Sáng hôm sau, bà Gladys vào trong phòng để quét dọn thì ông ta đã tắt thở, trên giường có bì thư đề: "Kính gởi ông Chánh án". Ô! Bà Gladys bị một phen hú vía. Sau đó thì điều tra, biên bản và mọi việc khác. Hai tháng sau, bà Templeton bảo tôi bà ấy đi ra nước ngoài và đã sắp xếp cho tôi một việc ở miền bắc nước Anh. Trước khi đi bà ta còn tặng tôi một kỷ niệm rất đẹp.
Đến đây bà Pratt tỏ ra thích nói chuyện.
Frankie đứng lên.
- Tôi xin cảm ơn bà về những tin tức ấy. Xin phép bà... (Frankie nhét vào tay bà một tờ giấy bạc). Chúng tôi đã làm mất thì giờ của bà.
- Cảm ơn cô. Chúc cô và chồng cô may mắn.
Flankie đỏ mặt và vội vàng đi ra. Bobby ở lại hỏi thêm bà nấu bếp một vài câu gì đó rồi đi theo Frankie.
- Tôi tin rằng cô đã làm cho bà Pratt nói tất cả những gì bà ta biết.
- Phải, tất cả đều đã rõ ràng. Không nghi ngờ gì nữa. Ông Savage đã tự tay ký vào bản di chúc và nỗi lo sợ mắc chứng ung thư là thực tế. Người bác sĩ giỏi ở Harley Street có thể bị mua chuộc. Vì ông Savage đã ký bản di chúc rồi nên chúng đã nhanh chóng loại bỏ ông ta, sợ rằng ông thay đổi ý kiến.
- Nhưng làm thế nào chứng minh được điều này?
- Chúng ta có thể giả thiết mụ Templeton đã cho ông Savage "uống một cái gì đó", nhưng chúng ta không có chứng cứ. Có thể Roger Bassington-ffrench là người đã viết bức thư gửi ông chánh án. Một lần nữa, làm thế nào để chứng minh được? Đã lâu như vậy thì bức thư ấy có thể bị huỷ đi sau khi đã đưa ra trước toà.
- Và chúng ta cùng đi đến một câu hỏi hóc búa: Roger Bassington-ffrench quỉ quyệt cùng bè lũ đang giấu giếm chúng ta điều gì?
- Cái đó làm cô đặc biệt quan tâm ư, Frankie?
- Không... Nhưng dù sao có một chi tiết làm tôi băn khoăn mãi. Vì lý do nào mà mụ Templeton lại đi tìm người làm vườn để ký vào bản di chúc trong khi bà hầu phòng vẫn ở trên nhà? Tại sao không là bà hầu phòng?
- Không ai cho cô câu trả lời ư, Frankie?
Bobby hỏi câu đó bằng một giọng rất lạ lùng khiến Frankie quá đỗi ngạc nhiên.
- Khi cô ra khỏi nhà tôi ở lại hỏi bà Pratt về tên họ của bà Gladys.
- Rồi sao nữa?
- Bà hầu phòng tên là Evans!
0
Chương XXXII
EVANS
 
Frankie sững sờ.
- Bây giờ thì cô hiểu chứ! - Bobby như bị kích động kêu lên - Câu hỏi của cô rất giống câu hỏi của ông Alan Carstairs. Tại sao không là bà hầu phòng? Tại sao không là Evans?
- Ô! Bobby, chúng ta thành công rồi!
- Cái điều nghịch thường ấy cũng đã xuất hiện trong tâm trí của ông Alan Carstairs và thế là ông ấy đi tìm những chuyện khác thường trong bản di chúc. Theo tôi, ông ấy đến Galles cũng vì lý do ấy.
Gladys Evans là cái tên thường thấy ở Galles và chắc hẳn bà Evans là người vùng này. Ông Carstairs về Marchbolt tìm bà Evans nhưng bị một kẻ nào đó theo dõi… và ông ta không gặp được bà này.
- Nhưng tại sao người ta không gọi bà Evans đến ký vào bản di chúc? - Frankie nhắc lại - chắc chắn có lý do, mà là lý do quan trọng. Đã có hai bà giúp việc trong nhà, tại sao lại đi gọi ông làm vườn?
- Thế này: Rose Cludleigh và Albert Mere là những kẻ ngốc nghếch, còn Evans là một phụ nữ thông minh.
- Còn vấn đề nữa. Ông Elford lúc ấy cũng có mặt tại đấy, chắc chắn ông ấy sẽ nhận ra những chuyện gian dối nếu có. Bobby, đây là cái nút phải gỡ cho ra: Tại sao người ta dùng bà Cludleigh và ông Mere làm nhân chứng chứ không dùng bà Evans? Mọi điều bí mật là ở đấy... Khoan đã! Có phải do...
Frankie đứng yên, nhìn thẳng phía trước nhưng hình như không trông thấy gì cả, sau đó lại nhìn Bobby, mắt sáng lên một cách khác thường.
- Bobby, khi anh được mời đến nghỉ tại một ngôi nhà có hai bà hầu thì anh cho ai tiền thưởng trước?
- Cho bà hầu phòng. Người ta không thưởng bà nấu bếp vì đơn giản là người ta không nhìn thấy bà này bao giờ.
- Không thường xuyên nhìn thấy thôi. Nếu anh ở lâu ở nhà bạn và hay đi lại thì đôi khi anh cũng nhìn thấy bà nấu bếp. Còn bà hầu phòng thì hàng ngày mang bữa ăn sáng vào phòng cho anh, phục vụ bàn ăn cho anh...
- Cô muốn dẫn tôi đi đâu đây, Frankie?
- Người ta không gọi bà Evans đến ký tên vào bản di chúc vì bà ta sẽ nhận ra người để lại di chúc không phải là ông Savage.
- Frankie, vậy người đó là ai?
- Roger Bassington-ffrench! Hắn đóng giả và thế chân ông Savage. Tôi cũng khẳng định là chính Roger đã đi khám bác sĩ và đã sáng tác ra câu chuyện ung thư. Sau đó hắn cho người đi mời ông chưởng khế, người chưa bào giờ biết mặt ông Savage nhưng lại sẵn sàng thề đã chứng kiến ông này ký tên vào bản di chúc trước hai nhân chứng mà một người lần đầu tiên nhìn thấy "ông Savaga" còn người kia thì mắt kém và chưa chắc gặp người ký di chúc lần nào. Anh hiểu chứ?...
- Nhưng lúc ấy ông Savage thật ở đâu?
- Ông ta ở Londres. Nhưng tôi giả thiết rằng ông ta đã bị nhốt ở kho đồ cũ trước đó để Roger Bassington-ffrench có đủ thời gian làm trò lừa đảo của mình. Sau đó hắn giết ông bằng clô-rô-phoóc và đặt ông lên giường để bà Evans thấy ông đã chết vào sáng hôm sau.
- Frankie, tôi công nhận ý kiến cô là đúng, nhưng làm thế nào để chứng minh được?
- Tôi không biết...ít nhất là đưa cho bà Rose Cludleigh, tức là bà Pratt, xem một bức ảnh của ông Savage. Có thể bà này sẽ nói: "Đây không phải là người ký bản di chúc!"
- Tôi không tin vì bà ta quá ngu dại.
- Chính vì thế nên người ta mới chọn bà ấy. Nhưng nếu có một nhà chuyên môn có thể biết chữ ký giả thì sao?
- Nhưng toà án đã không làm được việc này.
- Vì không ai nêu vấn đề này lên. Cho đến lúc này không ai nghĩ đây là một bản di chúc giả. Bây giờ thì khác rồi.
- Trước hết - Bobby nói - Chúng ta phải tìm cho ra Gladys Evans. Chắc chắn bà này biết nhiều chuyện. Xin nhớ là bà ấy đã làm việc cho nhà Templeton trong sáu tháng.
- Tìm bà ta ở đâu?
- Chúng ta thử hỏi trạm bưu điện xem - Bobby gợi ý.
Hai người cùng tới trạm bưu điện.
Frankie bước vào và bắt chuyện.
Trong trạm chỉ có một nhân viên nhận và phát thư. một cô gái mũi dài một cách kỳ cục.
Frankie mua vài con tem, nói chuyện thời tiết rồi cuối cùng nói thêm:
- Ở đây thời tiết dễ chịu hơn địa phương chúng tôi. Tôi ở Galles… tại làng Marchbolt. Cô không biết ở vùng chúng tôi trời mưa như thế nào đâu.
Cô gái mũi dài nói ở đây cũng đang trong mùa mưa và chủ nhật trước trời mưa tầm tã suốt ngày.
Frankie nói:
- Ở làng Marchbolt tôi đã có dịp gặp một người sinh trưởng tại đây. Bà ta tên là Evans... Gladys Evans. Có thể cô biết bà này, đúng không?
Người thu phát thư trả lời không chút nghi ngờ:
- Đúng thế. Tôi biết bà này. Bà ấy làm việc ở Tudor Cottage. Bà ấy không phải là người ở đây mà từ Galles tới. Bà ấy đã trở lại đấy để lấy chồng. Bây giờ bà ấy là bà Roberts.
- Cô có biết chính xác bà ta đang ở đâu không? Tôi mượn của bà ta chiếc áo đi mưa nhưng quên chưa trả lại. Nếu biết địa chỉ tôi sẽ gìn trả theo đường bưu điện.
- Dễ thôi. Thỉnh thoảng bà ấy có gửi cho tôi một tấm bưu ảnh. Vợ chồng bà ấy làm việc cùng một nơi. Xin đợi một phút.
Cô gái lục trong đống giấy tờ. Sau đó cô đặt một tờ giấy lên quầy.
- Đây!
Bobby và Frankie cùng cúi xuống đọc. Họ không đợi một sự bất ngờ như vậy: "Bà Roberts, nhà xứ làng Marchbolt, Galles".
0
Chương XXXIII
QUÁN CÀ PHÊ PHƯƠNG ĐÔNG
 
Khi còn ở trong trạm bưu điện, Bobby và Frankie chưa dám nói gì với nhau. Ra đến ngoài, họ nhìn nhau và cười phá lên.
- Ở nhà xứ - Bobby kêu lên.
- Thế mà tôi đã mất công đọc bốn trăm tám mươi địa chỉ của những người có tên là Evans trong danh bạ điện thoại - Frankie than thở.
- Bây giờ thì tôi hiểu tại sao Roberts Bassington-ffrench thách thức chúng ta tìm ra người có tên là Evans liên quan đến vụ này.
- Chúng ta phải trở về làng Marchbolt ngay.
- Nhưng chúng ta phải làm cái gì đó cho anh chàng Badger khốn khổ đã. Cô có tiền đấy không, Frankie?
Cô gái lấy trong túi xách tay ra một nắm giấy bạc.
- Đưa cho anh ấy để về trả nợ. Cha tôi sẽ mua lại xưởng sửa chữa ôtô ấy và cử anh ấy làm người quản lý. Chúng ta đi thôi!
- Tốt - Bobby xác nhận - Tôi đi gặp Badger còn cô thì ra xe cho nổ máy đi.
Năm phút sau, hai bạn nhanh chóng rời khỏi làng Chipping Somerton.
Bất chợt Frankie kêu to:
- Không cho xe chạy nhanh thế, Bobby!
Kim đồng hồ chỉ một trăm hai mươi kilômét/giờ.
- Nhưng biết làm thế nào được?
- Chúng ta sẽ đi bằng máy bay. Chỉ còn cách phi trường Medeshot mười kilômét nữa thôi. Chúng ta sẽ tới đó trước hai giờ.
- Được! Đi máy bay!
Tới Medeshot. Frankie yêu cầu được gặp ông Donald King. Một người trẻ tuổi, áo quần nhàu nát hiện ra. Anh ta ngạc nhiên khi trông thấy Frankie.
- Chào Frankie. Đã một thế kỷ nay chúng ta không gặp nhau. Cô muốn gì?
- Một chiếc máy bay. Hình như anh phụ trách loại phương tiện vận chuyển này, đúng không?
- Phải. Cô đi đâu?
- Tôi muốn về nhà càng nhanh càng tốt.
Donald King cau mày:
- Có vậy thôi ư?
- Phải. Lúc này thì như vậy.
- Chúng tôi sẽ thoả mãn yêu cầu của cô ngay lập tức.
- Tôi gửi anh tấm séc.
Năm phút sau thì họ đã ở trên không trung.
- Tại sao lại phải đi bằng máy bay, Frankie?
- Tôi có dự cảm rằng chúng ta không được để mất một giây đồng hồ nào. Anh thì sao?
- Thật kỳ lạ. Tôi cũng thấy như vậy nhưng không thể giải thích được tại sao. Bà Roberts của chúng ta có thể bay đi mất...
- Ai mà biết được? Chúng ta không thể đoán trước được ý đồ của Roger Bassington-ffrench.
- Đúng thế.
Máy bay hạ cánh xuống bãi cỏ bên cạnh lâu đài, và một vài phút sau, Bobby và Frankie tới làng Marchbolt bằng chiếc xe của ngài quận công Marchington.
Họ cho xe dừng lại bên hàng rào của nhà xứ.
Bobby và Frankie xuống xe và chạy vào trong nhà.
Khi tới cổng họ bắt gặp một phụ nữ dong dỏng cao. Bobby và Frankie nhận ra người ấy ngay.
- Moira! - Frankie kêu lên.
Moira bước lại. dáng điệu ung dung.
- Ôi! Tôi rất sung sướng được gặp lại hai bạn! Tôi không biết vị thánh nào đã phù hộ mình.
- Nhưng tại sao chị lại ở đây?
- Chắc chắn là vì cùng lý do như hai bạn!
- Chị đã biết ai là Evans rồi ư? - Bobby hỏi.
- Vâng. Nhưng chuyện dài lắm...
- Chúng ta vào trong nhà - Bobby đề nghị.
- Không - Moira phản đối ngay lập tức - Có quán cà phê nào để chúng ta yên ổn nói chuyện không. Tôi cần nói cho các bạn biết một vài việc.
- Có đấy - Bobby bực mình nói - Nhưng tại sao không nói ở đây?
Moira giậm chân.
- Anh sẽ hiểu khi nghe tôi nói xong. Ồ! Xin đừng để mất một giây nào.
Hai người đành nhượng bộ cô ta. Giữa phố có quán cà phê Phương Đông, một cái tên rất đẹp nhưng không mấy phù hợp với trang bị trong quán.
Cả ba người trong quán. Lúc này đã sáu giờ rưỡi. Họ ngồi bên một chiếc bàn trong góc quán hàng. Bobby gọi ba tách cà phê.
- Thế nào?
- Đợi nhà hàng mang đồ uống đến đã.
Cô hầu bàn xuất hiện và đặt ba tách cà phê xuống bàn.
- Moira, chúng tôi nghe chị nói đây - Frankie nói bằng giọng khô khan.
- Tôi không biết nên bắt đầu từ đâu. Tôi về Londres bằng xe lửa, và khi tôi đang đi trong hành lang của xe thì một sự ngẫu nhiên lạ lùng...
Bỗng cô ta im bặt. Từ chỗ ngồi cô ta nhìn ra cửa. Cô ta hơi cúi mình xuống, mở to mắt.
- Hắn đang theo dõi tôi - Moira nói.
- Ai? - Hai bạn cùng hỏi.
- Roger Bassington-ffrench!
- Cô đã nhìn thấy hắn ư?
- Hắn ở ngoài kia. Hắn đi với một người phụ nữ tóc đỏ.
- Mụ Cayman! - Frankie kêu lên.
Một cú nhảy, hai bạn chạy ra ngoài cửa. Họ nhìn xuôi nhìn ngược nhưng không thấy Bassington- ffrench đâu cả.
Moira đến bên họ.
- Hắn đi rồi ư? - Cô ta run rẩy hỏi - Hãy coi chừng. Đây là con người nguy hiểm... rất nguy hiểm.
- Nào, Moira. Chị can đảm lên một chút! - Frankie khuyên - Không nên sợ hãi như vậy.
- Bây giờ có đuổi theo cũng vô ích - Bobby nói và trở về bàn - Nào, Moira, chị kể chuyện của chị đi.
Anh cầm lấy tách cà phê. Khi ngồi xuống Frankie vô ý vấp vào bàn, ngã vào Bobby làm cà phê đổ tung toé.
- Xin lỗi.
Cô đưa tay sang bàn bên không có khách lấy chiếc bình đựng dấm. Cô đổ dấm đi và rót cà phê trong tách của mình vào.
Hành động khác thường ấy làm Bobby hoảng hốt.
- Cô điên rồi ư, Frankie?
- Tôi cần một mẫu cà phê này để nhờ bác sĩ George Afbuthnot phân tích.
Cô quay sang Moira.
- Thế là hết, Moira! Đây là ý nghĩ đến với tôi như một tia chớp. Khi đánh đổ tách cà phê, tôi đã quan sát nét mặt của chị. Chị đã đổ một cái gì đó vào hai tách cà phê của chúng tôi trong khi chúng tôi ra ngoài cửa để tìm một Roger Bassington-ffrench do chị bịa ra. Tôi đã biết rõ âm mưu của chị, bà Moria Nicholson hoặc bà Templeton hoặc bất cứ cái tên gì mà chị muốn.
- Templeton ư? - Bobby kêu lên.
- Phải, anh hãy nhìn bộ mặt chị ta, Bobby. Nếu chị ta chối cãi, chúng ta hãy điệu chị ta đến nhà xứ để bà Roberts nhận mặt.
Bobby nhìn Moira, đúng là vẻ dịu dàng của mụ đã biến thành vẻ giận dữ. Cái miệng xinh xắn đang thốt ra hàng tràng chửi rủa. Moira lục tìm cái gì đó trong túi xách tay của mình.
Rất kịp thời, Bobby hất bàn tay cầm khẩu súng lục của mụ lên.
Cùng với tiếng nổ chát chúa, viên đạn vọt qua đầu Frankie và cắm vào tường của quán cà phê Phương Đông.
Lần đầu tiên trong quán cà phê, cô hầu bạn chạy lại.
Chạy ra ngoài phố, cô gái kêu thét lên:
- Cứu tôi với! Có kẻ giết người! Cảnh sát! Nhanh lên!
0
Chương XXXIV
BỨC THƯ TỪ NAM MỸ
 
Nhiều tuần lễ qua đi.
Một buổi sáng Frankie nhận được một phong thư có tem của một nước Cộng hoà ở Nam Mỹ.
Đọc xong, cô mang đến cho Bobby đang ở trong nhà xứ xem.
Dưới đây là nội dung của bức thư.
 
Frankie thân mến, cho phép tôi gửi cô những lời khen ngợi chân thành nhất. Cô và người bạn lính thuỷ cũ của cô đã phá huỷ những tham vọng của đời tôi. Tôi đã chuẩn bị những kế hoạch vững chắc.
Cô có muốn biết những chi tiết của chúng không. Một phụ nữ đã cố tình chống lại tôi có lẽ không coi thường những điều tôi muốn nói. Hơn nữa tôi đã có một cuộc sống mới. Roger Bassington-ffrench đã chết rồi.
Xin thú nhận từ lâu tôi đã là một kẻ bỏ đi. Thời kỳ ở Oxford tôi đã can tội giả mạo chữ ký của cha tôi. Ông già đã từ bỏ tôi và gửi tôi sang thuộc địa.
Ở đây tôi đã gặp Moira và băng nhóm của cô ta. Cô ta có thể làm mọi việc từ năm mười lăm tuổi. Khi gặp tôi, cô ta đang có ý định trở về nước Anh vì cô đang bị cảnh sát truy lùng.
Sau khi sống chung với nhau, chúng tôi đã lập một số kế hoạch hành động. Trước hết cô ta lấy bác sĩ Nicholson. Qua cuộc hôn nhân ấy, cô ta đi vào tầng lớp thượng lưu của xã hội. Cảnh sát đã mất dấu vết của cô ta. Nicholson tới nước Anh với ý định lập một trại cai nghiện ma tuý. Ông ta muốn tìm một ngôi nhà không nhiều tiền lắm. Moira gợi ý cho chồng mua lại lâu đài La Grauge.
Cô ta vẫn làm việc với băng nhóm trong việc buôn bán chất ma tuý. Không biết gì, ông Nicholson trở thành người có ích cho vợ.
Tôi vẫn ấp ủ hai tham vọng: trở thành giàu có và là chủ nhân lâu đài Merroway. Thời vua Charles đệ nhị, dòng họ Bassington-ffrench vốn được trọng vọng. Sau đó gia đình bị phá sản. Tôi cảm thấy mình cần có một vai trò lớn trong xã hội. Muốn vậy, tôi phải có rất nhiều tiền.
Moira tới Canada rất nhiều lần để "thăm gia đình". Yêu quý vợ, ông Nicholson tin vào tất cả những gì cô ta nói. Để buôn lậu, cô ta mang một cái tên giả: Bà Templeton. Dưới cái tên này cô ta gặp ông Savage. Cô ta biết rõ công cuộc kinh doanh và tài sản kếch xù của ông này. Moira quyến rũ ông nhưng không để ông quá đỗi mê muội.
Chúng tôi lập một kế hoạch chi tiết như cô đã rõ. Người đàn ông có tên là Cayman đóng vai người chồng. Moira mời ông Savage đến Tudor Cottage. Lần thứ ba tới đây, ông ta bị chúng tôi sát hại... Xong việc, có tiền, trước mắt mọi người, cô ta ra nước ngoài... Thực tế là cô ta về làng Staveley và sống trong lâu đài La Grauge.
Trong lúc ấy tôi thực hiện kế hoạch của mình. Trước hết tôi muốn loại trừ Henry và đứa con trai của anh ta. Tôi không gặp may, hai vụ tai nạn giả để làm chết thằng bé Tommy không thành công. Tôi quay lại Henry. Sau vụ ngã ngựa trong một cuộc đi săn, anh ta đau đớn vì chứng thấp khớp. Tôi khuyên anh ta dùng moóc-phin và anh ta đã mắc nghiện. Anh ta không nghi ngờ gì cả... Đây là con người có tâm hồn trong sáng. Mục đích của tôi là đưa anh ta tới lâu đài La Grauge để chữa bệnh. Moira sẽ tạo ra một "vụ tự sát” mới. Còn tôi, tôi ở ngoài mọi sự nghi ngờ.
Nhưng rồi cái lão Carstairs mất dạy xuất hiện. Hình như Savage đã viết thư cho Carstairs, bạn mình, ở trên tàu: ông ta nói về bà Templeton và kèm theo một tấm ảnh của người này. Lúc đó ông Carstairs đang tham gia một cuộc săn bắn lớn. Khi trở về châu Phi, ông ta nhận được tin về cái chết và những ý định cuối cùng của ông Savage. Ông Carstairs không tin rằng bạn mình mắc chứng ung thư và nội dung bản di chúc không phù hợp với tính cách của bạn mình. Ông Savage là một nhà kinh doanh, tinh thần vững vàng. Nếu mê một người phụ nữ thì ông ta cũng không coi thường gia sản của mình, tặng hết cho người phụ nữ ấy và phần nhỏ làm công tác từ thiện. Ý kiến tặng tài sản cho hội từ thiện là của tôi, cái đó để tránh mọi nghi ngờ.
Carstairs trở về nước Anh để làm sáng tỏ vụ này. Từ đầu chúng tôi ít quan tâm đến lão. Bạn bè đưa lão tới lâu đài Merroway. Thấy trên chiếc đàn dương cầm có tấm ảnh của Moira, lão nhận ra đây là người phụ nữ mà Savage đã gửi cho lão. Hắn lới Chipping Somerton để bắt đầu điều tra.
Moira và tôi bắt đầu lo ngại... Tôi hy vọng mọi chuyện dần lắng dịu đi, nhưng Carstairs rất bướng bỉnh và rất khôn khéo.
Tôi theo dõi lão ở Chipping Somerton. Lão không chỉ tìm được bà nấu bếp Rose Cludleigh, mà còn biết bà hầu phòng Evans đang ở phía bắc nước Anh đã kết hôn và sống ở làng Marchabolt.
Tình huống đối với tôi thật là gay cấn. Nếu lão Castairs biết được Templeton và Moria Nicholson chỉ là một người thì vấn đề càng phức tạp hơn nhiều.
Tôi quyết định thủ tiêu Carstairs; lần này sự may mắn thuộc về tôi. Tôi đi sau lão khi sương mù từ dưới biển đang bốc lên. Tôi tiến đến gần lão và bằng một cú đẩy tôi ném lão vào không trung…
Nhưng lại có một vấn đề khác đặt ra: Tôi muốn biết trong người lão có giấy tờ gì nguy hiểm cho chúng tôi không. May mắn là anh bạn của cô đã tạo thuận lợi cho ý định của tôi; anh ta đã để mình tôi ngồi bên xác chết trong một thời gian ngắn. Carstairs có một tấm ảnh của Moira trong túi. Tôi lấy tấm ảnh ấy và thay vào đó tâm ảnh của một phụ nữ đồng bọn của cô ta.
Tất cả diễn ra tốt đẹp. Người em gái giả và người em rể tới nhận xác người anh. Lần này thì Bobby, bạn cô đã làm hỏng kế hoạch của chúng tôi. Hình như trước khi tắt thở Carstairs đã nói vài tời gì đó. Lão đã nói đến cái tên Evans... và Evans lại đang làm việc ở nhà xứ.
Chúng tôi bắt đầu lúng túng. Moira muốn rằng con trai ông mục sư không thể gây khó khăn cho chúng tôi được nữa; chúng tôi đã để quá xa. Kế hoạch của chúng tôi thất bại. Thế là Moira chịu trách nhiệm loại bỏ anh ta.
Cô ta đã làng Marchbolt bằng xe hơi và đợi dịp để hành sự. Cô ta cho một lượng lớn moóc-phin vào chai bia trong khi anh ta đang ngủ. Nhưng anh chàng trâu ngốc ấy không chết. Đúng là vận đen bám riết lấy chúng tôi.
Như đã nói, câu chuyện giữa cô với bác sĩ Nicholson đã gây ra cho tôi một vài nghi ngờ. Cô cũng có thể hình dung ra sự nghi ngờ của Moira trong cái đêm giáp mặt với Bobby! Cô ta nhận ra ngay đây là ai vì cô đã nhìn thấy anh ta lúc đang ngủ. Không lạ lùng gì khi biết cô ta đã run sợ đến phát điên lên, nhưng lấy lại lòng can đảm cô ta chơi vở hài kịch.
Moira tới quán trọ thú nhận với Bobby rằng ông Carstairs đã yêu cô và chồng cô, một người ghen ghê gớm đang đe doạ cô. Cô ta cố gắng chứng minh tôi là người vô tội. Về phần mình tôi mô tả cô ta là con người yếu đuối, không có khả năng tư vệ, và Moira có thể tự kết liễu đời mình nếu ai đó đe doạ tính mạng.
Tình huống thật là nghiêm trọng. Chúng tôi đã có tiền. Với thằng bé Tommy thì không có gì phải vội vàng. Nhưng cô và Bobby là mối đe doạ thực sự với chúng tôi vì những nghi ngờ của cô quay về lâu đài La Grauge.
Có thể cô cho rằng anh Henry đã tự sát. Không, chính tôi đã giết anh ta! Khi nói chuyện với cô ở ngoài vườn, tôi biết là không thể để lỡ thời gian... tôi vội vã hoàn thành kế hoạch của mình.
Chiếc phi cơ bay ngang trời lúc ấy đã tạo thuận lợi cho tôi. Tôi vào văn phòng, ngồi bên Henry đang viết. Tôi nói: "Anh nghe đây...! " và bắn thẳng vào người anh ta. Tiếng máy bay đã át tiếng súng. Sau đó tôi viết bức thư tuyệt mệnh, lau dấu vân tay trên khẩu súng lúc rồi nhét súng vào tay Henry. Tôi nhét chìa khoá vào túi anh ta và ra khỏi cửa sau khi đã khoá cửa bằng chìa khoá phòng ăn. Hai chiếc chìa khoá này có thể dùng chung được.
Tôi đặt một quả pháo trong lò sưởi, ngòi pháo dài, chỉ nổ bốn phút đồng hồ sau đó.
Mọi việc diễn ra theo đúng ý đồ của tôi. Tôi đang ở trong vườn với cô thì có tiếng nổ. Một “vụ tự sát” không bàn cãi được nữa. Bác sĩ Nicholson khốn khổ bị nghi ngờ. Có thật là ông ta tới để lấy chiếc can để quên không? Sự hăng hái theo tinh thần hiệp sĩ của Bobby đã làm phiền Moira và cô ta đã bỏ đi nơi khác. Những lời giải thích về sự vắng mặt của vợ mình của Nicholson làm cho cô nghi ngờ ông ta hơn.
Nơi Moira tỏ ra kiệt xuất là ở Tudor Cottage. Theo động tĩnh, cô ta biết là tôi đang bị trói chặt. Cô ta uống một liều moóc-phin và nằm lên giường. Khi cô và Bobby xuống nhà gọi điện thoại thì cô ta lên kho đồ cũ cắt dây trói cho tôi rồi lại trở về giường nằm. Thuốc ngấm và cô ta mê đi.
Khi tỉnh lại, sợ rằng cô và Bobby đã biết chỗ ở của bà Evans. Gặp bà ta cô sẽ biết đây là vụ tự sát và bản di chúc là giả. Hơn nữa cô ta cũng nghi ngờ lão Carstairs đã viết thứ cho bà Evans trước khi tới làm Marchbolt. Moira nói mình sẽ tới một bệnh viện ở Londres nhưng thực tế là trở về làng Marchbolt và cô với Bobby đã gặp cô ta ở cổng nhà xứ.
Kế hoạch của Moira có giản đơn phần nào mà cô ta cho rằng mình sẽ thoát lội. Cô người hầu không thể mô tả rõ người đã ngồi cùng bàn với cô và Bobby được trong khi đó cô ta vẫn nằm trong một bệnh viện ở Londres. Nhưng cô và Bobby đã lột mặt nạ của Moira...
Tôi bắt đầu mệt mỏi về cô ta, tôi không hiểu là cô ta có nghi ngờ gì về điều đó không...
Bây giờ tôi đã có tiền... tiền của tôi!
Sau đám cưới của chúng tôi, tôi sẽ tìm cách xa lánh cô ta.
Tôi đã sẵn sàng sống một cuộc sống khác... nhờ vào cô và anh chàng Bobby Jones ngốc nghếch của cô.
Tôi có thành công không? Tôi hy vọng là như vậy… Dù sao thì cô cũng nên tin rằng tôi sẽ làm lại từ đầu cho đến khi thành công mới thôi.
Vĩnh việt Frankie, cũng có thể là tạm biệt. Biết đâu đấy?
Kẻ thù của cô, tên phản trắc và con người bỉ ổi.
Roger Bassington-ffrench.”
0
Chương XXXV
TIN MỚI Ở NHÀ XỨ
 
Bobby trả lại bức thư cho Frankie.
- Đây là con người đáng chú ý - Frankie nói.
- Anh ta có cái năng khiếu làm hài lòng cô - Bobby lạnh lùng nói.
- Anh ta có vẻ đáng mến cũng như Moira làm cho ai đó...
Bobby đỏ mặt.
- Điều kỳ cục nhất là suốt thời gian ấy, bà Evans vẫn ở trong nhà xứ... Theo cô thì chắc chắn ông Carstairs đã viết thư cho bà Evans tức là bà Roberts, đúng không?
- Đúng, ông ấy báo tin về sự đến thăm của mình để hỏi về mụ Templeton mà ông cho rằng là người trong băng nhóm lừa đảo quốc tế đang bị cảnh sát truy nã. Bà ta không nghi ngờ gì về người rơi từ vách núi xuống dưới vực có cái tên là Pritchard. Cái căn cước giả ấy thật khôn ngoan. Bà ta làm thế nào biết được đây lại là ông Alan Carstairs. Đây là sự lập luận của một tâm hồn trong trắng.
- Bà Evans cũng đã nhận ra đây là ông Cayman - Bobby nói - Xem báo xong bà ta nói với chồng: "Thật là lạ lùng - Bà ta nói - Người này rất giống với cái ông đã gặp chúng ta".
- Thật phức tạp. Roger Bassington-ffrench cũng bị lột mặt nạ một đôi lần, nhưng vì ngốc nghếch nên tôi đã không chú ý đến.
- Thế nào?
- Khi bà Sylvia nói người trong tấm ảnh trên báo rất giống với ông Carstairs đã tới nhà chơi nhưng Roger lại nói thiếu gì người giống nhau.
- Frankie, làm thế nào mà cô nhận ra bộ mặt thật của Moira?
- Nhờ vào ý kiến người ta nói về mụ Templeton. Ai cũng bảo: "Bà ta rất đẹp, rất khêu gợi..." Khi gặp mụ ở nhà xứ, tôi đã có ý nghĩ: nếu Moira là Templeton thì sao?
- Xin có lời khen ngợi, Frankie!
- Bà Syliva khốn khổ vì báo chí nhưng bác sĩ Nicholson vẫn trung thành với bà. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu việc này kết thúc bằng một đám cưới.
- Tất cả đã kết thúc tốt đẹp - Bobby nói - Nhờ vào cha cô, xưởng sửa chữa ôtô của Badger đã được phục hồi và tôi có một tương lai rạng rỡ ở thuộc địa... Cô nghĩ xem: giám đốc một đồn điền trồng cà phê ở Trung Phi? Tôi vẫn mơ cái địa vị đó.
Anh nghỉ một lát rồi nói tiếp:
- Khách du lịch sẽ đến thăm Kenya.
- Cũng còn những người thích tới đó lập nghiệp nữa - Frankie nói thêm với vẻ chất phác.
Bobby đỏ mặt. Anh ngập ngừng và hỏi lại:
- Đúng như vậy chứ, Frankie?... Cô không sợ chuyến đi ấy sao?
- Không sợ chút nào. Tôi đã quyết định không để anh đi một mình.
- Frankie, anh yêu em, nhưng anh đau đớn trong câm lặng vì đây là mối tình không thể có!
- Vì vậy mà anh khó chịu trong khi chúng ta chơi gôn ư?
- Anh đã thất vọng.
- Hừ! Thế còn chuyện anh với Moira thì sao?
Bobby tỏ vẻ bối rối:
- Bộ mặt của mụ ta đã mê hoặc anh…
- Mụ ta đẹp hơn em.
- Không đúng... Bộ mặt mụ ta quyến rũ anh một cách nào đấy. Nhưng khi chúng ta bị nhốt trong nhà kho, anh đã thấy rõ sự can đảm của em. Anh chỉ nghĩ đến em. Lúc ấy em thật rực rỡ!
- Xin thú nhận là em đã biết cái đó... nhưng em không muốn làm tăng sự say mê của anh.
- Anh say mê em, em yêu. Anh say mê em và không bao giờ hết say mê. Em tin chắc rằng em không buồn khi tới Kenya chứ?
- Em rất hài lòng khi được sống bên anh, Bobby. Em sẽ sống khắc khoải khi không có anh.
- Frankie!
- Bobby!
Ông mục sư mở cửa để các nữ tín đồ vào làm lễ.
- Xin mời bà con trong giáo xứ!
Nhưng rồi cha lại đóng sập ngay cửa lại rồi lẩm bẩm:
- Không... một trong những đứa con trai của tôi. Nó là... chồng chưa cưới.
Một người trong số nữ tín đồ cười ranh mãnh.
- Một chàng trai tốt - Cha xứ nói tiếp - Và rất đứng đắn. Nó sẽ quản lý một đồn điền trồng cà phê ở Kenya bên Trung Phi.
Một nữ tín đồ nói với một bà khác:
- Bà thấy không? Anh chàng đang hôn tiểu thư Frances Derwent, đúng không?
Một tiếng đồng hồ sau, tin về lễ đính hôn của Bobby và Frankie đã bay khắp làng Marchbolt.
 
HẾT
 
0
cảm ơn bạn rất nhiều ,truyện này hay lắm
0
Chào HanAn

Truyện  Tại Sao Không Là Evans - AGATHA CHRISTIE

Đã được mang vào thư viện

Cảm ơn HanAn đã góp sức cho thư viện

Chúc vui


📎 merci7
0
«« « 1 2 » »»