II - Sự hao tổn giá thành khai thác trí năng
Do phương thức khai thác đối với nguồn trí lực của chúng ta không đúng đắn, đã dẫn đến lãng phí đại bộ phận nguồn trí lực.
Về phương diện khai thác trí năng, vấn đề hiện tồn tại một mặt là nguồn trí lực to lớn chưa được khai thác, mặt khác là nguồn trí lực đã khai thác chưa được sử dụng một cách đúng đắn. Sau khi vứt bỏ nguồn trí lực chưa được khai thác và nguồn trí lực bị hao mòn thì nguồn trí lực hữu hiệu thật sự được lợi dụng quá ít ỏi. Ví như, tinh thần hiệp tác là một nguồn trí lực hữu hiệu, nhưng tính cách hay “đấu chọi trong cùng một ổ” của chúng ta sẽ làm cho nguồn trí lực này hao mòn hết. ý thức độc lập cũng là một nguồn trí lực hữu hiệu, nhưng tư tưởng ỷ lại nhiều năm nay mà chúng ta đã nuôi dưỡng thành thói quen làm cho chúng ta luôn luôn chờ đợi, dựa dẫm và đòi hỏi, mà thiếu ý thức sáng tạo chủ động.
Nói một cách tổng thể, nguồn trí lực của Trung Quốc thật ra không thiếu thốn, nhưng sự hao tổn nguồn trí lực rất là nghiêm trọng. Chúng ta cần phải vừa từ trên kết cấu xã hội vĩ mô lại từ trên kết cấu nhân tế vi mô trừ bỏ hết mọi hao tổn nguồn trí lực.
1- Hao tổn giá thành trí năng trong giao tế
Chỉ có ở trong thời đại trời rộng đất dầy mới có thể sinh ra vĩ nhân của đạo đức và tư tưởng, bởi vì ở thời đại này, con người không phải chi ra giá thành trí năng giao tế quá lớn.
Nhân khẩu tăng trưởng nhanh chóng, không gian hoạt động của con người tăng lên nhanh chóng, khiến cho kết cấu giữa con người với con người trở nên ngày càng phức tạp, việc tiếp xúc giữa người này với người khác ngày càng nhiều sự cạnh tranh giữa con người với con người cũng ngày càng kịch liệt. Do đó, người ta buộc phải bỏ ra tương đối nhiều thời gian để ứng phó và xử lý quan hệ nhân tế. Tài năng của con người thông thường cần phải phát huy giữa người này với người kia, hơn nữa người ta có thành công hay không càng quyết định bởi nghệ thuật của quan hệ nhân tế. Cần nói thêm rằng do cạnh tranh gay gắt thêm, khiến người ta phải tụ tập lại với nhau như đàn kiến, làm cho người ta có tầm nhìn ngắn ngủi, so đo tính toán, tham lam không chán, lòe bịp bất thường, do không gian sống càng thêm chật hẹp khiến cho tinh lực của người ta phần nhiều đều dốc vào cạnh tranh, điều hòa, chiếm đoạt, công kích và lừa dối giữa người này với người khác. Cần phải nói rằng, quan hệ nhân tế đối với giá thành trí năng của con người hao mòn quá lớn.
Chúng ta cần phải xem xét lại một chút, trong mỗi ngày chúng ta có bao nhiêu tinh lực hao phí vào công việc, lại có bao nhiêu tinh lực hao phí vào quan hệ nhân tế? Sự thực làm cho người ta kinh ngạc là tinh lực của chúng ta hao phí vào quan hệ nhân tế càng nhiều. Phương thức trắc định đơn vị này có thể làm cho chúng ta quan tâm đến hiệu suất lợi dụng trí năng của phương diện vĩ mô.
Môi trường nhân tế hiện nay của chúng ta, về toàn cục là kết cấu có tính hao mòn, mà không phải là kết cấu có tính tăng trưởng, thực chất của loại kết cấu này là đem nguồn vốn nhất định thông qua phương thức nhất định từ một bên này di chuyển sang một bên khác, mà không thông qua tổ hợp làm cho nguồn vốn tăng giá trị. Trong lĩnh vực thương mại, thương nhân nước ngoài rất không hiểu nổi các nhà doanh nghiệp Trung Quốc vì sao luôn thích “ăn to uống lớn”, họ cho rằng việc đi lại không công bằng là không đúng. Có phải người Trung Quốc ngu dốt? Khẳng định không phải. Người Trung Quốc xem các nhà doanh nghiệp nước ngoài là “chúa cứu thế”, đây không phải là may mắn gì của các nhà doanh nghiệp nước ngoài, bởi vì người ta hy vọng được tiền của trong tay “chúa cứu thế” là miễn phí, từ trong lòng chính là vì một loại giao dịch không công bằng. Trong hoàn cảnh thường ngày của chúng ta, hầu như mỗi một bữa yến tiệc đều mang tính chất như vậy, một bên mời một bên khác ăn cơm, cuối cùng thực tế trả tiền đều là nhà nước, mỗi một bữa yến tiệc hầu như đều chứa đựng một loại giao dịch không công bằng, đều ẩn náu sự chiếm hữu không công bằng vốn của một bên đối với một bên khác.
Nhìn từ một phương diện khác, giao tế là cần thiết, nhưng đưa vào giá thành giao tế quá mức là không thỏa đáng. Mục đích của giao tế là thông qua thủ đoạn giao tế phân phối lại cơ hội xã hội và tiền vốn xã hội, việc phân phối hợp lý sẽ xúc tiến tăng giá trị của tiền vốn. Nhưng nếu như mọi người đều đi phân phối mà không đi sản xuất, như vậy thì tiền vốn bị đưa đi đưa lại mà không tăng trưởng, không thể không nói là một lãng phí nguồn vốn trí lực. Do vậy, không giỏi giao tế cố nhiên sẽ mất đi phần lớn cơ hội của cuộc sống, nhưng tinh lực dốc vào trong giao tế quá lớn cũng là một loại hao tổn.
ở đây chúng ta không phủ định tình hữu nghị chân thành. Lỗ Tấn nói: "Đời người được một người hiểu biết mình là đủ, đời này nên lấy cùng bụng dạ để xem xét họ". Trong thời đại hiện nay quan hệ nhân tế ngày càng căng thẳng, chúng ta càng cần khai thông và ủng hộ giữa người này với người khác, càng cần phải như Chu Tử nói: "Nói chuyện với ông một lần, còn hơn mười năm đọc sách", mà không phải là “cùng nghe tiếng gà gáy chó sủa mà đến chết vẫn không đi lại với nhau”. Giá thành giao tế thể hiện trên tính hữu hiệu của nguồn thông tin giao tế, giao tế không có mục đích sẽ hao tổn giá thành sinh mệnh. Giao tế hợp lý, vừa phải là cần thiết. Trong giao tế người ta nhận được ích lợi ra sao là một đề tài không nhỏ.
a- Quan hệ nhân tế kiểu tiểu nông
Quan hệ nhân tế kiểu tiểu nông đặc biệt chú trọng liên kết của tình cảm, tính phụ thuộc vào nhau giữa người này với người kia rất mạnh, mà ít dùng tiền tài qua lại, là một loại quan hệ thuộc dạng hỗ trợ lẫn nhau. Trong cuộc sống hiện thực, giữa những người trong xóm giềng phố phường phải giúp đỡ lẫn nhau, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, giữa người này người kia đều tương đối quan tâm đến thể diện. Nhà ông A xây nhà, nhà ông B đến giúp đỡ và không đòi trả công, đợi đến khi nhà ông B xây nhà, nhà ông A cũng sẽ đến giúp đỡ và cũng không cần trả công. Do giữa hai bên luôn không dùng phương thức kết toán bằng tiền rõ ràng, nên thường có thể xuất hiện việc một bên nào đó oán trách bên kia “không biết điều”. Không có đi lại bằng tiền kiểu thương phẩm hóa, giữa người này với người khác chính đòi hỏi phải chi ra giá thành giao tế rất lớn, tổn hao va chạm tình cảm không cần thiết.
Quan hệ nhân tế kiểu tiểu nông là một giấc mơ khiến người ta nhớ tưởng, hiện tại nó hầu như chỉ có thể được các nhà văn dùng hình thức biểu hiện văn học để giữ lại trong các tác phẩm nghệ thuật.
b- Quan hệ nhân tế kiểu thị dân
Những người từ nông thôn chuyển đến thành phố sống mới đầu đều rất không quen phương thức sống kiểu thị dân. ở nông thôn, người toàn thôn đều quen biết nhau, còn trong thành phố, dù cho ở trong cùng một đơn nguyên, thật ra đều không đi lại với nhau. ở nông thôn, đến chơi là việc thường gặp nhất, trong thời gian một bữa cơm, bưng bát cơm đã có thể chạy đến bốn, năm nhà, trong cả thôn ai cũng đều quen biết.
Quan hệ nhân tế giữa thị dân vẫn rất khắt khe, người ở tầng bốn mang gửi hộ một lá thư cho người ở tầng ba vẫn đòi người kia chi ra 2 hào. Đường ống nước ở tầng 2 tắc, vẫn đòi mỗi nhà từ tầng ba trở lên đóng góp ra 15 đồng chi phí tiền thông và làm sạch đường ống. Người nông thôn đối với cách làm “khắt khe” này của người thành thị nhìn không quen. Quan hệ nhân tế kiểu thị dân quá thương mại hóa, mất đi không khí làng xã nồng nàn, còn cần phải cải tạo và làm thăng hoa.
c- Quan hệ nhân tế kiểu tư sản
Đặc điểm của loại kết cấu nhân tố này là người này và người khác không có mối quan hệ tình cảm thật sự, đồng tiền quyết định tất cả. Giữa người này và người khác không có va chạm về tình cảm, cũng không có sự giao lưu về tình cảm. Giữa người này với người khác cùng đi với nhau vì lợi ích, mỉm cười và chào hỏi nhau chỉ là một lễ nghi và cái vỏ bề ngoài. Do bất đồng về lợi ích mà chia tay cũng là việc tự nhiên, không thể xuất hiện va chạm về tình cảm. Quan hệ kết cấu nhân tế dạng tình cảm là rất không khoa học, trong quan hệ kết cấu xã hội hiện đại là một nốt nhạc không ăn khớp. Tình cảm và tư sản không thể trao đổi ngang nhau, thường đùa giỡn tình cảm của con người, cũng đùa giỡn tư sản. Tính chung hưởng cơ hội xã hội loại bỏ gánh nặng tình cảm của người ta, khiến cho quan hệ nhân tế không đến nỗi quá “mệt”. Xã hội hàng hóa cần một thể chuyển đổi giá trị, đó chính là giấy bạc. ở trong lục địa Trung Quốc nhiều nhà kinh doanh thường thích chọn những người cộng tác và cấp dưới trong bạn bè thân thích, về phương diện tiền thù lao đều rất khó nói, kết quả đã tạo nên bất đồng về mặt phân phối của hai bên, cuối cùng đành phải chia tay. Giữa bạn bè thân thích đều tồn tại rất nhiều mối quan hệ tình cảm. Mối quan hệ tình cảm này thường có thể làm trở ngại nguyên tắc phân phối khoa học. Ví dụ như ông chủ đã từng giúp đỡ cấp dưới của mình một số việc nào đó, đối với giá trị của việc này lại rất khó đánh giá, khi ông chủ có lẽ cho rằng người cấp dưới này của ông cần làm nhiều việc cho mình mà không cần cân nhắc tiền công. Người cấp dưới thì cho rằng, trước kia ông đã từng giúp tôi, tôi vẫn có thể dùng phương thức tương ứng để trả lại ông, không thể nói lẫn lộn với công việc được. Thêm nữa, công việc là thu nhập hàng ngày của tôi, là nguồn kiếm sống nuôi gia đình.
Kết cấu quan hệ nhân tế kiểu tư sản là một loại quan hệ nhân tế hao tổn nhỏ nhất, đồng thời đã cơ bản trở thành xu hướng chính của quan hệ nhân tế ngày nay. Nhưng quan hệ nhân tế kiểu tư sản không phải là mô thức kết cấu quan hệ nhân tế tốt nhất, quan tâm nhân văn và trao đổi tình cảm vẫn là điều không thể thiếu trong đời sống của loài người.
d- Quan hệ nhân tế trên mạng Internet
Việc phổ cập mạng liên lạc quốc tế (internet) sẽ làm thay đổi thế giới này, quan hệ giữa người này với người khác sẽ trở nên đơn giản hơn. Hành vi kinh doanh, hành vi giao dịch của tương lai đều thực hiện trên máy tính, cơ hội giao lưu (trao đổi) giữa người này với người khác có thể sẽ ngày càng ít. Việc chung hưởng nguồn thông tin và thị trường, chính sẽ làm cho con người ngày càng trở nên độc lập. Một người chân không bước ra khỏi nhà đã có thể tìm được công việc trên mạng internet và ở trong nhà đồng thời phục vụ được cho mấy công ty. Việc phân công công tác và phân phối, tất cả đều tiến hành trên mạng liên lạc, người này và người kia tương đối ít tiếp xúc với nhau.
Song cơ sở sản xuất mới cũng sẽ sinh ra quan hệ sản xuất mới, “bạn trên mạng” cũng nẩy sinh. Cùng với bạn trên mạng có thể tiến hành trao đổi tư tưởng, cũng có thể thoát ra khỏi cảm giác cô đơn, đồng thời cũng có thể bảo vệ mình. Kết bạn trên mạng phá bỏ được mọi ngăn cách, khiến cho việc trao đổi của con người trở nên vô cùng tiện lợi. Phương thức thuộc dạng cùng nhau trao đổi này đã phá bỏ giới hạn trao đổi một chiều. Do việc giao tiếp trên mạng không đòi hỏi bối cảnh gia đình và bối cảnh xã hội, khiến cho cá nhân càng thêm độc lập và tự chủ, giảm bớt rất nhiều hao tổn trí lực không cần thiết.
e- Quan hệ công cộng
Giao tế trí lực là một trong những trí năng nhân tế, nhưng quan hệ nhân tế cũ và kiểu tiểu nông tạo nên tổn thất nguồn trí lực nghiêm trọng.
Việc tập trung cao độ của thông tin, sự phát triển cao độ của văn minh xã hội, tính ỷ lại giữa người này với người khác đã giảm thấp rất nhiều, khiến cho việc “tư giao” của mọi người ngày càng chuyển hướng sang “công giao”, “quan hệ tư nhân” ngày càng hướng tới “quan hệ công cộng”. ở giai đoạn này, người ta tương đối ít câu nệ mối quan hệ tình cảm, càng hướng tới hình tượng công chúng. Môn học quan hệ công cộng được nâng lên đến địa vị cao hơn, môn học quan hệ công cộng trên thực tế là một phạm trù đạo đức mới.
2- Trí nhớ hữu hạn
Đối với người theo đuổi việc lớn để xét, cần phải vứt bỏ gánh nặng nhớ những việc vụn vặt không cần thiết. Đối với người theo đuổi cuộc sống bình thường, cũng phải biết bỏ những tính toán ân oán con con không cần thiết. Người ta thường nói, bỏ việc nhỏ thì mới sáng việc lớn. Tư duy là một lưu trình của thời gian, gánh nặng tư duy nhiều hơn một chút thì giá thành trí lực có thể nhiều hơn một chút, cho nên người ta phải biết đem năng lượng tư duy hữu hạn dùng vào tư duy hữu hạn.
Các vĩ nhân trong lịch sử có thể hoàn thành sự nghiệp lớn đều có một đặc điểm chung là lòng dạ của họ rộng rãi, hầu như chưa từng oán trách người khác. Do vậy giá thành đời người của họ rất thấp, mà hiệu suất trí năng đời người rất cao. Người ta có bụng dạ rộng rãi bao nhiêu thì có sự nghiệp lớn bấy nhiêu.
Một đặc điểm chung của một số phụ nữ là dễ dàng canh cánh bên lòng đối với một số việc nhỏ mọn, một tí việc nghĩ không thông thì đã làm om xòm lên, thậm chí có thể thắt cổ chết. Trong đầu óc họ chất đầy ân oán cỏn con, cho nên khó mà có sáng tạo lớn. Đương nhiên bụng dạ hẹp hòi không chỉ là những người phụ nữ này, chúng ta cũng phát hiện bụng dạ của nhiều nam giới cũng giống như những phụ nữ này, cũng so đo tính toán chẳng kém, việc này không thể không nói là một đau buồn của họ.
Người có thành tựu là tận mọi khả năng đem chất xám hữu hạn dùng vào việc sáng tạo thoát ra khỏi gánh nặng tư duy không cần thiết, từ đó đã sáng tạo ra lượng giá trị trí năng lớn nhất.
Lo lắng là một lỗ hổng nuốt hết trí năng của đời người, nó tổn hao giá thành trí năng và thể năng của con người. Trước hết, lo lắng làm cho hệ thông tin sinh vật của con người rối loạn, trực tiếp giày vò hệ thần kinh và thể xác con người. Lo lắng có thể làm cho con người phải suy nghĩ lặp lại vô vàn lần cùng một vấn đề chịu bó tay mà không có hiệu quả, tạo nên lãng phí nguồn tư duy rất lớn. Lâu ngày có thể phá tan ý chí của con người và tạo nên tổn thương của thân thể. Bình thường, người ta có thể nhìn thấy, những người lòng dạ hẹp hòi đa số đều xanh xao gầy yếu.
Mọi người đều cần bồi dưỡng thành cách sống không có gánh nặng tư duy, cố gắng giảm bớt gánh nặng tư duy kèm theo ngoài công việc có hiệu quả, đối với những vấn đề khó giải quyết có thể dùng phương pháp trao đổi tâm sự với bạn bè, phân giải và san sẻ bớt gánh nặng. Những việc không vừa lòng xuất hiện trong cuộc sống, nên tìm cách lý giải, không nên khoác lên gánh nặng tư tưởng. Hiện thực luôn là có chỗ không ăn khớp với ý nguyện chủ quan của chúng ta, đối với những việc trái ngược với nguyện vọng của chúng ta, thái độ của chúng ta nên là, hoặc làm thay đổi nó, hoặc thích ứng với nó. Nếu như vừa không thể làm thay đổi cũng không thể thích ứng, sẽ tất nhiên có thể sa vào vực sâu tự giày vò. Oán trách là cách làm không có giá trị nhất, bởi vì bạn vừa thay đổi không nổi nó, cũng thích ứng không nổi nó.
Đương nhiên, đề xướng chọn 2 cách làm là làm thay đổi và thích ứng không phải là muốn người ta đối xử tiêu cực với sự việc, mà là nhằm vào gánh nặng tư duy để nói. Đầu óc của chúng ta nên là phải tiến hành công việc có hiệu quả, còn vì những việc vừa không thể làm thay đổi cũng không thể thích ứng mà lo lắng sẽ hao tổn lượng lớn nguồn tư duy, tạo nên lãng phí trí lực nghiêm trọng.
3- Độ lượng và giá thành
Giá sinh mệnh phải trả sẽ có biểu hiện khác nhau ở từng người khác nhau. Đối với một dân tộc có lịch sử vẻ vang như Trung Quốc, dù cho chúng ta hiện nay đang nằm trong cảnh ngộ rất khó khăn, cũng không muốn gỡ bỏ phòng tuyến hàng ngàn năm trên thể diện của chúng ta. Trí năng của con người không chỉ có thể phát huy được năng lượng tự thân, cũng phải có thể cung cấp khả năng bảo hộ cho thân thể của mình. Nếu như trí năng của mình đến bản thân mình còn không bảo hộ nổi, thì còn nói được là trí năng gì nữa?
Trong cuộc sống hàng ngày, có người vì thể diện mà mất đi tất cả mọi giá thành sinh mệnh, rõ ràng là không đáng có. Có phụ nữ vì một việc nhỏ mọn, mà tức giận đến nỗi tự sát, giá thành sinh mệnh mà họ phải chi ra là quá lớn. Nói chung, độ lượng (tức bụng dạ) của phụ nữ tương đối nhỏ hẹp, sự phiền não của rất nhiều gia đình đều do bụng dạ của phụ nữ quá nhỏ bé gây ra. Có bao nhiêu nam giới ở ngoài dám nói dám làm, nhưng khi đối mặt với lòng dạ chật hẹp của người vợ, lại tỏ ra đành chịu bó tay chẳng có kế sách gì, trong lòng chỉ khát vọng lòng khoan dung của người vợ.
Nhưng trong cuộc sống cũng không thiếu những nam giới bụng dạ hẹp hòi, họ cũng tẹp nhẹp nhỏ nhen và ghen tỵ giống như phụ nữ.
Nhìn lại lịch sử trong và ngoài nước xưa nay thấy, những người có thể thành đạt sự nghiệp đều khá độ lượng. Lời đánh giá trong sách Lưu hầu luận đối với Trương Lương là: Đột nhiên đối mặt không sợ, vô cớ bị nói xấu không giận. Trương Lương sở dĩ là Trương Lương chính là ở chỗ ông có sự độ lượng và lòng dạ đối xử với người như thế.
Chúng ta đều biết Hàn Tín, khi còn trẻ ông đã từng chịu nỗi nhục “luồn dưới háng”, sự nhượng bộ của ông thật ra không làm cho người ta hiểu nhầm ông không phải là anh hùng, trái lại được mọi người thừa nhận là anh hùng chân chính. Không có lòng dạ và độ lượng thì dù có dũng cũng chỉ là cái dũng của kẻ thất phu, dù có trí cũng chẳng qua là trí của đàn bà.
Giá thành độ lượng của Chu Du thời Tam quốc rất có hạn, “một bước ba kế” của ông cuối cùng không đấu nổi “ba bước một kế” của Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng biết rất rõ lòng dạ của Chu Du rất nhỏ nhen, đã cố ý kích động ông ta, bày ra một kế sách “tam khí Chu Du” (ba lần chọc tức Chu Du). Chu Du đến cùng không thể vượt qua được giới hạn độ lượng của mình, cuối cùng đã phát ra lời than thở “Trời đã sinh ra Du, sao còn sinh ra Lượng” rồi hộc máu tươi ra chết. Một tướng quân trí dũng song toàn, không chết ở chiến trường, lại chỉ vì tức mà chết, thật là đáng tiếc. Giá thành độ lượng mà Chu Du phải trả ra cũng quá lớn.
Ghen tỵ là một bệnh tâm lý ngoan cố của con người, người mắc chứng bệnh này sẽ phải trả ra giá thành sinh mệnh lớn. Câu chuyện giữa Tôn Tẫn và Bàng Quyên năm xưa, luôn luôn bày ra rõ ràng trước người đời. Bàng Quyên cũng là thiên tài quân sự như thế, vì sao không thể trở thành đại biểu chính diện trong lịch sử quân sự Trung Quốc như Tôn Tẫn, trái lại trở thành đối tượng bị người ta nguyền rủa? Ghen tỵ là một chứng bệnh lưu hành phổ biến ở Trung Quốc, sở dĩ ở Trung Quốc tần suất phát bệnh cao là vì ở người Trung Quốc có sự thừa kế văn hóa vĩ đại nhất trên thế giới và tâm lý tự xem mình là có trí tuệ cao, đồng thời lại có quán tính ăn sâu bám rễ. Trên trường thi đấu thể thao, những người không bằng lòng tham dự thi đấu, thường sẽ trở thành xạ thủ hãm hại người thi đấu.
Nhà chính trị vĩ đại Đặng Tiểu Bình ba lần đứng lên, ba lần ngã xuống, nhiều lần bị cách chức. Khi ông bị đưa xuống Giang Tây lao động, tịnh không uất ức thành bệnh mà là dùng lòng dạ rộng rãi đã tránh được việc phải chi ra giá thành sinh mệnh quá nhiều, cả đến việc sống đến tuổi chín mươi hai, đồng thời trở thành nhà thiết kế chính của cải cách Trung Quốc. Từ đó ta thấy, lòng dạ rộng rãi là điều kiện quan trọng nhất tiết kiệm giá thành sinh mệnh.
4- “Hiệu ứng tù phạm”
Thể diện của con người vừa là bức tường chắn chống lại sự công kích bên ngoài, lại là chiếc cũi nhốt mình. Thể diện có thể chống lại sự tiến công của bên ngoài, có thể che đậy sự trống rỗng trong lòng. Vì thể diện, người ta thường thường mất đạo nghĩa, mất trách nhiệm đời người của mình. Người ta có của thường đi kèm một loại mất: một người có xe ôtô con, đồng thời mất đi sự chiếm dụng đối với xe đạp. Bởi vì người một khi có xe ôtô con có thể trở thành “tù phạm” của xe đạp, cho nên mất đi tự do và vẻ tự nhiên của việc đi xe đạp. Nhiều người một khi dời địa vị công tác, đã có thể trở thành “tù phạm” hoàn toàn: ông ta không biết đi xe đạp, không biết nói chuyện phiếm vui vẻ hòa nhã với mọi người __ hầu như tất cả đáng thuộc về sinh hoạt của con người, ông ta đều không thể hưởng thụ, cái có của ngày qua trở nên ràng buộc của hôm nay. Tôi đã từng xem một chuyện tranh liên hoàn dí dỏm hứng thú có tên là Gợi ý mời nhận mặt vẽ chuyện rất nhiều “người mất mặt” chạy ngược chạy xuôi đi tìm mặt. Vợ của một giáo sư bị ốm, trong lúc không còn cách nào hơn, vị giáo sư này tự mình giặt một lần quần áo, không may là đúng lúc mình đang phơi quần áo trên ban công bị một đồng nghiệp của mình trông thấy. Lúc này, ông ta dùng tay sờ mặt của mình không thấy nữa! Một ông lãnh đạo vì xe ôtô con bị hỏng, buộc phải đạp xe đạp đi làm một lần vừa vặn bị người dưới quyền của mình nhìn thấy, chốc lát mặt ông đỏ lên. Lúc này, ông ta dùng tay sờ, cũng phát hiện mặt của mình không thấy nữa... Việc giặt quần áo cho vợ vốn là việc hoàn toàn bình thường, cán bộ cưỡi xe đạp đi làm cũng là việc rất bình thường, nhưng thể diện khiến họ bước vào cái cũi vô hình này trở thành một “tù phạm” đáng thương. Lúc này, chúng ta nhìn thấy “đã từng có” thực tế là “mất đi vĩnh viễn”. Phá thể diện là rất khó, việc này đòi hỏi tu dưỡng rất cao sâu, đòi hỏi khiêm tốn, đòi hỏi tự tôn, đòi hỏi tự tin, đòi hỏi dí dỏm, đòi hỏi tâm tính tốt v.v... do vậy rất nhiều người một đời đều không có cách gì phá nổi.
A.Q dưới ngòi bút của Lỗ Tấn chính là một ví dụ rõ ràng nhất. Người giống A.Q như thế, hầu như không có cái gì, nhưng anh ta không thể không có thể diện. Anh ta có thể nghèo đến mức “trắng như đít ếch”, nhưng anh ta phải luôn luôn tuyên bố “nhà tôi trước kia cũng họ Triệu”, “nhà tôi trước kia cũng giàu có”. “Phép thắng về tinh thần” chính là sự phản ánh tập trung văn hóa thể diện của Trung Quốc.
Trước tác nổi tiếng Vây thành của Triều Trung Thư đã vạch ra sự huyền bí của đời người. Tôi đã từng triển khai một hoạt động gọi là “Ngũ sắc vây thành”. Đây là một cuộc trao đổi kinh nghiệm sống của đời người đầy hứng thú, những người chưa từng quen biết nhau tại đây thông qua thủ đoạn nghệ thuật trao đổi những điều tâm đắc cuộc sống của mình. Trên cổng của tòa Vây thành, tôi còn viết một câu đối: "Hý trung nhân xuất hý, hý ngoại nhân nhập hý, hý trung hữu hi. Thành ngoại nhân tiến thành, thành lý nhân xuất thành, thành trung hữu thành". (ý nói: người trong trò chơi thì đưa ra trò chơi, người ngoài trò chơi vào chơi, trong trò chơi có vui cười. Người ngoài thành thì vào thành, người trong thành ra ngoài thành, trong thành có thành thực). Do hoạt động này biểu hiện rõ ràng cảm nhận hai mặt của người ở “trong thành” và “ngoài thành”, trong vui chơi có cảm xúc mà hiểu ra rất sâu xa, gây được hào hứng lớn của người tham gia.
Con người đều tự giác hoặc không tự giác sống trong chiếc lồng do mình hoặc người khác tạo ra, dù là có thể ra khỏi chiếc lồng này, vẫn có thể chủ động bước vào chiếc lồng khác.
Có một nhà thơ đã viết: Chim nhìn người là chim.
Cảm giác an toàn của con người là ở trong “lồng” mới thể hiện được. Những người bằng lòng với bổn phận nói chung không muốn trở thành kẻ lặn lội trên đường dài, đều đòi hỏi tìm được một chiếc “lồng” thuộc về mình. Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch, người ta đều cảm thấy xí nghiệp quốc doanh độ an toàn đáng tin cậy, chỉ cần trở thành công nhân chính thức hoặc chuyển thành cán bộ, thì có thể được bảo hiểm cả một đời của mình. Bởi thế trong “chiếc lồng” này chen chúc đầy người. Về sau, người ta mới phát hiện, không gian ở bên ngoài rộng lớn hơn, mình đã trở thành “tù phạm”, do đó sẽ muốn nhảy ra khỏi. Đời người chính là như thế, luôn là từ một chiếc “lồng” này chạy sang một chiếc “lồng” khác.
Dư Thuần Thuận, người Thượng Hải, muốn làm thay đổi hình tượng của người Thượng Hải, đã bắt đầu một cuộc du hành lừng lẫy __ đi bộ khắp Trung Quốc. Do vậy, đời người của ông ta trở thành cuộc du lịch không có cõi đi về. Cuối cùng, ông gặp nạn và chết tại hồ Luobu thuộc Pengjiamu, khiến mình cuối cùng trở thành một con “người tự do”. Đời người vốn không có cõi đi về, lại muốn không ngừng đi tìm chốn đi về. Theo quan niệm của người phương Tây, bản thân đời người chính là một cuộc du hành, “tinh thần lữ quán” chính là tinh thần của đời người. “Hiệu ứng tù phạm” là quan niệm đối ứng với “tinh thần lữ quán”, con người cần phải luôn luôn thay đổi vai trò của mình để sửa chữa cho đúng vị trí của mình. Theo đuổi của văn hóa đối với cõi đi về của đời người lại thường là tự làm khó mình. Nền văn hóa nồng thắm của Trung Quốc trong nhiều lúc khó tránh khỏi trở thành “phòng giam” mới.
5- Lừa mình dối người
Con người do nhược điểm của nhân tính tồn tại phổ biến, khiến cho mỗi người trong một đời mình đều ít nhiều từng xuất hiện hành vi lừa mình dối người, tất cả mọi người chúng ta đều từng có lịch sử lừa mình dối người. Lừa mình dối người không nghi ngờ gì nữa là một sự tổn hao trí năng trầm trọng, bởi vì đối tượng lừa dối của nó không chỉ là người khác, mà còn là mình nữa. Nói chung việc lừa mình dối người ở mức nhẹ là do sự yếu đuối về tâm lý hoặc thiếu tri thức tạo nên. Đối với một số cách làm mình biết rõ là sai lầm, do năng lực chịu đựng về tinh thần của cá nhân hữu hạn, đã tạm thời coi là cách làm đúng để đối xử. Ví dụ như hút thuốc, nghiện rượu, do mình không sửa nổi những tập quán xấu này, đã phải tìm kiếm một số lý do để tự giải thích theo lý của mình. Người ta thường nói, lời giả nói một ngàn lần sẽ trở thành thật. Khi mình hết lần này đến lần khác biện bạch cho hành vi của mình, lâu ngày trong tiềm thức của mình cũng sẽ coi cách làm sai trái thành cách làm đúng đắn.
Kẻ tự dối mình biết rất rõ mình không phải là kẻ mạnh nhất trái lại luôn luôn tự cho mình là kẻ mạnh nhất. A.Q nhiều lần nói mình trước kia cũng là người giàu chính là tự dối mình cũng là lừa người. Trong tình huống thông thường, tự dối mình chính là để lừa người. Có lúc chúng ta sẽ nghĩ, người ta đã khhông thể tự điều hòa được sự cân bằng tâm trạng, lại không thể thực hiện trạng thái lý tưởng của đời sống, “tự dối mình” một chút hầu như có thể tha thứ được. Phần đông mọi người điểm khởi đầu của cuộc sống khác nhau, bối cảnh sống khác nhau, dùng tiêu chuẩn lý tưởng để yêu cầu tất cả mọi người cũng là không hiện thực.
Việc tự bảo vệ xuất phát từ tâm lý yếu ớt là khó tránh khỏi, nhưng nếu như mãi mãi không thể vượt được, sẽ có thể hình thành “cương” về tính cách của mình, cản trở sự phát triển của mình. Sự giác ngộ của đời người là rất khó khăn, muốn làm được việc một đời không tự dối mình càng là khó khăn hơn. Bất cứ sự vật nào xa rời tính chân thực của nó, đều không có ý nghĩa tiến bộ, đều có thể tạo nên tổn hao về mặt trí năng. Chiến thắng việc dối mình lừa người tồn tại trong con người mình, nhìn thẳng vào đời người cần có năng lực, nghị lực và dũng khí.
6- Thông minh, tinh nhanh và giỏi giang tài cán
Triết học tư biện “biến dịch, bất dịch và giản dịch” trong triết học truyền thống của Trung Quốc một lần nữa gợi ý chúng ta rằng, sự việc phức tạp nhất có thể sẽ biến thành việc đơn giản nhất. Trong cuộc sống, chúng ta thường phát hiện những người thông minh đến cực điểm có thể đi làm những việc ngu xuẩn, cái gọi là “thông minh ngược lại bị sai lầm của thông minh”. Có người suốt đời bận rộn, cuối cùng một việc không thành. Phương pháp thích đáng có thể làm chơi ăn thật, phương pháp không thích đáng thì làm nhiều mà ít kết quả, ở đây là có quy luật của nó. Người thông minh mắt nhìn mười dặm; người tinh nhanh mắt nhìn trăm dặm; người giỏi giang tài cán thì mắt nhìn ngoài ngàn dặm. Hoàn cảnh luôn luôn cải tạo của con người, người ta phải tùy cơ ứng biến, có thể biến báo mới có thể mở rộng, cái đó gọi là “biến dịch”. Con người phải giữ vững chủ ý của mình, không thể bay theo chiều gió, phải lấy bất biến ứng vạn biến, cái đó gọi là “bất dịch”. Hóa phức tạp thành giản đơn, bỏ việc nhỏ thì việc lớn mới sáng ra, có trí lớn mà tựa như ngu dốt, cái đó gọi là giản dịch. Trong cuộc sống, không thiếu những người suốt ngày chạy ngược chạy xuôi, bận rộn tíu tít giống như những cánh bèo không rễ, mãi mãi tìm không được vị trí đời người của mình. Không thiếu những người khư khư ôm lấy cái cũ, bằng lòng với hiện trạng, mãi mãi không dám sáng tạo, cũng là đáng buồn. Đồng thời cũng không thiếu những người tủn mủn vụn vặt, so đo tính toán, cầm không nổi bỏ không xong, những người này càng đáng buồn hơn!
Trong cuộc sống không thiếu những người thông minh và tinh nhanh, nhưng người giỏi giang tài cán thì không nhiều. Trong Tam quốc, Tào Tháo và Lưu Bị uống rượu bàn anh hùng, khi Tào Tháo nói đến "Anh hùng trong thiên hạ ngoài ông và tôi ra không còn ai" thì Lưu Bị là đấng anh hùng một thời lập tức “hoảng sợ” đánh rơi cả đũa. Lưu Bị không thể là nhát gan thật như thế, nhưng Lưu Bị đang trong cảnh ngộ “sống nhờ sống gửi”, nếu như để lộ tài năng ra, chắc chắn là tạo cạm bẫy cho mình, giả vờ nhát gan không có năng lực, tránh được ý thù địch của đối phương là cử chỉ tài giỏi của Lưu Bị, tránh mũi nhọn là năng lực tự bảo vệ đơn giản nhất của con người.
Trong cuộc sống thường ngày, kẻ bị thiệt nhỏ chiếm được hời lớn, kẻ chiếm hời lớn thì bị thiệt lớn, lý lẽ đơn giản này thật ra không phải ai cũng đều có thể hiểu, trong đó sẽ có một sự khác nhau của tinh nhanh và tài giỏi. Bình thường, người khéo tay thường thường là “đầy tớ” của kẻ vụng về, rốt cuộc là ai bị ai lợi dụng luôn rất khó nói rõ ràng.
Có người nói người Thượng Hải tinh nhanh mà không giỏi giang tài cán, bất kể là đúng hay không đúng luôn có thể cho người ta một số gợi ý. Mặc dù không thể lấy sự so sánh sự tinh nhanh và tài giỏi một cách giản đơn làm sự khác nhau của người phương Nam với người phương Bắc, nhưng văn hóa theo vùng luôn luôn đại biểu cho triết học xử thế và kỹ xảo xử sự của người thuộc vùng khác nhau.
Trong chuyện ngụ ngôn của Trung Quốc có một chuyện Ngu công dời núi được người Trung Quốc xem là một trong những nền tảng của tinh thần dân tộc. Trong triết học của Lão Tử đã có một mệnh đề biện chứng là có trí lớn mà như ngu, người đại khéo mà như vụng, nói lớn mà như không có tiếng động, hình tượng lớn mà như không hình, đã phản ánh trí tuệ cao độ của triết học Trung Quốc.
7- Học vấn sáng tạo
Tiềm năng của sinh mệnh là giành cho việc sáng tạo.
Người nam giới đến với đời người với mục đích chính là để sáng tạo. Người nữ giới đến với đời người với mục đích là để chi trả. Không để cho nữ giới trả tiền họ sẽ cảm thấy đau khổ. Người phụ nữ có thể vì người nam giới và vì con cái trả ra toàn bộ sinh mệnh, đây là bẩm tính trời ban tặng cho phụ nữ. Phụ nữ một khi phát hiện mình mất đối tượng chi ra, sẽ đau khổ khác thường. Phụ nữ hoàn toàn không tiếc chi ra đối với nam giới, điều phụ nữ sợ nhất là nam giới dửng dưng đối với mình. Thực ra nam giới càng hão huyền hơn, cảm giác thành công mà nam giới cố gắng giành thường là để bù vào sự trống trải của bản thân mình.
Đành rằng nam giới xem sáng tạo là sứ mệnh của mình, đương nhiên phải nghiên cứu sâu phương pháp sáng tạo. Kết cấu giữa nam giới với nam giới, giữa nam giới với nữ giới kỳ diệu như thế, ngoài sự chân thành ra, vẫn còn tồn tại những cái kỳ diệu hơn.
Tưởng Tử Long trong tác phẩm Yên Triệu bi ca của ông đã nói một câu: Sự tín nhiệm giữa nam giới với nam giới là chinh phục. Đối với nam giới để xét, chinh phục là thể hiện của trí năng. Ham muốn chinh phục của nam giới vừa lắng đọng ở nơi sâu kín của tiềm thức, cũng biểu lộ trong biểu hiện ngôn ngữ. Ham muốn sáng tạo càng là biểu hiện nổi bật của tính cách nam giới, sáng tạo là thiên chức của nam giới.
Lỗ Tấn nói, trên đời vốn không có đường, người đi nhiều, liền có đường. Nhưng sáng tạo đòi hỏi phải chi ra giá thành. Người sáng tạo vì chân lý chi ra giá thành càng lớn. Copecnic đã trả giá thành của sinh mệnh cho thuyết nhật tâm.
Con người có năng lực nhiều mặt như: năng lực ứng biến, năng lực chịu đựng, năng lực giao tiếp, năng lực diễn đạt v.v..., nhưng có một năng lực quan trọng nhất đó chính là năng lực sáng tạo. Người ta sống ở trên đời, có tính bị động rất lớn luôn tiếp nhận sự nhào nặn của văn hóa và cải tạo của xã hội một cách bị động, mà chủ động phát huy tiềm năng của mình lại không dễ dàng. Năng lực sáng tạo là phương thức đắc lực nhất giảm thấp giá thành đời người, thất bại đối với người sáng tạo để xét chỉ là một dấu phẩy chứ không phải là một dấu chấm.
Thí nghiệm về bình ăcquy lần thứ một vạn của Edison không có kết quả, khi các bạn của ông định an ủi ông, ông nói: "Tôi không thất bại, chỉ là tôi phát hiện ra một vạn phương thức không thể vận hành". Edison, người lấy sáng tạo để theo đuổi suốt đời, có hơn một nghìn độc quyền phát minh, thúc đẩy điện lực phát triển khắp thế giới, chúng ta đều là những người được hưởng lợi từ ông.
--------------------------
Xem tiếp Phần Bốn
Giá thành thể năng của đời người