Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Giá thành sinh mệnh

15 trả lời, 4.113 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-09-21 18:25:45tieuboingoan>
Giá thành sinh mệnh


xi zi


nhà xuất bản hà nội - 2001


Tác phẩm này gồm 10 phần, tôi xin giới thiệu mục lục của nó trước khi đánh máy và đưa lên thư viện. Các bạn thấy thế nào? Có hứng thú với tác phẩm này không?

Lời tựa

Phần Một

Dẫn luận năng lượng sinh mệnh
I - Hệ thống năng lượng của con người
1- Khai thác hiển năng sinh mệnh
a. Khai thác trí năng
b. Khai thác thể năng
c. Phương thức lao động đối với việc giải phóng
năng lượng sinh mệnh
2 - Khai thác tiềm năng sinh mệnh
a- Giải mã tiềm năng sinh mệnh
b- Phương thức giải phóng năng lượng
II - Thể chế xã hội và sự phát huy năng lượng của con người
1- Nhận thức sức ràng buộc của cơ chế xã hội
2- Phát huy tính chủ động của tiềm năng cá nhân
III - Chứng khô teo văn hóa
1- Gánh vác văn hóa với phát huy năng lượng
2- Công trình cải tạo văn hóa
IV - Khai thác não phải
1- Giáo dục cảm tính
2- Trực giác và linh cảm
3- "Lò phản ứng hạt nhân" - Tư duy chỉnh hợp
V - Kế hoạch khiêu chiến với mình
Kẻ thù duy nhất chúng ta không thể thắng là chính chúng ta

Phần Hai Giá thành cơ hội của đời người
I - "Cơ" và "hội"
II - "Được" và "mất" của cơ hội
III - Sức sáng tạo của cơ hội
IV - Sức lựa chọn của cơ hội
V - Sức biểu hiện của cơ hội
VI - Sức điều khiển của cơ hội
VII - Sức chỉnh hợp của cơ hội

Phần Ba

Giá thành trí năng của đời người
I - Khai thác lập thể của trí năng
1- Năng lượng của tư tưởng
2- Khai thác trí năng không gian
3- Giới hạn của giáo dục trí năng
II - Sự hao tổn giá thành khai thác trí năng
1- Hao tổn giá thành trí năng trong giao tế
a. Quan hệ nhân tế kiểu tiểu nông
b. Quan hệ nhân tế kiểu thị dân
c. Quan hệ nhân tế kiểu tư sản
d. Quan hệ nhân tế trên mạng Internet
e. Quan hệ công cộng
2- Trí nhớ hữu hạn
3- Độ lượng và giá thành
4- "Hiệu ứng tù phạm"
5- Lừa mình dối người
6- Thông minh, tinh nhanh và giỏi giang tài cán
7- Học vấn sáng tạo


Phần Bốn

Giá thành thể năng của đời người
I - Giá phải trả của sức khỏe
1- Bội chi sức khỏe
2- Tuổi thọ và công trình nhân sinh
3- Sức khỏe và làm việc
II - Khoa học hóa sinh mệnh
1- Thể năng và hệ thông tin sinh vật có thứ tự
2- Hai hệ thống sinh mệnh và hai hình thức sức khỏe
3- Văn hóa ẩm thực
4- Đo lường thể năng
5- Suy lão tự nhiên và suy lão tinh thần

Phần Năm

Giá thành đạo đức
I - Phê phán đạo đức
II - Việc sản sinh đạo đức
1- Diễn biến tiêu chuẩn đạo đức
2- Quy tắc chung của đạo đức
III - Khuôn phép quy củ và ngay thẳng chu đáo
IV - Sức mạnh nhân cách
V - Totem (vật tổ) và những điều ràng buộc
VI - Thuyết "tự ngã"
VII - Khoảng cách đồng nhất của đạo đức

Phần Sáu

Giá thành văn hóa của đời người
I - Thuộc tính văn hóa của con người
1- Văn hóa của con người
a. Văn hóa gia đình
b. Văn hóa khu vực
c. Văn hóa tập tục
2- Gánh nặng văn hóa
3- Sáng tạo ra cái mới của văn hóa
4- Sức đồng hóa của văn hóa
5- Thay đổi định thế tư duy
II - Tài sản vô hình của đời người
1- Thiết kế CIS của cá nhân
a. MI (lý tưởng, tinh thần) của con người
b. BI (phương thức hành vi) của con người
c. VI (dáng vẻ hình tượng) của con người
2- Tài sản vô hình của con người
a. Lòng tín nghĩa và danh dự ("tín dự")
b. Dáng dấp tinh thần
c. Lòng yêu thương

Phần Bảy

Giá thành tình cảm của đời người
I - Giá phải trả của tình cảm
1- Đời sống tình cảm của con người
2- "Hướng đi mới" của đời sống tình cảm
3- Lịch trình của tình cảm
4- Cái giá phải trả của tình cảm
5- Sự tích tụ tình cảm của một thế hệ
6- Tình cảm và lý trí
II - Giá thành thẩm mỹ
1- Gợi ý của bốn người đẹp lớn
2- Thời kỳ mãn kinh của phụ nữ
3- "Kế hoạch tự lập" của nam giới
4- Tuổi thanh xuân và thẩm mỹ

Phần Tám

Giá thành tiêu thụ của đời người
I - Tiêu thụ là nhu cầu cơ bản của đời người
II - Yêu đương là chi phí giá thành cao
III - Giá phải trả của chi phí
IV - Vinh dự hão và giá thành
V - Chi phí vui chơi - “Đời người vui chơi”
VI - Cái giá chi phí thiên nhiên phải hứng chịu

Phần Chín

Nhận thức vai trò và định vị
I - Thiết kế cách sống
1- Cách sống kiểu anh hùng
2- Cách sống kiểu Đào Uyên Minh
3- Tiếp nhận vắng lặng
4- Lòng bình thường
5- Lòng khoan dung
6- Cách sống của cá tính
7- Sống theo tự nhiên
8- "Chủ nghĩa quá trình"
II - Định vị vai trò
1- Tính giả định của vai trò đời người
2- Tính mơ hồ của việc định vị vai trò đời người
3- Tính gian nan của việc định vị đời người
III - Nhân sinh học và nhân tử học
1- Nhân sinh quan
2- "Nhân tử quan"

Phần Mười

Thiết kế đời người
I - Thiết kế theo hướng dọc
1- Niên biểu thiết kế đời người
2- Ba thời kỳ của đời người: thời hoàng kim, thời đồ bạc, thời đồ sắt
a. Thời hoàng kim
b. Thời đồ bạc
c. Thời đồ sắt
3- Ba cảm giác của đời người: Thời kỳ cảm tính, thời kỳ lý tính
và thời kỳ hài hòa
a. Thời kỳ cảm tính
b. Thời kỳ lý tính
c. Thời kỳ hài hòa
4- Ba thời kỳ của hành trình đời người: thời kỳ đầu tư vào,
thời kỳ sản xuất, thời kỳ đòi lấy
a. Thời kỳ đầu tư vào
b. Thời kỳ sản xuất
c. Thời kỳ đòi lấy
5- Giá thành đời người của nhà chính trị
6- Về sự hy sinh - Giá thành của sinh mệnh
7- Giá phải trả của thành công
II - Phát triển theo hướng ngang
1- Thuật cạnh tranh nhân sinh
2- Độ sâu và độ cao
3- Thuật đạt được độ cao
4. Mạng hóa sự sinh tồn

[:)][8D]




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Bạn Cy. Ly ơi, Chẳng hiểu phần I Tieuboingoan để lẫn vào đâu rồi, mà chưa thể tìm ra, chả lẽ TBN lại để cách phần I để post từ phần II Giá thành cơ hội của đời người trở đi, rồi sau đó khi tìm được phần I sẽ quay trở lại? Bạn thấy thế nào?

TBN




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
TBN, cứ post vào đi
nhớ ghi phần đàng hoàn, để khi nào Ct.Ly mang vào dựa theo mục lục tren mà mò mẫn dem vào

Miễn sao là đừng để hai đứa mình bị oánh là OK thôi TBN há [:D]
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-09-23 18:39:44tieuboingoan>
Phần Hai


Giá thành cơ hội của đời người


*Giáo dục là thủ đoạn chủ yếu khai thác năng lượng của đời người, còn việc phát huy năng lượng của đời người lại dựa vào cơ hội. "Thượng đế" vốn đem cơ hội trao đều cho mỗi người, mọi người đều là con cưng của "Thượng đế" cả, nhưng không phải là mỗi một người đều có thể nắm bắt được cơ hội. "Thượng đế" trước nay không đem cơ hội cho không bất cứ người nào, giành được cơ hội đều đòi phải trả giá và có giá thành. Cái khác nhau là có người phải trả ra giá thành cao, có người trả ra giá thành thấp.

I - “Cơ” và “hội”

Nhà văn Liễu Thanh nói rất hay: Đời người tuy dài đằng đẵng, nhưng chỗ mấu chốt chỉ có vài bước. Chỗ mấu chốt nói ở đây chính là vấn đề lựa chọn như thế nào khi người ta đối mặt với cơ hội.

Đời người đều có rất nhiều cơ hội, nhưng muốn nắm chắc được cơ hội hoàn toàn không phải là việc dễ. Nắm bắt cơ hội không những cần có năng lực nhận thức mà còn cần có năng lực điều khiển. Người ta thường khi đối mặt với cơ hội, không thể nhận thức cơ hội một cách chính xác, đến khi hiểu được cơ hội thì lại đã mất nó. Đến lúc tuổi già, khi hoàn toàn hiểu ra thì cơ hội lại đã không thuộc về mình nữa.

Cơ hội thường trong ngẫu nhiên hiện ra tất nhiên, trong tất nhiên hiện ra ngẫu nhiên, cho nên hiện ra bí hiểm khó lường. Lưu trình của sinh mệnh giống như một đường, cơ hội thì là một điểm, không có đường của lưu trình, sẽ không có điểm của cơ hội. Hoặc có thể nói, “cơ” là một đường, còn “hội” là một điểm. “Cơ” chưa hẳn đều có thể dẫn đến “hội”, còn “hội” thì cần phải có “cơ”. “Cơ” là giá thành phải trả cho “hội”, mà “hội” là kết quả của “cơ”.

Cơ hội đã là cái tất nhiên trong ngẫu nhiên, ngẫu nhiên trong tất nhiên, sẽ nhất định phải có quy luật. Vương Xung thời Đông Hán cho rằng: "Mùa xuân trồng ngũ cốc sinh trưởng, đến mùa thu thu hoạch ngũ cốc. Cầu vật thì được vật, làm việc thì nên việc, không gọi là "hội". Không cầu mà tự đến, không làm mà tự nên gọi là "hội"."

Những người mở xí nghiệp kinh doanh đã từng có một ví dụ: Làm thị trường tốt giống như diều hâu bắt được thỏ, cơ hội thị trường tương đối tha hồ mặc sức tức là để mất. Muốn bắt được con thỏ xảo quyệt, diều hâu phải vững vàng, chuẩn xác và mạnh mẽ. Cơ hội giống như con thỏ, nó là trạng thái động, hoàn toàn không phải tĩnh lặng, tính cách của cơ hội là ở chỗ không ai có thể chờ đợi. Diều hâu bay lượn trên trời, chỉ có thể nói là “cơ”, khoảnh khắc diều hâu vồ được con thỏ đó mới là “hội”.

Ôm gốc cây chờ thỏ không phải là cơ hội, hoàn toàn thuộc ngẫu nhiên. Bởi vì “cơ hội” thỏ đụng vào cây gãy cổ chết quá ít, quá ngẫu nhiên. Ôm gốc cây chờ thỏ, hàng ngàn năm chưa hẳn đã có thể có một dịp. Nói cách khác, cứ cho là đợi một ngàn năm được một cơ hội thỏ bị gãy cổ chết, thì người đợi thỏ phải trả ra giá thành cơ hội một ngàn năm, giá thành cơ hội như vậy quá cao.

Một đặc điểm khác của cơ hội là nó bao hàm hàm lượng thu ích lợi tương đối cao. ở trước cửa nhà bạn có người bán bánh nướng, hàng ngày đều bán như thế, hàng ngày bạn đều có thể nhìn thấy anh ta, giữa hai bên mua bán công bằng, cái đó không thể gọi là cơ hội gì. Trước tiên, cơ hội cần phải có giá trị vượt quá giá trị thu được lợi ích bình thường, đồng thời lại có tính chất không thể được nhiều, như mọi người dân thường nói: Cơ không thể để mất, thời gian không trở lại. Như trên đã nói, “cơ” là một đường thẳng, “hội” là một điểm. Cơ hội mà chúng ta thường hay nói, chủ yếu là chỉ bộ phận về “hội” này.
Khắc dấu trên thuyền để tìm gươm mặc dù là một chuyện cười hoang đường, nhưng câu chuyện cười này đối với chúng ta không phải là không có hàm ý. Khắc dấu trên thuyền tìm gươm là một giải thích sai đối với cơ hội, là chỗ sai của quan niệm cơ hội. Đường vận hành của “cơ” đã thay đổi, làm sao có “hội” được? Trong đời sống hiện thực, những người “khắc dấu trên thuyền tìm gươm” thực ra không ít, nhiều người đều khắc dấu trên thuyền tìm gươm khi cơ hội đã qua. Sai lầm của việc khắc dấu trên thuyền tìm gươm là ở chỗ sai lệch thời gian và không gian, theo hướng chuyển động của thời gian và không gian, cơ hội không thể xuất hiện lại tại chỗ mà anh ta đánh dấu.

Do trên trời không thể rơi “những chiếc bánh bao” xuống, bất cứ cơ hội nào đều đòi hỏi con người phải có kỹ năng và cơ sở tương ứng, cho nên sự cố gắng không ngừng dài lâu là điều kiện nắm chắc cơ hội, như người ta thường nói: cơ hội chỉ yêu thích những đầu óc có chuẩn bị. Gafore nói: "Thời cơ có thể là tiếng còi triệu tập quân lính đánh trận, những tiếng còi kêu vĩnh viễn không thể tạo ra được binh lính và thắng lợi".

Cơ hội thật ra không phải là không thể nắm bắt, không thể cầm chắc, nó tự có quy luật của nó. Cơ hội là một tổ chức của thời gian không gian, trước hết có quy luật của tổ chức thời gian không gian, sau nữa, thời gian không gian có tính chất không thể đảo ngược, do đó nó có giá phải trả, tức giá của thời gian và không gian. Đặc điểm chủ yếu của thời gian là tính không thể đảo ngược, nên thời gian là một trong những giá thành chính của cơ hội.

Quy luật tổ chức thời gian không gian của cơ hội chủ yếu biểu hiện thành tính phương hướng của nó, tức tính không thể đảo ngược. Nói một cách nghiêm khắc, cơ hội trước nay đều chỉ xuất hiện một lần, cơ hội xuất hiện lần thứ hai không thể giống lần thứ nhất. Quy luật tính phương hướng của cơ hội ít nhất gợi cho chúng ta một số điểm dưới đây:

1)- Cơ hội là một điểm giao nhau của hai đường chuyển động trở lên trong lưu trình của thời gian không gian, sau khi đem kéo dài những đường chuyển động này sẽ không giao nhau nữa, do vậy cơ hội có tính không thể lặp lại.

2)- Cơ hội đã là giao điểm của hai đường chuyển động trở lên, chúng ta sẽ có thể từ quy luật của đường chuyển động tìm được các tọa độ của giao điểm, cũng có nghĩa là cơ hội có tính có thể dự đoán.

3)- Vì cơ hội là do thời gian và không gian tạo thành, chọn cơ hội cũng phải trả giá thành thời gian và không gian. "Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa" mà bình thường chúng ta nói chính là ba đường chuyển động của cơ hội thành công.

Một ngày của những năm 80, Trung Quốc đã từng xuất hiện một lần nhật thực toàn phần hàng trăm năm chưa từng gặp, thời gian của nó là vào buổi sáng. Khoa học hiện đại từ lâu đã tính toán thời gian chuẩn xác của nhật thực toàn phần, đồng thời đã in trên lịch. Cần phải nói rằng, xem nhật thực toàn phần là một cơ hội công khai. Cơ hội này có thể kiếm tiền được không? Một người ở Thượng Hải đã vì nó mà phát tài to. Nhật thực toàn phần hàng trăm năm chưa từng gặp, mọi người đều muốn nhìn thấy, nhưng thật sự muốn xem được nhật thực toàn phần không phải là dễ dàng, bởi vì mắt thường trực tiếp xem nhật thực toàn phần có thể sẽ rất chói mắt. Trong nhà có thể tìm một tấm phim ảnh cũ, đặt tấm phim lên mắt có thể mạnh dạn nhìn xem được. Lại còn một biện pháp khác, chính là đem rót một ít mực viết vào trong một chậu nước, xem nhật thực toàn phần từ trong sự phản quang của mực. Nhưng người bình thường đều không nghĩ tới, những người đang đi trên đường phố nên làm như thế nào để nắm bắt cơ hội này. Một người ở Thượng Hải chính đã nghĩ đến điều này, đã dùng một biện pháp rất giản đơn kiếm được khoản tiền không nhỏ. Ông ta đã gia công trước một số lượng lớn tấm nhựa mầu sẫm, cắt thành những mảnh vuông nhỏ, sáng ngày hôm đó, trong chốc lát đã bố trí mấy chục nơi bán hàng trong toàn thành phố, chi phí gia công một mảnh tấm nhựa màu sẫm không quá vài xu, nhưng ông ta đã bán 5 xu một tấm, ngay tức khắc mọi người tranh cướp nhau mua hết sạch. Đối với những người muốn xem nhật thực toàn phần, tốn chỉ có 5 xu giành được một cơ hội hàng trăm năm chưa gặp hoàn toàn là rất đáng làm, còn đối với người bán tấm nhựa thì có thể giành được lợi nhuận hết sức cao.

Một nhân tố chủ yếu nhất của cơ hội này của ông chính ở chỗ giá thành thời gian và không gian của nó, bởi vì cơ hội của ông ta chỉ có một lần, mặc dù vậy, xác suất thành công của ông vẫn là rất cao. Nếu như hàng năm đều có một lần nhật thực toàn phần như thế, thì không thể gọi là cơ hội gì nữa, ai cũng đều bắt chước làm theo, mọi người chỉ có cạnh tranh công bằng thôi.

Nguy cơ cũng là một loại “cơ”, nó là cơ hội trong nguy cấp, nó là một sự lựa chọn trong cưỡng chế. Nguy cơ hoàn toàn phá tan tính ỳ của tư duy về phương diện lựa chọn, buộc người ta phải tiến hành sự chọn lựa và sáng tạo mới. Nhưng, việc lựa chọn trong nguy cơ là cực kỳ gian nan, nó là một lần kiểm nghiệm toàn diện đối với năng lượng của con người trong nguy cơ, là một lần đòi hỏi gay gắt đối với tích lũy năng lượng cá nhân.
Bước vào thời gian không gian của Internet, cơ hội có khái niệm hoàn toàn mới. Trên mạng, “cơ” đang va chạm trên mạng vô hình, Bá Lạc (1) hầu như đành phải nghỉ hưu (tức chịu bó tay).

==================================

Xem mục II - “Được” và “mất” của cơ hội




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-09-23 18:40:42tieuboingoan>
II - “Được” và “mất” của cơ hội

Do cơ hội có một quan hệ biện chứng của “được” và “mất”, cho nên nắm bắt cơ hội phải có phương thức tư duy biện chứng.

Một người giỏi cờ tướng có thể đồng thời đấu cờ với hai hoặc mấy “kỳ thủ”, nhưng ông ta vẫn không thể cùng một lúc đấu cờ với một trăm “kỳ thủ” được. Thời gian và sinh mệnh đối với bất cứ người nào để xét đều là như nhau, năng lực nắm chắc đối với cơ hội của con người luôn luôn có hạn.

Bá Lạc là người giỏi chọn ngựa thời Xuân thu.

Mạnh Tử nói, cá ta cũng muốn, bàn chân gấu ta cũng muốn, nhưng không thể giành được cả hai thứ. Việc giành được cơ hội đến từ việc chọn lựa giữa được và mất, giữa thành công và thất bại. Đặc điểm của việc lựa chọn là ở chỗ “được” luôn đi kèm theo “mất”. Trong cùng một thời gian người ta không thể đồng thời đi đến hai nơi được, cơ hội không phải là chiếc bánh bao từ trên trời rơi xuống, không phải là giành được không mất gì, có thể nói mỗi cơ hội đều phải trả ra giá thành tương ứng. Những người thông minh dám vì cơ hội mình đã nhằm đúng mà chấp nhận cái giá phải trả, còn những người khác thì vì quá keo kiệt đối với giá thành của cơ hội nên để lỡ mất cơ hội. Thần cơ hội trông thấy bạn thực tế là một người quá keo kiệt, chẳng còn cách nào khác đành thu lại mũi tên của cơ hội ở trong tay.

Cái khó khăn của việc lựa chọn không phải ở cái “được” mà là ở cái “mất”, bởi vì việc lựa chọn luôn luôn dùng dằng giữa cái được và cái mất. Nói một cách nghiêm khắc, lựa chọn vừa là một loại được, vừa là một loại mất. Trong cuộc sống đúng là có một số người như thế này, một đời của họ rất ít chọn lựa, luôn luôn theo đuôi người khác. Họ thực tế cái gì cũng không muốn mất, kết quả là họ cũng không được cái gì.

Được và mất là biện chứng, được luôn đi kèm với mất. Trong cuộc sống, bạn được sự nghiệp, thường sẽ mất cuộc sống; bạn giữ nguyên tắc, thường có thể mắc lỗi với bạn bè. Bạn không nỡ rời sự an nhàn, thư thái của công tác ở cơ quan, thì không thể giành được sự thu hoạch của việc vật lộn làm ăn, đúng như người ta thường nói: Không muốn rời con, đánh không được sói. Thông thường người cái gì cũng đều muốn được, sẽ giống như gấu mù bẻ gậy, chính là cái gì cũng đều không được.

Cho nên trong cuộc sống chúng ta có thể phát hiện, người thành công đều là những người dám xét đoán, dám được mất, dám tiến thoái, dám thành bại. Họ đã từng có thất bại, lại có thể từ trong thất bại nhỏ tránh được thất bại lớn. Họ đã từng có thắng nhỏ và có thể gom góp thắng nhỏ thành thắng lớn. Họ đã từng có thất bại, nhưng cuối cùng họ tìm ra được con đường thành công. Một loại người khác mặc dù chưa từng thất bại, nhưng họ trước sau đều không có duyên với thành công.

Cái được luôn là khi mất mới có thể thực hiện, cho nên việc lựa chọn không chỉ là nghệ thuật “được”, mà còn là nghệ thuật “mất”. Hành vi đầu tư trong việc kinh doanh thương mại, bản thân đã là một quá trình trước mất (đầu tư) sau được (thu lợi). Dựa vào chất xám của con người nhận thức đúng ý nghĩa “được mất” là không khó, khó chính là khó nhận thức một cách chính xác ý nghĩa “được mất”. Hãy biết “mất”, bởi vì đó là chân lý của cái “được”.

Thành công là một con đường “tràn đầy thất bại”, “thất bại” là giá thành tất yếu phải trả cho thành công. ở nơi non cùng nước tận nghi không có lối, ai hay chỗ liễu thắm hoa tươi lại có một thôn. Cơ hội thường xuất hiện khi khó khăn nhất, thường khi mất mới xuất hiện thời cơ “được”.


============================================

Xem mục III - Sức sáng tạo của cơ hội




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-09-23 18:41:26tieuboingoan>
III - Sức sáng tạo của cơ hội

Thần cơ hội đôi khi rất quái lạ, đối với việc theo đuổi cần cù của con người thường phớt lờ không thèm ngó, còn những người không hề chuẩn bị tư tưởng lại thường có thể gặp được thần cơ hội. Khi thần vận may chiếu cố đến bạn, bạn chưa chắc có thể nắm bắt được cơ hội. Nếu như xem cơ hội là một nguồn tài nguyên nào đó, chúng ta sẽ phát hiện hao tổn của cơ hội rất lớn. Cũng chính là, đa số cơ hội không được người ta tận dụng hợp lý. Truy cứu nguyên nhân của nó, chính là do quá thiếu sự chuẩn bị cần thiết đối với cơ hội. Người ta thường nói rất đúng rằng, cơ hội luôn yêu thích những đầu óc có chuẩn bị. Do đó, cơ hội có thể sáng tạo. Bình thường người ta thường oán trách cơ hội của mình không đẹp, lại không nghiên cứu kỹ lưỡng quy luật của cơ hội. Cơ hội có thể cầu, cũng có thể gặp.

Thâm Quyến là đặc khu kinh tế của Trung Quốc, là tuyến đầu của cải cách mở cửa. Thời mới đầu cải cách, nhiều người có học thức đi đến Thâm Quyến tìm cơ hội, sáng tạo cơ hội, kết quả là đại bộ phận đều giành được thành công đáng mừng. Nhưng về sau, thị trường Thâm Quyến ngày càng bão hòa, cạnh tranh xí nghiệp ngày càng gay gắt, mà kinh tế nội địa lại phát triển cao, khiến Thâm Quyến đã không còn có ưu thế rõ rệt nữa, trái lại kinh tế của nội địa lại lộ ra rất nhiều ưu thế và cơ hội, lúc này tình hình đã phát sinhh thay đổi rất lớn. Chính quyền thành phố Thâm Quyến nhạy bén cảm nhận được điều này, thế là dưới sự đề xướng của chính quyền, các xí nghiệp của Thâm Quyến đã tỏa ra và phát triển mạnh mẽ vào trong nội địa, đã giành được thành quả rõ rệt. Cuối năm 1997, chính quyền thành phố Thâm Quyến lại tổ chức một “đoàn đi tìm mua cơ hội” lớn riêng - tức đoàn khảo sát chuyển và kinh doanh vốn do những xí nghiệp chủ yếu tạo thành, đi đến Trùng Khánh để tìm cơ hội phát triển, kết quả là đã giành được thành quả chồng chất.

Người ta thường nói: Ba phần tài năng bảy phần gan góc. Cách nói đó thật ra không phải là đề xướng việc làm liều mà là nhắc nhở cho chúng ta một vấn đề quan trọng: gan dạ phải tỷ lệ với năng lực. Nguyên nhân chủ yếu người ta mất đi cơ hội là không đủ gan dạ. Cơ hội và thành công luôn luôn thuộc về những người tài trí dám mạo hiểm.

Bí quyết của việc nắm bắt cơ hội là: người tài trí biết trước, kẻ dũng thì đạt trước.
Thông thường, ý thức sáng tạo cái mới và vượt trước là điều kiện tiên quyết giành được cơ hội. Petter Iliade hội trưởng tổ chức "Tương lai có thể giành được" của Australia nói: "Hôm nay bạn nếu không sống ở tương lai, thế thì ngày mai bạn sẽ sống trong quá khứ". Chính là cái lẽ này.

Thời cuối những năm sáu mươi, ngành nhà đất ở Hồng Kông dần trở thành điểm “nóng”, nhiều người có hiểu biết đều nhìn nhận rõ ngành nhà đất Hồng Kông, nhưng mọi người đều không dám làm, chỉ bàn tán với nhau trên bàn ăn hoặc giữa bạn bè với nhau thôi. Lý Gia Thành cũng nhìn thấy điều đó, nhưng ông không coi cơ hội này chỉ là chuyện bàn tán, mà là quả đoán đi làm, đi thực hiện. Do ông nắm chắc được thời điểm đẹp nhất của cơ hội, cho nên đã trở thành người thu được lợi lớn nhất của cơ hội này, đặt được nền móng sự nghiệp của mình.

Do các đường chuyển động của cơ hội giao nhau ở trạng thái điểm, cho nên sự xuất hiện của cơ hội luôn luôn ngắn ngủi, mà không có cơ hội mãi không mất. Khi cơ hội xuất hiện, người giành được trước đã nắm bắt được cơ hội, còn kẻ chưa giành được đã đánh mất cơ hội. Nhìn rõ một cơ hội nào đó, người nắm được trước, giành được là cơ hội thật sự, sau đó mọi người ào ào ùa đến, ưu thế của cơ hội sẽ theo đó biến mất, và lập tức chuyển sang thế kém. Những người bắt chước chạy theo đuôi người khác, không những không thể giành được cơ hội, mà còn có thể gặp phải tai họa.

Nền kinh tế Trung Quốc là nền kinh tế thị trường còn chưa chín muồi, do vậy mỗi lần cơ hội xuất hiện luôn kèm theo sự tuần hoàn phát triển nhanh, quá nóng và điều chỉnh. Khi một thời điểm tăng trưởng kinh tế mới xuất hiện, ai có thể nắm bắt được trước nhất thì người đó chính là người nhận được lợi lớn nhất. Sau đó chắc chắn là mọi người ùa đến, rồi đem cơ hội thị trường này làm hỏng bét hết. Nhớ lại trước kia, cơn sốt nước hoa quả, cơn sốt đồ uống, cơn sốt ba ba v.v... Có cuộc “thương chiến” nào không mở đầu thì rầm rộ, náo nhiệt, nhưng lúc thu quân thì vắng lặng? Có biết bao nhiêu sản phẩm làm rùm beng lên, nay đã im hơi lặng tiếng.

Ví dụ như một thời “xuống biển” để gặp may mắn, rốt cuộc phải chăng là một cơ hội? Lúc mới đầu, “xuống biển” cũng chính là lúc còn chưa gặp may mắn, “xuống biển” đích thực là một cơ hội tốt, những người xuống biển thuộc giai đoạn này phần nhiều đều phát tài. Đợi đến khi xuống biển gặp may mắn thì cơ hội của những người xuống biển đã tương đối ít, lại cộng thêm với ý thức thị trường của những người đi xuống biển lúc đó không mạnh, cho nên trong những người xuống biển loạt này thành công ít mà thất bại nhiều.

Từ ý nghĩa này để xét, cơ hội có thể cũng nên được sáng tạo ra.
Cơ hội còn có đặc trưng của tính chủ động, sức sáng tạo của cơ hội còn ở chỗ phá bỏ tính ỳ của tư duy và hành động. Mặc dù cơ hội là không bằng lòng với sự tĩnh lặng, nó luôn luôn ngấm ngầm liếc nhìn con người. Sau khi chúng ta tiếp nhận thông tin này cần phải mạnh dạn nắm bắt. Mặt khác, chúng ta vẫn phải chủ động sáng tạo điểm cơ hội, làm cho mình có thể thật sự giành được ưu thế cơ hội nhiều hơn.

---------------------------------------------------------

Xem mục IV - Sức lựa chọn của cơ hội




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-09-23 18:44:05tieuboingoan>
IV - Sức lựa chọn của cơ hội

Cơ hội rốt cuộc có thuộc về mình hay không, còn phải xem bạn có năng lực lựa chọn hay không?
Người ta thường nói: Việc đã đến nước đôi đừng lơ là, con người đến lúc khó khăn phải mạnh dạn.

Thực ra, sự việc khó nhất của đời người là lựa chọn. Liều mạng một phen khi việc gặp khó khăn, so với việc lựa chọn cân nhắc, trái lại dễ dàng hơn nhiều. Hiện thực của cuộc sống mách bảo chúng ta rằng, dù là lựa chọn sai lầm cũng còn tốt hơn không dám lựa chọn. Việc lựa chọn sai vẫn có khả năng sửa chữa cho đúng, đối với người không dám lựa chọn để xét, cơ hội vĩnh viễn không thể thuộc về họ. Chúng ta phát hiện thấy, thành công thuộc về những người dám quyết đoán.

Khi trào lưu xuống biển đến, bạn chọn xuống biển, hay là chọn lên bờ?
Việc lựa chọn cơ hội là phải trả giá, khi bạn đã chọn cơ hội A đương nhiên cũng sẽ mất cơ hội B. Trong việc chọn cơ hội, thường xuyên là “sai một ly đi một dặm”, sự sai lầm nảy sinh trong chốc lát, có thể trở thành di hận ngàn đời. Một người khi có thời gian ngồi để nhớ lại đường đời của mình, bao giờ cũng có rất nhiều hối hận đối với việc lựa chọn. Dân chúng thường nói câu rất hay: trên đời không có người bán thuốc hối hận. Bi kịch của đời người nói thẳng ra chính là bi kịch của sự lựa chọn, tùy tiện hứng lấy cơ hội sẽ mất đi cơ hội tốt hơn. Tính không thuận nghịch của cơ hội sẽ tạo thành giá thành của cơ hội.
Khương Tử Nha (Lã Thượng) vừa muốn giành được cơ hội, ông vừa phải biểu hiện. Phương pháp biểu hiện của ông rất lạ lùng: Ông ẩn cư ở bên bờ sông Vị Thủy, thường dùng lưỡi câu không uốn cong, không mắc mồi để câu cá, mà lưỡi câu còn đặt cách nước ba thước và nói: "Người trái mệnh đến cắn câu!" liệu có thể câu được cá không? Nhưng cuối cùng ông đã “câu” được sự trọng dụng của Chu Văn vương, khiến ông có thể giúp Chu Văn vương quản lý đất nước, đánh bại Tây Nhung, tiêu diệt mấy nước thù địch lân cận, mở rộng thế lực đến tận lưu vực Trường giang Hán thủy, giành được hai phần ba thiên hạ lúc đó, triển khai thế tiến sát Thương Trụ. Sau khi Chu Văn vương ốm chết, con là Chu Võ vương kế thừa ngôi vua đã mời Khương Tử Nha làm Quốc sư. Năm Võ vương thứ 11, Võ vương mệnh lệnh Khương Thái công (tức Tử Nha) làm Nguyên soái, thống lĩnh 5 vạn quân đánh Trụ, đã giành được thắng lớn. Bí quyết của Khương Thái công câu cá ở chỗ ưu hóa cơ hội.

Trong “Tam quốc diễn nghĩa” chuyện Lưu Bị “Ba lần đến lều tranh” rất tuyệt vời, cũng thuyết minh tính quan trọng của năng lực lựa chọn cơ hội. Lưu Bị muốn thành nghiệp lớn, thiếu mưu thần giúp đỡ giang sơn. Mới đầu ông được Từ Thứ, rất hợp nhau, nhưng Từ Thứ dưới sức ép của Tào Tháo, buộc phải rời Lưu Bị. Nhưng Từ Thứ đã tiến cử Gia Cát Lượng cho Lưu Bị.

Gia Cát Lượng cư trú tại Long Trung (nay là miền Tây Tương Dương tỉnh Hồ Bắc), Lưu Bị đã quyết định đến thăm vị ẩn sĩ này. Lần thứ nhất, Lưu Bị dẫn Quan Vũ, Trương Phi xuyên qua núi Ngọa Long đến nhà tranh của Gia Cát Lượng, không may là Gia Cát Lượng đã đi khỏi nhà từ sáng sớm, ba người chỉ nhờ người canh cổng nhắn lời lại rồi trở về Tân Dã. Qua vài hôm, Lưu Bị được biết Ngọa Long tiên sinh đã về, liền đến nhà lần thứ hai, nhưng Gia Cát Lượng lại được bạn mời đi, lần này ông gửi lại một bức thư. Lần thứ ba, Lưu Bị khi còn cách nhà tranh của Gia Cát Lượng hơn nửa dặm đường liền xuống ngựa đi bộ, Gia Cát Lượng đang ngủ trưa, Lưu Bị đã kiên nhẫn chờ đợi, cuối cùng đã gặp được Gia Cát Khổng Minh.

Tâm tình muốn đến dựa vào “minh chủ” của Gia Cát Lượng cũng cấp bách giống như tâm tình cầu hiền của Lưu Bị, nhưng Gia Cát Lượng vì thực hiện ưu hóa cơ hội, không tiếc xông vào nguy hiểm để mất cơ hội để “khảo nghiệm” Lưu Bị. Gia Cát Lượng trong lòng hiểu rất rõ rằng, nếu như địa vị của mình trong lòng Lưu Bị là thật sự quan trọng, thì Lưu Bị không thể dễ dàng vứt bỏ cơ hội này. Nếu như địa vị của mình trong lòng Lưu Bị không đủ quan trọng, thế thì mất đi cơ hội này cũng không đáng tiếc. Chỗ giỏi giang của Gia Cát Lượng ở chỗ kiên trì lựa chọn ưu hóa đối với cơ hội.

Rất nhiều cơ hội đến chưa hẳn là việc tốt, việc phán đoán đối với cơ hội vô cùng quan trọng. Việc ưu hóa cơ hội chủ yếu ở chỗ nắm chắc “độ chân thực” của cơ hội. Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch, một nhân khẩu nông nghiệp nếu như có thể chuyển thành nhân khẩu phi nông nghiệp sẽ có nghĩa là mình đã thực hiện một lần đổi đời __ từ một nông dân biến thành người nhà nước. “Nông nghiệp chuyển thành phi nông nghiệp” một thời đã trở thành lý tưởng đời người của nông dân có tỷ lệ nhân khẩu đông nhất ở Trung Quốc. Sau khi đi vào kinh tế thị trường, việc “nông nghiệp chuyển thành phi nông nghiệp” hầu như đã mất mọi ý nghĩa, sau khi nhân khẩu nông nghiệp chuyển hộ khẩu vào thành thị, không xếp sắp công tác cho bạn, không phụ cấp lương thực cho bạn, không trợ cấp thực phẩm phụ cho bạn v.v... thì không có gì khác biệt với nhân khẩu nông nghiệp. Hơn nữa, sau khi “nông nghiệp chuyển thành phi nông nghiệp”, mình còn mất ruộng đất. Mặc dù như thế, nhưng những người nông dân cần cù vẫn đổ xô vào việc “chuyển nông nghiệp thành phi nông nghiệp”, chính quyền nhiều địa phương chính là nắm được đặc điểm tâm lý của họ, tiến hành hoạt động “nông nghiệp chuyển thành phi nông nghiệp” với quy mô to lớn, một người nạp 10.000 nhân dân tệ, thì có thể chuyển thành hộ khẩu phi nông nghiệp. Bỏ tiền thì có thể mua được hộ khẩu, người nông dân cảm thấy không thể để mất cơ hội, những người có tiền đã bỏ tiền mua “hộ khẩu phi nông nghiệp” cho con cái của mình, tài chính địa phương đã thu vào được một khoản tiền lớn. Một loạt những người “nông nghiệp chuyển thành phi nông nghiệp” thật ra không làm tăng thêm gánh nặng cho chính quyền. “Hộ khẩu phi nông nghiệp” thật ra không phải là hộ khẩu thành thị, cho dù là hộ khẩu thành thị, chính quyền cũng không cần phải quản lý việc gì cả. Tiền đến quá dễ dàng, chính quyền địa phương đã lại tiến hành việc “nông nghiệp chuyển thành phi nông nghiệp” lần thứ hai, khác với lần thứ nhất là, tiêu chuẩn nạp tiền lần này là 8.000 nhân dân tệ. Thế là, lại có một loạt nông dân hăng hái chuyển thành hộ khẩu phi nông nghiệp nữa, về tài chính, chính quyền địa phương lại có thêm một khoản thu nhập tương đối khá. Qua một thời gian, chính quyền lại dấy lên việc “nông nghiệp chuyển thành phi nông nghiệp” lần thứ ba, khác với lần thứ hai là, số tiền nạp lần này chỉ có 5.000 nhân dân tệ. Đã rẻ, cơ hội lại hiếm, lại có một loạt nông dân chuyển thành hộ khẩu phi nông nghiệp. Một người bạn ở nông thôn của tôi đã phải bỏ ra hơn 3 vạn nhân dân tệ tích lũy nhiều năm để mua hộ khẩu phi nông nghiệp cho cả nhà. Khi anh ta nhìn thấy số tiền gửi tiết kiệm của mình đã bị lấy ra hết, lại vẫn sống ở nông thôn, khi mặt vẫn nhìn đất, lưng quay lên trời, không tránh khỏi sinh ra cảm giác thẫn thờ như bị mất cắp. Lúc này, chúng ta phải ngẫm nghĩ xem, ba lần “nông nghiệp chuyển thành phi nông nghiệp” này rốt cuộc có phải là cơ hội không?

Khi cơ hội đến, việc trước tiên là phải khảo sát độ chân thực của cơ hội. Cơ hội “nông nghiệp chuyển thành phi nông nghiệp” như nêu ở trên, bản thân là thiếu độ chân thực của cơ hội.

Ở thời kỳ đi học ở trường, cơ hội tốt xấu phần lớn là ở chỗ lấy mục đích có lợi cho việc học làm tiêu chuẩn phán đoán. Trong các chuyện kinh điển dạy con thời xưa, có một chuyện “Mẹ Mạnh Tử ba lần dời chỗ ở” nói là Cha Mạnh Tử mất sớm, mẹ Mạnh Tử phải túc trực bên phần mộ, Mạnh Tử thuở thơ ấu đã bắt chước người ta học tiếng gào khóc của đám ma. Mẹ Mạnh Tử cảm thấy như thế sẽ ảnh hưởng không tốt đối với con, đã dọn đến chợ ở, kết quả là Mạnh Tử lại học tiếng rao hàng của những người buôn bán nhỏ. Mẹ Mạnh Tử cảm thấy như thế cũng không tốt, lại dọn nhà đến bên cạnh một trường học. Mạnh Tử chịu ảnh hưởng của tiếng đọc sách trong trường, hàng ngày bắt chước đọc sách. Mẹ Mạnh Tử vui mừng nói: “Đây mới là nơi con tôi có thể ở!”, cần phải nói là việc lựa chọn của bà mẹ Mạnh Tử là sáng suốt.

Con người trước ba mươi tuổi, cần phải tăng cường tri thức toàn diện, sửa chữa đúng nhân sinh quan của mình, cần phải tiếp xúc nhiều với xã hội, giành được nhiều cơ hội thực tiễn, mà không nên vội giữ chặt lấy một công việc, việc lựa chọn của lúc này cần phải lấy có lợi cho rèn luyện toàn diện làm chính.

Lỗ Tấn mới đầu là học ngành y, về sau ông phát hiện, thầy thuốc chỉ có thể khám tốt bệnh tật của rất ít người, đối với Trung Quốc bị khinh miệt là “con bệnh Đông á” để xét thì tác dụng của nó quá bé nhỏ. Thế là, ông đã bỏ học y theo học văn, đã hoàn thành việc lựa chọn lớn nhất của đời người, dốc sức chữa trị chứng bệnh ngoan cố của dân tộc Trung Hoa, trở thành ngôi sao sáng của nền văn học Trung Quốc, "Là chủ tướng của cách mạng văn hóa Trung Quốc" (lời Mao Trạch Đông). Giá thành đối với việc lựa chọn cơ hội của Lỗ Tấn là khiến Trung Quốc ít đi một thầy thuốc bình thường, nhưng lại khiến Trung Quốc nhiều hơn một nhà văn học cự phách.


Xem mục V - Sức biểu hiện của cơ hội




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0

VI - Sức điều khiển của cơ hội

Cơ hội có thể tùy tiện cho từng người, nhưng không phải ai cũng đều có thể giành được cơ hội, điều khiển được cơ hội.

Võ Tòng gặp hổ, bạn nói có phải là một cơ hội hay không? Đối với Võ Tòng có sức mạnh vô cùng để xét, ông ta gặp hổ là cơ hội trở thành anh hùng đánh hổ của mình, nhưng đối với người bình thường để xét thì là vận rủi ro vùi thân mình trong bụng hổ. Giành được cơ hội thật ra không hẳn là việc may, mấu chốt còn phải xem năng lực điều khiển cơ hội. A Đẩu có thể kế thừa ngôi vua, nhưng năng lực của anh ta có hạn, lại không thể thực hiện được nghiệp lớn khôi phục nhà Hán.

Thánh nhân nói, trời giao nhiệm vụ cao cả cho ai, ắt trước tiên phải làm khổ tâm trí của họ, làm vất vả gân cốt của họ, làm đói thể xác của họ, làm trống rỗng thân thể họ, làm đảo lộn mọi hành vi của họ xong, mới có thể đem cơ hội giao cho họ.
Cam La mười hai tuổi được phong làm Tể tướng là vì ông có sức biểu hiện, càng ở chỗ ông có sức điều khiển. Cam La phải được tính là một nhà chính trị trẻ nhất của nước Tần, năm ông 12 tuổi đã làm chức Thứ tử dưới quyền của Văn Tín hầu Lã Bất Vi. Khi đó, Lã Bất Vi muốn liên hợp với nước Yên đánh nước Triệu để mở rộng địa bàn Hà Gian của nước Tần. Do vậy, ông ta muốn để cho Trương Đường đi nước Yên làm Thừa tướng, nhưng Trương Đường nói rằng ông sợ làm không nổi. Lã Bất Vi tự mình đi đến mời, Trương Đường cũng không ưng thuận. Cam La biết được việc đó đã tự mình hăng hái, dũng cảm đi thuyết phục Trương Đường.

Cam La nói với Trương Đường: “Công lao của Ngài vì nước Tần lập nên, đem so với Võ An quân Bạch Khởi thì ai lớn hơn?" Tương Đường trả lời nói Võ An quân soái lĩnh đại quân đánh Nam dẹp Bắc, đánh thành phá địch không thể kể hết, mình không sánh kịp. Cam La lại hỏi: “ứng hầu Phạm Thư được trọng dụng ở nước Tần năm ấy so sánh với Văn Tín hầu Lã Bất Vi hiện tại, quyền thế của họ, ai quan trọng hơn? Trương Đường nói ông biết rất rõ ràng rằng quyền thế của Lã Bất Vi vượt hẳn Phạm Thư rất xa. Cam đường nói: “Thoạt đầu ứng hầu Phạm Thư muốn đánh nước Triệu, Võ An quân Bạch Khởi lại gây khó cho ông ta, không chịu nghe lời ông ta, danh tướng một thời Bạch Khởi đã bị xử tử tại Đỗ Bưu cách Hàm Dương bảy dặm đường. Ngày nay Lã Bất Vi quyền thế còn lớn hơn Phạm Thư rất nhiều, tự mình mời Ngài công lao còn không bằng Bạch Khởi đến nước Yên làm Thừa tướng, mà Ngài lại không chịu vâng lệnh đi, thế thì tôi cũng không biết ngài sẽ chết ở nơi nào?” Trương Đường nghe xong, liền thu xếp hành trang chuẩn bị lên đường.

Cam La trở về phủ nói với Lã Bất Vi, ông ta muốn đi nước Triệu.

Ông ta tuổi vừa mới 12, đã được phê chuẩn làm sứ giả ngoại giao đường hoàng đi đến nước Triệu.

Cam La nói với Triệu vương: “Ngài đã từng nghe nói việc Thái tử Đan nước Yên đến nước Tần làm con tin chưa?” Triệu vương nói đã từng nghe nói. Cam La hỏi: “Ngài còn nghe nói việc Trương Đường nước Tần phải đi nước Yên làm Thừa tướng chưa? “Từng nghe nói”.
Cam La nghe xong lại nói: “Thái tử nước Yên đến nước Tần làm con tin, tỏ ra nước Yên hoàn toàn không ruồng bỏ nước Tần. Trương Đường làm Thừa tướng nước Yên, việc này nói lên rằng nước Tần cũng không ruồng bỏ nước Yên. Hai nước Tần Yên cùng nhau biểu hiện lòng trung thành, cùng tin tưởng lẫn nhau như thế, không có ý gì khác, chỉ chẳng qua là nước Tần muốn đánh nước Triệu để mở rộng đất vùng Hà Gian mà thôi. Hai nước Tần Yên một khi liên hợp với nhau tấn công nước Triệu, thì nước Triệu có thể sẽ nguy hiểm mất!” Cam La nhìn sắc mặt của Triệu vương biết trong lòng ông ta kinh sợ, lại nói: “Nhưng hiện tại, nếu Đại vương ngài dám bằng lòng đem năm thành trì của quý quốc thông qua tôi cắt nhượng cho nước Tần để mở rộng địa bàn vùng Hà Gian, thế thì tôi sẽ có thể bảo đảm sau khi về nước thỉnh cầu nước Tần đưa trả Thái tử nước Yên về, sau đó nước Triệu của các ông tương đối lớn mạnh sẽ có thể yên tâm và mạnh dạn tiến đánh nước Yên nhỏ và yếu. Như thế nào?” Triệu vương đã giao nộp năm tòa thành trì một cách vui vẻ, nước Tần không phải điều động một người lính quèn đã đạt được mục đích mở rộng địa bàn Hà Gian, đồng thời còn lung lạc được nước Triệu. Về sau, nước Tần đã sai Thái tử Đan của nước Yên trở về nước Yên chiếm lĩnh được 36 tòa thành trì vùng Thượng Cốc của nước Yên, lại còn đem 11 tòa thành trong số đó biếu tặng nước Tần.

Để khen thưởng công lao của Cam La, nước Tần đã phong Cam La làm Thượng Khanh. Các sách sau này ca tụng “Cam La được phong Tể tướng” đã được lưu truyền rất rộng rãi.
Nắm chắc cơ hội là một việc kiểm nghiệm tố chất tổng hợp và năng lực tổng hợp, nó đòi hỏi đối với sức điều khiển của cá nhân phải có một sự tự xem xét xác định chính xác. Do phán đoán sai lệch, hiệu suất thành công của người ta về phương diện nắm chắc cơ hội thường không cao lắm. Đánh mất cơ hội cố nhiên là đáng tiếc, những phán đoán sai lầm và lãng phí cơ hội thực tế cũng đáng buồn.

Xem tiếp mục VII - Sức chỉnh hợp của cơ hội




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0

VII - Sức chỉnh hợp của cơ hội

Do cơ hội là sự lựa chọn giữa được và mất, giữa tiến và thoái, giữa thành và bại, cho nên chỉnh hợp đối với nguồn cơ hội là một việc rất quan trọng. Năng lực chỉnh hợp của cơ hội biểu hiện trên năng lực phân tích tổng hợp đối với cơ hội, trên năng lực nắm vững toàn bộ đối với cơ hội.

Quyền lực của cơ hội một nửa nắm trong tay mình, còn một nửa nằm trong sự vật khách quan, nó là một lần chỉnh hợp của chủ quan khách quan. Người ta thường nói, trồng đậu được đậu, trồng dưa được dưa. Trồng đậu đương nhiên không thể được dưa, trồng dưa đương nhiên không thể được đậu, đây là nguyên nhân của khách quan, còn trồng đậu hay là trồng dưa, đây là nguyên nhân của chủ quan. Mưa thuận gió hòa hay không, đây lại là một mũi tên khác nằm trong tay thần cơ hội.

Bình thường người ta thường nói "Mưu sự tại người, thành sự tại trời", nhấn mạnh chính là tính toàn diện của sự vật. Tại sao thường là "người tính không bằng trời tính?" Bởi vì hoàn cảnh lớn của khách quan trước nay đều là do hoàn cảnh nhỏ quyết định. Cuối thế kỷ 19 khi trào lưu cách mạng công nghiệp tác động đến Trung Quốc, chính phủ nhà Thanh không tiếp nhận quan niệm cách mạng kỹ thuật, khiến Trung Quốc mất đi một lần cơ hội phát triển kinh tế công nghiệp. Tiếp theo đó chính là bị đánh. Nhưng đến những năm 50, 60 của thế kỷ 20, Trung Quốc lại tiến hành một cuộc “đại nhảy vọt”, khoe khoang đã trở thành phong trào, không những không thúc đẩy kinh tế Trung Quốc phát triển, trái lại khiến Trung Quốc mất đi một lần cơ hội phát triển lành mạnh, chốc lát đã kéo xa khoảng cách rất lớn với thế giới. Làm bừa một cách sai lầm sẽ làm tăng giá thành cơ hội rất lớn, xuất hiện hậu quả được không bù nổi mất. Đến cuối thế kỷ 20, trào lưu kinh tế tri thức lấy khoa học kỹ thuật làm cơ sở cuốn khắp cả thế giới, đây là một lần cơ hội lớn nhất phát triển Trung Quốc, Trung Quốc sẽ không thể bỏ lỡ cơ hội tốt lần nữa.

Mục đích của chỉnh hợp cơ hội là để thật sự giảm thấp giá thành của cơ hội, đối với sự vật có một phân tích hệ thống chỉnh thể và khách quan. Việc phân tích chỉnh hợp đối với cơ hội xưa nay ở trong ngoài nước đều có vô số ví dụ thành công, chúng ta cần phân tích một cách cẩn thận, tổng kết kinh nghiệm của nó.

===========================

Xem tiếp: Phần Ba

Giá thành trí năng của đời người




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Phần Ba


Giá thành trí năng của đời người


Trung Quốc là một nước lớn của trí tuệ, nhưng người ta có lý do nêu ra câu hỏi: Một nước lớn của trí tuệ như thế vì sao không thể thành nước lớn của kinh tế trên thế giới?
Xét nguyên nhân của nó chính là giá thành trí năng của người ta hao mòn nghiêm trọng.
Con người là động vật có trí năng cao, theo sự tiến bộ của văn minh nhân loại, loài người tự tin mình ngày càng thông minh. Nhưng loài người chưa hoàn toàn đắm say ở trong đó, khi ngẫm nghĩ về nó lại nêu lên một điều nghi vấn: Sự phát triển cao độ của khoa học kỹ thuật hiện đại là kết quả của sự lũy tiến văn minh, nếu như gạt bỏ sự lũy tiến của văn hóa và khoa học kỹ thuật, đem một người hiện đại hoàn toàn chưa tiếp thu giáo dục văn minh và một người hiện đại hoàn toàn chưa tiếp thu giáo dục văn minh thời xưa mời đến một chỗ tiến hành thi trí lực thì rất khó nói trí lực của ai cao hơn. Chu Dịch và Bát quái là do người xưa sáng tạo, người hiện đại chưa hẳn có thể với tới. Trong "Tam quốc diễn nghĩa", Gia Cát Lượng chưa ra khỏi lều tranh mà đã biết thiên hạ sẽ ở thế chân vạc, còn chúng ta trong xã hội thông tin bùng nổ chưa dự đoán được nguy cơ kinh tế của Đông Nam á. Chúng ta đã nghiên cứu phép biện chứng nhiều năm, đột nhiên phát hiện trong Thái cực đồ và Đạo đức kinh của Lão Tử đã có bàn luận đối với nó từ rất sớm.
Tư tưởng của Lão Tử, Khổng Tử, Thích Ca Mâu Ni, Muhammad và cả Aristotle, Socrates đến nay vẫn là trụ cột tinh thần của nhân loại. Cách mạng công nghiệp sinh ra máy móc, nhưng không sản sinh tư tưởng, thuyết tương đối của Einstein, ý tưởng của nó sinh ra từ cuối thế kỷ 19 đến nay vẫn là cột trụ của khoa học. Nói thẳng ra, hiện đại hóa chỉ là tiến bộ có tính kỹ thuật, chúng ta sống trong một thời đại chế tạo.
Sức tiếp diễn văn hóa được hình thành từ tư tưởng vĩ đại khiến cho nền văn hóa dân tộc Trung Hoa cổ xưa nhất cũng là có sức sống nhất hiện tồn tại trên thế giới sinh ra sự va chạm lớn nhất với nền văn hóa phương Tây lấy kinh tế công nghiệp làm đại biểu, nền văn hóa cổ xưa bị tấn công mạnh mẽ của nền văn minh vật chất phương Tây, đầu óc thông minh tột độ của người Trung Quốc cũng bị nền văn minh vật chất phương Tây làm cho rối mắt. Văn hóa dân tộc trong cuộc cách mạng chế tạo xưa nay chưa từng có này tỏ ra thở hổn hển. Trí năng của người Trung Quốc trong cuộc cách mạng công nghiệp này, vừa bị văn hóa truyền thống lôi kéo hết sức mệt mỏi, lại bị văn hóa phương Tây làm cho khó xử.
Nhưng, chúng ta tin rằng phong thái dân tộc của Trung Quốc xưa nay vẫn tiếp nhận nhiều đạo lớn, nhất định có thể thoát khỏi gánh nặng tinh thần của mình về phương diện sức ỳ của văn hóa, tiếp nhận kỹ thuật và tư tưởng tiên tiến, làm phong phú và cải tạo văn hóa dân tộc của Trung Quốc, tiến tới làm lớn mạnh trí tuệ và tinh thần dân tộc.
Trong xã hội hiện thực, nguồn trí năng của con người chưa được lợi dụng có hiệu quả nhất, đã xuất hiện sự hao tổn giá thành trí năng rất cao. Những vấn đề khó của nền kinh tế Trung Quốc xuất hiện cùng với cải cách của Trung Quốc từ lý luận để xét đều rất tốt, nhưng trong quá trình thực thi thường khó như ý muốn của con người. Chính sách của chính phủ Trung Quốc đưa ra vốn rất khoa học, nhưng trong thực hiện do thiếu tầng lớp trung gian đủ mạnh, khiến cho việc thực hiện chính sách không sát hết ý nguyện của con người. Chất xám của người Trung Quốc rất cao, nhưng chưa hẳn đã được khai thác thích đáng. Chúng ta thường nhìn thấy, ở một số địa phương tinh lực của nhiều nhân tài có chất xám rất cao, thật ra không phải dùng vào việc quản lý xã hội, sử dụng chức quyền mà là dùng vào việc mưu tính hại nhau, thăm dò qua lời nói và sắc mặt hoặc kéo bè kéo cánh. Vào lúc này chúng ta nhìn thấy hao tổn giá thành trí năng của con người cực kỳ nghiêm trọng. Có người nói Trung Quốc là nước lớn thuộc nhân khẩu về sinh lý, mà không phải là nước lớn thuộc nhân khẩu về tinh thần, không thể nói là không có chỗ đúng.
Nói tóm lại, tiềm năng của tính sáng tạo mọi người đã sử dụng còn xa mới nhiều bằng giá thành có tính quan hệ đã chi ra, điều nghịch lí này là không hợp lý.

Xin mời xem mục I - Khai thác lập thể của trí năng




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
I - Khai thác lập thể của trí năng


Xin hãy tin rằng, có 90% trở lên nguồn trí năng, trong con người chúng ta còn chưa được khai thác

1- Năng lượng của tư tưởng

Godan Driton và Jennyd Wols trong sách Cải cách học tập của họ đã chỉ ra một cách mạnh mẽ rằng: Tư tưởng làm thay đổi thế giới!
Mỗi một quốc gia lãnh đạo thế giới đều dựa vào sức mạnh tư tưởng của họ, còn có năng lực vận dụng nó vào trong thực tiễn rồi xưng bá toàn cầu. ấn Độ, Ba Tư, Trung Quốc, Ai Cập, Hy Lạp, La Mã thời xưa, lúc đó đều nhờ dựa trên sức mạnh của tư tưởng mà có được nền văn minh xán lạn.

Tư tưởng của Socrates, Aristotle và Platon đã giúp Athène nhỏ yếu bước vào nền chính trị dân chủ thuở ban đầu của thế giới, cho dù đó là nền dân chủ rất nhỏ yếu. Sự phát hiện tuyệt vời của Newton và thời đại hoàng kim của khoa học Anh thế kỷ 17 đã mở đường cho cách mạng công nghiệp nước Anh. Nguyên tắc sản xuất hàng loạt của Henry Ford thì gây đột phá lớn của nền kinh tế Mỹ ở thế kỷ 20. Tài năng và suy nghĩ của Ernest Ruthergord đã đưa đến thời đại nguyên tử. Những năm thứ ba mươi của thế kỷ 20, lý thuyết của Keynes đã cung cấp lý luận kinh tế cần thiết cho chính phủ, sau đó làm biến đổi xã hội. Thomas Edison có 1093 bằng phát minh, đồng thời làm cho điện lực phổ cập thế giới. Walt Disney và Steph Georbush thuộc hãng máy vi tính Apple, các xí nghiệp cỡ lớn của họ không ai bảo ai mà đều xây dựng trên sức mạnh của một tư tưởng mới, đương nhiên còn có “con chuột” mỗi người mỗi khác nhưng đều làm cho người ta tin phục. Morese McDonals đã sáng tạo ra cửa hàng ăn theo dây chuyền lớn nhất trên thế giới. Bill Gates thì dùng một cửa sổ con con Windows để sáng tạo ra “đế quốc” phần mềm lớn nhất toàn cầu.

Song những trí tuệ và tư tưởng làm chấn động thế giới này thường là tổ hợp mới bắt nguồn từ các thành phần cũ.

Khai thác trí năng của con người, trọng điểm của nó sẽ ở trên phương thức tổ hợp của các loại thành phần, bởi vì những người sáng tạo kiệt xuất nhất luôn dốc lòng vào việc tổ hợp mới. Phát hiện này khiến chúng ta phát hiện một yếu tố mang tính cách mạng hoàn toàn mới, chính là mô thức mới toanh tiến hành gia công và tổ hợp lại đối với thông tin.

Tất cả mọi nguy cơ hiện tại chúng ta đang gặp đều là do sự khô cạn của tư tưởng tạo nên. Trí tuệ lớn chúng ta cần có khi đối mặt với nguy cơ là sức mạnh của tư tưởng, chúng ta vững tin câu nói: Cách suy nghĩ chính là lối thoát.

Kinh tế kế hoạch cuối cùng không thể làm biến đổi được tiền đồ của nền kinh tế Trung Quốc, do đó, chúng ta cần phải cố gắng khai thác mô thức tư duy mới, tìm kiếm mô thức phát triển mới. Sự chuyển biến của Trung Quốc hướng tới kinh tế thị trường có thể nói chính là một lần giải phóng tư tưởng vĩ đại.

Roger von Euker cho rằng, tư duy lôgic theo hướng ngang vẫn có tính hạn chế quá mạnh, chúng ta cũng có những năng lực tư duy như sau: tư duy khái niệm hóa, tư duy phân tích, tư duy biện luận, tư duy dùng não phải, tư duy phê phán, tư duy ngu xuẩn, tư duy tập trung, tư duy thần bí, tư duy suy nghĩ lại, tư duy thị giác, tư duy có tính tượng trưng, tư duy thăng bằng, tư duy chữ số, tư duy ẩn dụ, tư duy ảo tưởng, tư duy thi vị hóa, tư duy phi ngôn ngữ, tư duy lược bớt, tư duy suy rộng, tư duy trữ tình, tư duy thực tế, tư duy có tính phát tán, tư duy lấp lửng nước đôi, tư duy có tính sáng tạo, tư duy đối phó tư duy, tư duy siêu hiện thực, tư duy tập trung vào một tiêu điểm, tư duy cụ thể và tư duy của những ý nghĩ viển vông.

Khai thác không gian tư duy có thể giải phóng hàng loạt năng lượng trí tuệ cung cấp động lực trí năng cho quốc gia và xã hội, cho đời sống của chúng ta. Năng lượng tư tưởng là hệ thống động lực chủ yếu của con người, nó thông qua truyền bá có thể sinh ra hiệu năng xã hội to lớn. Đặc điểm của xã hội thông tin và kinh tế thông tin chủ yếu là thông qua công cụ truyền bá nhất định đem tư tưởng và thông tin tiến hành phục chế, người sử dụng nguồn thông tin ngày càng nhiều, giá trị của nó ngày càng lớn. Thực ra hiệu ứng này đã xuất hiện rất sớm: tư tưởng của các nhà tư tưởng thời xưa đều thông qua truyền bá và phục chế mà được phát huy rạng rỡ. Mặc dù môi giới truyền bá khác nhau, nhưng nguyên lý lại giống nhau, điều căn bản của nó đều ở chất lượng và giá trị của nguồn tư tưởng.

2- Khai thác trí năng không gian

Xét về vi mô, trí năng không gian phản ánh một bộ phận quan trọng trong nguồn trí lực của con người.

Hơn hai ngàn năm trước khi Christophe Colombus vượt qua Đại Tây Dương phát hiện ra đại lục mới, tổ tiên người Polynesia đã đi trên biển trong Thái Bình Dương lớn hơn. Họ dựa theo mặt trời, mặt trăng và các sao, tức dựa trên trí lực không gian và trí lực thị giác để đi biển. Không lấy gì làm lạ chút nào khi nhân viên nghiên cứu của giáo sư Gadna trắc nghiệm người đảo Solomon, họ phát hiện vị trí bộ phận sử dụng “trí lực không gian” trong não người đảo Solomon mở mang rất cao.

Chính những người thăm dò Thái Bình Dương này có sự nghiệp hàng hải khiến người ta khó mà tưởng tượng nổi. Nhưng trong “trắc nghiệm trí lực” hiện đại họ có lẽ sẽ thất bại, bởi vì họ xưa nay không có phát triển văn tự. Dù là hiện nay, việc học tập của thanh thiếu niên Polynesia đã bắt đầu từ lúc trẻ là tiến hành thông qua nhảy múa, nhịp điệu và ca hát. ở Trung Quốc và Nhật Bản, người ta sử dụng là ngôn ngữ hình vẽ, việc này ở mức độ rất lớn là học tập thông qua não phải.

Các chuyên gia đã chỉ rõ, âm nhạc là con đường cao tốc xuyên lục địa thông tới hệ thống trí nhớ, nó so với hệ thống trí nhớ lôgic càng nhanh nhạy hữu hiệu hơn, khai thác trí lực bằng nhiều cách có thể nâng cao phẩm chất trí lực của con người. Dùng các thủ pháp khai thác trí lực khác nhau, không gian kỳ diệu của não này có thể giải phóng năng lượng làm người ta phải kinh ngạc.

Xét về vĩ mô, trí tuệ đến từ việc khai thác có tính toàn cục đối với không gian tư duy. Thế giới loài người đã hao tổn một khoản kinh phí khá lớn đi tìm không gian phát triển tương lai của loài người trong vũ trụ, các quốc gia đi tìm không gian phát triển tăng trưởng kinh tế trên toàn cầu, các xí nghiệp đi tìm không gian thị trường của sản phẩm trên thị trường, cá nhân thì đi tìm không gian sinh tồn của mình trong xã hội, mà tất cả mọi không gian đều quyết định bởi không gian tư tưởng của con người.

Các công trình của hệ thống nhân sinh đều được thiết kế đối với không gian sinh tồn và không gian phát triển, xét từ một đời của con người, cần phải xác lập chiến lược phát triển suốt đời. Xét từ hiện trạng sinh tồn, con người cần phải có chiến lược phát triển của mình. Xác lập chính xác định vị của không gian phát triển, có thể nhận được hiệu quả làm chơi ăn thật, ngược lại thì làm nhiều mà được kết quả ít.

3- Giới hạn của giáo dục trí năng

Thủ pháp chủ yếu khai thác nguồn trí năng là giáo dục, nhưng phương thức giáo dục hiện tại của chúng ta còn tồn tại những khiếm khuyết lớn.

Mục đích của việc học tập là để sáng tạo, không phải để làm tăng gánh nặng của trí nhớ. Vấn đề phổ biến hiện nay ở chỗ giáo dục xem bộ não của trẻ em là một thùng chứa, mà chưa xem nó là một bó đuốc.

Con người trong việc tiếp nhận sự nhào nặn của văn hóa cần phải chi ra giá thành của giáo dục. Giá thành của giáo dục là ở chỗ phải chi ra thời gian, tinh lực và tiền của cho giáo dục. Linh mệnh của con người là có hạn, mà tri thức là vô hạn, làm thế nào để dùng tinh lực hữu hạn để nắm được tri thức cần thiết là một vấn đề quan trọng đang bày ra trước mắt chúng ta. Trong cuộc sống, chúng ta thường phát hiện một số người tinh thông nhiều trước tác kinh điển, mở miệng ra đã có thể đọc thuộc những bài thơ cổ, lại rất thiếu tinh thần sáng tạo, người có tri thức phong phú chưa hẳn có sức sáng tạo. Chúng ta có nghĩ đến việc tiến hành một cuộc điều tra đối với hiệu suất sử dụng tri thức của học sinh học được trong nhà trường vào trong xã hội xem tính thực dụng của tri thức rốt cuộc có được hay chưa? Về phương diện giáo dục đối với con cái của người ta hiện nay đang tồn tại một bệnh chung chính là luôn cho rằng học được càng nhiều càng tốt.
Ví dụ như đọc sách, có bao nhiêu người chọn sách theo kế hoạch đọc sách có tính khoa học?

Charles Handi, giáo sư, nhà tư vấn người Anh đã kêu gọi dùng phương pháp tư duy trái ngược để giải quyết từng vấn đề chủ yếu ngày nay làm khó xử cái thế giới này, ông nói: "Phương pháp tư duy trái ngược kiến nghị người ta không đem giáo trình thống nhất toàn quốc dùng vào giáo dục, cái thật sự cần thiết là giáo trình riêng thích hợp cho từng nhi đồng".

W.Reich cũng chỉ rõ: "Đối với nước Mỹ và đại đa số nhi đồng toàn thế giới để xét, những điều mà giáo dục chính quy ban cho chính là những điều đối lập với học tập. Không phải là để cho chính họ cấu trúc ý nghĩa, mà là đem ý nghĩa áp đặt cho họ. Những điều đáng học đều bị bao gói vào trong kế hoạch giáo trình, tọa đàm và sách vở. Sự thực đã bị giản hóa, học sinh ngoan ngoãn theo chỉ cần học thuộc một cách máy móc là được rồi. Quá trình giáo dục có hiệu quả đã thành việc nhồi sọ tri thức giống như lắp ráp các chi tiết trên dây truyền sản xuất". Ở Trung Quốc càng là như thế, phương thức giáo dục của nó đều là theo “kiểu nhồi vịt”.

Mục đích giáo dục tố chất chính là tận mọi khả năng giảm thấp giá thành giáo dục, nâng cao tác dụng có hiệu quả của giáo dục. Giảm thấp giá thành giáo dục phải chỉnh hợp nguồn trí lực của con người một cách khoa học, làm cho nó sản sinh sức sáng tạo. Do sự hạn chế của giáo dục học truyền thống, đã xuất hiện khiếm khuyết nghiêm trọng về phương diện giáo dục tố chất. Nhà nước tuy đã đem hết mọi cố gắng, nhưng thật ra chưa giành được hiệu quả lý tưởng. Giáo dục tố chất đòi hỏi cố gắng chung của toàn xã hội, đòi hỏi phải có một loạt người thực hiện trước thưởng thức và thăm dò một cách mạnh dạn.

Xin mời xem tiếp mục II - Sự hao tổn giá thành khai thác trí năng




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
II - Sự hao tổn giá thành khai thác trí năng


Do phương thức khai thác đối với nguồn trí lực của chúng ta không đúng đắn, đã dẫn đến lãng phí đại bộ phận nguồn trí lực.

Về phương diện khai thác trí năng, vấn đề hiện tồn tại một mặt là nguồn trí lực to lớn chưa được khai thác, mặt khác là nguồn trí lực đã khai thác chưa được sử dụng một cách đúng đắn. Sau khi vứt bỏ nguồn trí lực chưa được khai thác và nguồn trí lực bị hao mòn thì nguồn trí lực hữu hiệu thật sự được lợi dụng quá ít ỏi. Ví như, tinh thần hiệp tác là một nguồn trí lực hữu hiệu, nhưng tính cách hay “đấu chọi trong cùng một ổ” của chúng ta sẽ làm cho nguồn trí lực này hao mòn hết. ý thức độc lập cũng là một nguồn trí lực hữu hiệu, nhưng tư tưởng ỷ lại nhiều năm nay mà chúng ta đã nuôi dưỡng thành thói quen làm cho chúng ta luôn luôn chờ đợi, dựa dẫm và đòi hỏi, mà thiếu ý thức sáng tạo chủ động.
Nói một cách tổng thể, nguồn trí lực của Trung Quốc thật ra không thiếu thốn, nhưng sự hao tổn nguồn trí lực rất là nghiêm trọng. Chúng ta cần phải vừa từ trên kết cấu xã hội vĩ mô lại từ trên kết cấu nhân tế vi mô trừ bỏ hết mọi hao tổn nguồn trí lực.

1- Hao tổn giá thành trí năng trong giao tế

Chỉ có ở trong thời đại trời rộng đất dầy mới có thể sinh ra vĩ nhân của đạo đức và tư tưởng, bởi vì ở thời đại này, con người không phải chi ra giá thành trí năng giao tế quá lớn.
Nhân khẩu tăng trưởng nhanh chóng, không gian hoạt động của con người tăng lên nhanh chóng, khiến cho kết cấu giữa con người với con người trở nên ngày càng phức tạp, việc tiếp xúc giữa người này với người khác ngày càng nhiều sự cạnh tranh giữa con người với con người cũng ngày càng kịch liệt. Do đó, người ta buộc phải bỏ ra tương đối nhiều thời gian để ứng phó và xử lý quan hệ nhân tế. Tài năng của con người thông thường cần phải phát huy giữa người này với người kia, hơn nữa người ta có thành công hay không càng quyết định bởi nghệ thuật của quan hệ nhân tế. Cần nói thêm rằng do cạnh tranh gay gắt thêm, khiến người ta phải tụ tập lại với nhau như đàn kiến, làm cho người ta có tầm nhìn ngắn ngủi, so đo tính toán, tham lam không chán, lòe bịp bất thường, do không gian sống càng thêm chật hẹp khiến cho tinh lực của người ta phần nhiều đều dốc vào cạnh tranh, điều hòa, chiếm đoạt, công kích và lừa dối giữa người này với người khác. Cần phải nói rằng, quan hệ nhân tế đối với giá thành trí năng của con người hao mòn quá lớn.

Chúng ta cần phải xem xét lại một chút, trong mỗi ngày chúng ta có bao nhiêu tinh lực hao phí vào công việc, lại có bao nhiêu tinh lực hao phí vào quan hệ nhân tế? Sự thực làm cho người ta kinh ngạc là tinh lực của chúng ta hao phí vào quan hệ nhân tế càng nhiều. Phương thức trắc định đơn vị này có thể làm cho chúng ta quan tâm đến hiệu suất lợi dụng trí năng của phương diện vĩ mô.

Môi trường nhân tế hiện nay của chúng ta, về toàn cục là kết cấu có tính hao mòn, mà không phải là kết cấu có tính tăng trưởng, thực chất của loại kết cấu này là đem nguồn vốn nhất định thông qua phương thức nhất định từ một bên này di chuyển sang một bên khác, mà không thông qua tổ hợp làm cho nguồn vốn tăng giá trị. Trong lĩnh vực thương mại, thương nhân nước ngoài rất không hiểu nổi các nhà doanh nghiệp Trung Quốc vì sao luôn thích “ăn to uống lớn”, họ cho rằng việc đi lại không công bằng là không đúng. Có phải người Trung Quốc ngu dốt? Khẳng định không phải. Người Trung Quốc xem các nhà doanh nghiệp nước ngoài là “chúa cứu thế”, đây không phải là may mắn gì của các nhà doanh nghiệp nước ngoài, bởi vì người ta hy vọng được tiền của trong tay “chúa cứu thế” là miễn phí, từ trong lòng chính là vì một loại giao dịch không công bằng. Trong hoàn cảnh thường ngày của chúng ta, hầu như mỗi một bữa yến tiệc đều mang tính chất như vậy, một bên mời một bên khác ăn cơm, cuối cùng thực tế trả tiền đều là nhà nước, mỗi một bữa yến tiệc hầu như đều chứa đựng một loại giao dịch không công bằng, đều ẩn náu sự chiếm hữu không công bằng vốn của một bên đối với một bên khác.

Nhìn từ một phương diện khác, giao tế là cần thiết, nhưng đưa vào giá thành giao tế quá mức là không thỏa đáng. Mục đích của giao tế là thông qua thủ đoạn giao tế phân phối lại cơ hội xã hội và tiền vốn xã hội, việc phân phối hợp lý sẽ xúc tiến tăng giá trị của tiền vốn. Nhưng nếu như mọi người đều đi phân phối mà không đi sản xuất, như vậy thì tiền vốn bị đưa đi đưa lại mà không tăng trưởng, không thể không nói là một lãng phí nguồn vốn trí lực. Do vậy, không giỏi giao tế cố nhiên sẽ mất đi phần lớn cơ hội của cuộc sống, nhưng tinh lực dốc vào trong giao tế quá lớn cũng là một loại hao tổn.

ở đây chúng ta không phủ định tình hữu nghị chân thành. Lỗ Tấn nói: "Đời người được một người hiểu biết mình là đủ, đời này nên lấy cùng bụng dạ để xem xét họ". Trong thời đại hiện nay quan hệ nhân tế ngày càng căng thẳng, chúng ta càng cần khai thông và ủng hộ giữa người này với người khác, càng cần phải như Chu Tử nói: "Nói chuyện với ông một lần, còn hơn mười năm đọc sách", mà không phải là “cùng nghe tiếng gà gáy chó sủa mà đến chết vẫn không đi lại với nhau”. Giá thành giao tế thể hiện trên tính hữu hiệu của nguồn thông tin giao tế, giao tế không có mục đích sẽ hao tổn giá thành sinh mệnh. Giao tế hợp lý, vừa phải là cần thiết. Trong giao tế người ta nhận được ích lợi ra sao là một đề tài không nhỏ.

a- Quan hệ nhân tế kiểu tiểu nông

Quan hệ nhân tế kiểu tiểu nông đặc biệt chú trọng liên kết của tình cảm, tính phụ thuộc vào nhau giữa người này với người kia rất mạnh, mà ít dùng tiền tài qua lại, là một loại quan hệ thuộc dạng hỗ trợ lẫn nhau. Trong cuộc sống hiện thực, giữa những người trong xóm giềng phố phường phải giúp đỡ lẫn nhau, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, giữa người này người kia đều tương đối quan tâm đến thể diện. Nhà ông A xây nhà, nhà ông B đến giúp đỡ và không đòi trả công, đợi đến khi nhà ông B xây nhà, nhà ông A cũng sẽ đến giúp đỡ và cũng không cần trả công. Do giữa hai bên luôn không dùng phương thức kết toán bằng tiền rõ ràng, nên thường có thể xuất hiện việc một bên nào đó oán trách bên kia “không biết điều”. Không có đi lại bằng tiền kiểu thương phẩm hóa, giữa người này với người khác chính đòi hỏi phải chi ra giá thành giao tế rất lớn, tổn hao va chạm tình cảm không cần thiết.

Quan hệ nhân tế kiểu tiểu nông là một giấc mơ khiến người ta nhớ tưởng, hiện tại nó hầu như chỉ có thể được các nhà văn dùng hình thức biểu hiện văn học để giữ lại trong các tác phẩm nghệ thuật.

b- Quan hệ nhân tế kiểu thị dân

Những người từ nông thôn chuyển đến thành phố sống mới đầu đều rất không quen phương thức sống kiểu thị dân. ở nông thôn, người toàn thôn đều quen biết nhau, còn trong thành phố, dù cho ở trong cùng một đơn nguyên, thật ra đều không đi lại với nhau. ở nông thôn, đến chơi là việc thường gặp nhất, trong thời gian một bữa cơm, bưng bát cơm đã có thể chạy đến bốn, năm nhà, trong cả thôn ai cũng đều quen biết.

Quan hệ nhân tế giữa thị dân vẫn rất khắt khe, người ở tầng bốn mang gửi hộ một lá thư cho người ở tầng ba vẫn đòi người kia chi ra 2 hào. Đường ống nước ở tầng 2 tắc, vẫn đòi mỗi nhà từ tầng ba trở lên đóng góp ra 15 đồng chi phí tiền thông và làm sạch đường ống. Người nông thôn đối với cách làm “khắt khe” này của người thành thị nhìn không quen. Quan hệ nhân tế kiểu thị dân quá thương mại hóa, mất đi không khí làng xã nồng nàn, còn cần phải cải tạo và làm thăng hoa.

c- Quan hệ nhân tế kiểu tư sản

Đặc điểm của loại kết cấu nhân tố này là người này và người khác không có mối quan hệ tình cảm thật sự, đồng tiền quyết định tất cả. Giữa người này và người khác không có va chạm về tình cảm, cũng không có sự giao lưu về tình cảm. Giữa người này với người khác cùng đi với nhau vì lợi ích, mỉm cười và chào hỏi nhau chỉ là một lễ nghi và cái vỏ bề ngoài. Do bất đồng về lợi ích mà chia tay cũng là việc tự nhiên, không thể xuất hiện va chạm về tình cảm. Quan hệ kết cấu nhân tế dạng tình cảm là rất không khoa học, trong quan hệ kết cấu xã hội hiện đại là một nốt nhạc không ăn khớp. Tình cảm và tư sản không thể trao đổi ngang nhau, thường đùa giỡn tình cảm của con người, cũng đùa giỡn tư sản. Tính chung hưởng cơ hội xã hội loại bỏ gánh nặng tình cảm của người ta, khiến cho quan hệ nhân tế không đến nỗi quá “mệt”. Xã hội hàng hóa cần một thể chuyển đổi giá trị, đó chính là giấy bạc. ở trong lục địa Trung Quốc nhiều nhà kinh doanh thường thích chọn những người cộng tác và cấp dưới trong bạn bè thân thích, về phương diện tiền thù lao đều rất khó nói, kết quả đã tạo nên bất đồng về mặt phân phối của hai bên, cuối cùng đành phải chia tay. Giữa bạn bè thân thích đều tồn tại rất nhiều mối quan hệ tình cảm. Mối quan hệ tình cảm này thường có thể làm trở ngại nguyên tắc phân phối khoa học. Ví dụ như ông chủ đã từng giúp đỡ cấp dưới của mình một số việc nào đó, đối với giá trị của việc này lại rất khó đánh giá, khi ông chủ có lẽ cho rằng người cấp dưới này của ông cần làm nhiều việc cho mình mà không cần cân nhắc tiền công. Người cấp dưới thì cho rằng, trước kia ông đã từng giúp tôi, tôi vẫn có thể dùng phương thức tương ứng để trả lại ông, không thể nói lẫn lộn với công việc được. Thêm nữa, công việc là thu nhập hàng ngày của tôi, là nguồn kiếm sống nuôi gia đình.

Kết cấu quan hệ nhân tế kiểu tư sản là một loại quan hệ nhân tế hao tổn nhỏ nhất, đồng thời đã cơ bản trở thành xu hướng chính của quan hệ nhân tế ngày nay. Nhưng quan hệ nhân tế kiểu tư sản không phải là mô thức kết cấu quan hệ nhân tế tốt nhất, quan tâm nhân văn và trao đổi tình cảm vẫn là điều không thể thiếu trong đời sống của loài người.

d- Quan hệ nhân tế trên mạng Internet

Việc phổ cập mạng liên lạc quốc tế (internet) sẽ làm thay đổi thế giới này, quan hệ giữa người này với người khác sẽ trở nên đơn giản hơn. Hành vi kinh doanh, hành vi giao dịch của tương lai đều thực hiện trên máy tính, cơ hội giao lưu (trao đổi) giữa người này với người khác có thể sẽ ngày càng ít. Việc chung hưởng nguồn thông tin và thị trường, chính sẽ làm cho con người ngày càng trở nên độc lập. Một người chân không bước ra khỏi nhà đã có thể tìm được công việc trên mạng internet và ở trong nhà đồng thời phục vụ được cho mấy công ty. Việc phân công công tác và phân phối, tất cả đều tiến hành trên mạng liên lạc, người này và người kia tương đối ít tiếp xúc với nhau.

Song cơ sở sản xuất mới cũng sẽ sinh ra quan hệ sản xuất mới, “bạn trên mạng” cũng nẩy sinh. Cùng với bạn trên mạng có thể tiến hành trao đổi tư tưởng, cũng có thể thoát ra khỏi cảm giác cô đơn, đồng thời cũng có thể bảo vệ mình. Kết bạn trên mạng phá bỏ được mọi ngăn cách, khiến cho việc trao đổi của con người trở nên vô cùng tiện lợi. Phương thức thuộc dạng cùng nhau trao đổi này đã phá bỏ giới hạn trao đổi một chiều. Do việc giao tiếp trên mạng không đòi hỏi bối cảnh gia đình và bối cảnh xã hội, khiến cho cá nhân càng thêm độc lập và tự chủ, giảm bớt rất nhiều hao tổn trí lực không cần thiết.

e- Quan hệ công cộng

Giao tế trí lực là một trong những trí năng nhân tế, nhưng quan hệ nhân tế cũ và kiểu tiểu nông tạo nên tổn thất nguồn trí lực nghiêm trọng.
Việc tập trung cao độ của thông tin, sự phát triển cao độ của văn minh xã hội, tính ỷ lại giữa người này với người khác đã giảm thấp rất nhiều, khiến cho việc “tư giao” của mọi người ngày càng chuyển hướng sang “công giao”, “quan hệ tư nhân” ngày càng hướng tới “quan hệ công cộng”. ở giai đoạn này, người ta tương đối ít câu nệ mối quan hệ tình cảm, càng hướng tới hình tượng công chúng. Môn học quan hệ công cộng được nâng lên đến địa vị cao hơn, môn học quan hệ công cộng trên thực tế là một phạm trù đạo đức mới.

2- Trí nhớ hữu hạn

Đối với người theo đuổi việc lớn để xét, cần phải vứt bỏ gánh nặng nhớ những việc vụn vặt không cần thiết. Đối với người theo đuổi cuộc sống bình thường, cũng phải biết bỏ những tính toán ân oán con con không cần thiết. Người ta thường nói, bỏ việc nhỏ thì mới sáng việc lớn. Tư duy là một lưu trình của thời gian, gánh nặng tư duy nhiều hơn một chút thì giá thành trí lực có thể nhiều hơn một chút, cho nên người ta phải biết đem năng lượng tư duy hữu hạn dùng vào tư duy hữu hạn.

Các vĩ nhân trong lịch sử có thể hoàn thành sự nghiệp lớn đều có một đặc điểm chung là lòng dạ của họ rộng rãi, hầu như chưa từng oán trách người khác. Do vậy giá thành đời người của họ rất thấp, mà hiệu suất trí năng đời người rất cao. Người ta có bụng dạ rộng rãi bao nhiêu thì có sự nghiệp lớn bấy nhiêu.

Một đặc điểm chung của một số phụ nữ là dễ dàng canh cánh bên lòng đối với một số việc nhỏ mọn, một tí việc nghĩ không thông thì đã làm om xòm lên, thậm chí có thể thắt cổ chết. Trong đầu óc họ chất đầy ân oán cỏn con, cho nên khó mà có sáng tạo lớn. Đương nhiên bụng dạ hẹp hòi không chỉ là những người phụ nữ này, chúng ta cũng phát hiện bụng dạ của nhiều nam giới cũng giống như những phụ nữ này, cũng so đo tính toán chẳng kém, việc này không thể không nói là một đau buồn của họ.

Người có thành tựu là tận mọi khả năng đem chất xám hữu hạn dùng vào việc sáng tạo thoát ra khỏi gánh nặng tư duy không cần thiết, từ đó đã sáng tạo ra lượng giá trị trí năng lớn nhất.

Lo lắng là một lỗ hổng nuốt hết trí năng của đời người, nó tổn hao giá thành trí năng và thể năng của con người. Trước hết, lo lắng làm cho hệ thông tin sinh vật của con người rối loạn, trực tiếp giày vò hệ thần kinh và thể xác con người. Lo lắng có thể làm cho con người phải suy nghĩ lặp lại vô vàn lần cùng một vấn đề chịu bó tay mà không có hiệu quả, tạo nên lãng phí nguồn tư duy rất lớn. Lâu ngày có thể phá tan ý chí của con người và tạo nên tổn thương của thân thể. Bình thường, người ta có thể nhìn thấy, những người lòng dạ hẹp hòi đa số đều xanh xao gầy yếu.

Mọi người đều cần bồi dưỡng thành cách sống không có gánh nặng tư duy, cố gắng giảm bớt gánh nặng tư duy kèm theo ngoài công việc có hiệu quả, đối với những vấn đề khó giải quyết có thể dùng phương pháp trao đổi tâm sự với bạn bè, phân giải và san sẻ bớt gánh nặng. Những việc không vừa lòng xuất hiện trong cuộc sống, nên tìm cách lý giải, không nên khoác lên gánh nặng tư tưởng. Hiện thực luôn là có chỗ không ăn khớp với ý nguyện chủ quan của chúng ta, đối với những việc trái ngược với nguyện vọng của chúng ta, thái độ của chúng ta nên là, hoặc làm thay đổi nó, hoặc thích ứng với nó. Nếu như vừa không thể làm thay đổi cũng không thể thích ứng, sẽ tất nhiên có thể sa vào vực sâu tự giày vò. Oán trách là cách làm không có giá trị nhất, bởi vì bạn vừa thay đổi không nổi nó, cũng thích ứng không nổi nó.

Đương nhiên, đề xướng chọn 2 cách làm là làm thay đổi và thích ứng không phải là muốn người ta đối xử tiêu cực với sự việc, mà là nhằm vào gánh nặng tư duy để nói. Đầu óc của chúng ta nên là phải tiến hành công việc có hiệu quả, còn vì những việc vừa không thể làm thay đổi cũng không thể thích ứng mà lo lắng sẽ hao tổn lượng lớn nguồn tư duy, tạo nên lãng phí trí lực nghiêm trọng.

3- Độ lượng và giá thành

Giá sinh mệnh phải trả sẽ có biểu hiện khác nhau ở từng người khác nhau. Đối với một dân tộc có lịch sử vẻ vang như Trung Quốc, dù cho chúng ta hiện nay đang nằm trong cảnh ngộ rất khó khăn, cũng không muốn gỡ bỏ phòng tuyến hàng ngàn năm trên thể diện của chúng ta. Trí năng của con người không chỉ có thể phát huy được năng lượng tự thân, cũng phải có thể cung cấp khả năng bảo hộ cho thân thể của mình. Nếu như trí năng của mình đến bản thân mình còn không bảo hộ nổi, thì còn nói được là trí năng gì nữa?
Trong cuộc sống hàng ngày, có người vì thể diện mà mất đi tất cả mọi giá thành sinh mệnh, rõ ràng là không đáng có. Có phụ nữ vì một việc nhỏ mọn, mà tức giận đến nỗi tự sát, giá thành sinh mệnh mà họ phải chi ra là quá lớn. Nói chung, độ lượng (tức bụng dạ) của phụ nữ tương đối nhỏ hẹp, sự phiền não của rất nhiều gia đình đều do bụng dạ của phụ nữ quá nhỏ bé gây ra. Có bao nhiêu nam giới ở ngoài dám nói dám làm, nhưng khi đối mặt với lòng dạ chật hẹp của người vợ, lại tỏ ra đành chịu bó tay chẳng có kế sách gì, trong lòng chỉ khát vọng lòng khoan dung của người vợ.

Nhưng trong cuộc sống cũng không thiếu những nam giới bụng dạ hẹp hòi, họ cũng tẹp nhẹp nhỏ nhen và ghen tỵ giống như phụ nữ.

Nhìn lại lịch sử trong và ngoài nước xưa nay thấy, những người có thể thành đạt sự nghiệp đều khá độ lượng. Lời đánh giá trong sách Lưu hầu luận đối với Trương Lương là: Đột nhiên đối mặt không sợ, vô cớ bị nói xấu không giận. Trương Lương sở dĩ là Trương Lương chính là ở chỗ ông có sự độ lượng và lòng dạ đối xử với người như thế.
Chúng ta đều biết Hàn Tín, khi còn trẻ ông đã từng chịu nỗi nhục “luồn dưới háng”, sự nhượng bộ của ông thật ra không làm cho người ta hiểu nhầm ông không phải là anh hùng, trái lại được mọi người thừa nhận là anh hùng chân chính. Không có lòng dạ và độ lượng thì dù có dũng cũng chỉ là cái dũng của kẻ thất phu, dù có trí cũng chẳng qua là trí của đàn bà.

Giá thành độ lượng của Chu Du thời Tam quốc rất có hạn, “một bước ba kế” của ông cuối cùng không đấu nổi “ba bước một kế” của Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng biết rất rõ lòng dạ của Chu Du rất nhỏ nhen, đã cố ý kích động ông ta, bày ra một kế sách “tam khí Chu Du” (ba lần chọc tức Chu Du). Chu Du đến cùng không thể vượt qua được giới hạn độ lượng của mình, cuối cùng đã phát ra lời than thở “Trời đã sinh ra Du, sao còn sinh ra Lượng” rồi hộc máu tươi ra chết. Một tướng quân trí dũng song toàn, không chết ở chiến trường, lại chỉ vì tức mà chết, thật là đáng tiếc. Giá thành độ lượng mà Chu Du phải trả ra cũng quá lớn.

Ghen tỵ là một bệnh tâm lý ngoan cố của con người, người mắc chứng bệnh này sẽ phải trả ra giá thành sinh mệnh lớn. Câu chuyện giữa Tôn Tẫn và Bàng Quyên năm xưa, luôn luôn bày ra rõ ràng trước người đời. Bàng Quyên cũng là thiên tài quân sự như thế, vì sao không thể trở thành đại biểu chính diện trong lịch sử quân sự Trung Quốc như Tôn Tẫn, trái lại trở thành đối tượng bị người ta nguyền rủa? Ghen tỵ là một chứng bệnh lưu hành phổ biến ở Trung Quốc, sở dĩ ở Trung Quốc tần suất phát bệnh cao là vì ở người Trung Quốc có sự thừa kế văn hóa vĩ đại nhất trên thế giới và tâm lý tự xem mình là có trí tuệ cao, đồng thời lại có quán tính ăn sâu bám rễ. Trên trường thi đấu thể thao, những người không bằng lòng tham dự thi đấu, thường sẽ trở thành xạ thủ hãm hại người thi đấu.
Nhà chính trị vĩ đại Đặng Tiểu Bình ba lần đứng lên, ba lần ngã xuống, nhiều lần bị cách chức. Khi ông bị đưa xuống Giang Tây lao động, tịnh không uất ức thành bệnh mà là dùng lòng dạ rộng rãi đã tránh được việc phải chi ra giá thành sinh mệnh quá nhiều, cả đến việc sống đến tuổi chín mươi hai, đồng thời trở thành nhà thiết kế chính của cải cách Trung Quốc. Từ đó ta thấy, lòng dạ rộng rãi là điều kiện quan trọng nhất tiết kiệm giá thành sinh mệnh.

4- “Hiệu ứng tù phạm”

Thể diện của con người vừa là bức tường chắn chống lại sự công kích bên ngoài, lại là chiếc cũi nhốt mình. Thể diện có thể chống lại sự tiến công của bên ngoài, có thể che đậy sự trống rỗng trong lòng. Vì thể diện, người ta thường thường mất đạo nghĩa, mất trách nhiệm đời người của mình. Người ta có của thường đi kèm một loại mất: một người có xe ôtô con, đồng thời mất đi sự chiếm dụng đối với xe đạp. Bởi vì người một khi có xe ôtô con có thể trở thành “tù phạm” của xe đạp, cho nên mất đi tự do và vẻ tự nhiên của việc đi xe đạp. Nhiều người một khi dời địa vị công tác, đã có thể trở thành “tù phạm” hoàn toàn: ông ta không biết đi xe đạp, không biết nói chuyện phiếm vui vẻ hòa nhã với mọi người __ hầu như tất cả đáng thuộc về sinh hoạt của con người, ông ta đều không thể hưởng thụ, cái có của ngày qua trở nên ràng buộc của hôm nay. Tôi đã từng xem một chuyện tranh liên hoàn dí dỏm hứng thú có tên là Gợi ý mời nhận mặt vẽ chuyện rất nhiều “người mất mặt” chạy ngược chạy xuôi đi tìm mặt. Vợ của một giáo sư bị ốm, trong lúc không còn cách nào hơn, vị giáo sư này tự mình giặt một lần quần áo, không may là đúng lúc mình đang phơi quần áo trên ban công bị một đồng nghiệp của mình trông thấy. Lúc này, ông ta dùng tay sờ mặt của mình không thấy nữa! Một ông lãnh đạo vì xe ôtô con bị hỏng, buộc phải đạp xe đạp đi làm một lần vừa vặn bị người dưới quyền của mình nhìn thấy, chốc lát mặt ông đỏ lên. Lúc này, ông ta dùng tay sờ, cũng phát hiện mặt của mình không thấy nữa... Việc giặt quần áo cho vợ vốn là việc hoàn toàn bình thường, cán bộ cưỡi xe đạp đi làm cũng là việc rất bình thường, nhưng thể diện khiến họ bước vào cái cũi vô hình này trở thành một “tù phạm” đáng thương. Lúc này, chúng ta nhìn thấy “đã từng có” thực tế là “mất đi vĩnh viễn”. Phá thể diện là rất khó, việc này đòi hỏi tu dưỡng rất cao sâu, đòi hỏi khiêm tốn, đòi hỏi tự tôn, đòi hỏi tự tin, đòi hỏi dí dỏm, đòi hỏi tâm tính tốt v.v... do vậy rất nhiều người một đời đều không có cách gì phá nổi.

A.Q dưới ngòi bút của Lỗ Tấn chính là một ví dụ rõ ràng nhất. Người giống A.Q như thế, hầu như không có cái gì, nhưng anh ta không thể không có thể diện. Anh ta có thể nghèo đến mức “trắng như đít ếch”, nhưng anh ta phải luôn luôn tuyên bố “nhà tôi trước kia cũng họ Triệu”, “nhà tôi trước kia cũng giàu có”. “Phép thắng về tinh thần” chính là sự phản ánh tập trung văn hóa thể diện của Trung Quốc.

Trước tác nổi tiếng Vây thành của Triều Trung Thư đã vạch ra sự huyền bí của đời người. Tôi đã từng triển khai một hoạt động gọi là “Ngũ sắc vây thành”. Đây là một cuộc trao đổi kinh nghiệm sống của đời người đầy hứng thú, những người chưa từng quen biết nhau tại đây thông qua thủ đoạn nghệ thuật trao đổi những điều tâm đắc cuộc sống của mình. Trên cổng của tòa Vây thành, tôi còn viết một câu đối: "Hý trung nhân xuất hý, hý ngoại nhân nhập hý, hý trung hữu hi. Thành ngoại nhân tiến thành, thành lý nhân xuất thành, thành trung hữu thành". (ý nói: người trong trò chơi thì đưa ra trò chơi, người ngoài trò chơi vào chơi, trong trò chơi có vui cười. Người ngoài thành thì vào thành, người trong thành ra ngoài thành, trong thành có thành thực). Do hoạt động này biểu hiện rõ ràng cảm nhận hai mặt của người ở “trong thành” và “ngoài thành”, trong vui chơi có cảm xúc mà hiểu ra rất sâu xa, gây được hào hứng lớn của người tham gia.

Con người đều tự giác hoặc không tự giác sống trong chiếc lồng do mình hoặc người khác tạo ra, dù là có thể ra khỏi chiếc lồng này, vẫn có thể chủ động bước vào chiếc lồng khác.
Có một nhà thơ đã viết: Chim nhìn người là chim.

Cảm giác an toàn của con người là ở trong “lồng” mới thể hiện được. Những người bằng lòng với bổn phận nói chung không muốn trở thành kẻ lặn lội trên đường dài, đều đòi hỏi tìm được một chiếc “lồng” thuộc về mình. Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch, người ta đều cảm thấy xí nghiệp quốc doanh độ an toàn đáng tin cậy, chỉ cần trở thành công nhân chính thức hoặc chuyển thành cán bộ, thì có thể được bảo hiểm cả một đời của mình. Bởi thế trong “chiếc lồng” này chen chúc đầy người. Về sau, người ta mới phát hiện, không gian ở bên ngoài rộng lớn hơn, mình đã trở thành “tù phạm”, do đó sẽ muốn nhảy ra khỏi. Đời người chính là như thế, luôn là từ một chiếc “lồng” này chạy sang một chiếc “lồng” khác.

Dư Thuần Thuận, người Thượng Hải, muốn làm thay đổi hình tượng của người Thượng Hải, đã bắt đầu một cuộc du hành lừng lẫy __ đi bộ khắp Trung Quốc. Do vậy, đời người của ông ta trở thành cuộc du lịch không có cõi đi về. Cuối cùng, ông gặp nạn và chết tại hồ Luobu thuộc Pengjiamu, khiến mình cuối cùng trở thành một con “người tự do”. Đời người vốn không có cõi đi về, lại muốn không ngừng đi tìm chốn đi về. Theo quan niệm của người phương Tây, bản thân đời người chính là một cuộc du hành, “tinh thần lữ quán” chính là tinh thần của đời người. “Hiệu ứng tù phạm” là quan niệm đối ứng với “tinh thần lữ quán”, con người cần phải luôn luôn thay đổi vai trò của mình để sửa chữa cho đúng vị trí của mình. Theo đuổi của văn hóa đối với cõi đi về của đời người lại thường là tự làm khó mình. Nền văn hóa nồng thắm của Trung Quốc trong nhiều lúc khó tránh khỏi trở thành “phòng giam” mới.

5- Lừa mình dối người

Con người do nhược điểm của nhân tính tồn tại phổ biến, khiến cho mỗi người trong một đời mình đều ít nhiều từng xuất hiện hành vi lừa mình dối người, tất cả mọi người chúng ta đều từng có lịch sử lừa mình dối người. Lừa mình dối người không nghi ngờ gì nữa là một sự tổn hao trí năng trầm trọng, bởi vì đối tượng lừa dối của nó không chỉ là người khác, mà còn là mình nữa. Nói chung việc lừa mình dối người ở mức nhẹ là do sự yếu đuối về tâm lý hoặc thiếu tri thức tạo nên. Đối với một số cách làm mình biết rõ là sai lầm, do năng lực chịu đựng về tinh thần của cá nhân hữu hạn, đã tạm thời coi là cách làm đúng để đối xử. Ví dụ như hút thuốc, nghiện rượu, do mình không sửa nổi những tập quán xấu này, đã phải tìm kiếm một số lý do để tự giải thích theo lý của mình. Người ta thường nói, lời giả nói một ngàn lần sẽ trở thành thật. Khi mình hết lần này đến lần khác biện bạch cho hành vi của mình, lâu ngày trong tiềm thức của mình cũng sẽ coi cách làm sai trái thành cách làm đúng đắn.

Kẻ tự dối mình biết rất rõ mình không phải là kẻ mạnh nhất trái lại luôn luôn tự cho mình là kẻ mạnh nhất. A.Q nhiều lần nói mình trước kia cũng là người giàu chính là tự dối mình cũng là lừa người. Trong tình huống thông thường, tự dối mình chính là để lừa người. Có lúc chúng ta sẽ nghĩ, người ta đã khhông thể tự điều hòa được sự cân bằng tâm trạng, lại không thể thực hiện trạng thái lý tưởng của đời sống, “tự dối mình” một chút hầu như có thể tha thứ được. Phần đông mọi người điểm khởi đầu của cuộc sống khác nhau, bối cảnh sống khác nhau, dùng tiêu chuẩn lý tưởng để yêu cầu tất cả mọi người cũng là không hiện thực.

Việc tự bảo vệ xuất phát từ tâm lý yếu ớt là khó tránh khỏi, nhưng nếu như mãi mãi không thể vượt được, sẽ có thể hình thành “cương” về tính cách của mình, cản trở sự phát triển của mình. Sự giác ngộ của đời người là rất khó khăn, muốn làm được việc một đời không tự dối mình càng là khó khăn hơn. Bất cứ sự vật nào xa rời tính chân thực của nó, đều không có ý nghĩa tiến bộ, đều có thể tạo nên tổn hao về mặt trí năng. Chiến thắng việc dối mình lừa người tồn tại trong con người mình, nhìn thẳng vào đời người cần có năng lực, nghị lực và dũng khí.

6- Thông minh, tinh nhanh và giỏi giang tài cán

Triết học tư biện “biến dịch, bất dịch và giản dịch” trong triết học truyền thống của Trung Quốc một lần nữa gợi ý chúng ta rằng, sự việc phức tạp nhất có thể sẽ biến thành việc đơn giản nhất. Trong cuộc sống, chúng ta thường phát hiện những người thông minh đến cực điểm có thể đi làm những việc ngu xuẩn, cái gọi là “thông minh ngược lại bị sai lầm của thông minh”. Có người suốt đời bận rộn, cuối cùng một việc không thành. Phương pháp thích đáng có thể làm chơi ăn thật, phương pháp không thích đáng thì làm nhiều mà ít kết quả, ở đây là có quy luật của nó. Người thông minh mắt nhìn mười dặm; người tinh nhanh mắt nhìn trăm dặm; người giỏi giang tài cán thì mắt nhìn ngoài ngàn dặm. Hoàn cảnh luôn luôn cải tạo của con người, người ta phải tùy cơ ứng biến, có thể biến báo mới có thể mở rộng, cái đó gọi là “biến dịch”. Con người phải giữ vững chủ ý của mình, không thể bay theo chiều gió, phải lấy bất biến ứng vạn biến, cái đó gọi là “bất dịch”. Hóa phức tạp thành giản đơn, bỏ việc nhỏ thì việc lớn mới sáng ra, có trí lớn mà tựa như ngu dốt, cái đó gọi là giản dịch. Trong cuộc sống, không thiếu những người suốt ngày chạy ngược chạy xuôi, bận rộn tíu tít giống như những cánh bèo không rễ, mãi mãi tìm không được vị trí đời người của mình. Không thiếu những người khư khư ôm lấy cái cũ, bằng lòng với hiện trạng, mãi mãi không dám sáng tạo, cũng là đáng buồn. Đồng thời cũng không thiếu những người tủn mủn vụn vặt, so đo tính toán, cầm không nổi bỏ không xong, những người này càng đáng buồn hơn!

Trong cuộc sống không thiếu những người thông minh và tinh nhanh, nhưng người giỏi giang tài cán thì không nhiều. Trong Tam quốc, Tào Tháo và Lưu Bị uống rượu bàn anh hùng, khi Tào Tháo nói đến "Anh hùng trong thiên hạ ngoài ông và tôi ra không còn ai" thì Lưu Bị là đấng anh hùng một thời lập tức “hoảng sợ” đánh rơi cả đũa. Lưu Bị không thể là nhát gan thật như thế, nhưng Lưu Bị đang trong cảnh ngộ “sống nhờ sống gửi”, nếu như để lộ tài năng ra, chắc chắn là tạo cạm bẫy cho mình, giả vờ nhát gan không có năng lực, tránh được ý thù địch của đối phương là cử chỉ tài giỏi của Lưu Bị, tránh mũi nhọn là năng lực tự bảo vệ đơn giản nhất của con người.

Trong cuộc sống thường ngày, kẻ bị thiệt nhỏ chiếm được hời lớn, kẻ chiếm hời lớn thì bị thiệt lớn, lý lẽ đơn giản này thật ra không phải ai cũng đều có thể hiểu, trong đó sẽ có một sự khác nhau của tinh nhanh và tài giỏi. Bình thường, người khéo tay thường thường là “đầy tớ” của kẻ vụng về, rốt cuộc là ai bị ai lợi dụng luôn rất khó nói rõ ràng.
Có người nói người Thượng Hải tinh nhanh mà không giỏi giang tài cán, bất kể là đúng hay không đúng luôn có thể cho người ta một số gợi ý. Mặc dù không thể lấy sự so sánh sự tinh nhanh và tài giỏi một cách giản đơn làm sự khác nhau của người phương Nam với người phương Bắc, nhưng văn hóa theo vùng luôn luôn đại biểu cho triết học xử thế và kỹ xảo xử sự của người thuộc vùng khác nhau.

Trong chuyện ngụ ngôn của Trung Quốc có một chuyện Ngu công dời núi được người Trung Quốc xem là một trong những nền tảng của tinh thần dân tộc. Trong triết học của Lão Tử đã có một mệnh đề biện chứng là có trí lớn mà như ngu, người đại khéo mà như vụng, nói lớn mà như không có tiếng động, hình tượng lớn mà như không hình, đã phản ánh trí tuệ cao độ của triết học Trung Quốc.

7- Học vấn sáng tạo

Tiềm năng của sinh mệnh là giành cho việc sáng tạo.
Người nam giới đến với đời người với mục đích chính là để sáng tạo. Người nữ giới đến với đời người với mục đích là để chi trả. Không để cho nữ giới trả tiền họ sẽ cảm thấy đau khổ. Người phụ nữ có thể vì người nam giới và vì con cái trả ra toàn bộ sinh mệnh, đây là bẩm tính trời ban tặng cho phụ nữ. Phụ nữ một khi phát hiện mình mất đối tượng chi ra, sẽ đau khổ khác thường. Phụ nữ hoàn toàn không tiếc chi ra đối với nam giới, điều phụ nữ sợ nhất là nam giới dửng dưng đối với mình. Thực ra nam giới càng hão huyền hơn, cảm giác thành công mà nam giới cố gắng giành thường là để bù vào sự trống trải của bản thân mình.

Đành rằng nam giới xem sáng tạo là sứ mệnh của mình, đương nhiên phải nghiên cứu sâu phương pháp sáng tạo. Kết cấu giữa nam giới với nam giới, giữa nam giới với nữ giới kỳ diệu như thế, ngoài sự chân thành ra, vẫn còn tồn tại những cái kỳ diệu hơn.
Tưởng Tử Long trong tác phẩm Yên Triệu bi ca của ông đã nói một câu: Sự tín nhiệm giữa nam giới với nam giới là chinh phục. Đối với nam giới để xét, chinh phục là thể hiện của trí năng. Ham muốn chinh phục của nam giới vừa lắng đọng ở nơi sâu kín của tiềm thức, cũng biểu lộ trong biểu hiện ngôn ngữ. Ham muốn sáng tạo càng là biểu hiện nổi bật của tính cách nam giới, sáng tạo là thiên chức của nam giới.

Lỗ Tấn nói, trên đời vốn không có đường, người đi nhiều, liền có đường. Nhưng sáng tạo đòi hỏi phải chi ra giá thành. Người sáng tạo vì chân lý chi ra giá thành càng lớn. Copecnic đã trả giá thành của sinh mệnh cho thuyết nhật tâm.

Con người có năng lực nhiều mặt như: năng lực ứng biến, năng lực chịu đựng, năng lực giao tiếp, năng lực diễn đạt v.v..., nhưng có một năng lực quan trọng nhất đó chính là năng lực sáng tạo. Người ta sống ở trên đời, có tính bị động rất lớn luôn tiếp nhận sự nhào nặn của văn hóa và cải tạo của xã hội một cách bị động, mà chủ động phát huy tiềm năng của mình lại không dễ dàng. Năng lực sáng tạo là phương thức đắc lực nhất giảm thấp giá thành đời người, thất bại đối với người sáng tạo để xét chỉ là một dấu phẩy chứ không phải là một dấu chấm.

Thí nghiệm về bình ăcquy lần thứ một vạn của Edison không có kết quả, khi các bạn của ông định an ủi ông, ông nói: "Tôi không thất bại, chỉ là tôi phát hiện ra một vạn phương thức không thể vận hành". Edison, người lấy sáng tạo để theo đuổi suốt đời, có hơn một nghìn độc quyền phát minh, thúc đẩy điện lực phát triển khắp thế giới, chúng ta đều là những người được hưởng lợi từ ông.


--------------------------





Xem tiếp Phần Bốn
Giá thành thể năng của đời người





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Phần Bốn
Giá thành thể năng của đời người


Bảo đảm thân thể khỏe mạnh là một công trình to lớn của sinh mệnh đời người, cần phải có thiết kế của toàn bộ quá trình sinh mệnh, điều chỉnh sức khỏe của đời người đến trạng thái tốt nhất. Cạm bẫy lớn nhất của hiện đại hóa không những ở chỗ hao tổn đối với nguồn tự nhiên, mà còn ở chỗ hao tổn đối với nguồn thể năng của nhân loại.

Thân thể của con người là do tự nhiên khảng khái trao cho. Con người vốn là con cưng của giới tự nhiên, lại luôn luôn muốn làm quý tộc của giới tự nhiên, có lúc còn muốn chống đối với tự nhiên, bản thân việc đó là một sai lầm. Con người vốn nên mãi mãi hình thành chỉnh thể không thể cắt rời với tự nhiên, mới có thể giữ được sức sống lâu bền. Nhưng văn minh hiện đại luôn làm tăng lớn khoảng cách của con người với tự nhiên.

Thân thể của con người là sự ngưng kết cao độ vẻ đẹp của thiên nhiên, tự nhiên đã khéo léo đem hình thức công thức toán học hài hòa đến kỳ lạ trao cho thân thể của con người. Yêu mến thân thể, yêu mến mình cũng là yêu mến đối với thiên nhiên.

Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự phát triển của y thuật, thật ra không giải quyết được tất cả mọi vấn đề của sức khỏe. Y thuật và bệnh tật là đạo cao một thước thì ma cao một trượng, luân phiên nhau lên cao, khó quyết định thắng thua. Khoa học sinh mệnh trở thành loại khoa học quan trọng nhất của thế kỷ 21, sức khỏe ở thời nay được đưa ra khái niệm hoàn toàn mới.

I - Giá phải trả của sức khỏe

Thân thể là vật tải trí năng, là tiền vốn của sự nghiệp. Có trách nhiệm đối với tuổi già, thì không nên bội chi sức khỏe của tuổi già.

1- Bội chi sức khỏe

Môi trường sống và môi trường cạnh tranh ngày càng căng thẳng buộc người ta phải chi ra giá sức khỏe bỏ ra rất lớn để thích ứng với nhu cầu sinh tồn. ở Nhật Bản, do cạnh tranh thương mại quá căng thẳng và cảm giác trách nhiệm quá mạnh mẽ, khiến cho những người đứng tuổi chiếm tỷ lệ tương đối khá ở Nhật Bản vì quá mệt mỏi nên đột tử. Hiện tượng này cần phải thu hút được sự coi trọng cao độ của mọi người. ở Trung Quốc, một loạt lớn người do tiêu phí quá mức (đặc biệt là uống rượu) đã tạo nên chứng bệnh không tốt của thân thể, do uống rượu quá mức đã tạo nên rất nhiều chứng bệnh như thiên đầu thống (đau nửa đầu), bệnh dạ dầy, bệnh xơ gan. Bất kể một nguyên nhân nào, một hiện tượng rõ ràng là người ta khi sức khỏe xuất hiện việc “bội chi sức khỏe” nghiêm trọng, khiến cho mình khi ở tuổi cao, thân thể sẽ trước tiên ngã xuống.

Host nói: "Thời gian là tên bạo chúa tàn bạo nhất, trong quá trình chúng ta bước tới tuổi già, nó sẽ đánh thuế sức khỏe, tài năng, thân thể và dung mạo của chúng ta".
Khi tuổi trẻ, người ta làm việc văng mạng, kiếm tiền bạt mạng, do vậy đã xuất hiện hành vi bội chi sức khỏe, sau đó đến lúc về già lại đem tiền gấp bội đi khám bệnh, vốn là việc làm không hợp lý. Sức khỏe dựa vào sự vận động của mình, dựa vào ăn uống và phương thức rèn luyện. Việc chi trả khoản lớn để chữa bệnh càng làm nổi bật tính cần thiết của việc làm như thế.

Trong tình huống điều kiện sống trước kia cực kỳ tồi tệ, người ta không có cách gì quan tâm chăm sóc thân thể của mình, đây là nhân tố không phải người tạo ra. Còn ngày nay, trong tình huống điều kiện sống tương đối giàu có, dư dật, người ta không bảo vệ thân thể của mình thì hoàn toàn là do người tạo ra. Trong cuộc sống, chúng ta cảm thấy rằng do nhân tố nhân tạo đã tạo nên rất nhiều người sống không có quy luật.

“Bội chi sức khỏe” khiến chúng ta phải chi ra giá thành đời người không cần thiết quá cao, chúng ta nên phát động một phong trào tiết kiệm năng lượng sinh mệnh trong toàn xã hội.

2- Tuổi thọ và công trình nhân sinh

Những người có tài thành đạt muộn, phần lớn đều có khí phách lớn, thân thể và tinh thần mạnh khỏe.
Thủ tướng Anh Winston Leonard Spencer Churchill (1874 - 1965) đã sống 91 tuổi, năm 66 tuổi và 77 tuổi, đã hai lần ông làm Thủ tướng nước Anh, trí tuệ cao và thể phách mạnh khỏe đã bảo đảm thành tựu rực rỡ của ông.

Nhà danh họa Trung Quốc Tề Bạch Thạch (1874 - 1957) cũng là một điển hình của người có tài thành đạt muộn. Ông sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo. Năm 16 tuổi, ông học nghề thợ mộc. Năm 27 tuổi ông mới chính thức học vẽ, đồng thời học văn thơ, khắc triện, thư pháp kiêm làm thợ vẽ. Thông qua chăm chỉ học và khổ luyện, dần dần mở rộng đời sống nghệ thuật. Sau 57 tuổi ông định cư tại Bắc Kinh, lấy việc bán tranh và khắc dấu làm nghề nghiệp của mình. Hoa cỏ, chim muông, người và vật, sông núi ông vẽ, nét bút tạo hình chất phác gọn gàng, màu sắc sáng sủa sôi nổi, toát lên vẻ hứng thú của cuộc sống. Triện khắc của ông phần nhiều bắt chước kiểu đục dấu thời Hán, bố cục tùy tiện khác thường, vào thẳng vấn đề, năng nổ mà mạnh mẽ. Sau giải phóng ông còn đảm nhiệm chức Chủ tịch Hiệp hội Mỹ thuật Trung Quốc.

Nhưng còn một người nữa lại làm cho mọi người đáng tiếc, ông chính là Gia Cát Lượng.
Tình trạng làm việc hết mình và lao lực quá mức thành bệnh của Gia Cát Lượng từ lâu đã bị đối thủ của ông là Tư Mã ý nhìn ra, Tư Mã ý nói Gia Cát Lượng là người “ăn ít làm việc nhiều, không thể giữ được lâu dài”. Nghe truyền lại, quê hương thứ hai của Gia Cát Lượng là Tương Dương có một bệnh địa phương, nước suối của khe Long Tuyền ở đó chảy ra có chứa những chất có hại, dễ gây ra các chứng thấp khớp và lao xương, tỷ lệ người ba mươi tuổi trở lên mắc bệnh càng cao, phần nhiều đều đen và gầy. Sau khi Gia Cát Lượng vào đất Thục, do môi trường vùng đất Thục nhiều sương mù, khiến bệnh tình của ông càng thêm xấu hơn lại cộng thêm cuộc sống quân đội “nam chinh bắc chiến” nhiều năm, cuối cùng khiến ông khi ở tuổi tráng niên 54 tuổi đã mang bệnh qua đời.

Cho nên, Gia Cát Lượng tuy ôm ấp chí lớn, khi chuẩn bị ra quân ở Trung Nguyên, lại vì giá thành thân thể đã hao tổn hết, khi 54 tuổi vừa mắc bệnh đã chết ở “đồi Ngũ Trượng”. Thế là cơ hội thu phục Trung Nguyên đã không thuộc về Gia Cát Lượng.

Đỗ Phủ trong bài thơ Thục tướng nổi tiếng của ông đã viết một cách hết sức thương tiếc:

"Xuất sư vị tiệp thân tiên tử,
Trường sử anh hùng lệ mãn Khâm".


Dịch ý:

"Ra quân chưa thắng thân đã mất
Nước mắt anh hùng thấm áo hoài."


Ngày nay chúng ta có lẽ không nén nổi lời than thở: Giá thành đời người Gia Cát Lượng phải trả cũng quá đắt.

Năm 1977, Đặng Tiểu Bình đã từng trải biết bao trắc trở lại trở lại vũ đài chính trị, Đặng Tiểu Bình lúc này đã ở tuổi 72. Đặng Tiểu Bình chí khí rộng lớn đã giữ gìn được trạng thái thân thể tốt, vững vàng chèo lái Trung Quốc gần 20 năm một cách kỳ diệu, đã viết nên một trang huy hoàng cho công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc.

Đặng Tiểu Bình sống đến 92 tuổi, làm cho chính quyền của Trung Quốc được giao nhận một cách vững chắc, giá thành thể năng của ông đã chi cho giá thành cải cách của Trung Quốc, giữ vững được sự yên ổn và phát triển của Trung Quốc. ở đây chúng ta có thể nhìn thấy, giá thành thể năng của cá nhân đã trở thành của cải và sức mạnh của xã hội.
Lao động thể năng và lao động trí năng của con người cần phải thiết kế tỷ lệ phối hợp hợp lý và khoa học, không thể tùy ý phát triển.

3- Sức khỏe và làm việc

Thân thể là chiếc xe tải tri thức cũng là cái nhà để đạo đức cư trú. Chúng ta phải yêu mến thân thể gấp bội - cái xe chở tri thức, nơi ở của đạo đức.

Ford nói: "Những người chỉ biết làm việc mà không biết nghỉ ngơi, giống như chiếc xe ôtô không có phanh, cực kỳ nguy hiểm. Còn những người không biết làm việc thì giống như một chiếc xe ôtô không có động cơ, chẳng có ích lợi gì". Nếu như đem so sánh thân thể của con người như một chiếc xe ôtô, như thế thì chúng ta nên cố gắng giữ “tốc độ xe kinh tế nhất” để tránh tổn hao thể năng quá nhiều.

Sinh mệnh đã là một loại năng lượng, vậy thì khi nguồn năng lượng sinh mệnh thiếu hụt căng thẳng cần phải chú trọng tiết kiệm năng lượng, cố gắng giảm bớt tổn hao đối với giá thành sinh mệnh.

Xem tiếp mục II - Khoa học hóa sinh mệnh




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
II - Khoa học hóa sinh mệnh

Sức khỏe biểu hiện ở hai mặt sinh lý và tinh thần, nhưng chủ yêú hơn vẫn là ở tinh thần.

1- Thể năng và hệ thông tin sinh vật có thứ tự

Khi Đường Sơn động đất lớn, đã xuất hiện nhiều kỳ tích của sinh mệnh. Người ta phát hiện, trong những người bị vùi dưới đống đổ nát, càng là người tư tưởng đơn giản, sức chống đỡ càng mạnh, sức sống càng mạnh, còn người tư tưởng phong phú thì uất ức mà chết rất nhanh. Hiện tượng này cho chúng ta một gợi ý, trong sinh mệnh của con người, sự rối loạn của hệ thống tinh thần càng có thể nguy đến sức khỏe của con người.
Nhữngngười tư tưởng quá phức tạp, hệ thống thông tin sinh vật càng dễ rối loạn, do đó chất lượng sinh mệnh càng kém.

Động vật nhốt ở trong lồng, do nó không có gánh nặng tư duy quá nhiều, không có sự can nhiễu thông tin quá nhiều, cho nên nó có thể chống lại sự kìm hãm bị giam cầm ở trong lồng. Đặc tính của con người biểu hiện nhiều hơn ở chỗ con người là động vật của tinh thần, yêu cầu tinh thần của con người vượt hơn rất xa yêu cầu sinh lý.

Trong cuộc sống có một số người có hai thói xấu: một là hút thuốc, hai là uống rượu. Mặc dù nhà nước biết rất rõ tác hại của nó, nhưng vì sao chỉ từng bước vận động thay đổi tập quán xấu này, mà không dùng cách cưỡng chế để tiến hành cấm? Nguyên nhân chính là ở chỗ hai sở thích này ở mức độ nhất định là phương thức điều tiết tinh thần của con người, đời sống tinh thần của người ta lấy đó làm chỗ dựa. Lượng tiêu hao rượu trắng ở Trung Quốc nhiều đến mức kinh người, nó phản ánh một mặt của đời sống tinh thần của người ta. Hút thuốc là một hình thức gây tê tinh thần. Trước kia, hút thuốc hầu như là việc rất chính đáng, là quyền không thể tước đoạt của nam giới. Uống rượu càng là một phương thức sinh hoạt của nam giới. Khi có đôi chút rượu vào người ta bắt đầu trút bớt sức ép tinh thần của mình, bày tỏ lòng hăng hái của mình. Điều đó nói lên rằng khi sức khỏe sinh lý và sức khỏe tinh thần sinh ra xung đột người ta thà có thể hy sinh sức khỏe về sinh lý, mà bảo vệ sự cân bằng về tinh thần.

Vậy thì, chúng ta đương nhiên càng cần phương thức sống vừa có thể bảo vệ sức khỏe sinh lý vừa có thể bảo vệ sức khỏe tinh thần, để tránh việc phải chi ra giá thành của sức khỏe sinh lý lớn để giữ sự cân bằng của tinh thần.

2- Hai hệ thống sinh mệnh và hai hình thức sức khỏe

Từ phân tích trên chúng ta thấy rằng, sức khỏe của con người trước tiên phải tìm nguyên nhân trong hệ thông tin sinh vật. Khỏe mạnh hay không rút cuộc phân biệt ở chỗ nào? Bệnh của con người đại thể có hai loại: một là hư bệnh, hai là thực bệnh. Trong tình huống thông thường, hư bệnh chiếm 70% trở lên, thực bệnh chỉ chiếm 30% trở xuống.

Cái gọi là hư bệnh là chỉ bệnh tật do tác dụng tinh thần gây nên, còn thực bệnh là bệnh tật không phải yếu tố tinh thần gây ra. Thương tổn bên ngoài không phải là chứng bệnh thuộc tinh thần, còn tất cả mọi bệnh tật ngoài nó ra đều có liên quan trực tiếp và gián tiếp với tinh thần. Sau khi đi vào xã hội hiện đại, do môi trường sinh tồn của con người hết sức căng thẳng đưa đến hệ thống tinh thần của con người xuất hiện rối loạn, các loại bệnh tật đã đến từ đó. Trong xã hội hiện đại phát triển cao độ, sức khỏe tinh thần của con người đã trở thành vấn đề chủ yếu loài người quan tâm. Điều tra chứng minh, đa số người đều mắc bệnh tinh thần ở mức độ khác nhau, đồng thời thúc đẩy thêm một bước bệnh sinh lý. Cho nên ở các nước phát triển, bác sĩ tâm lý là một nghề rất được hoan nghênh.
Con người do hai hệ thống sinh mệnh sinh lý và sinh mệnh tinh thần tạo nên, tương tự, sức khỏe của con người cũng là do sức khỏe tinh thần và sức khỏe sinh lý tạo thành. Trong tình huống thông thường, sức khỏe tinh thần là nhân tố quyết định chủ yếu, còn sức khỏe sinh lý chỉ là kết quả của sức khỏe tinh thần.

Kỹ thuật gen sinh vật là phương hướng chủ công của khoa học sinh mệnh tương lai, nó vạch ra trước mọi người sự huyền bí thật sự của sinh mệnh. Xét từ một phương diện khác, gen sinh vật lại là một hệ thống thông tin sinh vật, nó không chỉ bao hàm các nguyên tố hóa sinh của con người, mà còn bao gồm giải mã thông tin sinh vật. Có người đề ra, chúng ta liệu có thể đem thông tin sinh vật của thân thể người khỏe mạnh thông qua tuyển chọn, mã hóa, cất giữ, phóng đại, sau đó lại tung ra được không? Cần phải nói rằng, y học tương lai và khoa phân tích tinh thần, phương pháp điều trị tinh thần sẽ kết hợp chặt chẽ lại với nhau, nếu có thể áp dụng phương pháp điều trị tinh thần hữu hiệu, nhiều chứng bệnh có thể không chữa mà khỏi. Có thể dự kiến rằng, trong tương lai không xa, sẽ có người sáng tạo ra phương án trị chữa tinh thần.

Con người là sản phẩm của tự nhiên, trường thông tin sinh vật nhân thể và trường thông tin vũ trụ nên là đồng bộ, trước kia chúng ta gọi nó là “thiên nhân hợp nhất”. Giống như một giọt nước đặt vào trong biển cả, vào trong môi trường lớn của thiên nhiên, có thể nhỏ bé mới không thể mất đi. Âu Dương Tu nói: "Dùng đạo của tự nhiên nuôi sinh vật của tự nhiên". Con người cũng như vậy, cần phải luôn luôn hít thở đối lưu với tự nhiên, thông tin sinh vật của nhân thể mới có thể không ngừng được bổ sung năng lượng thông tin của vũ trụ. Từ ý nghĩa này để xét, hệ thống sinh mệnh của con người lại là hệ thống thứ hai trong hệ thống chính của thiên nhiên, là một bộ phận của thiên nhiên.

Sinh mệnh của con người là do tinh thần và thể xác cùng chung tạo thành, con người vừa có thể điều động được tinh thần, vừa có thể điều động được thể xác. Điều dưỡng vừa phải tính tình có lợi cho sức khỏe thân thể của mình, ức chế quá mức tính tình của mình có thể làm tổn thương thân thể của mình. Một người tính tình nóng nảy, ở lúc thích hợp nổi cáu là chuyện bình thường, nếu như không để phát ra một chút cáu kỉnh thì có thể dẫn đến hệ thống thông tin sinh vật của anh ta rối loạn, khiến cho sinh bệnh.


3- Văn hóa ẩm thực

Do ảnh hưởng của quan hệ hàng hóa, quan niệm ẩm thực của người ta sinh ra sai lầm lớn. Theo quy luật của hàng hóa, phàm là tài nguyên thiếu hiếm chính là hàng hóa cao giá. Ví như vàng, vốn tính thực dụng của nó không lớn, nhưng do giá thành khai thác nó rất cao, do vậy trở thành tiêu chí đo giá trị. Nhưng người ta đem quan niệm giá trị hàng hóa này chuyển sang ẩm thực, cho rằng hễ là thực phẩm thiếu hiếm chính là tốt nhất, do đó sinh ra việc hiểu rất sai.

Mức sống hiện đại không ngừng nâng cao thật ra không mang lại phúc lành cho dạ dầy của con người, trái lại đã mang đến sự đe dọa. Trước kia chúng ta nói là “đói bụng ăn bừa”, còn hiện tại ngược lại xuất hiện “no bụng ăn bừa”. Sự phong phú của vật chất kích thích ý muốn ăn của người ta, người ta đều muốn thưởng thức đối với tất cả các thứ thực phẩm tươi, nhiều món ăn có thể tổn hại đối với dạ dày và đường ruột cũng được chúng ta ăn ngốn một cách “tàn khốc”, lại cộng thêm việc nốc rượu trắng vào quá lượng làm cho dạ dầy và đường ruột của chúng ta ngày càng chịu đựng không nổi.

4- Đo lường thể năng

Sự tiến hóa của trí lực thường lấy sự thoái hóa của thể năng làm giá phải trả. Sự tiến bộ của trí lực liệu có thể không phải chi giá thành của thể năng giảm xuống được không?
Trên nhiều sách báo liên tiếp đưa ra các tấm ảnh của “người ngoài hành tinh”, hình tượng bộ óc lớn, mắt to, cánh tay nhỏ, chân nhỏ của “người ngoài hành tinh” gây nên sự suy nghĩ sâu của chúng ta. Dù chúng ta không thể chứng thực tính chân thực của tấm ảnh người ngoài hành tinh, nhưng chúng ta tin sự suy đoán của các nhà khoa học là hoàn toàn có lý. Do thể năng giảm xuống, trí năng nâng cao, loài người sẽ có thể là một thân thể gầy nhỏ mang một chiếc đầu to tướng, sau đó ngồi bên cạnh chiếc máy vi tính để điều khiển máy tính. Loài người không chỉ là động vật của trí năng, mà còn phải là động vật của thể năng.

Mời các bạn hãy xem một lần gợi ý về đo lường thể năng:
Tôi có một người bạn thân, ông là một nhà nhiếp ảnh rất say nghề. Cách một số thời gian ông đều muốn lên Tây Tạng một chuyến, tiếp nhận một lần kiểm nghiệm của cao nguyên đối với thể năng của mình. Độ cao cách mặt biển 5000m trở lên giống như một cái thước. Khi người ta tìm mọi cách đi nghiên cứu linh hồn và thể xác con người có nghĩ đến Tây Tạng, cái thước đo tinh thần và thể xác của chúng ta hay không?

Trên đường tiến lên Tây Tạng, theo độ cao hơn mặt biển tăng lên, cao nguyên cũng đang đo lường sức sinh mệnh (sức sống) của mọi người. Phản ứng của cao nguyên là không nể nang ai, mặt của ông ta sưng to lên, môi nứt nẻ ra. Ông đang tiếp nhận một lần khảo nghiệm sinh mệnh. Nhưng loại khảo nghiệm này khiến ông ta thể nghiệm được khoái cảm to lớn leo lên đường giới hạn sinh tử này.

Ông uống loại nước tích lâu ngày mà bò y - ắc (Tây Tạng) thường uống, đặt độ cao của sinh mệnh ngang hàng với bò y - ắc, đo lường lại lần nữa sức sống của con người.
Dưới ánh mặt trời không có không khí ô nhiễm và cách biệt hẳn, ông cảm nhận được một cách sâu sắc rằng: loài người ốm rồi!

Bệnh của loài người không chỉ ở thể năng, mà còn ở linh hồn.
Khi chúng ta so đo tính toán với được mất nho nhỏ ở trước mắt, chìm đắm vào trong việc hục hặc lẫn nhau giữa người này với người khác, ngọn Chomolungma vẫn ngẩng cao đầu cao thượng nhất thế giới, tỏ ra cao cả đến tột bậc và vĩ đại.

Do vậy chúng tôi cho rằng loài người cần phải luôn luôn tiến hành đo lường thể năng, bằng không thì loài người sẽ lệch khỏi tọa độ sinh tồn, năng lực thích nghi của con người đối với thiên nhiên sẽ ngày càng kém. Dư Thuần Thuận đã làm thay đổi hình tượng của người Thượng Hải, lẻ loi một mình đi trong sa mạc lớn, trên vùng đất mênh mông không bờ bến, hình bóng của ông có lúc giống như một dấu phẩy, có lúc giống như một dấu than. Nhưng ngày 16 tháng 6 năm 1996, nơi hình bóng của ông đã biến mất tại Pengjiamu biến thành dấu chấm hết - Dư Thuần Thuận đã bước lên con đường không trở về. Ai cũng không có cách gì tìm hiểu được tâm tình của Dư Thuần Thuận lúc sắp chết - là đau khổ hay là ngông cuồng ngạo nghễ. Tào Ngu từng nói, người chiến sĩ nên chết trên chiến trường, diễn viên nên chết trên sàn diễn.

Đối với Dư ThuầnThuận để xét, trên đường du lịch hồ Luobu là nơi đi về tốt nhất của ông. Với tư cách là người Thượng Hải, ông đã đem độ cao linh hồn của “người Thượng Hải Ala” khắc trên độ cao hơn mặt biển 5000m, làm cho người Thượng Hải thêm phần tự tin đối với sức sinh mệnh của bản thân mình.

5- Suy lão tự nhiên và suy lão tinh thần

Sự suy lão của con người trước tiên là do suy lão tinh thần gây nên, khi một người đến độ tuổi nhất định, đặc biệt là sau khi nghỉ hưu, có thể sinh ra một loại tự ý thức rất mạnh mẽ: Tôi già rồi! Dưới ý thức tự mình này, con người thật sự sẽ già nua rất nhanh. Nếu như mình căn bản không có ý thức già nua, vẫn cho mình là còn trẻ trung khéo tay, thật sự sẽ có thể tinh thần phơi phới, đồng thời tỏ rõ trẻ trung khéo tay. Suy lão tinh thần là sự suy lão thật sự của con người.

Việc quan tâm của cuộc sống đối với tuổi già là còn xa mới đủ, hơn nữa đã xuất hiện sai lệch rất lớn. Hiện trạng của Trung Quốc là, thái độ đối với trẻ em và người già trái ngược nhau nghiêm trọng. Trẻ con thì xem như một ông vua con, còn người già thì là đối tượng “cho đi”. Lấy nghệ thuật để xét, nhi đồng có phim hoạt hình phong phú, còn người già thì thiếu những tiết mục đầy đủ, có biết bao người già ngồi trước màn ảnh truyền hình ngày càng không thích nghi, đành chịu lặng lẽ bỏ đi. Lấy việc vui chơi ra để xét, các công viên vui chơi của nhi đồng đều được đầu tư lớn để xây dựng. Nơi giải trí của thanh niên và trung niên càng nhiều đến mức rối mắt, các tiệm rượu, vũ trường Karaoke khắp phố, trở thành thế giới hào hoa mà người già đến cả đời đều khó có thể đến lấy một lần. Nơi hoạt động của người già thì hiện ra rất xấu xí.

Làm phấn chấn tuổi thanh xuân lần thứ hai về mặt tinh thần của người già, ý nghĩa của nó không chỉ ở chỗ phát huy “nhiệt tình còn sót lại” của người già, ngoài nhân tố về luân lý ra, càng có ý nghĩa kinh tế. Có thể nói như sau: Khi chúng ta đầu tư thêm 1 đồng chi phí về tinh thần cho người già thì sẽ giảm bớt được 10 đồng chi phí dùng để chữa bệnh. Sinh mệnh tinh thần của con người là cột trụ của sinh mệnh sinh lý, người già không phải là ngoại lệ.

Tôi cho rằng, cần phải nhanh chóng thiết kế cho người già một phương thức sống lấy việc bảo vệ sức khỏe tinh thần là chính, mở ra không gian cuộc sống thứ hai của người già. Chúng ta phải nói với những người già từ 60 - 65 tuổi rằng, hình thức sinh mệnh thứ hai vừa mới bắt đầu. Chúng ta phải mở đại học của người già, làm cho họ có thể nhận được giáo dục nhân sinh mới, giành được niềm tin và niềm vui của cuộc sống một lần nữa, đồng thời sáng tạo hình thức tiêu dùng mới của người già.

Các học giả nước ngoài liên tiếp chỉ ra rằng, giáo dục người già là một trong những chủ đề của giáo dục tương lai, phát triển giáo dục người già không chỉ là yêu cầu của luân lý và đạo nghĩa, mà còn là yêu cầu của toàn thể xã hội. Trung Quốc đang đứng trước xã hội tuổi cao đến, vấn đề tuổi cao đã là một trong những vấn đề xã hội nổi bật nhất, còn đầu tư vào việc giáo dục tuổi già cũng là một hạng mục kinh doanh thu lợi ích rất lớn, chúng ta hy vọng những người có tri thức có thể nhanh chân tiến lên trước.



Xem tiếp Phần Năm Giá thành đạo đức




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
Phần Năm
Giá thành đạo đức


Đạo đức tiêu vong dẫn đến sự xuất hiện mất cân bằng giá trị, xã hội do đó bị đẩy đến vực thẳm vô trật tự. Các vấn đề lớn nhất tồn tại ở Trung Quốc cuối thế kỷ 20 không có cái nào hơn là sự mất cân bằn gía trị và đạo đức tiêu vong, mà hủ bại chính là thể hiện trực tiếp của đạo đức tiêu vong.

Hiện trạng của Trung Quốc là, có thể giành được tiền của thì trở thành người thành công được mọi người công nhận, nhưng người ta rất ít suy nghĩ người sở hữu tiền của đó rốt cuộc là dùng thủ đoạn nào để giành lấy tiền của. Khoa xã hội học trường Đại học Nhân dân Trung Quốc đã tiến hành một hạng mục điều tra, trong đó có một vấn đề như sau: "Bạn cho rằng trong một số người giàu có trong xã hội hiện nay, có bao nhiêu thông qua cách thức chính đáng để làm giàu?"

Câu trả lời “rất nhiều” chiếm 5,3%, “tương đối nhiều” chiếm 14,5%, trả lời “không nhiều lắm” chiếm 48,5%, trả lời “hầu như không có” chiếm 10,7%, trả lời “không biết” chiếm 20,8%. Việc này nói lên rằng xã hội Trung Quốc đã phải trả giá thành đạo đức lớn, sự mất cân bằng giá trị mà nó tạo nên sẽ hình thành nguy hại xã hội lâu dài, và có thể tạo nên tổn thất to lớn của các mặt. Thử nghĩ xem, tiền vốn xã hội bị một số người thông qua thủ đoạn không chính đáng tập trung vào trong tay những người tố chất thấp kém, thậm chí phẩm chất tồi tệ, tạm không nói đến tiền vốn không thể tăng giá trị theo quy luật của kinh tế và giá trị, mà còn có thể tạo nên những tổn thất không thể lường. Khi lao động chính đáng không thể có được thu nhập cao, ngược lại thủ đoạn phi pháp lại có thể phát tài lớn, việc sinh ra đạo đức tiêu vong là tất nhiên.

Đối với cá nhân để xét, lấy hy sinh đạo đức để giành được lợi ích tạm thời, cuối cùng ắt sẽ phải trả giá thành đạo đức với giá gấp bội.

Cách mạng công nghiệp và cạnh tranh thị trường không trật tự đã xung phá trật tự đạo đức cũ, mất đi thể hệ giá trị cân bằng ắt sẽ tạo nên hỗn loạn xã hội nghiêm trọng, trò chơi thị trường không quy tắc sẽ đẩy người ta đến vực thẳm, kêu gọi đạo đức đã là tiếng nói chung của toàn cầu, giữ gìn đạo đức tỏ ra ngày càng quan trọng.

Có thể dự kiến, trong thời gian tương đối ngắn, đạo đức sẽ trở thành tiêu chuẩn đánh giá giá trị của nhân loại trở lại, tiền tài chỉ là một loại trang điểm mà thôi. Bất kể trong giới chính khách, giới thương mại hay là giới học thuật, đạo đức có thể một lần nữa trở thành cái gốc lập thân của con người. Vụ tai tiếng của Clintơn có thể lập tức đề cập đến quyết nghị tiến hành điều tra luận tội đối với tổng thống, một nhà buôn một khi đạo đức bại hoại lập tức có thể thất bại và mang tiếng xấu mãi, tất cả mọi nhà buôn có thể lập tức đoạn tuyệt việc đi lại với người đó. Nếu như nói người tinh thần đạo đức đồi bại trước kia vẫn có thể dùng tiền ở trong tay diễu võ giương oai. Như thế thì trong hoàn cảnh xã hội tương lai, người một khi đã mất uy tín đạo đức sẽ có thể trở thành kẻ ăn mày chính cống. Người tạm thời thất lợi trong kinh doanh, vẫn có thể giành được sự giúp đỡ cho vay của ngân hàng, nhưng nếu là mất hết đạo đức thì sẽ mất đi tất cả mọi sự giúp đỡ.

Hoàn cảnh chúng ta đang gặp phải là, đạo đức cũ khó có thể tiếp tục, đạo đức mới cần phải xây dựng lại, do thể hệ giá trị mới vẫn chưa xây dựng lên, trong hành vi người ta chẳng biết theo ai là điều tất nhiên. Cho nên, chúng ta đang đứng trước sứ mệnh hai mặt: đạo đức cũ bị phê phán, và đạo đức mới đang xây dựng lại.

I - Phê phán đạo đức

Có người khi tổng kết “tông tích” những “người phát tài” từ khi Trung Quốc cải cách mở cửa trở lại đây đã phát hiện thấy, loạt người đầu tiên giàu lên đều là những người hầu như không có văn hóa, càng thiếu đạo đức. Loạt người thứ hai giàu lên là những người cá tính mạnh mẽ, trong đơn vị không dễ dàng chung sống hòa hợp với mọi người. Thậm chí có người tổng kết nói: Tinh thần đạo đức quá mạnh là trở ngại phát triển cá nhân. Có thật như thế không?

Thời đầu cải cách mở cửa, khắp mọi nơi đều là cơ hội. Nhưng, mọi người cả một thời gian dài trở lại đây đều sống trong mô thức kinh tế kế hoạch, đối với cạnh tranh thị trường còn thiếu nhận thức đúng đắn, đối với phương thức sinh tồn đơn lẻ còn thiếu lòng tin. Ngoài việc không có đường nào khác để theo, đại bộ phận mọi người không muốn buộc phải mạo hiểm. Thế là, cơ hội đã đương nhiên thuộc về bộ phận những người “không có tiền đồ” kia. Những người tinh thần đạo đức quá mạnh phần nhiều thể diện yếu, đồng thời đối với một số hành vi kinh doanh bình thường thiếu hiểu biết đúng đắn. Trong ý thức tư tưởng chính thống của chúng ta, kiếm tiền chính là “đầu cơ trục lợi”, thậm chí chẳng khác gì lừa dối và trộm cắp. Ví dụ như, mới đầu chính chúng ta cũng không hiểu, rõ ràng là hàng nhập khẩu vào giá 5 đồng, lại muốn bán 7 đồng cho người khác, đây chẳng phải là lừa người ta, là bóc lột còn là gì nữa? Sự ràng buộc tư tưởng này vốn là không nên, đáng tiếc là chúng ta đều đi ra từ trong thể chế truyền thống của nền kinh tế kế hoạch, cảm giác có tội lỗi đối với việc kiếm tiền đã lắng đọng trong tiềm thức. Trong hành động thực tế, nó thường thường có thể xuất hiện một cách không tự giác.

Người thiếu tinh thần đạo đức bất chấp những điều đó, họ căn bản không cho rằng kiếm tiền là không đạo đức, hơn thế chỉ ân hận kiếm được còn quá ít. Đối với những người tiêu dùng không có một chút ý thức thị trường, thật giống như một con dê con bị giết tùy ý. Chính vào lúc này, sự việc không có đạo đức luôn luôn xẩy ra. Thị trường mới đầu là vô trật tự, cạnh tranh thị trường thiếu quy tắc chơi, hành vi của con người cũng thường thường thiếu quy phạm đạo đức. Sự chín muồi của kinh tế thị trường cần phải trải qua một quá trình rất dài, Trung Quốc hiện nay thật ra chưa hình thành mô thức kinh tế thị trường chân chính. Tính chất vô trật tự của hành vi thị trường, hành vi tiêu dùng vẫn là đặc trưng của thị trường Trung Quốc hiện nay. Người tiêu dùng sau khi hết lần này đến lần khác bị dẫn dắt tiêu dùng sai, bắt đầu kêu gọi đạo đức thương mại.

Nghĩa gốc của đạo đức phải là hành vi có lợi cho người khác, nhưng người ta cố tình giải thích sai đối với nghĩa gốc của đạo đức, đem biến đạo đức thành những cái ràng buộc hành vi của con người.

Nền văn hóa Trung Quốc tích tụ đến hiện tại, không hình thành được ưu thế gì, lại hình thành một loại “văn hóa thể diện” làm cho người ta khóc dở mếu dở. Lý học Trình Chu từ thời Tống về sau lại xây dựng nên một “Vạn lý trường thành”, quan niệm “Đói chết là việc nhỏ, thất tiết mới là việc lớn” kéo dài mãi đến ngày nay. “Tiết” chính là đạo đức của xã hội phong kiến. Người Trung Quốc vì cái “tiết” này đã phải trả ra giá thành sinh mệnh không đếm xuể. Trong cuộc sống hiện thực, người Trung Quốc đặc biệt chú ý thể diện, cái gì đều có thể để mất đi, riêng thể diện không thể để mất được. “Văn hóa thể diện” là có thể cắt xén bớt, bởi vì “văn hóa thể diện” và tinh thần đạo đức không phải là một khái niệm. Trong đời sống hiện thực, “văn hóa thể diện” thường xuyên khinh rẻ đạo đức. Ăn một bữa cơm chỉ cần đưa lên 5 món ăn, nhưng vì để dễ coi về thể diện lại phải đưa lên đến 8 món, tạo nên sự lãng phí, bản thân việc đó chính là không đạo đức. Vợ của một giáo sư bị ốm, theo lẽ thường ông ta nên làm cơm và giặt giũ quần áo thay cho bà, nhưng ông ta vì cảm thấy “mất mặt” lại đã từ chối thực hiện nghĩa vụ này, đây cũng là không có đạo đức. Làm buôn bán kiếm tiền là lẽ rất chính đáng, vừa không bỉ ổi cũng không xấu xa, nhưng có người ngượng mặt nên từ chối việc lao động chính đáng này, đây phải chăng là đạo đức? Xem ra, phải giảm thấp giá thành đạo đức bám rễ vào con người, cần phải trước tiên bóc đi sự ràng buộc của “văn hóa thể diện” đối với con người.

Hai anh em Trình Hạo và Trình Di đã đưa ra quan niệm ham muốn theo lý tính “tồn thiên lý khử nhân dục”. Để nhận thức thiên lý, hai ông đã tuyên truyền đề cao chủ nghĩa “cấm dục”, “quả dục” và “thất dục”. Khi có người hỏi Trình Di, có một quả phụ cô đơn, gia đình nghèo khó không có nơi nương tựa, có thể tái giá được không? Ông trả lời: “Chỉ là đời sau sợ đói rét mà chết, cho nên mới nói như thế. Song đói chết là việc hết sức nhỏ, thất tiết là việc rất lớn”. Theo Trình Di, chỉ cho phép người quả phụ đói chết, không được làm trái với lẽ trời (thiên lý) của chủ nghĩa phong kiến. Câu nói này đã bộc lộ bản chất “ăn thịt người” của lễ giáo phong kiến.

Chu Hy là nhà triết học duy tâm ảnh hưởng sâu xa nhất trong xã hội phong kiến Trung Quốc kế sau Khổng Tử, phạm trù lớn nhất của triết học Chu Hy chính là lý học. Chu Hy hết sức ca ngợi thuyết giáo phản động “Đói chết là việc nhỏ, việc thất tiết là cực lớn” chính vì đây là thuyết minh cụ thể nhất “Làm sáng rõ thiên lý, trừ diệt ham muốn của con người”.

Cuối cùng người ta đã tìm ra được cái gốc của bệnh văn hóa thể diện.
Do vậy, Trung Quốc đã từng lưu hành một đạo “Hậu hắc học”. Kỳ thực người thật sự “Hậu hắc” là không cần học “Hậu hắc học”, còn người có học thức, người có tinh thần đạo đức cao muốn học “Hậu hắc”, vẫn phải cung cấp cho một “lý luận” đàng hoàng làm một môn học vấn. “Hậu hắc” cũng đã thành “học” (học phái), thì về thể diện cũng sẽ nói xuôi thôi. Trong thực tế, đeo lên cho những người “hậu hắc” một bộ mặt đàng hoàng, vẫn không thể gọi là hậu hắc, “hậu hắc” chân chính là không cần bộ mặt, không cần “bao bì”.
Nhưng vào lúc mới đầu thách thức với “thể diện”, đeo lên một mặt nạ cũng có thể hiểu được.

Trong bối cảnh này, đã lưu hành một loại văn hóa kiểu tự chế nhạo. Lúc đó đã ra một cuốn sách có tên là “Tôi là lưu manh, tôi sợ ai” đã biểu hiện một tâm trạng của mọi người. “Tự nhận là lưu manh” chính là muốn tự giác phá vỡ xác thịt rất dễ dàng sinh ra cảm giác tội lỗi, đem mình phơi ra ánh sáng, “Tôi chính là lưu manh thì lại như thế nào?” Chính tôi vốn không cao thượng, vốn không trong sạch, nhưng tôi không cần dối mình lừa người. Trong thực tế, tâm trạng tự chế giễu thật ra không phải là trụy lạc, mà là một lần giác ngộ.

Không có đạo đức vĩnh hằng, theo xã hội phát triển, đạo đức luôn luôn đổi mới. Khi bạn cố giữ quan niệm đạo đức lạc hậu, bạn sẽ phải trả giá cho nó. Thời cuối xã hội phong kiến, chủ nghĩa tư bản mới manh nha đã thai nghén quan niệm đạo đức mới, còn người khư khư giữ quan niệm đạo đức cũ sẽ trở thành vật hy sinh. Giả Bảo Ngọc là kẻ phản bội của đạo đức cũ, do vậy đã giành được chân thực của sinh mệnh. Tiết Bảo Thoa thì thành kẻ hy sinh vì đạo đức. Người có “tinh thần đạo đức” quá mạnh thường dễ dàng để mất cơ hội. Việc thay đổi hôn nhân của Phan Kim Liên đặt trong xã hội phong kiến là không có đạo đức, nhưng đặt ở hiện tại là có đạo đức. Nhưng bà không nắm vững tốt vấn đề “mức độ”, làm cho việc chống lại về đạo đức biến chất thành việc xét xử về pháp luật. Bởi vì, bất kể ở xã hội nào việc giết cũng đều là phạm pháp. Thôi Oanh Oanh trong Tây sương ký thì hoàn toàn khác hẳn. Cô và Trương Sinh có cơ sở tình yêu chân thành, nhưng họ lại muốn đột phá sự giam cầm của lễ giáo phong kiến, không muốn tuân theo đạo đức phong kiến, vâng theo “lệnh của cha mẹ, lời của người làm mối”, thế là họ chung chăn chung gối, một cuộc vui vụng trộm mới diễn ra một vở hỷ kịch tình yêu “dùng tình yêu chống lại lễ giáo”, hát lên lời ca lý tưởng của tình yêu: “Mong cho những người có tình yêu với nhau trong thiên hạ cuối cùng đều trở thành người nhà”. Nhân tố quyết định của việc chống lại hôn nhân của Thôi Oanh Oanh là sự đột phá đối với đạo đức cũ của cô. Cô và Trương Sinh đã sinh ra quan hệ trai gái, Lão phu nhân có kinh nghiệm sống dầy dặn nhận ra con gái và Trương Sinh như “gạo đã thành cơm” nên đành phải gả Oanh Oanh cho Trương Sinh. Vì sao hành vi “không có đạo đức” nhất này lại trở thành chủ đề của kiệt tác bất hủ? Nguyên nhân chính là ở chỗ nó đột phá đạo đức cũ, kêu gọi đạo đức mới. Sự đột phá đối với đạo đức cũ, làm cho Trương Sinh và Oanh Oanh giành được sự chân thực của đời người, giảm thấp giá thành đạo đức của đời người, mà không trở thành vật hy sinh của lễ giáo phong kiến.

Tây sương ký lấy nhân tính làm cơ sở, đã hát vang lên lý tưởng của tình yêu, nhưng trong xã hội phong kiến dài đằng đẵng nó cuối cùng chỉ là một mộng tưởng mà thôi. Đến Hồng Lâu Mộng, Tào Tuyết Cần đã trịnh trọng tuyên bố tính không chân thực của lý tưởng tình yêu của xã hội phong kiến: Tiếc thay những người có tình yêu với nhau trong thiên hạ khó trở thành người nhà!

Xem tiếp mục II - Việc sản sinh đạo đức





http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0
II - Việc sản sinh đạo đức

1- Diễn biến tiêu chuẩn đạo đức

Không có tiêu chuẩn đạo đức vĩnh hằng, sáng tạo đạo đức mới là nhiệm vụ của mỗi thời đại. Đạo đức truyền thống của Trung Quốc vĩ đại đến mấy cũng không thể giải quyết được tất cả mọi vấn đề hiện đại hóa gặp phải. Trong rất nhiều phương diện, đạo đức cũ đã hạn chế sự phát triển của con người, việc sáng tạo mới của đạo đức sẽ trở thành một nhiệm vụ rõ ràng. Việc sáng tạo mới của đạo đức là một vấn đề xã hội phức tạp, nó liên quan đến rất nhiều vấn đề nhỏ bé. Đạo đức mới phải trên cơ sở xã hội có thể tiếp nhận phổ biến thực hành bước đầu. Điểm tựa đầu tiên của việc sáng tạo đạo đức mới là nhân tính. Bậc thang tiến bộ xã hội chính là bậc thang giải phóng nhân tính. Mối tình vụng trộm của Oanh Oanh và Trương Sinh trong Tây sương ký đều không thể tìm được giải thích hợp lý trong tất cả mọi lý luận của xã hội phong kiến, điểm cơ bản của nó chỉ có một: giải phóng nhân tính. Sáng tạo cái mới của đạo đức đòi hỏi phải xây dựng trên cơ sở giải phóng nhân tính ở mức độ lớn nhất mà không tạo nên tổn hại đối với người khác. Tiêu chuẩn của đạo đức trước tiên là không tạo nên nguy hại đối với người khác, không xâm hại đến lợi ích của người khác. Trương Sinh và Oanh Oanh đều chưa thành gia đình, hai người là tình yêu tự do chân chính. Họ chưa thành hôn đã chung chăn chung gối trước với nhau, thật ra không tạo nên tổn thương cho bất cứ ai, cho nên đã không bị khiển trách của mọi người. Ngược lại, chính vì hành động này của họ đã tấn công một cách mạnh mẽ vào lễ giáo phong kiến, do đó lại trở thành ngọn bút điểm mắt. Cần phải nói rằng, vụ việc này đã có ý nghĩa sáng tạo mới của đạo đức.

Sự biến đổi này mặc dù rất nhỏ bé, nhưng nó tỏ ra sự biến đổi của tiêu chuẩn đạo đức.
Hút thuốc là thị hiếu cá nhân, xem ra trước đây không ai có thể can thiệp vào. Nhưng xét theo tiêu chuẩn văn minh hiện đại, bởi vì hút thuốc làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người khác, cho nên đã bị xem là không có đạo đức. Giới hạn của đạo đức và pháp luật có khi rất khó phân biệt, đặc biệt là ở các nước phát triển của phương Tây, nhiều cái chúng ta xem là phạm trù đạo đức bị xếp vào trong phạm trù của pháp luật. Hành vi tính dục của vợ chồng là hợp lẽ phải, là hợp với đạo đức. Nhưng trong luật pháp của phương Tây, hành vi tính dục của vợ chồng cần phải trong tình huống cả hai bên đều bằng lòng mới là hợp pháp và hợp với đạo đức, họ đem hành vi tính dục một bên không đồng ý liệt vào điều vi phạm pháp luật, khi một bên chỉ trích đối phương có hành vi tính dục có tính cưỡng chế, thì phía đối phương sẽ chịu trừng phạt của pháp luật.

Sự biến đổi nhanh của xã hội tất nhiên mang đến sự biến đổi nhanh của quan niệm đạo đức. Trong bối cảnh này nhiệm vụ sáng tạo mới của đạo đức rất nặng nề.
Việc sản sinh đạo đức mới là gian khó, điều quan trọng nhất là người ta phải nắm chính xác mức độ trong sự tiến triển từ đạo đức cũ sang đạo đức mới, mới có thể hết sức giảm thấp giá thành đạo đức.

Chúng ta biết rằng, đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, là quy tắc và quy phạm của mọi người cùng chung sống và hành động. Đạo đức thông qua dư luận thuộc giai cấp nhất định của xã hội có tác dụng ràng buộc đối với đời sống xã hội. Đạo đức là sự lựa chọn khoa học nằm giữa nhân tính và quan hệ nhân tế. Sự phát triển của đạo đức từ trước đến nay đều lấy nhân tính làm lực thúc đẩy, lấy sự hài hòa của quan hệ nhân tế làm tiêu chuẩn. Nhận thức nội dung của đạo đức một cách khoa học có lợi cho việc dẫn dắt đạo đức tiến bộ. Không thể nói một cách chung chung hành vi tính dục giữa nam nữ là đạo đức hay không đạo đức? Hành vi tính dục giữa vợ chồng được cho là đạo đức, bởi vì nó xây dựng trên cơ sở hai bên tình nguyện. Cũng là hành vi tính dục, nhưng cưỡng bức đối phương tiếp nhận hành vi tính dục là trái với luật, phải bị pháp luật trừng trị. Thông dâm cũng là hành vi tính dục, hiện tượng này không liên quan với pháp luật; nhưng thông dâm trái với quan niệm đạo đức của mọi người, bởi vì thông dâm làm tổn thương danh dự của vợ chồng phía bên kia.

Từ đó ta thấy, thước đo đạo đức chỉ có một: hành vi của cá nhân không thể tạo nên tổn thương và ảnh hưởng không tốt đối với người khác.

2- Quy tắc chung của đạo đức

Trung Quốc có một câu nói: Cái gì mình không muốn đừng đẩy cho người khác.
Một câu nói đã làm sáng tỏ nội dung bản chất của đạo đức. Đạo đức thật ra không cũ kỹ, đạo đức thật ra không phải là một mực giam cầm con người, quan niệm đạo đức là không ngừng phát triển. Tinh thần đạo đức mạnh thật ra không phải là việc xấu mà chính là một việc tốt, có quy phạm đạo đức không những không phải là trở ngại của đời người, trái lại là giấy thông hành của đời người. Cùng với sự phát triển và tiến bộ của văn minh xã hôi, dày công tu dưỡng đạo đức càng trở nên quan trọng.

Sự tiến bộ của văn minh đòi hỏi phải trả giá thành, tiến bộ của đạo đức cũng đòi hỏi trả giá thành. ở giai đoạn một, một số người thiếu tu dưỡng đạo đức đã tạo nên sự hỗn loạn thị trường rất lớn, vì họ nhiều người tiêu dùng đã phải trả giá thành đạo đức. Giai đoạn hai, mọi người có tinh thần đạo đức bắt đầu giác ngộ, trở thành dòng chính của xã hội. Lúc đó, những người thiếu đạo đức của giai đoạn một lại phải chi ra giá thành đạo đức cho mình.

Kinh doanh thương mại là một hành vi có chất xám cao, nhưng theo đà chín muồi hơn của thị trường, hành vi kinh doanh đòi hỏi sự ràng buộc đạo đức cao. Lợi nhuận phải là lợi nhuận dưới ánh nắng, người kinh doanh không thể dẫn dắt sai và lừa dối người tiêu dùng.
Trật tự xã hội mới kêu gọi quy phạm đạo đức mới, trong quá trình này, ai có thể dẫn trước nhận thức được quy phạm đạo đức mới, thì người đó sẽ giảm thấp được giá thành đạo đức ở mức độ lớn nhất, trở thành người nhận được ích lợi về đạo đức, trở thành người không hối tiếc trong đời người.


Xem tiếp III - Khuôn phép quy củ và ngay thẳng chu đáo




http://www.cafesangtao.com
http://www.my.opera.com/tieuboingoan
Đăng nhập để trả lời
0