📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Truyện Cổ Đông Phương

18 trả lời, 4.207 lượt xem — Trang 1 / 1
Anh Thợ Giày Marup (Maroul)

Ngày xưa có một anh thợ giày tên là Marup. Vợ anh rất xấu và độc ác, cho nên người ta gọi chị là con Khỉ Cái. Chị ta hay nói xấu người khác và hay gây lộn với họ. Mảup âm thầm đau khổ, thường bị chị ta châm biếm chua cay.
Một hôm vào mùa xuân, chị với nói với Marup:
- Tôi muốn ăn nho! Anh ra chợ mua về cho tôi!
- Mùa này làm gì có nho? - Marup đáp - Nho bây giờ mới ra lá!
- Tôi cóc biết, - Khỉ Cái la lối - Không có nho thì đừng về.
Marup tìm khắp chợ nhưng vẫn không có nho, thế là anh không dám về nhà. Anh đi lang thang khắp thành phố. Đến tối, anh ngồi trên một tảng đá gần tường thành, hai tay ôm đầu, khóc nức nở. Bỗng bức tường phía sau anh mở ra, rồi một ông thần xuất hiện.
- Anh làm gì ở đây? - Thần hỏi Marup.
- Tôi rất khốn khổ, - Anh đáp.
- Vì vợ anh, con Khỉ Cái chứ gì?
- Tại sao ông biết? - Marup ngạc nhiên hỏi.
- Tôi biết nhiều chuyện lắm. Ví dụ tôi biết anh là thợ giày và hiện giờ anh muốn đi khỏi  đây xa hàng ngàn dặm.
- Đúng thế, - Marup thú nhận.
- Không có gì đơn giản hơn! - Vị thần vừa cười vừa nói - Leo lên lưng tôi và ôm cho chặt là được.
Marup nghĩ là vị thần đùa với mình, nhưng anh cứ leo đại lên và vị thần liền bay lên trời. Thành phố phía dưới nhỏ dần, rồi anh thấy biển và sa mạc. Đêm đến và chỉ một lát sau mặt trời mọc lên sau những hòn núi cao.
Vị thần để Marup trên đỉnh núi rồi nói:
- Bây giờ anh phải đi một mình thôi. Cứ đi đi, anh sẽ gặp một thành phố.
Nói xong, vị thần biến mất.
Marup đi xuống thung lũng, đến cổng một thành phố thật đẹp. Vừa qua khỏi tường thành, anh tự nhủ: "miễn sao ta kiếm sống ở đây được là tốt".
- Anh ở đâu đến? - Lính gác hỏi anh.
- Ở Kero (Caire) - Marup đáp.
- Anh đi đường mất bao lâu?
- Không lâu lắm. Tối qua tôi còn ở đằng ấy.
- Anh nói tầm bậy. Chúng tôi ở cách Kero hàng nghìn dặm! - Lính gác nói.
Nhiều người tụ lại. Tất cả đều cho là anh điên.
- Xin các ông giúp tôi, - Marup van xin - Tôi phải kiếm việc làm.
- Anh biết làm gì? - Họ hỏi anh.
- Sửa giày. Tôi là thợ giày.
- Thở giày! - Họ nói rồi phá ra cười - Anh chọn sai nghề rồi. Anh sẽ không kiếm nổi tiền mua bánh mì đâu. Quay về nhà đi!
Marup chán nản đi vào một đền thờ. Anh quỳ xuống và suy nghĩ: "Khi nói với họ mình từ Kero đến và là thợ giày thì họ lại nhạo báng mình. Thì thôi! Mình sẽ nói láo!"
Marup quyết định rồi bèn lấy trong áo lót ra năm đồng tiền vàng, số tiền anh đã giấu vợ. Anh ghé vào phòng tắm, tắm rửa, xức nước hoa, thay áo quần và khăn quấn đầu đã giặt sạch sẽ. Rồi anh mua một con lừa cái ở khu chợ bán súc vật và mua một cậu giúp việc da đen ở chợ bán nô lệ. Anh leo lên lừa và sai cậu bé giúp việc chạy trước để báo rằng phú ông danh tiếng Marup đang quá bộ đến thăm các thương gia trong thành phố.
Chú nô lệ da đen ráng sức la lớn. Marup theo sau, ngồi thẳng băng trên lưng lừa, ưỡn mình kiêu hãnh. Tin anh đến thăm loan truyền rất nhanh. Khi Marup và người giúp việc đến chợ, các thương gia đã ra khỏi cửa tiệm để chào đón anh rồi.
- Tao sẽ cho mày một đồng bạc - Marup nói nhỏ vào tai cậu bé khi nó giúp anh bước xuống lừa - mày hãy la lớn lên là đã nhận của tao 10 đồng vàng, hiểu không?
- Dạ hiểu, thưa ông chủ! - Tên nô lệ đáp vừa lén lút lấy đồng bạc.
- Ồ! - nó la lên - Mười đồng vàng! Phú ông Marup đã cho tôi 10 đồng vàng!
- Xin chào các ông chủ! - Anh chàng thợ giày quỷ quyệt chào các thương gia làm như không có chuyện gì xảy ra - Tôi tên là Marup, nhưng người ta thường gọi là Phú ông Marup.
- Xin chào! - Các thương gia đồng thanh đáp, họ rất kinh ngạc trước thái độ rất hào phóng của anh - Ngài từ đâu đến?
- Các tàu của tôi thả neo ở thành phố Bát Ra (Basra) - Marup đáp.
- Ở Ấn Độ à? - Họ hỏi.
- Vâng, ở Ấn Độ, nhưng những chiếc khác thì đến từ Trung Hoa, NuyBi (Nubie), Síp (Chypre) và Vơ ni đơ (Venise).
- Ông có nhiều tàu thế à? - các thương gia hỏi, họ hết sức kinh ngạc.
- Mới chỉ có khoảng 20 chiếc cập bến thôi, những chiếc khác đang còn chạy ngoài biển.
- Ông buôn bán cái gì? - các thương gia hỏi, càng lúc họ càng kinh ngạc thêm.
- Đồ gia vị, ngọc, ngà voi, chén bát sành, nhưng chủ yếu là vải vóc: hàng vải của Bidang, của Xiri và của Vơ ni đơ, hàng gấm nhung, tơ lụa, vải màu và đồ thêu....Hàng của tôi có chất lượng cao và luôn làm vừa lòng các vị quân vương nhưng tôi muốn bán rẻ cho các ông.
- Thánh A La thật vĩ đại! - các thương gia thốt lên, họ chỉ bán loại vải thô và những chiếc bình xách tay bằng đồng. Năm thì mười hoạ đấng quân vương của họ, một người rất hà tiện, mới đến mua cho họ vài thứ, chỉ là những tấm chăn cho lạc đà hay vài trái dưa leo.
- Ông mang đến bao nhiêu kiện hàng? - họ hỏi.
- Một số lượng rất lớn, - Marup đáp, giọng rất tự tin.
- Hàng đâu rồi? - những thương gia hỏi, có vẻ hoài nghi.
Câu hỏi muốn gài bẫy, nhưng Marup không nao núng.
- Hiện giờ, các đoàn lạc đà chở hàng của tôi chắc đang ở đâu đó trong núi. Đoàn chở hàng đi rất chậm. Tôi phải đi trước, - Marup nói, vừa ngáp.
- Ông không sợ bị mất hàng sao?
- Mất à? - Marup đáp, vẻ khinh khỉnh - Mất cả hàng ngàn bao vải à? Những chiếc tàu khác của tôi từ Ba Tư sẽ chở tới cho tôi nhiều hơn nữa.
Một bà ăn mày đi quanh đám đông. Các thương gia lạnh lùng, nhìn đi chỗ khác. Marup lấy trong túi ra bốn đồng tiền vàng, số tiền còn lại của mình, anh ném hết cho bà ta, khiến các thương gia há hốc mồm ra nhìn. Phú ông Marup không những có tàu biển mà chỉ có thánh A La mới biết là bao nhiêu, ông cung cấp gấm vóc cho các đấng quân vương, mà còn ném tiền vàng cho ăn mày như ném rác vậy!
Họ mời anh vào nhà, dọn thức ăn lên và đối xử với anh rất kính trọng. Marup ăn uống no nê rồi nói với họ:
- Nói thật với các ông, tôi bắt đầu chán ngán công việc làm ăn mua bán rồi.
Anh ta quay qua một thương gia hỏi tiếp;
- Ông có muốn đại diện cho tôi để bán một tá kiện hàng xa tanh không? Giá trị số hàng này khoảng năm trăm đồng tiền vàng. Nếu ông trả cho tôi ba trăm, thì tất cả số hàng này sẽ là của ông. Khi tàu đến, ông cứ bốc số hàng này xuống. Ông sẽ kiếm được một số lời rất lớn, nhưng tiền bạc đối với tôi chẳng nghĩa lý gì.
Cặp mắt của người thương gia sáng lên, ông ta lấy ba trăm đồng tiền vàng ra ngay. Marup chia hai số tiền. Anh ta giữ một nửa, còn một nửa anh ta để trên cái mâm đựng kẹo bánh. Anh ta nói:
- Tôi có thói quen chia sớt tài sản cho người nghèo. Để gia nhân của quý vị phân phát cho ăn mày!
Các thương gia ngồi im thin thít sững sỡ.
- Còn ông, ông bạn, - Marup nói với một thương gia khác - ông có muốn bán một trăm kiện hàng mút xơ lin của tôi không? Ông trả cho tôi hai ngàn đồng tiền vàng, ông sẽ lấy lại gấp đôi, điều này chẳng thấm thía gì với tôi hết. Tôi thật không muốn buôn bán nữa.
Người thương gia tính toán thật nhanh, nhận thấy ông ta sẽ lời gấp ba, liền sai gia nhân về nhà lấy đến hai ngàn đồng tiền vàng. Marup lại chia thành hai đống: một cho anh ta, một cho ăn mày.
Khi đêm đến, Marup đã bán hết một ngàn kiện vải vóc. Sang ngày thứ hai, anh ta bán một ngàn bao gia vị, ngày thứ ba bán ngọc, ngà voi và chén bát sành sứ. Luôn luôn anh ta chia số tiền thu được ra làm hai phần. Người nghèo phu quanh anh ta cám ơn rối rít.
Các thương gia thấy hắn làm như thế bèn nói với nhau:
- Có lẽ hắn khùng rồi!
"Chắc hắn quá giàu, giàu không thể tưởng tượng nổi!" - họ lại nghĩ.
- Hắn là thằng lừa đả rồi! - cuối cùng họ nói - Đã bảy ngày rồi mà chẳng thấy hàng hóa đâu hết.
Các thương gia buồn bã, đến than phiền với quốc vương. Quốc vương là một người ham tiền nhưng lại rất keo kiệt. Ông ta bảo làm ăn mà trả tiền trước như vậy thì thật là ngu ngốc và bèn nghĩ cách để có lợi cho mình. Ông ta sẽ cho mời Marup đến, dọa là anh đang làm một việc phi pháp, khi hàng đến, ông ta sẽ tịch thu hết rồi nện anh một trận và đuổi ra khỏi xứ.
Tin quốc vương mời vào hoàng cung khiến Marup lo vô cùng, nhưng anh vẫn thu hết can đảm để đến.
- Khi nào hàng của anh đến? - Quốc vương hỏi, thái độ rất thân ái.
- Trong một thời gian ngắn nữa, - Marup nói láo - Đợt vừa rồi hàng đến chậm là vì bị bọn cướp tấn công.
- Hàng mất hết rồi sao? - Quốc vương buồn bã hỏi.
- Không, - Marup đáp, tươi cười - lính của tôi đã đẩy lui được bọn cướp.
- Lính của anh à? - Quốc vương hỏi, vẻ lo sợ - Hàng của anh có lính áp tải à?
- Dạ, có chứ, tôi luôn luôn cho người theo bảo vệ, - Marup nói láo một cách trơ trẽn.
- Lính của anh có đông lắm không? - Quốc vương hỏi, hy vọng lực lượng canh gác của mình đủ sức đánh bại.
- Khoảng ba ngàn - Marup đáp.
Quốc vương ngạc nhiên, vừa lo sợ. Làm sao chiếm được số hàng có một đạo quân hùng hậu như thế bảo vệ? Công việc không thể làm được, nhưng Quốc vương rất tham lam nên lão không từ bỏ ý định.
- Ta sẽ mua hết hàng của anh - lão thương lượng.
- Tôi đã bán hết cho các thương gia rồi, - Marup đáp.
- Các thương gia không dám cãi lời ta đâu! -Quốc vương hét lớn - Anh muốn trao đổi cái gì?
- Tôi muốn con gái ngài, - Marup đáp vẻ tự tin.
Quốc vương ngần ngừ một chút, rồi vì quá tham lam, nên cuối cùng ông bằng lòng.
Đám cưới được tổ chức liền.
Trong buổi tiệc cưới, Quốc vương nhủ thầm:
- Chắc hắn là một thằng ngốc.
Một tuần sau ông ta lại nghĩ: "Hắn yêu con gái mình quá sức đến nổi chịu bỏ cả tài sản. Quả tình yêu quí hơn vàng!".
Cuối cùng Quốc vương nghĩ: "Phải chăng hắn là một thằng lừa đảo? Sáu mươi ngày qua rồi mà chẳng thấy hàng hóa đâu cả?"
Quốc vương lo lắng, cho gọi con gái đến, ra lệnh nàng phải tìm cho ra sự thật.
Trong thời gian này, Marup yêu say đắm Miriam (Myriam). Anh ta đau khổ vì phải sống trong tình trạng nói láo, không thú thật cho nàng hay sự thực về mình. Khi nàng van xin anh nói ra sự thực, anh bèn thú với nàng anh chỉ là tên thợ  giày nghèo hèn, có người vợ dữ dằn ở Kero, được mệnh danh là Khỉ Cái. Anh kể cho nàng nghe tất cả những chuyện đã xảy ra từ khi anh ngồi khóc gần tường thành.
- Bây giờ em cứ sai lính gác đuổi anh đi - Marup nói, hai tay ôm lấy mặt.
Nhưng Miriam cũng yêu Marup. Nàng không đuổi anh cũng không cho người đi tìm lính.
- Chuyện này khó đây - nàng dịu dàng nói với anh - Cha em rất dữ tợn. Nếu biết được sự thật thì ông sẽ giết anh ngay lập tức. Sáng mai anh hãy thay áo quần nông dân, lấy một con lừa trong chuồng và rời khỏi thành phố ngay, như thể anh vừa ra chợ bán phó mát trắng và hành tây vậy. Anh đi về phía mặt trời lặn. Trong vòng 10 ngày, anh sẽ đến một nơi nằm ngoài quyền cai trị của cha em. Anh cứ ở lại đấy. Anh có thể hành nghề sửa giày, sống lương thiện. Anh cố sống một năm và một ngày. Ở đây, em sẽ cố thuyết phục cha cho anh trở về. Nếu không, em sẽ đến với anh và khi ấy không ai có thể chia rẽ đôi ta được.
- Anh chỉ là một tên thợ giày hèn mọn, - Marup thở dài - Còn em, em là con gái một Quốc vương.
- Thà là thợ giày còn hơn làm kẻ nói láo, - Miriam đáp - Cầu đấng A La phò hộ cho anh.
Sáng hôm sau, Marup ra đi. Đi đến ngày thứ mười, anh tới một thành phố nằm trên ngã ba sông thì dừng lại. Anh sống bằng nghề sửa giày qua ngày để đợi tin của Miriam. Trong thời gian này, cô gái con Quốc vương van xin cha tha thứ cho Marup. Nhưng là người tham lam độc ác, nên lão không chịu.
Sáu tháng trôi qua, Marup không chịu đựng nổi nữa. Anh tự nhủ: "Về đấy, người ta sẽ chặt đầu mình, còn ở đây, mình sẽ chết vì đau khổ. Như nhau thôi! Mình muốn gặp lại được người yêu!"
Anh rời thành phố, đi về phía mặt trời mọc.
Anh đi được năm ngày thì thấy một người nông dân đang cày ruộng. Anh chào bác ta rồi xin một ít bánh mì và muối.
- Tôi không mang theo gì để ăn hết, - bác nông dân đáp - Anh hãy canh chừng con bò này để tôi về nhà lấy bánh ra cho.
Marup ngồi xuống cỏ đợi."Sao ta không giúp con người thật thà này?" - Anh nghĩ.
Làm việc một lát thì bỗng lưỡi cày va vào cái gì đấy. Anh cúi xuống bươi đất lên và thấy một phiến đá. Anh gắng hết sức nâng phiến đá lên: bên dưới có những bậc thang. Lấy làm lạ, Marup đi xuống. Anh tìm thấy một cái động sáng sủa một cách kỳ lạ. Nhiều kim cương và hàng ngàn thứ đá quí khác chất đầy trong những chiếc tủ, sáng long lanh đủ màu sắc. Marup hầu như chói cả hai mắt. Đang kinh ngạc nhìn ngắm kho tàng thì bỗng nhiên anh thấy một chiếc nhẫn để trên cái bàn bằng gỗ mun.
- Chiếc nhẫn thật tuyệt vời! - Marup thì thào.
Anh đến gần và thấy trên chiếc nhẫn có khắc nhiều dấu lạ. Vì không đọc thấy rõ, nên anh lấy tay lau chiếc nhẫn cho sạch. Bỗng một vị thần hiện ra và nói:
- Thưa chủ nhân, ông muốn gì?
- Ông là ai? - Marup hỏi nhỏ, giọng lo sợ.
- Tôi là thần nhẫn.
- Ông có thể làm theo mọi điều ước của tôi được không? - Marup hỏi, sau khi đã lấy lại bình tĩnh.
- Không, - vị thần đáp - Ta chỉ có thể thực hiện 12 điều thôi, rồi chiếc nhẫn sẽ hóa ra tro bụi.
Marup nghĩ, " Mười hai điều ước là quá nhiều rồi", anh chỉ cần điều ước duy nhất là tìm lại Miriam và được sống với nàng suốt đời.
Tuy nhiên, khi nghĩ đến 12 điều mong ước, Marup thấy hiếu kỳ, anh muốn đùa thử xem sao.
- Đưa ta lên trời, - anh ra lệnh.
- Đây là điều ước thứ nhất phải không? - Thần hỏi.
- Đồng ý, đây là điều ước thứ nhất, - Marup đáp.
Lên cao, anh thấy bác nông dân đang đem bánh mì và muối đến cho anh.
- Thần hãy đem hết kim cương và đá quí đến nhà cho người ấy, - Marup ra lệnh cho thần.
- Nếu ngài muốn thế thì đấy là điều ước thứ hai.
Marup xuống lại đất. Anh ngồi ăn bánh mì với bác nông dân.
- Bác là người rất tốt với tôi. Bác sẽ tìm thấy ở nhà mình một vài thứ đặc biệt. Đấy là món quà của tôi để cảm ơn bác.
Người nông dân cười, không hiểu chuyện gì hết. Sau đó hai người chia tay.
Một lát sau, Marup thấy đi bộ bên con lừa mệt quá, anh bèn leo lên lưng nó. Nhưng con vật ngu dốt này bỏ chạy. Marup nổi giận, ra lệnh cho vị thần bắt con vật khốn kiếp này lại.
- Tuân lệnh ngài - Thần nói - Đây là điều ước thứ ba.
Vị thần bắt con lừa, nhưng nó đang bị kích động nên nhiều lần làm cho Marup té xuống.
- Bắt nó yên lại cho ta, - Marup hét lên.
- Ước muốn thứ tư của ngài rồi đấy, - thần nói.
Marup cưỡi lên lưng lừa, đi về phía mặt trời mọc. Đến ngày thứ mười, anh thấy tường thành của thành phố nơi người yêu đang ở. Anh dừng lại một chút để suy nghĩ. Rồi anh lấy chiếc nhẫn trong túi ra, chùi lên nhẫn. Anh ra lệnh:
- Ta muốn có một ngàn con lạc đà, một ngàn con lừa thồ trên lưng những bao gấm vóc, mút xơ lin, xoa, vải vóc đủ màu sắc và thêu vàng, những thùng ngọc, ngà voi và chén bát bằng sành, những bao gia vị. Đi theo hộ tống đoàn thú chở hàng là ba trăm nô lệ và ba ngàn tên lính.
- Đây là ước muốn thứ năm, - thần nói. Và chỉ trong chớp mắt, trước mặt Marup đã hiện ra những thứ anh yêu cầu. Nhưng đoàn chở hàng vẫn bất động.
- Bảo chúng đi tới! - Marup quát.
- Ước muốn thứ sáu rồi đấy, - vị thần nói, và đoàn chở hàng lên đường.
- Còn tôi, bộ thần tưởng tôi cứ tiếp tục cưỡi lừa sao? - Marup la lớn - Thần có biết nghĩ ra một cái kiệu có bốn vị quan lớn gánh, rồi một bộ áo quần đẹp cho tôi không?
- Được chứ, nhưng tôi nghĩ đến những thứ ích lợi hơn, - Thần giận dữ đáp.
Một giây sau, ước muốn thứ bảy của Marup được thực hiện.
Bốn vị quan khiêng kiệu cho Marup đi qua các đường phố. Nô lệ chất hết hàng hoá vào kho của Quốc vương, Khi đã đầy kho, Marup lấy nhiều kiện vải vóc đem tặng cho các thương gia, cho các viên chức trong triều, rồi phân phát từng nắm ngọc cho dân ăn mày.
Quốc vương mừng rỡ. Thương gia và quan lớn triều đình đều thỏa mãn, còn giới ăn mày thì không hết lời ca tụng Marup.
Chỉ có Miriam, con gái Quốc vương là chẳng có vẻ gì sung sướng cả. Nàng ngồi trong phòng, quanh mình đầy lụa là và nữ trang, buồn bã nhìn Marup.
- Anh rất mong muốn gặp lại em, - anh nói với nàng - Anh đã tặng em những món quà quí báu, không người phụ nữ nào trên đời dám mơ ước được như thế. Em không hài lòng sao? Em có muốn 30 công chúa đến đánh đàn cho em nghe không?
- Không, - Miriam đáp.
- Vậy em muốn gì? - Marup vui vẻ hỏi - Anh trở lại đây với phong cách đế vương như thế này mà em lại không vui sao?
- Em không biết, Marup à - Miriam thở dài - Có lẽ em thích anh trở lại với em là một thợ giày thôi.
Nghe vậy, Marup nổi giận, bước theo các quan chức trong triều. Anh ăn uống thả giàn. Marup hát:
- Khi tôi chết rồi, Xin đừng chôn tôi trong cát, khô khan lắm, các bạn ơi. Không có gì uống cho đã khát.
  Khi tôi chết rồi, Xin để tôi trong thùng, Ở đấy tuyệt lắm các bạn ơi. Cơn khát khỏi hành hạ tôi.
Quốc vương nói thầm bên tai Marup:
- Marup thân mến ơi, không một thương gia nào trên đời giàu có hơn anh đâu.
- Có thể lắm, - Marup đáp, vừa uống cạn ly.
- Nhưng có những Quốc vương còn giàu hơn. Thương nhân không thể giàu bằng Quốc vương được.
- Cũng đúng, - Marup đáp, vẻ không mấy nhiệt tình.
- Này ông bạn, Quốc vương quần đảp Káp (Cafre) anh tôi, có một viên ngọc to bằng cái trứng ngỗng. Anh đã thấy một viên ngọc như thế chưa?
- Tôi lấy làm buồn cho người anh của ngài. Viên ngọc của ông ta thế thì quá nhỏ! - Marup kiêu hãnh đáp. Nói xong, anh ta lấy chiếc nhẫn ra chùi - Tôi sẽ có một viên ngọc to bằng trứng con đà điểu!
- Chiếc nhẫn kỳ lạ quá! - Quốc vương nói với Marup đã say oắt rồi nên anh kể hết bí mật của chiếc nhẫn ra.
- Cho tôi xem chiếc nhẫn gần tí nữa được không? - Quốc vương hỏi.
- Sao lại không? - Marup cởi nhẫn đưa cho ông ta xem.
Ông ta xem một hồi lâu, rồi thình lình lấy ngón tay chùi lên chiếc nhẫn. Lập tức ông thần hiện ra và hỏi:
- Ông muốn gì, ông chủ?
- Thần là tôi tớ của Marup hay của chiếc nhẫn này? - Quốc vương hỏi.
- Ta là tôi tớ của chiếc nhẫn - thần đáp - Ai có chiếc nhẫn này người đó sẽ là chủ của ta. Nhưng xin đừng quên nhiệm vụ của ta chỉ giới hạn vào 12 điều ước thôi. Ta đã thực hiện được bảy điều rồi.
- Không sao, - Quốc vương đáp - Người hãy bắt thằng Marup khốn nạn này đem vứt ra ngoài sa mạc cho ta. Cho nó chết ở đấy.
- Tuân lệnh ngài, - thần đáp và làm theo lệnh.
Thần mang Marup đi và một giây sau, để anh ở giữa những đụn cát. Đêm xuống, sao lấp lánh đầy trời như kim cương. Hối hận thì đã quá trễ.
- Ta thua rồi, không ai cứu ta nổi, - Marup khóc và nằm dài trên cát chờ chết.
Ngay khi Miriam biết được hành vi bất chính của cha, nàng cho vời người thơ kim hoàn của thành phố đến, yêu cầu ông ta làm một chiếc nhẫn giống chiếc nhẫn thần. Rồi nàng đến gặp cha, nàng nói:
- Cha này, Marup nói láo với cha đấy. Anh ấy có hai chiếc nhẫn. Anh ấy đã cho cha chiếc nhẫn thần có khả năng chuyển người nào đó từ nơi này sang nơi khác, hay cung cấp vải vóc, ngọc ngà.
- Còn chiếc kia? - Quốc vương hét lên và vùng đứng dậy.
- Chiếc kia sẽ do những ác thần phục vụ. Nhẫn này không thích cung cấp những viên ngọc li ti. Khi người ta yêu cầu, nó sẽ hủy diệu cả những thành phố, dâng nước biển lên làm ngập nhiều nơi. Nó cũng biết cách giết hết mọi sinh vật, người cũng như súc vật.
Quốc vương khoái trá khi nghe nói đến những năng lực như thế, nhưng đồng thời ông ta cũng lo sợ: Marup có thể tiêu diệt cả thành phố của ông, một vị Quốc vương vĩ đại, chỉ bằng cách ra lệnh cho vua của các ác thần.
- Hắn đang cất giữ chiếc nhẫn ấy à? - lão lo sợ hỏi.
- Không, - Miriam đáp - Anh ấy đưa cho con cất - Miriam đưa chiếc nhẫn mới thuê làm ra cho ông ta xem.
- Nhẫn đẹp quá! - Quốc vương khen - Đưa ta xem gần một chút được không?
- Được chứ, - Miriam đáp, giọng thật thà - nếu cha đưa con mượn chiếc nhẫn kia.
Quốc vương không quan tâm đến chiếc nhẫn chỉ có khả năng giới hạn, nên lão đưa chiếc nhẫn cho con gái và chụp lấy chiếc nhẫn kia. Lão chùi nhưng vô ích...Trái lại, khi Miriam chùi chiếc nhẫn của mình, thần hiện ra ngay:
- Bà muốn gì, thưa bà chủ? - thần hỏi.
- Trói Quốc vương lại và đem nhốt trong phòng ta!
- Nguyện vọng thứ chín rồi đấy, - thần đáp rồi thi hành mệnh lệnh ngay.
Miriam lại chùi vào chiếc nhẫn.
- Bà muốn gì?
- Đem chồng ta về đây.
Thần thấy Marup gần chết đói và chết khát. Thần nhẹ nhàng đưa anh ta về lâu đài. Ngày đầu, Marup chỉ uống một tí nứơc đường rồi ngủ. Ngày thứ hai, khi thức dậy, anh thấy Miriam ngồi bên cạnh.
- Anh đã có được một bài học bổ ích rồi phải không? - nàng vừa nói vừa vuốt tóc anh.
- Anh hy vọng thế, - Marup thì thào đáp. Miriam dịu dàng hôn anh.
- Em không giận anh chứ? - Marup hỏi, vẻ lo buồn.
- Không, - Miriam đáp- Nhưng em sẽ không đưa lại cho anh chiếc nhẫn đâu.
- Em có lý. Em giữ chiếc nhẫn đi.
- Bây giờ làm gì với cha em đây? Ông ta đã hại anh nên rất đáng bị trừng phạt.
- Không, với thời gian, ông ta sẽ khôn ngoan ra.
- Ông không thể làm Quốc vương được nữa. Em sẽ nói với các đại thần, với nghị viên và với các tướng lãnh để mọi người bãi chức ông ấy đi.
- Nhưng ai sẽ làm Quốc vương?
- Anh. Tại sao người thợ giày lại không làm Quốc vương được?
- Nhất là khi anh ta lại có người vợ khôn ngoan như em - Marup vừa nói vừa cười.
Họ sống hạnh phúc bên nhau. Marup cai trị đất nước rất khôn ngoan và luôn luôn hỏi ý kiến vợ. Họ sinh hạ được một người con trai là Sa-Ríp (Sharif).
Một hôm thấy mình sắp chết, Miriam muốn gặp mặt chồng lần  chót. Gia nhân tìm khắp nơi nhưng vẫn không thấy ông đâu hết. Nhớ lại chiếc nhẫn thần, Miriam bèn lấy trong tủ nữ trang ra, đưa tay chùi vào nhẫn.
Phải mất một hồi thật lâu thần mới hiện ra. Thần cũng già và mệt mỏi.
- Thần ơi - Miriam nói - Chúng tôi không thấy Marup ở đâu hết. Thần có biết anh ấy ở đâu không?
- Biết chứ - thần đáp.
- Thần đem anh ấy về giúp tôi, - Miriam cầu xin - Đây là ước nguyện thứ 12 phải không?
- Thứ mười một, - thần sửa lại và ra đi.
- Anh đi đâu thế? - Miriam hỏi khi ông ngồi bên bà.
- Ra phố, đến nhà người thợ giày chơi - Marup đáp vừa nắm tay vợ - Ông ấy tên là Ali, cùng tuổi với anh. Thỉnh thoảng anh đến chơi với ông ta. Bọn anh đàm đạo việc đời và cùng nhau sửa giày. Chắc em cho một quân vương đi sửa giày là chẳng ra cái quái gì phải không?
- Trái lại, Marup, em trả lại chiếc nhẫn cho anh. Anh đã khôn ngoan rồi - Miriam đưa chiếc nhẫn cho Marup, nắm tay ông thật chặt rồi chết.
Từ  đấy Marup sống một mình. Nhiều năm trôi qua....Một hôm khi thức dậy, ông quá sợ hãi khi thấy một con quái vật hiện ra đứng bên cửa.
- Nếu ngươi là ma quỉ thì, nhân danh Đức thánh A La, ngươi biến đi cho! - Ông thì thào nói.
- Ông sợ à, Marup? Tôi là vợ ông đây. Khỉ cái đây.
Marup dụi mắt, nói:
- Ngươi đến đây làm gì?
- Tôi đi tìm ông từ 30 năm nay. Tôi đi khắp nơi, đến Đa Mát (Damas), Bát Đa (Bagdad), Xa Mác Căng (Samarkand). Vào thung lũng kiến và thung lũng rắn, đến xứ Âm u, xứ Tối tăm, mà vẫn không tìm ra ông. Nhưng cuối cùng tôi cũng tìm ra ông ở đây!
- Sao bà lại đi tìm tôi? - Marup dịu dàng hỏi.
- Để trả thù - Khỉ Cái nói.
- Bà tính làm gì?
- Tôi sẽ ở lại đây mãi mãi.
Khỉ Cái ở lại với Marup. Bà ta chửi rủa ông cả ngày lẫn đêm và không ngừng gây gổ. Bà ta lấy cán chổi đánh ông và làm bộ chọc quê ông. Một hôm, không chịu được nữa, Marup đợi cho Khỉ cái đi ngủ rồi chùi vào chiếc nhẫn thần.
- Ông muốn gì, ông chủ? - Vị thần già hỏi. Đây là ước vọng thứ 12 rồi đấy nhé, ước vọng cuối cùng.
- Tôi biết - Marup nói.
- Chắc ông ước cái gì quí giá và quan trọng, vì đây là ước nguyện cuối cùng - vị thần nói.
- Vâng, tôi biết.
- Có lẽ ông muốn một lâu đài thủy tinh trên hòn núi bạc phải không? - thần đề nghị.
- Không, tôi không muốn thứ ấy.
- Vậy thì ước một ngôi vườn có cây quí chứ?
- Cũng không.
- Muốn chiến thắng, nắm quyền một nửa thế giới, ông không muốn thế sao?
- Tôi không muốn thế, thần à.
- Muốn trẻ mãi không già?
- Cũng không. Tôi muốn cứ thế này mãi thôi.
- Vậy thì ông muốn gì? - thần ngạc nhiên hỏi.
Marup nhắm mắt lại một lát như để suy nghĩ, rồi ông thở dài, nói:
- Hãy đem Khỉ Cái đi khỏi đây thật xa.
Thần nâng người đàn bà khủng khiếp lên, nhưng thần đã yếu quá nên không thể mang bà ta bay nổi, nên đành cho bà ta ngồi trên lưng con lừa rồi đi bộ qua núi, qua đồi đến tận Kero. Đây là công việc cuối cùng của thần, nhưng công việc thật quá nhọc nhằn!
- Cám ơn thần, - Marup nói, nhưng chiếc nhẫn trong lòng bàn tay của ông đã biến thành bụi.
Sa Ríp trở thành Quốc vương thay chỗ cho cha.
Marup dành phần lớn thì giờ của mình ra ngoài phố, ở nhà ông bạn thợ giày Ali. Họ dán da, khâu quai và vá đế giày. Marup thường nói đến Miriam. Hai người thợ giày thường hát:
- Khi ta chết, xin đừng chôn ta. Ngoài nghĩa địa trong một ngôi mộ. Đấy là nơi thật quá long trọng. Cho một kẻ bình dị như ta. Dưới đám cây xanh ở trên đồi. Đêm đêm có chú chim họa mi. Hát cho ta nghe bản tình ca.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Hoa Thần

Một hôm Marup nói với bạn:
- Chúng ta già cả rồi và tuổi này là tuổi phải mơ mộng. Nếu còn cái nhẫn thần và có thể thực hiện được một điều ước, thì anh biết tôi sẽ ước cái gì không?
- Khó mà đoán được, Marup à. Anh luôn có nhiều điều ước và tưởng tượng viển vông quá - Ali đáp.
- Tôi ước sao giữa sa mạc, trên đụn cát cao nhất có một bông hoa đẹp lộng lẫy tỏa hương thơm ngào ngạt.
- Thôi ông bạn ơi, - Ali cắt ngang lời bạn - Trời nắng nóng như thiêu đốt sẽ làm cho hoa héo ngay tức khắc. Anh là người thiếu thực tế, ông bạn Marup thân mến à.
- Hương hoa sẽ hòa với điệu nhạc êm dịu, - Marup nói tiếp - Tất cả những đoàn lạc đà chở hàng hóa, các thương nhân, dân du mục và khách hành hương đến thánh địa La Méc (La Mecque) sẽ dừng lại, say sưa lắng nghe bông hoa thần này kể chuyện.
- Chuyện gì thế, Marup? Anh thì còn kể được, chứ hoa thì biết nói với hát cái gì?
- Anh đừng ngắt lời tôi mãi như thế! Tôi đã nói là nếu tôi còn chiếc nhẫn thần, thì chuyện như thế này không khó gì. Anh biết rồi đấy, một chiếc nhẫn như thế này có năng lực kinh khủng lắm. Phép màu của nó sẽ làm ra một đoá hoa biết kể chuyện chỉ trong nháy mắt thôi.
- Tốt, tốt, tôi không ngắt lời anh nữa đâu.
- Anh cứ tưởng tượng đi, Ali - Marup nói tiếp - Anh cứ tưởng tượng ra cảnh một đóa hoa thần, ngoài việc tỏa hương thơm và phát ra tiếng nhạc, lại còn biết kể chuyện lạ nữa.
- Tôi không nói gì nữa, im lặng như mồ rồi, - Ali lầm bầm nói.
- Và mọi người sẽ quên trong giây lát những lo âu hàng ngày, quên công việc kiếm sống vất vả.
Bỗng một tiếng sấm nổ long trời lở đất, làm cho ngôi nhà của bác thợ giày rung rinh. Một cột khói dày đặc từ mặt đất vươn lên, rồi một bóng người hiện ra. Đôi bạn kinh ngạc nhìn bóng người uy nghi, trên đầu đội vương miện vàng.
- Ta là vua của các thần linh đây, là An - Dan (Al-D-aan) hùng cường. Ta đang bay qua đây và nghe được điều ước của anh, Marup à. Anh là người tốt. Điều ước của anh sẽ trở thành hiện thực. Ta sẽ trồng một cây hoa thần ngoài sa mạc và mang nước ngầm đến tưới cho hoa. Ta sẽ hòa hơi vào hoa để hoa có hương thơm ngào ngạt và dạy cho hoa biết hát. Ta sẽ biến cát nóng bỏng thành một ốc đảo đầy hoa, có nhiều cây cọ tỏa bóng mát cho khách hành hương nghỉ ngơi. Nhưng việc hoa kể chuyện còn tùy thuộc vào anh và ông bạn Ali của anh. Các anh hãy lắng nghe những người nông dân, những thợ thuyền, thương gia, lính tráng, dân chăn cừu, chủ các đoàn chở hàng, những người lương thiện và cả bọn trộm cướp nữa. Hãy nhớ kỹ những chuyện lạ lùng hay bất thường. Tôi tớ của ta, những vị thần vô hình, sẽ mang những chuyện này đến cho đóa hoa thần ở sa mạc.
Nói xong, vị thần vĩ đại An Dan biến mất như đám sương mùa xuân, không biết đi đâu.
Trên cát trắng của sa mạc
Đóa hoa thần mọc lên
Hoa cất cao tiếng hát
Người người đều ngạc nhiên.
Đăng nhập để trả lời
0
Người ngư phủ và những con cá đa sắc

Ngày xưa có một ông vua hùng mạnh, nổi tiếng, đó là vua Xu-Lây-Man (Souleymane). Một đêm, ông nằm mơ thấy đấy A La hiện ra, cho chiếc nhẫn thần có khả năng làm ông khôn ngoan thông minh và giàu có.
Nhờ chiếc nhẫn mà Xu-Lây-Man khuất phục được các ác thần ở sa mạc, bắt họ xây lâu đài và đền thờ, tạc tượng, đào giếng để lấy nước, xây dựng nhiều thành phố.
Nhưng một hôm, các thần này phẫn uất, nổi loạn chống lại Xu-Lây-Man. Nhà vua dễ dàng đàn áp cuộc nổi loạn và để trừng phạt họ, ông ta nhốt họ vào những cái chai bằng đồng, đóng nút bằng chì có khắc dấu chiếc nhẫn thần. Rồi ông ta ném tất cả các chai ấy xuống biển. Thần nham hiểm DoBa cũng trôi xuống biển sâu.
Một trăm năm trôi qua....DoBa vẫn bị nhốt trong chai nằm trên cát. Ông ta khóc:
- Ai cứu ta, người đó sẽ được trả ơn rất hậu hỉ.
Nhưng chẳng ai nghe lời than khóc của ông ta cả.
- Ai cứu ta ra khỏi đây, ta sẽ thực hiện cho những điều ước kỳ diệu nhất! - Ông ta hứa nhưng vô vọng.
Năm trăm năm trôi qua....DoBa nguyền rủa số phận, ông ta thề sẽ trả thù, sẽ giết kẻ nào mở cái chai. Ngay khi nghĩ đến khổ hình ông sẽ dành cho kẻ nào giải thoát mình, thì ông ta cảm thấy cái chai nhẹ nhàng trồi lên mặt nước. Cái chai đã được một người đánh cá nghèo khổ kéo lên.
Suốt cả ngày, bác đánh cá đã gặp chuyện chẳng may. Sau khi kéo lên cả một bộ xương lừa, nhọc mệt lắm mới gỡ ra được khỏi mắt lưới, rồi đến một cái thùng đựng toàn cát, thì nay lại lôi lên cái chai đồng thau nặng trịch, trong lưới không có một con cá nào!
Nhưng bỗng mặt bác ta sáng lên. Một ý nghĩ thoáng hiện ra trong đầu bác - "Ta sẽ đem cái chai này ra chợ bán, chắc sẽ kiếm được 10 đồng...Nhưng trước hết, phải mở nút chai ra xem thử có gì trong đó không đã". Bác ta lấy cây dao, nạy cái nút ra. Cái chai vặn vẹo trong hai tay bác, thở phì phì như con rắn. Hoảng hốt, bác thả cái chai xuống cát. Một luồng khói đen bốc ra từ trong cổ chai, bay lên trời, khói dày đặc che khuất cả mặt trời, rồi DoBa hiện ra.
Thần nói bằng một giọng chát chúa:
- Ngươi hãy chuẩn bị mà chết! Ta vừa quyết định giết kẻ nào cứu ta khỏi cái chai, nhưng ta chưa có thì giờ để nghĩ ra cách giết. Bây giờ hãy cho ta biết ngươi muốn chết bằng cách nào?
- Lạy Đấng A La nhân từ, xin ngày đến cứu con với! - bác đánh cá khốn khổ nức nở cầu xin. Nhưng giọng của vị thần khổng lồ lại vang lên:
- Thôi dẹp đi. Ngươi phải chết thôi!
- Tôi thật không ngờ ông ở trong cái chai này - bác ta nói để tranh thủ một ít thời gian - Ngay cả ngón tay của ông cũng to hơn cái chai này!
Thần phá ra cười to đến nổi làm rung rinh cả dãy núi.
- Dễ ẹc thôi! Ta chui vào trong ấy không mấy khó khăn. Xem ta làm đây!
Nói xong vị thần biến thành đám khói, rồi trườn vào trong cổ chai.
Người đánh cá không nói một tiếng. Bác ta kiên nhẫn đợi cho đến khi đám khói biến hết liền lấy nút đậy kín cái chai lại.
Thực hiện mưu mẹo xong, bác đánh cá khoan khoái reo lên:
- Tốt rồi! Ta đã nhốt ngươi được rồi! Ta sẽ vứt ngươi xuống biển trở lại, nhưng ta sẽ vứt thật xa để không có người đánh cá nào vớt ngươi lên được! Ta sẽ rêu rao khắp nơi cho mọi người biết rằng có một vị thần bị nhốt trong cái chai sẽ giết bất kỳ ai cứu hắn ra. Ngươi sẽ không bao giờ thấy lại ánh sáng mặt trời đâu.
Vị thần vùng vẫy rất ác liệt trong cái chai, nhưng cái nút chai đậy quá kín. Lão ta van xin:
- Bác đánh cá ơi, xin đừng tàn ác như thế. Ta không bao giờ có ý định giết ngươi đâu. Ta nói đùa đấy mà. Ta chỉ muốn xem phản ứng của ngươi ra sao thôi.
- Hỡi vị thần đê tiện ơi, ngươi nói láo! Ta không tin lời ngươi nói đâu! - Bác đánh cá đáp rồi cầm cái chai lên định ném xuống biển.
- Đừng, đừng làm thế! Hãy giải thoát cho ta, ta sẽ đền ơn bằng cách làm cho ngươi giàu có.
- Chỉ có đồ điên mới tin ngươi!
Thần năn nỉ, mặc cả với bác đánh cá:
- Bác sẽ cứu được hàng ngàn người chịu cảnh đói khổ.
Bác đánh cá suy nghĩ một lát. Tin vào một lời hứa hẹn sẽ có tài sản kếch sù nhưng sẽ thật nguy hiểm cho tánh mạng, tuy nhiên nếu có thể cứu được những người lương thiện....Bác từ từ kéo nút chai ra...
Vừa lấy lại được vóc dáng của mình, vị thần liền đá mạnh vào cái chai.
- Biến mau, cái chai khốn khiếp! Không bao giờ ta muốn thấy lại mày nữa!
- Chẳng có dấu hiệu nào tốt hết! - người đánh cá tự nhủ khi thấy ông thần quá giận dữ như thế - Bây giờ chắc hắn sẽ giết ta mất, chắc chắn thế! - bác ta đưa hai tay che mặt.
DoBa nâng bổng người ngư phủ và lưới đánh cá lên. Bác đánh cá nghĩ chắc đã đến giờ cáo chung của mình rồi, nhưng bác kinh ngạc làm sao, vì DoBa mang bác qua những ngọn núi cao rồi để bác xuống trên bờ một cái hồ rộng nằm lọt giữa những ngọn đồi tháp.
- Ta trả ơn cho ngươi đây, - vị thần nói, đưa tay chỉ nước hồ, cá đủ màu sắc đang lội tung tăng dưới hồ - Ngươi chỉ câu mỗi ngày bốn con thôi, không được nhiều hơn! Đem cá đi bán cho Quốc vương. Chỉ có ông ta mới trả cho ngươi được giá cao!
Trước khi kịp hỏi vị thần về số phận những người khốn khổ mà bác có thể cứu giúp họ, vị thần đã ném một viên đá xuống đất, mặt đất mở ra và thần biến mất.
Người đánh cá quăng lưới và kéo lên được bốn con cá thật đẹp: một con trắng, một con đỏ, một con xanh và một con vàng.
Bác ta nhảy cỡn lên vì vui mừng, rồi liền đem cá chạy đến cung điện của Quốc vương.
Khi Quốc vương thấy những con cá, ngài liền ra lệnh:
- Trả cho ông lão này bốn trăm đồng! Nấu hết ngay mau lên! Ta muốn biết cá có ngon không!
Người đánh cá vui sướng, mang tiền chạy ra phố.
Một người nữ nô lệ rửa cá, lấy hết ruột ra, rồi đặt lên lò nướng. Khi chị ta định trở con cá thứ nhất, bức tường trong nhà bếp bỗng nứt ra. Một cô gái đẹp, mặc quần áo sang trọng, tay đeo vòng vàng, từ trong kẻ nứt của bức tường bước ra. Cô gái nói:
- Này cá, các người không được nói gì phải không? Các ngươi sẽ im lặng chứ?
- Vâng, cô hãy tin chúng tôi đi, - mấy con cá đáp, vừa vươn mình trên lò nướng.
Nghe xong, cô gái biến mất vào tường.
Chị nô lệ nhìn sửng sốt. Khi chị hoàn hồn lại, thì bốn con cá đã cháy thành than.
- Chuyện thật kỳ lạ! - Quốc vương ngạc nhiên la lên khi nghe chị giúp việc kể lại chuyện đã xảy ra. Ông ta bèn lệnh cho vị tể tướng.
- Hãy đi tìm tên đánh cá cho ta! Bảo hắn mang đến  cho ta những con cá đa sắc khác, và lần này chính ngươi nướng cá. Ta muốn biết có phải mụ bếp đã ngủ quên để cho cá cháy không.
Nhưng ngày hôm sau, chuyện cũng xảy ra như thế với quan tể tướng. Rồi hôm sau nữa, chính Quốc vương ngồi bên lò nướng cá. Khi ngài định trở cá, thì bức tường mở ra, nói với cá,  và khi Quốc vương định thần lại được thì cá đã cháy thành than.
- Đem lão đánh cá lên đây! - Quốc vương ra lệnh cho vị tể tướng - Ta muốn làm sáng tỏ chuyện bí mật này.
- Những con cá này ngươi đánh được ở đâu? - Quốc vương hỏi.
- Trong hồ có đồi thấp bao quanh, thưa Quốc vương vĩ đại - Người đánh cá lo sợ đáp.
- Hồ ấy có xa không? - Quốc vương hỏi tiếp.
- Dạ không, đi bộ khoảng nửa giờ là đến.
- Vô lý! Cách thành phố nửa giờ đi bộ làm gì có đồi, có hồ! Nhưng ta muốn xem thử ngươi có nói thật không. Hãy dẫn ta đến đó ngay!
Ba mươi phút sau, Quốc vương và người đánh cá đã đứng ngắm cảnh nước hồ trong veo, dưới hồ tung tăng cá muôn màu bơi lội. Quốc vương ngạc nhiên nói:
- Phải tìm cho ra câu chuyện bí mật này. Ta phải đi quanh hồ xem sao. Ngươi hãy về triều và nói với quan tể tướng thay ta lo việc nước. Nếu một tuần ta không về, thì nói ông ấy cử đại binh đến tìm ta!
Quốc vương đi suốt ngày, rồi cả đêm. Hai hôm sau, ngài đến cổng một thành phốt. Đường sá im lặng, đen đủi và vắng teo, hoang phế. Khi  đến tòa lâu đài mà không gặp một bóng người, ngài nghĩ:
- Chắc nơi này mình cũng không tìm hiểu được bí mật về những con cá lạ lùng kia đâu.
Bỗng ông ta nghe có tiếng người than khóc:
- Ôi! Lạy Đấng A La! Tại sao số phận con lại bi thảm như thế này? Ai sẽ cho con được hạnh phúc? Ai sẽ cứu rỗi được dân tộc con?
Quốc vương đi vào trong lâu đài. Một thanh niên đang khóc, hai tay ôm đầu trước một ngôi mộ bằng đá, trên mộ có khắc một khuôn mặt người đen thui nhăn nhó.
- Xin chào! - Quốc vương lên tiếng.
- Xin chào ngài! Xin lỗi là tôi không thể đứng dậy để tiếp ngài, vì tôi không nhúc nhích được. Một nửa người tôi đã hóa đá rồi - người thanh niên đáp, vừa đưa ta chỉ hai háng cứng đơ.
- Ta rất buồn và hiểu nỗi đau đớn của anh. Chắc ở đây đã xảy ra chuyện gì nghiêm trọng lắm đến nỗi thành phố đen đủi, khắp nơi đều hoang vắng, còn anh thì nằm bán thân bất toại trên nấm mồ này. Nguyên nhân nào đã sinh ra bao cảnh đau đớn này?
Chàng thanh niên bèn dịu dàng nói:
- Tôi sẽ kể cho ngài nghe, nhưng sau đó, ngài phải đi khỏi đây cho thật nhanh, kẻo lại bị tai họa giáng xuống. Mới gần đây thôi, tôi là vua cai trị xứ này và có một người vợ rất đẹp. Tôi hết mực yêu thương nàng và cứ tưởng nàng cũng yêu mình. Nhưng một hôm, tôi bắt quả tang nàng đang nằm trong vòng tay của một người nô lệ da đen. Vừa giận vừa ghen, tôi lấy gươm đâm gã nọ ngay trước mặt người đàn bà phản bội. Tôi sắp xỉa mũi gươm vào nàng, thì bỗng nàng thốt lên những tiếng nói lạ lùng. Ngay lập tức, nửa người tôi biến thành đá. Rồi nàng nguyền rủa, biến thành phố, chợ búa, vườn tược thành vắng hoe, làm ngập lụt cánh đồng ở giữa các khu đồi, biến tất cả mọi người thành cá đa sắc rồi xua hết ra hồ. Sau đó, ngày nào nàng cũng đến quất tôi hàng trăm roi và nói chuyện hàng giờ với gã da đen được an táng dưới mộ này.
Vừa kể xong chuyện của mình, chàng thanh niên thở hồng hộc.
- Bây giờ thì xin ngày đi đi kẻo quá muộn.
Ngay khi ấy, Quốc vương nghe có tiếng chân đi đến. Ngày vội vã núp vào phía sau ngôi mộ, và thấy một thiếu nữ đi vào, mặt mày nhợt nhạt, mặc áo tang. Nàng đến gần hoàng tử, vạch trần lưng  chàng ra, lấy roi quất rất tàn bạo. Chàng la lên vì đau đớn, nhưng nàng không thương xót, cứ đánh càng lúc càng mạnh. Khi chàng ngất xỉu, nàng mới vứt cây roi đi rồi quỳ xuống trước ngôi mộ.
- Nói đi, chàng hỡi, hãy cho em nghe giọng nói mê ly của chàng đi, - chị ta thì thào, mắt nhìn khuôn mặt của tên nô lệ chạm vào đá. Quốc vương ngồi nép mình sau mộ, che một bàn tay lên miệng, rồi nói bằng giọng hằn học:
- Đồ phù thủy đáng nguyền rủa, ngươi không xứng nghe ta nói.
- Chàng ơi, chàng đã tỉnh lại được rồi! - chị ta mừng rỡ reo lên.
- Phải, nhưng ta chỉ ra được khỏi ngôi mộ này khi ngươi đã hóa phép giải thoát cho chồng ngươi và thần dân xứ này. Nếu chúng ta làm khổ những người này, thì chúng ta không thể sống với nhau hạnh phúc được.
- Em không hiểu nổi chàng! - chị ta ngạc nhiên nói - Nhưng em sẽ làm những gì chàng muốn.
Một tô nước đầy hiện ra trong tay mụ phù thủy. Mụ ta lầm rầm đọc thần chú. Khi nước bắt đầu sôi, mụ rảy vài giọt lên chàng hoàng tử và nói;
- Hãy trở lại hình dáng trước đây của ngươi.
Hai chân hoàng tử nhúc nhích, rồi chàng vùng đứng lên, hớn hở vui mừng.
Rồi mụ ta đưa mắt nhìn về phía cái hồ, đưa thẳng cái tô ra trước, lầm rầm đọc thần chú. Cái tô như con chim, bay đi và khi nước trong hồ hòa với nước trong tô, cá trong hồ đều biến hết thành người. Rồi cái hồ biến mất.
- Mình, mình muốn gì nữa?
- Đến gần đây! - Quốc vương ra lệnh.
Mụ ta nghiêng người tới gần ngôi mộ. Ngay lập tức, Quốc vương vùng dậy nhanh như chớp, đâm lưỡi gươm xuyên qua ngực mụ.
Lâu đài và cả thành phố bừng sáng trở lại. Dân chúng vui vẻ trở về nhà, người về xưởng chợ, kẻ về cửa hàng. Tất cả đều hết lời ca ngợi vị Quốc vương đã cứu họ thoát khỏi bùa phép tàn bạo của mụ phù thủy.
- Bây giờ ta phải về nhà, - Quốc vương nói.
- Để tôi cho lính đưa ngài về, và mang theo lương thực cho ngài. Khi đến, ngài chỉ mất một ngày, vì lúc đó thành phố đã bị làm phép. Nhưng khi về, ngài phải mất trọn một năm.
Quốc vương cảm ơn hoàng tử, rồi vội vã lên đường ngay. Ngài đi trọn một năm, qua bao nhiêu sa mạc, bao nhiêu đồng bằng phì nhiêu, cây cối xanh tươi, qua bao rừng rú, cuối cùng mới về đến nhà.
Vị tể tướng, quần thần trong triều đêu tin Quốc vương đã chết vì ngài biến mất đã lâu. Họ vui sướng khi thấy ngài bình an vô sự trở về. Tất cả đều hò hét vui mừng chào đón ngài.
Quốc vương liền cho mời người đánh cá đến cung điện, giao cho ông ta việc tài chánh trong nước.
Cho đến lúc chết, bác đánh cá cứ nhớ đến thần DoBa nhưng không bao giờ bác gặp lại ông ta được.

Đăng nhập để trả lời
0
Ba Bùa Phép Của Nữ Thần Nước

Ngày xưa, ở một cửa sông nọ, có một người đánh cá nghèo sinh sống. Anh lấy một nữ thần nước. Nàng đẹp mê hồn. Hai vợ chồng rất thương yêu nhau, không rời nhau nửa bước. Đi đâu cũng cùng đi với nhau: đi đánh cá, đem cá đến bán cho Quốc vương, hay là ra chợ bán, dù chợ không xa nhà họ bao nhiêu.
Một hôm, khi cùng ra chợ bán cá, họ gặp Quốc vương và đoàn tùy tùng của ngài.
Mới nhìn, Quốc vương đã hết sức sửng sốt trước sắc đẹp của vợ người đánh cá. Suốt đêm đó, ông ta trăn qua trở lại trên giường mà không làm sao ngủ được. Hình ảnh xinh đẹp của vợ người đánh cá không rời khỏi trí óc ông. Ông tự hỏi không biết làm sao chiếm cho được nàng, nhưng không tìm ra cách.
Khi trời tờ mờ sáng, ông liền cho mời vị tể tướng đến. Ông này là một người mưu mô và độc ác.
Tể tướng khuyên Quốc vương:
- Loại gã đánh cá đi, vợ hắn sẽ là của ngài! Ngài hãy yêu cầu hắn thực hiện một công việc không thể làm được. Khi đó tên đao phủ sẽ có trách nhiệm thanh toán hắn.
- Nhưng việc gì? Ta muốn người đàn bà xinh đẹp ấy phải vào cung ngay!
- Ngày hãy ra lệnh cho gã đánh cá mang đến một chùm nho ăn không bao giờ hết, ngay cả khi ngài cho quần thần mỗi người một trái.
- Và vợ tên đánh cá sẽ là của ta! - Quốc vương hí hửng nói - Đưa gã đánh cá đến mau lên.
Khi nghe Quốc vương ra lệnh, anh đánh cá khóc và nói:
- Ôi, lạy Đấng A La, xin ngài thương xót cho con! Làm sao tôi thực hiện được ý muốn của Quốc vương?? Tôi không có cây nho nào cả, mà một chùm nho như thế thì chỉ thần thánh mới có được thôi! Nếu Quốc vương muốn cá, tôi có thể đem cá đến cho ngài, cá lớn, cá bé, cá đa sắc, và thậm chí cá có cánh bay được như chim. Nhưng một chùm nho ăn không bao giờ hết thì làm sao kiếm được!
Vị tể tướng cắt ngang lời anh:
- Ngươi nói nhiều quá! Hoặc là tìm ra chùm nho như thế trong vòng ba ngày, hoặc là đao phủ sẽ chặt đầu ngươi! Đấy là ý muốn của Quốc vương!
Anh đánh cá thất vọng về nhà nói với vợ:
- Mau lên em! Ta thu xếp đồ và đi trốn thôi.
- Tại sao thế? Có chuyện gì vậy anh? - Người vợ ngạc nhiên hỏi khi thấy thái độ kỳ lạ của chồng.
Anh kể lại cho vợ nghe, người run lẩy bẩy.
- Đừng có than vãn nữa! - Chị trả lời, thái độ bình tĩnh dịu dàng - Trên đời này có nhiều chuyện nghiêm trọng hơn tính khí bất thường của Quốc vương nữa. Hãy đến thăm chị của em sống ở đầu nguồn gần cây thông bá hương. Đến nơi, anh nhìn xuống mặt nước trong và nói vợi chị ấy: "Chị Ma Ram, chị Ma Ram hùng mạnh. Tôi là chồng của em gái chị đây. Cô ấy nhờ tôi đến nói với chị kiếm cho bọn tôi một chùm nho ăn không bao giờ hết. Chị có giúp bọn tôi được không?"
Anh chàng đánh cá làm đúng theo lời vợ dặn. Anh đến tận nguồn sông, cúi mình xuống nói theo lời vợ dặn, bỗng anh nghe có tiếng nói êm dịu từ dưới nước vọng lên:
- Hãy cầm lấy chùm nho này, nhưng phải trả lại cho tôi khi mọi người đã ăn trái. Người không thể cất giữ những thứ có phép lạ. Chúc chú may mắn và nói với vợ chú rằng tôi rất nhớ nó!
Mặt nước rung rinh, rồi một chùm nho thật đẹp hiện ra. Chàng đánh cá cầm lấy rồi chạy đến cung điện của Quốc vương.
Quốc vương lấy một trái nho: nho thơm và ngọt. Quan tể tướng ăn một trái. Chùm nho chuyền tay nhau khắp mọi người nhưng không bao giờ hết.
- Ta chưa bao giờ thấy một chuyện kỳ lạ như thế này! - Quốc vương nói nhỏ bên tai vị tể tướng - Chắc gã này làm bạn với quỷ rồi! Phải làm sao đây?
- Chúng ta sẽ giao cho hắn một nhiệm vụ khó khăn hơn nữa.
- Và phải làm sao cho hắn không thể thực hiện được.
- Việc này đố hắn làm được! Ngài sai hắn phủ khắp sân chầu của ngài một tấm thảm duy nhất thôi - quan tể tướng đề nghị, xoa hai tay vào nhau vẻ hả hê - Tấm thảm phải rộng đủ để ngài tiếp hết cả thần dân.
- Ý kiếng rất hay! - Quốc vương thốt lên, lão nắm chắc vợ của người ngư phủ đã là của mình rồi. Không một người thợ dệt nào làm được một tấm thảm có kích thước như thế.
Chàng đánh cá khốn khổ la lên:
- Ôi, lạy đấng A La vĩ đại! Tôi không phải thợ dệt, cũng không phải người buôn thảm. Một con quỷ đầy tài năng cũng không!
- Ngươi nói nhiều qua! - quan tể tướng cắt lời anh - Hoặc ngươi trải thảm khắp triều đình, hoặc tên đao phủ chặt đầu ngươi!
Chàng đánh cá buồn bã trở về nhà. Người vợ thấy  anh quá khổ sở bèn hỏi:
- Chùm nho không đủ chco mọi người sao?
- Đủ chứ, nhưng việc ấy vẫn không làm cho Quốc vương hài lòng. Bây giờ ông ta lại muốn một tấm thảm thật rộng đủ cho ông ta tiếp tất cả thần dân.
- Thế thôi ư? Anh hãy trở lại chỗ đầu nguồn nước dưới cây thông bá hương già, cúi xuống mặt nước và gọi Ma Ram. Anh nói với chị ấy: "Chị Ma Ram quý báu ơi! Em gái chị bảo tôi đến đây để kiếm một cuộn sợi và cái gậy nhỏ".
Chàng đánh cá cúi người trên mặt nườc đầu nguồn. Một giọng nói êm dịu cất lên:
- Chú hãy lấy cây gậy và cuộn sợi này. Nhưng làm xong chú hãy trả lại cho tôi, vì người không thể giữ lâu những thứ có bùa phép.
Mặt nước rung rinh rồi hiện ra một chiếc gậy nhỏ đen và một cuộn sợi trắng. Chàng đánh cá cầm lấy rồi về nhà. Vợ chàng nói:
- Bây giờ, anh đến hỏi ông tể tướng mượn một cái đinh lớn. Anh đóng cái đinh ở giữa sân rồi móc đầu sợi chỉ ở cuộn sợi vào đấy. Cả sân sẽ được phủ một tấm thảm rất đẹp, đẹp hơn bất kỳ tấm thảm nào từ xưa đến nay. Sau đó, anh lấy đầu gậy chạm vào tấm thảm rồi vẽ một vòng tròn trên không. Tấm thảm sẽ lớn ra khắp tứ phía. Nếu vẽ thêm một vòng tròn thứ hai, tấm thảm sẽ ngưng không rộng ra nữa. Và vẽ vòng thứ ba, tấm thảm sẽ biến mất.
Anh chàng đánh cá gật đầu, hết sức kinh ngạc.
- Cứ tin em đi! Đến lâu đài đi, đừng sợ. Anh sẽ thấy em không nói láo đâu! - vợ anh nói, nở miệng cười với anh.
Khi chàng đánh cá đến trình diện quan tể tướng, lão ta cười khẩy rồi nói với anh:
- Ngươi có đem tấm thảm đến không, hay ta phải cho người đi tìm tên đao phủ?
- Tôi đem đến đây, thưa ngài. Nó trong túi tôi.
- Chỉ có khăn quàng hay tấm vải quấn đầu chắc là được rồi đấy! - viên đại thần chua chát nói.
- Tôi chỉ cần một cái đinh để trải tấm thảm ra.
Viên đại thần ra lệnh đem đến một cái đinh, nhưng lão cũng ra lệnh cho gọi tên đao phủ đến để chuẩn bị một cuộc hành hình.
Chàng đánh cá đóng một cái đinh trên mặt đất, móc cuộn sợi vào. Lập tức một tấm thảm trải ra khắp sân, phủ kín các ngóc ngách của sân.
Quốc vương và viên tể tướng hồi hộp như muốn tắt thở. Sau khi đã lấy lại được bình tĩnh, quan tể tướng bèn ra lệnh:
- Tất cả lính tráng, tôi tớ, đầu bếp, thợ thuyền, nông dân, thương gia, chăn cừu, văn sĩ, bác học, tu sĩ và tướng tá đều phải đến hết. Các người hãy ngồi hết lên tấm thảm để xem thảm có đủ rộng tiếp đón hết thần dân của Quốc vương hùng mạnh không?
Chàng đánh cá bèn vẽ một vòng tròn lên không trung. Tấm thảm liền lớn dần ra. Người người khắp nơi tựu đến, chen lấn nhau đầy sân. Chẳng bao lâu, người ta chen lấn nhau quanh lâu đài, ra cả ngoài đường, tràn khỏi tường thành, ra ngoài ngoại ô xa xôi. Tấm thảm cứ lớn dần...
- Nhân danh đấng A La, ta ra lệnh ngươi cho dừng tấm thảm khủng khiếp này lại, kẻo nó phá hoại hết cả vương quốc của ta, - Quốc vương van xin khi ông ta thấy cảnh vườn tược khắp nơi bị tàn phá.
Chàng đánh cá vẽ một vòng thứ hai lên không. Tấm thảm dừng lại. Rồi chàng vẽ thêm vòng thứ ba. Ôi kỳ diệu làm  sao! Tấm thảm biến mất! Chỉ còn cái gậy và cuộn chỉ sợi, hai thứ nhắc cho mọi người câu chuyện kỳ diệu mà họ vừa chứng kiến.
- Giờ chúng ta phải làm sao? - Quốc vương thì thào bên tai viên cố vấn - Gã này có khả năng làm được mọi thứ. Hắn là bạn của quỉ sứ hay các thần linh rồi. Chắc ta không nên mơ đến chuyện đoạt vợ hắn nữa. Và ta thấy chắc không bao giờ nàng trở thành vợ ta.
- Thưa Quốc vương hùng mạnh, - viên tể tướng nói, giọng ngọt xớt - Xin đừng để thua một tên đánh cá hèn mọn như thế. Ngài sẽ mất hết uy lực và thần dân sẽ không sợ ngài nữa. Ngày hãy ra cho hắn thêm một công việc thứ ba nữa.
- Ta không muốn vương quốc của ta bị hư hại. Ngươi hãy nghĩ ra một việc gì khó khăn, nhưng đừng để hại đến tài sản.
- Xin ngài ra lệnh cho gã mang đến một đứa trẻ sơ sinh biết đi và nói được. Đứa bé sơ sinh phải kể cho ngài nghe một chuyện hoàn toàn bịa đặt, không một lời nào đúng sự thật hết. Thua Quốc vương, ngài sẽ thấy gã không thực hiện được việc này đâu. Vợ gã sẽ thuộc về ngài.
Chàng đánh cá buồn bã về nhà. Anh đau khổ nói với vợ:
- Anh đã mang đến nho ăn không bao giờ hết, dệt tấm thảm lớn bằng cả thành phố. Thế mà ông ta vẫn còn muốn việc khác nữa.....Tại sao ông ấy lại quấy nhiễu anh hoài như thế?
Vợ anh dịu dàng nói với anh:
- Bây giờ đừng nghĩ ngợi gì hết cho mệt. Rồi sau anh sẽ biết. Lần này hắn ta muốn gì?
- Một đứa bé sơ sinh biết đi, biết nói và kể chuyện láo.
- Chúng ta gặp may rồi! Ngày hôm nay, chị em vừa sinh một thằng bé. Anh hãy đến thăm chị và gọi: "Chị Ma Ram, chị Ma Ram hùng mạnh ơi, em gái chị nhờ chị gởi con chị đến cho cô ấy. Hình như cậu bé biết đi, biết nói như người lớn thì phải".
Chàng đánh cá nghiêng người trên nguồn nước. Anh nghe giọng nói êm dịu của Ma Ram:
- Chú đợi một tí để con tôi ăn thịt và uống rượu vang xong đã nhé. Và khi nó kể cho Quốc vương nghe xong những chuyện láo khủng khiếp, thì cần phải đem nó về cho tôi liền nghe. Người không thể giữ lâu bên mình những sinh vật do bùa phép mà ra.
Mặt nước rung rinh rồi một em bé sơ sinh hiện ra, nằm trên một ngọn lá cọ.
- Dượng mảnh khoẻ không, thưa dượng? - Hài nhi hỏi.
- Khoẻ, bây giờ.... - chàng đánh cá nghẹn họng, anh thì thào.
- Dượng còn đợi gì? Hãy bế cháu để lên mặt đất đi. Mau đi. Quốc vương đang đợi ta đấy.
- Ta sợ hai chân cháu không đứng lên được.
Chàng đánh cá nói, vừa cẩn thận để chú bé lên cỏ. Nhưng cậu bé cất bước đi song hành với ông dượng của mình.
- Quốc vương muốn cháu kể cho ông ta nghe một chuyện láo. Nếu không, ông ấy sẽ cắt đầu ta.
- Dượng đừng sợ. Cháu sẽ kể cho ông ta nghe nhiều chuyện rất ấn tượng! Nhưng cháu muốn dượng giúp cho cháu việc này: khi chúng ta đến lâu đài, dượng hãy yêu cầu Quốc vương gọi tất cả quần thần và tôi tớ của ông ta đến. Tất cả bọn họ phải nghe cháu kể chuyện.
- Ta sẽ làm theo ý muốn của cháu! - chàng đánh cá vừa cười vừa đáp, vì chàng thấy mọi việc có vẻ thuận lợi.
Khi đến lâu đài, chàng đánh cá và cậu bé sơ sinh đến trình diện Quốc vương. Chẳng bao lâu, sân lâu đài đông đúc mọi người. Người ta trầm trồ nói với nhau, chen lấn quanh cậu bé, rất muốn xem cảnh sắp diễn ra. Cậu bé ngồi lên ngai, như một hoàng tử, rồi cậu ta bắt đầu nói:
- Hôm qua, khi tôi sinh ra thì ông nội tôi còn nhỏ và ốm yếu, cứ khóc nhè mãi. Tôi phải bồng ông trong tay và đưa ông đi dạo trong rừng. Khi đến gần cây cổ thụ, một con chim hót trên cành cao chót vót. Ông tôi có lẽ không thích nghe tiếng chim hót, nên lại càng khóc lớn hơn nữa và vùng vẫy lung tung. Tôi đã cố đuổi con chim đi, bằng cách lấy đất khô ném nó, nhưng không ném tới con chim.
Đất vướng trên cành liền nảy nở ra, biến rất nhanh thành một cánh đồng. Chúng tôi cày cấy gieo mạ trên đó, nhưng không thu được hoa lợi gì cả. Năm sau, chúng tôi gieo lên cánh đồng ấy hạt dưa hấu. Dưa ra trái. Tôi liền mang đến cho ông nội một trái vì ông cứ khóc hoài. Khi đưa lưỡi dao gần đến trái dưa chín, tròn, thơm ngon, thì lưỡi dao biến mất vào trong. Tôi liền phóng theo. Trước mặt tôi hiện lên thành lũy một thành phố. Một người lính gác nắm vai tôi dẫn đến gặp Quốc vương. Công chúa rất đẹp ngồi bên cạnh ông ta. Quốc vương hỏi tôi làm gì ở đây. Tôi nói sự thật cho ông ta biết là mình đi tìm con dao. Quốc vương liền cho người đi tìm và mời tôi ngồi trong ghế bành bọc nhung bên cạnh con gái ông. Tôi liền cất tiếng hát. Công chúa cười, hoan hô, và thủ thỉ nói cái gì đó bên tai vua cha. Tôi nhận được lệnh lấy công chúa. Tôi rất sung sướng. Chúng tôi sống hạnh phúc với nhau và có ba con.
Thế nhưng, thỉnh thoảng tôi lại nhớ đến ông nội. Và ông cũng thiếu vắng tôi. Sau khi nói với vợ như thế, hai chúng tôi bèn bồng con bỏ trốn.
Khi chúng tôi đi về phía vỏ trái dưa hấu thì Quốc vương được tin, ngài liền bắt lại. Công chúa và các con tôi bị nhốt trong lâu đài. Còn tôi, người ta nhét vào trong một khẩu đại bác như viên đạn, rồi bắn về nơi trước đây tôi đã ở.
Ông nội vẫn đang đợi tôi và tôi ôm ông vào lòng. Ông hết khóc, còn tôi lại ngủ say sưa.
Nhưng sáng nay, dượng tôi thức tôi dậy. Tôi chưa ăn uống gì hết, vì ông ấy quá hấp tấp. Tất cả là do ngài cả, Quốc vương ngu ngốc à, và đều do những yêu cầu quá đáng của ngài mà ra cả.
Quốc vương nhíu mày, định trừng phạt cậu bé vì tội khi quân, thì bỗng ngài nghe một tiếng sấm long trời lở đất vang lên, làm cả cung điện lung lay. Bầu trời phủ đầy mây đen, rồi mưa như trút, nước tràn ngập cả thành phố.
Trên không hiện ra một người đội vương miện vàng, chĩa vào Quốc vương chiếc chĩa ba ngạnh và nói với Quốc vương bằng giọng oang oang như sấm:
- Ta là chủ của các thần nước hùng mạnh đây. Ta đến bảo vệ cho người của ta thoát khỏi hành động ngu ngốc của ngươi. Người phụ nữa mà ngươi muốn chiếm làm vợ không phải là người bình thường đâu, mà cũng không phải chỉ là nữ thần nước thôi đâu. Nó là con gái ta đấy. Nếu ngươi cả gan làm hại chồng nó hay hại đứa bé kia, thì cái chĩa ba này sẽ kết thúc đời ngươi. Lính thần của ta sẽ chiếm lấy đất nước của ngươi.
Quốc vương mặt mày tái mét, mở to mắt nhìn cái chĩa. Viên tể tướng cũng ngồi bất động như trời trồng bên cạnh Quốc vương.
Vị chủ các thần nước biến mất cùng cậu bé sơ sinh và chàng đánh cá. Bầu trời sáng lại, mưa ngừng rơi, cũng đột ngột như khi bắt đầu vậy.
Quốc vương quên nàng thần nước, lấy một người vợ khác. Chàng đánh cá và vợ sống hạnh phúc bên nhau, có nhiều con.
Đăng nhập để trả lời
0
Hoàng Tử Xalayden Và Người Vợ Độc Ác

Ngày xưa có một vị Quốc vương rất giàu có, có 7 người con trai. Ông ta cưới vợ cho các con, vợ họ là 7 cô con gái của một Quốc vương nước láng giềng.
Một hôm, để thử thách các con trai, nhà vua ra lệnh cho họ cạo đầu vợ mình. Công việc này quả là làm nhục vợ một cách vô lý, nhưng các người con phải làm vừa lòng vua cha. Thế là những mái tóc nâu dài rơi xuống đất. Tất cả đều thi hành lệnh cha...trừ người con út, hoàng tử Xalayden (Salaydin). Chàng nói với Quốc vương:
- Thưa cha, mặc dù con rất thương cha, kính trọng cha, nhưng con không thể thi hành lệnh cha được. Phatima (Fatima) không thích loại hình phạt như thế này. Nàng là một cô gái đẹp, không trách nàng được.
Quốc vương tức giận, truất quyền thừa kế của người con út, rồi đuổi hai vợ chồng ra khỏi vương quốc.
Hai vợ chồng khốn khổ đi rất xa, hết tỉnh này qua tỉnh khác, hết nước này qua nước khác.
Một hôm, họ đến trước một kinh thành chênh vênh trên một ngọn đồi. Xalayden thận trọng đi một mình tới trước lâu đài. Chàng ngây ngất trước vẻ mỹ lệ của nó, và đây là nơi ở của một con quỷ rất tàn bạo! Chàng vừa qua khỏi cửa là con quỷ nhảy vào chàng liền. Hai người đều có sức khoẻ và tài năng như nhau. Cuộc chiến đấu kéo dài rất lâu, cho đến lúc Xalayden đem hết sức lực còn lại trong người ra, chiến thắng con quỷ, quật ngã nó xuống đất.
Hoàng tử đưa nó đến tận căn phòng xa tít ở cuối lâu đài rồi nhốt lại. Sau đó đi tìm vợ, chàng đưa hết chùm chìa khóa của lâu đài cho nàng rồi nói:
- Em có thể đi đâu cũng được, nhưng đừng vào căn phòng ở cuối hành lang.
Ngày nào Hoàng tử cũng đi săn từ  sáng đến tối mới về. Phatima ở nhà một mình, để khỏi buồn, nàng đi ra sân, ra vườn, đi khắp các phòng trong lâu đài. Nàng lên tận tháp, xuống hầm xem xét....chỉ còn một nơi duy nhất không dám vào là căn phòng cuối hành lang.
Một hôm, một cái chìa khoá văng ra khỏi chùm chìa khóa rơi xuống đất. Phatima cúi xuống lượm lên. Đấy là chìa khóa của căn phòng cấm. Hàng ngàn câu hỏi hiện ra trong óc nàng. Tại sạo nàng không được phép vào căn phòng này? Chồng nàng giấu cái gì ở đấy? Ai ở trong phòng này mà nàng không có quyền thấy? Quá tò mò, nàng bèn từ từ mở cửa căn phòng và bước vào. Nàng nghe có tiếng than thở đau đớn. Nàng bèn dừng lại.
- Ai đấy? - nàng bàng hoàng cất tiếng hỏi.
- Tôi là thần đây, - một giọng nói chua xót cất lên - Tôi bị thương. Tôi bị chồng nàng đánh và nhốt vào đây.
- Nếu ta đến gần, ngươi có làm hại ta không?
- Tôi không thể làm hại cô được đâu. Hãy nhìn tôi đau đớn biết dường nào đây! - hắn  thì thào đáp sau khi đã biến thành một thanh niên có đôi mắt xanh như nước biển. Hắn nói tiếp - Ngược lại, nếu cô săn sóc vết thương cho tôi, tôi sẽ che chở cho cô chống lại mọi thế lực xấu.
Công chúa bị sắc đẹp của hắn làm cho siêu lòng, nàng đem lòng say mê con quỷ. Ngày nào nàng cũng đến thăm, chăm sóc vết thương, đem nước uống và thức ăn đến cho hắn.
Dần dà, con quỷ lấy lại sức lực. Rồi một hôm, hắn lành hẳn các vết thương. Hắn thú thật là đã yêu công chúa. Nhưng phải làm sao với Xalayden đây? Hắn nhìn chằm chằm vào đôi mắt của Phatima, thế là nàng quên hết tình yêu và lòng trung thành đối với chồng.
- Làm sao đây? - nàng thì thào hỏi.
- Giả vờ bệnh, - con quỷ đề nghị - Anh sẽ biến thành thầy thuốc, nói với hoàng tử rằng chỉ có táo mọc ở xứ thứ bảy của các vị thần ngoài sa mạc mới chữa lành bệnh em được. Chồng em sẽ đi đến đấy và không bao giờ trở về được.
Phatima chạy đi hái trái nghệ tây, ngăm vào nước sôi, rồi đem thoa lên mặt. Đôi má xinh đẹp vàng đi. Nàng đắp lên trán miếng vải tẩm nước rồi nằm dài trên giường. Hoàng tử đi săn về, nghe tin vợ bệnh, chàng liền chạy vào phòng nàng.
- Em sao thế? - chàng buồn bã hỏi.
- Em bệnh. Anh đi mời thầy thuốc nhanh lên. Em thường thấy ông ta đi ngang qua lâu đài về phía hồ. Chắc ông ta ở đấy. Xalayden, anh hãy đi mời thầy thuốc gấp cho em.
Người thầy thuốc khám xong, y nói:
- Vợ ông sắp chết rồi. Tôi không cứu nổi.
Hoàng tử hốt hoảng, hai tay bưng mặt khóc.
- Chỉ có táo thần ngoài sa mạc mới chữa lành bệnh cho bà được - gã thầy thuốc giả danh nói thêm.
- Tôi sẽ đi tìm trái táo ấy! - Xalayden nói, lấy lại hy vọng - Tôi sẽ đi đến tận cùng trái đất, nếu có thuốc chữa lành bệnh cho nàng.
Hoàng tử liền hôn vợ rồi lên đường ngay. Ra đến chợ, chàng mua phó mát, bánh mì, rượu vang, kéo và dao cạo. Chàng chuẩn bị đi xa.
Chàng đi nhiều ngày mới đến xứ thứ nhất của thần sa mạc. Một vị thần khủng khiếp, thân hình đồ sộ, râu ria xồm xoàm dài xuống tận đất, đứng đợi chàng.
- Xin chào! - Xalayden tươi cười nói.
- Xin chào! - vị thần khổng lồ đáp - Nếu ngươi không chào, chắc ta đã ăn thịt ngươi và ném xương cho linh cẩu hay chó sói rồi.
Hoàng tử chia phó mát, bánh mì và rượu vang với lão. Sau khi đã ăn uống no nê, chàng cạo râu và cắt tóc cho lão.
- Ngươi đến đây làm gì? - thần hỏi, lão có vẻ khoan khoái.
- Tôi muốn hái vài trái táo trong vườn ngài.
- Ngươi hái táo cho một người đàn bà mất nết!
- Tôi phải hái thôi - Xalayden đáp, không muốn cãi lời lão.
- Ngươi cứ đi thẳng mãi qua sa mạc, ngươi sẽ gặp anh của ta. Hãy chào anh ấy thật lễ phép, như ngươi đã chào ta vậy. Anh ấy sẽ chỉ cho ngươi đường đến khu vườn thần.
Hoàng tử chào lão ta rồi lên đường.
Một lát sau, chàng giáp mặt với vị thần thứ hai. Lão này còn khủng khiếp hơn lão trước nữa. Xalayden cất tiếng chào, mời ăn uống rồi cắt tóc cạo râu cho lão. Rồi chàng hỏi lão đường đến khu vườn thần. Vị thần thứ hai đáp:
- Cứ đi thẳng, ngươi sẽ gặp anh cả của ta. Nhớ chào và phục vụ ông ấy như đã phục vụ ta, ông ấy sẽ chỉ đường cho ngươi đến khu vườn thần.
Cứ thế, Xalayden cạo râu cắt tóc cho bảy vị thần khủng khiếp. Vị thần thứ bảy nói với chàng:
- Sau đụn cát kia, ngươi sẽ gặp mẹ ta. Hãy lễ phép chào hỏi bà ấy, uống sữa đường bà ấy đưa cho. Nếu ngươi cư xử tốt, bà sẽ cho ngươi các thứ ngươi muốn.
Hoàng tử lại đi. Đến sau các đụn cát, chàng gặp một bà phù thủy già khọm, nhăn nheo. Chàng chào bà ta và uống sữa đường bà đưa ra.
- Ngươi muốn gì? - bà hỏi.
- Tôi muốn hai vài trái táo trong khu vườn thần của bà!
- Cho con đàn bà trắc nết?
- Phải, - hoàng tử đáp, chàng không hiểu gì hết nhưng không dám trái ý bà.
- Ngươi đã uống sữa của ta, ngươi sẽ được đối xử như con ta. Vào nhà đi, ngươi sẽ thấy như đang ở nhà mình.
Họ đi vào trong ngôi nhà đồ sộ. Ngay khi ấy, đất rung chuyển. Xalayden sợ hãi, co người nép vào một góc nhà. Bà phù thủy nói:
- Các thần đang đến đấy. Chắc là ngươi sẽ bị ăn thịt mất thôi. Ta phải giấu ngươi ở đâu nhỉ?
Bà ta hà hơi lên Xalayden, biến chàng thành cây kim  và lấy cài lên tóc mình. Bảy vị thần đi vào.
- Tôi ngửi thấy có mùi thịt người! - một vị thần nói, vừa ngửi ngửi.
- Nếu là thanh niên thì hắn là anh em với ta, - những vị thần kia đồng thanh nói - Nếu là ông già, chúng ta kính trọng như cha mình. Nếu là thiếu nữ, nàng sẽ là em gái ta. Và nếu là bà già, ta xem như bà ngoại.
- Các con có cam đoan sẽ không làm hại hắn không? - bà phù thủy hỏi.
- Chúng con cam đoan!
Bà già đưa tay lấy cây kim găm trên tóc xuống, hà hơi lên, thế là Xalayden lấy lại hình người.
- Chào mừng em trai! - bảy thần hoan hỉ nói.
- Ai trong các con dẫn nó ra khu vườn thần? - bà phù thủy hỏi.
- Con, - thần cả đáp - Chúng con sẽ trở lại trong vòng một năm.
- Đi với em thì chỉ trở lại trong vòng sáu tháng thôi! - vị thần thứ bảy nói.
Tất cả đều tranh nhau la lối, hứa đem chàng về trong thời gian ngắn hơn. Cuối cùng, vị thần trẻ nhất nói:
- Tôi sẽ cõng nó trên lưng mà bay đi rồi quay về trong vòng một giờ thôi.
- Được rồi, nó sẽ đi với con, - bà phù thủy ra lệnh - nhưng đừng ăn nó đấy.
Thần thứ bảy cõng Xalayden trên lưng, bay lên trời.
- Tôi sẽ để cậu ở trước cổng vườn, hãy đi vào một mình. Cậu sẽ gặp một con rắn đen. Nếu nó nhắm mắt, và có mấy con ruồi bò vào lỗ mũi rồi bò ra miệng nó thì nhất thiết đừng đến gần những cây táo thần! Ngược lại, nếu con rắn mở mắt, và bọn ruồi bò vào miệng rồi bò ra đằng lỗ mũi, thì cậu đến gần được. Hái vài trái táo rồi ra thật nhanh, ta sẽ đợi ở đây. Cây táo sẽ nói chuyện với cậu đấy. Nó sẽ hứa với cậu một cuộc đời vĩnh cửu, nhưng đừng nghe, đừng quay lại. Nếu không nó sẽ đém đá vào cậu và mỗi viên sẽ biến thành một con quỷ. Những con quỷ này sẽ ném đá cậu. Còn một điều này nữa, nếu nhìn vào mắt chúng, cậu sẽ bị tê cứng ngay.
Xalayden đi vào vườn. Hai mắt của con rắn mở to, bầy ruồi bò vào miệng rồi bò ra lỗ mũi. Xalayden hái mấy trái cây rồi dợm quay mình đi.
- Này Xalayden, trở lại đây! - cây khóc - Chúng tôi sẽ cho cậu những trái táo giúp cậu được trường sinh.
Hoàng tử quay lại. Cây liền ném đá thay vì ném táo như đã hứa. Mỗi viên biến thành một con quỷ dễ sợ. Chúng chạy theo chàng và ném đá. Hoàng tử bèn nhớ lại lời khuyên của bạn, ôm chặt mấy trái táo vào ngực, chàng chạy ra phía cổng. Vị thần thứ bảy để hoàng tử trên lưng rồi bay lên trời.
- Trên đường về lại xứ sở loài người, cậu sẽ gặp một gã căn cừu và ba con chó. Hãy mua lại của hắn ba con chó với giá thật đắt. Sau này chúng sẽ rất có ích. Chúng sẽ cứu cậu thoát khỏi mọi nguy hiểm - thần vừa khuyên hoàng tử, vừa bay thật nhanh.
Khi Xalayden từ giã gia đình thần, bà phù thủy nói:
- Ta sẽ tặng cho ngươi một món quà quí giá! Từ rày về sau, ngươi sẽ có sức lực của bảy đức con ta gộp lại. Trên đầu ngươi sẽ mọc bảy sợi tóc bạc, sức mạnh của ngươi ẩn ở trong đó. Bây giờ xin đấng A La phù hộ cho con, con à!
Xalayden cám ơn bà phù thủy và bảy người con của bà, rồi lên đường trở về.
Xalayden gặp một người chăn cừu. Chàng mua ba con chó của ông ta với giá gấp ba giá ông ta đòi, rồi tiếp tục lên đường.
Chàng đi nhiều ngày nhiều đêm mới thấy thành trì nằm chót vót trên đồi. Quá lo sợ cho sức khoẻ của công chúa, chàng chạy nhanh về phía lâu đài. Phatima không ngờ chàng lại về sớm đến thế, nàng mặc chiếc áo dài đẹp lộng lẫy. Hoàng tử lại vô tình, cứ tưởng nàng mặc áo đẹp để đón mình trở về. Chàng ôm nàng vào lòng rất say đắm và sung sướng nói với nàng:
- Em hết bệnh rồi à? Thật uổng công cho anh đi đường xa để tìm trái quí cho em!
- Chẳng sao cả, em sẽ ăn để có thêm sức khoẻ.
Phatima vội giấu những trái táo đi để dành cho người tình mắt xanh của mình, cho hắn được thêm sức mạnh. Ngay khi Xalayden vừa đi săn là cô ta vội vã đến gặp hắn.
- Phải loại hắn ngay mới yên! Chàng hãy ăn những trái táo này thì mới thắng được hắn.
- Anh không tin thế! - con quỷ cáu kỉnh trả lời nàng - Chồng em đáng ra phải chết ở sa mạc mới phải. Chắc hắn ta đã liên kết được với một con quỷ hùng mạnh nào đấy, và con quỷ này đã cho hắn sức mạnh phi thường rồi.
Phatima cứ năn nỉ con quỷ. Nếu nó không thắng được bằng sức thì phải thắng bằng mưu. Sau một hồi lâu suy nghĩ, con quỷ đề nghị:
- Hãy trói hắn lại! Khi hắn tháo ra dược, em hãy hỏi hắn do đâu mà hắn có được sức mạnh như thế?
Phatima sửa soạn một bữa ăn thịnh soạn rồi đợi chồng đi săn về. Khi chàng ăn xong, cô ta giả vờ dịu dàng hỏi chồng:
- Nếu em trói anh lại, anh có thể tháo xích ra được không?
- Có lẽ được, - Xalayden nói, chàng ngạc nhiên khi nghe vợ hỏi một việc kỳ lạ như thế.
Công chúa cười rồi nép mình âu yếm vào lòng chàng.
- Em lấy làm lạ khi thấy anh khoẻ như thế.
- Nào, trói anh lại đi!
Phatima trói chàng lại. Xalayden gồng bắp thịt làm đứt tung xích trói. Công chúa đến gần chàng, khen ngợi, vuốt tóc chồng với thái độ rất trìu mến, rồi hỏi nguyên do nào khiến chàng có sức mạnh như thế.
- Có thật là em cần biết điều đó không?
- Phải! Em là vợ anh, em có quyền biết hết về anh chứ.
Xalayden quá hãnh diện vì được Phatima quan tâm đến mình như thế, nên chàng nói hết bí mật cho chàng nghe:  chàng có sức mạnh của bảy vị thần gộp lại.
Bảy ngày trôi qua. Một buổi sáng, Phatima nói với chồng rằng nàng thấy trên đầu chàng có chấy, nàng phải bắt chấy cho chàng liền. Hoàng tử tựa người trên hai đầu gối của vợ. Nhưng thay vì bắt chấy, cô nàng nhổ những sợi tóc bạc trên đầu chàng đi.
Rồi cô ta đòi trói chàng vào một cái cột đá rất vững chắc để xem chàng còn có sức mạnh như trước nữa không. Xalayden gồng bắp thịt, nhưng những sợi dây trói không nhúc nhích. Chàng đã mất hết sức mạnh rồi!
Phatima hớn hở thú nhận với chàng rằng cô ta đã yêu vị thần mắt xanh và kể lại cho chàng nghe việc cô ta săn sóc hắn ngày này qua ngày khác. Cô ta kết thúc:
- Tôi sẽ đi báo tin cho anh ấy đến giết ngươi. Rồi chúng tôi sẽ thành hôn với nhau.
Xalayden quá đỗi kinh ngạc, đến nỗi chàng không thốt được nên lời. Chàng chỉ biết đứng yên nhìn vợ. Phatima chạy đi tìm con quỷ. Xalayden đứng một mình, huýt gió gọi mấy con chó đến. Trong phút chốc, chúng chạy đến bên chủ, cắn đứt dây trối rồi liếm lên người chàng. Cứ mỗi lần liếm là sức mạnh ở ba con chó vạm vỡ truyền sang chàng. Chỉ trong chốc lát, chàng lấy lại sức mạnh như khi còn bảy sợi tóc bạc. Và chỉ một nhát kiếm, chàng chém con quỷ ra làm hai. Rồi chàng quay qua vợ và nói:
- Còn ngươi, con đàn bà phản bội. Số phận của ngươi sẽ tệ hơn nữa! Ta sẽ buộc ngươi vào cái cột này. Trước khi chết, ngươi sẽ chịu cảnh đau đớn vì đói khát.
Mặc Phatima khóc lóc van xin, chàng vẫn rời khỏi lâu đài, mang theo ba con chó.
Chàng đi qua các thung lũng, qua đồng bằng, qua núi non và sa mạc. Một hôm, chàng gặp một cô gái thật đẹp, mặc áo cưới, nhưng gương mặt lại nhợt nhạt. Nàng run rẩy vì sợ hãi.
Xalayden hỏi:
- Cô làm gì mà ngồi trước cái động này một mình thế?
Cô gái thở hổn hển một hồi rồi mới nói được:
- Ở đây có một con quỷ rất hung dữ. Nó bịt nguồn nước của chúng tôi trên ngọn đồi này. Súc vật, mùa màng đều bị chết khát. Nó chỉ để nước chảy nếu hôm nào dân chúng hiến cho nó một cô gái đẹp. Hôm nay là đến lượt tôi. Tôi là Nabila (Nabilla), con gái của vua, bây giờ tôi đang đợi con quái vật đến.
Xalayden suy nghĩ một lát, rồi nhìn thẳng vào mắt cô gái, chàng nói:
- Tôi sẽ giải thoát cô khỏi con quỷ này.
- Sao anh có thể làm được? Nó còn khủng khiếp hơn các thần sa mạc nữa.
- Khi con quỷ đến, cô hãy yêu cầu nó mở nguồn nước để cô tắm trước khi lấy chồng. Nói với nó, cô không phải là một cô gái bình thường, mà là một công chúa. Khi nó ra khỏi động, tôi sẽ lấy gươm này chặt đầu nó.
Nabila hy vọng trở lại. Nàng cười và bắt đầu hát. Con quỷ nấp trong bóng tối, nghe nàng hát, nó ngạc nhiên vô cùng vì bất kỳ cô gái nào bị đưa đến đây cũng đều khóc cả. Nó bèn ra lệnh, giọng gay gắt:
- Đến đây! Vào động đi!
- Không, tôi sẽ không vào nếu ông không cho nước chảy ra. Tôi muốn được cùng ông tắm trong dòng nước mát đó!
- Đừng lôi thôi, hãy vào ngay như những cô gái khác.
- Tôi không giống các cô gái khác. Tôi là con vua! Mà đám cưới của công chúa thì phải có vui chơi trước đã.
Con quỷ ngần ngại, rồi một lát sau, nó bước ra khỏi động. Khi nó vừa ló đầu ra ngoài, Xalayden liền chém nó một nhát. Một vòi máu đen phun ra, hòa với nước nguồn. Nabila vui mừng, ôm hôn người cứu nàng, rồi chạy đi tìm cha. Đức vua ngạc nhiên thốt lên:
- Con gái yêu quí của ta đây ư? Chính là con ư?
Nhưng cô gái không để cho ông có thì giờ nói thêm gì nữa. Nàng yêu cầu ông mau thông báo cho toàn dân đừng uống nước nguồn vì trong nước có máu của con quái vật.
Khi người ta vừa mới được giải thoát khỏi một con quỷ tàn bạo như thế này thì phải chịu một ngày không có nước cũng chẳng sao! Người ta tháo khăn tang ra, cả thành phố tràn ngập hoa và những dải lụa đủ màu sắc. Khắp đường sá trong thành phố, người ta ca hát nhảy múa.
- Chàng ta ở đâu rồi? - nhà vua ngạc nhiên hỏi.
- Con không biết, - công chúa buồn bã đáp - nhưng nếu con thấy anh ta, con sẽ nhận ra ngay.
Nhà vua ra lệnh cho tất cả các thanh niên trong nước đến cung điện để công chúa nhận diện.
Tin được truyền đi khắp nơi. Nhiều thanh niên mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao, đua nhau đến cung điện nhà vua. Công chúa nhìn từng người, nhưng vẫn không thấy được người nàng đang mong chờ. Bỗng nàng thấy Xalayden cùng ba con chó, nàng đưa tay chỉ cho vua cha thấy người nàng chọn.
Nhà vua đón tiếp chàng rất long trọng. Ngài bày tỏ lòng biết ơn chàng đã cứu thoát thành phố, bằng lòng gả con gái cho chàng. Xalayden vui mừng nhận lời.
Ngày hôm sau, lễ cưới được tổ chức. Cả thành phố đều ăn mừng. Tất cả được mời đến dự lễ, chia vui cùng công chúa và người anh hùng của họ.
Sau khi đám cưới xong, Nabila hỏi Xalayden:
- Xalayden, anh còn gia đình không?
- Anh chỉ còn một người em gái thôi, - chàng nói láo vì không muốn thú thật là mình bị gia đình xua đuổi và bị vợ phản bội.
- Sao anh không đưa cô ấy đến ở với chúng ta?
Xalayden ngẫm nghĩ một lát. Có lẽ Phatima muốn đến sống như một người em gái với chàng, hơn là phải chết khát chết đói vì bị trói nơi cột nhà. Chàng ngần ngừ một chút, rồi nói:
- Em đã muốn thế, thì để anh đi hỏi cô ta xem sao!
Sáng hôm sau, Xalayden cưỡi ngựa ra đi. Khi chàng đến tòa lâu đài, Phatima đang ở trong tình trạng suy yếu hoàn toàn. Chàng săn sóc cho cô ta, và dần dà, cô ta lấy lại sức. Chàng kể cho cô ta nghe chàng đã giết con quái vật khủng khiếp trước động như thế nào và đã cưới nàng công chúa làm vợ ra sao.
- Anh đã lấy vợ khác ư? - Phatima không hài lòng.
- Tôi là người Hồi giáo mà! Tôn giáo cho phép tôi lấy bốn vợ. Có lẽ cô đã quên việc cô phản bội và muốn giết chết tôi. Tôi để cho cô sống, nhưng cô phải hứa từ rày về sau xem như em gái tôi.
Phatima hứa nghe theo lời chàng để được sống. Và hai người lên đường.
Khi họ đi ngang qua gần cái động nơi Xalayden giết con quái vật, Phatima xin chàng dừng lại một chút để nghỉ. Chàng xuống ngựa và đi bách bộ một chút trong vườn. Trong khi đó, Phatima lấy trong túi ra một cái chai nhỏ, múc đầy máu của con quái vật đã động thành từng vũng trên mặt đất rồi giấu dưới áo. Xalayden trở lại, hai người tiếp tục lên đường.
Nhà vua và công chúa đón tiếp Phatima rất nồng nhiệt.
- Em gái thân yêu - Nabila nói - Tối nay cô hãy ở lại với anh trai mình. Hai anh em xa cách lâu ngày chắc có nhiều chuyện để nói với nhau. Chị sẽ ngủ ở phòng bên cạnh.
Phatima mừng thầm. Người con gái thơ ngây này đã giúp cho ta cơ hội để trả thù!
Khuya hôm đó, Xalayden thức dậy. Chàng khát nước. Phatima ngồi dậy, trút máu con quái vật từ cái chai đã đem theo ra ly rồi đưa lại cho chàng. Xalayden uống một hơi hết ly nước. Bỗng mắt chàng mờ đi, chàng cảm thấy yếu sức.
Sáng sớm, Phatima than khóc khiến cả lâu đài thức dậy. Nabila vội vã chạy vào phòng. Nàng thấy chồng bất động, bèn la lên:
- Có chuyện gì thế này? Phatima, hãy cho tôi biết chuyện gì đã xảy ra!
- Tôi không biết! - người đàn bà độc ác nói - Khi tôi thức dậy, anh ấy đã như thế này rồi.
- Mời thầy thuốc mau lên! - công chúa hét lớn.
Sau khi khám xong, thầy thuốc liền nói:
- Tôi rất đau lòng, anh ta chết rồi!
Nghe nói thế, Nabila thét lên một tiếng thảm thiết rồi ngã xuống đất ngất xỉu.
Cả thành phố lại treo tang. Tất cả mọi người đều đưa Xalayden ra nơi an nghỉ cuối cùng, khu nghĩa trang hoàng gia. Tất cả mọi người trừ công chúa, vì nàng bệnh. Bệnh vì buồn bã và thất vọng. Nàng không thể rời khỏi phòng được.
Trong ba ngày liền, những con chó chờ đợi hoàng tử đến cho ăn nhưng không thấy. Sang ngày thứ tư, chúng bức xích đứt ra và chạy đi tìm chàng khắp nơi, vào khắp các phòng trong lâu đài, xuống tận tầng hầm, lên tháp cao nhưng vẫn vô ích...Công chúa Nabila quan sát và nàng cảm động trước sự trung thành của chúng.
Rồi mấy con chó chạy ra khỏi lâu đài, lần theo dấu vết vô hình, chúng đi qua thành phố và ra đến tận nghĩa trang.
Nabila gọi lính, ra lệnh cho họ đi theo mấy con chó. Vừa ra đến ngôi mộ của chủ, ba con chó liền dùng chân bới đất đào mộ lên. Chúng dùng răng xé áo quần hoàng tử ra rồi liếm khắp cơ thể chàng. Bỗng hoàng tử lắc nhẹ đầu! Những con chó cứ tiếp tục liếm, chàng bắt đầu nhúc nhích hai tay rồi hai chân. Công chúa Nabila và đám lính đứng im ở đằng sau, kinh ngạc vô cùng. Cuối cùng hoàng tử đứng dậy, và ba con chó trung thành sau khi đã truyền hết sinh lực sang cho chủ liền lăn ra đất và chết. Nabila không tin vào mắt mình. Người chồng thân thương của nàng đã sống lại! Chàng đưa hai tay ra, nàng sung sướng nhào vào lòng chàng. Tất cả trở về lâu đài dưới sự hoan hô nồng nhiệt của đám đông.
Xalayden cho mời một vị thú y thật giỏi. Sau khi xem xét xong, ông này cho biết:
- Chúng chết vì bị trúng độc máu của con quái vật.
Không thể tin được. Nhưng chàng ngẫm nghĩ, nhớ lại những chuyện đã xảy ra khi chàng giải thoát cho Phatima cho đến khi chàng chết. Chàng nhớ những gì cô ta đã hỏi chàng về nơi con quái vật bị giết chết. Chàng cũng nhớ chàng đã đi hóng mát một đoạn ngắn gần cái động. Chính Phatima đã cho chàng uống nước vào đêm chàng chết. Bây giờ chàng đã rõ ngọn nguồn rồi: tai họa đều do người đàn bà trắc nết này mà ra cả.
Điên lên vì giận dữ, chàng  vào phòng của chị ta:
- Ta sống lại đây. Ta từ bỏ tất cả vì ngươi, bỏ cha và các anh trai. Vì ngươi mà ta phải đi khắp các xứ của bảy thần sa mạc để tìm táo thần! Thế mà ngươi lại muốn giết chết ta bằng cách cho ta uống máu của con quái vật! Ta sẽ tống cổ ngươi ra ngoài sa mạc với bầy lang sói. Ở đấy ngươi sẽ không hại ai được nửa!
Và chàng thực hiện ngay những điều mình nói.
Xalayden sống sung sướng bên cạnh Nabila và bảy đứa con của họ. Chàng kế vị vua cha khi ngài mất và cai trị đất nước rất khôn ngoan, công bằng.
Đăng nhập để trả lời
0
Lạc Đà Trắng

Ranim (Ranim) và Sa-oan (Chawan) là hai anh em trong một gia đình nghèo. Một hôm, hai anh em từ bỏ ngôi nhà tổ phục đế ra đi tìm sự nghiệp. Ranim là anh, nên dẫn hai con chó. Sa-oan là em, cậu đi một mình.
Họ đi một hồi lâu thì đến ngã tư đường: một ngã rẽ về đông, một ngã rẽ về tây. Hai anh em chia tay nhau để đi tìm vận may.
Cảnh vật bằng phẳng, không có núi hay đồi gì cả. Một ngày trôi qua, rồi ngày khác...bỗng thình lình Ranim thấy một ngọn đồi xa xa ở tận chân trời. Anh đi nhanh đến và leo lên đỉnh đồi.
"Lạ nhỉ, - anh tự nhủ khi nhìn thấy trên mặt đất lổn nhổn nhiều đồ gốm bằng đất nung - Làm sao những thứ này lại lên tận đây được nhỉ?"
Anh lật từng cái để xem, nào là đĩa lớn đĩa nhỏ, nào là đĩa trà, đĩa bánh, anh lật từng cái bình để xem có tài sản quí báu gì ở trong không. Cuối cùng chỉ còn một  bình nằm mắc cứng trên mặt đất. Anh ráng hết sức để lôi lên, nhưng không được: cái bình vẫn không nhúc nhích. Quá giận, Ranim lấy đà rồi nhảy lên trên cái bình. Và, ôi, thật lạ làm sao, cái bình bay sang một bên như thể nó nhẹ như lông. Chàng trai mất đà, lộn nhào xuống đất.
Bỗng một giọng nói trầm trầm, dữ tợn cất lên:
- Sao ngươi dám thức ta dậy hả?
Ranim ngước mắt lên. Một người khổng lồ đang đứng trước mặt anh: chân phải là một thân cây lớn, và chân trái là chân người khổng lồ!
Quá kinh hoàng, Ranim vùng dậy, đâm đầu chạy trốn. Người khổng lồ chỉ bước một bước là đã tóm cổ được anh. Lão nhảy lên lưng anh và ra lệnh:
- Mang tao đến một khu rừng! Tao muốn nằm dưới bóng cây để ngủ một giấc.
Ranim huýt gió gọi mấy con chó, nhưng chúng biến đâu mất. Anh chỉ còn cách vâng lời lão ta thôi. Mới bước một bước, anh đã khuỵu xuống vì nặng. Lão khổng lồ véo anh thật đau cho anh đứng lên. Anh gắng đi được vài bước rồi lại ngã xuống. Người khổng lồ lại đánh và bắt anh đứng lên đi tiếp.
- Chẳng bao giờ tôi đến đấy được đâu - Ranim khóc, nhưng người khổng lồ không thương xót.
Một đàn dê hoang đi ngang qua.
- ông để tôi bắt một con dê! - Ranim nói - Tôi sẽ lất da nó để làm một sợi dây rồi buộc ông vào lưng tôi. Như thế tôi sẽ cõng ông dễ hơn.
Người khổng lồ thấy Ranim có vẻ thật thà, nên ông ta tụt xuống khỏi lưng anh.
Ranim chạy lung tung để bắt dê, nhưng chẳng bắt được con nào. Và nhân cơ hội này, anh chạy mất hút trong vùng bình nguyên rộng mênh mông.
- Giá mà mình tìm được một chỗ núp nhỉ! Anh tự nhủ, và bỗng thấy một cái hang tối om dưới bụi cây. Đấy là cửa ra vào một cái động nhỏ. Anh bò vào và nằm sâu trong đáy động.
Người khổng lồ sau khi bước xuống khỏi lưng Ranim liền ngồi xuống đất. Lão đợi. Ngồi một lát, lão hết kiên nhẫn. Chắc anh chàng này thoát rồi. Giận dữ vì bị lừa, lão đứng dậy đi tìm. Ranim biết lão khổng lồ đang đến gần, vì ngồi dưới đáy hang, anh nghe bước chân của lão nện thình thịch trên mặt đất.
"Chắc lão sẽ tìm ra ta mất", - anh tự nhủ thầm, lòng lo sợ.
Bỗng Ranim nghe tiếng chó sủa. Quá mừng, anh huýt gió để gọi chó. Hai con chó chạy đến chỗ ẩn nấp của anh. Một lát sau, người khổng lồ bước đến. Mấy con chó nhảy chồm lên xé xác lão ra và chỉ một thoáng sau chỉ còn lại cái thân cây dùng làm chân phải của lão mà thôi.
Ranim bưới ra khỏi chỗ trốn, anh vuốt ve mấy con chó. Anh ngạc nhiên nhìn cái thân cây một hồi lâu rồi tự nhủ: "mình sẽ đi nhóm bếp lửa. Lần này, mình sẽ đi bắt một con dê và nướng thịt để ăn".
Anh lấy cái rìu trong túi xách ra, chẻ khúc cây làm hai. Anh hết sức kinh ngạc khi thấy trong thân cây bước ra một đoàn lạc đà. Một con lạc đà trắng như tuyết ngước cặp mắt nhung nhìn anh. Con vật làm cho Ranim mê mẩn vì nó quá đẹp, anh liền buộc nó lại ngay.
Rồi Ranim ngẫm nghĩ, anh thấy mình đã trở nên giàu có rồi bèn quyết định trở về nhà.
Trong lúc đó, Sa-oan cũng đã đi rất nhiều, cuối cùng đến tận sa mạc. Một đoàn chó hoang chạy săn mồi ở đấy. Trên trời, chim kên kên và quạ chờ đợi. Chúng hy vọng kiếm chác những thứ còn sót lại.
Sa-oan biết rành về chó, và những con chó này tỏ ra rất nhanh nhẹn, dũng mãnh khi tấn công anh. Anh đến nói chuyện với con chó đầu đàn, và từ từ thuần hóa được nó. Khi chó và người đã trở thành bạn bè thân thiết, Sa-oan nhận thấy mình đã tìm ra được tài sản đáng giá rồi, bèn quyết định về nhà. Con chó lớn đi bên cạnh, cả đoàn đi sau.
Hai anh em gặp nhau ở ngã tư đường. Sung sướng vì gặp lại nhau, hai người ngồi dưới bóng cây để kể cho nhau nghe về chuyến phiêu lưu của mình.
Ranim thấy mình may mắn hơn em nhiều, nên anh đề nghị với em:
- Chú cứ lấy đi vài con lạc đà. Nếu chú muốn thì cứ lấy nhiều cũng được, nhưng để con lạc đà trắng lại cho tôi.
Sa-oan nhìn con vật, thấy nó quá đẹp, liền năn nỉ anh trai cho mình con vật ấy.
- Không được! - Ranim cương quyết đáp - Nếu muốn thì chú cứ lấy hết đoàn lạc đà đi, nhưng tôi sẽ giữ lại con lạc đà trắng.
Hai anh em lên đường về làng. Hai người đi mấy giờ liền mới đến bên một dòng nước.
- Trời nóng thế này thì nước chắc cũng nóng, - Sa-oan nói - chúng ta đào một cái lỗ thật sâu để có nước mát mà uống đi.
Mặt trời bắt đầu lặn. Hai anh em đào một cái giếng, lấy một tảng đá phẳng lớn đậy lên trên. Rồi họ ngủ cho đến lúc tờ mờ  sáng.
Sa-oan dậy trước, anh ta uống thỏa thuê. Khi thấy người anh trai mở mắt ra, anh ta liền nói:
- Nước mát quá trời! Cứ như từ trong núi chảy ra vậy!
Ranim đến gần, quỳ bên cạnh miệng giếng, cúi xuống uống. Người em liền xô mạnh vào lưng người anh. Anh không kịp níu vào  cái gì hết, mất thăng bằng, rơi tỏm xuống giếng sâu. Sa-oan xua chó ngăn cản hai con chó của Ranim, rồi lấy tảng đá đậy mặt giếng lại.
- Ngươi sẽ không bao giờ ra khỏi đây! Gã vui vẻ nói - Tất cả đoàn lạc  đà sẽ thuộc về ta, kể cả con lạc đà trắng!
Khi gã về làng, mọi người ngạc nhiên chạy đến. Sa-oan đã làm nên sự nghiệp kếch xù: một đoàn lạc đà đẹp đẽ, bầy chó tốt mã, nhất là con lạc đà trắng tuyệt đẹp!
Mọi người vui vẻ ăn mừng chuyến trở về thành công rực rỡ của chàng trai. Và không ai để ý đến con chim trắng có cặp cánh mạnh mẽ đang bay lượn trên trời. Nó réo lên mãi:
- Sa-oan đã giết anh trai. Hắn là thằng phản bội, láo khoét!
Nhưng không ai nghe nó hết. Không ai...trừ cô em gái của Sa-oan.
Cô ra dấu cho chim đến đậu bên cạnh mình. Chim nói:
- Hãy theo tôi. Tôi sẽ dẫn cô đến chỗ anh cô chết.
Cô gái ngần ngừ một lát. Chim bay chầm chậm để chờ cô. Và đến tối thì họ thấy cái giếng. Chim đưa cánh chỉ tấm đá phẳng. Cô gái đem hết sức bình sinh ra để nâng tấm đá lên rồi cúi xuống. Cô hoảng sợ đến điếng người. Thi thể người anh trai nổi trên mặt nước. Cô ráng hết sức để lôi thi thể người anh ra khỏi cái giếng. Cô khóc, khóc ngất. Ôm chặt thi thể vào lòng, hôn, hà hơi vào miệng anh. Và sự màu nhiệm xảy ra: Ranim bắt đầu động đậy. Anh mở mắt ra, kinh ngạc khi thấy em gái mình bên cạnh.
- Em làm gì ở đây thế? Còn Sa-oan đâu rồi?
- Em sẽ kể cho anh nghe trên đường về. Thôi ta đi nhanh lên.
- Anh đã đề nghị cho nó hết cả đoàn lạc đà của anh nếu nó muốn, trừ con lạc đà trắng. Anh không thể nào hạnh phúc nếu không có con lạc đà trắng ấy, nhưng nó không chịu - Ranim nói trên đường về nhà.
Nhưng Sa-oan cũng nghe những gì con chim trắng nói. Gã rất lo khi thấy cô em gái vắng mặt và tin chắc thế nào người anh trai cũng về. Gã hoảng hốt khi nghĩ đến số phận đen tối đang chờ mình nên gã bèn gọi đàn chó đến rồi biến mất. Kể từ hôm ấy, không ai thấy gã và bầy chó hoang đâu hết.
Nhiều năm trôi qua. Ranim săn sóc con lạc đà trắng rất chu đáo. Anh trở thành người giàu nhất làng.
Một hôm, có đàn chim sẻ bay đến đậu trên cành cây. Dưới bóng cây, con lạc đà trắng đang nằm nghỉ. Đàn chim con nào cũng ngậm nơi mỏ một cục vàng. Chim rất đông chứ không phải chỉ vài con. Bỗng chúng há mỏ ra và một trận mưa vàng rơi xuống mình con lạc đà trắng. Lạc đà bắt đầu nhỏ dần lại, nhỏ như con lạc đà mới sinh.
Ngay lúc ấy, trên bầu trời xuất hiện một con chim trắng lớn. Nó xoè hai cánh ra và con lạc đà nhỏ cất tiếng khóc. Những giọt nước mắt khổng lồ từ cặp mắt nhung lăn xuống đất, liền hóa thành những viên ngọc quí giá. Ranim sửng sốt nhìn, kinh ngạc vô cùng. Cảnh giàu sang phú quí đang nằm trong tầm tay anh! Anh cúi người vuốt vẻ con lạc đà. Bỗng một cô gái hiện ra.
- Xin chào! - Ranim thốt lên nho nhỏ - Cô là ai thế?
- Anh không nhận ra tôi ư?
- Không....nhưng cô có ánh mắt dịu dàng như con lạc đà trắng đang nằm dưới đất kia, - anh buồn bã đáp - Tôi yêu con lạc đà ấy lắm...
- Anh cũng có thể yêu em như thế. Lạc đà trắng kia chính là em đấy!
Ranim ngẩn ngơ nhìn cô gái. Cô ta đẹp hơn bất kỳ thiếu nữ nào trong làng. Anh cứ đứng há hốc mồm ra nhìn.
- Em là con gái của vua biển. Em bị nữ hoàng của các thần sa mạc yểm bùa, bà ta làm thế để trà thù cha em. Cha em đã từ chối tình yêu của bà ấy để lấy mẹ em. Mẹ em là em gái của một ngư phủ thật thà, khiêm tốn. Chỉ có tình yêu của một thanh niên ngay thẳng, tốt bụng, người đã chiến thắng gã khổng lồ kinh dị, mới có thể cứu em được.
- Em có muốn cùng anh đi đến vương quốc của cha em không? - Ranim đề nghị.
- Không được đâu! Rồi số phận hẩm hiu lại đến với em thôi!
- Chắc cha mẹ em nhớ em lắm!
- Mẹ em mất đã lâu rồi. Bà là người, bà phải chết thôi. Còn cha em, chốc nữa anh sẽ gặp.
- Nhưng biển ở xa quá! - Ranim kinh ngạc nói nhỏ - Xa, xa lắm, ở sau bảy ngọn núi và bảy sa mạc.
- Con chim trắng lớn là cha em đấy - công chúa cười nói - Ông biết hôm nay bùa phép trên người em sẽ hết hiệu lực nên ông đang cùng tôi tớ đến, mang theo hồi môn cho em.
Ranim rụt rè bước đến gần cô gái, nhìn vào mắt cô, rồi dịu dàng ôm cô vào lòng.
- Em có muốn làm vợ anh không?
Ranim sống hạnh phúc với công chúa. Nữ hoàng các thần sa mạc không  thể làm gì hại được cô, vì thiếu nữ mắt nhung đã được tình yêu của chồng che chở.
Đăng nhập để trả lời
0
Hoàng Tử Bị Biến Thành Khỉ

Ngày xưa, tại một đất nước xa xôi ở Đông Phương, có chàng hoàng tử tên là Khu-ra-u-sa (Khusraoushah). Cha chàng là Quốc vương của đế quốc Ba Tư hùng mạnh. Nhà vua muốn người con trai duy nhất được học hành thấy đáo nên cho mời vào triều rất nhiều thầy giỏi và cả những nhà bác học trên khắp thế giới.
Khu-ra-u-sa là một học sinh thông minh,  chăm chỉ và rất hiếu học. Chàng học lịch sử, địa lý, thần học, kỹ thuật quân sự và nghệ thuật cưỡi ngựa. Chàng lại còn thích thơ ca và tập sáng tác thi văn. Người học trò vượt qua mức hiểu biết của thầy, ngay cả những ông thầy danh tiếng nhất.
Tiếng tăm của nhà trí thức trẻ lan rộng khắp nơi, vượt qua cả biên giới của đế quốc. Vua Ấn Độ nghe đồn về tài năng của chàng nên rất muốn gặp thái tử Khu-ra-u-sa. Ngài cử sứ giả sang Ba Tư, thuyết phục nhà vua chấp nhận lời mời cho con trai sang Ấn Độ.
Cha của Khu-ra-u-sa là người khôn ngoan. Ngài muốn sống hòa bình với nước hùng mạnh láng giềng và nghĩ rằng chuyến viếng thăm này sẽ giúp cho con ngài có thêm nhiều kinh nghiệm quý báu. Ngài bèn cho chất lên 10 con lạc đà hàng ngàn thứ quí giá để tặng vua Ấn Độ và chọn 20 chiến binh xuất sắc để đi theo đoàn lữ hành.
Khu-ra-u-sa đi thoải mái được mấy tuần, qua những sa mạc cháy bỏng và những thảo nguyên mênh mông, thì bỗng đoàn lữ hành bị một toán cướp tấn công.
Mặc dù đã can đảm chiến đấu, nhưng những chiến binh Ba Tư vẫn lần lượt ngã xuống, người này rồi đến người khác. Thấy đã nắm  chắc phần thua, Khu-ra-u-sa thúc ngựa chạy. Con ngựa sau khi phi như bay để đưa chủ thoát khỏi nơi tàn sát đẫm máu, liền nhào xuống và chết vì kiệt sức. Khu-ra-u-sa vuốt ve lần cuối đám lông ướt sẫm mồ hôi của con vật trung thành, rồi ngước mắt nhìn chân trời xa, lòng buồn vô hạn.
Chàng đi thẳng tới trước, mặc cho bước chân dẫn đường. Chàng cứ đi thế nhiều ngày đêm mà không gặp bóng người nào, rồi cuối  cùng đến được trước thành lũy của một thành phố.
Thành phố rất rộng và ồn ào náo nhiệt. Khu-ra-u-sa bước vào một tiệm may để hỏi xem mình đang ở đâu. Ông già ngước mắt nhìn chàng một hồi lâu rồi nói:
- Cậu chắc từ xa đến. - ông ta nhìn bộ quần áo đẹp của chàng bị móc rách tứ tung - cậu tên gì?
Khu-ra-u-sa ngần ngừ một chút mới trả lời, đoạn chàng kể chuyện của mình cho ông già nghe. Ông ta lắc đầu:
- Cậu hãy đề phòng đấy! Đừng để ai biết chuyện này. Cậu đang ở trong xứ thù địch đấy.
Thấy vẻ chán nản của hoàng tử, ông già nói tiếp:
- Cậu đừng sợ. Tôi không thích cảnh bạo động và cũng không thích chiến tranh, và tôi sẽ không tố cáo cậu đâu.
Ông già cho chàng tá túc trong thành.
Vài ngày sau, Khu-ra-u-sa lấy lại sức. Người thợ may hỏi:
- Cậu biết làm gì? Cậu phải học một nghề để sinh sống chứ.
Khu-ra-u-sa vui vẻ đáp:
- Tôi biết về nghệ thuật và khoa học, tôi biết viết.
- Cậu không kiếm sống được bằng những thứ ấy đâu. Cậu còn trẻ và khoẻ, tôi sẽ mua cho một cái rìu để cậu vào rừng đốn củi mà bán kiếm sống.
Khu-ra-u-sa nghe lời khuyên của người thợ may và chẳng bao lâu sau, chàng trả hết cho ông số tiền đã mượn.
Một hôm, khi đang đốn cây trong rừng sâu, lưỡi rìu của chàng bỗng chạm phải một cái vòng sắt. Khu-ra-u-sa để rìu xuống rồi nhìn kỹ: vòng sắt dùng để mở một nắp hầm. Chàng cố sức lôi thật mạnh và mở cánh cửa nặng trịch ra. Một cầu thang bằng đá cẩm thạch, có ngọn đèn soi sáng, dẫn đường đi xuống dưới. Chàng đứng lại một hồi, lòng hồi hộp và ngạc nhiên vô cùng. Rồi, vì hiếu kỳ, chàng theo các bậc thang đi xuống, đến một khu vườn rộng rãi. Giữa đám cây cối hiện lên một tòa lâu đài, chung quanh có dãy tường thành bằng bạc, tòa lâu đài bằng vàng, tháp bằng kim cương.
Một cô gái có cặp mắt đen huyền ngồi trên chiếc ghế bành thật lớn. Nàng nhìn chàng, tim Khu-ra-u-sa đập thình thịch, chàng thì thào thốt lên:
Một cô gái rụt rè
Mặc áo xanh ngồi yên
Như quả lựu trong lá xanh
Thân hình mảnh dẻ như cây sậy non
Ánh sáng chiếu vào mặt
Sắc đẹp lồ lộ làm cho người ta phải ngất ngây
.
Cô gái giật mình nhỏm dậy, run sợ hỏi chàng:
- Anh là ai? Làm sao anh vào được khu vườn khủng khiếp này?
- Khu vườn khủng khiếp à? - chàng hoàng tử kinh ngạc hỏi lại, rồi chàng kể hết chuyện của mình cho nàng nghe, và nàng có vẻ bình tĩnh trở lại.
- Em cũng thế, em là con vua, - nàng thú thực với chàng - Cha em giàu có và hùng mạnh. Trong đêm tân hôn của em, Khai-tu-ua, một ác thần, đã bắt nhốt em ở đây. Sau đó hắn giết người chồng mới cưới của em. Rồi cứ bảy ngày lão lại đến thăm và yêu cầu em làm vợ lão. Em như con chim trong lồng, em muốn bay bổng lên trời  cao.
Khu-ra-u-sa an ủi nàng, chàng kể cho nàng nghe vô số chuyện lạ lùng hấp dẫn, rồi cùng nàng dùng bữa trong phòng ăn của lâu đài. Nàng nói:
- Anh có thể đến thăm em hàng ngày, ăn uống thoải mái, nhưng đừng đụng đến cái ly thếp vàng kia. Nó đựng một thứ nước thần rất nguy hiểm.
Xong việc, Khu-ra-u-sa lại đến thăm công chúa. Họ nói chuyện với nhau rất vui vẻ, và cùng nhau hưởng những giây phút hiếm hoi hạnh phúc.
Một hôm, công chúa đột nhiên buồn ngủ. Hoàng tử ngắm nàng ngủ một lát, rồi để đỡ buồn, chàng nhìn quanh căn phòng. Chiếc ly thếp vàng nằm trên bàn.
- Tại sao mình không uống thử một chút xem sao? - chàng nghĩ.
Chàng bưng ly lên uống nhưng chẳng thấy có gì nguy hại hết, chỉ có cái đầu hơi choáng váng một chút.
Một lát sau chàng nói với công chúa:
- Em phải thoát ra khỏi đây thôi. Hãy đi với anh! Chúng ta trốn đi và lão thần hung ác sẽ không tìm ra đâu.
- Không được đâu! Anh nên biết là hắn sẽ tìm ra và giết em ngay.
Nhưng Khu-ra-u-sa không nghe nàng. Ly nước thần đã làm rối loạn tâm trí chàng.
- Cái quả bóng thủy tinh nằm gần giếng phun kia dùng làm gì thế? - chàng hỏi, giọng ngà ngà.
- Khi em chạm vào quả bóng ấy, Khai-ta-ua sẽ xuất hiện.
- Tốt! Chúng ta hãy gọi hắn đến. Anh sẽ dùng rìu chém chết lão, vì anh là người can đảm nhất trên đời!
Công chúa quì xuống, van xin chàng đừng làm thế, xin chàng hãy suy nghĩ cho chín chắn, nhưng chàng đã đẩy nàng ra, nhào đến cái giếng. Chàng đưa chân đá mạnh vào quả bóng thủy tinh, và cái gì sẽ đến phải đến, quả bóng thủy tinh vỡ tan tành.
Đất rung chuyển, trời tối sầm lại và một cột khói dày đen bao phủ kín khu vườn. Khu-ra-u-sa hoảng sợ, chạy bổ đến cầu thang và chạy về nhà, chàng đóng cửa phòng, khóa kín lại.
Chưa kịp lấy lại bình tĩnh thì ông thợ may già đã đến gõ cửa phòng chàng và nói:
- Có một người đàn ông đến cửa tiệm, mang trả lại cho cậu chiếc rìu và đôi dép. Hình như cậu để quên ở nhà ông ta.
Khu-ra-u-sa nhìn hai bàn chân trần của mình. Trong lúc vội vã, chàng đã để quên đôi dép dưới hang rồi. Chưa kịp tính toán gì thì trần nhà trên đầu đã nứt ra, ác thần bước vào, xách cái rìu và đôi dép trên tay. Lão thộp lấy Khu-ra-u-sa rồi mang chàng đến lâu đài dưới đất. Hoàng tử đứng bất động vì sửng sốt, tay chân không nhúc nhích, chàng nhìn trừng trừng vào con quỷ gớm ghiếc đang đứng trước mặt mình.
- Mày có biết cô gái này không?
- Tôi chưa bao giờ thấy, - Khu-ra-u-sa ấp úng đáp.
- Còn mày, mày có biết thằng này không?
- Không. Tôi chưa bao giờ thấy anh ta cả, - công chúa nói nhỏ.
- Thế nhưng nó lại quên dép và rìu trong vườn này.
Nàng không nói, đưa mắt buồn bã nhìn hoàng tử. Khai-ta-ua bèn ra lệnh cho nàng, giọng rít lên:
- Vì mày không biết hắn nên hãy lấy gươm giết nó cho ta!
- Anh ta có tội gì mà phải giết? - công chúa dạn dĩ đáp - Tôi không thể giết một người vô tội!
Thần giận dữ quay qua Khu-ra-u-sa:
- Mày cầm kiếm này giết nó cho ta, vì mày mới gặp nó lần đầu!
- Cô ấy không có tội tình gì hết! Tôi không thể giết người vô tội được!
Tên ác thần tức tối vì chàng không tuân lệnh, lão hét lên:
- Đồ nói láo! Bọn bây là đồ nói láo! Tao sẽ trừng phạt chúng mày!
Lão quay qua cô gái:
- Tao sẽ nhốt mày xuống dưới hang sâu và bắt nhịn đói cho đến chết.
Đột nhiên cả khu vườn tối thui. Rồi mấy phút sau, ánh sáng hiện ra lại. Khu-ra-u-sa nhìn tứ phía, công chúa đã biến mất. Thần cười khẩy.
- Mày muốn theo nó phải không? Mày lầm rồi, vì tao sẽ dành cho mày một số phận ít khắc nghiệt hơn, tao thích thấy mày biến thành khỉ.
Mặc cho chàng khóc lóc van xin, lão vẫn thộp lấy chàng rồi bay lên tận đỉnh một ngọn núi cao. Lên đến trên ấy, lão lượm một ít đất ném lên mặt chàng rồi đọc thần chú, thế là Khu-ra-u-sa biến thành con khỉ! Bộ lông màu be, hai mắt to tròn nhìn quánh láo liên. Thần phá ra cười khoái trá rồi biến mất.
Khu-ra-u-sa thất vọng, ngồi yên một hồi lâu không biết làm gì, rồi chàng đi xuống thung lũng. Chàng nhảy nhót từ cành cây này qua cành cây khác và một hôm chàng đến bờ biển.
Một chiếc tàu đánh cá thả neo trong cảng. Hoàng tử nhảy xuống nước để bơi đến. Ngày trước chàng là một tay bơi rất giỏi, nhưng bây giờ chàng không leo lên tàu được. Một thủy thủ trông thấy liền ném sợi dây cho chàng níu mà trèo lên. Vị thuyền trưởng hỏi:
- Ta làm gì với con khỉ đây?
- Chẳng làm gì được, - người thủy thủ trẻ đáp - Ném nó xuống nước lại thôi.
- Có lẽ đây là ác thần đấy! - một người khác nói - Con vật này sẽ mang điều không hay đến cho chúng ta. Giết nó đi.
Khu-ra-u-sa hoảng hốt nhìn quanh, nhưng chàng không làm sao nói cho họ biết mình là ai.
- Để nó theo tôi, - người thuyền trưởng nói. Ông ta để con khỉ lên vai.
Họ đi ba ngày trên biển. Tàu thả neo trong một hải cảng. Neo vừa thả, dây tàu vừa buột vào trụ xong, một người mặc sác phục hoàng gia bước lên tàu.
- Ông thầy thư pháp của chúng tôi vừa chết, và nhà vua rất buồn vì không ai viết đẹp được như thế. Trong số quí vị ở đây có ai là người học rộng không? Nếu có thì vui lòng viết lên đây vài chữ để tôi mang về dâng cho ngài xem.
Các thủy thủ không biết viết. Họ đứng xuôi tay đưa mắt nhìn tờ giấy và cây bút trên tay người sứ giả. Con khỉ đang ngồi trên vai của người thuyền trưởng liền nhảy xuống, rồi nó đột ngột giật tờ giấy và cây bút nơi sứ giả.
Trước sự ngạc nhiên tột cùng của mọi người, nó viết những chữ đẹp tuyệt vời. Vị sứ giả liền lấy tờ giấy đem về triều.
Nhà vua rất muốn biết người thầy thư pháp và nhà tư tưởng ý nhị này, liền ra lệnh dẫn người này đến cho ngài.
- Đây không phải là người...- sứ giả rụt rè nói nhỏ, ông ta sợ làm cho nhà vua giận. - Đây là một con khỉ!
- Ta đã nói rồi, ta rất kính trọng kẻ này, - nhà vua lập lại và lại càng muốn gặp tác giả hơn nữa.
Người ta mặc cho con khỉ áo quần bằng gấm và nhung, rồi dẫn đến triều đình. Ngoài đường, mọi người tụ lại để xem rất đông, họ hoan hô nhiệt liệt và rất ngạc nhiên. Ở triều đình, các quan cúi chào con khỉ kính cẩn đúng nghi thức. Tất cả đều mến phục phong cách lịch sự của nó. Nhà vua đưa tay mời con khỉ vào chỗ danh dự, rồi đến ngồi bên cạnh. Con khỉ đối xử rất lịch sự và biết thi hành theo lễ nghi của một hoàng tử. Nhà vua rất vui, vui vì được gặp một trường hợp bất thường lý thú. Ngài đưa cho nó tờ giấy và một cây bút.
- Hoàng thượng kính mến, - con khỉ viết những chữ Ả Rập thật đẹp, áp dụng cách viết những nét  đậm nét nhạt - Từ rày về sau, hạ thần sẽ là tôi tớ trung thành nhất của hoàng thượng, để tỏ lòng biết ơn của mình.
Rồi họ đánh một ván cờ. Những tay cờ cao nhất đều đến đấu với con khỉ, nhưng nó đều thắng hết! Nhà vua càng lúc càng mến phục.
Nhà  vua cho mời hoàng hậu đến xem một chuyện hết sức kỳ lạ. Bà bước vào, nhìn con vật rồi cười.
- Đây không phải là một con khỉ! Mà chính là hoàng tử Khu-ra-u-sa, con trai của vua Ba Tư.
Nói rồi, bà kính cẩn nghiêng mình trước chàng. Hoàng hậu là một phúc thần, bà biết chuyện này là do ác thần Khai-tu-ua gây ra.
Bà liền kể cho nhà vua nghe câu chuyện từ khi hoàng tử ra đi từ Ba Tư. Con khỉ gật nhẹ đầu buồn bã.
- Nàng có thể làm cho anh ta trở lại hình người được không? - nhà vua hỏi.
- Được, vì chàng muốn thế!
Bà cho tập hợp mọi người trong triều đình lại: các quan đại thần, những nhà quí tộc, tôi tớ, nhà vua và con khỉ.
Rồi bà vẽ một vòng tròn trên mặt đất rồi yêu cầu nhà vua, quan tướng quốc và con khỉ ngồi vào giữa trên ba cái ghế thếp vàng, cấm họ không được ra ngoài dù bất cứ lý do gì.
Bà lấy một tí nước trong cái chậu bạc đổ lên lòng bàn tay rồi rảy lên miệng con khỉ. Bà ta nói:
- Hãy rời khỏi con vật này và trở lại thành người!
Khu-ra-u-sa liền hiện lại thành hình người.
Nhưng ngay lúc ấy, một cột khói đen tràn ngập cả cung đình và sấm sét nổi lên, rồi Khai-tu-a xuất hiện: hai cánh lớn dang rộng ra, cặp mắt trắng dã, trên đầu mọc hai lỗ tai dê.
Lão ta cất giọng oang oang:
- Tại sao ngươi dám  xen vào việc của ta?
Lão biến thành con sư tử, những bắp thịt rắn chắc nổi lên cuồn cuộn và nhảy vào bà hoàng hậu trẻ. Nhưng hoàng hậu liền nhỏ một sợi tóc, biến sợi tóc thành lưỡi kiếm sắc bén.
Con sư tử biến mất, thay vào đấy là một con bò cạp đuôi đầy nọc độc.
Hoàng hậu biến thành một con rắn, và hai con vật xáp vào nhau quyết liệt. Rồi cả hai đều hóa thành chim đại bàng đuổi đánh nhau trên không.
Mặt đất mở ra, một con mèo nhảy lên, lưng cong lại, xù lông, khạc ra một con sói. Rồi một quả lựu bay lên trời và rớt xuống đất vỡ tan tành. Con sói biến thành con gà, nhanh nhẹn mổ những hạt lựu. Nó mổ hết, trừ một hạt rơi xuống giết sâu, biến thành con cá giống.
Một con cá lớn đuổi theo con cá giống. Cá giống nhảy ra khỏi mặt nước rồi trở thành bà hoàng trẻ, bà đứng thẳng người, sẵn sàng chiến đấu với kẻ thù.
Nhưng trước khi Khai-tu-ua kịp lấy lại bộ mặt khủng khiếp thì bà hoàng đã khạc ra lửa và nước trong giếng bốc hơi hết. Người ta nghe tiếng than khóc và ác thần Khai-tu-ua biến mất vĩnh viễn.
Tất cả đều im lặng một lát, kinh ngạc trước nhiều chuyện lạ lùng vừa xảy ra.
Khu-ra-u-sa hết lời cảm ơn hoàng hậu, rồi chàng nhờ bà đem tài năng ra cứu giúp cô gái đã bị tên ác thần bắt nhốt dưới hang sâu.
Hoàng hậu  đọc lẩm bẩm vài câu thần chú, biến đi một lát rồi trở lại với cô gái.
Khu-ra-u-sa nắm tay  công chúa, rồi hai người ngồi lên tấm thảm và bay đi.
Hoàng tử Khu-ra-u-sa thống nhất vương quốc của mình với của vợ thành một vương quốc rộng mênh mông. Chàng cai trị đất nước thật khôn ngoan và họ có rất nhiều con.

Đăng nhập để trả lời
0
Áp-Đuya-Raman Và Các Anh Trai

Quốc vương Ha-Run (Haroun), vua đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ rộng lớn, phái quan tể tướng sang tỉnh Xi-Ri (Syrie). Ngài muốn biết quan tỉnh trưởng Áp-Đuya-Raman (Abdurrahman) cai trị vùng đất xa xôi ấy ra sao, và nhân tiện thu về số tiền thuế tỉnh này chưa nôp.
Quan tể tướng được quan tỉnh trưởng ở đây tiếp đón rất nồng hâu. Ông ta mời quan tể tướng ở lại chơi nhà mình ba hôm. Trong thời gian này, ông lo thu gom tiền thuế cho đủ để giao cho quan tể tướng. Ông ta cho quan tể tướng ăn uống, rồi sau bữa ăn thịnh soạn, mời quan vào phòng nghỉ.
Quan tể tướng không ngủ được, ngài cứ trăn qua trở lại trong giường mãi, cho đến nửa đêm, bỗng ngài nghe có tiếng bước chân. Ngài trở dậy, ngạc nhiên, bèn nhè nhẹ đến mở cửa ra và thấy quan tỉnh trưởng tay cầm một cây roi, tay kia bưng một cái khay đầy thức ăn, ông ta đi dọc theo hành lang đến tận phòng cuối, rồi lấy chỉa khóa mở cửa, và đi vào trong.
Quan tể tướng rón rén đến, đưa mắt nhìn qua lỗ khóa. Trong phòng có hai con chó lớn bị buộc vào chân giường. Quan tỉnh trưởng để cái khay xuống, rồi lấy roi quất hai con chó rất ác liệt. Ông ta nói;
- Nếu bọn bay không phản bội thì tao đâu phải ác độc với bọn bay như thế này.
Ông ta đánh hai con chó đến khi cây roi văng khỏi tay mới thôi. Rồi ông ta quỳ xuống trước mặt chúng, săn sóc vết thương. Ông vừa vuốt ve chúng vừa khóc rồi nói:
- Không phải tao cố ý trừng phạt bay như thế này.
Hai con chó không rên nữa và ăn những món ngon lành do quan tỉnh trưởng mang đện Quan tể tướng rón rén trở về phòng và nghe tiếng quan tỉnh trưởng đóng cửa căn phòng ấy khóa lại.
Hai đêm sau, cũng cảnh như thế xảy ra. Quan tể tướng không nói gì, ông giữ kín bí mật trong lòng. Sang ngày thứ tư, ông cám ơn lòng tốt của quan tỉnh trưởng, lấy tiền thuế và quà tặng cho Quốc vương, rồi chia tay về lại Ít-Tăng-Bun (Istanbul).
Về đến triều đình, ông kể lại cho Quốc vương Ha-Run nghe chuyện kỳ lạ ở nhà quan tỉnh trưởng. Nhà vua thấy chuyện này quá lạ lùng, bèn ra lệnh cho quan tể tướng trở lại Xi-Ri ngay, và đem Áp-Đuya-Raman cùng với hai con chó đến cho ngài xem.
- Sao hạ thần dám nói với ông ta là mình đã rình mò suốt ba đêm liền? - quan tể tướng thoái thác - Như thế, ông ấy làm sao đón tiếp hạ thần như người bạn được?
Nhà  vua không thèm đếm xỉa đến lời thoái thác của vị tể tướng, ngài đáp:
- Nếu ta cử người khác đi, thì viên tỉnh trưởng kia sẽ chối biến chuyện này ngay.
Thế là quan tể tướng đành phải quay lại Xi-Ri.
Áp-Đuya-Raman hỏi quan tể tướng:
- Sao ngài trở lại nhanh thế? Tôi không trả đủ thuế ư?
- Không phải chuyện ấy... - quan tể tướng ấp úng đáp.
Rồi thu hết can đảm, ngài thú thực chuyện mình đã rình ba đêm liền.
- Xin lỗi ngài, - quan tể tướng nói - tôi không thể giữ kín được chuyện này và đã kể cho Quốc vương nghe.
Quan tỉnh trưởng phải vâng lời. Ông ta dẫn theo hai con chó lên đường đi Ít-Tăng-Bun với quan tể tướng.
Vào cung, Áp-Đuya-Raman quỳ trước ngai vàng để tỏ lòng tôn kính và phục tùng nhà vua.
- Ta muốn chính ngươi thuật lại câu chuyện kỳ lạ mà quan tể tướng đã kể cho ta nghe, - Quốc vương Ha-Run nói - Đừng bỏ sót một chi tiết nào hết, nếu không ngươi sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc đấy.
Áp-Đuya-Raman bèn kể chuyện của mình:
- Khi chết, cha chúng tôi để lại cho ba anh em một gia tài kếch xù. Nhưng khi lễ tang chưa xong, hai anh trai tôi đã buộc phải chia gia tài. Họ muốn lấy tiền ngay. Quan tòa đọc chúc thư và chia gia sản ra làm ba phần bằng nhau.
Hai anh tôi phung phí tiền bạc, không nghĩ đến tương lai, rồi một hôm, họ không còn gì nữa. Phần mình, tôi đầu tư tiền bạc vào kinh doanh, rồi nhờ làm việc cần cù và gặp may, nên tôi làm ăn phát đạt. Các anh tôi lại đến nhà, đòi tôi phải chia cả cái gia sản tôi mới tạo nên. Tôi nói:
- Nếu các anh đã phung phí tài sản hết, thì đấy không phải lỗi của tôi.
Nhưng họ năn nỉ, hứa lần này sẽ lo làm ăn. Cuối cùng tôi phải nhượng bộ. Tôi chia của cải của tôi thành ba phần bằng nhau, với điều kiện là cả ba chúng tôi đều cùng đi xa buôn bán làm ăn. Các anh tôi vui vẻ chấp thuận.
Chúng tôi đáp chiếc tàu đầu tiên đi đến một nơi xa xôi. Đi được mấy hôm thì một cơn bão lớn nổi lên. Những đợt sóng khổng lồ ào lên boong tàu, cột buồm bị gãy. Tôi van vỉ hai anh trai bỏ hàng để tìm cách thoát thân nhưng họ không chịu. Tôi bèn đi một mình trên chiếc ghe cứu hộ mỏng manh. Và sau vài giờ dài như mấy ngày ấy, tôi lên được bờ. Nhìn quanh, tôi thấy cách mấy bước, nổi lên tường thành của một thành phố, mỗi bên cửa thành có một người đang ngồi. Tôi chào họ, nhưng không ai trả lời. Tôi đi đến gần, lòng lo sợ vô cùng, nghĩ bụng: "chắc không phải là tượng, đấy là người hóa đá!" Bỗng một con rắn trắng bò giữa hai chân tôi. Tôi chưa kịp tránh ra thì một con rồng đen đã giương nanh vuốt mạnh khoẻ bấu vào mình con rắn.
Thương hại con vật yếu đuối không tự vệ được, tôi bèn rút gươm ra khỏi bao, chém đứt đầu con rồng. Con rắn trắng nhìn tôi với vẻ biết ơn, thân hình uốn lượn nhịp nhàng duyên dáng, và bỗng nó biết thành một cô gái đẹp tuyệt vời.
- Cám ơn anh, Áp-Đuya-Raman, anh đã cứu mạng tôi. Tôi là Xai-đa (Saida), con gái của vua các thần. Tôi sẽ không bao giờ quên ơn của anh. Khi nào anh gặp hiểm nghèo, tôi sẽ đến giúp.
Nàng giang cánh tay ra, mặt đất mở rộng. Nàng bước xuống những bậc thang vô hình, rồi mặt đất khép lại khi nàng đã đi qua.
Tôi đi tiếp vào trong thành phố lặng ngắt như tờ, vì tất cả mọi người đều hoá đá hết. Sự tê cóng bất động xảy ra ngay khi họ đang hoạt động: người bán đưa trái cây cho khách hàng, người thợ may kéo cây kim lên để lôi sợi chỉ, một đứa bé đang chạy phải dừng lại, một người đưa chân lên không khi bước lên lưng lừa, những người khác dừng lại khi đang nói chuyện trong một góc đường, miệng còn hả ra....
Tôi đi đến tận khu chợ. Ở đây có nhiều tấm thảm đẹp, nhiều vải vóc lụa là, nhiều áo quần thêu, ngọc và đá quí. Tiền vàng chất đầy những cái tủ đồng thật lớn. Tôi trố mắt nhìn, quá kinh ngạc. Tôi nhìn quanh và quyết định lấy một ít tiền vàng, vì chẳng có ai thấy tôi hết, rồi tôi tộng nữ trang đầy túi và tộng vào một túi xách lớn nào là đá quí, hồng ngọc, ngọc ô-pan, lam ngọc và kim cương lóng lánh muôn màu.
Bỗng tôi nghe có tiếng đọc kinh Cô Ran (Coran) nho nhỏ. Bị tiếng đọc kinh lôi cuốn, tôi đi vào trong sân triều, qua các phòng ốc, qua nhiều hành lang, đi vào trong phòng có ngai vang. Trên ngai ông vua hóa đá đang ban huấn thị cho đám triều thần bất  động. Tôi đi lên hàng thứ nhất rồi xuống hàng thứ hai, bỗng thấy mình đứng trước một cô gái thật đẹp có cặp mắt đen.
- Rất hân hạnh được đón anh, Áp-Đuya-Raman, - nàng nói.
- Tại sao cô biết tên tổi
- Tôi đợi anh từ lâu rồi.  Chỉ có anh mới đem tôi ra được khỏi thành phố này. Nhà vua đã bỏ tù tôi, vì tôi không chịu bỏ đức tin. Đấng A La đã cảnh cáo ông ta đừng nói láo, đừng giả dối  và đừng dùng âm mưu thâm hiểm nhưng ông ta không nghe lời mà còn làm điều tệ hại hơn nữa. Cho nên Đấng A La đã biến ông và tất cả thần dân ở đây thành tượng đá hết!
Tôi nắm tay cô gái, rồi cả hai cùng ra khỏi lâu đài và đi về phía cảng.
Một chiếc tàu sắp rời cảng để đi Xi-Ri. Chúng tôi lên tàu.
Sáng hôm sau, tôi thấy một chiếc thuyền sóng nhồi như vỏ trái bồ đào. Tôi hết sức ngạc nhiên khi thấy hai anh mình ở trên chiếc thuyền ấy. Tôi giúp họ lên tàu của mình, ôm hôn họ, không kìm được nước mắt vui mừng. Họ nói hàng hóa trên tàu đã bị cuốn trôi hết nhưng may mắn là họ thoát được. Tôi kể cho họ nghe chuyện phiêu lưu của mình và giới thiệu người vợ chưa cưới xinh đẹp rồi đề nghị chia họ số đá quí của tôi.
Ngày qua ngày, hai anh tôi không rời mắt khỏi người vợ chưa cưới của tôi vì nàng đẹp quá. Họ cũng nhìn thèm khát số một phần ba đá quí của tôi. Khi tôi nằm dài trên boong tàu để hóng mát, mơ đến tòa lâu đài mình sẽ xây để sống với người vợ tương lai, thì tôi bỗng bị bốn cánh tay nâng bổng lên và ném xuống biển.
Sắp bị sóng biển cuốn trôi, thì chợt có hai bàn tay  vô hình nâng tôi lên. Tôi bất tỉnh và được mang đi đến một nơi xa lạ.
Khi mở mắt ra, tôi thấy mình ở trong một căn phòng rộng mênh mông. Vua của các thần linh đang ngồi trên ngai lộng lẫy. Bên cạnh ngài, một cô gái xinh đẹp nhìn tôi tươi cười. Tôi hết sức ngạc nhiên vì cô gái chính là Xai-Đa.
- Thưa cha, người này đã cứu con thoát khỏi nanh vuốt của rồng đen. Hôm nay con đã cứu anh ấy khỏi sóng bể cuốn trôi, nơi mà hai người anh đã ném anh ấy xuống biển.
-  Hai anh ngươi đã phản bội ngươi! - vua các thần nói.
- Họ không làm điều gì bậy đâu! - tôi chống chế khi thấy cơn thịnh nộ của nhà vua - Tôi đã bị rơi xuống biển đấy chứ ạ.
- Sao ngươi còn nói láo? - vua hét lên - Bảo vệ cho chúng chẳng được việc gì đâu. Những kẻ làm điều sai trái phải bị trừng phạt nghiêm khắc!
Xai-đa đứng dậy. Nàng cầm cái tô thần, nhìn vào và đọc thần chú rồi té nước xuống đất.
- Hai anh của anh đã bị tôi biến thành chó rồi. Mỗi đêm anh phải thức dậy, lấy roi quất vào họ không thương xót gì hết. Nếu anh không làm, thì chính tôi sẽ ra tay! - Xai-đa nói, giọng rất cương quyết.
Rồi liền đó, tôi thấy mình ở trong tòa lâu đài mà tôi đã ước ao, hai con chó nằm dài dưới chân, và người yêu thì ngồi trước mặt.
Tôi say sưa hôn nàng, quá đỗi sung sướng khi được gặp lại người yêu, rồi nhìn sang hai người anh đã bị hóa chó. Tôi rất đau đớn cho họ, nhưng không biết làm gì để cưỡng lại bùa phép này được. Tôi nuôi chúng, cho ăn, cho uống nước mát và vuốt ve chúng.
Đến nửa đêm, Xai-đa đến thức tôi dậy. Nàng đưa cho tôi cây roi rồi nói:
- Hãy đứng dậy! Anh phải đánh hai người anh của mình.
Tôi van xin nàng để cho họ nghỉ ngơi thêm thêm một đêm nữa, nhưng nàng nhìn tôi lạnh lùng và nghiêm khắc.
- Hãy vâng lời! Nếu không, chính tôi sẽ đánh anh đấy.
Vì tôi cứ chống đối, không chịu vâng lời nên nàng đã đánh tôi một trận. Thân thể tôi bầm tím, tươm máu, tôi nghiến răng chịu đựng không kêu la, nhưng cuối cùng tôi bất tỉnh. Xai-đa bèn vào căn phòng nơi có hai người anh của tôi, nàng quất họ túi bụi cho đến khi họ bất tỉnh.
Hôm sau, Xai-đa lại đến. Tôi lại chống đối và nàng lại đánh tất cả ba chúng tôi rất dã man.
Ngày kế tiếp, tôi đành phải lấy roi, và tự tay tôi đánh hai anh mình. Tôi cố gắng chăm nom họ...nhưng tình trạng như thế này đã kéo dài mười bốn năm trời rồi, mười bốn năm lòng tôi quá đớn đau.
Qaun tỉnh trưởng Áp-Đuya-Raman kể xong chuyện mình.
Ông đứng dậy, nghiêng mình trước Quốc vương rồi nói:
- Thưa hoàng thượng, xin cho hạ thần kiếu từ. Thần phải đi đánh hai ông anh của mình đây ạ!
- Khỏi! - Quốc vương cản lại - Đêm nay khanh cứ ngủ bình anh! Khi Xai-đa đến thức khanh dậy, nói cho cô ấy biết khanh không thể làm nhiệm vụ ấy vì đang là khách của Quốc vương Ha-Run.
Quan tỉnh trưởng đi ngủ. Và khi Xai-đa đến, ông nói lại cho nàng nghe những lời Quốc vương dặn
- Phải đến hỏi cha tôi mới được, - nàng nói, lòng bán tín bán nghi và bỏ đi.
Đến trước vua của các vị thần, nàng kính cẩn nghiêng mình, hỏi ngài nàng phải làm gì.
- Chừng nào Áp-Đuya-Raman còn là khách của Quốc vương, ta không nên buộc anh ta phải làm những việc nặng nhọc đó.
- Nhưng tại sao?
- Đừng hỏi nhiều! Đi đi! Ngươi đi truyền lại quyết định của ta cho quan tỉnh trưởng biết.
Đã từ lâu rồi, đây là đêm đầu tiên Áp-Đuya-Raman được ngủ một giấc ngon lành như thế.
Sáng hôm sau, ông xin được hội kiến với Quốc vương để cám ơn lòng tốt của ngài. Quốc vương ra lệnh:
- Ngươi hãy mời Xai-đa đến đây! Ta có việc muốn nói với cô ấy.
Đất rung chuyển và nàng tiên hiện ra.
- Nàng hãy nói với cha nàng rằng ta, Quốc vương Ha-Run, mong muốn đức vua tha thứ cho hai người anh hung ác của viên quan tỉnh trưởng này. Mong ngài cho họ lấy lại hình người.
- Được! - Xai-đa đáp rồi nàng biến mất.
Vua của các vị thần nghe xong, người nói:
- Chúng ta phải vâng lời thôi, vì điều này do chính miệng Quốc vương nói ra, tức là Đấng A La nói.
Xai-đa bay đến cung điện. Nàng rảy nước trong cái tô thần vào hai con chó và Áp-Đuya-Raman quá đỗi vui mừng, ôm chầm lấy hai anh.
Xai-đa dọa:
- Nếu còn làm điều ác, thì các ngươi sẽ bị biến thành chó lại và lần này thì thành chó mãi mãi.
Hai người anh đã nếm đủ hình phạt rồi nên họ hứa một cách chân thành là sẽ không làm điều xấu nữa. Quốc vương Ha-Run gả hai cô em gái cho họ và phong Áp-đuya-Raman làm quan tể tướng của mình. Tất cả đều sống hạnh phúc trong lâu đài.
Đăng nhập để trả lời
0
Đoá Hoa Biết Hát

Ma-rúp rỉ tai bạn:
- Ali, nhìn kìa. Du khách đang say sưa lắng nghe đoá hoa kỳ diệu kể chuyện kia kìa. Họ không nhúc nhích mà nín thở để lắng nghe, hai má ửng hồng vì bị kích thích mạnh.
Ali đáp:
- Họ lắng nghe đến nỗi không chú ý thấy mặt trời đã lặn xuống dưới chân trời cát, và màn đêm đã bắt đầu buông xuống rồi.
- Tôi thật không tiếc chuyến du hành quá lâu này, vua của các vị thần đã không nói sai, cái hoa ấy còn huyền bít hơn những thứ tôi nằm mơ nữa.
Hoa đã kể câu chuyện của quan Áp-Đuya-Raman và hai người anh hóa chó, nó khép cánh lại. Ốc đảo im lặng một cách kỳ lạ. Hoa ngừng hát để cho du khách từ các phương trời về nghỉ đêm, họ đã chứng kiến tận mắt cảnh kỳ diệu rồi.
- Này, Ali, đến đây! - Ma-Rúp vừa kéo tay áo bạn vừa nói - Chúng ta đến gần những khách hành hương này để nghe họ nói gì nào.
- Càng già ông lại càng hiếu kỳ! - Ali vừa cười vừa nói nho nhỏ, ông cũng lắng tai nghe.
Một vị quan tòa ở BátRa (Basra) cất giọng:
- Ông lão đánh cá đánh được cái chai dưới bể lên thật là khôn ngoan. Ông ta biết giữ bình tĩnh khi bị vị ác thần đe doạ giết, rồi ông ta đã lừa được lão trên đường đi Kero (Le Caire). Ông ta thật khôn ngoan, lại tốt bụng nữa vì đã dám liều cả sinh mạng để cứu những người vô tội.
Một người đánh cá đi du lịch từ sông Ơ-Phơ-Rát (Euphrate) đến sông Nil thốt lên:
- Thật tôi cũng không biết phải làm sao, nếu mình lâm vào cảnh của ông lão đánh cá kia, khi ông thần từ trong chai hiện ra lần thứ hai.
Một người khác nói:
- Tôi thật sự phục ba bùa phép của nàng tiên nước để hai vợ chồng có thể tránh được âm mưa thâm độc của nhà  vua và quan tể tướng.
Một người buôn lạc đà lên tiếng:
- Tôi thì rất phục lòng can đảm của hoàng tử Xalayden. Chàng đã đi bộ trên sa mạc đến tận xứ sở của bảy vị thần.
Ông ta đưa mắt nhìn ông già chỉ huy đoàn lữ hành như muốn nghe ý kiến của ông này.
- Tôi không dám làm thế đâu! - ông này đáp - Ai mà dám ngồi trên lưng một vị thần chứ! Thế nhưng giống Ranim, tôi sẽ rất sung sướng khi có một con lạc đà trắng.
Vợ ông ta bèn nhạo báng ông:
- Và sung sướng khi con lạc đà trắng biến thành một cô gái đẹp có đôi mắt nhung chứ gì?! Về phần mình, tôi muốn có năng lực của bà hoàng đã chiến thắng ác thần Khai-ta-ua. Tôi sẽ có chàng thanh niên trẻ đẹp bên mình, thay vì đêm nào cũng nằm cạnh một ông chồng ngáy như sấm.
Một phụ nữ khác vừa cười vừa nói:
- Nếu được là Xai-đa, con gái của vua các vị thần, tôi sẽ biến chồng mình thành chó để ông ấy phải luôn vâng lời.
- Tôi thật khó chịu, - chồng bà ta, một văn sĩ có tiếng đáp. - Bà nói năng như thể bà không tin tưởng vào tình yêu giữa nam và nữ. Tuy nhiên, trong số những chuyện tôi nghe kể, thì tình yêu bao giờ cũng chiến thắng. Hai ta không sống hạnh phúc như quan tỉnh trưởng Áp-Đuya-Raman với người vợ chưa cưới ở thành phố bị hóa đá hay sao?
- Ông nói đúng, - bà vợ đáp và cúi đầu xuống - Xin lỗi ông, tôi đã nói sai.
Một thương gia đã đi khắp thế giới cất cao tiếng:
- Tất cả chúng ta đều biết rằng không có gì quan trọng hơn tình yêu chân chính hết.
- Công lý cũng là điều quan trọng nhất - quan tòa ở Bát-Ra nói thêm - Tôi đồng ý với vua của các vị thần là phải loại bỏ điều ác và trừng phạt thật nghiêm những kẻ xấu.
- Thôi ta đừng nói chuyện vớ vẩn nữa đi! - bà vợ người trưởng lữ hành nói - Bây giờ phải đi ngủ thôi. Ngày mai, hoa thần lại hát nữa, và tôi muốn nghỉ ngơi để mai nghe cho được thoải mái.
- Em bao giờ cũng có lý, - người chồng lên tiếng - Chúng ta đi ngủ thôi!
Một người lạ thấy Ma-Rúp và ông bạn Ali trải chăn dưới gốc một cây vải, ông ta lo lắng hỏi:
- Các ông không định ngủ ở đây đấy chứ?
- Tại sao lại không? - Ma-Rúp đáp - Xin ông đừng xía vào chuyện không liên quan đến mình. Mời ông đi cho!
- Được thôi, nhưng tôi sẽ đi với các ông! - sứ giả của vua các vị thần đáp, đoạn xoè rộng hai cánh ra - Ngày mai, khi sửa giày, quí vị hãy tiếp tục tán gẫu để cây hoa thần có nhiều chuyện khác mà kể.
Và vị sứ giả mang đôi bạn về tiệm giày bé tí của Ali.
Trên cát trắng của sa mạc
Đóa hoa thần mọc lên.
Hoa cất cao tiếng hát
Người người đều ngạc nhiên!
Đăng nhập để trả lời
0
Hà San Và Con Chó Trắng

Ngày xưa, trong thành phố Bát-Đa (Bagdad) có một vị vua tốt và công bằng. Ông ta có ba người con trai: hoàng tử A-la-Đanh (Aladin), hoàng tử Mát-đi-đanh (Madjidin) và hoàng tử út là Hà San. Đức vua ngã bệnh nặng. Trong nước không ai chữa được, người ta mời một vị thầy thuốc danh tiếng từ vương quốc xa xôi ở Ấn Độ đến.
Vị thầy thuốc khám bệnh xong, với giọng buồn rần, ông nói:
- Bệnh trầm trọng, không chữa lành được. Chỉ có thuốc tiên mới chữa nổi. Có một hòn đảo san hô cách đây cả ngàn  dặm; nơi đó mới có được thuốc cứu đức vua. Chỉ có người can đảm, không sợ nguy hiểm mới tới đó được.
A-la-đanh không ngần ngại, anh tuyên bố ngày mai sẽ lên đường. Đức vua khuyên con trai không nên hy sinh tuổi trẻ để kiếm thuốc cứu sống cha già. Nhưng hoàng tử không nghe, anh cứ lên đường, đem theo một bao đầy tiền vàng và bạc móc bên thắt lưng.
Sau nhiều giờ liền ngồi trên lưng ngựa, thấy mệt và đói, anh bèn ngồi xuống một phiến đá, lấy túi đựng thức ăn ra. Bỗng mặt đất rung chuyển rồi hiện ra một con chó trắng. Nó nhe răng nói với anh:
- Tôi đói. Cho tôi ăn với.
A-la-đanh khiếp sợ, bèn lấy cung tên ra nhắm vào con chó định bắn. Nhưng đột nhiên con chó biến mất. ANh chỉ còn nghe những tiếng gầm rú khủng khiếp ở xa xa. A-la-đanh ăn uống xong, lên ngựa đi tiếp.
Một lúc sau, anh đến một ngã tư. Ở đó có ba tấm bảng chỉ ba đường khác nhau ghi: "Về phố vàng", "về phố bạc" và hướng kia: "Ai đi theo đường này sẽ chết".
Không ngần ngại, A-la-đanh đi theo đường đến thành phố vàng. Chân trời lóng lánh muôn sắc. Anh đi đến một thành phố, nơi đây nhà cửa toàn xây bằng vàng ròng, khảm đá quí. Dòng sông chảy qua thành phố chứa đầy kim cương.
A-la-đanh buông mình theo lạc thú, phung phí tiền bạc vào thức ăn ngon, tung tiền vàng vào những thú vui nhảm nhí. Và đến một hôm, anh khko6ng còn đồng xu dính túi. Để sinh sống, anh đành phải đi làm thuê làm mướn.
Nhiều tháng trôi qua....
Vị giáo chủ càng lúc càng trở bệnh nặng hơn, mà A-la-đanh thì vẫn không thấy về.
Mát-đi-đanh tuyên bố đã đến lúc anh lên đường tìm thuốc tiên ở đảo san hô. Nhà vua sợ mất thêm đứa con thứ hai, bèn ra sức can ngăn, nhưng không được. Mát-đi-đanh lấy cái túi xách đựng tiền vàng và bạc, rồi lên ngựa ra đi.
Anh ta cũng đi theo con đường của anh trai và cũng dừng lại ở chỗ người anh đã dừng để ăn. Ngay khi anh lấy thức ăn trong túi xách ra, đất cũng rung chuyển và con chó trắng hiện ra.
- Tôi đói, cho tôi ăn với.
Chó nói, và cũng như A-la-đanh, Mát-đi-đanh hoảng sợ, lấy tên lắp vào cung, chuẩn bị bắn chết con chó. thì nó đã biến mất và xa xa vẳng lại tiếng gầm rú kinh hồn. Mát-đi-đanh ăn xong liền lên ngựa. Khi đến ngã tư, anh đi theo hướng đến thành phố bạc. Chân trời xa xa sáng bừng lên. Anh đi vào một thành phố xây bằng bạc, khảm đá quí. Lòng sông chảy qua thành phố lổn ngổn ngọc trai. Mát-đi-đanh cũng tiêu hết vàng bạc trong nháy mắt, rồi phải đi làm thuê để kiếm sống.
Nhiều tháng trôi qua....
Đứa vua già hết hy vọng được gặp lại hai con trai nên bệnh ngài càng nặng thêm.
Hoàng tử út Hà San bèn tuyên bố anh sẽ lên đường đến đảo san hô tìm thuốc tiên và đem hai anh về luôn. Vị vua già khốn khổ khóc như mưa, ngài năn nỉ anh ở lại bên mình trong những giây phút cuối đời, nhưng Hà San vẫn cương quyết ra đi.
- Xin cha đừng sợ, con sẽ mang thuốc về để chữa bệnh cho cha. Con sẽ trở về cùng với hai anh và chúng ta lại sống bên nhau như trước.
Sáng sớm hôm sau Hà San ra đi. Anh cũng dừng lại ở chỗ hai anh trai đã ngồi nghỉ. Con chó trắng lại hiện ra và nhe răng nói:
- Tôi đói, xin cho tôi ăn với.
Hoàng tử thấy thân hình con chó đẹp quà, chàng bèn mời nó cùng ăn. Con chó ăn một mạch không nghỉ ngơi. Rồi nó liếm mép và quay qua Hà San nói:
- Tôi cám ơn anh và khuyên anh đừng đi theo con đường đến thành phố vàng, hay thành phố bạc, mà hãy đi theo đường thứ ba.
Hà San không hiểu con chó muốn nói gì, chàng định hỏi nó một câu, nhưng con chó đã biến mất, cũng đột ngột như khi nó xuất hiện. Đến ngã tư đường, hoàng tử theo lời khuyên của con chó trắng,  chàng đi theo hướng tấm  bảng chỉ đường ghi: "Ai đi theo đường này sẽ chết".
Chàng có cảm giác như nghe được tiếng của hai anh trai. Chàng quay lại, nhưng không thấy ai hết. Rồi chàng nghe như có tiếng vua cha nói. Chàng lại quay lại, nhưng vẫn không thấy gì.
Chỉ có một đóa hoa thần đung đưa trong gió. Hoàng tử định hái đóa hoa, nhưng hoa cười, giọng cười của A-la-đanh rồi biến mất. Chàng nghe có tiếng xột xoạt: một đoá hoa khác gọi chàng bằng giọng của Mát-đi-đanh. Bỗng chàng thấy mình đang ở trong một luống hoa thần. Hoa thì nói bằng giọng của cha chàng, hoa thì nói bằng giọng của các anh chàng. Rồi đất rung chuyển và con chó trắng hiện ra.
- Hà San, hãy leo lên lưng tôi. Tôi sẽ mang anh đến đảo san hô.
Hoàng tử không ngần ngại, làm theo lời của chó. Chó nhảy lên trời, bay càng lúc càng cao, càng lúc càng nhanh. Họ bay qua mây rồi đến trước cửa một tòa lâu  đài bằng vàng và đá quí. Con chó trắng nói:
- Chúng ta đến đảo san hô rồi. Đảo này quay không ngừng trong không gian. Cậu hãy vào cung điện và ra lệnh cho con quỉ Át-ta-ru (Ashatarout) - vua của hòn đảo này rằng "Át-ta-ru, hãy chết ngay đi!". Hắn ta sẽ lăn ra chết. Xong, cậu lấy cái chai để bên cạnh ngai vàng. Chai đựng thuốc tiên đấy. Rồi ra ngay, nếu lấy thêm cái gì khác trong điện là nguy to cho cậu đấy.
Hà San đi vào trong cung điện.
Chàng can đảm đi đến gần vị vua của hòn đảo và hét lên:
- Át-ta-ru hãy chết ngay đi!
Át-ta-ru lăn ra chết cùng với bạn bè quỉ sứ của lão. Hà San lấy cái lọ đựng thuốc thần và vội vã trở ra. Khi ấy, một chuỗi ngọc thật đẹp từ từ vươn lên gần chàng như thể có một người vô hình nào đấy mang chuỗi hạt vậy. Hà San không cầm lòng được, chàng nắm lấy xâu chuỗi bỏ vào túi. Những con quỷ đã chết liền vùng dậy, bắt lấy chàng, lôi đến trước mắt Át-ta-ru. Lão ta giận dữ hét lên:
- Mày làm gì ở đây?
Chàng Hà San khốn khổ đành phảii thú thực chuyện của mình. Khi nghe nói đến con chó trắng, bọn quỷ sợ sệt, bèn thả chàng ra ngay.
- Ta tha cho ngươi, - vị giáo chủ nói, thái độ kính trọng - Nhưng ngươi chỉ được phép lấy lọ thuốc này nếu ngươi kiếm cho ta chiếc mũ tàng hình. Đấy là cái mũ bình thường thôi, nhưng khi đội lên đầu, người ta sẽ trở nên vô hình.
Hà San nghiêng mình rồi đi ra, không nói năng gì. Con chó trắng đợi chàng bên ngoài, nhưng khi thấy chàng ra đi với hai tay không, nó xù lông lên vì tức giận.
- Không người nào, không vị thần nào, không con quỷ nào dám cả gan làm trái lời ta! Ngươi đáng bị ở lại đây, trên đảo này đợi cái chết thê thảm đến. Ta đã nói là không được lấy gì hết ngoài lọ đựng thuốc thần kia mà!
Hà San khóc nức nở, cầu xin chó tha thứ.
- Thôi được! - chó trắng càu nhàu, cảm động vì thấy chàng hối hận. - Leo lên lưng ta. Ta sẽ giúp anh đi kiếm chiếc mũ ấy.
Họ bay lên trời rồi đến trước cửa một cái động.
- Vào đi! Vào trong động, anh sẽ tìm thấy cái mũ đó. Anh cũng sẽ thấy trong ấy có một cô gái đẹp, nhưng nếu anh nắm tay nàng là khổ thân đấy.
Hà San đi vào trong động, một con sư tử và một con ngựa đứng gác cổng. Trước con sư tử, có một bó cỏ khô và trước con ngựa là một miếng thịt. Hoàng tử để lại các thứ cho đúng vị trí: cỏ khô trước con ngựa, và thịt trước sư tử, rồi đi vào bên trong. Chàng liền trông thấy một cô gái đẹp mà con chó đã nói với chàng. Nàng đội trên đầu chiếc mũ tàng hình. Nàng từ từ bước đến gần Hà San. Chàng đưa tay lấy cái mũ rồi vội vã quay đi.
- Hà San! - cô gái thì thầm, giọng thật  dịu dàng - Hà San! Hãy lại đây!
Hoàng tử đứng bất động, ngần ngừ một lát, rồi quay lại. Nàng cười rất dễ thương, khiến cho chàng không thể nào cầm lòng được. Chàng nắm tay nàng.
Nàng liền biến thành bà tiên ác, đưa hai tay bóp họng chàng. Con sư tử và con ngựa nghe tiếng kêu liền chạy đến bảo vệ cho chàng hoàng tử. Bà tiên ác vội buông mấy ngón tay nhọn như vuốt ra và lấy lại cái mũ tàng hình.
- Ta sẽ cho ngươi cái mũ, nếu ngươi đem đến cho ta viên ngọc lớn.
Nhục nhã, không thể nín khóc được, Hà San trở lại với con chó trắng. Chó giận dữ nói:
- Ta đã dặn anh đừng nắm tay cô ấy kia mà!
- Tôi biết, - Hà San khóc lóc - Nếu tôi không trở về chắc cha tôi sẽ chết vì buồn phiền mất.
Chó trắng lại cảm động. Nó xiêu lòng:
- Leo lên lưng ta. Ta sẽ giúp anh. Nhưng đây là lần cuối cùng đấy nhé.
Họ lại bay lên trời, qua mây rồi hạ xuống sa mạc. Chó trắng ra lệnh cho chàng:
- Hãy xuống dưới cái giếng này. Anh sẽ tìm thấy một cánh cửa. Mở cửa ra, cuối hành lang có một căn phòng. Trong đấy nhìu co gái rất đẹp đang ngồi. Nếu tim anh rung động trước sắc đẹp của họ, thì anh khổ thân đấy. Vì kẻ nào không giữ lời hứa ba lần thì kẻ đó sẽ không đáng sống với những người chân thật. ANh sẽ thấy viên ngọc lớn ở đấy, lấy và qua ra gấp.
Hà San hứa vâng lời chó, rồi chàng xuống giếng.
Tim chàng xao xuyến khi thấy những cô gái đẹp tuyệt vời ở đây, nhưng chàng cố kiềm chế lòng mình. Người đẹp nhất dẫn chàng đến chiếc bàn thếp vàng. Trên bàn, viên ngọc lớn óng ánh thật đẹp. Hoàng tử lấy viên ngọc rồi quay ra. Bỗng chàng nghe có giọng nói êm ái dịu dàng cất lên:
- Hà San thân yêu! Trở lại đây. Hãy hôn chúng tôi, anh sẽ được tràn trề hành phúc.
Hà San dừng lại một lát, nhưng trong đầu chàng vang lên lời dặn của chó trắng. Chàng bèn cắm đầu chạy thật nhanh và ra khỏi giếng. Chó trắng rất hài lòng khi thấy chàng trở lại, khen chàng đã can đảm, rồi kể chuyện hai anh chàng, A-la-đanh và Mát-đi-đanh, đã định giết chó trắng ra sao và kể cho chàng biết hai người hiện đi làm thuê làm mướn hèn hạ như thế nào, một người ở thàn phố vàng và một người ở thành phố bạc.
Hà San lại leo lên lưng chó trắng, cả hai bay lên đông. Ở đây, Hà San đổi viên ngọc để lấy chiếc mũ tàng hình. Rồi đến đảo san hô, chàng đổi mũ tàng hình để lấy chai thuốc thần.
Sau đó, họ đến thành phố vàng. Hà San trả nợ cho A-la-đanh, rồi đến thành phố bạc tìm Mát-đi-đanh. Đến ngã tư, hai anh xin chó trắng tha lỗi vì đã muốn giết nó. Hà San cũng cám ơn chó trắng đã  giúp chàng rất nhiều.
Tối đến, ba anh em về tới Bát-đa. Họ chạy đến bên giường của cha. Khi thấy các con, nhà vua rơi nước mắt vì sung sướng. Hà San đưa cho cha chai thuốc thần. Sau khi uống  xong, nhà vua liền đứng dậy khỏi giường. Hôm sau, đức vua thoái vị nhường ngôi lại cho Hà San, người con út, nhường vương quốc và tất cả của cải cho chàng. Ông giới thiệu với chàng công chúa Ấn Độ tên Sao Mai. Hà San ngây ngất trước sắc đẹp của nàng. Nàng còn đẹp hơn tất cả những cô gái chàng đã gặp trong động ở dưới giếng.
Lễ cưới kéo dài suốt bảy ngày đêm.



Đăng nhập để trả lời
0
Người Đẹp Lan-Gia

Chưa bao giờ trên đời lại có một cô gái đẹp như nàng Lan-Gia (Landja). Chỉ nhìn nàng thôi cũng đủ làm cho người ta choáng váng mặt mày rồi, và tất cả thanh niên đều xiêu lòng trước sắc đẹp của nàng. Những người can đảm nhất cố chiếm nàng, kéo nàng ra khỏi nhà hai vị thần, cha mẹ của nàng, nhưng tất cả đều bị mất mạng.
A-ma (Ahmad), con trai duy nhất của Quốcv ương, cũng yêu say đắm Lan-Gia. Chàng quyết định lấy nàng làm vợ. Quốc vương đã cố can gián chàng. Ngài cho mời đến lâu đài tất cả những cô gái đẹp trong vương quốc, nhưng không ai làm cho hoàng tử hài lòng hết. A-Ma không thay đổi ý định.
Chàng lên ngựa vào sa mạc. Qua một đoạn đường dài, chàng đến trước nhà các vị thần.
Lan-Gia đang ngồi trước cửa nhà, nàng chải mái tóc màu hung dài. Hoàng tử im lặng ngắm nhìn, ngây ngất trước vẻ đẹp của nàng. Bỗng cô gái ngước mắt lên nhìn chàng và nói:
- Hỡi người thanh niên xa lạ, chàng thích em phải không? Cha mẹ và bảy anh trai em mà đi săn về thấy chàng, họ sẽ giết chết đấy. Bây giờ chàng hãy đem ngựa đi giấu dưới vực rồi vào trong nhà em đi.
A-Ma làm theo nàng. Chàng đi giấu ngựa rồi vào nhà các thần. Trong phòng đầu có một cửa sập thông xuống dưới hầm. Cô gái bảo chàng trốn ở đấy.
- Anh hãy kéo sợi dây thật mạnh để đóng cửa sập lại cho kín. Khi mọi người đến bàn ăn, anh lặng lẽ ra khỏi chỗ núp. Đừng sợ, không ai thấy anh đâu! Lửa và đèn đều được tắt trước khi ăn vì trong ánh sáng ngay cả thức ăn ngon lành nhất cũng không làm cho chúng tôi hài lòng. Anh hãy cùng ngồi vào bàn ăn và lấy nhanh một cái thìa. Thìa đã được chuẩn bị đủ cho số người trong nhà. Người cuối cùng không có thìa để ăn sẽ lên tiếng. Bố em sẽ nói: "Để hết thìa xuống bàn đếm xem!". Anh sẽ là người đầu tiên để thìa xuống và là người đầu tiên lấy thìa lên. Nhớ  đấy nhé! Cha mẹ em về rồi kìa! Chạy đi núp mau lên!
Nữ thần vừa ngồi vào góc bếp đã nói lớn:
- Đồ vật đâu, đến đây cho ta đếm.
Tức thì các đồ vật trong nhà liền động đậy: cái rây, cái hũ, bát đĩa, thìa, dao, giẻ lau, ghế dựa, và ngay cả cái bàn nữa. Tất cả các đồ vật này đều đến gần lò lửa. Chỉ cái cửa sập là không đến thôi. Tuy nhiên, nó cố nâng mình lên, nhưng A-Ma kéo mạnh sợi dây không thả ra.
- Lạ thật, - nữ thần ngạc nhiên hỏi - Cái cửa sập bằng gỗ hôm nay lại không đến.
- Có lẽ nó già rồi, - Lan-Gia đáp. - Nó không còn đủ sức nữa. Nhìn nó run run kìa, không nâng mình lên nổi.
- Tội nghiệp cái cửa sập! - bà mẹ nói với vẻ xúc động rồi bà nấu ăn.
Khi bữa ăn dọn ra, ông bố tắt lửa, tắt đèn hết. A-Ma nhẹ nhàng bước ra khỏi chỗ núp, đến ngồi giữa các thần. Nhanh nhẹn, chàng lấy cái thìa. Một lát sau, người không có thìa nói:
- Mẹ, con không có thìa.
- Trên bàn có đủ thìa kia mà! - bà mẹ khẳng định.
- Để tất cả thìa lên bàn, chúng ta sẽ đếm xem - ông bố ra lệnh.
A-Ma nhanh nhẹn để thìa xuống bàn và các thần cũng để xuống. Có 10 cái thìa, bằng số người trong nhà.
- Bây giờ mỗi người lấy một cái.
A-Ma là người đầu tiên lấy thìa.
Một người anh khác liền phàn nàn:
- Mẹ, con không có thìa!
- Ta vừa mới đếm xong mà, có đủ 10 cái! - bà mẹ bực bội kêu lên.
Im lặng một lát, ông bố cất giọng:
- Dù ngươi là thần hay là người, ngươi cũng phải xuất đầu lộ diện ra đi! Chúng tôi không hại ngươi đâu, vì ngươi đã ăn thức ăn của chúng tôi rồi.
- Tôi là người và tôi tin  vào Đấng A La, - A-Ma bình tĩnh đáp.
Các thần thắp đèn lên, và khi đã thấy mặt khách rồi, họ giữ lời hứa, không làm hại chàng. Họ hỏi chàng tên gì và lý do cuộc đến thăm này.
- Tôi tên là A-Ma, con trai của Quốc vương. Tôi bị lạc và tình cờ đến đây. Tôi hy vọng ngày mai se tìm ra đường về.
Thế là A-Ma nghỉ đêm tại nhà các thần, nhưng chàng không thể ngủ ngon giấc vì bận suy nghĩ. Chàng không biết phải thuyết phục Lan-Gia như thế nào để nàng chịu đi theo.
Sáng sớm tinh sương, các thần lại đi săn. Lan-Gia ở nhà một mình. Hoàng tử bèn thú thật lòng mình với nàng:
- Chính vì em mà anh can đảm đến đây. Em có muốn làm vợ anh không?
- Muốn. Em sẽ đi đến đâu anh muốn, nhưng ta hãy đi ngay, kẻo bố em bắt được.
A-Ma chở nàng trên ngựa, thúc ngựa chạy về thành phố. Mẹ nàng đang giặt áo quần không xa nhà mấy, thấy hai người, bà liền chạy vào rừng báo cho chồng và các con biết. Cha nàng giận lắm, bay đuổi theo hai kẻ chạy trốn. Hai người chạy trước, con ngựa phóng tên như bay.
Khi đến kịp hai người, thần nói với con gái:
- Lan-Gia con, con sẽ rời chúng ta mãi mãi, nhưng hãy nghe cha nói đây! Nếu dừng lại bên bờ sông kim cương, vàng hay bạc, thì các con đừng uống nước ở đấy, nếu không các con sẽ chết một cách đau đớn. Nếu thấy hai con vật đánh nhau, đừng can chúng ra! Hãy nghe lời ta, nếu không các con sẽ bị người khác cướp chồng, cướp vợ và các con sẽ mãi mãi xa nhau đấy.
Lan-Gia và A-Ma qua một con sông kim cương, rồi đến sông vàng và sông bạc. Mặc dù khát khô cổ, nhưng họ vẫn không uống. Rồi họ gặp hai con sói, hai con rắn, hai con gà và hai con bò mộng đánh nhau đến chết, họ không can. Sau nhiều giờ đi ngựa nữa, họ đến cổng một thành phố. Hai con bồ câu trắng mổ nhau rất kịch liệt. Hoàng tử không chịu nổi cảnh tượng này, chàng bèn xuống ngựa, cố can chúng ra. Lập tức một con đại bàng khổng lồ nhảy xổ vào, dùng vuốt quắp lấy chàng và nâng bổng khỏi mặt đất, bay lên trời cao dưới cặp mắt bất lực của Lan-Gia. Chim để chàng trên đỉnh núi, nơi nó xây tổ. Lan-Gia khóc sướt mướt, và khi bình tĩnh lại, nàng nắm cương dẫn ngựa đi vào thành phố.
Nàng bán con ngựa cho một người thợ rèn rồi đổi áo quần đẹp của mình để lấy áo quần xấu xí của gia nhân. Nàng bôi đen mình cho ra vẻ một người da đen, và đi vào lâu đài của Quốc vương. Ở đây, người ta cho nàng làm công việc phục vụ.
Mỗi tối, Lan-Gia lại lên sân thượng của lâu đài, nhìn về phía tổ chim đại bàng, khóc nức nở cho đến khi sương khuya lạnh buốt rơi xuống mới về phòng.
Thế rồi một tối, nàng nghe tiếng A-Ma nói:
- Gia đình anh đón tiếp em như thế nào? Em ngủ ở đâu? Em ăn gì?
- Em chỉ ăn đồ thừa và ngủ với gia nhân, - Lan-Gia buồn bã đáp.
Thầy cả đạo Hồi ở trong triều đang hóng mát ở ngoài, nhận ra giọng nói của hoàng tử. Ông liền chạy đến gặp Quốc vương, kể câu chuyện vừa nghe được.
- Con trai ngài, hoàng tử A-Ma chưa chết! Cậu ấy ở trên đỉnh núi trong một tổ chim đại bàng. Tâu hoàng thượng, xin ngày hãy tin tôi, tôi nói thật đấy. Lúc nãy tôi đã nghe cậu ấy nói chuyện với một cô gái đứng khóc trên sân thượng.
Quốc vương vui mừng, nhưng rất bối rối, ngài quay sang người cố vấn khôn ngoan và trung thành của mình, hỏi:
- Ta phải làm gì bây giờ?
- Thọc huyết một con bò cái - ông già khuyên - Chim đại bàng sẽ thấy và bay xuống. Khi nó đã ăn no nê rồi, hãy xin nó trả hoàng tử lại cho ngài. Con vật tham ăn này sẽ hỏi rằng ngài muốn nó giao lại hoàng tử trong tình trạng như thế nào, không xương hay là hết máu. Ngài nói với nó rằng ngài thích hoàng tử hết máu hơn. Cho hoàng tử ăn uống tẩm bổ, chàng sẽ lại sức ngay. Nhưng nếu bộ xương bị nghiền nát thì không có thầy thuốc nào trên thế giới làm lại được nguyên vẹn.
Quốc vương nghe lời khuyên và ngài nhận lại được con trai.
Sức khoẻ chàng suy yếu, nhưng sống là được. Đức vua săn sóc chàng rất chu đáo. A-Ma nhanh chóng lấy lại sức vóc. Một hôm, chàng mở mắt ra nhìn quanh và ngạc nhiên không thấy người đẹp Lan-Gia đâu hết. Chàng bèn hỏi cha.
- Cha không biết ai là Lan-Gia hết - Quốc vương bối rối đáp - Chẳng có cô gái lạ nào vào cung hết, chỉ có một con hầu da đen thôi.
- Con muốn gặp người ấy.
Khi cô gái vào phòng, A-Ma hỏi tên nàng. Nhưng cô gái vẫn im lặng, chỉ nhìn chàng bằng cặp mắt buồn bã mà thôi. Hoàng tử nắm tay cô gái một cách dịu dàng. Lan-Gia rút tay lại, mấy ngón tay hoàng tử dính đầy than.
- Lan-Gia! - chàng sung sướng reo lên.
Hoàng tử lấy lại sức khoẻ rất nhanh.
Đám cưới kéo dài bảy ngày đêm. A-Ma và Lan-Gia sống với nhau rất hạnh phúc.
Đăng nhập để trả lời
0
Vườn Cây Trái Ngọc

Ngày xưa, tại thành phố Kha-Lép (Khaleb), một ông vua có khu vườn thật kỳ lạ: cây trong vườn thay vì ra trái, lại ra ngọc. Nhưng rồi một ác thần đã làm phép khiến cho cây không cho trái quí nữa, và kẻ nào ban đêm vào vườn sẽ chết một cách thê thảm. Buổi sáng, người ta sẽ thấy kẻ xấu số nằm chết với thi thể bị cắt ra làm hai.
Nhà vua có ba người con trai, ba chàng thanh niên dũng mãnh và hăng hái. Một hôm, nhà vua nói với các con:
- Đời ta sắp  chấm dứt rồi. Ta sẽ chia tài sản cho các con, ngoại trừ khu vườn cây trái ngọc, vì ta không muốn các con phải chết ở đấy.
- Xin cha đừng sợ! - người anh cả tự tin đáp - Đêm đến, con sẽ vào trong vườn cho cha xem. Chẳng có gì xảy ra cho con đâu.
Mặc dù người cha đã phản đối kịch liệt, nhưng anh ta vẫn đi vào trong vườn lúc trời tối và sáng mai, người ta tìm thấy xác anh bị chặt ra làm hai.
Người con thứ hai rất mong muốn có khu vườn, quyết định sẽ vào đấy vào ban đêm. Người cha khóc lóc khuyên can nhưng không được. Sáng hôm sau, người ta lại thấy cơ thể anh bị chặt ra làm hai.
Người em út là hoàng tử Xalayden, nói với cha:
- Cha à, đêm nay con sẽ vào vườn để xem ai đã giết hai anh và sẽ trở ra bình an vô sự. Con quyết phải trả thù cho hai anh.
Tối hôm đó, Xalayden leo hàng rào vào vườn. Chàng kê một cái giường, trải chăn mền ra như có người đang nằm ngủ ở đấy, rồi núp dưới ghế đá và chờ đợi.
Đến nửa khuya, hoàng tử nghe có tiếng động. Chàng nín thở và căng mắt ra nhìn. Một hung thần đi đến cái ghế đá dài, mấy ngón tay như lưỡi rắn nắm quanh chuôi gươm. Lão ta vung gươm chém mạnh xuống đống chăn, rồi không để ý đến việc mình bị đánh lừa, lão quay đi.
Xalayden rời khỏi chỗ núp và chạy theo lão. Chàng theo mấy giờ liền, đi rất xa thành phố, nhưng cuối cùng cũng mất dấu vết của hung thần.
Trước mắt hoàng tử là một biển cát chạy dài đến tận chân trời, chàng đã bị lạc. Chàng nhìn tứ phía, không biết phải theo hướng nào để về nhà. Bỗng một ông già khổng lồ xuất hiện. Ông ta rất to lớn, hàm râu bạc rậm và dài, ngồi trên cát nóng và để trước mặt một cây dao cạo.
- Xin chào! - Xalayden nói.
- Xin chào, - người khổng lồ đáp - Nếu ngươi không chào ta lễ phép như thế này, ta đã xé xác ngươi ra rồi. Ngươi làm gì trong sa mạc này?
- Tôi đuổi theo tên hung thần đã yếm bùa khu vườn ngọc. Xin ngài cho biết tôi phải tìm y ở đâu?
- Cứ đi thẳng, ngươi sẽ gặp người anh của ta. Anh ấy chỉ lớn hơn ta một ngày thôi nhưng anh ấy biết rất nhiều chuyện. Chắc là anh ấy sẽ giúp ngươi được.
Xalayden cắt xén râu cho người khổng lồ để cám ơn, rồi tiếp tục lên đường. Mấy giờ sau, chàng gặp một người khổng lồ khác còn to lớn hơn, già hơn người trước. Chàng lại chào hỏi lễ phép và hỏi đường đi. Người khổng lồ khuyên chàng đi thẳng cho đến khi gặp mẹ ông ta.
- Bà ấy ngồi cạnh cái máy xay hạnh nhân. Thừa cơ bà ấy đang ngủ, ngươi hãy uống một ít sữa nơi ngực bà. Mẹ ta sẽ xem ngươi như con ruột và che chở cho ngươi tránh khỏi những điều không hay.
Xalayden cám ơn người khổng lồ, chàng cắt xén râu cho ông ta. Râu còn bù xù rậm rạp hơn cả người em nhỏ hơn ông ta một ngày tuổi, rồi lại tiếp tục lên đường.
Chàng bú sữa của bà già khổng lồ trong lúc bà đang ngủ. Khi thức dậy, bà hỏi chàng:
- Con tìm gì ở đây hả con?
Hoàng tử kể chuyện của mình cho bà khổng lồ, bà chăm chú lắng nghe.
- Thằng con đầu của ta sắp đến đây. Hắn còn biết nhiều chuyện hơn ta nữa. Chắc hắn sẽ biết nơi ẩn núp của hung thần kia.
Ngay khi ấy, một tiếng sấm vang lên, đất rung chuyển.
- Nó đến kia rồi! - Bà khổng lồ nói, rồi bà hà hơi vào Xalayden, chàng liền biến thành một trái lựu đỏ.
- Con ngửi có mùi thịt người! - vị thần khổng lồ vừa đến liền nói lớn - Mẹ, mẹ giấu nó ở đâu?
- Người thì làm sao đến  đây được? Đấy là mùi mà con ăn hôm nay còn lại nơi lỗ mũi thôi.
- À, đúng rồi. Vì không có người, con ăn trái lựu chín này vậy. Nhìn nó mà con phát thèm.
Nhanh như chớp, hắn với lấy trái lựu, cắn hai miếng là hết. May thay, một hạt lựu rơi xuống bàn, bà khổng lồ trông thấy liền lượm giấu trong tay!
Sau khi đã ăn uống no nê, người khổng lồ nằm dài, gối đầu lên chân mẹ hắn. Bà vạch mái tóc rối bời của hắn như thể đang bắt chấy. Thực ra thì bà muốn tìm ba sợi tóc bạc, vì ai có ba sợi tóc này sẽ điều khiển được người khổng lồ, buộc hắn phải vâng lời và thực hiện điều mình mong muốn.
- Ái chà, mẹ làm con đau quá!
- Xong rồi, mẹ đã tìm ra ba con chấy. Chúng đeo cứng vào tóc con! - bà mẹ trả lời như không có chuyện gì xảy ra - Con có biết ai yếm bùa khu vườn ngọc ở thành phố Kha-Lép không?
- Sao mẹ lại quan tâm đến khu vườn này thế?
- Con sẽ biết sau khi trả lời cho ta hay! - bà mẹ vừa cười vừa đáp.
Người khổng lồ nhích đầu lên trên hai bắp đùi của mẹ rồi đằng hắng giọng nói:
- Khu vườn ấy xưa kia là của chúng ta. Nhưng rồi một người của chúng ta đem bán  cho tổ tiên của vua thành Kha-Lép, con không biết lý do tại sao lại bán. Từ lâu lắm rồi, chúng con đã cố mua lại, đề nghị đổi cả một số tiền vàng thật lớn, nhưng các vua ở đấy không chịu đổi. Cuối cùng, các thần nhất trí chọn một hung thần đến yếm bùa khu vườn ấy để cây không ra quả ngọc nữa và tối đến ai ra đấy sẽ bị giết chết.
- Thế hung thần ấy ở đâu?
- Xa lắm, không ai đến được đâu.
- Chính xác là ở đâu? - bà mẹ hỏi lại.
- Ở trong không gian, ngoài tầm mắt của các thần và lại còn ngoài tầm mắt của con người nữa. Ông ta sống trong một hòn đảo chung quanh có bảy biển. Trong lâu đài của mình, ông ta nhốt nàng Bua-Đua (Boudour), người đẹp nhất thế giới.
Bà khổng lồ đã nắm được đầy đủ thông tin rồi, bèn mở bàn tay ra và hà hơi vào hạt lựu. Xalayden hiện ra. Người khổng lồ vụt đứng dậy, như sẵn sàng nhào vào chàng ăn tươi nuốt sống, nhưng bà mẹ đã ngăn hắn lại.
- Đừng, con không ăn hắn được đâu! Người này là em con, hắn đã bú sữa của ta. Hơn nữa, hắn đã có ba sợi tóc bạc của con! Con phải giúp hắn tìm ra hung thần đã yếm bùa khu vườn cây trái ngọc.
- Không thể được! - người khổng lồ phản đối - Hòn đảo của ông ta được một vị thần biển mạnh hơn con bảo vệ và hai bên cửa vào lâu đài có hai con sư tử thật dữ canh gác, chúng sẽ vồ bắt bất cứ kẻ nào định vào trong!
- Còn ai làm việc trong lâu đài nữa?! - Xalayden ranh mãnh hỏi - Họ đi lại như thế nào?
- Một sợi dây buộc trên cửa vào, đung đưa đều đặn từ trước ra sau, ở giữa là hai con sư tử, nhưng vào được lâu đài rất khó.
- Khó hay không, tôi cũng muốn gặp người đàn bà đẹp đang bị nhốt trong đó.
- Không thể được! Bua-Đua bị một con ngựa canh giữ, nó tuân theo lệnh của một ác thần. Ai đến gần nàng Bua-Đua thì sẽ bị nó giết chết ngay.
Nhưng Xalayden nhất quyết ra đi nên người khổng lồ phải nhượng bộ.
- Ta sẽ đưa ngươi đi và cố hết sức để giúp, nhưng ngươi phải tự mình qua biển thứ bảy đấy!
- Được rồi! - chàng đáp, lòng đầy hy vọng.
Bà khổng lồ gật đầu, rồi đưa cho chàng cái bật lửa.
- Nếu gặp trường hợp khó khăn mà không biết làm sao, con bật nó lên và đốt một sợi tóc bạc rồi gọi ta đến giúp. Ta sẽ nghe con gọi.
Rồi bà nói tiếp:
- Hãy đeo cái nhẫn này vào ngón tay. Từ rày về sau, linh hồn con sẽ trong chiếc nhẫn này. Nếu làm mất nó, mạng con sẽ không còn! Con nhìn này, ta cũng đeo một chiếc giống con. Khi con gặp chuyện nguy hiểm, chiếc nhẫn này sẽ thắt vào ngón tay ta và thế là ta biết con đang cần ta.
Bà nói xong, hoàng tử chưa kịp cám ơn thì người con khổng lồ của bà đã nắm chàng bay lên không.
Bỗng người khổng lồ hỏi chàng:
- Trên cao này nhìn xuống trái đất, nó giống cái gì?
- Giống cái dĩa.
- Còn bây giờ? - người khổng lồ hỏi lại khi họ đã lên cao hơn.
- Giống cái rây.
- Thế bây giờ?
- Tròn như quả bóng. Không, như cái trứng gà. Có thể nói giống đồng xu. Chỉ là hạt bụi! - hoàng tử ngạc nhiên reo lên.
Rồi nhiều giờ trôi qua, Xalayden không thấy trái đất nữa. Bỗng người khổng lồ cất tiếng nói, phá tan bầu không khí yên lặng.
- Khi cậu đến lâu đài rồi, hãy ném cho hai con sư tử hai con dê. Và lúc chúng đang bận ăn thịt dê, cậu hãy lấy sợi dây xích để đu vào trong. Chạy đến phòng của nàng Bua-Đua. Nàng ngủ trên giường, mái tóc đẹp xõa trên gối. Cậu đến gần, quấn một túm tóc của nàng vào cổ tay cậu, rồi lôi mạnh! Công chúa sẽ la lớn rồi thức dậy. Nàng không nhúc nhích được nên sẽ van cậu thương hại mà tha cho. Nhưng đừng vội thả! Phải đợi đến khi nào nàng thề có con ngựa chứng kiến rằng nàng sẽ lấy cậu mới thôi. Lời hứa này sẽ làm bùa phép ở con ngựa mất hết tác dụng nên nó  sẽ không thể làm hại cậu được.
Xalayden níu vào lưng của người khổng lồ, lắng nghe những lời của ông ta dặn dò. Bỗng chàng ngước mắt nhìn lên rồi hỏi:
- Đám khói ấy là cái gì thế?
- Đấy là vòm trời thứ nhất. Đấng A La tạo hóa đã để ở đấy nhiều tinh cầu và ngôi sao. Ngai của ngài ở tầng thứ bảy, nhưng không một vị thần nào có thể bay lên tận đấy được. Bây giờ hãy nhìn xuống đi! Cậu có thấy dải màu đen nổi bọt kia không?
- Thấy!
- Chúng ta đã đến trước biển thứ bảy rồi đấy. Ta sẽ để cậu ở trên bờ, vì ta không thể bay trên sóng mà cũng không thể lội dưới nước được. Cậu phải tự mình xoay sở lấy.
- Nhưng....tôi biết tìm ở đâu ra hai con dê để ném cho sư tử đây.
- Ta sẽ mang lại cho cậu ngay.
Người khổng lồ đáp, rồi để chàng trên bãi cát. Đất rung chuyển, người khổng lồ biến mất một chút rồi quay lại, trên tay cầm hai con dê đực. Ông ta nói nho nhỏ cái gì đấy bên tai hai con dê, chúng liền nhảy xuống nước bơi đi. Xalayden chào người khổng lồ rồi nhảy xuống nước lạnh lội theo hai con dê.
Đảo thật xa, mặc dù Xalayden là người lội giỏi, nhưng chàng cũng thấy hai cánh tay tê cứng. Cuối cùng, chàng đến bên  bờ, nằm dài trên cát nghỉ một chút cho lại sức, rồi đứng dậy đi đến lâu đài.
Hai con sư tử nhảy đến hai con dê. Thừa lúc chúng không để ý, chàng lấy sợi dây đu nhảy qua hàng rào, bước lên những bậc thang bằng đá cẩm thạch, đi qua nhiều phòng trên một tầng khác và cuối cùng đến được phòng của Bua-Đua. Công chúa còn đẹp hơn chàng tưởng tượng nữa. Chàng rón rén đi vòng quanh con ngựa đang ngủ cạnh cửa sổ, đến bên nàng. Chàng quấn một mớ tóc của nàng quanh cổ tay mình rồi lôi mạnh. Công chúa la lên đau đớn và mở đôi mắt đẹp ra. Xalayden nhìn chằm chằm vào mắt nàng và với ánh mắt chế ngự, chàng nói nho nhỏ:
Mặt em như ánh trăng mơ màng
Mắt em đen lóng lánh như hươu non.
Như cây sậy trước gió tấm thân thon,
Đôi lông mày cong như cung A rập.
Mái tóc đen tuyền xõa xuống hai vai,
In hình trong ánh sáng buổi sớm mai.
[align=left]Hỡi nàng Bua-Đua, lấy anh nhé, anh trung thành mãi mãi bên em!!
- Vâng, - công chúa đáp, cười với Xalayden.
- Anh không tin! - chàng đáp, kéo mạnh tóc nàng lần nữa. Hãy thề trước mặt con ngựa rằng em sẽ lấy anh!
Công chúa nghiến răng vì đau đớn, nhưng vẫn không nói gì. Xalayden lại kéo mạnh thêm.
- Em xin thề trước mặt con ngựa của em! - cuối cùng nàng nói nho nhỏ, hai mắt đẫm lệ.
Con ngựa bỗng hí lên một tiếng vui vẻ. Ác thần đã hết uy quyền với nó và với cô chủ của nó. Xalayden trìu mến nhìn nàng công chúa xinh đẹp đã được giải thoát, chàng nhẹ nhàng thả mớ tóc nàng ra khỏi cổ tay chàng.
- Làm sao chúng ta ra khỏi lâu đài này? - nàng hỏi - Có một ác thần canh giữ lâu đài.
Ngay lúc ấy, hoàng tử nghe có tiếng chân nện thình thịch trên hành lang. Rồi chàng nghe tiếng bà khổng lồ xa xa vọng lại.
- Chiếc nhẫn thắt ngón tay ta, nguy hiểm khủng khiếp sắp xảy đến. Con trai ta ơi, hãy đốt sợi tóc bạc thứ nhất nhanh lên!
Hoàng tử bật lửa, đốt sợi tóc bạc thứ nhất. Một tấm thảm bay hiện ra. Xalayden, Bua-Đua và con ngựa nhảy lên thảm, biến mất qua cửa sổ.
Họ bay qua bảy biển. Nhưng ác thần của lâu đài đuổi theo, một con rắn lớn quấn bên tay phải của lão. Lão bay rất nhanh, nhanh đến nỗi Xalayden chưa kịp bật cái bật lửa thì lão đã đuổi kịp họ rồi. Con quái vật thả con rắn lên tấm thảm, và lão chiếm lấy nàng công chúa xinh đẹp. Con rắn rít lên, ngẩng đầu và thè cái lưỡi độc ra. Con ngựa chồm lên, nhảy tới trước hoàng tử để bảo vệ chàng. Xalayden cố bật cái bật lửa và đốt sợi tóc bạc thứ hai. Bỗng trong tay chàng hiện ra cái cung và những mũi tên vàng. Hoàng tử lắp tên vào cung, bắn một mũi tên xuyên qua thân hình con rắn. Chàng tiếp tục đuổi theo, lắp mũi tên vàng thứ hai, bắn trúng tim lão ác thần. Lão thả công chúa ra, hoàng tử đón lấy nàng.
- Chúng ta đi đâu, hoàng tử? - Bua-Đua hỏi.
- Đi đến thành phố Kha-Lép, vua cha anh đang ở đó. Ngài sẽ rất sung sướng khi thấy hai ta và chúng ta sẽ làm đám cưới!!
Tấm thảm hạ xuống, mặt đất hiện ra như hạt bụi, rồi như đồng xu, rồi như cái đĩa. Cuối cùng, thành phố Kha-Lép hiện ra. Nhưng thành phố đã bị kẻ thù bao vây. Rất nhiều kỵ sĩ gươm cầm tay, tấn công vào thành lũy. Lính bộ binh dùng máy phá cửa thành và một toán quân đã vào được trong thành. Chúng phá phách khắp nơi, gieo rắc tang tóc. Xalayden ngồi trên thảm cao nhìn xuống, cảnh tượng trước mắt làm cho chàng hoảng hốt. Chàng đốt sợi tóc bạc thứ ba, một lưỡi gươm thần lóng lánh muôn màu dưới ánh mặt trời. Nó vuột khỏi tay Xalayden, bay đến chặt đầu kẻ thù. Những kẻ xâm lược khiếp đảm, vắt giò lên cổ mà chạy toán loạn.
Dân chúng hoan hô hoàng tử vì chàng là người đã tạo ra chiến thắng vẻ vang này.
Xalayden cầm tay Bua-Đua đi vào hoàng thành. Nhà vua đang nằm dài trên giường, mặt mày nhợt nhạt, đôi mắt thất thần. Thấy con trai út trở về, nước mắt sung sướng chảy xuống hai má ngài. Xalayden nhào vào vòng tay cha và nhà vua lại thấy ham sống. Ngay hôm sau, người ta tổ chức đám cưới cho hoàng tử Xalayden và công chúa Bua-Đua xinh đẹp. Đám cưới kéo dài bảy ngày đêm.
Xalayden muốn tặng lại vườn cây trái ngọc cho các phúc thần, nhưng các thần không nhận. Tối nào, chàng cũng cùng vợ dạo chơi ngoài vườn.
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
Ba Điều Ước

Ngày xưa có một nông dân rất nghèo, gia sản duy nhất của anh là một con lừa. Con vật rất lười biếng, và khổ thay là anh không thể cưỡi được vì con vật quá bé. Bé đến nỗi khi anh leo lên ngồi trên lưng nó, hai chân anh chạm đất.
Một hôm, khi anh đang khổ sở cưỡi con lừa trên đường, thì gặp một ông già. Ông ta hỏi anh:
- Anh có gì uống không? Tôi khát quá!
- Có chứ!
Người nông dân đáp rồi đưa bình nước cho ông già.
- Nhưng nếu tôi uống thì chắc anh sẽ không còn gì để uống cả. Bình nước của anh cũng gần hết rồi.
- Ông đừng sợ! Tôi không khát đâu.
Ông già uống xong, lau mấy giọt nước còn dính trên bộ râu dài, đưa mắt chăm chú nhìn anh nông dân.
- Cám ơn! Anh đã rất tốt với ta. Ta sẽ thực hiện cho anh ba điều ước, vì ta không phải là người thường, mà là thần.
Quá đỗi vui mừng, anh nông dân bèn suy nghĩ. Vừa nghĩ, anh vừa nhìn con lừa, miệng lẩm bẩm:
- Giá mà nó đừng bé tí và biếng nhác mà to lớn và bạo dạn như những con lừa khác nhỉ!
Ý nghĩ vừa nảy ra trong óc anh, con lừa đã lớn lên liền, lớn bằng cả con lạc đà. Nó nhảy, nó đá hậu lung tung và cuối cùng đá anh một phát.
- Giá mà con lừa chết tiệt khó trị này biến mất đi nhỉ! - Anh nông dân giận dữ la lên. Con lừa biến mất.
Thấy lừa biến mất, anh ta lại khóc:
- Bây giờ làm sao đi đây?! Giá mà tôi tìm lại được con lừa bé tí biếng nhác kia!
Con lừa lại hiện ra.
- Mày đấy à?! - người nông dân nói  - Tao đã ước hết ba điều ước rồi, nhưng tao rất vui khi tìm lại được mày.
Đăng nhập để trả lời
0
Những Chuyến Phiêu Lưu của Hà-San, Vị Hoàng Tử Sinh Ra Dưới Ngôi Sao Xấu

Ngày xưa, gần vương quốc của các vị thần sa mạc, có một ông vua rất bất hạnh vì không có con. Ngài đã chấp nhận cảnh chết không có con nối dõi, thì bỗng vợ ngài hạ sinh một hoàng tử. Ngài đặt tên con là Hà-San (Hasan). Đức vua nhìn đứa bé sơ sinh, lòng tràn đầy hy vọng, rồi ngài cho mời vị đạo sĩ danh tiếng nhất nước đến để chấm số tử vi cho hoàng tử.
Nhà thông thái lắc đầu rồi nói nho nhỏ:
- Thưa hoàng thượng, tôi rất buồn phải thưa với ngài rằng sao chiếu mệnh của hoàng tử không được tốt. Chàng sẽ phải chiến đấu chống lại các ác thần và chống lại những kẻ luôn luôn tìm cách ám hại mình. Chống lại sự phản bội và âm mưu quỉ quyệt là một việc rất khó khăn.
- Nhưng nó có thắng được kẻ thù không?! - nhà vua lo lắng hỏi ngang.
- Tôi không thể trả lời được. Tương lai của con ngài là một điều bí ẩn rất khó hiểu, chỉ có Đấng A La, đấng toàn năng mới biết được thôi.
- Ta sẽ bảo vệ nó! Ta sẽ canh chừng để cho con trai duy nhất của ta lớn lên trong bình an.
Nhà vua cho xây một lâu đài trong sa mạc, trên một ngọn núi cao, để giấu con trai ở đấy. Ngài cho nhiều tôi tớ trung thành chăm sóc, cử đến những người lính can đảm nhất, và ra lệnh cho họ phải canh giữ hoàng tử cẩn thận như chăm sóc con ngươi của mắt mình vậy.
Ngài cho xây phòng tắm bằng đá cẩm thạch, lập vườn hoa, vườn cây cho hoàng tử quên đi cảnh tù túng.
Hoàng tử Hà-San lớn lên trong nhà tù sang trọng, đầy đủ tiện nghi nhưng buồn chán, không biết là ngoài kia có một thế giới khác đa dạng hơn.
Ngay lúc còn bé bỏng thơ ngây, hoàng tử đã có thói quen leo lên mái lâu đài chơi. Ở trên cao này, hoàng tử nhìn cảnh sa mạc trải dài mênh mông bát ngát trước mắt. Cậu thích nhìn cảnh chân trời xa xa nơi cát vàng tiếp giáp với chân trời.
Một hôm, Hà-San sững người bất động vì kinh ngạc. Trong bầu không khí nóng bức, một thành phố vươn lên. Những tòa lâu đài trắng có mái vòm thếp vàng, những giáo đường Hồi giáo bằng đá cẩm thạch với tháp cao lấp lánh dưới ánh mặt trời. Những khu vườn đẹp đẽ trải dài theo bờ sông, con sông chảy qua thành phố, và những chiếc thuyền đa sắc lướt trên mặt nước. Xa hơn nữa, dòng sông mất hút trong vô số nhà cửa ngổng ngang, những ngôi nhà trắng có mái phẳng, những lều ván và những lán chợ. Đường sá đầy người chen chúc: đàn ông, đàn bà, trẻ con, thú vật đi lại khắp nơi. Một đoàn lạc đà dài có lính áp tải đang đến gần tường thành của thành phố.
Hoàng tử hỏi một gia nhân đang đứng cạnh mình:
- Thành phố nào mà đẹp thế nhỉ?
- Đấy là kinh thành của vương quốc chúng ta. Đấy là thành phố của cha cậu, vua của chúng tôi. Nhưng cảnh mà cậu đang nhìn đấy, chỉ là ảo giác thôi. Sa mạc đã tạo ra ảo giác ấy trước mắt mọi người hình ảnh của những thành phố xa xôi và những ốc đảo xanh tươi.
- Thế giới chắc đẹp lắm! - hoàng tử thở dài buồn bã.
Con trai nhà vua lớn lên thành một thanh niên tuấn tú. Chàng buộc lòng phải tìm hiểu nhiều điều ở thế giới bên kia sa mạc bằng cách hỏi những vị thầy và nghe những gia nhân kể lại, vì chàng không thể nào quên cảnh tượng tuyệt đẹp của thành phố hiện ra trước mắt chàng bằng ảo giác.
Một hôm, chàng hỏi cha:
- Thưa cha, tại sao cha lại nhốt con trong lâu đài này? Tất cả đều được tự do. Họ có thể đi lại, nhưng con thì cứ phải ở sau những bức tường này. Con sẽ chết vì buồn phiền mất. Con muốn đi dạo trong rừng, muốn tắm dưới hồ, dưới sông, muốn nghe chim hót. Con muốn đi tàu trên biển, câu cá, săn vịt hay săn báo, muốn nhìn con gái nhảy múa và muốn nghe họ hát những điệu du dương êm ái.
- Này con, - nhà vua đáp - bên ngoài lâu đài này có rất nhiều nguy hiểm đang rình rập con. Sao chiếu mệnh của con rất xấu, những nhà tiên tri đã nói đời con sẽ gặp nhiều khó khăn, bất trắc. Vì cha không tin chắc con có thể chiến thắng được kẻ thù, nên cha mới giữ con lại trong lâu đài.
- Con muốn biết thế giới! Con tin chắc hạnh phúc đang đợi mình. Nếu có chết đi nữa, con cũng không ân hận gì. Xin cha hãy cho con đi!!
Nhà vua xúc động trước lời cầu khẩn chân thành, nên đành nghe theo lời yêu cầu của hoàng tử.
Nhà vua cho đưa ngựa đến và từ giã con:
- Con hãy lấy thanh gươm này. Đây là gươm của vua các phúc thần. Ngài An-Dan hùng mạnh, người đã tặng thanh gươm này cho cha. Đây là vũ khí rất tuyệt vời. Nó sẽ che chở cho con, không ai có thể chống cự lại sức mạnh của lưỡi gươm này. Nó sẽ là vật bảo đảm cho linh hồn con, cho cuộc đời con.
Rồi nhà vua nói thêm:
- Nhưng nếu để thất lạc thanh gươm này, thì con chỉ còn sống được bốn mươi ngày nữa thôi.
Hà-San đi vào trong sa mạc nóng bỏng. Cuối cùng đến một ốc đảo, chàng xuống ngựa, ngồi dưới bóng một cây vả, lấy thức ăn ra. Chưa ăn được miếng nào thì một kỵ sĩ phi ngựa đến trước mặt chàng. Người này xuống ngựa, vừa nhìn lưỡi gươm của chàng với vẻ khinh khi vừa nói:
- Ngươi có muốn so tài với thanh gươm của ta không?
Hà-San đề nghị với anh ta:
- Tôi muốn anh ngồi xuống đây dùng bữa với tôi, rồi sau đó hãy hay.
Chàng tuổi trẻ xuống ngựa. Hà-San đưa thức ăn mời anh ta. Ngay lúc đó, một kỵ mã khác đi đến. Anh ta cũng muốn so gươm với  chàng. Hoàng tử lặp lại lời mời, người kỵ mã thứ hai cũng ngồi xuống bên họ.
Nhưng chàng thứ hai này vừa ngồi xuống thì lại có chàng kỵ mã thứ ba đi đến. Hoàng tử không đợi anh ta nói gì, liền đưa cho anh ta miếng thịt.
Ba người xa lạ ăn uống ngon lành, trao đổi nhau về chương trình hành động của mình. Khi đã ăn uống no nê, họ rút gươm ra khỏi vỏ, cùng nói:
- Bây giờ hãy cùng thử sức nào!
- Đừng làm thế! - Hà-San kêu lên - Các anh đã chia xẻ miếng ăn của tôi, các anh đã thành anh em của tôi rồi. Chúng ta không nên đánh nhau mà phải giúp đỡ nhau.
Ba kỵ mã nhìn nhau, thấy không thể coi thường luật nhân ái, họ bèn tra gươm vào vỏ và bắt tay với Hà-San.
- Anh là ai? - một người hỏi.
- Tôi tên là Hà-San. Các anh không nên đánh nhau với tôi, vì gươm của tôi là gươm thần, không gươm nào thắng được hết. Cha tôi là vị vua hùng mạnh của một xứ nằm giữa biển và sa mạc, đã được thần An-Dan, vua của các phúc thần tặng cho. Vì chúng ta là bạn rồi, các bạn có thể nhờ cậy vào khả năng của thanh gươm này.
- Tôi tên là A-Ma, - người lớn tuổi nhất nói - Còn hai anh này là Kha-Xim và Sa-Ríp. Chúng tôi là anh em và đến từ các thảo nguyên miền đông. Cha chúng tôi cũng là vua, ngài cũng được vua của các phúc thần giúp đỡ.
- Vậy thì các anh cũng có vũ khí thần sao?
- Có chứ! Tôi có một gương thần. Chỉ cần nhìn vào đấy là gương sẽ hiện ra những nơi tôi muốn xem. Tôi lại còn có chiếc nhẫn nữa. Khi những người tôi thương yêu gặp nguy hiểm, chiếc nhẫn sẽ thắt vào ngón tay cho đến khi cái gương chỉ cho tôi biết có chuyện gì xảy ra.
- Còn tôi, tôi có cái thảm bay - Kha-Xim hãnh diện nói - Nó sẽ đưa tôi đến nơi nào tôi muốn, ngay cả những nơi xa xôi nhất.
- Còn tôi, chẳng có gì hết, - người em út nói - nhưng tôi biết lặn. Tôi có thể lặn sau dưới đáy biển và đem lên những thứ tôi tìm ra được ở dưới đấy.

Chuyến Phiêu Lưu Đầu Tiên của Hoàng Tử Hà-San Và Ba Người Anh

[align=left]- Nào ta tiến lên! - Hà-San vui sướng reo to - Chúng ta hãy cùng nhau khám phá mặt trời đi!
Tất cả bốn người cùng lên ngựa.
Họ vượt qua núi non, băng qua đồng bằng và đến biển. Xa xa vươn lên những nóc nhà cao ngất của thành phố. Khi họ vào thành phố thì trời đã tối. Hà-San cảm thấy thất vọng vì gặp toàn những người khóc lóc thảm thiết, thở dài chán nản và những khuôn mặt vàng vọt hơn cả da trái chanh chín nữa.
- Tại sao mọi người buồn thế? - Hà-San hỏi họ.
- Chắc các anh từ xa đến nên không biết được nỗi khổ của chúng tôi. Một con cá khổng lồ đang bơi gần bờ. Mỗi buổi sáng, khi mặt trời mọc, là nó há to miệng ra, nuốt chửng mặt trời. Chúng tôi đã sống trong cảnh tối tăm triền miên như thế này một năm rồi. Không có một chút ánh sáng mặt trời để sưởi ấm hay để cho mùa màng mọc được.
- Tôi sẽ tiêu diệt con cá ấy cho các người! Hãy chuẩn bị cho tôi một chiếc thuyền, sáng mai vào lúc bình minh, tôi sẽ đi xem tình hình ra sao.
Ngày mai, khi mặt trời vừa mọc, con cá ngoi lên mặt nước. Hà-San thọc mũi kiếm vào con cá. Con quái vật bị tử thương, quẫy đuôi ác liệt trên mặt bể rồi chìm xuống đáy biển. Mặt trời lên cao, chiếu sáng cảnh vật.
Người ta mời bốn hoàng tử vào cung điện. Nhà vua đón tiếp họ rất trọng thể, và để cám ơn chàng dũng sĩ, nhà vua muốn gả người con gái độc nhất cho chàng.
- Thưa hoàng thượng, - Hà-San nhã nhặn nói - lời đề nghị của ngài quả là một vinh dự lớn cho tôi. Nhưng....tôi chưa muốn lập gia đình. Tôi còn trẻ quá. Tôi muốn biết thế giới và muốn thử thách lòng can đảm của mình. Chúng tôi là bốn anh em. Chúng tôi không có gì khác biệt nhau hết. A-Ma là người anh cả. Chắc anh ấy sẽ rất sung sướng khi được lấy con gái ngài, và rất xứng đáng để kế vị ngài. Anh ấy có một cái gương thần, anh ấy có thể nhìn vào gương để biết tôi ở đâu và có đang gặp nạn không.
Nói là làm, đám cưới của A-Ma với công chúa kéo dài thật lâu vì mặt trời chưa lặn.
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
Chuyến Phiêu Lưu Thứ Hai của Hoàng Tử Hà-San

Hà-San và hai anh lại tiếp tục lên đường. Qua nhiều ngọn đồi hoang vắng, qua nhiều thung lũng phì nhiêu rồi đến một thành phố phủ toàn vải đen như đang để tang. Hoàng tử hỏi lý do và được biết rằng có một ác thần bịt nguồn nước chảy vào thành phố, nếu buổi sáng người ta không dâng cho hắn một cô gái để lấy làm vợ.
Dân trong thành phố nói nhỏ với chàng:
- Hôm nay đến phiên con gái của nhà vua.
Hoàng tử bảo họ:
- Hãy cho tôi biết con quái vật ở đâu, tôi sẽ diệt nó cho!!
Hà-San ra đi, đến trước động con quái vật. Chàng thoáng thấy công chúa, gương mặt nhợt nhạt hơn cả ngọc đeo trên cổ và nàng không cầm được nước mắt.
- Ta đến giải thoát cho nàng đây! - Hà-San nói - Nhưng nàng phải làm sao cho con quỷ ra khỏi động. Khi nó thò đầu ra, ta sẽ chặt đầu nó ngay!!
Ngay khi ấy, con quái vật cất tiếng khàn khàn, gay gắt gọi:
- Em yêu ơi, hãy vào động đi! Ta đang đợi em đây!
Công chúa nhìn Hà-San, thở dài. Nàng cất giọng run run trả lời:
- Không được! Ngươi phải ra đây đón ta.
- Câm mồm đi, hãy làm như các cô gái khác! - ác thần giận dữ ra lệnh.
- Tôi không giống những cô gái khác, tôi là con vua! - nàng cương quyết đáp.
Quái vật giận dữ bước ra khỏi động. Ngay tức khắc, lưỡi kiếm thần của Hà-San bổ xuống cổ hắn, cái đầu gớm giếc lăn xuống đất.
Công chúa vui mừng, chạy về tìm cha.
Một lát sau, khăn tang trong thành phố được cất hết. Nhà vua đề nghị gả con gái cho hoàng tử để cám ơn chàng đã có công cứu thoát thần dân của ngài. Nhưng Hà-San lễ phép thưa với nhà vua:
- Thưa hoàng thượng, tôi rất cảm động trước lời đề nghị của ngài, nhưng tôi chưa muốn lấy vợ. Tôi muốn biết thế giới và muốn thử thách lòng can đảm của mình. Chúng tôi là ba anh em, giữa chúng tôi không có gì khác nhau hết. Kha-Xim sẽ rất sung sướng khi được cưới con gái ngài và cũng rất xứng đáng tiếp tục sự nghiệp của ngài. Anh ấy có tấm thảm thần và sẽ bay đến tìm tôi nếu một ngày nào đó tôi gặp phải cảnh nguy nan.
Nhà vua gả con gái cho hoàng tử Kha-Xim.

Chuyến Phiêu Lưu Thứ Ba của Hoàng Tử Hà-San

[align=left]Ra đi được mấy ngày, hai hoàng tử đến một thành phố lớn nằm trên bờ biển. Cư dân bỏ chạy tán loạn ta thán. Có người chất của cải lên lưng lừa và lạc đà để chạy ra trốn ngoài thảo nguyên. Nhà cửa hoang vắng, hư hao, vườn tược bỏ hoang, máy xay gió gãy cánh.
Hà-San hỏi một ông già:
- Có chuyện gì xảy ra thế cụ?
Cụ già chảy nước mắt đáp:
- Đại hoạ đã xảy đến cho chúng tôi. Một con rồng rất hung dữ ở gần đây. Ban đêm thì nó nghỉ dưới biển, nhưng khi trời vừa sáng là nó bay lên thành phố, khạc lửa thêu huỷ tất cả những gì trên đường bay của nó.
- Tôi sẽ giết con quái vật này!
Sáng hôm sau chàng đứng đợi con rồng trên tường thành. Khi con rồng bay đến gần, chàng đâm lưỡi gươm vào nó. Mọi người đều hoan hô chàng vì đã cứu thành phố ra khỏi cảnh khổ đau. Nhà vua đề nghị gả con gái và nhường ngôi cho Hà-San.
- Thưa hoàng thượng, - chàng lịch sự nói với vua - đề nghị của ngài thật làm cho tôi sung sướng vô cùng. Nhưng tôi chưa muốn lấy vợ. Tôi muốn được đi phiêu lưu, muốn biết thế giới và giúp ích cho đời. Anh Sa-Ríp của tôi chắc sẽ sung sướng khi được kết duyên cùng công chúa và nối ngôi của ngài. Tôi tin chắc anh ấy sẽ cai trị đất nước ngài rất giỏi. Anh ấy có thiên tài đặc biệt là có thể lặn sâu dưới đáy biển.
Hôm sau, người ta ăn mừng đám cưới của Sa-Ríp với công chúa. Hà-San chúc hai người được trăm năm hạnh phúc, rồi lên đường ra thảo nguyên, hướng về phía đông, nơi bắt đầu đế quốc mênh mông của nước Trung Hoa.
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
Chuyện Hoàng Tử Hà-San Giải Thoát Công Chúa Trung Hoa Ra Sao

Ở cổng thành của thủ đô đế quốc Trung Hoa, người ta có xây một chiếc cột bằng đá cẩm thạch khổng lồ. Hà-San ngạc nhiên nhất là khi thấy hai thanh niên ướt đẫm mồ hôi và rõ ràng đã gần kiệt sức, lấy gươm chém không ngừng vào cái cột. Hà-San dừng ngựa đứng xem. Hai người chém đến độ gãy lưỡi kiếm, rồi họ lại lấy lưỡi gươm khác và lảo đảo đến bên cây cột để chém tiếp.
Hà-San không nhịn được cười, vì chuyện quá vô nghĩa.
- Này người khách lạ, tại sao anh lại cười?! - hai thanh niên hỏi. - Chúng tôi không đến đây để giúp vui cho khách qua đường đâu.
- Tại sao các anh lại ở đây? Và vì sao các anh lại chém cái cột này cho đến gãy kiếm như thế? Trông b uồn cười quá!
Hai thanh niên nhìn Hà-San, rồi sau một hồi ngần ngừ, một người lên tiếng nói:
- Con gái duy nhất của hoàng đế Trung Hoa hùng mạnh bị nhốt trong cái cột này. Cha nàng muốn bảo vệ nàng khỏi tay ông vua già của xứ Ba Tư, ông này muốn lấy nàng để tìm lại tuổi thanh xuân đã mất.
- Thế vua Ba Tư bao nhiêu tuổi?
- Tám mươi tuổi. Các thầy pháp đã cho ông ta biết rằng nếu lấy được công chúa, ông ta sẽ trở lại tuổi hai mươi.
- Còn nàng thì sao?
- Nàng rất đẹp! - hai thanh niên đồng thanh đáp - Răng của nàng như ngọc, nụ cười tinh khiết thơ ngây hơn cả bé sơ sinh. Hoàng đế nói rằng ai giải thoát được nàng ra khỏi nhà tù đá cẩm thạch này thì sẽ được sánh duyên cùng nàng, vì chỉ có người như thế mới bảo vệ được nàng thoát khỏi bàn tay độc ác của vua Ba Tư.
Nói xong, hai thanh niên lại chém tiếp, cho đến khi kiệt sức. Sau khi không làm gì được nữa, họ thất vọng bỏ về nhà.
Còn lại một mình, Hà-San tuốt gươm thần ra và chém vào chiếc cột. Nhưng cột vẫn không nhúc nhích. Chàng bèn nắm gương trong hai tay, chém mạnh vào cột. Vài mảnh đá cẩm thạch văng ra, rồi thình lình cái cột vỡ làm hai. Công chúa hiện ra. Nàng ngồi trên chiếc ghế vàng, xung quanh để nhiều đĩa bạc chất đầy thức ăn, sách vở và đồ thêu. Nàng rất duyên dáng trong chiếc áo dài màu xanh da trời. Sắc đẹp của nàng thật rực rỡ.
- Rất mừng được gặp anh! - nàng tươi cười nói với Hà-San - Đến ngồi bên em đi, ăn và uống để lấy lại sức. Rồi chúng ta sẽ về hoàng cung để làm đám cưới.
Hoàng đế vui mừng đón hai người. Ngài nói với Hà-San:
- Con thật đáng khen vì đã làm vỡ được cột đá, rất xứng làm chồng con gái ta. Nó là báu vật của ta, ta giao nó cho con đấy, vì chỉ có con mới che chở, bảo vệ nó khỏi vua Ba Tư được.
- Dạ, nhưng muốn được thế, ta phải xây một tòa lâu đài ở giữa biển, không có cửa lớn hay cửa sổ gì hết. Công chúa và con sẽ dùng sợi dây làm thang để vượt qua tường thành mà vào.
Một tháng sau, giữa sóng biển hiện lên một tòa lâu đài đẹp lộng lẫy nhưng không một ai đến gần được. Mỗi buổi sáng, Hà-San xuống thang dây để đi câu. Buổi tối, khi trở về, chàng gọi vợ, nàng ném thang dây để chàng leo lên.

Vua Ba Tư Chiếm Được Công Chúa Trung Hoa Ra Sao

[align=left]Một số ác thần cho vua Ba Tư biết ở giữa biển có một tòa lâu đài và hiện nàng công chúa Trung Hoa đang sống ở đấy. Họ cũng nói cho lão ta biết về Hà-San, chồng nàng, và chiếc gươm thần.
Vua Ba Tư ngẫm nghĩ một hồi và tìm ra cách để chiếm công chúa. Lão ta cho đào một đường hầm dưới biển, cho lính canh gác dưới ấy, rồi phái một bà già mưu mô thâm hiểm đến lâu đài.
Một hôm, công chúa đang dạo chơi trên sân thượng thì thấy bà già ở phía dưới. Nàng ngạc nhiên hỏi:
- Làm sao bà đến đây được?
Bà già thổn thức đáp:
- Tôi đi trên một chiếc tàu để đến La-Méc hành hương. Tàu thả neo. Trước khi lên bờ để cầu nguyện, tôi đã dặn ông thuyền trưởng đợi, nhưng tôi cầu nguyện xong thì tàu đã nhổ neo và tôi ở lại một mình trên đảo này.
Công chúa thương tình bèn nói với bà già:
- Chắc bà mệt và đói. Hãy vào nhà tôi mà nghỉ ngơi.
Quên phứt lời căn dặn của Hà-San, nàng ném thang dây qua tường thành xuống cho bà già leo vào nhà. Sau khi đã ăn uống no nê, bà già nói:
- Xin Đấng A La ban phước lành cho cô.
Bỗng bà già đưa mắt nhìn quanh nhà rồi hỏi công chúa:
- Cô có chồng rồi chứ?
- Rồi, chồng tôi giờ đang ở ngoài biển. Chàng đi câu cá. Chàng rất tốt và can đảm.
- Tốt! Người chồng như thế đáng được chăm sóc chu đáo! Để tôi dọn dẹp nhà cửa cho!
Bà già đi quét nhà, lau bụi, chùi nền nhà và đánh bóng đồ đạc, bàn ghế. Một lát sau, nhà cửa đã sạch bóng. Công chúa rất vui. Bà già nhìn công chúa từ đầu đến chân rồi nói:
- Cô cũng thế, cô phải chăm sóc dung nhan của mình cho đẹp. Hãy cởi áo quần ra, tôi sẽ tắm nước hoa hồng cho. Xổ tóc ra, tôi chải bới lại cho, rồi xức nước hoa cho thơm. Có thể cô mới xứng là vợ của người chồng can đảm chứ.
Công chúa vâng lời, rồi tươi mát như đóa hoa hồng dưới sương, nàng chờ chồng về.
Đến tối, Hà-San về. Chàng rất sung sướng thấy vợ đẹp lộng lẫy hơn bao giờ hết. Chàng chạy đến hôn vợ. Bỗng chàng khựng lại khi thấy có bà già đứng gần đấy.
- Xin chào! - bà già nhã nhặn nói - Ông đưa cá đây để tôi đi làm thức ăn tối.
Sau đó bà ta đi xuống bếp.
Hà-San ngơ ngác nhìn vợ:
- Anh đã bảo là không được cho ai vào nhà kia mà?!
- Đúng, nhưng bà già này rất tốt. Chắc bà ấy không làm điều gì hại ta đâu.
Mười lăm ngày trôi qua, bà già biết hết các ngóc ngách trong lâu đài và nhớ hết tất cả các thói quen của đôi vợ chồng trẻ.
Một hôm, thừa lúc Hà-San đi vắng, bà ta hỏi công chúa:
- Cô có biết linh hồn chồng mình nằm ở đâu không?
- Linh hồn của chồng tôi à? Linh hồn chồng tôi thì có gì khác với những người khác?
- Này cô, tôi biết coi tướng số. Chồng cô không giống người bình thường đâu. Anh ấy có những năng lực mà chúng ta không có. Cô thử hỏi xem sức mạnh của anh ấy nằm ở đâu, vì yêu cô, anh ấy sẽ nói cho cô biết.
Khi Ha-San đi câu về, công chúa nép mình vào lòng chàng:
- Linh hồn của anh như thế nào?
- Hỏi mới lạ làm sao! Linh hồn anh thì cũng như mọi người thôi!
- Em không tin....- công chúa cứ năn nỉ chàng nói.
- Ai làm cho em có ý nghĩ ấy trong đầu thế? - hoàng tử hỏi, nhìn vợ với vẻ lo âu.
- Không có ai hết. Em chỉ biết linh hồn của anh không giống bao kẻ khác và em muốn biết nó khác như thế nào.
- Thôi được. Vì em muốn biết, thì đây, linh hồn của anh ở trong cái chổi dựa bên tường kia kìa! - Hà-San nói vừa làm ra vẻ rất nghiêm trang, và công chúa tưởng thật.
Hôm sau, bà già thấy công chúa vuốt ve cái chổi, bà ta nói:
- Tại sao cô lại vuốt vẻ cái chổi thế? Cô điên rồi à?
- Tôi ôm hôn linh hồn của chồng tôi. - công chúa vui vẻ đáp.
- Chồng cô đùa với cô rồi!
- Không! Anh ấy không bao giờ nói dối tôi đâu! Nếu anh ấy đã nói linh hồn anh ở trong cái chổi, là nó ở trong cái chổi!
- Này cô, lần này anh ấy lừa cô rồi! - bà già cười khẩy.
Công chúa tái mặt; người chồng thân yêu của nàng đã đùa nàng! Nàng giận dữ bẻ cái chổi làm hai, ném xuống biển. Rồi nghĩ cách trả đũa, nàng đi nằm, đợi chồng về.
- Em bệnh à?
- Bệnh! Em bệnh vì anh đã nói láo với em! Linh hồn anh không ở trong cái chổi ấy! Nói thật với em đi!
Hà-San nhìn vợ, lòng lo buồn, chàng đưa tay vuốt ve nàng.
- Linh hồn anh ở trong tấm gương soi treo trên tường phòng ngủ của chúng ta. - chàng lại nói dối lần nữa.
Ngày hôm sau, công chúa tháo tấm gương soi xuống, lau chùi khung kính sơn son thếp vàng, rồi áp vào ngực, hôn hít tấm gương.
- Coi chừng kẻo cô lại bị rách mặt đấy! - bà già nói.
- Làm sao chồng tôi lại hại tôi được! Công chúa hãnh diện đáp. - Tôi ôm linh hồng chồng mình vào lòng mà!
Bà già phá ra cười:
- Chồng cô lại nhạo báng cô nữa rồi! Cô tin linh hồn anh ấy lại giấu trong tấm gương mảnh mai như thế sao? Anh ấy lại nói láo với cô rồi, vì anh ta không yêu cô.
Công chúa xanh mặt, rồi quá giận, nàng ném cái gương đẹp vỡ thành ngàn mảnh. Nàng đi quanh căn phòng rộng lớn, suy nghĩ cách trả đũa. Khi chàng đi câu về, nàng nói:
- Anh vẫn nói láo với em! Hãy nói thật đi, nếu không, em sẽ tin là anh không yêu em.
Hà-San buồn bã nhìn vợ, chàng thở dài:
- Anh không muốn mất tình yêu của em. Anh sẽ nói thật cho em biết linh hồn mình ở đâu, nhưng em không được để cho ai biết chuyện này hết. Đời anh sẽ nguy hiểm lắm. Linh hồn anh ở trong lưỡi kiếm này. Chính vì thế mà anh không bao giờ rời nó ra.
Công chúa nhào vào hai cánh tay của chồng.
- Anh yêu em thật chứ?
- Em không tin sao?!
- Tại sao hôm nay cô không vuốt ve cái gì hết thế?! - bà già ngạc nhiên hỏi - Cô có vẻ sung sướng. Chồng cô đã nói cho cô biết bí mật rồi chứ?!
- Đương nhiên! - công chúa hãnh diện đáp - Linh hồn của anh ấy ở trong thanh gươmg của anh, vì thế mà anh ấy không bao giờ rời nói. Ngay cả ban đêm, anh ấy cũng để cây gươm ở trên giường giữa hai chúng tôi.
Bà già đã tìm kiếm khắp nơi, đêm nào cũng lục lọi xem xét tỉ mỉ, nhưng không sao tìm được thanh gươm. Bây giờ bà ta đã biết nó nằm ở đâu rồi.
Bà ta đợi cho đến khuya, khi hai vợ chồng đã ngủ say, mới rón rén vào phòng họ, đến bên giường, rồi nhanh như cắt, bà ta chụp lấy thanh gươm ném xuống biển.
Thanh gươm chao qua chao lại trên mặt nước rồi chìm xuống đáy biển sâu.
Ngay khi ấy, hoàng tử thở dài một tiếng rồi mở mắt ra. Chàng hoảng hốt thấy bà già nắm lấy tóc của công chúa không một chút nể nang, lôi nàng ra khỏi giường. Nhưng chàng không còn sức lực để có thể bảo vệ người yêu của mình. Chàng bất tỉnh, nằm gục đầu bên gối.
- Hà-San, dậy đi! Dậy đi! - công chúa khiếp đảm la lên.
- Chồng cô chết rồi! - bà già đáp, vẻ rất độc ác. Đáng ra cô đừng tiết lộ bí mật của chàng kia! Nào, đứng lên, đi theo tôi! Vua Ba Tư đang đợi cô!
Mụ ta nắm tóc nàng kéo đi ra tận thành lâu đài rồi gọi lính đang đứng canh ở cổng vào đường hầm. Mụ ta ném dây thang cho họ. Bọn lính nắm lấy công chúa, dẫn nàng về lâu đài. Đến nơi, chúng đẩy nàng xuống chân của vua Ba Tư. Công chúa luôn luôn chống trả, đánh đấm, cắn xé, cào cấu, và la hét không ngừng.
Nhà vua chán nản. Lão nói:
- Ta phải lấy con điên này sao? Nhốt nó vào trong lâu đài trên đỉnh núi để cho nó bình tĩnh lại rồi hãy hay.
Ba mươi chín ngày trôi qua. Công chúa luôn luôn la hét và không ai dám đến gần.

[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
Nguyện Vọng Của Hai Anh Em Muốn Cưới Vợ Một Ngày

Khi quan tể tướng già chết, vua xứ Xi-Ri bèn gọi hai con trai của ông ta là Áp-Đu-La-Típ (Abdullatif) và Áp-Đuya-Ra-Man (Abddurrahman), giao cho họ trách nhiệm lo việc nước thay cha. Hai anh em quá xúc động trước lòng tin yêu của nhà vua, họ kính cẩn nghiêng mình, rồi cùng ra vườn thượng uyển để chuyện trò một lát. Người anh nói với em:
- Bây giờ đã có sự nghiệp rồi, chúng ta phải tính chuyện lấy vợ chứ?
- Phải! Chúng ta tìm người yêu đi, rồi sẽ cùng nhau cưới một ngày.
- Có lẽ chúng ta sẽ có con một lần đấy... Nếu tôi có con trai và chú có con gái thì tuyệt.
- Và giá chúng nó ra đời một lần thì tuyệt nữa!
- Rồi sau đó chúng ta sẽ cho hai trẻ lấy nhau.
- Thế thì quá kỳ diệu!!
Bỗng Áp-Đu-La-Típ hỏi:
- Chú sẽ trả cho con gái tôi bao nhiêu?! Ít ra cũng phải ba ngàn quan, phải không?
- Không trả gì hết! Chúng ta là anh em mà. Tôi nghĩ anh phải tặng con gái anh cho con trai tôi chứ?!
- Tôi không nhất trí với chú!! - người anh cất cao giọng đáp.
Thế là câu chuyện ôn hòa dưới bóng cây trở nên cuộc cãi vã dữ dội. Hai anh em trách móc nhau đủ thứ chuyện không đâu vào đâu hết, rồi họ chia tay, giận nhau.
Suốt đêm hôm đó, Áp-Đuya-Ra-Man không ngủ được. Chàng vừa giận vừa buồn đến ngột ngạt cả người. Chàng thấy xấu hổ vì đã cãi cọ với anh trai như thế. Đến sáng, chàng đóng yên cương lên con lừa. Tôi tớ hỏi chàng, họ có phải đi theo không. Chàng đáp:
- Không, tôi cần đi một mình. Tôi buồn quá!
Chàng ra khỏi thành và đi thẳng tới trước.
Nhiều ngày sau, chàng đến thành phố Ít-Tăng-Bun (Istanbul) rộng mênh mông. Quan tể tướng Thổ Nhĩ Kỳ đứng nơi cửa sổ nhìn ra thấy chàng, ngài tự hỏi không biết chàng trai mặc áo quần lịch sự, cưỡi lừa đóng yên thếp vàng là ai. Ngài bèn mời chàng vào nhà. Áp-Đuya-Ra-man đi vào, chào ông ta rất lễ phép. Quan tể tướng Ít-Tăng-Bun hỏi chàng rất nhiều chuyện và chàng kể cho ngài nghe về cuộc cãi nhau với anh trai mình.
Chủ nhà bèn đề nghị với chàng:
- Anh không định quay về nhà, thì tại sao không ở lại đây?
- Tôi rất sung sướng được ở lại đây!!
Nhiều ngày, nhiều tháng trôi qua...Quan tể tướng Ít-Tăng-Bun cảm thấy có cảm tình sâu đậm với chàng thanh niên Xi-Ri. Hai người bàn bạc rất nhiều chuyện. Họ thích cùng nhau đi dạo trong vườn thượng uyển đẹp rực rỡ.
Một hôm, quan tể tướng nói với chàng:
- Ta già rồi, lại không có con trai. Nhưng ta có đứa con gái dễ thương lắm. Anh có muốn làm chồng nó không? Ta sẽ khuyên Quốc vương giao công việc của ta cho anh và ta sẽ nghỉ hưu.
- Được thế quả là vinh dự cho tôi!! - Áp-Đuya-Ra-Man đáp. Chàng đã bị sắc đẹp và tính tình của cô gái làm say đắm ngất ngây.
Và thế là Áp-Đuya-Ra-Man trở thành quan tể tướng ở Ít-Tăng-Bun. Chàng làm việc không ngừng. Với lòng can đảm và cương quyết, chẳng bao lâu sau chàng trở thành vị cố vấn tài ba của Quốc vương. Tất cả mọi người đều yêu thương, kính nể chàng. Và càng ngày chàng chàng giàu có thêm. Đúng một năm sau ngày cưới, vợ chàng hạ sinh được một con trai, đặt tên là Hà-San.
Khi Áp-Đu-La-Típ nghe tin em trai bỏ đi, chàng rất ân hận, giận mình đã cãi cọ với em một chuyện ngu ngốc. Chàng cho người đi tìm nhưng vô ích. Ngày tháng trôi qua, chàng đã mất hết hy vọng tìm ra người em.
Một thời gian sau, Áp-Đu-La-Típ cưới con gái của một thương gia giàu có trong thành phố. Và, theo ý của đấng A La, đám cưới của chàng đúng ngay ngày đám cưới của em chàng.
Một năm sau, vợ chàng sinh hạ được một bé gái xinh đẹp.
Hà-San, con trai của Áp-Đuya-Ra-man, lớn lên như thổi. Cậu thông minh, học giỏi lại rất đẹp trai. Quốc vương rất có cảm tình với chàng, thường dành rất nhiều thì giờ để ngắm chàng.
Năm chàng 20 tuổi, cha chàng ngã bệnh.
- Đời sống chúng ta trên trái đất này rất ngắn ngủi! - Áp-Đuya-Ra-Man nắm tay con nói - Chúng ta sống, già rồi chết. Con hãy lấy giấy bút, viết những điều ta kể cho con nghe sau đây.
Hà-San ghi rất đầy đủ câu chuyện của cha. Từ khi ông rời quê cha đất tổ, ghi ngày đám cưới của ông và ngày sinh của chàng.
Áp-Đuya-Ra-Man hấp hối thì thào với con:
- Nếu một ngày nào đó con gặp chuyện khó khăn, hãy về Xi-Ri gặp bác Áp-Đu-La-Típ của con, đưa cho bác ấy tờ giấy này. Hãy nói với bác ấy, suốt đời cha ngày nào cha cũng nhớ bác ấy.
Hà-San khâu tờ giấy vào trong chiếc khăn đội đầu bằng lụa. Và ngay đêm đó, Áp-Đuya-Ra-Man tắt thở.
Cha chàng được an táng trong nghĩa trang sau tường thành của thành phố. Hà-San, nhìn biển xanh trải dài bên dưới, cầu nguyện thật lâu nhưng không làm sao trút được hết buồn phiền. Chàng không thể rời bỏ cha mà ra đi. Chàng liền cắm lều ở lại bên mộ cha.
Quốc vương đợi Hà-San đến thăm, nhưng ngày này qua ngày nọ, rồi tháng này qua tháng kia, vẫn không thấy tăm hơi. Ngài bèn nổi giận vì thấy mình bị coi thường. Ngài ra lệnh cho lính tráng đi tìm Hà-San, bảo họ nếu gặp Hà-San thì phải bắt chàng bỏ tù ngay.
Bạn bè của Hà-San đến báo tin cho chàng biết:
- Hà-San, cậu phải trốn đi ngay thôi. Quốc vương đã ra lệnh bỏ tù cậu rồi đấy.
Hà-San đến ngồi trên tảng đá bên mộ cha, nghĩ:
- Ở đây không ai lôi mình đi được vì trái với phong tục.
Tối đến, sao sáng đầy trời, Hà-San nằm ngủ...Có nhiều thần linh sống với người chết, họ chỉ xuất hiện khi màn đêm buông xuống. Một vị thần đi qua gần mộ của Áp-Đuya-Ra-Man thấy Hà-San, bèn đến gần để xem.
Con gái của Áp-Đu-La-Típ cũng vừa tròn 20 tuổi. Nàng rất xinh đẹp và đoan trang. Vua Xi-Ri có ý định cưới nàng làm vợ, nhưng quan tể tướng không chịu, vì ngài không quên lời hứa với em trai là sẽ gả con gái cho con trai của em mình. Ông không biết Áp-Đuya-Ra-Man hiện ở đâu, cũng không biết em mình có con trai, nhưng ông không thể nuốt lời hứa. Nhà vua tức giận, và để trả thù vì bị từ chối, ngài buộc co gái phải lấy một người tôi tớ nghèo nhất và xấu xí nhất, một chàng gù chăn ngựa. Đám cưới phải được tổ chức vào ngày hôm sau.
Vị thần cúi người nhìn Hà-San và nói:
- Chưa bao giờ ta thấy một thanh niên đẹp trai như thế này! Nhưng ta phải giết ngay nó thôi. Ta sẽ mang nó ra ngoài sa mạc cho nó chết khát, chết đói ở đấy.
Một bà tiên đi qua liền cất tiếng:
- Còn tôi, tôi cũng đã thấy có người đẹp như thế này!!
- À, thế sao?!
- Một cố gái rất đẹp sống ở Xi-Ri. Đấy là con gái của vị tể tướng Áp-Đu-La-Típ. Thế mà ngày mai người ta lại gả cho một tên chăn ngựa. Hắn lại còn gù nữa chứ.
- Sao lại như thế được?!
- Cha nàng đã làm cho nhà vua tức giận. Thật đáng tiếc! Nàng ta rất xứng được làm vợ chàng trai này.
- Chúng ta can thiệp vào công việc của con người thử xem sao!! - thần vừa cười vừa đề nghị.
- Làm thế mà vui đấy! Dù sao đi nữa thì ông cũng không giết chàng ta được, vì tình yêu của người mẹ đã bảo vệ cho chàng ta rồi.
Thần và bà tiên nhẹ nhàng nâng chàng trai đang ngủ lên và đưa đến Xi-Ri.
Hà-San thức dậy. Đêm trong trẻo đầy sao. Chàng không thấy mộ đâu hết và cũng thấy mình không còn ở Ít-Tăng-Bun, mà đang ở một thành phố hoàn toàn xa lạ. Chàng dụi mắt, tự hỏi phải chăng mình đang nằm mơ.
Bà tiên lên tiếng, giọng dịu dàng:
- Đừng sợ. Chính ta mang ngươi đến đây. Ngươi sẽ không thấy ân hận gì đâu. Hãy mặc cái áo khoác bằng gấm và lụa này, rồi đi vào cung điện. Trên đường đi, ngươi hãy phân phát những đồng tiền vàng này, người ta sẽ quì trước mặt ngươi. Chắc người ta đang tổ chức lễ cưới trong đó. Ngươi hãy đến gần đôi vợ chồng và nhìn vào cô gái.
Hà-San lấy làm lạ, chàng làm theo lời của bà tiên. Chàng mặc áo khoác vào rồi bỏ đi.
Phòng đại sảnh trong lâu đài sáng rực rỡ. Đuốc, đèn cầy cắm trong đĩa sáng choang muôn màu sắc. Hà-San phân phát tiền vàng cho các vũ công, nhạc công, tôi tớ. Người ta nhường chỗ để chàng quan sát buổi lễ cho rõ.
Nhạc trổi lên và đôi vợ chồng đi vào phòng. Cô gái mặc áo dài lộng lẫy, mặt đeo tấm khăn voan trong suốt. Bên cạnh nàng, một người đàn ông nhỏ thó nhăn nheo trông rất xấu, đến nỗi Hà-San không dám nhìn đến. Hắn ta thật tương phản với sắc đẹp và nét duyên dáng của vợ.
Cô gái nâng tấm khăn voan lên, gặp ánh mắt của Hà-San.
Lễ cưới bắt đầu bằng những bài hát và khiêu vũ. Chàng chăn ngựa gù lưng buồn bã, bỏ ra ngoài hành lang để đi bách bộ một chút.
Một con chuột nhỏ đến gần, vẩy râu rung rinh.
- Mày muốn gì?! - chàng gù hỏi chuột.
Nhưng chuột không đáp. Nó phình lớn lên, rồi bỗng nó biến thành con mèo kêu meo meo. Con mèo lại lớn lên và biến thành con chó. Chó sủa.
- Mày cút đi! - chàng gù nói.
Nhưng con chó lại lớn lên và biến thành con lừa. Nó kêu be be. Lừa lại lớn lên và biến thành con trâu. Con trâu giận dữ nói với chàng gù:
- Sao ngươi dám ăn cắp cô gái mà ta muốn cưới làm vợ?
- Không phải tôi! Người ta bắt buộc tôi! - chàng gù nói nhỏ, toàn thân run lẩy bẩy.
- Nếu ngươi không mau biến cho mau, ta sẽ húc cặp sừng này vào bụng ngươi đấy! Cút mau, và đừng bao giờ trở lại nữa!
Gã chăn ngựa khốn khổ sợ quá, vắt giò lên cổ mà chạy trối chết.
Bà tiên khoái chí vì mưu của mình đã thành. Bà bỏ lốt trâu và đi vào phòng cưới. Trong phòng, cảnh tượng hoang mang bối rối đang diễn ra. Tất cả đã sẵn sàng, nhưng chàng rể thì không thấy đâu hết. Tôi tớ chạy khắp nơi để tìm gã. Họ không biết rằng gã đã đi xa thành phố mới cách đây một chút thôi.
Cô gái nghĩ "Ước sao lão già dị dạng ấy có thể biến mất đi! Và đấng A La cho ta chàng thanh niên xa lạ kia làm chồng!"
Nàng hơi đỏ mặt, cúi xuống. Chàng thanh niên kia đã làm cho tim nàng xao xuyến.
Đêm đã khuya quá rồi. Thần và tiên phải nhanh tay, vì bình minh chẳng mấy chốc nữa sẽ ló dạng ở chân trời. Họ sẽ hết quyền lực. Họ đốt mấy ngọn cỏ lên lửa đèn cầy, khói cỏ tỏa ra sẽ làm cho ai hít phải đều ngủ say.
Chỉ trong một lát, vũ công, khách đến dự, tôi tớ đều cảm thấy mệt mỏi, thiu thiu ngủ trên ghế, trên thảm hay trên sàn ván. Tất cả đều ngủ say. Kể cả Hà-San và cô gái xinh đẹp. Thần lấy khăn quấn đầu của Hà-San ra để trên ghế, rồi nhẹ nhàng nâng chàng bay lên không. Một lát sau, thần để chàng lại trên mộ của Áp-Đuya-Ra-man, trong nghĩa địa ở Ít-Tăng-Bun.
Hà-San tỉnh dậy vào lúc sáng sớm tinh mơ. Chàng ngạc nhiên khi thấy một người đàn bà ngồi bên cạnh mình.
- Bà làm gì ở đây?!
- Tôi ngồi nghỉ, - bà tiên tươi cười đáp.
- Tôi đã mơ một giấc mơ tuyệt vời. Đêm qua, tôi đã gặp được hạnh phúc.
- Có lẽ cậu sẽ được hạnh phúc suốt đời.
- Tôi không tin thế. Tôi chỉ gặp toàn bất hạnh. Người cha tôi yêu mến đã chết. Tôi không biết làm gì, không biết đi đâu.
- Quay lại thành phố. - bà tiên khuyên.
- Không thể được. Quốc vương sẽ bỏ tù tôi.
- Cải trang đi! Cậu hãy cải trang làm đầu bếp. Mặc cái áo trắng, lấy bột bôi lên mặt, chẳng ai nhận ra cậu đâu. Mở một quán ăn, làm việc và trên hết, hãy tin tưởng vào đấng A La.
- Nhưng tôi kiếm đâu ra áo để cải trang, tiền để mua dụng cụ bếp núc và thuê một cửa hàng?!
- Áo và tiền nằm trong túi xách này. Khi cậu đi vào thành phố,  cậu sẽ thấy một nhà hàng nằm bên phải, gần tường thành.
Hà-San quay qua nhìn người đàn bà đang nói chuyện với mình, nhưng bà ta đã biến mất! Thay vào chỗ đó là một túi vải đựng áo làm bếp, tiền bạc và một ít bột dùng để bôi trắng mặt và tóc. Thế là Hà-San đi vào thành phố mà không ai nhận ra. Chàng tìm thấy nhà hàng mà người đàn bà đã chỉ. Trong cửa hàng có đầy đủ tất cả các thử để chuẩn bị bữa ăn, và Hà-San bắt tay vào việc ngay. Chàng can đảm và có tài nên danh tiếng của chàng lan đi rất nhanh. Tất cả mọi người trong vùng đều muốn đến ăn ở quán chàng.
Quan tế tướng Áp-Đu-La-Típ nhẹ nhõm cả người khi đám cưới của con gái ông với chàng gù không thành. Nhưng ông lại rất lo vì từ ngày hôm ấy, con gái ông đâm ra buồn bã. Thỉnh thoảng ông lại thấy nàng khóc nức nở. Ông biết nguyên nhân khiến con gái đau khổ. Chàng thanh niên xa lạ đẹp trai mặc áo khoác lụa đã biến mất! Áp-Đu-La-Típ nghĩ nát óc, nhưng vẫn không biết làm sao giúp con được. Một hôm, người ta mang đến cho ông một cái khăn đội đầu thật đẹp của ai đó bỏ quên trong phòng khách của lâu đài mà không quay lại lấy.
Ông lật qua lật lại cái khăn trong tay. Ông mân mê vuốt ve lớp vải và cảm thấy có cái gì cồm cộm dưới mấy ngón tay. Lấy làm lạ, ông tháo lớp lụa lót ở bên trong ra và tìm thấy tờ chúc thư của Áp-Đuya-Ra-Man, em trai của ông. Ông sung sướng, mừng rỡ vô cùng.
- Ôi trời ơi! - ông reo lên.
- Cái gì thế, thưa cha?! - cô gái ngạc nhiên hỏi.
- Con biết chàng trai xa lạ kia là ai không? Là con trai của em ta! Tất cả những điều ta và em ta mong ước cách đây 20 năm đã thành sự thực. Hai ta đều làm đám cưới một ngày, em ta có con trai, ta có con gái. Như thế có nghĩa là con sẽ lấy chàng trai xa lạ ấy, vì chúng ta đã ước nguyện như thế.
- Làm sao con có thể lấy anh ta được vì anh ấy đã biến mất rồi!!
- Con có lý. Thôi được rồi, chúng ta đi tìm nó vậy!
Ngay ngày hôm sau, quan tể tướng cho lục khắp thành phố, rồi cho sứ giả đi hỏi ở Đa-Mát, ở Ke-rơ nhưng vẫn không có kết quả.
- Ta phải đi Thổ Nhĩ Kỳ thôi! - ông đề nghị với con gái.
Họ đi rất lâu, qua nhiều thành phố, và cuối cùng đến trước tường thành của vương quốc Ít-Tăng-Bun. Họ đi vào cung điện và được Quốc vương đón tiếp.
- Ngài có biết Hà-San, con trai của Áp-Đuya-Ra-Man không?! - Áp-Đu-La-Típ hỏi Quốc vương, lòng tràn đầy hy vọng.
- Biết! - quốc vương giận dữ đáp - Tôi rất yêu mến nó, nhưng thằng vong ân bội nghĩa này đã biến đâu mất.
Hai cha con hỏi hết các triều thần, hỏi tất cả các thương gia giàu có trong kinh thành, nhưng không ai biết được tông tích của Hà-San.
Đúng ba mươi ngày, họ mệt mỏi và thất vọng, bèn quyết định quay về nhà. Đoàn lữ hành dừng lại gần tường thành để sửa chữa xe cộ. Trong khi cha nàng ra lệnh cho gia nhận, thì nàng, buồn bã xanh xao hơn bao giờ hết, nhìn thấy người đầu bếp, mặt dính đầy bột trắng, đang đứng trước cửa quán ăn.
Nàng nói với cha:
- Con đói rồi. Ta hãy vào ăn cái gì trong quán này và nhân tiện hỏi anh chàng đầu bếp có biết con trai của Áp-Đuya-Ra-Man ở đâu không.
- Nếu con đói, hãy bảo gia nhân dọn cho con ăn. Cha chắc anh chàng đầu bếp này không cho con biết gì hơn đâu!
Nhưng cô gái bướng bỉnh không nghe lời cha. Nàng cứ đi vào trong nhà hàng. Vừa bước vào, nàng nói:
- Tôi đói bụng.
Hà-San nhận ra ngay cô gái. Chàng đứng yên bất động, không thốt được nên lời vì quá xúc động.
- Anh không nói được sao?! - nàng hỏi, giậm chân xuống đất, vẻ giận dữ.
- Đừng giậm chân vô ích, thưa cô! - Hà-San cười đáp.
- Anh là ai mà dám lên mặt khuyên con gái của quan tể tướng?!
- Tôi là tôi chứ ai. Chúng ta đừng cãi cọ. Giận rồi xa nhau buồn lắm.
- Thế đấy, chúng ta giận đấy!
- Nhưng chắc chúng ta không xa nhau đâu! Chốc nữa thôi, tôi, tên đầu bếp nghèo hèn, sẽ ngồi cùng cô trên kiệu. - Hà-San đáp rồi phá ra cười.
- Thay vì nói chuyện ba láp, anh hãy dọn cho tôi cái gì để ăn.
- Cô muốn thịt cừu hay đậu trắng?!
- Cả hai! - cô gái xẳng giọng đáp.
Hà-San biến mất vào nhà bếp. Chàng sắp lên khay trái cây, một khay khác gồm bánh mì rắc gia vị của Ấn Độ, và khay thứ ba gồm bánh ngọt tẩm mật ong. Chàng rửa mặt, chải tóc rồi bước ra tiệm.
Cô gái trố mắt ngạc nhiên nhìn những khay thức ăn, rõ ràng không phải thịt cừu và đậu trắng. Nàng ngước mắt nhìn lên, bỗng nàng rú lên mừng rỡ. Trước mắt nàng là người nàng đã đi tìm bấy lâu nay. Chàng thanh niên xa lạ đẹp trai biến mất một cách đầy bí mật, là chàng Hà-San, con trai Áp-Đuya-Ra-Man. Nàng đỏ mặt. Chàng dang rộng hai tay, nàng nhào đến nép mình vào ngực chàng.
Nhân dân ở Ít-Tăng-Bun được chứng kiến một cảnh tượng thật lạ lùng: dưới ánh mắt thỏa thuận của vị tể tướng Xi-Ri, cô con gái của ông ta đưa ta cho anh chàng đầu bếp vô danh đỡ nàng lên kiệu đặt trên lưng lạc đà của ông.
Trở về lại Xi-Ri, Hà-San hỏi Áp-Đu-La-Típ muốn chàng phải trả bao nhiêu tiền để được con gái của ông.
- Không trả gì hết! - Áp-Đu-La-Típ trả lời, hơi xấu hổ - Cha của con là em trai của ta mà.
Đám cưới của con gái Áp-Đu-La-Típ và con trai Áp-Đuya-Ra-Man thật lớn, vì khi thần thánh đã cho người ta toại nguyện được những điều ước ngược, thì phải ăn mừng cho thật xứng đáng chứ!!
Đăng nhập để trả lời
0
Đoá Hoa Sa Mạc

Khi đóa hoa thần kể xong câu chuyện hai anh em đã thực hiện được ước nguyện chung thì mặt trời vẫn còn ở trên cao.
Những người đang dẫn lạc đà, những thương gia, du khách đi thăm Xa-mác Căng (Samar Cande), La-Méc, hay đến những thành phố xa xôi ở Trung Quốc, các thợ thủ công, khách hành hương, giới chăn cừu, dân du mục, ăn mày, và tầng lớp quí tộc giàu có...tất cả đều đứng bất động trước đóa hoa kỳ diệu này. Họ lặng lẽ đợi nghe câu chuyện tiếp theo.
Bỗng thình lình, một cơn gió lớn nổi lên, tung ra những đám mây cát. Mọi người tìm cách che mặt lại.
Khi cơn cuồng phong đã hết, mọi người mở mắt ra, ốc đảo biến mất! Không còn một bóng cây, không còn một bụi nhỏ, không một giọt nước nơi giếng phun...Chỉ còn lại đá khô và cát cháy bỏng trải dài mút mắt.
Một giọng nói oang oang trên cao vọng xuống:
- Ta là An-Dan, vua của tất cả các thần! Ta đã tạo ra cảnh kỳ diệu ở giữa sa mạc theo lời yêu cầu của ông bạn ta, bác thợ giày Ma-Rúp. Nhưng đấng A La vừa gọi anh ta đến ở bên ngài mãi mãi, nên anh ta không thể kể những câu chuyện kỳ diệu được nữa. Ta đã cho nổi gió để xé nát đóa hoa thần ấy ra thành trăm nghìn đoá hoa nhỏ và tung chúng rải rác khắp nơi. Khi rơi xuống đất nóng, chúng sẽ khô cứng lại. Người nào may mắn tìm được một đóa hoa nhỏ ấy và áp vào ngực mình, thì hoa sẽ kể một trong số vô vàn chuyện mà đóa hoa thần lớn đã kể.
An-Dan đưa cho nhà văn nổi tiếng một đoá hồng cát. Người ta liền nghe tiếng của Ma-Rúp và ông bạn Ali của ông:
Khi ta chết, xin đừng chôn ta
Ngoài nghĩa địa, trong một ngôi mộ.
Đấy là nơi thật quá long trọng
Cho một kẻ bình dị như ta.
Khi ta chết vui lòng chôn ta
Dưới đám cây xanh ở trên đồi.
Đêm đêm có chú chim họa mi
Hát cho ta nghe những bản tình ca.
[align=left]Một hôm, tôi đi chơi ngoài sa mạc, tôi lượm được mười ba đóa hồng đá và tôi đã nghe chúng kể chuyện. Tôi đã ghi chép lại hết để khỏi quên. Và tôi muốn kể lại cho bạn nghe, chúng nói rằng được sống trên đời này là điều hạnh phúc biết bao, ngay cả khi phải chiến đấu để sống còn và để làm cái thiện thắng được cái ác.
Nếu một ngày nào đó bạn tìm được một đóa hồng cát, mà chắc là bạn sẽ tìm thấy thôi, thì bạn sẽ được nó kể về những câu chuyện sa mạc.

[/align]
Đăng nhập để trả lời
0
A-Ma, Kha-Xim, Và Sa-Ríp Cứu Được Hà-San Ra Sao

Khi mụ già lấy cây gươm thần của Hà-San, chiếc nhẫn trên tay A-Ma thắt mạnh vào ngón tay, báo cho chàng biết người em đang lâm nguy. Chàng liền nhớ đến cái gương  và rất lo lắng khi thấy cây gươm chìm dần xuống đáy biển. Hà-San nằm dài trên giường, trong một lâu đài xa lạ giữa biển khơi. Rồi  chàng thấy công chúa Trung Hoa lồng lộn như kẻ mất trí trong một tòa lâu đài nằm chót vót trên đỉnh núi cao. Không để mất thì giờ, chàng liền lên ngựa đi tìm người em Kha-Xim. Chàng nói:
- Hà-San đang gặp nạn. Ta hãy lên tấm thảm bay đi tìm Sa-Ríp. Chúng ta cần người lặn giỏi, chỉ có chú ấy mới có thể lặn xuống đáy biển được.
Tấm thảm thần bay lên. Trên đường, A-Ma và Kha-Xim đón Sa-Ríp, rồi cả ba anh em vượt qua sa mạc, thảo nguyên, núi đồi, cuối cùng đến tường thành của lâu đài nằm ngoài biển.
Hà-San vẫn không thở được. Cơ thể chàng lạnh như đá cẩm thạch. Sa-Ríp buồn rầu thở than:
- Chú ấy chết rồi! Không còn cách gì...
- Không được bỏ cuộc nhanh thế! - A-Ma ngắt lời em. Chàng lấy cái gương ra xem để biết chính xác cây gươm thần nằm chỗ nào. Sa-Ríp lặn xuống và chỉ một lát thôi mà như dài bất tận, hai người anh thấy chàng ngoi ở dưới nước lên, tay cầm thanh gươm. Họ để cây gươm bên cạnh Hà-San, chàng liền từ từ thở lại, sắc hồng hiện ra trên hai má. Chàng quay đầu, để tay lên chiếc gối bên cạnh.
- Em đâu rồi?! - chàng hỏi, ngạc nhiênn vì không sờ thấy công chúa. Chàng bèn mở mắt ra.
Sa-Ríp hiền từ nói:
- Muốn giữ được người yêu và linh hồn thì người ta phải hết sức thận trọng, chứ không phải như chú đâu.
Kha-Xim nói tiếp:
- Chắc chú đã quá khinh xuất, không lưu tâm đến việc mụ già vào được trong lâu đài của mình.
A-Ma nói cho các anh em nghe:
- Công chúa đã bị nhốt trong lâu đài trên một ngọn núi cao. Chắc nàng đã mất trí, cho nên lão Quốc vương Ba Tư không cưới được nàng ngay. Chúng ta hãy cùng nhau đi cứu nàng thôi.
- Cám ơn các anh! - Hà-San nói, mặt đầm đìa nước mắt - Không có các anh chắc tôi không sống lại được. Và nàng công chúa tội nghiệp của tôi chắc phải lấy một ông già rồi.
Bốn anh em nhảy lên tấm thảm bay đi về phía nước Ba Tư.

Hà-San Đã Thành Vua Ba Tư Như Thế Nào

[align=left]Họ bay qua biển và cuối cùng đến vùng đất của Ba Tư. Khi thấy lâu đài nhốt công chúa hiện ra, Hà-San nói:
- Bây giờ tôi phải hành động một mình! Chính tôi phải cứu nàng, bởi vì do tôi mà nàng ra nông nổi này.
A-Ma, Kha-Xim và Sa-Ríp chúc Hà-San gặp may mắn. Họ để chàng xuống đất rồi bay lên trời.
Hà-San nhìn quanh quan sát, thấy một ngôi làng, chàng đi về phía ấy. Trên đường, chàng gặp một bà già:
- Lạy Đấng A La lòng lành! Mong sao không phải là bà già đã hại ta, - chàng nghĩ - biết đâu người này sẽ giúp được mình?!
- Xin chào! - chàng lên tiếng, giọng thân thiện.
- Chào cậu! Cậu ở đâu đến thế?! Từ lâu rồi, nay tôi mới được nghe lại tiếng A Rập. Cậu phải coi chừng đấy, cậu đang ở tại một xứ xa lạ. Cậu phải mặc áo quần Ba Tư người ta mới không để ý tới. Hãy đi với tôi, tôi sẽ cho cậu áo quần người chồng quá cố của tôi. Ông ấy có thân hình gần bằng cậu đấy.
Hà-San đi theo bà già về nhà và thay áo quần. Chàng hỏi:
- Bà có nghe nói đến một công chúa bị nhốt trong lâu đài trên núi không?
- Có chứ! Nhà vua của chúng tôi, mặc dù tuổi đã cao nhưng vẫn muốn ép cô gái này lấy mình! Thật là nhục.
- Tôi muốn nói với bà một bí mật, bà có giữ kín không?
- Chuyện bí mật của cậu cũng là của tôi rồi.
- Cô gái ấy là vợ tôi đấy. Nàng là công chúa Trung Hoa. Vua Ba Tư đã bắt nàng và đã cố giết chết tôi. Nhờ có các anh trai cứu sống, nên tôi đến đây để cứu nàng. Bà có giúp tôi được không?
- Tôi phải làm gì?! - bà già hỏi, nhìn chàng với ánh mắt thân thiện.
Hà-San cười. Vẻ tử tế hiền từ của bà già làm cho chàng lấy lại hy vọng. Chàng viết vài chữ trên một miếng giấy nhỏ, rồi lấy một trái táo để trên bàn gần đấy, cắt làm hai, lấy mũi dao khoét một lỗ, nhét miếng giấy vào đó, rồi đậy hai nửa trái táo lại với nhau.
Chàng đưa trái táo cho bà già rồi nói:
- Bà đem trái táo này đến cho công chúa rồi đưa cái nhẫn này cho cô ấy thấy, sau đó đưa cho nàng lọ thuốc ngủ nhỏ này.
Bà già leo lên lưng lừa, đi về hướng núi. Sau khi đi theo một con đường dài, bà đến trước lâu đài, chào người lính gác. Bà nói rất tự nhiên:
- Tôi muốn đưa trái táo này cho công chúa.
- Người này điên mà?! Đưa thức ăn cho cô ấy còn phải qua một lỗ nhỏ trên cửa nữa là. Ai đến gần, cô ta sẽ nhảy đến cào cấu liền.
- Tôi không sợ. Trái táo này sẽ làm cho cô ta lành bệnh. Nhà vua thế nào cũng biến ơn anh cho mà xem. - Bà già đáp với nụ cười trên môi.
Người lính suy nghĩ một lát, rồi thấy cũng chẳng mất mát gì, gã liền để cho bà già đi vào.
Khi cửa phòng mở ra, công chúa liền chụp lấy cái đĩa thắp nến bằng đồng định ném vào mặt bà già, nhưng bà đã nhanh tay đưa chiếc nhẫn của Hà-San ra. Công chúa bỗng đứng khựng lại, cánh tay đưa lên cao bất động.
- Hãy để cái đĩa xuống và cầm trái táo đi. - bà già nói nho nhỏ, lợi dụng lúc nàng đang ngần ngừ - Bên trong trái táo có tin của chồng cô đấy.
Công chúa lấy trái táo, bổ hai ra, đọc tờ giấy của Hà-San, nướcm ắt chảy dài xuống má.
- Hãy nói với chồng tôi rằng tôi sẽ làm đúng như lời anh ấy dặn. Ngày mai tôi sẽ nói với nhà vua tôi sẵn sàng làm đám cưới với ông ấy. Vào đêm tân hôn, tôi sẽ bỏ thuốc ngủ vào rượu của ông ấy.
- Chúc cô may mắn! - bà già nói, ôm hôn công chúa.
Quốc vương mừng rỡ. Cuối cùng cô gái điên này cũng tỉnh táo lại, và vài ngày nữa thôi, ngài sẽ lấy lại tuổi trẻ. Bới sáu mươi tuổi, thế là nhiều rồi!! Ngài ra lệnh tổ chức lễ cưới thật xa hoa tráng lệ, và người ta tuân lệnh răm rắp. Nhà vua và bà vợ trẻ rút vào hôn phòng. Người ta chuẩn bị cho họ thức uống ướp lạnh, rượu vang, bánh kẹo, trái cây để ăn đêm. Công chúa đưa cho ông chồng già ly rượu trong đó có thuốc ngủ mà nàng đã bỏ vào.
- Cầu chúc cho hạnh phúc của đôi ta!! - nàng cười nói - Ngày mai em sẽ ôm vào lòng chàng thanh niên trẻ đẹp.
Ông già uống một hơi hết ly rượu rồi đổ sập xuống giường. Năm tháng đã làm cho trái tim lão mệt mỏi lắm rồi. Lão không thể nào chống lại nổi một giấc ngủ say mê man được. Nhà vua không bao giờ thức dậy nữa.
Hà-San mặc áo quần nông dân, lẫn lộn vào đám đông đến dự đám cưới và khi cô dâu chú rể rút lui vào phòng, chàng lén đi theo họ. Nấp sau một bức tường, chàng buồn bã nhìn lão già kiêu căng nằm ngay đơ, tim ngừng đập. Chàng chạy đến bên công chúa, hai người trìu mến ôm nhau. Chàng nói với nàng rằng chàng rất thương nhớ nàng. Họ nói chuyện thật lâu, uống rượu ngon, ăn trái cây rồi đi ngủ, tay trong tay.
Sáng mai, Hà-San lột quần áo của nhà vua ra, mặc vào người, rồi ra trước ban công để công bố một tin mới kỳ diệu: đêm tân hôn với công chúa Trung Hoa đã làm nhà vua trẻ bớt 60 tuổi như lời các nhà tiên tri đã nói.
Tiếng hoan hô vang dậy khắp cung đình. Tất cả đều hy vọng rằng chàng thanh niên 20 tuổi này sẽ công bằng hơn lão già khốn kiếp đã cai trị họ lâu nay.
Nhiều tháng trôi qua, Hà-San là một ông vua khôn ngoan. Dân chúng ngày càng yêu mến chàng, nhưng chàng không chịu được cảnh sống trong sự dối trá.
Chàng bèn cho mời tất cả dân chúng vào sân triều và bước ra ban công, chàng thú thực:
- Quốc vương thực của các người đã chết rồi. Tim ông ấy đã ngưng đập ngay trong đêm tân hôn. Tôi đã thay ông ấy lên ngôi, nhưng không phải vì được lòng của vợ ông ta, mà chính công chúa này là vợ tôi. Lão ta đã dùng vũ lực và mưu mô để cướp nàng khỏi tay tôi. Tôi rất sung sướng khi được cai trị đất nước này, và tôi cũng đã làm hết sức mình. Nhưng tôi không muốn nói láo, đã đến lúc tôi phải ra đi.
Hoàng tử tháo vương miện trên đầu xuống. Nhưng đám đông phản đối. Việc chàng lên ngôi ra sao, không quan trọng lắm, điều quan trọng chính ở chỗ chàng là một vị vua giỏi, tốt bụng, công bằng, cho nên không bao giờ họ để chàng ra đi. Hoàng tử cảm động trước tấm lòng tin tưởng của dân chúng và cảm thấy mình phải có trách nhiệm nên chàng lại đội vương miện lên đầu.
Chàng cho người mang tin báo cho cha biết hiện chàng đang đảm nhận trọng trách mới và vinh dự được mọi người ở đây tin tưởng giao phó. Nhà vua Ả Rập chuẩn bị lên đường đi Ba Tư ngay ngày hôm ấy. Hộ tống ngài là cả một đoàn tùy tùng hùng hậu.
Vừa đến nơi, nhà vua ôm Hà-San vào lòng hôn, rồi hôn vợ chàng và ngài quyết định sống ở đây với con trai. Ngài cho sát nhập vương quốc rộng mênh mông của mình vào với đế quốc Ba Tư và giao hết cho con trai cai trị.
Hà-San, hoàng tử sinh ra dưới một ngôi sao xấu, là một nhà vua rất tốt, nhờ vào ý chí và tấm lòng trong sạch mà chàng đã cải hoá được số phận mình. Vợ chàng, nàng công chúa Trung Hoa, đã sinh cho chàng nhiều con. Nàng thường kể cho các con nghe thời niên thiếu cô đơn của mình trong lâu đài giữa sa mạc cháy bỏng.
[/align]
Đăng nhập để trả lời
0