Diễn Đàn » Truyện Cần Đánh Máy

Đội gạo lên chùa - Nguyễn Xuân Khánh 🔒

27 trả lời, 38.297 lượt xem — Trang 1 / 1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.05.2014 19:38:46 bởi Ct.Ly>
 
Mình đọc qua tiểu thuyết này, thấy nó rất hay mà trên mạng không có lên muốn đánh máy lên cho mọi người cùng đọc. Rất tiếc là không có điều kiện để scan, nếu bạn nào scan được thì chuyển lên mọi người cùng đánh nhé! Hiện mình sẽ đánh dần từ đầu...
 
Đội Gạo Lên Chùa
 
Tác giả: Nguyễn Xuân Khánh 



ĐỘI GẠO LÊN CHÙA

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc san, hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo, hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm, mạc vấn Thiền
(Ở giữa cõi trần vui với Đạo hãy tùy duyên.
Đói thì ăn, hễ mệt ngủ liền
Trong nhà sẵn báu, tìm đâu nữa,
Đối cảnh vô tâm, hỏi chi Thiền).
(Trích Cư trần lạc đạo phú,
Trần Nhân Tông)

Phần I
TRÔI SÔNG

Chương 1
Lưu lạc
 
Đêm nay sư cụ khó ngủ. Trằn trọc mãi, hết trở mình sang trái rồi lại sang phải mà hai mắt vẫn cứ chong ra. Đồn tây trên núi Thằn Lằn, bỗng bắn rộ một tràng súng máy. Tiếng súng xa xé rách đêm vắng làm sư cụ giật mình. Rồi tất cả lại rơi vào im lặng. Hình như ở ngoài vườn có tiếng chân người. Cụ lắng nghe song lại chẳng thấy gì. Cụ lẩm bẩm nói với mình: “Không có lẽ… đã lâu rồi… hay là họ lại về…”.
Lúc này, chỉ còn nghe thấy tiếng dế, tiếng ếch nhái ngoài cánh đồng quanh chùa rỉ rả cất lên đều đều, buồn buồn. Bỗng con chó vàng nằm ở thềm nhà tổ cất tiếng sủa. Con vàng sủa trăng ư? Làm gì có trăng mà sủa. Đêm cuối tháng ba lạnh đến xương tủy. Trời tối như mực. Mưa lất phất kéo cái lạnh cuối mùa. Những cơn gió đông cuối cùng làm dựng xù những chiếc lông, bắt con vàng phải rên gừ gừ.
Ô kìa! Sao con chó lại sủa rộ. Nó đã bước xuống hè, đi ra phía cổng chùa. Không phải nó sủa bâng quơ. Chắc có người ngoài ngõ. Con vàng, lúc này, sủa liên tục, sủa ra rả làm sốt cả ruột, đánh thức mọi người trong chùa dậy. Sư thầy Khoan Độ cầm đèn ra cổng. Sư cụ cũng dậy ra ngồi ở tràng kỷ.
Thầy Độ, một lúc sau, cùng mấy người lố nhố bước bào và bẩm:
- Bạch hòa thượng, có hai chị em thí chủ này đứng dưới tam quan mà khóc. Con hỏi chuyện gì? Họ cứ một mực nài xin được gặp sư cụ.
Hòa thượng Vô Úy lúc này mới chú ý nhìn rõ cô con gái đang sụt sùi, thỉnh thoảng lại nâng hầu bao lên chấm nước mắt. Cô gái trạc mười bảy mười tám. Chiếc khăn mỏ quạ màu đen đã tụt xuống vai, để lộ một gương mặt thanh tú, rầu rĩ. Cô gái bận cái áo nâu vá, cái quần đen bạc màu, vấn khăn nâu. Bên cạnh cô là một thằng bé chừng mười tuổi. Cái áo nâu rách toạc vai. Cái quần nâu thủng đầu gối. Rách rưới nhưng không gì giấu được khuôn mặt sáng ngời. Thấy sư cụ chỉ ngắm nhìn mà chẳng nói gì, cô chị bỗng òa khóc to, rồi quỳ xuống rạp đầu sát đất:
- Con cắn cỏ lạy cụ, xin cụ rủ lòng từ bi, rón tay làm phúc, cứu lấy chị em con.
Hòa thượng đứng dậy bước tới đỡ cô gái dậy, rồi ôn tồn bảo:
- Con cứ bình tĩnh kể lể sự tình, xem ta có thể giúp gì con.
- Dạ… Tây nó đi càn. Nó bắn chết bố mẹ con….
- Rõ khổ… Quê con ở đâu?
- Làng con gần chân núi Thằn Lằn. Tây bốt Thằn Lằn bắn bố mẹ con đấy ạ.
Sư thầy Khoan Độ cất tiếng ồm ồm:
- Chắc nó lại vu cho ông bà là Việt Minh.
Cô gái im bặt, ngước nhìn người sư bác; ông có cái đầu nhẵn thín, nhưng bộ râu quai nón đã mấy ngày chưa cạo nên đâm tua tủa như lông nhím. Sư Độ tướng mạo dữ dằn, có đôi mắt lồi trắng dã. Thân hình ông cao lớn, nhìn chỉ thấy xương là xương. Chân tay như khúc tre đực lắp vào cơ thể. Con người ấy làm cho cô sợ hãi. Có cái gì là lạ trong mắt người sư bác. Ông ta cứ nhìn chằm chằm vào cô gái. Dáng điệu bàng hoàng, thảng thốt chẳng biết vì sao. Chỉ đến khi giọng nói ôn tồn của sư cụ cất lên, cô mới bình tĩnh trở lại.
- Tên con là gì?
- Dạ, thưa tên con là Nguyệt.
- Còn em con?
- Em con là An
Trông khuôn mặt ngơ ngác của Nguyệt, sư cụ hiểu sự xao động trong lòng cô gái lúc này, cho nên cụ chuyển sang hỏi những điều tưởng chừng như không quan hệ:
- Nhà con có mấy sào ruộng?
- Dạ… hai sào… Nhà con phải cấy thuê cho nhà ông lý… năm sào… Nhưng bu con ốm yếu lắm… Việc làm ăn đều ở tay thầy con… Nhưng bây giờ thì… cả thầy cả bu con…
Nói tới đây, cô gái bỗng khóc nấc lên khi nghĩ tới cha mẹ. Cô kéo chiếc khăn vuông đen lên để chấm nước mắt và che lấy mặt. Sư cụ nhẹ nhàng:
- Có gì con cứ từ từ nói. Con ạ. Đây là chùa. Đây là nơi đất Phật…
- Thưa cụ… Mọi sự là do bởi ông lý.

Trận càn ấy người Pháp huy động tới bốn tiểu đoàn. Vì quân Pháp xây bốt trên đỉnh núi Thằn Lằn, nhưng Việt Minh vẫn hoạt động khắp vùng chân núi, cho nên họ phải huy động quân ở mấy P.C(1) chung quanh để chăng lưới bắt du kích, để khoa trương thanh thế, để tạo thế đứng cho những ban tề mới mọc lên nắm chính quyền song còn lung lay.
Sáng hôm ấy, lúc tinh mơ, dân xóm Giếng còn chưa kịp ra đồng, đã nghe thấy tiếng súng nổ đì đoàng ở xóm bên. Rồi khắp làng nháo nhác tiếng người gọi nhau:
- Chạy đi, chạy đi. Tây đã đến xóm Đình.
Người ta lúc lượt túa ra đồng, hướng vào rừng. Bác xã Chích vứt cho Nguyệt cái bị cói trong đó nhét mấy bộ quần áo, và bảo con gái:
- Mày dắt em chạt cho mau vào núi Bò. Chạy thật mau.
- Còn thầy bu?
- Tao dìu mẹ mày đi sau.
Thấy con gái còn bịn rịn, ông quát lên:
- Có mau lên không chết cả nút bây giờ. Thằng An là chính. Chị em mày là chính. Có biết không hả!
Nguyệt đành gạt nước mắt dắt em ra ngõ. Ông xã Chích còn dặn với theo:
- Nó chạy chậm thì cõng em mà chạy con nhé.
Mấy lần chạy Tây đều như thế cả. Ông xã Chích chỉ lo đến hai đứa con. Nhất là cậu con trai, đứa con mà ông quý như hòn vàng. Bởi vì nhà ông mấy đời độc đinh. Đến đời con ông cũng vậy. Ông chỉ có mỗi thằng An là con trai. Đẻ xong nó thì vợ ông mắc chứng hậu sản. Lần chạy giặc đầu tiên, bà ấy còn đi được. Ông xã để cho vợ và con gái bìu ríu nhau ra đồng. Riêng ông, cõng thằng An trên lưng, ông chạy một mạch vào rừng, súng Tây bắn ríu ríu bên tai cũng mặc, và vợ con chạy trốn trong ruộng lúa ra sao ông cũng không thèm để ý. Ông chạy như thế không phải vì lo cho thân ông đâu. Chủ yếu là lo cho thằng An. Lo cho sự tiếp nối dòng giống. Nhưng đến lần chạy giặc thứ hai, khi vợ ông đã không còn chạy được nữa, thì ông Chích thấy cách đó không ổn. Ông giao thằng An cho cái Nguyệt. Cách này hợp lý hơn. Cả hai vợ chồng ông cũng đã ngoại năm mươi rồi. Nói dại nhỡ có chuyện gì thì cũng chẳng sao. Cách này hợp lý nhất. Bởi vì nó giữ toàn vẹn được cả cho dòng giống nhà ông, và cả cho con gái ông nữa… Trời ơi! Con tôi đang hơ hớ thế kia! Nhỡ mà rơi vào tay lúc chó má ấy thì sao. Vậy tốt nhất là cho chị em nó chạy trước. Còn vợ chồng ông thì… thôi phó mặc cho trời… mà vợ chồng bìu ríu nhau những lúc nguy nan thế này… âu cũng hợp đạo trời…
Đến này chạy giặc thứ ba này thì… cuối cùng ông thấy sự tính toán của mình là hoàn toàn đúng. Khi hai vợ chồng ông dìu nhau ra đến ngõ đồng đã thấy một đoàn người xăm xăm tiến lại. Ông lý giơ tay lên nói:
- Ông xã Chích hả? Về mau! Về mau! Quan Tây có chuyện hỏi ông đấy… Chuyện gì hả… Sau sẽ biết… Hai đứa con ông đâu… Thôi. Dềnh dang mãi… Cõng bà ấy lên lưng mà về cho mau.
Viên trung úy Tây lai đã đứng sẵn ở sân. Người này nói tiếng Việt chẳng khác gì người Việt.
- Ông cõng bà ấy đi trốn quan Tây hả? Ông ghét người Tây chúng tôi thế hay sao?
Ông xã Chích luống cuống:
- Dạ bẩm quan, tôi thấy cả làng chạy, tôi cũng chạy…
Giọng nói của viên trung úy rất ôn tồn:
- Thôi được! Nhưng có việc này thì ông phải trả lời chúng tôi thật rõ ràng. Giấu giếm là không được với tôi đâu nhé.
Lúc ấy, ông xã mới nhìn kỹ viên trung úy. Hắn ta có tầm vóc trung bình của người Việt, chỉ có khác là bề ngang hơi to bè, và đứng cạnh người Tây thì hắn lùn. Hắn ta đặc biệt có bộ tóc rậm, đen nhánh. Nhìn xa hoặc nhìn từ phía sau, viên trung úy hoàn toàn lẫn với người Việt. Chỉ khi nhìn gần, trước mặt, người ta mới thấy hắn là Tây, mà lại Tây một cách chính cống. Da trắng, mũi lõ, mắt xanh. Nhất là đôi mắt xanh khá đẹp lại hơi nữ tính một chút. Đôi mắt mơ màng xanh lơ, đôi mắt hơi dài với hàng mi dài. Trông đôi mắt ấy, ai cũng nghĩ anh ta là người hiền dịu. Hình như đôi mắt ấy đã làm xã Chích có chút yên tâm khi trả lời:
- Bẩm quan lớn. Quan lớn hỏi gì tôi cũng nói thật hết.
Sở dĩ xã Chích nói vậy vì ông là một nông dân nghèo thuần túy. Cả đời ông, cho đến lúc ấy, ông chỉ biết có ruộng đồng, và với triết lý ăn hiền ở lành, ông tin rằng cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay, tuy ông có lúc túng thiếu nhưng chắc chắn ông sẽ không bao giờ gặp cảnh đau khổ. Viên trung úy Tây lai cười mỉm:
- Thế thì ông ra đây với tôi… Tôi xin hỏi tại sao lại có vết máu trong vườn nhà ông? Ông nói thật đi. Ông có giấu cán bộ Việt Minh trong nhà mình không?
- Dạ không, tại sao có vết máu này tôi chẳng biết.
- Nhà có đào hầm bí mật không?
- Dạ không, không có!
- Đúng thế chứ? Nếu có thì sao?
Xã Chích im lặng, không biết trả lời thế nào. Còn viên trung úy thì bỗng biến ngay thành một con người khác. Đôi lông mày nhướn xếch lên. Đôi con mắt xanh bỗng mở to ra. Ông xã giật mình, ông ngờ đôi mắt hiền lành ấy lại có thể mở to đến vậy. Viên trung úy quát lính:
- Chúng mày không được bỏ sót một ngóc ngách nào. Khám kỹ từng xăng ti mét. Bếp, lật tung lên. Đống củi, đống rơm, thuốn tìm hầm thật kỹ những chỗ ấy… Chuồng bồ, chuồng lợn, khám tuốt… Chắc chắn Việt Minh đang núp tại nhà này… Nhất định ở đây có hầm bí mật…
Chưa bao giờ một ngôi nhà bị khám xét kỹ càng như vậy. Bờ tre, gốc rạ, cả bụi rậm, cả nhà tiêu… không ngóc ngách nào thoát khỏi con mắt soi xét của viên trung úy. Cuối cùng hắn ra bờ ao. Quả thật viên trung úy là một cáo già, là một kẻ có tài nghệ đánh hơi. Viên trung úy thả bước chậm rãi đi theo dọc bờ ao, hai tay chắp sau lưng. Hắn nhìn xuống mặt nước. Chợt hắn dừng chân lại, dán mắt xuống đám bèo tấm che kín mặt ao. Hắn gọi mấy tên lính lại:
- Chúng mày thuốn trên bờ, đúng chỗ này cho tao.
- Sao thế ạ?
- Đồ ngu! Mày nhìn xuống ao xem có gì khác không?... Đã thấy gì chưa? … Tại sao chỗ bèo này lại xộc xệch?... Có vài cánh bèo lại lật ngược. Rễ chổng lên trời… Chúng mày đã hiểu chưa? Ngu cả lũ… Tức là sáng sớm nay, cái thằng du kích bị thương nhỏ máu ngoài vườn kia đã ra đây, vội vàng xuống ao… lặn chui vào cái hầm ếch ở bờ ao… cửa hầm chìm dưới nước… Chúng mày hiểu rồi chứ… Nó vội vàng… hiểu chưa… Chính vì nó vội vàng không chịu khỏa bèo cho dãn ra rồi mới lặn, cho nên bèo ở đây xô lệch và có những cánh bèo chổng rễ lên trời… Đã hiểu chưa hả lũ ngu…
Lũ lính bảo hoàng lè lưỡi khâm phục, vì chính ở nơi ấy, chúng đã tìm thấy anh du kích bị thương trốn trong hầm bí mật. Chúng lấy dây thừng tròng vào cổ anh ta. Cả xã Chích cũng bị buộc dây thừng vào cổ. Chúng dắt hai con người như dắt hai con trâu ra cái miếu hoang giữa đồng…
Từ đầu, bà Chích vẫn ngồi ở sân. Lúc ông bị bắt đi, bà kêu lên “ông ơi” rồi cố đứng lên nhưng không được. Bà ngã lăn ra và ngất đi bất tỉnh.
*
* *
Sư cụ nhắm mắt khi nghe chuyện. Cụ thở dài. Còn Nguyệt thì nức nở kể câu chuyện thấm đầy nước mắt. Cuối cùng cô ngồi sụp xuống lạy sư Vô Úy:
- Con lạy cụ. Xin thương xót đến chị em con. Thầy bu con đã chết cả rồi. Bây giờ, chẳng biết nương tựa vào đâu. Chị em con phải ngày trốn, đêm đi. Ròng rã ba hôm đói khát mới tìm ddwwocj đến chùa. Còn cắn cở van xin cụ mở lòng từ bi cho chị em con được nương nhờ cửa Phật. Chị em con đã đến nước đường cùng.
Sư cụ lại thở dài. Cụ mở mắt nhìn gương mặt đẫm lệ của cô con gái, rồi lại nhìn gương mặt trái xoan với đôi mắt sáng u buồn sâu thẳm và nước da xanh của cậu bé An, cụ hiểu nỗi đau đớn của hai sinh linh bé bỏng này thật to lớn, nỗi sợ hãi họ vừa trải qua khủng khiếp vô chừng. Vài lời kể sơ lược của Nguyệt làm sao nói hết. Đằng sau đôi mắt u buồn kia còn bao nhiêu hình ảnh ghê rợn mà thông thường con người chỉ muốn chôn vùi đi, không bao giờ muốn nhắc lại. Nên sư cụ chỉ thở dài. Thở dài nhưng thấu hiểu. Hiểu rằng lúc này hai sinh linh côi cút ấy cần đến sự che chở, cần đến hơi ấm, cần đến những cái gì cụ thể hơn là lời nói. Lúc hoàn toàn mở mắt ra, cụ chỉ nhẹ nhàng bảo sư bác lấy cơm cho Nguyệt và An ăn.
Đôi mắt cô gái long lanh biết ơn. Thực ra cô không muốn kể tiếp. Phải trưng bày nỗi nhục nhã, nỗi đau khổ của mình ra là điều con người không muốn làm. Đã ba ngày đói khát mà nỗi đau khổ ấy còn ở đây. Nó ứ đầy cổ họng, nó nghẹn ngào mãi trong lòng, làm cho cô tức thở, nuốt miếng cơm mà cũng khó trôi.
Nguyệt không khóc nữa, nhưng những giọt lệ vẫn dâng đầy trong mắt. Nó lã chã rơi xuống bát cơm. Sư cụ lại thở dài: “A di đà Phật”. Nguyệt không kể nhưng cả đời cô cũng chẳng thể quên.

Sau khi nhờ hàng xóm giúp đỡ chôn cất cha mẹ xong, thì ngay ngày hôm sau ông lý đã đến nhà. Ông ta rất trắng trợn nói rằng:
- Cô Nguyệt phải biết ơn tôi đấy. Không có tôi, thì làm sao cha mẹ cô lại được mồ yên mả đẹp thế này cơ chứ.
- Vâng, chị em con xin đội ơn ông lý.
- Ấy, cái chuyện này thì cũng nhỏ thôi. Cái chuyện trước đó, lúc ở sân định mới là chuyện to. Có có biết lúc khám vú, bọn Tây đen cứ định lôi cô đi hiếp, tại sao đến phút cuối cùng, chúng lại thả cô ra?
- Tại sao, thì cháu không rõ.
- Tại sao ư? Cô thoát được là nhờ tôi đấy. Lúc đó tôi đứng với lão Tây mặt đỏ quan ba. Tôi nói với lão quan ba rằng cô là vợ thứ năm của tôi. Bà lý năm! Đã là vợ của tôi, đố thằng Tây nào dám bờm xơm. Không có tôi, thì Tây nào cai quản nổi cái làng này. Vuốt mặt phải nể mũi chứ có phải không, cô Nguyệt?
- Dạ, thưa ông lý…
- Thưa với gửi gì. Là tôi kể cho cô rõ thế thôi. Thực ra, tôi muốn cho mọi việc phải đàng hoàng. Nói với Tây là một chuyện, còn đối với làng nước, tôi cũng phải xin cưới hẳn hoi. Tôi định sau bốn chín ngày hai cụ, tôi sẽ mời hàng xóm. Cô phải biết, cô là bà năm xinh đẹp của tôi, tôi sẽ gây dựng cho cô riêng hẳn một cơ ngơi. Nhà ngói cây mít hẳn hoi. Các bà kia đã đủ cả ruộng nương con cái rồi, tôi chẳng còn phải lo đến nữa. Tôi sẽ đến ở với bà, chỉ ở với bà mà thôi. Tôi hứa với bà đấy. Tôi đã tính toán cả rồi.
Lão lý cứ xưng xưng nói. Ăn nói bỗ bã. Cứ như thể Nguyệt đã là vợ của lão từ lâu rồi. Nguyệt sửng sốt vì từ hôm đó cả làng đều đồn ầm lên là Nguyệt đã bằng lòng làm vợ bé thé nă của ông lý trưởng đã ngoại năm mươi. Có cậu con trai làng còn chào cô là bà lý năm. Cô giãy nảy lên cãi lại, thì anh ta bảo:
- Ván đã đóng thuyền rồi cô ạ. Tôi nghe người ta nói rằng nếu cô không chịu cưới, ông lý sẽ đưa cô lên bốt Thằn Lằn cho Tây đen nó hiếp. Có người bảo thế là ác. Ông ta trả lời; “Ác gì mà ác. Tôi đã cứu cô ta khỏi bị Tây đen hiếp lần trước, cô ta phải đền ơn tôi là cái lẽ đương nhiên. Nếu cô không chịu trả ơn, thì tôi trả lại bọn Tây đen cho chúng nó hưởng. Đấy cũng là cái lẽ đương nhiên”.
Sau khi nghe câu chuyện, Nguyệt sợ hết hồn. Tối hôm ấy, nhân tối trời, Nguyệt dắt em bỏ làng đi trốn. Ban ngày, họ trốn ở bờ bụi, ở miếu hoang, nơi cầu sương điếm cở. Ban đêm, lại lầm lụi ra đi. Ngày thứ nhất còn năm cơm nắm. Đến ngày thứ hai, nhai gạo sống, uống nước sông…
Sư cụ bằng lòng nhận họ. An được xếp ngủ ở một gian tả vu. Nguyệt cùng ở với một bà vãi già. Nơi ấy, dân làng gọi là am ni. Sư bác Khoan Độ dẫn cô gái đến chỗ bà Thầm. Bà vãi ngồi ở thềm nhà đang đếm những con đom đóm bay lượn trên ao bèo. Đối với bà Thầm, mỗi con đom đóm là một vong linh. Ở ngoài lũy tre vườn chùa, có một nghĩa địa. Ở đấy, cơ man là đom đóm. Nhưng trên mặt ao bèo mỗi đêm chỉ có một số ít đom đóm thôi. Bà Thầm bảo đó là vong linh những người thân đêm nào cũng về thăm hỏi, phù hộ cho bà. Có những lúc bà còn trò chuyện cả với những sinh linh nhỏ xíu lập lòe ấy. Sư bác hỏi:
- Cụ Thầm ơi! Đêm nay có mấy vị về?
- Sáu vị, sư bác ạ.
- Ông ấy có về không?
- Ông lão nhà tôi đêm nay bận hay sao ấy. Chẳng thấy mặt. Chỉ toàn các cô bạn thời con gái. Kia kìa: Cái cô bay bổng bay la kia là cô Thắm. Lúc nào cũng lúng liếng, nhởn nhơ. Cười rõ là giòn. Tội nghiệp, thế mà chết trẻ. Bố cô ép cô lấy lẽ một ông già. Cô phẫn chí, đâm đầu xuống sông mà chết.
Bà vãi với cái giọng thì thà thì thầm, chỉ đom đóm nói chuyện ngày xưa, nghe đến là buồn. Lúc cụ nói, đôi mắt già nua lại được ánh trăng chiếu vào. Đôi mắt ấy lúc thường chắc lờ đờ. Sao lúc này trông bỗng tinh nhanh hau háu lên. Cụ kể lể cứ như chuyện mới hôm qua, nghe đến là rợn.
Sư bác bảo bà cụ Thầm tốt nết lắm. Nhà cụ nghèo nhất làng, không một tấc đất cắm dùi. cụ ông tên là Khố chuyên nghề tôm cá. Từ sáng cho đến tối, lúc nào cũng trần như nhộng. Trên mình chỉ có một chiếc khố. Lúc nào cũng cái xiếc, cái nhủi, lầm lụi như con cò trên cánh đồng, trên sông, trên nước.
Trước kia, bà cụ Thầm đâu có thế này. Rất nghèo nhưng rất vui tính, mở miệng ra là nói có vần, có điệu như hát. Chỉ từ khi cụ ông bị cảm lạnh chết giữa đồng, cụ bà mới thành dở điên dở khùng như vậy. Từ khi chồng chết, bà đêm ngày như sống với cõi âm. Vãi Thầm chỉ có một cô con gái tên là Thì lấy chồng đẻ sòn sòn. Chưa đầy ba mươi tuổi mà đã năm con. Nhà chồng cũng nghèo như nhà vợ. Sư cụ Vô Úy thấy tình cảnh như vậy, liền cho vợ chồng Thì cấy rẽ ba sào. Tô ruộng chỉ bằng già nửa người ta. Lại cho bà Thầm đến làm việc vặt cho nhà chùa, và cho trú ngụ tại gian nhà lá ngoài vườn.

Khi sư bác quay về nhà tổ, hai bác cháu tắt đèn đi ngủ sớm cho đỡ tốn dầu. Sư bác bảo ban ngày bà Thầm chẳng sao, nhưng cứ từ lúc chạng vạng gà lên chuồng là bà già lại như người mê ngủ, cứ đờ đẫn ra, rồi nhắc toàn những chuyện đời xưa mà cả làng chẳng còn mấy người nhớ, nhất là chuyện những người cõi âm, những người đã chết. Mọi hôm, không có người nói chuyện, thì bà lầm bầm tự nói với mình. Còn hôm nay, có Nguyệt, bà đã có bạn để nghe, nên bà không lầm bầm nữa, mà nói to lên. Trời còn lạnh mà bà cụ luôn tay chiếc quạt nan phe phẩy cho Nguyệt rồi thì thầm vào tai cô gái, cứ như bà kể chuyện cổ tích cho cháu, cứ như những lời ru ngủ.
- Đấy, cô Thắm đấy! Cô đang bay vào nhà. Cô ấy vẫn nhởn nhơ như thời con gái. Cái yếm đào này. Chiếc khăn vấn nâu non này. Chiếc hầu bao hoa lý này. Ái chà! Cả chiếc váy sồi lướt tha lướt thướt… - Giọng bà cụ bỗng bùi ngùi – Con có biết không? Sáng hôm ấy, cái Thắm gặp bác. Nó bảo nó sẽ bỏ quê mà đi. Bác cũng đồng lòng với nó. Bỏ làng mà đi, thân gái dặm trường, thì cũng sợ. Nhưng mà ở lại làng, con gái hơ hớ ra mà phải lấy một ông già, thì cũng khổ cả một đời… Thế rồi đêm hôm ấy, bu cái Thắm kêu váng làng nước: “Các ông các bà ơi! Có ai đi tìm con tôi với?”. Cả làng đổ ra đường. Đuốc đốt đỏ rực cánh đồng. Người ta tìm thấy xác cái Thắm dập dềnh trôi nổi trên dòng sông Đào. Lúc vớt lên, nước không ra từ mồm, nước lại chảy ra từ khóe mắt. Người con gái trôi sông ấy cứ khóc lặng lẽ không thôi. Chết mà vẫn khóc.
Đó là câu chuyện cổ tích buồn, câu chuyện người âm mà bà vãi Thầm đã kể cho Nguyệt nghe vào cái đêm đầu tiên đến chùa.
Đêm ấy, trong giấc mơ, chả biết Nguyệt thấy gì mà cô thút thít. Còn bà Thầm thì vẫn chưa ngủ. Bà nhìn con đom đóm mới bay vào nhà và lại tiếp tục cuộc đối thoại không bao giờ dứt với người cõi âm của bà:
- Thắm ơi! Thắm đấy à? Có phải lúc nãy mày vừa thút thít phải không? Sao đến tận bây giờ mà mày vẫn khóc?


Chú thích:
(1) P.C: Chữ viết tắt của Poste Commandement – nghĩa là đồn chỉ huy của một khu vực, một tiểu khu.
📎 DoiGaoLenChua1
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.05.2014 19:23:45 bởi Ct.Ly>
2
CHÙA SỌ
 
Chị Nguyệt tôi chưa được xuống tóc, nhưng riêng tôi lại được. Ngay hôm sau khi đến chùa, sư bác Độ đưa tôi ra vườn chùa, dưới gốc nhãn, lấy kéo cắt phăng mớ tóc đen nhánh trên đầu tôi. Rồi bác lấy khăn ướt tẩm xà phòng xoa mạnh lên mớ tóc bị cắt nham nhở. Xoa tới lúc cái đầu sủi bọt xà phòng trắng xóa. Sư bác dọa tôi.
- Ngồi yên không nhúc nhích! Con dao cạo này sắc lắm. Ngọ ngoạy là mất đi một mảng da đầu như chơi.
Nhìn đôi mắt to trắng dã, cái gò má xương xẩu vêu ra, và bộ râu quai nón mọc tua tủa của bác, tôi sợ hãi ngồi im thin thít. Thực quả là tôi sợ. Tôi sợ đôi bàn tay khuềnh khoàng xương xẩu kia. Chắc hẳn chúng cứng quèo vụng về giống như cái dáng thô kệch của sư bác. Bác Độ vừa cạo xoèn xoẹt vừa nói chuyện với tôi:
- Chú thật là may. Vừa đến đã được sư cụ yêu mến ngay. Chú tưởng làm tiểu dễ đấy hả? Trong làng có hai thằng bé nhà nghèo ngoan ngoãn. Bố mẹ chúng ra chùa năn nỉ xin cho chúng ở chùa nhưng không được. Cụ bảo riêng chú có duyên với Bụt… Mà này, lạ thật! Chính tôi cũng thấy quý chị em chú… Khốn khổ, cái đời mạt pháp!
Xoẹt xoẹt… xoẹt xoẹt…
- Này… Bố mẹ chú có phải là Việt Minh không? Chú biết không, ở nhà chùa cũng có sư Việt Minh.
- Thế sư cụ là Việt Minh hở bác?
- Không phải! Không phải! Người khác cơ. Nhưng, bao giờ chú lớn lên … Rồi sẽ biết.
Xoẹt xoẹt… xoẹt xoẹt…
- Xong rồi! Thật là đẹp! Cái đầu chú tròn xoe như quả bưởi nên lúc cạo đi trông thật là đẹp.
Sư bác Khoan Độ cười ha hả, lấy tay xoa mãi lên cái đầu nhẵn thín của tôi, hể hả vì công trình mà bác cho là tuyệt mĩ của mình. Bác kéo tôi ra cầu ao, bắt tôi soi mình trên mặt nước:
- Thấy chưa? Tuyệt chưa? Không một vết xước nhỏ. Tôi đã phải mài con dao cạo suốt hai tiếng đồng hồ. Lần đầu tiên cạo đầu, tôi không muốn chú sợ. Tại vì lần đầu tiên xuống tóc, sư thúc là sứt mấy miếng da trên đầu tôi… Ôi chao là xót!... Ôi chao là sợ!...
Sư bác lại cất tiếng cười ha hả. Tiếng cười xóa tan những thành kiến ban đầu của tôi về bác. Hóa ra, đôi tay xương xẩu tưởng như vụng về kia lại vô cùng khéo léo. Hóa ra con người có gương mặt tưởng như dữ tợn kia lại có một tiếng cười sảng khoái hồn nhiên đến thế. Tiếng cười rất vui của sư bác, tuy nhiên, vẫn không xua tan được nỗi buồn sâu đậm trong lòng tôi.
Những ngày đầu ở chùa, cả ngày tôi chả nói một tiếng. Tôi cứ lì lì ngồi ở thềm nhà bếp. Giải vũ bên tái, một đầu làm bếp, khoảng giữa để cối xay, cối giã, còn đầu kia quây hai tấm giại tre làm buồng cho tôi ở.
Đêm nào cũng thế, tôi không tài nào ngủ được. Nằm đấy để nghĩ vơ vẩn. Nằm đấy để nghe tiếng mõ đều đều của sư cụ tụng kinh. Bài học tu hàh đầu tiên của tôi là gõ mõ. Sư cụ bảo:
- Người chân tu phải lúc nào cũng tu. Đi cũng thiền. Ăn cũng thiền. Uống cũng thiền. Nói cũng thiền. Từng giây từng phút đều thiền….
Tôi ngơ ngác. Đầu óc non nớt của tôi lần đầu tiên được tưới tắm bằng những giọt nước mát lành nhưng quá cao siêu. Tuy nhiên, tôi vẫn cảm được vị trong trẻo dịu dàng của nó qua đôi mắt hiền hậu ấm áp, qua cái vóc dáng từ bi như tỏa ra một vùng từ lực. Sư cụ cầm lấy cái mõ, cầm lấy cái dùi:
- Con ơi! Tiếng mõ là tiếng nói của đức Phật. Tiếng mõ đánh thức sự tốt lành, đánh thức cái tâm Phật trong mỗi con người. Tiếng mõ đêm khuya vang lên trong làng xóm nói với thế gian rằng Phật luôn luôn ở giữa cuộc đời này… Phải nghiêm trang, kính cẩn mà gõ. Phải quán tưởng đến hạnh từ bi mà gõ. Đến một lúc nào đó, tâm hồn ta sẽ sáng bừng. Ta sẽ được sống trong sự an lành vô biên…
Tôi còn quá non nớt để hiểu những lời tâm huyết của sư cụ. Nhưng tôi cũng hiểu đó là những lời an ủi, đó là sự xoa dịu những vết thương sâu hoắm trong tâm hồn một đứa trẻ.
Sư bác Khoan Độ không có những lời lẽ sắc sảo để giải tỏa cho nỗi u buồn của tôi rằng thế gian này mọi vật đều vô thường. Sư bác cũng không có những tinh tế để đoán biết những diễn biến của tâm hồn tôi để tùy lúc, tùy nơi tìm lời an ủi. Nhưng cần gì cơ chứ! Bởi vì lúc nào sư bác chả ân cần với tôi. Giọng nói thô kệch không biết rót mật xoa dịu vào tai tôi. Nhưng ánh mắt, vẻ mặt thì biết. Những tia mắt dịu dàng không biến hóa được ra bàn tay, ra giọng nói, nhưng lại biết ôm ấp, biết tạo ra một luồng từ khí ấm áp. Đó là tiếng nói của vô ngôn. Sau này lớn lên tôi mới hiểu tiếng nói có hạn chế của nó. Tiếng nói không bao giờ nói hết được, đấy là chưa kể có khi nó còn nói không đúng, còn tiếng nói của im lặng, của vô ngôn, của tia nhìn ấm áp thì ta chỉ có thể cảm nhận được, và nó chẳng bao giờ sai.
Tôi cảm nhận được điều đó khi sư bác ngồi kề bên tôi, nắm tay tôi và nói về ngôi chùa:
- Chúng ta là một gia đình.
Hóa ra, gia đình ngôi chùa quê của chúng tôi thật là sum suê, đông đúc. Chưa kể những vị tổ xa xưa, tôi chỉ tính từ vị tổ gần đây nhất.
Sư cụ Thích Vô Chấp có năm học trò trong đó có thầy tôi. Ba vị sư bác đã ra ở riêng, hiện trụ trì ở những tỉnh xa. Gắn với ngôi chùa Sọ, có hai người. Đó là thầy tôi Thích Vô Úy và sư thúc Vô Trần, một đệ tử tục gia.
Sư cụ Thích Vô Úy có một đệ tử rất đặc biệt. Đại sư huynh của tôi là một nhân vật huyền thoại. Và nếu có diup, về sau tôi sẽ nói. Nhị sư huynh là Thích Khoan Độ, một vị sư khá lạ lùng mà tôi vừa mới gặp. Còn người thứ ba là tôi, tôi vừa mới bước vào cửa tam bảo. Tôi vừa mới được sư phụ cho phép xuống tóc. Chẳng hiểu sư cụ nhìn thấy gì ở gương mặt tôi, mà người bảo với sư bác Khoan Độ rằng tôi có duyên với Phật. Tôi đã mười một tuổi nhưng không phổng phao. Người tôi loắt choắt chỉ bằng đứa bé lên chín. Một gương mặt chín tuổi! Chắc trên đó phải hằn in những nét sầu khủng khiếp, và nhưng nỗi kinh hoàng khiến đôi mắt mở to ngơ ngác. Dấu ấn ấy còn đọng lại mãi trên gương mặt tôi, trong trí não tôi. Rửa cũng không sạch. Dấu ấn ấy còn dai dẳng bám lấy tôi suốt cả cuộc đời. Có lẽ vì thế nên tôi hay nghĩ. Có lẽ vì thế nên sư cụ bảo tôi có duyên với Phật. Và chắc sư cụ muốn dùng ánh sáng của đức Phật để cứu vớt tôi, rửa sạch những vết u ám trong tâm hồn tôi chăng?
Chị tôi được ở ngoài vườn chùa cùng với bà vãi Thầm. Còn tôi, sư cụ sai dọn đầu hồi giải vũ bên trái làm chỗ ngủ. Sư bác Độ dùng hai tấm giại che đằng trước và bên cạnh quây lại, rồi đặt một chiếc chõng tre bên trong. Từ bé, tôi chưa bao giờ nằm một mình, ban đêm tôi vẫn rúc vào nách rúc vào lưng chị tôi mà ngủ. Chị tôi là người mẹ thứ hai của tôi. Tôi nghe nói thủa tôi mới sinh, u tôi ốm nặng, chị tôi đã bế tôi đi ăn mày sữa khắp làng. Nhờ có chị nên tôi mới sống, mới thành người như hôm nay. Nay thầy u tôi đều đã chết, tôi lại tách khỏi chị. Có lẽ tô như đứa trẻ bị tách ra khỏi vú mẹ. Tôi như đứa trẻ bị cai sữa. Cho nên cả đêm hôm ấy, tôi không tài nào ngủ được. Hôm sau, tôi thưa với sư cụ:
- Thưa thầy, xin cho con được ngủ chỗ khác. Ngủ một mình, con không tài nào nhắm mắt được.
- Con sợ gì?
- Con sợ ma.
- Đây là đất Phật con ạ - Thầy tôi nghiêm trang giảng giải – đất Phật nên trên đầu chúng ta luôn có tàn lọng của đức Phật che chở. Dù có hiểm nguy nào, núp dưới bóng râm của người, thì cũng qua khỏi. Chẳng có ma chướng nào, chẳng có loài ngạ quỷ súc sinh nào đụng chạm được tới con.
Thấy tôi cứ cúi đầu xuống, không chịu đi, vẻ mặt thì đăm chiêu, tăn tiu, sư cụ liền ôn tồn nói với tôi một điều mà tôi ghi nhớ suốt đời:
- Con ơi! Trên đường đời dài dằng dặc, một người con của Phật, hay một con người cũng vậy, đều phải biết tự đi bằng đôi chân của mình…Phải biết độc hành con ạ… Chẳng biết thầy nói con có hiểu gì không? Đường của Phật gian nan lắm con ơi. Muốn tìm được đạo, phải biết được hành… Không có ai tìm hộ con đâu…
Nói xong câu nói dài ấy, sư cụ nhắm mắt lại. Thú thực, nghe câu nói ấy tôi cũng chẳng hiểu gì sâu xa. Tuy nhiên, cái ý đi bằng đôi chân của mình, thì tôi mang máng hiểu. Tôi hiểu rằng bây giờ tình cảnh đã khác rồi. Tôi hiểu rằng chị tôi không thể đi xin sữa nuôi tôi như thủa bé được nữa. Rằng chị tôi không thể dắt tôi đi trốn giặc được nữa, rằng chị tôi không còn có thể xòe cánh tay che chở cho tôi nữa. Tôi phải tự đi một mình.
Tôi rón rén lùi khỏi Phật đường. Câu nói của thầy thật khó, tôi chưa hiểu hết, nhưng ít nhất nó cũng làm cho tâm hồn tôi máy động. Ôi chao! Cha tôi chết! Mẹ tôi chết! Chị tôi không thể xòe tay ra với tôi được nữa! Và tôi phải bước chân một mình.
Đêm hôm ấy, nằm trên chiếc chõng tre, trong gian buồng quây, tôi thao thức mãi. Tôi ngắm ánh trăng luồn qua khe giại vẽ những vệt sáng trên nền nhà giải vũ. Mắt cứ chong ra mãi, tôi lền đứng dậy ra khỏi gian buồng. Ngoài gian buồng là nơi xay thóc, giã gạo. Chiếc cối xay lù lù như một bà già mặc váy đang ngồi tắm trăng. Tôi lấy chiếc chổi lúa quét sạch nền nhà, nằm xuống bên cạnh chiếc cối. hình như chiếc cối giống hình người làm tôi thấy đỡ cô đơn hơn là gian buồng trơ trọi chỉ có chiếc chõng. Hình như nơi đây còn vương hơi ấm của bà Thầm, chị Nguyệt. Ban tối, họ còn xay thóc, sàng gạo nơi đây. Ở đây còn có hơi người, còn trong kia chẳng có. Tôi nằm co ro ở đấy để gặm nhấm những nỗi đắng cay đã đột nhiên ào ạt đổ xuống đầu tôi trong những ngày qua.
Chắc mấy đêm nay chị tôi vẫn khóc. Bà vãi Thầm suốt đêm còn vẩn vơ bận bịu trò chuyện với những hồn ma ở cõi âm của bà. Lấy đâu ra tỉnh táo, lấy đâu ra tế nhị để an ủi nỗi đau của chị. Tôi biết chị Nguyệt vẫn khóc đêm vì sáng ra, thấy mắt chị sưng húp và đỏ ngầu
Riêng tôi, tôi thèm khóc lắm, nhưng dù cố thế nào thì nước mắt trong tôi cũng chẳng chảy ra. Tôi nằm đấy nghe tiếng chim đêm, nghe giun dế nỉ non, và tắm ánh trăng giàn giụa chảy từ mái chùa xuống. Ánh trăng cứ chảy, chảy mãi đến mức đầy ắp cái tâm hồn nức nở của tôi. Ánh trăng có cách xoa dịu của nó. Nó ru tôi một cách thầm lặng, và tôi ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Đang ngủ, tôi bỗng có cảm giác một cái gì rất mềm mại đã chạm vào tôi. Hình như có một cái gì xôm xốp mà tôi ôm lấy. Hình như có một bàn tay đang ve vuốt khuôn mặt tôi. Rất mơn man, rất nhè nhẹ. Phải chăng là gió? Phải chăng là trăng? Trăng mà cũng biết xoa dịu ta ư? Tôi từ từ mở mắt. Tôi dần dần từ cõi mơ trở về cõi thực. Đến lúc ấy, tôi mới biết tôi đang ôm con chó vàng. Thì ra chỗ này là chỗ nằm của con vàng hàng đêm vẫn ngủ. Thì ra hơi ấm lúc trước tôi cảm nhận không phải là của chị tôi cũng không phải của bà vãi Thầm. Con chó mà cũng biết cảm nhận nỗi buồn, nỗi cô đơn của tôi sao? Cám ơn vàng, cám ơn hơi ấm của mày, cám ơn cái lưỡi ấm áp của mày đã lau khô những giọt nước mắt hiếm hoi của ta; chỉ khi ngủ nó mới chịu ứa ra. Vàng ơi! Nhưng giọt lệ hiếm ấy chắc là mặn lắm.
Trong những ngày đầu tiên ở chùa, tôi cứ một mình vật vã như vậy. Cứ tưởng như chẳng có ai quan tâm tới tôi. Về sau sư bác kể lại tôi mới biết sư cụ tôi nhiều đêm vẫn ngồi ở bàn nước nhà tổ nhìn ra, chứng kiến sự vật lộn của tôi. Sư bác Độ xin cụ tìm cách giúp đỡ tôi, nhưng cụ chẳng cho. Sư cụ chẳng bảo phải tự độc hành, độc bộ là gì. Chẳng ai có thể sống cả đồi núp dwowcis bóng cây. Sư cụ muốn tôi phải tự chữa lành cho vết thương của mình. Chẳng ai biết hết được sự tự chịu đựng, sự tự làm lành lại mình của con người mạnh mẽ đến thế nào đâu.
Những ngày ấy tôi chưa phải học gì, chưa phải làm gì. Có thể nói đó là đặc ân, Sư cụ cho phép, để mặc tôi lang thang trong chùa và vùng lân cận. Ý muốn của cụ là để tôi hòa hợp với khung cảnh mới, hay là để cho thiên nhiên chữa tâm bệnh giúp tôi.
Tôi lang thang nhưng chẳng biết lang thang để làm gì. Về sau này, có người bạn nghe chuyện, bảo rằng thực ra sự lang thang của tôi khi ấy là cuộc đi tìm nước mắt. Nghe qua, thấy thật nực cười, nhưng ngẫm nghĩ kỹ lại thấy có phần nào đúng. Quả thật, thời gian ấy tôi muốn khóc mà không tài nào khóc được. Tôi trở nên thằng bé lầm lầm lì lì. Lúc nào cũng ngơ ngác như phiêu du tận đẩu tận đâu. Có lúc, có người hỏi, thì mắt cứ trố ra giương to. Hình như tôi không nghe thấy hoặc không hiểu người ta hỏi gì. Có lúc chị tôi phải ôm mặt ngồi bên bờ ao khóc thút thít. Chị Nguyệt thương tôi quá. Chị chỉ sợ tôi trở thành kẻ ngớ ngẩn, kẻ điên rồ. Sư cụ khuyên chị đừng lo và dặn mọi người ai ai cũng phải đối xử với tôi dịu dàng. Phật chẳng bỏ ai đâu, nhất là những người gặp nạn.
Những ngày đặc biệt này, tôi rất thích lang thang ở khu rừng thông gần chùa. Gọi là rừng cho to, chứ thực ra chỉ là một quả đồi thấp trồng toàn thông. Thông trồng đã lâu, thân to đủ người ôm. Tán lá rậm rịt không có ánh nắng lọt xuống. Tôi thường ngồi ở chân đồi nghe thông reo, nghe đàn chim sẻ lắm mồm, ríu rít cãi nhau trên tán lá, thỉnh thoảng chúng lại vù vù cả đàn bay ào ra ruộng lúa.
Từ chân đồi, tôi có thể bao quát nhìn khắp cánh đồng trước mặt, cũng như quang cảnh khắp vùng. Nơi đây rất giống quê tôi. Cũng vẫn dãy Tam Đảo xanh ngắt, lừng lững ngồi, đội mây trắng trên đầu, lặng nhìn xuống trần gian. Cũng vẫn dãy Tam Đảo xanh ngắt, lừng lững ngồi, đội mây trắng trên đầu, lặng nhìn xuống trần gian. Cũng vẫn những đồi sim bát úp dâng hiến cho lũ trẻ nhỏ chúng tôi những trái sim tím bầm vừa ngọt, vừa thơm, lại chan chát, ngày nào cũng ăn mà không bao giờ biết chán. Cũng vẫn những khóm mẫu đơn dại mọc ê hề khắp nơi, để lũ con gái chăn trâu kết tràng hoa đỏ đội đầu, chơi trò cô dâu chú rể.
Tại sao tôi không khóc được nhỉ? Phải chăng vì tôi chưa quen với không khí nhà chùa? Nó mênh mông khác hẳn với không khí đầm ấm trong căn nhà bé nhỏ của cha mẹ tôi. Nằm dưới gốc thông, nhìn những đồi sim, tôi chợt nghĩ như vậy.
Thì ra những hoài niệm mà tôi không thể quên được đang kéo nhau trở về. Cả những kỷ niệm đau đớn, mà tôi muốn chôn vùi không bao giờ muốn nhắc lại, cũng lấp ló trong tâm hồn tôi. Và đi cùng với chúng là những xúc động. Tự nhiên trong người tôi thấy rưng rưng.
Tiếng chuông chiều, chuông thu không đang vang lên ngân ga từ gác tam quan. Tiếng chuông lại kéo tôi về thực tại. Nhắm mắt lại, tôi cũng cảm nhận được sự u tịch của ngôi chùa. Ở xa xa thế này, tôi cũng ngửi thấy được mùi hương ngào ngày, cũng như nghe thấy được tiếng mõ đều đều, buồn buồn, lúc xa lúc gần… Phải chăng những thứ đó là quá trang nghiêm đối với tâm hồn măng sữa của tôi. Hình như tiếng chuông, tiếng mõ, cả mùi hương nữa… tất cả đều mang một triết lý sâu thẳm rất cần cho những tâm hồn từng trải u uẩn, còn tôi, tôi là đứa bé mà trái tim bị một vết tử thương sâu thẳm, tôi cũng u uẩn chứ, nhưng khi ấy tôi thèm cái sự an ủi là một cái gì rất cụ thể, rất vật chất, như một bàn tay ấm áp của mẹ chẳng hạn. Nhưng than ôi! Mẹ tôi đã chết rồi.
Phải chăng vì thế nên ở trong chùa tôi không dám khóc, hay nói cho đúng hơn, tâm hồn tôi đang khóc nhưng không tài nào chảy nước mắt. Mà hoàn cảnh một đứa trẻ như tôi lúc ấy rất cần khóc. Mà phải khóc to thành tiếng, khóc giữa thanh thiên bạch nhật, giữa mênh mông trời đất. Phải khóc cho nỗi tang thương vón cục thành khối thành hòn trong trái tim được tan chảy ra. Giữa bao la, nỗi đau chắc chắn tan đi nhanh hơn. Gió sẽ mang nó đi, gió sẽ hòa loãng nó vào mênh mang.
Vả lại, tôi chỉ muốn khóc một mình. Tôi chẳng muốn có ai nhìn thấy tôi đang khóc. Vì nhút nhát chăng? Vì kiêu hãnh chăng? Vì sợ hãi sự thương hại của người đời chăng? Tôi nghe người ta kể, có những con voi già nua bệnh tật, khi biết mình sắp chết, liền một mình đi vào rừng sâu, rồi một mình gục xuống, chung quanh chẳng hề có một cặp mắt nào của đồng loại. Có lẽ đó là mặc cảm của mọi sinh linh trên thế gian này chăng. Thực ra, tôi chẳng hiểu căn ngueyen hành vi của tôi ở đâu. Chỉ biết rằng nỗi đau là của riêng tôi. Tôi chỉ muốn một mình tôi gánh chịu.
Như đã nói, lúc ấy tôi rưng rưng. Cái bao la mênh mông, cái một mình riêng lẻ quả là hiệu nghiệm. Nhờ có chúng nwocs mắt của tôi tự nhiên trở về. Những giọt nước mắt mặn không biết từ đâu tới, bỗng đột nhiên tràn đầy khóe mắt. Rồi chúng tràn ra bò lăn trên mặt. Tôi mặc cho chúng tuôn rơi. Và cùng với chúng là những hình ảnh hiện ra. Phải nói là những hình ảnh ghê rợn. Đúng rồi! Chính những hình ảnh này là điều tôi muốn quên đi, muốn không bao giờ nhắc tới. Có lẽ nào chính chúng đã làm tôi thành kẻ mất hồn, kẻ không khóc nổi ra nước mắt.
*
* *
Tôi sẽ còn nhớ đến suốt đời cái ngày Tây càn, cái ngày đã làm tôi tan nát.
Hôm ấy, nghe lời thầy tôi, chị Nguyệt dắt tôi chạy trước, còn thầy u tôi dìu nhau chạy sau. Tôi thuộc những đường ngang ngõ tắt trong làng như lòng bàn tay. Cho nenekhoong phải chị Nguyệt dắt đường, mà chính tôi đã kéo chị tôi đi. Tôi không chạy theo đường chính. Tôi đi tắt qua những vườn, những trổ tre, nên chỉ một lát sau chúng tôi đã đến đồng mà chẳng gặp ai cả. Chị em tôi lội ra giữa cánh đồng Miễu, tìm một ruộng lúa tốt um rồi trốn ở đấy. Đáng lẽ theo lời thầy u tôi, thì hai chị em phải chạy đến dốc núi Bò. Qua dốc ấy là ổn, bởi vì đã đến gần rừng. Nhưng nhìn ra còn đường đến núi Bò lại thấy người chạy như vịt và Tây nổ súng đì đẹt đuổi theo. Chị Nguyệt thấy thế, quyết định cứ ở lại ruộng lúa cao.
Hai chị em ngồi đấy có đển nửa tiếng vẫn thấy rất im lặng. Nhưng rồi có tiếng xì xồ đâu đấy. Hóa ra chị em ngồi thụp xuống nên không trông thấy lũ lính đi càn đã sục cả xuống cánh đồng để tìm Việt Minh. Chị Nguyệt vội vã thì thầm vào tai tôi:
- Em bò vào giữa ruộng lúa đi. Nằm bẹp xuống nước. Không được động đậy.
- Còn chị?
- Chị bò sang ruộng bên kia…
Tôi theo lời chị, tôi như con lươn trườn một loáng đã chui vào giữa ruộng lúa xanh um. Và tôi nằm im như chết. Tôi ngơ ngẩn thật. Thực ra, chung quanh đấy có ruộng lúa nào tốt để có thể làm chỗ trú ẩn được đâu. Chẳng qua là chị cũng như bố tôi thôi. Họ muốn bảo vệ tôi, vì tôi là đứa con trai độc nhất trong dòng họ.
Về sau này, nghe kể lại, tôi mới biết chị Nguyệt bị bắt tập trung ở đình làng. Dạo ấy, chị tôi ăn mặc rách rưới. Cái quần thì bạc phếch vá chằng vá đụp. Cái áo thì thùng thình. Hình như là cái áo của thầy tôi cắt ngắn ống tay đi. Không phải là chị tôi không có quần áo tươm tất, vừa vặn. Lần chạy giặc trước, khi giặc yên trở về làng, u tôi nhìn bộ quần áo gọn gàng trên người chị Nguyệt liền rên lên:
- Con ơi là con! Sao mày ăn mặc thế kia? Người thì mơn mởn phây phây. Cái yếm thì căng ra. Ăn mặc thế kia có khác nào mỡ để miệng mèo. Gái thời loạn, đừng có phơi ra mà chết. Làm sao để che giấu đi. Làm sao để cho xấu đi…
Và từ đấy, u tôi giấu cái gương của chị tôi đi. Và bắt chị ăn mặc sao cho xấu xí, lem luốc. Cái áo, cái quần thì bạc phếch, thùng thình. Các đường cong trời ban cho người con gái làm duyên đều biến đi hết.
Ở sân đình mấy thằng lính phụ tá cho viên trung úy Tây lai Bernard gãi đầu gãi tai nói với sếp của chúng:
- Thưa trung úy… Cái đám kia ạ…
- Toàn là đàn bà con gái…
- Bẩm, trong đó có lẫn cả Việt Minh. Không nên để sót….
- Thì làm sao?
- Chúng em khám ạ…
- Ừ thì khám. Nhưng vừa vừa phải phải thôi nhé. Đừng để cho chúng kêu la là không được với ông đại úy đâu…
Được phép rồi, một tiểu đội cả Tây đen, Tây trắng lẫn lính ba ti dăng (1) bắt tất cả đàn bà con gái ra khám xét.
- Bẩm quan lớn. Con còn bé ạ
- Bẩm quan lớn. Con già lão rồi ạ.
Một chuẩn úy nói to:
- Trẻ con hay bà lão cũng khám tuốt tuột. Việt Minh ngụy trang khéo lắm. Cứ tốc áo lên, khám vú là rõ tất cả. Đứa nào chưa có vú hay vú quả mướp thì thả ra. Tất cả những đứa vú mẩy đều giữ lại. Họ đều là tráng niên, đều là Việt Minh.
Một lính ba ti dăng tếu táo:
- Thế đứa có vú sữa thì sao ạ?
- Vú có sữa càng tốt chứ sao – Đứa ấy mới là Việt Minh thứ thiệt.
- Vậy thì đem tra khảo lũ đàn bà Việt Minh này ở đâu ạ?
- Tùy thích. Nơi nào càng kín càng tốt.
Đàn bà làng tôi, tất cả đều cuống lên. Sắp xảy ra vụ cưỡng hiếp cả làng. Mỗi thằng lính túm một người đàn bà sau khi đã khám vú. Chúng lôi xềnh xệch họ đi. Tiếng kiêu la vang trời. Chỉ riêng viên trung úy không tham dự. Hắn khoanh tay đứng ở thềm đình.
May thay, lúc đó ông lý trưởng trông thấy chị Nguyệt của tôi đang bị một tên lĩnh da đen bế đi. Chị tôi giãy giụa và gọi ông lý:
- Ông lý ơi! Cứu cháu với.
Chả biết chị Nguyệt đã lọt vào mắt ông lý tự lúc nào, hay là chỉ khi chị Nguyệt cầu cứu đích danh ông, ông mới nảy ra ý nghĩ biến chị tôi thành bà lý năm. Dù sao chăng nữa, hành động bấy giờ của ông lý cũng được hàng xóm khen ngợi. Ông vội vàng chạy sang nhà ông giáo là nơi viên đại úy Thalan chỉ huy cuộc càn đang ngồi nói chuyện.
Đại úy Thalan là một nhà quân sự có học, có nguyên tắc. Được ông lý báo tin, Thalan chạy ngay ra sân đình và hét lên:
- Tất cả dừng lại!
Ông rút súng lục bắn chỉ thiên. Ông ta mời lý trưởng và ông giáo đứng bên mình. Ông bắt đám lính vô kỷ luật phải xếp hàng nghiêm chỉnh. Ông cũng mời dân làng tập hợp lại và diễn thuyết.
- Người Pháp chúng tôi đến đây chỉ cốt đánh đuổi Việt Minh. Chúng tôi hoan nghênh tất cả những ai chăm chỉ làm ăn và không chống đối lại chúng tôi. Nếu những người lính của tôi có làm điều gì xúc phạm tới các bà các chị, khi về đồn, tôi sẽ phạt họ thật nặng. Mong các vị kỳ hào, bô lão trong làng hiểu cho những ý định tốt của chính phủ Pháp.
Rồi quay sang những người lính của mình, ông ta nói:
- Các chiến hữu của tôi cần phải biết rằng chúng ta là những chiến binh của nước Pháp văn minh và vinh quang. Chúng ta đem ánh sáng đến cho xứ sở này. Vậy, đối với người dân, chúng ta phải là bạn. Nhưng đối với Việt Minh, kẻ thù của chúng ta, chúng ta quyết không nương tay. Các bạn hãy giải tán, vào làng lục soát từng nhà, quyết không bỏ sót một tên Việt Minh.
Trong khi diễn ra bao nhiêu chuyện ngoài đình, tôi vẫn nằm im trong ruộng lúa. Thấy yên yên, tôi bò ra gần mép ruông, nhìn qua bờ cỏ, thẳng về phía ngôi miếu hoang xa xa. Ngôi miếu cô hồn. Bên trong chỉ có chiếc bệ thờ bằng gạch trên có pho tượng. Trước cửa miếu có một cây bàng rất xanh tốt làm chốn nghỉ trưa cho người làm đồng. Miếu làm trên gò, nơi đây vào đêm mưa phùn thường thấy ma trơi như những quả bóng xanh lơ bay đi bay lại. Người ta bảo gò miếu là nơi chôn người chết giặc ngày xưa. Xác chết gom lại thành nấm mồ hoang tập thể. Nhiều ma lắm nên miếu rất thiêng. Trẻ chăn trâu chúng tôi tuy nghịch ngợm nhưng cũng không dám phá phách. Chẳng thế mà pho tượng làm đã rất lâu vẫn không hề suy suyển. Tượng nặn bằng đất mà tay chân vẫn không bị gãy. Mặt sơn trắng, chỉ bị bạc đi với thời gian, chứ không bị vẽ than nhem nhuốc. Đặc biệt pho tượng có đôi mắt xếch bằng thủy tinh nên trông rất dữ tướng. Chỉ nhìn vào mắt đã thấy khiếp. Cho nên miếu cô hồn đã bao đời nay vẫn còn đủ cả cửa.
Cái ngày đặc biệt ấy, từ ruộng lúa, tôi thấy mấy lần bọn lính Tây dẫn người vào ngôi miếu đó. Rồi những tiếng kêu la từ ngôi miếu thoát ra. Tôi nghĩ bụng: chúng nó đưa người vào miếu hoang tra tấn. Ba lần thì phải. Cả ba lần đều nghe thấy người kêu khóc, rồi lại bặt im. Lần cuối cùng, nghe thấy cả tiếng thét, tiếng chửi rủa và tiếng súng. Tôi tự hỏi: “Không biết chúng nó bắt ai?” Tôi run lên sợ hãi. Tôi nghĩ bụng: “Lỡ chúng đi ra và nhìn về phía mình thì sao” Nghĩ vậy, nên tôi lại lùi sâu vào ruộng lúa. Nhưng cũng từ lúc ấy, sự tò mò nảy sinh ra trong óc tôi. Tôi không phải là đứa can đảm, nhưng tôi nóng lòng chờ cho bọn giặc rút quân. Tôi rất muốn đẩy cánh cửa miếu, nhìn vào bên trong. Chắc có người chết nhưng thể nào cũng còn người sống. Không biết người nhà tôi có ai bị bắt vào đó không? Hay chỉ bị ra đình… Nghĩ vơ vẩn mãi, tôi lại nghĩ tới chị tôi, thầy u tôi.
Đến chiều thì giặc rút. Tôi thấy tiếng xe nổ máy. Tôi trông thấy người chạy về làng. Tôi cũng đứng lên khỏi ruộng lúa song tôi không về làng. Tôi đi về phía miếu cô hồn.
Trong cả làng, tôi là người đầu tiên đến miếu sau trận càn. Tôi đứng dưới gốc bàng nhìn thấy cửa miếu vẫn đóng im ỉm. Tôi lắng tai nghe. Quái lạ! Không có tiếng người bên trong. Tôi kêu lên:
- Cháu đây! Thằng An đây! Có ai còn sống không?
Không thấy tiếng trả lời, tôi liền tiến gần lại. Lúc ấy đã xế chiều. Ánh nắng xiên khoai nên lọt qua được tán bàng chiếu đúng vào bậc thềm đạu kín những ruồi. Bước chân của tôi làm ruồi bay vù vù lên không trung để lộ ra cái bậc thềm toàn máu đỏ. Máu từ trong miếu chảy ra.
Thằng Tây cuối cùng ra khỏi miếu thật cẩn thận. Khi khép cửa lại nó dùng một đoạn tre làm cái chốt xuyên qua hai đinh khuy giữ cho cửa khỏi mở. Tôi rút chốt. Hai cánh cửa mở tung và một vật nặng ngã ra. Tôi hét to vì vật nặng đó là một cái xác người chết. Mắt tôi trợn tròn, vì nền miếu là một ao máu. Lúc trước có xác người dựa vào cửa nên máu chảy ra ít. Ngay xác người đổ dọc, cái cửa lại mở nên máu chảy ào ra. Chảy qua thềm, xuống đến gốc bàng. Tôi hết hồn nhìn vào những xác người bị trói. Tất cả đều bị cắt cổ. Có cả những đầu người bị cắt rời ra. Những cái đầu. Những cái xác không đầu. Có cả những người bị trói đứng vào cột. Cái đầu lâu chưa bị đứt hản còn lủng lẳng treo trước ngực. Có thể cuộc hành lạc của lũ lính sắp sửa xảy ra ở ngoài đình bị ngăn chặn làm lúc lính bất mãn, nổi điên lên mới xảy ra vụ thảm sát man rợ đến thế.
Tôi hết hồn hết vía, chạy vội ra đường. Vừa chạy vừa kêu:
- Bớ làng nước! Tây nó cắt cổ người ta ở miếu cô hồn – Chạy giữa làng tôi cũng kêu to như vậy. Về đến nhà mới biết u tôi đã chết. Còn thầy tôi cũng không thấy mặt. Nghe lời líu ríu của tôi, chị Nguyệt vội chạy ra miếu cô hồn. Trận càn ấy, Tây đã cắt cổ mười lăm người làng tôi, trong đó có thầy tôi. Ngay tối hôm ấy, tôi lên cơn sốt đùng đùng.
*
**
Mỗi ngày sư cụ Vô Úy chỉ ăn một bữa vào buổi trưa. Hầu hết thời gian còn lại người dành để tham thiền, tụng kinh và đọc sách.
Còn bốn chúng tôi thì ăn hai bữa: bữa sáng và bữa tối mịt. Thường ngày, bà vãi Thầm, sư Độ và chị Nguyệt làm vườn, làm ruộng cho đến sẩm tối mới nghỉ. Bà Thầm và chị tôi vội rút rơm, rạ nổi lửa. Đun bằng rơm rạ chín rất nhanh. Mọi hôm, cứ đến nhập nhoạng là tôi bắt đầu dọn mâm bát.
Cái hôm tôi ra rừng thông, nhớ lại câu chuyện bi thảm trước kia để cho nước mắt trào ra, mọi người ngạc nhiên vì mãi không thấy mặt tôi. Cả khi sư Độ lên gác tam quan đánh trống thu không xong, tôi vẫn cứ biệt tăm. Đến khi ấy, mối ngạc nhiên chuyển thành lo ngại. Mọi người bổ nhào đi tìm. Tìm khắp xó xỉnh trong chùa, ngoài vườn đều không thấy. Khi trời nhập nhoạng, chị Nguyệt đã ôm mặt khóc, mọi người chuẩn bị đèn đi tìm bên ngoài chùa. Giữa lúc ấy, con chó vàng cứ nhìn mọi người mà sủa gâu gâu. Sư Độ nhìn con chó chợt nảy ý kiến:
- Con chó này đêm vẫn nằm ngủ với chú An ở cối xay lúa. Nó đã quen hơi chú ấy. Cứ theo nó chắc chắn sẽ tìm thấy chú tiểu.
Quả như vậy! Con chó như hiểu mọi người. Nó lon ton chạy trước dẫn họ ra khu rừng thông… Nó đánh hơi trên mặt đất rồi dẫn họ đến bụi cỏ ở bìa rừng, nơi tôi đang thiếp ngủ. Sau đó, sư Độ kể lại với tôi rằng tôi ngủ mê mệt mà vẫn khóc. Tôi khóc cả trong giấc mơ. Có lẽ những hòn cục vón lại trong tim tôi đều được dịp mà trôi ra hết. Sư Độ sờ vào khuôn mặt đầm đìa nước của tôi, sờ cả vào trán rồi kêu to:
- Thằng bé nóng như hòn than.
Sư bác vội cõng tôi lên lưng về chùa. Tối hôm ấy, tôi không ngủ bên cối xay lúa nữa. Sư cụ bắt tôi phải ngủ cùng buồng sư Độ - Tôi cần phải được chăm sóc. Đó là trận ốm nặng đầu tiên của đời tôi. Nó là một bước ngoặt. Bởi vì qua nó tôi mới hiểu tôi thực sự là thành viên của ngôi chùa. Con sốt kéo dài đến hơn một tuần. Qua đợt ốm tôi gầy trơ xương. Mọi người giúp tôi dần hồi phục. Da thịt tôi dần dần trở lại. Sư bác bảo:
- Da thịt cũ của cậu tiêu hết rồi. Da thịt mới này là của chùa đắp cho.
Có lẽ vậy! Hình như trước khi vào chùa tôi phải được lột xác. Tôi buộc phải để lại tất cả tục lụy từ thân xác đến tâm hồn ở ngoài cổng tam quan.
Cũng đến ngày ấy, tôi mới hiểu cả sư cụ, cả sư Độ đều là những ông thầy thuốc, nhất là sư Độ. Ông ta là một thầy lang chỉ dùng lá lẩu. Không hiểu trong cái vóc dáng thô tháp của ông còn ẩn chứa biết bao điều bí ẩn khác nữa?
 
Chú thích:
(1) Partisan: người Việt vào lính Pháp.
0
16
Đại sư huynh
 
Lúc sư phụ tôi đau ốm, tôi đã mười bốn, mười lăm tuổi. Tôi đã đủ trí khôn để hiểu những điều phức tạp nhất. Tôi cám ơn cái quãng thời gian quý báu ấy. Nó cho phép thầy trò tôi ngày đêm luôn ở bên nhau để chuyện trò đủ mọi thứ. Quãng thời gian ấy đã giúp tôi khai mở tâm hồn. Tâm hồn tôi là những trang giấy trắng tinh dễ dàng thẩm thấu mọi điều tốt đẹp cũng như xấu xa. Có lẽ thầy tôi vui mừng vì người cho rằng đây là một duyên may. Và thầy là người đầu tiên đã viết lên trên những trang giấy trắng. Một bận, thầy hỏi tôi:
- Đã bao giờ con nghĩ đến câu hỏi: “Tại sao trên cõi đời này lại có rất nhiều người đi theo đạo Phật?”
Thực ra, điều ấy tôi chưa khi nào nghĩ tới. Hai chị em tôi là những kẻ khốn cùng. Cha mẹ chúng tôi chẳng may chết hết; sư cụ thương tình dang tay ra cứu nạn. Sau đó tôi trở thành chú tiểu. Đơn giản chỉ có vậy thôi.
Sư phụ để tôi suy nghĩ rất lâu, sau đó người mới nhẹ nhàng nói rằng:
- Con người ta, khi trông thấy sự độc ác, ai ai cũng bất bình.. Khi thấy người khác đau khổ, ai ai cũng động lòng trắc ẩn, thương xót. Lòng trắc ẩn là bước đầu của tâm từ bi. Tâm từ bi người nào cũng có. Đạo Phật lấy tâm từ bi làm gốc. Những tôn giáo lớn trên thế giới như đạo Phật, đạo Thiên Chúa đều rao giảng lòng từ bi, tình thương. Chính tâm từ bi, tấm lòng cao thượng sẵn có ở tất cả mọi người đã tạo nên sự hấp dẫn của đạo Phật. Lẽ tất nhiên giáo lý đạo Phật còn nhiều điều sâu sắc hấp dẫn con người như tứ diệu đế, bát chánh đạo, vô ngã, vô thường trung đạo v.v... nhưng đó là điều đến sau. Bước đầu tiên dẫn người ta đến với Phật thông thường vẫn là sự hấp dẫn của lòng từ bi. Lòng từ bi thật giản đơn, nhưng sức hút của nó thật kỳ lạ và vô biên. Có những con người có trái tim rất cằn cỗi, có thể nói độc ác, nhưng rồi có một phút nào đó, đột nhiên nghe được diệu âm của tiếng từ bi. Và thế là đột ngột thay đổi, và thay đổi hoàn toàn. Cứ như thể lột xác vậy.
 
Nói rằng từ bi là điều giản dị, ai cũng có và ai cũng hiểu, thực ra để hiểu nó và thi hành nó đâu có phải chuyện dễ.
Tôi vẫn tự hào rằng tâm hồn mình là một tờ giấy trắng tinh để thầy tôi viết những điều cao thượng tốt đẹp của đức Thế Tôn lên đó. Tuy nhiên, thực ra đâu phải như vậy. Tôi theo hầu sư phụ tôi đã mấy năm rồi, thế mà vẫn có nhiều đêm, tôi vẫn mơ thấy cái cảnh hãi hùng trong ngôi miếu hoang. Mơ thấy cái xác thầy tôi nằm trên vũng máu, đôi mắt trắng toát mở trừng trừng, cái cổ bị cắt mở ra toang hoác. Sau mỗi giấc mơ nhắc lại ký ức đau buồn xưa, thú thực lòng tôi lại sưng tấy lên sự hận thù. Nói đúng ra, mấy năm ở chùa, ánh sáng từ bi đã lóe lên trong tâm hồn tôi rồi. Tuy nhiên, chắc nó còn leo lét lắm. Lạy đức Phật từ bi. Sao đã mấy năm rồi mà con vẫn chẳng quên. Chẳng thể nào vươn được đến chỗ cao thượng. Thú thật, sự hận thù vẫn gặm nhấm lòng con. Cái hôm tôi đẩy xe bò đưa thầy tôi từ nhà giam phố huyện về chùa, tôi hỏi thầy tôi:
-    Thầy ơi! Sao chúng nó tàn ác thế?
-    A di đà Phật - Thầy tôi trả lời bằng câu niệm Phật chung chung. Tức là thầy tôi không trả lời hay né tránh câu hỏi.
Tôi lại hỏi tiếp:
-    Thầy ơi! Thầy có thấy căm thù chúng không?
Thầy tôi bảo:
-    A di đà Phật! Thực ra thầy vẫn tu chưa trọn. Bị người ta ngược đãi quá đáng, lòng thầy vẫn dâng lên oán giận.
Sự thành thật của thầy làm tôi ngạc nhiên và kính phục. Đối với một chú tiểu nhỏ bé như tôi, sư phụ cũng không giấu giếm sự kém cỏi của mình. Điều ấy còn có thể có nghĩa là thầy tôi muốn đạt tới chỗ vô hạn, đạt tới chỗ cao thượng tột cùng.
Thú thật, có những buổi chiều ở trên gác chuông tam quan, đánh những tiếng chuông ngân nga, tôi cứ suy nghĩ miên man, và có lúc tôi chợt xấu hổ. Thực ra, suy nghĩ tâm hồn mình ví như một tờ giấy trắng tinh là một sự kiêu ngạo vô lối. Nhất là khi tâm hồn tôi đã bị một vết đỏ làm hoen ố. Tuy tôi còn nhỏ, nhưng cái chết của cha tôi đã ghi một vết hằn rất sâu, sự hận thù đã có lúc làm đầu óc tôi đen ngòm, tê dại. Sự yêu thương của thầy tôi, tiếng chuông chùa vang lên hàng ngày ngân nga, thực quả cũng làm vết thương hàn gắn lại, nhưng sự đau đớn đâu phải đã hết. Thỉnh thoảng, gặp một dịp nào đó, vết thương lại tấy lên. Nguyên nhân của sự sưng tấy lắm khi rất giản đơn. Ví dụ buổi chiều ngồi trên gác chuông nhìn xuống thấy người ta đi làm đồng về. Những đứa trẻ trạc tuổi tôi ngồi trên lưng trâu, có đứa nằm sấp trên lưng trâu ôm lấy cổ trâu, có mấy đứa con gái vừa dắt trâu vừa ríu ra ríu rít. Cảnh tượng thật thanh bình êm đềm. Thế mà bỗng dưng tôi buồn, buồn vô cớ, buồn bâng quơ. Nước mắt bỗng dâng lên mi, cứ chực tràn ra. Tôi là đứa trẻ dễ xúc động. Tủi phận chăng? Nỗi thèm khát một gia đình êm ấm chăng? Ghen tị với đời chăng? Tôi cũng chẳng hiểu được lòng mình nữa. Có lẽ chính vì thế nên tự thẳm sâu trong lòng, tôi đã nhận sư cụ là cha mình. Cái hôm tôi đẩy xe bò, đưa người cha thứ hai của tôi từ phố huyện trở về, nhìn cái thân hình lở loét, chín phần chết một phần sống của thầy, thú thật là lòng hận thù trong tâm hồn tôi lại như sóng biển trào lên. Từ bi ư? Hận thù ư? sống thế nào mới phải? Đó là câu hỏi lớn trong tôi. Tôi đã nói tôi không phải là tờ giấy trắng. Ảnh hưởng đến tâm hồn tôi, ngoài cụ ra, còn có thầy giáo Hải. Thầy giáo có những luận giải về cuộc sống theo một góc độ khác. Hơn nữa, lại còn những sự kiện bên ngoài xảy ra hàng ngày... Ngôi chùa đâu có thể đóng kín cửa đối với thế gian... Tất cả đều góp phần vào, cũng có thể nói tất cả đều có thể là mực để vẽ vào tâm hồn tôi. Dù những nét vẽ ấy nguệch ngoạc, thì chúng cũng vẫn là những nét vẽ.
Trong chuỗi ngày đặc biệt ấy, sư phụ đã kể cho tôi nghe tất cả đời mình. Trong đời mỗi con người, thường có những quãng đời đau ốm kéo dài phải nằm liệt trên giường bệnh. Đó là những chuỗi ngày rỗi rãi, không phải làm việc. Thông thường ở những thời điểm đó, người ta hay nghĩ lại những ngày đã sống. Đó là những hồi ức quý báu. Có thể nói, đó là những tổng kết nhỏ để con người rút ra những kinh nghiệm cho quãng đời sau đó.
 
Đối với tôi, được nghe những hồi ức của thầy, tôi như được đọc một cuốn sách, một cuốn sách sinh động, mà đôi đoạn cứ như truyện cổ tích. Có đoạn rất huyền hoặc, khó mà tưởng tượng nổi. Thầy tôi kể về người đệ tử đầu tiên của mình.
Vị đại sư huynh của thầy tôi là một động vật. Sư huynh là một con hổ. Hồi tu trên Yên Tử, một bận đi rừng, thầy tôi nhặt được chú hổ con gần chết. Mẹ nó bị những người thợ săn giết chết. Mấy hôm trước, thầy bắt gặp mấy người khiêng con hổ lớn qua trước am. Sư phụ tôi nói:
- A di đà Phật. Đất đai ở đây thiếu gì. Sao các thí chủ không khai khẩn mà sống. Tội gì làm nghề săn bắn cho thất đức.
- Thưa sư phụ. Cũng là cái nợ đồng lần cả thôi. Trước kia chúng tôi làm thợ đốt than. Chính con hổ này đã vồ chết một người của chúng tôi. Vậy phải làm thế nào? Chúng tôi phải rình mò mãi mới giết được nó. Tưởng cũng là giúp dân vùng này được yên ổn làm ăn. Sư phụ mắng chúng tôi là mắng oan đấy ạ.
- A di đà Phật - Sư phụ tôi chẳng còn biết nói ra sao. Một người trong nhóm còn nói thêm:
- Chúng tôi giết nó nhưng còn một chút thương tình đấy. Nó bị mắc bẫy, chông đâm phòi ruột, nhưng còn chạy được một quãng mới chịu ngã. Lúc chúng tôi đến, thấy bên xác nó có một chú hổ con. Chúng tôi không bắt hổ con. Phường chúng tôi đã có nhời nguyền. Đi săn không bao giờ tuyệt diệt. Những con vật còn nhỏ không giết. Tuy không bị bắt, nhưng chú hổ con chắc là sẽ chết.
Bọn phường săn nói xong lên đường. Thầy tôi ở lại trong lòng băn khoăn. Thầy tôi cứ nghĩ rằng người thợ săn chẳng nói toạc ra, nhưng có lẽ lời nói ấy là một lời gửi gắm. Sư phụ tôi thấy mình phải có trách nhiệm đi tìm con hổ con bị để lại trong rừng.
Đến hôm sau mới tìm ra nó. Không được bú sữa mấy hôm, chú thú hoang lả đi gần chết. Trên mép con hổ nhỏ còn thấy máu khô. Có lẽ con vật không có sữa mẹ đã liếm máu trên cỏ mà sống tạm. Nó cũng khôn đáo để. Đến lúc đói gần mê man, nó còn biết lăn xuống một cái hố to có cỏ rậm che phủ. Thầy tôi đi tìm, trông thấy một con cáo đuôi đỏ đang đánh hơi trên mặt đất. Thấy ông sư, con cáo hoang chạy trốn, nhưng chỉ một lúc sau lại thấy cái đuôi đỏ xuất hiện tại vùng đất ấy. Thấy vậy, thầy tôi sinh nghi, liền quay lại tìm kiếm kỹ càng hơn. Vạch những bụi rậm, tìm những hang hố. Nhờ lục soát kỹ nên cuối cùng mới tìm ra chú hùm con mồ côi bất hạnh.
 
Thầy đem hổ về, lấy nước cháo bón cho. Rồi lại nhai cơm mớm cho như ta nuôi trẻ nhỏ. Bù trì ôm ẵm như vậy chừng nửa tháng thì chú hùm con hoàn toàn hồi phục. Từ đấy, nó như con chó nhỏ suốt ngày đêm bám gót sư thầy. Thầy tôi đọc kinh nó cũng biết nghe kinh. Thầy tôi ngồi thiền, nó cũng ra hè nằm lim dim đôi mắt. Thầy đặt pháp hiệu cho đại sư huynh của tôi là Khoan Hòa. Sư huynh oai phong lắm. Không có việc
 
gì, Khoan Hòa thường nằm ở đầu am như một con mèo vàng nằm ngủ. Hễ có người quen đến, Khoan Hòa mở mắt ra rồi nhắm lại ngay coi như chẳng có việc gì xảy ra. Khách cứ tự nhiên vào am. Nhưng cứ có người lạ đến, thì đôi mắt mở ra, không chịu khép lại và sáng quắc. Nếu kẻ lạ có hành động bất thường thì Khoan Hòa từ từ đứng lên và gừ gừ trong họng. Mới chỉ có từng ấy cử chỉ thôi, khách đã hết hồn run lẩy bẩy rồi kêu cứu. Thầy tôi thấy vậy, từ trong am bước ra quát khẽ:
-  Chú Hòa. Đừng làm vậy kẻo khách sợ.
Chỉ trông thấy bóng thầy tôi là đại sư huynh đã vội nem nép nằm xuống.
Thầy tôi, về sau, kể lại chuyện ấy, đôi mắt tiếc thương vô hạn và thêm lời nhận xét:
- Thực ra sư huynh con tính nết đúng như cái tên Khoan Hòa mà thầy đặt cho. Hiền hòa lắm. Chưa làm thương tổn ai bao giờ. Cứ ít lâu sư huynh con lại bỏ nhà đi ít hôm. Nó vào những khu rừng thật xa, thật sâu. Chẳng ai gặp nó bao giờ. Và chính ta cũng chẳng biết nó làm gì trong những ngày ấy. Chỉ biết rằng khi trở về, nó lại hiền khô. Về sau, khi Khoan Hòa quá lớn, ta phải đào cho nó một cái hang bên sườn núi rồi rào tre chung quanh, kiểu như một cái cũi lớn để cho mọi người đỡ sợ.
Chú hùm có một tài năng đặc biệt, đó là tài có thể đoán nhận ra tâm tính con người ta. Ngày xưa, khi sư huynh Khoan Độ đến am, anh mê man bất tỉnh và người cõng anh là Thuồng Luồng. Chàng tướng cướp dũng mãnh này đặt Khoan Độ trước cửa am và đập cửa. Lúc Thuồng Luồng quay lại, anh ta bỗng hét lên. Một con hùm lớn đang ghé mũi xuống mặt Khoan Độ để ngửi. Thuồng Luồng vội thét lên khi con mãnh thú mắt sáng quắc nhìn anh và nhe răng gầm gừ. Cũng may lúc đó sư Vô Úy xuất hiện. Thuồng Luồng ở am mươi hôm mà vẫn không tài nào làm quen được với con vật kỳ lạ. Cứ thấy anh là nó nhe răng, nó gầm gừ. Lắm lúc cứ như thể nó đang trong tư thế đang sắp nhảy lên vồ.
- Ta biết sư huynh con còn mang nhiều chất rừng rú hoang dại trong người. Phải gột rửa dần dần thôi. Nhanh cũng chẳng được. Người dạy thú, mỗi lần con vật nghe lời, lại thưởng cho một miếng ăn. Ta không làm thế. Mỗi lần sư huynh con nổi xung, gầm gừ, ta lại ôm cổ nó mà vuốt ve, xoa dịu. Ta ghé mồm gần tai nó thì thầm “Đừng nổi nóng con ơi. Nóng giận làm ta mất khôn. Nóng giận sẽ tiếp nóng giận. Như sóng càng lúc càng mạnh. Con sóng sau hung dữ hơn con sóng trước. Chi bằng hãy nhắm mắt lại. Hãy tha thứ. Hãy khoan dung. Thế đấy. Thật mượt mà như bãi cỏ xanh. Thật lắng trong như hồ lặng sóng”. Ta nói nhẹ nhàng êm dịu. Ta không biết con vật có thể hiểu được tiếng người không. Nhưng ta biết lời từ bi của đức Phật thấm vào tay ta. Tinh thần của Phật nhuốm vào giọng nói, ánh mắt và vẻ mặt của ta. Nhất là vẻ mặt. vẻ mặt có tiếng nói đúng như tâm hồn ta suy nghĩ. Khó giấu đi được. Chính vì vậy, sư huynh con có thể biết con người qua vẻ mặt. Chính vì vậy, sư huynh con biết được Thuồng Luồng là người đã làm nhiều tội ác khó rửa cho sạch. Sự giảng dạy lòng từ bi của ta chắc cũng làm cho đức tính cao thượng ấy thức dậy trong lòng Khoan Hòa. Ta tin như vậy, vì sư huynh con đã bớt ác cảm với Thuồng Luồng. Tuy vậy hai bên vẫn không thân được với nhau. Và khi trông thấy anh ta, sư huynh con không gầm gừ nữa nhưng vẫn không hết được nét mặt hầm hầm rồi lầm lủi bỏ đi. Đối với Thuồng Luồng thì thế, nhưng đối với Khoan Độ sư huynh con lại tỏ ra khác hẳn. Không biết ngoài vẻ mặt, mùi vị từ thân thể con người tỏa ra biểu lộ chút gì cái tâm tính ẩn giấu bên trong không. Khi Thuồng Luồng đặt cái xác sư huynh Khoan Độ của con trước cửa am. Từ bên trong nhìn ra, ta thấy đại sư huynh của con ghé mũi sát mặt Khoan Độ rồi đánh hơi rất lâu. Lại còn thè lưỡi ra liếm lên mặt Khoan Độ, dáng vẻ không gây hấn, hoàn toàn hiền lành. Khi khỏi vết thương, Khoan Độ rất dễ dàng thân với Khoan Hòa. Ngoài ra, chỉ độc nhất Khoan Độ là người có thể ôm lấy cổ đại sư huynh của con. Thú thật, có lẽ chính vì thế nên ta mới thu nhận Khoan Độ làm đệ tử. Ta tin là đại sư huynh đã ngửi thấy căn duyên trên người Khoan Độ. Còn Thuồng Luồng thì khác, anh ta chưa có căn duyên để sống trong am cỏ.
 
Sư phụ kể chuyện về đại sư huynh của tôi đến đây bèn dừng lại. Tôi nhìn vào đôi mắt của người chợt nhận ra một nỗi buồn không tả được... Thầy tôi run run kể tiếp:
- Rồi đến một đêm, ta và Khoan Độ đang ngủ trong am, bỗng thức dậy vì những tiếng động khác thường. Uôm uôm... Đại đệ tử của ta, chú hùm Khoan Hòa đang ra sức kêu náo động cả khu rừng. Tiếng kêu làm lũ khỉ ngủ trên cây dẻ cũng thức giấc cất tiếng kêu theo. Cứ như thể rừng động. Ta và Khoan Độ mở cửa ra sân. Hóa ra chú hổ sủa trăng. Bóng trăng qua những tán lá chảy xuống, tạo thành những vũng vàng lỗ chỗ loang loáng trên sân am. Hùm Khoan Hòa đứng mà kêu, ngửa cổ mà kêu. Nó bước đi loanh quanh cứ như thể ngửi thấy gì trong làn gió rừng hiu hiu thổi. Ta ngó quanh. Khoan Độ phải đi quanh am thăm dò động tĩnh. Mấy vòng vẫn chẳng thấy gì khác lạ. Ta bèn đến bên chú hùm. Ôm lấy cổ nó, vuốt ve an ủi: “Con ơi! Con nhớ rừng chăng? Thì đi đi. Hãy về với suối, với hang, với rừng đại ngàn cho đỡ nhớ. Bao giờ nguôi ngoai trong dạ thì trở lại với thầy”. Con vật nghe nói, chỉ hít hít người ta như muốn nói điều gì mà không diễn tả được. Ta dắt nó ra rừng nhưng nó lại quay về. Ta chịu không hiểu nổi hùm đang nghĩ gì.
Đến trưa hôm sau, có ba người khách lạ vào am xin nghỉ nhờ. Hùm Khoan Hòa lúc ấy ở trong hang có rào chắn. Nó đang lim dim ngủ bỗng chồm dậy, gầm gừ và liên tục đi đi lại lại, chẳng chịu dừng chân. Ba người lạ mặt ra sau am thổi cơm. Ăn uống xong họ lễ phép chào hỏi rồi tiếp tục lên đường. Bọn khách đi xa rồi mà hùm Khoan Hòa vẫn bồn chồn đi lại. Ta bảo nó: “Ta hiểu tại sao đêm qua con kêu và hôm nay con bồn chồn như thế. Có phải con đã ngửi thấy, đã nhận ra đó là những con người đằng đằng sát khí. Ta cũng nhận ngay ra họ và bảo: “Ta không biết các anh là ai nhưng biết các anh có mưu đồ bất thiện. Đây là nơi tu hành, nơi đất Phật. Hãy từ bỏ những dự định đen tối. Có nhân là có quả. Hãy tránh nhân ác kẻo mang vạ vào thân. Họ chối đây đẩy, thề sống thề chết là trong sạch. Ăn cơm xong, họ đi liền.
Sư Khoan Độ cảnh giác hơn thầy tôi. Mấy hôm sau, sư đi lùng sục khắp vùng. Sư đã tìm thấy một tảng thịt làm mồi và một cái cạm bẫy hổ. Sư liền đi tìm hiểu khắp vùng, vốn xuất thân từ chốn giang hồ nên Khoan Độ tìm ngay ra tung tích của đoàn người chẳng khó khăn gì.
Đám này chắc không biết nên mấy hôm sau đã trơ tráo xuất hiện lần nữa. Họ nói dối không biết ngượng rằng họ là đám đi tìm trầm hương. Sư phụ tôi nói:
- A di đà Phật. Các thí chủ nói dối kẻ tu hành này làm gì. Trong các vị đây, có vị nào tên là Ngói. Mấy năm về trước chính bần tăng đã gặp ông phó Gạch. Ông ấy là thợ săn. Ông thân sinh ra thí chủ chết rồi phải không? A di đà Phật, cầu mong cho ông cụ chóng được vãng sinh vào cõi tịnh độ. Thí chủ có biết không. Chính ông phó Gạch đã bắn chết con hổ mẹ sinh ra con hùm ngoài kia đó. Ông cụ giết con mẹ nhưng không muốn mắc tội tuyệt diệt đối với hổ con. Làm người phải có đức hiếu sinh. Ông cụ dù sao cũng có một nửa đức hiếu sinh, thế mà còn mang tội. Chẳng lẽ các thí chủ lại muốn làm trái với lời nguyền của cụ phó Gạch hay sao. Ông cụ phó Gạch sinh ra ông Ngói. Đấng sinh thành ra ông Ngói cũng như đấng sinh thành ra các thí chủ...
Nghe sư phụ tôi giảng dài dòng nhưng có tình có lý, bọn thợ săn trá hình bị lột mặt nạ, cũng thấy ngượng. Họ lại thề thốt rằng quyết không bao giờ đụng chạm đến con hùm mồ côi, người đệ tử quý báu của thầy.
 
Thầy tôi thấy vậy yên lòng. Mà bọn thợ săn cũng giữ lời hứa. Không thấy họ bén mảng tới vùng am thờ Phật của thầy tôi nữa. Cứ tưởng cuộc sống lại được quay trở về bình thường.
Ai ngờ, ác nghiệt thay! Đám thợ săn không giết sư huynh tôi ở gần, nhưng họ lại tìm cách giết sư huynh tôi ở xa. Cũng như mọi khi, một bận sư huynh tôi bỏ am vào rừng thẳm vài hôm. Lần này sư huynh đi đến nửa tháng không về khiến thầy tôi vô cùng lo lắng.
Một đêm, đang ngủ thầy tỉnh giấc, ngồi bật dậy bảo sư Khoan Độ:
- Anh Độ à, anh Hòa gặp nạn rồi. Anh dậy đốt nến đốt nhang lên cho tôi cầu Phật phù hộ cho nó.
Sáng hôm sau, sư bác Khoan Độ cơm nắm lên đường vào rừng thẳng theo hướng đi của đại sư huynh. Không thấy tăm tích. Chỉ được nghe những người thợ đốt than kể:
- Bọn thợ săn gài cạm ở một bến nước, nơi chỉ có vết chân thú dữ. Một con hổ rất tinh khôn bị sa bẫy. Bảo tinh khôn cũng đúng mà bảo nó can đảm cũng đúng. Bọn thợ săn gài cạm, mấy hôm sau quay lại thì chỉ thấy một chiếc chân hùm còn nằm trong cạm. Ở chiếc chân thấy nham nhở những vết cắn gặm. Thì ra con vật bị mắc bẫy đã cắn đứt chiếc chân rồi tập tễnh lủi vào rừng. Theo vết máu, họ tìm đến một chiếc hang sâu thăm thẳm. Con vật đã lê đến đây và chui vào hang, quyết không chịu chết trong tay phường săn.
Hang nhỏ và sâu. Chẳng ai biết có gì chờ đợi mình trong đó. Bọn thợ săn đành thở dài quay về.
Một ông bạn nhà nho lên am thăm sư phụ tôi, nghe câu chuyện, bèn nói rằng.
- Sao cụ lại dạy cho hùm chữ từ bi. Rừng thẳm có luật rừng thẳm. Cụ dạy cho nó chữ từ bi tức là cụ tước mất của nó cái sự bảo vệ sinh tồn rồi.
Thầy tôi nghe vậy chỉ thở dài, rồi ngồi gõ mõ tụng kinh suốt một ngày. Tôi biết thầy tôi buồn vì cái chết của sư huynh tôi nhiều lắm. Buồn mãi đến tận hôm nay. Kể xong câu chuyện, sư phụ bảo:
- Hai chữ từ bi dù sao cũng được nhiều người mang giữ mặc dù mang giữ nó có khi thiệt vào thân. Nhưng nếu hai chữ ấy mà bị mất đi hoàn toàn chắc chắn con người sẽ bị rơi lại vào thời mông muội. Thiếu nó, con người sẽ chẳng còn là người.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.02.2017 12:02:36 bởi Ct.Ly>
17

Đom đóm
 
Sư bác Khoan Độ và cô Nguyệt phải thăm rất nhiều lần và đi ngoắt ngoéo mãi mới tìm được nhà bà Nấm nằm ở đồi Đom Đóm, xóm Trúc. Đó là khu rừng tre nứa. Nhà bà Nấm nằm ở lưng chừng một quả đồi nhỏ. Nhà nằm dưới tán rừng thưa. Thưa nhưng đủ để che giấu con mắt soi mói của những chiếc máy bay bà già có lúc bay là là trên đầu cánh rừng để dò xét. Quả đồi tên gọi Đom Đóm vì ở đây có rất nhiều loài sâu bọ biết bay mang ánh sáng xanh lơ ấy. Cái Huệ thích cái tên ấy vì nó gợi nhớ cho cô nhiều kỷ niệm ở làng Sọ quê nhà. Mà cũng lạ thật! Không hiểu sao đom đóm tập trung ở đây nhiều đến thế. Nhất là ở ven suối, và ở cái ao, tức là một vũng nước rộng, do người ta lấy đá ngăn dòng suối lại. Đom đóm nhiều là do ở đấy ẩm, lại lắm mùn, điều kiện tốt cho sâu bọ phát triển.
 
Những đêm tối trời, ngồi ở thềm nhà bà Nấm nhìn ra, đom đóm từ dưới khe bay lên thật thích. Như thể vỡ tổ đom đóm vậy. Mới đầu chỉ có vài con nối đuôi nhau bay là là chập chờn, tạo thành những vệt dài dài xanh lơ trong bóng đêm. Sau đó, ở đâu mà đom đóm tỏa ra lắm thế. Chúng bay bổng bay la loạn xạ. Cảm giác như một lũ trẻ tinh nghịch đang vui đùa ríu ra ríu rít. Trong đêm đen, những hột sáng long lanh nhảy nhót như sao sa. Cuối cùng, đột nhiên, chúng biến đi đâu hết sạch. Chắc trận gió to vừa mới từ khu rừng tre thức dậy đã xua đuổi, lùa quét chúng sang thung lũng bên cạnh. Nhưng chỉ một lát sau, lại thấy một đợt đom đóm khác từ dưới khe nhoi lên. Cảm giác như có những đợt sóng đèn vô hình, vô thanh đang nối tiếp nhau trườn trôi trong bóng đêm. Hơi thở của núi, hơi thở của rừng phập phồng chăng?
Cả những đêm có trăng ngồi ngắm đom đóm cũng lạ. Lúc ấy, ánh sáng của chúng hòa vào ánh trăng, tuy vậy nhìn cho thật kỹ vẫn thấy bóng của chúng. Trong bao la bàng bạc, chúng chỉ là những vết phẩy mờ và ảo trang trí trên tấm lụa đêm màu sữa loãng.
Chị Nguyệt và cái Huệ thường hay im lìm ngồi bên nhau ngắm đom đóm bay. Chị Nguyệt ít nói, nét mặt lúc nào cũng buồn buồn. Những lúc ấy, nhìn cái dáng nghiêng của chị trong đêm mờ ảo, Huệ thấy sao chị Nguyệt đẹp một cách lạ lùng. Cái Huệ tuy ít tuổi nhưng rất tinh. Nó biết chị Nguyệt lo lắng cho thầy giáo Hải, người chồng sắp cưới của chị phải nằm ngay trong hang ổ của địch. Và lo cả cho chú tiểu An nữa chứ. Huệ biết tình cảm đặc biệt giữa hai chị em Nguyệt và An. Nó biết chuyện lúc An mới sinh, mẹ của họ ốm nặng, và chị Nguyệt mới bảy tuổi đầu đã phải bế em đi ăn mày xin sữa cả làng cho em khỏi chết. Chả trách An coi chị Nguyệt như là mẹ.
Bà Nấm dắt Nguyệt vào cơ quan phụ nữ huyện. Bà Nấm thông minh nhanh nhẹn nên được đề bạt, chuyển từ chân nấu ăn sang làm cán bộ phụ nữ. Nguyệt được tuyển vào cơ quan, thay bà Nấm làm chân nấu bếp. Trên danh nghĩa, Nguyệt làm “chị nuôi”, song thực chất cô làm linh tinh đủ việc, có lúc làm liên lạc đưa giấy tờ công văn, có lúc làm sai vặt, có lúc nấu cơm, lại có lúc làm người bảo vệ khi chị bí thư xuống xã. Khi kiểm điểm hàng quý, mọi người đều khen Nguyệt tích cực, làm việc gì cũng chu đáo. Tuy nhiên, còn phê bình nét mặt của Nguyệt lúc nào cũng ủ dột. Người ta bảo làm cách mạng là phải cứng rắn lạc quan. Hoàn thành công việc tốt nhưng hay buồn bã cũng vẫn là khuyết điểm. Nguyệt trả lời:
- Ở chùa tôi cũng như vậy, song sư cụ không mắng. Có lẽ đã quen mất nết đi rồi.
Cán bộ có vẻ không bằng lòng với cách tiếp thu phê bình ấy. Riêng chỉ có bà Nấm thông cảm với Nguyệt. Bà không tán thành những lời nói mang tính chất nâng quan điểm ấy. Bà nói với Nguyệt:
- Cháu cần nghĩ cho thoáng. Những chuyện gì nằm ngoài tay ta không thể thay đổi khác được thì phải chấp nhận. Cứ để cho mọi sự diễn biến. Rồi tùy theo mà ta hành động. Buồn bã cũng chẳng giải quyết được gì.
 
Riêng Huệ, em thương chị Nguyệt và làm vơi nhẹ khuây khỏa chị Nguyệt theo cách của em. Em luôn quấn quýt bên chị, rồi thỉnh thoảng thủ thỉ dăm câu theo cách của em. Như đêm nay, trên thềm nhà, câu chuyện giữa hai chị em thật chẳng đâu vào đâu cả.
- Chị à, sao ở đây lại lắm đom đóm thế nhỉ? Nhiều hơn ở làng Sọ chúng mình.
-  Ờ nhỉ. Nhiều thật!
- Bãi tha ma làng Sọ cũng nhiều, song chả thấm gì so với ở đây.
-  Có lẽ thế. Ở tha ma làng mình, đom đóm không nhiều như đây. Thỉnh thoảng mới có vài ba con từ tha ma vượt rào bay vào vườn chùa. Lạ một điều, cứ vào trong chùa là chúng bay tới ao bèo. Chị và bà vãi Thầm ở cạnh ao bèo nên biết rõ. Đom đóm ở đấy thưa thớt hơn nhưng chúng to hơn đom đóm ở đây.
-  Sao mà biết?
- Biết chứ! Đom đóm ở đây chỉ bằng hạt đỗ xanh. Còn đom đóm ao chùa nhà chị thì to bằng cái nụ hoa nhài.
-  To đến thế cơ à!
-  Chứ sao. Chú An đã bắt nên chị mới biết. Mới lại đom đóm ở đây là vong linh con sóc, con thỏ, con chuột dũi trong rừng nên chúng nhỏ. Còn đom đóm ở tha ma làng là vong linh của người ta nên phải to hơn.
-  Là vong linh hả chị?
-  Chứ sao! Chả thế mà mỗi tối, cứ trông thấy đom đóm bay vào nhà, là bà vãi Thầm lại xuýt xoa khấn vái. Bà Thầm bảo đó là những vong linh lang thang. Bà cụ khấn vái cho đến lúc nó bay ra thì thôi.
Nói đến đấy, chị Nguyệt bỗng cười khúc khích. Hiếm khi thấy chị cười nên Huệ hỏi:
-  Sao chị cười?
- Nhớ đến thằng An chứ sao. Nó nghịch lắm. Đã đi tu rồi mà vẫn còn nghịch.
-  Nghịch thế nào?
- Nó bắt đom đóm nhốt vào lọ. Nó núp sau nhà, rồi thả dần đom đóm vào trong nhà. Bà vãi Thầm khấn mãi con đóm thứ nhất mới chịu bay ra. Nhưng sau đó tiếp tục có con đom đóm thứ hai, rồi thứ ba. Thành thử bà cụ cứ phải lầm rầm cho đến nửa đêm mới thôi.
Huệ nghe xong cũng phải khúc khích cười theo:
- Ai ngờ cái chú tiểu này nghịch ngầm quá thể. Bao giờ về làng em phải mách chuyện này với sư cụ.
- Thì thế! Chị cấm, nhưng nó cứ trêu bà cụ Thầm mãi. Về sau, chị dọa mách sư cụ nó mới chịu ngừng.
Những chuyện tưởng chừng như vớ vẩn ấy lại làm cho Nguyệt thấy vui. Và hai chị em càng ngày càng thêm thân thiết. Cả những chuyện về thầy giáo Hải cũng góp phần vào để tăng thêm tình thân ấy. Nguyệt thì ôn lại những kỷ niệm về thời thơ ấu của An. Huệ thì nói lại về thầy giáo Hải vốn là hàng xóm với gia đình em. Mang tiếng là vợ sắp cưới của thầy giáo, nhưng sự thực Nguyệt có biết gì nhiều lắm về Hải đâu. Hai người có cùng những người thân quen. Và sự kể lể về những người thân quen ở xa ấy tạo nên những sợi dây vô hình gắn bó hai cô gái lại với nhau. Đến nỗi bà Nấm phải thốt lên:
- Hai đứa quấn quýt nhau đến thế. Đáng lẽ chúng mày phải là chị em ruột của nhau mới phải.
Huệ rất hồn nhiên, ríu rít ân cần với chị Nguyệt. Nó tưởng rằng điều đó hoàn toàn xuất phát từ sự thông cảm. Nó có biết đâu đằng sau sự hồn nhiên đó còn là sự thích thú. Nó muốn biết và biết thật nhiều về chú tiểu An, về người bạn học. Biết để làm gì nhỉ? Chẳng để làm gì cả. Chỉ muốn biết, đơn giản thế thôi.
 
Cứ tưởng thằng Căn là người thô lỗ vô tình chẳng chú ý đến người khác. Thực ra không phải. Vụng về thì đúng, còn vô tình thì không. Căn ở dưới nhà ngang nơi vừa ở vừa làm bếp. Có những tối, nó cũng lên nhà trên ngồi thềm hè hóng chuyện. Khi cái đèn chai thắp sáng lên ở giữa nhà. Vài ba con ve sầu ngoài rừng thấy ánh sáng bay vào nhà. Để tỏ lòng thông cảm với hoàn cảnh của chị Nguyệt nên nó nhắc tới An:
- Chị Nguyệt ơi! Em học được thằng An, nên mới biết ăn ve sầu rang lên đấy - Nó cười khì khì - Chị biết không, dạo trước đánh nhau với nó, em đã nhét con ve sầu sống vào mồm thằng An đấy. Bây giờ nghĩ lại thấy buồn cười, và lại thấy thương thằng An nữa chứ.
Căn thật lúng túng. Câu chuyện của nó chẳng đâu vào đâu cả, nhưng chắc chị Nguyệt hiểu tấm lòng của nó.
Nói chung, mỗi người trong gia đình ông Trần đều có cách riêng của mình để cảm thông với Nguyệt. Bà Nấm cũng có cách của bà. Bà đối xử với Nguyệt như một người cô dạy dỗ cháu. Một hôm bà hỏi:
- Các con đã bao giờ được ăn loại bánh rán đặc biệt của làng Sọ chưa?
Huệ hỏi:
- Nó có khác gì bánh rán ngoài chợ mà ai cũng đã được ăn hả mẹ?
Bà Nấm cười:
- Không phải thứ bánh rán mật to như quả trứng mà các con thường thấy. Đằng này là thứ bánh rán to, rõ to. Có khi nó to bằng cái mâm đồng. Bánh đặc biệt mà. Mẹ nghe nói ngày xưa mang đi tiến vua. Thực ra tiến vua thì mẹ chưa thấy. Nhưng bánh rán đám cưới thì mẹ thấy. Ngày xưa, trong đám cưới của làng Sọ, bất cứ đám nào nhà trai cũng phải đội đến nhà gái một chiếc bánh rán to như vậy đặt trên chiếc mâm đồng. Lại phải chọn một cô tố nữ trẻ và đẹp, váy chùng chấm gót, khăn vấn hồng, áo nâu non, thắt lưng hoa lý đội mâm.
Cái Huệ cười giòn:
-  Hôm nay mẹ cũng làm một chiếc bánh rán to như vậy chứ?
- Gớm! To như thế lấy gạo đâu mà làm. Hôm nay, chỉ bằng cái đĩa đại thôi cũng đủ cho cả nhà nếm thử.
 
Thế là buổi sáng hôm ấy, bốn mẹ con, cô cháu tíu tít xay bột, rây bột, rán bánh. Kể ra làm bánh rán như vậy cũng cầu kỳ thật. Bột phải theo tỉ lệ ba nếp, một tẻ. Bột phải nhỏ tăn, mịn màng. Bí quyết đặc biệt là phải có cây duối. Hái một rổ lá duối đem về cho vào cối giã nhỏ. Khi giã, đổ vào ít nước. Khi nào lá duối nhuyễn thì vắt từng nắm, chiết ra một thứ nước xanh xanh. Nước lá duối trộn với bột cho thật đều, thật quánh. Rán bánh có phần tốn kém vì phải rán võng mỡ. Hôm ấy, bà Nấm phải đành đổ ra cả một vò mỡ để dành từ hôm đụng lợn ăn Tết. Điều ấy làm bà cứ xuýt xoa mãi. Chiếc bánh trong chảo lớn cứ phồng mãi ra, cho tới lúc nó choán hết lòng chảo. Cứ phồng rộp lên chỗ nào, lại lấy đũa chọc vào chỗ ấy. Cuối cùng là giai đoạn tẩm mật. Lấy mật giọt hòa với nha nhỏ đều khắp cả hai mặt bánh. Chiếc bánh rán to đến nỗi đĩa lớn đựng cũng không xuể. Phải đặt nó lên mâm, nhưng mâm không có, nên phải trải lá chuối trên mặt rồi đặt nó vào. Cả nhà vui vẻ xúm quanh chiếc bánh rán kỳ diệu. Mặt bánh phủ mật bóng nhoáng. Tưởng như nó óng ánh phát sáng. Thằng Căn hỏi:
- Không biết bánh có cứng không? Có phải lấy dao chặt không?
-  Không cứng mà giòn tan. Tay bẻ cũng được. - Bà Nấm trả lời.
Đến lượt cái Huệ nói như tiếc rẻ:
-  Bánh ngon thế này mà thầy con không có nhà.
- Vắng nhà thì để phần. Bánh này ăn hàng tháng vẫn ngon, vẫn giòn tan. Nó là thứ phẩm vật tiến vua. Cũng có thể dùng làm thức ăn dự trữ.
Nguyệt xen vào:
- Cháu cũng đã được nghe sư cụ nói về những chiếc bánh mật cúng Phật như thế. Đến hôm nay mới được tận mắt nhìn.
Bà Nấm cười sung sướng.
- Thì hôm nay cháu biết làm rồi đấy. Sau này yên hàn về chùa, cháu cứ như thế mà làm. Tự tay làm cúng Phật càng quý chứ sao. Chỉ cần nhớ cúng Phật thì không được dùng mỡ. Phải dùng dầu mà rán.
Đời người ta giống như bản giao hưởng dài, đủ cả buồn vui, hạnh phúc. Những phút như thế này, giản dị thôi, tầm thường thôi, nhưng chắc chắn đó là những phút giây hạnh phúc. Nó là những dấu lặng để ta nghỉ ngơi trong bản nhạc dài. Những phút như vậy giữa con người nạp thêm năng lượng để có thể bước tiếp trên cõi thế gian đầy bất trắc này. Điều này chắc là đúng đối với Nguyệt, bởi vì cô sắp phải trải qua thử thách. Thử thách mà không dễ gì con nguời chịu đựng được.
*
Cả nhà để dành phần cho ông Trần một nửa chiếc bánh. Mãi một tuần sau ông mới về. Bánh cất trong thạp gạo, lấy ra vẫn thơm nức, giòn tan. Ông Trần về cùng một ông khách. Đó là chủ tịch tỉnh kiêm phó bí thư tỉnh tên là Trí. Ông Trí con cụ Tập mà một thời vợ chồng bà Nấm đã ở thuê nhà tại cái xóm rau muống phía Nam Hà Nội. Cụ Tập đã dạy Trần nghề cắt tóc. Bà cụ lại dạy Nấm gánh rong đi bán rau muống ở các phố phường. Chính ông Trí đã dẫn dắt Trần vào con đường cách mạng. Lâu lắm mới gặp lại, cô Nấm vui lắm, cứ tíu tít kể lại chuyện xưa. Rồi sai con giết gà đãi khách. Ông Trí bẻ miếng bánh rán ăn rồi nói:
- Thú thật, là dân làng Sọ nhưng đã lâu lắm tôi mới được nếm lại thứ bánh đặc biệt này của quê ta. Hình như đã lâu lắm rồi người ta gần như quên mất cách làm.
- Thì bác ra ở tỉnh bao năm, rồi sau đó lại khói lửa loạn lạc nữa, ai có thể làm thứ bánh cầu kỳ này. Tôi nhân ngày rỗi rãi nên giở giói ra trước là để dạy các cháu, sau là để đãi khách.
Ông chồng cười:
- Bà này tài. Có cái thiên lý kính hay sao mà biết bác Trí về chơi nhà ta hôm nay. Mà lại làm bánh trước cả một tuần cơ chứ.
- Đúng thế đấy. Tuần trước có con chim khách suốt cả ngày kêu râm ran ngoài ngõ. Mấy lại, ông chẳng biết hay sao, cô Nguyệt đây cũng là khách của nhà ta. Cũng là khách của nhà bác Trí. Cô ấy sắp làm dâu làng Sọ, làm dâu cả nhà họ Bùi đấy.
Cũng lúc ấy, Nguyệt và Huệ ở ngoài suối về. Cô Nguyệt được bà Nấm giới thiệu với ông Trí, chợt đỏ bừng hai má. Ông Trí quan sát cô kỹ càng như người xem tướng. Ông hồ hởi nói với cô:
- Chị Nguyệt phúc hậu lắm. Bác Hải nhà tôi lấy được thật có phúc lớn... Tôi cũng xin giới thiệu: tôi và bác Hải là hai anh em chú bác. Đứng về thế thứ họ tộc, tôi là em vì là con nhà chú. Chúng ta có họ hàng với nhau đấy. Chính thức cưới xong, tôi phải gọi chị Nguyệt bằng chị.
Nguyệt càng đỏ bừng mặt. Cô cúi đầu lễ phép:
-  Thưa ông chủ tịch. Tôi không dám ạ...
Cả nhà nhìn Nguyệt lúng túng, cùng cười vang.
Họ Bùi và họ Nguyễn là hai họ danh tiếng trong làng Sọ. Họ Bùi phát về đường nghiên bút. Họ Nguyễn phát về đường hào lý. Ông nội của Trí là cụ Bùi Huân là bạn đồng môn với Nguyễn Long. Cụ Huân đỗ tú tài ở khoa thi cuối cùng triều Nguyễn. Cụ Long không đỗ đạt nhưng làm chánh tổng. Đến đời Bùi Học, Bùi Tập, khoa thi chữ nho bỏ, nhưng ông Học vẫn làm ông đồ, và như ta biết, đã xảy ra cái giai thoại một hào mua được chức lý trưởng. Ông Tập nhờ trí thông minh đã tranh được chức lý trưởng và bá Phượng bị thua. Lần đầu tiên họ Bùi làm hào lý làng Sọ, nhưng cũng vì tranh quyền nên gia đình khánh kiệt, Bùi Tập phải bỏ làng ra Hà Nội làm nghề thợ cạo. Ông Học đẻ ra thầy giáo Hải, ông Tập đẻ ra ông Trí. Còn về phía họ Nguyễn, ông chánh đẻ ra quản Mật. Đến đời này hai họ lại phân ra theo hai ngả khác nhau. Ông Mật định làm giàu bằng cách đi buôn về sau sung vào lính Pháp. Còn Bùi Trí và Bùi Hải ngả theo con đường cách mạng.
 
Cả ngày hôm ấy, Nguyệt cứ có cảm giác như ông Trí rất quan tâm đến mình. Cả ông Trần cũng vậy. Họ như xem tướng cô, chú ý đến lời ăn tiếng nói của cô, cách xử sự của cô. Ngạc nhiên hơn nữa là hình như họ rất biết rõ về thân thế của cô, về ngôi chùa của cô, về sư cụ, về em An. Ông Trần như muốn thông báo cho cô rõ:
- Chú tiểu An lanh lẹn tháo vát lắm. Nhờ cậu ấy tận tụy chăm sóc, sư cụ đã khỏi rồi. Chống nạng đi lại trong chùa một mình được rồi. Cô yên tâm về cụ và cậu An rồi chứ.
Đến tối, Nguyệt mới hiểu ra sự việc: Họ gọi cô xuống nhà ngang nơi Căn ở. Hai cha con gọi nhau ra đồi nói chuyện. Chỉ còn ông Trí và Nguyệt. Ông nói:
-  Chị Nguyệt làm việc ở Hội Phụ nữ có gì khó khăn không?
- Thưa thủ trưởng, em chỉ nấu cơm, đưa công văn. Chẳng có gì khó khăn. Nhưng các chị phê bình em còn ít nói và buồn.
- Chúng tôi định bố trí cho chị làm một công việc khác. Việc này cần một người bình tĩnh ít nói.
-  Em ít chữ lắm. Việc khó quá em không làm được đâu.
-  Việc không khó, song phải bình tĩnh và can đảm.
- Can đảm ư? Em dát lắm. Hôm bị vây trong rừng Cò, em run lắm, khi Tây đi càn, nhất là lúc con chó Tây đứng trên nắp hầm rồi sủa...
-  Thế nói dại, nhỡ ra hôm ấy lầy nó bắt được chị thì sao?
- Lúc ấy em run lắm. Em vừa lo sợ, vừa nghĩ rằng, nếu chúng nó bắt được mình, chúng sẽ làm nhục. Nếu thế mình sẽ cắn lưỡi. Thà chết đi còn hơn để nó giày xéo.
Ông Trí gật đầu, đôi mắt chớp khẽ:
-  Ừ, thế thì được. Chị làm được việc này.
-  Việc gì ạ? Thưa thủ trưởng.
Ông Trí không trả lời thẳng vào câu hỏi mà lại nhận xét:
- Chúng tôi đã nghiên cứu kỹ về chị. Chu đáo trách nhiệm với công việc. Giao việc gì cứ lầm lũi làm cho xong mới thôi. Chị phụ trách phụ nữ huyện khen chị lắm đấy. Chị em cùng công tác người ta phê bình này nọ. Ừ thì mình nghe. Cái chính, cái cốt yếu mà làm trọn mới là điều chính. Ông cụ bà cụ sinh ra chị bị Tây nó giết phải không. Chính cái thằng Bernard, thằng Tây lùn ấy nó giết chứ ai. Mà anh Hải cũng đang làm việc ở P.C. Huyện. Người của ta đấy. Chị cũng biết rồi, tôi chẳng phải nói. Anh ấy hoạt động bí mật trong lòng địch hàng ngày cận kề bên cái chết. Nguy hiểm lắm... chị có muốn giúp anh ấy không? Mà chị có căm thù cái loại thực dân như thằng Bernard không?
-  Muốn chứ! Đồng chí thủ trưởng ạ. Bố tôi bị nó giết.
Nhìn gương mặt rầu rầu của Nguyệt lúc đó đang cúi xuống,
ông Trí nghĩ một lát, rồi mới tiếp:
- Tỉnh và huyện có kế hoạch như thế này. Phải mở rộng khu du kích, tức là nhổ những đồn bốt quanh vùng làng Sọ. Nhất thiết phải làm chúng co cụm lại ở bốt PC. Huyện, hoặc nếu thấy chín mùi, nhổ hẳn cái bốt huyện đi... Chúng nó đã gây tội ác nhiều lắm rồi. Dân vùng Sọ cũng khổ lắm rồi. Ai ai cũng mong được giải phóng. Muốn thế từng người phải góp tay vào. Đồng chí giao liên bí mật của ta ở khu vực ấy mới hy sinh một tháng nay... Thế nào, đồng chí hiểu tôi định nói gì rồi chứ... Chị sẽ được tập trung hướng dẫn tỉ mỉ trong một tháng... Công việc này giản dị thôi nhưng vô cùng quan trọng và cũng vô cùng nguy hiểm. Tôi phải nói rõ với chị về tính chất nguy hiểm của công việc. Bởi vì đây là công việc quân báo. Đối thủ của chúng ta chính là phòng nhì của Pháp, là thằng Tây lùn Bernard. Chính anh Hải chồng chị đang trực tiếp đối mặt với Bernard. Liệu chị có thể giúp anh ấy hoàn thành nhiệm vụ được không. Chúng tôi đã nghiên cứu kỹ rồi. Để chị chắp nối lại liên lạc với anh ấy lúc này là thuận tiện hơn cả.
*
Trung úy Bernard Martinot phụ trách phòng nhì của P.C. Huyện, có người mẹ Phật tử - bà Thu, là một người hiền từ. Nếu còn sống, chắc bà không thể tin được rằng đứa con mình lại có thể thành một người tàn độc đến vậy. Vì đã sống như một người Việt, sinh hoạt như một người Việt, nên Bernard càng nguy hiểm vô cùng. Ở đây là cuộc phủ nhận, tẩy rửa dòng máu trong một con người. Cho rằng máu da vàng là hạ đẳng, nhơ nhớp, nó làm hạ thấp mình xuống, cho nên Bernard cố ngoi lên, cố tẩy rửa những gì là bản xứ trong mình đi. Những thù hận cá nhân cộng với sự cố gắng ngoi lên làm Bernard trở thành con người cực đoan. Cực đoan để trở về với người cha, để trở thành người đích thực da trắng. Mới chưa đầy ba mươi tuổi, Bernard đã lột xác mấy lần, và lần thay đổi nhân dạng này là lần thay đổi quyết liệt nhất.
 
Đối với Thalan, đại úy chỉ huy PC., Bernard có hai thái độ. Thứ nhất, thèm muốn giống như ông ta. Thứ hai, có chút ghen tị, không phục và ngấm ngầm mâu thuẫn với Thalan. Đại úy có dòng máu quý tộc trong người. Ông lại là người luôn hãnh diện với những giá trị cao quý của nước Pháp biểu hiện trên lá cờ tam tài. Ông là người dân chủ, cho nên chưa bao giờ ông biểu lộ sự coi thường đối với những cấp dưới của mình. Tuy nhiên, trung úy Bernard vì có mặc cảm nên cứ thấy viên đại úy chỉ huy trưởng PC. rất cao ngạo. Đại úy luôn ăn mặc chỉnh tề. Chiếc áo sơmi trắng luôn trắng tinh. Tất cả đều được là ủi phẳng phiu. Người thợ giặt là phố huyện cứ ba hôm lại lấy hàng, trả hàng riêng cho Thalan. Rồi đám sĩ quan cận thần quanh Thalan cũng vậy. Khi đến văn phòng của đại úy, Bernard thường nghĩ như sau:
- Cái trò học đòi đây mà! Bắt chước sao nổi đại tướng De Lattre. Cú bao giờ cũng là cú. Mượn lông công cũng có bao giờ trở thành công.
Có thể đó là mặc cảm tự ti của một kẻ mang máu tạp chủng, chứ thực ra có bao giờ Thalan coi thường Bernard đâu. Và tự nhiên hình thành cái xung đột ngấm ngầm trong lòng viên trung úy đối với đại úy.
 
Thalan là chính thống. Ông muốn công cuộc bình định phải tiến hành song song cả chính trị lẫn quân sự. Phải đàng hoàng đi con đường chánh đạo. Nước Pháp là một trung tâm văn hóa tỏa sáng. Điều ấy có thật. Trách nhiệm của quân đội viễn chinh là phải làm cho người Việt Nam bị chinh phục bởi văn minh của nước Pháp, hay ít nhất bị chinh phục nhưng không oán hận.
 
Còn Bernard thì nghĩ khác. Do có nhiều va chạm với Việt Minh, do bản thân muốn lột xác dứt khoát, nên Bernard càng ngày càng cực đoan. Hắn nghĩ chiến tranh là chiến tranh. Đó là máu và lửa. Phải độc địa như loài rắn. Phải thâm hiểm xảo quyệt như loài chó sói. Làm bất cứ điều gì, chỉ cốt cuối cùng chiến thắng. Bởi vì chỉ có người chiến thắng mới là người có lý.
Phải nói sư cụ Vô úy còn được sống sót là nhờ đại úy Thalan. Ông nói: “Nhà sư cũng là người dân. Vậy họ phải chịu sự quản lý của quân đội Pháp. Tuy nhiên, không được phép xử bừa xử oan. Nếu không đủ bằng chứng thì phải thả người ta ra. Vả lại làng Việt nào cũng có chùa, Phật giáo là tôn giáo chính của người Việt. Bắt bớ người đi tu là điều tối kỵ. Nước Pháp là văn minh. Văn minh là tôn trọng các tôn giáo. Có như thế, người dân mới phục chúng ta”.
Chắc ở đây cũng có hận thù dính líu. Sau khi ông lý cẩm bị du kích giết, bà Thu bỗng năng đi chùa, Bernard quý mẹ nhưng thấy mẹ mộ đạo quá cũng phải gắt:
- Sao mẹ suốt ngày tháng đi chùa? Mê tín gì những ông sư hổ mang đó.
Bà Thu buồn rầu:
- Sao con ăn nói báng bổ thế. Cậu mày chết thế tức là nhà ta có điều thất đức. Tao đi chùa là để giồng cây đức, tao đi chùa là để giải tội cho con. Chắc cha con ngày xưa có làm việc oan khiên. Chắc là mẹ cũng mắc nhiều tội lỗi...
- Tội gì mà tội. Tội lội xuống sông - Bernard cáu kỉnh văng tục rồi bỏ đi.
Khi bà Thu sắp chết, bà căn dặn các bà em làm lễ cầu siêu cho mình. Thế là các bà dì tổ chức linh đình lễ cầu siêu trên đình. Nào sư gõ mõ, nào vãi tụng kinh, nào chạy đàn, nào đốt hình nhân. Giá như vào ngày trước kia, Bernard chắc vui vẻ làm hết mọi chuyện. Còn như vào lúc bấy giờ, anh ta đã hoàn toàn nghĩ khác rồi. Những chuyện đó chỉ còn tác dụng làm cho anh ta thấy phiền phức, khó chịu. Và những cảm nghĩ không thiện cảm với mấy ông sư bắt đầu xuất hiện trong anh ta từ đó. Rồi sau đêm hôm chạy dàn, mấy ông sư còn kêu ca, mè nheo các bà dì Bernard về chuyện tiền nong. Điều ấy khiến Bernard càng thêm khó chịu. Những nhà sư quá ham tiền đó đã biến sự khó chịu chuyển thành ác cảm.
 
Về phụ trách phòng nhì ở PC. Huyện, Bernard đã chú ý ngay đến các ngôi chùa. Anh ta bảo:
- Những chỗ tưởng như từ bi nhất, yên lành nhất có thể là những điểm sóng gió. Vỏ từ bi của nó làm ta mất cảnh giác không chú ý. Việt Minh có thể xâm nhập từ đấy.
Đến lúc phát hiện ra hầm bí mật ở chùa Sọ, trung úy Bernard lấy làm đắc ý về những nhận định của mình. Kể ra đại úy chỉ huy PC. cũng có lý. Ông là người chỉ huy cả khu vực. Ông không thể thuần túy quân sự. Phải có con mắt chính trị. Ông hiểu thuần túy quân sự sẽ chỉ là việc ban đầu. Nếu thiếu chính trị, mầm chống đối sẽ như căn bệnh âm ỉ, chỉ chờ dịp là phát ra. Cho nên khi không đủ bằng cớ, ông không cho phép khủng bố nhà sư. Còn Bernard, anh ta hoàn toàn nghĩ khác Thalan. Anh có chất da vàng trong người. Từ thuở nhỏ trung úy đã sống giữa người Việt nên anh hiểu họ rất rõ. Hơn nữa anh đã tiếp xúc với Việt Minh, lại có nhiều bà con bên ngoại làm Việt Minh, nên anh hiểu tính khốc liệt không thể tưởng tượng nổi của cuộc chiến tranh chống du kích này. Ở đây tất cả đều được phép. Hãy dùng những mưu sâu kế hiểm độc địa nhất. Hãy không tin bất cứ ai dù là một bà già, một trẻ nít. Không được phép mảy may có lòng nhân đạo, có đức từ bi. Một chút xíu mủi lòng sẽ dẫn tới cái chết. Hoặc là mi chết, hoặc là ta chết, không có lựa chọn trung gian. Những kẻ chỉ nghĩ đến chiến tranh cao thượng, chiến tranh chính quy, chỉ là những con vẹt cầm súng. Họ chỉ gây phiền phức rắc rối và dẫn cuộc chiến của người Pháp đến bế tắc, nếu không nói là thất bại. Ở giai đoạn này hãy chỉ nhắc tới cái gậy, và không nghĩ đến củ cà rốt. Triết lý quân sự của Bernard ở xứ sở này là: Đối với cuộc chiến du kích khốc liệt một, thì người Pháp cần phải sử dụng cuộc chiến phản du kích tàn khốc gấp mười. Bernard tin rằng, trong quân đội viễn chinh, chẳng thiếu gì người cùng chia sẻ những suy nghĩ giống mình. Và nếu họ chưa nghĩ như thế, thì hãy để họ ra trận; cuộc chiến có tính chất nguyên thủy sẽ dần làm họ say máu. Và hãy khuyến khích cho họ say máu.
 
Cách suy nghĩ rất là phòng nhì ấy đã giúp Bernard không bị bó tay. Đôi tay hoàn toàn tự do cho phép hắn có nhiều mưu kế, không bị phụ thuộc vào người chỉ huy PC. Thalan yêu cầu hắn không tra khảo nhà sư nữa và phải thả ông cụ về. Tuy nhiên có ai cấm hắn theo dõi ngôi chùa. Vả lại, những người theo dõi ấy là những chỉ điểm viên, không ăn mặc nhà binh; thậm chí Thalan cũng không có quyền biết mặt họ.
 
Bernard bố trí chỉ điểm viên theo dõi chùa Sọ cả hai mươi bốn tiếng, song chẳng thấy hoạt động gì khác lạ. Điều ấy vẫn không xua tan được mối nghi ngờ của viên trung úy. Bằng sự bén nhạy, hắn vẫn cảm thấy có mối liên lạc giữa người chỉ huy Việt Minh Vô Trần với ngôi chùa. Hắn biết Vô Trần đi tu từ thuở nhỏ. Như vậy, dù là Việt Minh chăng nữa, tình cảm của anh ta với ngôi chùa là rất sâu nặng. Tình cảm của người Việt vốn như thế. Giữa những người đã sống một thời gian dài cùng nhau dưới mái chùa, tình cảm của họ với nhau thiêng liêng lắm. Chẳng khác gì những người cùng một cha mẹ. Họ khó mà bỏ rơi nhau, nhất là trong một tình thế hiểm nguy. Phải kiên nhẫn giăng lưới mới bắt được cá. Có khi lại phải giăng rộng tấm lưới ra thật xa.
Hắn còn đang tính toán thì Ịại nhận được nhiều thông tin chứng tỏ rằng có điệp viên Việt Minh đang hoạt động trong nội bộ PC. Huyện. Hắn lên danh sách những người nghi vấn, và cho theo dõi gắt gao. Như vậy ngôi chùa không phải là trọng điểm mà chính cái phố huyện này mới là nơi hắn cần chú ý. Như vậy nghĩa là cái giác quan thứ sáu của hắn đã sai. Hắn không tin như vậy. Chẳng hiểu sao hắn cứ bám lấy cái nghi vấn ngôi chùa. Một ý nghĩ bỗng lóe trong óc. Nếu không phải những người trực tiếp ở chùa, thì vẫn còn những người gián tiếp dính líu tới nó. Đại đội trưởng Vô Trần, sư Khoan Độ, cô Nguyệt đã đi theo Việt Minh thì rõ ràng rồi. Ông chánh Long bạn của sư cụ, các bà vãi già thì sao? Những người này quản Mật có thể bảo đảm. Thử đi xa hơn nữa; thử đi tìm những con người tưởng như xa lạ với ngôi chùa, xa lạ với giáo lý đạo Phật, nhưng thực chất lại rất gắn bó với ngôi chùa bằng những liên hệ khác. Những người này ta rất dễ bỏ quên. Chẳng hạn như đội Hải. Viên đội này định lấy cô Nguyệt, nhưng sau khi cô Nguyệt trốn theo Việt Minh, anh ta rất bình thản với chuyện mất vợ chưa cưới. Bernard đã sống giữa lòng người Việt nên anh ta biết. Nếu cuộc hôn nhân này có xảy ra, thì nó cũng hoàn toàn mang tính lý trí. Người ta hỏi rồi người ta cưới. Nếu không thành, người ta chuyển sang hỏi người đàn bà khác. Ở Việt Nam hiếm có hôn nhân theo kiểu tình yêu Tây phương. Hôn nhân ở đây là sự sắp xếp gia đình, sự ghép đôi hoàn toàn lý trí. Cho nên, không thể nói ăn hỏi một người đàn bà là đã có mối liên quan mật thiết với gia đình người đàn bà. Ở đây gia đình cô Nguyệt là ngôi chùa. Tuy nhiên, đó cũng là một mối liên hệ xa mà Bernard cần lưu ý.

Trung úy bắt đầu điều tra nghiên cứu đội Hải. Bernard càng lúc càng ngạc nhiên vì thấy viên đội này thật không đơn giản. Đội Hải họ Bùi, họ hàng với Bùi Trí một cán bộ Việt Minh cấp cao của tỉnh. Tuy nhiên điều này vẫn chẳng nói được gì. Bởi vì nước Pháp là nước văn minh. Con người chỉ chịu trách nhiệm về bản thân mình, chứ không chịu trách nhiệm về những người cùng dòng họ. Hải không có liên hệ gì với Trí. Từ bé chỉ chăm học. Lớn lên làm thầy giáo, không hoạt động chính trị. Anh ta giỏi tiếng Pháp. Ra làm thông ngôn cũng chỉ vì sự tranh chấp giữa hai dòng họ Bùi và Nguyễn. Muốn ra làm thông ngôn cho PC., để tạo sự cân bằng giữa hai dòng họ, để cho họ Bùi khỏi bị lép vế trong làng xã.
Chính đại úy Thalan cũng muốn lợi dụng điểm này. Quản Mật họ Nguyễn, là người có uy thế trong vùng. Nếu chỉ riêng dùng Mật, ông ta cùng bè cánh sẽ làm che lấp nhiều sự thật mà người Pháp cần biết. Cho nên, phải dùng cả thầy giáo Hải. Họ Bùi từ xưa vẫn có tiếng trong vùng. Dưới triều Nguyễn có nhiều người họ Bùi làm quan to. Lại có tiếng là dòng họ khoa cử, học giỏi. Cả thầy giáo Hải cũng vậy. Nếu không vì gia đình túng thiếu, chắc chắn anh ta sẽ là một nhà trí thức có bằng cấp cao. Ngay cả cái tiếng Pháp của anh ta hiện nay cũng đáng nể trọng. Một thứ tiếng Pháp chính xác về ngữ pháp, và chải chuốt về ngôn ngữ. Anh ta ăn nói thận trọng, chỉnh tề, đúng là tư cách của một người dòng dõi văn hóa. Đại úy Thalan thích cái nết đó. Anh làm thông ngôn cho đại úy ít tháng, rồi được điều về bốt Sọ nửa năm, tiếp theo lại chuyển về làm việc cũ với Thalan và được thăng chuẩn úy. Xem thế mới biết Thalan rất quý anh ta. Điều chuyển về bốt địa phương chẳng qua là cách tạo điều kiện cho Hải được thăng cấp nhanh. Và thế là chuẩn úy thông ngôn Bùi Văn Hải lọt vào tầm ngắm của trung úy phòng nhì Bernard Martinot.
*
Chuẩn úy Hải là quân nhân, nhưng vì làm thông ngôn và lại được đại úy Thalan yêu quý, nên được hưởng một quy chế tương đối tự do thoải mái hơn những người lính khác ở PC. Nghĩa là mỗi tuần anh được về nhà một hai ngày nếu không có việc khẩn cấp. Những ngày ấy Hải không về làng, mà ra nghỉ ở nhà bà cô ruột ở ngay phố huyện. Bà cô góa chồng, không con, sống nhờ vào cái cửa hàng tạp hóa nhưng chủ yếu là bán tương, nước mắm, cá khô... Hải vẫn chu cấp cho cô sống, nhưng bà cụ hay làm vẫn tiếc, không chịu bỏ nghề bán hàng vặt. Ngôi hàng suốt ngày đêm sặc mùi mắm cá, có cái hay là khiến các ông Tây, các sĩ quan đi qua tạt vào chơi không thể ngồi lâu được.
 
Như ta đã biết, Hải bí mật hoạt động cho kháng chiến, nên cửa hàng tạp hóa này là một vỏ bọc khá an toàn.
Lúc này, chuẩn úy Hải đang băn khoăn lo lắng. Không hiểu vì nguyên cớ gì, đột nhiên anh mất liên lạc với cấp trên. Có phải cái hôm vây chùa, khi đi cứu Nguyệt, anh đã có sơ hở gì nên đã bị lộ tung tích? Anh đã ngồi nhớ lại từng hành động, từng khoảng thời gian, anh đã làm gì, anh đã ở chỗ nào, anh đã gặp ai, đã nói chuyện với ai, đã nói những câu gì. Nghĩ lại, Hải thấy hoàn toàn hợp lý, trong khu rừng Cò khi ấy chỉ có anh và Nguyệt. Không ai trông thấy anh ở đấy. Giả định có thể có một người thoáng thấy, thì người đó cũng đã bị sư Khoan Độ bóp chết rồi. Có thể việc làm của anh hôm ấy như có chút phiêu lưu. Tuy nhiên, anh lấy làm hãnh diện vì việc làm của mình. Bởi vì việc làm này đã có kết quả: Nguyệt đã thoát chết. Vậy thì chỉ có một khả năng thứ hai, người liên lạc với anh đã hi sinh. Điều này, Hải đã đoán đúng. Không phải chỉ riêng người liên lạc với Hải chết, mà cả tổ tình báo ba người đã hi sinh trong một trận ném bom của giặc vào khu an toàn của ta.
 
Mấy tháng không bắt được liên lạc với tổ chức, Hải thấy sốt ruột. Tuy nhiên, cũng có cái hay là trong thời gian ấy Bernard cho người theo dõi nhưng không thấy hiện tượng gì khác lạ nên sự chú ý không còn ráo riết như trước.
 
Một ngày chủ nhật, bà cô đang ngồi trông hàng, lúc ấy vắng vẻ không có khách, chợt có cô gái đội nón sùm sụp, tay cắp rổ đi vào nhà.
-  Cụ ơi! Cho cháu hỏi thăm anh Hải thông ngôn có nhà không ạ?
Cô gái nói nhưng vẫn ngoái đầu nhìn ra sau lưng.
-  Có đấy. Anh nó mới ở đồn ra sớm hôm nay. À... mà cô là ai lại hỏi thăm anh Hải nhà tôi.
-   Cháu đây mà. Cụ không nhận ra à.
Bà cụ kèm nhèm nên chưa nhận ra ai, thì cô gái đã lách qua cái cửa ngách vào nhà trong. Bà cụ thấy lạ lật đật vào theo. Lúc bấy giờ cô gái đã bỏ nón và thì thào:
-   Cháu là Nguyệt đây.
Chuẩn úy Hải từ ngoài sân bước vào, nắm lấy tay cô mừng mừng tủi tủi. Cô gái cũng xúc động nhưng vội gỡ tay anh ra:
-  Ở ngoài phố nhiều lính lắm. Em sợ có đứa nhận ra. Em được tỉnh giao nhiệm vụ thay chị Hồng liên lạc với anh.
-   Thế còn Hồng?
-   Chị ấy hi sinh rồi. Bị bom anh ạ.
Bà cô lúc ấy mới nhận ra Nguyệt. Bà lấy tay bóp vai bóp tay Nguyệt, rồi ngắm nghía cô từ đầu đến chân.
-   Rõ khổ! Cái hôm Tây vây chùa, cô cứ lo cho mày mãi. Mấy đêm chả ngủ được. Sau thằng Hải bảo chạy thoát rồi tao mới yên lòng. Thế... để cô đi nấu cơm cho mà ăn nhé.
-  Không được đâu cô ạ. Con phải đi ngay.
Lúc hai cô cháu thì thào, Hải đứng ngoài cửa hàng canh chừng. Chỉ một lát anh quay vào:
- Có một bọn lính vào quán thịt chó. Em phải đi ngay thì đừng qua đấy. Rẽ ngay vào ngõ cầu Đá trước đó qua cầu là đến cánh đồng. Qua cánh đồng là vào làng Chùa...
- Em biết rồi - Cô ghé sát mặt Hải nói thật nhỏ - Chỉ thị của trên ở trong mớ rau muống ấy.
Hải nhìn thấy bà cô đứng ở cửa đã quay lưng lại, anh liền ôm lấy Nguyệt để nghe tiếng trái tim cô đập rộn lên, để ngửi cái mùi thơm ngọt ngào ở tóc cô, cổ cô tỏa ra, để cảm nhận cái luồng hơi thở nóng như lửa của cô phả vào má, để nghe thấy cái giọng êm ru thanh thanh của cô rót vào tai:
-  Thôi... nào... để em đi nhé.
 
Hôm ấy, phiên chợ huyện. Mưa rất to cho nên chợ họp muộn. Bà cô già cũng mở cửa hàng muộn. Hơn tám giờ sáng mà bà chưa tháo mở những tấm ván lùa, bà chỉ mở hé cái cửa bên để nhỡ có khách quen đến mua thì biết rằng bà vẫn bán hàng.
Người khách mở hàng là một cô gái. Cô cởi tấm nilông che mưa màu xanh rũ nước, rồi đẩy cửa bước vào. Bà vừa định cất tiếng hỏi, thì cô gái đã nhanh nhảu, khe khẽ:
- Cháu đây mà. Cháu Nguyệt đây bà ạ.
Bà cụ bỗng tươi nét mặt và cũng nói nho nhỏ:
 
-  Vào đi. Anh nó ở trong nhà.
Khi hai người đưa nhau xuống bếp thì thầm, bà cụ đã lấy chiếc ghế đẩu ngồi bên cánh cửa canh chừng. Ở trong bếp, thầy giáo Hải háo hức ôm chặt lấy Nguyệt, rúc mũi vào ngực nàng. Cô gái giãy giụa đẩy ra, vừa đẩy vừa ngửa cổ cười rúc rích.
-  Nào nào... Đứng đắn đi nào...
-  Sao thế - Chàng thông ngôn có vẻ dỗi.
Cô gái sờ vào má chàng như muốn an ủi:
- Vội lắm. Em phải đi ngay. Ở bốt đường cái, chúng nó khám kỹ lắm. Chỉ thị ở trong rổ ấy.
Cô gái nhanh như chớp hôn vào má Hải. Cô vội vàng đến như cơn gió, rồi lại ra đi nhanh như cơn gió. Cô không trở ra theo cửa chính, mà xé rào lội xuống ruộng ngay ở sau nhà. Chuẩn úy Hải còn tần ngần đứng ở bụi tre nhìn theo cô gái khoác tấm nilông xanh đi giữa cánh đồng lúa đã uốn câu. Anh còn có thể đứng lâu nữa nhìn theo cái bóng xanh cứ nhỏ dần, nhưng bỗng giật mình tỉnh lại, đi đến bên hè cầm cái rổ đem vào bếp. Còn chưa kịp làm gì, anh đã nghe bà cô gọi:
-   Anh Hải! Có khách.
Hải lấy cái mẹt đậy rổ cá lại, bước vội lên nhà, đon đả chào đón mấy người nhà binh.
-  Xin chào trung úy Bernard. Cơn gió lành nào đã đưa trung úy đến thăm nhà tôi hôm nay sớm thế?
Bernard cười cười, đảo mắt nhìn khắp căn nhà rồi ra cửa sau nhìn xuống bếp, sau đó mới lên nhà ngồi xuống chiếc ghế dựa:
-  Gió lành nào đâu. Hôm nay chủ nhật, lại đúng phiên chợ. Tôi định đi dạo quanh chợ một lát xem dân tình, nhưng ngài đại úy triệu tập một cuộc họp khẩn cấp. Chuẩn úy cũng phải có mặt. Tôi liền nhận nhiệm vụ liên lạc cho nhanh chóng. Chuẩn úy cũng đã quân phục chỉnh tề rồi nhỉ? Thôi nước nôi để khi khác... Ta mau về họp cho chóng vánh. Chủ nhật, còn phải nghỉ ngơi.
Chuẩn úy Hải liếc mắt qua đã cảm nhận thấy có cái gì không ổn trong nét mặt, giọng nói của Bernard. Điều ngạc nhiên hơn nữa là hai người tùy tùng của Bernard toàn là hạ sĩ quan của phòng nhì cả. Khi ra đến đường, sự ngạc nhiên nghi ngờ của anh hầu như đã được xác định. Lúc này, Bernard đi tách sang một bên, còn Hải đi giữa, hai viên hạ sĩ phòng nhì kèm hai bên. Hải hiểu ngay mình đang trong một tình thế nguy khốn. Anh lập tức nghĩ ngay đến cách đối phó mà anh đã phải tính toán từ trước.
Họ dẫn anh đến đại sảnh của PC. Trung úy Bernard và chuẩn úy Hải bước vào. Hai viên hạ sĩ khép cửa lại và đứng gác bên ngoài. Chỉ thấy có ba người, Hải biết đây không phải cuộc họp, mà là cuộc hỏi cung sơ bộ. Đại úy Thalan vẫn bằng cái giọng nghiêm nghị, lạnh lùng, trung tính như mọi ngày.
- Ông chuẩn úy Hải. Theo như tin tình báo, cô Nguyệt, vợ chưa cưới của ông hiện nay làm liên lạc cho Việt Minh. Ông trung úy buộc tội ông vẫn liên hệ với cô ta. Không phải mối liên hệ trai gái mà là mối liên hệ có tính chính trị. Ông trả lời thế nào về việc buộc tội này. Ông là thuộc cấp của tôi. Nếu ông vô tội, tôi sẽ bảo vệ ông. Còn nếu có đủ bằng chứng, tôi không giúp được ông đâu. Vì vậy ông nên khai thực và hãy bảo vệ bản thân.
Chuẩn úy Hải suy nghĩ một lát rồi trả lời:
- Đúng cô Nguyệt là vợ chưa cưới của tôi. Việc cô ta làm liên lạc cho Việt Minh tôi hoàn toàn không biết. Trước đây, chúng tôi sắp sửa cưới nhau thì có cuộc vây chùa. Cô ta là đàn bà, cô sợ bị quân đội bắt bớ, sợ phòng nhì, bỏ trốn, tôi nghĩ đó là lẽ tự nhiên.
- Tôi xin hỏi ông một điều - Trung úy phòng nhì lên tiếng - Điều này rất quan trọng. Hiện nay ông có liên hệ với cô Nguyệt không?
- Cô Nguyệt là vợ chưa cưới của tôi. Tôi xin nhắc lại - Và đó là chuyện riêng của tôi. Tôi nghĩ tôi được phép không trả lời câu hỏi này.
Bernard mở chiếc cặp, lấy ra một xếp ảnh, quăng ra trước mặt Hải. Đó là những tấm ảnh mà người ta chụp lén khi Nguyệt đứng ở trước cửa hàng tạp hóa của bà cô già. Nguyệt ngoái đầu nhìn lại phía sau. Bernard có vẻ đắc ý:
- Ông nhận ra cô Nguyệt vào ngày chủ nhật 25 tháng ba chứ. Hôm ấy cô ta ở nhà ông đúng ba mươi phút.
Hải quay sang đại úy Thalan nói như để phân bua:
- Với hai người sắp tới hôn nhân, tôi nghĩ, những tấm ảnh này cũng chẳng chứng minh được điều gì. Có thể cô Nguyệt trốn ra vùng du kích. Nhưng cô ta về thăm chồng chưa cưới điều đó chẳng lẽ không được phép?
Bernard nhíu mày lại, rồi cười:
- Thế còn sáng nay, trước đây hai mươi phút thôi, cô Nguyệt về thăm ông, điều này ông có chối không? Và hiện nay cô ta ở đâu? Đó là điều chúng tôi cần biết.
Hải còn đang nghĩ cách trả lời, thì người hạ sĩ mang vào một chiếc phong bì. Bernard lấy ra tấm ảnh mới đưa cho đại úy Thalan:
- Chúng tôi muốn chuẩn úy phải thành thật. Đây là một tấm ảnh mà người của chúng tôi mới chụp cách đây vài mươi phút. Cô ta vừa mới vào nhà ông. Cô ta đã nói với ông những gì. Hiện nay cô ta trốn ở đâu?
Hải liếc nhìn tấm ảnh mới còn chưa khô mà Thalan đưa cho anh. Hải vừa định trả lời, thì Bernard vội giật lấy nó, rồi trố mắt nhìn một lúc, sau đó bỗng vỗ tay xuống bàn miệng mỉm cười rồi đứng lên chỉ cho Thalan:
-  Đại úy có nhìn thấy cái gì không?
-  Cái gì?
- Đây này. Đúng rồi. Còn cái rổ cô ta cắp ở tay. Đúng rồi. Cái rổ.
-  Cái rổ? Sao?
-  Thưa đại úy. Nó giấu tài liệu trong cái rổ.
 
Những người hạ sĩ quan phòng nhì được sai đến ngay cửa hàng tạp hóa của bà cô già. Họ lục tung căn nhà. Mươi phút sau, họ tìm thấy cái rổ đậy bằng cái mẹt còn nguyên trong bếp. Họ mang đến. Đại úy Tha lan nhìn thấy một mớ cá chép năm con tai trâu. Bernard thân hành khám từng con cá chép trước mặt đại úy Thalan. Cuối cùng, hắn moi ra được cái ống sậy nhỏ hơn ngón tay út, đút trong miệng con cá to nhất. Hắn reo lên như bắt được vàng. Xé cái ống ra, bên trong là tờ giấy pơluya cuốn lại bé hơn điếu thuốc lá. Hắn đắc ý:
- Thế nào Hải. Con vợ mày là Việt Minh. Tao không ngờ mày cũng là Việt Minh. Hết cãi rồi chứ. Mày có biết cái hiệu ảnh xế trước mặt nhà bà cô mày không? Năm trước nhà cụ chánh Long ăn khao, chính mày đã nói dối là thuê thợ ảnh ở đấy về chụp. Tao cho gọi thằng chủ hiệu ảnh, nó sợ vãi cứt khai ra hết. Từ dạo ấy tao đã nghi mày, nhưng cứ tưởng chỉ là trò tranh giành giữa họ Bùi và họ Nguyễn. Ai ngờ mày đã là Việt Minh từ dạo ấy. Con ơi! Muốn sống thì khai hết đi. Không giấu được bố mày đâu.
Đại úy Thalan lắc đầu đứng dậy. Trước khi đi, ông ta nói với Hải:
- Ông đã phụ lòng yêu quý của tôi. Bây giờ, tôi chẳng còn có thể giúp được ông nữa rồi. - Sau đó quay sang Bernard ông lễ phép nói - Thưa trung úy, còn bây giờ là nhiệm vụ của ngài. Tôi không có quyền can thiệp nữa.
*
Việc phát hiện ra chuẩn úy thông ngôn Bùi Văn Hải hoạt động cho Việt Minh có tiếng vang lớn trong đơn vị quân viễn chinh. Trung úy Bernard được thăng hàm đại úy. Còn đại úy Thalan thì thôi giữ chức chỉ huy trưởng PC. Huyện và được chuyển sang đơn vị chiến đấu khác. Thực ra, điều này Bernard không muốn, nó nằm ngoài ý định của Bernard. Anh ta khác với Thalan về quan điểm chiến tranh, chứ thực ra trong thâm tâm anh vẫn rất quý trọng Thalan. Ở Thalan, cái nét quý tộc thuần Pháp, cái nét cao thượng ấy, Bernard dù mơ cũng không có được. Do vậy, tối hôm ấy đại úy Thalan mời riêng Bernard đến uống rượu chia tay, anh lập tức nhận lời ngay.
 
Ngồi trên hai cái ghế bành gỗ gụ, mặt đá kiểu Tàu, họ uống rượu vang, hút thuốc lá thơm và tâm sự. Hai người cùng làm việc với nhau đã bốn năm rồi, kể từ hồi P.C. còn nằm trên đỉnh núi Thằn Lằn. Họ có lạ gì tâm tính của nhau. Thalan cười mỉm bắt đầu câu chuyện.
- Từ lúc anh tuyển người giúp việc, tôi đã hiểu trung úy ngay. Anh còn nhớ cái vụ ba người lính bảo hoàng chuyên chọn những tù binh trẻ và khỏe rồi mổ bụng lấy gan xào ăn chứ?
- Làm sao tôi quên được - Bernard cười giòn - Ôi chao! Bọn thằng Lâm, thằng Hà, thằng Tuyên. Bọn này tin rằng những đứa du kích ấy là những kẻ táo tợn, gan lì. Ăn được gan kẻ thù can đảm, thì mình sẽ can đảm hơn.
- Đó là một niềm tin thơ ngây, nguyên thủy, hoang dã còn sót lại đến thời hiện đại. Chính thiếu tá De Robert bạn của tôi đã đưa bọn ấy ra tòa. Và chính anh là người đã cung cấp tiền thuê luật sư, rồi chạy chọt giúp cho chúng được trắng án. Chả vậy mà khi về dưới quyền anh, chúng đã cúc cung tận tụy với anh. Cái cách dùng người ấy anh học được ở đâu?
- Thuở nhỏ, tôi ham đọc sách cổ của Tàu. Tôi học được từ trong sách. Từ cả ngoài đời nữa chứ. Anh không hiểu cái nghĩa khí anh hùng hảo hán Đông phương đâu. Đó là:
 
Một lời đã biết đến ta 
 Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau.
 
Nói rồi Bernard uống cả một cốc rượu vang lớn. Còn Thalan thì càng uống càng trầm ngâm:
- Tôi chợt nhớ tới lời một người bạn ở Saint Cyr. Anh ta bảo rằng: “Ở thời đại chúng ta có rất nhiều chính ủy”. Anh cũng là một chính ủy đấy.
-  Sao? Tôi, Bernard là một chính ủy - Bernard cười vang ồ ồ.
- Phải! Có chính ủy phía tả. Cũng có chính ủy phía hữu. Chính ủy là người say mê cuồng tín một thứ tư tưởng, hết lòng vì tư tưởng ấy cho dù phải chết.
- Nghĩa là có thể có chính ủy Nhà thờ, chính ủy Phật giáo... Điều này tốt hay là xấu. Như tôi chẳng hạn, tôi hết lòng hết sức vi sự vinh quang của nước Pháp. Tôi tốt hay tôi xấu?
- Tôi cũng chẳng biết nữa - Thalan buồn rầu trả lời. - Có những lúc, những người cứu vớt thế gian. Và cũng có những lúc, những người làm khổ thế gian... À mà thôi! Ngày mai tôi lên đường rồi.
-  Người ta chuyển anh đi đâu?
- Có lẽ tôi lên Tây bắc. Lên Điện Biên Phủ. Dù sao ở đấy tôi cũng được đánh nhau theo kiểu hiện đại. Mặt đối mặt. Súng đối súng. Dù sao ở đấy tôi cũng được làm như một người lính. Còn ở đây, không hợp với tôi. Lắm lúc tôi chẳng biết mình đánh nhau với ai. Giết toàn đàn bà và những người không có súng.
*
Đó là những tháng giữa năm 1953, lúc quân ta và quân Pháp chuẩn bị vào một cuộc quyết chiến cuối cùng. Ở P.C. Huyện ta cũng ráo riết chuẩn bị nhổ bốt phá tề mở rộng vùng giải phóng. Ta cũng muốn biết địch. Địch cũng muốn biết ta. Do vậy, ngày nào chúng cũng tra tấn Hải bằng đủ mọi cách. Chúng cáu kỉnh vì chẳng moi được một lời từ miệng anh. Hôm nay Robert dùng biện pháp cuối cùng. Đó là trò “lặn trên cạn”. Kẻ bị tra tấn nằm trên một cái giường. Hai tay bị trói vào giường. Chân cũng thế.
Hải nằm trên giường tra tấn, mắt nhắm lại. Anh đã chịu đủ mọi cực hình từ đánh đập dã man kiểu trung cổ đến tra điện. Thân thể sưng vù chỗ nào cũng có vết thương. Chân thì gãy. Anh không phải người cuồng tín, cũng chẳng mang tư tưởng anh hùng. Anh đã học trường Pháp, đã giao tiếp với người Pháp. Anh đã học những tư tưởng cao đẹp của dân tộc họ. Và đã thấy sự ngạo nghễ vênh vang của những con người da trắng, lúc nào cũng tự vỗ ngực, lúc nào cũng miệt thị hành hạ những người đồng bào hiền lành khốn khổ của dân tộc mình. Không thể chịu đựng được nữa. Chỉ có thế thôi. Và bão tố đã nổi lên rồi. Và các ngươi phải nếm trải cái tủi nhục cay đắng mà các ngươi đã đổ xuống đầu chúng ta. Đơn giản lắm. Chỉ có thế thôi. Và giờ phút tàn lụi của họ sắp đến. Có như thế các ngươi mới cuồng điên như con thú giãy chết. Đấy, cái lập luận của Hải đã có thể chịu đựng được sự hành hạ tàn khốc của địch chỉ giản dị thế mà thôi. Tiếng Bernard vang lên trong đầu Hải:
- P2 là gì? P7 là gì? (Đó là những mật ngữ mà Bernard đã nhặt trong tờ giấy nhét trong miệng con chép tai trâu).
- B5 là gì? KN là gì? Mày phải khai. Nếu không hôm nay mày phải chết.
Hải trả lời rất điềm tĩnh:
- Là những nấm mồ. Sẽ có rất nhiều nấm mồ...
Hải biết số phận của mình. Không khai chúng cũng giết. Khai chúng cũng giết. Mà cách mạng và chiến thắng lại rất cần đến sự im lặng của anh. Vậy thì Hải im lặng. Sự bình tĩnh, sự nhắm mắt ở phút giờ ấy lại giúp anh nghĩ tới hình bóng Nguyệt. Những ngày bị tra tấn liên miên, anh đã quá thờ ơ với hình bóng ấy. Có lẽ đây là những phút linh thiêng, vì chỉ có sự linh thiêng mới dắt ta trở về với những điều quý báu thật sự của đời người mà nhiều khi ta quá vô tâm đã quên đi. Cũng chẳng hiểu sao anh lại cất tiếng cầu nguyện trong tâm khảm, cầu nguyện giống như Nguyệt mà xưa kia có lúc anh đã chế giễu, cầu nguyện như một Phật tử, mặc dầu chưa bao giờ anh là phật tử “A di đà Phật! A di đà Phật...”. Đó là nhu cầu tâm linh của con người ở những phút tột cùng chăng? Hay anh đã là Phật tử ở một tiền kiếp nào đó, mà chủng tử của nó vẫn ngủ yên trong vô thức của anh đến lúc tột cùng này mới thức dậy.
Bernard phải dùng đến cách tra tấn cuối cùng, cách mà hắn nghĩ rằng sẽ chẳng một tù nhân nào rơi vào tay hắn có thể chịu đựng nổi.
Thầy giáo Hải chợt thấy một màu đen kịt chụp xuống mặt mình. Đó là lúc lũ đao phủ trùm một miếng vải đen phủ kín mặt anh. “Có chịu khai không?”. Tiếng nói của Bernard vang lên một lần nữa. Hải vẫn một mực im lặng. Bernard giơ tay ra lệnh “Bắt đầu”. Cách tra tấn thật giản đơn nhưng thật kinh hoàng. Bọn tay chân bắt đầu rót nước xuống tấm vải. Miếng vải dần dần thấm nước. Nó dính sát vào mặt nạn nhân. Nó bịt hết mọi đường chuyển động của không khí vào mũi của nạn nhân. Nước vẫn rót xuống tạo thành một màng nước kín mít không một thứ khí nào có thể lọt qua. Mới đầu Hải nhịn thở. Nhưng không thể nhịn mãi được. Mỗi khi cái mũi hít khẽ là nước lại chui vào phổi ngay. Ông thầy giáo thư sinh mới đầu còn nằm im lặng, sau đó buộc phải giãy giụa, tiếp đó phải nhổm đầu lên, rồi cong người như con tôm, ngửa cổ ra, cố hết sức hất vuông vải đen đi mà không được. Anh đang bị chết đuối trên cạn. Lồng ngực muốn nổ tung vì nước đã tràn vào phổi, vì thiếu không khí. Phản xạ sống buộc anh phải hít một lần nữa. Mà càng hít thì nước càng chui vào phổi.
Khi bọn đao phủ theo lệnh của Bernard lột tấm vải ra thì mặt thầy giáo Hải đã xám ngoét. Anh ho sặc sụa. Nước ở mũi anh vọt ra. Sau đó anh nôn thốc nôn tháo. Chất nôn nhoe nhoét trên mặt. Một tên lính hất xô nước lên mặt anh cho cái chất bầy nhầy trôi xuống nền. Tiếng Bernard lại cất lên:
-  Có khai không? P2 là gì? P5 là ai?
Hải vẫn im lặng không nói. Lúc này anh không cầu nguyện niệm Phật nữa. Những lời cầu nguyện khi trước đã biến thành những tiếng chuông êm dịu ngân nga trong tâm khảm chàng trai. Nửa mê nửa tỉnh. Anh biết mình sắp chết bởi vì trong cơn mê, anh thấy hình ảnh của Nguyệt bồng bềnh trong làn sương trắng. Người lính rót nước tra tấn có nhiều kinh nghiệm bảo Bernard:
- Mắt thằng này lờ đờ rồi. Báo cáo trung úy. Rót nước thêm lần nữa là hắn chết.
Bernard phẩy tay tức giận:
- Ừ thôi tạm ngừng. Mà đâu có thể để cho hắn chết dễ dàng như vậy. Treo ngược lên cho nước chảy ra. Dù hắn có chết, thì cái chết đó cũng phải có lợi cho chúng ta.
Trong cuộc đối đầu này, khi sự ngoan cường của Hải tăng lên, thì sự tức giận của Bernard cũng dần tăng lên đến những cung bậc cao hơn. Thông thường sự tàn khốc tăng lên thì sự ngoan cường giảm đi, cho đến lúc chẳng còn chút gì nữa. Thể trạng càng mảnh dẻ, sự chịu đựng ngoan cường càng kém. Hải là người gầy gò. Thư sinh mảnh khảnh. Ngực lép kẹp. Cử chỉ khoan thai nhẹ nhàng. Không biết ăn to nói lớn. Thi thoảng lại ho khúc khắc. Chẳng có chút nào dáng dấp của bậc trượng phu hùng dũng. Người ta bảo Hải là kẻ bạc nhược, yểu tướng. Khi mới bắt được Hải, Bernard tưởng như ăn sống nuốt tươi được cái con người hèn yếu đó. Cũng tưởng chỉ sau một trận đòn là đè bẹp được ý chí của ông giáo làng trói gà không chặt. Tây lùn Bernard không ngờ những trận đòn chỉ làm cho đôi mắt của ông thầy giáo đã sáng lại càng thêm sáng mà thôi. Không biết lấy sức lực từ đâu mà Hải chịu đựng giỏi đến thế. Trường hợp Hải đã trái ngược với kinh nghiệm phòng nhì mà Bernard đã có. Cứ mỗi lần tra tấn, Hải chống cự và chịu đựng nổi, là nỗi tức giận trong Bernard lại tăng lên. Tức giận chồng lên tức giận. Dần dần nó chuyển biến thành sự căm giận hung tàn. Một bên quyết đè bẹp. Một bên quyết chống cự. Lẽ dĩ nhiên cái điều man rợ nhất sẽ phải xảy ra. Nạn nhân có nỗi sợ của mình. Nhưng đao phủ cũng có nỗi sợ của đao phủ. Sợ nhất là con mồi không bị đè bẹp. Bàn tay dù vấy máu nhưng đem lại kết quả, thì chí ít kết quả ấy cũng là sự an ủi, bởi vì nó biện minh cho hành động. Bàn tay vấy máu mà không có kết quả, thì không có sự biện minh. Kẻ giết người, khi ấy sẽ trở thành đồ tể. Đao phủ không bao giờ muốn mang tiếng đồ tể. Đó là danh từ hạ đẳng. Đao phủ chỉ thích mang danh sang trọng mà thôi.
 
Bởi thế cho nên, sau khi thất bại trong cuộc hỏi cung tra tấn thầy giáo Hải, Bernard trở nên cuồng giận. Hắn như kẻ điên rồ, nghĩ ngợi, tìm một cách khủng khiếp nhất để kết liễu đời Hải, để tỏ ra hắn là kẻ chiến thắng, đồng thời thị uy với dân chúng.
Để trình diễn sự man rợ, không gì bằng quay ngược lại thời gian, bắt chước thời cổ. Khi Bernard ở với ông lý cẩm, cái ông cậu người bản xứ ấy đã sống qua thời đại loạn lạc lúc quân Cờ Đen hoành hành như những kiêu binh trên đất nước ta. Quân Cờ Đen đánh Pháp nhưng cũng là quân giặc cướp phá và giết chóc người dân rất dã man. Một bận quân Cờ Đen tràn vào làng. Tuần đinh đóng cửa làng chống cự quyết liệt. Cờ Đen bắt được mười người trai tráng. Quân Cờ Đen tập hợp cả làng lại để xem chúng mổ bụng và chặt đầu những người chống cự chúng. Câu chuyện từ thuở ấu thơ đã ấn tượng vào Bernard rất mạnh để lúc này hắn gợi hứng từ đó và biến tấu đi, tạo ra một cuộc hành hình mà đến bây giờ người dân phố huyện vẫn còn nhớ không quên.
Cuộc giết người diễn ra ở bãi chợ. Hôm ấy là ngày bảy, đúng phiên chợ huyện (chợ huyện ngày bảy ngày ba. Ngày bảy là phiên chính. Phiên này có cả mua bán trâu bò). Vào ngày ấy, người đông lắm. Hầu như người khắp nơi đến dự.
Bãi hành quyết nằm trên thửa ruộng đã gặt, sát chợ trâu bò. Bernard cho chuẩn bị từ sáng sớm, lúc người đi chợ còn lác đác.
 
Mấy ông lý trưởng tề quanh vùng phải đem quân tới cắm cờ ngũ hành quanh thửa ruộng. Rồi đánh trống thì thùng. Cứ như thể chuẩn bị hội làng vậy. Trống đánh vang dội đến nỗi cả chợ nhớn nhác lên. Đám trâu bò cũng phải nghển cổ kêu ầm ĩ.
Đúng mười giờ sáng, đoàn lính từ P.C. Huyện xuất phát. Đi đầu là trung úy Tây lùn Bernard. Trung úy cưỡi con ngựa hồng mượn của gia đình cụ chánh Long. Không hiểu sao hôm ấy Bernard hình thức đến vậy. Chẳng hiểu hắn mượn được ở đâu chiếc áo sơmi lụa đỏ chói. Trung úy Bernard sáng rực chói lọi trên lưng con ngựa đi suốt dọc phố đến chợ. Tiếp theo sau lưng hắn ta là hai hàng lính lưỡi lê tuốt trần vác vai đi đều bước. Cuối cùng là chiếc xe bò kéo chở người bị hành hình. Thầy giáo Hải quần áo rách bươm, mặt mày thâm tím tóc dài bù xù, râu ria xồm xoàm. Đứng sau lưng anh là đao phủ tay cầm đại đao sáng loáng mặc quần áo nâu. Ngay sau chiếc xe bò là lũ trẻ con đông như kiến cỏ, chúng chen lấn nhau kêu ồn ĩ.
Đến bãi hành quyết, Bernard ngồi trên chiếc ghế bành sau lưng là những người lính tay lăm lăm cây súng với lưỡi lê nhọn hoắt.
Người ta đã đào sẵn một chiếc huyệt ở ngay thửa ruộng bên cạnh. Một người lính ngụy cầm dao chặt một cây tre làm ba đoạn. Một đoạn gốc dài hơn hai đoạn kia. Đoạn gốc được cắm xuống ở phía trước Bernard. Người ta đã chuẩn bị trước chiếc vồ tre. Tiếng đóng cọc tre chan chát. Phải kê ghế đứng lên mà đóng. Cuối cùng chiếc cọc vững chãi nhô lên khỏi mặt đất khoảng chừng một mét. Thầy giáo Hải được dìu từ xe bò xuống. Mặt anh bình thản. Anh chẳng nói một lời. Người ta đặt Hải ngồi dựa vào chiếc cọc. Hai tay quặt sau lưng trói chặt vào cọc. Người lính làm việc trói còn cẩn thận lấy chiếc dây thừng khác vòng nhiều lần qua ngực, trói lưng anh vào chiếc cọc. Tiếp theo là đóng hai chiếc cọc ngắn. Hai chân giạng ra thành hình chữ V Mỗi cổ chân buộc vào một chiếc cọc. Công việc cuối cùng của người lính trói buộc là quàng một chiếc thòng lọng qua đầu người tử tù để cái nút ở dưới cằm.
Trống đánh rộn lên. Bernard ra đứng cạnh người tử tù dõng dạc tuyên án.
- Bùi Văn Hải, thầy giáo làng Sọ là một tên cộng sản nguy hiểm. Hắn chui luồn vào quân đội Pháp, làm gián điệp cho Việt Minh. Tội xử theo luật nhà binh: Xử tử. Xử tử theo cách chém đầu. Nay thông báo cho toàn dân trong huyện biết. Kẻ nào đi theo cộng sản, nhà nước quyết không tha.
Thầy giáo Hải dướn cổ lên mắt sáng quắc như có điện, nói với mọi người đến xem, lúc này đông như kiến cỏ:
-  Đả đảo giặc Pháp dã man. Đồng bào. Hãy trả thù cho tôi!
Mọi người không nói gì chỉ rì rầm khe khẽ, Bernard thấy kéo dài mãi cảnh này không có lợi. Hắn rút súng lục bắn chỉ thiên ra lệnh hành hình. Có hai tên lính làm đao phủ. Một tên kéo dây. Hắn chống chân làm động tác như kéo co. Hắn kéo mạnh để cái cần cổ vươn ra đằng trước, để cái gáy được lộ ra. Tên lính cầm dao nhằm cái gáy vung dao lên chém mạnh. Tên kéo dây mất đà lảo đảo lùi lại. Cái đầu lâu bị kéo mạnh văng ra, đập vào mặt hắn làm mặt hắn nhoe nhoét máu. Cái thân hình mất đầu phun máu ra thành vòi. Cái vòi máu đỏ theo nhịp tim lúc lên cao lúc xuống thấp. Người đứng xem có thể cảm được nhịp đập của con tim qua luồng máu chảy. Còn cái đầu lâu của thầy giáo Hải đã rời khỏi cổ rồi mà đôi con mắt vẫn còn chớp chớp và đôi môi vẫn còn mấp máy. Có lẽ đôi môi ấy vẫn tiếp tục nói: “Hỡi đồng bào! Hãy trả thù cho tôi”.
 
Trong thời gian ấy, đại úy Thalan đã thuyên chuyển sang một đơn vị khác. Còn người chỉ huy mới lại chưa về. Ở P.C. Huyện, khi ấy Bernard là người chỉ huy cao nhất. Chẳng có ai ngăn trở, cho nên Bernard làm lắm điều mà người ta gọi là kỳ quái và bệnh hoạn.
Hắn lấy một chiếc thuyền thúng cắm ba cái cọc. Mũi thuyền cắm chiếc cọc thấp nhất treo cái rọ lợn thưa đựng đầu thầy Hải. Giữa thuyền là chiếc cọc trung bình. Tây lùn sai mổ bụng thầy Hải lấy bộ lòng trắng hếu quấn vào chiếc cọc này. Đuôi thuyền là chiếc cọc cao nhất. Bernard sai lấy chiếc áo trắng vấy máu của Hải, rồi dùng cây cọc cao tạo thành một gã bù nhìn.
Cuối cùng buộc hai dây thừng ở mũi thuyền. Sai hai thằng lính, ban ngày đi hai bên bờ chậm chạp kéo chiếc đò chở xác trên con sông Đào. Đến mỗi xóm lại bắt dân ra xem. Đặt tên cho trò biểu diễn quái gở ấy là “Thuyền cộng sản trôi sông”.


 





0
 Truyện này hay quá bạn à [sm=applause.gif][sm=applause.gif][sm=applause.gif] Bạn có thể đánh tiếp được k.hihi [:)][sm=blowing kisses.gif]
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.06.2014 13:45:49 bởi Ct.Ly>
 
 
3
Tây lai Bernard
 
Đi ba đêm ba ngày, chị em Nguyệt và An tưởng như mình đã đi được rất xa. Xa tít mù tắp, ngoảnh đầu lại, chỉ thấy những ngọn núi xanh lơ ở phía chân trời. Chẳng biết núi Tam Đảo ở đâu, làng xóm quê hương mình ở đâu. Thực ra, họ không đi được xa lắm. vẫn nằm trong tỉnh. Chỉ khác là ở một huyện cuối tỉnh. Ở đây bằng phẳng hơn, nhiều ruộng nước hơn, nhưng vẫn còn đồi. Nhất là ở bên kia con sông đào, ở đấy đồi lô xô như bát úp. Đó là vùng du kích. Còn ở bên này sông, đó là vùng tề, vùng đang bị tranh chấp quyết liệt giữa Việt Minh và quân Pháp. Vào lúc xảy ra câu chuyện, trên bề mặt vùng này đã thuộc Pháp, đã có chính quyền tề ngụy, và Việt Minh đang cố sức giành lại.
Đây là một tiểu khu, dưới quyền chỉ huy quân sự của P.C. Huyện. Dưới P.C. là một loạt đồn bót nhỏ đóng rải rác ở các điểm xung yếu, và ở dọc các huyện lộ, hương lộ. Các đồn nhỏ này thường chỉ có từ hai tiểu đội đến một trung đội lính gồm cả lính Âu Phi lẫn lính bảo hoàng. Ở P.C. thì đông hơn. Có cả một tiểu đoàn lính cơ động. Có cả đơn vị cơ giới, pháo binh. Ban chỉ huy quân sự tiểu khu đóng ở đây. Đại úy Thalan là chỉ huy trưởng. Phụ trách phòng nhì là trung úy Bernard. Cả hai nhân vật này ta đều đã gặp trong trận càn ở chân núi Thằn Lằn. Đó là cuộc hành quân phối hợp mà họ tham dự nhất thời để rút kinh nghiệm. Còn nhiệm vụ chính của họ là ở P.C. Huyện, nơi mà họ đang tìm trăm phương ngàn kế để xây đồn, để củng cố chính quyền làng xã, để tiêu diệt và xua đuổi tất cả những phần tử Việt Minh đang còn nằm vùng hoạt động.
Sau trận càn Thằn Lằn, một tối, Thalan và Bernard ngồi uống rượu ở câu lạc bộ sĩ quan. Thalan nói :
- Tôi hiểu, tôi rất hiểu công việc vô cùng khó khăn của trung úy. Tôi biết những người cấp dưới của trung úy là những con người không dễ tìm. Họ là những người gan dạ, có máu lạnh, lại phải thông minh lanh lẹn. Không dễ gì kiếm được những người cộng sự như vậy...
- Xin cám ơn sếp đã một phần nào hiểu được công việc của chúng tôi. - Bernard thấy lúc cuối câu Thalan có vẻ ngập ngừng, chưa chịu nói hết ý riêng, anh ta liền nói toạc ra - Chắc đại úy muốn nhắc nhở những người lính phòng nhì chúng tôi, rằng trong trận hành quân vừa qua họ hành động nhẫn tâm quá chứ gì, hay nói cho rõ hơn, là tàn bạo quá chứ gì. Nào khám vú ư! Nào cắt cổ ư! Tôi xin nói, họ là những con người đặc biệt, phải cho phép họ những hành vi đặc biệt. Đại úy nên biết cho, họ là những người cầm chắc cái chết nếu bị sa vào tay Việt Minh. Họ là đối tượng số một bị các đội diệt tề trừ gian đưa vào tầm ngắm. Cái chết kề bên, nếu không tàn nhẫn làm sao họ có thể sống sót. Vậy thì, nên cảm thông với họ, nương nhẹ với họ. Vậy thì, trong trận càn, nếu họ có đi tìm thú vui ở một người đàn bà nhà quê, tôi nghĩ chuyện ấy chỉ là một lỗ nhẹ. Trên thế gian này, đã có cuộc chiến tranh nào không có sự hãm hiếp, không có chuyện cắt cổ giết người. Chúng ta, những người sĩ quan, chúng ta có bao nhiêu quyền lợi. Tiền ư, gái đẹp ư, thăng quan tiến chức ư, chúng ta có nhiều điều kiện để đạt được. Còn họ, với học vấn của họ, với thân phận của họ, chẳng có cơ may nào để ngoi lên. Vậy thì...
Thalan lắc đầu :
- Trung úy ơi! Tiếng là chúng ta làm quân sự, làm chiến tranh nhưng thực ra chúng ta làm chính trị. Bởi VI nếu dân chúng oán hận chúng ta, liệu chúng ta có bình định được cái xứ sở này không? Trung úy cố tình không muốn hiểu điều đó hay sao?
-Tôi hiểu chứ! Nhưng, thực bụng, tôi chưa đồng ý với quan niệm làm chiến tranh của đại úy. Đại úy đã học từ một trường đại học quân sự danh tiếng ra. Tuy nhiên, nhà trường người ta dạy làm chiến tranh khác. Còn ở Việt Nam, chúng ta lại đối mặt với một cuộc chiến tranh hoàn toàn khác. Ở đây không có mặt trận, chiến tranh xảy ra ở mọi lúc mọi nơi, ở đây không có những chiến binh. Một người đàn bà, một đứa trẻ ngây thơ đều có thể giết chúng ta. Ở đây không chỉ đàn ông cầm súng mới là kẻ thù. Ở đây chúng ta có thể chết vì hố chông vì một cây gậy tre vót nhọn. Ở đây, kẻ thù ở lẫn với ta. Ở đây ngọn cỏ, cành cây, mái tranh xơ xác đều thù địch với ta. Do vậy, nó khốc liệt gấp hàng trăm lần so với chiến tranh chính quy. Hoàn cảnh chiến tranh đã khác. Lẽ nào ta cứ khư khư những quan niệm chiến tranh mà nhà trường đã dạy. Xin lỗi đại úy, tôi có thể tự hào tôi hiểu đất nước này hơn các vị, bởi vì trong dòng máu của tôi một nửa là dòng máu da vàng. Tôi có thể nói: Trong cuôc chiến tranh này, kẻ nào nhân đạo, kẻ ấy đang tự sát.
Thalan bỗng cảm thấy lúng túng. Không phải ý kiến của Bernard sai. Nó có nhiều phần sự thật. Cái sai của nó nằm ở chỗ nó ngược hẳn với những lý tưởng của những vĩ nhân, danh nhân của nước Pháp. Nó khác hẳn với những tư tưởng của Rousseau, Hugo, Pascal, Descartes... mà lúc còn ngồi ở ghế nhà trường, chàng đêm ngày say sưa đọc... Biết nói gì với anh ta đây? Bernard cũng là người được học hành. Chàng trung úy thấy vậy lại tiếp thêm :
- Tôi biết đại úy đã từ đường số 4, từ đường biên giới địa ngục sống sót trở về. Tôi cũng hiểu đại úy là người sùng bái đại tướng De Lattre de Tassigny. Tôi cũng biết đại úy là người muốn, sau trận quân viễn chinh của chúng ta thua ở đường số 4, phải phục hồi danh dự cho nước Pháp ở cái xứ sở Đông Dương này. Chắc đại úy cũng biết cha tôi là người đã hy sinh từ những ngày đầu cho công cuộc thuộc địa khai sáng đất nước này. Nói cho cùng, chúng ta có gì khác nhau đâu. Tôi cũng là người sùng bái đại tướng De Lattre như đại úy. Tôi sùng bái ý chí, quyết tâm sắt đá không hề run tay của đại tướng. Khi người mới sang, Việt Minh mở ngay chiến dịch Vĩnh Yên sát Hà Nội. Đối phương muốn thừa thắng sau chiến dịch Biên giới. Tình báo của ta đưa tin Việt Minh muốn tổng phản công. Đại tướng liền giơ quả đấm sắt, đưa quân tinh nhuệ vào cuộc. Lần đầu tiên quân viễn chinh dùng bom na pan, dùng súng phun lửa. Tiêu diệt đối phương không thương tiếc. Tôi cũng muốn như vậy thôi. Bình định ư? Giai đoạn đầu ta cũng phải đánh địch một cách tàn bạo như vậy. Bất kể ai. Đã chống chúng ta là phải chết. Còn sau đó, đại úy muốn dùng củ cà rốt hay những ngón ngọt ngào thế nào thì tùy...

* * * * *

Trung úy phòng nhì Bernard Martinot là Tây lai, một anh chàng nửa Việt, nửa Pháp. Cha là chuẩn úy Jean Martinot, sang Đông Dương từ đầu từ thế kỷ hai mươi, có nhiều công tích trong công cuộc bình định thuộc địa, nên đã được tưởng thưởng huân chương Bắc đẩu bội tinh.
Mẹ là bà Lê Thị Thu, một cô gái quê đặc sệt. Bà Thu người làng Bái, vì quá nghèo đói nên bỏ quê ra Hà Nội làm ăn. Trước khi ra Hà Nội, bà Thu đã vào chùa định làm ni cô nương nhờ cửa Phật. Sư thầy Diệu Tầm thấy Thị Thu là người nhan sắc mới bảo rằng :
- Con là gái hồng nhan. Khó tu hành lắm con ơi! Đi tu mà nửa đời nửa đoạn, không trọn kiếp thì chỉ thêm mang tội. Đàn bà đẹp đi tu, bọn đàn ông nó cũng không tha đâu.
Thị Thu van lạy, thề quyết tâm theo Phật. Sư bà thở dài đành lòng cho Thị Thu tu thử một thời gian. Nghĩa là Thu vẫn chưa cắt tóc, chỉ ăn mặc nâu sồng. Nhà chùa cắt đặt công việc, chỉ bắt Thu hàng ngày đi gánh nước và học tụng kinh niệm Phật. Quả nhiên như lời sư bà nói, hàng ngày bọn trai làng đã chờ sẵn ở ngoài giếng, hễ cứ thấy bóng Thu ở chùa ra là chúng vây lại buông lời chòng ghẹo. Đến nỗi Thị Thu quỳ xuống lạy chúng chẳng tha. Có đứa táo tợn còn giật khăn bịt đầu cho xổ tóc ra rồi ôm lấy cô nghịch ngợm. Hôm ấy Thị Thu không gánh được nước, chỉ còn biết nức nở chạy về chùa. Sư bà thương tình liền cho Thu một đồng bạc và bảo :
- Thầy thấy con vừa có sắc, lại vừa lanh lợi tháo vát. Ngay từ đầu thầy đã biết con chưa có duyên với Phật. Thôi thì sống ở đời cũng được. Chỉ cốt con có cái tâm. Tâm là Phật con ơi. Thầy chẳng có nhiều, chỉ có đồng bạc này cho con làm vốn ở đời.
Thị Thu lạy tạ sư bà rồi một thân một mình ra đất Hà Nội kiếm sống, vốn là gái quê thạo việc chăn nuôi, nên Thu chọn việc buôn gà. Mới đầu là dăm con gà ngoài chợ, sau rồi bu to bu lớn. Thu có duyên bán hàng nên công việc dần phát đạt. Thu tháo vát, dám theo chị theo em lên tận Cửa Đông bán hàng cho nhà binh trong thành. Ngày ấy, làm thân con gái hơ hớ ra mà dám giao thiệp với Tây cũng thật táo tợn. Lẽ dĩ nhiên, chút nhan sắc, Thị Thu cũng chẳng dại gì mà không sử dụng cái ma lực trời ban cho riêng mình ấy. Vừa ăn nói mặn mà, vừa xinh đẹp, Thị Thu được một ông Tây “ắcxìđằng” [1] làm trong “anhtăngđăng” [2] để ý. Ông giao cho cô việc cung cấp thịt gà cho lính Tây. Thế là Thị Thu phất lên như diều gặp gió. Chỉ trong vài năm, cô đã làm được mấy căn nhà cho thuê ở ô cầu Dền. Thị Thu thấy ông chuẩn úy Martinot là người Tây nhưng cũng thật tốt bụng. Tử tế chẳng khác gì người An Nam. Thế là cô quyết định lấy ông. Một quyết định thật khó khăn ở thời buổi ấy. Bởi vì người ta gọi cô là me Tây. Đó là một từ ngữ sỉ nhục với người đàn bà lấy giặc làm chồng. Tuy nhiên, cô ở Hà Nội, cho nên sự thành kiến dè bỉu khinh miệt cũng đỡ hơn nhiều so với ở làng.
Mối tình Pháp Việt đề huề ấy đã khai hoa kết trái. Cô sinh được một con trai. Đó chính là Bernard Martinot. Tuy nhiên, cuộc tình chẳng được dài lâu. Nếu dài lâu, chắc bà Thu đã trở thành nhà tư sản kếch xù ở Hà Nội. Bởi vì vào thời đó, chân nhà thầu cho “anh tăng đăng” là một chân béo bở. Chỉ ngồi không, tiền của cũng đổ vào như nước. Ông Martinot qua đời, người khác lên thay, lẽ dĩ nhiên mối lợi phải rơi vào tay người khác.
Ông Martinot qua đời khi cậu Bernard mới được sáu tuổi. Bà Thu lo tang lễ cho chồng khá chu tất. Có cả những nghi thức Thiên Chúa giáo. Lại có cả những nghi thức Phật giáo. Bà về làng làm lễ cầu siêu cho ông Martinot ở chùa. Chạy đàn tưng bừng một đêm. Rồi cỗ bàn mời hết các bậc kỳ hào trong tổng trong huyện. Người ta hỏi ông Martinot là Tây có đi chùa đâu mà làm thế. Bà trả lời :
- Tôi được như ngày hôm nay là nhờ một đồng bạc sư thầy cho tôi. Tôi ăn mày cửa Phật nên mới nên người. Tôi phải biết ơn Phật.
Đã đến lúc cho Bernard đi học. Giá như ông Martinot còn sống, chắc cậu Bernard sẽ nhập học trường Tây. Nhưng bà Thu lại là người Việt nên cách suy nghĩ của bà có khác. Bà nghĩ con người phải có tổ có tông, con gái xuất giá, phải nhờ nhà chồng, nhưng bên nội nhà thằng Bernard nào có ai. Mình sống ở đất Nam, mà sống ở quê mình là phải có họ hàng làng nước, nếu không khi gặp bước hoạn nạn thì ai giúp đỡ. Thôi! Không được nhờ bên nội, thì ta nhờ bên ngoại. Bà Thu là người Việt rất thuần túy. Trong khi làm ăn phất lên, bà không quên họ hàng anh em. Bà bỏ tiền ra tậu ruộng, gây dựng cho ông em là Cẩm. Lại chạy cho chân lý trưởng. Hiện nay lý Cẩm vừa giàu có vừa oai phong nhất làng Bái. Bà cũng dùng thế lực của chồng chạy cho người trong họ những chân chánh tổng, trưởng bạ... Họ Lê nhà bà nhờ thế trở thành một họ lẫy lừng của làng Bái. Bà đã tuân theo đúng lời dạy của cụ trưởng họ: “Ở cái xã hội An Nam này, nếu không có vây cánh, không có anh em họ hàng che chở, thì sẽ chết đầu nước”. Do nghĩ vậy, bà đã cho Bernard theo một đứa anh họ lớn tuổi hơn vào trường Hàng Kèn, một trường học ở Hà Nội dành cho người An Nam.
Thế là suốt thời thơ ấu, Bernard chơi bời nghịch ngợm và học tập cùng với lũ trẻ người Việt. Nó nói tiếng Việt, ăn cơm bằng đũa, chén thịt chó mắm tôm, đi ăn giỗ ăn tết, rồi có lúc học cả cái cách đối xử mánh khóe, xỏ lá ba que chẳng khác gì hạng hạ lưu trong xã hội người Việt. Nói tóm lại, bà Thu đã biến nó thành người An Nam, chỉ có khác là mắt nó xanh, mũi nó lõ.
Khi Bernard mười ba tuổi, bắt đầu lên trung học, có một đồng đội cũ của ông Martinot đến chơi. Ông này đã chuyển sang làm công chức. Ông Jules thấy tình hình của cậu Bernard như thế, cho là không ổn. Thằng bé rõ ràng là dân Tây. Bố nó là Tây chính cống. Còn nó, chỉ phải tội mái tóc nó màu đen, chứ còn màu da, con mắt... hầu như tất tật trên con người nó đều lộ ra nó là người Pháp. Nói thực bụng, ông Jules không ưa cái mớ tóc màu đen của nó. Mớ tóc đen nhánh của nó được thừa hưởng của người mẹ. Xưa kia, mớ tóc đen mượt mà của bà Thu đã hút hồn ông bạn Martinot; đó là điều mà ông chê cái “gu” của bạn. Ông Jules là người tóc vàng, và rất tự hào về màu vàng mớ tóc. Ông cho rằng nó rất Pháp, rất quý phái. Nghĩ xong ông Jules lại tự trách mình hẹp hòi. Bởi vì, mớ tóc màu đen dễ gợi ý cho ta sự kỳ thị chủng tộc, nhưng biết đâu đấy, ở một thời nào đó, nó lại là một ưu điểm thì sao.
Tuy nhiên, có một điểm ở Bernard lúc này, ông hoàn toàn không thể bằng lòng. Đó là tiếng Pháp của anh chàng lai. Ngôn ngữ phản chiếu tâm hồn con người rất rõ. Ngôn ngữ thế nào, tâm hồn thế ấy. Ông không thể quan niệm nổi một người Pháp mà lại nói tiếng Việt sõi hơn tiếng Pháp. Nghe nó nói tiếng Pháp... thì “Ôi! Thật là thảm hại!”. Nói thì sai ngữ pháp, giọng thì đúng là dân An Nam nói tiếng Tây, điệu bộ khi giao tiếp thì giống như kiểu me sừ lý trưởng. Ông rên lên, kết luận trong lòng:
“Hỏng! Bà mẹ này đã biến hóa một ông Tây thành một kẻ An Nam. Chỉ vài năm nữa là cậu bé sẽ trở thành một thứ “sale Annammite” (người An Nam bẩn thỉu), một thứ người An Nam khúm núm, nịnh bợ. Chẳng còn chút gì dáng vẻ kiêu hãnh, uy nghi của một ông chủ, của một người văn minh đã chinh phục một đất nước man rợ”.
Ông ta hỏi Bernard :
- Cậu đã nghe câu chuyện này chưa? Chắc chưa ai kể cho cậu bao giờ. Câu chuyện xảy ra vào thời chinh phục xứ Bắc Kỳ vào cuối thế kỷ mười chín. Chính ông Martinot cha cậu, đã tham dự. Lúc bấy giờ, tướng Négrier chỉ huy một đạo quân lớn gồm 7.200 lính Pháp và 6.500 cu li người Việt để khuân vác lương thực và đạn dược. Chúng ta đánh lên biên giới Lạng Sơn. Chúng ta đánh nhau với quân triều đình Huế và quân Cờ đen Cuộc chiến thật hào hùng. Nó rất tàn bạo kinh hoàng nhưng cũng rất hùng tráng. Con biết không, người đi chinh phục không thể có tình cảm thương xót, mềm yếu. Tất cả tù binh và tử sĩ đối phương đều bị chặt đầu. Ta nhớ tướng Négrier ra lệnh chặt 640 cái thủ cấp để xếp thành một cái Kim tự tháp toàn đầu lâu. Đếm thì số thủ cấp còn thiếu. Ông ra lệnh cho lính đi lùng ở khu vực lân cận. Lính theo lệnh đi càn. Hễ kẻ nào có dáng vẻ học trò, dáng vẻ văn thân thì chặt đầu không tha. Tại sao lại thế? Bởi vì chống lại người Pháp lúc ấy là đảng Văn Thân. Con hãy nhớ lấy. Chúng ta muốn làm ông chủ thì bắt buộc phải làm như vậy. Muốn cai trị một xứ man di thì phải biết không thương xót, con có hiểu không? Ở trong con có hai dòng máu: một là thứ máu cao quý của nước Pháp, hai là dòng máu thấp hèn của xứ da vàng. Muốn trở thành cao quý, con phải biết thanh lọc, gội rửa dần dần cho đến hết kiệt cái chất da vàng trong máu huyết của con.
Thực ra, Bernard chưa hiểu hết những lời nói của ông Jules, chiến hữu của cha cậu. Cái gì mà cao quý? Cái gì mà thấp hèn? Cái gì mà tẩy rửa? Cái gì mà man di?... Tất cả cuộc sống của cậu từ thời thơ ấu đều không nói lên những điều mà ông Jules phát biểu. Thực ra, cuộc sống ở với bên ngoại nhà cậu cũng êm đềm lắm chứ, cũng thú vị lắm chứ. Tuy nhiên, từ thẳm sâu trong lòng, Bernard vẫn cảm nhận được có một niềm kiêu hãnh âm thầm trú ngụ. Nhất là khi ông Jules khơi gợi cho nó thức dậy. Mình thuộc về một nòi giống cao quý, thượng đẳng ư? Mà lạ thật! Mình chẳng giống mọi người chung quanh. Cả với mẹ, mình cũng khác. Hình như mọi người chung quanh khi tiếp xúc, lại có vẻ nể sợ mình... Ôi chao! Sự khác người ấy cũng ngọt ngào lắm chứ, cũng tự hào lắm chứ!...
Ông Jules thấy có trách nhiệm phải phục hồi lại bản sắc cho cậu bé Bernard. Ông âm thầm làm chuyện ấy. Ông thấy đó hình như là một di chúc ẩn ngầm mà ông Martinot khi nhắm mắt chưa kịp nói với ông. Việc đầu tiên của ông Jules là chạy chọt, nhờ vả, tìm mọi cách để đưa chàng thiếu niên Bernard được vào trường học dành riêng cho trẻ em mồ côi của những binh sĩ Pháp. Muốn sửa tâm hồn, thì trước hết hãy sửa ngôn ngữ, đó là điều ông vẫn nghĩ. Có thể nói, đây là một công cuộc tái Pháp hóa, một công cuộc đi tìm lại cái nhân dạng Âu châu cho một chàng trai đã bị “da vàng hóa”.
Chàng trai Bernard thừa hưởng được từ người cha, nhà chinh phục thuộc địa cái can trường táo tợn của một kẻ phiêu lưu mạo hiểm, lại đồng thời thừa hưởng được cái lanh lẹn tháo vát, láu lỉnh của người mẹ, nên rất thông minh, cả quyết và dễ dàng thích ứng mọi hoàn cảnh. Chẳng thế mà chỉ một năm sau, anh ta đã có điệu bộ hoàn toàn Tây, và giọng nói thì hệt như một người Pháp mới từ Paris sang xứ thuộc địa. Tuy vậy, khi trở về nhà ngoại hay trở về quê mẹ, những ngày Tết, ngày nghỉ hè, anh ta lại lột xác biến đổi như con kỳ nhông và trở thành một anh chàng An Nam đặc sệt, biết ăn lòng lợn chấm mắm tôm và chén tiết canh thì không sợ. Ông Tây chiến hữu của cha muốn Bernard lột bỏ lốt da vàng vô hình mà ông cho rằng anh đã có lúc vô tình khoác vào. Thực ra Bernard không lột xác da vàng, anh chỉ khoác thêm cái lốt da trắng bên nội mà lúc này anh ta mới được tiếp nhận. Tức là anh ta có hai lớp da: lớp vàng, lớp trắng. Và Bernard có thể sử dụng chúng tùy hoàn cảnh. Như vậy, chẳng tốt sao. Ở tiểu học Bernard được hưởng cái tự do tự tại của người Nam, được hưởng cái không khí êm đềm chất phác của đồng quê Việt. Lên trung học, Bernard được biết mình có một miền quê nội xa lắc xa lơ qua những áng văn tinh tế, qua những điều kỳ diệu mà người ta gọi là văn minh, qua cái lý tính khôn ngoan từ ý tưởng vụ lợi chuyển sang cao cả mà người ta gọi là sự nghiệp của người đi khai sáng. Từ mơ hồ chuyển sang ý thức, hình như Bernard đã mang máng hiểu được cha mình hơn. Tiếng gọi của nòi giống đã lên tiếng trong Bernard tuy nó chưa tường minh, tuy nó chưa mồn một. Từ đó Bernard chững chạc hẳn lên.
Hắn đang chuẩn bị thi tú tài thì nổ ra cuộc đảo chính mồng 9 tháng 3 năm 1945: Nhật đảo chính Pháp. Hôm ấy, may mắn hắn về làng Bái ăn giỗ. Đến tối, bà Thu từ Hà Nội bổ về quê, giọng nói hoảng hốt thì thầm :
- Con còn nhớ ông Jules không?... Cái ông bạn bố mày, đã xin học cho mày ấy... Chết rồi... Chắc là thế... Có khi cả vợ ông ta nữa... Nhà ở phố Hàng Chuối... Người ta đi chợ về qua nhà, thấy bảo có vũng máu ở trước cổng sắt... Còn cả chiếc giầy cao gót màu tím nằm chỏng gọng... Khổ thân bà Jules... Người gầy gầy, hay làm đỏm... Giầy màu tím là đúng của bà ấy... Dân Hà Nội lên tận vườn hoa Canh Nông xem Nhật đánh Tây... Người ta bảo súng trong thành nổ đì đọp đến chiều mới thôi.
Thế là, Bernard ở lì trong làng Bái. Nghe nói tất cả Tây Hà Nội bị Nhật bắt hết. Cả học sinh, cả trẻ con cũng bị bắt tuốt tuột. Điều may mắn là lý trưởng làng Bái lại là lý Cẩm em bà Thu, cho nên Bernard được che chở. Vóc người Bernard thấp và đậm. Chỉ cao có một mét sáu mươi, bằng khổ người Việt tóc anh lại màu đen. Cho nên, mặc quần áo nâu, rồi đội cái nón sùm sụp vào Bernard dễ dàng lẫn với người nhà quê.
Mới đầu, người Nhật phải lo trăm công nghìn việc, không với tay được tới miền quê xa. Sau vài tháng, thì vùng Bái lại là địa bàn hoạt động của Việt Minh. Cho nên cuộc sống của Bernard khá an toàn.
Cho đến ngày Cách mạng tháng Tám năm 1945...
Từ ngày Nhật đảo chính đến ngày cách mạng, tính kỹ ra được năm tháng mười ngày. Chỉ hơn năm tháng một chút, nhưng cũng đủ để nảy sinh ra một mối tình. Bernard, mà dân làng Bái vẫn gọi là cậu Lê Na, ở tại nhà ông lý Cẩm. Nhà ông Cẩm xưa chỉ là một ngôi nhà lá trên mảnh đất vườn họ Lê. Từ khi bà Thu phất lên ở kẻ chợ, nhà họ Lê cũng phất lên theo. Xưa, dù giàu có ở Hà Nội, mà ở quê vẫn lúi xùi thì dân làng vẫn coi khinh. Do vậy, bà Thu mang tiền của về quê xây nhà, tậu ruộng. Thứ nhất, để báo hiếu mẹ cha. Thứ nhì, để gây dựng cho em trai, cho họ hàng. Vậy nên, ngôi nhà gạch năm gian của ông Cẩm to nhất làng. Rồi ông Cẩm được bà chị chạy cho chân lý trưởng. Từ một gia đình tầm thường, bỗng chốc lý Cẩm nhảy lên ngôi vị nhất nhì trong xã. Thực ra cái cách ứng xử ấy của bà Thu là cách nhìn xa, đúng theo lề thói của người Việt. Cộng đồng quan trọng, trong đó cộng đồng gia tộc là quan trọng nhất. Phải thế thôi vì ở cái xứ sở đầy biến động bất trắc này khi thất thế ai là người dang tay ra giúp đỡ trước tiên. Chẳng là gia đình họ tộc đó sao? Cứ ngẫm như trường hợp của Bernard, nếu không có quê hương làng Bái, không có gia đình ông Cẩm thì số phận của anh ta lúc này ra sao? Nếu không bị Nhật giết thì cũng bị chúng nó bắt tù đày.
Bernard thích ứng rất nhanh. Từ khi ở nhà ông cậu, anh không dùng tên Tây nữa. Anh lấy họ của mẹ, và chuyển Bernard thành Na. Cái tên Lê Na cũng hay đấy chứ, mà lại có vẻ người Việt. Cạnh nhà ông lý Cẩm là nhà ông chánh Toàn. Ông chánh có cô con gái là Mận đẹp nhất nhì trong xã. Năm ấy Mận chừng đôi tám, cái tuổi căng đầy nhựa sống. Cô gái quê ấy mộc mạc, chất phác, nhưng là thứ mộc mạc của con nhà giàu trong làng nên diêm dúa và duyên dáng lắm. Cũng là váy, nhưng không phải thứ váy mo nang, mà là váy sồi mềm mại. Cũng là yếm, nhưng bao giờ Mận cũng mặc yếm lụa, buộc căng ra để khoe đôi vú thây lẩy, tràn trề sinh lực. Cũng là vành khăn quấn trên đầu, nhưng vành khăn bao giờ cũng đen nhánh (hễ vải hơi bạc là cô nhuộm lại hoặc thay ngay). Cô kín đáo trang điểm đấy, chả là chỉ có màu đen và thật đen mới làm nổi bật được làn da trắng bóc của khuôn mặt cô, của cái gáy và cái cần cổ như ngà, như ngọc mà lũ trai làng đứa nào cũng thèm cắn vào một miếng.
Những ngày ấy, thế lực gia tộc họ Lê vẫn đang mạnh, cho nên khi chàng Lê Na đứng bên hàng rào nhấm nháy, thì Mận không đáp ứng ngay, cũng không phản đối, mà chỉ đỏ bừng mặt, chạy đi cùng với nụ cười. Lần tán tỉnh thứ hai, Lê Na nắm cổ tay, Mận đẩy tay ra, nhưng Na vẫn nắm. Lần gặp gỡ thứ ba ở chỗ vắng, Lê Na thừa cơ ôm choàng lấy Mận, và cậu bắt chước bọn trai làng, dùng bàn tay bóp vú cô nàng. Mận đánh mạnh vào tay Na rồi giận luôn mười ngày. Sau đó, lần gặp thứ tư, thứ năm, Lê Na nghiêm chỉnh hơn...
Đến lần gặp thứ sáu, lần này cả nhà ông chánh đi ăn giỗ bên ngoại, Mận ở nhà một mình trông nhà. Lê Na xé rào sang nhà ông chánh. Đôi trai gái hái quả trong vườn. Nhân lúc Mận ngã cây ổi, đau chân, Na thương xót bóp chân cho cô. Rồi anh thổi, anh xoa. Bất thình lình anh bế bổng cô lên, đem ra sau đống rơm. Ở đây, anh là người đầu tiên cắn vào cái cổ ngọc ngà của cô. Rồi tốc cái yếm lên... Tốc cái váy lên... Lần này, anh không bắt chước lũ trai làng. Bọn ấy chỉ biết bề ngoài, chỉ biết mơn trớn, không biết chiếm đoạt. Hình như đây là tiếng gọi của nòi giống, tiếng gọi của người cha. Lê Na đã quên mất gương mặt người cha, nhưng người cha vẫn ngủ lịm trong anh, đến bây giờ chợt thức giấc. Cưỡng đoạt chăng? Chưa chắc! Sao người đàn bà lại run rẩy, bám chặt lấy anh? Móng vuốt của sự oán hận, hay của sự hân hoan? Sao cô ta lại đầm đìa nước mắt rồi lại ôm chặt lấy cổ anh. Có tiếng thì thào trong đầu: Cái ấy có tên là chinh phục. Phải chăng đó là tiếng của người cha.
Sau chuyện đó, Lê Na lâng lâng sung sướng. Lần đầu tiên anh biết thế nào là hạnh phúc của kẻ chiến thắng. Nhưng chỉ ít lâu sau, anh lại trải nghiệm ngay thế nào là nỗi chua cay của chiến bại. Đó là ngày Cách mạng tháng Tám. Cả một dân tộc bỗng tưng bừng trong niềm hân hoan. Khắp nơi, người người ca hát:
“Việt Nam bao năm ròng rên xiết lầm than.
Dưới ách quân tham tàn đế quốc sài lang...”.
Tất cả cứ như một thùng thuốc súng nổ vang trời. Người ta biểu tình. Người ta treo cờ. Người ta tập quân sự. Người ta tập hát Người ta đi họp. Người ta đi học bình dân...
Chỉ riêng nhà ông lý Cẩm buồn thiu. Cả Lê Na cũng buồn thiu. Ô hay! Việt Minh cướp chính quyền từ tay người Nhật cơ mà. Người Nhật thua chứ người Pháp có thua đâu. Cớ sao Lê Na lại buồn. Thậm chí có thể nói người Pháp cũng thắng, bởi vì người Pháp ở trong phe đồng minh chống phát xít. Lê Na cố tự giải thích và anh ta yên lòng vì thấy mình có lý.
Nghĩ như vậy, Lê Na đường hoàng ra khỏi nhà. Ra tới ngõ anh lại chợt thấy lý lẽ của mình chẳng vững. Anh cảm thấy ngay, hình như tình cảm của dân làng Bái đối với anh đã đổi khác. Hình như người ta có ý lảng tránh anh. Cả cô Mận cũng vậy. Thoáng bóng anh từ xa, cô ta đã rẽ sang lối khác.
Ba hôm sau, Lê Na mới thực sự hiểu rõ hoàn cảnh của mình. Có giấy ủy ban triệu tập anh lên xã. Người tiếp chuyện anh là một cán bộ Việt Minh từ nơi khác đến. Một người trạc ba mươi, nước da ngăm ngăm, đôi mắt sáng và giọng nói thật nghiêm nghị :
- Tên anh là gì?
- Tôi họ Lê tên Na.
- Anh là Tây lai phải không?
- Dạ, phải.
- Vậy thì, tên họ chính thức, tên Tây của anh là gì?
- Dạ, Bernard Martinot.
- Tốt! Thế mới phải chứ. Hiện bố anh ở đâu?
- Dạ, đã chết.
- Còn bà mẹ anh?
- Bà là Lê Thị Thu, hiện ở Hà Nội.
- Cha anh, ông Martinot chết vì gì?
- Dạ, nghe nói bị bệnh.
- Không đúng! Thế là anh chưa thành khẩn.
- Dạ, vì vết thương ở ngực.
- Có thế chứ!... Này, anh đừng tưởng... chúng tôi biết hết cả. Đừng có giấu diếm. Anh thử trả lời xem vì sao ông Martinot bị
 thương vào ngực?
- Dạ, quả thực điều đó tôi hoàn toàn không biết. Lúc ông bị chết, tôi mới lên sáu.
- Vậy để tôi nói cho anh nghe nhé. Ông Martinot chỉ huy một trung đội, thuộc đoàn quân của thiếu tá Bonifacy. Họ truy kích đoàn nghĩa binh của cụ đề Thám ở vùng núi Tam Đảo Trong trận càn ấy, cha anh bị thương nặng ở ngực, được thưởng Bắc đẩu bội tinh, và được chuyển về Hà Nội làm trong intendante, từ đó mới quen bà Thu bán gà ở Cửa Đông. Chuyện này báo Pháp đăng ầm ĩ, thậm chí đã viết thành sách. Tôi học luật nên có đọc chuyện ấy. Tôi là người huyện này. Bà Thu mẹ anh là người cùng huyện với tôi. Bà lại là người đàn bà lấy Tây giàu có. Ảnh của bà được in lên báo. Chính vì vậy, nên tôi mới nhớ câu chuyện.
Bernard chẳng còn biết nói sao nữa, lý lẽ của anh cán bộ Việt Minh lại rất rõ ràng xác đáng. Cho nên anh đành im lặng, coi như hoàn toàn công nhận lý lịch của mình. Và Bernard cũng hiểu được cái ý ẩn ngầm của người cán bộ Việt Minh kia là: “Dù chúng tôi không cướp chính quyền trực tiếp từ tay người Pháp các anh, nhưng thực chất chính người Pháp là kẻ bị thua. Và từ đây, sẽ không bao giờ người Pháp còn có thể cai tri người Nam được nữa”. Cuối cùng anh cán bộ Việt Minh kết luận :
- Anh hãy nhớ cho kỹ. Từ nay, chính quyền là của chúng tôi. Tất cả mọi thế lực ngoại bang đều phải đầu hàng. Hàng thì sống, chống thì chết. Người Nhật đầu hàng, gia nhập hàng ngũ cách mạng, được gọi là người Việt Nam mới. Người Pháp, nếu đầu hàng, cũng sẽ là người Việt Nam mới chứ sao.
Bernard chỉ biết vâng, dạ. Từ lúc đó, anh ta không nói nửa lời. Đột nhiên, đất dưới chân anh như sụt xuống. Trong anh ta, một cái gì to lớn, kiêu hãnh bỗng đột ngột tan tành. Phút chốc, tất cả bỗng dưng đảo ngược. Sụp đổ nhất là niềm tự hào, niềm tự hào là người da trắng. Trước kia, Bernard không nghĩ tới nó mấy. Nào ngờ nó vẫn thường trực trong anh. Bây giờ đây, đối mặt với hiện thực, Bernard mới nhận ra sự hiện hữu của nó. Ông Jules, người chiến hữu của cha anh, ngày trước đưa anh đi học, ông chỉ muốn làm công việc thức tỉnh điều này trong anh nhưng không được. Còn bây giờ, anh đột nhiên thức tỉnh, nhưng ông Jules đã chết rồi. Bỗng nhiên, Bernard chợt hiểu rằng anh không thể sống ở cái làng này được nữa. Ông lý Cẩm đã đùm bọc anh, cứu anh sống sót trong mấy tháng qua, anh rất quý điều này, nhưng mái nhà của ông vẫn không phải mái nhà của anh. Có lẽ cái nhà của anh nó phải to hơn, sang trọng hơn; mà điều cốt yếu anh phải là chủ ở đấy.
Cả một đêm suy nghĩ. Cả một ngày suy nghĩ. Cả ngày anh chỉ ăn cơm qua quýt rồi lại nằm dài. Đến tối hôm sau, Bernard nói với ông lý Cẩm :
- Cậu ơi! Cháu phải đi thôi. Chỗ của cháu không phải ở đây Nếu chần chừ, cháu nghĩ rằng người ta sẽ giết cháu, vì ý nghĩ của cháu khác họ. Cháu cảm ơn cậu vì những ngày qua. Cậu cũng cẩn thận đấy. Cháu còn cảm thấy, sắp tới, cả cậu nữa người ta cũng chẳng để yên. Cháu lạy cậu. Cháu ra Hà Nộ ngay đêm hôm nay.
Trong đêm đen, Bernard ra đi, không cả lời chào cô Mận, người con gái mà mấy tháng trước đây, anh cứ nghĩ đinh ninh sẽ cưới làm vợ. Cái đêm trốn chạy khỏi quê ngoại ấy, cá đêm phải đi bộ ròng rã vài chục cây số ấy đã khắc sâu vào tâm hồn Bernard, có lẽ cả đời anh không quên. Nó là nỗi hận thứ nhất đối với xứ sở này, nỗi hận của một ông chủ bỗng dưng bị đổi ngôi.
Về tới Hà Nội, Bernard thấy yên tâm hơn. Trước đây ở làng, lúc nào anh cũng vẫn có cảm giác bức bí. Cứ như con cá nằm trong rọ vậy. Khi cách mạng nổ ra, lúc ấy cá không nằm trong rọ, mà nằm trên thớt. Còn khi về Hà Nội, lại là cảm giác cá được thả vào nước. Và khi người Pháp quay về Hà Nội, đóng quân trong thành, lúc ấy Bernard mới thấy mình đã hành động hoàn toàn đúng đắn. Con cá đã bơi lội tung tăng. Anh ta đã tìm cách liên hệ với người Pháp. Con mắt xanh, cái mũi lõ, giọng nói đặc Paris của anh là những đảm bảo tuyệt hảo. Chỉ một tháng thôi, người ta đã có đủ hồ sơ về anh. Đầu tiên, anh làm phiên dịch cho một đại tá. Sau đó, thấy anh quá thông thạo về xứ sở này, người ta chuyển anh sang làm việc trong hòng nhì cơ quan tình báo của quân đội Pháp.
Về phương diện đàn bà, Hà Nội có biết bao cô gái đẹp, song không hiểu sao Bernard vẫn cứ tơ tưởng tới cô Mận con ông chánh làng Bái. Phải chăng cái bận tiếp xúc với thân xác cô ở chân đống rơm vẫn để lại trong anh một dư vị không thể nào quên. Đó là người đàn bà đầu tiên trong đời Bernard. Bảo rằng giữa hai con người ấy hoàn toàn chỉ là chuyện thân xác, điều ấy không đúng. Trong tâm hồn người đàn ông nào cũng có một mẫu hình nào đó về người đàn bà. Thường thường mẫu hình đó là mẹ chúng ta. Bởi vì ta sống với mẹ từ thuở lọt lòng. Mẹ bú mớm, ôm ấp ta. Sống bên mẹ ta được che chở, cảm thấy hoàn toàn yên tâm. Có thể người đàn ông phối kết với một người đàn bà thuộc mẫu hình khác. Cuộc kết đôi ấy chắc sẽ gây ra nhiều ấm ức, bất mãn, để rồi người đàn ông gặp người đàn bà thuộc mẫu hình từ thuở ấu thơ của mình, lúc đó bi kịch sẽ nổ ra. Bernard mồ côi cha từ nhỏ. Bà Thị Thu như con gà mái, suốt đời xòe cánh ấp ủ anh. Hơn nữa, thuở ấu thơ, anh chỉ sống với người An Nam, do đó hình ảnh bà Thu chắc chắn sẽ là mẫu hình về người đàn bà mà anh muốn tìm kiếm. Có thể anh khó nói ra lời, nhưng trong tiềm thức đó là một người đàn bà Việt, thắt đáy lưng ong, đầy sức sống, tháo vát, dịu dàng, và rất cương nghị. Cái vẻ đẹp quê mùa An Nam ấy, nếu nói ra, chắc sẽ bị chê cười vì nó có màu sắc da vàng quá. Mà những ngươi con lai như anh, thì điều lý tưởng là phải gội rửa cho nhanh cái màu vàng ấy khỏi tâm hồn, phải thanh lọc cho nhanh cái chất vàng ấy khỏi dòng máu. Vì thế cho nên Bernard cố giấu kín điều đó, cố đè nén ham thích đó. Tuy nhiên, điều ấy vẫn cắm rễ trong vô thức anh, và chỉ gặp dịp là thức dậy. Người ta có thể gặp người đàn bà mơ ước ở những thời đoạn khác nhau trong cuộc đời. Ở Bernard, điều đặc biệt là anh đã gặp người đàn bà ấy ngay trong cuộc tình đầu tiên.
Bernard đã yêu cô Mận. Nếu như không có thay đổi thời thế, có thể họ sẽ thành vợ chồng. Cũng phải lẽ thôi, vì đứng về mặt gia thế, cô Mận là con ông chánh tổng. Môn đăng hộ đối đấy chứ.
Nhưng thời thế đã khác rồi. Cách mạng đã cuốn phăng mọi giá trị, quan niệm cũ. Và những giá trị mới lên ngôi. Một anh Vệ Quốc đoàn, lại là đại đội trưởng đến đóng quân ở làng Bái. Anh đại đội trưởng bị tình yêu sét đánh bỗng chết mê chết mệt cô Mận. Đổi đời rồi. Họa có điên mới dính líu và mơ tưởng mãi một cậu Tây lai. Còn là con gái không chồng, có rồ dại đâu mà tự choàng vào cổ cái thòng lọng, để cho cả làng cả xã gọi mình là kẻ lấy Tây. Cho nên, đến năm 1946, nhà cụ chánh tổ chức đám cưới đời sống mới rất linh đình cho cô Mận lấy anh đại đội trưởng Vệ Quốc đoàn.
Đến khi cuộc chiến tranh Pháp Việt nổ ra, khi quân Pháp tấn công tràn qua làng Bái, Bernard mới biết tin cô Mận đã lấy chồng. Điều này là một mối hận thứ hai trong lòng Bernard. Mối hận này càng bị đẩy lên khi Bernard biết người đại đội trưởng nọ lại chính là anh cán bộ gầy gò hôm xưa đã gọi anh ra ủy ban để dạy dỗ. Nghĩ lại càng thêm căm. Hắn bảo người Pháp cũng phải đầu hàng và nếu đầu hàng thì được làm người Việt Nam mới.
Khi quân Pháp mở rộng vùng chiếm đóng đến làng Bái, thấy các làng trong vùng đã lập tề hết cả rồi, chắc rằng nghĩ người Pháp đã vững chân ở đây rồi, nên hôm viên đại úy chỉ huy vùng về úy lạo, ông lý Cẩm đã đặt hương án ở đầu làng, rồi khăn xếp áo the chỉnh tề, dẫn các bô lão ra đón. Lý Cẩm lại được phục chức lý trưởng. Người Pháp biết lý Cẩm có chị gái lấy Tây, cháu lại là sĩ quan phòng nhì, nên rất tin cậy. Quan tỉnh, quan huyện về nhà ông luôn. Kể ra, lý Cẩm chưa phải là tay sai đắc lực và cũng chưa làm điều gian ác. Tuy nhiên lũ tay chân của lão lại rất hách dịch thích ra oai. Đội du kích thấy cần phải diệt tận gốc, cho nên một buổi tối về làng, định bắt hắn đem ra hậu phương. Hôm ấy, Thị Thu cũng về nhà em trai. Cả nhà lý Cẩm phải quỳ xuống nghe bản cáo trạng. Bà Thu lạy như tế sao :
- Xin lạy các ông. Tha cho em trai tôi được sống.
- Bà là ai?
- Tôi là Thu, chị gái lý Cẩm.
- A, con mụ me Tây.
- Vâng! Tôi lấy Tây, tôi có tội. Các ông giết tôi, tôi cũng chịu. Nhưng xin tha cho em tôi. Nó chẳng làm gì ác cả. Chẳng qua là bù nhìn. Tây người ta bắt làm lý trưởng. Không làm cũng không xong.
- Chúng tôi chỉ bắt lý Cẩm ra vùng tự do. Sẽ có tòa án nhân dân xét xử.
Lý Cẩm líu lưỡi :
- Xin các ông du kích tha cho. Tôi làm lý trưởng, nhưng đâu có dám hại dân làng.
- Có đi không thì bảo? - Anh đội trưởng du kích trở nên cáu kỉnh.
Tình thế càng trở nên lúng túng khi cả nhà lý Cẩm bỗng đồng thanh khóc như mưa như gió, van xin náo động. Thực ra đội du kích không chủ định giết lý Cẩm. Tội lão ta chưa đáng Họ chỉ định bắt Cẩm ra hậu phương ít ngày để giáo dục, đe nẹt, cảnh cáo làm gương cho bọn hào lý trong vùng. Nhưng khốn nỗi, ở gần nhà Cẩm có cái bốt hương dũng. Có thể lý Cẩm định kéo dài tình hình, chờ bọn lính dõng đến giải cứu. Thấy dằng dai mãi không có lợi. Anh chỉ huy lại là người nóng tính. Quát mấy lần Cẩm vẫn không nghe, anh ta nổi điên liền kéo tay Cẩm, lôi sềnh sệch ra cửa. Lão ta bám lấy chân bàn làm cái bàn đổ kềnh. Ấm chén, nước nôi tung tóe khắp nhà. Đã thế, lão còn om sòm cầu cứu, kêu vang trời đất. Đội du kích được giao nhiệm vụ đánh nhanh rút gọn. Thấy dềnh dàng mãi cả đội sẽ bị nguy hiểm. Chẳng còn cách nào khác, anh đội trưởng bèn rút súng lục bắn một phát vào đầu lý Cẩm. Lý Cẩm chết tươi. Tất cả im re. Bắn xong, du kích còn đặt tờ cáo trạng lên mặt người chết rồi mới rút lui.
Bà Thu là người trọng gia tộc. Sở dĩ bà lăn lóc buôn bán, rồi lấy ông Martinot cũng chỉ vì muốn cho gia đình thoát khỏi nghèo túng để vươn lên trong xã hội. Báo hiếu cha mẹ, gây dựng cho em trai, bà coi đó là nghĩa vụ thiêng liêng ở đời. Sau khi đẻ con, lại tiếp tục lo lắng gây dựng cho con, đó là nghĩa vụ to lớn. Làm xong những điều ấy thì nhắm mắt cũng yên tâm. Tuy nhiên, đối với Bernard bà thấy chẳng còn phải lo lắng. Nó là người Tây, chính phủ Pháp lo liệu cho nó còn tốt gấp trăm lần bà ấy chứ. Vả lại nay nó là trung úy phòng nhì đầy uy quyền.
Do nặng tình gia tộc như vậy, nên bà coi cái chết của lý Cẩm là một đòn chí tử. Đã đành Cẩm có con trai, nhưng lo cho lũ cháu thì bà không còn sức, bà đã già rồi. Lý Cẩm chết, bà coi như mình đã không làm tròn chữ hiếu với cha mẹ. Bà đã không che chở được cho đứa em trai. Cái chết của người em làm bà Thu chuyển biến thành người sùng đạo Phật. Bà rất chăm đi chùa. Không đi được chùa xa, nhưng trong lòng Hà Nội thiếu gì chùa. Rồi sùng Phật đến mức lập bàn thờ Phật ngay trong nhà, và đêm ngày gõ mõ tụng kinh. Bernard nói với bà :
- Sao mẹ có thể tin được mấy ông sư răng đen, trọc đầu, dốt nát ấy?
- Con chớ ăn nói báng bổ như vậy. Chẳng qua là nghiệp chướng. Kiếp trước, mẹ đã làm nhiều tội ác. Cả cha con cũng vậy. Không chỉ có cậu, mẹ còn lo cả cho con. Na ơi! Mẹ chỉ ước ao giá con bỏ cái nghề nhà binh của con lúc này đi. Ôi mẹ lo lắng lắm. Đêm ngày mẹ tụng kinh, chẳng qua là mẹ tụng cho con đấy thôi.
Bà Thu đụng đến người cha, đụng đến công việc của Bernard, tức là đụng đến điểm nhạy cảm nhất của anh. Niềm kiêu hãnh vì người cha, vì nòi giống vốn ngủ lịm trong anh, nay thức giấc. Nó tỉnh dậy một cách đột ngột và mạnh mẽ đến mức không lý lẽ nào có thể làm nó nhụt đi. Gặp những hoàn cảnh éo le của chiến tranh, nó càng được củng cố và nuôi dưỡng để ươm thành thù hận một cách phi lý. Bà Thu đêm ngày tụng kinh, và suy nghĩ rất nhiều. Suy nghĩ mãi thành bệnh. Ốm lơ ốm lửng được một năm thì chết.
Việc lý Cẩm chết nằm ngoài tầm tay của Bernard. Anh ta rất thương lý Cẩm, bởi vì ông là một ông cậu rất An Nam, rất trọng tình gia tộc hệt như người chị, ông ta thật sự yêu thương Bernard. Thuở nhỏ, đã có lúc hắn sống hàng năm trời với người cậu quê mùa, hiền lành ấy. Có thể vì bà Thu quá quý mến cậu em trai, cho nên cái tình cảm của người mẹ đã chuyển sang người con. Ông cậu chết đã đành một nhẽ. Tiếp theo bà Thu cũng lại chết. Bà Thu là người mẹ mà càng lớn lên Bernard càng hiểu rõ sự tận tụy cao quý của bà. Bà đã xả thân vì bố mẹ, vì em, vì con cháu. Bà Thu chết, Bernard nghĩ dù bà không chết trực tiếp vì tay Việt Minh, nhưng Việt Minh phải chịu trách nhiệm gián tiếp. Bởi vì không có cái chết của ông lý Cẩm, thì bà Thu không héo hon đi như thế. Cái chết của người cậu và người mẹ trở thành cái hận thứ ba trong lòng viên trung úy phòng nhì.
Sự oán giận được nghiền ngẫm mãi đã trở thành sự thù hận càng lúc càng sâu sắc. Sự thù hận có tính lây lan. Đạo Phật, mà bà Thu cuối đời sùng bái, tuy không bị Bernard xếp vào nguyên nhân chính, nhưng cũng bị cho rằng nó làm đầu óc bà Thu mê muội tối tăm. Vì nó nên bà tụng kinh quên cả thuốc thang. Nghĩ vậy nên Bernard ác cảm lây cả sang đạo Phật. Sự thù hận làm con người thiếu sáng suốt. Sự thù hận của Bernard cứ như vậy tăng lên từng bước. Nó như những lớp sóng xô đẩy, lớp sau đè lên lớp trước hay nói cho đúng, lớp nọ đẩy lớp kia dâng lên càng ngày càng cao. Hơn nữa, lại còn cái cộng đồng nơi anh làm việc nữa chứ. Phòng tình báo là chốn mà mưu mô xảo quyệt được tôn vinh thành thông minh sáng láng, mà sự tàn bạo đến quỷ khóc thần sầu được tôn vinh là đức hạnh, là thước đo lý tưởng trung thành. Ở đây, thương xót là trò ngớ ngẩn đàn bà, đức từ bi được đánh giá là trò ngu xuẩn. Cái gì cũng được cho phép, miễn là kẻ thù bị tiêu diệt. Cái hung bạo vốn sẵn có trong con người không hề bị kiềm chế. Ở người lương thiện bình thường, nó bị xiềng xích bị giam giữ. Nhưng ở đây, xiềng xích đã tháo tung, nó tha hồ bay lượn tung hoành. Như đã nói, Bernard là người thích ứng giỏi, là người thông minh. Cho nên chẳng cần phải dạy dỗ, chỉ thoáng nhìn, hắn đã hiểu ngay mình cần phải làm gì. Bạo lực ở đây gắn với quyền lực. Nó có tiếng gọi, sức hấp dẫn mê hồn. Bạo lực sẽ gặp phản bạo lực. Chúng là đối thủ song cũng là đối tác trong cái vũ điệu ma quái không gì kiềm chế nổi. Hai bên sẽ say máu như những kẻ lên đồng. Bên nọ đẩy bên kia lên. Người nào rơi vào cơn lốc xoáy của nó sẽ trở nên mê muội cực đoan. Không biết chừng trở thành đao phủ khát máu lúc nào chẳng hay. Ở cấp độ này, trí thông minh cộng với sự tàn bạo sẽ thành lý thuyết để biện minh cho hành động của mình. Hai bàn tay sạch của kẻ văn minh bao giờ chả hấp dẫn. Trên thế gian này, kẻ đao phủ nào củng hô hoán lên: "Hai bàn tay tôi rất sạch”.
Bernard cũng không thoát khỏi tình trạng này. Hắn thường tự nhủ mình: “Đáng lẽ ra tôi là người bình thường đấy chứ. Nhưng ai đã phản bội tôi. Ai đã giết cậu tôi, đẩy mẹ tôi đến chỗ chết. Ai đã cư xử với tôi như một kẻ hạ đẳng. Mà ai hạ đẳng kia chứ? Người Việt hay người Pháp. Cha ông tôi đã chẳng giương ngọn đèn sáng lên cao cho cả nhân loại soi chung đó sao. Chẳng qua các người vô ơn. Nhân loại tránh sao được chuyện có dân tộc sáng láng hơn, còn dân tộc khác tối tăm hơn. Chúng tôi là dân tộc thượng đẳng, còn các người hạ đẳng. Chuyện ấy lẽ tự nhiên. Chống lại chúng tôi, các người sẽ mãi mãi rơi vào tăm tối. Còn theo chúng tôi, các người sẽ nhìn thấy ánh sáng”.
Hùng hồn thế đấy! Hợp lý thế đấy! Những lý lẽ làm hắn yên tâm, cảm thấy được một chính nghĩa hỗ trợ, bảo vệ. Và hắn nhúng tay vào máu một cách điềm nhiên. Tuy vấy máu mà vẫn thấy bàn tay sạch một cách tinh tươm.
Hắn ta là một tiểu trí thức. Người ta bảo khi một tiểu trí thức đã tin vào một điều gì, và khi điều ấy đã được lý trí bảo đảm, thì hắn rất dễ cực đoan cuồng tín. Bernard rơi vào trường hợp ấy. Ông Jules, chiến hữu của cha hắn, đã mất bao công sức để thuyết giảng, bảo hắn phải tẩy rửa cái chất da vàng còn chảy lẫn trong dòng máu của hắn, song hắn có chịu nghe đâu. Còn bây giờ, hắn đã trải nghiệm, hắn có lý lẽ, hắn mới chợt “đốn ngộ” ra cái màu trắng cao quý của mình. Ngộ ra không cần thuyết giáo. Hắn bỗng cảm thấy xấu hổ vì cái màu vàng luôn nằm trong từng tế bào của hắn. Có lẽ cái mặc cảm bị nhuộm vàng ấy và cái mong ước được tẩy rửa nó đi quá mạnh mẽ nên hắn trở thành một con người lạnh lùng khét tiếng. Hắn không đánh giá cao cái nửa phần An Nam trong hắn, nhưng ngược lại, cấp trên của hắn đánh giá rất cao điều ấy. Thực ra, trong công việc phòng nhì ở xứ này, điều ấy là môt ưu điểm khó kiếm. Nhờ nó mà hắn thành công dễ dàng. Chả thế mới chỉ vài năm hăn đã leo lên đến trung úy.
Bất kỳ đến địa phương nào, hắn cũng nhanh chóng tập hợp ngay được một lủ lâu la. Bọn đầu trâu mặt ngựa chỉ ngửi thấy hắn, chỉ trông thấy hắn là lập tức bâu lại ngay. Có gì đâu, thuở nhỏ hắn đã thường xuyên đi lại với bọn anh chị Hà Nội. Nói rất sõi tiếng Việt, lại sõi đến nước rành rẽ cả những tiếng đầu đường xó chợ; rồi cách đối xử rất khí phách anh hùng nghĩa hiệp, rồi nốc rượu như hũ chìm, sẵn lòng thử tài vài chiêu quyền cước, rồi rất hào phóng sẵn sàng chia sẻ với đàn em; tất cả những điều ấy giúp hắn thu hút được những tay anh chị, tạo lập được một màng lưới tay chân, những điệp viên được dung túng, được ưu đãi, tự nguyện trung thành và rất tàn bạo.
Bernard ngày nào cũng bia rượu, cũng cơm gà cá gỏi, nên chẳng mấy chốc, người hắn to ra. Dân xung quanh nơi đóng quân, trông thấy hắn là sợ nem nép, sợ đến xanh mặt. Người ta gọi hắn là Tây lùn. Thực ra, hắn có lùn đâu.
Tây lùn rất yêu trẻ con, thường ra phố huyện thấy trẻ con là cho kẹo. Nhưng rồi một hôm, người phố huyện thấy Tây lùn dân ba người bị trói giật cánh khuỷu đem ra bãi chợ. Người ta nói đó là ba cán bộ Việt Minh. Dân phố bị lùa ra xem. Không chỉ là cuộc xử tử. Họ bị trói vào cọc. Một tiểu đội lính tập bắn, mỗi người lính ba viên đạn. Ba anh cán bộ bị bắn nát lồng ngực. Có anh bị đạn trúng mặt, văng cả quai hàm. Máu bắn tung tóe. Óc vãi ra tung tóe. Một lính ba-ti-dăng sợ quá, bắn văng đạn lên trời. Anh lính bị phạt phải chạy quanh bãi tập vòng; rồi lại phải một mình tập bắn tiếp cho đến khi trúng mới thôi. Sau bận ấy, trẻ con phố huyện sợ mất mật, hễ thấy Tây Bernard xuất hiện là chạy bán sống bán chết. Chúng đi trốn không dám xin kẹo nữa.
Tại sao Bernard lại hung tợn như thế? Người ta giải thích rằng: Khi một người lính đi xâm chiếm phối kết với một người đàn bà thuộc địa, thì đứa con sinh ra sẽ là một bãi chiến trường cho cuộc chiến tranh chấp giữa dòng máu nội và dòng máu ngoại. Nếu phía người mẹ thắng, người con sẽ đứng về phía ngoại. Nhiều người lai đã trở thành những chiên sĩ chống thực dân kiên quyết nhất. Nếu phía người cha giành giật được, đứa con sẽ trở thành kẻ chống đối lại bầu sữa đã nuôi nấng nó một cách điên cuồng. Hắn cố phủ nhận người mẹ. Và để lấy lòng người cha, hắn sẽ không từ một thủ đoạn nào. Hắn ghê tởm dòng máu người mẹ mà hắn mang trong huyết quản. Hắn cực kỳ nguy hiểm, bởi vì hắn từ lòng mẹ chui ra, hắn đã thuộc lòng tất cả những gì thuộc về người mẹ. Bernard thuộc về trường hợp này. Phải nói rằng, có lúc hắn đã ngả về phía người mẹ. Nhưng rồi hoàn cảnh chiến tranh đưa đẩy, hắn đã chối từ phía mẹ và đi về phía người cha. Chối từ bằng những lý lẽ biện minh đàng hoàng.
Khi về P.C. Huyện phụ trách phòng nhì, hắn gặp đại úy chỉ huy Thalan. Bernard cười thầm trong bụng cho rằng đó là một con người viển vông, thiếu thực tế. Phải nói trong thâm tâm, hắn còn có chút ghen tị, đố kỵ. Đó là một người Pháp thuần túy. Ở ông ta toát ra những nét quý phái, ngây thơ, lý tưởng... những nét mà hắn có học hàng chục năm cũng không có được, hay nói cho đúng hơn, hắn thèm khát những điều đó, nhưng nhũng điều đó lại từ trong máu toát ra, mà máu hắn lại là máu của kẻ tạp chủng.
Hôm hai người về làng Sọ để khảo sát lập bốt tại đây, lý trưởng dẫn Bernard và Thalan ra chùa. Bernard rất tỉ mỉ, trung úy quan sát kỹ từng người. Bernard nhận xét: Sư cụ thì lạnh lùng có vẻ không thích người Pháp; sư bác Độ thì đôi mắt sắc sảo đáng ngờ; bà vãi Thầm, cô Nguyệt và chú tiểu An thì là lũ dân mê tín, ngu muội.
Đại úy Thalan nghe lời nhận xét, liền chau mày tỏ ý không bằng lòng. Ông cho rằng con người có đức tin tôn giáo là những người lương thiện, đáng quý. Người Pháp muốn đứng vững trên mảnh đất này, thì phải biết trân trọng ngôi chùa.
Bernard không trả lời Thalan. Viên trung úy lẳng lặng một mình đi quan sát ngôi chùa. Ra vườn chùa xem ao bèo, vào thượng điện ngắm nghía các pho tượng Phật, ra sân trước ngắm tam quan. Ông ta đi đâu, con chó vàng cũng lừ lừ đủng đỉnh theo chân đến đó. Đang đứng giữa sân chùa, ông đột ngột quay mặt lại, rồi rút súng bắn chỉ thiên một phát. Con vàng hết hồn chạy vút ra vườn sau. Chạy bán sống bán chết, kêu ăng ẳng thảm thiết mặc dù nó không hề bị thương.
Hình như Bernard có ác cảm với ngôi chùa. Tại sao vậy?
Người ta bảo rằng người được nhận ơn thường hay ghét người ban ơn.
Mẹ của Bernard - bà Thu, nhận của tam bảo một đồng bạc mà làm nên cơ đồ. Nay Bernard muốn chối bỏ món nợ ấy.

 
Chú thích:
[1] Acxìđằng (Aspirant): chuẩn úy.
[2] Anhtăngđăng (intendante): hậu cần.
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 17.02.2017 14:13:09 bởi Ct.Ly>
18 
                                             
Trôi song


 
Tin thầy Hải bị phòng nhì bắt nhanh như chớp lan truyền ngay về làng Sọ. Mấy bà đi chợ huyện về làng thì thào vào tai nhau:
-  Chính mắt tôi thấy thầy Hải bị thằng Tây lùn giải đi.
- Trời ơi! Rơi vào tay Tây lùn chỉ còn nước chuẩn bị áo quan mà chôn thôi.
 
Mấy ông già họ Bùi đến nhà trưởng họ bàn nát nước mà cũng không tìm ra được kế gì giải cứu cho thầy giáo. Nghe nói thầy Hải bị bắt quả tang hoạt động kháng chiến. Có chứng cớ hẳn hoi. Bây giờ thì chỉ còn có cách như trong truyện Thủy hử là cướp ngục mà thôi. Nhưng ở thời hiện đại này rất khó có chuyện cướp ngục. Chỉ trừ phi bộ đội ta mở chiến dịch quét sạch đồn bốt khỏi khu vực này. Chuyện này đâu có dễ. Nó phụ thuộc vào cả chủ trương của tỉnh. Mà chủ trương thì đâu có thể vì một sinh mệnh cá nhân.
Tôi đi hóng hớt nghe tin. Trốn cả sư phụ lên phố huyện nghe ngóng. Chuyện này quan trọng với tôi lắm. Sư cụ Vô úy là thầy tôi, cả thầy giáo Hải cũng là thầy tôi nữa. Họ là những người dẫn dắt tinh thần cho đời tôi. Sư cụ đã chẳng có lúc nói với tôi rằng đạo là phải gắn với trần gian, với đời người ta. Đạo là phải vì đời. Ví dụ không có đời nữa thì còn cần gì có đạo. Vả lại còn chị Nguyệt nữa chứ. Thầy Hải gắn bó với chị tôi. Hình như điều này là hạnh phúc của chị tôi, mà còn là hạnh phúc của cả tôi nữa. Tôi hãnh diện có thầy là anh rể. Mất gia đình, chị em tôi tìm thấy chùa là gia đình. Song đó mới là cái gia đình tinh thần. Nó vô cùng quan trọng, nhưng dù sao con người cũng gắn bó với tình máu mủ ruột rà. Tôi ở chùa nhưng vẫn rất thèm khát một gia đình trần thế. Thì đây, anh Hải chị Nguyệt sắp đem lại cho tôi sự thỏa mãn ấy. Anh Hải ơi! Thầy Hải ơi! Em biết làm gì cho thầy bây giờ. Em chỉ là một thằng bé, một chú tiểu, thế thì trong cơn sóng cả gió lớn này, em có thể làm được điều gì giúp anh cơ chứ. Anh ơi! Em chỉ còn biết khóc mà thôi. Buổi chiều tà, trèo lên gác chuông trên tam quan đánh hồi chuông thu không. Tôi cầm chiếc vồ gỗ đánh vào chiếc chuông, chậm rãi đánh để nghe tiếng ngân nga của nó lan tỏa trên cánh đồng làng. Tiếng chuông thu không thật êm ả nhưng cũng thật u buồn làm sao. Đánh xong mỗi nhát vồ tôi lại nhắm mắt ngồi im để tiếng chuông u oa của nó rung lên trong đáy tim tôi. Nghe chuông chùa, nhiều người cảm thấy được xoa dịu, cảm thấy như tiếng chuông vuốt ve an ủi tâm hồn mình. Nhưng riêng tôi, kẻ đánh chuông, trong những ngày ấy, lại thấy chúng như tiếng nức nở. Khóc cùng nhân gian cũng là một cách an ủi chứ sao.
“Thầy Hải ơi! Mấy tháng trước, em cùng ông phu phố huyện, dùng chiếc xe bò lộc cộc kéo thầy em về chùa. Thầy em có làm gì đâu, còn bị người ta đánh cho gẫy chân thập tử nhất sinh. Còn thầy thì sao? Người ta bảo chúng bắt thầy với đầy đủ tang chứng...”. Tôi không dám nghĩ tiếp đến cái kết cục cuối cùng mà thầy Hải phải gánh chịu.
 
Tối hôm ấy, sau bữa ăn, tôi dọn dẹp vội vàng rồi ra vườn chùa ngồi bên gốc nhãn. Tôi ngồi đến khuya. Hết cả nước mắt để khóc. Đã quá nửa đêm, thầy tôi phải ra đặt tay lên vai tôi mà bảo:
- Đời người vốn là thế đấy... Hãy ráng học cách bình tâm... Thôi con ạ, để sáng mai ta đi hỏi xem sao.
 
Sáng hôm sau, sư cụ - thầy tôi chống gậy trúc tập tễnh đến nhà cụ chánh Long. Một tay cầm gậy, một tay nắm vai tôi.
- Bạch hòa thượng: Sao không sai chú tiểu gọi tôi ra chùa hầu chuyện mà lại... Rõ khổ! - Ông chánh ra tận ngõ đón thầy tôi vào. Còn thầy tôi thì rất kính cẩn:
- Bẩm cụ chánh, nhà chùa quê mùa này xin cụ chánh mở rộng lòng từ bi chìa tay ra giúp. Thầy Hải sắp làm con rể nhà chùa. Mà cũng là con dân làng Sọ, dưới quyền của cụ. Chắc ở đây có sự lầm lẫn nào đó. Thầy Hải vẫn được tiếng trong làng là nghiêm cẩn, là đức độ. Ai ai cũng mến. Chúng tôi là người tu hành chẳng biết nhờ cậy vào ai. Nghĩ đi nghĩ lại, chỉ còn biết nhờ cậy vào cụ. Cụ là người có tiếng tăm. Một lời nói của cụ với quan đồn thì gấp trăm gấp nghìn lời nói của người dân chúng tôi...
 
Cụ chánh Long rất vì nể sư cụ Vô úy. Cụ thường khoe với dân làng rằng hai người cùng học chữ nho một thầy, là chỗ đồng môn. Cụ chánh thường tôn vinh sư cụ là lão sư huynh.
- Bẩm lão sư huynh. Thực quả là thời thế đã thay đổi lắm rồi. Lão đệ nào còn chút quyền hành gì. Nhưng huynh đã dạy thì đệ xin nghe. Chuyện này để lão đệ nói với cháu Mật xem sao.
 
Sự thực sư cụ cũng hiểu điều đó. Nhờ vả ông chánh cũng chỉ cốt đạt được điều ấy. Quản Mật mới là người có quyền thế. Hôm ấy, quản Mật về thăm cha. Ông ta đứng ngoài sân sau nói chuyện với mẹ, thấy sư Vô úy đến thăm cụ chánh, biết nhà chùa đến nhờ vả việc gì. Ông bèn vào nhà nói:
- Bạch sư cụ và thưa thầy. Con cũng xin nói chuyện này cho thật rành rẽ, kẻo rồi làng ta lại có sự hiểu lầm. Thực ra, từ trước đến nay, họ Bùi và họ Nguyễn vốn có những chuyện xích mích. Nhưng thưa hai cụ, trong chuyện của anh Hải, họ Nguyễn chẳng dính dáng gì. Đây là chuyện chính trị, chuyện người Pháp và Việt Minh. Bây giờ đã rõ rành rành ra rồi. Anh Hải là Việt Minh chính cống. Sư cụ cũng rõ đấy, Việt Minh bí mật đào hầm ở ao chùa, còn sư cụ chẳng biết đấy là đâu, thế mà phòng nhì cũng bắt giam cụ, lại còn tra tấn nữa. Huống hồ là chuyện anh Hải làm Việt Minh bị bắt quả tang... chuyện tày trời ai mà chẳng hiểu. Thầy con nể cụ nên nhận lời chuyện ấy... Con cũng phải thành thực tạ lỗi với cụ. Chuyện này quả thực quá sức con. Không ai có thể chạy chọt được đâu, cụ ơi...
 
Hai thầy trò tôi đành phải dắt nhau ra về. Đêm hôm ấy, và cả những đêm sau nữa, trong lúc tôi đang ủ rũ, trong lúc thầy Hải của tôi chắc đang bị tra tấn, thì thầy Vô úy tụng kinh gõ mõ. Sư cụ gõ mõ cho tới quá nửa đêm. Lạ chưa! Tiếng mõ đều đều vào không gian. Lời khẩn cầu kêu gọi chăng? Tiếng mõ vượt không gian siêu linh đi tìm các bậc Bồ tát cứu khổ cứu nạn hãy về với ngôi chùa quê nghèo hèn này, hãy dang tay ra mà cứu vớt những kiếp người nhỏ nhoi đang gặp phải bạo tàn với muôn vàn bất hạnh. Hay là tiếng gọi nhằm tới một chốn xa xăm nào.
Cái đêm cuối cùng, tiếng mõ của thầy tôi bỗng nhiên rất khác lạ. Nghe nó ta thấy cồn cào trong dạ. Nghe nó ta không ngủ được, nó làm mắt ta chong ra.
Có người còn bảo nghe nó thấy dựng cả tóc gáy. Cứ như thể có loài quỷ dữ đang đi trên những ngọn tre, xõa tóc mà hú gào oán than. Trong làng nhiều người nghe rõ tiếng mõ đã nói như vậy.
Đêm ấy, ở cái miếu hoang trên núi Yên Tử, sư huynh của tôi, sư Khoan Độ, đang đêm bỗng giật mình tỉnh giấc. Lòng dạ cồn cào bất an. Mắt chong ra không ngủ được. Rồi như có ai cấu vào tim mình, có ai bóp cổ mình cho nghẹt thở. Nghe thấy trong gió có tiếng ai kêu cứu. Tiếng gọi rất xa xăm và rất mơ hồ. Cái đêm ấy chính là đêm thầy Hải của tôi bị tra tấn đến chết đi sống lại.
 
Khi ấy, cùng sống với Khoan Độ còn có hai người nữa, đó là Thuồng Luồng và Sáu Nhỏ. Ngày xưa, lúc Độ xuống tóc đi tu, Thuồng Luồng không có duyên với Phật, liền trở về đảo. Anh cũng đã chán cảnh giang hồ nên lại quay về nghề đánh cá, câu mực trên một con thuyền nhỏ trong vịnh đảo sống qua ngày. Một người đàn bà quê Thái Bình trôi dạt ra mỏ, thương anh, chấp nhận lênh đênh, chấp nhận sống trên con thuyền nhỏ suốt đời với anh. Em chị ta là Sáu nhỏ vì uất ức đánh cai mỏ, bèn trốn ra biển cùng với anh chị. Mỏ thuê lính Tây đem canô gắn máy truy tìm. Hôm ấy Thuồng Luồng và Sáu Nhỏ đi đánh cá xa. Chỉ còn vợ Thuồng Luồng đang có mang ở nhà. Chúng đánh đập tra khảo người đàn bà đến trụy thai. Chị chết vì băng huyết.
 
Thuồng Luồng dẫn em vợ lên rừng làm nghề đốn củi, xẻ gỗ. Đi ngang qua miếu hoang lại gặp người xưa. Ba kẻ lang thang mừng quá tụ lại, bám vào nhau mà sống. Khoan Độ bảo:
- Huynh chỉ biết trồng sắn trồng rau sống qua ngày. Còn các em, cũng đừng làm nghề thảo khấu nữa.
- Đại ca chớ lo. Đệ đã bỏ từ lâu. Bây giờ, hai anh em chỉ cần vác rìu vác cưa là đủ sống cho cả ba người. Xin đại ca cứ ngày đêm tụng kinh, gõ mõ, cầu Phật cho thỏa thích. Nhớ tụng kinh thêm phần cho cả hai em. - Thuồng Luồng vừa nói vừa cười ha hả.
 
Sau cái đêm cồn cào mất ngủ ấy, Khoan Độ nói với hai người em:
- Hai đệ ở lại đây trông miếu cho ta nhé. Suốt đêm qua ta bồn chồn. Lòng nóng như lửa đốt. Chắc chắn sư phụ ta và ngôi chùa đang gặp nạn. Ta phải về với họ.
Thuồng Luồng nhìn mặt Khoan Độ bảo:
- Sắc mặt đại ca không tốt. Ấn đường hắc ám. Kỳ này đi lành ít dữ nhiều. Đệ không cam lòng để huynh ra đi một mình. Thế này nhé. Đệ và cậu Sáu sẽ cùng đi với huynh. Không chần chừ gì nữa. Dù thế nào, ba người cũng hơn một người... Đại ca còn sợ gì nữa nào... Giấy thông hành, có tiền là mua được. Ôtô lúc nào cũng chạy rầm rập ngoài đường cái. Chỉ tối hôm nay ta đã về đến phố huyện.
*
Lúc thầy giáo tôi bị tra tấn trong nhà giam, sư cụ tôi gõ mõ ròng rã bảy hôm. Bảo rằng gõ mõ thế để các Bồ tát mười phương về hộ trì cho thầy giáo đủ sức chịu đựng nổi sự hành hạ của ma vương.
Lúc thầy giáo tôi bị chặt đầu, rồi đầu xám ngoét, ruột trắng lòng thòng bên trên cọc thuyền nan trôi sông, sư cụ của tôi lại kiên trì tiếp tục gõ mõ đến tận khuya. Bảo rằng để giải oan cho thầy, để hồn thầy chóng vãng sinh vào cõi Tây phương cực lạc. Đầu thầy Hải bị trôi sông.
 
Đầu thầy đã bị bêu ba ngày đêm. Canh khuya hôm ấy, tiếng mõ của sư cụ đã dứt từ lâu mà tôi vẫn thao thức, không tài nào nhắm mắt nổi. Cứ nhắm mắt lại là hình ảnh cái đầu lâu thầy Hải lại hiện ra trong trí óc tôi. Con thuyền ma quái được kéo đi diễu hành trên sông Đào. Để phô trương sức mạnh của quân đội viễn chinh, để đe dọa nhân dân, cảnh cáo những người đi theo du kích, Bernard cho thuyền dừng lại ở các bến nước, và bắt các dân làng ven sông ra xem để nghe hắn nói những lời đe dọa rồi cả những lời đường mật. Cả nhà chùa cũng buộc phải đi xem. Đôi mắt thầy Hải tôi vốn sáng. Người có đôi mắt sáng là người thông minh, và dễ dàng gần với tâm nhà Phật. Thầy tôi bảo thế. Sư cụ chọn thầy Hải làm rể nhà chùa, chọn chồng cho chị gái tôi cũng vì điều đó. Sư cụ bảo chị Nguyệt:
- Con có thể tin cậy được người này. Thầy thấy chẳng nhìn lầm người đâu. Đôi mắt thầy giáo nói lên cái trí và sự trung thành. Con người này không phản bội những điều tốt đẹp.
 
Nhìn cái đầu từ xa, nhưng sao tôi vẫn thấy rõ đôi mắt của thầy Hải. Có lẽ những lời nhận xét của sư cụ đã ăn sâu vào tâm tưởng của tôi, hay là hàng ngày ngồi trong lớp, nhìn đôi mắt hiền từ của thầy quá nhiều nên ấn tượng về chúng đã thấm vào trí não của tôi, cho nên lúc này dù đứng ở xa, dù cái đầu để trong cái rọ thưa, tôi vẫn thấy đôi mắt rõ mồn một. Chỉ có điều khác là dù đôi mắt ấy vẫn rất sáng nhưng chúng lại ánh lên một nét căm hờn. Sự căm hờn là điều tối kỵ ở chùa. Phải tránh xa sự căm hờn, nhưng thú thực lúc ấy tôi đã nhìn thấy những tia nhìn ấy. Và thú thực lòng tôi cũng dâng lên một niềm xúc động. Lại còn bộ lòng ruột nữa chứ. Nó trắng hếu, nó lòng thòng. Lại còn con quạ đen ngửi thấy mùi xác chết đã bay tới đậu trên thanh ngang của cây thập ác, tức là trên cánh tay của chiếc áo bù nhìn thấm máu. Chắc cái áo ấy tượng trưng cho cánh buồm của con thuyền ma trôi trên sông phù sa màu máu loang. Dân làng Sọ câm lặng cúi đầu xuống. Chả một tiếng xì xào. Trong không trung chỉ nghe thấy tiếng quạ kêu và tiếng hò hét của Bernard.
 
Chiếc thuyền ma cuối cùng được neo lại ở bến làng Sọ. Neo ở đấy vì làng Sọ là trung tâm cả vùng. Neo ở đấy còn vì lý do người ta đồn rằng đó là con đường đi lại giữa vùng tạm chiếm và khu du kích. Quãng sông này nông có con đường từ bến dẫn qua trước mặt chùa làng.
 
Tối hôm ấy, tôi còn đang mơ màng nghĩ tới con thuyền ma quái và đôi mắt của thầy Hải thì một bóng người bỗng lù lù hiện ra ở đầu giường tôi. Cái bóng cao lớn làm tôi sợ hãi. Tôi chưa kịp nhận ra mọi chuyện thì cái bóng đã bịt lấy miệng tôi. Tôi giãy giụa, nhưng bàn tay rắn như thép đã ghìm tôi xuống. Và một giọng thì thào quen thuộc:
- Đừng sợ nào. Sư huynh đây mà... Huynh không muốn cho sư phụ biết rằng huynh đã về... Này... đệ hãy nghe cho rõ những lời huynh căn dặn đây...
Sáng hôm sau, lúc mặt trời lên đầu ngọn tre thì con chó vàng sủa rộn lên ở ngoài cổng tam quan. Tôi vội vàng chạy ra. Có hai người mặc quần áo nâu, một người đeo rìu, một người mang chiếc lưỡi cưa xẻ được uốn vòng lại cho gọn rồi khoác trên vai. Người lớn tuổi vạm vỡ nói:
-  Chúng tôi thợ xẻ, nghe nói nhà chùa muốn đốn cây.
Tôi vội vàng dẫn họ xuống nhà tổ gặp sư cụ. Thầy tôi nói:
- Nhà chùa muốn hạ hai cây. Một cây mít trăm tuổi, cỗi lắm rồi. Chục năm nay không có quả. Ta muốn cho cây được hóa kiếp thành tượng Phật. Các bác phải khéo. Vì thân cây ngắn chưa đủ chiều cao hai pho. Cho nên không được chặt mà phải đào cả củ rễ.
- Bạch thầy, chúng con hiểu. Sẽ cưa hết các cành. Sau đó chỉ còn thân mới đánh cả củ.
- Cây thứ hai là cây xoan ngoài vườn chùa. Ta thấy nó đã bị rầu ngọn. Nếu để lâu ta e sâu ăn lan xuống dưới hỏng cả cây.
- Bạch sư cụ cứ yên tâm. Mới bị rầu thì không lo. Chúng con sẽ hạ xuống. Cũng đánh cả củ rồi ngâm xuống ao cẩn thận cho nhà chùa.
- Các bác cứ làm cẩn thận. Nhà chùa sẽ có thưởng. Còn chuyện ăn ở, các bác ở tạm cái nhà lá bên ao chùa. Bà vãi Thầm dạo này ốm yếu về ở với cháu rồi. Nhà bỏ không nhưng hàng ngày chú tiểu vẫn ra trông nom dọn dẹp, cho nên cũng tươm tất, sạch sẽ...
 
Thế là Thuồng Luồng và Sáu Nhỏ được tự do chiếm lĩnh ngôi nhà lá của bà vãi Thầm. Tôi biết hai người thợ xẻ này là đàn em của sư bác Khoan Độ. Hai người cũng biết quan hệ giữa tôi và sư bác nên thân thiết với tôi lắm. Hàng ngày, sau khi làm công việc chùa, tôi lại đi theo hai người để giúp đỡ và nói chuyện cùng họ. Người lớn tuổi tên là ông Luồng có sức khỏe phi thường. Ông ta cầm rìu bổ củi. Bổ đâu trúng đấy. Gỗ cứng đến thế nào cũng chỉ một nhát là toác làm đôi. Người bé nhỏ có cánh tay thịt sắt lại, chuyên dùng cây cưa xọc sáng loáng. Tên anh ta là Sáu. Sáu nói với tôi:
- Cưa này của Tây. Chỉ một người cũng cưa được. Một ngày tớ mài cưa hai, ba lần. Lưỡi nó chẳng khác gì đao kiếm. Dùng nó chém chết người như chơi.
Tôi vội nói:
- A di đà Phật. Đứng trên đất tam bảo, sao anh lại nói lời hung tợn?
Sáu cười hì hì rồi chữa lại:
- Ấy là tôi nói đối với kẻ ác. Chứ thực ra tôi dùng cái cưa này để bảo vệ nhà chùa đấy.
Tôi lấy làm ngạc nhiên, vì sau cái đêm gặp tôi, sư Khoan Độ chợt biến đi đâu mất. Tôi cũng tuân theo lời sư bác không nói với sư cụ rằng sư bác đã về. Sư Khoan Độ giấu sư cụ như vậy chắc cũng có nỗi khổ tâm riêng. Tôi tin ở sư bác. Tôi tin ở ngón tay mà sư bác đã tự đốt. Tôi tin ở lòng tận tuy của Khoan Độ đối với thầy tôi. Khoan Độ dù có làm điều gì thì điều ấy cũng chỉ tốt đẹp đối với thầy tôi và với ngôi chùa mà thôi. Mãi về sau tôi mới biết hết những gì đã xảy ra.
Đến tối thứ ba, quá nửa đêm, sư Khoan Độ mới xuất hiện ở căn nhà lá của bà vãi Thầm. Trong bóng tối, ông nói với hai người em:
-  Các chú ạ, thảm lắm! Thảm lắm! Đầu lâu thầy giáo Hải bị bêu giữa sông đã một tuần rồi. Thây thầy giáo họ Bùi đã chôn rồi, nhưng thiếu đầu là không xong. Các cụ họ Bùi lên xin mà Bernard không cho. Nó bảo còn bêu hàng tháng. Hồn người ta nằm ở cái đầu. Nó còn dọa sẽ vứt đầu đi để thầy Hải không được hóa kiếp. Mới đầu, tôi định một mình đi ăn trộm cái đầu trả về họ Bùi. Sau điều tra ban đêm mới biết, Tây Bernard định dùng đầu lâu thầy Hải để làm mồi nhử. Hoặc du kích bên kia sông sẽ tới. Hoặc Việt Minh bên này sông sẽ từ phía chùa đi ra. Hàng đêm, chúng vẫn phục kích gần đấy. Có đêm chính Tây Bernard dẫn một tiểu đội đi phục. Khoảng chín giờ tối chúng xuất phát. Bernard muốn che cái lốt Tây và súng ống của mình, thường cải trang thành người nhà quê. Đội nón, mặc quần áo nâu. Trời rét mưa phùn nên thường khoác chiếc áo tơi lá. Tôi biết chỗ phục kích của chúng nó rồi. Tình hình thế này, tôi không thể một mình, phải nhờ các chú giúp một tay...
- Em thử nói thế này, đại ca nghe xem có ổn không - Thuồng Luồng nói - Thực ra, bọn Tây lùn em không sợ đâu. Chúng phục kích, mình không biết phục kích hay sao ? Cái hơn của mình à biết rõ quy luật của chúng, còn chúng hoàn toàn bâấ ngờ không biết chúng ta. Cái hơn của chúng là vũ khí. Em trộm phép đại ca, đã giấu đem theo hai quả lựu đạn Mỹ để trong đám đồ nghề. Bọn chúng đi phục kích nên phải ít người … Anh điều tra rõ rồi phải không …Chúng chỉ có sáu đứa … Thằng Tây lai này gan to thật … Như vậy ta phải một chọi hai. Đệ có cái rìu. Chú Sáu có cái cưa … Còn đại ca ? Chắc phải dùng cây tre đực làm côn. Đại ca dùng côn thì quỷ khóc thần sầu rồi… Nhưng đệ vẫn sợ một điều … Sợ gì à ? Sợ đại ca ấy … Nếu đại ca đồng ý thì lần này ta phải đại khai sát giới … Mà đại ca thì đã xuống tóc đi tu … Đại ca phải giải lời thề một phen đi … Thằng Tây lùn là loại ác ôn … Trời không dung đất không tha nổi cho nó … Nó đã bẻ gãy chân sư phụ đại ca rồi đó … Nó đã chặt đầu bao người dân lành rồi đó … Hãy quyết định đi… Nó còn sống một ngày là dân không yên một ngày. Diệt trừ một kẻ ác ôn như vậy …chắc đức Phật cũng phải bằng lòng … mà đại ca phải nhớ điều này nhé. Đại ca chỉ chờn lòng  một chút thôi … là tính mệnh của ba chúng ta đều gặp nguy …Chúng em xin giao tính mệh vào tay đại ca quyết định …
 
Thuồng Luồng đã quyết tâm, và đẩy sư Khoan Độ vào chỗ tột cùng tình nghĩa nên ông cũng phải thở dài, quyết tâm. Sau khi bàn tính kỹ càng đến từng chi tiết nhỏ nhặt nhất, họ quyết định phục kích vào tối hôm sau.
 
Khi bóng tối sập xuống, họ bí mật đến bờ sông. Con sông Đào vừa tưới vừa tiêu. Tưới thì ít, chỉ những chân ruộng gần sông. Con sông đào đã lâu, từ thời nhà Nguyễn. Đất đào lên đổ sang hai bên. Cho nên, tuy không có đê, những ruộng sát sông cũng có phần cao hơn.
Chỗ phục kích của ba người là nơi có mấy cái mả đã cải táng từ lâu. Gỗ ván thôi người dân đã mang hết về làm chuồng lợn. Đất lở, đất sụt lâu ngày nên hố chỉ còn sâu đến bụng, cỏ dại mọc um tùm che kín miệng cái hố. Thật là nơi lý tưởng để giấu quân. Khoảng tám giờ họ đã ẩn nấp xong, tức là họ đã đến từ lâu trước khi Bernard xuất quân, trong khi đó viên sĩ quan Pháp hoàn toàn mù tịt về sự có mặt của ba người và ba người ấy lại đang phục kích chờ hắn.
 
Lúc đó vào tháng bảy. Nước con sông Đào rất to. Nước dâng lên kín cả bãi. Nước quãng này nông. Mùa cạn chỉ lên tới bụng, lội qua dễ dàng. Còn mùa này nếu lội lên tới ngực nhưng vẫn là nơi nông nhất. Cho nên qua sông mùa này, thông thường ai cũng qua đây.
Trời tối thui như mực. Mưa lâm thâm. Khắp cánh đồng mênh mông lúa con gái. Êch nhái giun dế mừng mưa kêu lên inh ỏi. Ba chàng dũng sĩ gần như hoàn toàn cởi trần. Người nào cũng chỉ mặc chiếc quần đùi. Khoan Độ căng mắt núp trong cỏ, căng mắt nhìn ra dòng sông, nhưng chả thấy gì. Chỉ khi nào ánh chớp nhay nháy trên bầu trời mới trông rõ con thuyền ma quái ở giữa dòng sông hiện ra, nhưng chỉ là cái bóng. Độ thầm nghĩ: “Đêm hôm trước, mình cũng ra đây định bơi ra trộm cái đầu lâu, chợt ngửi thấy mùi khét của thuốc lá Basto. Hôm ấy không mưa. Chắc có thằng lính nào nghiện nặng theo Bernard đi phục kích đã bị mình phát hiện. Còn đêm hôm nay, mình có thể đi ăn trộm đầu mà không bị phát hiện. Vậy tại sao mình vẫn phục kích nhỉ - Độ chợt cười mỉm trong lòng - Như thế không chỉ hoàn toàn là chuyện cái đầu. Trong thâm tâm, mình vẫn thích đánh trận này. Nghĩa là mình chưa dứt hẳn... Mình vẫn chưa hoàn toàn là một ông sư...”.
 
Ở cái mả cải táng gần đấy, có tín hiệu của Thuồng Luồng, báo chú ý, nó cắt đứt ngay dòng suy nghĩ của Độ. Anh liền định thần, chăm chú. Căng hết mắt, hết tai, hết cả óc ra để nghe ngóng, phán đoán. Hình như trong tiếng lúa rì rào, thoảng có tiếng lá lúa chạm vào nhau mạnh hơn. Như thể những chiếc lá dài, mảnh dẻ và nham nháp ấy va chạm vào những vật gì cứng hơn. Cái tiếng lạ ấy mỗi lúc mỗi gần, mỗi rõ. Nó ở trước mặt. Bây giờ thì rõ rồi. Đó là tiếng một tốp người đương rẽ lúa đi tới. Nghe rõ cả tiếng chân lội bùn nhóp nhép. Gã Tây lai này lợi hại thật. Hắn không đi trên đường, mà lội ruộng tới. Tín hiệu của Thuồng Luồng chuẩn bị. Trận đánh này Thuồng Luồng chỉ huy. Anh ta sợ Khoan Độ đã đi tu lâu ngày không quen chiến trận. Anh ta đặc biệt chỉ giao cho Độ một nhiệm vụ: Nếu tên Bernard trực tiếp dẫn quân đi, thì Độ phải bám chặt lấy, không để cho nó thoát.
 
Bóng tối mù mịt nhưng Khoan Độ cũng đã nhận ra những bóng đen lù lù xuất hiện. Một... hai... ba... Độ nhẩm đếm bảy tên cả thảy. Chúng đang tiến đến gần. Ô chết tiệt! Hình như chúng định phục kích đúng ở chỗ này. Tên đi đầu đi chậm lại. Kìa nó mặc áo tơi lá. Tây lùn đêm nay có mặt. Trời phù hộ ta hay sao mà chúng gom gọn lại thế kia. Đúng khi ấy, một tiếng nổ vang trời. Không kịp đếm xem bao nhiêu tên ngã xuống, cả ba người cùng đội cỏ xông lên như hung thần. Khoan Độ nhắm thằng áo tơi lá, thằng chỉ huy, lúc này đang phục xuống chuẩn bị bắn. Phải giáp lá cà để chúng không thể dùng súng. Phải chém giết theo kiểu thời nguyên thủy, vì đó là điểm mạnh của ta và cũng là điểm yếu của chúng. Một ánh chớp trên trời lóe lên, khiến chúng trông rõ ba con người mình trần đẫm mưa bóng loáng. Thuồng Luồng hét to vung búa bổ mạnh xuống đầu một tên làm máu và óc bắn tung toé. Sáu Nhỏ vung chiếc cưa mà buổi chiều anh đã mài từng răng sắc như lưỡi dao cạo. Còn Độ thì cưỡi lên lưng thằng mặc áo tơi, ra sức đấm. Tây lùn cũng khỏe. Nó đội lưng đứng dậy. Thằng này có súng lục. Nó quài tay ngang hông định rút súng, nhưng Độ đã nắm được tay nó. Còn tay và chân. Tây lùn dùng tất cả để đánh vào mặt Độ, để thúc vào ngực Độ, tuy nhiên hai bàn tay sắt của Độ đã bám được vào tay nó thì đâu có chịu nhả ra, dù cái đầu gối của nó tống vào bụng anh rất đau. Độ ra sức vặn. Nó ra sức chống lại. Cuối cùng rắc một cái. Tây lùn thét váng trời rồi nhũn ra.
Ba bốn cái xác nằm sóng soài. Có lẽ hai thằng lủi được vào ruộng lúa. Sáu Nhỏ gỡ được khẩu súng tiểu liên từ tay thằng địch vỡ đầu. Anh bắn liên hồi vào ruộng lúa nơi hai thằng tẩu thoát.
- Kìa đại ca, sao anh không khử thằng quỷ đó đi - Thuồng Luồng chỉ vào thằng Tây lùn vẫn đang bị bẻ quặt tay sau lưng - À... Tôi hiểu rồi... Thôi để nó cho bọn tôi.
Khoan Độ trao tên sĩ quan phòng nhì cho Thuồng Luồng. Thuồng Luồng vẫn bẻ quặt tay thằng Tây lùn, sai Sáu Nhỏ lấy dây thừng trói chân nó lại, và dùng thừng quấn quanh người nó như bó giò.
-  Cậu định làm gì đấy?
-  Anh cứ mặc tôi. Để cho chắc ăn anh ạ.
-  Cậụ định dìm nó xuống nước.
-  Dù dìm chết, nó cũng chưa hết tội. Nó hung tợn một thì em sẽ hung gấp đôi. Nó làm người ta đau đớn, thì em cũng phải làm cho nó biết thế nào là đau đớn.
-  Đâm cho nó một nhát đi cho xong.
Độ nói nhưng hai người chẳng nghe.
Khoan Độ chắp tay ngẩng mặt lên trời, lầm bầm trong miệng. Hai người cưa một cái đầu. Kẻ bị bó giò rú lên như con chó dại sủa trăng. Chiếc thuyền bêu đầu trôi sông dập dềnh trên nước. Ông sư ngửa mặt lên trời ăn mày lòng từ bi của thế gian.
Ôi chao! Thật là phiền muộn! Sự thương xót ở thế gian này có còn sót lại chút nào không? Phải chăng chỉ còn là những tiếng đầu môi chót lưỡi.
Về sau yên hàn, sư huynh Khoan Độ của tôi trở về chùa, Độ không nói nửa lời mà chỉ mong sư phụ tôi dạy cho cách tụng kinh sám hối. Sư phụ nhẹ nhàng bảo rằng:
-  Bồ tát cực chẳng đã phải làm những điều ngược ngạo, tuy nhiên lòng Bồ tát phải luôn không mảy may thù hận. Bất ly thế gian nhưng phải siêu vượt thế gian.
 
Trang 438




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 21.05.2014 09:13:40 bởi Ct.Ly>
4
Trường làng

Khi nhớ lại những điều này, là lúc tôi đã lớn tuổi. Tôi đã trải qua nhiều cảnh đời, đã được đọc sách, và từng được nhiều bậc thiện trí thức chỉ bảo. Tuy nhiên những bài học đầu tiên của tôi về đạo Phật, do thầy tôi, hòa thượng Thích Vô Úy dạy bảo, thì không bao giờ tôi quên được.
Hòa thượng bảo tôi có duyên với đạo, cho nên người đích thân chỉ bảo cho tôi từng li từng tí. Đầu tiên người nói :
- Người tu thiền không phải chỉ ngồi tư thế hoa sen, rồi hít thở theo đúng quy cách đã là tu thiền. Con nên hiểu mọi lời nói, hành vi, cử chỉ... tất cả đều là thiền hết. Thiền là một nếp sống đạo hạnh. Từ sớm mai cho đến tối mịt, lúc nào cũng là thiền.
Tôi ngơ ngác :
- Vậy lúc ta ăn uống... thì sao?
- Ăn cũng thiền, đi cũng thiền, cả ngủ cũng thiền - Dừng một lát để quan sát sự chú ý của tôi rồi sư cụ mới tiếp - Con ạ, kinh pháp có nói rằng: “Chúng ta được sinh ra ở cõi người. Đó là điều hi hữu” sống ở đời đã là điều hiếm có, vậy thì ta phải sống làm sao cho xứng đáng. Đừng phí hoài. Sáng dậy, ta được nghe chim hót, được hưởng luồng gió mát trong lành, ta phải biết trang nghiêm nhủ thầm trong dạ: “Tôi rất sung sướng được sinh ra ở cõi nhân gian này”. Cho nên ăn miếng cơm ta cũng cần niệm hồng danh đức Phật, rồi cám ơn những nhà nông đã một nắng hai sương vất vả làm ra hạt gạo. Sau đó ta từ tốn nhai thật kỹ miếng cơm cho đến lúc cảm nhận được vị ngọt của nó. Ăn như thế tức là ăn thiền. Đi cũng vậy. Phải đi đứng từ tốn khoan thai, đi theo chiều kim đồng hồ, đi theo lẽ phải, đi theo chính đạo. Nói cũng vậy, nghĩ cũng vậy, làm cũng vậy. Tất cả đều thuận theo chính đạo. Lúc nào cũng trang nghiêm và cung kính.
Tôi nghĩ rất lâu rồi nói :
- Thưa thầy, như vậy thật khó. Từ sáng cho đến tối mịt lúc nào cũng phải tu hành...
- Lúc đầu thì khó thật đấy. Nhưng về sau thành nếp lại thấy tự nhiên, dễ dàng. Con nên biết, chỉ riêng việc thường nhật ấy thôi, có người tu cả đời không xong. Có nhiều người nói về đạo Phật thao thao bất tuyệt, rất hay nhưng lại không hành thiền nổi như vậy. Có người chẳng được học nhiều kinh sách, nhưng đã tu tập thực sự, nên thiền quả rất to lớn, không kể xiết được.

Đó là bài học thứ nhất về nếp sống mà thầy đã dạy. Bài học thứ hai nói về chữ Tâm. Tôi thấy nhiều người ai ai cũng nói đến chữ Tâm. Cha tôi, lúc sống cũng dạy tôi phải tu tâm dưỡng tính. Mẹ tôi thì thuộc lòng câu Kiều: “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”. Tôi tò mò hỏi những người lớn khác. Song tôi chỉ nhận được những câu trả lời lờ mờ, không rõ ràng.
Vào chùa, tôi được thầy tôi giảng theo cách của thầy :
- Tất cả mọi người đều có Phật tính, mặc dù vẫn mang trong mình cái “tham, sân, si”. Vậy nên, con người có thể hướng tới cái cao thượng. Không rèn luyện để hướng tới cao thượng không phải là người. Cái cao thượng đó là cái tâm của Phật. Đó là tâm từ, tâm bi, tâm hỉ, tâm xả. Tâm từ thương yêu tất cả chúng sinh. Tâm bi thương xót những người đang gặp đau khổ. Tâm hỉ cùng vui với những người đang có điều vui, điều thành công. Người đạt đạo xa lạ với lòng ghen ghét ganh tị. Tâm xả không dính chấp tới những được thua ở đời. Khen cũng không vui, chê cũng chẳng buồn. Dù cay đắng hay ngọt bùi, dù sạch dù nhơ đều vẫn thản nhiên. Đạt được bốn cái tâm cao thượng ấy, ta đã tiến được khá xa trên con đường tu tập.
Đó là những điều, mà sau này tôi tóm lược lại để dễ học. Chứ thực ra, thầy tôi dạy bảo những điều đó cho tôi theo cách mưa dầm thấm sâu. Người dạy bảo, uốn nắn tôi từng chút từng chút một. Có khi là chỉnh đốn một lời nói một cử chỉ, có khi là sự nhắc lại, có khi lại bằng những hành động mô phạm đức hạnh của thầy hàng ngày, có khi bằng kể một câu chuyện xưa kỳ diệu mà suốt đời tôi chẳng quên.
Tôi cứ nhớ mãi câu chuyện đức Thế Tôn bước đầu hành đạo. Tôi cũng như mọi người, cứ quen với ý nghĩ rằng, người trên đời này ai ai cũng cung kính tôn vinh sùng bái đức Thích Ca Mâu Ni. Hóa ra không phải như vậy: Lúc sinh thời, đức Phật tổ có nhiều đệ tử cung kính tôn sùng người. Tuy nhiên đức Thế Tôn cũng gặp không ít những người phỉ báng công kích, nhiều người vu oan giá họa để bêu xấu, làm giảm giá trị, nhằm thỏa mãn lòng hận thù, lòng ganh tị. Thậm chí có kẻ ám sát hại người. Có một kẻ đã hận thù người đến mức tìm một con voi cho nó uống nước mía pha với rượu. Nước ngọt và rượu con voi uống không biết chán đến nỗi voi say trở nên điên rồ. Thời 2.500 năm trước, Ấn Độ rất nhiều voi, những con voi to khổng lồ, ngà dài sắc nhọn, nó chỉ cần giẫm khẽ bàn chân là con người bẹp gí. Thấy đức Thích Ca ngồi dưới tàn cây, kẻ kia thả voi ra. Con voi tên là Nalagiri lúc đó trở nên vô cùng dữ tợn. Voi say tung vòi, kêu váng trời, sầm sầm chạy tới. Đức Ananđà thấy vậy, định hy sinh thân mình, chặn lối, mặc cho voi giẫm đạp để cứu đức Thế Tôn. Nhưng Phật tổ gạt đi, người bình tĩnh ngồi thiền, rải tâm từ ra chung quanh. Voi say được tâm từ của người cảm hóa ngay lập tức. Đến trước mặt người, nó không còn hung dữ nữa. Nó bỗng nhiên tỉnh lại, quỳ sụp trước mặt người như đảnh lễ.
Ôi! Thật kỳ lạ! Tâm từ có năng lực cảm hóa phi thường đến thế sao! Rải tâm từ. Chữ rải thật hay. Phật giáo có câu “Thiên nữ tán hoa”. Tôi tưởng tượng ra Phật tổ niệm những câu thần chú và những cô tiên xinh đẹp hiện ra trên bầu trời rải hoa xuống trần gian, những cánh hoa rơi lả tả... và tâm hồn con người cùng vạn vật bỗng trở nên hiền hòa - cuộc đời hết hung bạo.
Đó, tôi nhớ chữ tâm từ là như vậy.
Thực ra, tôi là đứa trẻ từ nhỏ được nuôi nấng trong một môi trường hoang dã. Thầy u tôi mãi đi làm nên mặc tôi lớn lên như cây cỏ. Lên bảy tuổi tôi đã biết cầm cái thừng dắt trâu đi chăn. Chỉ buổi tối tôi mới được cắp sách ra điếm học lớp bình dân. May mắn tôi được cái sáng dạ, học đâu biết đấy nên đọc sách vanh vách và làm toán rất nhanh. Thích học, nhưng có lẽ tôi thích chăn trâu hơn. Bởi vì đời sống mục đồng có bao nhiêu trò hấp dẫn. Nào be bờ tát vũng, nào trộm khoai trộm ngô, nào nướng cá nướng cua... Bởi vậy nên khi vào chùa, được sư cụ giảng dạy tôi cũng thấy hay, nhưng lắm lúc tôi cảm thấy như bị cầm tù, cuồng chân cuồng tay. Sư Vô Úy bảo tôi có duyên với chùa chắc vì tôi hiền lành và sáng dạ. Sư cụ bắt tôi học chữ nho. Sư bảo :
- Sách nhà Phật chứa tòa ngang dãy dọc không hết. Thế mà dịch sang chữ quốc ngữ mới chỉ lèo tèo vài cuốn. Vì vậy phải học chữ nho. Nghĩa lý kinh Phật không biết đến đâu mà lường. Tu là hành theo Phật nhưng tu cũng là đọc. Phật bảo vô ngôn, nhưng trước khi đến chỗ vô ngôn ta phải đọc trước đã.
Hòa thượng là người nhìn xa trông rộng. Người bảo :
- Mỗi thời mỗi khác. Phải biết tùy duyên. Đạo Phật đang sống ở thời mới, nên người tu hành cũng phải hiểu cái thời mới nó như thế nào.

Với lý lẽ ấy, thầy chia thời gian làm hai, buổi chiều tôi học kinh kệ và chữ nho với thầy, còn buổi sáng tôi phải đi học ở trường làng cùng với trẻ em ngoài chùa.
Thầy tôi rất tiết kiệm. Thầy có một cái hòm to. Những bộ quần áo nâu cũ rách không biết tự đời nào, thầy cho giặt sạch sẽ, phơi nắng khô khắn, thơm tho rồi gập cẩn thận xếp vào hòm ấy. Lúc này, thầy mới lấy ra vài bộ, bắt chị tôi giặt giũ lại sạch sẽ, rồi lựa những chỗ còn tương đối dùng được, cắt ra may cho tôi hai bộ quần áo nhà chùa. Chiếc quần nâu ngắn đến ống chân, chiếc áo dài nâu, cài khuy bên sườn chưa quá đầu gối. Chị Nguyệt rất khéo tay. Đường kim mũi chỉ vừa êm vừa tăm tắp nuột nà. Tôi mặc vào vừa in, trông tôi khác hẳn xưa Rõ ràng là chú tiểu nhà chùa nghiêm trang nền nã.

Hòa thượng không sai sư bác Khoan Độ mà sai chị Nguyệt dẫn tôi đến trường. Ngôi trường làng nhỏ thôi. Chi có hai gian nhà gạch do bà lý, một bà nhà giàu không con cái tặng làng làm nơi học tập cho trẻ nhỏ. Hương sư là thầy giáo Hải. Thầy Hải trạc hai tư hai nhăm, dáng người gầy gò, mặc áo the thâm quần dài trắng. Mặt thầy sáng sủa, tiếng nói nhẹ nhàng.
Chị Nguyệt dắt tay tôi dẫn vào lớp. Thầy Hải đang cúi xuống chỉ dẫn một học trò, nghe tiếng lũ trẻ xì xào, ngẩng đầu lên, thấy mặt chị Nguyệt, chợt như bối rối lúng túng. Còn chị Nguyệt, trông thấy đôi mắt sáng của thầy, mặt bỗng ửng hồng. Giọng chị nhỏ hơn thường ngày, nhưng vẫn rõ ràng :
- Thưa thầy giáo, em đến xin học cho em An.
- An là em cô?
- Thưa vâng.
- À,... mà cô ở xóm nào nhỉ?
- Dạ... dạ... em ở chùa làng.
- Thế ư... vâng... tôi hiểu rồi. Sư cụ cũng đã có lời với tôi.
-  Dạ, sư cụ sáng nay đi hóa duyên ở làng bên, đến tối mới về. Đáng lẽ cụ đưa em An đến trường mới phải. Sư cụ dặn dò ern xin thầy thứ lỗi cho.
- Không sao đâu... Thế này nhé... Trường có bốn lớp: Một, Hai, Ba, Bốn. Một, Hai học buổi chiều, Ba, Bốn học buổi sáng...
Thầy Hải rất niềm nở với chị em tôi. Sau câu chuyện thầy còn tiễn chị Nguyệt ra tận gốc bàng ở cổng trường mới quay trở vào. Chị tôi có duyên thế đấy. Đi đến đâu cũng được người giúp đỡ.
Chị tôi thật xinh đẹp. Thuở bé tí, tôi chưa biết điều đó Nhưng một, hai năm lại đây tôi chợt nhận ra điều đó. Nhận ra vì bỗng nhiên đám con trai trong làng bám lấy tôi để chiều chuộng, thậm chí để nịnh nọt. Bởi vì thầy u tôi rất nghiêm, hầu như luôn luôn kèm bên chị. Tối đến thầy u tôi cấm chị không cho đi đàn đúm. Còn tôi lại được phép sống hoang dã, đi đâu ; thì đi. Lẽ dĩ nhiên, họ phải bám lấy tôi, hòng thông qua tôi đến được với chị.
Chắc chắn chị tôi có gương mặt dễ coi, có một thân hình nảy nở duyên dáng. Nhưng cánh con trai cho rằng chị Nguyệt đẹp nhất ở mái tóc và nước da. Nước da như ngà, mớ tóc đen nháy óng ả chảy xuống kheo chân. Mớ tóc càng duyên hơn vì chiếc khăn vấn. Không phải màu đen, cũng không phải màu nâu già, chiếc khăn màu nâu non. Chị tôi phải khéo léo nhuộm bằng nước củ nâu giã nhỏ cùng với một số vỏ cây. Cuối cùng mảnh vải trắng biến thành như màu son mà không phải là son, như màu nâu mà không phải là nâu, nó không gắt mà dìu dịu ấm áp. Chiếc khăn cuộn quanh mớ tóc, chít tròn vành vạnh trên đầu, khiến gương mặt chị tôi sáng bừng lên và để lộ ra cái cổ kiêu ngà ngọc, cùng với vài sợi tóc mây lòa xòa sau gáy.
Thầy Hải cũng không nằm ngoài quy luật. Thầy tôi từ cổng trường quay về lớp. Đôi mắt như sáng lên, và một nụ cười còn đang trên môi. Thầy dắt tôi đến cái bàn có một cô con gái trạc tuổi tôi đã ngồi và bảo :
- Em đã biết làm toán đố. Thầy xếp em vào lớp ba. Có gì chưa biết thì hỏi bạn Huệ. Huệ nó ngoan lắm, Huệ sẽ giúp em.

Như tôi đã nói, trường có hai buồng. Đáng lẽ mỗi lớp một buồng. Nhưng cả làng chỉ có sáu đứa lớp Ba và bốn đứa lớp Bốn nên thầy gộp hai lớp làm một. Lớp Ba ở dãy bàn bên trái lớp Bốn dãy bên phải. Cũng như vậy, khi lớp Bốn làm luận thì thầy đọc chính tả cho lớp Ba v.v... Thầy rất chú ý đến tôi. Có lúc thầy giảng riêng cho tôi những bài mà tôi chưa được học để theo kịp các bạn lớp Ba. Cái Huệ ngồi cạnh tôi tủm tỉm :
- Chưa có bạn nào được thầy dạy riêng như anh.
Tôi hiểu cái nụ cười tủm tỉm của nó quá đi chứ. Phải nói thầy Hải xếp tôi vào lớp Ba là có phần chiếu cố. Tôi chỉ được học lớp bổ túc bình dân nên còn bập bõm lắm. Tuy thầy giáo giao tôi cho Huệ giúp đỡ, nhưng khi thấy tôi và Huệ luôn đi bên nhau, cả lớp Ba và lớp Bốn đều chế giễu. Thậm chí có đứa còn sửng cồ, nhất là thằng Căn anh ruột cái Huệ. Nó quắc mắt đe tôi :
- Sao mày cứ như cái đuôi của em tao thế. Liệu không tao dần cho nhừ xương.

Thằng Căn học lớp Bốn, đã mười lăm tuổi, nó to lớn ngộc nghệch như con gà chọi. Tính khí thất thường, lúc nó hiền như cục đất, lúc nó giận dữ, quát tháo, bậm trợn, mắt quắc tròn xoe. Cả lớp ai ai cũng sợ nó. Căn đi câu, đi tát cả ngày. Có lúc tôi theo Huệ về nhà nó. Không thấy bố nó đâu. Chỉ thấy mẹ Huệ; bà hiền từ ít nói, có con mắt rất đẹp hơi xếch lúng la lúng liếng. Huệ có con mắt giống hệt như mẹ. Một hôm, thấy mâm cơm nhà Huệ chỉ có bát rau muống và tương tôi bảo :
- Mùa này mùa hè, sao Huệ không đi bắt ve lột xác. Ve lột đem rang ròn và thơm lắm.
- Anh An đi tu mà cũng bắt ve ư?
- Không, ấy là chuyện năm ngoái lúc anh còn ở nhà.
Ở quê tôi có nhiều ve lắm. Vào hè hàng vạn con ve trên cây kêu váng trời suốt ngày. Lũ mục đồng chúng tôi thường đi bắt ve lột xác. Vào lúc trăng bắt đầu nhú, chúng tôi đập giập nứa làm đuốc, rồi đi soi ở khoảng đầu đêm, những con dế, tức là những con ve con được sinh ra từ hè năm trước từ dưới đất chui lên, bò lên các cành cây ngang thắt lưng người, để bắt đầu lột xác hóa sinh từ kiếp dế sang kiếp ve. Thật lạ lùng! Con dế nứt vỏ lưng ra rồi cong người lột vỏ. Con dế màu nâu, nhưng con ve mới lột lại màu xanh nhạt. Chờ vài tiếng cho khô người và cứng cáp, ve non mới bò lên ngọn cây và hoàn tất một cuộc đời suốt ngày kêu ra rả. Ve già chẳng ai ăn, nhưng ve non mới lột ngon tuyệt vời. Nó rất sạch sẽ. Rang lên ăn vừa béo, vừa bùi, thơm ngon chưa từng thấy.
Nghe tôi kể, Huệ cười :
- Mới nghe anh nói em đã thèm. Hay là tối mai anh trốn chùa đi bắt ve với em nhé. Em biết ở vườn chùa chỗ gần ao có cái trổ, chúng em vẫn chui qua đấy vào ăn cắp ổi của tam bảo.
Tôi lắc đầu :
- Đấy là chuyện ngày xưa. Còn bây giờ anh không dám đâu. Đã vào chùa ai lại dám làm chuyện sát sinh.
Huệ tinh quái :
- Anh kể cho em nghe cách bắt ve cũng là mắc tội sát sinh rồi.
Lúc ấy tôi hãy còn thơ dại, lại mới chân ướt chân ráo vào chùa tôi đã hiểu gì đâu, nhưng tôi cũng không ngờ chuyện bắt ve lại gây cho tôi bao phiền phức. Hay cái nghiệp của tôi là vậy Tôi là kẻ sống giữa đời mà lại vào chùa. Như sau này tôi mới biết, tôi bị giằng xé giữa đời và đạo. Mà chẳng cứ lúc ấy, suốt đời tôi cứ bị giằng xé như vậy.
Mấy hôm sau, Huệ nói với tôi.
- Tối qua, em đã đi bắt ve lột xác rồi. Quả là như anh nói, ve rang lên ngon tuyệt.
Hôm sau nữa, lúc tan học, Căn sừng sộ gọi tôi lại tra hỏi :
- Ê thằng sư hổ mang, mấy hôm trước mày đến nhà tao phải không?
- Vâng, nhưng em có làm gì đâu.
- Lại còn cãi. Mày dạy cho cái Huệ nhà tao soi đuốc bắt ve phải không?
Căn vừa nói vừa giơ cái ống bơ sữa bò đựng đầy những con ve màu xanh xanh :
- Mày còn chối hả? Tao đã bắt quả tang. Từ rày, tao cấm thằng thầy chùa bén mảng đến nhà tao để dụ dỗ con Huệ.
- Em đâu có dụ dỗ.
- Hôm nay không, thì ngày mai mày dụ dỗ. Trông cái mặt mày là tao biết. Từ rày tao cấm tiệt. Nhà tao không muốn dây dưa với mày. Còn bây giờ tao phải cảnh cáo cho mày nhớ đời.
Nói xong, Căn hô to, gọi lũ bạn nghịch ngợm :
- Thằng Trắm đâu. Mày giữ chặt đầu nó cho tao. Còn lũ kia giữ chân.
Trắm là đứa lộc ngộc nhất. Nó là con chị Thì, cháu ngoại bà vãi Thầm. Nhà nó quá nghèo nên nó không học ở trường làng, chỉ đi học bình dân buổi tối. Thằng này có khi còn khỏe hơn thằng Căn. Nó ôm lấy tôi, đè nghiến xuống đất. Hai bàn tay nó như hai cái kìm sắt, ghì chặt đầu tôi trên mặt đất. Thằng Căn xông tới, cầm những con ve sống cánh còn xập xòe run rẩy nhét vào mồm tôi. Tôi mím chặt môi không ăn. Căn vành mồm tôi ra, tọng những con vật run rẩy ấy vào họng tôi. Tôi nghẹt thở. Nước mắt chảy giàn giụa vì uất ức. Mồm nhổ phì phì cái thứ nước tanh tưởi xanh lè ấy. Nước bọt bắn vào mặt thằng Căn. Thằng Căn trở nên cáu kỉnh. Nó giơ nắm tay đấm vào mồm tôi. Máu chảy tóe loe. Thế là, tôi bỗng như kẻ rồ dại. Tôi dùng hết sức cắn vào bàn tay Căn. Tôi vùng vẫy đấm đạp, cố thoát ra khỏi hai bàn tay gọng kìm của Trắm. Còn Căn thì hét lên vì bàn tay bị thương.
Trong khi ấy, lũ lâu la của Căn nhảy cẫng lên vui thích. Có đứa nào đó đang hét to:
Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư.

Không hiểu sao, khi nghe câu hát ấy, thằng Căn càng điên rồ hơn. Nó thôi đấm, chuyển sang bóp cổ tôi ằng ặc. Tôi ngạt thở, thè lè lưỡi ra rồi ngáp ngáp. Lúc đó nó mới chịu buông tha. Tôi ho sù sụ, rớt dãi ròng ròng. Tôi rất ngạc nhiên, khi thấy Căn quay lưng lại tôi, rồi cầm đất, cầm gạch ném tứ tung vào bọn quỷ sứ đang gân cổ lên hát.
- Mẹ chúng mày! Cút hết cả đi!
Trông Căn như con thú điên rồ. Còn lũ kia thì cắm đầu cắm cổ mà chạy. Thế này là thế nào. Tôi hoang mang tự hỏi, rồi lủi thủi quay về chùa. Quần áo tơi tả. Vừa đi vừa khóc. Nước mắt và máu mồm máu mũi nhoe nhoét trên mặt. Chị Nguyệt mang tôi ra giếng rửa ráy cho tôi, rồi nhẹ nhàng hỏi :
- Em đi ở chùa phải ngoan chứ, sao lại đi đánh nhau? Nhỡ ra sư cụ biết, đuổi chị em mình khỏi chùa thì chúng mình biết bấu víu vào đâu.
Chị Nguyệt sợ hãi vá víu lại chiếc áo nâu bị rách vạt xõa ra, chị còn giấu biệt không cho sư cụ và sư Khoan Độ biết. Giấu thế thôi chứ làm sao qua được đôi mắt xếch của sư bác. Từ hôm sốt, tôi vẫn ngủ với ông sư kỳ dị và bí ẩn này. Ngay buổi tối hôm ấy, ông hỏi tôi :
- Chú vừa đánh nhau một trận sáng nay?
Trong khi tôi còn ấp úng chưa biết trả lời ra sao, thì ông cất lời bằng cái giọng an ủi :
- Không sao cả. Ở ngoài đời, người ta thường xuyên cấu xé nhau. Kẻ mạnh ăn hiếp kẻ yếu.
Ông giơ bàn tay trái ra cho tôi xem. Tôi đã nhận ra điều kỳ lạ của bàn tay ấy khi mới đến chùa, song không bao giờ dám hỏi ông. Bàn tay ấy trông như bé hơn bàn tay phải, bởi vì ngón tay út bị cụt lủn đến tận sát gốc nơi lòng bàn tay. Nó để lại một vết sẹo nhẵn thín, ông cho tôi xem, không nói rõ nguyên nhân tại sao, mà chỉ nói :
- Tôi đã nguyện theo gương các vị hộ pháp bảo vệ cho ngôi chùa này. Tôi bảo vệ chú nhưng không phải bằng cách đi đánh người khác. Chú phải tự bảo vệ mình. Tôi sẽ dạy chú học võ.
Tôi rụt rè :
- Sư mà cũng học võ sao?
- Thời loạn, sư cũng phải học võ.
- Thế sư cụ có cho phép không?
- Sư cụ có cho phép. Thế chú tưởng sư cụ không biết chuyện chú bị người ta đánh cho hộc máu ra sáng hôm nay chăng? Sư cụ biết rất rõ và người cho phép tôi dạy chú tập võ.

Như vậy là từ hôm ấy, tôi phải học ba buổi: buổi sáng học chữ thầy Hải; buổi chiều học chữ sư cụ; buổi tối học võ với sư bác.
Tối nào sư Độ cũng đem tôi ra cái sân đất ở vườn chùa, bắt tôi tập đứng tấn, tập lộn, tập nhảy, tập đấm đá các thế võ. Bị bong gân, bị đau, bị trầy xước là chuyện thường. Sư Độ có mấy lọ thuốc để ở xó nhà, tôi thường xuyên được nắn bóp thứ thuốc thơm phức như ở quê tôi người ta xoa bóp cho gà chọi. Nhờ có tập võ, tôi và sư Độ càng lúc càng trở nên thân thiết. Con người thô tháp ấy rất tình cảm. Ông thương tôi như người cha thương con, hay người anh cả thương em út. Đêm đêm, sau khi hai chúng tôi quỳ sau lưng sư cụ đọc kinh sám hối thời đêm xong, chúng tôi nằm cạnh nhau trên tấm phản mọt. Và nhiều đêm, tôi đã kể cho sư bác nghe những chuyện về gia đình tôi, không giấu diếm một điều gì. Ví dụ chị tôi thích ăn dấm cá, thầy tôi thích uống rượu với chạo bì bò, mùi thính và lá ổi thơm lừng, còn u tôi chỉ thích ăn châu chấu nhúng nước dừa đun sôi rồi rang với tương thêm vào vài lát lá chanh thái chỉ. Có bận cá rô rạch từ ao chùa bò lên vườn, sư bác bắt đem cho chị Nguyệt. Chị tôi bảo:
- Nhà chùa đâu được phép ăn thịt cá.
- Sư cụ và tôi và chú tiểu An không được phép ăn. Đó là giới cấm sát sinh. Còn cô vẫn được phép. Sư cụ không bằng lòng xuống tóc cho cô. Cô không phải là ni sư.
- Dù sao tôi cũng không ăn...
- Ô kìa! Cô thích canh dấm cá kia mà.
- Ai bảo sư bác vậy?

Sư Độ không trả lời, lùi lũi lên nhà tổ. Hôm ấy, chị Nguyệt đem cá vào làng cho dân, tôi thấy sư Độ đứng đằng sau cánh giại nhìn theo mãi chị tôi bưng rổ cá rô đi ra cổng chùa, vẻ mặt sư như buồn.
Và như tôi đã nói, chị tôi có hai thứ đẹp trên người mà khó có cô gái nào sánh nổi: nước da trắng bóc và mớ tóc đen dài gần chấm gót. Có một hôm trời nóng, chị tôi gội đầu và hong tóc. Chị tôi cũng có ý tứ, ra đằng sau chùa bên bờ ao để cho kín đáo và đồng thời được nhận ánh nắng chiều qua khoảng trời thoáng đãng của vùng ao chiếu vào. Chị tôi xõa tóc, tấm lưng trần trắng muốt, ánh nước loang loáng. Chị tôi nghiêng đầu cầm cái quạt nan phe phẩy vào mớ tóc đen láy. Thật yêu điệu. Tôi và sư bác đang dỡ lạc. Sư Độ cũng vô ý. Tôi chợt thấy ông ngây người... Hình như ông thở dài thì phải.
Sư cụ Vô Úy là người trải đời và độ lượng. Có lẽ hòa thượng đã dạy bảo chị tôi vào một buổi mà sư Độ và tôi không có nhà.

Tôi đoán thế vì thấy chị tôi thay đổi rất đột ngột. Thứ nhất, chị Nguyệt bỏ hẳn không vấn tóc bằng chiếc khăn nâu non làm sáng bừng gương mặt. Thứ hai, quần áo nâu sồng của chị bỗng trở nên rách rưới lam lũ hơn. Thứ ba, chị tôi luôn luôn sùm sụp trên đầu một chiếc khăn vuông cũ, chiếc khăn che kín hai thứ đẹp nhất của chị tôi. Từ đó rất ít ai nhìn thấy mớ tóc tuyệt vời mà trời đã ban riêng cho chị. Cũng chẳng ai được chiêm ngưỡng chiếc cổ kiêu trắng ngà mà người con gái nào được trời ban tặng cũng luôn phô ra để cho đời thèm khát. Nói chung chiếc khăn vuông như một tấm vải đen đã che kín đời chị Nguyệt.




0
5
Sư Vô Trần

Chú tiểu An cứ thắc mắc mãi về một điểm trong cuộc đánh lộn với lũ thằng Căn. Sau khi Căn nhét ve vào mồm An, có một đứa đứng xem nào đấy hát to câu: “Ba cô đội gạo lên chùa - Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư”, thì thằng Căn bỗng nổi xung lên, buông tay không hành hạ An nữa, mà quay lại ném đất đá vào lũ người ủng hộ nó. Vậy thì tại sao lại thế? Chú tiểu An liền đem chuyện đó ra hỏi sư thầy Khoan Độ. Sư thầy trả lời :
- Sư thúc Vô Trần là học trò cuối cùng của sư tổ Vô Chấp, là em út của sư phụ chúng ta. Chuyện của các bậc đời trước, làm sao huynh biết được. Chỉ nghe nói rằng hiện nay sư thúc là đệ tử tục gia, và đang làm chính ủy...
Một ông sư lại là một người cách mạng. Câu chuyện về ông chắc khá đặc biệt. Tôi nóng lòng muốn biết. Sự tò mò khiến tôi tìm hiểu, lượm lặt những lời đồn đại, những mẩu chuyện liên quan đến sư thúc.
Thực ra cái sự tích đặc biệt ấy xảy ra ở chùa Sọ cũng đã lâu lắm rồi. Nhà chùa thì không muốn nhắc lại vì lý do tế nhị. Còn người làng Sọ thì cũng đã quên mất rồi. Lúc ấy còn là thời Pháp thuộc. Lão hòa thượng Thích Vô Chấp chưa về chùa Sọ cụ hãy còn trụ trì ở một ngôi chùa nhỏ ven Hà Nội, quá ô Cầu Dền một chút. Nghe nói thủ đô Hà Nội lúc ấy bé tẻo teo. Các bà Phật tử thuộc khu phố cổ, cùng Hàng Ngang, Hàng Đào chỉ cần đến bờ Hồ, hay ra chợ Đồng Xuân, đi xe điện, xuống đến quá ô cầu Dền một đoạn, xuống tàu là đã thấy những ngôi làng ven đô rất quê, và đã có thể vào những ngôi chùa cổ kính lễ Phật. Chẳng nhớ tên chữ Hán của ngôi chùa ấy là gì nhưng dân sở tại vẫn gọi là chùa Ổi, bởi vì ở vùng đó trồng rất nhiều cây ổi.

Có một bà Phật tử khá giả ở phố Hàng Chiếu. Bà là người sùng mộ đạo Phật. Ngày rằm, mùng một, bà thường đem cậu con trai nhỏ đi theo xuống chùa Ổi. Cậu ấm khoảng hơn mười tuổi. Cậu bé suốt tháng năm sống ở cái phố cạnh chợ Đồng Xuân nhốn nháo, nơi đầy rẫy những kẻ lừa bịp, nơi cuộc cạnh tranh không thương xót diễn ra hàng ngày, hàng giờ. Có lẽ vì thế nên khi cậu bắt gặp khung cảnh hiền hòa, thanh bình của chùa Ổi liền lập tức bị ấn tượng rất mạnh.
Tên cậu bé là Trần. Gặp ngôi chùa, Trần cứ tưởng như mình được lột xác. Tuần nào cũng vậy, cứ xuống khỏi xe điện, là Trần vội vã ba chân bốn cẳng chạy vào chùa. Ở đây cậu có thể ra hồ sen, ngồi dưới gốc si già, hoặc đến rặng ổi leo trèo. Đặc biệt, cậu Trần có thể ngồi hàng giờ trong mùi hương ngào ngạt để nghe sư cụ đọc kinh. Cậu ấm Trần rất cung kính, lễ phép nên được sư cụ rất yêu. Dần dà cậu trở thành như người nhà của chùa Ổi. Thân thiết đến mức cậu được phép ngồi lẫn với các chú tiểu, sư thầy để nghe sư cụ giảng kinh. Trần đang học năm thứ tie tníờng trung học Pháp Việt, lại khá thông minh, học đến đâu hiểu đến đó, nên được lão hòa thượng Thích Vô Chấp yêu mến vô cùng.

Cho đến một hôm, bỗng nhiên cậu ấm Trần mất tích. Gia đình bà phố Hàng Chiếu nhốn nháo đi tìm song không thấy đâu. Đầu tiên, họ bổ xuống chùa Ổi, các sư tăng đều lắc đầu. Đến nhà họ hàng quyến thuộc cũng không tăm tích. Bà Phật tử khóc lóc kêu trời, nghĩ mình là người tu nhân tích đức, cớ sao lại gặp nghịch cảnh. Được ba hôm, thì chính sư cụ Vô Chấp đã tìm ra cậu.
Đêm nào sư cụ cũng tụng kinh rất khuya. Đêm hôm ấy, tụng kinh xong cụ cứ thấy bồn chồn trong dạ. Cảm giác như nghe thấy một tiếng động mơ hồ nào đó. Nằm xuống ngủ cũng không ngủ được. Cứ như nghe thấy có ai gọi trong đầu. Sư cụ liền thức dậy, đốt nến, vào tòa chính điện, soi khắp các nơi, các xó. Soi mãi vẫn chẳng thấy gì. Chợt cụ nhớ tới pho hộ pháp. Ngày trước, lúc đi trốn bọn giặc Cờ Đen hung ác, sư tăng trong chùa có đào một căn hầm nhỏ dưới đít pho tượng khổng lố. Cụ vội lật đật đến mở tấm ván đậy hầm, thì quả nhiên thấy cậu ấm Trần nằm co ro trong đó. Nhịn đói ba hôm trời. Cậu bé gan liền đã lả đi. Sư cụ liền gọi người tới cõng lên, ủ chăn ấm và đổ cháo cho ăn. Đến sáng, cậu ấm tỉnh lại. Bà mẹ được tin xuống chùa, run rẩy ôm lấy con trai :
- Sao lại thế hở Trần? Muốn thế nào thì con phải nói với cha với mẹ chứ.
Trân ứa nước mắt bảo bà :
- Thưa mẹ, con đã nghĩ kỹ rồi. Con xin lạy mẹ. Con xin phép mẹ được cắt tóc đi tu. Lòng con đã nhuốm mùi thiền chỉ có vào chùa, con mới thấy lòng mình thanh thản.
Sư cụ Vô Chấp nghiêm nghị bảo :
- Việc này là việc lớn, quan hệ đến cả đời người. Một cậu bé thông minh nguyện cắt tóc đi tu có thể là một điều hay. Người ta nghĩ vì chán đời mà đi tu là không phải. Hoan hỉ mà đi tu mới là phải. Đây là chuyện tìm đường giải thoát. Sợ rằng đó là chuyện còn quá cao siêu với cháu Trần.
- Bạch sư cụ, con rất lấy làm hoan hỉ. Thưa, cứ đến nhà chùa ngửi mùi hương trong chính điện là con thấy thích, thấy lòng nhẹ nhõm.
Bà phố Hàng Chiếu về nhà bàn tính với chồng. Bà nghĩ đây là chuyện nông nổi, trẻ con còn cạn nghĩ, không ngờ ngay sau đó, Trần không đến trường học nữa và hễ cứ hở ra là cậu bé lại trốn nhà xuống chùa Ổi. Sư cụ cũng rất băn khoăn; sự quá đỗi nhiệt tình của Trần làm sư cụ vừa thấy yêu, vừa lo lắng. Sự nhiệt tình ở một con người thông minh... rồi con người sẽ gặp bao cảnh đời gập ghềnh mới lạ... Sự cuồng nhiệt... sự thông minh sẽ gặp bao nẻo rẽ trên con đường trần thế... Sư cụ thấy lo lắng vì sự cuồng nhiệt và thông minh ấy. Người càng cuồng nhiệt thông minh thì càng dễ thay đổi. Sau này, gặp một hoàn cảnh khó xử cậu ta sẽ ra sao? Tuy nhiên cậu Trần cứ kiên trì một mực như vậy, cuối cùng, bà phố Hàng Chiếu và cả sư phụ Vô Chấp cũng phải chịu thuyết phục, chấp nhận cho Trần đi tu.

Cậu bé tên Trần được sư đặt pháp danh là Vô Trần. Trưởng lão lúc ấy đã già, cả đời thu nhận hơn chục đồ đệ, nay được người học trò thông minh sáng láng ấy lấy làm vui mừng vô hạn. Đó là người học trò cưng yêu nhất của hòa thượng. Có thể đó là pháp khí nối được đèn tổ chăng. Sư đi đâu cũng đem tiểu Vô Trần theo hầu.
Khi hòa thượng quay trở về chùa Sọ, ngôi chùa mà người bắt đầu đời tu hành, hòa thượng cũng đem Vô Trần về đó. Sư cu nghĩ phải đem học trò về tận tổ đình, nơi tổ đăng luôn luôn thắp sáng; có như thế con người mới hiểu được công sức của bao nhiêu các tổ đã viên tịch, người tu hành mới hiểu rõ được tại sao phải giữ lửa cho tổ đăng.
Ở gian giữa nhà tổ có bức hoành phi bốn chữ “Tùy duyên lạc đạo”. Hôm mới về, sư cụ đã giải thích cho Vô Trần ngay :
- Bốn chữ này rút từ câu “Cư trần lạc đạo thả tùy duyên” của đệ nhất tổ Trúc Lâm, đức vua Trần Nhân Tông. Xưa, đức vua có lúc tu hạnh đầu đà, đã lìa bỏ ngôi vua, đi khắp nước giáo hóa Phật pháp. Qua đây, chính tay người đã viết bốn chữ này. Ý vua muốn nói người tu phải bất ly thế gian, tùy duyên ở cảnh đời nào cũng vui với Đạo.
Vô Trần ngây ngất ngắm nhìn bức tranh hoành phi cũ kỹ sơn son thếp vàng, nay sơn đã bay, gỗ đã có chỗ nứt. Của quý đến như vậy vẫn ẩn tàng ở một ngôi chùa nghèo, thật không ai ngờ tới. Trần thầm tưởng tượng ra cái cảnh một ông vua đi chân đất, trải tấm giấy hồng ra giữa sân chùa, xắn tay áo lên, cầm cây bút lông to vung tay viết những chữ tưởng chừng như giãn dị kia, mà đến bây giờ nhìn thấy, lòng người vẫn ưng rưng xao xuyến, suy ngẫm. Sư cụ Vô Chấp cũng xúc động đã lâu lắm cụ không kể chuyện xưa. Hôm nay cụ muốn thổ lộ tấm lòng cho hết, như người cha nói với đứa con út yêu quý :
- Thời Lý, thời Trần, dân ta ai cũng theo đạo Phật. Năm trăm năm thờ Phật, nên trong hồn người Việt, ai cũng có hạt giống Phật. Trải qua nhà Hồ rồi hai chục năm lệ thuộc nhà Minh, đạo Phật đã phôi pha ít nhiều. Đến đời nhà Lê, các vua đề cao đạo Nho. Các vua nhà Lê không nhắc đến đạo Phật, vì nhắc đến đạo Phật là nhắc đến đức Trần Nhân Tông, vị vua đã chiến thắng quân Nguyên, chiến thắng lừng lẫy, rồi lại tự mình xây dựng nên Thiền phái Trúc Lâm làm rạng rỡ văn hóa Việt. Các vua Lê sợ dân nhớ đến nhà Trần, nên mặc cho chùa đổ hoang tàn. Đạo phải có lúc hiện lúc ẩn. Thuận thì hiện, không thuận thì ẩn. Tuy nhiên, ẩn chứ không dứt. Đạo vẫn ở trong nhân gian. Đàn ông say mê danh lợi không cần đạo, thì các vị sư sãi và đàn bà làm các vãi giữ lấy đạo không dứt...
Vô Trần tinh tấn tu hành chằng mấy chốc đã mười bảy, mười tám.
Một nhà sư trẻ tuổi, mặt sáng như trăng rằm, ăn nói mềm dẻo, làu thông kinh kệ, giỏi chữ Hán, là niềm tự hào của hòa thượng Vô Chấp. Sư cụ cố đem hết cái sở đắc của mình truyền dạy cho người học trò yêu. Cũng sắp đến lúc làm lễ truyền giới cho Vô Trần. Thấy người học trò đêm ngày miệt mài kinh kệ, sư bảo :
- Tinh thông giáo lý là điều quan trọng, nhưng đó mới chỉ là bước đầu của việc tu tập. Con đã nghe hai câu này chưa?
Thanh thanh thúy trúc tổng thị Pháp thân
Quật quật hoàng hoa vô phi bát nhã
(Trúc biếc xanh xanh là Pháp thân
Hoa vàng rợp rợp là Bát Nhã).
Da con xin được nghe lời chỉ dạy của sư phụ.
Xưa có ngài Hương Nghiêm đã đọc thiên kinh vạn quyển, tu hành đã lâu mà vẫn chưa vào nổi cửa Thiền. Có một hôm, chợt ngài nghe thấy tiếng vang của một hòn sỏi chọi vào cây trúc. Thế là ngài đốn ngộ. Ngài Linh Vân cũng vậy. Một hôm đi trên đường, bỗng trông thấy vườn đào nở rộ; ngay lúc đó, ngài ngộ đạo. Con đã hiểu ý ta chưa?
- Bạch thầy, con vẫn chưa hiểu.
- Ngộ đạo không phải cố học mà được. Người ở chùa phải kiên nhẫn tinh tấn tu hành. Bao giờ thời tiết nhân duyên chín mùi và thâm tâm thanh tịnh thuần thục, thì có khi nghe thầy quát một tiếng, bị thầy đạp một cái, hay tai nghe một tiếng động, mắt trông thấy một màu sắc, bị kích thích đột nhiên ta bừng ngộ.
- Vậy con đọc kinh Phật thì sao?
- Chỉ là một nhân duyên. Không biết đọc có khi còn cản trở.
- Bạch thầy...
- Con quá đỗi nhiệt tình. Từ lúc ta mới gặp con cũng vậy. Vì thế ta vừa yêu con vừa lo lắng cho con.
Xem như thế ta mới thấy tình thầy trò khăng khít biết nhường nào. Sư cụ lo lắng uốn nắn cách tu cho Vô Trần từng li từng tí. Nói chung hòa thượng có lo cho Vô Trần nhưng mừng là chủ yếu. Con đường đã vạch sẵn rõ ràng; môi trường tu tập thuận lợi; học trò thì ngoan ngoãn cố gắng, do đó hòa thượng thấy yên tâm, nghĩ rằng học trò đã lớn khôn, bèn giao hết việc chùa cho Vô Trần. Lúc đó sư cụ đã già lắm, người muốn được rảnh tay, đi thăm lại các ngôi chùa xưa, những nơi người đã trụ trì và hiện đã giao cho các đệ tử của mình. Rồi một hôm người đeo tay nải lên vai, chống gây về thăm chùa Ổi :
- Thầy đi dăm bữa nửa tháng sẽ về. Chuyến này có lẽ hơi lâu. Con ở nhà nhớ đèn nhang chu đáo. Đừng có chểnh mảng tu tập.
Có lẽ sư cụ không hiểu tâm lý một chàng trai mới đến tuổi trưởng thành. Cũng có lẽ cụ quá tin cậy vào bản lĩnh của người học trò yêu nên đã để cho Vô Trần một mình quản lý ngôi chùa. Có biết đâu, dù sao Trần cũng chỉ là một chàng trai mới lớn. Sư cụ thường dạy :
- Con không bao giờ được phép để cho tay chân hay đầu óc được nghỉ ngơi. Con người phải biết luôn chân luôn tay. Hết việc này thì phải tìm việc khác mà làm. Hết việc chân tay thì tìm việc đầu óc. Buông tay ra phải tìm ngay quyển kinh, cuốn sách. Rồi còn tụng kinh, ngồi thiền. Có vậy mới nên kẻ chân tu.

Bao nhiêu năm qua Vô Trần vẫn răm rắp theo đúng lời sư phụ. Nhưng dạo này Trần bỗng thấy mình lêu lổng. Đó không phải là chuyện lang thang bằng đôi chân mà là sự lang thang đầu óc. Sự lang thang này cũng thật vô cùng thú vị. Đúng là từ sáng đến đêm Trần vẫn theo đúng lời thầy dạy. Nào hương đăng sớm tối, nào quét tước lau chùi để cái sân chùa bao la không một chiếc lá, để những chiếc cột lim thường xuyên bóng lộn, nào gõ mõ tụng kinh cho đến lúc gà gáy nửa đêm... Nhưng sau đó thì sao? Một mình một bóng trong ngôi chùa mênh mông. Có đêm, Trần thấy cô quạnh quá, phải ra sân chùa ngồi cạnh con chó vàng già nua trên thềm hè. Vô Trần ôm lấy đầu con chó kể lể những câu chuyện tận ngày xửa ngày xưa.
- Nhà ta ở phố Hàng Chiếu. Ở đấy chật lắm không nuôi được chó, nhưng mẹ ta vẫn nuôi một con mèo... Mèo trắng tinh đẹp vô cùng. Đến tối nó vẫn ngủ cùng ta. Gừ gừ... Con mèo lúc nào cũng run rẩy. Có những đêm thật nóng mà nó vẫn run lên trong lòng ta. Ta yêu nó. Mẹ ta cũng yêu nó. Mẹ ta kể chuyện lúc ta rời nhà đi tu, nó nhớ ta quá, hàng tuần liền đêm nào cũng ngồi trên nóc nhà mà gọi meo meo... Còn mẹ ta nghe thấy nó kêu cũng nhớ ta mà khóc cả đêm. Còn bây giờ thì... đã gần chục năm rồi. Con mèo trắng đã chết... Còn mẹ ta cũng đã qua đời.
Vô Trần miên man nghĩ đến đám tang của mẹ. Cha của Trần cũng buồn, nhưng dù sao ông cũng còn có người vợ thứ hai trẻ măng bên cạnh. Chính mẹ ta đi tìm một người đàn bà mắn đẻ để cưới cho chồng làm vợ lẽ. Một sự bắt đền. Vì ta đi tu nên cha ta thở ngắn than dài là không có người nối dõi. Và dì hai đã đẻ luôn cho cha ta hai cậu con trai. Mừng vui hay buồn tủi? Có lẽ cha ta thì mừng, còn mẹ ta thì tủi. Sự mặn nồng của cha ta với mẹ ta thế là phai lạt. Ôi! Thân mẫu yêu quý! Sư phụ bảo lẽ đời lạ vô thường. Cũng bảo mẹ dày phúc đức. Có con đi tu mẹ cũng được nhờ cậy, sẽ thoát khỏi đầu thai vào cõi ngạ quỷ... Bóng dáng người mẹ hiền thục và cam chịu ấy chợt hiện lên rõ mồn một trong tâm tưởng. Mẹ ơi! Giờ mẹ ở nơi đâu? Ở cõi trời hay cõi người? Trong mỗi con người đàn ông đều có bóng dáng một người đàn bà. Hình ảnh thân yêu ấy từ lúc mở mắt chào đời ta đã thấy...

Đêm hôm ấy, Vô Trần ngồi ở hiên chùa ôm con chó già nhìn những ngôi sao đổi ngôi vạch trên trời, nghe những con vạc, con cú bay qua vườn chùa, mơ màng cùng những kỷ niệm, về những hình ảnh đẹp vô cùng mà cuộc sống tu hành bận rộn làm chàng hầu như đã quên mất. Còn đêm nay, nó ào ạt trở về. Nó trở về cùng với sự mang mang ý thức về nỗi cô đơn của kiếp người. Đã đành rằng đi tu là phải xả hết nỗi buồn vui ở đời. Vui cũng chẳng động tâm, buồn cũng chẳng động lòng. Luôn luôn tĩnh lặng sáng suốt. Thế nhưng đức Thế Tôn xưa đã chẳng vì ý thức được nỗi đau khổ của thế gian nên đã đi tìm con đường giải thoát sao. Có khi nỗi buồn đã hoàn thiện con người, làm con người trở thành người.
Vô Trần cứ miên man nghĩ như vậy. Có lẽ anh chưa dứt khỏi vòng sinh tử. Phải chăng sự đi tu của anh là một sự đi tìm đường trong cõi nhân gian, và đó cũng mới chỉ là bước khởi đầu của một hành trình dài dằng dặc.
Trong đêm tịch mịch, chợt Vô Trần hình như thoảng nghe thấy một tiếng động lạ. Chàng trai định thần chú ý. Đúng là có tiếng động lạ. Hay chính xác hơn đó là tiếng khóc. Những làn gió nam khởi dấy lên từ lúc nào chẳng biết, đã đưa tiếng khóc đến ngôi chùa. Càng lúc tiếng khóc than càng rõ hơn. Chàng hiểu rồi. Ở phía bắc ngôi chùa có một bãi tha ma. Trưa nay, có đám ma trong làng. Những nhà khá giả ở đây có người chết thường đến chùa, xin sư cụ làm lễ siêu độ và có lời với hội vãi già đi đưa để bắc cầu vồng dẫn vong sang thế giới bên kia. Nhà này chắc nghèo nên chẳng liên hệ gì với chùa. Tiếng ri ri khóc than có lúc nghe rõ mồn một dần dần làm xốn xang lòng chàng. Vô Trần như bị cuốn hút rồi bị mê hoăc vì tiếng khóc. Chàng đứng dậy. Con chó vàng ngẩng đầu nhìn chàng như muốn hỏi chàng định làm gì. Chàng lầm bầm trong mồm một câu gì đó. Rồi chẳng nói chẳng rằng, như người mê, bập bỗng thất thểu ra cổng chùa, mở cái cửa bên. Con chó lững thững bước theo, nhưng tới cổng, nó dừng lại vẫy đuôi, sủa dồn lên như muốn gọi. Vô Trần vẫn đi không quay đầu lại. Con chó vẫn rên ư ử như thất vọng, khi bóng chàng khuất sau những bụi cây. Nó chỉ còn biết sủa bâng quơ mấy tiếng rồi nằm xuống ở bóng tối tam quan, ở cái cổng bên, mà chàng đi ra.

Vô Trần nhằm thẳng bãi tha ma đi tới. Bãi tha ma ngổn ngang gò đống, trơ trọi. Chỉ có bóng lù lù những ngôi mả bên cạnh những bụi sim, mua. Tới đầu bên kia mới thấy bóng hai cây nhãn vươn lên trời. Đó là nơi phu đào huyệt nghỉ tay tránh nắng. Ở đây có bàn thờ thổ thần thổ địa xây bằng gạch. Tiếng khóc phát ra từ chỗ này. Bây giờ nghe đã rõ ràng. Người đàn bà nào đó khóc rằng.
- Dì ơi... sao dì bỏ... cháu mà đi... Trời cao đất dày ơi!... Bây giờ... tôi biết... sống cùng ai...
Tiếng khóc thật ai oán, lúc to, lúc nhỏ, lúc tỉ tê kể lể, lúc nức nở không ra tiếng, rồi tiếng hỉ mũi... Rồi tiếng nấc... Tiếng khóc im lặng một lát sau lại ré lên... Rồi thì ằng ặc... ằng ặc... Đột ngột tiếng kêu than ngừng hẳn. Lặng lẽ đến ngạc nhiên. Cả bãi tha ma chợt im phăng phắc để sau đó vang lên tiếng rộn của muôn ngàn con dế và lũ ễnh ương, cóc nhái trong những hố chôn, trong bãi cỏ còn đọng nước của trận mưa vừa qua.

Vô Trần như bị thôi miên. Chàng cảm nhận có chuyện gì đó mới xảy ra. Chàng vội đến chỗ hai cây nhãn. Dưới bóng trăng, một người đàn bà nằm còng queo dưới chân bàn thờ thổ thần. Chàng ngồi xuống bên cạnh người đàn bà đang ngất xỉu chân tay lạnh ngắt. Ở chùa, sư cụ còn dạy Vô Trần y thuật Chàng vội vã lấy ngón tay cái bấm vào huyệt ấn đường dưới mũi, huyệt bách hội trên đỉnh đầu và huyệt hợp cốc ở nơi bàn tay. Được một lát thì chị ta tỉnh lại. Chị ta vẫn còn nấc nhẹ nhưng đôi mắt khóc như đã cạn nước mắt. Hỏi ở đâu, chị ta chỉ biết hất đầu chỉ vào cái lùm tre gần đấy nhất. À, chị ta ở trại Cò. Đó là cái vườn cò chừng mươi mẫu trên mấy quả đồi thấp. Đồi trồng toàn tre của nhà cụ chánh. Nghe đâu có một bà già trông vườn. À, chắc cô này là cháu. Và người mới đem chôn hẳn là bà cụ già.
Trần dìu người con gái đi về vườn cò. Phải dìu vì cô ta hầu như kiệt sức. Lần đầu tiên Vô Trần được ôm một thân hình mềm mại và ấm áp. Trong bóng trăng chẳng nhìn rõ được từng nét mặt của chị ta. Anh chỉ cảm nhận được một khuôn mặt trẻ trung, tròn vành vạnh, và trắng ngát. Ở người chị ta toát ra một hương thơm, thứ hương đặc biệt của người con gái. Nó gần giống như hương của những bông lúa ngậm sữa. Hay là hương trên da thịt một đứa bé bụ bẫm.

Họ đã đi vào bóng những lùm tre. Thỉnh thoảng lại gặp vũng trăng trên mặt đất. Tre cót két. Tre rì rào. Những con cò, con vạc, con sếu làm tổ trên những ngọn cây nghe bước chân họ đi lại kêu xáo xác, ríu ran. Có những chỗ tối om hoàn toàn. Trần đã quên mình đang dìu cô gái. Hình như cô ta đã tỉnh hẳn rồi thì phải. Trần cảm nhận như vậy vì đến quãng này chính anh lại được cô ta dìu đi. Nói cho đúng, họ ôm nhau mà đi. Và đây là đất của cô, đường sá ở đây cô đã thuộc lòng. Bóng tối kịt của vườn tre đã bịt kín mắt hai người, nhưng họ bước đi không hề đụng chạm. Cho đến lúc đằng trước mặt lóe sáng. Ánh sáng mở rộng dần. Họ đã tới một khu đất trống. Một túp lều nằm chính giữa khu đất. Đi trong vườn cò Trần đã biết được tên cô gái là Nấm. Anh hỏi :
- Cô Nấm ơi. Đèn nhà mình ở đâu?
- Nhà em không có đèn, nhưng có củi đấy. Củi ở ngoài hiên.
Trần đốt củi lên. Sờ bàn tay cô gái đã thấy ấm, Trần bảo :
- Không hề gì nữa rồi. Chỉ đến mai là cô khỏi hẳn.
Nấm cũng trạc tuổi Trần. Cô gái khỏe mạnh, không đẹp, nhưng đôi mắt rất sáng, lúng liếng. Cô có những vết tàn nhang trên đôi má bụ bẫm. Trần nhìn vào đôi mắt lúng liếng của cô chợt thấy như chúng đang van xin. Nấm bảo :
- Thầy đừng về đêm nay nhé?
- Sao? - Vô Trần cảm thấy mình đỏ mặt.
- Chẳng sao cả. Nhưng ở một mình em sợ lắm. Tối nay ở một mình em sợ quá. Cứ thấy hồn dì về nên em phải ra bãi tha ma.
- Lại thế nữa ư?
-Thầy mà về thì em lại theo thầy ra bãi tha ma. Hay là em theo vào chùa. Em chỉ ngồi ở sân chùa thôi. Lạy thầy. Cứ cho em ngồi ở sân chùa chắc Phật chẳng nỡ chối từ em.
- Cô vào chùa ban đêm ư? Chẳng được đâu.
- Thế thì thầy cứ phải ngồi đây với em suốt đêm nay. Không sao đâu. Cứ đốt lửa ngồi cả đêm.
- Thế đêm mai thì sao?
- Đêm mai em cũng sợ chứ, nhưng không sao, sáng mai em sẽ về nhà anh trai em. - Cô thở dài - Nhưng nhà anh trai em nghèo lắm. Lại đông con... Em chỉ định ở đấy ba hôm rồi lại quay về đây. Em chỉ còn đủ gạo ba hôm mang về cho anh chị ấy. Mà... ba hôm, chắc em cũng nguôi ngoai... Mà ba hôm chắc vong linh dì em cũng nguôi ngoai... Bà chắc cũng đã yên tâm ra đi, không quay trở về... làm em sợ nữa.
- Sao cô lại ở với bà dì?
- Em góa chồng mà. Năm ngoái chồng em đi bắt lươn bị hổ mang bành nó cắn. Em mới mười tám tuổi. Bố chồng em nói: “Thôi con vui lòng về với anh trai con. Con còn trẻ quá. Gặp người nào tử tế thì đi bước nữa. Chứ con ở đây... nhà đông người chật chội không tiện đâu”. Em về nhà anh trai. Anh có bốn đứa con, lại nghèo quá, vợ chồng anh chỉ biết mò cua bắt ốc quanh năm. Thế là em phải về đây ở với dì.
- Đây là đất nhà cụ bá Phượng. Có phải đất dì em đâu.
- Dì em làm lẽ thứ năm cụ chánh. Cụ chánh là bố cụ bá Phượng. Dì em không có con. Cụ chánh cho dì em ra ở đây mỗi năm cấp cho mấy chục thùng thóc.
- Hóa ra thế.
- Cụ chánh thường nói: “Đất lành chim đậu”. Cụ lại bảo: “Giữ sao cho cò vạc không bay đi. Thế là phúc cho nhà phúc cả cho làng mình”. Cụ cho dì em ở đây cốt để trông coi ngăn trẻ chăn trâu phá phách. Dì em ở đây nhưng không được phép bắt cò ăn thịt. Chỉ được bắt những con nào lúc gió bão, hoặc ban đêm sẩy chân rơi từ tổ xuống đất.
- Như thế chắc gì ông chánh sẽ cho cô ở thay chân bà dì.
- Việc ấy chẳng biết nữa. Nhưng sau rồi sẽ tính.
Hai người cứ ngồi bên bếp lửa nói chuyện vặt như thế suốt đêm cho đến lúc gà gáy sáng. Vô Trần dẫm trên sương mai trở về chùa. Con chó vàng thấy Vô Trần sủa gâu gâu, vẫy đuôi. Có lẽ con vật đã nằm ở cổng chùa lo lắng cho chủ suốt đêm.

Hai đêm tiếp theo, Vô Trần cảm thấy lòng mình thảnh thơi tính lặng. Song tới đêm thứ ba, mới sẩm tối, chàng đã thấy lòng mình chợt bồi hồi khó tả. Thường thì cứ ba hôm, chàng mới quét sân chùa một lần. Đáng lẽ ra phải đến ngày kia mới là lúc cần phải quét. Nhưng tối nay chàng cảm thấy cần phải quét ngay. Trận gió sáng nay làm lá đa rụng nhiều. Vô Trần lấy cái chổi dài kết bằng lá cọ. Những nhát chổi quét trên sân gạch kêu ràn rạt. Cứ tưởng tiếng chổi đưa có thể làm cho con người trấn tĩnh hơn. Nào ngờ càng quét lòng càng rối bời, cứ như đám lá bời bời ở đầu sân bên kia gặp cơn gió quẩn, tự nhiên bốc lên lại rải ra khắp sân. Hóa ra đâu vẫn hoàn đấy. Vô Trần vứt chổi, vào điện thắp hương, gõ mõ. Tiếng mõ ngày xưa thật diệu kỳ. Khi nó vang lên, chỉ một lát tâm hồn chàng đã lặng yên như mặt nước hồ vào ngày đứng gió. Sóng không bao giờ nổi. Còn hôm nay, lạ chưa! Càng gõ, mặt hồ tâm hồn càng gợn sóng. Ngồi thiền cũng chẳng xong. Có bao giờ chàng rơi vào một thứ tà thiền như đêm nay. Tâm hồn chàng bỗng như chú ngựa hoang, không chịu sự sai khiến. Nó muốn rong chơi. Nó muốn hí dài rồi cong đuôi lên, nhìn bầu trời bát ngát. Chàng thở dài đi nằm. Chàng cứ chạy trốn mãi, nhưng cuối cùng những mong muốn thực sự cũng hiện ra. Một tiếng nói dịu dàng văng vẳng bỗng nghe rõ mồn một trong óc: “Em chỉ về nhà ông anh em ba hôm. Chiều hôm thứ ba em lại quay về”. Sau tiếng nói là hình ảnh cô thôn nữ căng đầy nhựa sống với con mắt lúng liếng, với đôi má bầu bĩnh tàn nhang. Mở mắt ra cũng thấy hình. Nhắm mắt lại hình vẫn sờ sờ trong óc. Đi đứng, nằm, ngồi, hình ảnh cô Nấm cũng chẳng lúc nào rời Trần chợt nghĩ tới một câu chuyện cổ.

Ngày xưa, có một thầy tăng ở trên núi, mỗi lần về làng đều phải qua sông. Người lái đò là một cô gái xinh đẹp, duyên dáng, rất ưa nhìn. Tiền đò là một xu. Cô lái đò lại đòi thầy tu hai xu. Cô giải thích: “Người ta qua đò chỉ nhìn sông nhìn nước, còn thầy qua đò lại nhìn cả mặt tôi. Hai xu là phải”. Lần sau, có việc qua sông. Hôm ấy, thầy tăng úp mặt xuống ván thuyền, quyết không nhìn cô gái. Song tiền đò lại tăng bốn xu. Và cô giải thích. “Lần này, thầy không nhìn bằng mắt mà nhìn bằng tâm. Tâm nhìn thì rõ hơn. Không những nhìn được mặt tôi, mà còn nhìn thấu suốt vào con người tôi. Bốn xu là phải”.

Vô Trần bật cười khi nghĩ đến câu chuyện ấy. Đúng là ta nhìn bằng tâm. Ta trốn cũng không được nữa rồi. Nghĩ như vậy xong, thầy yên tâm với cái lý lẽ: việc đã trốn không nổi, thì thà cứ đương đầu với nó cho xong. Khi thầy Trần ra cổng chùa, con chó vàng lại đủng đỉnh đi theo. Con chó vẫn sủa lên như muốn gọi lại. Hình như lần trước thầy có ngoái đầu nhìn, còn lần này thì tuyệt nhiên không.
Vô Trần xăm xăm đi vào rừng tre xào xạc. Thầy lội qua những vũng trăng, chui vào lối tre mịt mù hun hút. Lúc trước chàng bồi hồi vật lộn với chính mình, còn lúc này chàng lại hồi họp lo lắng. “Không biết Nấm đã quay về chưa?”. Chỉ khi cái quãng trống và căn nhà lá hiện ra, chàng mới hết lo và tim chàng bỗng đập rộn ràng lúc nhìn thấy ngôi nhà có ánh sáng chứ không lù mù tối om như lần trước. Chàng ùa vào túp lều rách nát, long lanh con mắt nhìn vào Nấm đương ngồi sưởi bên đống lửa. Cô gái ngẩng lên không chút ngạc nhiên :
- Anh đã tới rồi ư?
Cô lặng lẽ đặt chiếc ghế con sát bên mình. Hai người ngồi bên nhau im lặng. Họ chẳng nói một lời vì có lẽ ngôn ngữ lúc này là vô ích, là ngớ ngẩn. Mãi cô mới hỏi :
- Thầy có đói không?
Vô Trần im lặng. Còn cô thì ríu ran :
- Còn em đói lả mất rồi. Em đã nấu cháo. Chỉ còn thiếu thức ăn.
Mắt Nấm bỗng sáng rực. Cô rất tự nhiên nắm lấy tay Trần :
- Đi, ta cùng đi kiếm thức ăn.
Hai người đứng dậy, bước ra cái lạnh man mác của đêm xuân. Lại qua một lối tre hun hút để tới một khoảng trống thứ hai, nơi đây lô nhô những cây rơm.
- Nhà ông chánh, sáu con trâu nên phải tích trữ rơm cho chúng ăn quanh năm. - Cô Nấm giải thích - Rơm nhà này để tau cữu. Có những cây rơm, bên dưới mục ra nên có nhiều nấm rơm... Nào để em dẫn thầy tới chỗ nhiều nấm nhất.
Cô gái cầm tay Trần kéo đi, họ len qua giữa hai cây rơm để chui vào cái khoảng trống, mà bốn phía đều có những cây rơm che kín. Ở đây, không có gió. Ở đây, rơm như một tấm nệm dầu thơm phức. Ở đây, kín đáo, nhưng lúc nào trăng cũng nhòm xuống. Ở đây, tia mắt của người ta nhìn nhau như cũng ấm áp hơn. Hai người đi vén rơm phủ xòa quanh chân cây rơm, ở đấy những chiếc nấm trắng phau tròn như những quả ổi, những nắm tay lộ ra dưới trăng. Nấm đã trắng lại càng thêm trắng. Họ ríu rít như trẻ thơ. Tay chạm tay, vai chạm vai, có lúc mặt cũng chạm mặt để những hơi thở nóng ran phả vào nhau. Để rồi họ nắm lấy tay nhau lúc nào cũng không hay. Nấm nâng những ngón tay dài thư sinh của nhà sư trẻ lên mặt để nhìn thấy chúng run rẩy, nàng nở một nụ cười. Cô yêu thích những ngón tay dài thanh dịu dàng này. Những ngón tay mà những người nghèo khổ quanh nàng không bao giờ có. Những ngón tay quý hóa ấy nay thuộc về cô. Thuộc về Nấm tất cả. Cả cái khuôn mặt sáng ngời, cái dáng gầy gò mảnh mai của con người trẻ tuổi này cũng vậy. Cô bầu bĩnh mập mạp. Chàng mảnh dẻ yếu đuối. Hai cánh tay dài bỗng trượt theo bờ vai ôm lấy cổ nàng. Lúc này không những bàn tay mà toàn thân chàng run lên. Nấm chợt hiểu ra cái ma lực của mình. Cô thấy kiêu hãnh trước sự thèm khát. Ở đây cô là nữ thần. Ở đây cô là hạnh phúc. Dưới ánh trăng ngút ngát trần gian này, cô còn hơn cả ngọc ngà châu báu. Khi cái yếm đào rơi xuống, Vô Trần đỡ lấy nó, nâng niu trên hai bàn tay, nghi lễ của một bước ngoặt, nghi lễ điểm đạo trần gian. Họ hiến dâng cho nhau có trăng sao làm chứng, có rừng tre rì rào hát khúc tụng ca, có đồng lúa tỏa mùi thơm được gió dẫn vào ướp hương cho cái nệm ái ân của họ.
Đêm hôm sau, Vô Trần như lên cơn sốt. Chàng nằm liệt giường, nhưng khi lũ cú mèo làm tổ trên những tháp cổ bay ra đi ăn đêm, có thể chúng bay tới khu rừng Cò, thì chàng không đừng được nữa. Vô Trân bật dậy mặc quần áo, rồi len lén lẻn ra vườn chùa y như một kẻ trộm. Hôm nay, chàng muốn giấu cả con chó vàng. Chàng sợ đôi mắt của nó ngước lên như muốn hỏi chàng đi đâu. Chàng sợ cả tiếng sủa dài của nó ở cổng chùa, mỗi khi chàng xăm xăm đi về phía vườn cò. Đêm nay, chàng luồn mình qua lỗ chó chui.
Đêm nay, nàng lại dẫn Trần ra cái góc ái ân thiêng liêng của họ. Tay trong tay, họ nhìn vào mắt nhau. Cho đến lúc nàng đưa tay ra sau gáy cởi dải buộc cổ yếm, để cho cái yếm từ từ rơi xuống. Họ thích cái nghi lễ ái ân này. Nhìn vào mắt Nấm, chàng trai hiểu đêm nay cô ta muốn chàng mạnh mẽ chiếm đoạt. Đêm qua, nàng dạy và chàng học. Đêm nay, người đàn bà muốn trả lại quyền chủ động cho người đàn ông. Vì chỉ ở trạng thái thụ động, người đàn bà hưởng thụ được hạnh phúc toàn vẹn. Người đàn bà thích uể oải lười nhác trong cuộc trao duyên. Hay ít nhất, đối với nàng đêm nay là thế. Hay đó cũng là cách trao duyên tinh vi và đắm say nhất của người đàn bà. Đến lúc ăn cháo nấm đêm bên đống lửa, nàng mới hỏi :
- Đêm qua... thì sao?
- Ta sợ lắm... nhưng mà ngọt ngào.
- Còn đêm nay?
- Trời đánh! Đêm nay ta bị trời đánh...
Cô Nấm cười khúc khích. Khúc khích vì cô đã hiểu cái quyền năng của cô bây giờ là tuyệt đối. Vô Trần sẽ chẳng bao rời xa cô.




0
6
Tôi học võ


Tôi không ngoan như thầy của tôi, hòa thượng Vô Úy tưởng tượng đâu. Trong tôi có hai con người: một con người khuôn phép, nề nếp, chăm chỉ, biết tuân theo những lời chỉ dạy của thầy, khi ở chùa; cũng còn một con người thứ hai, có thể gọi là hoang dã, mỗi khi tôi ra khỏi chùa, sống giữa thế gian. Tôi có thể cùng Huệ nằm hàng giờ trên bãi cỏ trên đồi sim để lắng nghe những con sơn ca bay lên tít trời cao, vừa bay vút vừa cất cao tiếng hót. Tôi cũng có thể cởi bỏ bộ quần áo thầy chùa và trần truồng lặn ngụp dưới sông chẳng kém gì một con cá. Và như tôi đã thú tội, cũng như sau này tôi sẽ thú tội, là trong cuộc đời, dù tôi hoàn toàn không muốn, nhưng đã có những lần tôi phải đấu tranh vật lộn với kẻ khác; trong những lần ấy, kẻ khác làm tôi đau đớn nhưng chắc chắn tôi gây tổn thương cho kẻ khác không phải nhỏ. Nghĩa là cái chất phàm phu trong tôi còn rất nhiều. Sự khác nhau trong tính cách lúc ở chùa, khi ra ngoài không phải do bản tính của tôi giả dối. Phải nói những lúc tôi không kiềm chế được để vi phạm những giới điều, điều tôi vẫn sám hối. Tuy nhiên, buồn thay! Cuộc đời luôn có những cơn giông tố và dù tôi ở chùa, tôi đi tu, tôi cũng không tránh được những cơn giông; và cũng buồn thay, tôi là kẻ đức mỏng phúc bạc...

Cái bận tôi bị thằng Căn đánh cho một trận tơi bời rồi nhét ve sống vào mồm, tôi trốn lủi mấy ngày không dám dàn mặt sư cụ Vô Úy. Mấy hôm sau, khi chị Nguyệt đã vá víu quần áo tôi lành lặn và các vết sưng đã xẹp xuống, tôi mới dám ra mắt thầy. Tuy tôi đã bình thường, song chắc thầy tôi cũng nhận ra, thầy tôi lúc ấy đã xong buổi tọa thiền, chỉ mở mắt ra lướt nhìn tôi rồi nhắm mắt lại luôn và khẽ bảo :
- Người tu Phật bất ly thế gian, nhưng luôn phải giữ bốn điều cao thượng của đức Thế Tôn. Đường tu của con còn dài, dù gặp cảnh đời nào vui hay khổ cũng phải can đảm điềm nhiên. Nghiệp của ta, ta phải gánh.
Không hiểu thầy tôi đã nhìn thấy và dự cảm thấy gì trong cái số kiếp của tôi? Hay là vì tôi đã đến chùa trong một hoàn cảnh bi thương, nên từ hôm đầu tiên tôi đã trông thấy cái tình cảm xót thương trong đôi mắt của thầy và cũng vì thế nên thầy quá khoan dung với tôi. Cũng có thể thầy đã nhìn thấy tương lai của chị tôi; rất có khả năng như vậy vì thầy tôi là một đại sư, một bậc thánh thiện cao thượng, tôi vẫn nhìn thấy sự cao đẹp ấy tỏa ngời trên khuôn mặt người giống như ánh hào quang. Những con người lặng lẽ từ bi ấy rất có thể có sự thông linh với ngày mai.
Sư bác Khoan Độ phản ứng với viêc đánh lộn ngoài trường học của tôi lại hoàn toàn khác hẳn. Tối hôm ấy, sư cho tôi xem bàn tay trái có ngón út bị cụt, với cái vết sẹo nhẵn thín và bảo :
- Ta không còn trẻ như chú, đầu óc như mảnh đất cằn, đầy sỏi đá, cho nên ta không có duyên được sư cụ truyền dạy những điều cao thâm Phật pháp. Đời ta chỉ có một điều phát nguyện đó là bảo vệ Phật pháp.
Tôi bảo :
- Tu để thành một vị hộ pháp bảo vệ chùa cũng là môt chuyện to lớn lắm rồi.
Ông cười :
- Ta không nghĩ xa. Ta chỉ nghĩ một cách rất đơn giản: muốn bảo vệ được chùa thì phải có những vị sư biết võ. Chú đừng sợ. Không hề gì đâu... Sư cụ đã bảo ta rồi, học võ để mà giữ thân thì chẳng sao. Người tu hành đâu có muốn hà hiếp kẻ khác.
Thế là tôi có thêm một người thầy thứ ba. Sư cụ dạy tôi về đạo. Thầy giáo Hải dạy tôi về đời. Còn sư bác Khoan Độ cho tôi sự cứng rắn ở đời. Chẳng biết sư cụ nhìn thấy gì trong tương lai của tôi mà cho phép tôi học tất cả mọi thứ như vậy.

Lúc đầu ở trường làng, sức học của tôi còn đuối nên sau buổi học tôi thường phải theo về nhà thầy Hải học thêm. Nhà thầy giữa làng, một ngôi nhà lợp ngói nhỏ xinh, đằng trước có sân gạch với dàn mướp vàng, có tường hoa, có bể nước mưa với mui che khum khum như chiếc thuyền nan lật úp, có bốn cây cau vươn lên trời và hai cây hoa ngâu như hai cây nấm khổng lồ màu xanh vào mùa mưa đơm hoa vàng thơm nức. Nhà thầy Hải thật giống ngôi nhà của cha mẹ tôi cho nên đến nhà thầy tôi rất thích. Chỉ có khác là thầy có cái chuồng chim bồ câu đặt ở lưng chừng cây nhãn. Cái chuồng nhỏ sơn xanh với tiếng chim gù suốt ngày thật êm đềm. Nhà chùa cũng không có chuồng chim câu. Không gian chùa là sự tĩnh lặng thâm u và cao siêu. Còn không gian nhà thầy Hải là sự tĩnh lặng xinh xinh và đầm ấm.
Tôi không phải là kẻ vô ơn đâu. Tôi biết nếu không có sư cụ Vô Úy mở lòng từ bi cưu mang, thì không hiểu đời chị em tôi sẽ ra sao. Tuy nhiên tôi cũng biết trong lòng tôi vẫn khát khao môt điều mơ hồ nào đó! Tôi chỉ là một chú bé thơ ngây; tôi chỉ là một kẻ phàm phu.

Sau hôm đánh nhau với thằng Căn, nó đe tôi :
- Tao cấm mày không được tới nhà tao. Mày cứ bén mảng đến thì đừng có trách.
Không được đến nhà Huệ, nhưng lại thường đến nhà thầy Hải, thì có khác gì. Bởi vì nhà hai anh em Căn và Huệ ở gần đấy. Vả lại, thầy Hải sống độc thân. Vợ thầy bị ho lao mới chết, thầy không có con nên Huệ và lũ con gái trong trường vẫn đến giúp. Cái Huệ là đứa thường xuyên đến nhất nên tôi vẫn nói chuyện với Huệ hàng ngày ở nhà thầy. Thấy vậy, thằng Căn tức điên. Một hôm, nó trắng trợn gây sự với tôi. Sau buổi học, khi thầy đã về nhà, nó xông tới ào ào chộp tay vào đũng quần tôi rồi hét to:
- Ha ha! Thằng này có dái. Có dái mà cũng đi tu sao?
Lập tức lũ bạn của Căn, cả ở trường lẫn bọn trẻ chăn trâu không đi học kêu toáng lên :
- Tu gì?
- Tu hú!
Tôi tức giận gạt tay Căn ra. Lần trước, khi Căn gây sự, tôi chạy ngay lập tức, nhưng cũng không thoát khỏi tay nó. Lần này, tôi không chạy mà khòm lưng xuống, hai tay vờn vờn, mắt tròn xoe nhìn đối thủ. Sư bác dạy tôi đứng tấn nhưng tôi biết báo đi bằng cách cúi thấp người xuống. Căn cười gằn :
- A! Mày dám chống lại à?
Nói xong, nó phi thân đá tôi nhưng hụt. Sư bác đã dạy tôi cách né tránh đòn đá. Hai thầy trò tập luyện hàng tuần ở vườn chùa chỉ riêng việc tránh đòn và tôi đã thành thạo. Sư phụ dặn tôi rằng can đảm và bình tĩnh là đã thắng một nửa. Điều này làm được vì tôi có tiếng lì lợm. Căn cao lớn nên thích đá, nhưng nó đá không bài bản, cứ vung hai chân phi đại tới đối thủ. Cú đá thứ hai của nó trúng vai làm tôi loạng choạng. Bọn bạn nó hò la inh ỏi. Căn phấn khởi song phi đá tiếp lần thứ ba. Lần này tôi bình tĩnh xông thẳng tới, nắm được chân nó và đẩy mạnh lên. Thế là Căn mất thăng bằng ngã huỵch xuống đất. Nó thẹn quá lồm cồm đứng dậy, áp sát, đấm vào mặt tôi. Tôi chúi đầu xuống húc vào bụng nó và khua tay đấm. Trận này, tôi ăn no đòn. Tôi bị ngã hai lần nhưng không chịu thua. Đứng dậy, lại xông vào đánh tiếp luôn. Cuối cùng có người lớn đến can ra. Thế là hòa.
Lần ấy, tôi bị đau nhiều hơn Căn. Chân tay, mình mẩy, nhiều chỗ sưng tím. Sư bác phải lấy thuốc bóp cho tôi hàng tuần mới hết. Nhưng từ đấy Căn không bắt nạt tôi nữa.

Tôi cứ băn khoăn mãi không hiểu sao Căn lại ghét tôi đến thế, và thường xuyên chế giễu việc tôi ở chùa. Mãi sau này có người nói tôi mới hiểu. Bố Căn chính là sư Vô Trần. Mẹ Căn là bà Nấm. Sau khi hai người lấy nhau, họ phải bỏ làng đi biệt xứ. Lão hòa thượng Vô Chấp ngày xưa vẫn bảo sau khi cụ tịch, Vô Trần sẽ là sư trụ trì chùa Sọ. Sư Vô Trần hoàn tục, vậy là chùa làng mất sư. Dân làng rất giận. Không ai có thể chấp nhận, nhìn mặt đứa đàn bà diều tha quạ mổ, dám đang tâm quyến rũ sư chùa làng. Các cụ bảo hạng con gái ấy đáng đem trôi sông. Trước Cách mạng, câu chuyện này làm xôn xao làng xã, thậm chí bị cả vùng dè bỉu. Sau Cách mạng dần dần câu chuyện nhạt đi, vả lại người ta còn đả phá dị đoan thành thử không ai nhắc tới nữa. Đó là thái độ của người lớn, nhưng với trẻ con lại khác. Hơn nữa lại còn câu ca dao:

Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư...

Chùa làng vẫn còn. Và câu ca dao cổ vẫn còn. Câu ca dao vừa duyên dáng vừa hóm hỉnh ấy nửa như giễu cợt nửa như tôn vinh cái đời sống trần tục, vậy nên nó còn được sống lâu. Lũ trẻ con là người làm câu chuyện truyền đời đó, tùy theo từng thời kỳ. Khi cách mạng thành công, ông Trần (tức sư Vô Trần) làm chủ tịch xã, lẽ dĩ nhiên lúc ấy không thấy trẻ con hát lên câu ca báng bổ. Cuối năm 47, Tây chiếm làng, bây giờ là thời của ông chánh, ông Bá. Thực ra cũng chẳng có ai xui trẻ con làm cái việc đó đâu. Nhưng bây giờ nhà ông Trần không còn quyền gì nữa, ông Trần không có mặt ở làng. Thế là tự nhiên có một hôm, trẻ con đứng ở đầu ngõ đồng thanh hát vang lên: “Ba cô đội gạo lên chùa...”, bà Nấm tím mặt song không dám ra lời. Thằng Căn thì ngơ ngác không hiểu chuyện gì. Đến lúc nó hiểu, Căn tìm lũ trẻ con để đánh. Trong đám trẻ có con ông lý. Thấy con bị đánh, bà lý mang con đến nhà bà Nấm và hỏi :
- Bà sai con bà đến đánh con tôi có phải không?
- Ấy chết! Sao bà lý nói thế.
- Chồng bà là Việt Minh. Bây giờ thời thế khác rồi. Người ta chưa hỏi tội đến bà là vì còn chút nể tình. Bà có muốn tôi kiện bà lên quan đồn không.
- Thôi. Cho tôi xin bà... Con dại cái mang.
Lũ trẻ trong làng vây kín cổng nhà bà Nấm. Bà lý bảo chúng nó :
- Chúng mày cứ hát to lên xem đứa nào dám đánh. Cứ hát thật to. Tội vạ đâu tao chịu.
Và thế là mấy chục đứa trẻ làng được thể đồng ca với nhau suốt chiều hôm ấy:

Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư.

Bà Nấm rơm rớm nước mắt, còn Căn thì lồng lên. Bà Nấm bảo con :
- Thôi! Nuốt giận vào bụng con ạ, kẻo mang vạ vào thân. Bố mày ở xa, ai che chở cho các con.
Tôi hỏi sư bác Khoan Độ về bố của Căn. Sư bác trả lời :
- Đó là sư thúc của chúng ta. Chú và Căn là anh em của nhau. Đánh nhau vỡ đầu rồi mới nhận họ. Có khi như thế sau này càng hiểu nhau hơn.
- Sư huynh đã gặp sư thúc bao giờ chưa?
- Rồi.
- Sư thúc là người thế nào?
- Là một người thâm trầm, bền chí. Lúc ở chùa, sư thúc được sư tổ yêu quý nhất. Sư thúc làu thông kinh - luận. Lúc hoàn tục, sư thúc cũng là người xuất sắc. Không cục mịch như ta đâu. Sư thúc là người cắt tóc cho ta đi tu.
Sư Khoan Độ cười nhớ lại chuyện xưa :
- Giỏi gì thì giỏi, chứ tay dao cạo đầu thì kém. Ta nhớ hôm ấy ta bị sứt da chảy máu hai chỗ trên đầu... - Ông bùi ngùi - Ừ, ta còn nhớ ông vừa cắt tóc cho ta vừa nói: “Thực ra, căn duyên của ta còn kém hơn anh”. Ta bảo: “Con làm sao so được với sư thúc. Con là người dốt nát, một chữ bẻ đôi không biết”. Sư thúc nói: “Không phải thế đâu. Người đọc nhiều, có khi vì chấp chữ nên càng đọc càng xa đạo. Còn người không biết chữ, nếu gặp đủ duyên, đủ lòng thành kính trang nghiêm và tất cả hành vi cử chỉ trong từng phút từng giây đều sống vì thiền, thì cũng đến đạo giải thoát nhanh như người khác”.
- Hiện giờ sư thúc ở đâu?
- Ai mà biết được. Ông ấy là đội trưởng du kích của huyện. Người thoắt hiện thoắt biến, xuất quỷ nhập thần.
- Sư huynh thấy lời của sư thúc ra sao?
- Hừ. - Sư thúc nói nhiều điều cao siêu quá - Ông lại giơ bàn tay trái có ngón tay cụt lên và nói - Còn ta, ta vẫn chỉ có một tâm nguyện muốn là người canh giữ cho chùa của chúng ta được an bình.
0
7
Nhà sư cách mạng


Lúc ấy sư Vô Trần đã biến thành một con người hoàn toàn khác hẳn. Trần đã trút bỏ hết quần áo thầy tu. Nói thế thôi, chứ thực ra anh chỉ phải cởi bỏ cái áo rất đặc trưng của nhà chùa thôi. Đó là cái áo dài nâu, lửng đến đầu gối và cài khuy nách. Còn cái quần nâu thì vẫn dùng được. Cái áo dài nhà chùa được thay bằng chiếc áo cánh. Riêng cái đầu trọc lốc thì hơi khó xử một chút. Một tháng trời nuôi tóc cũng chỉ đủ cho nó mọc thêm không dài quá một phân. Trần đành phải che giấu nó đi bằng chiếc khăn vuông đen của cô Nấm. Hôm rời chùa, Vô Trần thắp hương ở chính điện, rồi về nhà tổ, quỳ lạy trước bàn thờ :
- Kính lạy chư tổ, thầy ơi! Con muôn vàn có lỗi với chư tổ, với thầy. Con là đứa bạc bẽo, làm uổng công dạy dỗ của thầy. Con đã phạm giới... Tội lỗi nặng nề. Chắc nghiệp trần gian con chưa trả hết. Đúng là con mê muội, nhưng không sao cưỡng lại nổi... Một lạy này con xin ghi nhớ ơn thầy đã dạy dỗ con từ lúc ấu thơ... Một lạy này, con xin hứa dù trở lại thế gian, cũng sẽ không bao giờ quên những điều thầy dạy.
Vô Trần đi xuống nhà bếp, lấy bát cơm, rồi gọi con chó vàng, cho ăn. Anh ngồi xuống đất, vuốt ve con vật :
- Mày hãy ăn cho no. Tao vẫn còn để dành trong nồi. Ngày mai, hãy vung ra mà ăn. Ngày kia là rằm, các vãi trong làng ra lễ Phật. Tức khắc họ sẽ biết tao đi. Rồi họ sẽ lo cho mày. Đừng giận tao nhé. Tao chỉ có mày là bạn. Xa mày, tao nhớ lắm chứ... Cũng thương lắm chứ...
Có tiếng cú rúc ở cái giếng ngoài vườn chùa. Rúc đúng năm lần. Đó là tiếng gọi của Nấm. Trần vội vào lấy tay nải, đội sụp chiếc nón lên đầu, rồi mở cánh cửa nách, ra vườn. Nấm thì thào :
- Sao mà lâu thế. Làm người ta chờ mãi. Cứ tưởng còn luyến tiếc chùa, không nỡ rời chân.
Nấm vừa nói vừa khúc khích. Cô giơ bàn tay trắng ngà ấm áp ra nắm lấy tay Trần và kéo đi.
Họ không ra lối cổng chính. Hai người cúi xuống bò qua cái lỗ chó chui. Con vàng cứ bám theo Trần. Anh phải ngồi xuống, áp má vào má nó, để cho con vàng thè cái lưỡi ram ráp nóng hổi ra liếm. Trần vỗ vào đầu con vật, bắt nó nằm ép xuống, lấy tay vuốt lên lưng nó. Con vàng ngoáy tít đuôi và rên gừ gừ trong cổ họng. Trần bảo :
- Thôi về đi! về đi! Chóng rồi hôm nào tao về thăm. - Trần bước đi đầu cứ ngoái lại. Con chó đứng mãi bên bờ tre thỉnh thoảng lại sủa một tiếng. Sủa cho đến lúc hai bóng người lẫn hẳn vào sương đêm.

Họ đã bàn với nhau, dứt khoát phải bỏ hẳn làng ra đi. Họ biết rằng ở làng hay ở quanh vùng thì sẽ không sống nổi. Họ định đi thật xa. Họ sẽ ra Hà Nội, ở đấy người đông, ở đấy có nhiều xóm nghèo, nơi ở của những người hai tay trắng và lam lũ như họ. Thực ra cũng không phải hai bàn tay trắng. Bà dì chết còn để cho Nấm năm đồng bạc. Vả lại, Trần là dân Hà Nội. Bà Cả Hàng Chiếu, mẹ Trần, đã chết. Ông cụ vẫn còn sống, tuy nhiên Trần cũng chẳng có mặt mũi nào mà về vói cha. Nấm hỏi :
- Về Hà Nội ở chỗ nào?
- Về ô Cầu Dền, ngày nhỏ, tôi bắt đầu tu ở đấy.
- Ngộ nhỡ gặp người quen thì sao?
- Tôi xa Hà Nội lâu rồi. Vả lại lúc đó còn bé, bây giờ tôi đã thành người lớn. Làm sao mà nhận ra được.
- Ừ nhỉ!
- Mấy lại Hà Nội đông lắm. Người như kiến. Không giống như nhà quê mình đâu.
- Em hiểu rồi. Có phải Hà Nội như một cái làng, một cái làng rõ to... Cái làng không có vườn... chỉ toàn nhà và chỉ thấy những người... có đúng thế không?
Trần cười và tủm tỉm :
- Gần gần như vậy.

Họ đến ô Cầu Dền, đi trên con đê. Đó là vùng đất tăm tối nhất của Hà Nội. Thời xửa thời xưa, con đê Đại La này là vùng bảo vệ phía ngoài của kinh đô Thăng Long. Từ ô cầu Dền một phía con đê dẫn về cầu Giấy, phía kia con đê dẫn về phía Thanh Trì gặp đê Sông Hồng. Trần dẫn Nấm đi về phía ấy. Cũng tự ngày xửa ngày xưa, dưới chân con đê là một hào nước. Nghe nói thuở trước người ta vẫn bơi thuyền trên con hào đó. Ngày nay, con hào trong vắt ấy đã biến đổi hoàn toàn. Nó đã bị thu hẹp lại và đã cho nước cống thành phố đổ ra đấy. Dân ở đây gọi nó là sông Tô Lịch, bởi vì thật sự nó đã chảy vào sông Tô Lịch trước khi sông này đổ vào dòng sông Nhuệ. Cũng nhiều người hiện thực hơn, nên không tô vẽ cho nó bằng cái tên nên thơ, mà gọi thẳng nó là dòng cống Thối. Đúng là thối thật. Thối hoăng, thối inh trời đất. Nhất là những đêm hè oi bức. Cái nóng cô đặc quánh dòng nước. Xú khí bốc cao ngất trời Không chỉ cái thối đơn thuần của cứt đái thành thị. Ở đây có cả cái khăn khẳn của mùi cóc chết, cái thum thủm ngai ngái lên men của bã rượu, cả mùi nước đái quỷ làm các tiểu thư mới thoáng gặp đã hắt xì hơi, cái chua chua hăng hăng của loại axít không xác định...

Thế mà bên dòng sông đen sông thối ấy có tới bốn cái xóm. Ngày nay người ta gọi là những xóm liều, còn ngày xưa chỉ đơn giản gọi là những xóm nghèo thôi. Người nhà quê nghèo khổ ra đây, mang theo cả những cách gọi rất quê mùa của mình. Bốn cái tên xóm ấy là:
Xóm Cầu Tre, xóm Cây Găng, xóm Ngõ Bò và xóm cầu Gỗ.
Trần đến xóm cầu Gỗ. Ngày xưa, đã có lần anh theo thầy đến đây làm Phật sự. Một bà vãi rất nghèo nhưng là một Phật tử thuần thành qua đời, thầy đã đến nhà tụng kinh cho cụ. Xóm Cầu Gỗ có tới năm, sáu chục nóc nhà. Toàn là nhà tranh vách đất. Lắm nhà chỉ là những cái lều xiêu vẹo. Không có nhà gạch. Chỉ có vài ba nhà làm bằng gỗ xoan theo kiểu nhà ba gian nông thôn; đó là những nhà khá nhất của vài ông cai thợ mộc, thợ nề hoặc thợ nguội, thợ rèn làm ở Nhà Đèn, Nhà Rượu. Còn ra những nhà khác đều là cột tre cột bương tam bợ, đó là nhà mấy ông kéo xe tay, mấy ả thổi cơm nhà máy rượu, mấy cô bán rau, mấy ông đồ tể lò lợn, mấy ông phu khuân vác Phà Đen, mấy chú bé bán báo, trèo me trèo sấu... Có thể nói xóm Cầu Gỗ như một ốc đảo, một cái gò đất nổi lên giữa một vùng nước đen sì thối rinh mà những người giàu có chẳng bao giờ đặt chân tới.

Họ đi qua cái cầu bắc bằng ba cây xoan to trên trải những tấm ván thôi. Có được những tấm ván thôi này là nhờ mấy ông phu đào huyệt ở trong xóm. Họ làm việc ở nghĩa trang Hợp Thiện. Phải là người làm việc lầu năm ở đó mới được ông chủ nghĩa trang bán rẻ cho.
Cô Nấm hỏi bà bán hàng vặt ở ngay đầu xóm :
- Cụ ơi! Vợ chồng cháu ở quê ra, muốn thuê nhà.
- Muốn chỗ tươm tất có buồng riêng, hay là thuê giường ở chung, hay là chỗ chỉ cần cái ổ cái chiếu là xong.
Nấm tươi tắn cười :
- Nhà cháu chỉ thích chỗ nào re rẻ thôi.
Bà cụ ngắm nhìn hai người rất cẩn thận rồi bảo :
- Trông anh chị cũng hiền lành tử tế nên tôi mách cho chỗ này. Bà cụ là bạn tôi. Nhà chỉ có hai vợ chồng già. Ông cụ ốm đã lâu ngày không đi làm được. Người ta già ốm, ở nhà ngưòi ta thỉnh thoảng cũng nên nhón tay nhón chân giúp đỡ. Nếu bằng lòng thì tôi mách cho.
- Cháu bằng lòng. Không biết cụ ấy lấy chừng bao nhiêu tiền cụ nhỉ.
- Không đắt đâu. Một tháng chưa đến đồng bạc. Tôi nghĩ chỗ này tốt đấy. Cái anh chồng chị có tướng phúc hậu tôi mới mách cho.
Từ lúc gặp Trần không nói một lời. Bà cụ lại nhìn vào mặt Nấmn mà bảo :
- Còn chị thì tháo vát lắm. Đáo để nhưng mà biềt điều. Anh thì nhờ chị về đường tài lộc. Chị thì nhờ anh về đường phúc đức.
Bà cụ thật lắm nhời, vừa mách giúp vừa xem tướng, tuy nhiên cụ rất tốt bụng. Chính cụ đã dẫn họ tới nhà ông Tập.

Cụ cho thuê nhà tên là cụ Tập ở tận cuối xóm cầu Gỗ. Căn nhà ba gian, cột tre, vách những, lợp lá gồi vững chãi nhưng có chỗ đã dột. Có hai cái phản kê ở hai góc nhà. Ở giữa là bàn thờ làm kiểu gác lửng lát ván gỗ. Nhà nhìn ra cái ao rau muống. Ngoài ao nhà còn rất nhiều ao khác phần lớn thả rau muống, rau rút, một số ít là ao sen, ruộng niễng, chỉ có vài ao thả cá. Ở cuối xóm nên không khí ở đấy không nồng nặc như phía ngoài gần dòng cống thối.

Họ đến đúng lúc ông cụ Tập định ra ngoài. Ông già trạc sáu mươi tuổi, mặc quần nâu áo cánh nâu, đội cái mũ cát màu cứt ngựa. Đặc biệt ông đi đôi guốc mộc cao. Trần nghĩ cụ già này có vẻ kỹ tính, từ đầu tới chân chỗ nào cũng tinh tươm sạch sẽ. Ở cái xóm lầy lội này mà lúc nào cũng đi guốc. Chẳng giống người quê mình. Còn Nấm thì liếc nhìn ông cụ mấy lần có chiều suy nghĩ. Biết họ đến thuê nhà, ông cụ dừng chân một luc lâu, ngắm nghía hai vợ chồng trẻ kỹ lưỡng, rồi gọi vợ từ ao rau muống về. Bà cụ Tập nhỏ bé lom thom, lưng còng, miệng nhai trầu, nói với Trần :
- Ông cụ nhà tôi ốm đau song kỹ tính lắm. Có mấy người đến hỏi thuê, túng, nhưng cụ ấy không bằng lòng. Cứ dặn bà cụ Thư bán hàng vặt rằng nếu gặp người tử tế thì mới mách cho đến.

Ra vậy. Lúc này Trần mới hiểu tại sao bà cụ hàng vặt lại như xem tướng Trần và Nấm. Bà cụ Tập mời họ ngồi xuống phản, hỏi han đủ điều về quê hương nghề nghiệp. Nấm cũng bẻo lẻo lắm. Cô nói tránh ra, bảo quê mình dưới Phủ Lý, chiêm khê mùa thối, lại ít ruộng, nên vợ chồng kéo nhau ra đây kiếm miếng ăn. Rồi cô hỏi :
- Thưa cụ, cụ ông con kỹ thế không biết đã bằng lòng cho vợ chồng con đến ở chưa?
- Đã bằng lòng thì ông cụ mới gọi tôi ngoài ao về chứ. Song cũng phải nói thật với hai bác rằng ở với ông cụ nhà tôi thì phải tinh tươm sạch sẽ. Tinh tươm cả nết ăn nết ở, tinh tươm cả lời ăn tiếng nói. Tôi ra giá thế này nhé, tiền thuê tôi lấy bảy hào một tháng, ở thử một tháng đầu. Đến tháng thứ hai ông cụ nhà tôi nếu không bằng lòng thì tôi cũng đành chịu.
Bà cụ Tập là người thật thà dễ tính. Cụ giúp đỡ bảo ban Nấm đến nơi đến chốn :
- Cháu hay cười. Cũng là cái nết tươi tắn tốt bụng. Song ông nhà tôi không thích đàn bà con gái hay cười đâu. Cụ bảo: “Vô duyên chưa nói đã cười”. Cụ thích đàn bà phải tươi tắn, nhưng không được lộ ra bằng tiếng cười. Ấy tính ông nghiêm thế song phải chiều cụ thôi.
Cụ bà còn bày cho Nấm cách kiếm sống.
- Chồng con là đàn ông, hơi khó kiếm việc đấy. Phải chờ lâu lâu một chút. Con là đàn bà, ở đây dễ kiếm sống thôi. Sáng sớm giúp tôi hái rau muống. Ngày trước hái rau xong, tôi đi chợ bán rong đến trưa mới về. Bây giờ không đi được nữa. Cứ môt gánh rau tòn ten trên vai. Mùa hè thì bán thêm quả sấu, quả chanh, quả ớt. Mùa đông thì bán thêm dăm quả cà chua. Đi rong các phố. Nhớ là mỏi chân cũng không được ngồi. Ngồi là cu lít họ bắt ngay. Một ngày bỏ rẻ cũng được vài hào bạc.
Nấm mừng lắm. Tối đến, cô đem tất cả những điều bà cụ nói ra khoe với chồng, rồi nói thêm:
- Bà cụ nói cũng là người quê như chúng mình, chẳng may nấu rượu lậu bị Tây đoan bắt. Thế là mất hết cơ nghiệp phải tha phương cầu thực... Mà... lạ thật!...
- Sao lại lạ?
- Em cứ ngờ ngợ... Trông họ quen quá... Chẳng biết có đúng không?...

Nấm rất nhanh chóng thích ứng với hoàn cảnh mới. Cô chít khăn mỏ quạ, mặc áo dài tứ thân đổi vai, hai vạt trước buộc với nhau thả xuống. Trông cô nền nã duyên dáng. Trông cô khỏe mạnh, sạch sẽ, tươi tắn. Rau của cô lúc nào cũng nõn nà, tươi ngon. Cô lại khỏe chân nhanh nhẹn, cho nên hàng cô bán rất chạy. Chẳng mấy chốc, cô đã có rất nhiều khách quen; đến trước cửa nhà người ta chỉ việc giật chuông giao hàng, lấy tiền. Không phải mà cả từng đồng Bảo Đại.
Hết tháng đầu tiên, vợ chồng cụ Tập bằng lòng cho vợ chồng Nấm thuê lâu dài. Nấm khéo ăn ở. Cô thường mua thuốc lào, chè mạn đưa cho chồng biếu cụ Tập. Cụ già mắc bệnh run tay. Cầm cái đóm, cái đóm rung bần bật. Không hút được thuốc lào. Sáng, trưa, tối nào, Trần cũng phải nạp thuốc lào vào điếu cày rồi châm đóm cho cụ Tập hút. Sự khăng khít giữa hai vợ chồng già và hai vợ chồng trẻ cứ thế càng ngày càng tăng.

Trần cũng chịu khó không kém gì vợ. Mới đầu đi theo ông cai thợ nề trong xóm đi làm phu hồ. Công việc vất vả lại không đều đặn. Chỉ làm được ba tháng đã chơi dài. Trần lại xin đi làm cho hàng cơm. Việc này, Trần chỉ làm được ba ngày. Ngày thứ tư người ta làm thịt chó. Con chó vện bị buộc mõm treo ngược lên cành ổi, hai chân trước bị trói quặt sau lưng. Nó rên ư ử sùi bọt mép, đôi mắt trắng dã thất thần vì sợ hãi. Trong khi ông chủ liếc dao, đột nhiên Trần nôn thốc nôn tháo. Ngay lập tức anh chạy về nhà, bỏ việc, bỏ cả ba ngày công. Vậy nên trong khi chờ đợi, Trần đành theo anh cu Sếu bên hàng xóm đi câu cá. Câu ở những hồ sen, hồ hoang. Câu cá diếc, cá rô, quăng cần cá quả. Gọi là theo đóm ăn tàn, đi cho vui chứ Trần đâu có tài cán gì trong nghề kiếm cá. Hết kiếm cá thì đi bắt chuột. Chuột cống thành phố bẩn lắm, chúng đào hang ngay bên bờ dòng cống thối. Nào tra hom, nào hun khói, nào đổ nước. Có hôm bắt được chục con. Thịt chuột trắng hếu. Sếu bảo ngon lắm, nạc như thịt gà. Sếu mời uống rượu thịt chuột, Trần xin kiếu. Thịt chuột bán trong xóm Ngõ Bò cũng đắt hàng lắm. Chẳng cần rao bán. Người ta đến tận nhà hỏi mua. Đắt hàng vì rất rẻ, chỉ một chinh hai con. Chỉ một chinh cả nhà được ăn thịt, lại có chút mồi để đưa cay. Anh Sếu có tài lần mò ở những nơi chẳng ai ngờ tới.
Có hôm anh Sếu rủ anh Trần chui vào cống lớn thành phố. Cửa cống thành phố đổ ra con sông Tô Lịch, con sông thối. Đó là hai cái cống hình vòm cung, người đi trong cống không đụng đầu. Người ta bảo rằng nó được xây giống như cống của thành phố Paris. Anh cu Sếu mang nơm và vợt. Trần mang nứa đập giập buộc sau lưng. Vào đến trong cống, càng đi càng tối mịt mù, Trần bật lửa châm vào đuốc nứa. Nước cống không sâu chỉ đến bụng chân, Sếu lấy nơm úp, có lúc lấy vợt xúc vào những hõm cống. Không ngờ trong cống lại nhiều cá đến vậy. Mỗi lần úp nơm không được cá rô thì được cá trê. Chẳng mấy chốc đã lưng giỏ cá. Sếu hỏi :
- Còn nhiều đuốc không?
- Bảy đuốc đã dùng bốn, còn ba. - Trần trả lời.
- Thế thì phải quay về.
Hai anh trở về rất vui vẻ. Sếu đã nghĩ tới bữa rượu tối nay. Còn Trần nghĩ tới nồi cá kho. “Phải rồi! Chỉ cần xin Sếu ba con trê cụ là đủ một nồi rồi”. Có một hôm nào đó, Nấm bảo món ăn trên đời cô thích nhất cá trê kho khô với riềng, vừa ngọt, vừa thơm, vừa nạc. Còn đang mơ tưởng, bỗng Sếu kêu váng lên :
- Bỏ mẹ rồi! Sao nước lên nhanh thế này?
- Ừ! Sao thế nhỉ?
- Sao với giăng cái gì. Chạy nhanh không chết cả nút bây giờ.
- Sao lại chạy?
- Mưa rồi. Ở ngoài chắc mưa rất to. Chạy thật mau. Cho đến chỗ có cái bệ. Nước cống sắp đổ về như lũ đấy.
May mắn họ đến chỗ cái bậc ximăng thì nước chảy về ngập đến ngực. Lúc này, đuốc tắt nhưng cây nứa sau lưng cũng ướt, bao diêm cũng thế. Trong bóng tối đen, Trần thấy sợ hãi. Sếu dặn dò :
- Hai đứa phải bám lấy nhau. Cứ ở yên tại chỗ. Mùa này chắc mưa to không lâu.

Sếu đoán cũng sai. Trận mưa ấy kéo dài mấy tiếng đồng hồ. Phải đêm mới thấy cống rút xuống thấp. Sở dĩ họ đoán là đêm vì không nghe thấy những tiếng động phía trên đầu họ. Phía trên ấy là đường đi và cống lớn thành phố bao giờ cũng nằm ở giữa, phía dưới những đại lộ. Bụng đói meo, lại không có đuốc. Họ mò mẫm đi xuôi dòng cống lớn. Cũng may, không có trận mưa tiếp theo.
Họ ra khỏi cửa cống lúc quá nửa đêm. Ướt như chuột lột. về đến nhà lúc ba giờ sáng. Nấm ngồi ở bậc cửa khóc từ tối đến giờ. Cả xóm Cầu Gỗ đều lắc đầu bảo: “Hai thằng đã chết là cái chắc”. Nấm không tin điều ấy. Vợ chồng cụ Tập bảo thế nào cô cũng không đi ngủ. Nấm thắp cái đèn hoa kỳ ngồi một mình ở bậu cửa rấm rứt khóc. Khi thấy chồng, cô nhảy tới ôm lấy anh khóc òa lên. Đang khóc, cô chợt rú to :
- Trời ơi! Mình nóng như hòn than thế này.
Sau trận gặp mưa mắc kẹt trong cống, Trần sốt luôn ba ngày. Hai vợ chồng Nấm Trần ở nhà cụ Tập cũng đã bốn tháng. Bốn tháng chắc cũng đủ để ông già kỹ tính hiểu đôi vợ chồng trẻ. Khi Trần đã khỏe, một hôm sau khi uống trà sớm, ông già Tập gọi Trần lại bảo đưa tay cho xem. Ông cụ bảo :
- Tới đây, anh đã nghĩ tới tìm việc gì mà làm chưa.
- Thưa cụ, việc làm bây giờ thật khó kiếm. Mà con lại không biết nghề ngỗng gì.
Ông cụ không xem những đường nét trên tay, mà chỉ sờ nắn bàn tay rồi cười :
- Tôi thích bàn tay anh, những ngón tay dài, lúc nào cũng như son lúc nào cũng ấm áp. Mà lại đầy đặn. Tôi sợ nhất bàn tay lạnh lẽo, mà lại nheo nhẽo, dâm dấp mồ hôi... Nhưng, bàn tay thế này thì khó làm việc nặng. Mà này, anh có biết chữ không nhỉ.
- Con biết chữ quốc ngữ.
- Còn chữ nho?
- Con cũng biết đôi chút.
- Thế à? Viết thử tôi xem.
Ông cụ vạch chiếu rút ra một tờ giấy, rồi đứng lên giường lấy một gói nhỏ gài trên mái lá. Mở ra, trong đó có chiếc bút lông và thỏi mực tàu. Trần ra chận lấy cái đĩa mài mực rồi viết trên tờ giấy câu thơ cổ: “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận”. (Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết). Ông già giương kính lên gật gù :
- Chữ rắn rỏi và đẹp. Ta đoán không sai. Có thế chứ. Bây giờ thì ta tin vợ chồng anh... Nhưng mà này khẩu khí câu thơ có hơi hướng nhà chùa hay của một đạo sĩ.
- Dạ thưa, đó là của một thiền sư đời Lý.
- Ra thế đấy.

Bây giờ cụ Tập đã hoàn toàn tin cậy Trần. Anh cũng không ngờ chỉ bằng mấy chữ nho ấy anh đã thuyết phục được ông già. Chắc thời trẻ ông cụ đã có lúc miệt mài với chữ thánh hiền. Ông già đi đôi guốc mộc lộc cộc đến mở chiếc bàn gỗ ở dưới bàn thờ, rồi lôi ra một chiếc hòm gỗ con. Mở chiếc hòm ay nào dao, nào kéo, nào lược, nào tông đơ... Lúc đó Trần biết xưa kia cụ Tập làm nghề thợ cạo. Cụ nói :
- Ta mắc bệnh run tay, không làm nghề này được nữa. Còn anh, ta đã xem tay, đã xem chữ, ta biết anh làm nghề này hợp. Ta có thằng con trai. Cứ định để dành cái hòm nhỏ này cho nó. Nhưng thằng bé đi làm ăn xa. Quanh năm suốt tháng cứ biền biệt. Chắc nó không thích nghề này. Nghề mọn chả làm giàu được, nhưng đủ ăn thì chắc chắn.

Hốt nhiên, Trần trở thành đệ tử của cụ Tập. Lại còn như người tri kỷ của cụ nữa chứ. Cái chữ thánh hiền ghê thật. Ở nông thôn ngày xưa đầy người biết chữ nho nhưng càng về sau này càng ít người biết. Còn ở đô thị, nơi ảnh hưởng của người Pháp rất mạnh, thì lại càng hiếm hoi. Đã hơn chục năm ra Hà Nội ẩn cư tại xóm cầu Gỗ, hầu như cụ Tập quên béng tất cả. Nay gặp Trần, với những con chữ thánh hiền kỳ diệu, đột nhiên bao nhiêu chuyện quá khứ bỗng xuất hiện ồ ạt trong tâm trí ông già. Mấy tháng nay cùng sống với anh chàng nho nhã ấy, ông cụ cứ ngờ ngợ. Người đâu mà dáng đi dáng đứng lúc nào cũng khoan thai đĩnh đạc, mà câu nói lúc nào cũng điềm tĩnh chắc nịch. Chả thấy một cử chỉ vũ phu, thậm chí mạnh cũng không. Chả thấy một lời nói tục tằn, thậm chí quát to cũng không. Bà cụ Thư bán mặt quà đầu xóm có bận còn nói vào tai bà lão Tập: “Cậu ta có tướng thật phúc đức. Hai cái tai to dài như tai Phật”. Nghe vậy ông lão cứ cười, nhưng cụ không bao giờ tin điều gì nếu không tận mắt kiểm chứng. Đến hôm nay thì mọi nghi ngờ của cụ đều tan biến hết. Mà sao cụ lại kỹ tính thế chứ. Điều này cụ chẳng nói cho ai hay. Cũng là tại anh con trai đi làm ăn xa. Anh tên là Trí. Cũng không hiếu sao lúc anh lên Thái Nguyên kiếm ăn, cứ dặn đi dặn lại bố :
- Tốt nhất bố đừng cho ai thuê nhà mình. Còn bất đắc dĩ phải cho thuê thì phải chọn người tử tế hiền lành.

Buổi sáng hôm ấy, cụ Tập như bỗng nhiên phát hiện ra một con người khác rất thân trong con người của Trần. Con người ấy ẩn giấu nay bỗng dưng đột hiện. Ông lão vui lắm, kể cả chuyện quê ông chính ở làng Sọ, cái làng quê xinh đẹp mà từ xa nhìn về đã thấy ngay cái tam quan chùa sừng sững duyên dáng. Nói đến đấy ông cũng sững lại và Trần cũng ngớ ra. Ông già khéo léo dẫn anh ra bên chum nước, dạy anh mài dao, mài kéo. Cũng thật hay! Bỗng dưng Trần học được nghề thợ cạo.

* * * * *

Tối hôm ấy, Trần kể chuyện với vợ. Bây giờ, Nấm đã hiểu tại sao trông thấy hai vợ chồng già này cô cứ thấy ngờ ngợ quen quen. Ông lão bỏ làng ra đi lúc Nấm còn nhỏ. Ông ta chính là ông lý Tập, con người nổi tiếng của làng Sọ.

Câu chuyện nổi tiếng nhất của ông Tập là: “Một hào mua chức lý trưởng”. Gia đình ông Tập vào loại thường thường bậc trung ờ làng Sọ. Bù vào chỗ không giàu có, gia đình nhà này lại thông minh, sắc sảo, có học. Ông đồ Bùi Văn Huân sinh ra hai con là Học và Tập. Học làm lý trưởng, Tập làm phó lý. Hai anh em Học, Tập quản lý làng Sọ rất quy củ, chính trực. Họ chẳng kiêng nể gì cánh giàu có trong làng. Vì vậy nên gia đình họ Nguyễn gồm chánh Long, bá Phượng tức tối lắm, quyết hạ bệ họ Bùi cho bằng được. Bùi văn Tập học chữ nho từ bé. Nguyễn văn Phượng học chữ nho cùng Tập nhưng dốt đặc, liền xoay ra học chữ quốc ngữ. Đọc chữ còn phải đánh vần, nhưng đại loại là cũng biết chữ.

Khi lý trưởng Bùi văn Học bị cảm đột ngột chết, liền xảy ra việc tranh chức lý trưởng giữa bá Phượng và phó lý Tập. Tập có thế mạnh ở chỗ đã quen việc quan. Phượng có thế mạnh ở chỗ giàu có, hơn nữa chánh Long lại quen hết cả các quan trong huyện, tỉnh. Hội đồng kỳ mục chẳng biết phân xử ra sao, liền đưa việc ấy lên quan Tuần phủ trên tỉnh xem xét. Chánh Long chạy chọt, đút lót khắp mặt quan trên. Lẽ dĩ nhiên họ Nguyễn không quên quan Tuần phủ. Cả làng Sọ bàn tán. Họ đoán phen này Bùi văn Tập thua là cái chắc.

Quan Tuần phủ triệu tập Phượng và Tập lên tỉnh vào sáng thứ bảy. Bá Phượng trống giong cờ mở lên tỉnh rất oai vệ. Hắn đi ngựa hồng có nhạc đồng treo cổ kêu rung reng khắp đường làng, theo sau là hai tên gia nhân bưng tráp. Sở dĩ hắn ra oai như vậy vì quan huyện là chỗ quen thân với chánh Long đã mật báo rằng công việc đã xong xuôi. Còn phó lý Tập lên tỉnh thật thảm hại. Ông dậy từ lúc gà gáy sớm, ăn cơm nắm, rồi cuốc bộ hơn chục cây số, trong túi vẻn vẹn chỉ có một hào tiền xu.
Quan Tuần phủ hôm ấy bận quá. Mãi đến mười giờ, hai người mới được vào hầu. Lúc vào sân phủ đường, Tập đã trông thấy chiếc xe hơi màu đen bóng lộn đậu ở giữa sân. Lân la hỏi người lái xe mới biết tan giờ thăng đường là quan ông quan bà về Hà Nội ngay. Chả là ngày chủ nhật này sẽ tổ chức ăn hỏi cô con gái rượu của quan.
Đúng là quan hôm nay có vẻ sốt ruột và cáu kỉnh. Lão Tập và Phượng hai tay chắp trước ngực đứng hai bên. Quan ngồi ở giữa. Quan cúi xuống đọc hai tờ đơn một hồi lâu rồi ra oai vỗ tay xuống bàn :
- Thật hoang đường! Có một chuyện cỏn con thế này mà hai thầy mang nhau lên đây làm ta mất bao thời gian. Hai thầy tố cáo lẫn nhau. Thầy Tập thì tố cáo thầy Phượng cậy có tiền bạc ức hiếp dân lành, không xứng đáng là người “nhất lý chi trưởng”. Thầy Phượng thì tố cáo thầy Tập là dốt nát không biết chữ... Này, tôi hỏi thật thầy Tập có phải đúng là thầy không biết chữ? Tôi nói cho mà biết. Cái thời xưa nó đã xa rồi. Nước Pháp khai hóa văn minh cho dân Nam. Cái việc học hành mở mang dân trí là hệ trọng. Tới đây, các quan huyện phải là người có bằng cử nhân luật. Còn các xã quan ít ra cũng phải có bằng yếu lược, thậm chí phải nói được cả tiếng Tây. Ấy thế mà thầy lại không biết chữ. Tôi đã nghe tiếng thầy. Người ta bảo thầy làm phó lý rất sắc sảo. Tôi cũng biết quý trọng người làm được việc, nhưng nếu thầy Phượng nói đúng thì không được.
- Dạ chúng con nói hoàn toàn sự thật - Bá Phượng hởi lòng hởi dạ vì quan trên đã phủ đầu cho phó lý Tập một trận nên thân. Ông Tập nghe xong lập tức quỳ xuống, đầu sát đất.
- Oan cho con quá. Oan ức quá. Tên Phượng hoàn toàn vu cáo.
- Sao lại vu cáo? Tôi cũng nể tình thầy phó. Được, oan ức thế nào thì cứ nói ra.
Phó Tập ghê gớm lắm. Biết là quan đang nhấp nhổm muốn xong việc, ông ta liền kéo dài câu chuyện. Quan đã cho nói thì ông nói cho thật thỏa thích. Ông tố cáo chuyện bá Phượng ép Khán Hựu phải bán ruộng cho mình ra sao. Ông tố cáo Phượng cho vay nặng lãi khiến cho mấy gia đình cầm cố ruộng phải bán đoạn cho ông. Ông tố cáo việc bá Phượng lấy bà vợ thứ tư bằng cách chôn rượu lậu vào nhà cô ta rồi đi báo Tây đoan v.v...
Phó Tập nói dai nói dài đến nỗi Tuần phủ phải vỗ bàn :
- Được rồi, được rồi. Chuyện ấy bằng chứng chưa đủ ta sẽ tra xét sau. Bây giờ thầy chỉ cần nói thẳng với ta một điều: Thầy có biết chữ không?
Lúc bấy giờ Tập mới nói năng gọn gàng rất có tình có lý :
- Thời giờ của quan trên là vàng là bạc. Hôm nay là ngày thứ bảy. Quan làm việc suốt cả tuần đã mệt nhọc lắm rồi. Ngày mai là ngày chủ nhật, quan còn bận tâm với những công việc gia đình. Con đã nói là con oan ức. Con đã nói là bá Phượng vu cáo. Con có lời thế này. Để chứng tỏ nỗi oan của con, con xin quan mở một cuộc thi. Thi ngay giữa công đường. Con và ông Phượng xin thi viết chữ. Quan sẽ làm chủ khảo. Để chuẩn bị cho cuộc thi được công bằng, xin quan ấn định ngày thi là sáng thứ hai.
Tuần phủ gật gù :
- Thầy Tập nói thế ta nghe cũng phải. Đúng, sáng thứ hai ta sẽ mở cuộc thi ngay tại đây. Thế nào, thầy Phượng có dám thi không?
Lẽ dĩ nhiên thầy Phượng dám thi, và thầy tin chắc rằng mình thắng cuộc. Thầy bá Phượng lại nhong nhong cưỡi con ngựa hồng trở về làng. Tiếng nhạc ngựa rung lên thật vui tai.
Thầy phó Tập không trở về làng. Ở làng họ Bùi xôn xao hẳn lên. Họ nghĩ phen này họ sẽ thua to. Quan Tuần phủ thật cao tay. Sau cuộc thi này ông vừa được ăn, vừa làm hài lòng cả đôi bên, lại vừa đươc nổi danh trong tỉnh mà là người công minh chính trực.
Phó Tập cũng nát óc trong chuyện này. Song việc đầu tiên của ông là ra quán dùng một xu vừa ăn vừa uống rượu. Cơm thường giá chỉ một chinh. Cơm rượu thì giá hai chinh tức một xu. Quán rượu này là quán quen. Ông biết thằng con ông chủ quán học lớp ê-lê-măng-te, tức lớp Ba. Ông bảo nó :
- Tao cho mày hẳn một chinh để mày ăn quà. Còn một chinh nữa mày đi mua cho tao một quyển vở và một cái bút.
Đứa bé đi mua về. Ông lại bảo chủ quán :
- Tôi đưa cho ông hai xu, tức là bốn chinh. Một chinh là tiền ngủ trọ. Một chinh cho bữa ăn sáng mai. Còn một xu cho bữa tối. Tôi sẽ học suốt đêm nay và ngày mai. Tối mai học xong tôi cần cơm rượu.
Thằng bé con chủ quán chi dạy cho phó Tập mấy chữ như sau: “Le lý trưởng Bùi văn Tập ký tên”. Phó Tập đã học chữ nho năm năm, việc cầm bút đối với ông không khó. Ông lại là người viết chữ nho đẹp. Vả lại, ông là người chăm học. Cho nên qua một đêm một ngày, ông viết dòng chữ trên còn đẹp hơn cả thầy tức cậu học trò lớp Ba.
Sáng thứ hai, phó Tập đến công đường sớm hơn tất cả mọi ngưòi. Ông biết viên thư lại là người đi làm sớm nhất. Hai người gặp nhau, ông móc túi đưa cho viên thư ký năm xu.
- Tiền gì đây?
- Tôi không dám mong bác làm điều không phải. Chỉ mong bác đưa cho tôi tờ giấy tốt, cây bút tốt trong cuộc thi sáng nay.
Đúng tám giờ quan đến. Người lính khố xanh đánh hồi trống. Mọi người tề tựu đầy đủ. Quan phán :
- Ta lấy làm hài lòng vì cuộc thi này. Giấy trắng mực đen trước mặt mọi người thật là công bằng. Hai thầy nên cố gắng. Không cần viết nhiều, mỗi người viết một câu là đủ.
Lẽ dĩ nhiên phó Tập viết: “Le lý trưởng Bùi văn Tập ký tên” Còn bá Phượng thì viết dài dòng hơn. “Quan phụ mẫu là bậc đèn trời soi xét. Con xin vô cùng hậu tạ”. Viên thư lại thu bài thi. Khi nhận tờ giấy của bá Phượng, lão láu cá cười mủm mỉm. Tuần phủ liếc mắt xem hơi cau mày lại. “Xin vô cùng hậu tạ”, không hiểu thằng này viết nhầm cảm tạ ra hậu tạ, hay là nó định nhắc khéo mình cái khoản đút lót và ra điều hứa hẹn. Nó là thằng ngu, giữa bao nhiêu con mắt thế này... mà dám bóng gió. Quan Tuần phủ lặng im, rồi trả tờ giấy lại cho viên thư lại rồi hất hàm :
- Thấy thế nào?
Thầy thơ lại biết ý quan. Ông ta muốn tỏ ra vô tư. Ông ta đã ăn tiền của Phượng và muốn mượn mồm mình, nhưng quan cau mày lại khi đọc tờ giấy của bá Phượng, xem chừng quan không hài lòng với cái ý nhắc khéo xấc xược của hắn. Vậy nên ông ta nói rất khéo.
- Dạ thưa quan, cả hai thầy đều biết chữ quốc ngữ cả. Một chín một mười ạ. Chỉ có điều thầy Tập thì chữ đều tăm tắp, còn thầy Phượng thì chữ to chữ nhỏ.
- Chữ to chữ nhỏ à? - Quan Tuần phủ muốn thư lại đưa ra một phán quyết. Còn thư lại thì nói nước đôi, đẩy sự định trở lại vào tay quan. Vì vậy Tuần phủ vẫn ra chiều suy nghĩ. Chính đến lúc này phó Tập mới ra tay. Một sư ra tay không ai ngờ tới :
- Dạ bẩm quan lớn. Thời buối này, chữ quốc ngữ mới ra đời. Trăm người dân mới có một người biết. Nhất là ở thôn xóm, người dân quê mùa chúng con, viết giấy tậu trâu, bán ruộng người ta vẫn dùng chữ nho. Họa chăng một hai chục năm nữa mới khác đi được. Vậy người cầm đầu làng xã vẫn cần đến thứ chữ ấy.
- Thầy nói chí phải. - Quan vê râu cằm đắc ý. Cái thằng cha phó lý này thế mà lanh lợi. Nó gỡ bí cho ta đây. Quan liền phán - Thầy Tập nói đúng. Hiện nay cả hai thứ chữ đều cần. Vậy tiện thể giấy còn thừa, các thầy viết cho ta một số chữ nho vào đây.
Thế là, đang từ bị động bỗng chuyển sang chủ động, đang từ thế yếu bỗng chuyển sang thế mạnh. Chỉ biết rằng, khi quan Tuần phủ cầm tờ giấy với những nét chữ như rồng bay phượng múa của Tập, quan gật gù sái cổ. Đáng lẽ ra quan phải trị tội Phượng về cái tội vu khống, nhưng quan không nỡ. Ông chỉ nói bằng những câu rất nhẹ nhàng :
- Thôi bây giờ chuyện đã rõ ràng. Ta chắc chỉ là chuyện xích mích hiểu lầm chi đây. Các thầy đều là các bậc tai mắt trong làng xã. cần phải hòa thuận cho dân họ trông vào. Còn riêng thầy Phượng, chớ có buồn, không có keo này thì sẽ còn keo khác.
Nghe thế bá Phượng hiểu ý. Quan thầy nói bóng đấy. Lần này quan không thể xử khác được, thực ra quan không ưa loại người như Tập. Quan nhắc khéo Phượng là phải chờ cơ hội. Và cơ hội ấy đã đến khi Tập nấu rượu lậu. Bá Phượng và quan huyện đã phục binh về bắt quả tang. Để chạy chọt khỏi bị tù tội, lý Tập đã bán cả sản nghiệp ông cha và đem vợ con ra thành phố, trở thành ông thợ cạo ở cái xóm nghèo hèn.

* * * * *

Thực ra, lý Tập làm nghề tướng số hay viết sớ ở các đền chùa cũng được, nhưng ông không nỡ mang chữ thánh hiền ra bán nên ông đã chọn nghề thợ cạo. Ông vốn khéo tay chi cần lân la với các phó cạo ít lâu đã học được nghề. Ông bảo với vợ con: “Người có chữ, nhìn cái gì cứ cách vật trí tri là sẽ làm được tất”. Vả lại các nghề tướng số, viết sớ chỉ có mùa vụ, còn nghề thợ cạo có việc quanh năm. Ông đã thề rằng, nếu không mở mày mở mặt, ông quyết không bao giờ trở về làng cũ. Ông có độc nhất người con tên là Trí; ông đã thất bại nên đã dồn hết hy vọng vào con. Ông hiểu ý nghĩa của cái chữ nên dù khó khăn, ông cũng cho Trí đi học. Ở cái xóm bùn lầy nước đọng của thành phố, nhưng không lúc nào ông tắt giấc mơ cho con trở thành người có chữ. Trí học hết tiểu học, được vào trường Bưởi, ông lý Tập vui mừng khôn xiết. Nhưng khi Trí học đến năm thứ ba thành chung thì giấc mơ của lý Tập tan tành. Bùi văn Trí tham gia phong trào yêu nước nên bị đuổi học. Sau đó anh ta phiêu bạt nhiều nơi, bảo rằng để tìm kế sinh nhai, nhưng ông Tập suy sụp, lâm bệnh. Mới ngoài năm mươi ông đã già ngoẽo, và sau khi khỏi bệnh, tay ông run không làm nghề thợ cạo được nữa. Ông buồn hẳn đi, chỉ ở nhà chăn lợn gà hoặc thỉnh thoảng đến nhà mấy ông già trong xóm đánh cờ. Ông còn mắc cái bệnh thích sạch sẽ, tinh tươm. Cứ ra khỏi nhà là đội cái mũ cát màu cứt ngựa và lúc nào cũng lập cập đi đôi guốc mộc.
Có lẽ cái cuộc thi chữ ở công đường quan Tuần phủ khi xưa đã tạo cho ông một ấn tượng rất mạnh, cho nên khi Trần, Nấm đến thuê nhà, ông đã theo dõi anh chồng kỹ lưỡng và kết thúc bằng việc khảo sát bắt Trần phải viết chữ cho xem. Chữ thế nào người thế ấy mà. Khi đã thấy bàn tay Trần đầy đặn ấm áp và đỏ như son, khi đã tận mắt trông thấy Trần viết câu thơ cổ “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận”, nét chữ như rồng bay phượng múa, lập tức ông cụ Tập tin ngay tư cách của Trần, thu nhận anh làm đồ đệ để truyền nghề thợ cạo.
Ông cụ Tập dắt Trần đến mấy ông bạn nghề người làng Kim Liên. Các ông thợ cạo già rất bí mật không truyền nghề, nhưng được cái Trần rất tinh ý quan sát. Khi Trần kể chuyện cho ông Tập nghe về thái độ giấu nghề của mấy ông già, cụ Tập cười :
- Nghề thợ cạo chỉ là nghề vặt. Đã học chữ thánh hiền rồi, ai giấu ta điều gì cũng không nổi đâu. Hiểu câu “cách vật trí tri” rồi chứ. Học câu “Tri hành hợp nhất” chưa? Phải rồi! Anh đi xem làm mười hôm, bây giờ đã tri chưa? Tri xong bắt đầu hành.

Cụ Tập gọi trẻ con trong xóm lại. Mỗi hôm bắt Trần cắt năm cái tóc không lấy tiền. Rồi lại dạy mài dao cạo, dạy đánh tay kéo sao cho ròn tan, dạy đưa tông đơ sao cho dứt khoát. Rồi đưa đến hiệu quen chuyên quay mài tông đơ. Thêm một nửa tháng cắt thật trên đầu trẻ con, Trần lúc này đã có thể thợ cạo thực thụ. Đến lúc ấy, cụ Tập mới truyền bí quyết. Cụ lấy ra một cái hộp nhỏ giống như hộp bút, mở ra giảng giải.
- Nghề thợ cạo nước ta có một trò rất quyến rũ, đó là thuật lấy ráy tai. Ráy tai hàng tháng vẫn sinh ra sâu trong tai. Cắt tóc xong, được lấy ráy tai là một điều thích thú không thể tả được. Có người bảo lấy ráy tai sướng như tứ khoái.
- Đến thế kia ư, hả thầy?
- Chứ sao? Người thợ cạo giỏi lấy ráy tai sẽ có khách quen thường xuyên. Người ta nghiện cái trò này đến nỗi mỗi tháng đến kỳ, không lấy là bứt rứt không yên. Ta lấy ráy tai cũng thuộc loại khá, tiếc rằng tay ta run mất rồi. Này, có người chỉ riêng lấy ráy tai đã trả tiền gấp đôi, gấp ba cắt tóc.
Rồi ông già mơ màng mô tả :
- Người lấy ráy tai phải là người tinh vi. Không được hùng hục, không được sỗ sàng. Này lão xin lỗi nhé... Nó giống như ta giao hoan với người đàn bà ấy...
- Lại thế kia ư, hả thầy? - Sự ngạc nhiên của Trần lên đến tột độ. Anh hớp từng lời của ông thầy.
- Đây là cái móc để nạo. Dùng cái này ít thôi. Người giỏi có khi không dùng. Hoặc là chỉ dùng khi gần xong. Nghĩa là khi cái tinh vi, cái mơn man đã xong. Phút cuối cùng để làm cho khách thật đã. Chủ yếu dùng cái nậy. Đây này, nó thẳng đơ, mỏng tang, mỏng hơn lá lúa. Dùng để nậy những thứ ráy mỏng như giấy. Ráy này hình như mọc ra từ da trong tai. Lấy cái nậy đồng nậy khẽ cho nó bong ra. Đừng nậy một chỗ mà đau người ta, nậy ở hai, ba chỗ khác nhau. Nghe đánh roạt khe khẽ tức là nó bong ra rồi. Lúc đó, lấy cái panh cặp nhẹ nhàng, từ từ châm chạp bóc ra. Vừa bóc ra vừa nghe ngóng. Thấy khách nhăn mặt quá, tức là khách đau thì ngưng lại. Lúc đó lai nậy. Càng chậm càng lâu, khách càng thích. Đau quá thì khách sợ, hết thích. Khi gặp miếng ráy như tờ giấy mỏng trắng đặt lên bàn tay ông khách ngửa ra, khách trông miếng ráy mắt sẽ sáng lên. Lúc đó dùng cái tăm cuốn bông hay cái tăm bông làm bằng lông tơ con ngan trắng, xoáy tít tho lò trong tai khách thì khách tít mắt lại, chẳng khác nào lên tiên. Hà hà...
Ông già gật gù :
- Muốn làm được như vậy ư. Phải có đôi mắt rất sáng. Phải có bàn tay vàng. Những ngón tay tinh vi như biết nghe, biết tiến, biết thoái, biết cái sung sướng của người ta đến đâu, biết dừng lại để cái đau thành cái khoan khoái. Cái tay của người thợ cũng biết mê đắm cùng cái mê ly trên mặt khách hàng.

Thế là anh Trần thành người thợ cạo. Dần dần nổi tiếng. Nổi tiếng trong giới người nghiện lấy ráy tai. Người nọ mách người kia, cuối cùng anh có cả một số khách quen định kỳ. Thậm chí, có những quý khách hàng tháng phải phục vụ tại nhà. Lại giống ông thầy, anh Trần cũng đi đôi guốc mộc, cũng mậc bộ quần áo nâu sạch sẽ, cũng đội cái mũ cát nâu cứt ngựa, cũng tay xách cái hòm nghề nho nhỏ, vai khoác chiếc ghế khung gỗ mặt ngồi là những dải da nhẹ tênh, đi khắp các thôn xóm phía nam Hà Nội. Hôm nào mệt mỏi anh lại ra ngồi bên cái hàng rào sắt của nhà giải phẫu nhìn ra vườn hoa Pasteur hống khách. Vợ chồng anh Trần là người có tình có nghĩa, rất biết ơn vợ chồng cụ Tập đã cưu mang gây dựng cho mình, cho nên cuối cùng họ như đã trở thành con cháu trong nhà. Hai ông bà già đau ốm luôn; anh Trí người con trai độc nhất thì đi biền biệt; hai vợ chồng Trần đến ở đã được một năm vẫn chưa bao giờ gặp mặt Trí. Vợ chồng Trần phải quán xuyến mọi việc, lo nuôi nấng, lại chăm sóc thuốc men cho họ.
Cho tới một đêm. Thường dễ đã tới hai giờ sáng. Nấm chợt nghe thấy tiếng đập cửa bếp và tiếng gọi thì thào.
- Thầy, thầy ơi! U, u ơi!

Nấm định ngồi dậy, thì bà cụ đã ra mở cửa sau. Rồi ngọn đèn nhỏ như hạt đậu lóe lên. Cả nhà thức dậy. Một người đàn ông trạc gần ba mươi, râu ria lởm chởm, ăn mặc như phu phen, cứ chằm chằm nhìn vợ chồng Trần. Ông cụ Tập giới thiệu vắn tắt :
- Mày cứ biền biệt, bố mẹ ốm đau cũng chẳng thấy mặt. Đây là vợ chồng anh Trần, cũng người làng Sọ ta. Anh chị ấy ở đây đã một năm. Người tử tế. Không có anh chị ấy, thì có khi mày về chả còn nhìn thấy mặt tao đâu.
Thế là đôi mắt sáng quắc ngờ vực của con người râu ria lởm chởm ấy chợt dịu ngay. Cho đến cái đêm ấy, Trần mới biết người con trai của ông cụ không phải đi làm ăn xa mà là người đi làm hội kín. Hóa ra nhà cụ Tập là gia đình được ghi trong sổ đen của Sở Mật thám Tây. Phải nói cụ Tập rất kén chọn người thuê nhà; đã có mấy đám đến ở nhà cụ, nhưng chỉ độ một tháng sau là lập tức họ dọn đi ngay. Chỉ riêng vợ chồng anh Trần là người ở được tới một năm.
Anh Trí ở nhà chỉ có một ngày. Không ló mặt ra ngoài. Cả xóm chẳng ai biết, suốt ngày ở trong cái buồng xép dưới bếp. Cái buồng tối tăm chứa đồ vặt quang gánh, thúng mủng, cây giang bó lạ... cửa che là chiếc thuyền thúng hái rau đã nát. Buổi chiều hôm sau Trí nói chuyện với Trần.
- Vợ chồng anh ở với các cụ đã một năm, chăm sóc các cụ, tôi thật đội ơn nhiều lắm.
-Chẳng có gì đâu. Bây giờ tôi mới rõ là anh bận việc nước. Anh cứ yên tâm. Các cụ cũng thương chúng tôi như con đẻ.
 Trí nắm tay Trần :
- Cũng có cái may. Bọn Tây chẳng để ý gì đến vợ chồng anh. Tôi nghe cụ nói anh là người biết chữ nghĩa.
- Vâng, tôi biết chút ít chữ nho.
- Còn chữ quốc ngữ.
- Vâng, tôi cũng biết.
Nghe thế, mắt Trí như sáng lên, vui vẻ. Tối hôm ấy Trí lại ra đi. Bẵng đi đến vài tháng Trí mới lại xuất hiện. Lần này, anh gặp Trần ở vườn hoa Pasteur. Anh sắm vai người đi cắt tóc. Anh hỏi Trần rất nhiều chuyện. Cứ gặp như thế vài lần, sau khi đã thật thân quen, chắc là đã dò xét kỹ lưỡng, Trí mới rủ Trần tham gia hoạt động. Trí bảo :
- Anh làm người cắt tóc, đi chỗ này chỗ nọ là chuyện thường tình. Chẳng ai nghi ngờ. Dùng cái lợi thế đi mà giúp dân giúp nước là việc rất tốt.

Trần đã trở thành người cách mạng một cách thật ngẫu nhiên như thế. Anh đã làm liên lạc cho tổ chức cách mạng một cách rất tự nhiên giản dị. Trí huấn luyện cho anh qua công việc, qua đọc tài liệu. Dần dần, anh trở thành người hoạt động rất đầy táo bạo gan dạ. Tuy nhiên, Trần vẫn không xao nhãng việc mình là người thợ cắt tóc. Nghề lấy ráy tai của anh lại càng tuyệt vời hơn. Qua sự góp ý, giúp đỡ của khách hàng, bây giờ anh có hẳn một bộ đồ nghề ráy tai thật tình xảo, sáng loáng sạch sẽ rất hợp vệ sinh. Đến lúc ấy, Trần có cả những khách sang trọng. Trước khi hành nghề, họ bắt anh làm sạch tay bằng cồn. Có người còn bắt anh phải khử trùng đốt cồn lên hơ kỹ đồ nghề rồi mới cho làm việc.

Nghề lấy ráy tai cũng lắm chuyện kỳ cục không thể tưởng tượng. Có một bà me Tây, vợ một viên đại úy người Pháp cũng rất nghiện lấy ráy tai. Một hôm, anh Trần đến nhà ông Bếp nấu ăn cho viên quan ba. Nhà ông Bếp là ngôi nhà nhỏ nằm sau tòa biệt thự ở cái ngõ rộng, sạch sẽ thuộc khu phố tây. Căn nhà tĩnh mịch có vườn cây bao quanh. Hôm ấy Trần cắt tóc xong cho ông Bếp, nhân rộng rãi thời giờ, bèn lấy ráy tai cho ông ta. Ông Bếp lừ đừ nhắm đôi con mắt, mồm méo đi vì khoan khoái. Còn anh Trần tay trái, kéo dài cái tai người khách hàng cho cái lỗ tai thẳng ra để ngó nhìn vào chỗ sâu thẳm trong đầu ông Bếp. “Đây rồi!”, Trần khẽ reo như bắt được mỏ vàng, anh nín thở, tay phải lấy cái nậy bằng đồng mỏng tang khẽ khàng mơn man, cào cào như vờn để cho ông khách nghe thấy tiếng lạo xạo trong đầu để cho ông ta có một cảm giác buồn buồn thú vị đến mức ông ta cũng nín thở theo, rồi rùng mình khi cảm thấy một luồng khoái cảm chạy xuống tận gan bàn chân... Rồi Trần gợi gợi, nậy nậy, bóc bóc, để cuối cùng gắp ra cái cục trăng trắng hanh vàng, cái thứ dư thừa vô tích sự trong tai. Ông Bếp kêu lên. “Ôi chao! Mày sinh ra để làm ta khoan khoái thế này ư?”. Cũng lúc ấy, có tiếng cười thanh thanh giòn tan. Cả Trần và anh bếp đều ngẩng nhìn. Một bà to béo mặc quần lụa đen, cái áo cánh trắng, tóc vấn trần đang vỗ tay miệng kêu:
- Giỏi! Giỏi! Cậu thợ cạo này quá giỏi! Xin mời lên nhà. Thật là cầu được ước thấy. Bao nhiêu năm nay tôi cứ đi tìm một người tuyệt vời như cậu. Tìm thì chẳng ra. Không tìm thì lại thấy. Thú thật với cậu, tôi cũng mê lấy ráy tai. Ngày kia tôi lên hầu thánh trên Đồng Mỏ. Phải dọn mình cho sạch sẽ đấy. Quần áo tóc tai đều phải tinh tươm. Cái tóc thì dễ. Còn cái tai cho sạch sẽ mới là khó.

Thế là cậu Trần phải phục vụ bà Capiten (Capitaine). Bà giao hẹn :
- Cậu không được làm nhanh. Chầm chậm thôi. Làm cho ông Bếp như vậy là nhanh. Phải từ nửa tiếng trở lên. Không được làm đau. Không được làm sót. Ngóc ngách nào trong tai cũng phải như li như lau. Không lo gì hết. Làm tốt tôi trả đồng bạc... Cậu đã hiểu chưa... Nào, tôi ngồi trên ghế sa lông... Tôi dựa đầu vào cái tựa... Còn cậu đứng gần lại đây. Chỗ này đủ sáng chưa... Xin lỗi nhé, tôi phải ôm lấy cậu... Tôi có máu buồn mà... Còn cậu thì cứ tự nhiên... Ghé mắt lại gần mà nhìn cho rõ.
Trần hành nghề. Bà ta rên lên hừ hừ... Bà ta rú lên, rồi run bần bật. “Sao lại ngừng, nữa đi nữa đi”. Bà ta hổn hển như người đàn bà trong cơn hứng dại.
Nói chung, bà Capiten, trong lúc chồng đi biên giới Lào Cai đã làm cho anh thợ cạo Trần sợ hết hồn. Lần thứ hai, bà ta làm cho Trần sợ hơn. Khi lấy ráy tai xong, bà ta ôm chặt lấy cậu, hôn chùn chụt vào má cậu và bảo :
- Cậu lấy ráy tai khéo lắm. Cậu cũng xinh lắm. Đi lên buồng chị đi. Đừng sợ. Lão Capiten lúc này đang ở tận Hà Giang. Chóng ngoan, chị yêu, chị thưởng...
Thừa lúc bà lên cầu thang, Trần vội vồ lấy chiếc hòm và chạy như ma đuổi, không lấy cả đồng bạc mà bà ta trả công.
Nếu bình thường chắc Trần không bao giờ quay trở lại ngôi nhà ấy nữa. Nhưng, trớ trêu thay, ông Bếp lại là cơ sở cách mạng. Nghĩa là Trần vẫn phải liên lạc với nhà ấy. Vậy nên mỗi khi đến nhà ông Capiten, Trần cứ phải len lén nhìn lên nhà trên, không thấy bóng bà Capiten, Trần mới vội vàng chui tụt vào nhà ông Bếp. Một hôm, Trần có nhiệm vụ phải đến nhà ông Bếp. Vừa đẩy cánh cổng khép hờ vào đến sân, Trần bỗng giật mình. Trên cái dây phơi ở hàng hiên nhà ông Bếp, thấy chiếc yếm đào của bà vợ ông treo lủng lẳng. Đó là mật hiệu cảnh báo cơ sở đã bị lộ. Chẳng lẽ lại quay ra ư? Chắc chắn ở đâu đây, đang có những cặp mắt chăm chú theo dõi. Tim Trần đập thình thịch. May thay, nhìn vào phòng khách nhà trên. Trần thấy cái bóng to béo của bà Capiten. Anh liền thản nhiên đi tới phòng khách, gõ cửa. Bà Capiten nhìn thấy Trần, liền cười tươi, mở cửa, đon đả :
- Này, lần trước chị giận đấy. Vội vã đến thế nào mà quên cả lấy tiền, quên cả chị... Nhưng chị biết thế nào cậu cũng quay lại mà. Nào vào đây... vào đây đi... Mà có lẽ chị em mình lên gác... Trên ấy cửa sổ rộng nên sáng hơn mà cũng tĩnh hơn... Capiten chợt hạ giọng xuống cầm tay Trần và nói nhỏ - Này sao run thế - Đừng có sợ... Lão Capiten bận này lên Lạng Sơn nửa tháng.
Trần chẳng biết làm sao. Anh chỉ định lấy ráy tai cho bà một lát rồi chuồn ngay. Nào ngờ, hôm ấy anh bị tấm thân đồ sộ của bẹp gí. Ôi! Thật là số phận trớ trêu của anh chàng thợ ráy tay. Tuy nhiên anh nhờ thế đã thoát hiểm.
Sau bận ấy, tổ chức sợ anh bị lộ đã điều Trần về hoạt động ở khu vực quanh làng Sọ.
Chuyện ông sư Vô Trần phá giới trở thành nhà cách mạng thật thú vị. Cũng có thể người dân làng Sọ đã thêm dấm thêm ớt vào cho câu chuyện đã biến thành một huyền thoại. Chính ông là người lãnh đạo cách mạng ở huyện sở tại. Ông đã phá kho thóc chia cho dân nghèo. Ông đã vũ trang tuyên truyền, hùng hồn diễn thuyết giữa chợ Sọ. Ông đã đường hoàng đến từng nhà bọn chánh tổng lý trưởng, uy hiếp, bắt chúng nộp triện đồng giao trả chính quyền cho nhân dân.
Cách mạng thành công. Thiền sư Vô Chấp lúc đó đã hơn chín mươi tuổi. Nghe tin vị thiền sư già đang ốm, Vô Trần vội vã về thăm chùa cũ. Vị sư già ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế mây. Mắt trưởng lão đã mờ, nhìn người chỉ còn thấy như những chiếc bóng cử động, nhưng chỉ nghe thấy bước chân, cụ cũng nhận được ra học trò yêu :
- Con đã về đấy à?
Vô Trân sụp xuống đất.
- Học trò tội lỗi đã làm uổng bao công thầy dạy dỗ.
Đầu óc vị sư già vẫn còn minh mẫn tuy mắt mờ và hầu như không đi được nữa. Ông giơ bàn tay chỉ còn xương và da đặt lên đầu người học trò yêu.
- Ta mong con về quá. Ta biết là con sẽ trở về trước khi ta ra đi. Con chưa đủ duyên lành để hoàn toàn rũ bỏ trần ai. Cũng chẳng sao đâu. Xưa kia, đức Tuệ Trung thượng sĩ thầy dạy của đức vua Trần Nhân Tông, đệ nhất tổ Trúc Lâm, cũng chỉ là môt cư sĩ... Chỉ có điều, dù là tăng hay tục, con cũng không bao giờ được quên lời đức Thế Tôn đã dạy.
Vô Trần nức nở, chẳng nói được lời nào. Thiền sư Vô Chấp bảo :
- Ta cần nhờ con giúp ta một việc cuối. Hãy đi tìm sư huynh Vô Úy của con về cho ta. Nhớ là mau lên kẻo không kịp. Giờ của ta sắp đến rồi.
Lúc bấy giờ ở vùng làng Sọ chiến sự chưa lan đến, nhưng đó là thời gian đầu cuộc kháng chiến, giặc Pháp đang tích cực mở rộng vùng chiếm đóng. Vô Trần phải xin nghỉ việc hai tháng trời, lặn lội đi tìm người sư huynh về cho thầy. Trưởng lão Vô Chấp nói rằng đang là thời loạn lạc, chỉ có sư Vô úy mới đủ đức độ để trụ trì, gánh vác Phật sự và làm sáng tỏ ngọn tổ đăng.
0
Bạn ơi mình cũng muốn tham gia type truyện được không?
 
0
Rất vui có bạn cùng giúp 1 bàn tay
 
Bạn cứ PM cho casau nhá, nếu không bạn chờ đến thứ hai, CtLy sẽ gửi đến những chương tiếp, chỉ là cần xem lại chính tả, chì vì casau đã scan và chuyển texte sang
 
 




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.06.2014 18:10:44 bởi Ct.Ly>
8
Bốt đình Sọ


Quân Pháp đầu tiên thành lập bốt chỉ huy khu vực. Đó là P.C Huyện. Đó là đầu não tiến hành việc bình định khu vực hai bên bờ con sông Đào. Từ P.C. Huyện vươn ra những cái vòi bạch tuộc. P.C. Huyện tiến hành xây dựng các bốt phụ cận. Hầu như mỗi tổng, xã đều cắm chốt một bốt nhỏ, có nhiệm vụ khống chế các làng chung quanh nó. Từ P.C. Huyện tới làng Sọ chỉ có năm cây số. Người Pháp cho xây bốt ngay ở đình Sọ. Đình này là đình ba chạ, đình chung của ba làng Sọ: Sọ Đoài, Sọ Trung và Sọ Đông. Vị trí các làng bố trí như sau: Bên này sông là làng Đoài, rồi đến Đình, tiếp theo là làng Trung. Bên kia sông Đào là làng Đông. Gần đình nhất là làng Trung. Đình và làng chỉ cách nhau một cánh đồng hẹp, vậy coi như đình gắn với làng.

Con đường huyện lộ nối P.C Huyện với nhà thờ Chuông, nơi này là tiểu khu đặc biệt của P.C Huyện. Huyện lộ đi qua ớc cửa đình Sọ. Ngày xưa, phong cảnh Đình Sọ khá đẹp. Có hai cây gạo như hai ngọn đuốc đỏ rực rỡ vào mùa xuân. Chúng như hai hộ pháp canh giữ cổng đình. Chung đình là những lùm nhãn um tùm, những gốc mít cổ thụ và những cây muỗm khổng lồ. Nhưng đến bây giờ thì tất cả hầu như đã trơn trụi. Đầu tiên, người ta chặt hai cây gạo cho ngang trên con đường huyện. Chúng làm nhiêm vụ chướng ngại vật, để ngăn xe tăng của Pháp. Giặc Pháp tấn công lầ thứ nhất, trường học làng Trung làng Đoài bị đốt nham nhở. Các cụ bô lão cho hạ một chục cây nhãn to, bán lấy tiền sửa trường học. Vì là đình ba chạ, nên làng Đông sợ thiệt họ từ bên kia sông trở về chặt nốt số cây nhãn còn lại. Thế là quân hồi vô phèng, người ta tìm cớ này cớ nọ để rỡ nốt gạch tường bao quanh.


Năm 1950, quân Pháp tấn công lần thứ hai. Lần này người Pháp quyết tâm bình định vùng này, nên cho lập bốt Đình Sọ, định từ cái chốt đó sẽ lan ra chung quanh.
Bốt P.C. Huyện là bốt chỉ huy khu vực nên có một tiểu đoàn Âu Phi đóng quân. Bốt Đình Sọ được coi là vị trí quân sự quan trọng, nhưng dù sao cũng chỉ là bốt làng nên chỉ gồm một trung đội toàn lính ngụy người Việt.

Người sếp bốt đầu tiên được phái đến xây dựng bốt Đình là Quản Mật. Mật là con cụ chánh Long, con bà Tư. Lý Phượng là anh cả, hơn Mật tới hai mươi tuổi. Cụ chánh Long người làng Trung, bà Tư người làng Đoài. Vì muốn mở rộng ảnh hưởng sang Đoài, nên cụ chánh mua một mẫu đất xây dựng cơ ngơi cho bà Tư. Mật đỗ séppica, rồi ra Hà Nội học trường Bưởi. Cậu Mật nói tiếng Tây lau láu nên về làng giá lắm. Mật thích làm giàu ở thành phố, nên học được hai năm, cậu xoay sang kinh doanh. Cậu làm chân nhà thầu cho anhtăngđăng kiếm chác cũng khá, nhưng vì ham mê cờ bạc nên cuối cùng tay trắng. Mật làm lại cuộc đời bằng cách gia nhập lính pháp. Cũng khá tháo vát luồn lọt, nên cuối cùng được lên chức ắcxìđằng mà dân ta vẫn gọi là ông quản.
Lý Phượng răn đe cậu em:
- Ở nhà quê ta khó lắm. Chú liều liệu mà làm việc, đối xử. Ở làng không giống thành phố đâu. Phải biết lúc rắn lúc mềm. Phải biết ngọt nhạt, thớ lợ. Phải biết lạt mềm buộc chặt...
Mật nghe anh chỉ cười. Trong bụng, quản Mật coi thường lý Phượng. Hắn coi người anh đầy mưu mẹo ấy chỉ là một lão cường hào quê mùa. Hắn đã ba mươi nhăm tuổi rồi, đã vào Nam ra Bắc, đã nếm trải vào sống ra chết, lại được ăn học hẳn hoi, chứ đâu kém hẹm gì. Chỉ riêng việc người Pháp giao cho hắn lập đồn Sọ và chỉ huy ở đấy đủ biết tài năng của hắn. Thông thường những đồn lính bảo hoàng toàn lính Việt đều do một người Pháp chỉ huy. Nay Mật chỉ là một viên quản người bản xứ mà được chỉ huy cả một đồn lính, như thế chả vinh dự lắm sao. Như vậy chứng tỏ người Pháp đã hoàn toàn tin cậy hắn.
Lý Phượng bảo Mật phải mềm dẻo, nhưng đại úy Bernard ở P.C lại dạy hắn khác hẳn :
- Công việc chính của ông là bình định. Phải làm sao cho trong vùng phải hoàn toàn chịu phục tùng nước Pháp, em dẻo ư? Có thể đó là chuyện về sau. Còn thoạt kỳ thủy, đó chuyện cứng rắn, đó là máu lửa và sắt thép. Hãy bắn vào sọ bọn Việt Minh. Hãy đánh gục bọn cứng đầu cứng cổ.

Việc đầu tiên Mật làm là xây bốt. Bốt Sọ nằm ngay trên nền đình ba chạ. Thật tốt vì người ta đã chặt hết cây cối. Địa điểm trở nên quang quẻ, hết điều kiện cho đối phương ẩn nấp. Từ đây có thể kiểm soát con đường cái, kiểm soát cả con đường mòn của Việt Minh từ bên kia sông sang. Ngôi đình vẫn được để nguyên làm trung tâm. Bây giờ phải xây tường bảo vệ. Từ PC gửi về một đại đội nửa Âu Phi nửa Việt. Xây gạch sẽ rất khó, vừa tốn vừa lâu. Mật nảy ra sáng kiến trình bày với Tây Thằn lằn và đươc chấp thuận ngay. Mật sai lính và dân phu đi chặt toàn bộ những cây cau ở hai làng Trung và làng Đoài. Dùng thân cây cau làm hai lớp tường cách nhau năm mươi centimet rồi đổ đất vào bên trong. Công việc chỉ là đóng cọc tre rồi xếp thân cây cau chồng lên nhau. Do vậy việc tiến hành rất nhanh. Chỉ một tuần sau, bốt làng Sọ đã sừng sững ở giữa đồng khống chế cả một vùng rộng lớn. Song song với việc xây chiến lũy, Mật cho xây bằng gạch một tháp canh cao tám mét. Đứng trên đó, chĩa ống nhòm có thể nhìn thấy rõ những người đi trên đê sông Đào.
Việc thứ hai Mật làm là cho gọi tất cả những gia đình có người liên quan tới Việt Minh lên đồn xét hỏi.

* * * * *

Tôi đang dỡ khoai trong vườn chùa, bỗng cái Huệ chui qua trổ tre vào, mếu máo :
- Anh An ơi! Mẹ em bị bắt lên bốt rồi. Làm thế nào bây giờ?
Tôi cũng chẳng biết phải làm thế nào. Song, như một thói quen, tôi kéo Huệ chạy đến nhà thầy giáo Hải. Thầy Hải vắng nhà. Tôi kéo Huệ đi khắp nhà người quen cũng không thấy. Có người bảo thấy thầy sang xóm Trung, có lẽ đến nhà ông trưởng họ Bùi bên ấy. Cái Huệ ngồi sụp xuống vệ cỏ khóc trưởng rưng rức rưng rức.
- Bây giờ biết làm thế nào?
Lúc này tôi mới chợt nhớ ra và hỏi :
- Thế thằng Căn đâu?
- Anh ấy khóc rồi chạy theo mẹ ra đồn.
- Ra đồn ư? Cái thằng lúc nào cũng hùng hùng hổ hổ. Ra đồn phỏng có ích gì.
Tôi ngẫm nghĩ một lúc rồi nói :
- Bây giờ chỉ có cách đến gặp sư cụ.
- Sư cụ à? Em sợ lắm.
- Tại sao?
- Tại anh Căn.
- Sao lại thằng Căn.
- Các chú trên huyện giảng cho anh ấy, bảo rằng chùa chiền sư sãi là mê tín quàng xiên. Đi tu là ăn bám. Lễ bái là ngu muội. Đó là cách nhà giàu ru ngủ nhà nghèo.
- Bố em đã đi tu. Bố em nói thế bao giờ không?
- Em chưa bao giờ nghe thấy bố nói như vậy. Anh Căn có hỏi. Bố chỉ im lặng.
- Thế sư cụ có bao giờ nghe thấy thằng Căn nói thế không?
- Em không biết. Nhưng chắc là có, bởi vì sư cụ hình như giận bố mẹ em lắm. Cũng vì thế em mới sợ.
- Đừng sợ! Mà sợ cũng phải đi gặp cụ.
Tôi cầm tay Huệ lôi đến tòa đại điện. Tôi thấy tay nó run. Tôi và Huệ đứng rất lâu chờ cho cụ tụng kinh xong Nó cúi đầu lí nhí chào. Tôi trình bày sự việc. Cụ vừa nghe vừa lần tràng hạt. Nghe xong, cụ hỏi :
- Cháu tên là Huệ phải không? Con bố Trần phải không? Huệ là lòng nhân ái, là chữ nhà Phật. Lành thay! Sư đệ của ta ra khỏi chùa, nhưng vẫn không quên lời đức Thế Tôn dạy dỗ.
Cụ gọi Huệ đến gần, ân cần nói :
- Con khóc đấy ư? Đừng lo! Rồi sẽ qua cái đận này thôi. - Rồi cụ quay sang tôi bảo - Chắc Huệ nó đói đấy, con bảo chị Nguyệt con lấy cơm hay khoai cho nó ăn. Thầy đến nhà ông chánh vì việc ấy ngay đây.

Ông chánh Long vốn quen sư cụ Vô Úy. Có phần nể trọng là đằng khác. Những người xưa học chữ nho thường đối xử như anh em với nhau. Nghe nói ngày xưa chánh Long đã có lúc là đồ đệ học chữ của sư cụ Vô Chấp. Nếu thế, giữa sư Vô Úy và chánh Long còn là chỗ đồng môn. Ông chánh thấy sư cụ đến nhà vội ra tận ngõ đón. Ông già chắp tay tạ lỗi :
- Dạo này xương cốt rệu rã. Cứ quặt quẹo luôn. Thành thử cứ định ra chùa hàn huyên với trụ trì mà chưa làm được. Tuổi già nó tệ thế đấy.
Sư cụ chắp tay trước ngực vào chuyện ngay :
- A di đà Phật. Bần tăng hôm nay đến gặp lão huynh cốt quấy quả nhờ cậy chút việc.
- Xin lão trụ trì cứ nói. Đệ xin hết lòng.
- Chẳng là ông sếp bốt Mật, ông út của lão huynh có cho gọi bà Nấm, là vợ của Vô Trần. Ông Trần xưa kia cũng tu hành ở chùa làng. Ông Trần bỏ chùa đi theo Việt Minh. Đó là cái ý riêng của ông ấy. Mỗi người một chí, tôi và cụ dù muốn khác ông ấy cũng chẳng nghe. Nhưng vợ con ông ấy chỉ là người dân thường, chả làm điều gì khác công việc nhà nông. Mong lão huynh nghĩ tình xưa cũ, nói giúp cho một câu với ông Mật thả bà Nấm ra. Khổ lắm cơ! Bà ấy còn hai đứa con thơ dại.
Cụ chánh Long nghe vậy liền chống gậy ra bốt ngay. Cụ bảo ông Mật :
- Thời buổi này, ai có thể biết trước được việc về sau. Có nhà ai cứ đỏ như miếng vông, đông như miếng tiết mãi mãi. Con làm gì cũng phải nghĩ đến sau này và trước kia. Việc trước kia là gì? Là chuyện bà dì cái Nấm. Bà ấy là mẹ Năm của mày. Cái khổ của bà ấy là không có con, và nuôi cái Nấm làm con. Đến như cái lão cường hào già này còn không nỡ cạn tàu ráo máng với bà, còn phải cấp lương cho bà ấy ăn, cấp đất cho bà ấy ở. Cái Nấm và mày, đứng về thế thứ phong kiến, còn có thể là chỗ anh em. Con không được làm thế. Còn phải để cho bố mày, anh mày sống ở làng nữa chứ. Còn phải nghĩ đến các cháu, con các anh các chị mày, phải suốt đời sống ở làng sau này nữa chứ. Ai rõ sau này sẽ ra sao. Ngay cái thằng lý Phượng anh ruột mày đấy, kỳ này nó cũng đang xin từ chức cái chân lý trưởng. Thôi. Nghe thầy. Thả con Nấm ra.

Quản Mật, tuy thế, lại là người tôn trọng bố. Vả chăng mục của hắn chỉ là ra oai thôi. Vì vậy bà Nấm được tha.

Tôi và cái Huệ vội vã đến bốt đón bà Nấm và Căn về. Thực ra bà cũng bị bọn lính đồn tát cho mấy cái song chẳng hề gì.

Huệ vừa đi vừa kể cho Căn nghe chuyện ở nhà sư cụ đến cầu cứu cụ chánh Long ra sao. Căn chả nói gì. Đôi mắt nó vẫn gườm gườm, tuy nhiên nó đã có vẻ thân thiện với tôi hơn. Nó nhìn tôi không bằng cặp mắt hằn học như xưa nữa. Có mấy đứa trẻ chăn trâu làng Đoài biết Căn. Chúng cưỡi trâu ở bờ ruộng và hát véo von:
Ba cô đội gạo lên chùa...

Nghe tiếng hát ấy, giá như ngày trước, thằng Căn đã nổi xung gây đánh lộn, nhưng hôm ấy Căn chỉ lặng im, cúi đầu coi như không nghe thấy gì.

* * * * *

Hôm sau là ngày học. Đến trường, thầy giáo Hải nghỉ dạy, tôi và Huệ đến nhà cũng không thấy thầy, sẩm tối, tôi và Huệ lại đến lần nữa, gặp thầy ngồi buồn thiu ở thềm nhà. Hỏi ra mới biết thầy bị ông Mật gọi lên bốt, bị thẩm vấn suốt ngày. Có lẽ chúng tôi còn bé nên thầy không tâm sự. Thầy chỉ nói một câu:
- Có lẽ thầy không còn dạy học các em nữa đâu.
Về sau, người ta kể lại cuộc thẩm vấn ấy như sau:
Thầy Hải và quản Mật ngày xưa đi học cùng nhau. Ra Hà Nội lại cùng học trường Bưởi. Hai người như mặt trăng, mặt trời. Mật giàu, Hải nghèo. Mật họ Nguyễn, Hải họ Bùi, Mật học dốt và học dở dang, Hải học giỏi và đã đỗ bằng Thành chung. Vừa thấy Hải, Mật liền cười ha hả :
- Chào ông Hải. Quả đất tròn, chúng ta lại gặp nhau, ông có tại sao lại gọi ông lên đồn không?
- Tôi không biết.
- Đơn giản thôi. Tại ông họ Bùi chứ sao? Ông có biết chuyện ngày xưa, anh ruột tôi ông Nguyễn văn Phượng và bác ông là Bùi văn Tập thi chữ ở dinh quan Tuần phủ không. Lần ấy anh tôi thua. Công nhận rằng ông Tập láu cá. Họ Bùi nhà ông vốn thế mà. Song dù thế nào, cuối cùng, họ Nguyễn nhà tôi vẫn thắng.
- Thế ra đây là cuộc trả thù của họ Nguyễn với họ Bùi. Vậy thì công lý ở đâu.
- Công lý cái con mẹ gì? Lý sự cùn. Nghe đây, anh có biết tên Bùi Hữu Trí không?
- Biết. Ông ta là anh họ tôi.
- Bùi Hữu Trí hiện làm gì?
- Làm Phó chủ tịch tỉnh.
- Phó chủ tịch cái con mẹ gì. Nó là Việt Minh đầu sỏ ở làng này. Anh có liên hệ với Bùi Hữu Trí không?
- Không.
- Có thật không?
- Đúng sự thực.
- Đừng có cãi. Tôi biết hắn bố trí anh làm thầy giáo cốt để nằm vùng, để làm tai mắt cho Việt Minh ở làng Sọ.
- Mỗi người một chí hướng, tôi chỉ làm thầy giáo.
- Anh có biết ngài De Lattre de Tassigny là ai không?
- Tôi có biết. Ông ta là một ông tướng hiện đang chỉ huy ở Đông Dương.
- Đúng, biết thế là tốt. Đó là vị tướng tài ba của nước Pháp. Thế anh có biết những diễn văn của ông ấy không?
- Tôi không được đọc.
- Tôi chỉ nói cái diễn văn ở Đà Lạt thôi. Đại loại nó thế này. Chiến sự bây giờ là khốc liệt. Người Việt Nam bây giờ phải dứt khoát chọn một con đường. Hoặc là họ phải chọn người Pháp, đó là chân lý, nếu thế họ phải cộng tác với người Pháp người Pháp đã trả độc lập cho vua Bảo Đại. Hoặc là họ thấy Việt Minh là đúng, thì họ dứt khoát chiến đấu cho phía bên kia. Họ sẽ bị tiêu diệt. Họ sẽ được nếm trải những đòn khốc liệt. Thực ra, tôi không hề có thành kiến gì về dòng họ. Tuy nhiên, anh là em con chú con bác với Bùi Hữu Trí một tên Việt Minh đầu sỏ ở làng này, nên tôi buộc anh phải ra trình diện tại đồn hàng tuần.

* * * * *

Hai chị em tôi nương bóng từ bi, như vậy thấm thoắt đã tròn một năm. Được sống trong no lành, yên ổn, tôi nhớn bồng lên trông thấy. Còn chị tôi cũng vậy, càng ngày chị càng đẹp ra. Đến nỗi, bộ váy áo nâu sồng bạc phếch, cái khăn nâu rách rưới suốt ngày tùm hum trên đầu, cũng không tài nào che đậy nổi cái sắc đẹp lồ lộ của người chị đang lúc dậy thì của tôi. Bà vãi Thầm nói với chị Nguyệt:
- Kìa! Đôi gò má lúc nào cũng hồng lên thế kia, cái cổ kiêu ba ngấn trắng nõn nà thế kia, con mắt thì lóng la lóng lánh... Sao mà trọn đường tu được hở con... Lại còn cái mớ tóc dài đen nhay nháy... Này... ta bảo cho mà biết... Đến cả lũ ma quỷ trong làng cũng phải lòng mày hết cả rồi... Ta đã bảo đừng ra con sông Đào mà giặt váy sống. Ở đấy có lão đánh dậm chết trôi. Nó là đứa háo sắc. Xưa kia, tay đánh dậm lợi dụng mưa gió hiếp một cô gái làng. Nó bị người ta đánh chết rồi vứt xác xuống sông. Chị Nguyệt thở dài :
- Nào con có muốn thế. Năm lần bảy lượt con xin sư cụ cho con xuống tóc nhưng có được đâu.
- Ta nói cho mà biết. Hôm xưa cô đi làm đồng về. Ta thấy con ma nam theo cô về tới cổng chùa. Đến đất Phật, nơi cấm địa đối với loại ma quỷ, nó lùi lại không dám bước tới. Tuy nhiên, nó vẫn say mê cô. Nó bắt bà Thắm, bạn của ta, đêm về báo mộng, bắt ta phải làm bà mối cho nó. Này, ta nói cho mà biết. Mấy năm về trước có cô gái trong làng đã bị con ma nam ấy bắt mất hồn mất vía. Đang đêm, mặt đỏ bừng bừng, thức dậy, một mình ra sông, lội xuống mép nước. May, có vợ chồng nhà thuyền chài trông thấy vớt lên thuyền. Vớt lên thuyền rồi, mà dưới sông vẫn có con cá thật to quẫy ùm ùm đuổi theo thuyền như muốn đòi lại. Đốt lửa lên sưởi, phải một tiếng cô gái mới tinh. Hỏi ra mới biết, đêm ấy cô gái đang ngủ bỗng thấy có bàn tay rất lạnh luồn dưới yếm, đến ngực mình để mà xoa mà nắn. Thế là cô gái mê đi, trong lòng bỗng nóng như lửa đốt. Cởi áo ra, cởi yếm ra vẫn nóng. Tuột cả váy ra vẫn thấy trong mình rừng rực. Thế là chợt nghĩ rằng phải chạy ra sông ngâm mình xuống nước, có như thế lửa lòng mới tắt. Sau này nhà ấy phải làm lễ trừ tà, gả con gái lên miền ngược. Có như thế mới thoát nanh vuốt con quỷ háo sắc trấn ngự dòng sông.

Chị Nguyệt nghe bà cụ Thầm kể chuyện người âm hồn chết khiếp. Chị phải răm rắp nghe lời bà cụ Thầm, tối đến không dám ra khỏi chùa. Buổi chiều, hễ nghe tiếng chuông chùa là vội vã về ngay. Bà cụ Thầm là sứ giả của cả hai cõi, đã nối liền cõi dương với cõi âm. Bà cụ thấy chị Nguyệt cứ héo hon đi vì câu chuyện của mình thì thương lắm. Chả biết cụ làm cách gì để giúp chị tôi. Có thể bà cụ đã đội đơn đi kêu oan với các quan lớn Âm phủ cho chị tôi cũng nên. Để rồi một hôm cụ tươi cười bảo chị Nguyệt rằng :
- Ta nói cho mà biết. Việc của con đã được giải quyết rồi. Từ nay con không phải sợ con ma nam ấy nữa. Đêm hôm qua quan độ sát âm phủ về báo mộng cho ta.
- Ngài nói gì hả cụ?
- Ngài bảo rằng con vốn là vợ của quan độ sát tương lai. Vị quan mới này chưa đến nhưng sắp đến. Ngài có công to trên trần nên được ban kiếm báu tiền trảm hậu tấu. Lũ yêu ma ác quỷ chỉ nghe đến tên bảo kiếm đã run như cầy sấy. Bởi vì bị nó trảm, sẽ bị đọa xuống u tì quốc luôn mười kiếp.
Chị Nguyệt tôi cứ như thế, sống cái thế giới hư hư thực thực của bà cụ già điên điên rồ rồ nhưng cực kỳ tốt bụng. Rồi đến một hôm, bà cụ vô cùng hoan hỉ nói với chị Nguyệt :
- Cõi âm thế mà lễ nghĩa đáo để. Đêm hôm qua, họ mang lễ đến ăn hỏi con. Ba chiếc mâm phủ khăn đỏ. Ta còn nhớ ba chiếc mâm đồng bạch sáng loáng. Những chiếc mâm khác thường. Mỗi mâm có ba cái chân.
Chẳng biết làm sao mà lại trùng hợp đến thế. Đúng ngày hôm ấy, ông trưởng họ Bùi đem sính lễ đến chùa hỏi chị tôi cho thầy giáo Hải.
Thầy tôi, sư cụ Vô Úy, từ ngày đầu xem tướng số cho chị Nguyệt tôi, đã quả quyết rằng nghiệp ở đời của chị tôi còn nặng lắm, chị không thể đi tu được. Vì vậy, sư cụ không cho chị tôi xuống tóc. Các bà vãi trong làng được giao nhiệm vụ mối mai cho chị. Họ cân nhắc mãi, cuối cùng gán chị cho thầy Hải. Thầy Hải muốn cuộc hôn nhân phải đúng phép tắc, chứ không thể lúi xùi luộm thuộm. Ngặt vì một nỗi nhà thầy Hải nghèo, gia đình lại chẳng còn ai, nên cứ lình chình mãi. Cho đến khi ông trưởng họ Bùi ở xóm Đoài phải đứng ra chủ trì mới xong việc ăn hỏi này.

Trong cuộc ăn hỏi này, chị Nguyệt tôi cứ ngây người ra. Khổ! Bà cụ Thầm làm chị tôi lo khiếp vía. Số đâu lại có cái số đen đến thế. Lọt vào mắt ai chả lọt mà lại lọt vào mắt loài ma quỷ. Cũng may, cái lễ ăn hỏi này đã giải tỏa tất cả. Thầy Vô Úy, sư phụ tôi mừng bởi vì người là bậc từ bi. Thầy tôi cho rằng chị tôi không có duyên ở chùa. Nhưng thầy tôi cho rằng chị tôi là người tử tế phúc hậu chẳng may lâm cảnh ngộ, nhà chùa phải hết sức ra tay cứu khổ cứu nạn. Riêng tôi vui mừng, đó là lẽ đương nhiên. Chị tôi mà có gia đình, tức là từ nay tôi cũng có một gia đình, đó là điều tôi khát khao thèm muốn.

Chị Nguyệt chợt như biến đổi khác hẳn. Hôm nay chị tôi không che tùm hum bằng chiếc khăn nâu bạc phếch nữa. Hôm nay chị tôi vấn tóc bằng chiếc khăn nâu non. Tóc chị tôi trên đầu đen nhánh. Gương mặt chị ửng đỏ sáng trưng. Cái hạnh phúc của chị Nguyệt lồ lộ ở khắp con người. Cả bàn tay dâng nước dâng trầu mời khách cũng khác hẳn mọi hôm. Đôi bàn tay chị như thoa son, run rẩy. Ai cũng biết chị tôi là người sướng nhất. Bởi vì hầu như ai cũng biết tình cảm mà thầy Hải, chị Nguyệt đã dành cho nhau. Nói chung không khí của đám ăn hỏi ở nhà tổ hôm ấy thực là hỉ hả. Hỉ hả vì cô dâu và chú rể đều là những người tử tế, đều xứng đôi vừa lứa.

Riêng bà cụ Thầm, cụ cứ sán lại chiếc bàn đặt ba chiếc mâm đồng phủ khăn điều. Chả ai hiểu cụ đang định làm gì. Chỉ thấy cụ nghiêng đầu ngắm nghía ba chiếc mâm đồng. Nghiêng ngó một lát, sau đó cụ kính cẩn vái lạy ba chiếc mâm, rồi sẽ sàng lấy tay chạm vào những chiếc chân quỳ phía dưới mâm. Cụ thủ chỉ họ Bùi gật đầu giải thích.
- Chắc cụ thấy ba chiếc mâm cổ đẹp quá, quý quá phải không? Thưa, đó là ba chiếc mâm gia bảo của họ Bùi. Các cụ tôi ngày xưa làm trong phủ chúa. Ba chiếc mâm này được chúa ban cho dòng họ. Trước khi đặt lễ vật mang đến đây, chúng tôi phải làm lễ thỉnh các cụ cho phép. Giá như là nhà dân thường, thì chúng tôi không dám dùng đâu, nhưng cô Nguyệt là con nhà chùa, con Phật...
Ông cụ thủ chỉ họ Bùi giải thích rất khiêm nhường nhưng có vẻ đắc ý lắm... Còn bà cụ Thầm đã lùi về đứng bên cạnh chị Nguyệt. Bà cụ nói vào tai chị tôi :
- Lạ thật! Lạ thật. Thật là giống ba chiếc mâm trong mộng. Chỉ khác ở chỗ ba cái kia là đồng bạch, sáng choang. Còn ba này là mâm cổ, đen thui như đồng đen.
Chị gái tôi thì bối rối :
- Con lạy mẹ. Đừng nói chuyện mộng mị nữa. Con sợ lắm. Hôm nay là ngày vui mừng của con.
- Ta biết chứ. Ta cũng rất mừng cho con. Chỉ tại cái đầu ta nó cứ ong lên những mộng và mị. Chỉ tại cái mồm ta nó cứ ngứa ngáy ta không kìm giữ nổi.
Mãi sau này tôi mới được nghe câu chuyện giấc mơ của bà cụ Thầm. Sao lại có sự trùng hợp thế nhỉ. Chuyện mộng mi ấy có ý nghĩa gì. Ông Đô Sát trong mộng và thầy giáo Hải có quan hệ gì với nhau? Số phận chị Nguyệt sau này như thế nào? Những câu hỏi cứ hiện ra với tôi mà không có lời giải đáp.
Buổi chiều, chị tôi ra ngồi bờ ao, chẳng biết nghĩ ngợi thế nào, cứ sụt sùi khóc. Bà cụ Thầm hỏi :
- Làm sao mà khóc. Cha tông môn nhà cô. Con gái lớn thì lấy chồng. Vui chứ có gì đâu mà khóc. Sư cụ nhân đức thế đấy. Tất cả đều do cụ sắp đặt, cô mới được như thế. Cụ lo cho cô khác nào lo cho con gái. Phải cười chứ sao lại khóc.
- Mẹ Thầm ơi! Con cứ thấy lo lo thế nào ấy. Không muốn khóc thế mà tự dưng nước mắt cứ chảy ra.
- Hay là tại ta cứ kể chuyện mộng mị vớ vẩn. Nếu thế thì cho ta xin.
- Không phải thế đâu. Mẹ hay kể chuyện cõi âm. Con nghe như chuyện cổ tích. Nó vui vui nhưng con chẳng tin đâu. Chỉ có điều đang vui, con lại chợt nhớ tới u con hồi còn sống, u con bảo rằng...
- U mày nói làm sao?
- Bảo rằng đời người con gái chỉ như hạt mưa sa. Chớ thấy hanh vàng đã tưởng rằng nắng to. Cái vui chưa tan, cái buồn đã tới.
- Cha tông môn nhà cô. Nói gì mà chỉ những lời khó nghe.
- Thì đấy! Đời u con nào có bao giờ biết sung sướng là gì. Còn cả đời mẹ Thầm nữa. Đời mẹ nào khác gì đời u con.

Hai người đàn bà, một già một trẻ, bỗng lái câu chuyện sang sự than thân trách phận. Mà chuyện về nỗi buồn của nguòỉ đàn bà thì kể đến bao giờ cho hết...

Nói gì thì nói, chứ nhìn chung, hôm nay mọi người đều vui. Có lẽ chỉ riêng sư bác Khoan Độ là hơi khác một chút. Chắc chắn sư bác cũng phải hoan hỉ cho hạnh phúc của chị tôi. Tuy nhiên, lúc chiều, tôi lại thoáng bắt gặp Khoan Độ nhìn chị tôi với cặp mắt buồn bã. Tôi nhầm chăng? Đêm hôm ấy sư bác nằm cạnh tôi cứ trằn trọc mãi. Nửa đêm, tôi thấy ông choàng thức giấc. Tỉnh giấc, không thấy ông, tôi rón rén lên chánh điện, thấy ông chắp tay trước ngực, lầm rầm khấn vái. Sư Khoan Độ buồn vì gì? Hay ông linh cảm thấy chuyện gì. Sư Độ cũng như chị em tôi chỉ là những mảnh đời lưu lạc đã được sư cụ giơ bàn tay từ bi nhặt từ cõi trần ai đem về nuôi dạy. Nghe nói sư Khoan Độ là người vùng biển, mỏ than. Khi sư cụ về trụ trì ở đây để nối tổ đăng cho trưởng lão Vô Chấp, người đã mang sư Khoan Độ về theo. Cũng là một kẻ lưu lạc nên tôi hiểu: Kẻ lưu lạc rất nhạy cảm. Họ có thể đánh hơi, cảm thấy tương lai, khi tương lai chưa tới. Cũng có thể vì là kẻ lưu lạc, nên khi nhìn thấy hạnh phúc của người khác, ông có thể chạnh lòng nghĩ về mình chăng. Lạy đức Thế Tôn, con hiểu lòng như thế là không đúng. Tức là chúng con chưa thấu hiểu hai chữ hỉ xả của nhà Phật. Nhưng biết làm sao được, chúng con dù sao cũng chỉ là những kẻ phàm phu, những mảnh ván trôi giạt trong cơn hồng thủy. Cũng có thể sư Khoan Độ còn buồn vì những lẽ khác. Nhưng thôi. Dài dòng mà làm chi. Đạo Phật chẳng nói tất cả đều vô thường hay sao.

* * * * *

Chiều hôm ấy, tôi lại bắt gặp chị Nguyệt ngồi bên bờ ao chùa khóc rưng rức. Chị tôi vừa đến nhà thầy giáo Hải trở về. Tôi hỏi sao chị khóc, chị trả lời :
- Hỏng rồi em ạ.
- Hỏng cái gì?
- Đám cưới. Cái hôm ăn hỏi, chị đã linh cảm thấy. Trong lòng cứ như lửa đốt. Hóa ra cơ sự thế này.

Lạ thật! Sư cụ đã xem ngày kỹ càng rồi. Ngày mười tư tháng sau là ngày tốt. Chỉ còn hơn một tháng nữa thôi. À, cái chuyện quản Mật bắt anh Hải phải hàng tuần lên bốt trình diện, thì cả làng ai cũng biết, chỉ là chuyện ra oai thôi. Bởi vì thầy Hải từ trước tới nay chỉ làm nghề dạy học. Điều này ai cũng biết. Hôm ấy, chị Nguyệt chỉ nói với tôi đến thế, còn sau đó chị không nói gì nưa. Sự thực ra sao, mãi sau này tôi mới rõ. Sự thực là quản Mật không thích những người như thầy Hải.
- Tôi không thể chịu được những kẻ tối theo Việt Minh, ngày theo Tây. Lập lờ, mù mờ. Điều đó làm chúng tôi khó xử. Bắn giết thì kêu oan. Tin cậy thì có lúc họ cắt cổ. Anh ta lại là trí thức, làm thầy người ta mà như thế thì không ổn. Tôi muốn anh ta hoặc là theo hẳn chúng tôi, hoặc là đi với Việt Minh
Chị Nguyệt tôi thì muốn anh Hải ra vùng tự do, ở đây chắc chắn họ chẳng để yên. Họ Bùi thì muốn anh đi với Pháp.
Ông trưởng họ Bùi đưa ra lý lẽ :
- Chú nghĩ xem, họ Bùi ta đang lúc thất thế. Về phía chính phủ ta đã có bác Trí làm Phó chủ tịch tỉnh. Nhưng Việt Minh chỉ có đêm mới về. Họ Bùi hơn trăm suất đinh, lại là người làm nông, phải bám lấy đồng ruộng mới có cái ăn. Đồn trưởng, lý trưởng tất cả trong tay họ Nguyễn. Vậy ai là người che chở cho dân họ Bùi đây. Tôi biết chú không thích làm lính bảo hoàng. Nhưng ở trên bốt huyện tôi có người quen. Họ bảo đang thiếu một chân thông ngôn. Vào hôm trước, hôm sau được phong chức đội ngay. Làm thông ngôn không phải bắn giết ai cả. Tức là mình cũng không có tội với kháng chiến. Mà lại còn có cái lợi rất to che chở được cho cả họ. Chú nghe tôi đi. Cả họ đều muốn như thế.
Và điều ngạc nhiên là thầy Hải không nghe lời chị Nguyệt tôi. Anh không ra vùng tự do để theo kháng chiến. Trái lại, anh đã nghe lời ông trưởng họ Bùi. Sáng ngày mai anh lên P.C. Huyện, làm thông ngôn cho lão đại úy Thằn Lằn. Anh Hải còn năn nỉ chị Nguyệt.
- Em ơi, hãy hiểu cho anh. Hãy tin ở anh. Em hãy cười lên. Anh ở lại, rồi lên bốt, cũng vì em. Tháng sau chúng ta sẽ làm đám cưới.
Chị Nguyệt bảo :
- Nếu anh ra vùng tự do, tôi đi theo anh ngay. Chẳng cần đám cưới gì cả.
- Không được đâu. Em phải tin ở anh.
Từ ngày Tây lập bốt Đình Sọ, làng Sọ Trung chúng tôi đảo lộn, nhớn nhác.
Ngày mười hai, thầy giáo Hải lên bốt huyện làm thông ngôn. Trẻ con trong làng như rắn mất đầu. Sếp bốt Mật bảo với các cụ :
- Nhà nước sẽ cử thầy giáo mới về. Ông Hải đi làm thông ngôn cả làng phải mừng cho ông ấy. Lên bốt huyện thế là thăng quan tiến chức. Phục vụ quốc gia, thế là đi vào con đường quang minh chính đại... Vả lại, ông ấy đâu có bằng cấp dạy học...
Ngày mười lăm, ông Mật lùa dân đến trường học, diễn thuyết về chính nghĩa quốc gia, hô hào thanh niên nhập ngũ, ủng hộ Quốc trưởng Bảo Đại. Ông nói :
- Tội gì ở nhà đi cày. Đi lính đầy đủ cơm ăn áo mặc, mỗi tháng còn được lĩnh năm trăm đồng Đông Dương gửi về nuôi vợ nuôi con. Lên cai, lên đội lập tức lương gấp ba, gấp bốn. Gia đình còn được chính phủ che chở, ưu ái.

Lập tức, làng Đoài có mười hai người, làng Trung có năm người đăng lính.

Ngày mười tám, đang đêm súng nổ đì đùng ở đầu làng. Sáng mới biết đêm qua có đụng độ giữa quân ta và lính bảo hoàng. Không có người chết. Tay Mật rất táo tợn. Hắn là người địa phương, lại thêm bọn bảo hoàng địa phương, cùng với mấy người lính Công giáo gan lì, nên cả gan đem quân phục kích đón bộ đội huyện từ bên kia sông Đào về làng. Mật nói, ở trong vòng kiểm soát của bốt Đình Sọ, Việt Minh đừng hòng làm chủ ban đêm.

Ngày hai mươi nhăm, ba người mặc quần áo nâu bị giết ở trên đê. Bụng bị mổ. Phơi xác cả ngày để dân đi làm đồng trông thấy.

Ngày ba mươi, đang đêm, súng máy nổ ran. Có tiếng nguời kêu cháy. Đứng ở sân chùa nhìn ra xa. Xóm Điếm lửa cháy ngút trời. Lính bảo hoàng đốt hết nhà dân. Trong cuộc đụng độ đêm ấy: Một viên đội bảo hoàng bị chết. Bên ta bị chết hai người. Chặt đầu cắm ở đầu làng. Bắt đi năm người dân lên phòng nhì ở P.C. Huyện, họ bị tra tấn đến khi trả về làng phải phục thuốc vài tháng mới khỏi.

* * * * *

Tôi chỉ tóm tắt sơ lược tình hình làng Sọ trong vòng khoảng nửa tháng. Cuộc giành giật thật quyết liệt. Ngoài đám lính của Mật, P.C. Huyện còn đưa cả bọn lính da đen rạch mặt về giúp Mật. Ở sát địch, nếu quân ta làm căng, sẽ bất lợi, vì giặc cậy số đông sẽ quần đi quần lại cả đêm lẫn ngày. Rồi sẽ có khủng bố trắng. Do đó, quân Việt Minh tạm ngừng thâm nhập, ngừng tấn công, để cho tình hình tạm lắng xuống.

Chính trong những ngày xáo trộn ở làng Sọ ấy, thầy giáo Hải ra đi lên bốt Huyện làm thông ngôn cho Tây Thằn Lằn. Còn thầy giáo mới mà ông Mật hứa vẫn chẳng bao giờ thấy mặt. Lũ học trò chúng tôi, khi ấy, cũng tan tác mỗi đứa mỗi nơi. Nhà giàu cho con ra Hà Nội, lên tỉnh học. Có nhiều nhà lại cho con ra vùng tự do khu Bốn hoặc lên Việt Bắc, trong số đó có thằng Căn, cái Huệ, cái Hoa. Chúng nó đi lúc nào tôi chẳng biết, có lẽ vào ban đêm. Cái Huệ thế mà tệ. Chắc chắn sư thúc Trần, bố nó phải cho nó biết trước. Sao Huệ chẳng nói gì với tôi.

Làng Sọ khi ấy thật buồn tẻ. Chỉ còn mấy đứa con nhà nghèo chẳng thể đi đâu, đành bám lấy làng xóm. Chúng cũng bận bịu tối ngày với việc đồng áng, với lũ trâu bò. Thế là tôi hết bạn. Tôi không đến trường nữa. Sư cụ bắt tôi học ở chùa. Không có thầy giáo thì sư phụ tôi làm thầy giáo. Cụ dạy tôi đủ chữ nho, chữ Việt và cả tính toán. Tôi cứ tưởng sư cụ chỉ biết chữ nho. Nào ngờ thầy tôi tinh thông mọi thứ. Nghe nói thầy tôi còn biết cả tiếng Tây.
Một đêm, tôi đang thiu thiu ngủ, bỗng choàng tỉnh giấc vì tiếng chó sủa ran. Nhìn sang bên cạnh, không thấy sư Khoan Độ. Lại nghe có tiếng rì rầm. Ghé mắt nhìn qua khe vách. Ánh trăng từ ngoài rọi vào. Tôi trông thấy ba bóng người. Hai cái bóng là sư phụ và sư bác. Còn cái bóng thứ ba thì lạ hoắc. Tai tôi rất thính nhưng cũng chẳng nghe được họ bàn bạc gì. Một lúc sau, sư bác vào buồng. Tôi giả vờ ngủ. Sư bác lôi tôi dậy, đưa ra ngoài.
Sư cụ khẽ bảo tôi:
- Con chào sư thúc đi.

Trong ánh trăng nhờ nhờ chiếu qua cánh giại, tôi thấy một người dong dỏng cao, dáng thư sinh. Nhờ luồng sáng trắng chiếu rõ nửa mặt phía trên, nên tôi chỉ thấy được đôi lông mày rất đen, đôi mắt tươi tắn sáng quắc. Sư bác giục :
- Sư thúc Vô Trần đấy. Bố cái Huệ đấy. Sư đệ chào đi nào.
Lúc ấy, tôi mới chợt tỉnh, kính cẩn chào. Sư thúc nói :
- Cái Huệ nhắc tới cháu luôn. Nó bảo cháu rất thông minh học rất nhanh. Sư cụ định cho cháu ra vùng tự do. Ra đó cháu ở với cô Nấm, cái Huệ, thằng Căn...
Tôi chỉ biết ngây người đứng yên. Thầy tôi hiền từ nói :
- Con vào thu xếp quần áo. Đi ngay bây giờ.
Nghe vậy, song tôi vẫn cứ lặng lẽ đứng yên, làm mọi người cảm thấy lạ lùng.
Mãi tôi mới nói :
- Thưa thầy và sư thúc, con muốn mãi mãi được ở bên thầy.
Từ sự lạ lùng chuyển sang ngạc nhiên. Ông Trần bảo tôi:
- Con cần được đi học. Sư cụ cũng bảo con rất sáng dạ. Vả lại, ở làng không ổn đâu. Tới đây, bọn Tây còn siết chặt hơn nữa...
Ông Trần còn định nói thêm để thuyết phục tôi, lúc ấy bỗng có tiếng cú rúc sau chùa. Ông Trần nghe thấy liền ngẩng đầu lên. Chắc đó là ám hiệu. Ông vỗ vai tôi và nói:
- Cháu cứ suy nghĩ cho kỹ...

Lại có tiếng cú rúc lần nữa. Ông Trần vội vàng chào thầy tôi rồi nhanh nhẹn ra phía ngách sau. Sư Khoan Độ đi theo. Tôi cớ tưởng thầy sẽ giận, quở mắng vì tôi không vâng lời. Nhưng thầy chẳng giận mà chỉ nhỏ nhẹ hỏi tôi:
- Ừ, thì cũng được. Con đi cũng tốt, mà ở lại cũng tốt.

Tôi lại vào giường ngủ. Có một loạt súng ở phía sông Đào. Không biết có phải sư thúc Trần đụng phải bọn lính bốt không nhỉ. Sau đó lại thấy yên tĩnh. Chắc không phải. Bởi vì nếu va chạm nhau, tiếng súng đối đầu của hai bên còn kéo dài rất lâu.

Đây là lần đầu tiên tôi gặp ông Trần. Cái Huệ vẫn khoe với tôi về ông. Một con người thực là hiền, thực giỏi giang. Thằng Căn khác em. Nó kiêu hãnh vì bố nó, con người đã làm cho bọn Tây trong vùng sợ hãi; song hình như nó cũng giận ông. Giận vì nó đã bị biến thành cái bia cho người ta “Ba cô đội gạo lên chùa...” câu hát ấy, đối với nó, thật khó nghe. Câu hát ấy như luôn luôn mách nó rằng ngày xưa bố nó là sư. Làm sư thì cũng chẳng sao. Nhưng làm sư rồi lại lấy vợ điều này cũng thật kỳ cục. Nhưng làm sư rồi lại trở thành một ông đại đội trưởng quân đội trong huyện, điều này hình như làm người ta ngạc nhiên. Sư là con người từ bi, thương đến cả con sâu cái kiến, còn đồng chí đại đội trưởng lại phải là con người sắt đá, không nương tay trước quân thù. Cái trái khoáy chính là chỗ này. Sau này lớn lên, tôi mới suy nghĩ trong lòng như vậy, chứ thực ra lúc thời gian ấy, tôi chỉ cảm thấy có sự gờn gợn khi nghĩ về ông Trần. Sư cụ Vô Úy nói với tôi về người sư thúc kỳ lạ ấy. Đó là một con người thông minh tuyệt trần. Học một biết mười. Nhất là có ý chí kiên cường. Mới còn nhỏ xíu, ngửi thấy mùi hương giải thoát của đức Phật đã quyết tâm bỏ nhà đi tu. Rồi khi hiểu được cái nhục nước mất nhà tan lại trở thành một cán bộ Việt Minh. Thầy tôi thở dài:
- Một con người nhiệt tình quá đỗi, một con người lúc nào cũng say mê quá đỗi. Đó là điểm mạnh và cũng là điểm yếu của sư thúc con chăng? Hay là trong thời mạt pháp, con người chỉ là những chiếc lá để gió lốc cuốn đi. Hay là còn chưa đủ nhân duyên cho con người trụ lại, và có quá nhiều nhân duyên kéo con người trôi lăn trong trần thế...
Trong hai người con của ông Trần, hình như tôi thấy ở Căn cái nhiệt tình bốc lửa của người cha, còn ở Huệ lại mang đậm cái phần ấm áp, hiền hậu mà có lẽ những ngày ở chùa đã đem lại cho ông.

Tại sao tôi không đi theo ông Trần đêm ấy. Tôi cũng chịu, không biết nguyên do, có lẽ trực giác đã mách bảo tôi rằng mỗi người có riêng một số phận, và số phận của tôi chẳng giống của ông. Còn những lý do khác? Thế người ta đã quên mất chị Nguyệt tôi rồi sao? Ừ, chắc người ta quên thật. Riêng tôi tôi nghĩ rằng lúc này chính chị Nguyệt tôi là người cần phải đưa đi ngay. Cái hôm chị em tôi mới đến chùa, sư cụ chẳng phải đã xem tướng cho chị em tôi rồi sao. Tôi là người được chọn để ở chùa, còn chị tôi thì không. Chỗ của chị tôi là ở đời. Chị không có duyên với cửa Phật. Chả thế nên chị tôi không được sư cụ cho cắt tóc. Chả thế mà sư phụ tôi lại đem chị gả cho thầy Hải. Hay là vì thầy Hải lên bốt với Tây, nên người ta chẳng thể đem chị tôi ra vùng kháng chiến. Không hiểu sao, riêng tôi, tôi cứ thấy lo lắng; chị nên ra đi mới phải, người đàn bà thời loạn mà. Cũng còn một lý do nữa khiến tôi chẳng muốn đi. Đó là thầy tôi. Có lẽ chẳng có ai hay biết về sức khỏe của thầy tôi đâu, nhất là chuyện cái chân. Tôi thường được thầy gọi vào buồng để bóp cho cái đầu gối bên trái. Có một cái sẹo to dài kéo từ bắp đùi xuống quá đầu gối. Thầy tôi chẳng kể với ai, chỉ có tôi biết chuyện này. Năm xưa, thầy tôi là một nhà sư theo hạnh đầu đà, quanh năm du phương, đi tìm các bậc thiện trí thức học giỏi. Một bận tới một đỉnh núi cheo leo, hình như đó là am Hoa trên dãy Yên Tử. Thầy tôi bị ngã, một bên chân bị thương nặng. Thầy tôi nghe tiếng suối róc rách, nghĩ rằng con người thường ở gần suối nên cứ theo tiếng suối reo mà lần tới. Quả nhiên gặp được nhà ẩn tu già. Ông sư già đã chăm sóc cho thầy mấy tháng ròng đến lúc cái chân lành lặn. Một sớm sư bảo thầy tôi :
- Về đi! Về đi!
Thầy tôi năn nỉ :
- Xin sư phụ rủ lòng từ bi tưới tắm cho con dòng nhũ pháp.
- Con có nghe thấy tiếng gì không?
Thầy tôi lắng nghe mãi mới trả lời.
- Con nghe thấy tiếng suối.
- Con đã hiểu chưa?
- Dạ, thưa sư phụ...
- Về đi! Về đi! Con mãi rong chơi mãi làm gì. - Cụ sư già chỉ nói đến thế rồi nhắm mắt, không nói thêm một câu nào nữa.

Câu nói ấy, rồi vết thương nơi đầu gối ấy cứ đeo đẳng tâm trí sư cụ Vô Úy cho đến tận bây giờ. Có người bảo tôi rằng cụ may mắn lắm mới có những câu hỏi phải bận tâm suốt cả đời người. Câu hỏi thì tôi chưa hiểu, nhưng vết thương nơi đầu gối của thầy thì tôi biết. Nó đã hành hạ thầy tôi rất nhiều, khi trái nắng trở giời. Mà kỳ lạ thật! Lắm khi tôi thấy sư cụ bước đi phải tập tễnh. Nhưng cũng có lúc tôi lại bắt gặp cụ đi đứng rất nhẹ nhõm, nhất là khi sư cụ thiền hành. Lúc ấy bước chân ung dung tự tại... Đi cũng thiền, nằm cũng thiền... nếu sống được giây phút đều thiền, thầy tôi bảo tôi, đó là sống trong đất Phật. Những buổi tối bóp chân cho người, thầy trò tôi vẫn thủ thỉ những chuyện như vậy. Nhờ có vết thương nơi đầu gối ấy, thầy trò tôi càng thêm gần gụi gắn bó với nhau. Mà cũng lạ thật, cái chân đau của thầy không những phụ thuộc vào nắng mưa thời tiết, mà còn phụ thuộc cả vào buồn vui lo lắng. Khi nào nhiều lo nghĩ, cái chân ấy đau nhiều, còn bình thường thì chả sao. Từ dạo làng Sọ xáo trộn, cái đầu gối bên trái lại hành hạ thầy tôi liên tục. Tối nào tôi cũng phải lấy lá náng hơ nóng rồi chườm vào chỗ đau cho thầy. Như tối nay chẳng hạn khi bắt đầu sương xuống, thầy tôi rên lên, bỏ cả buổi tụng kinh. Cái lạnh giữa đông, cộng với chuyện chị Nguyệt thầy Hải cộng với bao chuyện xóm làng đã làm cho vết thương của thầy sưng tấy lên chăng. Thực lòng tôi đã coi thầy như cha, và thầy cũng xem tôi như con. Tôi bỏ thầy ra đi hỏi có được chăng. Ai đã giơ tay cứu vớt chị em tôi vào cái lúc mà chị em tôi tưởng chẳng còn đường sống.


* * * * *

Cụ chánh Long ốm nặng. Rồi lại có tin bệnh cụ chánh đã lui. Thực ra bệnh của cụ chánh chẳng có quan hệ gì với dân, nhưng vì cụ chánh là bố quản Mật, sếp bốt Đình Sọ, mà sếp bốt lại nghĩ ra một mẹo, nên cả vùng quanh bốt bỗng nhộn nhạo hẳn lên.
Một hôm quản Mật nói với ông chánh:
- Thầy năm nay đã bảy mươi nhăm. Mấy năm qua loạn lạc nên con người ta hầu như quên mất tuổi của mình. Riêng con thì vẫn nhớ. Trước đây không có hoàn cảnh, nhưng bây giờ hoàn cảnh đã thuận tiện. Cho nên con quyết định làm lễ khao thượng thọ cho thầy.
- Anh bầy vẽ làm gì. Cứ noi theo gương anh lý Phượng mới phải. Thời loạn cái chết kề bên cái sống, sắc bén phải làm như cùn nhụt. Sáng láng thì phải như ngu độn... Có thế mới bớt nguy hiểm. Người ta muốn giấu đi chả được, đằng này anh lại muốn trương ra. Con ơi, hãy quay về với cái thâm thúy của các cụ ngày xưa.

Ông chánh Long, dù sao cũng là người đã học chữ thánh hiền vả lại hồi đầu cách mạng còn được dân cử làm phó chủ tịch xã nên ông hiểu cái sự phô trương ngông nghênh của Mật như vậy hoàn toàn không có lợi. Mật ngọt ngào với bố.
- Trong làng Sọ này, ngoài sư cụ ra, thầy là người cao tuổi nhất nhì trong xã. Có tuổi cao, không phải ai muốn là được, đó là chuyện trời cho, là phúc đức cha ông để lại. Người ta phải mừng vui, sẽ chẳng có ai đàm tiếu. Đạo làm con buộc con phải làm chuyện này.
Cụ chánh Long chỉ còn biết thở dài. Cụ ốm đã lâu, nay tuy đã đỡ, nhưng vẫn không đi lại được. Quán xuyến việc nhà, bây giờ, nằm trong tay lý Phượng và quản Mật. Hay nói cho đúng, quản Mật là người chi phối hết, vì anh ta vừa có tiền vừa có quyền.

Mục đích việc khao thượng thọ cho bố của quản Mật thực ra hoàn toàn khác. Nó nằm trong một kế hoạch gồm nhiều phần. Mục đích của nó nhằm đề cao uy thế của gia đình nhà Mật, để cuối cùng đuổi Việt Minh ra khỏi các làng chung quanh bốt Sọ. Nếu muốn thế, làng Sọ Trung nơi chôn nhau cắt rốn của hắn, và làng Sọ Đoài nơi vợ chồng hắn ở phải nắm chắc trong tay hắn. Đầu tiên, hắn bắt dân làng Trung làm tờ khai tên họ nhân khẩu trong từng gia đình. Tờ khai ấy được kiểm tra đóng dấu rồi dán ở tường nhà. Kiểm tra thấy thừa thiếu là bắt tội. Thứ hai những nhân khẩu trưởng thành phải có giấy chứng nhận nhân thân. Điều này để kiểm tra những người lạ lọt vào làng. Rồi thứ ba làm lễ khao thượng thọ cho bố, thực chất để nhằm kiểm tra xem ai ủng hộ, ai phản đối mình. Hơn nữa nó còn có cái lợi là ai đến mà chẳng mang quà mừng.

Quản Mật cho lính đi từng nhà. Hắn mời cả làng. Nhà ông chánh Long to như cái đình năm gian thênh thang. Nhà xây theo kiểu nội tư ngoại khách, nghĩa là ngoài hai cái buồng gói hai đầu, ba gian giữa được ngăn theo chiều dọc thành phần trong để thờ, phần ngoài làm nơi tiếp khách. Ba gian khách ấy rộng rãi vì không có cột. Để trấn cột, người ta dùng hai cây xoan to dài hình cong cong như hai con rồng để đỡ mái. Nó giống hai con rồng được trạm trổ rất công phu.

Lễ mừng thượng thọ được tiến hành trong hai ngày. Ngày thứ nhất dành cho khách quý gồm các hào lý của các làng chung quanh bốt Sọ và khách trên huyện, trên tình. Ngày thứ hai dành cho dân làng sở tại. Để bảo vệ cuộc lễ, Tây Thằn Lằn cử một trung đội lính bảo hoàng trên huyện về gác vòng ngoài. Chung quanh nhà cụ chánh thì do hai tiểu đội ở bốt Sọ và những tay chân thân tín canh phòng. Đấy là chưa kể còn mấy nhân viên phòng nhì trà trộn vào để nhận mặt Việt Minh nếu có.

Ngày thứ nhất, khoảng chín giờ sáng, Tây Thằn Lằn đi xe díp về đậu ở đầu làng. Khách đến cổng dinh cơ ông chánh, anh thanh niên ăn mặc xanh đỏ, đầu chít khăn đỏ, đánh một hồi trống báo. Từ cổng vào đến chính đường phải đi theo con đường gạch dài chừng hai trăm mét, hai bên trồng mẫu đơn và tóc tiên. Nghe hồi trống báo, trong nhà đánh một hồi trống con đáp lại, rồi đốt một tràng pháo dài treo trên cây nhãn. Quản Mật và tiểu đội hộ vệ xếp hàng ra chào. Quan sếp bốt P.C đã an vị trên sập gụ rồi mà tiếng pháo còn chưa dứt.
Quản Mật dẫn Tây Thằn Lằn vào phần nội tự thăm hỏi cụ cố. Cụ chánh Long mặc quần áo lụa mỡ gà, đi bít tất trắng, nằm ghiêng trên giường có màn che trướng phủ. Hai cánh trướng được kéo sang hai bên. Ông già râu tóc bạc phơ định cố gắng ngồi lên nhưng quan Tây Thằn Lằn không cho. Đại úy đồn trưởng P.C. nói một câu tiếng Tây thật dài, chắc lời lẽ hoa mỹ lắm. Quản Mật nói được tiếng Pháp nhưng trình độ kém nên nghe lõm bõm. Ông chưa biết xử trí ra sao thì viên chuẩn úy tùy tùng tên là Jacques Rieux đã nói :
- Quan đại úy toi mung tho cu. Mung cu song lau. Xin biêu cu tam gam do.
- Quan định nói gì tôi chưa hiểu.
- Biêu, biêu.
- À biếu, biếu, bẩm quan lớn, tôi đã hiểu.
- Gâm đo, gâm đo.
- Gấm đỏ, biếu gấm đỏ, quan cho gấm đỏ, trời ơi quý hóa quá, xin bội phần đa tạ. Quan biết tiếng Việt Nam, thật quý hóa quá.

Cụ chánh thực sự xúc động. Mặc dù quan Tây không cho phép, nhưng cụ cứ nằng nặc một mực đòi ngồi, rồi chắp tay vái cám ơn. Chỉ đến khi mấy ông Tây ra gian khách ở nhà ngoài cụ mới chịu nằm xuống, thở hổn hển. Chuyện ông Tây tên là Giắc biết nói lơ lớ tiếng ta chỉ mấy tiếng sau đã được đồn ầm làng Sọ.

Sau trưởng đồn P.C tiếp đến là đội Hải. Ông đội thông ngôn này vừa là người làng vừa là cùng hàng hạ sĩ quan với quản Mật nhưng họ kình địch với nhau, nên trống đánh báo hiệu vào trong chỉ là một hồi trống. Không có pháo tiếp đón là sự hiển nhiên. Vả lại quà biếu của ông ta chỉ là chiếc đồng hồ hiệu Nickless giá bình dân nên quản Mật nghĩ bụng một hồi trống chào đón có khi còn quá long trọng. Khi đội Hải ra về tới ngõ, Mật định quẳng chiếc đồng hồ đeo tay đi, song một vệ sĩ thấy vậy, chìa tay ra xin, hắn lập tức cho liền.
Khi đội Hải vào nhà, quản Mật để ý thấy Hải cứ liếc mắt nhìn khắp nơi. Không biết hắn định dò xét cái gì? Quản Mật càng nghĩ càng tức. Hai tháng trước Mật còn gọi anh Hải ra bốt để dậm dọa, đe nẹt - lúc đó hắn là nghi phạm, thế mà đùng một cái hắn lại nhảy vào cùng hàng ngũ với Mật, và đùng một cái hắn nhảy lên hàng hạ sĩ quan, lên chức đội suýt soát với cấp bậc của Mật. Hắn có bằng đíp lôm (thành chung) ư? Bằng cấp ấy là cái quái gì cơ chứ.

Nếu không có đám khách tiếp theo tới, không biết quản Mật sẽ còn bực tức đến tận bao giờ. Đám này được đón tiếp bằng hai hồi trống. Đó là hai thầy trò ông thợ ảnh ngoài phố huyện. Khi thấy mặt họ, quản Mật mới sực nhớ ra, hắn bận bịu chỉ huy đến nỗi quên biến ngay mất chuyện chụp ảnh. Hắn cũng quên cả chuyện ở phố huyện quê nhà cũng đã có hiệu ảnh. Ông thợ ảnh ăn nói bẻo lẻo:
- Thưa quan sếp bốt, máy ảnh của con là máy Kôđắc, có cả ống kính tê lê. Chụp rất nét, rất đẹp ạ. Ở huyện chưa làm được phim màu nhưng nếu cần chúng con có giấy tô màu. Rất đẹp, rất nhã chứ không lòe loẹt...

Người ta khệ nệ mang chiếc ghế bành gỗ gụ ra. Người ta đặt cụ chánh mặc áo dài đỏ lên ghế, rồi xúm lại khiêng cả ghế cả cụ ra trước nhà. Bà Hai, bà Ba, bà Tư, bà Sáu, lý Phượng, quản Mật rồi con, rồi cháu, rồi chắt, hơn ba chục người xếp hàng xúm xít quanh cụ cố.
- Xin mọi người nhìn vào máy, tôi bấm đây này... Tôi bấm một kiểu thứ hai cho chắc ăn...
Đám thợ ảnh làm cho lễ mừng thọ đột nhiên sôi nổi hẳn lên. Họ chỉ dám lấy nửa tiền, nhưng quản Mật vung tay lên trời nói to:
- Nửa là nửa thế nào. Ta giả các anh gấp đôi. Khá lắm! Các anh tháo vát lắm. Làm được cái việc quan trọng mà suýt nữa ta quên mất.

Đám khách thứ tư được đánh ba hồi trống đón tiếp. Đó là đoàn chùa Sọ. Tôi là người đi đầu. Tay tôi hãnh diện giơ cao chiếc trướng màu hồng. Đêm qua sư phụ bắt tôi phải mài mực và nắn nót viết trên đó hai dòng chữ Nôm.

“Rồng rồng, phượng phượng, cha con ngọt ngào.
Sớm sớm, chiều chiều, cháu ông sum họp”.

Chữ của thầy tôi nổi tiếng là đẹp trong vùng. Ai được thầy tôi cho một chữ về đem treo đã thấy là quý. Ông cụ này được thầy tôi tặng cho cả hai dòng chữ. Theo sau tôi là sư bác bưng một hộp chè. Cuối cùng là sư phụ tôi. Hôm nay, chân sư cụ không đau, thầy tôi bước đi rất khoan thai đĩnh đạc. Người trong làng nhìn chúng tôi và bàn tán :
- Rồng tức là Long, tên cụ chánh. Phượng là tên ông lý. Thế còn ông quản, sao không thấy tên.
- Ngọt ngào chẳng phải là Mật ư.
Khi chúng tôi được dẫn vào khu thờ tự, cụ chánh ngồi dậy rưng rưng nước mắt :
- Cám ơn lão huynh đã cho bức trướng. Chả có vật gì quý hơn những dòng chữ này.
- Cụ dạo này đã khá lên nhiều. Thế là điều mừng nhất.
- Cũng là nhờ thuốc của cụ lang Văn. Cụ ấy nói nếu tôi đừng suy nghĩ nhiều nữa thì bệnh mới khỏi hẳn. Song, không suy nghĩ sao được hở cụ. Anh lý Phượng nhà tôi xem ra đã hiểu nhẽ đời. Anh ấy đã xin từ chức lý trưởng. Anh ấy đã biết sợ thời thế... Tôi khổ tâm nhất vì anh quản Mật. Anh ấy cứ dương dương... tự đắc, chẳng lý gì đến cái lẽ thịnh suy chỉ trong gang tấc. Cái họa nó rình rập... nhất là trong thời loạn mà con người đâu có biết...
Nếu không có ông thợ ảnh vào, chắc cụ chánh còn than vãn lâu hơn nữa. Ông quản Mật cứ bắt sư cụ phải chụp chung với cụ chánh một tấm kỷ niệm. Tôi phải cầm cây gậy giơ cao tầm trướng đứng đằng sau hai cụ.

Ngày thứ hai đám khao, cả làng đều có mặt. Ông quản Mật không bắt buộc nhưng chẳng có ai muốn làm phật lòng ông. Nhà nghèo rớt cũng phải tìm cách có được mười đồng Đông Dương, rồi kiếm miếng giấy bao hương đỏ chót gói lại, đem sang nhà cụ chánh. Có ông cai bốt đặt cái bàn to tướng giữa sân, ghi tên rõ ràng từng người. Bảo rằng thế mới rành rọt; Khi nào người dân có việc ma chay cưới xin sẽ mang sang mừng trả nợ. Có đi có lại mới bền chặt - Ông quản Mật nói vậy.

Có lão lý Vạn người làng Hương, cái làng cách bốt chỉ gần cây số. Lão ở trong danh sách các vị hào lý nằm trong vùng cận của bốt Sọ mà quản Mật có đưa giấy mời. Lý Vạn không đến. Lập tức ít lâu sau, lý Vạn bị truất chức. Quản Mật cho rằng muốn cho bốt Đình Sọ được vững vàng thì trong vòng ba cây số tính từ bốt phải được bình định, nghĩa là các hương chức ở các làng quanh bốt phải là người của hắn, và người dân ở làng hắn phải tuyệt đối trung thành với hắn.

Trong hai ngày khao thọ, có thể nói hắn đã hiểu rõ thái độ của các chức dịch và cả của người dân. Nhưng có một điều hắn không ngờ tới là trong đêm giữa ngày thứ nhất và ngày thứ hai có một khẩu hiệu viết chữ to được dán ở cổng trường làng. Nói cho chính xác đó là hai câu vè:

Cha rồng, con phượng ngọt ngào
Cả lò theo giặc, lối nào thoát đây.

Quản Mật lồng lộn khi cầm tờ giấy này. Nghe khẩu khí thì có vẻ của Việt Minh. Nghĩ cho kỹ lại thấy không phải. Bởi vì nếu của Việt Minh, khẩu hiệu sẽ thẳng băng và trực tiếp hơn, ví dụ họ sẽ viết: “Đả đảo tên Việt gian quản Mật” hay “Kiên quyết trừng trị tên chó săn bán nước quản Mật”. Đằng này lại là hai câu vè. Xem chừng chỉ là giọng lưỡi của một thằng đầu bò đầu bướu nào, ăn gan hùm nên đêm đến đã lẻn ra dán tờ giấy. Đúng thế, bởi vì làng này cả đêm lẫn ngày đều có lính gác và lính đi tuần. Thậm chí đêm ấy Mật còn cho lính đi phục kích ngoài đê sông Đào. Việt Minh thừa hiểu làng Sọ Trung đêm ấy là cái bẫy. Chỉ có người nằm ngay trong làng mới có thể thừa lúc sơ hở dán khẩu hiệu này. À... Mà tấm trướng của ông sư già viết cái gì nhỉ? Phải rồi... Thế này...

Rồng rồng, phượng phượng, cha con ngọt ngào.

Còn câu vè thì:

Cha rồng, con phượng ngọt ngào.

Đúng rồi! Hai câu giống nhau, gần như là một. Có thể lắm chứ! Cái này có thể từ chùa mà ra. Thế mà ta chẳng nghĩ ra. Lão huyện đội Vô Trần trước kia chẳng đã tu ở chùa đó sao?
Đó là những suy luận của quản Mật ngay sau khi lễ mừng thọ kết thúc.

Sáng hôm ấy, Mật đem hai tiểu đội lính bảo hoàng đến chùa. Tôi ra mở cổng. Con chó vàng thấy người lạ xồ ra cắn. Tôi quát con chó vẫn không chịu im. Quản Mật tức mình rút súng lục bắn nhưng trượt, con chó vàng chạy biến mất. Quản Mật túm ngực áo tôi quát :
- À! Thằng ranh gớm thật. Mày thả chó cắn để báo hiệu cho trong chùa hả.
Mật nói xong tát tôi hai cái lệch cả mặt.

Cũng may. Sư cụ, thầy tôi, hình như đã biết trước được những sự việc có thể xảy ra, nên đã sai tôi làm đúng như những lời phỏng đoán của quản Mật. Khi thấy toán lính đi vào phía cổng chùa, tôi thả chó ra, rồi lần chần mãi mới ra mở cổng. Mở xong, lại mặc cho chó cắn... Trong khi ấy, thầy bảo sư bác và chị Nguyệt :
- Các con hãy đi thật xa. Bao giờ yên mới được về.
Sư bác và chị tôi ra vườn sau chùa, chui qua trổ tre rồi lẩn trốn trong rừng Cò...
Quản Mật bắt sư cụ ra tra hỏi :
- Tờ khai gia đình đâu? Sao khai bốn người, lại chỉ có hai người.
- Sư bác và cô Nguyệt đi vắng.
- Con Nguyệt đi đâu?
- Cô Nguyệt lên tỉnh. Cô ấy sắp cưới ông đội Hải, phải lên tỉnh sắm sửa.
- Giỏi. Còn thằng sư Độ? Hôm kia nó còn bưng chè cùng cụ đến nhà ông tôi mà.
- Sư bác sang chùa Đà. Hôm nay là ngày giỗ sư tổ bên ấy.
- Cụ giỏi quá. Tôi thật không ngờ. Cụ xem, tôi đối xử với cụ nào có tệ bạc gì. Thậm chí còn rất kính trọng. Cụ sang với cụ tôi, tôi còn mời cụ chụp ảnh. Cụ nỡ lòng nào...
- Ông nói gì tôi không hiểu.
- Bằng chứng rành rành đây này. - Mật đưa tờ giấy có hai câu vè ra cho thầy tôi. Thầy xem kỹ rồi cười.
- Chắc chắn là ông nhầm rồi. Thầy trò tôi trương bức trướng đi từ chùa đến nhà cụ chánh. Cả làng ai chả đọc chả biết. Có thể là trùng hợp. Mấy lại tôi là người viết trướng, lẽ đâu lại dại dột dùng câu trong đó để làm vè.
Lý lẽ của thầy tôi cứng cỏi, xác đáng làm quản Mật không biết bắt bẻ ra sao. Cuối cùng hắn nói một cách hàm hồ :
- Cụ không viết thì sư Độ viết. Sư Độ không viết thì con Nguyệt viết. Ừ, nếu không tại sao chúng nó đi trốn.

Quản Mật không biết đã đánh hơi thấy điều gì. Về sau này tôi mới biết, câu vè chỉ là cái cớ. Thực ra, từ lâu bọn phòng nhì ở P.C. Huyện đã để ý đến chùa Sọ. Họ nghĩ rằng huyện đô trưởng Vô Trần thân với sư Vô Úy, Trần đã làm Việt Minh, thì Úy ắt cũng ngả theo Việt Minh. Vì vậy, hai tiểu đội bảo hoàng khám chùa suốt cả ngày hôm ấy. Chúng gõ khắp các tường để xem có tường hai mề không. Họ khám tượng hộ pháp để xem tượng có rỗng ruột không. Rồi cuối cùng, mỗi tên lính một cái thuốn đi tìm hầm khắp vườn chùa. Khoảng hai giờ chiều, một tên lính xăm bờ ao tìm được một cái hầm hàm ếch. Cửa hầm chìm dưới nước. Quản Mật mừng ra mặt sai lính đào. Nửa tiếng sau, căn hầm bí mật lộ ra. Quản Mật thận trọng hô :
- Chú ý! Kẻo Việt Minh ném lựu đạn.
Hai tiểu đội bảo hoàng nằm rạp xuống đất. Tiếc thay trong hầm chằng có ai. Cái hầm đã bị bỏ từ lâu.
Không có Việt Minh, nhưng tại sao trong chùa lại có hầm. Quản Mật vặn vẹo sư cụ rất lâu. Hắn bảo :
- Đáng lẽ tôi phải tra hỏi cụ ngay tại đây. Song nể mặt cụ là bạn bố tôi, nên tôi không nỡ. Tuy nhiên, xin mời cụ lên phòng nhì ở P.C. Huyện. Cụ hãy sẵn sàng mà khai với họ.
Thầy tôi bị trói giải đi. Thầy ngoái lại bảo tôi :
- Con hãy trông lấy chùa. Nhớ đừng quên đèn nhang sớm tối.


0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 19.02.2017 16:54:39 bởi Ct.Ly>
Phần II – BÃO NỔI CAN QUA 
 
Chương I
 
 
Ngày mới 
 
Sáng hôm ấy, khi mặt trời lên tới đầu ngọn tre, thì có một anh bộ đội quần áo chỉnh tề đến chùa, đầu đội mũ lá bọc vải, bên ngoài lần vải giăng lưới ngụy trang. Nghĩa là một anh bộ đội chính quy hẳn hoi. Từ đầu đến chân anh là một màu xanh lá cây của bộ quân phục mới tinh. Lần đầu tiên, tôi gặp một anh bộ đội như thế. Mới gần đây, bộ đội có về làng. Nhưng vùng tôi là vùng du kích, nên tôi thấy họ mặc toàn quần áo nâu, chẳng khác gì nông dân. Anh bộ đội gặp tôi, bảo:
-  Chào chú tiểu! Cho anh gặp sư cụ với.
Sư cụ và anh bộ đội nói chuyện với nhau ở nhà tổ. Nói những gì, tôi không biết. Khi anh bộ đội ra về, tôi thấy thầy tôi vẻ mặt rất hớn hở. Sau đó, thầy tôi ăn mặc tề chỉnh, lên thượng điện đọc kinh. Trước đó, thầy sai tôi:
-  Con lên gác tam quan gõ chuông.
Tôi ngạc nhiên:
-  Bạch sư cụ, sao lại gõ chuông vào giờ này?
-  Thì con cứ gõ? Chả là hôm nay ngày đại hỉ.
Tôi còn cố hỏi thêm cho rõ:
-  Bạch sư cụ, con phải gõ mấy hồi?
-  À à... Con phải gõ năm hồi... Mà càng lâu càng tốt... Cho tất cả bàn dân thiên hạ, cho cả làng đều biết...
Tôi vẫn chưa hiểu đầu đuôi ra sao, nhưng cứ theo đúng lời sư phụ dạy. Tôi gõ đúng năm hồi chuông thật dõng dạc. Cái vồ treo gõ vào cái núm chuông rất mạnh. Chuông chùa làng tôi là đại hồng chung. Cái chuông đúc từ hồi nhà Lê. Nghe nói hồi ấy họ Bùi có người làm quan to... Lúc đúc chuông, ông quan là người đầu tiên cúng dường đức Phật, đã thả vào vạc nấu đồng một lượng vàng. Trong làng, còn nhiều người khác làm công đức cúng vàng nữa. Thành thử chuông làng tôi nổi tiếng là ngân nga rất xa. Chuông Sọ đánh, cả ba xã lân cận đều nghe thấy tiếng.
Chuông đánh hồi thứ nhất. Dân làm đồng, dừng tay, hỏi nhau:
-  Hôm nay là ngày gì, mà nhà chùa gõ chuông giữa giờ thế nhỉ?
Chuông đánh hồi thứ hai. Họ bảo nhau:
-  Hay là... sư cụ có chuyện gì?
-  Không phải. Chuông vui chứ không phải chuông buồn.
-  Sao bác biết?
-  Chuông chùa làng Sọ thiêng lắm. Các cụ bảo nó biết vui biết buồn. Các ông các bà cứ nghe kỹ thì biết. Hôm nay chuông như hát. Trong tiếng ngân nga có tiếng reo vui.
Chuông đánh hồi thứ ba. Có người nôn nao lòng dạ, bỏ việc đồng áng, chạy vội về làng, về đến nơi, đã thấy các cụ già áo the quần trắng, quạt che đầu, kéo ra chùa. Người ta bảo nhau:
- Hòa bình rồi. Pháp thua rồi. Từ nay không phải đánh nhau nữa. Giặc rút hết rồi. Cả đồn Sọ nhà mình chúng cũng rút sạch cả rồi. Về mà làm lễ kính cáo gia tiên đi. Ăn mừng đi... Nhờ có tổ tiên phù hộ, hôm nay quê ta mới sạch bóng quân thù. Đình làng giặc chiếm làm bốt, hôm nay chưa tu sửa được, nên các cụ phải ra chùa. Chùa cũng như đình, các cụ muốn nhờ chốn linh thiêng để tế cáo trời đất, để tế cáo tổ tiên.
Thì ra, anh bộ đội sáng nay tôi gặp thuộc đơn vị tỉnh đội. Bộ đội về làng mấy hôm nay là để chuẩn bị quét sạch các đồn bốt dọc huyện lộ và cả bốt PC. Huyện. Chưa kịp đánh thì sáng nay có điện của tỉnh về nói đã ký Hiệp định Giơnevơ (Gevève). Quân Pháp sẽ hoàn toàn rút khỏi miền Bắc. Từ nay, cả miền Bắc đã hoàn toàn được giải phóng.
 
Muốn thông báo tin này cho cả làng cùng biết, nhưng đây là vùng tề, chưa có chính quyền cách mạng. Chẳng lẽ lại bắt chính quyền ngụy đi báo. Không được! Giải phóng rồi tức là chính quyền ngụy đã bị giải tán. Nghĩ vậy nên anh chỉ huy mới sáng kiến ra cách vào chùa nhờ sư cụ gióng chuông báo tin cho cả làng. Thế cũng phải! Chuông chùa làng luôn gắn bó với mọi nỗi vui, buồn của làng xóm. Ngày Tết, ngày Hội, chuông chùa làng thường vang lên. Ngày hòa bình lập lại chẳng là ngày hội vui chưa từng có của cả làng hay sao? Sư cụ Vô úy là bậc chân tu. Hòa bình tức là lòng từ bi của đức Phật đã được thực hiện. Sư cụ là người hoan hỉ nhất, cho nên sư cụ cho đánh tận năm hồi chuông, nhiều hơn cả tiếng chuông những ngày đại lễ.
Hôm ấy tòa thượng điện trong chùa đèn nến sáng trưng. Các cụ bảo chùa cũng như đình đều là của làng, nhưng tế cáo thành hoàng làng thì làm trong thượng điện không được. Phải làm lễ vọng ở ngoài sân thôi. Các cụ liền bày hương án ra giữa sân chùa. Rồi vác cả trống cái ra thì thùng cho đến tận khuya.
 
Mấy hôm sau, chính quyền xã được thành lập. Bà Trần cán bộ phụ nữ huyện được trên cử về làm chủ tịch xã. Anh Hà, em anh Hải tản cư lên Tuyên Quang, nay cũng trở về xã làm bí thư chi bộ. Chị Nguyệt của tôi cũng trở về chùa. Bà Trần bảo:
- Sư cụ gả cô cho chú Hải. Nay chú Hải đã hi sinh oanh liệt cho Tổ quốc. Hay là tôi tính thế này. Cô cứ về ở với gia đình tôi. Dần dà để tôi tính, sẽ gây dựng gia đình cho cô. Trước mắt, hay là cô làm phụ nữ xã giúp tôi gây dựng phong trào, ừ, phải đấy, cô đã có một năm công tác ở phụ nữ huyện.
Chị tôi nghe vậy, giãy nảy lên:
- Cháu chịu thôi. Cháu làm cán bộ sao được. Một năm ở huyện, cháu chỉ làm chân thổi cơm. Có biết gì đâu.
- Thì cứ làm. Chúng ta là công nông cả thôi mà. Công nông nào đã được học, nào đã được nắm chính quyền bao giờ. Trong cách mạng, người ta hơn nhau ở cái lập trường mà thôi. Cứ làm, khắc biết.
Bà Trần phân tích thế nào chị tôi cũng không nghe. Bà Trần nhờ sư cụ. Cụ tôi nói, chị tôi cũng chẳng nghe. Chị Nguyệt bảo:
- Bạch sư cụ, sư cụ đã gả con cho anh Hải. Con nghe thầy đã trở về đời tục. Tuy nhiên, con chẳng có duyên với đời. Con nhớ bố con ngày xưa dạy: “Đời người con gái chỉ nên có một lần đò. Đời người ta càng nhiều lần đò càng lắm truân chuyên”. Anh Hải con không may vì nước thiệt thân. Tuy chưa cưới nhau, nhưng con cũng coi như mình đã sang một lần đò. Bạch cụ, con nguyện còn ngày nào sống ở nơi trần thế, con sẽ dành hết cả để ăn chay niệm Phật.
 
Chẳng hiểu thầy tôi đã nhìn thấy tương lai của chị tôi ra sao, mà thầy tôi chỉ thở dài. Sư cụ bằng lòng cho chị tôi ở lại chùa. Chị tôi lại bảo với bà chủ tịch xã:
- Cô ạ. Không hiểu sao, nghe gõ mõ, ngửi mùi hương, con thấy lòng con rất thanh thản. Mấy lại, còn em con nữa chứ. Còn sư cụ nữa chứ. Chị em con chịu ơn sư cụ. ơn ấy thật cao dày. Năm xưa, không có sư cụ dang tay ra cưu mang, chắc chị em con đã chết cả rồi. Con phải ở lại chùa để hầu hạ sư cụ.
 
Chị Nguyệt tôi trở về chùa hỏi thăm bà vãi Thầm nhưng hiện nay chẳng ai biết bà ở đâu. Người ta bảo bà vãi dạo này lẫn lắm rồi. Suốt ngày đêm, bà sống với cõi âm. Khi chị tôi đi lánh nạn, không có người phụ nữ nào ở chùa nên không có người giúp đỡ cụ Thầm. Cô Thì phải đón mẹ về ở với mình. Nhà cô Thì nghèo nhất làng. Chồng cô, anh cò Lẫm là người lưu lạc, quê tận dưới Nam, lên đây lấy cô Thì ở rể. Khi ông cụ Khố chết, anh Lẫm lại vác cái riu ra đồng bắt tôm tép. Cô Thì thấy vậy rớm nước mắt:
- Thầy tôi đã chết rét ngoài đồng. Anh lại định theo nghề thầy tôi hay sao?
- Thì nhà nó thử nghĩ xem. Nhà mình có ba gian nhà rách, bố mình đã dành cả một gian để chứa nào lờ, nào đó, nào ống lươn, nào nơm, nào lưới... Tôi phải cám ơn bố. Gia tài to đấy mình ạ. ít nhất thì mình cũng có miếng ăn.
 
Anh Lấm chẳng khác ông cụ Khố tẹo nào. Suốt ngày đêm quần quật vật lộn với sóng với nước. Chỉ có điều khác: ông cụ Khố chỉ có một mình cô Thì, còn anh Lẫm lại những năm con. Cô Thì là loại mắn đẻ. Mới hơn ba mươi tuổi đã năm mặt con với chồng.
 
Bà cụ Thầm về ở với con gái, nhưng thực ra cả nhà có ai để mắt được tới cụ đâu. Anh Lẫm mải ra sông, ra hồ, đi đến nửa đêm mới về. Cô Thì còn mải làm mướn cho người ta. Tối mịt mới về nhóm lửa. Có năm đứa con: đứa lớn nhất đã choai choai, phải đi ở đợ; đứa thứ hai, thứ ba, khoảng trên mười tuổi đã phải tập nhủi tôm nhủi tép giúp đỡ bố mẹ; hai đứa bé nhất, thằng lên bảy cõng con lên ba, lê la hết ngõ trên xuống ngõ dưới. Thế là chẳng có ai cai quản nữa, cụ vãi Thầm liền bỏ đi lang thang. Người ta chẳng biết cụ sống bằng cách nào. Năm thì mười họa, người ta mới lại thấy mặt cụ ở làng. Hỏi cụ đi đâu về, thì cụ trả lời: “Tôi đi chơi với bà Thắm”, hay “Tôi ở đền cô Chín về”, hoặc “Tôi đi thăm ông lão nhà tôi về”. Hóa ra, bà cụ toàn đi thăm những người ở cõi âm. Chị Nguyệt để ý đi tìm, nhưng không thấy.
Cho tới một đêm, chị tôi đang ngủ bỗng choàng tỉnh dậy. Chị Nguyệt chăm chú lắng nghe, thấy văng vẳng tiếng khóc. Tiếng tỉ tê lúc to, lúc nhỏ, lúc rõ, lúc đứt quãng. Chị tôi bèn ngồi dậy, đi ra hè. Định thần, nghe thật kỹ mới xác định được tiếng khóc ở ngoài chùa, ở bãi tha ma vọng vào.
Chui qua cái trổ tre, chỉ một quãng đường ngắn là tới bãi tha ma, và xa hơn chút nữa là tới rừng Cò. Cũng thấy rợn tóc gáy, nhưng nghe tiếng khóc quen quen, nên chị Nguyệt đánh liều đi ra bãi tha ma. Linh tính báo trước, hơn nữa, đã có lần bà cụ Thầm nói rằng ông cụ Khố được chôn ở đây, nên chị tôi mạnh dạn đi về phía tiếng khóc, lúc này nghe đã rõ mồn một.
Chị tôi quả đoán không sai. Chị đã bắt gặp bà cụ Thầm đang quỳ, đầu gục xuống trước một nấm đất. Bà khóc rấm rứt và lầm bầm trong miệng cái gì không rõ. Khi chị Nguyệt đỡ cụ lên, bà cụ Thầm như bàng hoàng trong mộng:
- Ai đây?... Nguyệt hả?... Nguyệt ơi, cái Thì nó bỏ mẹ rồi... Mẹ đi tìm con bao nhiêu lâu mà không thấy... Mẹ gặp con đom đóm rất to... Nó không xanh lét, mà đỏ đòng đọc... Đom đóm ma đấy!... Nó bảo con chết rồi, song mẹ chẳng tin... Chết thì mẹ biết chứ... Mẹ thường nói chuyện với các vong... Ông Khố nhà mẹ này... Cô Thắm này... Không vong linh nào trông thấy con cả... Tức là con chưa chết. Đêm hôm nay, vong ông Khố dẫn mẹ đi tìm con... Ông ấy bảo thế nào cũng gặp. Thế mà mẹ gặp con thật. - Bà nắn vai, nắn tay chị Nguyệt như để kiểm tra - Thật hả? Thế là con còn sống thật hả?
Chị Nguyệt vội mang bà Thầm về căn nhà lá vườn chùa. Đang đêm cũng đun nước tắm cho cụ. Rồi định giặt giũ bộ quần áo hàng mấy tháng trời không thay. Bộ quần áo cứng như mo nang, bốc mùi như chuột chết. Cuối cùng chị Nguyệt đành đốt nó đi, lấy một bộ thơm tho của mình mặc cho bà cụ. Mừng vì gặp được Nguyệt, lại được tắm táp sạch sẽ, lại được húp bát cháo nóng ấm bụng, bà cụ ngủ ngay khi chui vào cái ổ rơm. Ngủ nhưng vẫn nắm lấy tay chị Nguyệt tôi, như người chết đuối bám vào cái cọc. Trong giấc mơ, cụ vẫn thầm thì: “Nguyệt ơi đừng bỏ ta nhé”.
Sư cụ, thầy tôi, tỏ ra hài lòng vì việc làm của chị tôi. Cụ bảo:
- Ở chùa, chỉ có con làm được việc này thôi. Ráng mà cứu lấy bà cụ.
Cả xã, trong những ngày đầu hòa bình ấy, đều dồn sức vá lành những vết thương chiến tranh còn để lại sâu hoắm trên da thịt làng xã.
Người giàu rủ nhau xuống Hải Phòng, vào Nam. Người ta đồn nhau về những chuyện giảm tô, cải cách, đấu tố ở vùng hậu phương. Cụ chánh Long, một sớm, ra chùa uống trà với thầy tôi. Cụ bảo:
- Bạch sư huynh. Thầy khuyên tôi nên đi hay nên ở? Thằng quản Mật nhà tôi đã bồng bế vợ con xuống Hải Phòng từ một tháng nay. Nó bảo: “Ông phải quyết định cho nhanh. Không thể lưỡng lự. Việt Minh họ không dung tha cho nhà ta đâu. Này nhé: ruộng thì nhiều. Rồi bao nhiêu đời toàn là chánh tổng, lý trưởng. Riêng con lại đi lính cho Tây...”. Tôi hỏi lại nó: “Thế còn ruộng nương? Cả nhà ta bao nhiêu là miệng ăn? Mấy chục đời nay đều sống bằng ruộng đồng. Bỏ làng mà đi, vào trong ấy thì sống bằng gì?”, “Phải bỏ hết, bỏ hết không tiếc! Chần chừ là chết. Con hỏi thầy: mạng sống quý hay ruộng nương quý? Riêng con, thì bắt buộc phải đi thôi. Con nói hết lời. Còn tùy thầy? Thầy không nỡ xa mồ mả ông cha ư? Thầy không nỡ rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn ư? Thầy bịn rịn với tình làng nghĩa xóm ư? Con nói thật, đó là những cái bẫy, chúng thít vào cổ chúng ta lúc nào không biết”. Chính vì nó nói như vậy nên tôi mới phải đến đây xin huynh một lời khuyên.
- Tôi biết nói thế nào với cụ đây. Thực ra chúng sinh chúng ta đang sống trong thời mạt pháp. Chẳng ai có thể biết rõ ngày mai rồi sẽ ra sao. Thế gian đương xao động. Con người đang giãy giụa tìm lối đi
Thực ra, ở dưới gầm trời này, chẳng đâu là không sóng gió. Tôi là người tu hành, chiể biết nẻo đi của Phật. Cụ là người sống giữa trần thế. Những nẻo đường trần thế liên quan đến chính trị, tôi hoàn toàn mù tịch. Thôi thì tùy thời thế, hoàn cảnh. Chỉ xin cụ, dù thế nào, cũng cố giữ bốn chữ từ bi, hỉ, xả.
- Bạch hòa thượng, không biết tôi nghĩ thế này có ổn không. Gia đình anh quản Mật thì đi một nhẽ. Chúng nó đi cả rồi. Còn gia đình anh bá Phượng. Nhà ấy có hai vợ ? Gia đình vợ cả, chúng nó sợ, thì chúng nó đi. Còn gia đình vợ lẽ có ba đứa con còn nhỏ cả. Vả lại, cô con dâu vợ lẽ ấy tính toán, thành phần nhà nó nghèo, bần nông, lại là vợ lẽ, tì thiếp. Loại ấy cách mạng người ta không trừng trị ? Có thể lại còn dựa vào là đằng khác. Cho nên, chúng nó không đi. Cái Hiếu, con gái lớn chị ta, tức là cháu tôi ; nó nói với tôi : ‘‘Ông ơi ! Cháu ở lại với ông, dù khổ sở, sống chết thế nào cháu cũng chịu’’. Con bé mới mười lăm tuổi. Tôi yêu nó lắm. Nghe nó nói tôi mới vững dạ. Tôi quyết định ở lại cụ ạ. Vả lại, năm nay tôi đạ sáu nhăm. Cũng đã được rồi … cụ nhỉ.
Người giàu lo lắng, tính tóan nát nước ra như vậy. Còn người nghèo, họ phập phồng chờ đợi. Nghe đồn rằng : Việt Minh về, thì người càng nghèo càng sung sướng. Có thể nói đó là những con cưng. Việt Minh sẽ chìu chuộng họ, nân đỡ họ Cái ý nghĩ huyền thoại, cái mơ ước ngàn đời ‘‘lấy của nhà giàu chia cho nhà nghèo’’ sắp được thực hiện.
Mang máng đồn đại như vậy. Mơ hồ biết được như vậy. Thực chăng ? Hư chăng ? Lắm lúc ý tưởng ấy như hiện ra mồn một. Rồi có lúc lại thấy hình như không phải vậy. Chả thế mà có ông cán bộ đã giải thích cho một gia đình khá giả:
- Các ông các bà đừng có nghe lời địch tuyên truyền nhảm mà kéo nhau đi Nam. Nơi đó là nơi địa ngục còn nằm trong tay bọn đế quốc sài lang. Độc lập mới là điều quý giá. Cách mạng đem lại lợi ích cho tất cả mọi người, giàu cũng như nghèo.
Câu nói ấy, người làng Sọ ngẫm cũng có lý. Bởi vì họ đã tận mắt chứng kiến những người kháng chiến. Họ là những người tốt, vô tư. Có người hi sinh cả mạng sống vì đuổi Tây. Như anh Hải chẳng hạn. Bóng con thuyền trôi sông, trên đó cắm cái đầu lâu của anh, cả khúc ruột lòng thòng của anh. Hình ảnh ấy, người làng Sọ có bao giờ quên được.
Và chẳng nói đâu xa. Ngay trong phút này, giờ này, hình ảnh của chị Trần tức cô Nấm cũng thuyết phục được mọi người. Đất này là vùng tề cũ. Nơi đây, trong kháng chiến, dù người dân vẫn ra sức làm ăn, nhưng phải nói là sự làm ăn rất khó khăn. Nào Tây tấn công, nào bắt lính, nào vây ráp tập trung, nào bắt bớ cấm đoán. Ấy là chưa kể đến chuyện cái cảnh đồng ruộng bị cấm trồng trọt, bởi vì đấy là vùng gần bốt, vùng quân sự. Ấy là chưa kể đến có lúc lúa chín rũ trên cánh đồng mà không ai được gặt và dám gặt, bởi vì đó là thời gian những cuộc vây càn. Cho nên khi hòa bình lập lại, dân có bao nhiêu người bị đói. Chị Trần phải xắn quần móng lợn đi suốt ngày suốt đêm cứu dân, quyết không để ai chết đói. Xong cứu đói lại đến chống hạn. Cả tháng trời không mưa. Ruộng khô nứt nẻ. Lúa nghẹn đồng. Chị lại phải đi liên hệ, đưa bộ đội về giúp dân tát nước. Rồi động viên thanh niên trong xã cùng ra làm. Đói. Người nào cũng gầy gò, bủng beo, mặt xanh nanh vàng, cầm cai dây gầu mà thở, mà run. Rồi bản thân chị cũng phải trực tiếp tham gia nữa chứ. Nói mồm cho khéo, ai người ta theo...
 
Có lẽ, trong những ngày đầu hòa bình năm 1954 ấy, chỉ có trẻ con là những người vui sướng nhất. Đây là lần đầu tiên chúng được đánh trống, được hát hò, được nhảy múa. Đối với chúng, rõ ràng đó là những ngày hội. .
Đình làng, Tây dùng làm bốt mấy năm qua. Lúc này, các cụ bô lão đang phải góp sức phá bốt, phá hàng rào thép gai, lấp giao thông hào, nhờ bộ đội gỡ mìn, để ngõ hầu trả lại cho ngôi đình dáng vẻ đúng là đình. Công việc còn đang bề bộn, nên mọi chuyện làng xã, đáng lẽ phải được diễn ra ở đình, thì lại phải tiến hành ở chùa.
Khu chùa yên tĩnh bỗng trở nên rộn ràng. Dưới bóng nhưng cây muỗm tán lá xanh rì, rậm rạp, đội thiếu nhi đêm nào cũng múa hát.
Tôi là một chú tiểu. Lẽ dĩ nhiên, tôi không được tham gia hát hò. Đêm nào, tôi cũng ngồi ở tòa thượng điện ghé mắt qua khe cửa, nhìn các bạn đồng học của tôi với thầy giáo Hải trước đây sinh hoạt. Tôi không học hát bao giờ. Tuy nhiên lời những bài hát đều đã in sâu vào trí óc tôi. Dạo ấy, đâu đâu cũng vang lên Chiến thắng Điện Biên, Hò kéo pháo, Kết đoàn, Tình bằng có cái trống cơm.
 
Nhưng câu hát tuy hay nhưng điều hấp dẫn những người dân quê chúng tôi hơn cả là những điệu múa. Nói cho đúng hơn, đó là những điệu múa tập thể. Vừa múa vừa hát. Hát vốn là chuyện thường rồi. Bất cứ ở đâu và lúc nào, đã là con người ai cũng biết hát. Còn múa thì không. Dân quê chúng tôi nghĩ rằng múa khó lắm; múa là những bàn tay dẻo quẹo. Những ngón tay ngọc ngà uốn lượn tạo thành những đường cong mềm mại. Người thường không làm được. Việc ấy chỉ dành cho các cô đào chèo trứ danh năm thì mười họa mới xuất hiện ở sân đình. Đằng này lại là múa, mà ai múa cũng được. Chỉ việc nhón cái chân lên chút xíu rồi dậm khẽ ra phía sau, còn đôi tay thì vẩy sang phía bên kia. Dễ thật! Vui thật! Trò múa ấy kéo tất cả trẻ con làng Sọ tối nào cũng quây quần ở sân chùa, kết thành vòng tròn để tiếng hát vang rung cành lá, để cô cậu nào cũng đổ mồ hôi cùng những tràng cười giòn giã. Múa sạp: “Sòn sòn sòn đô sòn”. Hái chè bắt bướm: “Là là mí mí rê”. Tuy nhiên, người ta hay múa theo những giai điệu từ nước ngoài đem về, hay những điệu mô tả cái thiên đường xa lắc xa lơ. Ví dụ như:
 
Dân Liên Xô vui hát trên đồng hoa  
Đây bao la, muôn sắc bao chan hòa.
 
Hay là...
 
Thắm thiết tình Việt Trung Xô
 Đế quốc càng nhiều mối lo.
 
Cái đế quốc sài lang kia chúng tôi cũng đã biết mặt. Đó là quân Pháp. Pháp mạnh lắm. Bao nhiêu là súng đạn, bao nhiêu là lô cốt. Chúng tôi đã trải cả rồi, nhưng chúng tôi không sợ. Còn đế quốc Mỹ. Có anh bộ đội bảo rằng Mỹ giàu hơn Pháp nhiều, giỏi hơn Pháp nhiều, hiện đại hơn Pháp nhiều... Tuy nhiên, chúng tôi không hề sợ, bởi vì trước mắt chúng tôi là hình ảnh của những thiên đàng:
 
... Dân Liên Xô, vui hát trên đồng hoa...
 
Đêm nào, lũ trẻ chăn trâu ngây thơ của làng Sọ chúng tôi cũng gọi tên xứ thiên đàng ấy. Gọi tên, ao ước, cố gắng biến thành sự thực niềm mơ ước, đó là những ý nghĩ vụng dại, đáng yêu của những người bạn mục đồng của tôi thuở ấy.
 
Còn sư cụ Vô úy, thầy tôi trong những ngày ấy, lại lặng lẽ như một cái bóng. Khác với ngày thầy tôi nằm liệt, dạo ấy thầy tôi chẳng giảng dạy gì cho tôi cả. Thầy tôi tụng kinh nhiều hơn. Tối nào cũng vậy, sau khi lũ trẻ trong làng trở về nhà, thầy tôi lại lên thượng điện tụng kinh. Những khi ấy, tôi ngồi đằng sau, nhắc lại những câu kinh mà thầy tôi tụng niệm. Đọc mãi, nghe tiếng mõ đều đều mãi, cho đến lúc tâm tôi hoàn toàn phẳng lặng.
Thầy tôi bảo: đạo Phật cũng có Niết bàn. Nhưng nó không phải là một xứ xa lắc xa lơ nào đó. Nó nằm ngay trong cõi ta bà, nó nằm ngay trong lòng chúng ta. Niết bàn xuất hiện lúc chúng ta vô tâm nhất, tâm hồn ta bình lặng nhất, và chẳng một gợn thù hận.
Cái Huệ lúc ở hậu phương trở về đã đến thăm tôi ngay. Hôm ấy, tôi đang đun nước trong bếp. Nó lẻn từ vườn chùa đi vào. Nó hỏi thăm chị Nguyệt (chị tôi về làng trước nó). Huệ cứ lúng túng mãi, hai má ửng hồng, rồi mới đưa cho tôi một cái gói. Tôi cười:
- Tưởng quà hậu phương là gì khác. Hóa ra lại là ổi găng ở vườn nhà cậu.
- Cây ổi găng tứ thời nhà mình sai quá. Vừa về tới sân đã ngửi thấy mùi ổi thơm nức. Chả là mình đi vắng không ai hái, ổi chín mõm, chào mào đến ăn, quả rụng đầy gốc.
 
-   Thế anh Căn?
-  Anh Căn đi bộ đội rồi. Chưa đến tuổi nhưng cao lớn nên các chú chỉ huy nhận vào.
 
Nước sôi, Huệ theo tôi lên nhà tổ chào sư cụ. Thầy tôi khen Huệ chóng lớn, rồi hỏi thăm tình hình gia đình sư thúc Vô Trần. Đến tối, sư phụ nói chuyện với sư huynh Khoan Độ ở tràng kỷ. Tôi nghe loáng thoáng nói đến tôi, liền dừng chân nghe lén. Sư Khoan Độ:
-  Dạ thưa thầy, con thấy sư đệ An và em Huệ nay đã lớn cả rồi.
-   Sao cơ?...
-   Dạ, chúng đã lớn. Mà lại thân thiết với nhau quá.
-  Ừ, chúng đã lớn cả rồi - Thầy tôi nói thủng thẳng, giọng rất hiền từ - Nhưng mà, chẳng sao đâu con ạ... Đời người ta, có được một người bạn tốt là quý lắm. Mà sư, thì cũng như mọi người thôi. Cũng cần có bạn chứ sao. Thôi, cũng chẳng nên xét nét. Chẳng hề gì đâu con ạ.
Đêm ấy, lúc đội thiếu nhi đến sân chùa để tập múa hát, Huệ rủ tôi cùng tham gia. Tôi cười:
-  Ai đời chú tiểu lại tham gia thiếu nhi, rồi lại nhảy sòn sòn. Không được đâu Huệ ạ.
Huệ dài giọng ra:
-   Rồi mà xem. Đố cậu trốn đi đâu được.
-   Sao cơ?
Huệ thầm thì:
-   Bố tớ bảo: sư cũng là công dân. Nghĩa là...
-   Nghĩa là sao?
- Nghĩa là... Sư cũng phải... giống như mọi người...
Lúc ấy chúng tôi còn nhỏ quá để có thể hiểu những cơn bão tố... những trận cuồng phong đang từng đợt từng đợt ào ào tràn qua đất nước, tràn qua ngôi làng nhỏ bé của chúng tôi...
 
Trong những ngày ấy, những anh bộ đội, những người lính, là những sứ giả cách mạng ở các làng quê. Hầu như, tất cả những gì mới mẻ của cách mạng đều thông qua họ mà đến với dân quê. Nào chống đói, nào chống hạn, nào chống di cư vào Nam, nào mít tinh, nào phổ biến học tập... tất cả đều có bàn tay của họ tham dự. Ngay cả việc dạy các em thiếu nhi hát múa, như tôi kể ở trên, cũng đều do các anh bộ đội. Tôi còn nhớ, đêm hôm ay, sân chùa bỗng vang lên một bài hát mới, một bài hát lạ. Lời ca ấy như sau:
 
Ta hát múa ta ca
Cố bần ta nắm tay nhau
Là quyết đấu tranh đem lại tự do
Là quyết đấu tranh đem lại lợi quyền
Đời cần lao ấm no sung sướng
 Trung, cố, bần ta vuĩ liên hoan
Là trung, cố, bần ta vui liên hoan.
 
Trước đây, chỉ là xì xào. Còn bây giờ đã rõ ràng. Bài tụng ca về cố nông, bần nông đã bắt đầu vang lên ở làng tôi.

 





0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 21.02.2017 18:47:49 bởi Ct.Ly>
2 
Mặt trời bừng sáng
cánh đồng quê
 
Chị Thì hỏi con trai lớn:
-  Trắm ơi! Thế mày nhất định không đi làm cho cụ trưởng bạ nữa hở con?
-  Vâng. Bây giờ người ta còn bụng dạ nào để nghĩ đến chuyện làm ăn. Ông trưởng bạ đang lo sốt vó lên kia kìa. Mà con cũng chả thiết đi làm thuê cho người ta nữa.
-   Sao thế hả con? Không làm thì lấy gì mà ăn?
-   U chả phải lo. Đổi đời rồi u ạ.
-   Đổi là đổi thế nào?
-  Nghĩa là... trước kia, người ta là ông, mình là thằng. Còn bây giờ ngược lại: người ta lại là thằng, mình lại là ông.
Thằng Trắm chợt cười hí hí. Mẹ nó chẳng hiểu nó cười vì cái gì, bà hỏi:
-   Sao lại cười?
-   Con nghĩ mà buồn cười, u biết tính bà trưởng bạ đấy. Đối với kẻ ăn người ở, hôm nào bà cũng chửi vắt óc lên. Tốt cũng chửi, xấu cũng chửi. Hình như không chửi bà ăn không ngon. Ấy thế mà hôm con xin nghỉ việc bà ấy lại ngọt ngào với con, bà ấy nắm tay con và bảo: “Ta trả công thưởng cho con thêm thúng thóc nữa nhá. Đừng hận bà hay chửi mày. Bao giờ đội cải cách về, mày đừng tố bà, con nhé”.
-  Thế con trả lời ra sao?
- Còn ra sao nửa! Con bảo: “Úi dà! Bà đừng lo. Con coi bà như bà của con. Con biết tính bà hay chửi. Nó quen miệng đi rồi. Thực ra bà chẳng có bụng dạ với ai. Không phải bà cho con thúng thóc mà con nói thế. Bà ơi! Bà cứ yên tâm”. Thế là bà ấy rưng rưng nước mắt u ạ. - Nói xong Trắm lại hì hì.
Chị Thì cũng cười theo con. Lúc này, chị mới chợt nhận ra hôm nay Trắm mặc quần áo mới. Chị Thì có năm con: Thằng Trắm, cái Bống, thằng Rô, cái Mè; thằng út là cu Săn Sắt. Trắm năm nay đã mười bảy tuổi. Chị Thì đẻ nó lúc còn rất trẻ. Năm chị mười lăm tuổi, ông cụ Khố thấy anh Lẫm là người hiền lành, chăm chỉ lại to khỏe, liền ưng ý bắt Thì phải lấy Lẫm. Thì ngúng nguẩy. “Con chịu thôi. Anh ấy to lớn thế kia! Trông xấu lắm”. Lẫm là người hay làm, nhưng đúng là con người thô kệch, lại có máu dê nữa. Còn Thì nhỏ nhắn lẳn chắc, mới choai choai thôi mà đã thắt đáy lưng ong đầy hứa hẹn trở thành một người đàn bà xinh đẹp. Mà cô Thì sợ anh Lẫm cũng phải. Hắn ta vầy vò cô suốt đêm ngày. Nhà thì chật. Hồi đó ông cụ còn sống. Lẫm thích cùng đi làm với vợ ở cánh đồng cạnh rừng Cò. Ở đấy tiện. Lắm đống rơm khô, cỏ khô. Mỗi ngày hắn đè cô ra hai lần, sáng một, chiều một. Làm mãi thành quen. Cô Thì thích ứng kịp với chồng. Lấy nhau chỉ năm tháng, người cô được hơi trai, bỗng nở bung ra, đẹp lồng lộng, ngồn ngộn, hơn hớn. Cái sắc đẹp bừng bừng và lung linh ấy càng kích thích anh Lẫm. Và thế là cô đẻ sòn sòn, đẻ hối hả một mạch năm đứa con. Dạo ấy, lúc nào trông thấy cô cũng chỉ trông thấy cái bụng chửa. Đẻ xong thằng út, là thằng Săn Sắt, cô Thì hai chín tuổi. Và xong cái đợt sinh đẻ liên hồi ấy, đột nhiên cả hai người bỗng teo quắt lại. Người anh Lẫm, nhìn chỉ thấy xương. Người cô Thì, nhìn chỉ thấy đôi gò má cao, đôi mắt sâu hoắm và thân hình như con cá rô đực. Cứ tưởng như cô Thì biến thành đàn ông. Cô bỗng ngừng đẻ đột ngột. Có lẽ đó là phản ứng của cơ thể. Cơ thể phải đực hóa cô đi, vì nếu cứ tiếp tục đẻ nữa, chắc cô Thì sẽ chết. Cũng có thể vì cô lao lực quá, đói khát quá. Chưa đầy ba lăm tuổi, trông cô đã già như người năm mươi. Tóc đã hoa râm. Nhưng bù lại, sự cường tráng của người cha, sức sống viên mãn của người mẹ đã di truyền lại cho đàn con, nhất là cho Trắm. Năm ấy, Trắm mười bảy tuổi mà đã như chàng trai hai mươi. Mặt mũi sáng sủa. Nhanh nhẹn, hoạt bát. Ngực nở như vú đàn bà. Tay như tay vượn, lưng như lưng gấu. Làm việc đồng áng băng băng. Học hành cũng sáng láng. Chỉ đi học lớp bình dân học vụ thôi mà chữ viết đẹp đáo để. Lại thông thạo bốn phép tính. Đã bốn năm đi ở cày thuê cho ông trưởng bạ. Con gái làng Sọ, khối đứa nhấm nháy, nhưng Trắm chỉ thích một cô. Bà mẹ cười và hỏi con:
-        Hôm nay, mặc quần áo mới làm gì? Hay là đi gặp cái Hiếu?
-        Không phải đâu u ạ. Thế u không biết chuyện gì à?
-        Chuyện gì?
-     Sáng hôm nay đội cải cách về. Họ đang họp ngoài đình Sọ. Con gặp bà chủ tịch Trần ôm một tài liệu ra gặp đội. Cả ông bí thư, anh xã đội vũng về. Đội về, giải tán cả Đảng, cả chính quyền cũ mà. Chắc chiều thì các anh đội mới về các xóm thăm nghèo hỏi khỏi.
-   Gớm! Mày nói cứ như mày là cán bộ đội cải cách ấy.
- Đợt này là cải cách đợt ba. Các xã gần mình người ta phát động quần chúng hết rồi. Làm gì mà con chẳng biết. Nghe người ta nói chuyện, rồi con đọc tài liệu. Con biết hết mọi chuyện. Này nhé! Cải cách ruộng đất gồm có bốn bước. Bước một: Tố khổ, quy định thành phần, diệt trừ ác bá. Bước hai: Tịch thu, trưng thu ruộng đất, lên phương án ăn chia. Bước ba: Cắm thẻ nhận ruộng, chia quả thực, xây dựng tổ chức, làm lễ đốt văn tự phong kiến. Bước bốn: Phúc tra, tiêu diệt nốt địa chủ lọt lưới.
-   Thế theo con tính, nhà ta thuộc thành phần gì?
- Cố nông u ạ. Đấy rồi u xem, chỉ một lát nữa thôi, sẽ có anh đội vào nhà ta cho mà xem. Vì thế nên hôm nay con mới ăn mặc chỉnh tề. Con không muốn giả nghèo giả khổ, cứ đến lúc đội về là ăn mặc rách rưới. Việc gì phải thế. Việc gì phải rúm ró đi khi trông thấy anh đội. Nhà mình không một tấc đất. Vậy thì sợ cái gì nào? cố nông thì cũng phải biết đàng hoàng chứ.
 
Quả như lời Trắm nói, khoảng xế chiều, một người đàn ông trạc bốn mươi, ăn mặc quần áo nâu, đội cái mũ lá trùm vải xanh, phủ lưới bên ngoài, lưng đeo ba lô, vai đeo xà cột, xuất hiện trước ngõ, hỏi qua hàng rào cúc tần:
-  Cho tôi hỏi, đây có phải nhà ông Lẫm không ạ?
Chị Thì chạy ra mở cái cổng tre:
-  Nhà cháu ở ngoài đồng chưa về.
Người đàn ông trông quắc thước, dáng người rắn chắc, đôi lông mày rậm, khi nói cứ rướn lên rướn xuống.
- Chị là Thì, vợ ông Lẫm? Còn tôi tên là Khoát muốn đến thăm gia đình.
Thằng Trắm từ trong nhà chạy ra:
- U mời anh ấy vào đi. Anh đội đến thăm nghèo hỏi khổ đấy u ạ. Cháu xin chào anh đội.
- Gọi tôi là Khoát đi cho tiện. À mà sao cậu lại biết tớ là anh đội.
-  Cả làng cháu ai chả biết. Khi các anh tới chợ, người đi chợ về báo cho cả làng. Rồi các anh ra đình. Chủ tịch Trần cắp tài liệu ra bàn giao, cả làng cũng đều biết hết. Ở đây người ta đã nhẩm tính hết cả rồi anh đội ạ. Nhà nào là thằng địa, nhà nào là thằng phú, nhà nào trung nông, bần nông họ đều nghĩ sẵn trong bụng rồi.
Khoát ngồi xuống cái ghế con ở chỗ chái vẩy ra làm bếp. Chị Thì ngồi bệt xuống cái chổi rơm, rót bát nước vối màu hổ phách từ cái ấm đất. Nước vối ủ trấu nóng hôi hổi uống vào thơm thơm, ngọt ngọt. Anh đội Khoát uống vào tỉnh hẳn ra. Lúc ấy anh mới tỉ tê hỏi chuyện.
-  Nhà ta có mấy sào ruộng?
-  Chẳng có một sào nào. Nhưng nhờ bà vãi, u em ở chùa nên sư cụ thương cho cấy rẽ ba sào. Ông chánh cũng cho cấy thêm ba sào nữa. Vị chi là cấy rẽ sáu sào.
-  Thế ăn chia thế nào?
- Ruộng chùa thì mình ăn hai, nhà chùa ăn một. Ruộng ông chánh thì mình ăn một, ông chánh ăn một.
-  Nhà mình mấy nhân khẩu?
-  Dạ bảy: năm đứa con, hai vợ chồng.
-  Bảy cơ à? Thế thì túng bấn lắm nhỉ?
- Được cái trời thương, cả nhà khỏe mạnh cả nên mỗi người mỗi việc. Tôi thì chăm mấy sào ruộng, có con Bống đỡ một tay. Nhà tôi thì cặm cụi đi đánh dậm, nhủi tôm nhủi tép ngoài đồng. Thằng thứ ba là cu Rô đi phụ cho bố nó. Thằng Trắm năm nay cày đã vững rồi nên làm thợ cày cho nhà cụ trưởng bạ. Chỉ còn hai đứa bé nhất: cái Mè, thằng Săn Sắt là ăn không thôi. Đấy, hai đứa đã về kia rồi...
Từ ngoài sân bỗng vẳng lên tiếng ríu rít trẻ con: U ơi! U ơi! Rồi hai đứa trẻ xuất hiện. Một đứa con gái trạc bảy hay tám tuổi, tóc vàng như lông bò, quần đến đầu gối, rách rưới, cõng thằng em lên ba trần truồng như con nhộng. Hai đứa trẻ nhem nhuốc, mặt như mặt hề. Tuy nhiên cả hai đều hồng hào mũm mĩm. Thằng em cầm củ khoai trên tay khoe với mẹ:
-  Bà vãi cho khoai.
- Bà vãi nào? Cô Nguyệt cho chứ. - U ơi!... Hôm nay trông thấy chúng con, bà vãi khóc... Con sợ lắm... Rồi bà vãi lại bế thằng Săn Sắt, vỗ vào mông nó và bảo: “Cha tông môn nhà mày... Đêm qua gặp ông Khố... Cụ bảo bố mẹ mày quên ông rồi... Đã bảo ông thích ăn lươn... Thế mà giỗ ông vừa rồi... Bố mày không cúng lươn... lại đi cúng cá diếc là thứ ông đã ăn đến chán rồi... Có đúng thế không? Hả con cái Mè?... Ừ, ông Khố gọi tên mày đấy... Gọi tên cả thằng Săn Sắt... Ông bảo tối nay ông sẽ về thăm nhà mày... “U ơi! Thế có làm sao không? Con sợ lắm”.
-  Sợ cái gì?
-  Sợ ông về thăm nhà mình.
- Sợ gì. Nhà mình tức nhà của ông cho. Của ông thì lúc nào ông về chả được... Mấy lại ông chết rồi cơ mà.
Chị Thì thở dài, rồi giải thích cho anh đội Khoát hiểu câu chuyện giữa hai mẹ con:
- Bà vãi tức là bà ngoại lũ trẻ. Bà ở chùa nên mọi người gọi là bà vãi. Cụ Khố tức ông ngoại lũ trẻ. Cụ Khố chết rét ngoài đồng, từ đó bà vãi thành ngơ ngẩn. Suốt đêm ngày bà chỉ mơ màng sống với người âm. Cũng nhờ cụ Khố để lại cho cái gia tài toàn lờ, với giỏ, với đó, với lưới nên anh Lẫm nhà tôi mới biết đánh dậm nuôi con.
 
Lúc này, anh đội Khoát mới ngẩng đầu lên nhìn thằng Trắm vẫn đang đứng dựa vào chiếc cột tre bóng loáng để nghe hóng hớt câu chuyện giữa mẹ nó và anh “đội”. Anh hỏi:
- Này cậu Trắm! Có vẻ cậu đã biết chính sách cải cách. Theo cậu, gia đình nhà ta thuộc thành phần gì?
-  Lẽ dĩ nhiên, là cố nông thì anh mới đến bắt rễ.
-  Cậu cứ mạnh dạn phát biểu.
- Chẳng những cố nông mà lại ba đời cố nông. Ông ngoại cháu là cụ Khố, quanh năm chỉ đóng khố bì bõm ngoài đồng. Chưa bao giờ có một mảnh đất, trừ mảnh đất làm lều mà nhà em đang ở. Ông nội em chết đói ở Thái Bình. Bố em lưu lạc đến đây, nối nghiệp ông ngoại em chẳng là cố nông đời thứ hai hay sao. Đến đời em lại tiếp tục đi ở thợ cày cho người ta chẳng là cố nông đời thứ ba hay sao.
Anh đội cười:
-   Cố nông gì mà lại ăn mặc bảnh chọe thế kia?
- Đúng, hôm nay em ăn mặc tươm tất. Anh nên biết dù là cố nông, mỗi năm bố mẹ em cũng vẫn may cho chúng em mỗi đứa một bộ quần áo mới. Còn tại sao em mặc? Xin hỏi anh đội có phải cải cách ruộng đất là đổi đời, là cách mạng long trời lở đất không? Đúng. Người ta bảo nó là ngày hội. Vậy ngày hội có cần ăn mặc tươm tất không?
-   Chịu cậu.
Ông đội Khoát cười. Có thể nói, ông hơi ngạc nhiên, vì người thanh niên này ăn nói rành rẽ, gọn gàng quá. Khoát ngạc nhiên là phải. Trong cuộc họp tổng kết, cấp trên đã nhắc nhở đội phải nêu cao tinh thần cảnh giác. Bởi vì bọn phản động giãy chết sẽ phản ứng giai cấp rất gay gắt. Có thể chúng đã bày sẵn trận địa với thiên la địa võng, chờ những người cán bộ ngờ nghệch rơi vào bẫy. Tuy nhiên, Khoát cũng thấy anh chàng hay hay. Khoát muốn nhân cơ hội, tìm hiểu tình hình xóm Đình thông qua anh chàng này.
-   Theo cậu, ở xóm này những ai là địa chủ.
- Chắc chắn số một là chánh Long. Ông ta có trên một trăm mẫu ruộng. Chỉ riêng vườn cò trồng tre và xoan đã hơn chục mẫu. Nếu ông bá Phượng, con ông chánh không chạy vào Nam, thì cũng là thằng Địa. Ông trưởng bạ Liên nhà năm mẫu ruộng bốn nhân khẩu. Ông này làm nghề nông rất giỏi. Giàu lên là nhờ chăm chỉ, lại là lão nông tri điền. Chính cháu làm thuê cho ông ấy cũng học được nhiều lắm. Tiếng là đi làm thuê, nhưng lắm lúc cháu nghĩ mình là người học trò còn ông ấy là ông thầy.
Đôi lông mày rậm của Khoát chợt rướn lên. Hình như câu trả lời của Trắm không vừa lòng anh. Khoát chuyển sang câu hỏi khác:
- Bà Thêu thì sao? Tôi đi đến đầu xóm thấy có tiếng chửi bới ồn ào. Hỏi ra mới biết bà ấy chửi cạnh chửi khóe chánh Long. Bà ấy hận thù chánh Long ra sao?
Chị Thì nhanh miệng đỡ lời con trai:
- Phải. Hơn một tuần nay bà ấy chửi cạnh khóe chánh Long suốt. Chuyện này thì tôi cũng nghe đồn đại. Chuyện đàn ông đàn bà ấy mà.
- Thế còn chính quyền cũ ở đây ra sao? Bà và cháu có biết gì về chủ tịch Nấm?
Câu hỏi này, Trắm im lặng nhìn mẹ. Chị Thì lại nói:
- Chị Nấm thời tề ngụy làm phụ nữ trên huyện. Chồng là anh Trần đi bộ đội tỉnh. Hòa bình chị Nấm mới về làm chủ tịch xã. Chị ấy suốt ngày xắn quần móng lợn đi làm việc. Cứu đói, chống hạn đều lăn xả vào. Dân làng tôi quý chị ấy lắm.
-  Tích cực à? Vỏ bọc đấy thôi! Chị phải biết chúng nó thâm lắm. Chính quyền của ta đã bị Quốc dân đảng lũng đoạn. Chị có biết gì lão Trần chồng chủ tịch Nấm. Nghe nói trước kia lão là sư?
-     Vâng, trước kia ông Trần là sư chùa làng. Chị Nấm là gái làng. Sau rồi lấy nhau. Bỏ làng ra đi cho đến cách mạng, ta cướp chính quyền mới về.
- Ghê thật! Thấy chưa! Gái quyến rũ sư. Sư giả cầy mà cách mạng của hắn cũng giả cầy. Nghe nói sư cụ chùa làng hiện nay và lão Trần còn là sư huynh sư đệ với nhau phải không?
-  Dạ vâng!
-  Thế thì ghê thật! Lắt léo thật! Thâm hiểm thế đấy!
Nghe anh đội thở ra một loạt câu tán thán, cậu Trắm chẳng hiểu ghê là thế nào? Lắt léo, thâm hiểm là thế nào. Cái thằng Căn đi bộ đội, được học tập, đã viết thư về làng để nói lên cái long trời lở đất của cuộc cách mạng thổ cải, và để động viên người bạn thân của mình mà Căn biết chắc chắn là một cố nông. Căn viết thư cốt để bạn của mình hồ hởi lao vào cuộc cách mạng vĩ đại này, nó sẽ làm thay đổi bộ mặt u ám của làng Sọ. Chính vì nhận được thư của Căn nên hôm nay, để đón tiếp “đội”, Trắm mới mặc bộ quần áo mới. Nghe anh Khoát nói xong, Trắm bỗng buồn hẳn đi. Trắm sẽ không viết thư cho Căn, nhưng nếu viết hắn sẽ nói thế này:
“Căn ơi! Tự nhiên tao bỗng buồn bã không tài nào hiểu được. Hình như mọi chuyện xảy ra sẽ không như mày tưởng đâu. Căn ơi! Tao thấy lo lắng. Lo cho mẹ mày. Cả thầy mày, cả em mày nữa. Trống ngoài đình đang nổi lên đấy. Có cả tiếng loa. Căn ơi! Tối nay xóm mình họp. Nông dân cụng đầu tố khổ”.
*
 
Ngôi đình làng, trước kia giặc Pháp chiếm làm bốt, sau hơn một năm được dân làng tu sửa, nay đình mới trở thành đình gần giống như xưa. Anh Khoát đội cải cách tổ chức cho nông dân xóm Đình họp tố khổ ngay tại đình. Hai chiếc đèn ba dây treo ở tả hữu. Một chiếc đèn chai đặt trên chiếc bàn gỗ nơi anh Đội và Lẫm ngồi. Anh Lẫm đen trùi trũi, người sắt lại rắn như thép, ngồi lêu nghêu giữa đình. Anh như con rái cá, bơi lội, lặn ngụp, rồi đơm tát, rồi chịu đựng nắng mưa thì cả làng chả ai bằng, nhưng cái chuyện điều khiển cuộc họp thì thật kém cỏi. Nói thì ấp úng như ngậm hột thị. Thứ tự thì lộn tùng phèo. Anh Khoát đành phải làm tất cả. Hôm ấy họp xóm đông lắm. Ai được gọi đi là mừng rơn. Kéo cả nhà lũ lĩ đi họp. Người không được mời như chính quyền củ, nhà giàu có, tề ngụy thì ra thở vào than, sốt ruột nghe ngóng. Anh Khoát hùng hồn nói:
- Hôm nay Đảng ta phóng tay phát động quần chúng. Cải cách ruộng đất sẽ đập tan bè lũ địa chủ phong kiến và phản động. Địa chủ sẽ bị đánh gục. Tôi tuyên bố giải tán mọi tổ chức cũ. Cả Đảng lẫn chính quyền, đoàn thể. Từ hôm nay, dân cày nghèo được vùng lên. Đó là người chủ đích thực của nông thôn. Nào những ai có khổ hãy tố khổ. Ai bị bóc lột hãy tố giác bọn bóc lột. Ai có nợ máu hãy đòi nợ máu. Đảng ta phóng tay phát động. Ai có tội, dù ở cấp nào, cũng phải bị vạch tội. Không được bao che. Cắt đứt mọi liên quan với bọn bóc lột, bọn phản động...
Khoát nói rất hùng hồn. Vừa nói vừa chém tay vào không khí. Người dân sáng mắt lên, hớp từng câu nói, như hớp được làn không khí trong lành bổ dưỡng bỗng nhiên từ trời cao rơi xuống.
Sau khi anh Khoát nói, cô Rêu con bà Thêu cho thiếu nhi hát bài “Nông dân là quân chủ lực”. Tiếp theo, cô lại bắt nhịp cho thanh niên nam nữ hát một bài hát rất thịnh hành thời đó. Nghe thấy giọng con gái nhiều hơn. Đó là những tiếng kể lể buồn buồn. Nghe cứ thấy bồn chồn trong dạ. Có lúc, những người hát bị xúc động không hát được. Vừa hát vừa khóc. Những lúc ấy, duy chỉ còn một mình cô Rêu hát. Con họa mi nức nở. Dân làng tôi vẫn gọi Rêu là con họa mi, vì Rêu hát hay nhất làng. Có người còn quá khen, bảo Rêu hát hay nhất huyện. Lời của bài hát ấy như sau:
 
Mặt trời bừng sáng cánh đồng quê. 
Lúa đã về dân cày... 
Sớm nay, nàng bông lúa nặng lòng... lòng bàn tay.
Ngày xưa, khi mùa lúa chín,
Thóc chẳng đủ nộp tô, trang trải nợ nần.
Công sức quanh năm không đủ trả nợ nần.
Giọt nước mắt mồ hôi rơi trên bông lúa,
Ngày xưa, về tay bọn địa chủ
Hôm nay, về tay dân cày
Ơn này nhờ có Đảng, ơn Bác Hồ
Đã cứu giúp cho dân cày nghèo đời ngày một ấm no.
 
Giọng hát đều đều, kể lể, kiểu như một bài thánh ca trong nhà thờ. Nó nghiêm trang chứ không hùng hồn, tuy vậy, nó lay động được hồn người. Bài này do cái Hiếu cháu gái ông chánh Long phổ biến. Nhà ông chánh ở vùng tề, nhưng riêng cái Hiếu lại theo họ ngoại tản cư tận trên Tuyên Quang đem về phổ biến. Cái Hiếu đã học xong lớp bảy, cắt tóc thề. Nó khác hẳn những đứa con gái trong làng. Là con cháu nhà chánh Long địa chủ, nhưng không biết sao hôm nay nó cũng có mặt ở cuộc họp nông dân này. Có người thắc mắc:
- Thưa anh đội, chẳng hiểu có nhầm lẫn gì không, lại thấy có mặt cả con cái thằng địa trong cuộc họp của bần cố trung nông?
Khoát trả lời đanh thép:
- Bà con yên tâm. Ai có mặt ở đây đều do tôi cho gọi. Ai có mặt ở đây đều là những người bị địa chủ áp bức bóc lột.
Cuộc tố khổ bắt đầu. Người tố khổ trước tiên là bà Bệu. Nguyễn Thị Bệu là mẹ của Hiếu, vợ lẽ của bá Phượng tức là lý Phượng, con dâu của chánh Long.
Bà Bệu con nhà nghèo. Thời con gái, bà không đẹp, nhưng là người đàn bà rực rỡ. Cái sức xuân phây phây lúc nào cũng hừng hực tỏ lộ trên con người bà. Mặt tròn vành vạnh, da mượt má màu hoa đào. Thân thể mỡ màng, tươi tắn, lúc nào cũng như sẵn sàng mời gọi. Quanh năm, lúc nào cũng mặc yếm đào. Nhà nghèo nhưng dứt khoát cái yếm phải mỏng manh, tươi thắm. Người con gái quê khác thường muốn kín đáo với bộ vòng ngực, họ thường thít chặt dải yếm hoặc dùng áo cánh cài khuy chặt để bó giò bộ ngực lại. Riêng cô Bệu, cô cứ thích thả lỏng dải yếm và không cài chặt khuy áo để mặc cho bộ ngực được thoải mái núng nính. Chả thế mà lý Phượng phải lòng, chết mệt vì cô. Ông chánh Long thấy cô sinh ra từ nơi nghèo hèn lại phóng túng liền can ngăn. Lý Phượng không nghe quyết lấy làm vợ lẽ cho bằng được. Vợ cả lý Phượng con nhà danh giá, bố làm tiên chỉ. Chị này mỏng mày hay hạt, nhưng càng ngày càng gày yếu sau khi sinh nở bốn đứa con.
 
Lấy được cô Bệu, lý Phượng say sưa với thị đêm ngày, chẳng ngó ngàng gì tới vợ cả. Thế là xảy ra cuộc chiến giành giật người chồng giữa hai người đàn bà. Thị Bệu được chồng yêu, ăn nói văng mạng chẳng kiêng nể gì ai, dám chửi cả tổ tiên nhà bà vợ cả. Ông tiên chỉ gọi lý Phượng đến mắng:
-     Anh là thằng đàn ông, con nhà gia giáo, mà chịu thua đứa con gái lăng loàn đó sao.
Ông chánh Long cũng nghiêm khắc bắt con trai phải trị cho bằng được cái con ngựa cái bất kham đó. Một hôm, ba người em trai người vợ cả đến nhà, bắt thị Bệu phải xin lỗi, phải lạy sống người vợ cả. Bà Bệu cậy đã có hai mặt con với bá Phượng: Con Hiếu, thằng Nghĩa, lại cậy được chồng yêu (cả làng đồn rằng thị đã đánh bùa mê cho chồng), nên đã chẳng lạy thì chớ, lại còn réo nhà ông tiên chỉ lên mà tế. Đúng lúc lý Phượng về. Người chồng tức giận quá liền giơ thẳng cánh tát cho Bệu hộc máu mồm máu mũi. Thị Bệu đau quá mất khôn. Thị nổi cơn tam bành, coi trời bằng vung. Lần nay, thị réo nhà ông chánh lên để chửi. Thị lại kể lể rất tục:
- Mày cậy mày khỏe à... mày giàu sang à... Bà thì dí... vào cái giàu sang nhà mày... Mày có nhớ cái lúc mày úp mặt vào l... bà không. Mày hôn... mày hít... mày liếm... Thế mà bây giờ mày lại giở vũ phu với bà...
 
Chuyện ấy, cả làng chứng kiến. Họ cười um. Chuyện ấy thì làng Sọ hiểu được. Ai chả biết họ nhà ông chánh toàn loại máu dê. Những lúc vui thú trong buồng the vắng vẻ. Lại đang lúc nổi cơn động cỡn, ai chứ lão lý Phượng thì chắc dám làm thế thật. Thời gian ấy, ta vừa cướp chính quyền. Uy thế nhà ông chánh bị sút đi nhiều. Trong khi ấy, anh ruột thị Bệu lại là một nhà cách mạng. Cho nên bá Phượng căm lắm mà không làm gì được. Và ông ta đã đuổi thị Bệu ra khỏi nhà mình. Cụ chánh Long thấy thế không ổn, vì dù sao con Hiếu, thằng Nghĩa vẫn là con cháu họ Nguyễn. Cụ chánh đến nhà nói chuyện với thị Bệu và chia cho thị một mẫu năm sào ruộng để nuôi con. Khi giặc Pháp tấn công đến làng Sọ, thị Bệu liền bỏ làng tản cư lên Tuyên.
 
Bà Bệu rên rỉ kể lại chuyện bà bị cả họ hàng nhà chánh Long đánh đập ra sao.
- Thằng Phượng nó đấm vào mặt làm tôi hộc máu ra. Thằng Cả nhà lão tiên chỉ nắm lấy tóc tôi quăng tôi ngã sóng soài ra đất. Thằng hai bèn đá vào ngực tôi. Lần này tôi hộc ra một vũng máu. Còn mụ Phượng, tôi căm thù nó đến muôn đời muôn kiếp. Các ông các bà có biết nó dã man đến thế nào không? Nó cầm một bát cứt và nhét vào mồm tôi...
-  Đả đảo địa chủ chánh Long.
-  Đả đảo địa chủ lý Phượng.
-  Đả đảo địa chủ cường hào gian ác.
 
Cả ngôi đình rừng rực lên sự căm thù. Bà Bệu tóc xõa rũ rượi. Hầu như bà ngất đi rồi tỉnh lại. Bà lại tiếp tục tố khổ.
- Các ông các bà có thấu không? Còn lão chánh Long nó cũng đểu chẳng kém gì thằng con nó. Nó đến nhà tôi... Nó nói nhân nghĩa, ngon ngọt. Rồi lão còn gạ gẫm tôi. Lão bảo nếu tôi bằng lòng, thì lão sẽ cho tôi ba mẫu chứ không phải mẫu rưỡi...
Cô bé Hiếu ngồi ở chỗ tối nhất trong góc đình. Cô vào chỗ tối để che giấu những giọt nước mắt, dù cô không muốn, vẫn cứ ào ạt tuôn ra. Cô khóc như mưa như gió. Không phải cô khóc vì căm thù mà vì xấu hổ. Con người có vô sỉ đến mức phải trưng ra, tố ra những điều xấu xa, yếu hèn của những người khác, những điều mà đáng lẽ ta nên quên đi. Hiếu chợt thấy thương ông nội. Ông chánh Long đâu phải loại người như mẹ tố cáo. “Mẹ ơi sao mẹ lại vu khống ông. Đã đành là mẹ uất ức. Nhưng ông con là người tử tế”. Khi mẹ con bà Bệu lên Tuyên Quang, hàng năm, ông cụ chánh vẫn thu hoa lợi của một mẫu rưỡi ruộng, rồi chuyển ra vàng, nhờ người gửi ra hậu phương cho mẹ con Hiếu. Có như thế, chị em Hiếu, Nghĩa mới đủ điều kiện đi học. Khi ba mẹ con hồi cư về làng, ông cụ trao trả lại số vàng. Cái Hiếu thường xuyên đến thăm ông. Ông và cháu rất thân với nhau. Khoảng nửa năm gần đây, ông cụ hình như biết số phận của mình. Ông cụ nói với cháu:
- Thầy học của ông là sư cụ đời trước, nay đã viên tịch rồi. Cụ là người đại đức, ông đã cố gắng học theo thầy cả đời. Cụ bảo con người ở đời là phải mang nghiệp. Có lẽ đời ông trước đây có nhiều nghiệp chướng. Cho nên sắp tới mới gặp đại họa.
Cô bé nắm tay ông:
-  Ông ơi! Cháu không bao giờ từ bỏ ông đâu.
Cô bé cũng đủ trí khôn để hiểu cái tai họa to lớn đến chừng nào sắp đè xuống tấm lưng còng và mái tóc bạc của ông mình. Chỉ tức một nỗi: biết mà chẳng làm gì được. Tìm cách né tránh cho ông cũng không được. Gánh vác giúp ông cũng không ai cho gánh. Thậm chí lui tới để an ủi ông cũng bị mẹ ngăn cấm. Bà mẹ nghiến ngẩm con.
- Xót xa máu mủ dòng tộc nhà mày lắm phải không? Tao truyền đời cho mà biết... Cứ đi lại mãi với nhà thằng địa chủ già... đội người ta sẽ lột da mày đấy.
Anh đội Khoát thấy Hiếu khóc liền hỏi:
- Căm thù địa chủ là tốt. Nhưng phải biết biến căm hờn, biến những tiếng khóc thành những hành động cụ thể. Hành động ở đây là gì: là tố cáo cho bằng hết tội ác thằng địa. Nào cô Hiếu, mẹ cô, bà Bệu đã tố xong rồi đấy. Cô có tố bổ sung gì không?
Hiếu lúng búng:
- Cháu còn bé mới lớn lên... Có biết gì đâu ạ.
 
Nói chung, hôm ấy tập trung tố khổ vào chánh Long. Thêm hai người tá điền tố cáo chánh Long lấy roi cặc bò đánh mỗi người hai chục roi. Lưng sưng vù, một tuần lễ phải nằm ngủ sấp.
Người tố thứ hai rất có ấn tượng là bà Thêu.
Trong cải cách ruộng đất, muốn quy một địa chủ cường hào ác bá, cần phải tìm ra bốn tội: bóc lột nông dân, chiếm đoạt ruộng đất, nợ máu, hãm hiếp phụ nữ. Đối với chánh Long, ông ta có đến sáu vợ. Tuy nhiên, nhiều vợ không phải tội ác. Phải hãm hiếp phụ nữ mới là tội tày trời. Khốn nỗi, chánh Long, tuy máu dê, nhưng đối với phụ nữ, ông ta không lèm nhèm. Ông ta không phải là cái loại lớn bùi, bé mềm, bạ ai cũng quan hệ. Ông ta có trăm mẫu ruộng, lại là người có học. Oai phong đường bệ, đi đâu xa thì cưỡi con ngựa hồng, dạo chơi trong làng thì chống cái batoong bằng song bóng nhẫy. Lại là người tài hoa, trên tường phòng khách luôn treo chiếc đàn nguyệt. Người ta bảo ông đánh đàn khá hay, tuy nhiên, trong làng chưa ai được nghe đàn của ông, bởi vì người nhà quê chân lấm tay bùn làm sao có thể là người tri kỷ của ông.
 
Bởi những lẽ kể trên, những người đàn bà của chánh Long đều là những phụ nữ đẹp. Ông toàn lấy vợ thiên hạ, những người đàn bà đẹp nhất ở các làng lân cận. Ông thường than vãn: “Không hiểu giếng nước làng Sọ ra sao, mà làng này không có mỹ nhân”. Và cái thành kiến ấy cứ bám rễ mãi trong trí óc ông. Cho tới một buổi chiều, ông chống ba toong đi dạo mát trong làng. Ông đi qua cái giếng khơi ở giữa làng, thấy một cô gái đang khỏa đám bèo tổ ong, múc nước. Cô gái xắn quần quá đầu gồi. Đầu tiên, ông chỉ ngạc nhiên về cái mầu trắng ngọc ngà nhễ nhại của những khoảng da thịt để hở trên người cô gái. Đến khi cô gái lên bờ, thì cái ngạc nhiên chuyển thành cái sững sờ, bởi vì toàn thân cô gái là một sự cân đối mềm mại. Những bà vợ của ông đẹp thì đẹp thật, nhưng ở mỗi bà, ông đều tìm ra khiếm khuyết. Người thì thô tháp quá, người thì mảnh mai đến mức gầy gò, người thì nước da quá mức hồng hào đem lại cho ông cái cảm giác hừng hực xuân tình một cách lộ liễu, thiếu cái đằm thắm mà e lệ, đó là điều ông thường khao khát. Còn ở người đàn bà này, cái hông tròn lẳn bao nhiêu là hứa hẹn, đôi vú thây lẩy mà lại săn chắc đủ để tạo nên sự mĩ miều từ những đường cong, đôi lông mày cong vừa phải, to vừa phải, xanh mướt sức sống, đôi mắt sáng mà dịu gợi những khao khát đằm thắm, nó hé lộ cái cửa sổ tinh tế chứ không ánh lên cái sắc tựa dao cau. Ông chánh chợt ngộ ngay ra cái định kiến sai lầm của mình. Làng Sọ của ông cũng đã sinh ra một mĩ nhân. Ông là một nhà nho tài tử lỗi thời cho nên ông thích cái đẹp xưa xưa ấy. Mà tên cô ấy lại là Thêu. Cái tên cũng xưa cũng đẹp như là người. Không thể để phí hoài một vưu vật hiếm. Vưu vật ấy phải ở trong tay một người hiểu biết cái giá trị của nó. Người ấy chẳng phải ta thì là ai. Và thế là cô Thêu đã lọt vào con mắt sành sỏi của ông chánh. Nói cách khác, cô Thêu đã được ông chánh chấm. Năm ấy cô mười tám, ông chánh đã ngót nghét sáu mươi. Thêu đã đến tuổi lấy chồng, nhưng một khi ông chánh đã để mắt tới, thì đám thanh niên dù có sừng có mỏ thế nào cũng không dám ho he tán tỉnh. Ông chánh như ông vua con ở làng Sọ. Ông chánh đã dùng thế lực của mình bao vây cô Thêu thật chặt. Ông trưởng họ tán thành, ông chú ruột tán thành. Người ta vẽ ra một tương lai xán lạn cho bà mẹ già mù dở của cô nếu cô chịu lấy ông chánh: nào có cơ ngơi riêng, nào có ruộng nương riêng, nào bà cụ sẽ được phụng dưỡng đầy đủ cho tới khi nhắm mắt xuôi tay. Cuối cùng, bà cụ tặc lưỡi bằng lòng gả cô gái mười tám ấy cho ông lão sáu mươi đã có tới năm vợ.
Cuối cùng cô gái xuân sắc hơ hớ đã phải cưới ông già, dù cô nhịn ăn và khóc suốt hai ngày đến mức đôi mắt sưng vù.
Anh đội Khoát, sau khi đến ở nhà vợ chồng Lẫm, đã bắt rễ sang cả bà Thêu. Gọi là bà, thực ra lúc đó Thêu mới chưa tới ba mươi nhăm, trông vẫn rất đẹp. Nếu ta thật bình tĩnh nhìn nhận, có lẽ lúc ấy Thêu còn đẹp hơn cả thời con gái. Bởi vì Thêu đã có con. Da thịt nở bung ra. Có thể nói ba mươi tuổi, đàn bà mới thực sự là đàn bà, nhất là đàn bà đã sinh con. Đó là thứ quả chín vừa thơm phức, ngọt đậm đà mà những người đàn ông từng trải đánh giá rất cao.
 
Suốt ngày anh Khoát sang nhà bà Thêu cốt cán để bồi dưỡng:
-  Gốc rễ chị là cố nông. Chị lại lấy lẽ thứ sáu. Lẽ thứ sáu tức là một loại người ở không công. Vừa phải hầu hạ xác thịt cho địa chủ. Vừa phải lam lũ ngoài đồng. Chị phải tố cáo là nó đã hiếp chị.
-   Như thế sao được. Cả làng đều biết lão chánh cưới tôi.
-   Thế chị có yêu lão già ấy không?
-   Không.
-   Thế chị có bằng lòng lấy lão ấy không?
-   Không. Tôi khóc suốt ba ngày ròng. Mắt sưng húp híp.
-  Thế thì lão ngủ với chị khác gì lão hiếp. Chỉ khác là hiếp sau khi cưới... Thế thì chị đổi thời gian đi. Tố là lão hiếp chị hôm bà cụ đi ăn giỗ. Lão đến chơi, chị ở nhà một mình. Lão đè chị ra. Chị lạy van mãi mà lão không tha. Chị khóc lão cũng không tha. Lão ấy đã cướp cả đời con gái của chị.
Cái kịch bản Khoát đề ra, Thêu đã chấp nhận. Mà thực ra, lão ta đã hiếp chị thật. Cái hôm động phòng đầu tiên, Thêu cũng lạy van thật:
-  Cháu lạy ông ạ. Cháu xin ông ạ. Cháu sợ lắm. Ông đừng làm gì cháu ạ.
Khi lão hành sự xong, thấy máu chảy ra, Thêu lại khóc ròng rã suốt đêm hôm ấy, không ai dỗ được. Khi ở nhà, khóc còn có mẹ dỗ. Còn bây giờ, khóc chỉ có một mình. Khóc một cách cô đơn, oan uổng.
Đúng như anh đội nói, chị đã bị phí cả một đời con gái. Nghĩ như vậy, nên chị thấy mình tố lão chánh không phải là tố điêu.
 
Cả một đời con gái bị phí hoài. Cứ nghĩ đến câu nói đó của anh Khoát, Thêu lại bừng bừng lửa giận. Và sự căm thù nổi lên. Căm thù ở chỗ, sau khi Thêu sinh ra con Rêu, chánh Long đã bỏ rơi mẹ con chị. Tiếng là có chồng cũng như không. Bỏ rơi mà lại giam giữ nữa chứ. Bởi vì tuy không bị chồng bỏ hẳn nhưng mà bị chồng bỏ lửng, không đoái hoài đến nữa, và cũng không giải phóng. Thêu chẳng được cùng ai. Mà cũng chẳng ai dám cùng với người đàn bà ấy nữa.
Nỗi giận dữ đã lên tới cùng cực. Nó biến thành sự hận thù. Thêu như người lên đồng. Càng múa, càng hú hét, càng nghe đàn sáo, càng ngửi thấy hương trầm, nỗi hận thù càng lên chót vót. Hôm ấy, chị Thêu vừa tố vừa khóc. Đôi mắt chị đẹp là thế, tối hôm ấy bỗng long lên sòng sọc, sắc như con dao cau. Chị kể lể, chị nghiến răng kèn kẹt, rồi chị lăn ra bất tỉnh, sùi bọt mép. Toàn thể ngôi đình cùng khóc. Toàn thể ngôi đình cùng nức nở hô to:
 
Đả đảo địa chủ ác bá chánh Long 
 Nợ máu phải trả bằng máu. 
 
Thực ra, sau khi Thêu đẻ con Rêu, bị chánh Long bỏ rơi cũng là có lý do.
Bọn trương tuần, lúc Thêu đang có mang một đêm đi canh đồng, họ bỗng thấy một bóng đen từ phía nhà riêng của chị xuất hiện rồi chạy về phía sông Đào. Họ quát, bóng đen vẫn chạy. Họ thổi tù và tí u vang trời, bóng đen vẫn chạy. Mờ mờ tỏ tỏ. Lúc rõ lúc mất. Bóng đen chạy đến bờ sông, liền ùm một tiếng rõ to. Đám tuần phiên đến bờ sông tìm. Song hoàn toàn không thấy tung tích. Họ bàn tán:
-  Tôi trông thấy hắn từ cái trổ tre nhà cô Thêu chui ra.
-  Có đúng không, chả oan người ta.
-  Tôi trông thấy rõ ràng mà.
- Cách mấy đêm trước, tôi qua nhà cô Thêu, nghe thấy tiếng đàn ông. Sau đó tắt đèn và im bặt.
-  Chẳng lẽ...
 
Thế rồi một đồn mười, mười đồn trăm. Cuối cùng thành câu chuyện cô Thêu chứa trai trong nhà. Câu chuyện ấy vào tai bọn trai tơ trong làng, lại càng thêm mắm thêm muối rất ly kỳ. Người ta đồn rằng, trước khi lấy ông chánh cô Thêu đã phải lòng một anh đánh dậm to khỏe người đen như cái cột nhà cháy. Họ đã ăn nằm với nhau nhiều lần. Khéo không chừng cái thai trong bụng cô Thêu không phải là của ông chánh...
Bọn trai làng tưởng tượng thêu dệt chẳng qua do lòng đố kỵ. Họ muốn trả thù ông chánh, nhưng không ngờ đòn ấy lại đập vào cô Thêu.
 
Giá như tình cảnh ấy xảy ra khi ông chánh và cô Thêu đang trong tình trạng mặn mà thì chẳng sao. Đằng này nó xảy ra đúng lúc ông chánh đang mắc bệnh trọng. Cái thứ bệnh đàn ông rất xấu hổ khi bị mắc. Ông chánh bị liệt dương, đang uống thuốc của ông lang Khoái. Bệnh ấy, người nhiều vợ như ông chánh mắc cũng dễ hiểu. Lang Khoái bảo:
- Bệnh như ông với thuốc của tôi, mười người chữa khỏi đến sáu, bảy. Không biết với ông có ăn thua gì không?
-  Cũng tàm tạm, lúc được lúc không.
Ông Khoái muốn cụ thể, nên hỏi bỗ bã:
-  Thế có chui được vào người ta không?
Ông chánh già đỏ mặt.
-  Có lúc chui được.
-  Thế có sung sướng như bình thường không?
-  Có - Ông chánh cười hà hà.
- Thế thì tốt rồi. Nhưng tôi phải nhắc ông câu này nhé. Năm bà đầu, họ đủ rồi. Xin ông cai hẳn. Chỉ dành riêng cho bà sau thôi. Và nhớ lấy câu này:
Nhất nguyệt đáo nhất nhật 
 Lương y hất đáo gia.
Ông chánh đã theo đúng lời thầy thuốc. Không ngờ bây giờ lại xảy ra chuyện thế này. Ông chánh nửa tin, nửa ngờ liền tra hỏi cô Thêu. Cô Thêu chối, cho là chuyện bịa đặt. Nhưng chẳng hiểu tại sao, từ bấy khi gặp cô, ông không tài nào làm chuyện ân ái được nữa. Lẽ nào cái của ấy cũng biết bất mãn, nghi ngờ hay sao. Mà nó đã nghi ngờ là có cái lý của nó... Lý lẽ ấy làm ông chánh dần lánh xa cô Thêu. Khi Rêu ra đời, ông chánh rất khổ tâm, vì không biết có phải con mình hay không. Ông chánh hỏi ông Khoái. Ông Khoái trả lời:
- Tôi hỏi ông cái lần ấy có sung sướng không? Ông bảo có. Như vậy, có thể nói thuốc của tôi đã thành công. Và chắc chắn ông có thể có con với cô Thêu. Vì ông đã thực sự đi lại với cô ấy rồi. Bây giờ giả sử trường hợp xấu, thì ít nhất năm mươi phần trăm con bé vẫn là con của ông. Nếu ông bỏ nó và nó là con người khác, chuyện ấy đi một nhẽ. Nhưng nếu lại rơi vào chỗ phần trăm đúng là con ông thì sao? Nếu thế ông sẽ mang tội suốt đời. Vả lại, tin tôi đi, con bé Rêu sao mà xinh thế, sao mà thông minh thế. Chẳng lẽ một thằng đánh dậm khố rách áo ôm lại đúc ra nổi một đứa bé như thế sao. Phải là người sang, phải là bậc tài hoa, mới có con cái như thế.
 
Nghe ông lang nói, ông chánh vẫn nhận Rêu là con. Nhưng trong đáy lòng, ông cứ lo mình chỉ là bố hờ. Bậc tài hoa sợ nhất sự phản bội. Mà khi kẻ phản bội là mỹ nhân, thì kẻ tài tử lại càng đau đớn khôn xiết. Chính vì lẽ đó, ông đã lặng lẽ rời xa, ít khi lui tới nhà bà Thêu. Người đàn bà hừng hực xuân thì đã bị bỏ quên.
*
 
Khoát nghĩ: Như vậy lão chánh Long đã rõ rành rành mắc ba tội bóc lột, chiếm đoạt và hãm hiếp. Chỉ còn cần một tội thứ tư tức là nợ máu, thì có thể đưa lão ta lên hàng ác bá, một thứ địa chủ tội to nhất, thứ tội mà trời không dung đất không tha. Muốn thế, ta ghép tội hắn vào chuyện giết cán bộ kháng chiến, ví dụ như giết anh Hải chẳng hạn. Anh Hải bị giặc chặt đầu, mổ bụng moi ruột, lại cắm đầu trên thuyền trôi sông. Một con người hi sinh như thế, anh hùng như thế, nên được cả làng cả xã, cả huyện kính phục, thương tiếc. Nếu hắn mắc tội ấy thì lòng căm phẫn của nhân dân chắc hẳn sôi sùng sục... Và tội ấy chắc hẳn là tội chết.
Mới đầu ý nghĩa đó chỉ manh nha, nghi nghi hoặc hoặc. Sau đó, Khoát theo hướng đó đi tìm chứng cứ. Có hai người gia nhân nhà chánh Long nói:
- Hàng tối ba cha con lão ta gồm chánh Long, bá Phượng và quản Mật thường ngồi với nhau bàn chuyện. Có khi liền vài tiếng đồng hồ...
Hỏi:
-  Bàn chuyện gì?
-  Em làm sao biết được.
Anh đội:
-  Sao lại không biết chuyện gì. Này nhé lão chánh là tay cường hào già đời. Lão bá Phượng là lý trưởng. Quản Mật là phó đồn Sọ. Còn bàn chuyện gì nữa. Bàn chuyện bóp nặn dân, bàn chuyện phá kháng chiến. Tên cường hào già truyền kinh nghiệm cho cường hào trẻ. Thế nào, bây giờ đồng chí đã hiểu chưa?
-  Dạ, em đã hiểu.
-  Hiểu thì nói đi.
-  Dạ, một buổi tối, em phải đun nước cho họ pha trà. Em đem nước sôi lên, họ không để ý. Bất chợt em nghe thấy ba cha con họ bàn. Họ nói có gián điệp Tây ngoài hậu phương báo rằng anh Hải là Việt Minh hoạt động trong bốt Tây. Lão chánh bảo cần trừ khử ngay nếu không sẽ nguy hiểm.
-  Thế, ngoài hai đứa con, lão chánh còn bàn với ai nữa?
-  Dạ, lão chánh hay ra chùa uống trà với sư cụ.
-  Sư cụ gì. Lão ấy là sư hổ mang. Anh có nghe thấy tổ chức phản động liên tôn chống cộng không?
-  Dạ, em không biết.
-  Thế này nhé. Bọn tề ngụy nợ máu cấu kết với bọn tôn giáo phản động, và với bọn Việt Nam Quốc dân đảng đội lốt cán bộ để phá hoại cách mạng.
-  Thế là em đã rõ. Bọn chánh Long cấu kết với lão sư. Lão sư Vô Úy cấu kết với lão Trần, cán bộ huyện, xưa kia cũng là sư.
- Nhưng ngoài lão sư già, bên dưới còn phải có bộ hạ chứ. Thử hỏi ai làm liên lạc giữa họ?
-  Dạ, sư bác Độ. Tay này ghê lắm.
- Vớ vẩn! Anh ta giết Tây lùn Bernard. Anh ta giết Tây rõ ràng ai cũng biết. Bảo anh ta chống kháng chiến ai người ta tin.
-  Hay là cô Nguyệt.
- Vớ vẩn nốt. Cô ấy tuy chưa cưới anh Hải, nhưng cả làng này ai cũng coi cô ấy như là vợ liệt sĩ.
-  À, còn thằng sư con, chú tiểu An.
- Ừ, thằng sư con. Bé tí đã đi tu. Tiêm nhiễm tư tưởng mê tín phản động từ lúc nhỏ. Thằng này tội không nặng nhưng cũng cần phải cải tạo. Nó là liên lạc phản động.
 
Thế là, chỉ một buổi tối bồi dưỡng cốt cán, Khoát đã tính toán xong phải giết ai, phải bắt ai, phải cải tạo những ai.
Bây giờ Khoát đã là ông trời con ở cái làng Sọ này rồi. Anh đi trong làng, luôn giữ vẻ mặt nghiêm nghị. Đối với các gia đình rễ, chuỗi thì anh ban cho họ một nụ cười. Còn đối với các gia đình trung nông cứng hoặc phú nông, thì họ len lét sợ sệt và chào anh rất cung kính, nhưng anh không cười mà chỉ cho họ một gương mặt lạnh tanh và cái gật đầu khẽ.
*
* *
Thằng Trắm, chú tiểu An, cái Hiếu, cái Rêu, cái Huệ là những người bạn thân. Chúng là lũ trẻ choai choai mười bốn đến mười bảy tuổi. Thằng Trắm thích cái Hiếu. Trắm mười bảy, Hiếu mười lăm. Trắm gấu lắm. Có tối đi học hát về, nhân lúc tối trời và vắng vẻ chỉ có hai đứa, Trắm liền ôm chầm lấy Hiếu. Hai cánh tay rắn chắc như hai gọng kìm làm Hiếu giãy giụa mãi mới thoát. Nó đấm thùm thụp vào lưng Trắm.
-  Đồ bậy bạ! Tớ đánh chết đấy.
Đứa này nghèo rớt mùng tơi. Đứa kia, dù thế nào, cũng sinh ra từ một gia đình giàu có. Giá như xưa kia, vào thời Pháp, chắc Trắm không dám thế. Nhưng bây giờ, tình hình làng xóm đã khác đi nhiều lắm rồi. Là đàn bà con gái, nên khi Trắm vồ lấy mình, giới tính bắt buộc Hiếu phải giãy giụa chống cự vùng thoát ra thôi. Chứ thực bụng, cô gái cứ muốn trong vòng tay vững chắc của Trắm mãi. Ít lâu nay, tình hình gia đình làm Hiếu buồn khổ bối rối vô cùng. Trước kia ở cùng với ông bác ngoại, một cán bộ trung ương, nên Hiếu cũng hiểu rõ thế nào là phát động giảm tô, là cải cách ruộng đất, là đấu tố. Hiếu vô cùng thương xót cho người ông già nua; đội chưa về đã run rẩy, đã cam chịu, đã sợ hãi. Sợ hãi mẹ của Hiếu còn hơn là trông thấy dã thú. Có lẽ ông đã biết số phận của mình.
Trước khi đội về một tháng, một hôm, ông cụ bảo cháu gái:
- Hiếu ơi! Bây giờ mọi sự đối với ông đã rõ rồi. Ông chỉ có một ước vọng... Cháu là đứa cháu gái ông yêu nhiều nhất. Chỉ có điều suốt thời gian dài nhiều năm cháu ở hậu phương thành thử ông chả chăm sóc được cho cháu. Lại chả được gặp mặt cháu luôn. Giá như cháu có thể đến với ông thường xuyên.
-  Thế thì ngày nào cháu cũng đến thăm ông.
-  Ông ngại nói điều ấy vì sợ mẹ cháu chẳng bằng lòng.
Mẹ Hiếu không bằng lòng thật, khi thấy ngày nào Hiếu cũng vắng nhà vào buổi chiều, và chị đã lồng lộn lên khi biết Hiếu đến nhà ông chánh. Ông già thích cô cháu gái nấu cơm cho mình ăn. Một hôm, không có thức gì ăn, Hiếu mua được một đùm châu chấu về rang. Ông già ăn cứ khen ngon. Ông kể:
- Ông thích châu chấu rang vì ngày xửa ngày xưa cụ cháu, tức mẹ ông hay cho ăn món này. Ngày ấy cụ đã giàu, đã có chục mẫu ruộng, nhưng quanh năm bóp mồm bóp miệng, trừ ngày giỗ tết, còn thì ngày thường không bao giờ ăn thịt cá. Cụ bảo: “Kẻ chỉ thích ăn ngon, chẳng bao giờ nên người”. Cả nhà, chỉ riêng mình ông được chiều chuộng nhất, tức là được ăn thức ngon. Và thức ngon của cụ tức là châu chấu rang.
Nhắc đến kỷ niệm xưa, nhắc đến người mẹ đã quá cố từ rất lâu, ông già sáng mắt lên và chợt nhớ ra một điều. Ông vào nhà trong, lấy ra một cái túi vải con:
- Vàng bạc của ông, bố cháu và chú cháu vào Nam mang đi hết cả. Ông chỉ giữ lại mấy thứ của mẹ ông. Cứ quên khuấy đi mãi. Bây giờ mới chợt nhớ. Ông để dành cho cháu và cô Rêu của cháu. Đôi chằm và chiếc nhẫn trơn là của cháu. Chiếc nhẫn to hơn là của cô Rêu. Cái Rêu nó không bao giờ đến đây. Thôi thì con giữ cho nó. Đời người chả biết sau này thế nào đâu cháu ạ. Ông cho để phòng thân những khi khốn đốn. Đừng cho mẹ mày biết. Cũng đừng cho ai biết cả. Nhất là khi cải cách. Ông nghe nói, nông dân người ta đánh đập để khảo của đấy. Phải giấu vào chỗ thật kín. À, phải rồi! Cái nhà mẹ con cháu ở, xưa kia chính là cái nhà mẹ con ông ở. Ông biết rõ từng cái cột, cái kèo. Thế này nhé... Ở câu đầu phía bên phải, phía mặt trên câu đầu có một cái hốc. Cuộn cái túi nhỏ lại giấu vào đấy, thì chỉ có thánh mới biết được. Chờ lúc mẹ cháu ra đồng, hãy trèo lên mà giấu.
Hôm ấy Hiếu rất vui, dù về muộn, bị mẹ chửi cho một trận. Hiếu vui vì ông nội cũng rất vui. Ông chánh bảo:
- Bây giờ thì ông chết được rồi. Nhưng ông dại gì mà chết ngay. Ông phải sống cho đến ngày cuối cùng khi đội về. Để còn được ăn châu chấu rang của cháu chứ. - Ông già nói xong cười hà hà.
Khi anh đội Khoát về làng, tối hôm ấy, Hiếu trằn trọc không tài nào ngủ được. Bởi vì cô biết đêm ấy là đêm cuối cùng của ông nội. Hiếu biết ông mình là người to gan, dám xem cái chết nhẹ bẫng. Cô nằm nghĩ ngợi mà nước mắt ứa ra. Tuy nhiên Hiếu không khóc thành tiếng. Cô thấy giận mẹ mình. Cô không muốn cho mẹ biết mình đã khóc.
Khi gà gáy sáng, Hiếu choàng ngay dậy chạy ra đường, đến nhà ông nội. Cô ngạc nhiên thấy ông Lẫm đứng chặn trước cửa.
-  Mày đi đâu sớm thế.
-  Cháu lạy bác, cho cháu vào thăm ông cháu.
Ông Lẫm nhìn trước nhìn sau rồi bảo:
- Vào nhanh lên, rồi ra ngay lập tức, kẻo ông đội Khoát về thì khổ.
Tưởng ông mình đã gặp chuyện rồi, Hiếu rơm rớm nước mắt chạy vào. Cứ tưởng ông đã treo cổ hay uống thuốc độc rồi. Nào ngờ vào đến trong, thấy ông cụ vẫn còn sống. Bị trói như bó giò vào cái cột. Mồm cũng bị trói bằng sợi dầy thừng. Ông Lẫm đứng sau nói:
- Ông đội bắt trói cả mồm. Chả là sợ cắn lưỡi tự tử. Ta bảo: “Ông già móm rồi. Chỉ còn có lợi. Làm sao mà cắn lưỡi được”. Anh đội bảo: “Cẩn tắc vô áy náy".
Thì ra anh đội Khoát là người có kinh nghiệm, anh đã tham gia hai đợt cải cách. Trước khi về đây, anh đã nắm rất chắc tình hình và phán đoán chánh tổng Long có thể tự sát. Mình không thể để lão già này tự chết. Hắn là địa chủ đầu sỏ, nhiều ruộng, nhiều ân oán với dân làng. Hắn chết dễ dàng, nhân dân sẽ mất đối tượng đấu tranh. Khí thế sẽ bị xẹp. Vậy thì, ta không cho phép nhà ngươi chết. Chỉ đến khi nông dân đã xả hết căm thù, và nếu nông dân xử ngươi tội chết, lúc đó nhà người mới được phép chết.
Nghĩ thế nên vào khoảng chín giờ tối hôm đó, Khoát cùng với anh Lẫm và hai nông dân tá điền của nhà ông chánh đến nhà trong lúc ông già đang buộc dây thừng lên chiếc quá giang. Khoát quát to:
- Này, lão già kia! Định trốn tội hả? Chết hử? Chết đâu có dễ thế! Lão còn phải sống. Lão còn nặng nợ với nông dân.
Rồi Khoát sai Lẫm tháo chiếc dây thừng treo trên xà ngang xuống, trói chánh Long vào cây cột. Lại sai trói cả mồm ông già lại. Trước khi làm việc ấy, Khoát gật gù giải thích:
- Cuộc đấu tranh long trời lở đất này có hai mục đích chính trị: một là đánh sụp đổ tan tành uy thế của địa chủ tàn ác; hai là qua nó nâng cao lòng căm thù giai cấp cho nhân dân. Muốn làm được như thế, phải có đối tượng cụ thể. Nếu chánh Long tự tử, ta mất đối tượng cụ thể. Ra đấu trường, bần cố nông lấy gì mà đấu tố. Mất đối tượng cụ thể, chẳng lẽ nông dân đấu
 
476
ĐỘI GẠO LÊN CHÙA
 
486 n
một cách chung chung hay sao. Mặt đối mặt với kẻ thù, người nông dân mới có chỗ xả giận bốc lên ngút trời cao... Địa chủ hiểu điều đó, họ rất sợ đấu tố, họ vừa hèn nhát vừa sợ nhục nhã nên thường tự tử khi đội về để trốn tránh đấu tố. Chính vì vậy nên tôi phải vội tới đây ngay.
Lẫm và hai người tá điền nhìn Khoát vẻ khâm phục anh đội quá nhiều kinh nghiệm. Khoát đắc ý lại vạch mồm ông già ra mà giải thích thêm.
- Lúc nãy, đồng chí Lẫm bảo lão già này móm rồi, làm sao cắn lưỡi được. Đây này, lão chỉ móm hàm dưới. Hàm dưới trụi hết răng nhưng hàm trên còn nguyên vẹn. Nếu lão thè lưỡi dài ra, rồi đập cằm vào vật cứng, răng hàm trên vẫn cắn được lưỡi. Trong đợt hai, tôi đã gặp một trường hợp thế này. Ta chủ quan lão già móm, nên tên địa chủ đã tự tử thành công, trốn tránh được nông dân đấu tố...
Khoát lần này không hỏi Lẫm mà lại nhìn vào đôi mắt hau háu của chánh Long và hỏi:
-      Thế nào, ông chánh, ông có thấy tôi đi guốc vào trong bụng ông không?
Chánh Long:
-     Vâng, quả là anh đội có tài hành hạ địa chủ chúng tôi.
Khoát tát một cái lật mặt ông già:
-     Ngươi chớ ngoan cố, láo lếu. Ngươi nói đến hành hạ. Thế bao nhiêu năm trời ngươi làm mưa làm gió, cưỡi đầu cưỡi cổ, gây ra bao nhiêu tội ác ở cái làng Sọ này thì ngươi có nói đến tội ác và hành hạ mọi người không. Ta nói cho ngươi biết. Không phải chỉ là tội ác của riêng ngươi. Ngươi còn cõng trên lưng cả tội ác của cha ngươi, lão phủ Lân, cả tội ác của con ngươi, bá Phượng. Ngươi hiểu chưa? Ngươi cõng trên lưng tất cả tội ác của cả dòng họ Nguyễn cường hào gian ác đời nọ nối đời kia ở cái làng Sọ này.
Mắt Khoát long sòng sọc, căm thù. Khoát nổi giận, điều người ta chưa bao giờ thấy ở anh. Với đôi mắt sáng quắc ấy, Khoát hỏi:
-   Nhà ngươi đã biết ta là ai chưa?
Chánh Long ngỡ ngàng trả lời:
-   Vâng, tôi đã biết ông là “anh đội”.
Đột nhiên, đôi mắt Khoát chùng xuống. Và Khoát bỗng cười to, một tiếng cười rất lạ. Chỉ một thoáng thôi, ông già địa chủ chợt nhìn thấy trong ánh mắt của anh đội Khoát có cái gì đó bí ẩn ghê ghê, vừa lạ lại vừa quen...
Ông Lẫm dẫn Hiếu đến gần ông già Long bảo khẽ vào tai cô gái:
-      Ông cháu nói gì với nhau thì nói nhanh lên. Sáng mai người ta đưa ông cháu lên trại giam của đoàn ủy đấy.
Nói xong, Lẫm ra đứng canh chừng ngoài cửa để mặc cho hai ông cháu đứng cạnh nhau. Ông già bị chiếc dây thừng thít ngang miệng nên chẳng nói được một lời. Ông lão chỉ gục gặc cái đầu. Đôi mắt già mờ đục chan chứa nước mắt. Nước mắt nóng hổi tràn ra bò trên đôi gò má nhăn nheo. Hiếu nức nở ôm lấy ông rồi lấy ống tay áo chấm khô những giọt nước mắt cho ông. Cô rên lên thương cảm: “Ông ơi là ông ơi!”. Hiếu muốn được nghe vài lời của ông. Cố lấy tay ra sức cậy sợi dây thừng trên miệng ông già. Ông Lẫm chợt đi vào, rên lên: - Ấy chết! Đừng làm thế. Anh đội Khoát mà biết thì chết cả lủ. Trước hết là ông cháu sẽ bị hành hạ. Sau nữa là chúng ta. Thôi... thôi... Ông cháu gặp nhau như thế là tốt rồi... Không thể chậm được nữa. Mau lên! Mau lên! Cháu rút đi...
Hiếu ôm lấy ông òa khóc to. Ông Lẫm phải gỡ mãi Hiếu mới rời ông ra. Ông Lẫm kéo Hiếu sềnh sệch lôi ra cửa. Cô gái biết cuộc gặp gỡ này là lần cuối nên đầu cứ ngoái lại nhìn ông già, đôi mắt nhòa lệ của cô sẽ ghi lại suốt đời cái hình ảnh ông lão bị bó giò vào chiếc cột và cái đầu bạc gục gặc lên xuống. Ông như muốn nói với cô: ‘ ‘ ‘‘Chào vĩnh biệt, cháu gái yêu quý của ông”.
 
Ra khỏi nơi giam giữ ông, Hiếu thất thểu bước ra bãi tha ma cạnh chùa. Vì là con bà Bệu, rễ của anh đội Khoát, nên Hiếu được kết nạp vào đội dân quân du kích. Cô được phép đi lại dễ dàng trong đêm vào những ngày cải cách. Hiếu đi gặp tổ trưởng du kích, anh Trắm. Gọi là việc công cũng được, hoặc là việc tư cũng được, bởi vì hai cô cậu choai choai này đã xoắn xuýt với nhau. Cuộc hẹn ở bãi tha ma. Ra tới nơi, Hiếu chẳng thấy Trắm đâu. Chỉ thấy những con đom đóm vẽ những đường cầu vồng xanh lơ trên bãi hoang lạnh. Chỉ nghe thấy ếch nhái, nhận cơn mưa rào ban chiều, được thỏa thuê tắm mát, nên dẻo mỏ, đua nhau phồng mang phồng bụng lên mà ộp oạp. Tiếng kêu loạn xị chẳng chút nhịp nhàng làm tâm hồn rối bời của Hiếu càng thêm bối rối.
Hiếu căng mắt nhìn vào đêm tối, vẫn chẳng thấy bóng người. Chợt từ sau ngôi mộ xây, một bóng đen xuất hiện, xồ ra ôm chầm lấy cô. Hiếu giật mình, nhưng cái mùi gây gây của gã du kích làm cô nhận ra ngay đó là Trắm nên không kêu lên.
Gã con trai sấn sổ thò ngay bàn tay nóng hổi luồn vào ngực Hiếu... Đấy, Trắm đấy, gã con trai của Hiếu đấy. Lần gặp nào hắn cũng sỗ sàng như vậy. Nóng hổi, cứ như thằng rồ mỗi khi gặp nhau. Lần thì hắn cắn vào tai, lần thì vào cổ, vào ngực Hiếu thấy sờ sợ nhưng cũng thích thích. Riêng lần này Hiếu chẳng thích tẹo nào. Cô dùng hết sức đẩy hắn ra và kêu lên-
-  Rõ nỡm.
Phản ứng của Hiếu làm Trắm chưng hửng:
-  Sao vậy?
- Nghe đây này. Đừng cợt nhả nữa - Hiếu ra lệnh bằng môt giọng nghiêm trang - Tớ vừa mới biết, sáng ngày mai, đội sẽ đưa ông chánh lên trại giam đoàn ủy.
-  Trại giam đoàn ủy?
Đúng vậy! Trắm nghe xong chợt sững người. Bởi vì người ta đã biết tiếng khu trại giam ấy. Kẻ nào đã vào sẽ không có lối ra
Nghe vậy, Trắm nghiêm chỉnh ngay lại. Nó hỏi thêm-
-  Còn bà Nấm thì sao?
- Mình không biết. Mẹ mình chẳng hở ra điều gì. Nhưng cũng phải báo cho cái Huệ biết ngay. Bởi vì nghe thái độ của ông Khoát nói chuyện, mình biết đội cho rằng bà chủ tịch chẳng khác gì các địa chủ đầu sỏ. Người ta tố bà ấy là trùm Quốc dân đảng cơ mà.
Trắm chia tay với Hiếu, anh đi về nhà bà Nấm. Ngay sau khi đội về được một hôm, người ta đã giam lỏng bà Nấm tại nhà. Đội Khoát sai Trắm chặt ngay cây cau già trước cửa nhà bà Nấm. Lại sai cưa hai khúc gần gốc, mỗi đoạn dài một mét Ở giữa mỗi đoạn, khoét hai lỗ. Lúc bấy giờ, Khoát mới nói đó là cái cùm. Bà chủ tịch Nấm bị cùm hai chân. Hai khúc cây cau ấp lại với nhau. Một đầu buộc bằng dây sắt to xoắn lại, nếu không có dụng cụ, tay người không thể tháo ra. Còn đầu kia khóa chặt bằng chiếc khóa đồng to bằng cổ tay.
Lúc bấy giờ, trại giam của đoàn ủy đã chật cứng, cho nên có chỉ thị cho phép tạm giam những đối tượng cải cách tại nhà, nhưng phải canh gác và cùm kẹp cho kỹ chờ ta mở rộng trại.
Thằng Căn, thằng Trắm, cái Hiếu, cái Huệ, cái Rêu, chú tiểu An... là những bạn thân của nhau. Khi cải cách, các gia đình bị chia làm hai nhóm: cốt cán và đối tượng của cách mạng. Lẽ dĩ nhiên, đám trẻ trong những ngày nước sôi lửa bỏng ấy, cũng trở nên rất khôn ngoan. Bị cơn bão tố cuồng nộ chưa từng có của cuộc sống xô đẩy, con người có thể trở thành ti tiện, độc ác thậm chí tàn bạo với đồng loại; may thay, đám thanh thiếu niên ấy lại rất trong sáng, lương thiện. Họ chưa có những lý lẽ để bảo vệ sự lương thiện của mình. Phải chăng cái lương thiện ấy là một bản năng sẵn có, hay đó là kết quả của cái nếp sống làng xã ngàn đời đã gieo trồng và nảy mầm trong tâm hồn họ mà họ không hay biết. Phải nói là họ rất hoang mang. Họ biết ông chánh là một người giàu có, một địa chủ, nhưng nói rằng ông ta độc ác thì họ không thấy. Họ biết bà Nấm là chủ tịch xã, nhưng bảo bà ta và chồng bà ta là kẻ phản động hại dân hại nước, thì họ không hiểu nổi. Thậm chí họ còn thấy đó là những con người tốt đẹp. Hơn nữa họ còn thấy cái Hiếu, cái Rêu, cái Huệ là những người bạn tốt bụng của họ sao lại gặp hoàn cảnh trớ trêu đến thế, đau khổ đến thế. Nhất là Huệ. Đó là đứa bạn hiền hòa nhất. Nó chẳng dám làm đau đến ai, dù đó là con ong, cái kiến. Giờ phút này đây, gặp Huệ là thấy nước mắt. Có thể nói, Huệ đã bị tê liệt, nó chẳng biết làm gì ngoài việc khóc. Nó thầm gọi ông Trần và anh Căn của nó: “Thầy ơi! Thầy về mà cứu lấy mẹ con. Người ta bảo sẽ mang mẹ con đi bắn. Anh Căn ơi! Em phải làm gì bây giờ để cứu mẹ chúng ta?”. Nó tuyệt vọng rồi. Người ta sắp mang mẹ nó lên trại giam đoàn ủy. Và khi người ta mang mẹ nó đi, không biết nó còn có thể sống nổi không nhỉ. Mẹ nó, tuy suốt ngày bị cùm, vẫn tỉ tê khuyên nhủ nó: “Phải cứng rắn lên. Dù mẹ có mệnh hệ nào, thì con cũng phải sống cứng rắn. Đời con còn dài lắm. Dù thế nào cũng đừng ngã lòng”. Cũng may, bà Nấm còn được tạm giam tại nhà. Huệ cố gắng dùng những ngày gần gũi cuối cùng để chăm sóc cho mẹ. Đêm nằm, hai mẹ con tỉ tê với nhau. Bà mẹ thấy con sụt sùi, cố vỗ về an ủi:
-        Xem kìa, con gái cưng của mẹ. Cô như một cục giẻ ướt. Véo chỗ nào cũng ra nước mắt. Con nên nhớ, đời mẹ con ta là đời con gái thời loạn. Còn biết bao gian truân ta không thể biết đang ở phía trước mặt. Người con gái thời loạn vừa phải biết mềm yếu vừa phải biết cứng rắn. Mà khi người đàn bà đã biết cứng rắn thì ghê gớm lắm. Bão tố cũng không lay chuyển được. Cái mềm yếu thì con có thừa. Còn cái cứng rắn ư? Mẹ biết rằng con sẽ cứng rắn...”. Chẳng biết người mẹ đang động viên con gái, hay là bà đã cảm nhận thấy cái số phận và tính cách tương lai của Huệ. Bà bảo rằng hoàn cảnh của bà thật bi đát, nhưng chưa phải đã hết hi vọng.
Tối hôm ấy, người mẹ nói với người con gái đang tuyệt vọng và sợ hãi bằng một giọng rất cương quyết: “Chưa phải đã hết hi vọng đâu con ạ”. Giọng nói của người mẹ như muốn truyền sự can đảm, sự khát sống cho người con. Bàn tay lạnh của bà nắm lấy bàn tay nóng hổi của Huệ, rồi dẫn bàn tay con tới chiếc khóa bằng đồng bóng loáng ở đầu hai khúc thân cau: “Mẹ nghĩ ra rồi. Cái chính là cái này”. Rồi bà lại kéo con nằm xuống và rất bâng quơ, kể cho Huệ nghe một câu chuyện ngày xưa. Một kỷ niệm từ thời con gái, tưởng như chẳng ăn nhập với hoàn cảnh hiện tại.
“Lúc ấy, mẹ mới mười bảy, mười tám, ở với bà dì. Bà ấy là bà Tư của ông chánh Long. Hai dì cháu ở ngoài rừng Cò. Dì Tư lấy chồng giàu, tuy vậy vẫn sống rất tằn tiện chẳng khác gì người nông dân nghèo. Dì Tư có một chiếc hòm gian. Chiếc hòm to bằng đúng một gian nhà. Chiếc hòm nằm trên bốn chiếc chân cao kê ở giữa gian. Nó vừa làm bàn thờ, vừa làm nơi chứa đựng của nả của dì Tư. Ở trong đó đựng mấy tấm vải, mấy bộ váy áo mới, rồi cả ngô, khoai, gạo nếp, gạo tẻ thậm chí cả lạc, cả vừng. Như đã nói dì Tư giàu nhưng rất căn cơ; hàng bữa dì chỉ thổi cơm có ngữ. Mà lúc ấy mẹ đang tuổi lớn. Mẹ lúc nào cũng thấy đói. Đói quá, nên nghĩ chuyện ăn vụng. Chiếc hòm gian lúc nào cũng bị khóa chặt. Chiếc khóa bằng đồng bóng nhoáng. Nó giống như chiếc khóa cùm này đây. Mẹ đã nghiên cứu, đã loay hoay tìm nhiều cách trong nhiều ngày, và cuối cùng đã mở được chiếc khóa đồng. Chiếc hòm gian đã được mở. Mẹ chỉ dám ăn cắp khoai và ngô của dì Tư, còn gạo thì không dám đụng đến”.
Trong bóng đêm, người mẹ nhớ lại kỷ niệm xưa, cười khẽ trong cổ họng. Rồi bà bỗng bóp chặt tay con gái và thì thầm vào tai cô:
- Thế đấy, con hiểu chưa. Cái khóa đồng to, trông tưởng ghê gớm lắm nhưng chẳng khó gì đâu. Nó khóa chặt nhờ hai lá sắt vểnh ra tạo thành hình chữ V. Nay ta bóp hai đầu mút hình chữ V lại là khóa sẽ mở. Con đi kiếm hai thanh sắt mỏng và nhỏ cho ta.
-     Kiếm sao được hở mẹ. Ở nhà này du kích lấy đi hết những gì là sắt, thép. Họ sợ mẹ con ta tự tử. Đến một cái đinh, một sợi dây thép cũng chẳng còn.
-     Phải cố mà tìm cho bằng được. Nhờ lũ bạn con ấy. Mẹ nghi chúng nó rất tốt bụng.
-     Ai bây giờ nhỉ.
-  Thử bảo thằng Trắm xem sao.
-     Đến nói chuyện với con nó cũng không dám. Hòng gì nó giúp.
-     Con đừng nghĩ thế. Thằng Trắm không dám nói chuyện với mẹ con mình vì nó là tổ trưởng du kích. Nhưng nhìn ánh mắt của nó mẹ biết nó sẽ giúp chúng ta.
Huệ thật không ngờ mẹ mình đã phán đoán đúng. Cô không thể ngờ nhìn vào mắt một con người bà Nấm có thể biết được những ý nghĩ đằng sau đôi con mắt đó. Một bận, nhân lúc hai anh chị du kích canh gác còn mải cười nói với nhau ngoài ngõ, Huệ đã ngỏ ý nhờ Trắm tìm cho hai thanh sắt nhỏ. Lúc hỏi, Huệ cứ run run sợ Trắm từ chối, hoặc lợi dụng chuyện đó mà tố cáo với đội. Thật không ngờ, nghe Huệ nói, Trắm chỉ lặng thinh nhìn ra ngõ, rồi liếc nhanh nhìn cô và gật đầu. Cái gật đầu mà chỉ mình cô nhận ra thôi.
Sau khi gặp Hiếu ở bãi tha ma, Trắm thọc tay vào túi quần đi thẳng đến nhà bà Nấm. Trắm thay đổi thái độ quá đột ngột làm Hiếu phải ngạc nhiên. Đang cợt nhả, sỗ sàng, Trắm, thoắt một cái, đã biến thành chàng trai nghiêm túc, hình như lại có phần nôn nóng vì một việc gì đó. Rồi Trắm từ biệt đi ngay. Mỗi lần anh ta chia tay ở chỗ vắng vẻ, Hiếu đều phải phòng bị. Bởi vì lúc đó thế nào Trắm cũng ôm chầm lấy Hiếu, để rúc đầu vào cổ cô, vào tai cô để mà hít hà. Anh ta bảo làm như thế hương của cô lúc nào cũng quyến trong mũi anh. Và có như vậy nó mới đỡ nhớ. Sợ nhất là bàn tay thô nhám của Trắm. Lúc ôm cứng lấy Hiếu thế nào nó cũng luồn vào ngực cô, để mà sục sạo, lục lọi. Ôi cái bàn tay! Táo bạo thế mà cũng lại run như cầy sấy! Nhưng riêng hôm nay thì không. Anh ta cắm cúi bước đi để Hiếu thật ngỡ ngàng phí công phòng bị. Hiếu nhìn theo cái dáng hối hả của anh và ngạc nhiên thốt lên: “Rõ là thằng rồ!”. Chằng biết cô thất vọng hay hài lòng vì thái độ khác lạ ấy của Trắm.
Trắm xăm xăm bước vào nhà bà Nấm. Ban trưa trời còn nắng chang chang, thế mà khi chiều về, trời bỗng ỉu đi nhanh trông thấy. Những đám mây xám không biết từ đâu kéo về ùn ùn, cùng với những trận gió ào ào phi trên đầu những ngọn tre, đem theo cái rét đầu mùa đột ngột chui vào những mái tranh nghèo vốn đang ngơ ngác vì những chấn động thổ cải, nay bất ngờ gặp cái rét đầu đông lại càng thêm ngơ ngác.
Hai anh du kích gác nhà bà Nấm chưa phòng bị để kịp chống rét. Mỗi anh, trên người chỉ phong phanh một manh áo. Họ đã nhanh trí đốt một đống lửa ngoài hiên. Họ vừa sưởi ấm, vừa nướng khoai, vừa canh gác. Trắm chào hỏi:
 
-        Thế nào? vẫn ổn chứ?
-       Dạ, vẫn ổn. À, có chuyện này. Mụ Nấm kêu rét, chúng tôi cho phép mụ choàng cái bao tải.
-       Được thôi! Nhưng vẫn phải hết sức cảnh giác. Mấy lại, để tôi vào kiểm tra xem sao. Các đồng chí cứ ngồi sưởi cũng được.
Hai du kích đang ngồi ấm, ngại đứng dậy, nay được lời của Trắm, nên để mặc một mình anh vào nhà.
Trắm vừa bước vào vừa nói oang oang:
-       Phản động Nấm còn thức không? Anh đội bảo còn ngoan cố lắm. Anh Khoát nói phải nhận tội hết đi, lúc ấy mới được tháo cùm.
-       Dạ thưa anh du kích, oan con lắm. Con đã thành khẩn khai hết rồi ạ.
-       Chưa hết. Anh đội bảo mụ vẫn không chịu nhận tội hoạt động Quốc dân đảng.
Ngọn đèn dầu hỏa liu riu như hạt đỗ xanh tỏa ánh sáng mờ tỏ lên người đàn bà bị cùm giữa nhà. Bà Nấm tóc rũ rượi, khoác chiếc bao tải trông như mụ ăn mày. Trắm miệng nói to, chân bước tới người bị cùm. Huệ đã nhỏm dậy, đứng ngây người nhìn cảnh mẹ và Trắm đối đáp. Họ như hai người diễn kịch. Trắm đã đến bên cái cùm, làm ra vẻ như xem xét kiểm tra, miệng vẫn không ngừng nói:
-       Mụ nên thành khẩn thì hơn. Tội gì ngoan cố để chuốc lấy cùm gông khổ sở.
Khi nói Trắm quay lưng ra cửa. Rồi rất nhanh nhẹn, tay anh thả những thanh sắt mà Huệ đã nhờ hôm trước. Bà Nấm nhanh nhẹn chộp lấy, giấu dưới cái tải. Trước khi kiểm tra xong, Trắm còn kịp nói một câu rất nhỏ mà chỉ riêng bà Nấm nghe thấy: “Sáng mai, họ chuyển lên trại giam đoàn ủy”.
Tối hôm ấy, bà Nấm hoàn toàn gặp may. Thứ nhất: Gió rét đầu mùa đã làm hai anh du kích ngủ gật bên đống lửa. Thứ hai, những thanh sắt nhỏ của Trắm cũng đến kịp thời.
Khoảng hai giờ sáng, mẹ con bà Nấm mở khóa chạy vào rừng Cò. Nhờ đã quen hoạt động bí mật, bà Nấm không đi ngay. Họ chui xuống cái hầm bí mật mà hồi kháng Pháp ông Trần đã đào riêng cho mình.
Ba giờ sáng, du kích toàn xã đốt đuốc đi tìm phản dộng vượt ngục bỏ trốn. Toàn xã náo động. Mệt phờ mà chẳng thấy tăm hơi. Mẹ con bà biến mất như bốc hơi.
Đêm hôm sau, họ mới từ dưới đất chui lên, đi về phía rừng. Người mẹ dạy con: “Đường xa nhất mới là đường gần nhất. Lúc này đã đủ thời gian để cho đội Khoát báo tới các xã cạnh đường quốc lộ dẫn về Hà Nội. Đi theo con đường gần mẹ con ta sẽ bị bắt. Bây giờ có hai con đường: hoặc là lên Phú Thọ, rẽ sang Hòa Bình rồi về Hà Nội; hoặc là vượt Tam Đảo, sang Thái Nguyên, từ Thái Nguyên đến Bắc Giang cuối cùng trở về Hà Nội. Đường thứ hai xa hơn nhưng bất ngờ hơn. Nó rất an toàn, nhưng không có đồng xu dính túi, liệu có đi nổi không.
 
Mẹ con bà Nấm đi theo con đường thứ nhất. Họ đã làm thuê, rồi ăn mày, phải đi ba trăm cây số mới về được thủ đô gặp ông Trần.
 





0
9
Đại úy Thalan

Đội Hải chỉ mới làm việc ở P.C Huyện được ba tháng, nhưng đã được đại úy Thalan cho là một sĩ quan mẫu mực. Ông thích sự trang nghiêm, trách nhiệm. Đối với cấp trên, ông kính trọng nhưng không hề quỵ lụy, nịnh nọt. Đối với cấp dưới, ông hòa nhã nhưng nghiêm khắc. Đối với ông, chỉ có kỷ luật, hành động và hiệu quả là trên hết. Ông là vị chỉ huy tử tế, đứng đắn, cấp dưới quý mến nhưng khó gần, bởi vì ông không tán chuyện tầm phào hoặc tâm sự riêng. Tuy nhiên, vẫn có một lần ông nói với Hải:
- Thuở trẻ, lúc còn đi học, tôi đã có khi mơ tưởng sẽ làm thầy giáo. Do vậy, khi biết ông đã làm nghề đó, tôi có cảm tình và nhận ông ngay. Mà thật quả, tôi đã không lầm. Ông thành thạo tiếng Pháp và rất có trách nhiệm... Làm người, tôi đánh cao nhất sự công chính. Tuy là trong chiến tranh, tuy rằng cái chết luôn kề cận, chúng ta vẫn cần đến sự công chính.

Đại úy Thalan sang Đông Dương một mình. Vợ và cô con gái ở lại Toulouse. Bà vợ của ông cũng là nhà giáo. Thalan đồng âm với từ Talent nghĩa là tài năng, cấp dưới, có người lợi dụng sự đồng âm đó để bợ đỡ nịnh nọt. Ông cười mà rằng: “Tôi không dám nhận cái nghĩa tài năng. Trong quân sự, hoàn thành trách nhiệm đã là tốt. Còn tài năng quân sự ư? Đó là con người hoàn thành nhiệm vụ mà lại tốn ít sinh mạng con người. Có khi thất bại ở cái nhỏ mà lại hoàn thành cái lớn. Điều ấy rất khó nên tôi không dám nhận”. Trước khi về P.C Huyện, ông chỉ huy bốt Thằn Lằn nên người ta còn gọi ông là Tây Thằn Lằn (Chữ Thalan cũng gần âm với Thằn Lằn).

Người đại úy thứ hai ở P.C mà đội Hải chú ý: Đó là trung úy Bernard, viên sĩ quan Tây lai phụ trách phòng nhì. Không là chỉ huy trưởng, nhưng quyền hành của Bernard rất to. Sự sống chết của con người trong khu vực đều nằm trong tay ông ta. Bernard, mắt xanh mũi lõ đặc Tây, nhưng tóc đen và vóc dáng lùn so với Tây nên người trong vùng vẫn gọi là tây lùn. Một đặc điểm đáng chú ý nữa là Bernard rất sõi tiếng Việt, song chỉ nói tiếng Pháp, không bao giờ tự nói tiếng Việt, khi giao tiếp với người bị bắt đều thông qua phiên dịch.
Một đặc tính đáng nể của Bernard là ít nói và kín đáo, điều này hắn học được từ ông cậu cường hào của hắn. Hắn rất kiêu hãnh vì đức tính này, song hắn không bao giờ thừa nhận là đức tính ấy hắn thừa hưởng được từ bên ngoại.

Đội Hải ít giao tiếp với Bernard. Chỉ có một lần viên thiếu úy phiên dịch phòng nhì đi vắng, Hải được điều tới phiên dịch cho cuộc hỏi cung. Người bị hỏi cung là một thanh niên mặc quần áo nâu, mặt mày sưng tím. Bernard bảo :
- Hãy nói với anh ta là đừng bướng nữa. Chúng ta đã biết hết. Rằng anh ta là bộ đội Việt Minh. Rằng anh ta không phải người vùng này. Giọng nói đã tố cáo anh ta là người Sơn Tây. Nghe đã biết ngay anh ta là người ở Phùng. Chỉ cần biết anh ta tên là gì. Rồi quê quán, đơn vi nào, bao nhiêu tuổi.
Đội Hải định dịch lời nói đó thì Bernard dặn thêm :
- Không cần gay gắt. Chỉ nói mềm dẻo là đủ. Làm sao để anh ta đừng sợ. Bảo anh ta rằng những điều ấy không làm tổn hại gì đến phẩm cách của anh ta.
Người thanh niên ngẫm nghĩ một lát rồi khai :
- Tên anh là Mỗ. Mười tám tuổi. Quê ở Phùng. Ở C15 đơn vị độc lập của tỉnh đội. Được về phép. Đi lạc đường.
Bernard nghe xong cho lui. Hải hỏi cuộc hỏi cung chỉ nhẹ nhàng như thế thôi sao, Bernard cười :
- Nó đã bị tẩn hai trận rồi. Lần trước không nhận là bộ đội. Lần này đã chịu nhận. Thằng này còn trẻ măng, chắc mới vào lính. Ở nó chẳng có nhiều điều để khai thác. Chỉ cần biết nó ở đơn vị nào. Thế là đủ. Tối nay lại tẩn cho một trận và hỏi những câu hỏi như cũ. Nếu nó thòi ra điểm mới thì tiếp tục khai thác. Nếu nó khai như cũ thì mai lại hỏi như cũ. Khai thác đúng ba ngày, không có gì mới thì cho đi tấn công.
Bernard mời Hải hút thuốc rồi nói :
- Tôi chưa nói chuyện với anh, nhưng chúng tôi biết về anh. Quản Mật có báo cáo chi tiết về anh. Anh là em họ Bùi Văn ốChủ tịch Tỉnh. Ông Mật cho chuyện ấy là quan trọng. Chúng tôi không nghĩ như vậy. Chú là chú. Cháu là cháu. Ai làm người ấy chịu. Vả lại anh đã được học trường của người Pháp chúng tôi. Và tôi cũng báo cho anh biết điều này: Anh vào hàng ngũ chúng tôi, tuy anh không cầm súng bắn vào Việt Minh, nhưng vị trí của anh rất quan trọng, vì rằng anh ở ngay trong bộ phận đầu não của người Pháp ở khu vực này. Đối với chúng tôi, cũng phải rất tin cậy anh. Vì thế, đối với Việt Minh họ coi anh còn nguy hiểm hơn cả những người lính bảo hoàng mà họ gọi là Việt gian.

Hải không hiểu nổi đấy là lời tâm sự của Bernard hay chỉ là những lời đe dọa bóng gió, cũng có thể đó là những sự thật quá rõ ràng mà Hải không muốn được nói ra.

Người Pháp thứ ba Hải chú ý là chuẩn úy Gustave. Một anh chàng đậm người, tính tình vui vẻ cởi mở. Cùng trạc tuổi trên ba mươi như nhau. Gustave là lái xe của đại úy Thalan. Có lúc còn làm thư ký, làm điện thoại viên cho sếp của mình. Hai người cùng phục vụ cho một chủ nên hàng ngày thường cùng ngồi trên một xe díp. Sự tiếp xúc thường nhật đã dần dần gắn bó họ với nhau.

Những buổi tối rỗi rãi, họ thường đến mess (phòng ăn) hạ sĩ quan, hút thuốc lá mù trời và uống rượu. Những người lính kề cận cái chết thường có nhu cầu tâm sự, nhất là khi đã uống được vài chén rượu. Gustave hỏi Hải :
- Cậu có biết tại sao tôi thích chơi với cậu không?
- Không.
- Vì cậu là người Việt. Đơn giản thế thôi.
- Tại sao?
- Thế này nhé. Năm ngoái mình đóng quân ở Hải Dương. Mình chơi thân với một caporal (cai) người Việt. Cậu ta dạy mình học tiếng Việt. Mình bảo cậu ta trước tiên hãy dạy mình những từ chết chóc. Thế là mình học được chữ “giết” chữ “bắn”, chữ “đâm, chém”, chữ “phục kích”... Một bận đội xe của mình xuống Hải Phòng lấy hàng. Mình đi bộ lảng vảng trong dám phu khuân vác. Họ tưởng mình không biết tiếng Việt nên nói chuyện thoải mái. Mình nghe không hiểu hết, nhưng hiểu láng máng được mấy từ như “thằng mũi lõ” rồi “giết”, rồi “phục kích”... Thế là, nhân thể ông trung úy bảo hàng nhiều phải tổ chức hai toán chuyên chở: một toán đi tối hôm ấy, một toán sáng hôm sau. Toán đi tối về sẽ nghỉ một ngày. Đi tối trời mát lại dược nghỉ, nhưng vì đã nghe láng máng lời của bọn phu khuân vác nên mình đi toán sau. Quả nhiên vào hồi chín giờ tối hôm ấy, toán xe chở hàng bị đánh mìn cách Hải Dương tám kilômét. Năm xe hàng bị đốt cháy, chết bốn người, ba người bị thương. Hải Dương phải đem quân đến ứng cứu, nếu không sẻ bị tiêu diệt toàn bộ. Và mình hiểu biết tiếng Việt có lợi như thế nào.
Hai người cùng cười to. Và Hải bằng lòng hàng ngày sẽ dạy Gustave học tiếng Việt. Để chiêu đãi ông thầy giáo, Gustave đêm ấy mua một chai Cognac. Và lẽ dĩ nhiên, rượu nhiều, thì lời cũng nhiều. Gustave :
- Ông có biết tháng trước tôi vừa nhận được thư không?
- Vui chứ?
- Vừa vui, vừa buồn.
- Thư của vợ?
- Không, của bạn. Nó báo tin rằng mẹ mình rất khỏe vẫn chờ ngày mình hết hạn trở về... Nhưng... Cũng chính vì lá thư ấy mà... lão Bernard gọi mình lên gặp.
- Gặp phòng nhì sao?
Gustave không trả lời mà uống ực luôn nửa cốc Cognac. Hắn im lặng hồi lâu rồi kể :
- Đúng chín giờ mình vào phòng, quần áo chỉnh tề., biết căn phòng của trung úy Bernard rồi chứ. Căn phòng lạnh lẽo. Chỉ độc một cái bàn làm việc và cái tủ hồ sơ, trong đó giấu một chai rượu mạnh...
Ông ta hỏi tôi bằng cái giọng tươi cười thoải mái :
- Chuẩn úy biết mục đích của cuộc gặp này rồi chứ?
- Trung úy Bernard không nói mục đích, nhưng tôi biết.
- Phải. Tháng trước, anh có nhận được thư từ Pháp sang.
- Vâng, thư của Pierre, một người bạn.
- Bộ phận kiểm duyệt thư tín trong quân đội Pháp đã bóc lá thư ấy, và chép lại nội dung.
- Vâng tôi biết. Đó là phép tắc ở Đông Dương, tôi đã được phổ biến.
- Tại sao anh sang Đông Dương?
- Vì lý do riêng tư.
- Xin nói rõ.
- Tôi vào quân đội trong kháng chiến chống Đức phát xít. Khi phát xít thua, vợ tôi muốn tôi giải ngũ, nhưng vì tôi còn phải giúp đỡ mẹ và nhà tôi nghèo nên chưa thể giải ngũ được. Vợ tôi đã đi với người đàn ông khác nên tôi tình nguyện sang Đông Dương.
- Trong lá thư vừa rồi có nói vợ anh đã tái hôn.
- Vâng, tôi hiểu chuyện ấy phải xảy ra.
- Bạn anh còn nói cuộc chiến tranh Đông Dương là cuộc chiến tranh chủ nghĩa thực dân, rằng cuộc chiến tranh ấy sẽ thất bại. Anh nghĩ thế nào?
- Tôi là một người lính của nước Pháp. Không người lính nào lại muốn Tổ quốc mình thua trận.
- Anh quen Pierre, bạn anh từ nhỏ sao?
- Không. Tôi quen Pierre trong cuộc kháng chiến. Pierre chống phát xít, anh ấy bị thương ở chân.
- Nhưng Pierre là cộng sản. Anh có biết điều đó không?
- Lẽ dĩ nhiên tôi biết. Nhưng người ta kết bạn với nhau không cần biết đến đảng phái. Pierre là bạn tốt của tôi. Khi tôi sang Đông Dương, Pierre giúp đỡ mẹ tôi rất nhiều.
- Và anh ta cũng tuyên truyền cho anh khá nhiều.
- Mỗi người một con đường. Tôi là một người lính Pháp. Tôi đã làm trọn bổn phận một người lính. Tôi cũng là một công dân Pháp tốt.
- Chúng tôi hiểu. Trong trận xe bị phục kích ở đường huyện lộ, đại úy Thalan bị thương, anh đã chiến đấu đánh lui Việt Minh cứu sống đồn trưởng và được thưởng Huân chương.
- Cám ơn đại úy đã đọc kỹ hồ sơ của tôi.
- Tôi đọc hồ sơ, biết chuẩn úy rất thân với những người lính Việt chiến đấu trong hàng ngủ chúng ta. Anh nghĩ thế nào về họ.
- Họ là những người Collaborateur [1].
- Collaborateur ư? Không phải? Họ là những người cộng sản thì đúng hơn.
- Có phần nào sự thật ở đấy. Bởi vì Việt Minh do cộng sản lãnh đạo, nhưng họ cũng chiến đấu giành độc lập cho đất nước họ. Sự thực, người dân Việt vẫn gọi họ là Việt gian cái từ ấy giống nghĩa với từ Collaborateur của nước Pháp chúng ta.
- Kể ra cũng bi kịch cho họ thật.
- Không biết sau chiến tranh họ sẽ ra sao? Ở nước Pháp, tôi đã nhìn thấy những người hợp tác với Đức sau thế chiến II bị cạo trọc đầu giải đi trên đường phố.
- Chuẩn úy vẫn học tiếng Việt?
- Vâng. Trong chiến tranh, nếu không hiểu đối phương thì thắng sao nổi đối phương.

* * * * *

Khi sư cụ Vô Úy bị bắt giải lên P.C Huyện, Bernard hỏi cung, sư cụ khai :
- Tôi đi tu từ lúc nhỏ. Từ đó chỉ biết tu hành. Không hề bao giờ dính líu đến việc trần thế.
Hỏi :
- Vậy sao ở bờ ao có hầm bí mật?
- Vườn chùa rất rộng. Ao chùa cách xa nhà chùa. Du kích đào ban đêm, họ làm bí mật, làm sao tôi biết được.
Lại hỏi :
- Vô Trần với ông là thế nào? Ông ta có liên lạc với ông không?
- Ông Trần là sư đệ của tôi. Sau này ông ta xuất đạo, lấy vợ. Ông ta làm việc đời, không dính líu với việc nhà chùa.
Bất cứ ai bị bắt lên P.C Huyện đều bị tra tấn. Sư cụ Vô úy cũng không thoát. Bị đánh đau, sư cụ kêu to nhưng hết đánh lại niệm Phật. Nhìn một ông già máu me đầm đìa, nhắm mắt lại, miệng lẩm nhẩm A di đà Phật, ngay đến cả bọn lính phòng lài giết người không ghê tay, cũng phải lắc đầu ngạc nhiên và chùn tay. Bernard hỏi đội Hải:
- Có thực ông sư này và huyện đội trưởng Vô Trần không liên hệ với nhau?
- Con ông Trần là học trò của tôi. Nó không bao giờ bén mảng lên chùa. Bị trẻ con trong làng chế giễu bố nó là sư hổ mang nên nó thù ghét nhà chùa. Mẹ nó là bà Nấm thì bị người ta chế giễu là loại đàn bà “bỏ bùa cho sư” nên chị ta có vẻ ngượng với dân làng, không đi lễ chùa bao giờ. Còn Vô Trần thì đi biền biệt, chả mấy khi ló mặt về làng.
- Thế sư Độ thì sao?
- Ông ta là người thiên hạ, nghe nói chịu ơn sư cụ nên cắt tóc đi tu. Công việc đồng áng của chùa đều do một tay ông cáng đáng.
Bernard cười to, hỏi tiếp, vừa hỏi vừa nháy mắt :
- Còn cô Nguyệt xinh đẹp?
-  Cô ấy cũng côi cút được nhà chùa nhặt về. Nói chung, ở nước chúng tôi, nhà chùa chỉ làm những việc thiện, việc nhân đức.
- Ờ ờ... ông sư khai cô ta lên tỉnh mua sắm để làm đám cưới với ông. Xem ra, ông sư này giống như ông bố vợ của ông thông ngôn. Tôi nói thế có đúng không?
- Dạ, cũng đúng ạ. Tôi cũng định xin phép...
- Ông thông ngôn muốn vào thăm sư cụ chứ gì. Thôi được. Tôi cũng nể tình cho phép. Nhưng cũng nên khuyên nhủ ông cụ, có biết gì thì cứ khai hết ra. Khai hết thì tôi cho về chùa mà tu Phật.

Hải vào nhà giam, thấy mặt mũi sư Vô Úy sưng vù còn có cả những vết máu khô. Anh rơm rớm nước mắt. Sư cụ đang ngồi bằng tròn niệm Phật, mở mắt ra bảo Hải :
- Anh đừng lo. Tôi bị đánh, nhưng không chết đâu mà sợ. Cái nghiệp của tôi phải vậy. Sư tổ lúc gần tắt thở, cố sống cho đến lúc tôi về và dặn: “Con phải giữ chùa vào thời loạn lạc, phải chịu gánh nhiều tai nạn. Nhưng thầy tin con sẽ giữ vững được chùa làng qua cơn bão tố. Tôi sẽ về thôi nhưng anh nhớ báo cho cô Nguyệt và sư bác đừng về lúc này. Họ còn trẻ... Nguy hiểm lắm”.
Bernard, tối hôm ấy, lại hỏi Hải :
- Ông sư già nói gì?
- Dạ, sư cụ bảo là người tu hành, chỉ biết có Phật, không biết chuyện đời.

Sáng hôm sau, sư Vô Úy lại phải trải qua một trận tra tấn dữ dội hơn. Ông cụ vẫn một mực A di đà Phật. Bọn lính phòng nhì đánh gẫy chân trái của cụ, cái chân vốn đã đau từ xưa. Sư Vô Úy ngất đi. Tỉnh dậy, ông lại A di đà Phật.
Một tháng sau, không có chứng cứ gì, Bernard đành thả cụ ra.

* * * * *

Trong thời gian ấy, ở Hà Nội, một tờ báo tiếng Việt có đăng một bài báo viết về tình hình nông dân vùng phụ cận thành phố Hà Nội. Có một số dòng nói về các chùa chiền, có nhắc tới trường hợp một vị sư già bị bắt oan, bị đánh đập đến nỗi gãy cả chân. Và có viết về một viên chỉ huy đồn lợi dụng quyền lực, dọa nạt dân quê để bóp nặn. Sau bài báo có tính tổng quát đó, số sau tờ báo ấy lại đăng một bài có nhan đề là “Một vụ tham nhũng trá hình”. Bài báo kể lại một đám khao thượng thọ ở một làng quê. Đám khao có lính bồng súng. Đám khao bắt cả làng đi mừng, cả vùng đi mừng. Bài báo phân tích cái hại của bọn cường hào, bọn có quyền đã bôi nhọ chính nghĩa quốc gia và đẩy người dân ngả vào tay Việt Minh. Điều ngạc nhiên là hai tấm ảnh: một tấm chụp một người lính bảo hoàng tay cầm súng đứng trước cái cổng gạch nhà ông chánh Long, tấm thứ hai chụp ba bốn người dân đứng trước bàn ghi danh sách người dân quê bị bắt buộc phải đi mừng.
Khi đọc tờ báo, quản Mật tức giận, lồng lộn. Hắn bảo :
- Ảnh này là của hai thằng thợ ảnh phố huyện.

Lập tức, Mật cùng hai vệ sĩ tới hiệu ảnh. Người thợ ảnh là một ông trung niên, tóc gọng kính, run cầm cập khi hai tên vệ sĩ túm ngực :
- Mày dám chơi tao. Muốn chết hả. - Quản Mật nói xong quăng tờ báo vào mặt ông thợ ảnh.
Thợ ảnh nhìn hai bức ảnh, lắc đầu quầy quậy:
- Quan quản nhầm rồi. Tôi, họa có là gan cóc tía, cũng chẳng dám làm việc này. Quan làm khao, có thuê tôi chụp ảnh đâu. Có điều gì nhầm lẫn ở đây. Tôi chưa hề đến chụp tại nhà. Tôi chụp ngay tại hiệu cũng không hết việc.

Lúc này, Mật mới chú ý nhìn gã thợ ảnh. Mớ tóc dài đít vịt bôi bi-dăng-tin bóng nhẫy, chải lật sang hai bên tai, bị xõa xuống như hai cánh gà rù; thỉnh thoảng lão phải đỡ tóc lên giắt vào hai vành tai. Mà đúng thật! Cái tay thợ ảnh hôm ấy trẻ hơn nhiều, đẹp trai hơn nhiều, tóc lại cắt ngắn, có vẻ là người thành phố sành điệu chứ đâu có như lão thợ quê gà rù này. Quản Mật ngắm kỹ rồi đi đến kết luận là mình đã mắc bẫy bọn nhà báo ở Hà Nội. Quản Mật lần trở lại những sự việc. Đúng bọn thợ ảnh này khác thường thật. Mình mời cơm, chúng không ăn. Khi trả ảnh, chúng không đến nhà mà lại gửi đến Phòng hành chính của quận. Ừ! Sao hôm đó mình hớ thế. Tại sao lại không hỏi giấy căn cước, giấy phép hành nghề. Thời loạn, chụp ảnh đâu phải dễ. Nhỡ ra ảnh chụp những bí mật quân sự thì sao? Có phải đúng chúng là nhà báo không?

Quản Mật cũng không nghĩ được xa hơn nữa. Bởi vì đây là việc của P.C Huyện. Thalan thực ra rất tin ở Mật. Bố trí những đồn bốt để mở rộng quyền kiểm soát và ngăn sự bành trướng của Việt Minh là nhiệm vụ của ông. Con sông Đào là phân tuyến giữa vùng du kích và vùng của Pháp. Sự lan tỏa ảnh hưởng của một đồn bốt là ba kilômét. Nếu không có bốt Đình Sọ, nơi ấy sẽ thành một lỗ hổng lớn để du kích từ bên kia sông đột nhập. Để bình định và lan tỏa thì không gì tốt hơn bằng dùng người địa phương. Do vậy, Thalan cho Mật làm sếp đồn Sọ. Thalan nghĩ: “Thời kỳ cắm chốt đã xong. Quản Mật là tay đắc lực, nhưng không thể hoàn toàn tin cậy được. Bởi vì dưới quyền Mật là một trung đội lính Việt bổ sung. Tới đây sẽ thêm hai trung đội nữa. Ít nhất phải có hai người Pháp ở đồn này. Đây không phải đơn vị của quân đội Bảo Đại. Họ là những người Việt tự nguyện đầu quân vào đội quân viễn chinh Pháp. Phần lớn, họ là những giáo dân và những người có thù hận với Việt Minh. Nhưng dù sao họ cũng vẫn là những người Việt”.

Chuẩn úy Gustave được cử làm trưởng đồn chỉ huy bốt Đình Sọ. Quản Mật thực ra cũng không ngạc nhiên. Hắn biết bài báo đã có ảnh hưởng đến chuyện này. Mặt khác, hắn cũng biết bốt Sọ được tăng quân số lên tới ba trung đội, và một viên quản như hắn cũng không được đủ tin cậy để chỉ huy một toán quân như vậy. Gustave nói với Mật :
- Tôi nghĩ mọi việc vẫn được tiến hành như trước. Anh làm phụ tá cho tôi. Một người thông thạo địa phương như anh là một thuận lợi lớn cho công việc của chúng ta.
- Cám ơn chuẩn úy.
- Thời gian tới, anh cắt cử các trung đội trực đêm, trực ngày. Thời gian vừa qua ở P.C., tôi chỉ thấy đội tuần đêm đi theo dọc phố. Tôi nghe nói, ở đây, anh tổ chức được đội tuần đêm đi cách xa bốt đến ba cây số.
- Điều này tôi học được ở Việt Minh. Ở các bốt khác chỉ đi toàn đêm gần bốt. Tôi thích yếu tố bất ngờ. Du kích bảo chúng ta chỉ làm chủ ban ngày, còn ban đêm là của họ. Chúng ta có cái lợi toàn lính Việt. Họ cũng là nông dân, cũng can đảm. Tôi cho họ mặc quần áo nâu và đêm cũng đi phục kích như Việt Minh. Nếu đụng độ du kích, họ không sợ vì được trang bị toàn súng tự động. Hỏa lực của ta mạnh hơn.
Gustave gật đầu cười :
- Như vậy ta luôn ở tư thế chủ động chứ không phòng thụ động. Vậy thời gian tới anh cứ lo canh gác và tuần tra ban đêm. Còn tôi sẽ lo việc xây dựng lại vòng lô-cốt phòng thủ bên ngoài. Chúng ta phải lo đến những cuộc tấn công quy hàng tiểu đoàn của đối phương.

Khi nói chuyện với Mật, Gustave nghĩ tới Thalan. Viên đại úy này là một người lính Pháp đích thực. Đại úy tốt nghiệp Saint Cyr, đã tham gia chống phát xít Đức, một con người bốc lửa nhiệt tình vì vinh quang của nước Pháp. Chính khi quân Pháp thua to ở đường số 4, phải rút khỏi dọc biên giới, quân viễn chinh ở Hà Nội nhốn nháo, người ta đã nghĩ tới sự sụp đổ của sự thống trị của Pháp tại Đông Dương, thì riêng Thalan vẫn không tin điều đó. Ngay lúc đó ông đã tình nguyện đến P.C Huyện để thay thế cho viên chỉ huy ở đó bị thương nặng.
Vậy nên, khi tướng năm sao Jean de Lattre de Tasigny đến Đông Dương, thì đại úy tưởng như mình được hồi sinh nhờ một thần dược. Ông ta kêu lên: “Danh tướng bậc nhất của nước Pháp, vị cứu tinh cho danh dự nước Pháp đã đến rồi. Lá cờ tam tài từ nay sẽ phần phật tung bay kiêu hãnh trên đất Đông Dương”. Cũng dễ hiểu, khi Gustave thấy ông đại úy nhiệt thành ca tụng vị tướng năm sao của mình. Trước khi Gustave xuống đồn Sọ, Thalan giảng giải cho viên chuẩn úy :
- Cậu cũng biết rõ là tôi rất quý cậu. Cậu lái xe giỏi, nhưng tôi biết cậu còn là một chiến binh giỏi hơn. Lái xe ư, tôi dễ dàng tìm ngay được người thay thế. Nhưng còn đồn trưởng đồn Sọ, tôi đã nghĩ kỹ rồi, sẽ chẳng có ai thay thế được cậu.
Viên đại úy dừng lại để châm điếu thuốc. Trước khi viên chuẩn úy thân tín của ông xuống đồn Sọ, có lẽ ông ta muốn châm lửa, truyền lửa, làm sao để cho tình yêu nước Pháp được bùng cháy rừng rực trong trái tim Gustave.
- Cậu đã được nghe chiến lược bình định Bắc Kỳ rất tuyệt vời của đại tướng De Lattre chưa. Thế này nhé. Đại tướng đang cho xây một hệ thống lô-cốt Bunker bao vây lấy đồng bằng sông Hồng. Nó ngăn không cho Việt Minh từ Việt Bắc thâm nhập vùng vựa lúa. Nó cũng là hàng rào ngăn cản dòng lũ cộng sản từ Trung Quốc tràn xuống. Nó không giống như chiến lũy Maginot cổ điển, mà là một chiến lũy thời chiến tranh hiện đại. Hàng nghìn những lô-cốt Bunker. Cậu hỏi giữa hai bốt là những răng kẽ hở ư? Không lo. Ở những khoảng cách đó ta có những đơn vị commăngđô (xung kích). Chỉ cần một người Pháp chỉ huy một trăm lính Việt, ta sẽ bịt kín những lỗ hổng đó. Và chính cậu là người đang thực hiện cái chiến thuật vĩ đại của ngài De Lattre. Cậu đã thấy vinh dự của mình chưa?
Điếu thuốc lá không được rít đã cháy sát ngón tay đại úy, ông quăng mạnh rồi châm điếu khác. Gustave thấy bàn tay Thalan run run. Ông lại tiếp tục hùng biện :
- Cậu thấy không. Một người Pháp chỉ huy một trăm người Việt. Đó là chưa kể những đơn vị quân đội hoàn toàn Việt Nam Quốc trưởng Bảo Đại với những sĩ quan là những trí thức học Trường sĩ quan Đà Lạt. Cuối cùng người Việt sẽ đảm nhiệm việc tiêu diệt Việt Minh. Họ là những người chống cộng thứ thiệt. Họ là vua Bảo Đại, là Đèo Văn Long, là Chao Quang Lồ, là Việt Nam Quốc Dân đảng, là lính Nùng, lính Thái, lính Mèo, lính Mường, là người theo đạo Thiên Chúa đầy rẫy ở Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình... Với những người lính đầy hận thù cộng sản ấy, ta sẽ làm cho Việt Minh thiếu lương thực, ta sẽ bình hoàn toàn vùng châu thổ sông Hồng. Trong cuộc chiến tranh ác liệt này, ai làm chủ đồng bằng, làm chủ thóc lúa, kẻ ấy sẽ thắng. Cậu hiểu chưa? Chính cậu phải làm những việc ấy.

Bốt Đình Sọ đã trở nên một công trường lớn. P.C Huyện cử xuống mười lăm người thợ đổ bê-tông lành nghề. Họ đã đi xây lô-cốt ở nơi khác về. Ba trung đội, thì lấy hai làm việc canh gác và tuần đêm. Còn trung đội thứ ba cũng tham gia xây bốt.
Chủ yếu xây dựng hệ thống phòng thủ thứ hai, vòng ngoài. Sau khi quan sát và tham khảo kỹ càng, Gustave vẽ một bản sơ đồ và trình đại úy Thalan. Có thể hình dung vòng ngoài bốt Sọ trông như một tam giác lớn. Ở ba đỉnh tam giác xây ba lô-cốt bê-tông nửa chìm nửa nổi, ở đây lính có thể trực tiếp chiến đấu chống lại sự tấn công từ bên ngoài và yểm trợ cho hai lô-cốt ở hai đỉnh tam giác còn lại.

Ở giữa sân đình là chòi quan sát cao tám mét, có thể dùng ống nhòm từ đây quan sát các làng chung quanh. Phía dưới đặt khẩu súng cối 60 có khả năng bắn chung quanh bốt trong trường hợp bị đôi phương tấn công. Sẽ xin thêm một súng cối 81 để bắn xa.

Nằm phía ngoài ba lô-cốt bê-tông là hàng rào dây thép gai. Cách một đoạn nữa là một đường mương sâu hai mét rộng bốn mét, được tháo nước vào, tạo thành một con sông phòng thủ. Nằm ngoài cùng là một bãi mìn rộng năm mét. Gustave hãnh diện nói với Thalan :
- Khi xây dựng xong, bốt này có thể chống lại sự tấn công của một trung đoàn đối phương.
Đại úy Thalan vỗ vai Gustave tỏ ý hài lòng. Ông chỉ thêm :
- Như tôi đã nói hệ thống phòng thủ của Vua Jean (người Pháp rất sùng bái De Lattre, gọi ông là Vua Jean) không có tính thụ động mà mang tính chủ động. Hệ thống là một chiến lũy dài dang dặc, như một tấm lưới ngăn Việt Minh từ phía bắc xuống đồng bằng. Các khe hở đối phương có thể xâm nhập là khoảng cách giữa hai đồn. Từ bốt Sọ lên tới bốt huyện là năm cây số. Vậy bốt Sọ không thể để lính nằm yên trong đồn, mà hàng đêm phải cho quân đi tuần xa đồn, hoặc phục kích xa đồn trong vòng ba cây số. Phải luôn có con mắt tình báo để nhận ra những biến động của đối phương quanh đồn, dù là biến động rất nhỏ.

Mười lăm lính thợ cộng với trung đội lính đồn ngày đêm xây dựng ba lô-cốt. Khi công binh đã rải kín hàng rào dây thép gai, thì quản Mật bắt hai thôn Sọ Đoài và Sọ Trung phải cử một trăm dân phu đến đào hào nước. Có mười gia đình lính người Việt ở trong đồn. Gustave sai những cô vợ lính cùng đi đào hào và trả lương họ gấp đôi. Nhiệm vụ của họ ngoài đào đất ra còn phải để mắt đến đám dân phu, bởi vì rất có thể Việt cho người trà trộn vào để nắm tình hình.

Đúng như mong đợi của Gustave, Thalan tăng cường hỏa lực cho bốt Sọ. Đại úy gửi thêm cho họ ba khẩu FM và một súng cối 81. Gustave xoa tay hứng thú :
- Như vậy từ nay ta có thể khống chế những làng ở cách ta năm kilômét vì tầm bắn của cối 81 là tám kilômét.
Nỗi vui mừng của viên chuẩn úy càng tăng vì ngoài súng đạn, Thalan còn cử cả đội Hải, phiên dịch viên xuống cho anh. Thực ra, anh chàng đội người Việt này có biết gì về đâu. Nhưng anh ta là một người bạn, một người có thể tâm sự được. Mặc dù quản Mật nói được tiếng Pháp, nhưng Gusta không gần được anh ta. Mặc dù chuẩn úy học tiếng Việt, nhưng đó vẫn chỉ là dăm câu nói bập bẹ. Không được nói tiếng mẹ đẻ, sống giữa những người ngoại chủng, giao tiếp bằng thu tiếng ngô ngô ngọng ngọng, lắm khi phải ra hiệu nhiều lần bằng tay mà cuối cùng đành phải lắc đầu, rồi nhờ Mật phiên dịch mà không biết sự phiên dịch ấy có chính xác không. Tất cả những điều đó làm Gustave thấy cô đơn, cảm thấy như bị lưu đày để rồi cuối cùng nhiều khi thấy sợ hãi. Đúng vậy, liệu ta có tin cậy được những người bản xứ này không. Phần lớn họ là người công giáo, họ thành tâm theo người Pháp, nhưng đằng sau những con mắt như u buồn kia không biết là những ý nghĩ gì. Nếu như trong đám lính này có một vài người theo phía bên kia thì sao? Có thể lắm chứ. Ở nước Pháp, thời kỳ Đức chiếm đóng, luôn xảy ra chuyện đó. Có những đêm, Gustave càng nghĩ càng thấy sợ. Do vậy, khi ngủ, anh luôn để súng cạnh người và cài chặt then cửa. Bởi vì khi ngủ, đó là lúc ta yếu nhất, bởi vì chính đại úy Thalan cũng dặn dò kỹ lưỡng khi Gustave xuống đồn Sọ: “Cái khó là ta phải vừa tin cậy họ vừa không thể tin cậy họ. Ngay đại tướng De Lattre cũng vậy, ông rất tin tưởng ở con bài Bảo Đại, tuy nhiên, ông vua da vàng này nghĩ gì, đại tướng cũng không hiểu nổi”. Chuẩn úy dang tay ôm lấy đội Hải:
- Tôi không ngờ đại úy lại hiểu tình trạng của tôi đến thế. Tôi đang phát rồ lên vì sự cô độc. Anh là thầy tôi, là bạn tôi, là tất cả những gì tôi cần thiết lúc này.

Đội Hải không bộc lộ tình cảm cuồng nhiệt như Gustave. Anh ta chỉ cười rất hiền từ và bình tĩnh nói một câu tiếng Pháp rất chuẩn về phát âm và văn phạm :
- Khi anh ra đi, trung úy Bernard điện ngay về Hà Nội xin một phiên dịch viên đã được tuyển chọn kỹ lưỡng. Đó là thiếu úy Lân đã đỗ tú tài phần một, trượt phần hai. Lân là con nhà công chức. Quân đội Pháp hứa, sau ba năm quân ngũ, sẽ cử anh sang Pháp học.

Sau hai tháng, bốt Sọ đã hoàn toàn giống như thiết kế mà Gustave mong đợi. Lúc này chuẩn úy chuyển sang kế hoạch củng cố thế lực của người Pháp ở các làng quanh bốt. Cách một, hai cây số gồm hai làng Trung và Đoài. Cách trên dưới ba cây số có làng Bùi Xá, Trịnh Xá và làng Thượng. Ngày nào, Gustave cũng đi cùng Hải đến nhà các hào lý của các làng để xem xét tình hình và để thông thuộc các đường ngang ngõ tắt. Vài buổi tối, người đồn trưởng đi theo Mật tuần tra lúc thì ở làng Bùi Xá, lúc thì Trịnh Xá. Đó là hai làng mà ban ngày vào ta thấy nhan nhản những khẩu hiệu của Việt Minh vẽ trên hròng. Nào là “Nông dân là quân chủ lực của cách mạng”, nào ta “Hỡi binh lính Pháp, hãy hồi hương”, nào là “Đả đảo Bảo Đại và bè lũ Việt gian bán nước”. Gustave đưa ra kế hoạch bình định hai thôn này. Đầu tiên là quân sự. Đang đêm bao vây làng Bùi. Du kích chống cự, liền đốt mười căn nhà nơi phát ra tiếng súng. Tập trung cả làng ra đình. Kẻ chỉ điểm trùm bao tải nhận mặt. Bắt người tình nghi lên phòng nhì P.C. Cuối cùng lập tề...

Gustave rất chú trọng đến tình báo. Phòng nhì P.. có hệ thống mật vụ riêng ở các làng. Gustave thu nhặt tin tức thông qua các hào lý và tay chân của họ. Đồn trưởng Sọ khuyến khích mật vụ bằng tiền thưởng. Ngoài ra, Gustave còn biết sử dụng cả những bà vợ lính trong đồn. Họ đi chợ Thượng hàng ngày. Ở chợ khối tin tức của các làng trong vùng. Các bà la cà ăn miếng trầu, uống miếng nước, nói chuyện tầm phào với những người quen. Vợ lính vốn người thiên hạ, nhưng đi chợ mãi, nhẵn mặt nhau, cuối cùng thành thân thiết với người dân các làng lúc nào không biết.

Sáng hôm ấy, một vợ lính báo cho Gustave :
- Lạ thật! Riêng làng Trung hôm nay bán năm con chó. Phiên trước có ba nhà.
Mật rất nhạy bén. Ông quản cười :
- Các ông du kích lại bắt đầu về làng Trung. Việt Minh thấy ta đang siết chặt làng Bùi và lỏng tay để làm yên dân làng Trung nên đã mon men đến gần bốt. Thảo nào...
Quản Mật thỉnh thoảng vẫn về nhà ông chánh Long, hút chơi điếu thuốc phiện ở bàn đèn của bố. Hắn nằm đấy nhưng luôn cảnh giác. Tiếng chó trong làng là tiếng chuông báo động của hắn. Thường thì những làng có cán bộ về đều vắng tiếng chó cắn. Chẳng ai cấm nhưng người dân tự động diệt chó, đe cho bước chân của người du kích không bị lộ.

Báo cáo hàng ngày của đồn trưởng viết về ngày hai mốt, sau phiên chợ Thượng như sau:
Nghe được tin diệt chó ở thôn Trung, buổi tối đồn trưởng Gustave đích thân đi tuần tra đêm. Mười giờ tối xuất phát. Đồn phó Mật ở lại chỉ huy đồn. Đội tuần tra gồm mười lính Việt, đồn trưởng và phiên dịch viên. Đồn phó Mật nói chùa Sọ là trọng điểm. Đội tuần tra phục trong vườn chùa.

Quả đúng như tin đồn ở chợ, cả làng không có tiếng chó, trừ ngôi nhà lớn của chánh tổng Long. Ở đấy có tới ba giọng chó khác nhau. Chùa Sọ cũng không có chó. Đồn trưởng cho vượt tường gạch vào hẳn trong chùa. Nghe thấy tiếng mõ. Nhìn vào đại điện, thấy có người đang gõ mõ, chú tiểu ngồi sau lưng buồn thiu, ngọn nến hiu hắt lúc tỏ lúc mờ. Phục ở chùa hơn một tiếng đồng hồ. Không thấy động tĩnh gì hết. Cho tới lúc chú tiểu dìu sư cụ đứng dậy chống nạng tập tễnh về buồng ngủ mới rút quân.

Phục kích ở ruộng ngô bên ngõ ra phía bờ sông. Đến hai giờ đêm, nhờ có trăng hạ tuần sáng nhờ nhờ, thấy có mấy bóng đen xuất hiện rồi lại biến mất ở những ruộng ngô xa. Đuổi theo, nổ súng. Chắc là họ ra phía sông Đào. Điện về đồn. Cho súng cối bắn dọc bờ sông.

Ngày hai mươi mốt. Cho hai trung đội vào làng Trung. Soát xét từng nhà. Kiểm tra kỹ từng ngóc ngách. Cả nhà ông chánh tổng cũng xem xét kỹ. Không có sự gì lạ.

Dự kiến những ngày tới: Tăng cường tuần tra các làng ban đêm. Nhất là làng Trung. Cho gọi các gia đình bị nghi vấn lên bốt thẩm vấn. Bất thình lình, tập trung dân làng Trung kiểm soát giữa đêm. Kiên quyết không để cho du kích tái lập ảnh hưởng tại đây.


Chú thích :
[1] Collaborateur (tiếng Pháp): người cộng tác với địch trong kháng chiến Pháp - Đức thế chiến II.


0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.02.2018 21:14:33 bởi Ct.Ly>
Chương 3
 
Giếng thơm
 
 
Một hôm, có người đàn bà dẫn một đứa trẻ vào lớp họ giáo Hải. Tôi đang cắm cúi làm toán, bỗng nghe thầy gõ mạnh cái thước kẻ xuống bàn và tiếng hô “Levez vous”. Đó là lệnh cả lớp phải đứng dậy chào khách. Phải nói là tôi hết sức ngạc nhiên khi nhìn thấy hai mẹ con người đàn bà ấy. Tôi thấy lớp học bỗng như tươi tắn hẳn lên. Có những con người như vậy đó. Họ xuất hiện ở đâu là bỗng nhiên nơi đó trở thành sinh động, ấm áp, ngược lại có những người xuất hiện chỉ mang lại sự buồn tẻ, bực mình, như người ta vẫn nói đi đến đâu là chết trâu chết bò đến đấy.
Người đàn bà ấy là bà Thêu, còn đứa trẻ nhỏ là cái Rêu. Bà Thêu rất đẹp. Tóc đen nhánh. Da trắng. Mắt bồ câu long lanh. Người cân đối thon thả. Bà mặc chiếc áo cánh nâu già vừa khít. Rất giản dị nhưng sao mà đẹp. Bà là bà Sáu của ông chánh cơ mà. Và ông chánh Long thì cả tổng, cả huyện ai chả biết. Ông nhiều vợ nhưng khét tiếng kén chọn. Người đàn bà nào đã thuộc về ông đều là người đẹp. Mà bà Sáu của ông, thì như ông vẫn hãnh diện khoe với mọi người, là người vợ ưng ý nhất của ông, là một người đẹp hiếm có, mà ông cứ đi tìm mãi, cho đến gần chót đời mới tìm ra.
 
Mới đầu, tôi cứ tưởng chính cái sắc đẹp kỳ diệu của bà, khi vào lớp học, đã tỏa sáng đem lại cái ấm áp tươi tỉnh cho lớp học của tôi. Sau tôi mới biết mình đã nhầm. Bởi vì khi bà đã đi khỏi rồi, chỉ còn lại đứa bé xinh xinh nhỏ nhắn kia, tức là chỉ còn lại cái Rêu, không khí lớp tôi vẫn sinh động tươi vui như thế. Sự có mặt của Rêu là một điều diệu kỳ. Sự thay đổi lạ lùng ấy rất nhỏ bé, rất tế nhị. Hầu như lớp học của tôi chẳng ai cảm thấy, nhận ra điều ấy. Đó là cảm nhận của riêng tôi. Hay là tôi đã nhầm. Và đó chỉ là sự tưởng tượng của tôi. Không biết sự cảm nhận hay sự tưởng tượng ấy có thật hay không, tôi chẳng biết nữa.
Bà Thêu đặc biệt về sắc đẹp. Riêng tôi nhận thấy, cái Rêu còn đặc biệt hơn. Nó gầy gò, nhỏ bé, xinh xinh. Giống hệt như mẹ, cũng da trắng môi hồng, cũng tóc đen như mun, cũng đôi mắt đen láy long lanh. Có thể nói nó là bản sao của mẹ nó. Nhưng vẫn có một cái gì riêng biệt khác với bà Thêu. Nhìn cô bé tinh khôi, mặc một chiếc quần đen, một chiếc áo nâu non rộng thùng thình so với cái thân hình gày guộc của nó, tôi cứ nghĩ mãi về cái khác biệt của Rêu so với bà Thêu. Nghĩ mãi mà chẳng ra. Là cái gì nhỉ? Phải chăng là nụ cười luôn thường trực trên đôi môi đỏ như son? Đôi mắt của bà Thêu long lanh như Rêu nhưng mà buồn. Còn đôi mắt của Rêu, chúng cũng long lanh nhưng ấm áp. Khi đôi mắt ấy nhìn vào ai, thì tâm trạng của kẻ được nhìn, dù đang lúc giận dữ, cũng bỗng nhiên như được xoa dịu. Còn cái gì riêng biệt của Rêu nữa nhỉ? Hay là...hay là nhìn Rêu ta cảm ngay thấy sự mong manh, ừ, đúng là sự mong manh. Ánh mắt ấm áp đôn hậu mong manh. Đúng chăng? Rêu đem lại cho tôi cảm nhận sự mong manh thế gian. Thế đấy, Rêu mang lại cho tôi cảm giác cô bé là một thiên nữ. Cô gái nhà trời có cánh. Những cô gái biết bay trong không trung, rắc hương, rắc hoa của đức Phật xuống trần thế. Cô là một thiên nữ tán hoa.
Rêu là em út của lớp thầy Hải. Bà Thêu bảo rằng nó chỉ rong chơi đến tuổi lên mười. Chẳng ai dạy nó bao giờ, thế mà bỗng nhiên bà Thêu phát hiện ra Rêu đã biết chữ. Vì thế, bà mới mang nó ra trường làng cho đi học. Lũ thằng Căn, thằng Trắm luôn bắt nạt chòng ghẹo tôi. Tôi đi tu. Chẳng hiểu sao, chúng coi như là tôi mắc tội. Một bận, lũ quỷ sứ bắt gặp một mình tôi giữa đường. Lập tức chúng vây quanh tôi và đồng thanh hát:
 
Sư đương tụng niệm nam mô  
Thấy cô xách giỏ mò cua bên chùa 
 Lòng sư luống những ngẩn ngơ 
 Bỏ cả kinh kệ, tìm cô hỏi chào. 
 
Chúng trêu, cốt để tôi tức giận, song tôi giữ im lặng. Chúng bảo:
-  Thằng hèn! Sao mày không chửi chúng tao?
-  Nhà chùa không biết chửi.
-  Sao mày không dám đánh chúng tao.
Chúng chỉ muốn có thế. Tôi đã học được sư bác dăm miếng võ. Tôi đã đánh nhau với Căn. Lúc ấy tôi không thua, nhưng cũng không được. Tôi chỉ ngăn chặn được một lần không cho bọn chúng bắt nạt. Chắc lần này chúng muốn trả thù. Như vậy không ổn. Chẳng lẽ tôi cứ phải học thêm hết thế võ này sang thế võ khác, để rồi phải đấu hết trận này sang trận khác với lủ chúng hay sao. Tôi nói:
- Tôi không đánh nhau. Các anh muốn tôi là người gây sự trước chứ gì.
Chợt lúc ấy Rêu đi ngang qua:
-  Đúng đấy, các anh đừng đánh nhau. Kìa anh Căn. Kìa anh Trắm. Cho em xin các anh.
Một cậu lên tiếng:
- Con bé này! Mày định bênh vực cho thằng trọc đầu.
Nói xong, nó sấn sổ bước tới, lấy tay đẩy mạnh Rêu, làm cô bé bật từ trên đường xuống ruộng. Cô bé long lanh nước mắt nhìn Căn, như cầu khẩn:
- Em làm gì đâu mà các anh đánh em.
Căn đang bừng bừng tức giận nhìn tôi, nay gặp tia mắt của Rêu bỗng dưng chùng xuống. Nó quát to:
- Không được làm thế. Không được đụng tới cái Rêu. Thằng hùng hổ đầu tiên tỏ vẻ bất mãn:
- Sao cơ? Nó bênh thằng sư con.
- Còn sao nữa. Cái Rêu là con gái. Không được đánh con gái. Thằng hùng hổ cười, chĩa mũi dùi sang tôi.
- Thế thì thằng An là con trai.
Rêu lập tức đến trước mặt thằng Căn:
- Anh không đánh đàn bà ư? Anh An cũng hiền như con gái. Anh An chẳng làm hại gì các anh. Anh An chẳng tranh chấp với ai bao giờ...
Thằng Trắm lên tiếng:
- Cái Rêu nói thế nghĩa là nhà sư cũng là đàn bà.
- Đúng! Người đi tu cũng là đàn bà - Cái Rêu ngẩng đầu lên nói như khẳng định.
Bọn quỷ sứ nghịch ngợm đều cất tiếng cười vang. Chúng bỏ đi miệng lao xao: “Sư cũng là đàn bà. Chúng tao không đánh đàn bà”. Tôi đi cùng đường với Rêu một quãng. Không biết ai dạy cái Rêu mà nó lại nói ông sư giống như đàn bà. Tôi cố giải thích cho Rêu rằng không phải, nhưng lý lẽ của tôi có được là bao, thành thử lời nói của tôi lúng túng, không thuyết phục được. Cái câu nói “ông sư là đàn bà” tưởng như lời tếu táo đùa chơi, không ngờ cứ ám ảnh tôi mãi. về sau, dần dần lớn lên đọc nhiều, tôi mới hiểu ra câu nói đó dính líu tới những ý tưởng rất to lớn của cuộc đời. Đó là sự bạo lực và không bạo lực. Đó là lòng yêu thương và sự hận thù. Đó là sự cứng rắn và đức bao dung.
Rêu chơi rất thân với Huệ và tôi. Cô bé cứ khăng khăng bảo tôi rằng chẳng ai dạy cô cả. Như vậy là Rêu đã có những ý nghĩ đó từ một kiếp nảo kiếp nào. Mà lạ thật! Chẳng biết kiếp trước cô ta là gì, mà sao cô bé thông minh đến thế. Học một biết mười, đối với Rêu thật dễ dàng. Ví dụ như học chữ chẳng hạn. Rêu bảo cô trông thấy những quyển sách, cô thấy thích đọc. Cô bảo người ta chỉ vẽ cho cô những chữ cái và cách ghép vần. Những người thầy bất đắc dĩ dạy cô nhưng cứ tưởng đó là trò ham thích nhất thời của trẻ nít, khi thấy cô luôn cặm cụi với hững cuốn sách đen ngòm những chữ lít nhít. Ai ngờ chỉ một tháng sau cô đã đọc sách vanh vách. Khi đến lớp cũng vậy, cô học tính toán cũng nhanh chóng với tốc độ phi mã. Chỉ nửa năm theo học, cô đã đuổi kịp chương trình của cả lớp.
Được cô học trò thông minh như vậy, thầy giáo Hải rất hãnh diện. Thầy lại giao cô học trò yêu đó cho Huệ giúp đỡ kèm cặp. Cô bảo Huệ và tôi một cách ý nhị:
- Em kém chú tiểu An ba tuổi, kém chị Huệ hai tuổi. Cho em xin làm em út. Em quý anh và chị lắm. Sẽ chẳng khi nào làm phiền hai người đâu.
 
Thời trẻ bà Thêu chẳng đến chùa. Từ khi có trục trặc với ông chánh, những lúc buồn khổ quá, bà tìm đến chùa làng, và mới hiểu ngôi chùa là niềm an ủi với người dân quê thế nào. Một bận bà dẫn Rêu lên chùa. Cô bé hồn nhiên đã nhiều lần đùa nghịch ở chùa. Nhưng hôm đó, có thể nói là ngày cô đột nhiên bừng tỉnh cùng với ngôi chùa. Ngôi chùa thân quen hàng ngày nhìn thấy, nhưng hôm ấy bỗng dưng như cởi tấm áo khoác, trở nên hoàn toàn mới mẻ trước mặt cô gái. Đó là lần đầu tiên cô bước vào tòa thượng điện. Con người thường phát hiện ra cái kỳ diệu của ngôi chùa, sau khi đã trải qua những đau đớn ê chề của cuộc đời. Một người bị phản bội bởi người thân. Một linh hồn oan khiên ngút trời. Một người hãnh tiến, được số phận nuông chiều, nay bỗng dưng hiểu mình tay trắng. Một kẻ nghèo khổ cùng đường, thấy vận rủi cứ đổ xuống đầu mình hết đợt này qua đợt khác. Những kẻ tật nguyền, những đứa con côi cút... Nói tóm lại, người ta càng bất hạnh càng sớm tìm ra ngôi chùa.
Còn Rêu thì sao? Cô tìm ra sự kỳ diệu của ngôi chùa làng ngay lúc cô đang nhởn nhơ sung sướng. Hay là cô đang mang trong mình những mầm mống ẩn tàng của đau khổ mà cô không hay biết.
Bước qua bậu cửa vào thượng điện tức là ta đã đặt chân vào đất Phật. Làm lễ xong, mẹ con bà Thêu đến hầu chuyện sư tổ của tôi. Thầy Vô úy hiền từ nhìn Rêu và hỏi:
-   Con có hay đi chùa không?
-  Bạch cụ, con vẫn chơi ở sân chùa. Hôm nay con mới vào thượng điện.
-   Con thấy trong lòng mình ra sao?
-   Dạ bẩm, con rất thích. Rất đẹp và thơm quá ạ!
-   Thơm ư?
Sư cụ nhìn vào đôi mắt long lanh và đôi cánh mũi phập phồng của Rêu. Sư cụ nhắm mắt lại như để nhìn cô bé hồn nhiên, nhưng là nhìn cô trong tâm tưởng. Cô bé có giọng nói như thủy tinh. Trong vắt! Phải, đúng là trong vắt! Và rất cao... giống như tiếng con họa mi... và sáng nữa chứ... Như những quả chuông pha lê không vết gợn đang bay lên không trung...
- Bẩm cụ, con rất yêu thơm tho.
Sư cụ mở mắt ra cùng với nụ cười:
- Đức Phật sẽ phù hộ cho con. Con đến với Phật lòng trong vắt. Con đã ngửi được hương của Phật. Để ta cho người đưa con đi thăm chùa nhé.
Sư cụ gọi tôi ra dẫn Rêu đi để cụ đàm đạo với bà Thêu. Tôi dẫn Rêu đi ngang qua chiếc sân giữa ngăn cách thượng điện và nhà tổ. Cô bé vừa đi vừa nói:
- Lạ thật! Lạ thật! Chú An ơi, em ngửi thấy một mùi hương rất lạ.
-  Hương ở thượng điện tỏa ra sân đấy.
-  Không phải. Hương đốt khác, đằng này...
- Hay là hương hoa mộc. Ớ góc sân có cây mộc năm nay ra rất ntụều hoa.
-  Không phải! Hương này rất đặc biệt. Khó tả ra lắm.
Thế là cuộc đi vãn cảnh chùa biến thành cuộc đi săn tìm một mùi hương đặc biệt chẳng biết tỏa ra từ đâu, mà mũi tôi thì điếc đặc, và chỉ mình Rêu ngửi thấy.
Rêu nhắm mắt lại, cánh mũi phập phồng định hướng:
- Phía này... bên phải... đi thẳng trước mặt... Không, đừng đi nhanh quá... Phía này mất mùi... Nó đây rồi - Rẽ trái! Đúng rẽ trái!...
Tôi cầm tay Rêu, còn Rêu nhắm mắt đánh hơi, đi tìm một mùi hương vô hình. Theo sự chỉ dẫn của cô bé. Và thật lạ! Chúng tôi đứng trước cái giếng đá ong. Chùa Sọ có hai cái giếng. Một cái giếng to hơn chiếc kia, miệng giếng đục bằng đá xanh rất nhiều nước. Đó là chiếc giếng cho sinh hoạt hàng ngày. Chiếc giếng thứ hai xây bằng đá ong. Miệng giếng nhỏ thôi. Nó nằm ở chỗ khuất lấp gần cây nhãn cổ thụ. Lạ một điều là cây nhãn này là nhãn lồng rất ngon. Và sư cụ tôi, khi pha trà, bao giờ cũng bắt tôi kín nước từ cái giếng nhỏ đó.
Đến đây Rêu bỗng mở choàng mắt và nói với tôi:
- Đến rồi! Ở đây hương bốc lên ngọt ngào. Em biết rồi. Đây là giếng thơm.
-  Giếng thơm!
Tôi thốt to, nói theo, và hếch mũi hít những hơi dài. Tuy nhiên, tôi chẳng thấy mùi thơm. Còn Rêu, cô lim dim đôi mắt, vẻ mặt bừng lên hân hoan. Cô đang tận hưởng cái làn hương thơm tho, mà chỉ mình cô nhận được. Tôi ngạc nhiên, sững sờ nhìn cô song chẳng nói một lời. Bởi vì ở đời có rất nhiều điều kỳ diệu mà ta không thể ngờ. Chắc là tôi không có duyên, còn cô có duyên với thứ hương bí ẩn ấy. Người ta bảo mỗi vùng đất đều có hương riêng của nó, giống như làn hương riêng của mỗi cá nhân con người. Có thứ đất hương ô trọc. Có những linh địa hương sực nức ngào ngạt. Chùa của tôi chắc chắn là linh địa. Và khẩu giếng đá ong này thông với chính nguồn linh khí. Có vậy, thầy tôi, khi pha trà, mới bắt tôi nhất thiết phải lấy nước từ khẩu giếng này về đun. Thầy của tôi chỉ nhận ra hương đất qua những ấm trà, còn Rêu thì có duyên hơn, cô tìm ra hương đất chỉ đơn thuần bằng mũi ngửi.
Rêu đúng là một đứa trẻ. Cô lấy gầu, thả dây, kéo nước lên. Cô đổ gầu nước trong veo long lanh ánh sáng vào chiếc chậu sành. Rồi cô khum hai bàn tay, vốc nước, vã vào mặt. Cô nghịch nước như một đứa trẻ. Cô uống nước, cô vỗ nước, đập nước, rồi cả té nước vào mặt tôi và cười với tiếng cười giòn như nắc nẻ...
Sau hôm phát hiện ra điều kỳ diệu, Rêu rất năng lên chùa. Đến nỗi bà Thêu phải hỏi con gái:
-  Con thích lên chùa... Hay là mày muốn đi tu?
Rêu nhoẻn cười với mẹ:
-  Chùa thơm tho lắm u ạ. Nhưng con thích ở đời hơn ở chùa.
Dần dà, Rêu thân với mọi người trong chùa. Cả con chó vàng giữ chùa trông thấy cô cũng vẫy đuôi mừng rỡ. Rêu thân với tôi đến mức có chuyện gì cũng nói. Rêu luôn đi lại với ngôi nhà lá bên ao bèo nhà chùa. Chị Nguyệt, bà vãi Thầm coi Rêu như người thân. Có thể nói bà vãi Thầm và Rêu như đôi tri kỷ. Nhiều buổi tối, hai người ngồi ở thềm nhà nhìn ra ao bèo ngắm đom đóm bay. Người ta bảo bà vãi già rồ dại, còn Rêu thì cũng ngơ ngơ. Bà vãi trỏ những con đom đóm to nhất, bà cụ đã nhận ra bóng dáng những người âm:
- Con đóm ở cuối ao gần cây vối là ông Khố nhà tôi. Con đóm trong lùm cây sung là bà bạn thân của ta thời con gái...
-  Cô Thắm phải không?
- Ừ, cô Thắm! Cô ấy chết rồi mà vẫn làm đỏm. Áo tứ thân này, váy sồi này, hầu bao hoa lý, rồi lại đeo cả dây xà tích bằng bạc.
-  Cô Thắm nói gì hở bà?
- Chả nói một nhời. Nhưng mặt buồn rười rượi. Cô Thắm là chị ông Trưởng bạ làng ta. Quái lạ! Nhà ông trưởng bạ giàu có. Sao cô Thắm lại buồn thế nhỉ. Hay là sắp có chuyện gì.
Bà vãi Thắm nhìn thấy ma, thấy người cõi âm qua những con đom đóm. Còn Rêu thì nhìn thấy Phật. Những ông Phật hiền hòa từ chiếc giếng thơm bay lên.
Một tối, tôi xuống căn nhà lá nói chuyện với chị Nguyệt. Tôi nhìn thấy hai bóng người một già một trẻ tha thủi ngồi ở đầu hè thì thầm, thủ thỉ, đang nhìn những con đom đóm bay bổng bay la để nói về những người ở cõi âm, tôi chợt thấy sờ sợ. Thầy tôi bảo người tu hành không sợ ma quỷ, nhưng thú thật, tôi vẫn thấy sợ.
Dạo ấy, thầy tôi hay đi làm phật sự ở những nơi xa, có khi vài hôm mới trở về chùa. Trong những chuyến đi ấy, sư bác Khoan Độ phải đi theo giúp đỡ, bởi vì thầy tôi đã già lắm rồi.
Những lúc ấy, một mình tôi quán xuyến cả ngôi chùa mênh mông. Tôi đánh chuông thu không. Sau khi đi kiểm tra các ngóc ngách cửa ngõ, tôi ngồi trong thượng điện tụng kinh gõ mõ. Ở tòa thượng điện tôi hoàn toàn yên tâm, bởi vì ở đây tôi ngồi dưới chân bao nhiêu là Phật. Trong ánh hào quang của chư Phật, loài ngạ quỷ nào dám bén mảng tới đây. Tôi nghĩ vậy và tôi đọc kinh hai lần, cố kéo dài thời gian, dưới sự che chở của chư Phật. Tôi nghĩ phải nằm một mình ở gian buồng gói đầu hồi nhà tổ. Sợ nhất phải một mình nghe đêm, mà giấc ngủ thì biến mất.
Rõ ràng là đêm ấy tôi đã tụng kinh cho tới quá nửa đêm. Rõ ràng là tôi đã buồn ngủ vì hai con mắt cứ díp lại. Thế mà khi về nhà tổ, bỗng nhiên tôi lại tỉnh như con sáo. Tôi nằm im lặng, miệng nam mô Phật, cố gắng gọi cơn ngủ trở lại. Nhưng thật quái ác, tôi càng gọi thì giấc ngủ lại càng xa vời.
Tiếng động ban đêm ở ngôi chùa vắng thật muôn hình vạn trạng. Đầu tiên là tiếng mọt đục gỗ. Tiếng ken két như người nghiến răng. Nghe ghê cả người. Mà không phải một con, những ba con. Lấy ngón tay nút lỗ tai lại, vẫn nghe thấy tiếng ken két trong óc. Hết phương cứu chữa rồi. Mắt chong ra. Thế này là giấc ngủ đêm nay đi tong. Quái lạ! Căn nhà tổ làm bằng gỗ lim cơ mà. Hay là mọt ăn rác gỗ. Tôi cứ phân vân nghĩ ngợi, chợt nghe tiếng gió hu hu ở đầu hồi nhà. À, tôi hiểu rồi. Sư bác bảo căn nhà toàn gỗ lim lõi. Chỉ riêng bộ đòn tay trong đợt sửa chữa cách đây mấy năm, là bằng tre. Dạo ấy đánh Tây, sự sửa chữa qua quýt. Chắc có mấy cây tre ngâm chưa kỹ, chưa chín, nên lúc này mọt mới hoành hành. Nghe tiếng gió hu hu, tôi chợt nghĩ đến ông thợ làm nhà tre tên là Thẩn trong làng. Ông ta lẩn thẩn nhưng làm nhà tre thì khéo tay chẳng ai bằng. Tỉ mẩn lắm. Đầu hồi là những ống tre. Ông Thẩn biến chúng thành những ống sáo như kiểu sáo diều. Mùa đông, đêm mưa to gió lớn, ta nằm trong chăn nghe mưa rơi, nghe tiếng sáo diều kể cũng thú. Tôi đã nghe sáo đầu hồi mùa đông của ông Thẩn rồi. Nhưng lúc ấy là nằm bên sư bác. Cảm giác thật yên ổn. Tiếng sáo đầu hồi ru tôi vào giấc ngủ. Còn đêm nay, sáo mùa hạ thì sao? Mỗi mùa gió có hướng khác nhau, lại lúc mạnh lúc nhẹ, nên sáo đầu hồi mùa hạ có khác. Đêm nay trăng vằng vặc giãi ngoài thềm, nhưng gió lại phe phẩy như đùa như bỡn. Ô hay! Ngọn gió nhẹ ấy lại hợp với những ống tre to. Tiếng sáo đầu hồi, trầm và buồn, nghe như tiếng tiêu xa với. ừ, nó nức nở như tiếng khóc. Tự dưng, thấy héo hắt trong lòng.
Lại thêm tiếng chó sủa ma. Tiếng nhát gừng của con chó vàng. Có tiếng tru kéo dài của con chó bông đáp lại. Con Bông là con chó trắng của nhà cụ chánh Long. Cụ chánh quý con chó trắng này lắm. Lông nó không mượt mà xù. Cụ chánh chăm tắm cho nó nên con chó như một cuộn bông trắng tinh. Cái đuôi cong cong uyển chuyển như lá cờ. Đó là con chó cái duyên dáng. Cụ chánh hãm, không cho nó đi tơ với loài chó vện, chó vàng quê mùa. Cụ bảo con Bông là giống chó quý phái, chó Ả Rập. Nó chỉ xứng đáng cặp đôi với loài chó tuyết của Nga. Có người mách có con chó Nga ở Hà Nội. Cụ đang liên hệ. Sẽ có một ngày cụ đem con Bông của cụ đi lấy giống. Dân làng thì nghĩ khác. Họ bảo:
- Quý gì mà quý. Giống chó trắng là giống chó ma. Con chó ma này động cỡn như điên như dại. Mà lạ thật. Nó chỉ thích con chó dái ngoài chùa. Đó là con vàng của sư cụ. Mà cũng lạ! Con chó dái của sư cụ không bị thiến mà trông thấy chó cái nó cứ dửng dưng như không. Hay là nhà chùa có thuốc bí truyền. Trông thấy gái mà không động lòng thế mới gọi là chó nhà chùa chứ.
 
Đêm nay, chắc chó trắng sổng chuồng. Con chó ma đến bãi tha ma, tru lên, dụ dỗ con chó vàng. Nghe chó tru gọi bạn, nghe ống sáo hu hu thổi khúc tiêu buồn, tôi như nẫu cả lòng, và nghe mãi thì lòng xốn xang, người bỗng gai gai rờn rợn. Cứ thấy hiện ra trước mắt hình ảnh con chó ma trắng toát, lông xù, mũi đỏ chót, mắt xanh lè, đi bằng hai chân sau ngoài bãi tha ma, vừa đi vừa tru lên bằng những tiếng tru dài thống thiết.
Đang lúc ấy, chợt vẳng lên một tiếng hát, tiếng tỉ tê trong đêm bát ngát. Văng vẳng mơ hồ... lúc đứt... lúc nối... véo von... trong vắt. Tiếng hát như ma trơi chập chờn trong gió. Tôi phải gắng sức nghe mãi mới luận ra:
 
Con chim nho nhỏ
Cái đuôi nó đỏ
Cái mỏ nó vàng
Chim chích mà đậu cành hồng
Líu lo nó hót cho lòng ngẩn ngơ. 
 
Ai hát mà véo von thế nhỉ. Cả làng Sọ này có ai hát hay thế đâu. Lại chọn đêm khuya giữa ánh trăng suông. Gió hây hây từ hướng nam. Phía ấy là bãi tha ma. Chẳng lẽ có kẻ động rồ nào ra giữa bãi tha ma mà hát. Lạ thật! Im ắng tật cả. Cả tiếng con chó trắng cũng dứt. Hay là con chó ma cũng mê tiếng hát, đã ngừng sủa trăng để nghe tiếng hát. Hay là chính con chó ma đã hóa thân làm cô gái mặc áo trắng, đang đội trăng để khoe tiếng hát mỹ miều. Tôi nghi nghi hoặc hoặc nghĩ vẩn vơ. Hóa ra chính tôi cũng đang say mê, đang bị hớp hồn vì tiếng hát. Tiếng hát như gọi tôi dậy. Tiếng hát đã cất bỏ gánh nặng sợ hãi đè trĩu tâm hồn tôi. Tôi đã ngồi bật dậy từ lúc nào chẳng hay. Rồi tôi bước ra thềm nhà ngồi trong ánh trăng vàng định hướng. Hóa ra không phải tiếng hát từ bãi tha ma vọng tới, mà từ vườn chùa. Quái lạ! Kẻ nào thế nhỉ? Kẻ nào dám đột nhập vườn chùa giữa đêm hôm khuya khoắt. Tôi khẽ mở cánh cổng hậu, đi ra vườn.
 
Lúc này tiếng hát mỗi lúc một to. Tôi đi tay không, chẳng mang gậy gộc. Bây giờ đã rõ ràng là một tiếng rất thanh và rất trong. Lúc này tôi hiểu tôi đã theo tiếng hát ra đây do sự tò mò. Quái lạ thật! Chỉ có kẻ điên rồ hay một loài tinh ma nào đấy mới đang đêm lẩn vào vườn chùa để cất tiếng hát:
 
Con chim nho nhỏ
Cái đuôi nó đỏ
Cái mỏ nó vàng...
 
Tiếng hát đã nghe rõ mồn một. Trong tiếng hát, có cả tiếng nước ào ào. Bây giờ thì tôi hiểu rõ rồi. Sở dĩ tiếng hát đứt nối là vì có những gầu nước chảy. Nghe rõ cả tiếng gầu lanh canh chạm vào thành giếng. Tức là, một con ma nào đó, hay một người nào đó đã múc nước từ giếng lên, rồi đổ ào từ đầu xuống chân. Tôi nấp sau bụi hoa sói và tôi đã hoàn toàn định hướng.
Tôi đưa mắt nhìn ra khẩu giếng đá ong. Ở đây, cây nhãn lồng đã chừa ra một khoảng trống để ánh trăng giàn giụa chảy xuống khẩu giếng. Và tôi không tin nổi mắt mình nữa. Bên thành giếng, giữa trời đất, một cô gái khỏa thân trắng toát, mớ tóc đen nhưng nhức sau lưng, đang tự nhiên, thỏa thuê tắm trăng, tắm nước giếng thơm. Làn da trắng của cô long lanh trăng vàng. Và cô lại cất tiếng hát véo von, mê hoặc:
 
Con chim nho nhỏ
Cái đuôi nó đỏ
Cái mỏ nó vàng...
 
Tiếng hát vút lên lảnh lót giữa trời đất. Rồi gầu nước dội ào ào từ đầu xuống chân. Người cô gái như dát bạc. Cũng đúng lúc này, đất trời chợt lâng lâng. Mà tôi cũng như ngây ngất. Bởi vì một mùi hương đã tỏa ra ngút ngát. Khắp vườn chùa thơm phức. Chẳng hiểu đó là hương đất trời, hay là hương từ cái giếng đá ong tỏa ra, mà lần đầu tiên tôi cảm nhận được.
 
* * * * *
Người ta chắc đoán ngay ra cô gái tắm trăng đó là ai. Cô Rêu đã nhằm lúc sư cụ và sư bác đi vắng, cô cũng biết tôi là kẻ nhút nhát, nên đã lẻn vào vườn chùa múc nước giếng thơm tắm. Tôi đã chứng kiến Rêu nhiều lần vục nước giếng vào lòng hai bàn tay vã vào mặt. Những lúc ấy, mắt cô long lanh thèm thuồng. Cô xin được tắm nhưng ai cho cô tắm bằng thứ nước quý chỉ dành cho sư cụ pha trà và chỉ dùng để thổi xôi đóng oản vào những ngày sóc vọng.
Rêu nói chuyện với Huệ, cứ ao ước được tắm nước giếng đá ong ngoài chùa. Huệ hỏi:
- Sao lại cầu kỳ thế? Nếu em thích tắm nước trong thì ra nhà chị. Nhà tao có bể nước mưa ngọt và trong văn vắt.
- Chị không hiểu đâu. Nước mưa ở bể nhà chị cũng quý. Tuy nhiên, nó ngọt mà không thơm. Ở làng này, chẳng nước nhà nào bì được với nước giếng đá ong ngoài chùa. Em bảo cho chị biết nhé. Nước ấy là nước thơm, nước thiêng. Một lần được tắm ở đấy là con người sạch bong. Sạch từ trong lẫn ngoài.
Huệ thì thầm bảo tôi:
- Cái Rêu nó lạ thật đấy. Cứ ngu ngu ngơ ngơ. Cứ như ở trên trời rơi xuống. Chẳng biết nó nhặt được ở đâu cái ý nghĩ tắm giếng kỳ lạ ấy.
Đến lúc ấy, tôi mới biết tới đức tính sạch sẽ của Rêu. Lúc nào cô cũng sạch bong, tinh khiết. Cô bé gầy gò, mảnh mai, nhẹ bỗng. Trông Rêu, có ngay cảm giác mong manh dễ vỡ. Cái tạng ấy thuộc về người nghệ sĩ.
Sau cái hôm sư cụ sai tôi lên gác tam quan đánh năm hồi chuông đại hồng chung để báo cho dân làng biết từ nay quê tôi sạch bóng quân thù, Pháp rút quân, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, làng Sọ náo nức ăn mừng. Thím Nấm lên nắm chính quyền. Bà bảo:
- Làng ta phải tổ chức một bữa tiệc tập thể cả làng. Mỗi người đóng một bát gạo. Dân làng chia làm hai. Một nửa tát ao đình. Một nửa bắt cá ngoài sông Đào.
Tôi đi theo đám người bắt cá sông. Người ta lấy hai mảnh lưới chắn hai đầu một khúc sông nông. Đầu tiên, tất cả trẻ con trong làng ra quẫy lộn, xô nước, đập nước, đánh ròng ròng, lặn ngụp, chúng quần đi quần lại làm cho lũ cá sợ chết khiếp lặn hết xuống đáy. Nước sông ngầu bùn. Tiếp đó gần trăm người lớn dàn hàng ngang thành một dãy dài nối hai bờ sông. Mỗi người cầm một cái nơm chụp xuống nước liên tục. Dãy người úp nơm tiến lên, đi từ đầu đến cuối khúc sông. Người ta reo to khi một con cá lớn quẫy ùm ùm trong nơm. Người ta hớn hở tay trái bịt miệng nơm, tay phải mò bắt những con cá bạc. Rồi mỗi khi bắt được, họ lại hớn hở giơ con cá lên trời mà hét lên như bắt được vàng... Đến trưa, thu được lưng hai rổ sồng…
Bữa tiệc tập thể mừng giải phóng được kết thúc vào buổi tối bằng một cuộc liên hoan. Một đơn vị bộ đội đóng quân trong làng góp vui bằng màn biểu diễn hò kéo pháo. Một tuần lễ tập luyện ngoài chùa cũng đủ để đội thiếu nhi toàn là nữ biểu diễn thành công điệu múa “Mừng ngày được mùa”:
 
Ta vui là vui bông lúa chín...
 
Các cô thiếu nữ tha thướt váy sồi, áo dài, thắt lưng xanh đỏ. Tập múa đã công phu, nhưng công phu nhất là trang phục, trang điểm. Xưa kia, làng nghèo, hiếm áo quần. Các cô phải vận động mãi các bà vãi mới cho mượn váy sồi áo dài đi chùa. Lại phải lạy van bà đồng trong làng cho mượn một mớ dải lụa xanh đỏ, tím, vàng để các cô choàng lên cổ, cầm ở hai tay. Có những dải lụa nhiều màu sắc phất phơ, điệu múa mới mềm mại uyển chuyển. Lần đầu tiên, các cô thiếu nữ làng Sọ trông như những cô văn công. Lần đầu tiên, dân làng Sọ mới nhận ra con gái làng thật đẹp, trông chúng như những nàng tiên...
Nhưng tiết mục làm cả làng ngạc nhiên nhất là bài hát của cô Rêu. Có lẽ tôi là người đầu tiên được nghe Rêu hát dưới ánh trăng. Cả làng không ai biết Rêu có giọng hát hay đến thế:
Con chim nho nhỏ
Cái đuôi nó đỏ
 Cái mỏ nó vàng...
Chim chích mà đậu cành bàng
Véo von nó hót cho chàng ngẩn ngơ...
Con chim nho nhỏ
Cái đuôi nó đỏ
Cái mỏ nó xanh
Cành cam, cành quýt, cành chanh
Trong ba cành ấy cho anh cành nào...
 
Khi Rêu hát, cả làng Sọ đều ngây ngất. Giọng cô bé lảnh lót, cao vút. Lại nhí nhảnh, ngây thơ. Họ không ngờ làng Sọ rất quê mùa của họ lại nảy nòi ra được một con chim họa mi như thế. Hôm ấy, có một ông chỉ huy trung đoàn cũng đến dự. Sau đêm liên hoan ông gặp Rêu và hỏi:
-   Cháu học được ở đâu bài hát ấy?
-   Thưa, cháu không học ở đâu cả.
-   Thế, có ai dạy cháu không?
-   Dạ, không.
-   Vậy là cháu tự nghĩ ra và hát.
- Thưa, mẹ cháu nằm võng cứ ngân nga: “Con chim nho nhỏ, cái đuôi nó đỏ, cái mỏ nó vàng...” cháu thấy câu đó hay hay. Khi đi chăn bò, cháu cứ nghêu ngao mãi mà thành bài hát...
- Giỏi! - Ông chỉ huy khen ngợi - Cháu có giọng hát và bịa bài hát cũng khéo. Cháu có năng khiếu đấy. Cháu có muốn đi văn công không?
Rêu chẳng biết văn công là gì, nhưng được ông chỉ huy giải thích, nó bằng lòng ngay, vì rằng nó thích hát và nhất là được đi khắp đó đây. Tại sao Rêu lại thích đi văn công, xa nhà như vậy? Ở làng Sọ, những đứa trẻ còn bé, chẳng đứa nào dám xa cha mẹ cả. Cái lý do tại sao, chẳng ai biết. Cả tôi, cả Huệ, những đứa bạn thân nhất của Rêu cũng không biết, mãi cho tới sau này mới được nghe nó kể.
 
Nghe nói, thời gian hơn một năm ở đội văn công của Rêu cũng nổi đình nổi đám lắm. Càng ngày nó hát càng hay vì vào văn công nó được học hành tử tế. Rêu nhỏ bé, mảnh khảnh, mong manh nhưng có giọng hát rất vang, rất lảnh lót. Nhìn Rêu, người ta chẳng hiểu lồng ngực của Rêu cấu tạo ra sao mà lại phát ra được những âm thanh kỳ diệu và lung linh đến như vậy. Giọng hát của cô bé đã thuyết phục, đã mê hoặc được bao nhiêu thính giả. Nghe Rêu hát, nhất là khi cô ngân nga, run rẩy ở một âm thanh chót vót, người ta bảo lồng ngực và cổ họng của cô giống như con chim họa mi bé nhỏ. Người ta thích thú hoan nghênh nhưng cứ thấy rờn rợn. Thính giả có cảm giác như cổ họng của cô làm bằng thủy tinh. Rất mong manh để có thể rung lên những thanh âm thay đổi cực kỳ tinh tế. Cứ cảm giác như nó thật giòn tan dễ vỡ. Và người ta gọi cô là con họa mi thủy tinh.
Một năm trời thôi, nhưng Rêu được đi rất nhiều nơi. Cô bé hát rất say sưa. Cái say sưa của một con người đang tìm một cái gì đó mà chưa thấy. Cuối cùng, điều mà những khán thính giả của cô lo sợ xảy ra, cũng đã xảy ra. Sau một cuộc biểu diễn thành công đặc biệt, con họa mi hiếm hoi của làng Sọ bỗng lăn ra ốm. Các bác sĩ phát hiện ra Rêu mắc bệnh lao phổi. Người ta tận tình chữa cho cô liền sáu tháng trời mới khỏi. Rêu trở về làng xưa, nhưng từ giờ không được hát nữa.
 
Rêu đã hoàn toàn thay đổi. Điều mọi người dễ nhìn ra nhất là Rêu đang từ một cô bé vui tươi bỗng trở nên trầm tĩnh tư lự. vẫn tốt bụng, đôn hậu như xưa; vẫn thắm thiết với bạn bè, làng xóm; vẫn nụ cười nở trên môi, chỉ có khác là nụ cười buồn buồn, vẫn ra cái giếng đá ong nhà chùa, để vọc tay vào làn nước thơm vã lên mặt, nhưng cái Huệ bảo có lần nhắc nó chuyện tắm nước giếng thơm ngày xưa, nó chỉ cười hắt hiu và lắc đầu.
 
Một hôm, Huệ thấy Rêu quá tư lự, âu sầu, liền đánh bạo hỏi:
-  Sao lúc nào mày cũng ỉu xìu như thế?
- Thì cũng tại cái số em nó như thế... Thế chị không biết làng xóm người ta đồn về em hay sao?
- Tao cũng nghe qua loa... Nhưng tin sao được miệng lưỡi thế gian...
- Nói thế chứ, em nghĩ cũng thật buồn... Trong làng đứa nào cũng có cha... Còn em thì sao... Tại sao ông chánh lại hờ hững với mẹ con em... Chị có biết không, có khi quá nửa đêm, em thức dậy cứ thấy có tiếng sụt sịt. Em nghe ngóng mãi mới biết mẹ em đang khóc... Em thương mẹ quá... Từ lúc ấy, em quyết đi tìm cho bằng được xem cha mình là ai.
Ôi, con họa mi thủy tinh hiếm hoi của quê tôi! Cứ tưởng cô chỉ biết đến sự hồn nhiên, nhởn nhơ ở cõi đời này. Hóa ra lòng cô cũng tơ vò trăm mối. Huệ hỏi:
-   Thế tại sao mày lại đi văn công, đi ca hát?
- Có người bảo rằng em hát hay như thế vì bố em là một anh bộ đội cũng hát rất hay... Em đi biểu diễn khắp nơi. Đến đâu em cũng hỏi thăm anh bộ đội có giọng hát hay. Hỏi bố em tên gì, em không biết, chỉ trả lời rằng ông rất giống em mà thôi... Thế là hơn một năm trời lang thang mất công toi...
Thế đấy! Con họa mi làng tôi dù sao thì cũng rất hồn nhiên. Cô ta quá ngây thơ để có thể tin vào một lời đồn vu vơ, đã dám bỏ ra hơn một năm trời để đi tìm một con người trong tưởng tượng mà cô không hề biết tên, biết họ.
 
Người thứ hai cô nghi hoặc và tìm đến hỏi là một người cô biết tên biết họ hẳn hoi. Trong lời đồn đại về cái đêm định mệnh đối với bà Thêu có câu nói của mấy ông tuần phiên: “Tối hôm ấy tối đen như mực. Chúng tôi thấy một bóng đen chui từ cái trổ tre nhà bà Thêu chạy ra đồng. Chúng tôi đuổi theo đến bờ sông, thì đánh ùm một cái rồi mất hút. Chúng tôi đứng trên bờ sông, chờ kẻ kia lặn hết hơi sẽ ngoi lên. Đứng mãi vẫn chẳng thấy gì. Chỉ có ma nam mới biến mất tăm như vậy. Hoặc là chỉ có những người bắt tôm bắt cá, thạo sông nước, bơi lặn như rái cá mới có thể trốn lủi dưới nước, thoát khỏi con mắt của chúng tôi...”. Tuần phiên chẳng dám nghi ngờ ai, bởi vì giỏi sông nước nhất làng này, kẻ có tài lặn vài mươi phút như rái cá ở làng này chỉ có độc nhất anh Lẫm, chồng cô Thì, con rể bà vãi Thầm. Tuy nhiên, anh này xấu xí quá, người đen như cột nhà cháy, tóc tai bù xù bẩn thỉu, lúc nào cũng đội chiếc nón mê và lăn lộn ngoài đồng. Kể ra, tay này cũng là loại dê cụ, tuy nhiên chẳng dám chàng màng tới bà Sáu, vợ cụ chánh. Hơn nữa, người đàn bà nõn nà như bà Thêu có khi nào lại dính dáng tới con người xấu như ma lem ấy... Anh Lẫm bị loại khỏi vòng nghi ngờ của xóm làng. Chỉ riêng Rêu, cô vẫn ngờ vực. Đã ngờ vực thì phải hỏi cho ra nhẽ. Rêu nghĩ như vậy. Rêu hoàn toàn khác mọi người. Cô không sĩ diện. Nếu thật quả là đúng, thì cô có một người cha như vậy cũng chả sao.
Có thể nói, ông Lẫm sống hoang dã, màn trời chiếu đất. Suốt đêm ngày, ông trụ ở ngoài đồng. Có khi vài ba hôm ông mới trở về nhà. Mỗi ngày, chị Thì mang cơm cho chồng hai lần. Bữa thứ hai, lúc trời đã tối nhẹm. Ở ngoài đồng, thỉnh thoảng lại nhô lên một gò cao. Anh Lẫm thường thả lờ, đặt đơm, đặt đó vào ban đêm. Mệt thì lăn ra ngủ trên gò, tùm hum chiếc áo tơi che muỗi. Chừng hai canh giờ lại choàng tỉnh, đi nhắc đơm nhắc đó.
Do vậy nên một tối, Rêu lội xuống tìm đến Gò Mả Quan để gặp ông Lẫm. Gò Mả Quan nằm liền kề khu đồng Dộc. Đồng Dộc là một dải ruộng sâu, nơi tôm cá khắp vùng dồn tụ cả về, nơi ông Lẫm hàng đêm vẫn đặt lờ, đặt đó.
Lúc ấy, chị Thì vừa mới mang cơm ra đồng cho chồng ăn xong, chị đổ giỏ tôm tép vào cái rổ rồi cắp nách đem về. Chị không quên mang ra cho anh Lẫm lưng cái chai con chừng hai chén rượu. Chỉ thỉnh thoảng và chỉ có ngữ thế thôi. Trăng đầu tuần như chiếc liềm sáng treo trên bầu trời thưa sao trong vắt. Anh Lẫm giữ lại mấy con tôm kềnh to bằng ngón tay, nhảy tanh tách trong giỏ. Anh nhắm rượu với tôm sống chấm muối ớt. Trông thấy cô bé Rêu gầy gò mảnh khảnh ngồi trước mặt mình, hình như anh không lấy làm lạ. Cô bé lúng túng mãi không biết nên vào đề như thế nào. Cô lại hỏi một câu chẳng ăn nhập gì cả:
-   Bác ăn tôm sống như vậy có tanh không?
-  Không đâu cô ạ. Lại ngọt là đằng khác. Cô có biết không có lúc làm nhiều, đói quá đến thắt cả ruột, tôi ăn cả cá sống, cua sống. Cũng may, ở đằng kia có lăng Quan Nghè. Đấy là mả một ông quan to ngày xưa. Nhờ có cụ phù hộ nên tôi kiếm ăn ở đây cũng được. Ở đấy có mấy bụi đinh lăng, nhón vài hạt muối, một quả ớt chỉ thiên đưa tất cả vào miệng mà nhai cho kỹ. Ôi chao! Vừa ngọt, vừa bùi, vừa cay cay, mằn mặn. Ngon ơi là ngon! Ngon tuyệt trần đời! Ăn tới đâu, khỏe người tới đó...
Ông Lẫm nói xong, cười giòn. Rêu cũng cười. Tiếng cười xóa tan sự lúng túng ban đầu, làm Rêu thấy thoải mái, thấy con người hoang dã ấy cũng chẳng có gì đáng sợ. Ông Lẫm tợp một ngụm rượu, rồi bảo:
- Cô định hỏi tôi điều gì phải không? Cứ nói đi. Đừng ngần ngại gì cả... À... mà chắc cháu lại nghe dân làng người ta đồn đại gì rồi phải không? Đừng có nghe. Nhảm! Tất cả đều nhảm!
-  Cháu khổ tâm lắm bác ạ. Chẳng biết dân làng nói đúng hay là nói sai, nhưng thật sự cháu rất khổ tâm... Bác ơi!... Thực sự cháu muốn có cha... Cha cháu là ai cũng được... Miễn là cháu có cha... Bác Lẫm ơi! Cha cháu là ai? Bác đã ở đây lâu... Đêm nào bác cũng ở ngoài đồng... Người ta bảo chỉ có bác là biết thôi... Cháu van bác đấy... Bác nói cho cháu khỏi nghi hoặc... khỏi khổ tâm... cháu rất cần biết... Dù cha cháu là người nghèo khổ cũng không sao... Cháu thề với bác đấy... Dù cha cháu thế nào cháu cũng vẫn yêu mến... kính trọng.
 
Ánh trăng mờ thượng tuần chiếu vào mặt cô gái, ông Lẫm nhìn thấy những giọt nước long lanh trong đó. Giọng cô gái run lên, van xin:
- Bác ơi! Xin bác nói đi... Hay là... Hay chính bác là cha của cháu... Người ta bảo trong làng Sọ, chỉ có bác là người có thể lặn sâu dưới nước... rất lâu mà không cần thở... Bác Lẫm ơi! Bác nói đi! Có phải sự thật là thế phải không?
Người đánh cá ngồi im như trời trồng, nhìn cô gái hiền hậu đang trong cơn mê sảng. Nghĩ rất lâu, mới lên tiếng:
- Cháu bình tĩnh lại đi. Đây là việc rất hệ trọng nên cháu không nên nghe những lời nói nhảm... Cháu tốt bụng, cháu hiền như một cô tiên... Nếu cháu là con... Còn gì sung sướng cho ta hơn. Nhưng cháu tin ta đi... Ta thề có trời đất... Cháu không phải là con ta... Cháu nhìn kỹ ta mà xem. Ta đen đủi... Đầu tóc như tổ quạ... Người ngợm mặt mũi lúc nào cũng lấm bùn đất... Còn cháu thì sao? Cháu xinh đẹp... Cháu tốt bụng... Trời đất sinh ra hiếm có ai như cháu. Con phải thật bình tĩnh mà thử nghĩ xem: Liệu một người xấu xí như ta có thể sinh ra một đứa con như ngà như ngọc hay không? Huống hồ đối với cụ chánh, đối với họ Nguyễn, ta lại là người chịu ơn... Cháu biết không, cái bận ta đói khát từ Thái Bình đến làng này, cụ chánh đã rủ lòng thương, nhận ta vào làm thợ cày. Có như vậy, ta mới không chết đói. Có như vậy, ta mới lấy được vợ, rồi sinh con đẻ cái...
Ông Lẫm ngừng lời một lát như để suy ngẫm, như để hồi tưởng lại những chuyện rất xưa, rồi mới nói:
- Cái khổ là cháu nghe lời nói nhảm. Cả đến cụ chánh Long cũng tin vào lời nhảm... Cái dạo ấy vào hồi trước Cách mạng, Việt Minh hoạt động rất ráo riết. Cụ chánh Long tuy làm chánh tổng, nhưng là người học chữ thánh hiền, lại là học trò của sư cụ ngày xưa, thầy sư cụ Vô úy bây giờ, nên chẳng màng gì đến chuyện đời. Riêng ông lý Phượng, con cả của cụ chánh thì khác. Ông ta rất năng nổ đôn đốc đám tuần phiên; đêm nào tiếng tù và cũng tí u vang lên khắp cánh đồng. Đến như ta làm nghề đơm đó, chuyên sống về đêm, ông ta cũng cấm không cho đi đêm. Ta phải lạy van mãi, xin nộp cho làng mỗi tháng một đồng bạc, ông ta mới cho phép, nhưng hạn chế chỉ được kiếm ăn ở cánh Dộc này, chứ không được đi lung tung. Đêm hôm ấy, ta nghe tiếng tù và vang lên dồn dập ở phía cánh đồng gần nhà cháu. Ta không mục kích cuộc rượt bắt. Tuy nhiên, ta nghĩ rằng có thể là cuộc rượt bắt khác. Chẳng ai nhìn thấy, nhưng có thể vì đêm tối mịt mờ, người ta có thể hoa mắt nên bảo rằng có bóng đen từ cái trổ tre nhà cháu chui ra. Cũng có thể người ta nói thế vì mục đích khác thì sao? Nhà giàu, lắm của, lắm vợ, lắm con. Chỉ có giời mới biết đích xác... Tuy nhiên, cháu phải tin bác đi... Cháu giống mẹ như hai giọt nước, cháu chẳng giống người đàn ông nào mà bác biết... Cho nên bác tin chắc rằng đích thị cháu là con cụ chánh Long... Mấy lại... cháu cũng giống cụ chánh đấy chứ. Cụ chánh đàn rất hay... Còn cháu hát như con chim họa mi... Người ta bảo: “Con nhà tông chằng giống lông, cũng giống cánh” mà...
 
Sau cuộc gặp gỡ với ông Lẫm ở Gò Mả Quan, Rêu được nghe lời phân tích của ông, cô gái lại nhen lên trong lòng một niềm hy vọng khác. Cô gái tìm cha đã làm một hành trình thật lạ. Mới đầu, là cuộc du hành bốn phương trời, đem tiếng hát để đi tìm một người cha không tên, không họ. Đi một vòng, để rồi lại quay về điểm xuất phát, để kiểm chứng lại cái người đã không thừa nhận, đã bán tín bán nghi dòng máu của mình.
Cũng có thể nói đây là cuộc du hành cuối cùng của con chim họa mi, của cô em nhỏ bé nhất trong lớp học làng tôi, cuộc du hành của đứa con đi tìm cha.
 
Lúc ấy, ở khắp vùng trong huyện, làng quê đều đang nôn nao, hầm hập như con người sắp lên cơn sốt. Người ta bảo đợt tới, làng Sọ sẽ làm cải cách ruộng đất. Những làng ở huyện bên cạnh đã làm rồi. Cho nên, tuy chưa trải qua, người ta đã biết hết cải cách sẽ tiến hành ra sao, có những bước thế nào. Người ta nghe ngóng, người ta đồn đại, người ta tự liên hệ bản thân, ai ai cũng ang áng biết mình sẽ thuộc thành phần nào, gia đình nào sẽ lên thằng phú, thằng địa, gia đình nào sẽ là cố nông, bần nông. Kẻ lo, người mừng. Tuy nhiên, người ta cũng hiểu rõ một điều, nhưng điều đoán định ấy chỉ là tương đối. Sẽ không như sách vở đâu. Còn rất nhiều điều bất ngờ. Bởi vì còn có chuyện tố khổ. Người lương thiện tố khác. Người ác độc lại tố hoàn toàn khác. Chỉ vì một lời tố bâng quơ nào đó, anh cố nông cũng có thể trở thành phản động, hay một nhà nông nghèo cũng có thể lên thành phần bóc lột. Cho nên, người dân quê, trừ những kẻ đắc thời, đều gài chặt cửa ngồi nhà, và khóa cả mồm cả miệng. Ở thời này ít nói là hơn. Chỉ một lời sảy miệng có khi mang vạ vào thân. Và nhất là chẳng nên đi lại với những nhà có máu mặt. Thì thụt, thân thiết với kẻ khác có khi cũng là tội lỗi.
Thầy tôi, sư cụ Vô úy, đêm nào cũng tụng kinh tới quá nửa đêm. Thầy tôi bảo: “Nộ khí, sát khí đang dâng cao. Nó có thể thấm vào ta. Thầy hiểu những tụng niệm của thầy chẳng hề có thể làm tan bầu khí nặng nề. Song, ít nhất, nó cũng an cái tâm cho thầy, nó cũng ngăn những xung khí ấy thấm nhiễm vào người ta, và qua những lời kinh, thầy trò ta cũng nhận được luồng từ lực của chư Phật hộ niệm cho chúng ta, giúp ta có được lòng kiên trì nhẫn nhục để vượt kiếp nạn”.
 
Trong những ngày ấy, Rêu hay lên chùa. Nó càng lúc càng thân với tôi hơn. Tới mức, có gì trong lòng nó đều thổ lộ cho tôi hết. Tôi đã nói, Rêu rất trong sáng. Có thể cô bé trong văn vắt. Mà nhà chùa cũng là một nơi chốn trong vắt ở thế gian này. Có lẽ nói chuyện với Phật rất khó. Chỉ có những người đắc đạo mới có thể nói chuyện với Phật. Bởi vì khi ấy độc thoại được biến thành đối thoại. Chắc vì thế nên Rêu mới tìm đến nói chuyện với tôi. Dù sao, tôi cũng là người ở chùa. Rêu nghĩ tôi gần Phật hơn. Một bận, Rêu bảo:
- Chập tối hôm qua, ông chánh đến nhà em... Mẹ em không tiếp, bà đuổi ông ấy về. Trông ông chánh đi lúi cúi, cái đầu gục xuống, thật thương anh An ạ...
-  Tại sao bà Thêu lại đuổi?
- Chắc mẹ em sợ liên lụy. Bà muốn cắt đứt với địa chủ. Có người nói với mẹ rằng vợ thứ sáu thì không phải là địa chủ. Vẫn là thành phần lao động. Bà ngoại em bần nông, vậy mẹ em cũng là bần nông... Anh An ơi! Bây giờ em phải thế nào hở anh.
Tôi ngẫm nghĩ và nhớ đến lời thầy tôi dạy. Tôi đem lời ấy nói với Rêu:
- Trong cuộc bể dâu này, chẳng có ai thoát nổi. Nó động chạm đến khắp mọi người. Kẻ gặp may, được ưu ái thì tâm hồn cũng vấy bẩn, có khi còn ân hận cả đời. Kẻ bất hạnh không gặp may thì sẽ gặp bước gian truân, lưu ly. Sẽ tai qua nạn khỏi tất cả, chỉ miễn là giữ được cái tâm trong sạch, từ bi...
Chẳng biết lời của thầy tôi giúp được Rêu tới đâu. Chỉ biết rằng bà Thêu cứ dặn đi dặn lại con gái phải tuyệt nhiên không được liên hệ với ông chánh, nhưng cô con gái đã làm ngược lại lời bà. Bởi vì cô Rêu nghĩ việc cải cách này không phải là điều cô quan tâm nhất. Cái cô quan tâm nhất là việc cô đi tìm một người cha. Cuộc nói chuyện với ông Lấm ở Gò Mả Quan đã làm cô nghĩ lại và hy vọng. Hơn nữa, vào cái lần bà Thêu đuổi ông đi, cô bé nhìn ông lủi thủi ra ngõ, cái đầu cúi xuống, cái lưng còng còng... Cái dáng tha thủi nhẫn nhục bỗng làm lòng trắc ẩn dâng lên trong cô... Nhỡ ông ấy thực là cha ta thì sao? Có thể lắm chứ. Sao tim ta, nhìn thấy ông như thế, cứ thấy phập phồng đau xót... Hay là trái tim mách bảo... Rêu đã kể với tôi như vậy với con mắt buồn đến nẫu ruột. Tôi bảo Rêu: “Trái tim đã mách bảo thì cứ thế mà làm”.
Một lần, Rêu đột ngột đến nhà ông chánh. Cô đi vào Ngõ Lớn. Ngõ Lớn là ngõ to nhất làng Sọ. Ngõ cạnh đình, nối với trục chính trong làng. Sở dĩ ông chánh làm Ngõ lớn chỉ vì muốn ôtô đi đến tận cổng nhà mình, để tiện cho việc đi đến của các quan tỉnh, quan huyện. Ngõ được làm từ thời cụ phủ (cụ làm quan phủ), cụ thân sinh ra ông chánh. Ngõ Lớn chỉ có một nhà, nó là ngõ riêng của gia đình ông chánh. Hai bên ngõ trồng tre. Tre châu đầu vào nhau, tạo thành một vòm cung màu xanh trên đầu. Trẻ con trong làng không đứa nào dám quấy phá, lại luôn có một gia nhân chuyên sửa sang buộc bịu.
Cuối ngõ là cái cổng gạch xây theo kiểu cổ ở các làng quê. Một bụi xương rồng lạ, gốc ở trong, leo lên mái ngõ, rồi tỏa những cành xanh từ trên cao rủ xuống, như những cánh tay cong cong. Tất cả tạo nên cho Ngõ Lớn một vẻ rất độc đáo và duyên dáng. Chả thế mà các quan lớn ở trên về, ai ai cũng phải tấm tắc khen ông chánh là kẻ có con mắt sành sỏi, biết biến hóa, làm cho những thứ rất quê mùa trở thành diễm lệ.
Đấy là chuyện ngày xưa, thời mà ông chánh, ông bá Phượng còn là những ông vua con trong làng. Còn bây giờ, cái ngõ tre rộng đâu còn như trước, cỏ hoang đã đâm lên từ kẽ gạch. Hai dãy tre vàng không được sửa sang, tỏa nhánh tùm lum tua tủa. Bóng dáng con người chỉ còn dấu vết ở một con dường mòn nằm giữa nền gạch. Thường dễ đã mấy năm rồi Rêu chưa đặt chân trở lại đây. Sự xa cách giữa ông chánh và mẹ con Thêu - Rêu xảy ra từ từ. Hồi bé, Rêu nhớ cứ mười ngày ông chánh lại đến với mẹ con cô. Những bữa ấy vui lắm. Rêu được ngồi trong lòng ông, khi ông uống rượu. Bà Thêu làm mắm tép rất khéo. Mà ông chánh thì lại thích thức ấy. Bà Thêu thường mua chân giò thái mỏng ra rồi thái những lát khế, lát chuối cho ông chấm mắm tép đỏ au. Những lúc ấy, ông chánh rung đùi tít lên, vuốt má Rêu và âu yếm khen Rêu là con gái xinh. Nhưng rồi, những bữa ăn ấy cứ thưa dần, thưa dần. Cuối cùng bặt hẳn.
Cái bận cuối cùng Rêu đến nhà ông chánh cách đây chừng mấy năm. Vào ngày giỗ cụ phủ thì phải. Hồi ấy, Rêu còn nhớ như in, vì vừa vào ngõ Rêu đã bị ba bốn con chó to xồ ra vây quanh. Rêu khóc thét lên. Và nếu không có Hiếu chạy tới thì có lẽ Rêu đã bị lũ chó phanh thây. Từ bữa ấy, Rêu không đến nhà cụ chánh, nguời mà cô vẫn gọi bằng thầy.
Rêu đứng trước cánh cửa lim gọi to song chẳng có ai thưa. Rêu vẫn sợ đàn chó nhur đàn hùm dữ. Cô tần ngần nhưng cuối cùng cũng đẩy cánh cửa lim. Cô giơ tay đẩy. Cánh cửa không cài then. Nó nặng nề xoay cót két trên cái trôn bát. Rêu hồi hộp, giữ thế thủ chờ đàn hùm dữ. Tuy nhiên, lại chỉ có một con chó trắng tinh, lông lồm xồm, đứng phe phẩy cái đuôi lá cờ, rồi sủa gâu gâu. Tiếng sủa chẳng có gì hung dữ, mà lại như âu yếm. Hóa ra con chó chỉ là cái chuông báo hiệu. Ông chánh lọm khọm, ho sù sụ từ sân sau bước ra. Khu nhà mênh mông tòa ngang dãy dọc nên Rêu phải đứng chờ một lúc trước con chó trắng. Con chó sủa nhưng vẫn đứng im, phe phẩy lá cờ đuôi, cái mũi đỏ hếch lên nhìn Rêu. Cô hỏi nó:
- Mày có phải con chó ma, mà dân làng cứ đồn ầm lên phải không? Chó ma ư? Mày xinh đáo để.
Cô đang định làm thân với con chó trắng thì ông lão đến. Ông nói hiền lành:
- Rêu đấy ư? Rêu đã đến đây ư? - Ông nói run run. Đôi mắt già như sáng lên. Ông lẩm bẩm - Ừ... nó cũng đến. À, mà phải... Con chó này không phải chó ma đâu... Lũ chó dữ... chúng bỏ đi hết rồi. Con nào không bỏ đi ta cũng cho người ta. Chỉ giữ lại con này... để nó làm bạn. Nào... vào đây... con vào đây...
Rêu lặng lẽ bước vào gian nhà khách, rón rén ngồi vào chiếc tràng kỷ. Cô ngạc nhiên khi cảm thấy bộ óc mình như rỗng không. Bao nhiêu câu cô định hỏi bỗng nhiên bay đi đâu mất. Ông lão hình như cũng lúng túng như cô. Ông hỏi những chuyện vẩn vơ. Hỏi làm văn công cô đi những đâu. Hỏi khi bị bệnh cô điều trị ở đâu. Rồi ông bảo ông mừng vì bệnh lao là một trong tứ chứng nan y. Và khoa học ngày nay tài quá. May mà cô sinh vào thời bây giờ nên bệnh mới khỏi. Riêng chủ đề bà Thêu, rồi chuyện vợ chồng, cha con ra sao, cả hai đều như muốn lảng xa không động đến.
Rêu nhát gừng trả lời ông lão. Cô lơ đãng nhìn lên tường nhà. Ở đấy, treo hai cây nguyệt cầm cổ và một cây nhị. Cô bỗng dưng nhớ lại một kỷ niệm:
- Hơn một năm con đi văn công, rồi đi chữa bệnh, con cũng học đàn nguyệt. Nhất là năm sáu tháng ở bệnh viện, con gặp một ông thầy đàn. Ông ấy đã dạy con...
- Thế ư? Ta cũng nghe dân làng bảo con hát rất hay. Không ngờ con còn biết đánh đàn...
Ông lão đứng dậy, lấy cây đàn treo trên tường xuống, đưa cho Rêu. Cây đàn rất đẹp. Cần đàn, sườn và lưng hộp nguyệt màu cánh gián có vài hình khảm xà cừ óng ánh, căn phòng khách nhiều bụi, riêng cây đàn sạch bong, cầm cây đàn, tự nhiên mắt ông già long lanh:
-  Con thử đánh ta nghe một khúc xem sao.
Rêu ngần ngừ định từ chối, nhưng rồi nghĩ một lát, cô bằng lòng nhận lời. Ông chánh vốn nổi tiếng đàn nguyệt, cả làng ai cũng nói thế, song thực ra Rêu chưa bao giờ được nghe ông chơi. Tuy thế, nhìn cây đàn, cô biết trước mặt mình là một tay đàn lành nghề, một thầy đàn. Nhất là trước khi đưa cây đàn cho cô, ông đã dạo lên một đoạn lưu không... Ôi chao! Tiếng ngọt ngào. Ôi chao! Ngón tay như bay, như múa.
Tự nhiên cô run run sợ hãi. Cuộc gặp gỡ hóa thành cuộc khảo đàn.
Ông già có lẽ hiểu cô đang nghĩ gì. Ông khích lệ động viên Rêu:
-  Con đừng ngại. Thầy con dạy thế nào, con cứ làm thế ấy.
Ông già tròn đôi mắt khi Rêu tháo tung tất cả dây đàn rồi lắp lại theo ý cô. Đàn nguyệt có bốn trục vặn nhưng chỉ có hai dây đàn thấp và cao. Ông già à lên một tiếng khi thấy cô đảo chỗ giữa hai dây. Thì ra cô thuận tay trái. Ông cũng gật gù khi thấy cô vắt chân chữ ngũ, nghiêm chỉnh sửa soạn chỗ ngồi, cái cổ vuơn lên kiêu hãnh mà sang trọng. Khi hát, đôi mắt cô nhìn xa xăm long lanh duyên dáng. Cô vừa đàn vừa hát điệu Cờn:
 Nhớ lời Mẫu gọi cô lên
Một tin gắn bó hai tin hẹn hò
Mẫu dặn cô điều nhỏ tiếng to
Hương thơm huê ngát thơm tho lạ lùng
Tấu cô thương lấy ghế cô cùng...
 
Ông chánh tươi tỉnh khi cô dứt tiếng hát. Ông lấy cây đàn thứ hai từ trên vách xuống rồi vừa nhấn phím vừa chỉ vẽ cho cô:
- Ta hiểu rồi, ông thầy đàn của con vốn là một ông cung văn. Chắc ông ta là một thầy đàn nguyệt điêu luyện nên ngón đàn của con tuy còn chút ngỡ ngàng nhưng rất vững vàng. Con nên biết đàn nguyệt không chỉ riêng dùng cho hát chầu văn... Ngâm thơ... hát chèo... ca Huế đều dùng đến nó cả. Bởi vậy muốn chơi nguyệt cho hay, phải biết tất cả các loại dân ca. Thạo tất cả mới có thể pha trộn uyển chuyển, biến báo linh hoạt làm cho tiếng đàn thật mềm, thật nhuyễn. Người đánh đàn hay như rót mật và tai người nghe. Muốn lấy nước mắt của người đời cũng được. Muốn người ta vui tươi nhảy nhót cũng được. Nhưng người đánh đàn hay nhất là người biết rót lòng mình vào tiếng đàn...
Chẳng biết ông già nói với riêng mình hay nói với cô gái nữa. Còn đối với Rêu, đây là lần đầu tiên cô được nghe những lời nói dài như thế từ một người, mà trên danh nghĩa, là cha cô. Chẳng những nghe lời nói mà còn nghe tiếng đàn của ông. Lời nói đã đành... Những tiếng đàn mới thực là tâm tình. Ôi! Tiếng đàn hôm ấy! Sao nó não lòng lắm vậy. Tiếng đàn lúc buổi chiều tà. Tiếng đàn oi bức của một bầu trời trước cơn dông bão... Ngồi bên cạnh là một cô bé đi tìm cội nguồn, với nỗi tơ vò trong lòng, với những câu hỏi trong đầu óc còn chưa kịp mở ra. Con chó trắng, con chó ma thì nằm dưới đất. Con chó cũng như tư lự. Nó đặt mõm gối vào hai chân trước. Con chó cũng biết nghe đàn ư? Khi dứt tiếng đàn, ông lão cũng bừng tỉnh. Bấy giờ ông lão mới quay trở về, nói đến tiếng đàn của cô:
- Tiếng đàn ở khu vực giữa lúc hòa vào tiếng hát là được. Còn ở giữa hai trổ hát, lúc đó tiếng đàn một mình tung hoành ở khu vực cao; đó là lúc người chơi đàn khoe ngón của mình. Tiếng đàn lúc này phải réo rắt, phải uyển chuyển tinh tế, vì giọng hát khi ấy đã dứt rồi. Tiếng đàn chẳng thể nương tựa trốn lủi vào giọng hát nữa. Giọng hát của người đàn càng hay thì khúc lưu không phải càng hay mới cân xứng... Người ta bảo con có giọng hát họa mi. Ta thấy đúng và mừng cho con. Tuy nhiên khúc lưu không thì chưa ổn. Con chưa khoe được tiếng đàn.
 
Ông già ngừng một lát rồi tiếp.
- Con thích giọng Cờn... Ta hiểu con thích cái gì là dịu dàng đẹp đẽ. Ta biết con thích sự duyên dáng thanh cao. Trong hát văn có một điệu có tính chất như vậy. Nó cũng uyển chuyển cũng tươi tắn. Nghe nó lòng người lâng lâng... Đó là điệu Phú. Thế này là Phú... thấy chưa? Chính khúc là thế này... Còn biến cách thì có phú bình, phú chênh, phú dựng, phú dồn... Con thích có phải không?... Ừ... ta sẽ dạy con... Dạy cái làn chính thôi... Học cái chính... sau đó biến cách thì con sẽ phải tự lần mò... Con phải học ba buổi... Tính nhanh như con cũng phải ba buổi.
Thế là cái Rêu đi tìm một câu trả lời. Song câu trả lời lại là một bài đàn.
Cuộc gặp gỡ giữa ông chánh và Rêu mãi sau này tôi mới tường tận qua lời kể của Rêu và của ông lang Khoái. Cụ chánh, ngoài chuyện là con bệnh thường xuyên, còn là người bạn đồng tuế và tri kỷ của ông lang Khoái. Chơi với nhau từ lúc để chỏm cho đến cuối đời. Lần gặp gỡ cuối cùng của họ vào lúc xóm làng rục rịch đi vào cuộc cải cách long trời lở đất ở chốn thôn quê. Ông lang nói: “Hôm ấy ông ấy xách chai rượu đến. Ông ấy bảo chai rượu này là chai rượu cúc cuối cùng tự tay ông nấu. Rượu cúc được chôn hàng năm dưới đất hẳn hoi. Ông ấy bảo còn vò rượu quý, không uống cũng phí. Ông phải uống hàng ngày, uống thật say. Uống hết vò rượu này thì sẽ cưỡi hạc vân du về cùng tiên tổ. Ông vẫn có một chuyện cứ canh cánh trong lòng. Nhưng đến hôm nay, ông đã hết băn khoăn. Đi được rồi, đi được rồi. Ông ấy cười khà sảng khoái, nhưng khi hỏi chuyện canh cánh là gì thì ông không nói. Ông ấy chỉ cầm tay tôi lắc lắc và nói lời cảm ơn đã chữa bệnh cho ông ấy khỏi. Tôi đã chữa cho ông ấy khỏi bao nhiêu lần mắc bệnh trong đời rồi. Đâu chỉ có một lần. Tôi nghĩ rằng ông ấy say rồi. Mà đúng là ông già đã say vì ông lại quay sang một câu chuyện khác. Ông khoe rằng mình vừa mới nhận một cô học trò đánh đàn nguyệt. Cô học trò đặc biệt. Ông chỉ làm mẫu rồi giảng giải sơ qua, cô ta đã nắm được ngay. Rất xuất sắc. Mà lại đánh hệt như ông mới lạ chứ... Bây giờ thì ông mãn nguyện rồi... Đã có truyền nhân rồi... Ông có thể nhắm mắt được rồi ”
Lời kể của ông lang Khoái mờ mờ tỏ tỏ như vậy đó Còn sau đây là lời kể của Rêu với tôi:
- Ông chánh hẹn với em rằng sẽ dạy đàn cho ba buổi. Song chỉ đến buổi thứ hai ông đã bảo em rằng thế là tốt rồi em không cần học thêm nữa. Ông đuổi đi, nhưng em cứ ngồi ì ra. Ông rên rỉ: “Thầy đã hết chữ rồi. Con còn muốn gì nữa. Thế là được rồi. Con như thế là thầy hài lòng rồi. về đi! Kẻo mẹ mày không hài lòng, về đi! Kẻo rồi rước vạ vào thân”. Em vẫn cứ ngồi ì bởi vì anh biết mục đích của em đâu phải học đàn. Ngồi im mãi cuối cùng em cũng đánh bạo nói ra: “Thầy có hận mẹ và con không?” - “Trước thì có. Bây giờ thì không”. Em lại hỏi' “Điều thứ hai con hỏi thầy phải nói thật. Có đúng con là con ruột của thầy không. Điều này làm con rất khổ tâm. Con rất muốn biết”. Đến câu này thì ông im lặng một lúc lâu sau mới trả lời: “Chuyện ấy chính ta cũng không biết nữa. Nhưng có quan trọng gì đâu hở con. Bao giờ ta cũng yêu con. Bây giờ ta càng yêu con hơn, bởi vì... con đánh đàn rất giống ta. ” “Sao
thầy cứ vòng vo mãi không trả lời ý chính. Con hỏi lại, con có đúng là con ruột của thầy không?”. Ông già như bứt rứt ngập ngừng, để cuối cùng hỏi lại Rêu: “Thế con đánh đàn như thế nào?”? “Thầy đã chẳng nói con chơi đàn giống hệt như thầy sao”. “Đúng, nhưng con đánh bằng cách nào”. “Con đánh bằng tay trái”. “Họ Nguyễn nhà ta chưa có người nào thuận tay trái... Nhưng dù sao con vẫn là truyền nhân của ta”. Nói xong ông đứng dậy, ra vườn rồi bảo em: “Thầy van con. Đừng bao giờ quay lại đây nữa. Con hãy nghe lời mẹ”. Con chó trắng đứng lên sủa như để tiễn em. Em trở về nhà cứ ngẫm nghĩ mãi. Lạ chưa! Em nhận được câu trả lời rất mù mờ, nhưng kể từ hôm ấy, lòng em hết băn khoăn. Ý em đã quyết.
Cuộc gặp gỡ ấy xảy ra khoảng một tháng trước khi đội về. Sau đó ông già không tiếp Rêu nữa. Cô đến, nhưng cái cửa lim cài then chặt. Gọi như hò đò cũng chỉ có tiếng con chó trắng, con chó ma đáp lại. Mà tiếng sủa lại còn gắt gỏng nữa chứ. Từ đấy, Rêu đành hỏi thăm tin tức ông cụ qua cô cháu gái, tức là Hiếu. Một bận Hiếu đưa cho Rêu chiếc dây chuyền bằng vàng:
- Ông gửi cho cô cái này để làm kỷ niệm. Cô đừng buồn. Trong nhà mình ông yêu quý cô nhất đấy.
-  Ông cụ nói vậy sao?
- Không, ông chả nói ra lời nhưng cháu biết. Bởi vì, lần nào ông cũng hỏi về cô. Lại hỏi thật tỉ mỉ. Và nói về cô ông lại thở dài.
Ngay hôm đội về, ông đã bị bắt. Đến nhà thăm, du kích gác đuổi quầy quậy:
- Này cái Rêu, mày điên đấy à? Được đội xét cho vào thành phần nông dân là phúc bảy mươi đời rồi. Phải dứt khoát cắt đứt với thằng địa đó em ạ. Mày đừng có lảng vảng đến đây. Không sợ liên quan hay sao. Không sợ đấu tố hay sao.
Bà Thêu cuối cùng được bắt rễ. Hôm tố khổ ngoài đình, bà tố rất hăng rồi ngất đi hàng giờ. Phải giật tóc mai, phải hít nước đái quỷ. Mãi mới tỉnh. Từ đấy anh đội Khoát rất thân với gia đình. Anh Khoát thường xuyên đến nhà bàn công việc. Thậm chí có lúc ăn cơm. Bà Thêu lại lấy chai mắm tép đỏ au ra. Bà khoe tài nội trợ, thái những miếng chân giò mỏng như tờ giấy, tìm những quả chuối thật chát, thật xanh, quả khế thật chua, cút rượu thật thơm, thật mềm môi để cho anh đội say đứ đừ. Để rồi sau đó họ cười sảng khoái với nhau... Những khi ấy, Rêu thấy lộn ruột. Cô bỏ nhà ra chùa để ngủ với chị Nguyệt, với bà Thầm... Thêu phản ứng tuy không ra mặt, nhưng chẳng có thái độ nào qua mắt được dân làng Sọ. Họ bảo:
- Hôm tố khổ ngoài đình, cái Rêu nó khóc. Nhưng nó không khóc vì căm thù thằng địa đâu. Nó khóc thương cho bố nó đấy.
-  Sao bảo nó không phải con lão chánh?
- Ai biết được chuyện ma ăn cỗ. Là âm mưu của người ta thì sao.
- Cũng lạ thật. Mà cũng đừng bép xép. Anh đội bênh nó lắm đấy.
Anh Khoát đến nhà, gọi Rêu ra, giảng giải:
- Đúng là cháu chưa dứt khoát, chưa căm thù, chưa giác ngộ giai cấp. Cháu có biết là ta đã bao che cho cháu thế nào không. Cắt đứt tình cảm đau thật đấy. Nhưng có thế mới là giác ngộ. Và có giác ngộ mới tiến lên được trong cuộc đời. Vả lại cháu có biết không. Người ta bảo cháu không phải con ruột của lão chánh. Càng nhẹ nợ chứ sao. Cháu cứ yên trí đi. Nếu cháu muốn, ta sẽ nhận cháu là con nuôi. Cháu nghĩ cho thật kỹ. Nếu cháu là con nuôi của ta, lúc ấy sẽ chẳng có ai trong làng dám nói ra nói vào nữa.
Rêu chẳng nói một lời, cô lặng lẽ bỏ nhà ra vườn chùa. Bà Thêu thì rên lên.
- Con ơi là con! Có phúc chẳng biết hưởng phúc. Sao con cứ tự đường quang đâm vào bụi rậm.
Đấy là tối hôm trước. Sáng hôm sau, người ta đưa chánh Long ra đấu điển hình toàn xã. Chánh Long là ác bá, địa chủ cường hào có nợ máu. Ông sẽ bị xử bắn.
Tòa án nhân dân được thiết lập trước cửa đình làng Sọ. Người ta thiết kế hẳn một cái bục cao, rồi kê bàn ghế lên trên, đó là nơi quan tòa ngồi. Sau lưng bục, làm giàn giáo để đỡ chiếc phông to màu đỏ chói và những khẩu hiệu màu vàng rực rỡ. Dãy bàn quan tòa ngồi bịt kín đằng trước bằng giấy hồng điều.
Vì đấu trường chỉ chứa được một số người nhất định, mà cuộc đấu lại toàn xã, nên từng xóm phải chỉ định từng người đi dự đấu. Mười lăm xóm, mười lăm khu vực. Cộng thêm một khu vực dành riêng cho gia đình con em các thành phần bóc lột. Bọn này cũng phải dự, bởi vì xử án chỉ là xử những tên đầu sỏ mắc nợ máu với nông dân; nhưng còn gia đình chúng, con cháu chúng, phải cho bọn này xem để chúng biết khí thế của nông dân, để cho chúng hiểu thời của chúng nó đã hết, để mở ra cho chúng một con đường cải tạo. Phải làm tiệt nọc hận thù, không cho chúng dám, có lúc nào đó, thừa cơ ngóc đâu dậy, phải làm cho đầu óc chúng nhớ như in điều này: “Hàng thì sống, chống thì chết”.
Số người dự chỉ có hạn, nhưng số người đi xem thì đông vô kể. Có thể nói gấp đôi số người dự. Hầu hết đám thanh niên, đám trẻ con trong xã đều có mặt. Họ ở vòng ngoài. Đám người dự ngồi bệt xuống đất, có hàng có lối, tương đối trật tự. Còn đám đi xem ở vòng ngoài thì đứng. Họ ăn nói lao xao, bàn tán đủ điều, nói chung thiếu trật tự. Họ cũng không giác ngộ gì đâu. Đi xem cốt là xem xử tử. Giết người, lại giết công khai, tắp lự, có bài có bản. Giết một con bò đã ghê, giết một con người, hẳn ghê gớm lắm. Đây là một dịp hiếm xảy ra, có một không hai trong đời người ta. Không đi xem cũng phí.
Sự chờ đợi cái nút cuối cùng, tức là cuộc xử bắn địa chủ hôm nay thật căng thẳng. Căng thẳng bởi vì giết một con người là điều dân làng thực tình không ai muốn, tuy nhiên, trong thâm tâm, đi xem giết người, thì ai cũng muốn được mục kích. Đám trai trẻ hỏi lẫn nhau. Người bị xử bắn có giãy giụa hay không? Có run run co giật hay là chỉ ngất xỉu rồi gục xuống? Khi sắp bị bắn có được nói lời cuối cùng như trong phim không? Liệu có hộc máu ra đằng mồm? Ở xã này, ai là người cầm súng lục bắn phát đạn gia ân cuối cùng vào thái dương kẻ xấu số? Sao không thấy chôn cột buộc tử tù? Bãi bắn ở đâu? Chung quanh đình, bao nhiêu là nhà, là xóm, người ta sẽ xử lý ra sao? Hay lại rồng rắn kéo nhau ra giữa đồng? Bắn ở chỗ khác ư? Cách rách thật?
Có một người thạo tin, rất quan trọng, thì thào rất to với mọi người:
- Anh đội đã đi ba đợt cải cách rồi. Rất nhiều kinh nghiệm... Các ông có thể tưởng tượng được không? Anh ta chỉ tay ra cây muỗm cổ thụ rồi giải thích: - Bãi bắn chính là cây muỗm ấy. Ta sẽ từ từ treo địa chủ lên cây. Bao giờ kẻ tử tù leo lên đến cành ngang kia, thì những người du kích sẽ bắn. Súng chĩa lên trời nên tất cả đầu đạn ra khỏi nòng đều bay vào không khí. Nếu viên nào không trúng mục tiêu, nó sẽ bay hết tầm rồi rơi xuống cánh đồng sau đình. Chẳng còn sợ đạn lạc vào ai cả.
Cả đấu trường đều ồ lên thán phục. Người ta khen: “Anh đội nghĩ ra cách bắn thật tài tình”.
Ông trưởng thôn dẫn đầu đoàn người thuộc thành phần linh tinh vào bãi đấu. Cái đoàn tạp nham chúng tôi chẳng thuộc tầng lớp bóc lột, nhưng cũng không được trong sạch. Đoàn gồm những người trong chùa: sư cụ, sư bác, bà Thầm, chị Nguyệt và tôi. Còn có thêm hai ông thầy cúng, xem bói, cùng mấy bà đồng đều ở xóm bên cạnh. Ông trưởng thôn hỏi đội trưởng Khoát:
- Cái nhóm “mê tín dị đoan” này thì xếp cho ngồi ở đâu hở anh đội.
-  Cho họ ngồi bên cạnh bọn địa chủ.
Thế là sư cụ và tôi được ngồi gần hàng đầu, được nhìn rõ bàn xử án của tòa án nhân dân, mà cũng rất gần chỗ quỳ gối của những địa chủ gian ác. Chéo trước mặt chúng tôi đoàn thiếu nhi gõ trống inh ỏi. Tôi ngồi nấp sau lưng thầy tôi. Tôi bắt chước sư cụ, nhắm mắt lại, thầm đọc kinh trong lòng, để cho những tiếng trống náo động kia bặt lặng trong tâm hồn. Tôi đang cố gắng tập trung, đi tìm sự tĩnh lặng trong cái ngoại cảnh hỗn độn náo nhiệt ấy, thì có người chen lấn đến ngồi cạnh tôi. Mở mắt ra, thấy Rêu. Cô gái ấy ngày thường trông đã mỏng manh xanh mướt, hôm nay trông càng mảnh mai hơn. Tôi hỏi thầm:
-  Sao mắt thâm quầng thế kia? Cô ốm phải không?
Cô gái không trả lời, chỉ giơ ngón tay lên miệng ra hiệu đừng nói.
Tôi hất đầu lên bàn các vị quan tòa, nơi ấy có mặt bà Thêu, rồi hỏi tiếp:
- Bà Thêu là quan tòa. Sao cô lại ngồi chỗ này? Đây là chỗ ngồi của địa chủ và những thành phần không trong sạch khác.
Lúc ấy, Rêu mới khẽ trả lời:
- Thế chú không biết sao? Em là con địa chủ. Nhưng chú An đừng nói nữa. Kẻo người ta lại xua em ra khỏi đây. Mấy lại... em muốn được nấp bóng sư cụ.
Sư cụ Vô Úy của chúng tôi đang ngồi ở tư thế tọa thiền. Cụ ngồi lưng thẳng, hiền hòa và nghiêm trang. Cái áo nâu bạc rộng thùng thình không tỏa ánh hào quang nhưng cũng đủ để cho hai đứa trẻ chúng tôi giấu mặt, nấp bóng. Chúng tôi không muốn đối mặt với anh đội Khoát. Khi ấy, anh Khoát đang đứng sững trước sư cụ. Không biết có phải tư thế trang nghiêm của cụ, hay con mắt đầy từ lực của cụ đã thu hút anh, nên anh không nhìn thấy tôi và Rêu đang núp sau lưng cụ. Anh Khoát uy nghiêm nói với thầy tôi:
- Cụ phải nghiêm túc khi nhân dân đấu tranh. Ráng mà tiếp thu học hỏi tinh thần của bần cố nông. Tôi biết các vị thầy chùa hay lần tràng hạt trong những lúc như thế này. Tôi nhắc để cụ nhớ: hôm nay không lần tràng hạt.
Rồi anh quay sang đám con cái gia đình địa chủ:
- Còn các người cũng xem mà nhớ lấy. Phải tuyệt đối đầu hàng nông dân thì may ra còn con đường sống. Còn tên ác bá nào lợt lưới ta cũng không tha đâu. Hãy trông cái gương tày liếp mà cố gắng cải tạo...
Nói xong, đội trưởng Khoát đi nhanh về phía khán đài, leo lên bục cao, đọc bài diễn văn phóng tay phát động quần chúng. Anh hùng hồn nói ý nghĩa của cuộc cách mạng long trời lở đất này. Từ nay sạch bóng những quân bóc lột... Từ nay người nông dân làm chủ ruộng đất... Anh nói lời đanh thép. Bàn tay xòe ra chặt mạnh những nhát chém vào không khí...
Đám đông chợt rẽ làm đôi. Du kích áp giải địa chủ ác bá đầu tiên ra đấu trường. Đó chính là chánh Long. Tiếng hô dậy trời đất:
-  Đả đảo địa chủ cường hào gian ác Nguyễn Văn Long!
-  Nợ máu phải trả bằng máu!
 
Mọi chuyện được diễn ra theo đúng kịch bản đã định trước. Những ai sẽ ra đấu. Ai tố thế nào. Ai sẽ ngất ra sao. Hầu như dân làng Sọ đều đã biết trước tất cả. Bởi vì anh đội bồi dưỡng cốt cán ra sao, người ta đã rõ trong những cuộc tập dượt đấu trong xóm. Địa chủ đang bị trói giật cánh khuỷu, quỳ giữa dấu trường. Ông già với cái đầu bạc phơ cúi gằm. Người ta xỉ vả, hò hét. Tiếng khóc xen lẫn tiếng hô vang trời dậy đất. Sát khí tỏa ngất trời cao. Những bộ mặt người đỏ rực, phừng phừng lửa hận. Bệnh căm thù lây lan khắp đấu trường. Người ta moi móc ra những thái độ mà có lẽ ông già không có, những thái độ mà chỉ có những bộ óc sưng tấy lên mới có thể tưởng tượng ra được: “Sao mặt lão già cứ câng câng ra thế kia? Nó quen thói ăn trên ngồi trốc, khinh bỉ nông dân. Đến nước này rồi mà lão vẫn thế. Sao không vả vào mặt nó, sao không dìm đầu nó xuống đất đen? Đả đảo địa chủ ngoan cố”. Có bà còn nắm bộ râu dê của ông già kéo ngẩng lên để nhìn vào đôi mắt tê dại như đã mất hết thần hồn, rồi nhổ vào mặt ông lão. Khốn khổ! Nước mắt cộng với mũi dãi của người đàn bà làm địa chủ Long chẳng nhìn thấy gì cả. Ông lão muốn lấy tay dụi mắt nhưng hai tay đã bị trói ngược ra đằng sau. Khi anh đội Khoát lại gần kéo người đàn bà ra, ông lão lạy van:
- Con lạy ông đội, con xin ông đội. Cởi trói cho con một lúc thôi. Để cho con được lấy tay chùi mặt. Con muốn mắt mũi con sạch, con muốn được nhìn tất cả trước khi con chết.
Anh đội Khoát ghé vào tai lão nói một câu gì đó, rồi lấy mảnh giấy báo mà ai đó vứt lăn lóc trên đất. Bằng mảnh giấy bẩn thỉu đó, anh lau mặt cho lão. Anh quệt thì đúng hơn. Quệt rất mạnh. Quệt đi, quệt lại ngang con mắt. Quệt mấy lần. Mảnh giấy cứng quét trên mặt chắc là đau lắm, nhưng dù sao nó cũng đã lấy đi hết những thứ nhơ bẩn trên mặt lão. Chắc là lão đã nhìn ra mọi vật. Tôi chắc vậy vì tôi thấy đôi mắt mờ đục của lão đảo quanh như muốn đi tìm những gương mặt nào đó.
Rêu ngồi cạnh tôi, vẫn gục đầu nấp bóng sư cụ. Từ lúc nãy, Rêu chẳng nhìn ra chung quanh. Tôi chỉ thấy cái đầu Rêu rung rung khi đấu trường vang lên những tiếng the thé hận thù. Đến lúc này, tôi mới vỗ vỗ vào lưng cô. Tôi không nói, nhưng trong lòng tôi muốn bảo: “Rêu ơi! Hãy ngẩng lên. Có lẽ ông cụ chánh muốn nhìn mặt cô đấy”. Rêu ngẩng đầu lên, ngó đầu ra khỏi lưng sư cụ. Đôi mắt cô long lanh những giọt nước. Không biết ông già có nhìn thấy cô không, có nhìn thấy cô bé mà có lần ông đã nhận là truyền nhân của mình không. Hay đó chỉ hoàn toàn do trí tưởng tượng của tôi. Chỉ biết rằng người tử tù già nua ấy đưa con mắt đi rất chậm. Đôi con mắt mờ đục nhưng hau háu lia một vòng quanh mình như muốn ghi lại cái cảnh tượng thật kỳ dị, thật bi thảm của đời mình. Tôi rất tin vào thuyết luân hồi. Ông già vận rủi ấy ghi lại quang cảnh này để làm gì nhỉ. Mang nó sang kiếp sau ư? Tôi cứ nghĩ người ta quên nó đi còn chẳng được...
 
Cái điểm nút người ta chờ đợi đã đến. Đội du kích xếp thành vòng tròn, đuổi mọi người dãn ra, tạo thành một khoảng trống rất rộng chung quanh cây muỗm cổ thụ, có một cành đâm ngang. Cành cây đó to lớn vạm vỡ như cánh tay lực sĩ khổng lồ để có thể treo người trên đó mà không suy suyển. Sợi dây thừng được treo vào cái ròng rọc đã buộc sẵn trên cành cây ngang.
Ông già địa chủ Long bị trói cả chân lẫn tay. Anh du kích hỏi ông già bằng cái giọng trống không:
-   Muốn ngẩng mặt lên trời hay quay mặt xuống đất.
Ông già trả lời rất điềm tĩnh:
- Các ông treo thế nào cho tôi được nhìn thấy xóm làng khi chết.
Như thế tức là địa chủ chánh Long bị treo ngược cái lưng bán cho trời, cái mặt cúi xuống đất. Tức là vẫn theo cái tư thế của người nhà quê đi cày. Ba người du kích đã bắt đầu làm công việc kéo dây. Ông già địa chủ từ từ được nhấc lên khỏi mặt đất. Khi thân hình ông chạm cành cây, người ta mới thấy cái tư thế ấy thật ngược ngạo. Cái bụng cong thõng xuống. Hai khuỷu tay kéo lên khỏi lưng trông như hai cái càng châu chấu. Cái thân người, đôi chân, đôi tay bị trọng lượng kéo xuống nên coi gần như bất động. Chỉ còn cái cổ, cái đầu là vẫn tự do hoạt động. Ông già cố vươn cổ ra, cất đầu lên. Bộ râu dê của ông được gió phơ phất. Gió lại thổi xuôi nên mớ tóc bạc chạy xuôi ra phía sau. Cái tư thế ngạo ngược thế lại hóa hay. Trông ông già như đang bay. Và nhìn ông lúc này, rồi ngẫm nghĩ, tôi mới hiểu tại sao ông lại xin được treo như thế. Nếu như treo theo cách nằm ngửa, tức là khi chết ông già sẽ được nhìn tán lá, và qua những kẽ hở được loáng thoáng thấy bầu trời xanh. Kể ra nghe chữ tán lá và trời xanh, ta thấy có vẻ đẹp, nhưng thực ra cái chết ấy bí bách quá. Đằng này ông già chọn cách khi chết nhìn xuống đất. Cứ tưởng cách bị treo một cách ngược ngạo như vậy thì khó coi và tầm thường. Thực ra, cách chết ở tư thế này có cái hay là khi chết vẫn nhìn được đồng ruộng, xóm làng. Dù thế nào, ông chánh Long vẫn là người nhà quê. Dù là địa chủ, ông ấy vẫn là nông dân. Dù sao thì những mái nhà lợp rạ kia cũng vẫn gắn bó với ông lão lắm chứ. Tôi cứ nhìn chằm chằm vào ông lão và ngẫm nghĩ. Ôi chao! Bị treo giật cánh khuỷu. Có thể mỏi lắm chứ, đau đớn nữa chứ. Đau thì đau, ông lão vẫn cố gắng ngửng đầu lên, để nhìn cho thật xa. Tôi biết, phía ấy là căn nhà của ông. Tư thế ngược ngạo này quá bất tiện. Phải vươn hết sức cái mặt mới ở tư thế thẳng dọc, để có thể từ trên cao nhìn thấy những mái nhà ngói thâm nâu lô xô, đó là nơi ông sinh ra, để có thể nhìn thấy một hàng tám cây cau liên phòng nổi tiếng của gia đình ông. Chúng như tám người hầu trung thành luôn đứng sừng sững trước sân nhà ông. Tám cây cau được trồng khi ông mới sinh. Có phải những tàu cau đang vẫy gió không? Chúng run rẩy trước gió, hay chúng đang nói lời từ biệt với ông già xấu số.
Tôi đang mải suy ngẫm liên tưởng thì có tiếng hô vang trời.
- Đội du kích chú ý! Chuẩn bị bắn!
Khu đấu trường đột nhiên im phăng phắc. Chưa có xác chết mà lũ quạ đã ngửi thấy mùi tử khí. Có đàn quạ đen đang đậu trên ngọn cây gạo cao chót vót và cất tiếng kêu. Mặc dù tôi đã biết trước, nhưng khi loạt đạn đầu tiên nổ vang tôi vẫn giật mình và nhắm mắt lại. Tiếp theo, là loạt đạn thứ hai, rồi thứ ba.
Chỉ đến khi tất cả hoàn toàn im lặng, tôi mới dám mở mắt ra. Ở phía dưới nhìn lên, cái xác ông già vẫn còn run rẩy, những run rẩy cuối cùng như những làn sóng cứ từ từ yếu dần rồi tắt lặng.
Mới đầu, người ta còn hò reo. Tuy nhiên chỉ một lát thôi, tiếng reo bỗng bặt. Cuối cùng là lặng ngắt, giống như một cuộc lên đồng, khi tiếng trống tiếng đàn của người cung văn im tiếng. Khi ấy, con người như bừng tỉnh. Khi nãy, đầu óc con người còn sưng tẩy lên, ai ai cũng hau háu nhập vào cuộc hành hình. Còn bây giờ, khi nhìn vào cái xác thảm hại, rũ rượi, con người ta đột nhiên như tỉnh khỏi cơn ác mộng. Chợt cảm giác ớn lạnh. Cái ớn lạnh thấm vào xương tủy, và kéo theo nó là sự xấu hổ. Mới đầu, cảm giác ấy còn mơ hồ, nhưng càng ngẫm cho kỹ, thì nỗi xấu hổ càng thấm thía. Cứ tưởng như cả bản thân mình cũng đang vấy bẩn, mặc dù nhìn đôi bàn tay, thấy chúng hoàn toàn sạch sẽ.
Người ta thấy treo mãi cái xác trên cành cây không tiện. Người đi dự dần dần lảng hết ra. Người bắt buộc phải có mặt cũng quay đầu đi, hay cúi đầu xuống, trước cảnh tượng bi thảm đã chuyển thành ghê rợn. Đội trưởng Khoát liền cho hạ cái xác xuống đất.
Trong cái im lặng phăng phắc của pháp trường, bỗng nhiên có tiếng nức nở rất to. Tiếng khóc làm mọi người sửng sốt. Kẻ nào dám có gan cóc tía, dám khóc lóc xót thương cho tên địa chủ đầu sỏ, tên ác bá điển hình phải mang đi xử bắn đầu tiên thế nhỉ.
Mọi con mắt bỗng đổ dồn hết cả vào chỗ tôi ngồi, khi Rêu đứng lên, hai tay bưng lấy mặt, bước về phía cái xác chánh Long. Không biết cô ta đã chuẩn bị từ lúc nào, mà trên đầu cô đã chít một vành khăn tang trắng toát.
-  Ới cha ơi là cha ơi!
Cô sụp xuống lạy, rồi ôm lấy xác ông già. Mới đầu tất cả mọi người đều ớ ra, lặng đi, không kịp phản ứng. Phải một lát sau bà Thêu mới từ trên kỳ đài bước xuống quát mắng con gái. Còn anh Khoát thì lớn tiếng sai du kích:
- Anh em hãy lôi nó ra. Và mang xác lão địa ra hố chôn mau. Rêu lăn xả vào và khóc rất to. Du kích phải ôm ghì lấy cô, mặc dù cô giãy giụa, khóc lóc cho đến lúc gần như ngất đi. Rồi người ta phải khiêng cô đi. Khiêng ra thật xa, để không còn ai nghe được tiếng khóc.
Người ta xì xầm:
- Có chuyện lạ đời thế nhỉ! Mẹ thì làm quan tòa đấu tố chồng. Con thì khóc lóc thảm thiết, dám nhận cha trong lúc dầu sôi lửa bỏng như lúc này.
- Dũ sao, cũng có một vành khăn tang, cho vong linh ông lão đỡ tủi.
Khi mấy anh du kích bọc ông già vào cái chiếu khiêng ra hố chôn, Rêu không có mặt. Chỉ có con chó trắng, con chó ma chẳng biết từ chỗ nào bỗng xuất hiện. Nó lũn cũn đi theo xác ông chủ ra tận huyệt. Sau đó chẳng ai trông thấy nó đâu. Chó ma đã biến đi chăng?
*
Về đến chùa, tôi mới hiểu tại sao, trong đấu trường, người ta xếp chỗ ngồi cho nhà chùa ở cạnh chỗ gia đình địa chủ. Thì ra chúng tôi bị nghi là phần tử phản động. Theo sự suy luận của anh đội Khoát, tất cả địa chủ và phản động đều có mối liên hệ với nhau. Sư cụ Vô úy là bạn đồng môn chữ nho với chánh Long, còn là sư huynh của ông Trần. Ông Trần là sư phá giới. Ông Trần và bà Nấm vợ ông là Việt Nam Quốc dân đảng chui vào hàng ngũ cách mạng để từ trong phá ra. Vậy đây là tổ chức phản động nguy hiểm. Chúng liên kết những phần tử bóc lột, phản động, tôn giáo để chống đối cách mạng. Chánh Long đã bị tiêu diệt, ông Trần thì còn được bao che, mụ Nấm thì nhân sơ hở đã trốn biệt. Bây giờ ở xã chỉ còn sư Vô úy. Vậy nên, ngay buổi chiều hôm bắn chánh Long, du kích đã dùng cái cùm cây cau cùm chặt thầy tôi lại. Riêng cá nhân tôi cũng bị cùm vì bị nghi làm liên lạc cho tổ chức phản động. Bà cụ Thầm vừa già vừa điên điên rồ rồ chẳng ai nói làm gì. Chị Nguyệt tôi được coi như vợ của liệt sĩ Hải nên không liên quan gì. Sư bác Khoan Độ xin được bị bắt để đi theo hầu hạ thầy nhưng anh đội Khoát không nghe:
- Chúng tôi đã xét kỹ trường hợp sư bác. Tuy ở chùa, ở gần phản động nhưng không bị ảnh hưởng. Có công giết thằng Tây lai ác ôn. Đội cải cách đồng ý cho ở lại giữ chùa sau khi đưa sư phản động lên nhà giam đoàn ủy.
Mới đầu, du kích định giam hai thầy trò tôi ở tòa thượng điện. Nhưng du kích nghiên cứu, thấy tòa thượng điện mênh mông, chống chếnh quá. Họ rút kinh nghiệm việc hai mẹ con bà Nấm trốn thoát, thấy chỗ tạm giam không cần rộng. Chỉ cần diện tích hẹp, cốt yếu chung quanh phải xây bằng gạch kín đáo, vững chắc; và người gác không phải gác ngoài cửa, mà phải ở gần tội phạm, luôn nhìn thấy tội phạm. Như vậy, nhà tổ chính là nơi tạm giam thích hợp.
Anh du kích châm lửa vào bấc ở cái đĩa đèn dầu lạc. Ở làng Sọ, hầu hết mọi nhà đều đã dùng đèn dầu hỏa. Nhưng riêng nhà chùa, sư cụ tôi vẫn dùng đèn dầu lạc. Bảo rằng dùng thế đỡ tốn tiền, bởi vì dầu lạc nhà chùa tự ép lấy. Thứ nước vàng vàng, thơm thơm, trong vắt, dùng để rán đậu cũng được mà để thắp sáng cũng được. Thật tiện lợi. Chỉ cần một cái đĩa nhỏ đặt trên cái giá nến cũ kỹ, rót thứ dầu màu hổ phách vào, rồi thả một, hai sợi bấc xếp to hơn sợi chỉ và châm lên. Thế là một ngọn lửa leo lét bừng sáng, tỏa ra mùi thơm thơm ngầy ngậy rất quen thuộc với quãng đời tu hành thơ ấu của tôi...
Đêm ấy, sư bác Khoan Độ bị đuổi ra ngủ cạnh cái cối xay ở nhà tảo mạc. Toàn bộ căn nhà tổ bị biến thành nơi giam cầm hai thầy trò tôi. Cả hai người đều ngồi trên nền nhà, ở đầu bàn nước. Cả hai thầy trò đều bị cùm chân. Ông đội Khoát bảo bốn anh du kích:
- Các cậu cắt nhau ra mà canh. Hai người một lượt. Anh nọ trông chừng anh kia, không cho phép ai được ngủ gật. Liệu hồn đấy. Để xổng tù giống như trường hợp con mẹ Nấm là chết với tôi. Nhớ lấy, chúng nó mà trốn thì tôi sẽ bắt các anh thế chân vào. Tôi sẽ cùm cả lũ.
Anh đội cải cách đe dọa như vậy nên các anh du kích canh kỹ lắm. Họ ngồi trên bậu cửa, súng mút cơ tông dựa vào vai, thỉnh thoảng lại rít thuốc lào sòng sọc cho đỡ buồn ngủ.
Đêm hôm ấy, đầu mùa đông. Đợt gió lạnh đầu mùa này khá mạnh. Gió đông bắc thổi chéo vào đầu hồi hu hu. Cái đêm cô Rêu gội trăng tắm giếng đá ong trước đây vào mùa hạ. Gió hiu hiu thổi vào đầu hồi phía bên kia. Đêm hôm ấy tôi được nghe kiểu sáo diều mùa hạ của ông thợ mộc Thân. Tiếng sáo thoang thoảng tình tứ. Còn đêm nay gió đông thổi vào đầu hồi bên này. Gió lồng lộn, gió rét rú rít, những ống tre đòn tay phía bên này lại kêu lên theo kiểu khác. Nó âm âm ưu... Khi gió dịu đi, tiếng ống tre bỗng sững lại rồi mới nối tiếp, nghe như tiếng sụt sùi, thổn thức. Thầy tôi bảo muốn đi tới chỗ đạt chỗ ngộ phải giữ được tâm bình thường, dù hoàn cảnh thế nào cũng không loạn động. Lúc ở đấu trường, anh đội cải cách cấm không cho thầy tôi lần tràng hạt. Tuy nhiên, tôi biết thầy tôi vẫn làm điều đó trong tâm tưởng, tôi biết trong phút ông chánh lâm nạn thầy tôi vẫn không ngừng tụng niệm hồng danh đức Phật mong cho người bạn đồng môn đủ nghị lực để gánh chịu kiếp nạn. Những cuộc dâu bể ở thế gian này là chuyện thường hằng, chúng xảy ra như những đợt sóng. Mà chẳng cứ gì ông chánh, những người ở chùa như thầy trò tôi, đã xa lánh tục lụy, nhưng sóng ở thế gian cũng đâu có buông tha. Cả những phút này, thầy tôi đang khép hờ đôi mắt, nhưng tôi biết thầy tôi cũng vẫn đang tụng niệm. Thầy thương tôi. Có lẽ thầy thương tôi còn quá nhỏ mà đã phải gánh chịu. Lúc cha mẹ tôi mất, thầy dang tay đón tôi vào chùa. Ý thầy là muốn che chở cho đứa bé côi cút. Nhưng hình như nghiệp tôi quá nặng. Hay là ở những phút thế gian nổi sóng, kiếp nạn đùng đùng như núi lửa, thì bóng từ bi, bóng những ngôi chùa cũng chông chênh chao đảo. Và số kiếp con người đã có lúc rời xa khỏi bóng mát từ bi. Hay là bóng mát ấy đã nhiều khi chẳng che nổi cho con người, mặc dù con người rất nhỏ nhoi, mà bóng mát kia thì rất to lớn...
Chắc lúc ấy tôi còn quá nhỏ, chưa đủ trải nghiệm thâm thúy nên mới có những ý tưởng chua chát như vậy. Trong một đêm gió khóc hu hu, thêm cái lạnh đầu mùa thấm vào da thịt, mà một chú bé như tôi lại còn bị cùm chân trong ánh đèn dầu leo lét. Ôi chao! Thật là buồn! Buồn héo ruột héo gan! Thầy tôi chắc đọc được những ý nghĩ trong lòng tôi. Sư cụ giơ tay kéo tôi lại gần. Tôi ngả đầu vào ngực người để đón nhận cái ấm áp, chút lòng từ bi, mà trong phút gay go này thầy tôi đâu có nhiều nhưng vẫn sẵn sàng chia sẻ cho tôi. Chút hơi ấm ấy dù nhỏ nhoi song vẫn đủ để ru được tôi vào một giấc ngủ chập chờn.
Chẳng biết tôi đã ngủ được bao lâu. Trong giấc ngủ tôi còn mơ một giấc mơ thật kinh hoàng. Chỉ còn biết là rất kinh hoàng, song khi giật mình choàng tỉnh, chẳng còn nhớ được chút gi. Thấy mồ hôi toát ra trên trán, tôi định đứng dậy, nhưng thấy chân mình cứng đơ, tê dại. Lúc bấy giờ mới hoàn toàn tỉnh và mới nhớ chân mình đang bị cùm. Thầy tôi khẽ khàng nói:
- A di đà Phật! Đừng hốt hoảng! Thầy vẫn ở bên con.
Anh du kích ngồi ở xó cửa canh gác hình như cũng ngủ gật, nghe tiếng kêu của tôi cũng tỉnh giấc. Anh ta đứng lên lắng nghe, rồi bước ra sân, nhìn lên lùm cây. Không phải tôi mê hoảng không duyên cớ. Đúng là có gì mới xảy ra thật. Mặc dù lúc này lặng gió, nhưng ở đầu hồi, những ống tre vẫn kêu hu hu. Quái lạ! Sao đầu cây nhãn ngả bóng xuống sân nhà tổ lại đung đưa mạnh thế kia. Hình như có trận cuồng phong vừa mới đi qua. Mà chắc là có gió to mới thổi thật. Bởi vì lúc này tôi mới biết, ngọn đèn dầu lúc tôi chưa ngủ còn xanh lét như hạt đỗ, nay đã tắt ngấm tự lúc nào. Lắng tai nghe kỹ còn nghe thấy ngọn cuồng phong đang đùa ngoài vườn và trên những khóm tre. Rồi nghe thấy cả tiếng một đôi chim lợn. Mọi tối, khi chim lợn bay qua chùa, tiếng kêu của chúng cứ xa dần rồi mất hút ngoài cánh đồng. Đêm nay, sao đôi chim kỳ quái thế. Tiếng của chúng hết xa lại trở về gần. Cứ như thể có chuyện gì đã cầm chân chúng lại. Cứ như thể có chuyện gì đó làm chúng chẳng nỡ bay đi. Tiếp theo đó là tiếng chó. Tôi nhận ra ngay tiếng của con Bông, con chó trắng, con chó ma của ông chánh Long. Sau khi vứt xác ông xuống hố, du kích bảo không thấy mặt nó nữa. Chẳng biết nó đã trốn lủi ở đâu nay bỗng xuất hiện ngoài lũy tre vuờn chùa. Đêm nay tiếng kêu của con chó trắng khác hẳn. Vừa sủa, vừa rít, vừa tru. Con chó trắng không to nhưng tiếng tru của nó rất dài. Nghe cứ thấy rờn rợn. Tôi chưa nghe thấy tiếng chó sói trong rừng bao giờ, nhưng chắc tiếng sói rừng cũng giống thế này. Bởi vì nghe nó tru, tóc gáy tôi dựng hết lên. Và còn điều này mới lạ. Mọi khi chó trắng kêu bao giờ con vàng nhà chùa cũng đáp lại. Còn hôm nay, sao chẳng thấy tiếng con vàng. Nó im re và không biết đang trốn lủi ở xó xỉnh nào. Không có tiếng đáp lại, con chó ma càng thống thiết kêu. Nó làm lòng dạ tôi bỗng dưng cồn cào khó tả. Ở khoảng lặng giữa hai đợt chó sủa, tôi còn mơ hồ nghe như có tiếng người khóc. Tôi hỏi anh du kích:
-  Anh ơi! Hình như có tiếng người khóc ở vườn chùa.
Anh du kích chắc cũng sợ thì phải. Anh ta ra sân lắng nghe một lúc rồi vào bảo tôi:
- Tôi chẳng thấy gì. Làm gì có ai khóc. Chú tiểu bị thần hồn nát thần tính rồi.
Tôi không nói gì, nhưng trong lòng bán tín bán nghi.
Mọi người chẳng nghe thấy gì, nhưng tai tôi vẫn nghe rõ tiếng khóc, thậm chí có lúc còn nghe cả tiếng thút thít. Có lẽ tôi đang thức mà vẫn mơ chăng. Đó là trạng thái nửa mê nửa thức. Trạng thái xác nằm đấy mà hồn bay rất xa, để có thể thấy những điều mà người khác không thấy được. Trong khi hồn tôi đang bảng lảng như vậy, bỗng dưng con chó ma tru lên dữ dội. Nó tru như khóc thảm thiết. Nó sủa như muốn đánh thức người ta dậy. Nhưng vào một đêm mùa đông, lại ở trong hồi cải cách đang gay cấn nhất, người dân quê nào có thể ra khỏi nhà lúc này. Còn tôi, tôi bỗng thấy lòng mình đau thắt. Như thể có ai vừa đâm dao vào lồng ngực. Lạ thật! Thầy tôi hình như biết được những cảm giác của riêng tôi. Sư cụ bảo:
-  Con đau tức ngực phải không. Để thầy xoa cho.
Rồi bỗng dưng những giọt nước mắt trào ra khóe mắt. Tại sao tôi khóc, tôi chẳng biết nữa. Đau quá, buồn quá hay sợ quá nên nước mắt trào ra ư? Ngớ ngẩn quá! Cũng may chẳng ai nhìn thấy nước mắt của tôi. Tôi còn thầm thì vào tai thầy tôi một câu ngớ ngẩn khác.
- Thầy ơi! Thầy có ngửi thấy mùi gì không? Thơm quá thầy ạ. Sao chùa mình đêm nay thơm đến thế.
-  Ừ, thầy cũng ngửi thấy mùi thơm.
Cũng may, thầy tôi cũng cảm nhận giống tôi.
* * *
Sáng hôm sau, người ta thấy một chiếc áo vắt trên thành giếng đá ong. Hỏi ra mới biết là áo của Rêu. Cô gái đã nhảy xuống giếng tự tử. Như vậy, tiếng khóc đêm qua tôi nghe thấy là thực. Cả cái mùi thơm từ giếng tỏa ra khi cô nhảy xuống cũng là thực (mặc dù mùi thơm ấy chỉ hai thầy trò tôi có thể cảm thấy).
Mới đầu, người ta cho rằng nguyên nhân cái chết của cô là do ông chánh Long bị xử bắn. Người làng bảo nhau:
- Sao con bé dại thế. Đã đành lão chánh là địa chủ. Nhưng mẹ nó thành phần bần nông. Vậy nó cũng là bần nông. Vậy can chi mà chết cho oan nghiệt.
Rồi có người lại nói:
- Trước kia cứ tưởng nó chỉ là con hờ của ông chánh. Nó cứ đi tìm bố mãi. Tìm được thì lại thảm thương thế ấy.
-   Có thật ông chánh là bố nó không nhỉ?
- Chắc là thật. Chắc có chứng cứ. Nếu không sao nó lại chết vì ông.
Trước kia, cả làng cứ xì xào nó không phải là con ông chánh. Còn bây giờ người ta lại cho rằng Rêu có nhiều nét rất giống ông chánh. Rêu được cả làng khen là đứa con chí hiếu.
Nói chung lại, mới đầu người ta chỉ biết có độc nhất nguyên do ấy thôi. Sau này, sau sửa sai, người ta biết thêm được cái nguyên nhân thứ hai, dân làng Sọ lại càng thêm cảm thương cho cô bé.
Buổi chiều hôm xử tử ông chánh, Rêu không về nhà. Nó đi lang thang trong rừng Cò, ngoài đồng vắng. Sau đó nó tìm đến ngôi mộ mới chôn của người bị xử tử, nhưng du kích ngăn không cho tới. Nó liền lội ruộng ra cánh đồng Dộc, ra Gò Mả Quan. Đồng hoang vắng chẳng có người. Chỉ có tiếng ếch nhái làm bạn, chỉ có gió lạnh vi vu buồn thối ruột gan, nhưng Rêu quên hết cả sợ. Nó ở đó cho đến khuya, mãi khi trăng mọc mới thất thểu về làng.
Rõ ràng Rêu đã trở về nhà. Một người làng chính mắt đã trông thấy Rêu đi vào ngõ, nhưng không đi lối chính mà xé rào vào nhà. Chính đêm hôm ấy đã xảy ra chuyện tự tử bi thảm ở cái giếng đá ong nhà chùa.
Giá như chuyện chỉ có thế thôi... Đằng này, mấy tháng sau, vào lúc sửa sai, một chuyện động trời nữa lại xảy ra. Người làng phát hiện ra bà Thêu đã chửa hoang. Người tằng tịu với bà chẳng phải ai xa lạ, lại chính là anh đội Khoát.
Đến phút ấy, liên hệ mọi thứ lại, người ta mới hiểu ra đầu đuôi câu chuyện. Hóa ra, chắc trong đêm hôm ấy, khi xé rào vào nhà, Rêu đã nhìn thấy cái điều mà một tâm hồn trong sáng như cô sẽ không chịu đựng nổi. Cô đã nhìn thấy mẹ mình và anh Khoát đang quấn vào nhau.
Bây giờ thì tôi đã hiểu: tại sao mắt Rêu lại to và buồn đến thế? Tại sao Rêu lại gầy gò mỏng manh đến thế? Cô bạn gái, cô em út của tôi tinh khiết như pha lê. Thế gian này làm Rêu thất vọng phải không. Tôi mơ hồ hiểu được sự tìm kiếm và câu hỏi của Rêu khi cô còn sống. Rêu ơi có phải vì yêu cõi nhân gian quá nên cô chẳng muốn sống nữa phải không.
Về sau này, có nhiều lúc ngồi bên giếng chùa, cái giếng đá ong, tôi thường nghĩ về Rêu như vậy. Cho đến lúc ấy, vẫn chẳng có ai ngửi thấy mùi thơm của giếng. Chỉ có Rêu, chỉ có tôi là ngửi thấy. Tôi hiểu tại sao Rêu lại trẫm mình xuống đó.
Rêu ơi! đức Phật dạy rằng: Chẳng có gì sinh ra, chẳng có gì mất đi. Gặp duyên thì tụ thì sinh. Hết duyên thì tán thì diệt. Tôi đang nhìn đám mây trên trời. Chắc chỉ một lát nữa đám mây đó sẽ thành những hạt mưa. Rồi sau này những hạt mưa lại chuyển thành mây...
Rêu ơi! Có lẽ phút này Rêu đang ở trên những đám mây đó nhỉ. Rêu hãy gửi tiếng hát xuống cho chúng tôi đi. Ừ! Tôi biết là Rêu đang hát. Tiếng hát giọt mưa... tí ta tí tách.
 




0
10

Nhà giam phòng nhì


Lúc sư cụ bị bắt, bị giải lên huyện, tôi chỉ biết khóc. Khóc cả ngày hôm ấy. Khi người bị trói rồi bị đẩy lên ô tô, thầy tôi còn cố ngoái lại dặn dò tôi :
- Con ở nhà, giữ lấy chùa. Nhớ đừng sao nhãng hương đăng.

Ngày hôm ấy, tôi quên cả ăn, ngồi ở chánh điện, nhìn lên tượng Phật, lẩm nhẩm cầu xin đức Thế Tôn phù hộ cho thầy tôi thoát vòng tù ngục, cầu nguyện mãi rồi lại khóc. Khóc cho đến cạn khô nước mắt, rồi mệt quá lăn ra đất ngủ thiếp đi.

Khi tỉnh dậy, trời đã khuya. Tôi giật mình sửng sốt. Thế là mới chỉ ngày đầu, tôi đã quên cả đèn nhang, quên cả lời thầy dặn. Tôi vội vàng đốt mấy nén hương thơm, cắm lên bát nhang. Rồi thỉnh chuông, gõ mõ. Tôi nhớ tới đức Quán Thế Âm Bồ tát, vị Bồ tát nghìn mắt nghìn tay, người luôn nghe thấy tiếng kêu than khổ đau của cõi nhân gian, để mở lòng thương cứu giúp. Tôi niệm hồng danh của Người, vì thầy tôi nhiều lần dạy rằng: lúc nào ta đau khổ, thì chỉ cần nhắc đến tên Người là Người đã sẵn sàng có mặt ở bên ta, trong tâm hồn ta. Tôi đã niệm tên Người hàng trăm lần, hàng ngàn lần, niệm cho đến niệm lúc lạc vào giấc mơ.

Tôi sợ lắm. Đêm ấy tôi sợ lắm. Nỗi sợ hãi như thấm vào tận xương tủy. Mới chỉ đến giữa mùa thu, mà đêm ấy, sao tôi thấy lạnh thế. Con chó vàng đi đâu? Từ lúc thầy bị bắt nó cứ ra nằm ở tam quan để ngóng. Nó chờ thầy tôi. Vàng ơi! Mày hãy còn nằm ngoài gió lạnh hay sao? Tôi thèm nó đến ngồi bên cạnh tôi để sưởi ấm cho tôi, để tôi được ôm lấy nó, được lùa bàn tay vào lớp bông dày của nó, để được ngửi cái mùi gây gây, hôi hôi thân thuộc, để được con vật thè cái lưỡi ram ráp, nóng hổi liếm vào bàn tay, liếm cả vào mặt. Sự an ủi lúc này, dù là của một con vật, đối với tôi cũng vô cùng quý giá. Không hiểu sao, chính lúc ấy, tôi lại nhớ tới hình bóng của cha mẹ tôi. Nghĩ đến cái thê thảm rùng rợn của xác người nằm trên vũng máu, cái cổ họng bị cắt, mở ra toang hoác. Những hình ảnh ghê rợn ấy cũng là một lý do thúc đẩy chị em tôi rời bỏ làng quê ra đi, và không bao giờ muốn quay trở lại nữa.

Chị em tôi đã may mắn đến được chùa này, đã may mắn gặp được sư cụ từ bi cứu giúp. Chúng tôi đã may mắn tìm lại được mái ấm. Nào ngờ, nơi cửa Phật cũng không tránh khỏi được bão táp mưa sa. Thầy ơi! Bây giờ, trong chốn ngục tù, thầy ra sao? Chị ơi! Bây giờ chị ở đâu? Cả sư bác Khoan Độ nữa. Sư bác đã chặt đứt cả một ngón tay để thề nguyền suốt đời bảo vệ Phật pháp. Nhưng liệu sức người có chống đỡ nổi cơn bão táp phong ba này không? Tôi ngồi dựa lưng vào cây cột lim, suy nghĩ miên man và nghe những con chim đêm vừa bay qua chùa vừa kêu lên những tiếng não nùng thê thảm. Ồ! Sao đêm nay lắm chim lợn đến thế. Loài chim ma quỷ mang điềm gở, đêm nay tụ tập đến chùa làm gì nhỉ.

Tôi sợ lắm. Sợ đến buốt giá trong lòng. Không phải nỗi sợ cái lạnh từ ngoài thấm vào. Có lẽ nó từ trong xương tủy toát ra. Cũng có thể nó là sản phẩm của ngôi chùa thênh thang đột nhiên trở nên hoang lạnh, côi cút, cô đơn. Sư phụ của tôi tên là Vô Úy, nghĩa là không sợ. Sư cụ giảng cho tôi :
- Con ạ! Ngày xưa thiền sư Vạn Hạnh nói rằng: “Nhậm vận thịnh suy vô bố úy” (gặp cảnh đổi thay trên cõi đời, không sợ hãi). Thầy ta đã lấy chữ Vô Úy mà đặt pháp hiệu cho ta. Sống ở cõi nhân gian tức là sống giữa những đau khổ. Không sợ hãi, mới tìm được Niết Bàn. Niết Bàn chẳng ở đâu xa. Nó ở ngay cõi trần gian này.

Sư phụ ơi! Khó quá! Con chưa hiểu nổi. Con sợ hãi lắm. Mệt quá, tôi ngủ thiếp đi. Thầy tôi về với tôi trong giấc mộng. Người thầy đầy máu, mặt mũi tím bầm. Tôi nức nở ôm lấy thầy. Sư phụ hiền từ bảo :
- Nín đi! Con đừng sợ. Nghiệp đấy. Có nghiệp thì phải trả. Trả xong, thầy sẽ về với con.

Tôi níu áo. Thầy dứt áo quay đi. Bất thần một quái vật to lớn, miệng đỏ lòm há to. Thầy lặng lẽ đi về phía cái miệng há hốc. Tôi thét lên, tỉnh giấc. Cũng là lúc trời rạng sáng. Tôi xuống bếp nấu cơm. Tôi bưng bát cơm rưới tương, lùa vội vàng vào miệng, rồi lũn cũn theo đường cái quan lên huyện.

Trời còn mờ sương sớm. Đoàn lính từ bốt Sọ đi mở đường còn sớm hơn cả tôi. Sáng nào cũng vậy, lính vẫn phải dậy sớm đi mở đường. Tức là họ phải đi dò mìn trên đường suốt năm cây số từ đỉnh Sọ lên đầu huyện. Ban đêm, lính Tây, lính bảo hoàng phải cố thủ trong đồn. Đêm tối thuộc quyền kiểm soát của du kích. Họ chôn mìn trên đường. Quân Pháp cậy có ôtô, ban ngày, cho xe chạy trên đường, cơ động nhanh đến khống chế các làng xóm ở cách xa các bốt. Mìn là cách khống chế sự cơ động. Khoảng tám giờ sáng, cuộc mở đường mới chấm dứt, lúc đó các xe cơ giới mới chạy.

Tôi gặp toán lính mở đường ở khoảng ba kilômét cách bốt Sọ. Ở đây có những bụi sim mọc lúp xúp cách con đường một quãng chừng trăm mét. Bọn lính dùng súng tiểu liên bắn vào các bụi nghi ngờ. Tôi nghe người ta nói du kích đã thay đổi cách đánh mìn. Họ không chôn mìn tự động nữa, mà dùng loại mìn điện làm nổ tung một chiếc cam nhông đầy lính. Thấy tôi đi giữa đường, người lính cầm súng hỏi :
- Ê, nhóc con, đi đâu?
- Thưa ông, cháu lên huyện.
- Lên làm gì?
- Thưa ông, cháu đi thăm sư cụ.
- Sư cụ mày làm sao?
- Dạ, sư cụ cháu bị tù.
- Việt Minh hả. Sư mà cũng làm du kích hả?
- Dạ, không, sư cụ cháu chỉ đi tu thôi.
- Lại đây tao khám. Mày có phải là Việt Minh con không?

Người lính túm lấy tôi rồi nắm vào đũng quần. Hắn cười :
- Thằng này còn có dái, không phải chú tiểu. Việt Minh trá hình. Anh em ơi bắt nó lên đồn.
Tôi khóc thút thít. Một người lính hiền lành nói :
- Thôi! Đừng trêu chọc dọa nạt nó nữa. Ông sư chùa Sọ mới bị bắt. Thầy trò họ hiền lành lắm mà.
Người lính cầm súng lại hỏi :
- Mày mang theo cái đùm gì đây?
- Dạ, cơm nắm. Cháu nghe bảo ở trong tù không được ăn, nên cháu đem cơm cho thầy cháu.

Nghe cái giọng thật thà của tôi, trông thấy tôi rân rấn nước măt, hình như người lính cầm súng cũng động lòng Anh ta không dậm dọa tôi nữa, mà hỏi :
- Chúng tao chưa gỡ mìn quãng trước mặt đâu. Mày đi không sợ vấp phải mìn sao?
- Cháu là sư, du kích họ không nổ mìn đâu ạ.
Lại hỏi :
- Họ không dùng mìn đánh chết mày, thì họ đánh ai?
Tôi im lặng không trả lời. Bọn lính gật gù. Có tiếng nói :
- Chú tiểu láu cá lắm. Nó sợ bảo rằng du kích dùng mìn để đánh Tây, thì sẽ bị chúng ta ghép vào tội tuyên truyền Việt Minh.

Những người lính dãn ra nhường lối cho tôi đi. Anh lính cầm súng dậm dọa tôi lúc nãy còn dặn với theo:
- Mày nhớ đi vào chính giữa đường. Đừng đi bên lề. Việt Minh hay chôn mìn ở bên lề đường. Hôm nọ có con chó chạy ở vệ cỏ cũng bị mìn nổ tan xác...

Hóa ra người lính này chỉ dậm dọa cho oai. Thực ra, bụng dạ anh ta cũng không đến nỗi nào. Tôi theo lời anh cứ giữa đường mà đi. Con đường này chỉ là tỉnh lộ. Con đường trải đá dăm, lâu ngày không được sửa chữa. Hồi đầu kháng chiến, dân xã, theo lệnh trên, đào những hố to như những cái rá để ngăn không cho xe tăng của Tây đi. Sau này, người Pháp, khi chiếm đóng, có cho sửa chữa lại. Tuy nhiên, con đường vẫn lởm chởm, đầy ổ gà, và vì mặt đường không trải nhựa, nên con đường vẫn có nhiều chỗ đáng nghi ngờ; du kích vẫn có thể chôn mìn, và nếu ngụy trang khéo léo, khó ai có thể phát hiện, lối đi giữa đường, miệng lẩm nhẩm niệm hồng danh bồ tát Quán Thế Âm. Sự tụng niệm ấy, thật không ngờ, đã làm cho tôi,một chú bé mấy tiếng trước đây còn run rẩy vì sợ hãi, cô đơn,tuyệt vọng bỗng trở nên chững chạc, vững tin. Tôi quán tưởng tới Bồ tát từ bi nghìn mắt nghìn tay, thấy ánh hào quang dịu dàng của Người như đương tỏa sáng trong tâm trí tôi. Và tôi đã đến huyện hoàn toàn bình an vô sự.

Người phố huyện chỉ cho tôi đến trại giam. Trại giam phòng nhì là nhà một ông Hàn, có tường cao, có cổng gỗ lim. Người lính gác là anh da đen rạch mặt. Hắn ta thấy chú tiểu lại gần liền giơ súng có lưỡi lê đuổi quầy quậy :
- Ê, bé con. Đi không tao bắn.
Chú tiểu quỳ xuống, lạy người Tây đen :
- Xin ông dón tay làm phúc, cho phép tôi vào thăm thầy tôi.
Người da đen nghe không hiểu, liền lên đạn và quát tháo :
- Bé con. Lui ra. Tao bắn.

Quan hai phòng nhì Bernard đứng ở hiên nhà thấy cảnh ồn ào cổng vội chạy ra, theo sau là anh bồi mặc quần áo trắng. Bernard hỏi tôi bằng một tràng tiếng Tây xì xồ. Anh bồi áo trắng phiên dịch :
- Tây hỏi cháu đến đây có việc gì?
- Thưa, con đến thăm thầy con là ông sư bị tù sáng hôm qua.
Anh bồi dịch :
- Lui, bé con, vouloir, voir, le bonze, emprisonner matin hier [1].
Tây Bernard nhíu mày nghĩ ngợi. Tôi nói tiếp :
- Cháu mang cơm đến cho sư cụ.
Anh bồi lại dịch theo kiểu bồi :
- Lui, vouloir, envoyer, poignée de riz, au bonze [2].
Tây Bernard bỗng trở nên tò mò. Hắn cầm nắm cơm từ tay tôi, bẻ đôi ra nhìn, rồi bỗng mỉm cười, gật gật, xoa đầu tôi và nói xì xồ.
Anh bồi có vẻ ngạc nhiên bảo tôi :
- Ông Tây bằng lòng cho chú vào thăm đấy. Nhớ bảo với ông sư rằng khai ra thì ông Tây cho sư cụ về với cháu.

Anh bồi ngạc nhiên vì chưa bao giờ thấy Tây Bernard dễ tính đến thế. Có thể, người sĩ quan phòng nhì này thấy tôi là một chú tiểu ngồ ngộ, cũng có thể lòng anh ta có chút cảm động nào chăng, khi thấy tôi tha thiết xót thương thầy tôi. Nó giống như tình cảm người con với người cha. Ở bên đạo, tại các nhà thờ, không có các chú tiểu đi tu giống như ở chùa. Có lẽ người Tây này thấy điều đó là hay hay, là lạ nên đã ban cho tôi cái đặc ân này chăng?

Nhà giam là năm cái casô, từa tựa như năm gian nhốt ngựa, nhưng kiên cố, có chấn song sắt. Thầy tôi, quần áo tả tơi, mặt thâm tím, nằm còng queo trên sàn ximăng. Tôi kêu thầy ơi rồi khóc hu hu. Thầy tôi run rẩy đứng lên, bám lấy chấn song sắt. Ông cụ thều thào “A di đà Phật”. Đôi mắt mờ của thầy nhìn chằm chằm vào tôi.
- Con đấy ư? A di đà Phật, cầu Phật phù hộ cho con.
Tôi nghẹn ngào đưa nắm cơm hẩm và gói muối vừng cho thầy.
- Thầy cố ăn cho khỏe.
- A di đà Phật.
- Ông Tây bảo thầy khai thì sẽ thả ra.
- A di đà Phật.
- Ngày mai con lại mang cơm cho Thầy...
- A di đà Phật.

Thầy tôi cứ niệm Phật mãi bằng một câu như vậy. Cho đến phút chót thầy mới nói được một câu khác, nhưng vẫn là câu hôm ra đi thầy đã dặn tôi :
- Con ở lại giữ lấy chùa. Đừng quên sớm tối đèn nhang. A di đà Phật.

Tiếng A di đà Phật cứ vẳng mãi trong tâm hồn tôi. Về sau, tôi mới biết, khi bị hỏi cung, bị tra tấn, thầy tôi vẫn chỉ một mực nói câu nói ấy. Nó như một câu thần chú, đem lại cho thầy tôi một sức mạnh kỳ diệu để chống lại sự đau đớn thể xác, để không làm trái với những niềm tin của cả đời mình. Thầy tôi là một nhà tu hành thuần thành. Một ông thầy chùa đích thực thì phải có lòng từ ái. Từ với tất cả chúng sinh, từ ái với cả những kẻ coi mình là thù nghịch. Không sân hận ngay với kẻ muốn làm ác với mình, muốn giết mình. Điều đó mới khó làm sao. A di đà Phật. Thầy chỉ còn biết niệm Phật để mong cho mình có sức mạnh mà chịu đựng. A di đà Phật. Đức Thế Tôn xưa rải tâm từ đến con voi điên muốn giết ngài và cuối cùng đã cảm hóa được nó. A di đà Phật. Nếu không có từ tâm ấy thì thầy tôi lấy đâu ra sức chịu đựng, chắc chắn thầy đã chết trong những cuộc tra tấn khủng khiếp ấy. Tâm từ, thầy tôi đã rải cho cả chính mình. Chính tâm từ đã cứu mạng sống cho bản thân thầy. Bây giờ, tôi mới hiểu tại sao sư tổ ngày xưa lại đặt pháp hiệu cho thầy tôi là Vô Úy.

Tôi trở về chùa. Cứ nghĩ đến cảnh gặp thầy tôi ở xà lim phố huyện, tôi lại vô cùng lo lắng. Nhưng nghĩ tới người Tây dễ tính cho phép tôi vào thăm thầy, tôi lại có chút hy vọng. Còn nghĩ rằng sự đức độ của thầy, cái tâm từ bao la của thầy có lẽ đã cảm hóa được người Tây đó chút nào chăng. Người ta cho tôi vào thăm thầy, tức là người ta cho rằng tội thầy tôi cũng nhẹ. Có khi chỉ là sự nghi ngờ nào đó thôi. Việc thầy tôi được thả ra chắc chỉ là chuyện ngày một, ngày hai.

Các bà vãi đến giúp tôi trông nom chùa ngày nào cũng có mặt. Ruộng chùa sư bác Độ cho cấy rẽ hết. Chỉ có mấy sào lúa nếp hương đã hoe hoe vàng. Mấy ruộng nếp đóng oản quanh năm. Nếp này nếp cái vừa dẻo vừa thơm. Một bà vãi làng lấy chồng Nam Định, vẫn nhớ đến chùa làng, đem năm cần thóc giống tận quê chồng lên đây cúng chùa. Bác Độ chăm sóc thật khéo. Gần chục năm rồi mà giống vẫn không lai tạp. Gạo vẫn dẻo vẫn thơm.
Thầy tôi dặn dò lúc ra đi, rồi nhắc lại lời dặn khi tôi đến xà lim, điều ấy tôi đâu dám quên. Lời thì ngắn, nhưng ý thì nhiều. Trông nom nhà chùa, đèn nhang sớm tối còn gồm cả chuyện những mảnh lúa nếp này nữa. Có một mảnh đã chín. Các bà vãi và tôi phải mất hai ngày trời mới thu hoạch xong mảnh ruộng ấy.

Tôi theo thầy tôi thấm thoát đã gần ba năm. Thầy dạy dỗ tôi thật kỹ càng. Ngoài học tập kinh kệ, chữ nghĩa, tôi còn phải học làm việc đồng áng. Thầy bảo :
- Con người ở chùa phải tinh tấn học tập từng giây từng phút. Ăn là thiền, nói là thiền, nghĩ là thiền, đi đứng là thiền, làm việc đồng áng cũng là thiền. Bởi vì thiền là sự sống, hiểu sống. Ta bưng bát cơm ăn, ta cám ơn sự sống. Người làm ra hạt gạo tức làm ra sự sống. Do đó ta quý việc đổ mồ hôi trên luống cày.

Tôi mười ba tuổi, không cao lớn, nhưng gân thịt săn chắc. Làm việc dẻo dai. Đã gánh nổi ba chục cân lúa ở đồng về.

Gặt xong lúa, hôm sau tôi định lại lên phố huyện thăm thầy. Tôi dậy sớm nấu xôi gạo mới. Cơm sôi, mùi hương nếp từ bếp tỏa ra, bay vào gian chính điện. Cả ngôi chùa thơm nức hương nếp. Tôi quấn rơm trùm trên nồi cơm. Đợi cho rơm cháy hết, tôi ra sân chùa, đến cây mít hái lá. Tôi muốn đóng chục cái oản. Trước là dâng lên cúng Phật, sau là làm lộc cho các bà vãi đem về nhà, để các cháu nhỏ cũng được thụ lộc của trời đất. Hôm nay sẽ đóng oản nhiều hơn mọi ngày rằm mùng một. Tôi sẽ mang oản này lên nhà giam cho thầy. Tôi đứng dưới gốc mít, cứ nghĩ như vậy. Thích thật! Oản chưa đóng mà gốc mít đã thơm lừng mùi oản. Hóa ra hương nếp bay ra tận đây, đọng lại rên vòm lá xanh rờn. Hóa ra hương nếp lẫn vào sương mù buổi sớm như tấm áo choàng thơm tho ướp hương cho chùa.

Lần này, tôi đến phố huyện sau khi lính đồn Sọ đã mở đường, gỡ mìn xong. Khoảng hơn mười giờ sáng tôi đứng trước cửa trại giam P.C. Tôi đứng xa xa, chờ đến lúc ông Tây xuất hiện ở sân mới xách cái bị lò dò đến gần cửa. Lính Tây đen rạch mặt lại quát to :
- Ê, bé con, đi ra xa, mau lên.
Tôi lại khúm núm xin xỏ, mắt vẫn liếc vào sân, mong ông Tây mặt đỏ như mặt gà chọi chú ý. Lần này, ông Tây mặt đỏ ra mở cửa, nhưng không có ông bếp áo trắng đi theo. Tôi đứng trước mặt ông Tây, khấp khởi mừng thầm vì lại được gặp con người dễ tính nhân đức này.
- Con xin chào quan lớn.
- Mày muốn cái gì?
Hóa ra ông Tây cũng biết tiếng ta, tuy nói giọng lơ lớ.
- Con xin thăm tù. Thăm ông sư. - Tôi vừa trả lời, vừa làm hiệu xoa lên cái đầu trọc của tôi.
- Thăm sư ha. Thăm Việt Min ha.
- Thưa vâng.
- May la Viet Min be con ha.
- Không, tôi là sư.
- Cut đi! Me may! Cut đi!

Nói xong, người Tây giơ chân đi giầy săng đá đạp mạnh vào người tôi. Một cú đạp trời giáng, đạp hết sức làm tôi ngã vang ra xa.
- Me may. Viet Min, be con.

Nét mặt người Tây cau lại hung dữ, hoàn toàn khác người Tây mà tôi gặp lần trước. Tôi có lầm đâu. Vẫn người Tây cũ không sai. Một con người hiền lành dễ tính sao bỗng nhiên thành một hung thần làm ta khiếp đảm. Tôi chẳng hiểu nguyên nhân sự đổi thay ấy từ đâu. Ông ta nhổ nước bọt rồi quay đít đi vào trong khi mặt tôi tái xanh, chưng hửng. Người lính da đen cũng hùa theo. Anh ta lên đạn lách cách rồi giậm chân mạnh xuống đất kiểu như ta đuổi chó. Tôi vội lồm cồm nhỏm dậy và lủi thủi bước xa. Người lính da đen đóng cánh cổng lim lại. Tôi kêu lên trong lòng :
- Thầy ơi! Bây giờ thầy ra sao. Liệu con có gặp lại được thầy nữa không? Con không hiểu sao lại thế...

Người tu hành không được phép sân hận trước bất cứ một điều gì. Lòng từ bi của đạo Phật là vô biên. Tuy nhiên, thú thật lúc đó lòng hận thù trong tôi bỗng đột ngột dấy lên. Nó như những lớp sóng bạc đầu nối tiếp nhau xô vào đầu óc tôi dồn dập. Tôi khóc với đôi mắt đỏ ngầu, bàn tay nắm chặt. Tôi muốn hét thật to. Tôi ra khỏi phố một quãng, ngồi phệt xuống bờ ruộng. Người tôi như được tích tụ thuốc nổ, chỉ chực nổ tung. May mắn là tôi khóc được. Nước mắt đầm đìa khuôn mặt. Nước mắt ào ạt tràn ra, không tài nào cản được. Tôi khóc cho đến lúc không còn nước mắt. Hàng tiếng đồng hồ ngồi khóc, dần dần làm lòng tôi dịu lại. Tôi ra con mương gần đấy, vốc nước vả vào mặt. Nước mát làm tôi tỉnh táo lại. Tôi suy nghĩ trước sau, và chợt nghĩ ra anh Hải. Ừ, tại sao tôi không đến gặp anh Hải. Anh vừa là thầy giáo của tôi, vừa là anh rể tương lai của tôi.

Tôi đến P.C (đồn chỉ huy khu vực). Ở đây khác với trại giam. Lính đông đúc. Xe cộ tấp nập ra vào. Bao nhiêu là Tây trắng, Tây đen, bảo hoàng, lính dù, lính mũ đỏ. Lúc này tôi sợ sệt chứ không bạo dạn như đến trại giam. Tôi chỉ dám đứng ở rất xa chứ không dám lại gần. Mãi mới thấy một anh lính bảo hoàng từ trong đồn đi bộ ra phố. Tôi lại gần lễ phép hỏi :
- Thưa bác, tôi có người nhà làm thông ngôn. Nhờ bác làm ơn làm phúc nói cho làm cách nào gặp được ông ấy.
- Tên ông ta là gì?
- Dạ, Hải, ông đội Hải.
- Đúng. Có ông đội Hải thông ngôn. Nhưng mấy hôm nay ông về Hà Nội có việc.

 
Chú thích:
[1] Lui, bé con, vouloir, voir, le bonge, empuisonner, matin hier: Nó, bé con, muốn, thăm, ông sư giam sáng hôm qua.
[2] Nó, muốn, gửi, nắm cơm, cho ông sư.




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.02.2018 22:27:29 bởi Ct.Ly>
Chương 4
 
Trên sông Bồ Đề

 
Đội cải cách đến làng Sọ được ba ngày. Sư bác Khoan Độ và chị Nguyệt được triệu tập ra đình. Anh đội Khoát bảo:
- Tôi đã nghiên cứu kỹ về nhà chùa. Ở đây có nhiều vấn đề. Riêng sư thầy và cô Nguyệt, tôi đã xem xét lý lịch. Không có vấn đề. Cũng là bần cố cả thôi. Chỉ có điều mắc phải mê tín dị đoan. Nhẹ thôi. Chịu khó học tập, cải tạo, thì cũng là chỗ dựa của cách mạng. Các rễ chuỗi cốt cán trong làng đều nói hai người rất tốt. Trong kháng chiến, sư thầy có công diệt được thằng Tầy lùn ác ôn. Còn chị Nguyệt, tuy chưa cưới xin, nhưng chồng là liệt sĩ bị giặc Pháp giết hại. Riêng sư cụ trong chùa lại là một phần tử cực kỳ nguy hiểm. Tôi thay mặt đội cải cách, kêu gọi tinh thần giác ngộ giai cấp của hai vị. Hãy vì cách mạng, hãy vì Đảng mà tố cáo mọi hành vi đen tối của sư Vô úy. Lão sư già này rất thâm hiểm. Những kẻ mặc áo cà sa bao giờ cũng tinh vi... Bề ngoài thì từ bi... nhân đức... nhưng thực chất lại là phản động. Nhưng dù hắn xảo quyệt đến đâu cũng không thể che giấu được con mắt của nhân dân...
 
Nhất là các vị... Các vị ở gần lão ta... hàng ngày tiếp xúc với lão ta... Con cáo dù xảo quyệt đến đâu cũng không che giấu được mãi... Có những lúc sơ hở cái đuôi cáo cũng thò ra... Đấy là những lời nói. Có thể là những lời nói rõ rệt... Cũng có thể là những lời phản động mập mờ... Chính nó mập mờ nên càng nguy hiểm... Chẳng hạn như những lúc uống trà với chánh Long, hắn đã phát biểu những gì. Những lời bất mãn với cách mạng... những lời chống đối ra mặt... những lời than thở chê bai... Chẳng hạn có những lúc hắn họp bàn với lão sư đệ Vô Trần... Hắn bảo là hội ý Việt Minh ư?... Đừng tin vào lời nói... Việt Minh giả đấy. Đó là những cuộc họp Việt Nam Quốc dân đảng... Thế đấy! Thâm hiểm thế đấy... Có như vậy Đảng mới phải nhờ cậy vào sự giác ngộ của các vị... Mong các vị lập công với Đảng... Các vị càng dứt khoát, càng vạch trần nhiều tội lỗi của chúng thì các vị đã có công với cách mạng trước đây, phen này lại càng lập công to hơn... Và các vị đã được Đảng tin cậy, phen này lại được Đảng tin cậy hơn.
Anh Khoát chắc biết rõ hai người vốn chịu ơn sâu nặng của vị sư già, cho nên anh phát biểu dài như thế. Dài như một bài diễn văn. Vừa nói vừa nhìn vào mắt họ. Chủ yếu để thăm dò. Nếu họ chịu khuất phục ngay, hân hoan tán thưởng ngay, đó là điều tốt nhất, quá sức mong đợi. Và Khoát lập tức liệt họ vào hàng cốt cán, sẽ cho họ những ân huệ đặc biệt... Còn nếu họ chưa chịu hợp tác, thì ít nhất lời nói của anh cũng phân hóa được hàng ngũ địch, biến họ thành trung lập. Mà những người đã trung lập, thì chỉ cần khéo léo một chút xíu, là đã bước chân sang phía bên này rồi. Chút xíu khéo léo ấy tức là một tí lợi quyền chẳng hạn, một tí sợ hãi chẳng hạn. Con người ta, lợi quyền ai chẳng ham, sợ hãi ai chẳng muốn tránh. Con người vốn tham lam, vốn hèn yếu. Đánh mạnh vào những điểm ấy, trong những lúc bão tố như thế này, chắc chắn anh sẽ tập hợp được một đội quân cuồng nộ đi theo. Ba đợt cải cách, mà anh đã tham dự, đã cho anh những kinh nghiệm ấy. Chính vì vậy nên Khoát không vội vàng. Mới chỉ có ba ngày, tức là lửa chỉ mới nhen, gió chỉ mới dấy lên hiu hiu thổi. Mươi hôm nữa, lửa sẽ phừng phừng, gió sẽ ào ào. Đến lúc ấy, gió lửa cuồng nộ sẽ cuốn phăng tất cả. Trong trận cuồng phong có ai cưỡng lại được gió. Đến lúc ấy, kẻ nào chậm chân, hay dừng lại, sẽ bị nó đè bẹp, dẫm nát, xé tan ra từng mảnh. Hỡi các người! Hãy mau theo ta! Ai đến sớm nhất sẽ có lợi nhất. Người xưa chẳng nói trâu chậm uống nước đục hay sao. Anh đội Khoát nghĩ như vậy và cứ chằm chằm nhìn vào hai người. Anh chờ đợi, nhưng hai người chỉ cúi đầu xuống, lảng tránh tia mắt của anh. Cuối cùng, anh Khoát nói:
- Tôi biết lão sư già rất tinh vi. Hắn che đậy rất khéo léo những hành động, những lời nói. Vì vậy, các vị cần có thì giờ để ôn lại. Ngay từ giờ phút này, các vị hãy bắt đầu cố nhớ lại cho thật kỹ. Chớ bỏ sót một chi tiết nhỏ nhặt nào. Có khi một chi tiết nhỏ lại là một đầu mối lớn cho chúng tôi. Nhớ ra điều gì đến gặp tôi ngay. Cách mạng kêu gọi các vị đấy... Tôi chờ đợi các vị đấy... Nên nhớ, càng sớm càng có cơ hội, càng muộn càng bất lợi... Hai vị hiểu đấy chứ?
Lời nói vừa như mơn trớn, vừa như đe dọa ấy làm sư Khoan Độ và cô Nguyệt suy nghĩ rất lung. Họ cắm cúi về chùa chẳng nói một lời. về đến nơi, họ vào ngay nhà tổ. Sư cụ ngồi ở tràng kỷ chờ họ. Sự Khoan Độ thưa:
-  Bạch thầy, tình hình rất căng thẳng.
-  Con cứ bình tĩnh kể lại đầu đuôi.
Sư bác, sau khi kể, đưa ra kết luận:
- Bạch thầy, anh đội Khoát muốn chúng con tố cáo thầy bằng bất cứ giá nào. Xoay quanh việc thầy thân thiết với ông chánh Long và sư thúc Vô Trần.
- A di đà Phật! Ông chánh Long thì đi một nhẽ. Mục tiêu của cải cách ruộng đất mà. Còn ta cũng đi một nhẽ. Vì là mê tín dị đoan, vì làm mê muội nhân dân mà. - Còn sư thúc của các con... ông ấy làm người cách mạng... nhưng cũng không thoát... A di đà Phật!...
Sư bác thở dài:
- Con thiết nghĩ trước sau thế nào họ cũng bắt sư phụ. Con nghĩ thế vì anh đội Khoát không úp mở gì, quy sư phụ là phần tử phản động. Tình thế thật khẩn trương.
-  A di đà Phật! Ý con như thế nào?
- Bạch thầy, tình hình đã đến nước này, con nghĩ thầy cứ trốn đi là hơn.
-  Đi trốn ư?
- Thưa thầy, con nghĩ đã đến lúc nguy cấp, nếu ta không tính nhanh thì sẽ không kịp. Nếu thầy ở lại, chắc sẽ chuốc lấy tai họa. Con xin mạn phép tính thế này: Ngay đêm nay, con hộ tống thầy, ta lên đường ngay. Đội mới về chỉ ít hôm, đội cải cách chưa tập hợp đủ người tin cậy. Việc gác xách các nẻo đường còn vô cùng lỏng lẻo. Trong kháng chiến, con đã thuộc mọi đường ngang ngõ tắt. Trời càng tối càng thuận lợi. Con đi đêm chẳng khác gì đi ban ngày...
Vị sư già cười mỉm hiền hậu:
- Con định đưa thầy đi đâu bây giờ? Lúc này ở ta, nơi nào chẳng đang cải cách.
- Thầy trò mình lại quay trở về chốn xưa. Lại về vùng núi sâu Yên Tử. Ở đấy, dân thưa vắng. Ở đấy, dân sơn cước tính tình chất phác. Ở đấy, đất đai rộng rãi. Chắc chắn ít địa chủ hơn. Chắc chắn ít sự tàn khốc. Cho nên cuộc đấu tranh cũng ít khắc nghiệt hơn. Vả lại cái am mà thầy trò ta trú ngụ ngày xưa vẫn còn. Chỉ có mái lợp lá đã sụt hết cả. Con chỉ cần gác mấy chiếc đòn tay, rồi cắt ít tranh lợp lại là thầy trò ta có thể sống qua ngày. Con lạy thầy! Xin thầy nghe con! Hãy đi lánh nạn vài tháng. Đợi cho yên tĩnh trở lại, con lại xin cõng thầy quay trở về đây ngay... Còn việc ở nhà, mong thầy yên tâm. Chú An nay đã lớn khôn, có thể đảm đương được việc đèn nhang, chẳng bao giờ có chuyện hương lạnh khói tàn. Việc đồng áng thì đã có cô Nguyệt và vãi Thầm quán xuyến...
Sư cụ, mặt rất vui, tỏ vẻ hài lòng với người học trò. Cụ gật đầu nói với giọng ung dung điềm tĩnh:
- Con tính toán mọi việc thế là chu đáo. Tuy nhiên, thầy không thể bỏ trốn được lúc này. Bởi vì đã mang lấy nghiệp là phải gánh chịu nghiệp. Nếu tránh được khi này, thì nghiệp vẫn sờ sờ ra đấy, lúc khác ta lại phải gánh chịu. - Sư cụ nhắm mắt lại một lúc như để quán tưởng điều gì rồi mở mắt ra bảo. - Chỉ tiếc rằng cái căn nghiệp mà chúng ta chịu đựng phen này khá nặng nề. Vả lại, nghiệp này chỉ mình ta phải chịu. Nếu như ta cùng con đi trốn. Việc ấy sẽ liên lụy đến con. Đó là điều ta không muốn. Khoan Độ ạ, trốn cũng không được đâu. Ta sẵn sàng hy sinh cho Phật pháp. Nếu lỡ xảy ra chuyện gì, thì ở đây phải trông cậy vào con... Thầy đã nghĩ kỹ rồi. Thầy sẽ đến gặp anh đội cải cách.
Hai thầy trò nói chuyện đến tận khuya. Anh đội Khoát mới chỉ về làng vài hôm, nhưng đã có thái độ riêng. Anh ta rất lanh lợi, yêu ghét rõ ràng. Khoát chắc chắn là người vô thần, mà vô thần đến mức cực đoan. Ngay ở gần đình, có một điện thờ tam tứ phủ. Sáng về làng thì chiều anh ta đến ngay và hỏi:
- Ở đây thờ gì? Sao lại có hai con rắn trên quá giang thế kia? Thờ rắn à? Thờ hổ mang à? Anh em du kích đâu, giật ngay hai con rắn xanh rắn trắng xuống. Cách mạng không dung thứ cái trò mê tín dị đoan.
Riêng đối với chùa, anh Khoát dè dặt hơn, nhưng rất ghét các nhà sư, nhất là những nhà sư hổ mang, hư đốn. Anh bảo với những cốt cán:
- Lão hòa thượng hèn mọn ở chùa làng ta cớ sao lại thu phục được dân chúng thế nhỉ. Tôi hỏi dân làng, không nghe thấy ai nói xấu ông già. Chắc hắn đã làm nhiều điều bàng môn tà đạo để mê hoặc dân. Mà lại biết cách che đậy kín đáo. Hắn đeo mặt nạ đi tu. Tôi phải vạch trần bộ mặt thật của hắn ra.
Khoát đặt ra cả một kế hoạch để hạ gục sư Vô úy mà Khoát tin là một phản động đầu sỏ. Bước đầu gọi sư Khoan Độ và Nguyệt lên, đó chỉ là bước đánh động, phân hóa. Khoát chưa kịp tiến hành bước sau, thì sư Vô úy đã tự động dẫn thân đến
ngôi đình, trụ sở của đội. Phật giáo là một tôn giáo lớn, có ảnh hưởng sâu nặng với làng quê từ bao đời nay. Đâu có giống như đạo Mẫu, đạo ngồi đồng, đạo dân gian chẳng bao giờ có chút quyền uy. Đó là đạo của những người đàn bà thôn quê khổ cực chẳng biết than thân cùng ai, nên đến đó để làm ông hoàng bà chúa trong chốc lát, cốt giải tỏa những sầu khổ, uất ức, tủi nhục. Đã là đạo của những người đàn bà thì ai muốn làm gì chả được, muốn đối xử tùy tiện thế nào chả được. Còn đối với đạo Phật, đối xử với nó tức là đối xử với cả một bề dày văn hóa tâm linh. Đối xử với nó tức là đối xử với cả một chiều thăm thẳm của lòng nhân ái. Đối xử với nó tức là đối xử với chính mình. Bởi vì bất kỳ ai chẳng có chút Phật trong lòng mà mình không biết. Có thể ta phủ nhận điều đó, nhưng nó cứ tồn tại trong ta. Nó gây cho Khoát sự gờn gợn, sự lúng túng. Anh biết anh đang có một quyền uy vô cùng to lớn trong tay, quyền uy của một đội trưởng cải cách, nghĩa là anh có quyền sinh quyền sát con người. Song dù là thế, anh vẫn cứ thấy gờn gọn, lấn cấn trong lòng. Điều mà một người có tiếng là cứng rắn, là lập trường vững vàng như anh cũng không thể phân tích nổi. Vì vậy, nên Khoát hôm ấy mới điềm tĩnh và mềm dẻo. Một điều hiếm thấy. Anh ôn tồn hỏi:
-  Hòa thượng đến đây có việc gì?
Ông sư già rất lễ phép:
- Chúng tôi biết lúc này anh đội phải bận trăm công nghìn việc, chúng tôi không dám phiền anh đội lâu đâu ạ. Chúng tôi chắc anh chưa rõ tình hình của chùa làng. Cho nên tôi tới xin được giãi bày cùng anh đội đôi lời.
Đội Khoát bỗng hỏi một câu hình như có vẻ rất xa đối với tình hình lúc đó. Nó có vẻ rất lý thuyết, chẳng dính líu gì tới nhiệm vụ của một đội cải cách ruộng đất về làng. Tuy nhiên vẫn thấy sự căng thẳng trên nét mặt và trong giọng nói của anh:
- Phật giáo dùng để làm gì nhỉ? Để cho các chùa chiền được tự do liệu có ích gì không?
Sư Vô Úy không ngờ bắt đầu cuộc nói chuyện với con người nổi tiếng là cứng lòng ấy lại là câu hỏi như vậy. Có thể vì Khoát lúng túng chăng? Hay là anh ta cũng có những vướng mắc trong tâm hồn mà vô tình đã bật ra lời. Sư cụ nhân cơ hội, hiền hòa nói:
- Từ bao đời nay, dân ta đều biết Phật giáo dùng để cứu đời. Hàng ngàn đời nay, Phật giáo ở nước ta chỉ làm lợi lạc cho đất nước, cho nhân quần. Ân đức của đức Phật giáo hóa cho dân thật vô lượng. Vì thế nên làng nào, xã nào trên đất nước ta cũng có chùa. Từ lý lẽ thâm sâu cho tới hành động của nhà chùa đều chỉ vì mục đích tạo điều lành, diệt điều ác. Cũng từ xưa đến nay, cả nhà chùa, cả chính quyền đều cùng lập hạnh. Chính quyền lo sự an dân. Nhà chùa lo dạy dân hướng thiện, tránh ác. Tức là Phật giáo lo trị bệnh cái tâm con người. Nếu tâm lành, thì mọi sự bình an, trời đất thái bình. Tâm là gốc của sự sự, việc việc trên thế gian...
 
Hình như lời nói của sư Vô úy làm cho gương mặt của anh đội Khoát đã bớt nét căng thẳng. Anh dịu giọng hơn khi hỏi:
- Nói thì hay như vậy, nhưng tại sao trong dân gian, sư sãi vẫn làm lắm việc không hay, thật chẳng khác gì những kẻ xấu trong xã hội. Người ta gọi họ là sư hổ mang, là kẻ trốn việc quan đi ở chùa.
- Hòa thượng chỉ là tên gọi, trong họ vẫn có kẻ phàm người thánh. Người ta không thể chỉ thấy mấy ông sư làm sai mà trách cứ chê bai Phật giáo. Nói rộng ra, tất cả các đoàn thể trên thế gian này đều như thế cả. Không có đoàn thể nào chỉ toàn người chính trực. Biển cả bao dung chứa đựng muôn loài không phân biệt cá tôm cua ốc. Tánh Phật cũng bao la như biển cả, dung chứa tất cả chúng sinh, kể cả tốt lẫn xấu.
Có lẽ lời lẽ của hòa thượng đều đúng quá. Cũng có khi vì cách trao đổi quá ư hiền hòa và viển vông lý thuyết. Điều ấy không phù hợp với phong cách của một anh đội trưởng cải cách, mà tính sắt đá, tính cuồng nộ bừng bừng khí thế mới là phong thái điển hình. Cho nên, bỗng nhiên, Khoát đổi giọng. Dây đàn chùng được căng lại.
- Thôi, không dông dài nửa. Ông sư hãy nghe đây. Đội cho ông về suy nghĩ. Ngày mai, chín giờ, ra đây. Phải trình bày rành mạch mối quan hệ của ông với tên Trần, tên Nấm, tên Long. Chúng nó là bọn địa chủ, bọn phản động, có nợ máu với nhân dân. Ông đã rõ những lời tôi nói chưa?
* * *
Khoát báo cáo tình hình lên Đoàn ủy. Có vẻ Đoàn ủy cũng lưỡng lự. Bởi vì, xét về mặt chiếm hữu ruộng đất và bóc lột nhà chùa tuy có cho cấy rẽ hơn một mẫu ruộng thật, nhưng mức tô lại quá thấp. Ở những chân ruộng xấu, hầu như tô chẳng có gì, nhà chùa chỉ lấy ít thóc tùy tâm người cấy để nhang đèn cúng Phật. Những nhà nghèo làm ruộng thuê, chẳng ai tố cáo điều gì, vì lẽ họ thật sự chịu ơn nhà chùa đã giúp họ miếng cơm. Vả lại, tố điêu cho nhà chùa, hoá ra tố điêu cho đức Phật à, điều này họ không dám làm.
Một hôm, bà cụ Thầm nói với con gái bằng một giọng rất tỉnh táo. Quái lạ! Mọi khi bà cứ mê mê tỉnh tỉnh nói toàn chuyện âm phủ. Không hiểu sao hôm ấy bà nói khôn thế:
- Bố mày về tối hôm qua nói chuyện với mẹ đấy. Ông ấy bảo tao rằng: “Dân làng ai nói hơn nói kém, mặc người ta. Còn vợ chồng mày, đối với nhà chùa phải nói cho thật. Chịu ơn ai thì nói chịu ơn. Đừng có a dua, đừng có tham như mõ mà một nói thành mười. Kẻo rồi lúc xuống âm phủ, quỷ đầu trâu nó bẻ răng rút lưỡi”.
Bản tính vợ chồng anh Lẫm chị Thì vốn lương thiện, lại được mẹ dặn dò, cho nên dù được bắt rễ làm cốt cán, dù được đội bồi dưỡng thế nào, anh vẫn luôn luôn một mực nói hay cho nhà chùa. Không có lời tố khổ của quần chúng, lại không có chứng cứ rõ rệt, nên quy cho sư ông Vô úy bóc lột cũng khó, mà quy là phản động cũng khó. Cho nên đội Khoát vô cùng khó xử.
Cho đến khi mẹ con bà Nấm, cái Huệ bỏ trốn, Khoát liền cho đội du kích bao vây nhà chùa, theo dõi cả ngày, lẫn đêm. Lại có lúc tỏ ra lơi lỏng, sơ hở, tạo điều kiện cho ông sư đi trốn, để tạo cớ bắt quả tang. Tuy nhiên, nhà chùa vẫn chẳng hề động tĩnh. Nhưng đến hôm xử bắn chánh Long, thì đội trưởng Khoát nôn nóng không đừng được. Điểm mấu chốt là Khoát muốn hoàn thành hồ sơ về Vô Trần. Anh ta cứ khăng khăng đinh ninh rằng Vô Trần, chánh Long, sư Vô úy là một tổ chức phản động, địa chủ cấu kết với nhau, mà vô Trần là kẻ đứng đầu. Theo kinh nghiệm ba đợt cải cách anh đã tham dự, lô gích của các sự việc phải là như thế. Nếu chỉ bắt địa chủ ác bá đem bắn, điều ấy đội cải cách tầm thường nào chẳng làm được. Nhưng nếu phát hiện được một tổ chức phản động chui sâu leo cao vào để phá cách mạng từ bên trong, rồi chúng lại cấu kết với bọn địa chủ bóc lột, và bọn tôn giáo chống đối cách mạng nữa, thì công tích ấy thật to lớn vô cùng, và con đường thăng tiến cách mạng của anh cũng sẽ thênh thang không thể lường được.
Khoát nhắm vào Vô Trần, nhưng Vô Trần lại có một vỏ bọc cách mạng từ hồi bí mật. Hiện nay, Trần là chính trị viên tiểu đoàn trong quân đội. Khoát đã đề nghị Đoàn ủy viết giấy gọi anh ta về xã để cho đội cải cách xét hỏi. Tuy nhiên, vẫn chưa thấy quân đội giải anh ta về. Chắc Trần đã được cấp trên bao che. Trường hợp này thật khó vô cùng. Song càng khó Khoát càng thích. Bởi vì tóm được một tên phản động chui sầu, công càng to.
Trong tình hình ấy, khi mẹ con bà Nấm bỏ trốn, Khoát càng tin rằng Vô Trần và bà Nấm có tội thực sự. Người ta gửi điện đến các địa phương trong tỉnh để truy lùng mẹ con bà Nấm. Cách suy nghĩ của bà Nấm là đúng. Bà không ra đường quốc lộ, đó là con đường gần nhưng nó lại vẫn nằm trong tỉnh và ở trong một vùng đang cải cách ruộng đất sôi động. Bà đi lên hướng bắc thoát sang tỉnh bạn, ở đó tình hình yên ắng. Hai mẹ con thoát khỏi sự truy đuổi gắt gao. Hai mẹ con ngủ cầu, ngủ quán, ngủ đinh, ngủ chùa. Chẳng có đồng nào giắt lưng. Đói thì ăn xin, khát thì uống nước ruộng. Mất ba ngày lần mò mới lại ra đến đường quốc lộ. Hai mẹ con ngồi bên vệ đường định đón ôtô đi nhờ về Hà Nội, nhưng hồi ấy rất ít ôtô. Chờ cả một tiếng mà chẳng có chiếc xe nào đi qua. Đang chờ bỗng nghe tiếng ồn ào. Văng vẳng như tiếng hô khẩu hiệu. Nghe cả tiếng gõ trống. Một lát sau, thấy xuất hiện đoàn người đi cổ động kéo dài trên đường quốc lộ. Hóa ra ở đây cũng bắt đầu phát động quần chúng. Hai mẹ con sợ hãi quá vội lẩn sang bên kia đường. Họ vội tránh xa khỏi con đường và đám cổ động. Vượt qua con đê đến cánh bãi ven sông. Ở đây, ngô cao lút đầu người. Họ chui vào những ruộng ngô. Bà Nấm bảo Huệ:
- Mẹ nghĩ kỹ rồi. Đi đường quốc lộ, mẹ con ta dễ bị bắt lại. Chi bằng ta đi theo đường sông. Trên sông vắng người. Đây là sông Hồng. Nó sẽ dẫn mẹ con ta về Hà Nội.
Đói bụng quá, Huệ phải lấy trộm vài bắp ngô non, bóc ra. Hai mẹ con ăn ngô sống. Ngô non ăn sống cả lõi ngọt lừ. Mẹ con đang ăn thì nghe thấy tiếng người đằng hắng. Thật nguy hiểm. Họ đã bị bắt quả tang ăn trộm. Nếu người canh đồng bắt họ đưa về xã thì sao. Thấy tiếng nhưng chưa thấy người. Kẻ bắt trộm vẫn đứng trong lùm ngô cao quá đầu người. Hai mẹ con bà Nấm bật thành tiếng khóc rồi sụp xuống lạy về phía tiếng người:
- Mẹ con tôi xin người tha tội. Chẳng qua đến bước đường cùng, đói bụng quá ăn mấy bắp ngô. Chúng tôi vốn người lương thiện, chưa ăn trộm ăn cắp của ai bao giờ.
Người đằng hắng hình như còn nấp kín để quan sát xem thực sự mẹ con bà Nấm là người thế nào. Mẹ con bà, mặc quần áo nâu cũ đã hơn một tuần chưa thay, lại lăn lộn đường trường gió bụi nên thân hình tiều tụy, mặt mũi nhem nhuốc. Tuy nhiên, ở họ, dáng vẻ vẫn rất đàng hoàng, dáng vẻ của những con người tử tế sa cơ lỡ bước, chứ không phải của phường trộm cắp. Vả lại họ có những gương mặt sáng sủa. Người giấu mặt chắc đã thấy họ từ lâu, trước khi đằng hắng đánh tiếng. Có tiếng lá ngô xào xạc và tiếng chân người bước ra. Hai mẹ con vừa sợ vừa nhục, vẫn cúi đầu. Một tiếng nói cất lên:
-  Mẹ con đừng sợ. Nào hãy đứng dậy.
Huệ và bà Nấm vô cùng ngạc nhiên khi thấy đứng trước mình không phải người canh đồng mà là một bà lão tóc bạc trắng. Bà cụ trạc ngoài bảy mươi, vẫn còn khỏe, lưng không còng, dáng vẻ tinh anh vững chãi. Đôi con mắt nhỏ vẫn còn sáng nhìn họ như biết cười.
- Mẹ con đói lắm phải không? Nhà ta ở gần đây. về ta thổi niêu cơm nóng cho ăn. Kẻo cứ ăn sống ăn sít mãi, rồi sinh bệnh ra...
Căn lều của bà cụ rách nát tuềnh toàng. Khi hai mẹ con ra vại nước, bà cụ nhóm lửa nấu cơm trong chiếc niêu đất. Nhìn hai gương mặt sáng bừng của chị Nấm và Huệ, sau khi đã rửa mặt, bà cụ cười móm mém và cứ gật đầu một mình. Bà cụ xới cơm nóng, lấy mấy quả cà và bát tương cho mẹ con chị ăn, rồi ngồi bên cạnh thủ thỉ:
- Ta chỉ nhìn mặt cũng biết mẹ con chị là người thế nào. Ta biết mẹ con chị là người tử tế nên ta mới giúp. Chắc là mẹ con gặp cảnh ngang trái phải không? Trốn nợ, vợ cả vợ lẽ lục đục, hay là cháy nhà lũ lụt mà phải lang thang cơ nhỡ? Ta nghĩ mãi
nhưng chắc không phải... Không phải bởi vì ta cứ thấy mẹ con chị cứ lấm lét... sợ sệt... Dáng vẻ của các con là những người đi trốn... Kìa... các con cứ ăn đi, và đừng có sợ... Cả đời ta, ta chỉ biết giúp người mà thôi... Ta hiểu chứ... Nhìn thấy hai mẹ con lam lũ nhưng mặt mũi sáng sủa... dáng vẻ đường hoàng là ta nhận ra ngay... Ta biết ngay các con là người gặp hoạn nạn trong cải cách... Các con cứ ăn đi... Mà đừng sợ hãi gì... Ta phải nói thế, vì ở mỗi hoàn cảnh, lại phải giúp một cách khác... Có phải không nào... Ta có người bà con đi buôn chuyến. Mười ngày một chuyến về Hà Nội. Bảy ngày nữa bà ta mới tới đây. Nếu là cơ nhỡ bình thường, thì chờ cũng chẳng sao... Còn nếu là chuyện cải cách, thì lại khác. Phải đi thật nhanh, rời khỏi đây thật nhanh, có phải không? Ta biết vì xã ta đã cải cách rồi, có nhà địa chủ bị bao vây, cả nhà không có gì ăn, ôm nhau mà chết... Trốn khỏi quê là phải... Đi nhanh khỏi quê là phải... Hãy ra Hà Nội. Hãy ra thủ đô... Ở đó chắc có bà con... Tìm đến họ hàng mà sống tạm trong lúc sóng to gió lớn.
Hai mẹ con bà Nấm cứ cắm cúi ngồi ăn, có lúc họ dừng lại vì lo sợ, vì ngạc nhiên... Cớ sao bà cụ lại nói đúng hoàn cảnh tâm trạng của họ đến thế... Có lúc họ nghi ngại, nhưng khi nhìn nét mặt hiền từ và giọng nói chất phác của bà cụ, họ lại thấy yên lòng. Bà cụ già muốn giúp họ thật.
Sáng hôm sau, bà cụ dậy sớm, rang cho họ mấy mẻ ngô, rồi đổ tất cả vào một chiếc hầu bao bằng vải nâu:
- Từ đây về Hà Nội, đi đường sông, chẳng xa lắm đâu. Ta chẳng có tiền cho các con. Chỉ có bao lương khô này, ăn lúc đói, để khỏi phải ăn xin. Còn thuyền ư? Các con theo ta ra đây.
Bà cụ dẫn mẹ con Huệ ra một vườn chuối khá rộng rồi nói: - Chặt mười cây chuối ghép lại làm bè. Ta cho một mái chèo, một cây sào. về dưới đó xuôi nước. Mẹ con cứ men theo bờ mà đi. Chưa quen, nhưng chỉ một lúc là quen. Nhớ đừng ra giữa dòng.
Họ rưng rưng nước mắt chia tay bà cụ. Sao chẳng có chút máu mủ ruột rà gì mà bà cụ tận tình với họ thế. Hai mẹ con ngồi lên chiếc bè rất thô sơ. Kiểu bè thời nguyên thủy nhưng khá chắc chắn và rất nổi. Nước con sông Hồng vào cuối mùa thu cũng không chảy xiết lắm. May mắn thay, bà Nấm vốn biết bơi từ hồi còn trẻ. Còn Huệ, nhờ lúc trước luôn đi theo bọn thằng Căn, thằng Trắm bắt cua bắt cá, lặn lội trên con sông Đào nên sóng nước với nó chẳng có gì đáng sợ. Bà Nấm cầm sào đứng mũi. Cái Huệ cầm chèo đứng cuối bè. Tiếng là bè đi ven sông nhưng cũng nhanh lắm. Có lúc nó trôi phăng phăng chồm lên sóng rồi dúi xuống nước như con ngựa bất kham. Có lúc nó lại lừ lừ trôi hiền hòa như một chiếc du thuyền. Huệ nhìn ra giữa dòng sông mênh mông. Ở đó những đám củi rều trôi phăng phăng hối hả. Ở đó, những con thuyền buồm cánh dơi lướt như bay trên sóng dữ. Ở đó những bè gỗ, bè tre nứa, nối với nhau thành một con rắn khổng lồ, uốn mình trên cả một khúc sông dài. Những người chống sào là những người đàn ông ở trần, trên mình có độc một chiếc khố. Những thân hình màu đồng hun sừng sững trên con sông màu đỏ. Một gã chống sào nói tiếng Thanh Hóa bỗng cất tiếng hát:
 
Sông Bồ Đề nước đỏ như son 
 Anh chưa lấy vợ, em còn nhớ thương
Sông sâu cá lặn biệt tăm
Chín thu cũng đợi mười năm cũng chờ.
 
Giọng người đàn ông trầm ấm vang vang trong mênh mông trên những lớp sóng cuồn cuộn. Giọng xứ Thanh hùng tráng nhưng thoang thoảng nỗi buồn. Chiếc bè chuối đang trôi bỗng gặp một đàn cá. Chúng từ dưới nước nhảy lên không trung thành những đường cầu vồng trắng toát. Sự ngẫu nhiên nhưng đem lại cảm tưởng như những con cá bạc kia cũng ngẩn ngơ lao xao vì tiếng hát.
 
Trang 568




0
Bạn ơi mình muốn tham gia type cùng được không?
0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 01.03.2018 02:51:47 bởi Ct.Ly>
Chào bạn nampp
 
Cuốn này đã hoàn tất rồi
 
http://vnthuquan.net/truy...83a3q3m3237nvn#phandau

 
Cảm ơn bạn nhiều




0
11
Trận lúa vàng

Điện từ P.C báo rằng, sáng hôm ấy, đích thân đại úy Thalan sẽ về kiểm tra bốt Đình Sọ. Trưởng đồn - chuẩn úy Gustave bắt các trung đội trưởng phải kiểm tra cẩn thận vũ khí, trung đội trực ban ngày phải đầy đủ quân số ở các lô-cốt, nhóm tuần tra vào làng phải túc trực đợi lệnh, mấy gia đình binh sĩ ăn ở trong đồn phải sạch sẽ gọn ghẽ, không cho trẻ nhỏ lếch thếch nghịch ngợm các nơi.

Chưa đến tám giờ sáng, tổ dò mìn mở đường đã báo về đường đã thông. Tám giờ ba mươi phút, xe dip của đại úy Thalan đã bóp còi inh ỏi ngoài cổng lớn. Gustave quân trang tề chỉnh vội vã ra đón. Sau cái chào nhà binh cứng ngắc, hai thầy trò ôm chầm lấy nhau. Từ trận rơi vào ổ phục kích bị thương, trong trận đó, ô-tô cháy đùng đùng, Gustave đã bình tĩnh dũng cảm cứu sống Thalan, từ đó đại úy chỉ huy coi chuẩn úy Gustave như anh em của mình.

Tiếng là đi kiểm tra, nhưng đại úy Thalan hoàn toàn tin cậy Gustave, nên cuộc kiểm tra chỉ là hình thức. Ông đi lướt một vòng, rồi vội kéo người chuẩn úy thân cận của mình vào bên trong đình nói chuyện. Chợt nhìn trước sân, thấy chiếc chòi quan sát tám mét, cao lênh khênh, ông liền rủ Gustave lên đó. Đồn trưởng Đình Sọ cười nói với đại úy :
- Đúng là cần phải lên đấy. Ở đấy nhìn rõ khắp vùng. Tôi có chai vang lâu năm mua ở Hà Nội, cứ chờ uống cùng đại úy chưa có dịp.
- Như thế càng hay. Ở đồn của cậu, chỉ có trên cái chòi ấy là kín đáo nhất. Uống rượu cũng tiện mà bàn chuyện cũng tiện.

Khi rượu đã được rót ra, Thalan đưa cái cốc có chân cao lên ngang mặt, nhìn cái chất lỏng mầu đỏ sóng sánh trong đó rồi đăm chiêu gật gù :
- Cậu thật vất vả. Một trăm người lính da vàng. Chỉ độc một mình cậu là người da trắng. Thật cô đơn nhưng biết làm sao khác được. Chúng ta phải dựng lên một đội quân da vàng cho đức vua Bảo Đại. Phải để cho người da vàng cùng gánh vác với chúng ta trong cuộc chiến tranh này. Vị tướng thiên tài De Lattre của chúng ta đã tốn bao tâm huyết vì chiến lược dựng lên đội quân da vàng ấy. Nếu đội quân bản xứ đứng vững, nếu người Việt gánh đỡ chúng ta được phân nửa công việc... thì đó là trọng trách to lớn và cũng là thắng lợi lớn... Cậu hiểu tôi nói chứ... Thật là cô đơn nhưng cũng thật cao thượng.

Hai người cụng ly rất kêu... rồi uống một ngụm dài. Uống vì nhiệm vụ cao thượng và vinh quang của quân đội Pháp. Thalan, nhờ có men rượu, nói càng lúc càng cao hứng, càng hùng hồn.
- Đúng là cao thượng và vĩ đại nhưng cung thật cô đơn. Họ da vàng chúng ta da trắng. Họ phương Đông, chúng ta phương Tây. Cậu có nhìn những đôi mắt của những người lính của cậu không? Thật là buồn, lắm lúc mình thấy họ buồn đến nẫu ruột. Họ là những người Thiên Chúa giáo, là các tộc người thiểu số ghét người Kinh mà theo ta, họ là những người giàu có ở nông thôn và thành thị. Dù sao họ cũng chỉ là số ít so với các biển người nông dân cuồng nhiệt đi theo cụ Hồ. Vì họ ít nên họ cũng cô đơn. Vì họ theo ta nên họ đầy mặc cảm tội lỗi. Tôi lỗi vì cảm giác chống lại mảnh đất của tổ tiên mình. Cũng do vậy, họ vừa đáng tin cậy, vừa có những điểm không thể tin cậy. Này, thú thật đi, sống giữa họ có lúc nào cậu cảm thấy sợ không? Có lúc nào nhìn vào mắt họ, cậu thấy sự thù hằn không? Tôi khuyên cậu phải tin họ nhưng phải luôn cảnh giác, nghĩa là dẫu sao những lúc ngủ cậu vẫn phải khóa bên trong, và hễ có chút nghi ngờ nào thì phải báo ngay cho tôi.
- Thưa đại úy, tôi hiểu chứ. Tôi nghe những người lính Batidăng, quân của tôi, nói với nhau. “Người Pháp đến rồi họ lại về Pháp, còn chúng ta vẫn phải ở mãi tại đây. Vì đó là xứ sở của chúng ta”.
- Cậu là người anh em của tôi. Tôi hiểu sự cô đơn của cậu. Tôi muốn giúp cậu nhiều. Nhưng giúp bằng cách nào. Điều nhiều người Pháp đến đây với cậu thì tôi không có người. Điều thêm một người Pháp nữa, thì một hay hai người nào khác gì. Thêm một người Pháp, chắc cũng có tác dụng về mặt tâm lý. Bởi vì, một anh hạ sĩ hay binh nhất thì hiểu biết gì về cái làng quê Việt Nam bí ẩn trước mắt ta. Tốt hơn hết là điều động chính những người Việt đến đây, nhưng phải là những người Việt đáng tin cậy và có học vấn để có thể làm bạn với cậu. Cậu thấy Hải là người thế nào?
- Cảm ơn đại úy đã cử Hải đến đây. Anh ấy là người bạn tốt. Một kiểu người trí thức nhaqué (nhà quê). Ở anh ấy thấy sự đôn hậu, thẳng thắn, trọng danh dự. Có điều lúc nào cũng rầu rầu. Mà phải thế chứ. Chúng ta bắt ông sư đi. Người vợ sắp cưới của anh sợ hãi bỏ đi mất, không thấy về.
- Tôi thích sự thẳng thắn, lương thiện, trọng danh dự của anh Hải. Hải là một thầy giáo trước khi vào lính mà.

Thalan nở nụ cười mỉm. Bố Thalan là giáo sư trung học. Mẹ cũng là giáo viên dạy nhạc, lại là hậu duệ của một gia đình quý tộc lâu đời đã sa sút. Thalan không khoe nguồn gốc của mình. Tuy nhiên dấu tích rất rõ trong tính tình và tính cách của ông. Đại úy trọng sự trung thực, lương thiện và danh dự. Tính quân nhân và tính quý tộc là hai điều thấy rõ nơi ông. Phải chăng chính vì thế nên đại úy rất yêu mến, yêu đến độ sùng bái vị tướng năm sao De Lattre. Ở con người vị tướng ấy, sự quyết đoán lắm khi đi đến độc đoán, sự kiêu hãnh lắm lúc đến cực đoan nên người trong quân đội viễn chinh gọi ông là Vua Jean điên rồ. Cũng có thể vì lý do ấy mà Thalan yêu mến, quý trọng thượng sĩ Hải cũng nên. về Hải, Gustave thêm nhận xét :
- Về đến đây, tôi mới biết quản Mật và thượng sĩ Hải là người cùng làng. Tính cách của họ như lửa với nước. Một người quỷ quyệt, tàn nhẫn. Một người thâm trầm, hiền hòa. Họ thuộc về hai dòng họ thù hằn nhau.
- Đúng vậy. Cho nên tôi mới cử Hải về đây. Để cậu được ghe tiếng nói từ hai chiều. Hoàn toàn nghe Mật nói cũng dễ sai lệch. Chúng ta có thể tin cậy Mật, vì anh ta thù ghét Việt Minh Tuy nhiên, chúng ta phải nghĩ theo cách một dân tộc văn minh, một dân tộc nổi tiếng trên toàn cầu với tự do, bình đẳng bác ái. Chiến tranh là tàn bạo, nhưng một dân tộc văn minh làm chiến tranh cũng phải tiến hành một cách văn minh. Tôi muốn những người Việt cộng tác với chúng ta trong cuộc chiến này, sau khi ra khỏi chiến tranh cũng phải học được ở chúng ta một cái gì.
- Xin đại úy cho một ví dụ.
- Như sự bình đẳng tự do chẳng hạn. Tôi chỉ là một đại úy quèn. Nhưng tôi cũng có thể phát biểu về chiến tranh, thậm chí có thể tranh cãi bình đẳng với một vị tướng lừng danh. Tháng trước, tướng De Lattre cho mời một số chỉ huy các ca chê (quartier: phân khu) về tổng hành dinh để rút kinh nghiệm. Tôi có mặt trong cuộc họp ấy. Đại tướng rất kiêu hãnh về chiến lược phòng thủ bằng hệ thống đồn bốt boongke. Ông ta nói hệ thống ấy là một tấm lưới bê-tông, ngăn không cho quân đội Vịệt Minh từ chiến khu Việt Bắc xuống đồng bằng. Đồng bằng Bắc bộ là vựa lúa, là kho hậu cần của Việt Minh, về mặt lý thuyết, quân Việt Minh sẽ bị cắt đứt khỏi nguồn tiếp tế. Tôi phát biểu ý kiến: Trên thực tế, ta vẫn không ngăn được, vì đây không phải là một chiến lũy liên tục. Giữa hai đồn bốt là những khoảng cách. Việt Minh vẫn có thể di chuyển thẩm lậu ở những khoảng cách đó. Nếu tin cậy quá vào những lô-cốt bê-tông ấy, sẽ có tác động tiêu cực. Tự nhốt kín trong đồn bốt bê-tông dần dần sẽ bị nỗi sợ hãi xâm chiếm. Ta sẽ chuyển sang thế phòng ngự bị động. Ta sẽ trở nên tĩnh. Trong lúc chúng ta tưởng được bảo vệ kín đáo, thực ra là chúng ta như nằm trong nhà kính. Ai ai cũng có thể quan sát, nhìn rõ chúng ta trong đồn trại. Bởi vì Việt Minh, dân chúng, dân quân du kích đều lẫn lộn không thể phân biệt. Họ có thể lọt vào trong đồn mà ta không biết. Người lính có khả năng chiến đấu bảo vệ đồn bốt nhưng không có khả năng chống lại người bản xứ xâm nhập đồn. Người ta bảo De Lattre là vị đại tướng điên rồ, ưa quát tháo nếu ai phát biểu trái ý. Nhưng hôm ấy ông lại ngồi im lặng, chăm chú nghe tôi nói. Thậm chí, khi tôi trình bày xong, ông lại nhiệt tình bắt tay, khen ngợi tôi.

Đến lúc ấy, Gustave mới biết mục đích của cuộc viếng thăm này. Tuần trước, quân Việt Minh tiêu diệt đồn Thà, một đồn có lô-cốt bê-tông, có một trung đội lính batidăng do một thượng sĩ tên là Roger chỉ huy. Tiêu diệt trong vòng hai tiếng đồng hồ. Ba nhăm người chết, trong đó có cả Roger. Mười lăm người mất tích. Mất một moọc chê 60, hai khẩu đại liên, toàn bộ hơn năm mươi khẩu súng trường, tiểu liên. Nhà cửa cháy rụi, lô-cốt bị đánh bộc phá. Nói chung, xóa sổ đồn Thà. Cuộc trò chuyện giữa đại úy Thalan và chuẩn úy Gustave kéo dài đến trưa. Cuối cuộc chuyện, đại úy ngừng nói, chỉ uống.
Cuộc độc thoại của Thalan chấm dứt trong sự trầm ngâm. Gió đông hiu hiu thổi vào tháp quan sát, ru người sĩ quan Pháp thiu thiu đi vào giấc ngủ. Gustave ngồi bên cạnh canh cho ông ta ngủ, đồng thời đưa tầm mắt ra xa xa, trên cánh đồng vàng ươm đang vào vụ gặt.

Rượu vang của Gustave thật ngon, thứ chính hiệu Pháp, mà Thalan vẫn ưa thích, mà Gustave vẫn nhớ mua về, rồi cất đi, để dành đến lúc này mang ra đãi. Thứ rượu vang đậm đà chất quê hương dìu người đại úy đi vào xứ mộng mị.

Giấc mơ trưa của viên đại úy vẫn chẳng khác gì khi thức. Chắc là ông ta nghĩ nhiều quá đến vị đại tướng năm sao trứ danh của mình, cho nên hình bóng của đại tướng lại về trong giấc mơ ông.


Đó là cuộc đón tiếp Jean De Lattre de Tassigny tại Phi trường Tân Sơn Nhất. Tất cả Paris, cả nước Pháp đều xôn xao vì cái tin tướng năm sao Jean De Lattre de Tassigny đã nhận trọng trách sang Đông Dương vừa làm Cao ủy vừa làm Tổng chi huy quân viễn chinh Pháp. Sau khi bị thua trận ở Biên giới, quân đội Pháp rút khỏi đường số 4 và tỉnh Lạng Sơn. Đó là một thất bại thảm hại. Tinh thần quân viễn chinh rã rời tưởng như sắp tan rã. De Lattre đã không đòi hỏi điều kiện, đã không dè dặt tuyên bố rằng :
- Tôi không đòi hỏi gì hết. Quân viễn chinh đang lâm nguy. Tôi đi cứu nguy cho quân đội bằng chính những phương tiện có sẵn ở đó. Các bạn sẽ phán xét tôi dựa trên những kết quả. Chỉ sau khi có những kết quả ban đầu, sự phục hồi đầu tiên, tôi mới sẽ trình bày một vài yêu cầu, những yêu cầu rất nhỏ để hoàn thành công trình.

Thế đấy! Một vị tướng tài ba, đầy tự tín đầy tham vọng cao thượng muốn cứu nguy, đem lại danh dự cho nước Pháp. Toàn thế các nhân vật cao cấp của Pháp trên toàn cõi Đông Dương đang hợp thành một đám đông khổng lồ, sốt ruột chờ đợi người hùng, vị tướng tài đã kháng chiến chống phát xít, đến Việt Nam như một vị cứu tinh. Những bó hoa đẹp nhất. Những bộ quần áo sang trọng nhất. Những con người cao sang nhất như cao ủy Pignon, tướng Carpentier. Những tấm huân chương lấp lánh, những phù hiệu cấp tướng, cấp tá đều được trưng ra ê hề, nhan nhản. Ai ai cũng cố gắng ăn mặc cho thật sang, mang một gương mặt cho thật tươi.

Máy bay hạ cánh, màu trắng bạc trên thân máy bay lấp lánh ánh mặt trời. Điệu nhạc Marseillaise cất lên. Cờ tam tài phất phới. Tiếng hô vang trời. Cao ủy Pignon, tướng Carpentier dẫn đầu đoàn quan chức cao cấp tiếp theo đường băng đến phía máy bay. Người ta đứng cách xa, nín thở. Kìa! Người anh hùng xuất hiện. Ông ta chậm rãi bước xuống thang máy bay. Đoàn tùy tùng từng người một cũng lần lượt bước ra. Choáng ngợp! Toàn thể phi trường choáng ngợp. Tất cả đều màu trắng. Những bộ quân phục trắng muốt nổi bật trên phi trường.
Ấn tượng nhất là đại tướng năm sao De Lattre. Ông mang trang phục hết sức quý phái và cổ điển. Chiếc cà vạt đen láy nổi bật trên nền quân phục mầu trắng đến mức tinh khiết. Những huân chương xếp hàng trên ngực, chứng tỏ giá trị cao quý của vị tướng tài. Nhưng De Lattre còn muốn nhấn mạnh đến tính chất quý tộc của mình bên cạnh tài năng quân sự. Đôi bàn tay quý phái của ông được trang trí bằng một đôi găng trắng toát làm bằng thứ da hươu thật mịn, thật mềm. Và nhất là ông cầm một chiếc can để thể hiện một dáng vẻ ung dung quý tộc.

Đoàn tùy tùng của ông là những chiến hữu, những chuyên gia về phương Đông, về thuộc địa, ăn mặc cũng trắng muốt tinh tế như ông tuy không thể sánh bằng. Trước khi lên đường, ông đã gọi điện dặn từng người :
- Điều quan trọng là ăn mặc. Phải lịch sự và đẹp đẽ. Hãy gặp những người thợ may giỏi nhất. Hãy bắt họ thử đi thử lại. Khi đặt chân lên Đông Dương, chúng ta phải thật tuyệt vời. Chúng ta bắt đầu một trang mới. Vì vậy, tất cả phải trắng muốt, tinh khôi.
Tiếng hoan hô vang dậy. Tiếng hoan hô ở phi trường. Tiếng hoan hô còn như ở trên trời bay xuống. Càng lúc càng to. Có tiếng ai đó dặn dò vào tai đại úy một điều gì đó. Cũng lúc ấy Thalan tỉnh dậy. Trưởng đồn Gustave nói:
- Đại úy đã chợp mắt được một giờ.
Thalan vươn vai :
- Dễ chịu quá. Khỏe hẳn ra. Đêm qua mình chỉ ngủ chập chờn. Giấc mơ cũng rất tuyệt. Bây giờ mình vẫn còn nhớ những điều trong mơ. Hay thật. Mình lại gặp đại tướng trong giấc ngủ... Nhưng... Quái lạ thật... Cái đoạn cuối giấc mơ mình lại quên tịt... Chẳng còn nhớ chút gì... Phải rồi! Ai đó ghé vào tai mình nói... Có thể là tiếng nói của đại tướng. Thế mà chẳng còn nhớ một chữ... Lạ thật!
Gustave gật đầu :
- Người ta nói rằng trong giấc mơ, điều ta quên đi chính là điều quan trọng nhất. Điều quên đi ấy chính là cái nút của giấc mơ. Có những vấn đề làm ta trăn trở, suy nghĩ đêm ngày mà vẫn chưa tìm được lời giải đáp. Rồi lời giải đáp ấy đến trong mơ, nhưng ta lại quên ngay mất.

Câu nói của viên chuẩn úy càng làm cho Thalan bực bội sốt ruột. Ông tập trung ngẫm nghĩ. Nhưng câu nói đó, ý tưởng đó không biết đã lẩn trốn ở xó xỉnh nào trong óc ông mà vẫn biệt tăm biệt tích.

Khi ấy, Gustave đưa ống nhòm nhìn ra cánh đồng tứ phía. Tất cả đều một màu vàng ươm. Đang vụ gặt. Người nhà quê từng tốp lố nhố trên những ruộng lúa. Những bóng người áo nâu, nón lá kĩu kịt gánh lúa nhịp nhàng ve vẩy, nối đuôi nhau đi trên con đường trải đá. Họ đi theo vệ cỏ ở hai bên lề đường nơi trước đây rất hay chôn mìn, tuy nhiên họ đi rất thanh thản vững tin, như thể những chỗ ấy chưa bao giờ là nơi chết chóc.  Mà lạ thật, trước đây, đội mở đường sớm nào cũng tìm thấy mìn. Còn từ một tuần nay không thấy bóng dáng tử thần. Mìn không cánh mà đã bay đâu hết. Hình như ở đây có một sự phối hợp nhịp nhàng vô hình nào đó. Bởi vì cũng từ một tuần lễ nay, nông dân bắt đầu gặt lúa. Không phải các ông lý trưởng các làng là những người có quyền hành. Có một người bí mật nào đó, một tổ chức bí mật nào đó đã điều hành tất cả những chuyện này. Hình như các ông lý trưởng các làng cũng bị phụ thuộc vào sự điều hành ấy. Đại úy Thalan nói về sự cô đơn của các đồn bốt. Với cái ống nhòm, Gustave hình như đã hé nhìn thấy một điều gì. Có lẽ đó là cảm giác đang bị vây bủa trong một tấm lưới vô hình.

Mãi không nhớ ra được điều đã quên trong mơ, đại úy Thalan bực mình lên xe díp quay trở về P.C Gustave cùng với thượng sĩ Hải và một tiểu đội lính cũng ra khỏi đồn đi đến chỗ những đám thợ gặt. Quản Mật đã có mặt ở ngoài đồng suốt buổi sáng. Gustave hỏi :
- Tình hình ra sao?
- Đã kiểm tra khắp cánh đồng. Dân làng theo đúng quy định của đồn. Chỉ có dân các làng Trung làng Đoài. Không có người lạ mặt. Dân không thuê thợ gặt người thiên hạ. Tôi cùng ông lý đã nhận mặt từng người.
Gustave dẫn quân lên đường cái. Nhìn thấy chiếc xe díp từ hướng P.C đi tới, tung bụi mù trời. Người trên xe vẫy tay gọi rối rít. Hóa ra lại là đại úy Thalan :
- Tôi nhớ ra rồi. Về đến gần P.C mới nhớ ra. Phải vội quay lại ngay. Câu nói quên đi là: “Đừng tự nhốt kín trong đồn. Hãy đem quân đi lùng sục, phục kích đêm cũng như ngày”. Đó cũng là ý của tôi.

Thalan nhảy xuống xe, đến bên Gustave nói nhỏ một điều gì đó. Hải chỉ nghe rõ được hai chữ “mùa gặt”. Đại úy lại nhảy lên xe quay trở về bốt huyện. Lúc này, mặt ông ta tươi tỉnh chứ không nhăn nhó như lúc ở trong đồn Sọ.

Gustave dẫn lính đi vào thôn Trung. Đường làng phủ đầy rơm rạ. Cả làng chìm trong hương lúa thơm ngát, ngọt ngào. Những đứa trẻ cười ròn, lăn lộn trên thảm rơm. Những con trâu bóng nhẫy, bụng căng phồng, đứng ở những góc vườn, miệng nhai liên miên không biết mỏi. Những đàn sẻ đậu trên sân phơi thóc thấy người vội vù vù bay lên cây mít trốn lủi. Hai người đàn bà đứng trên sân gạch cầm nia sẩy lúa. Tiếng hạt thóc chắc rơi rào rào và thổi bay những rơm rác thành đống. Hai người đàn bà mặc váy, mặc yếm, vấn khăn nâu tóc đuôi gà, lưng trần rám nắng, nhịp nhàng đôi tay hất lên, hất xuống dẻo quẹo cái dáng thật là duyên dáng kỳ diệu “Đẹp hơn cả bức tranh”. Gustave đứng ngây người ngắm mãi không chán mắt.

Đi qua làng, Gustave dẫn mọi người đến chùa và bảo toán lính :
- Các anh vào bên trong, sục sạo khắp nơi thấy gì khà thì báo với tôi.
Nói xong, Gustave kéo Hải ra ngồi dưới gốc thông nhìn cánh đồng, hút thuốc lá. Hải nói :
- Khổ thân ông sư già. Có là Việt Minh đâu. Phật giáo chỉ là ngọn cỏ ở giữa đồng quê. Thân phận cỏ nên phải chịu tang thương trước các loại gió.
Gustave cười :
- Anh có biết ai đã sai tôi phải luôn đe nẹt ngôi chùa này không? Đại úy Bernard phụ trách phòng nhì P.C đấy. Lão ta bảo Phật giáo không đáng sợ. Họ không có tổ chức khoa học. Nhưng họ gắn liền với làng xóm nông thôn nên dễ ngả theo Việt Minh. Ngôi chùa này đã có sư đi theo Việt Minh nên có thể nói họ đã ngả về cụ Hồ Chí Minh. Trung úy Bernard cũng biết ông sư cụ không là cách mạng nhưng đã lặng im để ngôi chùa cho Việt Minh sử dụng. Vì vậy phải luôn đe nẹt để quân du kích không dám bén mảng tới nơi này.
Gustave châm điếu thuốc lá trước khi nói tiếp :
- Tôi biết anh sắp cưới cô Nguyệt, con nuôi ông sư già, vì thế anh xót xa cho ngôi chùa này. Tôi cũng biết anh buồn rầu khi cô Nguyệt sợ hãi trốn đi. Đại úy Thalan thì hoàn toàn tin cậy ở anh. Ông ta hiểu anh vào quân đội Pháp chỉ muốn tạo lập một thế lực cân bằng giữa dòng họ của anh và dòng họ ông quản Mật. Nhưng đại úy Bernard thì không. Nghề nghiệp của ông ta là thế. Từ khi phát hiện ra hầm bí mật ở nhà chùa, ông ta không có bằng cứ gì nhưng nghề nghiêp của ông ta là thế.
- Nghĩa là thực chất việc điều tôi về bốt Sọ không phải vì mục đích để giúp anh.
- Tôi nghĩ cũng không phải như thế.

Cách nói của Gustave không rõ ràng, tuy nhiên một người Pháp thổ lộ với một người Việt như thế cũng là quá nhiều. Hải cảm ơn Gustave. Anh ta thực sự là người bạn của Hải. Thực ra, Gustave cũng nhiều tâm sự. Anh ta là người Pháp nhưng cũng có yên đâu. Gustave đã chẳng nói với Hải rằng chính anh ta cũng đã được thẩm vấn một cách khéo léo khi nhận một lá thư từ Pháp gửi sang sao.
- Người Pháp chúng tôi nghiên cứu về Việt Nam khá kỹ càng. Có người nói. “Ai nắm được nông dân Việt, người ấy là kẻ chiến thắng”. Có ba thế lực nắm hiểu được nông dân Việt Nam. Đó là người Cộng sản, người Thiên Chúa giáo, người Phật giáo. Tuy nhiên, phải gạt Phật giáo ra vì Phật giáo lỏng lẻo và bất bạo động. Còn lại người Cộng sản và Thiên Chúa giáo. Lẽ dĩ nhiên người Thiên Chúa gắn với phương Tây từ lúc mới ra đời ở xứ này nên họ theo người Pháp chúng tôi. Người Cộng sản phần lớn từ nông dân mà ra nên họ bắt rễ trong nông dân rất sâu. Nông dân không theo Thiên Chúa giáo, lại là đa số. Cho nên, trong cuộc tranh giành ảnh hưởng ở nông thôn họ có ưu thế hơn. Tuy nhiên, người Thiên Chúa giáo vẫn có ưu thế riêng của họ. Họ có tổ chức rất chặt chẽ. Họ có người lãnh đạo được học hành đến nơi đến chốn. Họ lại luôn được phương Tây ủng hộ...
Hải cười :
- Còn phải kể thêm một ưu thế nữa. Đó là: họ còn mang trong huyết quản cái nhiệt tình quá đỗi, cái cuồng tín của các hiệp sĩ thánh chiến thời trung cổ. Tuy nhiên, điều đó cũng là nhược điểm của họ. Sự cuồng tín làm người ta sợ hãi khó gần. Chúa Kitô rao giảng tình thương, còn các hiệp sĩ thánh chiến lại muốn dùng bạo lực để xác định niềm tin. Riêng đạo Phật trước sau, chỉ một lòng rao giảng từ bi. Ai biết được tâm từ bi có sức mạnh to lớn đến đâu. Điều này chỉ có tương lai mới thấy hết.

Hải và Gustave cứ bàn những chuyện đâu đâu như thế mãi cho tới lúc, tiểu đội lính từ trong chùa đi ra. Hạ sĩ chỉ huy là một người Công giáo. Anh ta báo cáo với Gustave:
- Thực chết cười! Khi chúng tôi vào chánh điện, chú tiểu dẫn một ông sư tuổi ngoài bốn mươi ra. Tôi hỏi: “Chùa này có theo quan Tây không? Ông ta trả lời “A di đà Phật”. Chú tiểu phiên dịch: “Tức là có ạ”. Tôi lại hỏi “Thế sao sư cụ lại bị bắt?”. Ông sư lại nói: “A di đà Phật”. Chú tiểu lại nói: “Tức là bị bắt oan ạ”. Tôi lại tiếp tục: “Thế tại sao lại có hầm ở bờ ao?”, vẫn điệp khúc A di đà Phật. Chú tiểu thông dịch: “Chúng tôi không biết ạ”. Tất cả chỉ bằng một câu như thế. Thế có chán mớ đời không. Họ giả ngô giả ngọng đây mà.

* * * * *

Đêm hôm ấy, quản Mật ở nhà giữ đồn. Đích thân Gustave dẫn hai tiểu đội batidăng đi phục kích. Chuẩn úy ra lệnh :
- Chín giờ ba mươi đêm nay xuất phát. Toàn đội mặc quần áo đen mang tiểu liên, đi chân đất. Phó đồn Mật trực điện đài. Mật hiệu gọi đồn là Chim ưng, đội phục kích là Thỏ rừng. Tiểu đội Moóc chi ê sẵn sàng đợi lệnh.

Chín giờ mười lăm, đội tuần tiễu tập họp ở sân trước. Gustsve ra lệnh cho chạy tại chỗ. Chỉnh đốn quân trang. Thắt lưng cho gọn chặt, sao cho khi chạy nhanh, bao đạn và lựu đạn không phát ra tiếng động dù rất nhỏ.

Đến đúng giờ, đoàn quân ma xuất phát lên đường. Chia làm hai nhóm. Một nhóm Gustave chỉ huy. Một nhóm do trung sĩ Ái, người lính Thiên Chúa giáo lúc chiều đã vào chùa tra vấn. Hải đi sau lưng Gustave. Trời tối thui. Họ không đi theo đường mòn. Theo bờ lúa, qua đầu làng Trung, lội trên cánh đồng sâu, nước đến đầu gối. Phải lội thật khéo để không phát ra tiếng động. Tiếng chẫu chuộc, ễnh ương vang khắp cánh đồng, đoàn quân đến đâu lủ ếch nhái ở đó đột nhiên im bặt. Mười hai giờ đến đê sông Đào. Lệnh của Gustave: tuyệt nhiên không nổ súng dù có sự gì xảy ra. Lúc này mới rõ nhiệm vụ. Khi đại úy Thalan nói nhỏ với Gustave lúc chiều, tức là lúc ông trao nhiệm vụ. Lúc này đang vụ gặt. Chắc chắn Việt Minh sẽ thu thóc trong dân chuyển sang vùng du kích, cần phải nắm được cách chuyển vận cùa họ.

Toàn nhóm chui trong cỏ rậm ven đê nhìn vào quãng sông, nơi có con đường từ đầu làng Trung đi ra. Sang bên kia sông, vào vùng du kích, thường phải qua khúc sông này, bởi vì ở đây sông hẹp và nong. Chỉ được nửa tiếng thì trăng hạ tuần như cái liềm vàng đã treo ở góc trời. Nằm im lặng đã lâu nên tiếng ếch nhái lại vang lên ở ngay bên cạnh chỗ nấp.

Đồng khuya, trăng khuyết, trăng lu, màn đêm ảo mờ sương loãng. Bỗng dưng, ếch nhái ngừng kêu. Theo kinh nghiệm đi phục kích đêm, Gustave biết chắc có người sắp tới. Chuẩn úy căng mắt nhìn ra phía con đường đầu làng, rồi nhìn con đê trước mặt. Đây rồi. Trong sương mờ dần dần hiện ra một đoàn người. Bên bờ sông phía bên kia cũng vậy. Bỗng nhiên thấy nhô lên một toán người đeo súng: Quân du kích. À họ vác cả những cây tre trên vai. Gustave ra lệnh: Không được nổ súng tuyệt đối không để lộ. Mục đích của ta là quan sát hành động của họ. Nhìn đám người lố nhố, chuẩn úy ước tính họ có chừng ba mươi tay súng, đấy là chưa kể những du kích còn nằm ở vệ đê yểm trợ.

Đám người bắt đầu hành động. Xem họ làm gì nào? Ở hai bên sông đều có người lội xuống nước. Họ cắm tre xuống bùn. Hai cây tre tạo thành hình chữ X. Có hai chữ X ở hai bên sông. Họ gác một cây tre lên hai chữ X, rồi buộc dây. Hiểu rồi. Họ làm một chiếc cầu khỉ. Chỉ cần cây tre buộc làm tay vịn nữa là xong. Cũng vào lúc ấy, một đoàn người toàn là đàn bà quang gánh trên vai xuất hiện trên con đê, leo lên cầu khỉ qua sông. Gustave đếm ba mươi hai gánh. Mấy phút sau đoàn gánh thóc thứ hai lại qua cầu. Toán này hai mươi. Vị chi tổng cộng hơn năm mươi gánh mỗi gánh bốn mươi cân. Trên con sông Đào này, đêm nay có mấy cái cầu, có bao nhiêu gánh thóc qua sông? Việt Minh đang chuyển thóc về vùng mình. Vụ mùa này, họ có thể lấy đi từ đây hàng trăm tấn lương thực rất dễ dàng. Đại úy Thalan đến đồn Sọ sáng nay cũng vì chuyện này. Ông đang thực hiện ý đồ của tướng De Lattre phải bịt kín tấm lưới không cho thóc chảy ra vùng du kích.

Ở hai bên sông, họ đang cởi dây buộc. Hai cây tre thân cầu và tay vịn đã được tháo ra. Rồi những cái cọc tạo hình chữ X cũng được rút lên. Loáng một cái, cây cầu đã biến mất. Thật giản dị nhưng cũng thật thần diệu. Con sông lại lặng lờ chảy, cứ như thể chưa bao giờ có một cây cầu đã mọc lên ở đây. Cây cầu không hề để lại một dấu tích.
- A lô! Thỏ rừng gọi Chim ưng. Thỏ rừng gọi Chim ưng.
- Chim ưng nghe rõ 5 trên 5.
- Nhiệm vụ đã xong. Thỏ về cửa Tây.

Hai tổ gặp nhau lúc bốn giờ. Khi trời gần rạng sáng thì họ về đồn. Gustave vào nhà bếp uống ly cà phê, ăn bánh quy, rồi về buồng chợp mắt. Chuẩn úy sẽ ngủ cho tới khi mở đường xong, tức là sẽ dậy vào tám giờ sáng.

Khoảng tám giờ rưỡi đại úy Thalan cho xe díp xuống đón Gustave lên P.C báo cáo tình hình. Cuộc hội ý chỉ có ba người: Thalan, Bernard và Gustave. Chuẩn úy báo cáo tỉ mỉ tình hình du kích chuyển thóc qua sông đêm hôm trước. Bernard cũng cho biết những tin tức của những chỉ điểm viên của phòng nhì nằm vùng ờ các làng. Theo tin báo ấy, đêm nào cũng có những đoàn dân công chuyển thóc qua sông, tập trung để ở làng Thượng, sau đó mới chuyển vào sâu trong vùng du kích. Tới đây, việc chuyển vận sẽ tăng cường hơn, bởi vì đã tới kỳ thu hoạch rộ. Điểm qua sông của dân công là điểm cầu khỉ mà đêm qua Gustave chứng kiến, cùng với địa điểm thứ hai thuộc địa phận làng Lê Xá. Thalan đưa ra kế hoạch trận cướp lúa sẽ tổ chức ba mũi tấn công. Đồn Sọ chỉ để lại một trung đội giữ đồn và dùng súng cối yểm trợ, hai trung đội sẽ phục kích ở điểm cầu khỉ và đánh chặn đoàn thóc lúa từ đầu nguồn đi xuống. Đồn Trịnh Xá thì phục kích ở điểm qua sông Lê Xá và chặn cướp đoàn dân công từ hạ nguồn đi lên. P.C Huyện sẽ cho một đại đội lính da đen đánh sang bên kia sông. Pháo 105 từ P.C sẽ bắn yểm trợ các nơi. Đến sáng, máy bay sẽ là một mũi từ trên trời đánh xuống. Mật hiệu của P.C là Hổ vàng, của mũi Gustave là Thỏ rừng, của mũi Tịnh Xá là Mèo đen, của đại đội lê dương là Gấu đen...

* * * * *
Thalan định tấn công vào đêm mồng năm, nhưng mồng ba và mồng bốn Việt Minh đã tấn công trước. Đêm mồng ba, đồn phó Mật mang một tiểu đội đi “patờrui” (patrouille). Dạo này đêm yên tĩnh lắm, quản Mật cho rằng quân du kích đã hoàn toàn bị bật khỏi làng Trung, cho nên chỉ mang một tiểu đội batidăng đi. Hắn cũng theo chiến thuật của Gustave nghĩa là trang bị súng tự động nhẹ, cơ số đạn cao, lội ruộng mà đi. Bất ngờ và táo bạo, học tập hoàn toàn theo kiểu du kích. Nào ngờ hắn đi phục kích nhưng đã bị phục kích trở lại. Hắn đã bị một tốp du kích phục quân ở gần cánh đồng sâu đánh cho tơi tả. Quân du kích đông gấp đôi. Nhóm của Mật vừa từ cánh đồng sâu nhoi lên đê, một nửa trên bờ, một nửa còn dưới nước, đã bị du kích bắn xối xả. Không có điều kiện mà nằm, lại bị bắn từ trên cao xuống, ba tên chết ngay tại chỗ; quản Mật và lũ còn lại sống sót chạy tứ tung, may ra thoát chết. Du kích kéo xác ba tên chết và một tên bị thương nặng đến đường cái quan gần đồn. Bốn cái xác nằm song song giữa đường, đứa toác nửa đầu, đứa mất hàm, đứa phòi ruột, còn đứa bị thương nặng thì rên la oai oái, tiếng kêu vang đến cả lô-cốt boongke. Sáng sớm, bọn lính đi mở đường mới ra khiêng vào. Cái chết của mấy người lính làm những người còn lại trong đồn xì xầm cả ngày hôm ấy.

Đêm mồng bốn, Việt Minh tấn công đồn Trịnh Xá. Đồn nằm trên đất làng Trịnh Xá, bên con đường huyện lộ, cách P.C mười cây số, cách đồn Sọ năm cây số. Đồn này bị du kích tấn công kiểu khác. Việt Minh mang về hai khẩu cối 60. Hai khẩu moọcchê di chuyển liên tục, thay nhau bắn vào đồn Trịnh. Cả đêm hôm ấy đồn Trịnh cuống cuồng, tưởng quân chủ lực của Việt Minh sắp công đồn.

Thalan nhận định không phải quân chủ lực, nhưng cũng không phải quân du kích, mà là quân của tỉnh. Bởi vì quân của tính đội mới có súng cối. Thalan quyết định vẫn đánh trận đêm mồng năm. Thalan thấy hào hứng. Đánh nhau với du kích nhiều rồi. Vừa mệt vừa chán. Lần này ông quyết sống mái với quân tỉnh đội xem sao. Trong trận tranh giành thóc lúc này, ông quyết giành phần thắng. Ông ra lệnh điều thêm cho mỗi đồn lột khẩu F.M. Thalan nhớ tới câu chuyện khi tướng De Lattre mới sang Đông Dương, ông từ Sài Gòn bay ra Hà Nội thì được tin quân Việt Minh tập trung ở Vĩnh Yên. Lúc đó, quân viễn chinh vừa thất trận lớn, phải rút khỏi đường số 4 và Lạng Sơn. Tướng năm sao cương quyết nâng cao tinh thần quân lính đang bị tụt xuống rất thấp. Ông tuyên bố bảo vệ Bắc Kỳ đến cùng, quyết không lùi dù chỉ một tấc đất.

Ông đã cho đổ quân cơ động thiện chiến xuống Hương Canh. Rồi ném bom Napan. Lần đầu tiên, ở Đông Dương, ông cho dùng thứ vũ khí khủng khiếp đó. Kết quả, quân đối phương phải rút lui. Cũng từ đó, tiếng tăm của ông vang dội. Điều cốt yếu là phải rắn như thép. Phải có tinh thần của một hiệp sĩ quả cảm. Phải dũng mãnh như con hổ, xảo quyệt như con cáo.

Thalan linh cảm thấy hình như đối phương đã hiểu rõ ý đồ của quân Pháp. Sẽ không có chuyện bất ngờ tóm gọn đoàn người gánh thóc qua những chiếc cầu khỉ đâu. Nhưng cái làng Đông vẫn nằm sờ sờ ra đấy. Làng Đông bên kia sông không thuộc vùng kiểm soát của quân viễn chinh. Nó là làng du kích giáp ranh. Tuy nhiên, chưa khi nào nó bị càn quét. Người dân Đông vẫn tin rằng quân Pháp còn chưa bình định yên ổn vùng họ kiểm soát, làm sao họ với tay tới bên này sông. Điều hay ho là tất cả tin tức báo về đều nói làng Đông là cái kho trung chuyển. Tất cả thóc lấy được bên này sông đều được giao nộp về đấy trước khi chuyển sâu vào khu du kích. Cái hay chính là ở điểm này.

Ngày mồng năm.

Đúng 6 giờ tối mới có điện từ P.C về đồn.
- Hổ vàng gọi Thỏ rừng. Hổ vàng gọi Thỏ rừng, có nghe rõ không?
- Thỏ rừng nghe đây. Rõ 5 trên 5.
- Thỏ rừng đã rõ phương án 1, phương án 2?
- Đã rõ.
- Xem kỹ phương án 2. Mười giờ xuất phát. Điểm đến như cũ.
- Đã rõ.

Lần này, Gustave cho lính mặc quần áo ra trận, bộ quần áo xanh rằn ri, chứ không mặc quần áo đen như những lần trước. Bởi vì phải phối hợp với các đơn vị khác. Mặc đồ đen sợ có sự nhầm lẫn, đơn vị bạn lại tưởng là quân du kích, vẫn cái kiểu băng đồng tới nơi phục kích. Địa điểm vẫn là bãi cỏ rậm khi quan sát du kích dựng cầu khỉ. Phương án một là chụp bắt đoàn chở thóc qua sông tại trận.

Mười hai giờ đêm.

Gustave cho lính chui vào những bụi cỏ nằm quan sát con đê ở khúc sông hẹp. Họ nằm bẹp hòa mình vào đất và cỏ dại, cố căng mắt ra nhìn vào bóng đêm nhờ nhờ để tìm những bóng người, cố căng tai ra để nghe bản hòa tấu của triệu triệu con dế, con giun, con ễnh ương chão chuộc, để cố phát hiện ra những biến động âm thanh như tiếng vỗ cánh của một con chim đêm từ ruộng lúa bay lên, sự bỗng dưng bặt lặng của đàn ênh ương, tiếng xào xạc của một sinh vật chạm vào lá lúa, hoặc những tiếng thậm thịch nặng nề nào đó, tóm lại những dấu hiệu có thể tố cáo sự có mặt của con người. Tuy nhiên đã hàng giờ trôi qua rồi mà chẳng thấy gì. Sương đêm xuống đã làm lạnh đôi vai. Cái cầu khỉ vẫn không xuất hiện. Đoàn dân công gánh thóc vẫn bặt tăm hơi.

Hai giờ sáng rồi đến ba giờ sáng, vẫn chẳng thấy gì lạ. Đến lúc này Gustave mới thấy tài nhận định xét đoán của Thalan. Hai con hổ đang vờn nhau đưa ra cả những dọa nạt và những đòn giả. Bởi vì lương thực là cái sống còn của chiến tranh. Đến bốn giờ bỗng có tiếng súng nổ ở bên kia sông. Tiếp đó một tràng F.M. nổ giòn. Rồi súng nổ loạn xạ.
- Hổ vàng gọi thỏ rừng.
- Thỏ rừng nghe rõ.
- Bắt đầu phương án 2. Chú ý. Voi gầm bên kia sông.

Lúc ấy, súng bỗng im bặt. Pháo 105 từ P.Cbắn dọc theo bờ đê bên kia sông. Phương án 2 tức là đánh vào làng Đông, nơi được coi là địa điểm trung chuyển thóc gạo của quân du kích. Chờ cho pháo 105 dứt tiếng, Gustave ra lệnh cho lính chặt hết một vườn chuối ven đê, lấy thân chuối làm phương tiện sang sông.

Trời tờ mờ sáng. Pháo 105 chuyển làn, tập trung bắn vào làng Đông. Đã trông thấy những căn nhà trúng đạn bị cháy. Những cột khói đen bốc lên. Những mái nhà tranh, bắt lửa bùng đỏ rực, soi rõ cả những cây tre bị cụt ngọn, bị toác ra thành những chiếc chông tua tủa lên trời.

Lũy tre làng Đông rất dầy, nó là bức tường thành kiên cố che chở cho quân du kích bên trong. Đôi bên đánh nhau từ sáng đến trưa, quân Pháp vẫn chưa vào được làng. Khi quân da đen tập trung phá được cổng làng, một cuộc hỗn chiến thời trung cổ đã xảy ra. Người ta đánh nhau bằng dao găm, bằng lưỡi lê, bằng gậy tre, bằng mã tấu, bằng răng, bằng bóp cổ cào cấu, bằng đâm tim, mổ bụng, bằng vật lộn... Máu lênh láng. Ruột gan bung ra. Rên rỉ. Chửi rủa. La hét. Hận thù bốc lên đến trời xanh. Một chiến sĩ du kích ruột gan lòng thòng, nhìn thấy đồng đội mình đã chết hết, liền rút chốt quả lựu đạn Mỹ. Anh đã chết cùng với mấy người lính da đen còn sống sót.

Lúc ấy, tiếng súng bỗng bặt lặng. Không biết những người du kích đã biến đi đâu hết. Thalan gọi điện :
- Hổ vàng gọi thỏ rừng.
-Thỏ rừng nghe rõ.
- Gấu đen lục soát làng. Thỏ rừng về bên kia sông. Lục soát làng Trung. Mèo đen lục soát làng Đoài.
Trong cuộc lục soát lớn ấy, Gustave không có mặt ở làng Đông, anh không biết được tường tận, nhưng về sau anh biết được tình hình như sau: Đội quân lê dương đi tìm hầm, mãi đến năm giờ chiều mới tìm được cửa hầm. Nhưng đó không phải hầm bí mật cá nhân, mà là một hầm dài ăn thông ra cái miếu hoang giữa đồng. Quân du kích thoát ra ngoài làng từ lối đó. Về chiến lợi phẩm, quân Pháp nói đã chặn đứng được việc chuyển lương thực của Vĩệt Minh.

Còn tình hình ở làng Trung thì sao?

Gustave ra lệnh cho lính của mình vào từng nhà lùa tất cả già trẻ gái trai ra sân chùa điểm danh từng nhà một theo sổ gia đình. Gustave đã làm báo cáo lên P.C . Dân làng Trung hiện nay chỉ thấy đàn bà và trẻ con. Đàn ông từ mười bốn tuổi trở lên đều vắng mặt. Đàn bà thì không có mặt loại gái chưa chồng. Chỉ toàn các bà nạ dòng và bà già. Hôm nay đặc biệt có bốn đàn ông trung niên. Lệnh: đàn bà và trẻ con cho về nhà hết. Giữ lại bốn người đàn ông. Họ là những phần tử khả nghi. Câu hỏi đặt ra là tại sao họ vắng mặt mà hôm nay lại có mặt. Có phải họ đã nghe thấy tin gì và trốn từ làng Đông về không? Làng Đông, làng Đoài, làng Trung cùng một xã. Dân hai bên sông có họ hàng và nhiều quan hệ với nhau. Nhiều con trai làng Trung đã trốn sang làng Đông và nhập quân du kích. Hiện đã có danh sách đích xác ba gia đình có con trai gia nhập bộ đội. Thalan ra lệnh đốt nhà ba gia đình đó. Gustave phải tự tay cầm đuốc châm vào ba mái tranh. Những người dân bị đốt nhà đứng khóc. Trẻ con càng khóc thảm thiết. Tiếng kêu khóc như ri. Có bà cụ già quỳ xuống lạy Gustave như tế sao :
- Lạy quan lớn. Xin quan lớn tha cho. Quan đốt nhà thì chúng tôi chui rúc vào đâu, sinh sống bằng gì. Quan hãy nghĩ đến mẹ mình ở quê mà thương chúng tôi.

Gustave phải lặng lẽ quay mặt đi, cúi đầu xuống. Trên đường trở về đồn, anh đăm chiêu, tư lự. Đêm hôm ấy, Gustave gọi Hải sang buồng mình uống rượu, uống xong ba chén rượu mạnh, anh mới nói :
- Thật xấu hổ. Khi bà cụ lạy mình, cứ cảm giác như chính mẹ đang lạy mình.
Hải cũng buồn :
- Chiến tranh mà! Ai có súng trong tay, kẻ ấy là chúa tể.
- Mình cũng hiểu chứ. Mình đã được học về Napôlêông (Napoléon) mang quân sang Tây Ban Nha. Và quân của ông ta đã xử sự ra sao, đã được những người du kích nước đó đối xử ra sao.

Gustave lại uống liền thêm mấy chén nữa:
- Cậu có biết bây giờ mình muốn gì không? Khi ở Pháp, mình tưởng sang Đông Dương làm chiến tranh người ta sẽ dàn trận đánh nhau như ở chiến lũy Maginot... Mình là người Pháp, chắc chắn là mình không muốn nước Pháp bị thua trận... Mình là người lính, chắc chắn mình sẽ thi hành tốt những mệnh lệnh mà chỉ huy giao cho... Chính vì vậy nên mình thật khổ... Bây giờ ư? Bây giờ mình chỉ muốn cho hết hạn hợp đồng ở Đông Dương... Tuy nhiên còn một năm nữa cơ... Một năm! Ôi thật là dài. Không biết trong một năm ấy, mình sẽ ra sao?
0
12
Thiền sư Vô Úy

Hôm nay, thầy tôi, thiền sư Vô Úy được thả khỏi nhà tù Đơ Bê (D.B)  [1] phố huyện. Tôi phải lên phố huyện từ tối hôm trước để chờ. Không thể đi ban sáng được, bởi vì phải đến hơn bảy giờ quân gỡ mìn mới mở xong đường. Tôi ngủ nhờ ở lều nhà ông Xuân, ông kéo xe bò. Ông Xuân năm ấy đã ngoại sáu mươi, người cao lớn như ông hộ pháp. Con ông là Hạ cũng khổng lồ như ông bố. Họ là những quái nhân của làng Sọ. Chuyện đồn đại về họ rất nhiều. Riêng tôi, chỉ biết họ làm kẻ ăn người ở cho nhà ông trưởng bạ trong làng Trung. Mẹ ông trưởng bạ làm nghề se hương, người phúc đức lắm lại chăm lên chùa nên tôi biết. Ông bà trưởng bạ nhận Hạ làm con nuôi, lại cho ông Xuân, bố của Hạ làm cái lều trên mảnh đất ở phố huyện, rồi sắm cho cái xe bò để ông Xuân kiếm sống hàng ngày. Bà cụ hàng Hương làm thế là để đền bù cho ông già Xuân, đã ăn ở hầu hạ nhiều năm trong gia đình nhà bà. Ông già Xuân an ủi tôi khi hai bác cháu chui vào cái ổ rơm ngủ :
- Chú tiểu ạ, thế là phúc đức cho chùa mình lắm rồi, chú có biết không. Mười người rơi vào nhà tù Đơ Bê, rơi vào tay thằng Tây lùn Bernard, thì cả mười người đều chết. Tôi chỉ chở xác người từ đấy ra. Chưa bao giờ chở người sống từ đấy ra. Thế mới nói sư cụ nhà mình sống sót là phúc đức quá. Chắc sư cụ được các Bồ tát phù hộ độ trì.

Khoảng bảy giờ sáng, tôi và ông xe bò đã có mặt ở cổng, đứng cách trại giam chừng vài chục mét. Hai cánh cửa lim nhà giam vẫn đóng im ỉm. Người Tây đen rạch mặt gác cổng vẫn cầm súng đi đi lại lại. Đã có kinh nghiệm của lần đi thăm trước, đã bị lão Tây mặt đỏ đá cho ngã còng queo, cho nên lần này tôi đứng cách xa, không dám lại gần ngó nghiêng. Và vì đứng xa nên tôi có thể ngắm nghía cái gọi là nhà giam. Đấy là nhà ông Hàn ở Hà Nội, nhà giàu nhất vùng. Tòa nhà năm gian nền rất cao, tòa nhà đồ sộ, cả đến cái cổng ra vào củng đồ sộ. Cái cổng to như tam quan nhà chùa. Cổng tám mái, tức là mái hai tầng. Cổng vòm thênh thang, nhưng không có hai cửa bên. Cánh cổng lim chữ thọ vì to quá cỡ nên phải có bánh xe cho khỏi xệ. Tường bao từ cổng sang hai bên cao trên hai mét, có ngói ống màu xanh lam phủ đầu. Vì vậy nên từ bên ngoài nhìn vào, tòa nhà rất bề thế, sang trọng, rõ ràng là nhà quan. Chỉ có điều ngược đời nó là nhà giam mà lại mang dáng dấp một thiền viện, hay một phủ đường của một nhà quyền quý thời xưa.

Tôi đang còn miên man nghĩ ngợi, thì bỗng thấy hai cánh cửa nhà lim mở toang ra. Tôi mừng rỡ, chờ cái dáng đủng đỉnh thân thuộc của thầy tôi bước ra. Nhưng không phải. Chợt thấy hai người lính khiêng một chiếc cáng ra đặt ở khu đất trước cổng. Thầy giáo Hải theo sau, nhớn nhác nhìn chung quanh. Thấy tôi, thầy giáo vẫy tay. Ông Xuân xe bò lọc cọc kéo chiếc xe định tiến lại gần, nhưng người lính da đen xua tay ra hiệu không cho lại gần. Ông xe bò đành dừng xe lại. Thầy Hải bảo :
- Sư cụ bị gẫy chân. Bác làm ơn gượng nhẹ hộ nhé. Mà bác đã chuẩn bị đầy đủ như tôi dặn hôm qua chưa?
- Dạ, đã đủ. Tôi đã mua một gánh rơm sạch sẽ, khô khén.
- Còn nẹp tre?
- Dạ, đủ cả.

Bác Xuân bế bổng cụ tôi lên tay. Đến cạnh xe bò, thầy Hải bảo đặt cụ nằm thẳng trên mặt đất. Ông sờ sờ, nắn nắn cái chân bị gẫy cho thẳng, rồi đặt hai thanh nẹp tre như hai chiếc đũa cả ở hai bên. Sau đó, lấy chiếc hầu bao mới mua, bó chần lại như ta bó giò ngày tết. Cuối cùng gượng nhẹ đặt cụ lên thùng xe đã được lót rơm rất dầy. Thầy giáo Hải, nay là thượng sĩ Hải còn bận nhiều công việc ở P.C, nên chỉ có mình tôi theo xe bò về chùa.

Bác Xuân làm bò cầm cáng, còn tôi đẩy phía sau. Con đường huyện lộ ở quãng gần Huyện còn khá. Ra xa chừng một cây số, đường chẳng còn ra đường. Liên miên ổ gà. Có cái băng cái rá. Có cái bằng cái thúng. Thế mà ông Xuân cứ giữa đường mà đi. Chiếc xe bò bánh sắt có lúc nhảy lên chồm chồm. Cụ tôi rên lên nhăn mặt, cắn răng lại chịu đựng.
- Sao bác không đi bên lề vệ cỏ êm hơn.
- Chú không sợ mìn à?
- Người ta đã dò mìn mở đường từ sáng.
- Dưng mà vẫn còn sót. Cách đây mấy hôm, giữa trưa mà một con trâu vẫn giẫm phải mìn bên vệ đường. Thằng bé ngồi trên lưng trâu bị ném tung ra ruộng. May mà cái bụng trâu nó đỡ cho nên thằng bé không bị thương. Nếu thằng bé đi sau đít con trâu, có khi chết rồi.

Rồi ông an ủi thầy tôi.
- Cụ chịu khó đau một chút. Con đảm bảo sẽ đưa sư cụ về chùa an toàn. Du kích có bao giờ đánh mìn xe bò. Nhưng mìn nó đâu có mắt. Mà bọn batidăng dò mìn buổi sáng thì thỉnh thoảng lại bỏ sót vài quả. Chẳng lẽ sư cụ không chết về tay Đơ Bê mà lại chết vì mìn sao.

Ông xe bò mồ hôi lã chã. Mặt trời đã lên cao. Ông hay chuyện nên cứ luôn miệng nói. Ông kể về cái nhà tù Đơ Bê (phòng nhì) phố huyện :
- Bọn này hung tợn lắm, nhất là Tây lùn Bernard. Tháng trước, chúng nó mổ bụng một chị cán bộ đang có mang. Chị này bị tra tấn dã man nhưng đánh thế nào chị cũng không khai. Mổ bụng ra cái thai đã bằng củ khoai to. Cái thai cứ phập phồng ngoe nguẩy mãi mới chịu chết.
- A di đà Phật! - Vị sư già quên hết đau đớn, cụ cầu nguyện cho cái sinh linh bé bỏng kia đã bị giết trước khi chào đời.
- Con ở gần nên con biết. Vào nhà giam ấy là vào cửa tử. Sư cụ chỉ bị gẫy chân thế này thôi là may mắn lắm. Cứ vài hôm lại có một gia đình trong vừng thuê con chở xác đem về làng chôn. Cứ luôn luôn cắm mặt xuống đường, đến nỗi con gần thuộc lòng từng cái ổ gà trên đường. Quãng đường chúng ta vẫn qua lắm ổ gà nhất. Quãng này ít hơn. Còn quãng gần chùa thì êm ru.

Cứ nói chuyện như thế, chúng tôi về đến nhà lúc nào chẳng hay. Ông Xuân lại bế bổng cụ tôi lên như ẵm em bé, đưa vào nhà tổ. Ông than vãn :
- Khốn khổ! Đến người tu hành mà chúng cũng hành hạ cho đến xơ xác thế này. Con bế cụ lên, thấy nhẹ như cái bấc
Tôi trả tiền công, ông xe bò nhất định chỉ lấy một nửa Ông bảo :
- Ai lại lấy của nhà chùa nhiều tiền thế.
Tôi cảm ơn ông xe bò. Còn sư cụ tôi thì nói :
- Ông Xuân ạ. Chuyến đi hôm nay là duyên gặp gỡ giữa ông và tôi. Tôi sẽ cầu nguyện chư Phật phù hộ cho gia đình ông tránh khỏi những điều ác. Mà không chỉ lần này thôi đâu. Tôi nghĩ gia đình ông còn nhiều duyên với nhà chùa.

Ông Xuân nghe thế muốn hỏi cái duyên ấy là gì, nhưng chuyến đi dài trên con đường ổ gà chắc đã làm thầy tôi quá mệt. Thầy tôi lim dim con mắt. Chúng tôi đưa thầy vào phòng nghỉ. Và câu chuyện bị cắt ngang tại đấy.

Thầy tôi củng giỏi y thuật. Thầy sai tôi đi đun nước để rửa vết thương. Thầy nói :
- Về khoa xương cốt thầy không sành. Giá có sư huynh Khoan Độ của con ở nhà thì tốt biết bao. Thầy Độ giỏi trị thương. Con nên để tâm học hỏi tất cả những chuyện này. Người tu hành biết nghề thuốc, có thể tạo phúc giúp đỡ được nhiều người. Con nên nhớ tất cả những gì làm cho con ngươi bớt đau khổ và sung sướng đều là đạo cả.

Hôm sau, nghe tin sư phụ tôi được thả về, cụ chánh Long đến chùa thăm. Cả hai người tay bắt mặt mừng. Cụ chánh nói :
- Sư cụ thoát khỏi chốn hang hùm, thật là đại phúc - Ông già thở dài - Khi nghe huynh gặp nạn, thú thật đệ thấy lo lắng nhưng lực bất tòng tâm. Chuyện này nằm trong tay bọn phòng nhì trên huyện. Đệ có hỏi thì thằng Mật nói như vậy. Đệ cứ áy náy trong lòng vì chẳng giúp gì được cho huynh. Người ta bảo gia đình đệ lúc này đây có chút thần thế. Ôi chao! Thần thế ư? Quyền hành ư? Thằng Mật con đệ chỉ là thứ tay sai, một kẻ quyền rơm vạ đá. Đệ biết chứ. Ở cái thời loạn lạc này, người ta trốn đi chẳng được mà hắn lại nhơn nhơn chường mặt ra. Nghĩ mà thấy lo. Ở trong làng xóm, lúc lâm sự, thì phải biết đỡ đần cho mọi người mới là phải nhỉ. Đằng này...

Thầy tôi vội giơ tay ra, nắm lấy tay người bạn già, người mà nhìn bề ngoài, tưởng như chẳng có gì phải suy nghĩ, thế mà trong lòng lại chất chứa bao tâm tư. Cụ tôi nói :
- A di đà Phật.

Cụ chánh đến thăm hỏi người ốm. Rồi người ốm lại an ủi ông chánh bằng câu cửa miệng, muôn thuở của một nhà tu hành. “A di đà Phật!” Đó là lời chào, lời xin lỗi, cũng có lúc là lời cảm ơn, cũng có thể là lời thông cảm một tiếng kêu đau xót với cuộc sống trần thế vô thường. Nó có lúc được dùng với người hiền hòa thân quen, nhưng củng có thể là câu trả lời với kẻ hung bạo, độc địa. Khi ấy tôi còn nhỏ dại, tôi không hiểu hết được ý nghĩa của câu nói cửa miệng thường dùng ấy của thầy tôi. Cứ tưởng như câu “A di đà Phật” chỉ là một thói quen tầm thường. Đâu biết nó nằm trong hạnh an lạc của Phật. Đó là chữ Nhẫn của Phật gia. Nói câu ấy cho đúng ý nghĩa thật khó. Nói làm sao để cái từ bi được biểu lộ trong ánh mắt trên gương mặt của ta. Nói làm sao để khi gặp nghịch cảnh, không có chút nào sân hận, đối chọi được dấy lên trong lòng ta. Nói làm sao để người đã vui được vui thêm, và người gặp cảnh buồn được vơi nhẹ.

Hai ông già gặp nhau. Nói thì ít, những phút lặng thì nhiều. Lúc mới gặp, họ còn nói về số phận của nhau, nhưng một lúc sau, thì chỉ nói về trà ngon, về hoa mộc, hoa ngâu, hoa sói. Tôi là chú tiểu đồng hầu trà các cụ, nhìn diễn biến của cuộc trà lòng không khỏi dấy lên những suy ngẫm.

Thầy tôi và cụ chánh ngoài tình già còn là tình đồng môn. Cụ tôi là sư huynh, ông chánh là sư đệ. Những năm họ còn trẻ, họ đều là học trò chữ Hán của sư tổ Vô Chấp. Cụ chánh là người đệ tử tục gia tài hoa. Cụ thông minh rất mực. Ngoài việc học chữ với sư tổ Vô Chấp, ông chánh còn học đánh đàn nguyệt với một thầy đàn nổi tiếng. Người ta bảo cụ chánh đàn rất hay. Chẳng thế mà các bà vợ của cụ đều là những người đàn bà đẹp nhất trong vùng. Ông có tới sáu bà vợ. Ông không có chí làm quan, mà chỉ thích tận hưởng những cái đẹp ở đời. Kể ra thì
cũng vô hại. Bởi vì ông không ham mê thuốc phiện và cờ bạc. Ông được thừa hưởng một gia tài kếch xù trên trăm mẫu ruộng từ cha ông làm quan để lại. Ông không phung phí phá tán nó, trái lại đến đời ông, gia tài ấy hình như còn được tăng lên. Sư tổ Vô Chấp nói rằng :
- Nếu trò Long sửa được cái tật quá mê thanh sắc thì chắc chắn anh ta là người quân tử.

Ông chánh Long là người không ác độc. Đối với kẻ ăn người ở, ông rộng rãi. Đối với các bà vợ và lũ con cháu, ông gầy dựng cho từng người. Đối với bè bạn, ông có nghĩa có có tình. Ông rất quý phục người sư huynh là thầy tôi. Có dịp là biếu trà vì ông biết thầy tôi chỉ có cái thú độc nhất ở đời là thưởng thức trà.

Tuy nhiên, thầy tôi vẫn ít đi lại với ông. Sư cụ bảo :
- Người tu hành không giao du với kẻ ác, kẻ tà giáo, ông chánh Long không phải kẻ ác, nhưng là người quyền thế. Phải tránh cả chuyện đi lại với kẻ có quyền. Bởi vì kẻ quyền thế lúc nào cũng muốn thống trị mọi người. Và muốn thế họ luôn phải âm mưu, thủ đoạn. Vì thế mọi người đều không ưa.

Không đi lại với cụ chánh Long, nhưng thầy tôi vẫn biết cụ chánh là người tử tế. Thầy tôi nói :
- Thời loạn thế này, khó đoán định được ngày mai ra sao, con người không thể dương dương tự đắc. Hôm nay lên voi, ngày mai xuống chó. Ai lường trước được. Và đến khi người ta thất thế. Đó lại hoàn toàn là chuyện khác.

Trong những ngày thầy tôi gặp nạn, suốt ngày đêm tôi ở sát bên thầy, lo hầu hạ cơm nước, thuốc thang. Để chữa cái chân gẫy, theo lời chỉ dẫn của thầy, tôi đi hái lá về giã ra làm thuốc bó. Thầy giáo Hải mua thuốc tây cho thầy uống. Thấy lâu khỏi, thầy Hải rất lo lắng, muốn tìm cách đưa thầy tôi ra Hà Nội chữa đốc-tờ. Nhưng chùa Sọ chúng tôi hẻo lánh ít người lễ bái, tiền nong nhà chùa quá eo hẹp, lương anh Hải chỉ tùng tiệm đủ tiêu, làm sao thầy giáo có thể thực hiện chuyện ấy được. Sư cụ tôi nghe thầy Hải nói chỉ cười và bảo :
- Các con đừng lo. Cái nghiệp của thầy là vậy. Thầy còn phải chịu đựng nhưng không sao. Thầy biết, rồi thầy sẽ khỏi.

Chính trong những ngày không may ấy, đối với tôi lại là điều may... Bởi vì giữa hai thầy trò có nhiều phút rảnh rỗi Thầy đã chỉ dạy cho tôi rất nhiều. Có bận, thầy tôi hỏi:
- Trên đời này, con thích gần gũi những ai?
- Bạch thầy, đó là thầy, là chị Nguyệt, là thầy giáo Hải, là sư bác v.v...
- Thầy hiểu. Nhưng vì sao vậy?
- Bởi vì ở gần những người này, con thấy được an lạc.
- Còn những người con muốn xa lánh?
- Ví dụ như ông quản Mật, ông Tây mặt đỏ.
- Điều ấy thầy cũng hiểu. Tuy nhiên, gần những người như thầy, điều ấy quá dễ. Còn gần những người ghét ta, thậm chí muốn giết ta, điều ấy thực khó, nhưng là một việc nên làm. Bởi vì trong họ cũng có Phật; gặp thuận duyên, ông Phật trong họ sẽ thức dậy.
- Con nghe nói lúc ông Tây mặt đỏ đánh thầy, thầy cũng niệm A di đà Phật.
- Đúng vậy, khi ấy ta cũng niệm Phật. Như vậy có hai cái lợi, đối với ta, khi niệm Phật, lòng sân hận trong ta sẽ không dấy động, còn đối với kẻ kia, ta cũng cầu mong cho họ đừng nhúng tay vào cái ác, để tránh nghiệp quả.
- Nhưng ông Tây mặt đỏ vẫn đánh đập thầy, vẫn bẻ gãy chân thầy.
- Thầy tin rằng những ý nghĩ tốt lành cũng có sức mạnh của nó và có cách lan truyền riêng của nó. Y nghĩ an lành như một làn sóng, nó truyền lan nhưng mắt ta không nhìn thấy. Vả lại, sự tàn độc của một thời biết đâu lại chẳng có mặt tích cực. Bởi vì khi cái ác xuất hiện thì cái thiện cũng đồng thời được biểu hiện với tất cả vẻ rực rỡ của nó.

* * * * *

Như tôi đã nói, ngôi nhà tổ của chùa Sọ là ngôi nhà năm gian ba gian giữa để thờ và hai buồng gói hai đầu. Buồng của thầy nằm bên trái. Tôi và sư Khoan Độ ở buồng bên phải. Vì sư Độ và chị Nguyệt tôi phải trốn ra vùng du kích khi thầy tôi bị bắt, lúc này thầy tôi lại đau nặng, cho nên tôi phải chuyển sang ở cùng buồng với thầy tôi để tiện việc ngày đêm chăm sóc.

Căn buồng nhỏ bày biện rất giản dị. Phía trong cũng là một chiếc giường nhỏ nơi thầy tôi nằm. Đối diện với giường là chiếc bàn nhỏ. Bên cạnh bàn, từ cái xà thõng xuống ba chiếc quang treo. Đó là cái giá sách của thầy nơi đó thầy xếp những chồng sách chữ nho, những quyển kinh, luận nhà Phật. Phía tường đầu hồi, trổ một chiếc cửa sổ hình tròn âm dương, cái cửa sổ không tạo ra một luồng sáng ào ạt, lại được che bằng tầm mành trúc, nên ánh sáng trong buồng lúc nào cũng mờ mờ tỏ tỏ. Dạo ấy mùa rét, tôi bèn đánh tranh làm một ổ rơm ngủ ngay dưới cửa sổ ấy.

Trong những ngày đau ốm dài dằng dặc, hầu như liệt giường, liệt chiếu ấy, người ta hay nghĩ về những kỷ niệm xưa xa lắc xa lơ. Có lẽ vậy cho nên thầy tôi đã kể về đời mình cho tôi nghe. Thầy Hải vẫn bảo tôi: “Sư cụ là người nhân đức. Em được sư cụ nhận làm con. Đó là điều may mắn hiếm có ở đời”. Như vậy đây là câu chuyện giữa cha và con. Người cha truyền lại những trải nghiệm của mình cho đứa con nghe.

Thầy tôi họ Lê tên tục là Sinh. Thân phụ người có hai người con Trường và Sinh. Sinh quán ở tại thôn Nhiễm, một ngôi làng cạnh Hà Nội. Dòng dõi nho gia. Một cụ tổ đỗ Thám hoa dân trong vùng vẫn gọi là cụ Thám Nhiễm. Ông thân sinh ra người là Lê Mậu chỉ đỗ cử nhân. Ông cụ sinh ra trong thời loạn, khi giặc Pháp xâm chiếm nước ta. Cụ cử Lê Mậu giàu lòng yêu nước, ông tham gia phong trào cần vương, bị giặc Pháp bắt đày ra Côn Đảo. Bà nội phải nuôi nấng dạy dỗ Trường và Sinh cho con trai. Bà nội cũng là con gái một gia đình khoa cử nên rất trọng việc học hành. Cụ dồn tất cả tài lực để cho cậu cháu đích tôn là Trường được học hành. Năm ông cử Mậu đi tù Côn Đảo cũng là năm Trường đỗ vào trường Bưởi. Năm ấy, Sinh mới sáu tuổi. Sư cụ Vô Úy kể lại :
- Ta còn nhớ khi người Pháp lùa đám tù nhân xuống tàu thủy, thầy ta đeo gông còn cố giơ tay lên, đầu ngoái lại nhìn mẹ và vợ con đứng trên bờ khóc như mưa như gió. Ông hét lên: “Hẹn mười năm nữa. Hẹn ngày trở lại”. Cả nhà ta chạy xuống dốc sông, định theo cha ta xuống tàu thủy. Bọn lính ngăn lại, còn các bà thì vừa khóc vừa xô đẩy. Tức quá, bọn lính cầm gậy tre đánh túi bụi. Tiếng kêu khóc như ri. Bà nội mặt mày đầy máu ôm lấy ta để che chở cho khỏi bị những chiếc gậy đánh.

Ông Trường, anh ông Sinh (sư cụ Vô Úy) học trường bảo hộ. Vì biết gia đình tập trung tài lực hy sinh cho mình quá nhiều, nên ông Trường cố công học tập. Ông học rất giỏi, luôn luôn đứng đầu lớp. Còn ông Sinh không được đi học, nhưng bà nội không chịu bỏ nề nếp thi thư của gia đình. Bà nội là con một cụ cử, lại là người tháo vát thông minh, nên cũng là người có chữ nghĩa. Cụ tự mình dạy chữ cho Sinh. Bà cụ giỏi, cậu cháu cũng là đứa học một biết mười. Khi Sinh học xong Thiên tự kinh, cụ bà bảo:
- Bây giờ, cháu đã đọc hiểu được rồi. Bố cháu có năm bồ sách. Đủ cả Tứ thư, Ngũ kinh và sách của trăm nhà. Ta giao cho cháu quản lý. Nắng thì đem sách ra phơi. Rách thì bồi dán giữ gìn. Cháu hãy tự học, làm sao đọc cho hết năm bồ sách ấy.

Phải nói Sinh là một cậu bé vừa có chí vừa thông minh. Cậu theo lời bà, đem sách ra đọc. Chỗ nào không hiểu thì hỏi bà. Chỗ nào bà cũng không hiểu thì đi hỏi cụ đồ, cụ tú trong làng. Sinh hỏi lắm chỗ các cụ cũng phải lắc đầu lè lưỡi:
- Chắc kiếp trước thằng bé này đã phải làu thông kinh sử rồi. Vì thế đến kiếp này nó chỉ cần đọc qua là nhớ ngay. Chả thế mà những quyển sách khó như kinh Dịch, rồi cả kinh Phật thằng bé cũng dám mang ra đọc tất cả.

Không những đọc năm bồ chữ Hán của cha để lại, Sinh còn muốn học thêm cả chữ quốc ngữ, chữ Pháp. Sinh bắt anh mình là Trường, đi học về phải dạy lại cho mình. Điều kỳ lạ đã xảy ra. Sau mười năm dùi mài tự học như vậy, Sinh đã tinh thông cả chữ Hán lẫn tiếng Pháp. Những người bạn của Trường cũng phải kinh ngạc, vì có một lần, Sinh đã dịch cả một trang tiếng Pháp cho họ nghe.

Có thể nói Sinh là một thần đồng, tuy nhiên, cậu bé nhà quê ấy thật khiêm nhường. Mà Sinh là cậu bé nhà quê thực sự. Ngoài việc học tập, Sinh phải đảm đương việc đồng áng. Lúc bé thì chăn trâu, cắt cỏ. Hơn mười tuổi đã biết cày bừa. Nhà không có trâu bò. Bà nội và mẹ phải nai lưng ra kéo cày thay trâu. Bà cụ dạy cháu :
- Đã làm người là phải biết làm việc. Cái chân, cái tay sinh ra là để làm việc. Vậy nên, không được để cho chúng nhàn cư. Nhàn cư dễ sinh chuyện. Không được để chân tay rỗi việc Không việc này thì việc khác. Bới đất nhặt cỏ, tìm việc mà làm.

Thấy còn có nhiều ngày nông nhàn, bà cụ liền nghĩ ngay ra việc bán thuốc. Hai bà cháu gánh đôi bồ đi khắp các chợ quê. Gia đình vốn có nghề làm thuốc. Cả thuốc nam lẫn thuốc bắc. Cụ thuộc lòng những bài thuốc tê thấp, phong hàn, điều kinh, nhức đầu, cảm mạo... Hai cái bồ thuốc ấy làm phúc cho thiên hạ cũng nhiều và cũng giúp cho gia đình có đồng ra đồng vào.

Bà nội là người sùng đạo Phật. Rằm, mồng một, cụ thường đến lễ Phật ở chùa Ổi. Ông cử Mậu là người đọc rộng. Trong mấy bồ sách của ông có cả sách Phật học. Sinh đọc sách Phật thấy nghĩa lý rất uyên bác. Sinh thường theo bà nội đến chùa Ổi để nghe hòa thượng Vô Chấp giảng kinh. Sư cụ Vô Chấp rất quý mến chàng thiếu niên sáng láng và uyên bác đó. Hiếm có một chàng trai trẻ nào, ít tuổi mà lại có một sở học rộng rãi đến thế. Sư cụ cho phép Sinh được ngồi lẫn với các tì khưu trong chùa nghe những bài giảng triết lý thâm sâu. Sinh đã ngồi cả một buổi để nghe giảng và thảo luận cái công án “Bách trượng dã hồ” (con hồ ly của sư Bách trượng). Con hồ ly đã trả lời nhầm cho rằng bậc đại tu hành thì không mắc không rơi vào nhân quả. Con hồ ly không hiểu rõ thuyết nhân quả luân hồi trùng trùng điệp điệp của đạo Phật nên đã đọa kiếp hồ ly tới năm trăm kiếp. Sư Bách trượng sửa chữa câu trả lời “Bất muội nhân quả”, tức là bậc đại tu hành không mê lầm luật nhân quả. Đứng về mặt tuyệt đối tất cả chúng sinh đều rơi vào luật nhân quả, bậc đại tu hành thì hiểu rõ luật nhân quả, không bị mê lầm bị che mờ, cái tâm không sai biệt, nên không chấp có chấp không. Nếu tâm còn sai biệt thì dù tu một trăm kiếp hồ ly vẫn là hồ ly. Sư Vô Chấp nói với mọi người:
- Nhân quả hiểu theo nghĩa thông thường là Nghiệp. Giữa người mê và người ngộ, Nghiệp tác động không giống nhau. Người mê coi Nghiệp là tai ách, gặp hoàn cảnh khó khăn đau khổ, họ buồn tủi, than vãn. Còn với người ngộ, khi đã vô phân biệt giữa khách và ta, giữa ngoài và trong, họ biết mình vẫn có Nghiệp như ai, nhưng không cảm thấy Nghiệp là nặng. Ngộ không hề có nghĩa là vứt bỏ Nghiệp, mà là vô ngại đối với Nghiệp và cả đối với phi Nghiệp, được như thế sẽ tự do tự tại ở bất cứ hoàn cảnh nào.
Sư Vô Chấp hỏi Sinh :
- Con có cảm hiểu được lời ta nói không?
- Con đã lờ mờ nhận ra con đường.
- Ở tuổi con, dù chỉ một chút thôi, chỉ lờ mờ thôi, cũng là quý lắm rồi. Đời con còn dài... Đến như ở tuổi ta đây, đã vài chục tuổi hạ, thế mà cũng đâu dám nói đến sự tỏ ngộ.

Ông cử Mậu mãn hạn tù, từ đảo Côn Lôn trở về. Từ thuở còn đi học, ông đã đọc sách thuốc, lại có bà mẹ biết về y thuật nên có thể nói ông khá hiểu nghề y. Một người bạn đồng môn cố tri đến chơi thấy hoàn cảnh gia đình và thấy ông suốt ngày nằm dài trên chiếc võng mới nhân lúc tửu hứng đọc ngâm một câu rằng: “Tâm hồn cố quốc, bất năng vi tướng, tất vi y” (Tâm hồn mà còn lưu giữ Tổ quốc, không thể làm tướng, tất sẽ làm thầy thuốc). Ý người bạn muốn nhắc nhở ông. Không còn điều kiện hành động cứu nước nữa, thì hãy làm điều gì có ích cho đời, cho gia đình. Không thể để cho mẹ và con nheo nhóc mãi.

Lúc đó, người tù trở về phẫn chí, mới nhìn mẹ mình con mình, lòng đau như cắt. Bà mẹ, lúc ông đi đày, vẫn tần tảo cố sức nuôi hai con ông ăn học thành người. Bà cụ chỉ có thể cho người con lớn đi học, còn đứa bé thì tự dạy lấy. Lại còn dạy đứa cháu biết làm nghề nông, biết gánh đôi bồ đi chợ bán thuốc, để cậu bé trở thành một con người hoàn chỉnh, có học vấn, có chí, có lòng tự trọng. Thật là phi thường! Ông cử sau khi nghĩ kỹ nói rằng:
- Từ rày, hai bà cháu không phải gánh bồ đi chợ bán thuốc nữa. Con sẽ bán hai sào ruộng lấy tiền mở cửa hàng thuốc.

Ông cử Mậu là nhà khoa bảng đọc sách nhiều, rất thông y lý, lại có nghề gia truyền, cho nên cửa hàng mở ở đầu làng, chẳng mấy chốc đã rất đông khách. Tiếng đồn khắp vùng nên lại càng đông hơn. Sinh phải ra cửa hàng làm người phụ tá đắc lực cho cha. Ở gần người con út, lúc này ông mới hiểu hết người con. Ông cử nhìn Sinh, càng thấy nó giống ông nhiều hơn là anh nó. Mới đầu ông tưởng rằng thằng bé chỉ được bà nội dạy chữ, chắc thằng con chỉ đọc thông đã là tài. Ông dần dần kinh ngạc vì không ngờ cậu con trai có thể làu thông Tứ thư, Ngũ kinh. Chẳng những Sinh thông Nho học mà lại còn biết cả Tây học. Đó là điều nó hơn ông.

Một buổi, hai cha con đến thăm sư cụ chùa Ổi.

Nghe người con hầu chuyện hòa thượng, ông càng kinh ngạc bội phần. Ông không thể ngờ người con mười chín tuổi của ông lại có thể nói chuyện về đạo Phật như một nhà tu hành thực thụ.

Cũng như nhiều nhà nho khác, ông cử Mậu không mặn mà với đạo Phật lắm vì tính chất xuất thế gian của nó. Hôm ấy ông mới có dịp hiểu về những người tu hành. Hòa thượng Vô Chấp biết ông là nhà yêu nước bị người Pháp bắt đi đày, nên rất tỏ lòng kính trọng. Lúc hai người đàm đạo, thiền sư nói :
- Đạo Phật ở nước Nam ta luôn luôn gắn bó với dân tộc, bởi vì họ biết đất nước có tự chủ thì đạo Phật mới phát triển được. Nói chung, trong suốt lịch sử, dân Việt là Phật giáo. Thời Lý Trần đã đành. Lúc ấy phân nửa dân số ở chùa. Sang thời Lê và sau này, Nho giáo lên ngôi. Tuy nhiên, lúc này vẫn là Phật giáo. Bởi vì mỗi làng đều có đình và chùa. Người nam sinh hoạt ở đình. Người phụ nữ sinh hoạt ở chùa. Vì vậy tinh thần Phật giáo thấm vào xã hội thông qua người mẹ, người vợ. Mà người phụ nữ nào chả có gia đình và con cái. Người đàn bà ứng xử trong gia đình xã hội và dạy con cái ít nhiều theo tinh thần Phật giáo. Vậy nên mới nói, bất cứ người Việt nào cũng đều có chút Phật giáo trong người.

Vị sư già Vô Chấp thật thâm thúy. Ông cụ làm cho ông cử Mậu phải suy nghĩ mãi khi về nhà.

Ông cử Mậu là nhà nho thuần khiết. Ông cũng không cực đoan tới mức bài xích đạo Phật. Tuy nhiên ông tín tưởng vào sự nhập thế tích cực của đạo Nho. Muốn thương yêu đồng loại ư? Muốn hạnh phúc cho mọi người ư? Thế thì hãy ở giữa cõi đời này mà sống. Can chi mà phải xa lánh trần gian.

Những ngày bị tù đày trên hòn đảo trơ vơ giữa biển khơi ông ngẫm nghĩ về cuộc sống hết ngày nọ qua ngày kia tư tưởng nhập thế của ông vẫn không thay đổi, nhưng nhìn cái tương lai mờ mịt của dân tộc đứng trước một kẻ thù quá mạnh hình như cái tư tưởng nhập thế của ông đã mềm dẻo hơn. Phải trải qua truân chuyên, ông mới cảm nhận được phần nào cái lý của sự tồn tại những ngôi chùa ở những làng quê. Hòa thượng Vô Chấp bảo :
- Có người nghĩ rằng chữ nhẫn của đạo Phật là sự yếu hèn cam chịu. Chắc chắn không phải vậy. Cuộc đời lắm lúc cần phải biết dừng lại để suy ngẫm, để tích tụ sức mạnh. Khi nào cần thiết, Phật giáo sẽ bùng nổ theo cách của nó. Mà năng lượng của cái nhẫn sẽ ghê gớm không thể tưởng tượng nổi. Nó kinh thiên động địa. Sức mạnh của từ bi có thể làm sụp đổ những gì bạo tàn nhất. Phải là người dũng mãnh như sư tử, ý chí như sắt thép mới thi hành được chữ nhẫn nhà Phật.

Phải nói ông cử Mậu lên chùa phần nào cũng vì người con út của mình. Ông muốn biết con đường đi của nó. Nghe sư Vô Chấp nói rồi nhìn người con lặng lẽ của mình, hình như ông hiểu con mình hơn. Thì ra trong lúc ông xa nhà, con ông vẫn có những người thầy xứng đáng, giá như ông cử còn trẻ, hoặc giá như đời ông hanh thông, chắc ông đã phải giảng giải rất nhiều cho người con trai mới bước vào đời đã say sưa nghiền ngẫm đạo thiền. Tuy nhiên, lúc này ông lại nghĩ khác. Ông tự hỏi mình: đã có một đứa trẻ nào, từ thuở nhỏ, không được cắp sách tới trường, mà lại làu thông cả Tứ thư, Ngũ kinh, lại biết Tây học, rồi lại đọc được sách Phật. Phải chăng chỉ có ông mới là người ưu tư, mới biết đi tìm đường ở cõi đời này sao? Không, con ông cũng đang tìm đường đấy chứ. Mà lại tự tìm đường, tự soi đèn tìm lối lúc tuổi đời còn rất trẻ. Ông cử Mậu nghĩ tới ngày xưa ông được cha mình nâng niu ra sao. Hầu như ông không phải làm gì cả. Suốt ngày đêm chỉ cầm quyển sách trên tay. Còn con ông thì sao? Suốt một thời thơ ấu vắng cha. Phải tự mình mò cua bắt ốc, cày sâu cuốc bẫm, rồi gánh đôi bồ trền vai ra chợ. Dù ông không dạy, thì Sinh cũng đã tự vạch ra con đường đi của đời mình rồi. Cuộc đời thực đã cho nó những suy nghĩ. Và những ý nghĩ sinh ra từ cuộc sống mà ta tự chiêm nghiệm thì chắc là sâu sắc. Vậy thì ông có quyền gì lại muốn vạch ra con đường cho nó. Phải nói rằng những ngày tù đày cũng rèn cho ông một đức tính. Trong lao tù, con người cần biết im lặng. Ta phải biết im lặng lắng nghe những tiếng nói thầm kín của người khác. Ta còn phải biết im lặng vì không phải bao giờ những ý nghĩ của ta củng là hay nhất, đúng nhất.

Ông Cử phải đi tù mới biết cách lặng lẽ. Còn người con út của ông không đi tù cũng thích sự lặng lẽ. Đạo Phật đã dạy cho Sinh biết cái huyền diệu của sự tĩnh lặng.

Hai cha con rất ít nói với nhau, song hình như người con út rất hiểu nỗi niềm của người cha. Anh lặng lẽ chăm chỉ học nghề thầy thuốc của ông Cử. Người cha cũng mang hết sở đắc của mình ra truyền thụ cho người con. Hình như ông cũng muốn bù đắp cho người con những tình cảm phụ tử mà người con thiếu thốn trong những ngày ông xa nhà. Người cha càng ngày càng yêu quý người con hơn khi ông thấy cái tâm của người con vô cùng trong sáng. Ông dạy con phải tận tụy với người bệnh thì người con lại thực hành sự tận tụy ấy đến mức như quá sự cần thiết. Một lần, có một làng gần đấy mắc dịch tả. Người ta đồn dân làng ở đó chết không kịp chôn. Các ông lang trong vùng đều lảng tránh. Họ chẳng chịu đến thăm bệnh cho nguời làng đó. Có con bệnh đến mời ông cử Mậu. Người cha nói :
- Dân gặp nguy khốn mới cần đến ta. Ta là loài chó lợn hay sao mà lại từ khước.
Người con ngăn lại :
- Cha già rồi, sức chịu đựng chẳng thể bằng con. Vả lại, con đã đọc sách Tây y về bệnh này rồi. Con biết cách phòng tránh lây bệnh. Cha cứ để con đi thì hơn.

Sinh đã lăn lộn ở ngôi làng đó hàng tháng, cho đến khi trận dịch kết thúc. Hòa thượng Vô Chấp biết được chuyện ấy vui mừng, ban tặng cho Sinh chuỗi tràng hạt mà trưởng lão, thầy của sư Vô Chấp đã trao truyền lại. Sư cụ bảo :
- Sư phụ ta ngày xưa tu theo hạnh đầu đà. Người cũng là thầy thuốc. Suốt đời người chăm sóc cho người hủi. Người qua đời ở trại hủi Mui Tía. Con cũng có thể noi theo bước chân của người. Vì vậy, ta tặng con chuỗi tràng hạt này, chuỗi tràng hạt hổ phách vô cùng quý giá nghe nói của vua ban truyền từ xưa đến giờ. Nó qua tay đã chục thiền sư nên vô cùng linh thiêng.

Khi bà nội qua đời, ông cử Mậu và hai người con lo ma chay cho cụ rất chu đáo. Sư cụ chùa Ổi về tụng kinh cho cụ đủ bốn chín ngày.

Xong giỗ đầu bà nội, một sáng, Sinh quỳ lạy cha rất cung kính. Anh quỳ rạp, đầu sát đất, thưa rằng :
- Thưa thầy, bà nội con vốn theo đạo Phật. Từ nhỏ, khi cha vắng nhà, con đã theo bà ăn chay niệm Phật, đọc kinh Pháp Hoa. Con đã được bà nội dạy dỗ điều hay lẽ phải. Hàng tháng con theo bà lên chùa nghe hòa thượng giảng kinh. Suốt đời, con đã nguyện chỉ làm điều thiện và theo Phật pháp. Chính nhờ đạo phật nên con mói đủ ý chí và nghị lực để có thể học hành và góp sức cùng bà nội giữ lấy nề nếp tổ tông. Nay bà nội con đã quy tiên, anh cả con thì đã thành tài ra làm thầy giáo, lại đã sinh con trai nối dõi tông đường. Riêng phận con, con nghĩ hầu như đã làm xong trách nhiệm với gia đình. Chỉ còn có một điều bắt buộc con suy nghĩ mãi. Đó là nghĩ rằng cha đã già rồi. Con xa cha lúc này thật chưa tròn đạo hiếu, thật chẳng đành lòng. Nhưng thưa cha, thầy của con, sư cụ chùa Ổi củng đã ngoài tám mươi, đã luống tuổi lắm rồi. Mà con thì chỉ có một ước nguyện là được hầu hạ bên sư cụ, để được nghe lời dạy của một bậc cao tăng gần trọn đời sống dưới bóng từ bi. Nếu con chậm trễ, sợ rằng cái phước lớn được làm đệ tử của thầy con sẽ không kịp nữa.

Người cha không ngạc nhiên khi nghe con nói, vì từ lâu ông đã biết cái chí của Sinh. Ông chỉ khẽ thở dài và gật đầu :
- Thực ra, cha phải cảm ơn con. Con đã làm quá nhiều việc cho gia đình. Nhất là con đã thay ta chăm sóc bà nội. Đó là nhiệm vụ của ta mà ta không làm được. Chắc chắn cha con phải cảm ơn đức Phật từ bi, vì Người đã gửi một đồ đệ ưu tú đến giúp đỡ khi ta gặp hoạn nạn. Con vốn là người của Phật. Nay con trở về với nhà chùa. Đó là phải lẽ. Có khi nào ta lại cản bước con đi.

Sinh, sau khi cha cho phép, đã trút bỏ mọi thứ, chỉ mặc bộ quần áo nâu đến chùa, quỳ trước mặt sư tổ. Hòa thượng Vô Chấp mở mắt ra và nói :
- Con đã đến rồi ư? Ta cứ mong mãi ngày hôm nay. Con đến chẳng chậm đâu. Có người đến chùa vì gặp nghịch cảnh. Có người vì chán cảnh trần thế. Riêng con, con có chán cảnh trần thế hay không?
- Bạch thầy! Con không chán mà rất yêu trần thế.
- Vậy thì tại sao con xin cắt tóc quy y?
- Bạch thầy! Vì từ nhỏ con đã được bà nội dạy dỗ.
- Lành thay! Bà nội con là đệ tử thuần thành của Phật. Bà con đã dạy con những gì?
- Hàng ngày con vẫn được ngửi hương giải thoát.
- Hương ở đâu?
- Hàng ngày hai bà cháu vẫn dâng hương cúng Phật.
- Hương ở đâu nữa?
- Hương từ bi. Bà nội con chỉ biết làm việc thiện.
- Lành thay! Lành thay! Hương còn ở đâu nữa?
- Ở những kinh sách mà con thường đọc.
- Lành thay! Lành thay.

* * *

Tuần lễ đầu, sau khi ở nhà tù về, sức khỏe thầy tôi bình thường. Tuần thứ hai sau đó, tình hình xấu đi trông thấy. Có một đêm, tôi đang ngủ rất say, chợt choàng tỉnh giấc thấy thầy tôi nằm còng queo trên mặt đất. Thì ra thầy tôi muốn đi vệ sinh, thấy tôi ngủ ngon, thương học trò suốt ngày hầu hạ, không nỡ đánh thức, nên cố tự mình xuống giường. Tôi vội vã thắp đèn, đỡ thầy lên. Nhưng từ phút ấy, thầy tôi không ngủ được nữa. Sáng ra nhìn vào cái chân gẫy thấy sưng húp. Tôi ra vườn chùa tìm lá náng, hơ nóng, chườm chỗ đau. Suốt ngày, thầy tôi nằm liệt trên giường, tay lần tràng hạt. Thầy chẳng kêu rên nhưng tôi biết thầy tôi rất đau. Có lúc, tôi thấy thầy nghiến răng lại, mồ hôi lấm tấm trên trán. Đến cả cháo, có lúc thầy tôi cũng bỏ. Tôi lo lắng vô cùng, nhưng không biết làm thế nào để cứu thầy tôi lúc này. Tôi chỉ biết chườm lá náng. Tôi bảo hay là đến nhờ cụ chánh, song thầy tôi cương quyết gạt đi. Buổi tối, tôi lên thượng điện thắp hương gõ mõ thỉnh chuông, cầu xin chư Phật độ trì cho thầy tôi qua cơn hoạn nạn. Cả buổi tối, tôi ngồi dựa cột ở thềm nhà tổ. Cố không khóc nhưng nước mắt cứ tự động ứa ra. Tôi cứ ngồi như vậy và ngủ thiếp đi lúc nào không hay.

Chợt trong cơn mê, tôi mường tượng như có bàn tay đặt trên vai mình hết sức nhẹ nhàng. Cảm giác bàn tay rất thân quen. Rồi mơ hồ tiếng thì thầm “Này, chú An!”. Tôi dụi mắt, tính dậy. Cứ tưởng là mơ, nhưng không phải... Trước mặt tôi, một bóng người cao lớn lom khom. Tôi sợ hãi định kêu lên, nhưng bàn tay đã bit miệng tôi lại. Rồi tiếng thì thầm cất lên :
- Tôi đây mà. Không nhận ra à. Sư huynh Khoan Độ đây mà.

Đến lúc ấy, tôi mới tình ngủ hẳn. Tôi ôm lấy sư bác, mừng rỡ :
- May quá! Lúc tối, em cứ cầu xin mãi. Mong bác trở về. Bác mà không về kịp thì em chẳng biết xoay xở ra sao. Sư bác vào buồng đi. Sư phụ chúng ta nguy khốn lắm rồi.
Tôi vội khêu cái bấc đèn liu riu lên một chút cho nó tỏ sáng hơn. Thầy tôi thấy sư Khoan Độ thì mừng ra mặt. Ông nắm lấy tay học trò :
- Ta mong con từng giây, từng phút. Dù thế nào, ta cũng tin tưởng rằng con sẽ về với ta.
- Con cũng thế. Thầy gặp nạn con không ở bên cạnh. Thảo nào, mấy hôm nay lòng con như lửa đốt. Sư huynh Vô Trần chẳng bằng lòng cho đi, nhưng con cương quyết cứ liều chết trở về.
Thầy tôi lại hỏi :
- Thế cháu Nguyệt... ra sao?
- Cô Nguyệt cũng nhớ thầy, nhớ chùa, nhớ chú An. Song sư huynh bảo Tây đồn đương dò hỏi về hai người. Sư huynh cấm tiệt không cho cả hai người sang bên này sông.

Có sư bác, lòng tôi vững tin hẳn lên. Sư bác xem chân thầy và nói :
- Vì ngã, khúc xương gãy trật ra. Để con nắn rồi bó lại. Khi nắn vô cùng đau, nhưng không nắn sẽ què hẳn. Tuy nhiên thầy không lo vì nghề bó xương gẫy là nghề gia truyền nhà con.

Tôi cũng nghe loáng thoáng rằng sư bác Khoan Độ xưa kia có lần đã bị cắt gân chân. Ông đã tự bó thuốc và đã lành lặn như người thường. Không biết đó là sự thật hay sự ngoa truyền. Sư Khoan Độ tiến hành chữa cho sư cụ Vô Úy ngay đêm hôm ấy. Bác bảo về lần này rất bất ngờ, bọn đồn Sọ chưa hề hay biết. Phải làm gấp vì chưa biết đến hôm sau sẽ ra sao. Sư bác nói nắn xương gẫy, cái đau sẽ như dùi khoan vào tim vào óc, thông thường phải trói người bệnh vào giường, sau mới nắn. Hơn nữa, trong trường hơp của thầy tôi, sư cụ không được kêu lên hoặc hét lên, để tránh đánh động xóm làng, tránh mối nghi ngờ của đồn Sọ. Thông thường, ông thầy thuốc phải khuyến khích bệnh nhân kêu thật to, hét thật to. Tiếng kêu thét giống như một liều thuốc tê. Thầy tôi bảo không cần phải trói Thầy tôi sẽ chịu đựng được, sẽ không kêu một tiếng nào. Tôi đứng bên cạnh khêu đèn tỏ thêm. Thầy tôi nằm sấp trên giường. Tôi đưa cái áo cũ cho thầy tôi cắn nhưng thầy gạt đi. Thầy tôi nhắm mắt lại rồi đưa cổ tay mình lên bịt lấy miệng. Sau đó, sư bác Khoan Độ nắm lấy chiếc chân gẫy của thầy mà kéo, mà co, mà nắn. Tôi biết lúc này thầy tôi niệm Phật. Tôi thấy mặt mũi thầy co dúm lại, thầy tôi vẫn trụ vững. Nhưng tình hình có vẻ khó khăn, tôi thấy sư bác lắc đầu và bảo :
- Thầy chịu thêm một chút nữa nhé... Để con nắn thật chỉnh... Chỉ một phút nữa thôi... nào nào...
Ôi chao! Một phút thật là dài. Sư bác toát mồ hôi, và cả thầy tôi cũng lấm tấm mồ hôi trên trán. Thầy tôi chắc không chịu nổi nữa, khi sư bác lại ra sức kéo co cái chân. Trời ơi! Thầy tôi sắp kêu lên mất. Tôi thấy thầy há miệng ra... Nhưng không phải là kêu. Thầy há miệng chỉ để đưa cổ tay vào mồm và nghiến chặt lại.
- Đã xong!

Sư Khoan Độ thở phào ngồi xuống cạnh tấm phản. Tôi cũng thở phào rồi lấy cái áo lau mồ hôi trán cho thầy. Còn thầy tôi thì gần như ngất xỉu. Thầy nhắm mắt, đầu gục xuống tấm phản, cái cổ tay bị răng bập vào ri rỉ máu. Sư Độ sai tôi ra vườn hái lá. Sư ra lệnh cho tôi giã lá thật nát. Giã làm sao để chày đâm xuống cối lại không phát ra tiếng động. Trong lúc tôi giã, tôi nghiền thì sư bác rắc một thứ thuốc bột đo đỏ lên chỗ gẫy, chỗ sưng. Chắc thứ bột đó là thứ bí truyền của sư bác.

Gà trong xóm gáy sáng thì bó xong, nẹp xong. Tôi đưa cho sư bác mấy củ khoai lang luộc ban chiều mà tôi bỏ bữa không ăn. Sư bác đút vào túi rồi lẻn lên tòa chính điện. Tôi biết ở dưới cái bệ thờ trong gian thâm cung lúc nào cũng tối đen như mực ấy có một hầm bí mật...

Không biết có đánh hơi thấy gì không mà sáng hôm sau quản Mật dẫn lũ lính batidăng xuất hiện ở chùa. Hắn cho lính đi ngó nghiêng khắp nơi rồi đến buồng sư cụ tôi. Hắn ăn nói ra vẻ nhân nghĩa :
- Cụ tôi bảo tôi ra thăm cụ. Thầy tôi nói mấy hôm nay ngườí nó nhọc nên chưa ra chùa xem cụ cần thứ thuốc thang gì.
- Cảm ơn cụ chánh và ông quản. Tôi cũng đã đỡ, chắc chỉ dăm bữa nửa tháng nữa là dậy được.
- Thế cụ có cần thuốc Tây không?
- Cảm ơn ông. Tôi chả dám phiền. Các cụ ta ngày xưa bị như tôi cũng chỉ dùng nắm lá là khỏi. Lá lẩu chẳng mất mấy tiền mua...
Quản Mật lại bắt nọn :
- Hôm qua con chó Lài nhà ông Hương Tê cạnh chùa sủa khỏe lắm, cụ có thấy ai lẻn vào chùa?
- Tôi nằm không ngủ cả đêm, song chẳng nghe thấy gì cả.

Quản Mật còn huyên thuyên một lúc nữa, chờ cho lũ quân sục sạo xong rút lui.

Tình hình có vẻ không ổn nên tối hôm ấy sư bác thì thầm với sư cụ tôi rất lâu. Tôi phải đứng ở sau chùa canh gác nghe ngóng tình hình. Lúc tôi trở về chỉ nghe được mấy câu sau cùng :
- Cô Nguyệt mong thầy giáo Hải lắm. Cô ấy nhắn chú Hải nên quyết đoán, ra ngay vùng tự do...
Sư bác quay sang tôi :
- Tôi phải đi ngay tối nay chú An ạ. Nhờ chú thay tôi chăm sóc cho thầy. Cô Nguyệt nhắn chú phải hầu hạ thầy cho chu đáo, học hành kinh kệ thật siêng năng.

Sư bác lạy thầy. Sư cụ của tôi chỉ “A di đà Phật” với gương mặt thản nhiên, tuy nhiên tôi nhìn thấy con mắt của thầy vô cùng trìu mến.


Chú thích:
 [1] Đơ Bê (Deuxième Bureau): Phòng nhì tình báo quân đội Pháp.
0
Chương 13: Sư khoan Độ
Hòa thượng Vô Úy là một ông già nhỏ thó, đầu nhẵn bóng, da đỏ hồng hào, long mày trắng toát. Hàm răng đen nhưng nhức, gần bảy chục tuổi rồi mà vẫn khoogn gẫy một chiếc răng nào. Ông cụ có gương mặt rất tươi. Trông thấy cụ là thấy nụ cười trên môi. Cụ thường nhai trầu bỏm bẻm suốt ngày. Hòa thượng rất nghiêm caarntrong mọi lúc. Đi đứng không bào giờ vội vàng. Lúc nào cũng khoan thai nhẹ nhàng. Có một bận, hai thầy trò từ ngoài về chùa gặp con mưa rào. An vội vã ôm đầu chạy như mà đuổi. Trong khi ấy sư cụ khoan thai từ tốn bước đi tưởng chừng như không có những hạt mưa to như đỏ nwuocs từ trời xuống. Hòa thượng bảo:
-         Ta cũng có thể chạy nhanh như con. Nhưng ta không làm vậy. Không bao giờ được nôn nóng, vội vàng. Mà vộ vàng đến Độ xộc xệch hốt hoảng lại càng không được. Người ta lúc nào cũng cần phải đàng hoàng gặp cảnh nào cũng không thay đổi.
Hòa thượng không mặc áo cánh. Sáng dậy là sư cụ khoác ngay lên trên người chiếc áo nâu dài bạc phếch rộng thùng thình. Gọi là áo dại nhưng thực ra chiếc áo chỉ dài đến đầu gối.
Có thể nói sư cụ Vô Úy lúc nào cũng đủng đỉnh, an nhàn, tự tại.
Trông thấy cụ là thấy sự thanh bình, hồn nhiên, vô sự. Cứ tưởng như đời cụ thật bẳng phẳng, chẳng hề sóng gió. Có thể nghĩ như là mặt nước hồ thu. Cho đến lúc được hầu hạ sư phụ trong những ngày ốm đâu hoạn nạn ấy, an mới biết những suy nghĩ từ trước của mình về thầy là khong đúng. Sư cụ nói ra mới biết, đời cụ chẳng bằng phẳng chút nào.
Sau hi từ biệt cha vào chùa, sư Vô Úy ở với sư vô chấp được bà năm, Vô Úy thưa với sư phụ mình rằng:
-         Con xin phép thầy được tu tập theo hạnh đầu đà, được đi đó đi đây, gặp các bậc thiện tri thức cho tầm mắt được mở rộng.
Được phép của thầy, sư Vô Úy khoác tay nải, chống gậy lên núi Yên Tử. Hòi ấy, chưa mấy người biết Yên Tử. Dó là vùng rừng núi hoang vu, ma thiêng nước Độc đầy thú dữ, ít người dám đặt chân tới. Chỉ riêng trong giới tu hành, người ta mới biết đó là ngọn núi thiêng, nơi phúc địa mà thời nhà Trần, vua Trần Nhân Tông đã tu ở đó.
Sư Vô Úy vác bị gậy đến gần chân núi thì ông dừng chân. Người dân nói phải vượt qua chín con suối nữa mới đến suối Giản Oan dưới chân núi Yên Tử. Vô Úy bèn tìm vào chùa Rồng – một ngôi chùa nhỏ, xin tà túc. Vùng Yên Tử có rất nhiều ngôi chùa nhỏ như vậy. Vô Úy lội theo một con suối toàn đá nhẵn thin, tẳng nào cũng to như cái thúng. Đi mọt quãng dài thì thấy cổng chùa ở lưng chừng núi. Qua cánh cổng gỗ lim thấy vườn chùa trồng toàn mít và cây mơ. Đang xuân, hoa mơ nở trắng xóa. Con chó vàng và một nhà sư lực lưỡng đang cởi trần chạy ra đón khách.
-         Nhà thầy đến đây có việc gì? – Sư cởi trần hỏi.
-         Thưa đạo hữu, tôi cũng là người tu hành. Tôi nghe sư phụ tôi nói: “người mới tu tìm đến chỗ tĩnh mà tu. Sau đó, lạ phải tìm chỗ Động mà tu”. Cho nên sau ba năm tu tại chùa, tôi xin người cho phép được vân du các nơi để học hỏi cho rộng đường tu.
Sư bác cởi trần nghe vậy liền cười hỉ hả rồi nói.
-         Phải đấy. Tôi cũng tu như chú vậy. Tôi tu hạnh đầu đà, lang thang khắp nơi. Năm ngoái tôi đi các chùa ở tỉnh Bắc Giang. Năm nay lại qua Hải Dương, thấy tình cảnh chùa này đặc biệt nên dừng chân lại ít tháng.
Nhà sư nói tình cảnh đặc biệt là như thế này. Chùa Rồng do mọt vị sư già trụ trì. Cụ đã ngoài chín mươi. Chả  biết pháp hiệu cụ là gì. Nhân dân thấy cụ điếc đặc nên gọi cụ là sư Điếc. Vị chùa phải lội suối mới vào được. Còn cụ sư Điếc thì ngày đêm không nói một câu, chỉ biết lần tràng hạt. Cho nên khách thập phương đến ngày càng thưa vắng. Chùa chỉ có sư điếc và một chú tiểu mười hai tuổi. Chẳng biết hai thầy trò sống như thế nào. Chỉ biết khi nhà sư cởi trần tức sư Huyền Không thương tình liền ở lại chùa Rồng sáu tháng liền. Ông trồng sắn, cấy lúa, nhờ thế hai thầy trò sư Điếc mới thoát khỏi chết đói. Sư Huyển Không hỏi Vô Úy:
-         Trông thầy lẻo khẻo như học trò. Liệu có biết làm ruộng không?
-         Thưa sư bác tôi biết.
-         Thế thì được. Người theo hạnh đầu đà phải biết làm đủ mọi việc. Lại còn phải biết ăn đói mặc rét, sống kham khổ thế nào cũng được. Có như thế mới có thể vân du tầm đạo.
Tối hôm ấy, tất cả mọi người ngủ trong căn nhà bếp của chùa. Ngọn lửa bếp bập bùng ở giữa nhà. Cụ sư Điếc ngồi dựa lưng vào tường, trên người choàng chiếc khăn nâu. Cụ sư Điếc ngồi dựa lưng vào tường, trên người choàng chiếc khăn màu nâu. Khuôn mặt vị sư già đã tiêu hết thịt. Trên mặt cụ chỉ còn hai con mắt sáng quắc biểu hiện sự sống. Đôi mắt ấy hau háu nhìn vào hai người. Sư Huyền Không nói:
-         Cụ không nghe thấy gì bằng tai. Cụ nghe ta nói bằng mắt. Nhìn mặt ta, trông thấy môi ta mấp máy, cụ hiểu ta nói gì.
Lúc này, mặt sư Huyền Không đối diện với vị sư già. Hai người nói gần như quát tháo. Họ nới chuyện bằng môi, bằng mắt, cả bằng tay nữa.
-         Đây là sư Vô Úy. Vô Úy. Thầy ấy muốn hành hương lên đỉnh Yên Tử.
-         Hả? Vô Úy hả? … tên thế là tốt. Lên đỉnh Yên Tử hả? Lại càng tốt… nhưng tốt nhất… là phải đi vòng thế này.
Cụ sư Điếc vừa nói vừa giơ tay lên vẽ mọt vòng tròn thật to chung quanh mình. Vô Úy không hiểu ý nghĩa câu nói. Sư Huyển Không phải giải thích cho rõ:
-         Cụ sư là người rất thâm sâu Phật pháp. Trước đây, gặp người nào muốn lên thăm viếng chốn tù hành của bậc Giác hoàng, sư cụ thường khuyên: “Muốn hành hương đi thăm một chốn linh thiêng, ta không nên đi đường thẳng mà phải đi đường vòng quanh. Ý nghĩa của hành hương là để biến đổi sự nhận biết tầm thường của thế gian. Đừng sợ gian khổ. Hành hương càng gian khổ càng tốt, ý nghĩa của hành hương là ý nghĩa của con người đi tìm đạo ở trần gian. Người đi đường thẳng ít tới được chốn thiêng. Đi đường vòng sẽ gặp nhiều nghịch cảnh. Hãy dùng nghịch cảnh để biến thành sức mạnh và thành đạt tinh thần”.
Ôi chao! Ý nghĩa một cuộc hành hương lại cao xa đến thế ư? Phải nói rằng, sư Vô Úy nghe câu nói của cụ sư Điếc đêm hôm ấy như bị một tiếng sét đánh vào tâm hồn mình. Và sau này phải trải qua nhiều chuyện, sư càng ngẫm nghĩ càng thấy đúng. Sư Vô Úy ở lại ba hôm cùng với sư Huyền Không và chú tiểu trồng cây nương sắn ở đằng sau chùa Rồng. Sư Huyền Không bảo để cuối năm quay trở lại thì sắn đã được dỡ. Vị sư bác hồn hậu nói rằng:
-         Tôi đã chuẩn bị thóc gạo đầy đủ để chú tiểu nuôi hòa thượng cho đến cuối năm. Theo đúng lời sư cụ dạy, tôi sẽ dẫn thầy đi đường vòng. Phải hơn một tháng mới sang Bắc Giang sau lưng Yên Tử, rồi từ đó ta lên đỉnh núi. Xong việc tôi sẽ dẫn thầy đến am cỏ của tôi. Nó ở đằng sau lưng Yên Tử. Đến đấy, thầy có thể ở lại tĩnh tu ít lâu. Mà muốn ở lại mãi cũng được. ở am của ta ra biển cũng gần, xuống đồng bằng cũng gần. Còn ta cuối năm sẽ quay trở lại đây cùng với cụ sư Điếc. Ta biết cụ là bậc Bồ tát. Ta muốn ở đến phút cuối cùng bên cạnh Bồ tát để được hưởng nguồn từ lực hộ trì của người.
-         Sư Vô Úy đi với sư Huyền Không về phía tây Yên Tử. Sư đến am cỏ của sư Huyền Không. Cản vật ở đây đã giữ chân người lại một thời gian dài. Tại đây sư Vô Úy đã thu nhận hai đệ tử. Đại đệ tử khoan hòa và nhị đệ tử khoan Độ.
*
*   *
Sư khoan Độ gắn bó với thiền sư Vô Úy trong một thời gian rất dài, cho nên xin có đôi lời về sư khoan Độ.
Quê của sư bác không phải ở làng sọ mà ở xa lắm. Đó là làng Sứa. Cái tên Sứa nghe đã mặn mòi vị biển. Tuy nhiên làng lại thuộc đồng bằng ở sát kề vùng đồi. Có lẽ ngày xưa, thời xa lắm rồi làng gần biển, về sau phù sa bồi đắp mãi, nên ngày nay muốn ra đến biển phải mất hai ngày đường.
Thưở nhỏ, Độ đã nổi tiếng ngỗ nghịch, là kẻ đứt dây trên trời rơi xuống. Người đen nhẻm, tóc rễ tre, mắt trắng dã, cao lớn, tay dài như tay vượn, da thịt rắn chắc tựa gỗ lim. Độ trái ngược hẳn với ông bố, ông cụ người nhỏ thó hiền hậu, nhân đức, làm nghề lang y được tiếng khen khắp vùng. Thực ra, cụ Chằn chỉ là lang vườn, thuở trẻ đi ở cho cụ Hạnh, một bậc túc nho rất thông y lý. Thấy Chằn điềm đạm hiền lành, cụ lang xem tướng biết là người có duyên với con dao cầu, liền truyền nghề cho. Ông Chằn không giỏi chữ nhưng thông tuệ các bài thuốc. Các phương pháp cầm tay chỉ việc của cụ lang Hạnh không ngờ đã tạo nên một ông lang vườn có chân tài. Ông lang Chằn không những nối được nghề của cụ lang Hạnh, mà còn phát triển nó lên. Có gì đâu, ông lang Chằn vốn là người trong dân gian, dã lăn lộn hòa đồng khapwsn ói kiếm sống trước khi đi ở cho cụ lang Hạnh, cho nên ngoài những bài thuốc thầy dạy, ông còn biết bài thuốc dân gian. Ông lang Chằn giỏi nhất chữa rắn cắn, nhất là trị thương và bó xương.
Anh chàng Độ càng lớn càng ngỗ nghịch. Lại quen giao du với bọn lêu lổng, hung đồ. Chỉ thích học võ, đánh quyền, đánh côn. Độ giỏi nhất ngón đánh chùy. Hai cục sắt hoặc hai mẩu gỗ lim nối với nhau bằng sợi xích sắt. Khi múa lên, nó kêu vù vù, khiến người ta tang đởm kinh hồn. Một bận đánh nhau với trai làng Thượng, một mình Độ sử dụng chùy đã gây thương tích và đánh tan tác cả một toán hơn hai chục chàng trai lực lưỡn. Sau trận hỗn chiến ấy, Độ vênh vào ra mặt. Trong làng xảy ra một số vụ trộm cắp, người ta nói cũng do dộ làm càn. Ông Chằn khuyên bảo bao nhiêu lần, song lời nói như nước đổ đầu vịt. Ông lang tức giận vô cùng. Một bận, ông gọi Độ lại bảo:
-         Mày có coi tao là bố mày không?
-         Thưa thầy con có bao giờ dám hỗn hào với thầy. Việc ngỗ nghịch con xin nhận. Còn việc trộm cắp con bị oan. Nếu thầy muốn dánh, con xin nằm xuống đây cho thầy đánh bao nhiêu cũng được.
Ông lang ngồi thừ trên giường bảo rằng:
-         Anh thì khỏe như vâm, còn tôi thì yếu đuối lạ già rồi. Làm sao đánh nổi anh. Đánh nửa chứng anh bỏ chạy, chỉ tổ làm tôi uất lên mà chết thôi. Nếu anh là đứa có hiếu, anh hãy tự trói mình vào cái cột kia tôi mới tin.
Thực ra, Độ là đứa rất có hiếu với cha. Mẹ chết ngay khi sinh Độ được vài ngày, nên anh hiểu công ơn người cha nuôi nấng mình lắm chứ. Độ không ngần ngừ liền tự trói mình vào cột. Người cha cẩn thận còn lấy thêm cái trạc buộc trâu buộc thêm cho thật chắc. Xong rồi, ông lặng lẽ xuống bếp, thu lu cái gì đó sau lưng. Ông tiến lại gần cái cột, chợt nước mắt ông trào ra, ông khóc ròng ròng, khóc như tầm như tã:
-         Con ơi là con. Cha làm thế này là bất đắc dĩ. Nhà ta mấy đời lương thiện, tại sao con lại là thằng nghịch tử. Thôi thì cha đành vậy. Cha làm thế này con sẽ oán cha. Nhưng dù sao thế vẫn còn hơn. Làm Độc ác thế này nhưng cha cứu con đấy…
Nói xong, ông lang đưa tay ra trước mặt. Hóa ra là con dao phay đã mài sáng loáng. Người cha vẫn nức nở, người con thì kêu toáng lên:
-         Giời ơi! Cha điên rồi hay sao? Cha định giết con hay sao?
-         Tao không giết, tao chỉ cứu mày.
-         Con van cha, con lạy cha. Hãy buông dao xuống. ối làng xóm ơi cứu tôi với. Cha tôi điên rồi.
Ông lang vẫn khóc, sau đó ngồi xuống, vén hai ống quần nâu cảu Độ lên. Tiếp đó ông hành hình đứa con. Vừa làm vừa lẩm bẩm:
-         Độ ơi! Cha đứt từng khúc ruột đây. Con đừng oán cha nhé.
Độ kêu thét lên vang trời. Ông lang hiền từ đã cắt gân ở hai gót chân chàng trai. Ông muốn sửa lại cái tính hung dữ của người con bằng cách biến anh thành người tan tật, thành một thằng què. Làm xong ông ngã quay ra đất. Trong khi đó Độ vẫn kêu váng làng nước. Khi bà con trong làng Sứa tới nơi thì ông lang Chằn nằm hôn mê bất tỉnh, tay còn cầm con dao  phay sáng loáng. Còn Độ thì bị trói chặt vào cột, đứng trên vũng máu. Người ta vội cấp cứu cho cả hai cha con.
Sau chuyện ấy, người con ngỗ ngược bỏ làng đi biệt tích.  Anh như con thú hoan, thầy mình sắp chết đã bỏ baayf đàn tìm vào rừng sâu, tìm nơi vắng vẻ để chết một cách bình thản với niềm uất hận và lòng kiêu hãnh vô bờ chăng? Không phải vậy. Ông lang Chằn không thể ngờ người con bất trị ấy lại có một bộ óc rất sáng láng. Ông không thể ngờ rằng, lúc Độ còn bé, ông vẫn cõng con vào rừng, khi đi hái thuốc, và những chiếc lá rừng hiếm hoi kia không những không bị quên đi mà lại hằn sâu vào trong trí nhớ cậu bé. Ông cũng không ngờ rằng thằng con tưởng như chỉ biết lêu lổng kia lại có thể thuộc lòng nhiều bài thuốc và cách chữa bệnh của ông. Hóa ra, nó vẫn giống cha nó. Đúng là Độ đã lê lết bò vào rừng. Nó đã mất bao công sức mới bò được vào nơi có những chiếc là thần diệu. Nó đã bò vào rừng để tìm đường sống chứ không phải tìm chết. Nó đã biến mất một tháng ròng. Không biết trong những ngày ấy nó ăn bằng gì, sống như thế nào, chữa bệnh cách nào. Chỉ biết rằng, khi trở vè Độ đã lành lặn, tuy chân còn hơi tập tễnh và người vêu vao gầy còm.
Suốt một tháng trời bằn bặt tin con, ông lang Chằn tưởng Độ đã chết. Ông âu sầu khóc lóc, người rạc như con ve phần thì lo lắng, phần thì ân hận.
Từ khi ấy, Độ trở nên lầm lỳ, ít khi nói, hay có nói thì ăn nói cụt lủn. Đôi mắt trắng của anh thêm sáng quắc, nó đầy uy lực khiến chẳng ai dám nhìn vào. Độ thường bỏ nhà ra đi, có khi hàng tháng mới trở về. Ông lang Chằn lúc này hầu như không dám nói gì với anh nữa, không dám cất lời dạy dỗ, mắng chửi, cũng không dám khuyên lơn hoặc đuổi đi. Ông đã mắc lỗi với con rồi. Ông đành nhắm mắt buông xuôi, mặc ông trời dun dủi ra sao thì ra.
Độ như con thú hoang. Người cha xa anh đã đành, dân làng chả ai dám dây với anh, ngay cả bọn trai tráng lêu lổng bây giờ cũng xa lánh anh, bởi vì anh bỗng trở nên kẻ luôn luôn nổi nóng. Nổi nóng vì giận dữ với cuộc đời. Đến như cha anh, người ruột thịt gần nhất còn đối xử tàn nhẫn với anh như vậy, thì hỏi còn có thể tin cậy ai được nữa. Từ đấy, anh sống cô Độc. Chợt xuất hiện, chợt biến mất. Chẳng ai biết anh sống thế nào, sống ở đâu. Có lúc người ta gặp anh ở hậu cung chùa làng, có lúc gặp ở tòa miếu hoang nơi người ta đồn có loài rắn Độc trú ngụ, thi thoảng bắt gặp bóng anh trên đồi lau ở cánh đồng xa.
Tối hôm ấy, Độ ngủ ở cầu Si. Cầu Si là ngôi nhà giữa đồng, nơi nghỉ chân ban trưa của nhà nông. Tên là Si vì có cây si cổ thụ rất sum suê. Còn Cầu có lẽ vị thời xưa ở đây có một con lạch giữa đồng phải bắc cầu ngang. “Thượng gia hạ kiểu” là kiểu cầu có mái che vốn phổ biến ở thôn quê từ thời nhà Trần. Sau này vật đổi sao dời, lạch nước đã bị lấp nhưng cầu vẫn còn. Rồi cái cầu sụp đổ, người ta thay nó bằng một ngôi nhà nhưng vẫn gọi là cầu.
Tối hôm ấy, Độ nằm ngủ trên cái quá giang đầu hồi cầu Si. Ngày xưa, làng Sứa chữa đình. Một số cây gỗ cũ mục đầu, cắt đoạnmục đi thì ngắn không dùng làm đình được, nên dân làng đem ra làm câu. Gỗ đình to lớn nhưng xẻ ra hay đẽo đi cho thanh mảng đẹp đẽ thì quá tốn công, cho nên người ta cứ để thô ráp to bè như cũ đem ra làm cầu. Do thế bốn cái quá giang ở đây khá to rộng, người nằm trên đó cũng được, không sợ chênh vênh.
Cả làng Sứa, chẳng ai có thể ngờ rằng Độ lại tìm nơi bất ngờ này làm nơi trú ẩn của mình. Hơn nữa, ở đây ngoài chỗ quá giang, Độ còn một chỗ ẩn náu khác, đó là chặc ba gần ngọn si. Chỗ này rễ si ken dày, lá si rậm rạp, Độ đem rơm lên đấy làm thành cái ổ. ẩn náu nơi đây thật hoàn toàn kín đáo.
Tối hôm ấy không trăng, gió thu se lạnh do đó Độ không chọn ngọn si mà chọn cây quá giang làm chỗ ngả lưng. Độ định bụng chợp mắt đến quá nửa đêm mới thức giấc mò vào làng. Kiếp sống gần như chồn cáo nên giác quan của anh rất nhạy bén. Anh có thể đặt mình xuống là ngủ ngay, và đang ngủ chỉ một tiếng Động nhẹ anh cũng choàng tỉnh lập tức. Gió trên cánh đồng mênh mông thổi vào cây si làm những chiếc lá bần bật rung lên xào xạc, rồi thổi vào căn nhà trống vù vù. Trên cái nền âm thanh đều đều ấy, chợt có tiếng dẫm lên lá. Tiếng Động rất nhẹ hầu như mơ hồ ấy cũng đủ làm cho Độ chú ý. Không phải lũ chuột hay chạy ra ruộng lúa, cũng không phải loài cáo ăn sương. Tiếng những loài thú nhỏ ấy Độ phân biệt được ngay. Hay là bước chân của những người tuần phiên đi canh đồng. Cũng không phải. Những ông tuần phiên có bao giờ ngậm miệng mà đi đâu. Họ đi đến đâu là có tiếng thì thầm nhỏ to kèm theo. Phải, đúng là tiếng chân người. Chỉ có một người, bước đi chập choạng. Tiếng chân ấy đang tiến gần về phía cầu, nơi Độ đang ẩn náu. Lạ nhỉ, khuy khoắt thế này, có kẻ Động rồ nào lại ra đây một mình. Tiếng chân nhỏ dần. Có tiếng ậm ạch của một đứa trẻ, rồi tiếng người thều thào dỗ dành: “Nín đi. Nín đi”. Thì ra một người đàn bà ẵm con đang đi vào cầu Si. Độ từ trên cao nhìn xuống, từ chỗ tối sậm của góc mái nhìn ra khoảng giữa căn nhà trống gió. Dù đêm không trăng nhưng trời vẫn còn nhờ nhờ đủ để Độ nhận ra bóng một người đàn bà tay bồng con, toàn thân chui trong chiếc áo tơi là. Chiếc câu nghỉ ba gian, hai gian để trống, một gian có tường che. Người đàn bà chúi vào góc có tường che ấy, ngay phía dưới chỗ Độ trú ẩn. Lúc này Độ không nhìn rõ hai mẹ con người đó nữa, nhưng qua tiếng Động và tiếng nói yếu ớt của người đàn bà thỉnh thoảng cất lên, Độ cũng biết chị ta đang làm gì. Tiếng đứa trẻ khóc rên rỉ như tiếng kêu yếu ớt của một con mèo ốm. “Nín đi! Nín đi!”. Người mẹ dỗ dành thế nào đứa con vẫn khóc. Nó khóc ngằn ngặt, có lúc chẳng ra hơi. Tiếng người mẹ trong nước mắt. “Có còn gì nữa đâu mà con đòi”. Chắc là người mẹ đang vạch vú cho con bú. Tiếng hức hức mừng rỡ của đứa trẻ đang nhay nhá cố vét cạn dòng nước sống. “Ôi! Con ơi. Rát đến cả lòng ruột đây này. Đấy, có còn gì đâu”. Bầu sữa như cái giếng đã bị vét cạn đến đấy chẳng còn một giót. Đứa trẻ cố mà chẳng được. Nó đành buông và lại khóc ngằn ngặt. Mới đầu còn có tiếng oe oe. Sau đó khóc khan. Độ cứ tưởng tượng ra thằng bé đang ưỡn ra, mồm đang há hốc, toàn thân tím ngắt. Người mẹ lúc ấy cũng khóc theo. Độ không đành lòng, vội tụt từ cái quá giang xuống. Thấy một bóng người lững thững đứng phịch bên cạnh, người đàn bà sợ hãi quỳ xuống lạy như tế sao:
-         Con lạy các ông. Đừng đuổi con nữa. Con đói khát, con ăn mày ăn nhặt, chứ đâu có ăn trộm ăn cắp. Con kiệt sức rồi, không lê chân được nữa. Xin cho mẹ con con trú ngụ qua một đêm sáng mai con xin đi ngay… xin các ông dón tay làm phúc.
Thì ra là mẹ con người ăn mày này đã đến trú ngụ ở cầu Đông, ở cánh đồng Mả Trâu đã bị tuần phiên làng bên đuổi đi. Người mẹ ôm con dặt dẹo suốt cả buổi tối mới đến được đây. Người đàn bà tưởng Độ là tuần phiên làng Sứa lại đến đuổi họ. Độ ôn tồn:
-         Đừng sợ, tôi không phải tuần phiên đâu.
-         Ông là ai?
-         Cũng như chị thôi…
-         Đừng nói dối mẹ con tôi mà phải tội.
-         Thật đấy. Tôi cũng gần như kẻ ăn mày.
Nói xong, Độ cười to. Cái cười sảng khoái hồn nhiên. Cái cười có âm điệu, tín hiệu riêng của nó khiến người nghe nhận ra sự chất phác hiền lành tuy có chút ngang tàng của Độ. Nghe tiếng cười ấy, người đàn bà yên lòng ngay nhưng còn bỡ ngỡ. Độ liền hỏi sau khi dứt tiếng cười:
-         Đói phải không? Mẹ con đói quá phải không?
-         Thưa vâng. Hai hôm nay không có miếng gì vào bụng.
Độ sốt sắng nói như đinh đóng cột:
-         Được, cứ chờ tôi ở đây một lát. Tôi đi kiếm cái gì về cho mà ăn.
Người đàn ông nói xong vội bước ra khỏi cầu Si, rồi mất hút trong bóng đêm. Người đàn bà nhìn ra cánh đồng mênh mông tối tăm nhờ sương. Chị ta ôm chặt con vào lòng. Đứa bé qua cơn khóc lóc, lả đi trong giấc ngủ chập chờn.
Người đàn bà, như tỉnh cơn mê. Cái đói không nhắc đến thì thôi, nhưng khi được Độ gọi tên, nó liền xuất hiện ngay trong tâm trí người đàn bà. Ruột gan đang ngủ yên bỗng dưng thức dậy. Mà chẳng phải chỉ riêng ruột gan hình như tất cả các tế bào trong cơ thể đều giật mình tỉnh giấc. Sự đòi hỏi cấp thiết của sự sống lúc mới thức dậy làm chị nôn nao đau đớn. Ruột gan như lũ rắn quằn quại. Đau quá rồi hóa ra mụ mị. Cơ thể thức dậy, thèm khát rồi chẳng được đền đáp, nó lặng lẽ sụp đổ. Không còn sức để mà cựa quậy nữa. Ngọn lửa đèn lúc nãy còn thoi thóp nhấp nhô, lúc này dầu đã cạn, nó đang lụi dần chỉ còn một chấm đỏ liu riu. Người đàn bà từ mụ mị đi sang đờ đẫn. Đứa trẻ ọ ẹ cựa. Tay chị cũng không co lại được để ôm con. Chị muốn dỗ nó nhưng môi chị ta không phát ra thành tiếng. Trong tâm tưởng nghe như giọng của mẹ chị ngày xưa vọng lại để dỗ dành. “ngủ đi con. Ngủ say cho thoát khỏi cực nhọc. Ngủ say cho thoát khỏi nợ trần gian”. Và chị đã trôi trên con thuyền bồng bềnh dòng sông sương khói mênh mông. Chỉ một chút xíu nữa thôi thì chắc thuyền sẽ trôi vào xứ mịt mù và chẳng bao giờ quay trở lại. Chị đã cảm thấy hơi lạnh dần ngấm vào xương tủy. May thay chính lúc ấy chị bỗng thấy hơi ấm. Sương trắng hồng lên. Trong sương hồng hiện ra đốm lửa. Rồi đốm lửa cứ to dần, to dần. Nó đuổi không khí lạnh ra khỏi cơ thể. Chị thở dài một cái đôi mi mắt nặng trĩu hé mở. Lúc đó chị mới nhận ra một người trai tráng ngồi bên, và một đống lửa tí tách cũng ở bên…
Độ đã vào làng ăn cắp được một nồi cơm, một niêu cá kho đem về cầu Si cho mẹ con chị ăn mày. Song khi về tới nơi, Độ thấy mẹ con chị đã lả đi sắp chết. Độ vội vàng đốt một đống lửa hơ tay, hơ chân cho chị ta, rồi giật tóc lay gọi. Chị ăn mày tỉnh lại nhưng cổ họng cứ nghẹn lại không tự ăn cơm được nữa. Độ phải nhai cơm, nhai cá nát ra thành từng miếng rồi mớm cho chị như chim mẹ mớm mồi. Mớm mãi mới được lưng bát cơm. Cũng nhờ chút ngũ cốc ấy, chị ăn mày mới sống lại. Tiếc thay cứu được mẹ nhưng chẳng cứu được con.
Khi phía đằng đông, trời bắt đầu hửng thì Độ đã vùi xong thây đứa trẻ ở mảnh ruộng gần đấy. Anh quay lại cầu Si, cõng người đàn bà trên lưng đi về phía đồi lau.
*
*      *
ở phía trong đồi lau, gần chân đồi, cụ Chằn có một vạt ruộng thường bỏ hoang. Trước đây, cụ Chằn trồng cây thuốc, sau thấy đất xấu cây khó mọc nên sai Độ trồng chuối. Lúc bỏ nhà đi lang thang, Độ nghĩ con cáo cũng phải có cái hang riêng của mình, nên đã dựng một cái lều ở đây. Thi thoảng, thấy cần nghỉ ngơi, Độ lại chui về trong lều ngủ vùi, có khi ngủ một ngày một đêm mới dậy.
Cái lều nằm trong vườn chuối. Không có cột, chỉ có hai vì kèo cắm thẳng xuống đất. Ba phía lợp tranh kín đáo. Phía cửa đầu hồi buộc những túm cỏ tranh dài thong xuống đất như kiểu mành trúc. Ra vào vén sang hai bên, để rồi sau đó tranh lại rủ xuống làm rèm che. Trong lều trải phên nứa, mùa rét trải ổ rơm thật dày.
Độ đặt người đàn bà trên cái ổ rơm thơm tho ấy. Tên chị ta là Khoai. Bây giờ Độ mới có dịp ngắm Khoai kỹ lưỡng. Ban đêm, anh cứ tưởng cô ta đã lớn tuổi. Bây giờ mới rõ cô ta chỉ xấp xỉ tuổi hai mươi như anh. Sự đói khát lâu ngày làm Khoai vêu vao. Tuy nhiên vì xương nhỏ nên gò má không bị nhô ra. Long mày không rậm không thưa. Cái đói không làm phai nhạt đi màu đen nháy của nó. Chỉ có hai hố mắt là hiện ra rõ nhất cái đói làm nó sâu thăm thẳm. Nhìn vào đó, thấy buồn lạ lung. Đôi môi kia chắc khi trước hồng đỏ và rất duyên, nhưng lúc này bệch ra trắng nhợt. Đêm hôm qua, lúc khẩn cấp cứu người, Độ phải mớm cho đôi môi ấy, khi đó anh chẳng nghĩ gì hết. Nhưng lúc này nhìn vào cặp môi ấy anh mới ngạc nhiên vì sự tự nhiên của mình. Tưởng là mớm cho một bà nạ dòng, ai ngờ người được mớm ấy là một cô gái trẻ. Bất giác, môi anh nở một nụ cười. Cô ta ngủ đã lâu lắm rồi, nhưng vẫn mê mệt không thức dậy. Sao cô ta cứ ngủ mãi thế nhỉ, liệu có hề gì không. Độ thầm nghĩ, nhưng nhìn ngực cô ta cứ phập phồng đều đặn, anh lại yên tâm. Độ cứ ngồi ngắm người đàn bà gầy gò ấy mãi mà không chán mắt. Từ bé đến lớn chưa bao giờ anh ngồi cạnh và gần một người đàn thế này. Ngay cả người đàn bà đầu tiên trong cuộc đời con người, tức là người mẹ đẻ ra mình, anh cũng không được hưởng hơi ấm, sự âu yếm, bởi vì đẻ anh ra được vài ngày thì mẹ đã chết. Từ đó, anh sống với cha. Người cha mặc cho anh sống như cỏ dại. Rồi tiếp theo đó là sống với lũ bạn trai, với những cuộc gây gổ, với đời sống lang thang như con thú hoang. Còn lúc này, trước mắt anh là người con gái bị đói khổ làm cho tàn úa đi, nhưng dù sao đó cũng là người đàn bà đầu tiên mà anh được ngồi bên cạnh. Người đàn bà, dù hoàn cảnh làm cho xấu xí đi, vẫn toát ra được sự mềm mại, sự yếu đuối, sự dịu dàng, sự an bình, sự hấp dẫn khó tả mà Độ chưa bao giờ biết. Có thể nói, đó là sự khao khát vẫn ngủ lịm trong anh từ lúc nảo lúc nòa, nay bỗng u ơ tỉnh dậy.
Độ vẫn đăm đăm nhìn cô Khoai. Trong tia nhìn của anh có những ao ước rất nhỏ bé, rất lương thiện tốt lành dấy lên. Người ta bảo tư tưởng, ước vọng. Trong ao ước, Độ muốn cô ta tỉnh dậy, khỏe mạnh. Tài tình thật. Độ vừa mới cầu mong như vậy, thì đôi mắt người đàn bà từ từ hé mở.
-         Tôi ở đâu thế này? – Chị ta ngạc nhiên hỏi.
-         Mà thằng cu của tôi đâu rồi?
Chị Khoai cổ nhòm ngồi dậy, nhưng không đủ sức lại nằm vật xuống. Chị ta có lẽ đã nhớ một chút gì đó; Độ thấy đôi lông mày của Khoai hơi nhíu lại, và có hai giọt nước mắt từ từ bò trên gò má. Hình như ký ức đêm qua đã trở về đầu óc. Chị lấy hai bàn tay ôm mặt. Chị ta khóc không to mà thút thít. Độ nhìn người đàn bà, lặng yên một cách vụng về, anh chẳng biết an ủi cô ta thế nào. Lát sau, anh sực nhớ ra:
-         Ăn cháo nhé. Tôi nấu cháo từ sớm. Để đun lại cho nóng, ăn vào mới khỏe.
Độ chưa chắm sóc ai bao giờ và Độ cũng không ngờ mình lại có thể chăm sóc một người ốm khéo léo đến thế. Độ cũng phát hiện ra một điều rất lạ: khi chăm sóc người khác, bản thân người làm việc ấy cũng vui vui trong lòng. Sau cái đêm ở cầu Si, cô Khoai tỉnh lại nhưng cô đã ở trong tình thế kiệt quện. Sự đói khát, sự đau thương đã ở mức đỉnh điểm. Khi lê lết đến cầu Si, Khoai đã dùng hết sức lực của mình. Kể ra đến được đó cũng là sự lạ. Đáng lẽ ra mẹ con chị đã chết ở giữa đồng. Chẳng biết trời đất dun dủi ra sao chị mới đến được đấy, gặp được Độ và sau khi gặp Độ, nếu anh không tận tụy chăm sóc thì dù tỉnh lại, chị vẫn không thoát khỏi tay thần chết.
Độ vào làng ăn cắp rổ trứng gà, vào đồi cỏ tranh đánh bẫy gà gô. Độ bẻ trộm ngô, đào trộm Khoai, mò mẫm đánh lươn ban đêm… làm tất cả để cứu sống người đàn bà không quen biết, không máu mủ họ hàng. Cái lúc cõng cô trên lưng, cô còn hơi tỉnh; Độ hỏi: “tên cô là gì?” Cô ta trả lời: “Khoai”. Cô chỉ nói một tiếng ấy thôi. Sau đó, hỏi thêm, nhưng cô ta im lìm chẳng nói được gì nữa. “Thật khỉ! Ai bắt mà mình chịu mang cái vạ này vào thân cơ chứ”. Bụng nghĩ thế nhưng Độ không đừng được, anh vẫn làm mọi thứ cho người đàn bà định mệnh, bỗng dưng gắn vào đời mình.
Người đàn bà tỉnh dần. Cô ăn được một bát cháo rồi hai bát cháo, mọt bát cơm rồi hai bát cơm. Da thịt cô dần trở lại. Cô tập đứng lên, đi một bước rồi hai bước, ba bước. Cảm giác của một người sáng tạo thấy tác phẩm của mình thành xương thành thịt. Cảm giác của người mẹ đang tập cho đứa bé con mình chập chững đi từng bước. Và ai cũng biết, tên của cảm giác ấy người đời vẫn gọi là hạnh phúc.
Chị Khoai gần như trở lại bình thường. Một hôm trời nắng, Độ đi rừng bắt được con nhím. Anh hí hửng đem về, lòng vui mừng nghĩ tới một bát canh thịt nhím ngọt lừ, một nồi thịt nhím kho mặn ăn dần. Anh vạch đám cỏ tranh định khoe với Khoai, nhưng căn lều bỗng trống trơn chả thấy bóng cô gái. Anh tưởng cô đi đâu gần liền ngồi trên đống lá chuối khô chờ. Chờ mãi không thấy tăm hơi. Chờ rất lâu, dễ chừng đến hai tiếng đồng hồ. Thế là đầu óc anh quay cuồng. Độ bắt đầu nghi ngờ: Thế đấy. Người là thế đấy. Mình nhặt cô ta về khi đó cô ta là cái xác chết… còn bây giờ đã trơn lông đỏ da… cô ta bỏ đi, chẳng thèm nói nửa lời… người như thế mà bạc thế sao… anh bực mình đứng dậy đá vào con nhím chúi trong cái rọ. Đá lần thứ nhất không sao, cái rọ lăn đi một vòng. Đá lần thứ hai anh bỗng kêu lên vì con nhím xù lông. Cái chân buốt nhói. Cái buốt tưởng như đâm vào tim làm cho anh tỉnh khỏi cơn nóng giận ừ, mà sao mình lại cáu. Cô ta phải ra đi là lẽ tự nhiên. Bởi vì Độ với cô ta có dính líu gì đâu. Chẳng qua chỉ là gặp gỡ giữa đường. Thấy người hoạn nạn thì thương. Mẹ cha cô ra sao? Nào Độ có biết. Con người ta phải biết trọng nghĩa khinh tài, làm ơn xong, phải biết quên phắt ngay sự ra ơn của mình… một tay giang hồ già dạy Độ chơi ngón thiết lĩnh trước khi chết đã nói với Độ như vậy. Nghĩ miên man một lúc Độ thấy thảnh thơi đầu óc hơn. Tuy nhiên, anh vẫn thấy buồn, một cái buồn tiếc nuối như vừa bị mất một cái gì đó mơ hồ nhưng rất đẹp. Cùng lúc ấy, một bóng người từ trong bụi lau đi ra. Người ấy mặc một chiếc quần lửng, một cái áo cánh rộng. Một người đàn bà tóc bỏ xõa sau lưng, xách một cái nồi trên tay, đầu hơi cúi xuống. Người ấy chưa nhìn thấy Độ vì những bụi chuối che lấp. Khi chị ta ngẩng đầu lên, Độ mới nhận ra Khoai. Thì ra cô ta đi tắm gội. Ôi chao! Một con người hoàn toàn khác hiện ra trước mặt anh. Trong lúc ốm, mặt cô ta nhem nhuốc, mãi tóc rối bù, bộ quần áo vá đùm và đụp, rách tơi tả. Còn lúc này, tóc cô ta đen mượt ở sau lưng, mặt tròn trịa hồng đao, đôi chân từ cái quần lửng phô ra trắng như ngó cần. Khoai mặc quần áo của anh, bộ quần áo mới nhất mà anh vẫn để trong cái tay nải dắt trên mái lều. Rộng quá, cái áo thùng thình. Dài ngộ. Nhưng ngồ ngộ và thùng thình mà vẫn đẹp trong con mắt của Độ. Anh từ sau bụi chuối bươc ra. Cô gái trông thấy anh liền dừng bước.có vẻ ngượng. Cô lí nhí:
-         Tôi đi tắm. Mang cái nồi ra suối đun nước. Quần áo của tôi rách quá, bẩn quá. Phải vứt đi. Tôi mặc quần áo của anh.
-         Cô cứ mặc. Chả sao đâu.
Thấy Độ cứ nhìn chằm chằm, cô ửng má hỏi:
-         Sao anh cứ nhìn tôi thế?
-         Trông cô lạ quá.
-         Sao
-         Lột xác.
Phải dùng từ lột xác mới đúng. Khi cứu giúp Khoai, Độ không nghĩ rằng mình đã cứu được một người đàn bà đẹp như thế kia. Lúc đó cô ta nhem nhuốc, quần áo như tổ đỉa, chắc trong đó phải nhung nhúc rận, rồi còn hôi hám nữa chứ. Người cô ta phát ra một mùi khăn khẳn như cóc chết. Đến nỗi cứ vào trong lều một lúc là Độ vội nhoài ra ngoài ngay. Đêm đêm, Độ phải ngủ ngoài trời trên ổ lá chuối khô. Anh vốn ưa sự thoáng đãng, thơm tho cảu đồng ruộng cây cỏ. Chẳng lẽ nước suối lại thần diệu thế sao. Nó là thứ nước thần của chuyện cổ tích đã biến một kẻ ăn mày xấu xí thành một nàng tiên. À, tay cô vẫn xách cái nồi. Không phải phép thần. Chắc Khoai đã vào rừng tìm lá thơm rồi bắc ba hòn đá đun lên. Hóa ra nước lá rừng đã lột xác cho Khoai. Cũng có thể những ổ trứng gà mà Độ đã ăn cắp, những con gà gô bẫy trong rừng, những con tôm, con tép, con cua mò dưới ruộng lên, đã làm thay da đổi thịt cho Khoai từ lâu, nhưng cái đẹp còn ẩn giấu dưới lớp bùn đen, dưới manh áo tả tơi, dưới làn không khí hôi hám nên Độ chẳng nhận ra thôi. Cũng có thể sự bẩn thỉu xấu xí ấy là cái vỏ bọc che chở cho cô khỏi những tai họa trong chuỗi ngày lưu lạc. Cũng có thể gian truân đã qua, an bình đã tói nên Khoai mới từ cái kén chui ra hiện nguyên hình là con bướm vàng xinh xắn. Độ đứng cạnh Khoai ngạc nhiên vì từ người cô tỏa ra một mùi hương thật dễ chiu. Không phải mùi lá bưởi, lá hương nhu, lá sả ở thôn quê mà là một thứ mùi ngai ngái thơm dìu dịu của những thứ lá rừng ta chẳng biết tên…
Lúc này, Độ mới chú ý tay Khoai ngoài cái nồi, còn có mấy cành củi khô và một túm bồ kết. Hỏi để làm gì, cô trả lời:
-         ở bìa rừng có cây bồ kết, nhiều gai quá nên tôi chỉ chọc được chùm bồ kết này thôi.
-         Để gội đầu phải không?
-         Không!
Nói xong Khoai đi thẳng đến lều, kéo cái ổ rơm ra, và bảo:
-         Anh ra đồng kiếm ít rạ mới người ta phơi trên ruộng đem về đây.
Lúc Độ mang rạ về, đã thấy Khoai đốt cái ổ rơm cũ. Làm xong cô nhóm củi đốt bồ kết trong lều. Cô giải thích cho Độ.
-         ở quê tôi vẫn làm thế. Mỗi khi có người ốm, người chết xong, người ta vẫn đốt bồ kết. Bảo rằng để khử tà, trừ Độc.
À, té ra Khoai muốn làm mới tất cả. Người phải tắm gội trút bỏ hết cái cũ. Căn lều cũng phải được tắm gội. Người được tắm bằng nước  thơm tho tinh khiết. Căn lều thì được tắm bằng khói thơm khử tà. Khói bồ kết bốc ra ngan ngát, hăng hắc. Một lần nữa, Độ nhìn Khoai ngạc nhiên. Cô gái kỳ lạ này đã nghĩ ra những điều mà anh không bao giờ nghĩ tới. Hai người hì hục làm hết chiều căn lều mới được tinh tươm. Họ ăn một bữa chiều thật ngon. Chỉ có sắn luộc và bát canh thịt nhím. Bàn tay Khoai nấu rất khéo. Sắn thì khô khén và nở bung ra. Canh thịt vừa vặn không mặn chát như Độ nấu. Anh gật gù bảo ngon hơn là vàng.
Đêm hôm ấy, gió bắc đầu mùa thổi về, đem theo cái rét se se cùng những hạt mưa phùn. Ông trời đã đuổi Độ vào lều, không cho phép anh ngủ trên ổ chuối khô ngoài vườn chuối nữa. Chẳng biết vì không quen hay một lý do nào khác mà anh cứ ngồi so ro ở một góc lều. Khoai cũng nằm im quay mặt vào vách. Độ nghĩ vẩn vơ. Đúng là chẳng còn cái mùi ốm đau của những hôm trước. Khói bồ kết đã xông hết tà khí. Hình như nó còn ám đọng trong những cuộng cỏ gianh trên mái nên thỉnh thoảng lại lãng đãng tỏa ra một mùi thơm ngai ngái. Xen lẫn còn có cả mùi rạ rơm khô mà ban chiều Độ tha về làm ổ mới. Độ ngồi thu lu như vậy đã lâu lắm. Có tiếng cô Khoai hỏi:
-         Anh vẫn thức đấy à!
-         Làm sao ấy. Mắt nó cứ trong ra.
-         Em cũng vậy. Chẳng thấy buồn ngủ tẹo nào.
-         Ngồi thế có mỏi không? Hay là cứ nằm xuống, rộng lắm mà.
Độ chần chừ mãi mới bò ra, nằm xuống ổ rơm, nhwgn không dám nằm sát vào Khoai. Một lúc sau, cô lại hỏi:
-         Sao mà run thế? Anh rét à?
-         ừ
-         Nằm gần lại tí nữa. Để em trùm rơm lên người cho nhé. Thế nào? Đã ấm chưa?
-         Rồi.
-         Rồi mà vẫn run bần bật thế này. Hai lưng sát vào nhau chân co lại thì ấm hơn.
-         Tôi sợ lắm.
-         Sợ là thế nào. Đừng có sợ. Thế nào đã hết run chưa?
Khoai choàng tay ôm đọ vào thì thào:
-         Anh đã cứu em. Bây giờ em tứ cố vô thân. Chồng chết. Con chết. Em chả theo mình thì biết theo ai. Em xin mình cho em nương dựa vào mình.
-         Anh cũng muốn nương dựa vào em.
Cái đêm ân nghĩa ấy thật mặn nồng. Thân xác họ đã thề thốt với nhau những lời nặng tình nhất. Họ chẳng nói lời thế non hẹn biển, nhưng họ biết rằng từ phút ấy, đời họ gắn chặt với nhau. Họa chăng cái chết mới chia rẽ nổi. Đêm hôm ấy, họ tier tê với nhau nhiều chuyện lắm. Khoai hỏi Độ:
-         Những quả trứng gà ấy anh đem về nuôi em, ai cho anh vậy?
-         À… à…
-         Cả những bát gạo, củ Khoai, bắp ngô nữa…
-         À… chẳng qua là lấy của người giàu chia cho người nghèo thôi mà.
-         Giờ đã là vợ chồng. Không như thế mãi được đâu. ở chân đồi còn nhiều đất hoang. Đất xấu nhưng mà vẫn ra Khoai ra sắn.
 
*
*    *
Sáng hôm sau, cụ lang Chằn thấy Độ về nhà rất sớm. Đã mấy tháng nay cụ lang không gặp mặt con. Từ ngày cắt gân con, cụ lang buồn rầu và ân hận vô cùng. Lắm khi cụ nói như van xin mà nó chảng chịu về nhà. Đến mức dụ dỗ cho cả tiền nó cũng không thèm lấy. Vì vậy thấy mặt con, ông mừng rõ vô cùng. Ông hỏi:
-         Mày ăn cơm chưa?
-         Rồi! – nó trả lời chỏng lỏn nhưng ông cụ cứ lờ đi không bắt bẻ.
Ông cụ chợt nhớ tới lời dân làng đồn đại trong làng từ nửa tháng nay. Ông dò hỏi:
-         Người ta bảo mày ở với con mẹ ăn mày ở cầu Si. Chuyện ấy có thật không?
-         Thật.
-         Ôi trời! Làng thiếu gì gái mà lại đi lấy ăn mày hở con.
Độ cãi ngang như cua:
-         Tôi thích thì tôi lấy. Thầy chẳng bằng lòng thì tôi đi. Tôi chẳng thèm nhờ thầy nữa.
Ông cụ đấu dịu ngay lập tức.
-         Thì cũng để tao hỏi đầu đuôi vài câu chứ.
Độ cáu kỉnh:
-         Thầy hỏi gì thì hỏi đi. Tôi thích tôi lấy. Chẳng ai ngăn được đâu.
-         Tao chỉ hỏi con mẹ ăn mày ấy đã già hay còn trẻ?
-         Trẻ.
-         Thế nó còn đẻ con được chứ?
-         Được.
-         Tao chỉ sợ mày lấy vợ già không đẻ được cháu cho tao bế. Chứ còn chuyện ăn mày cũng chả sao. Các cụ chẳng bảo: ‘Ăn mày là ai? Ăn mày là ta” rồi sao. Thế mày có định nhờ tao cái gì?
-         Con xin thầy hai chục vuông vải cho cô ấy may quần áo. Với lại xin hai cái cuốc.
-         Cuốc làm gì?
-         Cô ấy muốn trồng sắn, trồng Khoai ở gần vườn chuối.
-         Ôi chao! Thế thì tốt quá. Hai chục vuông vải là tao theo lời dặn của mẹ mày lúc chết. Bà ấy bảo: “Ông cứ mua sẵn hai mươi vuông vải. Bao giờ có con dâu thì đưa cho nó và bảo đấy là quà của mẹ”. Tao nghe theo bà ấy. Bây giờ thì mày hãy mang đi.
Ông lang già vừa nói vừa rưng rưng nước mắt, rồi mở khóa cái hòm gian lấy xếp vải đưa cho Độ. Khi Độ lấy cuốc rồi định ra ngõ, ông cụ nài nỉ:
-         Hay là chúng mày về đây với bố.
-         Con không về đâu. Con đã thề rồi.
-         Sao mày cứng cổ thế hở Độ. Thì thầy có lỗi thầy đã xin mày rồi mà… à thế này… mày chưa bằng lòng về, chuyện ấy bàn sau. Còn bây giờ, hôm nào mày đưa nó về đây cho thầy xem mặt… hay là thầy ra vườn chuối gặp hai đứa…
-         Không được, thầy mà ra là chúng tôi bỏ làng đi đấy. – Độ trả lời ông lang bằng một giọng rất kiên quyết. Nỗi hận người cha trong lòng Độ vẫn chưa nguôi. Anh đã thề không xin gì cha mình nữa. Hai chục vuông vải là của mẹ anh. Trước khi chết bà dệt được hai chục vuông vải. Con còn bé tí bà đã nghĩ tới người con dâu tương lai của mình. Bà dặn ông bán số vải ấy đi, nhưng bao giờ con trai lớn đến tuổi lấy vợ, thì ông phải mua bù vào cho bà. Như vậy là Độ vẫn không lấy gì của ông già. Còn hai cái cuốc là do anh chiều vợ, anh mượn tạm thôi. Rồi anh sẽ trả.
Ông lang Chằn biết tính ương bướng của đô. Nó đã nói là sẽ làm. Vì vậy, ông rình lúc Độ lên rừng liền ra vườn chuối. Thấy Khoai đang cuốc đồi ông lại gần hỏi:
-         Có phải cô Khoai đấy không? Tôi là bố thằng Độ đây. Ôi chao? Có phải cô ăn mày đây không? Trời thật có mặt mới dun dủi cho cô đến với con tôi. Cô trông phúc hậu lắm. Thế này nhé. Thằng con tôi nó gàn lắm. Tôi biết cô lấy thằng Độ sẽ khó khăn. Nhưng tôi cho thì nó không nhận. Vậy, thỉnh thoảng ban đêm tôi sẽ đến chỗ bụi sim này, tôi sẽ để bị gạo hay bị ngô rồi đắp lá chuối lên. Sáng sớm hôm sau nếu trông thấy, cô cứ nhận.
Cô Khoai lễ phép mời ông lang vào lều song ông không chịu vào. Ông sợ thằng con trai bắt gặp sẽ rắc rối to. Cuối cùng ông dặn:
-         Cô mà đưa được Độ trở về lương thiện, tức là lập được phúc to. Chẳng khác gì sinh ra con người lần thứ hai. Lão già này xin cảm tạ cô trước.
Một hôm, Độ đi đến quá nửa đêm, mang về cho vợ một ổ trừng gà mười hai quả. Khoai hỏi:
-         Kiếm ở đâu về?
-         Trong làng.
-         Thế là ăn không của người ta à?
-         ừ, thì đại loại lày lấy của người giàu chia cho người nghèo…
Khoai bần thần rồi bảo:
-         Không được đâu mình ạ.
Thế là Độ khùng lên:
-         Cô sợ à? Cô khinh của ăn không ăn hỏng à? Cô khinh tôi là thằng trộm hả. ừ, tôi là thằng đào tường khoét vách đấy. Tôi không ngờ… mà sao cô lại lấy tôi.
Thấy Độ nổi cơn ngông ngạo bướng bỉnh, Khoai ngồi yên không hé răng. Đợi cho đến lúc người đàn ông nằm xuống bên cạnh, đợi cho đến lúc anh chàng lân la đụng vào lưng cô rồi khẽ khàng luồn tay dưới cái yếm, vuốt ve đôi nhũ hoa nóng hổi của cô Khoai mới trở người quay lại, ôm lấy chồng và hỏi:
-         Mình có thương em không?
Hắn không trả lời, chỉ ôm chặt lấy cái thân hình lúc này đã trở nên phốp pháp vô cùng ngọt ngào của Khoai. Cô gỡ tay anh ra, nói khẽ vào tai:
-         Khéo đấy, khéo đấy.
-         Sao?
-         Nhè nhẹ thôi. Chẳng thì…
-         Sao?
Khoai không trả lời mà chỉ kéo tay hắn, đặt cái bàn tay thô tháp của hắn vào cái bụng mát rượi mềm mại của mình:
-         Đấy. Em có rồi đấy…
-         Có gì?... – giọng hắn chợt háo hức hẳn lên.
-         Lại còn có gì trong bụng đàn bà con gái nữa chứ.
-         Thế mình có mang thật rồi à?
-         Lại chả thật… vì thế em mới bảo với mình là không được rồi mà.
-         Mình bảo thế là thế nào… không được… ấy hả?
-         Rõ nỡm. Em bảo… tức là… mình không được… lấy trứng của người ta.. Trong làng nữa…
-         À… không được… lấy của người giàu chia cho người nghèo nữa chứ gì?... Vẽ chuyện… kẻ không ăn hết kẻ lần chẳng ra… mươi quả trứng đối với nhà lão chánh hội giàu nhất làng chỉ là cái bụi thôi…
-         Nhưng mà… em sợ lắm.
-         Sợ cái gì?
-         Sợ phải tội.
-         Tội lội xuống sông.
-         Mình có tin có trời có Phật không?
-         À… ờ… cũng có tin…
-         Thế đừng ăn trộm ăn cắp… mình thì chẳng sao đâu. Nhưng còn con cái mình sinh ra sau này. Nó có biết gì đâu mà phải mang tội của mình. Con thằng trộm lớn lên sẽ làm thằng ăn trộm giống như cha mẹ nó. Thậm chí có đứa thành kẻ giết người. Anh ơi, tôi không muốn con mình sau này lại thế. Anh có biết không. Mẹ con tôi đi ăn mày, nhưng không bao giờ tôi ăn trộm ăn cắp cái gì. Tôi van anh đấy, tôi lạy anh đấy. Hãy để cho hạt máu của anh trong bụng tôi được chút nhân đức.
-         Tôi hỏi, nếu không trộm cắp thì sống bằng gì? Tôi ăn trộm nên cô mới sống được đến hôm nay.
-         Thì đã đành. Tôi biết ơn mình. Nhưng từ bây giờ, bao chuyện cũ xí xóa hết.
Người đàn ông nằm bên cạnh Khoai chẳng biết đang nghĩ gì. Anh ta im lặng một hồi lâu, cái hồi lâu ấy làm Khoai thấy sợ, bởi vì Khoai cần một sự lương thiện, thèm một sự yên ổn. Và nếu như Độ không nghe lời Khoai thì sao. Người chồng cũ chết đói, hai mẹ con lang thang ăn mày, Khoai thấy rùng mình vì quãng đời phiêu bạt rạc rài đó rồi. Còn bây giờ, nếu Độ vì thương cô mà vẫn sống cuộc đời… như cũ thì sao? Thực bụng Khoai muốn làm như lời ông lang… nghĩa là khuyên nhủ Độ… nếu như chưa làm cho hai cha con hòa thuận, thì ít nhất cũng làm cho sự phối kết mới của mình được an ổn, bình thường như mọi gia đình nông dân khác… bởi vậy, Khoai mới hồi hộp chờ đợi  lời phán quyết của người chồng mới. Chị là người đàn bà đằm thắm. Hai người chả nói lời nào, nhưng Khoai hiểu được sức mạnh của sự đằm thắm đối với người đàn ông này chứ. Ân ái có tiếng nói riêng của nó. Sự quy phục của người đàn ông nằm ẩn cả trong những cử chỉ giao hoan. Người đàn bà biết sức quyến rũ của mình nhưng vẫn hồi hộp vì chưa biết sức quyến rũ tới mức Độ nào. Có những mê hoặc ái ân đi tới mức chuyển hóa được con người.
Độ nghĩ thật dài. Mãi tới khi người đàn bà ôm lấy cổ anh, sợ tay vào chiếc cằm tua tủa râu của anh, cái cử chỉ của người đàn bà cần đến sức mạnh đàn ông, thèm khát cái sức mạnh hừng hực của một đấng nam nhi, cái cử chỉ mềm mại, yếu đuối như mong muốn che chở ấy, chó biết đâu lại có một quyền lực chi phối mà người đàn ông không hề hay biết, chỉ tới khi ấy Độ mới thầm thì vào tay người đàn bà của mình.
-         ừ, xí xóa hết. Mình yên tâm. Tôi không làm như trước nữa.
Người đàn bà vui mừng, người đàn bà biết ơn. Chị mở lòng mình ra và cho tất cả. Đêm ấy, chị đằm thắm hơn bao giờ hết. Đời một con người có nhiều cuộc giao hoan, nhưng có những cuộc ta chẳng bao giờ quên, cũng như có  những bữa ăn chỉ dưa cà đạm bạc thôi nhưng ta nhớ suốt đời.
Thực ra, Độ nghĩ gì anh chẳng nói ra. Độ là kẻ ngang tàng. Chỉ riêng việc anh dùng môn vũ khí thiết lĩnh đã nói lên điều ấy. Lão ma cà bong già, thầy dạy võ của Độ thường bảo học trò:
-         Thằng ăn cắp khác thằng ăn cướp. Thằng ăn cắp trộm chó bắt gà chẳng qua là thứ gà què ăn quẩn cối xay. Ăn trộm cả những người quần manh áo rách, nhỏ mọn và đê tiện. Phải là kẻ ăn cướp ngang tàng khí phách, đầu Đội trời chân đạp đất. Lấy của giàu chia cho người nghèo. Phải làm sao để hét lên một tiếng là kẻ mạnh run lên nhong nhóc. Dù máu chảy đầu rơi cũng coi nhẹ tựa lông hồng…`
Lão ma cà bong già chết đi vẫn chưa thực hiện được cái chí ấy. Và cả người học trò yêu là Độ cũng vậy. Sự thực là từ trước tới nay, Độ bị mang tiếng nhưng vẫn chưa làm gì. Chỉ từ khi gặp Khoai, Độ mới bất đắc dĩ làm kẻ gà què ăn quẩn cối xay. Cũng chỉ vì muốn cứu Khoai nên Độ mới phạm phải lời dạy của thầy, nay ăn cắp một ổ trứng, mai ăn trộm một thúng Khoai. Vậy nên, nay Khoai muốn anh thôi việc ấy, Độ bằng lòng ngay. Khoải thủ thỉ bảo chồng:
-         Ruộng Khoai em trồng chỉ mươi bữa nữa đã rỡ được. Còn ruộng ngô nhà mình cũng dã trổ cờ… vả lại, nhà mình còn gần một nồi ngô hạt…
-         Ngô ở đâu mà lắm thế?
Khoai không dám cho chồng biết chỗ ngô ấy là của bố cho, nên cô đành nói dối:
-         Tháng trước, mình bắt được đôi cạp nong. Em bán lấy tiền, đong được nồi ngô để dành.
-         ừ nhỉ… thôi được, từ rày tôi nghe mình. Từ rày, tôi không lấy của nhà giàu chia cho nhà nghèo nữa.
Từ đấy, Độ không lấy của người nữa, anh cố gắng lấy của trời. Làng Sứa gần rừng, lại lắm đồi hoang. Mà đồi rừng thì thiếu gì cái sống. Muốn vào rừng còn phải đi xa. Nhưng chỉ riêng cụm đồi hoang này thôi, cũng có khối thứ để vợ chồng anh dựa vào sống qua ngày. Tôm tép thì nhờ vũng, nhờ lạch. Cua ốc thì nhờ ruộng nhờ ao. Đặc biệt Độ có tài đánh bẫy muông thú. Tại chỗ họ ở, không có thú to, to nhất là con chồn con cáo. Tuy nhiên, bắt chúng không dễ. Chỉ thi thoảng mới vớ được một con. Riêng loài chuột, chốn này nhiều vô kể. Mùa lúa ngô, chúng ở đồi tràn xuống đồng. Vào lúc những cánh đồng chỉ còn trơ gốc rạ, chúng lại rút quân vào núi. Độ thương vợ. Anh biết người đàn bà mang thai cần chất bổ dưỡng. ừ! Chuột cũng là thịt chứ sao. Có bận, anh đã được ăn bữa cỗ toàn là thịt chuột. Cũng đủ giò, nem, ninh mọc mới tài chứ. Anh nhớ bữa cỗ ấy, sư phụ anh còn sống. Bữa cỗ thâu đêm. Ăn thịt chuột vào sức lực dồi dào, ông ma cà bong già đã cởi áo ra và biểu diễn một bài thiết quyền. Những bắp thịt cuồn cuộn nổi lên ở ngực, ở tay ông già, sờ vào thấy cứng như thép. Lúc ông già ra quyền, gó chuyển vù vù, đám vào tường, tường thủng; chem. Vào gạch, gạch tan. Nghĩ thế Độ liền lấy tre làm bẫy kẹp. Hì hục mấy ngày làm được chục cái. Cái bẫy đơn giản nhưng thần tình. Hai thanh tre tạo hình chữ V lại khi con vật chui qua. Cái bẫy toàn tre nứa ấy dễ hòa lẫn với cỏ dại, lá tranh, đất cst, rất dễ dàng đánh lừa lũ chuột. Chuột có thói quen chui qua những bụi rậm, tạo thành những  lối mòn để riêng sử dụng. Đặt những chiếc bẫy kẹp ngang những lối mòn và ngụy trang cho thật khéo, thật tự nhiên, khiến cho chúng tưởng rằng chỉ là cành tre cọng rác vô tình cắt ngang lối mòn. Chạm khẽ vào thanh tre giữ lẫy chỉ to như cái tăm dài là hai thanh tre chữ V khép lại chẹn ngang cổ. Lúc đó, cái cần tre lò xo đẩy xuống  giữ thật chặt. Người khỏe dùng tay giương bẫy còn nặng nền như giương cung, huống hồ là con vật chỉ nhỏ bằng cái nắm tay.
Chiều nào Độ cũng gánh hai mươi cái bẫy đi đặt. Rồi sáng nào anh cũng đi một vòng thu bẫy. Lũ chuột đồng béo ngậy, tuy vậy vẫn có mùi của loài ở hang. Cho tất cả lũ chuột vào nồi nước sôi, sau đó tuốt lông ra như vặt lông chó. Cái đám lông xám hôi sì tuột đi để lộ ra một làn da trắng toát. Rồi mổ bụng vứt hết lòng ruột, nhồi lá thơm như lá cúc tần vào. Tiếp đó là thui như ta thui chó. Thui bằng rơm cho đến lúc mỡ chảy ra lèo xèo và da vàng rộm. Cuối cùng là luộc. Nước luộc chớ dùng vì nó vẫn còn hôi mùi chuột. Công đoạn kết thúc là ép. Trải một lớp lá chanh rồi dùng ván đặt cối đá hay vật nặng đẻ ép cho nước luộc còn sót trong mình con chuột ra hết. Lúc này, thịt chuột trắng phau trông như thịt gà. Ngon như thịt gà. Chặt ra kho cũng được, nấu rựa mận hay chả cầy cũng được, mà đảo lên rồi gói giò xào cũng thật tuyệt.
Cô Khoai nhờ thịt chuột đồng mà béo trắng ra. Da dẻ hồng hào, phây phây. Chuột ăn không hết, Khoai mang ra chợ bán. Hai xu một con. Khôi nhà mua về cho trẻ nhỏ ăn. Vừa ngon vừa sạch cam, người ta nói với nhau như vậy.
Một hôm, Độ lên phố huyện về, dáng vẻ vui mừng khác hẳn mọi ngày. Anh còn phởn chí mua về cho vợ mấy chiếc bánh rán tẩm mật. Khoai còn hỏi có chuyện gì mà anh phấn chấn đến thế. Độ tủm tỉm mà chẳng nói gì. Nét mặt anh cứ tươi tỉnh như vậy suốt cả ngày. Nhưng chuyện vui giấu mãi trong lòng không chịu được, đến tối, lúc hai vợ chồng nằm bên nhau anh đành thổ lộ:
-         Có chuyện này hay lắm cơ… mình biết cái lão Tàu ở phố không. Bên kia đường, trước cái quán tiết canh lòng lợn ấy… cái lão già đeo kính lúc nào cũng sùm sụp Đội chiếc mũ nỉ màu đen ấy…
-         À, tôi nhớ rồi, tôi biết rồi. Ông thầy Tàu bán thuốc bắc chứ gì.
-         Đúng. Hôm nay tôi đang đi tìh lão ta gọi giật lại: “cái nị đứng lại một chút lờ”. Tôi chỉ vào ngực mình:”ông gọi tôi?”. Ông ta tươi tỉnh:”ngộ gọi cái lị chứ còn ai lố.” Ông ta mời anh vào nhà. Anh ngạc niên không hiểu ông ta muốn gì. Ông ta giàu sang có những hai bà vợ. Bà hai trẻ măng chỉ chừng hai mươi tuổi. Những người như ông ta sao lại niềm nở với mình như thế. Em có biết ông ta nhờ anh làm gì không?
Độ ngừng chuyện tỏ vẻ bí mật và quan trọng làm cho Khoai sốt ruột.
-         Thì nói đi nào. Làm gì mà cứ úp úp mở mở.
-         Lão ấy bảo thế này… lão ấy nhờ mình bắt cho con hổ mang.
-         Tưởng gì. Chuyện ấy anh làm dễ như bỡn.
-         Dễ hả. Dễ thì việc gì hắn phải cầu cạnh tôi. Không phải loại hổ mang thường đâu. Hắn yêu cầu con hổ mang chúa. Dài từ 2m trở lên. Mà lại phải rắn sống. Mình tưởng loại này dễ tìm hả? Không đâu. Trăm con rắn, ngàn con rắn may ra mới có một con. Vả lại… bắt nó đâu phải dễ. Cái loại thợ bắt rắn mới vào nghề, trông thấy nó cũng xanh mắt mèo. Lóng ngóng là mất mạng như chơi…
-         Thế thì khó quá!
-         Chả khó mà lão ấy chịu bằng lòng trả cho con rắn bằng đôi khuyên tai bằng vàng.
-         Ôi chao! To tiền thế ư? Không biết lão ấy dùng làm gì mà mua đắt thế.
Độ cười hì hì, ghé mồm nói thầm vào tai vợ:
-         Nghe nói… làm thuốc cường dương. Lão ta bảo một ông Hà Nội đặt hàng. – Độ bỗng dưng cười to hơ hơ vang lên. – tớ nghe vậy liền cười tủm tỉm. Chả là lão thầy thuốc này hom hem lắm. Mà cô vợ hai thì trẻ  phây phây ra. Tớ đồ chừng lão mua hổ mang chúa để luyện cho chính lão ta.
-         Rõ nỡm. – cô Khoai cũng khúc khích rồi rúc vào nách chồng. – thế, nhà nó có nhận lời không?
-         Nhận quá đi chứ lị. Vùng mình cũng có con hổ mang chúa. Tớ cứ để dành mãi chưa muốn bắt. Bởi vì vật hiếm phải kén khách chơi. Gặp đúng khách cần mới được giá. Đổi nó lấy khuyên tai vàng cho mình đeo. – đó là ước vọng của tôi từ khi trông thấy con rắn này.
Từ hôm ấy, Độ bỏ cả bắt chuột, ngày đêm đi rình mò, theo dõi con hổ mang chúa. Hang của nó thì biết rồi. Nó nằm ngay trên quả đồi thấp phía sau, dưới một tảng đá. Ngày hôm sau, Độ đi quan sát. Anh rất thuộc chỗ này. Đâu là đường chuột đi, đâu là đường rắn bò, anh chỉ nhìn cây cỏ là biết ngay. Anh nhìn đám cỏ bên tảng đá lấy làm ngạc nhiên. Chỉ chừng một tháng anh không ra đây nhưng xem chừng tình hình đã khác. Mấy tháng trước Độ phát hiện được cái hang rất kín đáo này nấp dưới hòn đá tảng. Hòn đá hơi nhô ra như cái hiên cho nên chẳng ai biết trong đó có hang. Tuy nhiên con vật to lớn này ngày nào cũng trườn qua chỗ này khiến cho đất phía trước cái hiên của hòn đá như khô hơn. Nhìn thật kỹ lại thấy có chút mốc trắng. Điều này chứng tỏ tổ con hổ mang chúa đã rời khỏi nơi đây. Tại sao nó bỏ đi? Độ nghĩ mãi rồi chợt hiều. Có thể vì Độ luôn luôn đặt bẫy ở nơi này nên chuột ở đây vãn đi. Thiếu mồi thì rắn bỏ đi là tất nhiên. Tuy nhiên, Độ nghĩ con rắn không bỏ đi xa vì ở đây vẫn còn nhiều chuột. Đó là chỗ mấy thửa ruộng ngô chưa đến kỳ bẻ cách vườn chuối của anh chừng vài trăm mét. Độ tới noi nhìn quang cảnh và chợt hiểu ngay. Trên một quả đồi thấp có một cây đa cổ thụ không biết đã mấy trăm tuổi. Cây đa này, thân nó có nhiều hang hốc. Rễ lại loằng ngoằng nổi trên mặt đất. Chắc chắn con quái xà tìm chỗ trú ngụ tại đây. Anh đi quanh quanh càng tin chắc điều đoán định của mình khi tìm thấy phân rắn. Phân to. Thứ phân vàng lẫn đen còn tươi khăn khẳn. Lại thấy cả những đường rắn bò nhẵn thin nhẵn thui dưới cỏ. Chắc chắn hang ổ của con hổ mang chúa là một cái hốc nằm giữa thân cây hoặc chui dưới những cái rễ ngoằn nghèo cứng như đá kia. Để khẳng định chính xác, một đêm trăng, Độ nấp trong ruộng ngô đã tận mắt trông thấy con vật dài chừng                      bốn mét to như con trăn. Anh nghĩ tới lão thầy Tàu Đội mũ nỉ đen.
-         Con rắn dài ba mét ngộ trả bằng một đôi khuyên tai. Dài bốn mét ngộ trả thêm bằng tiền. Nếu là loại Độc xà biết phun Độc ngộ trả gấp đôi…
Nghĩ tới lời nói ấy của lão, Độ thấy hào hứng bội phần. Anh quyết tâm bắt con rắn cho bằng được. Nhưng lần này bắt nó thật gay go. Bắn rắn chết thì dễ. Độ có thể dùng bẫy kẹp. Nhưng lão thầy thuốc yêu cầu phải rắn sống. Dùng thủy công và hỏa công đều không được, bởi vì ở đây không có nước, và hun hang trong cây rồi đơm đó cũng là điều không thể thực hiện. Anh nghĩ mãi, nghĩ mãi và cuối cùng dùng kế dụ rắn ra khỏi hang. Kế này gồm hia phần, phần thứ nhất dùng bẫy kẹp và bả ngăn chuột từ đồi ra ruộng ngô; phần thứ hai đan một cái lồng to thật chắc nhốt chuột trong đo, hai đầu lồng có hai cái hom để dụ rắn chui vào. Tuần đầu tiên chẳng bắt được gì. Tuàn thứ hai bắt được con hổ trâu. Tuần thứ ba im lìm. Mãi đến tuần thứ tư, đêm hôm ấy không trăng, không sao, trời đen như mực. Độ vẫn kiên trì nấp trong ruộng ngô. Quá nửa đêm, thì nghe thấy tiếng chuột trong lồng kêu chít chít. Độ đang ngủ gà ngủ gật vội chạy ra. Anh sung sướng xách cái lồng nặng trĩu về vườn chuối. Anh vừa sải bước vừa kêu to:
-         Mình ơi! Khoai ơi! Thắng rồi! Thắng rồi!
Hai vợ chồng đốt đuốc nhìn con rắn to hơn cổ tay, màu xám đen đang cố ngóc đầu lên, nhưng vì cái lồng thấp nên không được. Anh chồng khoan khoái nói với vợ:
-         Con này dài lắm, chắc bốn mét. Nó mà ngóc lên, cái đầu bạnh ra chắc phải bằng bàn tay. Ngoài đôi khuyên chắc còn được vài đồng bạc cho mình nữa đấy.
Người vợ cầm đuốc soi cho anh chồng lấy dây thừng chằng buộc thêm cho kỹ càng trước khi vào trong lều ngủ. Nằm trong ổ rơm họ còn thì thầm to nhỏ, tiếng thì thầm hân hoan vì đó toàn là những chuyện tương lai sáng sủa hơn nhiều do tiền bán con mãng xà đem lại. Bàn tán mãi rồi cũng mệt. Cái mệt không phải của một đêm mà của một tháng trời ròng rã, đêm nào Độ cũng phải thức trắng. Sự thắng lợi đã xả dãn những căng thẳng tích tụ lâu dài, khiến cho Độ đêm ấy ngủ li bì như chết.
Đang say giấc, bỗng nhiên một tiếng hét làm Độ tỉnh dậy.
-         Cái gì thế? – Độ hốt hoảng hỏi vợ.
Người vợ đã ngồi dậy từ lúc nào không hay, tay ôm chân, lưỡi líu lại.
-         Mình… mình ơi… chết tôi rồi… nó cắn em…
-         Cái gì cắn?
-         Rắn… rắn…
Khoai chỉ tay ra ngoài cửa lều. Bóng trăng hạ tuần nhàn nhạt cũng đủ để Độ nhìn thấy môt bóng đen như sợ thừng to đang trườn đi trên mặt đất. Độ nhảy choàng lên ra khỏi lều nhưng sợi thừng dài màu đen đã biến mất. Đốt đuốc lên ra gốc chuối xem vẫn thấy cái lồng và con hổ mang chúa vẫn còn nguyên. Độ dìu vợ ra ngoài, giọng cáu kỉnh:
-         Rõ rang con rắn không xổng, sao lại rắn chui vào lều được nhỉ.
-         Hay là… hay là con rắn to gọi con rắn nhỏ đến báo thù. – vớ vẩn.
-         Sao lại vớ vẩn. Anh không nghe chuyện rắn báo oán sao. ối trời ơi! Đau quá, buốt quá.
Đến lúc này Độ mới nghĩ đến chuyện chăm sóc cho vợ. Đang lẽ ra trong trường hợp này, Độ phải buộc garo, rạch vết thương rồi nặn cho máu chảy ra. Phải nặn máu Độc cho đến khi đỡ đau, đỡ buốt mới thôi, nhưng anh đã không làm. Ông lang Chằn cũng giỏi chữa rắn cắn, nhưng tiếc thay Độ không chịu học người cha môn thuốc ấy. Vì học võ nên Độ chỉ chăm chăm hoc ch những môn võ chữa đòn, chữa vết thương, chữa gẫy xương, và cũng vì mối hận người cha nên anh cứ chần chừ. Đáng lẽ ra anh phải cầu cứu người cha từ lúc Khoai bị rắn cắn. Chỉ đến lúc Khoai tức thở, rồi thở khò khè, rồi tím ngắt anh mới chạy về gọi ông lang. Khi ông cụ Chằn đến nơi thì đã muộn. Toàn thân Khoai lúc đó tím bầm. Cô không nói được nữa, chỉ thấy đôi môi lắp bắp.
Độ như người điên. Anh khóc, anh chửi, anh la hét. Anh đuổi cả ông lang già. Anh rủa sả ông. Cứ như thể vì ông Khoai mới chết. Rồi anh hì hục đào hố một mình. Vừa đào vừa chửi.
-         Mẹ cha nó chứ. Rồi sẽ biết tay ông.
Ông lang già chỉ còn biết đứng nhìn mà rơi lệ. Chôn xong vợ, anh lấy dao ra chặt nát cái lồng, chặt nát con hổ mang chúa. Làm như vậy chưa hả, tiện tay anh cầm bó đuốc châm vào lều nhà. Ngọn lửa bắt vào đám tranh bốc lên ngùn ngụt. Anh vái lậy nầm mồ rồi quay lưng đi về phía đồi. Người cha gào lên.
-         Độ ơi! Mày đi đâu đấy. Con ơi! Quay lại đi!
*
*      *
Từ làng Sứa, Độ đi về hướng đông. Đó là hướng có những ngọn núi xanh rì và đi thêm nữa sẽ ra tới biển. Đang mùa xuân, mùa lễ hội.đi được vài hôm, tiền lưng đã cạn. Độ dừng chân ở một làng dưới chân núi Voi, vừa đúng lúc này làng đang mở hội. Nghe nói hội làng Voi to lắm, hầu như người cả vùng đi đến đây. Tiếng trống thì thùng kéo Độ vui chân đến bãi cỏ trước đình. Hôm ấy là ngày cuối cùng của cuộc đấu giải vật nên cả mọi người tập trung cả vào sới vật.
Người thắng cuộc liên tiếp trong ba ngày đấu vừa qua là đô  Thuồng Luồng. Nghe nói anh ta người vạn biển đến từ một hòn đảo ngoài vịnh Bái Tử Long. Đô Thuồng Luồng cao to, người đen trũi, bắp thịt ở tay, ở bụng, ở ngực nổi lên cuồn cuộn. Đặc biệt hai cánh tay anh dài quá gối trông như hai gốc tre đực lủng lẳng ở hai vai. Người đứng xem kể lại hai cánh tay ấy rắn chẳng khác  gì hai tảng sắt. Ngày hôm kia chỉ một chút nữa là đô Thuồng Luồng bẻ gãy cổ một đô người xứ Đông. Từ hôm qua chẳng ai dám thượng đài nữa. Trai tráng làng Voi tức lắm nhưng chẳng ai dám đối đầu với đô khỏe mạnh và hung tợn này.
Đô Thuồng Luồng rất đắc chí. Anh ta ngồi vắt vẻo trên chiếc ghế bành, đầu buộc khăn đầu rìu bằng lụa đỏ, dưới đóng khố bao màu hồng. Sau lưng anh ta là cây tre buộc giải bao gồm ba tấm lụa bay phất phơ trong gió và cái túi đựng bạc. Nghe nói túi bạc ấy là của một lái buôn nước mắm rất giàu. Giải là mười đồng bạc. Vì giải to như vậy nên cả đô vật tận ngoài đảo tít mù khơi mới bò về đây chứ. Còn có lời xì xào rằng đô Thuồng Luồng là một tay cướp biển uống máu người không tanh. Độ nhìn kỹ thấy gương mặt tay đô vật này cũng dữ tướng thật. Lông mày lưỡi mác rậm rì. Mắt xếch. Mồm rộng ngoác. Ngồi một lúc lâu, đô Thuồng Luồng liền đứng dậy, chắp tay thưa với mọi người:
-         Tôi có chút thiển nghĩ như sau. Tôi thấy cái sới vật này xem chừng rộng quá. Mà hôm nay lại là ngày chót, những đô thượng đài chắc đều là các bậc siêu quần. Người giỏi thì luật lệ phải khắt khe. Tôi xin thu hẹp vòng đấu lại. Chỉ còn rộng bằng cái nong. Đô vật nào chạm chân vào vạch vôi là thua.
Người đứng xem đều lè lưỡi và lắc đầu. Đô Thuồng Luồng sau đó lại nói thêm.
-         Cũng xin viết giao kèo và hai đô cùng điểm chỉ. Đấu vật cũng là đấu võ. Vậy nên nhỡ ra sa sẩy đến tính mạng không được kiện cáo.
Thế này thì thật quá quắt. Lão Thuồng Luồng đang đe dọa thách đấu tử chiến với các đô tứ xứ. Thằng cha này kiêu ngạo thật, dám buông lời hạ mục vô nhân. Tuy nhiên, theo lời các đô đã chạm trán với hắn mấy ngày hôm trước thì hắn quả thực lợi hại. Toàn thân hắn là mình đồng da sắt. Người hắn không một chút mỡ. Sờ vào bất cứ một chỗ nào cũng cảm giác như sờ vào sắt đá. Có lẽ hắn thành thạo tất cả các loại tấn. Hắn đã cắm chân xuống đất, hoặc đã bò xoài trên mặt đất, thì đố ai có thể lay chuyển. Con người hắn uống biết bao nhiêu là nước mắm chắt, đã rau ráu nhai bao nhiêu là tôm cá sống, đã trải qua biết bao nhiêu là gió mưa giông bão, đã lặn ngụp bơi lội biết bao ngày đêm trong biển cả mới hun đúc một thân hình gớm ghê đến như vậy. Cho nên chắc đô Thuồng Luồng sẽ giật giải. Suốt buổi sáng, chẳng ai dám lên đài:
Đến chiều, bắt đầu buổi vật cuối cùng, lúc đô Thuồng Luồng tưởng như không còn ai dám lên và chắc chắn mình đã thắng, anh ta liền biểu diễn một bài quyền lạ, vừa múa vừa vờn kiểu như một con bạch tuộc đang vươn vòi bám lấy kẻ thù, thì có một người vạm vỡ, vai đeo tay nải tiến lên bàn các vị chức sắc trong làng và hỏi:
-         Bẩm các cụ, tôi là khách qua đường muốn tham dự, không biết có được phép không ạ?
Các cụ chức sắc đang bực tức vì thái đô dương dương tự đắc của gã đô hỗn xược đã đánh bại tất cả trai làng, nay lại thấy có người muốn vì làng mà rửa nhục thì vui mừng. Cụ trùm sân vật còn cho anh mượn cả khố và còn mách nước dặn dò anh.
-         Cẩn thận chớ coi thường. Thằng này có miếng “móc quai xanh” rất hiểm.
Thực ra, ông thầy già lang thang dạy võ cho Độ cũng là đô vật. Thường thường, các lò vật bao giờ cũng kiêm cả võ. Và các tướng giỏi quân giỏi của ta ngày xưa đều từ các lò vật kiêm lò võ mà ra. Ông thầy già đã bắt Độ phải bê cối đó chạy vòng quanh sân, phải vật sừng trâu bao giờ cho than thạo trước khi học các miếng vật. Một võ sĩ giỏi, theo ông thầy già, cũng phải là một đô vật giỏi.
Độ vận khố xanh. Anh thấp hơn đô miền biển, tay cũng ngắn hơn, nhưng vạm vỡ thì không kém. Trông hai con người vờn nhau, nhận ngay ra sự khác biệt. ở Độ, ta thấy một sự cân đối, sự điềm tĩnh. ở đô Thuồng Luồng, ta thấy sự hùng hổ muốn ăn sống nuốt tươi. Bốn con mắt nhìn chằm chặp vào nhau, cả hai đều muốn thôi miên đối thủ. Bất thình lình, hai quái nhân chồm lại áp sát, bá tay tư, nghĩa là cả hai đều tóm lấy cổ nhau và nắm vai nhau. Những ngón tay sắt của đô Thuồng Luồng đang tìm cách vặn cổ Độ. Còn Độ thì khác. Những ngón tay của anh đang rờ tìm gáy của địch thủ. Đối với các trạng vật, sức mạnh của những ngón tay cực kỳ quan trọng. Những ngón tay phải là những chiếc dùi sắt, những chiếc vuốt sắc. Khi chúng đã chạm vào đâu, lập tức chúng biến những ngón tay thành những cái móc sắt bám vào thịt da gỡ không ra. Khi chúng đã ấn vào đâu, lập tức chúng như những cái đinh sắt muốn xé rách chui sâu vào da thịt đối phương. Khi chúng đã bóp vào đâu, lập tức chúng như cái kìm bóp nát chỗ đó. Những ngón tay của Độ cũng vậy. Độ đã trổ công phu luyện tập bàn tay: xỉa vào cây chuối, xỉa vào cát, xỉa vào gỗ… bây giờ không  xỉa, nhưng những ngón tay ấy đang bóp vào cái huyệt sau gáy của đô biển. Nhói một cái, đô Thuồng Luồng cảm thấy như bị điện giật. Biết mình gặp phải một cao thủ, cái ngông nghênh khinh địch của anh ta chợt tan biến ngay.
Đô Thuồng Luồng vừa sợ vừa cáu. Ngay lập tức, hắn liền giở chiêu ác hiểm ra, định chinh phục Độ thật  nhanh. Hắn lừa miếng định miệng chớp nhoáng móc vào xương quai xanh của Độ. Ai bị miếng này, dễ bị  gãy xương quai xanh và trở thành kẻ tàn phế một đời. Tuy nhiên, Độ cũng giỏi tránh và giỏi nội công cho nên bàn tay Thuồng Luồng cứ chạm vào chỗ nào là chỗ đó nổi lên cuồn cuộn, tạo thành áo giáp sắt che chở chỗ đó. Cả hai người lúc đó như hai pho tượn đồng, mồ hôi vã ra bóng loáng. Cả hai người như hai cây gỗ lim cắm chặt xuống đất.họ đang ở tư thế cầm cự, đang cố tìm chỗ sơ hở của đối thủ. Đô Thuồng Luồng dướn người lên cố vít đầu Độ xuống. Cái cổ to ngắn nần nẫn những thịt thật khó khuất phục. Nhanh như chớp Thuồng Luồng chuyển sang thế dùng kheo tay khóa cổ Độ, định làm cho ngạt thở. Đang ở thế thượng phong, Thuồng Luồng không chú ý để hở sườn phía dưới. Nắm ngay cơ hội, Độ dùng ngón tay sắt bấu vào những dẻ sườn của Thuồng Luồng rồi bóp mạnh. Miếng móc sườn này thật khó bởi vì lồng ngực vừa tròn vừa nhẵn đâu có chỗ nào để bám vào. Nhưng vì Thuồng Luồng dướn người, đang tập trung hết lực để bẻ gãy cổ Độ, nên cái bụng hở ra. Nếu như Độ là một đô tầm thường, anh sẽ cuống quýt vì ngạt thở và chỉ lo thoát ra khỏi cánh tay sắt, đằng này Độ khác hẳn. Một mặt Độ gồng cổ lên để chống miếng khóa gáy; một mặt, Độ phản công dùng tay móc vào bụng, chỗ tiếp giáp với xương sườn rồi bóp mạnh. Dính miếng này, địch thủ dễ bi bẻ gẫy xương sườn như bỡn. Trán chàng đô biển vã mồ hôi. Mặt chàng đô biển từ hồng hào chuyển sang tái nhợt, rồi mắt trợn lên vì đau đớn. Cánh tay khóa cổ lỏng ra. Đáng lẽ Độ bẻ gẫy xương sườn đô biển, nhưng vì thương tình, nên nhân lúc đô biển loạng choạng, anh chỉ đẩy hắn ra khỏi vạch mà thôi.
Độ lấy tay giật ba tấm lụa và cái túi tiền thưởng trong tiếng hoan hô vang dội của người đứng xem và tiếng trống chiêng vang lên rộn rã. Keo vật của Độ từ bại chuyển thành thắng làm cho mọi người trầm trồ bàn tán mãi.
Độ thắng nhưng anh rất cảnh giác. Anh vội vàng thay quần áo đến cám ơn cụ trùm sới rồi đeo tay nải lên đường ngay. Thường thường ở những cuộc tranh giải gay go như thế này, bên thua cay cú có khi nhảy ngay vào sới vật gây xô xát. Và Độ cảnh giác như vậy cũng không thừa. Ra khỏi làng Voi một quãng, anh trông thấy một toán người đứng đón đường phía trước. Vì đã chuẩn bị nên Độ rất bình tĩnh, lấy từ hai tay nải ra hai quả trùy buộc dây xích. Đó là thứ vũ khí đối địch với đông người. Như đã nói, Độ sử dụng loại vũ khí này rất thiện nghệ, anh vung lên vù vù đang gọi là quỷ khóc thần sầu. Anh chỉ định xua đuổi bọn đồng đảng của đô Thuồng Luồng chứ không muốn sát thương bọn họ. Nhưng bọn này thấy Độ chần chừ nên định làm già. Chúng vẫn cứ xông vào, đứa nào cũng tay dao tay gậy. Bất đắc dĩ, Độ đành phải ngồi xuống dùng hai quả trùy xích quét vào chân bọn chặn đường. Bốp bốp bốp. Liên tiếp ba thằng bị đòn lăn quay ra. Còn hai thằng cuối cùng, Độ không thèm dùng vũ khí nữa, chỉ bằng tay không qua mấy đường đấm đá, anh đã hạ gục được ngay.
Bọn Thuồng Luồng là bọn cướp biển, từ đảo vào đất liền. Băng đảng của chúng mới tan tác. Độ dựng lều tạm trong rừng tìm là thuốc chữa thương cho bọn chúng. Năm tên cướp liền bái Độ làm tướng. Từ đó, băng cướp Thuồng Luồng ngày càng đông. Chúng hoành hành suốt dải bở biển phía bắc, có lúc xâm nhập cả vùng Bắc Giang, Hải Dương.
*
*      *
Trận cướp bóc thứ nhất là một nhà hào phú trên trăm mẫu ruộng ở miền núi Hải Dương. Trận thứ hai cướp một nhà buôn lớn ở Móng Cái. Trận thứ ba đánh một thuyền buôn lậu của Tàu Ô trên biển Bái Tử Long… nói chung phương châm của toán Thuồng Luồng cũng không đi quá được câu “thay trời hành đạo”, “lấy của giàu chia cho kẻ nghèo”. Nhưng đã là người giàu, hễ kháng cự, họ chém ngay không tha.
Cướp phá một cách chọn lọc như vậy mới đầu thì dễ vì nó bất ngờ, nhưng sau đó băng cướp gặp khó khăn vì những nhà giàu trong vùng đã biết mình đang là mục tiêu nên ra sức đề phòng. Thuyền buôn lớn trên biển đã thuê lính hộ tống.  Những nhà cự phú đã tổ chức tráng đinh chống cướp. Hết cách làm ăn lớn, đảng Thuồng Luồng phải xé ra thành các toán cướp nhỏ để kiếm sống. Họ biến thành các toán cướp đường. Và than ôi! Cái lý tưởng “lấy của người giàu chia cho người nghèo” lúc này chỉ còn như ngọn đèn leo lét, lờ mờ chỉ chực tắt. Toán cướp nhỏ do Độ cầm đầu ở lục ngạn đã có lúc nương náu trong rừng một tuần liền không có món ăn. Gặp toán nông dân đi gặt thuê về, Độ cũng trói hết cả lại và lột hết tiền bạc. Một thợ gặt bảo:
-         Nghe nói các ông nhân nghĩa lắm cơ mà. Bây giờ lại đi ăn cướp của cả những thằng khố rách áo ôm chúng tôi sao.
Bộ hạ của Độ nổi nóng rút dao tóm cổ kẻ táo tợn dám có lời chống đối:
-         Chán sống rồi hả. Chúng tao ăn gan người không biết tanh đâu.
Độ vôi gạt đi, chắp tay vái người thợ gặt.
-         Hôm nay chúng tôi làm thế này, chẳng qua bất đắc dĩ.
Nói rồi, chia nắm tiền ra làm hai, trả lại đám thợ gặt một nửa. Độ thấy khổ sở, khi thấy mình đã biến thành một kẻ ăn bẩn. Nhớ lời ông thầy già lang thang “Ninh thọ tử, bất ninh thọ nhục” nên anh lại quyết định một chuyến làm ăn lớn. Mục tiêu của anh trận này nhằm vào một đồn điền trồng cam. Đồn điền của một phán toàn xứ. Gia đình này giàu lắm, bà vợ buôn tơ lụa sang Pháp. Tuần nào gia đình họ cũng đánh xe ôtô từ Hà Nội về nghỉ một hai ngày. Trận cướp diễn ra vào hai giờ đêm hôm thứ bảy. Tên dò la thám thính đã tận mắt trông thấy hai chiếc ôtô bóng lộn buổi chiều đã vào đồn điền. Rồi tiếng kèn hát Tây vang lên inh ỏi. Rồi các cô thiếu nữ mặc quần trắng áo dài đeo kiềng vàng, xuyến thướt tha nhảy múa. Độ thầm nghĩ. Chắc họ mang nhiều tiền. Mà ngoài tiền, còn kiềng vàng, hột vàng, xuyến vàng, nhẫn vàng nữa chứ.
Trận cướp diễn ra đúng như kế hoạch. Năm con chó ta của đồn điền thấy đuốc sáng liền xồ ra sủa vang, nhưng thấy đám cướp người nào cũng cầm dao sáng loáng nên vừa sủa vừa lùi. Chỉ có con bẹcgiê to cao như con bê dám hùng hổ xông lên không chạy. Hai nhát chém hung bạo làm con bẹcgiê rú lên rồi nằm sóng soài. Điều mà Độ không ngờ là những tiếng sung bỗng nổ giòn giã. Điều mà toán cướp không hay biết, do tên thám thính không tinh ý nhận ra, đó là hôm ấy có ba thanh niên cháu và bạn của con chủ nhà đã vác súng săn đi theo. Họ dự định một chuyến săn hươu nai. Vì định săn thú to, nên đạn của họ nhồi những viên chì lớn có khả năng sát thương người. Súng nổ rất to. Đạn vãi ra tung tóe. Đám cướp có tên chết ngay tại trận, và hai ba tên bị thương, đã thất bại thảm hại, lập tức rút lui ngay. Lúc bấy giờ, gia nhân của đồn điền cũng đốt đuốc cầm giáo truy đuổi. Độ cũng bị thương vào ngực, vào đầu. Vết thương nặng, chính Thuồng Luồng phải cõng anh vào rừng trốn trui trốn lủi suốt hai ngày đêm.
 
Vùng núi ấy thuộc dãy núi Yên Tử, bên phía Bắc Giang. Mới đầu Độ còn tỉnh, sau đó mê man chẳng còn biết gì. Thuồng Luồng vừa đói vừa mệt, chảng biết xoay xở ra sao. Anh đành đặt Độ xuống đất, rồi đi tìm xung quanh. May mắn, anh nhìn thấy một ngôi chùa nhỏ xíu gần chân núi. Gọi là cái am thì đúng hơn. Xây gạch lợp tranh. Một ông sư gầy gò không xác định nổi tuổi đang gõ mõ tụng kinh. Thuồng Luồng phăm phăm định xông vào am, thì có tiếng gầm vang. Một con hổ vằn từ trong bụi bỗng xuất hiện vô cùng hung hãn. Thuồng Luồng kêu thét rút dao ra. Vị sư vội vàng chạy ra quát con ác thú.
-         Côi! Côi! Không được hỗn.
Con vật tên Côi, nghe tiếng ông sư liền lùi lại và đủng đỉnh đi vào rừng. Ông sư gầy gò bảo:
-         Đừng hung tợn với nó. Ai hung tợn là không xong với nó.
Thuồng Luồng vội quỳ xuống vái lậy vị kỳ tăng, kể lại sự tình, xin cứu giúp. Hai người vội tìm Độ, khiêng vào am. Ông sư vào rừng kiếm lá đắp vết thương và vắt nước cho Độ uống. Thuồng luông định chờ vết thương Độ đỡ sẽ lên đường, nhưng xem chừng không ổn. Thức ăn chỉ có mấy củ sắn nướng. Còn Độ thì  sốt lì bì trong cơn mê. Vả lại anh rất sợ con hổ. Con vật, đối với ông sư, nghe lời chẳng khác gì một con chó. Ông sư chỉ nói một tiếng là nó cúp đuôi đi ngay. Riêng đối với anh, nó luôn gừ gừ hầm hè. Cứ thấy Thuồng Luồng là nó nhe răng ra. Đi khỏi am là anh phải nhìn trước, nhìn sau, tay luôn luôn đặt trên chuôi dao. Ông sư kể chuyện:
-         Con hùm con này mồ côi mẹ từ lúc mới sinh. Mẹ nó bị sa bẫy. Tôi đem nó về nuôi bằng cháo. Đã ba năm rồi. Đối với tôi, nó như một con chó. Nó ở trong cái hang gần am. Đã mấy lần tôi thả nó vào trong rừng nhưng chỉ được chừng bà hôm, nó lại quay trở về. Đối với các vị ni ở bên kia núi nó quen rất nhanh. Riêng đối với anh không biết sao nó lại xung khắc như vậy. Đã năm hôm rồi mà trông thấy anh nó vẫn gầm gừ… hay là thế này… xem chừng anh Độ còn lâu mới tỉnh. Nếu anh tin tôi thì cứ để Độ ở đây. Tôi sẽ chữa và chăm sóc cho bằng khỏi. Vả lại nếu anh ta có mệnh hệ nào thì tôi sẽ chôn anh tan gay đằng sau chùa, để ngày ngày anh ta được nghe kinh của đức Phật từ bi, được sám hối những tội lỗi ở chốn nhân gian.
Thuồng Luồng nghe lời ông sư nói cũng phải. Vả lại ngày ngày đi nhổ sắn ở chân núi anh cũng biết chứ. Ruộng sắn từ lúc anh tới đã vơi đi một nửa. Sức anh ăn khỏe. Gấp ba, bốn sức ăn của vị sư gày mà vẫn thấy đói. Thuồng Luồng liền quỳ xuống lạy nhà sư:
-         Trụ trì mang ơn cứu mạng an hem con. Thật từ bi như trời như biển. Con đành phải ra đi. Còn tính mệnh của bạn con, trăm sự đều trông cậy vào sự tế Độ của nhà chùa.
Trước khi Thuồng Luồng lên đường. Nhà sư nghiêm nghị nói;
-         Con hãy nhớ lấy câu này. Tại sao con Côi của ta, đối với con, lại cứ gầm ghè như vậy. Con hiểu ý ta chứ.
Thuồng Luồng, đầu vẫn sát mặt đất, suy ngẫm rồi trả lời.
-         Dạ, vâng. Con hiểu.
Anh ta hiểu những gì chỉ có lòng anh biết, chỉ có nhà sư mới biết, có lẽ nhà sư đã rải tâm từ vào đến tận thẳm sâu trong tâm hồn anh ta.
Độ có một thân hình cường tráng khó ai bì kịp,  có một sức chịu đựng siêu phàm khó ai sánh nổi. Cho nên một tháng ròng hôn mê, chỉ thỉnh thoảng nhận được một hớp nước cháo, thế mà anh vẫn không chết. Sau tháng hôn mê, anh ta mở được mắt. Anh ta mở mắt nhưng vẫn chưa dậy được. Lại một tháng nằm liệt. Tâm hồn anh hình như phải bò lết, nhoai dần leen từ miền âm ty, sang miền ánh sáng. Anh ta cứ từ từ, dần dà nhích lên từng phân nhỏ tìm về sự sống. Cho đến lúc anh hoàn toàn tỉnh táo và ngồi lên được phải mất chừng bốn tháng. Nhà sư bảo:
-         Thế cũng tốt. Mấy tháng ròng đi về cõi sống, người con đã tẩy rửa, rũ bỏ được bao nhiêu bụi bặm. Con đã thanh sạch đi rất nhiều.
Khi ý thức được mọi điều, Độ nhìn vị sư già chẳng chút ngạc nhiên. Anh thấy vị sư rất quen, rất thân thiện. Rồi anh chảy nước mắt rập đầu lạy sư.
-         Sao con lại khóc? – sư hỏi.
-         Con gặp thầy, thấy người rất quen. Cứ nghĩ là thầy đã chăm con từ lúc mới sinih.
Nói xong Độ òa khóc.
-         Con cứ khóc đi. Chắc là con nghĩ tới cha mình. Có thể con đã không nghe lời người. Con cứ khóc đi. Nước mắt cũng là lời sám hối.
-         Vâng. Bao nhiêu năm nay, chắc là cha già của con đã chết rồi.
Sư Vô Úy gặp sư Khoan Độ như vậy đó. Bốn, năm tháng trời tận tụy, sư mới dìu được người đồ đệ về cõi sống. Khoan Độ cũng hiểu được ơn cứu tử ấy. Độ nhận sư là cha, nhưng sư bảo:
-         Không phải ta cứu con đâu. Lòng từ bi của phật đã cứu con.
Và cũng thật kỳ lạ. Chẳng những sư Vô Úy nhận anh, mà đến cả con hùm mồ côi cũng nhận anh. Gặp Thuồng Luồng, hùm mồ côi gầm gừ, nhưng trông thấy anh nó lại vẫy đuôi. Trông con hổ dữ vẫy đuôi như một chú cún con, sư Vô Úy bảo.
-         Loài ác thú cũng hiểu hết đấy.
Không biết có phải vì con vật vẫy đuôi với anh, tức là nó chứng nhận một điều gì đó tốt lành trong anh hay không, hay là còn vì một điều gì khác nữa. Đã ba lần anh xin với thầy cho anh cắt tóc đi tu mà thầy không nhận. Mãi cho tới sáng hôm ấy, khi anh thức dậy ra trước cửa am vươn vai, thì con hùm Côi từ bụi rậm đi ra, tiến về phía anh vẫy đuôi. Con hùm không bao giờ gầm gừ khi thấy anh, tuy vậy anh vẫn sợ nó; thường thì anh vẫn né tránh đi lối khác khi trông thấy nó. Nhưng sáng hôm ấy, anh vẫn đứng nguyên khi nó lại gần. Đứng nguyên mà lòng run rẩy. Nhưng rồi anh cũng bình tĩnh được. Cũng không hiểu tại sao anh còn có lòng can đảm đi về phía nó, và lại còn dám giơ bàn tay vuốt ve đầu nó. Có tiếng cười ròn: “tốt lắm, các  con tốt lắm”. Đó là tiếng sư Vô Úy, ông đã đứng ở hiên am. Và cũng từ hôm ấy, sư mới bằng lòng cắt tóc cho sư Khoan Độ.
 
1
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 28.03.2015 11:12:28 bởi Ct.Ly>
Chương 14:
 
Sư cụ và thầy giáo Hải
 
Chùa bị giặc khám xét. Thầy tôi bị giặc bắt giam. Sư bác trốn ra vùng du kích rồi lại liều mạng trở về chùa cứu chữa cho thầy tôi. Dạo ấy chùa Sọ thật tiêu điều, hãi hùng. Người ta cứ bảo ngôi chùa là nơi tĩnh mịch, ai vào đấy là trốn được cuộc đời. Thì ra, trong thời loạn, bão tố không trừ nơi nào cả. Bão tố, bạo quyền ngang nhiên xông xáo cả nơi Phật đường. Ôi! Ngôi chùa quê hiền lành bé nhỏ của tôi! Thương biết bao.
Tuy nhiên những ngày ấy với tôi thật là bổ ích. Tôi vào chùa là do ngẫu nhiên. Do vậy, có thể nói tôi là một nhà sư bất đắc dĩ. Duyên trời đã dẫn tôi đến với đạo Phật, cho nên tôi nhập đạo mà chưa có ý thức. Chỉ đến lúc ấy, ở bên cạnh chăm sóc cho thầy, tôi mới hiểu được cái thâm sâu uyên áo của Phật. Thầy tôi không bỏ lỡ cơ hội để truyền lại cho tôi cảm hứng cao thượng của con người đi trên đường Đạo. Đến lúc ấy tôi mới biết sư tổ Vô Chấp, cuộc đời thầy tôi, cuộc đời sư huynh Khoan Độ. Tôi mới hiểu thế gian này mới lắm truân chuyên, vốn vô thường. Tôi càng biết về số phận những bậc tiền bối, tôi càng thấy yêu ngôi chùa của mình hơn. Khi biết rõ hành trình đến đạo của thầy Vô Úy, tôi càng yêu và kính trọng thầy mình hơn. Qua những câu chuyện, tôi biết ngoài sư huynh Khoan Độ, tôi còn một đại sư huynh. Vị đó là một động vật. Vị sư huynh đó còn ở nơi rừng thẳm, hay đã hóa thân rồi, ai mà biết được. Vì tâm từ, đức Phật đã cảm hóa được con voi dữ say rượu. Đó là chuyện thời xưa. Còn thời nay, thầy của tôi cũng có thể cảm động được loài vật hung dữ. Chuyện tưởng như huyền thoại, nhưng mà là có thật. Tôi đã vào chùa, nhưng trong thâm tâm, tôi cứ cho rằng lòng từ bi ở cõi đời, ngày nay hầu như bị cạn kiệt. Bây giờ tôi biết sự hoài nghi đó không đúng. Thế ra, với tôi những ngày tu hành vẫn chưa đủ để xóa đi những cay đắng thù hận của mình.
Đối với tôi, một tâm hồn non nớt, hình ảnh người cha bị cắt cổ trong ngôi miếu giữa đồng thật quá sức ám ảnh. Hình ảnh ấy đeo bám, hằn sâu trong óc tôi mãi đến nỗi mấy năm ở chùa rồi, nó vẫn chưa chịu phôi phai. Đến nỗi nó tạo ra một tinh thần hoài nghi. Tôi luôn cảnh giác hoài nghi sự thánh thiện ở con người. Khi chị em tôi đến chùa, con mắt của thầy Hải nhìn chị Nguyệt, là tôi hiểu ngay tình cảm của thầy. Sự hoài nghi làm người ta rất bén nhạy. Con mắt của sư bác Khoan Độ nhìn chị Nguyệt cũng rất lạ. Điều này tôi cũng nhận thấy. Đừng tưởng là tôi ngây dại. Tôi đã đem điều hoài nghi này hỏi thẳng thầy tôi. Sư phụ bảo:
-         Thầy còn lo lắng gấp mười con. Sự thanh sạch của ngôi chùa là phải tuyệt đối. Người đã tu hành, dù một ý niệm không đúng dấy lên trong óc cũng không được phép. Nếu không chịu được giới luật thì trở lại đời thường. Không ai ép buộc tu hành. Nhưng đã đi tu thì sư phải ra sư.
Cho đến khi sư phụ tôi kể lạ câu chuyện về đời sư Khoan Độ, thì tôi mới vỡ lẽ. Hóa ra chị vợ ăn mày của bác xưa kia, là chị Khoai rất giống với chị Nguyệt tôi. Theo như bác Độ nói: “Giống như hai giọt nước”. Cuộc đời bi thảm của chị Khoai. Rồi hai kiếp người xấu số ấy gặp nhau. Nỗi đau khổ sự biết ơn nhau đã tạo thành một mối tình lớn, đã làm cho sư Khoan Độ đã đi tu rồi vẫn không thể quên được hình bóng xưa. Cho nên, khi trông thấy chị Nguyệt tôi, sư bác bỗng bàng hoàng nhớ lại chuyện xưa. Tuy nhiên, cảm giác ấy chỉ xảy ra lúc ban đầu thôi.
Nghe sư cụ giải thích như vậy, mới đầu tôi còn ngờ ngợ. Về sau, lại được nghe câu chuyện về ngón tay út của sư Độ thì sự hoài nghi của tôi mới hoàn toàn tiêu tan. Như tôi đã kể, bàn tay trái của sư Độ bj cụt ngón út. Sư phụ tôi nói:
-         Y thuật là một bể học rộng mênh mang. Những điều mà bà cụ nội và cụ thân sinh dạy cho ta chỉ là một góc nhỏ xíu trong bể học. Y thuật của ta không giỏi về ngoại thương. Khi tên cướp Thuồng Luồng mang Khoan Độ đến am của ta, Độ bị thương rất nặng. Một vết đâm giữa ngực. Ta đem hết sở trường ra chữa cho Độ mà vết thương cũng chẳng lành. Ta nghe theo lời Độ vào rừng lấy lá đắp cũng không kết quả. Cuộc chữa trị kéo dài, sinh mạng Độ thì như ngọn đèn leo lét có thể tắt bất cứ lúc nào. Sư huynh con héo hon, chỉ còn da bọc xương. Ta vẫn kiên trì chữa trị. Vừa chữa vừa đọc kinh hàng ngày. Chính lúc cận kề cái chết như vậy, Khoan Độ như chợt bừng tỉnh. Độ xin ta giảng giải cho mình về những điều Phật dạy. Ta nghĩ: Con người sắp chết là con người khao khát chân lý nhất. Giờ phút sắp hóa thân chuyển sang thế giới khác là giờ phút con người cần sự hướng dẫn nhất. Trước khi bước qua cửa tử con người cần phải chuẩn bị một hành trang chu đáo như con người sắp sửa một chuyến đi xa. Con người cần được sám hối, cần được tha thứ những chuyện đã qua để thanh thản bước sang một chặng đường mới.
Giữa ta và sư huynh Khoan Độ của con lúc ấy là như thế này. Ta nói sư huynh con nghe. Hoặc sư giao cảm không diễn ra bằng lời nói, mà bằng sự tiếp xúc. Ta nắm chặt tay Khoan Độ. Ta im lặng, nhưng tâm từ bi của đức Phật chuyển qua bàn tay ta đến trái tim Khoan Độ để xoa dịu nỗi đau. Nghĩa là ta nói bằng Tâm và Độ cũng nghe bằng Tâm.
Bằng cách ấy, không ngờ ít lâu sau vết thương thuyên giảm tuy chưa khỏi hẳn. Cơ thể trong quá trình ốm đau gầy rộc đi. Đó là quá trình tiêu hủy. Cùng với sự tiêu hủy ấy, bao nhiêu cái độc địa tích tụ trong cơ thể từ xưa đến nay cũng tan chảy theo ra ngoài. Cuối cùng, con người như được thanh lọc, được mát mẻ trở lại. Như thể con người được tái sinh. Bản thân Khoan Độ cũng kinh ngạc về sự sống này. Bởi vì khi Độ bảo ta vào rừng hái lá, tức là Độ đã dùng tới phương thuốc bí truyền của cha mình. Khi dùng phương thuốc mà không có tác dụng thì vết thương không thể chữa được nữa. Vậy thì vết thương này khỏi không phải do thuốc chữa khỏi. Sư huynh Khoan Độ của con bỗng chốc hóa thành một người khác hẳn. Độ nhất quyết xin quy y. Khoan Độ trở thành một phật tử sùng tín ta chưa từng thấy. Nói như người xưa, sư huynh của con là “kẻ đồ tể buông dao trở thành Bồ tát”. Lúc ấy sư huynh con còn yếu lắm. Hầu như chẳng còn sức lực làm một việc gì. Cứ vận động chân tay là thở dốc. Một bận Khoan Độ nói với ta:
-         Thưa thầy. Thân xác của con nhờ có phép lạ của Phật nên còn sống. Con có duyên mới gặp được thầy. Con muốn sám hối những việc đã làm. Con xin có lời nguyền sẽ suốt đời đem tấm thân này để bảo vệ Phật pháp. Để chứng cho lời nguyền đó, con xin đốt một ngón tay để cúng Phật.
Nghe vậy, ta không tán thành. Khoan Độ vô cùng ốm yếu. Làm vậy, có thể nguy hiểm đến tính mạng. Khoan Độ liền khóc và nói rằng:
-         Con đã nghĩ ký. Con phát nguyện xin đốt ngón tay cũng Phật. Dù có chết cũng không thể vì thế mà bỏ.
Cuối cùng, ta vô cùng xúc động trước lòng thành của Khoan Độ và phải bằng lòng. Ta vào rừng hái hoa, kiếm quả dại làm đồ tế trai. Rồi phải dạy sư huynh con bài kinh sám hối và biết các nghi lễ. Sáng sớm hôm ấy ta thắp hương đăng tiến hành lễ Phật, tụng kinh, gõ mõ. Sau khi tụng niệm, ta giúp Khoan Độ buộc giẻ vào ngón tay út bàn tay trái, tẩm dầu, rồi dìu Độ ngồi dựa lưng vào cột, trước điện thờ Phật. Sau khi châm lửa, sư huynh con nhắm mắt, và nhất tâm niệm Phật. Ta tụng kinh gõ mõ để gia hộ cho Khoan Độ. Thiêu một ngón tay cúng phật đâu phải chuyện dễ dàng. Ngay cả các vị tu hành đã nhiều tuổi, họ có định lực kiên cường cũng khó làm việc này. Sư huynh con mới đầu cảm thầy đau nhức khủng khiếp. Chỉ một ngón tay cháy, nhưng cứ như toàn thân đang bốc lửa. Cái đau nhức như những mũi khoan xuyên vào tim, vào óc. Khoan Độ vẫn nhât tâm tụng niệm. Rồi dần dần sự an nhiên trở lại với Độ. Cái đau đớn mỗi lúc một giảm đi như có phép lạ, để cuối cùng là sự nhẹ nhõm thanh thản. Ta nhìn Khoan Độ, lòng vô cùng khâm phục khi ngọn lửa tắt.
Một điều kỳ lạ nữa xảy ra. Lúc trước ta phải dìu Khoan Độ mới đi được. Còn lúc này, sư huynh con bỗng tự mình đứng lên đượ, rồi một mình ra trước điện lễ Phật. Hình như bao tật bệnh đã tiêu tan hết. Ngọn lửa ngón tay đã thiêu đi nốt những mệt mỏi, đau đớn cuối cùng rong người sư huynh con. – thầy tôi kể xong, kết luận –một người đã dám làm như vậy, đã quyết tâm nguyện suốt đời bảo vệ Phật pháp như vậy, ta hoàn toàn tin ở Khoan Độ.
Tôi cũng vậy. Sau câu chuyện ấy, tôi cũng hoàn toàn tin ở sư huynh. Và tôi cũng như xấu hổ vì sự hoài nghi của mình. Bởi vì một người chỉ nhìn thấy một người giống vợ mình mà đã dấy lên trong lòng sự thương xót người xưa phải là một người chân tình, trọng nghĩa.
Tuy nhiên, dù sao đi chăng nữa, sư phụ tôi cũng kén rể, cũng phải cưới chồng cho chị Nguyệt tôi. Sư phụ nhất quyết không cho chị tôi cắt tóc quy y. Phải chăng người nhìn thấy ở chị còn nhiều nghiệp chướng nên cần phải trả nợ xong với đời mới có thể giải thoát. Hay là do bởi chị Nguyệt tôi quá đẹp. Người đàn bà đẹp mà đi tu thì thật phí phạm. Người đàn bà là một vật quý hiếm. Tạo hóa sinh ra người đàn bà đẹp để dâng hiến tô điểm cho cuộc sống trần gian. Cớ sao lại giấu nó đi. Cớ sao một bong hoa lại phải đi ở ẩn. Hơn nữa, người đàn bà đẹp đi tu có thể gây họa cho chùa.
Và điều kỳ lạ hơn nữa là người thầy chọn cho chị tôi không phải một Phật tử thuần thành mà lại là một người luôn phản biện Phật giáo. Người đó là thầy giáo Hải.
Thầy giáo Hải hay đến chùa. Sư phụ tôi tiếp thầy trân trọng. Lần gặp nào sư phụ cũng mang trà ướp hoa ngâu, hoa sói, những thứ trà sư phụ tôi quý nhất, mà thầy giáo Hải cũng khen là ngon nhất. Và lần gặp nào, tôi cũng bắt buộc phải làm tiểu đồng hầu trà, để quạt lò để sai vặt. Cũng có thể sư phụ bắt tôi hầu trà để tôi được nghe chuyện, để được mở rộng kiến văn.
Thầy giáo Hải đến chùa, tôi chắc là để có dịp nhìn mặt chị Nguyệt tôi, nhưng cũng có lẽ là để được đàm đạo với sư phụ thôi. Gọi là đàm đạo, nhưng thực ra một người hỏi một người trả lời. Người hỏi là thầy giáo, đóng vai phản biện, đóng vai một người ngoại đạo hỏi một bậc cao tăng. Thầy giáo Hải là người Tây học, đọc sách nhiều. Những vấn đề thầy hỏi do đó rất bất ngờ và thâm sâu. Trả lời cho minh bạch cũng là chuyện khó.
Ví dụ có bận thầy Hải hỏi:
-         Bạch sư cụ. Thiên Chúa giáo nói đến Thiên đàng. Phật giáo nói đến Niết bàn, miền cực lạc. Phải chăng các tôn giáo đều khuyên con người ta ráng tu hành ở kiếp này, rồi chờ cho đến sau khi chết, ta mới được hưởng thành quả của sự tu hành. Nghĩa là đi tìm một thế giới lý tưởng hão huyền mà chả ai biết rõ nó thế nào. Nghĩa là đi tìm một thế giới bánh vẽ chỉ có trong tưởng tượng.
Đúng như trong câu hỏi của thầy giáo tôi, có ai đã sống ở Niết bàn bao giờ mà có thể mô tả, giải thích cho nó rõ rang. Sư phụ tôi cũng không ngoại lệ. Cho nên người phải ngồi trầm ngâm, mấy lần nhấp chén trà. Cứ tưởng sư phụ tôi bí, phải khất câu trả lời. Nhưng không ngờ, sau một phút trầm ngâm, sư phụ tôi chậm rãi nói. Sư phụ không trả lời bằng lý thuyết mà bằng một câu chuyện:
-         Ngày xưa, ở nước Nhật, có một chàng võ sĩ samurai. Anh ta là người đã lập được nhiều chiến công hiển hách. Lưỡi gươm của chàng samurai đã đâm chết nhiều kẻ thù lừng lẫy. Võ sĩ nổi tiếng và oai phong đến nỗi kẻ dân thường đứng trước mặt đầu không dám ngẩng nhìn và chân tay run rẩy. Khi đã lên tới tận đỉnh vinh quang, võ sĩ bỗng cảm thấy vinh quang cũng không lấp đầy được chỗ trống trong tâm hồn mình. Chàng võ sĩ luôn cảm thấy cô đơn. Bèn quay ra đọc sách. Đọc rất nhiều sách, cuối cùng đọc sang đạo Phật. Có rất nhiều điều không hiểu, chàng võ sĩ liền tìm đến một thiền sư nổi tiếng. Chàng võ sĩ lớn tiếng hỏi:
-         Kính thưa đại trưởng lão. Tôi đã đọc nhiều sách Phật. Thế mà đến nay tôi vẫn không hiểu Địa ngục là gì, Niết bàn là gì. Sách giảng vô cùng rắc rối.
Chàng võ sĩ đinh ninh tin rằng mình là một võ sĩ uy danh chấn động; vị sư già còn cõi kia được một võ sĩ công huân đến hỏi; chắc chắn đó là niềm vinh hạnh hiếm có; vậy tất nhiên ông già phải trả lời cặn kẽ và cung kính. Nhưng trái lại với sự suy đoán của chàng samurai, và cũng trái lại với thái độ sợ hãi vốn có của một người khi gặp võ sĩ, vị sư già trước mặt an vẫn điềm tĩnh bình thường. Không những thế, ông già còn lớn tiếng mắng chàng võ sĩ lừng danh bằng những lời lẽ khinh miệt mà chàng chưa bao giờ nghe:
-         Hỡi kẻ võ biền lỗ mãng kia. Nhà ngươi là một kẻ suốt cả đời chỉ biết chém giết. Ngươi làm sao hiểu nổi những lời cao siêu về Đạo. Về đi! Hãy về đi! Ta nói chỉ phí lời. Đừng làm mất thời giờ của lão nạp.
Là võ sĩ nổi tiếng, anh ta coi thường sống chết, anh ta rất trọng danh dự, coi danh dự là điều cao nhất. Cho nên khi bị lăng nhục, anh ta điên cuồng nổi giận. Võ sĩ bèn rút kiếm, hét vang trời:
-         Hỡi lão già hỗn xược. Người sẽ chết dưới lưỡi kiếm của ta vì những lời láo lếu.
Vị sư già liền chắp tay trước ngực, điềm nhiên nói:
-         A di đà Phật. Xin thí chủ bình tĩnh. Chính lúc này thí chủ đang ở trong Địa ngục.
Chàng võ sĩ nghe vậy liền sững lại. Chỉ một thoáng suy nghĩ, chàng võ sĩ thông minh bỗng hiểu ngay thiền sư phỉ báng mình vậy chẳng qua là để giảng giải một cách sinh động thế nào là Địa ngục. Cách giảng giải thật đúng. Chàng võ sĩ kinh ngạc, vội tra gươm vào vỏ. Cơn cuồng nộ trong chàng vụt tan biến lập tức. Ông cúi mình cảm tạ lão thiền sư một cách rất cung kính:
-         Bạch thầy. Chỉ một lời nói giản dị của thầy, con đã hoàn toàn đốn ngộ.
Vị sư già nghe vậy, một lần nữa lại chắp tay trước ngực và điềm nhiên nói:
-         Lành thay! Lành thay! Chính lúc này, thí chủ đang ở cõi Niết bàn.
Câu chuyện thật thú vị, sinh động. Hóa ra Niết bàn và Địa ngục nằm ngay trong cuộc đời này. Một hành động từ bi, một giây chánh niệm, lập tức Niết bàn mở ra với ta. Còn trái lại, một phút giây sau. Ta lại sa hỏa ngục.
Thầy giáo Hải bảo sư cụ Vô Úy chính là một vị Bồ tát. Chị em tôi được cụ nhận một người làm con nuôi, một  người là học trò,điều ấy là một hạnh ngộ. Làm con, làm học trò thì phải hiểu về cha mình, thầy mình. Có như vậy, lòng yêu kính càng thêm sâu sắc.
Tuy thầy giáo trọng sư cụ Vô Úy như vậy, nhưng điều ấy vẫn không ngăn được những câu hỏi, những thắc mắc của thầy. Chú tiểu đồng nhỏ là tôi vẫn thường được nghe những cuộc tham vấn giữa thầy giáo và sư phụ tôi. Những cuộc trò chuyện nhỏ nhẹ thôi, nhưng theo tôi nghĩ, thật phức  tạp, tế nhị.không giống như cách nói trong các kinh, lục Phật giáo, ở đó, Phật pháp là một chân lý hiển nhiên, và ngôn ngữ chỉ là một sự gợi ý. ở đó, người ta nói nhiều bằng vô ngôn, lời viết ra chỉ là điểm gợi ý, một điểm kích thích để sự giác ngộ đột nhiên bùng nổ. Còn ở những cuộc nói chuyện này thì lại khác. Thầy Hải dùng ngôn ngữ lý sự, thứ ngôn ngữ đời thường của thời hiện đại, cứ tưởng như dễ dàng, mà lại vô cùng khó khăn.
Thầy giáo tôi hỏi:
-         Bạch hòa thượng, con người có linh hồn không?
-         Thầy giáo dùng chữ của Thiên Chúa giáo rồi. Tôi đã đọc nhiều kinh Phật. Song chưa bao giờ, tôi thấy đức Phật dùng chữ ấy.
-         Bạch hòa thượng, theo con hiểu thì Phật giáo là một tôn giáo vô thần. Phật giáo không cho rằng có một vị thần tối cao nào quyết định số phận con người. Không có thần linh nào khen thưởng hoặc trừng phạt con người. Tất cả đều do nhân quả. Nhân thiện, thì quả thiện. Nhân không lành, thì quả không lành.
-         A di đà Phật! Đúng vậy. Những tà niệm luôn luôn khởi trong ta. Thắng chính bản thân ta là việc khó. Làm sao để vô niệm, đó là công phu của người hành đạo.
-         Bạch thầy, đúng là con chưa nghe đạo Phật nói linh hồn bao giờ. Các học giả nói rằng đức Phật lảng tránh không nói những chuyện đó. Nhưng trong sâu thẳm Phật giáo không tin có linh hồn. Và như vậy nảy sinh một mâu thuẫn. Nếu không có linh hồn con người tái sinh như thế nào? Sao lại có thuyết luân hồi?
Sư phụ tôi lim dim đôi mắt:
-         Nói thực với thầy giáo, tôi chưa bao giờ bàn luận đến những chuyện như thế này. Tôi chỉ được nghe rằng đức Phật bảo những chuyện như vậy, nếu ta sa vào, ta sẽ như người lạc lối trong rừng rậm, trong sa mạc, sẽ chẳng bao giờ tìm được lối ra. Chúng chỉ tạo ra những cuộc tranh biện nảy lửa không bao giờ dứt. Để rồi sinh ra bực bội, có khi thành hận thù. Con đường Phật giáo là con đường dẫn đến yên tĩnh tâm hồn, dẫn đến minh triết. Con đường ấy là hành đạo chứ không tìm ra được bằng tranh cãi xa vời.
Trong cuộc thảo luận hôm ấy, thầy giáo Hải của tôi không lúc nào ngừng một giọng nói say sưa. Cho đến lúc tranh biện xong mà thầy vẫn nói. Có lẽ lúc ấy thầy tâm sự, hay là thầy tự tranh biện với bản thân mình.
-         Bạch hòa thượng, con không nhìn cuộc đời một cách bi quan. Bản thân con lại rất trân trọng Phật giáo. Nhưng khuynh hướng xa lánh trần thế không phù hợp với con. Con thú thật, những gì đang xảy ra ở đất nước ta, làm con thật đau đớn, thật não lòng. Thờ ơ được không? Và người Phật tử có thờ ơ không? Cái ý nghĩ Phật giáo là bi quan cứ lởn vởn trong đầu óc con, song con tự nhủ: hãy nhìn ra thế giới mà xem, nước Tàu nước Miến Điện rồi Thái Lan, Nhật Bản và cả dân ta nữa… một phần ba thế giới đi theo Phật giáo. Vậy, một tôn giáo bi quan liệu có đủ sức thu hút nhân loại thế không? Rồi còn biết bao nhiêu người thông minh tài trí nữa chứ. Họ cũng là những Phật tử. Như thế nghĩa là, ở đây còn rất nhiều điều tinh tế mà con chưa đủ sức khám phá. Con chưa hiểu hết, vậy thì con đâu có đủ thẩm quyền để đoán định những điều phức tạp, tế nhị có khi vô ngôn, ẩn tàng, mà bộ óc thô thiển của con người khi động chạm vào chỉ làm rối tung lên mà thôi… hay là tại con thiếu một đức tin. Mà đã là tôn giáo thì để hiểu nó, con người cần có đức tin, con người cần hiểu nó qua trái tim. ở đời, có những tiền đề mà người ta phải công nhận.
Đấy, thầy giáo Hải của tôi phát biểu thật chẳng mạch lạch chút nào. Một mớ câu hỏi, đối thoại, độc thoại. Công nhận. Phủ nhận. Nghi hoặc. Cả khiêm nhường lẫn kiêu ngạo. Sư cụ, thầy tôi nghe nhưng mặt không biến đổi. Tay cụ, trong lúc nói chuyện, không ngừng lần tràng hạt. Đợi cho thầy giáo Hải nói xong, cụ rót bát nước vối, mời khách uống xong, sư cụ mới cất giọng nhẹ nhàng:
-         Thầy Hải ạ, trên đường đời, nhiều người cũng đã suy nghĩ như thế. Nhờ những ưu tư, con người đi tìm đường để thức tỉnh. Hòa thượng Vô Chấp, thầy của tôi bảo rằng: ‘Đức Thế Tôn, lúc còn tại thế, không hề muốn giải thích tất cả mọi điều trên thế gian này. Người chỉ dạy cho các đệ tử những điều mà họ có thể hiểu và làm theo được, để con người tìm được đường giải thoát. Thầy tôi bảo: có lần đức Phật cầm một nắm lá khô trong tay và hỏi Ananđà, ngoài những chiếc lá khô trong tay ta, có còn những chiếc lá khô khác không?” Ananđà thưa: “Bạch Thế Tôn, này là mùa thu, lá rụng khắp nơi, không tài nào đếm xuể”. Phật Thích Ca gật đầu, rất hài lòng, nói: “Đúng vậy, ta đã trao cho các con một nắm chân lý như nắm lá khô trong tay ta vậy, nhưng ngoài nắm chân lý này còn muôn vàn những chân lý khác mà ta không đếm xuể…”.
Nghe câu nói ấy, thầy giáo Hải của tôi đứng ngay dậy. Ông chắp tay kính cẩn lễ bái hòa thượng rồi đi giật lùi ra cửa.
Đúng như thầy giáo Hải nói, ta muốn yêu thương ai thì ta cần hiểu rõ người. Càng hiểu rõ, ta càng yêu sâu sắc hơn. Điều này không đúng với lời hòa thượng dạy. Tâm từ của người Phật tử đều khắp cho chúng sinh. Tâm từ không phải tình luyến ái riêng biệt với người thân, tâm từ vượt lên tình huynh đệ, tình đồng chí, tình đồng bào, tình cha mẹ, vợ chồng. Nó không phân biệt thân sơ. Nhưng làm sao biết được. Tôi chỉ là một chú tiểu, một kẻ tập tu. Vậy thì sư quyến luyến đặc biệt với thầy mình chắc không phải là lầm lỗi. Chỉ biết rằng từ khi nghe thầy Hải nói chuyện với sư phụ, tôi thấy mình thương hòa thượng hơn, kính trọng hòa thượng hơn. Rồi những ngày ốm đau của thầy lại càng gắn chặt thêm tình cảm giữa hai người. Cảm giác tìm lại được người cha đến với tôi lúc nào chẳng hay.
Sư cụ lúc ấy khoảng chừng sáu mươi tuổi. Trông cụ như một lão nông. Cái đầu nhẵn thin. Lông mày dài đã bạc. Cái mũi to. Đôi mắt hơi xuôi xuống hai gò má. Răng đen. Đôi môi dày lúc nào cũng như thoáng cười. Người gầy gò tưởng như rất yếu đuối.
Nhìn cụ tôi suốt ngày bỏm bẻm nhai trầu, không ai có thể ngờ cụ thông thạo chữ Hán, chữ Quốc ngữ và ngay cả chữ Tây. Chừng một tháng sau, đôi chân sư cụ đã đỡ. Nhưng buổi chiều tôi thường dịu cụ ra ngồi ở thềm nhà tổ, trên một chiếc ghế thấp. Sư cụ dựa lưng vào tường để ngắm nhìn mấy bụi hoa sói, mấy cây hoa mộc và hàng cau trồng dọc theo lưng tòa thường điện. Tôi tưới hoa xong, đến ngồi dưới chân thầy. Chúng tôi im lặng ngắm nhìn đôi chim sẻ tha rác về làm tổ ở bẹ cau. Lũ chim sẻ thật lắm mồm. Một bầy bốn năm con ríu rít chẳng biết tranh nhau hay đang gọi nhau chui vào hốc trên bức tường rêu xanh rì. Sư cụ cứ ngắm mãi hàng cau, bầy chim và bức tường rêu đó. Chẳng biết tại sao, cụ bỗng hỏi tôi:
-         Con có nhớ cái bận ta nói chuyện rất lâu với thầy giáo Hải không?
Tôi ngớ ra. Hầu chuyện thầy Hải nhiều lần lắm, làm sao tôi nhớ hết. Mà không nhớ, bởi vì những cuộc nói chuyện ấy thường quá tầm hiểu biết của tôi. Nhưng cuộc nói chuyện dài nhất ấy tôi nhớ. Bởi vì lần ấy thầy Hải rất xúc động. Thầy nói rất hùng hồn. Lúc thì lúng túng, lúc thì sang sảng. Linh hồn ư? Có thể đó là một vấn đề rất quan thiết mà lại rất khó. Tôi còn ngờ vực trí nhớ của mình. Tôi còn chưa thốt ra lời nào thì hòa thượng đã đọc ra ý nghĩ trong đầu tôi:
-         Đúng đấy con ạ. Hôm ấy thầy giáo Hải nói về linh hồn. Đúng là trong kinh Phật không giảng giải hai chữ linh hồn. Nhưng theo ta thiển nghĩ là có linh hồn. Ông bà cha mẹ tổ tiên chúng ta vẫn nói thế. Mà bà nôi của ta cũng nói thế…
Hòa thượng nói đến đây bỗng ngừng lại. Mắt ông già xa vời như đang hồi tưởng lạc về miền dĩ vãng. Đây là lần đầu tiên sư cụ nói với tôi về gia đình mình, quá khứ của mình. Giọng sư cụ trở nên ấm áp và buồn buồn.
-         Lúc ta lên bảy thì em gái ta chừng lên ba. Lúc đẻ em bé mẹ ta băng huyết rồi chết. Ta còn nhỏ quá nên chẳng còn nhớ được khuôn mặt mẹ. Chỉ còn nhớ được đôi mắt mẹ rất to. Vài giọt nước mắt to bò lên trên má mẹ. Mẹ ta khóc vì lúc mẹ có mang em bé, thầy ta cũng bị bắt và bị đày ra đảo Côn Lôn. Thế là ta không có mẹ, suốt thời thơ ấu ở với bà nội. Ta còn bé nhưng đã biết suốt này cõng em cho bà đi làm đồng kiếm gạo. Vì chỉ bám lấy anh nên em quấn ta lắm. Tên em là cái Choắt. Thiếu sữa mẹ, bé tí tì teo, nên bà gọi nó là Choắt. Choắt hay khóc. Chẳng ai dỗ được, nhưng anh Sinh bế là Choắt nín ngay. Lên ba tuổi thì Choắt ốm. Choắt bị bệnh nôn. Ăn gì cũng nôn ra. Choắt đã bé tí lại không ăn được gì nên chỉ năm ngày sau đã thoi thóp hấp hối. Ta phải ôm nó suốt ngày đêm. Hễ ta cứ buông ra là nó lại khóc. Nó bảo:
-         Sinh ơi. Choắt rét lắm.
Rồi:
-         Sinh ơi! Anh đừng nhè, Choắt không nhè đâu.
Choắt chết lúc nửa đêm. Lúc chết mắt Choắt cũng to giống đôi mắt mẹ. Và cũng có hai giọt nước mắt rất to. Ta nhớ khi ấy ta thương em mấy ngày liền cứ ngồi ở thềm nhà mà khóc. Ai dỗ cũng không nguôi được. Bà nội tối nào cũng ngồi cùng với ta ở thềm nhà. Ta hỏi:
-         Người chết xong đi đâu hở bà?
-         Người chết nhưng hồn vẫn còn – Bà nói – Hồn người chết vẫn nhớ thương người sống nên vẫn lẩn quất bay quanh nhà.
-         Con chẳng trông thấy hồn em Choắt.
-         Con cứ nhắm mắt lại và cầu khấn, chắc hồn sẽ hiện về.
-         Có thật không hở bà?
-         Thật chứ! Nào con nhắm mắt lại đi.
Ta nhắm mắt lại và lẩm nhẩm trong lòng. Tả bảo “Em Choắt ơi! Anh thương em lắm. Em có nhớ anh thì hồn hiện về đi”. Ta bỗng choàng mở mắt vì bà nội bỗng gào thét reo lên: “Kìa nó đã về rồi”. Bà nội giơ tay chỉ vào ngọn cau. “Choắt đang vẫy gọi anh Sinh kìa”. Quả thật có một sự lạ hiện hình. Tối mùa hè oi ả. Không một ngọn gió. Cây nhãn đứng im. Bụi tre không lắc lư cót két. Ba cây cau trước nhà thì hai cây thẳng đơ im phăng phắc. Chỉ có cây cau đứng giữa là đung đưa, rồi những tàu cau rung lên bần bật như múa, như gọi, như vẫy tay. Đúng rồi. Đúng là em gái đang gọi tôi rồi. Tôi òa lên nức nở: “Em Choắt ơi!”. Bà nội tôi vỗ vào vai tôi:
-         Con khóc nhưng đừng khóc nhiều quá. Hồn em con hiện vào cây cau để chào con đấy. Nhưng hồn bé bỏng thường được đầu thai sang kiếp khác ngay. Bởi vì  các em bé chưa gây nghiệp chướng. Nếu con khóc nhiều quá sẽ làm hồn quyến luyến, sẽ làm hồn lỡ buổi đầu thai. Hãy khóc nốt chỗ nước mắt ấy thôi nhé. Xong rồi bà cháu ta vào tụng kinh để cho hồn em Choắt nhẹ nhõm ra đi…
Tôi cần  phải kể nốt đoạn cuối buổi đàm đạo giữa thầy giao Hải và sư phụ tôi chứ, bởi vì nó có đoạn cuối. Và chính đoạn cuối này, tôi cứ nhớ mãi. Có lẽ gọi buổi ấy là tham vấn thì đúng hơn. Gọi thế vì cuối cùng thầy Hải nói:
-         Con là kẻ đọc sách. Những lời con hỏi cụ chẳng qua lả những lời người ta đã nói trong sách vở. Mà con cũng đã đọc được ở đâu đấy rằng: “Tu đạo mà sách vở quá nhiều, chấp trước vào sách vở quá mắc thì càng lúc càng xa đạo”. Thực ra con yêu thích đạo Phật. Con muốn trở thành Phật tử.
-         Tại sao thầy giáo nhiều băn khoăn thế lại muốn thành Phật tử?
-         Đầu tiên, bởi vì đạo Phật dạy người ta lòng từ bi. Không có từ bi, thế gian này sẽ rơi vào mông muội. Rồi lại dạy con người phải dựa vào chính mình. Ta luôn phải tìm Phật trong bản thân ta. Thế gian ngày nay rất cần đến cái tâm cao thượng. Có được cái vô ngã, cái từ bi hỉ xả của đức Phật thì mới mong thế gian được an lành. Phật giáo là một lối sống. Lối sống tốt đẹp lành mạnh nhất mà con được biết.
-         Lành thay! Lành thay! Thầy giáo hướng đến những điều như vậy đã là kẻ tu hành.
Sư phụ tôi ra trước bàn thờ Phật gõ mõ, thỉnh chuông. Thầy giáo Hải cúi xuống lễ bái.
 
2
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 09.07.2017 12:23:59 bởi Ct.Ly>
Chương 15


Cô Nguyệt
 
Cô Nguyệt, như ta đã biết, là một cô gái xinh đẹp. Giá như chỉ đẹp thường thường thì cũng chẳng sao. Đằng này sắc đẹp ấy lại khá đặc biệt. Người con gái đẹp là nhờ mớ tóc, con mắt, làn da và vóc dáng. Chẳng biết may hay rủi, tất cả bốn điều đó Nguyệt đều có. Tóc thì mượt mà đen láy. Mắt thì thăm thẳm sáng dịu dàng, da thì ngà ngọc mịn màng lúc nào cũng như thoa phấn. Vóc dáng thì dong dỏng cân đối. Nhìn cô ta thấy tràn dâng nhựa sống. Nếu như ở vào hoàn cảnh thuận lợi, sự tụ hội những thứ mĩ miều ấy vào một cô gái, sẽ hứa hẹn cho cô một tương lai sáng sủa. Nhưng số phận như muốn trêu ngươi; cái tinh túy trời đất lại tụ hội cả vào một cô gái đang trong cơn hoạn nạn, phải ăn mày cửa Phật, trong khi đó đất nước thì chao đảo trong máu lửa điêu linh.
 
Lúc Nguyệt mới đến chùa, sự sợ hãi, cái lam lũ, đói khát đã che lấp tất cả. Nhưng sau đó, sự ổn định, no đủ và nhất là sự bùng phát của tuổi dậy thì đã làm cho cái đẹp của cô càng ngày càng hiển lộ rõ rệt. Hòa thượng Vô úy, ngay hôm đầu tiên đã
nhận ra cái đẹp của cô gái này. Cho nên, dù Nguyệt cứ một mực xin cụ cho được thí phát, cụ cũng chưa bằng lòng. Đối với đạo Phật, con đường đi là dẫn tới cái đẹp vĩnh hằng tối thượng của tâm linh. Cái đẹp bề ngoài thuộc về trần thế. Người trần gian bị nó mê hoặc, hấp dẫn xô nhau tìm đến. Nó là vật hiếm trên đời nên nó cũng rất mong manh, nhất là trong thời loạn lạc. Một bận, Nguyệt đi chợ Sọ. Có ông già bán thuốc ê người Tàu từ Lạng Sơn xuống. Ngoài bán thuốc, ông già còn xem tướng, xem bói. Trông thấy Nguyệt đi qua trước mặt, ông già gọi vào:
- Để ngộ xem cho cái tử vi lố. Ngộ xem không lấy tiền đâu. Cái nị có quý tướng lố. Nhưng mà khổ lố.
Ông già nói líu lo như chim hót, nhưng mà Nguyệt nghe cũng hiểu. Không hiểu ông già nói có đúng không, chứ ông ta bảo nhìn rõ cả kiếp trước của cô. Ông già thuốc ê bảo kiếp trước Nguyệt là đàn ông, một nho sinh mặt trắng môi son. Nhà nghèo rớt mồng tơi, được một người đàn bà tướng mạo dữ tợn nuôi cho ăn học. Về sau chàng nho sinh thi đỗ. Chàng làm quan, được một nhà giàu quyền thế gả con gái cho. Người vợ xấu xí hận người phụ bạc đâm đầu xuống sông tự vẫn. Vậy duyên nghiệp của cô còn nặng ở kiếp này. Người vợ kiếp trước sẽ theo cô đến tận kiếp này, không cắt tiền duyên, ông già thuốc ê còn biết kiếp này cô định đi tu nhưng không được. Ông già còn giở một quyển sách bằng giấy bản, chỉ cho Nguyệt xem hình vẽ một người đàn bà cao to dữ tợn bụng mang dạ chửa nét mặt hầm hầm tức giận. Ông già bảo:
- Cô ta đấy. Kiếp này cô ta là đàn ông. Cả đứa con trong bụng cô ta cũng sang kiếp này đòi nợ. Kiếp trước, để nuôi chàng nho sĩ, cô gái xấu xí kia làm nghề giết lợn. Cho nên sang kiếp này, cô ta vẫn không được hưởng phước. Lại vẫn là con người có tướng mạo dữ tợn xấu xí.
 
Chẳng hiểu sư cụ Vô úy xem tướng mạo có biết được tiền kiếp của Nguyệt như ông già bán thuốc ê không, nhưng dù Nguyệt năn nỉ thế nào, sư cụ cũng không bằng lòng cho cô xuất gia. Phải chăng sư cụ cũng đã nhìn thấy một điều gì trong tương lai của Nguyệt. Phải chăng muốn hiểu được câu hỏi đó, ta phải quay về thời xa xưa, lúc đức Phật hãy còn tại thế. Ở thời nguyên thủy, lúc đầu các đệ tử của đức Phật toàn là người nam. Có rất nhiều người nữ cũng muốn xuất gia, nhưng dù họ cầu xin thế nào, đức Phật cũng không bằng lòng. Các đại đệ tử cũng năm lần bảy lượt cầu xin điều đó mà không được. Cuối cùng, chỉ còn thị giả Ananđà, người đệ tử gần gũi đức Phật nhất cầu xin điều đó, lần cuối cùng Phật mới bằng lòng. Tại sao vậy? Đức Phật không giải thích. Tuy nhiên kinh sách có ghi lại cuộc nói chuyện giữa Ananđà và đức Phật về chuyện ấy:
- Bạch đức Thế Tôn - Ananđà hỏi - Chúng con phải đối xử với người nữ như thế nào?
-  Này Ananđà, hãy coi như con không trông thấy.
- Bạch đức Thế Tôn, nhưng đã trông thấy rồi thì chúng con phải làm thế nào?
-  Này Ananđà, hãy không nói chuyện.
-  Nhưng nếu người ta hỏi, chúng con phải làm thế nào?
- Này Ananđà, khi ấy cần phải đề phòng. Hãy giữ vững chánh niệm.
 
Nghĩa là đến cả đức Phật cũng đề phòng cái sức hút ghê gớm của người phụ nữ. Chính bản thân cô Nguyệt cũng cảm nhận được cái chất đàn bà ma mị của mình ở ngôi chùa, cho nên cô cố gắng che đậy giấu giếm nó đi. Nguyệt, bằng mọi cách, tự làm cho mình xấu đi. Cô xin những chiếc áo rách, váy đụp để mặc. Khốn nỗi, Nguyệt lại khéo tay. Cho nên, những chiếc áo rách được cô sửa chữa, lại vừa khít thân hình cô. Khi Nguyệt đã xỏ tay vào, thì dù chiếc áo bạc phếch đầy mụn vá cũng đột nhiên trở nên duyên dáng lạ thường. Có khi, người ta nghĩ, những mụn vá ấy còn là những nét tô điểm. Nào ai có hay, khi người ta trẻ và đẹp, thì mọi thứ khác trên người đều được tuổi trẻ và sự duyên dáng trời cho thổi hồn thổi vía vào đó, biến chúng trở thành lung linh kỳ diệu. Cả đến điều này, cô Nguyệt cũng nhận ra. Cho nên, sau đó, Nguyệt lại bỏ tất cả những thứ đó đi. Lần này, cô tìm trong chiếc hòm quần áo cũ của sư phụ, tìm những chiếc áo cũ nhất, rách nhất. Chỉ cần giặt đi, và vá víu, chứ không sửa chữa, rồi cứ để nguyên những chiếc áo bạc phếch và rộng thùng thình đó mà mặc. Cô mong cái sự rộng thùng thình ấy sẽ xóa đi những đường cong mĩ miều mà trời đất đã ban tặng riêng cho cô. Rồi lại còn thêm chiếc khăn vuông nâu lem luốc nữa. Chiếc khăn xấu xí lúc nào cùng tùm hum trên đầu Nguyệt. Nó là tấm tàng hình để giấu biệt cái cổ kiểu ba ngấn, làn da ngó cần, con mắt long lanh và mớ tóc mây đen láy.
 
(còn tiếp)




0
<Bài viết được chỉnh sửa lúc 16.02.2017 14:22:08 bởi Ct.Ly>
Chương 15


Cô Nguyệt
 
Cô Nguyệt, như ta đã biết, là một cô gái xinh đẹp. Giá như chỉ đẹp thường thường thì cũng chẳng sao. Đằng này sắc đẹp ấy lại khá đặc biệt. Người con gái đẹp là nhờ mớ tóc, con mắt, làn da và vóc dáng. Chẳng biết may hay rủi, tất cả bốn điều đó Nguyệt đều có. Tóc thì mượt mà đen láy. Mắt thì thăm thẳm sáng dịu dàng, da thì ngà ngọc mịn màng lúc nào cũng như thoa phấn. Vóc dáng thì dong dỏng cân đối. Nhìn cô ta thấy tràn dâng nhựa sống. Nếu như ở vào hoàn cảnh thuận lợi, sự tụ hội những thứ mĩ miều ấy vào một cô gái, sẽ hứa hẹn cho cô một tương lai sáng sủa. Nhưng số phận như muốn trêu ngươi; cái tinh túy trời đất lại tụ hội cả vào một cô gái đang trong cơn hoạn nạn, phải ăn mày cửa Phật, trong khi đó đất nước thì chao đảo trong máu lửa điêu linh.
 
Lúc Nguyệt mới đến chùa, sự sợ hãi, cái lam lũ, đói khát đã che lấp tất cả. Nhưng sau đó, sự ổn định, no đủ và nhất là sự bùng phát của tuổi dậy thì đã làm cho cái đẹp của cô càng ngày càng hiển lộ rõ rệt. Hòa thượng Vô úy, ngay hôm đầu tiên đã
nhận ra cái đẹp của cô gái này. Cho nên, dù Nguyệt cứ một mực xin cụ cho được thí phát, cụ cũng chưa bằng lòng. Đối với đạo Phật, con đường đi là dẫn tới cái đẹp vĩnh hằng tối thượng của tâm linh. Cái đẹp bề ngoài thuộc về trần thế. Người trần gian bị nó mê hoặc, hấp dẫn xô nhau tìm đến. Nó là vật hiếm trên đời nên nó cũng rất mong manh, nhất là trong thời loạn lạc. Một bận, Nguyệt đi chợ Sọ. Có ông già bán thuốc ê người Tàu từ Lạng Sơn xuống. Ngoài bán thuốc, ông già còn xem tướng, xem bói. Trông thấy Nguyệt đi qua trước mặt, ông già gọi vào:
- Để ngộ xem cho cái tử vi lố. Ngộ xem không lấy tiền đâu. Cái nị có quý tướng lố. Nhưng mà khổ lố.
Ông già nói líu lo như chim hót, nhưng mà Nguyệt nghe cũng hiểu. Không hiểu ông già nói có đúng không, chứ ông ta bảo nhìn rõ cả kiếp trước của cô. Ông già thuốc ê bảo kiếp trước Nguyệt là đàn ông, một nho sinh mặt trắng môi son. Nhà nghèo rớt mồng tơi, được một người đàn bà tướng mạo dữ tợn nuôi cho ăn học. Về sau chàng nho sinh thi đỗ. Chàng làm quan, được một nhà giàu quyền thế gả con gái cho. Người vợ xấu xí hận người phụ bạc đâm đầu xuống sông tự vẫn. Vậy duyên nghiệp của cô còn nặng ở kiếp này. Người vợ kiếp trước sẽ theo cô đến tận kiếp này, không cắt tiền duyên, ông già thuốc ê còn biết kiếp này cô định đi tu nhưng không được. Ông già còn giở một quyển sách bằng giấy bản, chỉ cho Nguyệt xem hình vẽ một người đàn bà cao to dữ tợn bụng mang dạ chửa nét mặt hầm hầm tức giận. Ông già bảo:
- Cô ta đấy. Kiếp này cô ta là đàn ông. Cả đứa con trong bụng cô ta cũng sang kiếp này đòi nợ. Kiếp trước, để nuôi chàng nho sĩ, cô gái xấu xí kia làm nghề giết lợn. Cho nên sang kiếp này, cô ta vẫn không được hưởng phước. Lại vẫn là con người có tướng mạo dữ tợn xấu xí.
 
Chẳng hiểu sư cụ Vô úy xem tướng mạo có biết được tiền kiếp của Nguyệt như ông già bán thuốc ê không, nhưng dù Nguyệt năn nỉ thế nào, sư cụ cũng không bằng lòng cho cô xuất gia. Phải chăng sư cụ cũng đã nhìn thấy một điều gì trong tương lai của Nguyệt. Phải chăng muốn hiểu được câu hỏi đó, ta phải quay về thời xa xưa, lúc đức Phật hãy còn tại thế. Ở thời nguyên thủy, lúc đầu các đệ tử của đức Phật toàn là người nam. Có rất nhiều người nữ cũng muốn xuất gia, nhưng dù họ cầu xin thế nào, đức Phật cũng không bằng lòng. Các đại đệ tử cũng năm lần bảy lượt cầu xin điều đó mà không được. Cuối cùng, chỉ còn thị giả Ananđà, người đệ tử gần gũi đức Phật nhất cầu xin điều đó, lần cuối cùng Phật mới bằng lòng. Tại sao vậy? Đức Phật không giải thích. Tuy nhiên kinh sách có ghi lại cuộc nói chuyện giữa Ananđà và đức Phật về chuyện ấy:
- Bạch đức Thế Tôn - Ananđà hỏi - Chúng con phải đối xử với người nữ như thế nào?
-  Này Ananđà, hãy coi như con không trông thấy.
- Bạch đức Thế Tôn, nhưng đã trông thấy rồi thì chúng con phải làm thế nào?
-  Này Ananđà, hãy không nói chuyện.
-  Nhưng nếu người ta hỏi, chúng con phải làm thế nào?
- Này Ananđà, khi ấy cần phải đề phòng. Hãy giữ vững chánh niệm.
 
Nghĩa là đến cả đức Phật cũng đề phòng cái sức hút ghê gớm của người phụ nữ. Chính bản thân cô Nguyệt cũng cảm nhận được cái chất đàn bà ma mị của mình ở ngôi chùa, cho nên cô cố gắng che đậy giấu giếm nó đi. Nguyệt, bằng mọi cách, tự làm cho mình xấu đi. Cô xin những chiếc áo rách, váy đụp để mặc. Khốn nỗi, Nguyệt lại khéo tay. Cho nên, những chiếc áo rách được cô sửa chữa, lại vừa khít thân hình cô. Khi Nguyệt đã xỏ tay vào, thì dù chiếc áo bạc phếch đầy mụn vá cũng đột nhiên trở nên duyên dáng lạ thường. Có khi, người ta nghĩ, những mụn vá ấy còn là những nét tô điểm. Nào ai có hay, khi người ta trẻ và đẹp, thì mọi thứ khác trên người đều được tuổi trẻ và sự duyên dáng trời cho thổi hồn thổi vía vào đó, biến chúng trở thành lung linh kỳ diệu. Cả đến điều này, cô Nguyệt cũng nhận ra. Cho nên, sau đó, Nguyệt lại bỏ tất cả những thứ đó đi. Lần này, cô tìm trong chiếc hòm quần áo cũ của sư phụ, tìm những chiếc áo cũ nhất, rách nhất. Chỉ cần giặt đi, và vá víu, chứ không sửa chữa, rồi cứ để nguyên những chiếc áo bạc phếch và rộng thùng thình đó mà mặc. Cô mong cái sự rộng thùng thình ấy sẽ xóa đi những đường cong mĩ miều mà trời đất đã ban tặng riêng cho cô. Rồi lại còn thêm chiếc khăn vuông nâu lem luốc nữa. Chiếc khăn xấu xí lúc nào cùng tùm hum trên đầu Nguyệt. Nó là tấm tàng hình để giấu biệt cái cổ kiểu ba ngấn, làn da ngó cần, con mắt long lanh và mớ tóc mây đen láy.
Cô Nguyệt hành xử như vậy làm cho sư cụ cũng được yên tâm. Còn sư bác Khoan Độ, khi cô Nguyệt đến chùa, đã có những biểu hiện sững sờ ngạc nhiên, bởi vì Nguyệt giống cô Khoai, người vợ đáng thương của bác ngày xưa. Việc ấy, Khoan Độ đã thổ lộ cùng sư phụ. Thực ra Độ cũng không hề có chút tà niệm trong đầu. Khoan Độ đã đốt ngón tay cúng Phật. Chuyện đó không hề có chút nào giả dối. Đó là niềm tin thành thật của ông. Khoan Độ là một Phật tử xuất thân từ chốn dân gian, hơn nữa lại là người hảo hán giang hồ. Những người như Độ, chữ tín nghĩa đặt lên trên hết. Ông đã thề làm người bảo hộ Phật pháp thì đầu rơi máu chảy cũng không thể sai. Ông nói với cụ Vô úy:
- Không những con không cho tà niệm dấy lên trong đầu óc, mà con còn có nhiệm vụ bảo vệ cho cô Nguyệt. Cô Nguyệt là con nuôi sư cụ. Tức thị cô ấy là con cái nhà chùa. Con thề nguyền bảo vệ nhà chùa. Tức thị con sẽ bảo vệ cô Nguyệt, cũng như những gì liên quan đến cô ta.
 
Khi sư cụ kén rể, chọn thầy giáo Hải cho Nguyệt, sư Khoan Độ ôm lấy thầy giáo và bảo:
- Từ bây giờ thầy giáo cũng là em tôi. Tôi cũng nguyện bảo vệ cả thầy giáo nữa.
Nhìn Độ ôm thầy giáo Hải, sư cụ Vô úy tươi sắc mặt. Vị sư già lấy làm hài lòng.
*
Sáng sớm hôm ấy, khi quản Mật cho lính đến chùa vây ráp, định bắt sư cụ, chú tiểu An theo đúng kế hoạch, liền thả chó ra, rồi chùng chình mãi không ra mở cửa. Bọn lính bảo hoàng đập rầm rầm vào cánh cửa lim ngoài tam quan. Song chiếc cửa được cài đóng ngang lại chốt cẩn thận, nên cánh cổng vững như cổng thành, đạp thế nào cũng không bị bung. Đến lúc cổng mở, thì con chó to như con bê lại xồ ra, vừa sủa vừa cản đường. Quản Mật tóm lấy chú tiểu An ngay khi cánh cổng hé ra. Quản Mật liền ra oai dang tay tát thật lực vào má chú tiểu An. Rồi hắn lại bắn súng lục thị uy, lúc bấy giờ con chó mới chịu lùi về chiến tuyến thứ hai, tức là lối vào sân trong, lối vào nhà tổ nằm sau tòa thượng điện.
Trong suốt quãng thời gian dài ấy, sư cụ bảo sư Khoan Độ và Nguyệt:
- Tình hình này ta xem lành ít dữ nhiều. Sư thúc các con đã báo trước với ta, quân Pháp đang chú ý tới ngôi chùa Sọ. Chúng cho rằng đây là nơi trú ẩn của kháng chiến. Các con hãy đi thật xa. Bao giờ yên hãy trở về. Hãy tìm đến nhà cô Nấm ngoài khu du kích. Thầy Độ, ta giao Nguyệt, con gái nuôi của ta cho con. Nó là em gái con. Hãy bảo vệ cho nó.
Nguyệt có nỗi ám ảnh, kinh hãi về cuộc Tây càn năm xưa ở chân núi Thằn Lằn, lúc cha mẹ cô bị chết. Cô gái run rẩy, hồn vía lên mây. Giá như không có sư Khoan Độ, chắc cô sẽ chẳng biết làm gì lúc ấy. Khoan Độ vội dắt Nguyệt ra vườn chùa rồi chui qua chiếc trổ tre ra nghĩa địa. Ông lắng nghe tiếng chó sủa rộn trong chùa, sau lưng. Ông quyết định băng qua đồng ra bờ con sông Đào rồi tìm đường ra khu du kích.
Trong bóng tối lờ mờ của buổi rạng đông, một bóng người thoáng hiện. Cả hai bên đều lùi lại tìm chỗ ẩn nấp. Nguyệt bỗng ngờ ngợ vì cái bóng rất quen thuộc. Cô hồn nhiên lên tiếng hỏi khẽ:
-  Anh Hải đấy phải không?
Thầy thông ngôn nhận ra giọng Nguyệt, liền tiến lại:
-  Tôi đoán có người sẽ trốn ra đây nên chờ ở chỗ này. Định ra sông Đào ư? Không được đâu. Lối ấy chúng nó đã chặn. Chúng đón lõng người qua sông đến khu du kích.
-   Thế thì chạy đâu bây giờ? - Nguyệt hỏi.
-  Chỉ có cách chạy vào khu rừng Cò. Chờ đến tối mai. - Hải bảo.
-   Vào rừng Cò ư? Đó là rừng của nhà quản Mật.
Nguyệt còn chần chừ, nhưng Hải đã nắm tay Nguyệt kéo đi và nói: “Mau lên, kẻo không kịp”. Đến rừng Cò, Hải dừng chân vẻ mặt phân vân nhìn hai người.
-  Sao thế? - Sư Khoan Độ hỏi. - Thông ngôn Hải lưỡng lự một lát rồi đành thú thật.
-  Tôi chỉ biết một chiếc hầm bí mật trong rừng Cò. Mà lúc này lại có hai người. Làm thế nào bây giờ. Trời sắp sáng mất rồi.
Sư Khoan Độ nhìn quanh rồi nói:
-  Cái chính là cô Nguyệt có chỗ trú ẩn. Riêng tôi thì chả lo. Tôi đã có cách. Các vị cứ yên tâm. - Dù thế nào, Hải cũng không thể yên tâm được. Anh còn có chút chần chừ. Khoan Độ lúc bấy giờ mới mỉm cười nói nhỏ vào tai Hải:
-  Thầy chắc chưa biết. Ngày xưa, tôi đã làm tướng cướp. Dễ gì bắt được Độ này. Thôi, thầy mau đưa cô ấy đi trốn. Hai người nhớ nhé. Lần này xa nhau chắc còn lâu mới gặp. Cứ yên trí. Tôi ở ngoài này bảo vệ cho hai người. Nhớ nhé. Đến tối mai tôi đợi cô Nguyệt ở chỗ này.
Lần đầu tiên thầy giáo Hải nắm tay Nguyệt lâu như thế này. Cũng lần đầu họ đi trong bóng tối những lùm cây. Và cũng đến lúc này, Nguyệt mới biết tại sao thầy Hải lại lên bốt Huyện làm việc cho quân Pháp. Thật không ngờ. Cứ tưởng anh ta chỉ biết đi dạy học. Lại cứ tưởng anh ta là người yếu đuối, không biết phải trái, nhắm mắt với số phận.
- Đây rồi - Hải lần mò trong bóng tối dẫn Nguyệt đi bỗng dừng chân. - Đây là hầm bí mật chỉ riêng anh và một người nữa biết. Em là người thứ ba. Em ra ngoài ấy, tìm đến nhà anh Trần. Chỗ ấy là xóm Trúc. Đồi đom đóm nhớ chưa? Tối mai anh không đến đây đâu. Dặn sư Khoan Độ đi ở quãng cây gạo già, chỗ ấy sông rộng nhưng an toàn. Chỗ cũ hẹp hơn nhưng chúng hay phục kích...
Trước khi nói, Hải đã giật chiếc khăn vuông của Nguyệt ra. Anh thầm thì vào tai cô, hơi thở phả vào má cô nóng hổi. Và đây cũng là lần đầu. Anh ôm chặt lấy cô, và môi anh hôn vào chiếc cổ trắng như ngó cần. Cô giơ thẳng hai tay lên đầu rồi tụt xuống cái hố. Hải đậy nắp lại. Lúc này Nguyệt chỉ có một mình đối diện với bóng tối đen kịt.
Ở ngoài bìa khu rừng tre, Khoan Độ ngồi sau một bụi sim. Bỗng nhiên, sư bác trông thấy một bóng người. Cái bóng lúi húi nhìn trên mặt đất. Lúc này bầu trời sáng hơn, cho phép sư bác nhận ra đó là một tên lính. Khoan Độ giật mình. Có lẽ hắn đã nhìn thấy những vạt cỏ đẫm sương đêm đã bị chân người đạp lên để lại dấu vết. Người lính này thuộc đám lính của quản Mật khám xét trong chùa. Hắn ra vườn chùa bất ngờ tìm ra cái trổ chó chui. Hắn đã theo lỗ hổng đó lần ra dấu vết ở bãi tha ma, rồi dẫn vào vườn Cò. Hình như người lính này khá tinh ma. Hắn lặng lẽ lần mò để lập công. Vì vậy hắn chỉ một mình đơn độc điều tra. Có lẽ hắn nghĩ rằng khám xét khu rừng Cò rộng lớn vào ban đêm là việc cực khó. Vì vậy phải chờ đến lúc rạng sáng. Và để tránh đánh động đối phương, tránh mạo hiểm vào sâu không cần thiết, hắn cũng chọn một bụi rậm ở bìa rừng để quan sát động tĩnh bên trong.
Sư Độ nấp trong bụi sim nhìn cái bóng đen và suy nghĩ như vậy. Không biết hắn đến tự lúc nào và đã biết có hai người đi vào rừng Cò chưa. Giá như hắn xuất hiện rồi biến đi ngay thì chả sao. Sư Độ có thể cho qua vì đó là ngẫu nhiên. Đằng này, cái bóng đen lại cố thủ sau bụi rậm. Như vậy là hắn đã nghi. Và sáng mai nhất định sẽ có vây lùng trong rừng Cò.
Tuy nhiên, hắn rất bất lợi vì hắn không thấy Độ mà Độ lại thấy hắn. Khoan Độ ngẫm nghĩ toan tính. Làm thế nào bây giờ? Đã lâu lắm ta không động thủ. Nhưng liệu có thể để cho sáng mai một bầy sói lang dàn quân ra tay cầm thuốn đi vào rừng được không? Liệu có thể để cho Nguyệt gặp hiểm nguy được không. Mà đâu chỉ có mình cô ấy. Còn thầy giáo Hải nữa chứ. Hơn nữa, đằng sau thầy còn bao nhiêu người khác. Mà nhà ngươi có biết thầy Hải đang làm gì không? Ta đã thề nguyền làm vị hộ pháp cho ngôi chùa Sọ. Lại còn sư cụ của ta nữa chứ. Lại còn chú tiểu An nữa chứ. Lại còn cái bóng dáng của vợ ta đang hiện hình trên người cô gái nữa chứ. Vậy thì có thể để cho hai người trong rừng gặp nguy hiểm được không?
Khoan Độ tự đối thoại với mình như vậy và đi đến quyết định. Chờ một đám mây đen che khuất làm cho bầu trời tối sầm lại. Độ bò ra khỏi chỗ nấp tiến đến vị trí của kẻ địch. Và không đợi cho đám mây đen trôi qua, lợi dụng bóng tối, Khoan Độ nhảy chồm vào địch thủ mà hắn không hề hay biết, chồm vào rất chính xác, mười ngón tay tóm ngay lấy cái cổ của người lính bảo hoàng. Đã lâu ngày không dụng võ, nhưng Khoan Độ là một cao thủ nên bản năng rất tinh nhạy. Không nhìn rõ đối thủ, Khoan Độ thật không thể ngờ kẻ địch lại là một gã to con; cái cần cổ của hắn ngắn, to bự lại lắm mỡ trơn nhẫy. Vì vậy nên tên địch hất mạnh một cái, bàn tay trái của Độ đã bị bật ra. Nhưng bàn tay phải của Độ tóm lấy cổ họng của hắn thì không chịu rời. Đó là thế võ hiểm chỉ dùng trong quyết đấu sinh tử, bất đắc dĩ Độ mới đem ra dùng. Độ không muốn giết người, nhưng nếu lúc này kẻ địch mà giãy giụa, thoát khỏi, rồi kêu toáng lên cầu cứu bọn lính trong chùa thì hỏng bét. Miếng võ này cũng có nhược điểm là hai tay kẻ địch được tự do. Kẻ địch sẽ có hai cách phản ứng: hoặc là đưa tay lên gỡ cổ, hoặc là, nếu tay hắn cầm dao găm hắn sẽ đâm thẳng vào bụng kẻ bóp cổ. Một miếng võ cực kỳ mạo hiểm vì không biết trong tay địch có gì. May thay thằng địch lại cầm súng trường, một vũ khí bất lợi khi hai người đang ôm lấy nhau. Người lính này khá thiện chiến. Hắn rời ngay cây súng và quài bàn tay xuống háng Độ định bóp dái ông sư. Là người thiện chiến, lẽ nào Độ chịu sơ hở để lộ điểm yếu đàn ông của mình cho địch nắm lấy. Hai bên ở thế một mất một còn. Địch thủ chắc cũng là một võ sĩ có hạng. Không biết bằng cách nào hắn đã móc được những ngón tay vào xương đòn của Độ. Hắn định bẻ cho gẫy. Vừa bẻ vừa móc. Hắn còn định làm thủng làn da cổ để thọc sâu những ngón tay vào phổi. Không xong rồi. Khoan Độ phải nín hơi vận khí vừa tự bảo vệ vùng cổ, vừa dồn hết sức mạnh vào hai bàn tay. Lúc này hai tay Độ một nắm lấy hàm, một nắm lấy đầu đối thủ. Độ ra sức vặn. Lúc này, cổ Độ cũng đau nhói, nhưng địch thủ phải cố sức chống lại miếng võ bẻ cổ nên những ngón tay bám lấy xương đòn của hắn dần dần lơi ra. Chỉ chờ có thế. Hai bàn tay sắt của sư bác thừa cơ địch chưa kịp gỡ đã dồn hết sức. Cuối cùng đánh rắc một cái. Độ còn nhấn thêm một lần nữa để toàn thân tên lính run lên bần bật trước khi mềm nhũn.
 
Khi đội Hải ở trong rừng đi ra thì mọi việc đã xong xuôi. Khoan Độ ra hiệu cho Hải đi vào chùa. Còn sư bác đã cõng cái xác trên lưng chạy vào trong xóm.
Không một giọt máu, cái xác được đặt ngồi, dựa lưng vào cánh cổng lim nhà bố quản Mật. Cái xác ngồi đấy mặt xị ra, đầu ngoẹo sang bên, hai chân thẳng dẵng, hai tay buông xuôi thõng thuột, tóc rối bù, mắt trợn ngược. Khoan Độ muốn sáng mai về thăm ông chánh, quản Mật sẽ được tận mắt nhìn thấy.
Làm xong mọi việc, Độ lẩn ra đầm sen cuối làng, tay cầm một ống sậy. Ngày mai, Độ sẽ lẩn trong đám lá sen. Nếu giặc càn, nhà sư sẽ ngậm ống sậy lặn xuống nước. Bằng cách ấy ông có thể lặn sâu dưới nước hàng tiếng đồng hồ.
 
Trong lúc ấy, ở vườn Cò, cô Nguyệt chui trong lòng đất, dưới bụi tre. Từ hôm xưa khi đẩy cửa ngôi miếu hoang giữa đồng, và trong cái mù mờ nhìn thấy cha mẹ mình ngồi dựa lưng vào cột, đầu ngoẹo sang bên, mắt trợn trừng trong vũng máu, cô Nguyệt đâm ra sợ bóng tối. Sau đó, cô hay mơ thấy ác mộng. Rồi nhờ tiếng mõ từ bi đêm nào cũng vang lên đến tận khuya xua đuổi những tà khí, xua đuổi những tà thần, nên dần dần Nguyệt tĩnh trí lại. Cảnh Bụt tĩnh lặng làm nguôi khổ đau. Những ác mộng thưa dần, cuối cùng dứt hẳn.
Nhưng đêm nay, cuộc chạy trốn khỏi chùa bỗng làm thức dậy cuộc chạy lầy càn năm trước. Những hồi ức ào ạt quay về. Bóng tối của chiếc hầm bí mật làm nhớ lại cái mù mờ tranh tối tranh sáng của ngôi miếu hoang.
Khi thầy giáo Hải đậy nắp hầm, Nguyệt đột ngột bị nhấn chìm trong đen kịt. Nguyệt nghe rõ tiếng tim mình đập thình thịch. Và đột nhiên chân tay lạnh toát, mồ hôi vã ra. Tiếng chân Hải xa dần. Cuối cùng lặng tanh. Chợt nghĩ tới trong khu rừng tre chẳng có ai, và chỉ độc nhất có mình đang tự chôn mình trong lòng đất, Nguyệt cảm thấy cô đơn vô cùng tận, và nó chuyển thành nỗi sợ hãi đến tuyệt vọng. Vì đã sống ở chùa, nên một phản xạ tự động đến ngay, Nguyệt lẩm nhẩm đọc: Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát. Cô cầu cứu đến đức Phật bà nghìn mắt nghìn tay, cầu cứu vị Bồ tát luôn nghe được tiếng than vãn đau đớn của những sinh linh nhỏ bé ở cõi trần và luôn sẵn lòng giơ tay cứu vớt. Nguyệt cứ đọc mãi, đọc không thành tiếng và đọc ở trong lòng. Có thể cô đã đọc một ngàn lần hoặc vài ba ngàn lần rồi củng nên. Kỳ diệu thay: Dần dần lòng cô tĩnh lặng trở lại. Sự bình tĩnh đã trở về, nó đem lại sự can đảm chịu đựng. Khi cô ngừng tụng niệm, Nguyệt chợt nghe thấy một tiếng động. Không phải tiếng động mà là một tiếng kêu, cũng có thể đó là tiếng hát. Tiếng hát ấy ngay ở phía trên đầu, tiếng của một con dế. Con dế nào đó đã khéo làm tổ ở dưới bụi cỏ, trong tảng đất nắp hầm. Con dế gáy ri ri con dế hát ri ri. Cũng có thể con dế gáy như con gà báo sáng cũng nên. Nguyệt cảm nhận tiếng nó gáy vui vui. Cũng có thể nó là một sứ giả của Bồ tát gửi đến để làm bạn với cô trong lúc cô đơn này chăng? Nghĩ như vậy tức là Nguyệt lẩm cẩm ngây ngô, một thứ suy nghĩ trong lúc quẫn chăng? Chẳng phải! Bởi vì con dế đã gọi Nguyệt thức tỉnh lại. Mà chính là con dế đã gáy báo sáng. Nguyệt thấy một vật sáng lờ mờ ở trong hầm. Sáng rồi! Sáng rồi! Ánh sáng từ cái ống tre thông hơi, ở một bụi rậm trên mặt đất tỏa xuống. Nó lờ mờ nhưng vẫn là một luồng sáng. Nó đem theo cái tinh khiết của sớm mai, đem theo cả mùi cỏ, mùi lúa chui vào. Nguyệt ngửa mặt gần lỗ thông hơi để đón nhận cái mùi đồng quê quen thuộc, ơ này, nó đem theo cả tiếng chim. Nguyệt phân biệt những tiếng hót. Tiếng lũ chào mào lảnh lót, tiếng đôi chích chòe gọi nhau thiết tha, nghe thấy cả những tiếng cò xôn xao, ríu rít. Chắc là cò mẹ đã ra đồng rồi quay trở về mớm cho lũ cò con. Cái giống chim này sao mà chăm chỉ thế.
 
Cuộc vây khám chùa đêm ấy xảy ra bất thình lình, cho nên Nguyệt xuống hầm không đem theo thức ăn. Nghe tiếng dế, tiếng chim mái, cuối cùng cô chợt cảm thấy đói. Cả một đêm dài, sự mệt nhọc, nỗi lo lắng sợ hãi làm người ta quên cái đói. Nhưng bây giờ, khi đã trú ẩn yên ổn, thì cái đói cộng với cái mệt, xúm lại hành hạ cô. Quái quỷ thật! Có bao giờ mình thấy đói như hôm nay. Ruột gan như xoắn lại. Cô phải khom người, hai tay bóp bụng, đầu gục xuống hai đầu gối, rồi ép sát đầu gối vào ngực để co người lại, làm nhỏ người lại một lúc lâu, cái đói mới dịu đi.
Sự im lặng bất động để chống chọi với đói và sự mệt mỏi dần dần làm cô xỉu đi, kéo cô vào giấc ngủ lúc nào chẳng hay.
Cả một đêm dài vật lộn. Cả một đêm dài xúc động. Sự lo lắng và sợ hãi, cả những phút ngạc nhiên, hân hoan khi biết thầy giáo Hải, vị hôn phu của mình không phải là kẻ đi theo địch, mà trái lại, lại là người của ta, bí mật hoạt động ngay trong hàng ngủ của Pháp, tất cả những xúc cảm bất ngờ, tột cùng ấy làm tâm hồn Nguyệt thay đổi bất thường, mãnh liệt. Cho nên, khi cái nắp hầm bí mật đậy xuống, và cái bóng đêm đen kịt của không gian hầm chụp xuống, khi cô cảm thấy được che chở, được an toàn, thì cái mệt mỏi rã rời của cơ thể mới bộc lộ. Cô cảm thấy cái mệt như từ xương tủy bò ra làm mắt cô trĩu nặng. Cô thấy không cưỡng lại nổi, vả lại cũng chẳng cưỡng làm gì. Thêm nữa, còn tiếng dế, tiếng lũ chim hót sáng từ lỗ thông hơi văng vẳng chui vào. Đó là tiếng ru của trời đất dẫn dắt cô vào giấc ngủ hồi phục, hồi sinh.
Nguyệt ngủ khá lâu.
Khi giật mình tỉnh giấc, cô gái nghe thấy nhiều tiếng động, xôn xao trên mặt đất. Tiếng chân người thình thịch, tiếng quát tháo, tiếng súng nổ, này, đúng rồi có cả tiếng chó sủa.
Đêm hôm ấy, quản Mật khám chùa Sọ chỉ bắt được sư cụ Vô Úy. Hắn tiếc không tóm được Nguyệt, bởi vì tóm được Nguyệt, hắn mới trả thù được Hải, người mà hắn ghét cay ghét đắng. Hắn còn tiếc vì không tóm được sư Khoan Độ, cái lão sư mắt xếch, kẻ mà quản Mật cho là sư hổ mang, kẻ mà hắn rất nghi ngờ nhưng không có chứng cứ. Quản Mật càng tức lộn ruột khi sáng sớm, gia nhân của cụ chánh gọi hắn về nhà có việc gấp. Hắn về nhà, vừa đến trước ngõ đã trông thấy cái xác cai Thi, một tay chân đắc lực nhất của hắn. Cai Thi ngồi dựa lưng vào tường, hai chân thẳng dẵng, hai tay thõng xuống đất, cái đầu nghẹo sang vai trái, cái lưỡi thè ra từ cái mồm nhoe nhoét máu. Máu chảy cả xuống cằm, xuống ngực áo, máu tím bầm đông lại thành dây, ruồi muỗi ngửi thấy máu đã hàng đàn hàng lũ bâu quanh người viên cai, khi quản Mật lại gần, lũ muỗi nhặng vù vù bay lên đập cả vào mặt. Quản Mật tức giận bắn một phát súng lục rồi ra lệnh:
- Quây cả làng. Khám xét thật kỹ. Không bỏ sót một bụi cây, một xó bếp.
Quản Mật đồ rằng cái chết của cai Thi là do nhà sư mắt xếch, cái lão sư bác tay dài như tay vượn. Đêm qua, cai Thi chắc đã đánh hơi ra dấu vết, lần mò theo dõi và vô ý đã sa vào ổ phục kích của Độ nên đã bị giết. Khám tử thi, thấy viên cai bị gẫy xương cổ. Quản Mật chợt nhớ tới những lời của viên trung úy phòng nhì Bernard. Khi về làng Sọ, ra đến chùa, cái bận ấy ngài đại úy tình báo cứ nhìn chằm chặp vào sư bác Khoan Độ rồi lẩm bẩm:
-   Thật lạ lùng! Lạ vô cùng!
- Sao? - Đại úy Thalan có vẻ không bằng lòng với cung cách soi mói quá đáng của Bernard. Viên chỉ huy PC. được dạy dỗ từ nhỏ rằng phải tôn trọng tín ngưỡng. Cha mẹ ông là người công giáo. Đại úy được đọc khá nhiều về đạo. Ông không đi lễ nhà thờ vào ngày Chủ nhật, nhưng ông không báng bổ tôn giáo. Mọi người đều có quyền tự do niềm tin. Lòng thương xót vô biên của Chúa là một lý tưởng vĩ đại của con người, tuy nhiên đọc sách về đạo Phật, cha ông nói với ông rằng đạo Phật cũng rất đáng trọng và đạo Phật giảng dạy lòng từ bi với mọi vật. Đạo Phật ở phương Đông cũng có điểm rất gần với đạo Thiên Chúa phương Tây. Ông cùng trung úy Bernard đến chùa chỉ vì ông nghĩ ngôi chùa làng cũng giống như một ngôi nhà thờ ở quê ông. Còn sư cụ cũng giống như vị linh mục. Muốn bình định một làng quê, do đó, việc đầu tiên là phải viếng thăm ngôi chùa, được lòng sư sãi. Cái tay phòng nhì này là một Tây lai ít học, hắn không hiểu thâm ý của vị chỉ huy phân khu.
Khi ra về, Thalan cự nự Bernard. Lúc ấy có mặt cả quản Mật. Có lẽ cảm nhận thấy Thalan có vẻ coi thường mình ít học, nên Bernard giải thích cho Thalan tại sao mình lại có vẻ sỗ sàng khi nhìn thấy vị sư mắt xếch. Không biết Bernard đọc được ở sách nào hay nghe lỏm ở đâu mà ông ta giải thích rất khoa học:
- Các vị để ý mà xem, vị sư bác ấy cao lớn, hai tay dài quá khổ, như hai ống tre, xuống quá đầu gối. Mắt xếch trắng dã. Lông mày rậm. Chắc phải cân nặng tới tám mươi kilôgam. Một trọng lượng bất thường. Một khổ người bất thường so với người Việt. Người hắn không có mỡ. Chỉ thấy toàn xương là xương. Con người tip ấy, khoa học hình sự gọi là kẻ “siêu đực”. Công thức nhiễm sắc thể là XYY. Kiểu người này có sức khỏe phi thường, có tính cách hung hãn, cực đoan, thô thiển, giết người không ghê tay. Họ thường là kẻ phạm tội. Tôi nghĩ hắn không phải nhà sư.
Chỉ huy trưởng Thalan nói:
- Ông không nên nghĩ như thế. Tôi nghĩ khoa học không khi nào có tính định mệnh như thế. Ông đã đọc Hugo chưa. Tôi nghĩ Jean Valjean cũng là kiểu người như vậy. Thế mà đạo Thiên Chúa đã chẳng cảm hóa được ông ta rồi sao. Tôn giáo làm được nhiều điều mà ta không tưởng tượng được. Vả lại, chúng ta đâu phải những viên thanh tra hình sự. Chúng ta là những quân nhân. Đối thủ của chúng ta là Việt Minh. Nếu nhà sư là một loại người có khả năng phạm tội nhưng không phải là Việt Minh thì ông ta cũng không phải là đối tượng mà chúng ta quan tâm.
 
Nhớ lại cuộc đối thoại ấy, nhớ lại cái từ ngữ “siêu đực” mà Bernard đã nói; rồi “Kẻ siêu đực có sức khỏe phi thường, có tính cách hung hãn cực đoan... giết người không ghê tay...”. Quản Mật lại liên hệ tới trường hợp cai Thi với cái cổ bị gãy, đầu ngoẹo sang bên, máu trào ra mồm. Mật lẩm bẩm: “Chẳng phải lão sư hổ mang mắt xếch với đôi tay vượn đã vặn lìa cổ kẻ địch, thì ai là người có đủ công lực để giết nổi cai Thi. Tay cai này cũng là một lực điền khỏe mạnh chứ đâu phải tay vừa”. Nghĩ vậy, quản Mật liền gọi điện cho Bernard: “A lô! Có dấu hiệu lão sư hổ mang chùa Sọ đã bẻ gãy cổ một viên cai”. Viên sĩ quan phòng nhì không hiểu tại sao mà từ buổi gặp gỡ đầu tiên đã rất ác cảm với sư bác Khoan Độ. Hắn có dự cảm lão sư cao lớn này là một kẻ thù tiềm năng, một khắc tinh của mình, Bernard liền tập trung một trung đội lính Âu Phi, lại dắt cả chó xuống làng Sọ lùng sục. Hai trung đội ngụy và Âu Phi sục sạo khắp làng rồi tập trung vào ngôi chùa nhưng tuyệt nhiên không phát hiện ra một dấu tích nào của nhà sư Khoan Độ. Cái đầm sen cuối làng cũng khả nghi. Quản Mật cho lính bơi thuyền chạy rào rào trong đám lá sen. Rồi thinh thoảng lại cho bắn súng xuống nước. Trong khi ấy nhà sư vẫn ngậm ống sậy nằm im dưới đáy hồ.
Cuối cùng mới đến khu rừng Cò. Quản Mật vẫn nể sợ ông chánh. Chẳng là ông vẫn nói “đất lành chim đậu”. Sở dĩ họ nhà ông vẫn ăn trên ngồi trốc trong làng Sọ, đó là nhờ ân đức của tổ tông. Mộ tổ họ Nguyễn đặt ngay trong khu rừng ấy. Thầy địa lý xem long mạch cẩn thận. Mới đầu khu ấy chỉ lưa thưa một vài sào tre. Có vài tổ cò ríu rít. Thầy địa lý bảo: “Chim làm tổ là nơi phúc địa, nếu đây thành một khu rừng thì tốt biết mấy”. Nhân tiện khu vực này chỉ là chân đồi, chỉ là đất trồng sắn bạc màu, giá rẻ như bùn, ông chánh liền bỏ tiền ra mua, sự thực chỉ mua một phần, còn một phần cướp không của làng. Xong rồi ông cho trồng tre, cấm trẻ con không được chăn bò nơi ấy. Nhờ uy của cụ chánh, trẻ mục đồng không đứa nào dám bén mảng nên chỉ sáu bảy năm sau, nghiễm nhiên một rừng tre đã sừng sững mọc Ịên và cò vạc bốn phương đã quy tụ bay về, tạo ra một nguồn lợi không thể ngờ tới cho cụ chánh. “Đất lành chim đậu”. Thầy địa lý bảo khu rừng càng xanh tốt, chim chóc càng quy tụ, thì mộ tổ càng phát. Và lộc tổ họ Nguyễn sẽ được hưởng không bao giờ hết. Vì thế nên dân làng Sọ không ai dám bén mảng kiếm chác nơi đây. Đứa trẻ nào chỉ bắt một con cò, đào một củ măng là bị trừng trị ngay. Lũ gia nhân nhà ông chánh như lũ hùm sói, nghe tin đứa mục đồng nào đột nhập rừng tre, là ngay lập tức xồng xộc tới nhà, áp đảo tại gia. Họ không đánh, chỉ trói thằng bé ở cột điếm một đêm cho muỗi đốt, chỉ trừng trị nhẹ thế thôi, dân làng đã sợ xanh mắt mèo.
Cụ chánh tin rừng Cò là chốn phúc địa, tin ở lũ cò vạc quy tụ là một điềm lành, là sự chứng tỏ của phúc khí, nên dĩ nhiên cả quản Mật cũng tin như vậy. Cho nên suốt cả buổi sáng vây ráp, hắn cứ lờ đi không đả động gì tới khu rừng Cò.
Tuy nhiên, Tây phòng nhì Bernard thì không có một ý niệm gì về phúc địa, phúc khí và khu mộ tổ của người An Nam. Hắn đứng ở nghĩa địa ngắm khu rừng tre rậm rịt với những cánh cò trắng lượn vòng trên đầu. Bernard bảo:
- Sao chúng ta lại quên khu rừng tre này nhỉ. Chiều nay chúng ta sẽ lùng sục tại đây.
-  Thưa đại úy, đó là vườn Cò của cha tôi.
-  Của nhà cụ chánh ư? Thế càng tiện chứ sao.
-  Thưa, đó là nơi mộ tổ của gia đình họ Nguyễn chúng tôi.
- Mộ tổ là gì. Mộ tổ cũng chẳng ích gì khi nơi đây là chốn ẩn náu của Việt Minh.
Quản Mật chỉ còn biết sầm mặt lại và lắc đầu khi bọn lính dưới quyền chỉ huy của Bernard tràn vào khu rừng. Nhìn lủ cò xáo xác, quản Mật thở dài. Hắn không thể nào đoán trước sự việc sẽ diễn biến thế này.
Nguyệt choàng tỉnh dậy dưới hầm khi nghe thấy những tiếng chân người chạy rầm rập. Nghe thấy cả tiếng lũ cò xáo xác kêu trên ngọn tre. Rồi tiếng người quát tháo. Tiếng Tây xen lẫn tiếng ta. Cuối cùng là tiếng chó sủa. Có hai con chó thì phải. Chúng khìn khịt. Chúng sủa gâu gâu, chúng thở hồng hộc. Chúng ở xa. Chúng tiến lại gần. Rồi lại xa. Hình như một con đực một con cái. Nguyệt nghĩ như thế vì một con sủa êm ái hơn, một con sủa hung dữ hơn. Hình như con đực theo sự chỉ huy của con cái. Tim Nguyệt đập thình thình khi con đực đứng ngay trên nóc hầm mà sủa. Hình như nó gọi con chó cái. Hình như con đực đã ngửi thấy một mùi gì, con chó đực cứ đứng ở trên đầu Nguyẹt mà sua. Sủa tha thiết, sủa hung tợn. Con chó cái vẫn không theo lời nó. Con chó cái sủa ở phía xa. Có lẽ ở đó có cái gì hấp dẫn hơn nên con chó cái không nghe tiếng gọi của con đực. Con chó đực sủa thật to. Nó cũng bị hấp dẫn bởi cái gì đó ở phía xa xa. Nguyệt vừa lẩm nhẩm đọc kinh cầu sự cứu giúp của Bồ tát Quán Thế Âm. Con chó đực bỏ đi một lát rồi lại quay về đứng ngay trên tảng đất nóc hầm và sủa rối rít. Nó sủa rất to khiến Nguyệt run lên cầm cập và run nhất là khi con chó đực lấy hai chân trước ra sức cào trên mặt đất “Tôi bị lộ rồi. Con chó đã đánh hơi thấy tôi rồi. Muôn vàn lần con cầu xin đức Phật che chở cho con’’. Quái lạ! Hình như chẳng ai chú ý đến sự phát hiện của con chó. Có lẽ người ta đang mải mê vì một chuyện gì đó. Lặng tanh không một tiếng chân người. Rồi cuối cùng nghe thấy tiếng tre nổ lốp đốp, ngửi thấy mùi khói khét lẹt. Còn nghe thấy cả tiếng cò vạc kêu lên như vỡ tổ và cả tiếng người hò hét phấn khởi.
Những tiếng động ấy phát ra ở chỗ những đống rơm. Như ta đã biết, trong rừng cò có một khoảng trống để đánh những đống rơm, rạ, thân cây ngô. Đấy là kho dự trữ thức ăn cho trâu bò và cái đun cho nhà cụ chánh. Viên sĩ quan phòng nhì từ lúc vào rừng đã chú ý ngay đến khu vực này. Ông ta cho lính tập trung ở đây xăm hầm. Cuối cùng ông ta đã tìm ra một cửa hầm. Cái hầm đó chui vào dưới một đống rơm. Bernard cho lính giãn ra bao vây vì sợ rằng du kích trong đó xông ra. Cuối cùng, nghĩ ra một kế, Bernard cho đốt tất cả những đống rơm. Bằng cách này nếu Việt Minh chui ra cũng chết thui, mà trụ lại củng chết thui. Và phía ông ta sẽ không tốn một viên đạn.
Một đống rơm cháy. Hai đống rơm cháy. Rồi ba đống rơm cháy... Mới đầu ngọn lửa còn nhỏ, chỉ như một ngôi nhà cháy. Đến khi lan ra ba, bốn đống thì ngọn lửa cao ngút trời. Khói đen cuộn lên đến tận trời xanh, về sau người ta bảo đứng xa ba bốn cây số còn trông thấy. Đám cháy tỏa ra nóng khủng khiếp. Mới đầu đứng gần còn được về sau nóng quá người ta phải chạy ra khỏi khu rừng Cò. Đến khi tất cả hơn mười đống rơm cùng cháy thì cái nóng khủng khiếp đến nỗi toàn thể cò vạc trong rừng đều bay túa lên trời. Đúng là quang cảnh chim vỡ tổ - lũ cò trắng bay lên nhưng không bay xa, bay mất tăm. Chúng vừa kêu ồn ã vừa lượn quanh khu rừng. Bởi vì cò bố mẹ nào cũng đều vướng mắc đàn con. Đáng thương cho lủ cò bé bỏng, cánh chưa mọc đủ lông. Những bụi tre gần đám cháy bị sức nóng tỏa ra làm cho khô héo dần, để rồi cuối cùng toàn bụi tre nổ lốp bốp bốc lửa, thiêu sống cả lũ cò con. Ở những bụi tre xa hơn, tuy cây tre không bốc cháy, nhưng lũ cò non không chịu nổi sức nóng phải lẩy bẩy bò lên miệng tổ và rơi xuống đất. Mùi thịt cò bị thui nướng có lúc thơm phức, có lúc khét lẹt.
Căn hầm của Nguyệt ở xa đám cháy, nhưng vẫn bị ảnh hưởng. Người cô nóng ran, mồ hôi vã ra như tắm. Rồi có lúc cô thấy như bị nghẹt thở. Cô phải ghé mồm vào ống thông hơi để thở. Tuy nhiên, dù sao đám cháy cũng cứu cô thoát chết. Con chó săn đứng trên nóc hầm của cô vừa bới vừa sủa như con chó điên. Người ta còn bận đám cháy nên chẳng ai chú ý đến nó. Sủa mãi, bới mãi con vật cũng chán. Sức nóng tỏa đến làm nó khó chịu. Vả lại còn mùi thơm phức của những chú cò con bị nướng kích thích khứu giác làm nó không cưỡng lại nổi.
 
Cuối cùng nó trông thấy con chó cái đang chạy đuổi theo một con cò bốc lửa. Thế là nó quên phắt nhiệm vụ. Nó cũng bắt chước cô bạn gái lao vào cuộc săn tìm những chú cò con bốc lửa thơm phức.
Bernard nhìn khu rừng cháy. Viên sĩ quan phòng nhì tỏ ra mãn nguyện vì hắn nghĩ đám cháy ấy cũng tiêu diệt được vài anh chị du kích. Thực ra căn hầm bí mật ở đống rơm ấy là chiếc hầm đã bỏ hoang. Đội du kích đã lỡ đào hầm ấy, nhưng sau đó nghĩ lại thấy căn hầm dễ bị hỏa công nên không dùng nữa.
 
Chỉ có quản Mật là buồn. Hắn không nghĩ tới cái kết quả thảm hại này khi gọi điện cho Bernard. Khu rừng Cò cháy mất một phần tư. Sau trận hỏa công, cò sợ không dám về đây như cũ. Khu phúc địa biến thành nơi hoang địa. Ông chánh cứ trông thấy mặt quản Mật là chửi: “Tiên sư thằng phá gia chi tử, đem thằng mắt xanh mũi lõ về giày xéo lăng mộ tổ tiên”.
 
Còn sư bác Khoan Độ, tối hôm ấy Tây rút về đồn, lại từ dưới đầm sen ngoi lên. Ông không quên moi dưới bùn vài cái ngó sen già. Ông chạy vào rừng Cò và sung sướng moi cô Nguyệt từ dưới hầm bí mật lên. Cô nhũn người gần như kiệt sức. Nhưng để cô ngồi lên bờ ruộng ăn ngó sen vừa bùi vừa ngọt, và hít thở hương đồng nội mát rượi, nên chỉ nửa tiếng sau cô đã hồi phục hoàn toàn. Họ ra bờ sông Đào, vượt sông, sang khu du kích.
*
Lúc tối mịt, Nguyệt và sư Độ bơi qua sông Đào. Bơi ở quãng sông rộng nhất, sâu nhất như lời căn dặn của thầy giáo Hải.
Nguyệt bám vào cây chuối, mặc cả quần áo để bơi. Cô không nói nhưng trong bụng cô thầm nghĩ không thể để một mẩu da thịt nào lộ ra cho mắt người ngoài trông thấy. Nhất là đôi mắt xếch của sư thầy Khoan Độ. Mặc dù sư cụ đã giải thích bởi vì cô rất giống người vợ đã chết của sư Độ ngày xưa, và còn nói dù đôi mắt xếch của sư Độ trông rất dữ nhưng đó chỉ là cái vẻ bề ngoài, còn thực ra đằng sau đôi mắt đáng sợ ấy lại là một tấm lòng Bồ tát. Nghe sư Vô úy nói Nguyệt vâng dạ, nhưng thực ra trong lòng cô, Nguyệt vẫn sợ sệt.
Sang đến bên kia sông, sư Độ biết ý bảo Nguyệt vắt quần áo cho khô kẻo bị cảm. Nguyệt vào sau bụi rậm nhưng không cởi quần áo khỏi người, cứ để chúng trên người mà vắt.
Họ đi suốt đêm ấy và cả ngày hôm sau, hỏi thăm mãi mới đến được làng Trúc, địa điểm mà tối hôm trước Hải cho biết. Đó là nơi gia đình ông Trần đến tản cư. Thấy họ, bà Nấm hồ hởi tíu tít hỏi thăm chuyện làng xóm. Chuyện thằng Căn con bà hay sửng cổ nói láo thực ra chỉ là chuyện trẻ con. Bà Nấm thường nghĩ như vậy. Thực ra từ sâu trong lòng, bà Nấm vẫn cảm thấy như mình có lỗi với nhà chùa. Khi còn trẻ, lúc mới tằng tịu với sư Vô Trần, người ta bảo: “quyến rũ sư bỏ chùa là có tội to lắm với Phật; sau này chết đi sẽ sa hỏa ngục, lúc đi qua cầu vồng sẽ bị rơi xuống để chó ngao cắn cho lòi ruột...”. Lúc Nấm kể câu ấy với chồng, anh Trần cũng có dáng tư lự, anh an ủi vợ rằng: “Nhà Phật chẳng hẹp hòi thế đâu. Phật dạy cho con người trí tuệ để giải thoát nỗi khổ thế gian. Nếu chưa đủ căn duyên để ở chùa, thì ta làm người thường dân cũng tốt. Chỉ cốt lòng phải hướng thiện...”. Chị Nấm từ khi ăn ở với Trần thấy chồng mình chẳng còn là sư, nhưng xem ra còn nặng lòng với chùa Sọ lắm. Có thể vì anh xa nhà đến ở chùa từ nhỏ nên mái chùa chính là mái nhà của anh. Anh coi sư phụ Vô Chấp là cha và coi sư Vô úy như người anh cả ruột thịt. Khi sư cụ Vô Chấp thị tịch, Nấm thấy chồng mình buồn rũ. Anh không khóc bao giờ nhưng có đêm Nấm giật mình thức dậy, thấy anh Trần ngồi ngoài hiên khóc một mình. Ngược lại, dù Trần đã trở về đời thường, nhà chùa vẫn coi anh là con. Sư Vô úy vẫn coi Trần là em út. Sư Vô úy là bậc chân tu. Thực ra ông đã thoát tục, chẳng còn muốn dính líu tới bụi trần. Tuy nhiên khi Vô Trần đề nghị xin phép được đào hầm bí mật trong chùa, ông chẳng nói gì chỉ im lặng lên thượng điện gõ mõ tụng kinh. Người sư đệ biết người sư huynh đã mặc nhiên chấp nhận hiểm nguy. Thực ra Vô Trần cũng cực chẳng đã. Lúc đó cơ sở ở làng Sọ hầu như trắng. Phải trở về làng bám đất. Mà muốn bám đất thì phải có hầm, có cơ sở. Trong khi ấy nhà ở làng Sọ lại san sát kề nhau. Đào hầm bí mật dễ lộ. Vô Trần đành dùng chiến thuật từ rìa làng tiến vào nội địa. Những nhà rộng rãi có ao chuôm thường ở rìa làng. Mà chùa làng lại là nơi rộng rãi nhất, cũng lại là nơi anh thân thiết nhất.
Dĩ nhiên, với mối quan hệ tình nghĩa sâu đậm như thế, trong lúc sư cụ bị Tây bắt chỉ vì sự hoạt động của chồng mình, cho nên chị Nấm lo lắng rất chu đáo khi sư Độ và cô Nguyệt đến làng Trúc.
Nhà chị Nấm nằm trên đỉnh một quả đồi. Chung quanh toàn là tre. Nhà gồm hai nếp: nhà chính ba gian, nhà phụ hai gian dùng làm bếp luôn. Ở vùng sẵn tre nứa nên nhà làm xinh xắn, chắc chắn. Chị Nấm cho gọi thằng Căn từ nhà phụ lên, bảo:
- Con sắp xếp cho sư thầy ở cùng con. Xong rồi, chạy ngay lên cơ quan gọi thầy mày về.
-       Đi gọi ngay đêm nay hả u?
-       Sư cụ đã bị bắt. Phải gọi thầy mày về ngay đêm nay thôi con ạ. Từ đây lên đó năm cây số. Nhanh thì cũng phải hai tiếng cả đi cả về.
Căn lúc ấy đã sắp thanh niên. Chắc đã được bố giảng giải cho biết chùa Sọ với gia đình thân thiết đến mức nào, nên Căn bây giờ khác hẳn Căn ngày xưa. Từ một cậu bé bướng bỉnh, cậu đã trở thành một chàng trai chín chắn với đôi mắt sáng rực. Cậu nắm lấy cánh tay dài rắn như gỗ lim của sư Khoan Độ dẫn xuống căn nhà phụ. Hắn cười và bảo:
-       Sư bác còn nợ tôi đấy nhé.
-       Nợ gì? - Sư ngạc nhiên.
-       Có phải dạo trước sư đã dạy thằng An học võ không... Tôi biết ngay mà... Nếu không, thằng An đánh tôi sao nổi...
-       À - chuyện mấy năm rồi... Nhớ dai quá hả...
-       Vậy sư phải trả nợ cho tôi nhé.
-       Trả thế nào?
-       Chắc sư bác không đi ngay được... Hãy dạy võ cho tôi.
 
Trong lúc ấy, chị Nấm và cái Huệ dẫn Nguyệt vào căn nhà chính. Nhà này được gọi là nhà trên, nhà phụ gọi là nhà dưới. Ông Trần trước đây là đại đội trưởng bộ đội địa phương huyện, nay được điều lên tỉnh làm phó tỉnh đội. Nhà của ông sở dĩ được làm tươm tất, rộng rãi và có hai căn, căn trên căn dưới, bởi vì nó còn dùng làm trạm dừng chân cho các cán bộ huyện, tỉnh. Nhà trên làm nơi ở cho cán bộ nữ trú chân nên rộng rãi kín đáo. Nhà dưới cho cán bộ nam ở nhờ thành thử có chút tuềnh toàng.
Nguyệt đưa mắt nhìn căn nhà ba gian. Vách trát nhứng (1). Ở đầu hồi có một gian được ngăn làm buồng. Chắc trong đó có sào vắt quần áo và gạo, nước. Dài suốt hai gian ngoài, có một chiếc sạp che kín nửa nhà, chiều cao quá gối, trên trải tấm phên nứa đan lóng đôi. Chắc đây là cái giường ngủ thô sơ đủ chỗ cho một chục người. Ở góc còn xếp mấy chiếc chiếu gập gọn, có lẽ dùng làm cái đắp khi trời rét. Nửa dọc còn lại của căn nhà, đất phẳng phiu đầm nén kỹ lưỡng, mặt nền nhẵn mịn. Ở đó có chiếc bàn tre, mấy chiếc ghế đẩu thấp mặt đan bằng mây kiểu miền núi.
Nguyệt biết cô Nấm nhưng đây là lần đầu nói chuyện. Nguyệt cũng nghe đồn nhiều về người đàn bà xinh đẹp ma mị, đã đủ sức quyến rủ vị sư thúc thông minh đi tu từ nhỏ. Vô Trần đã tắm gội hương giải thoát từ thuở ấu thơ mà có thể rời bỏ nhà chùa, rồi bỏ đức tin của mình, thì người đàn bà này chắc hẳn phải đặc biệt. Tuy nhiên, khi đứng trước mặt cô Nấm, Nguyệt lại chẳng thấy có gì khác lạ.
 
Cô Nấm năm ấy trạc ba nhăm tuổi. Cô giống như mọi người đàn bà thôn quê khác. Khuôn mặt tròn trịa hồn hậu. Vóc dáng vững chãi nhanh nhẹn. Nét mặt lúc nào cũng tươi tắn, dễ dàng nở một nụ cười... Quả thực là chẳng có gì đặc biệt. Nhưng mà... cô ấy thật đậm đà. Đúng! Phải nói là đậm đà. Nguyệt tuy mới lớn nhưng đã tiếp xúc với nhiều người đàn bà. Thuở em An mới sinh, mẹ ốm nặng, Nguyệt đã bế em đi
 
[1] Vách nhứng: Rơm trộn bùn vắt qua những lỗ mắt cáo tạo nên vách.
 
 xin sữa khắp làng. Em An sống được là nhờ đã bú chực khắp làng. Cảnh đi ăn mày sữa thiên hạ thật não lòng. Có lúc trong làng không ai có sữa phải ẵm em ra chợ.
- Lạy bà. Bà nhón tay làm phúc. Mẹ con ốm sắp chết. Em con đói sữa. Nó khóc từ sáng tới giờ. Cả đêm hôm qua, em con khát sữa mà không có một giọt.
-  Sao không cho nó uống nước cơm.
- Dạ đã cho nhưng nó không chịu. Dạ, nó đang sốt, chắc đắng mồm không chịu.
- Thôi đi đi. Em mày ốm. Cho nó bú để lây bệnh sang con tao ư.
 
Chị ôm em về tới gốc đa. Lúc ấy cực quá, chị chỉ muốn chết. Nhưng thương em quá nên hai chị em chỉ còn biết khóc. Và một người đàn bà qua đường như ông Bụt hiện ra. Bà ta dừng chân, đặt cái thúng đội trên đầu xuống, rồi ôm lấy thằng An và nói:
- Rõ khổ. Thằng bé đói quá đây mà. Đói quá nó cũng phát sốt lên đấy. Chả có bệnh tật gì đâu. Để tao cho nó một bầu là khỏi... Một bầu thôi nhé... Em mày ba tháng chứ gì... Hơn con bé nhà tao một tháng... Thế thôi nhé... Còn thèm phải không... Chẳng được đâu... Còn dành phần cho con em mày chứ... Thôi, no rồi... Tao đi đây... Kẻo ở nhà nó mong sữa mẹ lại khóc hết hơi...
 
Người đàn bà cứu khổ cứu nạn cho em An nói xong lại đội thúng lên đầu ve vẩy, te tái đi theo con đường giữa cánh đồng xanh ngát. Nguyệt cứ nhớ mãi cái kỷ niệm lạ lùng về người đàn bà xa lạ dưới gốc đa năm xưa đã cho em An bú sữa, đã cứu em thoát chết. Bởi vì không phải như Nguyệt nói là em đói sữa một hôm. Thực ra em đói sữa ba hôm. Và đúng như người đàn bà đã nói: Vì đói sữa quá nên em An lên cơn sốt. Và nếu như không có bầu sữa của bà đi đường hôm ấy, có thể em An đã sốt cao hơn... Và làm sao biết được chuyện gì sẽ xảy ra sau đó.
Bà ngoại của Nguyệt khi đó còn sống, nghe cháu kể chuyện xong về người đàn bà đội thúng ở gốc đa, đã bảo rằng:
-   Người đàn bà ấy chắc đẹp lắm phải không cháu?
-  Lúc ấy cháu khóc nhiều, nước mắt như mưa. Mắt cháu nhòa đi nên không nhìn rõ. Cháu chỉ nhớ là cháu nắm lấy tay bà ấy.
-   Bàn tay ra sao?
-   Dạ bàn tay đỏ như son.
-   Thế cổ tay.
-   Cổ tay... trắng như ngà.
-   Đúng... trắng như ngà... còn sao nữa?
-   Dạ, tay vừa mát vừa ấm ạ.
-   Đúng thế... Đàn bà con gái như người ấy gọi là đậm đà.
-   “Đậm đà” tốt hở bà.
-   Tốt lắm chứ.
-   Cháu vẫn chưa hiểu thế nào là đậm đà.
-  Con bé này ngốc thật. Là... là... ừ nhỉ là thế nào nhỉ?... Chắc là sống với người như thế ta không biết chán. Là... là... Sống với người ấy ta không muốn chết... sống với người ấy ta chỉ muốn sống...
 
Nguyệt, vừa rồi cũng đã nắm tay cô Nấm. Cũng thấy bàn tay cô đỏ như son. Cổ tay cũng tròn và trắng. Làn da cũng ấm và mát. Nguyệt bâng khuâng không hiểu mình nói rằng cô Nấm đậm đà có đúng không.
*
* *
Cô Nấm nhìn Nguyệt rồi vào buồng, lấy ra một bộ quần áo và nói với con gái:
-  Huệ ơi, dẫn chị ra suối. Người chị mày lấm lem.
Hai chị em ra đến sân, bà còn dặn thêm:
- Chỉ tắm thôi nhá. Tối rồi, lại đi đường mệt, chớ có gội đầu, trời này hong tóc lâu khô lắm. Nhỡ cảm thì khốn. Để mai cô đun nước hương nhu cho mà gội.
Cô bé Huệ cứ đi sát vào người Nguyệt, tay ôm ngang lưng chị. Nguyệt hỏi:
-  Sao thế?
-  Em sợ.
- Sợ gì nào? Ở đây chỉ toàn tiếng ve. Ve sầu bé tí còn chả sợ tối. Tối thui thế này mà nó vẫn ca hát. Còn em lớn tướng còn sợ tối đêm sao.
-  Được rồi, tí nữa xuống suối chị sẽ biết - Cô bé thầm thì nói nhỏ để dọa Nguyệt. Còn Nguyệt thì cười khúc khích. Huệ thân với chị Nguyệt từ lúc ở làng. Nó và An hay đến nhà thầy Hải. Nó và An hay ngồi ở thềm nhà, để làm bình phong cho chị Nguyệt và thầy Hải ngồi tràng kỷ trong nhà nói chuyện với nhau.
 
Hai người đi qua khu rừng tre mới trồng. Những ngọn tre non trông như những cái đuôi sóc khổng lồ nhún nhảy theo gió trong bầu trời sáng nhờ nhờ. Thỉnh thoảng những con ve từ ngọn nọ bay sang ngọn cây kia, vừa bay vù vù vừa kêu ọ ọ. Ở dưới khe suối có tiếng cuốc kêu và tiếng con chim bắt cô trói cột đều đều nẫu ruột. Cái Huệ hỏi.
-  Chị ơi! Thế chị đã làm đám cưới với thầy chưa?
- Chưa em ạ - Nguyệt trả lời rất nhỏ. Cô không ngờ là Huệ lại hỏi câu ấy. Nguyệt cứ nghĩ Huệ còn rất bé. Có lẽ Nguyệt vẫn coi An, em trai mình, còn rất nhỏ, bởi vì những hình ảnh bế em đi xin sữa ngày xưa vẫn đọng lại trong tâm khảm Nguyệt đến tận bây giờ. Cô coi An còn bé, thì Huệ là bạn của An cũng phải còn bé chứ sao. Cô chợt mỉm cười nhìn sang cô bé đang đi bên cạnh. Nguyệt nghĩ thầm: “ừ nhỉ”. Nó đã mười ba, mười bốn. Cả thằng An cũng thế. Đầu nó đã ngang tai mình. Rõ thật lẩm cẩm. Huệ lại hỏi thêm:
-  Thế chú tiểu... à quên... anh An bây giờ ra sao?
Nguyệt cười mỉm: Rõ khéo! Mình vừa nghĩ tới An thì nó cũng nghĩ tới An. Cả một đêm, một ngày vật lộn căng thẳng, hầu như Nguyệt đã quên không nghĩ đến em trai. Câu hỏi của Huệ bắt Nguyệt cũng phải tự hỏi mình: Không hiểu bây giờ An đang làm gì? Chúng nó có bắt An không? Nếu không chắc có thể An đang lo lắng cho thầy. Đang khóc cũng nên. Và Nguyệt trả lời Huệ bằng trí tưởng tượng của mình:
- Không hề gì đâu. Bọn Tây không bắt trẻ con đâu. Thầy Hải bảo thế. Chị cũng nghĩ như thế. Cả sư cụ cũng tin là thế. Vì nếu không thì sư cụ phải bảo An trốn đi cùng với chị và sư bác chứ. Lúc chị đi, sư cụ lên điện thờ gõ mõ. Lúc chị ra đến bãi tha ma, thì thấy trong chùa huyên náo lắm. Đêm qua, sư bác bảo chị rằng chúng bắt sư cụ đi rồi. Còn An thì không biết tin nhưng chắc là không... Em nghĩ rằng lúc này thằng An đang khóc à. Không đâu. Em của chị chị biết chứ. Nó gan lắm. Táo tợn là khác. Chị chắc nó phải lên phố huyện, tìm cách vào thăm thầy. Mà sợ gì kia chứ. Thầy là bậc từ bi. Thằng An cũng là người hiền lành. Phật sẽ phù hộ cho cả hai người...
 
Họ đã đi vào bóng tối mù mịt của khu rừng rậm ven suối. Con suối chảy róc rách theo giữa hai quả đồi cao. Đằng sau hai quả đồi này là những khu rừng trùng điệp. Nước từ rừng chảy ra. Không hiểu tại sao bến nước này tập trung nhiều đom đóm đến thế. Đến nỗi dân gọi nó là suối đom đóm. Nhờ ánh sáng lập lòe của chúng, hai chị em dắt nhau đi theo con dốc lổn nhổn đá xuống suối. Lũ đom đóm vẽ thành những đường cầu vồng trên mặt nước. Chúng nhởn nhơ chập chờn như ma trơi. Nguyệt búi tóc ngược đỉnh đầu chuẩn bị xuống nước. Còn Huệ đi vơ lá khô, cành khô nhóm lên một đống lửa nhỏ. Lửa bùng lên. Huệ nhìn thấy Nguyệt đang ngồi trên một tảng đá dưới suối. Chị quay lưng lại. Mảng lưng trần trắng ngát; tóc ở gáy vén hết lên đỉnh đầu làm lộ ra cái cổ trắng ngà, và càng làm tôn vẻ mĩ miều của chiếc cổ kiêu ba ngấn trứ danh, mà hàng ngày chiếc khăn vuông nâu bạc phếch vẫn che khuất. Lần đầu tiên, Huệ mới thấy vóc dáng thật của chị lộ ra. Cô thầm nghĩ đẹp như tiên.
Ánh lửa đuổi lũ đom đóm ra xa. Chúng bay hết lên khúc suối thượng lưu, ở đấy bóng tối vẫn dày đặc. Nhìn từ xa, Huệ mới hiểu lũ đom đóm đang chơi trò đuổi bắt. Hóa ra cứ từng cặp một chúng cùng nhảy múa khúc cầu vồng. Lũ đóm làm cô bé bỗng lạc về những cuộc chơi năm ngoái năm xưa.
Lúc nãy, bằng trí tưởng tượng, chị Nguyệt đã kể cho Huệ nghe tình cảnh của chùa khi lính vây bắt. Huệ biết chị chỉ muốn làm yên lòng Huệ, bởi vì chị biết An và Huệ thân nhau lắm... Nhưng chị Nguyệt làm sao biết rõ được lúc này An thế nào. Nếu An không việc gì và chỉ mình sư cụ bị bắt thì An cũng khổ vô cùng. Dù An đã mười ba, cậu ta vẫn là một đứa bé. Trẻ con mà lo lắng cho một người lớn bị tù đày... Chẳng biết phải xoay xở ra sao. Không? Chớ có lo. An nhanh nhẹn tháo vát lắm. Chẳng sao đâu.
Bên ngọn lửa, trước mắt là những con đóm vẽ cầu vồng, Huệ mung lung lạc về một kỷ niệm xưa. Một kỷ niệm mùa hè năm ngoái. Cũng là kỷ niệm về những con đom đóm.
Thường thường, cứ vào cuối tuần trăng, trẻ con làng Sọ lại tập trung nhau ở trảng cỏ nằm giữa vườn chùa và bãi tha ma. Đêm tối đen như mực thì không tốt. Đêm không trăng nhưng có sao, chơi mới vui. Nghĩa là đêm vẫn tối trời, nhưng ánh sáng vẫn còn nhờ nhờ len vào bóng tối. Những đêm như vậy mới nhiều đom đóm. Cách đấy một, hai hôm nếu có trận mưa rào thì càng tốt. Tốt vì trên bãi mênh mông sẽ lập lòe cơ man là đom đóm, và nếu gặp may sẽ thấy ma trơi xuất hiện bay ven rừng Cò. Lủ trẻ làng Sọ chia làm hai nhóm. Nhóm con trai thì ở bên tha ma, chơi trò hú gọi ma trơi. Nhóm con gái và những đứa hiền lành, thì chơi trò phụ đồng chổi. Bọn con gái rủ cả chú tiểu, nhưng An không dám. Sư cụ không cho phép. An đành ngồi trong vườn chùa ngó ra qua lỗ chó chui. Ở phía xa, bọn thằng Căn đang đứng trên bờ tường một ngôi lăng mộ hét khản cả cổ để gọi ma:
Hú ma trơi 
 Mặt trời đã lặn...
 
Còn ở sát hàng rào nhà chùa, thì lũ con gái chơi vui hơn, hiền hòa hơn. Chúng ngồi thành vòng tròn ở giữa là cái Huệ. Huệ trùm lên đầu một chiếc khăn vuông, hai tay nắm lấy gốc cái chổi và giơ ra trước mặt. Đứa trẻ ngồi đồng chổi phải là một đứa trẻ mềm mại hiền hòa. Khi ngồi thì phải tập trung nghe câu hát. Tốt nhất khe khẽ đảo đưa chút ít. Không được cười. Cứ lẩm nhẩm không thành tiếng hát trong lòng theo các bạn càng chóng nhập đồng.
 
Phụ đồng phụ chổi. Thôi lổi mà lên
Ba bề bốn bên. Đồng lên cho chóng
 Ví bằng cửa đóng. Phá ra mà vào.
Cách sông cách ao. Mà vào cho lọt
Cái roi von vót. Mà vọt cho đau...
 
Câu hát nhịp nhàng lảnh lót bay lên trời. Hát được ba lần thì cái đầu trùm khăn của Huệ lắc lư mạnh hơn rồi nhẹ nhàng xoay vòng tròn. Có đứa nói: “Đồng đã nhập rồi chúng mày ơi!”. Có thể hôm ấy đồng chóng lên vì cái Tí xin được ba nén hương của ông từ. Cái Tí thắt lưng bao hoa lý mượn của chị. Nó múa nén hương trước cái khăn vuông trên đầu Huệ. Rồi đến cả cái chổi cũng lắc lư và đung đưa quét đi quét lại.
- Đừng nghỉ. Cứ hát tiếp nữa đi. Cái Tí dẫn lối cho đồng. Tiếng hát vẫn không ngừng lảnh lót, khi cái Huệ trùm khăn bắt đầu di chuyển đi theo nén hương của Tí.
 
Hàng trầu hàng cau. Là cô con gái
Hàng bánh hàng trái. Là hàng bà già
Hàng hương hàng hoa. Là đồ cúng Phật
 
Đám phụ đồng chổi càng lúc càng vui. Tiếng hát càng lúc càng lảnh lót. Bây giờ thêm cả tiếng cười giòn giã. Lúc này được phép cười nói xôn xao. Chẳng sao cả. Bởi vì đã nhập đồng rồi, đã mê mẩn đi rồi.
Ở bãi tha ma, lũ mục đồng ngỗ nghịch vẫn gào lên:
 
Hú ma trơi, mặt trời đã lặn...
 
Chúng gọi ma mãi mà ma chẳng hiện. Nhưng kìa! Một đứa chợt nhìn ra phía đồng và hét to tướng: “Kìa ma”. Thì ra ma không hiện ở bãi tha ma mà lại xuất hiện từ phía đồng lúa. Ba quả bóng lửa tròn to như ba cái mũ từ cánh đồng lừng lững bay vào. Có quả xanh xanh. Có quả vừa xanh vừa hồng. Chúng bay thẳng về phía lũ trẻ chăn trâu. Thế là bọn chúng thét lên vắt chân lên cổ mà chạy. Nghe tiếng thét, lũ con gái chơi phụ đồng chổi cũng chạy tất cả.
 
Trên bãi cỏ, lúc này chỉ còn một mình Huệ vẫn lắc lư cần cái chổi quét đi quét lại. Chú tiểu An ở lỗ chó chui thấy vậy vội chạy ra, giật cái khăn trên đầu Huệ, giật cái chổi trên tay Huệ. Ấy thế mà cô ta vẫn chẳng tỉnh, vẫn chẳng biết gì. An phải cõng Huệ vào sân chùa lấy nước mưa vã vào mặt. Phải đến lúc ấy cô ta mới ú ớ thức dậy vươn vai, cứ như người từ giấc ngủ mê mệt tỉnh giấc.
Thế đấy! An là thế đấy! Kỷ niệm ấy chợt làm Huệ vui vui, làm cô vững lòng. Chị Nguyệt đã tắm xong. Huệ ngắm nhìn Nguyệt rồi bảo.
- Chị mặc quần áo mẹ em vừa in. Chị ơi! Em thích chị ăn mặc như thế này. Mặc thế này, chị rất xinh.
Nguyệt ửng mặt vì câu nói của cô gái. Và Nguyệt thầm nghĩ: Cô gái này thật lạ. Lúc thì lo lắng sợ sệt. Lúc thì ủ rũ. Bây giờ lại vui như con sáo...
*
* *
Tối hôm ấy, Căn đi lên cơ quan tìm bố nhưng ông Trần đi công tác vắng. Mãi ba hôm sau ông mới trở về nhà. Sư bác Khoan Độ kể với ông mọi việc xảy ra ở chùa. Cuối cùng ông đề nghị với giọng rầu rầu:
-     Xin sư thúc nghĩ cách cứu thầy tôi ra. Tây phòng nhì Bernard nổi tiếng ác ôn. Người ta bảo mười người sa vào tay hắn thì chết chín. Thầy tôi già rồi. Liệu có sống nổi với hắn không.
Tỉnh đội phó Trần nắm lấy tay sư Độ:
-     Tôi với sư cụ vốn là tình huynh đệ. Thầy Độ nghĩ rằng tôi không nóng ruột ư? Tuy nhiên, lúc này phải thật bình tĩnh. Người của ta ở P.C. Huyện báo cáo ra là Tây Bernard chưa dùng cực hình tra tấn, vì viên chỉ huy Thalan không muốn dùng bạo lực với một người tu hành.
-  Chắc là thầy Hải. Đúng là thầy Hải đã báo cáo.
- Không chỉ có một mình thầy Hải. Ở đấy ta còn những người khác. Mà sư thầy hãy quên thầy Hải đi. Rất nguy hiểm cho người của ta. Sư thầy tình cờ biết được thầy Hải làm gì thì cũng coi như chưa bao giờ biết đến việc đó. Đây là sinh mạng con người. Đây là công việc cách mạng. Đây là chuyện tuyệt đối bí mật. Sống để bụng chết mang đi...
Ông tỉnh đội nói một thôi một hồi làm sư Độ có vẻ phật lòng. Ông ngắt lời Trần:
-      Thầy Hải là chồng sắp cưới của cô Nguyệt. Cô Nguyệt lại là người của chùa Sọ. Tức thầy Hải cũng là người của chùa Sọ. Sư thúc không biết tôi đã phát nguyện với thầy tôi rồi sao. Tôi đã thề nguyện làm người hộ pháp. Kẻ nào phạm vào thầy tôi hay những người của chùa, tôi sẽ không để yên. Vậy thì, há tôi lại không biết cách bảo vệ thầy Hải. Dù thầy ấy không đi tu, thầy ấy vẫn là con rể của chùa.
Câu nói gan ruột chất phác của nhà sư lạ lùng kia đã làm ông Trần lúng túng, chả biết nói sao. Cô Nguyệt nghe nói chỉ biết đỏ mặt cúi đầu. Bà Nấm phải chen vào câu chuyện:
-  Thôi. Chuyện ấy để đấy. Hãy bàn sang chuyện sư cụ đã.
Ông Trần cũng cười xòa. Ông cười cái tác phong thủ trưởng của mình. Buồn cười là tác phong ấy theo ông về tận gia đình. Ông đã quen cái nếp nói với ai là phải giảng giải, giáo dục đến cái tầm quan trọng của nó. Cuối cùng ông bảo:
- Thực ra, chuyện này lãnh đạo tỉnh cũng bàn. Chùa Sọ tuy nhỏ bé nhưng nó nằm trong kế hoạch lớn của tỉnh. Đó là giành giật dân, mở rộng khu du kích. Tôi thương sư huynh tôi nhưng tất cả phải tuân theo kế hoạch.
-  Nghĩa là chẳng ai cứu thầy tôi chứ gì?
- Sư bác bình tĩnh đi. Không phải bỏ mặc. Mà thực ra tình thế không đến nỗi như thầy Độ nghĩ. Sư huynh của tôi không quan hệ với cán bộ cách mạng nào, ngoài tôi ra. Như vậy, sư cụ hoàn toàn không biết gì về công việc cách mạng. Vậy thì Tây Bernard tìm được gì ở sư cụ. Phòng nhì nó tinh lắm. Chúng nó biết cần khai thác ai. Nếu tra tấn cụ mà chẳng được gì, và chỉ làm cho chúng mang tiếng thì chúng không làm đâu.
-  Vậy theo sư thúc, phòng nhì sẽ thả thầy tôi ra?
- Đúng thế. Chẳng chóng thì chầy... Lâu lắm cũng chỉ một tháng...
Sư Khoan Độ thừ người ra ngồi im lặng. Ông Trần tiếp:
- Trong lúc chờ đợi, cô Nguyệt theo nhà tôi vào tổ cấp dưỡng, nấu cơm cho cơ quan huyện. Còn thầy Độ giỏi võ, nếu thầy bằng lòng, tôi sẽ giới thiệu cho thầy nhập ngũ.
Khoan Độ cười:
- Tôi không làm lính được đâu. Tôi sẽ ở đây tạm một tháng, chờ xem thầy tôi có được thả ra như sư thúc nói không.
 
Trong một tháng ấy, sư Khoan Độ dạy Căn luyện võ. Hai người huỳnh huỵch với nhau suốt ngày trên bãi cỏ mềm. Quả nhiên, chừng một tháng sau, sư cụ Vô úy được thả. Sư Khoan Độ đến gặp tỉnh đội Trần:
- Thưa sư thúc. Quả là người đoán việc như thần. Còn tôi, đã vào chùa mà còn nôn nóng. Tôi không thể làm lính. Tôi đã nguyện theo thầy tôi suốt đời rồi, để cảm tạ cái ơn thầy đã sinh ra tôi lần thứ hai. Bây giờ, tôi không thể về chùa Sọ được nữa. Nhưng thầy tôi vẫn còn cái am nhỏ ở sau lưng núi Yên Tử. Tôi đã được thầy cứu sống ở đấy. Nay, tôi lại về đấy để tu tâm dưỡng tính chờ lúc yên hàn lại trở về chùa Sọ hầu hạ thầy tôi.
Sư nói với Nguyệt:
- Cô Nguyệt ạ. Cô là con nuôi sư cụ. Cô cũng là em tôi. Có lúc cô chưa hiểu nhưng bây giờ chắc là đã hiểu. Em cứ yên tâm ở lại với gia đình sư thúc. Bao giờ em cần, lúc bấy giờ anh sẽ có mặt ngay. Anh đã thề rồi. Em hiểu chứ.
Cô gái ngậm ngùi cầm lấy bàn tay rắn như sắt, cụt một ngón tay của người sư huynh kỳ lạ.
 
HẾT CHƯƠNG 15




0