
DẠ NGUYỆT HỀ
Thơ: Nguyên Thạch
Diễn ngâm: Lữ Khách
Dạ Nguyệt Hề
( Thân tặng Dạ Nguyệt )
Dạ Nguyệt ơi
Ôi tên người đẹp quá
Gợi bóng hình như biển cả như không trung
Trăng đêm nay, trăng quyến rũ vô cùng
Người có kịp về chung vui bến hẹn ?
Tiên nữ ơi !
Tửu chờ nàng nâng chén
Hạnh ngộ. Hề
Ai trễ hẹn chuyến về
Để ta ngậm ngùi hồn lạnh... dạ tái tê
Khách lữ thứ, bước sơn khê đơn độc.
Chí nam nhi
Há nào ta lại khóc ?
Khi giang sơn gấm vóc vẫn đợi chờ
Đêm nhớ người, ta dệt vội vần thơ
Khuất tà bóng, cho trọn đêm thơ Dạ Nguyệt.
Trăng khuất núi mà vẫn vắng người, nên chưa tàn tiệc
Ta gởi trăng... lời tha thiết canh thâu
Ôi xa xăm
Người cuối bể, kẻ giang đầu
Đêm ngẩn mặt ta gọi câu tri ngộ.
Có phải chăng nàng còn bận trĩu ánh vàng bên kia phố ?
Ôi cách ngăn hơn một nửa quả địa cầu !
Bầu hồ trường *
Ta biết đổ về đâu
Đổ về Bắc chi cho hận sầu vong quốc?
Ta đổ về Nam, mong say giấc mộng đời.
Ôi thế thái nhân tình...
Vẽ vời chi lắm cuộc chơi ?
Ta thất chí
Dạ Nguyệt ơi... sầu vạn kỷ.
Cõi nhân gian, ta hỏi ai tri bỉ ?
Ai đồng hành
Ai nung chí cùng ta
Ai mài gươm
Ai dấn bước sơn hà
Há chẳng lẽ mình ta thân đơn độc?
Ta say rồi
Vắng nàng, đêm nay ta muốn khóc
Tự nhủ lòng tráng sĩ, độc tửu. Hề
Bỗng đứng lên tim giục bước sơn khê
Tình non nước, lời thề ta vẫn giữ.
Tuý ngoạ. Hề.
" Nhân sinh tự cổ thùy vô tử " ?
Dũng sĩ. Hề.
Há úy tử tham sinh ?
Đường quan san
Mai dấn bước đăng trình
Hẹn tái ngộ cho trọn tình đêm Dạ Nguyệt.
Ta đi nhé.
Chào tiên nương mắt biếc.
" Trong hạnh ngộ đã có mầm ly biệt ! "
* Hồ Trường-Nguyễn Bá Trác.
Nguyên Thạch
Chí làm trai
Nguyễn Công Trứ
Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc.
Nợ tang bồng (1) vay trả, trả vay.
Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây,
Cho phỉ sức vẩy vùng trong bốn bể.
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh. (2)
Đã chắc rằng ai nhục ai vinh,
Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ.
Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ,
Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong.
Chí những toan xẻ núi lấp sông,
Làm nên tiếng anh hùng đâu đấy tỏ.
Đường mây rộng thênh thênh cử bộ,
Nợ tang bồng trang trắng, vỗ tay reo
Thảnh thơi thơ túi rượu bầu.
Nguyễn Công Trứ
--------------------------------------------------------
(1) Tang bồng: từ "tang bồng hồ thỉ" -- cung bằng gỗ dâu, tên bằng cỏ bồng. Theo Lễ Kinh: cha mẹ mới sinh con trai, lấy cung tên bằng gỗ dâu và tên bằng cỏ bồng treo ở ngoài cửa, có ý mong cho con mình sau này lấy cung tên làm nên sự nghiệp vang thiên hạ.
(2) Hai câu thơ trong bài Quá Linh Đinh Dương của Văn Thiên Tường đời Tống. Người ở đời chẳng ai mà không chết, phải làm sao lưu lại tấm lòng son soi trong sử xanh.
Nguồn:ledinh.ca