📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Đánh máy truyện cho thư viện online

Cảm Ơn Ký Ức - Celia Ahern 🔒

45 trả lời, 7.238 lượt xem — Trang 2 / 2
HAI MƯƠI CHÍN


Justin nhìn cậu em của mình trong hoảng sợ và vội vàng nhìn quanh phòng xem có cái gì để ngồi không. Anh kéo một thùng sơn to đùng lại và ngồi xuống, không để ý đến cả một vòng sơn trắng còn ướt quanh nắp thùng.
“Al, Doris nói cái gì vậy? Cái gì mà tháng tới em sẽ chết”.
“Không, không, không”. Al cười rũ. “Cô ấy nói, biết-đâu-là-sẽ-chết. Anh thấy không, rõ ràng cách nói này khác hẳn mà. Này, anh nhấm nháp chút này đi anh trai. Tốt cho anh lắm đấy. Cạn nào!”. Al dốc ngược chai của mình và uống hết phần bia cuối cùng trong đó.
“Khoan đã, khoan đã. Al, em đang nói về chuyện gì mới được? Có chuyện gì em không nói với anh phải không? Bác sĩ nói gì?”.
“Bác sĩ nói với em chính xác những điều em đã nói cho anh nghe hai tuần trước. Nếu có bất kỳ thành viên nào trong gia đình chúng ta từng mất vì bệnh tim trong giai đoạn còn trẻ, ví dụ nam dưới năm mươi tuổi, thì những người còn lại tiềm ẩn nguy cơ mắc phải bệnh mạch vành”.
“Em có bị cao huyết áp không?”.
“Chút ít thôi”.
“Em có bị cholesterol cao không?”.
“Rất nhiều”.
“Thế thì, tất cả việc em phải làm là thay đổi lối sống. Al, nó không có nghãi là em sẽ bị đánh ngã giống như… giống như…”.
“Bố?”.
“Không”. Anh nhíu mày và lắc đầu.
“Bệnh mạch vành ở tim là nguyên nhân số một gây chết người ở Mỹ, với cả nam lẫn nữ. Cứ mỗi 33 giây, lại có một người Mỹ phải chịu đựng một số loại triệu chứng của bệnh mạch vành, và hầu như cứ mỗi phút lại có ai đó bị chết đi vì điều ấy”. Anh nhìn lên cái đồng hồ của ông cố ngoại bị che mất một nửa trong tấm vải phủ đầy bụi bặm. Từng phút một đang trôi qua. Al ôm lấy quả tim của mình và bắt đầu rên. Rồi những tiếng rên ồn ào nhanh chóng biến thành tiếng cười.
Justin tròn xoe mắt. “Ai nói với em những điều vớ vẩn ấy?”.
“Những tài liệu in thành tờ rơi ở phòng khám của bác sĩ nói thế”.
“Al, em sẽ không bị đau tim đâu”.
“Tuần tới là sinh nhật lần thứ bốn mươi của em”.
“Anh biết”. Justin đập tay vào đầu gối, vui vẻ. “Thế thì chúng ta sẽ phải tổ chức một bữa tiệc lớn thôi”.
“Hồi bố mất, bố cũng đúng chừng này tuổi”, anh cúi nhìn xuống phần nhãn và lớp bên ngoài của chai bia.
“Những chuyện này là thế nào?”, giọng nói của Justin chợt nhỏ nhẹ hơn. “Khỉ thật, em nói anh nghe xem Al, tất cả những chuyện này là thế nào? Tại sao em không nói gì đó sớm hơn?”.
“Em chỉ nghĩ là em nên dành nhiều thời gian bên anh, trước khi… anh biết đấy, trong trường hợp…”, mắt Al bỗng rưng rưng và anh vội nhìn đi nơi khác.
Nói cho cậu ấy biết sự thật đi.
“Al, nghe anh nói này, có một việc em cần phải biết”. Giọng Justin run run. Anh tằng hắng mấy lần, cố gắng kiềm chế cảm xúc.
Mình chưa từng bao giờ nói cho ai nghe cả.
“Bố phải chịu đựng một áp lực khổng lồ trong công việc. Ông đã trải qua hàng loạt khó khăn, về tài chính, và mặt khác bố đã không nói với bất kỳ ai. Không ai, kể cả mẹ”.
“Em biết, Justin. Em biết”.
“Em biết?”.
“Vâng, em biết điều đó. Bố đâu có rơi vào cái chết mà không có lý do. Bố đã căng thẳng quá mức chịu đựng. Và em không… Em biết thế. Nhưng ngay từ khi em còn là một đứa trẻ, cái cảm giác này đã bao trùm lấy em, rằng ngày nào đó nó cũng sẽ xảy ra với em. Nó nhảy nhót trong đầu em lâu đến mức em có thể nhớ rõ và bây giờ, trước ngày sinh nhật của em tuần tới, em lại không có được vóc dáng gọn gàng… Mọi thứ trong công việc thì quá chừng bận rộn, em lại không chăm sóc bản thân mình. Em không bao giờ có thể làm điều đó như anh, anh biết không?”.
“Này, em đâu có cần phải giải thích điều đó với anh”.
“Nhớ cái ngày chúng ta đã trải qua với bố trên bãi cỏ trước nhà không? Với những bình tưới ấy… Phải đến hàng giờ trước khi mẹ tìm thấy bố… Anh nhớ cả nhà mình đã chơi đùa như thế nào không?”.
“Chúng ta đã có những khoảng thời gian tuyệt diệu bên nhau”, Justin mỉm cười, cố ngăn những giọt nước mắt.
“Anh nhớ không?”, Al cười lớn.
“Giống như mới vừa hôm qua…”, Justin nói.
“Bố đã giữ cái vòi và phun nước vào cả hai anh em mình. Dường như ông cảm thấy chuyện đó cực kỳ hài hước”. Al cau mày trong những ký ức lộn xộn và nghĩ một lát, trước khi nụ cười quay trở lại.
“Bố mang về cho mẹ một bó hoa to đùng, anh nhớ mẹ cài một bông thật lớn lên tóc không?”.
“Bông hoa hướng dương”. Justin gật đầu, thêm vào.
“Hôm đó trời nóng khủng khiếp. Anh nhớ nó nóng đến thế nào không?”.
“Nhớ chứ”.
“Bố đã xắn quần lên tận đầu gối, cởi cả giày vớ ra. Cỏ thì ướt đẫm nước. Bàn chân bố xục trong lớp cỏ. Bố cứ thế đuổi theo chúng ta, chạy vòng vòng, vòng vòng…”. Al cười xa xôi. “Đó là lần cuối cùng em nhìn thấy bố”.
Đó không phải lần cuối cùng của anh.
Ký ức Justin lóe lên hình ảnh bố anh đóng lại cánh cửa phòng khách. Justin đã chạy vào nhà từ sân trước lên phòng tắm, tất cả những trò chạy chơi tưng bừng với vòi nước xịt khiến anh – lúc đấy hãy còn là một cậu bé, thấy mình muốn nổ tung. Tất cả mọi thành viên khác trong gia đình, theo anh biết, đều vẫn còn ở bên ngoài chơi đùa. Anh có thể nghe tiếng mẹ chạy đuổi theo Al, chọc ghẹo Al. Và Al, lúc đó chỉ mới năm tuổi, vừa cười vừa kêu thét lên. Nhưng khi anh xuống cầu thang, anh để ý rằng bố đi ra khỏi bếp, xuống tiền sảnh. Justin, muốn nhảy ra làm bố ngạc nhiên, bèn núp xuống và nhìn bố từ phía sau thành cầu thang.
Nhưng anh nhận ra có cái gì đó trong tay ông. Anh nhìn thấy một cái chai, chứa chất lỏng gì đó, cái chai luôn được khóa kỹ trong ngăn tủ nhà bếp và chỉ lấy ra trong những dịp đặc biệt khi gia đình bên nội vượt quãng đường dài từ Ai-len đến thăm. Khi tất cả mọi người uống chai này, họ đều thay đổi, họ hát những bài hát mà Justin chưa bao giờ nghe trước đó nhưng bố anh thì biết rõ từng từ, họ cười lớn, kể những câu chuyện và đôi khi khóc. Anh không chắc tại sao cái chai đó bây giờ lại trong tay bố. Hay là bố muốn hát, muốn cười, muốn kể những câu chuyện trong hôm nay? Hay là bố muốn khóc?
Kế đó, Justin nhìn thấy một lọ thuốc cũng đang trong tay bố nữa. Anh biết đấy là thuốc, bởi vì chúng nằm trong một cái hộp giống như cái hộp mà bố mẹ hay lấy thuốc uống mỗi khi bị ốm. Anh hi vọng bố không cảm thấy “bị ốm” lúc này, và anh hi vọng ông không muốn khóc. Anh nhìn theo khi ông đóng cửa lại sau lưng, với những viên thuốc và chai rượu trong tay. Lẽ ra anh nên biết rằng bố định làm gì khi đó, nhưng anh đã không biết.
Cậu bé chín tuổi Justin chẳng bao giờ nghe biết chuyện gì tiếp theo. Anh vẫn nấp ở trên cầu thang, đợi bố đi ra để anh có thể nhảy ra làm bố bất ngờ. Khi thời gian cứ thế trôi qua, anh bắt đầu cảm thấy có điều gì không ổn. Nhưng anh không biết tại sao anh có cảm giác ấy. Anh cũng không muốn phá hỏng dự tính nhào ra ôm bố để bố bất ngờ bằng việc đi kiểm tra xem bố thế nào.
Vài phút mà lâu như hàng giờ. Không có gì cả ngoài sự im lặng từ phía sau cánh cửa đóng kín. Justin nuốt cổ họng khô khốc và đứng dậy. Anh vẫn có thể nghe Al đùa giỡn la hét bên ngoài. Anh vẫn còn nghe tiếng Al cười khi anh đi vào trong phòng và nhìn thấy hai bàn chân xanh lét trên sàn. Anh nhớ sâu sắc cái hình ảnh hai bàn chân ấy, bố nằm trên sàn, như một người khổng lồ màu xanh. Anh nhớ đã theo những bàn chân ấy và tìm thấy bố nằm trên sàn, nhìn bất động lên trần nhà, không còn sự sống.
Anh không nói gì cả. Không gào thét. Không chạm vào ông. Không hôn ông. Không cố gắng giúp ông. Bởi vì mặc dù anh không hiểu nhiều lắm vào thời gian ấy, nhưng anh biết rằng đã quá trễ để giúp rồi. Anh chỉ chậm chạp quay ra khỏi phòng, đóng cánh cửa lại sau lưng và chạy ra ngoài bãi cỏ với mẹ và em trai mình.
Họ đã có năm phút với nhau. Năm phút của mọi thứ vẫn chính xác là như cũ. Anh chín tuổi. Vào một ngày nắng đẹp, với bố mẹ và đứa em trai. Và anh đã hạnh phúc. Và mẹ đã hạnh phúc. Và những người hàng xóm đã mỉm cười với anh, bình thường như họ vẫn làm với mọi đứa trẻ khác. Tất cả thức ăn của bữa tối đều được chính mẹ nấu cho. Và khi anh không ngoan ở trường, thầy cô lại hét toáng lên với anh, như họ nên làm thế.
Năm phút của mọi thứ vẫn chính xác là như cũ, cho đến khi mẹ anh đi vào nhà và sau đó tất cả mọi thứ hoàn toàn khác biệt, tất cả mọi thứ đều thay đổi. Năm phút sau, anh không còn chín tuổi. Không còn với bố mẹ và đứa em trai. Anh đã không còn hạnh phúc. Mẹ đã không còn hạnh phúc. Những người hàng xóm mỉm cười với anh với nỗi buồn rầu giấu trong đáy mắt khiến anh ước giá họ đừng mỉm cười thì hơn. Tất cả những gì anh ăn đều do những người phụ nữ sống trên cùng con đường mang tới trong hộp giấy – những người luôn trông có vẻ buồn buồn – nhằm bày tỏ sự chia sẻ. Và khi anh nghịch phá gì đó ở trường, thầy cô vẫn chỉ nhìn anh với cùng một gương mặt. Tất cả mọi người đều có cùng một gương mặt như nhau. Cảm thông, thương cảm. Năm phút anh cố kéo thêm không đủ.
Mẹ nói với mọi người rằng bố đã bị một cơn đau tim. Bà nói với tất cả mọi người khác trong gia đình và mọi người đến thăm rằng cơn đau tim tới khi bố ăn một miếng bánh gì đấy.
Justin không bao giờ cho phép mình nói ra cho bất kỳ ai rằng anh biết sự thật. Nửa phần vì anh muốn tin vào lời nói dối và nửa phần vì anh nghĩ mẹ anh cũng bắt đầu tin vào điều bà tự nói dối ấy. Thế là anh giữ nó cho riêng mình. Anh không nói với cả Jennifer. Anh không muốn công nhận bố anh đã chết bằng cách ấy. Và bây giờ, khi mẹ đã qua đời, anh trở thành người duy nhất biết sự thật về bố anh. Câu chuyện về cái chết của bố đã được nói dối, được bịa đặt để giúp họ vượt qua đám mây u ám bao phủ. Thế nhưng, câu chuyện ấy như một gánh nặng với Justin. Anh muốn nói với Al sự thật ngay bây giờ, anh đã thật sự muốn làm điều đó. Nhưng làm thế nào được? Chắc chắn biết sự thật thì còn tệ hơn nhiều, và anh phải giải thích thế nào, tại sao anh giữ nó trong lòng sau ngần ấy năm…? Song, sau đó hẳn là anh không phải mang tất cả gánh nặng trên vai lâu hơn. Có lẽ cuối cùng đó sẽ là chút giải thoát cho anh. Nó có thể giúp làm tan biến đi nỗi lo sợ về cơn đau tim của Al và họ có thể cùng giải quyết với nhau chuyện đó.
“Al, có một chuyện này anh phải nói với em”, Justin bắt đầu.
Đột nhiên, tiếng chuông cửa vang lên. Một cái bấm chuông dứt khoát, rất mạnh cắt ngang ý nghĩ của cả hai người, phá vỡ khoảnh khắc im lặng như một nhát búa tạ đập vào cửa kính. Tất cả mọi suy nghĩ của họ nãy giờ vỡ tan thành và rơi loảng xoảng từng mảnh nhỏ trên nền đất.
“Ai bấm chuông thế nhỉ?”. Doris kêu lên, phá vỡ sự im lặng.
Justin đi ra cửa, với một vệt sơn hình tròn màu trắng im trên quần phía đằng sau. Cánh cửa đã được khép hờ, và anh kéo nó mở rộng hơn. Phía trước anh, trên hàng rào, treo một túi giặt ủi sạch. Những bộ vest của anh, những chiếc áo sơ mi và áo thun lót bên trong đều được phủ riêng trong từng lớp nylon. Không có ai ở đây. Anh bước ra ngoài và chạy lên vỉa hè để xem ai đã để chúng lại đó, nhưng không có ai cả. Bãi cỏ phía trước trống trơn.
“Ai thế nhỉ?”, Doris hỏi lớn.
“Không có ai cả”, Justin đáp, khó hiểu. Anh tháo cái móc túi giặt ủi của anh trên hàng rào xuống và mang nó vào bên trong.
“Anh định nói với em là mấy bộ áo này biến nhấn tự nhấn chuông cửa hả?”, Doris hỏi, vẫn còn đầy vẻ giận dữ.
“Anh không biết. Thật lạ! Bea dự tính sẽ đi lấy những thứ này vào ngày mai. Anh đâu có đặt hàng chỗ dịch vụ giặt ủi bảo họ mang tới tận nhà”.
“Có lẽ đó là dịch vụ giao hàng đặc biệt, dành cho những khách hàng tiềm năng, vì nhìn chừng này áo quần thì em đoán chắc là họ đã giặt ủi hết cả tủ quần áo của anh đấy”. Cô nhìn anh phân loại quần áo với vẻ ngán ngẩm.
“Ừ, và anh đánh cuộc dịch vụ giao trả quần áo tại nhà này sẽ kèm theo một hóa đơn chóng mặt”, anh lẩm bẩm. “Anh đã có chút ít xào xáo với Bea trước đó, có lẽ nó làm thế này thay một lời xin lỗi”.
“Ồ, anh đúng là một người bướng bỉnh không chịu nổi”, Doris trợn mắt. “Có khi nào anh chịu nghĩ, dù chỉ một giây rằng anh mới là người phải nói lời xin lỗi?”.
Justin nheo mắt nhìn cô. “Em đã nói với Bea phải không?”.
“Ơ, nhìn nè, có một cái bì thư bên mặt này”, Al chỉ tay, cắt ngang để khỏi phải bắt đầu một cuộc chiến mới.
“Hóa đơn của anh đó”, Doris cười lớn.
Tim Justin đột nhiên thót lại khi anh bắt gặp cái bì thư quen thuộc. Anh ném đống quần áo xuống trên tấm vải lấm bụi và xé toạc cái phong bì.
“Cẩn thận chứ!”, Doris nhặt những mảnh giấy lên.
Anh mở phong bì, nuốt nước bọt một cách khó khăn, đọc mẩu giấy kèm theo.
“Viết gì trong ấy thế?”, Al hỏi.
“Chắc phải là một cái hóa đơn mắc phát khiếp, nhìn mặt anh ấy kìa!”, Doris trêu chọc. “Hoặc là một lá thư nài nỉ. Có gì không ổn với chúng à? Họ muốn bao nhiêu?”.
Justin lục lọi, lấy tấm thiệp anh nhận được trên giỏ bánh nướng xốp trước đó. Rồi anh giữ hai tấm thiệp gần nhau để họ có thể đọc trọn vẹn từng câu. Từng chữ một trên đó làm anh lạnh cả sống lưng.
Cảm ơn… Đã cứu sống cuộc đời tôi!
0
BA MƯƠI


Tôi nằm trong một chiếc thùng, không thở được, tim đập thình thịch với tốc độ của một đôi cánh chim đang hoạt động hết cỡ. Tôi giống như một đứa trẻ đang chơi trốn tìm, với cảm giác cực kỳ căng thẳng, hồi hộp, phấn khích, nôn nao trong dạ dày; như một con cún đang cố xoay người vòng vòng, cố hất bằng được mấy con bọ chét ra khỏi người. Làm ơn đừng tìm ra em, Justin. Đừng tìm thấy em đang như thế này, nằm trong cái thùng chứa vật liệu xây dựng thừa trong vườn nhà anh, người dính đầy bụi bặm và vữa thạch cao.
Tôi nghe tiếng bước chân của anh di chuyển xa hơn, những bước chân di chuyển về phía ngôi nhà và tiếng cửa đóng lại.
Tôi làm cái quái gì thế này? Một kẻ hèn nhát. Đã chạy như vịt ra và bấm buông cửa để ngăn Justin kể câu chuyện về bố anh ấy cho Al, và sau đó, sợ đóng vai chúa trời với hai người lạ, tôi đã chạy như tên bắn, trốn xuống dưới đáy cái thùng này.
Tôi không chắc tôi sẽ có thể nói điều gì với anh. Tôi không biết làm cách nào để tìm ra được từ ngữ giải thích cái cảm giác mà tôi đang cảm thấy lúc này. Thế giới không phải là một nơi đơn giản. Những câu chuyện như thế này phần lớn sẽ xuất hiện trên tờ Điều Tra, Pháp Luật, hoặc trải rộng trên cả hai trang hoành tráng của những tạp chí lá cải dành cho phụ nữ khác. Bên cạnh câu chuyện, hẳn sẽ có cả một tấm hình của tôi, trong khu vườn của bố, trông đầy vẻ cô đơn khổ sở trước máy ảnh. Chẳng trang điểm gì cả. Không! Justin có lẽ chẳng bao giờ tin tôi nếu tôi nói với anh ấy, nhưng hành động thì có thể mang lại tác động lớn hơn lời nói.
Nằm quay lưng xuống, tôi nhìn đăm đắm lên bầu trời. Nằm quay mặt xuống, những đám mây bên kia đang nhìn chằm chằm xuống tôi ở dưới này. Chúng trôi lướt qua người phụ nữ trong cái thùng vật liệu xây dựng với vẻ tò mò, gọi cả những đám mây lang thang phía sau chúng đến cùng xem. Càng nhiều đám mây hợp lại, chúng càng háo hức để tận mắt nhìn thấy nhìn thấy điều mà những đám mây khác đang í ới gọi đến xem. Sau đó, chúng cũng trôi lướt qua, để lại mình tôi, nhìn lên bầu trời xanh với lác đác những cụm mây trắng còn sót lại. Tôi tưởng như nghe được cả tiếng mẹ tôi cười lớn, hình dung được cả cách bà thúc khuỷu tay vào những bà bạn khác để đến xem con gái của mẹ. Tôi tưởng tượng ra bà, nhìn trộm qua những đám mây, giống hệt như cái cách bố làm ở ban công chỗ ngồi trên cao của Nhà hát Hoàng gia. Tôi mỉm cười, tận hưởng điều đó lúc này.
Bây giờ, khi tôi phủi bụi, những vệt sơn và vụn gỗ khỏi quần áo, lồm cồm trèo ra khỏi thùng vật liệu xây dựng, tôi cố gắng để nhớ những điều khác mà Bea đã đề cập, những điều bố cô muốn người được anh cứu sống làm.
“Justin, bình tĩnh lại nào, vì Chúa. Anh đang làm em sợ đấy!”. Doris ngồi trên một cái thang gấp và nhìn theo Justin, đi tới đi lui trong phòng với tốc độ chóng mặt.
“Anh không thể bình tĩnh được. Em không hiểu anh đang muốn nói cái gì hả?”. Anh chìa ra hai mảnh giấy, ghép lại thành một câu chuyện mà anh đã nhận được.
Mắt Doris mở to hơn. “Anh đã cứu sống một ai đó?”.
“Vâng”. Anh nhún vai và thôi bước. “Nó cũng không thật sự là việc gì lớn. Đôi khi em chỉ làm một việc gì đó mà em cần làm thôi”.
“Anh ấy hiến máu”, Al cắt ngang sự cố gắng khiêm tốn của anh trai mình.
“Anh hiến máu?”.
“Cái lần anh ấy đã gặp cô ma cà rồng đó, em nhớ chưa?”. Al nhắc lại những tình tiết cho vợ, “Ở Ai-len, nơi người ta dễ dàng hỏi: Có thích hiến nửa lít máu không!!! Cẩn thận đấy!”.
“Tên cô ấy là Sarah, không phải cô ma cà rồng”.
“Thế là anh đã hiến máu để có được một cuộc hẹn hò”. Doris khoanh tay trước ngực.
“Không có gì tốt hơn anh đã làm được hả, hay tất cả những việc này anh đều làm chỉ vì chính anh?”.
“Này, anh cũng có trái tim chứ bộ!”.
Al và Doris cười rũ ra, đấm thùm thụp vào nhau trước những câu đối đáp ăn ý của mình.
Justin hít một hơi sâu. “Quay về với những gì chúng ta đang có trong tay đi. Ai đã gửi cho anh những mẩu cảm ơn này và mục đích của nó là gì?”.
Anh lại bắt đầu đi tới đi lui cắn móng tay. “Có lẽ đây là ý tưởng một trò đùa của Bea. Nó là người duy nhất anh nói về chuyện xứng đáng để nhận được một lời cảm ơn trở lại sau khi đã cứu sống cuộc đời ai đó”.
Trời, làm ơn đừng là con nha Bea!
“Này anh, anh ích kỷ quá đấy!”, Al cười thành tiếng.
“Không”, Doris lắc đầu, đôi bông tai quá dài lúc lắc chạm vào gò má cô với mỗi nhịp lắc đầu như thế. “Bea không muốn làm bất cứ cái gì dính đến anh đâu, cho đến khi anh xin lỗi. Em không biết dùng lời nào để diễn tả là bây giờ nó đang ghét anh đến mức nào”.
“Cảm ơn chúa vì điều đó”, Justin tiếp tục bước. “Nhưng hẳn là nó đã kể cho ai đó nghe, không thì chuyện này không thể xảy ra được. Doris, em phải tìm ra xem Bea đã kể cho ai nghe về chuyện đó chứ!”.
“Hừ”. Doris nghếch cằm lên nhìn qua chỗ khác. “Anh đã nói một vài điều rất tệ về em trước đây. Em không nghĩ rằng em có thể giúp anh”.
Justin khuỵu gối xuống trước Doris.
“Làm ơn đi, Doris. Anh xin em. Anh rất… rất xin lỗi về những gì anh đã nói. Anh không thể nói gì hơn về khoảng thời gian và những điều em đã làm cho nơi này. Anh đã đánh giá không đúng em. Không có em, chắc hẳn là anh vẫn còn uống nước trong cái cốc dùng đánh răng và ăn trong cái bát dành cho mèo”.
“Này, em phải kiểm tra lại điều anh ấy vừa nói đấy”, Al cắt ngang trò quỳ gối nài nỉ của ông anh trai. “Anh ấy thậm chí còn không có một con mèo nữa thì ăn trong bát dành cho mèo sao được”.
“Thế em có phải là một nhà thiết kế tuyệt diệu, năng khiếu tiềm ẩn từ sâu thẳm bên trong không?”. Doris nghếch mặt lên.
“Vâng… một nhà thiết kế tuyệt diệu”.
“Tuyệt diệu thế nào?”.
“Tuyệt diệu hơn…”, anh đánh trống lảng, “Andrea Palladio”.
Doris nhìn sang trái rồi nhìn sang phải. “Ông ta giỏi hơn cả Ty Pennington à?”.
“Ông ta là một kiến trúc sư người Ý ở thế kỷ mười sáu, được biết đến với những ảnh hưởng rộng rãi đến lịch sử kiến trúc Phương Tây”.
“Ồ… Được rồi. Anh được tha thứ”, cô chìa tay ra, “Đưa em điện thoại của anh, em sẽ gọi cho Bea”.
Một lúc sau, cả ba người đều đã ngồi quanh chiếc bàn mới trong nhà bếp, lắng nghe cuộc chuyện trò của Doris qua điện thoại, tất nhiên chỉ nghe được phân nửa – là những lời Doris nói.
“Được rồi, Bea đã nói với Peter, với người chuẩn bị phục trang cho vở Hồ Thiên Nga, và bố cô ấy”.
“Người chuẩn bị phục trang? Tụi em còn giữ cuốn chương trình chứ?”.
Doris biến vào phòng ngủ và quay lại với cuốn chương trình ba lê. Cô gõ nhẹ vào những trang giấy.
“Không phải”, Justin lắc đầu khi đọc hết phần giới thiệu về người phụ nữ ấy. “Anh đã gặp người phụ nữ này tối hôm đó, và đó không phải là người bí ẩn. Nhưng bố cô ấy có trong này không? Anh không thấy bố cô ấy đâu cả”.
Al nhún vai.
“Những người này không liên quan gì đến cả. Anh chắc chắn rằng đã không cứu sống cuộc đời người phụ nữ này hay bố cô ta. Người đó chắc hẳn phải là người Ai-len và đã nhận được sự chăm sóc theo dõi trong một bệnh viện Ai-len”.
“Biết đâu bố cô ấy là người Ai-len, hoặc đã từng ở Ai-len”.
“Đưa cho anh cuốn chương trình, anh sẽ gọi đến nhà hát”.
“Justin, anh không thể gọi cho cô ấy được”, Doris giật cuốn chương trình trong tay anh, nhưng anh khéo léo tránh được. “Anh định nói gì?”.
“Tất cả những việc anh muốn biết chỉ là bố cô ấy có phải là người Ai-len không hoặc đã từng ở Ai-len tháng rồi không?”.
Al và Doris nhìn nhau đầy lo lắng trong khi Justin rời khỏi nhà bếp, đi gọi điện thoại.
“Anh có từng như thế này không?”. Doris hỏi nhỏ Al.
“Không đời nào”, Al lắc mạnh đầu, cằm đưa qua đưa lại.
Năm phút sau, Justin quay trở vào.
“Cô ấy nhớ đã gặp anh, và… không, không phải là cô ấy hay bố cô ấy. Vậy là, hoặc Bea đã nói với ai đó khác nữa, hoặc là… chắc hẳn Peter đã ngớ ngẩn nhiều chuyện với người khác. Anh phải đi gặp mấy đứa nhỏ và…”.
“Xử sự người lớn chút đi, Justin. Không phải cậu ấy đâu!”. Doris nói nghiêm nghị. “Phải bắt đầu tìm kiếm ở nơi khác. Gọi cho những người giặt ủi quần áo, gọi cho anh chàng đã chuyển những chiếc bánh xốp nướng đến”.
“Anh làm hết rồi. Họ được thanh toán qua thẻ tín dụng và theo nguyên tắc là họ chẳng thể tiết lộ chút gì về người chủ thẻ”.
“Cuộc đời của anh là một bí mật to lớn. Giữa người phụ nữ tên Joyce và những người bí mật giúp chuyển thông điệp của cô ấy. Anh nên thuê một thám tử tư”. Doris đáp lại. “Ồ, em nhớ rồi!’, cô chợt lục lọi trong túi rồi đưa cho anh một mẩu giấy.
“Nhân nói chuyện những thám tử tư, em có cái này cho anh. Em có nó vài ngày trước nhưng không nói gì vì em không muốn anh làm một chuyện vô ích như đi chăn ngỗng trời. Nhưng anh hãy xem nó nếu như anh chọn cách này. Đây!”.
Cô đưa cho anh mẩu giấy với những chi tiết về Joyce ở bên trong.
“Em đã gọi cho Trung Tâm Truyền Thông Quốc Tế và đưa cho họ số điện thoại cá nhân của người tên Joyce đã gọi đến cho Bea tuần rồi. Họ cho em địa chỉ để đến đấy. Em nghĩ tìm người phụ nữ này là một ý tưởng tốt hơn đấy, Justin. Quên người bí ẩn kia đi. Ai biết được người gửi cho anh những mẩu tin nhắn này là ai? Tập trung vào người phụ nữ này, một mối quan hệ tốt đẹp, lành mạnh mới là điều anh cần”.
Anh đọc lướt qua mẩu giấy trước khi nhét nó vào túi áo, hoàn toàn không quan tâm đến. Tâm trí anh đang ở nơi nào khác.
“Anh chỉ muốn nhảy vào chuyện người bí ẩn kia thôi, phải vậy không?”, Doris dò xét.
“Này, cũng có thể là người phụ nữ tên Joyce đã gửi những thông điệp”, Al nói to chen vào.
“Đừng có kỳ quặc như thế, Al”. Justin gạt ra. “Anh đã gặt cô ấy ở tiệm hớt tóc. Ai nói với em đó là người bí ẩn đã làm tất cả những chuyện này?”.
“Ừm, mọi thứ rất rõ ràng”. Al đáp. “Bởi vì anh đã nhận được một giỏ bánh nướng xốp”. Al khịt mũi. “Chỉ có một người phụ nữ mới có thể nghĩ ra chuyện gửi đến một giỏ bánh xốp nướng. Hoặc là một anh chàng đồng tính. Và cho dù là ai đi nữa, anh ta hoặc cô ta – hoặc có thể là một người bán nam bán nữ - viết chữ rất đẹp, điều đó càng khiến giả thuyết của em có cơ sở. Một phụ nữ, một người đồng tính, hoặc một người bán nam bán nữ”, anh kết lại.
“Anh đây này, chính anh đã từng là một người nghĩ đến giỏ bánh xốp nướng”, Justin vênh vênh, phản đối. “Và, anh cũng là một người viết chữ đẹp!”.
“Đấy! Thì đúng như em nói. Chỉ có thể là một phụ nữ, một gã đồng tính, hoặc người nửa này nửa kia”, anh chàng cười toe toét.
Justin cáu tiết vung tay lên và buông người rơi lại vào ghế. “Hai em không giúp được gì cả”.
“Này, em biết ai có thể giúp anh”, Al nhổm lên.
“Ai?”, Justin chống cằm, đầy chán nản.
“Cô ma cà rồng”, anh nói với một vẻ giả vờ hoảng sợ.
“Anh đã nhờ cô ấy giúp rồi. Tất cả những gì anh có thể xem được là những chi tiết về máu của mình trong ngân hàng dữ liệu. Không có thông tin gì về người nhận máu do anh hiến tặng. Cô ấy sẽ không nói cho anh biết là máu của anh đã đi đâu đâu và cô ấy cũng sẽ chẳng bao giờ nói chuyện với anh lần nữa”.
“Vì anh đã bỏ mặc cô ấy, chạy theo chiếc xe buýt Viking?”.
“Em biết lý do sao anh làm vậy mà!”.
“Justin, anh đúng là có một cách xử sự hết ý kiến với phụ nữ”.
Anh nhìn chằm chằm vào hai mẩu giấy – đã được anh đặt ở giữa bàn.
Là ai nhỉ?
“Anh không phải hỏi Sarah quá thẳng thắn vào vấn đề đâu. Có lẽ anh nên rình theo dõi cô ấy tí tẹo trong văn phòng của cô ấy”, Al trở nên đầy hứng thú.
“Không được, thế là sai đấy”. Justin không bị thuyết phục. “Anh sẽ dính vào rắc rối. Anh đã gây rắc rối cho cô ấy rồi, bên cạnh đó, anh đã xử sự rất tệ với cô ấy!”.
“Đây thật sự là một việc làm rất đáng yêu!”, Doris đầy ranh mãnh. “Có thể đón cô ấy ở văn phòng, nói với cô ấy rằng anh xin lỗi, như một người bạn”.
Một nụ cười nhẹ nhàng nở trên gương mặt mỗi người bọn họ.
“Nhưng anh làm sao xin nghỉ một ngày tuần tới để đến Dublin?”. Doris hỏi, phá tan khoảnh khắc tinh quái vừa rồi.
“Anh đã nhận lời mời từ Phòng triển lãm quốc gia ở Dublin, sẽ có một buổi nói chuyện về tác phẩm Người Phụ Nữ Viết Thư”, Justin nói đầy hào hứng.
“Bức họa ấy vẽ gì thế?”, Al hỏi.
“Một phụ nữ viết thư, thám tử ạ!”. Doris khịt mũi.
“Nghe chán phèo!”, Al chun chun mũi. Sau đó, anh và Doris ngồi xuống, quan sát Justin đọc những mẩu giấy cảm ơn lần này sang lần khác, hi vọng giải mã được những gì giấu trong đó.
“Người Đàn Ông Đọc Mẩu Giấy Ghi Chú”, Al nhại, “Thảo luận đi”.
Al và Doris cười rũ ra lần nữa khi Justin bước ra khỏi phòng.
“Này anh đi đâu đấy”.
“Người Đàn Ông Đi Đặt Vé Máy Bay”, anh nháy mắt.
0
BA MƯƠI MỐT


Bảy giờ mười lăm sáng hôm sau, trước khi rời căn hộ để đi làm, Justin đứng đĩnh đạc ở cửa trước, đặt tay lên nắm cửa.
“Anh Justin, Al đâu rồi? Anh ấy không có ở trên giường khi em thức dậy”.
Doris ào ra, nhìn quanh quất. Cô vẫn còn đang mặc áo choàng ngủ và mang dép lê sử dụng trong nhà.
“Anh đang làm cái quái gì thế?”.
Justin đặt một ngón tay lên môi, ra dấu cho cô im lặng, hất đầu về phía cánh cửa.
“Có người làm cái quái gì ngoài ấy à?”, cô thì thầm đầy phấn khích, đá luôn cả đôi dép lê ra và rón rén như một nhân vật trong phim hoạt hình, đi bằng đầu ngón chân để nhập bọn cùng ah.
Anh gật đầu, hào hứng.
Họ ghé tai vào sát trên cửa và Doris tròn xoe mắt. “Em nghe rồi!”, cô lúng búng trong miệng.
“Anh đếm đến ba nhé!”. Anh thì thào và cả hai cùng đếm. Một, hai… Anh đẩy cửa mở ra đột ngột với tất cả sức mạnh. “A, bắt được rồi nhé!”, anh hét lên.
“Aaaaaaaa!”, người đưa thư hoảng sợ hét toáng lên, đánh rơi cả lá thư dưới chân Justin. Ông ném một cái gói vào Justin và thủ ngay một cái gói khác lên đầu phòng thủ.
“Aaaaaaaa!”, đến phiên Doris hét.
Justin xuýt xoa vì bị gói bưu phẩm ném trúng chân. Anh quỳ xuống kiểm tra đầu gối, gương mặt đỏ bừng lên và hơi thở hổn hển trong không khí.
Tất cả đều ôm lấy ngực, đau đớn.
Người đưa thư vẫn co rúm người lại, vẫn che đầu bằng một gói bưu phẩm.
“Justin”, Doris nhặt lá thư lên và vung tay đánh Justin một cái, “Anh ngốc vừa thôi! Đó là một người đưa thư mà!”.
“Ừ”, anh tằng hắng giọng tạo nên những tiếng khó nghe, “Anh thấy rồi!”. Mất vài giây để định thần lại chính mình. “Được rồi, thưa ông, ông có thể hạ cái gói bưu phẩm của ông xuống rồi. Tôi xin lỗi vì đã làm ông hoảng sợ!”.
Người đưa thư từ từ hạ cái gói xuống, vẫn còn chết khiếp không hiểu chuyện gì đã xảy ra. “Chuyện quái gì thế?”.
“Tôi đã nghĩ ông là một người khác. Tôi xin lỗi. Tôi đã chờ đợi… một chuyện khác”. Anh nhìn những lá thư rơi vương vãi trên sàn. Các hóa đơn. “Không còn cái gì khác cho tôi nữa sao?”.
Cánh tay trái anh lại bắt đầu làm cho anh nổi cáu lần nữa. ngứa ran như thể bị muỗi đốt. Anh bắt đầu gãi. Ban đầu là ngãi nhè nhẹ, sau đó, anh vỗ bôm bốp vào chỗ gập cánh tay bên trong, cho bớt ngứa. Cơn ngứa càng lúc càng lan rộng ra, anh phải dùng cả móng tay cào cào vào da mình, hết lần này đến lần khác. Những giọt mồ hôi lại ròng ròng nhỏ ra từ trán.
Nhân viên bưu điện lắc đầu, quay lưng bước đi.
“Không có ai gửi cái gì cho tôi sao?”. Anh bước nhanh lại gần hơn, vô tình tạo một cảm giác đe dọa không hề cố ý.
“Không, tôi đã nói là không”. Người đưa thư vội vàng chạy biến đi.
Justin nhìn theo, cảm thấy rất bối rối.
“Để ông ta một mình đi. Trời đất, anh gần như làm ông ta lên cơn đau tim đấy!”. Doris tiếp tục nhặt những lá thư lên. “Nếu hồi nãy anh phản ứng như thế với đúng người cần tìm, anh cũng sẽ làm họ sợ chết khiếp. Nếu anh gặp đúng người, em khuyên anh nên nghĩ lại về cái cách thức “A, bắt được rồi!” vừa rồi của mình”.
Justin kéo tay áo sơ mi lên, kiểm tra cánh tay của mình, mong tìm thấy một cái mụn đỏ hay một vết phát ban nào đấy, nhưng không co gì trên da anh ngoài những vết cào tự anh gây nên.
“Anh bị gì thế?”, Doris nheo mắt.
“Không!”.
Cô lê bước trở lại vào trong bếp với những tiếng tằng hắng. “Al?”, giọng cô vang vang trong bếp. “Anh đâu rồi?”.
“Cứu với! Cứu với! Ai cứu với!”.
Đột nhiên, họ nghe thấy tiếng Al, nghèn nghẹn như thể miệng anh bị nhét cả một miếng giẻ vào.
Doris thở hổn hển “Anh hả?”. Justin nghe tiếng cửa tủ lạnh mở. “Al”, cô đút đầu vào tủ lạnh. Cô quay trở ra phòng khách, lắc đầu, báo với Justin sự thật rằng chồng mình không hề… ở trong tủ lạnh.
Justin tròn mắt. “Cậu ấy ở bên ngoài, Doris”.
“Vì chúa, anh hãy ngừng đứng đó nhìn em mà hãy giúp anh ấy!”.
Anh mở cửa và Al, đang ngồi thụp trên đất, ngay chỗ mấy bậc thềm. Chiếc áo thun mỏng đẫm mồ hôi.
Doris và Justin đều chạy ngay tới. Cô vợ quỳ xuống. “Anh có ổn không, anh yêu? Anh bị ngã bậc thềm à?”.
“Không”, anh trả lời yếu ớt, cằm chạm vào ngực.
“Anh nói “Không” nghĩa là anh không thấy ổn hay anh nói “Không” là anh không ngã bậc thềm?”, cô hỏi.
“Cái đầu tiên”, anh nói với vẻ kiệt sức. “À không, cái thứ hai. À gượm đã, cái đầu tiên là gì?”.
Doris hét lên với anh như thể anh bị điếc, “Cái đầu tiên là anh có ổn không? Cái thứ hai là anh có bị ngã từ bậc thềm xuống không?”.
“Không”, anh đáp, ngửa đầu ra sau tựa vào tường.
“Không cái gì mới được? Em gọi xe cấp cứu nhé, hay anh cần một bác sĩ?”.
“Không”.
“Không cái gì, cưng? Thôi nào, anh đừng có nhắm mắt lại đấy nhé, đừng có đi đến nơi nào khác đấy”, cô vỗ vỗ vào mặt chồng, “Anh phải giữ cho mình tỉnh đấy!”.
Justin đứng dựa vào khung cửa, khoanh tay nhìn cả hai. Anh biết rằng em trai của mình ổn, vấn đề duy nhất của cậu ấy chỉ là thiếu vận động rèn luyện thể dục thôi. Anh đi vào nhà bếp lấy ít nước cho Al.
“Tim em…”, Al nói với vẻ hoảng sợ khi Justin quay vào. Hai bàn tay anh ta cào cào trên ngực và hơi thở thì hổn hển. Đầu anh ta ngước lên trên và há miệng nuốt lấy nuốt để không khí, như một con cá vàng khi chạm đến mặt nước trong bể bơi để bắt thức ăn.
“Anh có đang bị đau tim không đấy?”, Doris kêu lên thất thanh.
Justin thở dài, “Cậu ấy không phải đang bị đau t…”.
“Ngừng lại, Al!”. Justin bị cắt ngang câu nói vì tiếng thét của Doris.
“Anh không có bị đau tim đấy chứ, anh có nghe thấy em không?”. Cô vớ lấy một tờ báo nằm trên sàn, đánh đánh Al và nhấn mạnh từng chữ. “Anh. Đừng. Có. Nghĩ. Đến. Chuyện. Chết. Trước. Em. Al. Hitchcock”.
“Á…”, Al ôm lấy cánh tay mình. “Đau quá!”.
“Này, này, này!”. Justin phá vỡ sự hỗn loạn. “Đưa anh tờ báo, Doris”.
“Không!”.
“Em lấy nó ở đâu thế?”. Anh cố chộp nó khỏi tay cô nhưng cô đã nhanh nhẹn né được.
“Nó ở ngay đây, bên cạnh Al”. Cô nhún vai. “Thằng bé phát báo mang đến”.
“Họ chẳng có thằng bé phát báo nào ở gần đây cả”, anh giải thích.
“Thế thì em đoán đó là báo của Al”.
Có một cốc cà phê hộp nữa”, Al – cuối cùng đã lấy lại được hơi thở của mình, xoay xở nói.
“Một cốc cà phê gì?”. Doris gào lớn. Cánh cửa sổ bên căn hộ của người hàng xóm ở tầng trên bị gió thổi đập vào tạo nên một tiếng rầm lớn. Nhưng điều đó không ngăn được Doris. “Anh đã mua cà phê?”. Cô bắt đầu phát vào mông anh ta lần nữa với tờ báo trong tay. “Không phải hỏi tại sao anh suýt chết nữa!”.
“Này…”, Al choàng cánh tay che người để “bảo vệ” mình khỏi những cú đánh của Doris. “Đâu phải của anh đâu. Nó nằm ngoài cửa với một tờ báo khi anh chuẩn bị vào nhà”.
“Không có mẩu giáy nào kèm theo cả!”. Cô nheo mắt nhìn hai anh em, từ người này qua người khác.
“Kệ anh…”. Justin càu nhàu, giũ giũ tờ báo với hi vọng sẽ có một mẩu giấy nào đó rơi ra. Anh kiểm tra lại cốc cà phê để tìm lời nhắn gửi cho mình. Không có gì cả. Anh vẫn chắc nó dành cho anh, và người mang nó để ở đây chắc hẳn chưa thể đi xa được. Anh tập trung nhìn vào trang nhất. Trên những dòng chữ nổi bật, ở một góc nhỏ của trang, anh chú ý đến một lời hướng dẫn, “Trang 42”.
Anh không thể lật nhanh ra trang 42 được vì phải đánh vật với tờ báo khổ to vật vã để tìm đúng thứ tự. Cuối cùng, anh cũng sắp xếp được mọi thứ có hệ thống từ trên xuống dưới. Anh lướt qua những mẩu quảng cáo và những lời chúc mừng sinh nhật rồi gấp tờ báo lại, hòa cùng với Doris để mắng mỏ, phàn nàn Al về tội anh ta cứ thích nạp chất caffein vào người trong khi bị dị ứng với nó.
“Người đã nhận máu, mãi mãi biết ơn và ao ước được nói lời cảm ơn với Justin Hitchcock, người hiến máu và là người anh hùng, đã cứu sống cuộc đời tôi. Xin cảm ơn!”.
Anh ngửa đầu ra sau cười lớn. Cả Doris lẫn Al đều nhìn anh đầy vẻ ngạc nhiên.
“Al”, Justin tự hạ thấp mình bằng cách quỳ gối bên cạnh cậu em trai. “Anh cần em giúp anh, bây giờ”. Giọng anh đầy vẻ vội vã, những âm điệu lên xuống đầy phấn khcish. “Em có nhìn thấy bất kỳ ai khi em chạy bộ trở về nhà không?”.
“Không”. Al lắc đầu đầy mệt mỏi. “Em không thể nghĩ được”.
“Nghĩ đi!”. Doris vỗ vỗ vào mặt chồng nhè nhẹ.
“Không cần làm vậy đâu, Doris”.
“Họ không làm như vậy trong phim mà, khi họ cần tìm kiếm thông tin ấy. Nào, nói cho anh ấy nghe đi, cưng”. Cô thúc khuỷu tay vào anh nhẹ nhàng hơn.
“Em không biết”, Al rên rỉ.
“Anh làm em ốm mất thôi”. Doris gầm lên vào tai chồng.
“Nói chân thành nhé Doris, cách đó thật sự không giúp được đâu!”.
“Được thôi”, cô khoanh tay lại, “Nhưng nó có tác dụng trong phim Horatio mà!”.
“Ngay khi về đến nhà, em đã không thể thở được rồi, đừng nói chỉ là thấy. Em không nhớ ai cả. Xin lỗi, anh trai. Em thấy sợ. Tất cả những cái đốm đen này nhảy múa trước mắt em và em đã không thể thấy cái gì khác hơn. Em hoa mắt choáng váng, và…”.
“Thôi được”. Justin nhổm người dậy, chạy nhanh ra những bậc thang phía trước cổng vườn. Anh chạy băng qua cổng xe vào và nhìn ngược nhìn xuôi cả con đường. Bây giờ, nó đang trở nên đông đúc. Đã 7h30 và có nhiều người rời nhà, đến chỗ làm.
“CẢM ƠN!”. Justin hét to bằng hơi từ tận đáy buồng phổi của mình. Giọng nói của anh vỡ ra trong yên lặng. Một vài người quay lại nhìn anh nhưng hầu hết vẫn giữ nguyên đầu của họ cúi thấp khi cơn mưa phùn của tháng Mười ở London đang bắc đầu lắc rắc rơi xuống. Vài người khác nghĩ có lẽ anh là một gã bị tâm thần trong một buổi sáng thứ hai ở thành phố này.
“TÔI RẤT HÁO HỨC ĐỂ ĐƯỢC ĐỌC CÁI NÀY”. Anh vẫy tờ báo lên trong không khí, hét to trên đường để có thể nghe được từ mọi ngóc.
Mình có thể nói gì với một ai đó mà mình đã cứu sống nhỉ? Nói điều gì đó thật sâu sắc. Nói điều gì đó thật hóm hỉnh. Nói điều gì đó thật triết lý.
“TÔI RẤT MỪNG VÌ BẠN CÒN SỐNG!”, anh hét tiếp.
“Vâng, cảm ơn!”. Một phụ nữ nháo nhào băng ngang qua anh, đầu cúi thấp để tránh mưa.
“À, TÔI SẼ KHÔNG CÓ MẶT Ở ĐÂY NGÀY MAI”. Ngừng, “TRONG TRƯỜNG HỢP BẠN DỰ TÍNH LẠI LÀM VIỆC NÀY LẦN NỮA!”.
Anh nâng cốc cà phê lên trong không khí và vẫy nó về mọi phía, làm rớt một giọt từ cốc và nó nóng hổi trên tay anh. Vẫn còn nóng. Bất kể là ai mang đến, chắc hẳn họ vẫn còn đâu đó quanh đây.
“À, TÔI BẮT CHUYẾN BAY ĐẦU TIÊN ĐẾN DUBLIN SÁNG MAI. BẠN CÓ ĐẾN ĐÓ KHÔNG?”. Anh hét lên trong không khí. Những cơn gió lạnh cuốn theo những chiếc lá vàng khô giòn, rơi lả tả từ trên cành cao xuống đất, rồi chúng bắt đầu xào xạc quay tròn, chạy đuổi nhau trên đường, tạo ra những thanh âm nho nhỏ, sột soạt sột soạt dài dài trên mặt đất cho đến khi chúng cảm thấy an toàn để ngừng lại.
“DÙ SAO, XIN CẢM ƠN LẦN NỮA”. Anh vẫy tờ báo trong không khí và quay mặt trở vào nhà.
Doris và Al đều đang đứng ở bậc thang trên cùng của thềm nhà, cánh tay khoanh lại, gương mặt cả hai giống như một bức tranh đầy những lo âu. Al đã trở lại bình thường và đang chỉnh áo quần, nhưng vẫn dựa lưng vào tay vịn sắt cho vững chãi.
Justin kẹp tờ báo dưới cánh tay, đi thẳng lên và cố xuất hiện với một vẻ đứng đắn nhất có thể. Anh đút tay trong túi và đi tản bộ dọc về phía căn nhà. Cảm thấy có một mảnh giấy trong tay mình, anh nhìn xuống, và đọc thật nhanh trước khi vò nát nó trong tay và quăng ngay vào thùng vật liệu xây dựng thừa. Anh đã cứu sống cuộc đời của một người, giống như anh nghĩ. Anh phải tập trung vào những gì quan trọng nhất có trong tay. Anh bước vào căn hộ, cố gắng xuất hiện một cách ấn tượng như anh muốn.
Từ dưới đáy của thùng vật liệu xây dựng, bên dưới những tấm thảm xấu xí, cũ kỹ, đầy mùi mốc meo, những viên ngói vỡ, những ống sơn, những tấm bảng dính đầy vôi vữa, tôi nằm trong một cái bồn tắm cũ bị vứt đi và lắng nghe cho đến khi những thanh âm lùi xa dần. Nghe được cả tiếng cánh cửa của căn hộ cuối cùng cũng đóng lại.
Một viên giấy bị vò nát bay xuống gần bên cạnh, và khi tôi chạm được đến nó, vai của tôi bị va đập mạnh vì một cái ghế đẩu hai chân, đổ rầm xuống tôi ngay khi vừa kịp nhảy khỏi thùng vật liệu xây dựng. Tôi nhặt viên giấy lên, mở nó ra, vuốt cho ngay ngắn từng góc. Trái tim tôi bắt đầu những nhịp thình thịch nữa khi tôi thấy tên của mình trên ấy, với địa chỉ của bố và số điện thoại của ông nguệch ngoạc bên trên.
0
BA MƯƠI HAI


“Con đã ở nơi quái quỷ nào đấy? Chuyện gì xảy ra với con thế, Gracie?”.
“Joyce”, tôi đáp khi chạy ào vào phòng khách sạn, thở không ra hơi, người dính đầy bụi và các vệt sơn. “Con không có thời gian giải thích”.
Tôi chạy vòng quanh phòng, ném những bộ quần áo của mình vào trong túi, thay nhanh đồ rồi vội vàng chạy ngang qua bố - lúc này đang ngồi trên giường – để vào phòng khách”.
“Bố đã cố gọi điện thoại di động cho con”, bố nói lớn.
“Sao ạ? Con không nghe nó reng”. Tôi cố sức kéo cái quần jeans ra, cò co trên một chân, rồi vừa kéo nó ra hẳn vừa đánh răng, cùng lúc.
Tôi nghe tiếng bố nói gì đó. Lầm bầm không rõ chữ.
“Con không nghe thấy, con đang đánh răng!”.
Bên ngoài trở nên im ắng. Chờ cho tôi xong hết và trở ra ngoài phòng, bố tiếp tục như thể chúng tôi không hề có năm phút im lặng vừa rồi.
“Con không nghe reng là phải rồi. Bởi vì khi bố gọi, bố nghe nó reng trong phòng ngủ. Điện thoại của con nằm trên gối của con đấy. Giống như thỏi sô cô la mà các quý cô xinh đẹp để lại sau lưng khi rời khỏi đây”.
“Ồ, được rồi!”. Tôi nhảy qua chân bố, đến bàn trang điểm để trang điểm trở lại.
“Bố đã rất lo lắng cho con”, ông nói khẽ.
“Bố không cần thế đâu”. Tôi lại chạy vòng quanh với một chiếc giày đang mang dưới chân, tìm kiếm hắp nơi chiếc giày còn lại.
“Bố gọi xuống quầy tiếp tân ở dưới để hỏi xem họ có biết con đi đâu không”.
“Hả?”, tôi đầu hàng chuyện tìm kiếm chiếc giày và tập trung vào việc đeo bông tai vào. Những ngón tay của tôi run rẩy hệt như tình trạng của Justin. Ngón tay trở nên quá to với nhiệm vụ cầm một vật bé xíu xiu. Phần chuôi sau của chiếc hoa tai rơi xuống sàn. Tôi lồm cồm bò xuống tìm.
“Thế là sau đó, bố đi bộ lên xuống con đường, kiểm tra tất cả những cửa hàng mà bố biết là con thích, hỏi mọi người xem họ có thấy con đâu không”.
“Bố đã làm thế à?”, tôi nói lơ đễnh, cảm thấy thảm nóng hổi dưới lớp quần jeans khi tôi bò khắp trên sàn.
“Ừ”. Bố đáp khẽ lần nữa.
“A ha, tìm thấy rồi!”. Tôi tìm thấy phần chuôi của chiếc hoa tai ngay bên cạnh sọt đựng giấy vụn đặt bên dưới bàn.
“Chiếc giày khỉ gió của con đâu rồi nhỉ?”.
“Và trên một chặng đường dài”, bố tiếp tục, mặc kệ tôi đang quay lưng với cảm giác bực dọc của mình. “Bố đã gặp một người cảnh sát và bố nói với ông ta là bố rất lo lắng. Ông ta đưa bố về khách sạn, nói bố ở đây chờ con. Nếu sau 24 tiếng đồng hồ chưa tháy con quay về thì bố gọi số này”.
“Ông ấy tử tế nhỉ”. Tôi mở tủ quần áo, vẫn tìm kiếm chiếc giày và phát hiện ra nó đầy những áo quần của bố.
“Bố”, tôi kêu lên, “Sao bố vứt bộ vest ở đây. Cả cái áo liền quần đẹp nhất của bố nữa!”.
Tôi nhìn bố, chợt nhận ra – lần đầu tiên kể từ lúc tôi trở về phòng – rằng trông ông nhợt nhạt đến mức nào. Ông già đi biết chừng nào trong căn phòng khách sạn vô hồn này. Ngồi trên một góc chiếc giường đơn của ông, mặc bộ vest cũ, cái mũ lưỡi trai nằm trên giường bên cạnh. Va li của bố nửa đóng nửa mở ngay bên cạnh. Một tay bố cầm tấm hình của mẹ, tay kia cầm danh thiếp của người cảnh sát đã đưa cho. Những ngón tay giữ chúng run run, mắt bố đỏ và có vẻ như bị đau.
“Bố”, nỗi sợ hãi trong tôi lớn dần lên, “Bố ổn không?”.
“Bố đã rất lo lắng”. Bố lặp lại lần nữa với giọng nhỏ xíu cái câu mà tôi đã lờ đi khi mới vào phòng. Bố nuốt nước bọt một cách khó khăn.
“Bố không biết con ở đâu”.
“Con đi thăm một người bạn”, tôi nói dịu dàng, ngồi xuống với ông trên giường.
“Ừm, còn người bạn này, thì ở đây lo lắng”. Bố cười nhẹ, nụ cười yếu ớt khiến tôi nhói lên vì nhận ra bố yếu đuối và dễ vỡ đến thế nào.
Bố trông như một ông già. Sự vui tính hoạt bát, thái độ bình thường mọi ngày của ôgn biến mất. Nụ cười của ông cũng biến mất và đôi tay ông run rẩy – trong khi bình thường thì vững như đá. Ông đẩy tấm hình của mẹ và tấm danh thiếp của người cảnh sát vào lại trong túi áo khoác.
Tôi nhìn cái túi của bố. “Bố tự đóng gói lại hành lý đấy à?”.
“Bố cố thử. Bố đã nghĩ bố xếp đủ mọi thứ vô rồi”, bố quay đi khỏi tủ quần áo đang mở, ngượng ngùng.
“Được rồi, vậy hãy xem bên trong coi chúng ta có được những gì”. Tôi nghe như mình đang dịu dàng hướng dẫn một đứa trẻ.
“Không phải chúng ta đang rất gấp, không còn thời gian sao con?”, bố hỏi. Giọng bố khe khẽ, nên tôi hạ thấp giọng của mình nhỏ nhẹ hơn nữa để không làm tổn thương bố.
“Không đâu ạ”, mắt tôi rưng rưng. “Chúng ta có tất cả thời gian trên thế giới này, bố ạ!”.
Tôi nhìn xung quanh và ngăn những giọt nước mắt rơi ra bằng cách nhấc chiếc va li của bố để lên giường, cố gắng tự mình sắp xếp lại mọi thứ cho ngay ngắn.
Khi tôi mở túi, suýt chút nữa tôi bật lên những tiếng kinh ngạc với những gì mình thấy được bên trong. Hình như bố chưa bao giờ tự đóng gói hành lý cho mình. Cả cái vali lộn xộn đủ thứ linh tinh khác nhau. Ở độ tuổi bảy mươi lăm, sau mười năm ròng không còn bàn tay chăm sóc của vợ, bố không biết phải làm sao để xếp hết mọi thứ vào trong.
Mọi thứ rõ ràng đã được cố gắng xếp lại, nhưng không thành. Áo quần giống như những quả bóng nhỏ vo tròn lại rồi nhét vào, như kiểu xếp của một đứa bé. Tôi tìm ra chiếc giày của mình nằm trong cái khăn tắm. Tôi lấy chiếc giày ra và mang nó vào chân, không nói tiếng nào, như thể đó chỉ là chuyện bình thường nhất trên thế giới này. Những chiếc khăn tắm của khách sạn được đưa về nơi chúng phải thuộc về. Tôi gấp lại mọi thứ và xếp tất cả vào một lần nữa. Những chiếc áo thun lót chưa giặt, những đôi vớ, áo ngủ, áo vest, cái túi đựng vật dụng vệ sinh linh tinh của bố. Tôi quay lưng lại, lấy những bộ đồ của ông ta ra khỏi tủ quần áo và hít một hơi dài. “Chúng ta có tất cả mọi thời gian trên đời này, ha bố!”, tôi lặp lại. Mặc dù lúc này, thời gian chính là điều quý báu với tôi.
Trong xe điện ngầm trên đường ra sân bay, bố cứ kiểm tra đồng hồ và nhấp nhổm bồn chồn trên ghế. Mỗi lần chiếc xe điện ngừng ở trạm, bố lại đẩy mạnh cái ghế ở phía trước mình một cách thiếu kiên nhẫn như thể bằng cách đó, bố cso thể làm cho nó chạy nhanh hơn.
“Bố định đi đâu đấy ạ?”, tôi mỉm cười.
“Câu lạc bộ thứ Hai”. Ông nhìn tôi với nỗi lo âu trong mắt. Bố chưa từng bao giờ bỏ lỡ một tuần nào, ngay cả khi tôi ở trong bệnh viện.
“Nhưng hôm nay là thứ Hai mà, không trễ đâu bố”.
Ông bồn chồn. “Chỉ là bố không muốn lỡ chuyến bay thôi. Chúng ta có thể sẽ bị kẹt lại ở đây”.
“Ồ, con nghĩ rằng chúng ta sẽ bắt kịp”. Tôi cố gắng giấu một nụ cười.
“Và mỗi ngày đều có hơn một chuyến bay, bố biết đấy”.
“Thế thì tốt”. Trông ông có vẻ nhẹ nhõm hẳn. “Bố sẽ kể cho mọi người những gì bố thấy. Ồ, họ không tin những chuyện bố kể cho họ nghe tối nay đâu”, bố nói đầy hào hứng. “Chú Donald sẽ chết mất khi mọi người quay sang lắng nghe bố chứ không phải lắng nghe chú ấy”.
Ông ngả ghế về phía sau, nhìn ra ngoài cửa sổ khi những đám mây đen ùn ùn kéo đến. Bố nhìn chăm chăm vào những đám mây đen, như nhìn về một nơi nào khác, nhìn một ai đó khác trên chặng đường xa.
Trong khi bố đang chìm đắm giữa những hồi tưởng mênh mang, tối lấy điện thoại di động ra và bắt đầu lên kế hoạch cho những bước kế tiếp.
“Frankie, tớ đây này. Justin Hitchcock sẽ đi trên chuyến bay đầu tiên đến Dublin sáng mai. Tớ cần biết anh ta sẽ làm gì ở đó”.
“Ý cậu là tớ được ủy thác để làm việc điều tra đó sao, thưa quý bà Conway?”.
“Tớ tin chắc là cậu có cách để biết mà”.
“Cậu nói đúng. Tớ có cách. Nhưng tớ cứ tưởng cậu có thần giao cách cảm với anh chàng ấy và thần giao cách cảm đủ mạnh để cậu biết mọi thứ”.
“Tớ có thần giao cách cảm bao giờ. Tớ chẳng biết những việc anh ấy dự tính sẽ làm cả”.
“Năng lượng của cậu giảm bớt à?”.
“Tớ không có năng lượng… Cậu nói gì thế!”.
“Thôi được rồi, tớ đùa đấy. Đợi vài tiếng nhé. Tớ sẽ tìm ra và liên lạc lại với cậu”.
Hai giờ sau, ngay khi bố và tôi đang chuẩn bị làm thủ tục lên máy bay, tôi nhận được điện thoại từ Frankie.
“Anh ấy sẽ đến Phòng Triển Lãm Quốc Gia sáng ngày mai, lúc mười giờ rưỡi. Anh ấy có một buổi nói chuyện về tác phẩm hội họa mang tên Người Phụ Nữ Viết Thư. Nghe có vẻ rất hấp dẫn”.
“Ồ, đúng đấy. Đó là một trong những tác phẩm tuyệt nhất của Terborch. Ý tớ là như thế”.
Im lặng.
“Frankie này, cậu giúp tớ một việc được không?”. Tôi mỉm cười tinh quái khiến bố phải nhìn tôi lo lắng. “Ông chú Tom trẻ măng của cậu vẫn còn làm tài xế lái xe cho công ty?”.
“Kế hoạch của con là gì đấy?”. Bố hỏi với vẻ nghi ngờ khi tôi kết thúc cuộc nói chuyện điện thoại.
“Con có vài việc vui vui thôi mà bố”.
“Con không định quay lại làm việc sao? Đã mấy tuần rồi đấy. Conor gọi di động cho con trong khi con đi ra ngoài sáng nay. Bố quên nói lại với con. Cậu ấy ở Nhật nhưng bố có thể nghe tiếng cậu ấy nói rất rõ ràng”. Ông nói, “Cậu ấy muốn biết tại sao căn nhà vẫn còn chưa treo tấm biển Bán Nhà trong vườn. Cậu ấy nói rằng co nên làm như thế”.
Trông bố có vẻ lo lắng, như thể tôi đã phá vỡ một thế giới với những quy luật cũ và bây giờ ngôi nhà sẽ nổ tung nếu nó không có tấm biển Bán Nhà được đóng xuống đất.
“Ồ, con đâu có quên”. Tôi bị kích động khi nghe bố nói tới cuộc gọi của Conor. “Con sẽ tự mình bán nó. Sáng mai con có hẹn với người khách xem nhà đầu tiên”.
Bố có vẻ không chắc về điều tôi vừa nói. Và ông đã đúng. Tôi nói dối một cách trơn tru. Tất cả những gì tôi phải làm lúc này là lướt qua cuốn sổ tay ghi chép của mình, gọi vòng vòng trong danh sách khách hàng – những người tôi biết rằng đang tìm kiếm một ngôi nhà tương tự. Tôi nghĩ ra vài người.
“Công ty của con biết chuyện này không?”, bố nheo mắt.
“Có ạ”. Tôi mỉm cười. “Họ có thể chụp vài tấm ảnh và đưa hết thông tin lên hệ thống mạng trong vòng vài giờ”.
Ông tròn mắt.
Cả hai chúng tôi đều quay đi. Và để cố chứng minh mình có thể làm vậy thật, trong thời gian chúng tôi lê bước giữa dãy dài những người xếp hàng làm thủ tục lên máy bay, tôi viết mail cho một vài khách hàng, cung cấp thông tin về ngôi nhà và hỏi xem họ có hứng thú đến xem không.
Sau đó, tôi nhờ một nhà nhiếp ảnh đáng tin cậy chụp giúp vài tấm hình về ngôi nhà. Ngay khi chúng tôi ổn định chỗ ngồi trên máy bay, tôi đã sắp xếp xong những tấm hình, tấm bảng Bán Nhà và có một cuộc hẹn xem nhà vào ngày mai.
Hai vợ chồng muốn mua đều là giáo viên của một ngôi trường ở địa phương. Người phụ nữ là bạn cũ của tôi. Họ dự tính xem ngôi nhà vào khoảng thời gian nghỉ ăn trưa của họ. Ở dưới cùng của văn bản nhận được, tôi thấy thêm dòng chữ: “Rất tiếc khi nghe những gì đã xảy ra. Vẫn luôn nghĩ đến cậu. Hẹn gặp cậu ngày mai, Linda xx”.
Tôi xóa văn bản ngay lập tức.
Bố nhìn ngón tay cái của tôi làm việc liên tục trên những phím của điện thoại di động với một tốc độ chóng mặt. “Con đang viết một cuốn sách đấy à?”.
Tôi phớt lờ ông.
“Con sẽ bị chứng viêm khớp với ngón tay cái của con đấy. Viêm khớp thì chẳng vui thú gì đâu, bố có thể nói với con như vậy”.
Tôi bấm gửi và tắt điện thoại.
“Có thật là con không hề nói dối về ngôi nhà không?”, ông hỏi.
“Không”. Tôi nói, lúc này đầy vẻ tự tin.
“Ừm, bố không biết điều đó, đúng không? Bố đã không biết phải nói cái gì với cậu ấy”.
“Nhưng lẽ ra bố không nên trả lời điện thoại của con như thế”.
“Con biến mất cả buổi sáng. Con muốn bố làm gì, chẳng lẽ phớt lờ những cuộc gọi đến à?”.
“Cậu ấy chỉ quan tâm đến con thôi mà, con biết đấy. Cậu ấy nghĩ con nên gặp một ai đó chuyên nghiệp, giúp con bán được nhà nhanh chóng?”.
“Anh ấy muốn thế thật à?”, tôi khoanh tay, muốn gọi thẳng cho Conor và tuôn ra hết tất cả những gì tôi chất chứa trong lòng, không ưa về anh ta. Nào cắt móng chân trên giường ngủ, nào những hơi thở phì phò mỗi buổi sáng hầu như muốn làm rung rinh cả ngôi nhà, nào cái cách không bao giờ để người khác nói dứt câu, nào việc anh không có khả năng ngồi xuống và có một cuộc nói chuyện như người lớn về những trục trặc của chúng tôi, cái cách anh đi tới đi lui không ngừng suốt những trận cãi vã… Bố cắt ngang cuộc tra tấn trong thầm lặng của tôi với Conor.
“Cậu ta nói con gọi cho cậu ta vào lúc nửa đêm, tuôn ra hàng tràng tiếng Latin”.
“Thật sao?”. Những giận dữ trong lòng tôi lại dâng tràn lên. “Thế bố nói gì ạ?”.
Bố nhìn ra ngoài cửa sổ.
“Bố nói với cậu ta rằng con còn nói trôi chảy cả tiếng Ý nữa”. Tôi nhìn thấy đôi má của bố hếch lên và tôi ngửa đầu ra sau, cười rũ.
Tất cả mọi thứ đều là như thế.
Đột nhiên, ông nắm lấy bàn tay tôi. “Bố cảm ơn về tất cả những điều này, con gái. Bố đã có một khoảng thời gian rất tuyệt”. Ông nắm chặt bàn tay tôi và quay trở về với việc nhìn ra ngoài cửa sổ, khi những mảng xanh bên dưới khuất dần đi. Ông vẫn không buông tay tôi ra. Và thế là tôi dựa đầu vào vai ông, nhắm mắt lại.
0
BA MƯƠI BA


Justin đi bộ ngang qua ga đến cửa phi trường Dublin buổi sáng thứ Ba. Chiếc điện thoại di động trên tai. Anh bấm gọi và lại nghe lần nữa giọng của Bea trong hộp thư thoại. Anh thở dài trước tiếp “bíp” buồn chán, chán cả cách xử sự trẻ con của cô bé.
“Chào con, con yêu. Bố đây. Một lần nữa. Con nghe này, bố biết là con giận bố, và vào tuổi con thì mọi thứ rất là… ồ, đầy kịch tính. Nhưng chỉ cần con lắng nghe những điều bố nói, thì chắc hẳn là đứa con ngốc nghếch của bố phải đồng ý với bố và cảm ơn bố về chuyện đó khi con về già. Bố chỉ muốn những điều tốt nhất cho con và bố sẽ không gác máy cho đến khi nào bố thuyết phục được con…”.
Đột nhiên, anh ngắt máy.
Phía sau rào chắn của khu vực ga đến, là một người đàn ông trong bộ vest sẫm màu, đang cầm một tấm bảng trắng lớn với họ tên Justin viết đầy đủ bằng chữ in hoa. Bên dưới đó là hai chữ đầy kỳ diệu, “CẢM ƠN”.
Những chữ ấy chiếm hết sự chú ý của anh khi anh nhìn những tấm bảng, những tờ báo, những mẩu quảng cáo, rao vặt trên radio, trên tivi suốt cả ngày. Bất cứ khi nào nghe những chữ ấy thốt ra từ miệng người qua đường, anh đều dành gấp đôi sự chú ý, theo sát họ như thể bị thôi miên, như thể họ đang chứa đựng những lời giải mã đặc biệt chỉ dành riêng cho anh. Những chữ ấy trôi bồng bềnh trong không khí như mùi hương tươi mới của cỏ mới cắt ngày hè, chúng mang theo cùng với chúng một cảm xúc, một nơi chốn, một khoảng thời gian trong năm, một sự hạnh phúc, một sự chào đón thay đổi, một sự di chuyển. Chúng chở đến cho anh nghe những bài hát đặc biệt, quen thuộc từ những ngày thanh niên trai trẻ, khi luyến tiếc về quá khứ, như những con thủy triều, quét vào và đẩy anh trên cát, đẩy anh vào những khi anh ít mong đợi nhất, đôi khi là lúc anh ít muốn nhất nữa.
Những chữ ấy luôn luôn trong đầu anh, cảm ơn, cảm ơn, cảm ơn. Anh càng nghe chúng nhiều và càng đọc đi đọc lại những mẩu giấy gửi tới nhiều, thì chúng càng trở nên xa lạ, như thể anh thấy một chuỗi ký tự kỳ lạ này lần đầu tiên trong đời, như thể là những nốt nhạc, thật quen thuộc, thật đơn giản, nhưng được sắp xếp theo một cách thức khác, trở thành những thanh âm trong trẻo đến vô cùng.
Không còn chút ý nghĩ nào khác về chuyện của Bea, anh gập điện thoại cất vào và bước đến bên người đàn ông đang cầm tấm bảng.
“Xin chào”.
“Ông Hitchcock ạ?”. Người đàn ông cao một mét tám mươi, đôi chân mày quá rậm và dày đến nỗi Justin chỉ vừa vặn thấy được đôi mắt ông.
“Vâng”, anh đáp với vẻ nghi ngờ. “Chiếc xe này dành để đón một người tên là Justin Hitchcock à?”.
Người đàn ông kiểm tra kỹ lại mảnh giấy trong túi áo của mình. “Vâng, đúng thế thưa ông. Vẫn đúng là ông phải không ạ, hay có gì thay đổi?”.
“Vâ… ng…”, anh nói rất chậm, như chìm trong vẻ trầm mặc suy tư. “Là tôi”.
“Dường như ông có vẻ gì đó không chắc chắn”, người tài xế nói, hạ thấp tấm bảng xuống. “Ông định đi đâu sáng nay ạ?”.
“Anh không biết à?”.
“Tôi biết thưa ông. Nhưng lần trước, tôi đã để một người vào xe với vẻ hơi không chắc lắm như ông. Và rồi… Ông không tin được đâu, tôi đã đưa một nhà hoạt động xã hội chuyên bảo vệ động vật thẳng đến cuộc họp IMFHA”.
Không biết nghĩa chữ viết tắt đó là gì, Justin hỏi lại: “Có gì tệ lắm à?”.
“Vâng. Tệ lắm. Vì ngày hôm đó, vị Chủ tịch của một tập đoàn lớn tại Ai-len bị kẹt lại sân bay vì không có xe đón. Trong khi đó, cái tên tài xế mất trí mất trí tôi đây lại đón một người khác để đưa đến buổi họp quan trọng. Một kinh nghiệm nhớ đời cho tôi khiến tôi luôn phải hỏi lại những người hơi không chắc chắn”.
“Ừm, thế thì có lẽ trong buổi họp hôm ấy, những thành viên dự họp sẽ bắt chước kêu ồ ồ như những con vật thuộc loại quý hiếm cần bảo vệ…”, Justin đùa. Anh nghếch cằm lên, tự tin trong khi người tài xế vẫn nhìn lạnh tanh, không biểu lộ chút cảm xúc nào.
Máu dồn lên làm khuôn mặt Justin nóng bừng.
“Được rồi, tôi đi đến Phòng Triển Lãm Quốc Gia”. Ngừng. “Tôi sẽ đến đó, nói chuyện về một tác phẩm hội họa. Mọi người chắc hẳn sẽ nghe tôi chăm chú. Anh biết không, người vợ cũ của tôi đã từng là một trong số những khán giả nồng nhiệt của tôi đấy, và tôi từng chạy ào đến cô ấy với một cây cọ vẽ trong tay “, anh cười thành tiếng. Người tài xế đáp lại bằng một ánh nhìn trân tối khác.
“Thật ra… Tôi đã không hề mong chờ rằng có ai đó đón mình”, Justin càu nhàu bước theo gót người tài xế, ra khỏi phi trường vào một ngày tháng Mười xám xịt.
“Không ai ở Phòng Triển Lãm Quốc Gia thông báo cho tôi biết rằng anh đến đón”, anh hỏi dò người tài xế trong khi họ vội vã băng qua lối đi dành cho khách bộ hành.
“Tôi cũng không hề biết về việc đi đón này, cho đến tận khá trễ tối hôm qua, tôi mới nhận được một cuộc gọi. Tôi cứ nghĩ rằng đấy là đi đến chỗ đám tang của bà dì bên vợ hôm nay”. Ông lục lọi trong túi để lấy vé đậu xe hơi và đẩy nó vào trong một chiếc máy tự động để in ngày giờ đậu xe.
“Ồ, tôi rất tiếc khi nghe điều đó”, Justin ngừng lau những giọt mưa rơi lất phất trên vai chiếc áo khoác màu nâu của mình, nhìn người tài xế với một vẻ sẻ chia chân thành thật sự.
“Tôi ghét những đám tang”.
“Vâng, không phải mình ông nghĩ như thế”.
Người tài xế ngừng bước đi, quay lại nhìn Justin với một ánh nhìn nghiêm túc đến mức nghiêm trọng trên gương mặt. “Ông đã từng… trong đám tang chưa? Ý tôi là người thân”.
Justin không chắc đây là một câu hỏi nghiêm túc hay một câu gợi chuyện cho vui. Nhưng anh nhận ra người tài xế không hề hé miệng dù chỉ là cho một nụ cười rất nhẹ. Anh mường tượng lại đám tang của bố, khi anh mới chín tuổi đầu. Hai gia đình đứng lẫn lộn cùng nhau trong khuôn viên khu nghĩa trang, tất cả đều mặc từ đầu đến chân đúng một màu đen tuyền.
Gia đình bố anh đổ về từ Ai-len, mang theo với họ những cơn mưa… những cơn mưa trái mùa bất thường giữa mùa hè nóng bức ở Chicago. Mọi ngươi đứng bên nhau dưới những chiếc dù. Anh đứng gần sát người cô ruột Emelda, người một tay cầm dù, tay kia ôm chặt lấy vai anh. Al và mẹ anh thì đứng kế đó, dưới một cây dù khác. Al hãy còn bé lắm. Cậu bé mang theo một chiếc bật lửa, chơi với chiếc bật lửa trong suốt quãng thời gian đức cha cầu nguyện và nhắc lại những điều về cuộc đời của bố. Điều đó khiến Justin khó chịu. Sự thật là, tất cả mọi người, tất cả mọi vật đều khiến Justin thấy khó chịu trong ngày hôm ấy.
Anh ghét bàn tay của cô Emelda cứ để trên vai anh, mặc dù anh biết rằng đó chỉ là một động tác đầy chia sẻ. Anh thấy tay cô sao mà nặng, sao mà chặt quá, như thể cô cứ giữ anh phải đứng nguyên đó, e sợ anh cũng sẽ bỏ cô mà đi, e sợ anh cũng đào một cái lỗ thật to trên nền đất và chui vào đấy như bố anh đã làm.
Anh được cô đón sáng nay. Cô mặc cho anh một bộ vest trẻ em đẹp nhất, trong khi mẹ anh cứ thì thầm gì đấy bằng một giọng nhỏ đến mức anh chưa bao giờ nghe. Rồi cô giả vờ làm một nhà tiên tri đoán những điều bí mật…
“Cô biết cháu muốn gì… Chú lính bé nhỏ dũng cảm”, cô nói bằng chất giọng đặc sệt Ai-len của mình. Rồi cô lục lọi trong cái giỏ xách to quá khổ để lôi ra một chú lính bằng nhựa đang giơ tay chào, nhanh chóng gỡ miếng giấy nhỏ dán giá tiền ra, và đặt chú lính nhựa vào tay anh.
Justin nhìn chằm chằm chú lính nhỏ trong tay mình. Chú lính bồng một khẩu súng nhựa trong tay, vẫy kiểu chào mừng. Ngay lập tức, anh cảm thấy như mình không còn tin vào chú lính nhỏ đó nữa. Anh nhận ra mình không còn là cậu nhóc chín tuổi. Không còn là một Justin với niềm khao khát có chú lính nhựa đó. Anh không còn chờ đợi món quà là chú lính nhựa được bố hứa mua cho trong ngày sinh nhật. Nhưng dù sao, anh cũng đón nhận món quà ẩn chứa đầy sự quan tâm sâu sắc của người cô, với nụ cười rất nhẹ.
Sau đó, khi anh đứng bên cạnh cô Emelda bên lỗ huyệt, có lẽ cô đọc được ý nghĩ của anh nên đã níu rất chặt vai anh, cứ như anh sẽ nhảy vào cái lỗ đen ngòm chết tiệt kia. Quả thật, anh đã nghĩ rằng hình như cả thế giới bị chôn theo dưới ấy. Nếu anh trốn thoát bàn tay mạnh mẽ của người cô ruột, nhảy xuống cái hố ấy thì sao nhỉ? Có thể sẽ chẳng ai bắt được anh. Có thể đất sẽ phủ lên trên, những thảm cỏ sẽ bao quanh. Anh và bố sẽ lại có thể bên nhau.
Anh tự hỏi liệu như thế có được không. Anh sẽ có bố, một mình anh thôi, không phải “chia sẻ” bố với mẹ hay Al. Rồi hai bố con lại có thể cùng chơi, cùng cười với nhau, dù là chơi hay cười trong bóng tối. Có thể bố không thích ánh sáng. Ông muốn ánh sáng biến đi mất cả… Có thể những tia nắng mặt trời nóng bỏng làm bố khó chịu. Có thể bố muốn ở trong bóng râm… Trong khi mẹ và anh, và bé Al chạy chơi bên ngoài… Mẹ sẽ mỗi ngày một ngăm đen, trong khi bố thì mỗi ngày một nhợt nhạt hơn… Có thể đó là những điều bố muốn.
Khi chiếc quan tài được hạ xuống trong lỗ huyệt đen, mẹ anh đã khóc ngất lên khiến Al cũng khóc theo. Justin biết rằng không phải Al khóc vì đã mất đi người bố. Em trai anh đang khóc vì hoảng sợ trước những hành động của mẹ. Tiếng khóc của cậu bé làm vỡ tan trái tim những người đến dự. Mẹ anh khóc nức nở, bà nội cũng sụt sùi theo. Ngay cả chú Seamus em trai của bố, người mọi ngày luôn luôn giữ nụ cười trên môi, bây giờ cũng mím chặt đôi môi run run. Justin nghĩ rằng có lẽ có ai đó khác đang ngự trị bên trong con người chú Seamus, chỉ trực bùng ra khóc òa lên nếu như chú Seamus cho phép.
Mọi người lẽ ra đừng nên bắt đầu khóc. Bởi vì khi họ bắt đầu…
Justin thấy như mình muốn hét to lên với tất cả mọi người, bảo họ ngừng cái việc khóc lóc ngốc nghếch đi, rằng Al không phải đang khóc vì bố mất. Anh muốn nói với họ rằng Al hầu như không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Rằng em trai anh tập trung suốt buổi vào chiếc bật lửa, chỉ thỉnh thoảng mới ngước lên nhìn Justin với gương mặt ngơ ngác, đầy những câu hỏi mà cậu bé không bao giờ hiểu được.
Có mấy người đàn ông mặc đồng phục mang quan tài của bố đặt vào vị trí. Những người đàn ông ấy… Không phải là các chú các bác hay những người bạn của bố anh. Họ không khóc như những người khác, nhưng họ cũng không hề mỉm cười. Họ không trông chán ngắt nhưng cũng không hề thú vị. Nhìn họ, thấy giống như họ đã dự hàng trăm lần những đám tang tương tự thế này. Họ chẳng quan tâm lắm đến chuyện lại có ai đó qua đời, cũng chẳng quan tâm đến chuyện lại mang người quá cố lần nữa và chôn cất lần nữa.
Anh nhìn những người đàn ông, không một nụ cười, ném những nắm đầy sỏi đất lên trên chiếc quan tài, tạo ra những thanh âm lốc cốc khi sỏi chạm vào mặt ván gỗ. Anh tự hỏi có khi nào những thanh âm ấy sẽ đánh thức giấc ngủ mùa hè của bố không. Anh không khóc như những người khsac, bởi vì anh cảm thấy gần như chắc chắn rằng chỉ là cuối cùng bố muốn trốn khỏi ánh sáng thôi. Bố sẽ chẳng bao giờ phải ngồi một mình trong bóng râm nữa.
Justin nhận ra rằng người tài xế đang nhìn anh chăm chú.
“Không”. Justin trả lời rất khẽ, tằng hắng giọng và điều chỉnh ánh mắt của mình trở về với thế giới của ba mươi lăm năm sau. Thời gian như vừa mới tạo nên một chuyến du lịch cho ký ức của anh, để quay về quá khứ.
“Xe chúng ta kia rồi!”. Người tài xế bấm nút điều khiển tự động trên chiếc chìa khóa của mình làm đèn của chiếc xe Mercedes sáng lên.
Justin há hốc mồm.
“Anh có biết ai đã tổ chức, sắp xếp việc đưa đón này không?”.
“Không”. Người tài xế giữ cửa mở để anh bước vào. “Tôi chỉ nhận những yêu cầu từ sếp của tôi. Có điều hơi bất thường là tôi nhận được mẩu giấy “Cảm ơn” kèm theo. Có gì không ổn với ông à?”.
“Vâng, nhưng… cũng không hoàn toàn là vậy. Anh có thể tìm hiểu sếp anh giúp tôi là ai chi trả cho việc đưa đón này không?”. Justin ngồi vào ghế sau của chiếc xe hơi, đặt chiếc cặp lên sàn xe, bên dưới chân mình.
“Tôi sẽ thử”.
“Thật tuyệt! Cảm ơn anh!”.
Mình sắp tìm ra sự thật rồi.
Justin ngả người thư giãn trên chiếc ghế da sang trọng, duỗi chân thẳng ra hoàn toàn và nhắm mắt lại, mỉm cười.
“À, xin tự giới thiệu, tên tôi là Thomas…”. Người lái xe lịch sự.
“Tôi sẵn sàng phục vụ ông suốt cả ngày, vì thế nếu ông muốn đi đến bất kỳ đâu, chỉ cần cho tôi biết”.
“Suốt cả ngày á?”. Justin suýt sặc với chai nước lạnh đang cầm trên tay.
Anh đã cứu sống cuộc đời một người giàu có. Chắc thế! Ôi trời… Lẽ ra anh nên đề cập với Bea điều gì đó nhiều hơn những chiếc bánh nướng xốp và báo phục vụ hàng ngày chứ nhỉ. Gì đây? Một căn biệt thự ở miền Nam nước Pháp chẳng hạn. Thật ngốc là anh đã chẳng nghĩ ra điều đó.
“Không phải công ty của ông đã sắp xếp chiếc xe này cho ông à?”. Thomas hỏi.
“Không”. Justin lắc đầu. “Hoàn toàn không”.
“Có lẽ một bà tiên trong truyện cổ tích nào đó đã đặt xe cho ông mà ông không biết”. Thomas đùa.
“Nào, thế thì phải xem chiếc xe này làm bằng quả bí ngô hay bằng gì…”. Justin cười phá lên, hòa vào câu pha trò.
“Sẽ không kiểm tra được trong tình hình giao thông này đâu thưa ông”. Thomas hòa vào dòng xe cộ đông đúc, dường như càng đông đúc và càng tệ hơn trong một buổi sáng mịt mù mây xám và lất phất mưa.
Justin bấm một nút nhỏ trên xe, điều chỉnh để làm ấm tự động ghế ngồi của mình. Anh tháo giày ra khỏi chân, hoàn toàn cảm thấy thư giãn, ấm áp và thoải mái. Ngoài kia, anh có thể nhận ra nhiều gương mặt mệt mỏi, chán chường ẩn hiện sau cửa kính của những chiếc xe buýt. Họ đầy vẻ buồn ngủ sau những ô cửa kính mờ sương.
“Sau khi đến Phòng Triển Lãm, nếu không phiền, anh đưa giúp tôi đến đường D’Olier nhé! Tôi cần thăm một người… ở trung tâm hiến máu”.
“Không có vấn đề gì, thưa ông”.
Cơn gió tháng Mười thổn phần phật, cuốn phăng những chiếc lá ra khỏi cành cây. Những chiếc lá, giống hệt như nhiều người trong buổi sáng mùa thu này, hoàn toàn chưa sẵn sàng để ra khỏi nhà.
Tôi ngắm những chiếc lá xoay tròn, khiêu vũ điệu đặc biệt của chúng trong không gian trước khi rơi xuống nền đất. Tôi nhặt chúng lên, và rồi chúng lại chầm chậm xoay tròn trên tay tôi.
“Xe đến rồi kìa…”, tôi nói với Kate.
Chúng tôi đứng trên lối đi chính vào Phòng Triển Lãm Quốc Gia, sau bãi đậu xe, mắt đăm đăm chờ đợi.
“Cậu đã trả tiền thuê chiếc xe ĐÓ?”, Kate hỏi, “Đúng là không hiểu nổi”.
“Nói với tớ chuyện gì cậu hiểu nổi ấy! Thật ra, tớ trả có một nửa thôi. Đấy là xe từ công ty một người bà con của Frankie. Này, nhớ giả vờ cậu không biết anh ấy nếu anh ấy nhìn qua phía chúng ta nhé!”.
“Tớ có biết anh ấy đâu”.
“Vậy được lắm!”.
“Joyce, tớ chưa bao giờ nhìn thấy người đàn ông này trong đời tớ”.
“Ừ, tớ nói rồi mà. Vậy thì càng tốt”.
“Cậu sẽ còn làm thế này bao lâu nữa Joyce? Chúng ta chẳng biết gì về người đàn ông của cậu ngoại trừ việc anh ta đã hiến máu cả”.
“Tớ biết”.
“Chúng ta không biết gì mà”.
“Không, tớ biết thật đấy. Tớ có thể. Nghe rất buồn cười nhưng là sự thật!”.
Kate nhìn tôi đầy vẻ nghi ngờ. Trong ánh mắt cô ấy còn pha cả những tia tội nghiệp như thể tôi có vấn đề về tâm thần. Điều đó khiến máu tôi muốn sôi lên.
“Kate, cậu không nhận ra tớ có thể làm nhiều điều mà trước đây tớ không thể à?”.
“Tớ vẫn chịu, không tin được là người đàn ông mang tên Justin Hitchcock là nguyên nhân tạo nên những điều ấy. Cậu nhớ một bọ phim chúng ta từng xem không? Người đàn ông trong phim đột nhiên trở nên thông thái chỉ sau một đêm…”.
“Ông ta bị một cái bướu trong não và bằng cách nào đó mà nó tạo nên cho ông ta những khả năng đặc biệt chứ gì…”. Tôi cắt ngang.
Chiếc xe Mercedes lướt qua cổng, vào thẳng Phòng Triển Lãm. Người tài xế bước ra khỏi xe, mở cửa cho Justin. Anh nổi bật với chiếc cặp da trong tay, rạng rỡ từ đầu đến chân. Tôi thật hạnh phúc khi nhận ra những gì mình cố gắng làm cho anh đã được sử dụng hoàn hảo.
Anh vẫn tỏa ra sự lôi cuốn kỳ lạ ấy, sự lôi cuốn tôi tôi cảm nhận mỗi ngày kể từ lần đầu tiên tôi dán mắt vào anh ở tiệm làm tóc. Anh nhìn quanh khu Triển Lãm, nhìn quanh bãi đậu xe, mỉm cười. Nụ cười ấy là nguyên nhân khiến dạ dày của tôi thắt lại một cái. Rồi cái nữa. Cái nữa.
Những chiếc lá chung quanh tôi lại bị cuốn tròn theo một điệu luân vũ mới. Cơn gió xào xạc thoảng qua. Tôi không chắc là tôi tưởng tượng, hay thật sự chính cơn gió ấy mang đến cho tôi mùi nước hoa nhẹ nhàng từ anh. Hệt với mùi hương anh đã dùng khi tôi gặp anh trong tiệm làm tóc lần đầu.
“Anh ấy đẹp trai thế”, Kate thì thầm, “Tớ ủng hộ kế hoạch lén theo dõi anh ấy của cậu một trăm phần trăm, Joyce”.
“Đây đâu phải là kế hoạch lén theo dõi”, tôi xì một cái, “Và thêm một điều nữa là tớ sẽ vẫn làm điều đó, cho dù anh ấy không đẹp trai chăng nữa”.
“Tớ có thể vào nghe buổi nói chuyện của anh ấy không?”, Kate hỏi.
“Không!”.
“Trời đất, sao không? Anh ấy chưa bao giờ gặp tớ, anh ấy sẽ không nhận ra tớ đâu. Thôi nào, xin cậu đấy, Joyce! Tớ là bạn thân của cậu. Với lại tớ chỉ vào để nghe cậu ta nói và xem anh ta thế nào, có gì “bất thường” như cậu nói không thôi…”.
“Thế Sam thì sao? Cậu bỏ thằng bé cho ai trông?”.
“Cậu có muốn chăm sóc và chơi đùa với nó tí tẹo không?”.
Tôi trợn mắt.
“Ồ, thôi quên đi!”, cô bạn nói nhanh. “Tớ sẽ mang thằng bé theo với tớ. Tớ sẽ ngồi ở dưới cuối phòng và sẽ rời đó ngay nếu thằng bé quấy khóc”.
“Không. Không. Được mà. Tớ có thể trông chừng thằng bé cho cậu”. Tôi nuốt nước bọt khó nhọc và dán thêm một nụ cười lên mặt.
“Cậu chắc không?”, trong Kate như thể không tin được. “Tớ sẽ không ở trong đấy đến tận cuối giờ đâu. Tớ chỉ muốn nhìn xem anh ta như thế nào thôi”.
“Ừ, tớ ổn mà. Đi đi…”. Tôi nhẹ nhàng đẩy bạn. “Vào trong đó tận hưởng đi. Tớ và bé Sam sẽ ổn, không phải sao?”.
Sam đút ngón tay vào miệng thay cho câu trả lời.
“Tớ hứa là tớ sẽ không đi lâu đâu”. Kate cúi xuống chiếc xe đẩy, hôn cậu nhóc một cái rồi hối hả băng qua đường vào trong Phòng Triển Lãm.
“Giờ thì…”, tôi nhìn quanh đầy căng thẳng. “Chỉ còn cháu và cô thôi, Sean”.
Cậu nhóc nhìn tôi với đôi mắt xanh to tròn. Và ngay lập tức, mắt tôi rưng rưng nước.
Tôi nhìn quanh để chắc rằng không ai khác vừa nghe câu nói lỡ lời ấy. Ừ, tôi định gọi cậu bé là Sam, chứ không phải Sean – tên đứa con đã mất của tôi.
Justin bước lên bục dành cho người phát biểu ở Phòng Triển Lãm Quốc Gia. Căn phòng đầy ắp những gương mặt chăm chú. Tự dưng, anh biến thành hạt nhân trung tâm. Lại thêm một người đến trễ. Một phụ nữ trẻ. Cô bước vào phòng, ra dấu xin lỗi và nhanh chóng tìm ngay cho mình một chỗ giữa đám đông.
“Xin chào, các quý ông quý bà. Cảm ơn rất nhiều khi các vị đã đến đây trong một buổi sáng trời mưa âm u thế này. Hôm nay, tôi sẽ trình bày với quý vị một số điều về bức họa này. Bức họa Người Phụ Nữ Viết Thư, của tác giả Terborch, một họa sĩ danh tiếng người Hà Lan vào thế kỷ mười bảy. Bức tranh này, vâng… Xin hãy ngắm kỹ. Bức tranh này không chỉ là một bức tranh. Tôi rất thích kiểu viết thư tay, đặc biệt trong thời đại rất hiếm nhận được những lá thư tay như bây giờ. Các lá thư hầu như biến mất”. Anh ngừng lại.
Hầu như biến mất chứ không phải hoàn toàn biến mất. Một ai đó đã gửi cho mình những mẩu thư tay.
Anh ra giữa bục, bước một bước xuống những khán giả và nhìn khắp lượt đám đông, một thoáng nghi ngại hiện trên gương mặt. Đôi mắt anh nheo nheo thăm dò khán giả. Anh nhìn từng dãy người, đoán rằng có một ai đó ở đây chính là người đã gửi đến những mẩu giấy bí mật. Một ai đó ho, kéo anh khỏi dòng suy nghĩ miên man. Anh quay trở lại với những khán giả của mình, thoáng chút bối rối nhưng bắt kịp ngay được với ý mà anh vừa ngưng lại.
“Vào một thời đại như bây giờ, khi những lá thư tay hầu như biến mất, bức họa này chính là sự nhắc nhớ về một thời đại vàng son, khi mọi người bày tỏ cảm xúc với nhau mỗi ngày. Tác giả Terborch không phải là họa sĩ duy nhất chịu trách nhiệm ghi khắc lại những hình ảnh này. Tôi không thể đi xa hơn trong chủ đề hôm nay mà không nhắc đôi chút đến những tác giả khác như Vermeer, Metsu… những họa sĩ đã cho ra đời các bức tranh về con người, trong tư thế đang đọc, viết, nhận và mở những lá thư. Tất cả những điều này, tôi đã có viết trong một cuốn sách, mang tên Thời đại vàng son của những danh họa Hà Lan: Vermeer, Mettsu và Terborch”.
Anh để ý người phụ nữ đến hơi trễ một chút sau khi anh bắt đầu nói. Và một phụ nữ trẻ khác đứng sau cô ấy, tự hỏi họ có cảm nhận được hết những gì anh trình bày không. Tự dưng anh muốn bật cười, cười chính mình vì những giả định mình đưa ra. Thứ nhất, người được anh cứu sống ấy hẳn đang ở trong phòng này. Thứ hai, đó hẳn là một người phụ nữ. Thứ ba, cô ấy rất cuốn hút. Điều gì khiến anh nghĩ như thế? Anh không rõ.
Tôi đẩy chiếc xe nôi của bé Sam đi trong quảng trường Merrion. Khu quảng trường được bao bọc bởi những cây to, đầy màu sắc. Màu vàng cam, màu đỏ rực của tán lá mùa thu trải khắp nơi. Cả trên mặt đất. Tôi chọn một chiếc ghế dài, giữa lối đi yên tĩnh và quay chiếc xe đẩy của Sam lại để bé có thể đối mặt với tôi.
Tôi ngắm Sam, trong lúc cậu bé nhướn cổ nhìn theo những chiếc lá còn sót lại, quyết không chịu rời cành, ở tít trên cao. Cậu bé đưa ngón tay bé tí chỉ lên trời, trọ trẹ những âm thanh không thành tiếng.
“Cây”, tôi phát âm rành rọt, khiến cậu bé mỉm cười.
Khung cảnh ấy cũng tạo nên một cảm giác thon thót trong dạ dày, khiến tôi phải ngưng lại hít một hơi sâu. “Sam, cô nói với cháu chuyện này nhé…”, tôi dịu dàng.
Nụ cười của cậu nhóc càng rạng rỡ hơn. “Cô phải xin lỗi một chuyện…”, tôi tằng hắng giọng. “Cô đã không chú ý nhiều đến cháu trước đây, phải vậy không? Nguyên nhân là vì…”, tôi ngập ngừng, chờ cho đến khi một người đàn ông đi ngang qua chúng tôi đi khuất.
“Nguyên nhân là vì…”, tôi hạ giọng mình khẽ hơn, “Cô không chịu đựng nổi mỗi khi nhìn ngắm cháu…”. Tôi ngừng lại khi thấy nụ cười của cậu bé nở to hớn hở.
“Ồ, đây…!”. Tôi cúi người, nhấc chiếc chăn của cậu bé ra và ấn nút để nới lỏng một chút dây bảo vệ an toàn. “Đến đây một chút với cô nhé!”. Tôi nhấc cậu bé khỏi chiếc xe đẩy, để bé ngồi trong lòng mình.
Cơ thể cậu bé ấm áp biết bao. Tôi ôm bé thật chặt. Tôi hít thở từng hơi trên đầu bé. Mái tóc mềm mượt như nhung. Những bàn tay, bàn chân mũm mĩm và mềm mại. Tôi muốn ôm cậu bé chặt hơn nữa.
“Nguyên nhân là vì…”, tôi nói thật khẽ, thì thầm trên đầu bé. “Tim cô vỡ tan mỗi khi cô nhìn thấy cháu, mỗi khi cô vuốt ve cháu… Mỗi lần nhìn thấy cháu, cô lại nhớ tới điều thiêng liêng mà cô đã đánh mất”.
Cậu bé ngước nhìn tôi, bập bẹ trả lời.
“Cô đã từng rất e sợ mỗi khi nhìn cháu, biết không?”. Tôi hôn lên mũi cậu bé. “Mọi việc khó khăn quá với cô…”, mắt tôi đầy nước và tôi đành để cho những giọt nước mắt rơi ra. “Cô ước ao có một cậu bé, hay một cô bé… giống như cháu. Khi cháu mỉm cười, mọi người sẽ reo lên, ô nhìn này… Cháu là hình ảnh đẹp nhất của mẹ. Phải chi mà có một đứa trẻ, một đứa trẻ cũng có đôi mắt của cô, cái mũi của cô…”.
“Ba-ba”, cậu bé bập bẹ.
Tôi lau nước mắt, vẫn sụt sùi. “Ba-ba đi rồi, Sam. Cái tên Sean nếu là một bé trai… Và Grace nếu là một bé gái”.
Sam không thích những giọt nước mắt của tôi. Thế nên cậu nhóc quay đi, ngắm nghía mấy con chim. Ngón tay mũm mĩm lại chìa ra lần nữa.
“Chim”, tôi phát âm trong nước mắt.
“Ba-ba”, cậu bé đáp lại.
Tôi mỉm cười, lau nước mắt lần nữa – những giọt nước mắt chảy tràn ra mỗi lúc một nhiều hơn.
“Nhưng ở đây chẳng có Sean hay Grace”. Tôi ôm bé thật chặt, để những giọt nước mắt mình rơi, biết rằng Sam sẽ không thể “nói lại” cho ai khác biết tôi đã khóc thế nào.
Con chim tung tăng lượn vài vòng rồi vút bay đi, biến mất giữa trời.
“Ba-ba điii”. Sam nói, chìa cả hai bàn tay ra.
Tôi nhìn theo cánh chim khuất xa, như một chấm nhỏ trên bầu trời nhợt nhạt. Nước mắt thôi rơi. “Ba-ba điii”, tôi lặp lại.
“Chúng ta thấy gì trong bức họa này?”, Justin hỏi.
Một khoảnh khắc im lặng. Mọi người chăm chú dõi theo những hình ảnh trên màn hình máy chiếu.
“Trước tiên, các bạn hãy chú ý đến trạng thái… Một phụ nữ trẻ ngồi bên chiếc bàn, ẩn chứa nhiều nội tâm bên trong. Cô ấy đang viết một lá thư. Chúng ta nhìn thấy chiếc bút lông ngỗng như chuyển động trên tờ giấy. Chúng ta không biết cô ấy viết gì, nhưng hãy chú ý đến nụ cười dịu dàng thoáng trên nét mặt… Có thể nghĩ rằng cô ấy đang viết cho một ai đó rất yêu thương, hoặc cũng có thể là người yêu chẳng hạn. Đầu cô ấy hơi nghiêng về phía trước, để lộ chiếc cổ với những đường ngấn thanh thoát tuyệt mỹ…”.
Tôi đặt Sam trở lại vào trong chiếc xe nôi, lấy tờ giấy và những mẩu chì sáp cho cậu bé. Ngay lập tức, những nét nguệch ngoạc được hình thành. Tôi lấy ra một tờ giấy khác và cầm cây bút trong tay mình, tưởng tượng như đang nghe những lời Justin nói trong Phòng Triển Lãm bên kia đường.
Tôi không cần phải nhìn thấy bức tranh Người Phụ Nữ Viết Thư. Bức họa như nằm trong đầu tôi, sau nhiều năm liền Justin tập trung nghiên cứu chuyên sâu vào nó tại trường cao đẳng cũng như suốt quá trình nghiên cứu viết cuốn sách của riêng anh ấy.
Tôi bắt đầu nắn nót từng nét chữ trên giấy.
Ngày ấy, khi tôi mười bảy tuổi, tôi cũng từng có một mái tóc nhuộm đen, có gương mặt trắng và đôi môi đỏ hồng. Mẹ đã đăng ký cho cả hai mẹ con vào lớp Nghệ thuật viết chữ đẹp. Tôi đã từng nhăn nhó, than thở khi phải học một kỹ năng mà tôi cho rằng chẳng “năng động, sành điệu” tí nào. Tôi đã thẳng thắn hết với mẹ. Gần như hết tất cả những gì tôi nghĩ. Rồi tôi đi học xa, mang theo cả kỹ năng viết chữ đẹp mẹ rèn cho…
Lúc ấy, tôi mới khám phá ra rằng, khi tôi đặt bút xuống trang giấy, với những nhịp điệu nhanh chậm nắn nót khác nhau, mỗi chữ tôi viết nên đều ẩn chứa cảm xúc sâu xa trong đó. Lúc viết, tôi cảm giác như mình quay trở về lớp học, nơi tôi ngồi bên mẹ.
Tôi nghe thấy giọng nói của bà. Tôi ngửi thấy mùi hương của bà. Và tôi đang nhớ lại từng cuộc đối thoại đôi khi gay gắt giữa tôi và bà. Bởi vì, lúc ấy tôi mười bảy tuổi, luôn muốn khẳng định cá tính của mình. Kỹ năng ấy, thật sự là một điều hoàn hảo mà mẹ chọn trang bị cho tôi, tuyệt hơn rất nhiều những gì tôi tưởng. Nghệ thuật viết chữ đẹp đòi hỏi người ta viết có nhịp điệu. Mỗi nét nắn nót đều thể hiện một thái độ nào đó.
Chìm trong những suy nghĩ miên man, đột nhiên, tôi ngẩng lên khỏi tờ giấy của mình. “Trompe l’oeil – Nghệ thuật vẽ tranh như thật!”, tôi nói to với một nụ cười.
Sam ngẩng lên khỏi bức vẽ sáp màu, nhìn tôi thích thú.
“Điều đó nghĩa là gì?”, Kate hỏi.
“Trompe l’oeil là Nghệ thuật vẽ tranh như thật – một kỹ thuật sử dụng trong hội họa, thể hiện những hình ảnh như thật, thay vì theo tỷ lệ”.
Justin nói, vẫn không ngừng nhìn khắp lượt trong phòng. “Trompe có nghĩa là đánh lừa và l’oeil có nghĩa là mắt. Nghệ thuật vẽ tranh như thật hiểu nôm na là có thể đánh lừa thị giác”. Anh nhìn những gương mặt giữa đám đông lần nữa.
Người bí mật – Bạn ở đâu?
0
BA MƯƠI TƯ


“Mọi thứ thế nào, thưa ông?”, anh tài xế Thomas khỏi khi Justin bước trở lại vào xe sau buổi nói chuyện.
“Tôi nhìn thấy anh đứng ở cuối phòng. Anh nói tôi nghe mọi thứ thế nào mới phải”.
“Tôi không biết nhiều về nghệ thuật, nhưng ông chắc hẳn là biết làm thế nào để nói nhiều thế chỉ về chủ đề cô gái viết một lá thư”.
Justin mỉm cười, với tay lấy một chai nước miễn phí khác trên xe. Anh không thấy khát nước lắm, nhưng nó ở đó, miễn phí. Sao lại không nhỉ?
“Hình như ông có ý tìm kiếm ai đó”, Thomas hỏi.
“Tôi không hiểu ý anh”.
“Trong đám đông ban nãy, tôi để ý anh quay nhìn xung quanh vài lần, có vẻ như đang tìm kiếm. Một người phụ nữ, phải vậy không?”, anh chàng cười toe toét.
Justin mỉm cười, lắc đầu. “Tôi không biết nữa. Có lẽ anh sẽ nghĩ là tôi có vấn đề về tâm thần nếu tôi nói cho anh nghe”.
“Này, thế cậu nghĩ sao?”, tôi hỏi Kate khi chúng tôi đi bộ vòng quanh quảng trường Merrion và cô bạn tiếp tục bình luận không ngừng về buổi nói chuyện của Justin.
“Tớ nghĩ thế nào ấy à?”, cô lặp lại. “Tớ nghĩ rằng anh ấy là một người đàn ông thật tuyệt. Tớ nghĩ rằng cậu nên quên hết những cảm giác bí ẩn khó hiểu của cậu đi. Ngừng tất cả những chuyện này lại, gặp anh ấy và chỉ cần giới thiệu với anh ấy chính con người của cậu thôi”.
Tôi lắc đầu. “Không làm vậy được đâu”.
“Sao không? Anh ta có vẻ rất quan tâm đến cậu khi anh ta đuổi theo chiếc xe buýt của cậu ngoài phố, và khi anh ta thấy cậu trong buổi biểu diễn ba lê nữa. Mọi thứ bây giờ bị thay đổi hết rồi à?”.
“Anh ấy chẳng muốn cái gì ở tớ cả”.
“Làm cách nào cậu biết điều đó?”.
“Tớ biết”.
“Bằng các nào? Đừng nói với tớ rằng cậu biết thế nhờ cách giống như các phù thủy, nhìn quả cầu hay bứt cánh hoa kiểu yêu – không yêu nhé!”.
Cô bạn cố hết sức để khỏi tỏ ra mình cứ phản đối, bằng cách nhìn đi chỗ khác.
“Anh ấy quá bận rộn để đi tìm người phụ nữ mà anh ấy đã cứu sống, anh ấy không hề quan tâm đến tớ. Anh ấy có những thông tin chi tiết để liên lạc với tớ, Kate, nhưng anh ấy chẳng bao giờ gọi. Không lần nào cả. Thực tế là anh ấy đã đi rõ xa để ném chúng vào một cái thùng vật liệu xây dựng. Thế nên cậu đừng ở đó hỏi tớ làm thế nào tớ biết được”.
Tôi giữ môi mím chặt.
Kate thở dài. “Cậu định thế này đến bao giờ?”.
Tôi nhún vai. “Không quá lâu đâu”.
“Thế còn công việc thì sao? Conor thì sao?”.
“Conor và tớ đã kết thúc rồi. Chẳng còn chuyện gì hơn để nói. Bốn năm xa cách và chúng tớ sẽ li hôn thôi. Còn về công việc, tớ đã nói với họ là tớ sẽ quay lại làm việc tuần tới. Cuốn nhật ký công việc của tớ đã đầy hết các cuộc hẹn rồi, còn về căn nhà thì… Ôi, khỉ thật!”. Tôi kéo tay áo lên nhìn đồng hồ. “Tớ phải về đây. Một tiếng nữa tới giờ hẹn cho người ta xem căn nhà”.
Một cái hôn vội vàng, rồi tôi chạy hối hả đến trạm xe buýt gần đó nhất.
“Ồ, được rồi… đây rồi…”. Justin nhìn đăm đăm ra ngoài cửa xe hơi, rồi nhìn lên tầng hai, tòa nhà Trung tâm Huyết học.
“Ông định hiến máu?”, Thomas hỏi.
“Không. Tôi chỉ ghé thăm một người trong này. Chắc không quá lâu đâu. Nếu anh thấy bất kỳ chiếc xe cảnh sát nào tới, cứ khởi động máy”.
Anh mỉm cười, nhưng là nụ cười pha nhiều bối rối.
Với vẻ căng thẳng, anh bước đến quầy tiếp tân hỏi xin gặp Sarah và được bảo ngồi chờ trong phòng đợi. Chung quanh anh, nhiều người cả nam lẫn nữ đang ngồi ăn trưa, nghỉ ngơi giữa giờ làm việc. Họ đều mặc trang phục công sở, vừa đọc báo vừa chờ để được gọi đến lượt hiến máu.
Anh ngồi sát bên cạnh một phụ nữ. Cô đang lướt qua cuốn tạp chí. Anh nghiêng người sang phía cô, và khi anh vừa thì thầm thốt lên một câu hỏi, cô giật mình suýt nhảy dựng lên.
“Cô có chắc cô muốn làm việc này không?”.
Tất cả mọi người trong phòng đều hạ những tờ báo, những cuốn tạp chí xuống để nhìn chằm chằm anh. Anh húng hắng ho, quay nhìn sang chỗ khác, giả vờ như ai đó khác vừa thốt lên câu hỏi ấy chứ không phải mình. Những bức tường chung quanh anh dán đầy các tấm áp phích tuyên truyền việc hiến máu. Cũng có cả những tấm áp phích thể hiện lời cảm ơn của những đứa trẻ, những người sống sót sau chứng bệnh bạch cầu và nhiều người bệnh khác. Anh ngồi chờ đến cả nửa tiếng đồng hồ, và cứ chốc chốc lại nhìn đồng hồ, lo âu về chuyến bay có thể bị trễ của mình. Khi người cuối cùng rời khỏi phòng, để lại anh còn có một mình, Sarah mới xuất hiện nơi cửa.
“Justin”. Cô không lạnh lùng. Cô không khó chịu hay giận dữ. Chỉ im lặng. Tổn thương. Những điều đó còn tệ hơn. Chẳng thà cô giận dữ, anh còn thấy đỡ.
“Sarah”. Anh đứng dậy chào cô, ôm ghì lấy và đặt một nụ hôn lên má, rồi quay sang má bên kia đặt tiếp nụ hôn thứ hai. Nụ hôn thứ ba hơi đáng ngờ khi trượt nhẹ xuống môi và suýt trở thành một nụ hôn đặt lên môi. Nhưng cô đẩy ra, kết thúc màn chào hỏi khôi hài.
“Anh không ở đây lâu được. Anh phải ra sân bay kẻo trễ chuyến bay, nhưng anh muốn ghé qua để được gặp trực tiếp em. Chúng ta có thể nói chuyện với nhau vài phút không?”.
“Vâng, chắc hẳn rồi”. Cô bước vào quầy tiếp tân và ngồi xuống, hai tay vẫn còn khoanh trước ngực.
“Ồ,” anh nhìn quanh. “Em không có phòng làm việc riêng hay cái gì đó tương tự vậy sao?”.
“Có chứ. Nó rất đẹp và yên tĩnh”.
“Phòng làm việc của em ở đâu?”.
Cô nheo nheo mắt, đầy vẻ nghi ngờ và anh đành từ bỏ cả một chuỗi những câu hỏi liên quan, nhanh chóng ngồi xuống một chiếc ghế bên cạnh cô.
“Anh đến đây, thật ra là để xin lỗi em về thái độ cư xử không phải của anh trong lần cuối mình gặp nhau. Ừm, nói đúng hơn là xin lỗi em về thái độ xử sự không phải của anh trong tất cả những lần mình đã gặp nhau và từng khoảnh khắc sau đó nữa. Anh thật lòng xin lỗi”.
Cô gật, ra vẻ chờ đợi điều gì hơn thế nữa.
Khỉ thật, đó là tất cả những gì mình có thể nói. Nghĩ đi, nghĩ đi. Mình rất xin lỗi, rất tiếc, và…
“Anh đã khôg hề có ý làm tổn thương em. Anh bị xáo trộn trong những này đó, rồi thì chiếc xe buýt Vikings điên khùng. Sự thật là, anh đã hoàn toàn bị xao nhãng vì những chuyện khó hiểu suốt một hai tháng qua, và…”. Nghĩ đi nào! “Anh có thể vào phòng toilet nam một chút không? Nếu em không phiền!”.
Cô nhìn thẳng vào anh. “Chắc chắn rồi. Anh cứ đi thẳng xuống tiền sảnh, ở phía cuối ấy!”.
Đứng ở bên ngoài, nơi có một tấm bảng “Bán Nhà” vừa được đóng lên, gắn chặt với bức tường phía trước, Linda và chồng mình – Joe, đang dán mắt nhìn lên những khung cửa sổ và lóng ngóng bước vào phòng khách.
Một cảm giác phòng vệ chợt đến trong tôi. Sau đó, nhanh hệt như lúc nó đến, cảm giác ấy tan biến đi.
“Joyce? Phải cậu không?”. Linda hạ thấp hơn chiếc kính mát của mình xuống. Tôi nhoẻn miệng, chìa ra một nụ cười run run, đút tay vào túi để lôi ra một chùm chìa khóa – chùm chìa khóa đã được tôi loại ra hai chiếc: chìa khóa xe tôi và bộ chìa khóa chiếc xe con bọ mẹ đã từng dùng. Ngay cả khi bộ chìa khóa mất đi chiếc chìa khóa quan trọng nhất – trái tim của chúng – chúng vẫn như cũ; tất cả giờ đây đã có chức năng của riêng mình.
“Mái tóc của cậu… Trông cậu khác quá!”.
“Chào Linda, chào anh – Joe”. Tôi đưa tay ra định bắt, nhưng Linda đã thực hiện một động tác khác: Cô ùa tới, ôm chặt lấy tôi, đầy tình cảm.
“Mình rất tiếc chuyện của cậu…”. Cô vẫn ghì lấy. “Tội cậu quá!”.
Cơ thể tôi đột nhiên trở thành của ai đó khác, tôi thấy dâng lên một cảm giác bị làm phiền hệt như toàn bộ cảm giác bị làm phiền trong suốt một tháng qua, lớn đến nỗi có thể nói ra điều đó.
Cô hạ thấp giọng thành một tiếng thì thầm. “Họ làm thế này ở bệnh viện à?”, mắt cô ấy dừng trên mái tóc tôi.
“Ơ… không!”. Tôi bật cười thành tiếng. “Họ làm thế ở tiệm hớt tóc chứ”, tôi nhỏ nhẹ, vặn chìa khóa, đẩy cửa và mời họ bước vào trước.
“Ồ”, những hơi thở của cô bạn cũ trở nên đầy phấn khích. Người chồng thì mỉm cười, cầm lấy tay cô ấy. Trong một thoáng, tôi tưởng như thấy lại chính hình ảnh của Conor và mình mười năm trước, bước vào xem ngôi nhà – lúc ấy đang bị bỏ không bởi một bà cụ già, người đã sống một mình ở đấy khoảng hai mươi năm trước. Tôi bước theo hình ảnh của mình và Conor ngày xa xưa vào trong ngôi nhà. Rồi đột nhiên nhận ra hình bóng xưa cũ ấy mới là thật, còn tôi như một bóng ma, đang nhớ lại những gì tôi từng thấy, nghe lại những cuộc đối thoại của chúng tôi, quay về với khoảnh khắc cũ một lần nữa.
Ngày ấy, bên trong nhà nồng nặc mùi hôi. Có một tấm thảm cũ kỹ trải trên sàn nhà kêu cót két, những cửa sổ mục nát, giấy dán tường thì quá cũ, cũ đến nỗi nếu so với vòng luân chuyển lần thứ ba của thời trang thì nó cũng đã lạc mốt mất rồi. Nó ghê không chịu nổi và như một cái bẫy hễ đầu tư tiền bạc vào thì lỗ, nhưng chúng tôi đã thấy yêu nó ngay khi chúng tôi đứng ở đó – đúng cái chỗ mà Linda và chồng cô ấy đang đứng, ngay lúc này.
Chúng tôi đã hệt như thế, khi Conor còn là Conor mà tôi yêu và tôi còn là tôi ngày cũ. Một đôi hoàn hảo. Sau đó, Conor trở thành một người như anh ấy bây giờ và tôi trở thành cô Joyce mà anh đã không còn yêu. Ngôi nhà càng trở nên lộng lẫy thì mối quan hệ giữa chúng tôi cũng ngày càng trở nên tồi tệ, xấu xí hơn. Chúng tôi đã nói dối nhau là vẫn còn hạnh phúc, nhưng sau đó, mỗi phút mỗi giây đều ẩn chứa cái gì đó không ổn. Chúng tôi đã thử cứu vãn cuộc hôn nhân của mình bằng mọi thứ, sắm một chiếc giường mới, sửa chữa lại cánh cửa, thay những khung cửa sổ gió lùa. Giá mà chúng tôi dành chừng ấy thời gian để tập trung vào chính chúng tôi, tự làm mới chính mình hơn là làm mới cho ngôi nhà… Không ai trong chúng tôi nghĩ đến việc sửa lại chỗ gió lùa trong cuộc hôn nhân của chúng tôi. Những ngọn gió rít qua, dữ dội dần lên, phá vỡ mọi thứ trong khi chẳng ai trong chúng tôi chú ý, cho đến khi cả hai chúng tôi thức dậy trong một buổi sớm mai, với đôi chân lạnh cóng.
“Mình sẽ chỉ cho hai bạn xem vòng quanh tầng dưới, nhưng… à…”. Tôi nhìn lên cánh cửa phòng trẻ sơ sinh, không còn rung lên những thanh âm như lần đầu tiên tôi trở về nhà. Nó chỉ là một cánh cửa. Im lặng và tĩnh tại. Làm những gì mà một cánh cửa phải làm. Không có gì khác cả.
“Mình sẽ để các bạn tự đi quanh trên tầng trên”.
“Những người chủ cũ có còn sống ở đây không nhỉ?”. Linda hỏi.
Tôi nhìn quanh. “Không. Không, họ chuyển đi lâu rồi”.
Khi Justin kiếm đường đi xuống đại sảnh, vào nhà vệ sinh, anh để ý kiểm tra từng cái tên trên mỗi cánh cửa, tìm xem phòng làm việc của Sarah ở đâu. Anh không biết mình phải bắt đầu từ chỗ nào, nhưng có lẽ nếu anh tìm thấy cái bìa hồ sơ ghi chú những trường hợp lấy máu ở trường Cao đẳng Trinity hồi đầu mùa thu, anh sẽ gần hơn với việc tìm ra sự thật.
Anh nhìn thấy tên của cô trên một cánh cửa, và gõ vào đấy thật nhẹ nhàng. Khi nghe kỹ không thấy có bất kỳ tiếng động nào đáp lại, anh bước vào và đóng nó lại thật khẽ phía sau mình. Anh nhìn quanh thật nhanh. Một chồng những bìa hồ sơ được xếp trên mấy cái kệ. Ngay lập tức, anh với tới và lướt nhanh qua chúng.
Vài khắc sau, quả nắm cửa chợt xoay. Anh để ngay cái bìa hồ sơ về nơi cũ, quay ra phía cửa và thấy mình lạnh cóng. Sarah đang nhìn anh, sốc thật sự.
“Justin?”.
“Sarah?”.
“Anh làm gì trong phòng làm việc của em thế?”.
Mình là một người có học hành tử tế mà, nghĩ ra điều gì đó thật thông minh đi.
“Anh… đi nhầm”.
Cô khoanh tay lại. “Tại sao anh không chịu nói với em sự thật? Ngay bây giờ!”.
“Anh đang trên đường quay trở lại thì thấy tên em trên cánh cửa. Anh nghĩ hay là mình vào, chỉ nhìn quanh một cái để xem phòng làm việc của em như thế nào thôi. Thế là anh vào đây, em thấy đấy… Anh tin là một căn phòng làm việc thì cũng có thể giúp hình dung ra người chủ của nó thế nào. Và hồi nãy anh đã nghĩ rằng nếu chúng ta có một tương lai gì đó…”.
“Chúng ta sẽ không hề có một tương lai nào”.
“Ồ, anh biết. Nhưng nếu chúng ta có thể…”.
“Không”.
Anh lướt nhìn qua bàn làm việc của cô và ánh mắt anh dừng lại ở một bức ảnh. Bức ảnh Sarah, vòng tay dang rộng, ôm một bé gái tóc vàng và một người đàn ông. Họ chụp cùng nhau, rất hạnh phúc trên bãi biển.
Sarah nhìn theo ánh mắt anh.
“Đó là con gái em, Molly”. Cô mím chặt môi, dường như quá giận chính mình nên không muốn nói thêm gì nữa cả.
“Em có con gái à?”, anh đưa tay gần đến khung hình, nhưng ngừng lại trước khi chạm vào nó và nhìn lên cô như chờ sự cho phép của cô trước đã.
Cô gật, môi bớt mím lại hơn. Anh cầm lấy khung ảnh và giữ nó trong đôi bàn tay mình.
“Cô bé xinh quá!”.
“Vâng”.
“Cô bé bao nhiêu tuổi rồi nhỉ?”.
“Nó lên sáu”.
“Anh không biết rằng em có một đứa con gái”.
“Anh không biết rất nhiều điều về em. Anh chẳng bao giờ dành thời gian đủ lâu suốt những lần hẹn hò của chúng ta để nói chuyện về bất cứ thứ gì nếu nó không liên quan đến anh”.
Justin rúm người lại. Trái tim anh muốn rớt ra ngoài. “Sarah, anh xin lỗi”.
“Anh nói thật xem nào… Anh vào đây làm gì?”.
“Anh không có…”.
Ánh nhìn của cô ngăn anh thốt ra lời nói dối khác. Cô cầm lấy bức hình từ tay anh, thật nhẹ nhàng. Không có vẻ gì thô hạo hay hung hăng. Cô chỉ đầy thất vọng, đây không phải lần đầu tiên một người ngốc nghếch như Justin có thể làm cô xuống tinh thần.
“Người đàn ông trong hình là…?”.
Cô trông có vẻ rất buồn khi ngắm nghía nó và đặt nó trở lại trên bàn.
“Lẽ ra trước đây, em đã rất hạnh phúc khi được kể cho anh nghe về anh ấy”. Cô nói nhẹ nhàng. “Em nhớ mình đã cố tìm cách nói với anh, tối thiểu hai lần”.
“Anh xin lỗi”, anh lặp lại, cảm thấy thật nhỏ bé. Anh hầu như không thể thấy cái gì trên bàn cô nữa. “Anh nghe em đây”.
“Và em chắc chắn em nhớ anh có nói anh phải ra phi trường bắt cho kịp chuyến bay”, cô nói.
“Ừ, đúng đấy”, anh gật đầu, bước ra phía cửa. “Anh rất… thật sự… rất rất xin lỗi. Anh thật quá xấu hổ và thất vọng về chính mình”. Anh nhận ra anh đang nói lên một điều từ đáy tim. “Anh đã trải qua một khoảng thời gian thời gian với khá nhiều những điều kỳ lạ”.
“Tìm cho em xem có ai không như thế không. Tất cả chúng ta đều có hàng mớ chuyện tào lao phải giải quyết, Justin. Chỉ xin anh đừng có lôi em vào những chuyện của anh”.
‘Ừ, em đúng đấy!”. Anh gật đầu lần nữa và nhè nhẹ nở một nụ cười vừa xin lỗi, vừa đầy bối rối trước khi bước ra khỏi phòng làm việc của cô, chạy như tên bắn xuống tầng dưới, vào lại xe hơi.
0
BA MƯƠI LĂM


“Cái gì thế?”.
“Em không biết”.
“Em chùi thử một cái xem nào”.
“Không, anh làm đi”.
“Em có từng nhìn thấy cái gì giống như thế trước đây chưa?”.
“Vâng, có thể”.
“Em định ám chỉ gì với chữ có thể thế? Em từng thấy hay chưa từng thấy?”.
“Này, đừng ra vẻ anh thông minh hơn em như vậy chứ?”.
“Anh đâu có. Anh chỉ cố để hình dung ra nó là cái gì thôi. Em có nghĩ mình chùi ra được không?”.
“Em không có ý kiến gì cả. Mình đi hỏi Joyce thì hơn”.
Tôi nghe Linda và Joe lẩm bẩm với nhau ở lối vào tiền sảnh. Tôi để họ tự xoay xở và đứng yên trong bếp, uống một tách cà phê đen nhìn đăm đắm ra ngoài, nơi có những bụi hồng của mẹ trồng ở cuối vườn và nhìn theo cả hai “bóng ma” của Joyce và Conor ngày xưa, đang nằm tắm nắng trên thảm cỏ, suốt mùa hè nóng bức với chiếc radio mở om sòm.
“Joyce, bọn mình có thể chỉ cho cậu xem cái này một chút được không?”.
“Chắc chắn rồi”.
Tôi đặt tách cà phê xuống, đi lướt qua “bóng ma” Conor đang làm món bột trộn với cà chua và nước sốt, phó mát hấp chung rất đặc biệt của anh trong bếp, lướt qua cả “bóng ma” của Joyce ngày cũ, đang ngồi trên chiếc ghế bành mà cô thích nhất, trong bộ áo ngủ, nhấm nháp thanh chocolate, để bước ra tiền sảnh. Cả hai vợ chồng đều đang quỳ gối, khom cả người kiểm tra cái vết bẩn ngay cầu thang. Vết bẩn của tôi.
“Tôi nghĩ có lẽ nó là vết rượu”, Joe nói, ngẩng lên nhìn tôi. “Người chủ cũ nói thế nào về vết ố này nhỉ?”.
“Ơ…”. Hai chân tôi run nhẹ, và trong một khoảnh khắc tôi nghĩ rằng mình sẽ khuỵu xuống mất. Tôi vịn lan can và giả vờ như đang dựa người cúi xuống, nhìn nó kỹ hơn. Tôi nhắm mắt lại. “Nó đã được chùi rửa vài lần rồi. Hai bạn có muốn giữ lại tấm thảm để che chỗ đó không?”.
Linda nhăn nhăn mặt trong lúc suy nghĩ. Cô nhìn lên nhìn xuống cầu thang, nhìn suốt cả căn nhà, cân nhắc lại gợi ý của tôi.
“Không, tớ cho là không nên đâu. Tớ nghĩ cái sàn nhà bằng gỗ này rất đẹp, phải không anh?”. Cô hỏi Joe.
“Ừ”, Joe gật. “Một cái sàn nhà lót gỗ sồi màu nhạt rất đẹp”.
“Đúng đấy”, cô đồng ý. “Tôi không nghĩ rằng chúng tôi sẽ giữ lại tấm thảm này”.
Tôi không hề có ý định giả vờ hay đánh lừa họ bằng cách giấu đi việc chính mình là chủ thật sự của căn nhà. Điều này thật ra muốn giấu cũng không giấu được lâu, vì sớm muộn gì họ chẳng đòi xem hợp đồng mua bán. Tôi đã định nói từ đầu. Nhưng vì một vài hiểu lầm nho nhỏ, họ không để ý đến điều ấy. Bây giờ thì họ đang đầy vẻ vui thích với ngôi nhà thiết kế tuyệt đẹp. Tôi không thể nói cho họ biết, ít nhất trong lúc này.
“Cậu có vẻ rất thích”, tôi mỉm cười, nhìn gương mặt ngời lên rạng rỡ của vợ chồng người bạn, khi cuối cùng cũng tìm ra một ngôi nhà thật sự có thể là tổ ấm cho mình.
“Vâng, cả hai chúng tớ”, cô bạn cười toe toét. “Bọn tớ đã phải nhắng hít, tất tả đủ điều chuẩn bị cho đứa con chào đời, như cậu biết đấy. Nhưng bây giờ thì tình hình đã thay đổi. Bọn tớ cần phải chuyển ra khỏi căn hộ cũ và tìm được nơi nào khác rộng rãi hơn nhanh nhất có thể. Nhìn xem, tớ đang… nở rộng ra đến thế này cơ!”. Cô đùa, thoáng chút căng thẳng. Và chỉ khi đó, tôi mới chú ý đến cái bụng lúp xúp nho nhỏ của cô bên dưới lớp áo sơ mi. Cái nút ở bụng trở nên khó khăn để ép giữ hai vạt áo hai bên lại với nhau.
“Ồ…”. Có gì lướng vướng nghèn nghẹn nơi cổ họng. Hai đầu gối lại run run lần nữa. Mắt lại rưng rưng. Làm ơn cho giây phút này qua thật nhanh, làm ơn để họ đừng nhìn tôi nữa mà nhìn sang chỗ khác. Họ tế nhị làm thế thật.
“Thật tuyệt, chúc mừng hai bạn!”. Giọng nói của tôi đầy nhiệt thành, nhưng ngay cả tôi cũng có thể nghe thấy nó trống rỗng biết chừng nào, những từ ngữ vô nghĩa thiếu đi sự chân thành, hầu như vang vọng trong chính cái hố trống rỗng của chúng.
“Thế là căn phòng ở tầng trên kia có lẽ sẽ trở nên rất hoàn hảo”, Joe gật gật đầu hướng về phía căn phòng cho bé sơ sinh.
“Ồ, tất nhiên, nó rất tuyệt”.
“Em thật không tin là những người chủ cũ chẳng muốn mang đi thứ đồ gỗ nào”, Linda vừa nói vừa nhìn xung quanh.
“Vâng, cả hai vợ chồng chủ cũ đều chuyển đến sống ở một ngôi nhà nhỏ hơn và những thứ này không vừa với nơi ở mới”.
“Nhưng họ không lấy bất cứ thứ gì sao?”.
“Không”, tôi mỉm cười, nhìn chung quanh. “Không thứ gì cả ngoại trừ bụi hồng ở cuối vườn”.
Và một va li những ký ức.
Justin thả mình xuống ghế xe hơi, với một tiếng thở dài.
“Chuyện gì xảy ra với ông vậy?”.
“Không có gì cả. Anh có thể vui lòng chạy thẳng đến phi trường bây giờ không? Tôi hơi trễ một chút rồi”. Justin tì khuỷu tay trên thành cửa sổ, một bàn tay che kín mặt. Anh thấy căm ghét chính mình, ghét cái người đàn ông ích kỷ khốn khổ mà anh đang dần trở thành. Anh và Sarah không “phù hợp” với nhau, nhưng rõ ràng anh không có quyền làm cho cô ấy khốn khổ chịu đựng đủ điều như thế. Chính sự ích kỷ của anh…
“Tôi có cái này sẽ làm anh vui lên đấy”, Thomas nói, với tay chạm đến cái ngăn nhỏ đựng những đồ vật linh tinh trên xe.
“Không, tôi đâu có…”, Justin ngừng lại, nhìn Thomas lấy ra một chiếc phong bì quen thuộc từ cái ngăn nhỏ đó. Anh ta chuyển nó về phía sau cho Justin.
“Anh lấy cái này ở đâu thế?”.
“Sếp tôi gọi, nói tôi đưa cái này cho anh trước khi đến sân bay”.
“Sếp anh?”. Justin nheo mắt. “Ông ấy tên gì nhỉ?”.
Thomas im lặng trong giây lát. “John”, cuối cùng anh ta cũng đáp.
“John Smith?”. Justin hỏi, giọng anh đầy vẻ chế nhạo, mỉa mai.
Im lặng.
Biết rằng mình không thể ép Thomas để có thêm bất kỳ thông tin nào, anh quay sự chú ý trở về chiếc phong bì. Anh xoay nó chầm chậm trên tay, cố gắng để quyết định xem nên mở nó hay không. Anh có thể không mở ra, cứ thể để nó lại và kết thúc tất cả mọi thứ bây giờ, quay cuộc đời của anh trở về với những điều rõ ràng đâu ra đó. Rồi thì anh sẽ gặp một người phụ nữ tốt, đối xử với anh tử tế.
“Này? Ông không định mở nó ra à?”, Thomas hỏi.
Justin tiếp tục xoay nhè nhẹ cái phong bì trong tay.
“Có lẽ”.
Bố mở của cho tôi, chiếc tai nghe iPod đeo lủng lẳng trên tai. Ông nhìn tôi từ trên xuống dưới.
“Ồ… Ồ… CÓ VẺ NHƯ CON CÓ MỘT NGÀY RẤT TUYỆT, GRACIE”. Ông hét toáng lên với mức âm thanh to nhất có thể, đến nỗi một người đàn ông đang dắt chó đi ngang qua đường phải quay lại nhìn. “CON ĐÃ ĐẾN NƠI NÀO RẤT ĐẶC BIỆT À?”.
Tôi mỉm cười. Cuối cùng cũng cảm thấy nhẹ nhõm. Tôi đặt một ngón tay lên môi và kéo cái tai nghe ra khỏi tai bố.
“Con đã dẫn vài người khách của con đến xem ngôi nhà”.
“Họ thích không?”.
“Họ sẽ quay lại sau vài ngày cân nhắc. Đó là một dấu hiệu tốt đấy ạ. Nhưng khi quay lại đó, con nhận ra rằng ở đó có quá nhiều điều mà con đã phải vượt qua”.
“Con chưa cảm thấy đủ à? Con không cần phải nức nở hàng tuần chỉ vì những chuyện đã qua đó”.
Tôi mỉm cười. “Ý của con là con phải vượt qua trạng thái sở hữu ngôi nhà của chính mình. Mọi thứ, con đã bỏ lại phía sau… À, bố! Con nghĩ rằng họ không muốn có quá nhiều đồ gỗ. Bố thấy có ổn không nếu con đem vài thứ về, chất vào trong ga-ra của bố?”.
“Cái xưởng mộc của bố á?”.
“Bố đã không vào trong đó cả chục năm rồi còn gì”.
“Bố có vào mà”, bố cố chống đỡ, “Ồ, thôi được rồi. Con có thể cất những vật dụng của con trong đó”, ông nói với một nụ cười nở nhẹ trên khuôn mặt.
Tôi ngồi vào chiếc bàn trong bếp và bố lập tức bận rộn với chính mình, đổ đầy nước vào chiếc ấm đun – cách ông vẫn làm cho tất cả mọi người bước vào bếp.
“Câu lạc bộ thứ Hai tối hôm qua thế nào hả bố? Con đánh cuộc là chú Donal McCarthy không tin câu chuyện của bố đâu. Gương mặt chú ấy lúc đó thế nào ạ?”.
Tôi tì ngực vào bàn, háo hức được nghe.
“Chú ấy không có ở đó”, bố nói, quay lưng về phía tôi trong khi lấy một chiếc tách, một đĩa nhỏ lót ly cho ông và một cái cốc to có tay cầm cho tôi.
“Gì cơ ạ? Sao lại không ở đó? Bố đến với câu chuyện đầy thú vị để kể cho chú ấy. Thật ghét thế. Thôi kệ, bố sẽ có thể kể vào tuần tới mà, phải không bố?”.
Ông quay đi chầm chậm. “Chú ấy đã mất hồi cuối tuần rồi con ạ. Đám tang của chú ấy được cử hành vào ngày mai”.
“Ôi, bố. Con rất tiếc!”.
“Ờ, không sao con. Nếu chú ấy không ra đi mãi mãi hồi cuối tuần, có lẽ biết đâu chú ấy cũng chết mất khi nghe bố kể rằng bố đã gặp Michael Aspel. Biết đâu mọi thứ như thế này lại tốt”, ông cười buồn bã. “Mà chú ấy cũng không hẳn là người xấu lắm đâu. Chú ấy đã khiến mọi người có được những tràng cười vui vẻ cơ mà”.
Tôi hiểu bố. Ông đã hào hứng biết bao với ý định chia sẻ những câu chuyện với “đối thủ” to lớn của ông.
Cả hai bố con đều ngồi im lặng.
“Con sẽ giữ lại bụi hồng chứ, phải không con?”, cuối cùng bố hỏi.
Ngay lập tức, tôi biết ông đang nói về cái gì. “Tất nhiên con sẽ giữ bố ạ. Con đã nghĩ rằng trông sẽ rất đẹp nếu trồng nó trong khu vườn của bố”.
Bố nhìn ra ngoài cửa sổ, quan sát khu vườn của mình, hầu như quyết định được luôn ông sẽ trồng nó ở đâu.
“Con phải cẩn thận với mọi sự di chuyển đấy, Gracie. Quá nhiều cú sốc có thể là nguyên nhân của một sự tàn tạ đến mức không cứu vãn”.
Tôi mỉm cười buồn bã. “Nghe có vẻ đầy kịch tính, nhưng con sẽ ổn mà, bố! Cảm ơn bố đã lo lắng cho con”.
Ông quay lưng lại. “Bố đang nói đến mấy bụi hồng mà. Đâu phải nói con. Ý bố là con phải bứng nó lên và chuyển đi cẩn thận đấy. Đào lên mạnh quá, không khéo sẽ làm bụi hồng tàn héo cả”.
Chuông điện thoại của tôi vang lên, nó rung rung và muốn rớt xuống luôn khỏi cạnh bàn”.
“A lô?”.
“Joyce, Thomas đây. Tôi vừa đưa anh bạn trẻ của cô đến phi trường rồi đấy nhé”.
“Ồ, cảm ơn rất nhiều. Anh ấy lấy cái bì thư rồi chứ?”.
“Rồi. Mọi việc thế này này: Tôi đưa nó cho anh ta rồi, nhưng khi tôi nhìn qua ghế sau thì thấy nó vẫn còn nguyên đó”.
“Hả?”. Tôi muốn nhảy xuống khỏi chiếc ghế trong bếp. “Vòng lại đi, vòng lại đi. Vòng xe lại mau. Anh phải đưa nó cho anh ấy. Anh ấy để quên nó rồi!”.
“Cô biết không, cái bì thư đó… Anh ấy không chắc là có muốn mở nó ra hay không nữa”.
“Cái gì? Tại sao vậy?”.
“Tôi không biết nữa. Tôi đã đưa nó cho anh ta khi anh ta quay trở lại xe, trước lúc chúng tôi đến phi trường, đúng y như cô yêu cầu. Lúc đó anh ta có vẻ rất không ổn, vì thế tôi đã nghĩ rằng biết đâu nó có thể làm anh ấy vui lên đôi chút”.
“Không ổn? Tại sao? Có gì không ổn với anh ấy?”.
“Joyce yêu quý, tôi không biết. Tất cả những gì tôi biết là anh ấy trở vào xe với một chút chán chường, xáo trộn. Vì thế, tôi đã đưa cho anh ta cái bì thư và anh ta ngồi đó nhìn nó suốt. Tôi hỏi anh ta xem anh ta có định mở nó hay không, anh ta nói là: Có thể!”.
“Có thể”, tôi lặp lại. Chẳng lẽ tôi đã làm điều gì đó gây xáo trộn, chán chường cho anh ấy?
Hay Kate đã nói chuyện gì đó với anh ta? “Anh ta có vẻ xáo trộn, chán chường khi anh ta rời khỏi Phòng Triển lãm à?”.
“Không, không phải ở Phòng triển lãm. Chúng tôi dừng lại ở Trung tâm Hiến máu nhân đạo trên đường D’Olier street trước khi ra phi trường”.
“Anh ấy hiến máu à?”.
“Không, anh ấy nói là anh ấy phải gặp ai đó”.
Chúa ơi, có lẽ anh ta đã khám phá ra đó là tôi, người đã nhận máu của anh ấy, và anh ấy không quan tâm.
“Thomas, anh ấy có mở cái bì thư không vậy?”.
“Cô có dán bì thư không?”.
“Không”.
“Thế thì chẳng có cách nào để biết cả. Tôi không thấy anh ta mở nó. Tôi xin lỗi. Cô có muốn tôi mang nó về lại nhà cho cô trên đường về từ sân bay không?”.
“Anh vui lòng giúp tôi nhé”.
Một giờ sau, tôi gặp Thomas ở cổng và anh đưa lạ cho tôi cái bì thư. Tôi có thể cảm thấy được nhưng những chiếc vé vẫn còn nằm nguyên bên trong. Tim tôi như rớt xuống. Sao Justin không mở nó và mang nó đi với anh ấy?
“Này, bố”. Tôi đẩy nhẹ cái phong bì ngang qua chiếc bàn trong bếp.
“Một món quà tặng bố”.
“Cái gì trong ấy thế?”.
“Những chỗ ngồi ở hàng ghế đầu buổi biểu diễn nhạc kịch tuần tới ạ”, tôi nói đầy vẻ buồn bã, chống tay lên cằm. “Nó là một món quà dành cho một người khác, nhưng rõ ràng là anh ấy không muốn nhận”.
“Biểu diễn nhạc kịch”, bố chành miệng làm một cái mặt hề và tôi bật cười. “Nhạc kịch bây giờ khác xa nhạc kịch thời của bố!”, mặc dù thế ông vẫn mở cái bì thư trong khi tôi đi lấy thêm một ít cà phê.
“Ồ, bố nghĩ là bố sẽ không đi xem vở nhạc kịch này, con gái yêu. Nhưng dù sao cũng cảm ơn con”.
Tôi làm một động tác xoay người thành vòng tròn. “Bố, sao thế ạ? Bố thích vũ ba lê lắm mà”.
“Ừ, nhưng bố đã đi xem với con rồi. Bố không đi một mình đến đó nữa đâu”.
“Bố không phải đi một mình. Có hai chiếc vé trong đó”.
“Đâu có”.
“Rõ ràng là có mà. Bố xem lại đi”.
Ông dốc ngược bì thư xuống và lắc lắc nó. Một mảnh giấy nhỏ rơi ra, bay phất phới trên mặt bàn.
Tim tôi thót lại.
Bố đưa ngón tay đẩy mắt kính lên sát sóng mũi và nhìn sát vào mẩu giấy. “Mình đi cùng nhé”. Bố đọc thật chậm. “À, con gái… Con thật quá mức là dễ thương…”.
“Đưa con xem nào”. Tôi giật nó khỏi tay bố, không tin được. Tôi tự mình đọc nó. Rồi tôi đọc nó lần nữa. Rồi tôi đọc nó lần nữa, lần nữa…
Chỉ có một chiếc vé trong bì thư. Và một mảnh giấy với hàng chữ…
“Mình cùng đi nhé? – Justin”.
0
BA MƯƠI SÁU


“Anh ấy muốn gặp tớ”, tôi nói với Kate bằng một vẻ đầy căng thẳng trong khi quấn chặt ngón tay trong một sợi dây, chặt đến mức không tài nào mở ra được.
“Cậu làm máu không lưu thông được đấy, cẩn thận đi!”. Kate đáp, hệt như một bà mẹ bảo ban con.
“Kate! Cậu không nghe tớ nói gì à? Tớ nói là anh ấy muốn gặp tớ!”.
“Thì anh ấy nên làm như vậy mà. Chẳng lẽ cậu không nghĩ rằng việc này cuối cùng cũng xảy ra? Thật sự đấy, Joyce, cậu đã trêu chọc anh chàng ấy hàng mấy tuần liền. Nếu anh ta đã cứu sống cuộc đời cậu, như là cậu cứ khăng khăng, có thể nào anh ta không muốn gặp người mà anh ta đã cứu sống không? Để quảng cáo rùm beng về bản ngã đàn ông của anh ấy? Thôi nào, điều đó khiến người đàn ông tư hào hệt như một con ngựa trắng được thắng bộ yên cương sáng lóng lánh vào đấy!”.
“Không, không phải vậy đâu”.
“Trong mắt nam giới thì vậy đấy”, cô khăng khăng.
Mắt tôi nheo nheo lại quan sát cô bạn mình. “Này, mọi việc ổn đấy chứ? Cậu bắt đầu nói y hệt như Frankie vậy!”.
“Ngừng việc cứ cắn môi như vậy đi. Nó bắt đầu rớm máu rồi đấy. Vâng, mọi thứ rất tuyệt. Rất cừ khôi”.
“Tớ đến rồi đây”. Frankie hét tướng lên thông báo khi bước vô cửa.
Chúng tôi ngồi tách rời nhau trên ban công, nhìn xuống hồ bơi trong nhà của Kate. Bên dưới, Eric và Jayda bắn nước tung tóe, cười giỡn ồn ào trong giờ học bơi của chúng. Bên cạnh chúng tôi, Sam đang ngồi trong chiếc xe đẩy, nhìn xung quanh.
“Thằng bé có khi nào làm cái gì khác ngoài việc nhìn như vậy không nhỉ?”. Frankie quan sát cậu bé với vẻ nghi ngờ.
Kate phớt lờ cô.
“Vấn đề số một được thảo luận trong ngày hôm nay là tại sao chúng ta phải liên tục gặp ở những nơi này, với tất cả những thứ kia trườn xung quanh?”. Frankie nhìn quanh tất cả những đứa bé, kể cả đứa mới biết đi. “Chuyện gì xảy ra với những quầy giải khát mát lạnh, những nhà hàng, cửa hàng mới mở? Nhớ đi, bọn mình từng đi ra ngoài và có bao nhiêu là thứ vui vẻ…”.
“Tớ có bao nhiêu là thứ vui vẻ khủng khiếp này rồi”, Kate nói to, với một chút phòng vệ quá mức. “Tớ là một quả bóng căng tròn với những thứ vui vẻ cùng cực đây này”, cô lặp lại, nhìn xung quanh.
Frankie không nghe thấy âm điệu bất thường trong giọng nói của Kate, hoặc giả có nghe nhưng lại quyết định đẩy hết đi. “Vâng, những bữa tiệc tùng buổi tối dành cho các cặp vợ chồng không ra ngoài hàng tháng liền. Với tớ, điều đó chẳng có gì vui cả…”.
“Cậu sẽ hiểu khi nào cậu có con”.
“Tớ không định có đứa con nào cả. Mọi thứ vẫn ổn mà!”.
“Cậu ấy là một người rất cừ khôi!”, tôi nói với Frankie, dùng ngón tay của mình làm thành một dấu phẩy ngược.
“Tớ hiểu… tớ hiểu…”. Frankie nói chậm rãi và chun mũi khiêu khích.
Tôi nhún vai.
“Cậu có muốn vứt bỏ cái gì khỏi cuộc sống của mình không?”, Frankie hỏi.
“Thật sự là có đấy!”, Kate quay lại nhìn cô bạn mình với đôi mắt rực lửa. “Tớ chán ngấy những lời nhận xét nọ kia của cậu về cuộc sống của tớ rồi. Nếu cậu không thấy vui vẻ ở đây, thế thì hãy tếch đi nơi nào khác, chỉ cần biết rằng nơi này sẽ chẳng bao giờ không có tớ!”. Cô quay đi, hai gò má đỏ ửng lên giận dữ.
Frankie im lặng một lát nhưng vẫn theo dõi cô bạn của mình.
“Thôi được rồi”, cô nói với một vẻ tự đắc rồi quay sang tôi. “Xe của tớ đậu ở ngoài, chúng ta có thể đi đến một quầy bar mới ở dưới đường”.
“Chúng ta sẽ không đi đâu cả”, tôi phản đối.
“Kể từ khi cậu chia tay với chồng và cuộc đời cậu rơi xuống dốc cái vèo, cậu chẳng có gì vui vẻ cả”, cô nói với tôi bằng một giọng hờn dỗi. “Còn với cậu, Kate, kể từ khi cậu có người bảo mẫu mới người Thụy Điển, và chồng cậu thỉnh thoảng cứ liếc trộm cô ấy, cậu hoàn toàn khốn khổ. Còn với tớ, tớ mệt mỏi với việc cứ làm quần quật, rồi hẹn hò với những anh chàng đẹp trai xa lạ, và ăn bữa tối hâm trong lò viba một mình đêm đêm. Tớ nói vậy đấy!”.
Miệng tôi há hốc. Đó là chuyện của Kate sao. Chúng tôi cứ cãi cọ nhau những chuyện vặt vãnh, bình luận ồn ào về cuộc sống của Kate suốt ngày, nhưng cô ấy luôn tỏ ra vui vẻ, hài hước. Khóe môi của Kate bắt đầu run nhè nhẹ.
“Có lẽ tớ nên có một người bảo mẫu”, cuối cùng Kate nói.
“Cậu đang bị hoang tưởng đấy Kate”, Frankie phản đối một cách nghiêm túc. “Tớ đã ở bên cậu suốt, tớ đã gặp anh ấy. Anh ấy tôn thờ cậu và cái cô bảo mẫu kia chẳng có gì quyến rũ hết!”.
“Cậu nghĩ thế?”.
“Ừ”. Cô gật, nhưng khi Kate quay đi, cô liếc sang tôi, lắc đầu tỏ vẻ không tin chính điều mình vừa an ủi.
“Các câu có nghĩ thật như thế không?”, Kate nói, mặt có vẻ tươi lên tí chút.
“Không”. Frankie ngửa đầu ra sau, cười ha hả. “Tớ cũng cần làm gì đó thay đổi những bữa tối hâm trong lò vi ba của mình. Bác sĩ nói tớ cần được bổ sung nhiều sắt hơn. Được thôi…”. Cô vỗ vỗ tay, làm bé Sam tò mò nhìn theo sợ sệt. “Thôi, vào vấn đề chính nào. Các cậu hẹn nhau đến đây làm gì?”.
“Justin muốn gặp Joyce”, Kate giải thích, và chộp lấy tay tôi, “Thôi cắn môi cậu đi!”.
Tôi ngừng lại.
“Ồ, rất tuyệt!”, Frankie nói đầy phấn khích. “Thế có chuyện gì?”, cô nhìn vẻ hoảng hốt của tôi.
“Anh ta sẽ nhận ra đó là tớ”.
“Trái ngược với hình ảnh cậu từng vẽ nên…?”.
“Ừ, anh ấy nghĩ tớ là một ai khác”. Tôi lại cắn môi mình.
“Điều này thật sự làm tớ nhớ lại những ngày xưa cũ. Cậu đã ba mươi ba tuổi rồi, Joyce, sao cậu cứ xử sự giống như một cô bé mới lớn vậy?”.
“Bởi vì cô ấy đang yêu”, Kate nói, đầy vẻ chán ngán, quay mặt nhìn ra hồ bơi và vỗ tay động viên cô con gái Jayda nửa chìm nửa nổi, đang ho.
“Cậu ấy không thể nào đang yêu được”, Frankie chun mũi lại với vẻ rất ghê.
“Này, các cậu có nghĩ như thế là bình thường không?”, Kate – lúc này bắt đầu lo lắng về Jayda, cố gắng thu hút sự chú ý của chúng tôi.
“Tất nhiên là điều đó không bình thường”, Frankie đáp. “Cậu ấy hầu như chẳng biết gì về anh chàng này”.
“Này… ơ… ngừng lại một phút đi”, Kate cố gắng chen vào.
“Tớ biết về anh ấy nhiều hơn bất kỳ người nào khác mà tớ từng biết”, tôi phản đối, “Biết rõ từng phần về chính anh ấy”.
“Này, cứu hộ!”, Kate bỏ cuộc với việc kêu gọi sự chú ý của chúng tôi, thay vào đó là gọi người phụ nữ ngồi bên dưới. “Con bé ổn chứ, chị có nghĩ thế không?”.
“Cậu đang yêu à?”, Frankie nhìn tôi, lạ lẫm.
Tôi mỉm cười, ngay khi người cứu hộ nhảy ào xuống nước kéo Jayda lên.
“Anh sẽ phải đưa tụi em đi Ai-len với anh đấy!”, Doris nói với vẻ đầy hào hứng, đặt một cái bình lên bậu cửa sổ trong nhà bếp. Căn hộ hầu như đã hoàn chỉnh và cô đang loay hoay dọn dẹp. “Đó có thể là một kẻ gàn bướng điên rồ mà anh chưa từng biết bao giờ. Chúng ta cần phải ở gần nhau, trong trường hợp lỡ có chuyện gì xảy ra. Biết đâu kẻ bí mật ấy có thể là tên giết người hàng loạt, hẹn mọi người và sau đó giết chết. Em đã từng xem một phim giống như thế tên là…”.
Al bắt đầu đóng những chiếc đinh lên tường và Jusitn cũng làm tương tự, với những nhịp gõ nhè nhẹ, lặp đi lặp lại, nhưng bằng cách… gõ chính đầu của mình xuống mặt bàn ăn.
“Anh sẽ không đưa cả hai đứa em đến buổi biểu diễn nhạc kịch với anh đâu”, Justin nói.
“Anh đưa tụi em đến buổi hẹn, sau đó tụi em sẽ quan sát từ xa hoặc rút lui”. Al ngừng đóng đinh và quay sang anh, “Đâu có gì khác biệt đâu!”.
“Al, anh qua khỏi tuổi mới lớn từ lâu rồi”.
“Vẫn thế thôi”, Al nhún vai, quay lại với việc đóng đinh của mình.
“Nếu cô ấy là một minh tinh thì sao?”, Doris đầy vẻ phấn khích. “Chúa ơi, có thể lắm chứ! Em nghĩ cô ta là minh tinh đấy! Sẽ có những ngôi sao ngồi ở hàng ghế trên cùng của buổi trình diễn nhạc kịch và em có thể có một chỗ ngồi miễn phí bên cạnh. Chúa ơi, chuyện gì xảy ra nếu như thế nhỉ?”. Cô quay lại Al với đôi mắt tròn xoe. “Justin, anh phải nói với cô ấy em là một fan nồng nhiệt nhất của cô ấy!”.
“Trời đất… Khoan một phút đã nào, em bắt đầu nói quá nhanh rồi đó. Làm cách nào em có được kết luận ấy? Thậm chí chúng ta còn không biết đó có phải là một phụ nữ không. Nhỡ người bí mật là một người đàn ông thì sao? Em cứ bị ám ảnh bởi những chuyện của các minh tinh!”. Justin thở dài.
“Đúng rồi, Doris”, Al tham gia vào. “Có thể đó chỉ là một người bình thường”.
Justin tròn mắt. “Đúng rồi”, anh bắt chước giọng của cậu em trai, “Bởi vì những minh tinh màn bạc thì chẳng bao giờ là người bình thường. Họ thật sự là những con quái vật, có sừng và ba cái chân”.
Nghe những lời ấy, cả Al và Doris đều ngừng công việc của mình lại và nhìn chằm chằm vào anh.
“Mai chúng ta sẽ đi Dublin”, Doris nói như đó là quyết định cuối cùng. “Đón sinh nhật em trai anh và trải qua kỳ nghỉ cuối tuần ở Dublin, trong một khách sạn tuyệt đẹp như khách sạn Shelbourne. Em đã từng…, à… ý em là Al đã từng luôn ước ao được ở đó. Hẳn đây là một món quà sinh nhật hoàn hảo của anh, cho anh ấy”.
“Anh không đủ sức thanh toán tiền phòng ở khách sạn Shelbourne đâu, Doris”.
“Được rồi, chúng ta sẽ cần một nơi nào đó gần bệnh viện, trong trường hợp anh ấy bị lên cơn đau tim. Dù thế nào đi nữa, tất cả chúng ta cũng sẽ cùng đi!”. Cô vỗ vỗ hai bàn tay.
0
BA MƯƠI BẢY


Tôi đang trên đường vào thành phố để gặp Kate và Frankie, nhờ hai cô bạn chọn giúp xem nên mặc cái gì trong buổi trình diễn nhạc kịch tối nay. Ngay lúc ấy, chuông điện thoại vang lên.
“A lô?”.
“Joyce, tôi – Steven đây!”.
Sếp của tôi.
“Tôi mới vừa nhận được một cuộc gọi từ khách hàng khác”.
“Điều đó thật sự rất tuyệt, nhưng… tôi tự hỏi liệu ông có cần phải gọi để nói cho tôi biết về các cuộc gọi của khách hàng không nhỉ?”.
“Cô nhầm rồi. Lại là một lời phàn nàn khác nữa, Joyce”.
“Từ ai, và về chuyện gì?”.
“Cặp vợ chồng mà cô đã giới thiệu cho xem căn nhà hôm qua đấy”.
“Sao cơ?”.
“Họ không tiếp tục nữa rồi”.
“Ồ, đúng là đáng xấu hổ”. Tôi nói dối. “Họ có nói tại sao không?”.
“Vâng, thật ra là có. Dường như là có một người nào đó trong công ty chúng ta đã khuyên họ nên xem xét kỹ lưỡng hơn về chất lượng căn nhà, cũng như về một vài thứ khác liên quan đến giấy tờ. Cô đoán được chứ hả? Thêm vào đó, họ còn được tư vấn là cần xem xét lại về chất lượng một số vật dụng, trang thiết bị kèm theo trong nhà nữa…”. Tôi nghe tiếng giấy lật sột soạt và tiếng ông đọc to.
“Tường gạch bị nứt, lò sưởi hỏng hóc, xà nhà đôi chỗ cần xem lại… Danh sách còn dài nữa. Và thế là bây giờ họ kết thúc luôn việc mua bán”.
“Tôi thấy như thế là cũng đầy trách nhiệm và hợp lý đó chứ. Cần tư vấn rõ ràng cho khách mua những gì họ cần biết về căn nhà. Ông thấy có gì nhạy cảm trong đó à?”.
“Ai quan tâm chuyện đấy? Joyce, cô chỉ việc khuyến khích để họ đánh giá về những tiềm năng có được khi mua nhà thôi. Douglas đã gần như bán được căn nhà đó cho họ, thế mà cô… làm hỏng cả”.
“Rõ ràng là anh ấy chưa hề bán được mà!”.
“Joyce, tôi muốn cô ngừng ngay cái việc chết tiệt là đuổi hết những khách hàng của chúng ta đi. Cô có cần được nhắc nhở lại rằng nghề nghiệp của cô là bán, và nếu cô không làm được việc đó thì…”.
“Thì sao?”, tôi nói, đầu muốn nóng lên.
“Không sao cả”, ông mềm mỏng. “Tôi biết cô đang ở vào một giai đoạn khó khăn”. Ông bắt đầu lúng túng.
“Khoảng thời gian đó đã qua và không có gì ảnh hưởng tới khả năng của tôi trong việc bán một căn nhà”, tôi ngắt lời.
“Vậy hãy bán đi”, ông kết thúc.
“Được rồi”. Tôi bấm tắt điện thoại và nhìn trừng trừng ra ngoài cửa sổ xe buýt trong thành phố. Quay lại công việc mới có một tuần, vậy mà tôi đã cảm thấy mình cần đến một kỳ nghỉ rồi!
“Doris, cái trò này có cần thiết không?”, Justin đứng trong phòng tắm, nhăn nhó nói vọng ra.
“Cần chứ!”, cô em dâu hét oang oang. “Tụi em ở đây vì cái gì? Chính là vì điều đó. Tụi em muốn chắc chắn rằng anh trông rất hoàn hảo tối nay. Nhanh lên, anh sửa soạn còn lâu hơn một phụ nữ nữa đấy!”.
Doris và Al đang ngồi trên giường, tất nhiên trong khách sạn Dublin chứ không phải khách sạn Shelbourne. Thật mất hết tinh thần! Mọi thứ của khách sạn này đều chỉ tàm tạm, nhưng được cái nó ở trung tâm với những dãy phố mua sắm tấp nập. Riêng điều đó thôi cũng đủ tuyệt với Doris. Ngay khi hai đứa em vừa hạ cánh xuống sáng sớm nay, Justin đã sắp xếp để đưa họ đi vòng quanh hết các địa điểm, các viện bảo tàng, nhà thờ và lâu đài trong thành phố, nhưng cả Doris lẫn Al đều chẳng chú tâm gì lắm đến những thứ ấy. Họ đã có “mục tiêu” khác trong đầu: Mua sắm!
Tour dạo chơi vòng quanh thành phố kết thúc khi Doris kêu thét lên vì bị nước xịt vào mặt ở lối vào của sông Liffey. Họ đành cố chạy đến một nhà vệ sinh gần nhất nơi Al có thể giúp rửa hết mascara ra khỏi mắt cô vợ.
Chỉ còn một tiếng đồng hồ nữa là đến buổi biểu diễn nhạc kịch, là đến thời khắc cuối cùng anh có thể khám phá ra nhân thân của con người bí mật. Anh đầy băn khoăn, háo hức, căng thẳng khi nghĩ đến điều đó. Nó có thể là một buổi tra tấn khủng khiếp hoặc cũng có thể tràn ngập sự dễ chịu, tùy thuộc vào vận may của anh. Anh đã phải hình dung ra cả một kế hoạch “trốn thoát” nếu viễn cảnh khủng khiếp nhất xảy ra.
“Ôi trời, nhanh lên, Justin”. Doris lại gào lên lần nữa ở bên ngoài phòng tắm trong khi anh thắt lại cà vạt cho ngay ngắn và bước ra.
“Được rồi, được rồi, được rồi!”. Doris kêu toáng lên trong khi anh diễu quả diễn lại với bộ vest đẹp nhất của mình. Anh ngừng lại trước họ, bồn chồn ngượng nghịu như một cậu bé trong bộ vest của lễ ban thánh thể.
Chào đón anh chỉ là sự im lặng. Al, đang bốc từng nắm bỏng ngô cho vào miệng cũng ngừng nhai.
“Chuyện gì vậy?”, anh lo lắng hỏi. “Có chuyện gì không ổn à? Có gì trên mặt anh à? Một vết nhọ nồi hả?”. Anh nhìn lại mình từ trên xuống dưới.
Doris tròn xoe mắt và lắc đầu. “Haha… Thật buồn cười. Nào, bây giờ thì ngheiem túc đây, ngừng phí thời gian đi và cho bọn em xem bộ vest phù hợp chứ!”.
“Doris!”, Justin kêu lớn. “Đây là một bộ vest phù hợp mà!”.
“Đây là bộ đẹp nhất của anh rồi đấy hả?”, cô kéo dài giọng, nhìn anh như thể nhìn sinh vật lạ.
“Anh nhận ra bộ này rồi… Anh nghĩ là anh ấy mặc nó hồi đám cưới hai đứa mình”, Al nheo nheo mắt.
Doris đứng lên vớ lấy cái túi xách. “Cởi ra nào!”, cô nói với vẻ bình tĩnh lại.
“Chuyện gì thế? Sao cơ?”.
Cô hít một hơi dài. “Chỉ là cởi ra thôi. Bây giờ!”.
“Những cái này có vẻ quá trang trọng, Kate!”, tôi ngước lên ngắm những chiếc đầm dạ hội cô bạn chọn. “Đây không phải là một buổi dạ hội khiêu vũ, tớ chỉ cần một thứ gì…”.
“Gợi cảm”, Frankie chen vào, vẫy vẫy một chiếc váy nhỏ xíu trước mặt tôi.
“Hừm, đó là một buổi trình diễn nhạc kịch, không phải một hộp đêm”. Kate giật phắt chiếc váy nhỏ xíu ném ra xa. “Được rồi, nhìn cái này xem. Không quá trang trọng, không quá khêu gợi”.
“Vâng, bây giờ cậu có thể biến thành một nữ tu rồi đấy”, Frankie nói đầy châm biếm.
Cả hai đều quay đi và sau đó lại cùng lao trở lại chỗ tôi.
“A ha! Tớ tìm ra cái này”, Frankie nhanh nhảu.
“Không, chính tớ mới là người tìm ra chiếc váy hoàn hảo này”.
Cả hai cùng xoay vòng tròn với hai chiếc váy giống hệt nhau trong tay. Kate cầm một chiếc màu đỏ, Frankie cầm một chiếc màu đen. Tôi cắn môi.
“Ngừng lại!”, cả Justin và Al đều cùng đồng thanh.
“Ôi trời ơi!”, bây giờ thì đến lượt Justin kêu thầm.
“Cái gì? Anh chưa từng bao giờ thấy bộ com-lê có sọc hồng nhỏ thế này à? Thật tuyệt diệu. Mặc với chiếc áo sơ mi hồng này, và mang chiếc cà vạt hồng này… Ồ, hoàn hảo. Al, em ước anh cũng mặc một bộ vest giống như thế này đấy!”.
“Anh thích màu xanh hơn”, Al phản đối kịch liệt. “Màu hồng trông như đồng tính ấy!”.
Doris nhìn chằm chằm ông anh chồng, không tha. “Nhìn xem, chẳng phải bộ này tuyệt hơn rất nhiều cái bộ anh đã mặc ở nhà đấy à? Justin? Đáp xuống đất đi Justin. Anh đang nhìn cái quái gì vậy? Ồ… Cô ấy thật xinh đẹp!”.
“Joyce đấy!”, anh thì thầm. Anh đã từng có lần đọc rằng một con chim ruồi cổ xanh có nhịp tim khoảng 1.260 nhịp mỗi phút, và anh tự hỏi làm sao trên trái đất có một con vật như thế sống sót nổi. Bây giờ thì anh có thể hiểu. Với mỗi lần đập, trái tim anh sẽ đẩy lượng máu ra ngoài và chuyển chúng chảy đến khắp mọi ngóc ngách trong cơ thể. Anh cảm thấy toàn bộ cơ thể mình đập rộn lên, nở ra co lại theo nhịp, từ cổ anh, đến cổ tay anh, đến quả tim, đến dạ dày.
“Joyce á?”, Doris hỏi, hơi bị sốc. “Người phụ nữ điện thoại? Cô ấy trông… bình thường, Justin. Anh nghĩ gì thế, Al?”.
Al nhìn cô vợ từ trên xuống dưới rồi huých khuỷu tay vào anh trai. “Vâng, trông cô ấy thật sự bình thường. Anh nên mời cô ấy ra ngoài đi ăn một lần, vậy là xong”.
“Sao cả hai em đều có vẻ ngạc nhiên về chuyện cô ấy trông bình thường?”.
Thình thịch. Thình thịch.
“Vâng, anh yêu quý, qua lời kể của anh từ trước tới giờ thì em cứ tưởng cô ấy bất thường cơ!”.
Doris khịt mũi. “Cô ấy rất xinh đẹp, gần như một điều huyền diệu. Đi đi, hỏi mời cô ấy ra ngoài ăn tối, tối nay”.
“Anh không thể đi tối nay được?”.
“Sao không?”.
“Anh phải đến buổi biểu diễn nhạc kịch!”.
“Nhạc kịch nhạc kẽo cái gì. Ai quan tâm chuyện ấy chứ?”.
“Em đã nói và nói không ngừng nghỉ suốt hơn một tuần về nó. Và bây giờ thì gọi nó là nhạc kịch nhạc kẽo?”.
Thình thịch. Thình thịch.
“Được rồi, tại vì trước đó em không muốn làm anh thất vọng. Nhưng em đã nghĩ về nó trên chuyến bay, trên đường đi, và…”, cô hít một hơi sâu, chạm nhẹ vào cánh tay anh. “Đó không phải là buổi biểu diễn ca nhạc sôi động như em muốn. Rồi sẽ chỉ có vài bà già ngồi ở hàng ghế đầu, chờ anh với những bó hoa trong tay, hoặc chỉ có vài anh chàng mập quá cỡ với hơi thở nặng nề. Ôi trời… Xin lỗi, Al, em không ám chỉ anh”, cô ngưng ngang, quay sang chồng đầy vẻ bối rối.
Al không để ý đến cả câu nói lỡ lời ấy. Cả Justin cũng không. Quả tim Justin đang đập bằng nhịp như quả tim của một con chim ruồi, những ý nghĩ của anh bây giờ đạt tốc độ của nó khi vỗ cánh. Anh hoàn toàn không thể nghĩ, mọi thứ diễn ra quá nhanh. Joyce, xinh đẹp khác xa với những gì anh có thể nhớ. Mái tóc mới của cô ấy được chỉnh sửa tuyệt đẹp, ngắn, mềm mại ôm lấy khuôn mặt.
Cô ấy có vẻ muốn đi rồi. Anh phải làm cái gì đó nhanh lên.
Nghĩ đi, nghĩ đi, nghĩ đi!
“Mời cô ấy ra ngoài ăn tối tối mai”, Al đề nghị.
“Không thể. Buổi triển lãm của anh diễn ra vào ngày mai”.
“Thì anh bỏ nó đi”.
“Anh không thể, Al! Anh đã làm việc hàng nhiều tháng liền để chuẩn bị cho nó. Anh là ủy viên cái ban quản trị chết tiệt, nhưng anh phải ở đấy”.
Thình thịch. Thình thịch.
“Nếu anh không mời cô ấy đi chơi, em sẽ làm chuyện đó!”, Doris đẩy anh tới.
“Cô ấy đang bận rộn với mấy người bạn mà!”.
Joyce bắt đầu quay người lại.
Phải làm gì đó!
“Joyce!”, Doris gọi lớn.
“Ôi, Chúa ơi!”. Justin cố gắng quay đi thật nhanh để trốn sang hướng khác nhưng cả Al lẫn Doris đều đang giữ chặt anh lại.
“Justin Hitchcock”, một giọng nói vang lên khá to và anh đành ngừng việc cố gắng phá vỡ “rào cản” của vợ chồng cậu em trai. Anh chậm chạp quay người. Người phụ nữ đứng bên cạnh Joyce trông quen quen. Cô có một em bé đặt trong chiếc xe đẩy bên cạnh.
“Justin Hitchcock”, cô gái chìa tay ra. “Tôi là Kate McDonald”. Cô bắt tay anh rất chặt. “Tôi đã dự buổi nói chuyện của anh tuần rồi ở Phòng Triển Lãm Quốc Gia. Nó thú vị đến khó tin”. Cô mỉm cười. “Tôi không biết là anh biết Joyce”, lại một nụ cười rạng rỡ, kèm thêm một cái thúc nhẹ khuỷu tay vào Joyce. “Joyce, cậu chưa bao giờ nói cho tớ nghe cả. Tớ đã dự buổi nói chuyện của anh Justin Hitchcock tuần rồi đấy. Cậu nhớ không, tớ đã nói với cậu đấy! Bức tranh về người phụ nữ và lá thư? Và sự thật rằng cô ta đang viết nó…”.
Joyce tròn xoe mắt, giật mình. Cô nhìn cô bạn, rồi quay sang Justin và lại nhìn lại cô bạn thêm lần nữa.
“Nói một cách chính xác thì… cô ấy không biết tôi đâu”, cuối cùng Justin cũng thốt được một câu và cảm thấy chút âm điệu run run trong giọng nói của mình. Những kích thích tố tinh thần lại đang trào lên trong anh, nhiều đến nỗi anh cảm thấy như thể anh sắp sửa giống như quả tên lửa, phóng vèo lên xuyên thẳng qua mái của trung tâm mua sắm này. “Chúng tôi đã từng chạm mặt nhau vài lần, tình cờ thôi… chứ chưa bao giờ là buổi gặp mặt thật sự”. Anh chìa tay của mình ra. “Joyce, tôi là Justin”.
Cô bước tới, bắt tay anh và một dòng tĩnh điện chợt đẩy xuyên qua họ khiến mỗi người đều cảm thấy một cảm giác sốc nhẹ rất nhanh khi chạm tới người kia. Cả hai đều rụt ngay tay lại.
“Trời”, cô ôm lấy bàn tay vừa chìa ra bắt, như bị bỏng.
“Ồ… ồ…”, Doris ngân nga giọng.
“Có một dòng tĩnh điện, Doris. Nguyên nhân là cả không khí lẫn mọi vật liệu trong này đều rất khô. Họ nên có một máy giữ ẩm không khí ở đây mới phải”, Justin nói như cái máy, không rời mắt khỏi gương mặt Joyce. Frankie gõ nhẹ ngón tay vào đầu cô bạn và cố gắng để không cười. “Quyến rũ quá!”.
“Tôi nói với anh ấy không biết bao nhiêu lần rồi cơ đấy!”, Doris nhấm nhẳng.
Sau một lúc, Joyce chìa tay ra lần nữa để “hoàn chỉnh” cái bắt tay. “Xin lỗi, tôi chỉ bị giật một chút…”.
“Ồ, không sao, tôi cũng bị như thế mà”, anh mỉm cười.
“Thật vui được gặp các bạn”, cô nói.
Họ vẫn còn nắm bàn tay của nhau, người này chăm chăm nhìn người kia. Một hàng ba người, Doris, Justin và Al đang đứng đối diện với nhóm ba người bên phía Joyce.
Doris tằng hắng giọng mấy lần một cách ồn ào. “Tôi là Doris, em dâu của anh ấy”.
“Cô chìa tay thành đường chéo băng ngang qua Justin và Joyce – lúc này đang bắt tay nhau – để chào Frankie.
“Tôi là Frankie”.
Họ bắt tay. Trong lúc làm điều đó, Al lại chìa tay thành đường chéo lần nữa để bắt tay Kate. Giống như là một cuộc “chạy đua” để bắt tay nhau vậy. Khi tất cả họ lần lượt chào nhau xong, Justin và Joyce cuối cùng cũng giải phóng được cho hai bàn tay nắm chặt của mình.
“Chị có muốn đi ra ngoài dùng bữa với Justin tối nay không?”, Doris buột miệng.
“Tối nay á?”, Joyce há hốc mồm.
“Chắc hẳn là cô ấy rất thích như thế”, Frankie trả lời thay.
“Tối nay sao?”. Tới phiên Justin quay lại nhìn Doris với đôi mắt mở tròn hết cỡ.
“Ồ, không có vấn đề gì đâu. Al và em muốn đi ăn một mình…”. Cô thúc khuỷu tay vào chồng. “Anh chẳng cần phải có chúng em đóng vai một bảo mẫu đi kèm theo các cặp tình nhân để giữ gìn…”, cô mỉm cười.
“Anh có chắc là anh không vướng một kế hoạch nào khác tối nay chứ?”, Joyce nói, có vẻ hơi bị hoang mang.
“Ồ, không!”, Justin lắc đầu. “Tôi rất hân hạnh được dùng bữa tối cùng với cô. Trừ khi… tất nhiên là trừ khi cô có một kế hoạch khác rồi?”.
Joyce quay sang Frankie. “Tối nay? Tớ có việc kia đấy, Frankie…”.
“Ôi trời, đừng ngốc thế. Mọi thứ đều có thể điều chỉnh sắp xếp lại được ngay ấy mà, không phải sao?”. Cô mở to mắt. “Lúc khác chúng ta có thể uống với nhau mà”. Frankie xua tay rối rít. “Anh sẽ đón cô bạn tôi ở đâu?”. Cô mỉm cười đầy ngọt ngào với Justin.
“Khách sạn Shelbourne nhé?”, Doris nói. “Lúc tám giờ?”.
“Ôi… Tớ luôn ao ước được ăn tối ở đó”, Kate thở dài. “Tám giờ hoàn toàn thích hợp với bạn tôi đấy”, cô trả lời.
Justin mỉm cười nhìn Joyce. “Đúng không vậy?”.
Joyce dường như đang cân nhắc. Đầu óc cô đang gõ những nhịp y hệt với nhịp gõ của trái tim anh.
“Anh có chắc rằng anh thấy vui vẻ với chuyện hủy một dự tính khác của anh tối nay không?”. Một nếp nhăn xuất hiện trên trán cô.
Mắt cô xoi vào anh và cảm giác có lỗi xâm chiếm anh khi anh nghĩ rằng mình vừa mới sắp xếp lại dự tính này, thay thế bằng dự tính khác.
Anh chỉ gật đầu đơn giản và cũng chẳng biết mình làm vậy có đúng không.
Cảm thấy được điều đó, Doris bắt đầu kéo anh đi ngay. “Vậy được rồi. Thật tuyệt được gặp tất cả các bạn ở đây, nhưng chúng ta nên quay lại việc mua sắm thì tốt hơn. Rất vui được gặp các bạn, Kate, Frankie, chị Joyce yêu quý”.
Cô choàng tay, ôm Joyce một cái. “Thưởng thức bữa tối nhé. Lúc tám giờ. Khách sạn Shelbourne. Chị đừng quên đấy!”.
“Màu đỏ hay màu đen?”. Joyce cầm hai chiếc đầm dạ hội, giữ nâng cao lên về phía Justin trước khi anh bị kéo đi.
Anh cân nhắc một cách cẩn thận. “Đỏ”.
“Thế thì chọn đen vậy”. Cô mỉm cười, nhớ đến cuộc đối thoại đầu tiên và duy nhất trong tiệm làm tóc, ngày đầu họ gặp nhau.
Anh bật cười, giờ thì cho phép Doris kéo anh đi khỏi.
0
BA MƯƠI TÁM


“Em làm chuyện khỉ gió ấy để làm gì, Doris?”. Justin hỏi khi mấy anh em đi bộ trở về lại khách sạn.
“Anh cứ tiếp tục và tiếp tục với người phụ nữ này trong hàng tuần liền, rồi bây giờ cuối cùng anh đã có được một cuộc hẹn với cô ta. Có gì không ổn trong chuyện đó nào?”.
“Anh có một kế hoạch tối nay rồi, với người-anh-không-biết-là-ai”.
“Anh nói đúng đấy. Anh thậm chí còn không biết họ là ai!”.
“Chuyện đó không hề gì cả”.
“Justin, nói nghiêm túc này, hãy nghe em. Toàn bộ những trò cảm ơn nhăng nhít ấy, nói một cách thành thật tận đáy lòng em là hoàn toàn có thể do ai đó dựng nên, định đùa ác ý với anh”.
Anh nheo mắt nghi ngờ. “Thật sao?”.
“Em không biết”.
“Em thì không có ý kiến gì cả”. Al nhún vai, bắt đầu thở hổn hển.
Doris và Justin đi chậm lại ngay lập tức, bước những bước thật thong thả như đang dẫn theo em bé.
Justin thở dài.
“Em có bao giờ mạo hiểm đi đến một nơi nào đó mà em hoàn toàn chẳng biết là cái gì hay ai chờ đợi mình ở đấy? Hoặc là đi ra ngoài, hẹn hò ăn tối với một phụ nữ xinh đẹp… Cái nào tốt hơn nhỉ”.
“Thôi nào”, Al tham gia, “Lần cuối anh cảm thấy giống như thế này với một ai đó là khi nào vậy? Thậm chí em cũng chẳng nghĩ rằng anh đã từng giống như thế này với chị Jennifer”.
Justin mỉm cười.
“Ừm, em trai, thế cái gì đó đang diễn ra nhỉ?”.
“Người ta nên làm cái gì để chữa chứng đầy hơi, bác Conway?”.
Tôi nghe tiếng Frankie ríu rít với bố trong nhà bếp.
“Làm cái gì là cái gì nhỉ?”, bố hỏi, đầy thích thú khi được trò chuyện với hai phụ nữ trẻ trung, xinh xắn.
“Christian cũng bị thế hoài”, Kate nói, và tôi nghe tiếng Sam bi bô vang vọng từ trong bếp.
Bố cũng bi bô đủ chuyện với thằng bé, bắt chước những chữ phát âm không rõ tiếng.
“Có một cách được gọi là… à… ờ…”, Kate suy nghĩ rất lung, “Cháu không nhớ rõ nó được gọi là cái gì nữa”.
“Cháu cũng giống hệt bác”, bố nói với cô ta. “Cháu cũng có được chữ KHĂN rồi”.
“Chữ đó phải là gì nhỉ?”.
“Không được. Để nhớ đã. Một… một cái gì nhỉ…”.
“Được rồi, con đến đây!”. Tôi gọi vọng xuống tầng dưới với Kate, Frankie và bố.
“Ôi trời…”, Frankie hét toáng lên.
“Tớ… tớ có máy quay sẵn sàng rồi đây”. Kate gào to không kém.
Bố bắt đầu huýt gió, tạo nên những thanh âm giống như tiếng tôi bước từng bước xuống cầu thang và tôi bật cười. Tôi vẫn giữ nguyên ánh mắt mình dừng lại ở bức hình của mẹ đặt trên bàn trong tiền sảnh. Mắt tôi quyết không rời bà suốt đường đi từ trên lầu xuống, như thể bà đang đứng đấy ngẩng lên nhìn tôi. Tôi nháy mắt với bà khi đi ngang qua bức ảnh.
Và ngay khi tôi bước từ đại sảnh quay vào bếp, tất cả mọi người đều trở nên im bặt.
Nụ cười của tôi biến mất. “Có chuyện gì không ổn vậy?”.
“Ồ, Joyce”, Frankie thì thầm như thể đó là một chuyện gì rất tệ, “Cậu… đẹp quá!”.
Tôi thở ra nhẹ nhõm và hòa vào với mọi người trong nhà bếp.
“Xoay một vòng nào!”. Kate đưa chiếc máy quay phim lên, đòi quay.
Tôi xoay tròn trong chiếc váy dạ hội màu đỏ trong khi Sam vỗ vỗ hai bàn tay mũm mĩm ngắn ngủn của nó.
“Bác Conway, nãy giờ bác chẳng nói câu nào cả!”, Frankie thúc khuỷu tay vào bố. “Con gái bác đẹp không nào?”.
Tất cả chúng tôi quay lại nhìn bố, người nãy giờ bỗng trở nên im bặt, mắt rưng rưng. Ông gật gật đầu ngay lập tức, nhưng vẫn không nói được lời nào.
“Ôi, bố…”, tôi chìa hai tay ra và choàng cả hai cánh tay quanh ông, “Chỉ là một chiếc váy thôi mà”.
“Con đẹp lắm, con gái yêu”, ông lúng búng để nói gì đó. “Đi mang anh chàng ấy về đây”. Ông đặt một nụ hôn lên má tôi và vội vã đi như trốn vào phòng khách, bối rối vì những cảm xúc của mình.
“Thế…”, Frankie vừa nói vừa mỉm cười. “Cậu đã quyết định sẽ đi đến chỗ hẹn dùng bữa tối nay là đến nhà hát tối nay chưa?”.
“Tớ vẫn chưa biết”.
“Anh ấy mời cậu ra ngoài ăn tối”, Kate nói. “Tại sao cậu lại nghĩ rằng anh ấy sẽ đi đến chỗ nhà hát?”.
“Thứ nhất, anh ấy không trực tiếp mời tớ ra ngoài ăn tối. Cô em dâu của anh ấy làm điều đó. Và tớ cũng chưa hề trả lời là vâng. Cậu làm chuyện đó mà!”. Tôi nhìn chăm chăm Kate. “Tớ nghĩ rằng chuyện anh ấy không biết mình đã cứu sống cuộc đời ai sẽ làm anh ấy tức chết. Với lại anh ấy cũng không có vẻ bị thuyết phục chuyện hẹn hò ăn tối khi anh ấy rời cửa hàng, không phải vậy sao?”.
“Cậu thôi cái kiểu xem xét quá kỹ mọi chuyện như thế đi”, Frankie nói, “Anh ấy mời cậu ra ngoài ăn tối, vậy thì cứ ra ngoài ăn tối”.
“Nhưng anh ấy lại hẹn Joyce ở nhà hát…”.
“Tớ không biết”, Kate phản đối, “Tớ thấy anh ấy có vẻ thật sự muốn cậu đến nơi hẹn ăn tối”.
“Đúng là khó quyết định”, Frankie tóm vấn đề.
“Tại sao cậu không đến nhà hàng và nói cho anh ấy biết cái người bí mật bấy lâu nay chính là cậu?”.
“Con đường tớ chọn để làm rõ mọi thứ là gặp anh ấy tại nhà hát. Tớ định làm như thế thì xảy ra chuyện này…”.
“Có sao đâu. Thế thì đi ăn tối và nói cho anh ấy biết đó là cậu, sau tất cả mọi chuyện đi”.
“Nhưng chuyện gì xảy ra nếu anh ấy đến nhà hát?”.
Chúng tôi lại nói tới nói lui trong vòng lẩn quẩn một lúc lâu. Khi cả hai rời khỏi, tôi vẫn tiếp tục tự thảo luận với chính mình về những lý lẽ thuận và nghịch, tánt hành và phản đối trong cả hai tình huống, cho đến khi đầu óc tôi trở nên quay mòng mòng chẳng thể nghĩ thêm chút gì khác nữa.
Taxi đến. Bố khập khiễng đi với tôi ra cửa.
“Bố không biết mấy cô gái các con trao đổi với nhau quá trời về cái gì, nhưng bố biết con đã quyết định về một việc gì đó. Con đã quyết định rồi chứ?”. Bố hỏi, nhẹ nhàng.
“Con không biết nữa bố ạ!”. Tôi nuốt nước bọt một cách khó khăn. “Con không biết cái nào mới là quyết định đúng”.
“Chắc chắn là con biết mà. Con luôn luôn chọn được con đường của rieng mình, con gái yêu. Con luôn luôn làm được”.
“Ý bố là gì ạ?”.
Bố nhìn ra ngoài vườn. “Con thấy con đường đằng kia chứ?”.
“Lối đi trong vườn đó hả bố?”.
Ông lắc đầu, chỉ một vạch trên đám cỏ, nơi cỏ bị giẫm nát, lờ mờ tạo nên một con đường. “Con đã làm nên lối đi đó”.
“Gì cơ ạ?”. Tôi bắt đầu không hiểu.
“Khi con hãy còn là một cô bé bé tí tẹo…”, bố mỉm cười, “Bố con mình gọi nó là ‘con đường khao khát’ trong thế giới khu vườn này. Chúng là những lối đi, những con đường mà mỗi người tự làm nên. Con luôn luôn tránh những lối đi do người khác làm sẵn, con gái. Con luôn luôn đi trên con đường của rieng con, luôn luôn tìm ra lối đi của rieng con, ngay cả nếu rốt cuộc lối đi đó cũng dẫn con đến cùng một điểm như người khác. Con chẳng bao giờ chọn con đường chính thức có sẵn”. Bố cười lặng lẽ với chính mình khi nhớ về những ký ức.
“Không. Thật sự là con chẳng bao giờ chọn con đường chính thức. Con đúng thật là con gái của mẹ. Con cắt một góc vườn, tạo ra một lối đi tự nhiên, không gò bó. Trong khi bố thì dính chặt với những con đường thật xa, dẫn bố đi vòng quanh”. Ông mỉm cười.
Cả hai chúng tôi đều ngắm thật kỹ lối đi tự tạo kỳ quặc ấy.
“Con đường khao khát”, tôi lặp lại, nhìn thấy hình ảnh chính mình thì hãy còn là một cô bé con bé tẹo, khi là một thiếu nữ, khi là một người phụ nữ đã trưởng thành, cắt cỏ xung quanh phần đất đó, tạo nên lối đi riêng. “Con nghĩ rằng khao khát không còn là con đường thẳng thớm nữa. Chẳng có con đường nào đi thẳng đến đúng nơi mà mình muốn”.
“Con có biết là bây giờ con định đi đâu không?”. Ông hỏi khi chiếc taxi trờ tới.
Tôi mỉm cười, hôn lên trán bố. “Con biết, bố ạ!”.
0
BA MƯƠI CHÍN


Tôi bước ra khỏi chiếc taxi trước khu Stephen’s Green và ngay lập tức nhìn thấy một đám đông chen chúc nhau tuôn vào nhà hát Gaiety. Tất cả đều diện những bộ trang phục đẹp nhất của họ để đến dự đêm diễn nhạc kịch dân tộc của người Ai-len. Tôi chưa từng bao giờ đến dự một buổi diễn nhạc kịch trước đó, chỉ từng xem một buổi trên tivi, và trái tim tôi – đã quá mỏi mệt với cơ thể không thể giữ vững nổi nó, đang khẩn thiết đòi hỏi được bứt ra khỏi cơ thể tôi, để tự nó chạy vào tòa nhà. Tôi đầy ắp sự căng thẳng, từng cảm thấy trong suốt cuộc đời mình. Đây là phần cuối cùng trong kế hoạch của tôi để đến với anh. Tôi sợ Justin sẽ giận dữ khi biết đó là tôi, mặc dù có lẽ anh ta đã biết. Tôi đã nghĩ đến điều đó trong đầu hàng trăm ngàn lần và cảm thấy không thể có bất kỳ kết luận hợp lý nào.
Tôi đứng lần chần giữa khách sạn Shelbourne và nhà hát Gaiety, chúng cách nhau một khoảng không dưới 300 mét. Tôi nhìn hết người này đến người khác, nhắm mắt và chẳng quan tâm đến cái vẻ ngốc nghếch đến mức nào của mình khi đứng giữa đường, nhìn mọi người băng ngang qua mình trong buổi tối thứ Bảy như thế này. Tôi chờ cảm giác được kéo theo. Con đường nào để đi? Quẹo phải để về khách sạn Shelbourne. Quẹo trái để đến nhà hát Gaiety. Trái tim tôi đập thình thịch trong lồng ngực. Tôi rẽ trái và bước sải dài đầy tự tin thẳng về phía nhà hát. Bên trong lấy một cuốn giới thiệu chương trình và chiếm chỗ ngồi cho thức uống trước giờ biểu diễn. Nếu anh ấy xuất hiện sớm và nhìn thấy tôi không có ở đây, có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ tha thứ cho mình.
Tôi ngồi xuống chỗ của mình. Những chiếc ghế phủ nhung đỏ. Chiếc váy đỏ của tôi nhẹ nhàng được thả rũ xuống một bên. Chiếc ví để trong lòng. Đôi giày của Kate sáng lóng lánh trên sàn nhà. Ban nhạc ngay phía trước tôi, đang hòa âm và diễn tập lại cùng nhau. Không khí thật là kỳ diệu. Những mái vòm lan can ở một bên. Hàng ngàn người rộn ràng đầy phấn khích. Ban nhạc đang cố đạt tới sự hoàn hảo nhất, rất nhiều thân hình chuyển động vòng quanh. Những lan can trên cao giống như tổ ong, không gian tràn ngập hương nước hoa và hương mỹ phẩm ngọt ngào, tinh khiết như hoa, như mật.
Tôi nhìn sang bên phải, nơi có một chiếc ghế trống và run rẩy trong cảm giác phấn khích.
Lời thông báo vang lên, nhắc rằng buổi biểu diễn sẽ được bắt đầu trong năm phút nữa, rằng những ai đến trễ sẽ không được vào cho đến giờ nghỉ giải lao, nhưng vẫn có thể ở bên ngoài và xem buổi biểu diễn qua màn hình cho đến khi người hướng dẫn chỗ ngồi trong nhà hát nói cho họ biết thời gian nào thích hợp để được vào.
Nhanh lên, Justin, nhanh lên. Tôi nài xin, đôi chân bên dưới tôi bật lên những nhịp căng thẳng.
Justin chạy như bay từ khách sạn của anh thẳng đến đường Kildare. Anh chỉ vừa mới tắm xong, nhưng giờ thì da đã nhâm nhấp nước. Chiếc áo sơ mi bết chặt sau lưng. Trán anh loang loáng mồ hôi. Anh ngừng ở đầu đường. Khách sạn Shelboure nằm ngay bên cạnh. Nhà hát Gaiety khoảng hai trăm mét bên phải.
Anh nhắm mắt và hít một hơi sâu. Những hơi thở trong bầu không khí trong lành buổi tối tháng Mười ở thành phố Dublin.
Đường nào để đi. Đường nào để đi.
Buổi biểu diễn đã bắt đầu và tôi không thể nào rời mắt khỏi cánh cửa bên tay phải. Cạnh tôi là một chiếc ghế trống. Trong khi đó, trên sân khấu, một người phụ nữ đang ngân giọng hát tràn trề cảm xúc. Biết là làm phiền những người ngồi bên cạnh là phía sau mình, nhưng tôi không thể làm gì khác hơn ngoài việc cứ quay đầu, hướng mặt trông ra cửa. Mặc dù đã có thông báo, nhưng một vài người vẫn được phép vào và nhanh chóng di chuyển đến ngay chỗ ngồi của họ. Nếu Justin không đến lúc này, anh sẽ không thể ngồi ở chỗ ngồi này cho đến sau khoảng thời gian nghỉ giữa hai phần buổi diễn. Tự dưng tôi đồng cảm sâu sắc với người phụ nữ đang hát ngay trước mặt tôi kia, chỉ vì một sự thật rằng, sau tất cả những khoảnh khắc này, cánh cổng và người hướng dẫn chỗ ngồi sẽ trở thành những vật chia cắt chúng tôi, giống như là trong vở diễn.
Tôi quay vòng quanh lần nữa, và trái tim tôi thót lại một nhịp khi cánh cửa bên cạnh tôi mở ra.
Justin kéo cánh cửa và ngay sau đó lách vào phòng. Tất cả những cái đầu đều quay lại nhìn anh. Anh nhìn quanh, rất nhanh để tìm Joyce, những ngón tay run rẩy.
Người quản lý nhà hàng bước đến. “Chào ông! Thưa ông, chúng tôi có thể giúp gì cho ông?”.
“Xin chào. Tôi đã đặt một bàn cho hai người dưới cái tên Hitchcock”. Anh nhìn quanh, đầy vẻ căng thẳng, lấy chiếc khăn tay ra khỏi túi áo và chấm chấm nhẹ vào vầng trán cũng đầy vẻ căng thẳng của ình.
“Cô ấy đã đến đây chưa?”.
“Chưa, thưa ông. Ông là người đến trước rồi. Ông có muốn tôi đưa ông đến bà đã đặt không, hay là ông thích ghé quầy rượu uống chút gì trước?”.
“Vui lòng đưa tôi đến bàn”. Nếu cô ấy đến và nhìn thấy anh không ngồi ở bàn như đã hẹn, anh sẽ không bao giờ tha thứ cho mình.
Anh được dẫn tới chiếc bàn dành cho hai người ở giữa phòng ăn tối. Người phục vụ nhẹ nhàng kéo ghế để anh ngồi vào bàn và ngay sau đó sắp đặt lại mọi thứ trên bàn, rót nước, trải khăn ăn vào lòng anh, mang ra một ít bánh mì tròn.
“Thưa ông, ông có muốn xem thực đơn trước không ạ? Hay ông muốn chờ đến khi người khách kia đến?”.
“Tôi sẽ chờ, cảm ơn!”. Anh nhìn ra cửa và tranh thủ khoảnh khắc một mình này để tự làm mình bình tĩnh lại.
Khoảng hơn một giờ trôi qua. Đã một vài lần, có vài người khách đi vào. Họ được hướng dẫn đến chỗ ngồi, nhưng không ai trong số họ là Justin. Chiếc ghế bên cạnh tôi vẫn trống trơn, lạnh lẽo. Người phụ nữ ngồi kế đó, thỉnh thoảng liếc nhìn cái ghế rồi lại nhìn tôi, người cứ đang vặn vẹo xoay qua xoay lại tìm kiếm chung quanh, mắt không rời cánh cửa. Bà mỉm cười thật lịch sự, đầy vẻ cảm thông. Điều đó khiến nước mắt tôi muốn ứa ra. Một cảm giác cô đơn cùng cực. Trong căn phòng đầy ắp người, đầy ắp thanh âm, đầy ắp tiếng nhạc, tôi cảm thấy cô đơn cùng cực.
Giờ giải lao giữa hai phần biểu diễn bắt đầu. Những tấm màn hạ xuống. Ánh đèn được bật sáng lên và mọi người đều đứng dậy, ra phía quầy giải khát hoặc ra ngoài hút thuốc, giãn chân giãn tay một chút.
Tôi vẫn ngồi yên. Và đợi.
Càng cảm thấy cô đơn bao nhiêu, thì những hi vọng càng tràn lên trong tim tôi bấy nhiêu.
Biết đâu anh ấy đang tới. Biết đâu anh ấy cảm thấy việc này quan trọng với anh ấy, như nó quan trọng với mình. Dùng bữa tối với người phụ nữ anh từng gặp một lần hoặc trải qua buổi tối bên người mà anh đã cứu sống, người đã làm chính xác tất cả những gì anh mong muốn và đã cảm ơn anh bằng tất cả những cách mà anh yêu cầu.
Có lẽ những điều tôi làm đã không đủ.
“Ông có muốn xem qua thực đơn không, thưa ông?”.
“À…”. Anh nhìn đồng hồ. Cô ấy đã trễ nửa tiếng. Trái tim anh chới với, nhưng anh vẫn còn hi vọng. “Cô ấy chỉ đến trễ chút xíu…”, anh giải thích.
“Vâng, thưa ông”.
Trên sân khấu, nhân vật nữ đang vật vã khóc. Cô van nài người yêu của mình hãy đi đi. Tiếng nhạc ngân nga não lòng. Bên cạnh tôi, người phụ nữ cũng sụt sịt với chiếc khăn tay liên tục chậm lên chậm xuống.
Mắt tôi cũng rưng rưng. Tôi nhớ đến gương mặt đầy tự hào của bố khi ông nhìn thấy tôi trong chiếc váy dạ hội.
“Đi mang cậu ta về đi con!”, bố nói.
Vậy đấy, tôi đã không thể. Tôi đã đóng vai một người phụ nữ nhận lời mời dùng bữa tối với anh. Tôi cũng đóng vai Joyce, hẹn anh ở đây. Rõ ràng là tôi ao ước anh đến đây. Có lẽ tôi đã chọn sai? Có lẽ tôi nên thấy hạnh phúc với việc anh quyết định chọn dùng bữa tối với tôi mới phải. Tôi nhìn đồng hồ. Có lẽ anh ta vẫn còn ở đó, ngay lúc này, đang chờ tôi. Nhưng chuyện gì xảy ra nếu như tôi rời khỏi đây và anh ấy lại đến, lại lỡ mất tôi? Không. Tốt hơn hết tôi nên ở yên đây và không rối lên với những ý nghĩ hoang mang nữa.
Tôi đấu tranh tư tưởng, y như những tình tiết đang diễn ra trên sân khấu. Nếu lúc này anh ấy đang ở nhà hàng, và tôi ở đây, và anh ấy chỉ có một mình, một mình sau cả tiếng đồng hồ chờ đợi. Tại sao, lẽ ra anh ấy đã phải từ bỏ cuộc hẹn với tôi và chạy hàng trăm mét để tìm ra sự thật về cuộc hẹn bí ẩn? Trừ khi anh ta đã đến. Trừ khi anh ta đã nhìn thấy xuyên qua cửa kính, nhìn thấy rằng đó là tôi và từ chối đi vào. Tôi cảm thấy quá sức chịu đựng với những ý nghĩ trong đầu. Tiếng nhạc của buổi diễn. Mọi thứ quá rối bời. Những câu hỏi hỗn loạn trong tôi.
Trước khi tôi hiểu được rõ ràng câu trả lời, vở diễn đã kết thúc. Những chỗ ngồi trống trơn, vắng lặng. Tấm màn nhung được hạ xuống trên sân khấu. Đèn bật lên. Tôi bước ra ngoài không khí lạnh lẽo của buổi đêm. Thành phố tấp nập ồn ào, chật ních những người đang tận hưởng buổi tối thứ Bảy của họ bên ngoài. Những giọt nước mắt giá lạnh của tôi chạm vào da thịt, lạnh cóng như băng.
Justin uống cạn cốc cuối cùng của chai rượu thứ hai rồi đặt cái rầm nó xuống bàn, không chủ ý. Cho đến lúc này, mọi sắp đặt của anh đã hỏng bét hết. Anh có thể đọc được giờ trên chiếc đồng hồ của mình, nhưng anh biết rằng chuyện hẹn gặp người bí mật tại buổi biểu diễn đã trở thành quá khứ.
Anh đã hẹn… với một người phụ nữ anh chẳng có chút hứng thú nào kể từ khi anh li dị. Tất nhiên là không tính Sarah vào đó. Anh chẳng bao giờ muốn tính Sarah tội nghiệp vào danh sách đó.
Mình thật kinh khủng.
“Xin lỗi vì làm phiền ông, thưa ông”, người quản lý nhà hàng nói với giọng lịch thiệp, “Chúng tôi vừa nhận một cuộc điện thoại từ em trai ông, anh Al?”.
Justin gật đầu.
“Anh ấy muốn chuyển một tin nhắn đến ông, rằng anh ấy vẫn còn sống và rằng anh ấy hi vọng rằng ông, à… hi vọng rằng ông đang tận hưởng buổi tối của mình”.
“Còn sống?”.
“Vâng, thưa ông, anh ấy nói rằng ông sẽ hiểu, khi đồng hồ điểm mười hai giờ. Sinh nhật anh ấy ạ?”.
“Mười hai giờ?”.
“Vâng, thưa ông. Tôi cũng rất tiếc phải nói với ông rằng chúng tôi sắp đến giờ đóng cửa. Ông có thể vui lòng thanh toán hóa đơn giúp không ạ?”.
Justin ngẩng lên nhìn người quản lý, mắt lờ đờ, cố gắng gật đầu lần nữa nhưng anh cảm thấy đầu mình như ngã nhào sang một bên.
“Tôi đã hẹn…”.
“Tôi rất tiếc, thưa ông”.
“Ồ, không… không cần đâu. Tôi đáng bị như thế. Tôi đã hẹn với một người mà thậm chí tôi chưa từng biết”.
“Tôi hiểu”.
“Người đó đã rất tốt với tôi. Đối xử rất… rất… tử tế. Người ấy gửi đến cho tôi bánh quế và cà phê, một chiêc xe có tài xế riêng. Tôi thì đã rất kinh khủng với người ấy – anh ấy hoặc cô ấy”. Đột nhiên anh ngừng bặt.
Biết đâu chừng nhà hát vẫn còn mở!
“Đây”, anh đẩy mạnh thẻ tín dụng của mình về phía người quản lý. “Biết đâu chừng tôi vẫn còn thời gian”.
Tôi đi tản bộ quanh những con đường vắng lặng khu vực cạnh nhà, kéo chiếc áo len chặt hơn, ôm kín lấy mình. Tôi nói người tài xế taxi cho tôi xuống ở góc đường để tôi có thể đi bộ hít thở lấy chút không khí trong lành và làm minh mẫn lại đầu óc trước khi trở về nhà. Tôi cũng muốn lau hết những giọt nước mắt trước khi bố nhìn thấy. Tôi chắc rằng giờ này ông đang ngồi trong chiếc ghế bành như ông vẫn từng làm thế lúc tôi còn nhỏ, vừa để cảnh báo vừa hăm hở tìm hiểu xem chuyện gì đã xảy ra với tôi, mặc dù ông vẫn luôn giả vờ ngủ gật ngay khi ông nghe tiếng chìa khóa trao vào cửa.
Tôi đi bộ ngang qua ngôi nhà cũ của mình, ngôi nhà mà tôi đã xoay xở thành công để bán đi trong vài ngày trước, không phải cho Linda và Joe,những người sau đấy đã phát hiện ra đó là nhà của tôi và e ngại vận hạn không may của tôi sẽ là điềm không hay cho họ cũng như đứa con chưa chào đời. Hoặc xa hơn nữa, cả hai lo lăng rằng những bậc thang là nguyên nhân khiến tôi ngã, biết đâu lại cũng quá nguy hiểm cho Linda trong suốt giai đoạn thai kỳ của cô ấy.
Không ai chịu tự mình nhận lấy trách nhiệm với những hành động của mình, tôi nhận ra như vậy. Đó không phải là do những bậc thang. Đó là do tôi.Tôi đã quá vội vã. Đó là lỗi của tôi. Đơn giản thế. Đó là một việc mà tôi sẽ phải đào rất sâu, chôn kín xuống, lấp lại, để tha thứ cho mình, mặc dù hẳn rằng sẽ chẳng bao giờ quên được.
Có lẽ tôi đã vội vã trong suốt cuộc đời mình, cứ nhảy bổ vào mọi thứ mà không kịp nghĩ xem mọi thứ sẽ dẫn đến đâu. Chạy suốt ngày mà không bao giờ lưu ý đến những giây phút. Bố mẹ đã lên kế hoạch mọi thứ trong cuộc sống. Những kỳ nghỉ hè, một đứa con, những gì họ dành dụm, những buổi tối ở bên ngoài. Tất cả mọi thứ được lên kế hoạch như một cuốn sách. Chỉ đến khi tôi đột nhiên quyết định bến đỗ của cuộc đời mình. Một tiếng nổ đập tan mọi thứ, tất nhiên.
Tiền bán căn nhà được chia đều cho Conor và tôi. Tôi lùng tìm một căn nhà nào đó nhỏ hơn, rẻ hơn. Tôi ngừng lại bên ngoài căn nhà cũ và ngước nhìn chằm chằm những viên gạch đỏ, trước cửa, nơi chúng tôi đã từng tranh cãi với nhau xem nên sơn màu gì, tranh cãi về những đóa hoa mà chúng tôi nghĩ rất kỹ lưỡng trước khi trồng. Không còn là của tôi chút gì nữa, nhưng tất cả ký ức về nó thì vẫn còn. Người ta không thể bán đi ký ức. Căn nhà đó chính là nơi tôi từng nuôi dưỡng ước mơ "ngày xửa ngày xưa". Giờ đây nó là của một người khác, như nó đã từng là của một người khác nữa trước khi là của chúng tôi. Tôi cảm thấy hạnh phúc vì đã để nó "đi". Cảm thấy hạnh phúc rằng một lúc nào đó khác, tôi có cơ hội bắt đầu lần nữa, xây nên một giấc mơ mới, mặc dù vết sẹo cũ trước đó vẫn còn. Chúng sẽ đại diện cho một vết thương đã được chữa lành.
Khi tôi quay về đến nhà tôi bố thì đã vào khoảng nửa đêm. Sau những cánh cửa sổ là bóng tối đen kịt. Không có bất kỳ ngọn đèn nhỏ nào được thắp sáng, điều này thật bất thường, vì bố hay bật một ngọn đèn ở trước mái vòm, đặc biệt là trong trường hợp tôi đi ra ngoài.
Tôi mở túi xách lấy xâu chìa khóa của mình và chạm trúng chiếc điện thoại di động. Đèn màn hình sáng lên, báo cho tôi thấy có đến mười cuộc gọi nhỡ, trong đó hết tám cuộc được gọi từ nhà. Tôi đã chuyển điện thoại sang chế độ im lặng lúc ở trong nhà hát và vì biết rằng Justin không có số điện thoại của tôi nên tôi đã không nghĩ đến việc nhìn đến điện thoại. Tôi vớ lấy xâu chìa khóa, tay run lẩy bẩy khi cố gắng tra chìa vào ổ. Cả xâu chìa khóa rơi xuống đất, tạo ra một tiếng động vang lên trên con đường yên tĩnh, tối đen. Tôi quỳ thấp xuống, chẳng để ý đến cả chiếc váy mới của mình, mò mẫm quanh lớp bê tông, tìm một cảm giác lành lạnh của kim loại trong bóng tối. Cuối cùng, những ngón tay tôi cũng chạm tới xâu chìa khóa và tôi lao vọt qua cửa như tên bắn, bật tất cả những ngọn đèn lên.
"Bố?", tôi gọi từ trong sảnh chính. Bức hình của mẹ rơi trên sàn, bên dưới bàn. Tôi nhặt nó lên, để trở lại nơi nó từng được đặt, cố gắng giữ bình tĩnh, nhưng trái tim tôi có những ý nghĩ của riêng nó.
Không có tiếng trả lời.
Tôi đi vào bếp, bật công tắc. Một tách trà đầy đặt trên bàn, trong bếp. Một lát bánh mì nướng với ít mứt, đã bị cắn một miếng nằm cạnh đó.
"Bố?", tôi gọi to hơn, đi vào phòng khách và mở đèn.
Những viên thuốc của bố rơi vãi cả trên sàn, tất cả những hộp đựng đều bị mở ra và trống rỗng, đủ thứ thuốc với nhiều màu sắc nằm trộn lẫn nhau.
Tôi hoảng loạn thật sự, chạy ngược trở vào trong bếp, băng qua tiền sảnh, chạy lên tầng trên, mở tất cả đèn và gào lên với tất cả hơi thở có được trong phổi của mình.
"BỐ ƠI, BỐ ƠI... BỐ ĐÂU RỒI? BỐ ƠI, CON ĐÂY, JOYCE ĐÂY! BỐ!". Nước mắt tôi chảy ra, tôi không nói được lời nào nữa. Ông không có trong phòng ngủ ucả ông, không có trong phòng tắm, không ở trong phòng tôi hay bất kỳ nơi nào khác. Tôi ngừng lại ở đầu cầu thang, cố gắng lắng nghe trong im lặng xem có khi nào ông đang đáp lại không. Nhưng tất cả những gì tôi có thể nghe là tiếng nhịp tim tôi đập liên hồi, hoảng loạn, trong tai tôi, trong cổ họng tôi.
"BỐ!", tôi hét lên, ngực cố rướn, cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ họng khiến tôi muốn ngạt thở. Tôi chẳng còn nơi nào khác để kiếm cả. Tôi bắt đầu mở cả những tủ quần áo ra, tìm kiếm dưới giường ngủ của ông. Tôi nhặt cái gối trên giường ông, úp mặt vào. Ngay lập tức nó đẫm đầy nước mắt. Tôi nhìn ra cả cửa sổ phía sau, tìm kiếm trong vườn. Vẫn không có bất kỳ dấu hiệu nào của ông cả.
Đầu gối tôi yếu đến mức tôi không còn sức để đứng. Đầu tôi thì mờ mịt, hỗn loạn như đang chứa đầy những đám mây, không thể suy nghĩ được gì. Tôi khuỵu xuống trên đầu cầu thang và cố hình dung xem ông có thể ở đâu giờ này.
Sau đó, tôi nghĩ tới những viên thuốc rơi vương vãi trên sàn và tôi hét lên bằng một giọng lớn nhất tôi từng hét trong đời mình. "BBBBBỐỐỐỐỐỐỐỐ!".
Sự im lặng vẫn bao phủ quanh tôi. Chưa bao giờ tôi cảm thấy mình đơn độc đến thế. Đơn độc hơn cả lúc ở trong nhà hát, đơn độc hơn cả trong cái đám cưới không hạnh phúc, đơn độc hơn cả khi mẹ mất. Cùng cực và hoàn toàn đơn độc. Người thân cuối cùng tôi có trong cuộc đời tôi, đã rời bỏ tôi.
Sau đó.
"Joyce?". Một giọng nói vang lên từ trước cửa, nơi tôi vẫn còn để mở. "Joyce, cô đây, cô Fran". Cô đứng đó, trong chiếc váy rộng thùng thình và đôi dép lê. Đứa con trai lớn nhất đứng đằng sau cô với chiếc đèn pin trong tay anh ấy.
"Bố đi rồi". Giọng tôi run lẩy bẩy.
"Ông ở trong bệnh viện. Cô đã cố gọi cho con...".
"Cái gì? Sao vậy ạ?" Tôi đứng lên và chạy ào xuống những bậc cầu thang.
"Ông nghĩ rằng ông bị một cơn đau tim...".
"Con phải đi. Con phải đến đó với bố". Tôi chạy vòng vòng kiếm tứ tung cái chìa khóa xe. "Bố ở bệnh viện nào cô?".
"Joyce, bình tĩnh con... bình tĩnh...". Đôi tay cô Fran vòng quanh người tôi. "Cô sẽ lái xe đưa con đi".
0
BỐN MƯƠI

Tôi chạy dọc những hành lang, kiểm tra từng cánh cửa, cố gắng tìm ra căn phòng chính xác. Tôi hoảng sợ, những giọt nước mắt ứa ra che hết cả tầm nhìn. Một y tá dừng tôi lại và giúp tôi, cố gắng làm tôi trấn tĩnh. Ngay lập tức, cô biết tôi đang nói đến ai. Tôi không được phép vào lúc này, nhưng cô y tá thấy rằng tôi đang quẫn trí, cô muốn làm dịu tôi bằng cách chỉ cho tôi thấy bố không sao cả. Cô cho phép tôi vào trong vài phút.
Tôi theo cô xuống một loạt những dãy hành lang. Và cuối cùng, cô dẫn tôi đi vào phòng của bố. Tôi nhìn thấy bố nằm trên giường, da bố nhợt nhạt, trắng bệch. Cả thân hình ông trở nên quá nhỏ bé dưới tấm chăn trên giường bệnh.
“Có phải là con đã làm tất cả những chuyện nhặng xị ở bên ngoài không đấy?”, bố hỏi, giọng ông nghe vẫn còn đầy vẻ yếu ớt.
“Bố!”, tôi cố gắng giữ bình tĩnh nhưng giọng nói của tôi bắt đầu trở nên nghèn nghẹn.
“Không sao, con gái. Bố chỉ bị sốc thôi, tất cả chỉ có vậy. Mặc dù trái tim bố hoạt động trở lại, khi uống mấy viên thuốc nhưng sau đó bố cảm thấy choáng váng và thế là ngã. Bị cái gì đó về đường huyết, người ta nói với bố như thế”.
“Bệnh tiểu đường, ông Henry”, cô y tá mỉm cười. “Bác sĩ sẽ đến giải thích tất cả cho cô vào buổi sáng”.
Tôi xỉ mũi, cố gắng giữ bình tĩnh.
“Lại đây, con gái ngốc nghếch”. Ông nhấc cánh tay đưa về phía tôi. Tôi chạy ùa đến bên ông, ôm ông thật chặt. Cả thân hình bố thật yếu ớt nhưng vẫn đầy ý bảo vệ.
“Bố sẽ không bỏ con đi đâu cả. Nín đi, nào!”. Ông lướt bàn tay trên mái tóc tôi và vỗ vỗ vào lưng tôi an ủi. “Bố hi vọng là bố không làm hỏng buổi tối của con chứ hả. Bố đã nói với cô Fran là đừng quấy rầy con”.
“Lẽ ra bố phải gọi con chứ!”, tôi gục đầu vào vai ông. “Con đã hoảng sợ khi không thấy bố ở nhà”.
“Bố ổn mà. Mặc dù thế, con sẽ phải giúp bố đấy, với tất cả những thứ linh tinh này”, ông thì thầm. “Bố nói với bác sĩ là bố hiểu nhưng thật ra bố không thật sự hiểu”, bố nói với một chút lo lắng. “Ông bác sĩ có vẻ hơi khinh khỉnh”, bố vênh vênh mũi.
“Chắc chắn là con sẽ giúp bố rồi”, tôi lau nước mắt, cố gắng trấn tĩnh lại mình.
“Này, thế mọi chuyện thế nào rồi hả con?”, bố hỏi với vẻ hoạt bát vui nhộn hơn. “Nói cho bố nghe tin tốt lành nào!”.
“Ừm…”, tôi mím môi. “Anh ấy không bày tỏ gì cả”. Những giọt nước mắt của tôi lại bắt đầu tràn ra.
Bố im lặng. Buồn bã, sau đó là giận dữ, sau đó lại là buồn bã. Ông ôm ghì lấy tôi lần nữa, lần này chặt hơn.
“À, con gái…”, ông nói thật dịu dàng, “Anh ta là một anh chàng ngốc nghếch ngớ ngẩn. Đúng là ngốc nghếch ngớ ngẩn!”.
0
BỐN MƯƠI MỐT

Justin kết thúc việc giải thích lại toàn bộ câu chuyện tệ hại vào cuối tuần với Bea, lúc này đang ngồi trên chiếc ghế trường kỷ, miệng há hốc vì kinh ngạc.
“Con không thể tin là con đã lỡ mất hết tất cả những chuyện như thế. Con đúng là tệ thật!”.
“Ừm, con đã không để lỡ mất chuyện đó nếu như con chịu nói chuyện với bố”, Justin bỡn cợt.
“Cảm ơn bố về việc đã xin lỗi Peter. Con đánh giá cao điều đó. Anh ấy đánh giá cao điều đó”.
“Bố đã hành động như một tên ngốc vậy, chỉ vì không muốn thừa nhận rằng cô con gái bé nhỏ của bố đã hoàn toàn trưởng thành”.
“Tốt hơn hết là bố nên tin vậy đi”, Bea mỉm cười. “Chúa ơi”, cô nghĩ ngược lại câu chuyện của bố, “Con vẫn không thể tưởng tượng rằng có một ai đó đã gửi đến bố tất cả những chuyện như thế. Có thể là ai được nhỉ? Một người đáng thương nào đó hẳn đã phải chờ và chờ bố trước cổng nhà hát”.
Justin lấy hai tay che mặt và nhăn nhó. “Này này, ngừng lại đi. Nó có thể giết chết bố đấy!”.
“Nhưng bố chọn cô Joyce mà”.
Anh gật đầu, mỉm cười buồn bã.
“Chắc hẳn là bố đã thật sự thích cô ấy”.
“Chắc hẳn là cô ấy đã không thật sự thích bố, bởi vì cô ấy chẳng hề biểu lộ điều đó. Không, Bea. Bố thấy mọi thứ quá đủ rồi. Đây là lúc để thay đổi. Bố tổn thương khi có quá nhiều người tham gia vào quá trình cố gắng tìm hiểu mọi chuyện. Nếu con không thể nhớ một ai đó khác mà con đã từng nói, thì chúng ta sẽ không bao giờ biết được”.
Bea cố suy nghĩ thật kỹ. “Con chỉ nói với Peter, người coi sóc trang phục biểu diễn và bố của cô ấy. Nhưng điều gì khiến bố nghĩ rằng không phải là ai trong số họ?”.
“Bố đã gặp người coi soc trang phục biểu diễn tối hôm đó. Cô ấy xử sự giống như cô ấy đã biết bố, và cô ấy là người Anh – tại sao cô ấy phải đến Ai-len để truyền máu? Bố gọi cô ấy và hỏi cô ấy về bố cô ấy. Con đừng hỏi gì cả”. Anh lờ đi ánh mắt thoáng vẻ giận dữ của con gái. “Sau đó, bố khám phá ra rằng bố cô ấy là người Ba Lan”.
“Khoan đã, bố nhặt nhanh những chuyện đó từ đâu vậy? Cô ấy không phải là người Anh, cô ấy là người Ai-len”, Bea cau mày. “Cả hai bố con họ đều là người Ai-len cả”.
Thình thịch. Thình thịch.
“Justin”, Laurence bước vào phòng với những tách cà phê cho anh và Bea. “Tôi đang tự hỏi anh có rảnh được một chút không, chúng ta cần nói chuyện tí xíu”.
“Không phải lúc này, Laurence”, Justin nói, di chuyển sang góc chỗ ngồi của mình. “Bea, cái cuốn chương trình ba lê của con đâu rồi? Có hình cô ấy ở trong đó”.
“Thôi nào, Justin”, Jennifer bước đến cửa, khoanh hai tay trước ngực. “Anh có thể tôn trọng bọn em một chút không. Laurence có vài việc muốn nói và anh cần nghe một chút chứ!”.
Bea chạy như tên bắn lên phòng riêng của mình, đầy những người lớn đang muốn “chiến đấu” với nhau ra, và liền sau đó quay trở vào, vẫy vẫy cuốn chương trình trong tay, lờ đi cả hai người. Justin cũng làm y như vậy.
Anh chộp lấy cuốn chương trình từ tay con gái và lật nhanh vào trong. “Đây!”, anh gõ mạnh những ngón tay lên mặt giấy.
“Này, hai bố con!”. Jennifer bước vào, đứng chắn giữa cả hai. “Chúng ta thật sự cần phải giải quyết chuyện này bây giờ”.
“Không phải lúc này, mẹ! Mẹ làm ơn đi!”, Bea hét lên. “Chuyện quan trọng mà!”.
“Thế chuyện của mẹ thì không quan trọng à?”.
“Khong phải cô ấy”, Bea lắc đầu một cách điên tiết. “Đấy không phải là người phụ nữ mà con nói”.
“Thế cô ấy trông ra sao?”, Justin như muốn nhảy nhổm lên.
Thình thịch. Thình thịch.
“Để con nghĩ xem, để con nghĩ xem”. Bea hốt hoảng. “Con biết! Mẹ!”.
“Cái gì?”, Jennifer nhìn Justin rồi nhìn sang Bea với vẻ hoang mang tột độ.
“Những tấm hình chúng ta chụp đêm đầu tiên con đứng ở trong vũ đoàn ba lê Charlotte đâu rồi mẹ?”.
“Ồ, ờ…”.
“Nhanh lên nào”.
“Chúng ở trong góc tủ chén đĩa dưới bếp”, Laurence nhíu mày nói.
“Đúng rồi, Laurence!”, Justin đấm vào không khí. “Chúng ở trong góc tủ chén đĩa dưới bếp! Lấy chúng đi nào, nhanh lên!”.
Laurence chạy biến vào bếp, trong khi Jennifer nhìn theo với cái miệng há hốc. Có tiếng xào xáo giấy tờ trong khi Justin bước vội vã quanh phòng với tốc độ chóng mặt và Bea cùng Jennifer thì không rời mắt khỏi anh.
“Chúng đây rồi!”, Laurence chìa những bức ảnh ra và Bea giật ngay lấy chúng.
Jennifer cố gắng xen vào, nhưng Bea và Justin lục tinh mọi thứ với tốc độ chóng mặt.
Sột soạt, sột soạt. Những bức ảnh lướt lướt qua. “Bố không có trong phòng vào lúc đó, bố. Bố biến mất ở đâu đó nhưng tất cả mọi người thì túm tụm lại và chụp chung một tấm hình. Nó đây rồi!”. Cô bé đẩy nhanh về phía bố. “Họ đấy! Người phụ nữ và bố cô ấy, ở hàng cuối”. Bea chỉ.
Im lặng.
“Bố?”.
Im lặng.
“Bố, bố ổn không?”.
“Justin?”, Jennifer bước lại gần hơn. “Anh ấy có vẻ rất nhợt nhạt, lấy cho anh ấy ly nước, Laurence. Nhanh lên!”.
Laurence ba chân bốn cẳng chạy trở lại vào nhà bếp.
Bố”. Bea hu ơ hu ơ ngón tay trước mắt anh. “Bố, bố có nghe con nói không?”.
“Đó là cô ấy”, anh thì thầm.
“Cô ấy nào?”, Jennifer hỏi.
“Người phụ nữ mà bố đã cứu sống”, Bea nhảy lên nhảy xuống phấn khích.
“Anh cứu sống cuộc đời một phụ nữ?”, Jennifer hỏi lại, đầy kích động. “Anh hả?”.
“Đó là Joyce”, anh thì thầm.
Bea thở hổn hển. “Người phụ nữ đã gọi điện cho con?”.
Anh gật.
Bea thở hổn hển tiếp. “Người phụ nữ bố đã hẹn?”.
Justin nhắm mắt, thầm nguyền rủa chính mình.
“Anh cứu sống cuộc đời một phụ nữ và sau đó hẹn hò với cô ấy?”, Jennifer cười lớn.
“Bea, điện thoại của con đâu?”.
“Chi vậy bố?”.
“Cô ấy đã gọi cho con, nhớ không? Số điện thoại của cô ấy nằm trong điện thoại của con”.
“Ôi trời, bố. Chuyện đó xảy ra cả thế kỷ rồi. Điện thoại của con chỉ giữ lại được mười số đã gọi đến gần đây nhất thôi. Cô ấy đã gọi cả mấy tuần lễ trước!”.
‘Quỷ tha ma bắt!”.
“Con đã đưa nó cho cô Doris, bố nhớ không? Cô ấy có viết nó ra. Bố đã gọi số điện thoại đó lúc ở trong căn hộ của bố!”.
Mình đã vứt nó vào trong cái thùng đựng vật liệu thừa, ngốc nghếch! Cái thùng đựng vật liệu thừa! Nó vẫn còn ở đó!
“Đây!”. Laurence chạy vào với một ly nước trên tay, thở hổn hển.
“Laurence”, Justin chạy ào ra, hôn tới tấp lên má và trán của anh chàng. “Chúa phù hộ cho em, Jennifer”, anh đặt những cái hôn tương tự lên mặt Jennifer, cả một nụ hôn lên môi. “Chúc may mắn”.
Anh chạy vội về căn hộ, trong khi Bea vẫn còn đang chúc mừng anh, và Jennifer thì nhăn nhó chùi vệt môi của mình. Laurence cũng đang chùi những vẹt nước đổ lên quần áo.
Khi Justin chạy từ nhà ga xe điện ngầm đến được nhà, mưa bắt đầu trút xuống, rào rào, ào ạt như thể một tấm vải khổng lồ đang vắt nước. Anh không quan tâm. Anh chỉ muốn nhìn lên trời và cười lớn thành tiếng. Yêu làm sao cái cảm giác những giọt nước chạm trên mặt mình. Không thể tin rằng Joyce chính là người phụ nữ mà anh tìm kiếm sau tất cả những chuyện này. Lẽ ra anh phải biết. Tất cả mọi thứ chợt trở nên đầy ý nghĩa, những câu hỏi của cô. Như thể anh chắc rằng anh muốn có một lời mời ăn tối mới. Những người bạn của cô đã dự những buổi nói chuyện của anh, đó là tất cả!
Anh quay vào góc để thùng đựng vật liệu thừa, lúc này đã đầy những thứ linh tinh trong đó. Anh nhảy đến và bắt đầu lục soát từng thứ.
Từ cửa sổ, Doris và Al ngừng sắp xếp những chiếc va li, nhìn anh lo lắng.
“Quỷ tha ma bắt, vây mà anh thật sự đã mừng hụt, tưởng rằng anh ấy đã trở lại bình thường”, Al nói. “Mình có nên ở lại không nhỉ?”.
“Em không biết”, Doris trả lời, cũng lo lắng không kém. “Anh ấy đang làm cái quái gì thế nhỉ. Bây giờ đã là mười giờ tối rồi. Chắc chắn là hàng xóm sẽ gọi cảnh sát đấy”.
Chiếc áo thũn ám của anh sũng nước, mái tóc ướt rượt sau lưng, nước nhỏ tong tong từ mặt, từ mũi. Chiếc quần tây dính bệt vào người. Cả hai chỉ còn biết nhìn anh vừa la hét vừa ném hết tất cả mọi thứ bên trong thùng đựng vật liệu thừa ra khắp mặt đất, vẫn không ngừng tìm kiếm.
0
BỐN MƯƠI HAI

Tôi nằm trên giường, mắt nhìn chằm chằm lên trần nhà, cố gắng định hướng cuộc đời mình. Bố vẫn còn ở trong bệnh viện, chịu đựng những cuộc xét nghiệm và sẽ được về nhà vào ngày mai. Khi không có ai ở bên, tự dưng tôi lại buộc phải nghĩ đến cuộc đời mình. Tôi đã làm cật lực mọi cách để tạo nên đường đi cho mình, xuyên qua những cảm giác cô đơn, cảm giác chán chường, cảm giác hoài nghi yếm thế. Và cuối cùng, tôi cũng đã tìm ra một con đường cho mình để đến với niềm hi vọng.
Giống như người đang say thuốc, tôi bước từng bước vội vã trên sàn, qua những căn phòng với từng cảm xúc như đang bừng cháy dưới lớp da. Tôi đã khóc rất to với chính mình, đã hét lên, đã kêu gào, đã khóc và đã nức nở rền rĩ. Bây giờ là mười một giờ đêm, trời tối đen, đầy gió. Cái lạnh ở bên ngoài gào rít như thể những tháng mùa đông giá rét đang chiến đấu lại tất cả mọi thứ trên con đường chúng đi qua. Chợt điện thoại reng. Nghĩ là bố, tôi vội vã lao xuống tầng dưới, chộp lấy điện thoại và ngồi thụp xuống bậc thang dưới cùng.
"Alô".
"Cuối cùng thì cũng gặp được em...".
Tôi run rẩy. Trái tim như ngã uỵch. Tôi đưa chiếc điện thoại ra khỏi tai, hít một hơi thật sâu.
"Justin?".
"Là em, sau chừng ấy lâu, phải vậy không?".
Tôi im lặng.
"Anh nhìn thấy bức ảnh của em và bố em chụp với Bea. Buổi tối đó, con bé nói cho em về việc hiến máu của anh. Về việc anh muốn được cảm ơn...". Anh hắt hơi.
"Sao em không nói gì với anh cả? Chừng ấy thời gian anh đã nhìn thấy em. Chẳng phải em đã đi theo anh, hay là... hay là... chuyện gì thế, Joyce?".
"Anh giận em đấy à?".
"Không. Ý anh là, anh không biết. Anh không hiểu. Anh cảm thấy rất rối, rất hoang mang".
"Để em giải thích". Tôi hít một hơi sâu và cố gắng giữ cho giọng mình không run rẩy, cố gắng nói trong khi nhịp tim cứ dồn dập như thể choáng hết cả cổ họng tôi. "Em đã không hề cố tình đi theo anh đến bất kỳ nơi nào chúng ta từng gặp, vì thế xin anh đừng băn khoăn. Em không phải là người lén theo dõi người khác. Có điều gì đó đã xảy ra, Justin. Có điều gì đó đã xảy ra khi em được truyền máu. Và có cái gì đó, khi dòng máu của anh được truyền vào trong em, em đột nhiên cảm thấy một mối dây liên kết với anh. Em đã đến những nơi anh từng xuất hiện, như tiệm hớt tóc, như buổi diễn ba lê. Đó hoàn toàn là một sự tình cờ".
Tôi nhận ra mình nói quá nhanh, nhưng lúc này tôi không thể chậm lại được. "Sau đó, Bea nói cho em rằng anh đã hiến máu, trùng vào khoảng thời gian em được truyền máu, và...".
"Cái gì?".
Tôi không chắc anh định nói cái gì nghĩa là... cái gì.
"Ý em là em không chắc máu em nhận có phải là máu của anh, phải không? Bởi vì anh không thể xác minh chuyện đó, không ai nói với anh cả. Có ai nói điều đó cho em biết không?".
"Không. Không ai nói với em cả. Họ không cần nói. Em...".
"Joyce". Anh ngắt lời tôi và lập tức tôi cảm thấy lo lắng vì giọng nói của mình.
"Em không phải là một người quái dị, Justin. Hãy tin em. Em chưa từng bao giờ trải qua cái gì giống như những chuyện em vừa trải qua trong vài tuần gần đây". Tôi kể cho anh nghe mọi thứ, những gì tôi biết về anh, kiến thức của anh, chia sẻ với anh cả những sở thích.
Anh im lặng.
"Nói gì đi chứ, Justin".
"Anh không biết phải nói gì cả. Nó có vẻ... ngớ ngẩn".
"Nó ngớ ngẩn, nhưng nó là sự thật. Điều này nói ra có vẻ tệ hơn nữa, nhưng em cảm thấy như thể em góp nhặt được cả những ký ức của anh".
"Thật sao?". Giọng nói của anh nghe lạnh cóng, xa xăm, hốt hoảng. Tôi đang mất anh ấy.
"Những ký ức về công viên ở Chicago, khi Bea đang nhảy múa trong chiếc váy xòe của nó, trên tấm trải lớn bằng vải có họa tiết ca rô màu đỏ, chiếc giỏ cho buổi picnic ngoài trời, chai rượu vang đỏ. Tiếng chuông nhà thờ, cửa hiệu bán kem, chiếc bập bênh với Al, chiếc bình phun nước, chiếc...".
"Trời, trời, trời. Ngừng lại ngay đi. Cô là ai?".
"Justin, là em mà!".
"Ai nói cho cô nghe tất cả những chuyện này?".
"Không ai cả, chỉ là em biết chúng!". Tôi đưa tay chùi mắt, đầy mệt mỏi. "Em biết rằng nghe có vẻ rất kỳ quái, Justin. Em thật sự biết. Em là một người sống theo khuôn phép, bình thường, nhưng tất cả những chuyện đó đã xảy ra với em, trong cuộc đời em. Nếu anh không tin em, thì... Em xin lỗi và em sẽ cúp máy, sẽ quay trở về cuộc sống của em. Nhưng làm ơn hãy biết rằng đây hoàn toàn không phải trò đùa hoặc là trò chơi xỏ, chơi khăm hay bất cứ cái gì tương tự thế".
Anh im lặng một lúc lâu, và sau đó khẽ khàng: "Anh muốn tin em".
"Anh có cảm thấy điều gì đó giữa chúng ta không?".
"Có, anh cảm thấy điều đó". Anh nói rất chậm như thể cân nhắc từng ký tự trong mỗi lời nói. "Những ký ức, những sở thích, những niềm đam mê, và bất cứ cái gì khác ở anh mà em đề cập tới, đều là những thứ mà em có thể đã từng nhìn thấy anh làm hoặc nghe anh kể. Anh không nói rằng em làm điều đó có mục đích gì, có thể chính em cũng không biết, nhưng em đọc những cuốn sách của anh... Anh đề cập đến rất nhiều điều mang tính cá nhân trong những cuốn sách của anh. Em đã nhìn thấy bức ảnh của Bea trong cái mề đay... Em đã có mặt trong những lần anh nói chuyện, em đã đọc những bài báo của anh. Anh có thể đã bộc lộ những điều về mình trong đó, thật sự anh biết anh đã bộc lộ nhiều điều về mình trong đó. Làm thế nào anh có thể tin rằng em biết tất cả những chuyện này chỉ thông qua việc truyền máu? Làm thế nào anh biết rằng - anh không hề có ý xúc phạm - em không phải là một phụ nữ mất trí, điên rồ, người cố thuyết phục chính cô ấy một câu chuyện điên rồ cô ta từng đọc trong sách hoặc xem trên phim? Làm thế nào anh biết?".
Tôi thở dài. Tôi chẳng có cách nào khác để thuyết phục anh ấy.
"Anh xin lỗi, Joyce". Anh bắt đầu kết thúc cuộc nói chuyện.
"Khoan, chờ đã!". Tôi ngừng anh lại.
Im lặng.
"Em nói với anh một chuyện. Chẳng lẽ anh không muốn ngay cả việc thử tin em một lần?".
Anh thở dài nặng nhọc. "Anh đã nghĩ rằng em là một người khác, Joyce. Anh không biết tại sao bởi vì anh chưa từng gặp em trước đó, nhưng anh đã nghĩ rằng em là một mẫu người khác biệt. Điều đó... điều đó... Anh không hiểu. Anh nhận thấy là... Nó không đúng, Joyce".
Mỗi câu chữ như đâm vào trái tim tôi và nện vào dạ dày tôi, đau dớn. Tôi có thể đứng dậy, nghe những lời này từ bất kỳ ai khác trên đời, trừ anh ấy. Bất kỳ ai khác trừ anh ấy.
"Sao anh không tin em? Làm ơn đi, Justin. Phải có một thứ gì đó có thể thuyết phục anh. Một thứ gì đó em biết, mà anh chưa từng viết ra trong một bài báo, một cuốn sách nào, cũng chưa từng kể cho bất kỳ ai nghe trong buổi giảng nào của anh cả...". Tôi ngừng lại, bất chợt nghĩ đến một thứ... Một bí mật. Không, tôi không thể sử dụng chuyện đó được.
"Tạm biệt, Joyce. Anh hi vọng mọi thứ sẽ ổn với em. Anh thật sự hi vọng như vậy!".
"Gượm đã! Chờ đã... Có một chuyện. Một chuyện chỉ mình anh biết".
Anh ngừng lại. "Chuyện gì?".
Tôi nhắm nghiền mắt, hít một hơi rất sâu. Nói hay không nói. Nói hay không nói. Tôi mở mắt và buột miệng thốt ra.
"Bố anh".
Một khoảng không im lặng.
"Justin?".
"Chuyện gì với ông ấy?". Giọng anh lạnh như băng giá.
"Em biết những gì anh đã nhìn thấy", tôi nói rất dịu dàng. "Biết anh đã không thể và chưa từng nói với bất kỳ ai khác về chuyện đó như thế nào...".
"Cô đang nói cái quái gì vậy?".
"Em biết khi anh đứng trên cầu thang, nhìn ông ấy qua thành lan can. Em cũng nhìn thấy ông ấy. Em nhìn thấy ông với một cái chai và những viên thuốc, đóng cánh cửa. Sau đó, em nhìn thấy những bước chân màu xanh lá cây trên sàn nhà...".
"IM ĐI!", anh hét lên và tôi... im lặng trong cảm giác bị sốc.
Nhưng tôi phải cố gắng, hoặc tôi sẽ không bao giờ có cơ hội để nói những lời này một lần nào nữa.
"Em biết khó khăn như thế nào khi chuyện đó xảy ra cho anh, khi anh hãy còn là một đứa trẻ. Khó khăn như thế nào khi giữ chuyện đó cho riêng mình...".
"Cô không biết gì cả", anh nói lạnh lùng. "Hoàn toàn không biết gì cả. Làm ơn tránh xa tôi. Tôi không bao giờ mong muốn phải nghe bất kỳ điều gì về cô một lần nữa".
"Được rồi". Giọng nói của tôi giống như một tiếng thì thầm gió thoảng, nhưng chỉ là tôi nói với chính tôi, vì anh đã gác máy.
Tôi ngồi trên bậc thang, trong bóng tối. Trong căn nhà vắng lặng. Nghe những ngọn gió lạnh tháng mười thổi rào rạt bên ngoài căn nhà.
Và vậy đó.
0
MỘT THÁNG SAU


BỐN MƯƠI BA

Lần tới, chúng ta nên lấy xe đi, Gracie". Bố nói khi chúng tôi trên đường đi bộ về lại Botanics. Tôi vòng tay choàng vào cánh tay ông và cứ thế, tôi lại được nhấc lên nhấc xuống theo nhịp lắc lư của ông. Lên rồi xuống, xuống rồi lên. Chuyển động thật dịu dàng, dễ chịu.
"Không, bố cần phải tập luyện thể dục, bố!".
"Con nói với chính con ấy!", ông lẩm bẩm. "Ông thế nào, Sean? Một ngày khốn khổ nhỉ?", ông gọi to chào một người bạn già trên đường, tập tễnh di chuyển bằng khung sắt dành cho người tàn tật.
"Thật tệ", Sean hét với lại sau lưng.
"Thế bố nghĩ sao về căn hộ nhỉ?", tôi đề cập đến đề tài này lần thứ ba trong vòng chỉ vài phút vừa rồi. "Bố không thể cứ lẩn tránh hoài như vậy".
"Bố đâu có lẩn tránh gì đâu, con gái. Bà thế nào, Patsy? Mày thế nào, Suki?". Ông ngừng lại và cúi người xuống, vỗ vỗ vào con chó. "Ôi đúng là con vật bé nhỏ đáng yêu", ông nói, và chúng tôi lại tiếp tục.
"Bố ghét con vật bé nhỏ còi cọc đó. Sủa inh ỏi suốt đêm khi bà ấy đi vắng", ông lẩm bẩm, đẩy cái mũ lưỡi trai lên cho nó khỏi che tầm mắt khi một cơn gió mạnh thổi thốc qua.
Tôi bật cười thành tiếng. "Thôi nào, bố nói con nghe là bố có thích căn hộ đó không?".
"Bố không chắc. Nó có vẻ rất nhỏ và có một người đàn ông rất buồn cười đi vào khu chung cư ngay cạnh đó. Bố không nghĩ là bố thích vẻ ngoài của ông ta".
"Ông ấy có vẻ rất thân thiện với con".
"À, ông ta chỉ như thế với con thôi, và hết". Bố đảo mắt thành vòng tròn và lắc đầu. "Người nào cũng sẽ như thế với con mà, bố nói thế đấy".
"Bố!", tôi bật cười.
"Chào Graham. Một ngày tệ quá nhỉ?". Bố nói với một người hàng xóm đi ngang qua.
"Ngày tệ quá, Henry". Ông già Graham đáp lại, đút tay trong túi áo.
"Nói chung, bố không nghĩ là con nên lấy căn hộ đó, Gracie. Tiếp tục ở đây thêm ít lâu nữa cho đến khi tìm được căn nào đó thích hợp hơn. Không có gì vội mà phải lấy ngay cái đầu tiên con nhìn thấy cả".
"Bố, chúng ta đã xem đến mười một căn hộ khác nhau và bố chẳng thích căn nào trong số đó hết".
"Thế nó dành cho bố sống ở đó hay là dành cho con?". Bố hỏi. Lên xuống, lên xuống.
"Cho con ạ".
"Ừm, thế con quan tâm đến nhận xét của bố làm gì?".
"Con coi trọng ý kiến của bố".
"Con làm điều con... Ồ, xin chào, Kathleen!".
"Bố không thể giữ con trong nhà hoài được, bố biết vậy mà".
"Con luôn như thế, con gái. Không gì có thể làm lay chuyển con".
"Con có thể đi đến Câu lạc bộ thứ Hai tối nay không?".
"Hả?".
"Con chơi nốt ván cờ tướng con đã bắt đầu với Larry".
"Larry ấy à... Ván cờ ấy sẽ chẳng bao giờ kết thúc". Bố đảo mắt nhìn quanh.
"Bố!".
"Gì? Con cần phải có một cuộc sống hòa nhập với cộng đồng hơn là cứ dính mãi quanh những người như Larry hay bố".
"Con thích quanh quẩn quanh bố".
Bố cười một mình, rất vừa lòng với những gì nghe thấy.
Chúng tôi quay vào căn nhà của bố và lắc lư đi vô lối đi nhỏ trong vườn dẫn đến cửa trước.
Một khung cảnh bày ra ngay trước bệ cửa ra vào làm bước chân tôi sựng lại ngay lập tức. Hộp hộp bánh nướng xốp nhỏ, được gói trong lớp giấy gói trong suốt cột một chiếc nơ hồng ở bên trên. Tôi nhìn bố, lúc này ông đang bước qua chúng để mở khóa cửa như thể chẳng nhìn thấy gì. Sự chuyển động của bố khiến tôi phải tự hỏi về thị lực của mình. Phải chăng tôi đã tưởng tượng ra chúng?
"Bố! Bố làm gì thế?". Bị sốc, tôi nhìn quanh quất phía sau mình nhưng không không có ai ở đó cả.
Bố nháy mắt với tôi, trông có vẻ buồn buồn trong một khoảnh khắc. Sau đó thì khoe một nụ cười tươi hết cỡ trước khi đóng cánh cửa lại trước mặt tôi. Tôi chạm vào cái bì thư dính trên lớp giấy gói nhựa trong suốt và bằng những ngón tay run rẩy, tôi mở cánh thiệp ra.
Cảm ơn...
"Anh xin lỗi, Joyce". Một tiếng nói vang lên sau lưng làm tôi suýt đứng tim. Tôi xoay người lại.
Và anh. Đứng đó, trước cổng vào vườn với một bó hoa rực rỡ trong đôi tay mang găng. Một vẻ biết lỗi nhất hiển hiện trên khuôn mặt. Anh trùm kín người trong khăn choàng và áo khoác mùa đông. Anh trùm kín người trong khăn choàng và áo khoác mùa đông. Đầu mũi, hai gò má đỏ ửng lên vì lạnh. Đôi mắt xanh của anh lấp lánh trong không gian một ngày xám xịt.
Anh là một ảo ảnh. Anh làm tôi như ngừng thở chỉ bằng một ánh nhìn. Cái cảm giác gần gũi quá sức chịu đựng.
"Justin...". Tôi chỉ thốt lên được như thế rồi hoàn toàn nghẹn lời.
"Em có nghĩ rằng...", anh bước lên một bước, "Em có thể tìm thấy một chút gì đó trong tim để tha thứ cho một gã ngốc nghếch như anh?". Anh đứng ở cuối vườn, cạnh cánh cổng.
Tôi không chắc mình đã nói cái gì. Một tháng rồi mà. Tại sao lại là bây giờ?
"Trên điện thoại, em đã chạm vào một nỗi đau...", anh nói, tằng hắng giọng. "Không ai biết về bố anh. Hoặc từng biết về điều đó. Anh cũng không biết làm cách nào em biết".
"Em đã nói với anh bằng cách nào rồi mà".
"Anh không hiểu được".
"Em cũng không".
"Nhưng sau đó, anh cũng không hiểu hầu hết những chuyện bình thường xảy ra mỗi ngày. Anh không hiểu cái điều tốt đẹp mà con gái anh nhìn thấy ở cậu bạn trai của nó. Anh không hiểu được sao em trai anh cứ thích khoai tây chiên dù nó bị hạn chế ăn. Anh không hiểu làm thế nào Doris có thể mở hộp sữa giấy với những cái móng tay dài như thế. Anh không hiểu tại sao anh đã không đập cửa nhà em một tháng trước và nói cho em biết rằng anh cảm thấy thế nào... Anh không hiểu rất nhiều chuyện đơn giản, anh không hiểu tại sao điều này lại trở nên khác biệt như thế".
Tôi ngắm gương mặt anh. Mái tóc xoăn, phủ bên trên là chiếc mũ len. Một nụ cười thoáng chút căng thẳng âu lo. Anh cũng nhìn tôi chăm chú. Tự dưng tôi run rẩy, nhưng không phải từ cái lạnh bên ngoài. Tôi không cảm thấy cái lạnh đó lúc này. Cả thế giới như đang nóng lên trong cả con người tôi. Thật dễ chịu. Trong lòng tôi thoáng một câu cảm ơn thì thầm.
Một nếp nhăn xuất hiện trên trán anh khi anh nhìn tôi.
"Gì thế?".
"Không. Em chỉ khiến anh nhớ đến một người. Không quan trọng...". Anh tằng hắng giọng, mỉm cười, cố thoát khỏi ý nghĩ anh vừa rơi vào.
"Eloise Parker hả?", tôi đoán, và nụ cười tươi tắn của anh tắt ngấm.
"Làm cách nào em biết điều đó?".
"Cô ấy là người hàng xóm của anh, người anh đã phải lòng trong nhiều năm. Khi anh lên năm tuổi, anh quyết định làm gì đó và thế là anh hái một ít hoa trong vườn nhà mình, mang sang nhà cô ấy. Cô ấy mở cửa trước khi anh tới được lối đi trong vườn. Cô ấy bước ra ngoài, với một chiếc áo khoác màu xanh, một chiếc khăn choàng màu đen". Tôi vừa nói vừa kéo chiếc áo khoác màu xanh của tôi quấn chặt lấy mình hơn.
"Sau đó thì sao?", anh hỏi, đầy vẻ bị sốc.
"Không sao cả", tôi nhún vai, "Anh đánh rơi những đóa hoa trên nền đất và... chạy như bay ra khỏi đó".
Anh lắc đầu nhè nhẹ và mỉm cười. "Làm cách nào trên trái đất này...?".
Tôi nhún vai.
"Còn điều gì khác em biết về Eloise Parker?", anh nheo mắt.
Tôi mỉm cười, nhìn đi chỗ khác. "Cô ấy cũng là người mà anh... ừm... lần đầu tiên anh thử chuyện đó, khi anh mười sáu tuổi, trong phòng cô ấy lúc ba mẹ cô ấy đi vắng, chính xác hơn là đi du lịch biển".
Anh đảo mắt nhìn quanh, và nhìn thấp hơn... xuống những đóa hoa trên mặt dất. "Này, em thấy đấy... Như vậy thật không công bằng. Em đâu có được cho phép biết hết những chuyện kiểu như thế về anh?".
Tôi bật cười.
"Em được đặt tên thánh là Joyce Bridget Conway nhưng em nói với tất cả mọi người chữ đệm trong tên của em là Angeline", anh trả đũa.
Miệng tôi há hốc.
"Em có một con chó tên là Bunny hồi em còn là một cô bé tí tẹo", anh nhướn một bên chân mày, đầy khoái chí.
Tôi nheo mắt.
"Em đã dám lén uống rượu khi em...", anh nhắm mắt ra chiều suy nghĩ rất dữ dội, "Mười lăm tuổi, với những người bạn tên là Kate và Frankie".
Anh bước lên một bước gần tôi hơn. Tôi cảm nhận được mùi hương từ anh... Mùi của anh... Tôi đã từng mơ được gần như thế, gần hơn, gần hơn nữa...
"Nụ hôn kiểu Pháp đầu tiên của em với Jason Hardy là khi em mười tuổi. À, mọi người hay gọi Jason bằng cái nick là Jason tình tứ".
Tôi bật cười.
"Em không phải là người duy nhất được tạo hóa cho phép biết những điều như thế". Anh bước một bước nữa đến gần hơn, sát tôi đến mức không còn chỗ nào để sát. Đôi giày của anh, chiếc áo khoác bằng vải dày, từng phần nhỏ của anh đều chạm vào tôi. Tim tôi đập thình thịch, nhảy nhót như được gắn lò xo. Tôi hi vọng Justin không thể nghe được tiếng đập thình thịch ấy để mà khoái chí.
"Ai nói với anh tất cả những điều ấy?", những lời tôi thốt ra như chạm đến gương mặt anh trong một hơi thở mờ sương vì lạnh.
"Anh đến được đây, phải nói là cả một công trình vĩ đại", anh cười, "Vĩ đại. Những người bạn của em đã bắt anh trải qua quá trời những bài kiểm tra khác nhau nhằm chứng minh rằng anh đã cực kỳ hối tiếc, đã xứng đáng để được đến đây".
Tôi cười, bị sốc vì Frankie và Kate cuối cùng cũng đồng ý cho một việc như thế, không màng cả đến việc giữ mọi thứ trong vòng bí mật như thỏa thuận.
Im lặng. Chúng tôi rất gần nhau, nếu tôi ngước lên nhìn anh, mũi của tôi sẽ chạm cằm anh. Thế nên tôi giữ mình nhìn xuống.
"Em vẫn còn sợ ngủ trong bóng tối...", anh thì thầm, nâng cằm tôi lên để tôi chỉ có thể nhìn anh chứ không thể nhìn bất kỳ đâu khác. "Trừ khi có ai đó bên cạnh em", anh thêm vào với một nụ cười thật nhẹ.
"Anh đã từng qua mặt thầy cô trong bài luận đầu tiên ở trường cao đẳng", tôi thì thầm.
"Em đã từng rất ghét nghệ thuật". Anh hôn lên trán tôi.
"Anh nói dối khi anh nói rằng anh là một người hâm mộ tác phẩm Mona Lisa", tôi nhắm mắt lại.
"Em đã có một người bạn vô hình tên Horatio cho đến khi em năm tuổi". Anh hôn lên mũi tôi và tôi định trả đũa bằng một câu gì đó, nhưng đôi môi anh đã chạm vào môi tôi, thật nhẹ nhàng, thật ngọt ngào. Những từ ngữ đầu hàng, nhạt nhòa và bay biến đi trước khi chúng kịp phát ra, rồi cứ thế quay trở lại với trí nhớ của tôi, nơi khởi nguồn của chúng.
Tôi mơ hồ nhận thức được rằng cô Fran vừa ra khỏi nhà cô ấy, định nói gì đó với tôi bằng tiếng "bíp bíp" của xe hơi, nhưng mọi thứ cứ mờ mờ trong một khoảng không, như là tôi đánh mất khoảnh khắc thời gian với Justin, như là tôi đang tạo nên một ký ức mới cho anh, cho tôi.
"Tha thứ cho anh nhé?". Anh nói.
"Em chẳng có chọn lựa nào khác cả. Nó trong máu của em...". Tôi mỉm cười, và anh bật cười thành tiếng. Tôi nhìn xuống những đóa hoa trong tay anh, những đóa hoa đã bị "ép chặt" giữa chúng tôi ban nãy. "Anh sẽ lại đánh rơi hết những đóa hoa này xuống đất và chạy biến đi hả?".
"Thật ra thì... chúng không phải dành cho em". Hai má anh đỏ bừng lên như chưa từng bao giờ đỏ đến thế.
"Chúng được dành cho một người trong trung tâm truyền máu, người mà anh thật sự cần xin lỗi. Anh đã hi vọng rằng em sẽ đi cùng với anh, giúp anh giải thích những lý do từ cách xử sự điên rồ của mình, và biết đâu cô ấy sẽ có thể giải thích thêm một vài điều cho chúng ta...".
Tôi quay lưng nhìn lại ngôi nhà và thấy bố đang bí mật "theo dõi" chúng tôi từ sau bức rèm cửa. Tôi nhìn ông như hỏi thăm ý kiến. Ông ra dấu tán thành, và mắt tôi bỗng chốc rưng rưng.
"Bố cũng dự phần vào 'công trình' này của anh à?".
"Ông gọi anh là anh chàng ngốc nghếch vô giá trị không biết gì cả...".
Anh chành miệng làm mặt hề và tôi bật cười.
Tôi gửi đến bố một chiếc hôn gió rồi bắt đầu chậm rãi bước đi. Tôi cảm thấy bố đang nhìn tôi, và cảm thấy cả đôi mắt của mẹ cũng đang dõi theo, khi tôi bước xuống lối đi trong vườn, băng ngang đám cỏ, theo con đường mình ao ước từ khi mình còn là một cô bé, rồi đi lên lối vỉa hè dẫn ra xa khỏi ngôi nhà nơi tôi đã trải qua cả thời thơ ấu.
Mặc dù, lúc này, tôi không chỉ có một mình tôi nữa.

HẾT
0
Truyện Cảm Ơn Ký Ức - Celia Ahern

Đã được mang vào thư viện

Cảm ơn sonnam9ac12 đã góp sức cho thư viện





📎 merci2
0
«« « 1 2 » »»