📢 Loạt tính năng mới: Kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ Thư Viện (Truyện/Thơ/Nhạc/Phim/Ẩm Thực)
Xin chào cả nhà!


Ban quản trị vừa hoàn tất một loạt tính năng mới, kết nối tài khoản Diễn Đàn với toàn bộ các khu vực Truyện, Thơ, Nhạc, Phim và Ẩm Thực. Xin tổng kết lại để mọi người tiện theo dõi và sử dụng:

1. Đăng nhập dùng chung toàn site
Chỉ cần 1 tài khoản Diễn Đàn, đăng nhập một lần là dùng được ở mọi khu vực. Nút "Đăng nhập / Đăng ký" đã thay cho "Giới thiệu / Trợ giúp" cũ ở đầu mỗi trang.

2. Thảo luận ngay dưới tác phẩm
Mỗi truyện, bài thơ, bài hát, phim, món ăn giờ có khung bình luận riêng ngay trên trang đọc/nghe/xem - không cần qua diễn đàn mới góp ý được. Bình luận đầu tiên sẽ tự tạo 1 chủ đề trong mục "💬 Thảo Luận Tác Phẩm Thư Viện" để mọi người cùng trao đổi.

3. Theo dõi tác phẩm
Bấm "🔔 Theo dõi tác phẩm" để nhận thông báo qua email ngay khi truyện có chương mới.

4. Yêu thích & Lịch sử đọc
Đánh dấu "⭐ Yêu thích" các tác phẩm ưng ý, và hệ thống tự ghi lại "🕘 Lịch sử đọc" mỗi khi bạn ghé đọc/nghe/xem - đồng bộ theo tài khoản, xem lại bất cứ lúc nào trong menu thành viên.

5. Huy hiệu hoạt động
Một vài huy hiệu nhỏ (bình luận viên, người theo dõi, người sưu tầm, thành viên kỳ cựu...) sẽ tự xuất hiện trên hồ sơ khi bạn hoạt động tích cực - hoàn toàn không phải hệ thống điểm/tiền thưởng, chỉ mang tính ghi nhận cho vui.

6. Ghi công người đóng góp
Tên người đăng nội dung (đánh máy, sưu tầm...) giờ sẽ tự động liên kết về hồ sơ Diễn Đàn nếu trùng với một tài khoản đang có trên diễn đàn.

7. Báo lỗi nội dung
Phát hiện lỗi chính tả, thiếu nội dung, ảnh hỏng... trong lúc đọc? Bấm "🚩 Báo lỗi nội dung" ngay trên trang, không cần rời khỏi tác phẩm đang xem.

8. Cải thiện giao diện trên điện thoại
Đầu trang và khu vực diễn đàn đã được chỉnh lại cho gọn gàng hơn trên màn hình nhỏ.

Rất mong nhận được góp ý thêm từ cả nhà để hoàn thiện dần. Cảm ơn mọi người đã luôn đồng hành cùng Việt Nam Thư Quán!

Diễn Đàn » Sách truyện sưu tầm

10 Truyện ngắn hay báo Văn nghệ 2000-2004

11 trả lời, 2.272 lượt xem — Trang 1 / 1
Danh sách:
Má hồng - Nguyễn Khải
Cây bồ kết lá vàng - Ma Văn Kháng
Khách không mời - Nguyễn Kiên
Đứa con trở về - Lê Văn Thảo
Đi một ngày đường - Nguyễn Lập Em
Đầu máy hơi nước - Lê Minh Khuê
Tiếng an dân - Thái Đào
Bằng lăng - Trần Văn Tuấn
Trăng nơi đáy giếng - Trần Thùy Mai
Trại cá sâu - Hồ Anh Thái

Các truyện Má hồng, Tiếng an dân, Trăng nơi đáy giếng đã có trên thư viện, còn các truyện còn lại CB sẽ sưu tầm hoặc type lên đóng góp cho thư quán.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Đi một ngày đường


Nguyễn Lập Em


Ai cũng muốn mình trải qua kiếp người trong cõi đời một cách yên ổn: Được sung sướng, hạnh phúc là điều quý hoá; những bất trắc, gian nan, đau khổ là do số phận đưa đẩy vượt ngoài ý muốn và sự kiểm soát của mình. Vậy mà sau mấy mươi năm yên sống cùng với vợ con trên mảnh đất và làng quê thân thuộc, bác Hai của tôi bỗng "nứt niềng", giang hồ cất bước.

Sau khi cơ sự xảy ra, bác dâu của tôi đoán chắc là chồng của bà đi cùng với mấy tay thương buôn thường về làng mua lúa gạo. Bà quyết đoán như vậy bởi vì bà vẫn thấy mấy y hay to nhỏ với ông già; có lẽ mấy y rủ rê ông già làm chuyện chi đó. Linh tính của đàn bà khiến bà lo ngại. Thật đúng như vậy! Có lần, bác Hai tôi bỗng than:

- Buồn quá!

- Có chuyện gì mà ông buồn?

- Mình làm ruộng, rẫy quanh năm suốt tháng, mặt nám tay chai, da đen tóc cháy, gần hết đời người rồi mà chẳng thấy thảnh thơi. Biết làm sao mà đổi được đời!

- Đổi sao?

Ậm ừ mãi, bác trai mới nói:

- Được như thằng Năm hàng xáo cũng sướng!

Bác gái tôi vừa kể, vừa khóc:

- Chèng đéc ơi! Ổng mà đem bì với Năm hàng xáo?!

Rồi bà liệt kê bao nhiêu là thói hư, tật xấu của người lái buôn ấy mà bà cho là trông thấy "nhãn tiền". Năm hàng xáo tên thật là Năm Mèo. Y có bộ vó bảnh bao, lại quen thói ăn to, xài lớn. Dưới mắt bác gái tôi, y là người ranh ma, gian xảo, thường mua cân già, bán cân non, lấy đầu này đắp đầu kia, so hơn tính thiệt từng xu, từng cắc. Bác gái tôi kết luận "người như vậy mà rộng rãi nỗi gì!", đó là chưa tính đến thói phóng đãng, trăng hoa của y. Mặc dù đã có vợ đôi, vợ ba ở nhà mà hễ gặp đàn bà, con gái là y cứ cà rà, hí hửng. Như những người đàn bà an phận, bác gái tôi hài lòng với người chồng thật thà, chất phác của mình. Bà thường nói với mọi người:

- Tui thấy ông Hai lo cần mẫn làm ăn, tui thương…

Bởi vậy, khi nghe bác Hai tôi ước ao được như Năm Mèo, bà đã gạt đi:

- Ông lột lớt mà thay hình, đổi dạng, học đòi theo Năm Mèo thì cứ đi mà đổi đời. Tui không biết tới!

Bác gái tôi vẫn khóc:

- Mình giận lẫy mới nói như vậy. Không dè… ổng đi thiệt!

Cứ để bác gái khóc to cho thoả lòng. Trước sự tình ấy, ai còn biết nói gì hơn. Câu chuyện chẳng mấy chốc lan ra khắp đầu làng, cuối xóm. Ai cũng biết… Ngủ một đêm, sáng dậy, vợ con của bác Hai tôi không tìm thấy ông đâu cả. Cả nhà hô hoán lên, đi tìm. Bác gái tôi đâm nghi, hỏi anh Thắng, con trai lớn của Bác.

- Hôm qua, ba mày có đong lúa bán cho chú Năm không?

- Dạ! Có! Lúc đó má qua thăm ngoại. Con tưởng là ba có bàn với má rồi!

- Trời đất ơi!

Bác gái chạy ra bờ sông ngó xuống bến, chỗ Năm Mèo thường đậu ghe. Bến sông vắng ngắt, không một bóng người. Chiếc ghe chài của Năm Mèo đã nhổ neo từ hồi nảo, hồi nào. Bây giờ, chắc họ đã đi xa lơ, xa lắc. Bác gái tôi than thở với đàn con của mình:

- Ba của tụi bây bán lúa lấy tiền, đi theo… thằng Mèo rồi!

Mấy người bà con, hàng xóm nghe chuyện, thấy buồn cười, cũng lựa lời an ủi bác gái tôi:

- Anh Hai theo thằng Mèo chớ có phải theo con mèo nào đâu mà chị Hai khóc! Vài bữa, ảnh lại về…

- Theo thằng rồi sẽ theo con, mấy rồi! Trời ơi là trời! Ai coi! Già rồi mà ổng còn sanh tật, sanh tâm…

*

- Đàn bà hay làm lớn chuyện! Ai mà làm gì đến nỗi tác tệ đâu!

Bác Hai khẳng định như vậy, sau chuyến đi "bụi" về. Bác Hai đi hai ngày, một đêm. Khi trở về, ông vẫn còn gói nguyên hai bộ đồ mang theo, chỉ thêm chiếc nón nỉ đen mà bác cầm tay chớ không đọi bảo là mua cho anh Thắng, và thêm đôi dép nhựa đỏ dành cho con gái út. Bác gái tôi cật vấn:

- Ông đi đâu ?

- Đi chơi… cho biết Sài Gòn!

- Sao ông không nói với tui?

- Nói với bà đặng… dễ đi được lắm!

Bác gái thở hắt ra, như trút bao nỗi buồn lo đè nặng suốt hai ngày chồng mất tích, mất tăm. Bà không nói gì nữa, bỏ đi, lo việc nhà. Có lẽ, đối với bà, việc bác trai mau chóng trở về là đã quá đủ, hoặc là việc rầy rà chồng, bà để dành thủ thỉ lúc về đêm.

Chúng tôi, anh Thắng và tôi, là những người tò mò về chuyến đi của bác Hai tôi hơn ai hết. Chúng tôi rất muốn biết điều gì đã xảy ra trong thời gian bác Hai tôi rong ruổi và cái gì đã khiến bác tôi cất bước giang hồ. Chỉ vì những khi vắng mặt bác gái tôi, bác hai mới từng lúc hẻ mở với chúng tôi. Quả tình là sự việc không nghiêm trọng như bác gái tôi đã nghĩ. Chuyện đổi đời chỉ là ý tưởng mà bác Hai tôi đã diễn đạt không chính xác khiến bác gái hiểu lầm. Mọi sự bắt đầu từ một buổi chiều…

Đó là một buổi chiều rảnh rỗi hiếm có trong đời của bác Hai tôi. Là một lực điền, ngoài thời điểm gieo trồng, gặt hái, những công việc không tên của ruộng vườn, nhà cửa, gia đình thường chiếm hết thời gian còn lại của bác. Lúc tết nhất, giỗ đám lại là lúc bác sa vào trà, rượu với chén chú, chén anh cùng thân bằng, quyến thuộc, bà con, hàng xóm. Vậy mà có một buổi chiều, bác Hai tôi không biết làm gì. Bác ngồi ngó mông ra dòng sông chảy qua trước cửa nhà, thấy đám lục binìh trôi líu ríu, trôi miết về xa. Bác bỗng nghĩ về đời sống của đám lục bình kia. Dẫu nó là thân bèo dạt cũng đã trôi hết xứ này sang xứ khác, theo sông mà biết nơi gần, chốn xa. Bác lại ngẫm về mình, một đời chôn chân, mọc rễ trên mảnh đất này: đi chưa quá chợ huyện, chợ xã, vui chơi chưa ra khỏi luỹ tre đầu làng, con đường ra ruộng, về vườn, cả xóm làng, cả mái nhà, vợ con… đều quá quen thuộc, quá gần gũi đến mức bác cảm thấy không nghĩ, không nhìn, không sờ mó, đụng đến cũng biết được. Ước muốn được biết về những điều mới lạ, những thứ ngoài mình bỗng chốc xâm chiếm bác. Bác nghĩ đến Năm Mèo và chiếc ghe mua lúa của y. Vậy là bác gọi Năm Mèo, rồi bảo con trai bác đong và vác xuống ghe của y bốn mươi giạ lúa. Hai người đàn ông thì thầm với nhau. Hai giờ khuya đêm ấy bác Hai tôi xuống ghe của Năm Mèo. Vài phút sau, chiếc ghe chài chở lúa khẳm mạp ấy được kéo neo, nhổ sào, từ từ tách bến.

Thật chúng tôi không hiểu được là trong tâm hồn của một người đàn ông đã luống tuổi có vẻ bên ngoài cục mịch như bác Hai tôi lại có một khoảng dành cho niềm khao khát hết sức lãng mạn ấy. Chúng tôi cũng sẽ cạn nghĩ khi cho rằng ông già chỉ bận tâm đến manh áo, chén cơm và nếu hơn nữa là đất đai, nhà cửa. Bốn chục giạ lúa để đổi lấy một chuyến đi chơi cho biết Sài Gòn là một sự kiện đặc biệt trong cuộc đời của bác Hai tôi. Vì vậy, chúng tôi càng háo hức muốn biết cụ thể về chuyến đi của bác. Bác tôi chỉ tủm tỉm cười, khi chúng tôi thúc giục:

- Từ từ… để quỡn việc rồi tao kể cho mà nghe!

Nhằm lúc vui vẻ, bác nói cho chúng tôi biết thế nào là nằm trong khoang ghe chở lúa, thế nào là đi chợ trên sông, thế nào là ngủ trên bồng bềnh sóng nước. Những lúc nhâm nhi bên mâm rượu, bác lại bật ra câu chuyện của Năm Mèo:

- Thằng đó vậy mà bỡm bẫy lắm!

- Bỡm bẫy là sao, bác Hai?

- Nó gạt mấy bà vợ của nó, mà gạt theo kiểu… hàng xáo mới ngặt!

Tiếng tăm về Năm Mèo thì làng tôi ai cũng biết nhưng đến đoạn này thì ai cũng ngóng nghe.

Nó khoe với tao là nó có một bà vợ ngon lắm, là chủ quán bán rượu bia ở Sài Gòn. Nó nói "Tui sẽ dắt anh Hai tới đó chơi, cho biết mặt bả". Mới đi một đỗi, nó đã cho tắt máy, neo ghe đậu giữa sông. Tao tưởng máy hư, đang nằm trong khoang, lồm cồm bò dậy, định chui ra sau lái coi sự thể ra sao. Đang bò nửa chừng, tao đã nghe có tiếng đàn bà. Hình như bà kia đứng trên xuồng nhỏ, cặp vô be ghe của Năm Mèo, giọng cằn nhằn, cẳng nhẳng:

- Ba nó đi cả chục ngày mà mặc dơ có một bộ đồ này hả?

- Mấy bộ mặc dơ bữa trước đã gặt hết rồi! Tiền gói ở trỏng, cầm coi chừng rớt!

Bà kia nghe nói có tiền gói theo, nín thinh, không hỏi vặc mắc nữa.

Vậy rồi Năm Mèo cho nổ máy, ghe đi tiếp. Đi một quãng sông nữa, cỡ mấy tiếng đồng hồ, Năm Mèo lại cho ghe đậu lại. Nó lại gởi lên bờ cho bà vợ khác số quần áo dơ còn lại của mình và tiền, số tiền chắc là không nhiều lắm. Rồi nó lại cho ghe đi tiếp. Nó cười hì hì "Lót bến chuyến về, anh Hai, coi như mình lo trước nơi ăn, chốn ở mấy ngày đi lại". Tao hỏi nó có chừa bộ đồ nào dơ cho bà ở Sài Gòn không? Nó lắc đầu, nói tỉnh queo "Đàn bà ở chợ không chịu cực giặt quần áo cho mình đâu. Với mấy bả, mình có phép khác!"

Bác Hai tôi nói tới đó thì dừng lại. Anh Thắng ngồi ở góc nhà, hỏi nôn tới:

- Phép gì vậy, ba?

Bác Hai tôi gằm mặt xuống, nói cộc lốc:

- Thôi! Bỏ đi!

Vậy là bác Hai tôi không chịu kể tiếp nữa rồi. Chúng tôi lần lượt tan ra, chờ dịp khác.

Điều khiến tôi cứ thắc mắc là lần nào cũng vậy, cứ kể đến đoạn đó là bác đổ quạu. Tôi điểm lại tất cả những điều bác kể thì hình như bác không hề đả động đến Sài Gòn, tựa như bác chưa bao giờ đến đó. Còn điều gì nữa hệ trọng hơn trong chuyến đi của bác mà bác thấy nói ra bất tiện hoặc bác muốn giữ lấy cho riêng mình. Tôi cứ theo đuổi ý nghĩ này nhưng không dám tỏ bày, chia sẻ cùng anh Thắng để giữ trọn vẹn tình cảm giữa cha con anh. Tôi lặng lẽ theo dõi bác Hai tôi.

Nhà tôi và nhà bác Hai tôi chỉ cách nhau một mảnh vườn nhỏ, cùng trên phần đất của nội tôi để lại cho con cháu; do đó, cả hai bên nhà đều có thể trông sang và nhìn thấy nhau. Nhiều lúc, tôi trọm thấy bác Hai tôi ra vào tư lự, có lúc tôi lại thấy bác ngó mông ra sông, đôi khi, tôi lại thấy bác ngóng xuống bến sông, chỗ Năm Mèo vẫn thường neo ghe mua lúa. Tôi cứ nơm nớp lo. Hay là bác Hai tôi lại muốn một chuyến giang hồ? Nếu như lần này, bác Hai tôi lại đong lúa bán và lại … đi "bụi", liệu bác dâu của tôi có im lặng mà chịu đựng nữa hay không? Là bà con ruột thịt, lẽ nào tôi lại làm ngơ nhìn bác tôi nát cửa, tan nhà!

Hôm ấy, gặp dịp hai bác cháu cùng đi sa lúa ngoài đồng. Nhân lúc nghỉ tay, tôi lân la dò hỏi, định lựa lời mà khuyên can bác:

- Bác Hai có tính đi Sài Gòn chơi chuyến nữa không?

- Không!

- Đi một lần, đã biết chán, còn đi chi nữa, phải không bác Hai?

- Tao có biết Sài Gòn là gì đâu!

- Vậy hôm trước , bác đi đâu?

- Thì đi… Sài Gòn!

Trước vẻ ngơ ngác của tôi, bác Hai bật cười. Thế là, vừa vấn thuốc hút, bác Hai tôi vừa kể, sau khi tôi hứa là không được tiết lộ với ai, nhất là bác gái, về câu chuyện nghe được ở bờ ruộng này. Bác Hai tôi kể. Tôi đã chắp nối câu chuyện đứt khúc, đứt đoạn này.

"Chiếc ghe chài gắn máy bốn ngựa của Năm Mèo chạy đến chiều hôm đó là tới bến Sài Gòn. Sau khi nói chuyện buôn bán và giao cho bạn lái coi bốc dỡ dàng, Năm Mèo dắt tao đến ngay quán nhà của nó. Cái quán hơi tuềnh toàng nằm cách bến sông xuống hàng độ vài ba hơi thuốc, nó giống như các quán bên đường dành cho khách vãng lai như tài xế, lơ xe, chủ ghe, bạn lái… Quán có phòng tắm, nhà vệ sinh, có cả phòng cho khách ngủ trọ qua đêm nữa. Tao vừa tắm xong, bước ra, đã thấy Năm Mèo ngồi chờ bên bàn rượu:

- Làm vài xị rượu thuốc cho giãn gân cốt, anh Hai, rồi tui kêu bả ra giới thiệu.

- Được!

… Tao gặp nó cũng ở quán rượu của vợ bé Năm Mèo. Nó cũng trạc tuổi thằng Thắng thôi. Trong đám đông mấy đứa con gái son phấn, áo quần loè loẹt, tấp nập ra vô tiếp khách. Nó ăn mặc giản dị, sạch sẽ, chỉ đứng lấp ló trong góc bếp.Tao nhìn bộ dạng của nó, thấy giống mấy đứa con gái ở quê mình. Tao hỏi nhỏ Năm Mèo. Năm Mèo bảo nó là con nhỏ giúp việc trong quán, giúp việc là làm đủ thứ việc vặt, việc quán, việc nhà, gọi nôm nhiếp ảnh là người ở. Tao thấy hình như nét mặt nó không được vui. Năm Mèo bảo nó đúng là con gái ở quê, do Năm Mèo dẫn dắt lên làm mướn mà có sự đồng ý của ba má nó. Nghe nói, ba má của nó nghèo lắm. Họ ở quê mà không có đất đai, ruộng rẫy chi cả, chỉ rặt đi làm mướn, làm thuê kiếm sống. Mấy tháng trước, má của nó bịnh, thiếu tiền lo thuốc mới mướn đỡ của Năm Mèo. Sau đó không có tiền trả, họ phải cho con gái đi ở giúp việc cho vợ Năm Mèo để trừ nợ lần hồi, trong vòng một năm. Nếu đã trừ đứt nợ mà con nhỏ muốn ở lại làm thêm thì vợ chồng Năm Mèo sẽ tính tiếp.

Chuyện của người ta, tao chỉ hỏi thăm cho biết, biết rồi cũng đành thôi! Cha mẹ nghèo khổ, buộc lòng phải đợ con, chớ biết làm sao?! Cuộc đời là vậy! Quê mình có tiếng là ruộng đất thẳng cánh cò bay nhưng cũng có kẻ no, người đói, kẻ dưa giả bán lúa lấy tiền đi chơi như tao, cũng có người nghèo khó phải đem con đi làm kẻ hầu, người ở như cha mẹ con nhỏ đó. Tao ngẫm: Đất Sài Gòn phồn hoa, đô hội, chắc cũng không thiếu gì kẻ sang, người hèn… Tao cứ nghĩ mà thấy buồn. Buồn! Tao ngồi uống rượu tì tì với Năm Mèo cho đến lúc trời tối mịt hồi nào chẳng biết.

Năm Mèo kêu mệt, đòi đi ngủ sớm, bỏ vô trong. Vợ bé của Năm Mèo đi ra, bảo có dành cho tao một phòng bên cạnh. Ngồi một mình cũng buồn, tao cũng vô phòng nằm nghỉ. Tao nằm hoài không ngủ được, phần vì lạ chỗ, lại vì đã ngủ cả ngày trên ghe lúa lúc đi đường rồi. Phòng bên kia, Năm Mèo rọ rạy hồi lâu rồi tao nghe tiếng vợ nó nói nhỏ:

- Kêu đưa nào cho anh Hai không?

- Thôi! Ông già rồi! Đừng làm bậy bạ! Còn giữ đường cho tui về dưới làm ăn!

Bác Hai tôi ngừng kể, cười khậc khậc:

- Thằng hàng xáo đó vậy mà khôn! Nó mà để vợ nó gạt tao trận đó là nó hết đường về bến Nước. Nó gian xảo mà cũng biết lựa chỗ, lựa người. Còn tao tính đi vãn cảnh cho biết Sài Gòn chớ đâu có chuyện bậy bạ đó. Mà mày nghĩ coi, tao già cả rồi, còn "củi lửa" gì đâu mà ham hố?

"…Rồi sao nữa hả? Ờ…! Tao nằm lăn qua, trở lại đến hơn nửa đêm. Bỗng tao nghe có tiếng động ngoài quán rồi lại nghe có tiếng con gái khóc. Tao ngồi dậy, mở cửa phòng, bước ra. Tao thấy quán đã dẹp, vắng tẹo mà con nhỏ giúp việc còn ngồi khóc trong góc bếp. Tao ra bàn ngồi, ngoắc nó lại, hỏi chuyện. Nó đến, không dám nói lớn, sợ người khác nghe thấy. Thì ra, có thằng quỷ on nào đó là khách ngủ trọ mò vô mùng nó. Nó không chịu, giẫy được, chạy ra.

- Sao không la lên, méc bà chủ?

- Bà chủ dặn, nếu có như vậy, không chịu thì thôi, không được la. Nếu la lên, sẽ làm mất mặt khách, khách sẽ không tới quán nữa. Chừng ấy, bà chủ sẽ trừ lương, đuổi việc…

- Lỡ bây giẫy không khỏi rồi sao?

- Con không biết nữa! Lần nào cũng vậy, con ráng giẫy, chạy ra, không dám trở vô trỏng nữa…

- Vậy là xảy ra nhiều lần rồi hả?

- Dạ! Con nhỏ "dạ" rồi khóc nghẹn.

- Sao bây không trốn về quê?

- Dạ! Chú Năm biết nhà ba má con dưới quê. Con trốn về, thế nào chú Năm cũng theo bắt lại, vì ba má con còn nợ tiền của chú Năm. Con tính sẽ ráng ở đến trừ hết nợ là con xin về…

- Lỡ, từ đây đến đó, bây giẫy không khỏi đám quỷ đó, rồi sao.

Con nhỏ làm thinh, khóc:

- Liệu bề, bây trả hết nợ, vợ chồng Năm Mèo có cho bây về không?

- Dạ! Con không biết!

- Thôi! Từ từ… để tao tính cho.

Vậy rồi, tao nhường cái phòng của tao cho nó vô nghỉ đỡ. Còn phải dặn nó gài chốt trong cho chắc chắn. Tao ngồi lại ngoài quán, với bình trà, chờ sáng.

Sáng ra tao uống cà phê với Năm Mèo, nói chuyện chuộc con nhỏ.

- Nhỏ nào, anh Hai?

- Con nhỏ giúp việc.

- Con Thơm hả?

- Ờ! Chắc… con Thơm!

Tao kể hết sự tình cho Năm Mèo nghe. Năm Mèo ngồi làm thinh nghe rồi nói:

- Chuyện đó… để tui nói lại với bả. Bả xếp chỗ ngủ lại cho nó, thì êm. Còn anh Hai cứ để tiền mà đi chơi…

- Thôi! Tao hết muốn đi chơi rồi! Giúp cho con Thơm rồi, tao về dưới quê liền. Sợ bả với mấy đứa nhỏ ở nhà rầu lo. Hồi đi, tao có nói với ai tiếng nào đâu!

Năm Mèo ngồi dùng dằng một lát rồi kêu con Thơm ra:

- Ông Hai trả nợ dùm cho ba má mày. Mày chịu trở về dưới quê không?

- Dạ! Chịu!

Thấy con nhỏ mừng rơn mà tao bất phẫn. Tính ra, vừa nợ vừa tiền lời ngót nghét gần ba mươi lăm giạ lúa. Cũng may, tao đem vừa đủ, còn dư chút ít. Lúc ngồi một mình chờ sáng, tao đã tính thầm: Nếu như vợ Năm Mèo đã tính hết nợ mà tiền tao đem theo còn thiếu thì tao hẹn lại với Năm Mèo tới khi về dưới này tao sẽ đong lúa thêm cho đủ số. Tính tiền bạc với vợ chồng Năm Mèo xong xuôi, tao với con Thơm đi xe xích lô ra bến xe miền Tây. Nó mua vé về quê nó. Tao mua vé về đây. Tao coi lại, thấy cũng còn dư chút tiền. Tao cho con Thơm thêm vài chục để ăn đi đường. Còn một ít tao ra sạp hàng trước bến xe mua cho thằng Thắng cái nón và con Mén đôi dép. Rồi… tao và con Thơm, mạnh ai nấy lên xe, về thẳng.

Ngồi xe về dọc đường, tao cứ nghĩ: Tao chuộc con Thơm giùm cho ba má của nó chẳng qua như thả cá về sông. Trong dòng sông mênh mông, hễ con cá này thoát thân thì con khác cũng dính câu, mắc lưới. Thế nào Năm Mèo cũng tìm được đứa khác đem lên giúp việc cho vợ nó, cũng là con gái nhà nghèo khó ở quê mình. Rồi cảnh cũ lại diễn ra nữa thôi, vì trong cuộc đời rộng lớn này, không thiếu gì người còn phải lấy than mình đổi lấy miếng cơm, manh áo. Nghĩ như vậy nhưng tao cũng chẳng tiếc số tiền đã bỏ ra để chuộc con Thơm giùm cho ba má nó. Coi như tao giúp người hoạn nạn, vậy thôi!

… Chuyện như vậy, tao nói, mày tin không? Nếu mày không tin thì đợi khi nào Năm Mèo về mua lúa ở làng mình mà hỏi. Nhưng tao chắc rằng, dù Năm Mèo có đứng ra làm chứng, bác gái mày cũng không tin bởi vì,… bả đâu có tin Năm Mèo. Mà, ai tin nó có được? Nó là thằng bợm bẫy mà!"

Bác Hai tôi ngửa mặt cười, cái cười đầy tự tin và mãn nguyện. Tôi cho rằng bác Hai tôi hài lòng với việc đã làm. Và, tôi tin tất cả những gì mà bác đã kể lại về chuyến đi ngắn ngủi của mình./.






美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-09-30 20:38:53ct.ly>
Đầu máy hơi nước

Lê Minh Khuê


Sản phụ hôn mê do mất máu. Người đàn ông ngồi bên cạnh đăm đăm nhìn khuôn mặt xinh đẹp giờ trắng bệch. Mảnh mai. Liễu yếu. Nhưng ghê gớm. Giận chồng đến nỗi cơn đau đẻ đến mà không gọi. Có mo-bai để cho mà không dùng. Một mình vật vã. Khó đẻ. Khi phát hiện ra thấy nằm trên nền nhà. Máu như suối.

Thằng cu mổ ra suýt nữa ngạt. Người đã tím. Xem vậy mà nhà còn có phúc. Thằng bé giãy đạp. Khóc như cái còi. Người đàn ông, loại người máy, loại người thẳng bang không hề run rẩy trước lá xanh, trước ráng chiều, trước bàn tay trẻ đưa ra…. giờ mủi lòng nhìn vợ chìm trong giấc mơ. Gã vẫn giễu vợ là đồ thừa. Sống mà không xem trọng tiền bạc như gã. Không cùng chí hướng. Xem như lắp ghép. Bây giờ nghe tiếng con khóc, gã cũng như lạc bước quay về.

Như thế này mà bảo con chuyển hẳn lên ở với bố mẹ hả? Còn lâu. Mưa thì lội nắng thì bụi. Cây cà phê của bố còi cọc như trồng trên sa mạc. Ở dưới thành phố còn được mặc váy đeo vàng còn trát phấn còn tô son. Bố bảo chịu khó nhưng con chỉ thấy khó chịu. Bố mẹ già rồi còn giở chứng di chuyển.

Lễ vừa ăn ngô luộc vừa nhấm nhẳn. Ông Phục nằm võng kẽo kẹt nghe con gái. Tai nghe mắt nhắm. Đầu nghĩ đi đâu. Ông cũng nghĩ: Con cái khốn thế. Sướng quá chiều quá nó tưởng nó là gì chứ. Đang học hành tử tế đùng đùng bỏ về. Mày làm tướng làm tá gì mà sờ đến đâu chê đến đấy.

Thôi bố ạ! Lễ ném lõi ngô vất ra cái cống xanh những rêu. Bố mẹ ở đến nỗi rêu xanh cả cống rồi. Quay về khó rồi. Mình có nói cũng mang tiếng con hư. Mà hư sao được? Xuất thân nề nếp gia truyền. Cái gì cũng gia truyền đến cơm đến phở cũng gia truyền, chữ gia truyền của mình nó rẻ như giấy bổi. Cũng chỉ muốn làm cô giáo văn sử tiểu học bình yên cuộc sống dè dẹăt lại có tiền công chức. Đi học trung cấp sư phạm khu vực miền Trung. Năm thứ nhất gặp ngay mấy giáo sư thôi miên cỡ quốc tế. Thầy bước vào lớp tất cả bỗng như bị đánh thuốc mê. Nhìn thấy thầy là lập tức đờ người, mắt căng to ngó thầy đầu thì ngủ. Đứa nào gan thì bỏ kính gục xuống bàn. Đứa nào lơ mơ nghe bài giảng thầy đọc nguyên trong giáo án. Mười hai giờ kém mười lăm ông Quang Trung mới đến Tam Điệp. Thầy dắt ông lò dò ra Thăng Long đến khi ca khúc khải hoàn là một rưỡi chiều. Còn hứng thú gì khi nhai cơm bụi nghĩa đen, bụi một nửa cơm một nửa cổng trường. Việc gì phải theo cả bầy mà tự hành mình thế?

Ông Phục ngán ngẩm: Thế cái cửa hàng đồ gia dụng của máy sáng choang hả con? Cái ấm đun nước cất hàng lậu tỉnh lẻ biên giới ai bảo mày dán mác Sanh ga po? Cái kẹp quần áo I nốc Thăng Long mày loè người ta hàng xác tay Americần? Cái cốc nhựa Bình Dương mày bảo chính danh Nhật Bổn…? Ông Phục rỉ rả dùng nguyên giọng con gái hay ca thán chán sống.

Lễ thở hắt ra thấy nóng rực mi mắt. Làm thế nào được hả bố? Dân mình sinh ngoại không nói thế bán cho ma. Bố biết thừa còn cứ giễu con. Lời lãi có bao nhiêu suốt ngày phơi mặt dưới mái tôn nắng hầm cho màu da củ gấu thế này còn sung sướng gì chứ. Nhưng lên đây thì rõ tránh dơi gặp chuột…

Thôi bố tuỳ con! Ông Phục dịu giọng thương hại đứa con gái út xinh đẹp kém may. Hơn hai mươi tuổi đầu đã loay hoay. Thằng người yêu mặt mũi phương phi bóng bẩy nhưng mở mồm là theo thói thời thượng phô bày văn hoá bình dân xếp xó tuốt tuột những uẩn khúc của lòng người xem buồn vui như xa xỉ chả cái gì sánh nổi tiền bạc. Ông Phục một thời đi xe điện số 3 ở Maxcơva học môn vật lý nhưng khi về nước vào thành phố miền Trung quê hương nhì nhằng công thức ở phân viện khoa học chôn vùi cả tiếng Nga, cả vật lý học ở bậc thầy. Về hưu buồn nưh cái giẻ nhúng nước. Nghe lời bạn lên cao nguyên trồng cà phê cho vui. Mà thật ra là vui. Xa hẳn cái thành phố nhung nhúc xe máy, người ra đường hơn nhau nửa bánh xe xem như thắng quả đậm. Cái đứa con gái ương như ổi sao mà bửa cái trán dô của nó nhét chân lý của mình vào?

Lễ thấy cái xe máy lạ đang rì rì lên con đường đất dỏ dẫn vào nhà bố mẹ. Nghe tiếng xe ông Phục bật dậy: Có dễ cậu Thống đấy. Thống bác sỹ bạn của bố! Bố Lễ bật dậy trông thật trẻ.

Lễ lủi ra phía sau nghĩ chán chết. Bạn của bố chắc cũng dạng giáo sư gây mê, giáo sư thôi miên Lễ đã biết khi đi học. Ở xứ đất đỏ hiu hắt cà phê này các ông còn biết bạn bầu với ai. Có chữ có nghĩa chuyện trò với nhau cũng đỡ. Thôi mai mình về dưới phố. Lễ đâu? Cho bố phích nước. Về hôm qua mà hôm nay mới mò tới hả? Tưởng Hà Nội giữ cậu rồi!

Em cũng mê Hà Nội. Nhưng loanh quanh vài tuần thấy rõ ở đây người ta cần mình hơn. Ở chỗ đông người mà không ai cần mình, chán thì ít tủi thì nhiều như cô dâu bị chê không còn nguyên anh ơi… Lễ nghe chuyện bố với khách cũng hơi là lạ. Nhưng bưng nước lừng khừng. Bắt tay khách thấy cũng chả có gì gây hấn ngay. Cháu chào chú!

Ông Phục xoa tay. Chà chà, khó xưng hô nhỉ? Đây là anh Thống bác sỹ bố quen từ ngày mới lên. Bác sỹ hạng cao đó. Đi Hà Nội tập huấn nửa năm, báo về cả tuần rồi bây giờ mới tới. Kém bố mười lăm tuổi. Bạn vong niên. Thôi con cứ gọi là anh cho trẻ. Theo tuổi thôi mà… Dà… Thống kéo giọng như trai thanh lịch xứ Huế. Tui xứ đó nhưng không có Bửu, có Miên, có Khoa chi mô. Trươg Đình Thống. Bình dân như chúng sinh cũng không nghiêng nghiêng xứ ngoài dù gia đình tui ở Hà Lan hết. Tui chả có Philíp Thống cũng chả có Tôni Thống hay Henri Thống gì hết. Thằng Thống Đại gàn.

Mấy cô y tá bệnh viện huyện dành hẳn cho hai chữ đó. Nhưng không gàn đâu. Tui bình thường như chúng sinh. Để tui kể cho cha con nghe mấy chuyện trên tàu…

Suốt cả buổi, Lễ tủm tỉm. Rồi cười khúc khích. Rồi ôm bụng quằn quại vì cười. Ông Phục ha ha hả hả. Hai phích nước hết veo cho đến khi bà Phục ở cơ sở thêu về thấy cả nhà còn cười, cơm nước chưa có gì. Bà cũng mừng rỡ vì Thống đã về. Cả vùng nó trông. Cả bệnh viện nó trông. Cả hai cơ sở thêu bà thành lập thu hút nhân công nhàn rỗi giữa các vụ cà phê chưa hái cũng lâu rồi không thấy ông Thống gàn. Bà đi xe máy xuống dốc ra phố huyện mua một làn thức ăn. Khi về thấy con gái xắn tay trong bếp, bớt hẳn cái vẻ thây kệ sự đời… Trong bữa ăn bà hỏi Thống: Nghe nói con gái Hà Nội đẹp lắm mà không thu hút nhân tài miền Trung sao?

Có chứ chị. Em đẹp trai thế này ai người ta tha. Còn được mảnh giáp về đây là may đấy!

Bữa cơm cứ thế vui như tết. Ông Phục giãn hết các cơ mặt trẻ ra đến chục tuổi. Bây giờ thì Lễ láng máng đoán ra vì sao bố mẹ cứ ở lì đây mua đất thuê nhân công trồng cà phê. Có bạn bầu như vậy rõ ràng vui hơn cả một khu phố đong nghịt người dưới kia thật. Lễ loanh quanh yêu đương bán hàng chạy hàng lãi lỗ. Chỉ mới vài lần lên thăm bố mẹ đâu đã được gặp bác sĩ này.

Ngày mai. Rồi cả ngày kia. Lễ quên phắt ý định về thành phố. Hàng có người bán nhờ Hùng quản lý mấy ngày đi vắng. Lam Hùng. Đến bây giờ mới thấy nhột nhạt. Đã Hùng sao lại còn Lam? Tên như thế mà mình cũng yêu đương. Nói là yêu thì cũng biết vậy. Còn biết làm gì khi chỉ quấn quýt nhau mỗi lúc nhập hàng tính toán lỗ lãi? Có lẽ chỉ như thế mới thấy cùng chí hướng!

Chiều cao nguyên trong vắt. Đường đất đỏ càng đỏ khi cỏ xanh rì hai bên đường. Khi cây cà phê cũng xanh ngắt. Thống có mấy ngày mệt nhoài ở bệnh viện huyện. Hoá ra người ta cũng chờ mình. Bình luận theo kiểu Thống. Dân di cư khắp nơi đổ về. Vùng này ngày trước hoang vu như mặt trăng bây giờ đã "tôn hoá" khắp lượt. Dân di cư nghèo xem mạng mình rẻ rúng y như dân đô thị đi xe máy. Họ chả dùng thuốc men gì. Cái u to bằng cái xô vẫn đắp lá. Thống gom những người có lòng tuần một lần dạo qua các nơi khám rồi cho thuốc thông thường. Đi vậy cũng nhiều chuyện để kể ra cho em nghe. Khi nào có dịp…

Những lúc nghiêm trang Thống trông cũng buồn. Nhưng phần lớn cứ làm cho người đối thoại phải cười dù mặt mũi trông vô sự… Lễ cười ngặt nghẽo khi thấy Thống nghiêm túc. Chả biết Thống nói cái gì nhưng bất chợt nghĩ dù có xếp cạnh hàng tá đàn ông ngầu ngầu sành điệu xe "a còng" mù mịt đường cao tốc Thống vẫn là một người độc đáo khó ai sánh kịp. Người ra đời trong phú quý, cha dính tí quận trưởng trước bảy nhăm khi cả nhà chạy khỏi miền Trung ra sà lan Thống mới gần hai mươi tuổi đang trọ học trên cao nguyên vì thích khí hậu lạnh. Trường ở Đà Lạt đó. Tuổi hai mươi dắt theo sau hàng tá tình. Nhưng chàng chưa kịp hôn. Nàng nữ sinh trung học má hồng màu cà rốt non áo khoác len màu tro mặc ngoài áo dài đã theo cha chạy dưới Nha Trang. Ra sà lan thì chết. Chìm xuồng. Từ đó cứ luẩn quẩn ở cao nguyên. Biệt thự nhà vườn dưới kia vẫn để đó. Họ thu rồi họ trả. Giờ cho thuê làm kỷ niệm. Công ty Trách nhiệm Hữu hạn trả tháng gần chục triệu. Không phiền hà gì đám Việt kiều yêu nước độ hai mươi người ở Hà Lan. Bên đó cũng có nhà. Nhưng đi du lịch thì mới mê. Vẫn thích về đây!

Lễ dài giọng trêu: Chắc linh hồn nàng không cho anh đi khỏi đất cao nguyên?

Đâu có. Mình mơ mộng gì. Tạng mình mơ ai tin? Nhưng mình có nghề mà. Lại không cần tiền để bon chen chỗ đông đúc. Ở đây khoẻ người. Cái này quan trọng nè. Người ta thấy cần mình. Mình lại không đến nỗi xa lánh khó khăn. Thôi, làm bác sỹ đa khoa ở xứ nghèo này mình chỉ cần chẩn đoán bệnh viêm họng chính xác là nhất.

Hai người thong dong. Chiều. Đồi cà phê mênh mông.

Lam Hùng điện thoại. Có về không thì bảo. Mấy lô hàng lậu bán đấu giá mua cho rồi đấy. Có cho người tải tới không? Cái gì giữ trên đó mà lâu thế? Thôi. Không quan trọng. Cái chính là tôi lo cho gian hàng của mình. Mình không lo tôi làm sao dám bàn. Máy tắt. Lễ thấy xa tít đằng kia là Lam Hùng. Chưa gì mà trịnh trọng tôi tôi một mình… Lễ đến bệnh viện huyện. Hai dãy nhà một tầng làm trên đồi. Một tốp đàn ông đàn bà đang cúi cúi nghe Thống. Thống nhỏ nhẹ rồi quát tháo: Phải khôn lên chứ. Cho thuốc uống bữa nay bữa mai sao khỏi ngay mà uống vài viên là vất. Người gì mà không biết tự chữa trị cho mình… Những con người nhỏ bé đen đúa không giận ông bác sỹ. Họ biết là nên giận ai nên thương ai. Những con người như hạt cát. Những đứa trẻ ai thương thật lòng nhận biết ngay. Thống tìm được nơi để đặt lòng tốt. Thời buổi kỳ quặc ai có lòng tốt đều như người ngoài hành tinh. Thống đi lại như cá trong nước ở đây. Đất sạch. Trời trong không bụi bặm…

***

Rồi Lễ cũng phải về thành phố. Hùng sấn sổ. Tay chân tàn bạo sấn sổ ôm, quàng, hôn hít. Nói gì thì nói chứ đây không cho mình thoát đâu. Đây biết thừa. Lên đó dính bả rồi. Lễ không biế là Hùng cũng ở dạng chuột cống. Dạng bọ chét phun thuốc không chết hết. Chỗ nào cũng có râu ria. Tung toé ăng ten khắp nơi. Chợt nhớ cái hôm Thống đưa Lễ lên Đà Lạt. Hai người leo toa xe lửa du lịch. Đầu máy hơi nước của Pháp làm từ đầu thế kỷ giờ thu hút du khách. Cả hai ngồi trên toa xe trống trơn có ghế gỗ kê bên thành toa nhìn ra ruộng rau ruộng bắp. Nhìn vườn hồng. Nhìn hoa dã quỳ vàng như gấm hai bên đường. Bất chợt nhìn nhau. Thống đùa: Người ta vẫn mang cung cách hang động đó thôi. Chui ra khỏi hang đính kim cương vàng ngọc sáng loé. Leo lên tên lửa bay vào vũ trụ. Làm gì chỉ cần bấm ngón tay vô máy là có cái rụp nhưng lẩn thẩn lại quay về mò mẫm những thứ từ thuở sơ khai những thứ tổ tiên xài. Xem mấy thằng Tây da trắng tóc vàng mặc như người ở rừng Amadôn leo toa xe lửa đầu máy hơi nước mà sướng như lên tiên. Có hay không hè? Lễ cười nghiêng đầu vào vai ông bác sỹ có biệt tài làm thế giới sống động. Không ngờ ngồi xe lửa từ ga nọ đến ga kia chỉ bảy cây số du lịch có người bẩm báo về thành phố. Hùng gẩy gẩy tàn thuốc. Áo da. Di động Mobile dắt lưng. Tóc kiểu ngôi sao màn bạc Hàn Quốc quảng cáo dầu gội đầu. Cái nhìn lạnh lẽo. Mặt đẹp như đá. Nhưng không bao giờ làm được ai cười phá lên. Tự dưng Lễ thấy hãi hùng. Đời chưa gì đã ngột thở.

Sao cô có vẻ sợ tôi thế?

Không. Em làm gì mà sợ anh?

Cảnh cáo nhau tí thôi. Rời tôi một ngày mà xem, kinh phí mỏng ngay. Thời buổi này đừng có mà làm mây bay cao nguyên. Tôi thực tế xã hội đầy mình em non lắm về nghĩ cho kỹ đi. Không yêu đương nhiều đến độ tự tử đâu nhưng đã trình diện xã hội rồi là đây đầy tự hào bản thân không muốn mang tiếng mìh bị trượt hạng. Ông bà già ở trên kia sẽ được chăm sóc đầy đủ. Mùa thu cà phê sẽ được bao tiêu tử tế rớt giá ở đâu mặc kệ.

Lễ kinh ngạc là trước kia Hùng vẫn nói năng như thế sao mình nghe vẫn ngọt. Bây giờ thấy gai mọc sống lưng.

Hung flộ ý là đang rủ một nhóm lập công ty. Chắc cũng muốn hoà nhập. Muốn lên hạng thế nào cũng được nhưng từ hôm gặp Thống một con người khác cứ cựa quậy trong Lễ.

Lễ lên thăm cha mẹ. Ông Phục buồn thiu. Vợ chồng cũng là cái số con ạ. Nó sẽ là thằng gánh vác được việc nặng…

Chắc đâu hả bố? Biết trước sao được?

Ờ. Thế mới phải đổ cho cái số.

***

Trăng cuối tháng treo to đùng trên đồi cà phê. Ánh trăng mát như thạch. Lễ tiễn Thống đi hơi xa nhà. Lễ kể hết mọi chuyện. Rồi con đưòng không thể thoát ra. Cũng vì ánh trăng nên lòng người không thể thoát ra. Cũng vì ánh trắng nên lòng người không dò được. Lễ quàng tay ôm siết người đàn ông kỳ lạ. Thôi anh già rồi Lễ đừng khổ làm chi. Anh giống thứ sản xuất đầu thế kỷ trước nhìn thì thú vị chứ có dùng để đi xa được đâu. Đi du lịch thôi. Việc của em em cứ làm. Thỉnh thoảng lên cao nguyên anh kể tiếu lâm cười cho nó trẻ!

Lễ hận mình vì sao cứ bất chợt chọn lựa. Rồi không cựa quậy được. Cứ như mắc trong đám lưới lùng bùng. Nhưng cũng còn may. Ngoái nhìn Lễ thấy Thống đang nhăn trán chắc muốn tìm câu gì đó cho mình cười. Lễ biết phía sau có đồi cà phê của cha mẹ. Có người đàn ông nói cái gì cũng buồn cười. Dường như ai cũng phải tìm được nơi tránh bão của đời… Thôi… Buồn thế đủ rồi…

***

Sản phụ mở đôi mắt ướt đẫm. Bố. Mẹ.

Bố mẹ đây con gái. Tỉnh đi mà bế con. Nó đang ngủ. Ô! Con trai thật. Siêu âm xong con còn chưa tin lắm. Nào đưa cháu cho con đi.

Nằm đã. Kim truyền đầy mình thế này nhìn con là được rồi. Thằng Hùng chạy đi mua thuốc….

Thiếu phụ đưa bàn tay miết đôi lông mày còn mờ mờ của đứa trẻ. Chưa ra khỏi giấc mơ. Mà biết đâu là mơ. Bố ơi, bố mẹ trồng cà phê à? Ừ, bố mẹ lên trồng cà phê. Con quên sao?

Không, con quên thế nào được. Con hỏi anh Thống bạn vong niên của bố.

Thống nào? Ở trên đó bố nhiều bạn nhưng không có anh Thống!

Thế ở ga Đà Lạt có đầu máy hơi nước không? Có. Đầu máy sản xuất năm bốn mươi giờ người ta dùng kép mấy toa tầu cho khách du lịch. Họ thích lắm. Hôm nào con lên bố đưa đi chơi… Lễ nhìn ra xa. Nói như một mình. Con đi rồi! Con nhớ là có anh Thống bác sỹ cực hay. Đi rồi!

Bố mẹ đưa mắt nhìn nhau. Người đàn bà tóc hơi chớm bạc để đứa trẻ đang ngủ lên lòng con gái. Xót xa như mọi người mẹ. Bà nói vào tai con. Cứ cho thằng cu bú con sẽ thấy mọi chuyện không có gì đáng sợ. Thử mà xem, con…

Nhưng anh Thống… Mẹ ơi. Con cần anh ấy!./.

Đã mang hai truyện ngắn vào thư viện rồi,
Chờ đọc tiếp những truyện ngắn hay tiếp nhé CB
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Ohh, thanks nhé..

Conbo2 sưu tầm đâu mà có những truyện đã quá [8|]
Đăng nhập để trả lời
0
Trại cá sấu

Hồ Anh Thái


Cần phải sòng phẳng ngay từ đầu rằng trước tác này không có gì liên quan đến thế giới động vật. Phải nói toẹt ra “mất lòng trước được lòng sau”, cơ quan nào có nhiều nữ nhân viên xấu, nhà ai có nhiều con gái xấu, thì đấy… cái cụm từ đập vào mắt bạn đọc ngay trên tiêu đề: Trại Cá Sấu.
Lối nói này ban đầu thịnh hành trong đám thị dân Hà Nội, rồi sau lan ra cả đằng ngoài, rồi sau lan vào cả đằng trong, lan vương vãi theo cả kiều bào xa Tổ quốc. Thời điểm cao trào, một nhân vật phụ trong truyện này còn phát biểu: “Bảo với chúng nó nhá, chúng nó cặp nhiệt độ nhau thì phải kiếm chỗ cho bất khuất, đừng có Nghĩa Lộ quá trước mắt bà, bà Lũng lên, bà thịt băm cho mấy nhát thì anh ả đứt phựt dây đàn”. Lối nói ấy cho phép tính từ chuyển hoá thành động từ danh từ, danh từ riêng chỉ một vùng đất có thể biến thành động từ tính từ, chính tả phát âm có thể bị khinh mười lăm phút.
Đọc đến đây, sao cũng có nhà biên tập hạ bút phê viết thế này là hỏng, chọn đối tượng để viết thế này là sai lầm ngay từ đầu. Viết về cái xấu xin hãy chọn cái xấu về tâm hồn về nhân cách, bằng không an toàn nhất là cứ viết về cái đẹp, nếu thiếu cái đẹp nội dung thì ít ra vớt vát bằng vẻ đẹp bên ngoài.
Không, xin được cắn rơm cắn cỏ trình bày với nhà biên tập kiêm nhà phê bình, xung quanh chuyện xấu đẹp, lâu nay mới chỉ thấy người ta viết về ba loại đối tượng:
1- Người đẹp về tâm hồn, và
2- Người đẹp về hình thức, và
3- Người xấu về tâm hồn.
Đến đó là chấm hết. Bộ tứ bình thiếu mất một chiếc. Vế thứ tư hầu như bị phớt lờ. Bị phớt lờ tức là để im lặng cho nó rơi vào lãng quên, một thứ silent treatment. Bị phớt lờ cũng tức là gây tò mò gây thu hút kích động khám phá. Văn chương chỉ chịu viết về ba đối tượng đã được lên khung ấy là thứ văn chương không theo kịp đời sống mất rồi. Ai cũng phải công nhận ngày nay bao nhiêu người đẹp đều đã đeo khẩu trang bằng hết: trong bệnh viện thì họ là bác sĩ, y tá, hộ lí hoặc bệnh nhân đường hô hấp, ngoài đường họ là những nàng thích khách bịt mặt phóng xe máy cảm tử. Chỉ còn lại những người xấu với nhau không đeo khẩu trang trơ mắt ếch nhìn nhau. Đấy, người xấu là đa số áp đảo khắp nơi mà văn học không chịu dành cho họ một mảnh đất cắm dùi, văn học cứ lờ họ đi, càng thêm kích thích tò mò. Người soạn trước tác này phải thú nhận mình thiếu bản lĩnh, không vượt lên được thói hiếu kì tầm thường, cứ bị hút vào bị kéo lê theo cái đề tài các bậc cao thủ văn chương đã ngồi xổm lên. Thôi thì xin phép. Thôi thì vô phép. Xin được bắt đầu:
Năm thứ hai thế kỉ hai mươi mốt ở vùng kia có một trại cá sấu.

*
* *


Nói rằng cả hai nàng xấu tức là đã nôm na hoá một khái niệm. Hàng phố láng giềng thường bảo hai nàng đẹp giai như bố. Chính xác tuyệt vời. Ngôn ngữ bình dân ấy xứng đáng đưa lên cân tiểu li và bày bán từng chỉ từng lượng.
Nhưng cũng không thể tả chân theo kiểu ông Nam Cao, một nhà văn táo tợn đối diện với cái xấu ngoại hình của đàn bà: “Cái mặt của thị thực là một sự mỉa mai của hoá công: nó ngắn đến nỗi người ta có thể tưởng bề ngang hơn bề dài”. Văn chương thị dân ngày nay không ai viết thế. Giọng văn phải được chèn được kê được chêm được đệm như đã trình bày ở trên. Hai nàng nhân vật chính của tôi phải được tả là một mắt nhìn núi Đôi một mắt nhìn sông Nhị, một thân hình rắn giả lươn một thân hình cá trắm lai cá chép trứng, một khuôn mặt sủi cảo một khuôn mặt mưng mưng thủ lợn thiu, răng cửa phi nước đại răng hàm đi nước kiệu. Thôi, nói tóm lại, hai nàng xấu, nói từ đầu rồi, đay mãi làm gì. Cái xấu ngoại hình là tội của tạo hoá, tội của mười hai bà mụ thợ thủ công mĩ nghệ kém tay nghề, tội của ông bố đẹp giai cứ muốn con gái mình cũng đẹp giai theo.
Cả hai cá sấu đều đã ngoài băm, băm đã vài ba nhát. Cá Sấu 1 an phận, đi làm thì chớ, về nhà ở tịt trong nhà sống chung với ảo tưởng hồi mười tám đôi mươi mình cũng tươi ngon như ai. Cá Sấu 2 hùng hục lao ra ngoài hoạt động xã hội theo mốt mấy bà sồn sồn tứ tuần ngũ tuần lục tuần. Chiều tối mốt phó Đoan đi đánh ten nít. Sáng sớm mốt tiên nữ hạ thuỷ đến bể bơi. Bể bơi nước biếc đong đưa cái mình xà giả lươn, tròng trành con mắt núi Đôi sông Nhị. Phô trương chào mời đồ ăn sẵn như thế thì ở nơi nào cũng có thực khách. Đàn ông thích đồ ăn sẵn. Cơm nóng sốt, cơm nguội, hơi hẩm một tí, hơi ôi một tí, hơi thiu một tí mà sẵn mà dễ thì cũng xong, chén tuốt.
Nãy giờ xem ra tác giả này thù đàn bà, nhân vật đàn bà nào của gã cũng xấu cũng mưu mô ti tiện cạm bẫy, không thì cũng hoang tưởng thần bí. Xin quý độc giả kiên nhẫn đọc tiếp, nhân vật đàn ông ở đây cũng chẳng kém, thậm chí còn xấu hơn.
Người đàn ông bên bể bơi xơi ngon Cá Sấu 2 là một hoạ sĩ. Hoạ sĩ đến bể bơi, có mà chuyện lạ? Đã có một kết luận chưa được kiểm chứng rằng hoạ sĩ nhem nhuốc màu nước màu dầu đất sét thạch cao là kẻ thù không đội trời chung các loại nước, trừ nước có nồng độ cồn. Nhưng cam đoan không dám bịa tí nào, bể bơi mấy hôm ấy có một hoạ sĩ hạ cố tìm đến, chàng đi tìm một người mẫu cho công trình sắp tới. Mục tiêu ban đầu chỉ là người mẫu, nhưng mà nàng dễ quá nhưng mà nàng sẵn quá. Hoạ Sĩ đưa Cá Sấu 2 về xưởng hoạ ngả bàn đèn trước, ngả xong thì cặp làm bồ. Hoạ Sĩ thấy cái mình xà của nàng là đẹp, nhất dáng nhì da thứ ba mới đến mặt. Mặt đẹp da đẹp dáng đẹp Hoạ Sĩ có nhiều rồi, cô bồ một tuần trước đá đểu Hoạ Sĩ là một người mẫu kiêm hoa hậu kiêm emxi dẫn chương trình. Bây giờ vồ được Cá Sấu 2 hoạ sĩ đắc thắng ngầm đã báo oán được con bồ cũ, cho nó thấy tắt đèn thì cao ốc cũng như nhà cấp bốn, cho nó thấy khoảng cách từ cái đẹp đến cái xấu chỉ có một tí, cho nó thấy cá sấu chứ không phải nó sẽ nổi tiếng sẽ đi vào lịch sử hội hoạ.

*
* *


Hôm gặp nhau lần đầu ở bể bơi, Hoạ Sĩ khen cái phom Cá Sấu 2, mỗi lời khen là một cục nước bọt bắn toé ra trúng đâu thì trúng. Một cục thong thả tìm chỗ đậu trên má Cá Sấu 2. Nàng vờ như má mình mất cảm giác, vờ như không biết trên má có UFO vật bay lạ chưa được xác định. Nhưng bản tính Hoạ Sĩ thẳng thắn phũ phàng, chàng thản nhiên lấy mu bàn tay quệt ngang lau sạch má cho nàng. Lát sau cục nữa. Lại lau. Cục nữa. Lại lau. Nàng ngấm ngầm hãnh diện mình được chàng cư xử âu yếm.
Ngay tối hôm ấy cả đôi đưa nhau tới một quán sinh viên. Thuở karaoke còn là mốt, Hoạ Sĩ đã đi tiên phong. Karaoke là tổng hợp của nhiều ngành nghệ thuật, có âm nhạc, có lời thơ, có điện ảnh truyền hình giao duyên. Hoạ Sĩ đắm chìm trong đó là dễ hiểu. Nhưng bây giờ sành điệu là phải cầm micrô hát trước khách hàng. Hoạ Sĩ có vẻ đã sành điệu quán này, chàng giật phắt micrô từ tay emxi băm băm bước ra. Áo thổ cẩm Mèo không biết là màu chàm hay màu đen. Nước da thâm không phải vì sắc tố da mà thâm màu lười tắm. Giọng ngầu. Hát bài Giết người yêu. Giết người yêu giết người yêu. Càng thêm chứng tỏ là ta yêu nhiều. Giết người yêu giết người yêu. Càng thêm chứng tỏ là con ấy điêu. Nước bọt phun như sương muối. Khán giả rú rít. Lại đi. Lại đi.
Đọc lên thấy Hoạ Sĩ có vẻ ngầu. Nếu bạn đọc có cảm giác ấy thật thì đó là lỗi của người viết. Thực sự Hoạ Sĩ thấp bé như cái dải khoai héo, khung người xộc xệch, đi đứng xiêu vẹo chỉ có chân phải giẫm vào chân trái mà tự ngã, chẳng cần đồng nghiệp đểu đẩy xô ngáng khoèo xin bát cơm nguội. Người thế mà đã xong đời vợ thứ tư, mỗi vợ đẻ một đứa, mỗi vợ khi chia tay đều đã trở thành hoạ sĩ. Chàng có biệt tài biến tất cả những người đàn bà từng lên giường với chàng thành hoạ sĩ cho dù trước đó họ là cô bán phở, cô kế toán, cô y tá, cô ôsin.
Đồ thị suôn sẻ như vậy thì tương lai của Cá Sấu 2 sẽ ở chân trời hội hoạ. Hội hoạ thời này đồng nghĩa khá giả, có tiền mua biệt thự thời Pháp nội thành, dăm ba miếng đất khu công nghệ cao, một vài quả đồi Sóc Sơn đặt vào đôi ba nếp nhà sàn. Tranh nghệ thuật bán được thì bán không bán được úp tường để đấy chờ sự phán xét của công chúng và thời gian là hai thứ bùa hộ mệnh cuối cùng của kẻ bất tài. Trong khi ngồi chờ, ta vẽ tranh trang trí dễ nhìn dễ bán cho Tây, yếu hơn tí nữa ta vẽ tranh tân gia, tranh ghelơri bờ hồ, tranh xúvơnia. Kiểu gì cũng bán được. Hình hoạ kém ta trốn vào trừu tượng nguệch ngoạc mù mờ nhìn lâu thấy đẹp. Trừu tượng mãi không ăn thua thì ta trốn sang sắp đặt installation, trốn sang hội hoạ biểu diễn performance art. Mỗi lần trốn là một lần thu hoạch.
Lần thu hoạch này Hoạ Sĩ xin được cái tài trợ của quỹ Tô quỹ Pho quỹ Philíp, ba bốn cái quỹ xúm vào đánh hôi mới đủ cho chàng làm một cái giao duyên sắp đặt và biểu diễn. Mượn bối cảnh vườn bách thảo. Những tấm xô vải màn băng bó quanh các gốc cây. Mực đỏ đổ cheo choét lên xô trắng. Đấy là thiên nhiên đang bị thương đang đổ máu, hãy cứu lấy thiên nhiên. Thời nay phụ nữ đã có Kôtếch Oai Xóptina luôn luôn giúp bạn tự tin, thời xưa chưa xa thì không tự tin bằng, chỉ có vải màn. Ai vào xem triển lãm của Hoạ Sĩ nhìn xô trắng mực đỏ cũng tăng nỗi hoài niệm về một thời thiếu tự tin. Nhìn sang gốc cây bên kia, Hoạ Sĩ và Cá Sấu 2 mỗi người chỉ độc cái khố, trát bùn từ mặt xuống chân, ôm nhau quấn cuộn trong một vũng bùn như hai con cá tát ao thoi thóp giãy đành đạch. Lại còn âm nhạc nữa, mấy cái loa thùng treo trên cây, một bài hát sáng tác riêng cho sô này thất thanh: Bạn có nghe môi trường khóc môi trường cười? Còn ngoặc thêm điệp khúc: Hi hô hì hồ. Hi hô hì hồ. Như hành khúc bảy chú lùn.

*
* *


Cá Sấu 2 đang nhem nhuốc ngoi ngóp trong vũng bùn thì được ông đạo diễn điện ảnh tới xem mời đi đóng phim luôn. Vai Mỵ Nương.
Mỵ Nương của Trương Chi? Giao cho một cô cá sấu vai diễn mơ ước của bao nhiêu thế hệ mĩ nhân? Ngày xưa có bao nhiêu mĩ nhân đều chạy hết lên màn ảnh. Bây giờ có bao nhiêu mĩ nhân đều bỏ màn ảnh chạy ngược trở lại ngoài đời, ra đến ngoài đời rồi thì khẩu trang bịt mặt tránh ô nhiễm môi trường. Mười cô Hàn Quốc gặp trên đường chỉ có hai cô đẹp, trong hai cô ấy chỉ một cô có quyền lên phim. Mười cô Việt Nam gặp trên đường chỉ có hai cô xấu, trong hai cô ấy thì cô kém tài hơn lên phim. Các đạo diễn bạn của Hoạ Sĩ bảo: Quan niệm cái đẹp thời nay không chỉ khác trước mà là cả một cuộc cách mạng.
Ông Đạo Diễn mụốn làm cuộc cách mạng bắt đầu từ phim Trương Chi. Người đời bảo anh Trương Chi thậm xấu, trong phim ông Trương Chi đẹp giai ngời ngời. Người đời bảo anh ta hát thì thậm hay, trong phim ông Trương Chi hát như dở hơi. Người ta bảo nàng Mỵ Nương con quan xinh đẹp tót vời, đã thế thì ông chọn ngay một cô cá sấu. Người ta bảo chuyện Trương Chi đâu như ở xứ bắc, đã thế ông cắp ngay Cá Sấu 2 vào Sài Gòn làm phim.
Kịch bản viết Mỵ Nương chèo thuyền thúng đi tìm Trương Chi. Cả đoàn ra đến bờ sông thiết kế mĩ thuật và phó đạo diễn mới bảo vùng này không có thuyền thúng. Đạo diễn gầm lên chết cha tôi rồi, tư tưởng của người ta nhân văn của người ta là ở cái thuyền thúng ấy, nó tròn đầy nó viên mãn nó đối nghịch với tâm trạng chưa thoả mãn của Mỵ Nương. Nhưng bây giờ muốn có thuyền thúng từ miền Trung gửi vào thì phải chờ hai ngày, đội giá lên mấy triệu, nếu bốc cả đoàn đi ngay ra ngoài Trung thì đội giá lên cũng bằng ấy triệu. Thôi thà mấy triệu ấy để lại chia bôi chủ nhiệm và đạo diễn thêm được vài lượt em út. Không có thuyền thúng đi tìm một cái thuyền nan. Thuyền nan cũng không có. Thôi thuê ngay cái xuồng máy kia kìa, tháo cục máy ra cho có vẻ thủ công. Chủ xuồng đòi ngày công hai trăm ngàn. Chả dại thuê xuồng mà làm hao hụt thu nhập. Cuối cùng phải mượn mấy cây nứa tháo ra từ một bè cá cho Mỵ Nương đứng lên giả vờ làm bè chèo đi.
Mỵ Nương lóng ngóng chèo một lúc cũng xong, cũng gặp được Trương Chi trên bến sông. Chàng bỏ chạy. Nàng đuổi cật lực. Phó đạo diễn hô Trương Chi chạy chậm thôi ra khỏi khuôn hình bây giờ. Người chạy đã không được phép chạy nhanh thì người đuổi cũng phải giảm tốc độ đuổi như giả vờ.
Giả vờ mãi rốt cục chàng và nàng cũng gặp được nhau. Mỵ Nương giáng cho Trương Chi một cái tát uất giận. Trương Chi choáng óc chửi giọng Nam Bộ đờ má sao dám tát thiệt, giả bộ thôi nghe, tao đập cho bể sọ đó. Mỵ Nương sợ ngay, hai đúp sau chỉ dám tát như phủi bụi trên má chàng, động tác hệt như Hoạ Sĩ chùi nước bọt trên mặt Cá Sấu 2.
Xong. Cá Sấu 2 đi vòng ra sau máy, thấy Đạo Diễn ngồi bên màn hình monitơ đang để cho một cô vầy vò mái tóc sáu mươi hai tuổi đen nhức đáng ngờ. Ủa ông già kì này tính chuyện vô Sài Gòn hẳn đó à? Sài Gòn hổng phải nghĩa trang văn nghệ sĩ đâu nghe mà anh chị nào về hưu chấm dứt sự nghiệp cũng chuyển vô Sài Gòn. Một anh giai sáu mươi hai để cho một con hăm lăm nó với mình giọng ấy thì rõ ràng anh đã trót ngả bàn đèn nó trên cái giường tuyển diễn viên của anh rồi. Đạo Diễn lả lơi đấu hót với nó, hổng phải nghĩa trang mà là lò luyện thi, người ta về hưu vô đây chuyển sang dạy học cho các lò luyện thi diễn viên điện ảnh triển vọng. Miệng nói, hai bàn tay Đạo Diễn chu du trên người con kia theo kiểu muốn đặt tay vào đâu thì đặt. Con kia cũng ngả người theo kiểu muốn làm gì thì làm. Giống hệt tư thế Cá Sấu tối hôm trước trong phòng Đạo Diễn. Thế là Cá Sấu đi vòng sang lạnh lùng tát hai cái vào mặt con kia. Tát thiệt. Hổng phải giả vờ cóng róng trầy trật như đóng phim. Này thì nghĩa trang. Này thì lò luyện thi.

*
* *


Cái đẹp du hành qua nghệ thuật và còn ở lại. Hình như một danh nhân đã nói vậy. Nếu không bỏ quên mất một nửa cặp phạm trù thì cũng có thể nói cái xấu du hành qua nghệ thuật và còn ở lại. Vốn liếng nghệ thuật còn lại của Cá Sấu 2 là một bộ phim. Vốn liếng còn lại là hai ca khúc sáng tác cho riêng nàng, một là Bạn có nghe môi trường khóc môi trường cười, một là bài hát cho phim Trương Chi, ca sĩ lạm dụng luyến láy, hát một nốt thành bảy nốt, hát theo lối rất mất vệ sinh môi trường. Anh Trương Chi anh đừng đi anh đừng đi í… ì… ị. Xong phim thì Cá Sấu 2 đã co một đám bạn bè văn nghệ mang cả về nhà cho cô chị trổ tài nấu nướng. Bây giờ xin được chuyển sang nhân vật cô chị này.
Người đẹp có cái đáng yêu là hoang tưởng về trí tuệ của mình. Các cô cá sấu cũng vậy, cô nào cũng là một bồ hoang tưởng. Minh không đẹp nhưng duyên thầm, cô nào sau một hồi tuyệt vọng ngắm mình trong gương đều đi đến một kết luận như thế. Hoang tưởng là vũ khí hiệu quả tiêu diệt cái nghiệt ngã của thực tại. Người đẹp người xấu đều nghiện hoang tưởng như nghiện tiền bạc danh tiếng địa vị, chí ít cũng như nghiện rượu nghiện thuốc nghiện giai nhân. Cá Sấu 1 thường hội thảo với chị em cơ quan rằng đàn ông trong ngõ phố nhà nàng mười thằng thì cả mười là con yêu râu xanh. Chúng lượn lờ chúng lảng vảng chúng ám quẻ chúng huýt sáo trước cửa sổ phòng nàng. Nàng mà ra khỏi nhà một bước là chúng nhìn chằm chằm hai điểm trên một điểm dưới, chúng nhìn như lột vỏ bóc tem. Mỗi lần người nhà đi vắng lâu, một mình ở nhà nàng đều rơi vào tình trạng trần trụi giữa bầy sói. Chị em cơ quan nghe nàng nói vậy thì biết vậy, gái già băm mấy nhát lại cá sấu thế kia, đã cá sấu lại đắm chìm trong tiểu thuyết là cái thứ xui người ta nuôi dưỡng ảo tưởng.
Đọc sách mãi sinh ra cái bệnh cứ như mình quen hết tác giả. chị em khen cái áo len mới của nàng trông rất trang nhã, nàng khoe ngay là áo của Bảo Ninh đem tặng. Nàng chìa ra cái ví đầm Gucci khoe ví của Nguyễn Quang Thiều tặng. Nàng mua táo Mỹ đem đến cho chị em ăn bảo táo Hồ Anh Thái hôm qua đi Mỹ mang về. Chị em lại cười thầm, Bảo Ninh Nguyễn Quang Thiều còn nghe được chứ Hồ Anh Thái bọ không ăn của ai thì thôi, ai mà ăn được gì của bọ.
Hồn nhiên vô tư vậy mà có ông thầy bói bảo năm nay nàng hạn lớn, người hư hại nặng. Âu sầu được mấy hôm. Rồi đâu lại hoàn đấy, lại hân hoan yêu cái đời hết anh này đến anh kia tặng quà. Nàng ghé vào nơi bán đồ hiệu chọn một cái đồng hồ thật sành điệu, định bụng đến nói xa xôi với chị em rằng hôm qua anh Nguyễn Huy Thiệp đến chơi anh ấy mới có một khoản nhuận bút thật lớn. Mua xong đồng hồ ra thì cái xe máy đã tan vào cõi vô cùng. Mất xe, thế mà phản ứng đầu tiên là nàng suýt nữa hét lên sung sướng. Thế là cái xe tịch chứ không phải nàng tịch. Của đi thay người.
Nhưng mất cái xe cũng là hạn lớn. Hạn bao giờ cũng dễ đẩy người ta lui vào cõi huyền bí tâm linh. Gã đồng cô bạn của người quen gặp ở quán bún ốc bảo chị phải xoay hướng bàn thờ đi, xoay xong là châu về hợp phố, bao nhiêu đồ đánh mất ùn ùn kéo về tìm chủ cũ cho mà xem. Cá Sấu 1 đưa cho Đồng Cô một triệu mua hộ bàn thờ mới, thêm sáu trăm nghìn mua hộ đồ thờ.
Câu trước nói chuyện lập bàn thờ, câu sau Đồng Cô bảo em có buổi lên đồng hôm nay em đến muộn mất, chị đi với em. Cá Sấu 1 như bị ốp đồng đi theo ngay. Ngang qua Bờ Hồ, Đồng Cô lẻo bẻo người ta vừa bỏ dự án xây thêm ở đây ba cái WC Uôncúp hệ thống ngầm, không thì từ nay cứ đi ba trăm mét lại có quyền tháo nước trong lòng em ra một cái, thôi chết nói chuyện nhà vệ sinh là em lại sắp tiểu luận, chị dựng xe chờ em vào thử chất lượng cái Uôncúp cũ. Nàng sợ cái cảnh phải đứng trông hai chiếc xe trước nhà vệ sinh bảo thôi đi đến nơi rồi hẵng tiểu luận.
Đồng Cô vừa đến nơi, mấy ông bà cung văn hớt hải chạy ra bảo sao đến muộn thế khách ngồi chờ ướt cả đít rồi kia kìa. Gã đâm sầm vào trong, khoác lên người một tấm hoàng bào, thắt ngang lưng một cái khăn nhiễu hoa lí, đội lên đầu một cái khăn xếp tía, tay cầm hai thanh kiếm như hai cái que khụng khiệng bước ra. Các cung văn ồ cả lên úi giời úi giời rồi trào lên hát. Chả mấy khi cậu Hoàng Bơ xe loan giá ngự về đồng. Bên tả có pháp sư dâng câu phú. Bên hữu có các pháp sư thanh đồng chuốc rượu hầu dâng. Gã Đồng Cô vụt một cái thành cậu Hoàng Bơ ông hoàng tử chết trẻ nhảy thách lên quay cuồng theo tiếng trống tiếng mõ. Cả điện thờ như cũng lắc lư ngất ngư theo, cũng lung lay lúc lắc theo. Các cung văn réo rắt Giăng thanh gió mát tràn trề là tràn trề. Cậu Hoàng Bơ lên ngựa. Cậu Hoàng Bơ ngã ngựa. Cậu cầm chén rượu. Các cung văn nỉ non Chuốc chén rượu đào hội quần tiên chuốc chén rượu đào. Cậu hớp chén rượu, mắt cậu lờ đờ, mặt cậu chan chan mồ hôi, điệu bộ cậu thẫn thờ ẻo lả. Rồi bất thần cậu lại nhảy tót lên như lên lưng ngựa, lại rung lại lắc lại bốp bốp chát chát phi nước kiệu. Các cung văn nài nỉ rên rỉ Cung văn hát hay quá cậu ban tài phát lộc cho cung văn rồi cậu hẵng đi nào. Từ trên lưng ngựa cậu bất thần rung giật toàn thân, một dòng nước sè sè mở vòi chảy ra từ phía dưới cái thắt lưng hoa lí. Khai mù. Cá Sấu 1 tỉnh ngay khỏi cơn mê muội trong điện thờ, lại còn nghĩ thằng này ăn mặn. Ăn hại nữa.
Quả nhiên, Đồng Cô cầm một triệu sáu ra đi không bao giờ trở lại. Gọi điện đến nhà chả bao giờ gặp. Tìm đến tận nhà, người nhà nó bảo chị biết nó ở đâu bảo hộ tôi, chúng tôi cũng đang muốn gặp nó. Mấy tháng trời tự nhiên thành nặc nô đi đòi nợ mà chẳng đòi được. Xem ra chỉ có ông thầy bói là nói thật, năm nay không chết thì cũng tiền mất tật mang, đã đành hân hoan của đi thay người, tìm đến thánh thần xin thì thánh thần cũng cầm tiền đi nốt không cho lập bàn thờ. Thế thì còn biết tin ai?
Ngơ ngác. Hoang mang. Thần sầu một mình. Đúng lúc ấy cô em sồn sồn dẫn về mấy chàng nghệ sĩ. Căn nhà hai chị em thoáng chốc tràn đầy nghệ thuật, tất cả như một nhà, tất cả nhào trộn hết vào nhau. Tưng bừng thâu đêm suốt sáng, chén rượu cuộc cờ, đánh chắn đánh phỏm, lúc đêm hôm tắt đèn người phòng bên này đi nhầm sờ soạng sang phòng bên kia. Đôi ba ngày lại có cuộc xích mích dù kết cục bao giờ cũng có thoả hiệp, bông hoa này là của chung. Xích mích tăng huyết áp lên thành mâu thuẫn khi Cá Sấu 2 nhìn thấy Hoạ Sĩ vừa nói chuyện với chị mình vừa đưa tay lau cục nước bọt đậu trên mặt chị. Thêm cục nữa. Lại lau. Cục nữa. Lại lau. Mâu thuẫn tăng huyết áp lên thành xung đột: chỉ một tháng sau nàng rụng rời thấy chị mình dựng giá vẽ rồi bôi màu lên đó. Cô chị đã thành hoạ sĩ. Nàng đã cướp sớm mất cái tương lai mĩ thuật của cô em mà đúng lí ra cô em đã lên giường với Hoạ Sĩ trước thì phải trở thành hoạ sĩ trước.

*
* *


Nghe không xuôi. Lí thuyết chiếm hữu thực tế, kẻ nào chiếm đất trước thì kẻ ấy có quyền canh tác trước, khó vận dụng vào trường hợp này. Mọi cái xấu đều có quyền bình đẳng trước nghệ thuật. Đã là cá sấu thì 2 hay 1, 1 hay 2 đều chỉ mang một ý nghĩa.
Xung đột trong trại cá sấu được những ba nghệ sĩ xúm vào giải quyết. Họ tự thấy phải có trách nhiệm vì cái tội họ hay nhầm 2 thành 1, 1 thành 2 trong những lúc bài bạc khuya sớm. Giải toả. Giảm căng thẳng. Lọt sàng xuống nia, chẳng ai lãi chẳng ai lỗ vụ này. Chàng Nhạc Sĩ hoá ra lại có tài hơn Hoạ Sĩ trong chuyện xem tướng mặt. Chàng sẽ đưa cả hai nàng đi mĩ viện của thằng bạn, mỗi nàng sửa sang tí chút là đẹp tưng bừng, lại giải được hạn. Cá Sấu 1 có cái mũi giải ngân, tiền bạc có bao nhiêu cũng mất, chỉ cần cơi nới cái mũi hẹp là trong nhà sẽ thành đảo giấu vàng. Cá Sấu 2 chỉ cần bơm môi bồi mắt láng mặt căng tai là thành tuyệt thế giai nhân. Chi phí Nhạc Sĩ chịu tất, chàng vừa bán được năm ca khúc cho phim truyền hình, ba cho kịch, hai cho chương trình thời trang. Khi cần sẽ có viện trợ không hoàn lại của Hoạ Sĩ và Đạo Diễn.
Mĩ viện. La liệt các nàng ngồi chờ tháo băng, băng keo trắng dán đầy mặt, băng viền quanh mắt, băng trên chỏm mũi, băng nâng dưới cằm. Ùn ùn các nàng mới đến xếp hàng, tháo khẩu trang bịt mặt ra đứng chờ. Ôi trời, các mĩ nhân đi trên đường bịt kín mặt gợi nhiều phỏng đoán gợi nhiều ao ước, tháo khăn ra mới biết còn thua đám cá sấu không bịt khăn.
Khung cảnh ấy chỉ có chủ mĩ viện mới chịu được. Gã này giọng eo éo bẹt chẹt, dáng đi uốn lượn bạch xà, tay mềm như bún vuốt ve trên người trên mặt các nàng. Như vuốt ve gỗ đá. Đàn ông làm những nghề thường xuyên động chạm vuốt ve đàn bà phần nhiều đều chung tình trạng ấy. Nghề múa, nghề đỡ đẻ, nghề trang điểm, làm đầu, nghề phẫu thuật thẩm mĩ. Họ mà còn biết mơn trớn rung động thì họ đã ăn dày của tạo hoá.
Phòng xử lí vang động tiếng kêu khóc rên xiết của các sinh linh. Cá Sấu 2 mổ mắt. Đôn môi. Hai cánh tay đầy lông mỗi lần rửa tay lại vằn vện chân hổ bây giờ được dán băng keo mỏng như lụa. Chủ mĩ viện phũ phàng xé băng keo xoạc một cái, lông tay đi bằng hết. Sang phần hàn xì răng hàm mặt, que hàn khói toả mịt mù mùi bún chả quá lửa. Nàng tru lên từng hồi sói con thèm thịt tươi. Nước mắt nước mũi giàn giụa.
Cá Sấu 1 bình tĩnh hơn nhiều. Cái mũi giải ngân chia tay nhé từ đây. Mấy cô ngồi chờ đến lượt hoang mang bảo nhau nghe đâu có người nâng mũi về không chịu kiêng cữ theo chỉ dẫn, đến khi tháo băng thì mũi đổ như cột điện đổ, để lại hai cái lỗ, hai khoảng trống không gì bù đắp nổi. Cá Sấu 1 cho ra ngoài tai hết. Cắn răng cho một tương lai nhiều tài lộc, một tương lai tuyệt thế giai nhân.

*
* *


Thôi xong. Đến đây vừa lúc phải biết điều mà dừng bút. Nhà biên tập bảo gã viết ai cũng xấu. Đàn bà xấu. Đàn ông xấu. Một nửa đàn ông là đàn bà cũng xấu. Loại cây bút ấy lần sau chỉ còn một cách cứu vãn là đi viết phim thế giới động vật. May ra.
Nhưng độc giả mình chưa quen hết truyện mà không có kết cục, vậy xin viết thêm vài dòng kết thúc vụ hai cô cá sấu đi mĩ viện. Hôm tháo băng, cả chủ thể lẫn khách thể ai ai cũng hồi hộp. Chủ mĩ viện hồi hộp, chưa bao giờ gã dồn hết tâm huyết và tài năng như hai ca này, gã chắc mẩm đây là kiệt tác của đời gã, xong đây đóng cửa phủi tay ngồi hưởng vinh quang đến hết đời cũng cam lòng. Ba nghệ sĩ hồi hộp, tiền nhuận bút đổ hết vào đây cho một canh bạc nghệ thuật lấy cá sấu làm đối tượng đầu tiên trên hết và duy nhất. Hai nàng cá sấu hồi hộp thế nào thì khỏi nói, hai nàng đã được dành quá nhiều sốchữ trong trước tác này.
Tháo băng. Hệ thống Lumière et Son âm thanh và ánh sáng kiểu Pháp rực rỡ chói lọi. Ghế xoay tròn, nâng lên cao các thế nghiêng ngửa. Hệ thống gương sáu mặt soi rõ đối tượng hình học không gian.
Nói thì bảo là bịa, nhưng nhân chứng vẫn còn đấy, báo chí đưa tin vẫn còn đấy: xong mĩ viện, Cá Sấu 2 đã biến thành Cá Sấu 1, Cá Sấu 1 thành Cá Sấu 2.
Hai nàng cá sấu và ba chàng nghệ sĩ kiểu gì cũng dàn xếp được. Chỉ lo cho người đọc thiên truyện này. Nếu quý độc giả có đọc lại từ đầu thì xin đánh số lại cho hai nàng cá sấu. 1 là 2 và 2 là 1. Nhớ nhé, kẻo nhầm./.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Truyện này đọc cũng hay, nhưng ông Hồ Anh Thái viết truyện này kì cục, chả có dấu phẩy gì cả, đọc mỏi hết cả mồm [:D]
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Mới biết ConBo2 đọc sách bằng mồm há

hihihi

Đã mang truyen này c vào thư viện rồi
Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-12 21:24:56ct.ly>
Bằng lăng

Trần Văn Tuấn

Cây bằng lăng ấy có đến hơn 100 tuổi. Thân thẳng vạm vỡ, thớ gỗ nổi cuồn cuộn bóng láng và săn chắc như bắp đùi lực sĩ cử tạ đẳng cấp thế giới. Tán rễ rẽ đều, ngay hàng thẳng lối. Vào cuối năm, tiết khô đã hanh hao, những bông tím đung đưa, mờ ảo phảng phất bóng hình cố nhân. Kế bên đó là một tổ hợp cây me, cây dẻ dai. Cả một vùng lề đường râm mát suốt ngày. Đám chim sẻ tụ tập về đây rất đông, tối đến rất huyên náo. Người ta bảo, con đường này là một trong những con đường đẹp nhất thành phố và cái lề đường bên phải ở đầu phố này cũng là nơi dễ làm ăn nhất.
Cuộc sống bươn chải có lúc mệt mỏi phải nghỉ ngơi. Có nơi nào nghỉ giải lao tốt hơn vỉa hè ngã tư, dưới gốc cây bằng lăng này. Râm mát, thoáng đãng, sạch sẽ, yên tĩnh và cái quan trọng là không phải mất tiền. Thợ xây dựng ở bên công trình cao ốc tràn sang, khách bộ hành dừng lại. Nơi đây trở thành một tụ điểm đông người, nhộn nhịp ồn ào suốt từ sáng đến tối.
“Nếu lắng nghe kĩ, còn có hương thơm của hoa dạ hương, hoa lan”. Ông bán vé số nói thêm. Có thể coi như là một phát hiện quan trọng, gần bằng với sự phát hiện ra châu Mỹ. Ông bán vé số là người đầu tiên đến lập nghiệp ở đây. Tấm bảng hiệu của ông viết chữ rất cẩu thả, nguệch ngoạc nhưng hết sức gây ấn tượng “Có hai tỉ rưỡi cho bất kì ai”. Là người, ai cũng giống ai nhưng chẳng ai giống ai. Có thể xem đó như là một chân lí. Lại nữa, không có ai nhợt nhạt, ai cũng có cái lạ của riêng mình. Điều này chưa thể khẳng định nhưng cũng không nên bác bỏ. Giống như tài năng, năng lực hay điểm sinh trưởng trong sinh học, cái lạ của người ta có thể còn tiềm ẩn đâu đó, chưa bộc lộ, người khác chưa thấy. Như ông vé số “hai tỉ rưỡi”, có cái mũi rất thính, rất tuyệt vời. Trong thời đại xăng dầu bốc khói nghi ngút như ngày nay, ông vẫn giữ được sự tinh tế của lỗ mũi, không phải lạ sao? Hay như người hàng xóm ở kế bên ông ta, một người đàn ông có dáng vẻ trí thức, mặc đồ chải chuốt, thỉnh thoảng còn xức nước hoa, thiên hạ gọi vắn tắt là ông “dịch vụ tất cả”. Nên coi là thứ lạ. Người thứ ba khai thác mặt bằng ở đây là người đàn ông tiết kiệm lời nói đến mức kì lạ. Ông ta sửa xe gắn máy. Trao đổi với khách hàng chỉ bằng dấu hiệu. Thí dụ, khách hỏi tiền vá xe bao nhiêu. Ông ta chỉ khẽ động đậy bàn tay phải. Vậy là 5 ngàn! Người thứ tư dáng vẻ không có gì lạ, một người đàn ông tầm vóc chắc khoẻ của người quen với công việc nặng nhọc, nét mặt bình thường, là chủ chiếc xe ba gác đạp và tấm biển hiệu “Dịch vụ chuyên chở mọi thứ và rút hầm cầu, sửa vòi nước”. Có điểm lạ rất dễ nhận thấy là nhu cầu nói chuyện của ông ta. Ông ta nói chuyện suốt ngày, nhiều khi tự nói, bất chấp có ai nghe hay không. Thật đại hoạ cho ai nếu vô ý tranh cãi với ông ta. Cho dù có nhận là thua, là kém lí lẽ, là thất bại hoàn toàn, là dốt nát tàn mạt ông ta vẫn không buông tha.
Thêm một điều lạ cho bốn người đàn ông ấy là họ đều sống độc thân, “Tay làm hàm nhai, tay quai hàm trễ”. Ông vé số “hai tỉ rưỡi” và ông ba gác chưa lấy vợ lần nào. Còn ông “dịch vụ tất cả” và ông sửa xe Honđa đã có vợ. Trong số các đề tài ông ba gác hay nói tới nhất là chuyện vợ con. Ông trình bày vấn đề này một cách hào hứng và duyên dáng theo phong cách một chính khách vận động, thuyết phục quần chúng: “Vợ và con là một vấn đề, không thể tách rời được. Lấy vợ là để có con, nuôi con khôn lớn trưởng thành. Con là cái gốc để lấy vợ. Một người không có khả năng sinh con, nuôi con tốt sao có thể là vợ được!”. Ấy là ông ta giải thích về chuyện vì sao cho đến nay, đã qua tuổi 40 vẫn chưa có vợ. Nhưng hai tháng gần đây, quan điểm về lấy vợ của ông chủ ba gác đạp đã có sự thay đổi căn bản. Ông múa năm ngón phải, chuyển động cổ và vai cho thêm phần duyên dáng, hùng hồn tuyên bố: “Tình yêu mới là điều quyết định cho chuyện lấy vợ!”. Mắt ông ngời sáng, thần sắc sung mãn như mới khám phá ra một điều vĩ đại. Chắc hẳn Niu-tơn khi tìm ra định luật vạn vật hấp dẫn cũng hưng phấn đến mức ấy mà thôi. “Thật đáng thương!” Ông “dịch vụ tất cả” lau kiếng mát nói trỏng. Tiếng nói của ông này trầm đục nhưng ấm áp, rất gợi cảm. Nên dù nói nhỏ, cũng được người ta chú ý. “Ông nói gì? Ai đáng thương?”. Ông chủ ba gác có ý gây sự. Họ thường xuyên cãi lộn nhau. Có buổi vắng khách, họ tranh cãi với nhau y như hai học giả, đa ngôn đa sự tranh luận trong một cuộc hội thảo. Thường là chỉ nghe thấy tiếng ông ba gác. Ông “dịch vụ tất cả” nằm trên chiếc ghế bố thư thái điểm những ngón tay lắng nghe những lời chỉ trích nặng nề của đối thủ như nghe dàn nhạc giao hưởng tấu khúc “Phiên chợ Ba Tư”. Rõ ràng tầm trí lực và kinh nghiệm đối nhân xử thế của ông ta cao hơn ông chủ xe ba gác nhiều. Ông ta có cách thoát ra khỏi các cuộc cãi vã một cách tự nhiên và lịch sự.
“Là chúng ta, những người đàn ông sống độc thân ở tuổi 40”. Như một tín đồ túc cầu giáo, một cổ động viên cuồng nhiệt cho đội bóng vừa nhảy cẫng lên mừng rỡ khi bóng nằm trong lưới của đối phương, lại chết lặng, ỉu xìu khi thấy trọng tài không công nhận bàn thắng đó. Ông ba gác nằm dài lên chiếc xe của mình, hát ví dầu, ầu ơ: “Trời mưa nước lớn, con cá lóc nó nhảy lên bờ. Mùng ai có rộng, xin ngủ nhờ một đêm”. Một cái ốc cũ từ chỗ người sửa xe bay tới, chọi đúng vào chân ông chủ xe ba gác. Ông này bật dậy, rít lên: “Đứa nào?”. Nhìn thấy ông sửa xe, mắt trừng dữ dội với chiếc cờ-lê trong tay, ông chủ ba gác sượng sùng nói nhỏ: “Xin lỗi, tôi thật vô ý!”. Ông vé số “hai tỉ rưỡi” châm lửa hút thuốc, dóng dả lên tiếng dạy dỗ: “Với người đoan trang, không được nói lời sàm sỡ!”.
Ông “dịch vụ tất cả”, vốn là người có năng lực dung hoà điều chỉnh mọi mối quan hệ, chuyên gia tháo gỡ ngòi nổ các cuộc tranh chấp địa bàn đủng đỉnh nói: ““Dục tốc bất đạt” câu nói ấy đâu chỉ đúng trong mọi công việc, còn đúng cả trong lĩnh vực tình yêu. Phải thế không ạ!”
- Ừ! Đúng đấy, chí lí…
Ba ông độc thân còn lại đều vui vẻ tán đồng…
Họ hăng hái dọn dẹp, phụ việc cho cô chủ xe nước giải khát, một phụ nữ với những đường nét cấu trúc hài hoà, dịu dàng đặc trưng của nhan sắc phương Đông ở độ tuổi trên 20 dưới 30, một thần tượng về cái đẹp của phụ nữ đối với họ. Cũng như họ, cô chủ này từ nơi xa đến đây làm ăn. Cô bán nước ngọt, sữa đậu nành, cà phê đá và thuốc lá. Không một ai biết cô ở đâu tới. 6 giờ sáng cô đẩy xe tới ép sát vào hàng rào toà biệt thự. Đúng 7 giờ tối cô đẩy xe về. Lặng lẽ như một bông hoa trôi trên dòng nước.
Từ khi cô đến đây, bốn ông chủ vỉa hè bỗng dưng thay đổi. Thay đổi thế nào, hết thảy đều nhìn thấy, hết thảy đều nhận ra. Thiên hạ bảo, các ông bị sét ái tình làm đảo lộn kinh mạch, bị người đẹp cảm hoá tâm can. Có người tư lự thốt lên: “Người đẹp là ai, ai là người đẹp!” Người đẹp trong thiên hạ từ thời xa xưa đến nay đã được miêu tả nhiều rồi, đã được đúc thành tượng, vẽ tranh, quảng cáo trên tivi và ảnh bìa các tạp chí. Nói tới, nói lui, nói đi, nói lại, nói mãi, nhưng xem ra vẫn chưa nói được bao nhiêu, vẫn còn thiếu nhiều, vẫn chưa đủ. Đã có sự thống nhất chung trong xã hội về tiêu chí, chuẩn mực của người đẹp, nhưng người ta không thể nào làm được công việc định hình một khuôn mẫu người đẹp. Trong con mắt của bốn người đàn ông làm ăn nơi đây, cô gái này còn đẹp hơn cả hoa hậu thế giới, hơn cả thần vệ nữ, hơn cả Tây Thi bên Tàu. Nói vậy có vẻ hơi trừu tượng xa lạ. Bởi các ông nhà ta đâu có biết người thật của hoa hậu thế giới, thần vệ nữ hay Tây Thi. Nhưng các ông có sự so sánh với người đẹp đương thời thường xuất hiện nơi công chúng hay trên tivi, báo chí như ca sĩ X, người mẫu Y, hoa hậu Z… và đều có chung một kết luận: Không thể bằng người đẹp của ta! Thiên hạ không tranh luận. Họ tỏ vẻ thông cảm, độ lượng. Các ông ở đây là con người của vỉa hè, đâu được biết cái sang trọng tao nhã của những khách sạn lớn, càng không thể biết được cái đẹp của người đẹp lừng danh. Cũng bởi lẽ trong dân gian: Yêu nên tốt, ghét nên xấu. Thiếu gì người đàn ông coi bà vợ thấp tè, ngắn ngủn hay mắt lé, miệng hô của mình là người phụ nữ đẹp nhất. Yêu là thấy đẹp. Cái lí ấy luôn luôn tồn tại và mãi mãi tồn tại. Song, như người ta thường nói, cái đẹp là một vũ trụ, một thế giới mênh mông không thể nắm bắt được. Cô gái bán hàng nước giải khát dưới gốc bằng lăng đẹp như thế nào, hết thảy bốn ông đều không thể mô tả được. Họ không đem tiêu chuẩn số đo của các vòng, vóc dáng, làn da, nét mặt giọng nói để nói về cái đẹp ở đây. Họ nói về đôi mắt và nụ cười của cô gái ấy. Một đôi mắt đen thẳm, buồn tĩnh lặng, xa xăm như trời cuối thu đầu đông. Nó gợi mở biết bao điều tâm sự về cái hữu hạn, về cái buồn truyền kiếp của con người. Đối lập với đôi mắt ấy là nụ cười trong trẻo, hồn hậu, dịu dàng như ánh bình minh xuyên qua những hạt sương mai lấp lánh trên nhành lá non tơ.
“Có cái mở đầu, có cái kết thúc, có bình minh, có chiều tà ở trên khuôn mặt ấy. Thật kì lạ!”.
Ông chủ “dịch vụ tất cả” đã cảm khái trữ tình và u uẩn kêu lên. Ông sửa xe thẫn thờ, ngơ ngác, làm đâu hỏng đó suốt cả một ngày, bị khách hàng mắng là ngu cũng không có phản ứng gì. Ông chủ xe ba gác như bị thôi miên, chăm chắm nhìn theo cô chủ quán, nhưng lại nghe thấy tiếng chim ríu rít trên ngọn cây cao. Còn ông vé số uống một lèo hết hai li cà phê đá vẫn thấy như chưa uống gì, bỗng nhiên phát hiện ra mùi hương của hoa lan đâu đó, của hoa dạ hương, hoa sữa đêm qua còn đọng lại.
Ấy là yêu, là cảm sâu, cảm xa, phải lòng phải dạ đến tâm can mất rồi. Cả bốn ông đều chăm chú theo dõi, lắng nghe một cách hồi hộp mọi thể hiện từ phía cô phát ra. Họ đã trở thành những người làm công tự nguyện cho cô gái. Bưng bê nước giải khát cho khách chờ xe buýt, cho khách qua đường, rồi rửa li, lau chùi đồ đạc, thu tiền, thối lại… họ đều tranh nhau làm. Các ông giải quyết công việc làm ăn của mình hết sức lạ lùng nhanh chóng. Nhiều khi còn bỏ việc không làm để phụ giúp cô gái. Thu nhập của các ông xem ra bị giảm sút. Nhưng các ông chẳng thấy buồn phiền lo lắng… Lúc nào cũng hồn hậu vui tươi. Các ông gần gũi, ân cần nhiều hơn với cô gái. Đôi lúc nói xấu lẫn nhau, chê người này là kém phong độ, người kia là xảo quyệt không thể tin được, người này là ngớ ngẩn kém hiểu biết, người nọ là thô bạo cộc cằn. Cạnh tranh trong tình trường cũng giống như cạnh tranh trên thương trường, nhưng cái phần quyết liệt sâu xa, ở tình trường chắc chắn hơn hẳn thương trường. Ai cũng hiểu, trong cuộc chinh phục tình yêu phải nắm lấy những lợi thế tối thiểu. “Nhất cự li, nhì tốc độ”. Các ông đã nhanh chóng tận dụng lợi thế cự li. Ngày trước, các bảng hiệu rải xa nhau, bây giờ dồn cục lại, kế bên xe nước giải khát. Ngày nào ông chủ “dịch vụ tất cả” cũng uống hai li sữa đậu nành, ông vé số hai li cà phê đá. ông sửa xe và ông ba gác mỗi ông hai chai nước ngọt. Ông nói, ông im lặng, ông nhìn xa, ông nhìn gần… dù gần xa tới đâu, nói huyên thuyên tới mức nào cũng quy về một mối. Các ông như những vệ tinh bay xung quanh cô theo một quỹ đạo. Cô gái luôn nhìn và mỉm cười với các ông. Cái nhìn và nụ cười ấy dường như chứa đựng trở lại thời gian 20 năm về trước. Các ông yêu với mối tình đầu tiên…
“Thật không thể ngờ nổi!”. Các ông đã hơn một lần đồng thanh thốt lên. Cho dù chất giọng, âm lượng khác nhau nhưng đều có chung một tâm trạng. Ngỡ ngàng với chính mình. Một sự thay đổi. Một nguồn sinh lực mới. Như người chờ tàu đêm, ngủ gà ngủ gật trên băng ghế, thấy tiếng còi tàu từ xa. Ông “dịch vụ tất cả” vươn vai, vặn lưng, thực hiện một số động tác thể dục cơ bản. Điều chưa hề có ở nhiều năm nay. Những chuyện đã qua đã trở thành chuyện xa xưa, xa lắc, xa lơ. Ông vé số “hai tỉ rưỡi” hướng nhìn lên cao, một tầm nhìn mới có trong đời ông. Ông thấy một đám mây sáng láng lan toả. Con người ra đời trong nhà ổ chuột, lớn lên cùng bọn lưu manh, giựt dọc khắp nơi. Năm năm sống trong trại giam, những tưởng cuộc sống chỉ tồn tại trong li cà phê đá mơ ước có một buổi chiều dắt con đến sân Thống Nhất xem đá bóng.
Ông sửa xe thở dài nói thêm: “Kì thiệt!”. Ấy là ông nói về cảm nhận cuộc sống. Không dưng ông lại nói tới cái hay, cái đẹp của đời người. Ông không còn bị những cơn đau do thù hận hành hạ. Ngày trước, ông là một kế toán trưởng đem thân hứng đạn cho người bạn giám đốc của mình, nhận hết tội lỗi, chấp nhận án tù sáu năm, những tưởng “nghĩa khí” của mình được bạn tri ân, được vợ nể trọng. Ai ngờ, mãn hạn tù trở về nhà lại phải chứng kiến vợ gian dâm với người bạn mà mình đã liều thân che chở. Ông hận cả thần chết, sao không để ông chìm sâu xuống đáy rạch, lại xúi người vớt lên để ông phải sống, phải chấp nhận nỗi đau đớn rứt rỉa từng giờ từng ngày. Ông đã khỏi đau, không phải là kì lạ sao. Ông ba gác cao giọng hát bài “Tình em”, bài hát tủ một thời “Khi chiếc lá xa cành, lá không còn màu xanh. Khi anh xa em, đời vẫn xanh vời vợi…”. Con người lắm mơ, nhiều ước, từng mong muốn trở thành siêu sao bóng đá, ca nhạc lăn lóc trong đoàn hát, đoàn làm phim, kiệt sức vì sự đam mê, những tưởng cuộc đời chỉ còn lại một khúc đơn điệu nhàm chán “Con kiến mà leo cành đa. Leo phải cành cụt leo ra leo vào” đã thấy ấm lại một mơ ước bình dị. Ông mơ ước có được một cô con gái để dạy nó tiếng gọi ba, gọi mẹ và ru “Ví dầu cầu ván đóng đinh. Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi…”
Dường như cả bốn con người gặp nhiều thất bại, khổ đau ấy đều có chung một ý nghĩ, có chung một thái độ với cô gái. Họ rất trân trọng và ra sức bảo vệ giữ gìn tình yêu của mình đối với cô gái. Không một ai có sơ suất làm tổn thương tới cô. Giữa họ, có một thoả ước ngầm: chỉ cần được thấy đôi mắt và nụ cười của cô là mãn nguyện rồi. Thời gian qua đi, hết mưa đến khô. Rồi những ngày cuối năm đã đến. Không một ai tiến thêm bước nào cả. Tất cả vẫn ở vị trí ban đầu.
Một ngày nọ, hoa bằng lăng bắt đầu lác đác rơi. Cảnh sát giao thông đến dọn dẹp vỉa hè, thu gom toàn bộ đồ nghề của họ, cả chiếc xe đẩy bán nước giải khát của cô gái. Một cuộc tranh cãi quyết liệt nổ ra giữa cảnh sát thi hành công vụ với các ông chủ chiếm dụng lề đường. Ông chủ xe ba gác như mọi khi, “nổ” từ đầu đến cuối, nói lí, nói tình, sùi cả bọt mép. Ông chủ “dịch vụ tất cả” nói năng điềm tĩnh, mạch lạc. Ông vé số và ông sửa xe trước sau chỉ nói gọn một câu: “Lề đường sạch đẹp, tốt rồi! Nhưng phải để cho người ta sống lương thiện chứ!”.
Cảnh sát ngạc nhiên hỏi: “Các ông là gì của chị này?”
Ông “dịch vụ tất cả” thản nhiên bảo: “Có thể coi là đồng hương, đồng nghiệp!”
Các ông không đấu tranh cho các ông. Các ông đấu tranh cho sự tồn tại của chiếc xe đẩy bán nước giải khát của cô gái. Họ chấp nhận thôi không làm ăn nơi đó nữa, sẽ chuyển nghề, sẽ đi làm ăn ở nơi khác nhưng nhất quyết bắt công an phải chấp nhận để cô gái tiếp tục bán nước giải khát ở đó.
“Nếu bị xua đuổi cuộc sống của cô gái ấy sẽ ra sao!”.
Mắt của những người đàn ông vỉa hè đỏ hoe và ngấn nước. Những cảnh sát có mặt ở đó lặng đi… Những ngày sau, người ta thấy dưới gốc cây bằng lăng không còn những biển hiệu, không thấy bốn ông chủ ấy nữa. Cô gái vẫn bán nước giải khát. Sáng 6 giờ cô đẩy xe tới, áp sát vào hàng rào nhà biệt thự. Tối 7 giờ cô đẩy xe về, lặng lẽ như một bông hoa trôi trên dòng nước.
Rồi thời gian lại qua đi. Toà cao ốc đã xây xong, lừng lững và rực rỡ một góc trời. Con đường lớn vẫn cuồn cuộn người xe đi lại. Và nơi vỉa hè ngã tư ấy không còn chiếc xe đẩy bán nước giải khát và cô gái. Không ai biết cô ấy sinh sống ở đâu. Có người nói: “Chắc cô ấy lấy chồng, lấy một ông nào đó trong số bốn ông chủ vỉa hè ngày trước…”
Cũng chỉ là suy đoán thôi! Sự thật không ai biết cả. Những cánh hoa bằng lăng tím lịm thong thả rơi. Đâu đó mùi hoa lan, hoa dạ hương, hoa sữa lan toả mênh mang…/.


Đã mang vào thư viện

Thân ái
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Đứa con trở về

Lê Văn Thảo


"Con về đây ba à?". "Ừ con đã về". Ông già nhìn đứa con ngồi trước mặt, cũng là một ông già, mắt đã mờ trong ánh chiều nhập nhoạng ông không thể nhìn thấy gì hình dung được gì. Vậy là đã lâu lắm rồi, dễ chừng cũng đến bốn mươi năm, hoặc hơn, đứa con hư bỏ nhà ra đi lúc còn là một đứa trẻ giờ trở về đã thành một ông già.

Trời tối dần. Căn nhà nằm cheo leo bên sườn núi qua biết bao nhiêu năm tháng đất đá lở ầm ầm suốt ngày đêm, một vùng núi lở không thể tưởng tượng được người ta nói đất trượt gì đó, một góc sườn núi cứ thế trượt dài làng xóm bỏ đi hết còn lại căn nhà với ông già bám chịu, đêm nằm nghe đất đá lở bên này bên kia, trông chờ một cục đá tảng lăn đùng xuống thế là không còn gì nữa cả nhà lẫn người.

Nhưng ông không hề lo sợ, không mấy quan tâm, đầu óc còn chút le lói dành cho việc trông chờ đứa con trở về. Từ lâu rồi ông không đi đâu, quanh quẩn trong nhà ngoài vườn nói láp giáp một mình. Còn ít cây trái của nhà và của hàng xóm còn lại, những chỗ đất còn chưa lở, từ lâu đã biến thành vườn hoang. Ông sống dựa vào đó, không nhiều nhặn gì, mấy cây cau cây dừa vài cây xoài cây mít, một ít sầu riêng măng cụt. Và rất nhiều ớt. Ớt bỗng mọc lên những chỗ đất lở, không hiểu tại sao, như từ địa tầng nào đó có những hạt giống cổ sơ được dịp trồi lên nẩy mầm tươi tốt. Ớt chín đỏ quanh năm chim chóc đậu ăn kêu hót ríu rít. Có con đường mòn nhỏ từ dưới đồng bằng lên đi ngang qua trước cửa nhà, dẫn lên núi, tháng đôi lần đám trẻ đi chặt củi hái nấm ghé vào hái trái cây, hái ớt đem bán mua cho ông gạo mắm xếp thành hàng sau nhà ông không hề ngó tới. Ông chẳng còn ăn uống gì nhiều, ngủ cũng vậy, suốt ngày ngồi gà gật trước hiên nhìn xuống triền dốc, cố dõi mắt ra tận cánh đồng nơi con đường mòn nhỏ đi qua mong thấy có hình bóng lầm lũi đi lên, đứa con hư nghĩ lại trở về với ông. Đêm đến ông cũng ngồi ở đó, cả vùng núi yên tĩnh có thể lắng nghe thật xa, tiếng con cú rúc con mển tát, tiếng gió thổi nước chảy thảy ông đều nghe được, duy chỉ tiếng bước chân đứa con vẫn lặng thinh. Lâu dần ông đâm lẫn lộn, tưởng chuyện không có thật, như ông không hề có đứa con, nó không hề được sinh ra ông cũng không mong nó trở về.

Vậy rồi giờ đây nó trở về, hom hem già lão, không thể hình dung đứa con là một đứa nhỏ giờ đã như thế.

Trời tối hẳn. Ông vẫn ngồi, lưng còng xuống, đứa con trước mặt chỉ là một hình bóng nhòe đen.

"Con về đây ba à", đứa con lặp lại.

"Ừ con đã về", người cha đáp.

"Con tính về ở luôn với ba, nhưng...".

"Là sao?".

Còn chuyện gì nữa? Nó bỏ đi gần cả đời, ông đợi nó đến già đi như thế này, không thể già hơn nữa, cũng không thể chết vì còn phải đợi. Giờ nó trở về, cũng đã già, hai cha con sống nốt những ngày còn lại rồi cùng chết với nhau.Vậy nó còn tính chuyện gì?

Ông chỉ có mình nó, đứa con hư bẩm sinh ấy, năm tuổi đã đốt chết một con mèo, bảy tuổi ôm cổ con chó nhảy lặn xuống ao con chó ngộp chết nó cũng uống nước bụng trương phềnh nằm rên suốt mấy ngày không ăn uống gì được. Suốt ngày nó tụ tập đám trẻ hư hỏng đuổi chó bắt mèo nhổ cây hái trái. Có lần bọn chúng phóng pháo đốt lùa một con trâu lên núi, nhiều năm sau con trâu trở thành trâu hoang một hôm nổi cơn điên chạy tuôn xuống cùng với đất lở, húc gãy chân một đứa nhỏ, một bà già, cắm sừng vào thân cây chết đứng giữa hai cục đá.

Nhưng trước đó đất còn chưa lở, làng xóm yên bình, cây trát mọc bao quanh chân núi vươn dần lên triền núi. Đứa con bỏ nhà ra đi vào một ngày cuối năm, mưa sụt sùi suốt ngày đêm, vợ chồng ông không hay biết gì cả, sáng ra thấy chiếc giường trống trơn quần áo còn nguyên trên giây treo, chiếc nón rơm cũng còn. Ông nói với bà vợ: "Tôi chia đôi tài sản với bà, tôi đi tìm con tôi". Bà vợ nói: "Ông đẻ ra nó hả?". Nhưng phải mấy tháng sau ông mới ra đi, còn phải bán con bò, thu gom tiền trái cây. Ông đi ròng rã cả năm trời, giáp hết bảy ngọn núi, có ngọn leo lên tới tận đỉnh, đêm ngủ trong hang đá hoặc trên chạc cây, có đêm ngủ ngồi trên một gộp đá giữa lòng suối. Ông ăn bận rách rưới giả dạng người ăn xin để tránh bọn cướp, tiền bán con bò trái cây giấu kỹ trong ống tre đựng nước. Nhưng chính ông lại đi tìm bọn cướp: "Ông nghe tin đứa con ở một trong những đám cướp vùng núi. Tháng mười mưa dầm nước ngập các vùng trũng, dân tình gom trâu bò lại thành từng đàn lớn đưa về vùng cao. Đó là mùa len trâu, mùa của những chuyến đi dài ngày của đàn trâu và những người chăn, cũng là mùa bọn cướp dậy lên, những toán cướp dáo mác đầy mình bám theo các bầy trâu đông như ruồi, những trận hỗn chiến diễn ra giữa những người chăn trâu và bọn cướp, có khi giữa các đám cướp với nhau, đàn trâu năm bảy chục con bị đánh cắt chia năm xẻ bảy một đàn nhỏ bị mất hút không biết đến phương trời nào. Chính con ông nhắn tin cho ông, một lá thư nhỏ nhờ người khác viết (nó không biết chữ) nói rõ nó từ ông, không còn cha con gì nữa, nó đi làm cướp sống cuộc đời ngang tàn phiêu bạt, con đường của tên cướp là con đường máu không có chỗ cho tình cha con. Ông đốt lá thư coi như không đọc, nó từ ông nhưng ông không từ nó, không có chuyện cha từ con, ông là cha nó bất kể nó đi đâu làm gì, còn sống hay đã chết. Ông bám theo đám cướp càng lúc càng gần, có bữa gần như gặp được nó, thấy rõ dấu ăn ngủ bãi cột trâu, xác một con trâu bị gặm chỉ còn tấm da bộ xương. Nhưng rồi lại mất hút. Ông gấp rút bám theo, giữa rừng trời tối nhập nhoạng bỗng có một đám con trai mặt mày vằn vện nhào ra lôi tuột ông vào trong một cụm rừng. "Ông già tìm con đây mà!", chúng cười ha hả với nhau. "Tìm làm chi, nó về nhà làm được gì, ông ở lại đây làm cướp còn hơn". Ông bị trói vào một gốc cây, thằng con bị trói vào một gốc cây đối diện. Luật lệ là như vậy, tên cướp nào có thân nhân đi tìm phải bị trói cùng với người đó. Hai cha con nhìn nhau, người cha rầu rĩ đứa con vui vẻ cười ha hả. "Ba hại con thấy không?", nó nói. "Đêm nay con phải ngủ đứng, nhịn đói, chịu muỗi cắn như ba. Ba tìm con làm chi?". Không làm chi cả, cha tìm con vậy thôi. Để được nhìn thấy nó, nghe nó nói chuyện. Vậy là nó bỏ đi cả năm rồi, trông nó lớn hơn, rắn rỏi hơn, ra dáng con trai lắm. Chỉ tội đi làm cướp. Phải nói với nó đôi điều. Nhưng ông vừa mở miệng "con à..." liền bị nó trừng mắt. Nghĩa là cũng không được nói. Chỉ được nhìn thôi. Vậy thì ông nhìn, và nói thầm trong bụng.

Ông nói ba đi tìm con cực khổ lắm con có biết không, cả năm ròng lặn lội leo qua hết bảy ngọn núi, có ngọn núi cao leo suốt mấy ngày không lên tới đỉnh. Rồi xuống núi đi qua nhiều xóm làng, đến những vùng không có xóm làng, qua những sườn núi cheo leo không một bóng người, đi trên đường rồi đi băng rừng, nghe đâu có cướp là đi tới. Cho đến một hôm sa xuống một hẻm núi.

Thật không thể tưởng tượng được ông là người thạo đi rừng như thế, chưa kịp truyền nghề lại cho con giờ sa xuống một hẻm núi như vầy. Hẻm núi không biết sâu đến cỡ nào, ông bước trượt chân thế là tuột mãi xuống không biết đến đâu, dừng lại thấy nằm dưới một đường rãnh hai bên vách đá dựng đứng, tối mù không nhìn thấy gì không mò níu được gì. Không chút vội vã cũng không sợ hãi ông ngồi tính toán thật kỹ, không thể phung phí sức lực, nghĩ cách moi rễ cây trong các khe rãnh bám níu leo lên. Ông đã làm đúng như vậy, đôi ba tiếng đồng hồ nhích lên được một chút, nghỉ mệt rồi lại leo lên, và rồi đến giữa chừng lại lăn tuột trở xuống. Lại nghĩ cách khác, xé khăn nối làm dây cột quanh hông, từng chập treo người vào các rễ cây mô đá nghỉ lấy sức rồi lại leo tiếp, luôn miệng nói để tự động viên: "Ba phải gặp con! Ba phải gặp con!".

Chuyện đó ông chưa từng nói với ai giờ không thể nói với đứa con, không chỉ một lần mà nhiều lần như vậy ông bị tai nạn tuột xuống hố, treo chân trên chiếc bẫy sập, trôi đi giữa suối cho tới giờ bị trói đứng như thế này.

Ông vẫn nói thầm với đứa con, hay tưởng như nói, trong lúc đứa con cười ngả ngớn với đám cướp, lấy chuyện hai cha con bị trói đối diện nhau làm trò vui. Giữa khuya ông ngủ gà gật một lúc thức dậy chúng bỏ đi cả, đứa con cũng biến mất, ông tuột mãi đến gần sáng tháo được dây trói ra đi.

Những chuyện như thế không biết đứa con có nhớ không, lâu lắm rồi, ông cũng đã quên giờ nhìn thấy nó mới nhớ.

"Hồi cha con mình bị trói đứng con nhớ không?", ông hỏi.

"Con nhớ", đứa con đáp. "Ba làm con cực quá đám cướp cười con mãi". Sau đó rồi ông đi tiếp mấy tháng không gặp đứa con, tiền hết trở về bà vợ than thở: "Ông tìm con đâu không thấy tôi mất luôn ông". Đành vậy thôi, ông về rồi ông sẽ đi, còn phải làm lụng kiếm tiền để đi đường, tiền ăn tiền cho đám trẻ dò hỏi các đám cướp. Phải đến năm sau ông mới đi tiếp chuyến thứ hai, tiền ít dọc đường phải tìm việc làm thêm, hái trái cưa củi đào ao chăn vịt có lần ở lại một làng cả tuần lễ làm thợ cả cất một căn nhà. Rồi ông đi tiếp gần sát đến đám cướp rồi nghe tin đứa con không làm cướp nữa, trong một trận đâm chém nhau giữa hai toán cướp con ông bị đui một mắt cụt một cánh tay giờ đang lang thang vất vưởng ở một xó xỉnh nào đó. Ông nghe tin lúc đang tát một cái đìa giữa đồng, ông ngưng tay gàu một lúc rồi tiếp tục tát vẫn vụt gàu đều đặn, những giọt nước mắt chảy ngược vào trong cổ họng. Thương đứa con biết chừng nào, bị đui mù sứt mẻ lại càng thương hơn. Nhưng rồi ông tìm gặp đứa con, đúng ra gặp chỗ nó ở, một căn nhà sàn cao nghêu, đúng là nó thôi làm cướp nhưng không bị đui cụt gì, cưới một mụ góa giàu có suốt ngày ngồi ễnh bụng cơm bưng nước rót. Nó không tiếp ông, cho người ra nói ông đi đi, nó đã thôi làm cướp lấy vợ giàu có nhà cửa cơ ngơi đang rất sợ cướp, lâu lắm rồi nó không đi đâu, ở trong nhà đóng kín cửa không tiếp ai, ông cần tiền nó đưa ra cho bao nhiêu cũng được, nhưng không được vào nhà gặp nó. Ông không cần tiền, chỉ cần gặp nó nhìn thấy mặt nó. Ông ngồi lại dưới chân cầu thang, đứa con thương tình cho người bưng cơm nước ra tận nơi, đưa thêm chiếc áo tơi để ông có thể ngủ ngồi ban đêm. Ông ở đó suốt ngày hết đêm sáng ra trả chiếc áo tơi ra đi, không gặp mặt đứa con, chỉ nghe tiếng nó cười nói vẳng từ bên trong, về nhà bà vợ bịnh chết đã hơn tháng làng xóm chôn cất làm ma chay đâu đó xong cả.

Rồi xảy ra chuyện đất lở.

Đất lở ầm ầm suốt ngày đêm, làng xóm bỏ đi hết ông ở lại nghĩ cách sống một mình tìm việc làm kiếm tiền đi gặp đứa con coi nó sống với mụ góa bị ức hiếp thế nào. Nhưng ông không đi ngay được, ngôi nhà bị một cục đá lăn trúng phải sửa lại, thu nhỏ lại phân nửa một mình chẳng ở gì nhiều, rồi tìm việc làm, xuống tận xóm xa cày cấy gặt đập chẳng được bao nhiêu tiền, ngẫm nghĩ mãi không biết đến nhà mụ góa ngủ ngồi dưới chân cầu thang để làm gì.

Bỗng một hôm có người đến báo vùng bên cạnh xuất hiện ông thầy núi tài giỏi giủ quẻ biết hết chuyện tương lai quá khứ, dân tứ xứ ùn ùn kéo tới chật cả vùng núi. Ông dính gì tới tay thần núi ấy? Nhưng người đến báo nói đó là con trai ông. Vậy đó, giờ nó gạt cả thần thánh nữa. Hẳn nó bị mụ góa đá đít đuổi đi, phải đi gặp nó coi thế nào. Và ngăn chặn chuyện lừa gạt thần thánh của nó. Ông lên đường đi ngay, đứa con chọn ngọn núi cao nhất trụ trì ông cũng theo đó leo lên, khách thập phương kéo lên thành hàng dài dằng dặc từ chân núi lên đỉnh núi, già trẻ bé lớn có cả vợ chồng mới cưới, phụ nữ mang thai, nằm ngồi bao quanh chùa chật cả vòng trong vòng ngoài, ông chen vào nhìn thấy đứa con từ xa ngồi xếp bằng chễm chệ oai phong như một ông phật sống. Không thể chen vào nữa và cũng phải theo mọi người ông quỳ lạy từ xa, không phải lạy đứa con mà lạy đít người ngồi phía trước. Bỗng nghe tiếng đứa con rền vang như tiếng sấm truyền: "Ta thấy ông già đang quỳ lạy kia.Ta cũng biết ông cầu khẩn gì. Không ích gì đâu, chẳng lợi lộc gì, ai có phận nấy số trời đã định ông và ta không được gặp mặt nhau...". Đứa con nói nhiều nữa nhưng ông không muốn nghe, ông là cha nó chuyện ông đến đây là chuyện của ông không phải chuyện của nó. Vậy là đã lâu lắm rồi, nó nói năng chững chạc lắm, thành người lớn hẳn hoi rồi, ông cũng mừng. Nhưng cũng buồn vì nó làm phật sống. Ông lùi ra ngoài nhưng không bỏ đi, cần phải biết nó làm phật sống như thế nào, bày trò gì hãm hại ai. Suốt mấy ngày ông ăn ngủ ngoài vườn chùa thỉnh thoảng chen vào quỳ lạy, nhìn đứa con từ xa chẳng nghe thấy gì hiểu được gì. Rồi có một thằng bạn cướp của nó ông còn nhớ mặt bám theo ông tỉ tê cho ông biết chuyện: "Thằng con ông nuốt nguyên bầy trâu của tụi này trốn về đây ngồi chễm chệ, tụi này sẽ bắt nó ói ra không thiếu một sợi lông trâu nào". Hóa ra là như vậy, và giờ đây lại thêm chuyện ông phải canh chừng tên cướp để nó khỏi lụi dao vào bụng đứa con. Ông dằn mặt trước với nó: "Tao không biết chuyện trộm cướp gì cả, chưa từng thấy con trâu nào, chuyện phật sống tao cũng không biết, nhưng ai động đến con tao phải chết với tao". Nói rồi ông rút con dao đi rừng cắm phập trước mặt thằng cướp, cán dao run mãi cho đến lúc thằng cướp bỏ đi.

Nhưng tên cướp vẫn lẩn quẩn quanh chùa ông phải bám theo nó, lúc ăn cũng như lúc ngủ, giành giựt từng gói xôi chùa với nó, đêm nằm nghe nó trở dậy đi đái cũng đi theo, thằng cướp loại tép riu nhưng đứa con đang trong vai người tu hành đâu thể chống đỡ gì được. Cho đến một hôm chính thằng cướp mất kiên nhẫn, giữa đêm nó trở dậy dí dao vào cổ ông: "Ông ra ngoài với tôi. Tôi không muốn đâm lén ông, một người cha, nhưng tôi sẽ đâm chết ông mặt đối mặt, giết cha trước giết con sau, đâm chết thằng phật sống nuốt nguyên một bầy trâu của chúng tôi". Ông không đấu dao gì cả, ông không thù ghét gì thằng cướp, nó chưa đụng tới con ông ông coi nó như con trai ông. Không thể đâm người đang nằm sải tay thằng cướp bỏ đi, gần sáng một góc chùa bốc cháy, dân hành hương bỏ chạy nháo nhào người nhà chùa cũng chạy, ông thừa dịp sục vào trong không thấy đứa con đâu, ở lại sáng ra hỏi thăm biết không ai chết cháy yên tâm lên đường trở về nhà.

Lần đó đứa con bặt tăm rất lâu, có tin nó mở quán lấy vợ sanh con sống yên bình, lại có tin khác nói nó trở lại nghề cướp trâu, trong một lần đụng độ giữa hai băng nhóm bị chết treo trên đôi sừng trâu đã mồ yên mả đẹp. Lúc đó triền núi bắt đầu lở, vườn tược cây trái tiêu điều, trâu bò dịch bịnh chết cả, dân làng bỏ đi ruộng nương hoang hóa, may sao có xưởng đó mọc lên, đá trên núi lăn xuống cứ thế cưa đục. Ông đến đó xin việc làm, suốt ngày gò lưng đập đá, ăn uống dè xẻn mấy năm trời dành được ít tiền có thể ra đi.

Vậy là đã lâu lắm rồi, không còn nhớ ngày tháng không hình dung được gì, đứa con giờ như thế nào, đã lớn lên già đi ra sao. Ông ra đi trong một buổi sáng mù sương, đầu trần chân đất, chiếc bị bên hông cây gậy trong tay, xuống hết triền dốc đi qua nhiều làng nhiều cánh đồng, cả vùng bảy núi vùng trũng khu tứ giác ai cũng biết ông già đi tìm con.

Không thấy đứa con đâu cả, không gặp đám cướp trâu hay tay phật sống nào. Nhưng có người tìm đến ông. Đó là một gã cười cợt không thể tưởng tượng được, chuyện gì cũng cười, gã báo tin con ông đã tu tỉnh làm ăn, không làm phật sống hay cướp trâu nữa, chuyển sang nghề đi bè gỗ từ trên thượng nguồn xuống. Ông theo gã rời vùng núi băng qua những cánh đồng những sông rạch, ra tới vùng ven sông, con sông lớn mùa nước đổ chảy xiết rộng mênh mông như biển, đủ thứ gỗ quý kết thành bè nối tiếp nhau, một chiếc chòi cây cột dựng đứng cao nghêu giữa bè, những gã con trai mình trần ướt đẫm nước chạy tới lui hò hét chống đỡ, tay chân nổi lên những bắp thịt cuồn cuộn đầy những hình xăm. Cũng những gã con trai như thế trên những chiếc xuồng độc mộc từ trong bờ phóng ra, một trận hỗn chiến diễn ra với mã tấu, lao móc, những xác người đẫm máu văng tung lên rớt chìm lỉm dưới nước. Gã cười cợt đưa ông đến bờ sông chỉ ra một chiếc bè đang trôi băng băng nói con ông ở dưới đó, phải mướn ghe đi ra đón đợi mới gặp được, ông trút hết tiền cho gã, hai người ra đến chiếc bè thốt nhiên cả bọn nhào tới bắt trói ông vào cây cột giữa bè, gã cười cợt cười rộ lên, những đứa khác cũng cười theo. Hóa ra con ông không đi bè mà vẫn làm cướp, chuyển từ cướp núi xuống cướp sông, chính đám từ trong bờ phóng xuồng độc mộc ra ấy, đám bè gỗ bắt trói ông làm con tin cảnh báo cho thằng con ông trên bờ. Nhưng thằng con ông coi thường tất cả, mạng đổi mạng không là gì đối với nghề cướp, những chiếc xuồng độc mộc vẫn từ trong bờ phóng ra, trận hỗn chiến diễn ra, ông bị cột dựng đứng vào chiếc cột không có cách gì khác ngoài việc la hét chỉ chỏ cho thằng con tránh đường lao chỗ này nhát mã tấu chỗ nọ, chiếc bè không người lái lao ầm ầm trên sóng nước, quay ngang ngửa, va đập liên hồi vào các bụi bờ, trong một lần va đập vỡ tan ra cây cối trôi lổn ngổn, hai đám cướp vẫn điên cuồng đâm chém từng đứa rớt chìm lỉm dưới nước, ông cùng cây gỗ lăn tròn trôi đi mãi không biết tới đâu làng xóm nào đâm chúi vào một doi đất, ông nằm ngất lịm cho đến khi có người đến cứu, ông trả ơn bằng chính cây gỗ đó.

Ông ở lại đó mấy ngày cùng dân làng đi vớt xác hai đám cướp nhìn mặt từng đứa không thấy có thằng con, mừng nó tai qua nạn khỏi, tìm đường trở về thấy ngôi nhà bị thêm một cục đá lăn trúng, lại mất cả năm thu nhỏ lại căn nhà tìm chỗ đập đá kiếm tiền đi tìm đứa con, có thể là lần cuối cùng. Tới năm đó ông đã già lắm rồi, lưng đã còng mắt mờ tay chân run rẩy, ông đập đá được hai năm không thể đập nổi, vừa lúc đám nhỏ tìm tới hái trái cây hái ớt đem bán lấy tiền đem đến cho ông, dành dụm chắt mót đến một hôm thấy đủ tiền có thể ra đi.

Con đường đi lần này thật dài, do tuổi già sức yếu, ông đi bộ rồi đi xe bò, có bữa ôm lưng đứa nhỏ ngồi vắt vẻo trên lưng trâu, qua hết bảy ngọn núi vùng trũng tứ giác không nghe thấy có đám cướp trâu nào, ra vùng ven sông cũng không gặp bè gỗ, men theo bờ sông đi ngược lên vùng biên giới đến một sóc người Miên không còn đi nổi nằm vật ngang một tha-la bên đường, dân làng tưởng ông đã chết tổ chức ma chay hát à-dai suốt đêm. Đến gần sáng ông tỉnh lại lặng lẽ ra đi không ai hay biết. Ông gặp được chiếc xe bò quá giang, nhưng người đánh xe bò lại chở thẳng ông ra chợ bắt đi ăn xin để trừ tiền công chở. Thế là suốt ngày ông lê la khắp các quán tiệm với chiếc nón rách lật ngửa, tối về nộp tiền cho tay xe bò nằm khoanh ngủ ở một góc chợ, ròng rã cả tháng trời chịu cực khổ, nhưng cũng có điều may, chỗ đông người có thể dò la tin tức đứa con. Vẫn những tin trái ngược nhau, người nói đứa con đào trúng thùng vàng người Phù Nam giàu sụ lên, cất nhà mười tầng cưới mười vợ, người khác lại nói trong một lần đánh cướp nó bị dân làng bắt trói xiềng vào một gốc cây như chó, đến bữa muốn được ăn phải tru lên ba hồi dài. Hơn tháng ăn xin trả xong nợ ông tiếp tục lên đường tránh quá giang bất cứ xe bò nào, đi tìm đứa con bị xiềng, đứa con ở nhà mười tầng ông không cần biết tới. Nhưng chẳng tìm đâu ra, lại nghe nó đang trụ trì một ngôi chùa, không phải làm phật sống mà mở lò luyện võ. Ông lên đường tới đó ngay, mướn hẳn một đứa nhỏ dẫn đường, dạo đi ăn xin ông có trích giấu một ít tiền nhét trong búi tóc thằng xe bò không thể nào thấy được. Ngôi chùa trên một đỉnh núi cao ngất ông đến chân núi ngước mắt nhìn lên, trả tiền đứa nhỏ bảo nó trở về nhưng nó không về cũng không lấy tiền, nó muốn theo ông lên chùa coi luyện võ.

Đó là một đứa nhỏ thật giỏi giang, ông sống được, đi được tới đây là nhờ nó, trên đường nó làm tất cả, nấu nướng hái nấm hái trái cây, săn bắt kỳ đà rắn mối xuống suối bắt cá, không mong gì hơn có được đứa con như thế. Hai ông cháu bắt đầu leo núi, nhiều lúc đứa nhỏ phải cột dây gióng ông đi, cuối cùng cũng đến được trước cổng chùa nghe báo đúng đứa con đang ở trong chùa làm thầy dạy võ, nhưng ông không được vào, đó là một lò luyện võ khắc nghiệt, sau ba tháng luyện võ học trò phải tỷ thí với thầy. Đến nay ông thầy tức con ông đã đánh chết năm môn sinh rồi, xác chôn sau chùa có bia mộ đàng hoàng ông muốn coi thì coi. Ông không coi, ông chỉ muốn nhìn thấy đứa con. Nhưng không có chuyện thăm con ở nơi luyện võ linh thiêng như thế này. Nó đã giết năm đứa học trò rồi thấy không? Nó cho phép ông ở lại ngoài hiên chùa có thể nhìn thấy nó tập võ cho học trò từ xa. Vậy là ông ăn ngủ ở lại hiên chùa không nhìn thấy đứa con luyện võ gì cả, chỉ có đám học trò quấy rầy ông quá cỡ, cật vấn ông sao bị đứa con từ bỏ, đứa con từng làm cướp núi cướp sông giờ trở thành người thầy dạy võ đáng kính như thế này. Ông không đáp gì cả, không việc gì phải nói chuyện với đám con nít, ông chỉ mong được nhìn thấy đứa con, ông khuyên nó trở về với ông, hoặc ông ở đây làm người gác cửa quét sân để được gần nó. Nhưng thằng con nổi giận khi biết ông có ý định đó, cho người ra kêu ông vào ngồi sau bức màn để hai cha con không thấy mặt nhau, đây là lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng nó nói chuyện với ông, nói một lần để không bao giờ nói nữa.

Nó nói rằng chính nó bày chuyện bị ông từ bỏ để ông giận không đi theo nó, không có chuyện con đi làm cướp làm phật sống cha bám lằng nhằng theo sau như thế này, làm thầy dạy võ lại càng không thể. Ông hãy đi đi, vì tình cha con mà đi đi.

Ông ra đi, đứa nhỏ bỏ đi từ lâu ông một mình xuống núi, giữa đường có hai thằng học trò bám theo nói "cùng đi cho vui". Rồi lại nói là chúng bỏ trốn, không chịu nổi sự khắc nghiệt của ông thầy dạy. Rồi nói thêm chúng rất thương ông, mong có được người cha như thế, càng thương hơn khi thấy ông bị chính đứa con đẻ của mình từ bỏ. Con từ cha còn ra gì nữa? Một đêm nằm ông nghe chúng thì thầm bàn chuyện quay trở lại đâm chết đứa con, chém xẻ làm đôi, chặt ra từng khúc để trả thù cho những thằng bạn đã chết. Thế là ông không ngủ nữa, canh chừng hai thằng giết người, đến gần sáng chúng ra đi ông trở dậy đi theo, ngược đường trở lên ngôi chùa. Nhưng ông đến nơi mọi chuyện đã xong, chúng đã đâm chết con ông chôn sau chùa dựng bia mộ ghi tên tuổi quê quán, đám học trò nhảy múa ăn mừng, một thằng vẽ mặt đeo râu làm quỷ mời ông ở lại vài ngày khóc lóc cho thỏa thích.

Ông không ở lại ngày nào, một giờ cũng không, ra về ngay. Ông đã nhìn ra thằng nhảy múa chính là con ông, nó là quỷ ông cũng nhìn ra, nó bày chuyện đâm chém để cười cợt ông. Lần đó ông quỵ hẳn, cả tinh thần lẫn thể xác, về nhà không nghĩ tới chuyện ra đi nữa, đầu óc mù mờ trống rỗng không màng cả chuyện đất lở, đám trẻ kéo tới hái trái cây hái ớt chất gạo thức ăn vào nhà ông vẫn ngồi yên, không nghĩ đến đứa con cũng không nghĩ chuyện gì khác.

Vậy rồi giờ đây nó về kia, cũng già lão như ông. Nó nói:

“Con mệt quá rồi, cũng già rồi, đi khắp nới làm đủ chuyện không ra làm sao...”.

"Thôi con về ở với ba thôi", ông nói.

"Thì con đã tính như vậy rồi", đứa con nói. "Con đi cả tháng trời đêm qua về tới xóm ngoài kia ghé nghỉ ở quán mụ góa chủ quán báo cho biết ở đây có chuyện đất lở. Sao ba không cho con hay chuyện đất lở?".

"Ba gặp con ở đâu mà cho hay?".

“Phải rồi, con không muốn gặp ba sợ lằng nhằng níu kéo, con bày đủ chuyện để ba đừng đi theo nhưng ba vẫn đi. Mụ góa chủ quán còn nói chuyện ba bán ớt, chuyện nhà bị trúng mấy cục đá, nói con về nhà ngồi chút thôi, làm cướp núi cướp sông không chết giờ chẳng lẽ chết vì cục đá tảng”.

“Con nghe mụ goá làm chi?".

“Con không nghe nhưng mụ cứ lải nhải, đó là một mụ yêu tinh nhưng lại tỏ ra thương con, nói không phải quyến rũ gì mụ cũng già rồi có chiếc quán con chẳng nghề ngỗng tiền bạc gá nghĩa với mụ mà sống".

"Rồi con chịu không?”

"Con chịu. Con về làm chi, ba nuôi con nổi không? Con cũng đâu thể nuôi ba, đất lở như vầy làm sao mà sống? Thôi con thăm ba một chút rồi đi thôi, ba cố bán được ớt gởi tiền cho con đừng ra ngoài đó làm gì, mụ góa lắm điều rồi lại sanh chuyện lôi thôi...".

Trời tối mịt không thể nhìn thấy gì, một cơn gió từ dưới triền núi thổi thốc lên cuốn lá khô ào ào, lăn trong tiếng đất lở bên này bên kia, rồi yên lặng trở lại, căn nhà trống không, đứa con đã đi mất từ hồi nào. Ông thấy người cạn kiệt, như ngọn đèn sắp tắt, nhưng vẫn còn kịp nghĩ đến chuyện bán ớt, chuyện đứa con đang ở ngoài xóm với mụ goá không biết bị ức hiếp như thế nào.../.

10-2002.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
<Bài viết đã được chỉnh sửa lúc 2005-10-30 18:22:41ct.ly>
Khách không mời

Nguyễn Kiên


Những ngày đầu thử sức trong cuộc mưu sinh Đạt gần như chỉ chạy rông ngoài phố. Đạt đã ba mươi tuổi, đang yên ổn ở một cơ quan có cả đống người nay cái cơ quan ấy bị thu hẹp lại. Nhiều người phải thôi việc phải về hưu non, Đạt thuộc số ít vẫn được giữ trong biên chế nhưng phải nghỉ không lương dài dài. Đạt vốn ở phòng nghiên cứu, được đào tạo bài bản, có chút ít từng trải nhưng công việc nghiên cứu của anh trước đây xem ra nhiều vu vơ. Một thời tem phiếu đã qua, Đạt không được chuẩn bị trước, đâm ra ngơ ngác trước tình thế chuyển đổi hàng ngày.

Đạt chạy rông ngoài phố với chiếc xe máy cá xanh, loại xe đồng nát thường được phong lên cấp cá ươn, lúc bấy giờ loại cá xanh hay cá ươn này vẫn còn thoi thóp chứ chưa tuyệt diệt như bây giờ. Chiếc xe chạy ậm ạch, cứ "pan" vặt luôn luôn, phải dạt vào vệ đường loay hoay tự sửa rồi nhảy lên guồng đến vã mồ hôi máy xe mới chịu nổ lại. Đạt thường ghé một tòa báo quen, báo này đang muốn trở thành nơi gặp gỡ của mọi tầng lớp, từ trí thức đến bình dân, trụ sở báo dành hẳn một phòng gọi là phòng cộng tác viên, các cộng tác viên thật và giả đều có thể lui tới, tha hồ gẫu chuyện. Giữa đám đông ồn ào như họp chợ, Đạt chỉ ngồi nghe, xem ra cũng lý thú nhưng khó len vào cuộc. Đành lại lặng lẽ cưỡi chiếc cá xanh, hay là cá ươn chạy ậm ạch lòng vòng. Đến lúc thấm mệt, Đạt táp xe vào ven đường, thói quen thường dẫn dắt anh tới quãng phố có cái chợ từ trong hẻm họp tràn ra và cứ tự nhiên anh táp vào cái quán cà-phê vừa mặt phố vừa kề bên con hẻm. Ngồi nhâm nhi tách cà-phê đen, Đạt cố nghĩ đến một điều gì đó nhưng đầu óc anh bùng nhùng, nghĩ không ra. Dòng người qua lại trên hè phố và ra vào con hẻm đan dệt ở bên ngoài quán, phản chiếu qua những tấm gương kính thành những hình ảnh mờ nhòe. Đạt lơ mơ, không phân biệt được những gì đang diễn ra chung quanh.

- Chào anh, mong anh thứ lỗi... anh có bán cái cá xanh hay là cá ươn của anh đang dựng ngoài kia?

Người đàn bà hỏi Đạt ỡm ờ, cô ta không còn trẻ nhưng linh hoạt và có chút điệu đàng. Không biết cô ta vào quán và ngồi cùng bàn với Đạt từ lúc nào? Đạt hơi khó chịu:

- Cô muốn mua, hả? Để làm gì?

- Tôi mua để bán lại cho bảo tàng!

Cái cách đùa cợt sỗ sàng như thế chỉ có thể có giữa những người quen biết nhau. Đạt ngẩn mặt, cô ta là ai nhỉ? Mình đã gặp ở đâu nhỉ?

- Anh đừng có ngẩn mặt ra như thế... Tôi là khách không mời nhưng vẫn thường xuyên có mặt ở phòng cộng tác viên của tòa báo mà anh hay đến ấy. Tôi thích anh, cứ tự nhiên mà thích chứ chẳng có lý do gì cả!

Người đàn bà bỗng nhìn thẳng vào mắt Đạt, cái nhìn thôi miên khiến Đạt càng muốn lảng tránh càng bị hút vào cô ta. Cô ta tên là Mánh, chẳng hiểu tên thật hay tên lỡm nhưng qua câu chuyện dông dài của cô ta, Đạt cảm thấy cô ta quan tâm đến mình thực sự. Sau vài lần gặp gỡ, cũng ở quán cà-phê này, Mánh thay đổi cách xưng hô, gọi Đạt là mình xưng tôi, cứ như hai người lẫn vào nhau, dù Đạt muốn hay không, mặc kệ!

- Này mình ơi, mình nhìn đám đông qua lại nhốn nháo ở ngoài đường kia, mình nghĩ ra được điều gì, thử nói tôi nghe?

Đạt chủng chẳng:

- Tôi không nhìn và cũng chẳng nghĩ gì hết!

- ồ, sao lại thế! Để tôi đổi chỗ cho mình và mình hãy giương to mắt lên. Cứ bình thản, đừng vướng vào những chi tiết ngoài mục đích... Chẳng hạn ta muốn biết thiên hạ bây giờ ăn mặc ra sao thì chỉ cần chú ý nhìn quần áo của họ, còn mặt mũi họ tạm gác sang một bên... Mình đừng tự ái cho là tôi dạy dỗ mình, chẳng qua là tôi có việc đang muốn bàn với mình. Nào, mình thấy gì và nghĩ ra được điều gì nào?

Đạt cảm thấy được xoa dịu nên giọng anh chùng xuống:

- Bây giờ trong thiên hạ có nhiều người mặc quần bò!

- Đúng thế. Quần bò. Quần bò đủ loại: - bò xẫm, bò mài, bò hoa rồi bò ống con, ống đứng, ông loe, ống tướp nữa... Nhưng từ đó mình phải nghĩ ra được điều gì, đúng hơn là việc gì hay ho cho mình chứ. Việc gì nào?

Đạt còn ngờ nghệch, anh bị bất ngờ khi Mánh ngỏ ý mời anh cùng với cô làm một cuộc điều tra xã hội học về chiếc quần bò. Sao lại không nhỉ? Cần phải lên được con số thống kê những người thích, hay không thích mặc quần bò, kèm theo những mục nhỏ về tuổi tác, giới tính, trình độ văn hóa, nghề nghiệp... làm cơ sở cho những phân tích khoa học. Đạt là người thông thạo những quy cách bảo đảm tính khoa học cho một công trình. Anh chỉ thắc mắc, bỗng dưng đi điều tra về chiếc quần bò để làm gì nhỉ?

- Tất nhiên không phải để chơi rồi, mình ơi! - Mánh cười khinh khỉnh - Có nơi đang cần một công trình đại loại như thế. Mình bán nó cho họ... Mua và bán, mình lạ lắm hả? Nhưng đấy là phần việc tôi lo, mình không phải dính vào!

Đạt sống ở một đường phố vắng, thời Pháp thuộc đây là phố của các gia đình công chức trung lưu, gồm những ngôi nhà xinh xắn, thỉnh thoảng có nhà còn có vườn bao quanh. Trải qua thời gian, cả dãy phố đã trở nên cũ kỹ, mỗi ngôi nhà được chia cho nhiều hộ, vườn bị phá đi, các hộ tùy ý cơi nới, cả đến hành lang và lối đi chung cũng bị ngăn ra, che chắn lại. Đạt còn độc thân, chỉ có vẻn vẹn một gian phòng mười mét vuông (thế cũng đã đủ để thiên hạ cho là ở rộng!) vốn trước kia là gian kho chứa đồ tập tàng, khuất nẻo và ẩm mốc. May mà Đạt chưa tiết lộ với Mánh cái giang sơn riêng, nơi ẩn trốn của anh. Mỗi lần về tới nhà, đóng cửa lại, chỉ một mình với đống sách vở bát nháo và những đồ đạc tạp nham, Đạt không vui cũng không buồn nhưng nhẹ nhõm vì không còn vướng víu. Một tuần lễ Mánh cặp kè với Đạt để tiến hành vụ việc điều tra xã hội học về chiếc quần bò. Quả là có một môn khoa học gọi là xã hội học, được coi là thời thượng của thời hiện đại. Đạt có tìm đọc và thu lượm được chút ít về nó. Vào cuộc rồi tự nhiên anh đâm hăng, muốn thi thố trước Mánh. Chính anh là người lập phiếu điều tra, chọn vùng, phát phiếu tới những đối tượng ngẫu nhiên rồi thu phiếu về, lên số thống kê và tiến hành phân tích. Mánh đóng vai trợ lý, chạy việc vặt nhưng mồm miệng lúc nào cũng bô lô ba la để chứng tỏ mình là người chủ xướng. Ngồi giữa quán cà-phê (vẫn cái quán kề ngõ chợ nơi họ gặp nhau lần đầu) Mánh cứ huơ bản tổng kết lên, nói oang oang: "A, những con số mới đẹp làm sao! Hỡi những ai thích hay không thích quần bò, những con số này sẽ nói chuyện với các vị!". Rồi cô ta biến đi cùng với bản tổng kết. Đạt ngượng chín người trước đám khách ngồi trong quán, anh không nói gì cả. Thôi, sự thể đã đến thế này đành phó mặc cho Mánh, anh hì hục nổ máy chiếc cá xanh hay là cá ươn, lặng lẽ ra về... Bây giờ chỉ còn một mình Đạt trong cái thế giới riêng nhỏ bé, hiu quạnh nhưng thân thuộc, anh có thể nằm dài ra giường trong trạng thái lơ mơ nửa thức nửa ngủ. Gian phòng của Đạt có ô cửa sổ hẹp nhìn sang nhà hàng xóm. Chênh chếch phía trên cao, thuộc tầng hai của nhà bên ấy cũng có một ô cửa sổ, ô cửa sổ này rộng hơn nhưng luôn đóng kín, không hiểu phía trong là phòng gì. Đột nhiên hai cánh cửa sổ chưa bao giờ Đạt thấy mở ra ấy bỗng mở toang. Anh choàng dậy đứng sau cửa sổ phòng mình nhìn sang và trong khoảnh khắc vệt nắng chiếu tràn qua ô cửa sổ nhà bên vừa để ngỏ, ánh hồi quang của nắng hừng lên như ánh lửa. Có một cô gái đứng tỳ khuỷu tay trên thành cửa sổ, người cô hơi nhoai ra, mái tóc lòa xòa, đuôi tóc bắt nắng dường như hoe đỏ. Cô gái chăm chú nhìn sang nhà Đạt, vẻ như tìm kiếm cái gì đó và khi cô bắt gặp ánh mắt Đạt chăm chú dõi theo cô, cô hơi quay đi nhưng không phải là né tránh...

- Chào cô bé, cô mới từ đâu đến?

- Thế còn anh, anh từ đâu đến? Anh nên nhớ anh đến nơi này còn sau em kia!

Cô gái quay lại, hướng mặt về phía Đạt khiến anh phải hơi quay đi nhưng cũng không phải là né tránh. ánh mắt anh vẫn ngầm dõi theo cô:

- Lạ lùng nhỉ!

- Nào có gì lạ, em sinh ra và lớn lên ở ngôi nhà này, trong căn phòng này. Thuở ấy, ở bên nhà anh, căn phòng anh đang ở còn là cái kho. Anh chịu chưa?

Cô gái nheo mắt cười, nụ cười làm khuôn mặt cô bừng sáng. Đạt hấp tấp nói:

- Tôi xin chịu... Nhưng cô chưa trả lời, cô mới từ đâu đến?

- Rồi anh sẽ biết thôi, vội vàng gì!

Cô gái lui vào trong phòng, cửa sổ phòng vẫn mở rộng nhưng không thấy cô xuất hiện trở lại. Từ lúc đó đầu óc Đạt ngập tràn hình ảnh cô gái, cô ta nói "vội vàng gì!" nhưng anh đã trở nên vội vàng muốn gặp lại cô ta. Chập tối Đạt tuôn ra đường, anh đi qua lại dọc quãng phố trước cửa nhà, thỉnh thoảng nghe tiếng lá khô bị gió cuốn ràn rạt, anh lại giật mình, tưởng chừng cô gái từ trong ngôi nhà hàng xóm bước ra...

- Em biết là thế nào anh cũng ra đây tìm em. Em đã hỏi được tên anh. Còn em là Huyền Vi... Ta đi ngược lên phía đầu phố đi!

Huyền Vi đi sát bên Đạt những hè phố rợp bóng cây, đèn đường quãng này thưa thớt nên Đạt có cảm giác Huyền Vi chỉ là một hình bóng chập chờn. Huyền Vi nói rằng cô từ nơi xa trở về thăm lại nơi này, tiếc rằng đường phố đã thay đổi, ngôi nhà cũ của cô cũng thay đổi, chẳng còn ai biết cô. May có một bà cụ lưng còng, ăn trầu thuốc, cô ngồi giã trầu trong cái cối đồng nhỏ xíu cho bà cụ, bà cụ giữ cô lại và mở khóa cửa căn phòng xép, nơi cô đã sống qua suốt thời thơ ấu cho cô thăm thú...

- Hóa ra căn phòng ấy bây giờ là phòng kho. Trái ngược với bên anh, cái phòng kho ngày xưa lại trở thành phòng ở của anh. Sự tình cờ mà nên quen biết... Huyền Vi bật tiếng cười nho nhỏ, tiếng cười trong veo, bay quấn quýt - Em trở về đây cũng phải có ai nghe câu chuyện trẻ con của em chứ nhỉ!

Hai người đi tới gần đầu phố, nơi có ngã ba mở ra một đại lộ rộng thênh, ánh đèn cao áp sáng xanh, người và xe qua lại tấp nập. Huyền Vi khẽ chạm vào cánh tay Đạt, giữ anh lại:

- Thuở em còn trẻ con, em thường đứng ở đây, đứng dưới gốc cây này, cái cây xù xì, vỏ xanh rêu, trên chỗ trạc ba kia có cái hốc. Em đứng dưới gốc cây nhìn ra ngã ba và chờ đợi... Em chờ đợi niềm vui và cái niềm vui trẻ con ấy đến với em rất giản dị. Một người bán đồ chơi xuất hiện nơi ngã ba, ông ta đã đứng tuổi, vác trên vai một cây sào có những dóng ngang buộc đủ loại đồ chơi xanh đỏ. Cái cây đồ chơi ngất nghểu với những hình người và con vật bằng gỗ bấc hoặc giấy bồi, những lá cờ đuôi nheo nhỏ xíu, những chiếc chong chóng nhỏ xíu quay tít mù, tất cả cứ trôi dập dềnh trên đầu dòng người qua lại. Ông hàng rong vác cây đồ chơi thong thả đi về phía em và em lẵng nhẵng đi theo cái cây đồ chơi ấy. Em đã từng nhịn quà sáng, dành tiền mua của ông hàng rong thứ đồ chơi này khác nhưng đem nó về nhà, chỉ chơi một lúc là chán. Còn đi theo ông ta, trôi theo cái cây đồ chơi dập dềnh ở trên cao thì lại khác, như được hòa mình vào một thế giới khác, khiến mình mê mẩn... Bây giờ, đứng ở đây hướng về phía ngã ba, em vẫn thấy hiển hiện hình ảnh ông hàng rong vác cây đồ chơi và cảm giác mê mẩn kiểu trẻ con chợt sống lại - Huyền Vi quay về phía Đạt, khuôn mặt cô hơi ngửa lên, những đường nét thiếu nữ pha trộn với một vẻ gì đó, chân thật đến gần như ngây ngô và giọng nói của cô bỗng đổi khác, nhưng từ đâu xa vọng lại - Cảm ơn anh đã đi cùng em đến chỗ này để em có thể trò chuyện!

Đạt trở về nhà thức đến khuya. Câu chuyện của Huyền Vi chỉ đơn giản là chuyện trẻ con, không có gì lạ. Điều Đạt lạ lùng là sự hiện diện và cách kể chuyện của Huyền Vi, dường như cô muốn lôi cuốn anh cùng sống lại một thời trẻ con của riêng cô. Chập tối hôm sau Đạt ra đường đã thấy Huyền Vi đứng chờ anh ở chỗ tối hôm qua anh đứng chờ cô. Hai người đi xuôi về phía cuối phố, quãng đường này vắng vẻ hơn, dẫn tới một bãi trống ngổn ngang những đống vật liệu xây dựng. Huyền Vi có vẻ vội vàng, cô vượt lên trước và nói với Đạt:

- Đến đây thì anh phải theo em, em sẽ dẫn anh đi theo lối tắt ngày xưa, chỉ mình em biết. Là vì ngày xưa em bám theo ông hàng rong vác cây đồ chơi, cứ qua khỏi chỗ này là ông ấy biến mất. Em phải đi tìm... Nào, ta đi thôi!

Bên kia bãi trống, cạnh đống cát sỏi cao lù lù có con hẻm càng vào sâu đường càng nhỏ dần, với vô số ngõ ngách. Trong hẻm không có đèn đường, tối tăm và bí hiểm như một mê hồn trận. Đạt không theo kịp Huyền Vi, đôi lúc anh đâm vào ngõ cụt và nghe tiếng cười của Huyền Vi khúc khích ở phía sau: "Rẽ lối này...". Tức là rẽ phải, rẽ phải nữa. Rồi rẽ trái... Hóa ra đã băng sang một đường phố khác, chắc là cách nơi Đạt ở không xa nhưng anh chưa tới bao giờ. Con phố này nhà cửa đứt nối, còn nhiều dấu vết của một phố nghèo, chỉ thấy lều quán và rác rưởi nhưng lại có một hồ nước sáng trắng lên trong đêm.

- Ông hàng rong vác cây đồ chơi thuở bé em đi tìm ấy, ông ta ở chỗ này. Một mái nhà lá trông ra hàng cây bạch đàn ven hồ, bây giờ thì chẳng còn gì nữa, nhưng mấy bậc đá dẫn xuống mặt nước hồ chắc chắn còn. Đây, mấy bậc đá vẫn nguyên ở đây...

Đạt đứng trên bờ cỏ, nắm lấy tay Huyền Vi giữ cho cô lần xuống theo từng bậc đá. Cô khỏa chân xuống nước rồi leo lên, nỗi xúc động vì được trở lại đúng nơi cần trở lại khiến cô quên khuấy bàn tay mình vẫn nằm trong tay Đạt:

- Em tìm thấy nhà ông hàng rong, em nói rằng em chỉ tò mò muốn biết ông làm ra đồ chơi như thế nào? Ông đồ chơi cười, thì cháu cứ xem đi! Một lúc sau ông bỗng nói: "Để ông làm cho cháu cái này, xem cháu có thích không...". Ông lấy một quả bóng nhựa, một đoạn ống giang, dán giấy mầu, tô vẽ rồi gắn chúng vào nhau, thế là thành một cô bé có cái đầu tròn vo với cái mình dài thượt. Nhưng ông gắn cách nào đó, mỗi khi lắc nhẹ cái mình là cái đầu lắc theo, cả hai bím tóc cũng ngoe nguẩy. Ngộ vô cùng. Lúc ấy em nghĩ, đây là em mình, bạn mình mà cũng có thể là mình luôn. Em ôm con búp bê ngộ nghĩnh ấy, chạy ào ra ven hồ, đứng ở đầu bậc đá, giơ cao nó lên, lúc lắc, nó cười với em và em cười với nó...

Huyền Vi nói dồn dập, cô hơi lùi xa rồi lại xích đến gần Đạt, thân thiết tự nhiên như giữa hai đứa trẻ:

- Vẫn chỉ là một câu chuyện trẻ con phải không anh? Nhưng có một ông thợ ảnh, có lẽ phải gọi ông ta là nghệ sĩ thì đúng hơn, không biết ông ta đứng chỗ nào, bấm máy lúc nào, một bức ảnh có mây soi đáy nước, bậc đá xanh rêu với hai khuôn mặt trẻ con soi vào nhau, cùng cười hồn nhiên nhất trên đời. Bức ảnh ấy được in thành tấm bưu ảnh "Tuổi thần tiên", phát hành khắp thành phố, nhiều người có lắm. Em cũng có một tấm giữ được lâu lắm. Rồi chiến tranh chống Mỹ, máy bay Mỹ ném bom vùng ngoại thành, đúng nơi em sơ tán - Em bị vùi trong đống đổ nát, còn tấm bưu ảnh của em bị cháy trong lửa bom... Biết làm thế nào! - Huyền Vi chợt ngừng, giọng cô như thảng thốt - Em đã trở về, nhất định em phải tìm gặp lại ông hàng rong vác cây đồ chơi ngày xưa. Nghe nói ông vẫn ở trong thành phố... Nhưng còn tấm bưu ảnh "Tuổi thần tiên", liệu có thể tìm đâu ra một bức còn xót lại không nhỉ?

Đạt im lặng. Bàn tay anh tìm được bàn tay Huyền Vi, nắm chặt và anh nói quả quyết:

- Anh hứa sẽ đi tìm tấm bưu ảnh cho em. Chắc chắn ở một nơi nào đó trong thành phố phải còn lại một tấm chứ!

Đạt đi tìm tấm bưu ảnh, anh đến các cửa hàng sách cũ, các cửa hàng này ở rải rác, có chỗ sách được xếp thành chồng, bày lên kệ, có chỗ chỉ là một đống hổ lốn, đầy bụi và mạng nhện. Rồi đến những nơi thu mua giấy loại, ở đây có đủ loại báo chí mới và cũ, trong và ngoài nước với đủ loại giấy tờ. Thậm chí theo lời mách anh còn cất công đi tìm mấy tay sưu tập nổi tiếng, họ có cả kho đồ vừa giá trị, vừa chẳng có giá trị gì. Tức là anh đã sục sạo gần khắp thành phố nhưng chỉ là công cốc, chẳng tìm đâu ra tấm bưu ảnh "Tuổi thần tiên". Một lời hứa không vu lợi, nhằm đáp lại ước vọng ngây thơ của Huyền Vi và của chính lòng anh, là lời hứa thiêng liêng, anh không thể bỏ cuộc - Một hôm Đạt cưỡi chiếc cá xanh hay là cá ươn ậm ạch chạy qua trụ sở tòa báo quen, anh chợt nảy ra ý nghĩ nhờ báo đăng cho mấy dòng rao vặt. Đạt ghé vào tòa báo, vừa leo thang gác đến tầng hai thì đụng phải Mánh. Có trời biết cô ta từ góc khuất nào nhảy ra, vồ lấy Đạt:

- ối mình ơi, suốt mấy ngày nay mình lỉnh đi đâu? Định ăn mảnh cái gì? Hãy khai ra!

Đạt vùng vằng:

- Thôi đi, tôi đến đây không phải để tìm cô!

- Mình không tìm tôi nhưng tôi cần tìm mình, đã sao nào. Mình đi theo tôi đến phòng cộng tác viên... - Mánh lôi Đạt đi được mấy bước, chợt cô ta dừng lại - Hay thôi, hôm nay tòa báo họp nội bộ, họ đóng khóa phòng ấy rồi - Ta xuống căng tin...

Phòng căng tin ở bên hông tầng trệt. Đang lúc vắng khách, cô hàng căng tin ngồi ngủ gật phía sau quầy. Mánh gọi cho Đạt lon bia, cho mình ly cam vắt rồi kiếm chiếc bàn kê bên cửa sổ.

- Nào, mình khai ra đi! - Mánh ngồi đối diện với Đạt, cô ta chờ đợi giây lát rồi khẽ cười gằn - Nếu mình không chịu khai thì tôi nói ra hộ mình vậy. Mình đang hóa rồ vì một tấm bưu ảnh xưa cũ được gọi là "Tuổi thần tiên" đúng không?

Đạt bật nói:

- Sao cô biết?

- Mình chạy rông khắp nơi, làm náo động cả thành phố vì cái đó, tất nhiên tôi phải biết chứ. Mình cần cái đó để làm gì tôi không quan tâm, nhưng tôi vì mình đã tìm được nó cho mình. Đây, nó đây...

Mánh rút từ trong túi xách ra tấm bưu ảnh dứ về phía Đạt nhưng chỉ vừa đủ để anh nhận ra nó đúng là "Tuổi thần tiên" thì cô đã thu nó về.

- Hãy thong thả, nghe tôi nói đã... Mình tài giỏi lắm, đã hoàn thành cái công trình điều tra xã hội học về chiếc quần bò vô cùng hoàn hảo. Nhưng cần một chút phù phép để biến nó thành mặt hàng có giá...

Thế là trong giây lát, mối ràng buộc giữa Mánh và Đạt được khôi phục trở lại. Dù muốn hay không Đạt cũng bị xỏ mũi để Mánh lôi đi. Cô ta tỏ ra sòng phẳng đến lạnh lùng: "Mình ơi, mình đang cần có cái "Tuổi thần tiên" còn tôi thì cần đến cái đầu óc của mình...". Hóa ra là công việc điều tra về chiếc quần bò Đạt đã quên khuấy, bây giờ lại quẩn lại với anh. Mánh nói rằng có một địa chỉ đáng tin cậy nhận mua bản điều tra của họ, nó được tiến hành rất đúng quy cách điều tra xã hội học, nhưng với một điều kiện là phải chế biến lại những con số. Thoạt nghe Đạt ngớ người ra, chẳng hiểu gì cả. Mánh cười vào mũi anh, anh đâu đến nỗi thiếu thông minh nhưng đành phải chẻ hoe ra vậy. Trong thành phố có mấy ông sáng kiến ra một cái công ty, gọi là Công ty môi giới tri thức có nghĩa là nó bao gồm mọi thứ nhưng chỉ là môi giới thôi. Họ kiếm được một hợp đồng với Hội đồng tư vấn khoa học, Hợp đồng này đang triển khai một đề tài về phong tục. Đúng lúc quá, chuyện quần bò đúng là chuyện phong tục rồi. Hiềm một nỗi có mấy vị rất sâu sắc và tự tin, mấy vị ấy nhất định cho rằng quần bò không đáng gọi là cái quần. Vậy ta tính sao nhỉ? Hoặc là ta chế biến lại những con số để được nghiệm thu, hoặc là cứ việc nghỉ dài dài, đằng nào hơn nhỉ?

- Tôi không biết - Đạt càu nhàu - chế biến những con số không phải việc của tôi!

- Ơ hay, thế mình định nhường nó cho ai nhỉ? - Mánh lấy từ trong túi xách ra tập tài liệu điều tra, đặt lên mặt bàn, vuốt thẳng - Thôi, đừng cù lần nữa, hãy linh hoạt lên. Ta bắt đầu rà soát từng mục, chế biến sao cho các con số của từng mục tương ứng nhau, khớp nhau, dẫn đến cái kết quả tổng hợp hoàn toàn hợp lý. Mình được học hành, có bằng cấp chuyên môn, mình nhúng tay vào chắc chắn chỉ loáng cái là xong... Sao, mình còn băn khoăn nỗi gì? - Mánh giơ tập tài liệu lên, làm như vô tình để rơi tấm bưu ảnh bị kẹp lẫn trong đó, cô đẩy tấm bưu ảnh về phía Đạt nhưng bàn tay vẫn chặn lên - Đây, cái "Tuổi thần tiên" này là của mình, chắc chắn thế, tôi với mình là một, chẳng qua tôi chỉ tạm giữ hộ mình thôi! - Mánh thu tấm bưu ảnh về và đẩy tập tài liệu sang cho Đạt - Nào, ta bắt đầu nhé...

Đạt đành tặc lưỡi:

- ừ thì bắt đầu!

Đạt không ngờ chỉ một cái tặc lưỡi, chấp nhận cho qua tình thế bị xô đẩy, đã xoay chuyển số phận anh. Chỉ trong một giờ anh ngồi chế biến những con số, thay đổi những phân tích tương ứng, ký tên vào cái bảng gọi là điều tra xã hội học về chiếc quần bò, lập tức Mánh trao cho anh tấm bưu ảnh mà anh đang cần. Ngay buổi tối hôm ấy Đạt gặp Huyền Vi ở nơi anh vẫn thường gặp, bên gốc cây xế cửa nhà và anh trao tấm bưu ảnh cho cô. Huyền Vi gần như nhảy cẫng lên, cô trở lại hồn nhiên như đứa trẻ: "A, đúng là cái "Tuổi thần tiên" của em đây rồi! Mà cũng không chỉ của riêng em. Ai chẳng có một thời ở "Tuổi thần tiên"... Anh xem, cái mầu giấy ngả vàng này người ta gọi là gì nhỉ? à, mầu thời gian... Huyền Vi giơ tấm bưu ảnh về phía quầng sáng ngọn đèn đường dọi qua tán lá cây và cái hình ảnh thần tiên trên nền giấy ngả vàng dường như khẽ rung rinh qua làn sương khói. "Em cảm ơn anh! Mai kia dù em có ở chân mây cuối trời, cứ nhìn tấm bưu ảnh cũ kỹ này, em sẽ lại nhớ về anh!". Lời nói của Huyền Vi thoảng bên tai Đạt và mãi về sau này nó vẫn còn là chỗ bấu víu của anh.

Anh đã thực hiện lời hứa với Huyền Vi, lời hứa không vụ lợi và anh sẽ ghi nhớ mãi những giây phút bên cô, được nghe những chuyện trẻ con của cô.

Một buổi tối sau đó, Đạt chưa kịp ra khỏi nhà để đi gặp Huyền Vi thì Mánh bất ngờ xuất hiện. Mánh không gõ cửa, cứ tự nhiên đẩy cánh cửa ra, bước ào vào nhà và cô nói ngay, như chặn họng Đạt:

- Lại định hỏi vì sao tôi biết cái xó mình vẫn chui rúc và cố tình giấu tôi này, hả? Thôi đi, dẹp những câu hỏi đại loại như thế đi! Tôi là khách không mời nhưng đâu tôi cũng đến. Tôi đến để báo với mình một tin vui. Cái công trình điều tra xã hội học về chiếc quần bò, mà không... phải nói là cái trò chơi láu cá của chúng mình đã được Hội đồng tư vấn khoa học nghiệm thu. Mình là chủ đề tài, tất nhiên lọt vào mắt xanh mấy vị ủy viên hội đồng. Nhưng cái gì cũng phải có thứ tự, mấy vị ủy viên đáng kính ấy chưa ra mặt đâu. Họ ủy cho cái Công ty môi giới tri thức làm môi giới, thử gập mình trước đã. Ông giám đốc công ty muốn tỏ ra có biệt nhỡn, đã cho xe đến đón mình. Xe chờ ở ngoài kia...

Đạt cảm thấy chưa sẵn sàng nhưng Mánh cứ giục cuống quýt, cô gần như áp tải anh ra xe. Chiếc ô-tô con mầu xám, nước sơn đã bạc, chắc là ông giám đốc gạ mua thanh lý được của một cơ quan lớn nhân đợt thay lứa xe đời mới. Nhưng máy xe nổ còn êm. Đạt và Mánh ngồi ở ghế sau, những lúc xe vào cua Mánh lại ngả người cọ sát vào Đạt. Đạt không hưởng ứng cũng không né tránh. Mặc cô ta. Anh quay mặt gần như gí mũi vào tấm kính cửa xe, chăm chú nhìn ra ngoài. Con đường lớn, đèn cao áp sáng xanh. Rồi xe rẽ vào con phố đèn đường thưa thớt, rợp bóng cây, trên vỉa hè có đám trẻ con đang nô đùa. Đám trẻ đuổi nhau quanh các gốc cây rồi tụ cả lại, ngửa mặt lên, nhảy cẫng lên, những cánh tay giơ cao như với cái gì đó. Một cô gái đứng giữa đám trẻ, mái tóc và khuôn mặt cô tỏa sáng trên đầu đám trẻ, và cái gì đó cô cầm trong tay (một đồ chơi, một cành lá, hay một tấm bưu ảnh?) rung rinh ở trên cao hơn. Huyền Vi đấy chăng và cô đang cầm trong tay tấm bưu ảnh tuổi thần tiên để cùng vui chơi với đám trẻ chăng? Đạt thảng thốt kêu lên:

- Dừng xe lại!

Nhưng chiếc xe đã rẽ sang phố khác, cùng lúc Mánh huých nhẹ khuỷu tay vào Đạt và cất giọng nói trơn tuột với chú lái xe:

- Ông này là nhà thông thái nên hay đãng trí lắm. Chú cứ đi đi!

Con phố này không lớn nhưng ở gần trung tâm nên rất đông vui, đèn trong các cửa hàng, quầy hàng hắt ra loang loáng. Xe dừng lại trước một ngôi nhà không có vẻ gì là trụ sở cơ quan nhưng Mánh thì đã thì thầm giải thích: "Đây là chỗ làm việc ban đêm của ông giám đốc. Có thể nói công ty ông có công việc hai tư trên hai tư giờ!". Đạt tự nhiên muốn thoái lui, anh nói:

- Hay là thôi nhỉ? Gặp ông ta để làm gì nhỉ?

- ồ, sao lại thế! - Mánh nhìn vào mắt Đạt vẻ như vừa đe nẹt, vừa van lơn - mình nên nhớ tôi yêu mình, dù mình có yêu tôi hay không, đối với tôi không quan trọng. Tôi yêu mình! - Mánh nhắc lại và đẩy nhẹ vai Đạt - Mình vào nhà đi!

Trong suốt cuộc tiếp xúc, ông giám đốc nói thao thao, còn Đạt chỉ trả lời chiếu lệ. Nhưng ông ta, cái ông giám đốc đáng kính ấy không lấy thế làm tự ái. Ông ta vẫn vồn vã, xởi lởi, lại còn đùa tếu nữa: "ồ không sao, mình được trông thấy mặt cậu thế là vinh hạnh cho mình rồi. Cậu chỉ cần nghe thôi đã đủ quý hóa lắm. Hà hà...". Ông giám đốc tiễn Đạt ra ngoài cửa, bắt tay Đạt không chặt cũng không lỏng và giọng nói của ông nhùng nhằng: "Cái công ty của bọn mình bảo nhỏ hay lớn đều được cả. Nó có mặt mọi lúc mọi nơi. Nó vô hình... Hẹn gặp lại, còn bây giờ thì cậu cứ việc đi đi!". Chiếc ô-tô con mầu xám, nước sơn đã bạc vẫn đỗ lù lù bên đường nhưng không thấy chú lái xe. Không thấy Mánh. Chỉ một mình Đạt đứng trơ. Anh đành cuốc bộ về nhà.

Thành phố này Đạt đã thông thuộc nhưng giữa đường trời bỗng đổ mưa khiến anh bị lạc. Cơn mưa lớn, bất ngờ xối nước xuống ào ào, nhiều quãng phố bị tắt mất đèn đường, những vòm cây ướt sũng bị gió quật tơi tả, lại nghe đâu đó tiếng cành cây bị vặn gãy răng rắc. Đạt bị ướt sũng, dù có dừng lại trú mưa cũng chẳng ích gì, thà cứ liều xông đi. Phố xá quen mà lạ, nổi chìm trong mưa đêm. Có ai đó ở phía trước, lúc nhòa lúc tỏ. Đạt nhận ra hình bóng Huyền Vi đồng thời anh tự nhủ, chẳng qua anh tưởng tượng ra thế, nhưng đúng là hình bóng Huyền Vi đang dẫn dắt anh. Chợt đến lối rẽ, Đạt đang phân vân bỗng nghe bước chân ai đó ở phía sau, anh quay nhìn lại, tất cả đều tối thui, chẳng nhìn thấy gì nhưng cũng rõ ràng anh nhìn thấy Mánh, chỉ là cái hình bóng chập chờn của Mánh bám theo anh. Đạt chạy ào qua đường... cứ thế Đạt định đi theo đường tắt mà hóa ra đi đường vòng, mãi khuya mới đội mưa về đến nhà. Anh vội thay quần áo nằm vật ra giường, lên cơn sốt mê man.

... Bây giờ Đạt đã trên 50 tuổi là một chuyên gia trong lĩnh vực của anh, thường lên thuyết trình trong các cuộc họp của giới chuyên môn, thỉnh thoảng còn lên bục giảng cho sinh viên các trường, coi như "giáo sư" chờ. Anh đã chuyển nhà và có vợ con đàng hoàng. Nghĩa là anh sống như mọi người, ở giữa mọi người. Nhưng có đôi lúc chỉ mình với riêng mình thôi, Đạt lại tự hỏi: "Mình là người thế nào nhỉ?". Hiển nhiên mình là người tốt, chỉ có điều do những thúc ép thực dụng trong cuộc mưu sinh, mình đã làm những việc không nên làm, thậm chí cả việc xấu. Câu trả lời đến với Đạt khi anh nhớ lại trận mưa hơn hai mươi năm trước, với cái bóng mờ ở phía trước và phía sau anh, nó vẫn còn đó như một thách thức định mệnh của đời anh./.

Đứa con trở về và
Khách không mời đã đưọc mang vào thư viện
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Cây bồ kếp hoa vàng


Ma Văn Kháng


Lại có thư của Phúng bạn tôi từ Buôn Ma Thuột đất Tây Nguyên gửi ra. Lại vẫn là những dòng chữ gần đây bỗng líu ríu nét nọ lẫn nét kia, viết trên mảnh giấy rìa lờm xờm vết xé từ vở học trò. Cầm thư mà hình dung ông bạn mình vừa từ ngoài đồng ruộng bước vào nhà, đầu vẫn nguyên cái mũ lá rộng vành, trên người độc cái quần xà lỏn, uống xong bát nước chè lớn, khoát bàn tay to sều chai sần vì cày cuốc, bảo thằng con út mười ba tuổi đang ngồi học ở góc nhà: "Ê, cún! Cho bố mượn cái bút và cuốn vở, bố viết cái thư nào!". Nếu nhân loại có những người mang tiếng là hay bi quan, lại có người được tiếng là lạc quan hơn người, thì Phúng bạn tôi thuộc hạng người sau.

Lại na ná như trước, khoe đất đai tươi tốt, công việc thịnh đạt, đàn địch thì ít động tới, còn thơ ca hò vè thì dăm bữa nửa tháng lại có một bài, nhưng lần này Phúng giục tôi thu xếp vào chơi. Vào chơi mà xem Phúng đang vào vụ thu hoạch. Vào mà xem cà-phê mùa này trĩu trịt cành la cành bổng, thu hái xong ước trên một tấn. Ngô giống mới bắp dài hơn gang tay bẻ về vàng rực cả khoảng sân rộng trước nhà. Bao tải, thúng, địu căng ních, đầy phè rồi mà đậu xanh chưa đập vẫn còn chất mấy đống lớn ngoài hiên. Vào mà xem cả một vạn thước vuông đất đỏ hồng xuê tơi sau mưa bạc trong nắng vàng. Đàn gà ba trăm con, đỏ ối cả vườn cây ăn quả toàn lê, táo, đào, mận, cây nào cũng ngùn ngụt như đám lửa đang bốc ngọn. Cuộc sống rõ ràng như chính lệnh, cây cối, sản vật, muông thú vật nào ra vật ấy, còn con người thì tự hiển lộ, có cảm giác được tôn lên thành đấng bậc, sánh cùng cái lớn lao như vũ trụ, tự nhiên mà chẳng cạnh tranh ai!

Từ miền bắc, Phúng dắt díu vợ con vào vùng đất Krông Ana này ngay từ sau ngày thống nhất đất nước. Cũng là điều cực chẳng đã mà dấn thân liều lĩnh vào cuộc phiêu du. Cực chẳng đã vì lương anh giáo quèn không nuôi nổi cô vợ trẻ với ba đứa con đẻ ba năm liền. Lại thêm những eo sèo rắc rối, những định kiến chật hẹp trong các mối quan hệ. Còn liều lĩnh là bởi mới chỉ là nghe nói mà tin đó là vùng đất lành, đất vàng đất bạc, chứ đâu đã mục sở thị. Phúc thay cho những kẻ không trông thấy mà vẫn hằng tin! Anh giáo được chia cả một vùng đất rộng hơn hai chục héc-ta. Tất nhiên chỉ là đất hoang. Nhưng quả nhiên như trời sinh vạn vật bằng hiếu đễ, đất nuôi vạn vật bằng ăn mặc, thấm thoát trong vòng có dăm năm, cái gia đình anh giáo ấy đã vượt qua cảnh đói nghèo, bước sang thời kỳ thăng hoa, tròn đầy trong no ấm, sởn sơ, dư dật.

Đọc thư Phúng mà mừng cho Phúng. Con người nhất thiết phải được sống trong no đủ cái đã. ấy thế! Nhưng mừng cho bạn mà không khỏi ngờ ngợ. Ngờ ngợ lắm. Vì ông bạn mình, từ thuở thiếu thời sống với nhau, và ngay trong những lá thư nao nức khoe khoang sự thành đạt trong công cuộc làm ăn, nét chữ thì rối rít, ngôn ngữ thì ồn ào, mà cốt cách vẫn không phải là kẻ chí thú làm ăn, vẫn không phải là người để cả tâm lực vào miếng cơm, manh áo, đồng tiền. Ngờ ngợ lắm. Vì cảnh trong thư như từ bàn tay vẽ ra, hư thực lẫn lộn, sinh thành nuôi dưỡng nhau, như cái hiện thực thứ hai, sản phẩm của một đầu óc lãng mạn, chứ không phải cảnh đời thật nó là như vậy.

Ngờ ngợ lắm. Vì tháng bảy năm ấy liên tiếp mấy thư liền. Không kìm giữ được nữa, Phúng cho tôi biết kế hoạch làm ăn mới của mình và ráo riết giục tôi hãy nghĩ lại, hãy bỏ mảnh đất Thủ đô chật chội vào đây, chung sức với anh. Hai mươi héc-ta đất đã có sổ đỏ của Phúng sẽ biến thành một trang trại kiêm vùng du lịch sinh thái. Chà! Phúng sẽ chặt hết cây ăn quả. Phúng sẽ trồng cỏ nuôi bò. Tính ra nếu cứ ba mươi cân cỏ cho một cân thịt bò thì Phúng sẽ nuôi được hai trăm con bò. Phúng sẽ đào hai cái hồ lớn, một cái mười héc-ta, một cái năm héc-ta. Và theo khoa học, một mét nước cho một cân cá thì sẽ cơ man nào là cá. Nhưng cá ấy không để ăn, không để bán, mà là để nuôi cá sấu. Cá sấu! Trứng cá sấu ấp ba mươi quả, nở hai mươi tám. Một tháng tuổi giá đã một chỉ vàng một con... Còn một đôi sấu lớn hết cỡ, chừng một sải tay, giá những mười hai cây vàng. Chưa hết! Phúng sẽ trồng tre trên mấy quả đồi. Để trồng tre sẽ thuê máy đào lỗ của Pháp, giá thành chỉ năm trăm đồng, bằng giá một chén trà, một lỗ thôi. Khách du lịch sau khi thăm nơi nuôi cá sấu sẽ về nghỉ dưới bóng tre và thế là:

Ngày xưa theo mẹ hái măng
Giờ trồng tre mới phải chăng đỡ sầu.
Cây tre nào cũng cúi đầu
Che sương giá lạnh lá trầu thêm xanh.
Măng non khỏi bị nắng hanh
Bên nhau cùng mọc mai thành bụi to.
Cò ơi mày chớ có lo!
Tre ta ấm bụi nhà cò ấm hơn
Rúc ra rúc rích bầy chim
Võng đưa ta ngủ nổi chìm giấc mơ (*)


Ôi! Nhưng vần thơ mộc mạc, giản đơn mà dồi dào cảm xúc của bạn tôi!

*

Chúng tôi cùng dạy với nhau ở một trường cấp hai huyện miền núi Xín Chải. Xín Chải, cái tên chẳng gợi một khái niệm rõ rệt, một ấn tượng nào. Nó cũng mờ nhạt cũng như cái trường cấp hai vẻn vẹn ba chục học trò, hai anh giáo cùng một cô giáo tên Dự của chúng tôi. Cô Dự hồi đó tuổi ba mươi, hơn chúng tôi sáu tuổi. Cô người Hà Nam theo gia đình lên đây khai hoang từ đầu những năm sáu mươi. Vóc mập mạp thôn nữ. Nhưng cô có khuôn mặt xinh xắn. Cô dạy thể dục và nữ công. "Các em chú ý. Khi ta uống rượu, rượu vào thẳng máu. Thở cũng vậy. Ô-xy vào thẳng máu. Xem thế đủ biết thở quan trọng như thế nào!". Đó là bài học cô đã dạy học trò và dạy luôn cả tôi và Phúng. Tôi dạy các môn khoa học xã hội. Phúng dạy các môn khoa học tự nhiên, biết chơi đàn và sáng tác thơ ca. Vóc thấp đậm, vai xuôi. Mặt tròn, mũi cao, mắt sáng, tóc xõa gáy. Ngày đến nhận việc ở trường, vai đeo ba lô, tay Phúng xách hộp đàn vi-ô-lông. A! Nghệ sĩ vi-ô-lông! Phố huyện xôn xao. Chẳng nề hà, cân nhắc điệu đàng, nghệ sĩ ra mắt luôn công chúng tắp lự. Chủ nhật ấy, dân phố và kẻ mua người bán vây quanh cái sân khấu mới dựng ở giữa sân chợ nghe loa phát bản tin cổ động bầu cử Hội đồng Nhân dân hai cấp xong là nghe Phúng cò cử cây nhị Tây bản nhạc Làng tôi xanh bóng tre.

Phố huyện chỉ là hai dãy nhà gianh áp mặt vào nhau, dài hơn trăm thước. Một cái loa hai nhăm oát mắc ở ngọn cây gạo đầu phố đủ cho cả phố nghe tin tức và tiếng đàn cò cưa của Phúng. Tình thân ái vừa mang tính cổ truyền nơi phố huyện vừa là nền nếp gần gụi trang nhã của nghề dạy học, càng dư thừa điều kiện nẩy nở, nên quan hệ giữa anh giáo và người phố huyện càng mau chóng trở nên thân mật. Thân mật lắm. Thân mật đến mức suồng sã. Đến mức gặp anh giáo đi chơi phố, có thể dúi ngay vào tay anh giáo cái bánh tẻ, phẩm oản, quả chuối hoặc gọi ra một chỗ ghé tai tưởng nói gì quan trọng, hóa ra hẹn chủ nhật tới này mời anh giáo đến đụng một góc cầy tơ. Phúng hoạt bát, quảng giao, hòa hợp với cuộc sống hồn nhiên chất phác nơi huyện nhỏ. Quen thân với tất cả mọi người. Nhiều lần, anh còn mượn được cả ngựa cả súng săn của gia đình học trò đi chơi, đi săn trong rừng.

Phố huyện Xín Chải nhỏ teo. Nhất cử nhất động của mỗi nhân vật ở đây đều được nhân lên thành bội số theo quy luật khuếch đại. Trên quả đồi sau phố có cái nhà thờ Ki-tô giáo đổ nát từ thời Tây, gần đây khi có thêm giáo dân từ miền biển Nam Định, Thái Bình lên khai hoang mới được dựng lại. Cũng chỉ là một gian nhà gỗ và một tháp chuông nhô cao mái nhọn hoăn hoắt bằng gỗ pơmu thôi. Nhưng tiếng chuông nhà thờ ngày hai buổi sáng chiều nhắc nhở con chiên đến giờ kinh nguyện cũng theo quy luật khuếch đại, nên sang sảng văng đảo, âm âm, inh inh trong mỗi căn nhà, mỗi hồn người.

Đó là những ngày sống vui vẻ nhẹ nhõm nhất trần đời của chúng tôi. Chẳng vướng bận, lo âu. Cũng chẳng có gì phải khắc khoải dằn vặt. Sáng lên lớp, chiều soạn bài. Tối họp hành với bà con hoặc thăm nom học trò. Cơm ăn ngày ba bữa có Dự nấu giùm. Lương thực thực phẩm được cung cấp theo tem phiếu. Mỗi năm năm mét vải đủ may một bộ cánh mới. Dưới vòm trời phố huyện miền núi, trôi đi trong êm đềm một đời sống tự nhiên thuần phác, xa cách hẳn sự vật lộn nhọc nhằn.

Chủ nhật mỗi tuần là những ngày thần tiên. Leo lên mình hai con ngựa thồ tầm thấp xấu mã và hiền lành, trên vai nghềnh ngàng hai khẩu súng kíp mượn của dân, chúng tôi thoát khỏi lốt những anh giáo xoàng xĩnh phố huyện, biến thành những chàng kỵ sĩ, những trang đại hiệp rong ruổi trong các khu rừng gần xa.

Phúng, tất nhiên là anh chàng khởi xướng ra những công cuộc này, Phúng truyền dẫn sang tôi niềm say mê và tình yêu cuộc sống giữa thiên nhiên. Hóa ra ông trời ăn ở cũng không đến nỗi thiên vị. Mảnh đất xa xăm tưởng là hoang vắng, buồn tẻ mà đâu có thiếu niềm vui. Bồ đề, gu đay, thành ngạnh chen cành nơi vùng rừng thấp vào độ thu sang ràn rạt tiếng vẫy cánh của bầy chim câu béo nục. Trên cao hơn, nơi sa mộc xanh như những bụm khói đặc và các giống thông thơm hắc mùi tinh dầu vu vu gió thổi là nơi con sóc đuôi bông nhảy nhót, truyền cành. Viền một vệt dài cạnh cái thung lũng hình lá đào là rặng doi cổ thụ mùa này lất phất bay cả ngàn chùm hoa bông trắng ngà hình chiếc đuôi chồn. Buộc ngựa ở cửa rừng, chúng tôi rẽ lau lách trước hết tìm đến con suối len lỏi giữa hai lèn đá. Giơ súng lên, Phúng lại chúc nòng xa rời điểm xạ, trong làn nước trong leo lẻo, có đàn cá chép đỏ hồng đang phất đuôi, múa vây, vô tư lượn lờ, đẹp như tranh vẽ. Ngẩn ngơ một lúc, Phúng lại kéo tôi đi. Tháng bảy trong những thung lũng nhỏ đã quang quẻ bóng lúa, lúc này đang dày đặc bóng con chim cu cặm cụi nhặt tóc rơi. Chim cu đi cả bầy, hàng trăm con. Nhưng từ trên cao nhìn xuống vùng ruộng xam xám mầu chân rạ chỉ thấy những cái đầu gật gật và tim chúng tôi dường như thót lại vì chợt vọng lại bên tai tiếng chân bầy chim chuyển vừa hối hả vừa rụt rè trên mặt đất.

Đoàng! Đoàng! Hai phát súng kíp nổ vang khoảng trời đẹp, phá vỡ yên tĩnh đang được nâng niu trên cả một vùng núi đồi. Buông súng, ngửa mặt nhìn trời, chúng tôi nhìn thấy những cánh chim vẫy đập loạn xạ, hốt hoảng nghiêng ngả, chòng chành. Lạ thay, bốc bay lên cao, cả trăm con chim vẫn trong tư thế bầy đàn và chỉ sau ít phút khiếp đảm, kinh hồn, đã lấy lại bình tĩnh nhanh chóng tạo thành một vùng lượn mềm mại, rồi quay tròn, cuối cùng đổ nghiêng xuống khu rừng lúp xúp bụi cây tầm thấp ở phía bên kia, đối diện với chúng tôi. "Chúng biến đâu mất rồi!". Nhổm dậy, Phúng kêu khe khẽ rồi đưa mắt kiếm tìm. Hai chúng tôi xách súng lom khom vượt qua mấy tràn ruộng vừa nãy đầy bóng chim. Gặp một bờ ruộng cao, chúng tôi nằm phục xuống, giấu mình và nhận ra bầu trời trên đầu mình bỗng nhiên ắng lặng như cõi vô hồn.

Không! Đàn chim cu không biến đi đâu hết! Cả tôi và Phúng đều đã nhìn thấy chúng. Rìa thung lũng bên kia, cạnh một thửa ruộng lớn ở chân bìa rừng, như từ trong chiêm bao, như được hưởng phép màu nhiệm, một cây bồ kếp cổ thụ vừa hiện ra. Cây bồ kếp thân lớn tày ôm, lá óng ánh sắc vàng kim khí, chóp nhọn đang giang cành mời mọc. Như những con thằn lằn, hai chúng tôi thận trọng bò tới. Rồi không ai bảo ai, chúng tôi cùng lật ngửa người trên mảnh ruộng dưới chân cây bồ kếp nọ. Và lập tức có cảm giác cả hơi thở của mình cũng biến mất trong khoảnh khắc. Im lặng đã được đổi lấy im lặng tuyệt đối, vĩnh hằng. Im lặng như cõi vô thanh. Đàn chim cu cả trăm con hiển nhiên đã biến thành tượng đá, ngậm mỏ, im phắc trong sự chở che hào hiệp quạnh hiu và bí ẩn của cây bồ kếp già trông xa hệt như kim tự tháp nhưng long lanh ánh vàng.

Ôi! Chúng tôi vừa bắt gặp điều siêu thường, xuất thế. Hòa tan vào cảnh quan kỳ lạ, trong trạng thái tôn thờ, ngưỡng vọng, chúng tôi đã bắt gặp cái phân tâm của tâm hồn mình. "Cây gì mà đẹp đẽ, lạ lùng đến thế kia! Domine non sum dignus. Ôi! Đức chúa trời, con không xứng đáng!". Mắt khim khíp, môi Phúng bỗng lật bật run rẩy. Một hạnh phúc trần thế và cao siêu, đã đạt tới là đây và thế là chẳng còn gì để nói với thời gian nữa rồi ư? Đó là những ngày Phúng bắt đầu yêu, và được yêu.

*

Khoảng khắc thần tiên ấy thật sự khó hiểu với hệ diễn giải thông thường và mong manh quá. Vì chẳng bao giờ, chúng tôi còn gặp lại được nó nữa rồi. Chủ nhật sau đó, Phúng dậy sớm, nháy mắt bảo tôi: "Tớ đi đằng này cái nhé". Rồi xách cái hộp đàn đựng cây vi-ô-lông đi. Buổi trưa, Dự lên buồng tôi, vẻ hớt hải khác thường.

- Anh có biết Phúng đi đâu không?

- Chắc là đến một gia đình học sinh nào.

- Học sinh nào?

- Hay là đến nhà cô Tâm ở xóm Tân Lập?

- Tâm!

Mặt Dự tái nhợt. Chỏm gò mũi Dự lấm tấm mồ hôi. Tình yêu như rượu, như ô-xy hít thở vào thẳng mạch máu, tác động ngay đến cơ thể con người. Dự từ lâu đã thầm yêu Phúng. Cô giáo không thể chịu đựng nổi khi ở lớp Phúng dạy xuất hiện một nữ sinh như Tâm. Tâm ở trong đám học sinh từ Hải Hậu, Nam Định lên khai hoang mới nhập học. Một thiếu nữ đã nảy nở trọn vẹn ở tuổi mười bảy. Dong dỏng cao. Mái tóc dài óng mượt. Gương mặt trái xoan với cặp mắt nai hay nhìn xuống, cho ta ấn tượng đậm đà về vẻ nhu mì, mộ đạo, khác hẳn cái cảm tưởng khi ta nhác thấy cây thập tự bằng bạc buông từ cái cổ nõn nà xuống khuôn ngực trinh nữ tròn trịa nén căng nhục cảm sau làn áo mầu mận tím của cô.

Ngồi xuống, thở hắt ra, cô giáo ôm mặt nức nưởi:

- Không đến nhà Tâm, nhưng cũng là đến với Tâm. Anh Phúng anh ấy đến kéo đàn ở nhà thờ đấy, anh ơi!

Dừng lại, rồi ngoảnh mặt đi, nước mắt chan chan, Dự nghẹn ắng:

- Em sợ nhất là anh Phúng chấp nhận làm lễ cưới Tâm ở nhà thờ. ở đây, huyện ai người ta cho phép thế. Anh ấy dại dột mà không biết mình dại dột, anh ơi.

Dự đã không quá lo xa.

Dự đã dự đoán vì đã nhận ra tính tình anh giáo Phúng. Phúng, cái bản tính hồn nhiên, ưa thích phiêu lãng, niềm say mê vẻ đẹp đẽ, cao quý sơ khởi. Phúng đã yêu Tâm cô bé học sinh lớp 7 xinh đẹp, con chiên ngoan đạo và từ đó chủ nhật nào cũng đến kéo đàn cho tốp trinh nữ trong nhà thờ Ki-tô giáo nọ tập hát những bài thánh ca. Tình yêu giống như rượu nặng, chẳng thể giấu giếm được. Huống hồ ở nơi phố huyện chật hẹp này. Biết làm sao được, khi theo quy tắc cổ điển, mọi thể chế xã hội từ trước đến nay chưa bao giờ biết vượt ra khỏi sự hạn hẹp của mình, luôn tỏ ra khôn ngoan, bằng bản năng, đã biết tự vệ cho lợi ích của mình. Đám cưới anh giáo Phúng lấy cô học trò tổ chức trong nhà thờ có vị linh mục làm phép bí tích. Đó là một đêm giá lạnh. Hai dãy nhà phố huyện thiêm thiếp dưới làn mưa rây xám mờ. Văng ra từ ngọn tháp nhà thờ le lói ánh bạch lạp là tiếng chuông mừng lanh lảnh và âm u, mịt mờ.

Đã mất đi rồi cái linh hồn tươi tắn, ngày tiếp ngày lúc này là những nỗi niềm nặng nhọc nối theo nhau.

Phúng về ở nhờ bên nhà vợ, tít tận xóm Tân Lập, cách huyện lỵ bảy cây số. Gặp nhau sau giờ lên lớp, nghĩ bạn mình có lỗi lầm gì bị phê phán công khai đâu mà sao cứ ngượng ngượng ngập ngập, lúng ta lúng túng như tiếp xúc với kẻ bị kết án trọng tội. Còn bạn thì như có điều gì ám ảnh không yên, nên cố tình lảng tránh, dạy xong là vội vội vàng vàng nhảy lên cái xe đạp tàng, hấp tấp đạp về.

Hóa ra điều khó khăn nhất của cuộc sống là lại ở chỗ phải đối mặt với những người chung quanh mình. Buồn thay, đó cũng lại là cái bí ẩn, không thể biết của cuộc sống. Phúng chểnh mảng dần việc dạy học. Tiếp đó, thay cho những chủ nhật đi bắt cá săn chim, giây phút xuất thần, sống ngoài trần thế hiếm hoi là những ngày Phúng trằn mình trong lao động khổ sai: chặt gỗ, hái củi, đánh gianh, nhặt trám, lấy măng đem bán ở chợ huyện. Bịt cái khăn rằn trên đầu theo kiểu người Giáy. ẽo ẹt gánh đôi sọt giang đến khu chợ gần. Hoặc lóc cóc theo con ngựa thồ đến những chợ xa hơn, hạ nạng thồ xuống, ngồi bên hai cái hũ sành nút lá chuối, ngước hai con mắt lờ ngờ lên, cất tiếng khàn khàn: "ờ! Cán bộ mày mua rượu đi! Rượu nấu bằng men lá, ngon lắm vớ". Dù là nhại lại giọng người Giáy, người Tày, theo thói quen quăng mình vào cuộc phiêu du bất tận, hoặc giả ngô ngọng đánh lận con đen thì cuối cùng cũng là vô tình thực hiện bước ngoặt đời người, biến mình thành kẻ khác.

Tuy nhiên, nói cho cùng thì rồi ai cũng có bước ngoặt của đời mình. Đối mặt với những người chung quanh, chống lại cái trật tự của hoàn cảnh chẳng phải là công cuộc của riêng Phúng. Chúng tôi lần lượt chia tay phố huyện nhỏ và ngôi trường phổ thông như đứa trẻ còi cọc, dẫu thêm tuổi đời vẫn lèo tèo mấy chục học trò, vài ba thầy cô giáo. Đầu tiên là cô giáo Dự. Sau đó là tôi. Dự thấm thoát đã ba mươi tám tuổi đời. Soi gương đã giật mình vì thấy đuôi mắt nứt kẽ. Một hôm đến tôi, bịt miệng rồi vẫn bật khóc tu tu: "Em đã đến nỗi nào mà ông Xủy, Chủ tịch Mặt trận huyện đánh tiếng hỏi làm vợ kế". Ông Xủy bảy mươi tuổi, mới góa vợ, cao lểu đểu, mắc bệnh vẩy nến, da dẻ mặt mũi chân tay lúc nào cũng chong chóc đỏ hỏn, hay cười ngỏn nghẻn, khoe: bệnh này không chữa được, không lây nhiễm, không gây chết người, khi đặt vấn đề tái hôn với cô giáo lỡ thì ở phố huyện.

- Anh ạ - Gạt nước mắt, Dự tâm sự - Em nhớ, hồi ấy em mười hai tuổi. Một hôm có một bà bạn đến chơi với mẹ em, bà dẫn theo anh con trai của bà hơn em chừng năm sáu tuổi. Trông anh ấy mặt mũi cũng khôi ngô, từa tựa như Phúng trường ta. Anh con trai thấy chiếc ghi-ta của bố em thì cầm lên đàn. Cũng như anh Phúng, anh ấy cũng có khiếu âm nhạc. Tiếng đàn nghe rất hay. Thấy em lắng nghe, anh ấy hỏi: "Thế em học lớp mấy?". Em đáp, em học lớp sáu. Anh ấy bảo đem sách toán cho anh xem. Chỗ nào không hiểu anh giảng lại cho, vì anh là cây toán của lớp. Tại sao anh ấy săn sóc em thế? Thì ra là hồi tản cư, gia đình em và gia đình bà nọ ở cùng nhau trên Chiêm Hóa, Tuyên Quang. Hai gia đình đã hẹn dựng vợ gả chồng cho em và anh ấy từ lúc chúng em còn bé tí. "U hẹn thì u đi mà lấy người ta!". Xấu hổ và ức quá, em gắt với u em như thế.

Dừng lại, mắt đỏ hoe, Dự sụt sịt ai oán:

- Thế mà bây giờ gần bốn chục tuổi rồi, em một mình lẻ bóng. Em phải xin về xuôi thôi. Đồng rừng này không phải là đất của đàn bà con gái chúng em.

Đất này là đất của đàn ông. Vùng hoang dã này lúc nào cũng khuyết trống sức người. Chỉ có điều, đàn ông bỗng trở thành những kẻ chẳng còn được chút quyền lực nào với chính mình. Phúng mau chóng trở thành một gã lực điền thực thụ chỉ hùng hục trong lao động thổ mộc. Lao động, sản ra công, tạo ra hiệu quả kinh tế. Cắm đầu vào đất đai, công việc, ngoài ra chỉ còn thú vui đàn ông là làm chồng một cô vợ trẻ ham hố vô cùng chuyện chăn gối. Vì thật tình, chung quanh là trống không, trống không đến triệt để và tĩnh mịch nuôi dưỡng nhục cảm màu nhiệm hơn bầu không khí ồn ào sôi động rất nhiều lần.

Những ngày ấy và bóng hình của chúng kết tinh ở Phúng sau này trở đi trở lại nhiều lần trong câu chuyện đôi hồi của tôi và Dự. Dự hóa ra do trục trặc giấy tờ mà phải rời khỏi Xín Chài sau tôi. Bốn mươi ba tuổi nàng mới lấy chồng. Chồng nàng là một người đàn ông năm mươi tám tuổi mắc bệnh vô sinh, nhưng tráng kiện và máu mê. Ông khiến cho Dự kinh sợ đời sống tình ái vợ chồng. Vào thời kỳ tiền mãn kinh, nàng li dị chồng. Sống độc thân, trong một ngõ nhỏ vô danh ở thành phố, nàng càng ít bè bạn nên càng năng đến chơi với gia đình tôi.

- Anh không thể tưởng tượng được đâu. - Dự nói tiếp về Phúng: - Về sau, nếu gặp anh cũng không thể nhận ra được Phúng đâu, anh ạ. Nhất là khi anh ấy đi làm thợ sơn tràng.

- Làm thuê cho người ta?

- Thì thế. Làm thuê cho bọn khai thác gỗ lậu. ở vùng núi đá Đản Khao ấy. Trời, tóc anh ấy để dài đến ngang vai. Mặt tróc hết da loang loang lổ lổ như lang ben. Anh ấy kể: núi đá toàn nghiến, đinh. Nhưng một tấc gỗ là một bát máu. Vì hạ được cây gỗ rồi còn cắt, gọt, rồi bắn, cậy, bẩy chán mới ra được cửa rừng. Thế mà còn phải đến non nửa số gỗ bị kẹt trong khe đá, rơi xuống vực không lấy được. Trong rừng tối u u. Chỉ nhìn thấy hai con mắt người là sáng như mắt thú. Thảng hoặc có thấy ngưa ngứa ở châm, cúi xuống tuốt hai chân thì hai bàn tay giơ lên thấy đỏ lòe máu muỗi hút của mình. Hai bàn tay máu, chứ làm gì có đàn địch với thơ ca nữa.

- Khổ!

- Khổ lắm! Chứ còn được phát nương, cày ruộng còn là sướng. Trông anh ấy mới thấy thương. Nào người có ra người. Phiên chợ, đem gỗ ra bán, đến chơi với em. Có lúc ngượng ngập, ứa nước mắt, định nói rồi quay đi. Giờ thì đã muộn rồi. Ông trí thức lại sống với cô nông dân. Mà cái cô này nó mới gớm ghê. Nó vắt kiệt sức lực của anh ấy.

Nghe trong giọng nói của Dự thấy cả nỗi ghen tức lẫn niềm xót xa. Một cô vợ trẻ năm này sang năm khác chỉ liên tục chửa đẻ nạo hút. Ba đứa con gái ốm đau sài đẹn liên tục. Lại đèo thêm ông bố vợ tám mươi tuổi điếc lác mù lòa. Lấy cái gì mà ăn mà không đi Tây Nguyên.

Với hoàn cảnh sống ấy, Phúng không thể không đi Tây Nguyên. Tuy nhiên, kỳ lạ thay, niềm tin tưởng rằng trong bất cứ sự việc nào, ở nơi sâu thẳm của nó cũng có một sự thật ít được biết tới, đã chi phối suy đoán của tôi và đã tỏ ra là đúng trong trường hợp này. Cuộc chuyển cư đi Tây Nguyên của gia đình Phúng, dẫu thế nào cũng vẫn phảng phất một cuộc viễn du tinh thần, nhằm giải tỏa một ẩn ức, và có tính chất kiếm tìm. Phúng, gã đàn ông đang tìm cách hòa giải với định mệnh.

Tháng mười năm nay, suy đoán của tôi đã có cơ hội được kiểm nghiệm. Vì sau bao năm trời xa cách, Phúng bằng xương bằng thịt đã hiện diện ngay trước mắt tôi đây. "Phúng đây! Phúng đây, có còn nhận ra tớ không?". Nghe tiếng đập cửa và tiếng gọi, tôi vội chạy ra mở cổng, Phúng đây thật rồi. Phúng với đôi chân chạng nạng, thập thễnh đang từ cái cổng gạch nhà tôi bước vào. Một khuôn mặt xương xẩu lút trong mớ tóc xõa bạc xác. Một bên vai trĩu nặng cái túi quần áo xanh bạc cũ kỹ. Một bàn tay để ngửa, với những ngõn tay chai sần cứng queo.

Con người lạc quan là con người tự coi mình là lớn, sánh vai cùng ba cái lớn trong vũ trụ là Đạo, Trời, Đất. Sách vở nói thế. Những lá thư của Phúng tự họa mình thành một đấng bậc như thế. Còn bây giờ thì hình như không phải thế. Đã bị đánh quỵ hoàn toàn rồi. Đã gặp phải cái ngặt nghèo của hoàn cảnh. Đã biến thành một kẻ thân tàn ma dại nạn nhân của thói lãng mạn, viển vông. Đã mệt mỏi, tiêu điều cạn kiệt và bệnh tật đầy mình. Cả đến những ngón tay. Chúng như những chiếc càng cua đã chết. Chúng không đủ sức co lại để ôm chén trà tôi đưa, chứ nói gì đến đàn địch. Hèn nào mà những dòng chữ viết trong thư của Phúng cứ ríu lại nét nọ lẫn nét kia, những dòng chữ miêu tả niềm vui cao cả lớn lao.

- Ra Hà Nội từ hôm nào?

- Mới. Nhưng rời Krông Ana thì đã năm tháng rồi.

- Thế đã đi những đâu?

- Lang thang khắp. Quảng Bình, Quảng Trị, Thanh Hóa, Nghệ An, Nam Định. Thỉnh thoảng, gặp một đứa học trò nó mời về quê nó chơi. Rồi tạt về quê mình. à, mà cho tớ tắm cái đã rồi kiếm cái gì vào bụng đi. Tớ đói và mệt quá rồi!

Vợ tôi từ trong buồng gọi tôi vào nghe điện thoại, kỳ thực tôi vừa vào đã níu lấy tôi, thì thầm riết róng:

- Này, có phải lão Phúng ông và bà Dự hay nhắc đến đấy phải không? Rõ khiếp. Gọi cửa gì mà thô lỗ thế. Họ hàng ân huệ gì mà đòi hỏi như ông tướng ấy. Người với ngợm gì trông khiếp quá. Vừa bẩn thỉu, cô hồn lại đờ đẫn như mắc bệnh tâm thần. Còn giọng nói, có để ý không, ngọng líu rồi. Mà em báo trước, lão ấy đến nhà mình là ở lại đây ăn vạ đấy.

- Ai bảo cô thế!

- Thì bà Dự có lần đến chơi, ông đi vắng bà ấy bảo chứ ai bảo. Vợ nó bỏ rồi. Mây gió lắm. Hâm lắm. Con vợ nó có nhân tình từ hồi ông và ông ấy dạy học ở tít tít trên Xín Chải Xín Chung gì ấy cơ. Thế nên mới chuyển vào Tây Nguyên. Viển vông lắm. Con cái nó cũng không chịu được. Mà bị xuất huyết não một lần rồi đấy. Xuất huyết rồi nên người nó mới ngẩn ngơ thế. Giờ thì lang thang. Cô Dự cô ấy bảo: Thư cho cô ấy lúc nói địa chỉ là nhà một cô giáo ở Quảng Bình. Lúc địa chỉ là một bà bán cá ở chợ Rồng.

Tôi sụt hẫng cả người vì kinh ngạc và hoang mang. Nhưng nghe tiếng Phúng gọi, vội bước ra phòng khách. Vừa tắm xong Phúng đang lắc cái đầu cho nước trong tai ộc ra. Và ngồi xuống đi-văng, kéo cái túi đựng quần áo xanh bạc, bàn tay với những ngón tay cứng đơ khó nhọc lắm mới lôi ra được một cuốn vở học trò nhàu nát, quăn queo, Phúng mấp máy môi:

- Ông... ông... nghe mình đọc... một bài thơ nhé.

Hai con mắt Phúng lấp lánh như vừa được tiếp nhận một nguồn thần quang từ nơi sâu thẳm phát ra. Cặp mắt say đắm, xuất thần, ngưỡng mộ, tôn thờ, không có một dấu hiệu mệt mỏi, bệnh tật nào. Nhưng tiếng nói của Phúng thì bây giờ tôi mới nhận ra, thật sự đã ngọng nghịu hẳn rồi. Ngọng nghịu hẳn rồi, nghe dài dại lắm, nên vừa dõi theo vừa phải đoán chừng. Đã vậy mỗi tiếng phát ra lại là một nỗ lực phi thường vì nó quá nặng nhọc, khiến mặt Phúng tím đỏ lên như cơn áp huyết.

- à, mà cậu... chưa biết nhỉ? - Phúng ngập ngừng khó khăn: - Tâm... nó bỏ tớ... từ lâu rồi. Tuy thế... tớ vẫn qua... lại nhà mẹ đẻ cô ấy. Phải nói... bà là... một phụ nữ tuyệt... vời... Đây này...

Mẹ vợ tôi tốt quá
Không tưởng tượng ra đâu
Chẳng bao giờ cau có
Bà yêu từ con chó
Đến con chim trên trời
Một hôm tôi về chơi.
Bà gọi gà cục cục
Con chim chào mào đực
Nó gật gật cái đầu.
Gạo bà rắc như sao
Đàn chim sà ngay xuống.
Bà nhắc tôi chạy trốn.
Chim, gà kín cả sân.
Chẳng ai có bạc tiền.
Đủ mua cảnh như thế!


Ôi! Những câu thơ chân mộc, được phát ra từ đôi môi méo, ngọn lưỡi rụt và cái thanh quản mang di chứng bệnh tật của Phúng, nghe chẳng còn rõ nữa và thế là đã bay đi như đàn chim cu hôm nào, sau khi đã thực hiện hết chức năng truyền đạt, để lại một cảm giác trống vắng đến ngẩn ngơ trong tôi. Giống như hồi nào tôi và Phúng ngơ ngẩn trong cảm xúc siêu thường tan hòa vào cái lớn lao của tự nhiên trước cây bồ kếp hình kim tự tháp vàng hiện ra như một phép mầu nhiệm có đàn chim cu cả trăm con trốn lẩn. Thì ra là vậy, chung quy con người là thế, bao giờ thì nó cũng vẫn khăng khăng một bản chất hướng thượng, thờ phụng điều cao cả trong cuộc sống qua cảm quan sáng tạo của mình, có phải thế chăng?

10-2-2002


(*) Thơ của Trần Ngọc Phúc, bạn tác giả.
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0
Phù, cuối cùng cũng xong cái topic này. Sau đây là nguồn truyện:

Đi một ngày đường, Đầu máy hơi nước: vov.org.vn
Trại cá sấu, Bằng lăng: CB2 type, tất nhiên nguồn là vnthuquan.net rùi
Đứa con trở về : nhandan.org
Khách không mời : 4u.jcisio.com/p/story/
Cây bồ kếp hoa vàng : ttvnol.com
美しいマウス, あなたを愛している
-------------------------------------------
Con bò là ai, con bò là ta
Học hành biếng nhác thành ra con bò

Đăng nhập để trả lời
0