📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Bình Luận Văn Học

PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA NGUYỄN CHU NHẠC

44 trả lời, 253 lượt xem — Trang 2 / 2
Đọc lại Xem đêm của Phùng Cung,
 
(Nguyễn Chu Nhạc)
 
          Những ngày xuân tháng giêng Tân Sửu, đúng thời điểm dịch Covid 19 bùng phát lại, cầm chân không du xuân lễ hội đâu được. Ở nhà, viết và đọc sách giải khuây. Tôi đọc lại tập Xem đêm của Phùng Cung.
          Số là, từ hơn chục năm trước, tôi đã tình cở mua được tập thơ Xem đêm lần xuất bản đầu và đọc thấy thích. Rất thích là đàng khác. Tôi đã viết tiểu luận  “Có một nông thôn trong thơ Phùng Cung”, gửi đăng báo. Sau đó, tôi phát triển thành chân dung văn học “Phùng Cung, người tôi chỉ biết qua thơ” (in trong tập Trời đất thu hay lòng ta thu, Nxb Dân trí 2016). Trong những lần đàm đạo văn thơ cùng bạn bè, nhiều lần tôi khen tập thơ Xem đêm, khiến mọi người tò mò mượn đọc, vì thế mà thất lạc. Tôi tiếc lắm. Trước tết Tân Sửu, tôi nhờ người quen mua được tập Xem đêm, bản mới do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành. Sách in đẹp và phần nội dung có thêm Phụ Lục với các bài viết của Phùng Quán, Nguyễn Hữu Đang, Hoàng Cầm về thơ văn của ông, còn có cả truyện ngắn Con ngựa già của chúa Trình, mà vì nó Phung Cung đã dính án văn chương ngày nào...
          Đọc lại, vẫn nguyên cảm giác thú vị, nhưng đằng sau câu chữ, vấn điệu, còn thấy được ý tứ sâu xa về thân phận con người nói chung và thân phận với nỗi cay đắng riêng ông.
          Trong bài viết này, tôi không nhắc lại những gì đã nói, đã bàn ở các bài viết trước, như việc khắc họa một nông thôn Bắc bộ điển hình một thời xưa cũ khốn khó còn chưa xa; hay đâu như sự ngộ ra, để rồi tự an ủi, răn mình mang tính thiền định, kinh kệ nhà Phật,,,
          Ở đây, tôi muốn đi sâu tìm hiểu sự ám ảnh, hàm ý về một thân phận bị dập vùi mà vẫn gắng gỏi ngoi lên, loe lói sáng như muốn chứng ninh cho sự trong sạch của bản thân...; và không thể không nói đến một điểm mạnh, ấy là nghệ thuật ngôn từ và tạo dựng không gian thơ của Phùng Cung,
          1. Có lẽ, trong tập tho này, khó có bài thơ nào hàm súc, ám ảnh, ấn tượng hơn bài Trà: “Quất mãi nước sôi/ Trà đau nát bã/ Không đổi giọng Tân Cương”. Nó thể hiện nỗi niềm về thân phận, sự kiên định, ý chí, bản lĩnh và cả khao khát khẳng định sự thanh sạch của bản thân tác giả.
          Có thế thấy, hàm ý về nỗi niềm thân phận bị vùi dập, ý chí, bản lĩnh muốn khẳng định sự thanh sạch và khao khát vượt lên số phận ẩn giấu trong nhiều câu thơ, bài thơ...
Ví như: “Thánh thần ơi/ Phải đâu nhật thực triền miên/ Ngày tối hơn đêm/ Đêm-vó-ngựa/ Quỳ gối chống tay/ Vẫn còn sợ ngã/ Mặt đất quá cheo leo” (Đêm vó ngựa); “Thương cây đào ốm/ Xuân về chẳng nở hoa/ Lá gày run gió lạnh/ Cây cũng có thời vận ư?” (Cây đào); “Trời đất uy nghi/ Xanh vĩnh cửu/ Chim bay hình thánh giá muôn phương/ Cung tên tạo hình thánh giá/ Bắn con chim hình thánh giá tử thương” (Vĩnh cửu); “Phận lấm/ Tối ngày đào khoáy/ Lưng nắng-vẽ/ Hoa văn tiền sử/ Chài chãi đồng chiêm/ Mấy kiếp rồi” (Cua đồng); “Tổ tan/ Trứng mất/ Có trời biết vì sao/ Bỏ hót/ Chỉ kêu/ Mỏ run run rớm máu” (Con chích chòe); “Dông bão trẩy qua xóm nhỏ/ Giập gãy hết rồi/ Ngô độn chuối xanh/ Xì xằng qua bữa/ Kẻng thúc ngũ liên/ Săn lùng đào ngũ/ Chẫu mắt mù/ Nhìn-đóng-cọc vào đêm” (Giập gãy); “Trở giấc xem đêm/ Thiên hà ngọc vụn/ Gió thổi một mình/ Mặt đất tròng trành/ Ma hoa nhày múa” (Xem đêm); “Hệ lụy với tôi/ Là ăn là uống/ Miếng ăn miếng uống/ Hành hạ suốt đởi/ Mấy ai dám cả gan/ Đùa dai với đói khát” (Miếng sống); “Trái đất lênh đênh/ Chênh chênh mùa nắng/ Gió trĩu cành/ Tải bốn mùa cười khóc/ Sóng biển xanh/ Nát bóng hải âu” (Tâm tư);
Thậm chí, Phùng Cung còn cân nhắc. sắp đặt số phận mình, và cho cả cái chết của mình, nếu ông không được sống: “Vạn thuở hồn cỏ xanh/ Mặt đất thơ gắn bó/ Bất hạnh nào hơn/ Già rụi quê người” (Ăn năn); “Sống quá khó khăn/ Chết chẳng dễ dàng/ Tôi phải sống/ Hẳn rôi còn được chết/ Chết là chơi nốt/ Một trò chơi/ Mãn khóa hỗn sinh” (Trò chơi); “Mô hình tôi/ Một trẻ thơ/ Ngoạm củ ráy/ Đứng thẳng người trong xóm/ Quỹ đạo tôi/ Thư thái-loằng ngoằng/ Xó bếp-bở ao/... Khi tôi chết/ Tôi thèm cái lặng lẽ/ ... Nếu tái sinh/ Tôi chẳng ước ao gì khác/ Chỉ mong được như kiếp trước/ Xó bếp đói. No/ Bờ ao tắm mát/ Phận cánh cò/ Mưa-nắng-phong dao” (Thanh thản); “Nhập nhoạng đóm đèn/ Đêm chó mực/ Trạt mùi hạ nhục/ Già trẻ sụt sùi/ Ôm đầu số phận/ Cúi mặt nhìn ngang/ Nghe lanh chân nhang” (Đoàn viên)...
          Dẫu là “phận lấm”, dẫu có “xó bếp, bờ ao” hay “lênh đênh”, “ngày tối hơn đêm” di chăng nữa, thì với Phùng Cung, vẫn quặn thắt một nỗi đau đời-một khao khát vươn lên trên số phận: “Trăng qua song sắt/ Trăng thăm ngục/ Bỗng ta chợt tỉnh-sững sờ/ Trên vai áo tù/ Trăng và lụa/ Ngày xưa ơi!/ Xa mãi đến bao giờ...” (Trăng ngục); “Ai giùm tôi thủ tục làm vô tận/ Thỏa thích trải trời xanh cõi không cùng/ Tôi khao khát huy động/ Những chùm sao đẹp/ Đêm về lung linh chòm xóm nghèo sao” (Khát vọng): “Hỡi bầu trời/ Hãy rộng thêm nhiều nữa/ Để phi đoàn cất cánh/ Xếp đội hình thánh giá uy nghi/ Rộn rã chuông chiều/ Cất giọt mưa sa/ .../ Giải phóng những nếp nhăn/ Trên từng vầng trán hoài nghi” (Giải phóng); “Đêm khuya trằn trọc/ Tôi bắt gặp/ Mùa thiêng hoa chết/ Ngoại giới mưa bay/ Trong hồn tơi tả/ Trăng úa-đầy trời-lá rụng/ Không gian khát vọng khúc giải oan(Khát vong)...
          Chịu khó tìm nhặt, trong Xem đêm, vẫn đây đó những câu thơ hàm ý dạng này, nhưng tôi không sa đà, để khám phá nghệ thuật thi ca tài tình của Phùng Cung...
          2. Nghệ thuật thi ca của Phùng Cung, trong Xem đêm thật tài tính.
          Có thể nhận định một cách ngắn gọn nhất, ấy là sự chắt lọc câu chữ, ý tứ hàm súc, ám ảnh, ấn tượng, không gian sống động, đầy thanh âm, hình ảnh, sắc màu, hương vị và trạng thái cảm xúc...
          Chắc chắn, ngày ấy, Phung Cung và cả chúng ta, không một ai biết đến khái niệm 3D, song tài tình thay, mỗi bài thơ trong tập thơ này đều như một cuốn phim ngắn 3D. Tôi chọn một số bài thơ để minh chứng cho điều này: “Mặt trời hạ-thổ/ Núi-giội-chàm/ Đò chuyến cuối/ Nhìn nhau nhọ mặt/Sữa con so ướt yếm/ Thơm-mùi-khoai-luộc/ Dốc bến tối gà/ Đom đóm rối guồng-tơ-lửa/ Nghe đêm trung giang thả-gió-gọi diều” (Chiều soi bãi); “Sương chiểu nghe-lạnh bước chân/ Khách áo cũ/ Tìm về bạn cũ/ Ai đốt rác lá tre bên ngõ/ Lối đi dầy mùi khói-cuối-năm” (Khói cuối năm); “Chó sủa dông dài/ Giò chuyển canh/ Trái thị cuối thu/ Thơm mùi trăng-úa/ Ao khuya nước thở thì thầm” (Đêm cuối thu); “Thoảng mùi ruộng ải/ Thóc giống cựa mình/ Nắng vắt ngọn-tre-đuôi-én/ Đủng đỉnh điệu cu cườm/ Lạc nhịp-gió may” (Mùa gieo mạ); “Gió quẩn lùm ngỉa cứu/ Mùi ngộ cảm đầy vườn/ Chếch bóng chĩnh tương/ Con vằn say bả/ Hoa chuối tiêu lầm lũi/ tím Tam-giang” (Nôn nao); “Chó sủa làng xa/ Sủa gơn xóc ốc/ Sao diều ai hóc-gió/ ven sông” (Đêm ven sông); “Mảng rêu chiều nắng ghé/ mênh mông/ Con dế loanh quanh/ Tìm lại tiếng mình đêm trước/ Vườn hàng xóm ngổn ngang/ mùi khế rụng” (Chiều nắng ghé); “Oèng oẹc trời khuya/ Chim lợn xổ giọng hãi hùng/ Tôi nhìn sông/ Đầy ắp sao xanh/ Ngoằn ngoèo phun tím/ Lửa-hoa-đăng/ Rần rật rím-luân-hồi” (Sông đếm); “Mành rách gió lay/ Chim chích đu mình săn nhện/ Góc sân nắng hanh/ Lá mít rụng trờ mình-nghé bếp/ Chó hàng xóm/ Sủa cầm chừng vài tiếng/ Lỗi bước lên hè/ Guốc nằm chiếc ngửa chiếc nghiêng” (Nhà vắng);  vv ... vv...
Nhiều lắm, khó mà trích dẫn ra hết được. Bài thơ nào cũng kiệm lời, gạn đến mức cảm giác không có từ nào thừa cả. mỗi từ đều phải gánh một phần ý tứ. Về tư duy, hình thức thơ, có thể thấy, ở đây có sự kết hợp nhuần nhuyễn tính hàm súc, tinh tế, ý tại ngôn ngoại của Đường thi, phong vị thiền và sự chắt lọc của thơ Haiku Nhật Bản, lại gần gũi thân thuộc của tục ngữ, ca dao Việt Nam,
Phần lớn, các bài thơ trong tập này của Phùng Cung là thơ tự do, câu ngắn, ngắt dòng liên tục. và nhiều câu được ngắt nối bằng dấu ngang ( - ), giàu nhạc điệu. Có bài là lục bát, hoặc thơ dạng bốn câu, nhưng được ngắt dòng, nên mới mẻ và ấn tượng. Ở vào thời ký ấy, có thể thấy, Phùng Cung đã rất ý thức trong việc cách tân thơ.  
Ví như: “Trăng lên/ hàm tiếu/ thẫn thờ/ Nửa chững trăng xế/ Chịu giờ mãn khai” (Hoa quỳnh); “Này em!/ Cây khế gãy rồi/ Nỗi chua vẫn hỏi thăm/ Người trồng cây” (Cây khế); “Chút lòng dây gấm khăn điều/ Cảm thương cái nhện/ Chiều chiều giăng tơ/ Không gian đứt nối sững sờ/ Khăn điều dây gấm/ Ngẩn ngơ mấy chiều” (Giăng tơ); “Dáng gày-đầy đặn-trữ tình/ Thuyền au đậu bến Lan Đình/ Trăng xa/ Tử sinh lỡ một lần ba/ Ruột tằm đau/ Mối tơ thừa gió bay” (Trăng xa); “Lênh đênh muôn dặm/ nước non/ Dạt vào ao cạn/ Vẫn còn lênh đênh” (Bèo); “Sen vàng từ thuở lên ngôi/ Bâng khuâng du khách/ Ngậm ngùi vần thơ/ Cồng chùa nhện mải giăng tơ/ Chuông thiêng ngân mãi/ Tiếng thừa trong không” (Chùa Kim Liên); “Lá súng lát mặt ao/ đếm ngọc/ Con sộp phàm vồ bão/ bóng hoa lay/ Lá tre rụng/ Nhuộm hoàng hôn đỏ gạch/ Tiếng cuốc bèo da diết/ gọi ngày mai” (Ao con); “Bờ ao trưa gió lay lá cỏ/ Vang khẽ lời ru nhỏ xanh xanh***/ Cách cách giòn tan/ Con cào cào dội phách/ Khoe cánh điều/ Bay ngập nắng-bổ-cau” (Nắng bổ cau); “Cành xoan cu gáy đứng/ chào mùa/ Ung dung đổ lèo ba/ dõng dạc/ Mùi cơm mới/ Xoắn mùi cá kho nhạt/ Hoa cải thơm quấn quýt/ quanh làng. Một lũy thơm” (Lũy thơm),...
Đổi mới hình thức thơ trên nền tảng các thể thơ cũ bằng cách ngắt nhịp song vẫn giữ mạch thơ khiến người ta xem bằng mắt hay đọc bằng âm đều không thấy nhàm và vẫn dễ nhớ dễ thuộc.
Tuy còn chưa đi sâu phân tích nghệ thuật ngôn ngữ thơ, nhưng với bấy nhiêu thôi, tôi nghĩ, Phùng Cung đã có những đóng góp nhất định trong tiến trình đổi mới thi ca Việt Nam hiện đại !...
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Thế nào là Thơ,...
 
Quả thực, tôi đã định làm ngơ, không bàn luận gì,...
Hôm nay, đã là ngày thứ ba kể từ khi Báo Văn Nghệ tổ chức lễ trao giải cuộc thi Thơ của mình,.. Mấy ngày qua, và vẫn tiếp diễn, người ta chê cười, nhạo báng, thậm chí xả vả ... cái Ban Giám khảo đã trao Giải Nhì (giải cao nhất) cuộc thi thơ kéo dài hơn 2 năm của tờ Báo danh giá bậc nhất của làng văn chương Việt. Nguyên do, vì đã quyết định trao giải cho chùm thơ 3 bài của tác giả Tòng Văn Hân (Mẹ tôi chửi kẻ trộm,Làm rể, Nhà trên nhà dưới). Chàng tác giả được giải này không có lỗi gì khi làm thơ dở. Lỗi là ở Ban Giám khảo kia, 
Đọc thơ được giải, rồi đọc các bài bình luận, những comment của Làng Phây, tôi tự hỏi: Thế nào là Thơ? Thế nào là thơ hay?...  Chịu, chẳng biết nói sao....
Những lời chê trách, nhạo báng có thể hơi quá, nhưng không sai. Tôi nghĩ là thế,
Công bằng mà nói, về ý tưởng, chúng có chất nhân văn... Nhưng thơ nào mà chẳng có chất nhân văn? ... Cười khuẩy,...
Xét về nghệ thuật thơ,... thì giả bộ ngô ngọng, nghi ngơ, không vần điệu... chẳng thật thà dân tộc như vị giám khảo nào đó nhận định (thực chất, láu cá, dân tộc giả cày),... Và dĩ nhiên, nó chằng có giá trị gì về nghệ thuật, đơn giản, đó không phải là Thơ!...
Chỉ buồn một điều, một Ban Giám khảo gồm toàn các nhà thơ nhà văn có tiếng là Hữu Thỉnh, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Bình Phương, Khuất Quang Thụy, mà lại quyết định như vậy, thì thử hỏi, thi ca xứ Việt mình lấy chuẩn mực ở đâu?...
Trớ trêu, buổi sáng tổ chức lễ trao giải tại trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam, tôi tình cờ đến đấy, thấy người ta đang xướng tên các tác giả được giải, tôi không vào hội trường mà sà vào đám trà dư tửu hậu với nhà nhà văn nhà thơ Hà Phạm Phú, Minh Chuyên, Quang Hoài, Nguyễn Đức Dũng, và Phạm Công Trứ... Chuyện huyên thuyên nhưng lạ là không một ai trong số đó nhắc đến việc trao giải cả. Vậy là các nhà chằng quan tâm, hoặc vờ không quan tâm?
Ngắm nhà thơ Phạm Công Trứ già nua bệnh tật, thấy thương nhớ về một thuở sung sức đầy tài hoa của ông đã qua. Rồi lẩn thẩn thương nhớ một thời thi ca, văn chương được xem như ngôi đền thiêng của xứ sở này, cũng đã qua!...
Giờ thì thi ca, văn chương dễ dãi, nôm na, mách qué, nhộm nhoạm quá, ai ai vào ra cũng được,...
Vậy thì thế nào là Thơ,
Thế nào là Thơ hay?... 
 
(11.4.2021)
 
Đăng nhập để trả lời
0
Trịnh Tuyên, lão chăn dê xứ Thanh.
(Chân dung nhà văn Trịnh Tuyên)
 
          Sở dĩ tôi đùa vui gọi nhà văn Trịnh Tuyên như thế, bởi truyện ngắn Chuyện tình lão chăn dê là truyện ngắn hay, một trong ba truyện mà tôi chọn để giới thiệu cùng chân dung nhà văn trên Website của Hội Nhà văn Việt Nam (vanvn.net). Sau đó, truyện ngắn này còn được nhà văn Nguyễn Văn Thọ chọn và nhà thơ Trần Đăng Khoa, Tổng biên tâp, phê duyệt đăng ở số 2 (bộ mới) Tạp chí Nhà văn & cuộc sống, Hội Nhà văn Việt Nam.
          Nếu không nhầm, đây là một trong mấy truyện ngắn khới đầu nghiệp văn của Trịnh Tuyên. Tuy xuất hiện trên văn đàn muộn nhưng Trịnh Tuyên đã nhanh chóng khẳng định mình ở thể loại truyện ngắn và chỉ trong vòng gần chục năm, ông đều đặn xuất bản 4 tập truyên ngắn, đó là Những mảnh vỡ của số phận (2012), Hang cóc thần (2014), Giấc mơ lạnh (2016),  Nhớ đêm thời xa ấy (2018), và hiện đang xuất bản tập truyện  thứ 5 của mình- Trái tim bé bỏng. Trịnh Tuyên là hội viên  Hội văn học nghệ thuật tỉnh Thanh Hóa.
          Mặc dù. Trịnh Tuyên viết đều cả văn và thơ, nhưng bạn văn chương và bạn bè nói chung chẳng ai gọi ông là nhà thơ cả, Phải chăng, truyện ngắn của Trịnh Tuyên nổi trội hơn thơ ông nên người ta ấn tượng một Trinh Tuyên văn? Song có lẽ, con người góc cạnh, tính cách quyết liệt, phản biện sẵc sảo, đã làm nên một Trịnh Tuyên-nhà văn?
 
1. Trịnh Tuyên văn,
          Trịnh Tuyên chào làng văn, chào bạn đọc bằng truyện ngắn Chuyện tình lão chăn dê, và gần như lập túc, ông ghi dấu ấn, khiến bạn đọc ngoài xứ Thanh biết đến tên ông. Tôi cùng vậy. Biết Trịnh Tuyên từ những ngày đầu tham gia mạng xã hội, trang của ông trên Blog Tiếng VIệt đăng đủ thứ, nhưng phài đến khi ông đưa truyện ngắn này lên (20.3.2012), sau khi mấy tờ báo, tạp chí địa phương cùng đăng, tôi mới nhìn nhận phẩm chất nhà văn ờ Trịnh Tuyên, khiến ông khác với nhiều người cùng tham gia viết ngày ấy. Quả nhiên, truyện ngắn này nâng vị thế của Trịnh Tuyên trong con mắt của các blogger ở Blog Tiếng Việt. Giờ đây, khi duyệt bài lên trang, nhà thơ Trần Đăng Khoa, Tổng biên tạp Tạp chí Nhà văn % cuộc sống , gật gù bảo: “Truyện này chằng khác gì chuyện Chí Phèo, Thị Nở thời nay”. Lẽ dĩ nhiên, với gần trăm truyện ngắn đã viết. Trịnh Tuyên còn có một số truyện ngắn khác khá chắc tay,
          Hãy xem Trịnh Tuyên viết gì. Có thể thấy, các truyện của Trịnh Tuyên tập trung vào mấy mảng đề tài chính: chuyện chiến tranh và hậu chiến, chuyện về các loài vật, chuyện mang tính trinh thám, vụ án, chuyện màu sắc tâm linh, và chuyện đời sống xã hội, tình ái...
          Nhìn chung, như phần đông các cây bút viết theo bản năng vốn có, khởi thủy thường chọn thủ pháp kể chuyện truyền thống, diễn biến câu chuyện theo trình tự thời gian, dù đan xen hồi tưởng, ký ức, với nhân vật kể chuyện ở ngôi thứ nhất (tôi), hoặc ngôi thứ ba (nó, hắn...), Trịnh Tuyrn cũng vậy. Hầu hết, các nhân vật của ông kể chuyện ở ngôi thứ nhất, số ít truyện ở ngôi thứ ba. Với thủ pháp vậy, tâc giả dễ bề điều hành nhân vật theo chủ quan của mình nên dễ nặng cảm tính hơn là theo logic của sự việc, vấn đề. Tuy nhiên, Trịnh Tuyên “bài binh bố trận” khá linh hoạt, đã biết cách thoát ra khỏi sự nhàm chán của lối kể chuyện bắng cách thay đổi kết cầu, khai mở gây sự chú ý, cài đặt chi tiết bất ngờ...
Có lẽ, chuyện chiến tranh và hậu chiến là mảng đề tài Trịnh Tuyên để tâm khai thác. Mặc dù, bản thân không nhập ngũ, không trực tiếp tham gia chuến tranh, mà là chiến sĩ công an, song cũng là lực lượng vũ trang, vả lại, ban bè, người thân của ông tham gia quân ngũ rất nhiều nên ông hiểu chuyện binh nghiệp và những vấn đề xã hội thời hậu chiến... Ở mảng đề tài này, có các truyện Nhớ thời xa ấy, Tên lính ngụy, Hồi ức một cung đường,  Kẻ ném đá,...Nhưng có thể tháy, tác giả chỉ hoàn thành việc kể chuyện, các nhân vật như thiếu hồn vía nên chưa để lại dấu ấn đáng kể,
Trái ngược, màng đề tài về đời sống xã hội và tình ái là thế mạnh thực sự của Trịnh Tuyên. Ông viết như không, như kê chuyện chơi vậy thôi nhưng hầu như truyện nào cũng sống động và khá ấn tượng, mà qia đó, ông gửi gắm ý tưởng, triết lý nhân sinh, hoặc tự thân truyện toát lên giá trị nhân văn và thông diệp về cuộc sống,... Cùng với Chuyện tình lão chăn dê, ở màng đề tài này, có thể nhặt ra một số truyện chắc tay, như: Những mảnh vỡ của số phận, Giọt máu rơi,  Đồng không mông quạnh, Ông kão câu cá, Cây bút máy mạ vàng, Liên, Thiếu nữ bên bãi biển chiều thu, Bà Thanh- kiu, Chuyện tình xóm núi, Nhừng mùa dưa đi qua...
Cùng màng đề tài về đời sống xã hội, Trịnh Tuyên cũng khá thành công với những truyện về tâm linh như: Cây gậy của Lý Tước, Hang cóc thần, Giấc mơ lạnh, Thần cây, Bí mạt hang cá thần, Con rắn hổ lửa trên bàn thờ tổ, Con chuột trong nhà thờ họ, Cối đá quý, Ma học trờ, Anh ơi em chết mất,...Tử những giai thoại, chuyện kể mang màu sắc dân gian tâm linh, Trịnh Tuyên sưu tầm xây dựng nên cốt truyện rồi đắp thêm da thịt phù phép thành truyện, và ở đây, quan hệ nhân-quả được ông sử dụng thành triết lý nhân sinh, Vậy nên, yếu tố tâm linh không phải là chuyện mang ra để hù ma, dọa quả báo, mà như một sự nhắc nhở về đạo lý thiện lương, về nhân nghĩa ờ đới....
Những chuyện vụ án, chuyện mang màu sắc trinh thám cũng là một điềm nhấn trong sáng tác của Trịnh Tuyên. Xuất thân ngành công an, nhiều năm là cảnh sát điều tra, Trịnh Tuyên có vốn kiến thức phong phú, óc suy đoán logic, sự nhanh nhậy của một chuyên viên phá án, nên ông khá chắc tay trong mảng đề tài này. Ở các truyện: Kể tự thú, Đánh ghen, Bóng đè, Ăn miếng trả miếng, Tiếng chó sủa đêm,  ông thỏa sức tung tẩy với kinh nghiệm cảnh sát điều tra của mình. Không chỉ thế, Trịnh Tuyên viết truyện như làm án, nên để dấu ấn nghiệp vụ điều tra trong hầu hết các truyện ngắn của ông về việc cài đặt tình tiết và tiết tấu câu chuyện,...
Còn một mảng đề tài, khiến Trịnh Tuyên khác nhiều cây bút văn xuôi, ấy là về các loài vật. Để ý, các truyện của ông đều thấp thoáng bóng dáng các con vật, (hoăc cây cối, đồ vật), mà ở đó, chúng là các nhân vật phụ, có liên quan, và có tác dụng làm nổi nhân vật chính. Nhiều truyện, con vật trờ thành nhân vật chính, như: Đôi chim cu già, Sữa chó, Chó đẻ, Con mọt, Con khỉ, Con mèo tam thể, Con ngựa già, Con lợn nghĩa tình, Con gà tài nguyên, Con trâu bạc, Đốm ơi,... Ở đây, Trịnh Tuyên tỏ rõ sự hiểu biết tường tận về đặc tính sinh thái của từng loài vật, mối quan hệ đồng loại và mối quan hệ với con người. Dĩ nhiên, nói đây chết cây chỗ khác, ông mượn chuyện con vật là để nói con người, nhắn nhủ con người,..
Vậy nên, đương nhiên, có một Trịnh Tuyên-truyện ngắn,
 
2. Trịnh Tuyên thơ,   
Cho đến thời điểm này, nhà văn Trịnh Tuyên vẫn chưa xuất bản tập thơ nào, song ông là tác giả của hàng trăm bài thơ rải rác nhiều năm qua. Dấn thâm vào nghiệp văn. Trịnh Tuyến có thế mạnh và chủ tâm theo văn xuôi, nhưng cũng như nhiều cây bút văn xuôi khác, thậm chí các lão làng (như Hà Minh Đức, Võ Huy Tâm, Đỗ Chi...), ông bị nang thơ quyên rũ và không thể làm ngơ. Thơ ông chủ yếu đăng trên mạng xã hội để bạn hữu đọc bàn chơi, hay lúc trà dư tửu hậu bình phẩm, thi thoảng gửi đăng báo này nọ,
Là cây truyện ngắn vững, khi viết, chủ đề, ý từ, bố cục, chi tiết rõ, nên sang thơ, Trịnh Tuyên cũng theo đúng cách viết truyện ngắn mà làm. Nghĩa là, lập tứ, có cốt rồi lắp câu chữ cho bài thơ nên da thịt, sao cho diên đạt được ý từ là ổn, nên đôi khi khó tránh khỏi tình trạng ngượng ép, khiên cường, Ví như:“Đừng tìm người đi cấy anh ơi/ Phía trước, phía sau, đều không rõ mặt/ Cuộc mưu sinh gần đất nhất.../ Họ sẽ nhìn anh qua khung hình tam giác/ Mặt ruộng là gương, không cần tráng ni tơ rát bạc// Âm bản đen, ống kính chổng lên trời!!!” (Người đi cấy); hay như: “Người cả tin/ Biên giới hay xê dịch/ Người tâm thần/ Biên giới bỏ ngỏ/ Người tham lam/ Tự thu hẹp biên giới/ Người cuồng tín/ Biên giới thuộc địa hạt tư duy kẻ khác/ Người thông minh/ Biên giới chôn chìm...” (Biên giới). Đây nữa:  “Chúng rút ra rồi, em mới thấm đau/ Sóng cứ dào lên như là nức nở/ Có phải sông đâu mà trút vào bồi lở// Em - Biển kia mà... bạn của đại dương.../ Giấy kết hôn kia vò vứt cuối giường/ Em thuộc về anh sao để người ta cắm?/ Phút chúng khoan vào, em đau, đau lắm/ Anh - kẻ bạc tình biết đứng nhìn thôi!...” )Lời than của Biển Đông); Và đây “Bến lạnh lùng, con tim buốt sang ngang/ nước đã lạnh, lòng người còn lạnh nữa/thôi đừng khoắng thêm dòng sông tình tan vỡ/ Cho mái chèo mươn mướt những niềm đau! (Chằng còn mùa thu nữa đâu em); Rồi đây nữa: “Có anh đây rồi, em cứ vững niềm tin/ Biển là em, em thẳm xanh như biển/ Nếu chúng vắt vòi rồng, anh còn cố nhịn/ Nhưng khoan vào là anh băm xác chúng ra/ Nên chúng cứ thụt vào rồi kéo ra!” (Thơ tình cảnh sát biển)_
Đại loại, những khổ thơ, câu thơ gượng ép, cố gò theo ý tưởng như thế không hiếm trong thơ Trịnh Tuyên, Như đã nói, thơ Trinh Tuyên, hầu như bài nào cũng ý tứ rõ ràng, nhiều khi lộ ý,  vấn đề là diễn đạt ra sao. Trịnh Tuyên luôn ý thức tạo sức nặng chi thơ mình, nên ông ưa triết lý, Một khi triết lý. thì năm ăn năm thua, rất có thể gượng và khô cứng, nhưng thành công thì lại được những câu thơ hay. Có thể tìm nhặt ra trong thơ Trịnh Tuyên những triết lý hay. Chẳng hạn, như: “Quên tên cây/ làm thuyền/ Tận cùng nỗi cô đơn-/ độc mộc!/ Khoét hết ruột/ Chỉ để một lần ngược thác/ bất chấp đời/ ênh đênh...” (Độc mộc); Hay như: “Chưa nở đã mang bầu thai quả/ Phận đau như gái chửa không chồng/ Buồng the nứt toác tình chưa thoả/ Cuối mùa trơ cuống với hư không.(Hoa chuối): Đây nữa: “Đêm tất niên một mình ra ngõ/ Say mèm húc phải đống rơm/ Hai kẻ cô đơn chợt tỉnh:/ Nhận ra xác những linh hồn!/ Ngươi: xác của mùa màng/ Ta: xác của thời gian/ Ngươi: Cháy lên còn chút lửa/ Ta: Một nhúm tro than..../ Ngươi đứng lù lù trước ngõ/ Ta thì lọm khọm trong nhà/ Ta buồn đắng tình thế thái/ Ngươi vui ngọt miệng trâu bò!” (Đêm tất niên): Và đây: “Nơi đây là mộ địa/ Chôn/ những mối tình đã chết từ lâu/ Đã vô duyên kiếp trước/ Mong gì gặp kiếp sau?  (Nghĩa địa tình yêu) v.v...
Nếu chịu khó tòm kiếm, còn không ít những câu thơ triết lý thú vị như thế trong hàng trăm bài thơ của Trịnh Tuyên  Thực lòng, tôi thích thơ Trịnh Tuyên hơn truyện của ông, bời nhìn chung, thơ ông có ý tưởng lạ, khá hàm súc, câu chữ bất ngờ. Ví như bài thơ này: “Ta lại đến điểm đầu từ điểm cuối// đường tình ngắn chẳng tày gang/ Cưới lại đi em/ Ừ! Cưới lại!/ Cơm đã nguội rồi thì đổ ra rang.../ Đêm cưới lại/ tình nồng không trở lại/ chỉ có đôi môi/ lặng ngắt/ ưu sầu!/ Đêm cưới lại/ ái ân/ không trở lại/ chỉ tiếng thì thầm thoảng trong đêm mau/ Đêm cưới lại/ chẳng còn gì trở lại/ chỉ một lần khờ dại mãi trong nhau..” .(Cưới lại); Hay như: “Nghẹn ngào khói thoảng về mây/ Run run một nén tâm đầy con dâng...” (Thăm mộ cha);  “Khi anh yêu em/ Biên giới của người điên” (Biên giới); “Rằng nay đang tiết thanh minh/ Tôi đi viếng cái mộ mình mai sau...” (Tôi đi viếng mộ của tôi):  “Nơi đây là mộ địa/ Dưới đáy mồ không một khúc xương/ Chôn những mối tình đã chết! “ (Nghĩa địa tình yêu) v.v...
Theo tôi, Trịnh Tuyên có một bài thơ hay, thuộc hàng hay nhất của ông, kiểu như Chuyện tình lão chăn dê trong truyện ngắn, ấy là bài Thành nhà Hồ.
“Thành xưa đổ nát, hoang tàn
Hồ vương rời bỏ ngai vàng ngự đâu(?)
Thạch long, tuế nguyệt dãi dầu
Bước chân khanh tướng công hầu vắng tanh
Sông xưa đổ mé đông thành
Mà nay đồng bãi , tươi xanh bốn mùa
Đế vương mà ngỡ trò đùa
Trẻ trâu kể mấy đời vua suy tàn .
Cho hay thành quách, ngai vàng
May ra còn lại mấy trang sách nhầu!
Có gì vĩnh cửu mãi đâu
Bao nhiêu lăng tẩm nhuốm mầu liêu hoang
Bao đời áo mão xênh xang
Mấy ai xây được ngai vàng- Lòng dân”
Hơi thơ cổ, tứ hay, câu chữ chắt lọc, phong vị trầm bi, ý nghĩa sâu sắc và giàu sức gợi, Nghe đâu, bài thơ này có câu được các nhà bình chọn lấy để treo vào bóng thơ thả lên giời một Nguyên tiêu nào đó ở Văn Miếu-Quốc tử goám. Trịnh Tuyên cũng lấy đó mà tự hào.
Đấy là sự ghi nhận về tính triết lý trong thơ Trịnh Tuyên.  Song cùng vì ham triết lý mà nhiều bài thơ của ông giảm sức gợi. Thơ hay, trước tiên cần sức gợi, rồi đến ý tứ, câu chữ, nhạc điệu... Có cả thì dĩ nhiên toàn bích rồi. Thế nên, làm thơ, dụng công quá thường hỏng. Nhiều khi buâng quơ, viết chơi chơi lại được. Trịnh Tuyên có những bài thơ như vậy, Ví như ờ Chiều trên bài ngô, ông tả cảnh đồng bãi, vô tình thấy môt em nào đó đang cắt cỏ trên bãi ngô ven sông Mã, để rồi buông một câu kết lửng lơ: “Xin em đừng gánh cỏ về lối cũ/ Kẻo vương vào phiền muộn của riêng anh...” thì bài thơ sống động hẳn lên, bồng có hồn và rất gợi... Hay đâu, những câu thơ đầy ngẫu hứng thú vị như “Biển oan, sóng mãi gầm gào/ Bao nhiêu trong đục đổ vào một tôi! “ (Em); “Lời thương/ em gửi cuối nguồn/ Lời yêu/ em gửi cánh chuồn chuồn bay” (Nhà em): “Đường chiều mây nhẹ đường mây/ Đường tình tôi nặng những đày đọa tôi” (Chiều quê);  “Thanh minh tôi viếng mộ tôi’Mai sau biết có ai người ghé thăm?”(Tôi viếng mộ tôi); “Một năm lửa đỏ để dành/ Đủ cho anh đốt cơm canh một ngày!” (Thơ ngày 8.3); “Tháng sáu thương phận cá trôi/ Đồng xa, nước ngập, bồng bơi ngả nào?. Con rô lách ngược mưa rào/ Con ếch nồng nỗng cầu ao đợi mồi/ Tháng sáu, em hẹn thăm tôi/ Ao sâu, nước cả, tôi ngồi câu suông!” (Tháng sáu); “Mặt trời thì ngã đằng tây/ Em thì ngã trọn vòng tay gã khờ/ Khi em ngã ngửa vào mơ/ Là tôi ngã sấp bơ phờ tóc sương” (Ngã) ...
Những câu thơ này, dẫu không đến mức “tuyệt diệu hảo từ”, thì cũng không phải là những câu thơ dễ viết dễ có !... Và như thế, tôi nghĩ,, đủ có một Trịnh Tuyên-nhà thơ!...
 
3.  & lão chăn dê xứ Thanh,
          Năm nào cũng vậy, cứ sau tết nguyên đán, độ cuối tháng hai ta, Trịnh Tuyên lại rủ tôi vô Thanh, còn nhắn là nhớ rủ thêm nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền, nhà văn Nguyễn Trọng Huân, họa sĩ Lã Minh Kính và nhạc sĩ Phạm Qiamg Hiển. Chẳng là, từ nhiều năm nay, cứ vào độ này khi tiết xuân còn chưa vãn, cánh chúng tôi thường vô xứ Thanh, dổ bộ vào nhà Trịnh Tuyên ở Cẩm Tân, Cẩm Thủy. Nhóm văn bút xứ Thanh tụ hội ở nhà Trịnh Tuyên thường có Phạm Duy Đức, Ngô Xuân Tiếu, Lê Văn Sự, Trọng Nghĩa, Đào Phan Toàn, Cao Nguyên Quyền, và Trương Thị Mầu, Ma Bích từ Bá Thước xuống, cùng vài ba người khác... Đông vui, thân mật, ấm áp tình bạn bầu văn chương.
          Tôi quen và thành thân với Trịnh Tuyên từ mươi năm nay, qua mang xã hội Blog Tiếng Việt mà cư dân ở đây nôm na gọi là Xóm Lá, Lúc ấy, mạng xã hội chưa phổ biến như giờ, nên những ai tham gia Blog Tiếng Việt chí ít cũng phải biết viết lách đôi chút, nếu không phải là cây bút chuyên nghiệp. Nhóm vài chục blogger ở Hà Nội gặp gỡ, giao lưu với nhau vui ;ắm, còn Trịnh Tuyên mãi vùng xa Cẩm Thủy xứ Thanh. Song Trịnh Tuyên nhanh chóng gây ấn tượng với nhóm chúng tôi, bời nhẽ, thứ nhất, các cảm nhận (comment) gây xốc, tưng tửng hoặc chọc ngoáy khó chịu,  thớ nữa, các bài viết của ông, truyện ngắn hay thơ đều khá chững chạc. Phàm dân viết, ngửi văn nhau thấy được là chơi với nhau ngay. Và rồi, những chuyến Trịnh Tuyên ta Hà Nội mỗi dịp Nguyên tiêu, hay những chuyên đổ bộ của chúng tôi vào xứ Thanh kết nối và gắn bó chúng tôi.
          Gặp rồi nên thân mới thấy chơi được với Trịnh Tuyên không dễ chút nào. Ông tuổi Nhâm Thìn (sinh 1952), cầm tình còn rồng, mệnh Thủy-Trường lưu thủy (nươc chảy dài), lại sống bên bờ sông Mã, nên tính cách mạnh, linh hoạt, lấn lướt,... Thiên can Nhâm cỉa tuổi Nhân Thìn, tương hợp với Đinh, mà tôi tuổi Đinh Dậu (1957) nên Trịnh Tuyên với tôi, anh em hiểu nhau, dễ chia sẻ, bổ trợ thành hòa hợp,...Có mầy yếu tố làm nên tính cách con người Trịnh Tuyên, chất nam nhi xứ Thanh điển hình, cộng cái ngất ngưởng của kẻ có chữ, pha trộn thêm sự nhanh nhậy linh hoạt của nghề cảnh sát điều tra, Thường ra, thấu hiểu và dễ cảm thông, song khi cần, sắc lẻm phân minh, nhất bét tời cùng, không ngại va chạm mất lòng, Tôi nhớ, trong một lần vào xứ Thanh, tôi cảm hứng thành thơ, bài thơ Thăm bạn xứ Thanh, mang đọc lúc tiêc vui, có câu thơ “Xứ Thanh bề bộn nước non/ người một khoảnh, đất vuông tròn một khoanh”, mọi người đều không để ý, riêng Trịnh Tuyên nhận ra ngay ý tứ. Ông khoái, khen câu thơ ấy đã khái quát được cả vùng đất và tính cách con người xứ Thanh,
          Cũng có thể kể thêm vài câu chuyện nữa, đặng khắc họa đậm nét tính cách con người Trịnh Tuyên, Trong quan hệ xã hội, Trịnh Tuyên không ưa những gì ông cho là mập mờ. Thế nên, đã tùng xảy ta chuyện, tờ báo này tạp chí nọ sử dụng bài viết của ông tùy tiện, thiếu minh bạch, khiến ông bực mình, lên tiếng phản ứng. Rồi nữa, chuyện ông mời khach đến chơi nhà cùng tiếp bạn văn chương thủ đô, chuyện phiếm lấn sang lĩnh vực điều tra, ông và cậu đàn em từng là thủ trưởng cơ qian điều tra cấp huyện, nổi hứng nghê nghiệp bàn về chuyện phá án, hăng lên tranh luận, mỗi người một lý, chủ khách thành to tiếng khiến tôi và nhà thơ Trần Đăng Khoa phải can ngăn, hạ hỏa đôi bên...
          Trịnh Tuyên là vậy đấy, trực tính, yêu ghét rõ ràng, Ai chơi được với ông dễ thành chí cốt. Hễ cứ nghe Trịnh Tuyên phán về một au đó “Hắn chơi được lắm”  thì tôi không phải ngại, cứ yên tâm mà giao du. Chẳng thế mà, lão chăn dê xứ Thanh quy tụ được nhiều cây bút,  bạn bè yêu văn chương trong vùng, thưởng xuyên gặp gỡ, đông viên, chia sẻ cùng nhau không chỉ văn chương mà cả những vui buồn  cuộc sống...
Mấy năm nay, bạn văn miền tây xứ Thanh của ông cứ vơi dần. mấy người vân du về cõi hạc (Trọng Nghĩa, Phạm Duy Đức, Ma Bích), riêng ông vẫn thủng thẳng sớm trà, chiều tửu, cần mẫn kể chuyện đời,..,
Lão vẫn còn bầy dê thả chăn trên núi kia mà !...
 
( Nguyễn Chu Nhạc )
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 11.04.2022 10:45:52 bởi tamvanvov>
NGUYỄN CHU NHẠC, ĐAU NỖI ĐAU NHÂN THẾ
Ngô Đức Hành

Nhà văn Nguyễn Chu Nhạc, thuở phổ thông giỏi văn nhưng lại thi vào Đại học Nông nghiệp. Trai phố nhưng lại thích làm nông, mà làm nông tận vựa lúa An Giang mới ghê. Ông bước vào “làng văn” cũng không muộn,  những năm 80 của thế kỷ trước đã in tản văn, năm 1993 xuất bản tập truyện ngắn “Đêm nguyệt thực”.  Túc tắc, từ đó đến nay, ông đã công bố 25 tác phẩm, đủ thể loại. Gọi Nguyễn Chu Nhạc là nhà văn, có lẽ không “khách khí”. Trong 25 tác phẩm, có 16 tác phẩm văn chương, chiếm 64%, trong đó có 5 tập truyện ngắn, còn lại là tản văn và phê bình văn học. Gọi ông là nhà thơ cũng “không oan”, vào Hội Nhà văn Việt Nam, chuyên ngành thơ, theo “tiêu chuẩn cứng” chỉ cần tác giả đã có 2 tập (tất nhiên là chất lượng); trong khi Nguyễn Chu Nhạc đã có 9 tập thơ, chiếm 36% trong “gia tài” văn chương, đến hiện nay.“Xương rồng khô đã lên xanh”, năm 2019 và “Trường ca Nguyễn Chu Nhạc”, năm 2021 là hai tác phẩm thơ và trường ca mới nhất.Cuộc đời làm báo, lại là cơ quan báo của Chính phủ, ban cho Nguyễn Chu Nhạc một “ân sủng”, được đi nhiều nơi. Chả thế mà, trong “gia tài” của ông có nhiều bút ký, du ký. “Lối thu” là tập du ký, ông xuất bản năm 2017. Du ký hay bút ký thực chất là thể loại văn học ký, phải đi nhiều mới viết được. Tất nhiên, tương đối. Phùng Quán xưa khi viết tác phẩm đầu tay “Vượt Côn Đảo”, năm 1954, ông đã bao giờ đến đâu. Đọc “Xương rồng khô đã lên xanh” càng biết Nguyễn Chu Nhạc đã lặn lội đến nhiều nơi. Ông viết từ Hà Nội, với “Cây bồ đề cổng chùa Quán Sứ”, lên Tây Bắc với “Mỗi phút xao lòng với Tây Bắc”, “Tây Bắc những ngày ngâu tháng bảy”, xuống Đông Bắc với “Hoàng hôn Yên Tử”, vào Nam Bộ với “Hoài niệm Cửu Long Giang”, “Nhớ miền Tây”, “Cần Thơ chiều vắng mưa giăng”, rồi lại ngược ra với miền Trung với “Lại về với miền Trung”... Nguyễn Chu Nhạc là người lãng đãng. Sau chiếc mục kỉnh đến mấy độ lão là đôi mắt xanh non của mơ màng. Chả thế mà, ngồi ở Hà Nội, ông “Nhớ bạn thành Vinh”, co ro trong mùa đông ông mơ hồ “Nghe đâu gió mùa cũng tới Nam” và “Nhớ núi”. Chỉ riêng mơ màng, đã là “đặc hữu” của tâm hồn thi sỹ.  Lăn lộn trên đường đời, đường trần đến “tuổi tôi” Nguyễn Chu Nhạc, hẳn nhiên trong thơ bao giờ cũng chở đầy chiêm nghiệm. Đọc “Xương rồng khô đã lên xanh” thấy một Nguyễn Chu Nhạc duy lý trong trái tim duy tình. ... Đời người ta mấy con sào Cuộc tình chỉ giấc chiêm bao thôi mà (Bên bến thời gian) ... Mấy ai dò được nhân tâm Làm sao để biết đâu mầm gian ngoan Vẫn là miệng lưỡi thế gian Tự ta vững bước trên bàn chân ta (Biết mình còn phải biết người) ... Quẩn quanh vẫn mấy con đò Lòng người thăm thẳm ai đo được nào (Cần Thơ chiều vắng mưa giăng) Đọc thơ Nguyễn Chu Nhạc thấy tâm hồn ông trĩu nặng một tình yêu quê hương, đất nước. Cuộc đời ông có những năm tháng gắn với đồng bằng sông Cửu Long. Nặng tình với châu thổ, cho đến bây giờ vẫn không nguôi thổn thức:
Chớp mắt ba phần tư thế kỷ Từ tóc xanh nay bạc nửa mái đầu Cửu Long vẫn dạt dào sóng nước Cần mẫn ngày đêm nuôi đất mỡ màu Thời trai trẻ ôm đầy khao khát Lòng chứa chan hoài bão đường xa Chân vạn dặm đến vùng đất mới Sá chi đâu khi phải xa nhà (Hoài niệm Cửu Long giang)
Nhà thơ Chế Lan Viên trong bài thơ “Tiếng hát con tàu” có hai câu thơ nằm lòng mọi người: “Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở / Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn!". Quả thật. Trong đời ai chẳng từng sống ở những mảnh đất, qua những miền quê, nhất là những cán bộ kháng chiến. Những năm tháng sống với các miền đất ấy, chính là những quãng đời của chúng ta. Những quãng đời ấy nối tiếp nhau dệt thành cuộc đời mỗi con người.
Nghe đâu gió mùa cũng tới Năm Gửi chút heo may chút sẽ sang Đến tận chân trời heo hút ấy Ta người chung một nỗi đa mang... (Nghe đâu gió mùa cũng tới Nam)Gió mùa thổi bùng lên “mùa cảm xúc” trong tâm hồn nhà thơ. Hẳn nhiên, đó phải là người biết trân quý, nâng niu ký ức.Ngoài “ân huệ” của trời đất, Nguyễn Chu Nhạc còn sở hữu nỗi buồn. Buồn là vẻ đẹp của thi sỹ. Nhìn đâu cũng thấy buồn. Cái buồn ở đây, không phải “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” như cụ Nguyễn Du triết luận trong Truyện Kiều mà dường như nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn thời cuộc xâm lấn, “thai nghén” nên trái tim nhà thơ? “Bên ngoài cửa sổ mưa ngâu / Bên trong có một nỗi đau dịu dàng”, (Bên ngoài cửa sổ mưa ngâu). Nhiều khi đau mà thành bất lực, vô giác: “Thấm nhân gian những khóc cười / Bao mùa thay lá rụng rơi chẳng màng”, (Cây bồ đề cổng chùa Quán Sứ). 
 “Trường ca Nguyễn Chu Nhạc” gồm 5 trường ca: “Đất nước nơi đầu núi”, “Thu mùa sinh tôi”, “Bảy Núi miền ký ức”, “Con sông tuổi thơ tôi”, “Tây Bắc thương nhớ”. Trường ca là thể loại “thơ dài”, khác biệt về cấu trúc, đầy tính tự sự và chuyển tải những tư tưởng thơ lớn. “mùa tôi sinh / khi sông Hồng mùa lũ / mẹ tôi đau / đẻ tôi / cha tôi mừng / tôi có / hình hài tôi / hiện diện cõi đời này / tôi làm thơ / như một lẽ / đắng cay / khổ ải”, (Thu mùa sinh tôi). Ông xác tín “Nỗi đau còn tươi mới”...”những vấp váp / cuộc đời / còn ở phía tương lai”, (Thu mùa sinh tôi).Nếu như “Thu, mùa sinh tôi” và “Con sông tuổi thơ tôi”, đong đầy tự sự; thì “Đất nước nơi đầu núi”, “Tây Bắc thương nhớ”, “Bảy Núi miền ký ức” là ba trường ca về quê hương, đất nước. Nếu như “Đất nước nơi đầu núi” viết về quê hương Hà Giang, thì “Tây Bắc thương nhớ” như tên trường ca, cho cả vùng Tây Bắc. Nếu như hai trường ca về miền núi phía Bắc là cảm xúc trước con người và thiên nhiên thì “Bảy Núi miền ký ức” vừa là tự sự về vùng đất Nguyễn Chu Nhạc đã từng “dầm dìa” vừa là cảm xúc về tinh thần quật khởi của đất và người trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.“Ngô thương người / giận đá / mà lên”, vùng đất Mèo Vạc (Hà Giang) hiện lên trong trường ca, chỉ bằng hình ảnh cây ngô đã mang đến sự nhận diện. Ở đó “đàn ông / ôm việc nặng / đàn bà / địu con leo dốc”, hình ảnh những con người làm chủ vùng đất này thật dễ thương, chân thực. Hà Giang, nơi đó đã từng có con đường mang tên “Hạnh phúc” – con đường của mồ hôi và máu của biết bao người thế hệ trước, của các dân tộc an hem, vì hạnh phúc của “Đất nước nơi đầu núi”. Khác với “Đất nước nơi đầu núi”, “Tây Bắc thương nhớ” lại là “bản đồ văn hóa” của đồng bào các dân tộc. “Người Hà Nhì, Thái, Mông, Dao / đều chuộng hoa văn / yêu gam màu rừng núi”. Nguyễn Chu Nhạc hoài niệm, xa xót và cảnh tỉnh: “Hãy trả lại / núi rừng bình lặng / cho chiều hôm mặt trời thủng thẳng / gác trâu rừng về bản...”. Vẻ đẹp núi rừng, văn hóa bản địa đã và đang mai một, biến dạng...Đó là một nỗi đau, chỉ thi sỹ nhìn thấy, ký thác vào văn bản....Bảy Núibận gót chân châu thổbảy chấm caochòm thất tinhsáng rựccuối trời Nam(Bảy Núi miền ký ức)
Đây mà mấy câu thơ cuối cùng của trường ca “Bảy Núi miền ký ức” của Nguyễn Chu Nhạc. Trường ca có biên độ cảm xúc từ những ngày người Việt đi mở cõi, hành trình, đứng lên chiến thắng thiên tai, giặc giã,,,cho đến hôm nay. Trai cũng như gái từ đời này, kiếp khác chung lưng đấu cật, thương yêu, ra công đắp xây, gìn giữ mà thành non sông đất nước này. Xuyên suốt thơ cũng như trường ca Nguyễn Chu Nhạc là “hành trình của nỗi đau”. Có điều trăn trở, vật vã, kể cả nỗi đau  của Nguyễn Chu Nhạc đều có “chiều kích 3D”, rộng dài; luôn xanh non, tươi mới, trinh khiết. Hạnh nhân trong những thông điệp./.
Ngày 8/4/2022NĐH
 
Đăng nhập để trả lời
0
THẤP THOÁNG TRÚC THÔNG
 
            Mùa thu năm 1987, tôi bước chân vào ngôi nhà 58 Quán Sứ Hà Nội, bắt đầu cuộc đời làm báo chuyên nghiệp của mình. Khi ấy. Ban Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam chiếm trọn ngôi biệt thự trong cùng, một trong ba ngôi biệt thự kiến trúc Pháp ở khu vực trụ sở Đài. Phòng làm việc của tôi thuộc Ban Thính giả, là vài căn phòng cấp 4 ngay bên dưới tòa biệt thự của Ban Văn nghệ. Hằng ngày, nhìn các anh chị của Ban Văn nghệ đi lại ngang qua, và nghe tiếng các vị từ tầng cao vọng xuống, mà ngưỡng mộ. Nhiều lần tôi đứng dưới ngước nhìn lên ô của sổ tầng trên biệt thự với những cánh cửa chơp mở ra, của kính khép hờ mà ước ao một ngày nào đó, mình được là biên tập viên văn học làm việc ở đấy. Thú thực, ngày ấy, với gia tài vỏn vẻn một bài thơ đăng báo Văn Nghệ từ năm 1978 lúc là sinh viên đại học năm thứ ba, thì ước vọng trở thành biên tập viên văn học nhà Đài thật viển vông...
Thế rồi, dịp tết năm ấy, biên tập viên Thu Liên, người cùng phòng với tôi, con gái của nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, bảo : "Em nghe bố em nói, chương trình Tiếng thơ đêm ba mười tết này anh có một bài thơ được phát sóng đấy". Quả tình, tôi nghe mà không tin, Quả nhiên, bài thơ của tôi được đứng chung với các bài thơ của các tên tuổi làng thơ Việt trong chương trình Tiếng Thơ tết ăm ấy. Nghe mà sướng run người vì không tin vào tai mình. Sở dĩ, tôi nhắc lại sự việc này là để nói tới một ban biên tập văn học thời  ấy của Đài Tiếng nói Việt Nam với các nhà thơ nhà văn, biên tập viên kỳ cựu. Cùng với nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, còn có nhà thơ Trần Nhật Lam và vợ ông-biên tập viên Nông Thị Nhuận (một trong những biên tập viên thế hệ đầu của chương trình phát thanh Tiếng Thơ nổi tiếng), nhà thơ Trần Nguyên Vấn, nhà thơ Trần Mạnh Thường, nhà thơ Trúc Thông, nhà văn Tuấn Vinh, nhà thơ Lâm Huy Nhuận,...Để lọt qua các con mắt xanh, nhất là Trúc Thôing thật không phải dễ.  Và đấy cũng là cái cớ để sau đó tôi lân la làm quen với các “nhà”, các “cây” của Ban Văn nghệ. Cùng với việc,năm 1978 khi còn là sinh viên, đã có thơ đăng báo Văn nghệ,  nay lại có thơ phát trong chương trình Tiếng Thơ  tết, tôi thêm phần tự tin để theo đòi mộng văn chương.
Thú thực ngày đó, dù yêu văn học nghệ thuật đến mấy, bảnthân đã có thơ và có truyện ngắn đăng báo Văn Nghệ, những tôi ngại bén mảng đến Phong phát thanh Văn học, mà chỉ hay ghé Phòng phát thanh Văn học thiếu nhi, nơi nhà thơ Lê Đình Cánh và Trường Hữu Lợi phụ trách.
Khi ấy, Ban Văn học nghệ thuạt  (Đài TNVN)  cùng với Báo Văn nghệ, (Hội Nhà văn Việt Nam) Tạp chí Văn nghệ Quân đội, (Bộ Quốc phòng) và Tạp chí Văn học (Viện Văn hiọc thuộc Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam) thực sự là Tứ trụ về lĩnh vực Văn học Việt Nam.  Có thể nói, ở đấy, chủ trương, quan điểm , sự chỉ đạo về văn  học nói riêng và văn hóa văn nghệ mói chung được thể hiện rõ nhất. Đó cũng chính là yếu tố cơ bản làm nên cái uy của những cơ quan này trong làng văn học nghệ thuật ở nước ta. Cũng vì lẽ ấy, các văn nghệ sĩ, nahf thơ nhà văn, các biên tập viên làm việc ở đấy được hưởng lây cái uy .
Với những ai đó oai thế nào thì tôi không rõ, song với văn nghệ sĩ người nhà Đài thì không. Trúc Thông không giống các đồng nghiệp như nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, Trần Nhật Lam, Trần Nguyên Vấn, Trần Mạnh Thường, Lê Đình Cánh ở sự giản dị, dễ gần, mà cũng không thỏa mãi, cởi mở như nhà thơ Trường Hữu Lợi, Lâm Huy Nhuận,,, Ông nhẹ nhàng, lịch  thiệp đấy song không dễ gần. Thế nên, mỗi khi gặp hoặc tiếp xúc gần với ông, tôi đều giữ sự kiêng nể, cẩn trọng trong thái đọ và lời ăn tiếng nói. Tôi cảm nhận từ ông, gần đấy mà xa ngay đấy, dễ chịu dấy nhưng khó tính ngay đấy,...
Với tư cách nhà thơ, Trúc Thông  có xuất bản vài tập tiểu luận phê bình văn học và bình thơ, song tôi nghĩ, sự nghiệp chính của ông vẫn ở thi ca. Mà chủ yếu là những tập thơ: Chầm chậm tới mình (1985), Maraton (1993), Một ngọn đèn xanh  (2000) và Vừa đi vừa ở (2005). Năm 2017, nhà thơ Trúc Thông được Giả thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, là sự hgi nhận xứng đáng cho những đóng góp của ông trong lĩnh vực thi ca. nhất là sự tìm tòi không mệt mỏi trên hành trình đổi mới thơ Việt  thời kỳ hiện đại,...
Trước hết, Trúc Thông thuộc số các  nhà thơ theo đuổi chủ trương đổi mới thơ Việt. Ông cẩn trọng, kỹ lương và có gì đó cầu kỳ trong từng câu chữ, đến tít bài thơ và cả trong việc  đặt tên tập thơ. Tôi nghe một nhà thơ kể rằng, một nhà thơ đàn anh và là đồng nghiệp của Trúc Thông từng nhận xét về thơ ông, “Trúc Thông là người đau chữ đau câu,...”.  Không rõ thực hư sao, nhưng cứ lẽ mà suy thấy cod lý. Trở lại với việc nhà thơ Trúc Thông đặt tít bài, têt sách thì biết. Nghe đâu, cũng như việc ông đặt tên cho con, các ái nữ của mình....
Nói có lý, còn bởi, đã có lần, trong lúc đàm đạo văn chương ở Ban Văn học nghệ thuật nhà đài, tôi nghe Trúc Thông cao hứng bày tỏ quan điểm của mình, rằng “Thơ khi in, trên báo hay vào sacsgh, nên in khổ chữa to, để câu chữ nào p không có chỗ ẩn nấp”. Thế này thì rõ là “đau chữ đâu câu” chứ đâu? Cứ theo quan điểm này của nhà thơ Trúc Thông, tôi thử suy luận, ông coi mỗi bài thơ như một bông lúa. DĨ nhiên, hiếm có bông lúa nào toàn bộ hạt đều căng mẩy cả, thế nào chẳng có dăm ba hạt lép, thậm chí rất nhiều hạt léo. Thế nên, mỗi bài thơ, những câu chữ hay là nhưng hạt mẩy, còn câu chữ độn, câu như văn nói, hoặc ngô nghê là những hạt lép. Nhìn cả bông khó thấy hạt lép, cũng như đọc cả bài thơ, câu chữ dở, lép lẩn trong cả bài. Vậy mới phải tìm cách để câu chữ dở, lép không có nơi ẩn nấp, lộ diện ra,... Quả là ý tưởng đọc đáo, khác người. nhưng cũng không dễ làm chút nào.
Trở lại thơ Trúc Thông. Sau Chầm chậm tới mình (hẳn là nhà thơ tìm đường hướng,giọng điệu?), Ông tự tin,bắt đầu tăng tốc với Ma-ra-tông, rồi giữ nhịp ở Một ngọn đèn  xanh.  Và sau đó, có chút lắng lại, thoáng băn khoăn ở Vừa đi vừa ở. Khác với nhiều nhà thơ, lấy tên sách như một cách sáng tác, Trúc Thông chọn tên sách với nhãn quan phê bình, thể hiện quan điểm sáng tác của mình. Bao quát, thơ Trúc Thông, du vần điệu hay không, đều hàm súc, suy ngẫm, hình ảnh và giàu sức liên tưởng.
Ngày trước, khi tôi còn tham gia giữ mục cho một tờ báo nọ, tôi từng chon bài thơ “Lát sông quê” và “Nho nhỏ mùa thu “của Trúc Thông để bình. Liên tưởng đến minh triết “Chhẳng một aai có thể tắm hai lần trên một dòng sông”, bài “Lát sông quê,” cùng cảnh tượng trước mắt, tác giả sống lại ký ức xa xưa với hỉnh  bóng bà cụ già, hình bóng người mẹ và câu bé cùng lũ trẻ suốt nửa thế kỷ trôi qua,... như nhau mà lại khác thế, để ngộ ra một sự thật đơn giản “vẫn sông Châu yên lặng thế thôi mà”. Nhưng bà cụ giờ đây rất có thể là con của bà cụ ngày xưa, còn cậu bé “tim loạn nhịp” ngày xưa là tác giả, nhà thơ đứng tuổi lịch lãm phong trần và người mẹ vội chợ ngày ấy giờ đã năm lại ở bờ sông lẫn với đám ngô mà “bờ sông vẫn gió  người không thấy về”.Tim quy luận vận hành của cuộc sống luôn đau đáu và chẳng dễ dễ với Trúc Thông. Tính ông vốn thế mà.
Ở  bài thơ “Nho nhỏ mùa thu”, ngôn ngữ thơ văn xuôi, Trúc Thông tô màu bức tranh: “Đôi chim câu chân son mỏ đỏ, bên bờ con sông Sa Lung/ chim đi đâu đây?/ cúc cù cu chúng tôi kiếm mồi. Cúc cù cu chúng tôi rong chơi? Rồi chim bay vù.Một quãng đáp xuống. Chim lại đi đôi trong cỏ gật gù/ cỏ mùa thu xanh ngả đượm chút vàng. Sông Sa Lung tháng bảy nước chảy phù sa. Trời thu rộng rãi, gió nhè nhẹ trải/ vợ chồng chim như hai anh em như hai bè bạn. Áp trắng ,mắt xườm, chân son, mỏ đỏ. Gật gù đi trong cỏ pha thu.” Nguyên bài thơ như vậy, đầy ắp sắc màu, hình ảnh, sống động, làm nên một bức  tranh thu thật đẹp. Sự cầu kỳ cũng đáng giá đấy chứ?
Bản chất của sự vật và hiện tượng cùng mối liên kết sâu xa của nó mới là mối quan tâm và làm ông bận lòng. Điều này có thể tháy ở một  số bài thơ, như; Cảnh quan, Múa cổ. Qua tháp Dương Long, Vũ nữ Trà Kiệu bước ra từ sa thạch, . Dặn bức tranh năm cô gái, Bài ca các em bé theo công trường,... Ví như, bài Múa cổEm múa điệu rông đô thời cổ/ bàn chân chắc nịch sau làn váy/ da đồng quê/ khăn mận chín vùng vẫy/ ngực căng/yếm sồi/ rông đô/ chân trần tiếp đất/ làng ta thế kỷ mười/ đất âm thầm tự do trong cầm giữ/ rông đô/ trống vỗ/ rông đô/ vai trần/ rông đô/ không biết mệt...”  Cảm giác, Trúc Thông mải miết, không mệt mỏi đi tìm cách diễn đạt mới.
Nhưng thấp thoáng đó đây, lại thấy một Trúc Thông rất đỗi thật thà, chẳng hạn như bài thơ “Cao Bằng”:  “Sau khi qua đèo Gió/ Ta lại vượt đèo Giang/ Lại vượt đèo Cao Bắc/ Thì ta tới Cao Bằng... Rồi đến chị rất thương/ Rồi đến em rất thảo/ Ông  lành như hạt gạo/ bà hiền như suối trong.../ Bạn ơi có thấy đâu/ Cao Bằng xa xa ấy’ Vì ta mà giữ lấy/ Một dải dài biên cương”. Lời thơ giản dị những tình cảm dạt dào. Có lẽ vậy mà các nhà giáo dục đã chọn đưa vào sách giáo khoa Tiềng Việt để giảng dạy cho học sinh bậc tiểu học.
Hay đâu, có một Trúc Thông nhuần nhị, thấm đã tình người, tình mẫu tử trong bài thơ “Bờ sông vẫn gió.” Theo tôi, đây không những là bài thơ toàn bích của Trúc Thông, mà còn là một trong những bài lục bát hayở xứ ta. Hay về mọi nhẽ., ý tứ, ngôn từ, vần điệu,... Cùng câu mở rất gợi, lời thơ ra tựa lời cửa miệng nhẹ bẫng như không mà đằm nặng nghĩa tình ;“Xin người hãy trở về quê/ Một lần cuối... một lần về cuối thôi,Về thương lại bến sông trôi/ Về buồn lại đã một thời tóc xanh/ Lệ xin giọt cuối để dành/ Trên phần mộ mẹ vương hình bóng cha/ Cây cau cũ, giại hiên nhà/ Còn nghe gió thổi sông xa một lần/ Con xin ngắn lại đường gần/ Một lần... rồi mẹ hãy dần dần đi.
Còn  có một Trúc Thông thẩm thơ bằng “con mắt xanh”. Gần bốm chục năm làm biên tập thơ của chương trình Tiếng thơ, Văn học nghệ thuật Đài Tiếng nói Việt Nam, ông đã đọc, đã chọn lựa, bình luận, phê bình hàng vạn bài thơ để giới thiệu cũng thình giả, công chúng. Đây là sự đòng ghóp khồng  nhỏ của Trúc Thông cho sự phát triển của thi ca Việt hiện đại. Cũng nhớ vốn tích luy và kinh nghiệm của ngần ấy năm mà nhà thơ Trúc Thông đã thêm vào gia tình tác phẩm của mình dày dặn.
Với riêng tôi, mấy chục năm công tác cùng cơ quan với nhà thơ Trúc Thông, gặp mặt khi mau khi thưa, ông vẫn cứ thấp thoáng đâu đó, gần gũi đấy mà xa cách đấy, thân thiện đấy mà lành lạnh cách nhỡ đấy,... Về phần mình, tôi luôn kính nể ông, mỗi khi tiếp xuc mạn đàm về văn chương hay cuộc sống, tôi thường nghe ông nói, hơn là chia sẻ, giãi bày,...
Tiếc là, sau nhiều năm năm bệnh sau đột quỵ, hoạt đông văn học của ông phần nào hạn chế. Song với những gì Trúc Thông để lại khi ông rời cõi tạm, bạn bè văn chương và người yêu thơ đát Việt chắc chắn sẽ nhớ đến ông không riêng chỉ “Bờ sông vẫn gió” và tên những tập thơ khác lạ !...
 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
NGUYỄN HUẤN, KỊCH SĨ GIỮA ĐỜI.
 
Vậy là. Nghệ sĩ Ưu tú Nguyễn Huấn đã diễn nốt vai diễn cuối cùng của mình trên sân khấu cuộc đời, ấy là sự ra đi vĩnh viễn của anh sau cơn đột quỵ tịtại Huế vào một ngày đầu tháng 9 năm 2021, giữa lúc dịch Covid 19 mù trời....
Ở tuổi 66, không phải là trẻ nhưng cũng chưa là cao, nếu biết chăm sóc sức khỏe, hoàn toàn có thể thêm mươi, mười lăm nắm nữa, Nghe nói, Nguyễn Huấn đang ;ang thang đâu đó ở Huế rồi đột ngột ngột bị đột quỵ, đưa về quê Vụ Bản, Nam Định rồi mất vào chiều ngày mồng một tháng chín. Với bạn bè và anh em cơ quan thì là đột ngột, song thực ra, Nguyễn Huấn đã sắp đặt cho sự ra đi vình viễn của mình từ mấy năm trước, kh anh bỏ nhà lang bạt kỳ hồ,... Sống như thế, nghĩa là anh đã chọn cho mình cách sống những năm còn lại của mình, kể cả cái chết, có điều, ngày giờ sớm muộn thế nào là chuyện thiên cơ huyền bí mà thôi,...
1. Cách đây khoảng 25 năm, đó là năm 1996, khi mấy chúng tôi làm việc chung phòng với nhau, tôi và Nguyễn Huấn, cùng Phạm Duy Hưng, Trần Nhật Minh. Nguyễn Thị Thu Liên là phóng viên chương trình Tạp chí truyền thanh & Du lịch do nhà báo Thanh Lịch phụ trách. Gần gũi. hay nghe Nguyễn Huấn kể chuyện đời mình, nhất là các cuộc phiêu lưu tình ái của anh, tôi đã lấy chuyện tình của anh với một cố gái xứ dừa Bến Tre làm nguyên mẫu cho truyện ngắn “Bức tranh để lại”. Truyện in báo rồi vào sách, mọi người biết lấy ra trêu Nguyễn Huấn, anh vờ trách và còn khoái trí bịa thêm chi tiết cho ly kỳ. Cái kết của truyện ngắn ấy, nhân vật chính nôi máu giang hồ, bỏ việc đi biệt tăm và nghe đâu bỏ mạng vì tai nạn ở một tỉnh miền Trumg. Nguyễn Huần cười khì bảo :”Mày rủa tao nhá... cứ đợi đấy, tao sống nhăn răng cho chúng mày hay,...”. Quả là Nguyễn Huấn đã sống thêm một tứ thế kỷ, mặc dù qua mấy cơn bạo bệnh, để nối dài vai diễn cuộc đời mình. Lần này, thì anh diễn cố cho xong!...
Nguyễn Huấn quê Kim Thái, Vụ bản, Nam Định, sinh naw,1956 tuổi Bính Thân. Anh hay vui miệng khie, tuổi Con Khỉ nên theo nghiệp diễn là đúng vai đúng số. Nghe đâu, sơ sinh, Nguyễn Huấn nặng tới 4,3 kg, là chuyện hiếm hồi ấy. Bố là công an, mẹ là cán bộ phụ nữ, thuộc thành phần cơ bản, nhưng anh không theo nghiệp học hành mà sớm trở thành công nhân, vì bố mất sớm. Nguyễn Huấn làm công nhân ở Khu gang thép Thái Nguyên với nghề chính là láo xe goòng chở than và quảng. Sau này, những cuộc rượu vui, anh hay đùa về thời kỳ ấy, rằng hàng ngày cứ phải cầm lái điều khiển cái đầu tàu kép dăm toa xe chờ đầy than, quặng chạy đi chạy lại trên một đoạn đường cố định vài trăm mét, không khác gì phải diễn một vai kịch phụ khô cứng và nhạt phèo. Có lẽ vì chán nghề, không cam chịu, Nguyễn Huấn tìm niềm vui trong hoạt động văn nghệ quần chúng. Anh có khiếu kẻ vẽ, cắt giấy, hát hò, diễn kịch nên trờ thành hạt nhân văn nghệ quần chúng ở Khu gang thép Thép Thái Nguyên. Và tôi cớ hội đến, Nguyễn Huấn được đơn vị mình cử đi dự tuyển đào tạo ở Trường Sân khấu Điện ảnh trung ương. Được đào tạp chính quy ở ngôi trường danh giá tạo thủ đii, Nguyễn Huấn bắt đầu làm quen và giao di với nhiều nhân vật có tiếng trong giối nghệ thuật biểu diễn ở trung ương, nên khi tốt nghiệp, anh không muốn quay về chốn cũ, vì như thế, nghĩa là anh chấp nhận vau diễn nhỏ, chẳng biết đến bao giờ mặt mũi mới sủi tăm lên được. Nhưng không quay về cơ quan cũ, cũng đòng nghĩa với bỏ việc chấp nhận cuộc sống tự do, tự lo công ăn việc làm, cơm áo gạo tiền, mà thời bao cấp, những việc ấy còn quan trọng hơn cả sự nghiệp. Thế nhưng, Nguyễn Huấn vẫn sẵn sàng chấp nhận, để đi tìm vai diễn lớn cho cuộc đời mình. Ạnh bước chân vào ngưỡng cửa Nhà hát Tuổi trẻ khi đó có các tên tuổi lớn là Thùy Chi, Phạm Thị Thành, Đức Trung và cùng với lứa diễn viên trẻ đầy tài năng như Lan Hương, Chí Trung, Ngọc Huyền, Minh Hằng, Anh Tú, Lê Khanh vv...
Dường như, vận may chưa mỉm cười với Nguyễn Huấn khi anh chỉ được giao thỉ các vai phụ, vai quần chúng, thậm chí không có vai mà chỉ làm cái việc khiêng vác, bưng bê, kê dọn phông cảnh, kéo phông màn,.. Vài năm như thế. Nguyễn Huấn bỏ việc rời Nhà hát Tuổi trẻ, sống dặt dẹo, tá túc nhà bạn bè, người quen, ở Hà Nội,. Quãng thời gian này, Nguyễn Huấn may mắn bám được vào Đài TNVN (VOV) để theo nghiệp diễn bằng cách viết kịch bản, diễn xuất, đạo diễn kịch truyền thanh. Những năm ấy, ngoài các chương trình như Sân khấu truyền thanh, Văn nghệ quân đội sáng chủ nhật, kể chuyện cảnh giác tối thứ bảy, thì nhiều chương trình khác của Đài TNVN có chủ trương sân khấu hóa bằng các tiết mục câu chuyện truyền thanh, như Công nghiệp, Nông nghiệp, Thanh niên, Phụ nữ, Đại gia đình các dân tộc Việt Nam,.. Cứ loanh quanh, đeo đuổi với ngần ấy, nhuận bút còm nhưng đó là nguồn sống và động lực để Nguyễn Huấn theo nghiệp diễn, vì ở đó. Nguyễn Huấn còn tham nhập vào nhóm kịch sĩ nghiệp dư công tác ở Viện Kiểm sát nhân dân tối cao gồm Phạm Huỳnh Công, Nguyễn Tùng Lâm, Phạm Xuân Chiến,...lấy chỗ tá túc và niềm vui làm nghề,
Tôi lần đầu biết Nguyễn Huấn vào năm 1988 lại là một kỷ niệm và ấn tượng xấu. Khi ấy tôi làm việc ở Phòng Tiếp dân và xử lý đơn thư của Ban Thính giả Đài TNVN do nhà báo Hoàng Đồng phụ trách và nhà văn Đặng Quang Tình làm trưởng ban. Phòng làm việc cua tôi thuộc dãy nhà cấp 4 trong khu trụ sở 58 Quán Sứ, ngay phóa dưới tòa biệt thự kiến trúc Pháp, mơi làm việc của Ban Văn nghệ với các phòng Văn học, Sân khấu và Văn học thiếu nhi. Một chiều, nghe tiếng ồn ào bên ngoài, rồi tiếng chân người chạy, Tôi và nhà báo Hoàng Đồng ngó ra thì thấy một người to béo,mặt đỏ bự, tay cầm chiếc kéo đuổi theo một người già hơn có mái tóc bạc. Miệng anh chàng to béo lảm nhảm đe dọa người kia. Nhà báo Hoàng Đồng nhận ra người đầu bạc là đạo diễn sân khấu truyền thanh Vũ Hà, bèn xồ ra chặn ngay trước mặt anh chàng béo. Người này khựng lại, vằn mắt quát nhà báo Hoàng Đông bằng tiếng Nga: Kto? *Mày là ai?. Miệng hỏi tay lăm lăm chiếc kéo nhọn. May sao, vừa lúc ấy, biên tập viên Hồ Nhật Quang chạy đến kịp vòng tay ôm ngang ngươi chàng béo, vừa quát vừa dỗ dành, ngăn được vụ ấu đả có thể đổ máu. Sau đó, tôi biết được chàng béo say rượu quạy phá gây rồi hôm ấy là Nguyễn Huấn.Bữa đó, Nguyễn Huấn đến Đài lấy nhuận bít, rồi vui miệng rủ Vũ Hà và Hồ Nhật Quang đi nhậu. Quá chén rủ nhau về cơ quan, chuyện nọ dọ chuyên kia thành cãi nhau và thế là xảy ra xô xát. Cái tật say rượu hoặc mượn rượu để quậy ăn vào máu thịt Nguyễn Huần thành tính, mà sau này tôi hay phải chứng kiếm, thậm chí là nạn nhân của Nguyễn Huấn khi về chung phòng làm việc với nhau. Được cái, Nguyễn Huấn là người phục thiện, khi tỉnh rượu, tĩnh trí, biết xin lỗi bạn bè nên mọi chuyện cũng qua.
Lân la rồi chẳng hiểu sao, Nguyễn Huấn xin được vào học việc ở một phòng phát thanh mới thành lập là Nhà nước và Pháp luật do nhà báo Lê Thông phụ trách, cùng với mấy phóng viên mới là Đàm Hoa và Nguyễn Sĩ Lý. Nhà báo Lê Thông bản tính thân thiện, ôn hòa và bao dung nên ông dung nạp được con ngựa bất kham Nguyễn Huấn mà không để xảy ra chuyện gì đáng tiếng cả. Khi ấy, Đài đã bắt đầu tổ chức tuyển dụng theo hình thức thi tuyển và Nguyễn Huấn đã vượt qua được kỳ thi để trở thành phóng viên chính thức của nhà đài. Sau này, Nguyễn Huấn vui miệng kể, thực ra anh còn nợ môn ngoại ngữ (đăng ký thi tiếng Nga) nhưng không đạt điểm tuyển. Nhà báo Trần Quang Khải khi đó là Trưởng ban Ban Tổ chức cán bộ của Đài bảo, vì tiếc chất giọng vàng của Nguyễn Huấn mà cho nợ ngoại ngữ. Quả là, vào Đài, Nguyễn Huấn đã phát huy được chất giong tốt trời phú và khả năng diễn xuất của mình cho làn sóng của Đài, không những thế đây còn là chiếc cần câu cơm khi anh làm thêm, diễn thuê, đọc quảng cáo thuê. Nguyễn Huấn vào Đài nợ môn tiếng Nga là thế, nhưng đã có lần, tôi chứng kiến, trong một chuyến công tác, khi cần giao lưu với cơ sở, anh ngà ngà say, đã ôm ghi ta hát bài Đôi Bờ bằng tiếng Nga khá chuẩn xác, hay và đầty cảm xúc. Anh có khả năng bắt chước của một kịch sĩ và nhờ khả năng này Nguyễn Huấn hóa giải nhiều chuyện không hay do anh gây nên để thoát hiểm. Tội và nhiều bạn bè đều biết vậy, bực đấy nhưng khó giận lâu được. THực ra, ẩn trong khả năng sự diễn của một kịch sĩ, là sự phục thiện của Nguyễn Huấn. Thời còn ở chung phòng với Nguyễn Huấn, cùng Phạm Duy Hưng và Trần Nhật Minh, mỗi khi thấy Nguyễn Huấn giả lả nói cười cầu tài sau khi anh gây chuyện, mấy chúng tôi lại nháy mắt nhau hàm ý “lại diễn đấy”, tồi thì bỏ qua cho nhau cả.
Kể chuyện Nguyễn Huấn mà quên không nhắc chuyện “liên kết mậm giềng” của anh thì thật thiếu sót. Đây là câu chuyện đời thực nhưng đầy yếu tố hài hước như chuyện ở một sân khấu hài kịch. Chuyện này lý giải đời Nguyễn Huấn chính thức ba đời vợ và mỗi thị sinh cho anh một công chúa, hay như cách nói dân dã của anh là vịt giời hoặc chữ nghĩa là hoàng tử đái ngồi. Cứ như lời Nguyễn Huấn kể, tôi chấp nối lại thì toàn cảnh thế thiếp của Nguyễn Huấn nhứ sau: Thời còn là công nhân lái tàu goòng ở Gang thép Thái Nguyên, anh sớm lấy vợ và có con gái đầu lòng. Cô vợ này sau đi lao động ở Nga và vợ chồng ly hôn. Tiếp theo, lang bạt về quê, Nguyễn Huấn tán đổ một cô công nhân ngành dệt thì phải và kết cục của cuộc hôn nhân thứ hai này cũng là một con gái. Mãi sau này, khi đã là phóng viên nhà Đài, trong một chuyến công tác lên Đoan Hùng, Phú Thọ, Nguyễn Huấn tình cờ làm quen với một cô giáo dạy mầm non người dân tộc Tày, lấy làm vợ rồi đưa theo về Hà Nội. Rốt cuộc, lại thêm một cô con gái nữa ra đời. Vậy là, liên doanh mậm diềng của Nguyễn Huấn thất bại hoàn toàn. Ba đời vợ, mỗi nàng sinh hạ cho Nguyễn Huấn một công chúa. Nguyễn Huấn vẫn hậm hực, tim cách liên doanh tiếp với hy vọng cho ra một mậm diềng (con trai) đặng có người nối dõi tông đường. Thế nhưng, trời đâu có chiều lòng người. người muốn song trời chẳng gật. Trước tuổi nghỉ hưu vài ba năm, Nguyễn Huấn bị một cơn tai biến nhẹ, nằm nhà cả năm trời. Dẫu không méo miệng, bại tay, thọt chân, hay bán thân bất toại thì cơ thể cũng chậm chạp, chỉ đi nhẹ nói khẽ, loanh quanh trong nhà mà thôi. Đành nghỉ hưu trước tuổi mầy năm, song Nguyễn Huấn cũng không đến nỗi thiệt thòi lắm. Về chức vụ, hàm phó vụ trưởng, về nghề nghiệp, phóng viên chính, nghệ sĩ ưu tú chuyên ngành kịch phát thanh, huân chương Lao động hạng 3.
 
2. Nguyễn Huấn là người yêu thơ, là tác giả của hàng trăm bài thơ, ...song chẳng mấy quan tâm. Hình như, ờ vào thời kỳ chiến tranh gian khó và thời bao cấp khổ ải, nhiều người lấy thơ ca làm chỗ dựa tinh thần, nuôi dưỡng tâm hồn thì phải. Nguyễn Huẫn cũng là người như vậy. Sau này  Nguyễn Huấn có tập hợp in thành tập, ( tập Bóng đời, NXB Hội Nhà văn 2009)  nhưng cũng làng nhàng nên chỉ bạn bè, đồng nghiệp biết anh dính dáng thi ca. Là người thực tế, Nguyễn Huấn sớm nhận thtuwsc, thi ca không nuôi soongss bản thân nên anh chọn nghề kịch. Sáng tác kịch, diễn kịch phất thanh, rồi công tác tham gia các hội diễn văn nghệ quần  chúng ngành nghề. Miễn là có tiền tuowi thóc thật để lấy cái ăn cho vào miệng, và thi thoảng góp tiền nuôi con cho các bà vợ đã mất công sinh ra các tiểu thư, công chúa cho mình.
Tôi nhớ, trong nhiều chuyến công tác đi các địa phương với tôi, lúc trà dư tửu hậu, Nguyễn Huấn cao hứng đọc thơ anh, thơ tôi và một số bài thơ tình khác mà anh thuộc. Mục đích làm gia vị cho các cuộc nhậu thêm màu sắc mà thôi. Đã có lần, lucd ngà ngà say, Nguyễn Huấn mượn rượu, viện dẫn người này kẻ nọ, dính vào thơ, đam mê thơ, tôn thờ thơ và cũng thân tàn ma dại về thơ. Nguyên Huấn nửa đùa nửa thật khuyên tôi: “ Ông chớ dấn vào thơ mà khốn đấy nhé. Ông là dân văn xuôi thì cứ văn xuôi mà tẩn. Thơ phú đôi câu để tán gái và làm duyên với đời chút đỉnh thôi...”. Ngẫm ra, thấy Nguyễn Huân cũng có lý. Nhưng mà, cái gì chót thích rồi thì đâu dễ bỏ. Tôi vẫn văn xuôi là chính, song thơ túc tắc, cũng dăm bảy tập rồi. Còn với Nguyễn Huấn, nói vậy thôi, chứ từ khi nghỉ hưu, nằm khoèo một chỗ, nhất là khi khỏe lại, lang thang trên đường, dường như chỉ có thơ (sau miếng ăn, cuộc nhâu) là giúp anh chuyên chở sự hưng phấn hay nôi cô đơn cơ nhỡ,... Trang cá nhân trên mạng xã hội của mình, Nguyễn Huấn trải lòng bằng những bài thơ... Ví nhuw “SócTrăng nhớ” làm vào cuối naem 2018 nơi từng ghi dấu một thời trai trẻ lang bạt kỳ hồ đây những lỗi lầm: “Anh sẽ đưa em về/ Bến Nguyệt Giang vắng gió/ Chiều Sóc Trăng đò nhỏ/ Chở lời thề sang sông/ Dù đục và dù trong/ Thì muôn đời vẫn thế/ Câu dân ca dâu bể/ Mãi day dứt khôn cùng/ Người ơi !/ Và Sông ơi!/ Đừng vô tình như thể/ Nhớ không chiều cửa bể/ Mây nước buồn nghiêng em/ Bãi bờ rưng rưng mắt/ Phù sa xanh tóc dừa/ Người xưa !/ Và sông xưa !/ Chở ta về ký ức/ Mùa Ghe Ngo háo hức/ Rực rỡ hồn Khmer/ Sông Trăng buồn sắt se/ Chiều nhớ nhung hoang hoải/ Thế mà người đi mãi/ Cô đơn một bóng thuyền/ Thế mà người đi mãi// Sóc Trăng vẫn nặng duyên tính”.  Hay như bài thơ “Em và thu “ làm ngày 10.8.2021  không lâu trước ngày Nguyễn Huấn ra đi vĩnh viến cũng một tông như vậy: “Có phải em/ MÙA THU/ Lá vàng lơi lơi/ đường vắng/ Thu lại mùa .../ em vẫn em/ Hình như/ câu Thơ/ của mùa Thu cũ/ Em tít tắp xa/ nơi miền xanh núi ngủ/ Từng đêm.../ vòng tay thả hững hờ/ Thu cùng em/ câu đợi, câu chờ/ Cúc vườn nhà/ vàng lên như nắng/ Hoa hát em nghe/ lời trống vắng/ Và nói hộ lòng/ em mãi mãi/ yêu anh/ Ở bên ni/ vẫn bát ngát xanh/ Huế giao mùa/ dòng trong ngăn ngắt/ Bến Sông Hương/ anh đi tìm câu hát/ Thương nhớ duyềnh lên/ mỗi độ Thu về/ Câu thơ em ngân nga/ quấn quýt níu chân đi/ Cúc Quỳ vàng ruộm/ cho ai cay mắt/ Lễ giao mùa/ năm nay Cô víc/ anh nỏ về được mô ? Anh không về/ Câu Nam bình mượn Thu/ một chút nồng nàn/ em ru giấc/ Một chút se se/ một chút vàng/ Em vẫn em/ Thu vẫn
Thu sang ,..


Dường như, cái nghiệp diễn kịch thấm vào con người Nguyễn Huấn, ảnh hưởng đến cách ứng xử hằng ngày, cũng như trong nghề báo của anh. Và với thơ phú cũng vậy. Ý tứ có chút tính kịch, câu chữ lại càng rõ, chất hội họa thêm chút khoa trương kiêu diễn viên thoại sân khấu vậy. Thôi không sao, mỗi người mỗi vẻ, chẳng mấy quan trọng. Miễn sao Nguyễn Huân thấy vui, hay yên lòng mình là được, bởi nhiều nhà thơ lớn con ối bài ngô nghê, ối câu khờ khạo nữa là,... Thơ tình đã vậy, thơ thế sự của Nguyễn Huấn còn đạm chất khoa trương hơn. Ví như bài thơ tặng người cha nguyên là bộ đội Điện Biên của mình, bài Cha tôi và Điện Biên nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng Điện Biên: “Thấp thoáng gương mặt cha tôi/ Ào ào đi trong câu hát/ Diệu kỳ Điện Biên mở trang cổ tích/ Người lính trẻ trung theo đồng đội tìm về/ Cuộc chiến xưa băm nát ngực làng quê/ Súng bom thù xé ngang trời Tây Bắc/ Mẹ kể rằng: đêm trùng trùng câu hát/ Phía “ Vừng đông hửng sáng”* người đI/ Hiền lành như bông lúa rễ tre / Trong như giọt chuông/ chiều trong trẻo / Lành hiền câu dân ca cò lả / Từ biệt quê hương / son sắt lời thề / Điện Biên ơi hãy nói nhỏ tôi nghe/ Căn hầm nào đồng đội cùng cha thức/ Giọt mưa dầm lạnh giữa lòng cơm vắt/ Nòng súng đăm đăm phía quân thù/ Chiến hào Him Lam/ nhành ban nở ngày xưa/ 50 năm Xuân này thao thiết quá/ Có phải không cha: cánh hoa ban ấy/ Trắng ngút ngàn phút lấp lánh Điện Biên/ Giữa rợp trời mầu cờ đỏ thần tiên/ Bản mường vang khúc reo hò chiến thắng/ Cha về nhé - sớm nay - cùng nắng/ Hòa vào đoàn quân giữ nước kiêu hùng/ Bài ca hóa lửa vừng đông/Bóng cha xanh mướt cánh đồng Điện Biên...
Thơ ca làng nhàng vậy thôi, nhưng trong nghề kịch truyền thanh, Nguyễn Huấn là một người làm nghê hết sywsc nghiêm túc. Cùng với các nghệ sĩ, đạo diên sân khấu truyền thanh Vũ Hà, Nghi Xuyên, Nguyễn Huấn có những đóng góp nhất định trong lĩnh vực sân khấu truyền thanh không những trên làng sóng Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) mà còn hệ thống phát thanh cả nước. Gjui nhận cuối đời về nghệ thuật của Nguyễn Huấn-danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú (NSUT) trong lĩnh vực Kịch truyền thaf thanh hoàn toàn xúng đáng. Không nghững vậy, Nguyễn Huấn còn mang chất kịch, đặc biệt nghệ thuật sử dụng âm thanh, tiếng động trong nghè báo phát mthanh và lịch vực quang cáo khá thành công.... Thời kỳ Nguyễn Huấn làm việc ở Chương trình Tạp chí truyền thanh cùng với tôi và các phóng viên Phạm Duy Hưng, Trần Nhật Minh... là những năm tháng Nguyễn Huấn say nghề nhất. Nguyễn Huấn đã phát huy hết khả năng chất kịch trong con người và kiến thức của mình để sáng taojm từ khâu kịch bản đến đạo diễn, diễn xuất của mình, để tạo nên những sản phẩm phát thanh chất lượng cao,...
 
3. Một sáng chủ nhật (tháng 9/2018) , sau khi nhâm nhi tách cafe đen không đường, thưởng chút hơi thu mát mẻ, bật máy, định viết một cái stt. Lưỡng lự chưa biết viết gì thì điện thoại reo, Nhìn số máy lạ, nhưng vẫn nghe. Một giọng đàn ông ấm, hỏi tôi có biết anh ta là ai không, Tôi nghe quen quen, nhưng không đoán ra là ai. Sau một hồi chất vấn với hàng loạt câu hỏi, không cho tôi trả lời, anh ta bảo "Huấn đây. Nguyễn Huấn đây". Nguyễn Huấn thật sao? Thực lòng, khi nghe máy, đầu óc tôi không hề nghĩ đến Nguyễn Huấn, bởi anh bị bệnh, "lặn không sủi tăm" những dăm, bảy năm nay rồi. Giờ thì không còn nghi ngờ gì nữa. Cả hai vui quá, tranh nhau nói... Một hồi, Nguyễn Huấn trách:"Ông vào Fb chưa? Tôi gửi yêu cầu kết bạn với ông rồi đấy". Quả là, lúc vừa vào mạng, tôi thấy mục xin kết bạn nổi cái nick Nguyen Huan Hue, có ngó qua, nhưng avatar nhỏ quá, tôi nhìn không rõ, nên chưa vội ok. Thói quen của tôi, hễ ai yêu cầu kết bạn, nếu không phải là người quen cũ, thì tôi cũng phải vào trang đó xem họ là ai, viết thế nào, rồi mới chấp nhận... Thì ra, anh bạn già lại kèm thêm cái tên của vợ vào, nên tôi không nhận ra... Vậy là hai thằng í ới đến gần nữa tiếng... Sau hôm đó, gần như ngày nào tôi và Nguyễn Huân cùng alo cho nhau, này nọ. Tôi biết anh khỏe lại được mấy tháng nay, là nhờ gặp thầy gặp thuốc, chữa căn bệnh "thần kinh chập mạch" từ gần chục năm nay, khiến anh phải nghỉ hưu sớm khi đang đương chức Phó trưởng ban Ban Kiểm tra và UVTV-thường trực LCH Nhà báo VOV... An ủi, khi đó, anh đã xong cái danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú...
Nói căn bệnh "thần kinh chập mạch" là nói vui, nhưng cũng là thật. Năm 2011, Nguyễn Huấn bị tai biến nhẹ. Anh nghỉ chữa bệnh, tưởng chừng dăm tháng là có thể đi làm lại. Ai cũng nghĩ vậy, bởi nhìn vẻ ngoài, chân tay bình thường, mặt mũi cũng vậy, nhưng cái khác là ở độ nhanh chậm. Ví dụ, trước đấy, anh nhanh mười thì sau chỉ còn ba, bốn phần. Rồi anh đành phải nghỉ hưu sớm. An phận vậy đã hơn dăm năm nay. Cách đây 2 năm. bà cụ thân sinh Nguyễn Huấn mất, tôi cùng một số anh em cơ quan đi viếng ở mãi Nam Định. Gặp anh, Nguyễn Huấn vẫn chậm chạp vậy... Ai ngờ đâu... Lý giải việc này, Nguyễn Huấn giải thích,anh được các bác sĩ Viện Quân đội 103 chẩn trị, châm cứu để chữa căn bệnh các dây thần kinh bị bó lại, chập nhau, tác động đến một số chức năng... Nay anh khỏi bệnh, nhanh nhẹn như hồi nào. Tôi được biết, anh đã tự phóng xe máy đi gặp gỡ anh em bạn bè, và mới đầu tuần, anh đã lên VOV, đóng kịch truyền thanh cho VOV6 được rồi... Thật mừng!
`        Đúng hẹn, Nguyễn Huấn ghé thăm tôi ở nơi làm việc... Dồn nén bao chuyện, cả hai đều muốn bung ra... Vui nhiều, song vẫn đúng là tính chất Nguyễn Huấn xưa,có vui đến mấy, nhưng hẹn ai, làm gì, đúng giờ là dứt ra, để không sai hẹn với người khác. Tôi có chút quà, sách tặng bạn.
Nói theo cách nói thông dụng. NSUT Nguyễn Huấn đã trở lại... và mọi người mong anh, lợi hại hơn xưa !...
Nhưng lợi hại chẳng thấy đâu, Nguyễn Huân trở lại cuộc sống nguyên tính cách xưa, ăn to nói lớn, đi phăm phăm, làm linh tinh, thậm chí còn dữ hơn xưa. Hinh như, Nguyễn Huân sống bù cho gần chục năm tròi bệnh tật ru rú xó nhà, đi nhẹ nói khẽ. Có cảm giác, Nguyễn Huấn hung hổ tận hưởng cuộc sống. Sau liên tiếp gặp gơ lại các bạn bè đồng nghiệp làng báo, bạn học sân khấu cũ, Nguyễn Huấn rời Hà Nội, lang thang đâu đó mãi miền Tây Nam bộ, rồi lên Tây Nguyên,...bỏ lại sau lưng người vợ thứ ba, người đã sinh cho anh cô công chúa út.
Lần gặp cuối cùng của tôi với Nguyễn Huấn, ấy là vào cuối năm 2018, khi anh theo tôi về quê dịp tôi xây lại phần mộ cha mẹ. Mấy ngày ở quê tôi, anh dốc chuyện, nhậu tưng bừng và quậy cũng ra trò. Tôi nhớ, đêm ỏ quê, Nguyễn Huấn không ngủ mặc dù anh uống khá nhiều. Rạng sáng, anh bổ chửng dậy, bật máy tính, cập nhật trang cá nhân trên Facebook, rồi làm thơ tặng người cha xưa là chiến sĩ Điện Biên, vì hôm ấy đúng ngày Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12. Anh dánh thức, dựng tôi dậy khi trời còn chưa sáng, để đọc cho tôi nghe bài thơ anh vừa sáng tác (tôi đã trích ở phần trước bài viết này)....
Sau lần ấy, tôi chỉ con thấy bóng dáng Nguyễn Huân thấp thoáng qua Facebook của anh, hoặc dòng tin nhắn trên điện thoại, khi hỏi thăm này nọ, khi tỏ ý muốn được giúp đõ chút đỉnh về tài chính,... Lần theo dấu vết, bạn bè và người thân biết là Nguyễn Huân vẫn lang bạt đâu đó khi thì miền Cửu Long sóng nước, lúc lại miền Trung nắng gió hay Tây Nguyên bạt ngàn rứng núi. Cả thời kỳ dịch Covid19 mù trời, Nguyễn Huấn vẫn đâu đó trên đường. Hẳn là ông giời bắt tội đầy anh phải đi. Thế thôi, biết giải thích sao đây,...? Dường như những ngày tháng cuối đời lang bạt này, Nguyễn Huấn quên mất lời tự răn mình và khuyên nhủ bạn bè là chớ đắm mình vào thơ mà khốn khổ, anh chỉ còn mấy mối quan tâm, ấy là miếng ăn vào miệng cho đỡ xót lòng và cùng với đó là Em và Thơ. Trân trang cá nhân của Nguyễn Huấn nhan nhản thơ tình,. Thơ về những vùng đất mà anh từng đặt hân đến...
Tôi không rõ lá số Tử vi của Nguyễn Huấn cụ thể ra sao, nhưng cứ cuộc đời anh mà suy thì hẳn cung Di và cung Nô của Nguyễn Huấn phải có sao tốt, nên chỉ khi nào Nguyễn Huấn còn đi được ấy là Nguyễn Huấn tồn tại, và hình như đến đâu anh cũng gặp được những người tử tế giúp đỡ, phò trợ ?... Thời bao cấp khốn khó, Nguyễn Huấn đã sớm ý thức việc lưu giữ những hình ảnh ghi dấu chân mình. Anh có chiếc máy ảnh cơ cũ kỹ nhưng vẫn chụp tốt, nên đến đâu cũng chụp dăm ba pô ảnh lưu niệm. Thời phim ảnh dắt đỏ song Nguyễn Huấn không tiếc tiền, chụp xong về chọn hình rửa thành ảnh hẳn hoi và mỗi khi trở lại nơi cũ, anh mang theo ảnh tặng lại cho chủ nhà. Mỗi lần vậy, Nguyễn Huấn ranh ma nháy mắt với tôi nói nhỏ:”Mỡ nó rán nó ấy mà...”. Nhờ thế sau này, tôi lưu giữ trong album của mình nhiều hình ảnh về Nguyễn Huấn và tôi cùng đồng nghiệp báo chí khác...
Và cho đến một ngày (kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2021), Ông Giời bảo Nguyễn Huấn dừng lại thôi, vì biết anh quá mỏi chân rồi!...? Sân khấu cuộc đời anh, cánh màn nhung đã khép lại rồi, chẳng cần anh phải diễn thêm nữa,... Khi sống, thi thoảng sau những cơn say, Nguyễn Huấn nhập đồng diễn, làm phiền không ít người. Giờ thì bạn bè ai đó có muốn được Nguyễn Huấn làm phiền cũng không được nữa rồi,
Nguyễn Huấn, chàng kịch sĩ giang hồ lãng tử ơi, bạn bè, đồng nghiệp làng báo, chẳng quên anh đâu !...
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
NGƯỜI CẢ ĐỜI MẢI MÊ ĐUỔI MỘT CON DIỀU ...
 
Ấy là nhà thơ Đồng Đức Bốn,
Người yêu thơ xứ mình, hầu như đều thuộc vài ba câu thơ của Đồng Đức Bốn. Đó là may mắn và hạnh phúc của Đồng Đức Bốn trong thời buổi loạn thi ca này,...
Những câu thơ ấy, như: “Cành hoa sắc một lưỡi dao/ Vì yêu tôi cứ cầm vào như không”; “Mải mê đuổi một con diều/ Củ khoai nướng đẻ cả chiều thành tro”; “Chiều nay Hồ Tây có giông/ Tôi ngồi trên sóng mà không thấy chìm”; “Xong rồi chẳng biết đi đâu/ Xích lô Bà Triệu ra cầu Chương Dương”; “Đang trưa ăn mày vào chùa/ Sư ra cho một lá bùa rồi đi/ Lá bùa chẳng biết làm gì/ Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày”; “Trở về với mẹ ta thô/ Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ”; ‘Đừng buông giọt mắt xuống sông/ Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm”; “Đợi em ở trước cửa thiền/ Lá cây rụng một chiếc thuyền đang trôi” ... Đại loại vậy. Dẫu chỉ thế thôi những tưởng cũng là đủ với người làm thơ!?... Song không, Đồng Dức Bốn còn có nhiều hơn... Tôi nghĩ thế.
Trước tập thơ CHĂN TRÂU ĐỐT LỬA (NXB Lao động, 1993), Đồng Đức Bốn xuất bản tập thơ đầu tay, CON NGỰA TRẮNG VÀ RỪNG CÂY CỎ ĐẮNG (NXB Văn học, 1992), và sau đó, từ năm 2000 đến năm 2006, Đồng Đức Bốn còn xuất bản thêm 4 ấn phẩm nữa, nhưng riêng tập CHĂN TRÂU ĐỐT LỬA, với 112 bài thơ ở vào thời kỳ tác giả vừa độ chín sáng tạo, thiết tưởng cũng đủ để nhận diện một tài năng thơ Đồng Đức Bốn, đặc biệt thể Lục bát.
Quả thật, tập "Chăn trâu đốt lửa", thơ lục bát chiếm già nửa. mà hầu như bài nào cũng đọc được. Vậy là, lục bát viết được như như thế không phải dễ, không phải ai, nhà thơ nào cũng viết được.
Nào thử xem Đồng Đức Bốn làm gì với mớ lục bát của mình?

@ Trước hết, Đồng Đức Bốn sử dụng ngôn ngữ dân gian, câu cửa miệng, thản nhiên nói ra như chẳng có gì, mà lại có gì vậy.
Ví như, bài CUỐC KÊU, mở đầu: “Cuốc kêu như thể cuốc kêu/ Ngàn năm cái giọng vẫn đều thế thôi”, đúng là chẳng có gì thật, nói ra là để nói, thế thôi. Câu tiếp theo: “Bụi tre bụi dứa tan rồi/ Cuốc kêu ai biết cho lời cuốc đâu”, thấy như có cái gì đó rồi. Câu tiếp: “Đường đời còn lắm bể dâu/ Trắng đen còn một Mỵ Châu để buồn”, có chuyện lớn rồi đó, mà chuyện quốc gia đại sự, chuyện hưng vong của cả một dân tộc. Lại tiếp: “Thì cho chớp bể mưa nguồn/ Cuốc kếu vẫn giữ cái hồn cuốc kêu”, đã là sự suy ngẫm, triết lý sinh tồn rồi đấy. Câu tiếp nối: “Tôi nghe nẫu cả những chiều/ Câu thơ ngã xuống đổ xiêu quán chùa”, trở về với suy tư cá nhân về lẽ đời. Và bất ngờ: “Thoắt nghe dựng tiếng gươm khua”, kết để mở ra một chương mới,... Tôi thích bài thơ này, bởi tính giản dị như không của nó, mở đầu là nói một việc thường nghe thường thấy, ai cũng biết, song chẳng mấy người lưu tâm, ấy là tiếng cuốc kêu mỗi ngày, chẳng cần đao to búa lớn, rủ rỉ dẫn dắt đến việc đại sự, lẽ sinh tồn và bài học giữ nước cả cả dân tộc.
Hay như bài ĐỢI CHỜ THÁNG BA, mở đầu cũng bằng một việc hết sức bình thường: “Bây giờ chờ đợi tháng ba/ Tôi ra đứng ở cây đa đầu làng”. Đúng là chắng có gì, thậm chí là vu vơ vớ vẩn, cũng phải. Song câu tiếp theo: “Khói nhà ai cứ mọc ngang/ Con nhà ai cứ lang thang chợ chiều”, thì quả là bắt đầu có chuyện rồi. Nào xem có chuyện gì: “Lề dường trong những chiếc lếu/ Có cô hàng xén ngồi vêu cả ngày”, thấy chút lộ diện chút về một làng quê nghèo, chẳng mấy ai mua bán gì. Nhưng tiếp đến: “Ngả nghiêng mấy lão thợ cày/ Rượu say vác cả cối chày nện nhau”, thì rõ rồi, nghèo, không có việc làm, sinh “nhàn cư vi bất thiện”. Ai cũng biết, tháng ba là tháng giáp hạt, hay đói kém. Làng xóm giàu có, người dân của ăn của để thì đỡ, chứ vốn thiếu thốn triền miên thôi rồi. Vì nghèo nàn, đến thần phật cũng mất thiêng, bất lực, còn dân chúng lo thân chẳng xong, nghĩ gì đến thần phật, mà lễ bái: “Miếu thờ phật tượng ngồi đau/ Cửa thiền rêu đã lên màu cổ xưa”. Để rồi kết ở câu thơ khiến người ta phải suy nghĩ: “Tháng ba vẳng tiếng chuông chùa/ Bây giờ tôi đợi bóng vua về làng”. Bài thơ với một cái kết như vậy là tiếng chuông cảnh tỉnh, báo động. Vua quan gì đâu, ấy là lời thỉnh cầu khẩn thiết về một sự quan tâm của các nhà quản lý đất nước, cần phải làm gì đó để thay đổi cơ chế, đem lại công ăn việc làm cho người dân, thoát nghèo, làm giàu,...
Cái lối mở đầu cửa miệng thản nhiên như không ấy, để rồi gây sự, xưng mọc về những chuyện đâu đâu ấy, khá phổ biến trong thơ Đồng Đức Bốn. Có thể thấy như vậy trong các bài Cơn mưa dừng ở Sóc Sơn, Chợ buồn, Cái đêm em ở với chồng, Hoa dong riềng, Hội Lim, Sông Thương ngày không em, Đàn buồn lại mắc dây oan, Bờ sông, Nhà quê, và nhiều bài thơ khác của ông...

@ Thơ Đồng Đức Bốn nhìn chung là Gợi.
Trong lời Tựa thơ Đồng Đức Bốn, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, đã phân chia ra mấy loại người làm thơ (loại một là các thiên thần, loại hai là những người khởi nghĩa,...), và ông đưa ra nhận định “Đồng Đức Bốn là một nhà thơ, một người khởi nghĩa”. Tôi chẳng rõ, nói như vậy, Nguyễn Huy Thiệp định dạng Đồng Đức Bốn thuộc loại nào?
Tôi thì thấy, thơ Đồng Đức Bốn nhin chung là gợi.
Nhà nghiên cứu, phê bình văn học nổi tiếng đời Thanh là Viên Mai, trong cuốn sách "Tùy Viên thi thoại" của mình, đã nghiên cứu thơ ca Trung Hoa cổ đại để đưa ra quan điểm, thơ trước tiên ở gợi (sức gợi), và cùng với đó là ý tứ, ngôn từ, nhạc điệu,... Như vậy, thơ hay thì quan trọng ở sức gợi, rồi theo đó là ý,ngôn,nhạc. Tôi đồng tình với quan điểm này. Thế nên, cũng như nhà văn Nguyễn Huy Thiệp nhận định, tôi thấy thơ Đồng Đức Bón hay.
Lại xem thơ Đồng Đức Bốn gợi thế nào ?
“Khói nhà ai cứ mọc ngang/ Con nhà ai cứ lang thang chợ chiều” (Chờ đợi tháng ba), câu thơ thật gợi, khiến người ta cứ phải hình dung xem sao. Hay như, gợi làm sao: “Chăn trâu đốt lửa trên đồng/ Rạ rơm thì ít gió đông thì nhiều” (Chăn trâu đôt lửa): “Em như chim bay về ngàn/ Để rơi một cánh hoa tan nát chiều” (Sông Thương ngày không em): “Nhà em ở chỗ vòng quanh/ Sao tôi đi mãi không thành đường đi(Về Nhổn tìm em): “Cái đêm em ở với chồng/ Để ai hóa đá bên sông đợi đò/ Cái đêm hôm ấy gió mùa/ Tơ nhện giăng đến cổng chùa thì tan(Cái đêm em ở với chồng): “Chuông chùa tiếng đục tiếng trong/ Thảo nào cát bụi long đong thân cò” (Bờ sông): “Bây giờ tuổi đã hoàng hôn/ Tôi ra đứng gió đợi buồn trên sông” (Đợi buồn)...vv... Thơ Đồng Dức Bốn, rất nhiều nhưng câu thơ giàu sức gợi như thế,...
Tôi nghĩ, thơ Đồng Đức Bốn, nhờ sức gợi mà hấp dẫn người đọc.

@ Liên kết lỏng làm nên sức bền thơ Đồng Đức Bốn,
Thơ Đồng Đức Bốn, phần lớn cả bài không rõ ý tứ, liên kết các khổ thơ trong bài cũng lỏng, thậm chí, câu trước, khổ thơ trước như chẳng liên quan gì đến câu sau, khổ thơ sau. Ấy vậy, mỗi câu, mỗi khổ thơ lại có vai trò làm cọc tiêu cho các câu thơ trong bài nương tựa vào nhau mà đứng vững., đến mức, nếu lược bớt đi lại cảm thấy chống chếnh. Các bài thơ Chăn trâu đốt lửa, Cuốc kếu, Chờ dợi tháng ba là những bài thơ có ý tứ rõ ràng, liên kết khá chặt chẽ, chiếm số ít trong thơ Đồng Đức Bốn. Nhìn chung, thơ ông thuộc dang liên kết lỏng, đơn giản, bởi mỗi câu thơ đều mang ý tứ riêng và dường như hoàn thành xứ mệnh của nó rồi.
Này đây, bài Chợ buồn, cả thảy 4 cặp lục bát: “Chợ buồn đem bán những vui/ Đã mua được cái ngậm ngùi chưa em”, nếu chỉ ngắn gọn thì thế cũng thành bài thơ rồi. Nhưng tác giả vẫn thêm “Chợ buông bán nhớ cho quên/ Bán mưa cho nắng bán đêm cho ngày”, rồi lại thêm nưa “Chợ buồn bán tỉnh cho say/ Bán thương suốt một kiếp này cho yêu”, cũng không thừa, vẫn  thêm nữa để kết “Tôi giờ xa cách bao nhiêu/ Đem thơ đổi lấy những chiều tương tư”. Mấy câu sau, tách riêng ra, mỗi cũng thành câu đủ làm nên ý của nó, song tất cả xếp liền với nhau lại làm nên sự dày dặn cho cái kết chung, mà cũng là tâm trạng thực của nhà thơ.
Bài thơ Sông Thương ngày không em, cũng là một bài thơ như vậy. Câu đầu “Không em ra ngõ kéo diều/ Nào ngờ được mảnh trăng chiều trên tay”. Vậy thôi, cũng gợi và mở rồi, để cho người ta mặc sức liên tưởng. Nhưng vì muốn đi đến cái kết chở tâm tư của mình “Không em từ bấy đến giờ/ Bàn tay vẫn héo như cờ chịu tang” thi tác giả phải thêm “Sông Thương như gỗ hóa trầm/ Mùi hương để vết tím bầm trên da”, và “Sông Thương từ buổi em xa/ Tay anh quờ xuống hóa ra bị chàm”. Cảm thấy chưa đủ, tác giả dông dài thêm mấy cặp lục bát nữa, mà câu nào cũng đủ ý của mình “Em đi như chim về ngàn/ Để rơi một cánh hoa tan nát chiều”, “Tôi đi trên dòng sông gai/ Lối chân chim đâu trên vai thành hồ”. Có vẻ như chúng chẳng liên quan gì đến nhau, nhưng mỗi câu đều khá gợi, nên đứng được, riêng mình, hay nương tựa vào nhau thành bài thì vẫn ổn.
Nhiều bài thơ Đồng Đức Bốn là vậy, chiếm số đông, nhất là thơ lục bát. Có cảm giác, khi sáng tác, tác giả chắp nối các câu thơ riêng vào với nhau, hoặc tác giả không làm chủ được mình, mặc cho câu thơ dẫn dắt mình đi, lạc bước, để rồi khi giật mình tỉnh giác, ngơ ngác tìm đường trở về. Các bài Đàn buồn lại mắc dây oan, Thôi đừng hát nữa người ơi, Chiều mưa trên phố Huế, Em bỏ chồng về ở với anh không,... đều thuộcvdạng này.
Lối kết cấu lỏng, dựa vào các câu thơ cọc tiêu ấy làm nên sức bền cho thơ Đồng Đức Bốn. Tựu chung, bài có thể dông dài, hay lan man, khong rõ ý, thậm ý tứ tản mát đi chăng nữa, thì nhờ có một, đôi câu thơ hay, khiến bạn đọc thích thú mà thể tất, mà bỏ qua cho cái tội dông dài của tác giả. Bởi người ta, chỉ cần nắm bắt một câu thơ giàu sức gợi, ấn tượng, hay là thấy đủ, thuộc nagy được, đặng ngâm ngợi hay mang ra bình luận, tán thưởng vui bạn vui bầu lúc trà dư tửu hậu. Vậy là Đồng Đức Bốn làm được điều này, bởi thơ ông có nhiều câu như thế !...

@ Với lại, Đồng Đức Bốn có cái lối, cứ “xưng xưng mọc mọc”, cũng có thể cho là dùng phép “thậm xưng” nói ra cái ý của mình, đặt điều, nói quá lên, đem gán ghép cho người ta những thứ ấy, rồi lấy đó làm cái cớ, chỗ nương tựa, để mà buồn rầu, khổ ải, than vãn này nọ, kiểu bắt đền, ăn vạ,... Ở ngoài đời, nếu ai mà sống và ứng xử thế, cứ cường điệu, làm quá lên mọi chuyện thì thật không ổn chút nào, song trong thơ thì lại ổn, thậm chí là đắc địa, nếu biết tiết chế. Tôi nghĩ, Đồng Đức Bốn rất chi đắc địa và thật lợi hại với thủ pháp này.
Thì những đây: “Em đi từ hạ vào thu/ Gặp tôi ở chốn sương mùa chưa tan/ Em đi từ phái gian nan/ Gặp tôi ở chỗ cung dàn dứa dây” (Về phố Hàng Tre); “Một chiều về phố hàn Thuyên/ Sao em lại nỡ bỏ quên tôi rồi” (Về phố Hàn Thuyên); “Anh từ trong em bước ra/ Tiếng thương tiêng nhớ gấp ba chuông chùa/ Em từ anh ra lạ chưa/ Một ngày những có bốn mùa đổi thay” (Chuông chùa Quán Sứ); “Tôi ngồi làm thơ cho ma/ Và coi quỷ dữ như là tình nhân/ Chán chơi với các vị thần/ Tôi đi tìm cỏ mùa xuân đắp mổ” (Viết bên hồ Hai Bà); “Gọi em một tiếng tưởng xong/ Không ngờ ai nấp trong lòng trộm nghe” (Ở phố Bà Quẹo); “Có ai yêu gỉ bào giờ/ Để tội cái ngõ gọi ngờ Tạm Thương/ Tôi về ngày ấy nhiều sương/ Mà sao chỉ một giọt vương trong lòng” (Ngõ Tạm Thương); “Phố tình bạc bẽo bao nhiêu/ Mà sao tôi vẫn cứ yêu như thường(Nhà em ở sát chợ Mơ); “Ước gì mưa mãi chẳng tan/ Để cho sấm cứ râm ran khắp trời/ Để cho em nép vào tôi/ Ôm chung một giọt mưa rơi xuống lòng(Phố Nối mưa rào);  “Màu hoa đỏ một nụ cười/ Lặng im mà sóng luân hồi dâng cao(Hoa dong diềng); “Một mình đi với một đêm/ Một ddeeem đi với sấm rền trong mưa” (Ở phố Bà Quẹo); “Chiều nay Hồ Tây có dông/ Tôi ngồi trên sóng mà khong thấy chìm(Chiều nay Hồ Tây có dông)...vv... Nhiều làm những câu thơ như thế, nên có thể xem, “thậm xưng” là thủ pháp phổ biến được Đồng Đức Bốn dùng đạt hiệu quả cao.

@ Nếu như trong thơ, Trần Đăng Khoa và trong văn, Nguyễn Huy Thiệp đều chú trọng và rất tài tình trong nghệ thuật tạo dựng không gian truyện, thì trong thơ Đồng Đức Bốn, cái không gian nghệ thuật ấy lại lễnh loãng, thậm chí chẳng có không gian nào. Thế nhưng, gần như bài thơ nào, cũng có câu thơ hay và may sao, tự thân câu thơ ấy làm nên không gian riêng cho mình, hư ảo, ấn tượng, ám ảnh, để người đọc phải nhớ và vì thế cứu vớt cả bài thơ.
Ví như: Bài thơ Bờ sông, câu kết “Bờ sông có một con đò/ Gác chèo ông lão nằm lo trăng buồn”. Tự thân, tạo được không gian riêng có, chẳng cần đến mấy câu thơ trên “Bờ sông hoa cải hoa cà/ Ước chi áo tím như là ai mong”; “Chuông chùa chùa tiếng đục tiếng trong/ Thảo nào cát bụi long đong thân cò”. Hay như: “Tôi là một kẻ mồ côi/ Thế gian mất, tôi còn tôi một mình” (Nửa dêm Đà Lạt) ; Hay như bài Thăm mộ Nguyễn Du, tác giả luận đề “Đời Kiều sao lắm tái tê/ Đời tôi sao lắm đam mê chưa thành”, rồi những câu thơ tiếp nối cứ lan man mỗi câu một ý cho đến khi thấy cần thôi thì tác giả vội kết: “Tôi đi về vẫn dọc ngang/ Câu thơ thập thững nén nhang cho ngươi”,may  câu này lại khá ấn tượng ...Hay nữa, trong bài thơ Tôi là vua không có ngai, câu mở đầu tuyên bố thản nhiên như thế, tác giả triết luận bâng quơ theo cái kiểu “nói đại không chịu trách nhiệm”, là để đi đến cái kết bất ngờ, ngẫm ra mới thấy hay “Chìm trong vương quốc của thơ/ Không cho người được may cờ để treo”,...v.v...

@ Lại có cảm giác, cứ như tác giả sướng gì viết nấy, rồi đem chúng thả chung vào một cái ao và cố tình khoắng loạn lên cho các câu thơ riêng lẻ chao động, trô dạt, và quệt dan díu vào nhau mà thành. La tôi cứ hình dung vậy khi đọc thơ Đồng Đức Bốn, chẳng hay ?
Bài thơ Nhà quê, tác giả chia làm mấy khúc, là cách để đỡ phải mất công nhào luyện vo viên chúng với nhau, bởi nhà quê thì có cả ngàn vạn chuyện, biết nói sao cho hết, mà có nói ngày này sang ngày khác, năm này sang năm khác cũng không hết chuyện. Thế nên, tác giả chỉ buông vài câu “Nhà quê có cái giếng đình,”, rồi “Nhà quê chân lấm tay bùn,” đã thấy chẳng cần phải con cà con kê nữa, dẫu có mang chuyện Thị Màu ra bàn thì mãi cũng nhàm, nên thôi, túm chuyện vào một mớ cho xong “Bao nhiêu là thứ bùa mê/ Cũng không bằng được nhà quê của mình,...”, tự hào kiểu nhà quê, ra điều nhà quê của tớ còn ối chuyện để kể nhưng đây không thèm nhé,... Đây cũng là thói ma lanh, láu cá đầy chất “nhà quê” của Đồng Đức Bốn mà nhà thơ sử dụng trong thơ mình,...
Hay như, bài  Vu vơ chùa Hương, gồm mấy phần, mỗi phần một ý, ngưòi ta có thể quên, song sẽ khó quên câu thơ trong bài, như "Có gì trong tiếng chuông êm/ Quả mơ vẫn héo cả đêm lẫn ngày/ Chùa Hương nghi ngút hương bay/ Phật ngồi cũng héo cả ngày lẫn đêm,". Rồi như bài Qua nhà người yêu cũ, nhà thơ thấy gì nói đó, vu vơ cho có chuyện, nếu như thiếu đi câu hay “Vẫn còn thấy vướng trên môi/ Tóc em một sợi rong chơi lạc vào” thì bài thơ nhạt hoét. Nữa là bài thơ có cái tít rất kêu Thơ viết gửi người tình khi tôi đã chết, cũng đâu  có gì ghê gớm, to tát, chỉ vu vơ thôi, nếu như không có câu dỗi mình giân người “Chết rồi tôi vẫn làm người/ Để nhân những nỗi đau đời cho em”... Chịu khó tìm kiếm, nhặt nhạnh trong thơ ông, dạng thức này không hiêm. Tôi cho, đây cũng là một dạng thức hợp làm nên chất Đồng Đức Bốn.

Bình sinh lúc Đồng Đức Bốn còn chưa là gì cho đến khi trở thành nhà thơ nổi tiếng, được nhiều người biết đến tôi có gặp ông mấy lần. Đôi lần là ở tòa soạn Báo Nông nghiệp (nay là Nông nghiệp Việt Nam) năm trên phố Ngô Quyền, Hà Nội, và một lần đâu đó tại nhà riêng nhà thơ Trương Hữu Lợi. Ngày ấy, một dạo tôi cộng tác thường xuyên cho một chuyên mục của Báo Nông nghiệp, chuyên bình các bài thơ về đề tài nông thôn, nông dân, nông nghiệp ( 3N). Tôi đã chọn bài thơ Chăn trâu đốt lửa của Đồng Đức Bốn để bình. Tình cờ chạm mặt nhau ở đấy, Đồng Đức Bốn nói lời cảm ơn vì việc tôi đã làm, sau đó ông rủ tôi xuống quán chè chén lề đường cửa tòa soạn báo cho tiện nói chuyện. Ông lấy trong cặp tập thơ mới xuất bản ký tặng tôi, ấy là tập Chăn trâu đốt lửa (NXB Lao động, 1993), mà sau này, đọc lại thật kỹ, tôi cho rằng đây là tập thơ hay, nếu không muốn nói tập thơ ấy dồn tụ tinh túy thơ ca của Đồng Đức Bốn ở độ chín, tập hợp được những bài thơ hay, có nhiều câu thơ hay để bạn đọc, người yêu thơ xứ mình đến giờ vẫn nhớ và mang ra bình luận.
Nói như vậy, là để thấy, trước đó tập thơ đầu tay (Con ngựa trắng và rừng quả đắng), và sau đó là mấy tập thơ nữa, thì cái người ta nhắc đến (sẽ còn nhắc đến) phần lớn là những bài thơ, câu thơ nằm trong tập Chăn trâu đốt lửa. Ngay khi làm tập, Đồng Đức Bốn đã nhặt nhiều bài thơ trong tập thơ đầu tay (Con ngựa trắng và rừng quả đắng) mang sang tập Chăn trâu đốt lửa. Rồi sau đó, ông vẫn tiếp tục lựa chọn một số bài thơ hay, được người đọc yêu thích sang làm cốt cho tập thơ mới của mình. Đặc biệt tập thơ cuối cùng của Đồng Đức Bốn xuất bản năm 2006 vào năm ông mất, dày hơn nghìn trang, có thể xem là tuyển tập thơ Đồng Đức Bốn (Chim mỏ vàng và hoa cỏ độc, NXB Hội Nhà văn). Lại cũng không có nghĩa, những tập thơ sau không có những bài thơ hay, câu thơ ấn tượng. Bởi dù có hay không những tập thơ khác của ông thì giờ đây trên không gian mạng, người ta có thể tìm đọc hàng trăm bài thơ được nhặt ra từ các tập thơ của ông, mà có thể xem đó là những bài thơ hay, hoặc được người đọc yêu thích trong toàn bộ thi cả của Đồng Đức Bốn.
Có điều, không may cho Đồng Đức Bốn là không mấy thọ, hưởng dương chưa đến tuổi lục tuần bởi căn bệnh hiểm ghèo, tuy  đã thành danh và thơ vừa độ chín. Giả sử, trời cho ông thọ thì nhà thơ vẫn có thể cho ra thi phẩm hay. Đáng tiếc là vậy. Song tôi nghĩ, với chất thơ này, cùng các thủ pháp sáng tác mà tôi đã nêu ở trên, Đồng Đức Bốn khó có thể tiến xa hơn nữa, hoặc giả chỉ để làm mới mình thôi. Còn như, vẫn tiếp tục giọng điệu ấy, chỉ càng thêm cũ, thêm nhàm, thậm chí, không khéo còn làm nhạt nhòa đi cái đặc sắc mình từng có. Bằng chứng, tính từ thời điểm Đồng Đức Bốn bắt dầu tập tọng thơ phú (khoảng năm 1980) cho đến lúc ông qua đời (2006), với mấy trăn bài thơ, thì đến nay, số bài thơ được người yêu thơ đọc nhiều nhất và thích nhất của ông cũng độ chừng đâu đó mươi bài (Trở về với mẹ ta thôi, Vào chùa, Chăn trâu đốt lửa, Em bỏ chống về ở với ta không, Đời tôi, Chợ buồn, Chờ đợi tháng ba, Nhà quê, Cái đêm em ở với chồng, Đêm sông Cầu, Bờ sông,...). Tất nhiên, nếu tính theo đơn vị câu, thơ Đồng Dức Bốn khá có nhiều câu thơ hay, gợi, được ngươi ta nhớ và thích,... Chí ít, ông có sự vinh hạnh vì mình đã gây được ảnh hưởng đến người khác.Và tôi tin thế, bởi đã thấy, những câu thơ gợi và hay của Đồng Đức Bốn thực sự ảnh hưởng đến nhiều cây bút thơ sau ông, cũng như một thời, ối cây bút văn xuôi xứ ta bị ảnh hưởng, chi phối bởi giọng điệu, khí chất Nguyễn Huy Thiệp, trong sáng tác của mình,...
Chuyện cuộc đời ông, tôi không mấy biết về Đồng Đức Bốn. Tuổi Mậu Tý, mệnh "Tích lịch hỏa" cùng với ông (sinh 1948), làng văn chương xứ Việt mình nhiều người có tài (Văn Chinh, Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Hiếu,... ). Bản thân Đồng Đức Bốn xuất thân con nhà nông dân nghèo ở An Hải (Hải Phòng), song ông lăn lộn qua nhiều loại nghề (Thanh niên xung phong thời chiến tranh chống Mỹ, rồi thợ cơ khí qua nhiều đơn vị, rồi nữa là thương nhân), nên có thể xem là người từng trải, giàu vốn sống. Đó là lợi thế của ông. Tôi cũng từng nghe người ta nói nhiều về đời thơ, việc xuất bản thơ và chuyện lang bạt đó đây, giao lưu bạn bè, làng văn chương,... hay nhiều mà dở cũng có, thành giai thoại cả, lại thật hư chẳng mấy rõ...!?...Nên không dám bàn.
Tôi nghĩ là, trong cái rủi lại có cái may, bởi rời bỏ dương thế, ông chẳng còn phải đau đời, vật vã với chuyện chữ nghĩa, thơ phú nữa. Kể từ khi dính cái bẫy thi ca, coi như ông đã vướng nghiệp, đánh cược đời mình, dại dột "mải mê đuổi một con diều" rồi. Song còn may mắn hơn nhiều người, cả  đời thu phú tay tắng vẫn hoàn tay trắng, còn ông, với ngần ấy thôi, nhất là thơ lục bát, Đồng Đức Bốn đã đủ để ngao du với đời rồi.
Hơn chục năm trước, trong một vài bài viết, khi bàn về thơ Việt Nam hiện đại, riêng thể lục bát, tôi đã mạo muội khi xếp bốn nhà thơ ngồi bốn góc chiếu Lục bát, ấy là Nguyễn Duy, Lê Đình Cánh, Phạm Công Trứ, và Đồng Đức Bốn. Giờ thì trong chiếu thơ Lục bát ấy, tôi nghĩ, vẫn còn cả bốn vị này, nhưng chẳng thể trấn giữ riêng mình mỗi người một góc chiếu, mà xin các ngài phải xê dịch đôi chút để nhường chỗ cho mấy người khác nữa cùng ngồi,...
Tôi muốn ngưng bài viết này, bằng câu thơ kết trong bài “Đời tôi” của Đồng Đức Bốn sáng tác năm 1986. nghĩa là khi ông mới tập tọng thơ phú, vậy mà đã mang tính tiền định: “Đời tôi giàu ở chiêm bao/ Bây giờ ngồi hút thuốc lào với trăng”,... ./.
 
Đăng nhập để trả lời
0
Nhà văn Nhật Tuấn, con chim biết chọn hạt,
 
Con chim biết chọn hạt, ấy là tên một truyện vừa của nhà văn Nhật Tuấn, đã được chuyển thể thành phim truyện, mà tôi từng đọc và xem. Ngày ấy, Nhật Tuấn là một cây bút truyện ngắn sung sức, đáng chú ý... Thú thực, cùng Con chim biết chọn hạt, thì Trang 17 và một số truyện của Nhật Tuấn đăng tải ở báo chí văn chương tôi đã đọc ngày đó, thì tôi không được đọc thêm các tác phẩm khác của ông, kể cả tiểu thuyết từng gây tiếng vang là Đi về nơi hoang dã. Còn ngoài đời, tôi cũng chỉ gặp nhà văn Nhật Tuấn đôi lần, lúc trà dư tửu hậu, nên có thể nói, là chưa mấy biết về ông, thì thử hỏi, tôi viết chân dung ông thế nào đây?...
May mắn thay, tôi nghĩ vậy, tôi có duyên với nhà văn Nhật Tuấn là nhờ mạng xã hội. Dạo ấy, chừng cuối năm 2010, Nhật Tuấn vào mạng Blog Tiếng Việt (blogtiengviet,net) ghi cảm nhận cho một bài viết của tôi, dạng khách đọc, dưới cái tên Người qua đường, và ngay lập tức, ông đã gây ra sự chú ý của cộng đồng mạng. Ngày ấy, xứ ta chưa biết đến Facebook, mà chỉ có một số mạng xã hội dạng Blog thôi, nên số người trở thành blogger và khách xem ở Blog này hay Blog khác rất đông. Tôi đến với Blog Tiếng Việt (BTV) như một sự ngẫu nghiên. Khi ấy, tôi đi luân chuyển công tác, làm giám đốc Cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại khu vực miền Trung (VOV-MT) có văn phòng ở Đà Nẵng. Một lần ra Hà Nội họp cơ quan, gặp nhà văn Nguyễn Trọng Huân, một đồng nghiệp, giới thiệu với tôi về BTV và bảo tôi nên lập trang cá nhân ở đấy để giao lưu cho vui. Thực lòng, tôi không mấy thích nên ừ à cho qua. Nhưng rồi, một hôm, Nguyễn Trọng Huân gọi điện bảo là đã nhờ một người biết IT lập trang cá nhân cho tôi rồi, địa chỉ mạng thế này, thế nọ. Tôi cảm ơn xã giao nhưng cũng chẳng buồn vào. Rồi ngày đầu thu 2009, khởi đầu mùa mưa miền Trung, tôi ngồi trong phòng làm việc nhìn mưa rơi tầm tã cả ngày, nhớ ngoài Bắc, bỗng nảy tứ thơ, lúc ấy mới chợt nhớ ra mình cũng có blog, bèn lần mò mở xem. Ở đấy, Nguyễn Trọng Huân đã chọn đăng liền mấy truyện ngắn của tôi  rồi. Cái duyên của tôi với blog như thế đó...
Nhưng còn cái duyên của tôi với nhà văn Nhật Tuấn thì sao ?
Đấy là nhờ BTV, kỹ thuật tin học hiện đại đã cho phép tôi lưu giữ dấu tích đầu tiên Nhật Tuấn vào đọc trang blog của tôi và để lại cảm nhận, ấy là lúc 18h33 ngày 01,3,2011. Đại khái, ông khen trang của tôi vui, bảo rằng là qua tôi mà biết Trần Đăng Khoa cũng có blog ở đây, rồi ông phán là trang của tôi, bình luận nghe xôm trò hơn văn chương, và hứa sẽ năng vào đọc. Điều này cho thấy, ông đã đọc nhiều bài biết của tôi trước đó và các cảm nhận cho mỗi bàn viết, nên mới đưa ra nhận định như vậy. Đặc biệt là trước đó, ngày 27.2.2011 tôi đăng bài giới thiệu một bài thơ ứng tác của Trần Đăng Khoa từ hồi 1975, khi chung đội tuyển Học sinh giỏi Văn lớp 10 (hệ 10/10) của tỉnh Hải Hưng (cũ) tham dự kỳ thi học sinh giỏi toàn miền Bắc, thì Nhật Tuấn mới thấy cần thiết phải xuất hiện (01.3,2911), tuy nhiên, ông tránh không sa vào việc tranh luận mà ông cho là vô bổ đối với mình. Số là, bài giới thiệu này của tôi có rất đông người đọc và ghi cảm nhận, tranh luận, khen chê búa xua. xung quanh việc bài thơ ứng tác này của Trần Đăng Khoa không tuân thủ luật bằng trắc của thơ Đường luật. Cứ thế, mọi người bàn qua bàn tới sôi nổi lắm, cho đến khi chính Trần Đăng Khoa cũng phải ngỏ lời này nọ, còn tôi thì lên tiếng thưa gửi cẩn trọng. Có lẽ vậy, nên Nhật Tuấn né việc tranh luận chăng? Bởi chỉ ít lâu sau, ông bộc lộ sự chán chường với thi ca hiện tại, trong những lời cảm nhận trang văn thơ của tôi, cùng như lời khuyên răn thẳng thắn, chân tình,...
Ở thời điểm này, khi vào cảm nhận ở trang của tôi, Trần Đăng Khoa và Nguyễn Trọng Huân cùng một số blogger khác, Nhật Tuấn không xuất đầu lộ diện, ông đều đứng dưới cái nick Người qua đường. Có cảm nhận ghi ở trang của tôi, ông lại chê sáng tác của người khác, tôi ái ngại việc này nên để cảm nhận ấy ở chế độ ẩn. Ngay lập tức, Người qua đường phản ứng, vì tưởng tôi xóa đi, bảo rằng, tôi có xóa thì vẫn cứ nói thẳng, rằng việc chê văn người này người nọ, cũng được ghi bên trang của họ rồi, nên không việc gì phải ngại, và nhắn rằng "Tôi không phải kẻ phá đám đâu. Rất yêu các ông". Thẳng thắn và chân tình như vậy đấy.
Dịp này, tôi có đăng liền 2 truyện ngắn của mình là Giải thoátNgười nổi tiếng, Trần Đăng Khoa đọc, khen chê này nọ, Người qua đường vào ghi "Ý kiến của Trần Đăng Khoa rất xác đáng. Rất tinh. Chỉ có vài chục chữ mà ra cả một vấn đề. Cậu này làm biên tập rất chuẩn. Thảo nào hắn luôn được mời làm giám khảo các cuộc thi văn chương từ trung ương đến địa phương....". Đọc cảm nhận này, tôi cảm thấy ngay vị khách này phải thuộc hàng cao thủ văn chương thì mới dám dùng lời lẽ vậy để nói về Trần Đăng Khoa. Và suy đoán này của tôi không sai, khi chỉ sau đó một ngày, vị khách này lại vào ghi cảm nhận, lúc 22h49 ngày 15.3,2911: "Quả thật từ ngày có Lão Khoa nhập hội, Quán lá Blog sinh động hẳn lên. Tôi cũng vì hay theo dõi lão này, nên theo chân lão vào đây và không ngờ lại thấy rất nhiều văn nhân tài tử. Nhiều tay bợm ra trò. Tôi uống rượu với Chu Nhạc hai lần. Một lần ngồi cùng bàn, một lần ngồi cách bàn, nhưng hồi đó tôi không chú ý đến Chu Nhạc lắm, vì trong chú rất thư sinh, và văn chương cũng mang đầy phong thái học trò. Bây giờ thì khác. Chu Nhạc đi được một bước xa đấy. Tôi không quan tâm lắm đến thơ Chu Nhạc đâu, đáy không phải thế mạnh của Chu Nhạc. Mà nhìn chung, thơ bây giờ đã mất vị thế. Trừ một vài người có tài. Số này ít lắm, còn toàn ca dao hò vè nhăng nhít. Đám truyền thống thì cũ mèm, lần thẩn. Đám cách tân thì bệnh hoạn. Đều hỏng cả. Thời chiến tranh, người ta dùng ca dao hò vè để hô hào, cổ động, động viên nên thơ còn có chỗ đứng. Bây giờ không cần hò lơ nữa nên thơ cũng mất độc tôn. Nhạc nên dồn tâm sức cho văn xuôi và phê bình. Thế mạnh của chú ở đó. Đừng phí sức vì thơ, để cho mấy anh vô công rồi nghề nó vầy nghịch. Vầy mãi tự họ sẽ chán, chứ người đọc chẳng quan tâm.". Tôi đọc rồi vừa mừng vừa lo. Mừng bởi vị khách này đã từng uống rượu với tôi đôi lần, vậy là người quen rồi. Còn lo, bởi vị khách này thẳng toẹt chê thơ của thiên hạ. Thế nào cũng sóng to gió lớn đây.
Quả nhiên, ngay lập tức, kế ngay cảm nhận của vị khách khó tính, liền mấy cảm nhận khác bày tỏ sự bực bội, khó chịu với nhận xét chung về thơ và người làm thơ ở xứ ta, theo sự đánh giá của Người qua dường. Không những thế, họ còn bực lây sang tôi, và có người còn thẳng thắn khuyên tôi, chớ có nhẹ dạ cả tin nghe theo cái nhận xét coi thường thi ca của vị khách nọ. Tôi lúng túng chưa biết xử trí ra sao, may thay, Trần Đăng Khoa cứu tôi bằng cách quăng cho tôi cái phao cứu sinh, ấy là danh tinh thật của vị khách khó tính này.
Trần Đăng Khoa đến uống trà với tôi, ngỏn ngoẻn cười duyên: "Đấy là nhà văn Nhật Tuấn, ông ấy bỏ Hà Nội vào Sài gòn sống rồi".
Chẳng là, Trần Đăng Khoa vốn được xem là con ma xó của văn chương đất này, lại thêm, lão ta là Trưởng ban Ban công tác hội của Hội Nhà văn Việt Nam khi ấy, nên cái gì trong làng văn Việt cũng biết cả. Nghe vậy, tôi à lên sung sướng, và liền có ngay lời kính thưa, để lọt tai Nhật Tuấn mà không mất lòng bạn bè, công chúng mạng: "Chủ nhà xin có mấy lời thưa cùng mọi người như thế này, mong tránh những hiểu lầm không cần thiết, vì có thể làm mất bầu không khí vui vẻ của Làng Blog Tiếng Việt,...Thứ nhất, blog là chỗ giao lưu vui vẻ, không phải là diễn đàn chính thức của hội này hội nọ, mà nó như một gia đình lớn vậy. Chính thế, khi trò chuyện giao lưu, tùy tính cách từng người và hoàn cảnh, nên lời nói cũng lúc căng, lúc trùng, lúc mặn lúc nhạt, thế thôi...Thứ hai, riêng về vị khách Người qua đường (NQĐ), gần đây có vào thăm nhà của Lão Khoa và Chu Nhạc tôi, với những lời góp ý thẳng thắn và chân tình về thơ văn của chúng tôi và nhìn chung diễn đàn văn chương hiện nay, về cơ bản không có gì sai ...nên hai chúng tôi rất tôn trọng ý kiến của bác ấy. Thêm nữa, về vị khách NQĐ, cả tôi, nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhà văn Nguyễn Trọng Huân đều biết. Riêng tôi, đã uống rượu với bác ấy đôi lần rồi cơ mà... Tôi biết rõ bác ấy, vốn nhà một nhà văn chuyên nghiệp, xuất hiện trên văn đàn gần bốn mươi năm nay, có nhiều tác phẩm văn xuôi (tiểu thuyết và truyện ngắn) được giải cao, được dựng thành phim. Từ lâu nay, bác ấy luôn là niềm kính trọng của tôi (và cả với TĐK nữa). Chính vì thế, khi bác ấy vào nhà Khoa hay nhà tôi, đều đưa ra lời nhận xét thẳng tưng của một nhà văn lão làng với góc độ của nhà phê bình nghiêm ngặt, nên về phương diện cá nhân, tôi chấp nhận một cách vui vẻ, và xem như lời khuyên của một bậc huynh trưởng với em út. Còn như, nếu trong lời bàn với tôi (và Khoa nữa) có gì đó khiến mọi người chạnh lòng này nọ, thì cũng xem như là bác ấy chỉ nói với riêng tôi, và phần lỗi, là thuộc về Nguyễn Chu Nhạc tôi cả. Kính mong mọi người hiểu, và mong mọi người vẫn ghé thăm, trò chuyện vui vẻ như cũ. Gọi là có mấy lời trần tình. Kính.". Quả nhiên, lời trần tình của tôi có hiệu lực tức thì, bạn bè và người quên trên mạng vui vẻ bỏ qua, Xóm Lá (tên gọi thân mật của BTV) yên ổn trở lại...
Còn Nhật Tuấn, cũng thấy bùi tai, ông phúc đáp: "Cám ơn chú Chu Nhạc đã rất hiểu tôi. Tôi cảm nhận vào trang chú với chú Khoa, chú Huân cũng vì quý ba chú. Chứ tôi đọc Blog nhiều lắm. Những tiếng nói thật bây giờ, phần lớn ở Blog, nhưng vào rồi ra, không để lại một dấu vết nào, vì cũng không có gì để nói... Văn chương lại là chốn rất nghiêm túc. Chú có chút tài, nên tôi hy vọng chú thành một tác giả đích thực. Chỉ tiếc chú chưa thực sự ý thức về điều này, dù đã ra đến cả chục tập sách. Vì vậy, mà tôi nhắc chú thôi, nếu gặp chú thì tôi nói miệng, chẳng viết làm gì, Nhưng hiện tôi ở xa, mãi Thủ Đức, mà chú thì ở Hà Nội, thành thử mới phải nhắn qua bức thư ngỏ, với cái tên rất hiện đại là cảm nhận. Chúc chú thành công.". (lúc 08h48, ngày 17.3.2011).
Khi đã biết vị khách Người qua đường là nhà văn Nhật Tuấn, thì mọi sự với tôi đều sáng tỏ. Tôi nhớ lại, từ vài chục năm trước, khi tôi theo đòi nghiệp văn chương thơ phú, thì Nhật Tuấn đã vang danh rồi. Ngày ấy, nhờ truyện ngắn Trang 17 của ông mà tôi hiểu tại sao, tất cả các cuốn sách trong hệ thống thư viện nói chung, để ấn định bất kỳ một bản sách nào thuộc quyền sở hữu của thư viện nào đó, người ta lại đóng con dấu của thư viện đó vào chân trang sách số 17, đơn giản bởi trong kỹ thuật in sách, mỗi tay sách gồm 16 trang, nên trang số 17 là trang đầu của tay sách thứ 2 trong văn bản sách đó. Mặc nhiên, đấy là quy định chung của ngành thư viện trên khắp thế giới. Cũng chính vì vỡ nhẽ điều này, sau đó, tôi bắt chước, khắc một con dấu gỗ tên mình để đóng vào trang 17 toàn bộ sách trong thư viện mi-ni của mình. Ngay truyện vừa Con chim biết chọn hạt của Nhật Tuấn, ông cũng cho bạn đọc hiểu một việc mà rất ít người biết, ấy là sự ứng dụng mang tính sáng tạo của ngành thư viện, lưu trữ văn bản nước ta, trong việc sử dụng phiếu đục lỗ cho việc lưu trữ, tìm kiếm, tra cứu tài liệu văn bản tiện lợi dễ dàng hơn. Sau này, tin học phát triển, tôi nghĩ, phải chăng, việc sử dụng phiếu đục lỗ ngày đó, chính là một dạng ứng tin học đơn giản trong thực tế đời sống?
Và rồi, tôi cũng nhanh chóng biết được, Nhật Tuấn có người anh ruột là nhà văn hải ngoại Nhật Tiến, và việc này cũng ít nhiều gây phiền hà cho ông. Bạn bè văn chương cũng gửi cho tôi đọc những bài phê bình văn học của ông, với bút danh Trần Ngọc Lãng. Ở đó, ông thẳng tưng đánh giá sự nghiệp sáng tác, cùng mức độ đóng góp của một số tác gia thuộc hàng đầu làng văn chương xứ Việt thời hiện đại, cho sự phát triển chung của nền văn học nghệ thuật nước nhà. Đọc rồi, ngẫm nghĩ, so sánh này nọ, mới thấy cái dũng khí và năng lực phê bình ở ông không nhỏ chút nào,... Vậy nên, việc ông ghi cảm nhận này nọ trong Blog Tiếng Việt, vẫn một tâm thế và giọng điệu Trần Ngọc Lãng, thì chỉ như cái khẽ gảy móng tay của Nhật Tuấn mà thôi. Nghĩ thế, tôi thấy mình may mắn vì được ông đoái hoài, nhận xét và khuyên răn này nọ.
Và cũng mừng, mình đã đôi lần uống rượu với Nhật Tuấn. Nhớ lại, khi ấy nơi làm việc của tôi và nhà văn Nguyễn Hiếu, Nguyễn Trọng Huân ở 41-43-45 Bà Triệu, cũng gần nơi làm việc của Nhật Tuấn là Nhà xuất bản Văn học ở góc phố Hàng Bài-Trần Hưng Đạo, liền kề với Trụ sở Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam- 51 Trần Hưng Đạo. Tháng vài ba lần, ba anh em chúng tôi rủ nhau đi ăn cơm bụi buổi trưa, và quán cơm bình dân Anh Đào ở gần góc phố Hàng Bài-Hàm Long là nơi chúng tôi hay chọn ăn. Ở quán này, chúng tôi thường chạm mặt dân báo chí, văn chương Hà thành. Một lần, đang ăn ở đây thì Nguyễn Hiếu chợt nhận thấy Nhật Tuấn ngồi ăn cách một bàn, bèn mang chén rượu sang cụng ly với Nhật Tuấn và thực khách bên ấy, rồi Nguyễn Hiếu lôi Nhật Tuấn về bàn mình, giới thiệu ông với chúng tôi và ngược lại. Ấy là lần đầu tiên tôi giáp mặt Nhật Tuấn. Lần sau, cũng tại quán cơm đó, chúng tôi đến sau, thấy Nhật Tuấn và bạn ông đã ngồi ăn và Nguyễn Hiếu liền ghép vào chúng tôi vào chung một bàn. Cụng ly dăm bận, rượu vào lời ra, chuyện làng văn rôm rả. Tôi mạnh dạn thưa với nhà văn đàn anh rằng tôi đã đọc Trang 17 và Con chim biết chọn hạt, cùng một số truyện ngắn của ông trên báo chí. Ông lúc gật gù, lúc sảng khoái, bảo là có biết tên và cũng đã đọc mấy truyện ngắn và tản văn của tôi trên báo, này nọ khen chê đôi chút. Ngày ấy, tôi sung sức và chịu khó cày báo chí văn chương này nọ đặng kiếm nhuận bút thêm thắt nuôi con nhỏ, nên truyện và tản văn của tôi đăng khá đều trên các báo Văn Nghệ, Người Hà Nội, Hà Nội mới cuối tuần,Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, Pháp Luật cuối tháng... Lần gặp ấy, ông để lại trong tôi thiện cảm về tính bộc trực và sự gần gũi, thân thiện của nhà văn đàn anh. Vậy mà, bẵng đi dăm bảy năm, trong khi tôi không mấy nhớ, thì Nhật Tuấn vẫn nhớ và nhắc lại chi tiết. Thực lòng, tôi cảm thấy gì đó như có lỗi với ông...
Khi tôi đăng bài viết "Đào Chìm & nghệ thuật xây dựng không gian truyện" trên trang cá nhân, mọi người ào ào vào ghi cảm nhận, chủ yếu là khen bài viết tốt, trong đó có các cao thủ như PGS.TS Minh Tâm, một số nhà văn hải ngoại như Vũ Thư Hiên, Vũ Trọng Trường và đặc biệt Vũ Hoàng Địch (con của nhà thơ Vũ Hoàng Chương), Đại tá Trần Trọng Trí, vị cựu thuyền trưởng tàu HQ05-nguyên mẫu của chính trị viên Thuận trong Đảo Chìm, cùng các thùy thủ thuộc quyền một thời của ông và nhiều bạn đọc khác. Tựu chung, mọi người khen bài viết gọn gàng, súc tích, có sử dụng thi pháp khá nhuần nhuyễn, và quan trọng làm sáng tỏ và tôn trọng giá trị đích thực của tác phẩm này. Trần Đăng Khoa lấy đó làm vui, và đương nhiên, không thể thiếu nhận xét của Nhật Tuấn, ông viết: "Tôi cũng đã đọc Đảo chìm của Khoa, do ông Nguyễn Khải cho mượn. Đọc vì tò mò. Khoa viết chân dung văn học thì giỏi, nhưng văn xuôi chưa chắc, vì nó là một thể loại khác. Nhưng đọc thì giật mình. Quả đây là một cuốn sách độc đáo. Kể vui vui, như chơi, nhưng ý tứ thâm hậu. Cái ý ngầm Khoa muốn nói, bạn đọc cũng đã nhận ra. Tôi cũng rất nể mấy vị cảm nhận. Sâu sắc và am tưởng. Khoa hạnh phúc hơn rất nhiều người viết khác, trong đó có cả tôi là có bạn đọc và có người chia sẻ. Nhận xét của Chu Nhạc cũng rất mới, cũng là một phát hiện, mà không phải nhà nghiên cứu nào cũng nhìn ra. Ngay rất nhiều lời bàn, trong đó có không ít ý kiến đặc sắc, nhưng cũng không phải ai cũng có sự phát hiện như Nhạc. Tiếc là viết vội, vì mới là cảm nhận, hứa hẹn đây sẽ là một tác phẩm phê bình hay. Tôi vẫn nói Nhạc dồn tâm lực trí tuệ cho văn xuôi và phê bình, vì chú có tài, dấn lên là có sự nghiệp đặc sắc đấy".
Thực lòng, tôi vui vì nhận xét của các bậc cao thủ văn chương, nhưng vui nhất là nhận xét của Nhật Tuấn, bời vượt qua sự nhận xét thông thường, ông còn chỉ ra những điểm mạnh yếu của tôi và có lời khuyên chân tình. Riêng về lời khuyên của Nhật Tuấn và các bậc đàn anh văn chương, đẩy bài viết này lên thành một nghiên cứu về thi pháp tiểu thuyết của Trần Đăng Khoa, thì tôi nghe làm vui thôi, bởi tự thân, tôi không có ý dấn thân vào lĩnh vực lý luận phê bình, mà xem đó như một thú rong chơi thôi. Thể loại yêu thích của tôi vẫn là truyện ngắn và tản văn...
Tôi đăng bài thơ Đón đợi, viết từ gần hai chục năm trước, Nhật Tuấn cảm nhận: "Chú Nhạc. Tôi không bàn về bài thơ này của chú đâu, dù trong đó cũng có đoạn được, thậm chí có thể gọi là hay, như cái đoạn đợi chờ, trời đất vắng hết, ngẩng lên chỉ còn mỗi vầng trăng thôi. Nhưng đó cũng vẫn là cái hay ở dạng nhàng nhàng.Tất nhiên thơ in trên báo Văn nghệ, trên tạp chí Nhà Văn, thậm chí trên cả một tạp chí chuyên biệt giành riêng cho thơ là tạp chí Thơ cũng chẳng hơn thơ chú đấu, nhiều bài còn thua xa thơ chú. Gần đây, nhà phê bình X, nhà văn Y cũng nhảy sang làm thơ là thế giới thi ca ngậu xị rồi... Có thể lảy thơ Ông Cụ : Nhà nhà làm thơ/ Người người làm thơ/ Vè nhất định thắng/ Thơ nhất định thua... Thế thì chú còn xông vào cái sa tràng bại trận "nhất định thua" đó làm gì. Tôi vẫn thấy chú rất mạnh ở mảng văn xuôi và phê bình. Bài nào cũng có một cái gì đó lấp lánh. Cái độ lấp lánh này mật độ không dày và không chuyên nghiệp như thằng Khoa, nhưng rất khá, và có điểm chú còn chói hơn  Khoa. Nhưng Khoa hơn chú vì nó chuyên tâm và có ý thức vì điều đó, vì thế, nó mới thành nó. Còn chú thì cho đến giờ phút này vẫn đếch thành cái gì cả. Tôi tiếc cho chú mà nhắc chú thôi, vì chú có tài. Tôi rất quý những thằng có tài, nên cứ nói. Đấy cũng có khi là bệnh của người già. (Tôi đã hơn 70 rồi). Mặc dù nói thế này, có thể những người hâm mộ chú thái quá có thể lại chửi tôi, nhưng vì quý chú mà tôi cứ nói. Hôm vừa rồi, tôi ra Hà Nội, có đến thăm chú và thằng Khoa, nhưng cả hai thằng đều đi vắng. Tôi có nhìn thấy cậu Huân, nhưng tôi không làm phiền cậu ấy. Từ ngày có chú và thằng Khoa tham gia Blog, nhất là khi có sự xuất hiện của Khoa, giới Blog rất sinh động và có sinh khí, hay hẳn. Thế mới lạ chứ. Khoa đưa ra trò độc, thiên hạ cũng chiềng ra toàn của độc, chất văn chương thì họ không bằng Khoa, nhưng tài có chỗ cũng không kém Khoa đâu. Nhiều chiêu độc ở cái Xóm lá này, đáng nể lắm. Tôi thực sự bái phục đấy.". (17.04.11@07:26).
Tôi mừng, vì Nhật Tuấn tuy vẫn tỏ ra khó chịu với thơ ca hiện nay, song ông cũng phải thừa nhận, nhiều người tham gia mạng Blog Tiếng Việt thực tài, khiến ông phải bái phục.
Tâm phục khẩu phục, song cẩn trọng không thừa, tôi phúc đáp: "Kính bác. Em luôn lắng nghe bác. Và có thể nói, tự thâm tâm, luôn mong đợi những lời góp ý của bác. Em thấy bác nói đúng (về em, về Khoa và nói chung văn học hiện nay) . Em cũng nghe Khoa nói về những bài viết của bác về văn học. Điều đó, càng khiến em nể trọng bác. Tuy nhiên, khi tham gia blog, ngoài chuyện văn chương, còn mang nhiều yếu tố giao du vui vẻ, cho nên "món ăn trên mâm cơm blog" cũng cần có nhiều món. Vả lại, với thơ, từ trước đến nay, em (và chắc nhiều người khác) cũng chỉ xem như sự giải tỏa thôi... Với riêng em, thơ chưa bao giờ là một sự nghiệp cả. Thế nên, việc có in tập hay không thì chỉ là chuyện "cả làng cùng vui". Thêm nữa, em tự biết mình, cái mạnh không phải là thơ, có chăng ít nhiều ở văn xuôi và phê bình, chân dung văn học... Hơn nữa, blog chưa phải là phản ánh đầy đủ mình, bởi nhiều cái đưa lên đây không tiện, bác ạ. Tiếc là hôm em và Khoa vào Sài Gòn, biết bác ở Thủ Đức, song không biết cụ thể ở đâu nên khó liên lạc, vả lại, bác cũng lại ra Hà Nội. Nếu có thể, bác cho em (hoặc Khoa) biết số điện thoại liên lạc, để khi có điều kiện thì alô đến thăm bác. Cả em và Khoa đều hay đi Sài gòn. Mong bác vào blog của em thường xuyên, và cứ nhận xét thẳng tưng. Em thích vậy, bác ạ. Xóm Lá này cũng rất đáng nể trọng và đáng yêu lắm đấy. Nhiều người có tài và có tâm, như bác thấy và đã nhận xét...".
Vậy là, tôi và nhà văn Nhật Tuấn đã hiểu nhau hơn, và có thể, mọi người trong Xóm Lá cũng thông cảm, mà không phản ứng thái quá với những nhận xét khó nghe của ông.
Ngày 27.4.2011, tôi đăng bài thơ Chiêm bao, Nhật Tuấn vào cảm nhận: "Chú Nhạc. Tôi vừa đọc một bài viết hay, rất cảm động bên chú Khoa, sang chú lại gặp chú vày thơ. Tôi định không đọc. Nhưng tò mò xem thế nào thì thấy hay. Đây là bài hay nhất của thơ chú mà tôi được đọc. Chú nên chữa một câu kết thì thành một bài thơ hoàn chỉnh. Chú thay chữ "ngỡ" thành chữ "thấy", khẳng định, và thay chữ "đâu" thành chữ "đang". Chiêm bao khi đang tỉnh mới tuyệt. "Tiếng động nào hiên ngoài chênh chao/ Sực tỉnh thấy mình đang chiêm bao...". Tuyệt vời chú Nhạc ạ." . (30.04.11@22:53)
Phải nói, tôi mừng, vì rốt cuộc, ông nhà văn kiêm nhà phê bình khó tính này, cũng phải buột miệng khen thơ. Ngay sau đó, Trần Đăng Khoa vào cuộc: "Đồng ý với đại ca, bài thơ lênh phênh chênh chao này là bài hay nhất của Nhạc. Hay vì nó lạ, giai điệu lạ, thoát khỏi cái thông thường. Bác tinh đấy, không phải chỉ trong văn xuôi mà cả thơ nữa. Mấy góp ý của bác rất chuẩn. Cao thủ. Tất nhiên ý Nhạc cũng như ý bác thôi, vẫn là chiêm bao trong lúc tỉnh, nhưng thay hai chữ, diễn đạt như bác thì câu thơ sáng hơn, cao thủ hơn. Nhưng ý thì vẫn là một. Nhạc viết bài này là ứng tác, nhân đọc một bài thơ của bạn rồi viết ngay một bài theo tư duy khác hẳn. Vì ứng tác, nên câu chữ không thể chuẩn ngay được. Trong bếp núc sáng tạo, nhiều khi rất thú vị như thế đấy. Viết đùa, viết chơi thì lại hay, thậm chí có những câu lóe sáng bất ngờ, còn cứ gò gẫm, có ý thức làm một tác phẩm để đời thì có khi tác phẩm lại hỏng, những con chữ còng queo chết ngay khi vừa nhô ra khỏi ngòi bút hay bàn phím. Thú vị thật!". (01.05.11@11:10).
Nhật Tuấn đang hăng, tiếp đã đàm luận văn chương: "@TĐK. Chú nói đúng. Trong sáng tạo, cần tự do. Tự do lớn nhất vẫn là tự do trước chính mình. Nhiều thi sĩ nổi tiếng, đùa hoặc ký tên nhắng thì rất hay, ký tên mình và cố gò gẫm theo kiểu "thôi - xao" thì dở ẹt. Chứ tự do không phải là chuyện o ép của chính quyền như một số anh cứ lu loa. Chả có thời nào bị bóp nghẹt và mất tự do như thời phong kiến, mà sao vẫn có Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Tú Xương. Bây giờ thì tự do đấy, ai cấm ai đâu, viết xong là tự xuất bản, đưa lên Blog, đi toàn cầu, có cha còn tự dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp, in song ngữ, cũng như cái cậu gì ấy tự phong thần đồng, mà sao vẫn không mọc mũi sủi tăm lên được. Tôi nghĩ thời này là thời rất hay. Không đổ lỗi cho ai được. Có tài thì sẽ nổi danh ngay" (01.05.11@21:51)
Cái hay, cái thích ở đây, là hai cao thủ Nhật Tuấn và Trần Đăng Khoa mượn cớ bài thơ Chiêm bao của tôi để bàn về lý luận thi ca nói chung, súc tích mà dể hiểu. Quan trọng nữa, Nhật Tuấn đã khảng khái đưa ra nhận định về tài năng văn chương, điểm chính yếu để làm nên tên tuổi tác phẩm-tác giả, chứ không vìn vào này nọ, hoặc đổ lỗi cho thời cuộc như nhiều nhà văn, nhà thơ khác. Thấm luận điểm này của Nhật Tuấn trong văn chương xứ ta, tôi lại nhớ đến cái truyện hài hước Giá không có ruồi của nhà văn người Thổ Nhĩ Kỳ là Azit Nê-xin...
Ngay sau đó, tôi chỉnh sửa bài thơ Chiêm bao theo như góp ý của Nhật Tuấn, nghĩ thế thôi, không ngờ ông vào xem và không quên động viên: "@Chú Nhạc. Đọc lại bài chỉnh của chú rồi. Chuẩn. Gửi cho báo Văn nghệ hoặc Tạp chí Thơ Hội Nhà văn nó in cho. Tôi cũng có đọc bài này của chú cho mấy thằng nghe rồi, chúng đều khen cả. Không có gì giống Bích Khê và Xuân Diệu cả, dù họ cũng làm thơ theo kiểu độc vận và dùng toàn âm bằng. Chú là một dạng khác hẳn. Tôi cũng đã vào đọc cái bài khơi nguồn cho chú. Nhưng thấy nó chẳng ra cái lý cố gì cả. Nhạt toẹt. Mừng chú". (01.05.11@21:39). Mặc dù chỉ là động viên cho phải phép, khi đàn em nghe lời mình, nhưng Nhật Tuấn vẫn không quên cài thêm ý kiến phê bình của mình về thơ ca nói chung. Có cảm giác, Nhật Tuấn đang ở vào thời kỳ sung mãn về lý luận, phê bình, nên mọi cảm quan của ông về lĩnh vực này tràn ứ, cứ muốn ứa ra mỗi khi ai đụng đến ông hay ông va quệt vào ai vậy?...
Bẵng đi một dạo, không thấy ông xuất hiện nơi Xóm Lá, cho đến khi tôi đăng bài thơ Mưa Ngâu, Trần Đăng Khoa ghi cảm nhận, khen: "Ai hiểu đời tư Chu Nhạc sẽ thấy bài thơ này rất hay. Mình tin một cô giáo mà Nhạc cứ lo em cóng lạnh đôi tay trên bục giảng khi mùa ngâu về ấy, chắc sẽ khóc khi đọc lại những trang kỷ niệm này. Có một vài chữ, mình tin ông vi tính sai, chứ một con cáo già trong văn chương như Chu Nhạc không thể ngớ ngẩn như vậy. Có mấy câu mình thích:"Nước mắt nở những chùm hoa ngâu/ thơm lặng thầm như ai nhớ thương nhau." Hay . "Mưa ngâu ướt lạnh cây vườn/ hoa ngâu thơm cả ngoài hiên trong nhà/ mà người thì vẫn mãi xa," (17.06.11@06:51). Dường như chưa thỏa mãn, Trần Đăng Khoa bồi tiếp: "@CN. Nói thêm một chút nữa. Hai câu này rất hay và rất tinh tế: "Nước mắt nở những chùm hoa ngâu/ thơm lặng thầm như ai nhớ thương nhau". Bốn câu cuối đổ lục bát cũng rất đắc địa. Trong và xót. Có lẽ vì tránh lặp chữ "thì" mà Nhạc dùng chữ "cho", nhưng chữ ấy lại quá quen. Có thể tránh chữ "thì" ở bên trên được không? "Mưa ngâu ướt lạnh cây vườn/ hoa ngâu thơm/ cả ngoài hiên trong nhà/ mà người vẫn mịt mù xa,/ đến khi bạc tóc thì ta gặp mình...". Rất hay Nhạc ạ. À báo cho bạn bè Xóm lá biết, Lão Chu Nhạc động rồ sắp ra một tập thơ khoảng 100 bài hay đến khủng khiếp. Nhiều chị em sẽ khóc như mưa. Lão Khoa đang đọc và viết tựa"- Trần Đăng Khoa tếu táo.
Thấy đừng chẳng đặng, Nhật Tuấn cảm nhận: "@TĐK. Chú Khoa rất tinh nghề. Bài thơ của Nhạc hay. Tôi rút lại ý kiến là Nhạc chỉ nên dồn sức cho văn xuôi. Chờ đọc tập thơ mới của chú ".
Mặc dù, tự thâm tâm, tôi chưa từng nghĩ, thơ là sự nghiệp trong nghề cầm bút của mình, song tôi yêu nó. Từ những ngày tập tọng làm thơ lúc còn đi học, là tôi noi theo, bắt chước Trần Đăng Khoa, nghĩ mình làm thơ cho vui, vì mơ ước của tôi khi ấy là nghề kiến trúc sư, đặng theo nghề của cha tôi. Song cuộc đời có những khúc ngoặt không ngờ tới, ấy là việc tôi thì không đõ và trường Kiến trúc, và sau đó theo học Đại học nông nghiệp. Những năm tháng lang bạt kỳ hồ ở miền Tây Nam bộ, thời gian rảnh rỗi, tôi viết báo nghiệp dư, đặng học nghề báo và gây chút tên tuổi với mong ước trở thành người làm báo chuyên nghiệp. Làm báo, tức là cầm bút, thế là chút mầm mống thi ca văn chương này từ thời đi học, ngỡ thui chột, bất ngờ sống lại, tươi mới và đầy khát vọng lớn thành cây. Lại thơ, lại truyện ngắn, bút ký, tản văn, hầu như tôi không nề hà và đều thử sức mình ở các thể loại. Khi đã trở thành người làm báo chuyên nghiệp, lại được làm việc ở Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), thì mầm cây văn chương trong tôi nhanh chóng bật lớn. Song hành với nghề làm báo, nghề chính kiếm cơm. đặng nuôi thân và gia đình, thì văn chương thơ phú là gia vị bổ trợ, cho mình rèn rũa ý tứ, câu chữ, tâm tính, là chỗ dựa tinh thần... Và rồi, văn chương nó ám vào mình lúc nào không biết, để thành nghiệp. Mà một khi đã thành nghiệp, thì có đánh đến chết cũng không từ bỏ được, còn hơn cả kẻ nghiện ma túy vậy!... Kim cổ đông tây, đã từng cho thấy, biết bao kẻ kiệt quệ về thân xác, ngẩn ngơ về tinh thần là vì văn chương thơ phú đó sao?!...
Vậy nên, tôi vui vì Nhật Tuấn đã rút lại lời khuyên tôi bỏ thơ, chỉ tập trung trí lực và văn xuôi và phê bình, không những thế, ông còn chờ mong tôi xuất bản thơ nữa kia. Tôi tin là Nhật Tuấn thật lòng, bởi đơn giản, tôi chỉ là chú em nhỏ của ông thôi, chẳng việc gì ông phải nói lấy lòng, trong khi, bằng khả năng phê bình sắc sảo và trực tính của mình, ông đã từng hạ bệ, nếu không muốn nói mạnh là lật nhào, nhiều tượng đài tên tuổi của làng văn chương đất Việt hiện đại là gì !?... Ngày ấy, khi làm việc tại Văn phòng phía Nam của Nhà xuất bản Văn học, Nhật Tuấn đã bày tỏ thái độ đồng tình với nhà thơ Xuân Sách khi xuất bản tập Chân dung nhà văn, mà ở đó, theo Nhật Tuấn, không chỉ là chân dung đơn thuần một cách hài hước, ấy là chân tướng của các vị...
Sau cảm nhận vào bài thơ Mưa ngâu, Nhật Tuấn mất tăm, không để lại dấu tích gì thêm trên trang cá nhân của tôi, nhưng theo Trần Đăng Khoa, thi thoảng ông vẫn vào ghi cảm nhận đâu đó trên trang Lão Khoa (tên trang cá nhân của nhà thơ Trần Đăng Khoa ở Blog Tiếng Việt). Tôi nghĩ, có thể Nhật Tuấn vẫn vào xem, nhưng thấy không cần thiết ý kiến ý cò gì thêm nữa, hoặc giả, ông chán chường với thứ mà ông cho là khen chê cho phải phép, lấy lòng nhau trên không gian ảo này rồi ?...
Bẵng đi, thảng tôi vẫn nhớ Nhật Tuấn và thèm được đọc những cảm nhận mang chất gây sự của ông, cho đến một hôm, vào đầu giờ làm việc một ngày thu tháng mười, Trần Đăng Khoa gõ của vào phòng làm việc của tôi, vừa bước vào, buồn buồn thông báo: "Nhạc à, Nhật Tuấn vừa mới mất...". Tôi lặng người đi. Tôi và Trần Đăng Khoa, chén trà trên tay mà chẳng biết tiếp câu chuyện thư thế nào. Tự dưng, ký ức về Nhật Tuấn ùa về. Ông mất đột ngột vì chứng viêm cấp hành tá tràng vào ngày mồng 6 tháng 10 năm 2015, và ngẫu nhiên, trùng với sinh nhật lần thứ 58 của tôi. Chuyện về Nhật Tuấn, chúng tôi nói về các sáng tác chính của ông, đặc biệt là loạt bài phê bình đánh giá lại một số tên tuổi văn chương Việt hiện đại,  và không quên nhắc chuyện ông từng quấy động Xóm Lá ngày nào. Trần Đăng Khoa bảo, với trọng trách, tình cảm cá nhân và lòng kính trọng dành cho Nhật Tuấn, sẽ bay vào Nam để cùng gia đình và Hội Nhà văn tổ chức tang lễ cho ông...
Giờ đây, lần giở từng trang mục của mình trên Blog Tiếng Việt, bao chuyện cũ sống lại, và trong đó, hình bóng của hai con người, chỉ là khách vãng lai trên các trang mục blog của tôi, ấy là đại tá Trần Trọng Trí, cựu thuyền trưởng tàu HQ05 Hải quân Trường Sa và nhà văn Nhật Tuấn là đậm nét nhất. Thâm tâm, tôi kính trọng và yêu quý hai con người này, dù người trước người sau, đã cùng vân du về cõi thiên thu...
Tôi đã viết chân dung đại tá Trần Trọng Trí (Người thơ tôi chưa từng gặp mặt-Tập chân dung Trời đất thu hay lòng ta thu-Nxb Dân trí 2016), và với riêng tôi, Trần Trọng Trí mãi là Người thơ của biển. Nay ký họa chân nhà văn Nhật Tuấn, như một sự tri ân với người đàn anh văn chương, với bậc đại ca (như cách gọi vui mà tôi từng thưa gửi với Nhật Tuấn), mặc dù, ông không cần và cũng chẳng biết điều đó. Với tôi, Nhật Tuấn xứng đáng là Con chim biết chọn hạt trong lĩnh vực phê bình văn học, như ý đồ ông đã định ra từ hơn ba mươi năm trước. Nhân đây, tôi có đôi điều thưa với đại ca Nhật Tuấn rằng,...
Thứ nhất, tôi vẫn sáng tác đều, các thể loại mà tôi thấy mình có thể, tuy nhiên, bới bản tính ngại quan hệ tiếp xúc này nọ, nên mặc dù có đến vài chục cuốn sách xuất bản, vẫn xem như chưa thành danh và sự nghiệp gì... Vậy nên chăng, đại ca ơi?
Thứ hai, chuyện xứ ta, nhà nhà làm thơ, người người làm thơ, âu cũng là một sự đặc biệt của xứ sở này, mà chẳng nơi đâu trên trái đất này có được... Chẳng hay lắm sao?! Với lại, người dân Việt mình yêu thơ, thích làm thơ là mang tính truyền thống đất chứ? Người làm thơ nói chung, đa phần, chẳng màng chuyện thành danh hay nên sự nghiệp gì, mà là để giải tỏa nỗi lòng, để giao lưu bạn bè, để dưỡng dục tinh thần mình, đặng trụ vững trên mảnh đất chiến tranh liên miên và đầy rẫy bất trắc... Thêm nữa, trong cái vườn thi ca toàn dân trăm hoa đua nở này, có nhiều loại hoa quý, hương sắc lạ, mà dễ gì giới văn thơ chuyên nghiệp có được, đại ca nhỉ?!...
 
Đăng nhập để trả lời
0
THẤP THOÁNG TRÚC THÔNG
(Nguyễn Chu Nhạc )
 
Mùa thu năm 1987, tôi bước chân vào ngôi nhà 58 Quán Sứ Hà Nội, bắt đầu cuộc đời làm báo chuyên nghiệp của mình. Khi ấy. Ban Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam chiếm trọn ngôi biệt thự trong cùng, một trong ba ngôi biệt thự kiến trúc Pháp ở khu vực trụ sở Đài. Phòng làm việc của tôi thuộc Ban Thính giả, là vài căn phòng cấp 4 ngay bên dưới tòa biệt thự của Ban Văn nghệ. Hằng ngày, nhìn các anh chị của Ban Văn nghệ đi lại ngang qua, và nghe tiếng các vị từ tầng cao vọng xuống, mà ngưỡng mộ. Nhiều lần tôi đứng dưới ngước nhìn lên ô của sổ tầng trên biệt thự với những cánh cửa chơp mở ra, của kính khép hờ mà ước ao một ngày nào đó, mình được là biên tập viên văn học làm việc ở đấy. Thú thực, ngày ấy, với gia tài vỏn vẻn một bài thơ đăng báo Văn Nghệ từ năm 1978 lúc là sinh viên đại học năm thứ ba, thì ước vọng trở thành biên tập viên văn học nhà Đài thật viển vông...
Thế rồi, dịp tết năm ấy, biên tập viên Thu Liên, người cùng phòng với tôi, con gái của nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, bảo : "Em nghe bố em nói, chương trình Tiếng thơ đêm ba mười tết này anh có một bài thơ được phát sóng đấy". Quả tình, tôi nghe mà không tin, Quả nhiên, bài thơ của tôi được đứng chung với các bài thơ của các tên tuổi làng thơ Việt trong chương trình Tiếng Thơ tết ăm ấy. Nghe mà sướng run người vì không tin vào tai mình. Sở dĩ, tôi nhắc lại sự việc này là để nói tới một ban biên tập văn học thời  ấy của Đài Tiếng nói Việt Nam với các nhà thơ nhà văn, biên tập viên kỳ cựu. Cùng với nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, còn có nhà thơ Trần Nhật Lam và vợ ông-biên tập viên Nông Thị Nhuận (một trong những biên tập viên thế hệ đầu của chương trình phát thanh Tiếng Thơ nổi tiếng), nhà thơ Trần Nguyên Vấn, nhà thơ Trần Mạnh Thường, nhà thơ Trúc Thông, nhà văn Tuấn Vinh, nhà thơ Lâm Huy Nhuận,...Để lọt qua các con mắt xanh, nhất là Trúc Thôing thật không phải dễ.  Và đấy cũng là cái cớ để sau đó tôi lân la làm quen với các “nhà”, các “cây” của Ban Văn nghệ. Cùng với việc,năm 1978 khi còn là sinh viên, đã có thơ đăng báo Văn nghệ,  nay lại có thơ phát trong chương trình Tiếng Thơ  tết, tôi thêm phần tự tin để theo đòi mộng văn chương.
Thú thực ngày đó, dù yêu văn học nghệ thuật đến mấy, bảnthân đã có thơ và có truyện ngắn đăng báo Văn Nghệ, những tôi ngại bén mảng đến Phong phát thanh Văn học, mà chỉ hay ghé Phòng phát thanh Văn học thiếu nhi, nơi nhà thơ Lê Đình Cánh và Trường Hữu Lợi phụ trách.
Khi ấy, Ban Văn học nghệ thuạt  (Đài TNVN)  cùng với Báo Văn nghệ, (Hội Nhà văn Việt Nam) Tạp chí Văn nghệ Quân đội, (Bộ Quốc phòng) và Tạp chí Văn học (Viện Văn hiọc thuộc Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam) thực sự là Tứ trụ về lĩnh vực Văn học Việt Nam.  Có thể nói, ở đấy, chủ trương, quan điểm , sự chỉ đạo về văn  học nói riêng và văn hóa văn nghệ mói chung được thể hiện rõ nhất. Đó cũng chính là yếu tố cơ bản làm nên cái uy của những cơ quan này trong làng văn học nghệ thuật ở nước ta. Cũng vì lẽ ấy, các văn nghệ sĩ, nahf thơ nhà văn, các biên tập viên làm việc ở đấy được hưởng lây cái uy .
Với những ai đó oai thế nào thì tôi không rõ, song với văn nghệ sĩ người nhà Đài thì không. Trúc Thông không giống các đồng nghiệp như nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, Trần Nhật Lam, Trần Nguyên Vấn, Trần Mạnh Thường, Lê Đình Cánh ở sự giản dị, dễ gần, mà cũng không thỏa mãi, cởi mở như nhà thơ Trường Hữu Lợi, Lâm Huy Nhuận,,, Ông nhẹ nhàng, lịch  thiệp đấy song không dễ gần. Thế nên, mỗi khi gặp hoặc tiếp xúc gần với ông, tôi đều giữ sự kiêng nể, cẩn trọng trong thái đọ và lời ăn tiếng nói. Tôi cảm nhận từ ông, gần đấy mà xa ngay đấy, dễ chịu dấy nhưng khó tính ngay đấy,...
Với tư cách nhà thơ, Trúc Thông  có xuất bản vài tập tiểu luận phê bình văn học và bình thơ, song tôi nghĩ, sự nghiệp chính của ông vẫn ở thi ca. Mà chủ yếu là những tập thơ: Chầm chậm tới mình (1985), Maraton (1993), Một ngọn đèn xanh  (2000) và Vừa đi vừa ở (2005). Năm 2017, nhà thơ Trúc Thông được Giả thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, là sự hgi nhận xứng đáng cho những đóng góp của ông trong lĩnh vực thi ca. nhất là sự tìm tòi không mệt mỏi trên hành trình đổi mới thơ Việt  thời kỳ hiện đại,...
Trước hết, Trúc Thông thuộc số các  nhà thơ theo đuổi chủ trương đổi mới thơ Việt. Ông cẩn trọng, kỹ lương và có gì đó cầu kỳ trong từng câu chữ, đến tít bài thơ và cả trong việc  đặt tên tập thơ. Tôi nghe một nhà thơ kể rằng, một nhà thơ đàn anh và là đồng nghiệp của Trúc Thông từng nhận xét về thơ ông, “Trúc Thông là người đau chữ đau câu,...”.  Không rõ thực hư sao, nhưng cứ lẽ mà suy thấy cod lý. Trở lại với việc nhà thơ Trúc Thông đặt tít bài, têt sách thì biết. Nghe đâu, cũng như việc ông đặt tên cho con, các ái nữ của mình....
Nói có lý, còn bởi, đã có lần, trong lúc đàm đạo văn chương ở Ban Văn học nghệ thuật nhà đài, tôi nghe Trúc Thông cao hứng bày tỏ quan điểm của mình, rằng “Thơ khi in, trên báo hay vào sacsgh, nên in khổ chữa to, để câu chữ nào p không có chỗ ẩn nấp”. Thế này thì rõ là “đau chữ đâu câu” chứ đâu? Cứ theo quan điểm này của nhà thơ Trúc Thông, tôi thử suy luận, ông coi mỗi bài thơ như một bông lúa. DĨ nhiên, hiếm có bông lúa nào toàn bộ hạt đều căng mẩy cả, thế nào chẳng có dăm ba hạt lép, thậm chí rất nhiều hạt léo. Thế nên, mỗi bài thơ, những câu chữ hay là nhưng hạt mẩy, còn câu chữ độn, câu như văn nói, hoặc ngô nghê là những hạt lép. Nhìn cả bông khó thấy hạt lép, cũng như đọc cả bài thơ, câu chữ dở, lép lẩn trong cả bài. Vậy mới phải tìm cách để câu chữ dở, lép không có nơi ẩn nấp, lộ diện ra,... Quả là ý tưởng đọc đáo, khác người. nhưng cũng không dễ làm chút nào.
Trở lại thơ Trúc Thông. Sau Chầm chậm tới mình (hẳn là nhà thơ tìm đường hướng,giọng điệu?), Ông tự tin,bắt đầu tăng tốc với Ma-ra-tông, rồi giữ nhịp ở Một ngọn đèn  xanh.  Và sau đó, có chút lắng lại, thoáng băn khoăn ở Vừa đi vừa ở. Khác với nhiều nhà thơ, lấy tên sách như một cách sáng tác, Trúc Thông chọn tên sách với nhãn quan phê bình, thể hiện quan điểm sáng tác của mình. Bao quát, thơ Trúc Thông, du vần điệu hay không, đều hàm súc, suy ngẫm, hình ảnh và giàu sức liên tưởng.
Ngày trước, khi tôi còn tham gia giữ mục cho một tờ báo nọ, tôi từng chon bài thơ “Lát sông quê” và “Nho nhỏ mùa thu “của Trúc Thông để bình. Liên tưởng đến minh triết “Chhẳng một aai có thể tắm hai lần trên một dòng sông”, bài “Lát sông quê,” cùng cảnh tượng trước mắt, tác giả sống lại ký ức xa xưa với hỉnh  bóng bà cụ già, hình bóng người mẹ và câu bé cùng lũ trẻ suốt nửa thế kỷ trôi qua,... như nhau mà lại khác thế, để ngộ ra một sự thật đơn giản “vẫn sông Châu yên lặng thế thôi mà”. Nhưng bà cụ giờ đây rất có thể là con của bà cụ ngày xưa, còn cậu bé “tim loạn nhịp” ngày xưa là tác giả, nhà thơ đứng tuổi lịch lãm phong trần và người mẹ vội chợ ngày ấy giờ đã năm lại ở bờ sông lẫn với đám ngô mà “bờ sông vẫn gió  người không thấy về”.Tim quy luận vận hành của cuộc sống luôn đau đáu và chẳng dễ dễ với Trúc Thông. Tính ông vốn thế mà.
Ở  bài thơ “Nho nhỏ mùa thu”, ngôn ngữ thơ văn xuôi, Trúc Thông tô màu bức tranh: “Đôi chim câu chân son mỏ đỏ, bên bờ con sông Sa Lung/ chim đi đâu đây?/ cúc cù cu chúng tôi kiếm mồi. Cúc cù cu chúng tôi rong chơi? Rồi chim bay vù.Một quãng đáp xuống. Chim lại đi đôi trong cỏ gật gù/ cỏ mùa thu xanh ngả đượm chút vàng. Sông Sa Lung tháng bảy nước chảy phù sa. Trời thu rộng rãi, gió nhè nhẹ trải/ vợ chồng chim như hai anh em như hai bè bạn. Áp trắng ,mắt xườm, chân son, mỏ đỏ. Gật gù đi trong cỏ pha thu.” Nguyên bài thơ như vậy, đầy ắp sắc màu, hình ảnh, sống động, làm nên một bức  tranh thu thật đẹp. Sự cầu kỳ cũng đáng giá đấy chứ?
Bản chất của sự vật và hiện tượng cùng mối liên kết sâu xa của nó mới là mối quan tâm và làm ông bận lòng. Điều này có thể tháy ở một  số bài thơ, như; Cảnh quan, Múa cổ. Qua tháp Dương Long, Vũ nữ Trà Kiệu bước ra từ sa thạch, . Dặn bức tranh năm cô gái, Bài ca các em bé theo công trường,... Ví như, bài Múa cổEm múa điệu rông đô thời cổ/ bàn chân chắc nịch sau làn váy/ da đồng quê/ khăn mận chín vùng vẫy/ ngực căng/yếm sồi/ rông đô/ chân trần tiếp đất/ làng ta thế kỷ mười/ đất âm thầm tự do trong cầm giữ/ rông đô/ trống vỗ/ rông đô/ vai trần/ rông đô/ không biết mệt...”  Cảm giác, Trúc Thông mải miết, không mệt mỏi đi tìm cách diễn đạt mới.
Nhưng thấp thoáng đó đây, lại thấy một Trúc Thông rất đỗi thật thà, chẳng hạn như bài thơ “Cao Bằng”:  “Sau khi qua đèo Gió/ Ta lại vượt đèo Giang/ Lại vượt đèo Cao Bắc/ Thì ta tới Cao Bằng... Rồi đến chị rất thương/ Rồi đến em rất thảo/ Ông  lành như hạt gạo/ bà hiền như suối trong.../ Bạn ơi có thấy đâu/ Cao Bằng xa xa ấy’ Vì ta mà giữ lấy/ Một dải dài biên cương”. Lời thơ giản dị những tình cảm dạt dào. Có lẽ vậy mà các nhà giáo dục đã chọn đưa vào sách giáo khoa Tiềng Việt để giảng dạy cho học sinh bậc tiểu học.
Hay đâu, có một Trúc Thông nhuần nhị, thấm đã tình người, tình mẫu tử trong bài thơ “Bờ sông vẫn gió.” Theo tôi, đây không những là bài thơ toàn bích của Trúc Thông, mà còn là một trong những bài lục bát hayở xứ ta. Hay về mọi nhẽ., ý tứ, ngôn từ, vần điệu,... Cùng câu mở rất gợi, lời thơ ra tựa lời cửa miệng nhẹ bẫng như không mà đằm nặng nghĩa tình ;“Xin người hãy trở về quê/ Một lần cuối... một lần về cuối thôi,Về thương lại bến sông trôi/ Về buồn lại đã một thời tóc xanh/ Lệ xin giọt cuối để dành/ Trên phần mộ mẹ vương hình bóng cha/ Cây cau cũ, giại hiên nhà/ Còn nghe gió thổi sông xa một lần/ Con xin ngắn lại đường gần/ Một lần... rồi mẹ hãy dần dần đi.
Còn  có một Trúc Thông thẩm thơ bằng “con mắt xanh”. Gần bốm chục năm làm biên tập thơ của chương trình Tiếng thơ, Văn học nghệ thuật Đài Tiếng nói Việt Nam, ông đã đọc, đã chọn lựa, bình luận, phê bình hàng vạn bài thơ để giới thiệu cũng thình giả, công chúng. Đây là sự đòng ghóp khồng  nhỏ của Trúc Thông cho sự phát triển của thi ca Việt hiện đại. Cũng nhớ vốn tích luy và kinh nghiệm của ngần ấy năm mà nhà thơ Trúc Thông đã thêm vào gia tình tác phẩm của mình dày dặn.
Với riêng tôi, mấy chục năm công tác cùng cơ quan với nhà thơ Trúc Thông, gặp mặt khi mau khi thưa, ông vẫn cứ thấp thoáng đâu đó, gần gũi đấy mà xa cách đấy, thân thiện đấy mà lành lạnh cách nhỡ đấy,... Về phần mình, tôi luôn kính nể ông, mỗi khi tiếp xuc mạn đàm về văn chương hay cuộc sống, tôi thường nghe ông nói, hơn là chia sẻ, giãi bày,...
Tiếc là, sau nhiều năm năm bệnh sau đột quỵ, hoạt đông văn học của ông phần nào hạn chế. Song với những gì Trúc Thông để lại khi ông rời cõi tạm, bạn bè văn chương và người yêu thơ đát Việt chắc chắn sẽ nhớ đến ông không riêng chỉ “Bờ sông vẫn gió” và tên những tập thơ khác lạ !...
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
VÕ QUẢNG, NIỀM CẢM HỨNG VĂN CHƯƠNG
 Nguyễn Chu Nhạc
 
Sáng nay, một sáng đầu đông, cuối tuần, dù giờ không phải bận công sở, việc làm thêm thì không thời gian, nhưng tôi vẫn giừ cái thói quen cũ, ngủ dậy muộn hơn ngày thường một chút. Một thói quen công chức ăn vào đầu óc, ám vào da thịt, thật khó bỏ. Thủng thắng nhấm nháp chén trà Thái ngon trong tiết trời se lạnh vì gió mùa về đêm qua, lơ đãng ngó mặt ti vi,...
Chương trình văn nghệ sáng cuối tuần, "Người lưu giữ tuổi thơ", phim tài liệu về nhà văn Võ Quảng. Tôi bị cuốn hút, không hẳn vì phim hay, mà vì những hình ảnh về nhà văn Võ Quảng, những tác phẩm văn học dành cho thiếu nhi của ông một thời, rồi con phố Hàng Chuối nơi gia đình Võ Quảng từng sinh sống quanh năm vắng vẻ, và cả vùng quê ông, Đại Lộc, Quảng Nam nằm bên con sông Thu Bồn trong mát, đã gợi lên và sống dậy trong tôi biết bao ký ức tuổi thơ....
Ngày đi học ở quê, tôi đã say mê đọc truyện "Quê nội" của nhà văn Võ Quảng. Ngày ấy, sách hiếm lắm, và sách cho thiếu nhi lại càng ít. Thế nên, cùng với "Dế mèn phiêu lưu ký” của Tô Hoài, "Đội du kích thiếu niên Đình Bảng" của Xuân Sách, "Đất rừng phương Nam" của Đoàn Giỏi, "Quê nội" của Võ Quảng đã cho tôi, và tôi tin cả một thế hệ học sinh, thiếu nhi ngày ấy niềm say mê, lòng khao khát với bao ước mơ, hoài bão...
Với riêng tôi, nhà văn Võ Quảng đã ít nhiều bồi đắp nên trong tôi tình yêu văn học, để tôi tiến gần hơn với nghiệp cầm bút, làm báo, viết văn sau này. Tự thâm tâm, tôi biết ơn ông về điều đó...
Hơn chục năm trước, tôi có vài năm biệt phái vào Văn phòng miền Trung của Đài Tiếng nói Việt Nam đóng chân ở Đà Nẵng, nên có điều kiện qua lại nhiều lần vùng Đại Lộc, Quảng Nam. Đây là quê hương của nhà văn Võ Quảng, vùng đất mà ông nhớ thương suốt mấy mươi năm "ngày Bắc đêm Nam". Vùng đất này thật tươi đẹp, trù phú bình yên bên con sông Thu Bồn nên thơ. Thảo nào, những năm xa quê đằng đẵng ấy, ký ức tuổi thơ đi học đã cho nhà văn Võ Quảng cảm xúc thương nhớ dạt dạt và sự thôi thúc để ông bảy tỏ ra mặt giấy..;
Vậy mà với ông đã trăm năm rồi đấy, và ông vắng bóng trên thế gian này cũng đã hơn chục năm nay, nhưng tác phẩm của ông thì người ta mãi còn phải nhắc đến,...
Vô tình, chuyện về ông lại thức dậy trong tôi, thôi thúc tôi viết một điều gì đấy. Và những câu chuyện bên lề, nhưng ồn ào, xôn xao, ì xèo này nọ, dư âm từ Đại hội nhà văn vừa qua, bỗng bay đi hết. Chỉ còn lại ký ức và sự mong muốn viết ra được mà thôi !...
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
        Người rong chơi cùng văn chương,
                (Nguyễn Chu Nhạc)
 
1. Khai mở
Đấy là Nguyễn Xuân Sinh, bút danh trên các mạng xã hội (Blog Tiếng Việt và Facebook) là Việt An, Nguyễn Việt An, và đây cũng là tên doanh nghiệp gia đình của anh. Việt An, quê ở Yên Phụ, Kinh Môn, Hải Dương, là anh cả trong một gia đình đông con, có bố là giáo viên. Hiện gia đình Việt An sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh.
Ở xứ ta, người yêu văn chương, thơ phú nhiều vô kể, thậm chí, nói theo một cách của một nhà phê bình văn học "Nhà nhà làm thơ/ người người làm thơ/ vè nhất định thắng...", song với Việt An thì lại khác. Chí ít, từ cái xuất xứ văn chương của anh. 
Ngày học phổ thông, Việt An là người học giỏi toàn diện, vì có bố là giáo viên, nên anh được rèn rũa khá kỹ, học hành nền nếp, nghiêm chình. Song môn Văn học trội hơn, nên được nhà trường chọn đi thi học sinh giỏi môn học này năm lớp 10 (hệ 10/10), và trúng tuyển vào Đội tuyển học sinh giỏi của tỉnh Hải Hưng (cũ) niên khóa 1974-1975, để dự kỳ thi giỏi môn Văn toàn miền Bắc (khi ấy chưa giải phòng niền Nam thống nhất đất nước). Đổi tuyển được tập trung về Trường cấp 3 Hồng Quang (thị xã Hải Dương) để bồi dường môn Văn, chừng 2 tháng, trong số đó có nhà thơ thần đồng Trần Đăng Khoa, Trịnh Bá Ninh (sau này là Phó tổng biên tập Báo Nông nghiệp Việt Nam), tôi (Nguyễn Chu Nhạc) và Việt An... Ngày ấy, bồi dưỡng chúng tôi, Ty giáo dục Hải Hưng đã lựa chọn một số giáo viên được xem là giáo viên giỏi môn Văn từ các trường cấp 3 trong tỉnh. Cùng với môn Văn, chúng tôi vẫn phải học các môn khác, đặng theo kịp chương trình học, còn thi tốt nghiệp phô thông nữa. Già nửa số thành viên trong đội tuyển (có tôi, Trịnh Bá Ninh, Việt An...) học tốt cả Toán Lý, nên thời gian rảnh rồi, nhóm này hay mang những bài toán khó (sưu tầm được, hoặc lấy từ Tạp chí Toán học và Tuổi trẻ) thách đố nhau, hoặc chụm đầu cùng giải. Việt An thuộc diện khá thông minh trong cách giải toán...
Thế rồi, kỳ thi giỏi văn toàn miền Bắc năm ấy, Đội tuyển Hải Hưng không ai được giải, kể cả Trần Đăng Khoa, lý do, đề ra mở, khiến mọi người lúng túng không biết chọn thể loại nào để làm bài. Nhưng chưa hết, khi thi vào đại học, không một ai trong chúng tôi chọn chuyên ngành Tổng hợp Văn, hay Sư phạm Văn cả, mà phần lớn là ngành kỹ thuật (Xây dựng, Bách khoa), Sư phạm Toán, Ngoại giao, Ngoại thương... Tôi và Trịnh Bá Ninh học Đại học Nông nghiệp, Việt An học cơ điện, riêng Trần Đăng Khoa nhập ngũ rồi học Trường sĩ quan lục quân... 
Trần Đăng Khoa vào bộ đội, tham gia huấn luyện và đi học trường sĩ quan lục quân, rồi đi chiến trường Campuchia theo quân tình nguyện Việt Nam giải phóng Phnompenh, lật đổ chế độ Khmer Đỏ tàn bạo, sau lại về Bộ Tư lệnh Hải Quân ra Trường Sa, trước khi về Hà Nội học Khóa viết văn Nguyễn Du của Hội Nhà văn Việt Nam, rồi học ngoại ngữ để sang Liên Xô (cũ) học khoa Sáng tác ở Đại học Gorky. Dù ở đâu, thì Trần Đăng Khoa cũng vẫn là đi thực tế để sáng tác, và như vậy, gắn liền với môi trường văn chương.
Trịnh Bá Ninh theo nghề làm báo chuyên nghiệp ngay sau khi tốt nghiệp đại học, khi được nhận về làm phóng viên Báo Nông nghiệp. Đây là điều kiện, để anh sớm có vài bài bút ký được trao giải thưởng của một số cơ quan báo chí tổ chức thi thể loại bút ký. Cùng với bút ký là sở trường, Trịnh Bá Ninh thi thoảng làm thơ, những không cho đăng ở đâu, chỉ đọc chơi lúc cao hứng trà dư tửu hậu. Thơ anh giàu chất suy tưởng. Quan trọng, Trịnh Bá Ninh nhanh chóng được đề bạt chức danh Phó tổng biên tập, chuyên về nội dung, từ khi còn khá trẻ, và có thể nói, anh là một người làm báo giỏi...
Còn Việt An, học ngành điện, vào bộ đội và làm việc đúng với sở học của mình, ấy là chuyên về điện thuộc đại đội doanh trại sân bay quân sự ở Tân Sơn Nhất. Vậy thì dính dáng gì đến văn chương, khi nói anh là người rong chơi cùng văn chương ?
Hãy nghe anh tự bạch:
 
“Việt An không cửa không nhà/ Có người vui miệng gọi là “Việt gian”/ Tuổi thơ nghèo khó, cơ hàn/ Lớn lên đốc chứng dở gàn, dở ương/ Quê nhà ở tận Hải Dương/ Hà Nội đi xuống theo đường số 5/ Nghề nghiệp đúng trăm phần trăm/Là nghề “điên nặng” hỏi thăm biết liền/ Xấu trai, mốc cả mặt tiền/ May trời chiếu cố, vợ hiền con ngoan/ Tuổi đời Mậu Tuất không oan/ Khôn đâu chẳng thấy, thấy toàn…dở hơi/ Buồn vui một chút với đời/Câu thơ tếu táo nói lời tâm can !”
 
2. Trần tình,
Sau khi đọc bài tản văn của tôi Thời gian không trở lại, đăng trên blogtiengviet.net, Việt An đã trần tình: “Đúng vậy ! Thời gian không bao giờ trở lại, chỉ có ký ức là mãi tươi nguyên. Thế hệ chúng tôi sinh ra và lớn lên vào thời gian khó. Bây giờ kể lại, lớp trẻ sẽ cảm thấy như nghe như chuyện cổ tích. Hình như một thời gian khó, làm người ta yêu quí nhau, và nhớ nhau nhiều hơn thì phải ? Văn chương là cơ duyên, giúp cho chúng tôi trở thành bạn học của nhau, dù mỗi người ở mỗi huyện, rải rác khắp tỉnh Hải Hưng cũ. Vào đời, tôi chọn cho mình con đường đi không còn bóng dáng văn chương. Đã mấy chục năm, tôi gần như không còn đọc các tác phẩm văn học. Cuối năm 2008, tình cờ khi lướt web, tôi đặt chân đến làng Blogtiengviệt. Nơi tôi ghé thăm đầu tiên là blog của Phạm Tâm An. Văn chương với tôi bây giờ, thực sự chỉ là những thoáng dạo chơi. Tôi viết cảm nhận tếu táo, với vài bài mang tính giao lưu. Việc đó mang lại cho tôi những người bạn mới, và cả những niềm vui nho nhỏ. Tình cờ khi giao lưu blog, tôi gặp lại bạn tôi- nhà báo Nguyễn Chu Nhạc. Nhưng, người làm tôi hiện diện trước cộng đồng, lại là nhà báo Nguyễn Trọng Huân (người mà tôi cảm mến qua những bài viết của anh), khi anh đã hơn một lần công khai nhắn tìm tôi trên blog, như “tìm trẻ lạc”. Thế giới ảo xa mà gần. Đó là duyên cớ để tôi xuất hiện ở bài viết này của Nguyễn Chu Nhạc. Những năm tuổi trẻ, có lẽ tôi và Chu Nhạc khá long đong. Một chút sai lầm, đã làm việc học hành của tôi bị chia làm 2 khúc, trước khi có được mảnh bằng đại học. Chu Nhạc có thuận hơn, nhưng ra trường lại đi xa biệt, mãi vùng biên giới của tỉnh An giang. Lúc đó tôi đang trong quân ngũ. Muốn vào khu vực đóng quân phải đi qua ít nhất 2 trạm gác được kiểm soát khắt khe. Thật sự chúng tôi ít có dịp gặp nhau... kỷ niệm về những năm tháng đã qua, vẫn còn nguyên vẹn. Năm 2004, tôi ra Hà Nội, đến nhà Trịnh Bá Ninh (hiện là Phó tổng biên tập  Báo Nông nghiệp Việt Nam). Ninh nhấc máy điện thoại thông báo cho các bạn, rồi quay sang nói với tôi: “Bây giờ không còn thiếu thốn gì, nhưng tóm được thằng bạn đến nhà nhậu cũng khó, vì ai cũng bận việc”. Ngoài trời rét đậm. Mưa nặng hạt. Nhìn các bạn khoác áo mưa, đi cả chục km đến, tôi xúc động chẳng biết nói gì. Hôm sau, chúng tôi tụ họp tại nhà hàng Rambo, đường Nguyễn Chí Thanh, Hà Nội. Đang vui, bỗng nhà thơ Trần Đăng Khoa trầm ngâm: “Kinh thật ! Ba mươi năm rồi đấy!" Vâng, chính xác lúc đó là 29 năm, kể từ khi chúng tôi rời ghế nhà trường phổ thông. Đến giờ (năm 2010) là 35 năm rồi ! 35 năm, mà như mới hôm qua. Nhớ lúc Nguyễn Chu Nhạc xin được việc ở Đài TNVN, Trịnh Bá Ninh hấp háy bảo tôi : “Thấy anh Nhạc về đài, các bà chưa chồng ngoài 40 mừng lắm ! Bà nào cũng nhủ thầm, khéo lần này đến lượt mình !??” Dù rằng lúc đó Chu Nhạc mới chỉ 30 tuổi. Dân văn chương vốn hóm hỉnh. Có vô vàn câu chuyện chọc ghẹo nhau tương tự. Lại nhớ, Trịnh Bá Ninh là người lấy vợ sớm hơn cả. Hai vợ chồng Ninh ở một phòng chỉ rộng 9m2, trên tầng 2, do Báo Nông Nghiệp cho mượn, hay cấp chẳng rõ. Khi tôi đến, Ninh ngồi giữa nhà, với tay lôi ra 1 bao lạc củ, miệng nói: “Quà “hối lộ” của nông trường , của hợp tác xã nông nghiệp đấy, ông ạ”! Chúng tôi ngồi bóc lạc để rang. Lại với tay, Ninh lôi từ gầm giường ra 1 cái bếp dầu, 1 can rượu trắng cùng mấy cái chén nhỏ, rồi nói: “Ở nhà chật, sướng thế đấy. Mình ngồi giữa nhà, mà “điều hành” được mọi việc” !? Căn phòng nhỏ của vợ chồng nhà báo Trịnh Bá Ninh, là kỷ niệm đáng nhớ một thời của không ít bạn bè, trong đó có Nguyễn Chu Nhạc. Nhạc và vài người bạn nữa, từng lưu trú tại căn phòng đó nhiều ngày, trước khi xin được việc làm. Tôi cứ thắc mắc, không biết tay Ninh “sáng tác” vào lúc “quái” nào, trong khi mấy thằng bạn chưa vợ “nằm phục” ngay cạnh giường ? Vậy mà “hắn” vẫn “sáng tác” được mới lạ !? Tác phẩm đầu tay là cậu con trai khôi ngô, tuấn tú, hiện là Tiến sĩ dược học tại Mỹ. Trong hoàn cảnh khó khăn lúc ấy, tôi thật sự cảm phục tấm lòng của Mai (vợ anh Ninh), đối với mấy ông bạn “nửa văn thơ, nửa báo chí” của chồng. Lại nhớ thời đi học “miếng cháy to hơn điểm 10”. Nhớ thời đạp xe đạp tìm đến thăm nhau, khi Nguyễn Chu Nhạc và Trịnh Bá Ninh còn học ở trường Đại học Nông Nghiệp I. Mỗi sáng dậy, chen nhau hứng nước đánh răng. Bao nhiêu con người xúm vào cái vòi nước chảy như thằn lắn đái. Câu “Nhất bát, nhì ca, thứ ba cà mèn” xuất phát từ đây. Lại nhớ bài thơ đầu tay “Núi Đôi buổi sớm” của Nguyễn Chu Nhạc, đăng trên báo Văn nghệ, khi anh còn là sinh viên, được lấy cảm hứng từ chuyến đi cùng Ninh, đến vùng Núi Đôi thăm tôi…  Lại nhớ, những lá thư viết bằng giấy học trò của bạn bè, với những bao thư tự chế. Có vô vàn điều để nhớ…đã giúp chúng tôi luôn nhớ và biết sống một cách cố gắng. Tôi vui và tự hào về các bạn của mình. Thay cho lời cảm ơn, một lần nữa, tôi xin mượn lời của Nguyễn Chu Nhạc để kết lại cảm nhận này: “Các bạn của tôi ơi , thời gian không bao giờ trở lại . Chỉ có ký ức là ở lại và mãi tươi nguyên. Vậy thì, sự tiếc nuối hẳn không vô ích, khi mà, Gió đã mang đi ngày hôm qua ?!...”(Nguyễn Chu Nhạc)"...”,
 
3. Đối thoại văn chương,
          Ngày ấy, liền dăm năm (2009-2013), Blog Tiếng Việt (BTV) hưng thịnh lắm, bởi xứ ta chưa biết đến facebook, vả lại, BTV với cấu trúc, tính năng của mình rất phù hợp với văn chương thơ phú, tính tương tác lại cao, nên dân văn chương chữ nghĩa biết chút vi tính (IT) đều lập trang riêng ở đây. Việt An mầy mò vào đây đọc bài trước cả tôi. Tuy nhiên, Việt An chủ trương không lập trang riêng mà chỉ vào đọc bài và ghi cảm nhận khi thích với tư cách là bạn đọc. Anh không muốn phụ thuộc, bởi nếu là blogger thì phải thường xuyên đăng bài, rồi trả lời cảm nhận của người khác khi họ vào trang của mình, và cũng phải sang trang nhà họ chào hỏi cho phải phép. Đại khái, khá mất thời giờ và phiền hà, đấy là chưa kể "tai nạn" vì phát ngôn không khéo làm phật lòng người. Thích rong chơi với văn chương mà lại không muốn "chịu trách nhiệm", Việt An khôn ngoan chọn vai làm khách (bạn đọc). Trang cá nhân ở BTV thì ngàn vạn, nhưng Việt An thường chỉ vào đọc một số trang cá nhân của người quen, bạn bè mà anh quan tâm, quý mền như: nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhà văn Nguyễn Trọng Huân, nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tuyền (thân sinh nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Tiến), nhà thơ Chử Thu Hằng, nhà thơ Trương Hữu Lợi, nhà văn Nguyễn Cao Thâm, nhà văn Lưu Quốc Hòa, nhà thơ Trần Hồng Giang ... và một số cây bút khác như Phạm Tâm An, Phạm Thu Hà, Phạm Huy Việt, Phan Bích Thủy, Nhược Mộng, Vũ Trọng Hoài, Nguyễn Tùng Quân, Văn Lâm An, Hoa Yến Lan, Thoại Lê v.v... Riêng với tôi, bạn học cũ và thân nhau nên Việt An hầu như không bỏ sót bài nào. Và một khi để lại bút tích, Việt An thấu đáo, sắc sảo lắm, chứ không phải khen đại khái cho đẹp lòng nhau như  mọi người hay làm..
          Chỉ bàn riêng trên trang của tôi (Ngẫm & Viết), Việt An đã để lại nhiều cảm nhận, mà thực ra nhiều trong số đó là những bài viết hay, cảm nhận văn chương cho thấy sự am tường, sâu sắc, nhiều khi không hẳn cho bài viết cụ thể nào, mà chỉ mượn cớ để rồi bàn về các vấn đề về văn hóa, văn học, lịch sử, khoa học thường thức, lối sống xã hội, ẩm thực... Có thể, phân biệt những cảm nhận của Việt An thành hai loại...
         Thứ nhất, đối thoại về văn hóa xã hội, và văn chương.
         Chẳng hạn, khi tôi đăng loại ký sự sau chuyến đi Nhật Bản, bàn về hội chứng ngại tiếp xúc xã hội của giới trẻ Nhật hiện nay, Việt An bàn góp: "Khi xã hội phát triển luôn có những hệ lụy của nó. Con người dường như lại cô đơn hơn trong xã hội hiện đại. Tình người như hiện lên qua nét chữ, màu mực. Bây giờ chỉ cần điện thoại, không mấy ai còn viết thư nữa. Có lúc tôi lại thèm nhận một lá thư với cái phong bì tự chế ngày xưa đấy".
          Hay như, tôi đăng bài luận Quần cư, Việt An bình:"Bây giờ, con người ta vẫn sống quần cư. Chỉ khác, cái quần cư bây giờ mang dáng dấp quần cư kiểu...đàn nhím. Những con nhím sống với nhau luôn giữ khoảng cách. Nó không xa nhau quá, làm mất đi hơi ấm lúc Đông về. Nó cũng không gần nhau quá. Khi quá gần nhau, gai con này có thể làm đau con kia, và đau luôn chính mình. Quần cư kiểu đàn nhím, ngày càng rõ nét hơn trong xã hội hiện đại. Hình như trong hôn nhân cũng có khá nhiều hạnh phúc kiểu...tổ nhím!"...
Về văn chương, khi tôi đăng mấy truyện Hiên mưaNgõ trúc và Chúa tể của núi tuyết, Việt An nhận xét: "Đọc văn mỗi người có cảm xúc rất riêng. "Hiên mưa", "Ngõ trúc" là cách viết tự sự , mang tính hoài niệm. Cảnh vật, con người, không gian, thời gian, quá khứ, hiện tại đan xem. Mọi thứ như rõ nét, lại như chìm đi, lãng đãng, mờ ảo, sương khói. Nhân vật chỉ thấp thoáng, ẩn hiện, lúc có, lúc không. Kết cấu như là lỏng lẻo, mong manh, kết lại với nhau chính bằng sự liên tưởng xuyên suốt. Sự liên tưởng ấy tạo nên cái lo-gic, suy tư, thấm đẫm xúc cảm kỉ niệm của con người, khi tìm lại dấu chân xưa...Chất thơ cũng phảng phất, ẩn giấu trong con chữ, mạch chuyện, tạo nên nét đẹp của thẩm mỹ văn chương, cũng như nét lãng mạn riêng. Nói chung, NCN viết văn giàu cảm xúc và chất thơ. "Hiên Mưa", hay "Chúa tể của núi tuyết", có nhiều đoạn làm người đọc, như bị cuốn theo, thả hồn cùng vẻ đẹp mộng mị của văn chương.... Đây là cách viết khó, thể hiện tác giả (NCN) là người cầm bút chắc tay. Kiểu văn này là văn dành cho "người đọc chậm". Cảm xúc người đọc chín dần cùng với sự ngẫm ngợi và suy tư...".
           Khi tôi đăng bài thơ Nợ quê (30.12.2009), Việt An bình: "Tôi đã nói, văn của tác giả là văn viết cho "người đọc chậm". Quả là thế, ẩn chứa trong những con chữ là sự ngẫm ngợi và suy tư. Chất thơ, sự lãng mạn thấm đẫm trong văn phong. Sự sâu lắng và lãng mạn bây giờ lại hiện diện trong thơ NCN. Với ngôn từ giản dị, không cầu kỳ, không làm dáng, mà sự truyền cảm cứ len vào lòng người đọc:"Đời người sao lắm bến mê/ Một đi, một đợi, một quê, một tình!" Cuộc đời dù có bao nhiêu bến mê, thì quê hương vẫn là tất cả những bến mê cộng lại." 
           Hay như, tôi đăng bài thơ Cán Cấu chợ phiên (28.02.2010), Việt An bình: "Bài thơ “Cán cấu chợ phiên” của tác giả, tôi chợt nhớ đến bài thơ “Chợ tết” nổi tiếng của Đoàn Văn Cừ. Phiên “Chợ tết”, dưới ngòi bút của Đoàn Văn Cừ xưa hiện lên sống động, đầy cuốn hút. Sinh hoạt bình thường của “Chợ tết” trở nên thơ… đến bất ngờ :“Những mẹt cam đỏ chót tựa son pha./ Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyêt./ Con gà sống mào thâm như cục tiết,/ Một người mua cầm cẳng dốc lên xem”(Đoàn Văn Cừ). Thơ “Chợ tết” của Đoàn Văn Cừ, mang nét quen thuộc của một phiên chợ tết vùng xuôi. Bài “Cán cấu chợ phiên” của NCN, mang đến một khám phá mới cho bạn đọc, về sinh hoạt chợ phiên, nguyên bản của vùng cao. Đó là điều mới mẻ và thú vị. Hơn thế, bút pháp thể hiện của tác giả (NCN) cũng khá lạ. Địa danh “Cán cấu” được lặp lại liên tục trong suốt bài thơ, mà không có cảm giác đơn điệu. Cứ sau mỗi từ “Cán cấu”, lại là nét phác họa lạ lẫm, mới mẻ về văn hóa chợ phiên vùng cao. Cách thể hiện này hay, nhưng khó. Nếu sự khắc họa sau mỗi điệp ngữ không rõ nét, không đủ sức lôi cuốn, bài thơ sẽ giảm sức hấp dẫn vì rơi vào cảm giác đơn điệu. Sự vững vàng trong cách thể hiện của tác giả, đã biến cái khó, thành cái hay, thành nét độc đáo riêng của bài thơ... Cán cấu chợ phiên”, là hình ảnh sinh hoạt văn hóa tươi rói, lấp lánh sắc màu, và đầy ắp sự kiện. Tôi thoáng chút bỡ ngỡ, như người đi lạc vào một thế giới đầy mê hoặc:“Cán Cấu leng keng sứ sành đồng sắt/ Cán Cấu gà quác, ngựa hý, chó sủa, lợn kêu/ Cán Cấu ngóc ngách tiếng cười rúc rích/ Cán Cấu Tây- Tàu, Mông- Việt hả hê”... Phảng phất ở đó là nỗi niềm riêng -vui, buồn riêng, tạo nên một khoảng lặng trong cái ồn ã náo nhiệt đời thường “Cán Cấu, ai đó cúi gằm ngậm ngùi tình cũ/ Cô giáo Kinh rơm rớm lén chùi nỗi nhớ xuôi/ Mẹ rồi con và ngựa đôi mỏi chờ mong ngóng chủ/ Cán Cấu chợ phiên còn lại mỗi mình tôi”... Lắng lại trong khổ thơ cuối là sự suy tư , như rõ nét, như mơ hồ…mở ra cho bạn đọc một khoảng mênh mông của sự liên tưởng, về cái còn, cái mất, cái đậm nét, cái nhạt phai, của văn hóa, của tâm hồn, và tình cảm trong mỗi con người."...
           Hay như, nhân một lần bàn về thơ sinh viên, thơ tình, Việt An viết lại mấy bài thơ của tôi và Trịnh Bá Ninh theo trí nhớ của mình, và sau đó đã xảy ra một cuộc đối thoại thơ khá thú vị giữa những người bạn với nhau trong BTV (tên gọi vui là Xóm Lá) Trần Đăng Khoa, Trần Hồng Giang, Chử Thu Hằng, và tôi. Việt An khơi mào: "Thơ Lục bát dễ về vần điệu, nhưng viết được hay rất khó. Xem như cái "rất khó" ấy đã được giải quyết bởi bài thơ "Tôi về lại xứ hoa Đào" của NCN".  Trần Đăng Khoa cũng khen bài thơ nàỳ, thì Trần Hồng Giang tếu táo chọc ngoáy làm nên cuộc đối thơ kéo dài  cả tháng,... Thực ra, bỏ qua các chi tiết đùa vui tếu táo mang tính cá nhân, là những suy nghĩ nghiêm túc về văn thơ và mối tương tác của nó với cuộc sống... 

          Thứ hai, Việt An làm thơ bông lơn, hoặc tiếp nối thơ của Chủ bút, hoặc đối thoại thơ với một số blogger khác trong phần ghi cảm nhận của mình...
          Ví như, bài tản văn ngắn của tôi nhân đọc entry của blogger MTV (bài viết của Phạm Thu Hà) về hương vị đầu thu Hà Nội, Việt An đùa: "Cháu lớn lên rồi - xinh quá thôi/ Má hồng, mắt biếc - Thắm đôi môi/ Ước chi, chờ chú trăm năm nữa/ Khi ấy cùng già... sẽ xứng đôi.".
          Hay như, Việt An bông lơn cái bút danh của Nguyễn Vĩnh Tuyền (thân sinh nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Tiến) là BẢO THƯ TUỆ NHÃN băng cách lấy từng chữ ra thành thơ: "BẢO ở nhà thiền lại đến đây/ THƯ phòng bỏ ngỏ nhện giăng mây/ TUỆ minh mấy chữ thơ thành phú/ NHÃN mãn nhìn nhau rượu rót đầy...", cũng là ngầm chọc ngoáy cái bệnh la cà thi phú của bậc đàn anh này...
           Hay như, Việt An đùa Trần Đăng Khoa: "Một trong những giai thoại "lùm xùm" nhất là chuyện TĐK lấy vợ. Chương trình "Gặp nhau cuối tuần" của Truyền hình VN, làm hẳn một buổi phát sóng về sự kiện này, theo cách nhìn hài hước. Khi TĐK có con, báo An Ninh Thế Giới có hẳn một bài viết kín cả trang báo. Kèm bài viết là bức hí họa, với hình ảnh TĐK vừa bế con, vừa quậy bột, Ngón chân cắp cái bàn là (ủi), đang là (ủi) quần áo... dưới nền nhà (!?)Nhìn cảnh huống đó, tôi bật cười, và táy máy ghi vào cạnh bức hí họa mấy câu: "Khoa ơi lấy vợ sướng chưa Khoa?/ Khói bếp cay cay - nước mắt nhòa/ Tay bế con thơ, tay quậy bột/ Hỏi rằng, có tiếc tháng ngày qua ?". Hỏi chơi vậy, tôi tin rằng TĐK luôn hạnh phúc với tổ ấm của mình.",
          Hay như, dịp xuân năm 2012, tôi đăng mấy bài thơ xuân Giêng haiUống rượu ở Sơn La, vào ghi cảm nhận, Việt An đã đối thơ với một nữ blogger ở Đà Nẵng-Mimosadn-đồng nghiệp với tôi. Lấy khổ kết bài Uống rượu ở Sơn La "... mong thời gian chớ qua mau/ nên câu thủ thỉ nên bầu tâm can/ kẻo đêm tỉnh giấc mơ màng/ em thì chẳng thấy bẽ bàng riêng ta...", Việt An nối vần "Quờ tay chạm phải vợ nhà/ Tiếc hùi hụi - rượu Sơn la nửa chừng...!", Mimosadn đùa: "Rượu Sơn La uống nửa chừng/ Uống vào rồi thấy... lừng khừng mới hay ...". Việt An tiếp: "Rượu nào mà rượu chả cay/ Uống vào mới thấy rất hay,... khi mà...". Mimosadn nối:"  Hăng lên, hào mốt, chẳng thà/ Năm xu, đỡ tốn, lại là... rất hay...". 

          Nhớ một dạo, BTV bị rớt mạng, lỗi hệ thống, không hiển thị đến mấy tuần, mọi người nhắn tin cho nhau, thở ngắn than dài vì buồn chán, vì mất đường giao lưu,... Việt An trêu mọi người, làm bài thơ Tình Blog:Tưởng đâu “bờ lốc – bờ leo/ Phen này chắc bị phăng teo mất rồi/ Lão ông nhấp nhổm đứng ngồi/ Lão bà thắc thỏm như hồi đang yêu/ Mấy ngày mới tạm treo niêu/ Xem ra các lão tiêu điều ngẩn ngơ/ Lão ông mặt mũi bơ phờ/ Tay ôm bình rượu, tay sờ…củ khoai/ Lão bà chẳng biết nhớ ai ?/ Nửa đêm mở máy, bấm hoài mà rên!/ May mà hết rủi lại hên/ Lão ông lại được…ở bên lão bà/ Canh khuya lại được qua nhà/ Cứ như…đi bắt trộm gà - thích ghê!...”

          Đại khái, những cuộc bông lơn thơ phú kiểu như thế của Việt An trên Xóm Lá ngày ấy rất nhiều,... Sau này, Việt An tham gia Facebook, tôi để ý, Việt An vẫn sử dụng lối diễn đạt hài hước này, phần lớn để châm biếm một cách sâu cay và hiệu quả những thói hư tật xấu và các biểu hiện tiêu cực trong xã hội.... Âu cũng là hay!?...
 
4. Chút tình thơ văn.
          Là bạn thân với nhau ngần ấy năm, tôi biết, dù chủ trương không theo nghiệp bút nghiên, không bị bả văn chương quyến rũ, nhưng thâm tâm, văn chương vẫn theo đuổi, ám ảnh Việt An trong tiềm thức. Dù nén lòng, không bộc lộ, nhưng mỗi khi, vô tình hay hữu ý, tiếp xúc với môi trường văn chương, thì cái mầm non văn chương thơ phú thuở học trò, không lớn thành cây nhưng cũng không thui chột, nó lại cựa quậy trong lòng anh, lớn lên một chút. Việc Việt An nhớ và thuộc nhiều bài thơ của tôi và Trịnh Bá Ninh làm từ thời sinh viên, cả những bài thơ Trần Đăng Khoa xuất bản miệng lúc bạn bè vui đùa (mà chúng tôi đã quên, hoặc chỉ nhớ lòm bõm), điều đó, vô hình chung, tố cáo, rằng anh chưa bao giờ nguôi chuyện văn chương, mà chỉ cố tình lờ đi thôi. Chính Việt An là người đã giúp tôi tìm lại được một số bài thơ mà tôi sáng tác từ ngày trẻ trai, đặng nhuận sắc, đưa vào mấy tập thơ xuất bản (Chút Thu-NXB Văn học 2011, Hiên Lan-NXB Văn học 2012).
         Có lần, nhân bàn về thơ sinh viên, thơ tình, Việt An đã không cầm lòng nổi, trình làng một bài thơ của mình. 
          Bài thơ Em có về quê cũ?
          “Em có về quê cũ không em ?/ Tối đón trăng lên, nước về - sông Đáy hát/ Lúa con gái đang thì - xanh bát ngát/ Cánh đồng quê hương cỏ dại thơm nồng/ Bờ dâu xưa - ngày ấy mẹ trồng/ Giờ đã biếc muôn ngàn con mắt lá/  Nong tằm chín - sợi tơ vàng óng ả/ Sớm mai hồng chim hót ở trên cao./ Đêm mùa hè - sông Đáy rụng đầy sao/ Em gánh nước - gánh sao về lấp lán/ Đi cùng lối, gặp nhau - em khẽ tránh/ Miệng cười giòn, ánh mắt cứ đung đưa/  Không biết bây giờ em lấy chồng chưa ?/ Mà lâu quá không về thăm quê cũ…/ Mái đình cong, cây đa già bóng/ Ngôi chùa Hà cờ ngũ sắc tung bay…”
          Bài thơ nhẹ nhàng, duyên dáng, song có phần dàn trải. Tôi nghĩ, đây không phải là cái tạng của Việt An. Phải chăng, anh cố làm khác đi, như thể muốn nịnh ai đó, nên vờ nói khẽ cười duyên, bởi Việt An là con người của lý trí, của sự súc tích và sâu sắc. Bằng chứng, trước khi lộ diện bài thơ này, anh đã phi lộ bằng mấy câu thơ trong một bài thơ nào đó của mình, như: "Một thời mái tóc em xanh/ Một thời sỏi đá cũng thành ngẩn ngơ..." và "Một thời như lạ như quen/ Một thời sóng sánh như men rượu nồng/ Ngày em cất bước theo chồng/ Nhớ em như thể - mình không phải mình...". 
          Bản tính này đã từng được Việt An thể hiện trong thẩm và bình luận văn chương, hay như trong dịch thơ Hán Nôm. Sau đây là mấy bản dịch thơ Đường của Việt An:

Hoàng Hạc lâu (Thôi Hiệu)
Hạc vàng người cưỡi khuất xa rồi,
Hoàng Hạc lầu còn với nắng thôi
Muôn nhớ hạc xưa nay vắng bóng
Ngàn thương mây cũ vẫn còn trôi
Hán Dương mây tạnh cây soi bóng
Anh Vũ hương nồng cỏ tốt tươi
Bóng đổ chiều buông quê chợt nhớ
Sông buồn khói sóng dạ đơn côi.

Hay như bài Hồi hương ngẫu thư của Hạ Tri Chương,
Đi xa từ nhỏ, già quay về
Tóc bạc, vẫn nguyên chất giọng quê
Lũ trẻ đứng nhìn đâu có biết
Chào cười hỏi phải khách sơn khê ?


Hay như bài Đề Đô thành Nam Trang của Thôi Hộ, 
Nhà cũ, cài then, nay vắng không
Nhớ ai gương mặt ánh đào hồng
Ngẩn ngơ tự hỏi người đâu nhỉ ?
Chỉ thấy đào xưa cợt gió Đông.


        
Việt An là người có kiến văn phong phú. Có lần, bàn luận về văn hóa ấm thực (Canh chua cá rô bông súng), tôi kết bài viết: "Mà đã là văn hoá, thì dù có mệnh danh văn hoá ẩm thực, cũng đâu phải chỉ là chuyện ăn uống đơn thuần, ở đó, còn có thổ ngơi, phong tục, hồn cốt, tính cách con người một vùng đất hun đúc mà thành!...".  Việt An khoái quá, bàn thêm: "Kết rất hay. Văn hóa bắt đầu từ những gì giản dị nhất. Đọc bài của bạn, tôi chợt nhớ đến món "mắm cáy" quê tôi. Mời bạn "nếm thử" nhé...” Rồi Việt An viết một bài tản văn ngắn về mắm cáy quê mình rất gợi và hay. Chuyện ẩm thực, bàn chơi vậy...
           Bàn về thơ Việt Anngoài những câu thơ đùa vui tếu táo kiểu xướng họa, hẳn sẽ không thấy một Việt An sâu lắng, chắt lọc. Gần đây, vô tình, tôi lượm được vài bài thơ của anh, và nói kiểu vỗ đùi đánh đét rồi thốt lên "Có thể  chứ, tiên sư anh Tào Tháo".
           Vậy ta xem Việt An sâu lắng ra sao: 
           Thoáng quê xưa
 
“Mỗi lần về lại quê xưa/ Thấy người quen cũ - cứ thưa vắng dần/ Bông hoa cúc nở tần ngần/ Sắc vàng ngơ ngác - tắt dần cuối thu. / Đồng xa vẳng tiếng chim gù/ Chuồn kim đá nước, ao tù rêu xanh/ Hoe vàng một chút nắng hanh/ Đàn gà xao xác bên mành giậu thưa, / Quê nghèo cháy nắng, bạc mưa/ Mới về, lại thấy - như chưa được về/ Cải ngồng nhuộm nắng chân đê/ Thoảng hương cốm mới bay về trong mơ... ( Mùa Thu 2007)
Bài thơ gam buồn, thoảng như một tiếng thở dài nhè nhẹ, nhưng đọc lại, thì da diết làm sao. Việt An thầm nhủ lòng mình mà như nói cho tôi, cho bạn, cho biết bao người từng có thời đi học ở quê, lập thân xứ người, đi xa lâu ngày trở lại. thấy làng quê thay đổi không cưỡng nổi, khi mà ký ức tuổi thơ vẫn tươi nguyên...
 
          Và đây nữa. bài “ Gởi nhớ về quê
“Cuối tuần em sẽ về quê/ Thả hồn, tôi lại muốn về cùng em/ Quê nghèo - chốn cũ - lạ quen/ Chiều buông - khói tỏa - lửa nhen ấm lòng, / Gởi về một chút nhớ mong/ Ngọn tre treo mảnh trăng cong cuối trời/ Ao làng chín mọng sao rơi/ Mái gianh nghiêng cả một thời ước mơ. / Gửi về một thoáng tuổi thơ/ Bạn bè một thuở, bây giờ nơi đâu / Nước sông còn vỗ chân cầu / Lá sen, ai có đội đầu che mưa ?/ Tiếng gà còn có gáy trưa / Em còn nhớ lối rào thưa sang nhà?/ Gửi em chút nhớ làm quà/ Cay cay khóe mắt, nhạt nhòa bóng quê.
 
Hay như, bài thơ Có khi, làm như đùa ai đó, lúc dỗi bõ nhau, nhưng ở đó, ta lại thấy chiều sâu tâm thức:
“Có khi em rất dễ thương/ Ngon như thể trái ổi ương đầu mùa/ Có khi em nắng, em mưa/ Đang bão táp, bỗng dạ thưa ngọt ngào/ Có khi em, có khi nào,/ Hai ta mụ mẫm lạc vào trong nhau?...”
 
Đã có đôi lần, lúc trà dư tửu hậu nhóm bạn thân với nhau, tôi đùa Việt An nhưng thật lòng "Ông nên lục kho, đào bới mọi xó xỉnh, lôi hết của nả của mình ra, lựa chọn, nhuận sắc, in một tập cho vui... Tôi sẽ viết lời Tựa sách". Việt An ngỏn nghẻn, nụ cười khó trên gương mặt vốn khắc khổ, nghiêm túc của anh: "Ờ... thì cũng khó... Tôi cũng đã từng nghĩ đến... nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu?... Bởi thơ tôi, như mọi người bảo, cứ cho là hóm hỉnh đi chăng nữa, song mỗi câu, mỗi bài đều gắn với cảnh huống của nó...". 
          Tôi thấu hiểu điều này, chia sẻ với Việt An: "Tôi biết bắt đầu từ đâu rồi... Ông hãy cứ bắt đầu bằng ý tưởng về một cuốn sách của mình... để tôi thử làm một phác thảo về ông cái đã ...". 
          Chẳng hay, rồi Việt An có dính bả văn chương, thơ phú? 
          Ta hãy cùng nghe Việt An giãi bày tâm can:
Văn chương nói chung và thơ ca nói riêng, vốn là một thế giới rộng lớn, mông lung, mà sự sáng tạo ở đó là không giới hạn. Với người ngoại đạo như tôi, thì thế giới ấy càng lạ lẫm. Riêng với thơ ca, đã có đủ cách định nghĩa, từ hàn lâm huyền bí, đến bình dân, và cả những định nghĩa tếu táo về thơ; càng đọc, tôi càng lơ mơ, không biết thực sự “Thơ là gì ?”. Đọc định nghĩa về thơ chưa đủ, tôi đọc thơ. Và thế là tôi rơi vào cái biển chữ, mà chẳng biết đâu là bờ. Đang loay hoay trong thế giới thơ, vừa hấp dẫn, vừa rối rắm ấy, tôi bắt gặp bài thơ “Vảy vàng” của nhà thơ Triệu Nguyễn. (Triệu Nguyễn, tên thật là Nguyễn Triệu, sinh năm 1947, quê Hải Dương, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam). 
           Bài thơ giản dị như  lời tâm sự, giãi bày về nghiệp thơ và về thơ. Bây giờ không còn là thời đại của thơ ca, bởi con người hiện nay bận rộn, và có nhiều điều cần quan tâm hơn. Nhưng, ngay cả khi người ta quan tâm tới thơ nhất, cũng không mấy ai sống được bằng thơ. “Thôi, đừng huyễn hoặc nữa/ Làm thơ mà làm gì?/ Thơ bày trong quán sách/ Bạn đọc nhìn … quay đi!”. Đó là thực trạng có thật, khi thơ nay trở thành món ăn  tinh thần khó bán. “Tất cả giá đều tăng/ Chỉ có thơ là rẻ/ Nhà thơ sống bằng chi?/ Nhuận bút ư? - Nghỉ khoẻ!”. Phàm là nhà thơ, không mấy ai có đời sống khá giả. Nếu có khá giả, cũng không phải khá giả từ thơ. Nhà thơ tinh tế trong con chữ, nhạy cảm trong giao tiếp, nhưng lại không mấy ai nhạy bén trong công cuộc mưu sinh. “Có nhà thơ đích thực/ Từng húp cháo cầm hơi/ Lênh đênh trên biển chữ/ Mung lung trong sự đời”. Thực tế đã chứng minh:“Dẫu đốt trăm thiên thạch/ Soi mặt các nhà thơ/ Ai kẻ giàu, hiếm thấy/ Tự ngàn xưa đến giờ?”. Đọc đến đây, hẳn bạn đọc không khỏi suy tư về nhà thơ, và nghiệp thơ của họ. Bài thơ “vảy vàng” thoáng một chút gì đó, như là chua xót, như là hài hước, mang tính trào lộng, cho sự trớ trêu của danh phận nhà thơ. Nếu coi làm thơ là một nghề, thì đó là nghề mang tính duyên nợ, chứ không hẳn là nghề kiếm sống. Tuy vậy, thơ cũng đã làm vinh danh nhiều người, dù cái danh ấy không làm khá hơn đời sống vật chất của họ.Với một số người khác, thơ trở thành cơ duyên giúp họ hanh thông trên đường đời, với những công việc, khác với việc làm thơ. Trong nhiều trường hợp đặc biệt, thơ trở thành cứu cánh, nâng đỡ con người, giúp con người “vịn câu thơ mà đứng dậy”. Hiếm có nghề nào khốn khó, và đa đoan như nghề thơ; Cũng hiếm có nghề nào mà sự lao động lại tự nguyện và đam mê đến thế. “Ôi, cái nghiệp lạ lùng/ Đa đoan và khốn khó/ Đã vắt, vắt kiệt mình/ Mà yêu không thể bỏ”. Trong một ý nghĩa nào đó, thì nghề thơ còn là nghề của sự cô đơn. Thơ vốn dĩ không phải là sản phẩm của lao động tập thể. Dù hạnh phúc, hay khổ đau, thì nhà thơ, luôn là người độc hành trên con đường của mình. Thơ mang trong nó vẻ đẹp quyến rũ đến mê hoặc. Thơ ẩn chứa niềm vui, hạnh phúc, nỗi đau, sự cô đơn của bao kiếp người; hòa vào trong đó là hương thơm của hoa, mùi ngai ngái của cỏ dại, mùi nồng của mồ hôi, vị mặn mòi của nước mắt…Thơ lấp lánh bình minh,  dịu ngọt ánh trăng,  óng ánh bùn đất…Thơ còn đó, màu mực của đêm, tiếng thét gào của bão tố. Thơ ôm trọn cõi nhân sinh và cả sự hỗn mang của vũ trụ…Thơ là tinh túy của nghệ thuật ngôn từ. Có lẽ vì thế, mà nhiều nhà thơ, yêu thơ đến quên mình, yêu đến ma mị – như là cái nghiệp đã vận vào thân vậy.
Với đa số người yêu thơ, thì thơ là người bạn tâm tình, biết lắng nghe, chia sẻ cảm xúc buồn vui…Thơ nâng giấc tâm hồn. Thơ lưu giữ cho nhau bóng hình kỷ niệm.  Có điều gì như là nghịch lý, khi nói bây giờ không phải thời đại của thơ ca, trong khi số người làm thơ, và số tập thơ in ra hàng năm, đạt mức kỷ lục. Theo thông tin báo chí, mỗi năm có cả ngàn tập thơ được in ra. Đó là chưa kể thơ không in thành tập, được đăng tràn ngập trên các trang web và blog cá nhân. Thơ vẫn như mạch nước ngầm,  âm thầm chảy, hiến dâng cho đời.
Gần đây, có nhiều người tìm cách làm mới thơ. Điều đó là cần thiết. Nhưng, không ít người, đã cố gắng “làm mới thơ” đến mức lập dị, thoát ly hoàn toàn khỏi những giá trị truyền thống. Những câu thơ tắc tị, tối mò kiểu bí hiểm, hoặc sáng choang, xoang xoảng như kèn đồng, có gây ra một chút tò mò ban đầu, nhưng chẳng mấy chốc rơi vào quên lãng; Những con chữ vô hồn, chết còng queo trên giấy trắng. Bây giờ người ta không chỉ đọc thơ, ngâm thơ, mà còn trình diễn thơ, phá cách như lên đồng. Có một số người còn muốn thần thánh hóa công việc làm thơ, để rồi tự huyễn hoặc mình. Họ biến thơ thành thần bí và rối rắm, tự tạo cho mình một lối sống lập dị, cao ngạo một cách hoang đường…May mắn thay, những người như thế không nhiều. Với các nhà thơ,  thơ như là máu thịt, con tim, khối óc; thơ là đứa con tinh thần. Ở góc độ lao động, thì thơ là sản phẩm của lao động thơ, mà người lao động  không  định giá cho sản phẩm của mình, và cũng không định được vòng đời của sản phẩm. Khi bước ra xã hội, thơ có đời sống riêng. Người quyết định giá trị và số phận của tác phẩm thơ, lại  thuộc về công chúng. Với thơ, nhà thơ chẳng có gì để toan tính cho riêng mình. Thơ thanh tao và giản dị, đạm bạc mà cao sang – Cái cao sang của cốt cách con người và giá trị nhân văn ẩn giấu trong thơ. Thơ dường như thoát khỏi những tuyên ngôn mang tính hàn lâm, để cúi xuống thật gần với thân phận con người. Thơ mang ý nghĩa của sự hiến dâng. “Thơ gần với nước mắt hơn là tiếng cười, gần với khổ đau hơn là reo hát, gần với sẻ chia hơn là chiếm đoạt”(Nguyễn Trọng Tạo). Lao động thơ cũng là lao động hiến dâng. Nhà thơ “Như những người đãi quặng/ Chợt vảy vàng hiện ra/ Lại biếu không thiên hạ/ - Ấy là thơ đó mà!”. Ngay cả trong những bài thơ, được coi là viết cho riêng mình, nhà thơ cũng gửi vào đó, bao nỗi niềm trăn trở, riêng - chung.
Với cách lý giải giản dị, qua bài thơ “Vảy vàng”, tác giả đưa ra cách nhìn gần gũi về nghiệp thơ, và về thơ. Trong cuộc sống đời thường, nhà thơ, trước hết là một con người, với bao bề bộn lo toan của món nợ áo cơm. Nhà thơ cũng bình thường như bao người khác; Có khác chăng, chỉ là khác, bởi đặc thù riêng của nghiệp cầm bút. Nhà thơ, cả đời ám ảnh với những câu thơ, như một người mắc nợ. Họ cần mẫn, đa đoan, nhọc nhằn “như những người đãi quặng”, chắt lọc từng con chữ, để rồi dâng tặng cho đời cái tinh hoa của nghệ thuật - những “vảy vàng” lấp lánh và khiêm nhường - ấy chính là thơ. Thơ không chỉ là tinh hoa của nghệ thuật ngôn từ, chứa đựng trong đó những giá trị nhân văn,  mà hơn thế, thơ còn là tinh hoa của lao động nghệ thuật, đầy hy sinh và dâng hiến.”
Vậy là đã rõ. Còn như, làm một tập sách kiểu này, tôi nghĩ, chẳng qua vẫn chỉ là một thú rong chơi mà thôi !?... 
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
RƯỢU NÚI AI RÓT MÀ SAY,...
( Chân dung nhà thơ Lò Cao Nhum)
 
Thế là nhà thơ Lò Cao Nhum, người con của Bản Lác, Mai Châu  đã ra đi mĩa mãi vì căn bệnh trọng.
Biết đến tên và thơ Lo Cao Nhum thì từ lâu nhưng phải đến năm 2011, tôi mới giao du với ông qua mạng Blog Tiếng Việt.
Tôi đi du lịch Bản Lác cũng nhiều, nhưng cũng chỉ có một lần ghé thăm chơi nhà Lò Cao Nhum. Ấy là khoảng mươi năm trước, vào dịp xuân, tôi cùng nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhà thơ Nguyễn Thanh Vân, nhà văn Nguyễn Trọng Huân và nhạc sĩ Phạm Quang Hiển vô  xứ Thanh chơi, thăm nhà của nhà văn Trịnh Tuyên ở Cẩm Thủy, rồi quá bộ lên Bá Thước thăm nhà thơ Trương Thị Màu. Tôi post ảnh lên mạng, nhà thơ Lò Cao Nhum biết tin bèn gọi điện nhắn là khi về thì tiện đường vòng qua Bản Lác, Mai Châu ghé nhà ông chơi. Thế là đoàn chúng tôi sang Mai Châu, đến Bản Lác ghé nhà Lò Cao Nhum. Có trà có rượu nên không khí cuộc gặp thêm phần ấm áp, rôm rả, thơ phú dạt dào,...
Những lần sau, ghé bản Lác, thì hoặc ông chơi xa vắng nhà, hoặc chúng tôi vội nên chỉ í ới qua điện thoại dăm câu ba điều vậy thôi.
Trang cá nhân của nhà thơ Lò Cao Nhum trên Blog Tiếng Việt lấy tên Rượu Núi, tôi đọc thơ ông chủ yếu ở đây. Thi thoảng thấy tên ông trên báo này báo nọ thì bài đọc bài không, nên chẳng lạm bàn, song qua đó cũng đủ để nhận diện, thấy được chất văn hóa bản địa (Thái và Mường) và dấu ấn bản tính nhỏ nhẹ rủm rỉm riêng có của Lò Cao Nhum.
Lần giở từng trang của nhà thơ Lò Cao Nhum trên Blog Tiềng Việt mà ông bỏ lửng gần chục năm nay, ngược thời gian để nhận diện một Lò Cao Nhum, thơ và người. Trang cá nhân của ông lấy tên RƯỢU NÚI, thì hẳn ông phải tâm đắc với bài thơ này và xem đó như sự đại diện hay một tuyên ngôn về thơ, về quê hưởng bản quán và con người mình...
Hãy xem cái cách Lò Cao Nhum, hay rộng ra là người Thái Bản Lác mời rượu bạn bè: “Rượu núi/ Bạn đến/ Mời ngồi xếp bằng tròn giữa chiếu/ Chiếu đan bằng tia mặt trời/ Bát rượu trăng rằm/ Mong hồn vía bạn đừng thất lạc/ Cầu cụ ông, cụ bà, cây si, cây đa/ Gái bản nụ hoa, trai mường cây nghiến/ Ngửa bàn tay cũng da/ Úp bàn tay cũng thịt...”. Vậy thì đâu còn xa lạ nữa, dù bạn là người Thái, người Mường, người Mông, người Kinh hay dân tộc nào đi nữa thì bàn tay cũng da cũng thịt như nhau cả thôi.
Có thẻ nói, chỉ bằng một bài thơ “Rượu núi” Lò Cao Nhum đã xóa nhòa đi cái khoảng cách về sắc tộc. về sự giàu nghèo, gần xa, cũ mới,... Đấy là cái khéo riêng có của nhà thơ, ấy còn là văn hóa ứng xử của người Thái và một số dân tộc thiểu số vùng cao...
Cảm giác chung, Lò Cao Nhum cũng như các nhà thơ người dân tộc thiểu số vùng cao khác (Pơ Sảo Mìn, Lò Ngân Sủn, Mã A Lềnh...) yếu tố dân tộc bản địa rất rõ. Tất nhiên, mỗi dân tộc thiểu số vùng cao, bản sắc văn hóa khác nhau đôi chút, song tựu chung, văn hóa ứng xử lại khá giống nhau, ấy là sự hiếu khách và lòng tin ở còn người. Người Thái, người Mường vùng Tây Bắc đều khá tinh tế và khéo léo trong ứng xử với khách. Bản thân, tôi có nhiều năm ngang dọc Tây Bắc nên hiểu điều này. Giờ hãy xem Lò Cao Nhum thưởng trà với bạn hữu ra sao: “Hương trà thơm thao thức/ Quyện vấn vít mãi thôi/ Em nâng lời chén nước/ Sóng sánh vỗ lòng tôi/ Nhấp một ngụm thành hai/ Nhấp hai ngụm thành mười/ Một đêm trà gió thức/ Chung chiêng lá trọn đời”.(Hương trà). Với cái phép nhân của lòng người “một thành hai, hai thành mười” ấy, mới thấy Lo Cao Nhum khéo và cũng ngoa  làm sao.
          Nét văn hóa của người miền núi đồng rừng, tục “bắt vợ” cũng được Lò Cao Nhum thi vị hóa: “...  Nghiêng lòng rình khe vách/ Ngả tim ngóng buồng trong/ Đâu là trời, là đất/ Đâu là vuông, là tròn./ Tiếng khèn hổn hển/ Khua lạo xạo con đường đá sỏi/ Bỗng lách qua khe liếp/ Vồ dốc núi/
Chộp rừng rú/ Bế bổng thiên thần/ Nhẹ nhõm hòa vào sương ban mai
” (Bắt vợ).
          Văn hóa ứng xử của người Thái, người Mường vốn tinh tế, phả vào người thơ rủm rỉm Lò Cao Nhum nên đã khéo càng thêm khéo. Chuyện gia đình, có khéo ăn ở bao nhiêu cũng chẳng thể tránh được  những  giận hờn, sứt mẻ. Nhưng với  Lo Cao Nhum những lúc thế này: “Hơi tí em bỏ về bên ngoại/ Làm cơm canh, ấm chén rối lên/ Bậu cửa vào vấp chân/ Khung cửa ra đụng trán/Thương cái bếp nguội lạnh...”. Để vợ giận thì chỉ có thua và thiệt thôi, nên người thơ nhủ lòng mình, cũng là cách lấy lòng vợ: “Thôi cũng vì cái vung trót méo/ Cũng vì nắng quá mà mưa/ May mà vung còn dẻo/ May mà vẹo lại tròn/ Bữa cơm trưa một mình/Anh còn so thêm đũa” (Mưa nắng nhà mình). Đến nước này thì gỗ đá cũng tan thành nước, người vợ nào cũng đành cầm lòng, giận dỗi chi nữa. Nịnh vợ giỏi thế, khó có ai hơn được Lò Cao Nhum. Thường ngày  là vậy,nhà thơ nịnh đầm theo quán tính, nhưng hễ có dịp thì tội gì mà không giả vờ có chút tị nạnh với chị em : “Làm phụ nữ thích thật/ Có ngày vui tháng ba/ Có ngày hoa tháng mười/ Làm phụ nữ vui thật.../  Làm phụ nữ sướng thật/ Bao nhiêu là tiếng khen/ Bao nhiêu là lời tán/ Ngọt thơm suốt cả đêm..”, nhưng rồi vẫn nửa thương nửa răn dạy: “Ngày vui ngắn chẳng tày/ Về còn lo con nhỏ/ Còn trăm ngày giặt giũ/ Còn nghìn đêm khóc thầm./ Phụ nữ vốn rộng lòng/ Đàn ông đừng hẹp bụng/ Phụ nữ đáng thưởng lắm/ Ngày nào cũng ngày hoa” (Thơ vui ngày hoa tặng cánh mày râu). Tị nạnh như thế thì cũng là một cách lấy lòng người thôi. Khôn thế, có mà khôn hết cả phần thiên hạ à ...
          Những tưởng chỉ vui bàn chuyện văn hóa dâ\n tộc, ứng xử cộng đồng làng bản, gia đình vậy thôi, chứ thực ra, nhà thơ cũng thích bàn chuyện thế sự. Song chuyện thế sự có ghê gớm thế nào đi chăng nữa thì cũng nhìn từ bản thân mình, từ người thân mà ra chuyện thiên hạ. Hãy xem Lò Cao Nhum bàn chuyện thế sự ra sao? “Họ bảo tôi đi đường ngược chiều/ Bị phạt là điều cầm chắc/ Chợt hiểu đấy là phép tắc/ Giống bản mình giăng bủa Ta leo... / Ngôi nhà ta có nóc, có sàn/ Làm người không thể không phép tắc/ Phép tắc không thể không chòi gác/ Cuộc đời có ngã ba, ngã bảy/Trong ta có đèn đỏ hay không...” (Ngược chiều).
Vậy thì lệ làng, phép nước cũng nhìn nhận từ bản thân mình mà ra. Bố bản hay ai cũng thế cả thôi, cứ phải khép mình mà tuân thủ suy ra phép công thì xã hội mới có trật tự chứ.
Căn phòng tôi một góc khói bay/ Tôi ngấu nghiến chợ chiều ùa đến/ Nhịp đời thường cà chan nước mắm/ Không góc đêm chạm cốc bon che./ Căn phòng tôi chiếu rải thênh thênh/ Ríu ran tiếng giao lưu đồng loại/ Nhịp nhàng tiếng đưa nia sàng sảy/ Nụ cười thơm lọt sàng xuống nia” (Căn phòng tôi). Cái riêng đã thành chung rồi, chuyện của mình thành chuyện làng xã, chuyện xã hội thôi. Thế sự với Lò Cao Nhum cứ thủ thỉ là vậy.  Chẳng hơi đâu phải đao to búa lớn cả, chuyện thế sự đơn giản là lời dăn con:  “Rồi ngày mai con xuống núi/ Gặp phố phường ngã bảy, ngã mười/ Gặp lòng người đỏ, vàng, đen, trắng/ Mỗi lần vấp, một bước đi/ Sẽ sực nhớ người thầy trên núi.../ Ngày mai con xuống núi/ Cùng tay nải hành trang đầu tiên/ Đi như suối chảy về với biển/  Chớ quên mạch đá cội nguồn.” (Ngày mai con xuống núi)...; Hay đâu như chuyện ăn bát phở dưới phố: “Người Núi xa bản Mỗ, bản Lác/ Đi phố xa cải tổ cái đầu?/ Sau hội Thơ, hội Văn, hội Bè, hội Bạn/ Muốn về lắm rồi/ Nhớ gà đồi…/ Thế là xong/ Người Núi làm sao biết được/ Mấy trăm tấn gà mắc dịch om, lưu/ Bột rượu cồn nhập của Tàu pha nước/ Thơm lừng môi – trôi xuống ruột: ngọt lừ!/ Ngon lỗ miệng – bụng đứ đừ/Ung thư, tắc ruột coi như xong đời...” (Đau cái sự phở gà); Hay đơn giản là nghe tiếng chim ngoại thành: “Lật chăn bên này/ Trở gối bên kia/ Tiếng chim cuốc/ Ven đầm sậy một khu đô thị/ Đêm không vắng/ Mà thăm thẳm/ Chim gù đôi/ Như khoan vào đáy ruột.../ Lặng nghe đêm sâu/ Tiếng chim đôi khi như nấc/ Tiếng chim thảng thốt/ Giữa chói chang sức nén/Ngàn tấn bê tông...’ (Tiếng chim cuốc been đầm ngoại thành): Hay là chút cảm xúc khi về Điện Biên thăm Mường Phăng: “Chín sẽ quên và mười sẽ quên// Nhưng không quên Pú Thẩu (*) Đại tướng/ Mùa hoa vông đếm hoa vông ngồi đợi/ Mùa hoa bưởi ngắt hoa bưởi chờ mong./ Về Mường Phăng câu ca còn ngân/ Sáu mươi mùa ve sôi chín núi/ Ngày noọng sao hát lời buộc trói/ Pú Thẩu về sợi chỉ về theo...” (Câu hát Mường Phăng); Rồi nữa, khi bố bản nhìn thấy cây thốt nốt bên bờ biên giới sinh ngẫm nghĩ: “Cây thốt nốt lắc lư vô tư nghiêng ngả./ Rễ chùm uống nước ruộng này/ Uống nước ruộng kia/ Cỏ xanh cũng không chia/ Phương này phía nọ./ Chàng trai Căm Pu Chia ruộng bên buông cày/ Cô gái Nam Bộ bên này ngơi tay gieo sạ/ Dưới vòm râm thốt nốt/ Rôm rả mùa màng” (Cây thốt nốt giữa bờ biên giới); v.v... Cứ rủ rỉ tâm sự như tự nói với chính mình, Lò Cao Nhum suy ngẫm và  kể chuyện thế sự theo cách riêng của mình, chẳng khác mấy việc  hàng ngày ông tìm lối mòn lên núi hay đi nương rãy,...
          Như thế, cũng không có nghĩa mọi việc phả vào nhà thơ đều đơn giản cả, không đa sự song ông cũng ưa triết lý: “Ừ đời người mới đó buổi mai/ Dăm chén rượu đã chạm chiều chạng vạng/ Nồng say mối tình không biết ngán/ Chẳng khỏa đầy nỗi hoảng hốt bâng quơ./ Ừ thì trời cho ta làm thơ/ Phơi phới đi từ thiếu thời cắp sách/ Nhưng cũng khoác cho ta áo rách.../ Sáu mươi năm còn vá đụp vá chằn...” (Những con giáp di); “Ở trên núi có bấy nhiêu hộ/ Một phần ba giầu có đỏ rừng,... / Một phần ba mới giầu nửa chừng/ Vừa ăn vừa dụm sinh dè sẻn,.../ Còn lại một phần ba liêu xiêu/ Gió tháng tám tốc cả lên rừng/ Đã thế sự nghèo đuổi tận cùng/ Cáo hay bắt trúng gà kẻ khó” (Trên núi có ba loại người); “”Pù Bin có sấm rền bất chợt/ Dội lên giấc ngủ giữa trưa mù/ Giấc mơ không thể mơ trọn giấc... / Người Pù Bin lầm lỳ như núi/ Cao xanh trên sương gió, nắng mưa/ Người rẻo cao tình bền củi lửa/ Râm ran cháy nỏ suốt bốn mùa (Ở đèo cao Pù Bin),... v.v...
          Quả thật, đọc thơ  Lò Cao Nhum, những khi bắt gặp ông triết lý, tôi cứ cười thầm, nghĩ bụng và hình dung, khi viết ra những câu thơ mang tính triết luận như vậy, hẳn nhà thơ nhẩm bụng hay lẩm bẩm một mình “này, đừng có nghĩ là người vùng cao chúng tớ ai cũng thật thà như đếm đâu nhớ,...?”. Song rõ là, cái kiểu triết lý như vậy. chẳng giống người miền xuôi tẹo nào, vì nó vẫn rất chi là “thật thà đáng yêu”, hay chăng  người giả vờ “thật thà đáng yêu “?...
          Nhà thơ, ai mà chẳng đa sự, đa tình. Âu cũng là cái cách nhà thơ tự đo-ping, gây cảm xúc  để thành thơ?... Thứ tình cảm  mà  nhà thơ Thuận Hữu đã buột miệng nói hộ thiên hạ chúng sinh ấy, chút ý nghĩ  “ngoài chồng ngoài vợ”. Giờ thì xem Lò Cao Nhum sóng sánh ra sao?
Lần giở thơ ông, bắt gặp một bài thơ của một bạn thơ giấu tên thật, ký bút danh THỊ NỞ tặng thơ Lò Cao Nhum: “Quả cuối năm ngọt đậm/ Hoa cuối mùa vẫn hương/ Nắng cuối chiều như mật/ Đỏ thêm nét môi hường./ Thời gian ào suối lũ/ Cuốn mưa nắng từng ngày/ Muối đã mặn vẫn mặn/ Gừng đã cay thêm cay./ Từ ngàn xưa đến nay/ Tình yêu là phép lạ/ Chỉ một giọt trong ngần/ Cũng sánh ngang biển cả./ Cơn mưa rào mùa hạ/ Dào dạt ướt vai anh/ Giấc mơ trưa có thật/ Một bờ vai xanh xanh”.  Lại lần hồi cho rõ nguồn cơn, có một bài thơ của Lò Cao Nhum, trước đó không lâu gửi  tặng một "người hôm qua" nào đó, đọc rồi thì hiểu đây là bài thơ khởi  từ phía nhà thơ, khơi nguồn cho bài thơ hồi đáp của người bạn thơ giấu tên kia: “Không thể gọi người xưa/ Vì ngày mai còn nhớ/ Không thể gọi ngày cũ/ Bởi tình nào đã xa./ Mà thời hoa là hoa/ Đến mùa nở cứ nở/ Hương chắt chiu cho quả/ Ai hái trái vườn xưa?/ Kể gì thủa bâng quơ/ Gì nên ở còn ở/ Thời gian ào thác lũ/ Cuốn mưa nắng từng ngày./ Chỉ lạ điều xưa nay/ Tiêu nghìn vàng không nhớ/ Hoa buổi đầu chớm nở/ Gió day dứt trọn đời” (Thơ gửi người hôm qua),....
Có thể, chỉ là võ đoán, song tôi thấy thấp thoáng đâu đó bóng dáng cái người mà nhà thơ gọi là “người hôm qua” ấy, khi bắt gặp đôi ba lần nhà thơ giới thiệu thơ của một “nàng thơ” trên trang cá nhân của mình. Sự việc đó khiến tôi cứ liên tưởng, sâu chuỗi,... rồi suy luận vậy thôi,... Âu cũng là để ta nhìn nhận con người thơ Lo Cao Nhum thi vị hơn chăng ?...
Nhớ về Lò Cao Nhum, không thể không nhớ đến bài thơ Rượu núi của ông. Nhưng Lò Cao Nhum còn có những bài thơ khác, ta không thể bỏ qua để thêm phần rõ cái triết lý về nguồn cội sắc tộc, dấu ấn văn hóa bản địa, chất Thái Mường hòa quện nhuần nhị trong con người và thơ ca của Lò Cao Nhum (ông có cha người Thái mẹ người Mường) : “Nhận ra anh em/ Nhận ra họ hàng/ Nhận ra đồng tộc/ Khi nóc nhà có hoa khau cút/ Đấy là tin hiệu vui/ Tín hiệu máu mủ/ Anh có thể cởi dép/ Rửa chân lên thang/ Tìm chỗ ngồi của mình nơi góc chiếu,.../ Rồi anh ra đi/ Ngoái nhìn ngọn hoa mưa nắng/ Thơm thảo nơi mái lá nhà sàn/ Văng vẳng níu chân lời hát/ Người ta chỉ muốn gần nhau thôi” (Nóc nhà ta có hoa khau cút);  “Ông nội tôi khai sinh miền đất/ Bắt đầu là gồng gánh núi non/ Ở trong núi có mồ hôi của đá/ Trong đá kết tinh nỗi khổ/ Nỗi khổ ủ niềm khát khao/ Rồi ông vung dao phạt quang mầm đói/ Ông chọc lỗ gieo hạt củ no/ Sự sống ấm chân trời hoang sơ,...” (Ông nội tôi khai sinh miền đất); “Tao có chồng, mày đi bắt vợ/ Bao mùa vụ cắm cúi đời nương,.../ Giờ mày năm chân, tao bảy tay/ Chuyện chồng vợ còn giấu vào núi/ Tao nhớ mày gùi lưng lủi thủi/ Nén mũi kim thêu áo cho chồng,.../ Chợ tình tâm sự mấy mươi phiên/ Yêu thương gập ghềnh còng dáng núi,...”  ( Lời chợ phiên). v.v....
Vậy đấy, văn hóa bản địa, sắc tộc tháng ngày lẽo đẽo theo chân  nhà thơ mang dấu ấn đời sống thường nhật, từ nét hoa văn nhà sàn, chuyện cha ông khai sơn lập bản, nét ẩm thực bát rượu nắm xôi, đến phong tục chợ phiên chợ tình,... với Lò Cao Nhum hòa quện, chung đúc thành thơ mà nên giọng điệu của riêng  ông.
           Cũng như một số nhà thơ dân tộc thiểu số khác, có thể nói, Lò Cao Nhum ít nhiều góp phần công sức làm phong phú văn hóa dân tộc mình.
           Hơn cả, người ta ghi nhận nhà thơ Lò Cao nhum ở điểm này.
Những ai, đã ít nhất một lần,  như tôi từng nâng bát rượu núi ngồi khoanh chân nơi sàn nhà Lò Cao Nhum ở Bản Lác, thì hãy thêm lần nâng bát rượu núi trên tay, bởi Lò Cao Nhum đã mời: “... Rượu nhà tôi// Rượu buộc chỉ cổ tay/ Thắp lửa tình chiêng, tình trống/ Đã uống vắt kiệt chum mà uống/ Đã say đổ tràn tình mà say/ Nào bạn ơi/ Cụng bát cùng rẻo cao muôn đời/ Chụm bền ngọn núi/ Giữa chiếu đan bằng tia mặt trời.”...
Giờ đây, .... Rượu núi ai rót mà say?...
Khi mà, Lò Cao Nhum đã rời bỏ mọi người, ngủ vùi giấc muôn đời nơi Xứ Mường đồng vàng, núi xanh, mây trắng,...thả cho thơ mình mặc sức thung thăng !... ./.
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
Đệ nhất võ công thế giới kiếm hiệp
KIM DUNG
 
 
1.
 
Kim Dung tiên sinh quả không hổ danh oai trấn giang hồ giới cầm bút võ hiệp kỳ tình. Có thể mạnh dạn mà đưa ra nhận định như thế.
          Nửa đầu thế kỷ hai mươi, các tín đồ của truyện kiếm hiệp xứ ta say mê với các tiểu thuyết kiếm hiệp như Bồng Lai hiệp khách, Giao Trì hiệp nữ, Lục kiếm đồng... hay một số tiểu thuyết dã sử mang màu sắc kiếm hiệp như Thuyết Đường, Chinh Đông, Chinh Tây, Vạn hoa lầu, Ngũ hổ bình Liêu, Ngũ hổ bình Nam, Phấn trang lâu v.v... Song như thế chưa thấm đâu, và sẽ là thiệt thòi nếu như không được biết đến hàng loạt những tác phẩm kiếm hiệp khác của các danh tài như Kim Dung, Cổ Long, Lương Vũ Sinh, Ngọa Long Sinh, Nam Kim Thạch, Trần Thanh Vân...
          Trong số ấy, ngôi sao sáng nhất không ai khác ngoài Kim Dung tiên sinh. Không cần nhắc đến toàn bộ sự nghiệp, chỉ cần mấy bộ trường thiên như Thiên long bát bộ, Xạ điêu anh hùng truyện, Ỷ thiên Đồ long ký, Tiếu ngạo giang hồ, Thần điêu hiệp lữ, Lộc đỉnh ký, Kim Dung đã khiến không ai sánh kịp ông rồi. Thêm nữa, mấy bộ ngắn hơn như Thư kiếm ân cừu lục, Tuyết sơn phi hồ, Phi Hồ ngoại truyện, Bích huyết kiếm, Liên Thành quyết, Hiệp khách hành ... cũng rất chi là đặc sắc và hấp dẫn .
          Độc giả say mê truyện kiếm hiệp của Kim Dung từng đặt câu hỏi, rằng trong thế giới võ hiệp của Kim Dung, nhân vật nào là người có võ công cao cường nhất? Hỏi vậy rồi người ta tự trả lời, phải chăng đó là Vương Trùng Dương, Lâm Triều Anh, Trương Tam Phong, Đạt Ma Tổ Sư, Tiêu Dao Tử, Độc Cô Cầu Bại, Phong Thanh Dương, hay là Vô Danh Thần Tăng, Hoàng Sam Nữ Tử, Đông Phương Bất Bại, Hoàng Dược Sư, Hồng Thất Công, Âu Dương Phong, Chu Bá Thông,...? Hay còn ai nữa?
Tôi nghĩ, nếu có đưa ra một cái tên cụ thể nào đó thì sẽ ngay lập tức xảy ra tranh luận chẳng đi đến cả. Chẳng thể có câu trả lời chính xác, bởi không có căn cứ, vả lại cách nhìn nhận và lòng yêu mến từng nhân vật của độc giả khác nhau. Vậy thì, chỉ có một câu trả lời khả dĩ có thể chấp nhận được, người có võ công thượng thừa trong thế giới võ hiệp của Kim Dung chính là Kim Dung tiên sinh, bởi không ai khác, ông là người đã tạo nên một thế giới phiêu dật kỳ ảo với các nhân vật võ công cao siêu tranh hùng tranh bá,...
          Ở Trung Hoa, nếu trước đây có Hội Hồng học (Hội của những người chuyên nghiên cứu tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng và tác giả của nó là Tào Tuyết Cần) thì giờ đây có thêm hội của những tín đồ yêu mến và chuyên nghiên cứu về Kim Dung tiên sinh cùng các tác phẩm của ông. Đấy là một vình hạnh không dễ ai có được.
          Trên thế giới, có nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu quan niệm rằng, kiếm hiệp không phải là văn học, mà chỉ là cận văn học, nên tác giả của loại tiểu thuyết này cũng không phải nhà văn. Đánh giá như thế nào là quyền của họ. Tuy nhiên, nếu chỉ cần lấy tiêu chí là số lượng người đọc và sự ảnh hưởng của tác phẩm đến văn hóa đọc, đến đời sống xã hội thì chắc chắn Kim Dung xứng đáng với danh hiệu nhà văn hơn ối nguời. 
          Rõ ràng Kim Dung cùng các tác phẩm của ông là một hiện tượng đặc biệt trong làng văn hóa đọc ở thế kỷ 20, và lan sang cả thế kỷ 21, không riêng gì ở Trung Hoa mà cả châu Á và thế giới.
          Tôi nhớ không thật rõ, nhà văn Vương Sóc thì phải, đã có bài viết về Kim Dung (Kim Dung trong mắt tôi) và ở đó, sự đánh giá về Kim Dung tiên sinh rất thường, khi cho rằng tiểu thuyết kiếm hiệp nói chung không phải là văn học với đúng nghĩa của nó, nên cũng coi như không đóng góp gì cho tiến trình phát triển của văn học cả, mà chúng chỉ là thứ mua vui  (giải trí) cho đông đảo độc giả mà thôi.
          Cứ cho là như thế đi, vậy chúng ta sẽ lý giải làm sao khi đánh giá tính văn học của các bộ sách như Harry Porter (J.K. Rowling), Chúa tể của những chiếc nhẫn (The Lord of the Rings - J.R.R Tokien), Mật mã Da Vinci, Thiên thần và ác quỷ (Dan Brow)- những tiểu thuyết thần thoại và trinh thám, xét cho cùng như một thứ kiếm hiệp thời đại mới của châu Âu ? Xa hơn nữa, là những Shelock Holmes (Conan Doyle) hoặc Bá tước Monte Cristo (Alexandre Dumas) cũng vậy ?
          Tôi dám cả quyết rằng, riêng sự ly kỳ và tính hấp dẫn, truyện kiếm hiệp của Kim Dung tiên sinh đã ăn đứt rồi. Đấy còn chưa kể đến những hiểu biết rất chi là siêu của tiên sinh về lịch sử, địa dư, triết học, tôn giáo, võ học, y học ... được thể hiện trong các tác phẩm một cách tài tình.
          Quay trở lại với những tác phẩm của Kim Dung. Tiên sinh đã gác bút sau 15 tác phẩm trường thiên, dài ngắn đủ cả. Lý do ông gác bút, có thể dã cảm thấy bút lực không còn dồi dào, và sự lặp lại đã thấy đâu đó trong một số tác phẩm. Cũng có thể từ những nguyên do khác nữa. Song theo tôi, khác với Cổ Long và một số cây bút võ hiệp kỳ tình khác, viết vì tiền và viết như một thói quen, Kim Dung tiên sinh ý thức việc gác bút khi đang ở đỉnh cao. Đấy là một điều khó, khiến ông khác người và đương nhiên việc ấy tôn ông lên vị trí cao hơn những người khác. Quả nhiên, dù không viết thêm tiểu thuyết kiếm hiệp nào nữa, nhưng ông đâu có vì thế mà kém đi về tiền tài và danh vọng so với thiên hạ. Việc những tác phẩm của ông ngày càng được dịch ra nhiều thứ tiếng với số lượng bản in cực lớn, thêm vào đó, các nhà điện ảnh đua nhau dựng phim ăn theo, tất thảy, đều đem đến cho ông những khoản thu khá lớn từ bản quyền. Tiền tài và danh vọng đủ cả. Không những thế, ông còn được phong giáo sư danh dự và thỉnh giảng ở nhiều trường đại học danh tiếng trên thế giới.
          Sự gác bút đúng lúc của Kim Dung tiên sinh cũng đáng giá lắm chứ ?!
          Gần đây, thiên hạ om xòm với tiểu thuyết kiếm hiệp Tru Tiên của một chàng sinh viên thất nghiệp (Tiêu Đỉnh). Nghe đâu, khi xuất hiện vào năm 2003, nó đã gây nên một làn sóng trong giới độc giả mê kiếm hiệp ở Trung Hoa, và cùng với " Phiêu Diểu chi lữ ", "Tiểu Binh truyền kỳ " làm thành  "Tam đại kỳ thư Internet ". Tôi đã đọc nó trên mạng, và chỉ sau ít trang mê hoặc phần đầu, tôi đã nhận ra sự non kém của nó về mọi phương diện. Cái được cư dân mạng gọi là "thời đại kiếm hiệp hậu Kim Dung" hay là “Tiên hiệp” gì đó đã nhanh chóng chết yểu khi nó được phơi ra dưới ánh sáng ban ngày trước bàn dân thiên hạ dưới dạng ấn phẩm.
          Lại cũng mới đây, báo chí Trung Hoa đưa tin về một cuộc bỏ phiếu xếp hạng các nhà văn có tên gọi là "Bảng xếp hạng thực lực nhà văn Trung Quốc", được hình thành từ 58 nhà văn- ứng cử viên được giới thiệu bởi 10 nhà phê bình văn học do Chu Đại Khả cầm đầu. Kết quả, người được 9 phiếu là Mạc Ngôn; được 6 phiếu có Dư Hoa, Vương An Ức...; được 5 phiếu có Bắc Thôn, Tô Đồng, Giả Bình Ao...; nữ văn sĩ đương kim Chủ tịch Hội nhà văn Trung Quốc là Thiết Ngưng cũng chỉ nằm trong số được 4 phiếu ; còn Vương Sóc và Trần Trung Thực cùng mấy nhà văn khác thì chỉ được có 3 phiếu mà thôi. Tôi không rõ trong số 58 ứng cử viên được giới thiệu bình chọn có Kim Dung hay không ? Song nếu có thì cũng chẳng biết sẽ ra sao, bởi nhìn chung, mỗi nhà phê bình đều có quan niệm riêng của họ, vậy nên, mức độ tin cậy chỉ còn một nửa. Đấy mới là sự xếp hạng của chục nhà phê bình mà thôi. Nghe đâu, danh sách 58 nhà văn ứng cử viên này sẽ còn được công bố để rộng khắp bạn đọc bỏ phiếu. Kết quả phiếu bầu của đông đảo công chúng mới là quyết định đưa đến chung cục cho bảng xếp hạng này.
          Dầu sao, tôi nghĩ, Kim Dung luôn được bạn đọc ở khắp mọi nơi trên thế giới thán phục và yêu mến, bởi ông đã đem đến cho họ những cảm xúc bi tráng và phiêu bồng khi đọc các tác phẩm của ông.
          Đấy là phần thưởng không dễ gì có được !
 
 
2.
 
Trong số các nhà văn được bỏ phiếu bình chọn ngày nào ở Trung Quốc thì người dẫn đầu là Mạc Ngôn đã giật giải Nobel văn chương (năm 2012) với các tác phẩm Phong nhũ phì đồn Đàn hương hình cùng nhiều tác phẩm xuất sắc khác. Như vậy, cũng có thể nhận định cái hội đồng bình chọn ấy là nghiêm túc, công tâm và khá chuẩn xác. Tuy nhiên, cái gì cũng mang tính tương đối, bởi khoa học xã hội nhân văn, có chính xác đến đâu chăng nữa, một khi còn bị chi phối bởi yếu tố cảm xúc thì đương nhiên kết quả dễ lung lay và thay đổi theo thời gian. Giờ đây, người ta không kể tên Dư Hoa, Vương An Ức, Tô Đồng, Vương Sóc, Giả Bình Ao... những nhà văn Trung Quốc từng được đánh giá cao một thời, mỗi mùa Nobel văn chương với tư cánh là các ứng cử viên năng ký, mà lại nhắc đến cái tên Tàn Tuyết... Nhưng rồi, Nobel văn chương cũng chưa xướng tên bà này. Dẫu sao vẫn còn hy vọng các mùa sau,...
Nói chuyện này, thực ra dể trở lại một cái tên quen thuộc hơn nửa thế kỷ qua, kể từ khi ông còn sung sức hay thời gian gác bút và cả khi đã qua đời, ấy là Kim Dung cùng các tiểu thuyết kiếm hiệp trứ danh của mình,...
Các tiểu thuyết dài hơi của Kim Dung, tôi đọc đi đọc lại. Khi chúng được điện ảnh hóa, nhất là các phiên bản do Trung Hoa đại lục dựng, cũng xem nhiều lần. Vậy điều gì đã hấp dẫn tôi làm vậy, khi mà nhiều tác phẩm hàng kinh điển của các nhà văn lớn trên thế giới tôi chỉ đọc một vài lần? Thật khó lý giải cho rạch ròi với những câu hỏi tại sao, khi mà các tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung, người ta không công nhận là văn học đích thực, mà chỉ cho là á văn học, cận văn học gì đó?
Hấp dẫn, với nhiều thế hệ độc giả, đấy là điểm mạnh không dễ gì các tác phẩm văn học khác sánh được tiểu thuyết kiếm hiệp cảu Kim Dung. Điều gì đã tạo nên sự hấp dẫn đó? Võ hiệp kỳ tình, đã trở thành khuôn mẫu cho thể loại truyện kiếp hiệp nói chung mà các tác giả khác (như Trần Thanh Vân, Lương Vũ Sinh,  Ngọa Long Sinh, Cổ Long, Nam Kim Thạch...) sử dụng. Kim Dung cũng vậy, song hẳn ông còn có những “vũ khí” khác, chiêu trò khác để tạo nên sự hấp dẫn riêng có?...
 
Điểm dễ nhận thấy “cái chốt” mà Kim Dung đóng trong truyện của mình, hay nói một cách khác, “chìa khóa vạn năng” dể mở mọi cánh cửa diệu kỳ, ấy là “duyên kỳ ngộ”. Hiểu nôm na thì đó là “sự gặp gỡ kỳ diệu”. Ở đây, không chỉ là duyên kỳ ngộ của các nhân vật nam chính nữ chính với nhau, mà là sự hợp duyên của nhân vật chính với loại võ công thượng thừa do vô tình có được,... Nào hãy xem, Trương Vô Kỵ vô tình có được Cửu dương thần công và Càn-khôn-đại na-di; Lệnh Hồ Xung tình cờ mà được Phong Thanh Dương truyền thụ kiếm khí thượng thừa với triết lý khác người “vô chiêu thắng hữu chiêu”, và cũng vô tình học được Hấp tinh đại pháp; Dương Quá thì tình cờ được võ công của Độc Cô Cầu Bại; Đoàn Dự vô tình học được phép Lăng-ba-vi-bộ của Tiêu Dao phái và Lục Mạch thần kiếm  Đại Lý; Hư Trúc cũng tình cờ mà có công lực cùng võ công thượng thừa của Tiêu Dao Tử; Thạch Phá Thiên chất phác vô tình hiểu được chữ khoa đẩu để lĩnh hội võ công tuyệt đỉnh thiên hạ,...
Thực ra, “duyên kỳ ngộ” chỉ là một cách diễn đạt về sự ĐỐN NGỘ của triết lý nhà Phật. Cái gọi là “sat-na Đốn ngộ”, hay nói một cách đơn giản, trong một khoảnh khắc nào đấy con người ta ngộ ra một chân lý, một điều gì đấy mà lâu nay vốn mờ tối bỗng dưng sáng tỏ. Cái quan trọng hơn, sau sự đốn ngộ, mọi ý nghĩ trở nên thông suốt, minh triết, nhìn vào đâu vào cái gì cũng thấu tỏ. Để đạt được trạng thái này, trong thực tế, ít có sự diệu kỳ xảy ra, mà phần lớn là kết quả của sự tập trung suy tư nghiền ngẫm chờ cơ duyên bất chợt mà bùng phát mà thôi. Thế nhưng, trong thế giới võ hiệp của Kim Dung, cơ duyên và sự kỳ diệu hòa quện làm một, gây hiệu ứng bất ngờ cho bạn đọc, tạo nên sự cuốn hút, hấp dẫn, cùng trạng thái thăng hoa. Điều ấy chẳng khác mấy trạng thái phấn khích của doping. Kim Dung mê hoặc người đọc là thế?!...
Điều này còn cho thấy một minh triết, chân lý, tự thân vốn giản dị, tuyệt nhiên không phải là kết quả của sự hỗn loạn, rắc rối nào cả. Cho nên, tiếp cận để đi đến chân lý, sự chân thực thuần phác là con đường ngắn nhất,...
 
Tựa vào lịch sử, ấy là sự lựa chọn và phương châm xây dựng không gian truyện cho  hầu hết các sáng tác của mình. Trong hơn chục truyện võ hiệp ngắn dài của Kim Dung, ngoại trừ tác phẩm “Tiếu ngạo giang hồ” không thật rõ nét về thời điểm lịch sử, còn lại các câu chuyện khác đều được đặt trong một bối cảnh lịch sử cụ thể. Tuy nhiên, ngay như “Tiếu ngạo giang hồ”, căn cứ vào sự tồn tại, hưng vong của các giáo phái ở Trung Hoa như: Minh giáo, Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga My, Thanh Thành, Ngũ hiệp kiếm phái, v.v ... Người ta cũng có thể suy đoán được bối cảnh lịch sử của cuốn truyện. Có một điểm chú ý dẫn đến việc Kim Dung lấy bối cảnh lịch sử Trung Hoa để tựa vào, đó là xuất thân của ông. Tuy định cư và phát triển sự nghiệp ở Hồng-kông nhưng quê hương bản quán của Kim Dung ở Gia Hưng, Chiết Giang thuộc gia tộc khoa bảng danh giá. Lấy bối cảnh từ các triều đại phong kiến và sự tồn vinh của các giáo phái Trung Hoa là một lợi thế rất lớn, bởi lịch sử Trung Hoa là những cuộc chiến liên miên giữa các tập doàn phong kiến, các triều đại, nội chiến huynh đệ tương tàn, sự kháng cự của  Đạo giáo Trung Hoa với các giáo phái ngoại lai... . Có lẽ, đây còn là sự khẳng định về nguồn gốc bản thân và gia tộc trong lịch sử văn hóa dân tộc mình. Nói cách khác, Kim Dung mượn truyện võ hiệp để quảng bá lịch sử, văn hóa dân tộc, đất nước mình ra phạm vi toàn thế giới.
Có một sự thật là, hư cấu có đến mấy cũng khó vượt nổi sự phong phú đa dạng của thực tế, vì hư cấu chẳng qua là sản phẩm của đầu óc con người. Vậy nên, Kim Dung đã khôn khéo lựa chọn một phương thức pha trộn, ấy là hư cấu về nội đung và tình tiết truyện nhưng đem chúng bỏ vào một không gian lịch sử cụ thể. Cách thức này vô hình chung vừa tạo nên tính xác thực và cả sự hoài nghi cho câu chuyện, nhân vật,..Đó cũng là cái cách làm nên sự cuốn hút cho tác phẩm. Quả thật, đọc các tác phẩm của Kim Dung thấy ông rất hiệu nghiệm khi sử dụng cách thức này.
 
Yếu tố nhân văn nhào luyện cùng chất phiêu bồng, Kim Dung thực sự là một phù thủy cao tay khi dùng ”phép luyện công” này. Thực tế cho thấy, các cây bút chuyên viết truyện võ hiệp khác cũng đều sử dụng phép thức này, nhưng Kim Dung cao siêu và tài tình hơn cả. Trong các truyện võ hiệp của mình, sự kết hợp nhuần nhuyễn chất nhân văn (hạt nhân các nhân vật) và chất phiêu bồng (dung môi tạo nên không gian truyện) là những yếu tố xuyên suốt, là chất kết dính các dị biệt, thái cực với nhau.
Nhân văn là bản chất vốn có trong mỗi con người, vậy nên nó đậm đặc ở các nhân vật chính diện (Trương Tam Phong, Quách Tĩnh, Tiêu Phong, Trương Vô Kỵ, Lệnh Hồ Xung, Đoàn Dự, Hư Trúc, Tiểu Long Nữ,...), phai nhạt ở các nhân vật trung gian, mập mờ ở các nhân vật chính tà lẫn lộn (Nhạc Bất Quần, Tạ Tốn, Thiên Sơn đồng mỗ, Dương Khang, Khang Mẫn, Lý Mạc Sầu. Điền Bá Quang, Mộ Dung Phục, Chu Chỉ Nhược, A Tử, Lâm Bình Chi... ) và không phải không có ở các nhân vật phản diện (như Tứ đại ác nhân, Âu Dương Phong, Thành Côn, Đông Phương Bất Bại, Đinh Xuân Thu, Dư Thương Hải, Mộc Cao Phong, Cừu Thiên Nhẫn, Toàn Quán Thanh v.v...). Chất nghĩa khí ẩn trong mỗi con người nên có cơ hội thì bột phát. Ở thời điểm và trang thái ấy, chất nhân văn lấn át nên người vốn bị coi là xấu xa cũng có thể “tốt đột xuất”, và đó cũng phần người, phần đáng yêu của nhân vật phản diện. Bản thân Kim Dung minh triết và đầy nhân văn khi nhìn nhận bản chất con người, nhìn nhận sự vận động của ý thức để tạo dựng các nhân vật của mình. Có lẽ, ông cao siêu là vậy?
Không thể phủ nhận, chất phiêu bồng làm nên thế giới ảo diệu của riêng Kim Dung. Ông không sa đà vào sự thực lịch sử, mà chỉ mượn lịch sử, nương vào đó để dựng không gian truyện của mình, tạo nên một “thế gian võ hiệp” riêng có. Thế gian truyện của ông chông chênh giữa lịch sử và hư cấu, giữa thực và ảo, giữa thiện và ác, giữa tiên thánh và con người,... Mà thế giới ấy, người đọc của trần gian thực tại luôn tò mò thích thú bởi ước muốn thoát tục vươn tới một thế giới lý tưởng?
Kim Dung thần diệu, tài tình hơn người là vậy chăng?!...
 
Có lẽ, vì cao siêu và tài tình hơn người, nên cả lúc còn sống và khi khuất bóng, các tác phẩm võ hiệp của Kim Dung mà nhiều nhà nghiên cứu chỉ xếp vào dạng “cận văn học”, đã và vẫn sẽ hấp dẫn hàng triệu người trên khắp thế giới, trên phương diện văn bản đọc hay sản phẩm điện ảnh.
Và như vây, Kim Dung xứng danh là “đê nhất võ lâm truyền kỳ” !
 
PS: Có một người chưa đọc vì không thích Kim Dung, bởi ông coi truyện kiếm hiệp của Kim Dung và truyện kiếm hiệp nói chung, là “cận văn học”, đó là nhà thơ Trần Đăng Khoa. Gần đây, nhân tập thơ “Góc sân và khoảng trời” của ông tái bản lần thứ 157 (Có thể coi là một kỷ lục xuất bản ở Việt Nam hiện nay), tôi hỏi nhà thơ Trần Đăng Khoa, rằng ông có biết, hiện tại sách của tác giả nào được ấn hành nhiều nhất thế giới không, thì ông bảo không biết. Tôi bảo, truyện kiếm hiệp của Kim Dung, với hơn 300 triệu bản in trên toàn cầu (chưa kể số lượng bản in lâu cũng rất lớn). Chưa chắc chắn, song cũng có thể xem là kỷ lục thế giới rồi. Trần Đăng Khoa tròn mắt, thế á. Tôi đùa, việc ông coi truyện kiếm hiếp của Kim Dung không phải là sách văn học. Ông cười, hỏi: “Thế truyệncủa  Kim Dung có hấp dẫn không?”. Tôi bảo: “Rất hấp dẫn”. Trần Đăng Khoa toét miệng cười: “Vậy là được rồi...  Là văn học hay không, đâu có còn quan trọng nữa !”.  ./.
 
 
Đăng nhập để trả lời
0
NHỚ NHÀ THƠ - 
bây giờ là mùa thu
 
 
“Gió tháng tám vu vơ rồi sẽ thổi về/ Cánh bãi sẽ ngô mềm vai áo/ Lá sẽ mượt sau những ngày giông bão/ Nhịp tim mình rồi mạch lạc như xưa.../ Sẽ đến ngày tóc mình ngả vào thu/ Hoa bèo tím chẳng mong manh như trước/ Chim nhạn sẽ bay về thưa thớt/ Cay đắng phai dần thành những bâng khuâng”...
 
Tôi tin rằng, nhiều bạn yêu thơ sẽ nhớ những câu thơ này từ bài thơ Bây giờ là mùa thu của nhà thơ Vũ Đình Minh.
Với Vũ Đình Minh, gọi ông là nhà văn hay nhà thơ đều đúng, bởi ông viêt đều tay và có những thành công đáng kể cả văn xuôi (truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện ký, bút ký,...) và thơ.
          Mùa thu này, tôi nhớ và viết về ông như một sự tri ân với người đàn anh thân thiết, người thày về báo chí, văn chương đáng kính.
          Hơn chục năm trước, hồi Vũ Đình Minh mới về cõi hạc, tôi viết chân dung ông-“Dung dị Vũ Đình Minh” đăng trên trang blog cá nhân của mình ở Blog Tiếng Việt, sau đó Báo Nông nghiệp Việt Nam đăng số Tết nguyên đán và sau cùng tập hợp trong một tập sách của tôi. Đặc biệt, khi bài về chân dung Vũ Đình Mình đăng trên mạng xã hội Blog Tiếng Việt. đã có rất nhiều bạn đọc, nhà báo, bạn văn chương vào cảm nhận. cung cấp một số chi tiết về Vũ Đình Minh. Ngay cả người con trai của ông, nhà báo Vũ Đình Thành cũng ghi cảm nhận và cung cấp thêm tư liệu về đời tư và sự nghiệp sáng tác văn chương của ông. Trên cơ sở những chi tiết và tư liệu này, tôi gom góp và xâu chuỗi lại, đặng khắc họa đậm nét hơn bức chân dung về Vũ Đình Minh.
Theo nhà báo Vũ Đình Thành, con trai ông, thì Vũ Đình Minh sinh ngày 30 tháng 12 năm 1944 tại quê, Tráng Việt, Mê Linh, Vĩnh Phúc. Năm 1965, tốt nghiệp khoa Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội, ông tình nguyện xung phong lên miền rừng núi Cao Bằng dạy học. Cả thời thanh xuân đầy khát khao, ông cống hiến cho vùng đất hoang vắng này, sau đó chuyển công tác về Vĩnh Phúc, Phú Thọ dạy học ở Trường cấp 3 Đoan Hùng. Vì có năng khiếu và tham gia sáng tác văn học, nên Vũ Đình Minh được điều về làm Thường trực Hội Văn học Nghệ thuật tình Vĩnh Phú. Từ năm 1979, ông chuyển công tác về làm biên tập ở Ban Văn nghệ Đài Phát thanh Hà Nội. Là người có năng lực, ông lên đến cương vị Trưởng ban, năm 2004 thì nghỉ hưu, sống tại Hà Nội đến khi qua đời.
 
          Trở lại chuyện cũ, mùa thu năm 1987, tôi từ vị trí kỹ sư nông nghiệp ở huyện miền núi biên giới Trị Tôn (An Giang) về làm báo tại Đài Tiếng nói Việt Nam (Đài TNVN) thì Vũ Đình Minh đã là Trưởng ban Văn nghệ Đài Phát thanh Hà Nội rồi. Khi ấy. Đài Hà Nội chưa ra truyền hình, nên các chương trình văn nghệ của Đài rất được người làm chăm chút và thính giả đón nhận. Có lẽ, các chương trình văn nghệ ở đây hay chẳng mấy kém chương trình văn nghệ của Đài trung ương. Vậy nên, Vũ Đình Minh cũng rất được đám văn nghệ sĩ Hà Nội nể trọng, cầu thân, đặng mong được phát bài. Nhuận bút ít ỏi, song thời buổi cả nước thiếu thốn, đói kém nên đồng nhuận bút quý bao nhiêu. Tôi tập tọng nghề báo, tiếng nhà báo cũng oai đấy, nhưng túi thường nhẵn khi chưa hết tháng. ngoài công việc chuyên môn ở cơ quan, tôi dành thời gian viết báo vặt để kiếm tiền và tối đi học ngoại ngữ, tiếng Pháp ở trung tâm nơi góc phố Nhà Chung. Viết báo vặt thì phải chịu khó, ngó các báo trung ương, địa phương, báo ngành, thấy tờ nào có mục mà mình có thể viết được là mần thôi. Anh bạn thân, nhà báo Trịnh Bá Ninh làm phóng viên báo Nông nghiệp chỉ dẫn này nọ, đặng giới thiệu làm quen với một số nơi. Ngoài nhà văn Trần Nguyên Vấn (Trần Phương Trà) ở Ban Văn nghệ Đài TNVN mà tôi làm quen từ hồi còn ở trong Nam, nay thành người cùng cơ quan, thì Trịnh Bá Ninh dắt tôi đến giới thiệu làm quen với Vũ Đình Minh. Cơ quan ông ở góc phố Hàng Dầu, gần chỗ bức phù điêu "Quyết từ cho tổ quốc quyết sinh", Hồ Gươm (nay người ta sửa thành "Cảm tử cho tổ quốc quyết sinh"), nên tôi hay mò sang thăm ông. Lân la, tôi quen luôn cả nhóm bộ tứ của ông. Cao tuổi và trưởng nhóm là nhà thơ Trinh Đường, mà mọi người quen gọi vui là “Trinh Đoàn trưởng". kế đến là nhà văn Trần Nguyên Vấn, hai anh sàn sàn nhau là nhà thơ Nguyễn Thái Vận (biên tập viên ở Nhà xuất bản Lao Động) và Vũ Đình Minh. Với nhà thơ Trinh Đường thì tôi chỉ ra mắt xã giao, vì ông có độ chênh lệch tuổi tác, cương vị, nên không dám gần, cứ kính nhi viên chi thôi. Nhà thơ Nguyễn Thái Vận bảnh người, nói năng nhỏ nhẹ và lịch sự, song cảm nhận ở nơi anh có vẻ lành lạnh hơi khách khi nên tôi ngài ngại, giữ khoảng cách đủ độ ấm. Còn nhà thơ Trần Nguyên Vấn thì thành người một nhà rồi. Riêng Vũ Đình Minh nhỏ người, trông xâu xấu trai như mình, dáng vẻ quê quê kiểu thầy giáo làng, tính tình lại dễ chịu, xuề xòa và khi vui là đến sảng khoái, tôi thấy hợp nên thân ngay. Tôi nằm bàn ở Trụ sở cơ quan 58 Quán Sứ sang Hàng Dầu cơ quan ông cũng gần nên hầu như tuần nào cũng ghé. Hơn nữa, Vũ Đình Minh còn hứa "Tao sẽ để ý, thấy con bé nào đường được thì giới thiệu cho mày làm người yêu...". Tôi gần với Vũ Đình Minh, còn bởi, tôi độc thân chưa vợ, hết giờ làm việc và ngày nghỉ chủ nhật chẳng biết đi đâu, các vị kia thì gia đình vợ con dầm ấm đề huề ở Hà Nội cả, riêng Vũ Đình Minh mặc dù mua được căn nhà cấp 4 xóm nơi chân dốc phố Lò Đúc nhưng vợ con ông vẫn ở quê bên Mê Linh, tháng đôi lần đạp xe thồ đèo lủng củng đồ hàng về quê, khi ra lại nặng xe thồ đèo nông sản, những ngô khoai sắn rau cỏ... Tôi hay đến đây, vui chuyện, anh em khi cao hứng thì cạch chén tợp đôi ba chén rượu lạc rang, tóp mỡ, đậu rán chấm nước mắm. rau thơm giải sầu...
Ít lâu sau, Vũ Đình Minh xin việc cho người em ruột về làm cùng Đài Hà Nội và cho gia đình họ ở ghé căn nhà ấy, thì tôi bớt lui tời vì cảm thấy phiền, mà chỉ ghé cơ quan ông thôi.
          Thời thế, hoàn cảnh gia đình mỗi người đổi thay, Vũ Đình Minh đưa cả vợ con từ quê ra Hà Nội ở chung, chuyển nhà mới mãi đường Tam Trinh nối dài, còn tôi thì lập gia đình, vợ tôi cũng không phải là một cô gái nào mà Vũ Đình Minh thấy đường được mai mối cho tôi như ông đã từng đùa vui, và tôi cũng được cấp vài chục thước nhà tập thể cơ quan lấy chỗ chui ra chui vào, nên anh em chúng tôi có phần xa nhau hơn trước. Thi thoảng vẫn gặp nhau ở đâu đó vì công việc làm báo, hay lâu lâu điện thoại hỏi thăm thôi, chứ chẳng có thời gian mà ngồi đối ẩm cạch chén cao hứng đàm luận văn chương như ngày xưa cũ...
          Rồi Đài Phát thanh Hà Nội ra thêm truyền hình, cơ quan rời khỏi Hàng Dầu đến trụ sở mới to đẹp nhưng mãi tận phố Huynh Thúc Kháng, nên hai anh em đã xa lại càng xa. Vũ Đình Minh rất hân hoan và bận mải vì làm truyền hình, nên viết văn, làm thơ ít đi. Song chính quãng thời gian này, Vũ Đình Minh đã đi tiên phong trong việc làm phim tài liệu chân dung các văn nghệ sĩ, các nhà văn hóa thuộc hàng gạo cội của Việt Nam. Ồng làm hàng trăm phim chân dung, trong đó có những phim hay như nhà thơ Hoàng Hữu, nhà viết lịch Tào Mạt, nhà thơ Huy Cân, Vũ Cao, nhạc sĩ Văn Cao, căp vợ chồng nhà thơ Lưu Quang Vũ-Xuân Quỳnh v.v... được bạn bè đồng nghiệp và khán giả xem phim đánh giá cao. Phát hiện và thực hiện ý tưởng đó, Vũ Đình Minh và các đồng nghiệp ở Đài Phát thanh truyền hình Hà Nội còn đi trước cả đài trung ương bởi sau đấy ít năm, Đài Truyền hình Việt Nam mới làm phóng sự chân dung văn nghệ sĩ. Công việc vào trớn, hanh thông, Vũ Đình Minh lại thêm niềm vui, cưới vợ cho con trai. Hôm cưới, tôi đến muộn, khách khứa đã vừa mâm hết, tôi phải dợi mãi, ăn cùng mâm với gia đinh hai họ. Vũ Đình Minh vừa vui, vừa mệt, kiểu mừng của người vừa làm xong một việc lớn, ông cứ cốc bia trên tay, lẫm chẫm như con trẻ, la cà các bàn, cụng lý cảm ơn quan khách. Bữa ấy, ngắm nhìn Vũ Đình Minh, tôi mừng cho ông đã vượt qua những tháng năm vất vả, gian khó...
          Nhóm bạn “bộ tứ huyền ảo” của Vũ Đình Minh cũng dần rệu rã bởi nhà thơ Trinh Đường tuổi cao sức yếu ít ra ngoài, nhà thơ Nguyễn Thái Vận thì mất sớm vì bệnh tim, chỉ còn mỗi nhà thơ Trần Nguyên Vấn là hay đây đó. Vũ Đình Minh lại lần nữa chuyển nhà lên phố, gần nơi cơ quan. Ngày ấy chưa có điện thoại di đông, liên lạc qua máy bàn công sở hay nhà riêng. Có lần, tôi điện thoại phiền ông, một sự việc Đài của ông nêu, liên quan đến việc tranh chấp đất đai của một người bạn tôi. Ông bảo, ban biên tập của ông không làm trực tiếp vụ đó song ông có biết, vụ này khó bởi ông phó chủ tịch thành phố, người được giao xem xét đã xử lý, giải quyết vụ việc theo hướng đó rồi, Đài ông cũng chỉ nói theo chỉ đạo mà thôi, không thể nào khác được. Chuyện công việc xong, ông đùa tôi, hỏi đã thăng tiến đến chức vụ nào rồi, đem tôi so sánh với người này kẻ nọ. rồi ông cười sảng khoái lắm.
          Trước lúc Vũ Đình Minh nghỉ hưu, tôi gặp ông một lần. Đợt ấy, Hội đồng hương văn nghệ sĩ quê Hải Hưng tổ chức gặp mặt đầu xuân ở Hội trường Đài PT&TH Hà Nội, do nhà văn Đào Quang Thép (Phó giám đốc Đài) chịu trách nhiệm. Tôi đến dự, tan cuộc, ra về, đến cổng đài thì thấy Vu Đình Minh đứng đấy. Tôi vội xuống xe, chào ông. Lâu ngày gặp nhau, tay bắt mặt mừng, tranh thủ hỏi thăm đủ thứ chuyện. Vũ Đình Minh vẫn cười đấy, nhưng nụ cười heo héo, và tôi thấy khi sắc ông không vượng. Ông bảo: “Mày ạ... Sắp tới. tao về hưu rồi. Xả hơi một chút rồi viết lại. Mấy năm rồi, bận chương trình của Đài, hết kịch bản này đến kịch bản khác, nổi tiếp nhau , tối cả mặt mày, chả viết được mấy”.
Bẵng đi một dạo, nghe đâu sức khỏe ông xuống nhanh, nhất là sau khi ái nữ của ông lâm trọng bệnh, chữa trị khắp nơi nhưng không qua khỏi. Ông buồn nhiều và suy sụp cũng rất nhanh... Đúng thời gian này, tôi phải xa Hà Nội hai năm theo quyết định điều động vào phụ trách văn phòng Đài TNVN khu vực miền Trung tại Đà Nẵng nên anh em ít liên hệ với nhau.
Trở lại chuyện thơ văn của Vũ Đình Minh. Chính yếu, Vũ Đình Minh là tác giả văn xuôi với gầm chục tập truyện ngắn, tiểu thuyết, truyện ký, truyện cho thiếu nhi (Ông già ngồi dưới vòm cây gạo, Đi qua bão tố, Mặt đất và bầu trời, Mùa cạn, Trả giá cuối cùng, Một giớ làm quan, Chiếc diều nằm trên cỏ... ), song bạn đọc lại luôn nhớ đến ông-một Vũ Đình Minh Thơ. Ngay trong phần tư liệu về cha mình gửi cho tôi, Vũ Đình Thành thống kê tên 2 tập thơ của ông là Gió đồng, Mưa trước cửa nhà, và tập thơ in chung Lời từ đất. Cẩn thận, Vũ Đình Thành còn chọn gửi cho tôi 5 bài thơ (Hội Lim, Sang năm con lên bảy, Ý nghĩ ngày mưa, Mùa đông nhớ bạn, Bây giờ là mùa thu). Có lẽ, đây là những bài thơ hay mà Vũ Đình Thành lựa chọn theo ý cá nhân mình, hay theo ý cha mình và bạn đọc nói chung, xem đó là những bài thơ hay nhất. tiêu biểu làm nên giọng điệu, phong vị thơ Vũ Đình Minh ?!...
Cứ chiểu theo ý nhận xét, đánh giá của bạn đọc là khách quan nhất, những người tôi quen biết, ý kiến khá nhất quán. Xin nêu ra đây để tham khảo, như nét khắc họa:
Ông Bùi Hải Đăng, một nhà phong thủy, làm thơ và yêu thơ ở Gia Lộc, Hải Dương viết: “Tôi quen bác Vũ Đình Minh những năm 1975- 1978 khi bác biên tập  thơ ở Hội văn nghệ Vĩnh Phú... Năm 1978 tôi đi sông Đà rồi chuyển về Hải Phòng, rồi nghỉ mất sức, đã gần 40 năm chưa gặp lại bác Minh...Trong tâm trí của tôi bác là người hiền lành, giản dị, khiêm cung và dễ gần. Hồi đó ông sống thật bình lặng. Bài thơ "Hội Lim" là kỷ niệm buồn về cuộc yêu không thành có thật trong ông với một cô giáo vùng Kinh Bắc.... Tôi đọc thơ ông từ chùm thơ được giải của báo"Người giáo viên nhân dân" khi đó ông còn dạy học vùng cao... Năm 1975 ông đi dự trại viết ở Quảng Bá khi kết thúc trại mang về một chùm thơ hay. nồng nàn cảm xúc. Năm 1976, có thời gian chỉ hai tháng ông viết được đến 4 truyện ngắn. Khi đó tôi ở công trường dệt Minh Phương, có tối sang chỗ Hội chơi, ông thường trải chiếu ra sân sỏi nói chuyện dưới trăng... một lần đọc thơ ông đến đoan: "Em đi qua nghiêng nón khẽ chào/ Tôi thơ thẩn mái đình nhiều ngói quá!/ Cây ổi bờ ao cong cành xanh đặc quả/ Đến bao giờ ổi chín hở em?”. Thấy tôi ngẫm ngợi ông bảo:”Tớ học ca dao đó” ... Thoáng chốc như vừa đâu đây, Hoàng Hữu, Nguyễn Đình Ảnh và Ông giờ đã thành người thiên cổ cả rồi...Ôi kiếp người quả là ngắn ngủi..”.
Nhà thơ Nguyễn Thị Tuyết ở Đông Anh, Hà Nội, một giáo viên nghỉ hưu từng nhiều năm dạy học ở Hà Giang: “Người đọc hiểu thêm nhiều về nhà văn, nhà thơ Vũ Đình Minh -tác giả của nhiều bài thơ được đông đảo bạn đọc yêu thích -Riêng mình rất tâm đắc bài HỘI LIM của nhà thơ Vũ Đình Minh...”.
Nhà văn Trần Tâm ở Cẩm Phả, Quảng Ninh: “Tôi cũng đã biết và gặp ông ngày ông làm việc tại Đài phát thanh Hà Nội. Tôi như được gặp lại mấy người anh, bạn văn chương, những Trinh Đường, Ngô Quân Miện, Nguyễn Thái Vận, Vũ Đình Minh... Đó là những con người bằng xương bằng thịt mà tôi đã vinh dự được gần gũi gắn bó. Trong số đó, có người tôi gặp gỡ, ghé qua như một buổi dạo chơi, có người góp sức nâng đỡ tôi như một người thày tận tụy. Có người đã đi về miền sương khói, có người đã vào tuổi cổ lai hy...
Ông Lê Minh Dung, bạn yêu thơ ở Tp Hồ Chí Minh: “Tôi cũng thích thơ của anh Vũ Đình Minh, nhiều bài hay, như Hội Lim, Bây giờ là mùa thu,...”Bây giờ đã vào thu, nhịp tim đập bình yên/ anh lại nhớ mùa hè nông nổi ấy/ hoa bèo tím mỏng manh lắm đấy/ nhưng điều này chẳng nói với hai ta…”.
Nhà văn Thái Sinh ở Lào Cai: “Từ rất lâu rồi tôi chép bài thơ: Mùa đông nhớ bạn của Vũ Đình Minh: Bạn ở Nà Giàng mùa đông về sớm hơn/ Học trò có nhớ mang rơm cho thầy về trải ổ/ Cái lạnh căm căm từ trong hang đá/ Cái lạnh run tay tỏa từ trong mưa... Bài thơ 7 khổ, câu nào cũng chan chứa tình thầy trò, đúng với tâm trạng và việc làm của những thầy giáo vùng cao chúng tôi vào những năm 1975. Chống gậy leo đèo lặn lội rừng sâu. Gọi các em mấy ngày bỏ lớp...”.
Có hai bạn đọc ở miền Trung nhận xét ngắn gọn, một ghi “Tôi rất xúc động trước tình cảm tác giả bài viết dành cho nhà thơ Vũ Đình Minh. Tôi cũng đã từng xúc động trước Thơ của Vũ Đình Minh”; và một là nữ giáo viên: “Cảm ơn tác giả bài viết về Vũ Đình Minh, ông có những vần thơ giản dị viết về nghề giáo mà tôi phải trăn trở suốt đời: "Mở trang sách, ánh mắt nhìn khao khát/ Tôi biết tôi không được nói những lời thừa...".
Phần nhiều, bạn đọc cảm tình với Vũ Đình Minh qua thơ, nhưng cũng có những người yêu thích văn xuôi của ông, nhất là bút ký. Chẳng hạn như, nhà văn Nguyễn Cao Thâm (Hà Nội) nhận xét: “Tôi cũng đã đọc thơ, ký, truyện ngắn của bác Vũ Đình Minh. Ấn tượng nhất với tôi là những bài ký của bác ấy đọc trên Đài Tiếng nói Việt Nam”. Hay như họa sĩ Đặng Đình Nguyễn ở Quảng Yên (Quảng Ninh): “Tôi ấn tượng với những bài ký của bác Vũ Đình Minh:,
Riêng nhà văn Nguyễn Ngọc Chiến (Hội văn học nghệ thuật Quảng Trị) lại cho biết một thông tin hay: “Tôi vẫn giao lưu cùng anh Vũ Đình Minh khi anh có blog ở vnweblogs, nhưng chỉ được đọc lẻ của anh chứ chưa đọc trọn tập bao giờ... Chủ lực của Vũ Đình Minh là truyện ngắn!”.
Thì rõ rồi, Vũ Đình Minh chủ lực là truyện ngắn, không có gì phải bàn, nhưng Nguyễn Ngọc Chiến tiết lộ chi tiết là từng giao lưu với Vũ Đình Minh trên mạng xã hội vnweblogs thì tôi ngạc nhiên. Vậy là ông rất chi hiện đại. Ông tiếp cận với mạng xã hội, với văn học mạng còn trước cả tôi, người kém ông những hơn chục tuổi.
Tôi nhớ, lâu lắm rồi, nếu không nhầm, một lần, báo Văn nghệ ra, tôi và Vũ Đình Minh có truyện ngắn in chung một số. Truyên ngắn “Ông già ngồi dưới vòm cây gạo” của Vũ Đình Minh giới thiệu trang bìa, còn truyện ngắn “Vĩnh biệt những mùa trăng” của tôi in ở trang ruột. Khi ấy, niềm vui trong tôi thật khó tả, Anh em, thày trò nghề văn thân nhau có truyện đi chung một sô báo, thật sướng. Tiếc là tôi không giữ được số báo lưu đó đến giờ.
Riêng tôi, học được ở ông nhiều, cả quan điểm về sáng tác. Hơn một lần, lúc trà dư tửu hậu, Vũ Đình Minh vỗ vai tôi bảo: “Này chú em, tao nói cho mà biết... Nghê viết, chớ có kén cả chọn canh. Mình chỉ viết thể loại nào.... bất kể, truyện ngắn, bút ký, tiểu thuyết. thơ ca, kịch phim, hay gì gì đi chăng nữa... cứ thấy mình viết được, và có thể viết hay... là viết...:. Ông đã làm thế, và đáng mừng là ở thế loại nào Vũ Đình Minh cũng có những thanh công nhất định.
Vậy là, đã hơn mười năm ông rời cõi tạm. Ông mất vào mùa thu năm 2010, sau một thời gian chống chọi với căn bệnh ung thư vòm họng. Hôm tiễn biệt ông ở nhà tang lễ bệnh viện, tôi đi cùng nhà thơ Trần Nguyên Vấn và vài ba nhà văn khác, hòa trong đám đông những đồng nghiệp, bạn hữu, người thân của ông, lòng xúc động, nhớ về những ngày tháng đầy gian khó của anh em...
May sao, gần đây, tôi xem một phim tư liệu về nhà thơ Nguyễn Hữu Hà, lại thấy hình ảnh nhà thơ Vũ Đình Minh đi lại, cười nói cũng những bạn văn thơ. Phim này do chính Vũ Đình Minh làm, dựng chân dung nhà thơ Nguyễn Hữu Hà, một trong se-ri phim chân dung do Vũ Đình Minh chủ trương và trực tiếp thực hiện ở Đài Phát thanh và truyền hình Hà Nội. Phim do Vũ Đình Minh đạo diên, đồng thời ông cũng vào một vai, bởi ông là bạn học thời phổ thông xưa với nhà thơ Nguyễn Hữu Hà ở Trường cấp 3 Trần Phú, thị xã Vĩnh Yên.  Ngày ấy, Vũ Đình Minh đang viên mãn nên dáng vẻ nhanh nhẹn, tươi tỉnh và rất chi hóm hỉnh,... Ông đi trên đường đê hay lững thững đường làng, lúc lẫn vào màu xanh vườn chuối nơi quê bạn mà như thả hồn về quê mình. Ai ngờ, chỉ mấy năm sau, bao nhiêu thứ đổ ập xuống thân hình nhỏ thó gày guộc của  ông,... Tôi cũng đã từng đặt câu hỏi, Vũ Đình Minh dày công phác họa nên bao nhiêu chân dung các văn nghệ sĩ đàn anh và bè bạn, liệu ông có làm chân dung về mình? Chẳng rõ nữa... Nhưng thôi, cũng may, bóng hình ông cứ thắp thoáng đâu đó trong chân dung bè bạn,... Có lẽ vậy, cũng là phù hợp với bản chất dung dị vốn có của ông chăng?...
Thơ hay văn, hay nhà làm phim chân dung, cái nào nổi trội của Vũ Đình Minh? Tôi tin là nhiều bạn bè văn chương của ông từng đặt câu hỏi như vậy. Tôi cũng phân vân vậy. Nhưng đến giờ, đã mười mấy năm Vũ Đình Minh đã rời cõi tạm, tôi tự tìm ra câu trả lời. Vũ Đình Minh khởi nguồn văn chương là thi ca từ khi ông còn là sinh viên sư phạm và những năm tháng ông dạy học ở vùng núi xa xôi Cao Bằng, thì đến khi ra đi, dù đã thử sức sáng tạo ở các thể loại văn nghệ khác, ông vẫn là một nhà thơ đích thực. Nhà thơ Nguyễn Hữu Hà, người bạn hoc cùng với ông thời phổ thông ở Trường cấp 3 Trần Phú, thị xã Vĩnh Yên xưa kể một chi tiết thú vị, Vũ Đình Minh yêu thơ và làm thơ từ khi học phổ thông. Ngày ấy (năm 1963), nhà trường tổ chức thi thơ nội bộ do nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi làm giám khảo, thì Vũ Đình Minh đã giành giải nhất với bài thơ ‘Đôi dòng sữa”, ý tứ bài thơ là mỗi người ta lớn khôn trưởng thành được đều nhờ vào đôi nguồn sữa, ấy là sữa mẹ với công sinh thành dưỡng dục và nguồn sữa kia chính là công sức dạy dỗ của thầy cô giáo nhà trường bồi bổ kiến thức và tâm hồn. Cùng thi ngày ấy, còn có hai học sinh khác đoạt giải nhì và ba mà sau này họ đều trở thành nhà thơ tên tuổi của thi đàn Việt Nam hiện đại. Đủ biết tài thơ của Vũ Đình Minh khởi phát sớm thế nào.
Thơ Vũ Đình Minh không giàu ý từ và mạnh ở sức khái quát, nhưng chan chứa cái tình, câu chữ, vần điệu có sức gợi, cái mà thơ cần nhất. Vậy là đủ. Và giờ tôi gọi Vũ Đình Minh với danh xưng NHÀ THƠ, mà không ngại khi so với những sáng tác khác của ông,...Và còn bởi, như tôi biết, hết thảy những ai đã dính dáng đến thơ thì chẳng bao giờ bỏ nó được. Người ta mê thơ, làm thơ như một thứ Giời hành vậy !...
Chẳng hiểu vô tình hay hữu ý, tôi, người đàn em văn chương, người học trò nghề của Vũ Đình Minh, cũng như ông, thử sức mình ở các thể loại, y lời tâm sự chân thành như một lời khuyên bảo của ông ngày nào,  rồi sẽ có ngày mình nhận ra mình mạnh ở thể loại nào nhất?...
Giờ thì tôi hiểu, sau hơn bốn mươi năm cầm bút, tôi mạnh nhất ở thể loại nào? Phải chăng, đó là tản văn, là chân dung-tiểu luận và phê bình văn học? Như nhà văn Nhật Tuấn, nhà thơ-nhà nghiên cứu và phê bình văn học Trần Nhuận Minh, và cả nhà thơ Trần Đăng Khoa, những người đã đưa ra nhận định và lưu ý với tôi?...
 
 
Đăng nhập để trả lời
0

CHÚA TỂ CỦA NÚI TUYẾT
(Tiểu luân)

1. Ngôi vị chúa tể.
Người ấy là Yasunari Kawabata, nhà văn hiện đại của xứ sở Mặt trời và hoa anh đào, người đầu tiên của Nhật Bản được trao giải Nobel văn chương vào năm 1968. Nói đến ông, dân hâm mộ văn chương đều biết đấy là tác giả của bộ ba tiểu thuyết nổi tiếng làm nên tên tuổi ông trên văn đàn thế giới : Xứ Tuyết- Ngàn cánh hạc- Tiếng rền của núi. Cùng với đó, còn kể đến Cố đô, Người đẹp say ngủ, Hồ, Đẹp và buồn, Vũ nữ It-zu và biết bao nhiêu truyện vừa, truyện ngắn xuất sắc nữa ...
Nói đến văn học hiện đại Nhật Bản, với riêng tôi và tin rằng còn bao người khác nữa, Y. Kawabata giữ ngôi vị chúa tể. Sau ông, người ta nhắc tên Kenzaburo Ôe, người Nhật thứ hai giành Nobel văn chương, và mới đây là Haruki Murakami , người được tiên đoán sẽ giành Nobel văn chương trong tương lai, song dẫu thế thì họ cũng khó có thể lật được ngôi vị chúa tể của Y. Kawabata.
Riêng với tôi, chính Y. Kawabata cùng với những tác phẩm của mình là diện mạo văn chương, và cao hơn là văn hóa Nhật Bản. Shõ-gun tướng quân của tác giả James Clavell, một tác phẩm văn học sử, ít nhiều đã đưa đến mọi người hình ảnh một nước Nhật phong kiến xưa cũ, ở đó bản sắc văn hóa của đất nước mặt trời mọc hiện lên khá phong phú. Tuy nhiên, phải chờ đến Kawabata, tinh thần và văn hóa Nhật mới được khắc họa đậm nét, được tôn lên hàng đầu.
Bấy lâu nay, nói đến Nhật Bản, người ta tóm gọn trong mấy cụm từ như sau : Hoa anh đào- Núi Phú Sĩ- Động đất.- Samurai (Võ sĩ đạo)- Trà đạo- Kịch Noh- Thơ Haiku- Trang phục Kimônô- Vật Su-mô- Rượu Sa-kê- Geisha. Theo tôi, nối dài thêm một gạch nữa - Y. Kawabata.
Như vậy, Y. Kawabata là một đặc sắc của Nhật Bản rồi. Song tại sao lại thế? Đơn giản, bởi Y. Kawabata khiến cả thế giới biết đến văn chương- văn hóa Nhật Bản, không chỉ thông qua các tác phẩm văn chương , mà qua cả chính cuộc sống và cái chết của mình. Tự thân, ông chỉ là một gạch nối, song ông đã chứa đựng trong cuộc sống mình những tố chất của nền văn hóa Nhật Bản và đồng hóa nên các tác phẩm, mà bạn đọc khắp thế giới đều có thể tìm thấy từ đấy nhứng gạch nối kia (hoa anh đào, động đất, núi Phú sĩ, trà đạo, kịch Noh, Geisha...). Câu chuyện về ông, xin bắt đầu từ kết cục là cái chết theo tinh thần Samurai, chỉ không lâu sau khi ông giành Nobel văn chương, vào đầu năm 1972 ...
Mùa thu năm 2005, tôi sang Tokyo. Chỉ nửa ngày, tôi đã biết thế nào là động đất, khi chiếc giường tôi nằm trong căn phòng tầng 7 ngay trung tâm thành phố, rung nhẹ liền mấy đợt, và khi tôi hiểu ra thì động đất đã chấm dứt. Đúng một ngày sau, truyền hình Nhật Bản liên tục đưa tin hình ảnh Thủ tướng Nhật (khi đó là ngài Koizomi) đi viếng ngôi đền Yosukoni, cùng những phản ứng của những quốc gia láng giềng. Sở dĩ người ta phản đối là vì trong ngôi đền ấy, không chỉ thờ các vị anh hùng, liệt sĩ từ nhiều đời đã hy sinh, tận tụy vì sự tồn vong và phát triển của đất nước Mặt trời mọc, mà còn có cả mấy chục vị tướng cùng vị thủ tướng Nhật Bản bị quy là tội phạm chiến tranh khi đã cùng quân đội của mình xâm chiếm và tàn sát nhân loại ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á trong cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2. Tôi đã tự hỏi và đến nay chưa có lời giải đáp, rằng liệu ở đó, có tên của Y.Kawabata không? Hoặc giả ở nước Nhật, có nơi nào thờ các bậc danh nhân tư tưởng văn hóa để lưu tên tuổi của những vị như ông không, kiểu như điện Panthéon ở Paris (Pháp) quàn các danh hào ?
Trở lại với mùa thu Tokyo năm 2005. Tôi đã được chiêm ngưỡng những cây phong dần ngả vàng, những hàng tơ liễu buông thướt tha dọc hè phố, và tôi nhớ đến Y. Kawabata. Tôi đã đến thăm đền thờ Minh Trị Thiên hoàng xem đám rước tế, chơi ngắm triển lãm cúc hoa-một biểu hiện nhỏ của bon-sai Nhật, rồi lần giở từng chiếc thẻ cầu may của đám học trò trước mùa thi treo đầy dẫy ở đó, và sờ tay lên các vết xước lõm do những đồng chinh của người dân ném cầu phúc lộc thọ năm mới trên những cánh cửa gỗ cửa đền, tôi nhớ đến Y. Kawabata. Tôi đã thẩn thơ dạo gót trong công viên hành chính Hibiya, lặng quan sát những họa sĩ cắm cúi trên giá vẽ và những người già ngả lưng mơ ngủ trên ghế đá, rồi quá bộ đi dạo ngang qua Lầu công chúa, qua rừng thông đến tận cổng Hoàng cung để chiêm ngưỡng vẻ cổ kính thâm nghiêm của cổng thành với cặp lính gác đứng im như tượng, tôi nhớ đến Y. Kawabata. Tôi đã bỏ thời gian chui rúc hòa vào dòng người nhung nhúc tuôn chảy theo 13 tuyến metro chằng chịt ngang dọc trong lòng đất sâu, rồi cũng bỏ thời gian theo dõi bầy chim quạ chao liệng lúc chí chéo lúc não nề trên những ngọn cây cao, tôi nhớ đến Kawabata. Tôi đã dán mắt vào màn hình ti vi xem trọn màn kịch Noh dài lê thê mấy giờ đồng hồ buổi đêm, cũng như lang thang cùng đồng nghiệp ken vai chen chúc nơi dốc phố có cửa hàng đồ lưu niệm Một trăm yên, nơi cách đấy vài trăm thước là quảng trường tụ hội của các cặp đồng tính trong trang phục kỳ quái đua nhau phô diễn, tôi nhớ đến Y. Kawabata.Tôi đã được lên sân thượng của tòa nhà thị chính thành phố cao 45 tầng, để từ đó chụp ảnh và thoải mái phóng tầm mắt bao quát bốn phương tám hướng cái thủ đô hiện đại cỡ bậc nhất thế giới với chiều dài trải gần trăm cây số và chứa mười mấy triệu dân này, tôi nhớ đến Kawabata... Cho đến khi chiếc Boeing của Vietnam Airlines từ sân bay quốc tế Narita cất mình bay bổng lên bầu trời rồi liệng nửa vòng trên vịnh Tokyo, nghiêng cánh chào rồi bay theo hướng tây nam, đưa du khách trở về với món mì lạnh kiểu Nhật trong bữa ăn trên máy bay, tôi nhớ về Kawabata. Tại sao lại thế, khi ông nhà văn này cứ như hình với bóng bám theo tôi từng bước chân, ám ảnh tôi trong mọi suy nghĩ? Đơn giản là với tôi, Y. Kawabata chính là vẻ đẹp Nhật Bản, là tinh thần Nhật Bản, là văn hóa Nhật Bản, là sự hiển hiện của cả nước Nhật. Vâng, chỉ là một thôi mà cũng là tất cả!
Tôi nhớ, trong buổi làm việc báo cáo kết quả chuyến đi và cũng là buổi làm việc chia tay với Ban lãnh đạo của Trung tâm y tế quốc tế Nhật Bản, trong ý kiến của mình, tôi dành phần nhiều để nói về đất nước và con người Nhật Bản thông qua những biểu hiện về văn hóa. Tôi nhắc đến tác phẩm Vô ảnh đăng của nhà văn Wantanabe viết về giới y học Nhật Bản, chỉ là mượn cớ để bắc cầu sang Y. Kawabata. Tôi đã thao thao không rõ bao lâu về văn hóa Nhật được thể hiện trong các tác phẩm nổi tiếng của nhà văn này làm cô phiên dịch tài giỏi cũng hết sức khó khăn trong việc tìm từ chuyển ngữ sang tiếng Anh, đến mức làm các vị tiến sĩ y khoa bạn phải ngạc nhiên không hiểu sao cái ông nhà báo Việt này lại biết lắm thứ về văn hóa Nhật đến vậy. Có lẽ, khi ấy, sự dồn tụ về Y. Kawabata chứa chất trong tôi bao lâu không được giải tỏa, nên đến khi gặp dịp tôi đã tuôn ra trong sự kích động khó kìm nén, khiến mình có gì đó bất nhã bởi đáng lý phải nói về chuyện y học bệnh tật thì lại đi khen một ông nhà văn. Tôi còn nhớ, trong những phút giây như nhập đồng đó, tôi vẫn còn đủ tỉnh táo, lo phía bạn khó chịu vì sự lac đề của mình, nên đã viện diễn rằng, chính người cha thân sinh của Kawabata cũng là một bác sĩ. Sau này tôi rẩm riu, chắc là các vị trong giới y học Nhật Bản cũng không nỡ chê trách khi phải nghe một ông khách nói như phát cuồng về tinh thần, về vẻ đẹp, về văn hóa nước họ, cùng những lới khen ngợi dành cho một nhà văn của họ, người đầu tiên đã mang về cho đất nước họ niềm vinh hạnh, Nobel văn chương.
Chắc chắn là các vị tiến sĩ y khoa người Nhật hôm ấy không tài nào biết được tôi đã từng đọc ngấu nghiến, rồi nghiễn ngẫm bộ ba kiệt tác của Y. Kawabata là Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Tiếng rền của núi, cùng truyện Vũ nữ It-zu, Người đẹp say ngủ , Cố đô, Đẹp và buồn,...đó là những tác phẩm của ông sớm nhất được dịch ra tiếng Việt, và dạo ấy do đời sống xã hội khó khăn nên hầu hết ấn phẩm in bằng loại giấy xấu màu xám đen, xù xì và nét chữ không mấy rõ. Họ cũng không thể biết được là, đúng vào lúc tôi có dịp dạo chơi trên đất nước quê hương của Y. Kawabata để nhìn ngắm mà chiêm nghiệm về những gì nhà văn này đã viết từ nửa đầu thế kỷ trước, và thao thao nói về Y. Kawabata, thì ở Việt Nam, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây đang chuẩn bị cho ra đời Tuyển tập tác phẩm Y. Kawabata, dày hơn nghìn trang in trên giấy loại tốt trong kế hoạch Tủ sách Nobel văn học.
Sau nữa, khi có điều kiện đọc thêm nhiều tác phẩm khác của Kawabata, nhất là Diễn từ Nobel của ông, kể cả bài giới thiệu giải Nobel văn chương năm 1968 của Tiến sĩ Anders-Sterling thuộc Viện hàn lâm Thụy Điển, tôi thấy những cảm nhận của mình về con người và giá trị văn chương của ông không mấy khác xa. Y. Kawabata được trao Nobel văn chương bởi những lý do, như : "Người ta đặc biệt ca ngợi Kawabata như một người thấu hiểu một cách tinh tế tâm lý phụ nữ." ; "Tác phẩm của Kawabata làm ta nhớ tới hội họa Nhật Bản; ông là kẻ tôn thờ cái đẹp mong manh và ngôn ngữ hình ảnh u buồn của hiện hữu trong cuộc sống của thiên nhiên và thân phận con người" , và "Kawabata , với tư cách nhà văn, đã phú cho một nhận thức văn hóa đầy tính đạo đức-thẩm mỹ một phẩm chất nghệ thuật độc sáng, vì vậy, bằng cách riêng của mình đóng góp vào việc bắc một nhịp cầu tinh thần giữa phương Đông với phương Tây".
Ngay chính Y. Kawabata, Diễn từ Nobel của mình đọc tại buổi lễ trao giải cuối năm 1968, ông đã lấy tên "Sinh ra từ vẻ đẹp Nhật Bản", như thế đủ rõ ông tự ý thức về giá trị văn chương của mình thế nào! Tôi dặc biệt thích, ông đã mở đầu diễn từ đó bằng việc viện dẫn bài thơ thiền của vị thiền sư người Nhật Bản là Dogen ở thế kỷ 13, bài thơ có tên là Bản lai diện mục : "Hoa thắm mùa xuân/ Cu gù tiết hạ/ Trăng thu óng ả/ Tuyết đông/ Giá lạnh, tinh khôi".
Tôi không dám sa đà vào diễn từ của Y.Kawabata, đơn giản bởi tôi sợ mình sẽ không còn đủ sự khôn ngoan tỉnh táo để thoát khỏi mê cung cái đẹp mà ông giăng mắc. Còn bởi từ lâu nay, sau khi đọc những kiệt tác văn chương của ông, tôi bị đắm chìm vào đấy và thường hay mộng mị giữa ban ngày. Những người đàn bà đẹp với đủ thân phận, những xúc cảm tình dục mãnh liệt mà mong manh dễ vỡ, những phong cảnh thiên nhiên đẹp một cách u buồn , những sinh hoạt tôn giáo huyền bí, những phong cách quý tộc vừa trang nhã vừa suy đồi, những phong tục dân gian khác lạ, những bóng hình của nhân vật-tác giả lởn vởn đâu đây... Tất, tất cả vây hãm, luồn lách trong ta, ám ảnh ta !...
Trong chục ngày ở Nhật Bản, tôi không có thời gian và điều kiện đi đâu xa ngoài thủ đô Tokyo và vùng phụ cận, song do đọc các tác phẩm của Kawabata, nên tôi thấy như mình đã được đi đây đó khắp nước Nhật rồi. Kể từ ngày Y. Kawabata về cõi xưa, nước Nhật đã trải qua hơn ba chục năm, giàu có-đông đúc-hiện đại hơn lên nhiều lắm. Khi thong thả một mình dưới bóng liễu lúc chiều tối, hay khi ngửa mặt ngắm tán phong vàng ở bến xe buýt lúc đợi xe, tôi tự hỏi không biết Y. Kawabata đã từng đi đứng ở chỗ này chưa? Rồi lúc hòa mình vào dòng người trên phố, nơi ga metro, chốn siêu thị đông đúc, tôi thường nhìn thẳng vào gương mặt người đối diện, bất kể đó là đàn ông hay đàn bà, già hay trẻ để xem có chút gì của Kawabata ẩn giấu? Bởi người ta bảo ông là gương mặt của vẻ đẹp, tinh thần và trí tuệ Nhật Bản. Lớp trẻ Nhật Bản ngày nay ham học, ham làm ăn lập nghiệp và cũng chơi tới bến. Tôi tin rất nhiều trong số họ không biết Kawabata là ai. Cũng có rất nhiều người trong số họ biết đến Kawabata và từng đọc tác phẩm của ông, song với họ ông không là tất cả. Không nói đến nhiều giá trị Nhật Bản khác trên trường quốc tế, ngay trong lĩnh vực văn chương thôi, thì Kawabata đã quá xa xôi, gần hơn là Ôê, mà Ôê thì cũng xa rồi, bởi mốt bây giờ là đọc Murakami, là Banana Yoshimoto, là những gỉ gì gì sau nữa...
Sau này, tôi có dịp tiếp xúc, trò chuyện với một bạn gái trẻ Nhật Bản, cô Sachiko Asa, đạo diễn chương trình phát thanh Tiếng Việt thuộc Ban Phát thanh & truyền hình Đối ngoại Đài NHK Nhật Bản.Cô có đợt tìm hiểu và học việc tại cơ quan tôi, Đài Tiếng nói Việt Nam. Cô cắt nghĩa cho tôi hiểu cái tên Sachiko, âm Hán Việt là Tảo Tri Tử, tức là đứa trẻ thông minh sớm. Là một nữ nhà báo, tuổi chưa đến 30, Sachiko khá thông minh và hiểu biết. Vì không vướng rào cản ngôn ngữ, tôi giúp cô hiểu biết thêm nhiều về văn hóa phong tục Việt, và ngược lại, cô cũng giúp tôi hiểu thêm văn hóa Nhật Bản. Tôi hỏi cô về Y. Kawabata, cô sáng mắt à lên vui thích. Tuy nhiên, cô cũng không mấy hiểu về Kawabata, ngoài việc biết đó là một nhà văn nổi tiếng đã đem về Nobel văn chương cho tổ quốc song đã mất từ lâu rồi. Tôi nghe mà chạnh buồn. Ôi tinh thần và vẻ đẹp Nhật Bản đâu rồi, khi con người hiện tại đã dần phai mờ về Y. Kawabata, một giá trị đặc sắc của văn hóa Nhật Bản ?
Tôi lại nhớ về hình ảnh của cặp vợ chồng già ngồi tựa lưng vào nhau mặt ngoảnh đi hai phía trước sân vườn ngôi nhà bên đường ngày ngày tôi ra ga Wakamatsu, những người già ngả lưng trên ghế đá công viên Hibiya và người già dạo chơi rồi ngủ lăn lóc dưới thảm cỏ vườn thông bên Lầu công chúa, hẳn trong ký ức họ có Y. Kawabata? Thế còn cánh nam thanh nữ tú kia, những người hằng ngay tranh thủ lúc ngồi trên metro vun vút trong lòng đất sâu Tokyo hoặc nhoay nhoáy chơi điện tử hoặc cắm phôn nghe nhạc từ điện thoại di động, hoặc ngủ gật vì quá mệt mỏi sau một ngày làm việc cật lực, họ có gì về Y. Kawabata không? Hay chính ông cùng các tác phẩm tuyệt vời của mình đã thuộc về quá khứ, một quá khứ vừa mới đây?
Người ta bảo Y. Kawabata tự sát vì bế tắc. Vậy xã hội Nhật Bản đầu những năm bảy mươi của thế kỷ trước có biến động gì lớn khiến ông bế tắc? Hay tự nội tâm ông? Chỉ 3 năm sau giật Nobel văn chương, một đỉnh cao chói lọi mà hàng ngàn hàng vạn nhà thơ nhà văn trên khắp trái đất này nằm mơ cùng không thấy, thì điều gì khiến ông chọn kết cục như vậy ?
Chẳng vì lẽ gì cả. Thực ra, câu kết của Diễn từ Nobel năm 1968, Y. Kawabata đã bộc lộ : "Những câu thơ Bản lai diện mục ca ngợi vẻ đẹp bốn mùa của Dogen chính là Thiền ".
Thế là đã rõ. Tự chấm dứt sự tồn tại về thể xác, với Y. Kawabata, chỉ là một cách Thiền !...

2. Tiếng rền của núi tuyết
Cho đến thời điểm này, tôi đã có ba lần đặt chân đến xứ sở Mặt trời mọc, lần đầu vào mùa thu năm 2005. Các lần sau, 2014 và 2017, tình cờ cũng đều vào mùa thu. Tôi đã thấy một nước Nhật đẹp huyền ảo và mông mị trong tấm áo choàng thiên nhiên lá vàng lá đỏ. Tôi cũng thấy tuyết trắng lấp lánh trên đỉnh núi Phú Sĩ dưới bầu trời trong xanh mùa thu... Và tôi lại nghĩ về các tác phẩm của Y. Kawabata, vị chua tể của văn chương Xứ Tuyết,...
Gần đây, tôi đọc thêm một tác phẩm nữa trong số các kiệt tác của ông, tiểu thuyết “Hồ”. Khác với các tác phẩm kia, chuyên săn tìm cái đẹp, ở tác phẩm này, nhân vật chính của ông là một con người bị coi là xấu xí. Song bi kịch là ở chỗ, con người xấu xí ấy lại đam mê cái đẹp, mà cụ thể là vẻ đẹp khác giới-đàn bà. Nhân vật chính của câu chuyện, Momoi Gimpei, một người đàn ông luôn mặc cảm vì sự xấu xí về hình thể và tuổi thơ không mấy tốt đẹp của mình, nên phần sau cuộc đời, gã ta bị mặc cảm chi phối thành vô thức mà bám theo bóng hình đàn bà đẹp bất kỳ cho dù họ chỉ thấp thoáng lướt qua gã trên đường đời. Người ta cho rằng, nhà văn cố tình lựa chọn và tạo dựng một nhân vật đầy khiếm khuyết, đang vùng vẫy tìm lại cái tôi, tìm lại bản tính như những người Nhật bước ra từ chiến tranh. Có thể là vậy, song tôi nhận thấy còn hơn thế, Y. Kawabata còn gửi gắm những thông điệp lớn lao hơn,... Đó là gì vậy?
Tôi thấy ở đây, hình bóng đàn bà đẹp hay là hình bóng của một tinh thần văn hóa Nhật Bản tốt đẹp một thời đang dần bị phôi pha, mai một, bị chen lấn xô đẩy, chèn ép bởi văn hóa ngoại lai? Phải chăng, Y. Kawabata đã sớm nhận thấy và tiên đoán về sự sa sút và xô bồ của tinh thần văn hóa Nhật Bản khi bước vào thời kỳ công nghiệp phát triển và toàn cầu hóa?
Rất có thể, gã trai xấu xí và một quá khứ tuổi thơ không mấy tốt đẹp kia chính là hình ảnh của một nước Nhật ngày nay, dần bị xô bồ và lệch lạc bởi sức ép từ chính sự phát triển quá lố của mình và áp lực từ việc toàn cầu hóa, từ sự ô nhiễm và biến đổi khí hậu, từ dịch bệnh với quy mô toàn cầu,...? Thế nên, sự vô thức (hay ý thưc) đi tìm vẻ đẹp kia, sự tốt đẹp hiện tại còn sót lại đâu đó (và cả vẻ đẹp trong quá khứ) của nhân vật Momoi Gimpei, chính là sự cần thiết, sớm ngộ ra để khôi phục vẻ đẹp tinh thần văn hóa Nhật Bản từng có,...? Đương nhiên, ở vào thời nhà văn sống và sáng tác, thì đây là sự suy luận thiên tài mang tính tiên tri. Vậy theo tôi, đây là một thông điệp cơ bản ẩn chứa của tiểu thuyết này.
Tìm hiểu về văn hóa và tinh thần Nhật Bản, dường như mọi hiện tượng đều được nâng lên một giá trị nào đó và có ý nghĩa biểu tượng khi mà nó chứa đựng chất nhân văn, như một triết lý sống, ngay cả với cái chết. Không giống tinh thần Phật giáo, mọi sự đều bé nhỏ và vô ưu trước Đức Phật, tinh thần Nhật Bản nặng yếu tố Thần Đạo, ít nhiều mang một ý nghĩa nào đó, gần với cuộc đời.
Người dân Nhật Bản có tuổi thọ rất cao. Nhưng khi cuộc sống không còn ý nghĩa và giá trị nào đó, nghĩa là sống chỉ là sự kéo dài thời gian tồn tại trên mặt đất thôi, người ta sẽ tìm cách chấm dứt. Khác với cái chết theo tinh thần võ sĩ đạo (samurai), người già cô đơn ở Nhật Bản đã từng diễn ra khá phổ biến, ấy là cách bỏ lại tất cả, một mình đến xứ tuyết, cứ thế đi sâu vào vùng trắng lạnh mênh mông cho đến khi cạn hơi kiệt sức mà gục ngã vùi mình trong tuyết giá. Một kết cục đẹp và buồn làm sao ?!
Hay đâu, một giá trị từng được nâng lên thành triết lý đầy chất nhân văn, mà Y. Kawabata thuật trong tác phẩm "Người đẹp say ngủ" của mình. Người ta bỏ tiền ra để thuê dịch vụ ngắm (chỉ được ngắm bằng mắt, không có hành vi nhục dục) đàn bà đẹp khỏa thân trong trang thái say ngủ (là loại hình dịch vụ, bị dùng thuốc mê ngủ, không bị cưỡng bức mà là sự thỏa thuận). Đó là một cách hưởng thụ về tính dục cho những ai có nhu cầu, nhưng cũng có thể nhìn nhận đó như một sự cảm thụ cái đẹp theo tinh thần mỹ học....
Những triết lý sông-chết như vậy chỉ có ở Nhật Bản, và cũng chỉ qua cái nhìn đầy mỹ cảm và nhân văn, sâu săc, cùng bút pháp điêu luyện của Y. Kawabata mới trở nên tuyệt vời như vậy!...
Trong xã hội Nhật Bản hiện tại, tức là hơn nửa thế kỷ đã qua so với thời gian Y. Kawabata sống và viết, những cách thức như vậy không còn nữa (hoặc giả vẫn tồn tại cá biệt trên đất nước Nhật?), thì những triết lý ấy vẫn không mất đi, bởi ý nghĩa nhân văn của nó. Chí ít, nó tồn tại trong ký ức của một lớp người, hay trong các tác phẩm tuyệt vời của Y. Kawabata, với sự lan tỏa trên phạm vi toàn cầu...
Sau cùng, không thể không nói đến bút pháp, văn phong của Y. Kawabata. Lựa chọn ông để trao Nobel văn chương năm 1968, Hội đồng giải Nobel đã nhận xét: "... Kawabata , với tư cách nhà văn, đã phú cho một nhận thức văn hóa đầy tính đạo đức-thẩm mỹ một phẩm chất nghệ thuật độc sáng, vì vậy, bằng cách riêng của mình đóng góp vào việc bắc một nhịp cầu tinh thần giữa phương Đông với phương Tây". Dĩ nhiên, không có gì bàn cãi, khi tô đậm mấy đặc điểm chính của văn chương Kawabata, đạo đức-thẩm mỹ-nghệ thuật độc sáng.
Khi đã là một gạch nối, một đặc sắc của văn hóa Nhật Bản, tôi nghĩ, cùng với các đặc điểm cơ bản làm nên giá trị văn chương của Y. Kawabata (đạo đức-thẩm mỹ-nghệ thuật độc sáng) thì chắc chắn còn những giá trị khác nữa từ cội nguồn văn hóa dân tộc xem như chất “phụ gia” để ông hòa quên, nhào nặn thành chất kết dính các giá trị cơ bản kia? Vậy đó là những gì?
Thường là, mỗi nền văn hóa đều chịu ảnh hưởng, nếu không muốn nói lấy tôn giáo, tín ngưỡng gốc làm nền tảng. Với người dân xứ sở Mặt trời mọc, tôn giáo gốc (từ trước Công nguyên) là Thần đạo (Shinto). Truy nguyên, tư tưởng của Thần đạo Nhật Bản khác với những tôn giáo khác ở chỗ không cấm hay buộc con người làm gì, mà chỉ khuyên nên hướng tới sự trong sáng và tránh điều ác. Giết chóc đối với Thần đạo là điều ác và không nên giết sinh vật trừ khi vì sự sống còn của con người, nên trước khi ăn người ta thường phải nói câu Itadakimasu (戴きます) để cảm ơn những sinh linh đã phải chết để trở thành thức ăn, và đến ngày nay điều này đã trở thành một phong tục. Như thế, có thể nhận thấy, tư tưởng Thần đạo Nhật Bản với ý nghĩa cơ bản của nó khi khuyên “con người ta hướng tới sự trong sáng và tránh điều ác” đã là nên giá trị đạo đức trong các tác phẩm của Y. Kawabata.
Thẩm mỹ, tôi nghĩ, đặc điểm nổi trội nhất trong văn chương của ông, nếu không muốn nói Y. Kawabata là nhà văn theo “chủ nghĩa duy mỹ”. Là người đắm đuối, tôn thờ cái đẹp, song Y. Kawabata không đơn thuần duy mỹ đến mức độ coi “cái đẹp” là duy nhất mà tách rời nó khỏi nội dung xã hội và đạo đức cuộc sống. Thẩm mỹ, trong con người và văn chương Kawabata, mang đúng nghĩa của khái niệm này, sự cảm thụ và hiểu biết về cái đẹp hòa quện trong sự cảm thông sâu sắc của tâm hồn. Mỹ cảm của ông mang thiên hướng đàn bà, pha trộn ẩn ức tình dục mơ hồ, đơn giản vì họ là biểu tượng của cái đẹp. Những nhân vật nữ của ông dù ở tầng lớp và thuộc loại người nào, đều được nâng niu và ít nhiều ông dành cho họ sự ưu ái. Chính điều này, theo tôi, đã làm nên “đặc sắc Kawabata”, khiến ông khác lạ với các nhà văn Nhật Bản khác, chẳng những thế, sự khác lạ và đặc sắc ấy lại giàu năng lượng và có sức nâng, góp phần tôn vinh văn học, văn hóa Nhật Bản, khiến Hội đồng văn chương Nobel không thể làm ngơ mà quyết định trao giải cho ông, người Nhật đầu tiên và người châu Á thứ ba được vinh danh. Vinh quang này cho cá nhân Y. Kawabata và văn chương Nhật Bản.
Song Y. Kawabata cần gì ở điều ấy? Chẳng phải ngẫu nhiên, ông đã mở đầu diễn từ Nobel năm 1968 bằng việc viện dẫn bài thơ thiền của vị thiền sư người Nhật Bản là Dogen ở thế kỷ 13, bài thơ có tên là "Bản lai diện mục" : "Hoa thắm mùa xuân/ Cu gù tiết hạ/ Trăng thu óng ả/ Tuyết đông/ Giá lạnh, tinh khôi". Thực ra, đọc kỹ các tác phẩm của ông, người ta đã nhận thấy sự thiền định thấm đẫm trong mạch văn, câu chữ. Điều này cho thấy, chất thiền cũng là một đặc trưng văn chương của Kawabata. Hầu như, các nhân vật của ông (hay chính bản thân) không mấy nổi giận và nếu có thì cũng ít khi đến mức mất kiểm soát... Tìm hiểu sự ảnh hưởng của tôn giáo đến tinh thần Nhật Bản, mặc dù tôn giáo gốc là Thần đạo, nhưng càng về sau, sự lan tỏa và sức ảnh hưởng của Phật giáo càng mạnh, chi phối tinh thần văn hóa Nhật Bản. Đây cũng là cách lý giải yếu tố Thiền trong văn chương của Kawabata, cũng như tâm thế và sự hành xử của các nhân vật trong tác phẩm của ông. Lấy trạng thái an tĩnh và sự tập trung cao độ trong cách nhìn nhận, vận động, hành xử là cốt lõi của “thiền định”, và đó cũng chính là tâm thế Y. Kawabata. Vậy xem như, bài thơ thiền “Bản lai diện mục” cho thấy sự tiếp nối trạng thái động-tĩnh, thực -ảo, hiện tại-ký ức thay nhau luân chuyển với vẻ đẹp điển hình của thiên nhiên bốn mùa là căn cốt cảm hứng sáng tạo văn chương của Y. Kawabata. Các tác phẩm của ông là minh chứng sống động cho phương châm và cảm hứng sáng tạo này.
Trở lại với nhận định của Hội đồng Nobel văn chương năm 1968, về sự đóng góp của Y. Kawabata cho sự phát triển của văn học thế giới, ấy là “nghệ thuật độc sáng”. Vậy hiểu nhận định này ra sao? Phải chăng, nếu không phải là sự độc đáo và sáng láng thì đó là gi?
Người Nhật Bản tự hào về Haiku (俳句), một loại thơ độc đáo, một đặc sắc ngôn ngữ, văn chương của họ. Khởi phát từ đầu thế kỷ 17 và nhanh chóng phát triển cực thịnh trong thời kỳ Edo (1603-1867). Sắc thái trào phúng sơ khởi cũng dần chuyển sang âm hưởng sâu lắng và thanh tịnh của Thiền tông và âm hưởng ấy đến giờ vẫn là chủ đạo của loại thơ này. Haiku Nhật bản độc đáo là bởi độ ngắn gon (thường không vượt quá 17 âm tiết tiếng Nhật) và sự hàm súc đầy gợi mở của nó. Kinh điển thể Haiku, người ta hay viện dẫn bài thơ “Con ếch” của Matsuo Bashō: “Ao xưa;/ con ếch nhảy vào/ vang tiếng nước xao.”... Vì sự giới hạn số từ và âm tiết nên Haiku chỉ tả sự việc ngay trước mắt (nhãn tiền) nhưng nội hàm lại nhiều nên phải có sự tương quan các ý tưởng với nhau. Tôi thấy, thơ Haiku thú vị ở chỗ, vì độ ngắn gọn, hàm súc và gợi mở của nó nên người đọc không đơn thuần chỉ cần đọc hiểu mà còn có thể liên tưởng, suy luận ngầm, đi tìm ý tứ sâu xa của bài thơ gốc đặng diễn đạt bài thơ ấy theo ý mình. Điều đó có nghĩa, mỗi người đọc đều có thể trở thành đồng sáng tạo với tác giả bài thơ. Đó là cái hay và sự độc đáo riêng có của Haiku. Chính sự độc đáo của Haiku nên văn chương Nhật Bản dễ bị ảnh hưởng và sự chi phối của thể thơ này,... Dĩ nhiên, Y. Kawabata, dù ở ngôi vị chúa tể, cũng không ngoại lệ.
Thậm chí, theo tôi nghĩ, văn phong của Y. Kawabata chịu ảnh hưởng khá sâu sắc phong vị và tính chất của Haiku. Chính xác hơn, Y. Kawabata biết cách đồng hóa tính chất và sắc thái của Haiku để làm nên phong vị riêng mình – “đặc sắc Kawabata”. Ấy là thứ nghệ thuật mà Hội đồng Nobel văn học năm 1968 gọi là “nghệ thuật độc sáng”.
Đọc tác phẩm của Y. Kawabata, dù tiểu thuyết hay truyện ngắn đều thấy rõ điều này. Mỗi tác phẩm của ông đều ẩn chứa vô vàn những bài thơ Haiku. Đơn cử, điển hình là tiểu thuyết “Người đẹp say ngủ”, cả tác phẩm là một bài Haiku lớn. Hình ảnh nhân vạt chính, ông già bảy mươi đắm đuối ngắm người đàn bà đẹp ở trạng thái khỏa thân say ngủ, là hiện thực nhãn tiền, còn những dòng suy tưởng miên man, chập chờn hồi ức, hiện tại, mộng mị đan xen của nhân vật chính là các ý tưởng tương quan với nhau làm nên bài Haiku toàn vẹn, khiến người đọc suy ngẫm, liên tưởng,... Và trong bài Haiku lớn ấy, lại chứa đựng rất nhiều bài Haiku khác, dường như mỗi chương, mỗi đoạn đều mang dáng dấp của bài Haiku, cứ thể nhân lên, vô vàn những bài Haiku nhỏ, cái nọ lồng trong cái kia, đan cài, bao bọc... Bởi thế, đọc tác phẩm của Y. Kawabata, không thể đọc nhanh, mà phải đọc chậm, thật chậm rãi, những mong tìm lời giải cho từng bài Haiku mà tác giả đặt ra. Văn của Y. Kawabata tốc độ chậm là vậy. Điều này khiến cho một số bạn đọc ưa tốc độ nhanh, thích hiệu ứng sốc, cảm thấy sốt ruột và sinh ngại chăng ?... Có lẽ, đây cũng là lý do mà các tác phẩm của ông thường ngắn, kể cả tiểu thuyết ?
Kể từ ngày Y. Kawabata hóa thân theo “ngàn cánh hạc” xải cánh trắng bay về “xứ tuyết” tinh khôi để đêm đêm nghe “tiếng rền của núi”, chớp mắt đã nửa thế kỳ trôi qua. Khởi nguồn, sinh vào năm cuối cùng của thế kỷ 19 ở Osaka miền nam nước Nhật, hàng năm linh hồn ông vẫn cùng bầy hạc trắng từ xứ tuyết phương Bắc trở về thăm cố hương, ngang qua vùng “hồ”, thăm “cố đô”, nơi ông đã để lại những kỷ niệm “đẹp và buồn”, từng say ngắm “người đẹp say ngủ”,.. đã,... từng,...và từng,...
Với các tuyệt phẩm của mình, thực ra, nửa thế kỷ qua, Y. Kawabata vẫn đang ở đây, cùng mọi người đấy chứ ?!..../.


Đăng nhập để trả lời
0
«« « 1 2 » »»