Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

BẢN SCAN "CÂU THƠ YÊN NGỰA" 🔒

16 trả lời, 5.610 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-02-02 09:11:26welcom1985>
câu thơ yên ngựa - của Hoàng Yến
thể loại : tiểu thuyết lịch sử

Ggogle : chưa tìm thấy bản ebook nào cả , chỉ thấy có cải lương.

Hai phiên bản :
Bản pdf (10mb) http://www.mediafire.com/?bvbholl0z1vilm6
Bản djvu (3mb) http://www.mediafire.com/?d12p71rmayr4atb

Chất lượng 2 bản là xêm xêm nhau.

Chương trình đọc djvu , pdf thì các bạn lên google nhé ^.^

NHỜ CÁC CAO THỦ "ĐẢ TỰ" VÀO GIÚP NHÉ ^.^ (MÌNH ÊN LÀM HEM NỔI)
0
Hi

Truyện có 3 phần, mình nhận phần Một nhé. Nếu đánh xong thì nhận tiếp. Nếu có bạn nào rảnh thì đánh máy song song sẽ nhanh hơn [;)]
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-02-07 22:12:43Ct.Ly>
( Ct.Ly nhận đánh phần II chung với océan nha)


Phần II

Chương 1

Hạnh Hoa bị ốm từ lúc chớm thu. Cơn bệnh kéo dài qua suốt mùa đông lãng nhãng theo những trận mưa phùn thâu đêm rả rích. Nàng nằm rũ rượi đưa mắt nhìn những sợi mưa nhỏ mưa như kim đâm nhói vào lòng. Khoảng trống lặng trong lòng nàng cứ lan rộng mênh mông đến tận những bến bờ xa xôi lạ lẫm ở đây cũng mưa dầm ủ rủ.

Nhưng mùa Xuân tuyệt đẹp của năm Quý Sửu đã đến với nàng như một liều thuốc hồi sinh, có sức kéo nàng ra khỏi giường bệnh. Sức lực trong cơ thể trẻ trung của nàng bỗng trỗi dậy giành lấy tiếng nói cuối cùng. Và hôm nay lần đầu tiên nàng đặt bước ra đường về phường Thái Hoà thăm quê Thái Úy, tiện thể xem lễ phóng thích chim sâm cầm.

Con ngựa bạch lâu ngày vắng chủ thấy nàng bỗng cất tiếng hí vang. Nàng thót lên ngựa và ngạc nhiên cảm thấy thân mình như cánh chim. Mọi vật chung quanh đối với nàng đều mới mẻ. Bầu trời Xuân dát một lớp mây lụa ánh sáng chia đều tỏa khắp, một thứ ánh sáng ngọt dịu đê mê. Chùm lá bồ đề nhỏ lăn tăn kết lại đong đưa như mái tóc thề. Cả những gốc cây cụt ngọn ngày nào còn chìa bộ xương khô trên nền trời u ám nay cũng đưa cánh tay khẳng khiu lên cố vơ một túm lá non như đang kêu lên với nàng: "Lá về đây, mùa Xuân về đây! Mau đến chia phần!".

Hạnh Hoa cảm thấy rõ rệt trong mỗi thân cây đứng lặng bên đường cũng đang có gì khao khát rạo rực như trong lòng nàng. Chắc hẳn phần lớn huyền thoại tình yêu đẹp nhất của dân tộc cũng bắt đầu nảy sinh từ một ngày xuân nắng ngọt như thế này.

Hạnh hoa quay sang lão Vũ đang đóng cương đi lặng lẽ bên nàng:
- Lão Vũ, trong lúc ta ốm, không biết trong triều có chuyện gì mới không?
- Có chứ. Thái Phi Ỷ Lan đã được phong Thái Hậu Linh Nhân thay bà Thượng Dương cầm quyền nhiếp chính. Còn ông nhà thêm hàm Thượng phụ công làm Tể Chấp phụ chính, cầm đầu văn võ bá quan, coi sóc cả mọi việc ở cấm đình.
- Sao lâu nay ta thấy cha ta kém vui?
- Là vì ... ông nhà trăm công nghìn việc, bận bã tối ngày ...

Lão Vũ có phần đúng. Cuộc chính biến năm trước lúc đầu cồn lên như sóng; giờ đây đã lắng xuống. Thái Úy nắm chặt dây cương chính sự, cải tổ lại hành chính. Triều đình đang thay da đổi thịt. Người dân kinh thành cũng dễ quên và không hay tò mò đến chính sự. Họ nhòm vào bữa ăn đời sống hàng ngày và nhìn vào lòng trời mà đo tài đức của kẻ trị vì. Mà trời thì đang thuận mưa vừa vừa gió, chúng dân trúng mùa. Không có điềm gở xảy ra. Sét không đánh sập mái cung nào, quạ không bay về kêu trên điện ngọc, hoa tre không trổ trên các đường thôn . Trời như cũng thuận lòng người báo trước một thời thái bịnh thịnh trị.

Nhưng trong triều người ta lại không dễ quên. Mật đắng đọng lại trong lòng hoàng tộc và các vị lão thần. Đem cả vận mệnh đất nước, giao phó vào tay một viên quan trẻ mà lại hoạn quan như Thái Úy, điều chưa hề có trong lịch sử nước nhà - trách sao lòng họ tránh khỏi lo âu day dứt, mà quyền hành càng tập trung vào Thái Úy thì mũi nhọn của họ càng chĩa vào Thái Úy. Họ ngồi im, chờ đợi, đưa cặp mắt không lấy gì làm thiện cảm theo dõi từng việc làm nhỏ của Thái Úy ... Những điều ấy, Hạnh Hoa đâu có biết. Nàng quay lại định nói gì thì lão Vũ đã nhanh nhẹn ném chiếc nón chóp buông tua ngũ sắc vào tay nàng.
- Trời sắp mưa đấy!

Hạnh Hoa ngẩng đầu nhìn lên. Trời đã xuống thấp. Những hạt mưa li ti mờ mờ như bụi ở tít tận đâu trên cao, sà xuống thành hạt, lững lờ rối rít, vương vương như vừa đủ mát cho lớp đất khô mịn bốc lên một mùi thơm nồng ngây ngất. Rồi bỗng chốc mặt trời lại ló ra. Nắng ngọt lại chan hòa ... Khướu sáo đang ru rú gù nhỏ trong cánh rừng Thái Hòa bỗng choàng dậy cất cao tiếng hót. Cả những loại chim không tốt giọng cũng cố đằng hắng dọn cổ để đua hơi. Hạnh Hoa cũng cảm thấy khao khao trong cổ họng. Nàng vụt roi cho ngựa lồng lên, vô cớ cười ngặt nghẽo rất bất thình lình nghìm cương lại.
- Lão Vũ, lão thử đoán xem hôm nay ai là kẻ vui nhất.
- Chim sâm cầm.
- Ai rồi, chính ta, bé Hạnh mới là kẻ vui nhất. Còn ai là kẻ buồn nhất lão biết không? Các bà cung nhân già đấy. Vì còn lấy đâu ra lông chim sâm cầm để nhồi gối nữa phải không nào?

Thấy lão Vũ lặng im, Hạnh Hoa lại liến thoáng:
- Không hiểu thịt chim sâm cầm có gì ngon mà cha ta thích đến thế?
Lão Vũ đủng đỉnh đáp:
- Thịt chim này thơm mềm, như nhai vào miệng vị ngọt đã túa khắp chân răng
- Còn ta thì ta chỉ thích nhai cặp giò nó thôi.
- Thế thì cô bé ăn khôn đấy. Vì loại chim này phải bay hàng vạn dặm, đôi chân không ngớt quạt gió trên không nên chất tinh bổ đều dồn xuống ở đấy.
- Ta chả ưa mềm mà cũng chả chuộng bổ. Ta chỉ thích nhai cái gì giòn tan trong mồm thôi - Và nàng cất lên một chuỗi cười cũng giòn tan.
Cái vui dễ lây của cô gái khiến lão Vũ nhếch một nụ cười nửa miệng.
- Có điều ta không hiểu tại sao cha ta nghiện ăn thịt chim sâm cầm mà bỗng dưng lại đi thả chim sâm cầm.

Nụ cười vừa lóe lên bỗng tắt ngấm trên môi lão Vũ. Mặt lão đanh lại. Chuyện phóng thích chim sâm cầm là do một sự tình cờ ngẫu hứng của Thái úy nhưng đâu phải chuyện đem ra để tán ngẩu ... Lão Vũ nhớ lại cái hôm Thái Úy được tin triều Tống đã rút viên biên thần Tiêu Chú về kinh và bổ nhiệm một viên quan khác tên Thẩm Khởi xuống thay Tiêu Chú. Lão có cảm giác rõ rệt như làn da nhạy cảm trên người Thái Úy căng ra sẵn sàng đón nhận từng hơi gió lạnh từ phương Bắc thổi xuống. Liệu đây có phải là làn gió báo hiệu trận bão lớn sẽ ập đến nay mai. Luồng tin mật từ Hán Dương còn báo thêm có một tên Vệ Uông nào đó ở đất Việt cưỡi thuyền vượt sóng về tận Biện Kinh gặp tể tướng Vương An Thạch để hặc tội Tiên Chú đã dìm thư của y. Hắn ta còn xui giặc Tống nên đánh gấp Giao Châu vì theo hắn, đây là thời cơ thuận lợi nhất.
- Lại Vệ Uông! Nhưng Vệ Uông là ai, Thẩm Khởi là người thế nào, điều này phải soát kỹ cho ta - Thái Úy nhìn lão Vũ rồi nói tiếp - Tên Vệ Uông này khá nguy hiểm đấy. Hắn bảo Tống đánh ta lúc này là đúng thời cơ, điều đó không phải không có lý. Nhưng hắn quên rằng liệu Tống đã có thời cơ để dự bị đánh ta chưa? Tiếp theo câu nói là giọng cười gằn của Thái Úy.
Thái Úy hiểu rằng nhà Tống hiện nay chưa phải đã rỗi tay để nhòm ngó phương Nam. Cái nước Liêu mà người Tống quen miệng gọi một cách miệt thị là rợ Khiết Đan đã lớn mạnh và trở thành một nớc lân bang ở phương Bắc. Hai lần Tống đánh Liêu đều bại. Một lần Liêu đánh Tống cũng bị thua. Hai bên ngang tài ngang sức. Họ đành hòa hiếu với nhau. Lập đàn thể thân thiện ở Đàn Uyên. Nhưng từ trong làn sương mù dày đặc ở vùng núi phía Tây, nước Hạ lại nhô ra với gương mặt bừng bừng sát khí. Chúa của Hạ theo Liêu, lấn đất Thổ Phồn rồi xưng đế. Quân Hạ liên tiếp quấy nhiễu Tống suốt dọc biên thùy Tây Bắc. Và Liêu cũng được thể, lớn tiếng yêu sách Tống nhiều điều. Hơn ba mươi năm nay, nước Liêu như mụ đàn bà đanh đá chua ngoa, hướng về đất Tống xắn váy quai cồng, không ngớt ngoạc mồm xỉa xói nay kể nợ kể nần mai đòi tiền đòi đất. Các danh tướng và phần lớn quân thiện chiến của Tống đều bị đóng đinh trên đất phương Bắc để chống Hạ phòng Liêu.

Hiểu rõ tình cảnh ấy, ngay từ lúc mới chân ướt chân ráo về triều, Vương An Thạch đã theo kế của Vương Thiều đưa quân đánh Thổ Phồn để chặt bớt cánh tay của Hạ. Quân Tống chiến được đất Hi Hà nhưng chinh chiến vẫn dây dưa mãi đến nay chưa dứt.
- Chẳng lẽ việc Hi Hà đã xong rồi ư? Thái Úy thầm tự hỏi. Gương mặt ông như mờ trong sương. Hiện tình Thái Úy đang bận tay sắp xếp nội chính, chỉnh đốn quân ngũ. Không để chiến sự xảy ra. Phải nghĩ được kế sách hòa hoãn...

Thái Úy đứng lên, lững thững bước ra cổng phủ. lão đầu bếp đi chợ về tươi tỉnh chào Thái Úy rồi đưa cái lồng chim lão đang xách trên tay:
- Hôm nay con sẽ làm cho cụ lớn một món ăn thật thích khẩu.
Thái Úy chăm chú nhìn lồng chim như mới thấy lần đầu:
- Thế ngươi có biết giống chim này ở đâu ra và tại sao họ lại gọi là chim sâm cầm?
- Dạ, thưa cụ lớn, là vì giống chim này ăn sâm ạ. Mà phàm đã ăn sâm là ở phương Bắc, nghe đâu tận nước Liêu cơ.
- Nước Liêu! Ờ nhỉ - Thái Úy thò tay vào lồng chim bắt một con xoa xoa đôi chân vịt đỏ như son rối bất ngờ buông tay. Chim vỗ cánh bay. Người đầu bếp á lên một tiếng tiếc rẻ.
- Ta không buột tay đâu. Nó là con chim ở tận nước Liêu đến làm khách nước ta nên ta thả đó.

Thái Úy lại lôi thêm một con nữa ra, vuốt bộ lông cánh mịn màng một màu nhưng ánh tím - Này ta không hiểu con chim này ở bên Liêu sang ta làm gì nhỉ. Ở ta có sâm đâu?

Được Thái Úy hỏi đến, người đầu bếp già có dịp thao thao giảng giải:
-  Dạ theo lời các cụ đời trước kể lại thì loại chim này biết ăn, biết ở lắm. Mà cái xứ phương Bắc ấy hễ mùa lạnh đến là rét kinh người, rét đến mức đưa tay vào ngọn lửa cũng không thấy nóng. Tuyết phủ kín trắng như bông không tìm đâu ra một thứ gì ăn được trên mặt tuyết cả. Vì vậy, trước khi trời rét, tuyết sắp rơi là các chú chim sâm cầm trai tráng chọn những củ sâm mập nhất tộng vào miệng các con chim con và chim già rồi ra đi trốn rét. Như vậy mỗi con chỉ ngậm một củ sâm để lấy sức bay qua miền đại lục xa hàng vạn dặm.
- Ngậm một rễ sâm thôi - Thái Úy chữa lại.
- Dạ vâng một nhánh sâm con thôi, các cụ cũng nói thế. Chim bay về phương Nam, hạ cánh quanh các đầm hồ ở ta để sưởi nắng ấm. Còn lũ chim non chim già ở nhà nhờ sâm mà qua được mùa tuyết vùi để gặp lại bọn trai tráng bay trở về cứu giúp.

Con chim trên tay Thái Úy bay vụt lên. Thái úy mở rộng nắp lồng. Những con chim còn lại trong lồng lần lượt cất cánh. Lão đầu bếp sững sờ đứng đực người ra. Lão hết đưa mắt ảm đạm nhìn chiếc lồng chim trống không rồi lại lấm lét nhìn sang Thái Úy đang đứng ngẩng đầu mơ màng dõi theo cánh chim bay.

Giây lâu Thái Úy quay lại bảo:
- Này, ngươi đừng tiếc nữa. Chả lẽ những con chim hiếu thảo biết thương già nhường trẻ như thế lại không đáng cho ta tha tội chết hay sao?
Thấy dáng bộ của người đầu bếp còn tiu nghỉu như mèo bị cắt tai, Thái Úy mỉm cười vỗ vai tiếp:
- Không mất đâu cả. Lũ chim ấy sẽ là sứ đoàn mang lại thái bình cho dân ta đấy. Thôi, ngươi chịu khó tìm cho ta món ăn khác vậy.

Mấy hôm sau có lệnh truyền cho khắp bàn dân kể cả nội đình cấm không một ai được đánh bắt chim sâm cầm. Viên tùy tướng trẻ tuổi chạy long tóc gáy đi tập hợp các phường săn chia nhau về các sông hồ giăng bẫy tìm bắt sống cho kỳ hết chim sâm cầm đem về nộp cho Thái Úy. Còn bản thân Thái Úy cũng đích thân đi chọn mấy chục viên lại ở các bộ, có hoa tay viết chữ đẹp mang về giao cho lão Vũ. Vì vậy là việc cơ mật nên lão Vũ. Vì đây là việc cơ mật nên lão Vũ nhốt họ vào ngôi nhà kín để tránh mọi con mắt tò mò. Và ngay đêm ấy tại tư phòng dưới ánh đèn khuya, ngọn bút của Thái Úy thảo vội mấy câu thơ thần:

- Tống triều tham địa
Mưa ư Nam Phương
Thụ vạn tai ương
Dẫn Liêu nhập cương

Đại ý:
( Triều Tống tham đất
Mưu sự ở phương Nam
Chịu muôn vàn tai ương
Đưa Liêu vào đất Tống)


Bốn câu thơ ấy được bọn viên lại suốt ngày đêm gò lưng hí hoáy khắc trên những tấm thẻ bài nhỏ xíu bằng bia phất cậy ngoài có quết kim nhũ óng ánh. Cứ mỗi con chim. chân đeo một thẻ bài. Và từng tốp chim sâm cầm được bí mật thả ra lần lượt bay về phương Bắc.

Không hiểu những điều phao ngôn ấy từ miệng người nào nói trước, ngay từ lúc lệnh cấm bắt chim vừa ban ra. Nhưng phe chống đối Thái Úy chỉ đợi có thế. Người ta đồn nào Thái Úy chiếm mọi quyền hành, quyền nghiêng thiên hạ, chỉ cần phẩy tay là ngôi vua lật đổ, nào ông ta thích thịt sâm cầm là không ai được mó vào chỉ để riêng nhà ông ta hưởng, nào đó là triệu chứng độc quyền sắp đổi đời vua. Câu chuyện cứ giăng giăng cửa miệng. Lời đồn đại ác độc này như làn khói mù hình lưỡi rắn trườn ra trên mặt đất lan nhanh vào tận cung đình – Nhưng rồi đám khói độc ấy cũng tan nhanh trước tin lễ phóng thích chim sâm cầm để cầu phúc cho muôn dân và mừng trăm họ được mùa. Lễ thả chim đã thực sự làm tắt ngóm mọi lời bình phẩm ác ý trên những miệng lưỡi rắn rết còn xầm xì đó đây trong các góc tối ở cung đình.

Nhưng dụng ý thả chim của Thái Úy Lý Thường Kiệt đâu chỉ có vậy. Và cũng không một ai rõ được tác dụng của nó ra sao khi những con chim hiếu thảo ấy bay về đến đất Liêu. Không hiểu sắc vàng nhũ kim óng ánh trên chân chim có thu hút được sự chú ý của một vài dân Liêu và có chiếc thẻ bài nào mang bốn câu thơ thần của Thái Úy lọt đến tay vua Liêu không. Chỉ biết một điều là qua đầu năm sau, nước Liêu lớn tiếng đòi Tống nhượng thêm đất ở phần Thủy Lĩnh. Biết đâu trong tiếng kêu đòi đất gắt gao của Liêu lại chẳng có tiếng chim sâm cầm được thả về góp giọng? Sử sách không nhắc đến việc này và chỉ ghi vắn gọn là chuyệnđòi đất quyết liệt của Liêu cộng với nhiều nfguyên cớ khác đã buộc Vương An Thạch phải tự ý rút lui khỏi ghế Tể Tướng vào tháng tư năm Giáp Dần.
Đó là chuyện về sau, còn lúc này lão Vũ đang gục đầu tặc lưỡi. Có lẽ lão tiếc rẻ chuyện thả chim sâm cầm thú vị đến thế mà lão biết tường tận lại không thể đem ra để mua vui cho cô gái vừa ốm dậy. Lão bực dọc đáp cho xuôi chuyện:
- Thái Úy phóng thích chim sâm cầm là ể cầu phúc choc ô nương khỏi bệnh.
- Lão khéo nói dối để làm vừa long ta - Hạnh Hoa cười khói chí – Ta biết tỏng cha ta thả chim để cầu phúc cho muôn dân.
- Chẳng lẽ trong cái muôn dân ấy lại không có bé Hạnh ư?
- Ôi! Về tài chống chế thì ta chịu lão đấy.

Ngựa đã đến gần cái sân gạch rộng trước ngôi nhà cũ của Thái úy. Người cháu họ xa của Thái Úy hiện đang coi sóc ngôi nhà này đon đả chạy ra đón khách. Câu chuyện thù tạc trà nước qua nhanh, ông ta bắt đầu dần dà nhắc lại kỷ niệm tuổi ấu thơ của Thái Úy. Ông ta dắt lão Vũ lại gần cây cột lớn ở chái tây, trỏ tay vào vết cháy sém to tướng hình thuôn trên thân gỗ chò, thuật lại câu chuyện cũ:
- Hôm đó, bác tạ Đức trao cho chú Tuấn nhà này mấy cuốn binh thư. Chú ôm lấy sách đọc thâu đêm suốt sáng. Đến khoảng cuối canh ba, chừng như quá mệt mỏi, chú thiếp đi. Đĩa đèn cạn mỡ bùng ngọn cháy lém lên chiếc quạt long treo cột bên án thư. Quạt cháy sạch mà chú Tuấn vẫn không hay biết gì. Sau này chú ấy lấy dây buộc tóc lên xà nhà. Hễ mỗi lần ngủ gật, tóc lại giật đánh thức chú tỉnh lại. Ôi! Lúc trẻ chú ấy ham đọc sách như kẻ máu mê trên chiếu bạc. Ông bố tôi thường mắng lũ tôi là sao không biết học gương chú Tuấn….

Qua câu chuyện kể của người cháu Thái Úy, tuy đã già nhưng thuộc dòng thứ, lần đầu Hạnh Hoa mới được biết tên tục của cha nuôi mình. cả một mảnh đời niên thiếu trong xanh của Thái úy như hiện ra trước mắt nàng. Thì ra chú bé Tuấn ngày ấy đã sớm có chí khí hơn người. Ngày lo tập cưỡi ngựa bắn cung, lập doanh bày trận, đêm lại miệt mài đọc sách. Thấy vậy, ông Tạ Đức, chồng cô ruột Tuấn đem long yêu, gả cháu gái cho Tuấn. Tuấn lấy vợ lúc mười sáu tuổi. Nàng Tạ Thuần Khanh xinh người đẹp nết ấy, có một mái tóc đen mượt dài chấm gót. Thương vợ, Tuấn thường chỉ biết xòe tay nâng mái tóc vợ lên lúc vợ gội đầu. năm sau nàng Khanh có chửa. Theo đúng như lời cháu họ Thái Úy kể thì “người chửa là cửa mả”. Và trong lần sinh nở đầu tiên ấy, nàng Khanh không đủ sức vượt cạn. Cả hai mẹ con đều chết. Suốt đêm ấy, Tuấn ngồi ôm xác vợ gỡ từng sợi tóc rối cho vợ…

Tuy lão Vũ đã mấy lần giục Hạnh Hoa đi xem lễ cho kịp giờ thả chim nhưng Hạnh Hoa vẫn chần chừ. Cái chết của Thuần Khanh, người vợ yêu của Thái Úy cứ ám ảnh nàng. Số kiếp mỏng manh của đời người con gái ấy làm nàng bần thần và bất giác thấy lòng buồn rượi. Nàng tha thẩn ra vườn, lần vào gian nhà sau đến ngồi xổm trước bếp. Tro tàn vung vãi, bếp núc lạnh tanh. Trên góc tường ám khói lâu năm những mảnh váng nhện không biết giăng tự năm rào đã bị ngọn gió hồ Dâm Đàm thốc vào xé rách bươm trông tả tơi, toang hoác. Đó đây lơ thơ sót lại dăm sợi tơ bền nhất còn vương. Nắng xế bơ thờ loang lổ chiếu qua song cửa rọi sang những đường tơ nhện đơn côi ánh lên một màu bạch phếch. Rầu rầu, Hạnh Hoa tự nhủ:
- Thế đấy, bao giờ cũng còn một vài sợi. Chắc hẳn những sợi này, nhện đã rút trong ruột mình ra từ nơi sâu kín nhất nên nó bền chặt nhất. Gió mưa mấy cũng không dứt được. Nghe tiếng chân lão Vũ bước đến, Hạnh Hoa quay lại. Gương mặt buồn thiu của nàng như nói với lão:
-  Lão được tin tức gì về Lý nGân không? Chẳng biết bây giờ chàng ở nơi chân mây góc biển nào? – Trong những trường hợp như thế, lão Vũ thường im lặng gục gặc dầu.
-  Vũ nhi đâu?
Nghe tiếng Thái Úy gọi, lão quay quả bước lên nhà trên. Vừa trông thấy lão, Thái Úy đã nói ngay:
- Vũ nhi! Con có việc gấp phải về quê đấy.
Hạnh Hoa đi sau lão Vũ bỗng reo lên :
- Cha ơi ! Cha cho con đi theo lão Vũ nhé! Cha đã chẳng hứa khi nào con khỏi ốm, cha sẽ cho con đi một chuyến chơi xa ư?

Thái Úy cùng lão Vũ, hai người cũng thấy trước rằng Hạnh Hoa cần có một chuyến đi chơi xa cho khuây khỏa để dứt hẳn bệnh tâm của nàng.

Song chuyến đi này của lão Vũ. Hồi lâu lão Vũ ý tứ gật đầu. Thái Úy nhìn Hạnh Hoa nghiêm giọng:
- Được, lần này ta cho con đi chơi. Nhưng cấm tự ý tự quyền mọi việc con phải tuân theo lời lão Vũ.

Hạnh Hoa mừng rơn suýt nhảy cẫng lên. Nhưng nói xong Thái Úy quay lưng bước vội ra cáng.

Lúc Hạnh Hoa và lão Vũ vừa lên ngựa ra về thì có tiếng trống chiêng lẫn trong tiếng reo hò ầm ĩ. Nàng ngẩng đầu lên vừa kịp thấy một bầy chim sâm cầm từ núi Thái Hòa bay vút ra hồ Dâm Đàm. Nàng nhìn theo những cánh chim lấp lóa mãi cho đến lúc chúng biến mất sau làn nước hồ mông mênh xanh nghít, rồi quay sang nhìn lão Vũ.
Hình như lão Vũ thấy thoáng trong mắt nàng một ánh cười tinh nghịch.
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-02-09 18:26:03Ct.Ly>
Câu Thơ Yên Ngựa

Phần II

Chương 2

Chuyến đi chơi xa của Hạnh Hoa bắt đầu sau chầu gà gáy canh tư. nàng đứng dưới gốc hạnh trông lên, cây hạnh trước đây gợi ý cho cha nuôi đặt tên nàng tự lúc nàng mới về làm con họ Lý. nàng nhìn những lá hạnh đen kịt như những vệt mực tàu đậm đặc nổi bật trên nền trời đêm bàng bạc.
Nàng không biết sẽ đi đâu, về đâu, chơi ở chốn nào. Thái Úy dặn "cứ đi theo lão Vũ"! Điều ấy không hề làm nàng phật ý. Trái lại, nó khiến thêm náo nức. Thậm chí cái không khí cơ mật bao trùm lên chuyến đi này càng làm nàng thích thú. nàng tưởng tượng thấy như mỗi lần nàng bừng mắt dậy là bắt gặp ngay những cảnh lạ bất ngờ đến đón nàng.

Lão Vũ đã thu xếp hành lý xong xuôi. Nhìn lão xúng xính trong bộ quần áo phú thương sang trọng nom lạ hẳn đi, nàng cười khúc khích. Còn lão thì vẫn cứ thản nhiên trước lối ăn vận nam trang công tử nhà quan của nàng. Trời mới tang tảng rạng đông, thuyền đã động chèo.

Hạnh Họa ngồi trong khoang giữa. Con thuyền lướt sóng êm ru đưa nàng đi vào một giấc mơ chưa có bến. Đêm ấy thuyền đi dưới ánh trăng non. Nàng ngồi nhìn làng chạ ven sông ngủ lặng, lắng nghe tiếng chó đêm sủa bóng thuyền khuya. Sớm tinh mơ, thuyền ghé vào một bến lạ. Hình như bọn chân sào có việc phải lên bờ. Đột nhiên, ở đâu đấy một tiếng hát lạ cất lên. Điệu hát thì tươi vui réo rắt nhưng giọng hát lại quá đỗi buồn bã thê lương. Tiếng hát có sức kích thích óc tò mò, khiến Hạnh Hoa lần ra sau lái, nhẹ nhàng nhảy lên bờ theo dọc sông, men dần đến nơi phát ra tiếng hát. Một bờ tre rậm chạy thẳng ra bậc sông lở, chắn ngang lối đi. Là con  nhà võ, Hạnh Hoa luôn luôn thủ trong mình một cuộn dây gân thú có móc hai đầu. Nàng ném đầu dây l^n nhành tre cong rồi đu người sang bên kia. Xa xa một cô gái ngồi trên tảng đá quay mặt ra sông tay cầm một que tre vừa đập nhịp vừa hát. Tính tình nghịch nổi lênn, Hạnh Hoa chạy sầm sầm đến trước mặt cô gái, tay chống nạnh nhìn chầm chầm vào mặt nàng ta. Thấy chàng trai lạ, cô gái hoảng hốt ríu lưỡi lùi ra xa rồi ù té chạy. Hạnh Hoa nhìn theo cười ngặt nghẽo.

Lúc về thuyền, tuy bị lão Vũ càu nhàu, nàng vẫn vui vẻ nói:
- Giá lão còn trẻ, ta sẽ làm mối cô gái ấy cho lão.
- Tôi không lấy người Phật Thệ đâu!
- Quanh đây là làng Sen nơi định cư cho các cô gái Chiêm bị bắt trong trận Tiên Đệ đánh Chiêm năm Kỷ Dậu.
- Trông họ, chẳng khác gì người mình mấy. Chỉ phải cái môi hơi thô, mũi hơi to và tẹt hơn một tí thôi. À ra thế!
Bây giờ Hạnh Hoa không còn ngạc nhiên về cái giọng não nùng trong tiếng hát của cô gái Chiêm Thành nhưng lại ngạc nhiên vì lão Vũ - Sao lão biết nhiều đến thế?

Bây giờ Hạnh Hoa không còn ngạc nhiên về cái giọng ,ão nùng trong tiếng hát của cô gái Chiêm Thành nhưng lại ngạc nhiên vì lão Vũ - Sao lão biết nhiều đến thế?

Hạnh Hoa không còn ý thức được ngày giờ nữa. Có lúc thuyền qua những cảnh khói mây núi non mịt mùng, vượn kêu chim hót, nàng cứ ngỡ sống trong mây.

Lúc nàng rời thuyền bước lên bờ thì đã có người đem ngựa chực sẵn. Họ dẫn nàng đến một trang viện kín đáo ẩn trong hàng rào cao kiên cố cây lá um tùm. Đằng trước trang viện là một cửa hiệu thuốc bề thế của họ Vũ. Chủ cửa hiệu thuốc là một người còn trẻ, mặt mũi sáng sủa dáng dấp nho nhã và cũng ít lời như lão Vũ. Qua cách xưng hô, nàng hiểu ra người này là chú em ruột của lão. Ông em tiếp đãi nàng và ông anh quá sang trọng, chu đáo. Lão Vũ dặn nàng đừng đi chơi xa và đột nhiên lão đi mất hút liền hai ngày đêm để " thăm bà con". Nhưng nàng ở nhà cũng không thấy buồn. Nàng đã được xem cảnh lạ đến chán mắt và cũng đang cần nghỉ ngơi. Ngày thứ ba, lão Vũ trở về vui vẻ bảo nàng:
- Ôi! Bé Hạnh thật là tốt số. Sáng mai là mở đầu phiên chợ lớn nhất trong một năm tại trạm Nghi Hòa. Khách buôn ở khắp nơi đổ về đông như kiến. Họ từ đất Ba Thục xuống, từ các đạo Đặc Ma qua, cả lái buôn Quảng Châu và quảng Nguyên cũng kéo đến. Trên thì trời dưới thì hàng hóa, thượng vàng hạ cám, tha hồ cho bé Hạnh mua sắm nhé.
- Thế châu Quảng Nguyên họ bán những gì nào?
- À, có vàng bạc, chu sa, diêm tiêu ...
- Ai cần mua những thứ khỉ gió ấy làm gì?
- Không mua bán thì ta đi xem vậy. Bé Hạnh không muốn xem chợ biên thùy sao?
Hạnh Hoa nhoẻn miệng cười đáp:
- Có chứ!

Trước khi đi xem chợ, lão Vũ cắt nghĩa tường tận cho Hạnh Hoa nghe. Nơi đây là góc đất hiểm hóc kề cận cương giới hai nước Tống - Việt. Để tiện lợi việc trao đổi hóa vật giữa đôi bên và các nước láng giềng khác, hai nhà Tống - Lý cùng thỏa thuận lập trên biên giới những trạm buôn nổi tiếng như trạm Giang Đông ở ngoại thành Khâm Châu hay trạm Hoành Sơn gần châu Quảng Nguyên, trạm Nghi Hòa này là một bạc dịch trường quan trọng.  Đó có mặt đủ loại người bất hảo, những tên lái buôn đầu trâu mặt ngựa ăn sóng nói gió, những phường đầu trộm đuôi cướp giết người không ghê tay và trà trộn vào đấy là những tên do thám đầu sỏ lợi hại của nước ngoài. Vì vậy cần phải ý tứ giữ gìn thận trọng.

Hạnh Hoa ậm ừ nghe cho qua việc. Thâm tâm nàng đang háo hức muốn đi ngay.

Chưa đến nơi mà tiếng chợ đông đã nghe ầm ì như sóng biển. Từ phút đầu tiên đập ngay vào mắt nàng là những bộ áo xiêm rực rỡ đủ màu của các bộ tộc man dân lấp lóa quay cuồng trong náng. Những mảnh xanh đỏ tím vàng đậm sắc không ngớt chuyển động ấy làm nàng đến hoa mắt. Đứng xa nhìn bạc dịch trường, Hạnh Hoa có cảm giác như đứng trước một chiếc đèn cù khổng lồ phất vô vàn mảnh giấy vụn màu sặc sỡ đang quay.

Khu chợ rộng mông mênh mà vẫn không đủ chứa những đợt sóng người lũ lượt kéo đến. hạnh Hoa đứng tần ngần ngắm giấy bút nghiên mực bày la liệt ở các cửa hàng xén. Ôi! Giấy mịn làm sao và thỏi mực láng bóng trông ngon mắt làm sao. lại còn cả gương lược, trâm cài đủ loại. Đằng góc đình Nghi Hòa, những súc vải Vũ Duyên khổ hẹp và lụa La Vân chất lên nghễu Nghện. Ở một góc khác, những sọt muối trắng tinh từng 25 cân một xếp lại thành đống cao như núi.

       Trước đình, dãy nhà phía nam, chứa đầy tiền đồng, trầm hương, thục hương. Có cả ngà voi, trân châu, sừng tê giác. Nhưng Hạnh Hoa không màng để mắt đến mặc dù tiếng mà cả nhau ở đây vang lên như sấm. Mắt nàng dán vào những miếng gấm treo ở dãy hàng đối diện phía Bắc, nơi ngồi chễm chệ những nhà đại thương đất Thục. Hình như có ai giật nhẹ vào chéo áo nàng. Một bà già mặt mũi đen đúa chìa vào tận mặt nàng những xấp thổ cẩm:
- Hàng vải xứ Đại Lý đấy! Quan khách hãy mua một tấm tặng ngưòi ý trung nhân. Đến đời con đời cháu, vải còn bền, sợi rách mà màu vẫn tươi nguyên.

Hạnh Hoa lắc đầu tỏ ý không mua rồi quay sang lão Vũ:
- Sợi rách mà màu còn nguyên. Rõ thật nói ngoa!
- Không ngoa đâu. Họ có nhuộm phẩm đâu mà sợ bay màu!
- Thế nhuộm bằng gì?
- Bằng cứt cánh cam.
- Họ tìm ra tổ cánh cam à?
- Không, loại cánh cam này họ nuôi trong nhà.
Hạnh Hoa thích thú hỏi tiếp:
- Nuôi bằng gì nhỉ?
- Bằng lá núc nác hoang.

Lạ thật! Lão Vũ này cái gì cũng biết. Vừa nghĩ thế, nàng vừa tiến bước ra hướng bờ sông, nơi có tiếng ngựa hí vang lừng. Khu chợ ngựa chia từng ô nhỏ nằm trên bờ sông con. Bên kia sông phía bờ Bắc là đất Tống thuộc trại Vĩnh Bình. Bọn lái ngựa vừa cho ngựa uống nước vừa mà cả với khách mua. Trong bạc dịch trường, có lẽ chợ ngựa là nơi hấp dẫn Hạnh Hoa nhất. Nàng nhìn không chán mắt đàn ngựa giống Đại Lý, con nào cũng mập khoẻ, mông đầy, bốn vó chắc nịch như bốn cột sắt. Một gã khách buôn bảo lão Vũ:
- Trông ngựa thật mà về đến nhà hóa ngựa giả. Nghe câu nói lạ tai, Hạnh Hoa chen vào:
- Sao lại thế hả bác?
- Quả thế đấy, tôi nói không sai - gã quay sang Hạnh Hoa với một giọng kẻ cả - Tôi đã từng mua một con ngựa béo tốt tròn căng hơn những con này. Lúc dắt về đến sân quay nhìn lại thì ôi thôi ngựa đã khụy chân, bụng tóp meo ngả rũ xuống như tàu lá rách. Thì ra cái tên lái buôn lèo lá ấy đã lấy ống trúc thổi vào lỗ đít ngựa cho bụng phình ra rồi đút nút chặt lại. Đi dọc đường nút rơi ra lúc nào không hay - Gã kể câu chuyện khó tin ấy với một bộ mặt thật thà như đếm. Nhưng Hạnh Hoa lại tưởng thật, sán lại gần chỗ mấy conngựa nòi để xem ngựa có bị đút nút hay không - Một tên lái ngựa lực lưỡng mặt mũi dữ dằn, xông ra túm lấy người nàng. Hạnh Hoa nhích mình tránh khỏi, quắc mắt để tay vào đốc kiếm. Nhưng lão Vũ đã bước ra nói một thôi một hồi những tràng tiếng lúi lo khiến tên kia thay đổi hẳn thái độ hướng về phía nàng, gượng gạo chắp tay như để tạ tội. lần này lão Vũ đã làm nàng ngạc nhiên quá đỗi. Không kịp để nàng suy nghĩ, lão Vũ đưa nàng vào một quán ăn ở ven chợ. Lão nói to:
- Tôi đói lắm rồi công tử ạ. Phải kiếm cái gì lót bụng đây.
Trong quán, khách ăn ngồi chật ních. Khói bếp ùn ùn tỏa ra cuộn vòng thơm lừng mùi thịt nướng. Lão Vũ khoát tay gọi gã hầu bàn đem đến một can rượu với mấy món thịt nai. Một giọng nói ồm ồm vang lên từ giữa đám khách thương ngồi ở góc nhà:
- Ông bạn ơi! Liệu trầm của ông có tẩm muối hay đổ chì vào để nó chìm không đấy? Người ngồi ối diện cất tiếng cười ha hả đáp:
- Thế ra bố quên mấy lần con ăn hàng thuốc giả của bố mà miệng cứ câm như hến đấy sao. sau đấy, có tiếng ghế đẩy soạt rồi hai người khách thương đứng lên bước ra đầu bàn, một già một trẻ. Họ trịnh trọng dang thẳng cánh đập chát vào tay nhau ba lần rồi cười hô hố trở về bàn, lớn tiếng gọi thêm rượu thịt.

Lão Vũ kề miệng nhỏ vào tai Hạnh Hoa;
- "Thế là hai bên đã ngã giá rồi. Bây giờ dù có ai trả cao bằng trời họ cũng không dám thất tín". Những cảnh lạ mắt này làm Hạnh Hoa thích thú đến quên cả ăn. nàng lại đưa mắt nhìn một mụ đàn bà to lớn, béo ị, mặt rỗ nhằng nhịt vừa đi đến trước quầy. Mụ ta nhẹ nhàng hạ cái thúng to tướng đựng đầy thịt nai ở trên đầu xuống. Gã chủ quán cởi trần trùng trục đứng sau quầy thò đầu ra hỏi:
- Có đủ cân không? Hay lại cân gian như lần trước? Mụ ta tru tréo:
- öi giời ơi! Ai thèm cân gian để lúc chết cái cân cái đấu chà đi xát lại trên mặt, chết không nhắm mắt được. Chỉ có nghề bụi đầu nhọ tay như cậu mới ăn bớt khách hàng nên cậu mới béo đẫy ra thế kia. Hạnh Hoa suýt bật cười. mụ ta núng nính nào có kém gì gã chủ quán đâu.
Nàng mải mê xem chợ quên cả bóng nắng chiều đang ngả dài trên bạc dịch trường. Trên đường về, nàng tỏ vẻ thỏa thuê hồ hởi. Nhưng đêm ấy có tin Thái Úy gọi lão Vũ về gấp. Vừa ngồi vo thuyền, lão Vũ đã bưng đến cho nàng một chén sâm đặc. lão khẽ hỏi nàng với một giọng ân cần trìu mến:
- Bé Hạnh có mệt lắm không?

Nàng chớp chớp mi mắt, vẻ xúc động hiện ra trên nét mặt ... Không một ai biết chăm sóc nàng như lão Vũ. Suốt thời gian qua, chính lão tự tay cắt thuốc chữa cho nàng lành bệnh. Nàng không hiểu tình cảm của nàng đối với lão Vũ sâu sắc đến mức nào nhưng thiếu lão, đời nàng chắc sẽ kém vui. Không biết trong lúc này ý nghĩ thầm kín nào thúc đầy mà bỗng vô tình nàng buột miệng:
- Ôi! Giá mà lão trẻ lại đưọc dăm mười năm nhỉ ... nàng kịp thời dừng lại và thấy thẹn đỏ đến chân tóc. May thay hình như lão Vũ chưa nghe thấy gì. Nhưng đêm ấy rồi những đêm sau, lão không ngủ trong khoang ngoài nữa. Lão ra nằm đằng mũi thuyền để "mát mẻ " hơn. Hôm đó thuyền dừng lại ở một bến làng để đợi con nước. Lão bảo nhà bếp làm một vài mâm thịnh soạn rồi ngả ra đằng sau lái cùng với bọn phu sào, chén chú chén anh. Khi mặt trăng tròn vành vạnh đã nhô lên hơn một con sào thì bọn họ đều say khướt. Lần lượt họ đổ vật trên sàn thuyền cất tiếng ngáy pho pho.
Hạnh Hoa nằm trằn trọc mãi vẫn không sao ngủ được. Trong một bụi cây đâu đấy, tiếng cuốc bỗng nổi lên từng hồi như đợt sóng lan xa làm chao động bầu thinh không tịch mịch bằng lặng của bến trăng khuya khoắt. Đột nhiên nàng thấy thân thuyền rùng nhẹ rồi một bóng người lao vút lên bờ. Nàng hé cửa nhìn lên thấy lão Vũ đang thoăn thoắt đi về lối xóm. Tính hiếu kỳ thôi thúc làm nàng không kìm nổi. Nàng mặc vội chiếc áo chẽn vào người rún chân nhảy lên bờ, len lén theo sau. Lúc này trăng sáng vằng vặc tưởng chừng như ngày về với đêm. Nàng nép mình lần theo bóng lá tối sẫm ở hai bên đường, chân bước nhẹ nhàng không gây tiếng động.
Đến một ngả ba, nàng trông thấy lão Vũ dừng lại trước một trang trại thâm nghiêm, đưa tay gõ cổng. Bên trong có nhiều tiếng chó sa rộ. Cánh cổng nặng nề hé ra đủ cho người vào rồi lặng lẽ khép lại im ỉm. Tiếng chó cuống quít sủa mừng. Nàng đoán ra đây là nơi thân thuộc của lão Vũ. nàng đã định bỏ ra về nhưng không hiểu sao nàng vẫn thẫn thờ bước theo thành rào bao quanh trang trại. hàng rào quả thật kiên cố. Ba lớp tre đực vót nhọn đầu ghép liền nhau che kín mít. nàng chọn một gốc cây cao nhất bên vệ đường, tung đầu dây gân thú rồi thoăn thoát leo lên. Ngồi trên ngọn cây nhìn vào nàng mới thấy hết tầm rộng lớn của trang trại. May mắn cho nàng, bên trong sát ngay mái nhà có ánh sáng, nàng thấy một gốc cây rậm lá. Theo thuật tung dây nàng vượt qua rào lần đến tán cây nép mình vào mái nhà, nhẹ nhàng hé ngói nhìn vào.


Bên trong ngôi nhà rộng thông thênh, đèn thắp sáng choang. Hương trầm ngào ngạt đập ngay vào mũi nàng. Một đỉnh đồng sáng loáng đặt trước bàn thờ, từ đó khói trầm cuồn cuộn tỏa lên nghi ngút. Một bà già tuy trạc đã ngũ tuần, vóc người còn mảnh dẻ nước da đỏ au ngồi xếp bằng trên sập. Hạnh Hoa thấy lão Vũ đang đứng sát bực cửa ra vào chắp tay cung kính. Bà lão thông thả đứng lên đi lại trước lão Vũ, đưa hait ay nắn bóp bên vai lão ngắm nghía lão hồi lâu rồi bất thần đẩy mạnh. Thân hình lão Vũ tung bắn ra ngoài rồi nhẹ nhàng đáp xuống theo thế bình tấn đứng vững trên nền sân đất
Bà lão nhanh nhẹn bước theo ra, nhìn vết đất lõm dưới chân lão - vết hằn trông rõ mồn một dưới ánh trăng khuya - rồi cầm tay dắt lão vào nhà, miệng cười hớn hở :  « Chà chà ! Thái Úy quả không làm hỏng con ta ».

Hạnh Hoa kinh ngạc đến đờ người. Tim nàng đập rộn. Nàng phải cố trấn tĩnh để theo dõi kỳ hết sự việc lạ lùng đang diễn ra trước mắt.
Giây lâu bà ta mới hỏi :
-    Vừa rồi mẹ có nhận được quà của Thái Úy, mẹ đã gửi cho Người ít thần thảo để đáp lễ. Con nên thay mẹ tạo ơn người. À, có việc này, mẹ nói ngay sợ rồi quên. Con về bẩm với Thái Úy rằng mẹ đã luyện chế một loại thuốc độc khác đủ để ngâm được ba vạn mũi tên. Sẽ nộp đúng kỳ hạn. Thế vừa rồi đi Tô Mậu, con thấy việc làm ăn của em con thế nào ?
-    Dạ, thưa mẹ, dạo này con thấy chú ấy tinh thông y lý lắm
- Vậy thì mẹ mừng lắm. Chính mẹ đang lo nhất điều này. Con ạ, nhà ta đã bảy đời làm thuốc. Tuy có cứu được nhiều người nhưng hại người cũng lắm. Những con bệnh, phàm tạng phủ kém yếu, tinh huyết khô kiệt, nguyên khí hư tổn mà bốc thuốc công phạt là giết người đấy. Chân thủy chân hỏa là cái gốc của phép dưỡng sinh. Hễ âm hư là hỏa thịnh, dương khí thoát đi, âm hỏa bùng bùng chạy như ngựa phi. Xưa kia, bố con sớm biết cái hư của hỏa, rỗng trong nổi ngoài, mà nức tiếng thần y một thời đấy.
- Dạ, thưa mẹ, em con sẽ không làm hổ thẹn tiếng danh y của dòng họ Vũ đâu, xin mẹ đừng lo.
- Con chưa hiểu hết ý mẹ. Có lo là mẹ lo về hậu vận kia. Con cứ ngẫm chuyện vợ con về làm dâu không đầy một năm, chưa kịp sinh con đẻ cái cho nhà Vũ đã vội lìa đời. Việc bày ra đó không đáng lo sao con? Lại còn chuyện mẹ vì nghĩa lớn đã nhận tìm độc dược chế thuốc dùng vào việc quân cho Thái Úy nữa. Mẹ sợ nhà ta sẽ mỏng bề âm đức. Vì vậy mà mẹ nghe theo lời trối trăng của bố con bấm bụng để con ra đi về hầu Thái Úy trả món nợ ân tình với đời. Mẹ mong con biết ăn ở nhịn nhục gánh mọi phần thiệt về mình, sinh bồi cho kẻ khác để cháu con dòng họ ta mai sau được phúc ấm. À, con còn phải lo ôn luyện đường côn họ Vũ sao cho nhuần nhuyễn để ba năm nữa làm lễ trao bảo vật của bố con - Dường như chợt thấy có gì lơ đãng trong thái độ lão Vũ, bà bỗng đổi giọng - Ôi chuyện đại sự như vậy mà mày quên rồi sao hả Thư?
- Dạ ... dạ, con vẫn nhớ ...

Câu nói của lão Vũ tuy cố tình nói nhanh nhưng vẫn không kịp nữa. Bà già thoắt cái đã bước đến bên bàn thờ bê ra một cái hộo dài sơn son thiếp vàng để giữa sập rồi trịnh trọng mở nắp hộp. Hạnh Hoa căng mắt cố nhòm và thấy bên trong đặt một cái quạt cũ gấp lại hình thù hi hợm, một loại quạt thước mà các bậc trưởng lão hay dùng. Không biết rẻ quạt lớn phía ngoài làm bằng thứ gỗ gì mà trông bóng loáng, ánh lên như màu thép lạnh. Bà ta trỏ vào hộp dịu giọng:
- Thư con! Con có biết vì đâu mà Thái Úy với bố con quen nhau, thân nhau rồi đi đến ăn thề kết nghĩa đệ huynh không? Cũng do nơi cái quạt này cả. Hồi ấy ...

Thốt nhiên có tiếng chó gầm gừ. Rồi hàng chục mõm chó dữ với những cặp mát xanh lơ châu về hướng nàng, sủa váng lên. Bà già mỉm cười:
- Có khách lạ theo chân con vào thăm nhà ta đấy! Bà nắm đầu dây giấu kín ở đâu trên tường giật nhẹ. Tiếng chuông ánh ỏi vang khắp trang trại. Tiếp theo, tiếng bước chân rầm rập đổ ra sân. Hạnh Hoa hốt hoảng tung mình lên cây theo đường dây vượt ra ngoài rồi thu dây lại, lẹ làng nhảy xuống đất.

Khi nàng chạy về đến thuyền, bọn phu sào vẫn ngủ say như chết. Nàng vào khoang nằm sải tay im lặng. bao nghi hoặc quay cuồng trong đầu óc nàng. Lão Vũ là ai? Bà già ấy có thật là mẹ lão Vũ không? Mẹ sao lại già ngang tuổi con thậm chí còn có vẻ trẻ hơn là khác? Bà ta gọi Thư, vậy Thư có phải tên lão Vũ không? Gia đình lão Vũ dây mơ rễ má thế nào với Thái Úy? Những câu hỏi oái oăm ấy làm nàng mệt nhoài rồi nàng thiếp đi lúc nào không rõ. Trong mơ khung cảnh trầm lặng, u nhã chứa đầy bí mật của ngôi nhà ấy lại hiện ra phảng phất hình ảnh lão Vũ lúc thì già khụ lúc thì lại trẻ măng ... Lúc này tỉnh giấc thì con thuyền đã rời bến xuôi dòng băng băng rẽ sóng. Trông về phía trời tây còn nhạt nhòa, lạnh lẽo một vầng trăng.
0
(Minh danh xong phan I roi, upload len day cho ban nha :))




PHẦN MỘT

I
Khi hạt sương đầu hạ chưa tan trước tia nắng sớm còn trằn trọc trên bóng vương thành, Thái Úy Lý Thường Kiệt đã lặng lẽ lên đường đi châu Lạng.
Trái với lệ thường, Thái Úy từ khước mọi nghi lễ tiễn đưa. Có lẽ chỉ có quan Đô Tri Lưu Khánh Đàm, vị quan chấp chưởng mọi việc ở cấm đình, là người duy nhất có mặt lúc Thái Úy qua sông. Thân hình ông ta như nhô ra từ trong bóng sáng chập choạng đẫm hơi sương của điện Hàm Quang.
Nhờ một ngọn gió lạc từ mé sông vào, đoàn tùy tùng đi sau, tình cờ nghe được một câu cuối cùng của quan Đô Tri nói với Thái Úy: “Mọi việc ở nhà, xin lệnh công cứ yên tâm”. Rồi bóng ông ta lùi dần âm thầm lặn mất giữa bóng hòe trên con đường dẫn vào cửa Diệu Đức.
Chuyến đi của Thái Úy Lý Thường Kiệt càng thầm lặng thì những lời xì xào, bàn tán càng xôn xao trong đám đình thần. Người kinh thành cũng linh cảm có điều gì bất thường trong chuyến tuần du đột ngột này của quan Thái Úy. Mọi người cố suy đoán để tìm ra điều bí ẩn.
Những kẻ muốn tỏ ra mình có đi lại mật thiết với người nhà Thái Úy, nghiêm nghị lên giọng: “- Phải biết Thái Úy là con người chí hiếu. Cách đây ngót bốn mươi năm, lúc phụ thân của Thái Úy là quan Lang Tướng An Ngữ bị bệnh từ trần trong châu Ái, Người đã khóc ròng ba ngày liền không một ai dỗ nổi. Đầu năm nay Đức Thánh Tông đột ngột băng hà – ngoài nghĩa vua tôi đối với Tiên Đế, Thái Úy còn mang nặng một thâm tình ruột thịt. Có dễ gì trong chốc lát, vết thương sâu này có thể liền da. Vì vậy mới có việc phò mã Thân Cảnh Phúc khẩn khoản mời người đi châu Lạng. Chắc phò mã muốn mượn cảnh đẹp của dòng sông Đào Hoa để làm Người khuây vợi nỗi buồn thương”.
Lại có người mỉm cười, bình thản bảo: “- Có gì đâu, Thái Úy vừa ốm dậy. Mà mùa hè năm nay đến rất hỗn. Mới đầu tháng hai, nó đã vội vã đem sắc đỏ gay gắt của hoa gạo chặn đứng mùa xuân lại. Chắc chắn chuyến đi này của Thái Úy lên phương Bắc chỉ là một cuộc nhàn du tránh cái nóng oi nồng đang thiêu đốt kinh thành.
- “Tránh nắng ư? – Một kẻ khác thầm thì – Đúng hơn là tránh mặt đấy quan huynh ạ! Huynh đài nên biết quan Thái sư phụ chính Lý Đạo Thành không ưa gì quan Thái Úy đâu – Giữa hai vị tể thần đầu triều ấy có điều đểnh đoảng với nhau như cơm nhạt canh loãng ấy mà”. Vị kia bỗng ghé mồm vào tai bạn nói khẽ: - “Huynh đài nhầm rồi, người mà Thái Úy không muốn chạm mặt chính là Hoàng Thái Hậu Thượng Dương kia. Thái Úy không muốn tham dự vào những việc làm chướng tai gai mắt của bà Hoàng Hậu đa nghi vừa mới lên nắm quyền nhiếp chính”.
Một võ quan ngồi im bỗng buột miệng nói to những điều đang suy nghĩ trong đầu: “– Sai toét! Cứ lấy đấu lấy bát mà so với vực với sông. Thái Úy đâu phải con người như thế. Biết đâu không phải vì Bắc thùy sắp sinh đại biến mà Người phải ra đi!”.
- “Ông bạn ơi! Ông mơ ngủ hay sao mà nói thế? Làm gì có chuyện ấy – Một người bạn đồng liêu cãi lại – Tháng 3 vừa rồi, nhà Tống đã chẳng sai quan Chuyển vận sứ Quảng Tây là Khang Vệ sang điếu ai là gì? Hai nhà Tống – Lý vẫn giao hảo thuận hòa đấy chứ”.
Riêng có gã thư nhi phụ việc cho quan Chiêm tinh là ở cách bức, xa mọi lời bình phẩm. Gã vẫn ngồi lì ở một góc trên Vọng tình đài, trịnh trọng lật quyển sổ bìa vàng, chậm rãi ghi:
“Năm Nhâm Tí, Thần Vũ thứ tư, mùa hạ bỗng đến đột ngột lấn mất của mùa xuân 28 ngày trời”. Rồi như không tự chủ được ngòi bút, gã để cho mạch suy nghĩ lôi cuốn, bất giác tay gã viết tiếp: “- Tháng giêng Nhâm Tí, vào ngày Canh Dần, vua Lý Thánh Tông băng hà cũng đột ngột. Thượng tuần tháng tư, chuyến đi của quan Đôn quốc Thái Úy Lý Thường Kiệt lên châu Lạng cũng đột ngột”.
Hình như Thái Úy Lý Thường Kiệt không hay biết gì về những điều dị nghị về mình. Ông vẫn thanh thản lên yên, bỏ lại đằng sau những nghi hoặc bâng khuâng của kinh thành như đám bụi mù la đà bốc lên sau vó ngựa. Và mỗi bận thấy vị nguyên nhung của mình lên ngựa, viên tì tướng cận vệ trẻ tuổi lại ngẩn người trố mắt ra nhìn, không hết ngạc nhiên.
Chỉ cần khẽ nhún chân, vóc người đồ sộ nhưng rất cân đối của Thái Úy đã bay lên mình ngựa, tư thế uy nghi vững chãi như thạch trụ - trong thoáng giây thảng thốt ấy, quả Thái Úy đã biến thành một con người khác. Cái tuổi 54 của Thái Úy như lùi xa lại nhường bước cho khí lực sung mãn của một chàng trai đang độ tuổi xanh cường tráng. Con ngựa chiến Xích Long của Thái Úy, hí khẽ một tiếng vui mừng, cuộn hai chân trước lên rồi nhẹ nhàng sải vó. Cây cỏ nhà cửa hai bên đường vật vờ chạy ngược lại phía sau. Thỉnh thoảng một ngôi quán ven đường khẽ khàng nâng tấm liếp nhìn với theo đoàn người ngựa rồi lặng lẽ buông xuống như mi mắt còn ngái ngủ. Riêng ngôi quán ở đầu ngã ba Cội là có vẻ náo động khác thường. Ba gã lực lưỡng ăn mặc theo lối khách thương từ trong quán đổ xô ra, cặp mắt láo liếng của chúng không nhìn vào người cưỡi mà dán chặt vào những thân ngựa bóng nhẫy. Có tên nhanh chân chạy vượt theo vài bước để kịp nhìn thấy màu lông tía mật của con Xích Long lấp lóa trong nắng sớm.
Mải theo dõi từng cử động nhỏ của Thái Úy, viên tì tướng cận vệ không để ý đến những sự việc vụn vặt xảy ra ở hai bên đường.
Lúc này Thái Úy đang buông lỏng dây cương, chốc chốc lại ngoảnh đầu nhìn về phía mặt trời lên, ngựa lơi nước Kiệu. Nhìn theo luồng mắt của Thái Úy, viên tì tướng bỗng chợt hiểu ra.
Đấy là miếng đất Tiên Du, nơi an nghỉ hài cốt của các vị tiên đế dòng vua Lý. Cách đây không lâu, di thể của vua Thánh Tông cũng được đưa vào đấy. Hình như Thái Úy đang cố nén một tiếng thở dài.
Trong ngôi điện chứa kỷ niệm riêng tư đáng ghi nhớ của Thái Úy, hình bóng vua Thánh Tông quả đã chiếm một chỗ trang trọng, thiêng liêng nhất. Chẳng phải vì vị minh quân này đã không ngừng ban cho ông những phẩm vật triều đình cao nhất và đặt ông vào hàng vương gia với tước Thiên tử Nghĩa nam. Cũng không hẳn vì tấm lòng nhân của vua Thánh Tông tỏa ra bốn cõi, một lòng nhân chân chất, không khoác áo màu tự nhiên như lòng mẹ thương con, như hạnh sen nằm giữa đài sen. Lúc vua Thánh Tông lên ngôi là lúc hoài bão kiến công lập nghiệp ấp ủ trong buổi thiếu thời của công đã chín lại trên một mục tiêu chính xác và cao cả. Ý thức giúp vua xây dựng một quốc gia tự chủ có cương giới phân minh gặp được đầu óc tự cường mạnh mẽ của ông vua mới như hạt giống tốt gặp miếng đất phì nhiêu. Hai người như hai mũi tên cùng được đặt trên một dây cung, cùng bay đến một đích. Hai gương mặt lịch sử ấy soi bóng vào nhau và cùng thấy cháy lên một chí hướng chung. Cuộc hạnh ngộ này quả là một điều may mắn cho cuộc đời ông cũng như cho vận mệnh đất nước. Giữa hai người dần dần nảy sinh mối thân tình ruột thịt thường có được do gắn bó với nhau qua nước mắt mồ hôi, qua bụi đường chinh chiến.
Đối với ông, đức Thánh Tông không chỉ là vị quân vương tôn kính của mình mà còn là một người bạn đường tri kỷ. Viên tì tướng lặng lẽ nhìn Thái Úy. Tuy hạt sương sớm ngoài trời vừa tan biến từ bao giờ, anh vẫn cảm thấy trên khuôn mặt tuyệt đẹp của Thái Úy, đang phảng phất chưa tan làn sương mù của kí ức.
Lúc này Thái Úy đang hồi tưởng đến nỗi đau phũ phàng, bất ngờ ập đến trong đời ông. Vua Thánh Tông bỗng dưng băng hà đột ngột không kịp di mệnh. Nhưng bằng vào những ngõ ngách sâu thẳm trong tâm tư, ông đã hiểu được ý nguyện thầm kín của tiên quân.
Trước hơn ai hết trong đám quần thần, ông cảm thấy sâu sắc lời di mệnh không thành tiếng ấy đang đè nặng xuống vai ông và giờ đây một mình ông phải cáng đáng.
Suốt đêm hôm ấy và qua ngày hôm sau, vua Thánh Tông vẫn cùng đi với ông trong cuộc hành trình… Hồi ức trỗi lên thành âm thanh du dương của một điệu nhạc triền miên có thêm tiếng vó ngựa lộp cộp đều đặn đệm tiết tấu. Điệu nhạc này cứ đeo đẳng theo ông mãi cho đến lúc vóc dáng cao lớn dềnh dàng của phò mã Thân Cảnh Phúc cùng thuộc hạ hiện lên bên kia bờ sông Nam Bình…

2
Thái Úy vui vẻ đặt chân lên bậc thang gác, quay đầu nhìn lại. Từ đôi mắt xếch đen nháy đến thân hình hộ pháp của phò mã toát lên một niềm hân hoan hồn nhiên gần như của trẻ thơ. Tấm thịnh tình chân thực và chất phác ấy làm Thái Úy thấy ấm lòng. Vừa lên khỏi cầu thang, phò mã đưa bàn tay to bè, vụng về nắm lấy tay Thái Úy dắt vào gian giữa. Phò mã trân trọng tự tay rót nước mời khách rồi hối hả lui vào nhà trong.
Thân Cảnh Phúc là đời phò mã thứ ba của triều Lý. Họ Thân trước kia nguyên họ Giáp là một cự tộc có thanh thế lớn nhất ở Châu Lạng, chiếm giữ vùng đất cực kỳ quan yếu nối liền phía Bắc với kinh thành Thăng Long. Con đường thông lộ duy nhất từ đất Tống sang kinh đô Đại Việt, bị chặn đứng ngay ở địa cầu châu này với hai đèo ải hiểm ác: ải Quyết Lý và ải Giáp Khâu tức ải Chi Lăng.
Con mắt định quốc sắc bén của vị vua đầu sáng lập nên triều Lý đã sớm nhận thấy chốn này là địa thế yết hầu của tổ quốc. Lý Thái Tổ đã đem con gái mình gả cho động chủ Giáp Thừa Quí. Chữ Giáp và chữ Thân viết gần giống nhau. Ngọn bút của Lý Thái Tổ chỉ cần nhích khẽ một nét sổ lên phía trên là lập tức họ Giáp đã đổi thành họ Thân, xóa nốt vết tích man động cho phò mã.
Cuộc kết thân có tính chất chiến lược này được hai họ giữ gìn vun đắp từ đời này sang đời nọ. Con Thân Thừa Quí là Thân Thiệu Thái nối cha làm châu mục. Năm Kỷ Tỵ, vua Lý Thánh Tông lại gả công chúa Bình Dương cho Thân Thiệu Thái. Đến lượt con trai của Thiệu Thái và Công chúa Bình Dương là Thân Cảnh Phúc lại được vua Lý Thánh Tông kén làm phò mã. Năm Bính Ngọ, Cảnh Phúc lấy công chúa Thiên Thành.
Riêng trong cuộc hôn nhân thứ ba này, hình như có chút gì vướng mắc không được song suốt như hai lần trước. Nghe đâu con trai lớn của quan Thái Bảo Nguyễn Châu phải lòng công chúa. Không ai biết công chúa Thiên Thành có đáp lại mối tình này ở trong gang tấc nào. Và cũng trong chừng mực nào, Thái Úy Lý Thường Kiệt có đưa bàn tay mình ra tháo gỡ sợi chỉ hồng ấy? Người ta chỉ thấy Thái Úy đích thân đưa tiễn kiệu hoa công chúa về làm dâu nhà họ Thân trước cặp mắt liếc xéo đến khó chịu của quan đại thần Nguyễn Châu. Còn phò mã Thân Cảnh Phúc thì vẫn mang bên lòng cái ân lớn của Thái Úy, người đã có công tạo dựng nên chuyện lứa đôi cho mình…
Thái Úy nhấp từng ngụm nước lão mai ngát mùi hương mộc. Qua làn khói mờ bốc lên từ trong chiếc chén men nâu, Thái Úy ngắm năm gian nhà rộng, sàn lót ván chò bào nhẵn, nước gỗ đã sẫm màu. Ông chợt mỉm cười vì một ý nghĩ ngộ nghĩnh không đâu bỗng len qua đầu óc. Ừ nhỉ! Chắc hẳn trong đời làm dâu của mình, ba nàng Công chúa họ Lý thuộc ba thế hệ kế tiếp nhau chở về đây cái phong thái thanh lịch của nếp sống kinh thành.
Rặng đào xanh mởn với những lối đi mát rượi trong vườn cây trĩu quả kia chắc có sự nhìn đến của cả ba nàng. Còn cái khay trắc nạm vân xà cừ đựng trong lễ cưới công chúa Thiên Thành thì khỏi phải đoán. Nhưng còn những chậu hoa hồng quế đặt ngoài hiên và cả cái ô cửa tròn chạy triện phủ sa ở gian mé tả… Tiếng sột soạt của loại vải thô còn mới, cắt đứt dòng suy nghĩ miên man của Thái Úy. Công chúa Thiên Thành trong bộ áo gai đại tang đã bước ra theo sau là phò mã.
Vừa gặp Thái Úy, những giọt nước mắt tích tụ từ bao giờ bỗng nhiên trào ra, lăn qua đôi gò má đầy đặn của công chúa rồi lã chã rơi xuống sàn gỗ. Thái Úy bối rối cố đoán trong giọt nước mắt khóc thương phụ hoàng ấy có phần nào hờn duyên chăng. Còn phò mã vội vã đưa tay – đôi bàn tay thô kệch rõ ràng chỉ để cầm côn kiếm hơn là quen vuốt nếp áo vợ - vụng về đỡ lấy lưng công chúa.
Nhưng cơn xúc động nào mãnh liệt đến đâu cũng phải qua nhanh. Đối với công chúa Thiên Thành, phút giây này càng qua nhanh không phải vì những lời an ủi thường tình của Thái Úy mà chính vì bản tính ít đa cảm của nàng.
Không để cho phò mã kịp chen vào được một lời, công chúa bắt đầu liến thoắng hỏi thăm Thái Úy về sức khỏe của những người thân quen rồi dần dà hỏi đến cách ăn mặc của các vị phu nhân trẻ tuổi ở kinh thành.
Nhìn vào khuôn mặt bầu bĩnh tươi tắn mỗi lúc mỗi hồng mởn lên của người thiếu phụ, Thái Úy bỗng thấy trong người nhẹ nhõm – “Thì ra mình cũng mát tay đấy chứ” - Thái Úy vừa nghĩ thầm vừa trả lời những câu hỏi tíu tít như tiếng chim đang hót quanh nhà…
Đột nhiên công chúa vỗ tay reo lên: “-Hay quá! Thái Úy lên đây vừa dịp ngày “Hội Tre Nước”. Cứ ba năm mới hội một lần. Vui đáo để”. Rồi nàng quay lại phía chồng, nheo mắt nhoẻn nụ cười ranh mãnh:
- “Phò mã phải mời cho được Thái Úy đi xem hội đấy!”. Cuộc vấn an công chúa kết thúc sau khi Thái Úy hứa nhận lời mời sẽ cùng công chúa đi dự hội.
Nếu ai đó tò mò theo dõi Thái Úy từ lúc rời khỏi kinh thành thì đến đây đã có thể nghĩ rằng chuyến đi thăm viếng này của Thái Úy quả là một cuộc nhàn du. Nhưng chỉ cần người ấy nghiêng tai nghe lén được vài câu giữa Thái Úy và Thân phò mã thì họ sẽ nghĩ khác ngay.
Trong căn mật thất im ắng, Thái Úy chú tâm vào câu chuyện. Rõ ràng phò mã đã cố gắng hạ thấp giọng, nhưng tiếng nói của viên hổ tướng vẫn rền vang khắp gian phòng. Khi phò mã dứt lời, Thái Úy vẫn trầm lặng như đang lắng nghe tiếng con ong mật vo ve đập cánh vào tấm màn sa treo trước mặt. Dường như để Thái Úy thật yên lòng, phò mã nói thêm:
- “Gã là cháu ruột một viên tướng rất tin cẩn của tiên phụ xưa”.
Một thoáng hài lòng làm dịu gương mặt thường ngày vốn trang nghiêm của Thái Úy.
- Tráng sĩ ấy tên gì?
- Tên là Thiết Nỗ ạ!
“Thiết Nỗ!” Thái Úy lặp đi lặp lại như cố gõ vào ký ức xem đã từng nghe vang lên tên tuổi này chưa. Phò mã lo lắng hỏi:
- Thái Úy thấy thế nào ạ?
- Khá đấy phò mã ạ! Đúng là phò mã đã tìm ra được một nhân tài.
Niềm hoan hỉ rạng dần kéo giãn những vết nhăn trên vầng trán rộng và làm giọng Thái Úy thêm phần xởi lởi:
- “Phò mã đã cất được cho lão phu một mối lo vì lâu nay thiếu người đảm nhiệm, Phò mã ạ! Nước ta nhỏ nhưng voi ta to. Biết dùng thì nó rất có lợi cả thế thủ lẫn thế công trong chốn trận mạc. Ta đã có bộ binh, thủy binh, kỵ binh. Bây giờ chưa có đội tượng binh mạnh trấn giữ ở hai cửa ải Quyết Lý, Chi Lăng, lão phu vẫn chưa thật yên lòng”.
- “Nhưng thưa Thái Úy, lâu nay biên cương vẫn chưa có gì động tĩnh…” Phò mã bỏ lửng câu nói, đôi mắt xếch ngước nhìn Thái Úy, phân vân chờ đợi. Thái Úy thong thả đứng lên:
- Phò mã còn nhớ Tiêu Chú không?
Câu hỏi bất ngờ làm phò mã sửng sốt đứng bật dậy. Làm sao phò mã có thể quên được Tiêu Chú, một viên biên quan khét tiếng lợi hại của nhà Tống, trước đây đã từng gây ra bao sóng gió ở chốn biên thùy. Phò mã thảng thốt đáp:
- Dạ, có nhớ!
- Nhưng điều cần nhớ nhất là hắn am hiểu đất nước ta như lòng bàn tay của hắn.
Hai tiếng bàn tay bỗng làm vang lên trong hồi ức những lời của thân phụ xưa… Năm Quí Tị, khi Nùng Trí Cao bị đội quân kị của tướng Địch Thanh đánh bại phải rút tàn quân chạy về đạo Đặc Ma, chính tên Tiêu Chú đã đích thân đưa quân theo vào tận sào huyệt, bắt cho được mẹ và con của Trí Cao mang về. Và từ đấy, theo như lối nói thân phụ phò mã, hắn ung dung ngồi tại Ung Châu, ngang nhiên thò bàn tay móng dài và nhọn như móng ó qua vùng biên giới, cào khoắng từ châu Quảng Nguyên đến châu Lạng Giang, với dã tâm gieo rắc bất hòa giữa hai nước. Hắn đã làm cho vua Thánh Tông nhiều phen nổi trận lôi đình, phải đem quân dàn thành hai tay thước, gõ vào trại Cổ Vạn và động Tứ Lẫm, bắt hắn phải rụt tay lại. Nhưng cái gõ đau nhất đối với Tiêu Chú là của tướng Thân Thiệu Thái, bố của phò mã. Thiệu Thái đã kéo quân tiến một mạch qua châu Tây Bình thẳng đến trại Vĩnh Bình, chém đầu viên đô giám Tống Sĩ Nghiêu bắt sống chỉ huy sứ Dương Bảo Tài làm chấn động cả một vùng Ung Châu. Trong gia phả của dòng họ Thân, đây là trang oanh liệt nhất. Chính vì việc ấy mà Tiêu Chú bị bãi chức.
Nhưng việc cũ đã xảy ra cách đây non một giáp rồi. Vì vậy phò mã bỡ ngỡ hỏi: -“Thưa Thái Úy, Tiêu Chú đã bị đình thần nhà Tống cách chức từ lâu rồi kia mà!
- “Hắn đã được ông vua mới vừa phục chức cho hắn.
Phò mã suýt bật lên một tiếng kêu kinh ngạc:
- “Hắn đã trở về ngồi ở Ung Châu rồi ư?
- “Không, hắn ngồi cao hơn. Hiện hắn ở Quế Châu kiêm chức Kinh lược sứ Quảng Tây”.
Phò mã lặng đi giây lâu không nói. Tên tuổi Tiêu Chú như một bóng ma bỗng dưng từ đâu hiện về làm quấy đảo đầu óc của phò mã. Việc dùng lại Tiêu Chú đã làm lộ rõ tâm địa của vua Tống. Nhưng câu hỏi cũ vẫn lay hoay ở trong đầu phò mã. Làm sao lâu nay biên cương vẫn chưa hề động tĩnh… Như thầm đoán được ý nghĩ của phò mã, Thái Úy nhẹ nhàng nói tiếp:
- “Nên nhớ Tiêu Chú là một viên trí tướng rất thức thời. Hắn còn đang rình rập đợi vận hội may mắn hơn lần trước”. Hai người cùng nhìn sâu vào mắt nhau, giọng Thái Úy trầm xuống khẩn thiết:
- “Phò mã biết đấy. Tiên hoàng sớm qua đời. Tự quân còn thơ bé. Lòng đình thần chưa yên. Mà Hoàng Thái hậu Thượng Dương nắm quyền nhiếp chính lại chỉ thấy cái chóp vương miện trên đầu mình chứ không nhìn rộng ra non sông đất nước. Phò mã ơi! Gánh nặng này biết sở cậy vào ai? Không hiểu xúc động vì nặng tâm tình trong lời nói của Thái Úy hay vì linh cảm được những việc trọng đại sắp xảy ra, phò mã bất giác phục xuống nắm tay Thái Úy, ngẩng mặt lên khảng khái:
- “Trọng phụ ơi! Nếu có việc gì trọng phụ cần đến thì Cảnh Phúc này không dám tiếc mạng sống để đền đáp tấm lòng tiên vương và không hổ thẹn với vong linh của tiên phụ”. Thái Úy vội khom mình nâng phò mã dậy và như vừa cất được gánh nặng trên lưng, Thái Úy trút ra một hơi thở dài nhẹ nhõm.
Đúng lúc ấy, từ bên ngoài, ba tiếng khánh vọng vào lảnh lót. Không đợi Thái Úy phải hỏi, phò mã kéo tay Thái Úy nói khẽ:
- “Thiết Nỗ đã đến xin ra mắt trọng phụ đấy”.

3
Người môn khách chuyên dạy voi mà Thân phò mã gọi là Thiết Nỗ, đang đứng dưới thềm cung tay làm lễ tham kiến.
Trái với dự đoán của Thái Úy, vóc người Thiết Nỗ không cao lớn mà tầm thước, lối ăn mặc xềnh xoàng. Chiếc áo cánh chẽn giấn chàm non hơi bạc màu, gấu áo nằm khuất trong cạp khố bằng vỏ sui, được vận ngược lên rồi bỏ xòa lá tọa ra phía trước. Ngược lại đôi hài sảo đi dưới chân còn mới nguyên, nếp cỏ bện mịn màng chưa bắt bụi. Dường như tất cả sự chú tâm của chàng trai rừng suối này đều dồn vào việc chăm sóc cho làn da, một làn da láng lì bóng nhẫy, có lẽ được xoa nắn hằng ngày, chạm vồng hình những bắp thịt nở nang quá cỡ, cuồn cuộn ánh màu đồng hun.
Khuôn mặt anh trông đến hiền lành như trẻ thơ, nếu không có bộ râu quai tua tủa đen nhấp nhánh màu kim khí, tưởng chừng như chỉ khẽ động ngón tay vào là nó rung lên bần bật phát thành âm thanh.
Với cặp mắt sắc sảo quen xét đoán người, Thái Úy Lý Thường Kiệt đã thấy ngay ở chàng trai trẻ sức mạnh bộc trực của một bản chất lượng nghị bẩm sinh. Thái Úy vui vẻ xua tay:
“- Giữa chúng ta, tráng sĩ chẳng phải quá giữ lễ”.
Thiết Nỗ vẫn cung kính đáp:
“Thưa Thái Úy, Nỗ tôi ở chốn đồng rừng có chút nghề mọn không ngờ được Thái Úy và động chúa để mắt tới, Nỗ tôi cảm khích vô cùng”.
Thái Úy chậm rãi nói:
- Lâu nay lão phu nghe phò mã ca ngợi tài lạ của tráng sĩ, đến hôm nay mới được gặp mặt, như vậy cũng đủ thỏa lòng khao khát bấy lâu.
- “Thưa Thái Úy, nghe bằng tai không bằng thấy bằng mắt. Biết đâu động chúa vì quá yêu mà vội khen chăng?”
Nãy đến giờ phò mã vẫn đứng im, ngón tay lơ đãng gõ vào đầu cột trụ lan can chạm hình hoa dẻ thô sơ, tâm ý để hết vào ánh mắt đầy thiện cảm pha lẫn niềm tin cậy của Thái Úy đối với người môn khách của mình, nét mặt mỗi lúc mỗi hân hoan rạng rỡ. Đến lúc này, phò mã mới cất lời:
-Thiết tướng quân nói đúng quá. Nhưng tướng quân đã có gì để Thái Úy xem bằng mắt chưa?
- Dạ thưa động chúa, xong cả rồi ạ.
Phò mã hớn hở nhìn Thái Úy:
- Vậy xin mời Thái Úy…
Thái Úy giơ tay ngăn lại:
- Xin phò mã hãy thư thư để lão phu chuyện trò với tráng sĩ đây dăm ba câu. Vậy tráng sĩ theo thuật này đã được bao lâu rồi?
Thấy Thiết Nỗ ấp úng, phò mã đỡ lời.
- Thiết tướng quân đã nô giỡn với bầy voi con bên sàn nhà từ lúc tuổi lên mười.
Thái Úy vẫn hướng vào người nghệ nhân dạy voi trẻ tuổi nói:
- Xin tráng sĩ thứ cho cái tật tò mò, đường đột của lão phu. Tráng sĩ có thể cho lão phu hay một vài thuật nhỏ trong phép dạy voi của tráng sĩ, nếu tráng sĩ thấy không phạm vào điều bí truyền của tổ phụ.
- “Chẳng có gì bí truyền cả Thái Úy ạ, vãn điệt dạy voi chỉ bằng cái này thôi”. Vừa nói Thiết Nỗ vừa đập đập vào cái búa đồng nhọn đầu và chiếc thiết lĩnh đen trũi đeo ở bên mình.
- Chỉ có búa đồng và thiết lĩnh thôi ư?
- Dạ, còn phải có những khẩu mía lùi nữa ạ!
- Thế ra tráng sĩ dạy voi cũng cần phải có cả ân lẫn uy nữa! Hà! Hà!
Thích chí vì câu nói đầy ý tứ, Thái Úy cười sảng khoái rồi khoác tay hai người tiến về phía hội sảnh. Ở đó tất cả mọi việc theo lệnh trên đã được xếp đặt sẵn sàng từ trước. Cả hai đoàn tùy tùng của Thái Úy và phò mã cùng lên yên.
Nơi dạy voi của Thiết Nỗ ở về phía tây cách Động Giáp non mươi tầm tên bắn. Trước khi vào thung lũng đoàn người phải giong cương rẽ đám cỏ ống rậm rạp cao gần bụng ngựa, lội qua một con suối nhỏ, men theo một trái đồi lốm đốm trắng những tàn hoa mỡ nở xòe năm cánh.
Mười hai gian lều cỏ bỗng dựng áp lưng vào chân đồi, dưới bóng những gốc trám sum suê đang mùa ra hoa. Ngồi trên bục cao ở giữa, đoàn người có thể phóng tầm mắt nhìn vào khoảng đất rộng bằng phẳng trải ra dưới chân mình. Một bức rèm lá cây lòa xòa treo vào chiếc đòn dài thượt, đặt trên hai trụ gỗ lim, chia đôi sân bãi. Phía bên này sân lô nhô những hình nhân cưỡi ngựa, sắc phục theo lối quân Tống, màu đen giữa cặp nẹp đỏ.
Mới nửa buổi mà nắng vào hạ đã xối xả đổ xuống.
Trong bụi nắng tỏa mờ mờ, những người nộm như muốn nhảy chồm lên phóng nước đại.
Một hồi tù và vang dậy âm u tiếp theo ba tiếng trống khẩu giòn giã. Từ phía sau đồi, một đoàn voi rầm rập nối đuôi nhau lặng lẽ tiến vào giữa khoảng trống, giẫm nát những bụi cỏ xước lá dài lả lướt họa hoằn còn sót lại. Đi đến giữa sân, đàn voi quay đầu về phía khách quị hai chân trước xuống. Từ trên mình con voi đầu đàn, Thiết Nỗ nhẹ nhàng nhảy xuống cùng bọn quản tượng bái vọng về phía Thái Úy, làm lễ ra mắt. Rồi dồn dập tiếng trống trận đổ liên hồi. Đàn voi quay mình nối thành một mũi nhọn chọc thẳng về phía trước, xung tả đột hữu, vươn những chiếc vòi dài loang loáng ra hai bên. Đột nhiên đoàn voi rẽ ra thành từng khối dày đặc tạt ngang tạt dọc, chia cắt đạo quân thù tưởng tượng bằng vô số những đường chữ chi đan chéo.
Tiếng tán thưởng của đám tùy tùng lào xào nổi lên phía sau lưng Thái Úy, lẫn trong tiếng ong về hút mật trên những chùm hoa trám li ti tựa tiếng dào của nồi nước đang sôi.
Một dàn trống đồng không hiểu đặt ở đâu bỗng rung lên âm vàng rền một góc núi. Chiếc đèn dài thượt từ từ được nhấc bổng lên cao kéo theo tấm rèm lá cây. Tiếng trống đồng như một hiệu lệnh quen thuộc, chỉ dẫn cho những thớt voi lúc này đã dàn hàng ngang, đột nhiên trông thấy kẻ thù.
Đàn voi hung hãn lắc đầu, tung vòi ré lên, khí thế xung sát bừng bừng trong nắng lóa. Những khối thịt phục phịch nặng nề ấy di động nhanh nhẹn dị thường, xông xáo giữa đám người nộm, quăng vòi cuộn địch thủ quật xuống đất rồi lấy chân di nát cả thân hình.
Thái Úy nhỏm người nheo mắt nhìn cho rõ hơn. Trong thoáng giây, khoảng đất sa trường biến thành trống trơn, lơ thơ sót lại dăm chục cột tre, la liệt xác người nộm ngổn ngang bẹp gí. Bóng nắng đứng ngọ gay gắt dội thẳng xuống các búi cỏ nâu khô lòi thòi hai bên sườn xác nộm, làm sáng rực đường nẹp vải đỏ còn dính chặt giữa bụng hình nhân trông như từ ngực đang thực sự chảy ra những dòng máu tươi lênh láng…
Trên đường về, bóng người ngựa ngã dài làm thẫm lại trong khoảnh khắc màu trắng lóa của cánh hoa mỡ rừng rụng lác đác trên triền đồi. Thái Úy cho ngựa đi gióng một, đợi Thiết Nỗ lại gần, quay sang hỏi:
- Theo ý tráng sĩ, voi trận thiện dụng trong thế chủ hay thế công?
- Dạ, thế công là tốt nhất! Thiết Nỗ đáp không một chút do dự.
-Thế giả dụ gặp trường hợp giặc dùng một đoàn quân kị thiện chiến, tiến như gió cuốn nước tràn?
- Ta có thể dùng voi chặn đứng lại – Thiết Nỗ dè dặt tiếp – Nhưng… cũng tùy địa thế chiến trường rộng hẹp…
Đến dưới gốc một cây bồ đề, Thái Úy dừng cương lại, nói trong một hơi thở:
- Tướng quân ạ! Ta đã báo cho phò mã biết rồi. Chậm nhất trong tuần trăng sau là đoàn voi mới ở Đà Bắc, Phong Châu sẽ được đưa tới đây. Nếu vì việc quân cấp bách, tướng quân xem có thể rút ngắn được thời hạn luyện voi chăng?
Một con bướm sặc sỡ từ đâu bay vụt đến, cứ chớp cánh tíu tít quanh chòm râu quai của Thiết Nỗ, tựa như có một cánh hoa bồ đề theo gió giạt vương vào đấy. Thiết Nỗ đưa tay gạt con bướm nghịch ngợm rồi thận trọng đáp:
-Thưa Thái Úy, từ lúc voi rừng mang về luyện thành voi chiến, Nỗ tôi đã tính kỹ thời gian. Cho dù có nhanh lắm cũng chỉ sớm hơn thời hạn được dăm bữa nửa tháng là cùng. Thái Úy lại khẽ gia roi, đôi mắt trầm tư chăm chú nhìn xuống đất như đang đếm những chấm hoa bồ đề hằng hà sa số cuống quít rắc trắng trên đường ngựa đi…
Sớm tinh mơ Thái Úy đã vào tàu ngựa thăm con Xích Long. Đó là thói quen của người võ tướng này vốn xem chiến mã như người bạn đường thân thiết mà cả cuộc đời mình gối chặt trên yên. Thấy bóng chủ, con ngựa chiến giẫm vó hí lên một tiếng đón mừng. Thái Úy vỗ nhẹ lưng ngựa vuốt qua bờm rồi quay lại lão giám mã dặn dò đôi câu. Viên giám mã lĩnh ý gật đầu, lí nhí trình chuyện đang tìm mua thóc cẩm cho ngựa ăn. Khi Thái Úy bước ra sân thì làn má ông cũng vừa đón được sự chuyển động đầu tiên của ngọn gió nam và theo hơi gió, tai ông nghe vọng về tiếng chiêng trống khua rộn rã. Đến bây giờ Thái Úy mới sực nhớ tới lời hứa đi dự hội với công chúa Thiên Thành.
Hội tre nước năm nay linh đình hơn lần trước bởi lẽ mục đích không chỉ nhằm cầu trời mưa thuận gió hòa mà còn cầu phúc cho vua Càn Đức mới lên ngôi, cho nước Đại Việt thái hòa thịnh vượng. Vì vậy công chúa Thiên Thành tạm trút bộ áo đại tang, vận bộ y phục trang nhã của người thiếu phụ Động Giáp cùng đi dự lễ với phò mã và Thái Úy.
Những ngày hội nô nức tưng bừng qua nhanh trong đầu Thái Úy như một giấc mơ ngắn. Trong trí nhớ chập chờn của Thái Úy chỉ còn đọng lại những hình ảnh hỗn độn mơ hồ, đứt nối. Dòng sông đình đám trôi thật chậm… thật chậm… Đám rước vòng vèo vô tận, hàng cờ xí giăng giăng, mái lá đùng đình rung tít theo nhịp bước chân, những cánh phượng vây rồng, những đuôi kỳ lân xoắn tít tết bằng trăm thứ lá không tên và vô số những hình thù quái dị do sự cấu thành ngẫu hứng của thiên nhiên để lại trên các loại rễ cây khô, lủng lẳng đong đưa quanh kiệu thờ. Tất cả đều chuyển đông, rập rình, quay cuồng, đảo lộn trong nắng tỏa rân rân, một thứ nắng trắng vãi bụi lòa vào mắt, có lúc lại vàng óng như nắng tháng thu.
Dòng sông đình đám cuối cùng đổ vào một thung lũng ở phía nam Động Giáp và kết thúc tại đấy. Nghi lễ cuối cùng và cũng là chủ chốt của ngày hội diễn ra trên một cái hồ con nằm giữa thung lũng, cây rừng vây quanh. Nước hồ trong vắt, mặt hồ im ả tròn như mặt trăng đầy. Quanh bờ hồ, cỏ xanh mườn mượt.
Trên dải đất ven hồ mọi khi hoang vắng, mùi vị đình đám dậy lên cùng nhịp chân người rậm rịch chiêng trống khua vang, sắc cờ phấp phới. Phò mã Thân Cảnh Phúc đang cùng các vị trưởng lão trò chuyện bên hàng đình liệu. Mọi con mắt của người dân động cùng đổ dồn về phía động chúa với cái nhìn sùng kính tin yêu của người con đối với người cha lớn trong gia đình. Ánh chiều tà vàng ửng rời chùm lá ủ dột trên cây ngái rừng cụp ngọn nhích dần lên đốt cháy chóp ngọn thông cao.
Tiếng pháo bỗng nổ vang. Mọi người nghếch cổ. Phò mã cung các vị trưởng lão vội vã chạy ra đón đoàn quí khách. Công chúa Thiên Thành dắt Thái Úy vào ngồi trước một cái bàn đá lớn. Một vị trưởng lão bưng đến để trước mặt Thái Úy một chậu sành đựng nước hồ sóng sánh. Theo cổ tục, trước khi dự lễ, mọi người phải dùng nước hồ rửa mặt, ý chừng để mắt sáng tai thông, dễ dàng giao cảm với từng hơi gió u hiển của đấng thần linh giáng hạ.
- Thái Úy có thấy nước hồ thoảng vị hương sen không? Vừa nói công chúa Thiên Thành vừa đưa ngón tay trỏ đúng vào trong chậu nước.
Thái Úy cũng cảm thấy một mùi hương ngan ngát dân lên từ vốc nước trong tay.
- Tại sao, Thái Úy có biết không? – Công chúa đưa ngón tay trỏ còn ướt đẫm nước hồ lên không, mắt cười tinh nghịch – Tại gió đấy! Rồi công chúa giảng giải: “-Bẩm Thái Úy, theo lời truyền của dân động, hàng năm vào mùa hạ, vợ chồng công chúa Tiên Dong cưỡi ngọn gió lành bay qua các đầm sen ở bên kia đồi rồi dừng lại trên hồ này để nàng chải tóc soi gương. Chả là mặt hồ phẳng lì trong suốt như gương ấy thôi. Ngọn gió xoáy quanh mang hương sen phả vào mặt hồ, vì vậy nước hồ lúc nào cũng quyện mùi hương sen”.
Thái Úy gật gù ngẫm nghĩ về câu chuyện huyền sử vừa đưa mắt tò mò nhìn vô số ống tre trúc đủ loại đặt ngay ngắn trên những chiếc mễ dài thườn thượt, chân mễ bằng gộc tre uốn khum. Các đoạn tre trúc này đều một chiều dài như nhau, nhưng cùng được sắp xếp theo từng loại, và từng cỡ to lớn khác nhau. Có loại thạch trúc màu ngà, loại tử trúc màu đen, những loại tre lồ ô gác bếp lâu ngày đã lên nước sẫm bóng màu cánh gián. Tất cả các ống đều có khoét nhiều lỗ tròn ở trên đầu, xa trông như những ống sáo khổng lồ.
Khi bóng hoàng hôn từ đám mây tối sẫm sà xuống vét nốt những ánh hồi quang mong manh còn sót lại thì hàng đình liệu quanh hồ bỗng phừng phực bật hồng. Vệt khói xám từ lò trầm bốc thẳng lên rồi cuộn tỏa trên mặt bàn hương án. Một đoàn người dân động sắp hàng một tiến ra. Họ chia nhau theo lứa tuổi chọn những ống sáo khổng lồ ấy. Người già chọn cỡ lớn, trung niên chọn cỡ vừa lứa tuổi hoàng nam chọn cỡ bé hơn. Mỗi người cầm một ống trúc lặng lẽ chia nhau đến ngồi xếp bằng quanh bờ hồ mặt hướng vào làn nước ánh lửa hồng đình liệu, ống trúc dựng ngược lên trời chờ đợi. Cả tế trường im phăng phắc như đang lắng chờ một điều gì huyền diệu. Gió sợ sệt thổi khẽ bên rìa cây ven rừng. Nghe rõ tiếng thở hồi hộp của người dự lễ. Trong cái im ắng thiêng liêng ấy, phò mã Thân Cảnh Phúc kính cẩn nâng ché rượu ở trên bàn hương án, bước lại phía hồ, rồi nghiêng tay dốc thẳng miệng ché xuống nước. Tiếng rượu từ ché rót xuống mặt hồ làm cho cái im ắng càng đầy ra và trầm lặng hơn. Khi tiếng giọt rượu cuối cùng vừa dứt, như có một hiệu lệnh nào từ trên cao ban xuống, các ống tre trên tay bô lão vụt đồng một loạt đập xuống mặt hồ và nhịp nhàng hàng loạt tre khúc khác lần lượt vỗ theo.
Những gióng tre đầu tiên đột nhiên cất tiếng hát trên mặt nước và có vô số những gióng trúc đồng thanh nối giọng. Bập bình… bập bình… âm thanh lan vòng chạy quanh mặt hồ, rập ràng nảy sinh cung bậc từ trầm đến bổng, xuống thấp lên cao rồi trở thành thánh thót.
Bập bình… bập bình… mặt nước hồ tròn trặn phẳng lì bỗng rung lên như mặt trống, âm thanh gợn sóng dội đi xa. Và vòng cây rừng vây quanh khép kín dang tay đón lấy, đưa dòng nhạc tre nước bốc lên không trung, âm vang đến tận vòm trời cao nơi các vị thần linh đang ngao du trên những làn mây mỏng bềnh bồng.
Ngay từ đầu, dòng nhạc tre nước đã cuốn hút tâm hồn Thái Úy vào tiếng hát sơ khai của một quá khứ rất xa xôi nhưng rất gần gũi… Dường như trong nắng trưa nồng có con chim nào mắt say lừ đừ đang nâng cần cổ trút ra một tràng tiếng hót trong như tiếng nước thoát ra từ cổ một chiếc bình ngọc. Những giọt âm thanh ấy rơi tõm xuống lòng giếng sâu nơi ấy có tiếng gàu múc va nhau và tiếng nước rơi tung tóe âm vang trong lòng đất. Bỗng chốc tất cả âm thanh đều vụt bay lên như những cánh chim hóa thành tiếng ầm ì trên một vòm trời nặng mây. Liền đó những giọt nước đầu tiên to như hạt ngô rơi xuống gõ trên mái cọ. Rồi ồ ạt những dòng thác trắng sủi sục đổ từ tầng cao và tiếng đất khô vặn mình ừng ực uống dòng nước đục ngọt lừ… Ánh trăng lại sáng hiền lành, gió chạy trong tre trúc, mây bay xào xạc trên tầng không, sóng vỗ ì ọp vào mạn bờ. Đâu đây có tiếng hoa sen mở cánh trong đầm và tiếng nước đồng ỏn ẻn cười trăng…
Uy lực của dòng nhạc bắt tất cả mọi vật chung quanh hòa tan trong khúc tụng ca ấy, cả hàng đình liệu đang lặng lẽ nhả khói, cả con người Thái Úy cho đến giọt máu cuối cùng. Trong tâm hồn Thái Úy, vọng về tinh thần sảng khoái của quê hương, khí phách của dân tộc, một dân tộc mấp mé cái tuổi thành niên đang lần tay mở trang sách ước… Ôi! Đại Việt! Đại Việt thân yêu! Ta là giọt nước trong cái quần thể sông hồ của người. Phải chăng ta đang nghe tiếng bước chân người hăm hở, mang theo sức sống uyển chuyển của những giọt nước, không ngừng tích tụ sinh sôi, âm thầm dấn bước trong lòng đất âm u để vươn mình lên ánh sáng, lần đường ra khơi…
Từ mặt hồ, một âm thanh sáng chói xuyên chếch qua vệt khói xám bốc lên từ lò trầm, bắn thẳng vào mắt Thái Úy để lại một cảm giác lạnh buốt tỉnh người. Mãi đến lúc này ông mới biết rằng có một giọt nước mắt trào ra tự bao giờ còn đọng trên mi.
Qua màng nước mỏng nhập nhòa, Thái Úy trông thấy bừng lên bên cạnh ông, khuôn mặt hơn hớn của công chúa Thiên Thành.

4
Một con ong ngựa to tướng dị thường, khắp mình vằn những khoang vàng đen, bay vòng trên lưng con long câu còn ướt đẫm nước sòng, rồi sà xuống dưới bụng ngựa.
Người giám mã già mẫn cán vội thụp người xuống, quơ túm lá tràm trên tay xua con ong dữ. Qua khoảng trống từ bụng đến cặp chân trước của con long câu, người giám mã bỗng bắt gặp đôi mắt long lanh ti hí trên khuôn mặt choắt cheo như mặt chuột kẹp, đang trên bờ sông nhìn chõ xuống – “À ra bọn vô lại muốn dòm ngó ngựa quí của ta. Có giỏi cứ mó vào dái ngựa rồi sẽ biết thân”. Vừa lầm bầm, lão vừa nuốt những giọt nước đọng dưới bụng ngựa. Từ trên bờ, một câu nói vọng xuống: “Tội nghiệp cho con ngựa quí thế kia mà phải tắm nước sông”.
Vẫn không nhìn lên, lão xẵng giọng: “Không tắm nước sông thì tắm nước gì?”
- “Ngựa này thì phải tắm cho nó nước ngũ vị hương mới xứng” – Tiếng nói theo người xuống bến. Lão giám mã ngẩng đầu lên bỗng đâm ra lúng túng, thái độ nghi ngờ lúc nãy tan dần. Đứng trước mặt lão, không phải là một tên đầu trộm đuôi cướp mà một con người có tư thế đường hoàng, áo quần tề chỉnh nếu không nói là sang trọng.
- “Thưa tôn ông, thiên hạ thường hay mê gái, còn kẻ quê mùa này lại phải cái tật mê ngựa. Hễ trông thấy ngựa tốt là cặp mắt cứ dính chặt vào không gỡ ra được. Xin tôn ông tha cho tội đường đột vừa rồi”.
Lão giám mã định dắt ngựa đi nhưng thấy gã mặt chuột có vẻ biết người biết của, ăn nói lại lễ độ nên lão đứng lại. Gia dĩ lão lại có cái tính hễ gặp ai tán dương con Xích Long là lão có thể đứng nghe hàng giờ không biết chán.
- Nhà bác phải cái tật mê ngựa từ bao giờ thế?
- Dạ, mẹ cháu đẻ rơi cháu trong tàu ngựa. Nên có khi là cháu mê ngựa từ lúc mới lọt lòng. – Gã đưa tay chỉ vào con ngựa Xích Long miệng điểm một nụ cười trơn tuột:
- “Chân cao săn bắp, bụng thon mông đầy, lông ngắn mà mượt, đúng là con ngựa nòi này lai giống Đặc Ma. Đã bôn nhanh mà còn dai sức.
Lão giám mã cười độ lượng:
- Kể ra nhà bác cũng sành xem ngựa đấy. Nhưng cái quí nhất của con thần mã này nằm ở đâu bác biết không? Ở đây này! Lão trỏ vào hai đốm lông trắng mọc ở cặp vó sau.
Gã mặt chuột kêu lên một tiếng kinh ngạc:
- Trời đất ơi! Lại thế nữa! Thời bố cháu còn sống, cháu có nghe bố cháu nói qua một lần. Ai ngờ bây giờ mới được trông thấy. Đúng! Đúng! Toàn thân là một khối lửa đỏ lại thêm hai cụm mây trắng sau chân. Đúng là dòng ngựa Vạn-lí-Vân, vượt núi băng đèo, ngày đi ngàn dặm.
Thấy lão giám mã khoái chí cười tít mắt, gã lựa lời tiếp:
- Quí thì quí thật. Nhưng giá ông có biếu không con ngựa này cho cháu, thì cháu cũng lạy cả tơi lẫn nón mà xin trả lại thôi”.
Lão giám mã hơi biến sắc. – Thế con ngựa này có tật xấu gì mà nhà bác nói như vậy?
- “Dạ cháu đâu có dám nghĩ thế. Tôn ông tính xem, bỏ hẳn cái công chăm sóc hàng ngày ra một bên, cứ nguyên cái khoản chạy thức ăn cho nó cũng đủ sạt nghiệp nhà cháu rồi. Người ta thường nói vật quí là phải trao vào tay người quí. Chứ hạng người như cháu thì quả thực không dám mơ tưởng sờ đến sợi lông chân của nó.
Lão giám mã gật gù tán đồng câu nói thật lòng mà rất chí lý của gã.
- Dạ, không dám giấu gì tôn ông, nhà cháu cũng có nuôi một con ngựa còm để đôi lúc nghễu nghện cho vui. Cháu đã tốn vào đấy bao nhiêu công của mà nó vẫn còm nhom như con cò hương.
- Ấy, cái nghề vỗ ngựa là cứ phải có cỏ sữa non và thóc cẩm.
- Dạ, tôn ông nói chí phải. Nhưng thóc cẩm ở vùng này hiếm lắm. Không đào đâu ra được một hạt. Cháu cứ phải đón bọn khách buôn qua lại trên sông may ra mới có. Hôm nay cháu ra đây cũng vì việc ấy.
Nghe đến chuyện thóc cẩm như chạm vào chỗ ngứa, lão giám mã buột mồm nói: - Này nhà bác có tìm được khơ khớ cái món thóc cẩm ấy thì nhượng lại cho lão một ít nhé.
- Chào, tưởng chuyện gì chứ chuyện vặt ấy, tôn ông chả cần phải nhắc. Giá nhà cháu có sâm, cháu sẵn lòng mang ra cho nó ngoạm vài củ để trông cho sướng mắt”
Trên mặt gã biểu lộ đầy đủ nhiệt tâm của một con người mê ngựa đến quên cả mọi việc trên đời. Bỗng mắt gã sáng lên, gã trỏ tay ra phía bờ sông: -“Kìa! Có thuyền lên”. Nhìn theo tay gã, lão giám mã trông thấy một con thuyền từ dưới hạ lưu men bờ chèo ngược lên. Gã khúm tay trên miệng, gọi to: “-Có hàng gì không, hở các người anh em?”
Một cái đầu thò ra ngoài mui thuyền, chiếc nón khum tùm hụp che lấp cả mặt mũi. – Có chục cây vải Vũ Duyên với ít muối Hải Đông thôi.
- Này các chú lái ơi! Các chú có thùng thóc cẩm nào cho tớ vỗ con nghẻo còm của tớ không? Hay các chú đã vỗ lời hẹn phiên trước với tớ rồi.
Giây lâu mới có tiếng đáp:
- Dạo này, hàng họ khan hiếm lắm, chỉ mang được dăm thúng thôi.
- Được, cứ áp thuyền vào đi. Có bao nhiêu cũng tốt.
Gã hớn hở nói với viên giám mã:
- Con ngựa quí của ta gặp may rồi. Cháu xin nhượng tất.
Lão giám mã vội xua tay từ chối nhưng gã đã tiếp, nét mặt rầu rầu: - Sao tôn ông lại không hiểu cho tấm lòng của cháu…
Lão giám mã chừng như cũng xiêu lòng:
- Nhưng nhà bác cũng cần phải hỏi giá cả phân minh.
Mặt gã trở nên tươi tỉnh: “Ồ, chuyện ấy xin ông cứ yên tâm. Đây toàn là bạn bè quen nhau nhẵn mặt. Mua hộ chứ buồn gì bán gì cái của này. Họ chỉ tính giá gốc thôi chứ chẳng chịu lấy lãi đâu”. Gã xăm xăm đi xuống bến. Thuyền đã cập bờ. Gã nhòm vào trong khoang: “- Thóc đâu? Người anh em cứ quẳng ra cho tớ”. Rồi gã xắn tay áo, nhanh nhẹn vác từng bao lên bờ.
Tình cờ tìm được thóc cẩm mà lại giá hời, lão giám mã mừng rơn trong bụng. Nhưng lão cứ phải có vài lời từ chối lấy lệ rồi mới thuận để cho gã mặt chuột đặt hai bao thóc lên lưng ngựa. Lão thọc tay vào hầu bao, chợt khựng lại, mặt cứ đuỗn ra, giây sau, lão mới ấp úng: “Lão thật vô tâm… Cứ nghĩ đi tắm cho ngựa, lão chẳng đem theo mình một tí tiền nong nào cả”. Gã mặt chuột vồn vã: - Tôn ông chả nên bận tâm chuyện quái ấy làm gì. Của này có đáng là bao. Cháu xin biếu không cho con ngựa quí”.
Mặt lão giám mã bỗng nghiêm hẳn lại: - “Đời lão xưa nay chưa hề ngửa tay lấy không của ai một vật gì”.
Gã mặt chuột vội vàng cười khỏa lấp: - Vâng, vâng! Cháu biết. Thế thì cháu xin theo gót ông về tận nơi vậy”.
Khi hai người quay lưng đi được dăm bước thì từ trong mui thuyền, ba cái đầu ló ra nhòm theo. Một gã đẫy đà có cái mũi đỏ bầm như quả mận chín. Gã thứ hai gầy hơn, mắt lác. Mắt gã nhóng lên bờ mà tưởng chừng như gã liếc vào khoang trong. Gã thứ ba ra sau cùng. Khi gã này đứng lên mới thấy người gã cao nhõng như cây sào, đôi tay vượn dài quá khổ. Gã có một cái đầu quả dưa rất ngộ nghĩnh, hai bên thái dương hóp lại rồi phình ra ở đôi lưỡng quyền cao gồ, trông như cái eo của quả bầu nậm. Từ nơi giữa hai con mắt một mí, buông thõng xuống một sống mũi thẳng và dài thượt. Mọi cái trên con người của gã đều dài ngoẵng. Riêng cái miệng của gã lại hẹp và nhỏ nhắn, môi mọng đỏ như miệng con gái. Gã đứng nhìn theo lão giám mã và tên mặt chuột cho đến khi bóng hai người khuất sau lưng đồi. Trên đôi môi xinh xắn mọng đỏ của gã như phảng phất một nụ cười tủm tỉm. Rồi gã vẫy tay cho thuyền xuôi về mé bờ bên kia. Đến một chỗ có lau sậy mọc um tùm, thuyền dừng lại. Ba gã xách tay nải nhảy lên bờ. Con thuyền vẫn tiếp tục trôi xuôi.
Ba gã len lỏi qua đám lau sậy, vượt qua các đám cỏ gai, hướng bóng cây đa cao trước mặt. Bọn chúng lùi lũi đi, lặng thinh như ba con vật không mồm. Đến trước cây đa, chúng đi chậm lại đảo mắt nhìn quanh. Tựa vào gốc đa, một ngôi miếu cổ nằm khuất trong đám lá cây hoang vu, rậm rạp. Dường như bọn chúng đã qua lại nơi đây một đôi lần. Cỏ ống cao ngất, mọc đầy cả sân miếu, ăn lẫn vào tận bực thềm. Sau cái gật đầu của tên đầu quả dưa, bọn chúng vạch cỏ tiến vào ngôi miếu cổ.
Ngôi miếu nhỏ này đã bỏ hoang lâu ngày. Cửa long tường lở, nhện giăng tứ tung khắp các lỗ thủng trên mái ngói. Tượng thần trên bệ, người ta đã mang đi từ lâu. Còn trơ lại cái màu đìu hiu, vàng vọt của năm, tháng.
Gã mắt lác bẻ một túm lá quét qua lớp bụi dày trên mặt đất, rồi cùng chia chỗ nằm với gã mũi đỏ. Còn gã đầu quả dưa thót lên ngồi trên bệ cao trong hậu tẩm. Mãi đến lúc này, gã mắt lác mới hướng vào hắn, cất mồm hỏi:
- Anh cả này, trước khi ra đi, lão chủ nhân có căn dặn…
Gã chợt nhìn thấy đôi mắt một mí của tên đầu quả dưa quắc lên, gã biết lỡ lời, vội nín bặt. Đi ra ngoài mà nhắc đến lão chủ nhân là một điều cấm kị. Gã vội quay sang gã mũi đỏ, lảng chuyện:
- Anh Hai, em có mang theo cho anh lọ nước “giếng thờ” của mụ chủ quán đấy.
Nhưng từ trong hậu tẩm, tên đầu quả dưa đã buông gọn một câu:
- Thằng Ba đừng lèm bèm nữa. Ngủ đi còn lấy sức.
Trong ngôi miếu cổ lại im vắng hoàn toàn. Nghe rõ tiếng con nhặng xanh đang vùng vẫy kêu cứu từng hồi trong lưới nhện bên vòm cửa… Tiếng quạ chiều quang quác trên ngọn đa đánh thức bọn chúng dậy; gã mũi đỏ ngáp dài vươn vai lấy đá đánh lửa châm bùi nhùi, vấn thuốc hút. Gã mắt lác chốc lát lại đứng lên bước ra, nhón chân nhòm qua bức bình phong xây bằng gạch đã đổ nát sạt hẳn một bên góc. Cuối cung, không chịu nổi, gã ghé vào tai tên mũi đỏ, thầm thì: “Sao đến bây giờ hắn chưa đến?” Gã mũi đỏ vẫn im lặng nhả khói. Hắn liếc vào trong hậu tẩm thấy ông anh cả vẫn bình thản lấy miếng trầu bỏ vào mồm nhai bỏm bẻm. Hắn đành tiu nghỉu ôm gối ngồi nhìn ánh hoàng hôn ủ dột đang nhạt dần trên bức tường loang lổ.
Chợt hắn nghe tiếng động ngoài sân miếu. Vừa ngẩng đầu lên hắn đã trông thấy tên mặt chuột lần vào đến bậc thềm. Hắn nôn nóng hỏi ngay: - Thế nào rồi?
- Ổn cả! Tên mặt chuột hổn hển đáp.
Gã mũi đỏ bước ra: - Đã khử con ngựa chưa?
- Khử xong rồi.
Gã mắt lác nhảy cẫng lên: - Lần này thì tha hồ mà tiêu tiền!
Tên mặt chuột đưa tay ra: -“Có rượu mừng trước cho tớ một hớp”. Gã mắt lác thò tay vào nải lôi ra một nậm rượu. Tên mặt chuột chụp lấy nậm, tu một hơi liền.
Gã mũi đỏ hớn hở bảo: “- Mày khá thật! Làm sao mà công việc trơn tru, trót lọt đến thế. Hãy kể cho bọn tớ nghe với”.
- Mọi sự trót lọt được cũng nhờ vào cái này. Tên mặt chuột vừa nói vừa lấy ngón tay xỉa vào cái mồm kẹp của hắn. Tớ cũng không ngờ lão già chăn ngựa ấy lại thích tâng bốc đến thế. Tớ làm cho lão ta mê tít cù đèn. Đến mức mình bỏ nắm thóc độc vào máng trước mũi lão mà lão chẳng hay biết gì cả. Lúc trộn thóc cho ngựa ăn, lão bóp bóp hạt thóc độc rồi bảo:
- Thóc tốt nhưng cũng có đôi hạt lép. Hắn cười ục ục trong cổ họng. Nhưng được cái tính của lão ta rất sòng phẳng. Chẳng chịu trả thiếu một đồng kẽm nhỏ.
Gã mắt lác nóng ruột hỏi dồn: - Vậy con ngựa ấy đã chết thật rồi chứ?
- Chết đứ đừ rồi còn thật với giả! Ông cả quản đây đã dặn tớ là chính mắt mình thấy con ngựa chết rồi mới được lui. Vì vậy tớ vờ ra về rồi quay lại lẻn vào cái lều chất cỏ ở phía sau chuồng ngựa, nằm phục đấy, phủ cỏ lên mình, lấy ngón tay chọc thủng một lỗ ở trên bức vách để nhòm sang. Tớ thấy tận mắt con vật ấy, miệng sùi bọt mép, rùng mình mấy cái rồi khuỳnh hai chân sau, ỉa tong tong từng hồi như xối nước. Cứ thế nó khụy dần, lăn kềnh ra mặt đất, các thớ thịt giật liên hồi như kẻ động kinh. Còn lão chăn ngựa thì mặt mày xám xanh, nhìn qua con ngựa rồi bỏ chạy đi trình với lão Thái Úy.
Gã mắt lác lại hỏi: - Thế cậu có được xem mặt lão Thái Úy không?
- Đáng lẽ sau khi con ngựa chết là tớ phải chuồn ngay. Nhưng vì tò mò muốn biết mặt lão Thái Úy nên tớ mới nằm nán lại. Lát sau tớ mới thấy lão Thái Úy đi xuống, theo sau là gã tì tướng trẻ với lão chăn ngựa.
- Lão Thái Úy đẹp lắm mà oai nghiêm như thần phải không? – Gã mắt lác lại cắt lời.
- Ối! Thiên hạ đồn đại chứ lão có thần thánh gì đâu. Lão cũng thường như mình thôi. Chỉ có măt mày của lão thì sáng sủa hơn bọn ta nhiều. Có lẽ người ta sợ là vì cặp mắt của lão, cặp mắt trong veo, đồng tử lấp loáng, nhìn ai như soi thấu vào tâm cn. Nhưng lão ăn mặc lại rất xoàng xĩnh, các cậu ạ. Tớ thấy lão bước thẳng lại chỗ con ngựa nằm, vạch mồm, banh mắt, sờ nắn khắp mình ngựa, chẳng kể gì cứt đái ngựa vung vãi đầy mặt đất. Hồi lâu chừng như thấy không phương cứu chữa, lão đứng thừ người rồi khóc…
Gã mắt lác vụt kêu lên: “- Lão Thái Úy mà khóc à? Mày chỉ khéo bịa!” Tên mặt chuột cãi lại: “Thằng nào nói điêu, trời đánh thánh vật nó đi. Lão khóc nhưng chỉ khóc thầm, mặt quay vào tấm phên nên không một ai trông thấy”.
Đến bây giờ gã mũi đỏ mới đánh một câu: - Ối mẹ ơi! Lão này keo kiệt quá, chỉ mất một con ngựa mà xót của đến rơi nước mắt.
Gã mắt lác bồi thêm: Nếu tớ mà làm đến chức Thái Úy thì chết một chứ chết mười con ngựa, tớ cũng không thèm rỏ một giọt nước mắt, cứ lấy tiền công khố bảo quân hầu lùng mua ngựa khác là xong.
- “ Lão không chỉ khóc mà còn nói lảm nhảm với con ngựa như người đọc văn tế. Tớ không nhớ hết nhưng đại khái lão kể lể nào nắng lửa Đồ Bàn quạt sém đuôi, nào Ải Bắc gió rung bờm tuyết, nào đèo gió ải mây, lão xông pha trận mạc cùng với ngựa như hai người bạn thân thiết”.
Gã mũi đỏ bật cười: Rõ lão này tiếc của quá sinh cuồng rồi.
- “ Khóc xong, lão Thái Úy lau nước mắt rồi quay lưng lại, lúc ấy lão ta mới thấy lão già chăn ngựa đang nằm mọp dưới đất, trên lưng đặt một cái hèo to tướng.
Gã mũi đỏ lại reo lên: -“ À, chết một con ngựa mà thầy hóa điên, tớ cũng điên theo. Rồi sao nữa kể đi”.
Tên mặt chuột cao hứng nốc một ngụm rượu rồi kể tiếp:
- Thấy vậy, lão Thái Úy mới hỏi – “Ngươi làm chi vậy?”
Lão chăn ngựa thưa: “—Dạ, con biết tội con quá nặng xin Thái Úy hãy thẳng tay trừng phạt, con mang ơn”.
Lão Thái Úy cau mày bảo: “Ngựa chết là vì bệnh thời khí, hôm qua bên dinh phò mã cũng có một con ngựa chết như vậy. Ta đâu có hỏi tội ngươi”.
Nhưng lão chăn ngựa cứ dập đầu nói: “Dạ, thưa Thái Úy, con đã vào nếm cơm ở nhà Thái Úy từ lúc Thái Úy còn đương chức ở nội đình. Hơn hai mươi năm nay, con chưa có điều gì sơ suất, vậy mà bỗng dưng vô ý không chăm sóc đến nơi đến chốn để con ngựa quí…” Lão nói chưa hết câu đã khóc hu hu. Thái Úy đỡ lão dậy rồi ôn tồn bảo: “Ngựa quí đến đâu cũng là con vật. Ta với lão tuy thân phận khác nhau nhưng cùng là con người. Chả lẽ ta đi quý ngựa hơn người, ta đâu phải kẻ coi người rơm của ngọc”. Nhưng khi lão chăn ngựa vừa ngẩng đầu lên, Thái Úy bỗng nhìn sững vào bộ mặt mếu máo của lão. Giây lâu, Thái Úy hỏi: -“ Ngươi có đau ốm gì không? – Dạ không ạ! Thái Úy tặc lưỡi: “Lạ nhỉ!” Lão chắp tay sau lưng hết nhìn mặt tên giữ ngựa đến xác con ngựa chết. Giây sau, Thái Úy hỏi: - Thế vừa rồi ai trộn thóc cho ngựa ăn? Lão chăn ngựa đáp: - Dạ, chính tay con đây trộn một đấu thóc cẩm!” Vừa nói hắn vừa xòe hai bàn tay ra. Thái Úy chăm chú nhìn rồi hỏi: - Ngươi bị thương ở ngón út này phải không? Hắn bảo: “- Dạ không ạ… à, dạ có ạ - vừa rồi khi lấy cỏ, con sơ ý để gai tre cào tướp máu”. Thái Úy gật đầu rồi nhìn hắn nói: - Này, có phải vừa rồi ngươi nhất mực đòi ta phải trừng phạt ngươi không? – Dạ, nếu được Thái Úy trừng phạt thì con mới yên tâm. Nếu không thì con cứ tự giày vò con mãi đến sinh ốm mất”.
Thái Úy rút ngọn đao cài ở lưng viên tì tướng rồi bỗng nghiêm giọng: “- Vậy đao đây, ngươi hãy chặt đứt ngón út đi.” Lão chăn ngựa vui vẻ: “- Con xin tuân lệnh!”. Hắn hoành đao, chặt phăng ngón tay út.
Gã mắt lác lè lưỡi: “ Lão Thái Úy này ác độc mà thâm hiểm. Ngoài mặt thì lão nói tha mà cuối cùng lão cũng lấy một ngón tay của người ta”.
Tên mặt chuột cười: “Cậu chưa hiểu được đâu”. Rồi hắn nốc thêm một ngụm rượu, say sưa kể tiếp: - Thấy vậy, tên tì tướng kêu thất thanh: Trời ơi! Nhưng lão Thái Úy vẫn lạnh lùng bảo lão chăn ngựa: “- Ngươi vào bảo viên thái y rịt thuốc rồi lo liệu việc chôn cất con long câu cho chu đáo”. Xong xuôi, lão Thái Úy mới quay lại hỏi viên tì tướng: “– Vừa rồi con định nói gì với ta”. Tên tì tướng cứ lúng búng: “- Dạ bẩm… dạ bẩm”. Lão Thái Úy mỉm cười hiền từ: “- Con cứ nói. Ta thích nghe lời nói thật”. Tên tì tướng đánh bạo: “Thưa Thái Úy, lâu nay Thái Úy vốn nhân từ độ lượng…” Lão Thái Úy nối lời ngay: “- mà vì con ngựa chết, chặt ngón tay người giữ ngựa”. Tên tì tướng bối rối: “Dạ, thật quả tình con không hiểu…” Lão Thái Úy ôn tồn: “- Với ta, con cứ nói thật lòng mình, đừng sợ ta phật ý. Còn trong chuyện này nếu không chặt ngón tay ấy đi thì chất độc sẽ gây bối thư ăn vào máu, lúc ấy có chặt cả cánh tay e cũng không còn kịp nữa”. Tên tì tướng trố mắt: “- Trời ơi! Hóa ra Thái Úy đã cứu sống cho viên giám mã và con ngựa của ta đã bị kẻ gian đầu độc”. Lão Thái Úy gật đầu rồi hạ giọng: -“Nhưng ta cấm con không được tiết lộ điều này, cứ bảo con ngựa chết vì bệnh thời khí! Thì ra bây giờ tớ mới nhớ cái lão chăn ngựa ngốc nghếch ấy đã bóp nát những hạt thóc độc và bảo đó là thóc lép nên nọc độc mới thấm vào vết thương”.
Bỗng một tiếng phì nổi lên trong hậu tẩm. Gã đầu quả dưa phun toẹt cả bã trầu lẫn cốt trầu ra đất rồi một giọng nghiêm nghị vọng ra: - “Mày nói lão Thái Úy đã biết rõ âm mưu hạ độc của bọn ta, có phải thế không?”
Tên mặt chuột tái mặt, hơi men bay mất. Đến bây giờ hắn mới thấy hắn đã dại mồm nói ra những lời đáng lẽ không nên nói, có muốn rút lời thì đã chậm mất rồi. Bất giác, hắn hoảng sợ lùi lại mấy bước. Nhưng tên đầu quả dưa đã bước ra theo: “- Mày đã làm hỏng việc lớn của người trên mà còn di họa đến bọn ta nữa, mày đã biết tội chưa”.
Tên mặt chuột ấp úng không thành tiếng: “- Tại vì… tại vì cái lão chăn ngựa”. Rồi hắn vụt quay mình chạy. Nhưng tên đầu quả dưa đã vung tay. Một làn sáng trắng bay thẳng vào lưng hắn rồi phụt tắt. Trên tay tên đầu quả dưa nằm, một lưỡi dao lá trúc có buộc một sợi dây bằng gân thú. Tên mặt chuột rú lên một tiếng, ngã sấp xuống cỏ dại.
Vẫn một nụ cười phảng phất trên đôi môi đỏ thắm cốt trầu, gã đầu quả dưa nhìn hai đứa đàn em, nói nhỏ: “- Thằng này bẻm mép, câu chuyện lọt đến tai chủ nhân thì bọn ta khó sống. Hơn nữa, hắn đã lộ mặt rồi; nếu người của lão Thái Úy bắt được hắn thì hại đến chủ nhân mà bọn ta cũng không yên. Bây giờ cứ về trình là ba anh em ta đã khử con ngựa của lão Thái Úy rất êm thấm mà lão ấy không một mảy may nghi ngờ. Các chú nghe chứ?” Hai tên đàn em gật đầu.
Hắn moi trong tay nải ra một bao bì lớn và một sợi dây ném cho gã mắt lác, ra lệnh: “- Chú ba! Cho hắn vào bao dằn đá cẩn thận, gửi hắn dưới sông cho hà bá giữ hộ. Rồi chú về đây sửa soạn lên đường”. Nụ cười vẫn không tắt trên môi hắn.

5
Giờ Thân đã qua từ lâu mà Thái Úy Lý Thường Kiệt vẫn ngồi yên bất động. Chuyện con ngựa quí bị đầu độc tuy là việc nhỏ nhưng xem ra bên trong còn giấu nhiều ẩn tình. Lão giám mã đã thuật lại mọi sự rất cặn kẽ. Thái Úy đã bí mật phái người đi kiểm soát thuyền bè qua lại trên bờ sông Nam Bình nhưng bóng kẻ gian vẫn mất biệt. Không bắt được thủ phạm thì làm sao truy tìm ra kẻ thù. Mà kẻ thù này là ai? Chúng giết một con ngựa chiến để làm gì? Mũi tên thù này từ phía nào bắn tới?
Những câu hỏi buông lỏng không tiếng vang đáp lại, cứ cuộn khúc, uốn hình lưỡi câu treo lơ lửng bên đầu Thái Úy.
Viên thái y bước vào đứng thu hình bên cửa lớn. Nhìn đôi mắt mất ngủ đỏ quạch và vẻ thất vọng chảy dài trên bộ mặt thểu não của thầy lang trẻ, Thái Úy ái ngại buông một câu lấy lệ:
- Sao rồi, thầy vẫn chưa tra ra xuất xứ chất độc chứ?
- Dạ, thưa… cái vốn y thuật non kém của hạ chức quả không sao đoán định nổi – Viên thái y cố lấy giọng quả quyết trình tiếp – may ra, người này thì có thể xác minh được.
- Ai thế?
-Dạ cụ Vũ tổng quản nhà ta ạ.
Viên thái y nhận thấy ngay sự hiệu nghiệm của câu mình vừa nói. Nét mặt Thái Úy như giãn ra trước luồng gió mát.
- Nhà thầy có con mắt khá tinh đời. Nhưng tiếc rằng hiện nay lão Vũ nhà ta không có mặt ở đây.
Khi lui ra, viên thái y tưởng như con nghe bên tai một tiếng cười khẽ của Thái Úy. Quả là Thái Úy lúc này đang nghĩ về lão tổng quản và tâm trí ông thẫn thờ trìu mến quay về những mẩu chuyện xa xưa… Giọt nắng chiều hạ sáng chói xuyên chếch qua vai ông, bò dần lên bức tranh thủy mặc “Liễu mã” treo trên vách ván. Khi Thái Úy bất chợt để mắt đến giọt nắng đã kéo dài thành hình thuẫn chĩa cái góc nhọn vào ức hình con ngựa đang vươn cổ hí bên gốc liễu, Thái Úy bỗng thấy trong lòng đau nhói. Kẻ thù quả sâu hiểm. Hẳn chúng biết rõ Thái Úy nặng lòng với con vật như thế nào. Giết con ngựa, chúng đã đâm một nhát vào tình cảm của Thái Úy. Một ý nghĩ lóe lên. Như vậy, kẻ chủ mưu giết con Xích Long đâu phải là người xa lạ. Biết đâu lại chẳng quẩn quanh trong đám triều thần. Bất giác, trước mắt ông hiện lên bộ râu dài thẳng đuột trắng như cước rung rung vì cơn giận không nén được của quan tể chấp Lý Đạo Thành trong cuộc cãi vã tay đôi với ông bên ngoài điện Thiên Khánh – cuộc tranh luận gay gắt giữa hai vị tể thần xảy ra vào lúc trước giờ di thể tiên đế khâm liệm nhập quan, xoay quanh việc sẽ chọn ai lên cầm quyền chấp chính. Thái Úy muốn cử Thái Phi Ỷ Lan, còn Đạo Thành khăng khăng đòi tôn Thái Hậu Thượng Dương. Cuối cùng Đạo Thành gạt phắt lời Thái Úy, chặn đứng cuộc tranh cãi bằng một câu hỏi thẳng thừng: “- Vậy lão phu xin hỏi Thái Úy, trong buổi lễ cúng tiên vương, ai làm chủ tế? Ai quỳ chiếu nhất, ai quỳ chiếu nhì?” Thấy Thái Úy tắc lời, Đạo Thành bồi thêm:
-“ Dòng nước không thể chảy ngược, mưa không rơi từ dưới đất lên trời, xưa nay tạo hóa đã an bài, sao Thái Úy lại muốn đảo ngược tôn ti ngôi thứ?” Lúc ấy ông đã muốn thét to lên: “Tôn Thượng Dương lên ngôi chấp chính, là tiếp tay cho một kẻ đố kỵ bất tài cắp quyền, loạn chính”. Nhưng ông đã ghìm được lòng mình. Ông im lặng lơ đãng nhìn ra con đường thẳng qua cầu Phượng hoàng đang ngập ánh nắng ôn hòa của buổi đầu xuân. Không phải ông e dè trước cái thần thế của vị cố mệnh đại thần này đang vững chãi như gốc cây cổ thụ sum suê trùm bóng trước sân rồng. Ông chỉ muốn tránh một cuộc cãi vã vô ích vì ông biết rõ tính cứng nhắc nổi tiếng của quan Thái Sư và không có một sức mạnh nào có thể kéo ông ta ra khỏi con đường quen thuộc. Nhưng quan Thái Sư Lý Đạo Thành lại là một con người chính trực, công minh. Chính Thái Úy cũng biết rõ điều này hơn ai hết. Con người ấy không bao giờ có thể hạ mình làm một việc hèn hạ. Dù chỉ thoáng qua một chút nghi ngờ, Thái Úy cũng thấy thèn thẹn trong lòng. Gạt phắt mọi ý nghĩ không vui, Thái Úy đứng lên, bước ra hiên ngoài. Cảnh rực nắng hè trên sông Nam Bình đập ngay vào mắt ông sững sờ. Vệt sáng hừng kéo dài phía chân trời tây, đánh một lượt phấn hồng rạng rỡ lên gương mặt dòng sông lặng lẽ, làm lấp lóa đôi cánh cò trắng phân vân đang tìm hướng bay. Ánh hồng quang ngùn ngụt tỏa sáng ra cả một vùng. Nó đậu lại kết thành những chùm hoa lửa hồng rực trên tầng lá rặng đào mọc ven sông tưởng chừng như mùa xuân chưa chịu đi còn nấn ná đợi chờ khách lạ.
Chẳng hiểu người thời ấy còn gọi con sông này là sông Đào Hoa có phải vì hoa đào nở hay vì vệt ráng hồng thường thấy ở đây trong những buổi chiều tà. Một cảm giác đê mê thanh thoát xâm chiếm dần cơ thể làm Thái Úy nghẹn thở. Đã một lần ông bắt gặp cảm giác này cũng vào một buổi chiều khi ông ngắm cảnh núi An Hoạch ở Châu Ái. Đứng dưới thôn Duệ nhìn lên, hòn núi đá quí ấy ánh sắc ngọc lam, quyện lại trong tia nắng nhạt, nghi ngút tỏa một màu xanh khói hương mờ ảo. Và mỗi lần đứng trước cảnh đẹp thiên nhiên, lòng ông lại thấy dâng lên một niềm tiếc rẻ bâng khuâng. Ừ nhỉ, giá ta mang được cảnh đẹp này về cho bàn dân thiên hạ cùng chiêm ngưỡng. Có lẽ ông thông hiểu được hơn ai hết những sợi dây sinh hóa bí ẩn giữa cảnh đẹp thiên nhiên với vẻ đẹp tâm hồn con người.
Mải nhìn cảnh đẹp, Thái Úy không nghe thấy tiếng vó ngựa dồn dập đến gần rồi tiếp theo tiếng chân người hấp tấp bước lên bậc thang gỗ. Khi ông quay lại thì đã thấy Hạnh Hoa đứng lừng lững giữa nhà.
Thấy mặt con gái nuôi, ông hấp tấp đi lại định làm một vài cử chỉ quen thuộc nhưng ông bỗng dừng bước. Không phải vị bộ nam trang phủ bụi đường xa khoác trên người cô gái làm ông chững lại. Mọi cung nữ kể cả những người cận kề của Thái Phi Ỷ Lan đều bắt buộc phải vận nam trang. Ý muốn oái ăm này lâu ngày đã trở thành thông lệ. Ông ngạc nhiên vì lần đầu tiên ông phát giác trong đứa con gái yêu của ông một cái gì khác lạ. Đứa con ấy, ông nuôi từ lúc nó mới lên năm. Số phận dun dủi ông gặp nó trong một trường hợp kỳ lạ.
Cách đây non một giáp, ngày ông đi kinh phỏng Ái Châu, dẹp giặc Lữ Long, trên đường về ông nôn nao muốn ghé qua Tượng Châu, thăm lại ngôi nhà quán xá nơi cha ông mất. Lúc ông đặt chân vào quán xá thì đằng sau ông, ánh tím hoàng hôn còn đốt sáng những chồi non tua tủa trên gốc bàng khẳng khiu mọc ở trước sân. Ông đứng nhìn năm gian nhà hoang vắng thống thênh, cột kèo xiêu vẹo. Chính trong căn nhà này, bố ông bị bạo bệnh đã qua đời trong một chuyến đi kinh lý vùng Thượng. Lúc ấy ông mới 12 tuổi. Hình dung cảnh bố chết không một ai thân thích bên mình, ông không nén được một tiếng thở dài. Bầu không khí im ắng hắt hiu của vùng sơn địa như loãng ra rồi đọng lại trong người ông. Đột nhiên ông có cảm giác mường tượng như có cặp mắt nào đang vụng trộm theo dõi ông trong bóng tối. Và ngay đúng lúc ông quay lưng bước ra thì đột nhiên có tiếng sột soạt ở một góc nhà. Ông vội quát to “kẻ nào đấy?”. Đáp lại tiếng ông là một hình thù nhỏ bé chui ra từ gậm giường lững thững đến trước mặt ông. Nhìn kỹ mới thấy đó là một đứa bé trên mình chỉ độc phong phanh một chiếc áo cộc, mặt mũi nhọ nhem, mạng nhện đầy đầu đầy cổ.
Màu rừng núi phảng phất ánh lam của buổi chạng vạng chiếu hắt vào làm da mặt đứa bé xanh lướt, đôi mắt mở to ráo hoảnh không một chút hoảng sợ, sáng lên một cách kỳ dị. Ông ôn tồn hỏi: “Cháu tên gì?”. Im lặng.
- Bố cháu ở đâu mà để cháu thế này?
- Bố chết rồi.
- Thế còn mẹ?
- Mẹ chết rồi.
Đôi mắt ráo hoảnh lại trân trân nhìn ông. Bỗng trong một lúc tiếng dế, châu chấu nhạc sành chung quanh nhà cùng tấu lên một điệu kèn rền rĩ.
- Cháu không còn ai hết à?
Đứa bé lắc đầu. Sau này ông mới biết cả người nhà em bé đều bị giặc Lữ Long giết sạch.
- Thế nhà cháu ở đâu, bác đưa cháu về. Đứa bé đưa tay chỉ vào cái giường ở góc nhà. Ông bỗng thấy lạnh cả người. Trên chiếc giường ấy, năm xưa bố ông đã trải qua những giây phút cuối cùng. Một niềm xót xa thông linh đến chẹn ngang cổ họng ông.
Ông dịu giọng bảo: “Không còn ai nữa thì cháu về ở với bác nhé”. Đứa bé vẫn đứng nguyên, đôi mắt mở to, lặng lẽ nhìn ông. Hình như ông còn kịp thấy một giọt nước mắt ứa ra lấp loáng trong ánh hoàng hôn sắp tắt.
Đến bây giờ ông cũng không hiểu có sức mạnh nào đẩy bước chân ông nhích lại gần phía con bé và cũng không nhớ rõ từ lúc nào con bé dang hai tay quàng lấy cổ ông. Ông ẵm chặt con bé vào người và cứ thế lững thững bước ra khỏi quán xá đi thẳng một mạch về dinh. Lúc ấy, từ mặt đất bóng tối dâng lên mù mịt và những cánh dơi từ những cột tre mục ngung nguẩy kéo ra bay vun vút qua trước mắt ông.
Không biết có phải vì cây hạnh ở đầu hè vừa mới trổ bông mà Thái Úy đặt ngay cho đứa con nuôi của mình cái tên Hạnh Hoa. Một sự xui khiến vô hình nào đã gắn chặt tình cảm giữa hai bố con ngay từ những phút đầu. Suốt ngày, con bé quấn quít bên bố và tỏ ra nhất mực thương yêu; hiếu thảo. Đáp lại tình thương ấy, ông đã tự tay chăm sóc nuôi dưỡng con bé nên người. Sự có mặt của Hạnh Hoa xua tan dần bầu không khí tẻ lạnh và đơn độc dưới mái nhà của Thái Úy. Mỗi lần tan chầu về, ông vụng về đặt tay lên chỏm đầu xinh xắn xoa xoa vài cái, một cử chỉ biểu lộ tình thương gần như độc nhất của ông đối với con gái yêu. Và bao nhiêu bực dọc ngang trái nơi chốn triều quan theo cái xoa tay ấy bỗng như bay biến. Hạnh Hoa đã đem đến cho ông một nguồn an ủi vô giá.
Cuộc sống hoạn quan danh thần khô khốc của ông sừng sững một mỏm núi đá trơ trụi, bỗng như có thêm bóng mát và tiếng chim. Cuộc đời đầy nhiệt huyết của người tướng soái xả thân vì nghiệp lớn lâu nay như dòng sông chảy xiết bỗng có thêm phù sa lắng đọng láng ướt đôi bờ.
Có lẽ chính vì vậy mà Thái Úy quí Hạnh Hoa như châu ngọc. Nếu như đối với bản thân, ông khắt khe bao nhiêu thì đối với Hạnh Hoa, ông lại cưng chiều bấy nhiêu. Đi đâu ông cũng mang bé Hạnh theo kể cả lúc vào triều nội. Hạnh Hoa muốn gì được nấy. Ông vời một vị tăng quan ở chùa Thiên Vương đến lo việc dạy chữ cho con. Nhưng Hạnh Hoa còn muốn theo đòi nghề võ. Thấy nét mặt Thái Úy hơi nghiêm lại, Hạnh Hoa nhảy sà vào lòng bố nũng nịu: “- Thế cha chẳng nói thời này là thời chuộng võ đấy sao?” Thái Úy nhớ lại tuổi thơ côi cút khi ở với bà cô ruột của mình cũng có lần đã đòi cô cho theo nghiệp võ để đi xa vạn dặm, lập công với nước nhà, làm rạng danh cha mẹ. Nghĩ đến đây, ông nhìn con gái cười xòa. Thế là có thêm võ sư đến nhà dạy Hạnh Hoa luyện nghề cung kiếm.
Hạnh Hoa khôn lớn như cái cây gặp mưa thuận gió hòa, vươn thẳng mọi cành lá chưa hề biết qua mùi giông bão. Cuộc sống hồn nhiên không gò bó ấy đã sớm làm nảy nở tư chất thông minh hiếm có của cô bé. Đồng thời tính cương nghị, thẳng thắn có đôi chút ngang bướng cũng sớm hình thành rõ nét. Nhưng có điều lạ là cái nết phóng khoáng ngang tàng này ít thấy ở các tiểu thư con quan, lại được Thái Phi Ỷ Lan ưa thích và tán thưởng. Chả vậy mà cách đây hơn một năm, Thái Phi đã ngỏ lời với Thái Úy cho phép Hạnh Hoa thỉnh thoảng được vào cung cùng bà bầu bạn.
Mặc dù con gái đã khôn lớn, trong con mắt tình cảm của Thái Úy, Hạnh Hoa bao giờ cũng vẫn là bé Hạnh của ông. Thấy mặt con, ông định bước lại mắng yêu con vài lời, sao thân gái lại xông pha sương nắng, không biết giữ gìn sức khỏe, chỉ làm theo ý thích ngông cuồng của mình… để bày tỏ sự chăm sóc quan tâm thường lệ của ông. Nhưng nhìn lại, trước mặt ông là một thiếu nữ rắn rỏi, đôi mắt sáng kiên nghị, tư thế dũng mãnh chẳng giống chút gì với một bé Hạnh dại dột luôn luôn cần để mắt tới. Điều đó làm ông bối rối mất đi phong thái đàng hoàng uy nghiêm thường có ở ông. Bất giác, ông nhìn vào những ngón tay đang xòe ra của mình.
- Hạnh con, con lên đây làm gì mà không báo cho cha biết trước?
- Dạ, thưa cha, con lên đây trước là thăm sức khỏe của cha…
Biết chuyện vấn an chỉ là một cái cớ, ông cười phá lên:
- Con có biết trong triều mọi người đều ngạc nhiên về sức khỏe của cha không. Suốt mấy chục năm nay, cha chưa hề đau ốm.
Hạnh Hoa nhìn cha nửa ân cần nửa trách móc.
- Thì cha chẳng vừa ốm khỏi đấy sao – Giọng cô trở nên tha thiết. Cha ơi! Cha tuổi già mà lên chốn núi non nắng gió này lòng con trẻ làm sao yên được.
Dáng chừng để che giấu sự xúc động của mình, ông khoác tay vui vẻ:
- Ừ, thì là con lên đây trước, để thăm cha, còn sau nữa là gì nào, con nói tiếp đi.
Hạnh Hoa dừng lại một chút rồi nghiêm trang đáp:
- Sau là Thái Phi nhờ con chuyển lời thăm hỏi cha và mời cha về kinh sư gấp.
- Không được, không được đâu. Con hãy về bẩm lại với Thái Phi rằng ta đang quân vụ bận thân, làm sao bỏ dở chừng mà về ngay được.
Hạnh Hoa vặn vẹo hai bàn tay đến khốn khổ.
- Trời, cha! Cha đừng nói thế. Giá cha biết được Thái Phi đang mong ngóng cha từng khắc từng giờ thì chắc cha không nỡ lời từ chối thỉnh cầu của Người. Cha ơi! Hoàng hậu Thượng Dương vừa ra dụ cấm Thái Phi dự bàn việc triều chính. Thái Phi đang lo buồn vật vã, một ngày ba lần chạy đến cung Long Đức để gặp Thượng Hoàng Thái Hậu.
Bà Kim Thiên họ Mai, mẹ đẻ của vua Lý Thánh Tông hiện là Thượng Hoàng Thái Hậu, người duy nhất trong cung mà Hoàng Hậu Thượng Dương còn e dè kiêng nể.
“- Cha ơi! Cha mà không về thì con gái của cha còn biết ăn nói làm sao với Thái Phi?”
Thái Úy thừa biết rằng Thái Phi không phái ai đi mà chọn Hạnh Hoa lên mời ông về triều là đánh vào điểm yếu tình cảm của ông. Ông nhìn kỹ Hạnh Hoa như để đánh giá lại mức trưởng thành của con gái, rồi nghiêm giọng bảo:
- Con đã lớn rồi đấy Hạnh Hoa ạ. Lớn rồi thì phải biết nghĩ đến việc lớn. Con ngẫm lại xem, mỗi lần ở nước ta khi có vua lớn băng hà mà vua con còn nhỏ dại là kẻ láng giềng phương bắc bắt đầu nhòm ngó. Chuyện vua Đinh ở triều trước đây là chuyện nhãn tiền…
Ông muốn nói nhiều cho Hạnh Hoa biết rằng vua Tống Thần Tông mới lên ngôi cách đây bốn năm là ông vua trẻ có nhiều tham vọng, rằng vị tể tướng Vương An Thạch có tài kinh bang tế thế, rằng trước đây vì ngại uy vũ của Tiên Đế nên họ chưa dám gây sự can qua. Ông muốn giảng giải cho Hạnh Hoa thấy rõ hiểm họa xâm lăng sắp đến. Nhưng ông nín bặt. Hình như bỗng dưng ông nghe có tiếng cười nghẹn bật ra trong cổ họng con gái.
- Sao lúc nào con cũng có thể cười được thế?
Hạnh Hoa kêu to lên: “Không! Không phải đâu, cha ơi! Con đâu dám cười cha. Chỉ vì con nghĩ đến câu nói của Thái Phi trước lúc con đi mà không nín được cười”.
- Thái Phi nói gì?
- Dạ, Thái Phi bảo, cha em cứ mải lo việc lửa xa mà quên lửa bếp nhà đang bốc cháy.
Lửa bếp nhà! Không phải ông không biết chuyện lục đục từ lâu giữa hai bà Hoàng. Nhưng thân ông làm tướng soái phải biết nhìn ra bốn cõi. Ông phải trù liệu được việc nhỏ việc lớn, việc trước việc sau chứ không thể hồ đồ được. Hơn nữa, trước khi ra đi, ông đã dặn dò cặn kẽ quan Đô Tri Lưu Khánh Đàm, người thân tín của ông hiện đang coi sóc mọi việc ở nội đình.
- Bếp nhà cháy thì đã có quan Đô Tri dập tắt lửa!
- Dạ, thưa cha, chính chú Đàm cũng nhờ con thưa lại với cha rằng cha nên về ngay thì mới kịp.
- Có thật thế không? – Ông buột miệng hỏi nhưng vừa hỏi xong ông thấy ngay là thừa vì ông biết tính con gái ông không bao giờ nói dối cha. Ông nhìn vầng trán thanh khiết rịn mồ hôi của con gái:
- Thôi, việc đó ta sẽ tính sau, trước mắt là con hãy vào hậu dinh tắm táp thay quần áo rồi nghỉ ngơi cho lại sức.
- Không! Cha phải hứa với con cơ! – Vừa nói, Hạnh Hoa vừa quì thụp xuống sàn nhà – Chừng nào cha chưa hứa với con một lời thì con vẫn còn quí ở đây cho tới sáng.
Đã từng quen với nết ương bướng của con, Thái Úy đành vội vàng bước lại kéo Hạnh Hoa đứng lên.
-Thôi được, cha hứa, cha sẽ về ngay mà.
Hạnh Hoa vừa lui vào nhà sau thì đã thấy bóng viên thái y thập thò ở cửa trước.
- Gì đấy? Thái Úy quay mình lại hỏi.
- Dạ, bẩm Thái Úy, đã truy ra nguồn gốc chất độc ở máng ngựa ăn rồi ạ.
- Thầy khá lắm.
Được tiếng khen, thầy lang trẻ thấy thẹn đỏ mặt, hối hả thanh minh:
- Dạ, không ạ! Dạ, không phải cháu ạ mà chính là cụ tổng quản ạ.
- Vũ Nhi về rồi à? Về từ lúc nào?
- Dạ, cụ Vũ về cũng đã khá lâu. Trước lúc cùng với lão giám mã ra bờ sông, cụ Vũ dặn cháu lên báo ngay kết quả cho Thái Úy rõ. Dạ, theo cụ Vũ thì chất độc này rút ra từ bã đậu khấu trộn lẫn với một loại nấm đỏ cực độc thường xuất hiện ở nước Thổ Phồn.
- Ở Thổ Phồn ư? Thái Úy như tự hỏi mình.
- Dạ, ở cả miền Bắc nước Đại Lý nữa ạ.
Chi tiết sau của viên thái y không làm suy suyển chút nào sự xét đoán của Thái Úy. Như vậy chỉ có người Tống mới có loại độc dược này và mũi tên thù này bắn tới từ phương Bắc. Nhưng chẳng lẽ kẻ kia lại báo động trước cho ta biết mà phòng bị ư? Dù sao thì Thái Úy cũng thấy việc ông tiếp tục chuyến thị sát này là cần thiết. Ông còn phải đi đến Vạn Xuân, duyệt lại đội thủy binh và bố trí kiểm soát nghiêm ngặt con đường nước từ Đông Kênh đến sông Bạch Đằng.
Lửa xa à! - Thái Úy lẩm nhẩm – không xa đâu, nó đang đến sát đấy, nó đã đốt chết con ngựa chiến yêu quí của ta rồi.
Trong một thoáng giây, Thái Úy bỗng thấy tự trách mình về sự mềm lòng trước lời thỉnh cầu của con gái cưng.

6
Hạnh Hoa đánh một giấc sâu đậm đến mức chẳng hay biết gì cơn mưa rào thảng thốt trong đêm. Lúc nàng thức dậy, mặt trời đã lên cao. Hương mát ban mai tản dần trước tia nắng sớm. Tiếng chim chóc chỉ còn thưa thớt trong vườn. Một con chim phướn đang lặng lẽ tìm sâu nái ở hàng rào vông, thấy người vội chao mình sà thấp biến đi mất dạng, cái đuôi dài lê thê sặc sỡ còn quệt nhẹ trên chòm lá rung rinh.
Hạnh Hoa mải nhìn theo con chim lạ, không để ý tiếng chân người rón rén bước qua ngưỡng cửa. Khi nàng ngoảnh lại thì lão Vũ đã có mặt ở đấy tự bao giờ. Lão đứng thu hình, im lìm bất động. Cái khay đầy ắp những quả đào to mơn mởn như dán chặt trên tay lão. Có lẽ vì tính khí lão lầm lì hay vì lão không muốn làm kinh động cô chủ trẻ. Nhưng nhìn lão, Hạnh Hoa chợt có cảm giác như từ ngày lão đặt chân vào cửa Thái Úy đến nay chẳng có một chút thay đổi mảy may nào trên con người lão. Vẫn lối ăn bận lúc nào cũng hết sức chỉnh tề, vẫn ống tay áo lụa La Vân dài thẩm che kín cả mu bàn tay, vẫn cái khăn chàm bịt lấp trán thắt múi bỏ giọt đằng sau gáy. Và vẫn cặp mắt mờ đục ngó xuống khiêm cung thủ phận.
Lão Vũ vào ở nhà Thái Úy cũng đã khá lâu nhưng chẳng một ai biết rõ lai lịch gốc gác của lão. Ngoài Thái Úy ra, đối với mọi người, lão có một thái độ hững hờ lạnh nhạt. Thỉnh thoảng lão mới bắt chuyện với ông lang trẻ và viên tì tướng của Thái Úy. Có điều lạ là khi gặp, ai nấy đều chắp tay chào cung kính. Mọi người đều gọi lão là ông quản hay trọng vọng hơn “cụ tổng quản”. Hình như họ đều mơ hồ cảm thấy trên con người lạ lùng này có dấu ấn tin cậy vào bậc nhất của quan Thái Úy.
Riêng đối với Hạnh Hoa, lão Vũ rất mực ân cần chiều chuộng. Tuy giữ phần việc quản gia, lão Vũ luôn luôn đi vắng nhà.
Mỗi bận đi xa, như người mẹ đi chợ về, lão thường mua quà cho con gái – mà toàn là những món quà quí giá hiếm thấy ở đất nhà và rất hợp với ý thích của cô bé. Khi thì cái lược ngà, khi chiếc gương Tư Mã, có khi một con bướm xà cừ xanh biếc đính trên cành thoa bạc. Lão lại là người ít lời, hay nói đúng hơn lão dè xẻn từng lời và hay lấy cử chỉ việc làm thay cho lời nói.
Vì vậy Hạnh Hoa đối với lão Vũ rất mực tin yêu. Có chuyện gì Hạnh Hoa cũng đem kể với lão. Cả những chuyện ngóc ngách thầm kín của trái tim yêu mà bất kỳ một cô thiếu nữ nào cũng cảm thấy không thể thổ lộ với kẻ khác được dù đó là người thân nhất của mình. Hạnh Hoa thích tâm sự với lão không chỉ vì nhu cầu cần san sẻ những tình cảm mới lạ hay vì sự cảm thông từ trước của lão mà vì lão còn là người kín đáo. Câu chuyện rót vào tai lão như rót vào cái thùng kín mít không đáy, không tiếng hồi âm. Lão chịu khó chăm chú ngồi nghe Hạnh Hoa kể lể hàng giờ thỉnh thoảng mới gật đầu hay phác họa một cử chỉ đồng tình. Mối thân tình giữa Hạnh Hoa với lão Vũ mỗi ngày thêm gắn chặt. Nhưng bao giờ lão cũng giữ một khoảng cách giữa hai người. Dường như lão muốn đứng xa xa mà trông chừng chăm sóc cho cô bé. Hạnh Hoa, cho đó là một sự giữ ý đương nhiên của kẻ bề dưới.
Vừa trông thấy lão Vũ, Hạnh Hoa đã reo lên:
- Ôi, Lão Vũ! Lão đến đây từ lúc nào? Sao lần này lão đi lâu thế? Ở quê nhà có bình thường không? Lại quà nữa à?
Lão Vũ không vội đáp lại những câu hỏi tíu tít của cô chủ. Lão lặng lờ đi lại sẽ sàng đặt khay táo lên bàn, thong thả nhấc cái khăn vắt trên vai xuống, phủi những hạt bụi tưởng tượng nào ở rìa bàn và nơi góc ghế.
- Ôi dào! Hạnh Hoa kêu khẽ lên rồi im bặt.
Niềm xúc động và lòng cảm khích làm nàng không thốt nên lời. Quả chỉ có lão ở trên đời này mới hiểu rõ được những sở thích của nàng và hết lòng chiều chuộng. Nàng ưa thích đào không chỉ vì hương vị của thứ trái cây này mà còn vì nó gợi lên và như quện vào trong tâm tưởng nàng cảm giác ngạt ngào hương hoa khi lần đầu nàng gặp lại công tử Lý Ngân. Câu chuyện riêng tư này, nàng đã đem kể cặn kẽ cho lão Vũ nghe ngay trước lúc tin cẩn nhờ lão mang tin đi tin về làm con thoi dệt mộng cho lứa đôi.
Theo lời Hạnh Hoa thì nàng quen biết người ta không phải một ngày một buổi.
Thời ấy cách đây đã lâu, ngày nàng còn là một cô bé đầu còn để chỏm tóc hoa roi tết chỉ gấm. Tay cầm cành lá trúc đào, con bé vừa đi vừa nhảy chân sáo theo Thái Phi Ỷ Lan xuống phường dệt Thái Hòa. Nghe nói phường dệt này do chính tay Thượng Hoàng Thái Hậu cùng một số cung nga khéo tay đã tạo dựng lên từ thời Thái Tông mới lên ngôi. Đây là xưởng dệt lớn nhất chuyên dệt gấm vóc cho triều đình. Có lẽ khi thấy sản vật của mình làm ra không thua sút gì mấy so với hàng nước ngoài, Thái Tông mới xuống chỉ cấm mua gấm vóc của nhà Tống. Mọi lễ phục từ vua đến quan đều dùng hàng nội hóa. Những thứ hàng cũ của nước ngoài còn tồn kho đều đem phân phát sạch cho các cung nga và các vị đại thần. Đây là hành động đầu tiên biểu thị ý chí tự túc tự cường của các vua triều Lý trên con đường dựng nước. Sự việc này xảy ra vào năm căn phù hữu đạo thứ hai đời vua Lý Thái Tông.
Đến nay xưởng dệt đã có cơ ngơi bề thế. Hàng chục công nhân già nắm xảo thuật dệt trong tay chuyên tâm truyền nghề cho lớp thợ trẻ. Tiếng thoi tiếng suốt róc rách ngày đêm.
Cũng cần nói thêm ở đây rằng Thái Phi Ỷ Lan vốn xuất thân từ một cô gái hái dâu ở làng Thổ Lỗi. Trong một chuyến đi cầu tự lễ Phật ở chùa Siêu, vua Lý Thánh Tông tình cờ gặp nàng. Thấy nàng đối đáp nhanh nhảu lại thêm nhan sắc hơn người, vua Lý đưa nàng về cung. Năm sau nàng được phong làm Nguyên phi đứng đầu các phi tần.
Nghề tằm tang vốn là nghề của Ỷ Lan. Vì vậy chẳng một ai lấy làm lạ khi thấy Thượng Hoàng Thái Hậu hợp tính hợp nết với nàng. Mọi việc trong ngoài ở xưởng dệt bà đều trao lại cho nàng quán xuyến. Có lẽ vì vậy mà tình cảm của bà mẹ chồng này nghiêng về cô dâu thứ bình dị cần mẫn hơn là cô dâu cả kiêu kỳ cảnh vẻ. Điều đó, sau này Hoàng Hậu Thượng Dương vẫn còn ghim mãi trong lòng.
Đại loại những việc như vậy, Hạnh Hoa không hề biết đến. Giờ đây con bé đang tung tăng khắp các gian trại dệt thênh thang đón ngọn gió mai từ hồ Dâm Đàm thổi vào mát rượi. Đến cạnh một khung cửi, nó dừng lại xem một bà cung phi già đang cho con suốt vào thoi. Thốt nhiên con bé có cảm giác như chân vừa giẫm lên một vật gì nhùn nhũn làm nó suýt bật lên tiếng kêu. Ngay lúc ấy, một bàn tay nhỏ nhắn nhanh như gió thò ra đẩy bắn cặp chân làm con bé suýt ngã lộn về phía sau. Rồi từ dưới khung cửi, một thằng bé lồm cồm bò ra sừng sộ: - Mù à! Sao giẫm vào cánh tay người ta!
Sau phút hoàn hồn, con bé mới kịp nhìn lại thì ra đó là một đứa bé hơi nhỉnh hơn mình một chút. Thấy Hạnh Hoa, nó hơi dịu giọng: “- Con gái! Con gái thì tha cho. Lần sau giữ hồn!”
Nhưng bé Hạnh đã chẩu môi lên đáp:
- “Mày nằm lê la dưới đất, làm sao tao nhìn thấy. Thế mà mày còn gây sự, mày đáng ăn đòn”.
Câu nói chưa dứt thì tay con bé đã phất cành trúc đào vào mông chú bé. Thằng bé tức giận đỏ mặt tía tai lao lại như một trái cầu. Bé Hạnh bình tĩnh xoay người lật bàn chân trái chặn ngang, chân mặt cất cao đạp xéo gót vào bụng thằng bé. Nhưng nó đã nhanh nhẹn nhảy lên rồi chợt gập người lại vươn thẳng tay ra.
Vừa lúc ấy, bà cung nhân già đã lên tiếng buộc thằng bé phải dừng tay.
- Có giỏi thì đi theo tao. Thằng bé vừa bước ra vừa hất hàm thách thức.
Bé Hạnh đâu có sợ, lặng lẽ theo sau. Đến một mô đất trống sau nhà, chúng lăn xả vào nhau như những con dế chọi say rượu. Thằng bé bỗng chụp được túm hoa roi trên đầu con bé ghì xuống: - Chừa chưa? Chừa chưa? Con bé gục đầu. Mớ tóc sổ tung vừa mềm vừa ấm ngan ngát mùi thơm của rễ hương bài. Thằng bé đứng ngẩn ra một giây và còn kịp thấy một cặp mắt uất ức tròn xoe, long lanh ngấn nước. không hiểu sao, hắn vội quay lưng chạy thẳng một mạch không hề ngó lại.
Trận đánh nhau chỉ còn để lại trên đất những cánh hoa mua bị xéo nát tím bầm. Sau đó, bé Hạnh đi kiếm thằng bé để trả thù nhưng thằng bé tìm mọi cách tránh mặt. Lởn vởn trong đầu thằng bé một câu hỏi: “Sao bỗng dưng con bé lại khóc nhỉ?”
Nhưng rồi sau này bé Hạnh cũng biết thằng bé chẳng phải con cái nhà ai xa lạ. Hắn tên là Lý Ngân, con trai độc nhất của tướng quân Lý Quán. Cha hắn ở dưới trướng của Thái Úy, và là em thúc bá Thái Sư Lý Đạo Thành. Mẹ hắn lại là em gái của Hoàng Hậu Thượng Dương.
Từ thời thơ ấu, thằng bé đã sơm say mê nghề cung nỏ. Mỗi buổi sáng hắn đến nằm hàng giờ dưới khung cửi của bà cung nhân già dõi mắt theo đường thoi qua lại trên khung tơ. Ý chừng hắn muốn luyện mắt cho tinh tường để có thể bắn trúng chim trời đang sải cánh.
Ừ, biết thế cứ hay thế. Rồi mọi việc cứ trôi đi. Trôi đi những năm tháng, những tuần trăng, những ngày con nước, những giờ khắc báo canh theo giọt nước đồng hồ trên lầu Chính Dương.
Rồi có một ngày một buổi, một giờ nào đấy, linh cảm báo cho các cô gái biết sẽ xảy ra một điều trọng đại đáng mơ ước nhất trong đời mình. Ngày ấy, đến với Hạnh Hoa vào lúc nàng ở cung Kiến Hoa ra về chợt ghé lại khu đất trồng đào cạnh vườn Thượng Uyển. Trời nắng to, bóng cây rợp, đào đang mùa mọng trái.
Cơn khát trong cổ họng cuống cuồng. Hạnh Hoa đứng dưới gốc cây nhìn lên cành đào sai quả, ước mơ bốc lên thành tiếng: “- Đào ơi, lúc này giá ngươi rụng xuống cho ta vài quả, chắc ta sẽ giữ hương vị ngươi suốt đời”.
Bỗng có tiếng tên xé gió. Một quả đào rơi bịch xuống chỗ đất cao, lăn vài vòng rồi đến nằm im ngay trước chân nàng như xin ra mắt với cô gái đẹp. Hạnh Hoa chưa hết sững sờ thì đằng sau nàng đã bước đến một chàng trai võ sinh vai đeo cung, miệng cười tủm tỉm. Nàng nhìn lại thì hóa ra Lý Ngân. Đúng là thằng bé đã cùng nàng đánh nhau chí chết trên gò hoa mua hôm nào. Giờ đây đứng trước mặt nàng là một trang công tử, phong thái đĩnh đạc, sắc diện tươi tắn. Nhìn làn tên tiện đứt cuống đào, Hạnh Hoa biết lời đồn quả không ngoa. Tài bắn tên của chàng lâu nay đã nổi tiếng khắp nội đình.
Giọng Lý Ngân cất lên nửa như cung kính nửa như đùa cợt:
- Thưa cô nương, tiểu sinh thực lòng muốn mời cô nương nếm thử quả chín đầu mùa nhưng hiềm nỗi nơi đây không có mâm khay chi cả, xin cô nương miễn thứ cho.
Hạnh Hoa đâm ra bối rối, e thẹn. Cảm giác lạ ấy hiếm họa đến với một người con gái ngang tàng như Hạnh Hoa. Lý Ngân nhặt quả đào lau sạch đưa ra định mời cô gái. Nhưng tay chàng khựng lại. Chàng vừa kịp nhận ra khuôn mặt cô bé năm xưa. Con bé để chỏm tóc hoa roi ngày ấy đã biến thành một nàng con gái xinh đẹp rực rỡ. Toàn bộ vẻ đẹp của nàng toát ra ở nét thanh tân trong trắng.
Sau đấy, vườn đào uyển cũng trở thành nơi hò hẹn của đôi trai gái. Hễ nàng muốn ăn quả đào nào thì cứ chỉ tay lên cành đào là mũi tên chàng lại ghim đúng vào quả ấy rơi xuống đất. Cứ thế, nàng cầm cánh tên đưa đào vào môi.
Nàng đã trao gửi cho chàng chẳng biết bao nhiêu lời, bao nhiêu chuyện nhưng lúc ra về, nàng đều quên sạch. Chỉ còn nhớ mỗi hương vị đào thơm ngào ngạt trong người…
Bây giờ nhìn khay đào đặt trên bàn, Hạnh Hoa thích đứng ngắm hơn là muốn ăn ngay. Từ những quả đào to múp quá cỡ đỏ hồng tươi rói, tỏa ra chung quanh một vị mát tưởng chừng như nó có sức chặn đứng cái oi nồng đang bắt đầu len lỏi qua khung cửa nhỏ.
Lâu lắm lão Vũ mới lên tiếng: - Không phải vườn nhà đâu. Đào xứ Đại Lý đấy. Cô Hạnh ăn đi.
Thấy lời mời của mình không đắt, lão rút ra một vật dài nhọn, khẽ búng tay. Theo tay lão, một chiếc lông dím nửa trắng nửa đen bay ra cắm phập vào quả đào to nhất.
- Làm thế này chắc đào sẽ ngon hơn. Nói xong lão lui bước về một góc nhà đứng khoanh tay, mí mắt sụp xuống như người ngái ngủ.
Hạnh Hoa xúc động không nói nên lời. Lần đầu gặp Lý Ngân trong xưởng dệt, nàng thấy bà cung nhân già rút trên mái tóc xuống cũng một loại lông dím này để tách đôi những sợi tơ dính nhau trên khung cửi. Ký ức như chồng lên ký ức. Lão Vũ đã khéo đón ý cô chủ trong từng tiểu tiết tinh vi nhất.
Hạnh Hoa cầm phần đầu chiếc lông dím màu trắng trong, đưa quả đào vào miệng. Nàng nhai ngấu nghiến và cảm thấy hương vị kỷ niệm xưa mát rượi đang ngấm vào từng kẽ chân răng. Hết quả này đến quả khác, nàng đang ăn ngon lành không biết được bao lâu. Bỗng nàng dừng nhai, mắt mở to kinh ngạc, miếng đào còn nguyên trong miệng. Nàng vừa bắt gặp một cặp mắt trẻ trung đang âu yếm nhìn nàng. Một cặp mắt sáng trong ngời ngợi yêu thương. Ánh mắt ấy lẩn tránh rất nhanh rồi vụt tắt. Tuy chỉ trong thoáng giây nhưng cũng đủ cho nàng nhận thấy vì lúc ấy lão Vũ đứng quay mặt ra phía cửa.
Ngay sau đấy có lệnh Thái Úy gọi lão Vũ lên nhà. Hạnh Hoa mơ màng nhìn theo dáng đi lom khom của lão Vũ, lòng rộn lên trăm ý nghĩ nghi hoặc.
Khi lão Vũ vừa lên hết bậc thang thì viên tì tướng đã đứng chờ ở đấy. Đợi cho lão Vũ về nhà, viên tì tướng liền quài tay ra sau đóng sập cửa lại. Lão Vũ gặp Thái Úy trong buồng riêng. Hình như Thái Úy đợi chờ đã lâu. Vừa thấy lão Vũ, nét mặt Thái Úy bỗng vui hẳn lên.
- Vũ nhi! – Không hiểu sao Thái Úy thường gọi lão Vũ như vậy. Con đi lâu như vậy chắc có nhiều chuyện lạ.
- Thưa Thái Úy… Lão Vũ đưa tay vào bọc định rút tờ trình ra.
- Khoan, hãy gượm đã. Ta đang nóng lòng đợi nghe con nói. Thế nào, bênh tình của quan châu mục họ Hoàng đã đỡ chưa.
- Dạ, quan châu Hoàng Kim Mãn vì ăn phải giống cá lạ nên bị phù gan. Con có bốc cho mấy chén thuốc, hiện nay sức khỏe đã bình phục…
Khi lão Vũ kể đến đoạn châu mục Hoàng Kim Mãn phục phịch lê tấm thân béo tron ân cần đưa tiễn vị lương y đến tận cổng ngoài rồi xòe bàn tay múp míp ra cho ân nhân nhổ nước miếng vào đấy để mình khỏi quên ơn cứu tử, Thái Úy cất lên một tràng cười sảng khoái.
Nhưng vốn biết Môn Châu chưa phải là đất quan tâm của Thái Úy, lão Vũ vội vàng kể tiếp:
- Lúc con đến châu Quảng Nguyên thì tướng quân Lưu Kỷ đã kéo quân vào đất Qui Hóa của họ Nùng từ tháng trước.
- Hay lắm! - Thái Úy vỗ tay xuống bàn tỏ vẻ hài lòng – Lưu Kỷ làm đúng ý ta.
Ông đẩy chén nước lão mai ngát hương mật núi đến trước mặt lão Vũ: - Con uống đi cho ngọt giọng.
Lão Vũ hiểu rằng họ Nùng xưa nay vẫn là mối lo âu của triều Lý. Nếu họ Hoàng ở phía tây cương giới thuộc Hữu Giang thì họ Nùng chiếm phía đông Tả Giang. Tả Giang và Hữu Giang là hai nguồn sông Tây Giang của Lưỡng Quảng.
Đất Nùng tuy bên trên rừng núi âm u, ruộng đồng hiếm hoi nhưng bên dưới chứa cả một kho tài nguyên phong phú. Thiên nhiên đã giấu vào đấy những mỏ kim khí quí giá của mình. Chính nhờ vào các lò vàng trời sinh này mà Nùng Tôn Phúc, chúa động Tượng Cần đã mộ binh mua ngựa lập riêng một cõi giang sơn, nghênh ngang một thời ở vung Na Lữ. Lý Thái Tông phải năm lần bảy lượt cất quân đi hỏi tội. Dẹp yên Nùng Tôn Phúc thì đến lượt con là Nùng Trí Cao làm phản. Tuy vua Lý hết lòng phủ dụ, ban đất đai phong hàm Thái Bảo nhưng Nùng Trí Cao vẫn là cái gai chưa phải đã hoàn toàn hết nhọn đối với hai nhà Tống – Lý. Sau đấy ít lâu lại tiếp đến vụ Nùng Tôn Đán đem cả vợ con qui hàng nhà Tống mang theo một vùng đất Việt khá lớn nhập vào đất Tống. Bấy giờ, vua Tống lại sắp gia hàm cho Đán lên chức phó sứ.
Việc Lưu Kỷ kéo quân vào đất Nùng không chỉ nhằm thu hồi đất đai, cảnh cáo bọn đào vong. Thâm ý của Thái Úy là cốt ném một hòn đá thăm đường dò xét thái độ vua Tống. Uống cạn chén nước lão mai, lão Vũ ngẩng đầu thong thả nói:
- Thưa Thái Úy, quân Lưu Kỷ kéo vào đất Nùng đã lâu mà vua Tống vẫn làm ngơ không thấy họ dụng chi cả.
- Lạ nhỉ! - Thái Úy gõ gõ ngón tay vào mép bàn như lắng nghe một câu đáp vọng về - Thế còn bọn thuyết khách của Tiêu Chú?
- Dạ, không có ạ.
- Con đã tra sát kỹ chưa?
- Dạ các luồng tin đều nói đúng như thế ạ - Chẳng riêng ở Quảng Nguyên, ở Môn Châu, Tô Mậu và các vùng khê động khác đều không có bóng một tên thuyết khách nào của Tiêu Chú.
Thái Úy xô ghế đứng lên, chắp tay sau lưng đi đi lại lại. Tấm ván sàn dưới chân ông kêu cọt kẹt trong gian buồng vắng lặng.
- Tiêu Chú chịu nằm im ư? Thái Úy khe khẽ tự hỏi mình.
- Dạ, thuyết khách thì không có nhưng thám tử của họ thì nhan nhản khắp nơi. Mọi sự tình trong nước ta, họ đều rõ tất tần tật.
Thái Úy dừng lại nhìn lão Vũ: - Thế mà con cho Tiêu Chú chịu khoanh tay ngồi yên ở Quế Châu à?
- Dạ, chính vì hiểu rõ nội tình nước ta nên Tiêu Chú ngồi im chờ đợi.
Thái Úy bước lại trước mặt lão Vũ trầm giọng: - Vũ nhi! Hiện nay con là vị lang y thân tín của các châu mục và chúa động vùng cương giới. Họ tin con, con đi lại với họ thân tình như người nhà. Họ là phiên trấn, là phên giậu của ta. Giậu đổ thì bìm bìm mới leo được. Ta nay ở xa thì con là con mắt của ta treo trước cửa biên giới. Phải mở to mắt mà nhìn cho khắp. Không bỏ qua một động dụng nhỏ nào của phương Bắc. Rồi còn phải suy gẫm cho thật kỹ. Con biết đấy, vua Tống đã tăng thêm quân Lưỡng Quảng, cho Tiêu Chú về lại Quế Châu. Chẳng lẽ để Tiêu Chú ngồi chơi mát ở Quế Châu ư?
Lão Vũ vẫn điềm đạm trả lời: - Dạ, con cũng đã nghĩ kỹ trước khi trình qua Thái Úy. Duyên do là vì cái bệnh hồ đồ của vua tôi nhà Tống ạ.
- Hồ đồ à? Hồ đồ là thế nào?
- Dạ, đầu đuôi là thế này ạ. Lúc Tiên Đế cùng Thái Úy đi đánh Đồ Bàn, vua Chiêm chạy thoát vào Nam. Tiên Đế sợ ở nhà một mình, Nguyên Phi không đảm đương nổi việc nước mới quay về…
- Nhưng đến châu Cư Liên nghe tin Nguyên Phi trị nước yên dân, vua liền trở lại Đồ Bàn. Việc ấy ta đã biết.
- Nhưng viên quan coi Quế Châu lúc ấy là Phan Bội lại không biết. Nghe tin đồn thất thiệt, ông ta vội tâu với vua Tống là nước ta đánh Chiêm bị thua trận, binh tướng hao hụt. Số quân không còn nổi một vạn. Có thể tính ngày đánh lấy được Giao Chỉ. Có vậy Tiêu Chú mới từ chối không chịu đi Hà Đông đánh quân Hạ mà lại hí hửng xin trở lại vùng Nam Lĩnh chắc mẩm phen này ngoạm được miếng công danh. Nào ngờ đến khi nhìn kỹ lại cảnh tình nước Đại Việt mới bổ chửng ra. Ông ta biết mình bị hố.
Thái Úy phì cười: - À ra thế. Tiêu Chú bị hố!
- Dạ, còn một tin của Từ Tiến Sĩ nữa.
- Con có gặp Từ Bá Tường à?
- Dạ, người của con đến châu Bạch gặp Từ Tiến Sĩ. Tiên sinh cho biết vừa đây có kẻ gửi thư cho Tiêu Chú xúi giục Tống đánh ta. Đại ý trong thư nói các môn hạ nhà Lý đang tranh giành quyền hành, còn vua bé chỉ biết ngồi khoanh tay rủ áo. Nhưng Tiêu Chú đã đốt bức thư ấy rồi.
- Đốt thư! Tiêu Chú đốt thư! Hay lắm.
Lão Vũ rút trong tay áo ra bức thư của Từ Bá Tường đưa cho Thái Úy.
- À! Người viết thư cho Tiêu Chú tên là Vệ Uông. Vệ Uông là ai nhỉ? Con có biết lai lịch người này không?
- Dạ, lần đầu con mới nghe cái tên ấy.
Thái Úy gấp tờ thư lại. Mọi việc đã rõ ràng. Chỉ còn một điểm nghi hoặc. Thái Úy vụt hỏi:
- Vậy con nghĩ thế nào về cái chết của con Xích Long?
- Dạ con ngựa chiến quả bị thuốc độc của Tống giết chết. Nhưng kẻ chủ mưu không phải là Tiêu Chú. Hoặc giả có bàn tay nào muốn gieo hiềm khích chăng? Hay là… Dạ, thưa Thái Úy, điều gì con chưa rõ, con không dám nói nhiều.
Thái Úy cúi xuống vỗ nhẹ vai lão Vũ: - Con rất hợp tính ta.
Rồi ông đứng thẳng người, vươn vai khoan khoái. Niềm vui lộ rõ trên mặt. Có phải ông vui vì ông hài lòng về việc làm của lão Vũ hay vì việc quân không gấp, ông có thể ung dung về triều cùng Thái Phi bàn việc sắp xếp lại triều chính. Hay còn vì một lý do phụ mà ông giấu kín không nói cho ai hay là ông khỏi lo thất hứa với đứa con gái yêu.
Trước khi lão Vũ lui ra, ông còn dặn: Vũ nhi, ngày mai ta ghé qua Thiên Đức, con dẫn bé Hạnh về và giữ nó ở nhà đừng để nó vào cung. Ta sẽ về ngay đấy.

7
Xa dần âm vang của sáu nhành sông xuôi đổ về Vạn Xuân, xa dần màu dâu xanh mượt mà trải mênh mông dọc bờ sông Thiên Đức.
Khi vó ngựa sóng đôi rẽ vào dặm đường hòe, không ai bảo ai, Hạnh Hoa cùng lão Vũ cho ngựa lơi nước kiệu. Chặng đường này là chặng đường cuối mà cũng là chặng đường đẹp nhất trên thông lộ đi từ Thiên Đức đến cửa ngõ kinh thành. Hạnh Hoa đi sau bất chợt gọi giật giọng: - Lão Vũ! Lão Vũ! Lão Vũ quay lại mở mắt to ngạc nhiên. Hạnh Hoa đăm đăm nhìn sâu vào mặt lão. Vẫn đôi mắt mờ đục trên khuôn mặt bất động phẳng lì như sáp. Hạnh Hoa hoài công cố tìm lại cái thoáng mắt ngời ngời mà nàng bắt gặp trong buổi sáng hôm qua. Nàng đâm ra hoài nghi với chính mình, hết tin vào con mắt mình. Hay vì bóng nắng chói chang của trời hạ? Hay vì lúc ấy tâm thần mình mải gởi vào bóng dáng người thương nên gợi ra ảo ảnh?
- Lão Vũ – nàng cố nặn ra câu hỏi bâng quơ, mắt nhìn vào những cây hòe rợp bóng ở hai bên đường – Trong đời lão… ta không biết lão đã gặp một người con gái nào chưa, một người con gái mà mình…
Lão Vũ cười khục khặc như cố ghìm tiếng cười vào họng:
- Ôi, con gái! Con gái đối với lão như trái đỏ trên nhành cao, lão có tài thiện xạ đâu mà bắn trúng.
Câu nói khá thú vị khiến Hạnh Hoa bật cười: - Ta như lão, ta cứ lấy đá mà chọi.
- Lão không muốn làm sây sát quả đẹp. Vả lại…
Nhịp vó ngựa của lão như lơi dần rồi gióng một theo từng lời lão nói.
- Cô đã có lòng hỏi đến, lão cũng chẳng dám giấu cô. Đã lâu lắm rồi, không biết đã chồng chất bao nhiêu năm tháng. Lúc đó lão còn trẻ. Có một cô gái láng giềng, nhà ở cạnh nhau và cùng đi chung một cổng. Ngày ngày ra vào nhìn nhau. Không, đúng hơn là mình nhìn chứ người ta thỉnh thoảng mới ngoái lại.
- Cô ấy đẹp không?
- Nói đẹp thì nó vô cùng. Nhưng, lúc ấy lão nghĩ giá lão là chim chóc trên trời mà nhìn thấy làn da trên má cô ấy thì cũng phải tưởng nhầm là trái chín ắt phải sà xuống.
- Thế rồi hai người thương nhau?
- Không, về cái khoảng đường này là số lão bao giờ cũng đi sau người khác. Cho đến cái hôm sau một chuyến đi xa về, lão mới hay nhà bên đã có đám ăn hỏi. Lạ một điều là lúc ấy lòng lão vẫn dửng dưng. Rồi đám cưới, rồi rước dâu, bóng người con gái ra đi mất biệt. Chiều đến, lão nhìn ra con đường vắng bỗng dưng lần đầu lão thấy mớ hoa lồng đèn đỏ chói mọc ở trước cổng mới trơ trẽn làm sao. Còn hoa xoan thì cứ tối sầm lại như màu khói hương. Lúc ấy, chính lúc ấy lão mới biết mình đã thấm tình với người ta như người nhuốm bệnh lâu ngày mà không hề hay biết.
- Thế sau rồi lão có gặp lại cô gái ấy không?
- Có chứ.
- Chắc lão phải hối tiếc buồn rầu lắm nhỉ?
- Lão lại không buồn mới lạ chứ. Lão thấy cặp lứa đôi ấy sống với nhau rất tâm đầu ý hợp, đầm ấm yên vui. Lão nghĩ nếu người ta về với mình chắc gì được sống sung sướng như vậy.
- Không buồn chắc lão vui đấy nhỉ?
- Đúng là lão vui. Song cái vui ấy nó khác thói thường, không bồng bột mà thanh thao, lắng đọng tuy cũng có vương một chút buồn. Chà! Giá mà cô biết được niềm vui ấy, niềm vui khi thấy người mình thương được sống thung thăng như con cá lội…
- Ta thì ta không thể nào vui được. Ta sẽ buồn đến chết thôi. Mà này, cô ấy có hay biết gì về việc lão thương cô ấy không?
- Lão cũng không biết nữa – Lão Vũ đáp sau một lúc trầm ngâm – Lão chỉ biết lão đã gặp được người mình thương. Điều đó đối với lão đã là một sự hữu hạnh lắm rồi không dễ dàng gì mà có được.
- Ôi! Chả trách mà đời lão cứ phải sống côi cút âm thầm như cái bóng – giọng Hạnh Hoa đượm vẻ thương cảm.
-Riêng lão nghĩ như thế mà lại hay. Được thỏa thuê chưa chắc đã vui sướng. Cũng như gặp rượu ngon mà uống cho bằng thích, cho bí tỉ thì còn giữ làm sao được cái dư vị nồng hương phảng phất mãi không thôi.
Hạnh Hoa bỗng cười thành tiếng: - Thôi, thôi, lão có chống chế cho mấy đi nữa thì sự việc nó cũng sờ sờ ra đó. Chẳng qua là về đường nhân duyên, lão chẳng gặp may.
Lão Vũ lặng im lơ đãng nhìn chấm mây ở tít cuối chân trời tây như hòn đảo nhỏ trơ trọi, lâu lắm lão mới lầm bầm như để cho mình nghe: “- Biết đâu trong rủi có may, trong họa có phúc. Con đường họa phúc trên đời ai mà lường trước được”. Rồi lão nín bặt câm thít dường như lão đang tự hỏi sao hôm nay bỗng dưng lão lại lắm lời đến thế.
Hạnh Hoa đang đi bỗng nhiên ghìm cương đột ngột. Mắt nàng vừa thấy tim nàng đập rộn. Xa xa ở khúc quanh của dặm đường hòe, một kiệu son đặt ở vệ đường. Thấp thoáng bóng những tên phu kiệu cấm binh xúm xít ngôi nghỉ chân quanh kiệu. Và điều làm nàng hồi hộp nhất là bóng ai như bóng chàng đang tế ngựa như bay về phía nàng. Hạnh Hoa chưa hết sững sơ thì bờm con ngựa bạch của công tử Lý Ngân đã đến sát bên gần như cọ mõm vào ngựa nàng. Coi như từ dạo màu cánh đào đỏ rực rụng xuống lót đường cho tháng giêng qua đến sắc vàng mịn màng mỏng như cánh bướm đang phất phưởng trên đường hòe, hai người chưa có một lần gặp mặt. Bây giờ trông thấy, bốn mắt nhìn như dính vào nhau không sao rời ra được. Đến lúc nghe tiếng chào của lão Vũ, Lý Ngân mới sực tỉnh, mặt đỏ bừng vì ngượng, luống cuống đáp lễ:
- Lão Vũ đấy ư? Lão có được khỏe không?
- Tạ ơn công tử, lão cũng như con ngựa còm của lão, gia roi còn chạy được.
Lý Ngân nhảy xuống, buộc ngựa vào gốc hòe cạnh lão Vũ.
- Sao lâu nay ta không thấy lão đến ta?
- Dạ, lão bận về quê có chút việc nhà.
- Chết nỗi, ta với tiểu thư bao lần định rủ nhau đi thăm quê lão, ấy thế mà rồi năm tháng cứ lần lữa đến bây giờ ta cũng không rõ nhà lão ở phương trời nào.
- Đa tạ công tử và tiểu thư có lòng chiếu cố - Lão Vũ vừa thì thầm, vừa kín đáo đưa mắt cho Lý Ngân ngầm bảo chàng hãy mau đi lại với cô chủ nhà lão, cô chủ đang sốt ruột đấy. Lý Ngân quay lại thì quả thấy Hạnh Hoa đang đứng đợi chàng bên gốc hòe.
Cặp gái trai quay lưng, cùng sánh vai bước xuống đầm sen. Cả hai bỗng cảm thấy như cùng được bao che trong cái nhìn ấm áp của lão Vũ đang đứng trên đường nhìn theo, một cái nhìn vừa trìu mến bao dung vừa hân hoan thỏa nguyện.
Ôi! Xa nhau họ chất chứa trong lòng bao nhiêu điều muốn nói. Thế mà họ cứ lúng túng như gà vướng tóc. Có lẽ họ đã tích tụ cơ man nào là chuyện, nó bề bộn quá chưa biết bắt đầu bằng chuyện nào đây. Mà cũng có thể sự xúc động trong phút gặp gỡ đột ngột vừa qua đã làm họ quên sạch. Họ quên cả sen trong đầm đang mùa nở rộ mà cũng vì họ mà khoe sắc tỏa hương. Họ lặng im đi bên nhau, chẳng ai nói với ai một lời. Mãi đến khi họ dừng chân lại bên gốc sung mọc trước miếu thổ thần, Lý Ngân mới lên tiếng trước:
-Suốt mấy ngày nay ta đi tìm nàng ở vườn đào Uyển Cung mà không thấy.
Hạnh Hoa xoay xoay cái roi ngựa trong tay: - Tìm thật đấy à?
Biết tính người yêu hễ mỗi lần gặp nhau là bắt đầu bằng một câu trách móc, Lý Ngân cố lấy giọng dịu ngọt: - Sao Hoa muội lại nói thế? Tiểu huynh nếu không vì cái tang cha đè nặng trên đầu… Lý Ngân nói đúng. Có lẽ họ đã vừa duyên đẹp phận từ lâu rồi nếu không vì cái chết của cha chàng. Tướng quân Lý Quán, bố của Lý Ngân bị tử trận cách đây ba năm ở Đồ Bàn khi chặn giặc rút lui trong cuộc chinh phạt Chiêm Thành của vua Lý Thánh Tông năm Kỷ Dậu.
-Thế bây giờ đã mãn tang thì chàng sẽ lo liệu thế nào hay còn muốn trùng trình vì sợ bề trên.
-Ôi! Sao nàng lại đi trách ta?
Hạnh Hoa vụt đập mạnh cái roi ngựa xuống mặt đầm sen, làn nước bắn tung tóe. Một hạt nước nhỏ rơi vào lá sen trăn trở hồi lâu rồi đọng long lanh như giọt nước mắt.
-Chả trách ai cả - giọng Hạnh Hoa rầu rầu – Chỉ biết trách mình thôi – Trách mình sinh ra không đẹp nết để được lòng bên ông bác bà dì của chàng.
Hạnh Hoa muốn nói đến Thái Sư Lý Đạo Thành và Hoàng Hậu Thượng Dương. Đối với cuộc nhân duyên của hai trẻ, thái độ của Thái Sư không rõ ràng, không tỏ ra ưng thuận hay không ưng thuận. Riêng tiếng đồn về cái nết ngang bướng của Hạnh Hoa cũng đủ làm ông khó chịu. Còn Hoàng Hậu Thượng Dương thì tỏ vẻ không ưa nàng ra mặt. Không phải vì nàng là con gái của Thái Úy mà chính vì nàng là người thân cận của Thái Phi Ỷ Lan. Bên nhà trai đã vậy còn phía nhà gái thì lại quá vồ vập. Bởi lẽ Thái Úy nuông chiều Hạnh Hoa. Tính ông lại hay mến chuộng những tài năng trẻ. Con mắt xanh của vị nguyên nhung đã thấy trước trong Lý Ngân một dũng tướng tài ba sau này sẽ phù tá ông bên trướng. Vì vậy Thái Úy đã sớm đặt Lý Ngân vào vòng thân thuộc của gia đình. Lý Ngân biết rõ điều đó nên Hạnh Hoa có phụng phịu đối với chàng một tí cũng không sao. Chàng ôn tồn bảo:
-Hạnh Hoa, nàng đã nhầm rồi. Di mẫu ta bây giờ đã khác trước. Hôm kia bà còn ân cần hỏi ta về nàng rồi trách ta sao không dẫn nàng đến gặp bà.
-Ai dám gặp bà? Cứ nghĩ đến tính xét nét hoạnh họe của bà, người ta cũng đủ chết khiếp.
-Nàng nói thế không khỏi có phần thiên vị đấy. Khắp nội đình còn ai không biết tính tình dịu hiền của dì mẫu. Cả đời bà có biết quát ai một tiếng to đâu. Bà thương yêu ta còn hơn con đẻ. Bà còn mong sao cho cuộc nhân duyên của chúng mình mau chóng được êm đẹp.
Hạnh Hoa biết Lý Ngân nói có phần nào đúng. Hoàng Hậu Thượng Dương là người đàn bà đã một thời nức tiếng cung đình về nhan sắc cũng như về đức hạnh đoan trang thùy mị. Ở bà, từ những đường nét cực kỳ thanh tú đến sắc đẹp quý phái siêu thoát đều toát ra bên ngoài một vẻ dịu hiền gần như bẩm sinh. Một nỗi u buồn thầm kín không duyên cớ luôn luôn phảng phất trên khuôn mặt bà. Sắc đẹp và vẻ người ấy đã khiến những ai lần đầu đứng trước bà đều cảm thấy mỗi cử chỉ dù là trang nhã nhất của mình cũng trở nên vụng về thô lỗ. Nhưng giữa đàn bà hình như họ dễ dàng trực cảm được những gì gai ngạnh bí ẩn của nhau. Mặc dù ít tiếp xúc với bà, Hạnh Hoa cũng cảm thấy bên trong vẻ hiền hậu lộ liễu ấy có giấu kín một cái gì độc ác tiết ra từ thói vị kỷ quá quắt gần như mù quáng của bà. Nhưng làm sao nàng nói cho Lý Ngân hiểu được. Làm sao chàng thấy được chất độc ẩn giấu trong một lá trúc đào.
-Chàng nói thế hẳn biết thế. – Nàng uể oải đáp – chứ đã biết lấy gì làm tin được
Lý Ngân vụt đưa tay chỉ về phía đường cái nơi màu đỏ tươi của cỗ kiệu son lấp lóa qua hàng hòe thẳng đuột: - Đấy! Nàng làm nãy giờ ta quên khuấy chưa kịp báo cho nàng biết một tin mừng. Dì mẫu trân trọng bảo ta đem kiệu đi rước ai, nàng có biết không? Rước Thái Úy đấy – Bà có nhiều việc cần hỏi ý kiến Thái Úy – Nàng xem, bà trọng vọng Thái Úy như thế nào. Bà bảo rằng lâu nay bà không để tâm đến việc triều chính nay ngồi ở ngôi nhiếp chính vương, bà mới biết quí một bậc túc thần như Thái Úy… rằng mọi tị hiềm cần cởi mở chứ không nên kết buộc. Chàng còn nói nhiều, nhiều nữa. Nhưng Hạnh Hoa đã hết nghe. Nàng mải chăm chú nhìn vào gương mặt chàng như nhìn vào một mảng trời xanh trong suốt mà chỉ một thoáng gợn mây cũng không qua được mắt nàng. Nhưng rồi vẻ hăm hở chân tình lẫn một chút cả tin của chàng dần dà làm nàng nguôi ngoai mọi nỗi niềm và trong lòng nàng bỗng le lói một niềm hy vọng mới. Cuối cùng nàng bảo: - Chẳng qua đó là những chuyện ở bên ngoài. Cái chính là ở chúng mình, ở tình chàng có giữ được chung thủy hay không
- Trời ơi! Nàng còn nghi ngờ cả lòng ta nữa ư?
Chàng bước nhanh ra giữa sân, nhìn vào cái điểm tranh tối tranh sáng ở sâu trong ngôi miếu, cất cao giọng:
- Giữa thanh thiên bạch nhật, trước thần linh chứng giám ta xin thề…
Hạnh Hoa đã kịp đến bên kéo tay chàng: - Thôi, thôi! Chàng đừng thề nữa. Thiếp tin chàng rồi.
Giọng nàng hơi khản vì xúc động và những giọt lệ sung sướng giàn giụa trong mắt.
Rồi tiếp đến là những lời tình tự muôn thủa của những cặp trai gái yêu nhau. Những lời mà vừa thốt ra họ đã không biết mình nói gì. Những lời đối với người nước ngoài thì ngây ngô vô nghĩa nhưng với họ lại đượm đà ý nhị ngát hương. Và thời gian của họ cũng trôi đi một cách khác. Như thể con suối nhỏ chảy giữa rừng già rợp bóng âm u, trông lặng lờ mà trôi đi lúc nào không ai hay biết. Khi bóng nắng gay gắt chiếu xế vào chỗ họ ngồi, Lý Ngân mới sực nhớ nhìn lên thì trời đã ngả xế. Họ lại đủng đỉnh sánh vai bước ra đường lộ. Lão Vũ vẫn ngồi im bất động dưới bóng hòe.
Hạnh Hoa đứng nhìn theo bóng Lý Ngân cùng chiếc kiệu son khuất hẳn sau làn mây mỏng cong như một đường mi ở cuối chân trời, rồi mới thẫn thờ lên yên. Dù sao Hạnh Hoa vẫn cảm thấy nỗi xa nhau chưa kịp trút đầy mắt nhớ mà vội vàng ly biệt. Con đường về kinh thành bỗng trở nên xa ngái, dặm hòe mang mang…
Giữa lúc Lý Ngân trên đường đến Thiên Đức thì Thái Úy đang quì trước bàn thờ trong lăng Tiên Đế. Ông chăm chú nhìn làn khói hương cuộn vòng, lầm rầm khấn vái. Hay đúng hơn, ông đang bộc bạch cùng người đã khuất mọi niềm riêng canh cánh. Ngoài kia, trưa hè đứng lặng nồng nàn. Hình như Thái Úy đang đặt một lời thỉnh cầu trang nghiêm quyết liệt. Tiếng con ve rừng ở đâu đó bỗng cất lên nghèn ngẹt sin sít làm át giọng của Thái Úy rồi đột nhiên ngừng bặt, trả lại cái thinh không vang vang của trời hè. Tiếng khấn của Thái Úy lại nghe rõ mồn một: - “…hồn Tiên Đế có linh thiêng xin chứng giám cho hạ thần. Hạ thần xin hiến chuỗi ngày tàn còn lại bồi đắp ước vọng ngày nào của Tiên Đế, làm sao cho nước nhà mau chóng mở mày mở mặt với lân bang, thoát khỏi vòng kiềm tỏa của phương Bắc… Thần nguyện gác bỏ thân mình ra ngoài, dẹp mọi trắc ẩn bên lòng, coi việc tôn xã giang sơn làm trọng…”
Nén hương nghi ngút khói bỗng bốc ngọn cháy rực lên. Một ngọn gió mồ côi từ phía trời xanh bàng bạc đưa lại. Ngọn gió như người bộ hành qua một quãng đường dài đến đây đuối hơi chỉ còn sức phe phẩy qua khung cửa lớn. Thái Úy nhìn vào ngọn lửa linh ứng trên bát hương, cúi lạy ba lạy, hớn hở bước ra ngoài.
Bóng mận sâm si tròn như chiếc lọng che đã ngả dài trước thềm dãy tịnh xá. Gia nhân đang lo sửa soạn bữa cơm chiều.
Khi ông bước vào khách sảnh thì Lý Ngân cũng vừa đến. Chàng cung kính vái chào Thái Úy rồi trình tờ thư của Thái Hậu Thượng Dương.
- Thái Hậu mờ ta về dự triều hội các vương hầu.
Lại phái cháu mang kiệu son đón rước. Ôi! Cảm tạ tấm lòng Thái Hậu đối với ta ân cần quá mức, chu đáo quá mức – Ông cất lên một tràng cười dài – Cháu thấy thế nào?
- Dạ, cháu thấy là điều đáng mừng cho cháu và Hạnh Hoa. Lý Ngân đáp ngay không một chút do dự. Câu trả lời chất phác bộc trực rất chân tình của chàng làm cho Thái Úy ngẩn người giây lâu.
- Cháu có biết con ngựa Xích Long của ta bị bệnh thời khí đã chết trên Lạng Giang rồi chứ?
- Ối! Thế à! – Lý Ngân kêu lên một tiếng kinh ngạc đứng ngẩn người, niềm thương dồn dập như làn gió làm xao xuyến nét mặt đang tươi vui của chàng.
- Vì vậy việc Thái Hậu cho lão phu đi kiệu về hầu đức bà thật là đúng lúc.
Lý Ngân hầu như không nghe rõ Thái Úy nói gì. Trên mặt chàng còn chưa hết vẻ bàng hoàng ngẩn ngơ về cái chết của con chiến mã, con ngựa mà chàng biết Thái Úy yêu quý như một vật gia bảo. Vẻ mặt thành thật ấy làm Thái Úy cảm động, khiến cặp mắt ông đang chăm chú vào chàng vội quay đi, nhìn hướng khác.
- Thôi được, cháy hãy về tâu lại với Mẫu Hậu rằng ta xin vạn tạ ơn trên. Nội nhật ngày mai ta sẽ lên kiệu lai kinh và muộn nhất trong chiều mai ta sẽ vào cung hầu chỉ.
- Dạ, cháu cũng xin phép về ngay để phục mệnh Thái Hậu.
Lý Ngân hân hoan vái tạ Thái Úy rồi lui ra. Thái Úy nhìn theo người con rể tương lai của mình, buông một tiếng thở dài, trên gương mặt ông thoáng hiện một vẻ u trầm khó hiểu.

8
Lang tướng Nguyễn Căn dừng cương trước cổng nhà. Chàng đang vâng lệnh tướng quân chiêu thảo sứ Lý Kế Nguyên đi thị sát các chiến thuyền trên sông Bạch Đằng thì bỗng được tin cha gọi về khẩn cấp. Chàng không biết có chuyện gì. Tuy nóng lòng gặp mặt cha, chàng không thể dừng lại đứng ngắm tòa dinh cơ uy nghiêm bề thế, bốn bề cổng kín tường cao của dòng họ chàng. Chàng bồi hồi nhớ lại những buổi chơi đêm về khuya đợi cổng đến hàng giờ. Thời ấy chàng còn là một trang thiếu niên công tử hào hoa, phong nhã vào bậc nhất ở kinh thành. Và suýt chàng đã trở thành phò mã…
Chàng bước đến, trở đầu roi ngựa nện chan chát vào hai cánh cổng lim đóng im ỉm. Hồi lâu mới có tiếng bước chân rón rén ở bên trong, rồi một con mắt dò xét nhòm qua khe hở tiếp theo một tiếng kêu mừng rỡ của người gia nhân già: - Công tử về rồi! cổng vừa mở, chàng đã hỏi nhanh: Cha ta có nhà không?
- Dạ, cụ ông có ở nhà ạ.
Chàng trao cương cho lão gia nhân dắt ngựa vào tàu rồi đưa mắt nhìn quanh. Mái ngói lợp vẩy cá võng xuống cong lên chót vót làm ngôi nhà chính thêm phần cao lớn uy nghi. Hàng rào lưỡi long nằm phục dài theo dãy tường ngoài thè ra những lưỡi gai tua tủa. Tất cả đều ổn đinh, bình an, thân thuộc. Bước về nhà, chàng cảm thấy mọi lo âu phiền toái ở ngoài đời như đều trút lại đằng sau lưng.
Lòng thư thái, chàng thả bước trên con đường lát sỏi rợp bóng cây lần theo dãy hành lang mé đông phòng rồi đi thẳng vào hậu dinh.
Quan Thái Bảo Nguyễn Châu đang ngồi trầm ngâm trước chén trà đã nguội. Tuy đang mùa oi bức, các rèm cửa nặng nề chung quanh vẫn không được cuốn lên, bên trong còn buông thêm một lần sa mỏng. Những hơi nồng lửa hạ vì thế mà bị chặn đứng bên ngoài. Khí lạnh ẩm ướt lâu năm từ lòng đất sâu tỏa ra mát lạnh. Bốn cụm đèn lồng phất lụa kín đáo đặt ở các góc nhà xua tan bóng tối lờ mờ và hơi ấm la đà quyện trên mặt sàn gỗ. Nơi đây là căn phòng mật của quan Thái Bảo. Không một ai dám bén mảng đến kể cả thê thiếp trong nhà.
Quan Thái Bảo ngồi như thế đã lâu, chốc chốc lại lơ đãng đưa tay di chén nước sang một bên như đẩy một quân cờ. Cho đến lúc Nguyễn Căn đánh tiếng ở bên ngoài ông mới chợt ngẩng mặt lên vội vã đi ra kéo tay con vào ngồi trên sập.
Từ lúc Nguyễn Căn rời nhà đi Vạn Xuân lần này chàng mới vào lại gian phòng kín của bố. Tất cả vẫn nguyên như trước. Vẫn cái án thư đồ sộ sơn son thiếp vàng với thỏi mực xạ hương to tướng nằm trên chiếc nghiên sọ ngựa. Vẫn những ngọn đèn lồng trong suốt bốn bề. Nếu đưa tay kéo bức tường gấm dày ở đằng cuối gian, sẽ thấy cái giường chân quì với bức màn the diềm kim tuyến. Có điều là trên cái kỷ dài bây giờ kê sâu vào góc tường ngoài các tứ sâm nhung quế phụ thông thường có để thêm hàng chục lọ sứ men ngọc xanh đựng các vị thuốc quí. Chàng cảm thấy như tuổi bố scangf cao thì đội ngũ các lọ thuốc bổ này ngày càng đông đảo thêm lên. Chàng biết các vị thuốc ấy được đưa từ nước ngoài theo lối cổng sau vào nhà bố. Nhưng có điều chàng không biết hoặc không dám biết là lọ thuốc càng tăng thì số hầu non của bố cũng vào lối cổng sau tăng theo, dãy tây phòng cứ dài ra mãi.
Thấy Nguyễn Căn chăm chú nhìn vào các lọ thuốc, Thái Bảo đứng dậy dẹp khay trà, cầm nậm ngọc đi lại bên chiếc kỷ. Ông nhấc một lọ lên ngắm nghía rồi tặc lưỡi để xuống. Con trai ông đang độ thanh xuân cường tráng chưa phải tuổi dùng loại rượu này. Ông chọn một lọ khác nhấc lên. Nguyễn Căn liếc xéo mắt thấy trên tờ hồng đơn dán ở ngang bụng lọ ba chữ: “Bách hoa tửu”. Chiết rượu xong ông nghiêng nậm ngọc rót dần vào cốc. Vừa nhấp vào mồm, Nguyễn Căn đã cảm thấy hơi men nóng sực chạy lồng trong bảy khiếu, cánh mũi chàng phập phồng ngào ngạt hương thơm.
Xong tuần rượu, Thái Bảo nhìn con chậm rãi hỏi:
- Con đã gặp hai thái tử Hoàng Chân và Chiêu Văn chưa?
- Dạ, con đã gặp rồi ạ!
- Đã nói được chuyện gì chưa hả?
Nguyễn Căn đỏ mặt vì rượu hay vì ngượng, cúi đầu nói khẽ:
- Con chưa dám thổ lộ gì cả.
- Nước đã đến chân mà con cứ chần chừ. Phải lựa lời mà nói cho hai thái tử hiểu rõ hiểm họa đang treo lơ lửng trên đầu dòng họ Lý.
- Dạ, con mấy lần chực mở miệng sao cứ ấp a ấp úng. Con tiếc là con chưa theo được cái tài của bố.
- Tài giỏi gì. Chẳng qua là cậu chưa biết nhục!
- Dạ, thưa bố, nhục gì ạ!
- Đến bây giờ mà cậu còn mở miệng hỏi bố à? Trời ơi! Họ đã bày mưu chia uyên rẽ thúy phá đám một cuộc nhân duyên tốt lành nhất của dòng họ ta. Trơ trẽn đến thế mà con không biết nhục ư?

À ra bố chàng nhắc lại chức phò mã hụt của chàng. Chuyện ấy chàng đã quên khuấy từ lâu mà mối tình chàng đối với công chúa Thiên Thành cũng đã phai nhạt ngay từ dạo nọ. Không phải chàng không muốn trả đũa, nhưng mỗi khi chợt nghĩ đến cái thần thái uy nghi của Thái Úy, ý định kia lại tiêu tan.
- Thưa bố, mối nhục kia con đâu dám quên – chàng đành lựa lời nói cho vừa lòng bố - Nhưng thế lực của họ mạnh lắm.
- Ai không biết họ đang nắm cả ba quân trong tay nhưng thời thế đã xoay đổi rồi. Dây cương chính sự đã lọt vào tay Thái Hậu và quan Tể Chấp – Biết rõ tính con mình hay nhu nhược, chìm nổi theo đời, không có quyết đoán, ông nói tiếp gằn giọng từng tiếng một “- Hay nếu cậu nhát gan ngoảnh mặt làm lơ mối nhục này thì hãy để bố cậu nhận thay mà rửa nhục hộ cho cậu”.
Thử tưởng tượng giá Thái Úy Lý Thường Kiệt có mặt ở đây mà nghe được câu này thì ông sẽ kinh ngạc sững sờ đến đâu. Bởi lẽ ngày đó Thái Bảo đã rót vào tai Thái Úy với thái độ vô cùng hòa nhã: - Thôi Thái Úy ạ, ý muốn của Thánh Thượng là ý trời, xin Thái Úy đừng lấy làm điều. Thằng con của lão phu ăn chơi phóng đãng không cân đôi xứng lứa với công chúa đâu. Và Thái Úy đã tin lời nói ấy. Mà Thái Úy tin là có sở cứ. Quan Thái Bảo vốn được tiếng là người biết điều, tính tình điềm đạm không hay mua thù chuốc oán cùng ai. Hơn nữa mỗi khi giữa các vị đại thần có xảy ra điều bất hòa thì y như ông đứng ra làm người trung gian hòa giải. Ông bỏ công đi lại nhỏ to dàn xếp và chẳng ai hiểu vì sao kết quả dẫn đến mối hiềm thù giữa họ càng sâu sắc thêm lên. Song có điều đáng ngạc nhiên là không ai có chút mảy may nghi ngờ đức độ của ông và cả hai bên đều hài lòng về ông vì họ cảm thấy như ông đứng về phía họ. Thuật đối nhân xử thế thần tình của ông quả đã đạt đến mức khôn khéo tinh vi huyền ảo. Có lẽ ngoài quỷ thần không một ai thấy nổi ngón trò xui nguyên giục bị, ném đá giấu tay cực kỳ kín nhẹm của ông. Bởi vậy, khi ông nói sẽ ra tay rửa nhục cho con, chính ông tự thấy đó là điều không thực. Với tài kín đáo mượn tay kẻ khác, ông đâu cần phải nhấc tay. Không hiểu rõ điều ấy, lang tướng Nguyễn Căn chắp tay ngập ngừng lo lắng hỏi bố:
- Thế bố bảo con phải làm thế nào?
- Con chỉ có mỗi việc ngồi trên thuyền cầm tín bài đưa người ta ra khỏi cửa sông Bạch Đằng.
Ôi! Công việc dễ dàng quá, có gì nguy hiểm đâu. Nguyễn Căn thấy nhẹ cả người.
- Bố bảo thế nào con xin làm đúng thế. Nhưng người ấy là ai vậy bố?
- Người ấy con chưa cần biết. Chỉ biết ông khách cùng ngồi thuyền với con cũng chẳng lạ lẫm gì. Ông ta hiện đang có mặt ở đây.
Nói xong, Thái Bảo đứng lên dắt tay con ra phía nhà ngoài.
Ngôi dinh thự của quan Thái Bảo chia ra thành hai phần riêng biệt dường như có hai bộ mặt khác nhau. Phía trong thì cực kỳ kiêu sa hoa lệ. Trái lại, ở sảnh ngoài vẫn giữ nguyên vẻ thanh bạch nho nhã tự ngày nào.
Khách đang đứng dưới bức nghi môn vóc đỏ. Vừa trông thấy bóng dáng đồ sộ của khách, Nguyễn Căn đã chạy ù lại, reo lên: - Ối trời ơi! Tưởng ai lạ, hòa ra Đỗ đại nhân.
Ông khách cũng niềm nở đáp lại, vẻ mặt hân hoan không kém: - Ồ! Công tử lâu ngày cách mặt, tiểu huynh nhớ công tử quá.
Không cần nói cũng biết đấy là đôi bạn chí thân. Cách cư xử có phần suồng sã của họ tỏ ra họ đã cùng nhau trải qua nhiều trận vui bù khú.
Câu chuyện gặp gỡ của vị khách này với cha con Thái Bảo kể ra cũng khá dài dòng. Năm ấy, năm Chương Thánh thứ hai đời vua Lý Thánh Tông, trời làm bão lụt, mùa màng mất trắng. Dân ở hai bên triền sông lớn bỏ quê đi làm ăn thất tán nơi xa, quên mất cả đường về. Vua xuống chỉ sai Nguyễn Châu lúc này còn ở chức quan khu mật đi chiêu hồi quân tha phương trở về quê quán cũ làm ăn. Công việc thật vô vàn khó khăn phức tạp. Nguyễn Châu phải để nhiều tâm trí mới nghĩ ra cách cắm thẻ chỉ đường. Nhưng giữa thời buổi đói kém, hạt gạo to hơn hạt châu, biết đào đâu ra số người cần thiết đi làm việc ấy. Nguyễn Châu vò đầu nặn óc, râu tóc mọc dài ra mà thời hạn trên giao càng ngắn cụt dần. Cuối cùng ông đành bó gối khoanh tay cúi đầu thở dài sườn sượt. Vị quí nhân phù trợ nằm trong lá số tử vi của ông đã bỏ ông đi chơi xa rồi. Nhưng có một đêm, vị công tử chơi bời phóng đãng của ông bỗng dắt về nhà một người khách lạ. Người con trai thì thầm vào tai bố: - Bạn tâm phúc của con đấy. Có thể giúp bố con mình được nhiều việc!

Theo lời của Nguyễn Căn, ông được biết người này là một khách thương lớn họ Đỗ, người đất Hải Đông hiện ở cửa khẩu Vân Đồn. Ông thường đi lại buôn bán ở các chợ quốc tế nằm dọc trên đường biên giới giữa hai nước Tống – Việt mà người thời bấy giờ gọi dưới cái tên Bạc dịch trường. Còn ở trong nước, ông ta có thương điếm đặt rải rác khắp các lộ. Vị khách thương này giàu nứt đố đổ vách nhưng lại có tấm lòng hào hiệp, trọng nghĩa, khinh tài. Ngay từ phút đầu Nguyễn Châu đã tự nhủ rằng đây là vị quý nhân mà số phận đã đưa đến để độ mình qua bước đường vận nạn. Con người giàu có mà hơn người ấy sẽ sẵn lòng bỏ tiền ra chiêu mộ đám người giang hồ lưu lãng đầu trộm đuôi cướp mà ông đã từng thuê mướn để hộ tống hàng hóa trong các chuyến buôn xa. Ông ta cả quyết rằng chỉ trong vòng dăm ba hôm là ông có đủ số nhân công cần thiết cho việc quan. Quan khu mật Nguyễn Châu như uống từng lời của vị cứu tinh quí hóa ấy, nghe đến đâu mắt sáng đến đó, ruột gan nở ra từng khúc. Và thế là đoàn người lưu lãng do vị khách thương họ Đỗ tập hợp được, quan khu mật phân đi về các địa phương đắp ụ dựng thẻ gỗ có đề tên đất lên trên để làm mốc nhận đường cho kẻ tha phương lưu lạc. Công việc trôi chảy, kết quả mỹ mãn. Ngày vào sân rồng phúc chỉ, ông được thánh thượng ban khen.

Từ ngày ấy cuốn lịch đời ông phất qua một trang mới. Ba tiếng “Đỗ đại nhân” khai sinh từ cửa mồm ông được gia nhân nhắc đến một cách kính cẩn. Qua tài xoay xở của Đỗ đại nhân, của cải từ đâu kín đảo chảy vào cổng sau nhà ông như nước chảy vào chỗ trũng. Nhà cửa lầu gác được xây cất thêm. Những đồ vật gia dụng cũ kỹ ra đi để nhường chỗ cho những thứ cầu kỳ hơn, sang trọng hơn thay thế. Qua Đỗ đại nhân, viên quan Thành Trạc giám ấp trại Hoành Sơn của Tống cũng gởi lễ vật sang ra mắt để làm quen với ông. Đền đáp lại, ông dẫn Đỗ đại nhân vào cung bái yết Hoàng Hậu Thượng Dương, nhận việc cung đốn các thứ đồ ngự dụng cho Người. Hàng hóa của Đỗ đại nhân mua mười bán một. Vì vậy Hoàng Hậu rất hài lòng. Chẳng bao lâu Đỗ đại nhân đã được coi như kẻ tâm phúc của bà.
Mối giao dịch phức tạp và khó hiểu này mặc dầu đã diễn ra trên mười năm nay nhưng nhờ vào tính thâm trầm cẩn mật của Thái Bảo mà mọi việc đều nằm trót lọt trong vòng bóng tối kín như bưng, đến quỉ thần cũng không hay biết.
Sau lúc ba người bàn bạc xong xuôi, quan Thái Bảo vỗ vai con: “- Con đi đường mệt nhọc hãy vào phòng riêng nghỉ ngơi, còn giờ đi, nơi gặp, bố sẽ cho con biết sau”. Lang tướng Nguyễn Căn vái chào rồi lui vào nhà trong.
Bây giờ còn lại hai người đối diện với nhau trong nhà sảnh rộng mông mênh như sân cung đình. Vậy mà giọng quan Thái Bảo còn hạ thấp như ngọn đèn hạ thấp bấc. Ông đưa những ngón tay xương xẩu lên hết sờ vào cái mũi nhọn khoằm lại vuốt chòm râu ngắn thưa. Còn Đỗ đại nhân luôn miệng cười tủm tỉm, bàn tay múp míp xoa xoa trên gò má đỏ au. Đặc điểm nhân dạng giữa họ đặt cạnh nhau tạo nên những nét tương phản đến ngộ nghĩnh. Một đằng thì gầy guộc cao nhỏng, mọi thứ lộ ra đều nhọn hoắt từ lưỡng quyền, tai mũi, chưa kể chòm râu che bớt chiếc cằm nhọn và cái cổ lộ hầu. Một đằng thì béo đẫy đà phúng phính, mọi thứ đều tròn lẳn như quả cây mọng nước.
- Dạ, thưa Thái Bảo, mọi thứ cung phụng cho Thái Hậu, tiểu đệ đã hoàn tất. ngoài các vật dụng để thiết yến, còn trên dăm chục đoạn tơ Hàng Châu cùng gấm Tứ Xuyên để Thái Hậu ban quà riêng cho các quan cận thần thân thiết. Duy có mấy chiếc áo lông phỉ thúy là còn phải đợi dăm hôm nữa.
- Lão phu biết vì lão phu mà Đại nhân phải vất vả tốn kém nhiều. Lòng lão phu thật áy náy.
- Ôi! Của ấy đáng là bao. Chỉ mong sao Thái Hậu cùng Thái Bảo giữ yên được mối rường cho họ Lý – Đỗ đại nhân lại đưa tay xoa xoa gò má.
- Thái Hậu có truyền gì thêm không?
- Dạ có.

Đỗ đại nhân lấy ra một ống nhỏ có gắn sáp, một loại lạp thư thời đó hay dùng, moi ra hai tờ thư đặc chữ trao cho Thái Bảo: - Tiểu đệ đã tìm ra được một tên thư lại có hoa tay bắt chước y hệt mọi thứ chữ của người khác. Thái Hậu nhờ Thái Bảo thị sát lại xem đã được chưa.
- Ồ! – Giọng Thái Bảo hơi sửng sốt – quả là một người có tài xảo thuật. Đến lão phu là người sành sỏi mà cũng khó phân biệt được chân giả trong lúc nhất thời vậy đại nhân nên trình ngay lên Thái Hậu cho người yên tâm. Thái Hậu có được vui không?
- Người rất đẹp lòng vì mọi việc. Người còn tỏ ý hài lòng về chuyện con chiến mã của lão Thái Úy bị sát hại.
- Trời, giết con ngựa của họ ư? – Thái Bảo giãy nẩy lên như bị bỏng – Ai bảo giết?
Đỗ đại nhân mỉm một nụ cười khó hiểu: - Hình như Thái Hậu có ý truyền.
- Nhưng giết con ngựa chiến để làm gì chứ.
- Có lẽ Thái Hậu muốn nhổ bớt một cái vuốt nhọn của thú dữ.
- Làm như thế có khác gì đánh động họ hay trước mà phòng bị. Thất sách! Thật thất sách!
- Dạ Thái Hậu nói rằng lão ta mất ngựa càng dễ cho việc Thái Hậu phái kiệu son triệu lão hồi triều.
- Ôi! Dại dột! Quả là thứ mưu đàn bà.
Thái Bảo kịp dừng lại. Có lẽ vì giận lắm nên Thái Bảo đã buột mồm nói vậy. Thật ra trong vụ này ông đã bỏ ra nhiều tâm huyết mới xoay chuyển được ý đồ của Thái Hậu. Ban đầu Thái Hậu khăng khăng đòi triệt hạ ngay Thái Phi Ỷ Lan. Năm phen bảy thứ, ngọt nhạt rỉ rả, phân tỏ thiệt hơn, ông mới khai tâm được cho Thái Hậu thấy rằng Lý Thái Úy chính là kẻ kình địch nguy hiểm nhất. Ông chỉ cần nhấc tay là triều chính nghiêng ngả. Và một khi Thái Úy đã đổ xuống thì Ỷ Lan kia như giống dây leo mất chỗ dựa sẽ đổ theo. Lúc ấy “Ngọc Lan” sẽ biến thành “Ngọa Lan” tha hồ khoe bùn khoe đất. Câu ví von đó đã làm Thái Hậu cười thành tiếng. Thế mà bây giờ biết đâu chỉ vì một chút sơ suất cỏn con này lại chẳng đi đến xôi hỏng bỏng không. Ôi! “Thà làm tớ cho người khôn còn hơn làm thầy cho kẻ dại” là thế.
- Xin Thái Bảo hãy yên lòng. Tiểu đệ biết rằng Thái Hậu cũng không đến nỗi sơ ý để lão ta nhận được có bàn tay kẻ khác ngầm giết con ngựa của lão. Mà cho dù lão có ý nghi ngờ thì con vật kia chết ở Lạng Giang, nghi ngờ cũng sẽ đổ về phía người Tống.
Tuy cơn giận đã dịu xuống, Thái Bảo vẫn nhích khuỷu tay lại gần Đỗ đại nhân nghiêng đầu dặn dò một thôi một hồi. Chốc chốc Đỗ đại nhân lại gật gù thán phục. Đại để Thái Bảo nói rằng Thái Hậu sắp làm một việc kinh thiên động địa, mất đầu như bỡn dù là đầu rồng. Thế mà bà ta không chịu suy xét nông sâu, việc làm khinh suất. Dù sao đàn bà vẫn là đàn bà. Ông nhắc khéo Đỗ đại nhân luôn luôn phải ý tứ giữ mình. Ngay với con trai, có nhiều điều ông không tiết lộ. Ông bảo con ruồi bay qua cũng còn để lại dấu vết huống hồ con người. Mọi việc làm phải thật kín nhẹm. Ông nhấn đi nhấn lại chữ “kín nhẹm”. Đỗ đại nhân xúc động đứng lên cung kính xá một xá: - Chí lý! Thật chí lý! Tiểu đệ xin khắc sâu vào lòng những lời nhắc nhở thân tình của Thái Bảo.

Chưa biết việc làm của Thái Hậu sẽ kinh trời động đất như thế nào nhưng ngay từ bây giờ quan Thái Bảo Nguyễn Châu đã sớm lo liệu rút cầu trước khi có chiến trận.

9
Đáng lẽ ra, sau khi vua Lý Thánh Tông mất, Thái Hậu Thượng Dương đã nguyện đi theo chồng xuống dưới kia phụng quân vương. Ấy thế mà đến bây giờ bà vẫn còn đang đứng chiêm ngưỡng mình trước chiếc gương đồng to tướng. Bà cần sống chỉ vì bà còn một mối hận lòng chưa trả được.
Mà sống ngày nào là còn cần phải đẹp. Tội lỗi xấu xa đáng thù ghét nhất đối với bà là làm thân gái mà để cho xấu xí người đi. Trang điểm là thú vui độc nhất của đời bà. Trong số bảy mươi hai cung nga phục dịch, bà còn chọn ra những cô mặn mà sắc sảo nhất, chuyên việc suốt ngày chăm chuốt sắc đẹp hiếm có của bà. Bà cầm chắc rằng dung nhan ngà ngọc của bà còn có sức quyến rũ hơn vạn lần những chùm lá dâu mật tươi mát để nhử chiếc xe dê của quân vương phải dừng lại trước cung bà. Ngoài công việc bận rộn này, còn lại chút thời gian rảnh rỗi, bà đem dùng vào việc đánh đông dẹp bắc để loại trừ dần những ả phi tần nào dám mon men đến cạnh vua chia sẻ ân sủng của bà.
Nhưng mặt rồng bỗng vắng bóng ở Thượng Dương cung. Việc ấy đến đột ngột như một vết vôi ghi trên trán bà làm bà tỉnh mộng. Lần tay bấm đốt thì sự kiện ấy đã xảy ra từ năm Quí Mão cách đây ngót ngét mười năm rồi. Ngày ấy, một cô gái lọt ra từ cửa thứ dân, sinh giữa nong tằm đẻ trong lò kén vừa bước vào cung đã được thăng lên chức Nguyên Phi và được quân vương nhất mực yêu vì. Đành rằng tuổi của ả trẻ hơn bà một giáp nhưng về sắc thì ánh đom đóm kia làm sao dám sánh với trăng rằm. Chắc ả phải có thuật riêng để mê hoặc quân vương. Bà đã hao tâm tổn lực phái nhiều cung nữ để dò la nhưng rốt cuộc vẫn không tìm ra được manh mối thứ bùa chú quỉ ma đó.
Hơn nữa, niềm ước vọng thiết tha chưa được toại nguyện, nó luôn luôn phảng phất trên gương mặt bà một nét buồn thầm kín, niềm ước vọng ngoài sức người ấy, Thượng đế cũng ban phát cho ả một cách quá hào phóng. Bà thì không có con trai mà ả thì đẻ sòn sòn. Thái tử Càn Đức vừa ra đời thì hai năm sau ả lại đẻ tiếp Thái tử Minh Nhân. Đến trời cũng giúp ả, biết trách vào đâu bây giờ.
Đến vụ năm Kỷ Dậu thì cái uất của bà không để vào đâu cho hết. Năm ấy, Tiên vương thân chinh đi đánh Chiêm Thành. Đành rằng xưa nay bà không biết gì về chính sự, thậm chí bà không ưa chuyện chính sự vì bà cho đó là việc của đàn ông, nhưng cứ trao cho bà thì bà cũng sẽ làm được có sao đâu. Ấy thế mà đức vua không cử bà lại đem trao quyền nhiếp chính cho ả. Ả thuộc hàng phi tử, còn bà đường đường ở ngôi chính hậu. Vua làm thế có khác gì đương nhiên vô cớ truất mất phẩm trật của bà. Mà ả làm việc ấy trôi chảy giỏi giang mới sôi máu chứ. Đến nỗi khi đức vua quay về nửa đường nghe tin ả trị nước yên dân đã phải thốt: “Kẻ kia đàn bà còn làm được như thế, ta làm trai há chịu thua kém ru?”
Ôi! Cái uất này chồng lên cái uất nọ cao hơn đầu người. Nó trở thành cái bóng thâm tím quanh quẩn theo bà trong cung son lạnh lẽo. Thật ra vua Lý Thánh Tông lạnh nhạt với bà không phải vì nhan sắc bà sút kém đi. Ngược lại là đằng khác. Nhưng tấm nhan sắc ấy đã mất dần sức hấp dẫn ban đầu.
Vua Thánh Tông là một vị vua có óc đầu óc rộng, chí hướng cao, hoài bão lớn. Càng ngày ông càng cảm thấy cần có bên mình một người đàn bà có thể cùng ông chia sẻ những lo nghĩ về việc lớn của thiên hạ. Mà bà chỉ biết đem trao đổi với ông những tủn mủn quanh quẩn trong đời sống hàng ngày vô vị của cung Thượng Dương. Câu chuyện giữa hai người cứ vữa ra, rời rạc như cơm nguội. Tư chất thông tuệ hoàn toàn không có ở bà. Sự lười nhác suy tư và trì trệ trong cảm nghĩ của bà đã làm đức vua chán ngấy.
Cho đến giờ này bà vẫn đứng trước gương soi bóng dung nhan. Tuy còn vài năm nữa bà sẽ ăn mừng lễ tứ tuần nhưng đường nét người bà vẫn thon thon như thời con gái. Vẻ thanh tú còn được giữ nguyên từ hàng mi đến đầu ngón chân tay. Và lần này cũng như bao lần khác, nhìn bóng mình trong gương, bà lại tự hỏi: Làm sao đức vua lại có thể hững hờ với một sắc đẹp như thế này, một sắc đẹp mà đến bà cũng thấy yêu nó, để đến ôm ấp một ả tiện tỳ hôi hám kia nhỉ? Bà không hiểu và vĩnh viễn không thể hiểu được rằng ngoài sắc đẹp hình hài bên ngoài, còn có một thứ sắc đẹp khác ở bên trong, một thứ sắc đẹp vô hình nhưng có sức quyến rũ lâu bền: sắc đẹp trí tuệ. Chính Thái Phi Ỷ Lan đã đáp ứng được điểm này. Ỷ Lan có một bộ óc cực kỳ minh mẫn, ham học ham biết, am hiểu đời sống lê dân. Nhiều ý kiến thông minh, xác đáng của bà làm đức vua phải sửng sốt. Câu chuyện giữa đức vua với Ỷ Lan rất tâm đắc. Vua Thánh Tông đã sớm tìm thấy được trong Ỷ Lan một người bạn đường tri kỷ.
Nhưng đã qua rồi mười năm ngậm cay nuốt đắng. Mười năm than thân trách phận trong thâm cung vò võ. Mười năm sống đấy mà cũng như chết đấy. Phải đợi sau ngày Tiên Đế qua đời, nhờ sự can thiệp cứng rắn và kiên quyết của Thái Sư Lý Đạo Thành, bà lên nắm quyền chấp chính. Vua con phải tôn bà lên làm đích mẫu. Bà sống lại trong ước muốn thôi thúc được rửa thù trả hận, cái hận bấy lâu âm ỉ nay đã bốc cao ngọn trong lòng bà. Mới đây bà đã gạt được Thái Phi ra ngoài không cho dự việc triều chính. Lắng nghe cung nhân thuật lại chuyện Thái Phi lo buồn vật vã, bà nở nang mày mặt. Bà nhấm nháp nỗi đau của tình địch như uống từng ngụm thuốc bổ.
Nhưng đám cung nữ bà phái đi do thám bên cung Kiến Hoa, đã dồn dập trở về phi báo:
- Tâu bà, Thái Phi đã phái Hạnh Hoa đi gặp Thái Úy.
- Tâu bà, Thái Phi đã năm lần bảy lượt đến cung Long Đức bàn mưu tính kế với Thượng Hoàng Thái Hậu.
- Tâu bà, Thái Phi đã ba lần gặp ấu quân khóc lóc với Người.
- Tâu bà, e rằng trong triều sắp xảy ra chính biến.
Cơn giận làm mặt bà tái nhợt. Không kịp suy nghĩ – mà bà có quen suy nghĩ đâu – bà long mắt khít răng truyền lệnh: “Thanh Nga đâu? – Thanh Nga là cung nga sủng ái nhất của bà – Con đi gọi ngay nội giám Lý Thông đến cho ta.
Viên nội giám Lý Thông trước kia là người thân tín của Thượng Dương. Sau đấy hắn chuyển sang cung khác. Không hiểu có điều gì xảy ra mà hắn đem lòng oán hận Thái Phi. Gần đây hắn thậm thọt đi lại cung Thượng Dương và cũng giúp bà được đôi ba việc. Hắn tỉ tê xúi giục bà một chuyện mà lâu nay bà vẫn còn lưỡng lự. Bà chưa thật tin hắn. Nhưng nay sự tình thúc bách, bà đánh liều làm điều mà lòng bà chưa muốn…
Tiếng chày đá nện vào chuông ngọc lanh canh. Bà ra phòng ngoài gặp Lý Thông. Bà rút ra một mảnh giấy con trao cho hắn: - Ngươi làm việc này phải hết sức cẩn thận. Cung Thượng Dương sẽ không quên công ngươi. Chức Đô Tri đang chờ ngươi đấy.
- Muôn tâu lệnh bà, tiểu thần làm thế này thì quỷ thần cũng khó tra xét – Hắn lấy ra kim chỉ vừa quì, vừa tâu, vừa khâu mảnh giấy con vào bên trong dải áo của hắn, trước mặt Dương Hậu.

Nội giám Lý Thông lui ra thì Lý Ngân cũng vừa về đến cung. Chàng trình lại mọi việc và quả quyết: - Chỉ trong chiều nay là Thái Úy có mặt ở điện Hàm Quan.
Nhìn nét mặt bà đang vui, Lý Ngân ngập ngừng rồi tiếp: - Thưa dì, cháu còn chút việc riêng muốn thưa cùng dì.
- Việc riêng này dì đã biết từ lâu – bà nhoẻn một nụ cười thật hồn hậu. – Con bé đó trông rất được mắt, hiềm nỗi cháu còn tang cha vướng nặng trên đầu.
- Dạ thưa dì, cháu đã mãn tang bố được mấy tháng nay rồi.
- Chưa đâu, tang lớn của cháu còn kéo dài chưa biết đến kiếp nào mới chấm dứt
- Dạ, dì nói thế nào cháu nghe chưa rõ.
Thái Hậu nhìn quanh: - Chỗ này không phải chỗ để dì cháu ta trò chuyện. Cháu hãy theo ta.
Bà đưa Lý Ngân vào căn buồng kín có đặt hương án, có lẽ nơi bàn thờ riêng đức Tiên Đế. Những cây hồng lạp thắp sáng như sao sa, mùi nhang thơm ngát mũi.
Bà ái ngại nhìn cháu: - Lâu nay dì phải cố ngậm miệng giấu cháu, nhưng đến cơ sự này, dì đành nói thật. Cha cháu chết trận nhưng chết oan ức. Vì muốn tranh chức đoạt quyền họ đã nhẫn tâm ám hại cha cháu.
- Ôi! Dì nói sao? Kẻ nào đã ra tay ám hại cha cháu?
- Kẻ đó quyền nghiêng thiên hạ. Nhắc đến tên kẻ ấy, đến dì cũng kinh hãi. Dì nói ra chắc cháu chưa tin nhưng cháu cứ đọc lá thư này thì rõ.
Bà bước lại nhấc một ống thư trên hương án. Bà định rút lá thư ra nhưng tay bà do dự: - Không được. Cháu phải có lời tuyên thệ trước rằng cháu sẽ không bao giờ hở môi nói nửa lời cho ai chuyện này dù là người ruột thịt thân thiết.
Lý Ngân khẳng khái bước ra trước bàn thờ buông lời thề độc như buông một mũi tên số phận.
Thái Hậu trao lá thư cho Lý Ngân: - Đây là lá thư cha cháu viết trước trận Đồ Bàn. Mà cháu còn nhớ mặt chữ của cha cháu không chứ? Nếu quên – bà đưa ra một lá thứ hai – thì đây có bức thư cha cháu gởi cho mẹ con cháu lúc còn sông. Cháu hãy so sánh, thị sát kỹ thủ bút của cha cháu.
Lý Ngân bàng hoàng nhìn nét chữ thân quen, đôi mắt hoa hoa trong đầu óc. Chàng đi lại bên hương án, kề sát tờ thư vào cây hồng lạp cháy vạt ngọn. Tay run rẩy, dòng chữ nhún nhẩy. Mấy giọt nến nhểu xuống trang thư đỏ thẫm như giọt huyết. Mấy lần chàng cố định thần mới đọc nốt được những dòng chữ cuối cùng. Một quả chùy nặng như đập ngay vào mặt chàng, mắt chàng hoa lên những vòng tròn màu vàng lửa nến lấp lóa bắn ra những tia sáng đỏ đòng đọc như máu. Có tiếng Thái Hậu kêu lên rồi bà cúi xuống nhặt lá thư bị buông rơi trên đất, châm vào ngọn nến. Bà nhìn ngọn lửa liếm lẹm dần tờ thư, miệng lầm rầm: - Chú Quán ơi! Con nó đã đọc xong rồi. Chị gửi trả lại cho chú đây. Hồn chú có khôn thiêng hãy phù hộ cho con nó ơn đền oán trả.
Lý Ngân đứng trân chết điếng. Hồi lâu, từ bên trong cổ họng tắc tị, chàng mới khạc ra được một giọng khản đặc, như khạc ra một búng huyết trong mồm: - Thì ra kẻ mưu giết cha ta là Thái Úy Lý Thường Kiệt! – Rồi chàng đâm bổ ra ngoài – Thái Hậu kịp giữ chàng lại: - Cháu đi đâu thế?
- Cháu đi trả thù cho cha cháu!
- Khoan, nếu cháu đã quyết thì dì cũng sắp đặt trước rồi. Thanh Nga đâu? Tiếng dạ cùng với người theo ra – Con hãy đưa công tử đi, lo liệu mọi việc cho công tử. Nhớ cần phải thay ngay ống tên của công tử.
Lý Ngân gạt phắt: - Khỏi cần, dì ạ! Họ đã sát hại phụ thân một cách ám muội thì cháu trả thù họ một cách đường đường chính chính.
Chàng đi theo Thanh Nga như đi trong cơn mộng du. Lúc đến nơi bố trí, chàng mới sực nhận ra ngôi miếu thổ thần cạnh đầm sen, nơi hôm qua chàng suýt thốt lời thề độc với Hạnh Hoa. Dưới gốc sung còn ấm dấu chân nàng… Ôi! Lòng người hiểm độc khôn lường.
Chàng hạ cánh cung bằng gỗ thiết đằng đen bóng, to như cổ tay người lớn, rộng cả sải tay, lắp hai mũi tên liên châu vào. Trên đường hòe, bóng cỗ kiệu son rước Thái Úy về triều đã nghễu nghện tiến lại. Chàng cố trấn tĩnh tâm thần, đợi bóng tấm diềm trước đỏ chói lọt vào tầm bắn, nghiến răng bật dây cung. Sau đấy chàng không hay biết gì nữa. Chung quanh đổ nát, hoang vu, tăm tối. Dường như có tiếng Thanh Nga reo khẽ: - Trúng rồi! Và một bàn tay lạnh buốt nắm lấy tay chàng kéo đi, lên ngựa phi thẳng về phía bờ sông. Ở đấy chờ sẵn một chiếc thuyền lớn gắn sáu mái chèo. Chàng bước vào khoang, không kịp vái chào ai cả, đổ vật xuống ván thuyền.
Loáng thoáng dáng dấp ai như Đỗ đại nhân, người khách chàng đã gặp nhiều lần ở cung Thượng Dương và một khuôn mặt hao hao lang tướng Nguyễn Căn nhìn chàng chăm chú.
Sau đấy, hồn chàng phiêu phiêu bước vào một cuộc đi triền miên, mông lung, vô tận…

10
Vốn là chỗ đi lại thân thuộc với quan Thái Sư tể chấp Lý Đạo Thành, Thái Bảo Nguyễn Châu lầm lũi vòng theo lối bên, bước vào nội phủ, men quanh vườn hoa lần đến tận hiên tây, nơi đó quan Tể Chấp thường tĩnh nghỉ sau những giờ việc quan mệt nhọc.
Tể Chấp đang ngồi bên án trước chiếc khay gụ chạm rồng trên xếp một tập văn thư. Đằng sau là những chồng sách bìa cứng phất cậy gáy son, đặt ngay hàng thẳng lối, tăm tắp nghiêm nhặt. Căn nhà sạch tinh không vướng vất bóng một hạt bụi nhỏ trên vách phấn.
Thấy quan Thái Bảo, Tể Chấp đứng lên đưa tay sửa lại nếp khăn vấn đoạn xanh cho thật ngay ngắn, cân phân rồi mới phân ngôi chủ khách cùng ngồi.
Sau tuần trà, Thái Bảo đặt chén xuống, nhìn ra rặng thạch trúc bóng lá xanh um mọc trước sân nhà khẽ thở dài.
- Hôm nay quan Thái Bảo có điều gì mà trông thần sắc không vui – Tể Chấp dè dặt hỏi.
- Dạ, thưa Tể Chấp, có gì đâu ạ. Tiểu đệ vì đối cảnh sinh tình, mải ngắm rặng trúc kia mà nghĩ đến cảnh trúc già măng mọc nên mới chạnh lòng.
- Lão phu lại nghĩ khác – Tể Chấp mỉm cười vuốt chòm râu bạc chùng đến bụng – Thái Bảo trông kia, trúc càng già càng lộ hết mọi nét đẹp thanh cao, da trúc càng ngả sang màu ngà cao quí.
- Dạ, giá ai cũng nghĩ được như Tể Chấp thì việc thiên hạ tốt lành mà triều chính cũng tránh được mọi điều ngang trái – Thái Bảo hạ giọng vẻ buồn phiền – Thật quả tình tiểu đệ không hiểu Thái Úy nghĩ thế nào mà lại làm như vậy?
- Chắc Thái Bảo muốn nhắc đến chuyện tuyển tăng quan sang ngạch quan chức triều đình để điền vào những chỗ khuyết?
- Dạ, vâng, đúng như vậy ạ. Tiểu đệ thiển nghĩ việc chọn người cất nhắc là việc vô cùng hệ trọng, trên hòa cùng trời đất, dưới thuận với nhân tâm. Đáng lẽ Thái Úy nên nghĩ nhiều đến các vị lão thành, tôn trọng các bậc trưởng lão, đằng này Thái Úy tiến cử những kẻ đầu xanh tuổi trẻ. Chúng chỉ ham đấu vật chọi gà lấy điều háo thắng làm trọng. Có lần tiểu đệ đã nói: - Thái Úy nên quan tâm đến những bậc trưởng thượng vì có già rồi sau mới có trẻ. Thái Úy chỉ cười đáp: - Có trẻ rồi sau mới có già. Quan huynh còn quên vế sau đấy.
Thái Bảo Nguyễn Châu quả đã khía đúng vào chỗ sâu kín nhất trong tâm tư Tể Chấp. Ông và Thái Úy là hai vị túc thần đứng đầu triều. Hai người không ưa nhau vì tính khí không hợp nhau. Bên già, bên trẻ. Bên thuộc dòng hoàng tộc, bên từ bách tính xuất thân. Lý Đạo Thành là một nhà nho học lão thành, điềm đạm ôn hòa và hay cố chấp. Trái lại, Lý Thường Kiệt lại xông xáo, bộc trực có nhiều quyết đoán.
Sự xung khắc ban đầu về tính tình giữa hai gương mặt lớn nhất của thời đại này sẽ chỉ là vụn vặt, tuy có nhuốm thêm màu sắc nhiều mặt cảm riêng tư. Và những va chạm cỏn con ấy sẽ không đưa đến hiềm khích nếu không có sự tranh chấp bất đồng trong vấn đề nhân sự, trong cách nhìn nhận đánh giá người để sắp xếp vào phẩm trật triều đình.
Lý Đạo Thành được vua Lý Thánh Tông chọn làm Tể Chấp từ lúc mới lên ngôi. Mười tám năm làm tể tướng, ông chưa gặp điều gì va vấp. Các quan văn võ kính yêu, các nhà minh kinh bác học đều phục. Mười tám năm làm tể tướng, ông ung dung cầm cương đưa cỗ xe nhân sự đi từng bước một nhịp nhàng, êm đềm, nhàn nhã. Thế mà bỗng dưng có kẻ ngồi đằng sau ông cứ muốn vụt roi cho ngựa lồng lên thì ông chịu làm sao nổi.
Nghĩ đến Thái Úy, Tể Chấp không khỏi cảm thấy lấn cấn. Ông nhìn ra rặng thạch trúc rồi kéo cái khay gụ lấy ra một tập văn án: Thái Bảo còn chưa biết điều này. Đây, quan Thái Úy còn muốn vượt qua qui tắc, tuyển người không thông qua cửa Phật.
- Ồ! Không ở cửa tăng sư ra thì lấy đâu đủ học vấn chữ nghĩa để làm việc quan – Thái Bảo kêu lên- quá thể! Rõ là quá thể!
- Quan Thái Úy khuyên lão phu mở những kỳ thi tuyển chọn những kẻ tinh thông hình luật, bổ làm viên lại cho bộ Hình. Thái Úy muốn mọi việc xét xử được nghiêm minh nhanh chóng. Lão phu nhớ Tiên Đế xưa thương dân như con. Phàm kẻ can án, Tiên Đế coi như đứa con hư cần phải chăm sóc nhiều hơn. Lão không quên năm Ất Mão, trời đông giá rét, lão mặc kép áo khoác cừu mà vẫn thấy rét run. Tiên Đế nói với lão phu rằng: - Ta ở trong cung kín sưởi lò than, khoác áo lông, mà còn rét như thế này. Ta nghĩ đến tù nhân bị nhốt trong lao, chịu trói buộc khổ sở mà chưa biết phải trái ra sao, ăn không đầy bụng, mặc chẳng che thân. Ta thật lấy làm thương. Rồi Tiên Đế sai quan sĩ sư cho người đem chăn chiếu phát cho tù nhân, cấp cho một ngày hai bữa cơm. Rồi lại một lần khác khi Tiên Đế xử kiện có công chúa Đông Thiên bên người, năm ấy là năm nào nhỉ?
- Dạ, năm Ất Tị, tiểu đệ còn nhớ Tiên Đế chỉ vào công chúa nói rằng: - Ta yêu con ta như là cha mẹ dân yêu dân. Vì dân không hiểu luật nên mắc tội. Ta lấy làm thương. Vậy từ nay về sau, không kể tội nặng hay nhẹ, các người phải xử một cách khoan hồng.
- Đúng đấy. Đại loại những chuyện ấy lão phu đều kể qua để nhắc khéo Thái Úy. Lão phu nghĩ trước đã làm thế nào thì nay cứ thế mà làm.
- Dạ tiểu đệ chắc Thái Úy không còn đâu lý lẽ để mà cãi nữa.
- Thái Úy chỉ nhẹ nhàng bảo lão phu rằng hiện nay có nhiều người ăn trộm trâu nếu không nghiêm trị thì dân cày sẽ vô cùng khốn đốn. Tiên Đế thương dân chứ không thương những kẻ đang làm hại dân. Lão phu còn đang gẫm lại những lời của Thái Úy.
- Dạ, thưa Tể Chấp – Thái Bảo nhìn xoáy vào Lý Đạo Thành – Tiểu đệ chỉ lo rằng không khéo Thái Úy lại học đòi bắt chước người Tể tướng họ Vương của nhà Tống thi hành tân pháp.
- Bắt chước thế nào được ! – Giọng Tể Chấp trở nên sôi nổi – Vua Tống Thần Tông trẻ người non dạ, tính hay sính cường mới thích dùng những kẻ hung hăng như Vương An Thạch làm tể tướng. Chứ ở ta, tự quân còn thơ ấu, chẳng lẽ phải chọn trẻ con vào triều để bàn việc nước ư?
Để hiểu thêm được câu chuyện giữa hai vị đại thần này xin mách với bạn đọc rằng:
Triệu Khuông Dẫn sau khi đánh tây dẹp nam, chinh phục các nước lân bang đã lập nên nhà Tống. Tống Thần Tông Triệu Húc là đời vua thứ sáu. Chắc hẳn vào một buổi sáng đầu xuân tại đất Thăng Long, vua Lý Thánh Tông đang vỗ long án giận dữ vì nước Chiêm sinh lòng phản nghịch dám vô cớ tuyệt giao để hai năm sau kéo quân sang chinh phạt, thì cũng vào giờ ấy ở bên kia, Tống Thần Tông bước lên ngôi vua. Ông vua trẻ tuổi này mang lên ngôi một ý chí quật cường chấm dứt chuỗi ngày yên lạc triền miên của các đời vua trước. Chỉ 8 tháng sau ông đã tìm gặp được một đình thần lý tưởng: Vương An Thạch. Và có lẽ khi đám mây vàng hình rồng hiện trên chiếc lầu thuyền của vua Thánh Tông chuẩn bị cuộc nam chinh thì trong cung nhà Tống xảy ra cuộc gặp gỡ quyết đinh, lý thú nhất và cũng tâm đắc nhất giữa vua Tống với bậc kỳ tài của đất nước họ. Và cũng chỉ tháng sau, vua Tống trao vào tay họ Vương chức tể tướng đầu triều. Vương An Thạch là một bộ óc kinh bang tế thế vĩ đại và tân tiến có một không hai của dân tộc Trung Hoa. Những phương sách ông đề cử với vua Tống nhằm làm dân chúng giàu có, quốc khố dồi dào, binh lực hùng mạnh cho đến ngày nay vẫn còn có giá trị. Các phép nội trị mới mẻ ấy được gọi là tân pháp. Để thi hành tân pháp, Vương tể tướng dùng loại quan trẻ.
Phải nói rằng vua ấy với tôi ấy có thể làm nên sự nghiệp nếu không có sự phản kháng mạnh mẽ của các vị lão thần. Họ Vương, tuổi trẻ mà quyền sớm thịnh nên không khỏi bị đồng liêu ganh ghét. Hơn nữa phái quan trẻ hết lòng ủng hộ Vương An Thạch, còn phái lão thần lại ra sức bài xích. Trong triều hình thành hai phái – phái trẻ phái già, phái tân phái cựu – phân tranh kịch liệt.
Nhắc đến Vương An Thạch, Thái Bảo Nguyễn Châu ngụ ý bảo ngầm Lý Đạo Thành rằng cái họa phân tranh kia sẽ xảy ra nếu không kịp thời chặn đứng bàn tay của Thái Úy. Nhưng Tể Chấp vẫn tiếp lời, giọng quả quyết: - Thái Úy trẻ tuổi nên tính khí còn cương cường. Nhưng xin Thái Bảo đừng quá lo. Còn cái đầu bạc này đứng giữa triều thì mọi việc còn tuân theo lệ cũ. Bỗng Tể Chấp dừng lại lắng nghe. Có tiếng nhộn nhạo ở phía trước dinh. Một viên quan thân hình bé choắt, hớt hải vào báo: - Bẩm quan Tể Chấp, có Thái Hậu giá lâm.
Hai người vội vàng chỉnh lại quần áo rồi cùng ra bên ngoài nghiêm giá.
Dương Hậu bước xuống xe loan, cho mọi người miễn lễ rồi đi thẳng vào giữa tiền đường. Các gia binh trong dinh tản ra xa, canh phòng cẩn mật.
Trông thấy Nguyễn Châu, Thái Hậu vui vẻ nói: -“Có mặt quan Thái Bảo ở đây càng hay. Ta đến báo cho các khanh một tin hệ trọng: Thái Úy Lý Thường Kiệt bị giết rồi!”. Dướng như những thớ thịt trên mặt Tể Chấp co giật. Trước mặt ông, một khoảng trống nhỏ hiện ra rồi lan rộng dần như những vòng nước dợn khi có viên đá ném giữa mặt ao. Tin dữ đến đột ngột như cơn lốc reo ù ù trong tai làm Tể Chấp không sao nghe rõ lời Thái Hậu đang nói tiếp: - Thái Úy bị bắn chết trên đường hòe giữa lúc ông ta đang ngồi trên kiệu về kinh – Thái Hậu dừng lại nhìn vào gương mặt trắng bệch của Tể Chấp: - Thôi thế cũng đỡ được cái gai nhọn trước mắt ta mà lão khanh cũng được thỏa lòng – Bà gằn giọng: - Có Tể Chấp Lý Đạo Thành không thể có Thái Úy Lý Thường Kiệt.
Câu nói này làm Tể Chấp chợt tỉnh: - Muôn tâu Thái Hậu, giữa thần và Lý Thường Kiệt quả có điều xích mích, nhưng đó là những điều nhỏ nhặt trong cung đình.
- Không nhỏ nhặt đâu, lão khanh hãy nghĩ lại coi. Thường Kiệt là một viên quan nhỏ ở chức Hoàng môn trong nội đình. Vậy mà ở gần vua, nhờ tài ton hót, Tiên Đế nâng lên hàng Thái Bảo rồi Tiết độ sứ lại phong làm nghĩa nam của Thiên tử. Bấy lâu nay y tranh chức đoạt quyền với lão khanh. Hai người ở cái thế rồng cọp tranh đua, sao Tể Chấp còn mơ hồ như vậy?
- Tâu Thái Hậu, thần trộm nghĩ Thường Kiệt là cột trụ của triều đình. Mất Thái Úy thì rồi đây phên giậu của nước nhà lấy ai chống đỡ?
- Thái Úy đang nắm giữ mọi binh quyền. Ta thử hỏi nếu mai đây y trở lòng quay giáo đổi cờ thì liệu cơ nghiệp của nhà Lý có còn nguyên vẹn. Sao lão khanh sớm quên cái họa quan Thập đạo Tướng quân ở đời triều trước nhỉ?
- Tâu Thái Hậu – Lý Đạo Thành vụt quỳ xuống – quả hạ thần bụng không ưa Thái Úy nhưng miệng phải nói rằng, Lý Thường Kiệt là một đấng đại thần, lòng trung sáng tỏ. Người ấy dám đội vạc trước sân rồng, cho trâu ăn dưới vực thẳm để giúp các tiên đế dựng nên nghiệp lớn. Điều gì chứ điều ấy quả thần không dám nghĩ sai.
Tể Chấp đã dứt lời mà tiếng nói vẫn còn vang trong đầu ông. Dường như đó không phải là tiếng ông mà tiếng một người nào khác bấy lâu ẩn kín trong người ông. Ông có cảm giác như những lời ấy ở từ các ngóc ngách sâu thẳm nào bất giác trồi lên miệng ông mà sức ông không kiềm chế nổi. Lạ một điều là ngày thường, xưa nay ông không ưa thích gì Thái Úy, vậy mà trong giờ phút này, nghe tin Thái Úy chết thì hình dáng Thái Úy bỗng đứng thẳng lên sừng sững trước mặt ông rõ nét uy nghi đúng với tầm cỡ của nó. Ông nhớ lại con người ấy đã giúp Tiên đế phạt Chiêm cự Tống, trong chấn chỉnh nội đình, ngoài phủ dụ năm châu sáu động ba nguồn, vỗ yên các phiên trấn, mở mang bờ cõi tận phía Nam. Công lao hãn mãn là thế mà nay bị một tên tiểu tốt vô danh nào sát hại. Ông ngẩng mặt lên tâu: - Thưa Thái Hậu, chẳng hay kẻ nào dám cả gan giết chết Thái Úy?
Thái Hậu đáp gọn: - Hắn là thằng cháu của Tể Chấp mà cũng là cháu ta.
- Ôi! Lý Ngân ư? Thằng nghịch đồ dám làm việc bạo thiên nghịch địa.
- Hắn vì ta, vì Tể Chấp, vì sự sống còn của dòng họ Lý mà xả thân. Đấy còn lại giọt máu cuối cùng của chi tộc nhà Tể Chấp đấy. Cứ đem mà giết đi.
Tể Chấp lặng im thấy người rời rã. Nhưng một hy vọng mong manh thoáng qua trong đầu ông. Biết đâu tin Thái Úy chết chưa chắc đã xác thực. Ông cất câu hỏi bâng quơ:
- Đã chắc gì bắn trúng mà chắc gì Thái Úy đã chết hẳn? Thái Bảo Nguyễn Châu nãy giờ vẫn đứng lặng thinh câm như thóc bỗng góp lời: - Thưa Tể Chấp, với kẻ nào khác còn ngờ được chứ với tài thiện xạ của công tử Lý Ngân thì mấy ai thoát chết.
Mơ ước cuối cùng tắt ngấm. Cái chết của Thái Úy giờ đây đã thấm vào người Tể Chấp và trở thành một sự thật hiển nhiên rồi. Tể Chấp rũ rượi gục đầu xuống ngực mơ màng nhìn hai giọt nước mắt rơi xuống chậm chạp lăn tròn trên chòm râu chùng trắng như tuyết…

11
Xe loan vừa về đến cung Thượng Dương, Thái Hậu đã gặp ngay nhiều chuyện bất ngờ.
Điều bất ngờ đầu tiên là có sắc chỉ của vua Càn Đức vời bà vào cung. Cuộc hội triều huy hoàng thiết yến bá quan, bà chưa kịp thực hiện đã được thay vào một cuộc hội nhỏ hẹp của một số ít vương hầu. Mà cuộc hội này không diễn ra trong ngôi nhà rộng thông thênh ở điện Thiên An hay dưới mái nhà tám góc của điện Thiên Khánh, nơi thường dùng để bàn chuyện chính sự. Cuộc hội bất thường này lại làm tại cung Long Đức, nơi ở của Thượng Hoàng Thái Hậu.
Người mẹ chồng này đã gây cho bà một cảm giác e dè, sợ sệt ngay từ buổi mới bước vào cung. Nỗi sợ hãi lâu ngày gấp nếp trong lòng bà. Bà tìm mọi cách để lẩn tránh Thượng Hậu. Cực chẳng đã, một năm hai lần bà mới đến chạm mặt Thượng Hậu trong nghi lễ vấn an. Nay vua lại giao cho Thượng Hậu chủ trì cuộc hội này chắc lành ít dữ nhiều. Tuy không nhạy bén, bà cũng cảm thấy đối phương đã đi trước bà một bước và đang mưu mô gì đây để giáng trả bà một đòn hiểm hóc. Song giờ đây bà coi cái chết nhẹ như bấc. Bà có sá gì. Lòng bà dấy lên một niềm thách đố kiêu hãnh.
Nhưng khi vừa đặt chân vào cung Long Đức thì điều bất ngờ thứ hai làm bà choáng váng. Đập vào mắt bà trước tiên là dáng dấp bình thản của Thái Sư Lý Đạo Thành với bộ râu nhốt trong túi gấm buông thõng trước ngực. Cạnh Thái Sư là thân hình hộ pháp của Thái tử Hoàng Chân, nước da hồng hào, mặt đỏ tựa chu sa, tiếng nói như lệnh vỡ, râu ba chòm đen nhánh. Kế cận là dáng người nho nhã của Thái tử Chiêu Văn, em của Hoằng Chân. Thời ấy phàm đã con vua đều gọi bằng Thái tử. Hai vị Thái tử này là em của Tiên đế Lý Thánh Tông.
Luồng mắt của bà đưa về hàng bên kia, bỗng dừng lại kinh hoàng. Đằng sau những đầu người lố nhố của các vương hầu nổi bật lên một dáng dấp uy nghi quen thuộc. Mắt bà hoa lên. Có phải cái nắng gay gắt cuối hạ ngoài trời làm bà quáng mắt? không, đúng là Thái Úy Lý Thường Kiệt đang nghiễm nhiên cung kính đứng dậy vái chào bà. Làn da trên gương mặt bà thường ngày trắng mịn một màu cẩm thạch chợt đỏ bừng lên rồi tái nhợt lại như màu tuyết dưới trăng. Bà phải gắng gượng lắm mới giữ được thân hình khỏi lảo đảo. Mắt bà cố nhướng lên mà không nhìn thấy bóng Thái Phi Ỷ Lan ngồi ở đâu cả. Thực tại chung quanh bà nhạt nhòa trong một làn sương mỏng.
Có tiếng Thượng Hậu cất lên đâu như từ phía sau bà: - Dương hậu đấy ư? Con lại ngồi đây với mẹ - Một bàn tay nhỏ nhắn xương xẩu nắm lấy bàn tay giá ngắt của bà kéo đi. Bà ngoan ngoãn bước theo Thượng Hậu lên ngồi ở ghế trên.
Thượng Hậu lại gọi: - Còn Ỷ Lan đâu. Con lên ngồi cạnh mẹ đây. Nghe tên Ỷ Lan, lòng Dương Hậu lại bốc lên niềm oán hận khiến bà trấn tĩnh lại.
- Lâu lắm ta thấy ít khi chị em bay được thân mật như thế này. Thượng hoàng Thái Hậu vừa nói vừa quay nhìn vào mặt Dương Hậu.
Thái Phi Ỷ Lan vội đáp: - Dạ, tâu mẫu hậu, chúng con được thế này là nhờ có mẹ ngồi ở giữa ạ.
- Còn Thượng Dương, con nghĩ thế nào? Phải chăng con có nhiều điều bất hòa không nói được?
- Dạ, tâu mẫu hậu, chuyện xích mích có từ lâu nhưng toàn những điều vặt. Bất tất phải phiền đến tuổi già của mẫu hậu.
- Ôi, giá được thế thì phúc đức cho dòng họ Lý. Nhưng ta e sự thể lại không tốt lành như vậy. Này Thượng Dương, có kẻ trong cung tố giác con muốn mưu hại Ỷ Lan, điều ấy có thật không?
- Dạ, tâu mẫu hậu, miệng người đời thường hay dị nghị đặt bày. Con có chống chế thế nào đi nữa thì chắc mẫu hậu cũng không tin.
- Không, ta đâu có tin da dẻ mà ngờ cật ruột. Nói phải có sách, mách phải có chứng. Quan Đô Tri đâu, hãy dẫn Lý Thông vào cho ta.
Lời truyền của mẫu hậu vừa ban ra thì Lưu Khánh Đàm đã đưa Lý Thông vào quì mọp trước mặt Thượng Hậu. Bộ mặt thâm hiểm quắt queo của viên nội giám vừa hiện ra thì mối nghi hoặc thấp thỏm của bà được giải tỏ ngay. Lòng ham muốn sát hại Thái Phi lâu ngày đã trở thành trong bà một mối cám dỗ cuồng nhiệt, không sao cưỡng nổi. Trong tình thế cấp bách thiếu suy nghĩ lợi hại, bà đã trao tính mạng bà vào tay Lý Thông. Và tên nội giám đã lừa bà như lừa một đứa trẻ con dại dột. Giờ đây mối cám dỗ ấy đã dẫn theo sự trừng phạt hiển nhiên.
Nội giám Lý Thông rập đầu xuống: “-Muôn tâu Thượng Hoàng Thái Hậu, đã từ lâu Thái Hậu Thượng Dương xui giục con giúp bà ám hại Thái Phi, mãi đến sáng hôm qua Thái Hậu mới trao cho tiểu thần một gói thuốc bảo phải lung lạc cho được ả thị nữ đầu bếp ở cung Kiều Hoa. Thái Hậu dặn: - Ta biết tính Thái Phi thường ăn chè sen vào lúc khuya. Chỉ cần bỏ một nửa gói này là đủ. Phải làm gấp, chức Đô Tri đang đợi mày đấy. Đó là sự thật, tiểu thần không dám khai man”.
- Ta không tin vào những lời bịa đặt vu vơ. Thái Hậu đã sai phái người, ắt phải có gì làm bằng chứng.
- Dạ muôn tâu, có chứng chỉ của Thái Hậu đây ạ. Vừa nói Lý Thông vừa dâng lên cái dải áo của hắn.
Thái Hậu đưa ngón tay rút tờ chứng chỉ trong dải áo ra, quay hỏi Thượng Dương: - Có phải đây là vật làm tin của con không?
Thượng Dương nói trong một hơi thở: Đúng là của con. Tùy mẫu hậu đèn trời soi xét.
Thượng Hậu cố nén phẫn uất, chậm rãi nói: - Lâu nay ta ăn chay niệm phật tu nhân tích đức để vun trồng quả phúc cho con cháu. Đối với hai con dâu, ta coi ngang nhau, không cân nặng nhẹ. Thế mà nay vua Càn Đức mới lên ngôi, tuổi còn thơ dại, mọi quyền chấp chưởng trong triều đều phó thác vào tay con, vậy ma vừa mới lên nắm quyền binh, con đã mưu toan những chuyện tày đình. Thái sư Lý Đạo Thành, ngươi đứng đầu triều, phụ chính cho Thượng Dương ngươi có biết ít nhiều về chuyện này không?
Đạo Thành bước ra, quì xuống: - Muôn tâu Thượng hoàng Thái Hậu, điều này quả thần chưa hề hay biết.
Thượng Dương bỗng kêu lên: - Thưa mẫu hậu, việc con làm, con chịu, Tể Chấp không dính dấp gì đến chuyện riêng của con.
- Thế ta hỏi, cái chuyện dọc đường có người mưu ám toán Lý Thường Kiệt, chắc Thái Sư cũng không hay biết?
- Dạ điều này… dạ, muôn tâu… dạ muôn tâu… - Đạo Thành ấp úng.
- Thôi chuyện của Đạo Thành có thánh thượng soi xét sau. Thánh Thượng chỉ giao ta phân xử việc này. Nay ta xét, Thái Hậu mới lên nắm quyền đã vì tị hiềm mưu hại Thái Phi, tội đáng muôn chết. Ta sẽ khải trình lên Thánh thượng, xin Người bắt giam Thái Hậu vào cung Thượng Dương chờ ngày đi theo hầu Tiên Đế để làm răn cho tam cung lục viện.
- Dạ, tâu mẫu hậu, con xin tuân theo thánh ý của mẫu hậu. Vừa đáp, Thượng Dương vừa cúi gục đầu xuống. Nhưng niềm uất hận không ghìm được đẩy bà rướn thẳng người lên, đưa tay chỉ thẳng vào mặt Thái Phi Ỷ Lan, giọng bà rít lại: - Ta vì thấp trí thua mưu nên bị sa vào cạm bẫy của ngươi. Ngươi đừng tưởng ta không biết.
Rồi bà cười nhạt, lững thững bước ra khỏi cung Long Đức. Tất cả mọi việc xảy ra trước mắt bà chóng vánh quá, thảng thốt quá, như trong một cơn ác mộng.
Bốn ngày sau có chiếu của vua xuống bãi chức Thái Sư Tể Chấp của Lý Đạo Thành vì thân làm tể tướng đặt ở ngôi cao mà biết trái không nói, thấy sai không ngăn, nên giáng xuống làm thị lang, trấn thủ ở Châu Hoan.
Trong những ngày sóng gió này, hơn ba nghìn quân cận vệ túc trực thay nhau canh giữ nghiêm ngặt bốn cửa thành. Đội quân tuần rầm rập kéo đi khắp các ngõ. Ban đêm cấm dân chúng đi lại. Những người có việc quan, cần đi phải thắp đèn lồng dán phù hiệu tộc huy và có lệnh bài của quan Kiểm hiệu.
Cả kinh thành lại một phen rộn lên tiếng xầm xì bàn tán xôn xao. Một bà công nương trong hoàng tộc khẽ rỉ vào tai một vị phu nhân: - Nghĩ mà thương Thái Hậu. Con người hiền hậu, dễ thương ấy thế mà nay phải ngồi đợi chết trong cấm cung.
- Nghe ông nhà tôi nói thì Thái Hậu cũng có tội kia mà.
- Tội tình gì? Đàn bà ai chẳng có máu ghen. Nếu nói tội thì cả lũ chị em ta cũng có tội.
Phái đàn ông thì bứt rứt nhiều về số phận quan Tể Chấp: - Lỗi là ở Thái Hậu chứ đâu ở Thái sư – Xử như vậy thì hơi quá đáng. Chẳng qua Thánh Thượng còn nhỏ tuổi, mẹ nói gì cũng nghe theo.
- Thế là quan huynh quên mất bàn tay của Thái Úy rồi. Họ cùng một giuộc với nhau cả.
- Tiểu đệ không nghĩ như vậy. Thái Úy đang ở Lạng Giang. Tiểu đệ không tin rằng cánh tay Thái Úy dài đến mức vươn đến kinh thành. Lại còn có tin nói Thái Úy suýt bị ám hại trên đường về. Rõ ràng người ta không muốn Thái Úy can dự vào việc riêng tay của họ.
Một viên quan, ý chừng muốn tỏ ra mình nhìn xa thấy rộng hơn, khỏa hai tay ra đằng trước để kết thúc câu chuyện quá rườm lời: - Đây là một cuộc phân tranh văn võ trong triều. Bây giờ bên võ đã thắng thế. Có vậy thôi.
Riêng đối với các bậc lão thần, vụ chính biến này còn để lại trong lòng họ nhiều ngậm ngùi, day dứt. Nhiều người đã để rơi những giọt nước mắt thương tiếc khi Tể Chấp Đạo Thành lên cáng lặng lẽ về trấn thủ đất Châu Hoan. Người ta không nhắc nhiều đến tên tuổi Thái Úy trong vụ này. Nhưng sự thật vai trò của Thái Úy ảnh hưởng không ít đến số phận của Đạo Thành và Thái Hậu Thượng Dương.
Lúc đầu, Thái Phi Ỷ Lan khăng khăng đòi bắt Thượng Dương phải chết theo Tiên Đế sau một vài ngày giam giữ ở cấm cung. Mối hiềm cũ như gai đâm trước mắt, nhổ sơm ngày nào đỡ xốn xang ngày ấy. Còn đối với Đạo Thành, Ỷ Lan lại nhẹ tay hơn. Việc để Đạo Thành ở lại triều hay không, bà không quan tâm mấy miễn là đừng để Đạo Thành đứng đầu bá quan là được. Giữa Thái Phi và Thái Úy, ý kiến có đôi chỗ bất đồng. Thái Úy đã khẩn khoản van nài Thái Phi xin trì hoãn cuộc hành quyết, kéo dài ngày sống cho Thái Hậu. Không phải ông đã cảm thấy có gì ám muội không được minh bạch lắm trong lời khai của nội giám Lý Thông hay có chút trắc ẩn nào đối với sự mềm yếu dại dột của bà hoàng họ Dương này. Trong ông, chỉ có một ý nghĩ đơn giản: lúc này cái chết của Thái Hậu có ích lợi gì cho chính sự không? Ông hiểu rằng Thái Hậu đang được lòng cả Hoàng tộc và Thái Phi Ỷ Lan tuy không muốn nhưng cũng bấm bụng chiều lòng Thái Úy, chỗ tựa duy nhất từ nay của mẹ con bà. Vì vậy, mặc dù bản án của Thái Hậu đã được sĩ sư ghi vào sử sách, Thái Hậu vẫn kéo dài chuỗi ngày sống ảm đạm trong cung Thượng Dương.
Nếu đối với Thái Hậu, Thái Úy còn nương tay thì đối với Thái Sư Lý Đạo Thành, ông càng khe khắt. Ông kiên quyết xin Thái Phi đưa Đạo Thành đi trấn phương xa. Dĩ nhiên yêu sách này của ông được Thái Phi dễ dàng chấp thuận. Nhưng chính Thái Phi cũng chưa hiểu hết được ý đồ sâu xa của ông. Việc của ông làm chỉ mình ông hay ông biết. Người thầy và cũng là người bạn đường tâm đắc duy nhất của ông, vua Lý Thánh Tông đã qua đời. Còn ai hiểu được ông? Còn ai có thể cùng ông nhìn thấy được cái đích trong mai hậu, thường ở ngoài tầm tên bắn…
Lúc tan chầu, Thái Úy về dinh thì Hạnh Hoa đi thăm quan Tán Kị Thường Hiển, em ruột của Thái Úy, mới ở Châu Ái ra, cũng vừa về đến cổng. Thấy Thái Úy, Hạnh Hoa chạy vội vào: - Cha ơi! Con nghe tin cha bị kẻ gian ám hại trên đường hòe. Thế mà mọi người ai nấy cũng giấu con. Nàng cầm tay cha giật giật: Làm sao cha thoát nạn?
Hạnh Hoa không biết rằng khi người yêu của nàng vừa rời khỏi Tiên Du thì rợn sáng hôm sau, Thái Úy đã có mặt ở trước điện Hàm Quang. Ở đấy, quan Đô Tri Lưu Khánh Đàm đã chực sẵn đón Thái Úy vào cung Kiều Hoa. Cả đoàn tùy tùng của ông vẫn đi theo chiếc kiệu son không người, đủng đỉnh về sau. Nhưng ông không muốn nhắc đến chuyện ấy, ông chỉ nói với con gái một câu cho qua chuyện: - Cha có chết cũng chết trên yên ngựa kia, chứ cha đâu có chịu chết vì một chút mưu nhỏ của đàn bà.
- Cha ơi! Tên hèn hạ nào dám bắn lén cha đấy?
- Chuyện đã qua rồi, con hỏi làm chi?
- Trời ơi! Sao cha lại nói thế? Con không phải là con gái của cha ư?
Thái Úy trầm ngâm giây lâu, rồi không biết nghĩ thế nào, ông lần tay lấy ra mũi tên: - Cha cho con biết nhưng con không được tiết lộ vì quan sĩ sư chưa xét đến việc này.
Hạnh Hoa vồ lấy mũi tên từ tay bố, đưa lên tận mắt. Nàng chỉ kịp kêu lên một tiếng nghẹn ngào cụt ngủn: Lý Ngân! Rồi nàng đổ vật xuống như gốc liễu trước luồng gió dữ.












0

Vậy ocean đánh luôn phần 3 dùm luôn nha, máy của CtLy đang gặp rắc rối, nên chưa đánh máy được

cảm ơn ocean nhiều nha
0
okie, mình sẽ cố gắng hoàn thành phần 3 sớm.

Ocean
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-02-11 14:51:11oceanpenguine>
Câu thơ yên ngựa - phần Ba


PHẦN BA

1
Gần một năm rưỡi nay, Lý Ngân sống trong một tâm trạng hai mặt. Càng thân cận Thái Úy, chàng càng có dịp thấy rõ đức độ của người mà chàng thầm gọi “Kẻ tử thù đáng kính” của mình. Chàng hồi tưởng lại câu chuyện kể của lão tướng Trần Nậm. Cho đến nay ông ta vẫn còn ngạc nhiên trước cách cư xử của Thái Úy với quan Thái Bảo Nguyễn Châu và tráng sĩ Nguyễn Địa Vân. Mà ngay đến lối xử sự của Thái Úy với chàng lại không đáng kinh ngạc hay sao? Phải là con người tự tin cao độ vào lòng ngay thẳng và sự trong sạch của mình mới có được thái độ ấy. Đứng bên ngoài, người ta dễ qui vào tính khí thất thường của Thái Úy, lúc quá nhân từ đại lượng, lúc lại cứng nhắc gắt gao đến tàn nhẫn. Nhưng ở gần Thái Úy, Lý Ngân nhận thấy đó là một điều ngộ nhận. Chàng biết rõ rằng Thái Úy sẽ dễ dàng bỏ qua những gì làm tổn thương đến bản thân ông nhưng lại kiên quyết không khoan thứ những việc làm có phương hại cho dân cho nước, dù kẻ ấy có chức trọng quyền cao đến mấy. Một con người bản chất liêm khiết như vậy không thể có ý nghĩ hèn hạ đặt bày những mưu mô quỷ quyệt để ám hại kẻ khác…
Toàn thân Lý Ngân run lên khi sắp chạm phải cái kết luận khủng khiếp ấy. Chàng hoảng sợ thực sự vì cứ theo lý lẽ ấy mà suy thì bao gánh nặng tội lỗi trước kia đành trút lên vai chàng. Chàng cố vùng vẫy như con ong sa vào lưới nhện. Chàng gợi lại sức cám dỗ đã nhạt dần của lá thư và những dòng chữ bị đốt. Chàng tìm mọi cách biện bạch cho sự chính đáng của mối thù cha. Ừ, thì cứ cho là một con người cao cả như Thái Úy không bao giờ thèm đem lòng đố kỵ đối với kẻ dưới. Nhưng biết đâu cha chàng lại không phải là một viên tướng lỗi lạc ngang tài với Thái Úy? Và lúc ấy liệu hai con hổ ở chung chuồng có chịu sống yên lành với nhau không?
Chút biện luận mong manh ấy cũng nhanh chóng lu mờ trước tài năng trác tuyệt của Thái Úy trong cuộc hành quân đánh sang đất Tống.
Trước lúc lên yên, Thái Úy có ngỏ lời với chàng về trận tấn công bất đắc dĩ này: - Phàm là kẻ có trách nhiệm với vận mệnh nước nhà, không ai muốn kéo sinh linh vào vòng đao binh cả. Nhưng nếu ta không chặn trước họ trong lúc họ đã có bụng đánh ta thì với tình thế phòng bị dở dang của ta hiện nay, chỉ trong vòng năm đến mười ngày, nước ta sẽ mất vào tay họ.
Dưới bầu trời âm u, gió rét thổi căm căm của tháng một, Lý Ngân theo Thái Úy bước xuống lâu thuyền cắm cờ soái. Thủy binh được lệnh nhổ neo đưa chàng vào những cảnh tượng mà ngay trong mơ chàng cũng không thấy được…
Chiến thuyền ta ập vào bờ đổ quân lên như vào chỗ không người. Thành Khâm Châu bị hạ trong nháy mắt không tốn một hòn đạn mũi tên. Trước mắt Lý Ngân, những kho khí giới đầy ắp, những đụn lương thảo cao ngất, hàng nghìn thuyền chiến xếp san sát như lá tre – những thứ quân dụng mà nhà Tống đã tốn bao công sức để dự bị cho cuộc chinh nam – bị tan biến đi trong khoảnh khắc. Ba ngày sau, thành Liêm Châu cũng chịu chung một số phận, sau một cuộc chống cự yếu ớt của Lỗ Khánh Tôn. Đạo quân đánh châu Liêm kéo thẳng qua châu Bạch, án ngữ phía Nam thành Ung Châu. Lúc đầu thế đánh chẻ tre của quân ta làm Lý Ngân sửng sốt. Nhưng cuộc hành binh từ châu Khâm lên châu Ung càng làm chàng kinh ngạc hơn. Trên con đường dài hơn hai trăm dặm ấy, đại quân đi giữa hai hàng đèn hương nghi ngút như đi giữa ngày hội. Dân chúng đứng hai bên đường, đem trâu bò đến khao quân, đặt hương án đón mừng cha Lý. Đến thành Ung, chàng thấy quân Thượng Du của ta đổ vào đã vây kín bốn mặt. Lại có tin quan Đô Giám Quế Châu, Trương Thủ Tiết, đem quân xuống giải vây cho thành Ung. Thái Úy xuất kỳ bất ý xộc thẳng lên ải Côn Lôn để diệt viện binh của địch. Mới xáp trận, quân Tống đã nửa bỏ chạy, nửa xin hàng.
Rõ ràng có nhiều sự việc ra ngoài sự hiểu biết và phỏng đoán của chàng. Chàng không hiểu Thái Úy làm cách nào mà tạo ra được những chiến thắng dễ dàng và nhanh chóng như vậy. Thực ra cuộc tấn công thần tốc này đã được Thái Úy bài bố rất công phu. Ông đã gài thành Ung vào một thế dở cười dở khóc. Với một lối đánh nửa hư nửa thực, quân Man động nhởn nhơ đốt phá các trạm biên thùy buộc lòng Ung Châu phải cho quân đi tiếp ứng. Đợi cho quân Ung đổ xô vào phía Tây và Tây Nam, Thái Úy mới đủng đỉnh rời Vĩnh An kéo đại quân theo đường biển đổ bộ lên Khâm Liêm. Lúc ấy đường từ Khâm đến Ung gần như bỏ ngỏ. Và điều quan trọng là Thái Úy đã giữ kín được sự bất ngờ. Bất ngờ đến mức quan Thừa Chỉ Trần Vĩnh Thái coi Khâm Châu, bỏ ngoài tai mọi tin cấp báo, ngồi nhởn nha uống rượu trong hậu dinh cho đến lúc quân ta kéo vào thành. Lưu Di chưa biết nguy cơ thành Ung bị vây vẫn còn xin vua Tống cấp cho bốn vạn quan tiền để mua lương trữ cho cuộc Nam chinh. Cả quan lớn quan bé của Tống đều đinh ninh Lý Thường Kiệt kéo quân đi đánh Chiêm Thành chưa thể về ngay được.
Cũng không ai nói cho Lý Ngân biết rõ sức thu hút kỳ diệu của tờ lộ bố yết dọc đường hành quân, tờ lộ bố đã khiến Vương An Thạch tức lồng lên nhưng lại được chúng dân Quảng Tây vui mừng chào đón như một vị cứu tinh từ phương trời Nam đến. Và dĩ nhiên Lý Ngân không thể biết Triệu Tú đã làm nội ứng trong quân Trương Thủ Tiết, giờ đây đóng vai hàng binh, đang cùng Thái Úy bàn kế phá thành Ung.
Nhưng làn sóng thần ồ ạt ấy bỗng bị chặn đứng trước thành Ung, một trong những thành nổi tiếng kiên cố nhất của nước Tống. Đây là cứ điểm bàn đạp chính của nhà Tống để tiến quân sang đánh Đại Việt. Nhổ được thành Ung, mọi công cuộc sửa soạn chiến tranh của Tống coi như phải làm lại từ đầu. Và tại đây, Lý Ngân được mục kích cuộc đọ sức thi gan giữa mưu trí của Thái Úy với lòng kiên dũng của Tô Giàm, viên quan trấn giữ Ung Châu.
Dựa vào thế lũy cao tường dày, với non ba nghìn quân còn sót lại, Tô Giàm biết trấn an lòng dân, tổ chức khéo cuộc phòng thủ, chống trả quyết liệt những trận hãm thành dữ dội của đối phương. Dò biết trong thành thiếu đến cả nước ăn, Thái Úy dùng kế hỏa công của Triệu Tú. Từ trên những cao điểm ở phía ngoài, cung thủ của ta bắn vãi vào thành những chất dẫn lửa gây nên những đám cháy lớn. Nhưng ngọn lửa hỏa công ấy chưa nung mềm được chút nào lá gan sắt quyết tử giữ thành của Tô Giàm. Hơn một tháng trời nay thành Ung khói lửa vẫn đứng vững giữa vòng vây.
Bao nhiêu tâm trí dồn vào chiến trận, Lý Ngân như quên bẵng cả ngày tháng. Mãi đến hôm qua, ngày Tết Nguyên Tiêu, Thái Úy ban cho chàng một chén rượu bồ đào, thưởng công chàng chế ra “thang Vân Thê” – một loại thang ghép, bắc nối nhau lên cao để quan sát bên trong thành – chàng mới hay mùa xuân Bính Thìn đã về trên đất nước người.
Sáng nay chàng mới kịp chú ý đến gốc đào hoang trong vườn ai vắng chủ, lơ thơ còn sót lại một vài nhành hoa cuối mùa. Xác hoa đào phơi hồng trên mặt đất gợi lên cái màu bình yên hây hây trên môi, má thiếu nữ măng tơ. Một nỗi nhớ thương day dứt bỗng nhói lên mà lại như êm ái ngoạm vào tim chàng tựa hàm răng ai nõn nà hoa cau ngoạm vào trái đào hồng năm ấy… Xuân Thăng Long năm nay ấm lạnh thế nào? Cây đào cạnh vườn Ngự có nhạt bớt sắc hồng vì cái đông giá vừa qua? Người chàng thương không biết có lần nào ghé lại gốc đào cũ để thăm một dáng hồng đã chìm sâu trong nỗi nhớ… Giữa tiếng ầm ào trận mạc vây quanh, tựa như đứng trên một hòn đảo nhỏ, chàng bỗng bắt gặp ở đây cái vắng lặng mỏng manh của khu vườn cây, của màu đào, của tình duyên ngang trái. Một tảng đá to, từ cái máy bắn đá nào trong thành Ung, vù vù bay lạc ra xa đánh sầm bên bờ giậu khiến cây đào giật mình để rơi những món trang sức cuối cùng.
Tiếng lão Vũ như nói bên tai: - Công tử lại nhớ Thăng Long rồi.
Lý Ngân mỉm cười: - Ôi! Chỉ có lão là hiểu thấu lòng ta – Nhớ thì làm thế nào được bây giờ hả lão Vũ?
Lý Ngân và lão Vũ là hai người được Thái Úy mang theo dưới trướng, sống kề cận bên Người. Không hiểu trong trường hợp nào đã đan kết nên mối tình thân gắn bó giữa họ. Có lẽ vì vắng bóng Hạnh Hoa, Lý Ngân coi lão Vũ như một chứng tích thân yêu còn lại trong mối tình đau thương của chàng. Cũng có thể vì không biết trang trải tâm sự cùng ai, chàng đem ký thác nỗi niềm vào lão, một con người lầm lì, kín đáo mà thật tốt bụng. Mỗi tiếng lòng chàng thốt ra đều được lão Vũ đáp lại bằng một sự cảm thông trầm lặng. Đã có lúc chàng không còn cảm thấy vị sống ở trên môi. Trong nỗi tuyệt vọng mịt mùng của chàng, lão Vũ thỉnh thoảng khéo nhóm lên một vài điểm sáng le lói. Dần dà lão hé cho chàng thấy những khoảng xanh của một trời ước mơ. Không ai biết trong thâm tâm lão nghĩ những gì nhưng rõ ràng lão mong muốn chắp nối mối duyên tình dang dở của chàng, vun đắp nó sinh hoa kết trái.
Nghe Lý Ngân hỏi, lão Vũ đưa tay chỉ thành Ung, vui miệng đáp: - Công tử nhớ thì hãy nghĩ cách hạ thành Ung sớm được ngày nào ta về sớm Thăng Long ngày ấy.
- Vậy thì lão nghĩ cách đi, ta cùng nghĩ với lão đây.
Vừa nói chàng vừa nhìn vào bức tường thành cao vút đứng trơ gan như thách thức. Trong thành những đám cháy không dập tắt vẫn ùn ùn đùn khói lên, trông xa như miệng chiếc lư trầm khổng lồ đang tỏa khói.
Không phải đến bây giờ có lão Vũ nhắc chàng mới nghĩ đến cách phá thành. Điều ấy lâu nay vẫn ám ảnh chàng cả trong giấc ngủ. Tâm linh chàng thầm mách chàng rằng cách phá ấy chàng đã có sẵn và nó đang ẩn nấp ở một ngõ ngách nào đấy trong người chàng. Bao lần chàng đã hoài công gõ vào đầu chàng như gõ vào một chiếc thùng rỗng. Trí óc chàng bịt bùng như một bầu trời vần vụ lúc mờ đục lúc tối sầm. Chàng muốn đưa tay vén bớt lớp mây dày tìm cho ra một khe hở. Có lúc tưởng chừng như nó đã đến gần chàng khiến chàng nín thở, tim đập phập phồng, người chàng run lên vì vui sướng. Nhưng khi chàng đưa tay đón bắt thì nó đã tan biến trong lớp mây mù, không để lại một âm vang. Trò chơi hú tim này đã nhiều đêm làm chàng không chợp mắt được.
Lão Vũ đứng bên chàng bỗng chép miệng: - Tường cao thế kia, sức người làm sao mà nhảy lên được!
- Lão Vũ! Lão nói gì thế? Chàng vụt sững sờ kêu lên.
Câu nói vô tình của lão như một cơn gió mạnh bất ngờ xé toang lớp mây dày che trí nhớ, để hở một khoảng trống cho ký ức xa xôi ào ạt đổ về… Thời ấy chàng còn nhỏ dại đâu như trước ngày chàng gặp bé Hạnh ở xưởng dệt Thái Hòa và được ăn một ngọn roi trúc đào quắn đít. Không biết nghe lời ai, chàng túm ông quần, đổ cát vào, tập nhảy cao để vượt qua bức tường đất sau nhà. Bố chàng trông thấy bảo: - Con chẳng cần phải nhảy mà vẫn qua được đấy! Rồi ông vào bếp, ném ra cho chàng mấy bó củi – Thấy chàng còn đứng ngơ ngác, bố chàng cười bảo: - Ngốc ơi! Sao không biết chồng củi lại cho cao mà bước qua…
- Cần gì phải nhảy qua, cứ chất củi bó mà trèo lên thành có được không? – Chàng buột miệng nói – Ơ, củi thì tên mang lửa của địch sẽ bắn cháy mất!
Mắt lão Vũ sáng lên: - Củi bó thì cháy nhưng bao đất thì chắc được công tử ạ!
- Ừ nhỉ! – Chàng nói như reo lên.
Không để cho chàng kịp nghĩ thêm, lão Vũ đã kéo tay chàng chạy bay về đại doanh gặp Thái Úy.
Lúc này Thái Úy đang ra lệnh cho Phò Mã Thân Cảnh Phúc và Thiết Nỗ rút thổ binh và đội quân voi về trước, án ngữ hai ải Quyết Lý, Chi Lăng để phòng ngừa mọi bất trắc. Tin thám tử vừa cho ông biết nhà Tống rục rịch động binh. Tể tướng Vương An Thạch lợi dụng lúc ta đang bận vây Ung Châu, định thừa hư kéo quân sang đánh úp Giao Chỉ. Vua Tống đã chọn Triệu Tiết làm đô tổng quản đạo quân đi chinh Nam.
Hai người vừa về đến nơi, Thái Úy chưa hỏi, lão Vũ đã bẩm trước: - Thưa Thái Úy, công tử Lý Ngân dâng kế phá thành Ung!
Lý Ngân buộc lòng phải trình lên Thái Úy những điều chàng vừa nghĩ được. Thái Úy lắng nghe, vẻ trầm tư tan biến. Nét tươi tắn phảng phất như làn gió đầu xuân, lướt qua gương mặt ông mà nụ cười còn ghim lại nơi khóe miệng. Xong câu chuyện, ông hoan hỉ đứng lên: - Kế hay, hay lắm! Ta mừng cho cháu. Kế này là một loại thuộc về phép thổ công trong binh pháp. Trước ta đã thử đào hầm dưới chân thành nhưng bị địch phá. Nay cháu lại bồi đất bắc cầu lên thành, thử xem Tô Giàm lần này có phá nổi không?
Bảy ngày sau, buổi sáng vừa ửng lên qua làn sương mù dày đặc, lính trong thành Ung Châu trố mắt đứng ngây nhìn một dòng sông chuyển động nhấp nhô những hòn những tảng cứ lừng lững trôi vào sát đến chân thành. Hàng vạn bao đất chồng chất lên nhau cao dần như núi. Thành Ung Châu bị hạ theo kiểu ấy.
Đạt được mục đích của mình, Thái Úy hạ lệnh cho toàn quân rút ngay về nước.

2

- Thời buổi chinh chiến này mà tướng quân có thì giờ rỗi rãi về thăm nhà đấy ư?
Vừa thấy bóng lang tướng Nguyễn Căn bước qua ngưỡng cửa, quan Thái Bảo Nguyễn Châu đã đánh tiếng hỏi con, giọng đùa nhưng có pha chút nghi ngại.
- Dạ, Thái Úy phái con về kinh sư có việc ạ!
- Việc gì thế?
Nhớ lại những lời ân cần dặn dò của Thái Úy, Nguyễn Căn ngập ngừng nhìn bố: - Dạ một việc quân cơ mật.
Một thoáng vui lướt qua như gợn sóng trên khuôn mặt quắt queo của Thái Bảo. Ông mừng vì mặc dầu mối giao hảo giữa ông và Thái Úy không lấy gì làm đẹp lắm, con trai ông vẫn được Thái Úy giao phó những việc tin cẩn. Nhưng ông vẫn ỡm ờ hỏi: - Cơ mật gì? Lại chẳng đi mộ sương binh ở lộ Quốc Oai đấy chứ?
- Dạ, không mộ quân mà mộ con hát – Nguyễn Căn buột miệng đáp.
- Hả! – Thái Bảo bật lên một tiếng sửng sốt, ông tưởng đâu mình nặng tai nghe nhầm – Con nói gì thế?
- Con đi tuyển mộ bọn con hát trong các vương phủ và các trà điểm ở kinh thành.
- Mộ con hát để làm gì? Để chuốc rượu ba mươi vạn quân Tống sắp kéo sang chăng? Hay Thái Úy nhà ngươi đã dở hơi rồi đấy? Hay vì việc cơ mật con nói dối bố chăng?
Những câu hỏi dồn dập của bố chứa chất một sự ngờ vực đáng sợ, tới tấp bay xuống đầu khiến người con bối rối, lúng túng đáp: - Mộ bọn con hát để làm gì ư? Quả tình con cũng không biết.
- Đi mộ con hát mà cũng là việc quân cơ mật!
- Điều này con chỉ nói riêng một mình bố biết. Xin bố giữ kín cho.
- Không giữ kín để nói ra cho thiên hạ cười thối đầu thối óc ư? Thế trong quân hết người hay sao mà phải bắt một vị lang tướng đi làm việc ấy?
- Dạ, Thái Úy bảo: - Chỉ có mình con là làm nổi việc này. Biết được bọn con hát, chọn người tốt giọng, hơi trầm mà vang xa.
Thái Bảo chợt nhớ đến quãng đời ăn chơi phóng đãng của con mình trước đây, quãng đời lấy rượu làm cơm bữa, lấy gái làm áo đêm, chả lấy gì làm “tiếng thơm” cho lắm. Bất giác, ông hiểu ra ngay tại sao Thái Úy chọn con mình.
- Thế mà anh vội hứng ngay cái việc ty tiện này ư? – Ông giận dữ gằn giọng xuống.
- Thưa bố - mặt Nguyễn Căn cứ nhơn nhơn – Con nghĩ rằng trong việc này, con vẫn là người sành điệu nhất.
- Đấy! Đấy! – Ông xỉa tay vào mặt chàng – Đấy mới là nỗi ô nhục cho gia phong nhà ta đấy con ạ!
Cơn giận sùi bọt mép khiến nét mặt khô quắt của ông nhăn nhúm lại như quả sấu sắp rụng. Không hiểu ông tức giận vì sự khờ khạo ngu ngốc của con mình hay vì sự Thái Úy cố tình nhiều lần hạ nhục bố con ông.
Ngỡ bố giận vì tính dễ bảo của mình, Nguyễn Căn cố biện bạch.
- Thưa bố, Thái Úy đã ban lệnh, làm sao con dám cưỡng lại ý Người.
Chừng như cơn giận đã nguôi ngoai, ông nhìn con ái ngại dịu giọng: - Con khờ lắm! Con làm tả lang tướng mà họ sai con đi bắt con hát. Con không lấy thế làm xấu hổ ư? Xưa nay có ai dùng con hát để đánh giặc đâu? Đó là chỗ thâm ý của họ muốn bêu xấu ta đấy. Nhưng thôi việc ấy ta hãy gác sang bên. Nay thân con làm tướng, ta thử hỏi con có biết tình thế nước ta hiện đang dầu sôi lửa bỏng đến mức nào không?
- Dạ con nghe quân Tống sắp phạm vào bờ cõi.
- Sắp gì nữa. Họ đang ngồi chễm chệ trước cửa ngõ ta rồi. Ngạn ngữ có câu: - “Muốn béo ghẹo ong”. Ở đời có trêu chọc tổ ong mới bị ong đốt. Có vô cớ phạm vào oai trời mới khiến Thiên triều nổi trận lôi đình đem quân sang hỏi tội. Ta không làm gì cũng mang phải vạ lây. Điều đó chắc con đã rõ. Duy lần nam thảo này, họ chọn quân nào tướng nào thì chắc con chưa biết.
- Dạ, quả thật con chưa biết.
- Toàn các bậc danh tướng của Trung Nguyên? – Thái Bảo ngừng giây lâu như để nhớ lại đầy đủ chi tiết mà Đỗ đại nhân cung cấp cho ông trong cuộc gặp gỡ gần đây – Đại nguyên soái Quách Quì là một vị tướng nòi, từng khét tiếng cả một phương Tây Bắc, quân Hạ nghe đến tên ông đã bạt vía kinh hồn. Phó nguyên nhung Triệu Tiết là vị trí tướng lừng danh về tài dùng kỵ binh khắp vùng sơn ngoại. Còn oai danh của Yên Đạt, vị lão tướng bạc đầu trong trận mạc thì đến vua Tống Thần Tông cũng phái kính vì. Dưới trướng họ còn có hàng trăm tướng trí dũng có thừa, mưu lược như Khúc Chẩn, Đào Bật, uy mãnh như Tu Kỷ, Miêu Lý. Tướng đã thế mà quân cũng không kém phần kiêu dũng. Ngoài quân thiện chiến ở các lộ Kinh, Hồ, Lưỡng Quảng, nhà Tống còn điều thêm hàng vạn quân kỵ tinh nhuệ ở các biên thùy Liêu, Hạ xuống Nam. Vó ngựa họ đi rung đất, thế quân họ tiến át sao Đầu mờ sao Ngưu.
- Con nghe quân phương Bắc của họ không chịu nổi lam chướng độc địa ở đất nước ta – Nguyễn Căn rụt rè góp lời.
- Con tưởng họ không biết rõ điều đó hay sao? Thái y viện của họ thiếu gì thầy giỏi thuốc hay. Hàn lâm y viện của họ đã chọn 57 bài thuốc trị lam chướng, sai sở hạp dược chế thành tễ cho quân họ mang theo. Con khỏi phải lo điều đó.
Nghe bố nói thế quân mạnh của nhà Tống, Nguyễn Căn đã thấy ớn lạnh cả người, nhưng chàng vẫn cố hỏi gặng: - Thế liệu họ có vượt qua nổi thành lũy Như Nguyệt không? À mà bố chưa thấy thành Như Nguyệt lúc mới làm xong. Con tưởng kiến bò cũng khó lọt qua bố ạ!
- Ta còn lạ gì cái đê ấy! Nhưng một khúc đê con làm sao ngăn được sóng lũ. Chín đạo quân của nguyên soái Quách Quì như chín cái đầu rồng phun nước. Không sạt chỗ này cũng vỡ chỗ nọ.
Có lẽ Đỗ đại nhân không hiểu gì về nội tình của họ, hay vì Nguyễn Châu cố ý thuyết phục con mình mà ông toàn phô trương tấm da vằn vện lòe loẹt bên ngoài của quân nhà Tống. Thực ra bên trong còn lắm chuyện lủng củng. Nuôi một đạo binh lớn như vậy ròng rã gần năm trời, lương cho người, cỏ cho lừa ngựa, trâu dê lợn rượu khao quân, hàng vài chục vạn dân phu đi theo phục dịch, công đài tải xa hàng vạn dặm. Lại còn phải sữa chữa thành quách, xây đắp cầu cống, mua chuộc dân khê động dọn đường trước cho cuộc chinh thảo xa xôi. Vua Tống đã phải bấm bụng mở công khố chi ra hàng triệu lạng vàng, chiếu cho tam ti coi việc tài chính lấy hàng chục vạn quan tiền trao cho lái buôn mua lương thực, đình việc đào sông Câu hà, vét thêm phu ném vào cuộc nam chinh.
Tuy có dự bị sẵn thuốc men mà móng vuốt của bệnh thời khí cũng đã quắp mất trên sáu nghìn người khi đại quân vừa xuống Quế Châu. Viên tri lễ nhà Tống được lệnh cấp tốc đi Hành Dương cúng thần Nam Nhạc, lập đàn cầu phúc cho quân nhà.
Nhưng lỗ mối rò nguy hiểm nhất trong quân nhà Tống có lẽ là mối bất hòa giữa hai tướng soái. Trước đấy Triệu Tiết được cử làm chánh soái nhưng đã đánh rơi chức ấy vào tay Quách Quì. Vương An Thạch che chở Triệu Tiết còn Ngô Sung bênh vực Quách Quì. Hai đại thần cãi nhau mỗi người mỗi ý. Cuối cùng cái thế đã bắt đầu suy của họ Vương không cứu vãn nỗi chức cũ cho Triệu Tiết. Sự lục đục từ trên dội xuống dưới. Hai tướng không thèm ngó mặt nhau. Lời của Triệu Tiết, Quách Quì bỏ ngoài tai. Mọi việc quân chỉ bàn riêng với Yên Đạt. Triệu Tiết đành nuốt giận vào lòng.
Những lời giáo đầu của Nguyễn Châu ở trên với con cốt dẫn đến những câu cuối cùng sau đây mà ông nói với một giọng trầm hạ thấp: - Nước ta đã lỡ ở thế cưỡi lưng cọp rồi. Sức ta chống họ như trứng chọi đá, châu chấu đá xe, sự mất còn chỉ trong sớm tối. Ta phải biết lo liệu thân ta trước. Chim khôn chưa động cành đã chớp cánh. Người khôn… Ông lại hạ thấp giọng xuống một cung bậc nữa khiến con ông suýt phì cười vì chàng đang nghĩ đến việc chọn giọng trầm các con hát: - Bố có quen một viên quan nhà Tống tên Thành Trạc trước làm chức giám ấp trại Hoành Sơn. Ông ta lại là chỗ quen lớn của nguyên soái Quách Quì. Sợ bố con ta rồi đây phải chịu cảnh ngọc nát vàng tan, ông ta có gửi cho bố mấy lá bùa hộ mệnh. Ông moi hồi lâu trong người ra một tấm thẻ bài dấu son đỏ chói trao cho Nguyễn Căn – Nếu rủi ro con có bị họ bắt thì cứ chìa tấm thẻ này ra, lập tức họ sẽ dẫn con đến gặp nguyên soái Quách Quì. Con hãy giữ kỷ vật này để phòng thân.
Lang tướng Nguyễn Căn cất tấm thẻ vào bọc rồi từ biệt bố đi lo công việc. Tuyển đủ số con hát, chàng lên Thiên Đức nộp cho Thái Úy rồi về thẳng Vạn Xuân. Trong chuyến đi này, chàng đã đánh rơi mất niềm tin trong cuộc chiến nhưng lại được tấm thẻ hộ thân giấu kín ở trong người.
Lý Ngân được lệnh nhận các con hát, phiên ra thành từng nhóm bốn người rồi lên gặp Thái Úy. Chính chàng cũng ngỡ ngàng không hiểu Thái Úy định dùng con hát ấy vào việc gì.
Thái Úy rút tờ hoa tiên gấp trong cuốn sách ra, mỉm cười hỏi: - Lý Ngân! Cháu còn nhớ vật gì đây không?
Mắt vừa chạm vào những dòng chữ trên giấy, chàng đã hồi hộp như chạm phải vật thiêng. Chính chàng là người duy nhất chứng kiến được, trong một trường hợp rất đỗi lạ lùng, sự ra đời của những dòng chữ ấy, những câu thơ thần viết trên yên ngựa. Chàng tưởng chừng như nghĩa lớn sinh tồn của cả một dân tộc đợi đến phút thiêng liêng ấy mới đúc kết thành lời. Mai đây dù năm tháng có phôi pha, chàng vẫn tin chắc rằng những điều chàng thấy vĩnh viễn còn sáng đậm trong ký ức chàng như màu mực mới.
Chàng nhớ rõ hôm ấy đại quân qua sông Đào Hoa. Gió bấc đã lặng từ hôm trước. Vệt ráng đỏ trong nắng quái chiều đông hừng lên ở phía trời Tây gợi người ta cái cảm giác ngày đang vào hạ. Dường như ánh trời vẫn cố giữ lượt phấn màu hoa đào thường vốn có trên gương mặt dòng sông. Ngồi im hàng giờ trên mình ngựa, Thái Úy đăm đăm nhìn vào làn nước lặng lờ. Cảm thấy như có điều gì lạ xảy ra, Lý Ngân, bước đến gần, tò mò nhìn theo hướng mắt của Thái Úy. Chàng kinh ngạc suýt kêu thành tiếng. Trên gương nước mênh mông, mở ra một trang sách trời lồ lộ. Những dải mây tê tê kết lớp giăng hàng phản chiếu trên dòng sông giống hệt những dòng chữ thẳng băng viết bằng một thứ mực son rực lửa trên nền giấy thiên thanh. Chàng thầm nghĩ phải chăng Thái Úy đang để hết tâm tưởng cố tìm đọc cho ra ý nghĩa huyền bí trên cuốn sách trời.
Qua sông, Thái Úy đảo mắt nhìn một lần nữa sắc đỏ ráng chiều, quay đầu mỉm cười với hàng thông mật đứng trên đồi cao, uy nghi chỉnh tề như đoàn quân sắp xung trận. Thái Úy thẫn thờ buông cương, cặp mắt mông lung khép lại lim dim, gật gà, thiu thỉu. Lý Ngân lo âu nhìn thân hình Thái Úy buông thả lắc lư theo nhịp ngựa đi mà hồn như để tận đâu đâu. Chàng mường tượng thấy Thái Úy như đang cố thoát ra khỏi cái vỏ thịt da bọc ngoài, vươn vào cõi vô cùng. Thời khắc cứ lặng lẽ trôi bao lâu không biết. Cái im ả hiu hiu của trời chiều quyện theo vó ngựa nhịp nhàng đi nước kiệu. Chợt đến một khúc đường quanh, vó ngựa lồng lên, Thái Úy mở choàng mắt ra như người vừa tỉnh giấc.
- Lý Ngân! Ta vừa chợp mắt…
- Trời ơi! Thái Úy ngủ trên yên sao?
- Suốt đời ta trên ngựa, có chợp mắt một lúc trên yên cũng là chuyện thường thôi. Có điều ta vừa trải qua một giấc mơ kỳ lạ. Lý Ngân như muốn kêu lên: - Trời! Thái Úy đã ngủ trên ngựa mà còn nằm mơ nữa ư? Nhưng chàng đã phải để tai nghe Thái Úy kể tiếp giấc mơ trên yên ngựa.
- Ta thiếp đi và thấy một mình đứng trên đỉnh đèo chấm mây. Chung quanh ta như có nghìn chim vỗ cánh xào xạc. Rồi giữa thinh không bỗng một rừng cây mở lá. Quả mật hương thơm chĩu chịt trên cành. Tầng tầng mây xanh thì thào tiếng nói của thần linh, tiếng của thần hay tiếng của nghìn xưa đồng vọng? Ta ngồi trên yên, ngửa mặt nghiêng tai, trong ráng đỏ chiều pha bừng bừng hào khí, lắng nghe tiếng nói của nước non vạn thuở… Lý Ngân! Con hãy bảo đem nghiên bút cho ta ghi lại.
Và cứ thế, ngồi nguyên trên mình ngựa, Thái Úy viết liền một mạch. Nhìn theo những nét chữ hiện dần trên trang giấy, Lý Ngân xúc động lẩm nhẩm:
“Nam quốc sơn hà nam đế cư,
“Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
“Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
(Sông núi nước Nam vua Nam ở
Cõi bờ phân định tự sách trời
Cớ chi lũ giặc sang xâm lấn?
Thất bại hay xem sẽ đến nơi)
Và lần này cũng vậy, câu thơ đốt lửa lòng chàng. Những câu thơ không hề xuống ngựa phi vào ngày mai trong ráng đỏ sắc chiều hôm. Một cảm giác mơ hồ từ nơi sâu thẳm của tiềm thức như báo cho chàng biết rằng vệt ráng đỏ hừng lên trên gương mặt chàng hôm ấy mai đây sẽ trở thành đặc điểm nhân dạng của người dân Việt, mỗi khi có giặc ngoài xâm lấn cõi bờ…
- Cháu hãy đem bài thơ này cho con hát tập ngâm. Vì đây là những lời thần nên họ phải đóng vai thần, cải trang giống thần, tập ăn nói đi đứng như thần. Cháu đừng lo, con hát họ sẽ biết cách đấy. - Thái Úy nhìn sâu vào mắt chàng – Lần này, ta mời thần linh cùng ta ra trận, cháu chớ xem thường. Nếu bọn con hát làm đúng được ý ta, ta sẽ cho lũ giặc một phen hồn vía lên mây trước oai linh của núi sông Nam Việt, bỏ chạy không kịp ngoái đầu nhìn lại, hàng muôn đời sau chưa dám thò chân qua đất nước này…

3
Hôm nay đã là những ngày năm cùng tháng tận. Người lính gác trước đại bản doanh Thiên Đức, co tay bấm đốt tính nhẩm. Ngày mai ông Táo về trời. Vậy mà cái nắng khan cứ chói trên đầu gã và khí lạnh là là quấn lấy đôi chân tê cóng của gã. Các loài hoa mở tung cánh đi trước mùa xuân. Nhớ lại cũng vào ngày này năm trước, gã còn đứng trước thành Ung Châu ngun ngút khói. Đến cái tết này nữa là gã đã ăn hai cái Tết chinh chiến rồi. Bỗng một con bò cái dáng chừng lạc con xổng mũi đi ngang qua nhìn gã với đôi mắt ươn ướt rồi vươn cổ be dài: “- Hăm… ba!” Gã giật mình quát lớn: “- Hăm hai chứ! Sao lại hăm ba? Dường như con bò mẹ không đếm xỉa gì đến lời gã, lại rống tướng lên lần này tiếng kéo dài thõng thẹo: - Hăm… ba…! Gã thắc mất: - Lại hăm ba, đồ quỉ cái! Mày muốn táo quên lên sớm một ngày để chết cóng trước cổng trời hả?
Gã đang định ngoạc mồm ra quát thêm cho át tiếng bò kêu, bỗng vội dừng lại chỉnh đốn tư thế khi thấy ông đô giám Nguyễn Địa Vân bước đến gần. Gã lấy giọng nghiêm trang bảo: - Quan Thái Úy đang đợi ông đấy! – Rồi gã chỉ đường vào hội sảnh.
Thái Úy đang đứng nhìn tấm họa đồ nước Việt trải trên một chiếc bàn lớn. Có lẽ trong khoảng thời gian những tháng cuối năm Bính Thìn này, có hai nhân vật lịch sử ở dưới hai vòm trời khác nhau, cũng đứng trước một tấm địa đồ nước Việt cùng chú tâm theo dõi một cách căng thẳng cuộc hành quân nam thảo của nguyên soái Quách Quì. Đó là vua Tống Thần Tông và Thái Úy Lý Thường Kiệt.
Mỗi khi được tin báo tiệp, vua Tống lại nghiêng mình xuống tấm địa đồ đưa tay chỉ trỏ, giảng giải cho các quan cận thần biết đâu là đất Quang Lang, đâu là Động Giáp, nơi xa nơi gần, chỗ hiểm chỗ bằng, lối quanh, lối thẳng. Tưởng đâu như cái nước Nam man nhỏ xíu ấy, đã nằm gọn trong lòng bàn tay của đức vua con trời. Binh phu ngày đêm chuyển điệp tới tấp mang đến sân rồng những tin vui thắng trận: viên tướng Lưu Kỷ, con hổ xám đất Quảng Nguyên đã đầu hàng, các tù trưởng châu mục khác đều lần lượt qui thuận, ải Quyết Lý hiểm trở đã bị san bằng: đại quân của Quách Quì tìm đường tràn xuống phía Nam. Muốn biết rõ động tĩnh của quân tướng Quách Quì từng ngày một, vua Tống cho đặt một đường dây trạm đặc biệt. Phu dịch mang những đại bài dài thượt đề sáu chữ to tướng “Khu mật cấp tốc văn tự” (văn tự cấp tốc của bộ quốc phòng) đổi ngựa thay nhau chạy thẳng về kinh không dừng qua các trạm dọc đường.
Mặt rồng nở nang khi đón nhận được tin chín đạo quân Tống đã dễ dàng vượt qua các dãy núi đá Đầu Mâu, đổ về trước cửa ngõ đồng bằng trên bắc ngạn sông Phú Lương, cách kinh đô Đại Việt chỉ non 40 dặm. Con sông Phú Lương nằm đâu nhỉ? Vua Tống đưa mắt dò từng dòng phẩm xanh ngoằn ngoèo chi chít trên tấm họa đồ của cái xứ sở xa xôi kia. Mắt ngài Ngự sáng lên đưa ngón tay trỏ chỉ vào một điểm: đây rồi!
Ngài chắc mẩm chỉ trong vòng dăm ba hôm nữa Quách Quì sẽ tuân theo lời ngài đem chia xứ Giao Chỉ ra làm quận huyện sáp nhập vào đất Tống. Sát trên mép biên dòng phẩm xanh mà ngài tin đó là một con sông hiền hòa, chỗ ngài vừa chấm tay vào, trí tưởng tượng cho phép đức vua thấy quân Trời đang tưng bừng hạ trại, dưỡng uy sức nhuệ để tiếp tục cuộc hành trình cuối cùng chọc thẳng vào sào huyệt vua Nam. Chả hiểu có phải vì tay ngài có dính chút hương trần phấn tục nào không mà một con ong từ đâu bay vào sà xuống cong đít châm đúng vào chỗ ngón tay vua vừa rút ra, rồi vụt bay đi mất. Vua Tống cau mặt như gặp phải điều gở. Quả nhiên từ ngày ấy vua Tống bặt hẳn tin tức của đoàn quân Nam chinh.
Còn Thái Úy Lý Thường Kiệt mỗi lần nhìn tấm họa đồ là một lần trầm ngâm suy tính, tra soát lại cách bài bố thế thủ của các đạo quân.
Thế đất Việt hình trăng non, hai sừng nhọn ôm vòng đất châu Ung của Tống. Tả dực là đất Quảng Nguyên có viên tướng kiệt hiệt Lưu Kỷ cùng 5 nghìn quân án ngữ. Hữu dực có quân ở châu Vĩnh An và hạm đội thủy binh đóng trên dòng Đông Kênh do tướng Lý Kế Nguyên đốc xuất. Còn trung quân có phò mã Thân Cảnh Phúc cùng đội tượng binh của Thiết Nỗ khống chế hai ải hiểm: Quyết Lý và Chi Lăng. Bên trái của phò mã, châu mục Hoàng Kim Mãn giữ đất Môn Châu chặn đường Bình Gia đến Phú Lương, bên phải Vi Thủ An giữ châu Tô Mậu trấn cửa ngõ đường vào châu Lạng. Đại quân của Thái Úy rải từ Động Giáp trở xuống, đóng dọc theo phòng tuyến Như Nguyệt. Đại doanh thủy binh nằm trên bờ nam Lục Đầu do Thái Tử Hoàng Chân với hai bộ tướng Thái Tử Chiêu Văn và tả lang tướng Nguyễn Căn thống lĩnh. Thế rẻ quạt lợi hại của đất Vạn Xuân chắp tay cho thủy quân có thể kéo lên sông Đào Hoa, Lục Nam hay vào Như Nguyệt, Thiên Đức hoặc ra Bạch Đằng, Đông Kênh. Sức mạnh hơn hẳn của đội thủy binh ứng chiến này càng làm Thái Úy vững tin vào thế thủ cực kỳ nghiêm nhặt của mình. Nhưng mỗi bận nhìn lại tấm họa đồ, Thái Úy vẫn cảm thấy có điều gì chưa ổn. Dường như linh tính của con nhà tướng báo cho Thái Úy biết trong kế hoạch phòng thủ của mình còn có một khe hở nào đấy. Tra đi soát lại mãi, Thái Úy vẫn không tìm thấy khía sơ suất còn mơ hồ ẩn sâu đâu đó trong tiềm thức. Nhưng giờ đây đọc kỹ lại những tờ trình của thám tử, Thái Úy nhìn thấy sai sót từ đầu của mình bỗng lộ ra trước mắt.
Lâu nay Thái Úy vốn biết thói bàng quan và tính dao động của các châu mục vùng giáp giới. Theo mạnh bỏ yếu là chuyện thường. Thái độ của họ là cái thước đo thế lực của hai nhà Tống, Lý. Quá tin vào nhiệt tâm của họ trong trận đánh Ung Châu, Thái Úy lãng quên điều đó. Giá Thái Úy bổ sung thêm bên cạnh họ một số quân tướng trung châu thì có lẽ cục diện chiến trường đã đổi khác. Biết ra thì đã muộn rồi. Thái Úy có trách mình cho lắm thì thủ lĩnh các châu Quảng Nguyên, Môn Châu, Tô Mậu cũng đã sớm đầu hàng trước đại quân Tống. Ải địa đầu không đương cự nổi thế quân thù.
Song điều bất ngờ nhất đối với Thái Úy là Quách Quì biết tránh cái bẫy Chi Lăng, vòng sang phía Tây, dồn cả đại quân vào con đường độc đạo Vạn Linh, vượt vúi Đầu Lĩnh, theo sông Phú Lương đổ xuống trước vành đai Như Nguyệt. Vì không nằm trong dự kiến, cánh binh lơ thơ dăm nghìn người của Thái Úy chẹn con đường hẻm Vạn Linh, chỉ đủ sức làm khó dễ phần nào đạo quân tiên phong của tướng Tu Kỷ. Và Tu Kỷ tách ra khỏi đạo quân tiến về phía Nam, bọc sau lưng Động Giáp khiến phò mã Thân Cảnh Phúc phải rút lui vào núi, bỏ trống ải Chi Lăng và biến cửa ải hiểm trở ngặt nghèo từng khét tiếng là Quỷ môn quan này thành vô tác dụng.
Nhưng lũy Nam Ngạn vẫn sừng sững một bức thành dài. Chín đạo quân Tống cùng dồn về đứng ngẩn ngơ trước cái hào sâu thiên nhiên tạo nên do con sông Như Nguyệt. Hai vị nguyên nhung, người bờ Nam, kẻ bờ Bắc, bắt đầu cuộc đọ mưu đấu sức.
Viên dũng tướng Miêu Lý của Tống vừa mới hạ trại đã hùng hổ tức tốc muốn đem quân vượt sông. Nghe theo lời Hoàng Kim Mãn, châu mục đất Môn hiện là hàng tướng làm hướng đạo cho cánh quân hữu dực, Miêu Lý trình với Quách Quì ý đồ đánh vào chỗ bất ngờ của địch, chọc thủng phòng tuyến bờ Nam, tiến một mạch thẳng đến Thăng Long. Quách Quì còn đang ngần ngừ thì Miêu Lý đã ước hẹn với tướng Vương Tiến bắc phù kiều qua sông xua quân tiến trước.
Ý định bắc cầu sang sông của quân Tống đã được phi báo cho Thái Úy đúng lúc Nguyễn Địa Vân bước vào hội sảnh. Ông hỏi tên quân thám tử: - Quân địch đổ bộ vào khúc sông nào?
- Dạ, đúng vào bến đò Như Nguyệt ạ!
- Chà! Tai mắt của họ không phải vừa đâu. Cho ngươi lui.
Thái Úy quay sang Địa Vân và Lý Ngân đứng cạnh, dặn dò mọi điều cần thiết trước lúc bước vào trận đánh: - Hôm nay đội Bảo Vân của Đô giám phải hóa thành áng mây đức thánh Tản – Ông tươi cười bảo – Còn mũi tên của Lý Ngân phải là mũi tên thần Long Thủy. Các ngươi phải làm cho quân giặc tan phách lạc hồn, tước ngay đầu nhuệ khí của bọn chúng.
Theo kế hoạch vạch sẵn từ trước, các tướng lần lượt tới nhận lệnh tiễn răm rắp thi hành.
Trong hội sảnh chỉ còn lại Thái Úy, lão Vũ và tấm họa đồ bị gió thổi lật gấp lên một góc. Một hồi trống đồng rền vang bứt nốt những chiếc lá cuối cùng trên cây hoa vông trước bản doanh. Thái Úy quay lại bảo khẽ lão Vũ: - Vũ nhi! Bây giờ thì đã đến lúc con sang sông rồi đấy!
Và ở một khúc sông vắng nào đấy, trong lúc Vũ Anh Thư vượt qua bờ Bắc thì tướng Miêu Lý do Hoàng Kim Mãn dẫn đường cũng thúc quân đặt chân lên phù kiều tiến sang bờ Nam. Vó ngựa chiến rầm rập làm rung chiếc cầu nổi, lao thẳng lên mặt lũy Như Nguyệt. Gặp sức chống cự yếu ớt của quân Việt, Miêu Lý hí hửng hạ lệnh đội tiền quân xông lên phía trước. Hậu binh của Vương Tiến chưa kịp qua sông thì hai mũi Đông Tây giáp công của Thái Úy đã chiếm lấy đầu cầu, khép chặt lối về của quân Tống. Vương Tiến ở bên kia sông hoảng hốt sợ quân Việt dùng cầu tràn sang bờ Bắc vội vã hô quân chặt đứt phù kiều.
Không mảy may hay biết gì về việc ấy, tướng Miêu Lý theo sự hướng dẫn của Hoàng Kim Mãn vẫn ruổi quân trực tiến. Con đường đến kinh đô nước Việt xa chỉ mấy chục dặm mà sao ngoắt ngoéo lạ thường! các cụm phục binh của Thái Úy như nằm nhan nhản mọi nơi. Lúc xáp gần đánh rát, lúc ở xa tên bắn ràn rạt. Quân của Miêu Lý bắt buộc hết rẽ sang Đông lại ngoặt sang Tây, loay hoay mãi mà chưa ra được con đường thông lộ - Tên độc ngấm vào làm rụng dần đoàn quân nhưng không làm rụng được ý muốn quyết lập công đầu của Miêu Lý. Mãi đến lúc chiều muộn, Hoàng Kim Mãn mới reo lên chỉ vào một khoảng đất thưa nơi ấy có một vệt đường cái lớn chạy qua. Miêu Lý hăm hở kéo quân lần theo con đường lớn.
Bóng hoàng hôn từ mặt đất xanh xao hiu hắt dâng lên giàn giụa. Những tàu lá khô bên đồi trắng rợn lên một màu áo mới trong đêm. Đoàn quân đang đi bỗng chùng hẳn lại. Mọi người đều sững sờ trước hiện tượng kỳ dị đang bày ra trước mắt họ.
Trong ánh chập choạng tím sẫm của ngày tàn, họ nhìn thấy một dải mây cong cong lượn lờ sà thấp trên mặt đất như tấm lụa bạch vắt vẻo ngang đường, đang bò dần tới sát chân ngựa. Miêu Lý cho đoàn kỵ binh đạp lên mây mà tiến. Hai đầu lụa gấp quặt vào nhau như muốn trói chặt đoàn quân. Vừa chạm vào làn mây độc, ngựa bị tiện vó ngã lăn kềnh, giãy lên đành đạch. Tiếng ngựa hí thảm thiết lẫn trong tiếng người la hoảng. Hoàng Kim Mãn run cầm cập kéo áo Miêu Lý quay ngựa chạy lui. Bóng tối từ trời cao đổ ập xuống nhanh hơn vó ngựa. Đến một ngã ba, Miêu Lý chợt nghe như có tiếng người quanh quẩn bên tai. Theo ngọn gió Đông thổi nhẹ, một giọng quát uy nghiêm vọng đến, một giọng trầm vang xa tựa hồ tiếng thì thào của rừng núi âm u vào những lúc chiều muộn đêm vơi:
- “Nam quốc sơn hà Nam đế cư…”
Miêu Lý vội rẽ ngoặt ngựa sang phía Tây chạy thục mạng. Trong bóng tối dày đặc của đêm cuối năm, thấp thoáng đằng xa một ánh lửa. Đến gần, Miêu Lý thấy trong ngôi miếu cổ ven đồi đèn đóm thắp sáng trưng. Cảnh tượng hãi hùng bên trong làm đoàn quân rợn tóc gáy. Những con quỷ dữ khắp mình lông lá đang nhảy nhót trước thềm trong lửa đuốc chập chờn. Một vị thần mặt đỏ như tuyết chỉ tay vào bọn họ mắng: - … Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm…
Để trấn an lòng quân, Miêu Lý đánh bạo thúc ngựa tiến tới vung đại đao quát to: - Loài yêu ma phương Nam này sao dám trêu cợt binh sĩ Thiên triều! lời chưa dứt, từ trong miếu một mũi tên bay ra cắm đúng vào cái chóp gù nạm ngọc trên chiếc mũ đầu mâu của Miêu Lý. Viên tướng Tống sợ toát mồ hôi trán quày ngựa tháo lui. Cả đoàn quân nhằm hướng bờ sông chạy rùng rùng trong cơn thần kinh thác loạn.
Đạo quân lúc đầu đông hàng dăm nghìn người nay còn thưa thớt mấy trăm tên. Nhưng Miêu Lý mừng thầm vì không thấy quân địch đuổi sát. Gã đâu hiểu rằng Thái Úy có dụng ý để cho bọn họ còn sống sót. Đội tàn quân được lệnh vớt phù kiều kết bè để sang sông. Thốt nhiên trong ngôi đền thờ Trương Hống, Trương Hát ở cửa sông, đèn đuốc bật hồng. Tiếng quát “Nam quốc sơn hà…” của thần lại bay ra vẫn một giọng trầm nghe vang rền như tiếng sấm.
Miêu Lý vội vã cho quân xuống bè, lóp ngóp trở về bờ Bắc, trong tiếng quát mắng sang sảng đuổi theo sau của thần linh nước Việt.

4
Tuy đang cơn se mình, Hoàng Kim Mãn vẫn phải cố ngồi bật dậy. Ông vừa chống tay gắng gượng nâng tấm thân núc ních lên khỏi chiếu thì tướng quân Miêu Lý bước vào. Miêu Lý cho ông biết quân Tống vừa bắt được một tên gian tế người Việt. Hắn khai hắn là chỗ quen thân với quan đầu mục Môn Châu. Sự tình đang còn nghi hoặc nên Miêu Lý phải đến hỏi Hoàng Kim Mãn để biết rõ hư thực thế nào. Quan châu mục đưa ngón tay béo múp gõ nhiều lần vào đầu óc trì trệ của mình mà vẫn không sao nhớ ra được ai là kẻ quen biết.
Không! Không! Tôi không có ai là người quen biết ở đây cả. Chắc hẳn tên ấy khai gian để lừa dối quân Thiên triều – Hoàng Kim Mãn vừa mấp máy đôi môi dày mẫm vừa liếc mắt nhìn tên quân đang thập thò trước cửa.
Nhưng để biết rõ ngay gian, Miêu Lý đã hô quân cho dẫn kẻ bị bắt vào. Vừa trông rõ mặt kẻ gian, Hoàng Kim Mãn reo mừng cuống quít như người bắt được của: - Ôi! Ân nhân. Sao ân nhân lại đến được đây? Cảm tạ thần linh dun dủi cho ân nhân gặp Mãn tôi đang lúc bệnh hoạn này.
Vũ Anh Thư từ tốn đáp: - Tôi đến xứ Môn tìm gặp quan Châu, người nhà bảo quan đã theo quân Thiên triều xuống đất Lạng.
- Vừa rồi tướng quân Miêu Lý có hỏi nhưng vì ân nhân đến bất ngờ nên Mãn tôi không kịp nhớ ra – Y quay sang Miêu Lý – Thưa tướng quân, đây là quyến thuộc của hạ chức đến tìm có việc cần.
Nhìn thấy vẻ vồn vập chân tình của Hoàng Kim Mãn đối với khách, Miêu Lý nhã nhặn bảo Vũ Anh Thư: - Bọn quân lính của bản chức không biết tôn ông là người nhà của quan châu nên có điều khiếm khuyết, mong tôn ông thứ lỗi. Nói xong Miêu Lý cáo từ bước ra ngoài.
Hoàng Kim Mãn định nói gì thêm thì Vũ Anh Thư đã ra hiệu cho ông ta nằm xuống rồi thò tay bắt mạch.
- Nguyên khí hao tổn, hư hỏa thịnh mà chân âm lại rỗng – Vũ Anh Thư lẩm nhẩm. Chàng nhìn thẳng vào khuôn mặt tròn quay béo múp của viên châu mục mà nỗi lo lắng về bệnh tật không sao gợn lên được một nét hằn dù là nhỏ ở góc mũi trong hơi thở phì phò, hỏi khẽ: - Chắc hẳn quan châu vừa gặp một cơn nguy biến nào kinh tâm động phách khiến thần khí bị thương tổn.
Hình như câu nói của chàng đánh thức nỗi kinh hoàng trở về ánh lên trong đáy mắt của viên quan châu. Y lặng lẽ gật đầu đưa tay chỉ về phía bờ Nam: - Mãn tôi có theo tướng quân Miêu Lý sang sông và gặp phải quỷ dữ! Rồi y hổn hển thuật lại cuộc tháo chạy của quân Tống trong đêm tối hãi hùng đầy bóng quỷ hình ma mà có lẽ cho đến lúc xuống mồ y vẫn còn mang theo nỗi khiếp sợ ấy. Qua câu chuyện y kể, Vũ Anh Thư còn biết thêm rằng hơn ba trăm tên sống sót trở về mồm quàng quạc lên ngang nhiên gieo rắc nỗi kinh hoàng trong các đạo quân Tống đến mức cứ đêm xuống không một ai dám thò mũi ra khỏi doanh, đến mức nguyên soái Quách Quì ra lệnh sẽ chém đầu bất kể tướng nào tự tiện đem quân sang đánh bờ Nam.
- Ô! Sao quan châu lại nỡ đem tấm thân nghìn vàng của mình xông pha vào vòng nguy hiểm. Cứ ở lại đất Môn có yên ấm hơn không? – Giọng trách móc đầy thân tình của chàng làm Hoàng Kim Mãn cảm kích.
- Đã theo phải theo cho trót – Y chép miệng nói – Mà đâu chỉ có một mình Mãn tôi. Các quan châu khác cũng qui thuận Tống triều cả. Ngay đến Lưu Kỷ, quân hùng tướng mạnh thế kia mà cũng đầu hàng. Cả bộ thuộc và gia quyến của ông ta đều được họ đưa sang ở bên kia. Thế của họ mạnh lắm!
- Nhưng tôi xem cung cách hai bên đánh nhau nhũng nhẵng bên lũy cao hào sâu này thì chưa biết mèo nào cắn mỉu nào.
- Không đâu! Người Tống có nhiều mưu sâu chước lạ. Đời nào họ chịu bó tay!
Dường như sực nhớ đến bệnh tim của mình, y ngước cặp mắt chan chứa hy vọng nhìn Vũ: - Thế bệnh của Mãn tôi không nặng lắm chứ?
- Nếu để thêm vài ngày nữa thì bệnh sẽ trầm trọng. Nhưng đã có mặt tôi ở đây thì xin quan châu đừng lo ngại. Chỉ uống dăm thang “bổ tâm cứu dương” là cơn bệnh sẽ lui ngay.
Hoàng Kim Mãn tươi tỉnh mặt mày, bất giác cầm lấy tay chàng tỏ lòng biết ơn vô hạn. Nhưng y vội rụt tay về vì y vừa nghe một tiếng thở dài ảo não.
- Quan châu ạ! – giọng Vũ buồn bã làm động lòng người – Thân này cũng đang lao đao vì chiến sự. Nhà chỉ có mấy miếng bạc điền. Việc hành nghề gặp bước khó khăn. Mà về việc quân thì kẻ môn y này lại mù tịt. Chẳng rõ ai mạnh ai yếu, ai được ai thua, đây hay đâu dở…
- Ấy, Mãn tôi trước kia cũng nghĩ như ân nhân. Sau nhờ nguyên soái Triệu Tiết phái tướng Khúc Chẩn dẫn Mãn tôi đến gặp Người. Triệu nguyên soái khác xa với ông Quách Quì. Ông Triệu thì rộng rãi, tốt bụng còn họ Quách thì ti tiện, hà khắc. Đấy ông ta đang khiển trách Miêu Lý và bọn tôi về việc đem quân sang bờ Nam. Triệu nguyên soái phải bênh mãi mới yên được. Họ chẳng ưa gì nhau đâu.
- Chim khôn tìm cành thẳng mà đậu. Sao quan châu còn đi theo Quách Quì làm gì?
- Triệu nguyên soái bảo Mãn tôi đi theo đại quân để mưu sự về sau. Người nói cứ để cho Quách Quì múa may nhưng sự thắng bại không chắc định đoạt ở chiến trận mà đã được Thiên tử Tống triều an bài từ trước.
- Thế nghĩa là thế nào?
- Đây là chuyện tối mật – Hoàng Kim Mãn ghé mồm sát tai Vũ thì thào – Triệu nguyên soái cho biết người đã trao mật chỉ của Thiên tử cho Vệ Uông rồi.
Vệ Uông! Tên họ của viên thám tử lợi hại này làm Vũ Anh Thư hồi hộp rung động cả người. Bao lâu nay chàng đã nhọc công dùng mọi cách để dò la mà tông tích của gã vẫn còn mờ mịt. Không nén được vui mừng, chàng buột miệng : - Vệ Uông à?
- Ân nhân có quen biết người này ư? – Hoàng Kim Mãn ngạc nhiên hỏi.
- Tôi nhớ mang máng đâu như tên của một vị khách hàng có lần đã đến nhà chữa bệnh.
- Biết đâu lại chẳng phải ông ta. Trước kia Vệ Uông là người của quan Kinh lược Quảng Tây Ôn Cảo phái sang buôn bán làm ăn bên này cách đây hơn 20 năm. Ân nhân thấy có ghê không? Họ tính liệu mọi việc trước hàng mấy mươi năm rồi. Gần đây ông ta trở thành người quan trọng được vua Tống và tể tướng Vương An Thạch tin dùng. Nghe đâu chỉ vì một lời nói của ông ta mà Tiêu Chú ở Quế Châu phải cách chức.
Vũ Anh Thư vờn vỡ cố làm ra vẻ ngờ nghệch: - Đến quân tướng còn chẳng ăn ai. Tin làm sao được vào một tờ mật chỉ?
- Ấy, ân nhân chớ coi thường – Y đưa bàn tay xua xua như để làm tan bớt mùi cỏ ngựa ẩm mốc thỉnh thoảng theo ngọn gió đông, đưa vào nồng nặc – Nguyên soái Triệu Tiết hy vọng tờ sắc chỉ ấy sẽ khuynh đảo được nhà Lý. Kế hiểm của họ mà lại!
Dáng chừng thấy chàng nghe đã xuôi tai, Hoàng Kim Mãn mới ân cần thổ lộ ý định y đã ấp ủ từ lâu nhưng chưa tiện nói: - Ân nhân ạ! Trong quân Tống có bảy vị lương y xem ra đều dưới tài của ân nhân cả. Mãn tôi xin đem hết sức mình để tiến cử ân nhân với Triệu nguyên soái…
Biết y muốn tìm cách để trả ơn mình, Vũ Anh Thư vội cắt lời: - Việc ấy chưa phải lúc. Mẹ già tôi đang ốm nặng. Có một vài vị thuốc khan hiếm, chạy khắp nơi mà vẫn không tìm ra. Vì vậy tôi phải lặn lội đến nhờ quan Châu. Khi nào thân mẫu bình phục, tôi sẽ xin đến hầu quan ngay.
Miệng nói tay chàng vừa kê đơn bốc thuốc. Chỉ hai ngày sau, quan Châu đã hớn hở dẫn chàng đến kho quân dược lấy cho chàng mấy vị thuốc cần thiết.
Bên ngoài trông chàng tư thái vẫn ung dung nhưng bên trong óc chàng căng lên như một sợi dây đàn sắp đứt. Mọi ô kính màu ngóc ngách của trí nhớ đều được chàng mở toang để ngấm ngầm ghi nhận trong từng chi tiết nhỏ cách bài quân bố trận của địch. Tai chàng nhồi nhét mọi mẩu chuyện nghe lỏm được, những mẩu chuyện giàu màu sắc của quân tướng Tống, biểu hiện nỗi lo lắng không nguôi và niềm thất vọng chua chát đang nhích dần tới họ từng giờ từng phút. Quân ốm, lương thiếu đó là hai căn bệnh trầm trọng mà chàng đã chẩn mạch cho đội quân Nam chinh đang bị chồn vó trước dòng Như Nguyệt.
Qua câu chuyện của lính tráng, tình cờ chàng mới hay Thân Cảnh Phúc đã làm hậu quân địch ngày đêm mất ăn mất ngủ và là niềm khủng khiếp đối với đội binh vận lương của Triệu Tiết. Họ nhắc đến phò mã như nhắc đến một vị hung thần không hiểu từ xó xỉnh vô hình nào bỗng xổ ra chộp họ từng người một để phanh thây xé xác.
Lúc từ biệt Hoàng Kim Mãn, chàng nói đôi lời cảm tạ nhưng y đã lắc đầu: - Ôi! Mãn tôi được ân nhân hai lần cứu sống, chút việc Mãn tôi giúp ân nhân vừa qua nhỏ xíu như cái móng tay. Chỉ cầu mong ân nhân về nhà bình yên để chóng trở lại cho Mãn tôi được trả ơn dày nghĩa cả.
Nhà của Vũ Anh Thư lần này là Động Giáp. Nhận được tín lệnh của Thái Úy, Thiết Nỗ, viên tướng chỉ huy đội tượng binh ra tiếp chàng.
- Thưa tướng quân, động chúa còn bận đi gài bẫy ven bộ, lát nữa sẽ về - Rồi Thiết Nỗ giảng giải – Tất cả các loại bẫy như bẫy hầm, bẫy cần, bẫy treo, trước để săn ác thú đều được Động chúa đem ra dùng để bẫy giặc. Có khối quân địch sa vào bẫy chết kể đến hàng nghìn chứ không ít.
Nhớ lại lời kháo nhau đầy khiếp sợ về phò mã Thân Cảnh Phúc của quân Tống, Vũ Anh Thư bất giác nhoẻn cười nhưng nụ cười vụt héo trên môi chàng khi Thiết Nỗ thuật lại câu chuyện thương tâm của phò mã.
Số là sau khi phò mã rút quân bỏ trống ải Chi Lăng, tướng Tống Đào Bật thừa hư đem đội kỵ binh qua ải tiến xuống Nam, bất ngờ tạt qua xộc thẳng vào Động Giáp. Nhóm quân ít ỏi giữ động gần như bị đánh úp, luống cuống chỉ phò được công chúa Thiên Thành chạy vào rừng sâu. Bà nhũ mẫu lóng ngóng cùng hai đứa trẻ của phò mã ở lại bị địch bắt. Ôi! Hai đứa trẻ sinh đôi mới lên ba cùng là con trai cả, trông mới bụ bẫm kháu khỉnh làm sao. Vậy mà bọn chúng mổ phanh bụng ra, một cánh tay của hai trẻ ôm ghì lấy cổ nhau, còn tay kia thì thọc vào bụng nhau. Chúng trói lại rồi đem treo lủng liểng trên cành cây. Xác bà nhũ mẫu chúng đặt nằm ở dưới. Cặp mắt bà vẫn mở to trông lên còn đầy vẻ ngạc nhiên trong cơn hấp hối.
Lúc phò mã về đến nơi thì giặc đã rút lui. Ông im lặng nhìn xác hai đứa con mình, bình tĩnh tháo chúng xuống. Môi chúng mím chặt vạch một đường thẳng băng. Hạt mưa bay còn đọng lại bên viền mi long lanh như ngấn nước mắt chưa kịp khô. Phò mã xốc hai con mỗi đứa một bên tay, ngẩng mặt nhìn trời, râu tóc dựng đứng, hú lên một tiếng dài khủng khiếp, chạy bay vào rừng. Thiết Nỗ và thuộc hạ phải vất vả lắm mới đuổi theo kịp giằng lại trên tay ông hai xác hài nhi để khâm liệm.
Từ lúc ấy, phò mã như người câm.
Bỗng Thiết Nỗ đưa tay chỉ ra ngoài: - Kia động chúa đã về!
Vũ Anh Thư nhìn ra thấy phò mã Thân Cảnh Phúc đang lừ đừ đi vào. Hình như ông đã mất đi cái vẻ tinh anh lúc trước và già sụm xuống đến mươi tuổi. Đôi mắt đùng đục vân lên màu thau, dáng đi nhón nhén như con hổ giữa rừng đánh thấy hơi mồi. Vũ Anh Thư truyền lại vắn gọn mưu lược của Thái Úy:
- Quấy rối hậu quân địch.
- Phá đường vận lương.
- Sửa soạn phối hợp đánh trận giờ Tí.
Quân phò mã phải dùng nghi binh, phô trương thanh thế nhằm đạt cho được ba mục tiêu ấy.
Phò mã chú ý lắng nghe. Bỗng có quân vào báo tin địch bị sa bẫy. Phò mã đứng dậy rút búa phạt ba nhát vào chiếc kỷ rồi đưa tay mời Vũ Anh Thư lên yên cùng đi.
Cảnh tượng tên kỵ binh Tống sa bẫy trông thật hãi hùng. Cả người ngựa bị treo lơ lửng trên đầu cần cao chót vót. Con ngựa lực lưỡng màu xám tro cổ vươn dài ra phía trước, tiếng hí muốn đứt hơi, mồm sùi bọt mép lòng thòng, bốn vó cuống quít bơi trong không khí. Tên lính kỵ nằm chết gí trên lưng con vật hay tay ôm ghì lấy cổ, đôi chân quặp chặt vào bụng, mặt úp xuống bờm như muốn trốn vào đám lông bù xù rậm rịt. Dưới mặt đất, đám cung thủ của động chúa đang nhăm nhăm chờ bật dây nỏ.
Trong cảnh ngộ bi đát của tên lính Tống có gì thật hài hước khiến Vũ Anh Thư thích thú bật cười khanh khách. Chàng cảm thấy như được chứng kiến cái thế mạnh của đoàn kỵ binh địch đang bị treo vó. Mà phải chăng đây là hình ảnh thu nhỏ lại của hàng vạn vó ngựa trong đạo kỵ binh nhà Tống, ruổi vào đường hẹp đang bị vành đai Như Nguyệt treo lơ lửng bên sông?

5
Tại đại doanh Vạn Xuân, Thái tử Hoằng Chân hết đứng rồi ngồi, đi đi lại lại như con hổ bị chồn chân vì nhốt lâu trong chuồng. Nỗi ấm ức không duyên cớ từ đâu thỉnh thoảng kéo đến làm gương mặt ông vốn đã đỏ bỗng hồng rực lên như bông sen đầm hạ. Chừng như biết Thái tử đang cơn bực dọc, trời xuân chốc chốc lại quạt vào mặt ông một làn gió mát lạnh từ bờ sông Lục Đầu. Ngọn gió chỉ đủ sức phẩy nhẹ trên ba chòm râu đen mượt chứ không làm dịu bớt chút nào cơn bồn chồn bứt rứt trong người ông.
Đã tròn một tháng nay, kể từ lúc quân Tống kéo xuống hạ trại trên bờ Bắc, chưa lần nào ông được vẫy vùng một trận cho thỏa sức. Họa hoằn ông mới rầm rộ kéo đại đội thủy binh vào sông Như Nguyệt không phải để đánh nhau với giặc mà cốt bắt sống số tàn binh của Quách Quì dám mạo hiểm kết bè vượt sang bờ Nam. Dáng chừng quân Tống cũng đã ê răng không gặm nổi ba lần rào tre đực kiên cố của lũy Như Nguyệt nên đã lâu không thấy chúng mò qua sông.
Chiến lược thế thủ của Thái Úy còn kiên trì đến bao lâu nữa? Thái tử nhìn ra ngoài và cảm thấy ghen tị với cây bàng ở trại Nam mà sức sống ngùn ngụt trào trên vô số búp non, tua tủa chĩa lên bầu trời xuân những ngọn nến xanh. Dưới tàn cây, đội quân Kim bài của Thái tử năm trăm người như một, ngày đêm túc trực sẵn sàng. Đây là đội quân riêng của Thái tử nổi tiếng giỏi vì trận pháp và thiện chiến vào bậc nhất. Vào đội quân này như vào tu ở chùa. Mọi sắc dục bị cấm, mỗi người tay cầm chiếc kim bài làm hiệu ngày đêm khổ luyện công phu. Thái tử thừa hiểu nuôi quân nghìn bữa dùng quân một ngày. Nhưng liệu ngày ấy bao giờ sẽ đến?
Thái tử buồn bực đưa mắt nhìn hàng nghìn chiến hạm nằm im ngoài bến. Chỉ có những thuyền thoi đuôi én, một loại ngựa lưu tinh trên nước, qua lại lướt sóng như bay, Thái tử cảm thấy mình như con ngựa mây nghìn dặm giờ đây phải gõ vó lững thững quẩn quanh trong mảnh sân hẹp.
Có lẽ hiểu thấu tâm trạng này của Thái tử Hoằng Chân nên Thái Úy đến Vạn Xuân đúng lúc. Vừa thấy bóng Thái Úy cùng đoàn tùy tùng vào đến cổng doanh, Thái tử đã mừng rỡ chạy ra đón tiếp. Lang tướng Nguyễn Căn còn đang bận việc tuần tiễu. Chỉ có Thái tử Chiêu Văn trên lâu thuyền bước xuống vào hội sảnh ra mắt Thái Úy. Đội quân kim bài tản ra, nghiêm mật canh gác bốn bề.
Những ngày gần đây, Thái Úy đã âm thầm sắp đặt trận đánh giờ Tí. Trí nhớ kỳ lạ của Vũ Anh Thư cung cấp cho Thái Úy mọi chi tiết cần thiết về trận địa bố phòng của địch, giúp Thái Úy trù hoạch kế sách tấn công một cách chu đáo. Đại quân đã được lênh sẵn sàng chỉnh bị để vượt sông. Thái Úy tin tưởng rằng trận này sẽ là trận đánh lớn cuối cùng, một trận đánh quyết định làm đối phương không còn đủ sức sang quấy phá bờ Nam nữa và vĩnh viễn đánh tan cái mộng vượt sông của nguyên soái Quách Quì. Và sau đấy khí thiêng phương Nam của mùa nóng sắp đến sẽ kết liễu phần còn lại số phận đội quân xâm lược.
Thái tử Hoằng Chân dậm dựt ngồi không yên chỗ, ba chòm râu không ngớt day động trên ngực áo bào, nhưng Thái Úy đã lên tiếng: - Ngày mai là ngày 23 tháng giêng. Chắc Thái tử còn nhớ ngày này năm ngoái ở Ung Châu chứ?
- Đúng là ngày quân ta hạ thành Ung! – Cái hào khí của trận đánh năm trước như trở về trên vẻ mặt rạng rỡ của Thái tử Hoằng Chân.
- Lão phu đã chọn ngày này để quân tướng Quách Quì ghi nhớ suốt đời. Quách Quì sẽ bị hãm vào cái thế không đường tiến thoái - Thái Úy thong thả trình bày – Từ lâu họ biết rằng sức họ không chọc thủng nổi đoạn lũy Như Nguyệt. Vì vậy họ đóng mảng kết bè định sang thám thính khúc sông từ Nham Biền đến Vạn Xuân. Lão phu nhờ hai Thái tử phô trương oai thần của đội thủy binh đánh cho chúng một phen vỡ mật.
Thái tử Hoằng Chân hoa tay vui sướng: - Hoằng Chân tôi chờ mãi nay mới được Thái Úy cho đánh một trận sướng tay.
Thái Úy bỗng nghiêm hẳn nét mặt: - Nhưng cấm hai Thái tử không được đuổi theo địch đổ quân lên bờ Bắc. Hai vị nhớ kỹ đây là một trận nghi binh.
Hoằng Chân bị cụt hứng: - Nghi binh thì đánh chỉ tổ thêm ngứa tay, Thái Úy ạ! Chín đạo quân địch bị cạn lương. Người ngựa chết non một nửa. Bây giờ bọn chúng như ngọn nước chảy vào khe hẹp. Phận chúng như cá nằm trên thớt. Theo Chân tôi nghĩ thừa thế đó, ta kéo quân sang, Đông tung Tây hứng, hai mặt giáp công chỉ cần đánh một trận long trời là quân Quách Quì sẽ tan như mây khói.
- Đánh tan quân Quách Quì là ta tự mua lấy thất bại đấy.
- Diệt Quách Quì sao Thái Úy lại gọi là bại? hoằng Chân sửng sốt trợn tròn mắt nhìn trân trân vào Thái Úy tưởng chừng như muốn rách khóe.
-Diệt Quách Quì này sẽ có Quách Quì khác kéo quân sang. Thế thì đến bao giờ ta mới chấm dứt được nạn binh đao, khỏi tốn máu xương của binh sĩ?
Thái tử Chiêu Văn đứng lên nhìn hai người, cười xòa dàn hòa: - Ý của Thái Úy, Hoàng huynh thật chưa rõ hết nhẽ. Ta cứ để cho bọn giặc bị đói khát cào xé, bệnh tật giày vò, quân sĩ hao hụt dần. Lúc ấy không cần đánh, giặc cũng tan, cần gì phải nhọc lòng ba quân tướng sĩ, phải không Thái Úy?
-Thái tử nói có phần đúng nhưng ý lão phu chưa hẳn như vậy – giọng Thái Úy bình tĩnh mà nghiêm trang – Quách Quì là viên tướng có thần thế ở triều Tống. Nếu biết khéo tay thì Quách Quì sẽ làm cái cầu nối để ta mưu chuyện thái bình lâu dài cho dân hai nước. Song bọn ta không phải ngồi yên mà chờ sung rụng. Thái tử Hoằng Chân nói đúng. Chúng ta phải đánh một trận ra trò để làm tiêu tan hẳn mọi ý đồ xâm lấn của giặc. Nhưng đánh thế nào và đánh vào đâu, điều đó phải ngẫm nghĩ kỹ. Hiện nay chỗ sơ hở của địch nằm ở hữu dực. Ở đây có lố nhố hàng năm vạn binh phu tải lương. Đó chính là cái dạ dày của địch. Diệt được đám quân này thì chín đạo quân Tống sẽ bị đói to. Vì vậy lão phu nhờ hai Thái tử giương Đông để lão phu cho kỳ binh kích Tây. Hai thái tử giương oai dàn quân ngày đêm trên sông nước làm sao nhử cho bọn giặc nhầm tưởng là ta sắp sửa tấn công vào trung doanh của chúng. Có vậy thì trận giờ Tí đêm mai mới nắm chắc phần thắng.
Chừng như thấy Thái tử Hoằng Chân tuy nghe ông nói đã bùi tai, nhưng nét miễn cưỡng và vẻ hậm hực còn nằm trên khóe mắt, Thái Úy dịu giọng cầm tay Thái tử nói thêm: - Thái tử đừng tiếc mình không vung gươm giết sạch được quân giặc. Hôm nay đã cuối tháng giêng rồi. Mùa viêm nhiệt lại đến sớm. Cái nóng sẽ đuổi quân Quách Quì nhanh hơn ngọn giáo mũi tên của Thái tử. Cho dù Quách Quì có rút lui sớm thì từ đây về đến dãy Nam Lĩnh, người ngựa cũng phải hao hụt thêm một nửa. Đến Biện kinh thì số quân Nam chinh cũng chẳng còn lại được bao lăm. Thôi thì Thái tử hãy nhường tay cho mệnh trời trừng phạt
Trước khi về Thiên Đức, Thái Úy còn dặn riêng Thái tử Chiêu Văn: - Lão phu chỉ ngại Thái tử Hoằng Châu tính khí cường mãnh nồng nhiệt, một khi thắng rồi say sưa khó tỉnh táo rút quân về. Vậy lão phu nhờ ông đi kèm bên nhắc nhở Thái tử phải giữ nghiêm quân lệnh.
Thái tử Chiêu Văn gật đầu lia lịa: - Lúc ấy Chiêu tôi sẽ nhắc, Chiêu tôi sẽ nhắc! Thái Úy đừng lo! Đừng lo!
Thái độ vồn vã nhiệt tâm hơi quá mức của Thái tử Chiêu Văn không xua tan được niềm lo âu nghi hoặc còn lởn vởn trong đầu óc Thái Úy. Ông linh cảm có điều gì không lành sắp xảy ra. Và một lần nữa linh cảm không đánh lừa ông.
Ngày hôm sau, tin dữ đến Trung doanh vào lúc mặt trời xế bóng. Theo lời một viên tướng ở Vạn Xuân thuật lại, trời vừa dợm sáng, làn sương mù còn ngái ngủ ở ven sông, quân Tống đã xua mảng sang bờ Nam. Thái Tử Hoằng Chân kéo bốn trăm chiến hạm ra chặn đánh. Quân địch bị thua liểng xiển tháo lui chạy về bờ Bắc. Quân ta thừa thắng đuổi theo đến tận chân núi Nham Biền. Tiền quân của giặc ra cản đường. Thái Tử Hoằng Chân hô quân xốc tới. Quân ta đánh rát, quân địch tan ngay. Chủ soái Quách Quì phải cho đội thân quân ra cứu ứng. Lão tướng Yên Đạt cũng dẫn đoàn kỵ binh tiếp theo sau. Cùng lúc ấy quân mai phục trên núi đổ xuống. Thế mạnh của kỵ binh địch trên đất bằng cắt đạo quân của hai Thái Tử ra làm nhiều đoạn. Lúc này quân ta đã tiến sâu vào mé tây núi Nham Biền. Đội quân tiên phong của ta chết quá nửa, lang tướng Nguyễn Căn bị bắt sống.
Theo viên tướng ấy thì nhẽ ra hai Thái tử có thể trở về bình yên vô sự. song vì muốn che chở cho đại quân rút lui sang sông, hai Thái tử đi hậu tập cùng đội kim bài bày thành thế trận cản giặc đằng sau. Đến khi hai Thái tử xuống thuyền thì Triệu Tiết đã kịp điều máy bắn đá đến. Hàng nghìn tảng đá hộc bay ra rơi xuống như mưa rào. Thuyền Thái tử Chiêu Văn đắm trước. Thái Tử Hoằng Chân đứng trước mũi thuyền soái, trợn tròn mắt nhìn phía quân giặc, rút kim bài ra thét to một tiếng dõng dạc. Theo hiệu lệnh, đội quân của ông trên thuyền nhất tề rướn thẳng người chĩa kim bài lên không. Họ đứng nguyên, im phắc, sừng sững như pho tượng, chìm dần xuống làn sông sâu. Mặt trời đứng ngọ trang nghiêm chiếu sáng lóe trên đầu các tấm kim bài tưởng chừng như tất cả đã hóa thành những vị thần uy nghi cầm ngọn đuốc vàng trên sóng nước soi đường cho quân đi.
Chưa bao giờ Lý Ngân thấy Thái Úy xúc động mạnh như vậy. mắt ông mở to đục dần, nỗi đau cày những đường hằn sâu trên vầng trán ưu tư. Nhưng phút ấy thoáng qua nhanh, Thái Úy gọi cho lão tướng Trần Nậm hạ lệnh làm lễ phát tang trong toàn quân. Các đội kỳ binh sắp ra trận đều chít khăn trắng thắt múi bỏ giọt đằng sau gáy. Đó cũng là dấu hiệu họ nhận ra nhau trong bóng tối dày đặc của trận đánh nửa đêm.
Bên bờ Bắc, những dãy trại dài hàng mấy chục dặm của quân Tống lim dim nằm im phăng phắc. Sau tiệc rượu khánh công ăn mừng trận thắng lớn bên sông, binh lính Quách Quì đều ngủ say vùi cho đến lúc giờ Tí điểm canh. Một vệt ráng đỏ hừng lên ở góc trời Đông. Quân của phò mã Thân Cảnh Phúc đã đốt lửa nổi hiệu. Trận phục thù cho hai Thái tử bắt đầu. Bốn đạo kỳ binh đông hàng mấy vạn người, mặc áo chẽn nâu, tay thủ dao nhọn, lặng lẽ lướt nhẹ như chiếc bóng, xông vào các trại ở cánh quân hữu dực của địch.
Dường như cùng một lúc, các loại côn trùng bỗng thôi rền rĩ để lắng nghe những tiếng động lạ tai, những âm thanh đùng đục, khô, gọn, rào rào như tiếng tằm ăn lên: Tiếng người kêu hoảng như trong cơn mê, tiếng khò khè èng ẹc từ trong cuống họng, tiếng ồng ộc của máu chảy xối xả, tiếng vật vã quằn quại của thân hình giãy chết. Những bóng người sống sót loạng choạng sờ sẫm tìm đường lủi về phía trung doanh đều bị vấp phải làn mâm sắc ngọt của đội quân Bảo Vân tiện đứt đôi chân. Giọng quát tháo trầm trầm trong bài thơ “Nam Quốc” bỗng trồi lên, ngân vang ở đằng trước, dội lại từ đằng sau, vọng dài trên sông nước – Âm hưởng lời thần đuổi theo, rung lên trong từng đường dây cân não hoảng loạn của chín đạo quân Tống vừa bàng hoàng tỉnh giấc.
Những cột lửa khổng lồ bốc lên từ các kho chứa lương, kho chứa cỏ ngựa soi rõ những dòng suối máu tím sẫm rỉ rả chảy trên ba cụm đồi phía tây của giặc.
Sáng ra, Thái Úy có Lý Ngân cắp gươm theo hầu, đứng trên vọng lâu lũy Như Nguyệt nhìn sang bờ Bắc. Trận đánh giờ Tí xắn mất một mảng to vuông vức trên đám doanh trại của cánh quân hữu dực. Bóng quân Tống lúi húi im lặng thu dọn tử thi. Trận đánh im lặng, việc thu dọn chiến trường cũng im lặng. Đến ba vị chánh phó nguyên soái của Tống cũng im luôn và ỉm nốt. Tiệp báo về Biện Kinh không đả động gì đến trận đánh nửa đêm này mà chỉ thấy khoe chiến thắng lẫy lừng của họ trên sông Phú Lương bắt sống tướng giặc, giết được hai vương tử của giặc.
Bước xuống vọng lâu, Thái Úy gặp ngay lão Vũ cùng đi với một vị thiền sư.
- Ôi! Sư Thiện Chiếu! Thái Úy sửng sốt kêu lên.
Nhìn bộ mặt hốc hác, đôi mắt mờ đục, dáng đi thất thểu của thiền sư, ông biết con đường dài đầy gian nan từ Hán Dương về đây đã lấy gần hết sức lực của vị sư già yêu nước. Ông cảm động cầm tay đại sư dắt vào trướng.
- Bạch Thái Úy – Thiền sư nói luôn – bần tăng xin báo một tin mừng – Tể tướng Vương An Thạch đã xin từ chức hẳn từ cuối năm trước cách đây đúng ba tháng.
Khác với mọi lần trước, tin Vương An Thạch từ chức lần này không làm ông ngạc nhiên. Hình như ông cho việc từ chức ấy là tất phải thế, trước sau gì cũng phải đến. Vậy là người chủ mưu bày ra chuyến Nam chinh này đã dở chừng bỏ chạy không kịp đợi xem kết quả cuộc phát quân của mình.
- Xin thiền sư cho biết đã có ai thế chân Vương An Thạch chưa?
- Dạ, bạch Thái Úy, Ngô Sung đã lên thay thế.
Thái Úy hơn hở quay sang lão Vũ mỉm cười: - Lời thầy tướng đoán về nốt ruồi ấy quả không sai!
Tin Ngô Sung lên tể tướng làm ông phấn chấn thực sự. Ông tin rằng mưu đồ chiến lược của ông sẽ gặp nhiều thuận lợi và nạn đao binh sẽ có cơ qua nhanh trên đất Việt.
- Còn Từ Bá Tường ra làm quan cho Tống, việc ấy Kiệt tôi chưa rõ hư thực thế nào.
- Dạ, đúng thế ạ. Tiến sĩ Từ Bá Tường vì có công cứu dân trong trận đánh Ung Châu vừa qua nên được vua Tống cho làm tuần kiểm ba châu Khâm, Liêm, Bạch.
Thái Úy chép miệng: - Thế là người phụ trước ta, chứ ta không có bụng phụ người!
- Bạch Thái Úy, còn một tin hệ trọng nữa. Nhờ có Vũ tướng quân đây hé cho bần tăng biết qua gốc gác của Vệ Uông nên người của bần tăng đã truy ra hình dạng tên thám tử nguy hiểm này. Theo lời một người đã từng gặp Vệ Uông ở nhà Ôn Cảo cách đây khá lâu thì y là một người to lớn đẫy đà. Nhưng y có một đặc điểm mà không thể lẫn được với người khác là y mang một vết sẹo lớn to bằng trôn chén ở thái dương bên trái, sát chân tóc. Y thường giả dạng thương nhân qua lại buôn bán giữa hai nước Tống, Việt.
- “Trời ơi! Đại sư nói gì vậy?… một thương nhân… một vết sẹo…” Lý Ngân bỗng giật thót mình. Hồi ức những ngày Vân Đồn trong đầu chàng lật nhanh để đến trang cuối. Cái buổi trưa nôn nóng từ biệt ra đi… một sự tình cờ liếc mắt qua cánh cửa khép hờ… giấc ngủ mê mệt của chủ nhân… chiếc khăn bịt đầu sổ tung và vệt sẹo tròn đỏ hỏn…
- Thưa đại sư, có phải một vết sẹo tròn láng lì như bôi mỡ không ạ? – Lý Ngân hồi hộp hỏi nhanh như sợ có ai cản mất lời mình.
- Cũng có thể như vậy – Thiền sư ngạc nhiên đáp.
- Dạ đúng là ở thái dương bên trái chứ? – Lý Ngân cố mở to cặp mắt bên trong để nhìn lại tư thế của người nằm ngủ.
- Đúng ở thái dương bên trái! Tướng quân có biết người này à?
Đúng hay không nhưng đã có một sự trùng hợp như thế thì phải truy ra cho rõ ngay gian, Lý Ngân vòng tay thưa với Thái Úy: - Hình dạng tên Vệ Uông này, cháu có gặp rồi nhưng tên họ lại khác. Xin Thái Úy cho cháu đi bắt về để tra xét.
Hình như sự phát giác của Lý Ngân không làm Thái Úy ngạc nhiên mấy, ông chỉ đưa mắt nhìn lão Vũ: - Nếu cháu đi thì nên để lão Vũ cùng đi với cháu.
Gần đây, Lý Ngân cảm thấy rõ rệt lão Vũ không phải là một vị quản gia bình thường. Nhưng điều ấy không làm suy suyển chút nào tình thân của chàng đối với con người bí ẩn này. Thấy chàng lặng im, Thái Úy đứng lên vỗ vai chàng, giọng đầy tin yêu: - Có lão Vũ bên cạnh, cháu sẽ không phải lo lắng gì cả. Nhân đây ta cho cháu hay một điều cơ mật. Lão Vũ tuy là quản gia của ta thật đó, nhưng trong việc nội vụ, lão lại là thám mã trưởng quan của viện khu mật!

6
Tin hai Thái tử bị chết trên trận sông Như Nguyệt bay về làm bàng hoàng cả kinh thành. Riêng đối với quan Thái Bảo Nguyễn Châu, tin đứa con trai bị giặc bắt, sống chết chưa tường mới là nỗi đau lớn nhất.
Cơn rét muộn của mùa đông năm ngoái còn rớt lại làm gương mặt bầu trời xuân tái nhợt. Cảnh trời thật hợp với vẻ xanh xao rầu rĩ đang chảy dài trên đôi má hóp của quan Thái Bảo. Ông ngồi lì im lìm hàng giờ trên sập. Không màng đến bóng hoàng hôn tím ngắt từ các góc tối bò ra lan dần đến tận chân ông. Cả việc người gia nhân già mang đèn vào, đến những giọt lệ bạch lạp ứa dài theo chân nến, ông cũng không hay biết. Mãi đến lúc Đỗ đại nhân dẫn theo một người lạ mặt bước vào, ông mới sực tỉnh ngẩng lên, vội vã mời khách vào tư thất. Người khách lạ tuy mặc bộ đồ lái buôn nhưng không giấu được vẻ quan cách hiện rõ trên nét mặt.
Đỗ đại nhân xoa hai tay, sửa lại chiếc mũ tùm hụp có chóp nhọn đính viên ngọc đỏ, trịnh trọng: - Thái Bảo có nhận ra ai đấy không? Một vị bằng hữu phương xa của Thái Bảo, một người đã từng quen tiếng thuộc lời nhưng lâu nay lại chưa hề biết mặt.
- Ồ, có phải… - Thái Bảo mười phần dường như đã đoán ra được chín nhưng vẫn còn đôi chút hồ nghi – có phải quan giám ấp đấy không?
Người khách lạ vòng tay cung kính: - Chính Thành Trạc trước đây làm giám ấp Trại Hoành Sơn, đích thân đến ra mắt quan Thái Bảo.
Một nỗi mừng vướng lẫn chút lo ngại làm tươi gương mặt thểu não của Thái Bảo: - Ôi! Bằng hữu đến mà lão phu không hay biết, thật bất nhã!
Đỗ đại nhân đưa tay như muốn cắt phăng mọi lời khách sáo của đôi bên: - Quan Thành Trạc có chuyện kín muốn thưa cùng đại huynh. Ông ta không có thì giờ lâu để lưu lại nơi này.
Thành Trạc cũng đi ngay vào đầu câu chuyện: - Thưa Thái Bảo, chắc Thái Bảo đang lo lắng nhiều về số phận của đại công tử. Biết vậy, Trạc tôi không quản hiểm nguy lặn lội đem tin đến cho Thái Bảo yên lòng.
Ông ta vắn tắt kể cho Thái Bảo biết rằng con trai ông được Đặng Trung, viên tướng Tống bắt sống, đối xử rất tử tế, nhã nhặn. Hiện nay lang tướng Nguyễn Căn đã được đưa đến trung doanh gặp nguyên soái Quách Quì. Thật không để đâu cho hết lời cảm tạ của Thái Bảo.
- Như vậy là tính mệnh và đường công danh của lệnh công tử không có gì đáng lo nữa. Song cái đáng lo trước mắt là vận mệnh của triều Lý mà Trạc tôi biết Thái Bảo là người vẫn giữ một tấm lòng trung – tới đây Thành Trạc mới đi vào đoạn chính yếu của câu chuyện mà cũng là nguyên cớ đã dẫn y đến cuộc viếng thăm trong đêm đầy mạo hiểm này - Thái Bảo chắc thừa hiểu ai là kẻ dắt quân Việt phạm vào nội địa can tội với nước Thiên tử khiến quân Trời phải đem binh chinh phạt. Kể ra chỉ trong vòng dăm hôm là đại quân của nguyên soái Quách Quì có thể tràn qua, đạp bằng lăng tẩm và cung điện hoàn thành. Nhưng vì đoái thương đến phương xa, nghĩ lại lòng hiếu thuận của mấy đời vua Lý trước kia, Thiên tử chúng tôi mới ra tờ mật chiếu này.
Vừa dứt lời, Thành Trạc kính cẩn thò tay vào ngực rút ra một phong thư thiếp vàng, trịnh trọng đặt lên án thư ba vái, trước lúc trao lại cho Thái Bảo, Nguyễn Châu cầm phong thư nhẹ bỗng mà cảm thấy nặng chịch trong tay. Thư gửi cho Giao Chỉ quân vương Lý Càn Đức. Những dòng chữ mà Thái Bảo còn kịp nhận thấy nét tươi và sắc sảo cứ run lên trong ánh lửa nến chập chờn:
“Khanh đã được triều đình cho coi cõi Nam giao, đời đời được ban vương tước. Vậy mà khanh đã phụ mệnh để cường thần lấn lướt đem quân cướp phá các biên thành, làm phiền binh triều phải đi chinh phạt.
“Nhưng xét khanh con trẻ, việc phạm thuận không phải tự khanh gây ra.
“Nay chiếu cho khanh bắt tên thủ lĩnh gây loạn đem xử giữa ba quân thì trẫm sẽ cho rút quân về, tha thứ cho khanh mọi chuyện cũ. Kẻ môn hạ nào của khanh lập được công trạng trong việc này sẽ được trẫm hậu thưởng và ban tước lộc…”
Ông cảm thấy dấu son đỏ lòe trên tờ thư đốt những vệt cháy bỏng trên tay mình. Cái tầm hệ trọng chết người của công việc mật này làm ông phát hoảng. Nhưng biết làm sao khi số phận đứa con trai độc nhất của mình đang nằm gọn trong tay họ. Mà xem ra quân tướng của Lý Thường Kiệt cũng núng thế lắm rồi. Ai biết được đây là may hay rủi? Liệu vị phúc tinh trong lá số tử vi lần này có chịu cất công đến viếng ông không? Nhưng mọi tính toán phiền toái ấy đều cảm tiếng để nhường lời cho con cáo già từ hang sâu bản chất của ông thò mõm ra nói thay ông: - Ôi! Thiên tử còn đoái thương, thật đại hồng phúc cho dòng họ Lý! – Giọng ông ứ nghẹn như đầy nước mắt – Lão phu xin đem hết tâm sức còn lại làm cho tờ sắc chỉ này có sức nặng nghìn cân giáng lên đầu kẻ quyền thần kia dám hỗn láo với Thiên triều. Ôi! Giá mà lão phu có được cái thế bao trùm của Hoàng Hậu Thượng Dương thì chỉ cần cất tay lên là mọi việc đều xong xuôi như bỡn.
- Ấy, Trạc tôi cũng chỉ mong Thái Bảo đánh động tới tai Hoàng Hậu. Rồi từ Hoàng Hậu đánh lan ra các vị đại thần đến các bậc công hầu vương tử. Nếu họ đều nhất khẩu đồng từ thì ý họ là ý Trời, vua Càn Đức khó lòng cưỡng nổi.
- Việc ấy Thái Bảo đừng lo. Tiểu đệ xin giúp đại huynh một tay để đưa chiếu chỉ của Thiên tử đến tận tay bà Dương Hậu – Đỗ đại nhân vội góp lời.
Câu nói ông gài vào mồm. Đỗ đại nhân đã đáp đúng được ý ông muốn. Ông mừng rơn trong bụng, không phải vì Đỗ đại nhân nhận giúp ông mà chính vì y đã gánh thay cho ông phần việc hiểm nghèo liên lụy nhất. Lòng ông nhảy múa hình con công trên sập gỗ trắc.
- Được thế thì còn gì bằng! – Ông đáp bằng một giọng xởi lởi, đầu quay về phía kỷ trên sắp ngay ngắn một hàng vò rượu quý, ý chừng để giấu không cho khách thấy ánh mắt hí hửng của mình.
Những vò rượu bỗng nhắc nhở ông nhớ đến việc nãy giờ chưa đem gì ra để thết khách. Ông đứng dậy định gọi gia nhân nhưng Đỗ đại nhân chừng đoán được ý ông, vội ngăn lại: - Quan giám ấp đang có việc vội. Xin Thái Bảo hãy cho ông ta khất vào một dịp khác.
Thành Trạc cũng đã hứng lên: - Thưa Thái Bảo, Thái Bảo cùng Đỗ đại nhân vì dòng họ Lý mà lo toan việc lớn. Trạc tôi rất lấy làm cảm kích. Mong rằng mối giao tình giữa chúng ta còn dài lâu.
Ông ta đưa mắt ra hiệu Đỗ đại nhân. Gã thương gia vội bước ra ngoài. Lát sau y trở vào, đi cạnh y là một tên hầu khệ nệ bưng một mâm vàng, bạc, gấm vóc vun có ngọn. Nguyễn Châu chưa kịp đẩy đưa một câu đãi bôi chiếu lệ như: - Xin quan giám ấp hãy cho phép Nguyễn Châu tôi được làm phận sự của một chủ nhân hiếu khách… - thì tên hầu đã đặt chiếc mâm phúc phận kia lên sập rồi lủi nhanh ra ngoài.
Thành Trạc chắp tay nhũn nhặn: - Thưa Thái Bảo, hôm nay Trạc tôi có sắm chút quà mọn gọi là làm lễ ra mắt trong buổi sơ kiến
- Ôi! Công ơn quan giám ấp cứu sống con tôi cao như núi, chưa có gì đền đáp – Nguyễn Châu giãy nảy kêu lên – Châu tôi còn lòng dạ nào mà dám nhận lễ của quan giám ấp.
Mặc cho chủ bai bải chối từ, khách cứ bả lả làm ngơ. Rốt cuộc cho đến lúc chủ tiễn chân khách ra tận cổng ngoài và không quên cúi rạp mình bái biệt khách, chiếc mâm lễ vật sù sụ vẫn nằm chình ình giữa mặt sập chân quì trên khảm ngọc trai hình con công đang xòe cánh múa.
Hôm sau, Thanh Nga ra nhà Nguyễn Châu, kín đáo đưa Đỗ đại nhân vào cung Thượng Dương gặp Dương Hậu.
Hoàng Hậu Thượng Dương những tưởng mình lòng trần đã đứt từ lâu. Nỗi niềm u uất đối với Ỷ Lan và Thường Kiệt trước đây như gốc cây đắng sum suê đâm cành chĩa ngọn trong người bà. Song từ ngày được tha, không hiểu sao những mầm rễ độc ấy sụm xuống như một đống củi khô mặc cho lớp rêu phong quên lãng phủ dần lên.
Nhưng rồi những tiếng binh đao từ trận mạc dội về đánh thức trong bà nỗi lo âu cho số phận của dòng họ Lý. Tiếp đến cái chết của hai Thái tử thực sự làm bà hoảng hốt. Thêm vào đấy những lời châm chích bóng gió của quan Thái Bảo Nguyễn Châu như những tàn lửa vô tình bay trên đám củi khô thù hận mà từ lâu bà đã ghim lại nén xuống tận đáy lòng. À, ra họ đã có ý định mượn tay người Tống giết dần giết mòn những bậc trụ cột của hoàng tộc. Họ đem giọt máu vương giả pha loãng trong nước sông Như Nguyệt. Đã thế họ còn ngang nhiên rước bọn con hát ra để mua vui trên xác chết hoàng gia.
Trong tâm trạng ấy, bà tiếp tờ mật thư của vua Tống như đón một ân huệ. Bà thừa hiểu kẻ tội phạm gây loạn mà vua Tống ám chỉ trong tờ thư, không ai khác ngoài Thái Úy Lý Thường Kiệt. Mà điều ấy lại rất hợp với ý nguyện của bà. Ngoài ra bà không cần biết vì đâu bức mật chỉ này lọt đến tay bà và có nhằm mưu đồ gì không? Bà chỉ biết một gã phú thương như Đỗ đại nhân còn có lòng lo lắng cho vận mệnh nhà Lý huống hồ bà là giọt máu nằm ngay giữa chốn cành vàng lá ngọc? Muốn cứu dòng họ Lý phải nghĩ cách bắt Thường Kiệt nộp cho nhà Tống! Ý định sôi sục này làm mắt bà long lanh, đôi gò má ửng hồng. Bà cảm thấy như mình trẻ lại. Một cao kiến chợt nảy sinh trong đầu bà nhanh tựa tia chớp. Hóa ra khối óc trì trệ nông cạn của bà chẳng cung cấp được gì mới mẻ hơn ngoài cái mưu mẹo vặt vãnh bà thường dùng.
- Đỗ đại nhân này, tên thư lại viết chữ ấy vẫn còn sống chứ?
- Dạ tên thư lại nào ạ? – Trong một lúc bất ngờ, Đỗ đại nhân không kịp nghĩ ra.
- Tên có hoa tay bắt chước y hệt chữ người khác ấy.
- À! Dạ, còn ạ.
- Thế thì lần này Đỗ đại nhân bảo hắn viết cho ta một bức thư từ Vạn Xuân gửi về. Phu nhân của Thái tử Chiêu Văn vốn là kẻ tâm phúc của ta – Một tiếng cười khẽ, tàn ác, bật ra từ cặp môi cắn chỉ của bà – một bức thư tố giác kẻ kia đã mưu hại Thái tử!
- Ôi! Sao Hoàng Hậu lại có thể nghĩ ra một mưu kế thần tình như vậy! – Y cứ tấm tắc khen lấy khen để tuy y thừa biết cái mẹo cũ này bà đã dùng lần trước với Lý Ngân rồi – một bức thư trối trăng của Thái tử. Như vậy thì có trời xuống cũng không gỡ nổi tội cho Thái Úy Lý Thường Kiệt!
Đỗ đại nhân ra về, Dương Hậu cho gọi ngay các cung nga thân tín lên gặp bà. Lần này bà sẽ lấy cớ lập đàn cầu chay, siêu sinh tịnh độ cho hai Thái tử để tụ họp bàn kín với các phu nhân trong hoàng tộc. Rồi một khi về đến nhà, các phu nhân sẽ biết cách lái các đức ông chồng đi đúng theo mưu sách mà bà đã vạch từ trước. Còn thuyết phục thêm họ thì đã có quan Thái Bảo Nguyễn Châu.
Mọi việc bà sắp xếp có vẻ song suốt cả, duy có một điều bất ngờ mà bà chưa lường tới là Nguyễn Châu đã lẻn đến cung Kiền Hoa gặp Linh nhân Thái hậu Ỷ Lan.
Trông thấy vẻ mặt rầu rầu của quan Thái Bảo, Thái Hậu Ỷ Lan lựa lời an ủi: - Xin Thái Bảo đừng quá buồn phiền. Việc trận tiền khó ai biết trước. Lang tướng rủi ro bị lọt vào tay giặc, đâu phải là nỗi buồn riêng của khanh. Cả Thánh quân cũng đang lo nghĩ đấy.
Nguyễn Châu nhướng cặp mắt ngạc nhiên tưởng như lần đầu ông mới nhìn thấy Ỷ Lan: - Trời ơi! Sao Thái Hậu lại nói như vậy? Hạ thần cứ nghĩ chí làm trai gặp thời tao loạn là phải đem thân ra sa trường mong lấy da ngựa bọc thây để đền nợ nước, có sống cũng không hổ thẹn với cỏ cây, có chết cũng để xương thơm thiên cổ. Lão phu chẳng có điều gì phải ân hận buồn phiền. Cái dáng lo phiền hiện nay là… - Ông dừng lại như chợt nhận thấy điều mình sắp nói ra sẽ làm phiền lòng Thái Hậu.
- Thái Bảo lo phiền việc gì vậy? - Ỷ Lan nôn nóng thúc giục. Hình như bà cảm thấy một nhu cầu nội tâm chính trực nào đẩy Thái Bảo phải phát giác ra cho bà biết điều ông đang ấp úng: - Thưa Linh Hậu, mới đây lão phu thấy bên cung Thượng Dương có nhiều dấu hiệu đáng lo. Có lẽ Dương Hậu đang mưu toan một việc gì đấy.
Ỷ Lan quắc mắt: - À, con ngựa cái ấy được thả ra lại quen đường cũ!
- Điều này lão phu mới hồ nghi bên lòng thôi. Chưa có gì rõ rệt lắm. Thái Hậu nên cho người theo dõi. Nếu có gì cấp thiết lão phu sẽ đến báo ngay với Thái Hậu.
Ra khỏi cung Kiền Hoa, quan Thái Bảo Nguyễn Châu bỗng chợt thấy việc ông vừa làm dường như không phải hoàn toàn do ý mình muốn mà do một sức mạnh âm u nào ở đâu bên trong lôi cuốn ông đi.

7
Đêm càng vào sâu, ánh nến và ánh đèn lồng trên trà lâu càng sáng tỏa. Tiếng đàn, khổ trống, nhịp phách càng quyện vào rủ rê nhau đi hết độ trầm. Giọng hát của người kỹ nữ áo xanh đang ngân vút lên bỗng nghẹn đẫm xuống như những giọt nước mắt đọng lại đâu đó lơ lửng trong không trung:
“Hoa đào sóng mấy độ sâu
Cho người rũ sạch mối sầu giai nhân
Gã chủ trà lâu béo múp míp, da thịt đỏ lự, chốc chốc lại chụm đầu thì thầm to nhỏ với tên hầu bàn. Cứ mỗi lần gã quay đi quay lại, cái cằm xếp nhiều ngấn lại căng phồng lên như nếp sóng lượn trên váy hồng đám con gái hầu rượu.
Lòng gã đang có điều nghi hoặc. Thời buổi chinh chiến, họa hoằn lắm mới có dăm ba công tử mà gã thuộc mặt thâm thụt qua lại chơi vụng vui thầm chốc lát. Vậy mà tối nay bỗng nhiên ở đâu kéo đến quán gã nhiều vương tôn công tử lạ mặt. Kẻ nào cũng buồn chảy ra như vừa ở đám tang về, trên môi cố nhếch một nụ cười gượng gạo. Gã ốp cái mũi to tướng vào chiếc mành trúc, vẫn cái mũi ngày xưa đỏ bầm như quả mận chín, đưa cặp mắt ti hí kéo dài như sợi chỉ quan sát bên ngoài.
Đám khách khứa tuy đông nhưng họ đang cùng ở trong một trạng thái giống nhau. Họ để hồn chìm đắm theo cặp mắt phủ sương khuya của người kỹ nữ thanh mảnh và dịu dàng như màu áo nàng đang mặc, trong nỗi buồn mây khói qua đêm dài hồng lâu.
Duy chỉ có một vị công tử mặc áo gấm dài khoác chiếc áo chiên màu lam huyền ngồi cách biệt, cái bàn đặt sát ngay cửa ra vào của phòng gã. Cạnh y là tên đầy tớ già khúm núm đứng hầu, mặt cúi gầm hình như lão đã qua cái tuổi thích nhòm ngó những trò uốn éo làm duyên của các cô hầu rượu. Dáng chừng vị công tử này là giống ngựa nòi của hoàng tộc nên y không thèm bắt chuyện với ai để khỏi làm thương tổn đến phẩm giá con vua cháu chúa của mình. Y ngồi lặng lẽ nhấp từng ngụm trà thơm, đưa cặp mắt phượng khinh bỉ nhìn lũ người phàm phu thô tục đang hau háu nuốt ừng ực từng lời ca của người kỹ nữ.
Mỗi lần dứt khúc ca, tiếng đũa rào rào chạm nhau, tiếng nốc rượu, tiếng chuyện trò lại nổi lên râm ran. Gã chủ quán lại vểnh tai nghe lén những mẩu chuyện trao đổi ở góc các bàn rượu. Người ta đang kháo nhau về những tin tức nóng hổi nhất trong buồi đầu xuân năm ấy: trận đánh Nham Biền, cái chết rùng rợn của hai Thái Tử trên sông Như Nguyệt, việc bắt lính ráo riết ở kinh thành, số phận của họ rồi cũng đến lượt phải ra chốn trận mạc để hứng chịu đạn đá của chiếc máy bắn đá mà họ chưa từng thấy… Hai người ngồi sát vị công tử khe khẽ nói với nhau về việc tìm mua giống ngựa nòi rất khan hiếm trong thời buổi này. Hóa ra bọn họ sắp phải tòng chinh, sống chết chưa biết thế nào nên mượn chốn ca lâu tửu điểm để khuây sầu. Gã chủ quán cảm thấy có phần nào yên lòng hơn, quay vào bán tính toán sổ sách.
Ngoài kia thời khắc như không trôi mà đọng lại trên chiếu tiệc hoan lạc. Gã thoáng nghe như có tiếng khách chê mấy món thức nhắm rồi có nhiều bước chân đi xuống bếp sục vào tận phía nhà sau. Gã không buồn để ý vì tiếp đấy không có một tiếng động nào khả nghi cả. Chốc sau gã đứng dậy vươn vai đi lại ghé mắt nhòm qua mành trúc. Mồm gã há hốc, mắt mở to, sắc hồng trên khuôn mặt béo nhẫy của gã cũng biến mất. Cuộc chơi vẫn không ngừng nhưng đám trai gái hầu bàn tiếp rượu của gã đã bị trói giật cánh khuỷu, mồm nhét đầy giẻ, nằm sắp lớp ở một góc quán. Các công tử vẫn như mải mê nghe hát, chỉ có khác là mỗi người kèm một người, lưỡi dao nhọn cứ lăm lăm trong tay. Lính cấm vệ đứng đầy nhà. Họ vào từ lúc nào không biết. Gã định đưa tay giật chuông báo hiệu có biến nhưng một bàn tay khác nhanh hơn bẻ quặt tay gã ra đằng sau. Gương mặt của bị công tử kề sát vào mặt gã: - Lý Ngân tôi cam thất lễ. Việc của cung Thượng Dương quá gấp, người hãy dẫn ta đi gặp Đỗ đại nhân!
Gã chưa kịp phản kháng thì những ngón tay rắn như sắt của lão Vũ đóng vai tên đầy tớ già ấn vào mạng mỡ gà khiến gã bủn rủn cả người.
- Ta hứa sẽ tha mạng sống cho ngươi nếu ngươi biết điều chịu nghe theo lời ta – Lý Ngân khẽ dằn giọng từng tiếng một. Một cấm vệ khoác áo hầu bàn kín đáo chĩa mũi dao ngắn vào lưng gã. Gã chủ quán đành ngoan ngoãn bước ra, lần theo dãy nhà cầu xinh xắn dài hun hút mà Lý Ngân đã từng biết lúc chàng tới đây gặp lão Triệu. Đến trước một tấm cửa lớn, gã gọi khẽ: - Chú Ba ơi! Mở cửa cho anh Hai với! Bên trong có tiếng càu nhàu, tiếng động then cửa. Gã mắt lác bước ra kêu một tiếng sửng sốt: - Ủa, Công tử! Công tử đến đây à!
Gã chủ quán vội đáp thay lời cho Lý Ngân: - Công tử có việc gấp của cung Thượng Dương. Chú Hai đưa công tử vào gặp anh cả. Anh Hai còn bận khách.
Gã mắt lác lặng lẽ tuân lời đưa Lý Ngân và lão Vũ theo lối cầu thang hẹp bước xuống nhà dưới. Tiếng hát của người kỹ nữ áo xanh run rẩy nghẹn đầm nước mắt, vẫn văng vẳng dẫn người vào mộng mị liêu trai xanh xao màu son phấn:
“Hoa đào sóng mấy độ sâu…
Trong nhà sảnh, dưới ngọn đèn treo tỏa sáng, vẫn tên đầu quả dưa ngồi giữa sập, cặp môi mọng đỏ chót đang nhai trầu bỏm bẻm như ngày nào. Cũng vẫn gã mắt lác khom mình báo:
- Thưa anh cả, có công tử Lý Ngân mang tin khẩn của cung Thượng Dương…
Lý Ngân cảm thấy ở đây thời gian như mất cả uy lực. Con người và cảnh vật vẫn ở nguyên dạng cũ tưởng đâu như ba năm rưỡi vừa rồi chưa hề trôi qua… Tên quả đầu dưa thong thả đứng lên, trên môi vẫn phảng phất một nụ cười đỏ thắm cốt trầu, chắp tay cung kính: - Ôi! Xin chào công tử Lý Ngân!
Cùng với lời chào, một làn kim khí sáng trắng từ ông tay áo gã vụt ra bay thẳng vào ngực Lý Ngân. Chàng chỉ kịp né mình tránh đòn bất ngờ, miệng thét ro: - Lão Vũ, coi chừng!
Nhưng lão Vũ đứng sau lưng chàng điềm tĩnh khoa tay. Ngọn côn ngắn của lão đã dễ dàng gạt băng lưỡi dao lá trúc của địch và cũng vụt bay ra găm đúng vào giữa cổ họng tên đầu quả dưa xuyên suốt ra đằng sau gáy. Gã mắt lác vội quay lưng chạy. Cái nỏ bé đeo bên mình Lý Ngân đã nắm trong tay chàng, giương lên. Mũi tên sắt cắm phập vào lưng gã.
- Thôi, công tử lo dẫn tên chủ quán vào ra mắt Đỗ đại nhân đi. Nói xong lão Vũ bước thẳng ra sau, biến mất trong bóng tối.
Lát sau, tên chủ quán cùng Lý Ngân và lính cấm vệ nhẹ chân tiến đến ngôi nhà biệt lập có rặng trúc buông rèm.
Lý Ngân đi trước nhón gót áp tai vào vách. Bên trong có tiếng Đỗ đại nhân hỏi một người nào đấy: - Thế nào, liệu lần này có khéo tay hơn trước không?
- Dạ thưa chủ nhân, có mắt thánh cũng không tìm ra được nét nào sai sót. Mà chữ viết của Thái Tử thì chân phương lắm, nét nào ra nét ấy chứ không bay bướm như chữ của tướng quân Lý Quán.
Lý Ngân chợt đứng sững. Cái gì… những nét chữ giống nhau… nét chân phương… nét bay bướm… Thái tử rồi đến tướng quân Lý Quán… Tại sao có sự trùng hợp của những người đã chết? … nét chữ!
Gã chủ quán đưa tay gõ vào cửa bốn tiếng, hai tiếng nhanh, hai tiếng chậm. Im lặng giây lâu.
- Có việc gì đấy? – Tiếng Đỗ đại nhân hỏi vọng ra.
- Dạ thưa chủ nhân có người trong cung Thượng Dương muốn gặp chủ nhân hiện còn đợi ngoài lầu trà ạ.
Cửa xịch mở. Lý Ngân lách người vào. Đỗ đại nhân đứng giữa nhà, một tay tì trên án thư nhìn ra.
- Lý Ngân này không biết nên chào Đỗ đại nhân hay ngài Vệ Uông nhỉ? – Lý Ngân nhìn y, nụ cười mỉa trên môi.
- Sao công tử lại đi bỡn kẻ thương nhân hèn mọn này – Y điềm tĩnh vừa trả lời vừa đi giật lùi lại sau.
Lý Ngân tiến thêm lên vài bước. Một thanh gỗ không biết từ chỗ nào bất ngờ giáng xuống đầu chàng. Lý Ngân ngã xuống như một thân cây bị phạt gốc.
Đỗ đại nhân cười nhẹ, quay ngoắt, mình đi vào phía trong đẩy cánh cửa kín, ẩn sau tấm rèm hoa, lần theo lối riêng ra ngoài bờ sông. Y vỗ tay ba tiếng làm hiệu. một chiếc thuyền con hình như bao giờ cũng chờ sẵn từ trước có người túc trực, nấp dưới lùm cây lòa xòa ven bờ, vội vã động chèo lướt tới.
Một mùi hoa theo gió xuân chở đến nồng nàn, ngây ngất, say lử vây quanh người y. Đến bây giờ y mới mang máng nhớ ra, đang lúc trốn chạy, có một mùi hương trong đêm đuổi sát chân mình. Khi đặt một bàn chân lên sạp thuyền, y nhận ra đó là mùi hoa bưởi, thứ hoa các cô gái ven sông thường lấy gội cho thơm tóc hoặc cài trên vành khăn nhung những buổi đầu giêng. Y chợt thấy tiếc nuối, suốt cả một đời y chưa hề được phút giây thanh thao để hưởng chút ân huệ trong lành của thiên nhiên. Y buồn rầu nhìn những mảnh sao nhảy múa, tan vỡ tung tóe trên mặt nước và ra lệnh: - Sang sông!
Nhưng chiếc thuyền cứ ỳ ra không nhúc nhích. Y giận dữ chậm chân quát khẽ: - Sang sông ngay! Trong đêm tối lờ mờ, từ cái bóng sù sụ tên phu sào thân tín của y, bỗng cất lên một tiếng cười lạ: - Mời Đỗ đại nhân hãy ở lại đã!
Một ngọn côn ngắn, một miếng đòn hiểm hóc quen thuộc của dòng họ Vũ, quét ngang qua gối, khiến cả thân hình đồ sộ của Đỗ đại nhân sụm ngay xuống khoang thuyền.

8
Cái nóng đến sớm giữa tiết xuân năm Đinh Tị này không làm nhạt đi phần nào màu xanh ngùn ngụt trên rặng thạch trúc trước hiên Tây nhà quan Tể Chấp Lý Đạo Thành.
Tể Chấp về triều sống lại sảnh cũ đã ngót ba năm rồi. Vẫn hàng trúc trước sân, vẫn căn nhà sạch tinh không vướng một hạt bụi trên vách phấn, vẫn những chồng sách phất cậy gáy son tăm tắp nghiêm hàng.
Mọi thứ vẫn nguyên như cũ, chỉ có riêng Tể Chấp là đổi khác. Sự thay đổi này tuy ông không tự thú nhận song ông cảm thấy nó đang chảy rần rật trong máu huyết mình. Phải chăng cuộc trao đổi thẳng thắn năm Giáp Dần và sau đó sự gắn bó thực sự trong công việc với Thái Úy là khúc đường rẽ trong đời ông hay lòng tin yêu và cảm phục lẫn nhau giữa hai người đã đưa lại cho ông một sinh lực mới? Ông cảm thấy được hồi sức và tuổi thanh xuân trở về với ông trong buổi xế chiều.
Những điều ấy, như làn gió xuân thổi ấm gốc tùng cỗi đứng trong giá rét, đã giúp ông tháo gỡ được những lối nghĩ cũ gấp nếp, đập vỡ những định kiến đóng thành khối trong đầu óc, tuy có chật vật đấy song không đau xót lắm. Ông đã can đảm sửa đổi những lầm lạc lâu ngày đã trở thành một phần của tâm hồn ông. Sự thay đổi này, xét cho cùng, đâu có thua kém gì chiến tích hiển hách ngoài trận mạc, bởi lẽ đó là những chiến thắng trừu tượng mà người đời thường bao giờ cũng không xét đoán hết: cuộc chiến thắng được bản thân mình!
Chiến thắng này đốt bừng lên những hoa lửa rực rỡ trên chuỗi ngày còn lại của Tể Chấp, người thợ cả đang ngồi trên giàn dáo xây lầu văn hiến cho dân tộc Việt. Ông đã mở khoa thi nho học năm Ất Mão, chọn người có thực tài vào dạy trường Quốc Tử Giám, sửa sang lại bộ mặt phủ Đô Hộ làm cho phép vua luật nước soi sang đến tận mặt người dân thường. Ông giật mạnh dây cương cho cỗ xe chính sự theo kịp nhịp độ của thời chinh chiến.
Song muốn cho cuộc chiến thắng bên trong này được hoàn toàn, số phận còn bắt ông phải bước qua một thử thách cuối cùng. Đó là luồng gió dữ mang tin cái chết của hai Thái Tử về triều. Đình thần xôn xao. Lời bàn ra tán vào ra rả bên tai như tiếng ong ve mùa hạ. Nhiều câu chuyện hoang đường được thêu dệt, nhiều nghi vấn cố tình được đặt ra chung quanh cái chết của hai Thái Tử. Phải chăng chính ông ta đã dụng tâm kéo giặc Tống sang quấy nhiễu làm suy vì ngôi vua Lý, chính ông ta mượn tay giặc mưu sát người của hoàng tộc để dễ bề thoán nghịch? Chữ “ông ta” họ dùng để bóng gió ám chỉ ai thì quá rõ ràng.
Thoạt đầu, Tể Chấp coi đó là chuyện tầm phào không đáng để tai nhưng rồi nó cứ đồn thổi đi mãi hóa ra không lửa mà thành có khói. Một đôi vị đại thần cũng bắt đầu sinh ra phân vân nghi hoặc. Nhiều người có vai vế trong hoàng tộc lần lượt nối gót đến dinh ông để bày tỏ nỗi lo ngại của họ. Thậm chí có kẻ còn cả quyết rằng mắt mình đã trông thấy bức thư tuyệt mệnh của hai Thái Tử.
Mà sự việc đâu có dừng lại ở đó. Sáng qua các bà phu nhân của hai Thái Tử, khăn tang trắng tóc, nước mắt ngắn dài, kéo đến dinh, phủ phục dưới chân của Tể Chấp, níu áo đòi đền mạng cho chồng:
- Tể phụ ơi! Xin Tể phụ rủ lòng thương kẻ góa bụa này mà trị tội “ông ta”, trả thù cho chồng thiếp.
- Tể phụ ơi! Chồng thiếp chết oan vì kẻ manh tâm, xin Tể phụ bắt “ông ta” trả chồng cho thiếp.
- Tể phụ ơi! Xưa nay có ai dám bắt hoàng thân xông vào đất chết để đàn hát mua vui?
“Tể phụ ơi! Tể phụ ơi!...” Cái điệp khúc của điệu kèn đưa ma này có lúc đã làm ông nẫu ruột…
Và giờ đây giữa một buổi sáng mai trong lành, ông ngồi một mình đối diện với cái tịch mịch của mái hiên Tây. Bóng trúc tỏa dịu một màu xanh bình an hồn hậu trên dòng suy tư trầm mặc của ông. Chậu cúc vàng xòe rộng từng cánh hoa, mở cái vui thanh lặng trong lòng ông. Tể Chấp bình tâm soi xét lại mọi việc trước sau.
Ba năm qua, mà cũng chỉ cần ngần ấy thời gian thôi cũng đủ để ông hiểu thấu suốt được con người Thái Úy. Tầm nhìn xa xuyên suốt qua tương lai của Thái Úy có một sức hấp dẫn lạ kỳ đánh thức bao khát vọng ủ kín trong ông bừng dậy đi tìm những chân trời mới. Hai người nghiêng lòng vào nhau và cùng thấy một hoài bão chung. Cũng như ông, con người ấy suốt đời uy đức không biết mỏi, mừng việc nước quên tuổi, lo việc nước quên nằm. Vậy mà còn có kẻ dám đặt điều… Tể Chấp cảm thấy trong mọi việc vừa tuần tự xảy ra dường như có một bàn tay vô hình nào sắp lớp…
Tiếng chân bước lạo xạo trên đường sỏi làm ông ngẩng đầu lên. Lý Ngân xăm xăm bước vào, mắt chàng sáng dị thường như đang trong cơn sốt. Nhìn thấy làn da tái nhợt trên gương mặt cháu, Tể Chấp động lòng lo lắng: - Có phải cháu vừa bị thương ở trận địa đấy không?
Câu hỏi của Tể Chấp nhắc chàng nhớ lại trận đánh ở sào huyệt tên thám tử đầu sỏ… Cơn ngất của chàng không biết kéo dài bao lâu. Lúc chàng tỉnh lại đã thấy mình nằm trên chiếc giường có đệm ấm. Một mùi lá thuốc hăng hắc ở đâu từ đầu giường thỉnh thoảng bay đến mũi chàng nhưng vẫn không làm át được làn hương thơm ngọt dịu của một loài hoa nào phảng phất ở trong phòng. Lửa nến rung rinh tạo cho chàng cảm giác triền miên của đêm dài vô tận. Rồi chàng thiếp đi trong một cơn mưa rào buồn tẻ, rả rích ở ngoài trời. Khi chàng mở choàng mắt ra đã thấy lão Vũ ngồi sát đầu giường. Lão bắt chàng uống một ngụm thuốc đắng ngắt và cho chàng hay đã bắt được Đỗ đại nhân. Không hiểu vì công hiệu của vị thuốc, hay vì tin vui ấy mà chàng bỗng thấy trong người khỏe khoắn hẳn lên. Cũng mãi đến lúc đó chàng mới biết mình đang ở tại dinh Thái Úy và nằm trong căn phòng riêng của Hạnh Hoa…
- Thưa bá phụ - Lý Ngân mỉm cười đáp – đúng là cháu có bị thương nhưng không phải ở ngoài lũy Như Nguyệt mà ở ngay tại Kinh đô…
Kiệu son của Dương Hậu đã đỗ ngay giữa sân trước. Cũng như mọi lần khác, viên quan hầu người bé choắt vào báo tin cắt đứt câu chuyện giữa hai người. Tể Chấp đứng lên: - Cháu hãy đi cùng ta ra mắt Dương Hậu.
Lý Ngân thoái thác: - Bá phụ cứ gặp trước. Lúc nào tiện, cháu sẽ ra chào dì mẫu.
Dương Hậu bước vào, giọng đượm lo lắng: - Tể phụ ơi! – “lại tể phụ ơi”, Đạo Thành cau nét mặt, khó chịu – Xin Tể phụ hãy ra tay cứu vớt dòng họ Lý.
Đạo Thành làm ra vẻ ngỡ ngàng: - Ô! Sao lại thế nhỉ? Lão phu tưởng nhà Tống đánh nhà Lý ta thì đã có quân tướng ngoài trận mạc…
- Lâu nay nhà Lý ta với Tống không thù không oán, cớ sao lại gây chuyện binh đao? Chủ tâm họ đâu có muốn đánh nhà Lý.
- Lệnh bà nói thế nào mà lão phu vẫn chưa hiểu. Họ kéo quân sang ta không phải đánh nha Lý thì đánh ai?
- Họ cốt hỏi tội kẻ chủ mưu gây loạn ở Ung Châu, can tội với Thiên triều.
Đạo Thành cố dằn lòng, kiên nhẫn: - Vậy theo ý lệnh bà thì họ hưng binh chỉ nhằm đánh riêng một mình Thái Úy sao?
- Chứ còn gì nữa? Sự việc đã quá rõ mà sao Tể phụ vẫn còn mơ hồ. Nếu nhà Lý ta chịu bắt lão hoạn quan ấy xử tội thì lập tức nhà Tống sẽ bãi binh, non nước yên hàn, hai nhà Tống – Lý lại giao hòa như cũ.
Trong vẻ hăm hở của bà có cái gì khờ khạo khiến Đạo Thành thấy thương hại đến đau lòng: - Ôi! Sao lệnh bà lại nhẹ dạ tin theo những lời huyền hoặc ấy?
- Ta biết, Tể Chấp không tin ta đâu – Bà khẽ nhếch một nụ cười lạnh rồi rút trong tay áo ra bức mật thư của vua Tống – vật này thì chắc hẳn ta không thể bịa đặt ra được. Đạo Thành lật đi lật lại trong tay tờ mật chỉ của vua Tống, tròn mắt kinh ngạc: - Trời ơi! Làm sao lệnh bà có được bức thư này?
Bà thì thào, tiếng khao khao trong cuống họng: - Vì nhờ có người còn biết nghĩ đến dòng họ Lý ta đó! Tể phụ ơi! Nhân lúc này, Thường Kiệt đang quân bại tướng thua, bọn ta dâng sớ xin thánh quân bắt tội y. Trong việc này cả hoàng tộc đều trông vào quyền uy của Tể phụ. Làm được như vậy thì cái chết của hai Thái Tử cũng mát mẻ mà bọn ta cũng thỏa được hận cũ.
Không hiểu sao Đạo Thành chợt nhớ lại câu nói của Thái Úy hôm tha Thượng Dương, kèm theo một nụ cười đầy ý nghĩa: - Tha Thượng Dương đối với lão huynh là một gánh nặng đấy! ông nén lòng theo hết đà câu chuyện: - Hai Thái Tử chết trận, việc ấy có can dự gì đến Thái Úy đâu?
- Sao lại không? Bức thư của Thái Tử Chiêu Văn gửi về còn đó.
- Bức thư nào? – Đạo Thành vờ như không hay biết gì về chuyện ấy – Tính lão phu hễ mắt có thấy thì bụng mới tin.
- Tiếc rằng lúc này ta chưa có bức thư ở đây.
Vừa lúc đó một tiếng đáp đột ngột vọng vào: - Bức thư ấy lúc này có ở đây rồi!
Thì ra nãy giờ Lý Ngân đứng bên ngoài theo dõi câu chuyện từ đầu, có lẽ không ghìm nén được lòng mình, bước ra trao bức thư cho Tể Chấp.
Trong đôi mắt xao xuyến của Thượng Dương, ánh lên niềm sợ hãi.
- Lý Ngân! Bức thư này ở đâu ra? – Bà trấn tĩnh lại dần.
- Cũng như tình cờ dì mẫu có được bức thư của vua Tống.
- Vậy ra cháu đã gặp Đỗ đại nhân đấy ư? – Bà hỏi tiếp trong hơi thở dồn dập.
- Thưa, cháu chỉ gặp Vệ Uông thôi.
- Vệ Uông là ai? Cái tên nghe quá lạ.
- Người quen đó. Vệ Uông chính là Đỗ đại nhân mà dì mẫu vừa nhắc đến.
Chàng quay sang Đạo Thành: - Thưa bá phụ, tờ sắc chỉ kia là thật, bức thư này là giả. Nhưng thật giả cùng nhằm một âm mưu: hãm hại Thái Úy. Và cùng do một bàn tay của tên Vệ Uông đưa đến. Hắn là người của nhà Tống phái sang, nằm phục ở bên ta đã hơn hai mươi năm nay rồi.
- Trời ơi! Cháu nói sao? Đỗ đại nhân là… - môi bà nhợt đi như cánh hồng úa.
- Là một tên thám tử lợi hại nhất của ngoại bang đã dùng bàn tay dì mẫu để ly gián cung đình!
Gương mặt Thượng Dương tối sầm lại, đôi mắt đờ đẫn, bà như tự hỏi mình: - Ta lầm lẫn đến thế kia ư?
Ngoài kia thêm một cỗ kiệu son nữa đặt song song trước sân nhà Tể Chấp. Thái Hậu Ỷ Lan bước vào. Luồng mắt nghiêm lạnh của bà lướt qua mọi người rồi dừng lại chăm chú nhìn vào khuôn mặt có phần bối rối của Đạo Thành: - Đạo Thành lão khanh! Ta thấy câu chuyện trong cung lạ quá! Nhiều vị trong hoàng tộc chít khăn trắng mặc áo xô, ầm ầm kéo đến cung đòi trị tội Thái Úy để cho yên nước Việt là nghĩa làm sao?
Đạo Thành vụt quì xuống bình tĩnh, quả quyết: - Tâu Linh Hậu; thần là Đạo Thành đương quyền Tể Chấp, khẩn khoản xin Hoàng Thượng xuống chỉ bắt ngay Dương Hậu cùng thị nữ ở cung Thượng Dương, y theo án cũ thi hành thì triều chính sẽ yên, ba quân sẽ thuận.
Ỷ Lan đưa mắt nhìn Thượng Dương gặp cặp mắt Thượng Dương nhìn lại. Hai bà hoàng nhìn nhau. Nhưng trong mắt Thượng Dương, bà đâu còn nhìn thấy Ỷ Lan nữa. Hình như bà đang nhìn vào một cõi sâu kín nào trong tâm linh bà mà chỉ riêng bà mới trông thấy được.

9
Điều tiếng eo sèo chung quanh cái chết của hai Thái tử bay đến tai Hạnh Hoa làm nàng lo ngại.
Được lệnh của Thái Hậu Ỷ Lan, nàng tức tốc lên đường ra Như Nguyệt. Lâu ngày chưa gặp Thái Úy, nàng cũng muốn đi thăm cha và báo cho ông biết những tin đồn thổi không lành mới đây ở trong triều. Bên cạnh nỗi nhớ cha, nàng còn ấp ủ một khát khao thầm kín mà nàng không dám thú nhận với mình. Lâu nay nếu tình cờ gặp nàng, Lý Ngân bẽn lẽn gật đầu chào, mặt cúi xuống, đôi mắt lảng tránh. Nàng chỉ kịp thoáng nhìn thấy một vết hằn sâu do mối hoài nghi ám ảnh nào chưa tan, để lại phía trên gốc mũi chàng. Trong mối duyên oan trái này, thoạt đầu nàng tưởng đó là sự tan vỡ một ước mơ, nhưng tự thâm tâm nàng hằng cầu mong đó chỉ là sự kết thúc của một trang dĩ vãng buồn thảm rồi liền sau đấy mở đầu một trang mới. Nhưng liệu trang mới này mở đầu như thế nào đây, nàng cũng chưa biết.
Cái nắng hoa vàng đầu xuân vẫn dễ làm say người như rượu làng Dâu. Khu phố chợ ven sông của Kinh thành vẫn náo nhiệt ầm ào. Bến đò xuân tấp nập những tốp sương quân đi về. Trai tráng Thăng Long vẫn nườm nượp ra trận. Chỉ có khác là mặt người nào cũng mang theo một nét gì nghiêm nghị của thời chiến.
Hạnh Hoa dắt ngựa đứng nhìn màu cỏ xanh rờn đâm qua lớp phù sa trên bãi bồi. Bỗng nàng nghe một giọng hát thanh thanh cất lên có lẽ từ đám con gái đang giặt ở bến sông. Ý chừng họ mượn câu hát để tiễn đưa – biết đâu để ghẹo cợt hay nhăn nhe – những chàng trai Thăng Long trên đường ra trận. Tiếng hát trong lành giống như tiếng hót chim sơn ca rót xuống tự trời cao:
“Giã biệt Thăng Long đất rồng lên
“Hương xuân đào muộn vướng chân thềm
“Hậu đình hoa”, khúc ấy
“Ta sang sông rồi
Người có quên?
Có tiếng cô gái khác hát đáp lại:
“cuộc vui vừa đượm chưa tàn
“Bên sông em đứng tiễn chàng xuất chinh
“Nhắc chi khúc “Hậu đình”
“Mối hờn vong quốc đâu mình dám quên.
Không hiểu sao, câu hát cứ văng vẳng đuổi theo nàng suốt dặm đường Thiên Đức.
Đến đại doanh, Hạnh Hoa tường trình hết mọi việc với Thái Úy và nhắc lại sự lo ngại của Thái Hậu Ỷ Lan về thái độ còn mập mờ của Tể Chấp Đạo Thành.
- Thái Hậu quá lo xa – Ông bình thản đáp – Đạo Thành ngày nay đã đổi khác. Ta tin Đạo Thành như tin ở ta. Không dễ gì Thượng Dương lay đổ nổi gốc tùng già ấy.
- Cha ơi! – Thấy Thái Úy quá xem thường chuyện đó, nàng nhắn thêm – Người ta mưu dâng sớ xin bắt cha nộp cho vua Tống đấy!
Lần này Thái Úy cất lên một tràng cười sảng khoái: - Nhà Tống có vét hết vàng trong kho ra cũng không đúc nổi cái xiềng để xích tay ta lại! Con cứ ở đây rồi xem.
Quả nhiên hai hôm sau, Thái Úy cho nàng hay Thượng Dương cùng 76 cung nữ, chiếu theo án cũ, bị bắt chết theo Tiên Đế. Tin thứ hai làm nàng phập phồng mừng lo lẫn lộn, Lý Ngân cùng lão Vũ đã lập công to, bắt được Vệ Uông. Nhưng Lý Ngân bị thương nặng nhẹ thế nào chưa rõ. Còn một tin nữa, Thái Úy không muốn nhắc đến vì đối với ông nó chẳng cò gì thích thú: Nguyễn Châu được Thái Hậu cất nhắc lên một bậc, ngang hàng Thái Phó.
Thái Úy nhìn con gái với một nụ cười rất dịu: - Bé Hạnh ạ! Mọi việc bây giờ đã rõ cả rồi. Con hãy về thăm Lý Ngân xem bệnh trạng thế nào…
Thấy Hạnh Hoa có vẻ ngúng nguẩy, ông vội nghiêm giọng: - Ở đời, ít người tránh khỏi đôi khi lầm lẫn. Ai đi đến cái khôn mà không phải bước qua cái dại. Con không nên cố chấp. Hãy xem như chuyện cũ đã qua. Tan mây trời lại sáng.
Hạnh Hoa ra về cố giữ vẻ miễn cưỡng cần thiết bên ngoài nhưng bên trong lòng nàng xao động lạ thường như gợn sóng lúa đồng chiêm đương thì con gái… Đã tàn mùa hồng ngự đến mùa cốm mới ủ lá sen. Rồi cau hương bổ ba rẽ bảy xếp lên sàng phơi. Liệu ai đó có còn nhớ đến lứa duyên của nàng với chuyện sêu Tết trong năm xưa cũ? Trong nàng, bóng cây hoài nghi chợt gợn lên qua xôn xao tia sáng hứa hẹn hạnh phúc bừng lên ở phía chân trời. Con sông trao duyên thuở ấy, đã cạn những mùa mưa, biết có còn trở lại dòng cũ, đầy ắp nước như xưa?
Không ai bảo, khi rẽ vào dặm hòe, vó ngựa bỗng dưng đi gióng một như bước vào khớp chân xưa. Hình như linh tính con vật cũng biết chủ nó vẫn lưu luyến nặng tình với dặm đường chứa chất đầy kỷ niệm ấy. Hay vì nó thấy những thân hòe đứng thẳng hàng nghiêm trang bỗng rắc xuống một cơn mưa lá lất phất, chào mừng cô chủ?
Ngồi trên ngựa, Hạnh Hoa miên man hình dung cuộc gặp mặt sắp tới với Lý Ngân. Nhưng kia trên dặm hòe một tốp lính cấm vệ từ xa đi ngược lại phía nàng. Cảnh tượng trùng lặp này khiến nàng tưởng như đã nhìn thấy trong một giấc mơ nào. Chỉ có khác là khi đến gần, nàng mới biết tốp lính đang áp giải một chiếc tù xa bịt kín. Đằng sau thay cho cỗ kiệu son là một chiếc cáng xanh phủ rèm. Và đằng sau nữa thấp thoáng bóng lão Vũ.
Nàng lướt ngựa như bay qua tốp lính cấm vệ, tiến thẳng đến trước lão Vũ gọi: - Lão Vũ! – Tiếng nàng nghẹn trong cổ họng.
Hình như cuộc gặp gõ này không làm lão ngạc nhiên song lão vẫn hỏi: - Ôi! Sao lão lại gặp bé Hạnh ở đây nhỉ?
- Cha ta bảo ta trở về Thăng Long gặp lão – lão Vũ vẫn ngẩng đầu nhóng tai để nghe tiếp - … Cha ta muốn biết thương thể của công tử…
- Công tử Lý Ngân đang ở đằng kia kìa! – Lão chỉ tay vào chiếc cáng xanh.
Lúc này phu trạo võng cáng đang chống nạng đứng nghỉ ở lề đường. Linh cảm đã cho nàng biết điều ấy khi vừa thoạt trông thấy chiếc cáng xanh. Nàng xuống ngựa, cố lấy vẻ thản nhiên hỏi tiếp: - Lão thấy liệu công tử có sao không?
- Lão e… - Lão Vũ rụt rè đáp – nhưng cô nương cứ lại thăm, nhớ tránh cho công tử khỏi phải cử động mạnh.
Mặt tái nhợt, không hỏi thêm một lời, nàng lôi ngựa theo sau, lao về phía chiếc cáng, ngập ngừng nâng nhẹ lá rèm. Trong cáng, Lý Ngân nằm bất động, giương to mắt sững sờ nhìn nàng. Trong cặp mắt không ngớt chuyển màu của chàng, nàng đọc thấy vẻ mừng rỡ lóe lên lẫn cả sự ngượng ngùng và niềm hoảng sợ.
- Công tử thấy trong người thế nào? – Giọng nàng vẫn ôn tồn.
Bệnh trạng nguy ngập của Lý Ngân như ngọn lửa bỏng xua tan lớp băng giá cuối cùng do lòng tự ái dâng lên ở trong nàng.
- Ta thấy… trong người cũng bình thường thôi. Không hiểu sao Vũ tướng quân lại bắt ta phải nằm im trong cáng. Song nếu… - chàng lơ đãng nhìn ra rặng hòe tránh cái nhìn của nàng – ta có mệnh hệ nào cũng chưa đủ để trả món nợ lầm lỗi của mình trước đây.
Tiếng “Vũ tướng quân” nghe hơi lạ tai nhưng Hạnh Hoa còn mải chú ý theo câu chuyện: - Thế sao công tử không ở lại Kinh thành dưỡng bệnh có hơn không?
Giọng nói ngọt ngào, cái nhìn ấm dịu như trời trưa không nắng của nàng khơi dậy trong chàng niềm hy vọng tưởng chừng đã tắt ngấm.
- Ta ra Thiên Đức là vì có ý … muốn gặp lại nàng… - Chàng dừng lại. Phút giây im lặng dò hỏi tuy khoảnh khắc mà dằng dặc sâu lắng đầy âm thanh vang vang. Nhưng bước qua được giây phút này không sức mạnh nào còn có thể cản được lời chàng: - Hạnh Hoa! Năm năm trời, ta khờ khạo cả tin để người ta lừa mình như một đứa trẻ thơ. Ôi! Ta phải qua bao cái dại mới đến được cái khôn – Hạnh Hoa bất giác nhoẻn cười khi nghe chàng nói giống như lời cha mình – Liệu cái khôn ấy đến có muộn chăng? Liệu nàng có giúp và cho phép ta chuộc lại những lỗi lầm cũ đối với nàng? Liệu nàng có tha thứ cho ta không?
Đôi mắt Hạnh Hoa chợt lóe lên một ánh tinh nghịch bất ngờ: - Trong việc này, chàng còn dại lắm chưa khôn đâu. Cứ nhìn là biết, lựa gì phải hỏi.
Lý Ngân vẫn lắc đầu khăng khăng: - Không! Bao lần ta cứ ngỡ là thực lại hóa ra mộng ảo – Chàng xòe bàn tay để xuống mép cáng – Hạnh Hoa! Nếu nàng thực lòng xóa lỗi thì nàng hãy làm cho ta tin rằng ta đã nắm chắc được trong tay.
Hạnh Hoa không do dự áp tay mình vào tay chàng, cái điều nàng làm một cách bình thản đến nàng cũng phải tự ngạc nhiên. Lý Ngân nắm chặt tay nàng, vụt ngồi dậy bước ra khỏi cáng. Hạnh Hoa hốt hoảng: - Đừng! Lão Vũ cấm…
- Không ai cấm ta được lúc này. Có phải chết ngay, ta cũng thỏa dạ!
Tiếng lão Vũ đâu đấy như kề bên tai: - Sống chứ không chết đâu! Công tử đã khỏi bệnh rồi. Chữa bệnh này ta phải chữa bằng mẹo đấy!
Lão cất lên một tràng cười dài – lần đầu Hạnh Hoa nghe thấy lão cười như vậy – rồi vẫy tay ra lệnh cho bọn phu trạo võng cáng không, trở lại kinh thành.
Hai người thẹn bỏng mặt nhưng không quên thầm biết ơn sự đánh lừa nhân hậu có tính chất “ lương y từ mẫu” của lão. Họ dắt tay nhau thung thăng đi dọc theo dặm hòe về nẻo Thiên Đức.
Sen trong hồ rụt rè mới dám đâm đôi ba lá non, hòe bên đường còn chưa tin cậy ở nắng ấm đầu xuân chỉ hé dăm chồi xanh nhợt. Song họ cảm thấy hương sen nồng vây quanh ngào ngạt, sắc hoa hòe vàng tươi theo nắng trải thảm trên đường họ đi.
Lão Vũ đi ngựa nói ghé sang: - Phận sự của lão đối với công tử như vậy là xong nhé! Bây giờ lão xin giao công tử lại cho bé Hạnh chăm sóc. Nói xong lão quất ngựa đi trước. Lúc lão ngoái đầu nhìn lại, lão thấy Lý Ngân đang kể chuyện say sưa thỉnh thoảng đưa tay trỏ vào chiếc xe tù. Áng chừng chàng đang thuật lại vụ đột nhập vào sào huyệt tên Vệ Uông. Hạnh Hoa vừa lắng nghe vừa xoay xoay cái roi ngựa trong tay chốc chốc lại phá lên cười nắc nẻ.
Lão Vũ tưởng như họ thừa sức đi bộ bên nhau đến tận chân trời.

10
Chánh nguyên soái An-nam đạo-hành-doanh mã bộ quân đô tổng quản Quách Quì im lặng nhìn phó nguyên soái Triệu Tiết. Tiết quay nhìn phó đô tổng quản Yên Đạt. Đạt nhìn lại hai vị chánh phó soái. Viên tùy tướng ngại ngùng nhắc lại câu nói không biết là lần thứ mấy: - Dạ, bẩm bên Giao Chỉ muốn phái sứ giả sang xin nghị hòa!
Những đuôi mắt soái lặp lại vòng nhìn cũ…
Kể từ lúc đại binh thoát qua đường hẻm Vạn Linh, chín đạo quân Tống ồ ạt dồn về bờ sông Như Nguyệt – Thành Thăng Long chỉ còn 40 dặm tưởng như đã nằm gọn trong tầm tay. Quân tướng Tống tưởng tượng trước cái thú được nghỉ ngơi và tha hồ chiếm đoạt. Thứ gạo hương ở đồng bằng bên kia mới nghĩ đến đã thấy thơm nhức hai cánh mũi. Cửa hoàng thành mở tung đón họ vào cùng với mùa xuân trong tiếng pháo giao thừa giòn giã. Hai hàng voi đeo chuông vàng quì mọp chào mừng dưới chân họ.
Những chiếc khay lớn dát vàng cẩn ngọc trai, sóng sánh ly rượu nồng nàn và bao trùm lên là tiếng lanh canh không dứt của trân châu trên vai, trên tóc, trên xiêm áo các cô nàng cung nữ mỹ miều…
Song hơn một tháng nay họ bị đóng đinh trên bờ Bắc. Sáng bảnh mắt dậy mới qua một đêm, những hạt trân châu long lanh trong giấc mơ khoái lạc của họ đã biến thành hằng hà sa số nấm độc sặc sỡ đủ màu mọc quanh chỗ họ nằm. Những gò mối ở đâu trong lòng đất đùn lên như nấm mồ hoang và hoa rêu xanh lẹt đóng từng chùm trên đồ binh khí. Cái nóng bắt đầu lột trần họ ra như nhộng. Nước nôi ăn uống hóa thành kim chích đau quặn ruột gan. Một tay họ cố xua từng đám mây ruồi vàng dày đặc lăn xả vào thân hình lở loét, tay kia bịt mũi để khỏi phải ngửi mùi nồng nặc bốc lên từ lớp bùn đóng váng trong ruộng lầy. Ngựa chiến trong chuồng bị toác móng chốc chốc lại hí lên thảm thiết.
Nhưng bi đát hơn hết là cái đói. Chín đạo quân cạn lương. Quá nửa số binh tải lương bị rải xác dọc đường từ biên giới đến Lạng Giang. Dân phu Giang Nam, Hồ Nam bị bốc đi như những chùm bông cao lương rụng dần trên đất lạ. Nhiều lính Tống xua ngựa chiến vào rừng, lén lút xả thịt rồi bảo đó là thịt hươu.
Nguyên soái Quách Quì nóng lòng đóng mảng kết bè đánh ba trận thăm dò song đều thất bại. Ông ta đành gửi chút hy vọng cuối cùng vào đạo thủy binh của Dương Tùng Tiên. Theo lệnh ông ta, một nóc vọng lâu cao vót được dựng lên. Từ đấy hướng mắt về biển Đông, quân tuần phòng có thể nhìn thấy bóng thủy binh của Dương Tùng Tiên từ đường sông Bạch Đằng kéo vào Như Nguyệt.
Nhưng tin tức đạo thủy binh càng trông càng bặt tăm cá. Quách Quì đâm lẩn thẩn nhớ lại lời truyền từ xưa về tài thủy chiến của người Giao. Họ thường lặn xuống nước đội thuyền địch lên để lật úp. Có ông Đỗ Mục nào đó còn nói người Việt đi chìm dưới đáy biển năm mươi dặm mà không cần thở. Tuy không tin lắm vào lời ngoa truyền ấy, Quách Quì cũng bắt đầu thấy lo ngại cho số phận đạo thủy binh Tống. Nhưng tên lính tuần phòng mặt nở như hoa chạy vào báo tin vui. Nguyên soái Quách Quì lật đật leo lên nóc vọng lâu, mừng quá suýt rơi giày. Đằng xa, phía chân trời quả có bóng thuyền chiến thuyền Tống đang đi tới. Bất giác Quách Quì nắm chặt tay lại tưởng như đã nắm gọn được cả thành Thăng Long. Song ông ta lại phải xòa tay ra giụi mắt đôi ba lần. Chiến thuyền đi đầu đúng là của quân nhà. Nhưng sao… đi sau là cả đoàn thuyền chiến của địch? Dưới lá cờ Tống sao có nhiều bóng người lơ lửng trên cột buồm? Thuyền đến càng gần, Quách Quì càng nhức mắt. Hỡi ôi! Đúng là thủy binh nhà bị bại rồi. Kẻ địch bắt được thuyền, giong qua mũi ông ta lại còn đem tù binh Tống treo lên cột buồm. Bọn chúng lướt qua vừa chỉ trỏ, vừa quát tháo, chửi mắng om sòm. Nguyên soái vội bịt tai lại, tiu nghỉu bước xuống vọng lâu. Ông ta đâu biết đội thủy binh còm cõi của Dương Tùng Tiên đã nhiều lần bị tướng Lý Kế Nguyên chặn đánh tan tác trên dòng Đông kênh. Điều đáng nực cười là Dương Tùng Tiên quá lo xa, sợ quân Việt một khi bị Quách Quì đuổi rát sẽ trốn xuống phương Nam nên vội cử hai tướng Phàn Thật và Hoàng Tông Khánh cưỡi thuyền vượt biển vào nước Chiêm khuyên vua Chiêm nên đưa quân án ngữ trước các đường quan yếu – Nếu biết được điều này chẳng hiểu Quách nguyên soái ta có cười nổi không?
Thế là giấc mộng Nam chinh của nguyên soái Quách Quì đã hoàn toàn tan vỡ. Thành Thăng Long ở ngay trước mắt mà không có lương ăn, không có thuyền qua. Làm sao chắp cánh để bay sang được? Quách Quì cảm thấy mình đang cơn khát xé họng mà thành Thăng Long chập chờn như một rừng mơ mọng nước trong ảo ảnh hoang đường…
Tâm trạng Quách Quì như đang ngồi trên đống than hồng. Còn nán lại ngày nào trên đất lửa này là còn nướng thêm quân ngày ấy. May thay sứ giả Giao Chỉ xin sang đúng lúc. Vậy mà hai vị phó soái của ông lại điềm nhiên ngồi nhìn. Ông đứng lên trước lúc viên tùy tướng sắp nhắc lại không biết lượt thứ mấy câu nói ban nãy, giọng dõng dạc: - Tình thế ba quân đang quẫn bách – Thân ta làm tướng ra ngoài ải phải biết tùy nghi định liệu. Ngươi hãy cho mở rộng cổng doanh để ta tiếp sứ của Càn Đức.
Lần đầu nguyên soái Quách Quì thấy phó soái Triệu Tiết không cãi cù cưa như mọi lần. Ông ta đâu biết chút hy vọng dùng kế nội gián của Triệu Tiết đã cứng lạnh theo xác Vệ Uông phơi ngoài đầu làng Như Nguyệt.
Trong lúc ấy, quan chiêu thảo Kiều Văn Ung, người được cử làm chánh sứ qua doanh Tống đang lắng nghe từng tiếng những lời dặn dò cuối cùng của Thái Úy Lý Thường Kiệt.
- Quan chiêu thảo đi sứ lúc này là đúng thời cơ đấy. Song muốn cho Quách Quì thuận đình chiến lui quân về nước thì ta phải mở đường cho y.
- Thưa Thái Úy, như vậy là ta chịu qui hàng nhận phần bại trận ư? – Kiều Văn Ung rụt rè hỏi.
- Quách Quì rút đại binh về là họ chịu bại rồi. Trong cuộc chiến này, nhà Tống tốn bao nhiêu của, chết bao nhiêu quân để gặt hái được gì nào? Họ chỉ mong được một chữ thắng thôi. Song ta cần quái gì thứ phù tự phù danh ấy? Họ được tiếng thắng mà bên trong rõ ràng họ bại. Ta chịu tiếng thua nhưng thực sự ta thắng. Vì vậy ta phải giữ thể diện cho họ. Họ nước lớn, ta nước nhỏ. Họ cầu hư danh, ta cầu sự sinh tồn của dân tộc.
Thái Úy trầm ngâm đặt cốc rượu xuống bàn rồi đột nhiên nhìn vào mắt Kiều Văn Ung: - Quan chiêu thảo có biết lòng lão phu mơ ước gì không? – Kiều Văn Ung đang ngập ngừng định nói thì ông đã tiếp lời – Lão phu hằng mong làm sao bên cạnh ta có một người bạn chứ không phải một kẻ thù…
- Trời ơi! – Kiều Văn Ung không giấu được sửng sốt - Họ cứ muốn xâm lấn ta thì làm sao họ thành bạn ta được?
- Nếu ta biết làm cho họ thấy chán ngán vì xâm chiếm và mệt mỏi vì cừu thù, thì lúc ấy họ sẽ chịu sống yên lành với ta. Đó là kế lo cho trăm đời về sau đấy. Vì vậy trước mắt ta phải biết chịu nhún nhường đẻ Quách Quì rút quân về nước. Rồi mọi việc khác sẽ dần dà rút theo chân quân Tống.
Thái Úy đứng lên rút trong tập văn án mật ra một phong thư trao cho Kiều Văn Ung: - Đây là bức cẩm nang ta giúp Quách Quì rút lui không đỏ mặt và để y có đường ăn nói với vua Tống – Ông liếc mắt nhìn về phía bên kia sông – Hình như cờ Tống đã vẫy mừng đón sứ. Ta tin ở tài biện thuyết của quan Chiêu thảo!
Kiều Văn Ung và lão tướng Trần Nậm, hai người thợ cả xây lũy Như Nguyệt, ngồi thuyền sứ sang sông. Nguyên soái Quách Quì đón họ vào hổ trướn, gươm giáo chói lòa. Cuộc thương nghị tuy không khí bên ngoài đượm vẻ sát phạt nhưng lúc vào đề lại xuôi chiều mát mái.
Nguyên soái Quách Quì ngồi chồm tới hếch miệng lên như uống từng lời nói của quan chiêu thảo Kiều Văn Ung: - Nếu nguyên soái rút đại binh về, lập tức chúa nước tôi sẽ sai sứ sang tạ tội, chịu nhường phần đất bị Tống chiếm và trở lại tu cống như xưa.
Phó nguyên soái Triệu Tiết bỗng cười gằn: - Đâu có dễ dàng như vậy! Các người vô cớ dám phạm tới đất Trời, giết hại bao dân lành của nước Thiên tử. Nay quan quân triều đình vào trong cõi, thế bức, chúa các người mới chịu qui hàng. Đâu chỉ nhờ một vài lời trong biểu mà xóa tội được.
Lão tướng Trần Nậm vụt đứng dậy, tròn mắt xừng râu: - Về! Ta về thôi? Họ đã giết tướng ta, thu đất ta, thế còn chưa đủ sao? Được cứ để họ ở đây. Dăm ba ngày nữa, ta sẽ kéo quân sang nhổ sạch rễ cái đám cỏ hôi này!
Quách Quì vội đưa tay cản: - Khoan! Đó là lời của phó soái. Bản chức là chánh soái mới có quyền định đoạt trong việc này – Ông ta nhìn Kiều Văn Ung với cặp mắt khẩn khoản kêu xin sự thông cảm – Quanh Chánh sứ chắc cũng thấy trong lời nói của phó soái ta có phần nào đúng chứ? Chính vì tại chúa các ông đánh Tống trước nên mới gây ra vụ can qua này…
- Không đúng! Chúa tôi không hề có ý đánh Tống! – Kiều Văn Ung quả quyết nói.
- Thế ai có ý muốn đánh Tống? – Quách Quì hỏi dồn.
- Chính người Tống muốn chúng tôi đánh Tống.
Kiều Văn Ung lặng lẽ rút lá thư của Từ Bá Tường ra trao cho Quách Quì. Nguyên soái cứng họng nhưng trong bụng thì vui như mở cờ. Còn phó nguyên soái Triệu Tiết đỏ bừng mặt lên rồi tái nhợt đi như người lên cơn sốt.
Trong cuộc hội tướng, Quách Quì khẳng khái công bố: - Ta không đạp đổ được sào huyệt giặc, bắt được Càn Đức để báo mệnh triều đình, đó là tại trời! Thôi, ta đánh liều một thân ta chịu tội với Thiên tử để mong cứu sống hơn 10 vạn nhân mạng.
Nhưng khi đại binh lếch thếch kéo về đến Biện Kinh, Quách Quì điểm lại quân số chỉ thấy còn sống sót trên 2 vạn người. Dân phu chết hơn 10 vạn. Tiền phí tổn cả thảy mất trên 5 triệu lạng vàng.
Và ngày 25 tháng 2 năm Đinh Tị ấy, Tể tướng Ngô Sung hí hởn thay mặt quần thần dâng biểu mừng vua Tống “đã dẹp yên An-nam, lấy được đất Quảng Nguyên”. Bách quan thừa biết Tống thua đậm vẫn phải bấm bụng lên tiếng tung hô. Vua Tống miệng ngậm bồ hòn nhận lời chúc tụng.

11
Đầu tháng hai mà sương mai còn dày đặc. Nương theo làn sương mù che mắt địch, Nguyên soái Quách Quì bất ngờ cho ba quân âm thầm nhổ trại. Người ngựa xéo lên nhau hốt hoảng rút lui. Thái Úy vẫn giữ lời hội ước không đem quân đánh đuổi.
Mặt trời lên ba sào, Thái Úy nhìn sang thấy bờ Bắc trống hoang. Cái nhung nhúc hôm qua bỏ chạy và sự vắng lặng chợt đến, thuần khiết mênh mông. Không có cái gì nhắc nhở đến chuyện giặc giã đao binh ngoài những cột khói đen lặng lẽ bốc thẳng trôi đìu hiu ở đường ngấn chân trời.
Trong đầu óc Thái Úy đang bài bố cuộc chiến mới ở một dạng khác, một cuộc chiến thầm lặng không máu chảy xương phơi nhưng không kém phần quyết liệt.
Lão Vũ đứng bên cạnh, gục gặc đầu, ngập ngừng nói: - Dạ, con vẫn chưa hiểu tại sao ta lại chịu nhượng cho Tống một phần đất lớn như vậy?
- Để họ rút quân mà không bẽ mặt. Nhưng ta chỉ nhượng trên giấy tờ mà họ cũng chỉ nhận trên danh nghĩa thôi, Vũ nhi ạ! Rồi ta sẽ đòi lại không sót một tấc đất. Con xem chỉ trong ngày mai là quân ta theo sát chân quân địch sẽ chiếm lại Động Giáp rồi. Còn Quang Lang, châu Môn, Tô Mậu, ta sẽ biến ba dải đất này thành một quả mướp nóng bỏng mà nhà Tống vừa ngoạm vào đã phải nhả ra ngay nếu không muốn rụng răng. Dĩ nhiên ngoài nắm đấm giơ ra, ta còn phải biết mềm dẻo nữa. Ta đem chữ “Nhẫn” ra để chống tính kiêu căng vốn có của họ - Ông dừng lại giây lâu, chăm chú nhìn vào mắt lão Vũ như kéo sự chú ý của lão vào những điều ông sắp nói – Song còn châu Quảng Nguyên là nơi có mỏ vàng mỏ bạc, ta e máu tham của họ sẽ bắt họ cố chịu đấm ăn xôi. Ta phải làm sao để cho châu Quảng Nguyên trở thành một mảnh đất linh thiêng độc địa, đi dễ khó về; bất luận người Tống nào đã mang thân đến đấy đều phải vùi xương lại đấy. Ta phải làm cho họ ngáo ngán vì kinh hoàng. Việc này ta trông cậy ở con và cũng là phần việc chính ta giao cho đấy.
Sau này sự việc diễn biến không ra ngoài tiên liệu của Thái Úy. Chuyện đao binh vừa chấm dứt, vua Tống vội vã đổi Quảng Nguyên ra đất Thuận Châu, bổ ngay Đào Bật, viên tướn văn võ kiêm toàn đã cầm quân chặn hậu cho đại binh Quách Quì rút lui, làm đầu mục châu mới. Nhiều loại viên chức được phái đến: thông phán, thiểm thư, phán quan, kiểm hạt, đô giám, đô áp. Ba nghìn lính thú cùng 17 vị chỉ huy ở các xứ Hồng Châu tới phòng thủ miếng đất mới này. Các lò luyện quặng vàng bạc được dựng lên dưới sự giám sát của viên quan cao cấp Tất Trọng Hùng. Tất cả tội nhân bị án từ Hoài Nam đổ xuống đều được dùng làm công nhân khai thác mỏ.
Nhưng nhà Tống hoàn toàn thất vọng. Tật dịch, hỏa tai kéo dài một vệt từ Quảng Nguyên đến Ung Châu. Nhiều điềm gở xảy ra làm dân tình xao xuyến. Tượng phật các chùa chiền tự nhiên động đậy. Những cơn sốt rung giường lật chiếu cuốn theo hàng đống xác chết của quan quân Quảng Nguyên. Những gia đình có người đi lính thú kêu khóc như ri. Quân thú đào ngũ hàng đoàn. Lính tráng chết rồi lần lượt quan chức cũng chết. Cuối cùng Đào Bật, viên tướng đứng đầu việc cai trị Quảng Nguyên vừa cáo ốm thì đã lăn ra chết liền không kịp hưởng ơn vua cho thăng chức và nghỉ ngơi ở Quế Châu.
Quảng Nguyên quả là đất của thần chết. Phải chăng đó là sự tình cờ? Điều này có thể ít người biết rõ. Chỉ biết rằng vua Tống không nuốt nổi phải nhè ra. Ba năm sau vào ngày 13 tháng 10 năm Kỷ Mùi, Tống Thần Tông lấy đất vàng đất bạc mà cũng là đất chết này “ban” cho vua Lý.
Chuyện của những năm sau ấy được bắt đầu từ cuộc trao đổi hôm nay giữa Thái Úy và lão Vũ. Thái Úy bâng khuâng nhìn làn sương mai gặp nắng lên bị đuổi tít ra tận vệt tre xanh mờ nhạt ở cuối chân trời, giọng đầy cảm khái: - Vũ nhi ạ! Mai đây khi việc đòi đất xong xuôi, nếu lòng con muốn, con có thể về sống cùng ta trong châu Ái.
- Thái Úy có ý định không lưu lại triều đình nữa hay sao?
- Ta nghĩ lúc ấy vua ta cũng đã lớn khôn rồi mà sự có mặt của ta ở triều sẽ là cái cớ để nhà Tống vin vào gây khó dễ trong việc trả hết đất cho nước ta. Hơn nữa đất Hoan, Ái là đất ngày mai của dân tộc. Nếu ta biết làm cho Hoan, Ái giàu mạnh thì mảnh đất ấy có thể gánh hai đầu đất nước. Ở đấy, ta có thể để mắt đến phía Nam và phòng chừng về phương Bắc. Nhưng thôi đó là chuyện xa vời trong mai hậu. Trước mắt, con hãy trở về với hình dáng cũ để các em con làm lễ nhận mặt.
Lão Vũ lui vào phòng bên, Thái Úy đứng lên bảo quân hầu thiết lập hương án rồi cho gọi Hạnh Hoa và Lý Ngân đến.
Vừa bước vào, Hạnh Hoa bắt gặp không khí trang nghiêm trong phòng, nàng sững sờ không biết chuyện gì đang xảy ra. Thái Úy điềm nhiên bảo Hạnh Hoa và Lý Ngân ngồi xuống. Hai người đưa mắt nhìn nhau thầm hỏi. Thái Úy vẫn ngồi trầm ngâm, tâm hồn như chìm đắm theo làn khói trầm nghi ngút cuộn vòng trên hương án. Phút chờ đợi thật hồi hộp…
- Hôm nay ta kể cho hai con nghe một câu chuyện cũ – Giọng ông nói khẽ, mắt không rời lư trầm bốc khói – Hồi đó Tiên Đế mới lên ngôi, ta còn ở chức Đô Tri coi sóc nội đình. Một hôm tình cờ ta thấy quân cấm vệ Ngự Long rùng rùng kéo đi, kháo nhau đến chùa Thắng Nghiêm bắt một tướng cướp khét tiếng vừa đặt chân đến kinh thành. Ta hỏi lệnh của ai. Chúng bảo lệnh của cung Thượng Dương. Ta lấy làm lạ, thầm nghĩ sao Hoàng Hậu Thượng Dương lại đi bắt tướng cướp? Ngạc nhiên và tò mò, ta thầm dõi theo bọn chúng.
Đến chùa, ta thấy sư sãi đều nháo nhác. Đằng góc chùa, bên thành giếng, dưới một cây đào tiên, loại đào trái đỏ láng bóng tựa tô son, lá dày xanh ngắt thon dài như lá muỗm, ta để ý thấy một người dong dỏng cao tay đang cầm cái siêu sắc thuốc. Ta nhớ rõ loại đào tiên này vì thuở bé ta thường bị bố mắng về tội hay ngắt ăn những cánh đào khi mới ra hoa. Người ấy đội khăn nhiễu tím, sau lưng gài một chiếc quạt thước, gương mặt hao hao giống như lão Vũ nhà ta. Bọn cấm vệ vây quanh giếng, binh khí tuốt trần. Ông ta vẫn điềm nhiên chăm chú quan sát xác thuốc trong siêu. Viên nội giám Lý Thông dáng chừng là người cầm đầu tốp cấm binh bước ra nạt nộ: - Tên cướp kia! Quan quân đã đến sao ngươi chưa bó tay chịu tội? – Ông ta lẳng lặng đặt siêu xuống, thoắt cái đã đến gần một tên quân cấm vệ, khua tay. Thanh mã tấu đã nằm gọn trong tay mình. Ông khẽ ấn, lưỡi dao lớn gãy lìa thành hai đoạn. Lý Thông hùng hổ hô quân. Bọn cấm vệ nhớn nhác nhìn nhau chưa tên nào dám xông vào cả. Trong lúc ấy một vị tăng trong chùa đã cho ta biết rõ đầu đuôi câu chuyện. Hóa ra người ấy là một thần y lừng danh về nghề thuốc cũng như nghề võ ở các lộ ven biên giới. Ông ta họ Vũ và vợ ông ta cũng nổi tiếng về các phương thuốc gia truyền. Nếu đem gộp hai dòng họ thuốc ấy lại thì vợ chồng ông ta có dư mười bốn đời làm làng. Ông về kinh sư để chữa bệnh cho người bằng hữu thân thiết, sư ông, Quách Thiên Phương trụ trì ở chùa này. Không hiểu sao nội giám Lý Thông lại dò biết được trong lúc người cung nhân thân tín của cung Thượng Dương bị ốm sắp chết. Có lẽ y khua môi múa mép hứa hươu hứa vượn thế nào trước mặt Hoàng Hậu nên y tìm mọi cách dọa non dọa già để cưỡng bách thần y phải vào cung. Nhưng thần y vẫn khăng khăng từ chối. Cuối cùng y ton hót Hoàng Hậu rồi mượn oai hùm vểnh râu cáo ra lệnh cho cấm binh đi bắt thần y và nếu ông không khứng chữa bệnh cho cung Thượng Dương thì đầu ông sẽ bêu trước hoàng thành.
Ta nghe mà sôi máu giận. Ta bước lại đứng dưới gốc đào. Tên nội giám Lý Thông thấy ta, mặt xanh như chàm đổ. Ta khoát tay đuổi bọn cấm vệ về. Ta cười gằn chỉ vào mặt Lý Thông: - Ngươi biến ông bạn danh y của ta thành một tên tướng cướp. Giỏi thật! Ngươi mới làm nội giám trong cung mà đã ra ngoài ức hiếp dân lành như thế này, nếu ngươi được làm nhất phẩm triều đình có lẽ ngươi ăn thịt cả thiên hạ! – Ta hết nhìn bộ mặt xanh xám chảy dài quắt queo như quả mướp khô của tên thái giám rồi đến trái đào tiên mũm mĩm như búp sen đỏ lủng lẳng trên cây, ta bỗng thấy kinh tởm.
Khi tên Lý Thông cúp tai ra về, ta quay lại. Bốn mắt nhìn nhau và cùng thấy trách cao xanh kia sao cho hai chúng ta gặp nhau quá muộn. Chúng ta thắp hương đèn ngay dưới gốc đào tiên làm lễ kết nghĩa anh em. Hôm sau Vũ huynh đưa ta về quê nhà ra mắt chị dâu. Lúc lên đường, biết ta kém tửu lượng, bà chị cho ta một vốc thuốc, viên nhỏ hạt tiêu sắc đen óng ánh như huyền ngọc. chỉ cần một viên nhỏ ấy theo tợp rượu đầu là bao vò rượu sau vào bụng ta hóa thành nước lã. À, ta còn quên nói một điều là Vũ huynh ta đi đâu cũng thường mang theo bên mình một chiếc quạt thước to lớn dị thường. Quạt phất bằng lụa mây đằng ti, rẽ quạt làm bằng thứ trúc đá màu mun, lúc xòe ra che mưa sáng, lúc gấp lại thành một loại đoản côn. Nên nhớ rằng đường côn gia truyền của họ Vũ nức tiếng là vô địch trong thiên hạ. Thời trẻ ta từng nghe đồn về chiếc quạt thiết phiến này và chủ nó là một danh y thường hay làm việc nghĩa. Ta tâm niệm tìm gặp người này để kết bạn. Hóa ra lòng trời dun dủi cho ta được kết giao đúng người mà ta hằng vọng tưởng. Vì vậy, không chỉ quí mà ta yêu thương Vũ huynh hơn cả bản thân ta.
Câu chuyện của Thái Úy rọi sáng dần vào những điều trước đây đối với Hạnh Hoa còn mơ hồ bí ẩn. Nàng suýt bật tiếng kêu khi chợt nhớ lại ngôi nhà bí hiểm dưới bóng trăng, người mẹ ngồi, lão Vũ quì trước sập với các hộp dài sơn son thiếp vàng trong đặt chiếc quạt kỳ dị ấy. Khói hương trầm cuộn tỏa mơ màng. Ngoài kia dường như có tiếng bò kêu. Hạnh Hoa lắng tai nghe Thái Úy kể tiếp:
- Cách đây hơn 15 năm, lúc ta vâng lệnh Tiên Đế vào Hoan, Ái dẹp giặc Lữ Long. Vũ huynh cùng đi với ta. Hai anh em cùng vào sào huyệt chúa Lữ Long để phủ dụ. Họ đặt trước mặt ta hai vò rượu cần. Khách trước, chủ sau. May là thuật uống rượu này ta được Vũ huynh dạy trước. Ta đút hai chiếc cần rượu vào mũi vận hơi hít một hơi dài. Thấy ta uống rượu bằng mũi, chúa Lữ Long ôm chầm lấy ta, nhận bà con, kết nghĩa anh em.
Song cuộc kết thân giữa vị phó động chúa với Vũ huynh mới thật ly kỳ gay cấn. Hai cô gái đầu đội một chồng âu bạc đầy ắp rượu đủng đỉnh bước ra quì xuống trước mặt hai người. Rượu trong âu không hề sóng sánh một giọt ra ngoài. Lần này chủ trước khách sau. Vị phó chúa đặt hai chiếc âu trước mặt, để miệng cách xa đầu cần, vận hơi hút rượu. Hai tia rượu rót vào miệng y như hai vòi nước. Ta lo lắng đưa mắt nhìn Vũ huynh. Ông anh ta vẫn ung dung làm theo cách viên phó động đặt trước mặt không phải hai mà tám âu rượu thành hình vòng cung, tỏ ý uống mừng cho cả bốn người. Đoạn Vũ huynh thi triển kỹ năng vận khí. Theo các ống trúc, tám dòng rượu chụm lại đổ vào miệng Vũ huynh như tám con suối rượu chảy giữa thinh không, mang ánh trời, phản chiếu lấp lánh bảy sắc cầu vồng.
Được phủ dụ bằng ân uy và cả những bữa tiệc rượu cần, năm châu, sáu huyện, ba nguồn, 24 động của Hoan, Ái dần dần qui phục.
Ba năm sau động Ma Sa ở Đà Bắc làm phản. Sau ba lần bắt lại tha, chúa động Ma Sa mời ta đến thạch động. Để tỏ lòng thật, ta và Vũ huynh cùng đi, trong mình không giắt binh khí, Vũ huynh chỉ mang theo cây quạt xòe ra che nắng cho ta. Thình lình từ trong cửa động, tên độc bắn ra như mưa. Vũ huynh loan quạt xòe rộng ra phẩy các loạt tên độc rụng xuống. Chiếc quạt gấp lại và ngọn côn thiết phiến đánh tan quân mai phục. Lần ấy chúa động Ma Sa đầu hàng, ta thoát chết nhưng Vũ huynh đeo một mũi tên vào mình. Vêt thương lúc đầu nhẹ như vết muỗi đốt, sáu tháng sau chất độc mới phát và Vũ huynh từ trần.
Lúc này, Vũ Anh Thư, con trai đầu của anh ta, đã nối nghiệp cha, đã lừng danh về nghề y và hiện làm ngoại thám trưởng quan cho ta ở vùng biên giới. Ta cho Vũ nhi cải trang làm quản gia về ở với ta để đỡ nhớ người bạn quá cố… Bây giờ Vũ nhi sắp đi vào đất dữ. Ta cho phép các con gặp Vũ Anh Thư, làm lễ nhận mặt anh em.
Vũ Anh Thư bước vào, khăn nhiễu tím, áo đoạn kép, giày hải ly, ngang lưng gài quạt thiết phiến. Một vẻ trang nhã siêu thoát khác thường toát ra từ dáng dấp đến đường sống mũi thẳng nằm giữa đôi mắt ngời sáng cân phân, trên nét viền môi thanh tú. Có phải vì lâu ngày quen nhìn lão Vũ mà Hạnh Hoa cảm thấy dưới vành khăn tím, gương mặt Vũ Anh Thư bỗng rờ rỡ như ánh trăng rằm. Nàng bỡ ngỡ nhìn người anh mới xa vợi như chàng trai trẻ nào lạ mặt. Người nàng bối rối bàng hoàng suốt trong buổi lễ bái huynh. Nàng nghe tiếng Thái Úy bảo: - Lý Ngân, con theo ta đi hội tướng, còn Hạnh Hoa, con thay cha tiễn anh con sang sông.
Hai người đi bên nhau không nói một lời. Để phá tan sự lúng túng này, Vũ Anh Thư quay sang hỏi: - Sao bé Hạnh hôm nay buồn thế?
Hạnh Hoa đáp còn ngượng ngập trong cách xưng hô: - Em … em lo anh đi vào đất hiểm.
- Không sao đâu – chàng cười to – Ta vào đất ấy như cá vào nước. Trước lúc xuống thuyền, chàng còn bảo: Thế nào trong ngày vui của bé Hạnh, tiểu huynh sẽ có mặt. Đừng buồn, bé Hạnh nhé.
Thuyền rời bến sang sông. Hạnh Hoa bỗng cảm thấy tuổi con gái vô tư của mình chấm dứt bắt đầu từ giờ phút này.
Trong đầu nàng, một giọng hát trong trẻo chợt cất lên:
“Giã biệt Thăng Long đất rồng lên
“… “Hậu đình hoa”, khúc ấy
“Ta sang sông rồi, người có quên?
Nàng không quên được. Bao hình ảnh lộn xộn của một thời lão Vũ vụt hiện lên trong trí nhớ nàng: những món quà con gái… bạc dịch trường… đêm trăng trên sông… tiếng hát cô Chiêm nữ… mùa đông cơn bệnh liên miên… những chén thuốc bưng trong giọt mưa tranh hiên ngoài… - và nổi rõ nét lên trên hết - … chiếc lông nhím trắng cắm ngập vào quả đào mơn mởn… cặp mắt trai trẻ ngời ngợi yêu thương…
Một niềm nuối tiếc bâng khuâng lởn vởn thoáng qua trong mắt nàng. Bên kia, thuyền đã cập bờ. Bóng chàng lên ngựa, ra roi. Ai biết lòng chàng đang nghĩ gì.
Lần theo từng đợt sóng dồn của ký ức, nàng nghe tiếng bà mẹ từ trong ngôi nhà bí ẩn dưới đêm trăng đột nhiên vọng về: - Mẹ mong con biết ăn ở nhịn nhục, gánh mọi phần thiệt về mình, sinh bồi cho kẻ khác để cháu con dòng họ ta mai sau được phúc ấm…
Thế đấy. Chàng là người tạo phúc nhưng không hề được hưởng phúc. Chàng sống trơ trọi một thân, ra đi trong im lặng, hành động trong thầm lặng, trở về trong thầm lặng. Số kiếp chàng là vậy.
Bên kia, đằng xa tít, bóng chàng mờ dần rồi lặn giữa vệt ngấn chân trời.
Dưới chân nàng, dòng sông Nguyệt nước chảy lơ thơ… Không hiểu sao, trong mắt nàng như có giọt nước nóng hổi.
Hồi ức nhạt nhòa lật từng trang theo gió thổi trên sông…
Cuối 1979 – đầu 1983



P/S: Hoàn thành xong phần ba rồi nhé! Chúc mọi người đọc truyện vui vẻ!
0
Chắc là phải nhờ ocean đánh luôn phần 2 quá

vì CtLy đã đánh đến phần thứ 4 rồi

nếu ocean đánh từ phần 5 thì tốt quá

Ocan đánh nhanh quá, CtLy theo không kịp
0
ủa zậy là sao Ct. Ly, zậy là Ocean đánh phần 2 hay phần 5. Phần 2 Ct. Ly đánh xong chưa?
Mà trong file pdf down về, Ocean đâu thấy phần 5 đâu? Chẳng lẽ nó nằm trong file .djvu sao?
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-02-12 23:09:42Ct.Ly>
ủa zậy là sao Ct. Ly, zậy là Ocean đánh phần 2 hay phần 5. Phần 2 Ct. Ly đánh xong chưa?
Mà trong file pdf down về, Ocean đâu thấy phần 5 đâu? Chẳng lẽ nó nằm trong file .djvu sao?

Khg CtLy nhờ Ocean đánh phần 2 bắt đầu từ chương 5

vì phần 2 CtLy đang đánh nửa chừng xuân đây
0
okie, zậy để Ocean đánh tiếp phần 2 - chương 5.
0
Máy sis Ct.Ly đang thời kỳ sửa, nên Thanh Vân đánh dùm sis Ct.Ly
 
Phần 2
 
Chương 3 và 4
 
 
Chương 3
Viên quan già thủ kho quốc khố mở rộng một nụ cười nở nang:
- Thưa quan Đô Tri, mọi thứ lễ vật đã tự tay lão cân đếm xong xuôi rồi ạ. Rồi lão khoát rộng một vòng tay về phía chiếc sập lớn, ngổn ngang các loại hóa vật như để phô phang không phải với quan Đô Tri Lưu Khánh Đàm mà với ai đó tất cả sự giàu có của triều Lý - Quan đô Tri chậm rãi hỏi:
- Lông phỉ thúy đã có chưa?
- Dạ, có năm mươi đôi rồi ạ.
- Thế hương trầm?
- Đủ năm trăm cân không sai một tiểu ly nào.
Nhớ tới sự trễ nải của bà cung nhân già cai quản xưởng dệt Thái Hòa mà Đô Tri phải nhờ tới oai của Thái hậu Ỷ Lan để đốc thúc, ông chợt hỏi:
- Còn món đọan?
- Dạ, xưởng dệt cung đình vừa mang tới năm trăm tấm - Vừa nói lão vừa mở hòm lôi ra từng tấm đoạn dệt hoa rồng cuốn, màu vàng sậm.
Cuối cùng quan Đô Tri mới hỏi đến trân châu. Viên quan già vội vớ lấy cái bình vàng cổ cao đặt ở góc sập, đổ ra trên lụa những hạt trân châu to lớn đủ cỡ vừa đếm to: mười hạt bằng hạt đào, mười lăm hạt bằng hạt mận, hai mươi nhăm hạt bằng hát táo, vị chi đủ số năm mươi hạt.
Quan Đô Tri tính nhầm: 50 đôi lông phỉ thúy, 5 tạ trầm hương, 500 tấm đoạn, 50 hạt trân châu. Sao tình cờ lại rơi đúng vào con số 5 nhỉ, không biết con số năm này có là điềm may cho vận nước không. Thái Úy đã nói cặn kẽ nội tình nước Tống cho Đô Tri biết. Vương An Thạch từ lúc về triều đã mưu lấy biên công để kê cho vững chiếc ghế Tể Tướng của mình. Việc đưa quân sang đánh Thổ Phồn phiến đất Hi Hà là bằng chứng rõ rệt. Vương An Thạch còn lăm le xâm lấn Giao Chỉ, đánh yếu để dọa mạnh, mong lấy thắng khí ở phương Nam để kích thích chí khí ba quân ở phương Bắc rồi thừa thế đánh bại nước Hạ. Một khi nước Hạ đã thôn tính xong thử hỏi còn ai dám ho he với Tống. Giấc mộng biên công của Tể Tướng họ Vương quả không phải là giấc mộng con. Nhưng bên cạnh Thạch còn có Tống Thần Tông. Ông vua Tống này tính hay do dự và hay câu nệ. Một khi chưa có danh nghĩa đầy đủ là không dám xuất quân. Bụng thì muốn đánh Giao Chỉ mà tay rụt lại trù trừ. Biết thóp điều này, Thái úy tận dụng nó, trì hoãn cuộc chiến sớm bùng ra. Vì vậy sứ đoàn của nước Việt lần này sang cống Tống, tuy bề ngoài lấy cớ cáo ai Tiên Đế qua đời và xin kinh Phật, nhưng bên trong thực sự là một đòn ngoại giao quyết liệt của Thái Úy nhằm làm chênh lệch sự nhất trí giữa vua tôi họ. Vì vậy hơn một tháng nay, tuy lần cống này gọn nhẹ, quan Đô Tri cũng phải cuống vó để lo cho kịp số phương vật mang đi cống Tống.
Trong lúc Đô Tri mải suy ngẫm miên man, cặp mắt lơ đãng lướt qua những hạt trân châu lấp lánh tỏa một thứ ánh sáng mờ đục trong căn nhà gần như u tối, vì viên quan già thủ kho đứng thừ ra nhìn ông một cách thỏa thích. Dường như vẻ thanh nhã siêu thoát của ông đối với lão còn hấp dẫn hơn cả những viên ngọc kia. Lão tự nhủ thầm:
- Quả Tiên Đế có mắt tinh đời thật!
Thời ấy có tục vua Lý thường kén những viên quan trẻ tuổi, đẹp trai nhất cho vào hầu vua; Có hai người, Lý Thường Kiệt, mặt đẹp như ngọc với Lưu Khánh Đàm, tướng mạo phi phàm, đã từng nức tiếng là hai cây vàng quả ngọc của triều Lý. Có lẽ vì số phận có điều trùng hợp nhau mà hai người rất đỗi thân nhau. Chỉ hơi khác là Thường Kiệt vào cung lúc 23 tuổi, còn Khánh Đàm vợ con đầy đàn mới bắt đầu nhập nội.
Lão thủ kho mải mê nhìn và chỉ sực tỉnh khi đột nhiên nghe tiếng Đô Tri hỏi:
- Còn ngựa! Số ngựa đã đủ chưa?
- Dạ ... dạ, đủ rồi ạ. Sáu con ngựa vua với sáu bộ yên vàng khớp bạc. Đô Tri thở phào nhẹ nhõm. Bây giờ chỉ còn lo một nỗi, chẳng biết việc ông đề cử quan thiếu sư Lý Hoài Tố đi làm chánh sứ lần này có được lòng Thái Úy không?
Vừa nghĩ đến người đã thấy mặt người. Thiếu sư Lý Hoài Tố đúng bên ngoài vui vẻ lên tiếng. Thiếu sư Lý Hoài Tố đứng bên ngoài vui vẻ lên tiếng:
- Đệ đã gặp Thái Úy rồi. Thái Úy hẹn lát nữa sẽ đến với anh em ta.
Đô Tri nhích bước ra cửa:
- Thái Úy có dặn dò gì không? - Thái Úy có dặn dò gì không? - Thái Úy bảo đệ phải cố đem ba tấc lưỡi, trổ hết tài đàm biện để làm cho vua Tống, tin rằng nước ta vẫn một lòng một dạ giữ đạo phiên thần, không hề dám mơ màng đến ngọn cỏ tấc đất của Thiên triều.
- Gì chứ tài làm thuyết khách thì đệ chắc quan huynh chẳng chịu nhường ai.
- Thái Úy dặn đệ phải kín đáo đến vấn an quan đại thần Ngô Sung, người cầm đầu hai ty trung thư và ty khu mật rồi mới ra mắt quan ngự sử Vương Thiều. Ta phải cố lấy lòng hai vị đại quan thần thế này vì họ thuộc phe chủ hòa chống lại phe Vương An Thạch. À, tặng vật đối với mỗi người có khác đấy.
- Quan huynh không phải lo. Với Ngô Sung thì dễ thôi. Nhưng với Ngự sử Vương Thiều, tính khó không hay ăn lễ vàng bạc đút lót của kẻ khác mà chỉ thích những vật lạ của phương xa nên phải chọn kỹ. Này, quan huynh xem thử món này đã vừa mắt chưa?
Đô Tri gọi lão quan thủ kho mang ra một bức tượng Phật cao hơn một thước. Pho tượng này được tạc trên gỗ trầm hương với một bàn tay nghề vô cùng tinh xảo. Thiếu sư Lý Hoài Tố ngắm nụ cười bí ẩn trên môi tượng Phật một nụ cười bí ẩn trên môi tượng Phật, một nụ cười như không cười vỗ đùi thán phục:
- Quả là món lễ vật hợp với một vị quan liêm chính!
Như sực nhớ ra, thiếu sư hỏi khẽ:
- Lần này đi sứ, đệ có một vị quân sư trẻ tuổi đi theo ...
- Quân sư nào?
- Nghe Thái Úy nói có một tướng quân họ Vũ nào đấy. Việc đến nhà Ngô Sung là do người này sắp đặt. Đô Tri có hay biết gì về người này không?
- À, đệ cũng nghe mang máng- Đô Tri vừa ngẫm nghĩ vừa rụt rè đáp. Đó là một con người tuy còn trẻ, nhưng rất cơ trí, nghệ võ tuyệt luân. Có thêm người ấy, thiếu sư như rồng thêm cánh quả là điều đáng mừng đấy.
Hai người ngồi đợi mãi nhưng bóng dáng của Thái Úy vẫn chưa thấy đến. Họ không biết rằng khi Thái Úy vừa định ra phủ thì Hạnh Hoa và lão Vũ đã về tới nhà.
Thấy mặt con gái hồng hào phấn chấn; Thái Úy nhắc:
- Lúc con đi vắng, Thái Hậu Ỷ Lan đã mấy lần cho người ra vời con vào cung ...
- Dạ, vâng con xin đi ngay ạ.
- Hãy gượm! Nghe cha dặn đây. Con vào ở trong cung, phàm những việc cơ mật của Thái hậu là con phải làm tất, đừng cho kẻ khác dúng tay vào.
- Vâng ạ! Nói xong nàng lui vào nhà trong.
Thái Úy gọi lão Vũ vào trong phòng riêng. Không để cho Thái Úy phải đợi, lão đã báo tin vui sốt dẻo:
- Con đã tập hợp được nhiều luồng tin quan trọng. Ngoài tin của Thiện chiếu Thiền sư ở Hán Dương còn có tin ở Quế Châu. Triệu Tú cũng cho người đến gặp con tại bạc dịch trường.
- Trường Tú à? Anh ta còn ở Đàm Châu chứ?
- Dạ, Triệu đã chuyển xuống Tân Châu rồi.
- Triệu Tú là người có biệt tài tinh thông mọi phép đồ trận. Sau này còn giúp ta được nhiều việc, con nên ghi nhớ điều đó - Thái Úy nhìn lão Vũ hỏi thẳng vào cái điều mà ông đang nóng lòng muốn biết: Thế Thẩm Khởi là người thế nào?
- Dạ Thẩm Khởi là viên lang trung ở bộ hình ... Y rất được lòng vua Tống là người tin cẩn của Tể Tướng Vương An Thạch.
- Người tin cẩn của Vương An Thạch!
- Vì y quả quyết với Vua Tống là lấy Giao Chỉ như thò tay lấy đồ trong túi nên y được thay Tiêu Chú coi Quế Châu kiêm cả chức Quảng Tây kinh lược sứ? Y được giao toàn quyền xử lý rồi mới tâu sau một khi xảy ra biên sự.
- Chà, chà ! Gã này được tiền trảm hậu tấu đấy!
- Chính vì vậy mà vừa mới nhận chức, y đã hung hăng điều quân đóng doanh ở các châu Dung, Nghi và đang sửa soạn tiến đánh trại Vương Khẩu.
- Một viên tướng nói liều mà hung hăng!
- Triệu Tú còn cho biết thêm là khi y còn làm chuyển vận sứ Thiểm Tây, lính Khánh Châu nổi loạn kéo tới thành Trường An, y đóng chặt cửa thành không dám thò ra ...
- Một viên tướng nhát gan. Thái Úy chăm chú dằn từng chữ.
- Dạ, đúng vậy, nhiều người cho Thầm Khới dát. Nhưng vua Tống và Vương An Thạch lại bênh cho là Khởi có tính trực nên bị nhiều người ghét.
- Một viên tướng dát lại được bênh! Hà, hà!
Mỗi lần lão Vũ dứt lời, Thái Úy lại nhấn mạnh vào những lời miêu tả tính cách của viên biên thần nhà Tống như muốn khuyên đỏ vào nhũng dòng chữ ấy. Nghe xong, Thái Úy đứng dậy đi đi, lại lại:
- Một viên tướng ăn nói vong mạng, hung hãn mà lại non gan. Non gan mà lại được bênh. Hà, hà! Hà, hà! Lần này ta sẽ làm cho không một ai bênh nổi Thẩm Khởi, kể cả Tống Thần Tông và Vương An Thạch.
Đến bây giờ Thái Úy mới đổi giọng hỏi sang chuyện nhà, chuyện cửa ở dưới quê của lão Vũ.
- Dạ, thưa Thái Úy, mẹ con gửi lời cảm tạ Thái Úy. Còn việc quân thì mẹ con đã sửa soạn xong rồi.
Thái Úy đứng trầm ngâm không biết bao lâu rồi khẽ nói:
- Vũ nhi! Lần này con phải đi công cán xa, đảm đương cho ta một việc hệ trọng. Ta đã cân nhắc kỹ lưỡng nhưng phi con ra không còn ai làm nổi việc này. ta sẽ cho con hai mươi thám tử mới ra lò để thêm tai mắt cho con ... con đi vắng lâu ngày, ắt ta nhớ lắm. Vạn bất đắc dĩ ta mới để con đi chứ lòng ta không muốn .
- Dạ, mẹ con cũng đã nói rõ với con.
- Thế mẹ con có nói rõ đến mối thâm tình giữa ta với bố con không? Và vì sao con lại phải cải dạng làm lão quản gia đến ở với ta không?
- Dạ, con nghĩ vì sự cơ mật của công vụ. Con đã từng là vị danh y thuộc mặt các quan châu ờ vùng khê động.
- Đó cũng là một nhẽ - Thái Úy trìu mến nhìn đăm đăm vào lão Vũ, nét mặt ông dịu lại và như mờ đi- nếu trong đời ta có một mối giao tình nào nồng mặn hơn cả tình thân ruột thịt thì đó là tinh bằng hữu của ta với bố con. Trước đây hai người chúng ta như hình với bóng không rời nhau gang tấc. Vì vậy khi bố con mất ...
Giọng Thái Úy nói khẽ và như nghẹn lại. Căn phòng tĩnh mịch lạ lùng. Lão Vũ tưởng như nghe rõ từng hơi thở của Thái Úy.
- Khi bố con mất, lòng ta thương nhớ khôn nguôi. - Ta bỏ ăn bỏ ngủ hàng tháng trời ... Chắc hẳn con không ngờ là nét mặt hóa trang của con lại hao hao giống người bạn cũ của ta. Đó là ta nhờ vào cái thuật biến hóa có một không hai của thân mẫu con đấy. Trông thấy con hàng ngày ta tưởng như bố con vẫn còn sống ở bên cạnh ta ...
Lão Vũ bàng hoàng nhìn ra song cửa sổ. Ngoài trời, nắng cuối xuân bỗng bùng lên như để dọn đường đi thẳng sang mùa hạ.
*************
 
Chương 4
Buổi chiều hôm ấy, bên trong chùa Nhị Thiên Vương bày ra một quang cảnh khác thường. Từ các chú tiểu đến hàng sư thầy sư bác đều xắn tay vào dọn dẹp quét tước sân trong sân ngoài tận đến mái tam quan. các đồ thờ tự bằng kim khí trên bàn thờ Phật cũng được kỳ cọ sạch sẽ. cả ngôi chùa giống như một chiếc đỉnh đồng bóng lộn. các tăng lữ đều vận những bộ thiền phục bằng vải nâu mới cứng.
Trước dãy tịnh xá ở phía trong cùng cạnh trai phòng, giữa ngôi nhà lớn, các chú tiểu trịnh trọng kê một bàn hương án mới. cảnh nhộn nhịp này diễn ra một cách thầm lặng, bên ngoài không một ai hay biết.
Ngôi chùa Nhị Thiên Vương mới dựng ở phía đông nam thành Thăng Long chưa đầy ba năm. Cũng năm ấy Thái Úy Lý Đạo Thành đích thân đứng ra chỉ bảo việc xây Văn Miếu, tô ttượng Khổng Tử, Chu Công cùng thất thập nhị hiền và lập trường Quốc Tử Giám.
Ngày Hoàng Thái Tử Càn Đức cắp sách ra học khai tâm ở trường này cũng là ngày chùa Thiên Vương nhổ giàn giáo vôi vữa còn bề bộn chưa dọn sách.
Lạ một điều là từ ngày về trụ trì chùa này, chưa một ai biết mặt sư ông. Họa hoằn một tháng đôi phiên mới thấy chú tiểu hoặc sư thầy đi ra chợ. Cổng chùa đóng im ỉm quanh năm suốt tháng. Thường những tối, nếu có kẻ tò mò mỏng tai vếch lên nghe ngóng thì mới nhận ra tiếng cyhân ngưòi rậm rịch, tiếng vũ khí va nhau ở bên trong. Nhưng lâu rồi cũng quen đi. Dân chúng ở quanh đấy chẳng một ai để ý đến vẻ kỳ bí của ngôi chùa nữa.
Khi tiếng chuông thu không gióng giả nổi lên thì mọi người trong chùa ai về việc nấy, bầu không khí thanh tịnh hàng ngày lại trở về bao trùm lên những mái ngói còn đỏ tươi.
Mãi đến tối sẵm mới nghe tiếng vó ngựa dừng lại trước cửa tam quan. Hai võ quan, một già một trẻ tiến vào chùa.
Sư ông cùng các tăng thống ra tận ngoài thềm cung kính vái chào rồi rước khách quý vào chính điện dâng hương. Lễ Phật xong, hai quan nối gót sư ông theo vào trai phòng. Cửa phòng vừa khép khép lại, sư ông vội chắp tay cúi mình sát đất:
- "Bần tăng Quách Thiên Phương xin ra mắt Thái Úy."
Thái Úy đưa tay nâng sư già lên cười rộ:
- Sao ông bạn già của ta lại lắm lễ nghi thế! Ông bạn có biết ai đấy không? - Thái Úy chỉ vào viên tướng trẻ đang đứng đằng sau mình.
Đèn trong trai phòng sáng rỡ, soi rõ đôi mắt ngời ngời trên gương mặt khôi ngô của người trung niên; Sư già nheo mắt nhìn kỹ hồi lâu vẫn chưa nhận ra.
- Con trai đầu của thần y họ Vũ đấy! - Thái Úy mỉm cười nói tiếp:
- A di đà Phật! Hạnh ngộ! Hạnh ngộ! Ông nhà xưa với bần tăng là bạn cố trí. Bần tăng chắc tướng quân nối được chí cha không làm mai một đường côn họ Vũ.
Nói xong, sư ông quay quả đi vào phía trong. Thái Úy quay lại nói khẽ:
- Vũ nhi! Sư ông đây họ Quách, vốn xuất thân từ con nhà võ tướng ở đất Mân. Hiện thời ông đang đảm phần đào luyện thám tử cho ta.
Quách Thiên Phương! Thì ra vị sư già này đã có thời làm giáo luyện cấm quân trong nội đình lúc Thái Úy còn ở chức Đô Tri coi sóccấm thành. Trí nhớ sắc sảo của Vũ nhi bây giờ đã trở lại nguyên dạng trong vị tướng quân họ Vũ - phanh dần từng tình tiết câu chuyện bố kể năm xưa ... Ông vua đầu của triều Lý, Lý Công Uẩn lên ngôi giữa đám mây vàng truyền thuyết. Không ai rõ gốc gác vua Lý ở đâu. Thiên hạ đồn mẹ ông nằm mộng gặp thần nhân có mang sinh ra ông. Mặc dù Lý Công Uẩn đã phong bố là Lý Tự Khanh làm Hiển Khánh Vương nhưng người ta vẫn nói đó là cha nuôi và sự việc trên không làm tan được đám mây truyền thuyết hoang đường ấy.
Ngược lại, người Mân lại nhận Lý Công Uẩn là người gốc đất họ. Họ bảo bố vua Lý là một vị quan to của họ chạy sang ta ở ẩn khi nhà Tống đánh chiếm nước Mân. Có lẽ vì vậy mà nhiều người Mân trốn sang ta giúp vua Lý. Có người làm đến hàng công khanh. Quách Thiên Phương theo bố mưu đồ chống Tống khôi phục lại nước Mạn. Nhưng sự việc không thành. Ông bỏ sang Thăng Long cạo trọc đầu, cạo luôn cả bộ râu năm chòm lẫm liệt, vào chùa Thắng Nghiêm quy y đầu Phật. Không ai biết vì đâu trong số khách thập phương đi lễ chủa Thắng Nghiêm lại có mặt Thái Úy lúc này còn ở chức Hoàng môn chỉ hậu. Cỗ lộc vừa mang xuống để các sư sãi thụ trai thì Thái Úy vào phòng riêng gặp Quách Thiên Phương vòng tay thi lễ:
- Thưa tướng quân, tướng quân là người văn võ kiêm toàn lại thông thạo mọi thuật nho y, lý số. Mong tướng quân đừng hoài phí tài năng về giúp rập triều đình để nước Việt này thâm rạng rỡ.
- Ôi! Thân này đã bao năm long đong thư kiếm - Thiên Phương trút ra một tiếng thở dài - Nhưng rồi mọi việc không thành nên nay đành núp bóng từ bi.
- Thưa tướng quân, bóng từ bi bây giờ cũng nắng dãi rồi. Nhà Tống đã nhòm ngó sang phương Nam.
Quách Thiên Phương bỗng vụt đứng dậy. Câu chuyện kéo dài. Hai người tuy mới gặp nhau mà như đã quen lâu. Quách Thiên Phương buông lời hứa như dao chém đá. Năm chòm râu suôn đuột đen huyền lại trở về trên khuôn mặt uy nghiêm của ông. hơn hai mươi năm ròng, Quách Thiên Phương giúp Thái Úy chấn chỉnh vệ cấm binh, tăng số quân tinh thục lên đến ba bốn nghìn người. Rồi một lần nữa ông lại giã từ những chòm râu dài đã ngả sang màu hung khoác bộ cà sa, bí mật đào luyện cho Thái Úy một đội ngũ thám tử lành nghề. ...
Quách Thiên Phương đã bê ra một mâm ngũ quả. Ông nâng cái bình hình cá với con tôm nằm vắt vẻo trên lưng, rót nước thảo quả vào cốc mời khách.
- Bần tăng hỏi khí không phải - Ông quay về phía Vũ nhi đổi giọng thân mật - Tên cháu là gì?
- Dạ, tên cháu là Vũ Anh Thư ạ.
Quách Thiên Phương nhìn vào ánh men ngọc xanh lơ trên bình sứ, mơ màng nói:
- Cháu ạ, bao lần chú đã treo gươm rửa kiếm dứt bỏ sự trần nhưng rồi vì nặng tình với quan Thái Úy ....
 
Thái Úy cười rộ ngắt lới:
- Ông bạn ơi! Ông theo dòng Thiền Tông "Thảo đường " do đức Tiên Đế sáng lập tại chùa Khai Quốc thì có dúng tay vào việc trần vì nghĩa lớn cũng chẳng sai phạm gì tới lòng từ bi của đức Phật kia mà.
- Về lý lẽ, bần tăng chịu thua Thái Úy từ lâu rồi.
Ba người cùng cười xòa rồi đứng lên ra phía sau chùa dự lễ. Các vị tăng thống đều đủ mặt tại đây. Đa số họ là người xứ Mân lâu ngày lưub lãng giang hồ rồi dừng chân trân đất Việt. Họ đều là bọn tay chân cũ của bố Quách Thiên Phương, được Phương tụ họp về đây giúp ông trong việc giáo luyện.
Mỗi sáng ra các môn đồ học kinh kệ, chiều đến học nói tiếng Trung - Nguyên, tối lại tập luyện các môn võ nghệ cùng các thuật leo núi, vượt tường, cấy râu nhuộm tóc.
Trong sảnh, đèn thắp sáng trưng. Hai hàng võ sinh, thám tử đứng im như tượng gỗ trước bàn hương án, đèn nhang nghi ngút. Bọn họ đều cùng ngang lức tuổi xấp xỉ đôi mươi, dáng người cao ráo gân bắp chắc nịch. Buổi lễ tuy đơn sơ, nhưng không kém phần trang nghiêm, long trọng.  Trong đại sảnh, im lặng như tờ. hai mươi võ sinh lần lượt đến trước bàn hương án, đưa thẳng tay ra đặt trên đỉnh đồng, tuyên lời thề trọng.
Sau buổi lễ, Thái Úy đưa Vũ Anh Thư vào một tĩnh thất riêng biệt.
- Vũ nhi! Con đi chuyến này cứ tùy ý mà bày bố lại đường dây truyền tin sao cho thật tinh tế tránh mọi sơ hở. Duy có một điều ta cần nhắc con. Triệu Tú là người đất Mân lại là chú em bên ngoại của Quách Thiên Phương. Y theo giúp ta vì lớn nên đó là kẻ tâm phúc của ta. Còn Từ Bá Tường tuy cũng gốc ở nước Mân nhưng vì y đã đỗ tiến sĩ mà không được vua Tống trọng dụng nên sinh bất bình mới chịu giúp ta. Biết đâu rồi đây có ngày vua Tống nhìn lại, y được công thành danh toại. vì vậy sự tin cẩn của ta đối với y có khác với Triệu Tú.
Ông dừng lại hồi lâu như để những lời ấy kịp thấm vào Vũ Anh Thư rồi nói tiếp:
- Sứ bộ lần này của ta đi theo đường đất qua trại Vĩnh Bình. Đến sông Đào Hoa đã có phò mã Thân Cảnh Phúc đem quân hộ vệ sứ đoàn lên tận biên giới. mọi chuyện ta đã bàn kỹ với thiếu sư Lý Hoài Tố. Riêng việc đến phủ Ngô Sung là con phải tự lo liệu. Con gắng làm sao để Ngô Sung là con phải tự lo liệu. Con gắng làm sao để Ngô Sung thấy rằng nước ta là đất hiểm, đánh ta lúc này là quỷ thần không vệ, trăm họ ít theo. Rồi từ Ngô Sung tự khắc loang ra ghìm bớt tham vọng n^n nóng của Vương An Thạch.
Thái Úy thong thả rút ra một tấm áo nhỏ, loại áo lót mình nhưng dệt bằng một thứ vải kỳ dị tỏa sáng dưới ánh dèn một màu ngọc trắng.
- Vũ nhi, con có biết chiếc áo "đằng ti" này của ai không? Chắc thân phụ con đã nói rõ rồi chứ? Vũ Anh Thư lẳng lặng gật đầu. Tuy biết vậy, Thái Úy vẫn nhắc lại:
- Tấm áo "đằng ti" này dệt bằng một loại cây thần mọc ở góc hiểm trên đỉnh núi Tản Viên. Cứ ba năm, sợi mây mới dài thêm một đốt. Người ta lấy về tước nhỏ sợi rồi đem ngâm nước muối ba năm. Xong phải hong nắng đủ bảy ngày, phải phơi sương đủ chín đêm mới trộn vào các sợi kim khí đem ra dệt áo. Sợi mây lúc này đã cứng lại như sắt mà lại mềm nhũn như lá liễu, dẻo dai như gấn thú. Kiếm đâm đao chém đều không thủng. Chiếc áo " đằng ti" này với cái quạt thước "thiết phiến" của bố con là hai vật gia bảo của dòng họ Vũ. Bố con đã chia chiếc áo này cho ta. Bao năm nay, ta mặc nó trong người. Nay ta trao lại cho con làm vật hộ thân trong lúc con đi làm việc lớn.
Vũ Anh Thư quỳ xuống lạy tạ Thái Úy. Sớm hôm sau Vũ Anh Thư cùng hai mươi thám tử vừa mãn khóa ra trường, giả dạng làm phu khiêng gánh cống vật, nhập vào sứ đoàn lên đường sang đất Tống.

 
 
 
Cuộc đời một giấc mộng
Thời gian thoáng mây bay
Nguồn tâm không xao động
Khoan thai
0
Phần 2, chương 5 - chương 9



5
Thấy bóng dáng của quan Thái Bảo Nguyễn Châu vừa về đến nhà, người gia nhân già đã chạy đến vòng tay bẩm: - Dạ, con chưa thấy khách đến ạ.
- Càng hay, chưa đến nỗi nhỡ nhàng làm mất lòng ông bạn cũ.
Nét mặt rạng rỡ của quan Thái Bảo làm người tớ già sửng sốt. Đã lâu lắm, lão chưa hề thấy trên bộ mặt thâm trầm của cụ lớn một niềm vui lộ liễu như vậy.
Thái Bảo liếc mắt qua cái kỷ chạm, trên để sẵn một bộ ấm trà chờ khách, rồi đi thẳng vào phòng riêng. Ông cầm nậm ngọc tự tay rót một chén rượu đầy. Quả trong lòng ông niềm vui cũng đang bốc lên như hương rượu quí.
Từ sau ngày Hoàng Hậu bị giam giữ ở cung Thượng Dương và Thái Sư Lý Đạo Thành phải bạt vào đất Châu Hoan, ông nín hơi nuốt tiếng thu mình lại như con ốc nằm yên trong lòng vỏ cứng. Ông để tai nghe ngóng. Nhưng mọi mối giao dịch thầm lén của ông không bị ai phát giác. Thói kiêu hãnh hoàng gia của Thượng Dương, thà chết chứ không chịu làm liên lụy đến kẻ khác, đã đánh tan dần nỗi lo sợ lúc đầu của ông.
Nhưng nỗi mừng thực sự của ông là được Thái Hậu Ỷ Lan bỗng một hôm vời ông vào cung để hỏi han về việc điền bạ. Rồi câu chuyện cứ lái dần sàng ý Thái Hậu muốn biết ai là kẻ đồng bọn của Thượng Dương. Ở đây, thuật đón ý lựa lời có một không hai của ông đã đưa ông đạt được một kết quả không ngờ. Ông trổ hết biệt tài ví von chế giễu tế nhị tính đài các rởm của Thái Hậu cũ bị thất thế và bóng gió tâng bốc tài trị nước của Thái Hậu mới đang cầm quyền nhiếp chính. Cuối cùng ông lấy được lòng Ỷ Lan và bà Thái Hậu mới đã cho phép ông thỉnh thoảng được vào cung Thượng Dương để dò xét bà Thái Hậu cũ. Đường dây thầm kín giữa Thượng Dương và những kẻ ưu ái bà, qua ông, được nối lại.
Nhưng đích ngắm của ông còn xa hơn nữa. Qua Thái Hậu Ỷ Lan, ông muốn với tay đến Thái Úy, người đang có quyền uy bao trùm thiên hạ. Và một lần nữa dịp may lại đến với ông. Theo kế sách của Thái Úy, công việc đắp lũy lập phòng tuyến trên nam ngạn khúc sông Như Nguyệt để phòng ngừa cuộc xâm lăng của phương Bắc được tiến hành gấp rút. Ỷ Lan đề cử ông vào việc tuyển mộ dân phu. Trước kia ông đã từng đi cắm thẻ cho dân đói tha phương trở về quê cũ nên rất am hiểu tình hình các lộ ở ven sông. Thái Úy cũng thấy là hợp tình hợp lý.
Có ba lộ phụ cận với sông Như Nguyệt: lộ Quốc Oai do Thái Tử Văn Chiêu cai quản, lộ Gia Lâm do Thái Tử Hoằng Chân đứng đầu, còn lộ Lạng Giang có Phò Mã Thân Cảnh Phúc. Được sự thỏa thuận của hai Thái Tử ông đã tư trát về các làng chạ bắt mỗi hộ phải đúng kỳ hạn nộp đủ số tre ngâm. Ông còn tính cả số gỗ cần lấy ở đầu nguồn để tải về làm cọc, Thái Úy khen ông mẫn cán. Ông coi trọng lời khen ấy và thấy hởi lòng hởi dạ.
Bóng nắng đã tràn ngập cổng trước sân sau mà vị khách vẫn chưa thấy đến. Thái Bảo bồn chồn đứng lên ngồi xuống mấy lần. Khách chưa đến mà dưới bếp tiếng gõ thớt động mâm đã khua ầm ĩ. Người đầu bếp tò mò thắc mắc không hiểu vị khách của quan Thái Bảo là loại người thế nào mà hôm nay anh ta phải soạn một mâm cơm khác thường đến thế. Cơm thổi vào một nồi to. Rượu vò rót vào một bát lớn. Thịt thái vuông con cờ, xếp bằng chằn chặn trên những đĩa khố to tướng, men rạn chân chim. Miếng nào miếng ấy to bằng nửa bàn tay. Những tay phụ bếp thầm thì kháo nhau về ông khách kỳ dị. Họ đoán non đoán già mỗi người một ý.
Nhưng rồi người khách Thái Bảo đang mong đã đến. Ông ta cứ lững thững bước vào. Khung cửa rộng lớn nhà khách sảnh bỗng như hẹp lại. Vóc người ông ta đồ sộ khác thường. Người chưa vào, tiếng nói đã oang oang: - Trần Nậm đến chậm, chắc Thái Bảo giận lắm hả?
Thái Bảo Nguyễn Châu tươi tỉnh đáp: - Có giận là giận cớ sao lâu ngày tướng quân cứ im hơi lặng tiếng không cho bằng hữu biết chút âm hao.
- Lão đã xin cáo lui về châu Ái. Thái Úy lại lôi ra quất roi vào đít nên con ngựa già này cứ còn phải chạy.
Không để khách nói dài dòng. Nguyễn Châu đưa tay mời khách vào tiệc.
Kiêu vệ tướng quân Trần Nậm và Thái Bảo Nguyễn Châu là hai bạn đồng liêu cùng thờ ba đức vua. Mọi công việc xẻ núi đào sông, mở đường lấp sông của triều đình đều đến tay ông. Hơn bốn chục năm qua, ông đã khai thông nhiều mạch máu mới trong cơ thể nước Việt đang sắp bước vào tuổi xuân cường tráng. Sức khỏe phi thường trong thời trai trẻ của ông đã thêu dệt nên nhiều truyền thuyết trong dân gian. Người ta đồn hễ nghe tiếng Trần Nậm ho là giặc Lữ Long đã thót gan bỏ chạy. Cách đây hơn hai mươi năm, lúc Nậm vâng chiếu chỉ đưa người Ngũ Huyện đi đào sông Cá Lâm có người thấy một mình Nậm đã ăn hết một thạch gạo rồi đi đầu phóng thuổng xắn những tảng đất to bằng cái bệ thờ trong chùa làng. Nhưng giai thoại được nhiều người nhớ nhất là chuyện Nậm ôm cột đình. Năm ấy, trời làm lụt lớn, nước sông Nga Giang ở châu Ái réo ầm ầm trào lên đổ vào làng Duy Tinh kéo trôi nhiều nhà cửa. Thấy nước sắp cuốn phăng cả đình làng, Nậm tức giận xắn quần áo lội ra, choãi chân ôm chặt lấy cột đình giữ lại. Không biết có một ông đồ nho nào đã miêu tả sự việc ấy như sau: “Trời nổi lôi đình, lôi đình đi. Nậm nổi lôi đình, lôi đình lại. Trời co đi, Nậm kéo lại. Trời tốc mái giộim ưa, Nậm không thua trụ mãi”. Kết quả là Nậm ôm cột đình giữ nguyên tại chỗ giúp cho Thành Hoàng đình làng Duy Tinh năm ấy khỏi phải cảnh màn trời chiếu đất.
Khi tính kế thiết lập phòng tuyến Như Nguyệt, Thái Úy đã nghĩ ngay đến việc chọn người. Và người đầu tiên lọt vào mắt xanh của Thái Úy là Kiêu Vệ tướng quân Trần Nậm. Nậm được Thái Úy vời ra kinh, cùng Thái Úy và Thái Bảo Nguyễn Châu đi xem thực địa và trù hoạch mọi công việc dự bị tiến hành. Hôm nay nhận lời mời khẩn khoản của người bạn đồng liêu cũ, ông đến chơi nhà.
Thấy cung cách dọn ăn, Nậm cười: - Bao nhiêu rồi mà ông Thái Bảo vẫn không quên tính ăn to nói lớn của Nậm. Rồi ông quay sang người đầu bếp đứng bên cạnh: - Chớ chủ anh nói hành nói tỏi về ta thế nào mà anh ra tay chặt to kho mặn thế này hả?
Ông đầu bếp đang mải sững nhìn ông, quên cả việc đáp lại. Anh ta ngạc nhiên không chỉ vì khổ người kỳ dị của ông khách mà vì bộ râu rậm, xoắn tít vào nhau lấp kín cả phần ba khuôn mặt. Anh ta đang tự hỏi: - Râu ria rậm rì như rừng dày thế kia không biết rồi ông ta ăn uống làm sao nhỉ?
Trần Nậm không để cho gã phải chờ lâu. Ông đã xắn tay áo vén ngược chòm râu dài buộc túm ra đằng sau gáy rồi bắt đầu ăn như rồng cuốn.
- Tướng quân ơi! Nguyễn Châu nhỏ nhẻ nói – tướng quân quên nghĩ đến tuổi già của bọn ta sao mà kéo dài thời hạn đắp đê Như Nguyệt đến thế kia?
- Thế ông bạn Thái Bảo khuyên Nậm này phải làm sao nào? Hơn hai trăm dặm đê đắp cao như núi với năm lớp lũy tre dày chưa kể đến chuyện vét lòng sông đóng cọc nhọn ở giữa. Nếu ông Thái Bảo có đủ số phu gò lưng làm ngày làm đêm thì cũng phải mất một năm rưỡi mới xong.
- Nhưng khốn nỗi Thái Úy lại cấm đệ không được lấy người trong lúc thời vụ. Một năm hai kỳ, vào ngày ba tháng tám, khi dân chúng treo liềm cất hái thì mới được phép bắt dân phu.
- Điều đó, Nậm tôi cũng đã tính toán kỹ lưỡng rồi. Cũng phải trên ba năm là ít.
Nguyễn Châu xòe tay bấm đốt: - Như vậy là phải đến cuối năm Bính Thìn mới hoàn thành chăng?
Trần Nậm quả quyết: - Không thể sớm hơn được!
Người gia nhân già bỗng bước ra rỉ tai Thái Bảo: - Có cậu Vân đòi gặp cụ lớn?
- Bảo hắn đợi ta ở nhà cầu.
Những người mà lão tớ già gọi là cậu Vân dường như không đợi được đã nối gót lão xộc vào tận bàn tiệc. Hắn ta người to béo, lùn tịt, mắt sắc, mũi to, mặt vuông chành vạnh. Quả tội, hắn cũng không lùn lắm nếu hắn không đeo đằng sau lưng một khí giới cổ quái hình thù tròn như cái mâm ngoài bọc da báo làm cho khổ người hắn bè ra. Tấm áo lính cận vệ bạc màu không làm giảm bớt được phần nào vẻ ngang tàng hiện trong nụ cười ngạo mạn thường trực trên môi hắn.
Không hiểu hắn có chút hơi men nào không mà vừa tới hắn đã sỗ sàng: - Chẳng biết có việc gì cấp thiết mà ông anh gọi thằng em này đến vậy?
Hơi ngượng với khách, Thái Bảo phân bua: - Hắn là chú em họ xa của đệ. Hắn vốn ở nơi quê mùa, tính khí lỗ mãng, mong tướng quân đừng chấp.
Trần Nậm cười lớn, không hiểu nói với Thái Bảo hay với người mới đến! – Về cái tính lỗ mãng thì Nậm tôi chưa chịu nhường ai.
Đến bây giờ Thái Bảo mới quay sang quắc mắt nhìn gã Cấm Vệ: - Vì tình họ hàng, ta đã thu xếp cho chú được sung vào chân Thiên tử quân. Thế mà chú không lo tu tỉnh làm ăn, rượu chè be bét, nay gây gổ với người này mai sinh sự với người kia. Chú lại còn to gan dám hạ nhục quan Đô giám ở đội Ngự long trước mặt mọi người. May họ nể mặt ta nên mới không rầy rà to. Bây giờ muốn tốt thì ngươi phải tới ngay nhà ông ấy mà tạ tội.
Gã ngữa mặt cất tiếng cười hô hô: “Ra ông anh bắt Vân này phải khom lưng trước lão cú vọ miệng hùm gan sứa ấy ư? Địa Vân này đầu đội mây, chân đạp đất, có bao giờ thèm quỵ lụy xin xỏ kẻ khác”.
- Nếu mày không nghe ta thì mày có mọt xương trong lao tù, ta cũng mặc xác.
- Chỉ vì nghe lời mẹ mà tôi phải đến với ông. Tưởng ông làm quan to thì mắt ông sáng hơn mọi người. Nhưng xem ra ông cũng là loại gà mờ, vàng thau lẫn lộn, không phân được tốt xấu, dở hay.
- Mày quả là đồ láo xược, quân vong ơn bội nghĩa!
- Hà hà! Địa Vân này phải mang cặp tai dày vượt qua tử cấm thành để đến đây nghe có thế ư? Thôi! Từ rày ta không thèm đặt chân vào nhà này nữa.
Trần Nậm tủm tỉm cười, tự tay rót một bát rượu đầy đưa mời Địa Vân: “- Xin tráng sĩ hãy nguôi cơn giận!”
- Rượu thì ta uống còn ân huệ thì ta xin trả lại!
Gã ngửa cổ ực một hơi cạn bát rượu rồi đưa mu bàn tay lông lá quệt ngang mồm. Đoạn gã quay ngoắt, không thèm chào ai nửa lời, ngạo nghễ bước thẳng ra cổng lớn.
Thái Bảo giận tím mặt, cục lộ hầu nhọn hoắt chạy lên chạy xuống trên cái cổ dài ngoẵng của ông.
Chừng như để giữ thể diện với khách, ông quay mặt vờ trút một tiếng thở dài ngao ngán.

6
Trong lúc tâm trí Lý Ngân chơi vơi giữa đám mù sương thì thể xác chàng ngày đêm cũng bồng bềnh trên thuyền trôi về đâu không rõ. Khi thuyền cập bến, Đỗ đại nhân đưa chàng vào nhà, chàng vẫn còn như đang ở trong mê.
Sau một giấc ngủ nặng nề như chết, Lý Ngân mới bừng tỉnh và thấy mình đang nằm trong một dinh cơ dãy dọc tòa ngang. Nhà lát đá phiến, mái ngói lưu ly, cửa bức bàn lồng kính buông sa, tường trước rào sau cẩn mật. Chung quanh sóng vỗ ầm ì. Đằng trước, lá cờ hiệu buôn họ Đỗ bay trong gió lộng.
Lý Ngân sực nhớ ở cung Thượng Dương, dì mẫu có lần nói với chàng về chuyện người thương nhân họ Đỗ. Chàng đoán ra đây là thương điếm của ông ta và chàng hiện đang ở trên cửa khẩu Vân Đồn.
Thời ấy, Vân Đồn là bạc dịch trướng lớn nhất của nước Đại Việt. Nó cũng là cửa khẩu duy nhất mở cho thương thuyền nước ngoài đến buôn bán.
Cách đây hơn 30 năm, có người lái buôn họ Đỗ tên Sinh, quê ở Hải Đông ra đây làm ăn, trở nên giàu có lập ra hiệu buôn nổi tiếng này. Nhưng rồi vận đen ập đến thuyền đắm hàng chìm, gia tài khánh kiệt. Một buổi chiều, trong những ngày cuối năm ảm đạm, Đỗ Sinh đang ngồi thừ nhìn dây quầy hàng trống rỗng nét mặt buồn thiu. Bỗng từ ngoài bước vào một ông khách buôn sang trọng. Đó là một người to béo chân đi giày da hươu, đầu quấn khăn nhiễu tía phủ kín mang tai, lủng liểng đằng sau cổ một búi tóc vuốt sáp thơm láng mượt. Ông khách ngỏ ý muốn bán hàng. Nhưng Đỗ Sinh lắc đầu từ chối: - Hiện tôi không còn một đồng chinh dính túi, phiền ông bạn đến cửa hiệu khác mà hóa giá. Nhưng ông khách lạ vẫn điềm nhiên cười tủm tỉm: - Tôi đang có việc gấp phải về ngay. Mà lúc này tôi cũng chưa cần đến tiền. Thôi thì cứ coi như là tôi gửi lại ông bạn, mai mốt tôi sẽ ra tính toán sau.
Chao ôi! Đâu mà lại có người lái buôn quí hóa thế này! Tuy bụng còn ngờ mà Đỗ Sinh vẫn theo chân người khách lạ. Trên bến, quả có một chiếc thuyền to chở đầy hóa vật khan hiếm, những thứ hàng quí mà nhà buôn các nước Qua Oa và Xiêm La đang tìm mua. Khi hàng đã cất hết vào quầy, người khách vội đến mức chưa kịp uống với nhau một ngụm rượu đã nhổ neo rời bến. Đỗ Sinh vẫn còn đứng ngẩn ngơ không tin đó là sự thực. Một năm rồi hai năm trôi qua, người khách lạ vẫn chưa thấy trở lại. Hiệu buôn họ Đỗ lại phát đạt hơn xưa.
Cùng vào một ngày cuối năm, người khách lạ lại đến dẫn theo một chiếc thuyền khác đầy ắp hàng hóa. Trong thấy khách, Đỗ Sinh chỉ muốn quì xuống tạ ơn và lo soạn tiền trả nợ. Nhưng khách lạ xua tay. Lần này khách ngỏ ý muốn ở lại hẳn. Theo lời khách thuật lại thì ông ta là Đỗ Mục, quê ở Vinh An, có cửa hiệu tại trạm Giang Đông. Vì ông vừa mất người vợ quí nên không muốn lưu lại quê nhà, nơi chỉ gợi thêm cho ông cảnh đau lòng. Khách nói với Đỗ Sinh: - Trời xui đất khiến thế nào mà tôi cũng họ Đỗ. Rồi khách tỏ lời muốn cùng Đỗ Sinh kết nghĩa chi lan, kề lưng đấu cật, hùn vốn buôn chung.
- Ôi! Thế thì còn gì bằng! – Đỗ Sinh mừng rỡ reo lên.
Công việc làm ăn của hai người khởi sắc phất lên như lá cờ đại vừa dựng trước cửa hiệu buôn. Công cuộc doanh thương được mở rộng vào đất liền. Các chi điếm lần lượt mọc lên ở các lộ. Số gia nhân trong ngoài đông có hàng trăm.
Rồi một hôm Đỗ Sinh đưa gia quyến về thăm quê. Không rõ vì nguyên nhân gì, Đỗ Sinh bị đắm thuyền giữa dòng Đông Kênh, toàn gia chết sạch. Chuyện ấy cho đến nay vẫn còn là một điều bí ẩn. Đỗ Mục hay tin, vật vã thương khóc ngày đêm. Nhưng sự đau xót thái quá của ông em cũng không thể ngăn cản việc phải đứng ra thay thế ông anh kết nghĩa. Và Đỗ Mục nghiễm nhiên một mình làm chủ cả một cơ nghiệp kinh doanh lớn nhất ở Vân Đồn.
Những sự việc trên đây cũng như lai lịch của Đỗ Mục không ai hay rõ. Người ta chỉ biết tuy không quan tước, mà Đỗ đại nhân ra cửa là có thuyền to ngựa khỏe, bữa cơm bưng lên có mâm son, bát quí, đũa ngà. Kẻ ăn người ở mỗi khi gặp mặt ông chủ là cúi rạp, nép mình, sợ một phép.
Đỗ đại nhân đối đãi với Lý Ngân như một thượng khách. Ông cho Lý Ngân biết rõ những sự biến ở triều sau khi chàng trốn khỏi kinh thành. Ông dặn đi dặn lại Lý Ngân: - Hoàng Hậu Thượng Dương cùng quan Tể Chấp đều gởi lời khuyên công tử nên ẩn nhẫn tạm lánh nơi đây để chờ thời cho đến lúc có tin mới. Rồi ông lại ra đi theo một chuyến buôn xa.
Lý Ngân ở lại một mình. Tuy hằng ngày có người hầu kẻ hạ, cơm bưng nước rót nhưng Lý Ngân vẫn buồn phiền day dứt. Sóng biển ngày đêm vẫn rầm rì vỗ mạn lòng chàng. Tình cờ chàng vớ được trên án thư một quyển sách cổ đã long bìa. Sách dạy về cách chế tạo thiết mã, mộc ngưu, cùng các loại mộc xạ. Trong cơn buồn chàng lơ đãng lướt qua vài dòng rồi dần dà chàng đọc say mê thích thú. Trước nhà, sát bờ biển, cửa hiệu có một xưởng nhỏ chuyên việc chữa thuyền và đóng các thứ xe chở hàng. Chàng xắn tay học hết nghề mộc nghề rèn và đem những điều học được trong sách ra sữa chữa lại các loại xe gỗ trước con mắt ngạc nhiên thán phục của các bậc thợ già. Chàng mải mê với công việc này không biết bao lâu. Đỗ đại nhân vẫn đi biền biệt. Cho đến lúc ông ta trở về thì chàng đã gần như quên hết tháng năm.
Đỗ đại nhân đưa chàng vào phòng riêng. Nhìn qua nét mặt trầm trọng của vị thương gia họ Đỗ, Lý Ngân đoán có đại sự sắp xảy ra. Quả nhiên, họ Đỗ nghiêng mồm vào tai chàng thầm thì: - Nhà Tống sắp đem binh hỏi tội nước ta vì Thái Úy Lý Thường Kiệt đã tụ quân trái phép ở biên thùy. Vua Tống đã ra chiếu chỉ cho Lưỡng Quảng. Quan kinh lược sứ Quảng Tây là Thẩm Khởi đã xây thành đắp lũy ở vùng Nghi, Dung. Khởi đang lấy dân đinh trong năm mươi mốt động thuộc Châu Ung để kết thành bảo giáp, lập ra bảo ngũ, phát các trận đồ ngày đêm tập luyện. Mọi thuyền đinh dọc biển thường ngày chở muối đều bị trưng dụng để tập thủy chiến. Các bạc dịch trường từ trạm Giang Đông đến Thất Nguyên đều phải cấm chợ. Biên giới đóng cửa không ai được phép qua lại thông thương. Đỗ đại nhân thở dài nói tiếp: - Thiên hạ oán giận Thái Úy quá chuyên quyền gây ra nạn binh đao giữa hai nước. Tất cá công việc làm ăn của họ Đỗ này cũng vì chuyện ấy bị đình đốn. Hiện nay Thái Úy đang bắt dân đắp đê sông Như Nguyệt và phái tướng Lý Kế Nguyên đem thủy quân ra đóng trên dòng Đông Kênh này. Vì vậy Hoàng Hậu rất lo cho công tử. Còn Tể Chấp ở Châu Hoan thương nhớ công tử đến gầy người.
Hồi lâu Đỗ đại nhân rầu rĩ tiếp giọng: - Có lẽ vì thế mà Tể Chấp cho lão Triệu ra Thăng Long đón công tử vào ở với Người. Có thế, công tử mới được yên lành. Công tử nên cải trang xuống thuyền ngay chiều nay thì mới kịp – Nói xong dường như không cưỡng nổi với sự mệt nhọc đường trường, Đỗ đại nhân quay mặt đi ngáp dài.
Những tin tức vừa rồi đốt lòng Lý Ngân khiến chàng đứng ngồi không yên. Trời mới đứng trưa, chàng đã xộc đi tìm Đỗ đại nhân để xin phép ra đi cho sớm sủa. Chàng đi thông qua ba gian nhà vắng tanh. Hình như tất cả các gia nhân đang bận việc ngoài bến. Bỗng chàng nghe ở gian cuối có tiếng ngáy to. Cánh cửa nặng nề thường ngày đóng im ỉm hôm nay sao lại khép hờ. Chàng vô tình liếc mắt nhìn vào, thấy Đỗ đại nhân mặc nguyên quần áo ngoài, ngủ trên giường gấm. Chiếc khăn bịt đầu sổ tung tuột ra trên mặt gối, để lộ một vết sẹo tròn to bằng vòng đít chén vại, màu da đỏ hỏn láng lì như bôi mỡ. Chàng cảm thấy mình thất lễ, thẹn thùng lặng lẽ lui ra. Đến chiều, Đỗ đại nhân gọi một gia nhân gầy nhom mắt lác cùng đi theo chàng. Ông ta tiễn chàng ra tận bến.
Chuyến đi của chàng song suốt. Thuyền chàng lặng lẽ cập bến kinh thành. Chàng ghé mắt nhìn lên bờ đã bắt gặp ngay dãy phố hẹp nằm dài trên lũy ven sông, nơi buôn bán sầm uất nhất ở góc Đông Bắc kinh thành Thăng Long. Thuyền đinh gặp con nước thuận, đỗ san sát ven bờ. Thuyền ngược về mành mắm ra, lô nhô ven bãi sa bồi. Trên buôn dưới bán, thượng vàng hạ cám. Sang có đoạn, gấm, nhiễu, vóc, cánh kiến, đồi mồi, hèn có bồ kếp, phèn chua, nhang thơm, rễ bài. Hàng trầu cau, thuốc lào xếp vào một góc. Ngoài hè, hàng bánh hàng quà ồn ào như sôi. Rượu đổ vào chén vại làng Dâu, men nếp cái hoa vàng, thơm lừng một góc quán. Cảnh phố phường ồn ào nhộn nhịp trong cái sớm oi nồng của ngày hè trông quen thuộc quá làm Lý Ngân cay cay ở mắt. Lý Ngân rời đất Thăng Long mới ngót năm trời, mà chàng tưởng như lâu hằng trăm năm. Bỗng dưng chàng nhớ tới thứ bánh ngỗng thời thơ ấu, đâu như bán ở khu chợ này, một loại bánh bột tẻ mịn ướt, tròn vo trắng bóc thường đặt trong lá sen xanh màu rêu mướt, trong độn nhân hạnh đào xào mỡ phần, ăn ngọt ngấy.
Gã mắt lác đưa chàng đến một cửa hiệu tạp hóa, khách hàng sang trọng vào ra tấp nập. Nhưng gã không tiến vào mà lại kín đáo dẫn chàng đi theo lối cửa nách. Vừa bước vào chàng nghe có tiếng sênh phách đàn ca của kỹ nữ từ trên gác cao vọng xuống. Chàng chợt nhớ ra đây là một trà lâu có tiếng mà khách vương tôn công tử ở Kinh Thành thường lui tới.
Không ai ngờ đằng sau ngôi hàng tạp hóa bình thường này lại có cả một hoa viên tráng lệ. Viền quanh là những dãy nhà cầu xinh xắn có lan can chạy triện, màu son đỏ tươi. Sau vườn hoa mới đến nhà sảnh và nhà trong. Cạnh đấy qua rặng trúc thấp thoáng một ngôi nhà im lặng đứng biệt lập. Một ổ khóa đồng lớn khóa chặt bên ngoài. Đằng cuối sát mé mông, san sát những dãy nhà kho.
Trong nhà sảnh, một gã quả đầu dưa, mắt ti hí, cặp môi mọng đỏ chót ngồi giữa sập đang nhai trầu bỏm bẻm. Gã mắt lác khom mình báo: - Thưa anh cả, công tử đã đến. Gã đầu quả dưa đứng lên cúi đầu tủm tỉm cười, lễ phép chào qua Lý Ngân rồi khẽ vẫy tay. Gã mắt lác lặng lẽ đưa chàng vào tận nhà trong mới khép nép lui ra.
Lão Triệu, người tớ già thân cận của ông bác chàng, Tể Chấp Lý Đạo Thành, đang ngồi quay lưng ra phía chàng. Nghe có tiếng động, lão quay ra nhìn chàng hồi lâu. Chừng như nhận được ra chàng, lão kêu khẽ lên một tiếng: - “Công tử!” rồi nước mắt lão giàn giụa. Lão mếu máo: - Công tử ơi! Cụ lớn bây giờ ở châu Hoan, sớm tối chỉ ngồi ôm bài vị Tiên Đế mà thở than. Công tử vào sớm ngày nào thì người vui ngày ấy.
- Ta chưa vào được đâu lão Triệu ạ.
- Chưa vào! Chưa vào! Thế công tử còn định về đâu nữa?
- Ta đi lên sông Như Nguyệt!
Ý định này không phải ngẫu hứng đột nhiên nảy ra trong đầu chàng. Lúc ở trên đảo Vân Đồn, khi Đỗ đại nhân báo tin Tống sắp đánh ta, bề ngoài chàng vẫn im lặng nhưng lòng chàng bảo nổi, nhiệt huyết trong chàng sôi sục. Trong một lúc chàng đã thấy hết tầm quan trọng của vành đai Như Nguyệt trong chiến cuộc và vai trò quyết định của Thái Úy. Lúc này không phải lúc nghĩ đến thù riêng. Vận mệnh tổ quốc lâm nguy, đòi chàng phải góp sức.
- Ôi! Công tử quẫn trí rồi – Lão Triệu kêu lên – Công tử lên Như Nguyệt để làm gì? Để đắp đê ư?
- Lão nói đúng. Ta đi đắp đê. Lão cứ về đi.
- Công tử nói sao? Về đi! Về đi! Lão về thế nào được. Không có công tử thì lão về phục mệnh Tể Chấp thế nào được.
- Lão cứ về trước, bẩm với bá phụ ta rằng ta sẽ về sau.
- Không! Công tử đi đâu, lão xin theo hầu đấy.
Lý Ngân âm thầm phát ra một câu, âm sắc khản đặc: - Được! Vậy lão đi theo ta đắp đê Như Nguyệt!

7
Tại dinh Lý Thường Kiệt, trong một phòng khách riêng biệt, thiếu sư Lý Hoài Tổ kể lại những cảm giác còn tươi rói về chuyến đi sứ vừa qua ở Biện Kinh. Quan Đô Tri Lưu Khánh Đàm vừa nghe chuyện vừa thích thú nhấm nháp loại trà thơm hảo hạng của Trung Nguyên do Thiếu Sư mới mang về. Còn Thái Úy đang chăm chú theo dõi từng tiểu tiết trong thái độ đối xử của vua Tống.
- Thưa Thái Úy, vua Tống Thần Tông ân cần phủ dụ rồi gọi viên quan Cung Phụng bảo phải lo nơi ăn chốn ở của sứ bộ ta cho thật chu đáog. Còn Tể tướng Vương An Thạch thì lánh mặt.
- Thế họ sắp Thiếu Sư ở điện nào? Điện Tây Vu hay điện Đông Hóa?
- Dạ nơi ngủ và đãi yến thì ở điện Đông Hóa. Còn gặp ngày sóc thì vào điện Văn Đức, ngày vọng thì điện Thúy Củng. Nghe đâu Vương An Thạch sắp sứ bộ ta vào điện Tử Thần nhưng Tống Thần Tông không nghe.
Quan Đô Tri chợt hỏi xen vào: - Hệ trọng lắm chứ. Bên trọng bên khinh. Điện Tây Vu và điện Tử Thần là dành cho những sứ bộ ít được trọng vọng. Xem ra Tống Thần Tông còn có bụng kiêng nể ta phần nào.
Nhưng điều ấy hiện đang rất trái ngược với những việc làm của quan kinh lược Thẩm Khởi ở biên thùy. Có tin vua Tống đã bí mật truyền cho Khởi sửa soạn binh nhung. Khởi đã bí mật liên lạc với Lưu Kỷ, viên tướng Man dân theo ta trấn ở Quảng Nguyên và phái thuyết khách đi chiêu dụ các tù trưởng khê động. Hiện Vũ Anh Thư còn phải nán lại ở trên ấy để tập hợp các luồng tin. Thái Úy đã điều thổ binh ở các lộ Thượng Du áp sát biên giới. Mới đêm qua, Thái Úy còn đọc lá thư của Từ Bá Tường trong có đoạn viết: “- Bá Tường này nghe rằng hiện nay Trung Quốc muốn cử binh đi diệt Giao Chỉ. Theo binh pháp dạy: “Trước khi người có bụng cướp mình thì chi bằng mình đánh trước”. Lúc nào quân Đại Vương vào đánh, Bá Tường này xin làm nội ứng”. Những loại giấy tờ này mọi khi thường xem xong là đốt đi ngay. Không hiểu sao, lần này Thái Úy để lại và lưu ở bên mình.
Bây giờ nghe qua cung cách đối xử của vua Tống với sứ đoàn ta, Thái Úy thấy rõ sự không ăn khớp giữa vua tôi họ. Phải chăng mùi thất bại của quân Tống ở Bạch Đằng, Chi Lăng, Tây Kết cách đây hàng trăm năm còn phảng phất trong lỗ mũi Tống Thần Tông?
Câu chuyện của Thiếu Sư Lý Hoài Tổ đang đi đến đoạn hào hứng nhất. Đây là lúc sứ đoàn ta đến dự tiệc ở nhà quan đại thần Ngô Sung. Như người đầu bếp giỏi thường cho khách thưởng thức mùi thơm của các món ăn trước lúc dọn ra mâm, Thiếu Sư giáo đầu bằng cách hết lời tán tụng tài ba của Tướng quân họ Vũ. Ông bảo: - Ôi! Thật Thái Úy có con mắt tinh đời khéo tìm ra được một con người tài nghệ hoàn hảo đến thế. Hôm ấy Vũ Anh Thư đóng vai viên quan quân tùy của chánh sứ. Trong phủ đệ của Ngô Sung đèn thắp giăng giăng như đám hội. Trong bữa tiệc, Ngô Sung có mời một số quan khách triều đình, toàn các vị lão thần râu dài đến rốn. Sau tuần rượu thứ ba, câu chuyện bắt đầu nở như ngô rang. Không biết người nào dẫn dắt mà câu chuyện lại được lái sang miếng đất phương Nam, cùng xứ Giao Chỉ đầy dẫy ma thiêng khí độc. Ngô Sung hỏi Lý Hoài Tổ: - Nghe đồn bên quí quốc có nhiều cái lạ, vật thì quái, ma thì thiêng, chẳng hay điều ấy có thật không?
- Dạ, bản quan nói ra sợ e tướng công khó tin. Nhân đây, bản quan có vị tướng trẻ tùy tùng, xin tướng công cho phép anh ta được hầu chuyện để mua vui – Chánh sứ chỉ vào Vũ Anh Thư – tướng quân này là người có linh khiếu thông huyền, giao cảm được thần tiên trên thượng giới.
Ngô Sung tò mò nhìn Vũ Anh Thư: - Ra tướng quân đã có lần gặp thần linh hiển hiện đấy ư?
Lý Hoài Tổ lại đỡ lời: - Tướng quân có môn đồ của thần Tản Viên, vị thần linh thiêng nhất của nước Việt chúng tôi.
Lần này Ngô Sung quay sang hỏi thẳng Vũ Anh Thư: Tướng quân đã là môn đồ của thần, ắt thần có truyền cho tướng quân nhiều phép lạ chứ?
Lúc này Vũ Anh Thư mới đứng dậy vòng tay từ tốn đáp: - Dạ, bẩm tướng công, thần núi Tản đã truyền cho vãn sinh phép múa côn và thuật nhẩm độn, tướng số.
Bây giờ mọi người trong bàn tiệc đều dồn mắt vào Vũ Anh Thư và cùng thốt lên một tiếng “ồ”! sửng sốt. Nhưng Ngô Sung đã hỏi dồn: - Thần truyền thụ cho tướng quân bằng cách nào?
- Dạ, bằng cách đến canh ba thì thần báo mộng.
Lý Hoài Tổ cũng đã đứng lên bảo Vũ Anh Thư: - Tướng quân hãy diễn vài đường côn thần trước để chúc mừng tướng công cùng các vị quan khách, sau để giúp vui thêm cho bữa tiệc.
Tiếng tán thưởng thích thú trong đám quan khách nổi lên náo nhiệt. Không đợi phải giục, Vũ Anh Thư thắt áo bước ra. Ngoài sân rộng, dãy đèn treo vẫn thắp sáng như ban ngày. Vũ Anh Thư vọng về phương Nam bái thần rồi ngọn côn trong tay chàng bắt đầu vung lên. Đường côn đi có lúc linh hoạt lạ thường, có lúc lại rời rạc, ngô nghê đến chướng mắt.
Sau vài lời cổ vũ chiếu lệ, Ngô Sung quay lại bảo chánh sứ:
- Bản chức cũng có một tên gia tướng có học qua phép múa gươm, xin để hắn ra múa may vài đường gọi là đáp lễ quan chánh sứ.
Tên gia tướng ấy, khổ người cao lớn vạm vỡ, hùng hổ bước ra múa một thanh kiếm dài sáng loáng. Vũ Anh Thư đứng lui về một góc sân, chăm chú theo dõi. Chàng nhận thấy phép đánh kiếm của gã tuy có nặng và chắc nhưng thiên nhiều về khoa trương. Vòng kiếm sáng của gã, lúc mở rộng tròn xoe như tán bạc, lúc thu hẹp nhỏ như cơi trầu, trông thật đẹp mắt. Múa xong gã thu kiếm chắp tay nói: Thưa tướng quân, nếu tướng quân không chê kẻ hèn mọn này mà cho bái lĩnh một vài đường côn thần của tướng quân thì thật là vạn hạnh!
Ngô Sung vuốt chòm râu dài cười to: - Chỉ được phép đấu chơi vài hiệp, cấm làm thương tổn đến hòa khí của nhau đấy!
Vũ Anh Thư chưa kịp nói đôi ba lời từ tạ khiêm tốn thì gã gia tướng nhà họ Ngô đã vung tít thanh kiếm dài loang loáng. Gã đâm đông chém tây, ào ạt tấn công, vòng kiếm đi rộng, uy mãnh bao trùm. Vũ Anh Thư nhẹ nhàng né phái tránh trái nhảy nhót như vượn chuyền cành, mũi côn uyển chuyển xuyên qua làn kiếm bạc, đâm trên phạt dưới. Thế kiếm của địch thủ càng cường mãnh thì đường côn của chàng càng mềm mại, phất phơ như bông ngô mới trổ, đong đưa theo gió. Nhưng thế côn của chàng bỗng dưng yếu hẳn, đường côn chậm lại. Chàng nhảy ra khỏi vòng chiến, vòng tay bảo: - Xin ông bạn hãy đợi một chút!
Một gã trong sứ đoàn lập tức bê ra một linh vị đặt trên chiếc bàn con, Vũ Anh Thư thắp nhang rót rượu, lầm rầm khấn vái. Chàng cầm nén hương khoa thành những đường nét vòng vèo trên chén rượu. Đột nhiên chàng ngẩng cổ hú to ba tiếng ngân nga lảnh lót. Tất cả các quan khách đều nín hơi hồi hộp nhìn chàng. Chàng vẫn thản nhiên trịnh trọng nâng chén rượu tưới trên đầu côn, rồi cầm côn vuốt nhẹ. Kỳ lạ thay, dưới cái vuốt tay của chàng, mọi người cảm thấy ngọn côn cứng rắn bỗng hóa thành mềm nhẽo như chiếc roi ngựa.
Chàng cầm côn mắt ngó thẳng, từ từ bước vào vòng đấu. Bây giờ đường côn của chàng đi nhanh, vun vút biến ảo lạ thường, tạo nên một vầng khói đen quyện lấy ánh kiếm của đối phương rồi dần dần đè bẹp xuống. Gã gia tướng, mồ hôi tướp mặt bị dồn về phía góc sân. Bỗng gã thấy địch thủ của mình hình như mải ham tấn công để hở phía vai trái. Dùng một thế kiếm hiểm độc, gã phóng kiếm chém sả xuống. Vũ Anh Thư không né tránh, rún người xuống. Ngọn côn đang đi nửa đường vụt quay ngoắt vào trung lộ, nhanh như thuồng luồng rẽ sóng, chọc thẳng vào giữa yết hầu đối phương. Trong đám quan khách, có nhiều tiếng la hoảng. Có kẻ nhắm mắt không dám nhìn. Họ như trông thấy trước quang cảnh khủng khiếp sẽ xảy ra: - một đằng bị ngọn côn đâm thủng cổ xuyên sau gáy, một đằng bị chém sạt bả vai.
Không ai hiểu Vũ Anh Thư thu côn tự lúc nào, nhảy vụt ra xa quì xuống: - Bằng hữu kiếm pháp như thần, tiểu sinh không sao sánh nổi.
Gã gia tướng mắt thấy hơi lạnh cái chết đưa vào tận cổ còn đang bàng hoàng đứng ngẩn hồi lâu, bỗng như chợt hiểu ra, vội vàng chạy đến nâng Vũ Anh Thư lên rồi quì thụp xuống.
Sau lúc khách khứa ra về, Ngô Sung còn lưu Vũ Anh Thư lại: - Tướng quân quả là người của thần nhân. Lão phu muốn hỏi tướng quân một đôi điều về hậu vận.
Vũ Anh Thư nghiêm trang đáp: - Thưa tướng công, hình chữ vương trên trán và nốt ruồi son ở sau lưng cũng đủ nói lên thân danh của tướng công phải vào hàng tướng quốc. Việc đó đến sớm hay muộn còn tùy ở tâm lực của tướng công. Nói xong Vũ Anh Thư từ tạ ra về.
Chỉ mấy ngày sau, tiếng đồn dậy khắp Biện Kinh. Họ kháo nhau nào thần Giao Chỉ thiêng hơn thần Nam Nhạc, nào tại Giao Chỉ, quỉ ma kêu khóc đầy rừng. Có người còn nói cặn kẽ hơn rằng đất Giao Chỉ voi đi qua là cỏ mọc lấp đường, con suối lội qua là rụng sạch lông chân, rằng khí độc bốc lên là chim bay trên trời phải sã cánh. Thiếu Sư nói xong, quay lại phía quan Đô Tri: - Cho đến giờ, đệ vẫn chưa hiểu một nhát kiếm mạnh như thế mà tại sao chỉ để lại trên áo của tướng quân họ Vũ một vệt rách nhỏ.
Quan Đô Tri cũng ngẫm nghĩ: - Đệ còn chưa hiểu họ Vũ làm cách nào để biết rõ có nốt ruồi son đằng sau lưng Ngô Sung nhỉ?
Thái Úy tủm tỉm cười hỏi sang chuyện khác: - Thế Ngô Sung không nhắc gì tới Vương Tể Tướng à?
- Dạ, thưa Thái Úy, Ngô Sung không hề đả động đến Vương An Thạch nhưng Vương Thiều lại nói bô bô.
- Vương Thiều nói thế nào?
- Vương Thiều nói toạc móng heo chả kiêng dè gì cả. Ông bảo cả vùng Lĩnh Nam mất mùa, dân đói mà họ Vương kia không nghĩ đến việc nuôi dân lực, cứ muốn gây chuyện binh đao để kiếm công trạng. Thật là bất nhân. Ông ta còn phỏng đoán ngôi Tể tướng của họ Vương sẽ chẳng được lâu bền vì các bậc lão thần ghét Thạch mà đến các danh nhân trong nước như Tư Mã Quang, Trinh Hạo… cũng không ưa.
- Đến Vương Thiều mà cũng nói thế kia ư? Trước đây, Vương Thiều là người dâng kế với Vương An Thạch đưa quân đánh chiếm đất Hi Hà để chặt tay nước Hạ. Hai người rất tương đắc kia mà!
- Dạ Vương Thiều cho biết không chỉ một mình ông mà còn nhiều vị khác trong triều cũng đâm ra bất bình với Vương An Thạch. Họ bảo Vương An Thạch tự ý chuyên quyền, việc gì cũng đi thẳng lên vua Tống không thèm bàn qua nửa lời với ty trung thư và ty khu mật. Vì vậy, Thạch càng bị cô lập và nhiều người gièm pha. Bây giờ Thạch như hòn đảo nhỏ đứng trơ trọi giữa sóng gió trùng dương. Ông ta cho sở dĩ Thạch lâm vào tình trạng ấy là do thói quen kiêu căng của kẻ tuổi còn trẻ mà quyền sớm thịnh.
- Vương An Thạch không chỉ có tuổi trẻ mà tuổi trẻ lại thêm tài cao nên quyền sớm thịnh - Thái Úy như muốn kể lại cho cân bằng sự đánh giá Vương An Thạch, người mà Thái Úy muốn đưa bàn chân ra ngáng cho ngã ngựa nhưng trong thâm tâm lại phục và trọng.
Khi câu chuyện đã vơi theo những chén trà Ô Long thơm phức và hai quan cũng sắp cáo từ Thái Úy ra về thì tiếng nói oang oang của lão tướng Trần Nậm đã dội thẳng từ cổng dinh vào đến khách sảnh.
Vừa thấy mặt Thái Úy, Trần Nậm đã làm một thôi một hồi, giọng cứ ồm ồm chẳng ai nghe rõ. Thái Úy phải lắng tai mãi mới nghe được câu cuối: “Nếu việc công có trễ nải thì Trần Nậm này không chịu đưa cổ cho Thái Úy chém đâu!
Thái Úy ôn tồn khuyên nhủ gần như dỗ dành người tướng già bẳn tính và hay nóng nảy. Hỏi ra thì đầu đuôi câu chuyện như sau: Năm nay lụt chậm, nếu không đủ nhân lực thưng phên đóng cọc phòng ngừa thì nước lũ bất thần đổ về có thể cuốn sập một góc đê mới đắp.
- Thế người đi đâu hết?
- Ôi, cái bọn phu phen mới đến đã đòi về không chịu làm. Lác đác có đứa đã bỏ trốn.
- Phần việc này thuộc về Thái Bảo. Ông ta ở đấy làm gì mà không giúp tướng quân?
- Dạ, quan Thái Bảo Nguyễn Châu còn ngồi trên trấn sở lộ Gia Lâm chưa thấy đến.
Không hỏi thêm nửa câu, Thái Úy gọi đoàn tùy tùng sửa soạn và ngay sáng hôm ấy, tức tốc lên đường đi Như Nguyệt.

8
Sáng tinh mơ hôm ấy, mọi làng chạ ven sông thức dậy từ lúc canh ba. Đàn ông âm thầm chêm thuổng tra cuốc, đàn bà lặng lẽ sửa soạn cho chồng con kịp lên đường đi đắp lũy. Họ vừa bó chặt những mo cơm giắt thêm ít muối om vung để cho mặn miệng, vừa thở dài sườn sượt. Ngay đến cả những cô gái phải bán đợ làm nô tỳ cho những nhà quyền thế vừa được sắc chỉ của bà Thái Hậu Linh Nhân cho mở công khố lấy tiền ra chuộc về, nay đã thành vợ nên chồng, cũng mất hẳn cái vẻ tươi roi rói hằng ngày. Họ làm việc một cách uể oải, gượng gạo, nỗi lo lắng làm nẫu lòng họ. Người ta nói loạn lần này lớn lắm. Riêng vó ngựa giặc xéo không thôi cũng đủ trụi cả ngọn cỏ mần chầu. Giặc đông người sẽ tràn qua như nước. Dân chúng phải góp tay đắp lũy để chống nạn lũ lụt này. Nhưng họ đâu có lo buồn vì chuyện giặc giã hay vì chuyện phải đắp đê. Họ không hề có ý tham bát bỏ mâm, chỉ lo việc nhà mà quên nghĩ việc nước. Họ lo lắng vì cơn sương muối trái tiết năm nay đã làm cánh đồng nứt nẻ chân chim, ruộng trơ chân lúa. Đã có nhiều nhà phải lật sân lên làm xướng gieo lại mạ để cấy lúa tái giá. Vậy mà các trị sở bắt phu của quan Thái Bảo đặt ở các lộ, chẳng hay biết gì, cứ lùa người đi phen như lùa châu chấu…
Đó là những điều mà một ông lão dân phu tóc dài lợp vai, lưng còn thẳng như gióng tre đằng ngà, đã mạnh dạn trình lại với Thái Úy dưới lũy Nham Biền. Thái Úy vừa nghe xong, chiếc roi trong tay ông đã vung lên. Con ngựa chiến sải vó phóng nước đại hàng giờ qua những vùng bị sương muối. Ngồi trên mình ngựa, Thái Úy âm thầm đưa mắt nhìn những cánh đồng ruộng tít tắp, xơ xác một màu lúa sém đỏ quạch như vừa qua một trận hỏa tai không có lửa.
Thái Úy về đến trú sở Nham Biền thì quan Thái Bảo Nguyễn Châu đã ở đấy. Thấy Thái Úy, ông ta đứng dậy nở một nụ cười trơn tuột trên môi: - Xin Thái Úy yên tâm. Bọn ngang đầu cứng cổ ấy, đệ đã trị thẳng tay để răn đe bọn chúng khỏi khinh nhờn phép nước. Còn đối với những tên bỏ trốn, đệ cho tư trát về làng, phái sai dịch đi tróc nã. Thử xem bọn chúng đứa nào còn dám nho nhoe nữa!
Nắm đấm của Thái Úy giơ lên trên không rồi bỗng giáng mạnh xuống mặt bàn, tiếp theo một tiếng quát lớn: - Dừng lại! Đình lại! – Lão tướng Trần Nậm vừa vào bắt gặp cơn giận rung người của Thái Úy cũng đứng khựng, sợ xanh mặt. Chén trà để trên bàn bị bắn tung lên, rơi nghiêng xuống rồi xoay tròn như con quay.
- Chẳng lẽ quan Thái Bảo lại không hay biết gì về trận sương muối trái tiết kéo dài làm trụi cả ruộng đồng ven sông sao?
- Dạ, thưa Thái Úy – Nguyễn Châu cố lấy giọng nhỏ nhẻ phân trần – đó là chuyện trời làm, người trần mắt thịt như đệ đây thì làm sao biết được.
- Nhưng ít ra quan Thái Bảo cũng phải biết vì sao dân phu lại xôn xao đòi về và bỏ trốn chứ!
Quan Thái Bảo không đáp vào câu hỏi, cố xoay sang chuyện khác: - Dạ, Thái Úy chắc hiểu việc cứu đê như cứu hỏa, làm sao đệ dám tự tiện cho chúng về nhà?
Thái Úy dằn giọng: - Nếu dân đói không yên, quan Thái Bảo có đắp trăm cái đê Như Nguyệt cũng vẫn nhà tan nước mất.
- Dạ, quả tình đệ không hiểu nổi thâm ý của Thái Úy. Ai biết được giặc Tống kia sẽ tràn sang ta lúc nào. Nếu giặc đến mà lũy đắp chưa xong, không biết rồi sẽ trách cứ vào đâu?
- Vào đây này - Thái Úy chỉ vào mình – Thà Kiệt tôi một mình chịu trăm nghìn khổ ải, lao tâm tổn trí tìm ra cách cầm chân quân Tống trên đất Tống chứ không thể để cho dân phải bỏ ruộng hóa, không hạt thóc nuôi thân, bỏ làng bỏ xóm ra đi bơ vơ vất vưởng - Thái Úy dừng lại giây lâu, giọng trầm và dịu – Thái Bảo ạ! Bọn ta như những người thợ cả đang xây nước Đại Việt. Bọn ta đang ngồi trên giàn giáo cao vòi vọi. Chỉ cần sơ ý để rơi vãi vôi vữa hay mảnh gạch vụn thôi cũng đủ làm bươu đầu sứt trán kẻ ở dưới. Mong quan Thái Bảo đừng lấy sự nóng giận của Kiệt tôi làm điều.
Tuy nói thế, Thái Úy vẫn điều Thái Bảo về triều và cử quan Chiêu thảo Kiều Văn Ung thay thế.
Chiều hôm ấy, Thái Úy cho tất cả dân phu ở vùng bị sương muối về làng và phân phát cho mỗi người năm bó lúa. Bọn họ ra về hoan hỉ và hứa sau khi nhổ lúa cấy tái giá xong, họ sẽ lập tức lộn lại ngay Như Nguyệt.
Không để cho Trần Nậm hỏi, Thái Úy rút lệnh tiễn phái người chạy ngựa về kinh thành đưa hai đội cấm quân Bảo Thắng và Vạn Tiếp lên, cùng sang lộ Lạng Giang lấy thêm thổ binh đến để tạm thời bù vào số nhân lực bị hao hụt. Thái Úy truyền nấu cơm nếp, lấy cá mắm và rượu Luy Lâu để mở tiệc khao quân.
Bữa tiệc đã ngả ra trên đất, trước đây lều lợp lá qua quít để che tạm sương nắng. Lính cấm vệ chia ra từng tốp ngồi vào mâm. Họ ăn uống nhồm nhoàm, nói cười ầm ĩ. Thái Úy đi ngang qua tốp lính ngồi đầu lều đã nghe tiếng bàn cãi sôi nổi. Không hiểu câu chuyện vào đề thế nào mà có người cứ bô bô: - Phải nghĩ ra cách cơ. Chứ nước Tống to như con hổ. Đại Việt ta bé như chú cáo con, đánh thế nào được hổ?
- Đã hổ với cáo thì cậu bảo làm bạn với nhau thế nào được?
- Được lắm chứ! – Kẻ kia gân cổ cãi lại. Muốn đánh bạn với hổ, cáo phải làm cho hổ thấy rằng không có cách gì vồ được cáo cả. Lâu ngày, hổ sẽ chán và trở lại làm lành với cáo.
- Thế thì chỉ có cách cáo leo lên cây nhòm xuống!
- Và hổ ngồi ở dưới gốc cây nhòm lên chứ sao!
Một kẻ khác đưa tay chỉ vào người đang nói: - Được nhé! Hễ quân Tống sang đây, tao cho mày leo lên cây, xem thử quân Tống có đánh bạn với mày không.
Thái Úy lẳng lặng mỉm cười. Kể về tinh khôn thì ta đâu có thua chú cáo ranh mãnh. Nhưng ví như thế vẫn còn so le. Cũng có thể ta là con nhím. Nhím vẫn ở yên nhưng ai đụng vào nó là nó xù bộ lông nhọn cứng như sắt. Ông vừa suy nghĩ miên man vừa lắng tai nghe câu chuyện khác của tốp lính ngồi ăn ở góc lều. Họ đang kháo nhau về cách thịt con gà thế nào cho thật nhanh chóng.
Một gã mặt rỗ hoa, bĩu môi kéo rê giọng: - Giết gà mà phải dùng nước đun làm lông là hạng bét. Tớ chả cần nước nôi gì mà chỉ chớp mắt rít xong điếu thuốc lào là tớ đã có thịt ăn liền.
- Nói khoác! Nói khoác! – Nhiều tiếng nhao nhao kêu lên.
- Tớ đã nói phải là giống gà ri chân đỏ, lông xù như bông của nhà tớ kia!
- Ừ! Thì cứ cho là gà ri lông xù, mày làm cách nào, nói đi.
Gã mặt rỗ chậm rãi nói, nét mặt trịnh trọng như đang sắp tiết lộ một bí mật gia truyền: - Tớ châm mồi đóm vào nó điếu rồi tiện tay ném luôn vào giữa lưng con gà. Gà càng chạy nhanh lửa càng bốc cháy bùng bùng. Đúng là tớ vừa rít xong điếu thuốc lào là thịt gà đã chín vàng hươm.
Nhiều người cười ngặt nghẽo. Thái Úy cũng bật cười. Riêng gã kể chuyện nét mặt vẫn tỉnh rụi và còn lộ vẻ ngạc nhiên như điều mình nói thật đến thế mà sao mọi người lại cười cợt không tin.
Khi Thái Úy bước vào trú sở thì đã thấy viên tùy tướng đang quát mắng một tên quân cấm vệ ở đội Bảo Thắng. Tên này hình thù dị hợm, hai tay bị trói giật cánh khuỷu.
- Chuyện gì đấy?
- Dạ, bẩm Thái Úy, tên này ăn nói quàng xiên, hỗn láo dám phạm đến Thái Úy.
- Hắn nói thế nào?
- Dạ, bẩm con không dám nhắc lại.
Thái Úy quắc mắt nhìn tên cấm vệ: - Ngươi có dám nhắc lại những điều ngươi vừa nói về ta không? Nói đi!
Tên cấm vệ thản nhiên nhìn thẳng vào Thái Úy: - Xin tuân lệnh! Nghe đồn Thái Úy có ba tội. Tội thứ nhất vì muốn lấy lòng Tiên Đế, Thái Úy đã phá tan nhân duyên của người ta, đem công chúa Thiên Thành gả cho kẻ khác. Tội thứ hai, vì ghét Hoàng Hậu Thượng Dương, Thái Úy đã hạ bệ Người…
- Còn tội thứ ba?
- Tội thứ ba, vì tranh quyền đoạt chức, Thái Úy đã đày Tể Chấp Lý Đạo Thành đi châu Hoan.
Lão tướng Trần Nậm ở đằng sau nhà vừa bước ra, vội dừng lại. Từ xa Trần Nậm đã nhận ra Địa Vân, người lính cấm vệ ngang tàng mà ông đã gặp trong nhà quan Thái Bảo Nguyễn Châu. Lần này ông thực sự lo lắng cho số phận của gã. Nghe gã nói mà ông thấy tháo mồ hôi hột. Ông tưởng chừng như đã nghe tiếng quát “Chém!” của Thái Úy vang lên khi gã vừa dứt lời. Nhưng Thái Úy điềm tĩnh nghe xong lại quát quân hầu cởi trói cho gã. Đoạn Thái Úy bảo viên tùy tướng bê ra một cái mâm trên đặt hai tấm đoạn, hai tấm vải quyến và sáu trăm đồng tiền.
- Đây, ta thưởng cho ngươi. Ngươi biết ta thưởng vì cái gì không? Về chuyện ngươi dám nói thật. Bình sinh ta rất thích những lời nói thật. Mai đây, triều đình sẽ có sắc chỉ cầu người nói thẳng, nói thật. Hơn nữa, lời nói thật này có thể làm ngươi mất đầu mà ngươi vẫn cứ nói. Vì vậy, ta thưởng ngươi gấp bội. Còn điều ngươi nói đúng hay sai thì tự ngươi phải ngẫm nghĩ, tra soát lại rồi sẽ đến trả lời cho ta biết sau.
Địa Vân chợt như tỉnh rượu. Gã luống cuống xòe hai bàn tay vừa được cởi trói, ngập ngừng nhìn hết bàn tay này sang bàn tay nọ. Giọng Thái Úy cất lên: - Vậy ta hỏi ngươi, bão là tốt hay xấu, có lợi hay có hại, Ngươi trả lời cho ta xem nào.
- Dạ, thưa Thái Úy, bão lụt là thiên tai thì chỉ có xấu, có hại chứ tốt thế nào được ạ?
- Thế ví thử nước ta đang bị hạn hán. Ruộng đồng nứt nẻ toang hoác. Bỗng có cơn bão thổi, đem mưa đến. Dân có nước cày cấy. Cơn bão ấy tốt hay xấu?
- Dạ, thế thì lại tốt ạ - Địa Vân lúng túng trả lời.
- Dĩ nhiên là gió bão có làm đổ cây rụng lá và đôi khi làm long cửa bay ngói trên mái lầu của một vị quyền quí cao sang nào đấy. Nhưng không vì thế mà cho cơn bão ấy là xấu. Muốn biết xấu hay tốt là phải nhìn vào cái lợi chung chứ không chỉ nhòm vào cái hại riêng mà đánh giá được. Ta nói thế để ngươi suy nghĩ. Còn bây giờ… - Thái Úy nhìn thẳng vào mặt Địa Vân hồi lâu – Ngươi đã có khẩu khí như vậy, ắt phải có chút tài. Nếu ngươi quả bất tài mà dám lớn tiếng khinh mạn quan trên thì tội ngươi đáng phạt 50 trượng, lột áo cấm vệ, đuổi về quê quán.
- Dạ, bẩm Thái Úy – Hắn nhỏ giọng xuống – Kẻ hèn này cũng có chút tài mọn đúng như cái tên thiên hạ thường gọi.
- Vậy ngươi tên gì?
- Dạ tên Địa Vân. Nghĩa là mây trên đất.
- Mây trên đất! Thế là tài gì?
- Tài loan mâm ạ!
- Có lấy được thủ cấp quân địch không?
- Dạ, chỉ lấy cặp giò thôi ạ.
Nói xong, Địa Vân lần tay tháo cái vật đeo đằng sau lưng xuống, cởi lần da thú bọc ngoài để lộ một chiếc mâm đồng cổ quái. Chiếc mâm này chỉ có hai chân, giữa đúc bằng đồng thau thành mâm bằng loại kim khí khác, mài sáng quắc hơn dao cau. Đến bây giờ Thái Úy mới kịp để ý đến loại binh khí kỳ quặc này. Địa Vân bước ra ngoài và ngỏ ý mời Thái Úy đi theo gã để xem gã thi thố tài năng.
Đến miếng đất trống chung quanh có cây cối mọc lúp xúp, Địa Vân đứng trụ bộ lún người xuống, vung mâm. Chiếc mâm loang loáng quay tít trong tay gã, mỗi lúc mỗi nhanh. Tán mâm quay sang phải tràn sang trái, loang rộng ra bốn phương tám hướng. Người gã tròn như quả cầu lăn theo bóng mâm chập chùng, lúc ẩn lúc hiện trong quầng mâm dày đặc trông xa trắng xóa như đám mây chiều lợp trên đất. Bỗng gã thét lên một tiếng, bóng mâm lao thẳng vào bụi cây bên cạnh. Dường như có tiếng thân cây khẽ rùng mình, ngơ ngác trong khắc giây rồi lặng lẽ đổ xuống. Đường mâm đi xén ngọt cây lá bằng bặn như dao tiện.
Thái Úy cười hể hả vỗ vai Địa Vân: - Ta từng nghe mang máng có người nói đến dũng sĩ loan mâm, nay mới được thấy tận mắt. Vậy phép loan mâm này, tráng sĩ có truyền lại được cho kẻ khác không?
- Dạ được. Nhưng phải chọn người có cốt cách.
- Hay lắm. Ta sẽ để tráng sĩ tự ý tuyển chọn người cho hợp mắt mình nhưng con số không quá một trăm. Ta sẽ tâu lên Thánh thượng cho lập một đội dũng sĩ loan mâm, phiên chế ghép trong đội quân Cấm Thành và lấy tên đội là Bảo Vân. Tráng sĩ sẽ làm đô trưởng. Vậy ý tráng sĩ thế nào?
Địa Vân chắp tay vụng về cúi đầu bái tạ. Điều gì Thái Úy đã quả quyết là phải làm ngay. Sau khi lão tướng Trần Nậm chạy đến ôm Địa Vân, lắc mạnh đến sái vai gã để chúc mừng, gã lững thững ra về, lo thu xếp bắt tay vào công việc mới.
Trời chiều muộn không một hơi gió. Dải mây thành sừng sững kéo một vệt đen sậm từ chân Nham Biền đến chóp núi Tản Viên. Địa Vân thoáng nghe tiếng một cụ già bảo với ai đấy: - Có bao giờ tiết ngâu mà mây đóng thành, đóng lũy thế kia. Dễ chừng hơn bốn mươi năm nay, lão mới lại thấy nó đấy.

9
Đối với tướng quân Trần Nậm, những ngày Như Nguyệt là những ngày lạ lùng nhất trong đời ông, dẫn ông đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Đê đắp càng cao, lũy đất càng dài, ông càng thấy sáng kiến phòng thủ này quả có một không hai. Bên trái ông là thượng lưu sông Nam Định với dãy núi Tản Viên đứng đằng sau, cao ngất, mây sừng sững như bức trường thành. Bên phải ông, có con sông Lục Đầu nằm ngang rồi đến dải Bạch Đằng giang mênh mông sông nước vỗ trời. Muốn đến được quả tim nước Việt về đường bộ, mọi cuộc tiến quân từ phương Bắc xuống, nhất thiết đều phải qua khúc sông giữa này, khúc sông Như Nguyệt. Ở đoạn này có nhiều bến đò và nhiều đường lớn qua sông. Đây là con đường cửa ngõ, thuận tiện và gần nhất để tiến xuống phía Nam. Nhưng công trình phòng ngự này đã đổi thế sông Nam Định, biến khúc nước Như Nguyệt thành một dải hào sâu và bờ nam ngạn một dãy lũy thành kiên cố. Nó che chở cho đồng bằng phì nhiêu của nước Việt, kinh thành Thăng Long và cũng ngang tầm quan trọng với kinh thành, vùng Thiên Đức, nơi để lăng tẩm các vị Tiên Đế vì ở thời ấy, mất lăng tẩm Tiên Vương cũng coi như mất nước.
Càng suy gẫm, ông càng không ngớt trầm trồ thán phục tài ba của Thái Úy. Ông không hiểu làm sao một bộ óc người lại có thể bỗng chốc nghĩ ra được một ý đồ quân sự tuyệt diệu đến thế. Thực ra ý đồ quân sự thiên tài này không phải nảy sinh trong chốc lát. Từ ngày vua Lý Thánh Tông mới lên ngôi, Thái Úy đã dè chừng cái họa xâm lăng của nhà Tống. Hễ Tống yên được ở phương Bắc là không để cho phương Nam yên. Tuy Tống đang hai tay bận đỡ Liêu, Hạ, một chân lún sâu vào đất Thổ Phồn nhưng không vì thế mà Thái Úy dám lơ là coi khinh cái chân còn rỗi rãi. Thái Úy hiểu rằng cái chân của một ông khổng lò một khi gác qua người cũng nặng như núi đá.
Không biết ý nghĩ đắp lũy Như Nguyệt mơ hồ lóe lên trong đầu óc ông trong một chuyến đi kinh lý nào đấy hay dưới một ngọn đèn khuya, nhưng rồi nó tắt đi như cái mầm non mọc giữa lòng cát. Hễ nhích lên được một đốt là cát lại khỏa đi. Mãi đến lúc vua Lý Thánh Tông đột ngột trút hơi thở cuối cùng, ý đồ ấy đột nhiên bừng dậy trong đầu óc ông. Dường như cái chết của vị minh quân hóa thành trận gió lớn thổi bay mọi lớp cát dày để cho cái mầm non ý đồ ấy vươn dậy mọc thành cây.
Chưa hết ngạc nhiên về tài năng của Thái Úy, tướng quân Trần Nậm lại sửng sốt về lối xử thế của Người. Ông đem so sánh thái độ đối xử của Thái Úy với quan Thái Bảo và anh lính Địa Vân. Một đằng có sai phạm theo ông là nhỏ mà lại là vị quan to thì Thái Úy đùng đùng nổi giận và dâng sớ về triều đòi giáng chức. Một đằng, anh lính trơn mà dám hỗn hào phạm thượng thì Thái Úy lại bình thản như không, lại còn cất nhắc anh ta lên làm Đô giám. Suy đi xét lại, ông chỉ biết rút ra một điều là Thái Úy biết trọng những kẻ có thực tài.
Lại đến viên chiêu thảo sứ Kiều Văn Ung, người điền chân Thái Bảo, cũng đem đến cho ông nhiều sự bất ngờ. Viên quan ấy trông tuổi còn trẻ mà làm việc già dặn đâu ra đấy. Hễ y đã nói là dân tình nghe răm rắp. Có phải vì y có bộ râu thưa nho nhã dễ ưa hay do khoa ăn nói rành mạch thấu tình đạt lý của y mà thuyết phục được lòng người.
Tuy nhiên, điều làm ông không hết ngạc nhiên là tài chế tạo mộc xa của gã trai tráng bạch đinh đâu như quê ở vùng biển. Gã đang độ tuổi xuân mà tính khí lầm lì, ít nói nhưng công việc thì say sưa miệt mài thâu đêm suốt sáng. Không biết gã moi đâu trong đầu óc ra lắm loại xe gỗ thế. To có, nhỏ có, cái cầm tay, cái đẩy, cái kéo. Có cỗ xe lăn trên đất rắn, lại có cỗ trượt trên ruộng lầy. Công việc đắp đê nhờ xe chuyên chở nhanh gấp đôi. Một tay gã đã dựng lên xưởng mộc, lò rèn và đào luyện nên mấy chục người thợ giỏi giang. Vì yêu tài, ông đã mấy lần muốn tiến cử gã với triều đình nhưng lạ quá, gã cứ tìm mọi cách thoái thác. Lạ hơn nữa là bố gã cũng lắc đầu quầy quậy.
Nhiều lần ông cố mời Thái Úy lên lũy để khoe gã trai có tài lạ này với Thái Úy. Nhưng Thái Úy đang bận việc quân. Bắc thùy đang sắp sinh biến. Nhiều đoàn quân hạ du rầm rập kéo qua sông tiến lên biên giới. Ông đành đợi một dịp khác. Dịp may ấy đã đến. Sớm nay, Thái Úy từ Vạn Xuân tạt qua Nham Biền lên thăm lũy Như Nguyệt. Thái Úy vừa về đến, việc đầu tiên của ông là dắt tay Thái Úy đi xem quang cảnh rộn rịp ở trên đê. Hàng đoàn xe tải đất thong dong nối đuôi đi qua, tiếng gỗ nghiến ken két như rít vào tai. Nhìn cảnh tượng lạ mắt ấy, Thái Úy như sững lại một giây: - Kẻ chế loại mộc xa này quả có biệt tài!
- Nhưng hắn ta làm phách lắm. Mấy lần Nậm tôi định tiến cử nhưng hắn chối đây đẩy.
- Ôi! Kẻ tài thường có tật như ngựa hay thường có chứng. Ta nên bỏ qua tật mà dùng tài. Tướng quân đừng quá cố chấp. Ta sẽ cho người đi mời hắn lên trú sở gặp ta.
- Khỏi cần! Khỏi cần! Để đích thân Trần Nậm này đi gọi hắn thì mới được. Nếu lần này hắn lại giở chứng thì Nậm tôi sẽ thộp ngực lôi hắn tới đây cho Thái Úy.
- Khoan đã! Tướng quân nên từ tốn, lấy lễ mà đãi kẻ sĩ. Đừng quá nôn nóng mà đôi khi hỏng việc đấy.
- Vâng, vâng! Trần Nậm vừa cười vừa đáp rồi quày quả bước về phía ven đê. Tuy ngoài miệng nói vậy mà trong lòng ông khấp khởi mừng thầm. Không hiểu vì sao, ông vẫn dành cho chàng trai tính khí kỳ quặc này một sự ưu ái đặc biệt và những muốn giúp gã kiếm chút công danh. Gần đến xưởng mộc, ông đã nói to từ cửa vào: - Ta đem tin mừng đến cho bố con nhà ngươi đây. Mau mau soạn sửa lên gặp Thái Úy. Lần này là cơ hội tốt để cá hóa rồng đây!
Gã thợ đóng mộc xa vụt đứng dậy, lúng túng hồi lâu: - Xin nhờ tướng quân về bẩm với Thái Úy, bố con tôi lâu nay sống nơi thôn dã hủ lậu, chưa quen lễ nghi cung đình nên không dám gặp Thái Úy sợ xảy ra điều gì thất thố…
- Đừng sợ! Đừng sợ! Thái Úy không phải như người khác đâu. Gặp một cái là ngươi sẽ biết ngay.
Để cho gã thêm yên tâm, Trần Nậm đem chuyện Thái Úy gặp Địa Vân ra kể một thôi một hồi. Gã đứng nghe, chớp chớp đôi mắt rồi nhỏ nhẻ nói: - Vâng ạ! Xin để cho bố con tôi rửa ráy qua, vuốt lại nếp áo rồi sẽ lên sau.
- Nhớ đừng để cho Thái Úy phải chờ lâu nhé!
Trần Nậm vừa bước ra, người bố vội bảo nhỏ con: - Công tử ơi! Thái Úy đã có mặt ở đây rồi. Ta phải bỏ trốn đi thôi.
Người con chính là Lý Ngân và ông bố là lão Triệu. Chàng đã lên đây một thời gian khá lâu. Chàng cũng đã đem thi thố chút ít học hiểu của mình đáp lại tiếng gọi của đất nước. Bây giờ chàng đưa mắt nhìn quanh gian nhà một lượt rồi khẽ gật đầu: - Đúng đấy! Đã đến lúc ta có thể bỏ đi được rồi.
Hai người lẳng lặng lần đường ra bến sông để đáp thuyền về Kinh. Vừa ra đến đường cái lớn, Lý Ngân nghe có tiếng ngựa phi dồn dập. Chàng vội nép mình vào đám cây lá rậm rạp, ló mắt nhìn ra. Vừa trông thấy người kỵ mã đi đầu lướt qua, chàng giật thót mình, tim chàng đập rộn. Hình dáng quen thuộc của Hạnh Hoa, mắt chàng không nhầm lẫn được. Hạnh Hoa! Hạnh Hoa! Chàng thầm gọi tên nàng. Mối thù Thái Úy giết cha lâu nay bắt chàng phải cố ghìm nén mọi tình cảm, xua đuổi bóng hình nàng đôi khi còn lởn vởn đến thăm chàng trong giấc chiêm bao. Nhưng cuộc chạm mặt thoáng giây vừa rồi như trận gió bất ngờ thổi bay lớp tro vùi mong manh và ngọn lửa yêu thương cũ trong lòng chàng lại bốc cao hơn trước.
Một ý định táo tợn gần như tuyệt vọng đột nhiên đến với chàng khiến chàng đứng ngẩn người ra. Lão Triệu ở đằng sau giật giật gấu áo chàng: - Ta đi nhanh thôi công tử!
Lý Ngân quay lại, nét mặt ảm đạm: - Không, ta đi gặp Thái Úy.
- Ô hay! Công tử điên rồi sao? – Lão Triệu mở to đôi mắt tròn xoe – Tự dưng lại đem thân đến nộp miệng hùm.
Giọng Lý Ngân rầu rầu: - Từ lâu, thân này ta đâu còn thiết nữa. Chuỗi ngày xanh của ta đã bị tiện đứt khi ta giương cung buông mũi tên thù. Dù sao ta cũng phải nhìn lại nàng một lần cuối.
- Công tử quên mình đang là kẻ tội đồ ư?
- Ta chả quên gì cả. Ta chỉ nhớ là ta phải gặp lại nàng.
Nói xong, Lý Ngân quả quyết ra đi. Lão Triệu lắc đầu, lẽo đẽo theo sau…
Trong lúc ấy, Thái Úy mỉm cười bảo con gái: - Lần này con lại vất vả đi thăm sức khỏe của cha đấy ư?
Hạnh Hoa cũng cười đáp: - Thế lâu ngày nhớ cha, con không lên thăm cha được sao?
- Cha biết! – Ông đưa một ngón tay lên – Cha biết Thái Hậu Linh Nhân muốn vời cha về bàn chuyện quan Thái Bảo Nguyễn Châu.
- Không chỉ vì việc ấy đâu cha ạ!
- Lại còn việc gì nữa?
- Nhiều lắm. Hôm qua chú Hiển ở trong ra, co nói nước Chiêm Thành đang loạn to.
- Thế à!
Tướng quân Trần Nậm bước vào nói với Thái Úy: - Lạ quá! Đến giờ, vẫn chưa thấy gã đến. Rồi ông quay sang Hạnh Hoa giơ nắm đấm lên: - Chà, chà! Con bé này cũng lên đấy đắp lũy với chú Nậm à?
Dáng điệu Trần Nậm nhắc Hạnh Hoa nhớ lại lúc còn bé khi nàng theo cha vào đất châu Ái. Hễ mỗi lần gặp chú Nậm đâu, Hạnh Hoa lại bắt chước lũ trẻ quanh nhà, vừa nhảy lò cò vừa đưa tay chỉ vào bộ râu, hét toáng lên: - Tướng Nậm rậm râu! Tướng Nậm rậm râu! – Kỳ cho đến lúc ông giơ nắm tay to tướng ra mới cười ré lên bỏ chạy. Vì vậy, giờ đây thay cho câu đáp lại, nàng chỉ vào chòm râu của ông gọi lớn: - Chú Nậm! Chú Nậm! rồi cười ngặt nghẽo. Nậm vờ xòe bàn tay lên che chòm râu rậm, cố lấy giọng giận dữ: - Con gái lớn tướng rồi mà cứ tưởng mình còn nhỏ nhoi lắm hả? – Hạnh Hoa càng ôm bụng cười khanh khách.
Nhưng có người vào báo cha con người thợ mộc đóng xa đã đến. Trần Nậm thôi đùa, đưa tay mời Thái Úy. Trước khi đi, Thái Úy dặn con gái ở đấy chờ ông chốc lát.
Trong nhà khách, lão Triệu đứng thu lu ở một góc, còn Lý Ngân thì đứng khuất sau lão. Thái Úy bước vào hướng về phía lão Triệu, ân cần vồn vã: - Ta được nghe tướng quân Trần Nậm nói về con trai lão. Mắt ta lại được thấy mộc xa. Ta rất mừng cho lão sinh hạ được một người con tài chí hơn người.
Lão Triệu cúi sát xuống, lí nhí trong cổ họng: - Dạ, bẩm quan lớn quá khen, bố con tôi đâu dám ạ!
Thái Úy quay sang hỏi Lý Ngân: - Này, chàng trai trẻ kia ơi! Chàng học ở đâu cách đóng mộc xa hay tự mình suy nghĩ tìm tòi mà chế tạo ra được vậy?
Lão Triệu đỡ lời: - Bẩm quan lớn, bố con tôi theo nghề đóng thuyền từ lúc bé nên mọi thứ đều có biết qua chút ít, dạ chỉ quen tay thôi, chứ chẳng có gì tài cán cả.
Trần Nậm ngứa tai nói chõ vào: - Thái Úy hỏi thì cứ để con lão trả lời, sao lão cứ tranh lời của nó.
Tuy Lý Ngân đã cải trang nhưng lão Triệu vẫn lo ngay ngáy. Bây giờ nghe Trần Nậm nói, buộc lòng lão phải bảo Lý Ngân:
- Con biết gì cứ nói ra cho quan lớn nghe.
Lý Ngân vẫn cúi gầm mặt ậm ừ: - Con chỉ biết làm thôi chứ con không biết nói như bố.
Thái Úy mỉm cười: - Ôi! Một người có biệt tài như chàng mà không biết mình tài, kể cũng hiếm thấy. Hay chàng chưa tin ta mà giấu tài chăng?
Từ nãy đến giờ, Lý Ngân vẫn cố ghìm mình xuống. Mặc dù vì việc nước, mối thù kia chàng vẫn phải tự nhủ mình hãy tạm gác sang một bên, nhưng cơn giận sôi sục từ nơi sâu thẳm nào kéo lên phừng phừng đốt lửa trên mặt chàng. Mọi ý định đến đây gặp Hạnh Hoa đều tan biến. Chàng ngẩng phắt đầu lên, nhìn thẳng vào kẻ thù giết cha, dõng dạc nói: - Nếu tiểu sinh có giấu tài cũng vì ở đời còn lắm kẻ vì ghen tài mà ám hại người khác.
Câu nói đầy hàm ý này hình như không động chạm gì đến Thái Úy. Ông chỉ hơi sửng sốt. Cặp mắt sắc của ông như vừa tìm thấy một điều gì. Nhưng Thái Úy vẫn thản nhiên đáp: - Về nghề mộc xa, ta tin chắc ngoài chàng ra không có được người thứ hai nên chẳng có ai ghen tài chàng đâu… Ta còn mong chàng có nhiều tài khác.
Lý Ngân bắt ngay câu nói dường như có ý thăm dò của Thái Úy: - Tiểu sinh còn một tài nữa.
- Tài gì, chàng hãy nói đi.
- Tài bắn chim trời! Lý Ngân buông lời như một thách thức.
Thái Úy vui vẻ cười to: - Tướng quân Trần Nậm! Cung tên đâu hãy mang ra đây để ta thưởng thức tài thiện xạ của chàng trai trẻ này.
Lão Triệu run sợ khúm núm vái dài Thái Úy: - Đứa con lão non dại. Hắn biết gì nghề cung kiếm đâu. Xin Thái Úy mở lòng tha cho hắn cái tội ngông cuồng khoác lác.
Từ nhà trong, Hạnh Hoa cũng vội chạy ra: - Cha ơi! Con xin cha hãy thôi cái chuyện cung tên đi. Cũng vì nó mà cha suýt một lần mang họa.
Nàng quay lại bắt gặp cặp mắt Lý Ngân đang nhìn mình đăm đắm. Ánh mắt ấy như rọi thẳng vào tim nàng làm nàng bàng hoàng. Nàng thảng thốt ngập ngừng như muốn hỏi: - Hắn là ai thế hở cha? – Nhưng rồi như có chủ định, nàng tiến lại gần chàng trai. Lão Triệu vội bước ra cản đường: - Thưa tiểu thư, hắn là con trai lão. Lão là bố hắn.
Thái Úy nhìn hai cha con lão nói như ra lệnh: - Thôi được. Ta thấy cha con lão có nhiều biệt tài nên muốn mời về làm môn khách. Hai người hãy về trại thu xếp rồi đến đây theo ta về kinh.
Lão Triệu cảm tạ Thái Úy rồi kéo Lý Ngân ra về. Thái Úy nhìn theo họ quay sang bảo Trần Nậm: - Tướng quân hãy cho người kín đáo theo dõi họ. Nếu thấy họ bỏ trốn thì cứ để họ đi, không ai được ngăn cản phiền hà họ.
Còn lại hai người, Hạnh Hoa hỏi nhỏ: - Hắn là ai thế hở cha?
- Hắn là một chàng trai có nhiều tài lạ. Con nghi ngờ gì hắn chăng? Cứ đợi rồi sẽ biết.
Khi được tin báo cha con gã thợ mộc xa đã bỏ trốn rồi, ông mới nói: - Hạnh Hoa! Điều con nghi là đúng đấy. Hắn chính là Lý Ngân.
- Trời ơi! Lý Ngân! Thế mà cha không bắt lại.
- Lý Ngân thì càng phải tha. Vì cha đang lo xây đắp lũy thành.
- Chàng ta chả bỏ Như Nguyệt ra đi rồi đấy sao?
- Không phải lũy thành này mà là lũy thành kia con ạ - Ông nhìn ra ngoài xa, nơi những người dân đất thổ mộc đứng thủ mai xắn những miếng đất to bằng cối đá lỗ. Giọng ông tha thiết xa xôi như đang bộc lộ một ý đồ đã được nung nấu từ lâu – Một thành lũy vô hình mà hóa hữu hình, còn vững chắc hơn gấp nghìn lần thành lũy Như Nguyệt. Một thành lũy kết chặt lại được mọi lòng người, chịu đựng được mọi thử thách gian lao. Đó cũng chính là điều ta sắp đem tâu trình với Linh Nhân Thái Hậu…
0
Phần 2- chương 10

Cái điều liên kết lòng người mà Thái Úy đệ trình lên Thái hậu Ỷ Lan trong năm Giáp Dần ấy thật ra phải đợi một trăm năm sau, năm Giáp Ngọ, hậu thế mới thấy hết được tầm hệ trọng của sách lược này. năm Giáp Ngọ là năm nước ta đã lớn đến độ tuổi mà vua Tống Hiếu Tông không thể không xóa chữ "quận" thay vào dấy chữ " quốc", phong cho vua Lý Anh Tông An Nam quốc vương, đầu tiên công nhận nền độc lập của nước Đại Việt. Sứ ta, Lý Bang Chính thời ấy từ đất Tống ra về, mừng chảy nước mắt đề vội bài thơ lên bưu đình trong có câu "Thử khứ ưu thành tứ quốc danh" (đi lần này thành công lớn là được ban tên nước).

Đó chính là cái đích trong mai hậu mà Thái Úy Lý Thường Kiệt ngày đêm lao tâm khổ tứ căng mình ra để vươn tới. Ngày mai xán lạn của lịch sử ấy được bắt đầu từ một ngày xuân của năm Giáp Dần, khi quốc tướng Thái Úy, đầu óc nặng suy tư, bước vào cung Kiền Hoa.

Thái Hậu Ỷ Lan vừa xa giá đi thăm làng quê cũng đã trở về. Bờ dâu cũ ở làng quê còn khuấy động lên trong bà những gợn sóng xanh của guồng xoay quá khứ. Bà như lùi ra xa đứng mỉm cười trìu mếm nhìn cô gái Ỷ Lan tươi rói trong ruộng dâu, lanh al"nh hát bài "Đông đào Tây liễu". Tiếng hát nửa chừng bỗng nghẹn khi xe vua dừng lại trước rèm dâu ...Cô gái hồn nhiên trong bà lúc ấy không một thoáng đăm chiêu, sống vô tư như con chim trới cất cao tiếng hót.
Vậy mà giờ đây, việc nước nặng trĩu hai vai. Bà phải chăm lo nghề chăn tằm dệt vải, làm gốm, đánh cá, trồng hoa quả, đốn gỗ và cả mọi việc trong công thương nghệ. Đến việc làm muối dưới biển, săn tê tượng trên rừng, bà cũng phải để mắt đến.

Hạnh Hoa đang sửa lạc các biểu tấu trên án thư, ngẩng đầu thấy trước Thái Úy, vội reo lên:
- Cha ơi ! Thái Hậu về thăm làng thấy dân tình khốn quẫn vì bọn trộn trâu. mấy nhà phải cày chung một con traû. Thái Hậu ra sắc chỉ mới.
Thái Hậu nối lời:
- Trước đây ta đã ra lệnh cấm giết trâu. Nhưng nay việc giết trâu lại nhiều hơn trước. Sắc chỉ này ra phải phạt rất nặng những người trộm và giết trâu, phạt cả vợ con hàng xóm về tội không tố giác. Thượng phụ thấy thế nào?
- Thấy được con trâu đứng đầu trong cơ nghiệp nhà nông, cái tài nhìn xa ấy, quả chỉ có Thái hậu mới có. Ngay Kiệt tôi cũng chưa nghĩ được thấu đáo như Thái Hậu. Duy có phạt thì nên có thưởng, có chê cần phải có khen. lão phu nghĩ Thái Hậu nên khen thưởng những người nuôi được nhiều trâu để khuyến khích họ.
Thái hậu Ỷ Lan hớn hở:
- Hạnh Hoa! Em nhớ ghi thêm những lời của cha nói vào sắc chỉ.

Đoạn Ỷ Lan quay sang Thái Úy:
- Đã lâu ta muốn gặp Thượng phụ để bàn lại việc quan Thái Bảo Nguyễn Châu ... - Nguyễn Châu có lần đến vật nài than phiền với Thái hậu về thái độ đối xử quá đáng của Thái úy đối với ông ta - Ta không biết Nguyễn Châu tội nặng nhẹ thế nào nhưng ỷ Lan tôi nghĩ quan thái Bảo đã phò ba đời vua, Thái Úy nên châm chước.

Thái Úy vui vẻ:
- Lần trước, sau khi nghe Thái hậu nói, lão phu có nghĩ lại cũng thấy mình quá xét nét. Thái hậu rộng lượng với bề tôi như vậy là phải.
Được lời của Thái Úy. Ỷ Lan thấy nhẹ nhõm người. Câu chuyện bà tưởng sẽ gay gắt lại hóa ra nhẹ nhaàg trôi chảy. Bà hơi ngỡ ngàng trước sự dễ dãi của vị quốc tướng nổi tiếng nghiêm minh này. Nhưng cảm giác ấy chỉ thoáng qua và bà tiếp tục nói:
- Sáng qua, quan chiêm tinh vừa bước xuống vọng tinh đài lập cập đến báo cho ta biết điềm sao Thái Hạt đã xâm phạm vào sao Chẩn, tính phận của phương Nam, e trong nước sắp có nạn binh đao, dịch tật. Ta lại nghe ở Bắc thùy xảy nhiều chuyện lôi thôi, còn mặt Nam thùy, nước Chiêm đang có loạn lớn. ỷ Lan tôi thật lo lắng vô cùng.
- Điềm trời báo quá chậm - Thái úy hóm hỉnh - theo tin nội dịch, lão phu biết nhà Tống có bụng đánh ta từ lâu rồi - Ông dừng lại đắn đo như cân nhắc từng lời - Theo ý lão phu thì hiện tình, sự đáng lo lại không phải ở biên thùy.

Quả thật chuyện biên thùy, Thái úy đã tính toán kỹ lưỡng. Ở phía Nam, nước Chiên Thành có loạn tranh ngôi, quốc vương Chiêm Thành có loạn tranh ngôi, quốc vương Chiêm Thành là Chế Củ cùng
vợ ba con và ba nghìn quân cưỡi thuyền chạy ra đất ta xin tị nạn. Để đề phòng mọi bất trắc có thể xảy ra. Thái úy hạ lệnh cho em trai là Tán Kị tướng quân Lý Thường Hiển gấp rút chiêu dân ờ hai châu Hoan, Ái đưa vào nơi đất mới củng cố đường biên giữa hai nước. Còn ở Bác Thùy, dã tâm của nhà Tống càng ngày càng lộ dần. sát khí đao binh bừng bừng ở hai phía. Nhưng qua nhiều lần thăm dò. Thái Úy biết tính vua Tống thường mềm nắn rắn buông. Vì vậy, trong việc biên giới, ông rất cứng rắn nhưng trong bang giao thì lại hòa dịu. Hai bên đang ở thế giằng co.

Ỷ Lan hơi ngạc nhiên về nhận định khác thường của Thái Úy:
- Vậy theo ý Quốc công, sự đáng lo ấy nằm ở đâu?
- Thưa Linh Hậu, việc đáng lo ấy không phải ờ biên thùy mà ở triều đình, không ở triều đính mà ...ở ....

Ỷ Lan vội hỏi tiếp:
- Ở đâuhở Quốc công?
- Sự đáng lo ấy ở lòng Linh Hậu.
Ỷ Lan đứng lên;
- Ôi! Ta chỉ là một người đàn bà buông rèm chấp chính, mọi việc lớn nhỏ đều trông nhờ vào thượng phụ kia mà!
- Lão phu muốn nói đến lượng rộng của Linh Hậu có dung nạp được những lời đề đạt của lão phu chăng?
- Vậy ý thượng phụ muốn nói gì với ta nào?
- Lão phu mong Linh Hậu đứng ra làm cột trụ cho bức thành đông nhân tâm của cả nước.

Thái Úy hiểu rằng toàn bộ kế sách của ông sẽ lệch đi và mất hẳn hiệu lực mầu nhiệm nếu thiếu sức mạnh tinh thấn ấy. Đó là sự đồng lòng nhất trí của Vương triều, của những nhà minh kinh bác học, cuả các bậc rưởng lão và của toàn dân. Hiện nay vụ lật đổ Thượng Dương và Lý Đạo Thành vẫn còn để lại nhiều ấm ức thầm lặng trong lòng hoàng tộc và sự ngờ vực trong các nhà minh kinh bác học, những bông hoa trí tuệ của đất nước.

Ỷ Lan bỗng tươi tỉnh:
- À, ta hiểu ý Thượng phụ rồi. Có phải Thượng phụ muốn mời Đạo Thành về triều, điều mà Thượng phụ có lần đã nói với ta.
- Dạ, quả có thế. Có Đạo Thành về thay thì lão phu mới rảnh tay mà lo việc quân.
- Thời Tiên Đế đi phạt Chiêm, ta ở nhà cầm quyền nhiếp chính. Ta biết Đạo Thành trong thì được lòng các vị thần, ngoài thì được sư tăng và các nhà nho kính phục. Nhưng ... bà vẫn ngại Đạo Thành về lại lôi bè kéo cánh - chẳng lẽ trong hàng bách quan văn võ không có ai thay thế được cho Thưọng phụ chăng?
- Nếu có thì Kiệt tôi, chẳng lạm phiền đến Linh Hậu. Chắc Linh Hậu còn nhớ lúc Tiên Vương còn sống,

Người vẫn thường mơ ước xây dựng một nền văn hiến cho nước nhà để kẻ kia không còn coi khinh ta là kẻ man di. Công việc ấy phi Đạo Thành không ai làm nổi
- Quả thật, có điều ta không hiểu - Ỷ Lan mỉm cười nhớ lại chuyện đã qua - Trước đây ta muốn để Đạo Thành ở lại triều thì Thượng phụ khăng khăng đòi đưa Đạo Thành vào Châu Hoan, bây giờ thì...

Ra đến bây giờ mà Ỷ Lan vẫn chưa thất hết được những sự đổi mới trong triều chính. Hai năm trời nay, ông đã bỏ công tìm những tăng quan có năng lực, tuyển những kẻ thông hình luật bổ sung cho các việc và các bộ. Guồng máy hành chính quay nhanh hơn, có sức trẻ hơn. Bây giờ Đạo Thành có về triều thì cỗ xe nhân chính cũ kỹ ọp ẹp trước đây trong tay ông đã được Thái Úy tân trang rồi, đủ sức thích ứng với dặm đường gồ ghề gian nan của thời chiến. Biết vậy, ông vẫn trả lời cho xuôi chuyện:
-Thưa Linh Hậu, thời nào việc ấy, lúc ấy thế thì cần phải thế.

Không hiểu sao Ỷ Lan bất giác nhớ lại chuyện Nguyễn Châu vừa rồi. Thì ra sự dễ dãi của ông có chỗ dụng tâm đấy. Bà mỉm cười ranh mãnh:
- Này, Thượng phụ nên nhớ về tội trạng Đạo Thành khác với Nguyễn Châu đấy.
- Còn về tài đức Nguyễn Châu khác với Đạo Thành.
Ỷ Lan cười xòa:
- Thôi được, vì Thượng phu, ta bằng lòng đưa Đạo Thành về.
- Xin Linh Hậu hãy nói vì nước Đại Việt mà đưa Đạo Thành về ngôi Tể Chấp.
- Nhưng nên cử ai cáng đáng việc này?
- Lão phu nghĩ nên cử Thái tử Chiêu Văn vì Thái tử là người tính tình mềm mõng vô tư.
- Như vậy là xong, Thượng phụ còn có việc gì cần nói nữa không?
- Còn một điều, thần mạo muội nói ra mong Linh hậu đừng chấp - giọng ông trở nên trịnh trọng khẩn khoản - Linh hậu đã tha cho Đạo Thành, xin tha luôn cho cả Thượng Dương.

Ỷ Lan bỗng cảm thấy như chạm phải lửa:
- Ôi! Thượng phụ, người quá lẫn rồi. Thượng phụ đòi thả con rắn độc ấy ra khỏi lãnh cung ư?
- THa một Thượng Dương, Linh hậu được lòng cả hoàng tộc.
- Không, không thể được! Ỷ Lan giãy nẩy - Thượng phụ tha ai cũng được nhưng đừng bắy Ỷ Lan tôi thả Thượng Dương.
- Thưa Linh Hậu, trước đây thần cũng đã suýt chết hụt về tay Dương hậu. Nhưng thần trộm nghĩ việc nước là trọng. Thần không dám để cái giận riêng làm mất cái khôn chung.
- Nhưng ai dám bảo Thượng Dương một khi được tha lại chẳng quen nết ngựa theo đường cũ.
- Thượng Dương bây giờ được tha khác Thượng Dương trước. Linh hậu hãy lấy đức mà trị. Nếu bà ta tật cũ vẫn không chừa thì lúc ấy xin Linh Hậu cứ lấy pháp mà trị. Thật danh chính ngôn thuận, không ai chê trách vào đâu được.
Ỷ Lan cười gằn:
- Tha thì dễ thôi; ta chỉ cần một đạo sác chỉ.
- Một đạo sắc chỉ thôi chưa đủ nói lên tấm lòng của Linh Hậu.
- Thế ta còn phải làm gì nữa?
- Linh hậu hãy đến tận cung Thượng Dương, tự tay tháo cũi sổ lòng cho bà ta.
- Lại đến thế kia ư?
Bà cảm thấy uất lên tận cổ. Đầu óc choáng váng, bà lững thững bước ra phía hành lang, hỏi một câu bâng quơ:
- Thể nữ! Ngươi làm gì đấy?
Tiếng thể nữ thưa:
- Dạ bẩm bà, con đang thay nước cho bồn sen.
- Nhớ vớt sạch bèo đấy!
- Dạ! Thể nữ đáp.
bà quay lại, ý tứ:
- Thượng phụ ạ! Giống sen Tịnh Đế này hễ còn để sót một cánh bèo trong bồn là nó chết héo. Nó không chịu sống lộn với bèo. Đấy là tính nết riêng của loài sen Tịnh Đế.
Thái Úy đáp khẽ:
- Nhưng cánh bèo khô thì không can gì đâu ạ!

Im lặng giây lâu, Ỷ Lan ngần ngừ cười nhẹ:
- Thượng phụ này, cái việc thả Thượng Dương ấy, Thượng phụ hãy để ta có thời gian suy xét.
Nói xong chừng như mệt mỏi, bà gieo mình xuống đôn.

Từ cung Kiền Hoa ra về, Hạnh Hoa tiễn Thái Úy đi một quãng đường. Thái úy nhìn con, bảo:
- Con xin phép Thái hậu đi giúp cho ta một việc. Con phải vào châu Hoan gặp quan Tể Chấp Lý Đạo Thành.
- Việc này đã có Thái Tử Chiêu Văn rồi kìa mà.
- Đó là việc sắc chỉ triều đình, còn đây là thư riêng của cha, con phải trao tận tay - Ông dừng lại - ta dặn con một điều, phải biết quên hận nhỏ để lo việc lớn.




****


Chương 11


Trong ngôi biệt thất dành riêng để thờ Tiên Đế tại trấn sở châu Hoan, chậu cúc xuân của quan Tể Chấp Lý Đạo Thành năm nay nở muộn. Có phải vì thời tiết giá lạnh kéo dài điềm hoa muốn báo cho ông biết trước điều ông mong ước cũng phải chậm chạp xòe dần từng cánh. Ông vào đất Hoan đã được hai lần cúc nở. Và hai lần ông nhìn cúc với tâm trạng khác nhau.
căn biệt thất này bốn bể kín bưng không để một khe hở cho ánh mặt trời lọt vào. Trong nhà đèn nến thắp sáng ngày đêm. Chậu cúc để trước bàn thờ trên đặt bài vị của Tiên Đế. trước bài vị, tỏa sáng chén ngọc dạ quang, của báu vua ban, cống vật của một nước nhỏ lân bang hay tặng phẩm của một thương nhân Qua - Oa nào, ông không còn nhớ rõ.

Tiếng sóng rầm rì của biển đời, trần tục dừng lại trước căn phòng này. Bên trong là thế giới tinh thần riêng biệt của ông. Đó là thaàh trì cố thủ giữ gìn cho sự yên tĩnh yếm thế đượm đầy nỗi tiếc thương ngậm ngùi của vị lão thần thất thế. Chiều chiều, vào lúc hoàng hôn, ông thơ thẩn đến đây, đốt trầm thắp nhang, chuyện trò với Tiên Đế. Ông sờ vào cái chén ngọc dạ quang, di vật thiêng liêng ấy như chạm phải một cơ thể sống để làm dịu đi bao điều u uất trong lòng mình hay đúng hơn là làm khuây khỏa niềm nhớ tiếc mơ hồ, nhớ tiếc một thời vàng son trong ấy có pha lẫn nỗi nhớ tiếc quyền hành ... Qua tâm trạng buổn nản của mình, ông như nghe thấy tiếng nói Tiên Vương theo làn khói hương từ bàn thờ tỏa xuống cuộn vòng quanh chậu hoa cúc, vọng về:
-" Ta biết, ta vừa nằm xuống là triều chính đảo lộn, công sức mười tám năm làm Tể Tướng của Khanh cũng chẳng ai kẻ đoái hoài. Người ta để Khanh sống vất vưởng cảnh xế chiều mây đông khói hạ ... "
Một giọt nước mắt nóng hổi vô tình rơi đúng vào trong chén ngọc dạ quang.

Nhưng năm nay, giữa đêm trừ tịch, Lý Ngân, đứa cháu trai cuối cùng trong chi tộc ông cùng lão Triệu từ Như Nguyệt trốn về mang đến cho ông một tin nóng hổi: Nhà Tống sắp động binh.

Tin dữ ấy như sét đánh, kéo ông ra khỏi cơn mơ yếm thế. Ông như muốn quát to lên với quân giặc vô hình: - "Hay cho nhà Tống! Các người ỷ đất rộng, cậy người đông. vạt áo các người nối lại đã thành mây, mồ hôi các ngưòi vẩy ra đủ làm mưa bốn cõi. Nhưng sao vua tôi các người chóng quên hai phen thất bại ở Bạch Đằng. Chuyện Hoằng tháo của nhà Hán đành là chuyện cũ. Nhưng trận Hầu Nhân Bảo mất đầu ở ải Chi Lăng, Thẳm Khâm Tộtan quân ở Tây Kết, xác quân Tống làm nghẽn khúc sông Bạch Đằng còn sờ sờ ra đó kia mà!

Ông tức tối nhìn những nụ hoa cúc lì lợm rắn lại trong chậu đá. Ông giận dữ quát mắng một cách vô lý đứa cháu của ông sao thời buổi này làm tài trai mà chịu ì ra như nụ cúc cụp cánh kia. Lý Ngân vòng tay đáp:
- Thưa bá phụ, cháu đâu học thói phong lưu rởm của lủ công tử mượn áo hào hoa suốt này chỉ chọi gà, đua ngựa! Chí cháu cũng muốn đem thân giúp nước, ra chốn ba quân đoạt ải cướp thành. Nhưng hiềm vướng phải tội tình nên cháu đành cam trói tay chịu cảnh thuyền nằm trốn sóng. Ngay đến bá phụ kia cũng đang bất lực đấy thôi.

Câu nói của Lý Ngân nhắc ông quay về với sự thực. Đúng thế, thân ông hiện giờ có khác gì con ngựa già gặp khúc đường hẹp lầy lội mưa sa, khó lòng rong ruổi. Nhưng rồi có sứ triều đột ngột mang sắc thư triệu ông về kinh. Lúc đầu, một cơn dỗi không đâu kéo đến khiến ông lắc đầu từ chối phắt. Ông như muốn ghẹo tức thêm số phận mình. Thái tử Chiêu Văn phải năm lần bảy lượt lựa lời mới thuyết phục được ông già tưởng như khó tính này. Nhưng ông vẫn phân vân. Về triều đình lúc này dữ lành thế nào, ông chưa rõ. Lúc sứ triều đến, để tránh mọi phiền phức, Lý Ngâu đã lên ngựa bỏ đi. Giờ ông đang đợi cháu về để bàn tính thêm mọi việc. Và ông vào biệt thất để hỏi han thêm Tiên Đế.

Chậu cúc vàng muộn màng trong biệt thất đang độ nở mãn khai. Nhìn cúc bất giác những ý nghĩ sớm nở tối tàn, buồn bã của năm trước lại trở về trong đầu ông. Nó làm ông cảm thấy thấm thía sự thăng trầm trong biến hoạn và tính chát phù du của công danh. Nhưng lần này, qua khói hương, tiếng nói của Tiên Đế vọng về nghiêm nghị:
- Hỡi Đạo Thành lão khanh! Khanh đã quên lời dặn của ta chăng? Một nước không có văn hiến thì sao gọi là nước, cũng như con người không có bộ mặt thì sao gọi là người. Công việc ngươi làm dở dang sao đã vội nản chí;
- Tiên Đế ơi! Người ta đã buộc tay thần lại.
- Sông có khúc, người có lúc, khanh giận ngưòi này người nọ sao lại đem lòng giận cả nước non?
- Nhưng liệu người ta có thật bụng dung nạp thần chăng?
- Khanh đừng quá chấp nên chuyện cũ. Khanh cứ tin vào việc mình làm là có ích cho dân cho nước, còn thiên hạ tin trước hay tin sau điều ấy không can hệ gì ...

Trong lúc cuộc hội thoại này chạy nhanh trong đầu Đạo Thành thì Lý Ngân, trên đường về từ bìa rừng quặt ra bất ngờ gặp hạnh Hoa. Cuộc gặp gỡ này không nằm trong dự tính của Lý Ngân. Chàng vội ghìm cương, quay ngoắt về phía bìa rừng. Nhưng Hạnh Hoa chợt trông thấy chàng rượt ngựa theo sau, gọi giật lại. Chàng miễn cưỡng xuống ngựa, ngượng nghịu, đứng yên cúi mắt ủ rũ nhìn sợi dây cương nằm trong tay chàng. cuộc chạm mặt đột ngột này cũng làm hạnh Hoa đứng ngẩn ngưòi ra. Trong đầu óc hai người chất chứa lâu nay bao nhiêu điều muốn nói. Nhưng họ vẫn đứng im, lặng nghe biển sóng vỗ dào dạt trong lòng. Hồi Lâu, hạnh Hoa mới lên tiếng:
- Bây giờ chắc hẳn công tử chẳng có chuyện gì để nói với ta nữa đâu.
- Ta chỉ muốn nói, ta là kẻ có lỗi với nàng.

bao hờn dỗi theo câu nói Lý NGân như đưọc dịp trào lên, nàng to giọng:
- Công tử làm một việc tày trời đến thế, công tử tưởng chỉ cần một tiếng lỗi là xong chuyện ư?

Lý Ngân vẫn rũ rượi cúi gầm mặt xuống:
- Ta đã làm một việc mà lòng ta không hề muốn.

Hạnh Hoa vốn biết Lý Ngân là con người chính trực, không làm việc gì khuất tất bao giờ. Điều nàng muốn biết là nguyên do bí ẩn nào dẫn chàng vào đường lầm lạc ấy. Nàng mơ hồ cảm giác thấy có bàn tay Thượng Dương nhúng vào nên cố gặng hỏi:
- Công tử không muốn thì ai muốn ở đây mới được chứ?
- Chẳng ai muốn cả. Nhân nào thì dẫn đến quả ấy. Nàng không thể hiểu được nỗi khổ tâm của một người con bị kẻ khác giết cha mình.
- Ai giết cha công tử?
- Thái Úy Lý Thường Kiệt!

hạnh Hoa sửng sốt kêu lên:
- Không! Không thể có được! Ngay đến công tử là người đi ám hại cha ta mà cha ta vẫn không muốn bắt tội kia mà. hay trong việc này công tử có điều gì lầm lẫn chăng?
- Tình thương cha đã làm nàng mờ mắt. Ta biết ta không thể nào làm nàng tin được lời ta.
- Vậy công tử có bằng chứng gì để ta tin được?

Nhắc đến chứng cớ, chàng chợt nhớ lại lời thề vói di mẫu Thượng Dương, chàng ấp úng không nói được.
- vậy công từ đã nhận rõ sự lầm lẫn của mình rồi chứ?

Lý Ngân ngẩng phắt đầu lên, mặt đanh lại:
- Không! Ta không lầm. Ta còn sống thì sau này ta sẽ trả thù!

Cơn giận bốc lên trong mắt Hạnh Hoa, tay nàng để vào đốc kiếm từ bao giờ không rõ, bỗng run lên bần bật. Lý Ngân vươn cổ ngẩng mặt lên:
- Tốt nhất nàng xuống kiếm đi để sau này khỏi ân hận.

Nhìn rõ khuôn mặt Lý Ngân bị cào xé biến dạng hẳn đi trong một nỗi đau tuyệt vọng. hạnh Hoa thấy tan nát cả lòng. Nàng cố gắng gượng lấy giọng khinh bỉ:
- Thời loạn này, công tử có thể đi tìm một cái chết xứng đáng hơn nhiều.

Lúc này hạnh Hoa mới sực nhớ đến công việc Thái Úy giao phó cho mình. Nàng rút bức thư đưa đến tận tay Lý Ngân :
- Đây, có phong thư riêng của cha ta gửi cho tể Chấp. Nhờ công tử chuyển lại cho Người và gíup ta khuyên Người nên quên hận nhỏ để làm việc lớn.

Lý Ngân chưa hết kinh ngạc, thì Hạnh Hoa đã nhảy lên mình ngựa, ra roi như trốn chạy.

Lý nGân về đến nhà bước vào biệt thất trao bức thư cho Đạo Thành. Ông sững lại một giây tồi từ từ mở phong thư ra đọc. Lý Ngân chăm chú cố theo dõi từng nét thay đổi trên gương mặt ông qua làn khói hương mờ ảo. Xem xong thư, ông trầm ngâm nhìn lên bàn thờ Tiên Đế:
- Thái Úy mời ta về làm Thái phó, bình chương quân quốc trọng sự để cùng ông ta lo toan việc triều đình (chức Thái phó đứng thứ nhì trong hàng Tể Chấp) - nhưng ta đang lưỡng lự chưa biết hay, dở thế nào.
- Ôi, việc tốt lành đến thế nào bá phụ còn lưỡng lự?
- Cháu ơi! Một chiếc bình vỡ khéo gắn cũng còn đường rạn nứt, một vết thương đã liền da, vết sẹo vẫn còn ghi, những hiềm khích cũ giữa ta với Thái úy tuy bức thư này đã giải xong nhưng ta ngại mối hiềm nghi còn lớn vởn như bóng theo người ...

Lý Ngân dường như sốt ruột:
- Ôi, giặc đang ngấp nghé ngoài cửa ải mà bác còn ngồi tính đến chuyện hơn thiệt.
- Không, ta đang tính làm cách nào để ta tin được ở bụng người mà người cũng tin được ở bụng ta. nếu được vậy thì việc cộng sự của ta với Thái Úy mới có cơ đắc dụng.

Một ý định bất ngờ chợt nở ra trong đầu chàng như bông cúc kia tới kỳ đại đóa:
- Bác ơi ! Cháu vừa nghĩ ra được một cách này!
- Cách gì, cháu thử nói xem.

Mắt chàng long lanh cố nhìn xuyên qua làn khói hương như để tìm ra một lối thoát:
- Bác cứ đưa cháu ra nộp cho Thái Úy thì Thái úy sẽ hiểu được lòng bác và tin bác ngay.

Giữa cái lặng thinh của căn phòng, Đạo Thành như nghe rõ tiếng rì rào của từng đợt khói hương đang cuộn vòng tỏa rộng. Lời Lý Ngân như còn vọng lại bên tai ông. Nhưng ông vội lắc đầu, xua tay:
- Không được, không thể được! Cháu quên cháu là giọt máu cuối cùng trong chi tộc nhà ta đấy ư!
- Bác ơi! Cháu đang là kẻ tội đồ. Có sống cũng bằng thừa - chàng chợt nhớ đến lời của Hạnh Hoa - Biết đâu kẻ kia thực lòng muốn quên hận nhỏ để mưu việc lớn thì mạng cháu ...
- Thôi, thôi! Đạo Thành gạt phắt lời Lý Ngân. Cháu đừng giục giã thúc bách ta. hãy để ta có thời gian cân nhắc!

Ông đứng lên gọi lão Triệu, bảo lão lo thu xếp nhanh để kịp sáng mai lên đường về kinh.



Chương 12

Linh nhân Thái Hậu Ỷ Lan sắp xa giá đến cung Thượng Dương!

Không biết từ một ngõ ngách nào trong thâm cung, tin này bay ra lọt vào tai một tỳ nữ ở cung Thượng Dương. Lập tức, tin tức bất thường này được thầm kín sang tai trong đám cung nữ. Nó loang nhanh đến chóng mặt và cứ mỗi lần truyền tai từ người nọ sang người kia lại mang tthêm nhiều câu bình phẩm bất tường, nhiều lời tiên đóan hung dữ. Nó được thêu dệt thêm nhiều tinh tiết rợn người trong khối óc hoang tưởng của những kẻ mà cái chết ám ảnh lâu nay thường xuyên treo lơ lửng trền dầu họ ... Chính những điều ấy đã biến cái tin lúc đầu như tia nước bình thường này ra con ngòi chảy xiết rồi chóng vánh thêm thành thêm nhánh để hóa thành một dải sóng nước hung hãn đổ ập vào cung Thượng Dương, đánh thức cung Thượng Dương bừng dậy kinh hoàng sau một cơn ngủ dài mê mệt.

Đám cung nga túm năm tụm ba ở những hành lang tối, rỉ vào tai nhau những tiếng thầm trong cuống họng. Họ cùng chung một ý nghĩ:
- Ôi cái bản án kéo dài dai dẳng gần hai năm trời, phải chăng nay đã đến giờ hành quyết?

Một cô cung nữ đánh bạo hỏi bạn:
- Họ sẽ bắt ta chết theo cách nào nhỉ?
- Cách nào thì cũng chết!
- Nếu họ ban cho mỗi người một chén thuốc độc thì em khổ lắm; Tính em hay lợm giọng mà!
Một cô khác góp lời:
- Ông Thái giám già bảo họ sẽ ban cho chị em ta mỗi người một tấm lụa bạch đấy.
- Không đứng đâu! - Một tiếng nói khác khẽ đáp lại - em nghe nhiều người nói họ sẽ chôn sống lũ chúng mình theo Tiên Đế.

Quả có thể, tin đồn này nhiều ngưòi hay biết nhưng không một ai dám mở miệng nhắc lại. Bây giờ có kẻ nói ra, mọi người đều kinh hoảng, tưởng như mới nghe thấy lần đầu. Nhiều tiếng rú khẽ chợt tắt, nhiều làn môi run lên trong một lúc, nhiều giọt nước mắt đọng thành ngấn. Tuy nhiên lòng họ vẫn còn tựa vào một điểm hồ nghi mong manh là lời đồn ấy chưa rõ thực hư thế nào. Mãi đến lúc viên quan Thái giám vào cính thức báo tin này và bảo cung Thượng Dương sửa soạn nghênh giá Thái Hậu Ỷ lan thì chút hy vọng cỏn con của họ tan như bèo bọt.

Sự náo động thầm lặng này trong cung phút chốc đã đến tai Dương Hậu. Bà sai
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2012-03-10 00:15:44Ct.Ly>
Chương 12

Linh nhân Thái Hậu Ỷ Lan sắp xa giá đến cung Thượng Dương!



0
Câu Thơ Yên Ngựa

Tác Giả: Hoàng Yến


đã hoàn tất

Thành thật cảm ơn welcom1985 , oceanpenguine, Thanh Vân đã góp sức cho thư viện





📎 10
0