Diễn Đàn » Khoa Học Phổ Thông

Sông Cửu Long * Mekong

22 trả lời, 5.803 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-11-06 21:14:11HongYen>
Arsenic: Một Hóa chất độc hại âm thầm ở ĐBSCL

Arsenic: A silent & poisonous chemical in Mekong Delta

Viễn ảnh ô nhiễm arsenic trong nguồn nước sinh hoạt ở Việt Nam, đặc biệt là vùng ĐBSCL đang là một thực tế cần phải đối phó. Vấn đề hiện nay là phải cố tìm một phương cách giải quyết để cứu nguy những người nông dân chất phác trước khi vấn nạn nầy biến thành nguy cơ trầm trọng ảnh hưởng đến hàng triệu người dân như trường hợp ở Bangladesh. Là một chuyên viên trong việc quản lý và xử lý môi trường tại Hoa kỳ trên 20 năm, chúng tôi đã hằng lưu tâm đến những vấn đề môi sinh liên quan đến ô nhiễm nguồn nước, đất và không khí. Nhưng từ khi Hội nghị Thượng đỉnh về Toàn cầu hóa tại Rio de Janeiro năm 1992 tại Ba Tây, vấn đề Việt Nam trở thành ưu tiên hàng đầu của chúng tôi trong nghiên cứu.

Năm 1997, chúng tôi đã đọc bài tham luận về tình trạng ô nhiễm nguồn nước ở thành phố Hồ chí Minh trong ngày Đại hội của Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam (VAST) tại khách sạn Hyatt, Garden Grove. Tiếp theo đó, trong năm 1998, chúng tôi đã cảnh báo vấn nạn DDT và nitrate hiện diện trong nguồn nước ở ĐBSCL. Và sau cùng, ô nhiễm arsenic trong nguồn nước trở thành trọng tâm của chúng tôi sau khi vấn đề arsenic ở Bangladesh và Tây Aán độ đã được thế giới xem như là một thảm nạn của thế kỷ. Thảm nạn nầy ảnh hưởng lên hơn 50 triệu người sống trong vùng sau hơn 25 năm được UNICEF tài trợ, khoan đào hơn 4 triệu giếng với mục đích để cho người dân có nguồn “nước sạch”.

Qua kinh nghiệm ở Bangladesh, arsenic đã nằm yên trong trầm tích cho đến khoảng 1960. Vì muốn tránh cho người dân bị nhiễm do vi trùng dịch tả, thương hàn, kiết lỵ, các cơ quan viện trợ quốc tế qua UNICEF đã khích lệ việc dùng nước giếng để giải quyết vấn nạn do các bệnh tật gây ra. Nhưng từ đó, hệ lụy trước mắt là thảm nạn arsenic bộc phát vào những năm 90 tại nơi nầy.

Nguyên nhân ô nhiễm arsenic

Sông Hằng Hà (Ganges) bắt nguồn từ rặng Hy Mã Lạp sơn mang phù sa xuống đồng bằng hạ lưu là Bangladesh; hiện tượng nầy cũng tương tự như sông Cửu Long, phát nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, và ĐBSCL là hạ lưu sau cùng của dòng sông trước khi chảy vào biển Thái Bình. Cấu trúc của hai cao nguyên ở vào niên đại đệ tứ. Phù sa có màu rỉ sắt quen thuộc ở miền Nam Việt Nam, đó chính là arseno-pyrite với công thức hóa học là As-FeS2. Chất nầy mang nguồn arsenic trong thiên nhiên và không hòa tan trong nước. Chính vì lý do tương tự sau khi so sánh hai dòng sông khiến cho chúng tôi lưu tâm đến vấn đề nhiễm độc arsenic tại Viêt Nam. Từ xa xưa, người dân ĐBSCL có thói quen đánh phèn bằng hàn the (borax) hay phèn chua trước khi dùng. Theo năm tháng phù sa tích tụ ở trong lòng đất sâu. Trong khi đào giếng, arseno-pyrite tiếp xúc với oxy trong không khí và qua phản ứng oxyd hóa và khử, arsenic được phóng thích, hòa tan trong nước dưới dạng arsenite và arseniate, chính chất sau cùng là nguyên nhân làm nhiễm độc nguồn nước.

Với mục đích truy tìm thêm thông tin, chúng tôi, qua email, đã hội ý với giáo sư Chappel, thuộc viện đại học Colorado ở Denver, và là Điều tra viên chính (Chief Investigator) của Hoa kỳ về điều tra và xử lý ô nhiễm tại Bangladesh. Chúng tôi cũng nhiều lần trao đổi với giáo sư qua Hội nghị Quốc tế về Arsenic tổ chức hàng năm tại San Diego. Mãi đến đầu năm 1999, chúng tôi mới có điều kiện trực tiếp đặt vấn đề với cơ quan UNICEF có trụ sở đặt tại Hà Nội qua một tài liệu nghiên cứu ban đầu do chúng tôi soạn thảo. Nhưng UNICEF vẫn giữ thái độ im lặng. Trong lúc đó, UNICEF tiếp tục khuyến khích và thúc đẩy công cuộc đào giếng, đặc biệt là vùng ĐBSCL. Tính đến nay, có thể ước lượng được trên 300.000 giếng khoan hoặc đào cho vùng nầy, nơi mà người dân có thói quen xử dụng nguồn “nước mặt” và đánh phèn trước khi dùng.

Thu thập dữ kiện và phân tích các mẫu nước

Với những trao đổi trực tiếp và qua các tài liệu tham khảo về nguy cơ ô nhiễm arsenic trên thế giới, chúng tôi bắt đầu thu thập dữ kiện. Qua bạn bè và thân nhân có dịp về thăm quê hương, chúng tôi chuẩn bị sẳn các chai lọ đặc biệt để chứa mẫu nưốc và nhờ họ đi lấy mẫu ở tất cả những nơi đã thăm viếng. Các mẫu nước được thu thập từ Hà Nội đến tận vùng ĐBSCL và được phân tích tại Hoa kỳ.

Kết quả đã được công bố trong ngày Hội thảo do HKHKTVN tổ chức tại đại học Santa Ana vào tháng 11, 2000. Tuy là kết quả ban đầu và cần phải phân tích thêm nhiều mẫu nữa, nhưng chúng tôi có thể kết luận rằng nguồn nước ở nhiều vùng tại ĐBSCL đã bắt đầu bị nhiễm độc arsenic. Các mẫu nước thu thập đã được phân tích tại phòng thí nghiệm ở California do chính chúng tôi phụ trách về an toàn sản phảm và kiểm soát chất lượng. Có tất cả 22 kim loại, 70 hợp chất hữu cơ, và 7 anions đã được phân tích cho mỗi mẫu. Mục đích của các cuộc phân tích nầy là để truy tìm sự hiện diện của arsenic, cùng các hợp chất hữu cơ trong nước. Chúng tôi đã phân tích các mẫu nước ở nhiều nơi trong những tỉnh ở miền Nam sau đây: Biên Hòa, Sàigòn, Tân An, Mỹ Tho, Gò Công, Bến Tre, Vĩnh Long, Cần Thơ, Trà Vinh, Châu Đốc, Sóc Trăng, Sa Đéc và Tân Châu. Hiện tại ở nhiều nơi, nồng độ arsenic đã đạt đến mức giới hạn của tiêu chuẩn an toàn do Liên Hiệp Quốc quy định là 10 ug/L (ppb – phần tỷ).

Ngoài sự hiện diện của arsenic dưới dạng phù sa arseno-pyrite như đã nói trên, các cuộc nghiên cứu năm 1999 do TS Gustafson (Thụy Điển) tại ĐBSCL cho thấy hàm lượng của arsenic trong đất ở vùng nầy khá cao từ 20 – 130 mg/Kg so với mức trung bình trong thiên nhiên là 4 mg/Kg. Thêm nữa, việc xử dụng quá tải các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cũng có thể là một nguồn cung cấp arsenic trong nguồn nước và lòng đất vì arsenic là một trong những tác nhân chính trong việc điều chế các loại thuốc kễ trên.

Ảnh hưởng của Arsenic lên con người

Đây là một ảnh hưởng dài hạn. Trường hợp xảy ra ở Bangladesh cho chúng ta rõ nét về di hại do sự hiện diện của arsenic trong nguồn nước. Tùy theo mức độ xâm nhập vào cơ thể con người, những hội chứng do sự nhiễm độc arsenic thay đổi theo thời gian. Từ việc da ở lòng bàn tay, bàn chân cho đến vùng da ở trước ngực trở thành đen xậm do việc arsenic tích tụ trong cơ thể từ 5 đến 10 năm. Đó là một trong những chứng bịnh có tên là arsenicosis. Sau hơn 15 năm bị nhiễm độc, các bộ phận trong cơ thể như gan, thận, lá lách bị sưng to, hệ thống thần kinh, đường hô hấp bị suy thoái. Sau hơn 20 năm trở đi, các chứng ung thư gan, lá lách, bàng quan, thận bắt đầu xuất hiện. Hàng năm số tử vong ở Bangladesh vì arsenic lên đến hàng trăm ngàn người. Như vậy, phải cần một thời gian dài mới cảm nhận được mức nhiễm độc của arsenic; và việc giải thích cho người dân hiểu được nguy cơ ô nhiễm trên quả thật rất khó khăn.

Arsenic và Việt Nam

Hàng năm tại Việt Nam, nhà cầm quyền đều có tổ chức hội thảo về tình trạng môi trường ở Việt Nam. Theo chỗ chúng tôi được biết, đúc kết của hội thảo chỉ nhắm trọng tâm vào các vấn đề ô nhiễm chung trong không khí, nguồn nước, và lòng đất. Đại loại là để cảnh báo tình trạng môi trường xuống cấp mà thôi.

Vào tháng 8 năm 2000 có một cuộc hội thảo về ô nhiễm arsenic tại Hà Nội. Nơi đây, các cuộc điều tra về ô nhiễm arsenic đã được các khoa học gia Việt Nam thực hiện. Như Tiến sĩ Đỗ Trọng Sự cảnh báo từ năm 1997. Sang năm 1999, có hơn 1.200 mẫu nước giếng ở vùng Hà Nội đã được phân tích và 12.5% trong số đó có hàm lượng arsenic cao hơn 50 ug/L (báo Lao Động ngày 6/3/2002). Trong năm 2000, Viện Địa lý thực hiện 498 mẫu và tìm thấy 27% số mẫu có hàm lượng arsenic cao hơn 50ug/L. Đăc biệt hơn nữa là, tiến sĩ Ngô Ngọc Các thuộc Viện Địa lý Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia đã công bố kết quả điều tra và kết luận là nước giếng khoan ở Hà Nội bị nhiễm rất nặng (517 mẫu trên 925 mẫu có hàm lượng cao hơn 50 ug/L). Quả thật chúng tôi hoàn toàn không hiểu vơí những khám phá vừa kễ trên đã có trước khi hội thảo, mà không thấy ai đề cập đến vấn đề nầy? Tại sao để mãi đến năm 2002, Việt Nam mới cho dư luận trong nước biết đến vấn nạn nầy?

Vào cuối tháng 8/2002, Trung tâm Nước sinh hoạt và Vệ sinh môi trường tỉnh Hà Nam có báo cáo là trên 50% mẫu phân tích (29/56 mẫu) có hàm lượng arsenic cao hơn tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam trước đây là 0,05 mg/L. (Tiêu chuẩn mới của Việt Nam hiện tại là 0,01 mg/L, phù hợp với tiêu chuẩn của LHQ).

Ở Hà Nội, theo kết quả nghiên cứu của UNICEF vào năm 2000 và 2001 thì vào mùa khô có 35% giếng bị ô nhiễm arsenic, và vào mùa mưa, 18%. Cũng theo UNICEF, tỉnh Ninh Bình có 10% số mẫu đã vượt quá 0,05 mg/L, Nam Định 9%; tương tự như ở Sơn La, Phú Thọ, Hải Phòng, Bắc Giang, và Thanh Hóa.

Tại Hoa Kỳ, trong ngày Hội thảo năm 2000 tại đại học Santa Ana, các bài phát biểu bằng Anh ngữ và Việt ngữ đã được các báo chí tại hải ngoại đăng tải. Tuy nhiên chúng tôi không ghi nhận được phản ứng nào của chính quyền Việt Nam trong thời gian nầy.

Mãi cho đến ngày 03/01/2002, nhật báo Orange County Register cho đăng tải bài phỏng vấn chúng tôi và kỹ sư Nguyễn Minh Quang về tình trạng môi trường và các vấn nạn ô nhiễm hóa chất ở Việt Nam, họ mới có phản ứng rất tiêu cực hướng về phía chúng tôi. Phản ứng đầu tiên là phát ngôn nhân bộ Ngoại giao Việt Nam lúc bấy giờ đã kết án chúng tôi là “loan tin không có cơ sở và có dụng ý xấu”.

Tuy nhiên, gần đây chính thủ tướngViệt Nam hiện tại Phan văn Khải đã nhìn nhận vấn đề ô nhiễm sẽ là một thảm trạng lớn của Việt Nam. Sau khi báo Lao Động đăng tải các kết quả đo đạc của các khoa học gia chúng tôi vừa nói trên, có một sự kiện cần phải nêu ra là, vào cuối tháng tư năm 2002, thủ tướng Phan Văn Khải của chính quyền hiện tại đã công bố chính thức rằng nạn ô nhiễm arsenic trong nguồn nước có thể là một thảm nạn trong tương lai cho Việt Nam cũng như đã chỉ thị cho Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường phải lập phương án, điều tra và nghiên cứu vấn đề nầy. Khi nghe được tin nầy, chúng tôi không nghĩ rằng họ đã nghe được những lời cảnh báo của chúng tôi mà thi hành biện pháp kễ trên; tuy nhiên chúng tôi cũng cố gắng có một suy nghĩ tích cực là ước mong cho chỉ thị trên trở thành hiện thực!

Và cho đến hôm nay, chúng tôi vẫn không rõ có những bước tiến bộ nào trong việc thẩm tra và nghiên cứu sự hiện diện của arsenic trong nguồn nước ở Việt Nam.

Arsenic và ĐBSCL

Có nhiều nguyên nhân làm cho chúng tôi chú trọng đến vùng ĐBSCL. Thứ nhất là các liên hệ tương tự về địa chất và dòng chảy của hai dòng sông Hằng Hà và Cửu Long, cũng như thảm nạn ở Bangladesh đả xảy ra do nguyên nhân mà UNICEF đang cổ súy ở Việt Nam qua việc khoan giếng. Thứ hai, kết quả phân tích của chúng tôi đã cho phép chúng tôi kết luận là arsenic đã hiện diện trong nguồn nước ở ĐBSCL. Thứ ba và quan trọng hơn hết là theo các cuộc nghiên cứu, vùng ĐBSCL là vùng đất phèn, bị nhiễm mặn thường xuyên, và nhiều nơi có độ pH thấp hơn 2 (acid) (pH trung hòa là 7). Chính ba yếu tố trên là những tác nhân kích thích sự phóng thích arsenic vào nguồn nước có thể với vận tốc nhanh hơn như đã xảy ra ở Bangladesh (khoảng 25 năm). Do đó chúng tôi tự thấy có trách nhiệm cần phải đẩy mạnh cuộc khảo sát ở vùng nầy vì đây là quê hương của hơn 20 triệu người dân chất phác ở miền Nam Việt Nam.

Hướng giải quyết ô nhiễm arsenic

Trước khi trình bày các biện pháp giải quyết tình trạng nhiễm độc arsenic, thiết nghĩ việc truy tìm sự hiện diện của nguyên tố nầy là một việc làm ưu tiên và cần thiết. Có rất nhiều cá nhân hay cơ quan trên thế giới đang tập trung trí tuệ để cố gắng tìm ra một hệ thống thử nghiệm tại hiện trường (field test kit) dựa trên các tác dụng hóa học và vật lý. Tùy theo điều kiện thí nghiệm, các phương pháp nầy cho thấy mức độ chính xác tương đối, cho phép chúng ta ước lượng ban đầu tình trạng nhiễm độc ở những vùng khảo sát.

Theo ông Đặng Dương Bình, thuộc Sở KH, CN và Môi trường Hà Nội cho biết, thành phố đã chỉ đạo việc tuyên truyền cho người dân về vấn đề nầy, phổ biến những thiết bị xử lý đơn giản, và đẩy nhanh việc gọi thầu để xử lý những khu ô nhiễm cao vào tháng 2/2003. Thành phố cũng đầu tư 1 tỷ đồng cho công tác nghiên cứu địa hóa môi trường Việt Nam cũng như công tác nghiên cứu công nghệ xử lý arsenic ở quy mô công nghiệp cho các nhà máy cấp nước. Ngoài ra, UNICEF cũng đã đàm phán với Cơ quan Hợp tác và Phát triển Thụy Sĩ (SDC) để chuẩn bị một dự án nghiên cứu 3 năm ở đồng bằng sông Hồng và sau đó ở ĐBSCL.

Hiện tại, Việt Nam chỉ sản xuất những hệ thống lọc arsenic cho các đơn vị gia cư và chưa có công nghệ nào có quy mô công nghiệp lớn cả. Và các hệ thống xử lý nói trên dựa theo phương pháp cơ, lý học, thiết nghĩ khó có thể tách rời được arsenic đã hòa tan trong nguồn nước.

Chúng tôi qua Hội KH&KT Việt Nam đã có hướng xử lý những vùng nước bị nhiễm độc, với mục tiêu là cố truy tìm những phương thức rẽ tiền thích ứng với điều kiện Việt Nam, mặc dù trên thế giới đã có quá nhiều biện pháp để giải quyết hữu hiệu bằng các phương pháp hóa học, vật lý như: dùng hydroxid sắt III, phương pháp thẩm thấu nghịch (reverse osmosis), trao đổi ion v. v.. .. Những phương pháp nầy đòi hỏi thiết bị tối tân và chi phí cao, không thể thực hiện được trong điều kiện Việt Nam hiện tại.

Do đó, chúng tôi nghiên về các phương pháp thiên nhiên như việc dùng thực vật để khử arsenic. Qua tham khảo chúng tôi được biết tiến sĩ Leno Ho, thuộc đại học Florida đã khám phá và chứng minh được rằng một loại cây thuộc họ dương xỉ (fern) có tên là Pteris Vittata có khả năng hấp thụ 755mg/Kg arsenic trong vòng 2 tuần lễ. Và theo kỹ sư Nguyễn Minh Quang, cũng như đã kiểm chứng lại với quyển tự điển Cây Cỏ Miền Nam của GS Phạm Hoàng Hộ, cây nầy chính là cây rau Rán, mọc dọc theo các bờ kinh hay sông rạch ở vùng Tân An, quê của anh. Tuy không tìm được cây dương xỉ trên, chúng tôi đã tìm được một loại tương tự, cây Nephrolepis Oblitera, có bán tại các tiệm bán hoa để làm thí nghiệm bằng cách cho thêm dung dịch có chứa nồng độ arsenic cao vào trong đất. Đất và lá cây được phân tích arsenic trước và sau hai tuần lễ. Kết quả tuy không đạt được như khám phá của tiến sĩ Ho, nhưng phương pháp nầy là một khích lệ cho việc khử arsenic trong nguồn nước. Cuộc nghiên cứu vẫn còn đang tiếp tục. Và mới đây nhất (3/2005), trong một báo cáo khoa học của TS Parvez Haris, thuộc VĐH Leicester, Anh Quốc đã chứng minh việc dùng rễ cây lục bình (water hyacinth, tên khoa học là Eichhornia Crassipe) để khử arsenic. Rễ cây khô được xay nhuyễn có khả năng hấp thụ As trong một dung dịch có nồng độ 200 phần tỷ trong vòng 60 phút. Và phương pháp nầy đang dudợc áp dụng ở Bangla Desh.

Trong hiện tại, người dân chất phác ĐBSCL chưa ý thức được vấn nạn nầy. Do đó, trách nhiệm cấp bách của nhà cầm quyền là phải cảnh báo cho ngưới dân biết. Một lần nữa, qua các cuộc thăm dò, điều tra từ hơn 5 năm nay, chúng tôi chắc chắn rằng nạn ô nhiễm arsenic trong nguồn nước, đặc biệt ở vùng ĐBSCL là một thực tế, một sự thật không cần phải chứng minh thêm nữa. Do đó, việc làm cấp bách trong hiện tại là phải tìm những phương cách để chế ngự nhiễm độc, song hành với việc truy tìm những phương sách khác để cung cấp nguồn nước an toàn cho người dân ĐBSCL

Việc xử dụng nguồn nước mặt sau khi đánh phèn là một thói quen mà người dân vùng ĐBSCL đã áp dụng từ ngàn xưa, hiện nay vẫn còn giá trị không những về mặt tập tục mà vẫn bàng bạc tính khoa học trong phương cách đối phó vơi thiên nhiên. Thêm nữa, vũ lượng hàng năm ở ĐBSCL hơn 2000 mm; điều nầy sẽ giúp người dân có đủ lượng nước sạch tiêu dùng cho nhu cầu ăn uống cả năm nếu người dân có phương tiện trử nước trong mùa mưa.

Thêm nữa, việc lạm dụng nguồn nước hiện có qua các giếng đào để đẩy mạnh nông nghiệp và chăn nuôi đã và đang gây ra hậu quả không lường được là môi trường bị ô nhiễm qua phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và tệ hại hơn nữa là mạch nước ngầm đã bị sụt giảm. Tính đến năm 2003, mạch nước ngầm của tỉnh Trà Vinh giảm từ 2 đến 2,5 m do sự hiện hữu của hơn 50.000 giếng đào tại đây. Điều nầy sẽ giúp cho nước mặn có cơ hội tiến sâu vào đất liền trong mùa khô, và làm giảm diện tích đất canh tác. Chúng tôi mong rằng các nông dân vùng ĐBSCL lưu ý vấn đề nầy.

Vừa qua có một cuộc hội thảo vể ô nhiễm arsenic đã diễn ra tại Hà Nội do Viện Y học Lao động tổ chức ngày 8/12/2004, chúng tôi đã theo dõi và được biết là trong cuộc hội thảo nầy, kết luận của Viện Công nghệ Môi trường là:”Các tỉnh đồng bằng sông Hồng đang có hiện tượng ô nhiễm arsenic trong nước ngầm vượt quá tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam và Tổ chức Y tế thế giới là 10 ug/L”. Kết quả cho thấy trên toàn quốc, ước tính khoảng 13,5% dân số đang xử dụng giếng khoan có nguy cơ bị nhiễm arsenic cao. Về ĐBSCL, TS Nguyễn thị Phương Thảo cảnh báo rằng tỉnh Đồng Tháp, An Giang có dấu hiệu bị ô nhiễm. Và sau cùng TS Nguyễn Khắc Hải đã công bố một nghiên cứu về 11 gia đình đã xử dụng nguồn nước bị ô nhiễm, và tỷ lệ người bị mắc bịnh sơ cứng ngoài da, khô da, dày da quá cao. Đây là giai đoạn đầu (khoảng 5 năm) của việc nhiễm độc arsenic dài hạn. Từ đó sẽ dẫn đến giai đoạn ung thư sau khoảng 20 năm bị tiếp nhiễm.

Trong khuôn khổ quốc gia và đứng về phía chính quyền hiện tại, chúng tôi nghĩ, họ cần yêu cầu UNICEF chấm dứt việc khuyến khích và tài trợ công tác đào và khoan giếng, và thay thế bằng việc tài trợ cho việc lấp đặt hồ chứa công cộng và thiết lập hệ thống khử trùng bằng tia cực tím cho người dân ĐBSCL như việc họ đã tài trợ các hồ chứa nước mưa cho cư dân vùng chiến khu Lê Hồng Phong cũ là Bàu Cá ở Ninh Thuận vào năm 2003. Cũng cần nói thêm là vào ngày 22 và 23 tháng 4,2005 vừa qua, Hội nghị Môi trường tòan quốc đã diễn ra tại Hà Nội. Trong 204 đề tài công bố chúng tôi thấy có hai đề tài nói về việc xử lý arsenic bằng phương pháp hóa học qua giải pháp oxid đồng kết tủa (oxidation co-precipitation) do Nguyễn Thế Đồng và giải pháp dùng quặng mangan dioxit (quặng pyzoluzite) để tách loại arsenic trong nước ngầm của Nguyễn Thị Hà. Đây là hai phương pháp hóa học không thể áp dụng để xử lý As trong nguồn nước sinh hoạt được vì không hiệu quả kinh tế và không thực tế.

Thêm nữa, Việt Nam cũng cần phải có kế hoạch và nhân sự giải thích cho người dân hiểu được nguy cơ nhiễm độc arsenic và mức độ nguy hiểm cùng cách xử dụng đúng đắn các lọai thuốc bảo vệ thực vật để tránh những vụ ngộ độc hoặc tai nạn cho người dân như đã xảy ra thường xuyên, vì thông tin và giáo dục người dân là biện pháp phòng bị hay nhất trước các vấn nạn môi trường đang xảy ra ở Việt Nam.

Mai Thanh Truyết

VAST 5/2005

http://www.anhduong.net/Cauchuyenthoisu/May05/Arsenic-MTT.htm
Đăng nhập để trả lời
0
Môi trường hạ lưu Mekong suy thóai cần phải hành động cấp kỳ để cứu

Wednesday, March 10, 2004


BANGKOK 10-3 (TH).- Hệ sinh thái của dòng sông Mekong có thể suy thoái nhanh chóng và nghiêm trọng trừ phi đựơc đối phó khẩn cấp để cứu, các nhà khoa học báo động như vậy khi họ đưa ra dự án mới để nhờ đó sử dụng lâu dài đựơc nguồn nước này.

“Chương trình thách đố về nứơc và thực phẩm của tiểu vùng Mekong” sẽ sử dụng ngân khoản $10 triệu đô la hầu tìm cách giúp cho khu vực này tăng sản lựơng thực phẩm trong khi dùng ít nước hơn”. Đào trọng Tú, phát ngôn viên của Ủy Ban Sông Mekong (MRC) nói như vậy.

“80% đến 90% nước lấy từ sông Mekong dùng cho sản xuất nông nghiệp ở khu vực qui tụ 75% dân số của hạ lưu sông Mekong để từ đó người ta có lợi tức mà sống.” Tú nói như vậy trong cuộc họp báo. “Nếu khuynh hướng này tiếp tục, phần lớn dân chúng của khu vực hạ lưu sống nhờ vào nông và ngư nghiệp sẽ bị ảnh hưởng.

Sông Cửu Long phát nguyên từ Tây Tạng dài 4.000 cây số chảy qua Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt, và Việt Nam rồi đổ ra biển. Nhưng chỉ có 4 nước Thái, Lào, Cam Bốt, và Việt Nam là thành viên của MRC cùng hợp tác với nhau để thực hiện dự án trên.

Phối trí viên nghiên cứu MRC, Kim Geheb, nói rằng nếu không can thiệp thì dòng sông này tuy còn nhiều phần chưa bị khai thác cũng sẽ giống như sông Hoàng Hà ở bên Trung Quốc.

“Một phần rất dài ở hạ lưu sông Hoàng Hà không còn có nước và tôi cho đó là điều rất đáng sợ.” Geheb nói. “Hàng năm chúng tôi thấy hàng triệu mẫu đất bị nhiễm mặn vì mực nước sông Mekong đổ ra biển ngày một ít đi, nước biển vào sâu trong nội địa theo các nhánh sông. Đây là dấu hiệu nguy hiểm trầm trọng.”

Dân chúng sống ở hạ lưu sông Mekong đã gia tăng gấp đôi trong 30 năm qua và đang trên đường gia tăng thêm 50% nữa từ nay tới năm 2025, theo các nghiên cứu của MRC.

Sông Mekong được coi như dòng sông rất dài trên thế giới và còn nhiều tiềm năng về thủy điện chưa khai thác hết, khi so sánh với các con sông lớn khác. Tuy nhiên, các khoa học gia nói rằng khai thác thủy điện sẽ tạo ra các hậu quả tai hại về môi sinh cũng như kinh tế xã hội đối với dân chúng sống ở hạ lưu. Trung Quốc đã đang và chuẩn bị xây cất đến 9 đập thủy điện lớn trên dòng Mekong bị các nước khu vực hạ lưu phản đối kịch liệt nhưng vẫn phớt lờ.

Nhưng MRC nói rằng hệ thống đập thủy điện của Trung Quốc chưa hẳn là thủ phạm chính cho sự thiếu nước của khu vực hạ lưu vào mùa khô.

“Chỉ có khỏang 20% nước cần cho nhu cầu lấy từ sông Mekong đổ xuống từ Trung Quốc mà hai cái đập người ta sợ tạo ra thảm họa kinh tế xã hội nhất lại có thể hữu ích vào mùa khô.” Robyn Johnston người phụ trách kế họach phát triển của MRC nói. Nhiều quốc gia đã tỏ ý đóng góp cho sự phát triển bền vững và lâu dài cho vùng hạ lưu Mekong, theo lời Johnston. Thái Lan là một trong những nứơc này.

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=1768&z=15
Đăng nhập để trả lời
0
Sông Cửu Long phát nguyên từ Tây Tạng dài 4.000 cây số chảy qua Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cam Bốt, và Việt Nam rồi đổ ra biển.




http://www.unesco.org/water/wwap/pccp/useful_links/maps/mekong.jpg
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-11-06 22:06:40HongYen>
Sông Cửu Long * Mekong



http://cantho.cool.ne.jp/mekong/gov/map.jpg
📎 aa
Đăng nhập để trả lời
0


http://cantho.cool.ne.jp/mekong/water/surface.gif
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-11-06 22:14:55HongYen>


http://cantho.cool.ne.jp/mekong/outline/ryuiki.gif
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-11-13 04:17:58sóng trăng>
.

góp với chị Hồng Yến
vài hình ảnh
tiếng chiều về trên sông
và tài liệu về đập Tam Hiệp


Đăng nhập để trả lời
0

Đập Tam Hiệp [Three Gorges Dam]







Đập Tam Hiệp ở vị trí của ba địa danh Sandouping, Yichang, Hubei; ngay hạ lưu Xiling Gorge.

http://www.threegorgesprobe.org/tgp/index.cfm?DSP=content&ContentID=15281
Đăng nhập để trả lời
0
Thứ sáu, 11/7/2003, 08:32 GMT+7

Đập Tam Hiệp của Trung Quốc bắt đầu cấp điện

Đập Tam Hiệp


Máy phát đầu tiên trong tổng số 26 máy đã được nối với lưới điện vào 1h31 sáng qua, 20 ngày sớm hơn so với kế hoạch. Bộ phận này sẽ cung cấp 12,9 triệu kWh/ngày cho miền trung và đông Trung Quốc

Phó giám đốc dự án Dương Thanh cho biết ban đầu, nó phải qua 30 ngày hoạt động thử, trước khi được sử dụng cho mục đích kinh doanh vào tháng 8. Một khi toàn bộ 26 máy phát đi vào hoạt động sẽ tạo ra hơn 80 tỷ kWh/năm.

Đập Tam Hiệp là công trình thuỷ điện lớn nhất từ trước đến nay. Khi công trình hoàn tất, nước có thể đạt tới độ cao 175 mét, trong một hồ chứa dài 600 km. Nhiều làng và thành phố nhỏ dọc sông Dương Tử đến nay đã bị nhấn chìm trong nước. Hơn 700.000 người phải chuyển tới nơi ở mới, một số lên tận Thượng Hải, cách đó 1.000 km về phía đông. Ước tính tổng số dân phải di dời sẽ là 1,3 triệu.

Những người chỉ trích lo ngại công trình này phá hoại nhiều di tích văn hoá. Nếu đập vỡ, đó sẽ là thảm hoạ cho những ai sống ở hạ nguồn. Các nhà môi trường học cũng cảnh báo về nguy cơ xói mòn đất cũng như ô nhiễm do rác thải và chất thải công nghiệp bị ứ đọng gây ra.

Trung Quốc cho biết cần đập Tam Hiệp để cung cấp nguồn điện cũng như kiểm soát lũ lụt hàng năm trên sông Dương Tử.

Minh Châu (theo BBC, AFP)


http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/2003/07/3B9C9949/

&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;&gt;

*** Hồ Chứa (175m so vời mặt biển)

Dài: 660 km
Rộng: 1.1 km
Khu Vực: 1,084 sq km
Làm ngập: 632 sq km ( 20 quận huyện của Chongqing và Hubei
Sức chứa: 39 tỷ mét khối nước

Xây năm 2003, hoàn thành năm 2009; tuy nhiên có thể sớm hơn một năm.

*** Nếu đập vỡ, đó sẽ là thảm hoạ cho những ai sống ở hạ nguồn.

Hạ nguồn là Sông Cửu Long
Đăng nhập để trả lời
0
Sông Cửu Long * Mekong

📎 CuuLong
Đăng nhập để trả lời
0
Sông Cửu Long * Mekong


📎 CL2
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2006-11-16 04:17:56HongYen>
Sông Cửu Long và các Khai Thác Thượng Nguồn của Trung Hoa

Trần Tiễn Khanh (2/2003)

Người Việt thường gọi sông Mekong là sông Cửu Long vì như chín con rồng sông chảy qua chín cửa biển. Bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, sông Cửu Long là con sông dài thứ 12 trên thế giới, chảy dài trên 4500 km, qua sáu quốc gia Trung Hoa, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Đúng như tên của dòng sông (Mekong có nghỉa là Sông Mẹ theo ngôn ngử Lào), sông Cửu Long là nguồn sống của hơn 60 triệu người ở các quốc gia hạ nguồn như Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Phần đông họ là những người nghèo khổ sống nhờ vào tôm cá từ dòng sông. Họ còn dùng nước và phù sa để trồng lúa cũng như dùng sông làm phương tiện giao thông chính. Trong vòng hai thập niên tới, số cư dân này sẽ tăng đến hơn 100 triệu. Đời sống của họ bị đe dọa thường xuyên bởi bão lụt, nạn phá rừng, nạn ô nhiễm cũng như những khai thác thiếu suy xét. Nhưng thảm họa lớn nhất đang chờ họ là các đập thủy điện của Trung Hoa ở vùng Vân Nam. Ngoài ra Trung Hoa còn đang xúc tiến việc mở rộng dòng sông ở thượng nguồn để các tàu bè lớn có thể đi lại dể dàng. Chương trình phát triễn này của Trung Hoa sẽ đem đến những tai hại to tát về môi sinh cũng như kinh tế ở các nước thuộc lưu vực sông Cửu Long, nhất là Campuchia và Việt Nam. Khi thực hiện các khai thác, Trung Hoa đã không tôn trọng quyền lợi của các nước này. Đây là một cơ nguy có thể dẫn đến tranh chấp và khủng hoảng chính trị cũng như chiến tranh trong một tương lai gần đây. Ngay chính sự sống còn của sông Cửu Long cũng sẽ bị đe dọa trong vài thập niên tới. Sau khi xem xét các dự án của Trung Hoa, các chuyên gia về thủy sản thuộc Smithsonian Institute ở Washington, DC, Hoa Kỳ đã báo động các loài tôm cá sông Cửu Long sẽ bị tuyệt chủng. Các chuyên gia này cũng tiên đoán rằng sông Cửu Long sẽ chết như sông Dương Tử và các dòng sông lớn khác ở Trung Hoa vì các khai thác bừa bãi và nạn ô nhiễm.

Trong thập niên vừa qua, Trung Hoa đã xúc tiến xây cất các đập thủy điện ở Vân Nam thuộc thượng nguồn sông Cửu Long. Đập Manwan đã được xây xong vào năm 1993 với năng xuất 1500 MW điện. Đập Dachaoshan (Đại Chiếu Sơn) được hoàn thành vào tháng 12 năm 2002 vừa qua. Đập này có năng xuất 1350 MW, cao bằng một cao ốc 30 tầng và có một hồ chứa nước dài 88 km. Trung Hoa cũng đã bắt đầu xây đập Xiaowan vào tháng Giêng 2003 với năng xuất 4200 MW điện và môt hồ chứa nước dài 169 km. Phí tổn xây đập Xiaowan lên đến 4 tỷ USD. Khi được hoàn tất vào năm 2013, đập Xiaowan sẽ là đập cao nhất thế giới, với chiều cao 300 m tương đương với một cao ốc 100 tầng. Ngoài ra Trung Hoa còn dự trù xây thêm ít nhất là năm cái đập khác. Tất cã các đập này nhằm cung cấp điện lực cho tỉnh Vân Nam, một vùng tương đối nghèo khó mà Trung Hoa đang cố gắng phát triễn.

Trung Hoa cũng đang xúc tiến việc mở rộng dòng sông để các thương thuyền lớn có thể đi lại dể dàng. Đáy sông ở vùng Vân Nam đã được nạo vét. Các đá ngầm và ghền thác trên khúc sông dài 300 km từ biên giới Trung Hoa-Miến Điện đến Lào đã bắt đầu đươc phá huỷ. Khi hoàn tất, thương thuyền nặng hơn 100 tấn có thể đi từ cảng Simao ở Vân Nam đến các thương cảng ở các quốc gia lân cận.

Trung Hoa tuyên bố rằng các khai thác về thủy điện và giao thông nói trên sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các nước ở hạ nguồn. Các nhà chức trách Trung Hoa cũng nói các tai hại về môi sinh và môi trường chỉ ở mức độ thấp. Các đập sẽ giảm bớt lũ lụt vào mùa mưa và nạn thiếu nước vào mùa khô. Mở rộng dòng sông sẽ tăng thêm giao thương giữa Trung Hoa và các nước láng giềng, mang lại thịnh vượng cho toàn vùng.

Các chương trình khai thác của Trung Hoa thường xảy ra trong vòng bí mật và rất ít chi tiết được công bố. Trung Hoa còn che dấu các hậu quả xấu về môi trường. Gần đây một cuộc khảo sát các hậu quả môi trường của chương trình mở rộng dòng sông Cửu Long đã bị Ủy Hội Sông Mekong (Mekong River Commission) chỉ trích là thiếu sót và sai lầm. Ủy Hội này gồm có bốn nước ở hạ nguồn, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Hai nước thượng nguồn, Trung Hoa và Miến Điện, đã từ chối tham gia chính thức nhưng vẫn tham dự với tư cách quan sát viên.



Trái với các khẳng định trên của Trung Hoa, các đập thủy điện sẽ gây nhiều thãm họa môi trường và kinh tế, ảnh hưởng đến đời sống của hàng triệu người ở các nước hạ nguồn. Hàng năm, lũ lụt thường xảy ra từ tháng 6 đến tháng 10 và làm thiệt mạng hàng trăm người. Đa số các nạn nhân là trẻ con bị chết đuối vì thiếu chăm sóc của người lớn. Có nhiều dấu hiệu cho thấy các đập ở Vân Nam đã gia tăng cường độ lũ lụt năm 2002 vừa qua. Vì các hồ chứa nước đã đầy quá mức, các đập này đã tháo bớt nước và làm tăng thêm mực nước sông Cửu Long khi sông đã tràn bờ. Số người chết và thiệt hại mùa màng và nhà cửa vì lũ lụt đã gia tăng ở Campuchia, Thái Lan và các nơi khác.

Về mùa khô, mực nước sông Cửu Long xuống thấp vì nguồn nước chỉ còn lại các thác băng ở Tây Tạng và Vân Nam. Lưu luợng trung bình giảm từ 50000 m3/s trong mùa mưa xuống còn 2000 m3/s trong mùa khô. Mùa khô thường kéo dài từ tháng 11 đến tháng 5. Nếu các đập ở thượng nguồn không chịu tháo nước vì hạn hán hay các hồ ở các đập đang thiếu nước thì hậu quả sẽ vô cùng trầm trọng ở các vùng hạ nguồn. Các vùng này sẽ bị nhiễm mặn và ruộng đồng nhiều nơi sẽ bị phế bỏ vì nước mặn hay thiếu nước để trồng trọt.

Ngoài việc thay đổi mực nước và chu kỳ tự nhiên của sông Cửu Long, các hồ chứa nước ở các đập sẽ giử lại phù sa. Thiếu nước và phù sa sẽ làm ruộng đồng ở hạ nguồn khô cằn và bớt phì nhiêu. Mức độ sản xuất lúa gạo sẽ suy giãm nhiều, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Lượng phù sa ở miền Nam Việt Nam có thể giảm đến 50% vì các đập thủy điện. Đây là nguy cơ có thể gây nên nạn đói kém trầm trọng vì miền Nam là kho lúa gạo chính của cả toàn quốc Việt Nam. Vào năm 1997, Trung Hoa đã khóa nước sông Cửu Long trong vòng bốn ngày để tiến hành việc xây đập và làm thiệt hại 100000 USD mỗi ngày ở Việt Nam.

Trong lúc ruộng đồng ở hạ nguồn thiếu phù sa, các đập ở Vân Nam sẽ bị tràn ngập vì phù sa. Cường độ phù sa trôi vào đập Manwan đã tăng gấp đôi so với dự tính ban đầu. Một trong những lý do mà Trung Hoa dùng để biện hộ việc xây đập Xiaowan là đập này ở trên đập Manwan và do đó sẽ giảm mức độ phù sa trôi vào đập Manwan. Nhưng rồi đập Xiaowan và các đập khác cũng sẽ bị ngập vì phù sa trong vài thập niên tới mà thôi. Các hồ chứa nước sẽ trở thành những bải sình lầy vĩ đại và vô dụng! Trung bình các đập này chỉ có thể hoạt động trong vòng 20 năm, so với ước tính ban đầu là 70 năm. Một khảo cứu vào tháng 11 năm 2000 của Uỷ Hội Các Đập Thế Giới (World Commission on Dams) đã kết luận rằng đa số các đập thủy điện lớn trên toàn thế giới đã không mang lại một lợi ích kinh tế nào nếu so sánh với phí tổn xây dựng, số người phải di cư và các hậu quả môi trường.



Với 1245 loại cá, Sông Cửu Long là sông có nhiều tôm cá thứ nhì trên thế giới, chỉ sau sông Amazon ở Nam Mỷ. Có nhiều loại hiếm quý như cá bông lau khổng lồ nặng đến 300 kg và cá heo sống ở nước ngọt. Hàng năm có đến 1.8 triệu tấn cá đánh được ở các quốc gia hạ nguồn. Riêng Hồ Tonle Sap ở Campuchia cũng sản xuất được 400000 tấn. Các đập ở Vân Nam sẽ thay đỗi mức nước cũng như nhiệt độ và chu kỳ nước sông Cửu Long. Các thay đỗi này sẽ tác hại trầm trọng đến sinh trưởng của các loài tôm cá. Việc mở rộng dòng sông sẽ làm nước sông chảy mau hơn và soi mòn hai bên bờ. Các đá ngầm là nơi sinh sản của tôm cá cũng sẽ bị phá hủy. Có nhiều loại tôm cá sẽ bị tuyệt chủng vì không thể thích ứng với các thay đỗi trái với thiên nhiên kể trên. Ngư phủ ở nhiều nơi dọc sông Cửu Long đã than phiền lượng cá đã giảm nhiều trong vài năm qua. Đây là một hậu quả trầm trọng, có ảnh hưởng đến đời sống và sức khoẻ của hàng chục triệu người vì tôm cá là nguồn chất đạm chính của cư dân lưu vực sông Cửu Long.

Với các khai thác thủy điện và giao thông ở thượng nguồn, Trung Hoa hầu như kiễm soát hoàn toàn sông Cửu Long. Các khai thác này sẽ gây nên những thảm họa về môi sinh và kinh tế cho các quốc gia ở hạ nguồn, nhất là Campuchia và Việt Nam. Vận mạng của các quốc gia này cũng như đời sống của hơn 60 triệu cư dân sẽ nằm trong tay Trung Hoa. Đối với các chương trình khai thác của Trung Hoa, các quốc gia hạ nguồn thường có phản ứng yếu ớt vì áp lực chính trị cũng như những hứa hẹn viện trợ kinh tế. Các cơ quan quốc tế như Ủy Hội Sông Mekong (Mekong River Commission), ASEAN, Liên Hiệp Quốc, Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Ngân Hàng Phát Triễn Á Châu (Asian Development Bank) cần làm áp lực với Trung Hoa để cho họ suy xét nghiêm chỉnh và khách quan các hậu quả ở các nước hạ nguồn mỗi khi có dự án khai thác nào. Riêng các ngân hàng quốc tế cũng cần xét lại các dự án phát triễn thủy điện mà họ là nguồn tài trợ, không những của Trung Hoa mà của các quốc gia khác nữa. Đa số các đập thủy điện sẽ không mang lại một lợi nhuận nào nếu so sánh với kinh phí xây cất và các hậu quả môi trường. Trung Hoa cần phải biết rằng sông Cửu Long không chỉ dành riêng cho các quốc gia thượng nguồn như Trung Hoa và Miến Điện, mà cũng thuộc về các nước hạ nguồn như Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Cựu Thủ tướng Chu Ân Lai đã từng tuyên bố với các nhà lảnh đạo các quốc gia hạ nguồn rằng: “Tôi ở thượng nguồn và Quý vị ở hạ nguồn. Chúng ta cùng uống nước từ một dòng sông chung. Vậy chúng ta như anh em một nhà”. Các nhà lảnh đạo Trung Hoa cần thực hành nghiêm chỉnh lời tuyên bố này để tạo thông cảm, hợp tác trên căn bản bình đẳng và tôn trọng quyền lợi của các nước khác. Có như thế mới có thể tránh những tranh chấp, những thảm hoạ kinh tế và môi truờng ở ngay Vân Nam cũng như ở các nước hạ nguồn, và nhất là tránh cho sông Cửu Long một cái chết thê thảm trong một tương lai gần đây mà thôi!



Trần Tiễn Khanh
Xuân Quý Mùi 2/2003


http://www.vnbaolut.com/caichet_uni.html
Đăng nhập để trả lời
0
Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch-Qua Lăng Kính Thủy Học
Việt Báo Thứ Năm, 4/5/2007, 12:02:00 AM
 
 

- Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam Tháng 04/2007
 
* Lời Mở Đầu
 
Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch (MK:DSNM) là tựa đề một quyển sách của Nhà văn Bác sĩ Ngô Thế Vinh (NTV) mới vừa được nhà xuất bản Văn Nghệ Mới phát hành tại California, Hoa Kỳ trong tháng 1 năm 2007.  Qua “Lời Dẫn Nhập” của tác giả NTV, đây là một “ký sự” bao gồm “... những hình ảnh và các trang bút ký sống động của tác giả viết về các chuyến đi... ‘quan sát thực địa’ từ Vân Nam Trung Quốc xuống các quốc Lào Thái Cam Bốt và Đồng Bằng Sông Cửu Long Việt Nam [ĐBSCL]” trong các năm 2000 và 2001.  Nhưng các chuyến đi “quan sát thực địa” của tác giả dường như không chỉ có bấy nhiêu, vì tác giả NTV đã “Tường trình từ Vân Nam đến với con đập Mạn Loan” vào tháng 09/2002 và đi “Từ cầu Mỹ Thuận 2000 tới cây cầu Cần Thơ 2008” vào tháng 09/2006!
 
MK:DSNM không chỉ bao gồm “những hình ảnh và các trang bút ký” mà dường như còn mang cả một “thông điệp riêng tư của tác giả” để cảnh báo rằng: “Tiếp theo chuỗi những con đập thủy điện khổng lồ Vân Nam đã và đang gây tác hại trên đời sống của hơn 60 triệu cư dân hạ nguồn, thì sự cố nầy [việc vận chuyển 300 tấn dầu từ Chang Rai lên một giang cảng tỉnh Vân Nam] được coi như một đòn giáng chí tử thứ hai trên sinh mệnh của con sông Mekong, khi dòng sông được khai thác sử dụng như một thủy lộ chiến lược vận chuyển dầu khí từ Trung Đông tiếp tế cho các tỉnh vùng kỹ nghệ tây nam Trung Quốc thay vì phải đi qua eo biển Malacca.”  Với sự phụ họa của “Nhóm Bạn Cửu Long” (www.vietecology.org), những dự án thủy điện và thủy vận mà Trung Hoa đã, đang, và sẽ thực hiện trong lưu vực sông Mekong được hình dung như là một thứ “chất độc da cam/dioxin dã man” đã, đang, và sẽ tiếp tục gieo rắc “hậu quả kinh hoàng” trên khắp ĐBSCL, cũng như chất da cam đã bị cáo buộc là tác nhân của hầu hết bệnh tật đang xảy ra trên khắp ba miền của đất nước, từ ải Nam Quan cho đến mũi Cà Mau.  ”Cho dù chưa có dự án nào tới giai đoạn kết thúc, nhưng nơi các quốc gia hạ nguồn và nhất là Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) đã bắt đầu chịu những hậu quả ‘nhãn tiền’: như những cơn lũ bất thường trong mùa mưa... sông Cửu thì đang cạn dòng, thêm ngập mặn, ngày càng ô nhiễm và nguồn thủy sản thiên nhiên từ sông vốn rất phong phú cách đây ba thập niên thì nay hầu như không còn đáng kể...”
Nếu MK:DSNM cũng được viết theo dạng “... ‘dữ kiện tiểu thuyết- faction: facts & fiction’, với một số ít nhân vật như những hình tượng văn học và phần dự phóng là hư cấu [nhấn mạnh của HKHKTVN] để cùng với người đọc đi tới những vùng đất, nơi có con sông Mekong hùng vĩ chảy qua...” (giống như đàn anh của nó là Cửu Long Cạn Dòng-Biển Đông Dậy Sóng (CLCD-BĐDS)), chắc chúng ta sẽ cảm nhận được cái “dân tộc tính” hào hùng của một người dân Việt có “một ngàn năm đô hộ giặc Tàu” lúc nào cũng canh cánh bên lòng những “ưu tư” khi nhìn về phương Bắc, cái “nhiệt tình” nóng bỏng của một nhà hoạt động môi trường đầy hoài nghi (skeptical environmentalist) lúc nào cũng canh cánh bên lòng những “quan tâm” về hậu quả của các dự án mà không màng đến phúc lợi của chúng, cái “lãng mạn” cách mạng của một nhà văn lớn lúc nào cũng canh cánh bên lòng những “dự phóng cho tương lai” trong tình huống bi thảm nhất (worst-case scenario), và cái “lòng nhân đạo” không biên giới của một “lương y như từ mẫu” lúc nào cũng canh cánh bên lòng những “âu lo” cho an nguy không những của cư dân mà còn cho cá Pla Beuk và Irrawaddy Dolphin ở “Lưu Vực Dưới.” 
 
Thế nhưng MK:DSNM, dù không phải là một “dữ kiện tiểu thuyết,” lại có nhiều “thông tin” và dữ kiện rất chuyên ngành, để “... qua các thông tin có được ấy, để thấy rằng sự suy thoái của con sông Mekong là do những bước ‘khai thác tự hủy’ như một phản ứng dây chuyền với tàn phá sinh cảnh, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường... tất cả đã và đang diễn ra nhanh và sớm hơn dự kiến của nhiều người.”  Liệu các thông tin và dữ kiện chuyên ngành trong MK:DSNM - mà quan trọng nhất là dữ kiện thủy học - có đầy đủ, chính xác, và khả tín (adequate, accurate, and reliable) để “dự phóng” như tác giả NTV đã trình bày hay không?
 
* Mekong Nghẽn Mạch?
 
Trong phần “Thắt nghẽn mạch sống – Trung Quốc ngăn sông,” chương “Thay kết từ câu chuyện của dòng sông,” tác giả NTV viết: “Chiến lược ngăn sông Mekong để xây 14 con đập bậc thềm Vân Nam của Trung Quốc đã có từ thập niên 70, đây có thể coi là một đòn giáng chí tử trên mạch sống của dòng sông. 
 
Trong ba thập niên vừa qua, Trung Quốc đã ào ạt khai thác con sông Lan Thương [tên Trung Quốc của con sông Mekong], bằng cách xây các đập thủy điện khổng lồ chắn ngang dòng chính làm ảnh hưởng tới nguồn nước, nguồn cá, nguồn phù sa và cả gây ô nhiễm cho hạ nguồn.  Tuy chỉ mới có 2 con đập hoàn tất [Mạn Loan 1500 MW, Đại Chiếu Sơn 1350 MW], 2 đang xây [Tiểu Loan 4200 MW, Cảnh Hồng 1350 MW] trong dự án Mười Bốn Con Đập Vân Nam, vậy mà chưa bao giờ trong Mùa Khô, mực nước con sông Mekong lại có thể xuống thấp đến như vậy. [Hình II]  Ở một số nơi, có những khúc sông hầu như cạn dòng và đã trơ đáy.  Nguồn cá và nông nghiệp đã trực tiếp bị ảnh hưởng.  Không chỉ đơn giản vì ‘thiếu mưa’, sự kiện sông Mekong cạn dòng năm 1993 mà không vào Mùa Khô, trùng hợp với thời điểm Trung Quốc bắt đầu lấy nước vào con đập thủy điện đầu tiên Mạn Loan ngang dòng chính sông Mekong trên Vân Nam.  Để có đủ nước vận hành 2 đập thủy điện Mạn Loan và Đại Chiếu Sơn, Trung Quốc đã thường xuyên đóng các cửa đập khiến mực nước sông đã xuống tới mức thấp nhất.  Tại Lào, trong tháng 3/2004, tổ chức du lịch đã phải hủy bỏ 10 chuyến du ngoạn trên sông chỉ vì những khúc sông quá cạn.  Phía bên Thái Lan, Odd Bootha 38 tuổi, anh lái đò bến Chiang Khong Bắc Thái Lan đã phải than thở: “Nếu Trung Quốc cứ xây thêm đập thì sông Mekong chỉ còn là một con lạch.”
 
Quả thật, khúc sông Mekong ở ngay phía dưới đập Mạn Loan (Manwan) đã “cạn dòng” do việc trữ nước cho hồ chứa vào năm 1993; nhưng đây có lẽ là thời điểm duy nhất mà sông Mekong bị... “nghẽn mạch.”  Thật vậy, năm 2003, Kỹ sư Nguyễn Minh Quang (NMQ), một chuyên viên thủy lợi quen thuộc với ĐBSCL và cũng là thành viên của Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (HKHKTVN), đã dùng mực nước đo đạc hàng ngày tại trạm Chiang Saen để nghiên cứu ảnh hưởng thủy học của các đập thủy điện ở thượng nguồn.  Ông kết luận: “Dữ kiện đo đạc từ 1961 đến 2000 cho thấy việc xây cất và điều hành đập Manwan đã có ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng thủy học (mực nước và lưu lượng) ở trạm quan trắc Chiang Saen, cửa ngỏ của hạ lưu vực sông Mekong.  Việc đóng đập Manwan có lẽ làm cho mực nước cao nhất và thấp nhất trong mùa khô tại trạm nầy hạ thấp đến mức kỷ lục trong năm 1992 và 1993.  Tuy nhiên, lưu lượng trong mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4) tại trạm nầy tăng đáng kể sau khi đập Manwan hoàn tất, kể từ năm 1994:  lưu lượng cao nhất trung bình tăng từ 979 m3/sec đến 1.490 m3/sec hay 52%, lưu lượng thấp nhất trung bình tăng từ 477 m3/sec đến 807 m3/sec hay 69%, và lưu lượng trung bình trung bình tăng từ 654 m3/sec đến 1.055 m3/sec hay 61%” (Quang M. Nguyen. June 28, 2003. “Hydrologic Impacts of China’s Upper Mekong Dams on the Lower Mekong River.” www.mekonginfo.org).
 
Mực nước đo đạc hàng ngày tại trạm Chiang Saen từ 2001 đến 2006 cũng không có một dấu hiệu nào cho thấy sông Mekong “cạn dòng” trong tháng 3 năm 2004 như lời tác giả NTV.  Theo dữ kiện của Ủy hội sông Mekong (MRC) (www.mrcmekong.org), mực nước tại trạm nầy đã xuống đến mức thấp nhất 0,88 m vào ngày 27 tháng 3; thế nhưng mực nước nầy vẫn còn cao hơn mực nước thấp nhất hàng năm quan sát được từ năm 1960 đến 1986 khi mà các đập ở thượng nguồn chưa được xây cất.  Trong khoảng thời gian nầy, mực nước thấp nhất hàng năm tại Chiang Saen giao động từ 0,22 m đến 0,81 m, cho đến năm 1987 thì đạt 0,97 m.
 
Còn lời than thở của anh lái đò Odd Bootha ở bến Chiang Khong?  Trên phương diện thủy học, lời than thở cũng chỉ là... lời than thở!
 
* Những Cơn Lũ Bất Thường ở ĐBSCL
 
“Nhóm Bạn Cửu Long” rất chính xác nhưng tế nhị khi đánh giá những cơn lũ “bất thường” ở ĐBSCL trong mùa mưa.  Đây là những cơn lũ, mà theo lời Phó giáo sư Đào Công Tiến (ĐCT), nguyên hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế, Thành phố Hồ Chí Minh, “... vốn hiền lành trở nên hung tợn, tàn phá nhiều hơn, xói lở sông ngòi, khu dân cư” (TTCN. “Lũ ở đồng bằng sông Cửu Long.  Đề phòng tác hại lâu dài của đê bao.”  Báo Tuổi Trẻ ngày 15 tháng 10 năm 2005).  Nhưng gán cho “những con đập thủy điện khổng lồ [của Trung Hoa] chắn ngang dòng chính sông Mekong” là thủ phạm của những cơn lũ “bất thường” ở ĐBSCL thì hoàn toàn thiếu cơ sở khoa học.
 
Trên thực tế, không ai có thể chối cãi rằng tình hình lũ lụt ở ĐBSCL càng ngày càng trở nên “bất thường” sau tháng 4 năm 1975; nhưng chưa có một nghiên cứu khoa học nào liên kết “tình trạng bất thường” với việc xây cất và điều hành các đập thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong.  Ngược lại, kết quả nghiên cứu năm 2003 của NMQ cho thấy: “Ảnh hưởng của việc xây cất và điều hành đập thủy điện Manwan đối với tình trạng thủy học ở trạm Chiang Saen thì chưa nhận thấy ở trạm Tân Châu và Châu Đốc, là hai trạm quan trắc cuối cùng của hệ thống trạm quan trắc trong hạ lưu vực sông Mekong.  Nhận xét nầy phù hợp với sự liên kết rất lỏng lẽo (very weak correlation) giữa mực nước ở hai trạm Chiang Saen và Tân Châu.  Hệ số liên kết (correlation coefficient) giữa hai trạm Chiang Saen và Tân Châu là 0,46 cho mực nước cao nhất hàng năm và 0,12 cho mực nước thấp nhất hàng năm.  Sự liên kết được xem là hoàn hảo nếu hệ số liên kết bằng 1.”
 
Nhưng có dấu hiệu cho thấy “tình trạng bất thường” của lũ lụt ở ĐBSCL có liên hệ đến việc xây cất và điều hành các đập thủy điện trên cao nguyên miền Trung, Việt Nam như đập Yali và Se San 3. “Thí dụ như việc xả lũ từ đập thủy điện Yali ở Việt Nam vào đầu tháng 8 năm 2005.  Việc xả lũ nầy đã gây lũ lụt ở hạ lưu sông Se San trong tỉnh Ratanakiri của Kampuchia (32) và có lẽ đã làm mực nước nội đồng ĐTM [Đồng Tháp Mười] đang tăng nhanh lại càng tăng nhanh hơn trong trung tuần tháng 8 (33)” (NMQ.  Tháng 9 năm 2006.  “Những Vấn đề Thủy lợi ở Đồng bằng sông Cửu Long.”  www.vastvietnam.org).  
 
Một sự kiện “bất thường” đã đi vào lịch sử lũ lụt ở ĐBSCL và được trình bày trong bài viết năm 2006 của NMQ:  “Một sự kiện thủy học nổi bật được quan sát lần đầu tiên trong lịch sử, đó là, trong 23 trạm của hệ thống đo đạc thủy học ở hạ lưu vực sông Mekong, do Ủy hội sông Mekong điều hành, chỉ có 5 trạm có mực nước vượt quá mức báo động do Ủy hội ấn định trong năm 2005.  Đó là các trạm Thakhek và Pakse ở Lào, Mukdahan ở Thái Lan, và Tân Châu và Châu Đốc ở Việt Nam.  Tuy nhiên, sông Mekong vượt quá mức báo động chỉ có 5 ngày ở Thakhek, 7 ngày ở Pakse, và 9 ngày ở Mukdahan, nhưng kéo dài đến 30 ngày ở Tân Châu và 60 ngày ở Châu Đốc.” 
 
Và trong năm 2006, một lần nữa, lịch sử thủy học hạ lưu vực sông Mekong lại ghi thêm một kỷ lục mới: mực nước tại trạm Tân Châu đã vượt mức báo động và mực nước tại trạm Châu Đốc đã vượt mức lụt do Ủy hội sông Mekong ấn định, trong khi mực nước ở tất cả các trạm quan trắc còn lại ở thượng nguồn chưa vượt quá mức báo động của chúng.  Mực nước tại Tân Châu cao hơn mức báo động 3,50 m trong suốt 88 ngày (từ 15 tháng 8 cho đến 10 tháng 11) và đạt mức cao nhất 4,17 m (xấp xỉ mức nước lụt 4,20 m) vào ngày 17 tháng 10.  Mực nước tại Châu Đốc cao hơn mức báo động 2,50 m trong suốt 89 ngày (từ 18 tháng 8 đến 14 tháng 11) và cao hơn mức lụt 3,50 m trong suốt 18 ngày (từ ngày 12 đến 29 tháng 10) và đạt mức cao nhất 3,71 m vào ngày 21 tháng 10.
 
Nếu những con đập thủy điện khổng lồ ở Vân Nam không phải là thủ phạm của các cơn lũ “bất thường” ở ĐBSCL, thì ai là thủ phạm?  Để bảo đảm tính khách quan, chúng ta hãy nghe sự đánh giá của các cơ quan và giới chức có thẩm quyền trong nước.  “Trong hai thập kỷ vừa qua con người đã tác động mạnh mẽ lên vùng ngập lụt của châu thổ sông Mekong.  Nhiều kênh mới đã được đào, nhiều kênh cũ đã được nạo vét, mạng lưới kênh cấp II ngày càng được đan dày đã làm tăng khả năng chuyển lũ qua các vùng ngập.
 
Mặt khác các hệ thống giao thông đường bộ cũng được đan dày và tôn cao nhưng khẩu độ cầu cống chưa đủ đã làm ách tắc việc thoát lũ, làm dâng mực nước lũ một số vùng, trong đó đáng chú ý ở vùng ĐTM và TGLX [Tứ giác Long Xuyên] của Việt Nam” (Phân viện Khảo sát Quy hoạch Thủy lợi Nam bộ. 1999.  Đề tài: Nghiên cứu Khoa học cấp Nhà nước, Xây dựng Cơ sở Dữ liệu Thống nhất cho Mô hình Toán Tính lũ lụt ở Đồng bằng sông Cửu Long, Báo cáo Tổng kết Đề tài. Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam).  Phó giáo sư ĐCT, trong tờ Tuổi Trẻ ngày 15 tháng 10 năm 2005, cho rằng:
 
“Có nhiều nguyên nhân, song cái chính là sự tác động của con người vào tự nhiên để kiểm soát lũ thiếu tuân thủ qui luật.  Các hệ thống kênh mương dẫn lũ về sớm, rồi hệ thống giao thông, bờ kênh lại làm lũ rút chậm hơn bình thường.  Việc phát triển đê bao cục bộ tràn lan đến mức không còn là... cục bộ làm con lũ vốn hiền lành trở nên hung tợn, tàn phá nhiều hơn, xói lở sông ngòi, khu dân cư.”
 
* Cửu Long Cạn Dòng?
 
Ở nhiều nơi trong MK:DSNM, tác giả NTV trình bày một số “thông tin” và “dữ kiện” thủy học để minh chứng rằng những con đập thủy điện ở Vân Nam chính là nguyên nhân của tình trạng “sông Cửu cạn dòng” đang xảy ra ở ĐBSCL.  Nhưng những thông tin và dữ kiện nầy không phù hợp với các dữ kiện thủy học đo đạc ở các trạm quan trắc hoặc được công bố trong các tài liệu chuyên môn.
 
Trong phần “Con đập đầu tiên, con đập lịch sử,” chương “Tường trình từ Vân Nam đến với con đập Mạn Loan,” tác giả viết: “Chỉ riêng với con đập Manwan mà đã giữ tới 20% nguồn nước trên dòng chính khúc sông Mekong chảy qua Vân Nam.”  Nhưng con đập Manwan, thực sự, giữ được bao nhiêu nước của sông Mekong?  Theo tài liệu “Downstream Implications of China’s Dams on the Lancang Jiang (Upper Mekong) and their Potential Significance for Greater Regional Cooperation, Basin-Wide” (E.C. Chapman and He Daming. 1996), hồ chứa Manwan có dung tích 0,92 tỉ m3 tổng cộng và 0,25 tỉ m3 khả dụng.  Theo tài liệu Overview of the Hydrology of the Mekong Basin (MRC. November 2005), sông Mekong có lưu lượng trung bình 15.000 m3/sec, trong đó, thượng lưu vực (tức khúc sông Mekong ở Trung Hoa) chiếm 16%; như vậy, lưu lượng nước trung bình của sông Mekong chảy qua Vân Nam là 2.400 m3/sec hay khoảng 75,68 tỉ m3/năm. 
 
Do đó, hồ chứa Manwan chỉ có thể giữ khoảng 0,3-1,2% số lượng nước sông Mekong chảy qua Vân Nam hàng năm.  Trong mùa khô, vẫn theo tài liệu của Chapman và Daming, lưu lượng nước trung bình từ tháng 11 đến tháng 4 của sông Mekong tại đập Manwan là 689 m3/sec hay 10,86 tỉ m3/mùa khô.  Do đó, hồ chứa Manwan chỉ có thể giữ khoảng 2,3-8,5% số lượng nước sông Mekong chảy qua Vân Nam trong mùa khô.
 
Trong phần “Mae Nam Khong – sông Mẹ cạn dòng,” chương “Lào PDR.Com đi ra từ lãng quên,” tác giả viết: “Bây giờ mới là giữa tháng Chạp [2000] - vừa hết Mùa Mưa, chưa vào cao điểm Mùa Khô (khoảng tháng 4 tháng 5) vậy mà khúc sông Mekong chảy qua Vạn Tượng như đã khô cạn với ngổn ngang những cồn và bãi...  Dòng chảy của con sông Mekong nơi hạ lưu sẽ ra sao khi cả chuỗi 14 con đập bậc thềm Vân Nam (khởi đầu 7 nay 14) được hoàn tất trong hai thập nhiên [niên] đâu của thế kỷ 21.”  Rất tiếc, vì thiếu dữ kiện mực nước tại trạm quan trắc Vientiane (Vạn Tượng), nên “thông tin” về mực nước của khúc sông Mekong chảy qua Vạn Tượng vào giữa tháng 12 năm 2000 mà tác giả NTV cung cấp không thể được kiểm chứng một cách trực tiếp. 
 
Tuy nhiên, thông tin nầy có vẻ không trung thực nếu dựa trên dữ kiện mực nước tại trạm Chiang Saen, cách trạm Vientiane khoảng 650 km về phía thượng lưu.  Trong tháng 12 năm 2000, mực nước thấp nhất tại trạm Chiang Saen là 2,45 m, cao hơn mực nước thấp nhất trung bình từ năm 1960 đến 2000 là 2,25 m.  Về phương diện thủy học, nếu sông Mekong “không cạn dòng” ở Chiang Saen thì nó không thể nào “cạn dòng” ở Vạn Tượng!
 
Trong phần “Ô nhiễm trên những xa lộ nâu,” chương “Từ cầu Mỹ Thuận 2000 tới cây cầu Cần Thơ 2008,” tác giả viết: “Có một hiện tượng khách quan là dòng chảy sông Cửu Long ngày càng yếu đi ở nhiều khúc sông nhất là vào mùa khô, dòng chảy đo được ở Nam Vang chỉ còn 1,600 m3/giây thay vì 2,000 m3/giây như trước đây, khi xuống tới ĐBSCL chắc còn yếu hơn.”  Tác giả không cho biết dữ kiện nầy được trích dẫn từ đâu, nhưng theo tài liệu Report, Analysis of Sub-Area 10V, Basin Development Plan (Viet Nam National Mekong Committee. November 2003), thì “Trong mùa khô, lưu lượng ở ĐBSCL rất thấp.  Lưu lượng trung bình hàng tháng tại Nam Vang từ tháng 2 đến tháng 4 là 2000-4000 m3/s.  Trong những năm trung bình, lưu lượng đạt mức thấp nhất 2380 m3/s vào tháng 4.  Trong những năm hạn, lưu lượng có thể thấp hơn 2000 m3/s.”  Ngay trong năm 1998, là một trong những năm hạn hán gay gắt nhất, lưu lượng sông Mekong tại Tân Châu và Châu Đốc cũng không xuống dưới 1815 m3/sec.
Có một “sự cố” thủy học lịch sử khác hiện đang xảy ra ở ĐBSCL mà có lẽ tác giả NTV chưa được biết: mực nước trong mùa khô tại Tân Châu và Châu Đốc tụt xuống thấp một cách “bất thường” kể từ năm 2001 cho đến nay!  Dữ kiện đo đạc của MRC cho thấy mực nước thấp nhất hàng năm dao động từ 0.00 đến -0.23 m tại Tân Châu (so với mực nước thấp nhất trung bình 0.27 m trong khoảng 1979-2000) và từ -0.11 đến -0.39 m tại Châu Đốc (so với mực nước thấp nhất trung bình 0.18 m trong khoảng 1979-2000).  Nhưng sự kiện nầy thì không thể cáo buộc là do các đập thủy điện ở Vân Nam gây ra, vì mực nước thấp nhất hàng năm tại Chiang Saen vẫn duy trì từ 0.88 đến 1.30 m, cao hơn mực nước thấp nhất trung bình 0.70 m trong khoảng 1960-2000.  HKHKTVN đang tiếp tục theo dõi và nghiên cứu để tìm hiểu nguyên nhân.
 
* Thay Lời Kết
 
Phải khẳng định rằng, không một ai có thể phủ nhận nhiệt tình của tác giả NTV với dòng sông Mekong qua MK:DSNM, nhưng những thông tin và dữ kiện thủy học mà tác giả trình bày trong quyển sách thì không đầy đủ, thiếu chính xác, và không đáng tin cậy.  Những thông tin và dữ kiện khác thì không được phối kiểm, nhưng làm thế nào để sử dụng dòng sông “... như một thủy lộ chiến lược vận chuyển dầu khí từ Trung Đông [chỉ qua lãnh thổ Thái Lan] tiếp tế cho các tỉnh vùng kỹ nghệ tây nam Trung Quốc...” mà không phải qua eo biển Malacca?
 
Trong MK:DSNM, chúng ta thấy nhiều chi tiết và lập luận giống như những chi tiết và lập luận trong tài liệu River at risk: the Mekong and the water politics of Southeast Asia (RAR) do Tiến sĩ (TS) Milton Osborne soạn cho Viện Chánh sách Quốc tế Lowy (Lowy Institute for International Policy) ở Australia vào năm 2004.  Đây không phải là một ngạc nhiên, vì quyển CLCD-BĐDS cũng có một số chi tiết, lập luận, và cách trình bày giống như quyển The Mekong: turbulent past, uncertain future cũng của TS Osborne xuất bản năm 2000.
 
Trong RAR, TS Osborne trình bày “ưu tư” của ông về tình trạng “bất thường” của mực nước sông Mekong ở Thái Lan và Lào trong tháng 3 năm 2004 dựa trên các “thông tin và dữ kiện” đăng tải trên báo The Nation (Bangkok), Asia Times Online, News Scientist, The Bangkok Post, The South China Morning Post, The Economist, và The Guardian.  Theo các thông tin và dữ kiện nầy thì các con đập thủy điện ở Vân Nam là nguyên nhân chính của tình trạng dao động lạ kỳ (bizarre) đó.  Nhưng theo kết quả nghiên cứu của MRC dựa trên dữ kiện mực nước và lượng mưa đo đạc trong nhiều thập niên, được trình bày trong buổi họp của Ủy ban Hỗn hợp MRC (MRC’s Joint Committee) tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 26 tháng 3 năm 2004, thì “... tình hình hạn hán hiện nay không có liên hệ trực tiếp đến đập Manwan hoặc các đập khác của Trung Hoa” mà do “... thiếu mưa từ năm trước” (MRC Press Release No. 03/04. 26 March 2004). 
 
Trong một bức thơ đề ngày 9 tháng 1 năm 2007 gởi cho tờ The Bangkok Post để lên tiếng về bài báo “Kế hoạch xây đập mới gây báo động (New dam plan sparks warning)” ngày 25 tháng 12 năm 2006, TS Oliver Cogels, Giám đốc Điều hành Văn phòng MRC viết: “Trong buổi gặp gở với giới truyền thông Thái ngày 19 tháng 12 năm 2006, tôi có nói rằng, trong khi các ảnh hưởng cục bộ phải luôn được cứu xét và khắc phục thích đáng, ảnh hưởng chung ở hạ lưu của các đập thủy điện trên sông Lan Thương ở Trung Hoa thì thường bị phóng đại trong dư luận quần chúng. 
Thật vậy, tổng số lượng nước có thể giữ lại đàng sau hai hồ chứa Manwan và Dachaoshan thì nhỏ hơn ít nhất 30 lần lưu lượng sông Mekong chảy ra khỏi Trung Hoa hàng năm.  Và mặc dù dung tích hồ Xiaowan sẽ quan trọng hơn, nó vẫn nhỏ hơn ít nhất ¼ tổng số lưu lượng hàng năm.  Hơn nữa, nếu các đập nầy không dùng cho thủy nông mà chỉ dùng cho thủy điện, chúng không ‘tiêu thụ (consume)’ nước và có khuynh hướng làm tăng lưu lượng của sông trong mùa khô và giãm lưu lượng của sông trong mùa lũ.  Chúng tôi có đủ bằng chứng (evidence) để tin rằng các con đập của Trung Hoa không có trách nhiệm đối với tình trạng hạn hán mà các quốc gia ở hạ lưu đang đối mặt trong các năm vừa qua” (www.mrcmekong.org).
 
MK:DSNM, phương tiện chuyên chở “thông điệp riêng tư của tác giả” - một giấc mộng lớn - để cảnh báo với mọi người rằng các con đập thủy điện khổng lồ trên sông Lan Thương ở Trung Hoa đã, đang,và sẽ làm cho sông Mekong “nghẽn mạch” ở Vân Nam và “cạn dòng" ở Tân Châu và Châu Đốc.  Qua lăng kính thủy học, giấc mộng lớn đó có lẽ chỉ là... một giấc mộng lỡ!
 
MekongNghenMachQuaLangKinhThuyHoc.doc
 
http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=115&nid=105483
 
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
175 Hội Gửi Thư Xin Cứu Sông Mekong  
 
 Việt Báo ThứSáu, 11/16/2007, 12:02:00 AM
 
Dự Án Xây 6 Đập Nứơc Sẽ Di Dời, Xóa Sổ...
 
BANGKOK, Thái Lan (AP) -- Bản tin của phóng viên Michael Casey của thông tấn AP cho biết rằng 6 đập nước dự kiến xây trên Sông Mekong có thể làm di dời tới 75,000 dân làng và gây nguy hại cho hàng trăm chủng loại như các loại cá bông lau khổng lồ và cá heo Irrawaddy, theo lời các nhà hoạt động bảo vệ môi trường hôm Thứ Ba 13-11-2007.
 
Premrudee Daoroung, giám đốc hội môi sinh TERRA trụ sở ở Bangkok, nói là các kế hoạch có từ 13 năm trước để xây 4 đập nước ở Lào và một ở Thaí và một ở Cam Bốt đã được cho hồi phục lại trong một phần của các nỗ lực -- hầu hết là bởi Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam -- để tìm nguồn năng lượng mới cho nền kinh tế đang tăng của  họ.
 
“Dòng chaỷ tự nhiên của sông sẽ bị đổi toàn bộ,” theo lời Premrudee. “Dĩ nhiên, nó sẽ ảnh hưởng toàn bộ cây cỏ thực vật và cá trên sông. Nhiều giống cá sẽ tuyệt chủng bởi vì sông sẽ cạn hơn và một số nơi không còn nước nữa vào mùa khô.”
 
Các đập nước đề nghị này sẽ tăng thêm áp lực vào dòng Mekong đã bị vây bủa hiện chảy xuyên qua Trung Quốc, Miến Điện, Lào, Thái Lan, Cam Bốt và VN.
 
Sông naỳ và mạng lưới khổng lồ của nó hiện đang đối mặt với nhiều đe dọa vì ô nhiễm môi sinh, thay đổi khí hậu và ảnh hưởng từ các đập nứơc đã xây ở Trung Quốc và làm các mực nước cứ sụt giảm ở thượng lưu Mekong.
 
Một liên minh gồm 175 hội môi sinh và hội đoàn dân sự hôm Thứ Hai đã cùng gửi một lá thư lên Ủy Hội Sông Mekong -- gồm Cam Bốt, VN, Lào và Thái Lan với nhiệm vụ khảo sát và phát triển dọc dòng sông này -- để xin ủy ban phổ biến các bản nghiên cứu về sông này, trong khi ủy ban vẫn im lặng một cách đáng sợ.
 
http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=4&nid=118270
 
Đăng nhập để trả lời
0



Lo cho đồng bằng sông Cửu Long

00:18:00, 01/03/2008


 


 
Võ Văn Kiệt




Những biến động khác thường về khí hậu, thời tiết từ cuối năm 2007 đến nay đã cho thấy những dự báo của thế giới về biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến toàn cầu trong đó có Việt Nam ngày càng ứng nghiệm. Đầu tiên là mùa bão lũ kéo dài, dồn dập tại miền Trung gây ra những thiệt hại nặng nề về người và của.
 


Tiếp đến là đợt rét đậm, rét hại vừa qua ở miền Bắc, một diễn biến thời tiết bất thường chưa từng xảy ra trước đó. Theo chu kỳ thời tiết các năm trước, sau đợt rét là mùa hạn hán. Đợt rét năm nay vẫn chưa hết, vì vậy chúng ta cần có giải pháp dự phòng chủ động, tích cực hơn. Tình hình trên cho thấy những biến đổi thời tiết tại Việt Nam ngày càng bất ổn.  Tôi đã đi miền Trung để quan sát ảnh hưởng của đợt bão lũ dồn dập vừa qua. Thật sự thiên tai thì không ai có thể chống lại được. Những gì chúng ta làm được, đó là phòng ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại. Phòng ngừa để có thể khắc phục nhanh nhất hậu quả thiên tai, giảm thiểu các tác động xấu đến đời sống người dân. Thiên tai xảy ra ở nước nào thì nước đó gánh chịu, nhưng gánh chịu thiệt hại nhiều nhất chính là nước nghèo, vùng nghèo, người nghèo, nhất là nông thôn bởi thiên tai ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Cần sớm có chủ trương ở tầm quốc gia, đó cũng là một trong những quyết sách bền vững cho tăng trưởng và phát triển...
 
Cả miền Bắc và miền Trung đã và đang gánh chịu thiệt hại do thiên tai, biến động thời tiết. Còn Nam Bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) liệu còn được mưa thuận gió hòa bao lâu nữa?
 
Theo dự báo của các nhà khoa học, trong tương lai mực nước biển có thể sẽ dâng cao thêm từ 0,5-1m. Nếu điều này xảy ra, Việt Nam mà trước hết là vùng thấp ĐBSCL sẽ ra sao? Ông Nguyễn Cảnh Dinh, nguyên Bộ trưởng Bộ Thủy lợi trước kia, đã gửi cho tôi một bản nghiên cứu. Theo đó, nếu mực nước biển dâng cao thêm 1m thì nước sông, rạch, kênh, mương cũng dâng lên 1m, dự báo ĐBSCL sẽ có từ 1,5-2 triệu ha nằm dưới mực nước biển. Đó là chưa kể đồng bằng ven biển nước ta có thể sụt lún gần 1m so với hiện tại. Ở nhiều thành phố lớn của Việt Nam, đặc biệt là TP.HCM, thường xuyên xảy ra tình trạng không mưa cũng ngập do triều cường. Nếu tất cả những diễn biến sụt lún, nước biển dâng, lũ lụt xảy ra cùng lúc thì vùng đồng bằng này sẽ thiệt hại nặng nề như thế nào? Có thể hình dung là gần như tất cả sẽ ngập trong nước, những thành thị sẽ trở thành ốc đảo. Nếu ĐBSCL bị ngập lụt, đây sẽ là một thảm hoạ, bởi ĐBSCL là vùng sản xuất lương thực lớn nhất của nước ta, chưa kể là nguồn cung một phần cho thế giới. Một thứ thiên tai khác là nắng hạn, nguồn nước ngọt chủ yếu từ sông Mê Kông bị cạn kiệt, nước mặn từ các cửa sông ở ba phía giáp biển xâm nhập sâu vào cũng là thứ tai họa không nhỏ. 
 
Vừa rồi (ngày 26.2.2008) tôi có dự buổi gặp mặt đầu xuân anh chị em trí thức, các nhà khoa học ở Vĩnh Long. Những ý kiến phát biểu chứng tỏ anh em theo sát tình hình thực tế, những phát biểu rất sát thực. Mặc dù thời gian không có nhiều, nhưng những vấn đề thu hút sự quan tâm lớn nhất vẫn là chất lượng của sự phát triển, chất lượng của đầu tư. Các hoạt động đầu tư phát triển hiện vẫn theo bề rộng mà ít có đầu tư chiều sâu, gắn với phát triển bền vững; những tác động đến môi trường cũng được quan tâm. Tuy nhiên, một vấn đề rất lớn, ảnh hưởng toàn cầu, đặc biệt là những nước nông nghiệp, đang phát triển như Việt Nam đó là sự biến đổi khí hậu toàn cầu thì chưa được đề cập. Mặc dù những hậu quả nhãn tiền mà miền Bắc, miền Trung phải hứng chịu vẫn còn nóng hổi. Có thể do từ trước đến nay Nam Bộ nói chung là được yên ổn chăng. Tuy nhiên nếu xảy ra bão, lũ như miền Trung thì thiệt hại ở ĐBSCL sẽ nặng gấp nhiều lần miền Trung.
 
Theo tôi, các nhà lãnh đạo, nhà khoa học phải sớm nghiên cứu xây dựng chiến lược lâu dài ứng phó với nguy cơ này. Các nhà khoa học của chúng ta hoàn toàn đủ sức để nghiên cứu, đánh giá, dự báo tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết. Nguồn lực của chúng ta không quá khó khăn như trước để đầu tư xây dựng hệ thống đê biển, cống đập giữ ngọt, ngăn mặn, thoát lũ. Nhiệm vụ đầu tư xây dựng hệ thống giao thông kết hợp thủy lợi, cầu cống, đê biển không chỉ đặt ra trong một vài giai đoạn mà phải là một chiến lược lâu dài, xuyên suốt, nối tiếp trong nhiều năm. Nhiệm vụ này phải được các nhà lãnh đạo các cấp xem là nhiệm vụ quan trọng đặc biệt bên cạnh các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội bức thiết khác. Đê biển phải được quy hoạch và thiết kế cơ bản, kể cả khu vực các cửa sông, đủ kiên cố để đối phó nước biển dâng cao, ngăn mặn, giữ ngọt. Trong nội đồng tiếp tục hoàn chỉnh hạ tầng giao thông, hệ thống thủy lợi gắn kết với giao thông cặp theo sông, kinh rạch, hệ thống cầu, cống... những công trình không thể tách rời của 2 ngành...
 
Tôi được đọc nhiều tài liệu về đê, đập của Hà Lan, có dịp gặp gỡ các chuyên gia Hà Lan, được nghe về kinh nghiệm ngăn đê chống ngập của họ. Mặc dù là một đất nước nằm dưới mực nước biển nhưng Hà Lan vẫn có những phương án hiệu quả để tồn tại và phát triển, nổi tiếng thế giới về sản xuất nông nghiệp và nhiều lĩnh vực khác. ĐBSCL trong tương lai có thể sẽ chung hoàn cảnh như thế. Các kinh nghiệm của Hà Lan có thể giúp ích cho chúng ta. Tôi đã có dịp nêu ý kiến nhiều lần về vấn đề này nhưng mức độ quan tâm về sự biến đổi khí hậu, diễn biến thiên tai tại vùng này vẫn chưa được các cấp đặc biệt quan tâm. 
 
So với thời kỳ trước đây của ông cha ta, phải ứng phó với thời tiết khắc nghiệt của miền Bắc và Bắc Trung Bộ, thời kỳ khó khăn, còn cơ chế bao cấp thì hiện nay chúng ta đã có điều kiện thuận lợi hơn nhiều. Chúng ta cũng đặt vấn đề khá sớm, coi hạ tầng thủy lợi ĐBSCL là một trong 3 khâu đột phá từ 2005, sau đó lại buông trôi. Chẳng lẽ phải gánh chịu mức thiệt hại nặng nề rồi mới quyết tâm làm?
V.V.K
(N.Sơn - Q.Thuần ghi)
 
http://www1.thanhnien.com.vn/Chaobuoisang/2008/3/1/228086.tno
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-04-02 05:47:54HongYen>
 30 Tháng 3 2008 - Cập nhật 13h01 GMT
Thượng đỉnh tiểu vùng sông Mekong 




Đại diện cho hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây là Thủ tướng Ôn Gia Bảo

Hôm nay (30.3) lãnh đạo các nước Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam và Trung Quốc bắt đầu cuộc họp tiểu vùng sông Mekong (GMS) ở Vientiane để bàn về hợp tác.
[/align] 
[/align]Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu một đoàn gồm nhiều thứ bộ trưởng đi dự cuộc họp thượng đỉnh lần thứ ba của GMS.

Hai trong số các chủ đề được bàn thảo tại hội nghị hai ngày này là làm sao tăng cường kết nối giao thông, cũng như thuận lợi hóa thương mại và giao thông.

Trước đó Thủ tướng Việt Nam nói việc thực hiện các chương trình hợp tác của GMS tiến triển chậm chạp và phát triển kinh tế trong khu vực tạo thêm sức ép cho sông Mekong.
Các nhà lãnh đạo tin rằng giao thông tốt sẽ gia tăng tính cạnh tranh cho các nước trong khu vực.

Thách thức
Mục tiêu của GMS là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cổ xúy cho phát triển bền vững, nâng cao đời sống nhân dân lưu vực sông Mê Kông.


Các hành lang kinh tế
[/align]Hành lang kinh tế Đông – Tây (EWEC), dài 1450 km, bắt đầu từ thành phố cảng Mawlamyine (Miến Điện) chạy qua Thái Lan và các tỉnh Savanakhet (Lào), Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng (Việt Nam).
 
[/align]Hành lang kinh tế Bắc – Nam (NSEC), gồm 3 tuyến dọc theo trục Bắc – Nam là Côn Minh – Chiềng Rai – Băng Cốc, Côn Minh – Hà Nội – Hải Phòng và Nam Ninh – Hà Nội. Hành lang này dự kiến hoàn thành vào năm 2010.
[/align]Hành lang kinh tế phía Nam (SEC): gồm 3 tuyến đường nối phía Nam Thái Lan qua Campuchia với Việt Nam. Theo quy hoạch, hành lang phía Nam dự kiến đi vào hoạt động từ năm 2010 – 2012.
 
[/align]Chính phủ Việt Nam
Hợp tác phát triển hạ tầng giao thông được dành ưu tiên hàng đầu và đạt nhiều kết quả nổi bật nhất, tập trung vào 3 hành lang kinh tế chính: Đông-Tây, Bắc-Nam và phía Nam.

Tiểu vùng Mê Kông mở rộng (GMS) bao gồm các nước Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam và hai tỉnh Vân Nam, Quảng Tây của Trung Quốc.

Với tổng diện tích 2,3 triệu km2, đông dân cư (320 triệu người), đa sắc tộc và có các nền văn hóa rất phong phú, lưu vực sông Mê Kông giàu tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho sản xuất nông, lâm nghiệp.

Nhưng đây cũng là vùng nghèo, chậm phát triển ở Đông Nam Á và châu Á, cơ sở hạ tầng yếu kém. Trong tiểu vùng tồn tại sự cách biệt về trình độ phát triển giữa các địa phương.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/03/080330_gsmvientian.shtml
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-06-16 03:35:00HongYen>
Cái Chết Của Một Dòng Sông
Sông Cửu Long và Các Khai Thác Thượng Nguồn của Trung Hoa
Trần Tiễn Khanh

                                                            
Người Việt thường gọi sông Mekong là sông Cửu Long vì như chín con rồng sông chảy qua chín cửa biển. Bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, sông Cửu Long là con sông dài thứ 12 trên thế giới, chảy dài trên 4500 km, qua sáu quốc gia Trung Hoa, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Đúng như tên của dòng sông (Mekong có nghỉa là Sông Mẹ theo ngôn ngử Lào), sông Cửu Long là nguồn sống của hơn 60 triệu người ở các quốc gia hạ nguồn như Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Phần đông họ là những người nghèo khổ sống nhờ vào tôm cá từ dòng sông. Họ còn dùng nước và phù sa để trồng lúa cũng như dùng sông làm phương tiện giao thông chính.  Trong vòng hai thập niên tới, số cư dân này sẽ tăng đến hơn 100 triệu. Đời sống của họ bị đe dọa thường xuyên bởi bão lụt, nạn phá rừng, nạn ô nhiễm cũng như những khai thác thiếu suy xét.
 
 
Nhưng thảm họa lớn nhất đang chờ họ là các đập thủy điện của Trung Hoa ở vùng Vân Nam. Ngoài ra Trung Hoa còn đang xúc tiến việc mở rộng dòng sông ở thượng nguồn để các tàu bè lớn có thể đi lại dể dàng. Chương trình phát triễn này của Trung Hoa sẽ đem đến những tai hại to tát về môi sinh cũng như kinh tế ở các nước thuộc lưu vực sông Cửu Long, nhất là Campuchia và Việt Nam. Khi thực hiện các khai thác, Trung Hoa đã không tôn trọng quyền lợi của các nước này. Đây là một cơ nguy có thể dẫn đến tranh chấp và khủng hoảng chính trị cũng như chiến tranh trong một tương lai gần đây. Ngay chính sự sống còn của sông Cửu Long cũng sẽ bị đe dọa trong vài thập niên tới. Sau khi xem xét các dự án của Trung Hoa, các chuyên gia về thủy sản thuộc Smithsonian Institute ở Washington, DC, Hoa Kỳ đã báo động các loài tôm cá sông Cửu Long sẽ bị tuyệt chủng. Các chuyên gia này cũng tiên đoán rằng sông Cửu Long sẽ chết như sông Dương Tử  và các dòng sông lớn khác ở Trung Hoa vì các khai thác bừa bãi và nạn ô nhiễm.
 
Trong thập niên vừa qua,  Trung Hoa đã xúc tiến xây cất các đập thủy điện ở Vân Nam thuộc thượng nguồn sông Cửu Long. Đập Manwan đã được xây xong vào năm 1993 với năng xuất 1500 MW điện. Đập Dachaoshan (Đại Chiếu Sơn) được hoàn thành vào tháng 12 năm 2002 vừa qua. Đập này có năng xuất 1350 MW,  cao bằng một cao ốc 30 tầng và có một hồ chứa nước dài 88 km. Trung Hoa cũng đã bắt đầu xây đập Xiaowan vào tháng Giêng 2003 với năng xuất 4200  MW điện và môt hồ chứa nước dài 169 km. Phí tổn xây đập Xiaowan lên đến 4 tỷ USD. Khi được hoàn tất vào năm 2013, đập Xiaowan sẽ là đập cao nhất thế giới, với chiều cao 300 m tương đương với một cao ốc 100 tầng. Ngoài ra Trung Hoa còn dự trù xây thêm ít nhất là năm cái đập khác. Tất cã các đập này nhằm cung cấp điện lực cho tỉnh Vân Nam, một vùng tương đối nghèo khó mà Trung Hoa đang cố gắng phát triễn.
 
Trung Hoa cũng đang xúc tiến việc mở rộng dòng sông để các thương thuyền lớn có thể đi lại dể dàng. Đáy sông ở  vùng Vân Nam đã được nạo vét. Các đá ngầm và ghền thác trên khúc sông dài 300 km từ biên giới Trung Hoa-Miến Điện đến Lào đã  bắt đầu đươc phá huỷ. Khi hoàn tất, thương thuyền nặng hơn 100 tấn có thể đi từ cảng Simao ở Vân Nam đến các thương cảng ở các quốc gia lân cận.
   
Trung Hoa tuyên bố rằng các khai thác về thủy điện và giao thông nói trên sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các nước ở hạ nguồn. Các nhà chức trách Trung Hoa cũng nói các tai hại về môi sinh và môi trường chỉ ở mức độ thấp. Các đập sẽ giảm bớt lũ lụt vào mùa mưa và nạn thiếu nước vào mùa khô. Mở rộng dòng sông sẽ tăng thêm giao thương giữa Trung Hoa và các nước láng giềng, mang lại thịnh vượng cho toàn vùng.    
 
Các chương trình khai thác của Trung Hoa thường xảy ra trong vòng bí mật và rất ít chi tiết được công bố. Trung Hoa còn che dấu các hậu quả xấu về môi trường. Gần đây một cuộc khảo sát các hậu quả môi trường của chương trình mở rộng dòng sông Cửu Long đã bị Ủy Hội Sông Mekong (Mekong River Commission) chỉ trích là thiếu sót và sai lầm. Ủy Hội này gồm có bốn nước ở hạ nguồn, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. Hai nước thượng nguồn, Trung Hoa và Miến Điện, đã từ chối tham gia chính thức nhưng vẫn tham dự với tư cách quan sát viên.
 
Trái với các khẳng định trên của Trung Hoa, các đập thủy điện sẽ gây nhiều thãm họa môi trường và kinh tế, ảnh hưởng đến đời sống của hàng triệu người ở các nước hạ nguồn. Hàng năm, lũ lụt thường xảy ra từ tháng 6 đến tháng 10 và làm thiệt mạng hàng trăm người. Đa số các nạn nhân là trẻ con bị chết đuối vì thiếu chăm sóc của người lớn. Có nhiều dấu hiệu cho thấy các đập ở Vân Nam đã gia tăng cường độ lũ lụt năm 2002 vừa qua. Vì các hồ chứa nước đã đầy quá mức, các đập này đã tháo bớt nước và làm tăng thêm mực nước sông Cửu Long khi sông đã tràn bờ. Số người chết và thiệt hại mùa màng và nhà cửa vì lũ lụt đã gia tăng ở Campuchia, Thái Lan và các nơi khác.
 
......
 
http://www.buddhismtoday.com/viet/khac/caichetdongsong.htm
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-06-16 03:40:51HongYen>
......

Số người chết và thiệt hại mùa màng và nhà cửa vì lũ lụt đã gia tăng ở Campuchia, Thái Lan và các nơi khác.
....... 
 
 
Về mùa khô, mực nước sông Cửu Long xuống thấp vì nguồn nước chỉ còn các thác băng ở Tây Tạng và Vân Nam. Lưu luợng trung bình giảm từ 50000 m3/s trong mùa mưa xuống còn 2000 m3/s trong mùa khô. Mùa khô thường kéo dài từ tháng 11 đến tháng 5. Nếu các đập ở thượng nguồn không chịu tháo nước vì hạn hán hay các hồ ở các đập đang thiếu nước thì hậu quả sẽ vô cùng trầm trọng ở các vùng hạ nguồn.  Các vùng này sẽ bị nhiễm mặn và ruộng đồng nhiều nơi sẽ bị phế bỏ vì nước mặn hay thiếu nước để trồng trọt. 
 
Ngoài việc thay đổi mực nước và chu kỳ tự nhiên của sông Cửu Long, các hồ chứa nước ở các đập sẽ giử lại phù sa. Thiếu nước và phù sa sẽ làm ruộng đồng ở hạ nguồn khô cằn và bớt phì nhiêu. Mức độ sản xuất lúa gạo sẽ suy giãm nhiều, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Lượng phù sa ở miền Nam Việt Nam có thể giảm đến 50% vì các đập thủy điện.  Đây là nguy cơ có thể gây nên nạn đói kém trầm trọng vì miền Nam là kho lúa gạo chính của cả toàn quốc Việt Nam. Vào năm 1997, Trung Hoa đã khóa nước sông Cửu Long trong vòng bốn ngày để tiến hành việc xây đập và làm thiệt hại 100000 USD mỗi ngày ở Việt Nam.
 
Trong lúc ruộng đồng ở hạ nguồn thiếu phù sa, các đập ở Vân Nam sẽ bị tràn ngập vì phù sa. Cường độ phù sa trôi vào đập Manwan đã tăng gấp đôi so với dự tính ban đầu.  Một trong những lý do mà Trung Hoa dùng để biện hộ việc xây đập Xiaowan là đập này ở trên đập Manwan và do đó sẽ giảm mức độ phù sa trôi vào đập Manwan. Nhưng rồi đập Xiaowan và các đập khác cũng sẽ bị ngập vì phù sa trong vài thập niên tới mà thôi. Các hồ chứa nước sẽ trở thành những bải sình lầy vĩ đại và vô dụng! Trung bình các đập này chỉ có thể hoạt động trong vòng 20 năm, so với ước tính ban đầu là 70 năm.  Một khảo cứu vào tháng 11 năm 2000 của Uỷ Hội Các Đập Thế Giới (World Commission on Dams) đã kết luận rằng đa số các đập thủy điện lớn trên toàn thế giới đã không mang lại một lợi ích kinh tế nào nếu so sánh với phí tổn xây dựng, số người phải di cư và các hậu quả môi trường.
 
Với 1245 loại cá, Sông Cửu Long là sông có nhiều tôm cá thứ nhì trên thế giới, chỉ sau sông Amazon ở Nam Mỷ.  Có nhiều loại hiếm quý như cá bông lau khổng lồ nặng đến 300 kg và cá heo sống ở nước ngọt.  Hàng năm có đến 1.8 triệu tấn cá đánh được ở các quốc gia hạ nguồn. Riêng Hồ Tonle Sap ở Campuchia cũng sản xuất được  400000 tấn.   Các đập ở Vân Nam sẽ thay đỗi mức nước cũng như nhiệt độ và chu kỳ nước sông Cửu Long. Các thay đỗi này sẽ tác hại trầm trọng đến sinh trưởng của các loài tôm cá. Việc mở rộng dòng sông sẽ làm nước sông chảy mau hơn và soi mòn hai bên bờ. Các đá ngầm là nơi sinh sản của tôm cá cũng sẽ bị phá hủy. Có nhiều loại tôm cá sẽ bị tuyệt chủng vì không thể thích ứng với các thay đỗi trái với thiên nhiên kể trên.
 
 
 
Ngư phủ ở nhiều nơi dọc sông Cửu Long đã than phiền lượng cá đã giảm nhiều trong vài năm qua. Đây là một hậu quả trầm trọng, có ảnh hưởng đến đời sống và sức khoẻ của hàng chục triệu người vì tôm cá là nguồn chất đạm chính của cư dân lưu vực sông Cửu Long.       
 
Với các khai thác thủy điện và giao thông ở thượng nguồn, Trung Hoa hầu như kiễm soát hoàn toàn sông Cửu Long. Các khai thác này sẽ gây nên những thảm họa về môi sinh và kinh tế cho các quốc gia ở hạ nguồn, nhất là Campuchia và Việt Nam.   Vận mạng của các quốc gia này cũng như đời sống của hơn 60 triệu cư dân sẽ nằm trong tay Trung Hoa.    Đối với các chương trình khai thác của Trung Hoa, các quốc gia hạ nguồn thường có phản ứng yếu ớt vì áp lực chính trị cũng như những hứa hẹn viện trợ kinh tế. 
 
Các cơ quan quốc tế như Ủy Hội Sông Mekong (Mekong River Commission), ASEAN, Liên Hiệp Quốc, Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Ngân Hàng Phát Triễn Á Châu (Asian Development Bank) cần làm áp lực với Trung Hoa để cho họ suy xét nghiêm chỉnh và khách quan các hậu quả ở các nước hạ nguồn mỗi khi có dự án khai thác nào. Riêng các ngân hàng quốc tế cũng cần xét lại các dự án phát triễn thủy điện mà họ là nguồn tài trợ, không những của Trung Hoa mà của các quốc gia khác nữa. 
 

 
Đa số các đập thủy điện sẽ không mang lại một lợi nhuận nào nếu so sánh với kinh phí xây cất và các hậu quả môi trường. Trung Hoa cần phải   biết rằng sông Cửu Long không chỉ dành riêng cho các quốc gia thượng nguồn như Trung Hoa và Miến Điện, mà cũng thuộc về các nước hạ nguồn như Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.  Cựu Thủ tướng Chu Ân Lai đã từng tuyên bố với các nhà lảnh đạo các quốc gia hạ nguồn rằng: “Tôi ở thượng nguồn và Quý vị ở hạ nguồn. Chúng ta cùng uống nước từ một dòng sông chung. Vậy chúng ta như anh em một nhà”.  Các nhà lảnh đạo Trung Hoa cần thực hành nghiêm chỉnh lời tuyên bố này để tạo thông cảm, hợp tác trên căn bản bình đẳng và tôn trọng quyền lợi của các nước khác. Có như thế mới có thể tránh những tranh chấp, những thảm hoạ kinh tế và môi truờng ở ngay Vân Nam cũng như ở các nước hạ nguồn,  và nhất là tránh cho sông Cửu Long một cái chết thê thảm trong một tương lai gần đây mà thôi!  
 
                                                                        http://www.vnbaolut.com  

Đăng nhập để trả lời
0



Đồng bằng sông Cửu long: Có nơi nước ngầm tụt xuống tới 14m

22:07' 03/06/2005 (GMT+7)


Theo Viện Nghiên cứu và Phát triển Đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL), vùng này đang phải đương đầu với tình trạng nước ngầm tụt giảm nghiêm trọng.
 






Một cảnh khoan giếng ngầm ở ĐBSCL
Thống kê sơ bộ cho thấy, tại Trà Vinh hiện có trên 15.000 giếng bơm tay; hơn 150 trạm bơm các loại. Mỗi ngày các trạm bơm này khai thác trung bình 65.000m3 nước. Ngoài ra, do các vùng trồng hoa màu, nuôi tôm ở huyện Cầu Ngang, Duyên Hải... bị khô hạn nặng nên mỗi hộ dân khoan khoảng 3 giếng bơm tay, làm mực nước ngầm ở đây bị tụt xuống khoảng 8m!
 
Nguy hiểm hơn, hiện Trà Vinh có tới 1.555 giếng bơm tay trong dân "bị liệt" không hoạt động từ nhiều năm nay; điều này rất dễ dẫn đến nguy cơ thông tầng các nguồn nước ngầm và bị nhiễm mặn. Còn những vùng ở bán đảo Cà Mau cũng nằm trong hoàn cảnh tương tự.
 
Tại một số xã của huyện Vĩnh Lợi, Giá Rai cũng có tới trăm giếng bơm tay trong dân không bơm được nước vì mực nước ngầm đã tụt xuống trung bình khoảng 5m, có nơi tụt xuống khoảng 13-14m! Giải pháp tạm thời của địa phương là khuyến cáo nông dân nên gắn thêm van khoá đáy để có thể bơm được khoảng 50% lượng nước so với bình thường. Theo các nhà khoa học, sở dĩ xảy ra tình trạng này là do nắng nóng kéo dài, nhu cầu nước sạch tăng hơn 30%.

  • Theo NTNN

http://www.vnn.vn/khoahoc/moitruong/2005/06/445711/

 
 
Đăng nhập để trả lời
0



Nước sông Mê Kông dâng cao kỷ lục


19/08/2008


Theo giới hữu trách Việt Nam, tình trạng nước lũ ngày càng dâng cao trên thượng nguồn sông Mê Kông có thể gây nạn đất chuồi và ngập lụt tại miền Nam, nhưng đồng thời cũng đem cá lại cho nông dân và giúp cho hoa mầu tươi tốt.

Thông Tấn Xã Reuters trích lời các viên chức nói thêm hôm thứ Ba rằng lực lượng cứu hộ đang phải luôn luôn trong tình trạng sẵn sàng để sơ tán dân chúng ra khỏi những vùng nguy hiểm ở miền Nam, nơi sông Cửu Long đổ ra biển sau khi chảy dài trên một đoạn đường hơn 4 ngàn kilômét từ Tây Tạng qua Lào và Kampuchea.

Tin cho biết đã có 4 người tử nạn vì lũ lụt và đất chuồi tại Lào, nơi mực nước sông Mê Kông đang lên tới mức cao nhất từ ít ra là 100 năm nay sau vài tháng mưa lớn bất thường.

Trong một cuộc điện đàm từ thành phố Cần Thơ với Thống Tấn Xã Reuters, ông Lê Văn Bành, Giám Đốc Viện Nghiên Cứu về gạo, cơ sở đặt trong vùng đồng bằng Cửu Long, nói rằng lũ lụt năm nào cũng xảy ra trong vùng này, vì thế dân chúng quen với những cách phòng chống lụt để bảo vệ hoa mầu và sinh mạng.

Theo ông Bành, trong quá khứ lũ lụt thường gây trở ngại cho công cuộc giao thông và khiến con trẻ không đi học được. Tuy nhiên, ông cho biết trong những năm gần đây, Việt Nam đã xây cất đê điều ngăn chặn nước và thiết lập khu dân chúng cư ngụ tại những vùng đất cao hơn mặt nước lũ.

Tin nói rằng khoảng 20% trong số 86 triệu 500 ngàn dân Việt Nam sống trong vùng đồng bằng Cửu Long, nơi sản xuất quá phân nửa số gạo trong nước và cung cấp hơn 90% số gạo bán ra trên thị trường. Giới nhà nông cho hay sau khi gặt hái xong vụ mùa Hè, họ sẽ có thêm lợi tức nhờ đánh được nhiều cá khi nước lũ dâng cao.

Nước lũ cũng giúp làm ruộng mất hết chất phèn, thanh toán được nạn sâu rầy và chuột ra khỏi ruộng lúa trong khi giúp cho đất ruộng thêm mầu mỡ. Ông Lê Văn Bành thuộc viện nghiên cứu về gạo nói thêm rằng nhờ lũ lụt làm sạch chất phèn, sản lượng của vụ mùa Đông Xuân sắp tới có thể sẽ tốt đẹp hơn.

Vụ mùa Đông Xuân mới đây, vụ mùa chính của vùng đồng bằng Cửu Long, đã mang lại 10 triệu tấn lúa hồi tháng Tư vừa rồi với sản lượng 6 tấn 2 cho mỗi mẫu ruộng đã giúp chính phủ tăng số lượng gạo xuất khẩu hàng năm thêm 13%, so với chỉ tiêu đề ra trước đó.

Nước lũ đã dâng cao chậm chạp trong tháng 7 vừa rồi, một tháng sớm hơn thường lệ, nhưng đã đột ngột kéo đến trong tuần này vì những cơn mưa lớn trên thượng nguồn hai tuần trước đây, trong có cả những cơn mưa bão từng gây tình trạng lũ lụt tại Bắc Việt.

Ông Võ Thanh, giám đốc sở khí tượng của tỉnh An Giang, một trong những tỉnh sản xuất lúa gạo chính yếu trong vùng đồng bằng Cửu Long, cho hay người ta tiên đoán là nước lũ năm nay sẽ lên cao hơn mức trung bình của nhiều năm qua.

Người ta cho rằng nước sẽ dâng cao hơn mực nước biển khoảng 3 mét rưỡi vào thứ Sáu này tại trạm đo mực nước ở Tân Châu, tức là 0,1 mét dưới mức báo động 2 là mức báo hiệu có lũ lụt và hệ thống đê điều của sông ngòi có thể hư hại, nhưng các thị trấn vẫn được bảo vệ.

Năm 2000, vùng đồng bằng Cửu Long phải gánh chịu những cơn lũ lụt khủng khiếp nhất trong vòng 4 thập niên khi mực nước dâng cao tới hơn 5 mét làm tử nạn gần 500 người, trong có 300 trẻ em. Kể từ đó, chính phủ đã phát động một chiến dịch bảo vệ sinh mạng và tài sản, xây cất 82,000 căn hộ, rời chuyển chỗ ở cho 110,000 gia đình hay 80% số dân sống trong những vùng nguy hiểm, và mở những lớp dạy bơi cho nhà giáo và học sinh.

Tuy nhiên, theo số liệu do các tỉnh cung cấp, khoảng 30,000 gia đình sống gần sông ngòi vẫn đang phải đương đầu với mối hiểm nguy của đất chuồi.

http://www.voanews.com/vietnamese/2008-08-19-voa10.cfm
 
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2008-10-26 06:27:33HongYen>
21 Tháng 10 2008 - Cập nhật 09h09 GMT

[/align]

Chính sách của Việt Nam ở lưu vực Mekong
[/align] 
[/align]Tiến sĩ Oliver Hensengerth
Viết riêng cho BBCVietnamese.com


Việt Nam phá vỡ sự cô lập quốc tế và suy sụp kinh tế qua ba bước: loan báo rút khỏi Campuchia, bắt đầu đổi mới kinh tế năm 1986 và chính sách đối ngoại đa phương năm 1988 với hợp tác Sông Mekong là một chủ đề.
[/align]
 
[/align]Đến 1991, chính sách 1988 chuyển thành “làm bạn với tất cả các nước” và “đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế đối ngoại” với mọi nước và mọi tổ chức kinh tế. Cũng trong năm 1991, xung đột ở Campuchia chấm dứt và Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc.
Kể từ đó, Việt Nam nhanh chóng mở rộng quan hệ ngoại giao, dẫn tới việc trở thành thành viên của năm cơ chế hợp tác Lưu vực Sông Mekong, mà quan trọng nhất là Tiểu vùng Mekong Mở rộng (GMS) và Ủy ban Sông Mekong.


Hợp tác Mekong
Năm 1992, Tiểu vùng Mekong Mở rộng được thành lập dưới sự hướng dẫn của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB). Nó nhằm cải thiện hợp tác kinh tế khu vực, bao gồm toàn bộ các nước dọc con sông: Trung Quốc và các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.
Ba năm sau là Ủy ban Sông Mekong, với các thành viên Việt Nam, Campuchia, Lào và Thái Lan. Trung Quốc và Miến Điện không chịu gia nhập, nhưng có đối thoại thường xuyên.

Khác với GMS, Ủy ban này ra đời dựa trên một hiệp ước quốc tế, và nhiệm vụ của nó là bảo đảm phát triển bền vững nguồn nước của Lưu vực Sông Mekong.
Cần lưu ý hợp tác Mekong không chỉ là cố gắng thúc đẩy hợp tác kinh tế khu vực. Sự ra đời của hai cơ chế này góp phần giúp Việt Nam có cơ hội tháo bỏ thù hằn với Thái Lan, Trung Quốc và thiết lập liên hệ kinh tế mới với Lào và Campuchia.
Hợp tác Mekong là một phần của chiến lược tái tổ chức quan hệ ngoại giao của Việt Nam với láng giềng thời hậu Chiến tranh Lạnh.

Thiếu quan tâm môi trường
Một chi tiết quan trọng nữa là Việt Nam trở nên hấp dẫn về kinh tế trong mắt người ngoài. Nhật Bản đóng vai trò quan trọng, vì chiếm giữ phần lớn nhất trong ADB và có quan tâm chiến lược ở khu vực.


 Hợp tác Mekong là một phần của chiến lược tái tổ chức quan hệ ngoại giao của Việt Nam với láng giềng thời hậu Chiến tranh Lạnh
[/align] 
[/align][/align][/align]
Nhật là đối thủ chính của Trung Quốc trong cuộc chạy đua ảnh hưởng và vì thế quan trọng cho sự ổn định của Việt Nam để tránh quá phụ thuộc vào Trung Quốc.
Tuy vậy, sự tập trung cho tăng trưởng kinh tế nhanh đã khiến Ủy ban Sông Mekong, với trách nhiệm bảo vệ môi trường, bị gạt ra ngoài lề. Trong mắt Việt Nam, Tiểu vùng Mekong Mở rộng quan trọng hơn do nó nhấn mạnh đến phát triển kinh tế mà không quan tâm tới môi trường.

Về cơ bản, Ủy ban Sông Mekong phản ánh những lý tưởng của các nước cấp viện phương Tây chứ không phải của các thành viên. 90% ngân sách của Ủy ban là từ các nhà viện trợ. Mặc dù nó chứng tỏ các nước thành viên thiếu tiền, nhưng cũng cho thấy sự thiếu quan tâm ủng hộ của họ đối với cơ quan này.

Nó lại cho cho thấy sự thiếu vắng của một chính sách môi trường mạnh ở tất cả các nước thành viên, cũng như vị thế yếu ớt của vấn đề môi trường so với các bộ phụ trách kinh tế của chính phủ. Ủy ban Quốc gia Sông Mekong của Việt Nam có người đứng đầu là Bộ trưởng Nông nghiệp – Phát triển Nông thôn. Bộ Tài Nguyên – Môi trường không có vai trò ở đây. Ba vị phó chủ tịch ủy ban là người của Bộ Ngoại giao, Bộ Nông nghiệp và Bộ Kế hoạch – Đầu tư.

Cũng có sự mơ hồ quanh câu hỏi ai chịu trách nhiệm cho cái gì về nguồn nước. Luật về Tài nguyên nước năm 1998 thiếu vắng cơ chế thực thi luật và quá chung chung. Luật này được dùng để thành lập nhiều cơ quan quản lý nguồn nước, nhưng không giao cho chúng chức năng cụ thể, dẫn đến sự lộn xộn về trách nhiệm hành chính giữa các cơ quan.

Lo cho an ninh
Trong bối cảnh ổn định chính trị ở Việt Nam phụ thuộc vào chính sách kinh tế của Đảng Cộng sản, sự hợp tác vùng Mekong phải thúc đẩy ổn định chính trị.
Việt Nam nhận thức được rằng một số vấn đề không thể được giải quyết riêng rẽ mà phải nhờ hơp tác với các láng giềng. Ví dụ giảm nghèo, chống buôn người và ma túy, HIV/AIDS, và bảo vệ hệ sinh thái của đồng bằng Mekong.

Khi chính phủ Việt Nam xem những vấn đề này đe dọa ổn định trong nước, họ tìm cách giải quyết thông qua khuôn khổ Tiểu vùng Mekong Mở rộng.


[/align]

Có lo lắng là hệ sinh thái sông Mekong chưa được quan tâm đúng mức
Tuy nhiên, suy thoái môi trường không nằm trong đó, vì thế không được xem là có nguy cơ gây bất ổn cho Việt Nam.
Nhưng Việt Nam giận dữ khi Trung Quốc xây đập ở thượng nguồn sông Mekong (mà tiếng Hoa gọi là Lan Thương). Tại đó, Trung Quốc đang xây một hệ thống các đập, mang tầm quan trọng chiến lược về năng lượng cho họ. Đây là một phần của Dự án Truyền điện Đông – Tây của Trung Quốc, theo đó tỉnh Vân Nam sẽ cung cấp điện cho Quảng Đông.
Những cáo buộc về vấn đề suy giảm tài nguyên nước do các con đập, nhà máy điện và thủy lợi đã gây va chạm trong quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc.

Không có cơ chế thương lượng trong vụ tranh cãi này. Tiểu vùng Mekong Mở rộng không xem xét các xung đột về nước vì Trung Quốc không chịu đưa nước vào nghị trình.
Ủy ban Sông Mekong có thể giải quyết vấn đề, nhưng nó quá yếu và Trung Quốc thì lại không phải là thành viên.

Tranh cãi về đập nước
Dù có tranh cãi quanh hệ thống đập Lan Thương, Việt Nam vẫn mua điện từ Trung Quốc để bù cho việc thiếu hụt.
Việt Nam cũng xây đập ở Lào nhằm nhập năng lượng từ các con đập này. Một ví dụ khác là đập thủy điện Yali trên sông Sesan, chảy từ Việt Nam sang Campuchia, gây ảnh hưởng xấu cho hệ sinh thái hạ lưu của Campuchia.
Nó khiến người dân nông thôn và cả người trong chính phủ Campuchia giận dữ. Chính phủ phản đối, nhưng vô hiệu. Ủy ban Sông Mekong cố gắng thương lượng nhưng cũng không thành công.
Bất chấp tranh cãi với Campuchia, Việt Nam đã hoàn thành đập Sesan 3, Sesan 3a và bắt đầu xây Sesan 4 và Pleikrong. Việt Nam cũng định xây đập trên sông Srepok, cũng chảy từ Campuchia sang Việt Nam.
Lần đầu tiên, vào tháng Giêng 2007, Tổng Công ty Điện Việt Nam (EVN) đã làm tham vấn với những người dân Campuchia bị ảnh hưởng. Nó khơi nên hy vọng ở Campuchia là Việt Nam có thể trả tiền đền bù.

Quyền lực đóng vai trò quan trọng ở đây. Việt Nam không thể ép Trung Quốc ngừng xây đập Lan Thương. Campuchia không thể ép Việt Nam ngừng xây đập Sesan và Srepok.
Hậu quả là Sông Mekong và các nhánh của nó, tuy đi qua nhiều nước, nhưng vẫn được coi là một lưu vực khép kín chững lại ở đường biên giới quốc gia.
Tính chất xuyên biên giới của Mekong chỉ được thừa nhận khi con sông có thể được dùng làm đường vận tải xuất khẩu hàng hóa, hay khi được coi là tuyến đường vận chuyển ma túy, hàng lậu. Trong cả hai trường hợp, các hoạt động xuyên biên giới được xem là có ảnh hưởng tới an ninh và quyền lợi quốc gia.

Như thế, người ta xem con sông hoặc là cơ hội cho phát triển đất nước hoặc là đe dọa cho an ninh. Ít ai quan tâm tới sự mong manh sinh thái của lưu vực Mekong.
Thái độ này bỏ qua những vấn đề như nguy cơ gây bất ổn của những người chạy nạn vì môi trường, hay suy giảm nguồn nước uống sạch.

Chính phủ Việt Nam, cho đến giờ, không mấy nhiệt tình nghĩ đến những vấn đề như vậy.
 
Về tác giả:Tiến sĩ Oliver Hensengerth đang là học giả thỉnh giảng ở Trung tâm Quan hệ Xuyên Đại Tây Dương, Đại học Johns Hopkins, Hoa Kỳ. Lấy bằng tiến sĩ ở Đại học Leeds năm 2006, ông quan tâm đến Campuchia, Trung Quốc, Việt Nam và khu vực sông Mekong. Một bản dài hơn của bài viết này đã đăng ở số tháng Sáu 2008 của Journal of Vietnamese Studies (Đại học California).


[/align][link=http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/10/081021_vietnam_mekong_basin.shtml]http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2008/10/081021_vietnam_mekong_basin.shtml
[/align][/align]
Đăng nhập để trả lời
0








30 Tháng 5 2008 - Cập nhật 11h09 GMT




Phải cứu Biển Hồ Campuchia [/align]






Philippa Fogarty
BBC News, từ hồ Tonle Sap
 

Tháng Năm hàng năm, khi mùa mưa tới, mực nước sông Mekong dâng cao. [/align]Khi nước sông Mekong chảy vào thủ đô Phnom Penh, dòng chảy của nó hợp với dòng chảy từ một hồ lớn ở miền trung Campuchia.
 
Nhưng dòng chảy của con sông Mekong mạnh tới mức nó ép dòng chảy của con sông dẫn nước từ hồ lớn ngược trở lại thượng nguồn, khiến hồ lớn mở rộng diện tích gấp năm lần.
 
Đó là Tonle Sap, hồ nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á, mà người Campuchia thường gọi là Biển Hồ.
Đây là một khu vực đa dạng sinh học và là một vùng nước sinh sản quan trọng cho các loài cá. Hàng năm, chúng vượt dòng sông Mekong lên thượng nguồn để đẻ trứng tại các vùng rừng ngập nước.
 
Đối với Campuchia, Biển Hồ là một vùng nước quan trọng. Nó cung cấp hai phần ba lượng protein cho đất nước này. Hơn một triệu người sống nương tựa vào Biển Hồ.
Nhưng Biển Hồ đang phải đối mặt với những mối đe dọa nghiêm trọng.
Dân số Campuchia gia tăng nhanh chóng, vì lẽ đó, áp lực đối với các nguồn tài nguyên cũng tăng cao.
Các loài cá bị đe dọa vì tình trạng khai thác quá mức cũng như các biện pháp đánh bắt bất hợp pháp.
 
Các nông dân và những người khai hoang đã lợi dụng khả năng quản lý yếu kém để chiếm các vùng đất rừng ngập nước, phá hủy môi trường thiên nhiên và gây ô nhiễm hồ nước.
Tình trạng đốn chặt cây rừng của người dân địa phương tăng nhanh. Một số người địa phương đã săn bắn thú rừng quý hiếm để bù lại lượng đánh bắt cá ngày càng giảm.
Năm ngoái, Thủ tướng Hun Sen đã cảnh báo một “thảm họa môi trường nghiêm trọng” nếu các vấn đề trên không được giải quyết.
 






[/align]

Bản đồ khu vực Biển Hồ
Bảo tồn cá
Dự án Quản lý Môi trường Tonle Sap (TSEMP), do Ngân hàng Phát triển châu Á hỗ trợ tài chính, đang nỗ lực tìm cách ngăn chặn tình trạng trên.
 
Tám năm trước, hơn một nửa khoản hỗ trợ nhằm bảo vệ Biển Hồ đã được cung cấp cho cộng đồng địa phương.
Một phần hoạt động của TSEMP là nhằm giúp đỡ các dân làng thiết lập các nhóm đánh bắt cá hợp pháp nhằm bảo vệ và duy trì các nguồn cá. Hiện đã có 170 nhóm như vậy.
 
Soer Tao là phó trưởng nhóm đánh bắt cá cộng đồng ở Kampong Klaeng, bờ đông bắc của Biển Hồ.
Ngôi làng là nơi sinh sống của khoảng 10 nghìn người sinh sống trong các ngôi nhà sàn để tránh lũ lụt. Khoảng 85% nguồn sống của người dân ở đây dựa vào đánh bắt cá.
 
10 năm trước, Soer Tao cho rằng việc đánh bắt cá trái phép và phá rừng đang gây ra các vấn đề nghiêm trọng đối với bản thân dân làng.
Nhưng các nhóm bảo vệ nguồn tài nguyên tự nhiên ở địa phương đã mang lại các thay đổi.
Đường biên ngôi làng đã chính thức được định ra và người dân thay nhau tuần tra khu vực.
Nếu phát hiện thấy ai đó đánh bắt cá trái phép hay có người khai hoang phá rừng, các nông dân trong làng sẽ vào cuộc để ngăn chặn ngay.
 






[/align]

Nhiều gia đình sống trên các ngôi làng nổi
Ngôi làng cũng lập nên một khu bảo tồn cá rộng khoảng 300 m2, nơi nhân giống cá vào mùa khô. Những nơi như vậy được đánh dấu bằng cờ đỏ và có người gác.
Khi mùa mưa đến, đàn cá sẽ bơi ra ngoài, với số lượng được hy vọng tăng đều hàng năm.
 
Soer Tao nói: “Khu bảo tồn sẽ bảo vệ nguồn cá vốn là kế sinh nhai của mọi người”.
 
Các dự án mới
Nhưng không đơn giản là chỉ có bảo vệ các nguồn cá.
Preak Toal là một ngôi làng nổi. Tất cả mọi thứ đều trôi trên sông, thậm chí cả nhà và các trạm xăng, và mọi người sống dựa vào hồ.
 
Hiện các dự án đang được thiết lập để trợ giúp các gia đình đa dạng hóa các nguồn sống, để họ không còn phụ thuộc vào Biển Hồ nữa, nhằm giảm áp lực lên tự nhiên.
Những người săn trộm trước đây nay lại tuần tra khu bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ các loài thủy sinh quý hiếm.
Các du khách phải trả tiền để tới thăm khu bảo tồn, trong khi các gia đình địa phương dùng xe đạp nước để đưa các du khách đi thăm thú.
 
Người dân còn trồng cả cây trái trên các khu vườn nổi. Một nhóm còn tìm cách biến một loài thực vật sống dưới nước làm nhiên liệu sử dụng hàng ngày.
Nhưng các sáng kiến đó, dĩ nhiên, không phải hoàn hảo. Người dân địa phương vẫn cảm thấy dễ dàng hơn khi vào rừng lấy củi hay bán cá để kiếm tiền nhanh hơn.
 
‘Bước ngoặt’






[/align]

Tiến sĩ Bonheur cho rằng cần phải nỗ lực hơn nữa nhằm bảo vệ Biển Hồ
Tiến sĩ Neou Bonheur, Giám đốc TSEMP, thừa nhận rằng tìm cách nâng cao nhận thức môi trường cho những người đang vật lộn kiếm sống quả là khó khăn.
 
Ông nói: “Thật khó, nhưng khi chúng tôi bảo với họ rằng không nên đốn cây rừng vì đó là nơi sinh sản của các loài cá, họ đã nhận thức được”.
 
“Nhưng hiện giờ chúng tôi đứng trước một bước ngoặt. Giá gạo và năng lượng tăng cao nên hiện có xu hướng khai hoang của các nhóm dân từ nơi khác tới”
“Đó là điều khó khăn nhất đối với chúng tôi. Những đối tượng đó phá hoại các cộng đồng khác và hủy hoại các nguồn cá”.
 
Nhưng có một vấn đề chính yếu khác mà Campuchia không thể kiểm soát.
 
Trung Quốc, Thái Lan và Lào đều dùng sức nước của sông Mekong để xây các nhà máy thủy điện, và các chuyên gia cho rằng chuyện đó ảnh hưởng tới việc các loài cá bơi ngược dòng sông để lên Biển Hồ sinh sản theo mùa.
 
Tiến sĩ Bonheur nói: “Nước chúng tôi ở phía hạ nguồn nên ít có quyền quyết định hơn các nước khác. Tuy thế chúng tôi hy vọng sẽ có thể nêu ra quan ngại của mình thông qua đối thoại”.
"Tonle Sap là một tài sản lớn của Campuchia, nên chúng tôi phải bảo vệ nó bằng mọi giá”.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2008/05/080530_greatlake_cambodia.shtml

 
 

 
 
.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0
08 Tháng 2 2009 - Cập nhật 07h54 GMT





Thái tử Nhật khám phá sông nước VN [/align] [/align]







[/align]

Đây là chuyến thăm VN đầu tiên của Hoàng Thái tử Nhật
Hoàng Thái tử Nhật Bản Naruhito nói mong khám phá hệ thống đường thủy ở Việt Nam trong chuyến thăm kéo dài một tuần. [/align]Tin cho hay, chuyến thăm của Hoàng Thái tử sẽ bắt đầu ngày 9/2 và kéo dài tới ngày 15/2, mà không có Công nương Masako tháp tùng vì bị bệnh.
 
Các hãng thông tấn đưa tin, người kế vị ngai vàng ở Nhật dự kiến sẽ gặp quan chức Việt Nam ở Hà Nội trước khi tới Huế, TP HCM và thăm sông Mekong.
 
Hoàng Thái tử 48 tuổi nói trong một buổi họp báo hiếm hoi mới đây: “Tôi mong được trực tiếp ngắm nhìn dòng sông kỳ vĩ của châu Á”.
Hoàng Thái tử từng học chuyên ngành thương mại và giao thông đường thủy.
“Tôi thấy thú vị khi có thể củng cố nghiên cứu cá nhân của mình trong khi vẫn đảm trách nhiệm vụ chính thức”.
 
Một trong những mục đích của chuyến công du là nhằm kỷ niệm 35 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt – Nhật.
Được biết, ngoài các buổi tiếp tân ngoại giao ở Hà Nội, Hoàng Thái tử Naruhito sẽ tới thăm một trường dành cho trẻ em khiếm thị, vốn từng nhận được các khoản đóng góp từ thiện từ diễn viên Nhật Ryotaro Sugi.
Nhật Bản là nước cấp viện lớn cho Việt Nam, nhưng Tokyo và Hà Nội đang phải giải quyết một số vướng mắc trong quy trình cấp vốn ODA.
 
Nhật đã ngừng cấp mới các khoản viện trợ cho vay phát triển sau khi có cáo buộc tham nhũng tại một số dự án.
 
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2009/02/090208_japan_prince_naruhito.shtml

.....Như-Ý
Đăng nhập để trả lời
0