📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Khoa Học Phổ Thông

VI SINH VẬT

0 trả lời, 1.874 lượt xem — Trang 1 / 1
thế giới vi sinh vật đã được phát hiện ra sao?
Vi sinh vật là sinh vật xuất hiện sớm nhất trên trái đất. Vào khoảng 3,2 tỷ năm về trước, chúng đã sống âm thầm trên hành tinh của chúng ta. Vậy mà, chúng lại là những sinh vật được phát hiện chậm nhất. Dù cho người ta từng sử dụng vi sinh vật trong nghề nấu rượu, làm dấm, nhưng vì chúng là những vi sinh vật quá nhỏ, mắt thường không thấy được, nên một thời gian dài hầu như không ai để ý đến chúng.
Mãi cho đến cách đây hơn 300 năm, sau khi kính hiển vi ra đời(1), tình hình mới có những thay đổi về cơ bản. Nhà khoa học đầu tiên phát hiện vi sinh vật bằng kính hiển vi là Antony van Leeeuwenhoek, một người Hà Lan. Năm 1648, Leeuwenhoek 16 tuổi, anh thôi học để đi làm cho một cửa hàng tạp hoá nhỏ trong 6 năm, sau đó làm nghề gác cổng ở toà thị chính. Ông dùng thời gian nhàn rỗi để mài các thấu kính. Leeuwenhoek đặt các thấu kính được mài cẩn thận, sáng trong, kích thước khác nhau, cố định trên một giá kim loại, ở giữa có vít điều chỉnh khoảng cách, tạo ra một kính hiển vi, phóng to được gấp 200 lần. Lúc bấy giờ, chiếc kính hiển vi này được coi là tinh xảo nhất, tốt nhất thế giới.
Vào năm 1683, Leeuwenhoek đã dùng kính hiển vi của mình để quan sát nước mưa, nước giếng, nước bẩn và nước chứa hạt tiêu, ông còn quan sát cả bựa răng của mình. Ông thật không còn tin vào mắt mình nữa, trong một giọt nước bẩn và một đầu tăm xỉa răng, cả một thế giới mới kỳ lạ hiện ra, tựa hồ như trong một vườn bách thú, với những con vật nhỏ, muôn hình vạn dạng. Có con như một chấm tròn, có con như đường gãy khúc, có con dạng hình que, có con mình mọc lông, có con như nòng nọc với cái đuôi dài. Chúng tung tăng bơi lội như cá. Hôm đó Leeuwenhoek rất xúc động, ông xem mãi không chán. Không những thế, ông còn vẽ lại những cái đã quan sát thấy.
Những kết quả quan sát của Leeuwenhoek được gửi về học Học hội Hoàng gia Anh. Học hội này lúc đó là một cơ quan đầy quyền uy về học thuật trong giới khoa học châu Âu, trong đó có các Huân tước cao quý, học vấn uyên thâm. Các báo cáo của Leeuuwenhoek lúc đầu làm cho họ nghi ngờ, tiếp đến là kinh ngạc và sau cùng đã hoàn toàn tín phục.
THế giới của những sinh vật nhỏ bé không thể tưởng tượng ấy, được Leeuwenhoek mô tả lập tức đã gây rung động toàn thế giới. Đây đúng là một sự kiện lớn trong lịch sử sinh học, vì nhữngsinh vật nhỏ bé này chính là những vi khuẩn, gắn bó với cuộc sống của loài người hàng triệu năm nay. Vậy mà, ngày đó Leeuwenhoek vẫn chưa thấy hết ý nghĩa quan trọng về phát hiện của mình, ông chỉ thân mật gọi chúng là các động vật nhỏ.
Một trăm năm sau, LouisPasteur một nhà sinh vật học người Pháp mới hoàn toàn vén tấm màn bí ẩn về vi khuẩn. Ông đã dùng kính hiển vi quan sát và thí nghiệm hàng trăm lần, phát hiện thấy vi khuẩn có quan hệ gắn bó chặt chẽ với sức khoẻ và cuộc sống hàng ngày của con người.
Song song với sự phát triển của khoa học, độ phóng đại của kính hiển vi ngày càng lớn. Kính hiển vi quang học đã có thể phóng đại gấp trên 2000 lần. Kính hiển vi điện tử hiện đại, kính hiển vi proton có độ phóng đại từ 1 vạn đến 10 vạn hoặc mấy chục vạn lần(2). Thế giới vi sinh vật đông đảo cuối cùng đã lộ rõ dưới mắt các nhà quan sát.

(1) Kính hiển vi đầu tiên là do hai người thợ làm kính mắt người Hà (2) Lan Zacharias và Hang Janisen sáng chế năm 1590.
Ngày nay độ phóng đại của kính hiển vi đã đạt trên 1 triệu lần.


Vì sao nói vi sinh vật là một “đại gia tộc” đông đàn con cháu?
Vào khoảng 3,5 tỷ năm về trước, vi sinh vật đã lặng lẽ xuất hiện trên trái đất. Điều này được biết sau khi phát hiện ra những trực khuẩn đã hoá thạch ở Nam Phi. Lúc đó, trái đất toàn là vi khuẩn, dần dà về sau thực vật, động vật mới lần lượt xuất hiện.
Vi sinh vật là một đại gia tộc đã có lịch sử hàng tỷ năm. Đến nay gia đình chúng vẫn đông đàn con cháu. Các loài vi sinh vật rất nhiều. Người ta đã phát hiện trong thiên nhiên có tới trên 100 000 loài. Nếu tính số cá thẻ không phân biệt giống loài, thì không sao tính nổi. Hình dạng của chúng cũng muôn hình vạn dạng và có những đặc tính khác nhau.
Các thành viên chủ yếu của gia tộc này là vi khuẩn, xạ khuẩn nấm và virut, ngoài ra còn một số dạng trung gian giữa chúng.
Vi khuẩn là loại quen biết trong xã hội loài người, thành viên trong gia đình chúng rất đông, nhiều loại bệnh nguy hiểm đối với con người là do chúng gây ra: bệnh viêm não, bệnh lao, dịch tả, uốn ván…. Nhưng cũng có nhiều vi khuẩn lại là bạn tốt của loài người, như các vi khuẩn dùng làm vacsxin, vi khuẩn dùng làm phân bón, vi khuẩn phân giả chất hữu cơ, vi khuẩn làm sạch môi trường….
Nếu bạn bốc một nắm đất đưa lên mũi ngửi, bạn sẽ cảm thấy có một mùi tanh đặc biệt. Mùi này được tạo ra bởi một loài vi khuẩn bậc cao, người ta gọi chúng là xạ khuẩn. Xạ khuẩn là những mạng sợi chằng chịt, chủ yếu sống ở vùng đất hơi kiềm. Phần lớn xạ khuẩn là có ích. Những chất kháng sinh hiện có mặt trên thế giới có tới 2/3 là do xạ khuẩn sinh ra, chẳng hạn như cloram-phenicol, clotetraxiclin, tetraxiclin, streptomixin, những kháng sinh chống bệnh ung thư, hiện đang được áp dụng trong điều trị lâm sàng.
Trong họ hàng vi sinh vật có hơn 5 vạn loài vi nấm. Loại vi nấm phục vụ nhân loại sớm nhất chính là thuộc nhóm này. Có loại dùng để làm đậu phụ (chao), có loại dùng để sản xuất thuốc kháng sinh (penixilin). Nhưng cũng có một số bệnh nấm khó chữa cũng là do chúng gây ra. Men rượu là một thành viên nổi đình đám nhất, chúng phục vụ rất đắc lực trong công việc làm nở bột mì, làm rượu, bia…. Hiện đã thấy có hàng mấy trăm loài nấm men, giúp ta làm ra nhiều sản phẩm có giá trị. Nấm đảm (nấm mũ) là “ông lớn” trong thế giới vi sinh vật. Kích thước của chúng đúng là không hợp với tên vi sinh vật. Người Tiệp đã phát hiện ra có giông nấm mũ đường kính dài hơn 4m, nặng khoảng 100 kg. Chúng ta vẫn thích ăn nấm hương, nấm mỡ…, chúng thuộc về loại nấm này.
Loại nhỏ nhất trong thế giới vi sinh vật là virut. So với vi khuẩn nhỏ nhất, chúng cũng chỉ bằng 1/100 hoặc còn nhỏ hơn nữa. Cấu tạo của virut rất đơn giản, không có khả năng sống độc lập, chúng phải chui vào trong tế bào các vi sinh vật khác mới sống nổi. Tuyệt đại bộ phận virut đều gây hại. Chúng gây ra nhiều loại bệnh, thậm chí có thể gây chết người.
Các loại tảo và amip được xếp vào thực vật và động vật bậc thấp. Nhưng đôi khi người ta cũng xếp chúng vào họ hàng vi sinh vật, vì cách nuôi cấy và sử dụng chúng cũng tương tự như với vi sinh vật.
Chúng tôi đã giới thiệu xong các thành viên chính trong gia tộc vi sinh vật. Chắc bạn đã thấy rõ đúng là một “Đại gia tộc” đông đàn con cháu phải không?



Virut là sinh vật nhỏ nhất chăng?
Cuối thập kỷ 60, giới học thuật còn cho rằng: virut là sinh vật nhỏ nhất. Virut được một nhà khoa học trẻ người Nga là Ivannopxki phát hiện ra vào năm 1892 khi ông nghiên cứu về bệnh khảm ở cây thuốc lá. Virut quả thực rất nhỏ, chỉ có thể nhìn thấy chúng dưới kính hiển vi điện tử có độ phóng đại từ mấy vạn đến mấy chục vạn lần.
Cấu tạo của virut rất đơn giản. Cả cơ thể chưa phải là một tế bào hoàn chỉnh. Đa số virut, ngoài một “lõi” được cấu tạo bởi một axit nucleic ra, chỉ có một lớp vỏ protein. Virut không thể sống đơn độc, nhưng khi chúng đã lọt được vào một tế bào nào đó, chúng lại tỏ ra rất năng động. Chúng vốn là loài “ăn sẵn”.
Nơi nào có sinh vật, nơi đó hầu như đều có vết tích của virut. Chủng loại virut rất nhiều. Một loài virut nào đó chỉ có thể ký sinh và tồn tại trong một loại tế bào tương ứng nhất định. Virut viêm não chỉ sống được trong tế bào thần kinh não. Virut bệnh cúm chỉ tồn tại trong tế bào niêm mạc đường hô hấp.
Virut tuy rất nhỏ, nhưng cũng có hình dạng nhất định, có con giống như một chiếc que, có con lại là một khối đa diện, có con giống nòng nọc. Đa số virut đều gây tai hoạ cho con người và động, thực vật. Nhưng cũng có một số ít virut không gây bệnh. Người ta gọi là virut mồ côi.
Cho đến nay chúng ta vẫn chưa nuôi cấu được virut trong môi trường dinh dưỡng như khi nuôi cấy vi khuẩn. Khi ta chiết xuất được virut ra khỏi tế bào, chúng không còn biểu hiện sự sống nữa. Nhưng khi trả lại chúng vào trong tế bào, đặc trưng sống lại hoàn toàn được thể hiện ra rất rõ rệt. Chúng tựa hồ như nằm giữa ranh giới của thế giới sinh vật và thế giới vô sinh.
Tuy nhiên, năm 1971, sau khi giải đáp được nguyên nhân đối với bệnh củ khoai tây hình thoi, khái niệm “virut là sinh vật nhỏ nhất” mới bị bác bỏ. Mầm gây bệnh ở củ khoai tây và gây bệnh lùn ở thực vật là một loài sinh vật còn nhỏ hơn, cấu tạo đơn giản hơn cả virut. So với virut nhỏ nhất đã biết, chúng còn nhỏ hơn 80 lần. Người ta gọi chúng là virion, cơ thể chúng đến thành phần sống quan trọng nhất là protein cũng không có, chúng chỉ được tạo thành bởi một axit nucleic gồm không quá 150 nucleotit. Phân tử lượng của cả cơ thể chỉ tương đương với một phân tử lớn chất hữu cơ vô sinh. Có thể coi virion là loài sinh vật nhỏ nhất mà loài người phát hiện thấy.


Vi sinh vật có những đặc điểm gì?
Nói gì thì nói, đặc điểm lớn nhất của vi sinh vật là rất nhỏ. Chính vì rất nhỏ, nên trong cái gia đình đông đúc của chúng, nhiều đặc tính sinh lý của chúng bị bao trùm bởi một bức màn bí ẩn.
Vi sinh vật có những đặc điểm gì ư? Trước hết sức sinh sản của chúng thật khủng khiếp. Đây là điều đáng nêu lên hàng đầu. Chỉ cần có điều kiện phù hợp sau 20 phút chũngđã cho ra đời một thế hệ mới. Với một thời gian ngắn ngủi, đã có thể “ngũ lục đại đồng đường” rồi. Nếu không có sinh, lão, bệnh, tử, và các điều kiện tự nhiên hạn chế khác, chưa đầy 2 ngày, con cháu chúng tụ hội lại, đủ lớn bằng cả trái đất của chúng ta. Trong một thời gian ngắn như vậy mà chúng đã sản sinh ra số cá thể nhiều đến thế, thật không thể có sinh vật nào sánh nổi. Người ta lợi dụng đặc điểm này để nuôi cấy nhân tạo. Như vậy sẽ tạo ra nhiều sản phẩm có ích cho con người như rượu, mì chính, các loại nước chấm, các loại nấm men và thuốc kháng sinh. Theo thống kê vi khuẩn tạo mì chính, trong 50 giờ, khối lượng cơ thể của chúng đã tăng lên gấp 3 tỷ lần.
Đặc điểm tiếp theo là khả năng thích ứng của vi sinh vật mà không sinh vật nào bì được. Nếu chất dinh dưỡng vi sinh vật hấp thụ được, thay đổi một chút, chúng sẽ lập tức biến đổi theo ngay trong 1/1000 giây. Một loài khuẩn có khả năng quang hợp, dưới ánh nắng, chúng có thể sống không cần oxi. Nhưng khi đặt chúng vào trong bóng tối, chúng lại dựa vào oxi để sống. Nếu lại đưa chúng ra ngoài sáng, lập tức chúng quang hợp ngay và sống trong trạng thái không có oxi. Nhiều loài vi sinh vật khác khi gặp môi trường xấu, chúng sẽ ngừng sinh trưởng, cơ thể sản ra một loại tế bào đặc biệt để “nghỉ” qua giai đoạn khó khăn đó. Người ta gọi các tế bào nghỉ này là các bào tử. Khi điều kiện bên ngoài thay đổi thuận lợi, bào tử sẽ lại nảy mầm trưởng thành nên một cơ thể mới.
Vi sinh vật còn một đặc điểm kỳ diệu nữa là đễ biến đổi. Chúng biến đổi theo hoàn cảnh tự nhiên, khiến cho mình có thể sống yên ổn trong khi các sinh vật khác không thể tồn tại trong môi trường đó nữa. Có lẽ bạn sẽ không tin có một số vi sinh vật lại sống nhởn nhơ trong nước nóng90oC. Một số vi sinh vật khác lại sống thoải mái trong dung dịch axit loãng. Vì vậy, vi sinh vật phân bố rất rộng, chúng có mặt ở rất nhiều vùng đất, vùng trời và vùng biển. Ảnh hưởng của môi trường thay đổi, thế hệ sau của vi sinh vật lập tức thay đổi và có thể di truyền lại cho đời sau. Hiện tượng này sinh học gọi là biến dị. Vi khuẩn sau khi biến dị được gọi là biến chủng. Người ta thường bắt vi sinh vật biến dị để chọn ra những chủng có ích. Thí dụ, lúc đầu sản xuất penixilin, nấm penicillium chỉ sản xuất được có mấy đơn vị penixilin trong 1 ml, sản lượng rất thấp. Sau nhiều lần biến dị, biến chủng ngày nay đã có thể sản xuất penixillin mấy vạn đơn vị/ml. Nhờ đó đã nâng cao năng suất sản xuất penixilin lên rất cao.
Vi sinh vật tuy nhỏ và đơn giản, nhưng chúng có đặc trưng sống rất cao. Cũng như mọi sinh vật khác vi sinh vật vẫn có mọi sự thích ứng trong cuộc sống, vẫn có mọi hoạt động sống rất phong phú.


Vi sinh vật ăn gì?
Vi sinh vật cũng giống như mọi sinh vật khác, muốn sống đều phải ăn để không ngừng bổ sung chất dinh dưỡng cho mình.
Trong thực đơn của vi sinh vật, các hợp chất cacbon là khẩu phần ăn chủ yếu (nói chung người ta gọi các hợp chất cacbon mà vi sinh vật ăn là nguồn cacbon) vì trong thành phần cơ thể chúng, nguyên tố cacbon chiếm tỷ lệ chủ yếu.
Các vi sinh vật khác nhau có yêu cầu rất khác nhau đối với các hợp chất cacbon. Có vi sinh vật giống như động vật chúng ăn các thức ăn thực vật có sẵn. Đó là những vi sinh vật dị dưỡng. Khẩu vị của các vi sinh vật dị dưỡng không giống nhau. Xạ khuẩn dị dưỡng nguồn thức ăn hữu cơ gì cũng ăn, không kén chon: tinh bột, xenluloza, maltoza (mạch nha), đường glucoza, axit hữu cơ, protein,….Các loại nấm men rượu lại thích maltoza và glucoza, còn tinh bột thì không thèm để ý đến. Có loại nấm men lại chỉ thích dầu mỏ, thứ mà mọi sinh vật khác đều ghét. Rất nhiều vi nấm thích ăn xác động, thực vật. Người ta gọi chúng là nấm hoại sinh.
Có loài vi sinh vật dựa vào CO2 để sống, chứ không ăn hợp chất hữu cơ có sẵn. Chúng tự chế biến CO2 cùng với một số chất vô cơ đơn giản thành chất hữu cơ, sau đó mới hấp thu. Loại vi sinh vật này được gọi là vi sinh vật tự dưỡng.
Trong số vi sinh vật tự dưỡng, có loài cần có năng lượng ánh sáng giúp sức. Trong cơ thể chúng có sắc tố quang hợp. Trong hoàn cảnh không có oxi, thông qua tác dụng quang hợp, CO2 biến thành chất hữu cơ cung cấp cho chúng trưởng thành. Nhưng tác dụng quang hợp của vi sinh vật không giống như đối với thực vật. Chúng hấp thu CO2 mà không giải phóng ra oxi.
Còn có một số loài vi khuẩn tự dưỡng không có khả năng quang hợp khi không có oxi, chúng oxi hoá một số chất vô cơ nhất định để có năng lượng hấp thu CO2. Các vi khuẩn nitrat hoá, có thể biến nitơ trong đất, khi có õi thành nitrat, như vậy chúng không những biến CO2 thành nguồn cung cấp năng lượng mà còn làm nâng cao độ phì nhiêu của đất.
Cũng có những vi sinh vật không thể sống đơn độc, chúng cần đến những sinh vật khác cung cấp cho chúng chất dinh dưỡng có sẵn. Đó là các vi sinh vật ký sinh. Virut là đại biểu chính của loại này, không chui được vào các tế bào động thực vật, chúng không sống nổi.
Một khẩu phần ăn chủ yếu khác nữa của vi sinh vật là nguồn nitơ. Nhiều thành phần cơ thể của vi sinh vật như protein, axit nucleic, enzim và nhiều hợp chất có đạm khác đều gắn liền với nguyên tố nitơ. Nhưng nhu cầu về nitơ của các vi sinh vật khác nhau là không giống nhau. Có loài lại chỉ thích bột cá, pepton và bã đậu tương, có loài lại chỉ hút nitơ có sẵn trong không khí.
Đương nhiên, ngoài hai nguyên tố N và C vi sinh vật cũng còn cần một số ít các nguyên tố khác. Chẳng hạn vi khuẩn sinh mì chính cần một vitamin là biotin. Men bia lại không thể thiếu 2-3 loại vitamin nhóm B. Nhiều nguyên tố Fe, Zn, S, Ca, Mg… cũng tham gia vào quá trình sống của vi sinh vật.
Bây giờ chắc các bạn đã rõ vi sinh vật cần ăn những gì rồi.


Không có oxi vi sinh vật có thể sống được không?
Có lẽ nhiều người cho rằng, õi là chất cần thiết để duy trì mọi sự sống. Cách nhìn này không được toàn diện. Nhà vi sinh vật học vĩ đại L. Pasteur trong quá trình nghiên cứu sự lên men butyric đã phát hiện có những loài sinh vật chỉ sống được trong môi trường không có oxi. Khi gặp oxi chúng ngừng hoạt động, thậm chí bị chết.
Louis Pasteur quan sát qua kính hiển vi dịch lên men butyric. Kết quả thật bất ngờ, vi khuẩn ở ngoài rìa của giọt dung dịch được quan sát thấy mất sức hoạt động, còn vi khuẩn ở tỏng vẫn hoạt động mạnh mẽ như thường. Nếu thổi không khí vào dung dịch, quá trình lên men sẽ dần dần ngưng lại. Hiện tượng này chứng tỏ, có những vi sinh vật chỉ có thể sống và hoạt động trong môi trường không có oxi. Chúng rất ghét oxi. Pasteur gọi chúng là vi sinh vật kỵ oxi (hoặc yếm khí, kỵ khí). Ngược lại, những vi sinh vật sống trong môi trường đầy oxi được gọi là vi sinh vật hiếu khí.
Có rất nhiều vi sinh vật yếm khí, chúng coi oxi là khí độc.
Vi khuẩn metan là một loại khuẩn yếm khí, chúng sống trong dạ dày bò, chúng phân giải thức ăn của bò, đồng thời giải phóng rất nhiều khí metan. Loài vi khuẩn này là bạn tốt của trâu bò. Nhưng đôi khi lại gây tai hoạ cho con người. Chúng được chôn xuống đất cùng với xác của vật chủ. Vì chúng không cần đến oxi nên vẫn có thể sống đàng hoàng lâu dài dưới đất và không ngừng tạo ra khí metan. Xác động thực vật thối rữa ở dưới đất biến dần thành than, khí metan nằm trong các lớp than. Khi khai thác than, metan lọt vào giếng mỏ, với một nồng độ nhất định gặp tia lửa sẽ gây nổ làm sập mỏ, gây tai nạn cho thợ lò.
Vi khuẩn uốn ván cũng là một vi sinh vật yếm khí. Khi bạn lỡ tay bị rách da, hãy gôi ngay một ít thuốc đỏ. Vết thương sâu hãy nên cẩn thận tiêm phòng uốn ván, vì vết thương sâu, không khí khó lọt vào, loài vi khuẩn yếm khí này sinh trưởng và phát triển nhanh, độc tố càng nhiều, chỉ 1 mg độc tố uốn ván cũng đủ giết chết 1 triệu con chuột lắt.
Cũng chó nhiều vi khuẩn yếm khí có ích đối với con người như khuẩn Clotridium acetohetylicum. Người ta sử dụng chúng để sản xuất nhiều loại dung môi hữu cơ rất cần cho nhiều ngành sản xuất.
Về mặt tiến hoá, vi sinh vật từ sống yếm khí chuyển sang sống hiếu khí, có thể coi là một bước tiến. Trên trái đất lúc đầu không có oxi, sinh vật bậc thấp lúc đó quen sống trong môi trường không có oxi. Cùng với sự biến đổi của thiên nhiên, nhờ tác dụng quang hợp nguyên thuỷ, hoặc do ánh nắng mặt trời phân giải hơi nước oxi dần dần xuất hiện trên trái đất. Sự biến đổi này làm cho nhiều vi sinh vật yếm khí khó tránh khỏi diệt vong. Nhưng có một số thích nghi được với môi trường mới, buộc phải thay đổi lối sống. Do đó đã có những vi sinh vật sống được trong môi trường có oxi và trở thành những vi sinh vật hiếu khí. Hiện nay, những vi khuẩn phát sáng chính là những sinh vật cổ xưa nhất còn lại, đã từng trải qua cuộc “đấu tranh sinh tử” đó. Chúng có bản lĩnh chuyển hoá oxi thành nước, đồng thời giải phóng ra rất nhiều năng lượng, khiến chúng phát sáng.
Còn một số vi sinh vật khác nữa cũng sống được trong môi trường có oxi, đồng thời trong môi trường không có oxi chúng vẫn tồn tại. Chúng là loài trung gian giữa sinh vật yếm khí và sinh vật hiếu khí. Người ta gọi chúng là vi sinh vật kiêm tính (hay vi sinh vật hiếu khí không bắt buộc). Men rượu chính là đại biểu của nhóm này.
Phương thức sống của vi sinh vật thật là đa dạng. Trong môi trường không có oxi vẫn có những vi sinh vật tồn tại.


Vì sao có một số vi sinh vật nhận biết được hướng của từ trường?
Cách đây hơn 10 năm, F.F.Blackman, một nhà sinh vật học người Mỹ, một lần thí nghiệm, ngẫu nhiên phát hiện ra một loài vi sinh vật có khả năng xác định phương hướng. Những vi sinh vật này, không hẹn mà đều di động về một hướng nhất định, tựa như có người chỉ huy chúng. Blackman bị cuốn hút vào hiện tượng này. Ông quên ăn, quên ngủ, quan sát, suy ngẫm, thử nghiệm, nhiều đêm thao thức. Cuối cùng phát hiện ra rằng những con vi khuẩn này chuyển động theo hướng của đường sức từ trường.
Cho đến nay, người ta đã phát hiện hơn 10 loài vi khuẩn có khả năng hướng từ như vậy. Vì giống loài của chúng khác nhau, hình dạng không giống nhau, nên các nhà khoa học tạm thời căn cứ vào đặc điểm chung này mà gọi là “vi khuẩn nam châm”.
Vi khuẩn nam châm, trong cơ thể chứa đầy các hạt thành từng cụm màu đen. Những hạt này qua phân tích bằng tia X và tia grama được biết, đó là các phân tử oxit sắt, được bọc bởi một màng mỏng chất hữu cơ, có một lớp điện tử, mật độ thấp. Những hạt này giống như những “la bàn” trong cơ thể vi khuẩn, giúp cho chúng nhận biết được phương hướng.
Blackman quan sát dưới kính hiển vi có độ khuếch đại lớn, và thấy rằng, phần đầu của vi khuẩn nam châm có một bộ phận xúc giác hình roi có tác dụng như cần awngten. Dưới tác dụng của từ trường, xúc giác này dao động giúp cho vi khuẩn tiến lên được.
“La bàn” của vi khuẩn nam châm không phải sinh ra đã có sẵn, sau khi chúng sinh ra, được hấp thụ các ion sắt tan trong nước, thông qua các phản ứng khử phức tạp xảy ra trong cơ thể, mới dần dần được hình thành. Bởi vậy nếu vi khuẩn nam châm không sống trong môi trường có ion sắt, chúng sẽ không đẻ ra được đời sau có “la bàn”.
Nếu đời sau của chúng lại được sống trong môi trường có ion sắt, sau một thời gian thích ứng, chúng lại dần dần có “la bàn”, giống như bố mẹ chúng, trở thành các vi khuẩn nam châm.
Trên trái đất, bất kể ở đâu, hầu như đều có thể tìm thấy dấu vết của khuẩn nam châm. Chúng thuộc khuẩn yếm khí, nên chúng thường trú nghụ tại đáy bùn sâu, ở những nơi âm u tối tăm, không khí loãng. Tính hướng từ, chính là để giúp khuẩn nam châm tìm đến những nơi thiếu õi. Khi chúng bị đưa lên trên mặt nước, những chiếc “la bàn” trong cơ thể chúng sẽ lập tức xác định phương hướng, nhanh chóng đưa chúng lặn xuống theo hướng địa từ trường, trở lại nơi thiếu õi.
Nghiên cứu của Blackman đã gây chấn động trong giới khoa học. Các chuyên gia vi sinh vật cho rằng chúng là đối tượng làm thí nghiệm hiếm có để tìm hiểu bí mật của từ tính sinh học. Mặt khác có thể dùng đặc điểm hướng từ của chúng để “mời” chúng tham gia tìm quặng, “mời” chúng phân ly nguyên tố sắt trong hợp chất, “mời” chúng làm cộng tác viên đắc lực trong ngành luyện kim và nghiên cứu khoa học. Hiện nay, các chuyên gia di truyền đang tìm cách cấy “gen tạo hạt từ” vào trong các vi sinh vật có thể có ích trong sản xuất để phục vụ cho nhân loại.


Vì sao một số vi khuẩn không sợ nhiệt độ cao?
Mọi người đều biết vi khuẩn thường sợ nhiệt độ cao. Nếu ta thả các vi khuẩn vào nước đang sôi 100oC, chẳng bao lâu chúng sẽ chết. Người ta dùng biện pháp này để diệt khuẩn. Nhưng có một số vi khuẩn lại không hề sợ nhiệt độ cao. Trong suối nước nóng của Công viên Hoàng Thạch ở Mỹ có loại trực khuẩn sinh bào tử thường xuyên sống trong nhiệt độ 93oC. Nếu ta bỏ chúng vào trong phích nước sôi 1000C, chúng vẫn sống rất lâu và sinh trưởng bình thường. Thậm chí tăng nhiệt độ lên đến 105oC, chúng vẫn còn nhởn nhơ. Ngoài ra, có những trực khuẩn sinh bào tử còn có bản lĩnh cao cường hơn, chịu được nhiệt độ tới 188oC. Đáng sợ hơn nữa là gần đây các nhà khoa học phát hiện ở khu vực núi lửa dưới đáy biển một loài vi khuẩn chịu được nhiệt độ 300oCThật đáng được coi là quán quân về chịu nhiệt trong thế giới sinh vật.
Tại sao những vi khuẩn đó không sợ nhiệt độ cao?
Vi khuẩn vốn là loài sinh vật đơn bào. Thành phần chủ yếu của tế bào là protein. Protein là một vật chất sống, ở nhiệt độ thường, chúng giữ chức phận của mình, tiến hành các hoạt động sống bình thường. Protein rất mềm yếu, gặp nhiệt độ 50-60oC, phần lớn protein của tế bào vi khuẩn đều mất đi sức sống nhiệt độ lên đến 100oC, protein bị ngưng tụ, biến tính, không còn là vật chất sống nữa. Điều này giống như khi ta luộc trứng vậy. Tất nhiên là khi đó vi khuẩn sẽ chết.
Nhưng vi khuẩn chịu đựng nhiệt lại khác. Thành phần protein và kết cấu của chúng khác với các vi khuẩn bình thường khác. Khi nhiệt độ tăng quá 100oC, protein của chúng đã có một “đối sách” thần kỳ làm cho kết cấu thay đổi, hình thành một lớp vỏ bảo vệ. Lớp màng tế bào của chúng trở thành một “bức tường cách nhiệt”, giữ cho nhiệt độ chỉ có thể đứng ở ngoài “cửa”. Như vậy hoạt động sống của chúng không hều chịu ảnh hưởng, chúng vẫn có thể sống thoải mái, sinh con đẻ cái.
Những vi khuẩn chịu nhiệt này ở đâu ra?
Vì phần lớn vi khuẩn trên trái đất đều không chịu được nhiệt độ cao, nên người ta cho rằng những vi khuẩn chịu nhiệt là những vi khuẩn từ ngoài trái đất, chúng được đưa đến trái đất theo con đường bụi vũ trụ. Cũng có người còn suy luận rằng chúng từ sao Kim tới. Nhưng đa số các nhà khoa học cho rằng, có lẽ chúng được phân hoá từ những vi khuẩn thông thường. Trong môi trường nhiệt độ cao, một số thành viên trong các vi khuẩn thông thường đã trải qua nhiều đời được thích nghi và tồn tại, dần dần chúng có được bản lĩnh chịu nhiệt cao như vậy trong cơ thể mình.


Đại bản doanh của vi sinh vật đóng ở đâu?
Đối với vi sinh vật, góc biển chân trời, đâu cũng là “nhà” của chúng. Cơ thể của chúng nhỏ nhẹ, tha hồ theo gió, theo nước, chu du khắp thiên hạ. Nơi nào có động, thực vật sinh sống, nơi đó đều có dấu vết của vi sinh vật. Thậm chí ở nhiều nơi động, thực vật không sống nổi vì điều kiện môi trường xấu, vẫn có thể trở thành thiên đường đối với một số loài vi sinh vật. Nhưng muốn nói gì thì nói, nơi vi sinh vật tụ tập đông nhất vẫn là trong đất.
Cứ mỗi 0,07 ha lớp đất mặt ngoài ruộng, nặng khoảng 150 tấn, trọng lượng vi sinh vật trong đó phải chiếm ít nhất 500 kg. Nói chung, trong 1g đất, có khoảng mấy trăm triệu vi sinh vật. Cho dù ở sa mạch, nơi không có một bóng người, 1g đất cát ở đó cũng có khoảng trên 100 000 vi sinh vật. Trong đất, số lượng vi sinh vật nhiều nhất là vi khuẩn, sau đó là xạ khuẩn, nấm và các vi sinh vật khác.
Tại sao vi sinh vật lại thích tụ tập sống trong đất?
Trong đất vốn rất giàu thức ăn cho vi sinh vật, đó là xác động thực vật và các loại chất vô cơ. Trong các hạt đất, vừa có không khí vừa có nước dồng thời độ pH tương đối trung tính, nhiệt độ quanh năm biến động ít. Với điều kiện môi trường như vậy, phải nói là quá thích hợp đối với vi sinh vật. Do đó, đất trở thành đại bản doanh của vi sinh vật với nguồn thức ăn đầy đủ và với điều kiện thời tiết dễ chịu.
Sống trong đại bản doanh này tuy thoải mái thật, nhưng vi sinh vật không thích hưởng lạc, ăn không ngồi rồi, chúng vẫn âm thầm cống hiến sức mình, hàng ngày hàng giờ cho toàn thế giới sinh vật.
Mọi người đều biết, lương thực, rau quả mà chúng ta ăn hàng ngày đều là hạt, quả hoặc các bộ phận khác của thực vật. Đối với người và động vật, thực vật là nguồn sống. Vậy thực vật ăn gì? Khẩu phần ăn của thực vật là CO2 và một số chất vô cơ đơn giản khác. Dưới ánh nắng mặt trời, thực vật biến những chất đó thành chất dinh dưỡng để thoả mãn nhu cầu sinh trưởng và phát triển của mình. Nhưng hàm lượng CO2 trong không khí rất thấp, chỉ chiếm khoản 0,,3%. Tổng số lượng CO2 trong khí quyển chỉ là 600 tỷ tấn, trong khi cây xanh trên trái đát mỗi năm ăn hết 60 tỷ tấn rồi. Như vậy nếu chỉ dựa vào CO2 trong khí quyển, thì đã hết nhẵn từ lâu. Thế mà hàng trăm triệu năm, trái đất vẫn không xảy ra hiện tượng đáng sợ này.
Vi sinh vật trong đất khi phân giải các chất hữu cơ, đã sản sinh ra một khối lượng khổng lồ khí CO2 đưa vào khí quyển khoảng 90% CO2 trên trái đất là do vi sinh vật cung cấp. Đó là nguồn thức ăn vô tận cho thực vật.
Ngoài CO2 ra, thực vật còn cần các chất dinh dưỡng khác nữa như các nguyên tố N, P, S, K…. Chúng phải là các chất tan trong nước, cho dù có nhiều đến mấy, thực vật chũng chỉ có thể chết thèm, chứ không xơi được. Trong đất chất nitơ hữu co không tan trong nước có rất nhiều, còn ni tơ vô cơ tan trong nước lại rất ít, không đủ cho thực vật ăn trong 3 tháng. Vi sinh vật trong đất có tài biết ni tơ hữu cơ thành ni tơ vô cơ. Trong công nghiệp, người ta ủ phân chính là lợi dụng đặc điểm này của vi sinh vật. Có thể phối hợp hai loài vi sinh vật trong đất, biến chất hữu cơ thành NH3 rồi biến NH3 thành axit nitric. Người ta gọi đó là tác dụng nitrat hoá. Axit nitric có thể hình thành trong đất các loại muối nitrat tan trong nước để thực vật hút. Ngoài ra, vi sinh vật trong đất còn có khả năng biến lân hữu cơ thành lân vô cơ, biến photphat khó tan thành các photphat dễ tan, hình thành các loại hợp chất lưu huỳnh và cố định ni tơ. Nhờ các quá trình này mà cung cấp thêm đầy đủ các loại thức ăn cho thực vật.
Các loại vật chất trên trái đất đều có hạn. Vật chất cấu thành sự sống cũng có hạn, trong khi người, động vật, thực vật, vi sinh vật lại có khả năng sinh sôi này nở vô hạn. mâu thuẫn đó nhờ có vi sinh vật mà đã được giải quyết. Vi sinh vật nhận trọng trách phân giải, chuyển hoá xác động, thực vật thành các chất vô cơ, đưa trả các nguyên tố đó trở về với thiên nhiên, chuẩn bị điều kiện cho sự ra đời các thế hệ tiếp theo, nhờ đó mà giới sinh vật mãi mãi trường tồn.


Trong cơ thể người cũng có vi sinh vật phải không?
Vi sinh vật có quan hệ vô cùng gắn bó với con người. Trong cơ thể người mọi bộ phận đều có vô vàn vi sinh vật chung sống. Chẳng hạn như trong đường ruột, ít nhất cũng có tới 100-500 loài vi sinh vật. Mỗi gam phân có chứa khoảng 100 tỷ vi sinh vật. Trong cơ thể có loài vi sinh vật chung sống hoà bình với con người, giúp đỡ lẫn nhau, có loài lại gây bệnh cho con người, thậm chí gây chết người.
Đường ruột là nơi trú ngụ của nhiều loài vi sinh vật. Phần lớn vi sinh vật sống trong cơ thể người là vô hại. Thí dụ, trục khuẩn đại tràng và cầu khuẩn ruột non, trong hoàn cảnh thông thường đều giúp con người tiêu hoá thức ăn và hấp thu chất dinh dưỡng. Nhưng nếu chúng phát triển đột biến về số lượng sẽ gây bệnh cho người. Một số vi sinh vật khác ở đường ruột, lại là nguyên nhân gây ra các bệnh như thương hàn, kiết lỵ, dịch tả. Chúng đi vào cơ thể qua đường miệng do ăn uống, sau đó phát triển mạnh trong ruột, tiết ra độc tố hại người. Vì vậy, việc giữ gìn vệ sinh thực phẩm và ăn uống là điều rất quan trọng.
Da người cũng là nơi cư trú của vi sinh vật. Bệnh chàm là bệnh ngoài da của người mới trưởng thành. Chúng thường do những loại nấm sợi gây nên. Loại nấm này thường trú tại kẽ các ngón chân gây ngứa ngáy. Virut chốc mép có thể sống lâu dài, thậm chí suốt đời trên đa vùng quanh miệng. Thông thường không gây bệnh, chỉ khi nào sức đề kháng của người kém đi, chúng mới gây bệnh.
Rất nhiều trẻ em và thanh niên mới lớn phải chịu đau đớn vì bệnh sâu răng. Bệnh này cũng do vi sinh vật gây ra. Người ta có thể lấy bệnh phẩm từ răng miệng của người bệnh, soi qua kính hiển vi sẽ thấy các biến chủng của liên cầu khuẩn. Các nha sĩ chỉ cần làm sạch là khỏi! Biến chủng liên cầu khuẩn là cư dân thường trú trong miệng. Làm sạch được chúng chẳng khác làm sạch vi sinh vật trong ruột. Thực ra chẳng cần thiết, chỉ cần khôi phục số lượng thông thường là chẳng việc gì.
Đường hô hấp là cửa ngõ nối thông giữa cơ thể và bên ngoài, ở đó cũng không ít vi sinh vật sinh vật sinh sống. Có loại là cư dân thường trú, có loại là khách vãng lai. Trong bọn chúng có kẻ gây viêm phổi, lao, dịch hạch và viêm màng não. Nhưng tuyệt đại bộ phận vi sinh vật đường hô hấp là những vi sinh vật tích cực chống vi khuẩn bên ngoài xâm nhập.
Trong quá trình tiến hoá lâu dài, cơ thể người đã hình thành một “khu vườn” cho một số vi sinh vật sinh sống. Những vi sinh vật này trở thành bạn đường suốt đời của con người. Chúng với con người sống dựa vào nhau cho đến ngày con người lên thiên đàng.




Vì sao sữa chua lại có ích cho sức khoẻ?
Bungari là nước có nhiều cụ già trường thọ. Tại sao họ sống lâu? Người ta đã làm một cuộc điều tra. Kết quả thấy rằng phần đông người Bungari thích ăn sữa chua. Để vén bức màn bí mật của sữa chua, các nhà sinh vật học đã nghiên cứu sữa chua ở đó. Họ đã phát hiện một loại trực khuẩn có khả năng tạo ra sữa chua. Đây chính là trực khuẩn Lactobacillus bulgaricus. Sau này chủng vi khuẩn này đã được toàn thế giới dùng để sản xuất sữa chua.
Sữa chua rất có ích đối với sức khoẻ của con người và được mọi người ưa thích. Các đô thị lớn đều có bán sữa chua với nhiều dạng phong phú, có thứ loãng để uống, có thứ đặc để xúc ăn.
Tại sao sữa chua lại có lợi cho sức khoẻ? Đó là vì trong đường ruột có nhiều loại vi khuẩn có hại, như vi khuẩn gây thối. Nếu mỗi ngày mỗi người ăn một cốc sữa chua, vi khuẩn lactic trong sữa chua sẽ xây dựng được một tập đoàn vững mạnh có tác dụng ức chế vi khuẩn gây thối phát triển. Như vậy không những cung cấp chất dinh dưỡng cho cơ thể mà còn đề phòng vi khuẩn gây thối bành trướng, bảo đảm quá trình tiêu hoá bình thường, khiến cho các chất dinh dưỡng của sữa chua được dạ dày và ruột hấp thu, không gây ra hiện tượng đầy hơi trướng bụng.
Có một số nhà bào chế sản xuất loại thuốc giúp cho tiêu hoá gọi là “Biolactyl” (hay các chế phẩm khác chứa vi khuẩn lactic). Đó là các chế phẩm dùng để điều trị bệnh loạn khuẩn, đầy hơi. Những chế phẩm này cần ghi rõ ngày tháng sản xuất và thời hạn sử dụng. Nếu để quá hạn, vi khuẩn lactic đã mất hết hoạt tính thì điều trị sẽ vô hiệu.


Làm đậu phụ với chất ngưng kết như thế nào?
Đậu phụ là sản phẩm chế biến từ đậu tương được coi là một loại thực phẩm chế biến từ rất sớm. Đây là phát minh đầu tiên của Trung Quốc. Trong sách cổ trước đời Hán đã có ghi chép truyện Lưu An làm đậu phụ. Chuyện kể rằng Lưu An rất có hiếu với mẹ, ông sợ mẹ ông ăn đậu tương rang khó tiêu, nên đem xay nhỏ nấu thành sữa đậu để mẹ ăn. Một hôm, ông bỏ thêm ít muối vào sữa đậu, để một lúc, thấy sữa đông đặc lại, thành đậu phụ. Từ đó về sau, người ta chế biến đậu tương thành đậu phụ để làm thức ăn. Cách làm đậu lan truyền ra cả nước. Ai cũng ăn đậu phụ, có người ngày ba bữa đều phải có đậu phụ.
Lúc bấy giờ cách chế biến đậu phụ thật đơn giản. Đem đậu tương ngâm kỹ, đãi vỏ, xay bột, lọc, nấu sữa, ngưng kết, ép nước thế là xong. Chất ngưng kết thường là nước muối và thạch cao.
Sau khi kỹ thuật làm đậu của Trung Quốc truyền sang Nhật. Một số người nghiên cứu không ngừng lựa chọn chất ngưng kết. Cuối cùng họ đã phát minh ra một loại chất ngưng kết mới, đó là este gluconat (ta có thể gọi là men đậu). Chất ngưng kết này chính là sản phẩm của vi sinh vật, một chất kết tinh màu trắng, dễ tan trong nước. Khi tan trong nước dần dần chúng phân giải thành axit gluconic. Đun nóng, quá trình này diễn ra nhanh hơn. Chính axit gluconic đã làm ngưng kết protein đậu tương(3). Làm theo cách này nhanh hơn phương pháp cũ. Cách làm cụ thể là, cho vừa đủ một lượng chất ngưng kết vào trong sữa đậu ở nhiệt độ thấp, rồi đổ vào hộp hoặc túi (khuôn), đem đun nóng sẽ thành đậu phụ ngay.

(3) Vì protein trong đậu tương bị kết tủa ở điểm đẳng điện của mình, tức là ở một độ chua thích hợp.


Vì sao quần áo hay bị mốc loang lổ?
Vào mùa mưa phùn, người ta thường thấy quần áo bị mốc vàng, xanh, trắng mọc loang lổ, mượt như nhung. Đó chính là những vết mốc. Người lớn thường có kinh nghiệm như thế này: quần áo bị nước mưa không phơi ngay, áo bị thấm mồ hôi không giặt ngay, hoặc quần áo sạch để ở chỗ tối tăm, kín gió, lâu ngày, đều mọc mốc. Tại sao vậy?
Mọi người đều biết: quần áo chúng ta mặc đều được dệt bằng các loại sợi. Không kể quần áo bằng sợi nhân tạo, còn lại đều là sợi có nguồn động, thực vật. Chỉ cần sơ ý một chút là bị mốc ngay. Bởi vì, quần áo dệt bằng sợi bông, đay, gai có chứa rất nhiều các chất gluxit; quần áo dệt bằng sợi to tằm, len lông cừu, lông vịt, lông lạc đà lại chứa nhiều protit. Nếu để quần áo bị ẩm ướt lâu ngày, bị nước mưa hoặc mồ hôi thấm ướt, không kịp giặt ngay, nấm mốc bám vào quần áo sẽ có cơ hội thuận tiện để phát triển nhờ nguồn thức ăn gluxit, protit và nước của quần áo. Chúng sẽ làm hỏng sợi dệt mọc lên những lông nhung loang lổ đủ màu sắc. Đó là những vết mốc mà chúng ta thường gặp.
Nấm hình thành vết mốc có rất nhiều loại, chúng phân bố rất rộng, không đâu là không có, hoành hành khắp mọi nơi.
Cho đến nay đã phát hiện hơn 100 loài nấm có thể gây ra vết mốc trên quần áo như Aspergillus, Penicilliun, Trichoderma, Mucor…. Những nấm mốc này có sức tàn phá rất ghê gớm. Rất nhiều quần áo chăn màn và các vật phẩm khác bị chúng lặng lẽ làm cho hư hại khiến không còn dùng được nữa.
Trong đời sống hàng ngày, có hai biện pháp để phòng nấm mốc: Một là, quần áo phải được phơi khô dưới trời nắng, không đủ độ ẩm mốc sẽ không mọc được. Hai là, tủ quần áo để một ít băng phiến hoặc thuốc chống mốc, chúng sẽ có tác dụng tiêu diệt nấm mốc hoặc hạn chế không cho chúng phát triển.


Vi sinh vật đã tạo ra phân bón như thế nào?
Thông thường, cây trồng trên đất xấu không thể cho năng suất cao. Nhưng các bộ Đậu lại khác. Có nghĩa là, dù không bón phân, chúng cũng vẫn sinh trưởng rất tốt. Tại sao vậy?
Bạn hãy thử nhổ cả bộ rễ một cây đậu tương lên xem sao. bạn sẽ thấy những nốt sần mọc đầy trên bộ rễ. Nếu bạn vặt một nốt sần, ép vỡ ra, lấy dịch của nó đem soi trên kính hiển vi, bạn sẽ thấy rõ: có vô vàn những vi khuẩn hình cầu và hình que. Chúng rất nổi danh trong giới vi sinh vật. Đó là các vi khuẩn nốt sần.
Vi khuẩn nốt sần thật không thẹn là một cao thủ trong nghề chế biến phân bón. Chúng có thể cố định ni tơ trong không khí, biến chúng thành phân đạm, cung cấp cho cây đậu và cho đất trồng đậu.
Thật ra, trong đất, vi khuẩn cố định ni tơ không thiếu, nhưng vi khuẩn nốt sần nổi tiếng hơn cả. Những vi khuẩn cố định ni tơ này rất tài. Theo thống kê khoa học, vi sinh vật cố định ni tơ sống trên trái đất, hàng năm có thể cung cấp khoảng 200 triệu tấn ni tơ sinh học gấp 3 lần số ni tơ sản xuất ra bằng con đường công nghiệp trên toàn thế giới.
Cây trồng không những cần phân ni tơ (đạm), mà còn cần lân và Kali. Về mặt này, vi sinh vật đất cũng có đất dụng võ. Cần phải nói rằng, hàm lượng kali trong tự nhiên không phải là ít. Nhưng tiếc rằng, nó giấu mình trong quặng, không tan trong nước, khiến cho cây trồng không hấp thu được. Có một loài vi khuẩn gọi là vi khuẩn silicat, có thể giả phóng kali ra khỏi quặng, tan được trong nước và cung cấp cho cây trồng.
Vi khuẩn photphat hay cũng là bạn tốt của cây trồng. Đó là các loài Bacllus megatherium và Pseudomoná sp. Chuyên phân giải các hợp chất hữu cơ chứa lân, biến chúng thành các dạng phân lân dễ tan mà cây trồng có thể hấp thu được.
Một người bạn nữa là các vi khuẩn sunfat hoá. Chúng có khả năng sản xuất rất nhiều axit sunfuric, axit này sẽ làm giải phóng lân ra khỏi các quặng lân và quặng than, chế biến thành photphat cung cấp cho cây trồng.
Muốn phát huy đầy đủ khả năng chế biến phân bón của vi sinh vật đất người ta đã sản xuất loại phân bón vi sinh vật hỗn hợp gồm có vi khuẩn Axzotobacter Chroococcum, vi khuẩn lân và vi khuẩn kali. Loại phân bón vi sinh này có thể được coi là loại vận động viên toàn năng, vừa có tác dụng cố định đạm, vừa có thể cung cấp lân và kali, đóng góp công lao to lớn cho nông nghiệp.


Vì sao nấm tằm vôi lại trị được sâu róm hại thông?
Bạn đã nghe nói: “chớ đi qua rừng đang cháy” bao giờ chưa? Cháy rừng thật là một tai hoạ, thủ phạm là do sâu róm đấy. Sâu róm hại thông ăn tàn phá hại, chúng ăn hết sạch lá thông, làm cho rừng thông chết khô từng vạt lớn và rất dễ cháy. Hàng năm diện tích rừng thông ở Trung Quốc bị sâu róm phá hoại lên tới hơn 4 triệu ha. Sâu róm có lẽ là kẻ thù lớn nhất của rừng. Đức trước loài sâu róm hại thông nguy hiểm dó, các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu. Sau nhiều lần thử nghiệm, họ đã cấy một loài vi nấm gọi là nấm tằm vôi Beauveria bassina (còn gọi là bệnh Nấm bạch cương) tìm được trong cơ thể những con tằm chết cứng, trắng như cục vôi. Người ta đã chế biến loại vi nấm này thành một phế phẩm trừ sâu sinh học để phun lên cây thông. Kết quả là, sâu róm thông không địch lại được sự tấn công mãnh liệt của nấm tằm vôi, đã chết hết.
Nếu bạn có dịp đi vào rừng hoặc ra ngoài ruộng thể nào cũng có dịp thấy những con sâu róm chết cứng, mặt ngoài mọc dầy đặc những lông nhung trắng, vàng, lục, đen và màu tro. ĐÓ là chiến tích của nấm tằm vôi đấy.
Nấm tằm vôi dùng chiến thuật “Tôn Ngộ Không chui vào bụng công chúa Thiết Tản”. Những sợi nấm xuyên qua bụng của sâu hại, hoặc dưới dạng bào tử chu vào qua mồm sâu hại . Sau khi nấm tằm vôi lọt được vào cơ thể sâu hại thông, chúng sẽ coi đây là một kho lương thực, tha hồ đục phá để sinh sôi này nở. Trong quá trình đó, sợi nấm này ăn hết cả nước lẫn cái, khiến cho sâu róm nhẹ, khô, cứng lại. Sợi nấm mọc đầy chằng chịt trong cơ thể sâu róm. Như vậy, không những ngăn trở máu lưu thông, mà còn làm máu sâu róm bị ngộ độc gây rối loạn quá trình trao đổi chất và gây mất nước dẫn đến làm cho sâu chết.
Nấm tằm vôi đã trừng trị sâu róm hại thông như vậy đấy. Những lông nhung chúng ta nhìn thấy trên xác sâu róm, chính là sợi nấm mọc ra những lỗ hổng, nơi nấm tằm vôi tấn công vào sâu róm, để rồi từ trong cơ thể mọc ra những sợi nấm khủng khiếp. Trên đầu sợi nấm là những bào tử dạng hạt phấn. Gặp gió, những bào tử này sẽ bay đi bốn phương trời, chu du khắp thiên hạ giúp dân trừ sâu hại.
Nấm tằm vôi phân bố rất rộng, nó là thiên định của hơn 200 loài côn trùng như sâu róm hại thông, hại bông, sâu đục đậu, sâu ngô, ngài hại chè, vòi voi hại mía…. Những loài sâu này chỉ sau 2-3 ngày bị bệnh là đi tong ngay.
Ngày nay, nấm tằm vôi được các nhà nông học nuôi cấy sản xuất lớn thành một loại thuốc trừ sâu vi sinh vật rất hữu hiệu. Chế phẩm phun, rắc dưới dạng sương mù hay dạng bột trên rừng, trên ruộng. Người ta coi đây là một trong những thứ “vũ khí sinh học” chủ yếu, để tiêu diệt sâu hại.
Đường và chân là đôi bạn thân. Chân đi chơi, chân đi học, đường ngang dọc đường dẫn tới nơi.
Đăng nhập để trả lời
0