Chúng ta hẳn ai cũng biết bộ truyện Tây du kí nổi tiếng của Ngô Thừa Ân, nhưng có lẽ ít ai biết về bộ Hậu Tây Du Kí này. Nay tui xin post lên để mọi người cùng chia sẻ nha![sm=n_yes.gif]
Bộ truyện này post từ tàng thư các của Lương Sơn Bạc.
-----------------------------------------------------------------------
Lời giới thiệu
I
Trước khi tìm hiểu "Hậu Tây du ký" cần nhắc lại vài nét về tác phẩm "Tây Du ký".
Như ai cũng biết "Tây Du ký" là tác phẩm văn học bất hủ. Tác giả của "Tây du ký" là Ngô Thừa Ân (1500 - 1581?) người Sơn Dương, phủ Hoài An, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc ngày nay. Ông xuất thân trong một gia đình buôn bán nhỏ, chuyên bán chỉ may và đồ thêu, nhưng lại thích tàng trữ sách vở. Thuở nhỏ Ngô Thừa Ân ham đọc sách truyện lịch sử, nhất là các bộ truyền kỳ. Ông cũng là người ưa thích văn học dân gian, say mê với những câu chuyện kể thần tiên, ma quái. Lớn lên tính tình của ông khí khái, ngang ngạnh, "bình sinh không để người thương hại", trong lòng mài dũa dao trừ tà... buồn không đủ sức" (Nhị lang sưu sơn đồ ca). Ông học giỏi, đọc rộng, hạ bút thành thơ... rất thích hài kịch, từng viết nhiều tạp ký, lừng danh một thời (Thiên Khải Hoài An phủ chí). Mặc dù đa tài, nhưng lận đận trên con đường khoa hoạn, nên mãi đến năm bốn mươi ba tuổi mới đỗ "Tuế Cống sinh" (tức cử nhân). Năm năm mươi mốt tuổi vì cảnh nhà quẫn bách nên ông đến Nam Kinh tìm việc làm, nhưng thân cô thế cô, không được tọai nguyện. Mãi đến năm sáu mươi bảy tuổi ông mới được bổ làm Thừa lại huyện Trường Hưng, nhưng "không bao lâu nhục nhã vì phải vào luồn ra cúi mà phủi áo bỏ về". Sau đó ông lại được tiến cử giữ chức ký thiện trong Kinh vương hủ chuyên coi về việc lễ nhạc, văn thơ. Được ba năm thì ông bất đắc chí và xin từ quan.
Tác phẩm của Ngô Thừa Ân được đời sau thu thập và in lại thành "Xa Dương tiên sinh tồn" gồm bốn quyển. "Tây Du ký" là bộ tiểu thuyết duy nhất còn lại của ông, được sáng tác những năm cuối đời.
Tây Du ký gồm một trăm hồi, ra đời vào năm Vạn Lịch thứ 29 (1601), triều Minh.
Sau khi "Tây Du ký" của Ngô Thừa Ân ra đời, trong thời Minh, Thanh xuất hiện những tác phẩm tiếp tục đề tài của Tây Du ký, nhưng cốt truyện và nhân vật có thay đổi như "Hậu Tây Du ký", "Tục Tây Du ký" và "Tây du bổ". Trong đó đáng chú ý và có giá trị nhất là "Hậu Tây du ký". Từ trước đến nay trong lịch sử văn học và lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc đều có nhắc đến tác phẩm "Hậu Tây du ký", nhưng nội dung các tài liệu nghiên cứu rất sơ lược. Tài liệu đề cập đến "Hậu Tây du ký" được phát hiện sớm nhất ở Trung Quốc là "Tại viên tạp chí", quyển ba của Lưu Đĩnh Cơ, người đời Thanh.
Đầu sách này có bài tựa "Văn Đình sơn nhân Khổng Thượng Nhâm soạn". Cuối bài tựa có ghi mấy chữ "Khang Hi Ất mùi sơ xuân" (Đầu xuân năm Ất mùi, Khang Hi). "Ất mùi xuân", tức là năm Khang Hi thứ 54 (năm 1715). Từ những ghi chép trên đây có thể biết "Hậu Tây du ký" được viết trong những khoảng t hời gian từ năm 1592 đến 1715. Mặt khác, theo sự suy đoán của Đàm Chính Bích thì "Hậu Tây du ký" sáng tác sau "Tây du bổ" mà "Tây du bổ" lại viết sau khi nhà Minh mất, cho nên phàn n hiều ngụ ý tình cảm khi nước mất. Theo Đồng Thuyết, tác giả của bài t hơ "Mạn Hứng" thì "Tây du bổ" viết trước khi nhà Minh tiêu vong, năm đó tác giả hai mươi mốt tuổi. Đồng Thuyết sinh năm 1620 và mất năm 1686.
Từ hai giả thuyết trên đây có thể khẳng định "Hậu Tây du ký" được sáng tác trong thời gian từ cuối đời Minh đến những năm đầu Khang Hi, đời Thanh. Thời gian này ở đất Thần Châu xảy ra hai sự kiện lịch sử quan trọng. Đó là cuộc khởi nghĩa nông dân lần đầu tiên có qui mô to lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc. Cuộc khởi nghĩa này nổ ra vào năm Thiên Khải thứ 7 (năm 1628) thời nhà Minh. Sự kiện thứ hai là sự biến Đỉnh Cách năm 1644 làm cho vương triều nhà Minh sụp đổ và vương triều nhà Thanh lên thay thế.
Vậy, ai là tác giả của "Hậu Tây du ký"? Về tác giả của "Hậu Tây du ký", từ trước đến nay có ba ý kiến khác nhau:
- Ý kiến được nhiều người tán đồng nhất cho rằng tác giả của "Hậu Tây Du ký" là Ngô Thừa Ân, người đã sáng tác tác phẩm "Tây Du ký" bất hủ. Tiêu biểu cho ý kiến này là Ngô Ngọc Tân. Trong sách "Sơn Dương chí dị" quyển bốn, ông viết: Hoặc nói: Có "Hậu Tây du ký" do "Xa dương tiên sinh soạn" . Mà Xa Duơng là bút danh của Ngô Thừa An. Nghĩa là chính Ngô Thừa Ân đã viết ra "Tây Du ký" và "Hậu Tây du ký".
- Ý kiến khác cho rằng tác giả của "Hậu Tây Du ký" là Mai Từ Hòa. Đó là ý kiến của Viên Văn Điển, người đời Thanh trong sách "Điền Nam thi thoại", quyển hai, nói rằng: "Tây Du ký" cùng loại với "Hậu Tây Du ký" đều là của "Mai Từ Hòa".
- Ý kiến cuối cùng là của các nhà nghiên cứu Trung Quốc hiện nay. Họ cho rằng "Hậu Tây Du ký" là tác p hẩm vô danh. Tiêu biểu cho ý kiến này là của Tôn Khải Thứ trong sách "Trung Quốc thông tục tiểu thuyết thư mục" nói: "Hậu Tây Du ký" là tác phẩm của "người vô danh đời Thanh biên soạn" (Thanh vô danh thị soạn).
Ba ý kiến trên đây đều không có cơ sở xác đáng và đều ở dạng giả thuyết, chưa có đầy đủ chứng cứ cụ thể. Theo tài liệu đã có hiện nay thì không thể cho rằng tác giả của "Hậu Tây Du ký" là ngô Thừa Ân. Cũng không thể khẳng định Mai Tử Hòa là tác giả của "Hậu Tây Du ký".
Vì tác giả của "Hậu Tây Du ký" chưa xác định nên không biết tác giả là người của thời đại nào? Nếu theo như sự ghi chép của Lưu Đĩnh Cơ người đời Thanh trong "Tại Viên tạp chí" quyển ba như đã nêu ở trên thì "Hậu Tây Du ký" khôgn thể sáng tác vào năm Khang Hi thứ 57 đời Thanh mà ít nhất là nó được sáng tác vào giai đoạn trước của giữa năm Khang Hi. theo như cách ghi chép của Lưu Đĩnh Cơ thì rõ ràng "Hậu Tây Du ký" sáng tác trước, và "Tục Tây Du ký" sáng tác sau.
Đến nay nhiều người vẫn cho rằng "Tục Tây Du ký" là do người đời Minh viết và "Hậu Tây Du ký" là do tác giả vô danh người đời Thanh sáng tác. Trong sách "Trung Quốc thông tục tiểu thuyết thư mục", Tôn Giai Đệ cũng cho rằng như vậy. Năm 1978, Khoa Trung Văn, trường Đại Học Bắc kinh biên soạn "Trung Quốc tiểu thuyết sự" cho rằng " Tục Tây Du ký" viết trước, "Hậu Tây Du ký" viết sau và coi nó là tac phẩm của đời nhà Minh. Trong mục thứ ba ,chương tám sách "Trung Quốc tiểu thuyết sử" có đoạn viết: "Từ giữa đời Minh đến cuối đời Minh, do sự đề xướng và đề cao của giai cấp thống trị, đạo giáo thịnh hành một thời, những câu chuyện thần tiên hoang đường lưu hành ở xã hội. Phản ánh trong lĩnh vực tiểu thuyết, tiếp tục "Tây Du ký" đã xuất hiện "Tục Tây Du ký" và "Hậu Tây Du ký" có hơn mười bộ...
II
Mặc dù không bằng "Tây Du ký" , nhưng nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của "Hậu Tây Du ký" cũng rất xuất sắc, hơn hẳn "Tục Tây Du ký". Cấu tứ tổng thể, tình tiết nghệ thuật "Tây Du ký" của Ngô Thừa Ân là kế thừa những thành quả nghệ thuật của người đi trước và sáng tạo, phát triển những đặc trưng nghệ thuật của tác giả. Rất nhiều câu chuyện trong "Tây Du ký" đều có nguồn gốc, bắt nguồn từ thần thoại, truyền thuyết, truyện kể của các nghệ nhân lưu truyền trong dân gian từ các đời Đường, Tống, Nguyên. Và đến giữa đời Minh thì các câu chuyện này thành hoàn chỉnh, có hệ thống, tạo cơ sở để Ngô Thừa Ân sáng tác thành bộ tiểu thuyết phong phú và nghệ thuật của nó vô cùng đa dạng. Sự sáng tạo của Ngô Thừa Ân rất lớn lao. Câu truyện nhà sư Huyền Trang đời Đường mà "Tây Du ký" miêu tả là một nguyên mẫu đầy tính chất huyền thoại của chính sử.
Không có đuợc những thuận lợi về đề tài, cốt truyện và nhân vật như "Tây Du ký", trong "Hậu Tây Du ký" tác giả tự sáng tạo ra rất nhiều. Sự sáng tạo ấy của tác giả "Hậu Tây Du ký" khó khăn hơn nhiều so với sự sáng tạo của Ngô Thừa Ân trong "Tây Du ký". Tác gỉa của "Hậu Tây Du ký" hoàn toàn không được "thừa hưởng" những câu chuyện, tình tiết và kết cấu của người đi trước để lại. Nguồn tư liệu từ sử sách, truyện kể dân gian hầu như không có.
Giữa "Hậu Tây Du ký" và "Tây Du ký" có mối quan hệ đối ứng. Tác phẩm "Tây Du ký" của Ngô Thừa Ân chủ yếu là lấy sự kiện chủ thể việc Huyền Trang phụng lệnh Đường Thái Tông sang Tây Thiên t hỉnh kinh để làm bối cảnh miêu tả. Tác giả tả việc con khỉ đá ra đời. Cầu Tiên học đạo, phản nghịch Tam giới, đại náo thiên cung, sau đó lại cầu cứu Phật tổ, bảo vệ cho Huyền Trang sang Tay Thiên thỉnh kinh... còn nội dung của "Hậu Tây du ký" là miêu tả câu chuyện từ Huyền Trang thỉnh kinh trở về nhà Đường vào giữa những năm Đường Hiến Tông sau hơn hai trăm năm lưu truyền kinh Phật.
Trong "Tây Du ký" có bốn nhân vật trung tâm: Đường Tăng, Ngộ Không, Bát Giới và Sa Tăng. Trong "Hậu Tây Du ký" cũng có 4 nhân vật trung tâm, nhưng tên gọi có thay đổi. Đó là Đường Bản Kệ, Tiểu hành Giả, Trư Nhất Giới và Tiểu Sa Di.
Tác phẩm kể lại câu chuyện bốn người đến Linh Sơn để thỉnh "chân giải". "Hậu Tây Du ký" bắt đầu viết từ lúc "Chân kinh tuy có, nhưng chân giải thì không". T ừ đấy câu chuyện hình thành hàng lọat tình tiết có liên quan chặt chẽ với nhau. Trong đó có chuyện Tiểu hành Giả ra đời, rồi Hoa quả sơn, Thủy Liêm động nổi lên, đại náo Tam giới, ngọc hoàng thượng đế sai thiên binh thiên tướng đi giải vây. Thái Bạch Kim Tinh cho mời Tôn Ngộ Không đến thu phục Tiểu Hành Giả và Đường Bá Kệ, Trư Nhất Giới và Tiểu Sa Di cùng đi Tây Thiên... Tình tiết của "Hậu Tây Du ký" cũng rất giống với tình tiết của "Tây Du ký". tình tiết giữa hai tác phẩm có mối l i ên kết chặt chẽ, nhưng sự sáng tác tình tiết của "Hậu Tây Du ký" cũng rất lớn. Đây chính là một trong những giá trị nghệ thuật của tác phẩm.
Trên việc xử lý đề tài, tác giả của "Hậu Tây Du ký" xuất phát từ yêu cầu của thời đại, lấy tiểu thuyết thần thoại để làm vũ khí đấu trang, phát huy lợi thế của văn học, mỗ xẻ những ung nhọt xã hội, khơi dậy những tình cảm yêu ghét rõ ràng của con người trong xã hội. Cũng như "Tây Du ký" trong "Hậu Tây Du ký" cái thiện, cái ác, cái chính và tà được bộc lộ rõ nét qua từng cốt chuyện và tính cách nhân vật. Trên cơ sở nội dung phong phú của câu chuyện lưu truyền vốn có trong dân gian, "Tây Du ký" của Ngô Thừa Ân đi sâu vào việc phê phán một cách sâu sắc đối với những thực trạng xấu xa đen tối của xã hội đương thời. Từ đó làm cho câu chuyện "Tây thiên thỉnh kinh" trở nên có ý nghĩa tư tưởng mãnh liệt.
Cấu thành đề tài của "Hậu Tây Du ký" và "Tây Du ký" có những đặc điểm khác nhau. Từ thành tựu tư tưởng nghệ thuật mà nói, đương nhiên "Tây Du ký" t huộc về đỉnh cao của tiểu thyuết lãng mạn cổ điển Trung Quốc ,còn sự năng động sáng tạo của tác giả "Hậu Tây Du ký" cũng mang đến những kinh nghiệm quan trọng cho người đọc khi tiếp xúc với tác phẩm này.
Một trong những thành tựu quan trọng của khuynh hướng tư tưởng "Tây du ký" là giỏi khéo về việc kết hợp hữu cơ giữa việc châm biếm sâu sắc và sự phê phán nghiêm khắc . Đối với Tôn giáo và Thần quyền (đặc biệc là đối với đạo giáo) tác phẩm đã đả kích và vạch trần gay gắt. "Tây Du ký" thẳng thắn chỉ ra phát thụat của đạo giáo là loài "yêu thuật" giả dối, phủ định con đường đi, lừa đời dối người của đạo phái này. Tác phẩm cuối cùng không hoàn toàn phủ định tôn giáo và thần quyền mà chủ trương Nho, Thích và Đạo "tam giáo hợp nhất". Vì vậy trong "Tây Du ký" không ít chỗ tuyên dương quan niệm Phật pháp vô biên, khuyến khích bài học lấy "Thiện" để thu phục "Tâm" và giữ lấy tư tưởng "luân hồi", "báo ứng". So với Tây Du ký thì việc vạch trần và phê phán đối với tôn giáo và thần quyền của "Hậu Tây Du ký" sâu sắc hơn. Sự phủ định đối với tôn giáo và thần quyền của tác phẩm cũng tương đối rộng hơn. Sự sâu rộng này biểu hiện cụ thể ở việc phủ định, gay gắt đối với tư tưởng "Thọ yểu họa phúc" "nhân quả báo ứng". Thông qua nhân vật Tiểu hành giả tác p hẩm vạch trần tính giả dối và tính lừa gạt của tư tưởng "Thọ yểu họa phúc" và "nhân quả báo ứng".
"Hậu Tây Du ký" cũng phê phán sự bảo thủ, lạc hậu của tư tưởng nho gia. Vì vạy tính chiến đấu của tác p hẩm rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần chủ nghĩa dân chủ ở buổi ban đầu. Đây chính là một trong những đặc sắc quan trọng của khuynh hướng tư tưởng tác phẩm.
"Tây Du ký" và "Hậu Tây Du ký" đều thông qua câu chuyện thần thoại, phơi bày và phê phán một cách sâu sắc sự phản động, hủ bại của chế độ pháp luật, chính trị, xã hội chuyên chế cùng với bản chất xấu xa tàn bạoc ủa các giai tầng phong kiến thống trị t ừ trên xuống đến địa ngục. Đây là điểm giống nhau của khuynh hướng tư tưởng hai tác phẩm. Từ ý nghĩa hiện thực đời sống mà nói thì so với "hậu Tây du ký" diện phản ảnh của "Tây Du ký" rộng lớn, khúc chiếc và sinh động hơn. Nhưng "Hậu Tây Du ký" cũng thể hiện đầy đủ đặc trưng miêu tả hiện thực, làm cho người đọc cảm nhận, rung động và bị lôi cuốn từ đầu đến c uối.
Đối với thế đạo nhân tình hiện thực xã hội giữa thời Minh, Thanh, "Hậku Tây Du ký" vừa châm biếm, vừa chỉ trích mạnh mẽ. Cả hai tác phẩm "Tây Du ký" và "Hậu Tây du ký" đều miêu tả cụ thể và hướng dẫn tình tiết câu chuyện "đại náo thiên cung" và "sang Tây Thiên thỉnh kinh". Cốt truyện trong hai tgác phẩm đều có liên quan "giao tương chiếu ứng" mà không hề có sự đối lập "bất tương lôi đồng".
Từ những tình tiết nghệ thuật trong "Hậu Tây Du ký" tác giả vừa "kế thừa", "cách tân" vừa "sáng tạo" nhằm làm cho người đọc hứng thú. Cũng từ thiết kế nghệ thuật cho "Tây Du ký" nhưng qui mô "đại náo thiên cung" trong "Hậu Tây Du ký" rất lớn lao, bao quát, mang nét miêu tả độc đáo riêng. Trong hồi thứ ba của "Hậu TÂy Du ký" tác giả xây dựng hình tượng dũng cảm phi thường của Tiểu Hành Giả trong cuộc chiến đấu chống lại kẻ thù. Đến hồi thứ tư, Tiểu Hành Giả hoàn toàn chiến thắng. Từ "lọan" Tiểu hành Giả đã làm cho mọi thứ trở nên "Định". Mặc dù câu chuyện "Thỉnh cầu chân giải" (Cầu thử chân giải) miêu tả không đựoc uyển chuyển, khúc chiết như trong hồi 81 của "Tây Du ký" nhưng sự sáng tạo trong việc miêu tả tính chất nhân vật trong "Hậu Tây Du ký" cũng rất thành công. TÁc giả miêu tả hay và khéo đến mức làm cho người đọc thấy nhân vật Tôn Ngộ Kkhông (Tây Du ký) và Tiểu Hành Giả (Hậu Tây du ký) tuy hai mà một, nhưng ở hai nhân vật này, hình dáng, tính cách đều có nh ững nét khác biệt. Giữa Đường Tăng (Tây Du ký) với Đường Bán kệ (Hậu Tây Du ký) cũng có những nét đặc thù riêng. Đường Bán Kệ là con người lòng kính cẩn chân thành, kiên định, chín chắn, khảng khái, tự trọng. Trong khi đó nhân vật Đường Tăng trong Tây du ký là một con người mềm yếu lại vô nguyên tắc, có khi vừa ngoan cố lại không có óc nhìn xa trông rộng. Giữa Trư Bát Giới (Tây Du ký) và Trư Nhất Giới ( Hậu Tây du ký) cũng có những nét dị biệt trong tính cách và tư tưởng.
Cũng như Tây Du ký, bên cạnh những ưu điểm, Hậu Tây Du ký không tránh khỏi hạn chế của thời đại. Nhưng phần tinh hoa, tinh túy rực sáng nhất của Hậu Tây Du ký vẫn là tính dân chủ, ý thức tự do và quyền bình đẳn g của con người trong xã hội có giai cấp. Khát vọng thoát khỏi áp bức, bóc lột, ý tưởng muốn vươn lên tự do bình đẳng mà tác giả đề cập trong Tây Du ký và Hậu Tây Du ký vẫn luôn mang ý nghĩa thời sự nóng hổi. Cũng như Tây du ký, Hậu Tây Du ký muốn lấy đạo để nói đời. Trong Hậu Tây Du ký tác giả muốn lấy việc châm chọc nhà Nho, đẻ châm chọc cuộc đời. Đây cũng là một nội dung đáng chú ý. Tinh thần của Hậu Tây Du ký chính là khơi nguồn cho tác phẩm phê phán nhà Nho mãnh liệt trong Nho lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử sau đó.
Về mặt nghệ thuật Tây Du ký và Hậu Tây Du ký đều là tiểu thuyết thần thoại, vận dụng phương pháp sáng tác của chủ nghĩa lãng mạn để sáng t ạo và hình tượng người anh hùng thần thoại lý tưởng. Đúng như lời nhận xét của Các-Mác: "Thần thoại nào cũng đều dùng sức tưởng tượng và mượn sức t ưởng tượng để chinh phục sức tự nhiên chi phối sức tự nhiên và đem sức tự nhiên để hình tượng hóa". Rõ ràng tự nhiên trong Tây Du ký cao hơn trong Hậu Tây Du ký. Mặc du, Hậu Tây Du ký t hiếu sức mạnh cảm hóa của nghệ thuật thần thoại, nhưng có một số hồi không thiếu những cảnh biến ảo thần kỳ, làm cho người đọc vô cùng thích t hú. Nếu tình tiết của TÂy Du ký giàu sự khúc chiết biến hóa, mâu thuẫn xung đột hiện thành tầng tầng lớp lớp, thì sự thiết kế tình tiết của Hậu Tây du ký thiếu sắc thái ảo tưởng phong phú và sự tưởng tượng mạnh bạo. Nhân vật Tiểu hành Giả đại náo Tam giới về mặt khí thế và qui mô không thể bằng hành động Tôn Ngộ Không đại náo thiên cung ở "TÂy Du ký".
III
Vấn đề cuối cùng cần đề cập ở Hậu Tây Du ký là ý nghĩa xã hội của tác phẩm.
Trong bài tựa (có thể là tác giả tự viết) Hậu Tây Du ký có nói đến "ưu linh căn" (lo cho cái gốc linh hồn) và "bi thế đạo" (buồn về thế đạo). Ý nghĩa xã hội của tác phẩm chính là được chi phối bởi tư tưởng này. Thông qua tác phẩm, tác giả bày tỏ cảm khái "ưu thế ưu dân" (lo đời lo dân) sâu sắc của mình. Cũng như Ngô Thừa Ân trong "Tây Du ký", trong Hậu Tây Du ký thôgn qua quá trình quan sát xã hội và tìm hiểu cuộc sống của dân sinh, tác giả phát hiện ra hai cột trụ tinh thần lớn nhất trong xã hội phong kiến. Đó là Phật và Nho. Hai tôn giáo này không chỉ không có thể làm thay đổi hiện thực xã hội điên đảo này, trái lại nó trở thành công cụ "ngu nhân họa dân". Giai cấp phong kiến thống trị cố dùng Phật giáo và Nho học để cai trị mọi người. Ý tưởng sáng tác của tác giả t rong Hậu TÂy Du ký là lấy chân giải để giải chân kinh. Vì thế, nếu như nói Hậu Tây du ký là tác phẩm tiếp tục câu chuyện Đường Tăng đi lấy kinh, thì chẳng khác nào nói: "Hậu Tây Du ký" là một lọai phủ định Đường Tăng đi lấy kin, chấn hưng Phật giáo Tây phương. Tức là cho rằng tinh thần kiên nhẫn bất khuất của Đường Tăng và óc mưu trí, dũng cảm của Tôn Ngộ Không vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ trong việc sang Tây thiên lấy kinh chỉ là việc kinh Phật, lo ng hĩ đến việc chấn hưng Phật giáo mà không có tác dụng gì đối với việc cứu dân cứu đời. Vì vậy ý nghĩa xã hội tích cực và tính chất tiến bộ của Hậu Tây Du ký chính là ở chỗ "ưu linh căn" và "bi thế đạo".
Hậu Tây Du ký đứng vững ở mãnh đất hiện thực, tuy nói đến chuyện giảng quỉ thuyết quái nhưng không quên đến những tệ đoan hiện th ực xã hội Trung Quốc. Thông qua lời của Phật tổ ở hồi năm Hậu Tây Du ký thể hiện rất rõ điều ấy. Tác giả là người rất am hiểu hiện thực, hiểu rất rõ lịch sử và dựa hẳn vào lịch sử để sáng tác. Tác giả căn c ứ vào câu chuyện của nhà Nho chân chính Hàn Dũ thời Trung Đường để làm cơ sở, t hêm vào đó, tác giả dựa vào câu chuyện Hòa Thượng Đại Điên sang Tây thiên lấy chân giải.
Theo sử liệu của Triều Châu phủ chí và Cảnh Đức truyền đăng lục ghi chép: Đại Điên hòa thượnng sinh năm 731 và mất năm 824. Họ thường dùng là họ Trần hoặc họ Dương, nguyên danh là Bảo Thông, người Triều Dương, học trò của Huệ Năm tam truyền thuộc phái Phật giáo Thuyền tông Nam. Mới đầu thầy ở Huệ Chiêu, rồi làm hòa thượng ở Hoành sơn thạch đẩu. Sau năm Trinh Nguyên thứ 5 thì về sáng lập Thiền viện ở Triều châu, tên là Linh Sơn, tự đặt tên hiệu là Đại Điên hòa thượng. năm Nguyên Hòa thứ 14, Hàn Dũ can việc Đường Hiến Tông nghênh đón Phật cốt, nên bị biếm làm thứ sử Triều Châu, vì vậy mà quen Đại Điên hòa thượng. Lúc đó Hòa thượng đã là ông già tám mươi tám tuổi. Hai người thường qua lại với nhau. năm Trường Khanh thứ 4 thì ông mất, hưởng thọ chín mươi ba tuổi.
TÁc giả "Hậu Tây du ký" mượn sử liệu lịch sử để sáng tác câu chuyện. Câu chuyện mở đầu bằng bài văn "Luận Phật cốt biểu" của Hàn Dũ nhằm mạnh dạn đả kích câu c huyện nhảm của việc Đường Hiến Tông đón phật cốt, và tác giả kết luận chính xác: "Thờ Phật cầu phúc lại càng gặp họa" (sự Phật cầu phúc nãi cánh đắc họa). Trong tác p hẩm tác giả chỉ ra rất xác đáng: Nho, Đạo và Phật "Tam g íao đồng đường h ữu xuất nhập" (ba tgôn giáo cùng ở chung một nhà có ra có vào). Hồi ba mươi bảy có câu: "Đạo gia thì tu tính mệnh, họ Phật thì trọng từ bi và nhà Nho thì lập danh giá". Trong hồi hai mươi ba, tác giả chỉ rõ: "Nho gia và Phật giáo từ trước đến nay đều là một nhà. Nho có thứ Nho chính, có thứ Nho tà, PHật giáo cũng có Phật giáo đúng, cũng có Phật giáo sai".
Phật giáo thì như t hế, còn Nho giáo thì như thế nào? Hồi hai mươi hai Hậu Tây Du ký trực tiếp vạch ra sự khôgn thực tế của các Nho sinh không từ bỏ một bát cháo mà lúc nào cũng cao đàm khóac luận những điều viển vông vô ích.
Trọng tâm tư tưởng của Hậu Tây du ký không chỉ Phúng Phật thích Nho mà còn bộc lộ ở thái độ "ưu linh căn", "bi thế đạo". Tác gỉa của Hậu Tây Du ký đã đem bộ mặt xã hội và triết lý nhân sinh cao độ để khái quát bằng nghệ thuật. Ý nghĩa tích cực và sâu sắc của tác phẩm chính là ở chỗ đó. Mục đích tác phẩm của tác giả không phải là ở thuyết minh mâu thuẫn, trần thuật hiện tượng xã hội mà là ở sự cảm ứng viên thông, giai thành đạo pháp nhằm mục đích cải cách xã hội theo hướng tích cực và tốt đẹp hơn. Câu chuyện lấy chân giải chấn hưng Phật giáo trong Hậu Tây Du ký không ngòai ước múôn cứu đời, cứu dân. Ý nghĩa mới mẻ của tác phẩm chính là ở chỗ cầu chân giải để giải chân kinh. Ngoài ý nghĩa xã hội, tác phẩm còn có ý nghĩa nghệ thuật . Phong cách nghệ thuật độc đáo và hình tượng nghệ thuật ý vị, sâu sắc. Đó là đặc điểm nghệ thuật nổi bật của Hậu Tây du ký mà ai nấy đều nhận thấy.
Trong Trung Quốc tiểu thuýet sử lược, Lỗ Tấn đánh giá tác phẩm hậu Tây Du ký hành văn, dựng truyện không bằng Tây Du ký, nhưng giá trị nghệ thuật của nó cũng rất cao xứng đáng là một tác phảm ưu tú trong kho tàng tiểu thuyết cổ điển thời Minh - Thanh. Hậu Tây Du ký không phải là một bộ Thần ma tiểu thuyết (hoặc gọi là tiểu thuyết linh quái) cũng không đơn giản là tác phẩm cười đùa giận mắng , lại càng không thể coi nó là tiểu th uyết châm biếm mà phải xem n ó là tác phẩm châm cứu thế sự (châm chiêm thế sự). Đúng như Đàm Chính Bích nói: "Hậu Tây Du ký" là một lọai tiểu thuyết lý tưởng.
Cuối cùng như trên đã nói, Hậu TÂy Du ký thuộc lọai tiểu thuyết Minh - Thanh. Ngôn ngữ trong Hậu Tây Du ký t huộc ngôn ngữ ở vùng đất Ngô. Tác phẩm có n hiều phương ngữ, phương ngôn, lối hành văn của tác phẩm cũng không đơn giản. Nên trong khi dịch ra tiếng Việt, chúng tôi cố gắng dịch cho thật đúng với nguyên tác nhưng khả năng con người có hạn, trong khi chữ nghĩa lại vô cùng. Chắc cũng không sao tránh khỏi những sai sót, rất mong được các bậc cao minh chỉ giáo.
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23-03-1994
PTS. Hồ Sĩ Hiệp
Bộ truyện này post từ tàng thư các của Lương Sơn Bạc.
-----------------------------------------------------------------------
Lời giới thiệu
I
Trước khi tìm hiểu "Hậu Tây du ký" cần nhắc lại vài nét về tác phẩm "Tây Du ký".
Như ai cũng biết "Tây Du ký" là tác phẩm văn học bất hủ. Tác giả của "Tây du ký" là Ngô Thừa Ân (1500 - 1581?) người Sơn Dương, phủ Hoài An, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc ngày nay. Ông xuất thân trong một gia đình buôn bán nhỏ, chuyên bán chỉ may và đồ thêu, nhưng lại thích tàng trữ sách vở. Thuở nhỏ Ngô Thừa Ân ham đọc sách truyện lịch sử, nhất là các bộ truyền kỳ. Ông cũng là người ưa thích văn học dân gian, say mê với những câu chuyện kể thần tiên, ma quái. Lớn lên tính tình của ông khí khái, ngang ngạnh, "bình sinh không để người thương hại", trong lòng mài dũa dao trừ tà... buồn không đủ sức" (Nhị lang sưu sơn đồ ca). Ông học giỏi, đọc rộng, hạ bút thành thơ... rất thích hài kịch, từng viết nhiều tạp ký, lừng danh một thời (Thiên Khải Hoài An phủ chí). Mặc dù đa tài, nhưng lận đận trên con đường khoa hoạn, nên mãi đến năm bốn mươi ba tuổi mới đỗ "Tuế Cống sinh" (tức cử nhân). Năm năm mươi mốt tuổi vì cảnh nhà quẫn bách nên ông đến Nam Kinh tìm việc làm, nhưng thân cô thế cô, không được tọai nguyện. Mãi đến năm sáu mươi bảy tuổi ông mới được bổ làm Thừa lại huyện Trường Hưng, nhưng "không bao lâu nhục nhã vì phải vào luồn ra cúi mà phủi áo bỏ về". Sau đó ông lại được tiến cử giữ chức ký thiện trong Kinh vương hủ chuyên coi về việc lễ nhạc, văn thơ. Được ba năm thì ông bất đắc chí và xin từ quan.
Tác phẩm của Ngô Thừa Ân được đời sau thu thập và in lại thành "Xa Dương tiên sinh tồn" gồm bốn quyển. "Tây Du ký" là bộ tiểu thuyết duy nhất còn lại của ông, được sáng tác những năm cuối đời.
Tây Du ký gồm một trăm hồi, ra đời vào năm Vạn Lịch thứ 29 (1601), triều Minh.
Sau khi "Tây Du ký" của Ngô Thừa Ân ra đời, trong thời Minh, Thanh xuất hiện những tác phẩm tiếp tục đề tài của Tây Du ký, nhưng cốt truyện và nhân vật có thay đổi như "Hậu Tây Du ký", "Tục Tây Du ký" và "Tây du bổ". Trong đó đáng chú ý và có giá trị nhất là "Hậu Tây du ký". Từ trước đến nay trong lịch sử văn học và lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc đều có nhắc đến tác phẩm "Hậu Tây du ký", nhưng nội dung các tài liệu nghiên cứu rất sơ lược. Tài liệu đề cập đến "Hậu Tây du ký" được phát hiện sớm nhất ở Trung Quốc là "Tại viên tạp chí", quyển ba của Lưu Đĩnh Cơ, người đời Thanh.
Đầu sách này có bài tựa "Văn Đình sơn nhân Khổng Thượng Nhâm soạn". Cuối bài tựa có ghi mấy chữ "Khang Hi Ất mùi sơ xuân" (Đầu xuân năm Ất mùi, Khang Hi). "Ất mùi xuân", tức là năm Khang Hi thứ 54 (năm 1715). Từ những ghi chép trên đây có thể biết "Hậu Tây du ký" được viết trong những khoảng t hời gian từ năm 1592 đến 1715. Mặt khác, theo sự suy đoán của Đàm Chính Bích thì "Hậu Tây du ký" sáng tác sau "Tây du bổ" mà "Tây du bổ" lại viết sau khi nhà Minh mất, cho nên phàn n hiều ngụ ý tình cảm khi nước mất. Theo Đồng Thuyết, tác giả của bài t hơ "Mạn Hứng" thì "Tây du bổ" viết trước khi nhà Minh tiêu vong, năm đó tác giả hai mươi mốt tuổi. Đồng Thuyết sinh năm 1620 và mất năm 1686.
Từ hai giả thuyết trên đây có thể khẳng định "Hậu Tây du ký" được sáng tác trong thời gian từ cuối đời Minh đến những năm đầu Khang Hi, đời Thanh. Thời gian này ở đất Thần Châu xảy ra hai sự kiện lịch sử quan trọng. Đó là cuộc khởi nghĩa nông dân lần đầu tiên có qui mô to lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc. Cuộc khởi nghĩa này nổ ra vào năm Thiên Khải thứ 7 (năm 1628) thời nhà Minh. Sự kiện thứ hai là sự biến Đỉnh Cách năm 1644 làm cho vương triều nhà Minh sụp đổ và vương triều nhà Thanh lên thay thế.
Vậy, ai là tác giả của "Hậu Tây du ký"? Về tác giả của "Hậu Tây du ký", từ trước đến nay có ba ý kiến khác nhau:
- Ý kiến được nhiều người tán đồng nhất cho rằng tác giả của "Hậu Tây Du ký" là Ngô Thừa Ân, người đã sáng tác tác phẩm "Tây Du ký" bất hủ. Tiêu biểu cho ý kiến này là Ngô Ngọc Tân. Trong sách "Sơn Dương chí dị" quyển bốn, ông viết: Hoặc nói: Có "Hậu Tây du ký" do "Xa dương tiên sinh soạn" . Mà Xa Duơng là bút danh của Ngô Thừa An. Nghĩa là chính Ngô Thừa Ân đã viết ra "Tây Du ký" và "Hậu Tây du ký".
- Ý kiến khác cho rằng tác giả của "Hậu Tây Du ký" là Mai Từ Hòa. Đó là ý kiến của Viên Văn Điển, người đời Thanh trong sách "Điền Nam thi thoại", quyển hai, nói rằng: "Tây Du ký" cùng loại với "Hậu Tây Du ký" đều là của "Mai Từ Hòa".
- Ý kiến cuối cùng là của các nhà nghiên cứu Trung Quốc hiện nay. Họ cho rằng "Hậu Tây Du ký" là tác p hẩm vô danh. Tiêu biểu cho ý kiến này là của Tôn Khải Thứ trong sách "Trung Quốc thông tục tiểu thuyết thư mục" nói: "Hậu Tây Du ký" là tác phẩm của "người vô danh đời Thanh biên soạn" (Thanh vô danh thị soạn).
Ba ý kiến trên đây đều không có cơ sở xác đáng và đều ở dạng giả thuyết, chưa có đầy đủ chứng cứ cụ thể. Theo tài liệu đã có hiện nay thì không thể cho rằng tác giả của "Hậu Tây Du ký" là ngô Thừa Ân. Cũng không thể khẳng định Mai Tử Hòa là tác giả của "Hậu Tây Du ký".
Vì tác giả của "Hậu Tây Du ký" chưa xác định nên không biết tác giả là người của thời đại nào? Nếu theo như sự ghi chép của Lưu Đĩnh Cơ người đời Thanh trong "Tại Viên tạp chí" quyển ba như đã nêu ở trên thì "Hậu Tây Du ký" khôgn thể sáng tác vào năm Khang Hi thứ 57 đời Thanh mà ít nhất là nó được sáng tác vào giai đoạn trước của giữa năm Khang Hi. theo như cách ghi chép của Lưu Đĩnh Cơ thì rõ ràng "Hậu Tây Du ký" sáng tác trước, và "Tục Tây Du ký" sáng tác sau.
Đến nay nhiều người vẫn cho rằng "Tục Tây Du ký" là do người đời Minh viết và "Hậu Tây Du ký" là do tác giả vô danh người đời Thanh sáng tác. Trong sách "Trung Quốc thông tục tiểu thuyết thư mục", Tôn Giai Đệ cũng cho rằng như vậy. Năm 1978, Khoa Trung Văn, trường Đại Học Bắc kinh biên soạn "Trung Quốc tiểu thuyết sự" cho rằng " Tục Tây Du ký" viết trước, "Hậu Tây Du ký" viết sau và coi nó là tac phẩm của đời nhà Minh. Trong mục thứ ba ,chương tám sách "Trung Quốc tiểu thuyết sử" có đoạn viết: "Từ giữa đời Minh đến cuối đời Minh, do sự đề xướng và đề cao của giai cấp thống trị, đạo giáo thịnh hành một thời, những câu chuyện thần tiên hoang đường lưu hành ở xã hội. Phản ánh trong lĩnh vực tiểu thuyết, tiếp tục "Tây Du ký" đã xuất hiện "Tục Tây Du ký" và "Hậu Tây Du ký" có hơn mười bộ...
II
Mặc dù không bằng "Tây Du ký" , nhưng nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của "Hậu Tây Du ký" cũng rất xuất sắc, hơn hẳn "Tục Tây Du ký". Cấu tứ tổng thể, tình tiết nghệ thuật "Tây Du ký" của Ngô Thừa Ân là kế thừa những thành quả nghệ thuật của người đi trước và sáng tạo, phát triển những đặc trưng nghệ thuật của tác giả. Rất nhiều câu chuyện trong "Tây Du ký" đều có nguồn gốc, bắt nguồn từ thần thoại, truyền thuyết, truyện kể của các nghệ nhân lưu truyền trong dân gian từ các đời Đường, Tống, Nguyên. Và đến giữa đời Minh thì các câu chuyện này thành hoàn chỉnh, có hệ thống, tạo cơ sở để Ngô Thừa Ân sáng tác thành bộ tiểu thuyết phong phú và nghệ thuật của nó vô cùng đa dạng. Sự sáng tạo của Ngô Thừa Ân rất lớn lao. Câu truyện nhà sư Huyền Trang đời Đường mà "Tây Du ký" miêu tả là một nguyên mẫu đầy tính chất huyền thoại của chính sử.
Không có đuợc những thuận lợi về đề tài, cốt truyện và nhân vật như "Tây Du ký", trong "Hậu Tây Du ký" tác giả tự sáng tạo ra rất nhiều. Sự sáng tạo ấy của tác giả "Hậu Tây Du ký" khó khăn hơn nhiều so với sự sáng tạo của Ngô Thừa Ân trong "Tây Du ký". Tác gỉa của "Hậu Tây Du ký" hoàn toàn không được "thừa hưởng" những câu chuyện, tình tiết và kết cấu của người đi trước để lại. Nguồn tư liệu từ sử sách, truyện kể dân gian hầu như không có.
Giữa "Hậu Tây Du ký" và "Tây Du ký" có mối quan hệ đối ứng. Tác phẩm "Tây Du ký" của Ngô Thừa Ân chủ yếu là lấy sự kiện chủ thể việc Huyền Trang phụng lệnh Đường Thái Tông sang Tây Thiên t hỉnh kinh để làm bối cảnh miêu tả. Tác giả tả việc con khỉ đá ra đời. Cầu Tiên học đạo, phản nghịch Tam giới, đại náo thiên cung, sau đó lại cầu cứu Phật tổ, bảo vệ cho Huyền Trang sang Tay Thiên thỉnh kinh... còn nội dung của "Hậu Tây du ký" là miêu tả câu chuyện từ Huyền Trang thỉnh kinh trở về nhà Đường vào giữa những năm Đường Hiến Tông sau hơn hai trăm năm lưu truyền kinh Phật.
Trong "Tây Du ký" có bốn nhân vật trung tâm: Đường Tăng, Ngộ Không, Bát Giới và Sa Tăng. Trong "Hậu Tây Du ký" cũng có 4 nhân vật trung tâm, nhưng tên gọi có thay đổi. Đó là Đường Bản Kệ, Tiểu hành Giả, Trư Nhất Giới và Tiểu Sa Di.
Tác phẩm kể lại câu chuyện bốn người đến Linh Sơn để thỉnh "chân giải". "Hậu Tây Du ký" bắt đầu viết từ lúc "Chân kinh tuy có, nhưng chân giải thì không". T ừ đấy câu chuyện hình thành hàng lọat tình tiết có liên quan chặt chẽ với nhau. Trong đó có chuyện Tiểu hành Giả ra đời, rồi Hoa quả sơn, Thủy Liêm động nổi lên, đại náo Tam giới, ngọc hoàng thượng đế sai thiên binh thiên tướng đi giải vây. Thái Bạch Kim Tinh cho mời Tôn Ngộ Không đến thu phục Tiểu Hành Giả và Đường Bá Kệ, Trư Nhất Giới và Tiểu Sa Di cùng đi Tây Thiên... Tình tiết của "Hậu Tây Du ký" cũng rất giống với tình tiết của "Tây Du ký". tình tiết giữa hai tác phẩm có mối l i ên kết chặt chẽ, nhưng sự sáng tác tình tiết của "Hậu Tây Du ký" cũng rất lớn. Đây chính là một trong những giá trị nghệ thuật của tác phẩm.
Trên việc xử lý đề tài, tác giả của "Hậu Tây Du ký" xuất phát từ yêu cầu của thời đại, lấy tiểu thuyết thần thoại để làm vũ khí đấu trang, phát huy lợi thế của văn học, mỗ xẻ những ung nhọt xã hội, khơi dậy những tình cảm yêu ghét rõ ràng của con người trong xã hội. Cũng như "Tây Du ký" trong "Hậu Tây Du ký" cái thiện, cái ác, cái chính và tà được bộc lộ rõ nét qua từng cốt chuyện và tính cách nhân vật. Trên cơ sở nội dung phong phú của câu chuyện lưu truyền vốn có trong dân gian, "Tây Du ký" của Ngô Thừa Ân đi sâu vào việc phê phán một cách sâu sắc đối với những thực trạng xấu xa đen tối của xã hội đương thời. Từ đó làm cho câu chuyện "Tây thiên thỉnh kinh" trở nên có ý nghĩa tư tưởng mãnh liệt.
Cấu thành đề tài của "Hậu Tây Du ký" và "Tây Du ký" có những đặc điểm khác nhau. Từ thành tựu tư tưởng nghệ thuật mà nói, đương nhiên "Tây Du ký" t huộc về đỉnh cao của tiểu thyuết lãng mạn cổ điển Trung Quốc ,còn sự năng động sáng tạo của tác giả "Hậu Tây Du ký" cũng mang đến những kinh nghiệm quan trọng cho người đọc khi tiếp xúc với tác phẩm này.
Một trong những thành tựu quan trọng của khuynh hướng tư tưởng "Tây du ký" là giỏi khéo về việc kết hợp hữu cơ giữa việc châm biếm sâu sắc và sự phê phán nghiêm khắc . Đối với Tôn giáo và Thần quyền (đặc biệc là đối với đạo giáo) tác phẩm đã đả kích và vạch trần gay gắt. "Tây Du ký" thẳng thắn chỉ ra phát thụat của đạo giáo là loài "yêu thuật" giả dối, phủ định con đường đi, lừa đời dối người của đạo phái này. Tác phẩm cuối cùng không hoàn toàn phủ định tôn giáo và thần quyền mà chủ trương Nho, Thích và Đạo "tam giáo hợp nhất". Vì vậy trong "Tây Du ký" không ít chỗ tuyên dương quan niệm Phật pháp vô biên, khuyến khích bài học lấy "Thiện" để thu phục "Tâm" và giữ lấy tư tưởng "luân hồi", "báo ứng". So với Tây Du ký thì việc vạch trần và phê phán đối với tôn giáo và thần quyền của "Hậu Tây Du ký" sâu sắc hơn. Sự phủ định đối với tôn giáo và thần quyền của tác phẩm cũng tương đối rộng hơn. Sự sâu rộng này biểu hiện cụ thể ở việc phủ định, gay gắt đối với tư tưởng "Thọ yểu họa phúc" "nhân quả báo ứng". Thông qua nhân vật Tiểu hành giả tác p hẩm vạch trần tính giả dối và tính lừa gạt của tư tưởng "Thọ yểu họa phúc" và "nhân quả báo ứng".
"Hậu Tây Du ký" cũng phê phán sự bảo thủ, lạc hậu của tư tưởng nho gia. Vì vạy tính chiến đấu của tác p hẩm rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần chủ nghĩa dân chủ ở buổi ban đầu. Đây chính là một trong những đặc sắc quan trọng của khuynh hướng tư tưởng tác phẩm.
"Tây Du ký" và "Hậu Tây Du ký" đều thông qua câu chuyện thần thoại, phơi bày và phê phán một cách sâu sắc sự phản động, hủ bại của chế độ pháp luật, chính trị, xã hội chuyên chế cùng với bản chất xấu xa tàn bạoc ủa các giai tầng phong kiến thống trị t ừ trên xuống đến địa ngục. Đây là điểm giống nhau của khuynh hướng tư tưởng hai tác phẩm. Từ ý nghĩa hiện thực đời sống mà nói thì so với "hậu Tây du ký" diện phản ảnh của "Tây Du ký" rộng lớn, khúc chiếc và sinh động hơn. Nhưng "Hậu Tây Du ký" cũng thể hiện đầy đủ đặc trưng miêu tả hiện thực, làm cho người đọc cảm nhận, rung động và bị lôi cuốn từ đầu đến c uối.
Đối với thế đạo nhân tình hiện thực xã hội giữa thời Minh, Thanh, "Hậku Tây Du ký" vừa châm biếm, vừa chỉ trích mạnh mẽ. Cả hai tác phẩm "Tây Du ký" và "Hậu Tây du ký" đều miêu tả cụ thể và hướng dẫn tình tiết câu chuyện "đại náo thiên cung" và "sang Tây Thiên thỉnh kinh". Cốt truyện trong hai tgác phẩm đều có liên quan "giao tương chiếu ứng" mà không hề có sự đối lập "bất tương lôi đồng".
Từ những tình tiết nghệ thuật trong "Hậu Tây Du ký" tác giả vừa "kế thừa", "cách tân" vừa "sáng tạo" nhằm làm cho người đọc hứng thú. Cũng từ thiết kế nghệ thuật cho "Tây Du ký" nhưng qui mô "đại náo thiên cung" trong "Hậu Tây Du ký" rất lớn lao, bao quát, mang nét miêu tả độc đáo riêng. Trong hồi thứ ba của "Hậu TÂy Du ký" tác giả xây dựng hình tượng dũng cảm phi thường của Tiểu Hành Giả trong cuộc chiến đấu chống lại kẻ thù. Đến hồi thứ tư, Tiểu Hành Giả hoàn toàn chiến thắng. Từ "lọan" Tiểu hành Giả đã làm cho mọi thứ trở nên "Định". Mặc dù câu chuyện "Thỉnh cầu chân giải" (Cầu thử chân giải) miêu tả không đựoc uyển chuyển, khúc chiết như trong hồi 81 của "Tây Du ký" nhưng sự sáng tạo trong việc miêu tả tính chất nhân vật trong "Hậu Tây Du ký" cũng rất thành công. TÁc giả miêu tả hay và khéo đến mức làm cho người đọc thấy nhân vật Tôn Ngộ Kkhông (Tây Du ký) và Tiểu Hành Giả (Hậu Tây du ký) tuy hai mà một, nhưng ở hai nhân vật này, hình dáng, tính cách đều có nh ững nét khác biệt. Giữa Đường Tăng (Tây Du ký) với Đường Bán kệ (Hậu Tây Du ký) cũng có những nét đặc thù riêng. Đường Bán Kệ là con người lòng kính cẩn chân thành, kiên định, chín chắn, khảng khái, tự trọng. Trong khi đó nhân vật Đường Tăng trong Tây du ký là một con người mềm yếu lại vô nguyên tắc, có khi vừa ngoan cố lại không có óc nhìn xa trông rộng. Giữa Trư Bát Giới (Tây Du ký) và Trư Nhất Giới ( Hậu Tây du ký) cũng có những nét dị biệt trong tính cách và tư tưởng.
Cũng như Tây Du ký, bên cạnh những ưu điểm, Hậu Tây Du ký không tránh khỏi hạn chế của thời đại. Nhưng phần tinh hoa, tinh túy rực sáng nhất của Hậu Tây Du ký vẫn là tính dân chủ, ý thức tự do và quyền bình đẳn g của con người trong xã hội có giai cấp. Khát vọng thoát khỏi áp bức, bóc lột, ý tưởng muốn vươn lên tự do bình đẳng mà tác giả đề cập trong Tây Du ký và Hậu Tây Du ký vẫn luôn mang ý nghĩa thời sự nóng hổi. Cũng như Tây du ký, Hậu Tây Du ký muốn lấy đạo để nói đời. Trong Hậu Tây Du ký tác giả muốn lấy việc châm chọc nhà Nho, đẻ châm chọc cuộc đời. Đây cũng là một nội dung đáng chú ý. Tinh thần của Hậu Tây Du ký chính là khơi nguồn cho tác phẩm phê phán nhà Nho mãnh liệt trong Nho lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử sau đó.
Về mặt nghệ thuật Tây Du ký và Hậu Tây Du ký đều là tiểu thuyết thần thoại, vận dụng phương pháp sáng tác của chủ nghĩa lãng mạn để sáng t ạo và hình tượng người anh hùng thần thoại lý tưởng. Đúng như lời nhận xét của Các-Mác: "Thần thoại nào cũng đều dùng sức tưởng tượng và mượn sức t ưởng tượng để chinh phục sức tự nhiên chi phối sức tự nhiên và đem sức tự nhiên để hình tượng hóa". Rõ ràng tự nhiên trong Tây Du ký cao hơn trong Hậu Tây Du ký. Mặc du, Hậu Tây Du ký t hiếu sức mạnh cảm hóa của nghệ thuật thần thoại, nhưng có một số hồi không thiếu những cảnh biến ảo thần kỳ, làm cho người đọc vô cùng thích t hú. Nếu tình tiết của TÂy Du ký giàu sự khúc chiết biến hóa, mâu thuẫn xung đột hiện thành tầng tầng lớp lớp, thì sự thiết kế tình tiết của Hậu Tây du ký thiếu sắc thái ảo tưởng phong phú và sự tưởng tượng mạnh bạo. Nhân vật Tiểu hành Giả đại náo Tam giới về mặt khí thế và qui mô không thể bằng hành động Tôn Ngộ Không đại náo thiên cung ở "TÂy Du ký".
III
Vấn đề cuối cùng cần đề cập ở Hậu Tây Du ký là ý nghĩa xã hội của tác phẩm.
Trong bài tựa (có thể là tác giả tự viết) Hậu Tây Du ký có nói đến "ưu linh căn" (lo cho cái gốc linh hồn) và "bi thế đạo" (buồn về thế đạo). Ý nghĩa xã hội của tác phẩm chính là được chi phối bởi tư tưởng này. Thông qua tác phẩm, tác giả bày tỏ cảm khái "ưu thế ưu dân" (lo đời lo dân) sâu sắc của mình. Cũng như Ngô Thừa Ân trong "Tây Du ký", trong Hậu Tây Du ký thôgn qua quá trình quan sát xã hội và tìm hiểu cuộc sống của dân sinh, tác giả phát hiện ra hai cột trụ tinh thần lớn nhất trong xã hội phong kiến. Đó là Phật và Nho. Hai tôn giáo này không chỉ không có thể làm thay đổi hiện thực xã hội điên đảo này, trái lại nó trở thành công cụ "ngu nhân họa dân". Giai cấp phong kiến thống trị cố dùng Phật giáo và Nho học để cai trị mọi người. Ý tưởng sáng tác của tác giả t rong Hậu TÂy Du ký là lấy chân giải để giải chân kinh. Vì thế, nếu như nói Hậu Tây du ký là tác phẩm tiếp tục câu chuyện Đường Tăng đi lấy kinh, thì chẳng khác nào nói: "Hậu Tây Du ký" là một lọai phủ định Đường Tăng đi lấy kin, chấn hưng Phật giáo Tây phương. Tức là cho rằng tinh thần kiên nhẫn bất khuất của Đường Tăng và óc mưu trí, dũng cảm của Tôn Ngộ Không vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ trong việc sang Tây thiên lấy kinh chỉ là việc kinh Phật, lo ng hĩ đến việc chấn hưng Phật giáo mà không có tác dụng gì đối với việc cứu dân cứu đời. Vì vậy ý nghĩa xã hội tích cực và tính chất tiến bộ của Hậu Tây Du ký chính là ở chỗ "ưu linh căn" và "bi thế đạo".
Hậu Tây Du ký đứng vững ở mãnh đất hiện thực, tuy nói đến chuyện giảng quỉ thuyết quái nhưng không quên đến những tệ đoan hiện th ực xã hội Trung Quốc. Thông qua lời của Phật tổ ở hồi năm Hậu Tây Du ký thể hiện rất rõ điều ấy. Tác giả là người rất am hiểu hiện thực, hiểu rất rõ lịch sử và dựa hẳn vào lịch sử để sáng tác. Tác giả căn c ứ vào câu chuyện của nhà Nho chân chính Hàn Dũ thời Trung Đường để làm cơ sở, t hêm vào đó, tác giả dựa vào câu chuyện Hòa Thượng Đại Điên sang Tây thiên lấy chân giải.
Theo sử liệu của Triều Châu phủ chí và Cảnh Đức truyền đăng lục ghi chép: Đại Điên hòa thượnng sinh năm 731 và mất năm 824. Họ thường dùng là họ Trần hoặc họ Dương, nguyên danh là Bảo Thông, người Triều Dương, học trò của Huệ Năm tam truyền thuộc phái Phật giáo Thuyền tông Nam. Mới đầu thầy ở Huệ Chiêu, rồi làm hòa thượng ở Hoành sơn thạch đẩu. Sau năm Trinh Nguyên thứ 5 thì về sáng lập Thiền viện ở Triều châu, tên là Linh Sơn, tự đặt tên hiệu là Đại Điên hòa thượng. năm Nguyên Hòa thứ 14, Hàn Dũ can việc Đường Hiến Tông nghênh đón Phật cốt, nên bị biếm làm thứ sử Triều Châu, vì vậy mà quen Đại Điên hòa thượng. Lúc đó Hòa thượng đã là ông già tám mươi tám tuổi. Hai người thường qua lại với nhau. năm Trường Khanh thứ 4 thì ông mất, hưởng thọ chín mươi ba tuổi.
TÁc giả "Hậu Tây du ký" mượn sử liệu lịch sử để sáng tác câu chuyện. Câu chuyện mở đầu bằng bài văn "Luận Phật cốt biểu" của Hàn Dũ nhằm mạnh dạn đả kích câu c huyện nhảm của việc Đường Hiến Tông đón phật cốt, và tác giả kết luận chính xác: "Thờ Phật cầu phúc lại càng gặp họa" (sự Phật cầu phúc nãi cánh đắc họa). Trong tác p hẩm tác giả chỉ ra rất xác đáng: Nho, Đạo và Phật "Tam g íao đồng đường h ữu xuất nhập" (ba tgôn giáo cùng ở chung một nhà có ra có vào). Hồi ba mươi bảy có câu: "Đạo gia thì tu tính mệnh, họ Phật thì trọng từ bi và nhà Nho thì lập danh giá". Trong hồi hai mươi ba, tác giả chỉ rõ: "Nho gia và Phật giáo từ trước đến nay đều là một nhà. Nho có thứ Nho chính, có thứ Nho tà, PHật giáo cũng có Phật giáo đúng, cũng có Phật giáo sai".
Phật giáo thì như t hế, còn Nho giáo thì như thế nào? Hồi hai mươi hai Hậu Tây Du ký trực tiếp vạch ra sự khôgn thực tế của các Nho sinh không từ bỏ một bát cháo mà lúc nào cũng cao đàm khóac luận những điều viển vông vô ích.
Trọng tâm tư tưởng của Hậu Tây du ký không chỉ Phúng Phật thích Nho mà còn bộc lộ ở thái độ "ưu linh căn", "bi thế đạo". Tác gỉa của Hậu Tây Du ký đã đem bộ mặt xã hội và triết lý nhân sinh cao độ để khái quát bằng nghệ thuật. Ý nghĩa tích cực và sâu sắc của tác phẩm chính là ở chỗ đó. Mục đích tác phẩm của tác giả không phải là ở thuyết minh mâu thuẫn, trần thuật hiện tượng xã hội mà là ở sự cảm ứng viên thông, giai thành đạo pháp nhằm mục đích cải cách xã hội theo hướng tích cực và tốt đẹp hơn. Câu chuyện lấy chân giải chấn hưng Phật giáo trong Hậu Tây Du ký không ngòai ước múôn cứu đời, cứu dân. Ý nghĩa mới mẻ của tác phẩm chính là ở chỗ cầu chân giải để giải chân kinh. Ngoài ý nghĩa xã hội, tác phẩm còn có ý nghĩa nghệ thuật . Phong cách nghệ thuật độc đáo và hình tượng nghệ thuật ý vị, sâu sắc. Đó là đặc điểm nghệ thuật nổi bật của Hậu Tây du ký mà ai nấy đều nhận thấy.
Trong Trung Quốc tiểu thuýet sử lược, Lỗ Tấn đánh giá tác phẩm hậu Tây Du ký hành văn, dựng truyện không bằng Tây Du ký, nhưng giá trị nghệ thuật của nó cũng rất cao xứng đáng là một tác phảm ưu tú trong kho tàng tiểu thuyết cổ điển thời Minh - Thanh. Hậu Tây Du ký không phải là một bộ Thần ma tiểu thuyết (hoặc gọi là tiểu thuyết linh quái) cũng không đơn giản là tác phẩm cười đùa giận mắng , lại càng không thể coi nó là tiểu th uyết châm biếm mà phải xem n ó là tác phẩm châm cứu thế sự (châm chiêm thế sự). Đúng như Đàm Chính Bích nói: "Hậu Tây Du ký" là một lọai tiểu thuyết lý tưởng.
Cuối cùng như trên đã nói, Hậu TÂy Du ký thuộc lọai tiểu thuyết Minh - Thanh. Ngôn ngữ trong Hậu Tây Du ký t huộc ngôn ngữ ở vùng đất Ngô. Tác phẩm có n hiều phương ngữ, phương ngôn, lối hành văn của tác phẩm cũng không đơn giản. Nên trong khi dịch ra tiếng Việt, chúng tôi cố gắng dịch cho thật đúng với nguyên tác nhưng khả năng con người có hạn, trong khi chữ nghĩa lại vô cùng. Chắc cũng không sao tránh khỏi những sai sót, rất mong được các bậc cao minh chỉ giáo.
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23-03-1994
PTS. Hồ Sĩ Hiệp
Một giờ ngồi cạnh một người đàn bà đẹp như dài một phút . Một phút ngồi cạnh một lò lửa nóng bỏng như lâu bằng 1 giờ. Ðó là sự tương đối
Albert Einstein
Albert Einstein