📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Hậu Tây Du Ký

2 trả lời, 17.806 lượt xem — Trang 1 / 1
Chúng ta hẳn ai cũng biết bộ truyện Tây du kí nổi tiếng của Ngô Thừa Ân, nhưng có lẽ ít ai biết về bộ Hậu Tây Du Kí này. Nay tui xin post lên để mọi người cùng chia sẻ nha![sm=n_yes.gif]
Bộ truyện này post từ tàng thư các của Lương Sơn Bạc.
-----------------------------------------------------------------------
Lời giới thiệu

I

Trước khi tìm hiểu "Hậu Tây du ký" cần nhắc lại vài nét về tác phẩm "Tây Du ký".
Như ai cũng biết "Tây Du ký" là tác phẩm văn học bất hủ. Tác giả của "Tây du ký" là Ngô Thừa Ân (1500 - 1581?) người Sơn Dương, phủ Hoài An, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc ngày nay. Ông xuất thân trong một gia đình buôn bán nhỏ, chuyên bán chỉ may và đồ thêu, nhưng lại thích tàng trữ sách vở. Thuở nhỏ Ngô Thừa Ân ham đọc sách truyện lịch sử, nhất là các bộ truyền kỳ. Ông cũng là người ưa thích văn học dân gian, say mê với những câu chuyện kể thần tiên, ma quái. Lớn lên tính tình của ông khí khái, ngang ngạnh, "bình sinh không để người thương hại", trong lòng mài dũa dao trừ tà... buồn không đủ sức" (Nhị lang sưu sơn đồ ca). Ông học giỏi, đọc rộng, hạ bút thành thơ... rất thích hài kịch, từng viết nhiều tạp ký, lừng danh một thời (Thiên Khải Hoài An phủ chí). Mặc dù đa tài, nhưng lận đận trên con đường khoa hoạn, nên mãi đến năm bốn mươi ba tuổi mới đỗ "Tuế Cống sinh" (tức cử nhân). Năm năm mươi mốt tuổi vì cảnh nhà quẫn bách nên ông đến Nam Kinh tìm việc làm, nhưng thân cô thế cô, không được tọai nguyện. Mãi đến năm sáu mươi bảy tuổi ông mới được bổ làm Thừa lại huyện Trường Hưng, nhưng "không bao lâu nhục nhã vì phải vào luồn ra cúi mà phủi áo bỏ về". Sau đó ông lại được tiến cử giữ chức ký thiện trong Kinh vương hủ chuyên coi về việc lễ nhạc, văn thơ. Được ba năm thì ông bất đắc chí và xin từ quan.
Tác phẩm của Ngô Thừa Ân được đời sau thu thập và in lại thành "Xa Dương tiên sinh tồn" gồm bốn quyển. "Tây Du ký" là bộ tiểu thuyết duy nhất còn lại của ông, được sáng tác những năm cuối đời.
Tây Du ký gồm một trăm hồi, ra đời vào năm Vạn Lịch thứ 29 (1601), triều Minh.
Sau khi "Tây Du ký" của Ngô Thừa Ân ra đời, trong thời Minh, Thanh xuất hiện những tác phẩm tiếp tục đề tài của Tây Du ký, nhưng cốt truyện và nhân vật có thay đổi như "Hậu Tây Du ký", "Tục Tây Du ký" và "Tây du bổ". Trong đó đáng chú ý và có giá trị nhất là "Hậu Tây du ký". Từ trước đến nay trong lịch sử văn học và lịch sử tiểu thuyết Trung Quốc đều có nhắc đến tác phẩm "Hậu Tây du ký", nhưng nội dung các tài liệu nghiên cứu rất sơ lược. Tài liệu đề cập đến "Hậu Tây du ký" được phát hiện sớm nhất ở Trung Quốc là "Tại viên tạp chí", quyển ba của Lưu Đĩnh Cơ, người đời Thanh.
Đầu sách này có bài tựa "Văn Đình sơn nhân Khổng Thượng Nhâm soạn". Cuối bài tựa có ghi mấy chữ "Khang Hi Ất mùi sơ xuân" (Đầu xuân năm Ất mùi, Khang Hi). "Ất mùi xuân", tức là năm Khang Hi thứ 54 (năm 1715). Từ những ghi chép trên đây có thể biết "Hậu Tây du ký" được viết trong những khoảng t hời gian từ năm 1592 đến 1715. Mặt khác, theo sự suy đoán của Đàm Chính Bích thì "Hậu Tây du ký" sáng tác sau "Tây du bổ" mà "Tây du bổ" lại viết sau khi nhà Minh mất, cho nên phàn n hiều ngụ ý tình cảm khi nước mất. Theo Đồng Thuyết, tác giả của bài t hơ "Mạn Hứng" thì "Tây du bổ" viết trước khi nhà Minh tiêu vong, năm đó tác giả hai mươi mốt tuổi. Đồng Thuyết sinh năm 1620 và mất năm 1686.
Từ hai giả thuyết trên đây có thể khẳng định "Hậu Tây du ký" được sáng tác trong thời gian từ cuối đời Minh đến những năm đầu Khang Hi, đời Thanh. Thời gian này ở đất Thần Châu xảy ra hai sự kiện lịch sử quan trọng. Đó là cuộc khởi nghĩa nông dân lần đầu tiên có qui mô to lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc. Cuộc khởi nghĩa này nổ ra vào năm Thiên Khải thứ 7 (năm 1628) thời nhà Minh. Sự kiện thứ hai là sự biến Đỉnh Cách năm 1644 làm cho vương triều nhà Minh sụp đổ và vương triều nhà Thanh lên thay thế.
Vậy, ai là tác giả của "Hậu Tây du ký"? Về tác giả của "Hậu Tây du ký", từ trước đến nay có ba ý kiến khác nhau:
- Ý kiến được nhiều người tán đồng nhất cho rằng tác giả của "Hậu Tây Du ký" là Ngô Thừa Ân, người đã sáng tác tác phẩm "Tây Du ký" bất hủ. Tiêu biểu cho ý kiến này là Ngô Ngọc Tân. Trong sách "Sơn Dương chí dị" quyển bốn, ông viết: Hoặc nói: Có "Hậu Tây du ký" do "Xa dương tiên sinh soạn" . Mà Xa Duơng là bút danh của Ngô Thừa An. Nghĩa là chính Ngô Thừa Ân đã viết ra "Tây Du ký" và "Hậu Tây du ký".
- Ý kiến khác cho rằng tác giả của "Hậu Tây Du ký" là Mai Từ Hòa. Đó là ý kiến của Viên Văn Điển, người đời Thanh trong sách "Điền Nam thi thoại", quyển hai, nói rằng: "Tây Du ký" cùng loại với "Hậu Tây Du ký" đều là của "Mai Từ Hòa".
- Ý kiến cuối cùng là của các nhà nghiên cứu Trung Quốc hiện nay. Họ cho rằng "Hậu Tây Du ký" là tác p hẩm vô danh. Tiêu biểu cho ý kiến này là của Tôn Khải Thứ trong sách "Trung Quốc thông tục tiểu thuyết thư mục" nói: "Hậu Tây Du ký" là tác phẩm của "người vô danh đời Thanh biên soạn" (Thanh vô danh thị soạn).
Ba ý kiến trên đây đều không có cơ sở xác đáng và đều ở dạng giả thuyết, chưa có đầy đủ chứng cứ cụ thể. Theo tài liệu đã có hiện nay thì không thể cho rằng tác giả của "Hậu Tây Du ký" là ngô Thừa Ân. Cũng không thể khẳng định Mai Tử Hòa là tác giả của "Hậu Tây Du ký".
Vì tác giả của "Hậu Tây Du ký" chưa xác định nên không biết tác giả là người của thời đại nào? Nếu theo như sự ghi chép của Lưu Đĩnh Cơ người đời Thanh trong "Tại Viên tạp chí" quyển ba như đã nêu ở trên thì "Hậu Tây Du ký" khôgn thể sáng tác vào năm Khang Hi thứ 57 đời Thanh mà ít nhất là nó được sáng tác vào giai đoạn trước của giữa năm Khang Hi. theo như cách ghi chép của Lưu Đĩnh Cơ thì rõ ràng "Hậu Tây Du ký" sáng tác trước, và "Tục Tây Du ký" sáng tác sau.
Đến nay nhiều người vẫn cho rằng "Tục Tây Du ký" là do người đời Minh viết và "Hậu Tây Du ký" là do tác giả vô danh người đời Thanh sáng tác. Trong sách "Trung Quốc thông tục tiểu thuyết thư mục", Tôn Giai Đệ cũng cho rằng như vậy. Năm 1978, Khoa Trung Văn, trường Đại Học Bắc kinh biên soạn "Trung Quốc tiểu thuyết sự" cho rằng " Tục Tây Du ký" viết trước, "Hậu Tây Du ký" viết sau và coi nó là tac phẩm của đời nhà Minh. Trong mục thứ ba ,chương tám sách "Trung Quốc tiểu thuyết sử" có đoạn viết: "Từ giữa đời Minh đến cuối đời Minh, do sự đề xướng và đề cao của giai cấp thống trị, đạo giáo thịnh hành một thời, những câu chuyện thần tiên hoang đường lưu hành ở xã hội. Phản ánh trong lĩnh vực tiểu thuyết, tiếp tục "Tây Du ký" đã xuất hiện "Tục Tây Du ký" và "Hậu Tây Du ký" có hơn mười bộ...

II

Mặc dù không bằng "Tây Du ký" , nhưng nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật của "Hậu Tây Du ký" cũng rất xuất sắc, hơn hẳn "Tục Tây Du ký". Cấu tứ tổng thể, tình tiết nghệ thuật "Tây Du ký" của Ngô Thừa Ân là kế thừa những thành quả nghệ thuật của người đi trước và sáng tạo, phát triển những đặc trưng nghệ thuật của tác giả. Rất nhiều câu chuyện trong "Tây Du ký" đều có nguồn gốc, bắt nguồn từ thần thoại, truyền thuyết, truyện kể của các nghệ nhân lưu truyền trong dân gian từ các đời Đường, Tống, Nguyên. Và đến giữa đời Minh thì các câu chuyện này thành hoàn chỉnh, có hệ thống, tạo cơ sở để Ngô Thừa Ân sáng tác thành bộ tiểu thuyết phong phú và nghệ thuật của nó vô cùng đa dạng. Sự sáng tạo của Ngô Thừa Ân rất lớn lao. Câu truyện nhà sư Huyền Trang đời Đường mà "Tây Du ký" miêu tả là một nguyên mẫu đầy tính chất huyền thoại của chính sử.
Không có đuợc những thuận lợi về đề tài, cốt truyện và nhân vật như "Tây Du ký", trong "Hậu Tây Du ký" tác giả tự sáng tạo ra rất nhiều. Sự sáng tạo ấy của tác giả "Hậu Tây Du ký" khó khăn hơn nhiều so với sự sáng tạo của Ngô Thừa Ân trong "Tây Du ký". Tác gỉa của "Hậu Tây Du ký" hoàn toàn không được "thừa hưởng" những câu chuyện, tình tiết và kết cấu của người đi trước để lại. Nguồn tư liệu từ sử sách, truyện kể dân gian hầu như không có.
Giữa "Hậu Tây Du ký" và "Tây Du ký" có mối quan hệ đối ứng. Tác phẩm "Tây Du ký" của Ngô Thừa Ân chủ yếu là lấy sự kiện chủ thể việc Huyền Trang phụng lệnh Đường Thái Tông sang Tây Thiên t hỉnh kinh để làm bối cảnh miêu tả. Tác giả tả việc con khỉ đá ra đời. Cầu Tiên học đạo, phản nghịch Tam giới, đại náo thiên cung, sau đó lại cầu cứu Phật tổ, bảo vệ cho Huyền Trang sang Tay Thiên thỉnh kinh... còn nội dung của "Hậu Tây du ký" là miêu tả câu chuyện từ Huyền Trang thỉnh kinh trở về nhà Đường vào giữa những năm Đường Hiến Tông sau hơn hai trăm năm lưu truyền kinh Phật.
Trong "Tây Du ký" có bốn nhân vật trung tâm: Đường Tăng, Ngộ Không, Bát Giới và Sa Tăng. Trong "Hậu Tây Du ký" cũng có 4 nhân vật trung tâm, nhưng tên gọi có thay đổi. Đó là Đường Bản Kệ, Tiểu hành Giả, Trư Nhất Giới và Tiểu Sa Di.
Tác phẩm kể lại câu chuyện bốn người đến Linh Sơn để thỉnh "chân giải". "Hậu Tây Du ký" bắt đầu viết từ lúc "Chân kinh tuy có, nhưng chân giải thì không". T ừ đấy câu chuyện hình thành hàng lọat tình tiết có liên quan chặt chẽ với nhau. Trong đó có chuyện Tiểu hành Giả ra đời, rồi Hoa quả sơn, Thủy Liêm động nổi lên, đại náo Tam giới, ngọc hoàng thượng đế sai thiên binh thiên tướng đi giải vây. Thái Bạch Kim Tinh cho mời Tôn Ngộ Không đến thu phục Tiểu Hành Giả và Đường Bá Kệ, Trư Nhất Giới và Tiểu Sa Di cùng đi Tây Thiên... Tình tiết của "Hậu Tây Du ký" cũng rất giống với tình tiết của "Tây Du ký". tình tiết giữa hai tác phẩm có mối l i ên kết chặt chẽ, nhưng sự sáng tác tình tiết của "Hậu Tây Du ký" cũng rất lớn. Đây chính là một trong những giá trị nghệ thuật của tác phẩm.
Trên việc xử lý đề tài, tác giả của "Hậu Tây Du ký" xuất phát từ yêu cầu của thời đại, lấy tiểu thuyết thần thoại để làm vũ khí đấu trang, phát huy lợi thế của văn học, mỗ xẻ những ung nhọt xã hội, khơi dậy những tình cảm yêu ghét rõ ràng của con người trong xã hội. Cũng như "Tây Du ký" trong "Hậu Tây Du ký" cái thiện, cái ác, cái chính và tà được bộc lộ rõ nét qua từng cốt chuyện và tính cách nhân vật. Trên cơ sở nội dung phong phú của câu chuyện lưu truyền vốn có trong dân gian, "Tây Du ký" của Ngô Thừa Ân đi sâu vào việc phê phán một cách sâu sắc đối với những thực trạng xấu xa đen tối của xã hội đương thời. Từ đó làm cho câu chuyện "Tây thiên thỉnh kinh" trở nên có ý nghĩa tư tưởng mãnh liệt.
Cấu thành đề tài của "Hậu Tây Du ký" và "Tây Du ký" có những đặc điểm khác nhau. Từ thành tựu tư tưởng nghệ thuật mà nói, đương nhiên "Tây Du ký" t huộc về đỉnh cao của tiểu thyuết lãng mạn cổ điển Trung Quốc ,còn sự năng động sáng tạo của tác giả "Hậu Tây Du ký" cũng mang đến những kinh nghiệm quan trọng cho người đọc khi tiếp xúc với tác phẩm này.
Một trong những thành tựu quan trọng của khuynh hướng tư tưởng "Tây du ký" là giỏi khéo về việc kết hợp hữu cơ giữa việc châm biếm sâu sắc và sự phê phán nghiêm khắc . Đối với Tôn giáo và Thần quyền (đặc biệc là đối với đạo giáo) tác phẩm đã đả kích và vạch trần gay gắt. "Tây Du ký" thẳng thắn chỉ ra phát thụat của đạo giáo là loài "yêu thuật" giả dối, phủ định con đường đi, lừa đời dối người của đạo phái này. Tác phẩm cuối cùng không hoàn toàn phủ định tôn giáo và thần quyền mà chủ trương Nho, Thích và Đạo "tam giáo hợp nhất". Vì vậy trong "Tây Du ký" không ít chỗ tuyên dương quan niệm Phật pháp vô biên, khuyến khích bài học lấy "Thiện" để thu phục "Tâm" và giữ lấy tư tưởng "luân hồi", "báo ứng". So với Tây Du ký thì việc vạch trần và phê phán đối với tôn giáo và thần quyền của "Hậu Tây Du ký" sâu sắc hơn. Sự phủ định đối với tôn giáo và thần quyền của tác phẩm cũng tương đối rộng hơn. Sự sâu rộng này biểu hiện cụ thể ở việc phủ định, gay gắt đối với tư tưởng "Thọ yểu họa phúc" "nhân quả báo ứng". Thông qua nhân vật Tiểu hành giả tác p hẩm vạch trần tính giả dối và tính lừa gạt của tư tưởng "Thọ yểu họa phúc" và "nhân quả báo ứng".
"Hậu Tây Du ký" cũng phê phán sự bảo thủ, lạc hậu của tư tưởng nho gia. Vì vạy tính chiến đấu của tác p hẩm rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần chủ nghĩa dân chủ ở buổi ban đầu. Đây chính là một trong những đặc sắc quan trọng của khuynh hướng tư tưởng tác phẩm.
"Tây Du ký" và "Hậu Tây Du ký" đều thông qua câu chuyện thần thoại, phơi bày và phê phán một cách sâu sắc sự phản động, hủ bại của chế độ pháp luật, chính trị, xã hội chuyên chế cùng với bản chất xấu xa tàn bạoc ủa các giai tầng phong kiến thống trị t ừ trên xuống đến địa ngục. Đây là điểm giống nhau của khuynh hướng tư tưởng hai tác phẩm. Từ ý nghĩa hiện thực đời sống mà nói thì so với "hậu Tây du ký" diện phản ảnh của "Tây Du ký" rộng lớn, khúc chiếc và sinh động hơn. Nhưng "Hậu Tây Du ký" cũng thể hiện đầy đủ đặc trưng miêu tả hiện thực, làm cho người đọc cảm nhận, rung động và bị lôi cuốn từ đầu đến c uối.
Đối với thế đạo nhân tình hiện thực xã hội giữa thời Minh, Thanh, "Hậku Tây Du ký" vừa châm biếm, vừa chỉ trích mạnh mẽ. Cả hai tác phẩm "Tây Du ký" và "Hậu Tây du ký" đều miêu tả cụ thể và hướng dẫn tình tiết câu chuyện "đại náo thiên cung" và "sang Tây Thiên thỉnh kinh". Cốt truyện trong hai tgác phẩm đều có liên quan "giao tương chiếu ứng" mà không hề có sự đối lập "bất tương lôi đồng".
Từ những tình tiết nghệ thuật trong "Hậu Tây Du ký" tác giả vừa "kế thừa", "cách tân" vừa "sáng tạo" nhằm làm cho người đọc hứng thú. Cũng từ thiết kế nghệ thuật cho "Tây Du ký" nhưng qui mô "đại náo thiên cung" trong "Hậu Tây Du ký" rất lớn lao, bao quát, mang nét miêu tả độc đáo riêng. Trong hồi thứ ba của "Hậu TÂy Du ký" tác giả xây dựng hình tượng dũng cảm phi thường của Tiểu Hành Giả trong cuộc chiến đấu chống lại kẻ thù. Đến hồi thứ tư, Tiểu Hành Giả hoàn toàn chiến thắng. Từ "lọan" Tiểu hành Giả đã làm cho mọi thứ trở nên "Định". Mặc dù câu chuyện "Thỉnh cầu chân giải" (Cầu thử chân giải) miêu tả không đựoc uyển chuyển, khúc chiết như trong hồi 81 của "Tây Du ký" nhưng sự sáng tạo trong việc miêu tả tính chất nhân vật trong "Hậu Tây Du ký" cũng rất thành công. TÁc giả miêu tả hay và khéo đến mức làm cho người đọc thấy nhân vật Tôn Ngộ Kkhông (Tây Du ký) và Tiểu Hành Giả (Hậu Tây du ký) tuy hai mà một, nhưng ở hai nhân vật này, hình dáng, tính cách đều có nh ững nét khác biệt. Giữa Đường Tăng (Tây Du ký) với Đường Bán kệ (Hậu Tây Du ký) cũng có những nét đặc thù riêng. Đường Bán Kệ là con người lòng kính cẩn chân thành, kiên định, chín chắn, khảng khái, tự trọng. Trong khi đó nhân vật Đường Tăng trong Tây du ký là một con người mềm yếu lại vô nguyên tắc, có khi vừa ngoan cố lại không có óc nhìn xa trông rộng. Giữa Trư Bát Giới (Tây Du ký) và Trư Nhất Giới ( Hậu Tây du ký) cũng có những nét dị biệt trong tính cách và tư tưởng.
Cũng như Tây Du ký, bên cạnh những ưu điểm, Hậu Tây Du ký không tránh khỏi hạn chế của thời đại. Nhưng phần tinh hoa, tinh túy rực sáng nhất của Hậu Tây Du ký vẫn là tính dân chủ, ý thức tự do và quyền bình đẳn g của con người trong xã hội có giai cấp. Khát vọng thoát khỏi áp bức, bóc lột, ý tưởng muốn vươn lên tự do bình đẳng mà tác giả đề cập trong Tây Du ký và Hậu Tây Du ký vẫn luôn mang ý nghĩa thời sự nóng hổi. Cũng như Tây du ký, Hậu Tây Du ký muốn lấy đạo để nói đời. Trong Hậu Tây Du ký tác giả muốn lấy việc châm chọc nhà Nho, đẻ châm chọc cuộc đời. Đây cũng là một nội dung đáng chú ý. Tinh thần của Hậu Tây Du ký chính là khơi nguồn cho tác phẩm phê phán nhà Nho mãnh liệt trong Nho lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử sau đó.
Về mặt nghệ thuật Tây Du ký và Hậu Tây Du ký đều là tiểu thuyết thần thoại, vận dụng phương pháp sáng tác của chủ nghĩa lãng mạn để sáng t ạo và hình tượng người anh hùng thần thoại lý tưởng. Đúng như lời nhận xét của Các-Mác: "Thần thoại nào cũng đều dùng sức tưởng tượng và mượn sức t ưởng tượng để chinh phục sức tự nhiên chi phối sức tự nhiên và đem sức tự nhiên để hình tượng hóa". Rõ ràng tự nhiên trong Tây Du ký cao hơn trong Hậu Tây Du ký. Mặc du, Hậu Tây Du ký t hiếu sức mạnh cảm hóa của nghệ thuật thần thoại, nhưng có một số hồi không thiếu những cảnh biến ảo thần kỳ, làm cho người đọc vô cùng thích t hú. Nếu tình tiết của TÂy Du ký giàu sự khúc chiết biến hóa, mâu thuẫn xung đột hiện thành tầng tầng lớp lớp, thì sự thiết kế tình tiết của Hậu Tây du ký thiếu sắc thái ảo tưởng phong phú và sự tưởng tượng mạnh bạo. Nhân vật Tiểu hành Giả đại náo Tam giới về mặt khí thế và qui mô không thể bằng hành động Tôn Ngộ Không đại náo thiên cung ở "TÂy Du ký".

III

Vấn đề cuối cùng cần đề cập ở Hậu Tây Du ký là ý nghĩa xã hội của tác phẩm.
Trong bài tựa (có thể là tác giả tự viết) Hậu Tây Du ký có nói đến "ưu linh căn" (lo cho cái gốc linh hồn) và "bi thế đạo" (buồn về thế đạo). Ý nghĩa xã hội của tác phẩm chính là được chi phối bởi tư tưởng này. Thông qua tác phẩm, tác giả bày tỏ cảm khái "ưu thế ưu dân" (lo đời lo dân) sâu sắc của mình. Cũng như Ngô Thừa Ân trong "Tây Du ký", trong Hậu Tây Du ký thôgn qua quá trình quan sát xã hội và tìm hiểu cuộc sống của dân sinh, tác giả phát hiện ra hai cột trụ tinh thần lớn nhất trong xã hội phong kiến. Đó là Phật và Nho. Hai tôn giáo này không chỉ không có thể làm thay đổi hiện thực xã hội điên đảo này, trái lại nó trở thành công cụ "ngu nhân họa dân". Giai cấp phong kiến thống trị cố dùng Phật giáo và Nho học để cai trị mọi người. Ý tưởng sáng tác của tác giả t rong Hậu TÂy Du ký là lấy chân giải để giải chân kinh. Vì thế, nếu như nói Hậu Tây du ký là tác phẩm tiếp tục câu chuyện Đường Tăng đi lấy kinh, thì chẳng khác nào nói: "Hậu Tây Du ký" là một lọai phủ định Đường Tăng đi lấy kin, chấn hưng Phật giáo Tây phương. Tức là cho rằng tinh thần kiên nhẫn bất khuất của Đường Tăng và óc mưu trí, dũng cảm của Tôn Ngộ Không vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ trong việc sang Tây thiên lấy kinh chỉ là việc kinh Phật, lo ng hĩ đến việc chấn hưng Phật giáo mà không có tác dụng gì đối với việc cứu dân cứu đời. Vì vậy ý nghĩa xã hội tích cực và tính chất tiến bộ của Hậu Tây Du ký chính là ở chỗ "ưu linh căn" và "bi thế đạo".
Hậu Tây Du ký đứng vững ở mãnh đất hiện thực, tuy nói đến chuyện giảng quỉ thuyết quái nhưng không quên đến những tệ đoan hiện th ực xã hội Trung Quốc. Thông qua lời của Phật tổ ở hồi năm Hậu Tây Du ký thể hiện rất rõ điều ấy. Tác giả là người rất am hiểu hiện thực, hiểu rất rõ lịch sử và dựa hẳn vào lịch sử để sáng tác. Tác giả căn c ứ vào câu chuyện của nhà Nho chân chính Hàn Dũ thời Trung Đường để làm cơ sở, t hêm vào đó, tác giả dựa vào câu chuyện Hòa Thượng Đại Điên sang Tây thiên lấy chân giải.
Theo sử liệu của Triều Châu phủ chí và Cảnh Đức truyền đăng lục ghi chép: Đại Điên hòa thượnng sinh năm 731 và mất năm 824. Họ thường dùng là họ Trần hoặc họ Dương, nguyên danh là Bảo Thông, người Triều Dương, học trò của Huệ Năm tam truyền thuộc phái Phật giáo Thuyền tông Nam. Mới đầu thầy ở Huệ Chiêu, rồi làm hòa thượng ở Hoành sơn thạch đẩu. Sau năm Trinh Nguyên thứ 5 thì về sáng lập Thiền viện ở Triều châu, tên là Linh Sơn, tự đặt tên hiệu là Đại Điên hòa thượng. năm Nguyên Hòa thứ 14, Hàn Dũ can việc Đường Hiến Tông nghênh đón Phật cốt, nên bị biếm làm thứ sử Triều Châu, vì vậy mà quen Đại Điên hòa thượng. Lúc đó Hòa thượng đã là ông già tám mươi tám tuổi. Hai người thường qua lại với nhau. năm Trường Khanh thứ 4 thì ông mất, hưởng thọ chín mươi ba tuổi.
TÁc giả "Hậu Tây du ký" mượn sử liệu lịch sử để sáng tác câu chuyện. Câu chuyện mở đầu bằng bài văn "Luận Phật cốt biểu" của Hàn Dũ nhằm mạnh dạn đả kích câu c huyện nhảm của việc Đường Hiến Tông đón phật cốt, và tác giả kết luận chính xác: "Thờ Phật cầu phúc lại càng gặp họa" (sự Phật cầu phúc nãi cánh đắc họa). Trong tác p hẩm tác giả chỉ ra rất xác đáng: Nho, Đạo và Phật "Tam g íao đồng đường h ữu xuất nhập" (ba tgôn giáo cùng ở chung một nhà có ra có vào). Hồi ba mươi bảy có câu: "Đạo gia thì tu tính mệnh, họ Phật thì trọng từ bi và nhà Nho thì lập danh giá". Trong hồi hai mươi ba, tác giả chỉ rõ: "Nho gia và Phật giáo từ trước đến nay đều là một nhà. Nho có thứ Nho chính, có thứ Nho tà, PHật giáo cũng có Phật giáo đúng, cũng có Phật giáo sai".
Phật giáo thì như t hế, còn Nho giáo thì như thế nào? Hồi hai mươi hai Hậu Tây Du ký trực tiếp vạch ra sự khôgn thực tế của các Nho sinh không từ bỏ một bát cháo mà lúc nào cũng cao đàm khóac luận những điều viển vông vô ích.
Trọng tâm tư tưởng của Hậu Tây du ký không chỉ Phúng Phật thích Nho mà còn bộc lộ ở thái độ "ưu linh căn", "bi thế đạo". Tác gỉa của Hậu Tây Du ký đã đem bộ mặt xã hội và triết lý nhân sinh cao độ để khái quát bằng nghệ thuật. Ý nghĩa tích cực và sâu sắc của tác phẩm chính là ở chỗ đó. Mục đích tác phẩm của tác giả không phải là ở thuyết minh mâu thuẫn, trần thuật hiện tượng xã hội mà là ở sự cảm ứng viên thông, giai thành đạo pháp nhằm mục đích cải cách xã hội theo hướng tích cực và tốt đẹp hơn. Câu chuyện lấy chân giải chấn hưng Phật giáo trong Hậu Tây Du ký không ngòai ước múôn cứu đời, cứu dân. Ý nghĩa mới mẻ của tác phẩm chính là ở chỗ cầu chân giải để giải chân kinh. Ngoài ý nghĩa xã hội, tác phẩm còn có ý nghĩa nghệ thuật . Phong cách nghệ thuật độc đáo và hình tượng nghệ thuật ý vị, sâu sắc. Đó là đặc điểm nghệ thuật nổi bật của Hậu Tây du ký mà ai nấy đều nhận thấy.
Trong Trung Quốc tiểu thuýet sử lược, Lỗ Tấn đánh giá tác phẩm hậu Tây Du ký hành văn, dựng truyện không bằng Tây Du ký, nhưng giá trị nghệ thuật của nó cũng rất cao xứng đáng là một tác phảm ưu tú trong kho tàng tiểu thuyết cổ điển thời Minh - Thanh. Hậu Tây Du ký không phải là một bộ Thần ma tiểu thuyết (hoặc gọi là tiểu thuyết linh quái) cũng không đơn giản là tác phẩm cười đùa giận mắng , lại càng không thể coi nó là tiểu th uyết châm biếm mà phải xem n ó là tác phẩm châm cứu thế sự (châm chiêm thế sự). Đúng như Đàm Chính Bích nói: "Hậu Tây Du ký" là một lọai tiểu thuyết lý tưởng.
Cuối cùng như trên đã nói, Hậu TÂy Du ký thuộc lọai tiểu thuyết Minh - Thanh. Ngôn ngữ trong Hậu Tây Du ký t huộc ngôn ngữ ở vùng đất Ngô. Tác phẩm có n hiều phương ngữ, phương ngôn, lối hành văn của tác phẩm cũng không đơn giản. Nên trong khi dịch ra tiếng Việt, chúng tôi cố gắng dịch cho thật đúng với nguyên tác nhưng khả năng con người có hạn, trong khi chữ nghĩa lại vô cùng. Chắc cũng không sao tránh khỏi những sai sót, rất mong được các bậc cao minh chỉ giáo.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 23-03-1994
PTS. Hồ Sĩ Hiệp
Một giờ ngồi cạnh một người đàn bà đẹp như dài một phút . Một phút ngồi cạnh một lò lửa nóng bỏng như lâu bằng 1 giờ. Ðó là sự tương đối
Albert Einstein
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-09-08 21:10:32khongminhtk21>
Hồi 001
Núi Hoa Quả nguồn tâm nguyên sinh hậu phái
Động Thủy Liêm tiểu thánh rõ tiền nhân

Thân ta in dấu Phật
Thế nhân nào biết chắc.
Hình hài không điểm trang
Không dũa mài đẽo gọt
Không dính mảy bùn nhơ
Chẳng vương màu sắc tục
Muốn vẽ vẽ không thành
Muốn cướp cướp chẳng được
Thể tướng vốn tự nhiên
Tâm thần tự thanh thoát
Tuy mang thể hình hài
Hóa thân thiên vạn ức.

Thơ rằng:

Mờ mịt khí chia dựng đất trời,
Âm dương hít thở đã dành ngôi
Đạo sinh từ buổi lòng mê muội,
Chữ viết truyền ra quỉ khóc hoài.
Phân biệt ngũ hành nhiều đấu chọi
Đồng nguyên tam giáo cũng pha phôi
Giải chân kinh mới tìm chân lí,,
Thoát khỏi trời gieo ách xuống người.

Truyền rằng từ buổi ban sơ, thiên khai cung Tý, địa mở cung Sửu, nhân sinh ở cung Dần, sách đã được an bài từ trước, nay khỏi phải kể lể dài dòng. Chỉ biết càn khôn lập xong, vạn vật được sinh sôi, thì tinh hoa của trời đất, tú khí của âm dương, đúc kết thành một dòng tâm nguyên, rồi sinh ra con người muôn vật khôn cùng. Thật là:

Kể chi tiên thiên với hậu thiên
Đông sinh tây diệt dòng uyên nguyên
Không ai không có chân nguyên tính
Mấy kẻ thành Phật mấy kẻ Tiên.

Lại nói về nước Ngạo Lai, thuộc Đông Thắng Thần Châu, nơi Hoa quả sơn đã sinh ra Thạch hầu Tôn Ngộ Không, sau khi hộ vệ Đường Tam Tạng lần mò sang Tây Thiên thỉnh kinh, đã từ lâu siêu thăng về cực lạc thế giới, tiêu dao tự tại ở chốn vô ảnh vô hình, và coi nơi sinh thành ra mình là chốn Hoa quả sơn như một vùng đất đai tồi tệ không thèm bén mảng đến nữa. Đâu có ngờ rằng dù lòng dạ con người có thương có ghét khi quí mến lúc bỏ bê, nhưng đối với đức sinh của trời đất âm dương thì mọi vật vẫn vĩnh hằng không hề có hưng phế. Cho nên đối với danh sơn Hoa quả trải qua bao năm tháng dài vẫn đứng trơ trơ cùng tuế nguyệt, vẫn giữ mãi một màu non xanh thắm mực núi biếc ngất trời. Phải chăng vì Hoa quả sơn vốn là cõi Tiên, là vùng phúc địa, hơn nữa còn một đám khỉ vượn ở trong Thủy Liêm động, sinh con đẻ cháu, phát triển bầy đoàn thành ngàn thành vạn, suốt ngày vui đùa với trò hái hoa bẻ qua. Một hôm thìnhl ình thấy xuất hiện giữa đỉnh núi muôn đạo hào quang, nghìn tia thụy khí, kết thành màu sắc kỳ lạ. Bầy khỉ thấy vậy, vừa mừng vừa sợ, cho đó là điềm quái dị, tuy vậy vẫn tranh nhau dòm ngó không thôi, hiện tượng ấy kéo dài đến bốn mươi chín ngày.
Rồi một hôm, đúng vào ngày Đông Chí, g iữa tháng mười một, là một khí dương sinh, thình lình nghe có tiếng nổ lớn trên không trung, giống như sét đánh. Cả bầy khỉ ở Hoa quả sơn vội trốn chui trốn nhủi vì sợ hãi, nhưng sau một hồi lại c hẳng thấy động tĩnh gì, bầy khỉ lại co vai rút đầu dòm ngó đó đây. Chỉ thấy hào quang thụy khí trên núi tan đi bởi hai tia vàng xiên thẳng. Thế rồi trong đám khỉ lớn nhỏ có mấy con bạo gan, kiềm lòng không được, lò mò bò lên tận đỉnh núi xem xét thử. Thì thấy rằng tảng đá tiên vĩ đại từ thời xa xưa lại bể ra làm hai, và ở giữa có một trứng đá lớn. Trứng đá đó theo chiều gió mà xoay quanh theo hướng mặt trời không ngừng nghỉ. Rồi đến một lúc lâu, lại nổ thành một tiếng lớn, trứng đá vỡ làm hai, từ trong đó bước ra một con khỉ đá, có đầy đủ ngủ quan và tứ chi hoàn hảo. Tuy rằng chưa có tri giác gì nhưng đã biết đi, biết chạy, từ nơi mắt nó lại chiếu ra hai đạo hào quang. Bầy khỉ thấy vậy, vừa mừng vừa sợ, cùng bảo với nhau:
- Sao kỳ vậy? Một tảng đá vốn vô tri vô giác, chẳng có huyết khí gì lại có thể sinh ra một con khỉ con sao! Thật là quá kỳ lạ!
Nhưng rồi cũng dìu dắt con khỉ đá con đó xuống núi, đặt nó trên thảm cỏ và đem hoa tùng quả nhỏ cho nó ăn uống. Có mấy con khỉ hay đưa chuyện vội vã chạy ngay vào trong động, đem mọi việc kỳ lạ này báo với Thông Tý Tiên. Nhưng Thông Tý Tiên là ai vậy? Nguyên Thông Tý cũng chỉ là một con khỉ, nhưng vì tính khí minh mẩn, thời con Tôn Ngộ Không, con khỉ này hay dâng cho Đại Thánh những mưu sách, siêng năng phục vụ nên được Tôn Đại Thánh trọng dụng. Trong thời đại náo thiên cung, uống trộm được rựou thánh và và ngốn nuốt được đào tiên đánh cắp, do đó trở nên trường sinh bất tử. Từ ngày Tôn đại thánh thành Phật siêu thăng thì Thông Tý trở thành kẻ độc tôn ở trong động, cũng là kẻ duy nhất biết được sự việc dĩ vãng và tương lai, cho nên được bầy khỉ tôn xưng là vị Tiên. Từ khi Thông Tý Tiên đắc đạo rồi càng không hiếu động mà lại hiếu tình ngày ngày chỉ ngồi ở trong động mà tu tâm vận khí điều dưỡng tinh thần. Ngày ấy sau khi nghe biết mọi việc xảy ra, trong lòng vừa mừng vừa sợ nói rằng:
- Đúng là chuyện lạ! Xưa kia lão Đại Thánh thành Phật, vốn là do trời đất sinh sôi nuôi dưỡng, ,mượn đá thụ thai. Nhưng sự việc ấy đã quá xa xưa, làm sao lại có thể lưu lại con cháu đích phái? Hãy để ta xem lại thử sao? Bèn ra khỏi động, xuống núi, thì thấy một bầy khỉ đang quây quần xung quanh một con khỉ đá con, đùa giỡn vui cười. Hãy xem hình dạng Tiểu Thạch hầu ra sao? Thấy rằng:

Hình chia khí thiên sao Trủy,
Thể cướp vẻ đẹp sao Sâm
Mắt lửa con ngươi vàng, nguyên là bào thai có giống,
Mỏm nhọn da mặt choắt, phải đâu xương máu không căn.
Được tinh hoa vuông tấc tim nồng,
Nhờ nuôi dưỡng ba sao trăng xế!
Dù trần trụi da lông, cử chỉ tỏ thiên cơ một phái,
Nếu tắm gội mũ áo, đi đứng ắt nhân dạng mười phần.
Đầy xuống làm quỉ làm yêu,
Tu tròn thành tiên thành Phạt.

Sau khi Thông Tý Tiên xem xét kỹ một hồi, thấy Tiểu Thạch hầu khi tiến khi lùi, đều mang tính linh của thiên cơ, lòng vô cùng hớn hở, mừng rằng Thủy Liêm động ở núi Hoa Quả nay lại có chủ rồi. Nhân đó mới căn dặn với bầy khỉ rằng:
- Bây giờ tuy con Tiểu thạch hầu này chưa có hiểu biết gì, nhưng trong nó có ẩn tàng điểm linh quang, có những căn cơ tốt, có thể mặc nó hành động theo thể tính của nó, ngõ hầu khuếch sung đại đạo; nếu lại ràng buộc làm tổn thương cái bản lai diện mục, để cho nhân dục xâm nhập, càng làm nhiễu loạn trời đất, thì khó lòng mà thu hồi trở lại. Đám khi nghe nói hơi bán tín bán nghi, nhưng rồi cũng vui vẻ mà nghe theo lời của Thông Tý Tiên. Do đó mà rồi Tiểu thạch hầu được tự do tự tại, một mình đi lại, càng ngày càng lớn khôn ở trong núi. Hàng ngày Tiểu thạch hầu không tìm hoa thì bẻ trái, cũng không mảy may lo âu hay phiền muộn, cũng chẳng biết gì đến thời tiết đổi thay xuân qua thu lại, hè đi đông đến.
Đúng là thời gian đi quá mau, phút chốc mà đã mấy năm qua. Tiểu thạch hầu đã mở mang trí thức, tinh thần trở nên cường tráng, càng ngày càng ý thức muốn ăn ngon, muốn chiếm hữu chỗ tốt, gặp khi thời tiết đẹp trời trong sáng, khỉ ta leo trèo chạy nhảy chơi đùa, vô cùng vui tươi hớn hở, hay phải lúc gió mưa tầm tã, ẩn thân trong động, thì khỉ ta cũng buồn phiền vô hạn. hay tình cờ bị đồng loại khinh khi, lại càng muốn bộc lộ tính can cường hiếu thắng, cũng có lúc cam chịu gian khổ thì cũng biết cảm thân bi thương. Thật đúng là:

Vật hữu thất tình
Vui mừng thương xót
Đụng đến phát sinh
Không cần đẽo gọt.

Thế rồi một hôm, có con khỉ già chết đi, Tiểu Thạch hầu cũng như đồng loại, thấy vậy, lòng vô cùng buồn thương, nhân đó mới hỏi đám khỉ rằng:
- Ngày qua gã còn cùng với chúng ta ăn uống vui chơi, thế mà sao nay lại thành kẻ vô tri vô giác, không hề cử động?
Bầy khỉ đáp:
- Nó đã sống qua nhiều năm thágn, tuổi thọ nhiều, tinh huyết khô cạn, cho nên đến lúc phải chết.
Tiểu thạch hầu bèn nói:
- Nói như vậy thì tất cả chúng ta, ai cũng qua một thời rồi phải chết, như thế không ủông lắm sao?
Bầy khỉ lại đáp:
- nếu như muốn trở thành bất tử, thì phải tu Tiên mới có thể trường sinh.
TIểu thạch hầu lại hỏi:
- Nếu tu Tiên có thể thành bất tử, vậy tại sao không tu Tiên?
Bầy khỉ cười rộ và đáp:
- hai chữ tu TIên, có p hải dễ dàng lắm đâu?
Tiểu thạch hầu lại hỏi dồn:
- Cớ sao không nói được?
Bầy khỉ mới nói:
- Tu Tiên là cần phải có căn cơ từ lúc sinh thành, lại cũng càn phải có số mệnh, có phúc phần mới được tu Tiên, lại cầu gặp được tiên sư, giảng giải cho rõ tiên đạo, nói chung có lắm điều khó khó; nếu tu tiên mà dễ, thì mọi người đều trở thành tiên hết.
Tiểu thạch hầu nghe xong, tuy không hỏi hai gì nữa, nhưng trong tgâm đã có ý niệm tu tiên, rồi âm thầm tự mình tìm hỏi. Bỗng một hôm, mưa gió đầy trời, không có cách nào leo trèo được trên núi hầu ngao du, phải co chân nằm lì trong động, nhưng đến giữa trưa, bỗng nghe phía sau động có tiếng ngâm nga. Con tiểu thạch hầu vốn có tâm linh tính xảo, bèn lần mò ra phsia sau nghe trộm. Và nghe được lời ca rằng:

Đầu đội trời chân đạp đất
Kể chi năm dài, tháng tận, ngày qua
Thân trường sinh mãi chẳng già
Vốn nhờ rượu Thánh, cùng là đào Tiên...

Tiểu thạch hầu nghe kỹ, thì ra là Thông Tý Tiên đang nằm dài trên giường bằng đá và ngâm nga để bày tỏ chí hướng của mình. Do đó mà Tiểu thạch hầu mới nghĩ rằng:
- Người ta gọi ông ta là thông tý tiên, rõ là ông ta có những ý tưởng mang tính tiên cốt, huống chi lời ngâm vịnh của ông ta cũng có rất nhiều căn cơ tiên. Ta từng nghĩ ngợi phải đi khắp nơi để tìm kiếm một vị tiên, nào có hay đâu ngay trong c hốn gia cư của mình cũng có vị thần tiên. Thế rồi không dám làm kinh động đến người. Tiểu thạch hầu nhẹ nhàng bứoc ra ngoài. Chờ cho đến khi trời tạnh ráo. Tiểu thạch hầu mới lên núi hái bẻ khá nhiều hoa quả quý lạ, chất thành một mâm đầy, hai tay bưng đến động ở phía sau để dâng lên cho thong tý tiên. Rồi quỳ xuống mà bạch rằng:
- Con ngu khờ xin kính dâng lên lão tổ.
Vị Thông Tý Tiên nhìn tháy tiểu thạch hầu, lòng đầy hoan hỉ, nhân đó bèn nói rằng:
-- À, té ra là ngươi! Nhà ngươi vốn bướng bỉnh khó bảo, cớ sao hôm nay lại biết tìm ra cội nguồn, nhận tông phái?
Tiểu thạch hầu thưa rằng:
- Bướng bỉnh thì cũng có bướng bỉnh, nhưng khi có kết quả thì cũng phải có kết quả, cúi xin lão tổ rủ lòng thương.
Thông tý tiên gật đầu lia lịa, và nói rằng:
- Vốn ta đã nhìn thấy nhà ngươi có căn cơ, nay quả nhiên phát hiện được tư tưởng siêu quần ấy, nhưng ta là ta, còn nhà ngươi là nhà ngươi, ngươi đến cầu xin ở ta cũng là vô ích.
Tiểu thạch hàu bèn thưa:
- Con nghe rằng thần tiên thường truyền đạo, Phật Bồ đề muốn độ hết chúng sinh, vậy sao lại nói là vô ích?
Thông Tý Tiên đáp:
- Đó là con không biết đó thôi, phàm làm thần tiên cũng có cấp bậc. Vị nhất đẳng tối thượng thừa ngộ thấu triệt bồ đề, linh thông tạo hóa, đạo pháp của họ có thể cùng tahm dự với đấ trời, tức là ngôi vị như Ngọc Hoàng Thượng Đế cũng không thể dùng quyền thế thêm bớt gì cho người, đến Phật cũng không dám dùng các phép thần thông áp đảo người, các vị tiên đạt được cấp bậc đó mới có thể đọ nhân cứu thế, hạng thấp hơn một chút tu tập thành than vàng đá, hít thở khí ngũ hành, sáng chơi miền Bắc Hải, tối về chốn Thương Ngô, trong có thể siêu phàm nhập thánh, ngoài có thể diểm sắt thành vàng, các vị tiên thuộc cấp bậc ấy mới có thể truyền đạo được, mới thiết lập thành giáo phái, chứ như bọn ta là thần tiên cấp thấp, chẳng qua chỉ làm được việc đánh cắp thuốc, hái trộm đào, bảo toàn được tính mệnh, năm năm nuôi dưỡng bằng cây cỏ trong núi mà thôi, làm gì có đựoc diệu đan, bí pháp, hay khả năng bay nhảy giữa thanh thiên bạch nhật để có thể truyền dạy lại cho người, cho nên mới bảo rằng cầu xin ở nơi ta cũng là vô ích.
Tiểu thạch hầu lại thưa rằng:
- Dù rằng lão tổ nói là bậc hạ tiên đi nữa, nhưng ăn cắp thuốc với hái trộm đào cũng phải có ít nhiều thủ đoạn nào đó.
Thông Tý tiên lại đáp:
- Tất nhiên là ăn cắp thuốc với hái trộm đào cũng có cấp bậc của nó. Như nói rằng làm sao lật đổ được lò luyện đan của Thái thượng lão quân, bẻ hái đuợc mầm thiêng của Tây vương mẫu, điều đó cũng phải thông thiên triệt địa, chuyển hóa tinh đẩu, còn như bọn ta may mắn ăn đào dư thừa, liếm láp thuốc thừa của gà chó, chẳng qua là may mắn hưởng được lộc trời, nhờ người mà thành sự, có cần gì đến thủ đoạn đâu?
Tiểu thạch hầu lại thưa:
- T ại sao lão tổ lại nói những lời khôgn có chút gì gọi là chí khí cả? Trong trời đất chỉ sợ khôgn có nẻo nào để tu tiên, thì mới không biết làm sao. Còn nếu như đó là lão quân có thúoc, vương mẫu có đào, thì không sợ là không có cách đánh cắp lấy nó mà nhai mà nuốt.
Nghe xong, Thông tý tiên vô cùng hoan hỉ mà nói rằng:
- Xưa kia Lão đại thánh khi thỉnh kinh thành Phật có nói rằng, tinh linh của trời đất không bao giờ khô cạn, chỉ trong vòng mấy trăm năm sau lại có dị nhân nối gót ta, có linh căn tạo thành một phái; ngày nay nhà ngươi có chí lớn như vậy, đủ thấy lời của Lão đại thánh quả không sai.
Tiểu thạch hầu lại hỏi:
- Xin hỏi lão tổ, xưa Lão đại thánh thỉnh kinh thành phật là ai vậy?
Thông Tý tiên đáp:
- Câu chuyện đó khá dài dòng, không thể chỉ trong một lúc mà nói được. Nhà ngươi hãy gạt bỏ hết tính bướng bỉnh đi, thu hồi lại tính hoang dã, sau đó mới có thể nói kỹ cho nhà ngươi nghe.
Tiểu thạch hầu nghe xong, liền đáp ứng một cách vui vẻ rằng:
- Lời của lão tổ thật chí lí.
Nói xong cáo từ lui ra, rồi y theo lệ cũ vui đùa khắp núi non. Mặc dù vui đùa, mà tâm tư vẫn hoài mong đến đại đạo, nào hay năm qua tháng lại, sao khỏi kinh động tâm hồn; hoa rụng chim kêu, lại sực g ợi khêu ý niệm. Thật là:

Chim hoang có lúc còn xiềng khớp,
Tâm vượn há khôgn định được sao,
Trời đất đã yên bề lớp lớp
Còn gì lo nghĩ đến nôn nao.

Suốt ngày tiểu thạch hầu chỉ tư tưởng đến việc tu tiên, lại sợ tính khí nôn nóng làm quấy rầy thông tý tiên, nên chỉ lo nín hơi nhẫn nại.
Rồi một hôm, trời đất sáng lên, gió hiền hòa trong ánh táhi dương ấm áp, trên núi đầy hoa quả, sắc màu xanh hồng rực rỡ, cảnh vật như dàn trải một niềm thương yêu trìu mến, tiểu thạch hầu cầm lòng không được bèn đến động sau, quỳ trước thông tý tiên mà nói rằng:
- Hôm nay phong cảnh trước núi khá đẹp, kính mời Lão tổ ra ngoài thưởng ngoạn giây lát xem sao?
Thông tý tiên nghe vậy bèn cười lớn mà nói rằng:
- Thật là một con khỉ có lòng tốt, ta sẽ đi, ta sẽ đi. Rồi không một chút khó khăn ông mang luôn Tiểu thạch hầu chạy thẳng ra khỏi động, đến ngay giữa đỉnh núi có tảng đá bèn ngồi lên đấy; Tiểu t hạch hầu lại vin cành đu lên cây bẻ những quả tươi đem lại dâng cho lão tổ.
Thông tý tiên sau khi ăn xong mấy quả rồi mới mở miệng nói:
- Có có biết rằng, bản thân của con từ đâu mà sinh ra không?
Tiểu thạch hầu thưa rằng:
- Con sinh ra vốn dốt nát, từ lâu mịt mờ về nhân duyên cũng chẳng biết thân này từ đâu mà đến, thường ngày chỉ nghe chúng bạn anh em nói rằng, bản thân con vốn từ trong khối đá mà sinh ra, con không tin. Cái khối đá đồ sộ kia, không hề có tinh của cha, máu của mẹ, thì làm sao mà con có thể an thân lập mệnh ở trong đó được? Vậy xin lão tổ từ bi chỉ dẫn cho. Thông tý tiên mới nói rằng:
- Đó là chuyện nhân duyên đại sự, con đã có lòng ta cũng không thể ngậm miệng nín câm. Trong trời đất vốn có bốn bộ châu lớn là: Miền đông t hời gọi là Đông thắng thần châu, phía Tây thì gọi là Tây ngưu hạ châu, miền Nam thì gọi là Nam chiêm bộ châu, miền Bắc thì gọi là Bắ ccự lư châu. Địa giới này của chúng ta là Đông thắng thần châu, nước của chúng ta là Ngao lai quốc, ngọn núi này của chúng ta gọi là núi Hoa quả. núi hoa quả lại là tổ mạch của mười châu, long mạch của Tam đảo, nó được hình thành từ buổi mới khai thiên lập địa, ở vào thời còn hỗn mang mờ mịt. Khối đá tiên này, chu vi là ba trăm sáu mươi lăm bộ, chiều cao có đến ba trượng sáu thước năm tấc, theo chính lịch thì có đến hai mươi bốn khí, nên có vòng tròn là hai trượng bốn thước, xét về cửu cung thì nó có chín học, xét về bát quái thì nó có tám lỗ hổng. Bên trong nó uẩn tàng cái linh tú của trời đất, bên ngoài thì hấp thụ được tinh hoa của mặt trời , mặt trăng, cho nên nó có thể dưỡng dục thành tiên thai sinh ra linh chủng.
Tiểu thạch hầu nghe xong, trong lòng vô cùng hoan hỉ, bèn thốt rằng:
- Không tin được là thạch thai lại có nhiều hiện tượng linh diệu đến thế, không chừng lão tổ trêu đùa con đấy thôi.
Thông tý tiên đáp:
- Ta không trêu với con đâu, chỉ vì lão đại thánh đi thủ kinh rồi thành Phật, cũng vốn là người xuất thân từ khối đá tiên đó, do đó mà ta biết.
Tiểu thạch hầu lại vui vẻ mà hỏi rằng:
- Thì ra là khối đá đó trước đây đã sinh ra bậc lão đại thánh. Vậy xin hỏi lão tổ, vị lão đại thánh ấy buổi ban đầu sơ sinh làm sao tu đạo? Và về sau làm sao thành Phật? Cúi xin lão tổ chỉ dạy cho con biết rõ.
Thông tý t iên bèn kể rằng:
- Lúc vị đại thánh mới sinh ra, cũng giống như con chỉ là một tiểu hầu nhi. Chỉ vì tâm tính ông ta rất linh diệu, có bản lĩnh tìm ra cội nguồn, phát hiện ra Thủy liêm động này thành nơi an thân cho cả họ hàng q uyến t huộc bộ tộc hầu chúgn ta, cho nên được bộ tộc Hầu tôn phù làm đấng chủ tể. Thế rồi người ở trong núi này với tất cả sự hoan lạc. nhưng vì căn cơ của người khác hẳn phàm tục, bỗng chốc một hôm người tưởng ng hĩ đến lẽ vô thường, phát thành cơn phẫn nộ, rồi vội vã ngao du bốn biển cầu tìm Tiên Phật.
Công cuộc tìm kiếm phải mất đến hai ba mươi năm người mới gặp được một vị chân sư nơi nào chẳng biết, tu thành đại đạo thần thông, biết đằng vân giá vũ, chỉ một phép cân đẩu vân, nhún mình nhảy lên là đã tung xa đến mười vạn tám ngàn dặm, lại cũng học được bảy mươi hai phép biến hóa, hùng bá chiếm cứ núi này, khiến yêu quỉ bốn bên phải chắp tay vái phục, lại lặn lội đến tận thủy tinh cung, hỏi mượn Long vương mũ áo giáp và binh khí, rồi xâm nhập vào tận nội điện Sâm La xóa bỏ hết tội danh họ hàng bà con nhà khỉ. Do đó mà làm kinh động đến Ngọc hoàng thượng đế, sai khiến mười vạn thiên binh đến bao vây núi này, muốn truy bắt lão đại thánh, bị đại thánh dùng thiết bổng đánh tan hết mười vạn thiên binh khiến cả bọn hết nơi ẩn nấp thua chạy về trời.
Nói đến đó, tiểu thạch hầu vui thích gãi tai cào má thốt thành lời:
- Hay quá, hay quá, thật là vui q úa đi mất! Lão đại thánh từng là bậc anh hùng như vậy, về sau sao lại chịu làm hòa thượng đi thỉnh kinh?
Thông tý tiên đáp:
- Lão đại thánh sau khi đánh lui thiên binh, ngọc hoàng đại đế không biết làm sao, chỉ còn cách sai Thái bạch kim tinh đến chiêu an đại thánh. Lần thứ nhất phong cho đại thánh chức Bật Mã ôn, chê chức quan quá nhỏ, đại thánh rời khỏi thiên cung; lần sau phong cho là Tề thiên đại thánh, người mới bằng lòng nhưng lại không chịu ở yên, hết u ống trộm bàn đào ngự tửu, lại quấy phá hội vui của Tây vương mẫu, mang bàn đào ngự tửu về trong động mà nhâm nhi. Ta cũng hưởng được niềm vui của đại thánh, người ban cho rượu uống, do đó mà trở thành bất tử từ đó đến nay. Về sau ngọc haòng đại đế biết được vô cùng tức giận, bèn điều động Nhị lang tiểu thánh thống lĩnh bảy anh em ở Mai sơn, bố trí thành thiên la địa võng tróc nã đại thánh. ngọc hoàng ngự giá thân đến tận nam thiên môn để xem cuộc chiến. Lão đại thánh ỷ lại vào uy lực hùng mạnh của thiết bổng, đánh cho thiên hôn địa ám, nhật nguyệt vô quang, người vẫn ngang nhiên không hề sợ hãi, không ngờ, bị Lý lão quân thầm tung vòng kim cương xuống khiến Lão đại thánh ngã quị, nhờ đó Nhị lang tiểu thánh mới bắt được. Áp dẫn đến dưới đài trảm yêu rồi dùng đủ loại đao búa băm vằm cũng không sao giết chết được, dùng đến lửa thiêu thiên lôi đánh cũng không hề gây thương tích; Lý lão quân bèn đem bỏ vào lò bát quái nung nấu bốn mươi chín ngày đêm, tưởng đã chết, ngờ đâu khi mở nắp lò. Đại thánh tung ra chạy mất. Ngọc hoàng coi như hết phép, cuối cùng phải cầu đến Phật Như Lai, dùng năm ngón tay hóa phép thành Ngũ hành sơn kim, mộc, thủy, hỏa, thổ úp nhốt đại thánh lại.
Bị giam cầm đến năm trăm năm lão đjai thánh mới ăn năn hối tiêu ác nghiệp, lập lại thiện căn, lại cảm nhận được lời khuyên bản của Quan Âm Bồ Tát, chịu làm đồ đệ của Phật, cầm cây chiên đàn tạo công đức, đến Tây phương cầu xin chân kinh. Trên đường đi bảo vệ Đường Tăng đã hàng phục được bao nhiêu yêu quái, lập được ngàn vạn công hạnh, mới thành được chánh quả, chứng nghiệm kim thân, được phong là Phật chiến thắng, hiện giờ chắc là đương tiêu dao tự tại ở Tây phương cực lạc thế giới.
Tuy rằng đó là pháp lực của lão đại thánh quá hùng vĩ thâm sâu nhưng cũng là nhờ vào sức anh linh của khối thiên thạch của núi Hoa quả này chung đúc. Không ngờ là sức sinh linh của khối thiên thạch này thật bất tận, đến nay lại sinh ra nhà ngươi, như thế con là dòng dõi chính thống của lão đại thánh.
Tiểu thạch hầu lại thưa rằng:
- Tinh linh của núi này, thời trước đã được lão đại thánh pháp tiết rồi, nay đến con lại xuất hiện, thì cũng giống cục thịt thừa, e rằng chẳng còn linh thiêng nữa.
Thông tý tiên bèn nói:
- Ngươi không hiểu biết đó thôi, trời còn có trước có sau, đạo không thể không kể thừa. Lão đại thánh được linh khí tiên thiên, nên sinh ra vào khoảng ngàn năm về trước; còn nhà ngươi thì được linh khí hậu thiên nên sinh ra trong khoảng ngàn năm sau.
Tiểu thạch hầu nghe xong, lòng đầy thích thú bèn thưa rằng:
- Cứ như lời của lão tổ, thì con là con cháu đích phái của lão đại thánh, vậy lão đại thánh tên họ là gì, con cũng cần phải biết mới được.
Thông tý tiên đáp:
- Lão đjai thánh có tên là Ngộ Không, và họ là Tôn, khi đi thỉnh kinh lại có hiệu là Hành Giả, lại tự xưng là Tề thiên đại thánh.
Tiểu thạch hầu lại nói:
- Lão đại thánh đã là họ Tôn, thì con cũng phải lấy họ Tôn. Lão đại thánh gọi là Tôn Ngộ Không, con nghĩ rằng hai chữ Ngộ Không là để chỉ cái linh tuệ, trong khi con chỉ là kẻ ngu xuẩn bướng bỉnh, làm sao dám mong được là linh tuệ? Chỉ thích làm những công việc chân thực, vậy thì hãy g ọi là Tôn Lý Chân mà thôi. Con cũng không hề làm hòa thượng đi thỉnh kinh, vậy bất tất phải dùng hiệu làm gì. Lão đại thánh đã tự xưng là Tề thiên đại thánh, con nào dám đứng ngang hàng với đại thánh, nên tốt nhất là giáng xuống một bậc gọi là Tề thiên tiểu thánh , có được không?
Thông tý tiên nghe xong, cười ha hả mà rằng:
- Tự đặt lấy tên họ, lại còn có chút ý nghĩa, nhưng tất cả những thứ đó đều là lông lá ở bên ngòai, cái công dụng về cả cuộc đời của lão đại thánh cần phải có cái tâm thật tinh tế mới lí hội được, mới đạt được cái thực chất bên trong.
Tiểu thạch hầu bèn thưa:
- Muốn trở thành đỏ thì phải gần gũi màu đỏ, muốn trở thành đen thì phải gần gũi mực đen, nếu như muốn nói theo pháp qui thơm tho của lão đjai thánh, thế tất phải gần gũi cái qui phạm và phong cách của đại thánh. Lão đại thánh tuy đã thành tiên, thành Phạt, vẫn tự tại trong khoảng trời đất. Vậy dám xin lão tổ chỉ cho nơi ngừng nghỉ của người để cháu dại này tìm đến nơi mà thăm viếng.
Thôgn tý tiên đáp:
- Lão đại thánh đã chứng quả Bồ tát, đâu còn còn tiếp xúc với kẻ phàm phu!
Tiểu thạch hầu lại nói:
- Tiên phật nếu khôgn chịu tiếp xúc với người phàm thì cũng giống như người đã chết, còn tu theo họ có ích gì?
Thông tý tiên lại phải giải thích:
- Tiên phật không phải là không tiếp xúc với ngưoiừ thường, chỉ tiếc rằng căn cơ của phàm phu quá thấp kém, nên thấy họ không được. Con đã có lòng muốn gặp lão đại thánh, thế là con có tâm niệm trở về với cội nguồn gốc gác, chỉ vì nhất thời nhân duyên chưa đến đó thôi. Vậy hãy chỉ cho con xem một vật này, tuy rằng chưa gặp được lão đại thánh mà việc đi tìm gặp lão đại thánh cũng không xa lắm đâu.
Tiểu thạch hầu nghe xong lòng vô cùng phấn khởi, vội quỳ xuống trước mặt Thông tý tiên lạy mấy lạy và nói:
- Cúi xin lão tổ mau mau rủ lòng thương.
Thông tý tiên nói mới vài câu, lời chưa dứt đoạn khiến Tiểu thạch hầu:

Bóng gậy trước mặt,
Tiếng sét vang tai.

Cuối cùng xem được gì, nói những gì, hồi sau sẽ rõ.
Một giờ ngồi cạnh một người đàn bà đẹp như dài một phút . Một phút ngồi cạnh một lò lửa nóng bỏng như lâu bằng 1 giờ. Ðó là sự tương đối
Albert Einstein
Đăng nhập để trả lời
0
Hồi 002

Tìm ngoài sao là chính đạo
Quay về gặp được chân sư[/size]


Phải không, thương ghét, đời thiên chấp
Tư lượng cho sâu mới biết mình
Lòng dạ phó bày nên nhẫn nhục
Tâm tư bừng nở ắt thiên linh
Gặp người tri kỉ càng yên phận
Dẫu phải oan gia cũng phúc lành
Nếu đổi được tâm xua hắc ám
Tự nhiên chứng đắc huệ anh minh.

Lại có thơ rằng:

Lòng muốn tìm xuân chẳng thấy xuân
Dấu chân đặt khắp lĩnh đầu vân
Hoa mai nẻo cũ đưa tay bẻ
Mũi ngửi hương xuân giữa cõi trần.

Lại nói tiểu thạch hầu cứ quấn quít bên mình Thông tý tiên muốn hỏi mọi việc về lão đại thánh, con vượn trường sinh này cũng thấy được chân tình chân ý của tiểu thạch hầu, nên mới kể cho nó nghe hết sự tình rằng:
- Buổi đầu lão đại thánh gây rối ở thiên cung, cùng với về sau trên con đường đi tây phương thỉnh kinh hàng phục bao nhiêu yêu quỷ, đều nhờ vào uy phong của cây gậy kim cô như ý đạt được mọi việc. Từ sau khi ngài thành phật rồi, không còn gây rối loạn nữa mà yêu quỷ cũng chẳng còn, nên chẳng dùng đến cây gậy làm gì, bèn để lại sau động ở trên núi, coi như là bảo vật trần giữ tại núi này. Trên ấy còn lưu lại bốn câu kệ rằng:

Đạt được đạo pháp, thiết bổng lại ra
Thiết bổng thành c ông, thực tức không.

Trong đó dường như có cơ huyền linh diệu khkó hiểu. Nhà ngươi đã có chí muốn yết kiến Lão đại thánh, ta sẽ dân con đến đó bái lạy cây thiết bổng kim cô ấy, thì cũng giống như yết kiến với lão đại thánh.
Tiểu thạch hầu lại thốt thành lời:
- Đã có pháp vật của lão đại thánh để lại, sao lão tổ không nói sớm, cho con được vui.
Thông tý tiên đáp:
- Chỉ cần con phải hết lòng cố gắng, thì bây giờ cũng không phải là muộn lắm đâu. Nói xong bèn dẫn tiểu thạch hầu chuyển mình đến ngay động sau ở trên núi. Nguyên động ở trên núi ấy cũng không to lớn cao sâu gì cho lắm, và mặc dù bốn bên đều có đuờng đi lại thông thương, nhưng vật báu lại như đựoc ẩn giấu ở trong bụng, không phải dễ gì cho người thấy được.
Ngay hôm ấy, tiểu thạch hầu theo thông tý tiên xuống núi, thì thấy một cây thiết bổng, giống như một trụ đá ngang tàng đứng giữa đỉnh núi, cao chừng hai trượng, rất bóng láng, có hào quang bao trùm. Thấy biết ngay đó là thần vật của tiên phật, tiểu thạch hầu k hông dám chậm trễ liền vội vàng quỳ xuống và cúi đầu lạy lia lịa, rồi sau đó mới lết dần lại mà xem kỹ. Xem một hồi, cam lòng không được, buột miệng khen:
- Thật là một bảo bối quí giá, khôgn biết nặng bao nhiêu cân?
Thông tý tiên đáp:
- Thuở xưa lão đại thánh sử dụng cây thiết bổng ấy, cũng giống như cầm cây bấc đèn cho nên dù ở trên trời cao hay dưới mặt đất cũng không có một ai địch nổi. Ngày nay ngươi muốn học theo oai phong của đại thánh thì cần phải có khí lực thật tốt mới sử dụng được cây kim cô ấy. Con tiểu thạch hầu nào biết hay dở gì đâu, chỉ đến gần kim cô rồi đưa hai tay ôm choàng lấy nó, hy vọng sẽ nhấc lên được hay di chuỷen được. nào hay đem hết sức lực bình sinh, mặt mày đỏ ké, rốt cuộc cũng chẳng di chuyển được mảy may nào! Khôgn chịu nổi, tiểu thạch hầu hướng về phía cây thiết bổng rập đầu xuống mà rằng:
- Khó quá, khso quá! Không thể làm nổi thần tiên được!
Thông tý tiên thấy vậy mới cười xòa:
- này con khỉ nhỏ đầu óc đầy lầm lãn và nôn nóng, xưa kia lão đại thánh phải tu luyện bao nhiêu năm mới có được thàn lực, trong khi con mới sinh ra, gân cốt còn mềm yếu, làm sao đưong nổi việc to lớn nhường ấy! Con chớ có hấp tấp lỗ mãng như vậy, và cũng chớ lười nhác, trái lại phải tiềm tâm tu luyện, cho đến ngày nhân duyên sẽ đến, hay đến lúc gặp cơ hội. Tiểu thạch hầu nghe xong, gật đầu lia lịa và nói:
- Lão tổ nói đúng.
Cũng từ đú về sau, con khỉ nhỏ này chẳng còn lòng dạ nào vui chơi đó đây, hàng ngày cố thao diễn khí lực bên cây thiết bổng, không nghĩ gì đến cây gậy sắt kếch sù đó, mà chỉ khuân mấy cục đá lớn rồi lia qua chọi lại. Nhưng rồi sau một thời gian khỉ ta tự thấy sức lực mình có hạn, dù khổ tâm luyện tập cách mấy, cũng chẳng được gì, vừa chán nản vừa mỏi mệt, cơ hồ như thiếp đi.
Thông tý tiên thấy vậy, mới hét lớn:
- Con khỉ con, mầy lười đến thế sao?
Tiểu thạch hầu vội quỳ xuống mà thưa rằng:
- Con không dám lười nhác, chỉ vì có lực mà chẳng dùng vào đâu, đến khi muốn dùgn lại chẳng có khí lực, nên mới nghỉ ngơi một chút.
Thông tý tiên nói:
- COn há không nghe lời dạy dỗ của bậc thánh Nho gia là Khổng Trọng Ni đó sao: kẻ có khả năng thì súôt ngày vận dụng sức lực của mình, chứ ta chưa từng thấy kẻ nào không đủ sức lực.
Tiểu thạch hầu nghe Thông tý tiên nói bèn đáp:
- Lão tổ nói đúng.
Mặc dù miệng thì nói như vậy, nhưng trong tâm t ư vẫn chưa biết tính cách nào, chưa biết làm sao, chỉ biết chạy đến bên cây thiết bổng, đưa tay vuốt ve và tưởng tượng, thì thình lình lại đại ngộ, bèn nói rằng:
- Phải rồi, p hải rồi, cây thiết bổng này là bảo bối ở trong trời đất! Lão đại thánh sau khi đã thành tiên rồi mới có khả năng vận dụng, còn ta chỉ là một kẻ phàm phu t ục tử, làm sao dám nghĩ đến việc sử dụng của quí đó được? Nghĩ đến chuyện xem cá ở trong nước sao bằng lui về mà kết lưới. Mưu lược hôm nay, không gì bằng học theo lão đại thánh, ngao du khắp bốn biển tìm thầy học đạo, rồi đến lúc nào đó mới dùng được.
Khi ý đã định, bèn đi đến động hậu, từ biệt Thông tý tiên , mà nói rằng:
- Con xin từ biệt lão tổ, để đi cầu tiên học đạo.
Thông tý tiên cười và đáp rằng:
- Tìm tiên học đạo là chuyện tốt, ta không hề cản trở, nhưng khi con đi khỏi đây, thì sẽ gặp lắm đường nhiều nẻo, vậy con càn phải nhận thức đâu là nẻo chính đường ngay, kẻo khôgn thì sẽ lầm lỡ. Tiểu thạch hầu nói:
- Con chỉ bước đi thư thả, chắc không bị lầm lẫn đâu.
Thông tý tiên nói:
- Đi thư thả thì tốt, nhưng còn nhận rõ được đường về.
Tiểu thạch hầu nói:
- Đã có đường đi tất phải có đường về, lão tổ khỏi phải lo. Nhưng không biết trên trần thế, hàng bao nhiêu người mới có được người tiên thuật?
Thông tý tiên đáp rằng:
- Trên đời có tam giáo là: Nho, Thích, và Đạo. Nho giáo tuy là đạo pháp của Khổng Trọng Ni dùng để sửa trị cho đời, nhưng cách lập luận hơi vu khóat. Ông cho rằng người và vật trong trời đất đã có sinh tất phải có tử, con người p hải thuận theo định mệnh và chứng minh rằng theo tiên Phật cầu trường sinh bất tử, đều là trái với mệnh trời. Về hình thức thì áo mão lễ nhạc coi cũng được lắm, chỉ là để cho con người học tập thi thư, chuyên nhai chữ nuốt văn, bên ngòai thì nói nhân nghĩa, thực ra bên trong chứa đầy lòng gian tham, hạng người ấy không thể thành tiên được, nên hà tất phải cầu tìm gì ở họ. Nếu cầu xin chỉ là hai tôn giáo: Thích và Đạo mà thôi, hai giáo phái này thường sinh ra những bậc dị nhân.
Tiểu thạch hầu nghe xong trong lòng vô cùng hoan hỉ, bèn thưa rằng:
- Cảm ơn lão tổ đã chỉ dạy. Rồi tạ từ lui ra ngoài.
Khỉ ta cũng học đòi theo lão đại thánh ngày xưa, đốn cây cối kết thành bè, lấy trúc làm sào, rồi nhờ mấy con khỉ khỏe mạnh khiêng bè ra đến biển, cùng mang theo khá nhiều bầu lương thực, nước uống, xong bái biệt Thông tý tiên và đám khỉ vượn, rồi loạng choạn lên ngồi trên bè, mặc cho gió đưa đi. Không ngờ lại gặp gió đông nam thổi mạnh, nên chỉ trong mấy tháng là đã đến được miền Bắc Cự lư châu.
Lư châu là xứ cực lạnh, người ít thú nhiều, nhưng lại là n ơi cao quí nhất của bậc vua chúa, được xem hình hài cầm thú, gióng như các loài quỷ quái. Tiểu thạch hầu đến đây, cũng chẳng biết là nơi nào, đem bè gác lên bãi, rồi chạy lên bờ. Đi sâu vào đất liền gần hai mươi dặm, cũng chẳng gặp nhà cửa thành quách nhân dân đâu cả, cuối cùng mới gặp mấy con vật kỳ lạ, cũng không bíêt đó là người, hay là quỷ, cùng với chúng hỏi han, nhưng rồi hai bên không cùng ngôn ngữ, chẳng hiểu biết nhau. Tiểu thạch hầu chạy đến mấy nơi cũng giống như vậy, trong lòng mới nghĩ rằng: "Đây là nơi cầm thú ở, làm sao mà có tiên phật được? THế là ta đã đi lầm đuờng rồi, hãy đi đến nơi khác thôi". Nhân đó bèn trở lại bờ biển, tìm lạid dược cái bè, nó vẫn nằm yên nơi cũ. Thế là lại lên bè, vừa gặp đúng gió đông bắc thổi mạnh đưa khỉ ta đến Tây Ngưu hạ châu.
Ở hạ Châu, về lễ nghi phong tục có chỗ giống như ở Trung Quốc, Tiểu thạch hầu bỏ bê lên bờ quan sát, thấy có người tụ tập, khói từ các mái nhà bốc lên, cảnh trí đầy vẻ rộn rịp phồn thịnh, nên trong lòng lấy làm vui, nghĩ rằng nơi này chắc chắn có thàn tiên. Bèn tìm nơi hỏi han, một hồi lâu mới gặp được người chỉ điểm cho rằng:
- Từ đây đi về phía Tây nam sáu mươi dặm, có một ngọn núi g ọi là Thanh long sơn. Trên đỉnh núi có một động gọi là Bạch hổ, trong đó có một cái Tham đồng quán, trong quán có một vị tổ sư ngộ đạo, đạo pháp rất cao diệu, là vị thần tiên trong đời. Nhà ngươi múôn học tiên đạo, hãy đến đó mà tìm.
Tiểu thạch hầu nghe xong trong lòng vô cùng hoan hỉ, hét lên:
- May quá, may quá! Ta tìm được rồi.
Sau đó cứ một mạch chạy thẳng, sáu mươi dặm đường, từ xa đã thấy một ngọn núi cao vút uốn quanh, cây cối xanh mịt, nghiễm nhiên giống hệt con rồng xanh uốn khúc. Khi lên đến đỉnh núi, dừng lại nhìn mới thấy một tảng đá lớn màu trắng, một đầu cao, một đầu thấp, giống như một con hổ đang phủ phục.
TIểu thạch hầu nghĩ bụng:
- Trong đó chắc có một động là Bạch hổ.
Rồi từ trên núi đi xuống, đến trước đầu đá trắng, quả nhiên có một cửa động che kín bên trong. Mạnh dạn bước vào cửa động đã thấy ngay một tòa đình quán rường bay cột vẽ rất mực oai nghiêm. Thật là:

Điện các nguy nga,
Sơn môn u tĩnh
Điện các nguy nga, trên dưới thấp cao trùm khí tía;
Sơn môn u tĩnh, đông tây tả hữu rợp thông xanh.
Họa phúc rõ ràng, lò lửa sáng trưng Đông nhạc điện,
Uy linh rực rỡ, khói hương không dứt Ngọc hoàng lâu.
Trên tam thanh thờ Thái ất thiên tôn,
Bên bốn tường chia Ôn, Quan, Mã, Triệu.
Chưa hay linh ứng tu luyện ra sao,
Chỉ qua đạo mạo uy nghi nghiêm chỉnh.

Tiểu thạch hầu chạy đến, nhìn ở phía trước chỉ thấy ba chữ đại tự đề ngang là: "Tham đồng quán". Trong lòng mừng rỡ nói:
- Ta đến đúng rồi. Cánh cửa quán vẫn mở toang, nhưng không dám đi bừa bãi nửa, mà đứng lại đợi chờ. Chờ khá lâu, chẳng thấy có bóng người qua lại, mới nhẹ nhàng từ từ đi vào. Khi đi đến cửa thứ hai, lại thấy có một câu đối:

Ngày đêm giữ bếp đan
Trời đất vào lò thuốc.

Trong lòng khỉ nhỏ mới nghĩ rằng:
- Khẩu khí tuy lớn lao, cũng chỉ là công phu luyện đan, nấu thuốc. Trong khi còn đang trù trừ, bỗng có một đạo sĩ xuất hiện ngay tại chính điện, người ăn mặc:

Đầu đội mũ huyền quan,
Mình vận đồ đạo phục;
Sợi tơ vàng ónh ánh tiên phong
Vòng ngọc trắng sáng ngời pháp tướng
Thể cốt thanh tú, xa trông nhường Dao đảo nghi dung
Thần thái thư nhân, đi đứng tỏ Bồng Lai cảnh tượng.

Vị đạo sĩ ấy thấy tiểu thạch hầu đứng tại cửa thứ hai, bèn hỏi:
- Nhà ngươi là ai, đến đây làm gì?
Tiểu thạch hầu hướng về phía đạo sĩ cúi đầu đáp:
- Tôi là đệ tử muốn học tiên đạo, vì nghe tổ sư ngộ đạo, là thần tiên trong đời này, là bậc cao đạo trong thiên hạ, nên không ngại ngàn dặm xa xôi đến đây bái lạy dưới cửa xin được tu tiên học đjao.
Vị đạo sĩ nghe nói, mới đưa mắt xem xét tiểu thạch hầu từ trên xuống dưới, rồi mới nói:
- Phàm người muốn tu tiên, tất phải có khí lực hùng mạnh, tri tuệ minh mãn. Nhà ngươi tuy có hình dáng con người, nhưng vẫn chưa thóat được chất thú, tại sao lại nghĩ đến việc cao xa ấy?
Tiểu thạch hầu kính cẩn thưa:
- hình hài của người và thú tuy nói là có khác nhau, nhưng tấc lòng sáng s uốt, chưa từng phân chia ra làm hai thứ, vậy sao lại không nghĩ được? Dám xini cho tôiđược yết kiến Chân Ngộ tổ sư, sẽ bày tỏ.
Vị đạo sĩ nghe nói cười mà rằng:
- Giống hoang dã này từ đâu lại? Sao mà nôn nóng vậy? T ổ sư ở trên gác bồđề minh tâm dưỡng tính, bậc quốc v ương còn phải năm ba phen khẩn cầu, hoặc giả mới được yết kiến một lần. nhà ngươi như có tâm thiết tha cầu đạo, cũng cần phải dần dần gia nhập từng cửa một.
Tiểu thạch hầu bèn nói:
- Dần dần gia nhập là như thế nào?
Đạo sĩ đáp:
- Phàm muốn cầu học tiên đạo, bước đầu nhập môn, trước tiên là phải vào "địnhk tâm đường" tậpcho cái tâm định cái đã, rồi sau đó mới chuyển đến "dưỡng khí đường" để tu tập hơi thở, khi tâm đã định, khí đã điều rồi sau đó mới xua rồng cưỡi cọp, từ mặt đi thẳng bộ phận cuối, lại phải đi ngang qua xương sống cũng như tính Phật vào đỉnh đầu, rồi mới có thể gặp được. Còn bây giờ sao lại dám sinh vọng tưởng.
Tiểu thạch hầu bèn nói:
- Ở ngay đây mà được thành tiên là tốt rồi, chưua đủ thì từ từ thực hiện cũng được thôi. Nhưng không biết định tâm đừong ở đâu? Xin phiền tiên sư dẫn toi đến đó để tịnh tâm.
Đạo sĩ đáp:
- Đã muốn đi thì hãy theo ta. Bèn quay người dẫn tiểu thạch hầu đi thẳng. Con khỉ nhỏ chỉ nghĩ là các phòng ốc thôi không ngờ đó là đại điện chính ở trung gian linh đài, xây tòa bát bảo, khác nào như nhà vàng cung ngọc.
Đạo sĩ đi trước, mở cửa ra, rồi nói:
- Đi vào, đi vào.
Tiểu thạch hầu thấy tất cả đều trang nghiêm hoa lệ, không kể gì đến việc may r ủi, chỉ đem thân len vào. Vừa mới len qua. Đạo sĩ đã đóng cửa lại, tiểu thạch hầu tiến vào trong, chỉ mong có cửa lớn cửa nhỏ để có thể nhìn trời, thấy ánhk sáng. Không ngờ rằng trong nhà đó chẳng có một lỗ trống, thành tối om om, khôgn biết đâu là đông tây nam bắc, sờ mó bốn bên chỉ toàn là tường vách, buồn khôgn chịu nổi, dù muốn chạy ra ngoài cũng không sao tìm ra cửa nẻo. Quanh quất một hồi ,cũng chẳng được gì, bèn ngồi xuống đất mà nghĩ ngợi:
- Tên nhà là định tâm, lại tối tăm như thế này, chính là có ý trêu người. Ta cần phải định tâm thì phải để cho một ý niệm cũng không phát sinh, một hạt bụi cũng không nhiễm, có kể gì là tối hay sáng.
Thế rồi bèn lấy tâm xem xét tâm, có ý tưởng gì về bên trong. Trải qua một giờ lâu, chỉ cảm thấy linh cơ sáng suốt tràn đầy ở trước mặt, bây giờ lấy con mắt mở to ra nhìn thì căn nhà lại như sáng ra, râu tóc đều thấy rõ. Mừng quá, tiểu thạch hầu gãi tai rờ má thích thú, nguyên là trong tâm định được tức thị có ánh sáng. Lời xưa từng nói: "Nhà trống sinh sáng ra", không phải là lời vu khoát. Buổi đầu mới chỉ thấy là ánh sáng, lại ngồi thêm mấy ngày nữa, thì thấy trong ánh sáng đó có một thứ khí tuệ giác đầy linh thiêng, chiếu sáng khắp toàn thân con người từ đầu đến đuôi.
Tiểu thạch hầu đang trong lúc hân hoan đắc ý, thình lình có tiếng nổ lớn, hai cánh cửa thánh đường mở ra. Vị đạo sĩ ở bên ngoài nói lớn:
- Gã tu tiên có buồn lắm không?
Tiểu thạch hầu ung dung bước ra và đáp rằng:
Buổi chơi rất tốt, không buồn, không buồn.
Đạo sĩ nói:
- Trước mặt có tối lắm không?
tiểu thạch hầu đáp:
- Bản tính sáng láng, không hề tối, không hề tối.
Đạo sĩ nói:
- Tâm đã định rồi, hãy theo ta đi đến dưỡng khí đường.
Tiểu thạch hầu đáp:
- Xin đi, xin đi. Rồi cùng đi với đạo sĩ.
Nguyên nơi dương khí đường không phải ở trong động, mà đưa lên trên núi, nói là nhà thực ra chỉ như một gian phòng. Khi đi vào rồi, cũng không biết là đã qua mấy lớp, vì lắm khúc quanh co, cũng không còn chỗ nào vào nữa. Khi quay mình trở lại, thì vị đạo sĩ đã đóng kín cửa lớn rồi, chỉ còn ở phía trên hai lỗ lớn ở hai bên tả hưu, có thể ra vào được. Nhưng tiểu thạch hầu đã được thuật định tâm huyền diệu, nên k hỉ ta rất yên tĩnh ngồi xuống ngay nơi đó, lại thấy như có luồng âm dương khi ra khi vào tựa như con thoi chạy qua chạy lại. Và rồi trải qua giờ tý, ngọ, mẹo, dậu bốn thời, lại trực giác được trong hiện tượng qua lại của âm dương , khí ở trên cao thì hạ xuống, trong khi khí ở dưới lại bốc lên, rất có ý nhị.
Khỉ ta ngồi mãi thời gian liên tiếp toàn thân khoan khoái, cả hình hài lẫn thể chất đều như lâng lâng nhẹ nhàng. Lại ngồi một lát nữa, trong lúc có ý nghĩ muốn đi vào nội tại xem sao, thì lại thấy vị đạo sĩ mở cửa ra, và kêu lên:
- Gã dưỡng khí kia ra đi chứ!
Tiểu thạch hầu cười hề hề và đứng dậy đi ra vừa nói:
- Đang dưỡng khí thích thú, tại sao lại phải ra?
Đạo sĩ đáp:
- Trong thời hạn bốn mươi chín ngày (cũng gọi là thất thất: 7 x 7 = 49) tu dưỡng đủ thì khí tự có thể điều hòa, không cần phải tu dưỡng nữa.
Tiểu thạch hầu bèn nói:
- Như vậy có phải là đã cưỡi rồng đuổi hổ rồi phải không, xin tiên sư chỉ dẫn. Vị đạo sĩ ấy trong lúc đầu, chỉ nghĩ rằng đem hai sự kiện định tâm và dưỡng khí làm khkó cho tiểu thạch hầu; không ngờ định tâm thì tâm định, dưỡng khí thì khí điều được ngay, nên sinh lòng đố kỵ. Nhân mới nói rằng:
- ngươi đến đây khá lâu, thế mà chưa từng hỏi nhà ngươi là người xứ nào, tên họ là gì?
Tiểu thạch hầu đáp:
- Tôi là người ở xứ núi Hoa quả, thuộc nước Ngạo Lai xứ Đông thắng thần châu, họ Tôn tên là Lý Chân. Tổ tông đích phái của tôi là Tề thiên đại thánh Tôn Ngộ Không, xưa đã từng đại náo thiên cung. Ông tổ tôi đạo hạnh cao, nay đã thành chánh quả là Đấu chiến thắng Phật. Tôi e sợ bỏ mất gia phong, nên mới ra đi tìm tiên học đạo, để giữ vững gia thế.
Đạo sĩ nghe xong lại càng thêm đố kỵ, bèn nói rằng:
- Nhà ngươi tuy xấu xí, nhukưng lại có lai lịch khá, nên đuợc tổ sư truyền cho đạo pháp linh diệu . Nhưng giờ này tổ sư đang cần phải chăm nuôi một số con trẻ, nên không tiếp kiến ai. Vậy ngươi phải nhẫn tâm đợi chờ rồi sẽ được đối xử tốt.
Tiểu thạch hầu nói:
- Đã được đối xử tốt, thì phải cam tâm đợi chờ thôi.
Từ đó về sau, bèn ở lại trong động. Mặc dù không được diện kiến tổ sư, nhưng những động tĩnh của nó lại được tổ sư theo dõi và nghe ngóng kỹ.
Một hôm, tiểu thạch hầu lang thang trên đỉnh núi, đưa mắt thấy ở trong khoảng vườn sau động có một vị lão bà, dắt một số thiếu nữ dạo chơi trong vườn, họ ăn mặc đủ màu hồng lục, lại còn trang điểm phấn son diễm lệ.
Tiểu thạch hầu thấy vậy, trong lòng không khỏi kinh ngạc, tự bảo:
- Người đã xuất gia, sao còn làm như vậy? Nhân đó từ sau núi chuyển mình qua cửa ngỏ vườn sau xem thử. Chỉ thấy một tên tiểu đồng đương rửa rau trên bờ suối. Tiểu thạch hầu nhân đó tiến sát lên phía trước và hỏi:
- Tiểu sư huynh, trong vườn có lắm theíeu nữ, là con cái nhà ai thế?
Tiểu đạo đồng vừa cười vừa nói:
- Tôn sư huynh, anh đã học tu tiên mà việc ấy vẫn khôgn biết sao?
Tiểu thạch hầu đáp:
- Tôi chỉ là người mới vào học, thật không biết, mong sư huynh chỉ dạy cho.
Tiểu đạo đồng mới nói:
- Người tu tiên cần phải sinh đẻ con cái, khôgn thể không dùng bà già, thiếu nữ, thường gọi là hoàng bà, xạ nữ, những thứ đó là thuốc trong lò của tổ sư.
Nói xong, tiểu đồng ôm bó rau rửa xong đi vào hậu viện. Tiểu thạch hầu mới nghĩ thầm: "Vị tổ sư chẳng chịu tiếp người, lại còn nuôi dưỡng lắm thiếu nữ xinh đẹp, vậy chắc là tà đạo rồi. Ta hãy rình xem lão ta thử một phen".
Thế rồi đến lúc đêm khuya đen tối, khỉ ta lại giở thủ đoạn cũ, nhẹ nhàng từ phía trước điện bò dần lên gác bồ đề ở sau điện, rồi từ lỗ nhỏ của cửa sổ đưa mắt nhìn vào bên trong, chỉ thấy ánh sáng của hai ngọn đèn cầy. Bên đó có một lão đạo sĩ gầy ốm da vòng, ôm vào lòng ba, bốn thiếu nữ mày xanh má phấn, vừa uống rượu vừa giao hoan, cạnkh đó có một bà lão mặc áo vàng đùa cợt chen vào nói:
- Lão tổ sư bớt uống rượu lại, để uống chén nhân sâm nhục quế cho tráng dương, hầu sanh những con cái tốt.
Tiểu thạch hầu nghe xong, vội vàng lui ra ngoài, rồi tự than thở:
- Quả nhiên là tà đạo, tiếc rằng đã phí phạm quá nhiều công phu tìm kiếm.
Hôm sau vào lúc trời sáng, cũng không phải từ biệt đạo sĩ, tiểu thạch hầu một mình xuống núi đi thẳng. Trên đường đi lại tự nghĩ: "Vị tổ sư hưởn gđuợc danh tiếng như thế ấy mà vẫn là giả, cái gì cũng có hạn độ, chỉ bằng hãy đi đến nơi khác là hơn". Lại theo đường cũ tìm đến bở biển, lại ghép bè ra ngồi trên đó, cứ thuận theo gió tây bắc mà đi, gió thổi thẳng đến Nam Thiêm bộ châu. Tiểu thạch hầu ở tại Tham đồng quán tuy chẳng học được gì nhiều, nhưng đã nỗ lực định tâm dưỡng khí, nên tâm tính đã trở nên linh tuệ, tinh thần cũng đã vững mạnh hơn xưa nhiều, không còn khờ khạo nữa. Ngày ngày vui vẻ vượt nghìn trùng xa tìm thầy học đạo.
nam Thiêm bộ châu tuy là vùng đất Khổng thánh nhân, tổ của đạo Nho, chuộng đạo quân thần lễ nhạc, nhưng lòng người vốn hiếu kỳ, lại sủng tín Phật pháp. Phàm trong các danh sơn thắng cảnh đều có chùa thờ Phật, các nhà sư áo cà sa đi khắp bốn phương, hoặc giảng kinh, hoặc khai hội , nhưng đều là mượn tiếng tu hành, nơi nào cũng quyên góp cùng hoằng hóa, chỉ để cho thịnh vượng sơn môn, chứ chẳng hề có một vị cao tăng, thiện tri thức cứu được thân tâm giải thóat được tính mệnh. Tiểu thạch hấu đi tìm kiếm khác lâu, thấy nơi nào cũng nhan nhản kẻ phàm tục. Tự lòng mới nghĩ rằng: "Cầu xin đó đây khắp nơi, không đâu là cửa ngoài tà đạo, nào có được lợi ích gì đâu? Ngày trước trong khi định tâm dưỡng khí, tự mình chuyển biến được ít nhiều ánh sáng, lang thang lưu lạc cùng với thiên sơn vạn thủy ở bên ngoài, sao bằng quay đầu trở về, tìm đến chỗ trái tim mà ra công luyện tập, không chừng mà lại thực tế hơn. Sau khi tự tính toán rồi, bèn chạy đến bờ biển ghép lại chiếc bè thân mến, rồi thuận theo gió tây nam, theo đuờng cũ về Đông thắng thần châu. Đúng là:

Bốn biển đi tìm tiên chẳng thấy
Chân đi mịêng hỏi khắp bao nơi.
Ai hay đạo pháp không vươn nhánh,
Chỉ một lòng người với một trời.

Tiểu thạch hầu bỏ bè đi lên bờ, lòng đầy hân hoan chạy thẳng về núi Hoa quả sơn, nhìn lại phong cảnh quê xưa, lòng đầy thích thú. Trong lúc đang suy nghĩ tìm chỗ để trú thân thì bị bầy khỉ trên núi bắt gặp, đón tiếp hỏi han:
- Ngươi lại về rồi, việc tìm tiên học đạo ra sao?
Tiểu thạch hầu im lặng chẳng trả lời, chỉ cắm đầu chạy, vừa chạy vừa nghĩ ngợi: "Trong động này đã bị ô tạp, làm sao tu đắc đạo được? Chỉ có động vô lậu ở phía sau là tốt. Lại càng không đi vào động, mà chỉ đi dến vô lậu động ở phía sau núi. Chính vô lậu động là linh khiếu của núi Hoa quả, trên mặt chỉ có một mịêng nhỏ, ở dưới chỉ tối om om, cũng không rõ là bao sâu, từ trước đến giờ chẳng có ai dám xuống đó.
Bấy giờ tiểu thạch hầu mạnh dạn tiến sâu vào, vừa qua khỏi miệng động xuống một chút thốt lên:
- Tuyệt diệu, tuyệt diệu! Cũng không hề nghĩ đến việc tiến vào rồi làm ra sao, mà cứ hùng dũng tiến sâu vào.
Những con khỉ đi theo thấy vậy, vừa sợ vừa mừng, đều lấy làm lạ, bèn chạy báo lại với Thong tý tiên. Vị tiên này bảo rằng:
- Do nó, do nó, tự có điều hay.
Bầy khỉ tản mác không nói gì nữa.
Lại nói về Tiểu thạch hầu đi đến tận đáy hang, cứ ngỡ là đá mọc lố nhố, cao thấp lồi lõm, nào ngờ đó là cỏ nhung mềm mại, giống như một bức thảm thêu, vô cùng mềm mại ấm áp. Tiểu thạch hầu ngồi ngay lên đó, rất lấy làm thích thú. Mặc dù tối tăm, nhưng nó không coi đó là điều quan trọng vì cứ theo lệ cũ ở định tâm đường, vứt bỏ hết chúng duyên, tập trung ý tưởng trong mấy ngày, chỉ thấy linh quang lập lòe chói sáng, như có hình ảnh. Lại tập trung luôn bốn mươi chín ngày thì thấy trong luồng tinh quang như ẩn như hiện một con khỉ già mõm nhọn má choắt có cặp mắt sáng như lửa, tay cầm thiết bổng kim cô như ý, chỉa miệng bên lỗ tai của tiểu thạch hầu, mặc truyền khá nhiều bí chỉ tiên cơ, khác nào như rót rượu cam lồ vào tâm, và rót phép mầu khắp đỉnh đầu.
Thế là chỉ trong một thời gian ngắn đã thành siêu phàm nhập thánh. Khi vội muốn hỏi trở lại, thì con khỉ già hay gọi cho tôn kính là lão hầu tử lại đến gần hơn, rồi như hợp chung với tiểu thạch hầu làm một. Vậy là khỉ ta đại ngộ đạo: - Nguyên là tự trong tâm tính nó đã có vị chân sư, là người đặc biệt mà không biết phải mò mẫm tìm cầu đó thôi!. Trong giây lát, liền cảm thấy toàn thân như nhẹ thênh mà thần lực lại vô cùng sung túc, am tường cả bảy mươi hai phép biến hóa ,tâm đầu như có âm thanh dìu dặt oang oang. Trong lòng lại e rằng đó chỉ là mộng mị, khỉ ta mới nghĩ thầm: - hãy đi ra thử cây kim cô, xem ra sao? Rồi tung thân nhẹ một cái thì đã bay ra ngoài động ngay.
Thật là:

Đi tan giày sắt tìm không thấy,
Khi được cơ hồ chẳng phí công.

Không biết trở ra có lay động được gậy kim cô không? hãy xem hồi sau sẽ rõ.
Đăng nhập để trả lời
0