Đêm Chi Lê
Nocturo de Chile
Roberto Bolanõ
Người dịch: Bùi Trọng Nhự
Nhà xuất bản Phụ Nữ
1.
Tử thần đang giục tôi lên đường, nhưng lúc này tôi thấy có nhiều điều cần phải nói ra. Cả đời, tôi từng sống thanh thản. bình lặng và thanh thản. nhưng bao nhiêu chuyện lại bất chợt kéo đến. kẻ có tội chính là cái gã già trước tuổi kia. Tôi đã từng được thanh thản nhưng giờ đây tôi không còn thanh thản nữa. tôi thấy cần phải làm sáng rõ một điều. vì thế tôi chống khuỷu tay nâng cái đầu run rẩy đáng thương của tôi, lục tìm trong thẳm sâu ký ức những hành vi có thể minh chưn[‘gã cho tôi và cũng là để phản bác những lời sỉ nhục mà cái gã già trước tuổi kia đã gieo rắc nhằm làm mất thanh danh của tôi chỉ trong một đêm ngắn ngủi. hắn đang cố tình làm mất danh giá của tôi . trọn đời tôi vẫn tự nhủ là mình phải sống có trách nhiệm. mỗi người đều có nghĩa vụ đạo lý là phải chịu trách nhiệm về những hành vi của mình, về lời nói của mình và cả những điều mà mình im lặng, vâng cả những điều mà mình vẫn im lặng vì mọi điều dù là thầm kín cũng thấu đến Trời và Thiên Chúa đều nhận được, cũng chỉ có Thiên Chúa mới hiểu nổi và phán xét những điều thầm kín đó, vì thế cũng cần phải rất cẩn thận với những điều không nói ra. Tôi là người có trách nhiệm đầy đủ với hành vi, lời và sự im lặng của mình. Những điều im lặng của tôi đều thanh khiết và minh bạch, trước hết là minh bạch trước Thiên Chúa. Ai đó có thể bỏ qua. Nhưng Thiên Chúa không bỏ qua. Tôi không biết mình đang nói gì. Đôi khi chống cùi chỏ gượng dậy để suy nghĩ, tôi ngạc nhiên với chính mình. Tôi mộng mơ cố gắng hoà mục với chính mình. Thậm chí, đôi khi ngay cả tên mình tôi cũng quên. Tôi được đặt tên là Sebastián Urrutia Lacroix. Người Chile. Tổ tiên tôi, về đằng nội, bắt nguồn từ xứ Vascongadas mà ngày nay người ta thường gọi là xứ Vasco hay xứ Euskadi. Về đằng ngoại tôi có gốc rễ từ những vùng đất Pháp hiền hoà, tại một ngôi làng mà tên của nó dịch sang tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là Người Trên Mặt Đất hay Người Đang Đứng, quả thật vốn tiếng Pháp của tôi vào giờ phút cuối cuộc đời không còn khá như trước đây. Tuy nhiên, tôi vẫn còn đủ sức để hồi tưởng và đáp trả những lời thoá mạ mà gã già trước tuổi kia vô cớ đến trước cửa nhà tôi cứ thế mồm loa mép giải, không hề có lời khiêu khích hay lời giáo đầu nào cả. cần phải nói rõ điều này. Tôi không tìm sự đối đầu. chẳng bao giờ tôi tìm đến sự đối đầu. cái mà tôi tìm kiếm là sự thanh thản, là ý thức trách nhiệm đối với hành vi, lời nói và sự im lặng của mình. Tôi là một người có lý trí. Luôn luôn là người có lý trí. Lúc mười ba tuổi, tôi cảm nhận được tiếng gọi của Thượng Đế và tôi đòi làm môn sinh chủng viện. cha tôi phản đối. dù không thật kiên quyết nhưng ông phản đối. tôi vẫn còn nhớ cái bóng cha tôi lướt qua các phòng trong nhà chúng tôi giống như bóng con thằn lằn hay bóng con lươn. Tôi còn nhớ, không rõ lắm nhưng chắc chắn tôi còn nhớ là tôi toét miệng cười trong bóng tối, một nụ cười trẻ thơ vào lứa tuổi của tôi thời bấy giờ. Và tôi còn nhớ như in những đồ vật trong nhà, chẳng hạn như tấm thảm gobelin dệt một cảnh săn bắn hay những chiếc đĩa ăn có cảnh bữa cơm tối với tất cả những hoa văn trang trí của chúng. Và tôi còn nhớ nụ cười và cả những nỗi run sợ của tôi. Rồi một năm sau, sang tuổi mười bốn, tôi vào chủng viện. và sau rất nhiều năm, khi tôi rời chủng viện thì mẹ tôi hôn tay tôi và nói viết tôi là thưa cha hoặc tôi hiểu rằng bà gọi tôi bằng cha và trước sự kinh ngạc cũng như phản đối của tôi (rằng mẹ đừng gọi con bằng cha, tôi nói với bà, con là con của mẹ, hay có lẽ tôi không nói con là con của mẹ mà chỉ nói là con chứ không phải là cha) mẹ tôi oà lên khóc. Lúcđó tôi nghĩ, có lẽ chỉ bây giờ tôi mới nghĩ, rằng cuộc đời là cả một chuỗi những lầm lạc dẫn đắt người ta đến sự thật cuối cùng, sự thật duy nhất. và trước đó hoặc sau đó ít lâu, tức là mấy ngày trước khi được phong linh mục hay mấy ngày sau khi chịu phép truyền đức thánh, tôi làm quen với Farewell, một Farewell tiếng tăm lừng lẫy, tôi không nhớ chính xác là ở đâu, có thể là ở nhà ông ta khi tôi đến đó, mà cũng có thể là khi tôi viếng thăm văn phòng của ông ở toà báo hay có thể là ở một câu lạc bộ mà ông là hội viên vào một buổi chiều buồn tê tái như bao buổi chiều tháng Tư ở Santiago, mặc dù trong trí nhớ của tôi những buổi chiều tháng Tư ở thành phố này cũng rất rộn rã tiếng chim với ngàn hoa khoe sắc thắm như người ta vẫn nghĩ. Farewell, có mặt ở trong một trong những nơi đó, dáng cao, đến mét tám, mà theo tôi hình như đến hai mét, mặc bộ comlê màu ghi hàng Anh thượng hạng, đi giày thừa bằng tay, thắt cà vạt lụa, sơ mi trắng sạch bong giống như ảo giác của tôi, măng sét bằng vàng, ghim cài cà vạt có khắc mấy dấu hiệu mà tôi không muốn giải thích mặc dù tôi rất ý nghĩa của những dấu hiệu đó. Farewell kéo tôi ngồi bên cạnh, rất sát với ông ta, hay có lẽ ông ta đưa tôi đến thư viện riêng của mình hay thư viện của câu lạc bộ, và trong khi chúng tôi ngắm nhìn những gáy sách thì ông hắng giọng, và có thể khi hắng giọng ông liếc mắt nhìn tôi mặc dù tôi không chắc chắn lắm vì tôi đang mải ngắm mấy quyển sách , và lúc ấy ông ta nói gì đó mà tôi không nghe thấy hay tôi không còn nhớ, rồi sau đó chúng tôi lại ngồi vào chiếc ghế bành hay ghế tựa gì đó và đàm luận về những cuốn sách mà chúng tôi vừa nhìn ngắm và vuốt ve với những ngón tay mềm mại của tôi, những ngón tay của một môn sinh vừa tốt nghiệp chủng viện và những ngón tay bự của Farewell đã biến dạng như những ông lão quá cao niên, và chúng tôi trao đổi về những cuốn sách và tác giá của chúng. Giọng nói của Farewell giống như tiếng kêu của con ác điểu hay bay lượn trên những dòng sông, trên những triền núi cao, trên những thung lũng và trên những đèo dốc, luôn luôn với sự diễn đạt chuẩn xác, lời lẽ chặt chẽ như suy nghĩ của ông ta. Và khi tôi đề đạt với vẻ thơ ngây của một chú chim non rằng tôi muốn trở thành nhà phê bình văn học, rằng tôi muốn đi theo con đường mà ông đã vạch ra, rằng trên Trái đất này chẳng có gì thoả mãn được ước vọng của tôi bằng việc đọc và cao giọng biểu đạt qua từng áng văn hay, những thu nhận mà mình đã đọc, khi tôi đề đạt với Farewell điều ấy thì ông mỉm cười, đặt tay lên vai tôi (bàn tay nặng quá, dường như ông ta đeo thêm miếng giáp bằng sắt) và nhìn thẳng vào mắt tôi mà bảo rằng con đường đó không dễ chút nào. Trên đất nước của những kẻ thô lỗ này, ông nói, con đường ấy không phải là con đường hoa hồng. trên đất nước của những ông điền chủ này, ông ta nói, văn học là một thứ hiếm và biết đọc là việc chẳng bõ công. Và khi thấy tôi rụt rè không đáp lại lời nào, ông ghé sát vào mặt tôi hỏi rằng ông ta đã làm điều gì phiền lòng hay xúc phạm tôi chăng. chẳng lẽ bản thân cha hay bố của cha sẽ không làm điền chủ sao? Không, tôi đáp. Nhưng mà tôi thì có đấy, Farewell nói, tôi có điền trang ở gần Chillán với cánh đồng trồng nho làm ra loại rượu vang không tồi. liền sau đó ông ngỏ lời mời tôi cuối tuần đến chơi nơi điền trang của ông, tên điền trang ấy giống như tựa đề một cuốn sách nào đó của Huysmans, tôi không còn nhớ là cuốn nào, có thể là “À rebours” hay “Là-bas” và cũng có thể là L’oblat, trí nhớ của tôi không còn như trước đây nữa rồi, chắc là điền trang ấy mang tên Là-bas vì rượu vang làm từ đó cũng có cái tên như vậy, và sau khi ngỏ lời mời, Farewell lặng im mặc dù đôi mắt xanh của ông ta vẫn nhìn thẳng vào mắt tôi, tôi cũng không nói gì, rồi không chịu nổi cái nhìn chòng chọc của ông ta, tôi nhún nhường nhìn xuống phía dưới như con nhỏ bị thương và tưởng tượng cái điền trang ấy chính là nơi mà văn học mới đích thực là con đường trồng hoa hồng và biết đọc không phải là chuyện chẳng bõ công và là nơi mà thú văn chương vượt lên trên tất cả những nhu cầu và nghĩa vụ đời thường, sau đó tôi nhìn lên, đôi mắt chủng sinh của tôi bắt gặp đôi mắt chim ưng của Farewell, tôi gật đầu vài cái và nói rằng tôi sẽ đến, rằng được nghỉ ngày cuối tuần tại trang trại của nhà phê bìh văn học bậc nhất Chile là điều vinh hạnh đối với tôi. Đến ngày hẹn, lòng tôi đầy xốn xang do dự, biết ăn vận thế nào đây, nên mặc áo thầy tu hay y phục thế tục, nếu mặc quần áo bình thường thì nên chọn bộ cánh nào đây, khi định mặc áo thụng họ đạo thì tôi lại do dự không hiểu mình sẽ được tiếp đón ra sao. Và tôi cũng chẳng biết nên mang theo sách gì để đọc trên tàu lúc đi và khi về, có lẽ là quyển Lịch sử Italia cho chuyến đi và có lẽ là Tuyển tập thơ Chile của Farewell cho lúc khứ hồi. hoặc là ngược lại. tôi cũng chẳng biết tôi sẽ gặp mặt nhà văn nào ở Là-bas (vì Farewell thường mời nhiều nhà văn đến điền trang của mình), có thể là nhà thơ Uribarrena, tác giả của những bản sonnet rực rỡ về đề tài tôn giáo, có thể là Montoya Eyzaguirre, nhà văn biền ngẫu với lối hành văn rất chải chuốt của nhiều áng văn hay, cũng có thể là Baldomero Lizamendi Errázuriz, nhà sử học có hạng được mọi người thừa nhận. cả ba đều là bạn thân của Farewell. Thực tế thì Farewell có rất nhiều bạn và cũng lắm kẻ ghen ghét, khó có phép thần thông nào tính hết được. bữa ấy tgra ga mà lòng thấp thỏm sẵn sàng đón nhận bất kỳ ly rượu đắng nào mà Thượng Đế có nhã ý dành cho tôi. Tôi nhớ như mới hôm nay thôi (thực ra là như chính lúc này đây) đồng quê Chile với những chú bò Chile đốm trắng đốm đen gặm cỏ dọc hai bên đường xe lửa. có những lúc nhịp điệu rập rình đều đều của con tàu làm tôi thiu thiu ngủ. tôi nhắm mắt. tôi nhắm mắt như tôi đang nhắm lúc này đây. Nhưng bất chợt tôi lại mở mắt, trước mặt là quang cảnh thiên nhiên, đa dạng đa sắc, đôi lúc thật sinhđộng thôi thúc và đôi lúc cũng làm u sầu lòng người. khi tàu đến Chillán, tôi bắt taxi đi tiếp đến ngôi làng có tên là Querquén. Taxi thả tôi ở một bãi trống hình như là quảng trường chính (mà tôi không dám gọi là quảng trường Trung Tâm) của Querquén. Không một bóng người. tôi trả tiền và xách vali bước xuống xe, nhìn toàn cảnh xung quanh và khi tôi quay lại định hỏi người lái xe điều gì đó hay lại lên xe để đi nhanh đến Chillán, sau đó đi Santiago thì chiếc xe đã mất hút, dường như sự cô quạnh có chút rờn rợn ở nơi đây đã thức tỉnh nỗi sợ hãi truyền kiếp trong lòng anh tài xế taxi. Khoảnh khắc ấy thì tôi cũng thấy sợ. chắc là dáng vẻ tôi khá ảm đạm khi phải đứng như trời trồng trong cảnh bị bỏ rơi với chiếc vali chủng sinh và Tuyển tập của Farewell trong tay. Phía sau lùm cây có mấy con chim bay lên. Hình như chúng còn xướng tên của ngôi làng bị quên lãng ấy. Querquén, mà hình như chúng cùng hô toáng lên “ai đến, ai đến, ai đến”. tôi hấp tấp lẩm nhẩm đọc đoạn kinh Lạy Nữ vương và tiến đến một chiếc băng bằng gỗ gần đó nhằm tạo một dáng vẻ phù hợp với hình ảnh của tôi hay phù hợp hình ảnh mà thời đó tôi nghĩ mình phải có. Kính Lạy Đức Mẹ Maria Đồng Trinh, xin đừng bỏ mặc kẻ nô bộc của Người, tôi lẩm nhẩm đọc, trong khi đó mấy con chim đen bay cách ngọn cây chừng hai mươi lăm centimét kêu nháo nhác “ai đến, ai đến”. kính lạy Đức Bà Lourdes Đồng Trinh, xin đừng bỏ mặc kẻ mục tử đáng thương của Người, tôi lẩm nhẩm đọc, trong khi đó mấy con chim lông nâu hay đúng hơn là nâu vàng, ngực trắng bay cách ngọn cây chừng mươi centimét rít khẽ khàng hơn “ai đến, ai đến, ai đến”, kính lạy Nữ thần Thống khổ Đồng trinh, kính lạy Nữ thần Sáng suốt Đồng trinh, xin đừng bỏ rơi kẻ phụng sự các Ngài, tôi thì thầm, trong khi đó thì mấy con chim bé xíu lông đỏ quành quạch có pha chút đen, chút vàng, chút xanh lại chí choé “ai đến ai đến, ai đến” cùng lúc đó một luồng gió lạnh đột nhiên thổi đến làm trong buốt đến tận xương. Khi ấy, từ phía cuối con đường đất một cỗ xe loại xe độc mã hay xe thổ mộ do hai con ngựa kéo, một con trắng bệch, một con lốm đốm, tiến đến nơi tôi đang đứng. bóng chiếc xe cắt ngang đường chân trời khiến tôi chỉ có thể nghĩ đó là chiếc xe tang đến đón một tử thi nào đó để đưa về âm giới. khi cỗ xe chỉ cách tôi vài thước, người đánh xe là một anh nhà quê mặc độc một chiếc sơ mi mỏng dính và chiếc áo len cộc tay trong khi tiết trời khá lạnh, hỏi rằng tôi có phải là cha Urrutia Lacroix, không những chỉ họ mẹ tôi mà cả họ cha tôi anh ta cũng phát âm sai. Tôi trả lời rằng phải, tôi là người mà anh ta cần đón. Lúc ấy anh xà ích xuống xe không nói không rằng xách vali lên đặt phía sau xe rồi mời tôi ngồi bên cạnh anh ta. Vừa không yên tâm vừa bị tê cóng bởi luồng gió lạnh từ vùng triền núi thổi tới, tôi hỏi phải chăng anh ta từ điền trang ông Farwell đến đây. Con không phải từ chỗ ấy đến, anh ta trả lời. thế không phải anh từ Là-bas đến à? Tôi hỏi và hai hàm răng lập cập va vào nhau. Đúng là con từ nơi ấy đến nhưng con không biết ông Farewell là ông nào, tấm sinh linh của Chúa đáp lời. khi đó tôi mới ngỡ ra rằng Farewell chỉ là bút danh dùng trong giới phê bình văn học. tôi cố nhớ tên thật của ông ta. Họ cha của Farewell là González nhưng họ mẹ của ông thì tôi không hề nghĩ ra và tôi do dự có nên nói cho anh ta biết tôi là khách mời của ông González rồi thôi không cần giải thích gì thêm hay chỉ im lặng. tôi chọn phương án im lặng. tôi tựa vào thành xe, nhắm mắt. anh chàng nhà quê hỏi tôi bị mệt phải không. tôi nghe tiếng anh ta như tiếng thì thào của cơn gió thoảng qua hay chỉ rõ hơn đôi chút, cũng vừa lúc ấy tôi lần ra được họ mẹ của Farewell là Lamarca. Ta là khách mời của ông Lamarca, tôi thốt lên một cách nhẹ nhõm. Ông ấy đang đợi cha, anh nhà quê lên tiếng. khi đã rời xa làng Querquén và những con chim chết tiệt kia, tôi cảm thấy như mình đã giành được phần thắng. Farewell và một nhà thơ trẻ nữa mà tôi chưa biết tên đón tôi ở Là-bas. Cả hai đều chờ ở phòng khách, nếu gọi đó là phòng khách thì không đúng, vì thực ra nó giống như một thư viện và gian trưng bày của thợ săn với rất nhiều giá, kệ chứa đầy những bách khoa toàn thư, những từ điển, những sách và những vật lưu niệm mà Farewell đã mua trong các chuyến du ngoạn châu Âu, Bắc Phi và lạy Chúa, cả hàng tá những những đầu súc vật ướp khô trong đó có một cặp đầu báo mà cha của Farewell tự tay săn được. hai người đang đàm luận và theo tôi đoán họ đang đàm luận về thơ ca, và mặc dù khi tôi đến họ ngưng đối thoại rồi nhanh chóng quay lại cuộc đàm luận ngay sua khi tôi được thu xếp phòng nghỉ ở tầng hai. Tôi nhớ là mặc dù tôi rất muốn tham gia đàm luận khi họ có nhã ý mời tôi nhưng tôi vẫn giữ thế im lặng. ngoài cái thú phê bình tôi cũng làm thơ nên tôi linh cảm rằng dính vào cuộc tranh luận vui vẻ, ồn ào của Farewell và nhà thơ trẻ kia chẳng khác nào nhào vào bơi trong một biển nước mênh mông. Tôi nhớ là chúng tôi nhấm nháp rượu cô nhắc và tôi còn nhớ là đôi lúc trong khi tra cứu sổ danh mục thư viện của Farewell, tôi cảm thấy mình không may mắn chút nào. Chốc chốc Farewell lại cười phá lên hết cỡ. mỗi khi ông ta cười sằng sặc thì tôi lại liếc mắt nhìn. Quả là ông ta giống thần Pan hay thần..trong hang động của họ, hay giống một gã thực dân Tây Ban Nha loạn trí bị giam hãm trong lô cốt că nhầm ở miền Nam. Anh nhà thơ trẻ thì ngược lại, tiếng cười của anh ta ngỏn ngoẻn như của phụ nữ và anh ta chỉ cười góp sau tiếng cười của Farewell giống như con chuồn chuồn
Nocturo de Chile
Roberto Bolanõ
Người dịch: Bùi Trọng Nhự
Nhà xuất bản Phụ Nữ
1.
Tử thần đang giục tôi lên đường, nhưng lúc này tôi thấy có nhiều điều cần phải nói ra. Cả đời, tôi từng sống thanh thản. bình lặng và thanh thản. nhưng bao nhiêu chuyện lại bất chợt kéo đến. kẻ có tội chính là cái gã già trước tuổi kia. Tôi đã từng được thanh thản nhưng giờ đây tôi không còn thanh thản nữa. tôi thấy cần phải làm sáng rõ một điều. vì thế tôi chống khuỷu tay nâng cái đầu run rẩy đáng thương của tôi, lục tìm trong thẳm sâu ký ức những hành vi có thể minh chưn[‘gã cho tôi và cũng là để phản bác những lời sỉ nhục mà cái gã già trước tuổi kia đã gieo rắc nhằm làm mất thanh danh của tôi chỉ trong một đêm ngắn ngủi. hắn đang cố tình làm mất danh giá của tôi . trọn đời tôi vẫn tự nhủ là mình phải sống có trách nhiệm. mỗi người đều có nghĩa vụ đạo lý là phải chịu trách nhiệm về những hành vi của mình, về lời nói của mình và cả những điều mà mình im lặng, vâng cả những điều mà mình vẫn im lặng vì mọi điều dù là thầm kín cũng thấu đến Trời và Thiên Chúa đều nhận được, cũng chỉ có Thiên Chúa mới hiểu nổi và phán xét những điều thầm kín đó, vì thế cũng cần phải rất cẩn thận với những điều không nói ra. Tôi là người có trách nhiệm đầy đủ với hành vi, lời và sự im lặng của mình. Những điều im lặng của tôi đều thanh khiết và minh bạch, trước hết là minh bạch trước Thiên Chúa. Ai đó có thể bỏ qua. Nhưng Thiên Chúa không bỏ qua. Tôi không biết mình đang nói gì. Đôi khi chống cùi chỏ gượng dậy để suy nghĩ, tôi ngạc nhiên với chính mình. Tôi mộng mơ cố gắng hoà mục với chính mình. Thậm chí, đôi khi ngay cả tên mình tôi cũng quên. Tôi được đặt tên là Sebastián Urrutia Lacroix. Người Chile. Tổ tiên tôi, về đằng nội, bắt nguồn từ xứ Vascongadas mà ngày nay người ta thường gọi là xứ Vasco hay xứ Euskadi. Về đằng ngoại tôi có gốc rễ từ những vùng đất Pháp hiền hoà, tại một ngôi làng mà tên của nó dịch sang tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là Người Trên Mặt Đất hay Người Đang Đứng, quả thật vốn tiếng Pháp của tôi vào giờ phút cuối cuộc đời không còn khá như trước đây. Tuy nhiên, tôi vẫn còn đủ sức để hồi tưởng và đáp trả những lời thoá mạ mà gã già trước tuổi kia vô cớ đến trước cửa nhà tôi cứ thế mồm loa mép giải, không hề có lời khiêu khích hay lời giáo đầu nào cả. cần phải nói rõ điều này. Tôi không tìm sự đối đầu. chẳng bao giờ tôi tìm đến sự đối đầu. cái mà tôi tìm kiếm là sự thanh thản, là ý thức trách nhiệm đối với hành vi, lời nói và sự im lặng của mình. Tôi là một người có lý trí. Luôn luôn là người có lý trí. Lúc mười ba tuổi, tôi cảm nhận được tiếng gọi của Thượng Đế và tôi đòi làm môn sinh chủng viện. cha tôi phản đối. dù không thật kiên quyết nhưng ông phản đối. tôi vẫn còn nhớ cái bóng cha tôi lướt qua các phòng trong nhà chúng tôi giống như bóng con thằn lằn hay bóng con lươn. Tôi còn nhớ, không rõ lắm nhưng chắc chắn tôi còn nhớ là tôi toét miệng cười trong bóng tối, một nụ cười trẻ thơ vào lứa tuổi của tôi thời bấy giờ. Và tôi còn nhớ như in những đồ vật trong nhà, chẳng hạn như tấm thảm gobelin dệt một cảnh săn bắn hay những chiếc đĩa ăn có cảnh bữa cơm tối với tất cả những hoa văn trang trí của chúng. Và tôi còn nhớ nụ cười và cả những nỗi run sợ của tôi. Rồi một năm sau, sang tuổi mười bốn, tôi vào chủng viện. và sau rất nhiều năm, khi tôi rời chủng viện thì mẹ tôi hôn tay tôi và nói viết tôi là thưa cha hoặc tôi hiểu rằng bà gọi tôi bằng cha và trước sự kinh ngạc cũng như phản đối của tôi (rằng mẹ đừng gọi con bằng cha, tôi nói với bà, con là con của mẹ, hay có lẽ tôi không nói con là con của mẹ mà chỉ nói là con chứ không phải là cha) mẹ tôi oà lên khóc. Lúcđó tôi nghĩ, có lẽ chỉ bây giờ tôi mới nghĩ, rằng cuộc đời là cả một chuỗi những lầm lạc dẫn đắt người ta đến sự thật cuối cùng, sự thật duy nhất. và trước đó hoặc sau đó ít lâu, tức là mấy ngày trước khi được phong linh mục hay mấy ngày sau khi chịu phép truyền đức thánh, tôi làm quen với Farewell, một Farewell tiếng tăm lừng lẫy, tôi không nhớ chính xác là ở đâu, có thể là ở nhà ông ta khi tôi đến đó, mà cũng có thể là khi tôi viếng thăm văn phòng của ông ở toà báo hay có thể là ở một câu lạc bộ mà ông là hội viên vào một buổi chiều buồn tê tái như bao buổi chiều tháng Tư ở Santiago, mặc dù trong trí nhớ của tôi những buổi chiều tháng Tư ở thành phố này cũng rất rộn rã tiếng chim với ngàn hoa khoe sắc thắm như người ta vẫn nghĩ. Farewell, có mặt ở trong một trong những nơi đó, dáng cao, đến mét tám, mà theo tôi hình như đến hai mét, mặc bộ comlê màu ghi hàng Anh thượng hạng, đi giày thừa bằng tay, thắt cà vạt lụa, sơ mi trắng sạch bong giống như ảo giác của tôi, măng sét bằng vàng, ghim cài cà vạt có khắc mấy dấu hiệu mà tôi không muốn giải thích mặc dù tôi rất ý nghĩa của những dấu hiệu đó. Farewell kéo tôi ngồi bên cạnh, rất sát với ông ta, hay có lẽ ông ta đưa tôi đến thư viện riêng của mình hay thư viện của câu lạc bộ, và trong khi chúng tôi ngắm nhìn những gáy sách thì ông hắng giọng, và có thể khi hắng giọng ông liếc mắt nhìn tôi mặc dù tôi không chắc chắn lắm vì tôi đang mải ngắm mấy quyển sách , và lúc ấy ông ta nói gì đó mà tôi không nghe thấy hay tôi không còn nhớ, rồi sau đó chúng tôi lại ngồi vào chiếc ghế bành hay ghế tựa gì đó và đàm luận về những cuốn sách mà chúng tôi vừa nhìn ngắm và vuốt ve với những ngón tay mềm mại của tôi, những ngón tay của một môn sinh vừa tốt nghiệp chủng viện và những ngón tay bự của Farewell đã biến dạng như những ông lão quá cao niên, và chúng tôi trao đổi về những cuốn sách và tác giá của chúng. Giọng nói của Farewell giống như tiếng kêu của con ác điểu hay bay lượn trên những dòng sông, trên những triền núi cao, trên những thung lũng và trên những đèo dốc, luôn luôn với sự diễn đạt chuẩn xác, lời lẽ chặt chẽ như suy nghĩ của ông ta. Và khi tôi đề đạt với vẻ thơ ngây của một chú chim non rằng tôi muốn trở thành nhà phê bình văn học, rằng tôi muốn đi theo con đường mà ông đã vạch ra, rằng trên Trái đất này chẳng có gì thoả mãn được ước vọng của tôi bằng việc đọc và cao giọng biểu đạt qua từng áng văn hay, những thu nhận mà mình đã đọc, khi tôi đề đạt với Farewell điều ấy thì ông mỉm cười, đặt tay lên vai tôi (bàn tay nặng quá, dường như ông ta đeo thêm miếng giáp bằng sắt) và nhìn thẳng vào mắt tôi mà bảo rằng con đường đó không dễ chút nào. Trên đất nước của những kẻ thô lỗ này, ông nói, con đường ấy không phải là con đường hoa hồng. trên đất nước của những ông điền chủ này, ông ta nói, văn học là một thứ hiếm và biết đọc là việc chẳng bõ công. Và khi thấy tôi rụt rè không đáp lại lời nào, ông ghé sát vào mặt tôi hỏi rằng ông ta đã làm điều gì phiền lòng hay xúc phạm tôi chăng. chẳng lẽ bản thân cha hay bố của cha sẽ không làm điền chủ sao? Không, tôi đáp. Nhưng mà tôi thì có đấy, Farewell nói, tôi có điền trang ở gần Chillán với cánh đồng trồng nho làm ra loại rượu vang không tồi. liền sau đó ông ngỏ lời mời tôi cuối tuần đến chơi nơi điền trang của ông, tên điền trang ấy giống như tựa đề một cuốn sách nào đó của Huysmans, tôi không còn nhớ là cuốn nào, có thể là “À rebours” hay “Là-bas” và cũng có thể là L’oblat, trí nhớ của tôi không còn như trước đây nữa rồi, chắc là điền trang ấy mang tên Là-bas vì rượu vang làm từ đó cũng có cái tên như vậy, và sau khi ngỏ lời mời, Farewell lặng im mặc dù đôi mắt xanh của ông ta vẫn nhìn thẳng vào mắt tôi, tôi cũng không nói gì, rồi không chịu nổi cái nhìn chòng chọc của ông ta, tôi nhún nhường nhìn xuống phía dưới như con nhỏ bị thương và tưởng tượng cái điền trang ấy chính là nơi mà văn học mới đích thực là con đường trồng hoa hồng và biết đọc không phải là chuyện chẳng bõ công và là nơi mà thú văn chương vượt lên trên tất cả những nhu cầu và nghĩa vụ đời thường, sau đó tôi nhìn lên, đôi mắt chủng sinh của tôi bắt gặp đôi mắt chim ưng của Farewell, tôi gật đầu vài cái và nói rằng tôi sẽ đến, rằng được nghỉ ngày cuối tuần tại trang trại của nhà phê bìh văn học bậc nhất Chile là điều vinh hạnh đối với tôi. Đến ngày hẹn, lòng tôi đầy xốn xang do dự, biết ăn vận thế nào đây, nên mặc áo thầy tu hay y phục thế tục, nếu mặc quần áo bình thường thì nên chọn bộ cánh nào đây, khi định mặc áo thụng họ đạo thì tôi lại do dự không hiểu mình sẽ được tiếp đón ra sao. Và tôi cũng chẳng biết nên mang theo sách gì để đọc trên tàu lúc đi và khi về, có lẽ là quyển Lịch sử Italia cho chuyến đi và có lẽ là Tuyển tập thơ Chile của Farewell cho lúc khứ hồi. hoặc là ngược lại. tôi cũng chẳng biết tôi sẽ gặp mặt nhà văn nào ở Là-bas (vì Farewell thường mời nhiều nhà văn đến điền trang của mình), có thể là nhà thơ Uribarrena, tác giả của những bản sonnet rực rỡ về đề tài tôn giáo, có thể là Montoya Eyzaguirre, nhà văn biền ngẫu với lối hành văn rất chải chuốt của nhiều áng văn hay, cũng có thể là Baldomero Lizamendi Errázuriz, nhà sử học có hạng được mọi người thừa nhận. cả ba đều là bạn thân của Farewell. Thực tế thì Farewell có rất nhiều bạn và cũng lắm kẻ ghen ghét, khó có phép thần thông nào tính hết được. bữa ấy tgra ga mà lòng thấp thỏm sẵn sàng đón nhận bất kỳ ly rượu đắng nào mà Thượng Đế có nhã ý dành cho tôi. Tôi nhớ như mới hôm nay thôi (thực ra là như chính lúc này đây) đồng quê Chile với những chú bò Chile đốm trắng đốm đen gặm cỏ dọc hai bên đường xe lửa. có những lúc nhịp điệu rập rình đều đều của con tàu làm tôi thiu thiu ngủ. tôi nhắm mắt. tôi nhắm mắt như tôi đang nhắm lúc này đây. Nhưng bất chợt tôi lại mở mắt, trước mặt là quang cảnh thiên nhiên, đa dạng đa sắc, đôi lúc thật sinhđộng thôi thúc và đôi lúc cũng làm u sầu lòng người. khi tàu đến Chillán, tôi bắt taxi đi tiếp đến ngôi làng có tên là Querquén. Taxi thả tôi ở một bãi trống hình như là quảng trường chính (mà tôi không dám gọi là quảng trường Trung Tâm) của Querquén. Không một bóng người. tôi trả tiền và xách vali bước xuống xe, nhìn toàn cảnh xung quanh và khi tôi quay lại định hỏi người lái xe điều gì đó hay lại lên xe để đi nhanh đến Chillán, sau đó đi Santiago thì chiếc xe đã mất hút, dường như sự cô quạnh có chút rờn rợn ở nơi đây đã thức tỉnh nỗi sợ hãi truyền kiếp trong lòng anh tài xế taxi. Khoảnh khắc ấy thì tôi cũng thấy sợ. chắc là dáng vẻ tôi khá ảm đạm khi phải đứng như trời trồng trong cảnh bị bỏ rơi với chiếc vali chủng sinh và Tuyển tập của Farewell trong tay. Phía sau lùm cây có mấy con chim bay lên. Hình như chúng còn xướng tên của ngôi làng bị quên lãng ấy. Querquén, mà hình như chúng cùng hô toáng lên “ai đến, ai đến, ai đến”. tôi hấp tấp lẩm nhẩm đọc đoạn kinh Lạy Nữ vương và tiến đến một chiếc băng bằng gỗ gần đó nhằm tạo một dáng vẻ phù hợp với hình ảnh của tôi hay phù hợp hình ảnh mà thời đó tôi nghĩ mình phải có. Kính Lạy Đức Mẹ Maria Đồng Trinh, xin đừng bỏ mặc kẻ nô bộc của Người, tôi lẩm nhẩm đọc, trong khi đó mấy con chim đen bay cách ngọn cây chừng hai mươi lăm centimét kêu nháo nhác “ai đến, ai đến”. kính lạy Đức Bà Lourdes Đồng Trinh, xin đừng bỏ mặc kẻ mục tử đáng thương của Người, tôi lẩm nhẩm đọc, trong khi đó mấy con chim lông nâu hay đúng hơn là nâu vàng, ngực trắng bay cách ngọn cây chừng mươi centimét rít khẽ khàng hơn “ai đến, ai đến, ai đến”, kính lạy Nữ thần Thống khổ Đồng trinh, kính lạy Nữ thần Sáng suốt Đồng trinh, xin đừng bỏ rơi kẻ phụng sự các Ngài, tôi thì thầm, trong khi đó thì mấy con chim bé xíu lông đỏ quành quạch có pha chút đen, chút vàng, chút xanh lại chí choé “ai đến ai đến, ai đến” cùng lúc đó một luồng gió lạnh đột nhiên thổi đến làm trong buốt đến tận xương. Khi ấy, từ phía cuối con đường đất một cỗ xe loại xe độc mã hay xe thổ mộ do hai con ngựa kéo, một con trắng bệch, một con lốm đốm, tiến đến nơi tôi đang đứng. bóng chiếc xe cắt ngang đường chân trời khiến tôi chỉ có thể nghĩ đó là chiếc xe tang đến đón một tử thi nào đó để đưa về âm giới. khi cỗ xe chỉ cách tôi vài thước, người đánh xe là một anh nhà quê mặc độc một chiếc sơ mi mỏng dính và chiếc áo len cộc tay trong khi tiết trời khá lạnh, hỏi rằng tôi có phải là cha Urrutia Lacroix, không những chỉ họ mẹ tôi mà cả họ cha tôi anh ta cũng phát âm sai. Tôi trả lời rằng phải, tôi là người mà anh ta cần đón. Lúc ấy anh xà ích xuống xe không nói không rằng xách vali lên đặt phía sau xe rồi mời tôi ngồi bên cạnh anh ta. Vừa không yên tâm vừa bị tê cóng bởi luồng gió lạnh từ vùng triền núi thổi tới, tôi hỏi phải chăng anh ta từ điền trang ông Farwell đến đây. Con không phải từ chỗ ấy đến, anh ta trả lời. thế không phải anh từ Là-bas đến à? Tôi hỏi và hai hàm răng lập cập va vào nhau. Đúng là con từ nơi ấy đến nhưng con không biết ông Farewell là ông nào, tấm sinh linh của Chúa đáp lời. khi đó tôi mới ngỡ ra rằng Farewell chỉ là bút danh dùng trong giới phê bình văn học. tôi cố nhớ tên thật của ông ta. Họ cha của Farewell là González nhưng họ mẹ của ông thì tôi không hề nghĩ ra và tôi do dự có nên nói cho anh ta biết tôi là khách mời của ông González rồi thôi không cần giải thích gì thêm hay chỉ im lặng. tôi chọn phương án im lặng. tôi tựa vào thành xe, nhắm mắt. anh chàng nhà quê hỏi tôi bị mệt phải không. tôi nghe tiếng anh ta như tiếng thì thào của cơn gió thoảng qua hay chỉ rõ hơn đôi chút, cũng vừa lúc ấy tôi lần ra được họ mẹ của Farewell là Lamarca. Ta là khách mời của ông Lamarca, tôi thốt lên một cách nhẹ nhõm. Ông ấy đang đợi cha, anh nhà quê lên tiếng. khi đã rời xa làng Querquén và những con chim chết tiệt kia, tôi cảm thấy như mình đã giành được phần thắng. Farewell và một nhà thơ trẻ nữa mà tôi chưa biết tên đón tôi ở Là-bas. Cả hai đều chờ ở phòng khách, nếu gọi đó là phòng khách thì không đúng, vì thực ra nó giống như một thư viện và gian trưng bày của thợ săn với rất nhiều giá, kệ chứa đầy những bách khoa toàn thư, những từ điển, những sách và những vật lưu niệm mà Farewell đã mua trong các chuyến du ngoạn châu Âu, Bắc Phi và lạy Chúa, cả hàng tá những những đầu súc vật ướp khô trong đó có một cặp đầu báo mà cha của Farewell tự tay săn được. hai người đang đàm luận và theo tôi đoán họ đang đàm luận về thơ ca, và mặc dù khi tôi đến họ ngưng đối thoại rồi nhanh chóng quay lại cuộc đàm luận ngay sua khi tôi được thu xếp phòng nghỉ ở tầng hai. Tôi nhớ là mặc dù tôi rất muốn tham gia đàm luận khi họ có nhã ý mời tôi nhưng tôi vẫn giữ thế im lặng. ngoài cái thú phê bình tôi cũng làm thơ nên tôi linh cảm rằng dính vào cuộc tranh luận vui vẻ, ồn ào của Farewell và nhà thơ trẻ kia chẳng khác nào nhào vào bơi trong một biển nước mênh mông. Tôi nhớ là chúng tôi nhấm nháp rượu cô nhắc và tôi còn nhớ là đôi lúc trong khi tra cứu sổ danh mục thư viện của Farewell, tôi cảm thấy mình không may mắn chút nào. Chốc chốc Farewell lại cười phá lên hết cỡ. mỗi khi ông ta cười sằng sặc thì tôi lại liếc mắt nhìn. Quả là ông ta giống thần Pan hay thần..trong hang động của họ, hay giống một gã thực dân Tây Ban Nha loạn trí bị giam hãm trong lô cốt că nhầm ở miền Nam. Anh nhà thơ trẻ thì ngược lại, tiếng cười của anh ta ngỏn ngoẻn như của phụ nữ và anh ta chỉ cười góp sau tiếng cười của Farewell giống như con chuồn chuồn